text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Soạn bài lớp 11: Luyện tập phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận
Hướng dẫn
Soạn bài môn Ngữ văn lớp 11
Soạn bài: Luyện tập phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Cha Tôi
Soạn bài lớp 11: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
LUYỆN TẬP PHÂN TÍCH ĐỀ, LẬP DÀN Ý
CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
(Về xã hội)
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Phân tích đề là xác định các vấn đề sau:
Nội dung trọng tâm của bài viết
Các thao tác lập luận chính cần sử dụng: giải thích, chứng minh, phân tích…; kết hợp các phương thức biểu đạt
Phạm vi tư liệu cần huy động
2. Tìm ý là xác định các ý văn cho bài văn nghị luận
Có thể thực hiện việc tìm ý bằng cách đặt ra các câu hỏi và tự trả lời rồi từ câu trả lời xác định ý văn. Sau đó, phân loại, sắp xếp tạo thành hệ thống ý lớn, ý nhỏ cho bài viết.
3. Lập dàn ý là triển khai, sắp xếp các ý theo một trật tự nhất định, hình thành cấu trúc bài viết. Dàn ý của bài văn nghị luận gồm ba phần:
a. Mở bài:
ý 1
ý 2
b. Thân bài:
ý 1:
ý 1a:
ý 1a1 (nếu có)
ý 1a2 (nếu có)
ý 1b:
ý 1b1 (nếu có)
ý 1b2 (nếu có)
ý 2:
ý 2a:
ý 2a1 (nếu có)
ý 2a2 (nếu có)
ý 2b:
ý 2b1 (nếu có)
ý 2b2 (nếu có)
c. Kết bài:
ý 1
ý 2
II. RÈN KĨ NĂNG
Các đề bài luyện tập:
Đề 1. Trái đất sẽ ra sao nếu thiếu đi màu xanh của những cánh rừng?
Đề 2. Các Mác nói: “Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”. Anh (chị) hãy giải thích và làm sáng tỏ câu nói trên.
Đề 3. Từ văn bản Cha tôi của Đặng Huy Trứ, anh (chị) hãy phát biểu quan niệm về việc đỗ- trượt trong thi cử đối với bản thân.
1. Phân tích đề
Nội dung trọng tâm
Các thao tác lập luận chính
Phạm vi tư liệu
Đề 1
Vai trò của rừng trong cuộc sống.
Giải thích, phân tích, chứng minh.
Những dẫn chứng từ thực tế.
Đề 2
Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tiết kiệm thời gian.
Giải thích, phân tích, chứng minh.
Những dẫn chứng thực tế từ bản thân, cuộc sống.
Đề 3
Quan niệm về việc đỗ – trượt trong thi cử đối với bản thân và tầm quan trọng của vấn đề đối với sự thành đạt của một con người.
Phân tích kết hợp phương thức tự sự, biểu cảm.
Văn bản Cha tôi và dẫn chứng từ thực tế bản thân, cuộc sống.
2. Tìm ý
Tìm ý cho các đề văn trên dựa vào các câu hỏi sau:
Đề 1:
1. Rừng là gì?
(Rừng là một hệ sinh thái, trong phạm vi đề bài là các loại cây cối lâu năm trên một diện tích rộng (Rừng Amazôn, rừng lá kim, rừng U Minh, rừng Việt Bắc,…)
2. Rừng mang lại cho trái đất những lợi ích gì? (Về môi trường, kinh tế, sức khoẻ…?)
Lợi ích của rừng: cân bằng sinh thái (Cung cấp oxi, là lá phổi xanh của trái đất, chống xói mòn, lũ lụt,…); cung cấp nhiều tài nguyên quý báu (Gỗ, thảo dược, than đá,…); tạo quang cảnh thiên nhiên trong lành, thanh bình,…
3. Thực trạng màu xanh của rừng đã và đang bị huỷ hoại, tàn phá ra sao?
Thực trạng: diện tích rừng giảm mạnh trong nhiều năm qua (ở nước ta từ 75% diện tích xuống còn hơn 20%) do bị con người chặt phá bừa bãi, cháy rừng,…
4. Hậu quả và nguyên nhân của thực trạng trên?
Hậu quả: mất cân bằng sinh thái (sạt lở, xói mòn đất, thủng tầng ôzôn…); tổn hại kinh tế…
Nguyên nhân: do lòng tham, sự vụ lợi của con người; do hiểu biết nông cạn, bất cẩn,…
5. Giải pháp?
Giải pháp trước mắt: xử lí những vi phạm về bảo vệ rừng; tiến hành trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc,…
Giải pháp lâu dài: tuyên truyền, xây dựng ý thức trồng và bảo vệ rừng; hoàn thiện luật trồng và bảo vệ rừng…
6. Đóng góp của bản thân để giữ gìn màu xanh của rừng?
Tham gia bảo vệ rừng, trồng cây gây rừng,…
Đề 2
1. Tiết kiệm là gì?
Tiết kiệm là sử dụng, chi tiêu,… vừa đủ, đúng mực.
2. Tiết kiệm để làm gì? Tiết kiệm thời gian là gì? Tại sao nói: “Mọi tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”?
Tiết kiệm để giảm tối tối đa sức lực, tiền bạc,… của con người.
Tiết kiệm thời gian là để trong thời gian ngắn nhất làm được khối lượng công việc lớn nhất từ đó tiết kiệm được sức lực tiền bạc của con người.
Nếu biết tiết kiệm thời gian thì sẽ tiết kiệm được sức lực, làm ra được nhiều sản phẩm phục vụ cuộc sống nên có thể nói Mọi tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thời gian.
3. Câu nói của Mác đã được thể hiện như thế nào trong cuộc sống? Ý nghĩa thực tiễn của câu nói trên trong thế giới hiện đại?
Trong quá trình phát triển, con người không ngừng cải tiến công cụ lao động nhằm nâng cao năng suất lao động.
Mỗi sáng kiến kinh nghiệm, mỗi phát minh đều nhằm đạt đích làm sao trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể làm ra nhiều nhất các sản phẩm có chất lượng.
Tiết kiệm thời gian trong mọi công việc là cách tốt nhất để năng cao chất lượng cuộc sống.
Dẫn chứng: lao động thủ công mất hai ngày làm xong một sản phẩm; sử dụng máy móc hiện đại chỉ hai giừ làm ra mười sản phẩm; có giống lúa trồng 4 tháng mới thu hoạch, có giống lúa chỉ trồng 3 tháng đã có thể thu hoạch mà năng suất lại cao hơn,…
Nhịp sống hiện đại đòi hỏi con người phải năng động, nhanh nhẹn, phải cùng một lúc làm được nhiều việc,… Do đó, con người trong thế giới hiện đại càng phải tiết kiệm thời gian.
4. Mỗi người cần làm gì để tiết kiệm thời gian?
Làm việc có kế hoạch, khoa học, luôn nỗ lực trong học tập, lao động, không lãng phí thời gian vào những việc vô bổ.
Đề 3
Đọc lại văn bản Cha tôi và tìm ý theo các câu hỏi sau:
1. Nội dung của văn bản Cha tôi là gì?
2. Quan niệm về đỗ – trượt trong thi cử của Đặng Văn Trọng là gì?
3. Điều khác lạ, mới mẻ trong quan điểm của người cha?
4. ý kiến của em về quan niệm trên?
5. Quan niệm của số đông mọi người về việc đỗ – trượt trong thi cử hiện nay (theo sự hiểu biết của bản thân)?
Về thi cử
Về việc đỗ – trượt
7. Bài học rút ra từ câu chuyện của Đặng Huy Trứ?
3. Lập dàn ý
Đề 1
a. Mở bài
Giới thiệu khái quát về vai trò và ý nghĩa của rừng trong cuộc sống.
b. Thân bài
Giá trị, lợi ích của rừng:
Rừng là lá phổi xanh duy trì sự sống trên trái đất
Rừng là kho tàng tài nguyên của quốc gia
Rừng là địa điểm du lịch hấp dẫn,…
Rừng đang bị tàn phá
Thực trạng: diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, diện tích đồi trọc ngày càng tăng,…
Nguyên nhân: bất cẩn, thiển cận, vụ lợi,…
Giải pháp để cứu rừng:
Trước mắt:
Lâu dài:
c. Kết bài
Cảm xúc của bản thân
Mong ước của bản thân
Đề 2
a. Mở bài
Tiết kiệm là một vấn đề luôn được xã hội quan tâm.
Giới thiệu, trích dẫn câu nói của Mác: “Mọi tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”.
b. Thân bài
Khái niệm tiết kiệm
Tiết kiệm giúp con người giảm tối đa sức lực và tiền bạc
Tiết kiệm thời gian là sử dụng thời gian ít nhất để làm được khối lượng công việc lớn nhất
Biểu hiện câu nói của Mác trong thực tế:
Xã hội không ngừng cải tiến công cụ lao động, KHKT
Mỗi cá nhân học tập, lao động không ngừng
Ý nghĩa thực tiễn của câu nói:
Tiết kiệm thời gian giúp xã hội phát triển nhanh.
Tiết kiệm thời gian giúp cá nhân đạt hiệu quả cao trong công việc, xây dựng nếp sống tốt.
Mỗi cá nhân cần tiết kiệm thời gian bằng cách:
Làm việc có kế hoạch, khoa học
Tránh hưởng thụ quá đà
c. Kết bài
Tiết kiệm thời gian là một đức tính tốt đẹp của con người
Mỗi cá nhân cần biết sắp xếp thời gian hợp lí để tiết kiệm thời gian, mang lại hiệu quả cao nhất trong công việc
Tiết kiệm thời gian là cách tốt nhất để năng cao chất lượng cuộc sống.
Đề 3
a. Mở bài
Giới thiệu văn bản Cha tôi của Đặng Văn Trọng
Đánh giá khái quát về quan niệm đỗ – trượt của ngưới cha thể hiện trong đoạn trích.
b. Thân bài
Thái độ và cách ứng xử của người cha trước các tình huống đỗ – trượt của con trai.
Lo lắng khi con trai đỗ đạt quá dễ dàng. Ông coi trọng việc đỗ đạt song theo ông, thi cử là quá trình khổ luyện.
Đau lòng khi con trai bị đánh hỏng nhưng ông vẫn tỏ ra rất bình thường để không làm con nản chí.
Quan niệm của người cha: việc đỗ – trượt trong thi cử là chuyện khó tránh. Đỗ đạt rất quan trọng với sự nghiệp của con người nhưng không phải là tất cả. Học để thành người tốt, người có ích chứ không phải là chỉ để làm quan.
Đánh giá: đây là một quan niệm rất tiến bộ và rất nhân văn.
Quan niệm của bản thân về đỗ – trượt trong thi cử là gì?
Đỗ đạt trong học hành là ước mơ và nguyện vọng của tất cả mọi người. Học tập và rèn luyện là để thi đỗ, để có việc làm tốt, để làm việc có ích; đỗ đạt không được kiêu căng.
Nhưng nếu trượt thì cũng không nản. Đỗ đạt và học cao không phải là con đường duy nhất. Học để làm người chứ không phải chỉ để làm công việc nhàn hạ hay có vị trí trong xã hội,…
Phê phán một số quan niệm cực đoan về đỗ trượt: Quá coi trọng việc đỗ đạt; Không có ý chí học tập và vươn lên trong cuộc sống.
c. Kết luận
Bài học rút ra cho bản thân.
Bài văn mẫu đề 1: Trái đất sẽ ra sao nếu thiếu đi màu xanh của những cánh rừng?
Rừng và cây trực tiếp hoặc gián tiếp đều ảnh hưởng tới cuộc sống của con người, động vật và thực vật. Càng ngày con người càng nhận thức được tầm quan trọng của môi trường sống và đã có nhiều hoạt động tác động tích cực lên hệ sinh thái rừng và cây trồng, nhưng sự suy thoái của rừng vẫn đang tiếp tục diễn ra với một tốc độ đáng lo sợ. Để góp phần bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng, ở nước ta từ lâu đã có tục lệ đẹp “Mùa xuân là Tết trồng cây”…
Thực tế đã chứng minh cây có vai trò quan trọng trong việc cải thiện nguồn nước. Các khu rừng trồng làm giảm sụt lở và xói mòn đất. Sự che phủ của rừng và cây ở đầu nguồn góp phần tích cực bảo vệ, cân bằng nước cho sản xuất nông nghiệp. Cây cối thường được trồng trong các đô thị hoặc làng xã để làm giảm bụi, giảm ô nhiễm không khí và bảo vệ các công trình xây dựng lịch sử. Nhiều loài cây cũng đã được trồng để lấy dược liệu và lá, cành, vỏ cây rừng được thu hái để làm thuốc chữa bệnh. Cây Nim (Agadirachta) thường được trồng gần nhà để chống muỗi. Cây Mô-rin-ga thường được trồng xen với cây khác để thanh lọc nước. Cây che bóng và là nơi ẩn nấp cho người, gia súc khi đang làm việc trên các cánh đồng. Đây là một cách làm rẻ, đơn giản để làm giảm cơn nóng bức trên đồng ruộng.
Không có cây thì không có rừng, nhưng rừng không phải chỉ là một tập hợp của những cây rừng. Mỗi một khu rừng là một hệ sinh thái có ảnh hưởng qua lại, chứa đựng bên trong hàng triệu sinh vật sống khác nhau, có nhiều loài trong đó cho đến nay khoa học vẫn chưa mô tả hoặc chưa khám phá được.
Rừng và cây ảnh hưởng tích cực đối với môi trường ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng diện tích rừng bị phá hoại, sự suy thoái của rừng vẫn đang diễn ra ở mức độ rất cao. Theo điều tra mới đây của Tổ chức Lương – Nông thế giới (FAO), rừng bị tàn phá là do: Thiếu lương thực và nghèo đói do tốc độ gia tăng dân số, chiến tranh, thảm hoạ khí hậu; Nhiều quốc gia thiếu trách nhiệm, không có biện pháp để bảo vệ rừng; Không quản lý được việc khai thác rừng; Không rõ ràng về quyền sử dụng đất đai, pháp luật và hệ thống thuế liên quan; Thiếu hiểu biết và ý thức trách nhiệm; Thiếu cơ chế chính sách, quyền hạn, phương pháp để thực hiện chính sách; Quan tâm quá yếu việc phát triển nông thôn dựa vào sự tham gia của người dân.
Để bảo vệ rừng và sự đa dạng tài nguyên rừng, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã xây dựng các chiến lược phát triển rừng, trong đó bảo vệ nghiêm ngặt rừng quốc gia và các khu bảo tồn tự nhiên. Bất kỳ khách du lịch nào đến tham quan khu vực này đều phải chấp nhận và chịu sự kiểm soát của viên chức nhà nước. Đa dạng sinh học là khía cạnh quan trọng nhất trong khu vực này với mục đích là giữ gìn hệ sinh thái cho thế hệ con cháu mai sau.
Theo ý kiến của các nhà khoa học lâm nghiệp, cần tập trung xây dựng các khu rừng phòng hộ trọng điểm quốc gia (khoảng ba triệu héc-ta), như rừng phòng hộ đầu nguồn thủy điện. Trong hai triệu héc-ta rừng đặc dụng thì tập trung xây dựng hệ thống vườn quốc gia (Tam Đảo, Phong Nha – Kẻ Bàng, v.v…), các khu bảo tồn có đặc trưng nhiệt đới cao và khu di tích lịch sử trọng điểm, không dàn trải. Đây chính là điểm đột phá, tránh lãng phí trong đầu tư lâm nghiệp và là con đường hợp lý để nâng cao năng suất lao động, năng suất rừng, v.v…
Đối với công tác xây dựng rừng, cần phải làm có trọng tâm, trọng điểm, có hiệu quả, vì hiện nay chúng ta không còn ở giai đoạn phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nữa. Cần khẩn trương xây dựng các khu rừng công nghiệp thâm canh gồm cả rừng tự nhiên có năng suất, chất lượng tốt, đáp ứng mục tiêu sản xuất đồ gỗ và làm nguyên liệu để chế biến ván nhân tạo, giấy, bột giấy. Hàng hóa đặc sản rừng thì trồng, tạo ra và chế biến, tìm thị trường cho sản phẩm quế, hồi, sa nhân, thảo quả, trầm, mật rắn, mật ong v.v…
Và..
Ai chả biết rừng là ngôi nhà tự nhiên của các loài chim muông. Thiếu đi rừng, muông thú sẽ lang thang để rồi rơi vào tay những người thợ săn. Theo báo cáo mới nhất của UICN, có 16,306 loài bị đe dọa biến khỏi bề mặt trái đất, nhiều hơn con số 16,118 loài công bố năm ngoái. Loài khỉ orang-outan đảo Sumatra, Indonesia, hiện chỉ còn 7.300 con. Trong vòng 75 năm qua, số lượng orang-outan ở đây đã giảm đi hơn 80%. Giống chim vẹt đảo Maurice chỉ có thể tìm thấy duy nhất ở vùng Đông-Nam đảo Maurice, trong khu vườn quốc gia PNBRG. Tại đây, một chương trình bảo tồn giống vẹt quý này đã được tiến hành ráo riết. Nạn tàn phá rừng là nguyên chính gây nên sự hiếm hoi của loài chim này. Hay ngay như trong đất nước ta, bạn có thể dễ dàng nhìn thấy những chú voi trên tivi, sách báo hay trong các vườn thú, vườn quốc gia. Nhưng bạn có biết, Việt Nam hiện nay chỉ còn khoảng 100-110 con?… Tất nhiên, có những con số ở đây bạn thấy còn nó rất lớn. Nhưng hãy thử nghĩ lại một chút. Đó là con số của cả một quốc gia, thậm chí của cả một thế giới thì có còn lớn nữa không? Đây là những con số thật sự đáng tiếc!
Mà không chỉ với các loài động thực vật, nếu mất đi rừng, sẽ xảy ra hiện tượng lũ lụt, xói mòn, xói lở đất. Các bạn ơi, các bạn hãy thử nghĩ mà xem. Ngưòi nông dân vất vả cả năm trời được có 2 vụ lúa. Vậy mà chỉ một lần lũ về là cuốn sạch mất một vụ rồi. Thử hỏi nỗi khổ tâm ấy ai thấu? Hay dải đất miền Trung thân thương của Tổ quốc năm nào cũng phải chịu khổ vì nước lũ, các hộ dân khó mà tạo được cuộc sống ổn định. Như thế có thiệt thòi hay không? Vâng, xin nói lại rằng tôi và rất nhiều người ở đây chưa từng tham gia chặt phá rừng. Nhưng chúng ta có dám chắc rằng chúng ta chưa từng dung những sản phẩm của rừng xanh? Có những nhu cầu cơ bản quan trọng, nhưng lại có những nhu cầu chỉ để thoả mãn mục đích cá nhân. Hầu hết mọi người đều ưa dung đồ gỗ hơn, nhất là những loại gỗ quý. Vậy thì tại sao không từ bỏ một chút lợi ích cá nhân mà cứu lấy môi trường này- ngôi nhà chung của tất cả chúng ta?
Rừng là lá phổi xanh của thế giới. Trong mỗi chúng ta, có ai có thể sống thiếu phổi? Cũng như vậy, chúng ta không thể sống thiếu rừng, thiếu cây xanh.
Bài văn mẫu đề 2: Nghị luận xã hội về vấn đề: “Tiết kiệm thời gian”
Cuộc sống của con người mỗi ngày một thay đổi, của cải vật chất ngày càng nhiều nhưng tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận. Nếu chúng ta không biết tiết kiệm thì làm ra bao nhiêu cũng hết. C. Mac nói: “Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”. Câu nói của Cac Mac khẳng định thời gian là quý nhất.
Trước hết, chúng ta phải hiểu thế nào là tiết kiệm?. Tiết kiệm là một trong những phẩm chất cơ bản của con người. Tiết kiệm là sử dụng tiền bạc, của cải vật chất, sức lao động, thời gian… một cách hợp lí, đúng mức, không lãng phí.
Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, keo kiệt, không phải là coi trọng đồng tiền một cách quá đáng, việc cần chi tiêu cũng không dám chi tiêu, gặp lúc cần đóng góp cũng không đóng góp.
Tiết kiệm cũng không phải là dè xẻn, để dành, cất kín tiền bạc dư thừa mà ngược lại, cần làm cho nó sinh sôi nảy nở. Người dân nào cũng có tiền chưa dùng đến, nên đem gửi vào ngân hàng, vào quỹ tiết kiệm, sẽ ích nước lợi nhà, theo tinh thần của câu khẩu hiệu: “Tiết kiệm là quốc sách”.
Vậy thời gian là yếu tố quan trọng không thể thiếu để chúng ta học tập, lao động và tạo ra những của cải vật chất, tinh thần quý giá cho cá nhân, cho xã hội. Sử dụng một khoảng thời gian cho một công việc nào đó nhưng không đạt kết quả theo ý muốn thì ta buộc phải làm lại từ đầu. Như vậy là ta đã đánh mất thời gian, đánh mất một phần của cuộc đời mình.
Trong quãng đời đi học, nếu chúng ta lười biếng, không chịu nghe theo lời dạy bảo của cha mẹ, thầy cô thì liệu khi bước vào đời, chúng ta có đủ năng lực để tự nuôi sống bản thân và đóng góp cho xã hội?. Lúc ấy, dẫu có muốn học lại từ đầu thì chắc cũng không dễ dàng gì.
Sử dụng thời gian để học tập tốt, lao động tốt thì chúng ta sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất và tinh thần, góp phần dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp.
Có thời gian là có tất cả. Thời gian qua đi không lấy lại được. Mỗi con người chỉ có một quỹ thời gian nhất định để sống, học tập và lao động. Vậy trong suốt thời gian ấy, chúng ta phải làm gì để đến “khi nhắm mắt xuôi tay, không phải ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí?” (“Thép đã tôi thế đấy” – Otsterropski). Đó là câu hỏi lớn đặt ra cho cả đời người, do đó chúng ta phải biết quý thời gian mình đang sống.
Trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay, câu nói của Cac Mac càng có giá trị như một chân lí. Việt Nam vốn là một nước có nền kinh tế tiểu nông lạc hậu. Sau hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài suốt mấy chục năm, nền kinh tế nước ta lại càng nghèo nàn, lạc hậu. Chính vì vậy, chúng ta cần tranh thủ thời gian để khôi phục và phát triển mọi lĩnh vực của đất nước. Kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 cho đến nay, nhân dân ta đã bắt tay vào sự nghiệp xây dựng đất nước trong hòa bình theo đường lối đổi mới, mở cửa nên bước đầu đã có cuộc sống ấm no. Tuy vậy, Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo chậm phát triển so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Hiện nay, đi đôi với những cố gắng phát triển kinh tế, khoa học, kĩ thuật. Nhà nước ta đã đề cao chủ trương tiết kiệm trong toàn Đảng, toàn dân, coi tiết kiệm là quốc sách, là một trong những biện pháp cơ bản hàng đầu để xây dựng đất nước.
“Tiết kiệm là quốc sách”, bởi vì tiết kiệm đem lại lợi ích to lớn cho con người và xã hội. Với một quốc gia như Việt Nam thì tiết kiệm lại càng quan trọng và cần thiết. Tiết kiệm để tích lũy vốn, đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước đưa đất nước đi lên. Chúng ta có thể huy động vốn từ nhiều nguồn như vay mượn của nước ngoài hay hợp tác đầu tư… nhưng nguồn vốn trong nước vẫn là cơ bản, mà nguồn vốn của nhân dân chỉ có được bằng cách chi tiêu hợp lí và tiết kiệm.
Tiết kiệm là việc làm vô cùng cần thiết. Đảng và Nhà nước kêu gọi các cơ quan, đoàn thể hãy tiết kiệm tối đa, không mua ô tô loại sang, không xây dựng công sở thật lớn, không trang bị những đồ dùng đắt tiền, không tổ chức tiệc tùng lãng phí… Những công trình lớn được xây dựng đúng tiến độ thi công, bảo đảm đúng chất lượng tốt tiết kiệm cho ngân quỹ quốc gia. Những cuộc họp đúng giờ, ngắn gọn là tiết kiệm thời gian. Một dây chuyền sản xuất hợp lí là tiết kiệm công sức lao động.
Tiết kiệm là biểu hiện của nếp sống văn minh, văn hóa. Xưa nay, những kẻ có thói xấu ném tiền qua cửa sổ đều mau chóng thất cơ lỡ vận, còn những người biết chi tiêu hợp lí và thực sự tiết kiệm thì ngày càng giàu có. Sinh thời, Hồ Chủ tịch đã căn dặn toàn dân phải “tiết kiệm thời giờ, sức lao động và tiền của”.
Mỗi người có những cách thức khác nhau để thực hành tiết kiệm. Chủ doanh nghiệp tiết kiệm tiền của, sức lao động, hợp lí hóa sản xuất. Người nội trợ chi tiêu hợp lí để tiết kiệm ngân quỹ gia đình. Còn học sinh chúng ta phải làm gì để thực hành tiết kiệm?. Điều quan trọng nhất là nên dành nhiều thời gian để: “Học, học nữa, học mãi”; phải biết sắp xếp một cách hợp lí giờ học, giờ chơi, giờ lao động. Giữ gìn trường lớp, bàn ghế, đồ dùng học tập… là tiết kiệm cho nhà trường. Bảo quản sách vở, quần áo, xe cộ để cha mẹ đỡ tốn tiền mua sắm cũng là tiết kiệm. Chăm chỉ học tập, lao động vừa là giúp đỡ cha mẹ, vừa là giúp đất nước tiết kiệm tiền của để đào tạo một con người. Có muôn ngàn cách để tiết kiệm, miễn là chúng ta phải có ý thức tự giác.
Câu nói của Cac Mac đúng với mọi hoàn cảnh, mọi quốc gia. Trong nhịp sống khẩn trương của thời đại công nghiệp, chúng ta lại càng phải thường quyên rèn luyện ý thức tiết kiệm.
Không chỉ tự mình thực hành tiết kiệm mà chúng ta nên vận động mọi người cùng hưởng ứng chủ trương tiết kiệm, chống lãng phí tiền của Nhà nước, nhất là lãng phí thời gian. Tiết kiệm không chỉ là việc làm quan trọng, cấp thiết mà còn là một trong những phẩm chất cần có của mỗi con người nếu muốn thành công trong sự nghiệp. Vì thế, ủng hộ chủ trương tiết kiệm của Nhà nước cũng là biện pháp để chúng ta rèn luyện phẩm chất tốt đẹp của con người mới. | Soạn bài lớp 11_ Luyện tập phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận | 4,323 | |
Soạn bài lớp 11: Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ
Hướng dẫn
Soạn văn 11 bài Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ
Soạn bài: Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn văn 11 mẫu dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các bạn tham khảo bài soạn văn 11 bài Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ của chúng tôi.
Soạn bài lớp 11: Thao tác lập luận bác bỏ
Soạn bài lớp 11: Nghĩa của câu
Soạn bài lớp 11: Hầu trời
Soạn bài lớp 11: Chiều tối
LUYỆN TẬP THAO TÁC LẬP LUẬN BÁC BỎ
I. Lí thuyết
Thế nào là bác bỏ?
Mục đích, yêu câu của thao tác lập luận bác bỏ?
Cách thực hiện thao tác lập luận bác bỏ?
II. Bài tập
Bài tập 1
1. Đoạn 1: Có quan niệm cho rằng cuộc sống riêng của mỗi người là đầy đủ tiện nghi, được bao bọc cẩn thận trong êm ấm và tuyệt đối không cần phải hiểu biết gì nhiều về xung quanh.
Ý kiến bác bỏ: Cho đó là sai lầm bởi vì nó làm nghèo nàn đi tâm hồn con người, con người sẽ không có khả năng tự bảo vệ mình khi đối diện với muôn vàn khó khăn của cuộc sống và như thế con người sẽ không thấy được giá trị của hạnh phúc
Ý bác bỏ thứ hai cho thấy rằng QT chỉ rõ được thái độ chưa hợp tác của các sĩ phu Bắc Hà chứ một đất nước không thể không có người tài,không có người trung thành tín nghĩa.
Bài tập 2
1. Bác bỏ quan niệm thứ nhất: Nếu học thuộc nhiều sách,học thuộc nhiều thơ thì chỉ làm cho kiến thức chúng ta thêm phong phú chứ không thể rèn luyện tư duy, khả năng sáng tạo của người viết vì thế khi viết văn dễ sa vào rập khuôn, máy móc, thói khoe chữ cầu kì
2. Đề xuất vài kinh nghiệm
Đọc nhiều sách, nhớ những dẫn chứng hay
Rèn khả năng hành văn
Tìm tòi, phát hiện cái mới
Bài tập 3: Hãy chỉ ra cách bác bỏ trong đoạn văn sau
Hoà hợp không có nghĩa là giống nhau
Nhiều bạn trẻ ngộ nhận rằng, hai người có nhiều điểm tương đồng trong suy nghĩ, cách sống thì cuộc sống vợ chồng sẽ rất hợp nhau. Vì vậy khi chọn người yêu hoặc bạn đời, các đừng chỉ nhìn vào biểu hiện bên ngoài mà đã vội cho rằng đấy chính là người hợp “gu” với mình. Quan điểm này hoàn toàn sai lầm. Bởi lẽ nếu hai bạn cùng có chung quan niệm sống, cá tính mạmh mẽ thì thường nảy sinh mâu thuẫn, sẽ không ai chịu nhường ai cả. Bạn có thể cùng sở thích về văn học, điện ảnh ca nhạc, vui chơi, giải trí – ấy là điều tốt nhưng nếu hai người cùng đều có ý muốn an nhàn, hưởng thụ, ích kỉ thì e rằng tổ ấm của bạn sẽ chẳng có ai “giữ lửa” cho hạnh phúc cả. | Soạn bài lớp 11_ Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ | 538 | |
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về hiện tượng tách từ
Hướng dẫn
Soạn bài: Luyện tập về hiện tượng tách từ
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về hiện tượng tách từ thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về cách thức, phương thức luyện tập về hiện tượng tách từ trong văn bản giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Tự tình
Soạn bài lớp 11: Chạy giặc
Soạn bài lớp 11: Bài ca ngắn đi trên bãi cát
LUYỆN TẬP VỀ HIỆN TƯỢNG TÁCH TỪ
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Từ thường có cấu tạo ổn định, các tiếng trong một từ kết hợp chặt chẽ với nhau. Nhưng khi sử dụng, đối với một số từ đa âm tiết, các tiếng có thể được tách ra theo lối đan xen từ khác vào. Cách tách từ như vậy tạo nhạc điệu cho câu đồng thời nhấn mạnh được nội dung cần làm rõ.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân
a. Các từ dày dạn, chán chường được tách ra theo cách đan xen từ ngữ. Hình thức ban đầu của chúng là: dày dạn gió sương, bướm ong chán chường.
b. Hiện tượng tách từ như trên tạo nên hai nhịp đôi, đối xứng hài hoà để nhấn mạnh điều muốn nói. Trong câu thơ này nó tạo ra khả năng thể hiện tâm trạng day dứt, đau khổ dằn vặt của nàng Kiều khi phải sống trong cảnh nhục nhã ê chề ở chốn lầu xanh.
Quán rằng ghét việc tầm phào
Ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm
Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
(Nguyễn Đình Chiểu – Truyện Lục Vân Tiên)
Làm người phải đắn phải đo
Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu
2. Có thể tách các cụm từ lạc xiêu hồn phách, đi về lẻ loi thành hồn xiêu phách lạc, hồn lạc phách xiêu, đi lẻ về loi, về lẻ đi loi.
Đặt câu:
Bóng ma lại hiện lên làm nó sợ đến hồn xiêu phách lạc.
Kể từ khi người chồng lên ngựa ra chiến trường thực hiện mộng công hầu, người chinh phụ sống trong cảnh đi lẻ về loi, cô đơn chờ đợi.
3. Đặt câu với các thành ngữ sử dụng hiện tượng tách từ:
Người dân quê tôi vẫn phải dãi gió dầm sương để làm ra hạt gạo.
Mẹ tôi là người biết đối nhân xử thế.
4.
Đi đâu mà vội mà vàng
Mà vấp phải đá, mà quàng phải dây.
(Ca dao)
a. Trong câu trên, từ vội vàng đã được tách bằng cách xen thêm từ mà.
b. Hiện tượng tách từ trong câu trên tạo nhịp điệu cho câu ca dao, nhấn mạnh điều muốn nói: không nên làm việc vội vàng cẩu thả.
c. Ví dụ tương tự:
Dù ai nói ngả nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
(Ca dao)
Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu.
(Nguyễn Bính – Bài thơ quê hương)
Những là rày ước mai ao
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
5. Hiệu quả diễn đạt của hiện tượng tách từ đối với các từ láy và từ ghép: AB tách thành: A với/với chả B.
Ăn với chả uống
Đi với chả đứng
Xinh với chả đẹp
Chồng với chả con,…
Hiện tượng tách từ như trên tạo nên khả năng nhấn mạnh, khắc sâu điều muốn nói, hàm ý chê bai. Chẳng hạn:
Trong bữa ăn, nếu em hậu đậu đánh đổ cơm canh, mẹ em, nếu đang bực dọc, nói: ” Ăn với chả uống như thế à?
Một đứa trẻ đi không cẩn thận nên bị ngã, người lớn sẽ trách mắng: Đi với chả đứng như thế à?
Sau khi thoa một chút son lên môi, mặc chiếc váy mới, cô con gái hỏi mẹ: “Mẹ thấy con gái mẹ có xinh không?” Người mẹ nói: “Xinh với chả đẹp, cô tập trung vào việc học cho tôi nhờ.” | Soạn bài lớp 11_ Luyện tập về hiện tượng tách từ | 679 | |
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về lập luận phân tích xã hội
Hướng dẫn
Soạn bài: Luyện tập về lập luận phân tích
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về lập luận phân tích xã hội thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về phương pháp và luyện tập về lập luận phân tích giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Vịnh khoa thi hương
Soạn bài lớp 11: Thao tác lập luận phân tích
LUYỆN TẬP VỀ LẬP LUẬN PHÂN TÍCH
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
(Xem bài trước)
II. DÀN BÀI GỢI Ý
Đề 1: Viết đoạn văn bàn về được và mất ở đời.
Mở đoạn:
Trong cuộc sống ai cũng mong “được” và chẳng ai muốn “mất”.
Nhưng trong cuộc sống, có những điều “được” “mất” là lâu dài thậm chí vĩnh viễn, lại có điều “được” là “mất”, “mất” là “được”.
Thân đoạn:
“Được” tri thức, kinh nghiệm…là cái “được” lâu dài.
“Mất” tuổi trẻ, danh dự…là “mất” lâu dài, vĩnh viễn.
“Được” thành công mà sinh tự phụ là “mất”: mất chí tiến thủ, mất sự khiêm nhường…
“Mất” trong một số trường hợp mà giúp con người có thêm bài học quý, biết vươn lên…ấy là “được”.
Kết đoạn: “Được”, “mất” ở đời khôn lường, khó đoán, con người phải biết đâu là chân giá trị để trân trọng và nắm bắt.
Đề 2: Viết đoạn văn bàn về tự ti, tự phụ và tự trọng.
Mở đoạn: Cùng là thái độ “Tự” ý thức về mình song bộ ba tự ti, tự phụ, tự trọng lại mang ba sắc thái khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Thân đoạn:
Tự ti là mặc cảm về bản thân mình, từ đó tự hạ thấp mình, khép kín; Tự phụ là thái độ kiêu căng, tự cho mình tài giỏi, từ đó coi thường người khác; Tự trọng là đánh giá đúng bản thân và người khác, luôn nỗ lực vươn lên để tự khẳng định mình.
Tự ti, tự phụ đều có nhiều tác hại hạn chế sự phát triển của cá nhân và tập thể. Chỉ có tự trọng mới giúp con người hoàn thiện nhân cách.
Kết đoạn: Mỗi cá nhân cần xây dựng cho mình lòng tự trọng.
Đề 3: Viết đoạn văn phân tích mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể.
Mở đoạn:
Giữa cái bộ phận và cái toàn thể luôn có mối quan hệ qua lại khăng khít, tác động lẫn nhau.
Xã hội loài người thể hiện rõ nhất mối quan hệ ấy.
Thân đoạn:
Mỗi cá nhân đều có điểm mạnh và điểm yếu, song không thể tự mình làm tất cả mọi thứ.
Gắn với cộng đồng, các cá nhân tự bổ sung cho nhau, giúp nhau hoàn thiện.
Cá nhân mạnh thúc đẩy tập thể phát triển; tập thể phát triển tạo điều kiện cho cá nhân phát triển. | Soạn bài lớp 11_ Luyện tập về lập luận phân tích xã hội | 491 | |
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về phong cách ngôn ngữ báo chí
Hướng dẫn
Soạn bài: Luyện tập về phong cách ngôn ngữ báo chí
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về phong cách ngôn ngữ báo chí thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về cách sử dụng ngôn ngữ theo phong cách ngôn ngữ báo chí giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Đời thừa
Soạn bài lớp 11: Tác giả Nam Cao
LUYỆN TẬP
VỀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
(Xem bài trước)
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Nhận xét về cách sử dụng ngôn ngữ trong những câu (đoạn) sau (tr. 237 SGK). Viết lại những câu (đoạn) ấy theo hiểu biết của anh (chị).
Nhận xét chung: Cách sử dụng ngôn ngữ của các văn bản trên gây khó khăn cho người đọc trong việc hiểu nội dung văn bản.
a)
Nhận xét: Quá lạm dụng tiếng Anh, đây là hiện tượng thường gặp trên những văn bản báo chí viết về tin học và ca nhạc, đặc biệt là ca nhạc quốc tế.
Viết lại: có nhiều cách để viết lại những câu văn đó nhưng dù viết bằng cách nào thì cũng phải thích rõ nghĩa của các từ tiếng Anh và các chữ viết tắt.
Nhận xét: Sử dụng việc viết tắt quá tuỳ tiện.
Viết lại: Giải thích rõ các chữ viết tắt:
CVPM: công viên phần mềm.
CNSH: công nghệ sinh học.
KPVH: khu phố văn hoá.
c)
Nhận xét: Sử dụng biệt ngữ xã hội một cách thiếu chọn lọc.
Viết lại: chú thích rõ nghĩa của các biệt ngữ:
Bảnh tỏn: bảnh bao, lịch sự.
Vé: tương đương 100 đôla Mĩ.
“Dân biểu”: dân (người) đạp xích lô.
Chảnh: ra bộ làm sang. | Soạn bài lớp 11_ Luyện tập về phong cách ngôn ngữ báo chí | 310 | |
Soạn bài lớp 11: Lưu biệt khi xuất dương
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Lưu biệt khi xuất dương
Soạn bài: Lưu biệt khi xuất dương hay có tên gọi là Lưu biệt trước khi ra nước ngoài của Phan Bội Châu thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
Giáo án Ngữ văn 11 bài Lưu biệt khi xuất dương
Soạn bài lớp 11: Luyện tập phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận
Soạn bài lớp 11: Nghĩa của câu
Lưu biệt khi xuất dương – Phan Bội Châu
(Lưu biệt trước khi ra nước ngoài)
I. Gợi ý trả lời câu hỏi
Câu 1. Đọc phần tiểu dẫn để hiểu bối cảnh ra đời của bài thơ là do những ảnh hưởng từ nước ngoài vào để hiểu cái nhiệt tình, hăm hở, “vượt biển Đông” của tác giả và các đồng chí của mình (Những quyển Tân thư – sách bằng chữ Hán do các nhà cách mạng Trung Quốc trước tác hoặc dịch từ tiếng Anh, tiếng Pháp nhằm truyền bá những tư tưởng dân chủ tư sản, những thành tích duy tân của Nhật Bản; đất nước Trung Hoa “duy ngã độc tôn” đang chuyển mình…)
Câu 2. Lẽ sống mới và khát vọng hành động của nhà chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi ra đi tìm đường cứu nước (Các em dựa trên cảm xúc của tác giả và những hình tượng nghệ thuật trong bài thơ để giải đáp câu hỏi này).
Hai câu đề:
Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trước hết nó vẫn nói đến chí nam nhi, một quan niệm nhân sinh phổ biến dưới thời phong kiến. (Trong xã hội trọng nam khinh nữ, được sinh ra là nam nhi làm niềm vinh hạnh, nhưng đồng thời trọng trách cũng rất nặng nề) – Nam nhi phải làm nên chuyện lớn, phải lập nên kì tích lớn lao, dám mưu đồ những việc lớn. Có thể thấy đây là một quan niệm sống tích cực đã khích lệ được biết bao đấng nam nhi lập nên công tích, lưu danh muôn đời.
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.
Hoặc những câu thơ của Nguyễn Công Trứ:
Chí làm trai nam, bắc, đông, tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn biển.
Tất cả đều xuất phát từ quan niệm như Phan Bội Châu đã nói “Làm trai phải lạ ở trên đời”.
Dưới thời phong kiến người ra quan niệm tạo hóa sinh ra con người, chi phối số phận con người vì vậy thường nảy sinh tư tưởng phó thác số mệnh cho trời định đoạt. Điểm mới mẻ, táo bạo trong quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu là sự chủ động xoay chuyển thời thế (Câu thơ “Há để càn khôn tự chuyển dời” là một câu hỏi tu từ biểu hiện sự phủ định: Há để…. Không thể để…).
Đặt trong bối cảnh hiện tại, câu thơ của Phan Bội Châu ngụ ý nói đến mục tiêu hành động của nam nhi là phải tìm con đường Cách mạng mang tới độc lập về cho đất nước.
Hai câu thực:
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai?
Trong cuộc đời này cần có ta. Không phải lối nói tự cao tự đại thiếu khiêm tốn mà đó là cách tự thể hiện mình hết sức mới mẻ, đáng kính trọng. Ta đã gặp một cái tôi “ngất ngưởng” giữa cuộc đời của Nguyễn Công Trứ nhưng nhà thơ nghiêng về phác thảo ột chân dung, một phong cách sống – Còn ở đây, Phan Bội Châu thể hiện rất rõ cái tôi công dân đầy tinh thần trách nhiệm gánh vác giang sơn, không chỉ riêng ông mà còn khích lệ các trang nam nhi cần có ý thức đó (cuộc đời này cần có chúng ta “xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn “Bài ca chúc Tết thanh niên – Phan Bội Châu”).
Một đời người sống vì nước, ngàn năm sau tên tuổi sẽ được lưu.
Hai câu luận:
Non sông đã chết sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.
Tác giả gắn chí nam nhi vào hoàn cảnh thực tế của đất nước.
Khi đất nước có ngoại xâm, những người có lòng yêu nước thường hay đặt ra vấn đề “vinh – nhục” (Các em nhớ lại một số câu văn trong bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn; “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu). Câu thơ của Phan Bội Châu, thể hiện sâu sắc nỗi đau mất nước, ý thức về nỗi nhục của thân phận nô lệ, ngầm chứa sự phản kháng, không cam chịu (sống thêm nhục).
Sách thánh hiền răn dạy đạo đức lễ nghĩa, nhất là đạo làm tôi phải trung với vua. Phan Bội Châu cũng là tri thức nho học, cũng từng đọc sách thánh hiền nhưng ông đã có nhận thức khác. Đất nước đã đổi thay, những ông vua tài giỏi, đức độ không còn, chỉ còn những ông vua phản dân hại nước, “Thánh hiền đã vắng” trung quân một cách ngu muội chẳng ích lợi gì. Sách thơ thức tỉnh ý thức hành động thiết thực, yêu nước là phải cứu nước (ở một bài thơ khác, Phan Bội Châu khuyên thanh niên “Xếp bút nghiêng mà tu dưỡng lấy tinh thần” – Bỏ lối học cũ để tu dưỡng tinh thần cứu nước).
Hai câu kết:
Muốn vượt biển Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
Những hình ảnh kì vĩ, lớn lao: “Biển Đông”, “Cánh gió”, “muôn tùng sóng bạc”, phù hợp với hành động cao cả, tầm vóc phi thường của chủ thể trữ tình.
Câu thơ cuối dịch nghĩa là “Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên” là một hình ảnh hào hùng lãng mạn. Sóng của biển cả hay nhiệt huyết cứu nước dân trào chắp cánh cho ý chí vượt đại dương tìm đường cứu nước thêm phần hăm hở, tự tin. Tư thế và khát vọng lên đường của chủ thể trữ tình ở hai câu kết có một sức truyền cảm mạnh mẽ. Phan Bội Châu đã từ bài thơ này mà khơi gợi được nhiệt huyết của cả một thế hệ.
3. Âm hưởng hào dùng, giọng thơ tâm huyết, sục sôi, là những yếu tố có sức lôi cuốn người nghe, người đọc.
II. Luyện tập
1. Viết đoạn văn ngắn bình giảng hai câu cuối bài thơ (Các em xem phần gợi ý ở trên)
2. Có thể xem “Xuất dương lưu biệt” là bài thơ mở đầu xứng đáng cho một thời đại văn học mới.
Bài thơ đã thể hiện những tư tưởng mới mẻ, táo bạo, phù hợp với xu thể của thời đại.
Bài thơ mở đầu cho thơ văn tuyên truyền, vận động cách mạng. | Soạn bài lớp 11_ Lưu biệt khi xuất dương | 1,189 | |
Soạn bài lớp 11: Lập luận so sánh
Hướng dẫn
Soạn bài: Lập luận so sánh
Soạn bài lớp 11: Lập luận so sánh thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm, tác dụng của lập luận so sánh trong văn bản giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Vi hành
Soạn bài lớp 11: Cha con nghĩa nặng
Soạn bài lớp 11: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
LẬP LUẬN SO SÁNH
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Khái niệm
Lập luận so sánh là một thao tác nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật hoặc các mặt trong cùng một sự vật. So sánh để thấy sự giống nhau, khác nhau, từ đó mà thấy rõ đặc điểm và giá trị của mỗi sự vật, hiện tượng. So sánh gồm so sánh tương phản và so sánh tương đồng.
2. Tác dụng
Lập luận so sánh trong bài văn nghị luận là rất cần thiết. Sáng tạo văn học nghệ thuật là sáng tạo độc đáo. So sánh là để thấy được vẻ riêng, thấy được giá trị nổi bật của tác phẩm, từ đó đánh giá những thành công và đóng góp của nhà văn.
3. Yêu cầu
So sánh phải cùng một tiêu chí, chung một bình diện, có thể so sánh các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh, có thể là nhân vật, tác phẩm, tác giả và phong cách… So sánh phải có mục đích cụ thể là để làm sáng tỏ hoặc khẳng định một vấn đề nào đó.
1. Đọc đoạn văn (tr. 174 SGK) và chỉ ra cách so sánh cùng với những nhận xét, đánh giá cụ thể của tác giả.
Trong đoạn văn trên:
Tác giả dùng hai cách so sánh: So sánh tương đồng “một dân tộc”; So sánh tương phản: “Hai bài văn: hai cảnh ngộ, hai thời buổi” “một khúc ca khải hoàn, ca ngợi chiến công oanh liệt chưa từng thấy” và “khúc ca những người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang.”
Đánh giá, nhận xét của tác giả: Bài ca của Nguyễn Đình Chiểu vừa có điểm giống vừa có điểm khác áng “thiên cổ hùng văn” của Nguyễn Trãi. Từ đó ca ngợi sự anh dũng hiên ngang của người nghĩa sĩ Cần Giuộc và vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm
2. Khi phân tích vẻ đẹp độc đáo của hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc trong bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu có thể so sánh với hình tượng người tráng sĩ trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão và hình tượng người lính trong những tác phẩm văn học: “Tây Tiến” (Quang Dũng), “Đồng chí” (Chính Hữu), “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi); hình ảnh người lính trong một số bài thơ của Tố Hữu “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”, hình tượng người chiến sĩ cộng sản trong thơ Hồ Chí Minh,… | Soạn bài lớp 11_ Lập luận so sánh | 510 | |
Soạn bài lớp 11: Một số thể loại văn học truyện, thơ
Hướng dẫn
Soạn bài: Một số thể loại văn học truyện, thơ
Soạn bài lớp 11: Một số thể loại văn học truyện, thơ là tài liệu tham khảo được sưu tầm. Tài liệu cung cấp đến bạn khái niệm, đặc trưng của hai thể loại văn học là truyện và thơ. Nhằm giúp bạn chuẩn bị kiến thức tốt về các thể loại văn học cho kỳ thi học kỳ I. Mời các bạn tham khảo.
Soạn bài lớp 11: Ôn tập văn học trung đại Việt Nam
Soạn bài lớp 11: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn
Một số thể loại văn học truyện, thơ
1. Loại và thể trong văn học
Loại là phương thức tồn tại chung; thể là hiện thực hóa của loại.
Tác phẩm văn học gồm ba loại lớn: trữ tình, tự sự, kịch.
Loại trữ tình có các thể: thơ ca, khúc ngâm…
Loại tự sự có truyện, kí…
Loại kịch có chính kịch, bi lịch, hài kịch.
Ngoài ra còn có thể loại khác như nghị luận.
2. Đặc trưng của thơ, các kiểu loại thơ và yêu cầu về đọc thơ
Đặc điểm về thể loại thơ: Thơ thường có vần, điệu; ngôn ngữ hàm súc, gợi cảm; thể hiện tình cảm, tâm hồn con người.
Các cách để phân loại thơ:
Thơ được phân loại theo nội dung biểu hiện và cách thức tổ chức.
Thơ phân loại theo nội dung biểu hiện có các loại: Thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng.
Thơ phân loại theo cách tổ chưc có thơ cách luật, thơ tự do, thơ văn xuôi.
Những yêu cầu chính của việc đọc – hiểu một bài thơ gồm:
Khi đọc cần biết rõ xuất xứ của bài thơ: Tác giả, năm xuất bản, các thông tin hỗ trợ khác..
Đọc kĩ để hiểu đúng và cảm nhận từng lời hay ý đẹp trong bài thơ.
Phát hiện đặc điểm nội dung của bài thơ.
Phát hiện những câu, từ ngữ, hình ảnh hấp dẫn nhất, từ đó khái quát đặc điểm nghệ thuật bài thơ.
Đặc trưng của truyện:
Truyện phản ánh hiện thực trong tính khách quan của nó.
Truyện thường có cốt truyện, nhân vật, tình huống, mâu thuẫn diễn ra trong hoàn cảnh không gian và thời gian.
Ngôn ngữ truyện có lời người kể chuyện, lời nhân vật…
Các thể truyện gồm: Các sáng tác dân gian, các thể truyện văn học viết hiện đại; ngoài ra còn có truyện thơ, trường ca trong cả văn học dân gian, văn học viết trung đại và hiện đại.
Các sáng tác dân gian gồm: Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn…
Văn học viết hiện đại gồm: Truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết và truyện thơ.
Yêu cầu khi đọc – hiểu truyện:
Đọc truyện cần biết hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác để lấy cớ sở cảm nhận đúng nội dung của truyện.
Nhớ được cốt truyện và diễn biến của những tình tiết chính.
Phát hiện được tính cách nhân vật. – Phát hiện vấn đề mà truyện đặt ra, tìm hiểu ý nghĩa tư tưởng và đặc điểm nghệ thuật của truyện. | Soạn bài lớp 11_ Một số thể loại văn học truyện, thơ | 519 | |
Soạn bài lớp 11: Một số thể loại văn học – kịch, nghị luận
Hướng dẫn
MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC – KỊCH, NGHỊ LUẬN
Soạn bài: Một số thể loại văn học – kịch, nghị luận thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về một số thể loại văn học thường gặp trong chương trình học của các bạn giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Ba cống hiến vĩ đại của Các-Mác
Soạn bài lớp 11: Phong cách ngôn ngữ chính luận
Giáo án bài Một số thể loại văn học kịch – nghị luận
I. Kịch:
1. Khái niệm: Kịch là một loại hình nghệ thuật tổng hợp,trong đó đối tượng mô tả của kịch là những xung đột trong đời sống.
2. Đặc trưng của nghệ thuật Kịch:
Xung đột và cách giải quyết xung đột kịch:
Đối tượng mô tả của kịch là những xung đột trong đời sống; ở đó, những vấn đề thuộc bản chất của hiện thực được dồn nén, quy tụ, nổi bật
Xung đột kịch được giải quyết, cụ thể hoá bằng hành động kịch àđược thực hiện bởi các nhân vật kịch.
Nhân vật kịch bộc lộ đặc điểm, tính cách của mình qua ngôn ngữ kịch (lời thoại), có 3 loại: đối thoại; độc thoại và bàng thoại.
3. Phân loại:
Xét theo nội dung và ý nghĩa của xung đột: bi kịch, hài kịch, chính kịch.
Xét theo hình thức ngôn ngữ: kịch thơ, kịch nói, ca kịch
4. Yêu cầu về đọc kịch bản văn học: 4 bước
Đọc kĩ lời giới thiệu, tiểu dẫn hiểu tác giả, tác phẩm, thời đại và vị trí đoạn trích.
Tập trung vào lời thoại xác định mối quan hệ, hiểu đặc điểm, tính cánh nhân vật
Phân tích hành động kịchà xác định xung đột, phân tích diễn biến, kết quả các xung đột
Từ xung đột và nhân vật xác định Chủ đề tư tưởng
Ý nghĩa xã hội. (xung đột là cơ sở của kịch)
II. Văn Nghị luận:
1. Khái lược về văn nghị luận:
a. Khái niêm: Nghị luận là thể loại VH đặc biệt, dùng lập luận; luận điểm; luận cứ, để bàn luận về một vấn đề XH, CT hay VHNT.
b. Đặc điểm:
Sâu sắc về tư tưởng và tình cảm
Suy nghĩ và trình bày mạch lạc, chặt chẽ
Lập luận thuyết phục.
Ngôn ngữ giàu hình ảnh, biểu cảm, mang tính học thuật và xã hội cao.
c. Phân loại:
Xét nội dung: Văn chính luận; Văn phê bình văn học
Theo Trung đại: Chiếu, cáo, hịch, bình sử, điều trần…
Hiện đại: Tuyên ngôn, kêu gọi, phê bình, tranh luận…
2. Yêu cầu đọc văn nghị luận:
Tìm hiểu tác giả và hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Chú ý đến luận đề, luận điểm, luận cứ và lập luận của bài nghị luận.
Phân tích nghệ thuật lập luận, nêu chứng cứ, dùng ngôn ngữ và các biện pháp tu từ.
Khái quát giá trị tác phẩm về nội dung và hình thức; rút ra bài học và tác dụng của tác phẩm với cuộc sống./. | Soạn bài lớp 11_ Một số thể loại văn học – kịch, nghị luận | 526 | |
Soạn bài lớp 11: Một thời đại trong thi ca
Hướng dẫn
Soạn bài: Một thời đại trong thi ca
Soạn bài: Một thời đại trong thi ca do Hoài Thanh sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Chiều tối
Soạn bài lớp 11: Từ ấy
Giáo án Một thời đại trong thi ca Ngữ Văn 11
Bài giảng Một thời đại trong thi ca Ngữ Văn 11
MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
(Trích) Hoài Thanh
I. TÁC GIẢ:
Xuất thân trong gia đình nhà nho nghèo, sớm tham gia phong trào yêu nước. Viết văn từ những năm mới ngoài 20 tuổi. Hoạt động chủ yếu trong ngành văn hoá nghệ thuật: là nhà văn học xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại.
Tác phẩm nổi tiếng nhất là “Thi nhân Việt Nam”. Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1. Cách nhận diện “tinh thần thơ mới” của tác giả:
Cái khó trong việc tìm ra tinh thần thơ mới là ranh giới giữa thơ cũ và thơ mới không phải rạch ròi dễ nhận ra.
Các nhận diện:
Không thể căn cứ vào những bài thơ dở, thời nào chả có mà phải so sánh bài hay với bài hay.
Vả chăng cái mới và cái cũ vẫn tiếp nối qua lại cho nên phải so sánh trên đại thể.
Tinh thần thơ mới là chữ “Tôi”.
Cái khác ở chữ “Tôi” và chữ “Ta”. Ngày trước là thời chữ “Ta”, bây giờ là thời chữ “Tôi”.
Chữ “Tôi” trước đây nếu có thì cũng phải ẩn mình sau chữ “Ta”. Chữ “Tôi” bây giờ là chữ “tôi” theo ý nghĩa tuyệt đối của nó.
3. Bi kịch của “cái tôi” trong thơ mới và hướng giải toả bi kịch.
“Cái tôi” bây giờ đáng thương và tội nghiệp ở chỗ nó không còn cái cốt cách hiện ngang ngày trước. Thơ mới đang diễn ngấm ngầm dưới những phù hiệu dễ dãi trong hồn người thanh niên.
Họ giải quyết bi kịch bằng cách giữ cả vào Tiếng Việt là vong hồn các thế hệ đã qua. dẫn chứng trang. 103.
4. Nghệ thuật nghị luận:
Đặt vấn đề rõ, gọn (1 câu) dẫn chứng.
Dẫn dắt vấn đề khoa học, khéo léo và dễ hiểu, đảm bảo sự liền mạch trong hệ thống luận điểm, luận cứ, sự liên kết, chuyển tiếp giữa các ý, các đoạn trong bài 1 cách thống nhất.
Câu văn nghị luận giàu chất thơ có sức gợi cảm xúc và gây hứng thú cho người đọc.
Giọng văn: Đồng cảm chia sẻl à tấm lòng người viết thiết tha, thông cảm thấu hiểu. dẫn chứng. tr. 103.
Nghệ thuật lí luận chặt chẽ, thấu đáo, khoa học.
Khi tìm cái mới của thơ mới và các nhà thơ mới tác giả nhìn vấn đề trong mối quan hệ với thời đại với tâm lí người thanh niên đương thời là thấu đáo, sâu sắc.
Lí luận gắn bó chặt chẽ giữa những nhân định, luận điểm có tính khái quát những ví vụ cụ thể, đa dạng, giàu sức thuyết phục.
Có cái nhìn thấu đáo về “cái tôi” “Cái ta”, có sự so sánh giữa các câu thơ và nhà thơ cũ, mới trong diễn biến lịch | Soạn bài lớp 11_ Một thời đại trong thi ca | 570 | |
Soạn bài lớp 11: Nghĩa của câu
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Nghĩa của câu
Soạn bài: Nghĩa của câu dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây trong học kì II của mình.
Giáo án Ngữ văn 11 bài Nghĩa của câu
Soạn bài lớp 11: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
Soạn bài lớp 11: Luyện tập phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận
I. Hai thành phần nghĩa của câu
Nghĩa sự việc:
Khái niệm (Xem ở phần ghi nhớ)
Một số câu biểu hiện nghĩa sự việc
Câu biểu hiện hành động
Câu biểu hiện trạng thái, tính chất, đặc điểm
Câu biểu hiện quá trình
Câu biểu hiện tư thế
Câu biểu hiện quan hệ
Nghĩa tình thái
Khái niệm (xem ở phần nghi nhớ)
Nghĩa này là một lĩnh vực phức tạp, các em lưu ý hai trường hợp:
Sự nhìn nhận, đánh giá và thái độ của người nói đối với sự việc được đề cập đến trong câu (phỏng đoán, khẳng định, đánh giá…).
Tình cảm, thái độ của người nói đối với người nghe (kính cẩn, thân mật, hách dịch…)
II. Luyện tập
Tiết 1.
1. Phân tích nghĩa sự việc trong từng câu thơ ở bài Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến. Gợi ý: Các em dựa vào các thành phần chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ…. có ở trong câu tìm nghĩa tương ứng với sự việc được đề cập trong các thành phần câu đó.
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Nghĩa sự việc: về mùa thu nước ao rất trong và lạnh.
2. Tách nghĩa tình thái và nghĩa sự việc trong những câu sau:
Có một ông rể quý như Xuân kể cũng danh giá thực nhưng cũng đáng sợ lắm. Nghĩa sự việc: có một ông rể quý như Xuân dang giá nhưng cũng đáng sợ.
Tình thái: “Kể…. thực” khẳng định tính chân thực của sự việc.
b. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi. Nghĩa sự việc: hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi.
Nghĩa tình thái: “Có lẽ” phỏng đoán.
c. Để họ cùng phân vân như mình, vì đến chính ngay mình, mình cũng không biết rõ con gái mình có hư hay là không! Nghĩa sự việc: họ cũng phân vân như mình vì cũng không biết rõ con gái mình có hư hay không!
Nghĩa tình thái: “Dễ”- > Phỏng đoán “Chính” – > Khẳng định
3. Chọn từ ngữ hợp nhất có thể thêm vào chỗ trống trong câu sau để câu thể hiện đúng hai thành phần: nghĩa sự việc và nghĩa tình thái. Chọn từ: Hẳn. | Soạn bài lớp 11_ Nghĩa của câu | 450 | |
Soạn bài lớp 11: Nghệ thuật băm thịt gà
Hướng dẫn
Soạn bài: Nghệ thuật băm thịt gà
Soạn bài lớp 11: Nghệ thuật băm thịt gà trích trong thiên phóng sự Việc làng do Ngô Tất Tố sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về những hủ tục nhiêu khê và lạc hậu của ở nông thôn Việt Nam đầu thế kỉ. Những hủ tục ấy đã đẩy người dân quê vào cảnh cùng quẫn và tạo cơ hội để bọn cường hào, địa chủ áp bức dân lành giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Hạnh phúc của một tang gia
Soạn bài lớp 11: Viết đoạn văn lập luận so sánh
NGHỆ THUẬT BĂM THỊT GÀ
(Trích Việc làng)
Ngô Tất Tố
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Ngô Tất Tố (1894 – 1954) quê ở làng Lộc Hà, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh, nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Ông học chữ Hán, chữ Nôm và cả tiếng Pháp. Ông là một trong những nhà Nho đầu tiên viết báo rất nhiều và viết rất hiện đại. Gắn liền với tên tuổi của Ngô Tất Tố là hai tiểu thuyết Tắt đèn (1936), Lều chõng (1939) và hai phóng sự Tập án cái đình (1939), Việc làng (1940)…
Việc làng là thiên phóng sự dài 17 chương với nội dung ghi lại, phân tích và phơi bày những hủ tục nhiêu khê và lạc hậu của ở nông thôn Việt Nam đầu thế kỉ. Những hủ tục ấy đã đẩy người dân quê vào cảnh cùng quẫn và tạo cơ hội để bọn cường hào, địa chủ nhũng nhiễu dân lành.
Đoạn trích Nghệ thuật băm thịt gà thuộc chương IV của phóng sự. Đoạn trích tả một cảnh chia thịt gà hiếm thấy ở một làng. Qua việc chia thịt gà ấy tác giả châm biếm bọn cường hào chức dịch tham lam, bần tiện trong làng. Chúng ngồi thật cao, ra vẻ cao sang nhưng thực chất là một lũ tham ăn, chia nhau 1/5 cái sỏ gà. Với cách kể nhẹ nhàng tự nhiên, Ngô Tất Tố đã châm biếm một cách rất sâu sắc những hủ tục quái gở, mọi rợ. Và miếng ăn đã trở thành miếng nhục với cái lệ làng nhiêu khê ấy.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Nhà văn xem “băm thịt gà” là một “nghệ thuật” và người băm thịt gà là một người nghệ sĩ. Đây chỉ là cách nói châm biếm. Nhà văn thán phục tài băm thịt của anh Mới những thán phục để nói lên cái sự chia phần khủng khiếp của làng nọ. Nghệ thuật băm thịt của anh Mới không thể hiện ở việc chặt đẹp, trình bày nghệ thuật mà ở việc chia nhỏ con gà tới hơn hai chục cỗ đều nhau, mình con gà chặt thành 92 miếng. Cái tài năng đến trình độ “nghệ sĩ”, được coi là nghệ thuật ấy của anh Mới lại gắn với một mục đích dung tục. Cái tài của anh Mới chứng tỏ rằng việc băm một con gà to khoảng “một người ăn cố mới hết” thành hơn một trăm miếng không thể là tài năng bẩm sinh. Nó là công việc phải rất quen làm, được tôi luyện nhiều lần. Anh Mới băm thịt gà vô cùng thành thạo và điêu luyện. Nó chứng tỏ đây là công việc rất quen thuộc của anh. Đó chính là công việc quen thuộc ở làng. Và ở đây miếng ăn đã trở thành một cái gì vô cùng quan trọng. Và nó đã trở thành một tệ nạn.
2. Nghệ thuật băm thịt gà của anh Mới được tập trung ở đoạn 3. Người ghi chép lại sự việc lần lượt tường thuật các bước thực hiện công việc của anh Mới.
Phần chuẩn bị dụng cụ, bát đĩa, mâm, dao, thớt, tính toán. Anh ta chia mâm xôi rồi thử dao, đổi thớt, liếc dao. Công việc chuẩn bị rất cẩn thận và kì công.
Thực hiện công việc: người quan sát miêu tả tỉ mỉ từng hành động, và cách băm thịt gà. Anh Mới lần lượt:
Chia bộ lòng gà đều cho mười đĩa, “không đĩa nào thiếu một thứ nào”.
Chặt sỏ và phao câu rồi đứng lên hỏi “sỏ gà pha mấy?”. Sỏ gà pha năm. Phao câu pha bốn. Người chứng kiến tả lại việc làm của anh mõ và nhận xét về kết quả chia phần tài tình của anh ta.
Chặt cánh gà, chân gà.
Băm mình con gà là việc kì công nhất. Mình con gà được chia làm 92 miếng “Không dập, không nát, không bong da, nó giống như tập cánh con bươm bướm. Nếu để trước môi mà thổi, có thể bay được mười thước.”
Chia thịt gà vào các mâm xôi.
Nếu chỉ có đoạn 3 thì thiên phóng sự này sẽ mất đi giá trị hiện thực, giảm giá trị phê phán và tính hấp dẫn, kịch tính. Ở đoạn 1 và 2 tác giả đã giới thiệu về hoàn cảnh, tình huống dẫn đến việc băm thịt gà. Phần này giúp người đọc hình dung được lệ làng ở đây. Nêu không có hai đoạn này, việc băm thịt gà của anh Mới có vẻ giống một nghi lễ.
Đoạn 4 là lời nhận xét của Lăng Vân và tác giả về tài của anh Mới. Tuy ngắn gọn những đã thể hiện được thái độ của tác giả, đso là thái độ châm biếm, phê phán một cách kín đáo cái lệ làng nhiêu khê này.
3. Tác giả tập trung theo dõi và miêu tả rất tỉ mỉ việc băm thịt gà của anh mõ làng. Từ công việc chuẩn bị đến hành động nhỏ là thử thớt, liếc dao của anh ta. Nhân vật tôi cũng quan sát từng miếng sỏ gà, phao câu và cách chia phần của anh mõ, cách anh lách lưỡi dao rồi chia mình con gà, âm thanh tiếng dao thớt, khoảng cách lưỡi dao, tay người chặt và nhữung miếng thịt gà… Người kể chuyện đã không bỏ qua bất cứ một chi tiết nhỏ nào trong chuỗi hành động băm thịt gà của anh Mới. Quan sát tỉ mỉ và miêu tả chi tiết như người ta tường thuật một cuộc biểu diễn nghệ thuật…
Nhưng điều tác giả muốn nói chắc chắn không phải là ca ngợi tài băm thịt gà của anh Mới. Tác giả đã vô cùng ngạc nhiên và ra vẻ thán phục: “Tôi chịu lắm. Và tôi muốn dâng cho anh Mới ấy cái chức nghệ sĩ”. Sản phẩm của cái “nghệ thuật băm thịt gà” của anh Mới được người kể chuyện nhận xét: “Trông những miếng thịt của hắn bốc ra góc mâm, mới đẹp làm sao! Không dập, không nát, không bong da, nó giống như tập cánh con bươm bướm. Nếu để trước môi mà thổi, có thể bay được mười thước.”
Đã đành việc chia phần công bằng giữa làng là vô cùng quan trọng, nhưng chia cái lễ thành 23 phần như thế thì quả là khủng khiếp. Đến việc băm cái sỏ gà thành mấy phần anh mõ làng cũng phải đứng lên để hỏi ý kiến các cụ. Không trực tiếp thể hiện thái độ những qua giọng điệu và cách miêu tả rất chi tiết việc băm thịt gà của anh Mới, người kể chuyện đã thể hiện thái độ phê phán của mình đối với một cái “việc làng” nhiêu khê và lạ lẫm ở làng quê.
4. Câu chuyện được ghi lại qua cái nhìn của nhân vật tôi, một người lạ, lần đầu tiên được chứng kiến. Nên vừa ghi chép, người kể vừa thể hiện sự ngạc nhiên, tò mò của mình trước những chuyện được chứng kiến. Điều đó làm người đọc cũng bị cuốn hút vào câu chuyện. Tác giả đã dùng một biện pháp đặc trưng của nghiệp vụ báo chí là ghi chép tại chỗ và ghi rất tỉ mỉ bằng cái nhìn khách quan của người ngoài cuộc. Người đọc bị thu hút vào câu chuyện và được dẫn dắt từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Chọn hình thức này tác giả đã tạo nên tính xác thực của câu chuyện được kể, nhờ đó giá trị phê phán càng thêm sâu sắc. Không gay gắt, cay nghiệt như Vũ Trong Phụng viết Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, phóng sự của Ngô Tất Tố thiên về phê phán một cách thâm thuý, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Đó là phong cách của một nhà Nho viết báo. | Soạn bài lớp 11_ Nghệ thuật băm thịt gà | 1,473 | |
Soạn bài lớp 11: Người cầm quyền khôi phục uy quyền
Hướng dẫn
Soạn văn 11 bài Người cầm quyền khôi phục uy quyền
Soạn văn 11 bài: Người cầm quyền khôi phục uy quyền trích trong Những người khốn khổ do V.Huygo sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn văn Người cầm quyền khôi phục uy quyền dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Về luân lí xã hội ở nước ta
Bài giảng Người cầm quyền khôi phục uy quyền
Giáo án Ngữ văn 11 bài Người cầm quyền khôi phục uy quyền
Văn mẫu lớp 11: Phân tích đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền
NGƯỜI CẦM QUYỀN KHÔI PHỤC UY QUYỀN
(Trích “Những người khốn khổ” – V.Huygo)
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
V. huy – gô (1802 – 1885)
Cuộc đời:
Ông sống trong một thời đại nước Pháp đầy bão tố rối ren về chính trị, mâu thuẫn chất chồng
Gia đình của ông vô cùng phức tạp và mâu thuẫn lẫn nhau trong khi cha là người chiến sĩ trẻ thì mẹ lại là người ủng hộ cho phái bảo hoàng
Ông là một nhà cách mạng có tư tiến bộ và lỗi lạc
Con người ông mang một niềm khát khao tự do và trái tim tràn đầy yêu thương
Sự nghiệp
Ông là một trong những nhà văn tiêu biểu ở pháp ở thế kỉ XIX
Ở lĩnh vực nào ông cũng hái được thành công và vinh dự khi được người đời gọi là “thần đồng thơ ca”, “người khổng lồ” và “một thiên tài sáng tạo”
Phong cách sáng tác hướng ngòi bút vào những người khốn khổ, phát hiện những mâu thuẫn của xã hội và giải quyết trên nguyên tắc tình thương. Là nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa lãng mạn không tưởng
Các tác phẩm chính như: thơ: lá thu, trừng phạt, mặc tưởng…; tiểu thuyết: nhà thờ đức bà Pa ri, những người khốn khổ…; kịch: hec-na-ki
2. Tác phẩm, đoạn trích
a. Hoàn cảnh sáng tác: tác phẩm này được hoàn thành trong vòng 15 năm, nó đi qua cả thăng trầm của nhà văn khi từ một bậc nguyên lão thành một kẻ bị đi đày.
b. Bố cục của tác phẩm: 5 phần
Phần 1: Phăng tin
Phần 2: Cô dét
Phần 3: Mari- uýt
Phần 4: tình ca phố
Phần 4: Giăng Văn Giăng
c. Đoạn trích:
Thuộc phần cuối của phần 1
Bố cục: 2 phần:
phần 1: từ đầu đến Phăng tin tắt thở: Gia ve biết thân phận của ông thị trưởng Ma đơ len chính là tên tù khổ sai giăng van giăng đến bắt ông và gây nên cái chết của Phăng tin
phần 2: còn lại: Giăng Van Giang tìm lại uy quyền của mình
Nhan đề: thể hiện chủ đề tư tưởng của truyện, “người cầm quyền” ở đây chính là giăng văn giăng và đến cuối cùng chính anh đã “khôi phục uy quyền của mình”
II. Tìm hiểu chi tiết
1. Nhân vật Gia ve
a. Trong mối quan hệ với Giăng Văn Giăng
Trước khi Phăng tin chết
Giọng nói không còn là tiếng người mà giống tiếng thú gầm
Bộ mặt trông gớm ghiếc
Đôi mắt như cái móc sắt nhọn
Nụ cười man rợ phô ra tất cả các hàm răng giống như quái thú
Ngôn ngữ xưng hô: mày tao, gọi người khác là con đĩ
Hành động hách dịch hét lên, vừa gầm vừa như thôi miên con mồi, nhìn chằm chằm vào con mồi, lao tới tiến vào giữa phòng, tóm lấy cổ áo, đắc ý cười…
Sau khi Phăng tin chết:
Vẫn điên cuồng
Sau đó thì phát khùng hét lên, lùi ra phía cửa, định gọi lính nhưng sợ giăng van giăng trốn nên hắn đứng lại, tay nắm lấy lan can trong bộ dạng không thể chống cự chỉ biết nhìn vào nhất cử nhất động của giăng văn giăng
-> Đến đây thì hắn tự dưng thay đổi hoàn toàn hắn không còn được nắm quyền trong tay mình nữa
b. Trong mối quan hệ với Phăng tin
Với tư cách là một người bênh mà hắn không cần quan tâm dám thốt ra những lời nhục mạ
Với tư cách là một người mẹ: thì hắn nhẫn tâm cho bà biết về sự thật đáng buồn kia
Khi Phăng tin chết vì chính những lời lẽ của hắn thì hắn không chút mảy may quan tâm
Điều đó cho thấy Gia ve quả là một con người nhẫn tâm và độc ác
2. Nhân vật Giăng Văn Giăng
a. Đối với nhân vật Gia ve
Vì Phăng tin cho nên Giăng Văn Giăng đã xin Gia ve đừng nói những sự thật ra nhưng hắn không chịu
Và kết cục thì giăng văn giăng phải hành động để cho hắn phải nghe lời
Đối với đoạn này thì thật sự giăng văn giăng đã tìm lại quyền cho mình
Ông luôn muốn trì hoãn che dấu phăng tin sự thật
Ông ngăn cản gia ve nói ra sự thật, anh xin hắn
-> Ông muốn để cho Phăng tin sống chứ nếu biết sự thật thì cô không còn mục đích nào đẻ sống trên đời này cả
Gia ve không đồng ý và cái chết của Phăng tin đã xảy ra, giăng văn giăng lúc này không còn nhún nhường nữa mà lớn tiếng đứng dậy vạch tội Gia ve
Ông ngắm Phăng tin yên lặng bên cô -> thể hiện sự đau đớn khôn xiết
Ông hứa sẽ mang con của cô trở về
-> Ông quả là một người có tấm lòng nhân hậu thương người, trong phút chót cái thiện đã thắng cái ác, gia ve phải lùi bước trước giăng văn giăng
3. Nhân vật Phăng tin
Là một người mẹ hết lòng vì con
Bán thân bán tóc, bán răng để lo cho con
Hi vọng cuối cùng trước khi nhắm mắt là được nhìn thấy con mình
III. Tổng kết
Câu chuyện khép lại và mở ra nhiều suy nghĩ về những kiếp người khốn khổ bị đàn áp đến khi chết vẫn còn khổ vẫn không hoàn thành tâm nguyện của mình
Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn
Xây dựng tình huống kịch tính | Soạn bài lớp 11_ Người cầm quyền khôi phục uy quyền | 1,028 | |
Soạn bài lớp 11: Người trong bao
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Người trong bao
Soạn bài: Người trong bao do SêKhốp sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Đặc điểm loại hình của Tiếng Việt
Soạn bài lớp 11: Tiểu sử tóm tắt
Bài giảng Người trong bao Ngữ văn 11
Giáo án bài Người trong bao
Người trong bao
SÊKHỐP
Câu 1. Hình tượng “Người trong bao” – nhân vật Bê-li-cốp.
Chân dung Bê-li-cốp: Điển hình cho kiểu người cố thu mình vào trong cái vỏ, một thứ “bao” có thể ngăn cách, bảo vệ mình khỏi những ảnh hưởng của cuộc sống bên ngoài. Chân dung Bê-li-cốp được vẽ bằng những nét kì quái nhưng rất cụ thể:
Lúc nào cũng đi “giày cao su”, “cầm ô” và “mặc áo bành tô ấm cốt bông” (những thứ có thể giúp hắn bao học, giấu mình).
Mọi vật dụng đều được để trong những chiếc bao: “Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao…và khi rút chiếc dao nhỉ, thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao. Cả bộ mặt… dường như cũng ở trong bao…”.
“Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chân, lỗ tai nhét bông và khi ngồi lên xe ngựa thì bao giờ cũng cho kéo mui lên”. Nghĩa là hắn không muốn nhìn, không muốn nghe, không muốn để thế giới bên ngoài tiếp xúc vào con người hắn. Quả là một sự thu mình tuyệt đối và đó cũng chính là “khát vọng mãnh liệt” của hắn.
Ngay cả ý nghĩ hắn cũng cố giấu vào bao, không bao giờ hắn có ý kiến riêng trước bất cứ vấn đề nhỏ, to nào.
Nhút nhát, ghê sợ hiện tại nhưng tại ngợi ca quá khứ, ngợi ca những gì không bao giờ có thật.
Chỉ thích sống với những “cái rõ ràng” như thông tư, chỉ thị (cách sống giáo điều, rập khuôn như cái máy vô hồn) và cảm thấy rầu rĩ trước những chuyện vi phạm khuôn phép, trái với lẽ thường.
Lúc nào cũng lo lắng, sợ hãi (Câu văn lặp đi lặp lại nhiều lần “nhớ lại xảy ra chuyện gì” cho thấy hắn luôn tự suy diễn, phỏng đoán để tự tạo nên nỗi sợ hãi cho mình. Điều đó càng làm nổi bật tính cách hèn nhát, quái đản của hắn).
Tính cách kì quái của hắn còn thể hiện một cách sinh động trong sinh hoạt và đời sống tình cảm (buồng ngủ, quan hệ với bạn đồng nghiệp, chuyện tình yêu muộn màng….)
Một con người hèn nhát, cô độc, giáo điều, luôn thu mình trong vỏ bọc nhưng lại cảm thấy hài lòng, thỏa mãn với lối sống cổ lỗ của mình. Anh ta tự nguyện, tự giác tuân thủ lối sống trong bao một cách nghiêm túc và vì vậy anh ta chẳng cảm nhận được thái độ ghê sợ, khinh ghét của mọi người đối với mình. Bê-li-cốp không hiểu cuộc sống và con người hiện tại, chỉ đắm chìm trong quá khứ, thu mình một cách cô độc “trong bao”, tự mình làm khổ mình, làm khổ mọi người.
Lối sống của Bê-li-cốp ảnh hưởng mạnh mẽ và dai dẳng đến cuộc sống tinh thần và hoạt động của giáo viên và nhân dân thành phố.
Thái độ thận trọng, đa nghi khiến hắn luôn xét nét cuộc sống và hành vi của mọi người. Mọi người sợ hắn “sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách, giúp đỡ người nghèo, dạy học chữ…”. Hắn đã khống chế cả trường, cả thành phố suốt mười lăm năm dai dẳng.
Kô-va-len-cô (em trai Va-ren-ca, người Bê-li-cốp thích nhưng còn đăn đo chưa chịu ngỏ lời cầu hôn hắn sợ “nhớ lại xảy ra chuyện gì thì sao”) ghét cay ghét đắng Bê-li-cốp. Anh đã bị Bê-li-cốp chỉ trích là sống “buông thả” không có “thể thống” khi anh mặc áo thêu ra đường, đi ngoài phố còn cầm theo sách này sách nọ, lại còn cười xe đạp khi chưa có chỉ thị nào cho phép. Lối giáo huấn máy móc của hắn khiến Kô-va-len-cô khó chịu dẫn đến gây gổ, to tiếng với hắn, đẩy hắn ngã xuống cầu thang.
Ngay cả khi Bê-li-cốp chết rồi ảnh hưởng của lối sống đó vẫn còn dai dẳng bởi vì hắn là điển hình cho một kiểu người, một hiện tượng xã hội đã và đang tồn tại trong cuộc sống của một bộ phận trí thức Nga cuối thể kỉ XIX.
Việc hắn bị Kô-va-len-cô đẩy ngã xuống cầu thang đã bị Va-ren-ca nhìn thấy (chẳng ra thể thống gì), Va-ren-ca còn “cười phá lên”, “cười âm vang, lảnh lót”. Điều kinh khủng nhất đối với hắn là sẽ biến thành trò cười cho thiên hạ mà trước hết là tiếng cười của Va-ren-ca. Hắn chết và hắn được nằm trong quan tài – “Cái bao” bền vững nhất, đó là khát vọng mãnh liệt – kì dị cả đời Bê-li-cốp.
Khi Bê-li-cốp còn sống mọi người sợ hãi, căm ghét, bị ám ảnh. Khi hắn chết mọi người cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Nhưng chưa được bao lâu cuộc sống lại diễn ra như cũ nặng nè, mệt nhọc, vô vị, tù túng.
Từ đó nhà văn muốn nói đến tác động dai dẳng, nặng nề, của kiểu người Bê-li-cốp, đã ám ảnh đầu độc bầu không khí trong sạch, làm kìm hãm sự tiến bộ của xã hội nước Nga đương thời. Nhà văn muốn thức tỉnh mọi người “không thể sống như thế mãi được”.
Câu 3. Ý nghĩa tư tưởng – nghệ thuật của hình ảnh “cái bao”.
“Cái bao” là một sáng tạo độc đáo của tác giả. Kiểu người trong bao, lối sống trong bao, đó là sự tự thu mình trong lối sống hèn nhát, cá nhân, ích kỉ tầm thường.
Thư đề tư tưởng của tác phẩm:
Lên án, phê phán lối sống trong bao.
Kêu gọi mọi người cần phải thay đổi cách sống: sống tự nhiên lành mạnh, trong sáng, có ý nghĩa và cao đẹp hơn.
Câu 4. Những đặc sắc về nghệ thuật.
Ngôi kể: Nhân vật trong truyện đồng thời là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất (Pu-rơ-kin). Tác giả giữ ngôi thứ ba kể lại câu chuyện của Pu-rơ-kin. Tăng tính chân thật, khách quan cho câu chuyện.
Giọng kể trầm tĩnh, bình thản, khách quan nhưng bên trong đầy trăng trở, bức xúc.
Xây dựng nhân vật vừa cụ thể vừa khái quát, tính cách nhân vật kì quái mà vẫn chân thực.
Hình ảnh “cái bao”, câu nói lặp đi lặp lại của nhân vật “Nhỡ lại xảy ra việc gì thì sao”. Có giá trị nghệ thuật cao.
Câu 5. Trao đổi, thảo luận về ý nghĩa thời sự của truyện “Người trong bao”.
Lối sống trong bao vẫn tồn tại trong xã hội ngày nay trong học đường (ở một số cá nhân): hèn nhát, ích kỉ, giáo điều, hèn hạ trước quyền lực.
Các em cần bày tỏ thái độ, tình cảm.
Phê phán, chỉ trích, không đồng tình với lối sống đó.
Xác định lối sống lành mạnh, chan hòa với mọi người, sống theo chuẩn mực văn hóa, đạo đức của cộng đồng hiện đại. | Soạn bài lớp 11_ Người trong bao | 1,240 | |
Soạn bài lớp 11: Ngữ cảnh
Hướng dẫn
Soạn bài: Ngữ cảnh
Soạn bài lớp 11: Ngữ cảnh thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm, các yếu tố làm nên ngữ cảnh, đặc điểm của ngữ cảnh giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Hai đứa trẻ
Soạn bài lớp 11: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng tám 1945
NGỮ CẢNH
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Khái niệm
Ngữ cảnh là tất cả những gì có liên quan đến việc tạo lập và hiểu câu nói, bao gồm văn cảnh và tình huống giao tiếp
Văn cảnh là những từm ngữ, câu đi trước hoặc đi sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét.
Tình huống giao tiếp: Trước hết, đó là tình huống giao tiếp cụ thể, tức hoạt động giao tiếp diễn ra ở đâu, bao giờ, các bên tham gia giao tiếp gồm những ai.
Trong tình huống giao tiếp, quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp là yếu tố quan trọng, bao gồm: quan hệ xã hội (quan hệ thân sơ, quan hệ vị thế), trạng thái tâm lí, hiểu biết, chủ đề giao tiếp, mục đích giao tiếp, công cụ giao tiếp…
Tình huống giao tiếp còn được hiểu rộng hơn là bối cảnh văn hoá, xã hội, chính trị… của cuộc giao tiếp.
1. Những yếu tố làm nên ngữ cảnh của cuộc giao tiếp trong trích đoạn tuồng Đổng Mẫu.
Văn cảnh là lời đối thoại giữa các nhân vật về việc ép Đổng Mẫu hàng họ Tạ.
Tình huống giao tiếp bao gồm:
Dưới triều nhà Tề ở Trung Quốc, trong phủ họ Tạ.
Các nhân vật giao tiếp chia làm hai phe: chính nghĩa có Đổng Mẫu, Đổng Kim Lân (quan hệ thân sơ – hai mẹ con), phe phi nghĩa có Hổ Bôn, Lôi Nhược, Ôn Đình (vừa quan hệ vị thế – anh em, vừa quan hệ thân sơ – chủ tớ). Hai phe ở trong tình thế đối nghịch nhau. Ngôn ngữ, cách xưng hô của các nhân vật thay đổi theo diễn biến nội dung câu chuyện.
Tình huống giao tiếp: Thái sư Tạ Thiên Lăng cướp ngôi vua Tề, Đổng Kim Lân không chịu khuất phục. Anh em Tạ Thiên Lăng sai bắt mẹ Kim Lân để buộc chàng phải quy thuận. Nhưng Đổng Mẫu đã không chịu khuất phục, bà thà chịu chết chứ không chấp nhận để con trai quy hàng giặc Tạ.
2. Cuộc giao tiếp giữa nhà văn và độc giả là một cuộc giao tiếp đặc biệt, ngoài các yếu tố chung của hoạt động giao tiếp, cuộc giao tiếp này có một số điểm khác biệt với giao tiếp hàng ngày.
Nhân vật giao tiếp không đối diện nhau.
Nội dung giao tiếp là vấn đề nhà văn đặt ra trong tác phẩm, sản phẩm sáng tạo của nhà văn.
Công cụ giao tiếp là ngôn ngữ, là hình tượng nghệ thuật do nhà văn xây dựng trong tác phẩm.
Hoàn cảnh giáo tiếp rất đa dạng.
Quan hệ giao tiếp: người sáng tạo – người thưởng thức.
Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm chính là một yếu tố quan trọng của tình huống giao tiếp. Đó là bối cảnh văn hoá xã hội của hoạt động giao tiếp. Hoạt động giao tiếp bao gồm hai tầng: cuộc giao tiếp giữa nhà văn và bạn đọc, cuộc giao tiếp giữa các nhân vật trong tác phẩm.
Tiểu sử tác giả cũng là một yếu tố của hoàn cảnh giao tiếp, nó ảnh hưởng và để lại dấu ấn trong sáng tác của nhà văn. Tìm hiểu tiểu sử của nhà văn là tìm hiểu về hoàn cảnh và nhân vật giao tiếp.
Ví dụ: Tìm hiểu Chiếu cầu hiền cần biết:
Ngô Thì Nhậm là ai, sinh vào thời nào, là người ra sao, tại sao lại viết Chiếu cầu hiền?
Chiếu cầu hiền được viết trong hoàn cảnh nào và với mục đích gì?
Từ đó mới thấy được việc Quang Trung giao cho Ngô Thì Nhậm viết Chiếu cầu hiền trong hoàn cảnh đó là đúng đắn và cần thiết. Những lí lẽ mà tác giả đưa ra trong bản chiếu đã thể hiện được đường lối trị nước đúng đắn của vua Quang Trung.
4. Cách xưng hô của nhân vật trong đoạn trích Cha tôi của Đặng Huy Trứ có sự thay đổi khi sang trọng khi thân mật là do ngữ cảnh đối thoại quy định. Cùng một nhân vật nhưng khi tham gia vào những cuộc giao tiếp khác nhau (khác về đối tượng giao tiếp, khác về nội dung giao tiếp, khác về mục đích giao tiếp, khác về ngữ cảnh,…) sẽ có vị thế giao tiếp khác nhau. | Soạn bài lớp 11_ Ngữ cảnh | 814 | |
Soạn bài lớp 11: Nhớ đồng
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Nhớ đồng
Soạn bài: Nhớ đồng do Tố Hữu sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Chiều tối
Giáo án bài Nhớ Đồng
Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài thơ Nhớ Đồng của Tố Hữu
NHỚ ĐỒNG
TỐ HỮU
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành
Ông không chỉ là một nhà thơ tài ba mà còn là một nhà chiến sĩ cách mạng anh dũng quả cảm
Ngay từ nhỏ Tố Hữu đang thể hiện được tình yêu với văn học
Sinh ra trong thời đại nước mất nhà tan Tố Hữu ý thức được trách nhiệm của mình và trở thành một người cách mạng cứu nước
Sự nghiệp sáng tác của ông gắn liền với con đường cách mạng. Nói cách khác gần như những tập thơ của Tố Hữu đều nói đến những gì của xã hội ở thời điểm chặng đường đó: ví như trong cuộc kháng chiến chống Pháp Tố Hữu sáng tác tập thơ Từ Ấy…
Các tập thơ lớn của Tố Hữu để lại vô cùng có ý nghĩa
2. Tác phẩm
a. Hoàn cảnh sáng tác: năm 1939 chiến tranh thế giới thứ hai có nguy cơ bùng nổ, trước tình hình đó Pháp tập trung đàn áp phong trào đấu tranh ở Đông Dương. Trong khi ấy nhà thơ Tố Hữu hăng hái hoạt động khi được kết nạp Đảng vừa được một năm thì bỗng dưng bị thực dân Pháp bắt giam. Chí lớn còn đang dang dở mà nhà tù thì chật hẹp vô cùng. Trong tình cảnh ấy nhà thơ đã viết bài thơ này để bày tỏ nỗi nhớ, sự khao khát tự do của mình
c. Đề tài: nhà thơ nhớ cuộc sống bên ngoài nhà tù
d. Chủ đề: vấn đề nhà thơ nhớ da diết cuộc sống bên ngoài nhà tù
e. Tư tưởng: thể hiện sự khát khao tự dó và yêu cuộc sống bên ngoài của nhà thơ
d. Bố cục: 3 phần:
Phần 1: 9 khổ thơ đầu: nỗi nhớ của người cộng sản với cuộc sống bên ngoài nhà tù
Phần 2: 2 khổ tiếp: nhà thơ nhớ về bản thân mình những ngày chưa bị giam cầm
Phần 3: còn lại: trở lại thực tại phòng giam ngột ngạt
II. Tìm hiểu chi tiết
1. Nỗi nhớ của người cộng sản với cuộc sống bên ngoài
Nhà thơ nhớ đến đầu tiên là tiếng hò ban trưa hiu quạnh -> đó phải chăng là tiếng hò Huế nơi sinh ra người chiến sĩ cộng sản này
Điệp từ “đâu” ở mỗi dòng thơ kết hợp với các hình ảnh “gió cồn thơm đất nhả mùi”, “ruồng che mát”, “ô mạ xanh mơn mởn”, “nương khoai”, “những con đường” -> giống như một câu hỏi, nhưng đúng hơn là nhà thơ đang nói nhưng gì không có thực tại nhà tù, nói đâu để thể hiện sự ngỡ ngàng cùng cực khi những gì đẹp nhất của trời tự do không được thấy
Hình ảnh những mái tranh thấp nằm ngủ im hơi rồi không đổi chỉ trôi mãi -> sự đơn sơ mộc mạc của làng quê
Nhà thơ lại tiếp tục nhớ đến những đồng ruộng mà gắn liền với hình ảnh ấy là hình ảnh những người nông dân với dáng “lưng cong” cúi xuống cày. Nhưng hơi bùn lên lại phảng phất niềm hi vọng. họ còn tiếp tục công việc reo mạ trồng lúa của mình -> hình ảnh đặc trưng của người dân Việt Nam
Nhà thơ nhớ những buổi chiều sương với hình ảnh của chiếc xe lùa nước
Tiếp tục nỗi nhớ của nhà thơ là người mẹ, nhà thơ như thương người mẹ già đơn chiếc, và cuối cùng tổng kết lại những con người nông dân chất phát thật thà tình cảm khoai sắn ngọt bùi biết mấy nhưng tất cả lại là quá xa xôi
2. Nhà thơ nhớ về bản thân mình khi còn tự do bên ngoài
Nhà thơ nhớ về mình những ngày chưa bị giam giữ như bây giờ. Ngày ấy từ một chàng thanh niên vẫn bâng khuâng đi kiếm lẽ yêu đời, sống sao cho có ích cho đẹp
Và đến khi nhà tìm thấy mình, con người có ích thật sự là sự kiện nhà thơ tìm thấy lý tưởng Đảng. Anh đang hoạt động say xưa hăng hái như con chim cà lơi
-> Nhà thơ như khái quát hóa hành trình đến với cách mạng của mình
3. Thực tai phũ phàng
Những nỗi nhớ trong tâm tưởng cứ dài triền miên như thế, những hình ảnh gọi kí ức đem giấc mơ về nhưng nhà thơ lại không thể nào trốn được khỏi thực tại phũ phàng này
Nhà thơ mong muốn thoát khỏi nơi ngục tối để được tiếp tục ngắm nhìn những hình ảnh quê hương ấy
-> Nhà thơ quả là một anh chiến sĩ cộng sản có lý chí, anh hùng và yêu quê hương đất nước
III. Tổng kết
Nhà thơ Tố Hữu đã để lại cho chúng ta một bài thơ vô cùng ý nghĩa, nó vừa nói lên được cảnh đẹp đơn sơ vùng nông thôn Việt Nam nói chung và nông thôn Huế nói riêng lại vừa thể hiện được ý chí kiên cường, khát khao tự do của người chiến sĩ cộng sản | Soạn bài lớp 11_ Nhớ đồng | 927 | |
Soạn bài lớp 11: Phong cách ngôn ngữ báo chí
Hướng dẫn
Soạn bài: Phong cách ngôn ngữ báo chí
Soạn bài lớp 11: Phong cách ngôn ngữ báo chí thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm, cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ báo chí giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Hạnh phúc của một tang gia
Soạn bài lớp 11: Nghệ thuật băm thịt gà
PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Khái quát về phong cách báo chí
a) Khái niệm: Là kiểu diễn đạt dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực truyền thông đại chúng báo in, đài phát thanh, đài truyền hình, internet… như tin tức, phóng sự, bình luận, tiểu phẩm, diễn đàn, thông tin quảng cáo…
b) Đặc điểm: tính thông tin sự kiện; tính ngắn gọn; tính hấp dẫn.
2. Cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ báo chí
a) Ngữ âm – chữ viết: Người nói phát âm chuẩn, đọc rõ ràng, tôn trọng người nghe; Người viết viết đúng quy cách.
b) Từ ngữ: Dùng vốn từ toàn dân, đa phong cách, tuỳ thuộc nội dung bài viết có thể dùng các vốn từ chuyên môn của các ngành.
d) Biện pháp tu từ: Sử dụng phù hợp với từng thể loại.
e) Bố cục trình bày: Rõ ràng, hợp lôgic, dễ tiếp thu. Một số thể loại có bố cục tương đối ổn định.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Hãy phân tích cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ báo chí được thể hiện trên trang nhất của một tờ báo mà anh (chị) đọc hàng ngày.
Gợi ý: Tuỳ thuộc vào tờ báo thường hay đọc, khi phân tích chú ý nêu rõ:
Tên báo, ngày xuất bản, báo thường dành cho đối tượng nào?
Trang nhất đề cập đến những vấn đề gì?
Phông chữ của mỗi phần? Những từ nào được viết tắt, viết hoa? Cách viết từ nước ngoài như thế nào? Sử dụng từ toàn dân không? Sử dụng từ chuyên ngành không, của ngành nào, có phù hợp nội dung bài viết không?…
Câu văn có rõ ràng chính xác không? Tên bài báo được đặt bằng cụm từ hay câu? có ngắn gọn không? Các bản tin được mở đầu như thế nào?
Lời dẫn gián tiếp, trực tiếp được sử dụng, trình bày như thế nào?
Có sử dụng biện pháp tu từ không?
Bố cục, cách trình bày của trang báo? Ý nghĩa của việc trình bày? (Nhằm nhấn mạnh điều gì?…)
Những đặc điểm trên có được sử dụng tương đối ổn định trong các số báo không hay chỉ mang tính nhất thời?
Gợi ý:
Đặt tên cho bài viết (Chẳng hạn: “Thư ngỏ’, “Lời muốn nói”, “Cùng chia sẻ”…)
Hô ngữ (“Các bạn thân mến!”, “Tập thể 11… yêu quý!”, “Thưa các bạn”…).
Lí do ra đời của tờ báo, xuất phát từ nhu cầu – yêu cầu thực tế của tập thể (Chẳng hạn: “Chia sẻ là một điều không thể thiếu trong đời sống tinh thần của chúng ta. Hơn thế, chúng ta còn cần học tập, trao đổi với nhau trong học tập, cuộc sống… Để tăng thêm tình đoàn kết, gắn bó của mỗi thành viên trong tập thể, BCH Chi đoàn 11… quyết định cho ra đời tờ Nguyệt san của lớp.)
Nội dung dự kiến của báo? (báo sẽ viết về những vấn đề gì?)
Lời mời gọi tham gia ủng hộ cho báo (Chẳng hạn: tờ Nguyệt san sẽ là cây cầu nối những bờ tâm tư của thành viên trong tập thể 11… yêu quý. Vậy rất mong các bạn sẽ cùng đọc, cùng gửi bài chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm, những kinh nghiệm học tập, những kiến nghị đề xuất,… Mọi thư từ bài vở xin gửi về…).
Có thể dùng một câu Khẩu hiệu để cổ vũ (Chẳng hạn: Hãy sẻ chia để đón nhận”, “Hãy nối bờ yêu thương”…)
Lời cảm ơn.
Có thể đặt một số tên như sau cho tin ngắn: Hiến máu nhân đạo dự trữ cho SEA Games 22, Hiến máu nhân đạo vì SEA Games 22, Hiến máu – tiếp sức SEA Games 22,… | Soạn bài lớp 11_ Phong cách ngôn ngữ báo chí | 730 | |
Soạn bài lớp 11: Phong cách ngôn ngữ chính luận
Hướng dẫn
Soạn văn 11 bài: Phong cách ngôn ngữ chính luận
Soạn bài: Phong cách ngôn ngữ chính luận thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Soạn văn 11 bài Phong cách ngôn ngữ chính luận này được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp hiểu rõ về ngôn ngữ chính luận để học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
I. VĂN BẢN CHÍNH LUẬN VÀ NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN:
1/ Tìm hiểu văn bản chính luận:
a. Văn bản chính luận:
Thời xưa: Hịch, cáo, chiếu, biểu…
Hiện đại: Cương lĩnh, tuyên bố, tuyên ngôn, báo cáo, tham luận…
b. Tìm hiểu ngữ liệu (SGK)
* Đoạn trích: Tuyên ngôn độc lập
Tuyên ngôn, tuyên bố… nhằm trình bày quan điểm chính trị của một đảng phái hay quốc gia nhân dịp một sự kiện trọng đại
* Đoạn trích: Cao trào chống Nhật cứu nước
Trích đoạn mở đầu trong tác phẩm chính luận CMDTDCND Việt Nam, tập I của đồng chí Trường Chinh Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
* Đoạn trích: Việt Nam đi tới -> Xã luận -> trên báo
Phân tích những thành tựu mới về các lĩnh vực của đất nước, vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Từ đó nêu những triển vọng tốt đẹp của CM trong thời gian tới
2/ Nhận xét chung về văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận:
a. Văn bản chính luận:
Ngôn ngữ chính luận còn được dùng trong các tài liệu chính trị khác, trong những tác phẩm lí luận có quy mô khá lớn: SGK.
Ngôn ngữ chính luận tồn tại ở dạng viết mà cả ở dạng nói.
Mục đích: Trình bày ý kiến hoặc bình luận, đánh giá một sự kiện, một vấn đề chính trị, một chính sách, chủ trương về văn hoá xã hội theo một quan điểm chính trị nhất định.
Nghị luận: Dùng để chỉ một loại thao tác tư duy; Một loại văn bản một kiểu làm văn trong nhà trường.
Chính luận: Chỉ một phong cách ngôn ngữ văn bản nhằm trình bày những quan điểm chính trị của quốc gia, đoàn thể, quan điểm chính trị…
c. Ngôn ngữ chính luận: Ngôn ngữ chính luận là ngôn ngữ được dùng trong các văn bản chính luận hoặc lời nói miệng trong các hội nghị hội thảo… nhằm trình bày bình luận đánh giá những sự kiện, những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hoá… theo một quan điểm chính trị nhất định.
BÀI TẬP PHẦN LÝ THUYẾT:
Bài tập 1: SGK
Bài tập 2: Chú ý các mặt hiểu hiện của phong cách chính luận trong đoạn văn:
Dùng nhiều từ ngữ chính trí.
Câu văn mạch lạc, chặt chẽ, tuy có thể dùng câu dài (câu thứ 3 ở ví dụ trong SGK)
Thể hiện rõ quan điểm chính trị về lòng yêu nước, đánh giá cao lòng yêu nước của ND ta.
Đoạn văn có sức hấp dẫn và truyền cảm: nhờ lập luận chặt chế, nhờ những hình ảnh so sánh cụ thể, sát hợp.
Bài tập 3:
Tình thế buộc chúng ta phải chiến đấu
Chiến đấu bằng mọi thứ có trong tay.
Niềm tin vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến.
II. CÁC PHƯƠNG TIỆN DIỄN ĐẠT VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN:
1. Các phương tiện diễn đạt:
b. Về ngữ pháp:
Câu văn trong văn bản chính luận có kết cấu chuẩn mực gần với những phán đoán logic trong một hệ thống lí luận chặt chẽ. VD: SGK.
Câu phức thường dùng những từ ngữ liên kết như: Do vậy, bởi thế, cho nên… Cho lí luận được chặt chẽ.
c. Về biện pháp tu từ:
Sử dụng rộng rãi các biện pháp tu từ.
Ngôn ngữ chính luận sử dụng các biện pháp tu từ đúng chỗ. Làm cho bài viết sinh động dễ hiểu, khắc sâu ấn tượng.
2. Đặc trưng của ngôn ngữ chính luận:
a. Tính công khai về quan điểm
Ngôn ngữ chính luận không chỉ thông tin một cách khách quan mà phải thể hiện đường lối, quan điểm, thái độ chính trị của người viết (người nói) một cách công khai dứt khoát, không che dấu, úp mở.
Từ ngữ phải được cân nhắc kỉ càng, đặt biệt những từ thể hiện lập trường, quan điểm chính trị.
b. Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận: Hệ thống luận điểm chặt chẽ, từng ý, từng câu, từng đoạn được phối hợp với nhau một cách hài hoà, mạch lạc.
c. Tính truyền cảm, thuyết phục:
Giọng văn hùng hồn tha thiết, bộc lộ nhiệt tình của người viết.
Đối với ngưới nói (diễn thuyết, tranh luận) thì nghệ thuật hùng biện là điều quan trọng để truyền cảm, thuyết phục trong đó ngữ điệu, giọng nói được coi là phương tiện cần thiết để hổ trợ cho lí lẽ, ngôn từ.
Bài tập 1: Các phép tu từ.
Điệp ngữ kết hợp điệp cú: Ai có… dùng…
Liệt kê: súng, gươm, cuốc, thuổng, gậy gộc.
Ngắt đoan câu (phối hợp với các phép tu từ trên) để tạo giọng văn dứt khoát, mạnh mẽ.
Bài tập 2: Có thể nêu một số ý:
Luận cứ: Ở thời đỏêm nào thì thanh niên cũng gánh vác nhiệm vụ quan trọng của đất nước, là trụ cột, là người chủ tương lai của đất nước.
Các luận chứng:
Thế hệ thanh niên trong CMT8
Thế hệ thanh niên trong kháng chiến chống Pháp và Mĩ.
Thế hệ thanh niên trong công cuộc xây dựng CNXH, hội nhập với thế giới.
Kết luận: Thanh niên phải học tập để xây dựng đất nước.
Bài tập 3: Có thể nêu một số ý:
a. Lòng yêu nước có thể giáo dục từ truyền thống nhưng một phần khác bắt nguồn từ những tình cảm thiết thực “Nhỏ bé” của mỗi người: Yêu người thân: cha, mẹ, ông, bà; Yêu làng quê và những kỉ niệm thời thơ ấu.
b.Tình cảm cụ thể và nhỏ bé nhưng sâu sắc, thiết tha, lòng yêu nước trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng và có ý thức thường trực trong mỗi con người.
c. Yêu nước là phải bảo vệ xây dựng đất nước | Soạn bài lớp 11_ Phong cách ngôn ngữ chính luận | 1,030 | |
Soạn bài lớp 11: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn
Hướng dẫn
Soạn bài: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn
Soạn bài lớp 11: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm, yêu cầu về phỏng vấn và trả lời phỏng vấn giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Đời thừa
Soạn bài lớp 11: Tác giả Nam Cao
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về phong cách ngôn ngữ báo chí
PHỎNG VẤN VÀ TRẢ LỜI PHỎNG VẤN
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Khái niệm
Phỏng vấn là phương thức hỏi đáp trong hội thoại nhằm thu nhận thông tin trực tiếp từ một đối tượng, đối tượng đó thường là người nổi tiếng hoặc một người liên quan đến sự việc mamg tính chất thời sự, người làm chứng,… Có thể phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn bằng phiếu hỏi, phỏng vấn qua điện thoại, qua mạng Internet… hình thức thường gặp là phỏng vấn trực tiếp.
Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn đang được sử dụng khá phổ biến trên báo chí và đời sống xã hội; có tác dụng tốt giúp lứa tuổi thanh niên học sinh rèn luyện khă năng quan sát, phân tích và thái độ chủ động tự tin trong giao tiếp.
2. Yêu cầu
Đối với người phỏng vấn: với mục đích khai thác, thu nhận thông tin, người phỏng vấn cần chuẩn bị thật chu đáo cho cuộc phỏng vấn. Trước khi phỏng vấn, xác định mục đích phỏng vấn, có hiểu biết về vấn đề và đối tượng phỏng vấn, xây dựng đề cương phỏng vấn với hệ thống câu hỏi phù hợp; khi phỏng vấn cần có thái độ tôn trọng người được phỏng vấn và tôn trọng các quy tắc giao tiếp, biết cách hỏi, khéo léo, biết lái nội dung câu chuyện sao cho suôn sẻ và đạt hiệu quả phỏng vấn…. Sau khi phỏng vấn, sửa chữa và sử dụng một cách trung thực nội dung thông tin đã thu nhận được có sự đồng ý của người được phỏng vấn, trình bày dưới hình thức hỏi đáp trực tiếp hoặc theo lối tường thuật.
Đối với người được phỏng vấn: cần có trách nhiệm với thông tin mà mình cung cấp, chỉ nên trả lời những gì mình đã nắm bắt rõ ràng. Có thể trả lời hoặc không trả lời câu hỏi nhưng nên có thái độ cởi mở, hợp tác trong đối thoại; cần tự tin, phản xạ nhanh trước các câu hỏi, trả lời ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu.
Khi xây dựng đề cương phỏng vấn cần:
Định hướng cụ thể, rõ ràng nội dung phỏng vấn.
Câu hỏi đặt ra phải tập hợp được các ý tưởng của người phỏng vấn về một vấn đề nhất định, đồng thời có những câu hỏi then chốt để phát triển mạch phỏng vấn.
Phán đoán các trước phương án trả lời của đối tượng để có những phản ứng phù hợp, đặt thêm câu hỏi phụ để có thông tin cần thiết.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Vấn đề dự định phỏng vấn đối với mỗi đối tượng
a. Đối tượng phỏng vấn là thầy (cô) hiệu trưởng
Vấn đề dự định phỏng vấn: lịch sử truyền thống, thành tích giáo dục, đội ngũ cán bộ công nhân viên của nhà trường; sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể địa phương…
b. Đối tượng phỏng vấn là một thầy (cô) giáo đã dạy học lâu năm tại trường
Vấn đề dự định phỏng vấn: tình cảm nghề nghiệp, những học sinh, đồng nghiệp để lại ấn tượng sâu đậm cho thầy cô; những kỉ niệm sâu sắc, khó phai trong sự nghiệp dạy học, những thành tích nổi bật,…
c. Đối tượng phỏng vấn là bác lao công, người có nhiều năm làm việc tại trường
Vấn đề dự định phỏng vấn: về sự thay đổi của nhà trường; những kỉ niệm, những tình cảm, những suy nghĩ về các cháu học sinh, công việc,…
2+4. Hệ thống câu hỏi cho từng đối tượng và dự kiến nội dung trả lời
Thầy (cô) hiệu trưởng:
Thưa thầy (cô), thầy (cô) có thể kể cho chúng em nghe những chặng đường lịch sử truyền thống của nhà trường được không ạ? (Dự kiến thông tin có được từ câu trả lời: ngày thành lập trường, lịch sử phát triển (các mốc lịch sử quan trọng đối với nhà trường, những biến đổi về quy mô, cơ sở vật chất, số lượng giáo viên, học sinh…, một vài kỉ niệm những năm đầu thành lập trường…)
Trong những năm học qua, trường ta đã đạt được rất nhiều những thành tích đáng ghi nhận, thầy (cô) có thể điểm qua những thành tích nổi bật nhất được không ạ? (Dự kiến thông tin có được: một số thành tích giáo dục của nhà trường về thi học sinh giỏi, thi giáo viên dạy giỏi, các danh hiệu nhà trường đã đạt được, các hoạt động TDTT, tấm gương GV và HS…).
Giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, vậy trong những năm qua nhà trường đã nhận được sự quan tâm như thế nào từ phía các ban ngành đoàn thể của địa phương ạ? (Dự kiến thông tin có được: Sự quan tâm, giúp đỡ phối hợp hoạt động của chính quyền địa phương, Đoàn thanh niên… các hoạt động cụ thể)
Thưa thầy (cô), là một người đã công tác rất lâu năm tại trường, hôm nay trong không khí kỉ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam, thầy (cô) có thể chia sẻ với chúng em những tình cảm nghề nghiệp, những suy nghĩ của thầy (cô) về các thế hệ học sinh mà thầy (cô) từng dạy dỗ được không ạ? (Dự kiến thông tin có được: Lòng yêu nghề, sự tin tưởng, tự hào; những nhận xét và tình cảm của mình đối với học sinh; một vài kỉ niệm về học sinh.)
Thưa thầy (cô), tâm trạng của cô trong những đầu tiên đến dạy tại trường và hiện giờ có gì khác nhau không ạ? Và bây giờ thấy (cô) nghĩ gì về thế hệ học sinh chúng em? (Dự kiến thông tin có được: Kể về những ngày đầu đến dạy tại trường, nói về điểm giống và khác nhau giữa hai thời gian công tác; lòng yêu quý, sự tin tưởng đối với học sinh…).
Bác lao công, người đã có nhiều năm làm việc tại trường:
Nêu lí do phỏng vấn, cảm ơn bác, người đã ba ngày tháng không biết mệt mỏi để giữ cho ngôi trường luôn xanh, sạch, đẹp.
Bác đã gắn bó với nhà trường bao nhiêu năm rồi ạ? Trong thời gian qua bác thấy nhà trường có những biến đổi như thế nào a? (Dự kiến thông tin có được: Số năm công tác, những thay đổi của nhà trường, khang trang, sạch đẹp hơn…)
Sau nhiều năm gắn bó với nhà trường, bác hãy chia sẻ cùng chúng cháu một vài kỉ niệm đáng nhớ giữa bác và nhà trường? Bác nghĩ gì về những học sinh như chúng cháu? (Dự kiến thông tin có được: một vài kỉ niệm, lòng yêu mến học sinh…)
3. Dự kiến lời mở đầu và kết thúc với mỗi đối tượng
Thầy (cô) hiệu trưởng:
Lời mở đầu: Thưa thầy (cô), sắp đến ngày 20 -11, chúng em mong muốn có thêm hiểu biết về truyền thống dạy và học của nhà trường để đưa vào “Trang vàng truyền thống” trong tờ báo của lớp em. Vậy, mong thầy (cô) chia sẻ với chúng em một số thông tin về truyền thống dạy và học rất đáng tự hào của trường.
Lời kết thúc: Chúng em xin cảm ơn thầy (cô) rất nhiều. Thầy (cô) đã giúp chúng em thêm tự hào về ngôi trường yêu quý của mình! Chúng em kính chúc thầy (cô) mạnh khoẻ tiếp tục thúc đẩy nhà trường đi lên trong sự nghiệp trồng người.
Lời mở đầu: Thưa thầy (cô), sắp đến ngày Nhà giáo Việt Nam, ngày mà cả đất nước tôn vinh nghề giáo, chắc hẳn thầy (cô) đang có rất nhiều tâm sự, cảm xúc. Vậy chúng em rất mong thầy (cô) sẽ chia sẻ với chuyên mục “Trang vàng truyền thống” trong tờ báo của lớp chúng em những suy nghĩ về nghề nghiệp, về tình cảm đối với học sinh chúng em.
Lời kết thúc: Chúng em xin cảm ơn thầy (cô) rất nhiều. Qua những lời chia sẻ của thầy (cô) chúng em thêm biết ơn những tình cảm và công lao dạy dỗ của các thầy, các cô đối với chúng em; chúng em thêm tự hào về mái trường THPT… của mình. Chúng em xin kính chúc thầy (cô) dồi dào sức khoẻ để tiếp tục đón nhận nhiều hơn nữa những tình cảm chân thành sâu sắc của học sinh chúng em!
Bác lao công, người đã có nhiều năm làm việc tại trường:
Lời mở đầu: Thưa bác, bác là một người thầy (người cô) thứ hai dạy chúng cháu những bài học rất thực tế về giữ gìn vệ sinh trường, lớp. Hôm nay trong không khí chào mừng ngày 20/11 chúng cháu rất mong bác sẽ chia sẻ đôi điều tâm sự với chuyên mục “Trang vàng truyền thống” trong tờ báo của lớp cháu. Bác đồng ý bác nhé!
Lời kết thúc: Chúng cháu cảm ơn bác rất rất nhiều, chúng cháu hứa sẽ giữ gìn vệ sinh thật sạch sẽ để được bác tiếp tục yêu quý! Chúng cháu chúc bác mạnh khoẻ và càng ngày càng thu được ít rác ạ!
5. Trình bày bài phỏng vấn
Tham khảo bài “Thăm nhà bác “Dế Mèn”” (SGK, tr. 225) và dựa vào các nội dung trên để trình bày các bài phỏng vấn. | Soạn bài lớp 11_ Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn | 1,667 | |
Soạn bài lớp 11: Thao tác lập luận bác bỏ
Hướng dẫn
Soạn Văn 11 bài: Thao tác lập luận bác bỏ
Soạn văn 11 bài Thao tác lập luận bác bỏ. Đây là bài soạn văn 11 mẫu tham khảo hay được sưu tầm, nhằm giúp các bạn học sinh lớp 11 thuận tiện hơn trong quá trình soạn bài ở nhà. Mời các bạn tham khảo bài soạn bài Thao tác lập luận bác bỏ mẫu dưới đây của chúng tôi.
Soạn bài lớp 11: Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ
Soạn bài lớp 11: Tóm tắt văn bản nghị luận
Thao tác lập luận bác bỏ
A. Kiến thức cơ bản
I. Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ
1. Khái niệm “lập luận bác bỏ”
Bác bỏ: Bác đi, gạt đi, không chấp nhận
Lập luận bác bỏ: Là cách thức đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng khoa học của mình để phủ nhận ý kiến, quan điểm thiếu chính xác của người khác. Từ đó, nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe.
2. Mục đích của thao tác lập luận bác bỏ
Dùng những lí lẽ, dẫn chứng đúng đắn, khoa học để chỉ rõ những sai lầm, thiếu khoa học của một ý kiến, quan điểm nào đó; đồng thời bày tỏ và bênh vực ý kiến đúng đắn.
Tác dụng: Là thao tác quan trọng giúp cho bài nghị luận thêm sâu sắc và giàu tính thuyết phục; là thao tác rất cần thiếttrong cuộc sống.
Phát hiện những sai lầm của họ
Đưa ra các lí lẽ và bằng chứng thuyết phục với giọng điệu dứt khoát, tự tin.
Tỏ thái độ khách quan, có chừng mực; phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng tranh luận.
II. Cách bác bỏ: Có thể bác bỏ một luận điểm, luận cứ, lập luận bằng cách
Nêu tác hại
Chỉ ra nguyên nhân
Phân tích những khía cạnh sai lệch, thiếu chính xác của chúng.
B. Luyện tập
Bài tập 1- trang 24 SGK Ngữ Văn 11, tập 2, ban cơ bản
Bài tập 2- trang 26 SGK Ngữ Văn 11, tập 2, ban cơ bản
Bài tập 1a.
1. Luận điểm bị bác bỏ là: “Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh”.
2. Bác bỏ bằng cách: Tác giả Đinh Gia Trinh đã phân tích những luận điểm sai lệch, thiếu chính xác, không có căn cứ khoa học của Nguyễn Bách Khoa.
3. Luận cứ được đưa ra để bác bỏ là:
Luận cứ 1: Về di bút của Nguyễn Du
Luận cứ 2: Căn cứ vào cái khiếu ảo giác của Nguyễn Du
Cách diễn đạt trong thao tác lập luận bác bỏ của tác giả?
Phối hợp câu tường thuật, câu cảm thán, câu hỏi tu từ
Sử dụng biện pháp so sánh với những thi sĩ có trí tưởng tượng như Nguyễn Du
1. Luận điểm bị bác bỏ là: “Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng nước mình nghèo nàn”.
2. Bác bỏ bằng cách: Tác giả đã:
Chỉ ra nguyên nhân do “sự bất tài của con người” là luận cứ được đưa ra để bác bỏ
Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người?
Phân tích những khía cạnh sai lệch, thiếu chính xác của “đồng bào” là luận cứ được đưa ra để bác bỏ là: Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào.
Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?
Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự.
Bài tập 1c.
1. Luận điểm bị bác bỏ là: “Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!”
2. Bác bỏ bằng cách: Tác giả đã: Phân tích tác hại của việc hút thuốc lá và chỉ ra nguyên nhân của nó
3. Luận cứ được đưa ra để bác bỏ là:
Hút thuốc là quyền của anh, nhưng anh không có quyền đầu độc những người ở gần anh.
Có 3 luận chứng tiếp theo chứng minh cho luận cứ (SGK trang 26) | Soạn bài lớp 11_ Thao tác lập luận bác bỏ | 695 | |
Soạn bài lớp 11: Thao tác lập luận bình luận
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Thao tác lập luận bình luận
Soạn bài: Thao tác lập luận bình luận thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Tiểu sử tóm tắt
Soạn bài lớp 11: Người trong bao
Giáo án bài Thao tác lập luận bình luận
THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN
I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN:
1. Mục đích:
Đánh giá, bàn luậnà xác định phải trái, dở hay, đúng sai, phải có sự trao đổi ý kiến với người đối thoại.
2. Yêu cầu:
Bàn luận và đánh giá với những ai biết và quan tâm về điều cần bình luận.
Chỉ bình luận khi có ý kiến riêng về điều được nêu ra và thật lòng muốn thuyết phục mọi người nghe theo sự đánh giá bàn luận của mình.
II. CÁCH BÌNH LUẬN:
1. Bước thứ nhất: Nêu hiện tượng cần bình luận.
Đảm bảo yêu cầu trung thực, khách quan, nhưng chỉ nêu ngắn gọn, rõ ràng những điều cơ bản theo yêu cầu bình luận
2. Bước thứ hai: Đánh giá hiện tượng cần bình luận.
Đề xuất chứng tỏ được ý kiến nhận định đánh giá của mình là xác đáng.
Có những lời bàn sâu rộng về chủ đề bình luận.
III. LUYỆN TẬP:
1. Bài tập 1:
Bình luận không phải là sự kết hợp của hai kiểu lập luận giải thích và chứng minh. Vì mục đích của bình luận là giúp người đọc, người nghe đáng giá hiện tượng được chính xác, toàn diệncông bằng và bình luận cùng họ về những ý kiến sâu rộng bằng ý sắc sảo chặt chẽ của riêng mình.
Bình luận chỉ dành cho những người đã biết đã có những ý kiến của họ khác với ý kiến của người bình luận.
Yêu cầu bình luận: trôi chày, hấp dẫn, giùa nhiệt tình thuyết phục.
2. Bài tập 2:
* Đây là đọan bình về vấn đề tai nạn giao thông hiện nay vì:
Người viết nêu rõ chủ kiến của mình trước vấn đề tai nạn giao thông hiện nay.
Nội dung bình luận được triển khai:
Phân tích đúng sai, đánh giá, tìm nguyên nhân (đoạn 1, 2, 3)
Mở rộng vấn đề (tác hại sâu xa đối với đất nước và hội nhập quốc tế) đoạn 4, 5.
Đề xuất giải pháp (đoạn 6).
LUYỆN TẬP THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN
Bài tập 1:
1. Xác định những vấn đề cần thiết:
Bài viết nên là một bài bình luận vì tham gia diễn đàn tức là phát biểu ý kiến riêng của mình. Mà ý kiến riêng thì phải có nhận xét, đánh giá đúng sai, đề xuất cách giải quyết…và bàn luận về vấn đặt ra.
Chọn vấn đề cho bài viết: chọn vấn đề mà mình tâm đắc, am hiểu nhất. Nên chọn chủ đề đang được tranh luận.
Dàn ý của bài viết nên theo ba phần:
Nêu vấn đề cần bình luận.
Đánh giá vấn đề cần bình luận.
Bàn về vấn đề cần bình luận.
Xây dựng tiến trình lập luận theo gợi ý SGK.
Tìm cách diễn đạt.
3. Tham gia bài viết có chủ đề tương tự.
4. Trình bày trước lớp.
Bài tập 2:
1. Trình bày một luận điểm trong dàn bài mà các em vừa xây dựng trên lóp.
2. Bàn về một hiệnn tượng đang được dư luận xã hội quan tâm.
Vệ sinh an toàn thực phẩm.
Bảo vệ môi trường.
Phòng chống thiên tai. | Soạn bài lớp 11_ Thao tác lập luận bình luận | 600 | |
Soạn bài lớp 11: Thao tác lập luận phân tích
Hướng dẫn
Soạn bài: Thao tác lập luận phân tích
Soạn bài lớp 11: Thao tác lập luận phân tích thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về các thao tác lập luận phân tích một cách rõ ràng hơn giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Thương vợ
Soạn bài lớp 11: Thu điếu
Soạn bài lớp 11: Vịnh khoa thi hương
THAO TÁC LẬP LUẬN PHÂN TÍCH
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐƯỢC:
Nắm được mục đích và yêu cầu của thao tác lập luận phân tích.
Biết cách phân tích một vấn đề chính trị, xã hội hoặc văn học.
II. NỘI DUNG CẦN ĐẠT ĐƯỢC:
Mục đích của thao tác lập luận phân tích
Ngữ liệu
Ý kiến đánh giá của tác giả đối với nhân vật Sở Khanh: bẩn thỉu, bần tiện, đại diện cao nhất của sự đồi bại.
Tác giả đưa ra các luận cứ:
Sống bằng nghề đồi bại bất chính
Sở Khanh là kẻ đồi bại nhất trong những kẻ làm nghề đồi bại, bất chính đó: giả làm người tử tế để đánh lừa một người con gái ngây thơ, hiếu thảo, trở mặt một cách trơ tráo, thường xuyên lừa đảo, tráo trở.
Phân tích chi tiết: bộ mặt lừa bịp, tráo trở của Sở Khanh -> tổng hợp và khái quát bản chất của hắn: “mức cao nhất của tình hình đồi bại trong xã hội này”
2. Cách phân tích
Ngữ liệu
Ngữ liệu ở mục I (T25 – SGK)
Phân tích dựa trên quan hệ nội bộ trong bản thân đối tượng: biểu hiện về nhân cách bẩn thỉu, bần tiện của Sở Khanh.
Phân tích kết hợp chặt chẽ với tổng hợp: phân tích làm nổi bật những biểu hiện bẩn thỉu, bần tiện mà khái quát lên giá trị hiện thực của nhân vật, bức tranh về nhà chứa, tính đồi bại của xã hội đương thời.
Ngữ liệu ở mục II (T 25 – SGK)
* Ngữ liệu hao tác chia nhỏ đối tượng thành các yếu tố bộ phận để xem xét rồi tổng hợp nhằm phát hiện ra bản chất của đối tượng. tráo tở đoạn 1.
Cách phân chia đối tượng:
Theo quan hệ nội bộ của đối tượng: đồng tiền vừa có tác dụng tốt vừa có tác dụng xấu (sức mạnh tác oai tác quái)
Theo quan hệ kết quả – nguyên nhân
Ÿ Nguyễn Du chủ yếu vẫn nhìn về mặt tác hại của đồng tiền (kết quả)
Ÿ Vì một loạt hành động gian ác, bất chính đều do đồng tiền chi phối (nguyên nhân)
Theo quan hệ nguyên nhân – kết quả: phân tích sức mạnh tác quái của đồng tiền -> thái độ phê phán khinh bỉ nguyên nhân đồng tiền vừa có tác dụng tốt vừa có tác dụng xấu (sức mạnh tác oai tác quái) giá trị hiê của Nguyễn Du khi nói đến đồng tiền
* Đoạn 2:
Cách phân tích
Theo quan hệ NN – KQ: vùng nổ dân số (NN) ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người (KQ)
Theo quan hệ nội bộ của đối tượng: các ảnh hưởng tiêu cực của việc bùng nôt dân số.
Ÿ Thiếu lương thực – thực phẩm
Ÿ Suy dinh dưỡng, suy thoái nòi giống
Ÿ Thiếu việc làm thất nghiệp
Mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp: kết hợp chặt chẽ với nhau: bùng nổ dân số -> ảnh hưởng đến nhiều mặt cuộc sống của con người, dân số tăng càng nhanh thì chất liệu cuộc sống cộng đồng, gia đình, cá nhân giảm sút
Ghi nhớ
Cách thức phân tích:
Cần chia tách đối tượng thành các yếu tố những tiêu chí, quan hệ nhất định: quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đối tượng, quan hệ nhân quả, quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng liên quan, quan hệ giữa người phân tích và đối tượng phân tích.
Yêu cầu phân tích
Xác định vấn đề phân tích
Chia vấn đề thành những khía cạnh nhỏ
Khái quát tổng hợp
Lưu ý: phân tích cần đi sâu vào từng yếu tố, từng khía cạnh song đặc biệt lưu ý đến quan hệ giữa chúng với nhau trong một chỉnh thể toàn vẹn thống nhất
Bài tập 1.
Đoạn a: quan hệ nội bộ đối tượng (diễn biến nội tại của nhân vật): đau xót, quẩn quanh, tuyệt vọng
Đoạn b: quan hệ giữa đối tượng này với các đối tượng khác có liên quan (bài thơ Lời kĩ nữ của Xuân Diệu với bài thơ Tì bà hành của Bạch Cư Dị) | Soạn bài lớp 11_ Thao tác lập luận phân tích | 777 | |
Soạn bài lớp 11: Thu điếu
Hướng dẫn
Soạn bài: Thu điếu
Soạn bài lớp 11: Thu điếu do Nguyễn Khuyến sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về một bức tranh đẹp về mùa thu ở làng quê Việt Nam được miêu tả qua từng câu thơ của tác giả giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Tiến sĩ giấy
Soạn bài lớp 11: Khóc Dương Khuê
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về hiện tượng tách từ
THU ĐIẾU
Nguyễn Khuyến
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Nguyễn Khuyến được coi là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam và tên tuổi của ông gắn liền với chùm thơ thu. Chùm thơ thể hiện những nét đặc sắc trong phong cách thơ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ ở cả hai phương diện thi pháp và tư tưởng. Thơ Nguyễn Khuyến vừa ghi lại tâm sự của ông trong những năm tháng nghỉ ở quê nhà vừa miêu tả đời sống và phong cảnh quê hương. Thơ thu của ông thể hiện một tâm hồn giàu cảm xúc, tinh tế và nghệ thuật sử dụng ngôn từ tài hoa, giàu chất họa, thể hiện tình yêu quê hương tha thiết và tấm lòng không nguôi trăn trở về dân tộc, đất nước.
2. Thu điếu là bài thơ thuộc loại thơ trữ tình phong cảnh. Bài thơ là một bức tranh đẹp về mùa thu ở làng quê Việt Nam. Một không gian thu trong trẻo, thanh sang và bình yên với những hình ảnh, đường nét xinh xẻo. Trong bài thơ xuất hiện hình ảnh nhân vật trữ tình đầy tâm sự. Đó là một con người có tâm hồn thanh cao, yêu cuộc sống thanh bạch nơi làng quê, dù sống cuộc sống nhàn tản của một ẩn sĩ nhưng trong lòng luôn chất chứa đầy suy tư. Tác giả mượn chuyuện câu cá để bộc lộ tâm trạng. Bài thơ là một bức họa bằng ngôn từ thể hiện đựơc tài năng và tấm lòng của cụ Tam Nguyên Yên Đổ.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Nội dung bài thơ nhất quán với nhan đề “Thu điếu”. Mặc dù câu các chỉ là hình thức ngoài những cảnh câu cá vẫn được miêu tả đầy đủ với không gian thu, ao, thuyền câu và người đi câu. Cách miêu tả cảnh vật được triển khai theo nhan đề của bài thơ, tả từ cảnh ao thu, thuyền câu, mặt ao, cây cỏ bên bờ ao, bầu trời thu… Thu điếu là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật thuộc thể bằng, tuân thủ tương đối chuẩn theo quy định niêm luật của thơ Đường (trừ câu Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo).
3. Bốn câu thơ đầu tả cảnh, một bức tranh phong cảnh rất đẹp với một không gian trong trẻo, xinh xắn và tĩnh lặng. Cái gì cũng nhỏ bé, thanh sơ gợi một không gian thật yên bình nhưng cô đơn, vắng lặng. Đó là bức tranh đẹp với màu sắc hài hoà, đường nét cân đối. Cảnh nền là một màu xanh mát của mặt ao với một chút sóng gợn lăn tăn. Điểm xuyết trên mặt ao là chiếc thuyền câu mỏng mảnh, với hình ảnh một người ngồi câu trong tư thế đầy suy tư “tựa gối ôm cần”. Cao hơn chút nữa so với mặt ao, nổi bật trên nền xanh dịu của nước ao thu ấy là một chiếc lá vàng chao nghiêng. Đó là phía dưới, còn cao hơn chút nữa là bầu trời cao lồng lộng với sắc xanh ngắt.
Không gian rộng, sâu đối lập với mặt ao hẹp, gợn sóng nhẹ và hiu hắt gió, lại cộng thêm với “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” tạo cho không gian một cảm giác hiu quạnh. Cảnh làng quê trong trẻo trong ánh mắt của thi nhân nhưng phảng phất nỗi buồn. Cảnh tĩnh và vắng, bởi đó là cảnh được nhìn qua tâm trạng của một thi nhân đang mang nặng trong lòng nỗi trăn trở nhân tình thế thái.
4. Hai câu thơ cuối thể hiện tâm trạng của nhân vâth trữ tình, đây chính là bề sâu của bài thơ thu. Nhân vật trữ tình xuất hiện trong tư thế người câu cá nhưng lại chẳng có vẻ gì là đang chú ý đến việc câu cá. Hình như câu cá để suy ngẫm điều gì đó. Chỉ đến khi “Cá đâu đớp động dưới chân bèo” mới chợt bừng tỉnh. Nhân vật trữ tình xuất hiện trong bài thơ dường như có rất nhiều tâm sự. Nhưng điều dễ nhận thấy nhất là tình yêu quê hương tha thiết. Phải yêu lắm quê hương làng cảnh quê mình mới có thể vẽ nên một bức tranh quê đẹp, thanh sang và trong trẻo đến như vậy. Và trước cảnh đẹp như vậy mà con người vẫn đầy suy tư trăn trở chứng tỏ trong lòng người còn rất nhiều trắc ẩn. Từ thân thế, cuộc đời, hoàn cảnh sống của tác giả có thể hiểu, tâm sự của người câu cá là chính là nỗi lòng non nước, nỗi lòng thời thế của nhà nho có lòng tự trọng và lòng yêu quê hương đất nước như Nguyễn Khuyến.
5. Bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ Nguyễn Khuyến. Đó là một nhà thơ, một con người bình dị, gắn bó và yêu quê hương tha thiết.
III. TƯ LIỆU THAM KHẢO
“… Bài Thu vịnh có thần hơn hết nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam (ở Bắc Bộ). Có về “Vườn Bùi chốn cũ” – đây là “xứ Vườn Bùi” theo đồng bào gọi cả vùng Trung Lương nằm trong xã Yên Đổ cũ, chứ không phải là khu vườn của nhà cụ Nguyễn Khuyến – mới càng hiểu rõ bài “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo”. Sao lắm ao thế! Cả huyện Bình Lục là xứ đồng chiêm rất trũng kia mà. Nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà bé tẻo teo. Sóng biếc gợn rất nhẹ, một chiếc lá vàng rụng theo gió, bay bay xoay xoay rồi rơi xuống xa xa một cách khẽ khàng. Khung ao tuy hẹp vậy nhưng làng cảnh cũng không thiếu không gian. Nhìn lên: trời thu xanh cao, đám mây đọng lơ lửng; trông quanh: các lối đi trong làng hai bên tre biếc mọc sầm uất, chạy ngoắt ngoéo cho đến lúc tưởng như tre đã kín lại; mọi người ra đồng làm, cho nên làng vắng teo. Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài, như con gà ngon, ngon từ phao câu đầu cánh lắt léo khúc khuỷu xương. Không thể tóm tắt thơ được, mà ta phải đọc lại. Cái thú vị của bài Thu điếu ở cái điệu xanh: xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi; ở những cử động: chiếc thuyền con lâu lâu mới nhích, sóng gợn tí, lá đưa vèo, tầng mây lửng, ngõ trúc quanh, chiếc cần buông, con cá động; ở các vần thơ: không phải chỉ giỏi vì là những từ vận hiểm hóc, mà chính hay vì kết hợp với từ, với chữ nghĩa, đến một cách thoải mãi đúng chỗ, do một nhà nghệ sĩ cao tay; cả bài thơ không non ép một chữ nào, nhất là hai câu 3- 4: Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, đối với: Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo thật tài tình; nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá: vèo, để tương xứng với cái mức độ gợn của sóng: tí.
… Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, nhìn gộp chung lại, là thành công tốt đẹp của quá trình dân tộc hóa nội dung mùa thu cho thật là thu Việt Nam, trên đất nước ta và dân tộc hóa hình thức lời thơ, câu thơ cho thật là Nôm, là Việt Nam…”.
Xuân Diệu | Soạn bài lớp 11_ Thu điếu | 1,397 | |
Soạn bài lớp 11: Thương vợ
Hướng dẫn
Soạn bài: Thương Vợ
Soạn bài lớp 11: Thương vợ do Tú Xương sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về sự lam lũ của người vợ tần tảo sớm hôm nuôi chồng ăn học giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Giáo án Ngữ văn bài Thương vợ
Soạn bài lớp 11: Vịnh khoa thi hương
Soạn bài lớp 11: Thu điếu
Soạn bài lớp 11: Tiến sĩ giấy
Vẻ đẹp nhân cách Tú Xương qua bài thơ Thương vợ
THƯƠNG VỢ
Tú Xương
Bài soạn 1
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Trần Tế Xương (1870 – 1907) thường gọi là Tú Xương, quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Tú Xương có cá tính sắc sảo, phóng túng, khó gò vào khuôn sáo trường quy, nên dù có tài nhưng tám lần thi vẫn chỉ đỗ tú tài. Tú Xương sinh vào giai đoạn giao thời, xã hội có nhiều thay đổi. Xã hội phong kiến già nua chuyển mình trở thành xã hội thực dân phong kiến. Hàng ngày những điều ngang tai trái mắt cứ đập vào mắt ông, gây phản ứng trong tâm trạng. Và thể hiện thành hai nội dung lớn trong thơ ông: trữ tình và trào phúng.
Thương vợ được cấu tạo làm bốn phần theo kết cấu đề, thực, luận, kết với kết cấu chặt chẽ, đây là một bài thơ Nôm thành công cả về ngôn ngữ và hình ảnh thơ. Ngôn ngữ Nôm bình dân, hình ảnh thơ gần gũi với dân gian và đời sống. Câu đề và câu thực là suy nghĩ của nhà thơ về sự vất vả nhọc nhằn kiếm sống của người vợ, qua đó thể hiện sự cảm thông và trân trọng.
Câu luận ngợi ca đức hy sinh của người vợ. Câu kết là tiếng chửi đời cay nghiệt của một con người bị cuộc sống biến thành vô tích sự. Bài thơ ngợi ca đức hy sinh của những người phụ nữ và sự cảm thông thấu hiểu của người chồng. Ngôn ngữ dung dị, đời thường nhưng với tài năng và tấm lòng, Tú Xương đã tạo nên một bài thơ sâu sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn bền vững. Qua bài thơ này, Tú Xương đã xây dựng hình tượng nghệ thuật đẹp về người phụ nữ Việt Nam giàu đức hy sinh, chịu thương chịu khó hết lòng vì gia đình.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Hình ảnh người vợ hiện lên trong bốn câu thơ đầu là một người phụ nữ đảm đang tần tảo sớm hôm nuôi chồng, nuôi con. Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh, từ ngữ đặc sắc để thể hiện nỗi vất vả của vợ và sự cảm thông của mình đối với sự vất vả của người vợ. Đó là những từ “quanh năm”, “mom sông”, “lặn lội thâm cò”, “eo sèo mặt nước”, “nuôi đủ”, với các thành ngữ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa”, hình thức đối “năm con – một chồng”
Hình ảnh người vợ lặng lẽ làm việc nuôi chồng nuôi con với một đức hy sinh vô cùng lớn lao là hình tượng nổi bật trong bài thơ.
2. Câu hai có sắc thái tự trào sâu sắc khi tác giả đặt người chồng vào một bên đòn gánh trên đôi vai người vợ và bên kia là năm con. Người chồng là một bên của gánh nặng lo toan ấy. Dường như đó là lời tự trách chua cay. Vì gia đình, vì người chồng có quá nhiều nhu cầu ấy mà người vợ vất vả hơn. Người chồng vô tích sự chẳng những không giúp vợ nuôi con mà còn làm cho gánh nặng gia đình của người vợ nặng hơn rất nhiều.
3. Câu 5 – 6:
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Câu thơ khắc họa hình ảnh bà Tú trong mối quan hệ với chồng con. Hình thức như là lời độc thoại nội tâm của bà Tú nhưng thực ra chính là lời của ông Tú. Điều đó thể hiện rõ ông hiểu nỗi vất vả của vợ, cảm thông và trân trọng bà Tú đến nhường nào.
Hai thành ngữ xuất hiện trong hai câu thơ đều có nghĩa diễn tả sự vất vả của người phụ nữ phải nuôi chồng nuôi con. Và cũng ở đây, một lần nữa, người chồng thể hiện sự trân trọng đối với người vợ. “âu đành phận”, “dám quản công” không phải là sự cam chịu của người vợ mà đó là lời của nhân vật trữ tình – người chồng. Hình ảnh người vợ cứ lặng lẽ làm việc nuôi chồng nuôi con với một đức hy sinh vô cùng lớn lao đã là hình tượng nổi bật trong bài thơ. Hai câu thơ đã khắc họa đức tính nổi bật của bà Tú đó là đức hy sinh, chịu thương chịu khó, cả đời sẵn sàng vì chồng con. Bà Tú là hình tượng đẹp về người phụ nữ Việt Nam.
4. Bài thơ kết thúc bằng câu chửi. Ai chửi? Tất nhiên theo mạch cảm xúc của bài thơ thì đây là lời của nhân vật trữ tình. Từ cảm thông đến “Thương vợ” mà giận mình, giận đời. Người đàn ông, người chồng, con người có nhân cách ấy, trước vất vả nhọc nhằn của người vợ đã cất lên lời chửi. Như tự chửi mình nhưng là chửi đời. Chửi “thói đời ăn ở bạc” đã biến những ông chồng không thành kẻ hư hỏng thì cũng thành người vô tích sự. Đó là câu chửi đời và cũng là lời tự trách mình của một nhà Nho có nhân cách. Ông trách mình là người chồng hờ hững, nhưng bài thơ với những tâm sự sâu sắc đã chứng tỏ ông chẳng hề hờ hững chút nào.
5. Bài thơ thể hiện tình cảm trân trọng, lòng biết ơn của ông Tú đối với người vợ tần tảo sớm hôm của mình. Tự nhận là một người chồng vô tích sự, song ông Tú là một người chồng biết tự trọng, một người biết cảm thông chia sẻ và thấu hiểu nỗi vất vả của người vợ. Điều đó đã giúp Tú Xương đóng góp cho văn học Việt Nam một hình tượng đẹp về người phụ nữ phương Đông. Ngôn ngữ dung dị, đời thường, sử dụng nhiều yếu tố dân gian, với tài năng và tấm lòng, Tú Xương đã tạo nên một bài thơ hay có giá trị nhân văn sâu sắc.
Bài soạn 2
Soạn bài: Thương vợ (Trần Tế Xương)
– Hai câu đầu đã giới thiệu được hình ảnh bà Tú gắn với công việc mưu sinh.
Quanh năm buôn bán ở mom sôngNuôi đủ năm con với một chồng
+ Công việc là buôn bán. Thời gian làm việc là “quanh năm”, là ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Mom sông là vùng đất nhô ra sông, nơi đầu sóng ngọn gió.
–> Đây là hình ảnh gợi lên hoàn cảnh kiếm sống lam lũ, vất vả với một không gian sinh tồn bấp bênh, khó khăn.
– Trên cái nền không gian và thời gian ấy, cuộc mưu sinh đầy khó khăn của bà Tú hiện lên rất rõ:
Lặn lội thân cò khi quãng vắngEo sèo mặt nước buổi đò đông
Hình ảnh thân cò là hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho phụ nữ trong xã hội xưa. Có điều, Tú Xương vừa tiếp thu ca dao nhưng vừa có những sáng tạo độc đáo. Dùng từ thân cò làm ý thơ mang tính khái quát cao hơn, nó giúp gợi lên cả một số kiếp, nỗi đau thân phận. Có lẽ vì thế mà tình thương của Tú Xương dành cho bà Tú trở nên sâu sắc hơn. Bên cạnh đó, từ láy lặn lội, eo sèo được đảo lên trước làm nổi bật hình ảnh lam lũ, vất vả của bà Tú.
Câu 2: Đức tính cao đẹp của bà Tú
Vẻ đạp của bà Tú trước hết được cảm nhận ở sự đảm đang, tháo vát, chu toàn với chồng con:
Nuôi đủ năm con với một chồng
Từ đủ trong nuôi đủ vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng. Oái oăm hơn, câu thơ chia làm hai vế thì vế bên này (một chồng) lại cân xứng với cả gánh nặng bên kia (năm con). Câu thơ cho thấy Tú Xương ý thức rõ lắm nỗi lo của vợ và sự khiếm khuyết của mình nữa.
Ở bà Tú sự đảm đang tháo vát đi liền với đức hi sinh, thể hiện ở việc bất chấp gian khó, chạy vạy buôn bán để nuôi chồng con. Song dường như những lời thơ miêu tả còn chưa đủ, Tú Xương còn bình luận tiếp:
Năm nắng mười mưa dám quản công
Thành ngữ “năm nắng mười mưa” vốn đã có hàm nghĩa chỉ sự gian lao, vất vả nay được dùng trong trường hợp của bà Tú nó còn nổi bật được đức chịu thương, chịu khó hết lòng vì chồng con của bà Tú. Nhưng với bà Tú đó lại là niềm hạnh phúc của một người vợ vì gia đình. Tú Xương đã thay vợ mình nói lên điều này.
Câu 3: Lời “chửi” trong hai câu thơ cuối là lời Tú Xương tự rủa mát mình:
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cùng như không.
Hai câu cuối chỉ ra hai nguyên nhân gây nên nỗi khổ của vợ: ấy là mình và thói đời. Sự hờ hững của ông cũng là một biểu hiện của thói đời ấy. Đó cũng là biểu hiện của việc vận dụng khẩu ngữ, lời ăn, tiếng nói của dân gian để khắc họa hình ảnh bà Tú – một người phụ nữ của gia đình, của xã hội. Lời chửi ẩn sâu trong tâm khảm sự thương yêu và có cả ngậm ngùi, chua xót đến đắng lòng.
Trong xã hội trọng nam khinh nữ, việc một nhà nho như Tú Xương không những nhận ra sự vô dụng của mình mà còn trách mình một cách thẳng thắn, đó chính là một biểu hiện trong nhân cách nhà thơ qua tiếng chửi trong bài thơ.
Câu 4: Nỗi lòng của nhà thơ
Nỗi lòng thương vợ của Tú Xương được thể hiện thành công qua bài thơ. Tựa đề Thương vợ chưa thể hiện được đầy đủ tình thương của nhà thơ đối với vợ cũng như chưa toát lên được nhân cách của nhà thơ. Tú Xương không chỉ thương vợ mà còn biết ơn vợ, không chỉ lên án thói đời mà còn tự trách mình. Điều đó chứng tỏ tấm lòng của nhà thơ đối với bà Tú.
Luyện tập
Phân tích sự vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian trong bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương.
“Thương vợ” là một trong những bài thơ mà Tú Xương vận dụng một cách rất sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian.
– Về hình ảnh: Trong ca dao, hình ảnh con cò có khá nhiều ý nghĩa: có khi nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả, chịu thương chịu khó; có khi lại tượng trưng cho thân phận người lao động với nhiều bất trắc thua thiệt. Như thế, con cò trong ca dao vốn đã gợi nhiều cay đắng, xót xa. Song dường như ứng vào nhân vậ cụ thể là bà Tú thì nó lại càng gợi sự xót xa, tội nghiệp nhiều hơn. Hơn thế nữa so với từ “con cò” trong ca dao thì từ “thân cò” của Tú Xương mang tính khái quát cao hơn, do vậy mà tình yêu thương của Tú Xương cũng thấm thía và sâu sắc hơn.
– Về từ ngữ: thành ngữ “năm nắng mười mưa” được vận dụng một cách rất sáng tạo. Cụm từ “nắng mưa” chỉ sự vất vả. Các từ năm, mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra rồi kết hợp với “nắng, mưa” tạo nên một thành ngữ chéo. Hiệu quả của nó vừa nói lên sự vất vả, gian lao, vừa thể hiện đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con của bà Tú.
Tư liệu tham khảo
1. Về tác giả
“… Có khi tôi đã thấy giật mình cho Tú Xương, khi tôi giả tỉ thơ Tú Xương không có cái khía trữ tình, cái hơi lãng mạn của nó, mà lại chỉ rặt những “Cống hỉ – mét xì – Thôi thôi lạy mợ xanh căng lạy…”. Thật tôi thấy chối tai đấy. ở ai thế nào tôi không hay, nhưng ở tôi, khi mà Tú Xương cứ hiện thực chỉ có như vậy thôi, cái gốc hiện thực ấy mà không có cái ngọn trữ tình, cái tán lãng mạn ấy, thì Tú Xương cũng tắt gió trong tôi từ lâu rồi và đã bay ra khỏi tôi lúc nào không biết chừng.
Cho nên ai muốn nói gì đến Tú Xương thì cứ nói ra, tôi đều coi trọng (…) nhưng tôi vẫn cho rằng thơ Tú Xương đi bằng cả hai chân hiện thực và trữ tình, mà cái chân hiện thực ở người Tú Xương chỉ là một cẳng chân trái. Tú Xương lấy cái chân phải trữ tình mà khiến cái chân trái tả thực. Chủ đạo cho đà thơ là ở chân phải và Tú Xương đã băng được mình thơ tới chúng ta bằng nước bước lãng mạn trữ tình.”
(Nguyễn Tuân, Văn nghệ tháng 5, 1961)
“Thái độ của Tú Xương đối với vợ là “vuốt râu nịnh vợ con bu nó” thật cởi mở, hồn nhiên, đầy tình nghĩa. Đã có mấy ai trên trần gian, cổ kim Đông Tây này như Tú Xương yêu vợ, quý vợ, đùa với vợ bằng cách đưa vợ ra mà làm văn tế sống! Văn tế kể lai lịch, chân dung, đức hạnh, nghề nghiệp của vợ như thế này, vợ nghe không nở ruột, nở gan sao được:
Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ,
Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ!
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám cho
rằng béo rằng gầy
Người ung dung, tính hạnh khoan hòa, chỉ một bệnh
hay gàn hay dở
Đầu sông, bãi bến, đua tài buôn chín bán mười.
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào rơi nói thả.
(Văn tế sống vợ)
Tú Xương làm thơ, mà thơ với Tú Xương cũng là một thứ đùa vui, âu yếm vợ cho khuây khỏa nỗi vất vả quanh năm.
Tú Xương cảm nhận sâu sắc công ơn của vợ đối với bố con ông, đặc biệt là với ông. Tú Xương ghi công vợ thật rạch ròi, chu đáo, không chút mập mờ:
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Có người nhận xét rằng: Tú Xương cũng là một “thứ con đặc biệt” của vợ, tự nhận mà không chút ngượng ngùng sĩ diện. Và càng thấy vợ vất vả bao nhiêu với bố con, Tú Xương càng thấy mình là đoảng, là vô tích sự bấy nhiêu! Trong cơn hối hận chả có cách gì tạ lại công ơn của vợ, Tú Xương chỉ buột một lời tự chửi. Chửi cái anh chồng vô tích sự là mình. Chửi luôn cả thói đời bạc bẽo đã đẻ ra cái loại chồng đoảng như mình nốt. Một tiếng chửi mà để lại nhân cách, nhân phẩm là vậy:
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!…”.
Nguyễn Đình Chú
(Thơ văn Tú Xương, Sđd, tr.29-30)
“… Một người vợ cần cù lam lũ như vậy, hy sinh nhẫn nại như vậy hỏi có người chồng nào bạc đãi, hắt hủi; hoặc nữa, còn dám không chung tình? Cho nên trong những lúc hãn hữu, ông trót vui anh vui em, trót làm phiền lòng vợ, nhà thơ không thể không thốt ra những câu có vẻ đùa cợt nhưng chính thật chân thành:
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không!.
(Thương vợ)
Người phụ nữ dũng cảm ấy luôn luôn bị chồng châm biếm, nhưng cách châm biếm của Tú Xương đối với vợ là một cách biểu lộ niềm âu yếm thiết tha, lòng biết ơn sâu sắc của nhà thơ:
Có một cô gái, nuôi một thầy đồ.
Quần áo rách rưới, ăn uống xô bồ.
Cơm hai bữa: cá kho rau muống,
Quà một chiều: khoai lang lúa ngo.
Sao dám khinh mình: thầy đâu thầy vậy,
Chẳng biết trọng đạo, cô lốc cô lô.
Cứ mỗi dịp Tú Xương chế giễu tình trạng thất nghiệp của mình, cứ mỗi bận nhà thơ nói đến cái nghèo túng hoặc lối ăn chơi của mình là mỗi bận, mỗi dịp nêu công đức của vợ, để ông đề cao vợ:
Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ,
Đem chuyện trăm năm giở lại bàn.
Hay là:
Tiền bạc phó cho con mụ kiếm,
Ngựa xe chẳng có lúc nào ngơi.
Hoặc:
Sách đèn phó mặc đàn con trẻ
Thưng đấu nhờ trông một mẹ mày.
Người đàn bà chung thủy kiểu mẫu đó luôn luôn gắn bó với chồng trên từng hành động, từng ý nghĩa, từng lo âu và từng hy vọng.
Ông đi thi chăng? Bà lo sắm sửa giấy bút, lo chạy tiền lưng gạo bị:
Tiễn chân, cô mất hai đồng chẵn
Sờ bụng, thầy không một chữ gì!…
Làm sao mà không cảm động lúc thi xong, bảng thi sắp yết, bà đi cúng, đi bói xem kỳ này chồng có được lấy đỗ không? Trong thủ tục mê tín kia có bao hàm cả một tấm lòng tận tụy:
Sáng đi lễ Phật còn kỳ này kỳ nữa là xong;
Đêm dậy vái trời, qua mồng bốn mồng năm cho chóng.
Làm sao không xót xa, khi trong cơn mê man của bệnh đau trầm trọng, nửa đêm chợt tỉnh dậy, nhìn với ra sân qua khe cửa hở, nhà thơ thấy bà Tú đặt bàn thờ, đèn nhang nghi ngút, đang lầm rầm khấn vái cầu trời cho chóng vượt qua được cơn tai nạn:
Im im thâu đêm, lại thằng này,
Bệnh đâu có bệnh lạ lùng thay!
Thuốc thang nghĩ lại chua mà đắng,
Đường mật xem ra ngọt hóa cay!
Lắm bệnh bạn bè đi lại ít,
Nặng nhọc họ mạc hỏi han dầy
Chỉ bền một nén tâm hương nguyện,
Thuốc thánh bùa tiên, ắt chẳng chầy!.
Mặt khác, người phụ nữ đó không phải chỉ biết có làm ăn quần quật suốt ngày, không phải chỉ có biết “lặn lội thân cò” và “eo sèo mặt nước”, người đó còn có một trình độ văn hóa nhất định, một trình độ nhận thức nhất định và đặc biệt có một năng khiếu tối thiểu về thưởng thức văn chương. Người vợ hiền đó còn tham gia vào công việc sáng tác của chồng. Phạm Thị Mẫn là người trước ai hết đã thuộc lòng tất cả thơ văn của Trần Tế Xương. Chính bà là người chủ yếu trong việc dạy lại thơ văn đó cho các con bà sau khi nhà thơ mất. Cũng có khi nhà thơ nửa đùa nửa thật hỏi ý kiến vợ về một bài ông mới sáng tác:
Viết vào giấy dán ngay lên cột.
Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay?
Thưa rằng hay thực là hay,
Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài!
Xưa này em vẫn chịu ngài!
(Tết dán câu đối)
(Trần Thanh Mại – Tú Xương, con người và nhà thơ. Nxb Văn học, Hà Nội, 1961, tr.108-112)
Bài văn mẫu
Phân tích bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương
Trần Tế Xương (bút danh là Tú Xương) là nhà thơ trào phúng nổi tiếng, có lẽ là nhà thơ trào phúng đặc sắc nhất trong nền văn học của nước nhà. Thơ trào lộng, châm biếm, đả kích của Tú Xương sở dĩ được nhiều người yêu thích vì có tính chất trữ tình (trong tiếng cười có nước mắt). Dòng trữ tình trong thơ Tú Xương đôi khi được tách ra thành những bài thơ trữ tình thuần khiết, thấm thía. Hai kiệt tác “Sông Lấp” và “Thương vợ” tiêu biểu cho dòng thơ trữ tình của Tú Xương.
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vẵng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Trần Tế Xương lận đận trong thi cử, đi thi đến lần thứ tám mới đậu được cái tú tài. Ông học giỏi nhưng phải cái ngông quá, thật ra thái độ ngông của ông là một cách ông phản kháng lại chế độ thi cử lạc lậu, quan trường “ậm ọc” lúc bấy giờ. Mà đậu được cái tú tài thì rồi cũng làm “quan tại gia” thôi. Hồi đó phải đậu cử nhân mới được bổ tri huyện. Thế là bà Tú gần như phải nuôi chồng suốt đời. Ông Tú chỉ còn biết đem tài hoa của mình mà ghi công cho bà Tú:
“Quanh năm buôn bán ở mom sống,
Nuôi đủ năm con với một chồng”.
Từ “mom” thật là hay, vừa thấy được nỗi gian truân của bà Tú buôn bán quanh năm bên bờ sông Vị, vừa thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với việc buôn bán khó nhọc của vợ. Từ “mom” là tổng hợp nghĩa của các từ ven, bờ, vực, thềm, thành một từ sáng tạo của nhà thơ làm giầu thêm cho tiếng Việt. Bà Tú buôn thúng bán bưng quanh năm ở “mom sông” mà nuôi chồng, nuôi con:
“Nuôi đủ năm con với một chồng”
Câu thơ chỉ mấy con số khô khốc thế vậy mà tế toái lắm đó! “Nuôi đủ năm con” là vì con, phải nuôi, nên đếm ra để mà nuôi. Nhưng còn chồng thì một chồng chứ mấy chồng, cớ sao lại cũng phải đếm ra “một chồng”? Là vì chồng cũng phải nuôi, mà bà Tú với cái gánh trên vai nuôi năm đứa con đã là vất vả, lại thêm một ông Tú trong nhà nữa thì gánh nặng gấp đôi. Thời đó mà nuôi một ông Tú, lại là Tú Xương nữa thì nhiêu khê lắm.
Nhưng bà Tú được an ủi là vì ông Tú, cái con người tưởng như chỉ biết bông đùa, cười cợt đó lại để tâm đến từng bước chân của bà trên đường lặn lội buôn bán:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Có thể nói lòng thương vợ của nhà thơ dào dạt lên trong hai câu thơ này. Hình ảnh lặn lội thân cò được tác giả mô phỏng theo một biểu tượng trong thi ca dân gian để nói về người phụ nữ lao động:
“Con cò lặn lội bờ sông
Gánh tạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”
Nếu như từ “lặn lội” được đảo ra phía trước chủ ngữ để nhấn mạnh sự vất vả của bà Tú, thì từ “eo sèo” gợi lên âm thanh hỗn tạp (tiếng kì kèo mặc cả, tiếng cãi cọ tranh giành) của “buổi đò đông”. Hai tình huống đối lập thật hay: “vắng” và “đông”. Người phụ nữ gánh hàng lặn lội trên quãng đường vắng thật là khổ. Mà đến chỗ “đò đông” thì thật là đáng sợ! Nghĩa là nhìn từ phía nào, nhà thơ cũng thương vợ, tình thương thấm thía, cảm động.
Sang hai câu luận, tác giả chuyển sang diễn tả nội tâm của bà Tú, lời thơ như lời độc thoại của người vợ:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công”
Nhân dân ta thường nói “vợ chồng là duyên nợ”. Nhà thơ Tú Xương đã chỉ từ ghép “duyên nợ” thành hai từ đơn: “duyên – nợ”. “Duyên” thì thiêng liêng rồi vì đã có sự tham gia của đấng vô hình (ông Tơ bà Nguyệt), còn “nợ” thì đã thành trách nhiệm nặng nề. “Một duyên hai nợ” đã diễn tả được sự vận động trong tâm trí của bà Tú. “Một duyên hai nợ âu đành phận” là bà Tú đã thuận theo lòng trời và thuận theo lòng người (tấm lòng của chính bà!). Nói gọn lại là bà Tú đã chấp nhận! Và chấp nhận cuộc hôn nhân duyên nợ này, bà chấp nhận một ông đồ nho ngông “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”, bà chấp nhận vị quan “ăn lương vợ” nên bà đâu “dám quản công”:
“Năm nắng mười mưa dám quản công”
Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “năm nắng mười mưa”. Phải nói những con số trong thơ Tú Xương rất có thần. Ta đã thấm thía với hai số năm – một trong câu thừa đề (Nuôi đủ năm con với một chồng). Giờ đây là sự linh diệu của những con số một – hai và năm – mười trong câu luận. “Một duyên hai nợ” đối với “Năm nắng mười mưa”, cho thấy gian khổ cứ tăng lên, bà Tú chịu đựng hết.
Trước người vợ giỏi giang, tần tảo, chịu đựng mọi gian lao vất vả để “nuôi đủ năm con với một chồng” thì nhà thơ chỉ còn biết tự trách mình.
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Vì quá thương vợ mà nhà thơ tự trách mình, trách một cách nặng nề. “Cha mẹ thói đời…” thì đã thành lời xỉ vả mình. Thật ra là một cách ông Tú nhún mình để cho công trạng của bà Tú nổi lên, chứ Tú Xương đâu phải là người “ăn ở bạc”. Ăn chơi sa đà thì có, “hờ hững” nữa, thì nhà thơ đã thành thật nói rồi, chứ bạc tình, bạc nghĩa thì không. Gang thép với cường quyền mà nhũn với vợ như thế thì thật là con người đáng kính.
Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động, Tú Xương đã thể hiện được hình ảnh người phụ nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con. Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa.
Bao nhiêu công trạng trong gia đình, ông Tú giành cho bà Tú, ông chỉ nhận về cho mình một chữ “không”. Nhưng bình tâm mà xét thì ông Tú cũng xứng với bà Tú vì trên đất nước gian lao và vất vả này có hàng triệu người như bà Tú, nhưng chỉ có một bà Tú là được vào cõi thơ, cõi bất tử! | Soạn bài lớp 11_ Thương vợ | 4,466 | |
Soạn bài lớp 11: Thực hành lựa chọn các bộ phận trong câu
Hướng dẫn
Soạn bài: Thực hành lựa chọn một số bộ phận trong câu
Soạn bài lớp 11: Thực hành lựa chọn các bộ phận trong câu, là tài liệu tham khảo được sưu tầm, nhằm giúp bạn nắm được trật tự câu đơn và câu ghép thông qua việc giải các bài tập. Mời các bạn tham khảo.
Soạn bài lớp 11: Ôn tập văn học trung đại Việt Nam
Soạn bài lớp 11: Một số thể loại văn học truyện, thơ
Thực hành lựa chọn các bộ phận trong câu
I. Trật tự trong câu đơn
1. Bài tập 1
a. Có thể sắp xếp theo trật tự “rất sắc, nhưng nhỏ”: Câu không sai về ngữ pháp và ý nghĩa. (Đều là thành phần phụ cho danh từ “con dao”) Nhưng đặt trong đoạn văn này thì không phù hợp với mục đích đe dọa, uy hiếp đối phương.
b. Việc sắp xếp theo trật tự “nhỏ, nhưng rất sắc” có tác dụng xác định trọng tâm thông báo là “rất sắc”, phù hợp với hàm ý đe dọa, uy hiếp.
c. Trật tự các từ ngữ trong trường hợp này lại phù hợp: Nhằm mục đích chế nhạo, phủ định tác dụng của con dao.
2. Bài tập 2
Cách viết thứ nhất là phù hợp vì trọng tâm thông báo là “rất thông minh”.
3. Bài tập 3
Trạng ngữ có thể đứng ở đầu câu, giữa câu, hoặc cuối câu. Do đó, ta thấy các trạng ngữ trong 3 đoạn trích đặt ở 3 vị trí khác nhau là phù hợp với nội dung thông báo.
Đoạn văn kể về sự kiện Mọi bị bắt nên trước tiên là nêu hoàn cảnh thời gian. Câu tiếp theo phần “sáng hôm sau” cần đặt ở đầu câu để tiếp nối thời gian.
Chủ thể hành động được nêu trước, phần biểu thị thời gian đặt ở giữa bởi sự kiện liên kết với các ý của câu trước đó đều tập trung vào việc: Ai là cha đẻ của Chí Phèo.
Phù hợp với nội dung thông tin cũ, thông tin đã biết.
II. Trật tự trong câu ghép
1. Bài tập 1
a. Vế chính: Hắn lại nao nao buồn. Vế phụ chỉ nguyên nhân đặt sau: là vì mẩu chuyện ấy…..rất xa xôi.
=> Liên kết dễ dàng với nội dung các câu đi sau.
b. Vế chỉ sự nhượng bộ đặt sau để bổ sung thông tin.
2. Bài tập 2
– Chọn phương án C.
=> Việc sắp xếp đúng các bộ phận trong câu không chỉ có tác dụng tu từ mà còn có tác dụng về các phương diện khác: thông báo thông tin cũ – mới; nhấn mạnh trọng tâm thông báo; đảm bảo sự liên lạc và liên kết giữa các ý trong câu | Soạn bài lớp 11_ Thực hành lựa chọn các bộ phận trong câu | 464 | |
Soạn bài lớp 11: Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng
Hướng dẫn
Soạn bài: Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng
Soạn bài lớp 11: Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng là tài liệu tham khảo được sưu tầm, nhằm củng cố kỹ năng sử dụng từ trong câu, chuẩn bị tốt cho việc học tập môn Ngữ văn lớp 11. Mời các bạn tham khảo.
Soạn bài lớp 11: Thực hành về thành ngữ, điển cố
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về tách câu
Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng
Bài tập 1.
a.Từ lá trong câu thơ Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo được dùng theo nghĩa gốc để chỉ một bộ phận của cây.
b. Trong các trường hợp sau, các từ lá được hiểu theo nghĩa chuyển:
Lá gan, lá phối, lá lách: Những từ lá ở đây được dùng để chỉ bộ phận của cơ thể, có hình giống như chiếc lá.
Lá thư, lá đơn, lá phiếu, lá thiếp, lá bài: Những từ lsa ở đây được dùng để chỉ những vật có hình dạng mỏng như chiếc lá dùng để ghi hoặc vẽ trên đó một nội dung nào đó.
Lá cờ, lá buồm: Dùng để chỉ những vật có hình giống chiếc lá nhưng lớn hơn rất nhiều.
Lá cót, lá chiếu, lá thuyền: Dùng để chỉ những vật làm bằng chất liệu như gỗ, cói, tre, nứa… có hình dạng như chiếc lá.
Lá tôn, lá đồng, lá vàng: Dùng chỉ những vật làm bằng kim loại có hình dạng mỏng như chiếc lá.
a. Đầu: Đầu xanh có tội tình gì
b. Chân: Anh ấy đã có một chân trong ban giám đốc.
c. Tay: Tay này là một tên giang hồ khét tiếng.
d. Miệng: Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ.
e. Tim: Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế! Ôm cả non sông cả kiếp người.
Bài tập 3.
a. Chua: Nghe giọng cô ấy chua như khế.
b. Ngọt: Anh ấy có chất giọng rất ngọt ngào
c. Bùi: Nghe anh ấy nói tôi cảm thấy bùi tai
Bài tập 4. Từ đồng nghĩa với từ cậy là từ nhờ, đồng nghĩa với từ chịu là từ nhận. Đây là những từ đồng nghãi nhưng sắc thái biểu cảm lại khác nhau. Nếu thay các từ gốc bằng từ đồng nghĩa thì câu thơ sẽ trở thành:
Nhờ em em có nhận lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Nếu thay thế như vậy, sắc thái ý nghĩa của câu thơ sẽ hoàn toàn thay đổi. Cậy không chỉ đơn thuần là nhờ mà còn cho thấy sẹ khẩn cầu, sự gủi gắm cả tấm lòng của Thúy Kiều đối với Thúy Vân. Chịu không chỉ là nhận mà còn hàm ý không còn sự lựa chọn nào khác. Nếu dùng từ nhận thì vẫn còn có thể từ chối từ trong câu nói của Kiều, Kiều đã đặt Vân vào tình thế buộc phải chấp nhận, vì hơn ai hết Kiều hiểu rằng sự chấp nhận của Vân trong lúc này là một sự hi sinh. Từ chịu, cậy thể hiện được sự tinh tế của Kiều, đồng thời là sự tài hoa trong cách sử dụng ngôn từ của Nguyễn Du.
a.”Nhật kí trong tù” canh cánh một tấm lòng nhớ nước
Từ canh cánh mang nét nghĩa của tất cả các từ trên nhưng còn giúp người đọc hình dung được trạng thái liên tục, ám ảnh, thường trực của tình cảm nhớ nước trong tâm hồn Bác. Các từ khác chỉ mới thể hiện nội dung của tập thơ. Từ canh cánh vừa thể hiện được tình cảm bao trùm ở Nhật kí trong tù, vừa thể hiện tình cảm của Bác.
b. Anh ấy không quan hệ gì đến việc này.
Từ quan hệ có tính trung hòa về sắc thái tình cảm hơn những từ còn lại. Các từ đó đều có ý nghĩa về những việc liên quan nhưng là những việc tạo ra rắc rối, không tốt cho đối tượng được đề cập.
c. Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới.
Từ bạn mang sắc thái ý nghĩa trung hòa, vừa thể hiện được nguyện vọng, vừa giữ một mức độ hợp lí, không quá thân mật, nó phù hợp với phong cách ngoại giao hơn. | Soạn bài lớp 11_ Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng | 717 | |
Soạn bài lớp 11: Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản
Hướng dẫn
Soạn bài: Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản
Soạn bài lớp 11: Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản, là tài liệu tham khảo được sưu tầm, thông qua bài soạn này các bạn sẽ nắm được kiến thức cơ bản về một số loại câu thường dùng, cách lựa chọn kiểu câu thích hợp để sử dụng khi nói và viết. Mời các bạn tham khảo.
Soạn bài lớp 11: Thực hành về thành ngữ, điển cố
Soạn bài lớp 11: Bản tin
Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản
I. Dùng kiểu câu bị động
Bài tập 1.
Câu bị động: Hắn chưa được một người đàn bà nào yêu cả.
Mô hình chung của kiểu câu bị động: Đối tượng của hành động + động từ bị động (bị, được, phải) + chủ thể của hành động + hành động.
Chuyển sang câu chủ động: Chưa một người đàn bà nào yêu hắn cả.
Mô hình chung của kiểu câu chủ động: Chủ thể của hành động + hành động + đối tượng của hành động.
Thay câu chủ động vào và nhận xét: Câu không sai nhưng không nối tiếp ý và hướng triển khai ý của câu trước. Trong câu trước, từ hắn được chọn làm đề tài, nên câu sau phải dùng từ hắn làm đề tài; do vậy, phải dùng câu bị động trong trường hợp trên.
Câu bị động: Đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một bàn tay đàn bà.
Tác dụng: Tạo sự liên kết với câu trước đó, tức là tiếp tục đề tài nói về hắn.
Bài tập 3.
”Suốt cuộc đời cầm bút của mình, Nam Cao luôn trăn trở về những vấn đề sống còn của nghệ thuật, về nghề văn, nhà văn. Ông quan niệm: Văn chương phải phản ánh hiện thực, phải mang tinh thần nhân đạo. Đây là quan niệm nhằm phê phán thứ văn chương chỉ tả chân hời hợt bên ngoài.”
=> Nhận xét: Câu bị động: Ông quan niệm: Văn chương phải phản ánh hiện thực, phải mang tinh thần nhân đạo. Câu bị động này liên kết với câu văn trước, nhằm làm rõ quan niệm tiến bộ của Nam Cao về văn chương.
II. Dùng kiểu câu có khởi nhữ
Bài tập 1.
a. Câu có khởi ngữ: Hành thì nhà thị may lại còn.
Khởi ngữ: Hành.
Chuyển khởi ngữ: Nhà thị may lại còn hành. Câu này không còn khởi ngữ mà chỉ có bổ ngữ (hành), câu có khởi ngữ tạo ra sự đối lập về ý với câu đi trước, do đó nhấn mạnh được vào khởi ngữ.
Câu có khởi ngữ: Còn đôi mắt tôi thì các anh lái xe bảo…
Tác dụng: Tạo sự đối lập ý với câu trước, đồng thời tạo sự liên kết ý.
Bài tập 2.
Bài tập 3.
Câu thứ hai có khởi ngữ: Tự tôi…
Vị trí: Ở đầu câu, trước chủ ngữ.
Dấu hiệu nhận biết: Có ngắt quãng (dấu phẩy) sau khởi ngữ.
Tác dụng: Nêu một đề tài có quan hệ liên tưởng với điều đã nói trong câu trước (thể hiện thông tin đã biết từ trước): Tình yêu ghét, niềm vui buồn, ý đẹp xấu (câu trước), dẫn đến cảm giác tình tự, đời sống cảm xúc (khởi ngữ ở câu sau).
III. Dùng kiểu câu có trạng ngữ chỉ tình huống
Bài tập 1.
Phần in đậm đứng ở vị trí đầu câu
Phần in đậm có cấu tạo là một cụm động từ
Chuyển về sau chữ ngữ: Bà già kia thấy thị hỏi, bật cười…
Nhận xét: Sau khi chuyển, câu có hai vị ngữ, hai vị ngữ đó cùng cấu tạo là các cụm động từ, cùng biểu hiện hoạt động của cùng một chủ thể là Bà già kia. Nhưng theo kiểu câu đó một cụm động từ ở trước chủ ngữ thì câu tiếp theo sẽ rõ ràng hơn so với câu trước đó.
Bài tập 2.
Phần in đậm Nghe tiếng An là một cụm động từ đặt ở đầu câu, có đặc điểm:
Biểu hiện hoạt động của chủ thẻ mà chủ ngữ đề cập đến.
Biểu hiện hoạt động xảy ra đồng thời hay xảy ra trước hoạt động mà vị ngữ của câu đề cập đến.
Phần in đậm đứng ở đầu câu có tác dụng:
Liên kết với câu đi trước dễ dàng hơn.
Thể hiện những điều đã biết từ những câu ai trước, hoặc điều dễ dàng suy ra từ những câu trước đó. Đó là những thông tin đã biết, nên giá trị thông tin thấp, thứ yếu. Vì thế, việc cấu tạo những câu có trạng ngữ đứng ở đầu câu có tác dụng phân bố thông tin: Đưa phần thông tin đã biết, hoặc đưa phần thứ yếu lên đầu câu, tập trung trọng tâm thông tin ở phần vị ngữ chính, sau vị ngữ.
a. Trạng ngữ chỉ tình huống: Nhận được phiến trát của Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường.
b. Đây là câu đầu văn bản nên tác dụng của trạng ngữ này không phải là liên kết với văn bản, cũng không phải thể hiện thông tin đã biết, mà là phân biệt tin thứ yếu với tin quan trọng. | Soạn bài lớp 11_ Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản | 879 | |
Soạn bài lớp 11: Thực hành về thành ngữ, điển cố
Hướng dẫn
Soạn bài: Thực hành về thành ngữ, điển cố
Soạn bài lớp 11: Thực hành về thành ngữ, điển cố là tài liệu tham khảo được sưu tầm. Soạn bài Thực hành về thành ngữ, điển cố này nhằm giúp các bạn học sinh lớp 11 nắm được kiến thức về thành ngữ và điển cố cũng như cách sử dụng chúng. Mời các bạn tham khảo.
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về tách câu
Soạn bài lớp 11: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn
Thực hành về thành ngữ, điển cố
I. Kiến thức
1. Thành ngữ
a) Khái niệm: Thành ngữ là một bộ phận câu có sẵn mà mà nhiều người quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt một ý trọn vẹn. (Vũ Ngọc Phan)
b) Phân biệt giữa tục ngữ và thành ngữ
Tục Ngữ
– Diễn đạt một ý trọn vẹn.
– Đúc kết kinh nghiệm.
– Tương đương với một câu.
Ví dụ:
1. Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng.
2. Ao sâu tốt cá.
3. xanh vỏ, đỏ lòng.
4. Ở hiền gặp lành.
5. Vẽ đương hươu chạy.
6. Tốt danh hơn lành áo.
Thành ngữ
– Không diễn đạt một ý trọn vẹn.
– Có sẵn, quen dùng
– Tương đương với một từ.
Ví dụ:
1. Ác giả ác báo.
2. Chó cắn áo rách.
3. ruột để ngoài da.
4. Kết tóc xe tơ.
5. treo đầu dê bán thịt chó.
6. Một nắng hai sương.
2. Điển cố: Bao gồm việc dụng điển và lấy chữ.
Dụng Điển
Dụng: Dùng
Điển: Là các tình tiết đã được chép trong sử sách, kinh truyện của các tác phẩm nổi tiếng thời trước. Ví dụ: như bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến tác giả đã sử dụng những điển cố như Giường kia, đàn kia…
So vào với thiếp Lan Đình nào thua…”
(Truyện Kiều)
=> Thiếp Lan Đình là điển cố đề cập đến nhà thư pháp lỗi lạc Vương Hi Chi (307 – 365), ở Trung Quốc.
Lấy chữ: Là mượn lại một vài chữ trong các áng thơ văn cổ để đưa vào câu văn của mình.
“Khoé thu ba gợn sóng khuynh thành.”
(Cung oán ngâm khúc)
“Một hai nghiêng nước nghiêng thành.”
(Truyện Kiều)
=> Hai trường hợp trên đều lấy 2 chữ “khuynh thành” của Lí Diên Niêm: “Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc” (Ngoảnh lại 1 lần làm nghiêng thành, ngoảnh lại lần nữa làm nghiên nước).
II. Kỹ năng: Trả lời các câu hỏi trong Sách giáo khoa
Câu 1:
Đoạn thơ gồm các thành ngữ sau:
Một duyên hai nợ => Một mình phải đảm đang công việc để nuôi cả chồng và con.
Năm nắng mười mưa: Thể hiện sự vất vả, cực nhọc, chịu đựng dãi dầu, nắng mưa.
=> Nếu so sánh hai thành ngữ trên với các cụm từ thông thường thì có thể thấy, các thành ngữ ngắn gọn, cấu tạo ổn định,đồng thời qua hình ảnh cụ thể, sinh động thể hiện nội dung khái quát và có tính biểu cảm cao.
Câu 2:
Đầu trâu mặt ngựa: Biểu hiện tính chất hung bạo, thú vật, vô nhân tính của bọn quan công đến cướp giật ở gia đình Kiều khi gia đình này bị vu oan.
Đội trời đạp đất: Biểu hiện được lối sống và hành động tự do, ngang tàng không chịu sự bó buộc, không chịu khuất phục trước uy quyền. Nó dùng để nói về khí phách ngang tàng, hảo hán của Từ Hải.
=> Các thành ngữ trên đều sử dụng những hình ảnh mang tính tố cáo, thể hiện sự đánh giá đối với điều được nó nói đến.
Câu 3:
Giường kia: Gợi lại chuyện Trần Phồn thời Hậu Hán dành riêng cho bạn là Từ Trĩ một cái giường khi bạn đến chơi, khi bạn về thì treo giường lên.
Đàn kia: Gợi lại chuyện Chung Tử Kì gảy đàn, Bá Nha nghe đàn mà hiểu được tâm sự của bạn. Sau khi Bá Nha mất, Chung Tử Kì treo đàn không chơi nữa vì cho rằng không ai hiểu được tiếng đàn của mình.
Câu 4:
Ba thu: Kinh Thi có câu: 1 ngày không thấy mặt nhau lâu như ba mùa thu => Điển cố này muốn nói Kim TRọng đã tương tư Thúy Kiều thì một ngày không thấy mặt mà có cảm giác lâu như ba năm.
Chín chữ: Dẫn điển cố này, Thúy Kiều nghĩ đến công ơn cha mẹ đối với bản thân.
Liễu chương đài: Thúy Kiều mường tượng đến cảnh Kim Trọng trở lại nơi nàng đã thuộc về nhưng người khác mất rồi.
Mắt xanh: Nguyễn Tịch thời Tấn thích ai thì tiếp bằng mắt xanh, khinh ai thì nhìn bằng mắt trắng => Từ Hải muốn nói Thúy Kiều rằng, chàng biết Thúy kiều ở lầu xanh, ngày ngày phải tiếp khách làng chơi nhưng chưa hề yêu ai. Câu nói thể hiện lòng quý trọng, đề cao phẩm giá của Kiều.
Câu 5:
Ma cũ bắt nạt ma mới: Người cũ cậy quen biết nhiều người mà lên mặt, dọa dẫm, bắt nạt người mới đến. Có thể thay bằng: bắt nạt người mới. Chân ướt chân ráo: Vừa mới đến, còn lạ lẫm.
Cưỡi ngựa xem hoa: Làm việc qua loa, không tìm hiểu thấu đáo giống như người cưỡi ngựa đi nhanh, không thể thưởng thức được vẻ đẹp của hoa. Có thể thay bằng: làm việc qua loa.
Câu 6:
Mẹ tròn con vuông: Vợ tôi sinh khó, may nhờ sự giúp đỡ tận tình của các bác sĩ mà mẹ tròn con vuông.
Trứng khôn hơn vịt: Này con, mới nhỏ tuổi đừng cãi bướng cha mẹ như thế, trứng mà đòi khôn hơn vịt à.
Nấu sử sôi kinh: Nhờ chăm chỉ học tập, nấu sử sôi kinh mấy năm trời, bạn Linh đã đỗ đại học với số điểm rất cao.
Lòng lang dạ thú: Thằng cướp tàn nhẫn quá, nó đúng là đồ lòng lang dạ thú.
Đi guốc trong bụng: Cậu hiểu tớ thật, cứ như là đi guốc trong bụng tớ ấy.
Nước đổ đầu vịt: Thằng này chậm hiểu quá, nói từ nãy đến giờ mà như nước đổ đầu vịt vậy.
Dĩ hòa vi quý: Anh em trong nhà phải nhường nhịn nhau, dĩ hòa vi quý các cháu ạ!
Câu 7:
Gót chân Asin: Tao đã nắm được gót chân Asin của hắn rồi mày ạ.
Gã Sở Khanh: Đồ tồi! Anh là gã Sở Khanh thứ hai!
Nợ như chúa Chổm: Cậu làm gì mà suốt ngày có người đến đòi nợ thế? Cậu nợ như chúa Chổm ấy, bao giờ mới trả được hết.
Đẽo cày giữa đường: Cậu làm việc gì thì cũng phải có chính kiến của mình chứ, cứ theo ý kiến người khác nhiều thế thì khác gì đẽo cày giữa đường. | Soạn bài lớp 11_ Thực hành về thành ngữ, điển cố | 1,113 | |
Soạn bài lớp 11: Tinh thần thể dục
Hướng dẫn
Soạn bài: Tinh thần thể dục
Soạn bài lớp 11: Tinh thần thể dục do Nguyễn Công Hoan sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về tính phê phán thói giả dối, chính sách lừa bịp mị dân của bọn cầm quyền thực dân phong kiến. Quan trên sức giấy xuống bắt người dân xã Ngũ Vọng phải tập trung để lên sân vận động để xem bóng đá giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Chí Phèo
Soạn bài lớp 11: Luyện tập kết hợp các thao tác nghị luận
TINH THẦN THỂ DỤC
Nguyễn Công Hoan
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hưng Yên), trong một gia đình quan lại phong kiến xuất thân khoa bảng bắt đầu sa sút. Ông đặc biệt thành công với loại truyện ngắn trào phúng. Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan tập trung phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội cũ. Đối tượng phê phán của ông chủ yếu là bọn nhà giàu, quan lại, tư sản. Nguyễn Công Hoan là người có nhiều đóng góp vào sự phát triển của văn xuôi quốc ngữ.
Tác phẩm chính: Lá ngọc cành vàng (tiểu thuyết 1935), Cô giáo Minh (tiểu thuyết, 1935), Bước đường cùng (tiểu thuyết, 1938)… Kép Tư Bền (truyện ngắn, 1935), Hai thằng khốn nạn (truyện ngắn, 1937), Đào kép mới (truyện ngắn, 1937)… Đời viết văn của tôi (hồi kí, 1971) và một số tập truyện ngắn…
Tinh thần thể dục là một truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan. Tác phẩm phê phán thói giả dối, chính sách lừa bịp mị dân của bọn cầm quyền thực dân phong kiến. Quan trên sức giấy xuống bắt người dân xã Ngũ Vọng phải tập trung để lên sân vận động để xem bóng đá. Nhân dân trong xã không ai muốn đi. Người trốn chạy, người lo lót, người van xin để không phải đi xem bóng đá. Lý trưởng phải đe dọa, bắt bớ, lùng sục những cuối cùng vẫn không đủ số người đi xem theo lệnh quan trên.
Đây là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn Nguyễn Công Hoan giai đoạn 1936 – 1939 về cả hai phương diện tư tưởng và nghệ thuật.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Truyện ngắn được chia làm sáu đoạn, mỗi đoạn kể một nội dung.
2. Đoạn 1 có thể gọi tên là lệnh quan trên. Đây là một cái lệnh khá đặc biệt, độc đáo, không giống những cái lệnh thông thường khác. Thường quan trên sức giấy bắt phu phen, thu thuế, bắt tội phạm… Còn ở đây quan trên sức giấy bắt người đi xem đá bóng. Tác giả không dùng ngôn ngữ kể chuyện mà dùng cách để nguyên văn bản lệnh quan trên. Lệnh quan rất đầy đủ, đúng nghi thức một văn bản hành chính quan trọng. Lệnh quy định rõ số lượng người phải có mặt, những việc người đi xem phải làm… Điều đó cho thấy quan trên rất coi trọng việc thể dục này.
Đoạn 2: van xin. Anh Mịch van xin ông Lí cho miễn cho việc đi xem bóng đá vì anh còn phải đi làm trừ nợ cho ông Nghị. Nhưng lời van xin thống thiết của anh không làm ông Lí động lòng.
Đoạn 4: đút lót. Bà cụ Phó Bính thức thời hơn, cũng bởi bà có tiền hơn. Bà có ba hào để đút lót ông Lí. Bà có tiền để thuê người đi thay. Vì vậy phản ứng của ông Lí nhã nhặn hơn. Ông không doạ nạt mà chỉ trách nhẹ “Làm việc mà cứ gặp phải những người như con bà, thì tôi đến chết mất”, sau khi đã bỏ ba hào vào túi.
Đoạn 5: Lùng sục. Người van xin, người nài nỉ, người chạy chọt, người trốn tránh khiến các ông lí dịch trong làng vô cùng vất vả với việc bắt người đi xem thể thao. Các nhà chức trách phải tróc nã, bắt bớ vất vả hơn cả bắt lính. Không khí trong làng như có trận càn. Đánh đập, quát tháo, chửi rủa. Cảnh tượng thương tâm nhất là ở nhà thằng Cò. Ôm con trốn ra đống rơm mà cũng không thoát. Kết thúc đoạn kể về chuyện lùng sục người ấy là hình ảnh “Thằng bé con nhắm nghiềm mắt, ôm chặt lấy bố. Nó sợ quá, không khóc được nữa. Thằng Cò chưa kịp trả lời, đã bị lôi xềnh xệch đi”.
Đoạn 6: Lên đường. Không khí của buổi lên đường cũng không vui vẻ gì. Những người không may mắn, không thể trốn thoát được phải tập trung xếp hàng năm để lên đường đi xem bóng đá. Họ bị giải đi như đoàn tù binh.
Mỗi đoạn là một mâu thuẫn hỗ trợ làm nổi bật mâu thuẫn chúng của toàn bộ tác phẩm.
Đoạn 1: Yêu cầu người dân đi xem bóng đá, một hoạt động thể thao bằng một cái lệnh.
Đoạn 2: Vận động người đi xem bóng đá bằng vũ lực, như đi bắt phu, Anh Mịch van xin để không phải đi xem.
Đoạn 3: Bác Phô gái đến tận nhà lí trưởng để xin cho chồng không phải đi xem đá bóng…
4. Để làm nổi bật tính chất trào phúng của tác phẩm nhà văn đã dùng các thủ pháp nói giễu, cường điệu, giọng điệu kể chuyện tự nhiên hài hước. Nhà văn đã cường điệu hóa khi kể về phản ứng của người dân xã Ngũ Vọng trước việc phải đi xem đá bóng. Chắc chắn họ không cần phải trốn tránh đến mức đó chỉ vì một buổi đi xem đá bóng.
Giọng kể tự nhiên, pha tính chất hài hước để làm nên giá trị châm biếm của tác phẩm.
5. Tinh thần thể dục phê phán thói giả dối, chính sách lừa bịp mị dân của bọn cầm quyền thực dân phong kiến. Trong khi cuộc sống của dân chúng vô cùng khốn khổ thì chính quyền tay sai thực dân lại bày đặt những trò thể thao xa xỉ. | Soạn bài lớp 11_ Tinh thần thể dục | 1,071 | |
Soạn bài lớp 11: Tiến sĩ giấy
Hướng dẫn
Soạn bài: Tiến sĩ giấy
Soạn bài lớp 11: Tiến sĩ giấy do Nguyễn Khuyến sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về hình ảnh ông tiến sĩ bằng giấy – một thứ đồ chơi rất quen thuộc của trẻ con thời xưa từ đó nhìn ra thực trạng mua danh bán tước của chế độ phong kiến giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Khóc Dương Khuê
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về hiện tượng tách từ
TIẾN SĨ GIẤY
Nguyễn Khuyến
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Tiến sĩ giấy là bài thơ thuộc chùm thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến. Sinh ra trong gia đình có truyền thống Nho học, từng đỗ đạt làm quan với các triều đình phong kiến. Những đứng trước hiện thực điên đảo của xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XIX, ông đã rơi vào tình trạng bi quan, mất hết niềm tự hào về chữ nghĩa thánh hiền. Vì vậy ông đã viết nhiều bài thơ có giọng điệu trào phúng để thể hiện thái độ và tâm trạng của mình trước hiện thực. Tiến sĩ giấy là bài thơ mang giọng điệu ấy. Mượn chuyện vịnh về một thứ đồ chơi của trẻ em, nhà thơ vừa phê phán những kẻ mang danh tiến sĩ nhưng vô dụng với đất nước, vừa là lời tự trào chua chát của chính tác giả, một nho sĩ đang thấy mình bất lực trước cuộc đời.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Đối tượng được miêu tả trong bài thơ là hình ông tiến sĩ bằng giấy – một thứ đồ chơi rất quen thuộc của trẻ con thời xưa. Các bậc cha mẹ mua đồ chơi ấy cho con để mong muốn bọn trẻ học hành đỗ đạt và ra làm quan. Đối tượng châm biếm là những ông tiến sĩ bằng xương bằng thịt, những ông tiến sĩ hữu danh vô thực, có danh tiến sĩ nhưng hoặc là bất tài vô dụng hoặc lực bất tòng tâm. Nguyễn Khuyến đã mượn hình ảnh đồ chơi ấy để nói về thời cuộc. Triều đình vẫn mở các khoa thi để tuyển chọn nhân tài giúp nước. Vẫn có nhiều người đỗ tiến sĩ, nhưng họ đã giúp gì được cho đất nước. Đội ngũ tiến sĩ ấy có thể chia làm hai hạng. Hạng 1, có tài chữ nghĩa thực sự, nhờ chính tài năng của mình mà đỗ đạt. Nhưng họ là là những con người có lòng tự trọng dân tộc. Họ không xoay chuyển được tình thế bằng sức lực của mình nên học buồn chán, quay về ở ẩn lánh đời. Từ đó cảm thấy mình vô dụng như một thứ đồ chơi. Hạng thứ hai, đỗ đạt nhờ đồng tiền. Đó là những kẻ bất tài nhưng lại sẵn sàng ra để làm quan, để vơ vét của cải, để hưởng vinh hoa phú quý. Đó là một đám tiến sĩ giấy không những vô dụng mà còn có hại cho dân tộc. Hình ảnh tiến sĩ giấy trong tác phẩm của Nguyễn Khuyến, có bóng dáng của cả hai hạng tiến sĩ ấy.
Tính chất trào phúng được thể hiện ở sự đối lập những thứ thật đơn giản, nhỏ bé (mảnh giấy, nét son) với một thứ vốn rất đáng trân trọng (thân giáp bảng, mặt văn khôi). Trong thời hoàng kim của nho học, một người đỗ đạt mang danh thơm về cho cả làng cả tổng.
Nó là kết quả của cả đời dùi mài kinh sử. Miêu tả ông nghè giấy nhưng để nói lên chuyện khoa cử, chuyện quan tước. Nhìn bề ngoài, bốn câu thơ đầu vẫn dừng lại ở việc miêu tả và bình luận về ông tiến sĩ – đồ chơi.
3. Cách kết thúc bất ngờ, đột ngột những rất tự nhiên ở câu thơ cuối cùng đã tạo nên tính chất trào phúng và giá trị phê phán cho tác phẩm. Cả 7 câu thơ trước đều tập trung miêu tả hình thức của một ông tiến sĩ nhưng đến câu kết tất cả đã được lật tẩy. Cách thể hiện đầy bất ngờ ấy đã tạo nên hai lớp nghĩa cho bài thơ. Mượn việc vịnh một thứ đồ chơi của trẻ con mà châm biếm loại tiến sĩ rởm đồng thời cũng tự trào sự bất lực của mình.
4. Bài thơ còn là lời tự trào của chính Nguyễn Khuyến. Nguyễn Khuyến cũng là tiến sĩ, ông đã phải cáo quan về quê sống cuộc sống thanh nhàn để giữ trọn khí tiết của nhà nho nhưng vẫn canh cánh trong lòng nỗi niềm dân tộc. Ông đã từng bao năm dùi mài kinh sử, từng ôm mộng khoa danh để phò vua giúp đời. Nhưng thời cuộc đã đẩy ông vào tình trạng bất lực. Nhìn thời thế đảo điên, chứng kiến bao nhiêu điều ngang tai trái mắt mà không thể làm gì được. Tâm trạng ấy đã khiến Nguyễn Khuyến tự coi mình cũng là một tiến sĩ giấy.
5. Bài thơ đã mang đến cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc về cái danh và cái thực, về thái độ cần có của người có học trong thời cuộc. Sống ở trên đời không nên coi trọng hư danh. Điều quan trọng là làm được gì có ích cho đời chứ không nên theo đuổi hư danh hão huyền. Người có học phải ý thức được vị trí và trách nhiệm của mình trước cuộc đời. Phải sống sao để không trở thành kẻ vô tích sự với cuộc đời.
III. TƯ LIỆU THAM KHẢO
Chẳng biết từ lúc ào hễ cứ đến Tết trung thu thì trong vô số đồ chơi trẻ em như kỳ lân, đèn sao, đèn kéo quân… có hình nộm ông Tiến sĩ, Tiến sĩ giấy. Chắc chắn không phải vì không ưa học vị Tiến sĩ mà biến ông thành đồ chơi; trái lại, dân ta vốn hiếu học, trọng khoa bảng, mà những người đậu đại khoa thì rất hiếm, do đó muốn cổ vũ và khích lệ việc học người đời mới dựng hình Tiến sĩ để nghinh rước trong kỳ Tết vui vẻ này? Đã hàng mấy trăm năm, phần lớn các vị đậu đại khoa đều có công với nước, với dân, trở thành mơ ước của các thế hệ nhà nho cửa Khổng sân Trình.
Vào cuối thế kỷ trước, dưới chế độ thực dân, nho học lụi tàn, các kỳ thi chỉ là cảnh chợ chiều để cho bọn mua quan bán tước tha hồ thao túng. Bi hài kịch này đã được đôi câu đối sau đây miêu tả sinh động:
Con nên khoa giáp cha mòn trán,
Em được công danh chị nát trôn!
(Vô danh)
Danh nho Nguyễn Khuyến viết bài này cũng bao hàm dụng ý như vậy.
Ngòi bút tác giả thống kê một loạt biểu tượng như: cờ dương danh Tiến sĩ, biển ân tứ vinh quy, mũ mãng cân đai… toàn của vua ban và cả cái tên quen thuộc; ông nghè tháng tám. Ông này là ông nghè đấy, có đủ cả lễ bộ không chút lép vế so với bất cứ ông nghè thật nào khác. Có điều là điệp từ cũng dày đặc được dùng như nhãn tự tạo cho giọng điệu thơ một cách ấn tượng hơi là lạ khang khác. Nó hao hao giống như bức tranh đám rước chuột dân gian. Tưởng thực mà lại là giả: ông tiến sĩ giấy đó thôi. Quả là hài hước.
Trước hết, ông nhấn mạnh: sản xuất ông tiến sĩ không khó, không rườm rà, chỉ cần những mảnh giấy vụn với một ít màu điểm chỗ này, tô chỗ khác là có ngay một ông tiến sĩ. Dân làm nghề hàng mã có thể cho xuất hiện hàng loạt ông nghè vào dịp tết trung thu đem bày bán khắp hàng quán ở chợ quê hay ở chợ tỉnh. Phố Hàng Mã, gần chợ Đồng Xuân, Hà Nội hẳn là cái lò nổi tiếng sản xuất tiến sĩ giấy.
Tiếp đến, tác giả cất tiếng than về thân phận của những ông nghè giả bằng giấy ấy: cũng xiêm áo khoa danh đủ cả nhưng chẳng hiểu vì sao lại bị người đời coi rẻ đến thế, dùng tiến sĩ (dù là giấy) làm trò tiêu khiển và kiếm lãi như vậy? (Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ; Cái giá khoa danh ấy mới hời?). Ai là người nấu sử sôi kinh, thông kim bác cổ, danh xứng bảng vàng bia đá- Tiến sĩ đích thực- lại không đau lòng?
Cuối cùng Tam Nguyên Yên Đổ rút ra nhận xét đầy chua chát với nhiều suy tư: thời này, hầu hết ông nghè đang chễm chệ trên ngôi cao đều là bọn “Tiến sĩ giấy” cả, chúng chính là những thằng hề không hơn không kém; người đời bày ra trò “tiến sĩ giấy” có chi là đáng trách! Chả thế mà ông đã có lần trực tiếp phê phán tên đốc học Hà Nam bằng những vần thơ đích đáng:
Ai rằng ông dại với ông điên,
Ông dại sao ông biết lấy tiền?
Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp
Khoét thằng mặt trắng lấy tam nguyên!…
(Đốc học Hà Nam)
Lời lẽ bài Tiến sĩ giấy không nặng nề, sát phạt nhưng vẫn nặng trĩu ưu phiền. Tác giả không khỏi ngậm ngùi vì thân danh ông nghè đã biến thành đồ chơi trẻ con! Phải chăng bọn “đậu lạy quan xin” này ít nhiều cũng mang tính tự trào của chính tác giả; trước cảnh non nước đầy vơi mình đành cam chịu bó tay!
Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng!
Thâm thuý và cảm động thay ông già Yên Đổ! | Soạn bài lớp 11_ Tiến sĩ giấy | 1,670 | |
Soạn bài lớp 11: Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức
Hướng dẫn
Soạn bài: Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức
Soạn bài lớp 11: Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức là tài liệu tham khảo hay dành cho quý thầy cô cùng các bạn học sinh. Bài soạn khái quát về tác giả Nguyễn An Ninh, bố cục, nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Mời các bạn tham khảo.
Soạn bài lớp 11: Bài thơ số 28
Soạn bài lớp 11: Chiều xuân
Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức
(Nguyễn An Ninh)
I. Tìm hiểu chung
1.Tác giả: Nguyễn An Ninh (1899 -1943).
Là nhà báo, nhà văn, nhà yêu nước đầu thế kỉ XX.
Từ một trí thức Tây học, ông đến với chủ nghĩa Mác và những người cộng sản.
1908 bị bắt đày đi Côn Đảo.
Sự nghiệp và tên tuổi của ông gắn liền với những buổi diễn thuyết.
Phê phán đạo Khổng – đề cao tinh thần học hỏi văn hoá châu Âu.
Văn phong khúc chiết, trong sáng, có độ sâu về tư duy văn hoá, tràn đầy nhiệt huyết yêu nước gần gũi với đời sống và con người lao động.
2. Tác phẩm
Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức là tác phẩm tiêu biểu cho thể văn chính luận, một thể văn coi trọng lí luận, trình bày những vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn. Ngay ở nhan đề, bài báo đã chỉ ra vai trò quan trọng và thiêng liêng của tiếng Việt, đó là: Nguồn giải phóng của dân tộc.
Bài báo có bố cục chặt chẽ, khoa học thể hiện khả năng tư duy lôgíc của một nhà báo hoạt động chính trị; vì vậy, nó vừa có sự hấp dẫn của báo chí, vừa có tính thuyết phục, tư tưởng của một bài diễn thuyết chính trị.
Mở đầu bài viết, tác giả phê phán một số người do thiếu hiểu biết, thích khoe khoang nên đã vô tình “từ bỏ văn hoá cha ông và tiếng mẹ đẻ”.
Phần tiếp theo, tác giả thuyết minh cho tư tưởng nòng cốt của bài viết: Tiếng mẹ đẻ là nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức. Với lối viết ngắn gọn, súc tích, tác giả đã chỉ ra một cách cụ thể ý nghĩa của tiếng mẹ đẻ, đồng thời khẳng định và chứng minh rằng: Tiếng Việt rất giàu có…
Phần kết thúc, tác giả trình bày vai trò hướng đạo của giới trí thức trong việc phát triển ngôn ngữ dân tộc, quan niệm của mình về mối quan hệ giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài. Cốt lõi của quan điểm đó là: học tiếng nước ngoài trên tinh thần tiếp thu lựa chọn tinh hoa để làm giàu có hơn cho ngôn ngữ nước mình.
A. Nội dung
1. Phê phán những kiểu học đòi “Tây hoá”
Bập bẹ xem vài ba tiếng Tây trong lời nói: Làm tổn thương tiếng mẹ đẻ và tự bộc lộ là người kém văn hoá.
Lối sống lai căng từ kiến trúc đến lời ăn tiếng nói. Đó là biểu hiện từ bỏ văn hoá dấu hiệu mất gốc => Mất nước
2. Giá trị và vai trò của tiếng nói trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Tiếng nói rất quan trọng với vận mệnh dân tộc
“tiếng nói……thống trị”
“tiếng nói là tinh thần của dân tộc… từ chối quyền tự do”
=> Tiếng nói được bảo tồn và phát triển thì nó là nhịp cầu tri thức giúp tiếp xúc nền văn minh, khoa học thế giới, mở mang dân trí.
Dẫn chứng để chứng tỏ tiếng nước mình không nghèo nàn
Ngôn ngữ của Nguyễn Du giàu hay nghèo
Tại sao dịch những tác phẩm Trung Quốc mà không viết tác phẩm tương tự.
=> Ngôn ngữ nghèo hay người dùng bất tài.
3. Quan niệm của tác giả về mối quan hệ giữa ngôn ngữ nước mình với ngôn ngữ nước ngoài
Bên cạnh việc tôn vinh tiếng mẹ đẻ, tác giả còn thấy được vai trò của ngoại ngữ. Người học phải biết một ngoại ngữ để cho đồng bào tiếp cận tri thức nhân loại, đồng thời góp phần bồi đắp làm giàu cho tiếng mẹ đẻ.
Luận điểm, luận cứ rõ ràng, lập luận chặt chẽ, sử dụng ngôn ngữ chính luận sắc sảo.
C. Ý nghĩa văn bản
Từ mối tương quan giữa tiếng mẹ đẻ và nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức, bài viết đã thể hiện lập trường dân tộc và yêu nước của Nguyễn An Ninh. Ngày nay, tư tưởng ấy vẫn còn nguyên giá trị.
III. Tổng kết
Bài viết bàn về hiện tượng lai căng ngoại ngữ lúc đó và khẳng định tiếng Việt ta rất giàu có, cần được bồi đắp cho phong phú.
Qua bài viết, tác giả thể hiện cái nhìn khoa học, khách quan mang đậm tinh thần dân tộc. – Giọng điệu nhẹ nhàng đầy sức thuyết phục. | Soạn bài lớp 11_ Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức | 839 | |
Soạn bài lớp 11: Tiểu sử tóm tắt
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Tiểu sử tóm tắt
Soạn bài: Tiểu sử tóm tắt thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Tôi yêu em
Soạn bài lớp 11: Đặc điểm loại hình của Tiếng Việt
TIỂU SỬ TÓM TẮT
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA TIỂU SỬ TÓM TẮT
1. Khái niệm: Tiểu sử tóm tắt: Là văn bản thông tin một cách khách quan trung thực những nét cơ bản về cuộc đời, sự nghiệp của một cá nhân.
2. Mục đích: Giới thiệu cho người đọc, người nghe về cuộc đời, sự nghiệp, cống hiến của người được nói tới.
3. Yêu cầu:
Thông tin một cách khách quan, chính xác về người được nói tới.
Nội dung và độ dài của văn bản cần phù hợp với mục đích viết TSTT
Văn phong cô đọng, trong sáng, không sử dụng các biện pháp tu từ.
II. CÁCH VIẾT TIỂU SỬ TÓM TẮT
1. Chọn tài liệu để viết TSTT:
Cần chọn các tài liệu: Chân thực, chính xác, đầy đủ, tiêu biểu.
2. Viết TSTT: Bản TSTT thường có các phần:
Giới thiệu khái quát: Họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, gia đình, học vấn… của người được giới thiệu.
Hoạt động XH: làm gì, ở đâu, mối quan hệ với mọi người…
Những đóng góp, những thành tựu tiêu biểu.
Đánh giá chung.
Bài 1: Những trường hợp cần viết TSTT: c, d.
Bài 2:
*Giống nhau: Đều có thể viềt về một nhân vật nào đấy.
* Khác nhau:
TSTT và điếu văn: Khác nhau về mđ và hoàn cảnh gt đoạn văn được viết để đọc trong lễ truy điệu bên ngoài TS còn có: lời chia buồn với gia quyến, tiếc thương người đã mất…
Sơ yếu lí lịch: Là VB hành chính, thường có mẫu cố định, nội dung thường nhấn mạnh đến nhân thân và các mối quan hệ, Bản lí lịch cần có xác nhận của cơ quan thẩm quyền.
TSTT và VB thuyết minh: VB TM có đối tượng rộng hơn (người, vật, danh lam…) văn TM diễn đạt phong phú, giàu hình ảnh và có tính biểu cảm.
III. LUYỆN TẬP VIẾT TIỂU SỬ TÓM TẮT:
Bài tập 1: Xác định:
a/ Mục đích viết tiểu sử tóm tắt: Giới thiệu ĐV ưu tú ứng cử vào Ban chấp hành Hội LHTN của Tỉnh ngoài thông tin về lí lịch, cần chú trọng giới thiệu về trình độ, khả năng và những thành tích đã đạt được của ứng viên, đặc biệt trong công tác Đoàn và p/tr Thanh niên
Yêu cầu: thông tin phải chính xác, khách quan; thành tích phải cụ thể về thời gian, số liệu. Bản TSTT cần ngắn gọn (không quá 500 từ); văn phong trong sáng, cô đọng, ko dùng yếu tố biểu cảm, BP tu từ.
Phần lí lịch (họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, nơi sinh,…) trình độ học vấn, chính trị, nơi công tác và chức vụ đảm nhận, các khả năng và thành tích đã đạt được…
Viết TSTT theo kết cấu đã học: 3 phần
Giới thiệu khái quát ứng viên: họ tên, ngày tháng năm sinh, học vấn, trình độ chính trị, nơi sinh sống và công tác.
Các năng lực và kết quả học tập, công tác của ứng viên.
Đánh giá, nhận xét chung về năng lực uy tín của ứng viên. | Soạn bài lớp 11_ Tiểu sử tóm tắt | 587 | |
Soạn bài lớp 11: Tràng Giang
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Tràng Giang
Soạn bài: Tràng Giang do tác giả Huy Cận sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ II. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình
Giáo án bài Tràng Giang
Cảm nhận bài thơ Tràng giang của Huy Cận
Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận
Soạn bài lớp 11: Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ
Đề kiểm tra trắc nghiệm môn Ngữ Văn lớp 11 – “Tràng giang” (Huy Cận) trực tuyến
TRÀNG GIANG
HUY CẬN
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Huy Cận (1919-2005) quê ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Thuở nhỏ ông học ở quê rồi vào Huế học hết trung học, 1939 ra Hà Nội học ở trường cao đẳng Canh nông
Từ năm 1942, Huy Cận tích cực hoạt động trong mặt trận Việt Minh sau đó được bầu vào uỷ ban dân tộc giải phóng toàn quốc. Sau cách mạng tháng 8, giữ nhiều trọng trách quan trọng trong chính quyền cách mạng.
=> Huy Cận là nhà thơ lớn, một đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ Mới với hồn thơ ảo não.
Tác phẩm tiêu biểu:
Trước cách mạng tháng 8: Lửa thiêng, Kinh cầu tự, Vũ trụ ca
Sau cách mạng tháng 8: Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Chiến trường gần đến chiến trường xa…
2. Bài thơ “Tràng giang”
Xuất xứ: “Lửa thiêng”
Hoàn cảnh sáng tác: Vào mùa thu năm 1939 khi đứng trước sông Hồng mênh mông sóng nước.
II. Đọc, hiểu
A. Nội dung
1. Nhan đề bài thơ và lời đề từ
a. Nhan đề
Từ Hán Việt “Tràng giang” (sông dài) => gợi không khí cổ kính.
Hiệp vần “ang”: tạo dư âm vang xa, trầm lắng, mênh mang.
=> Gợi không khí cổ kính, khái quát => nỗi buồn mênh mang, rợn ngợp.
b. Lời đề từ
Thể hiện nội dung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả
Nỗi buồn trước cảnh vũ trụ bao la bát ngát
Hình ảnh thiên nhiên rộng lớn, tâm sự của cái tôi cô đơn mang nhiều nỗi niềm
Câu này là khung cảnh để tác giả triển khai toàn bộ cảm hứng
2. Ba khổ thơ đầu: Bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của nhà thơ
a. Khổ 1
Hình ảnh: sóng gợn, thuyền, nước song song => cảnh sông nước mênh mông, vô tận, bóng con thuyền xuất hiện càng làm cho nó hoang vắng hơn
Củi 1 cành khô >< lạc trên mấy dòng nước => sự chìm nổi cô đơn, biểu tượng về thân phận con người lênh đênh, lạc loài giữa dòng đời
Tâm trạng: buồn điệp điệp => từ láy gợi nỗi buồn thương da diết, miên man không dứt
=> Với khổ thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu và cách gieo vần nhịp nhàng và dùng nhiếu từ láy, khổ thơ đã diễn tả nỗi buồn trầm lắng của tác giả trước thiên nhiên.
Cảnh sông: cồn nhỏ lơ thơ, gió đìu hiu gợi lên cái vắng lặng, lạnh lẽo cô đơn đến rợn ngợp
Âm thanh: Tiếng chợ chiều gợi lên cái mơ hồ, âm thanh yếu ớt gợi thêm không khí tàn tạ, vắng vẻ tuy thoáng chút hơi người
Hình ảnh: Trời sâu chót vót cách dùng từ tài tình, ta như thấy bầu trời được nâng cao hơn, khoáng đãng hơn
Sông dài, trời rộng >< bến cô liêu Sự tương phản giữa cái nhỏ bé. Sự tương phản giữa cái nhỏ bé và cái vô cùng gợi lên cảm giác trống vắng, cô đơn
=> Với cách gieo vần tài tình, âm hưởng trầm bổng, Huy Cận như muốn lấy âm thanh để xoá nhoà không gian buồn tẻ hiện hữu nhưng không được. Nhà thơ cố tìm sự giao cảm với vũ trụ cao rộng nhưng tất cả đều đóng kín.
c. Khổ 3
Hình ảnh ước lệ: “bèo” để diễn tả thân phận,kiếp người chìm nổi
Câu hỏi: “về đâu” gợi cái bơ vơ, lạc loài của kiếp người vô định
Không cầu, không đò: không có sự giao lưu kết nối đôi bờ niềm khao khát mong chờ đau đáu dấu hiệu sự sống trong tình cảnh cô độc
=> Ba khổ thơ biểu hiện cho niềm tha thiết với thiên nhiên tạo vật. Đó là một bức tranh thiên nhiên thấm đượm tình người, mang nặng nỗi buồn bâng khuâng, nỗi bơ vơ của kiếp người. Nhưng đằng sau nỗi buồn về sông núi là nỗi buồn của người dân thuộc địa trước cảnh giang sơn bị mất chủ quyền.
Hình ảnh ước lệ, cổ điển: Mây, chim…” vẽ lên bức tranh chiều tà đẹp hùng vĩ, êm ả, thơ mộng
Tâm trạng: Không khói….” âm hưởng Đường thi nhưng t/c thể hiện mới. Nỗi buồn trong thơ xưa là do thiên nhiên tạo ra, còn ở Huy Cận không cần nhờ đến thiên nhiên, tạo vật mà nó tìm ẩn và bộc phát tự nhiên vì thế mà nó sâu sắc và da diết vô cùng
=> Đằng sau nỗi buồn, nỗi sầu trước không gian và vũ trụ là tâm sự yêu nước thầm kín của một trí thức bơ vơ, bế tắc trước cuộc đời
B. Nghệ thuật
Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và hiện đại.
Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm.
C. Ý nghĩa văn bản
Vẻ đẹp bức tranh thiện nhiên, nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, niềm khát khao hòa nhập với đời và lòng yêu quê hương đất nước tha thiết.
III.Tổng kết: Ghi nhớ SGK. | Soạn bài lớp 11_ Tràng Giang | 950 | |
Soạn bài lớp 11: Tác giả Nam Cao
Hướng dẫn
Soạn bài: Tác giả Nam Cao
Soạn bài lớp 11: Tác giả Nam Cao thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về cuộc đời và quá trình sáng tác và quan điểm nghệ thuật của Nam Cao giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Đời thừa
Soạn bài lớp 11: Đọc tiểu thuyết và truyện ngắn
NAM CAO
I. TIỂU SỬ
1. Cuộc đời
Nam Cao (1917 – 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri. Ông sinh ra trong một gia đình trung nông, đông con tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam. Nam Cao là người con duy nhất được ăn học tử tế. Sau khi học hết bậc Thành chung, ông bôn ba kiếm sống nhiều nơi. Nhưng do sức khoẻ yếu, ông phải trở về quê kiếm sống bằng nghề dạy học và viết văn. Nam Cao đã phải trải qua những ngày chật vật vì miếng cơm manh áo như những nhân vật trí thức tiểu tư sản trong các tác phẩm của ông. năm 1943, Nam Cao tham gia nhóm Văn hoá cứu quốc. Năm 1948 ông có mặt trong đoàn quân Nam tiến. Ông nhiệt tình tham gia các hoạt động văn hoá phục vụ kháng chiến. Tháng 11 – 1951, ông đã hy sinh trên đuờng đi công tác vùng địch hậu Liên khu III khi tài năng đang ở độ chín. Năm 1996, Nam Cao được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật.
2. Con người
Nam Cao là một người có đời sống nội tâm vô cùng phong phú. đằng sau cái bề ngoài vụng về, hiền lành, ít nói là một tâm hồn nóng bỏng, luôn diễn ra cuộc đáu tranh giữa cái tốt và cái xấu.
Ông là người có tấm lòng nhân hậu, có tấm lòng thương yêu đối với những con người nghèo khổ bị áp bức. Mỗi tác phẩm của ông là sự đồng cảm sâu sắc, là sự chia sẻ đầy ân tình đối với nhữung số phận bất hạnh và là sự khẳng định bản chất tốt đẹp bất diệt của người lao động.
Luôn suy tư về bản thân, cuộc sống, đồng loại, từ kinh nghiệm thực tế đưa ra những triết lí sâu sắc về lẽ sống.
II. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC
1. Quan điểm nghệ thuật
Nam Cao là một trong những nhà văn có nguyên tắc sáng tác nghệ thuật rất rõ ràng. Những nguyên tắc ấy được ông thể hiện trong mỗi tác phẩm của mình.
Ông đánh giá cao văn chương, xem đó là một hình thái lao động cao quý, đầy trách nhiệm xã hội. Văn chương là một hoạt động sáng tạo, nó chỉ “dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo ra những gì chưa có”. Văn học phải phản ánh hiện thực, phê phán cái xấu xa, phản nhân văn.
Nhà văn phải có trách nhiệm với ngòi bút của mình. Trung thực, thân trọng trong khi viết, không dối trá, cẩu thả.
Ông nhìn nhận hiện thực với con mắt cảm thông chia sẻ. Ông quan niệm con người là sản phẩm của hoàn cảnh (Tư cách mõ) song con người cũng có khả năng cải tạo hoàn cảnh (Đôi mắt). Mỗi tác phẩm của Nam Cao đều thể hiện những triết lí sâu sắc về cuộc sống, về nghệ thuật.
3. Nghệ thuật viết truyện của Nam Cao
Nam Cao có tài đặc biệt trong việc phân tích và diễn tả tâm lí nhân vật. Nhà văn thường chú ý khai thắc những biến đổi trong thế giới nội tâm nhân vật, vì vậy sáng tác của ông có chiều sâu và rất hiện đại.
Tác phẩm của Nam Cao có tính triết lí sâu sắc. Triết lí ấy được thể hiện một cách rất giản dị qua hình tượng nhân vật.
Giọng điệu kể chuyện rất hiện đại. Giọng điệu luôn thay đổi rất linh hoạt, khi dửng dưng lạnh nhạt đến tàn nhẫn, khi băn khoăn day dứt. Tác phẩm của Nam Cao luôn có sự đan cài nhiều giọng điệu.
Nhân vật của Nam Cao đều đạt đến trình độ điển hình, giọng điệu kể chuyện đạt trình độ cao của ngôn ngữ văn xuôi hiện đại.
Nam Cao là nhà văn có tâm huyết và tài năng. Ông đã đưa văn học hiện thực phê phán Việt Nam đến trình độ phát triển mới, góp phần hoàn thiện thể truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam trên con đường hiện đại hoá.
III. TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Những người bạn mới gặp Nam Cao thường nói: anh ta lạnh lùng quá. Kéo mép lên mới nở được một nụ cười khó nhọc. Chính Nam Cao cũng đã tả mặt mình trong một truyện ngắn Cái mặt không chơi được. Và tự giễu một cách mỉa mai là “chẳng may trời chi phú cho mình cái mặt không chơi được ấy thì mình phải chịu”. Thật ra thì, mặt anh ta lạnh, nhưng lòng anh rất sôi nổi. Sự trái ngược trong con người Nam Cao, thể hiện ở cả những việc nhỏ bé như vậy. Vốn là một người yếu đuối (cả người và tâm tính), sợ thay đổi, sợ cái gì khỏe quá, nhưng chống những cái sợ đó, bao giờ Nam Cao cũng tìm cách tạo cho mình một tính nết ngược lại, một thói quen mới. Trong nền nếp cải tạo tư tưởng, nhân tố cưỡng lại ấy, tôi cho là một quan điểm đặc biệt, đáng chú ý nhất ở cuộc sống tư tưởng và nghệ thuật của Nam Cao.”.
Tô Hoài
(Người và tác phẩm Nam Cao (1956). Theo Nam Cao, về tác giả và tác phẩm. Nxb Văn học, Hà Nội, tr.52-53)
… “Chật vật, gian khổ và cố gắng không ngừng, ngòi bút Nam Cao đã đem lại một nét thật đặc sắc. Có lẽ trong văn hóa Việt Nam, với ngòi bút Nam Cao ta bắt đầu được thấy thật có sự sống, thật có con người trong truyện ngắn, cùng với một số tác phẩm chân thực của một số ngòi bút dũng cảm khác. Tuy ta đã được đọc không ít những truyện viết về sự đói khổ, bóc lột, áp bức, về những cảnh thương tâm, đen tối của một xã hội đầy rẫy những bất công, nhưng qua Nam Cao ta được nghe thấy cất lên thật là những tiếng nói, ta được thấy lung linh thấm thía thật là những tâm hồn, ta được chứng kiến thật là những cuộc đời, những tiếng nói, những tâm hồn, ta được chứng kiến thật là những cuộc đời mờ mịt, ngoi ngóp, xơ xác ở nông thôn mà từ trước đến giờ ta rõ ràng đã trông, đã nghĩ mà gần như không hiểu, không thấy gì hết!
Mà sao heo hút, sao ngột ngạt đời những con người nông dân nghèo túng, trơ trọi kia? Đọc Nam Cao, cười với Nam Cao xong, ta thấy tâm trí nghẹn lại, ngực ta tức tối, ý thức ta có một cái gì nhấp nháy như ánh sáng chỉ chờ bắt cháy, được thêm một sức mạnh gì đấy có thể nổ bùng lên.
A! Cái cười làm thêm cay đắng, xót xa, không có Nam Cao làm sao ta được cười một cái cười đặc biệt như thế! Không có Nam Cao làm sao ta có được những hình ảnh như thị Nở, lão Hạc… cùng với bao nhiêu hình ảnh sáng tạo khác để cho ta thương yêu thêm và hiểu sâu sắc thêm cuộc sống của con người trên mặt đất này? Và cái thế giới của những bá Kiến, đội Tảo, của cái làng Vũ Đại hẻo lánh dưới một quyền hành cho ai sống được sống, bắt ai chết phải chết kia, càng làm ta thêm suy nghĩ và thấy phải có một trách nhiệm gì trước những con người bị đè nén, bóc lột ở trong đó…”.
Nguyên Hồng
(Đọc những truyện ngắn của Nam Cao. Theo Nam Cao, về tác giả và tác phẩm. Sđd, tr.81-82)
Nguyễn Đăng Mạnh
(Nhớ Nam Cao và những bài học của ông. Sđd, tr.117-178)
Trong những tâm hồn chất phác, bị nghèo khổ làm cho mụ mị cằn cỗi, ngay trong một con người u mê cục súc như Chí Phèo, Nam Cao tìm ra những rung động trong sáng của tình yêu, của niềm khát khao được sống cho ra người, những rung động ấy đột ngột hé lên từng lúc rồi lại bị đời sống vùi dập. Đó là chất thơ quý báu nhất, cảm động nhất trong các truyện tả thực của anh. Đó cũng là cái làm chúng ta cảm thấy thấm thía sự tàn bạo của chế độ cũ. Nam Cao chưa hiểu, sức mạnh bị cùm trói của những con người cùng khổ, nhưng chính những ánh ý thức đó làm cho truyện của anh không đen tối, tuyệt vọng và vượt qua cả ý định của người viết mà hứa hẹn một sự thay đổi tương lai như một ánh bình minh còn xa mờ. Nhờ biết quý trọng đời sống làm lụng vất vả, nên cac biết nhìn rõ những chuyện nhỏ mọn hàng ngày trong cuộc đời đầu tắt mặt tối của bao nhiêu người chung quanh và làm nổi rõ lên cho ta thấy tất cả những sự vô lý của một chế độ thối nát, trong những truyện tầm thường lặng lẽ nhất…”.
Nguyễn Đình Thi
(Nam Cao, 1952. Theo Nam Cao, về tác giả và tác phẩm. Sđd, tr.108112) | Soạn bài lớp 11_ Tác giả Nam Cao | 1,637 | |
Soạn bài lớp 11: Tác giả Nguyễn Khuyến
Hướng dẫn
Soạn bài: Tác giả Nguyễn Khuyến
Soạn bài lớp 11: Tác giả Nguyễn Khuyến thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về cuộc đời và quá trình sáng tác nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Khuyến giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Thu điếu
Soạn bài lớp 11: Khóc Dương Khuê
Soạn bài lớp 11: Tiến sĩ giấy
NGUYỄN KHUYẾN
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 mất năm 1909, lúc nhỏ tên là Thắng, sau khi thi hội không đỗ đổi thành Khuyến, hiệu là Quế Sơn, quê làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông xuất thân trong gia đình có nhiều người đỗ đạt. Nguyễn Khuyến là người có tài những thi cử lận đận. Năm 1871, ông thi đỗ cả Hội nguyên và Đình nguyên. Vì ba lần đỗ đầu nên ông được gọi là Tam nguyên Tên Đổ. Sau khi đỗ đạt ông đã ra làm quan với triều đình nhà Nguyễn.
Sau đó, cảm thấy bất lực trước cảnh đất nước bị xâm lược, đạo đức xã hội suy đồi, chốn quan trường đen tối, ông đã cáo quan về ở ẩn tại làng quê. Trong thời gian đó, ông tiếp tục làm thơ để bộc lộ tâm sự và thể hiện tấm lòng với dân tộc. Nguyễn Khuyến đã sống vào thời kì xã hội Việt Nam có rất nhiều biến động. Các nhà nho không có nhiều sự chọn lựa. Và ông đã chọn cho mình một cách sống theo đạo thông thường của những nhà Nho có nhân cách: bất hợp tác với cường quyền về sống cuộc sống nghèo khổ nhưng thanh bạch chốn làng quê.
Nguyễn Khuyến sáng tác thơ, câu đối, văn bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Những sáng tác của ông tập trung thể hiện tình cảm của một nhà nho đối với quê hương đất nước, người thân. Sáng tác của ông có thể chia thành các mảng sau:
1. Tâm sự yêu nước, u hoài trước sự đổi thay của thời cuộc
Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi rất mạnh mẽ. Dưới con mắt của các nhà Nho, đó chủ yếu là những biến đổi tiêu cực. Đạo đức xã hội thay đổi và khác rất nhiều so với những chuẩn mực đạo đức phong kiến. Giống như nhiều nhà Nho khác, Nguyễn Khuyến cảm thấy vô cùng đau xót trước hiện thực ấy. Và ông đã viết rất nhiều bài thơ thể hiện nỗi niềm u hoài của mình về vận mệnh dân tộc.
2. Thơ về làng cảnh Việt Nam
Nguyễn Khuyến được coi là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Ông viết rất thành công ở đề tài thơ về làng quê. Trong đó nổi tiếng nhất là chùm thơ thu. Để tránh những bon chen điên đảo của chốn quan trường, ông đã lui về quê dạy học, làm thơ.
Không khí thanh bình nơi thôn xóm đã khơi nguồn cảm hứng để ông gưỉ gắm tâm sự. Bức tranh làng cảnh trong thơ ông luôn đẹo vẻ đẹp của sự bình yên, thanh sang, nhưng buồn và cô đơn.
Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến mang giọng điệu thâm thuý với nội dung trào phúng rất sâu cay. Ông thường phê phán những biểu hiện suy đồi của đạo đức xã hội, nhất là chuyện khoa cử, quan tước. Đồng thời, với tâm trạng của một nhà nho bất lực trước thời cuộc ông đã viết những vần thơ tự trào để vừa tự trách mình, vừa bộc bạch tâm sự về thế cuộc.
Ở cả ba mảng thơ trên, Nguyễn Khuyến đều để lại những sáng tác có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật.
4. Một số nét nghệ thuật tiêu biểu
Nguyễn Khuyến thành công hơn cả là ở thơ văn viết bằng chữ Nôm. Phần lớn những tác phẩm xuất sắc của ông đều được sáng tác trong thời kì ông đã cáo quan về ở ẩn.
Điểm nổi bật trong nghệ thuật thơ Nguyễn Khuyến là ông đã “đưa tiếng nói sinh hoạt dân dã, bình dị vào thơ một cách tinh tế, sâu sắc, nhiều khi hóm hỉnh, tự nhiên mà thành thơ”. Dù viết thể thơ cổ điển những thơ ông vẫn luôn rất thoải mái, không có cảm giác gò bó. Ông vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật của thơ ca dân gian và ngôn ngữ giàu chất tạo hình. Nguyễn Khuyến đã đưa thơ Nôm, ngôn ngữ thơ đến một trình độ mới, tinh tế và rất hiện đại.
III. TƯ LIỆU THAM KHẢO
“… Trong xã hội cũ, người ta thường lưu hành câu thành ngữ “nhất tự cách trùng” hay “quan dân lễ cách” để chỉ một hiện tượng xã hội kiêu bạc; không ít nhà nho lúc còn hàn vi thì gần gũi bà con xóm giềng, nhưng khi đã đỗ đạt hay đã leo lên chiếc ghế quan trường thì vội vàng thay đổi ngay thái độ; xa rời bà con và lên mặt với xóm làng. Nhưng cụ Tam Nguyên Yên Đổ thì trái lại. Ông hưu quan họ Nguyễn này lúc nào cũng sống chan hòa thân mật với đồng bào xung quanh. Một người láng giềng cưới vợ cho con hay vừa làm xong một cái nhà mới, Tam Nguyên gửi ngay câu đối đến mừng; chị thợ rèn hay chị thợ nhuộm không may góa bụa, cụ có câu đối gửi đến an ủi; bác hàng thịt quen biết vì mến tuổi già mà thường đem biết bát tiết canh, cụ viết câu đối cảm ơn. Khi nhà cụ có chuyện mừng chuyện vui, ví dụ như kì “Lên lão” chẳng hạn, cụ già họ Nguyễn rất ân cần, chu đáo, chia vui với mọi người, không hề có sự phân biệt đối xử. Tam Nguyên Yên Đổ khao lão cũng giống như bất cứ một ông già nào ở thôn quê khao lão.
Hiện nay bà con làng Yên Đổ còn lưu truyền nhiều đức tính tốt đẹp của cụ Nguyễn Khuyến: chan hòa, chân tình, giản dị, thậm chí xuề xòa nữa. Vì quá yêu cụ, người ta còn thần thánh hóa Nguyễn Khuyến: Lúc bé là thần đồng, lúc về hưu là thành hoàng, đứng trên các vị thành hoàng ở địa phương. Tấm lòng quý mến tự hào của quê nhà đối với nhà thơ dân tộc xuất sắc Nguyễn Khuyến là như thế đó.”
Hoàng Hữu Yên
(Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1984, tr.9-10) | Soạn bài lớp 11_ Tác giả Nguyễn Khuyến | 1,135 | |
Soạn bài lớp 11: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu
Hướng dẫn
Soạn bài: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu
Soạn bài lớp 11: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về cuộc đời và quá trình sáng tác nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu một nhà nho yêu nước, gắn bó với quê hương và nhân dân giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Cha Tôi
Soạn bài lớp 11: Luyện tập phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam. Điều đáng trân trọng và làm nên giá trị đặc sắc cho tác phẩm của ông là một tấm lòng luôn thiết tha tình đời, tình người và lòng yêu nước thương dân sâu sắc. Văn chương của Nguyễn Đình Chiểu là văn chương chở đạo với nghệ thuật viết mộc mạc, đơn giản, chất phác nhưng dễ làm rung động lòng người bởi sự chân thành.
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho có tấm lòng yêu nước, gắn bó tha thiết với quê hương, với nhân dân. Ông đã có những đóng góp rất lớn cho nên văn học dân tộc: văn học chữ Nôm đạt được nhiều thành tựu, hình tượng người nông dân được đưa vào văn học ở một vị trí trang trọng, tư tưởng nho gia truyền thống thống nhất với quyền lợi nhân dân lao động.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) tên tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ. Ông sinh tại quê mẹ, làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Thân phụ ông là Nguyễn Đình Huy, người Thừa Thiên. Mẹ là Trương Thị Thiệt.
Năm 1833, Nguyễn Đình Chiểu được cha đưa ra Huế ăn học. Năm 1849, ra Huế thi thì được tin mẹ mất. Ông trở về chịu tang mẹ, ông vừa ốm nặng vừa thương khó mẹ nên bị mù cả hai mắt. Chi tiết này để lại dấu ấn ở nhân vật Lục Vân Tiên. Ông chuyển sang học thuốc. Năm 1859, giặc Pháp tràn vào sông Bến Nghé, Nguyễn Đình Chiểu về Cần Giuộc, rồi Bến Tre. Đó là thời gian ông viết Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Ông luôn giữ thái độ kiên trung, không hợp tác với giặc.
Những sự kiện lớn trong cuộc đời đều ảnh hưởng rất lớn và để lại dấu ấn đậm nét trong các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu.
2. Nguyễn Đình Chiểu quan niệm văn chương có nhiệm vụ đề cao và chiến đấu vì chính nghĩa, phải ngụ ý khen chê công bằng. Văn chương là những sáng tạo nghệ thuật quý báu, tao nhã để phát huy các giá tinh thần. Trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu tập trung ủng hộ và ca ngợi các tấm gương người tốt. Đó là những con người có phẩm chất tiêu biểu cho quan niệm đạo đức truyền thống như trung nghĩa, thuỷ chung, dũng cảm. Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu tập trung lên án quân xâm lược, phê phán triều đình nhu nhược, ca ngợi tinh thần nghĩa khí và những tấm gương chiến đấu của nhân dân.
Tác phẩm chính: Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp, Văn tế nghĩa sĩ càn Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh và một số bài thơ Đường luật.
Tác giả xây dựng một hình tượng nghệ thuật hoàn chỉnh, từ nguồn gốc xuất thân, hình thức bề ngoài, nội tâm, lí tưởng, hành động…
Người nghĩa sĩ xuất thân là những người nông dân hiền lành, chỉ biết chăm chỉ với công việc đồng áng, họ “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”, họ sống an phận sau lũy tre làng bình yên. Chưa bao giờ họ ngó đến việc quân sự. Thê nhưng khi “súng giặc đất rền”, những người nông dân vốn hiền lành an phận ấy lại là người đầu tiên đứng lên đánh giặc. Họ đánh giặc bằng những thứ vũ khí mộc mạc, đơn giản mà họ có được. Nhưng tinh thần quả cảm, lòng yêu nước đã tạo nên sức mạnh để họ từng chiến thắng kẻ thù.
Thế giặc mạnh, sức người có hạn, nên dù rất anh dũng, dù đã làm chi giặc khiếp sợ những họ vẫn không thể đánh đuổi được kẻ xâm lăng. Nhưng dù thất bại, những người nghĩa sĩ quả cảm ấy đã cho kẻ thù thấy tinh thần bất khuất và lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần trách nhiệm đối với đất nước của nhân dân lao động. Họ ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn cho gia đình, người thân và cả dân tộc song họ đã mang đến niềm tự hào dân tộc cho thế hệ sau.
Nguyễn Đình Chiểu đã mang đến cho văn học Việt Nam một hình tượng đẹp về lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Đó là minh chứng hùng hồn cho tinh thần và sức mạnh Việt Nam.
4. Giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
Dù là thơ Đường luật, văn tế hay truyện thơ, nghệ sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đều có các đặc điểm nổi bật về nội dung là ca ngợi các phẩm chất đạo đức truyền thống theo quan điểm của nhà nho như trung nghĩa, thủy chung và thể hiện lòng yêu nước sâu sắc. Sáng tác của ông thể hiện trách nhiệm của một công dân đối với dân tộc. Do hoàn cảnh, ông không thể đứng lên trực tiếp cầm vũ khí đánh giặc, nhưng những trang văn của cụ đồ Chiểu có một sức chiến đấu mạnh mẽ. Tấm lòng tha thiết với nhân dân đất nước của ông đãđánh thức lòng yêu nước trong biết bao người dân Việt Nam khi họ soi mình vào trang văn của nhà nho Nguyễn Đình Chiểu.
Về giá trị nghệ thuật: ngôn ngữ và cách diễn đạt bình dị, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân; kết hợp tính cổ điển với tính dân gian, bút pháp lý tưởng hoá với tả thực; đậm đà bản sắc dân tộc, đặc biệt là bản sắc địa phương Nam Bộ.
“Con người ta nếu có giáo dục khá thì thường được hướng dẫn trong sự xử thế bởi những nguyên tắc đạo đức nhất định. Nhưng, thường hơn hết là, trong sự xử thế, ta được hướng dẫn bởi những mẫu người mà ta chọn trong tâm trí của ta. Cụ Nguyễn Đình Chiểu là một trong những mẫu người đầu tiên mà tôi chọn để trong tâm trí của tôi không biết từ hồi nào.
Học giỏi, thi đỗ, không có gì đáng phục. Đáng phục là đã đui mù rồi mà không thối trí nản lòng, không cầu an tọa lạc, mà lại quyết tâm học thuốc thật giỏi, không phải để sinh sống mà để giúp đời, kiên trì viết sách, không phải để lấy tiếng mà để truyền bá nhân nghĩa và cổ động lòng ưu quốc vị dân. Chí ấy quý lắm.
Đáng phục hơn nữa là, đã mang tật đui mù rồi mà còn tích cực tham gia cuộc đấu tranh chống kể xâm lăng. Chắc không ai nỡ trách móc một người mù lòa hoặc ở tại nhà, hoặc tị địa rất xa, một khi giặc Pháp giẫm chân lên thành Phụng. Nhưng Đồ Chiểu của chúng ta đã không ở lại mà cũng không lánh xa; Đồ Chiểu về với đốc binh là cầm đầu nghĩa quân Cần Giuộc và giúp sức Trương Định dựng cờ khởi nghĩa tại Tân Hòa. Cái dũng ấy của người mù là một tấm gương xử thế trong sáng, khiến mỗi người trai máu nóng không thể nào điềm nhiên tọa thị trước cảnh ngựa mình người ta cưỡi, dân tộc mình lũ quỷ giày xéo.
Thua cuộc rồi, Nguyễn Đình Chiểu lưng vẫn thẳng, đầu vẫn cao, ngay kẻ thù cũng phải kính nể. Pháp định trả lại đất nhà của cụ ở Gia Định chăng? Cụ rằng: nước chung đã mất, nhà riêng còn đâu! Pháp toan kế đưa tiền cho cụ chăng, lấy danh nghĩa lạc quyên giúp nhà thơ cơn túng thiếu, hoặc lấy cớ trả tiền nhuận bút bản quyền, cụ rằng không cần thiết vì đã sống đầy đủ và vinh dự trong lòng thương của môn đệ và đồng bào! Tiết ấy, ai hơn?
Suốt đời áo vải, tuy Gia Định, Ba Tri là những xứ nuôi tằm dệt lụa nhưng mỗi lúc giảng kinh truyện thì- khăn áo chỉnh tề. Trong nhà, thư sinh chen vai. Ngoài ngõ, nối nhau người đến xem mạnh bốc thuốc. Đồ Chiểu là lương y của cả thể xác và tâm hồn. Mù lòa, cụ không ngại đến tận nhà con bệnh. Nếu về sau có thầy thuốc nổi tiếng dán câu đối trước cửa “Đau tiếc thân, lành tiếc của, thói đời là thế; Mất lòng trước, được lòng sau, trả tiền mới hốt” thì trái lại, Nguyễn Đình Chiểu là người lấy âm đức làm mục đích, quên cái đau khổ riêng của mình để chữa cái đau chung của thiên hạ.
Đứa ăn mày cũng trời sinh,
Bệnh còn cứu đặng thuốc dành cho không.
Vì vậy, cụ xem việc chữa bệnh như một cuộc chiến đấu:
Trận đồ tám quẻ còn roi dấu
Binh pháp năm mùi sẵn cỏ cây.
Quý thay lòng Đồ Chiểu! Cho nên ngày đưa linh cụ, một cánh đồng Ba Tri rợp trắng những khăn tang; môn đệ, bệnh nhân, đồng bào vĩnh biệt một con người mà cuộc đời trọn vẹn là tấm gương chí công mài sắt, phục vụ không điều kiện, phò đời cứu dân, tấm gương tiết nghĩa, dũng cảm!… Biết bao văn sĩ, ta chỉ thích họ trong văn chương, mà chưa được phục họ trong đời sống. Còn với thầy Nguyễn Đình Chiểu, văn với đời là một, chỉ là một”.
Trần Văn Giàu
(Vì sao tôi thích đọc Nguyễn Đình Chiểu? Mấy vấn đề về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Sđd)
Có người bảo: đúng Nguyễn Đình Chiểu khai sáng văn chương yêu nước; nhưng sau cụ còn biết bao nhiêu nhà văn yêu nước khác, thì chủ nghĩa yêu nước của cụ có những nét riêng biệt nào?
– Ở Nguyễn Đình Chiểu, yêu nước, trước hết là thương dân. Nguyễn Đình Chiểu nói nhiều đến nhân dân, ít khi nói đến xã tắc.
Ông Quán nói về thương ghét thì bao giờ cũng đối lập vua ác với dân lành:
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang,
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.
Ghét đời Ngũ Bá phân vân,
Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn.
Tử Trực khen rằng chùa đất Phật vàng và hỏi ông Quán Thương dân sao chẳng lập thân? Nói một cách khác, việc lập thân của Tử Trực, Vân Tiên, Hớn Minh đều vì lẽ “thương dân” vậy. Trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, “dân” chiếm một miếng đất khá lớn. Mà “dân” thì đáng chú ý nhất là dân đen, dân nghèo, dân ấp, dân lân. Ta chưa hề thấy ở đâu trong văn chương Việt Nam trước Nguyễn Đình Chiểu, nói đến người dân, người dân nghèo với một lòng yêu mến, khâm phục như trong văn chương của Nguyễn Đình Chiểu; ta chưa hề thấy ai như Nguyễn Đình Chiểu xem dân ấp, dân lân như những người tiêu biểu nhất cho tinh thần yêu nước, cho ý chí quật cường của đất nước trong cơn khói lửa.
Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa yêu nước trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu là ở đó.
Mấy ai vượt khỏi điều kiện lịch sử? Cho nên Nguyễn ĐìnhChiểu vẫn nói đến chúa, mong ở vua. Nhưng, Nguyễn Đình Chiểu dường như có đặt điều kiện cho việc trung quân: phải là vua hiền, vua kháng chiến thì mới được cụ tôn kính. Hãy nhớ những cái ghét của ông Quán. Hãy nhớ rằng, thuở ấy, hết lời ca tụng một vị tướng không nghe chiếu thiên tử mà thuận theo bụng nhân dân, là một thái độ can đảm phi thường.
Tấm lòng yêu nước thiết tha của Nguyễn Đình Chiểu, hễ có dịp thì bộc lộ rất cảm động. Ngư Tiều vừa gặp nhau đã than thở vì nước nhà bị xâm lăng, chia cắt:
U, Yên mấy quận, cắt bồi Khiết Đan.
Ngư, Tiều, Đường, Chu, bốn người bạn gặp nhau vui mừng là vui mừng vì thấy cả bốn đều trong sạch, không chịu phò quân cướp nước. Câu chuyện này hẳn là không nhất thiết phải có để mở đầu cho việc trình bày y thuật, nhưng tác giả Ngư Tiều y thuật vấn đáp là người chiến sĩ yêu nước, cho nên không tách rời dầu một phút “chuyên môn” ra khỏi “chính trị”. Mà làm như thế có gượng gạo gì đâu? Trái lại hết sức tự nhiên như thuyền chài trên nước. Lục Vân Tiên là Nguyễn Đình Chiểu trước 1859. Nhân Sư là Nguyễn Đình Chiểu sau 1867. Vân Tiên mù vì khóc mẹ. Nhân Sư mù vì quyết giữ tiết tháo với non sông, để cho lòng đạo tròn gương.”
Trần Văn Giàu
(Vì sao tôi thích đọc Nguyễn Đình Chiểu? Sđd, tr.58- 60) | Soạn bài lớp 11_ Tác giả Nguyễn Đình Chiểu | 2,299 | |
Soạn bài lớp 11: Tình yêu và thù hận
Hướng dẫn
Soạn bài: Tình yêu và thù hận
Soạn bài lớp 11: Tình yêu và thù hận trích trong tác phẩm Romeo và Giuliet thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về Tình yêu say đắm thuỷ chung của hai người trẻ tuổi đã xoá bỏ những tập tục thành kiến và thù địch của hai dòng họ suốt hàng trăm năm giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Tác giả Nam Cao
Soạn bài lớp 11: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về phong cách ngôn ngữ báo chí
Phân tích tình yêu và thù hận của Wiliam Shakespeare
TÌNH YÊU VÀ THÙ HẬN
(Trích Romeo và Giu-li-ét)
W. Sếch-xpia
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Sếch-xpia (1564-1616) là nhà soạn kịch Anh nổi tiếng cuối thời đại Phục hưng ở Tây Âu. Quê ông là thị trấn Xtơ-rét-phớt Ê-vơn, miền tây nam nước Anh. Cha ông là một thương gia. Sếch-xpia sớm phải vất vả kiếm sống. Từ một chân giữ ngựa ở rạp hát đến người nhắc vở rồi diễn viên và cuối cùng trở thành nhà viết kịch nổi tiếng.
Sếch-xpia để lại 37 vở kịch bao gồm cả ba thể loại: kịch lịch sử (Vua Hen-ri VI, Vua Giôn,…); hài kịch (Chàng thương gia thành Vơ-ni-dơ, Đêm thứ mười hai,…); bi kịch (Romeo và Giu-li-ét, Vua Lia, Hăm-let,…). Ông còn viết truyện thơ và làm thơ.
II. TÓM TẮT VỞ KỊCH
Romeo và Giuliet là vở bi kịch nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của U.Sếch-xpia. ở thành Vêrôna nước Ý có hai dòng họ phong kiến vốn có mối thù truyền kiếp với nhau là Mông-te-ghiu và Capiulet. Chàng Romeo là con trai họ Mông-ta-ghiu yêu Giu-li-et, con gái họ Capiulet. Họ là một đôi trai tài gái sắc. Hai người làm lễ thành hôn thầm kín. Nhưng cũng trong ngày hôm đó, do một cuộc cãi lộn, Romeo đâm chết Ti-bân, anh họ Giu-li-et và bị kết tội biệt xứ. Gia đình Giu-li-et ép nàng phải lấy bá tước Pa-rix. Nàng định tự sát, nhưng được tu sĩ Lô-rân giúp kế tránh cuộc hôn nhân đó: tu sĩ cho nàng một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết; sau khi gia đình đặt thi thể nàng vào hầm mộ, tu sĩ sẽ báo cho Romeo đến cứu nàng trốn khỏi thành Vê-rô-na. Nhưng người của tu sĩ chưa kịp báo tin thì người nhà Môn-ta-ghiu lại đến trước báo cho Romeo tin nàng Giu-li-et đã tự sát. Romeo tưởng nàng đã chết, nên đã tự sát bên nàng. Giu-li-et tỉnh dậy, cũng tự sát theo. Và trước cái chết của hai người, hai họ đã quên mối thù truyền kiếp.
III. RÈN KĨ NĂNG
1. Cuộc thề hẹn giữa Romeo và Giuliet đã được Sếch-xpia tái hiện bằng những đoạn đối thoại và độc thoại đầy chất thơ.
Từ lời thoại 1 đến lời thoại 7 là độc thoại của hai nhân vật. Tác giả để hai nhân vật tự nhiên bộc lộ tình cảm của mình, qua đó thể hiện mối tình say đắm của hai người.
Từ lời thoại 8 đến lời thoại 16 là lời đối thoại giữa hai người. Những lời đối thoại ấy vẫn là lời trực tiếp thể hiện tình cảm. Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật cũng đầy chất thơ. Romeo đã dùng một loạt hình ảnh so sánh tuyệt vời nhất để miêu tả vẻ đẹp của nàng Giuliet. “Nguyên là hai ngôi sao đẹp nhất bầu trời có việc phải đi vắng đã tha thiết nhờ mắt nàng lấp lánh chờ đến lúc sao về”.
Vượt lên mọi giàng buộc, mọi quy định của gia đình quý tộc, nàng Giuliet dám nói lên một cách thành thực tình yêu chân thành say đắm của mình, “Chàng Môngtaghiu tuấn tú ơi, em yêu chàng say đắm;… ngờ em là kẻ trăng hoa”. Lời nói của Giuliet cũng là lời tuyên ngôn của những người trẻ tuổi.
2. Sau cuộc gặp Giu-li-et tại dạ hội, Romeo đã yêu nàng say đắm. Chàng đã lẻn vào vừơn nhà Capiulet. Nhìn thấy nàng bên cửa sổ và chàng vô cùng hạnh phúc. Nhà văn đã miêu tả niềm hạnh phúc và tình yêu tha thiết của Romeo qua lời độc thoại nội tâm của chính nhân vật. Độc thoại ấy thể hiện mạch suy nghĩ của nhân vật.
Nhìn thấy Giuliet xuất thiện bên cửa sổ, Romeo choáng ngợp. Chàng so sánh nàng với chị Hằng rồi phủ định, so sánh nàng với vầng dương. Sau đó chàng tập trung miêu tả vẻ đẹp của đôi mắt. Trời đêm nên chàng nghĩ ngay đến những ngôi sao và có liên tưởng độc đáo “Chẳng qua là hai ngôi sao đẹp nhất… chờ đến lúc sao về”. Sau đôi mắt, chàng lại tập trung ca ngợi gò má rực rỡ của người yêu, chàng thốt lên rất tự nhiên “Kìa, nàng tì má lên bàn tay…”.
Dưới ánh trăng đẹp trong vườn nhà Capiulet những liên tưởng và so sánh của Romeo rất lãng mạn và phù hợp với khung cảnh. Nó thể hiện tình yêu mãnh liệt của đôi trai gái này.
Tình yêu của Romeo và Giuliet nảy sinh trong một hoàn cảnh rất éo le, đó là mối hận thù truyền kiếp của hai dòng họ. Vì thế tâm trạng của Giuliet sau buổi găp gỡ diễn biến rất phức tạp. Nó diễn biến qua các chặng sau:
Thổ lộ tình yêu mãnh liệt với Romeo và những lo lắng tình yêu của mình sẽ gặp trở ngại.
Vô tình thổ lộ tình yêu của mình vì không biết Romeo đang đứng trong vườn. Nàng lo lắng cho người yêu.
Nàng tin tưởng vào tình yêu của Romeo và luôn lo lắng cho sự an nguy của chàng.
Giuliet cũng yêu Romeo tha thiết, nhưng với trái tim phụ nữ nhạy cảm nàng lo lắng cho mối tình đầy ngang trái của mình. Song tâm trạng của Giuliet cho thấy nàng là một cô gái có trái tim biết yêu say đắm, nàng sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn để giành lấy tình yêu cho mình.
4. Trong đoạn trích không có sự xuất hiện của bất cứ xung đột nào mà chỉ là câu chuyện tình yêu trong sáng diễn ra trên cái nền của một mối hận thù. Trong nội tâm của cả hai nhân vật không hề có sự mâu thuẫn giữa yêu và thù hận. Không hề có sự đắn do giữa yêu hay không yêu mà chỉ có sự băn khoăn lo lắng về những trở ngại mà tình yêu của họ phải đối diện.
Cuộc độc thoại và đối thoại của đôi trai gái đã thể hiện tình yêu trong sáng và mãnh liệt của họ đó là một mối tình đẹp, say đắm và dũng cảm. Đó là mối tình thể hiện tư tưởng nhân văn cao cả của văn học phương Tây thời Phục hưng. | Soạn bài lớp 11_ Tình yêu và thù hận | 1,194 | |
Soạn bài lớp 11: Tóm tắt văn bản nghị luận
Hướng dẫn
Soạn bài: Tóm tắt văn bản nghị luận
giới thiệu đến bạn đọc bài soạn: Tóm tắt văn bản nghị luận. Đây là tài liệu hay dành cho quý thầy cô cùng các bạn học sinh lớp 11, giúp việc chuẩn bị bài soạn ở nhà trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn. Mời các bạn tham khảo.
Soạn bài lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Soạn bài lớp 11: Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức
Tóm tắt văn bản nghị luận
I. Kiến thức chung
1. Tóm tắt văn bản nghị luận
Tóm tắt là viết, kể lại một cách ngắn gọn, khách quan những nội dung chính của văn bản. Khi tóm tắt, rút ngắn, cần giữ được những nội dung cơ bản, quan trọng của văn bản gốc.
Tóm tắt văn bản nghị luận là một hình thức làm văn kết hợp kĩ năng đọc – hiểu với kĩ năng diễn đạt, đáp ứng nhu cầu học tập suy nghĩ trong thực tế.
2. Mục đích, yêu cầu của tóm tắt văn bản nghị luận
Mục đích
Giúp ta có những hiểu biết khái quát, chính xác và sâu sắc về văn bản gốc.
Tích lũy tư liệu và kiến thức cần thiết làm tài liệu.
Học tập cách tư duy và diễn đạt trong văn nghị luận.
Rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu, tiếp nhận văn bản và tóm tắt văn bản nghị luận.
Yêu cầu
Phản ánh trung thành các tư tưởng, luận điểm của văn bản gốc; không tự ý thêm bớt.
Diễn đạt ngắn gọn, súc tích, loại bỏ những thông tin không phù họp với mục đích tóm tắt.
Bước 1: Đọc kĩ văn bản gốc. Dựa vào nhan đề,phần mở đầu và kết thúc àlựa chọn những ý, những chi tiết phù hợp với mục đích tóm tắt.
Bước 2: Đọc từng đoạn trong phần triển khai (thân bài) và nắm được các luận điểm, luận cứ làm sáng tỏ vấn đề.
Bước 3: Lập dàn ý trình bày lại một cách hệ thống những luận điểm của văn bản được tóm tắt.
Bước 4: Dùng lời văn của mình để thuật lại nội dung cơ bản của văn bản được tóm tắt nhưng cần giữ lại bố cục và những câu văn quan trọng của văn bản gốc.
III Luyện tập
Bài tập 1
a) Chủ đề nghị luận: Bàn về đặc trưng tổng thể của đất nước Indonesia.
b) Chủ đề nghị luận: Nói về tài năng của Xuân Diệu trong việc nghiên cứu, phê bình văn học.
Bài tập 2
a. Vấn đề nghị luận: Tình trạng sử dụng nguồn nước ngọt không hợp lý và tình trạng nguồn nước ngày càng bị cạn kiệt và ô nhiễm.
b. Mục đích nghị luận: Nhằm nhắc nhở mọi người nhân thức giá trị và tầm quan trọng của tài nguyên nước èkêu gọi mọi người hãy tiết kiệm và tránh làm ô nhiễm nguồn nước.
c. Các luận điểm chính
Luận điểm 1: Đặt vấn đề: Nước là tài sản quý báu nhưng đang bị hủy hoại và lãng phí nhiều nhất.
Luận điểm 2: Chứng minh và phân tích: Tài nguyên nước trong tương lai sẽ không đáp ứng đủ cho yêu cầu của đời sống con người.
Luận điểm 3: Chứng minh: Tình trạng khan hiếm và ô nhiễm môi trường nước trên thế giới.
Luận điểm 4: Lời kêu gọi của Liên Hợp Quốc về việc bảo vệ nguồn nước ngọt, chống ô nhiễm môi trường.
Trong đời sống chúng ta, thứ tài sản thường bị lãng phí và hủy hoại nhất chính là nước.
Các nhà khoa học đã chứng minh nguồn nước ngọt trên trái đất có hạn và ngày càng cạn kiệt dần.
Chúng ta hãy cùng nhau giữ gìn và tiết kiệm nước cho chúng ta và cho mai sau | Soạn bài lớp 11_ Tóm tắt văn bản nghị luận | 632 | |
Soạn bài lớp 11: Tôi yêu em
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Tôi yêu em
Soạn bài: Tôi yêu em do Puskin sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn văn Tôi yêu em dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Giáo án bài Tôi yêu em
Soạn bài lớp 11: Hầu trời
Phân tích bài thơ Tôi yêu em của Puskin
Trắc nghiệm Ngữ Văn lớp 11 – Tác phẩm “Tôi yêu em” (Puskin) trực tuyến
TÔI YÊU EM
PUSKIN
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Puskin là một nhà văn hiện thực xuất sắc của Nga
Ông xuất thân từ một tầng lớp đại quý tộc nhưng cả đời lại gắn bó với số phận của nhân dân
Đặc biệt ông là người dũng cảm đứng lên đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế độc đoán ở Nga Hoàng
Sự nghiệp:
Ông là người đặt nền móng cho sự phát triển của văn học hiện thực ở Nga thế kỉ XIX
Về mặt thơ ca ông được mệnh danh là mặt trời của thi ca Nga
Ngoài thơ ông còn nhiều thể loại khác như: Ép- ghê- nhi ô nhê gin (tiểu thuyết thơ), con đầm bích (truyện ngắn), Bô rít gô đu nốp (kịch lịch sử)
Thơ của ông viết từ hiện thực Nga và những con người Nga
Thơ của ông có nhiều đề tài: khi viết về đề tài tình bạn thì chân thành, viết về thiên nhiên thì đằm thắm còn viết về tình yêu lại mang một tinh thần nhân văn vô cùng cao cả
a. Xuất xứ: tác phẩm là một trong những bài thơ tình hay nhất của Puskin
b. Hoàn cảnh sáng tác: thời kì sống ở Xanh pê tec bua, ông thường hay lui lại nhà của chủ tịch viện Hàn Lâm nghệ thuật để gặp gỡ những người nghệ thuật và cũng vì người con gái xinh đẹp có tên Ô lê nhê a. Ông đã ngỏ lời cầu hôn nhưng nàng không nhận lời. Và năm 1829 bài thơ ra đời như một chuyện tình đơn phương thu nhỏ
c. Bố cục: 3 phần:
Phần 1: bốn câu đầu: những tâm trạng dằn xé trong tâm trạng của nhà thơ
Phần 2: hai câu tiếp: khổ đau và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình
Phần 3: còn lại: sự cao thượng chân thành của nhân vật trữ tình
II. Tìm hiểu chi tiết
1. Những mâu thuẫn giằng xé của nhân vật trữ tình
Mở đầu bài thơ nhà thơ ngỏ lời “tôi yêu em” tiếng nói ấy được nhà thơ cất giữ bao lâu và đến khi bày tỏ thì nó đã bị từ chối, nhưng trái tim vốn chẳng nghe lời khi nó luôn có hình bóng ai đó nên bắt đầu bài thơ nhà thơ không ngần ngại mà nói với lên
Tình yêu ấy, tiếng yêu ấy cho đến nay nhà thơ vẫn cất giữ và vẫn yêu thương
Dù bị từ chối nhưng ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai nghĩa là nó vẫn còn trong trái tim nhà thơ
Tuy nhiên nhà thơ biết rằng người con gái ấy không yêu mình vậy nên nhà thơ thà chịu đau một mình chứ không để cô gái mình yêu phải gợn bóng u hoài hay khó xử
2. Nỗi đau khổ và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình
Tình yêu của nhà thơ là một tình yêu đơn phương âm thầm lặng lẽ dõi theo người con gái ấy mà không hề hi vọng
Thế nhưng cũng có lúc rụt rè khi lại hậm hực lòng ghen giống như cô gái ấy là người yêu của mình rồi vậy
-> Đây là nỗi khổ của người yêu đơn phương, vẫn dõi theo người yêu mến đấy nhưng lại không hi vọng gì bởi họ đâu có yêu mình
3. Sự cao thượng chân thành của nhân vật trữ tình:
Điệp ngữ “tôi yêu em” lại vang lên một lần nữa thể hiện tình yêu chân thành của nhà thơ
Tình yêu đó chân thành và đằm thắm
Tuy nhiên không được chấp nhận thì nhà thơ cũng cầu chúc cho người con gái của mình gặp được người yêu giống như mình từng yêu cô ấy. Bởi chỉ có nhà thơ mới hiểu hết được tình cảm của mình dành cho cô gái
Bài thơ là tiếng nói thầm kín yêu thương và hết sức chân thành của nhà thơ dành cho người con gái của mình. Tôi yêu em được nhắc lại ba lần ở đầu dòng của bài thơ thể hiện tình yêu chân thành đằm thắm của nhà thơ | Soạn bài lớp 11_ Tôi yêu em | 777 | |
Soạn bài lớp 11: Tương tư
Hướng dẫn
Soạn bài: Tương tư
Soạn bài lớp 11: Tương tư là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, nhằm giúp bạn nắm được đôi nét về tác giả Nguyễn Bính, nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tương tư. Mời các bạn tham khảo.
Soạn bài lớp 11: Lai Tân
Soạn bài lớp 11: Từ ấy
Tương tư – Nguyễn Bính
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Nguyễn Bính (1918 -1966), tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính
Ông được vinh danh là nhà thơ làng quê Việt Nam
Phong cách thơ:
Đậm đà phong vị ca dao dân ca
Cái “tôi” của Nguyễn Bính mang tâm trạng bất an của một tâm hồn tha thiết với những giá trị cổ truyền của dân tộc đang đứng trước nguy cơ mai một khi những phong trào Âu hóa xuất hiện.
Các tác phẩm chính: Qua nhà, những bóng người trên sân ga, tương tư, chân quê, lỡ bước sang ngang, tâm hồn tôi…
2. Tác phẩm
Xuất xứ: Trích từ tập lỡ bước sang ngang
Đề tài: Viết về tình yêu đôi lứa
Chủ đề: Bài thơ giãi bày nỗi lòng một cách chân thực tinh tế của một chàng trai thôn quê
Bố cục: 3 phần
Phần 1: 4 câu thơ đầu: Khởi nguồn cho tâm trạng tương tư
Phần 2: 12 câu tiếp theo: Giãi bày tâm sự tương tư
Phần 3: Còn lại: Ước mơ muôn đời của tình yêu đôi lứa
1. Khởi nguồn cho tâm trạng tương tư.
Chủ thế trữ tình: Chàng trai thôn Đoài.
Khởi nguồn tương tư là nỗi nhớ nhung.
Cách nói thôn Đoài thôn Đông mang đậm âm hưởng dân gian ca dao tục ngữ, dùng địa danh hai thôn để chỉ cho hai người con trai con gái.
Yêu cô gái chàng trai đã mang bệnh tương tư => Một căn bệnh rât phổ biến và bình thường của những người đang yêu.
Nhà thơ so sánh căn bệnh tương tư của chàng trai với căn bệnh tương tư của trời => Thể hiện sự tự nhiên, căn bệnh đó là hoàn toàn có một cách tự nhiên và thường trực như chuyện nắng mưa vậy. Đó là điều tất yếu.
=> Bốn câu thơ đầu nhà thơ nói lên giới thiệu lên nhân vật trữ tình và căn bệnh tương tư. Nó là một căn bệnh tự nhiên như chuyện nắng mưa của trời. Nhân vật trữ tình là chàng trai thôn Đoài hay chính nhà thơ?
2. Sự giãi bày tâm sự về căn bệnh tương tư
Nhân vật trữ tình mang một nỗi buồn băn khoăn thắc mắc
Đã bao lâu chưa gặp được nàng nên nỗi niềm càng da diết nôn nao
Từ “ngày” được lặp lại ba lần kết hợp với từ qua để diễn tả nỗi buồn triền miên giằng giặc
Cách diễn tả lá xanh chuyển thành lá vàng => Vừa diễn tả được thời gian vừa diễn tả được tâm trạng. Thời gian luân hồi ngày qua ngày, một khắc trôi qua dài tựa ba thu, tâm trạng nhớ nhung mong đợi thành ra thấy thời gian trôi qua rất nhanh
Chàng trai trách móc buồn tủi rồi tự bâng khuâng trách móc, dày vò mình
Nếu là cách trở xa xôi thì chàng trai còn được an ủi vì không gian nhưng đây cách nhau chỉ có một đầu đình mà sao xa xôi quá. Chàng thấy băn khoăn thì lại càng thấy buồn tủi
Sự mong đợi khát vọng đến bao giờ thì mới gặp được người mình yêu như bến gặp đò, hoa khuê các gặp bướm giang hồ -> những hình ảnh rất chân quê.
Tác giả sử dụng lối nói ước lệ, ẩn dụ trong ca dao và trong thơ truyền thống.
3. Ước mơ muôn đời của hạnh phúc đôi lứa
Có một giàn giầu, có một hàng cau, nhà anh, nhà em => Thể hiện sư đơn côi, lẻ bóng. Cả anh và em vẫn đang trong trạng thái đôi nơi, vẫn xa xôi cách trở quá chừng.
Cau – giầu biểu hiện ước mơ của chàng trai muốn nên duyên với người mình yêu. Đồng thời thể hiện duyên lứa đôi sắt son bền chặt.
=> Cấu trúc song hành gợi tả mối quan hệ gắn bó với đôi trai gái trong một tình yêu đẹp.
III. Tổng kết
1. Nội dung: Nhà thơ Nguyễn Bính đã đem lại cho chúng ta hiểu thêm về một cung bậc cảm xúc trong tình yêu. Tương tư là một căn bệnh tình cảm mà ai khi yêu cũng mắc phải. Nó tự nhiên như trời nắng mưa vậy. Nhưng hình ảnh chân thân mang âm hưởng ca dao, mang nét đẹp truyền thống.
2. Nghệ thuật: Hình ảnh và ngôn từ, thể thơ lục bát, cách ví von, giọng điệu và phong thơ trữ tình dân gian. | Soạn bài lớp 11_ Tương tư | 788 | |
Soạn bài lớp 11: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
Soạn bài: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Cha Tôi
TỪ NGÔN NGỮ CHUNG ĐẾN LỜI NÓI CÁ NHÂN
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Ngôn ngữ chung
Ngôn ngữ chung là ngôn ngữ được một cộng đồng xã hội sử dụng thống nhất để giao tiếp.
Ngôn ngữ chung bao gồm hệ thống các đơn vị, các quy tắc, các chuẩn mực xác định về ngữ âm – chữ viết, từ vựng và ngữ pháp. Mỗi thành viên trong cộng đồng đều cần phải có những hiểu biết nhất định ngôn ngữ chung của cộng đồng, dân tộc thì mới có thể giao tiếp được.
Mỗi người tự nâng cao hiểu biết của mình về ngôn ngữ chung bằng cách học, có thể học ở nhà trường, học trong sách vở và học trong giao tiếp hàng ngày. Việc học ấy sẽ giúp con người hình thành các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết.
2. Lời nói cá nhân
Lời nói cá nhân là sản phẩm của mỗi người khi sử dụng ngôn ngữ chung làm công cụ giao tiếp. Do đó, mỗi văn bản nói và viết thường mang dấu ấn cá nhân của người tạo lập nên.
Trong văn chương nghệ thuật, dấu ấn cá nhân vô cùng quan trong. Những tác phẩm thành công là những tác phẩm thể hiện được cá tính, phong cách riêng của nhà văn. Bởi nghệ thuật đề cao sự sáng tạo, mà sáng tạo của nghệ thuật thể hiện ở khả năng sử dụng ngôn từ của nghệ sĩ. Từ ngôn ngữ chung, nghệ sĩ sáng tạo nên những lời nói, cách kể, cách diễn đạt riêng của mình. Chẳng hạn: Những ca khúc trữ tình của Trịnh Công Sơn khác hẳn những ca khúc đậm chất rock Tây nguyên của Nguyễn Cường, những trang văn đầy tài hoa, cầu kì trong việc sắp xếp ngôn từ của Nguyễn Tuân khác hẳn những trang văn chất phác, hồn hậu, hiền lành của Nguyên Hồng…
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Câu tục ngữ Học ăn học nói học gói học mở khuyên răn con người phải biết chú ý đến việc xử sự có văn hoá đối với mọi người xung quanh.
Học nói là học ngôn ngữ chung, trau dồi vốn hiểu biết về ngôn ngữ để biết cách giao tiếp đối với người xung quanh sao cho đúng mực, đúng vai vế, đúng hoàn cảnh và đúng chuẩn mực ngôn ngữ chung trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
2.
a. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe
Câu này khuyên người ta nên nói năng dịu dàng, thanh lịch.
Chuông kêu khẽ đánh bên vành cũng kêu
Câu này ca tụng những người ăn nói thanh nhã, lịch sự.
c. Đất tốt trồng cây rườm rà
Những người thanh lịch nói ra dịu dàng
Câu này khen cách nói năng dịu dàng của người thanh lịch.
d. Đất xấu trồng cây khẳng khiu
Những người thô tục nói điều phàm phu.
Câu này chê những người có thói quen nói năng thô lỗ.
Các câu ca dao, tục ngữ trên nói đến mối quan hệ giữa mỗi người và lời nói cá nhân của họ. Từ đó khẳng định, lời nói cá nhân thể hiện tính cách, phẩm chất của con người. | Soạn bài lớp 11_ Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân | 606 | |
Soạn bài lớp 11: Từ ấy
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Từ ấy
Soạn bài môn Ngữ văn với bài: Từ ấy do tác giả Tố Hữu sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Nhớ đồng
Soạn bài lớp 11: Chiều tối
Giáo án Ngữ văn 11 tuần 24 bài: Từ ấy
Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
Đề kiểm tra trắc nghiệm môn Ngữ Văn lớp 11 – “Từ ấy” (Tố Hữu) trực tuyến
TỪ ẤY – TỐ HỮU
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Tố Hữu (1920 – 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành.
Là “lá cờ đầu của thơ ca cách mạng” Việt Nam hiện đại.
Thơ trữ tình – chính trị: thể hiện lẽ sống, lí tưởng, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc, truyền thống.
2. Bài thơ
a. Hoàn cảnh sáng tác: Tháng 7/1938 khi nhà thơ được kết nạp vào đảng cộng sản, bài thơ nằm trong phần Máu lửa của tập thơ “Từ ấy”
b. Vị trí bài thơ: có ý nghĩa mở đầu cho con đường cách mạng, con đường thi ca của Tố Hữu là tuyên ngôn về lẽ sống của một người chiến sĩ cách mạng, cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của một nhà thơ.
II. Đọc, hiểu
A. Nội dung
1. Niềm vui lớn: (khổ 1)
Hình ảnh ẩn dụ: “Nắng hạ, mặt trời chân lí”
Sự liên kết giữa hình ảnh và ngữ nghĩa: mặt trời đời thường toả hơi ấm thì Đảng cũng là ánh sáng diệu kì toả ra những tư tưởng đúng đắn,mới mẻ.
Từ “bừng” có ý nghĩa nhấn mạnh ánh sáng của lí tưởng xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư sản và mở ra cho nhà thơ chân trời mới.
=> Hai câu thơ kể lại một kỉ niệm không quên là được giác ngộ lí tưởng cm và bộc lộ tâm trạng vui sướng tự hào.
Hình ảnh so sánh, bút pháp lãng mạn diễn tả niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đến với lí tưởng cách mạng.
=> Cách mạng đã khơi dậy một sức sống mới, đem lại một cảm hứng sáng tạo mới cho nhà thơ
2. Lẽ sống lớn: (khổ 2)
Suy nghĩ: Tôi buộc…… biểu hiện cho sự tự nguyện gắn “cái tôi” cá nhân vào “cái ta” chung của mọi người
Để tình….. biểu hiện cho một tâm hồn trải rộng với c/đ, tạo khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng c/n cụ thể.
Hồn tôi gắn với bao hồn khổ: tình hữu ái giai cấp, ông đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ
Hình ảnh: “Gần gũi – mạnh khối đời” mang tính ẩn dụ để chỉ đông đảo người cùng chung cảnh ngộ đoàn kết với nhau vì mục tiêu chung
3. Tình cảm lớn (khổ 3)
Điệp ngữ mang tính khẳng định: “là”, các từ “con, em, anh” và số từ ước lệ “vạn” nhấn mạnh khẳng định một tình cảm gia đình đầm ấm, thân thiết, nhà thơ cảm nhận được mình là thành viên trong đại gia đình quần chúng đau khổ
Từ ngữ: “kiếp phôi pha, cù bất cù bơ” biểu hiện cho tấm lòng đau xót của nhà thơ trước những kiếp đời bất hạnh và bày tỏ lòng căm giận trước những oan trái mà kẻ thù gây nên.
=> Lí tưởng cộng sản không chỉ giúp cho ông có được lẽ sống mới mà còn giúp cho nhà thơ vượt qua t/c ích kỉ hẹp hòi của giai cấp tư sản để có được tình cảm giai cấp quý báu
B. Nghệ thuật
Hình ảnh tươi sáng, giàu ý nghĩa tượng trưng; ngôn ngữ gợi cảm, giàu nhạc điệu; giọng thơ sảng khoái; nhịp thơ hăm hở…
C. Ý nghĩa văn bản
Niềm vui lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn trong buổi đầu gặp lí tưởng cộng sản.
III. Tổng kết
Niềm vui khi bắt gặp lí tưởng cách mạng. Tình cảm giai cấp và sự căm giận với những bất công ngang trái của cuộc đời. | Soạn bài lớp 11_ Từ ấy | 711 | |
Soạn bài lớp 11: Tự tình
Hướng dẫn
Soạn bài: Tự tình
Soạn bài lớp 11: Tự tình do Hồ Xuân Hương tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo hiểu rõ hơn về tình cảm và tâm sự của một người phụ nữ đa đoan luôn khát khao được hạnh phúc nhưng luôn gặp phải nhiều điều bất hạnh giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Chạy giặc
Soạn bài lớp 11: Bài ca ngắn đi trên bãi cát
Bài giảng bài Tự tình Ngữ văn 11
Giáo án bài Tự tình Ngữ văn 11
TỰ TÌNH
Hồ Xuân Hương
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Hồ Xuân Hương là nữ sĩ tài năng, là hiện tượng văn học trung đại Việt Nam, song cũng là nhà thơ mà cuộc đời còn rất nhiều bí ẩn. Hiện nay phần đông các nhà nghiên cứu thống nhất ý kiến: Bà là con ông Hồ Phi Diễn, một nhà Nho nghèo quê ở Nghệ An. Ông Hồ Phi Diễn ra Bắc dạy học và lấy vợ lẽ, rồi sinh ra Hồ Xuân Hương. Gia đình bà từng sống ở Thăng Long. Bà giao du rộng rãi, đường tình duyên của bà gặp nhiều trắc trở.
2. Bài thơ thuộc chùm ba bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương. Chùm thơ bộc lộ tâm sự của một người phụ nữ đa đoan luôn khát khao hạnh phúc nhưng luôn gặp những điều bất hạnh. Hiện lên trong chùm thơ là người phụ nữ đằm thắm, cá tính mãnh liệt nhưng không thiếu sự dịu dàng yếu đuối của nữ tính. Bài thơ đã thể hiện một số đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật Hồ Xuân Hương, đó là cảm xúc táo bạo, cái Tôi cá nhân đầy tâm trạng và những hình thơ đầy cá tính với một niềm khát khao hạnh phúc, khát khao sống mãnh liệt. Bài thơ Tự tình tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Xuân Hương ở nỗi cô đơn, ở niềm khát khao hạnh phúc, ở tâm trạng uất ức luôn muốn phá vỡ những khuôn khổ chật hẹp của cuộc sống. Trong bài thơ có sự xuất hiện rất rõ ràng và cụ thể hình tượng nhân vật trữ tình. Cái Tôi cá nhân xuất hiện rất rõ với tâm trạng buồn và cô đơn trĩu nặng.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Hai câu đầu khái quát không gian, thời gian làm nền cho tâm trạng. Thời gian: đêm khuya. Không gian: trống trải, mênh mông, văng vẳng tiếng trống cầm canh. Đêm khuya buồn và vắng. “Trống canh dồn” gợi vẻ tĩnh lặng của không gian và sự trôi chảy gấp gáp của thời gian. Trên cái nền không gian trống trải ấy xuất hiện hình ảnh nhỏ nhoi đến cô độc “trơ cái hồng nhan”. Cái đối với nước non đã nhỏ nhoi lắm rồi lại thêm “cái” như một sự xác đinh, như sự đóng đinh cái lẻ loi vào nền không gian trải rộng. Hai câu thơ làm nổi bật lên sự cố đơn, lẻ loi của nhân vật trữ tình.
3. Hai câu 5 – 6 mang đậm cá tính của Hồ Xuân Hương. Hai hình ảnh thiên nhiên rất dữ dội thể hiện sự bức bối trong tâm trạng và khát khao phá vỡ những lối mòn quen thuộc của cuộc sống để được tự do. Lối đảo ngữ cùng với những động từ mạnh và gợi cảm thể hiện rõ hơn nỗi khát khao hạnh phúc, giải thoát khỏi cô đơn của nhân vật trữ tình.
4. Hai câu kết bỗng nhiên chùng xuống. Dường như mọi cố gắng đều vô ích. Sự thật vẫn là sự thật. Tâm trạng được trực tiếp bộc lộ. Thời gian vô tình cứ trôi chảy, xuân của tự nhiên qua đi rồi trở lại nhưng xuân của người thì không. Câu thơ cuối phản phất sự cay đắng chua xót của người phụ nữ bất hạnh, có những cuộc tình duyên không trọn vẹn đủ đầy.
5. Trong Tự tình, nhà thơ đã dùng nhiều từ ngữ và hình ảnh gây ấn tượng mạnh, đó là các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc với sắc thái đặc tả mạnh, như các động từ dồn, trơ, xế, đâm toạc, xiên ngang, đi, lại lại, san sẻ…, các tính từ say, tỉnh, khuyết, tròn… Các từ ngữ này có khả năng biểu lộ chính xác và tinh tế trạng thái tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đó là sự cô đơn, là khát khao được sống, được hạnh phúc. Tâm trạng uất ức bị dồn nén dường như được thoát ra, trải ra cùng những hình ảnh, những từ ngữ táo bạo ấy.
III. TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. Về tác giả
“… Đường chồng con chắc nhiều long đong. Đến nay mới rõ tên một người chồng là Trần Phúc Hiển, vào những năm 1810, thế kỷ XIX làm tri phủ Tam Đài tức về sau là Vĩnh Tường, rồi tiếp theo giữ chức tham hiệp An Quảng và mất năm 1819. Còn ông phủ Vĩnh Tường có phải Trần Phúc Hiển hay một người khác, Tổng Cóc là ai? Có phải là Nguyễn Bình Kính ở phủ Lâm Thao hay là người nào? Cứ lẽ thường ngày xưa, khó lòng một ông quan tỉnh lại đi lấy vợ góa của kẻ thấp hơn mình dù lấy làm thiếp và vì nể tài. Mấy mươi bài thơ xướng họa giữa Tốn Phong Thị được sáng tác vào quãng 1807-1814, mà giọng chân thực không có gì đáng nghi ngờ, lại cho thấy một Hồ Xuân Hương không còn mười tám đôi mươi nhưng “quả mai ba bảy đương vừa” mà trong tâm tư đã cho mình thuộc số má đào phận bạc và lấy làm xấu hổ khi nghĩ đến chuyện chồng con. Chỗ này chưa thấy ánh sáng. Điều chắc chắn là phận chồng con không ra gì.
Một điều thường được ghi nhận là Xuân Hương đi đây đi đó nhiều nơi, lên tận Tuyên Quang, vào tới Thanh Hóa, qua đến An Quảng, sang cả Ninh Bình, còn Vĩnh Yên, Sơn Tây, Hà Đông đều có vết chân của nữ sĩ. Thời xưa, với phụ nữ, chu du như vậy rất khó. Có người không dám tin, nhưng thơ Hồ Xuân Hương lại là bằng chứng.
Xuân Hương lãng du như thế vào thời gian nào? Khó mà xác định nhưng bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình là chỗ từng trải của Xuân Hương.
Xuân Hương mất năm nào? Chưa đâu đáng tin bằng lời thơ của Miên Thẩm: trước 1842. Như vậy Xuân Hương thuộc vào thế hệ các nhà thơ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và nhỏ tuổi hơn Nguyễn Du.
Nói thêm một chút về ngôn ngữ: Sở dĩ ngôn ngữ Xuân Hương lột được mọi ý đồ của nữ sĩ chính vì cái tài vô song của người vận dụng. Cái tài ấy chẳng khác cái tài của người làm xiếc. Vượt xa trên mức tưởng tượng. Tài tình như thần thông biến hóa. Dân gian mà cổ điển. Điêu luyện mà cứ hồn nhiên. Thực hư, hư thực, nó đấy mà không phải nó, bóng mà hình, hình mà bóng, đùa mà thật, thật mà đùa. Có vẻ như Tôn Ngộ Không. Với Tam Tạng thì chỉ một thân, trung thực, chân chất đến xúc động, nhưng với yêu quái, ma vương thì có đến trăm Tôn Ngộ Không, chẳng biết đâu là thật là giả…
Chính xác đến ghê người. Nói đến con dê chưa thật đã lớn, nhưng cũng chẳng còn là dê con, loại dê choai choai, hăng máu một cách liều lĩnh, Xuân Hương dùng “dê cỏn” chứ không dùng “dê con”. ấy là Xuân Hương muốn chỉ bọn thầy khóa hãy trẻ tơ, chưa đủ lông đủ cánh gì, non nớt tuổi đời, non cả tài thơ mà dám chơi trèo, định ghẹo tới bà chị và làm thơ để ghẹo…
Chỗ tài tình nhất có lẽ là sự lấp lửng nghĩa nọ nghĩa kia, ở một hình tượng, ở một từ, một cách nói…
Đồn rằng Nguyễn Khuyến nói về Hồ Xuân Hương có câu:
Thơ thánh, thơ tiên đời vẫn có,
Tung hoành thơ quỷ hiếm hoi thay!
Tản Đà cũng cho “trong thơ Xuân Hương có quỷ”. Xuân Diệu gọi nữ sĩ là “Bà chúa thơ Nôm”. Hẳn đó là những lời khen đáng tin. Tuy có vẻ mỗi người như muốn nhìn một mặt của thơ Xuân Hương, nhưng ngẫm kỹ thì đều dụng ý nói toàn diện cái tài tình của nữ sĩ, nội dung cũng như hình thức.”
Lê Trí Viễn (Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, Sở giáo dục Nghĩa Bình xuất bản năm 1987)
“Nhìn chung trong thơ cổ điển của nước ta, bao gồm từ Chu Mạnh Trinh trở lên, nếu xét về khía cạnh có tính cách dân tộc hơn cả có lẽ thơ Hồ Xuân Hương “thì treo giải nhất chỉ nhường cho ai”. Thơ Hồ Xuân Hương Việt Nam hơn cả vì đã thống nhất được đến cao độ hai tính cách dân tộc và đại chúng…
… Nội dung thơ Hồ Xuân Hương toát ra từ đời sống “bình dân, hằng ngày và trên đất nước nhà. Xuân Hương nói ngay những cảnh có thực của núi sông ta, vứt hết cả sách vở, khuôn sáo, lấy hai con mắt của mình mà nhìn, cái đèo Ba Dội của Xuân Hương rõ là ba dội, ba đèo, tùm hum nóc, lún phún rêu, gió lắt lẻo, sương đầm đìa, phong cảnh sống như cựa quậy lên…
… Hồ Xuân Hương tưởng như đã lìa cái gốc nho sĩ của mình mà “lăn lóc” giữa bình dân. Xuân Hương là con ốc, quả mít, cái bánh trôi. Xuân Hương làm thơ với cỏ gà, cá giếc, quả cam, lá trầu, con ong, cái giếng, khung cửi, cây đa, cái diều… Mà những thứ ấy vẫn giữ nguyên chất bình dân, chứ không bị mang hia, đội mũ như trong lối thơ khẩu khí…
… Hồ Xuân Hương là nhà thơ dòng Việt, bà chúa thơ Nôm… Xuân Hương đã làm cho chữ “nôm na” không đồng nghĩa với “mánh qué” nữa, mà nôm na là đồng nghĩa với thuần túy, trong trẻo, tuyệt vời. Bà chúa thơ Nôm là chúa cả nội dung và hình thức. Xuân Hương đã sáng tạo được một chất thơ rất man mác, nên thơ…
(Xuân Diệu, Hồ Xuân Hương, Bà chúa thơ Nôm, Nxb Văn học, 1987) | Soạn bài lớp 11_ Tự tình | 1,785 | |
Soạn bài lớp 11: Vi hành
Hướng dẫn
Soạn bài: Vi hành
Soạn bài lớp 11: Vi hành do Hồ Chí Minh sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về những lời bình luận vô cùng thâm thúy về hành động vi hành của Khải Định bằng cách liên hệ, so sánh với các cuộc vi hành khác trong lịch sử giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Ngữ cảnh
Soạn bài lớp 11: Chữ người tử tù
Soạn văn lớp 11: Cha con nghĩa nặng
Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc
VI HÀNH
Hồ Chí Minh
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân dân ta một sự nghiệp văn chương lớn lao về tầm vóc, phong phú, đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách sáng tác. Có thể xếp tác phẩm của Người vào ba thể loại: Văn chính luận, truyện và kí, thơ ca. Mỗi thể loại có một đặc sắc riêng và đều có tác phẩm thành công. Văn chính luận có Tuyên ngôn Độc lập, Truyện kí có Vi hành, thơ có Nhật kí trong tù.
Vi hành là truyện ngắn xuất sắc của Hồ Chí Minh, được viết bằng tiếng Pháp, đăng trên báo Nhân đạo – cơ quan của đảng Cộng sản Pháp – số ra ngày 19/02/1923. Trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc sử dụng bút pháp hiện thực phê phán trào phúng rất hợp với sở thích của độc giả Pháp. Tác phẩm được đăng báo vào đúng dịp vua Khải Định được chính phủ Pháp đưa sang dự cuộc đấu xảo thuộc địa tổ chức ở Macxây. Tác phẩm hướng đến mục đích chính trị: cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới thấy rõ sự vô dụng của Khải Định, một tên vua bù nhìn, ngu dốt, không phải là kẻ đại diện chân chính cho nhân dân Việt Nam; đồng thời vạch trần bộ mặt xảo trá của những kẻ thực dân. Tác giả đã tạo nên những tình huống nhầm lẫn, sử dụng hình thức viết thư và dùng giọng điệu mỉa mai, dí dỏm để thực hiệm ý đồ nghệ thuật của mình một cách rất thành công.
II. TÓM TẮT TÁC PHẨM
Trên chuyến xe điện ngầm, đôi trai gái người Pháp nhìn thấy nhân vật tôi, người kể chuyện, là một người An Nam nên tưởng đó là Khải Định. Họ bàn luận nhận xét về Khải Định và coi hắn như một tên hề, một trò giải trí rẻ tiền. Đôi trai gái xuống tàu, người kể chuyện nhớ về ngày ấu thơ, về câu chuyện vi hành của Vua Pie, vua Thuấn rồi liên hệ, bình luận về cuộc Vi hành mờ ám vì mục đích riêng của Khải Định. Tác giả cũng kể về sự nhầm lẫn của người Pháp, của chính quyền thực dân. Qua đó châm biếm cách đối xử của thực dân Pháp đối với người Việt Nam yêu nước.
1. Căn cứ vào mạch truyện có thể chia tác phẩm thành ba phần
Phần 1 (từ đầu đến “Nghe nói ông bầu Nhà hát múa rối có định kí giao kèo thuê đấy…”): Nhân vật tôi, người viết bức thư gưi cô em họ kể chuyện một đôi thanh niên Pháp nhầm mình là vua Khải Định. Họ tưởng tác giả không biết tiếng Pháp nên đã bình luận rất vô tư về người mà họ tưởng là Khải Định. Họ bình luận về trang phục, hình thức, tính cách và tỏ ra rất khinh thường người mà họ đang bình luận. Khải Định được coi như một trò giải trí hấp dẫn trong số rất nhiều trò giải trí và rẻ tiền của người Pháp lúc đó.
Phần 2 (Từ ” Tàu đỗ, cặp trai gái bước xuống…” đến “… nếm thử cuộc đời của các cậu công từ bé?”: Đoạn này là lời bình luận của nhân vật người kể chuyện về cuộc “vi hành” của Khải Định. Nhân vật tôi nhớ đến những ngày được nghe kể chuyện vi hành của các ông vua nổi tiếng vì dân vì nước trong lịch sử, rồi liên hệ, so sánh với chuyện vi hành của Khải Định. Từ đó thể hiện thái độ châm biếm mỉa mai hành động của Khải Định.
Phần 3 (các đoạn còn lại): Nhân vật tôi kể chuyện và bình luận về thái độ của người Pháp đối với mình và những người Việt Nam khác, chính quyền thực dân sai mật thám bám gót họ khắp nơi.
2. Tác giả đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo, đó là tình huống nhầm lẫn. Có rất nhiều sự nhầm lẫn: cặp trai gái đi trên tàu nhầm lầm tác giả với Khải Định, người dân Pháp nhầm tất cả những người da vàng mũi tẹt đều là Khải Định, chính quyền Pháp nhầm tác giả là Khải Định. Tạo nên những nhầm lẫn, tác giả đã xây dựng được một bức chân dung rất chân thực, khách quan nhưng hài hước, châm biếm. Chính quyền thực dân Pháp cũng hiện lên với những hành động xảo trá và bỉ ổi.
Trong con mắt của đôi trai gái người Pháp, Khải Định chỉ như một tên hề rẻ tiền. Và với người Pháp hắn chỉ có tác dụng là làm thỏa mãn tính hiếu kì của họ khi mà những trò giải trí li kì đã cạn ráo cả. Trong con mắt của những người Pháp, Khải Định không phải là một ông vua của một đất nước mà là một vai hề. Với tình huống nhầm lẫn này, bức chân dung Khải Định hiện lên một cách khác quan, đầy thuyết phục với một bộ dạng thật lố bịch, thảm hại. Một vẻ bề ngoài có thể nói là không giống ai của Khải Định, cái vẻ bề ngoài xoàng xĩnh và nhố nhăng với “vẫn cái mũi tẹt ấy, vẫn đôi mắt xếch ấy, vẫn cái mặt bủng như vỏ chanh, cả cái chụp đèn chụp lên cái đầu quấn khăn, các ngón tay thì đeo đầy những nhẫn”. Bộ dạng thì lúng túng như gà mắc tóc cùng với đủ cả bộ lụa là, đủ cả bộ hạt cườm trên người. Không chỉ như vậy, đôi trai gái Pháp còn đem so sánh Khải Định với những trò ở đấu xảo “một cách rất khôi hài”, “phải mất những nghìn rưởi phrăng để xem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, xem tụi làm trò leo trèo nhào lộn của sư thánh xứ Công gô, hôm nay chúng mình có mất tý tiền nào đâu mà được xem vua đang ngay cạnh? và họ còn cho rằng các nhà hát, nhất là các nhà hát múa rối còn có ý định ký giao kèo thuê hắn. Đó là một sự so sánh vừa hài hước, vừa đầy kịch tính có giá trị châm biếm rất sâu sắc.
4. Đoạn văn “Cái vui nhất là…” đến “một vị hoàng đế” đã thể hiện thái độ của tác giả đối với chế độ mật thám của thực dân Pháp và tên vua Khải Định. Tác giả thấy xót xa cho dân tộc Việt Nam khi phải là quê hương của Khải Định..
5. Chọn hình thức bức thư, câu chuyện có vẻ khách quan, đồng thời tác giả có thể xen vào câu chuyện những lời bình luận một cách tự nhiên. Khi sử dụng hình thức viết thư, tác giả có thể chuyển cảnh một cách linh hoạt, thời gian, không gian được dịch chuyển một cách rất thoải mái, từ nhà ga xe điện đến trường đua ngựa rồi đến cả trên đường phố… Và đặc biệt tài tình, tác giả còn cùng một lúc đả kích, châm biếm nhiều đối tượng khác, đó là bọn cướp nước xảo trá như thực dân Pháp. Hình thức viết thư còn tạo cho tác phẩm tính đa giọng điệu và tạo nên tiếng cười với nhiều sắc điệu khác nhau, từ giọng điệu giễu cợt mát mẻ, phê phán đả kích đến giọng điệu trữ tình tự sự, đã làm nên sự hấp dẫn đối với người đọc.
6. Sức mạnh đả kích của thiên truyện được tạo nên bởi giọng điệu trần thuật hài hước, tự nhiên dí dỏm và thâm thúy đã làm nên sức hấp dẫn cho tác phẩm, thực hiện xuất sắc thái độ châm biếm, đả kích. Tính chất đa giọng điệu với nhiều sắc điệu khác nhau, từ giọng điệu giễu cợt mát mẻ, phê phán đả kích đến giọng điệu trữ tình tự sự, đã làm nên sự hấp dẫn và sức chiến đấu của tác phẩm. | Soạn bài lớp 11_ Vi hành | 1,485 | |
Soạn bài lớp 11: Viết đoạn văn lập luận so sánh
Hướng dẫn
Soạn bài: Viết đoạn văn lập luận so sánh
Soạn bài lớp 11: Viết đoạn văn lập luận so sánh thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về các thao tác lập luận giữa so sánh tương phản và so sánh tương đồng giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Vi hành
Soạn bài lớp 11: Lập luận so sánh
Soạn bài lớp 11: Cha con nghĩa nặng
VIẾT ĐOẠN VĂN LẬP LUẬN SO SÁNH
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
(xem bài trước)
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Vận dụng thao tác lập luận so sánh tương phản
a. Viết đoạn văn trình bày luận điểm: “Biết và hiểu là cần để làm theo, đi theo, nhưng hoàn toàn chưa đủ để khám phá, sáng tạo”.
Gợi ý:
“Biết” là nhận thức được vấn đề; “Hiểu” là nắm được bản chất vấn đề.
Còn “Khám phá” là tìm ra cái mới; “Sáng tạo” là tạo ra cái mới.
Nhận thức và nắm được bản chất vấn để chỉ đủ để “làm theo, đi theo”, bắt chước những gì con người nắm được.
Nhưng muốn tìm ra cái mới và sáng tạo cái mới cần tích cực tác động vào tự nhiên và xã hội, buộc các vấn đề tự bộc lộ bản chất, từ đó khám phá, sáng tạo cái mới.
Rút ra bài học: bên cạnh việc biết và hiểu, đi lại con đường người khác đã đi, cần tích cực, chủ động tác động vào các sự vật hiện tượng khám phá, sáng tạo cái mới, tìm ra đường đi mới.
Gợi ý:
Đam mê là say mê, yêu thích một điều gì đó.
Có niềm đam mê cao đẹp đáng ca ngợi >< có niềm đam mê tầm thường.
Đam mê cao đẹp hướng con người tới cái thiện, cái đẹp >< đam mê tầm thường làm tha hoá con người.
Đam mê học hỏi là đam mê cao đẹp.
Đam mê học hỏi giúp con người có tri thức, tình cảm trong sáng >< Không đam mê học hỏi thì dốt nát, tẻ nhạt.
Đam mê học hỏi giúp ích con người suốt cuộc đời >< đam mê những thứ tầm thường sẽ phản bội, đẩy con người vào lối cụt, tha hoá, ấu trĩ, nghèo nàn.
Đam mê học hỏi là đam mê không bao giờ phản bội con người, con người phải ra sức học hỏi, rèn luyện.
2. Vận dụng thao tác lập luận so sánh tương đồng
a. Viết đoạn văn trình bày luận điểm: Đọc cuốn sách hay đối với trí tuệ giống như thể dục đối với cơ thể.
Gợi ý:
Thể dục đối với cơ thể giúp cơ thể được vận động, tránh được sức ỳ, tạo ra sự lành mạnh về thể chất.
Cuốn sách hay chứa đựng nhiều vấn đề, buộc con người phải suy nghĩ, động não, tìm tòi.
Vậy giống như thể dục đối với cơ thể, đọc cuốn sách hay giúp con người rèn luyện trí nhớ, tăng sức sáng tạo.
Thể dục đối với cơ thể giúp khỏe mạnh về thể chất, đọc sách hay giúp con người phát triển về trí tuệ.
Rút ra bài học: Cần rèn luyện về thể chất song song với việc phát triển trí tuệ. Cần biết chọn lọc để có được cuốn sách hay.
Gợi ý:
Trò chuyện với người bạn thông minh là được giao lưu với trí tuệ.
Trò chuyện với người bạn thông minh giúp ta học hỏi nhiều cái hay; được thoải mái vui vẻ.
Tương tự như vậy, sách là kho tàng tri thức nhân loại, đọc cuốn sách cũng là giao lưu với trí tuệ.
Đọc sách hay giúp con người mở mang tri thức “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới” (M. Gorki).
Đọc sách cũng giúp con người giải trí, tạo được sự thoải mái,…
Sách cũng có loại sách xấu, cần lựa chọn khi đọc sách.
Đọc được cuốn sách hay cũng như được trò chuyện với người bạn thông minh.
3. Vận dụng thao tác lập luận so sánh đối lập
a. Viết đoạn văn trình bày luận điểm: Khen và chê.
Gợi ý:
Khen và chê là hai mặt đối lập của tình cảm con người.
Khen là đồng tình, ca ngợi >< chê là bất đồng, phê phán.
Khen thường dành cho những biểu hiện tốt đẹp >< chê thường dành cho những biểu hiện xấu, tiêu cực.
Khen khiến con người vui vẻ, tự tin hơn >< Chê khiến con người buồn phiền, phật ý.
Khen quá thì dễ kiêu, chê quá thì dễ tự ti, mặc cảm.
Khen chê cần đúng nơi, đúng chỗ, đúng mức.
“Vinh” là vinh quang, vinh danh được mọi người ca ngợi, kính phục >< Nhục là nhục nhã, bị coi thường, sỉ vả.
Vinh quang chỉ dành cho những gì cao cả, chân chính >< Nhục chỉ dành cho kẻ hèn hạ, xấu xa.
Vinh quang giúp con người thấy tự tin, hạnh phúc, động viên con người tiếp tục hướng thiện >< Nhục nhã làm con người xấu hổ, đôi khi dẫn đến tự ti, mặc cảm.
Con người phải biết làm điều thiện để nhận được vinh quang, tránh điều nhục nhã.
Biết vượt qua sự mặc cảm tạm thời để hướng thiện | Soạn bài lớp 11_ Viết đoạn văn lập luận so sánh | 884 | |
Soạn bài lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Hướng dẫn
Soạn bài: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Ngữ văn lớp 11
Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn văn mẫu dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về công ơn của những người nông dân đã anh dũng đứng lên chống lại giặc ngoại xâm ở đồn Cần Giuộc giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Bài giảng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Ngữ văn 11
Giáo án Ngữ văn 11 tuần 6: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Soạn bài lớp 11: Cha Tôi
Soạn bài lớp 11: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu
Phân tích hình ảnh người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
Tóm tắt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
Nguyễn Đình Chiểu
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được Nguyễn Đình Chiểu viết để tưởng nhớ công ơn của những người nông dân đã anh dũng đứng lên chống giặc. Năm 1858, giặc Pháp đánh vào Đà Nẵng, nhân dân Nam Bộ đứng lên chống giặc. Năm 1861, vào đêm 14-12, nghĩa quân tấn công đồn giặc ở Cần Giuộc trên đất Gia Định, gây tổn thất cho giặc, nhưng cuối cùng lại thất bại. Bài văn tế tuy được viết theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định, song chính là những tình cảm chân thực của Đồ Chiểu dành cho những người đã xả thân vì nghĩa lớn.
2. Văn tế (ngày nay gọi là điếu văn) là thể văn thường dùng để đọc khi tế, cúng người chết, nó có hình thức tế – tưởng. Bài văn tế thường có các phần: Lung khởi (cảm tưởng khái quát về người chết); Thích thực (hồi tưởng công đức của người chết); Ai vãn (than tiếc người chết); Kết (nêu lên ý nghĩa và lời mời của người đứng tế đối với linh hồn người chết). Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có kết cấu đủ bốn phần như vậy.
3. Với Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ – người nông dân nghĩa sĩ chống giặc, cứu nước. Đó là những con người vốn hiền lành chất phác chỉ quen với chuyện “ruộng trâu ở trong làng bộ” nhưng khi đất nước đứng trước nạn ngoại xâm họ đã dám đứng lên chống lại kẻ thù mạnh hơn họ rất nhiều.
1. Bố cục bài văn gồm bốn phần:
Lung khởi (Từ đầu đến tiếng vang như mõ) là cảm tưởng khái quát về cuộc đời những người sĩ Cần Giuộc.
Thích thực (Từ Nhớ linh xưa… đến tàu đồng súng nổ) là hồi tưởng cuộc đời và công đức của người nghĩa sĩ.
Ai vãn (Từ Ôi! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng đến cơn bóng xế dật dờ trước ngõ là lời thương tiếc người chết của tác giả và người thân của các nghĩa sĩ.
Kết (còn lại) là tình cảm xót thương của người đứng tế đối với linh hồn người chết.
2. Câu Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ có hình thức đối ngẫu hai vế. Vế 1 là tình huống của vế 2. Khi quân giặc đến xâm lăng nhân dân là những người đầu tiên đứng lên chống giặc cứu nước. Câu văn đã khái quát chủ đề của toàn bộ tác phẩm là ca ngợi tấm gương hi sinh tự nguyện của những nghĩa sĩ có tấm lòng yêu nước. Nhân dân là hình tượng nghệ thuật của bài thơ bởi họ mới là người đứng lên cầm vũ khí đánh giặc. Họ đã sẵn sàng đứng lên đánh giặc. Trong hoàn cảnh đất nước lâm nguy, những người dân hiền lành đã không cần ai thúc giục, họ đã dũng cảm đứng lên cầm vũ khí đánh giặc. Khi đất nước lâm nguy, người đứng lên là dân chứ không phải vua quan. Câu thơ này đã thể hiện tấm lòng trọng dân của nhà thơ.
3. Để khắc họa hình tượng người nông dân nghĩa sĩ, tác giả đã chú ý đến việc khắc họa hình thức bên ngoài, phẩm chất hiền lành chất phác mà anh dũng kiên cường, tinh thần tự giác đánh giặc, xả thân vì đất nước với nhiều biện pháp nghệ thuật như so sánh (Ghét thói mọt như nhà nông ghét cỏ), đặc tả (Đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không…; Xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có), đối ngẫu (đối ý, đối thanh: chưa quen cung ngựa – chỉ biết ruộng trâu; nào đợi – chẳng thèm, đối hình ảnh: bữa thấy bòng bong – ngày xem ống khói). Người nghĩa sĩ trở thành hình tượng nghệ thuật trung tâm của tác phẩm.
Vẻ đẹp bên trong là lòng dũng cảm, là tinh thần xả thân vì nghĩa. Họ vốn là những người dân hiền lành chất phác:
Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó.
Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ.
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm; tập khiên tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
Nhưng khi đất nước đứng trước nạn xâm lăng, họ đã vùng đứng lên bằng một tinh thần quật khởi đáng tự hào với một lòng căm thù giặc sâu sắc:… ghét thói mọt như nhà nông ghét cỏ;… muốn tới ăn gan,… muốn ra cắn cổ… Họ đánh giặc bằng những thứ vũ khí đơn giản nhưng với một sức mạnh tinh thần vô cùng mạnh mẽ. Họ đã không thể chờ đợi những người có trách nhiệm. Nhà văn đã miêu tả tinh thần anh dũng của những người nghĩa sĩ bằng những hình ảnh:
Hỏa mai đánh bằng….
Kẻ đâm ngang, người chém ngược…
Để xây dựng hình tượng nghệ thuật về những người nghĩa sĩ, tác giả đã dùng hệ thống hình ảnh và ngôn ngữ bình dị, giàu cảm xúc, những từ ngữ giàu sức gợi. Hệ thống ngôn từ và hình ảnh đó đã góp phần làm cho hình tượng người nông dân nghĩa sĩ hiện lên với vẻ đẹp bình dị, gần gũi mà thiêng liêng cao quý.
4. Thái độ cảm phục và niềm xót thương vô hạn của tác giả đối với người nông dân nghĩa sĩ được tập trung thể hiện ở đoạn Ôi! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng… đến hết. Đặc biệt là các chi tiết, hình ảnh và giọng điệu lời văn giàu cảm xúc.
Các hình ảnh ước lệ tượng trưng có ý nghĩa khái quát, thể hiện một cách trang trọng nỗi đau và sự mất mát của cả dân tộc trước sự hi sinh anh dũng của những nghĩa sĩ: sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng, chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ. Hình ảnh những người thân của người nghĩa sĩ đã tạo nên giá trị biểu cảm sâu sắc cho bài văn Đau đớn bấy!… cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.
Một loạt các từ ngữ biểu cảm, hình thức đối ngẫu được sử dụng thể hiện nỗi xót thương của tác giả đồng thời làm nổi bật phẩm chất của người nghĩa sĩ: đoái – nhìn, chẳng phải – vốn không, thà thác – cũng vinh.
5. Chủ đề của bài văn tế là ca ngợi lòng yêu nước tinh thần quả cảm của những người nghĩa sĩ – nông dân Cần Giuộc, từ đó khẳng định lòng yêu nước, tinh thần sẵn sàng xả thân vì nghĩa của con người Việt Nam, đồng thời thể hiện tấm lòng tác giả đối với những con người ấy. Tấm lòng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu cũng ngời sáng như tấm gương những người nghĩa sĩ.
Với hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ – người nông dân nghĩa sĩ chống giặc, cứu nước. Nguyễn Đình Chiểu đã đóng góp cho văn học Việt Nam một bài văn tế hay, xúc động nhất về tinh thần yêu nước chống ngoại xâm. | Soạn bài lớp 11_ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc | 1,432 | |
Soạn bài lớp 11: Vĩnh biệt Cửu Trùng đài
Hướng dẫn
Soạn bài: Vĩnh biệt Cửu Trùng đài
Soạn bài lớp 11: Vĩnh biệt Cửu Trùng đài trích trong tác phẩm Vũ Như Tô do Nguyễn Huy Tưởng sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về quan điểm của mình về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cường quyền, giữa nghệ sĩ và nhân dân và có thể là cả vấn đề về văn hoá dân tộc giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Tác giả Nam Cao
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về phong cách ngôn ngữ báo chí
VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI
(Trích kịch Vũ Như Tô)
Nguyễn Huy Tưởng
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) là một nhà văn, nhà viết kịch tài năng. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho khá giả có tinh thần yêu nước ở xã Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội). Nhà văn đặc biệt thành công với đề tài lịch sử ở cả hai thể loại tiểu thuyết và kịch. Tác phẩm chính: Vũ Như Tô ( kịch, 1941), Bắc Sơn (kịch, 1946), Những người ở lại (kịch, 1948), Đêm hội Long Trì (tiểu thuyết, 1942), An Tư (tiểu thuyết, 1945), Sống mãi với thủ đô (tiểu thuyết, 1961), Kí sự Cao Lạng (kí, 1951)…
Vũ Như Tô là một vở kịch lịch sử. Qua tác phẩm này, nhà văn thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cường quyền, giữa nghệ sĩ và nhân dân và có thể là cả vấn đề về văn hoá dân tộc. Đây là một tác phẩm thành công của Nguyễn Huy Tưởng.
II. TÓM TẮT VỞ KỊCH
Vở kịch gồm năm hồi, viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 – 1517.
Nhân vật chính của vở kịch là Vũ Như Tô, là một nhà kiến trúc tài giỏi, một nghệ sĩ có chí lớn, tính tình cương trực, trọng nghĩa kinh tài. Lê Tương Dực, một hôn quân bạo chúa, sai Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng đài để làm nơi ăn chơi với đám cung nữ. Vũ đã từ chối dù bị đe doạ kết tội tử hình. Song Đan Thiềm, một cung nữ tài sắc nhưng đã bị ruồng bỏ, đã khuyên Vũ nên nhận lời xây dựng Cửu Tràng đài vì đây là cơ hội để Vũ đem tài ra phục vụ đất nước, “Ông cứ xây lấy một toà đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi, nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện…”. Vũ đã nhận lời và dồn hết sức xây Cửu Trùng đài. Nhưng Cửu Trùng đài đã làm cho dân chúng thêm cực khổ. Họ đã nổi dậy. Vũ Như Tô bị giết, Cửu Trùng đài bị thiêu trụi.
III. RÈN KĨ NĂNG
1. Đoạn trích thuộc hồi V của vở kịch, cảnh diễn ra trong cung cấm. Vũ Như Tô xây Cửu Trùng đài theo lời khuyên của Đan Thiềm với mục đích xây dựng cho đất nước một công trình nghệ thuật. Đó là mục đích nghệ thuật của người nghệ sĩ. Còn điều mà nhân dân và binh lính trông thấy ngay trước mắt là Vũ Như Tô đang dùng công sức và xương máu của nhân dân để phục vụ mục đích ăn chơi sa đoạ của tên hôn quân Lê Tương Dực. Việc xây dựng Cửu Trùng đài đã khiến cho nhân dân vô cùng cực khổ. Trịnh Duy Sản đã lợi dụng tình hình dấy binh nổi loạn. Nhân dân, binh lính và thợ xây dựng Cửu Trùng đài đã nổi dậy. Chúng bắt giết Vũ Như Tô, Đan Thiềm và huỷ diệt Cửu Trùng đài.
Mẫu thuẫn trực tiếp thể hiện ở cuộc nổi dậy của binh lính và nhân dân chống lại triều đình. Đó là mâu thuẫn giữa đời sống xa hoa trụy lạc của Lê Tương Dực với đời sống cơ cực thống khổ của nhân dân lao động. Cao trào của mâu thuẫn này được thể hiện và được giải quyết ở vở kịch này.
Mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật thuần tuý của muôn đời và lợi ích thiết thực của nhân dân thể hiện ở hai mục đích xây dựng Cửu Trùng đài của Vũ Như Tô và của triều đình Lê Tương Dực. Mâu thuẫn này đã dẫn đến cái chết của Vũ Như Tô và sự ra đi của Cửu Trùng đài. Vũ Như Tô là một tài năng nhưng chính vì không giải quyết được mâu thuẫn giữa nghệ thuật và cuộc sống mà ông đã thất bại.
Cuộc đối thoại giữa Đan Thiềm và Vũ Như Tô ở lớp I của hồi kịch cho thấy Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ chỉ biết vì nghệ thuật. Trông coi việc xây Cửu Trùng đài mà ông không biết rằng tác phẩm nghệ thuật của ông đã gây ra bao nhiêu lầm than cực khổ cho dân chúng. Mục đích nghệ thuật của ông mâu thuẫn với quyền lợi thiết thực của dân chúng mà ông lại không nhận ra. Ông là người nghệ sĩ quá quan tâm đến nghệ thuật mà quên đi quan hệ của nghệ thuật với đời sống. Vì thế ông không thể hiểu điều Đan Thiềm nói. Cuộc nổi loạn của binh lính, thợ thuyền là tất yếu. Với họ, Cửu Trùng đài đơn giản là nguyên nhân gây nên lầm than cực khổ, là biểu hiện của sự ăn chơi sa đoạ của tên hôn quân. Giữa Vũ Như Tô, người nghệ sĩ có mục đích nghệ thuật tốt đẹp và nhân dân lao động đã không có tiếng nói chung bởi người nghệ sĩ như ông Vũ không hiểu và không giải quyết được mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.
3. Phân tích tính cách và diễn biến tâm trạng của hai nhân vật Đan Thiềm và Vũ Như Tô
Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ chân chính, một người có tài và có tâm với nghệ thuật. Ông nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm, nhận xây dựng Cửu Trùng đài là vì mục đích nghệ thuật rất cao cả. Ông Vũ là người nghệ sĩ chỉ quan tâm đến nghệ thuật. Trong hồi kịch này, khi binh lính nổi dậy, kết tội ông và đòi hủy diệt Cửu Trùng đài ông vẫn không thể hiểu nổi tại sao lại như vậy. Vũ quá chú ý đến nghệ thuật mà quên đi quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Ông luôn ở trong tâm trạng mơ màng, ảo vọng. Ông không thể hiểu và không tin tâm huyết của mình đối với đất nước lại bị coi thường.
Đan Thiềm và Vũ là hai kẻ tri âm, tri kỉ, cùng có một mục đích nghệ thuật tốt đẹp nhưng cuối cùng đều thất bại. Và cả Cửu Trùng đài, tâm huyết của hai người cũng bị phá huỷ. Hai người đáng thương, đáng trọng hơn là đáng trách. Nhà văn đã bộc lộ sự cảm thông và trân trọng của ông đối với hai con người tri âm tri kỉ và bất hạnh này.
4. Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật thuần túy và lợi ích thiết thực của nhân dân là mâu thuẫn không dễ giải quyết. Vì thế, việc Nguyễn Huy Tưởng chưa giải quyết triệt để được mâu thuẫn này là điều dễ hiểu. Nhà văn để cho Vũ Như Tô bị giết mà không hiểu tại sao. Đan Thiềm, Vũ Như Tô cùng Cửu Trùng đài bị hủy diệt đã đặt ra một vấn đề lớn, vấn đề quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Với đoạn trích này, Nguyễn Huy Tưởng đã giải quyết được phần nào mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Nghệ thuật đích thực phải thống nhất với quyền lợi của con người. Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vì con người. Người nghệ sĩ khi làm nghệ thuật phải chú ý đến điều đó.
5. Đoạn trích có đủ các yếu tố của một vở kịch: biến cố, xung đột và giải quyết xung đột, sự kiện. Không khí, nhịp điệu của sự việc được diễn tả theo chiều tăng tiến mức độ dồn dập đã thể hiện được tính chất gay gắt của mâu thuẫn và dần đẩy xung đột kịch lên cao trào. Cửu Trùng đài và Vũ Như Tô là cái nút của mâu thuẫn. Xung đột đã được giải quyết bằng sự ra đi vĩnh viễn của cả hai. Nhà văn đã tạo nên không khí kịch thông qua lời nói – hành động và sự ra, vào liên tiếp của các nhân vật. Không khí nhốn nháo, hỗn loạn của cuộc nổi dậy đã được tái hiện qua nghệ thuật tạo tình huống và ngôn ngữ đầy kịch tính của đoạn trích.
III. TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. Về tác giả
Với lứa tuổi thiếu niên học sinh trong trường phổ thông, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã dành nhiều tình cảm mến yêu và sự quan tâm sâu sắc. Ông đã góp phần quan trọng sáng lập Nhà xuất bản Kim Đồng và sáng tác nhiều tác phẩm đặc sắc cho thiếu nhi. Tiêu biểu nhất là cuốn truyện lịch sử Lá cờ thêu sáu chữ vàng.
Ông luôn luôn trăn trở tìm cho mình một con đường chân chính và không bao giờ bằng lòng với những gì mình đã viết ra. Đối với Nguyễn Huy Tưởng… “Có cái nghề nào thú vị hơn nghề văn. Nó lấy nguyên liệu chính là con người, một cái gì đẹp nhất, kỳ diệu nhất của sự sáng tạo… Đừng viết cái gì sai trái với sự thực của con người. Người là thật. Phải thật với người… Phải tự nâng mình lên. Tự vượt mình lên. Và cải tạo xã hội…”
(Trích Nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng ngày 16-6 và ngày 15-7-1956)
2. Về tác phẩm
Về truyền thống văn hóa dân tộc, vở kịch như ngầm nêu một nhật xét: Xây dựng những công trình lớn lao, điện đài tráng lệ đồ sộ, tốn kém, đâu có phải là truyền thống kiến trúc của dân tộc ta. Chính nhân vật Thái tử Chiêm Thành đã nói với một người thợ Chiêm Thành: “Nước ta (nước Chiêm Thành) bại chỉ vì nay làm đền, mai đẽo tượng, rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài. Còn họ (nước Việt) chỉ nai lưng khơi sông, đắp đê, khai khẩn ruộng hoang, cho nên dân họ đông, nước họ mạnh, người họ hùng cường…”, đó mới chính là mục tiêu mà cha ông ta hướng tới.
Cái bi kịch của nhà nghệ sĩ tài hoa Vũ Như Tộ không chỉ vì chỗ đứng. Trong vở kịch, Vũ bị trừng phạt vì đã đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, vì đã dựa vào quyền uy bạo lực của tên vua độc ác Lê Tương Dực. Điều đó dễ hiểu. Song, nếu bấy giờ Vũ được một minh quân giúp đỡ thì, biết đâu nhà nghệ sĩ chả thực hiện được khát vọng cao đẹp “xây cho nòi giống tòa đài hoa lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công… để dân ta nghìn thu được hãnh diện”. Như vậy bi kịch của Vũ Như Tộ phải chăng còn là bi kịch của sự “bất phùng thời”, bi kịch của những anh hùng không có đất dụng võ. Do đó, đối với những người như Vũ Như Tộ, ta không thể chê trách, trái lại ta vừa kính phục vừa xót thương thông cảm. Cuộc đời nhà nghệ sĩ khác nào một định mệnh khắc nghiệt. | Soạn bài lớp 11_ Vĩnh biệt Cửu Trùng đài | 2,016 | |
Soạn bài lớp 11: Về luân lí xã hội ở nước ta
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Về luân lí xã hội ở nước ta
Soạn bài: Về luân lí xã hội ở nước ta trích trong Đạo đức và luân lí Đông Tây do Phan Châu Trinh sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Người trong bao
Soạn bài lớp 11: Thao tác lập luận bình luận
VỀ LUÂN LÍ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
(Trích: “Đạo đức và luân lí Đông Tây”)
Phan Châu Trinh
1. Câu 1:
a. Ý chính của ba phần:
Ở nước ta chưa có luân lí XH, mọi người chưa có ý niệm gì về luân lí XH.
Bên Châu Âu, luân lí XH đã phát triển. Ở nước ta
Ý thức đoàn thể xưa cũng đã có nhưng nay đã sa sút, người nước ta không biết nghĩa vụ của mỗi người đối với nhau, chưa biết hợp sức giữ quyền lợi chung. Bọn vua quan không muốn dân ta có tinh thần đoàn thể mà dân càng nô lệ thì ngôi vua càng lâu dài, quan lại càng phú quý.
Nay nước VN muốn được tự do, độc lập thì trước hết phải tuyên truyền XHCN, phải có đoàn thể để lo công ích, mọi người lo cho quyền lợi của nhau.
Ba phần đó liên hệ với nhau theo mạch diễn giải: Hiện trạng chung; biểu hiện cụ thể; giải pháp.
Cần phải truyền bá Chủ nghĩa xã hội ở VN để gây dựng đoàn thể vì sự tiến bộ, hướng tới mục đích giành độc lập tự do.
2. Câu 2:
Tác giả chọn cách đặt câu đề thẳng thắn, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người nghe vấn đề đó là: Ở VN chưa có luân lí XH. Tác giả dùng cách nói phủ định “XH luân lí… dốt nát hơn nhiều” => Cách vào đề tư duy sắc sảo, nhạy bén của Phan Châu Trinh.
3. Câu 3:
Tác giả so sánh: “bên Âu Châu”, “bên Pháp” với “bên mình” về quan niệm, nguyên tắc cốt yếu của luân lí XH là ý thức nghĩa vụ giữa người với người.
Tác giả bắt đầu với “cái XHCN bên Âu Châu” đề cao dân chủ, coi trọng sự bình đẳng, không chỉ quan tâm đến từng gia đình, quốc gia mà còn đến cả thế giới “Bên Pháp… mới nghe”. Là do “người ta có thể, có công đức”.
Còn “bên mình” thì “người nước ta… người”. Không biết cái nghĩa vụ của mỗi người trong nước đối với nhau, dẫn đến tình trạng ai sống chết mặc ai, người này không biết quan tâm đến người khác “Đi đường…. đến mình có hiện tượng ấy là do “người nước mình” thiếu ý thức đoàn thể.
4. Câu 4:
Nguyên nhân: Lũ vua quan phản động, thối nát “ham quyền… hoa” “Muốn giữ… mãi” nên chúng đã tìm cách “phá tan tành… dân”. Tác giả hướng mũi nhọn đã kích vào bọn chúng, ông gọi là “bọn học trò”, “kẻ mang đai đội mủ”, “kẻ áo rộng khăn đen” “bọn quan lại”… sự căm ghét cao độ. Bọn chúng không quan tâm đến cuộc sống của nhân dân, trái lại càng làm dân tối tăm khốn khổ thì chúng dễ bề cai trị, vơ vét. Để thêm giàu sang phú quý chúng: D/C Dân không có ý thức đoàn thể nên chúng lộng hành như thế mà “cũng không ai… chê bai”. Thấy làm quan lợi lộc, đủ mọi cách, mà không bị tố cáo lên án nên bọn người xấu đua nhau tìm đủ mọi cách “nào chạy… xuôi”, “đặng ngồi… thôi”.
Chế độ vua quan chuyên chế vô cùng tồi tệ, cần phải phủ định một cách triệt để qua các hình ảnh gợi tả, lối ví von sắc bén “có kẻ… lay lưới”, “những bọn… vậy”.
Yếu tố nghị luận: Cách lí luận chặt chẽ, logíc, nêu dẫn chứng cụ thể, xác thực, giọng văn mạnh mẽ, hùng hồn, dùng từ, đặt câu chính xác biểu hiện lí trí tỉnh táo, tư duy sắc sảo, đạt hiệu quả cao về nhận thức tư tưởng.
Kết hợp yếu tố nghị luận:
Biểu cảm: Tác giả phát biểu ý kiến không chỉ bằng trí tỉnh táo mà còn bằng trái tim dạt dào cảm xúc, thấm thía nỗi xót đau trước tình trạng tăm tối, thê thảm của XH.
Câu cảm thán: “Thương hại thay”, thương ôi!…
Câu mở rộng thành phần để nhấn mạnh ý.
Những cụm từ ẩn chứa tình cảm đồng bào tình cảm dân tộc sâu nặng, thấm thiết: d/c.
Lời văn nhẹ nhàng, từ tốn “Là vì người ta… chung vậy… đã biết sống… đến”.
Những yếu tố biểu cảm làm cho lí lẽ của bài diễn thuyết và thuyết phục lay chuyển mạnh mẽ nhận thức và tình cảm ở người nghe. | Soạn bài lớp 11_ Về luân lí xã hội ở nước ta | 833 | |
Soạn bài lớp 11: Vịnh khoa thi hương
Hướng dẫn
Soạn bài: Vịnh khoa thi hương
Soạn bài lớp 11: Vịnh khoa thi hương do Trần Tế Xương sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn văn 11 bài Vịnh khoa thi hương dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khoa thi hương cuối chế độ thực dân đô hộ nói nên sự trào phúng của tác giả về cuộc đời giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài Ngữ văn 11: VỊNH KHOA THI HƯƠNG
Trần Tế Xương
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Tú Xương là một người rất lận đận trong chuyện thi cử. Ông thi nhiều lần và đều hỏng, chỉ đỗ đến tú tài. Ông lại sống và thời buổi “mưa Âu gió Mĩ”, thời kì khủng hoảng của những qua hệ đạo đức truyền thống. Cay đắng của số phận riêng cùng với những điều ngang tai trái mắt của cuộc sống thị thành đã khiến Tú Xương trở thành một nhà thơ trào phúng tiêu biểu của văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Thực dân Pháp tạm thời hoàn thành cuộc xâm lược Việt Nam, văn hoá phương Tây tràn vào lấn át văn hoá truyền thống. Hán học suy vong, các nhà Nho đua nhau “vứt bút lông đi” đổi sang cầm cây bút chì để kiếm sống. Chuyện thi cử của Nho học trở thành trò hề, cảnh tượng các kì thi vô cùng thảm hại. Cả Nguyễn Khuyến và Tú Xương đều là những nhà nho có lòng tự trọng, họ đều rất đau lòng và cay đắng ghi lại trong một loạt bài thơ. Trong đó có Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Vịnh khoa thi Hương là một bài thơ trữ tình – trào phúng. Qua việc tái hiện hình ảnh thảm hại của kì thi năm Đinh Dậu (1897) tại trường Hà Nam, nhà thơ bày tỏ sự xót xa, đau đớn của con người trước tình cảnh thảm hại của các nhà Nho vào thời kì mạt vận của Nho học. Khoa thi Hương 1897 ấy được miêu tả với cảm hứng trào phúng. Bức tranh trường thi hiện lên với cảnh tượng thật nhốn nháo, lộn xộn. Khoa thi Hương ấy gợi cảm giác đau xót trước hiện thực đất nước. Trong ngày tuyển chọn nhân tài cho đất nước vốn đã chẳng được trang nghiêm mà cái bóng của kẻ xâm lược vẫn bao trùm không tha. Hiện thực đen tối của dân tộc phần nào được tái hiện trong bàI thơ này.
3. Bốn câu thơ 3,4,5,6 tả cảnh trường thi đều được dùng cấu trúc đảo trật tự thành phần câu và phép đối ngẫu. Hai câu thực, tác giả đảo trật tự thành phần phụ chỉ đặc điểm lên trước. Hai từ “lôi thôi”, “ậm oẹ” đứng đầu câu nhấn mạnh điểm nổi bật nhất của cảnh thi, thật bi hài. Sĩ tử là nhân vật chính của kì thi. Khi Nho học đang ở thời thịnh vượng, các sĩ tử khi đi thi thường có người hầu đi theo cho nên họ không phải làm công việc “đeo lọ” bên mình như sĩ tử trong cảnh thi này. Những sĩ tử đến kì thi trông thật nhếc nhách và tội nghiệp. Còn “quan trường”, những người có trách nhiệm tổ chức và trông coi kì thi thì cũng thảm hại không kém. “Lôi thôi” đối với “ậm oẹ” thật là cân xứng. Lẽ ra họ phải dõng dạc, oai phong trong tư thế của mệnh quan triều đình. Tú Xương đã chọn từ ngữ rất đắt. Không cần nhiều chỉ hai từ đó thôi đã đủ tái hiện bộ mặt nhếch nhác đến thảm hại của kì thi Hán học cuối cùng này.
4. Câu kết là tâm sự đau xót, chua chát của nhà thơ trước hiện thực đất nước. Câu thơ vừa là lời tự vấn mình, vừa hướng đến những người đồng môn. Bài thơ thể hiện nỗi đau đớn xót xa của nhà thơ trước vận mệnh dân tộc. Nỗi đau đớn xót xa ấy thể hiện tác giả là người trọng danh dự, danh dự của các trí thức nho học và là người có tấm lòng với dân với nước. Là con người biết trọng danh dự, với tấm lòng lo nước thương đời, ông Tú muốn đánh thức ý thức dân tộc trong con người Việt nam, nhất là những người tài, những người có trách nhiệm và có khả năng cứu nước, cứu đời. Giọng điệu chính của bài thơ là giọng điệu trào phúng, nhưng ở hai câu kết, tác giả đã dùng giọng điệu trữ tình. | Soạn bài lớp 11_ Vịnh khoa thi hương | 809 | |
Soạn bài lớp 11: Vội vàng
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Vội vàng
Soạn bài: Vội vàng do Xuân Diệu sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các bạn cùng xem soạn bài mẫu bài Vội vàng của Xuân Diệu dưới đây.
Soạn bài lớp 11: Nghĩa của câu
Soạn bài lớp 11: Luyện tập phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận
Đề kiểm tra Ngữ Văn lớp 11 – “Vội vàng” (Xuân Diệu) trực tuyến
Vội vàng
Xuân Diệu
I. Gợi ý trả lời câu hỏi.
Câu 1. Cả bài thơ là một dòng cảm xúc hối hả, tuôn trào nhưng vẫn tuân theo một bố cục khá rõ ràng, chặt chẽ
Bài thơ có thể chia làm bốn đoạn:
4 câu đầu: Khát khao lưu giữ hương sắc mùa xuân.
Câu 5 – 13: Vui thích, say mê trước cảnh sắc mùa xuân.
Câu 14 – 29: Băn khoăn trước giới hạn của cuộc đời.
Đoạn còn lại: Hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống.
Câu 2. Khát khao lưu giữ hương sắc mùa xuân.
“Tắt nắng”, “buộc gió” là quyền uy của Tạo Hóa. Cho dù Xuân Diệu là thi sĩ thì ông vẫn là con người làm sao có được khả năng vô hình đó. Chỉ vì quá yêu cuộc sống nên mới ước ao và nảy sinh ý tưởng táo bạo. Muốn níu giữ sắc hương, níu giữ mùa xuân cũng có nghĩa là muốn níu giữ thời gian cùng với vẻ đẹp cuộc sống cho mình, cho người. Cách biểu đạt mới lạ, độc đáo.
Bốn dòng thơ, mỗi dòng năm chữ, ngắn, gấp. Nhịp thơ góp phần diễn tả sự khẩn trương muốn ngăn lại không cho màu nhạt, hương bay. Điệp kiểu câu “Tôi muốn… cho” càng làm nổi bật khát khao lưu giữ được sắ hương cuộc đời để mãi được cùng sống với nó.
Của ông bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Hình ảnh thơ tập trung làm nổi bật vẻ tinh khôi, thanh tân, nõn nà, rực rỡ của mùa xuân (Muôn sắc hoa tươi thắm trên nền “xanh rì” đầy sức sống của đồng nội; cành tơ, lộc non mơn mởn, mượt mà…).
Cảnh xuân không chỉ đẹp mà còn gợi tình (ong bướm “tuần tháng mật”, yến anh ca “khúc tình si”…)
Cảnh sắc vốn quen thuộc nhưng bằng lỗi cảm nhận riêng, mới lạ, Xuân Diệu đã thổi vào thiên nhiên một tình yêu rạo rực khiến những hình ảnh vô tri vô bỗng sống dậy tràn ngập xuân tình. Câu thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” mang dấu ấn thơ Xuân Diệu rất rõ. Trước hết là cách dùng từ chuyển đổi cảm giác quen thuộc của Xuân Diệu. Thi sĩ không thưởng thức mùa xuân bằng giác gian thông thường (nhìn, ngắm, lắng nghe) mà ông đang say sưa nhấm nháp hương vị của nó, cảm nhận được độ “ngon” mà mùa xuân đang dâng hiến. Mặt khác, ta còn thất ở câu thơ hấp dẫn, quyến rũ như hưởng thụ thiên nhiên rất Xuân Diệu. Mùa xuân hấp dẫn mà như đang thưởng thức “cặp môi” giai nhân. Quả là một cách ví von so sánh mới mẻ, táo bạo góp phần làm nổi bật niềm say mê cái đẹp trần thế đáng quý ở tác giả.
Điệp ngữ “Này đây…” cùng với hàng loạt âm hình ảnh, màu sắc, âm thanh, Xuân Diệu đã liệt kê vẻ đẹp muôn màu của xuân, bày sẵn quanh ta, chẳng cần phải tìm kiếm. Chỉ cần có tâm hồn yêu thiết tha cuộc sống thì tha hồ nhìn ngắm, thưởng thức.
Câu 4. Đoạn 3 thể hiện cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu.
Người xưa quan niệm thời gian tuần hoàn đi rồi trở lại như bốn mùa xuân, hạ, thu, đông vì vậy họ thường ung dung, đủng đỉnh. Ở bài thơ này Xuân Diệu quan niệm thời gian tuyến tính. Thời gian được cảm nhận theo thước đo giá trị sống của con người. Mỗi khoảnh khắc trôi qua mang theo một sự mất mát:
Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.
Có thể Xuân vẫn tuần hoàn nhưng mỗi lần nó «đang qua», «sẽ già» là một lần mang theo nhiều cái đẹp đi mất.
Nếu xuân là độ viên mãn nhất của thiên nhiên thì tuổi trẻ là độ căng tràn nhựa sống của một cuộc đời. Xuân tuần hoàn nhưng tuổi trẻ – màu xuân của cuộc đời, chẳng có hai lần. Thời gian, sẽ mang theo tuổi xuân của con người đi qua và vì vậy mà thi sĩ càng buồn hơn khi:
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.
Cách cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu xuất phát từ ý thức sâu xa về giá trị sống của mỗi cá thể. Mỗi khoảnh khắc trong đời đề vô cùng quý giá bởi vì khi đã trôi qua là mất vĩnh viện. Vì vậy con người phải biết quý từng giây phút của cuộc đời, phải sống có ý nghĩa. Đây là lí do nhà thơ sống vội vàng, cuống quýt trước sự trôi qua nhanh của thời gian.
Câu 5. Hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống:
(Đoạn cuối bài thơ).
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn chiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng.
Cho no nên thanh sắc của thời tươi
– Hỡi Xuân Hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Xuân Diệu tả cảnh sắc mùa xuân về với thời non tươi của nó để tận hưởng. Hàng loạt hình ảnh tiếp tục làm nổi bật vẻ quyến rũ của sự sống đầy sắc hương nhưng không phải để tả mà chủ yếu để diễn đạt sự cuồng nhiệt, vội vàng tận hưởng của tác giả.
Hàng loạt động từ tăng dần mức độ sự vồ vập, đắm say: ôm, riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn.
Thủ pháp điệp được sử dụng đa dạng: Điệp cú pháp: điệp từ, ngữ; điệp cảm xúc theo lối tăng tiến (Ta muốn ôm, Ta muốn riết… Ta muốn cắn), trạng thái tăng tiến (cho chếnh choáng, cho đã đầy, cho no nê…).
II. Luyện tập
1. Xuân Diệu đặt tên bài thơ là “Vội vàng”, bởi lẽ: Xuân Diệu yêu tha thiết cuộc sống, cuộc sống quanh ta rất đẹp nhưng tuổi trẻ qua nhanh, đời người ngắn ngủi, thời gian, không chờ đợi. Phải khẩn trương, hối hả đến với cuộc sống để tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời.
2. Quan điểm nhân sinh của Xuân Diệu được thể hiện qua bài thơ có mặt tích cực: Yêu mùa xuân và tuổi trẻ – những cái đẹp nhất của cuộc sống, hãy sống hết mình sao hco mỗi khoảnh khắc của đời mình có ý nghĩa. Đó là quan điểm sống tích cực, có giá trị nhân văn sâu sắc. | Soạn bài lớp 11_ Vội vàng | 1,245 | |
Soạn bài lớp 11: Xin lập khoa luật
Hướng dẫn
Soạn bài: Xin lập khoa luật
Soạn bài lớp 11: Xin lập khoa luật trích từ bản điều trần số 27: Tế cấp bát điều do Nguyễn Trường Tộ sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về các nội dung của luật để khẳng định khả năng bao quát của luật đối với xã hội. Sau đó, khẳng định vai trò của luật đối với việc trị dân của vua từ đó xin lập khoa luật giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Đổng Mẫu
Soạn bài lớp 11: Bài ca ngất ngưởng
Soạn bài lớp 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn
XIN LẬP KHOA LUẬT
(Trích từ bản điều trần số 27: Tế cấp bát điều)
Nguyễn Trường Tộ
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) là một tri thức yêu nước và theo đạo Thiên Chúa. Ông là người làng Bùi Chu, xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Trường Tộ sớm được tiếp xúc với tư tưởng phương Tây nên ông có nhiều tư tưởng tiến bộ, Ông đã dâng lên vua Tự Đức nhiều bản điều trần có giá trị, tập trung ở Tế cấp bát điều nhưng tiếc là không được chấp nhận.
Tế cấp bát điều là bản điều trần thứ 27 của Nguyễn Trường Tộ. Bản điều trần thể hiện tài năng và tư tưởng tiến bộ của ông. Trong bản điều trần ông chỉ ra tám việc cần làm gấp để canh tân đất nước, thể hiện suy nghĩ sắc sảo và tầm nhìn xa trông rộng của tác giả.
II. RÈN KĨ NĂNG
1. Đoạn 1, tác giả nêu ra các nội dung của luật để khẳng định khả năng bao quát của luật đối với xã hội. Sau đó, khẳng định vai trò của luật đối với việc trị dân của vua.
a, Luật bào gồm: “kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia, trong đó tam cương ngũ thường cho đến việc hành chính của sáu bộ đều đầy đủ”. Có nghĩa là luật bao trùm cả vấn đề đạo đức và trách nhiệm. Cũng ở đây, tác giả chỉ ra tác dụng của luật: quan dùng luật để trị, dân theo luật mà giữ gìn”. Ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của luật đối với việc trị dân của vua. Tác giả đã đề cập đến vấn đề dân chủ trong việc thi hành luật pháp.
b, Tác giả đã vào đề theo cách trực tiếp. Cách vào đề đó giúp cho người đọc chủ động tiếp nhận những nội dung được trình bảy ở phần sau.
d, Nguyễn Trường Tộ viết “Phàm những ai đã nhập ngạch bộ Hình xử đoán… được một bậc” là đúng. Bởi vì, điều đó sẽ khiến cho các vị quan thực hành luật pháp có thể xử án một cách vô tư, đảm bảo sịư công minh, công bằm của luật, “để giúp cho các vị này được thong dong trong việc chấp hành luật pháp không bị một bó buộc nào cả”.
2. Đoạn 2, tác giả khẳng định vai trò của luật.
a, Ông đã chỉ ra rằng, lí thuyết của sách Nho “chỉ là nói suông trên giấy”, đó là những lẽ phải nhưng tự nó không có đủ khả năng làm cho mọi người thay đổi tâm tính, tự giác sửa mình. Đưa ra những nhược điểm của việc trị dân bằng lí thuyết nhà Nho, tác giả không chỉ hướng đến mục đích phê phán sách Nho mà để khẳng định luật cần thiết đối với sự ổn định của xã hội. Nho gia giáo dục con người bằng đạo đức, bằng những tấm gương đạo đức của quá khứ nên nặng tính lí thuyết suông.
3. Đoạn 3, Nguyễn Trường Tộ đã lí giải thấu đáo vai trò của luật, đồng thời giải quyết triệt để những nghi ngờ về khả năng của luật. Ông dùng lập luận để bác bỏ quan điểm “luật lệ chỉ tốt cho việc cai trị chứ không có đạo đức tinh vi”. Ông khẳng định “trái luật là tội, giữ đúng luật là đức”. Để khẳng định tác giả đã dùng các câu nghi vấn tu từ. Bằng lập luận rõ ràng, lí lẽ thấu đáo, Nguyễn Trường Tộ đã chỉ ra một cách thuyết phục sự cần thiết của việc dùng luật để trị dân. Từ đó khẳng định: lập khoa luật để dạy dân hiểu luật là việc làm cấp thiết.
4. Với cái nhìn tiến bộ và đầy tinh thần trách nhiệm, Nguyễn Trường Tộ đã chỉ rõ vai trò của luật pháp đối với sự ổn định của xã hội. Tư tuởng ấy của ông dù được nói đến cách đây hàng trăm năm nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị. | Soạn bài lớp 11_ Xin lập khoa luật | 833 | |
Soạn bài lớp 11: Ôn tập văn học trung đại Việt Nam
Hướng dẫn
Soạn bài: Ôn tập văn học trung đại Việt Nam
Soạn bài lớp 11: Ôn tập văn học trung đại Việt Nam là tài liệu tham khảo được sưu tầm nhằm giúp các bạn học sinh lớp 11 hệ thống lại kiến thức các bài văn học trung đại đã được học, cùng giá trị nội dung và nghệ thuật của những tác phẩm. Mời các bạn tham khảo.
Soạn bài lớp 11: Bài ca ngất ngưởng
Soạn bài lớp 11: Thương vợ
Ôn tập văn học trung đại Việt Nam
I. Kiến thức cơ bản
1. Chủ nghĩa yêu nước của văn học trung đại giai đoạn này có những điểm cũ và điểm mới gì?
Cảm hứng yêu nước là cảm hứng xuyên suốt văn học trung đại Việt Nam nó vẫn còn những điểm cũ như:
Lòng căm thù giặc sâu sắc cùng bọn bè lũ tay sai: Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc, chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu.
Sự hi sinh mất mát trong chiến tranh (văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc).
Ca ngợi thiên nhiên đất nước (câu cá mùa thu, bài ca phong cảnh hương sơn).
Điểm mới:
Đề cao vai trò của người tri thức: Chiếu cầu hiền.
Đề cao vai trò của pháp luật trong việc xây dựng một đất nước ổn định lâu dài: Xin lập khoa luật.
Tìm hướng đi cho cuộc đời bế tắc: Bài ca ngắn đi trên bãi cát.
2. Văn học đầu thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX xuất hiện trào lưu chủ nghĩa nhân đạo.
Nội dung: Các sáng tác giai đoạn này chủ yếu là văn học chữ Nôm, nội dung đều nhằm hướng đến tố cáo phê phán xã hội đen tối cùng những quyền sống của con người. Các tác giả bắt đầu nhận thức được quyền sống của con người mong con người có thể có được quyền sống của mình.
Biểu hiện:
Đề cao truyền thống đạo lí.
Khẳng định quyền sống của mỗi con người.
Khẳng định cái tôi, con người cá nhân.
Biểu hiện qua các tác phẩm tiêu biểu như:
Truyện Kiều để cao quyền được sống của con người mà cụ thể ở đây là con người tài hoa bạc mệnh Thúy Kiều.
Chinh phụ ngâm: Quyền được sống được hạnh phúc của con người mà cụ thể là những nàng thiếu nữ trong thời kì chiến tranh.
Thơ Hồ Xuân Hương: Đòi quyền bình đẳng nam nữ, ca ngợi những nét đẹp của người phụ nữ cũng như quyền được hạnh phúc của họ.
Lục Vân Tiên: Con người đạo đức, ca ngợi những truyền thống đạo đức quý báu.
Bài ca ngất ngưởng: Cái tôi cá nhân mạnh mẽ ngông nghênh.
Thơ tú Xương: Khẳng định mình.
Vào phủ chúa trịnh đã vén bức màn lịch sử xa xưa vô cùng đen tối để cho chúng ta thấy được những thú vui, khung cảnh nguy nga tráng lệ của nơi phủ chúa. Chúa Trịnh không gọi là vua mà tự xưng là chúa à sự phê phán đua đòi tự cho mình cao nhất. Biết bao nhiêu cảnh đẹp, cây cao hoa thơm, cột lim chán vàng chén ngọc là bấy nhiêu nỗi vất vả khổ cực của người dân. Nhà văn tả đấy nhưng cũng như đang cười mỉa mai chua chát phủ Chúa.
4. Giá trị thơ văn nguyễn Đình Chiểu.
Chất bi: Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu luôn gợi nhắc những vất vả trong cuộc sống của nhân dân, những đau thương mất mát của nhân dân khi có giặc đến xâm lược.
Chất tráng: Đó là sự hi sinh cao cả, thà chết vinh còn hơn sống nhục của những người nông dân, người anh hùng.
II. Phương pháp
1. Vào phủ chúa Trịnh – Lê Hữu Trác
– Nội dung: Nơi phủ chúa ăn chơi xa đọa, thế tử vì thế mà mắc bệnh.
– Nghệ thuật: Miêu tả sắc nét, tả cảnh đặc sắc, lựa chọn chi tiết sinh động.
2. Tự tình 2 – Hồ Xuân Hương
– Nội dung: Nỗi cô đơn của người vợ lẽ trước cảnh khuya.
– Nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn bát cú đường luật, điệp từ, đảo trật tự cú pháp.
– Nội dung: Bức tranh thiên nhiên mùa thu đẹp nhưng buồn và bức tranh tâm trạng nhà thơ.
– Nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn bát cú đường luật, tính từ chỉ màu sắc, động từ nhẹ mang sức diễn đạt cao.
4. Thương Vợ – Trần Tế Xương
– Nội dung: Ca ngợi người vợ, thương vợ đồng thời cười chính bản thân mình vô dụng.
– Nghệ thuật: Trào phúng mỉa mai, từ láy, số đếm cụ thể àgánh nặng của người vợ.
5. Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ
– Nôi dung: Kể về cuộc đời làm quan sau đó về hưu của nhà thơ lúc nào cũng ngất ngưởng.
– Nghệ thuật: Sử dụng nhiều từ hán việt, thể thơ hát nói phóng khoáng.
6. Bài ca ngắn đi trên bãi cát – Cao Bá Quát
– Nội dung: Kể về sự bế tắc trong các khoa thi cử.
– Nghệ thuật: Diệp từ, ẩn dụ.
7. Lẽ ghét thương – Nguyễn Đình Chiểu
– Nội dung: Nói về lẽ ghét thương ở trên đời của ông quán nọ.
– Nghệ thuật: Liệt kê các tên ông vua xấu tốt nhà Trung Quốc, thể thơ lục bát.
8. Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc – Nguyễn Đình Chiểu
– Nội dung: Nói về cuộc đấu tranh đầy gian khổ hi sinh mất mát của nghĩa sĩ Cần Giuộc.
– Nghệ thuật: Khắc họa hình tượng nghĩa sĩ.
– Nội dung: Kể về việc vua Quang Trung lên ngôi và mong người hiền tài ra giúp nước.
– Nghệ thuật: Bài chiếu lập luận logic sắc bén, sức thuyết phục cao.
III. Một số đặc điểm về hình thức của văn học trung đại.
1. Tư duy nghệ thuật
– Tính quy phạm thể hiện trong thể thơ thất ngôn bát cú đường luật của một số bài thơ trung đại.
– Tính phá vỡ quy phạm như bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ, bài ca ngắn đi trên bãi cát.
2. Quan niệm thẩm mỹ
Hướng đến cái đẹp trong quá khứ, thiên về cái cao cả, tao nhã, sử dụng những điển cố điển tích.
3. Bút pháp nghệ thuật: Thiên về ước lệ tượng trưng.
4. Thể loại: Phong phú: Chiếu, biểu, tấu, sớ, hịch, thơ tứ tuyệt, thơ ngũ ngôn.. | Soạn bài lớp 11_ Ôn tập văn học trung đại Việt Nam | 1,053 | |
Soạn bài lớp 11: Đây thôn Vĩ Dạ
Hướng dẫn
Soạn văn bài Đây thôn Vĩ Dạ
Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ do Hàn Mặc Tử sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ II. Bài soạn văn Đây thôn Vĩ Dạ dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải bài soạn văn mẫu lớp 11 này về và sử dụng miễn phí vào việc học tập của mình.
Soạn bài lớp 11: Tràng giang
Giáo án Ngữ văn lớp 11 bài Đây thôn Vĩ Dạ
Phân tích tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
Đề kiểm tra trắc ngiệm môn Ngữ Văn lớp 11 – “Đây thôn vĩ dạ” (Hàn Mặc Tử) trực tuyến
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
HÀN MẶC TỬ
I.Tìm hiểu chung
1. Tác giả:
Hàn Mặc Tử (1912-1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ra ở Đồng Hới, Quảng Bình
Sớm mất cha sống với mẹ tại Quy Nhơn.
Đi làm công chức thời gian ngắn rồi mắc bệnh.
Là nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt trong phong trào Thơ mới “Ngôi sao chổi trên bầu trời thơ Việt Nam” (Chế Lan Viên)
2. Sự nghiệp
Tác phẩm chính: Gái quê, thơ điên, xuân như ý, duyên kì nhộ, quần tiên hội
Tâm hồn thơ ông đã thăng hoa thành những vần thơ tuyệt diệu,chẳng những gợi cho ta niềm thương cảm còn đem đến cho ta những cảm xúc thẩm mĩ kì thú và niềm tự hào về sức sáng tạo của con người
Quá trình sáng tác thơ của ông đã thâu tóm cả quá trình phát triển của thơ mới từ lãng mạn sang tượng trưng đến siêu thực
a. Hoàn cảnh sáng tác: Nằm trong tập “Gái quê” sáng tác năm 1938 được khơi nguồn từ mối tình đơn phương của Hàn Mặc Tử với Hoàng Thị Kim Cúc.
b. Giá trị bài thơ: Lòng yêu cuộc sống, nỗi niềm trong dự cảm chia xa, niềm hi vọng mong manh về tình yêu hạnh phúc
c. Bố cục: 2 phần
III. Đọc, hiểu
A. Nội dung
1. Bức tranh thôn Vĩ
a. Vĩ Dạ hừng đông
Câu hỏi tu từ: “Sao anh….” gợi cảm giác trách cứ nhẹ nhàng cũng là lời mời gọi tha thiết.
Cảnh thôn Vĩ: đẹp trữ tình,thơ mộng qua sự hoá thân của chủ thể trữ tình vào nhân vật.
Con người: “Lá trúc….” bóng dáng con người xuất hiện trong phong cảnh tạo nên sự hấp dẫn cho lời mời gọi.
=> Vĩ Dạ hừng đông đúng là cảnh của sự mời gọi, dù là mời gọi trong tưởng tượng, trong kí ức nhưng ta nghe như có tiếng thì thầm của gặp gỡ, vui tươi
b. Vĩ Dạ đêm trăng
Hình ảnh: Gió lối gió, mây đường mây biểu hiện của sự chia cách.
Nhân hóa: “Dòng nước…. làm nổi lên bức tranh thiên nhiên chia lìa buồn bã” sự chuyển biến về trạng thái cảm xúc của chủ thể trữ tình
Bến sông trăng:hình ảnh lạ, gợi lên vẻ đẹp lãng mạn, nhẹ nhàng, tất cả đang đắm chìm trong bồng bềnh mơ mộng, như thực như ảo.
Câu hỏi: “Có chở……” sáng lên hi vọng gặp gỡ nhưng lại thành ra mông lung, xa vời
2. Tâm trạng của nhà thơ
Mơ khách…..: Khoảng cách về thời gian, không gian
Áo em…..: hư ảo, mơ hồ “hình ảnh người xưa xiết bao thân yêu nhưng xa vời, không thể tới được nên tác giả rơi vào trạng thái hụt hẫng, bàng hoàng, xót xa
Ai biết……..: biểu lộ nỗi cô đơn trống vắng trong tâm hồn của tác giả đang ở thời kì đau thương nhất. Lời thơ bâng khuâng hư thực gợi nỗi buồn xót xa trách móc
=> Khi hoài niệm về quá khứ xa xôi hay ước vọng về những điều không thể nhà thơ càng thêm đau đớn. Điều đó chứng tỏ tình yêu tha thiết cuộc sống của một con người luôn có khát vọng yêu thương và gắn bó với cuộc đời.
B. Nghệ thuật
Trí tưởng tượng phon phú.
Nghệ thuật so sánh nhân hóa, thủ pháp lấy động gợi tĩnh, sử dụng câu hỏi tu từ,..
Hình ảnh sáng tạo, có sự hòa quyện giũa thực và ảo.
C. Ý nghĩa văn bản
Bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uổn khúc của nhà thơ. | Soạn bài lớp 11_ Đây thôn Vĩ Dạ | 732 | |
Soạn bài lớp 11: Đặc điểm loại hình của Tiếng Việt
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 11: Đặc điểm loại hình của Tiếng Việt
Soạn bài: Đặc điểm loại hình của Tiếng Việt thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Tôi yêu em
ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH CỦA TIẾNG VIỆT
I. Kiến thức cơ bản
Qua bài các em cần hiểu được; Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập với các đặc điểm nổi bật:
Đơn vị cơ sở của ngữ pháp là tiếng.
Từ không biến đổi hình thái.
Ý nghĩa biểu pháp được biểu thị bằng trật tự và hư từ.
II. Luyện tập
1. Hãy phân tích những ngữ liệu dưới đây về mặt từ ngữ (chú ý những từ ngữ lặp lại nhưng khác về chức năng ngữ pháp) để chứng minh Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập.
a.Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân (1)
Nụ tầm xuân (2) nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay (ca dao)
Nụ tầm xuân (1) là thành phần phụ (bổ ngữ), chỉ đối tượng của động từ hái… nụ tầm xuân (2) là chủ ngữ, chủ thể của hoạt động nở….
Xét về mặt vị ngữ âm và sự thể hiện bằng chữ viết, hoàn toàn không có sự thay đổi, khác biệt nào giữa nụ tầm xuân – chủ ngữ và nụ tầm xuân – thành phần phụ.
b. Thuyền ơi có nhớ bến (1) chăng
Bến (2) thì một dạ, khăng khăng đợi thuyền (ca dao)
Bến (1) là thành phần phụ (bổ ngữ): Bến (2) là chủ ngữ xét về mặt ngôn ngữ âm và sự thể hiện bằng chữ viết, hoàn toàn không có sự đổi thay, khác biệt nào giữa Bến – chủ ngữ và bến – thành phần phụ.
c. Yêu trẻ (1), trẻ (2) đến nhà; kính già (1), già (2) để tuổi cho.
Trẻ (1) là bổ ngữ (nằm trong phần khởi ngữ)
Trẻ (2) là chủ ngữ
Già (1) là bổ ngữ (nằm trong phần khởi ngữ)
Già (2) là chủ ngữ.
Xét về mặt âm và sự thể hiện bằng những chữ viết hoàn toàn không có sự thay đổi khác biệt nào giữa trẻ (1) và trẻ (2); già (1) và già (2).
(Các bài tập còn lại các em tự làm)
2. Các em tự làm bài tập này (gợi ý: Dựa theo mẫu so sánh có trong bài học để tìm và đối chiếu).
3. Xác định hư từ và phân tích tác dụng thể hiện ý nghĩa của chúng trong đoạn trích (đã cho trong bài tập)
Các hư từ: đã, để, lại, mà.
Tác dụng: nhấn mạnh ý nghĩa của những hành động mà dân ta đã làm để giành độc lập. | Soạn bài lớp 11_ Đặc điểm loại hình của Tiếng Việt | 486 | |
Soạn bài lớp 11: Đọc tiểu thuyết và truyện ngắn
Hướng dẫn
Soạn bài: Đọc tiểu thuyết và truyện ngắn
Soạn bài lớp 11: Đọc tiểu thuyết và truyện ngắn thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về những yêu cầu khi đọc tiểu thuyết và truyện ngắn như: phân tích hình tượng nhân vật, các chi tiết cốt truyện, sự miêu tả hoàn cảnh trong tác phẩm…. giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Tinh thần thể dục
Soạn bài lớp 11: Chí Phèo
Soạn bài lớp 11: Luyện tập kết hợp các thao tác nghị luận
ĐỌC TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN
I. Những yêu cầu về đọc tiểu thuyết và truyện ngắn
Tiểu thuyết và truyện ngắn thuộc loại tác phẩm tự sự. Tác phẩm được cấu tạo bởi các yếu tố cốt truyện, nhân vật, lời kể của người kể chuyện, chi tiết, tình tiết, tình huống…
Khi đọc tiểu thuyết và truyệnngắn cần lưu ý
1. Phân tích hình tượng nhân vật
Tư tưởng của nhà văn thể hiện ở hệ thống nhân vật, tập trung ở nhân vật chính. Khi phân tích nhân vật chú ý:
Các chi tiết miêu tả ngoại hình, nội tâm, hành động, biến cố, ngôn ngữ. Các yếu tố này thể hiện tính cách, bản chất và số phận nhân vật.
Quan hệ giữa nhân vật này với nhân vật khác, với hoàn cảnh.
Nhân vật thể hiện tư tưởng gì của nhà văn?
Cốt truyện là hệ thống sự kiện xảy ra trong đời sống nhân vật, có tác dụng bộc lộ tính cách, số phận của nhân vật. Các chi tiết cho thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của nhân vật này đối với nhân vật khác…
3. Phân tích sự miêu tả hoàn cảnh trong tác phẩm. Hoàn cảnh nghệ thuật biểu hiện tâmtình, địa vị của nhân vật và thể hiện tư tưởng của nhà văn.
4. Phân tích kết cấu để thấy được tính cách, quan hệ, số phận của nhân vật. Kết cấu tác phẩm là một yếu tố rất quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm và thể hiện tư tưởng của tác giả. Kết cấu là cách tổ chức, sắp xếp các chi tiết, sự kiện, tình tiết trong tác phẩm.
5. Phân tích ngôn ngữ của tác phẩm. Trong đó có ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ của nhân vật, nội dung và hình thức của ngôn ngữ để từ đó phântích nhân vật và tác phẩm. | Soạn bài lớp 11_ Đọc tiểu thuyết và truyện ngắn | 440 | |
Soạn bài lớp 11: Đổng Mẫu
Hướng dẫn
Soạn bài: Đổng Mẫu
Soạn bài lớp 11: Đổng Mẫu thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về mâu thuẫn giữa Kim Lân và họ Tạ vì họ Tạ bắt Đổng Mẫu – mẹ của Kim Lân để ép Kim Lân ra hàng, sự mâu thuẫn giữa bên trung và bên hiếu giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Bài ca ngất ngưởng
Soạn bài lớp 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn
Soạn bài lớp 11: Luyện tập về lập luận phân tích xã hội
ĐỔNG MẪU
(Trích tuồng Sơn Hậu)
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Tuồng là loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc ta, phát triển mạnh vào cuối thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX. Sơn Hậu là tác phẩm thuộc thể loại tuồng – một thể loại sân khấu dân gian. Tác phẩm thuộc loại tuồng pho (còn gọi là tuồng cung đình gay tuồng thầy), viết về đề tài trung với vua hoặc đánh giặc bảo vệ đất nước, bảo vệ triều đình được biểu hiện cụ thể ở cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa hai phe chính nghĩa (Đổng Kim Lân) phe phi nghĩa (Tạ Thiên Lăng và bọn tay chân). Cuối cùng chính nghĩa chiến thắng phi nghĩa.
Đoạn trích thuộc hồi ba của vở tuồng. Sơn Hậu là vùng đất trọng yếu nơi biến cương, vua Tề cho cha con Phàn Định Công trông coi. Vua Tề ốm nặng, thái sư Tề Thiên Lăng ra sức chuẩn bị cướp ngôi. Khi vua Tề mất, họ Tạ cướp ngôi. Đổng Kim Lân đã cũng Khương Linh Tá cứu hoàng tử
Những mâu thuẫn xuất hiện trong đoạn trích: Mâu thuẫn giữa Kim Lân và họ Tạ vì họ Tạ bắt Đổng Mẫu – mẹ của Kim Lân để ép Kim Lân ra hàng; Mâu thuẫn Trung và hiếu: Kim Lân hàng giặc để cứu mẹ là giữ chữ hiếu thì phạm tội bất trung. Giữa trung thì bất hiếu. Kim Lân phải đấu tranh tư tưởng. Đổng Mẫu dạy con phải giữ chữ trung. Cao trào đoạn trích tập trung ở đoạn Kim Lân định hàng, Đổng mẫu không đồng ý, giận dữ. Mâu thuẫn được giải quyết khi Kim Lân giả hàng để hoãn binh. Đoạn trích tập trung ca ngợi tấm lòng trung nghĩa của Đổng Mẫu, thể hiện quan niệm của tác giả về trung, hiếu, nghĩa theo quan niệm đạo đức truyền thống.
II. TÓM TẮT TÁC PHẨM
Tác phẩm gồm ba hồi. Lấy khung cảnh câu chuyện là triều đình nhà Tề của Trung Quốc. Phe chính nghĩa trung thành với vua Tề, ra sức bảo vệ nhà Tề. Phe phi nghĩa là gia đình họ Tạ, âm mưu cướp ngôi vua. Cuối cùng, phe Đổng Kim Lân, phe chính nghĩa, đã chiến thắng, nhà Tề được lập lại.
III. RÈN KĨ NĂNG
1. Trong đoạn trích có sự xuất hiện của cả hai phe.
Phe chính nghĩa có Đổng Mẫu và Đổng Kim Lân là hai mẹ con.
Phe phi nghĩa có Tạ Ôn Đình, Tạ Lôi Nhược và Hổ Bôn anh em, chủ tớ).
2. Phe họ Tạ muốn Đổng Kim Lân quy hàng nhưng Đổng Kim Lân không chịu, một lòng phò giúp Phụng Cơ và hoàng tử, chuẩn bị khôi phục nhà Tề. Phe họ Tạ đã dùng thủ đoạn để dụ hàng Kim Lân. Đó là bắt Đổng Mẫu, mẹ của Kim Lân. Chúng muốn lợi dụng tình mẫu tử để khiến Kim Lân phải khuất phục. Đây là một tình tiết rất quen thuộc trong văn học trung đại. Thường những người trung nghĩa với vua với nước thì đều là những người hiếu nghĩa với cha mẹ. Kịch tính của đoạn trích tập trunhg ở cuộc đấu tranh giữa hiếu với mẹ và trung với vua của Kim Lân). Mâu thuẫn của đoạn trích là mâu thuẫn giữa họ Tạ và Đổng Kim Lân. Theo sự phát triển của tình tiết mâu thuẫn ấy đẩy lên thành mâu thuẫn giữa trung với vua và hiếu với mẹ của Đổng Kim Lân.
3. Phân tích tính cách của Đổng Mẫu của Đổng Mẫu. Ngay ở những câu thoại đầu tiên, bà đã tỏ ra là một người mẹ kiên cường. Khi Ôn Đình ép bà viết thư dụ hàng Kim Lân, bà đã rất khảng khái. Câu hỏi “Bằng không nữa thì bay mần chi?” đã là câu trả lời dứt khoát. Nó cho thấy bà không hề phải suy nghĩ khi lựa chọn giữa việc kêu con đầu hàng để mình được sống hay là chấp nhận cái chết để con làm tròn nghĩa vụ với vua với nước. Đổng Mẫu là tấm gương sáng về lòng trung nghĩa. Không hề run sợ trước cái chết, bà đã lên tiếng phê phán lũ người bất trung. Bà đã dùng những tấm gương trong lịch sử để chỉ ra cái kết cục tất yếu cho kẻ phản vua.
Lòng kiên trung của Đổng Mẫu thể hiện rõ hơn khi mâu thuẫn đẩy lên cao trào Kim Lân định thoả hiệp với giặc để cứu mẹ. Vẻ đẹp phẩm cách của hai mẹ con Kim Lân cùng toả sáng ở đoạn này. Trong đoạn trích cũng như trong toàn vở kịch, tác giả sử dụng rất nhiều lối nói đối với tần số xuất hiện khá dày của từ ngữ Hán Việt. Điều đó tạo nên không khí trang trọng của vở kịch. Bởi các tác phẩm tuồng cung đình thường được biểu diễn tại những nơi trang trọng để giáo dục lòng trung nghĩa. | Soạn bài lớp 11_ Đổng Mẫu | 959 | |
Soạn bài lớp 11: Đời thừa
Hướng dẫn
Soạn bài: Đời thừa
Soạn bài lớp 11: Đời thừa do Nam Cao sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về thể hiện tấn bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản, nguyên nhân của tấn bi kịch ấy là gánh nặng cơm áo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 11: Tinh thần thể dục
Soạn bài lớp 11: Đọc tiểu thuyết và truyện ngắn
Ôn thi đại học môn Văn: Phân tích bi kịch tinh thần nhân vật Hộ trong “Đời thừa”
Tóm tắt truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao
ĐỜI THỪA
Nam Cao
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Nam Cao (1915 – 1951) là một nhà văn lớn và tài năng của văn học Việt Nam. Cuộc đời ông điển hình cho cuộc đời của những trí thức tiểu tư sản những năm trước cách mạng tháng Tám. Vật lộn với gánh nặng cơm áo để giữ mình và rồi được đến với cách mạng, cống hiến hết mình cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Sáng tác của Nam Cao chủ yếu thể hiện tấn bi kịch của con người bị tha hoá, ông chú ý đến hai đối tượng rất gần gũi với cuộc đời ông là người nông dân và người trí thức nghèo.
Đời thừa thể hiện tấn bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản, nguyên nhân của tấn bi kịch ấy là gánh nặng cơm áo. Hộ đồng thời rơi vào hai tấn bi kịch: bi kịch của người nghệ sĩ phải đang tâm chà đạp lên nguyên tắc sáng tạo của nghệ thuật chân chính, bi kịch của người cha người chồng phải chà đạp lên nguyên tắc tình thương do chính mình đề ra.
Qua bi kịch của nhà văn Hộ, Nam Cao thể hiện một tư tưởng nhân văn đẹp đẽ: tố cáo hiện thực, lên án sự tha hoá, cảm thông với những con người bất hạnh và khẳng định những những quan điểm nghệ thuật chân chính…
II. TÓM TẮT TÁC PHẨM
Hộ là một văn sĩ nghèo mang trong mình nhiều hoài bão ước mơ. Anh là người có lí tưởng sống rất cao đẹp. Là một nhà văn, anh đã từng ước mơ có những tác phẩm lớn, có giá trị vượt thời gian. Nhưng từ khi cứu vớt cuộc đời Từ, cưới Từ về làm vợ, anh phải lo cho cuộc sống của cả gia đình chỉ với những đồng tiền ít ỏi của nghề viết văn. Hộ đã rơi vào tình trạng khốn khổ. Tạm gác ước mơ hoài bão để nuôi gia đình, nhưng rồi nỗi lo cơm áo và những dằn vặt lương tâm của một nhà văn đã biến anh thành một người đàn ông vũ phu. Anh uống say rồi hành hạ, đánh đập vợ con, rồi lại ân hận. Hộ rơi vào cái vòng luẩn quẩn, không lối thoát.
1. “Đời thừa” có nghĩa là sống vô ích, sống vô tích sự, không có ý nghĩa gì cho cuộc đời. Với cả hai tư cách người trí thức và người chồng, nhà văn Hộ đều rơi vào bi kịch “đời thừa”.
Việc tự ý thức được tình trạng sống “thừa” của những người trí thức ngèo sáng tác của Nam Cao khiến họ rơi vào tấn bi kịch tinh thần vô cùng bi đát. Nhưng chính tấn bi kịch tinh thần ấy thể hiện khao khát sống có ích, sống có nghĩa có ích cho đời. Họ không muốn phải sống kiếp sống thừa, sống vô ích.
2. Mẫu thuẫn không thể giải quyết được, cứ trở đi trở lại giằng xé nội tâm nhân vật là những mâu thuẫn:
Khát vọng sống có ích, có ý nghĩa, vẻ vang và trách nhiệm chăm lo cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn này là mâu thuẫn không thể giải quyêt nên đã đẩy nhân vật vào bi kịch tinh thần. Càng cố gắng, Hộ càng chìm sâu hơn vào bi kịch. Là nhà văn có hoài bão, ước mơ, Hộ phải gác lại tất cả để kiếm tiền nuôi vợ con. Hy sinh sự nghiệp Hộ vẫn chẳng cứu được gia đình. Hộ viết những thứ văn rẻ tiền để bị dằn vặt để phải tự nguyền rủa mình nhưng vợ con anh vẫn nheo nhóc. Người đàn ông tốt bụng, cao thượng, người chồng người cha đầy trách nhiệm đã trở thành người chồng vũ phu.
Cái hay, cái đẹp và tình thương. Họ phải viết những trang viết rẻ tiền, nhạt nhẽo để kiếm tiền nuôi vợ con. Nên anh luôn bị dằn vặt. Luôn tự mắng chửi mình.
Lý tưởng và hiện thực. Hộ có nhiều mơ ước, có lý tưởng hoài bão đẹp nhưng thực tế cuộc sống khổ cực đã vùi dập, đè nén. Họ phải vật lộn với cuộc sống nghèo túng nên không thể thực hiện được những hoài bão cao đẹp. Họ từ dằn vặt mình khiến ngày càng chìm sâu vào bi kịch.
3. Nỗi đau của Hộ là nỗi đau của một người trí thức không được sống cho ra sống. Với cả hai tư cách nhà văn và một người cha, một người chồng, Hộ đều không hoàn thành được trách nhiệm của mình. Anh không thể toàn tâm toàn ý cho nghệ thuật cũng không thể hết mình với gia đình. Vì thế anh tự dằn vặt mình, tự trách mình là kẻ vô tích sự với cả nghệ thuật và gia đình. Anh không thể là một người nghệ sĩ chân chính sáng tạo được những tác phẩm nhưu mong ước nhưng cũng chẳng thể là một con người sống đúng với nguyên tắc tình thương cao cả mà anh tôn thờ. Nỗi đau của Hộ là nỗi đau của con người tự nhận ra sự bất lực của mình mà không thể thoát ra được.
4. Nam Cao là nhà văn có biệt tài trong việc miêu tả tâm lí nhân vật. Trong đoạn 4, nhà văn tập trung miêu tả tâm trạng ăn năn hối hận của Họ khi tỉnh rượu. Trong lúc say, tinh thần bị ức chế, Hộ đã đánh đuổi vợ con. Khi tỉnh lại, Hộ lại tự dằn vặt, tự trách mình là thằng khốn nạn. Nhà văn đã miêu tả rất thành công tâm trạng này của nhân vật Hộ bằng cách kết hợp giọng kể gián tiếp với ngôn ngữ nửa trực tiếp. Độc thoại nội tâm của nhân vật lồng ghép với ngôn ngữ kể chuyện. Nhà văn hóa thân vào nhân vật để diễn tả những diễn biến tâm lí của Hộ. Hộ tỉnh rượu, cảm giác mệt mỏi, khát nước, nao nao lòng khi nhận ra sự ân càn của vợ, lờ mờ hiểu ra sự tình, hoảng sợ, nhìn dáng vẻ vất vả tội nghiệp của Từ, Hộ ăn năn và tự mắng mình. Hộ đã khóc và tự trách mình… Những sắc thái tình cảm của nhân vật đã được nhà văn thể hiện một cách tinh tế và sâu sắc.
6. Đời thừa là truyện ngắn có ý nghĩa tuyên ngôn nghệ thuật sáng tác của Nam Cao. Nhà văn đã gửi gắm quan niệm của mình về nhà văn, nghề văn, tác phẩm nghệ thuật qua nhân vật Hộ.
Nhà văn phải có hoài bão ước mơ, phải viết được những tác phẩm có giá trị, “làm mờ các tác phẩm cùng thời”… Nhà văn phải có trách nhiệm với ngòi bút của mình, phải tự biết xấu hổ khi viết ra những thứ không phải là nghệ thuật.
Nghề văn là một nghề lao động sáng tạo, yêu cầu nhà văn phải lao động nghiêm túc, “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay… sáng tạo những gì chưa có”…,
Tác phẩm văn chương có giá trị là “vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho tất cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng tình thương, tình bác ái, sự công bình,… Nó làm cho người gần người hơn.” Theo nhà văn, tác phẩm văn chương đích thực là tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc.
Với quan điểm sáng tạo nghệ thuật đúng đắn ấy, Nam Cao đã để lại cho văn học Việt Nam những tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc. | Soạn bài lớp 11_ Đời thừa | 1,443 | |
Soạn bài lớp 12 Vợ chồng A Phủ
Hướng dẫn
Soạn văn lớp 12: Vợ chồng A Phủ
Soạn bài lớp 12: Vợ chồng A Phủ do Tô Hoài sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 và chuẩn bị tốt cho bài giảng trong học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài)
Ý nghĩa chi tiết tiếng sáo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Đề kiểm tra môn Ngữ Văn lớp 12 – “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài) trực tuyến
Giáo án Vợ chồng A Phủ
VỢ CHỒNG A PHỦ – TÔ HOÀI
I. Vài nét chung
1. Tiểu dẫn
a. Tác giả: Tên khai sinh: Nguyễn Sen
Sinh năm: 1920.
Quê nội ở Thanh Oai – Hà Đông.
Viết văn từ trước Cách mạng – sáng tác với nhiều thể loại. Số lượng tác phẩm đạt kỷ lục trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
1996: Được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.
Một số tác phẩm tiêu biểu: Dế Mèn phiêu lưu ký (1941), O chuột (1942), Truyện Tây Bắc (1953)…
b. Tác phẩm: In trong tập “Truyện Tây Bắc” – Giải nhất Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 -1955.
II. Đọc – hiểu văn bản
1. Đọc
2. Tìm hiểu văn bản
a. Nhân vật Mị
* Cuộc đời làm dâu gạt nợ:
Thời gian: “Đã mấy năm”, nhưng “từ năm nào cô không nhớ…” => không còn ý thức về thời gian, không còn ý thức về cuộc đời làm dâu gạt nợ.
Không gian: tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa… khe suối…
Căn buồng kín mít.
=> Không gian hẹp, cố định, quen thuộc, tăm tối, gợi cuộc đời tù hãm, bế tắc, luẩn quẩn…
Hành động, dáng vẻ bên ngoài:
Cúi mặt, buồn rười rượi, đêm nào cũng khóc…
Trốn về nhà, định tự tử…
Cúi mặt, không nghĩ ngợi… vùi vào làm việc cả ngày và đêm.
Suy nghĩ: Tưởng mình là con trâu, con ngựa nghĩ rằng “mình sẽ ngồi trong cá lỗ vuông ấy mà trông ra đến bao giờ chết thì thôi…”.
Ngày Tết: chẳng buồn đi chơi…
=> Cuộc đời làm dâu gạt nợ là cuộc đời tôi tớ. Mị sông tăm tối, nhẫn nhục trong nỗi khổ vật chất thể xác, tinh thần…không hy vọng có sự đổi thay.
* Sức sống tiềm tàng:
Thời con gái: Vốn là một cô gái trẻ đẹp, có tài thổi sáo, có nhiều người say mê – có tình yêu đẹp.
Khi xuân về:
Nghe – nhẩm thầm-hát.
Lén uống rượu – lòng sống về ngày trước.
Thấy phơi phới – đột nhiên vui sướng.
Muốn đi chơi (nhắc 3 lần).
=> Khát vọng sống trỗi dậy
Bị A Sử trói đứng:
Như không biết mình bị trói.
Vẫn nghe tiếng sáo…
Vùng đi – sợ chết.
=> Khát vọng sống vô cùng mãnh liệt.
Khi cởi trói cho A Phủ:
Lúc đầu: vô cảm “A Phủ có chết đó cũng thế thôi”.
Thấy nước mắt của A Phủ: thương mình, thương người.
=> Mị cởi trói cho A Phủ – giải phóng cho A Phủ là giải phóng cho chính mình.
=> Hành động có ý nghĩa quyết định cuộc đời Mị là kết quả tất yếu của sức sống vốn tiềm tàng trong tâm hồn người phụ nữ tưởng suốt đời cam chịu làm nô lệ.
=> Cuộc đời Mị là cuộc đời nô lệ điển hình của người phụ nữ dưới chế độ cũ.
b. Nhân vật A Phủ
* Cuộc đời:
Lúc nhỏ: Mồ côi, sống lang thang => Bị bắt bán – bỏ trốn.
Lớn lên: Biết làm nhiều việc. Khoẻ mạnh, không thể lấy nổi vợ vì nghèo.
Dám đánh con quan => Bị phạt vạ => làm tôi tớ cho nhà thống lý.
Bị hổ ăn mất bò => Bị cởi trói, bị bỏ đói…
* Sức sống mãnh liệt:
Bị trói: Nhay đứt 2 vòng dây mây quật sức vùng chạy => Khát khao sống mãnh liệt.
=> Cuộc đời A Phủ cũng là một cuộc đời nô lệ điển hình.
Diễn ra trong khói thuốc phiện mù mịt tuôn ra từ các lỗ cửa sổ như khói bếp…
Người đánh, người quỳ lạy, kể lể, chửi bới. Xong một lượt đánh, kể chửi lại hút. Cứ thế từ trưa đến hết đêm
A Phủ gan góc quỳ chịu đòn chỉ im lặng như tượng đá…
Cảnh cho vay tiền: Kỳ quặc… Biểu hiện đậm nét sự tàn ác dã man của bọn thống trị miền núi.
=> Hủ tục và pháp luật nằm trọn trong tay bọn chúa đất nên kết quả: A Phủ trở thành con ở trừ nợ đời đời kiếp kiếp cho nhà thống lý Pá Tra.
=> Cha con thống lý Pá Tra điển hình cho giai cấp thống trị phong kiến miền núi ở Tây Bắc nước ta trước Cách mạng.
4. Vài nét nghệ thuật
Nghệ thuật xây dựng nhân vật, miêu tả tâm lí: nhân vật sinh động, có cá tính đậm nét (Với Mị, tác giả ít miêu tả hành động, dùng thủ pháp lặp lại có chủ ý một số nét chân dung gây ắn tượng sâu đậm, đặc biệt tác giả miêu tả dòng ý nghĩ, tâm tư, nhiều khi là tiềm thức chập chờn… Với A Phủ, tác giả chủ yếu khắc hoạ qua hành động, công việc, những đối thoại giản đơn).
Nghệ thuật miêu tả phong tục tập quán của Tô Hoài rất đặc sắc với những nét riêng (cảnh xử kiện, không khí lễ hội mùa xuân, những trò chơi dân gian, tục cướp vợ, cảnh cắt máu ăn thề,…).
Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên miền núi với những chi tiết, hình ảnh thấm đượm chất thơ.
Nghệ thuật kể chuyện tự nhiên, sinh động, hấp dẫn.
Ngôn ngữ tinh tế, mang đậm màu sắc miền núi.
IV. Tổng kết
Qua việc miêu tả cuộc đời, số phận của Mị và A Phủ, nhà văn đã làm sống lại quãng đời tăm tối, cơ cực của người dân miền núi dưới ách thống trị dã man của bọn chúa đất phong kiến, đồng thời khẳng định sức sống tiềm tàng, mãnh liệt không gì huỷ diệt được của kiếp nô lệ, khẳng định chỉ có sự vùng dậy của chính họ, được ánh sáng Cách mạng soi đường đến một cuộc đời tươi sáng. Đó chính là giá trị hiện thực sâu sắc, giá trị nhân dạo lớn lao, tiến bộ của Vợ chồng A Phủ. Những giá trị này đã giúp cho Tô Hoài, tác phẩm của Tô Hoài đứng vững trước thử thách của thời gian và được nhiều thế hệ bạn đọc yêu thích.
Tóm Tắt Truyện Vợ Chồng A Phủ
Câu chuyện kể về một cô gái có tên là Mị, nàng là một cô gái trẻ trung xinh đẹp, nết na, đa tài nhưng bac phận. Vì cha mẹ của nàng thiếu nợ nhà Thống Lý Pá Tra nên nàng bị bắt về làm vợ của A Sử, con trai nhà Thống Lý để trừ nợ cho cha. Từ khi nàng về nhà Thống Lý, nàng trở nên ít nói hơn, suốt ngày lũi thủi trong nhà như con rùa nuôi trong xó cửa. Năm ấy tết đến, Mị tình cờ nghe được tiếng sáo ở đâu vọng lại, tâm hồn nàng trở nên bồi hồi, thiết tha, nang nhớ lại những chuyện xưa kia và nàng muốn đi chơi, nhưng bị chồng nàng ngăn cản không cho đi, bắt nàng phải ở nhà.
Trong một lần chồng nàng là A Sử đi chơi bên Làng bên, vì chọc ghẹo con giá nên bị A Phủ đánh, sau đó A Sử bắt A Phủ bồi thường tiền thuốc men cho A Sử, A Phủ không có tiền trả nên bị A Sử bắt về làm công trừ nợ suốt đời cho nhà A Sử. Trong đêm tình mùa đông năm ấy, A Phủ bị A Sử trói ở góc nhà, Mị trông thấy và nàng nghĩ lại cuộc đời mình, nàng thấy tủi thân cho và thương thay cho số phận của A Phủ, Nàng đã cởi trói cho A Phủ và cả hai cùng bỏ trốn khỏi nhà Thống Lý Pá Tra. | Soạn bài lớp 12 Vợ chồng A Phủ | 1,349 | |
Soạn bài lớp 12 Vợ nhặt
Hướng dẫn
Soạn văn 12 bài Vợ nhặt
Soạn bài lớp 12: Vợ nhặt do Kim Lân sáng tác thuộc môn Ngữ Văn lớp 12 được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tham khảo bài soạn bài mẫu bài Vợ Nhặt của Kim Lân.
Soạn bài lớp 12: Bắt sấu rừng U Minh Hạ
Giáo án Vợ nhặt
Bài giảng Vợ nhặt Ngữ văn 12
Mời làm: Đề kiểm tra môn Ngữ Văn lớp 12 – “Vợ nhặt” (Kim Lân)
Soạn văn bài: Vợ nhặt
VỢ NHẶT
KIM LÂN
I. Tiểu dẫn
1. Kim Lân (1920 – 2007)
Tên khai sinh: Nguyễn Văn Tài.
Quê: làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2001.
Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962).
Kim Lân là cây bút truyên ngắn Thế giới nghệ thuật của ông thường là khung cảnh nông thônhình tượng người nông dân. Đặc biệt ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống thôn quê Kim Lân là nhà văn một lòng một dạ đi về với “đất” với “người” với “thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống nông thôn.
2. Xuất xứ truyện
Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc in trong tập truyện Con chó xấu xí (1962).
3. Bối cảnh xã hội của truyện
Phát xít Nhật bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay nên tháng 3 năm 1945 nạn đói khủng khiếp đã xảy ra. Chỉ trong vòng vài tháng, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta chết đói.
1. Đọc – tóm tắt: SGK.
2. Tìm hiểu văn bản: SGK.
a. Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề “Vợ nhặt” thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm “Nhặt” đi với những thứ không ra gì. Thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác, có thể “nhặt” ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng “nhặt” vợ. Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh.
b. Tình huống truyện
Tràng là một nhân vật có ngoại hình xấu. Đã thế còn dở người. Lời ăn tiếng nói của Tràng cũng cộc cằn, thô kệch như chính ngoại hình của anh ta. Gia đình của Tràng cũng rất ái ngại, Nguy cơ “ế vợ” đã rõ. Đã vậy lại gặp nạn đói khủng khiếp, cái chết luôn luôn đeo bám. Trong lúc không một ai (kể cả Tràng) nghĩ đến chuyện vợ con của anh ta thì đột nhiên Tràng có vợ. Trong hoàn cảnh đó, Tràng “nhặt” được vợ là nhặt thêm một miệng ăn cũng đồng thời là nhặt thêm tai hoạ cho mình, đẩy mình đến gần hơn với cái chết. Vì vậyviệc tràng có vợ là một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫ lộn, cười ra nước mắt.
c. Tìm hiểu diễn biến tâm trạng của các nhân vật
* Nhân vật Tràng
Tràng là nhân vật có bề ngoài thôxấu, thân phận lại nghèo hèn, mắc tật hay vừa đi vừa nói một mình,…
Tràng “nhặt” được vợ trong hoàn cảnh đói khát “Chậc, kệ” cái tặc lưỡi của Tràng không phải là sự liều lĩnh mà là một sự cưu mang, một tấm lòng nhân hậu không thể chối từ. Quyết định có vẻ giản đơn nhưng chứa đựng nhiều tình thương của con người trong cảnh khốn cùng.
Tất cả biến đổi từ giấy phút ấy. Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc, Tràng quên tất cả tăm tối “chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên” và cảm giác êm dịu của một anh Tràng lần đầu tiên đi cạnh cô vợ mới.
Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng biến đổi hẳn: “Hắn thấy bây giời hắn mới nên người”. Tràng thấy trách nhiệm và biết gắn bó với tổ ấm của mình.
Thị theo Tràng trước hết là vì miếng ăn (chạy trốn cái đói).
Nhưng trên đường theo Tràng về, cái vẻ “cong cớn” biến mất, chỉ còn người phụ nữ xấu hổ, ngượng ngùng và cũng đầy nữ tính (đi sau Tràng ba bốn bước, cái nón rách che nghiêng, ngồi mớm ở mép giường,…). Tâm trạng lo âu, băn khoăn, hồi hộp khi bước chân về “làm dâu nhà người”.
Buổi sớm mai, chi ta dậy sớm, quét tước, dọn dẹp. Đó là hình ảnh của một người vợ biết lo toan, chu vén cho cuộc sống gia đình, hình ảnh của một người “vợ hiền dâu thảo”.
Chính chị cũng làm cho niềm hy vọng của mọi người trỗi dậy khi kể chuyện ở Bắc Giang, Thái Nguyên người ta đi phá kho thóc Nhật.
* Bà cụ Tứ:
Tâm trạng: mừng, vui, xót, tủi “vừa ai oán vừa xót thương cho số phận đứa con mình”. Đối với người đàn bà thì “lòng bà đầy xót thương” nén vào lòng tất cảbà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình: “Ừ, thôi thì các con cũng phải duyên phải số với nhau, u cũng mừng lòng”.
Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụTứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hy vọng: “Tao tính khi nào có tiền mua lấy con gà về nuôi, chả mấy mà có đàn gà cho xem”.
=> Bà cụ Tứ là hiện thân của nỗi khổ con người Người mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân éo le của con thông qua toàn bộ nỗi đau khổ của cuộc đời bà. Bà lo lắng trước thực tế quá nghiệt ngã. Bà mừng một nỗi mừng sâu xa. Từ ngạc nhiên đến xót thương, nhưng trên hết vẫn là tình yêu thương. Cũng chính bà cụ là người nói nhiều nhất về tương lai, một tương lai rất cụ thể thiết thực với những gà, lợn, ruộng, vườn,… một tương lai khiến các con tin tưởng bởi nó không quá xa vời. Kim Lân đã khám phá ra một nét độc đáo khi để cho một bà cụ cập kề miệng lỗ nói nhiều với đôi trẻ về ngày mai.
Cách kể chuyện tự nhiên, lôi cuốn, hấp dẫn.
Nghệ thuật tạo tình huống đầy tính sáng tạo.
Dựng cảnh chân thật, gây ấn tượng: cảnh chết đói, cảnh bữa cơm ngày đói,…
Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế nhưng bộc lộ tự nhiên, chân thật.
Ngôn ngữ nhuần nhị, tự nhiên.
III. Tổng kết.
Vợ nhặt tạo được một tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, đối thoại sinh động.
Truyện thể hiện được thảm cảnh của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945. Đặc biệt thể hiện được tấm lòng nhân ái, sức sống kì diệu của con người ngay trên bờ vực của cái chết vẫn hướng về sự sống và khát khao tổ ấm gia đình. | Soạn bài lớp 12 Vợ nhặt | 1,187 | |
Soạn bài lớp 12: Ai đã đặt tên cho dòng sông
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Ai đã đặt tên cho dòng sông
Soạn bài lớp 12: Ai đã đặt tên cho dòng sông là tài liệu văn mẫu lớp 12, hướng dẫn các bạn đọc – hiểu tác phẩm. Qua đó, thấy được bút pháp tài hoa trữ tình của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong việc khắc họa sông Hương vừa mang vẻ mãnh liệt dữ dội lại vừa mang vẻ đàm thắm kiêu sa, mơ màng như một người con gái đẹp. Mời các bạn cùng tham khảo.
Soạn bài lớp 12: Người lái đò sông Đà
Soạn bài lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
Soạn bài lớp 12: Những ngày đầu của nước Việt Nam mới
Vẻ đẹp của sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
I. Tác giả – tác phẩm
1. Tác giả
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên viết bút kí.
Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí…Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
2. Tác phẩm.
Ai đã đặt tên cho dòng sông? Là bài bút kí xuất sắc, viết tại Huế, ngày 4-1-1981, in trong tập sách cùng tên. Bài bút kí có ba phần, văn bản là phần trích thứ nhất.
II. Tìm hiểu văn bản
Câu 1:
Sông Hương vùng thượng lưu được tác giả diễn tả mang một vẻ đẹp không chỉ với sức sống mãnh liệt, bí ẩn, sâu thẳm, hoang dại mà còn dịu dàng, say đắm. Tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh dòng sông như “bản trường ca của rừng già”, “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn” thể hiện được sự hoang dại của nó, những ghềnh thác, cuộn sóng sự hùng vĩ của dòng sông khiến người đọc không thể không liên tưởng. Một dòng sông mang trong nó những vẻ huyền bí vẫn còn hoang sơ, vẻ đẹp của thiên nhiên không thể cưỡng nổi. Những cây cỏ xung quanh, những sinh vật bên dòng sông như có linh hồn hóa cho dòng sông thêm vẻ kì vĩ hơn.
Vẻ dịu dàng, đắm say của dòng sông với những sắc màu rực rỡ “những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”.
Dòng sông Hương được ví như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Một tâm hồn như cô gái đẹp rất tự do, trong sáng và tràn đầy sức sống. Lấy từ một truyện cổ xưa gắn liền với hình ảnh cô gái Di-gan tác giả đã hóa dòng sông với hình tượng tuyệt đẹp.
Ngay từ đầu tác phẩm ta đã thấy được vẻ kì thú của dòng sông qua ánh mắt quan sát tinh tế của Hoàng Phủ Ngọc Tường, tác giả sử dụng những từ ngữ gợi cảm tạo sự lôi cuốn, cuốn hút dẫn người đọc vào sâu hơn và thưởng ngoạn con sông Hương tuyệt đẹp này. Có thể không cần biết đến sông Hương ngoài đời thế nào, nhưng đi vào văn thơ của ông người đọc như được chiêm ngưỡng tận mắt, cảm thụ thực sự khi đứng trước sông Hương.
Đoạn tả sông Hương chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố bằng ngòi bút sắc sảo tác giả lại tái hiện thêm lần nữa con sông với vẻ đẹp lãng mạn. Sông Hương được ví như: “người đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoang dại” được “người tình mong đợi đến đánh thức”. Quả là một liên tưởng đặc biệt. Qua đó ta nhận biết được ngòi bút của nhà văn lột tả được năng lực qua sát tinh tế và sự phong phú về ngôn ngữ hình tượng tạo nên những câu văn mang đậm màu sắc và gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Sông Hương đến đây uốn mình theo đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Dòng sông đã được gán cho có linh hồn, biết ý thức và đi tìm một thứ gì đó với nó. Dòng sông mềm mại như “tấm lụa”, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, nó vẫn “trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”. Bằng cách vận dụng kiến thức văn hóa, văn học tác giả đã khiến người đọc ấn tượng về vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí, như cổ thi gắn với những thành quách, lăng tẩm của vua chúa thời trước.
Câu 3:
Sông Hương khi chảy vào thành phố Huế có nét đẹp rất riêng. Nếu như ở trên chúng ta thấy được vẻ đẹp hoang sơ hay mềm mại dịu dàng thì đến đây ta lại thấy một nét đẹp đặc biệt của dòng sông, nét đẹp như nói lên thay cho nét đẹp của những người con nơi đây. Con sông được khám phá, phát hiện ở sắc thái tâm trạng, sông Hương gặp thành phố như điểm hẹn tình yêu, trở nên vui tươi, chậm rãi, êm dịu…Đến hình ảnh khi dòng sông gặp “chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Tác giả thể hiện được hình dáng đặc biệt của chiếc cầu và thêm tính cách dịu dàng, kín đáo của người Huế. Ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường thực sự thăng hoa khi vẽ nên những hình ảnh đầy ấn tượng ấy.
Câu 4:
Tác giả đã tô đậm cho con sông Hương ấy bao nét thơ thật dịu dang, thơ mộng mà hoang dã, đa tình, lịch lãm và cổ kính. Từ góc độ văn hóa truyền thống lịch sử tác giả cũng đã khắc họa sông Hương với nét tính cách đăc biệt qua đó cũng tái hiện lại cho bạn đọc những hình ảnh trong lịch sử và gắn liền với những phẩm chất rất riêng của người Huế. Mà đặc biệt hơn là vẻ đẹp của người con gái Huế luôn nhẹ nhàng, bay bổng mà rất đằm thắm.
Câu 5: Nét đặc sắc rất riêng trong văn phong của tác giả được thể hiện trong đoạn trích:
Cảm xúc sâu lắng được tổng hợp từ nhiều vốn hiểu biết khác nhau: văn hóa, địa lý, lịch sử, văn chương cùng với văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa.
Đem tâm hồn với tình yêu say đắm với quê hương, một nỗi thiết tha giống như con sông Hương không nỡ rời thành phố vẫn luyến lưu, tâm hồn thêm lung linh, huyền ảo.
Ngôn ngữ trong sáng, phong phú, uyển chuyển, giàu hình ảnh, chất thơ, sử dụng nhiều phép tu từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…
Sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ và cảm xúc, giữa chủ quan và khách quan. | Soạn bài lớp 12_ Ai đã đặt tên cho dòng sông | 1,220 | |
Soạn bài lớp 12: Bác ơi
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Bác ơi
Soạn bài lớp 12: Bác ơi giúp các bạn đọc hiểu tác phẩm, từ đó thấy được tình cảm của nhà thơ Tố Hữu, của nhân dân Việt Nam trước sự ra đi của vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Chúc các bạn học tốt môn Ngữ văn 12.
Soạn bài lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt
Soạn bài lớp 12: Đàn ghi ta của Lorca
Soạn bài lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận
Giáo án bài Bác ơi
Bài giảng Bác ơi Ngữ văn 12
Soạn bài thơ Bác ơi của Tố Hữu
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành (1920-2002)
Quê ở làng Phù Lai- Quảng Thọ – Quảng Điền – Thừa Thiên Huế. Đây là mảnh đất thơ mộng trữ tình còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa.
Gia đình: Tố Hữu sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, thời đại nước mất nhà tan.
Bản thân Tố Hữu là một người sớm có tình yêu và năng khiếu văn học. Đến khi thanh niên ông tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng. Có những lần bị bắt vào tù nhưng ông đã vượt ngục thành công
Tố Hữu là một trong những tác gia của nền văn học Việt Nam ta. Khối lượng tác phẩm đồ sộ lại tràn đầy ý nghĩa. Đời thơ của ông gắn liền với những chặng đường cách mạng.
Một số tập thơ tiêu biểu của Tố Hữu:
Từ ấy (1937-1946)
Việt Bắc (1946-1954)
Gió lộng (1955-1961)
Ra trận, Máu và hoa
Một tiếng đờn, Ta với ta
Nét nghệ thuật trong sáng tác của Tố Hữu là tính trữ tình chính trị, ông luôn hướng đến cái ta chung, niềm vui lớn, lý tưởng lớn.
Hoàn cảnh sáng tác: ngày 2/9/1960 đang lúc mặt trận miền Nam giành những chiến thắng trên con đường kháng chiến chống Mỹ, cả nước đang tập trung đánh đuổi quân xâm lược thì Bác Hồ qua đời. Cả rừng người tiễn đưa Bác – vị cha già kính yêu không còn nữa ai nấy cũng thương xót không nguôi. Tố Hữu cũng không kiềm được cảm xúc của mình nên đã viếng Bác bằng bài thơ này.
II. Tìm hiểu chi tiết
1. Nỗi đau xót xa trước sự kiện Bác qua đời
“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!”
Con người: Tất cả nhân dân Việt Nam đều thương tiếc Bác mất mấy ngày, nhà thơ từ xa chạy về ngóng lên chân cầu thang chờ Bác xuống nhưng chỉ là vô vọng. Không thể tin nổi Bác đã đi thật rồi.
Cảnh vật: lạnh lẽo, có cái gì đó hoang sơ thiếu đi hơi thở của một con người vĩ đại
-> Cảnh vật và con người như cùng mang một nỗi niềm thương tiếc, cùng khóc cùng mưa. Cảnh vật thì thiếu đi người giản dị chăm sóc những gốc cau, gốc dừa, con người thì mất đi một vị lãnh tụ yêu nước thương dân, mất đi vị cha già kính yêu. Bằng một giọng văn nhẹ nhàng ấm áp nhà thơ đã mang đến một niềm thương xót của toàn dân tộc. Thiên nhiên vắng vẻ, cô quạnh chỉ còn lại một mình. Vị cha già ra đi để lại cách mạng còn dang dở mà cuộc đời của Bác một phần dành cho cách mạng. Cả dân tộc Việt Nam đang hân hoan hồ hởi trong khúc nhạc hào hùng chống lại đế quốc thì bỗng có một đoạn trầm lắng đến như thế này.
Khổ thơ 5 nói lên tình cảm đẹp đẽ của Bác dành cho những người con đất Việt. Tim Bác mênh mông lắm có thể ôm trọn cả đất nước Việt Nam.
Cuộc đời Bác là dành cho cách mạng vì thế cho đến hơi thở cuối cùng Bác cũng vẫn muốn làm cách mạng. Thế nhưng tuổi già sức yếu Bác phải ra đi, Bác không đau mà Bác chỉ thương cho nhân dân ta, lo cho thế hệ dân tộc Việt Nam.
Bác dù đã đi xa nhưng đối với dân tộc ta thì Bác còn sống mãi, Bác hãy con yêu thương những kiếp đời nô lệ những dãy núi những cành hoa và chắc chắn Bác vẫn đấu tranh vì hạnh phúc đơn giản của dân tộc ta “Sữa để em thơ lụa tặng già”.
Bác nhớ miền Nam còn miền Nam mong Bác, lý tưởng của Bác đây sẽ soi sáng cho những thế hệ đi sau noi theo. Bác đâu có mất bác chỉ ngủ một giấc ngủ nghìn thu, Bác sống một đời thanh bạch không vàng son đến khi yên nghỉ.
-> Có thể nói Bác không chỉ là một vị lãnh tụ mà Bác còn là một vị cha già kính yêu, Bác sống một đời giản dị đạm bạc và để lại cho con cháu một tấm gương sáng ngời.
3. Những cảm xúc của nhà thơ khi Bác qua đời
Ba đoạn thơ cuối nhà thơ thể hiện những cảm xúc của bản thân trước sự ra đi của Bác. Lòng dẫu muốn khóc to lên vì sự mất mát đau thương ấy nhưng lại nghĩ vì đại cuộc không dám khóc nhiều. Bác về thế giới người hiền, còn con cháu chúng ta tiếp tục con đường đấu tranh vì dân tộc.
Bài thơ như một dòng tâm trạng của nhà thơ trước sự ra đi của Bác, có thể nói nhà thơ đã thay mặt tất cả đồng bào ta để nói lên tâm trạng chung trước sự kiện đau lòng ấy. Bằng giọng văn trữ tình cùng với thể thơ thất ngôn những tình cảm như được bày tỏ hết. Đông thời nó cũng giống như một lời hứa sẽ làm nôt những gì Bác còn chưa kịp làm. | Soạn bài lớp 12_ Bác ơi | 995 | |
Soạn bài lớp 12: Bắt sấu rừng U Minh Hạ
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Bắt sấu rừng U Minh Hạ
Soạn bài lớp 12: Bắt sấu rừng U Minh Hạ do Sơn Nam sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Rừng xà nu
Giáo án Ngữ văn 12 tuần 22 bài: Bắt sấu rừng U Minh Hạ
BẮT SẤU RỪNG U MINH HẠ
SƠN NAM
Câu 1. Tập truyện Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam in tại Sài Gòn năm 1967, gồm mười tám truyện ngắn và một bài thơ viết thay lời tựa.
Tập truyện viết về thiên nhiên và con người ở miền cực Nam Tổ quốc, một thế giới hoang vu thuở khai thiên lập địa, dân cư thưa thớt.
Những con người như sinh ra từ bùn lầy, gội mưa tắm nắng, vật lộn với thiên nhiên để sinh sống, thiên nhiên thì giàu có nhưng vô vàn cạm bẫy: trên rừng hùm beo rắn độc, dưới sông thì đầy cá sấu; vào mùa nước nổi, ruộng đồng như biển cả.
Tác phẩm tập trung khắc họa người nông dân thật thà chất phác, trí dũng có thừa, dù nghèo khổ nhưng vẫn yêu đời và đặc biệt là tinh thần nghĩa hiệp gắn với lòng yêu nước.
Cách thức trần thuật ngắn gọn, cách tạo tình huống li kì hấp dẫn, tính cách nhân vật được khắc họa đậm nét, tiếng địa phương được sử dụng vừa phải nên ngôn ngữ trong sáng, giản dị… là điểm đặc sắc về nghệ thuật của truyện. Bắt sấu rừng U Minh Hạ là một trong mười tám truyện ngắn của tập truyện này.
Câu 2. Truyện bắt sấu rừng U Minh Hạ kể về sự kiện bắt đàn cá sấu hung dữ đầy kinh nghiệm và mưu trí của nhân vật Năm Hên.
a. Truyện mở ra một cảnh tượng hoang sơ khủng khiếp của thiên nhiên, một thế giới kì bí, lạ lùng.
Một cảnh tưởng thật khủng khiếp, vẻ dữ dằn của thiên nhiên đã đe dọa cuộc sống bình yên. Người ăn ong trong rừng mang tin dữ về cho dân làng Khánh Lâm khiến mọi người ai nấy đều dáo dác. Một tai họa đang rình rập nhưng không ai dám rat ay tiêu trừ đàn cá sấu nguy hiểm này.
Dân làng kéo vào rừng chứng kiến đàn cá sấu tận mắt, quá kinh hãi họ im lặng rút lui.
– > Không khí căng thẳng bao trùm ngôi làng. Cách tạo tình huống đầy kịch tín, dân làng đang chờ vị cứu tinh.
b. Bỗng đột ngột xuất hiện một nhân vật kì lạ.
Người đàn ông vừa bơi thuyền ba lá đến địa phận làng Khán Lâm vừa hát những câu hát ảo rão rùng rợn.
Hồn ở đâu đây
Hồn ơi! Hồn hỡi!
Xa cây xa cối
Xa cội xa cành
Đầu bãi cuối gành
Hùm tha sấu bắt…
Tiếng hát gợi đến bao linh hồn oan khổ đã tiên phong mở đường khai phá mảnh đất phươn Nam, lần lượt bị vùi xác nơi rừng xanh nước đỏ. Tiếng hát gợi nhớ tổ tiên và nỗi âu lo đang bị thiên nhiên đe dọa nên người già làng Khánh Lâm ai nấy đều sụt sùi. Thì ra đây là vị cứu tinh mà dân làng đang mong đợi.
c. Dân làng đón tiếp trọng thị.
Nghe tin nơi nào có sấu phá hại là đến, không cần mời, rất cực lòng khi thấy bà con bị sấu phá hại.
Ông theo nghề bắt sấu là để trả thù cho anh, vì bà con, không bao giờ vì tiền bạc, người khác có thể làm giàu bằng nghề này nhưng ông không màng phú quới.
– > Con người rất mực tình cảm, nghĩa hiệp, tâm hồn trong sáng vô tư và mục đíc sống, hành động giản dị mà cao đẹp. Cách giãi bày tâm sự cho thấy tính cách bộc trực, thẳng thắn và khiêm tốn: Tôi đây không tài giỏi gì hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít, theo như người khác thì họ nói đó là bùa phép để kiếm tiền.
d. Năm Hên bắt sấu.
Trong khi cả làng bó tay ngồi nhìn đàn sấu to lớn, hung dữ thì ông bảo bắt sấu trên cạn bằng tay không. Ông chỉ cần một người dẫn đường, phụ việc và mang theo một chiếc thuổng. Dân làng rất đỗi ngạc nhiên và hồ nghi. Nửa buổi nhìn vào rừng chỉ thấy cột khói đen bay lên rồi tắt. Dân làng tụ tập hồi hộp căng thẳng chờ đợi và chuẩn bị tiệc mừng.
Kết quả bất ngờ, thật ngoài sức tưởng tượng. Mới xế chiều, Tư Hoạch bơi xuồng bề báo tin, kéo theo cả đàn sấu bơi theo. Có người tưởng đó là chiêm bao, có người sợ quá toan bỏ trốn. Làm sao có được cảnh tượng này?
– > Cách tổ chức trần thuật, kết cấu chi tiết kiểu che giấu mật mã càng kích thích trí tò mò, làm câu chuyện càng căng thẳng hấp dẫn chờ đợi giãi mã.
Khi kịch tính lên đỉnh điểm: mọi người bơi xuồng ra sông, tận mắt chứng kiến hỏi thăm rối rít thì Tư Hoạch mới chậm rãi tường thuật, giải thích. Cách “mở nút” đã làm nổi bật mưu trí, cái kì tài của Năm Hên và mọi người tôn ông là “bực thánh”. Người dân Cái Tàu, Rạch Giá mang ơn ông suốt đời.
e. Năm Hên tay huơ bó nhanh nghi ngút khói, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu vừa đi vừa hát càng gợi không khí kì quái rùng rợn.
Năm Hên ở lại cúng bái là muốn giải oan cho linh hồn tổ tiên (theo tục mê tín của người Việt, người mà bị thú dữ ăn thịt thì oan hồn vẫn còn theo con thú đó nên khi nhìn thấy đàn sấu bị kéo về, có người đã đứng khấn vái lâm râm) vì mưu sinh mà bỏ mạng nơi này. Điều này cho thấy sự đồng cảm của Năm Hên đối với những người bất hạnh bị sấu ăn, là mối tình sâu nặng với tổ tiên.
Sự xuất hiện có phần bí hiểm rồi khi kết thúc truyện nhân vật lại xuất hiện hơi kì quái trong khúc hát gọi hồn lặp lại nên tạo được không khí chung của truyện: thế giới thiên nhiên hoang sơ áp đảo con người. Năm Hên là nhân vật có tính cách Nam Bộ rõ nét: sống hồn nhiên giản đơn, bộc trực, khảng khái, giàu tình cảm, nghĩa hiệp và mưu trí.
Nghệ thuật tạo tình huống và kết cấu dẫn dắt truyện hấp dẫn, cốt truyện đơn giản cô đọng. Qua câu chuyện bắt sấu của Năm Hên, tác giả đã miêu tả thiên nhiên nổi bật tài trí của người lao động trong việc chinh phục thiên nhiên để bảo vệ và phát triển cuộc sống. | Soạn bài lớp 12_ Bắt sấu rừng U Minh Hạ | 1,172 | |
Soạn bài lớp 12: Chiếc thuyền ngoài xa
Hướng dẫn
Soạn bài môn Ngữ văn lớp 12
Soạn bài môn Ngữ văn lớp 12: Chiếc thuyền ngoài xa do Nguyễn Minh Châu sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo. Soạn văn bài Chiếc thuyền ngoài xa này sẽ giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Tóm tắt tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Soạn bài lớp 12: Một người Hà Nội
Soạn bài lớp 12: Vợ nhặt
Giáo án Chiếc thuyền ngoài xa
Phân tích hình ảnh chiếc thuyền trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
NGUYỄN MINH CHÂU
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả
Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989), quê ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông “thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay”
Sau 1975, khi văn chương chuyển hướng khám phá trở về với đời thường, Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách.
Tác phẩm chính (SGK)
2. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
Truyện in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai.
Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn (in năm 1987).
II. ĐỌC – HIỂU
1. Bố cục
Truyện chia làm 2 đoạn lớn:
Đoạn 1: (Từ đầu đến “chiếc thuyền lới vó đã biết mất”). Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh.
Đoạn 2: (Còn lại): Câu chuyện của người đàn bà làng chài.
2. Phát hiện thứ nhất đầy thơ mộng của người nghệ sĩ nhiếp ảnh
“Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu… tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”.
Đôi mắt tinh tường, “nhà nghề” của người nghệ sĩ đã phát hiện vẻ đẹp “trời cho” trên mặt biển mờ sương, vẻ đẹp mà cả đời bấm máy anh chỉ gặp một lần. Người nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc – đó là niềm hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa giữa biển trời mờ sương, anh đã cảm nhận cái đẹp toàn bích, hài hoà, lãng mạn của cuộc đời, thấy tâm hồn mình được thanh lọc.
Người nghệ sĩ đã tận mắt chứng kiến: từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu; một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, độc ác, coi việc đánh vợ như một phương cách để giải toả những uất ức, khổ đau… Đây là hình ảnh đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên biển. Nó hiện ra bất ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống.
Chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ một cách vô lí và thô bạo, Phùng đã “kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu…. vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy nhào tới”. Hành động đó nói lên nhiều điều.
4. Câu chuyện của của người đàn bà ở toà án huyện
Là câu chuyện về sự thật cuộc đời, nó giúp những người như Phùng, Đẩu hiểu rõ nguyên do của những điều tưởng như vô lí. Nhìn bề ngoài, đó là người đàn bàn quá nhẫn nhục, cam chịu, bị đánh đập… mà vẫn nhất quyết gắn bó với lão chồng vũ phu. Nhưng tất cả đều xuất phát từ tình thương vô bờ đối với những đứa con. Trong đau khổ triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi….
Qua câu chuyện của người đàn bà làng chài, tác giả giúp người đọc hiểu rõ: không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng của đời sống.
5. Về các nhân vật trong truyện
Về người đàn bà vùng biển: Tác giả gọi một cách phiếm định “người đàn bà”. Điều tác giả gây ấn tượng chính là số phận của chị. Ngoài 40, thô kệch, mặt rỗ, xuất hiện với “khuôn mặt mệt mỏi”, người đàn bà gợi ấn tượng về một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, nhiều cay đắng. Bà thầm lặng chịu mọi đau đớn khi bị chồng đánh không kêu một tiếng, không chống trả, không trốn chạy, “tình thương con cũng như nỗi đau, sự thâm trầm trong cái việc hiểu thấu các lẽ đời hình như mụ chẳng để lộ ra bên ngoài”…. – Một sự cam chịu đáng chia sẻ, cảm thông. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha.
Về người đàn ông độc ác: Cuộc sống đói nghèo đã biến “anh con trai” cục tính nhưng hiền lành xưa kia thành một người chồng vũ phu. Lão đàn ông “mái tóc tổ quạ”, “chân chữ bát”, “hai con mắt đầy vẻ độc dữ vừa là nạn người của cuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho người thân của mình. Phải làm sao để nâng cao cái phần thiện, cái phần người trong những kẻ thô bạo ấy.
Chị em thằng Phác: Bị đẩy vào tình thế khó xửa khi ở trong hoàn cảnh ấy. Chị thằng Phác, một cô bé yếu ớt mà can đảm, đã phải vật lộn để tước con dao trên tay thằng em trai, ngăn em làm việc trái luân thường đạo lí. Cô bé là điểm tựa vững chắc của người mẹ đáng thương, cô đã hành động đúng khi cản được việc làm dại dột của đứa em, lại biết chăm sóc, lo toan khi mẹ phải đến toà án huyện. Thằng Phác thương mẹ theo kiểu một cậu bé con còn nhỏ, theo cái cách một đứa con trai vùng biển. Nó “lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ, như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chặng chịt”, “nó tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh”. Hình ảnh thằng Phác khiến người đọc cảm động bởi tình thương mẹ dạt dào.
Người nghệ sĩ nhiếp ảnh: Vốn là người lính thường vào sinh ra tử, Phùng căm ghét mọi sự áp bức, bất công, sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện, lẽ công bằng. Anh xúc động ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tinh khôi của thuyền biển lúc bình minh. Một người nhạy cảm như anh tránh sao khỏi nỗi tức giận khi phát hiện ra sự bạo hành của cái xấu, cái ác ngay sau cảnh đẹp huyền ảo trên biển. Hơn bao giờ hết, Phùng hiểu rõ: trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy làm ột người biết yêu ghét vui buồn trước mọi lẽ đời thường tình, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người.
Trong tác phẩm, đó là sự kiện Phùng chứng kiến lão đàn ông đánh vợ một cách tàn bạo. Trước đó, anh nhìn đời bằng con mắt của người nghệ sĩ rung động, say mê trước vẻ đẹp huyền ảo – thơ mộng của thuyền biển. Trong giây phút tâm hồn thăng hoa những cảm xúc lãng mạn, Phùng phát hiện ra hiện thực nghiệt ngã của đôi vợ chồng bước ra từ con thuyền “thơ mộng” đó.
Tình huống đó được lặp lại lần nữa: bên cạnh hình ảnh người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng “đòn chồng”, Phùng còn được chứng kiến phản ứng của chị em thằng Phác trước sự hung bạo của cha đối với mẹ. Từ đó, trong người nghệ sĩ đã có sự thay đổi cách nhìn đời. Anh thấy rõ những cái ngang trái trong gia đình thuyền chài, hiểu sâu thêm tính chất người đàn bà, chị em thằng Phác, hiểu thêm người đồng đội (Đầu) và hiểu thêm chính mình.
Ý nghĩa: Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được tình huống mà ở đó bộc lộ mọi mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất, tính cách, tạo ra những bước ngoặt trong tư tưởng, tình cảm và cả trong cuộc đời nhân vật. Tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện đời sống.
7. Ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm
Ngôn ngữ người kể chuyện: Thể hiện qua nhân vật Phùng, sự hóa thân của tác giả. Chọn người kể chuyện như thế đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá đời sống, lời kể trở nên khách quan, chân thật, giàu sức thuyết phục.
Ngôn ngữ nhân vật: Phù hợp với đặc điểm tính cách của từng người.
Vẻ đẹp của ngòi bút Nguyễn Minh Châu là vẻ đẹp toát ra từ tình yêu tha thiết đối với con người. Tình yêu ấy bao hàm cả khát vọng tìm kiếm, phát hiện, tôn vinh những vẻ đẹp con người còn tiềm ẩn, những khắc khoải, lo âu trước cái xấu, cái ác. Đó cũng là vẻ đẹp của một cốt cách nghệ sĩ mẫn cảm, đôn hậu, điềm đạm chiêm nghiệm lẽ đời để rút ra những triết lí nhân sinh sâu sắc. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong số rất nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa với mọi thời, mọi người. | Soạn bài lớp 12_ Chiếc thuyền ngoài xa | 1,726 | |
Soạn bài lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
Hướng dẫn
Ngữ văn lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
Soạn bài lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận giúp các bạnhọc sinh hệ thống hoá những lỗi thường gặp khi lập luận, tự phát hiện, phân tích và sửa những lỗi lập luận trong bài văn nghịl uận của chính mình. Từ đó, có ý thức thận trọng để tránh những lỗi lập luận trong các bài viết. Mời các bạn cùng tham khảo.
Soạn bài lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận
Soạn bài lớp 12: Quá trình văn học và phong cách văn học
Soạn bài lớp 12: Người lái đò sông Đà
Soạn bài lớp 12: Ai đã đặt tên cho dòng sông
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
Soạn bài lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận
THỰC HÀNH CHỮA LỖI LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
(Ngữ văn 12 – Cơ bản)
1. Bài tập 1 (SGK)
a. Nguyên nhân dẫn đến lập luận sai
Ví dụ đưa ra không phù hợp với nội dung câu đưa ra trước đó, không toát lên được ý “tác động mạnh mẽ đến tâm hồn con người”.
b. Sửa lại là: Giá trị quan trọng nhất của văn học dân gian là giá trị nhận thức Văn học dân gian chứa đựng một khối lượng kiến thức khổng lồ, phong phú về tự nhiên và đời sống xã hội: những câu tục ngữ, ca dao, vừa cung cấp cho chúng ta những hiểu biết, những kinh nghiệm sống, vừa tác động mạnh mẽ đến tâm hồn con người. Ví dụ như câu ca dao sau:
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai“
2. Bài tập 2
a. Nguyên nhân
Nội dung câu kết không phù hợp với nội dung các câu bên trên.
b. Sửa lại là
Người thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long không chỉ say mê công việc, lạc quan, yêu đời. Anh còn rất thèm người. Anh thèm người tới mức tự tay lăn một cây to chặn ngang giữa đường để được gặp mặt và trò chuyện với đoàn khách lên Sa Pa dù chỉ là một vài phút.
3. Bài tập 3
a. Nguyên nhân
Các câu diễn ý rất rời rạc, không phù hợp với nhau. Đó là sự lắp ghép thiếu mạch lạc.
b. Sửa lại là
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân đã cho ta thấy sức mạnh của tình người, trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống. Trong cái đói gay gắt, họ vẫn biết nương tựa vào nhau, chia sẻ với nhau. Đó chính là biểu hiện của giá trị nhân đạo của tác phẩm.
4. Bài tập 4
a. Nguyên nhân:
Câu 3 và 4 có nội dung không phù hợp với nhau.
b. Sửa lại là:
Nếu ai đã từng ra biển thì hẳn đã phải cảm nhận được vẻ đẹp kì diệu và sức mạnh kì diệu của những con sóng miên man vỗ bờ. Những con sóng biến đổi khôn lường, lúc thì êm ả, dịu dàng lúc thì sôi sục, dữ dội. Chính vì thế Xuân Quỳnh đã ví tình yêu của mình như những con sóng “Dữ dội và dịu êm – ồn ào và lặng lẽ”. Xuân Quỳnh đã hoá thân vào những con sóng để nói lên tình yêu của mình. | Soạn bài lớp 12_ Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận | 576 | |
Soạn bài lớp 12: Diễn đạt trong văn nghị luận
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Diễn đạt trong văn nghị luận
Soạn bài lớp 12: Diễn đạt trong văn nghị luận được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Mùa lá rụng trong vườn
Soạn bài lớp 12: Bắt sấu rừng U Minh Hạ
DIỄN ĐẠT TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
I. Tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ trong văn nghị luận
1 Tìm hiểu ví dụ 1
Đề tài: Vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh qua một số bài thơ của tập Nhật kí trong tù: Mộ, Tảo giải, Tân xuất ngục học đăng sơn.
Nội dung hai đoạn giống nhau.
Cách dùng từ hai đoạn khác nhau:
a) Đoạn một
b) Đoạn hai
Chúng ta hẳn ai cũng nghe nói về…
… chúng ta không thể không nhắc tới…
… trong lúc nhàn rỗi rãi…
… trong những thời khắc hiếm hoi được thanh nhàn bất đắc dĩ…
Bác vốn chẳng thích làm thơ…
Thơ không phải là mục đích cao nhất của…
… vẻ đẹp lung linh
… những vần thơ vang lên… của nhà tù.
Vẻ đẹp ấy thể hiện rõ trong những bài thơ…
… là những thi phẩm tiêu biểu cho tinh thần đó.
Đoạn 1: nhiều nhược điểm, nhiều từ ngữ không phù hợp với văn nghị luận.
Đoạn 2: nhiều ưu điểm, từ ngữ dùng phù hợp với văn nghị luận hơn.
Đoạn văn tham khảo:
Ngâm thơ ta vốn không tham
Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây?
Đó là tâm niệm của Bác trong những ngày tháng bị đày đoạ chốn lao tù. Sẽ là một thiếu sót lớn nếu chúng ta nói tới sự nghiệp văn học của Bác mà không nhắc đến Nhật kí trong tù-tập thơ ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt ấy. Tập thơ hiện lên chân dung tinh thần tự hoạ Hồ Chí Minh với vẻ đẹp của một chiến sĩ – thi sĩ, với chất “thép” rắn rỏi và chất tình bát ngát, mênh mông. Mộ, Tạo giải, Tân xuân ngục học đăng sơn là ba bài thơ tiêu biểu cho vẻ đẹp ấy.
Trích: Lời tựa tập Lửa thiêng của Huy Cận – Xuân Diệu.
a. Các từ ngữ in đậm có tác dụng biểu hiện cảm xúc tinh tế, những rung động sâu sắc về hồn thơ Huy Cận. Đối tượng nghị luận là một tâm hồn thơ mang nỗi “sầu vũ trụ”, “buồn thân thể”, “sầu vạn kỉ”.
b. Sắc thái biểu cảm của các từ ngữ in đậm rất phù hợp với đối tượng nghị luận (hồn thơ Huy Cận):
Người viết gọi Huy Cận là “chàng” vì rác giả Lửa thiêng lúc đó còn rất trẻ (20 tuổi).
Những từ ngữ: “linh hồn Huy Cận”, “nỗi hắt hiu trong cõi trời”, “hương gió nhớ thương”,… rất phù hợp với tâm hồn thơ Huy Cận vốn rất nhạy cảm với không gian, đặc biệt là không gian vũ trụ vô biên với những gió, mây, trăng, sao.
c. Có thể thay:
Từ chàng bằng nhà thơ, Huy Cận, thi sĩ,…
Cụm từ: nỗi hắt hiu trong cõi trời bằng nỗi buồn trong không gian.
Cụm rừ: hơi gió nhớ thương bằng tình cảm nhớ thương.
Nhưng nếu thay như vậy thì cách diễn đạt của đoạn văn sẽ thiếu cảm xúc.
3. Tìm hiểu ví dụ 3
Những từ ngữ không phù hợp
Có thể thay thế bằng các từ ngữ
vĩ đại.
nổi tiếng.
kiệt tác.
tác phẩm hay.
thân xác.
thể xác.
chẳng là gì cả.
không là gì.
anh chàng.
nhân vật.
cũng thế mà thôi.
cũng vậy.
tên hàng thịt.
anh hàng thịt.
Đoạn văn viết lại sau khi thay thế:
Lưu Quang Vũ là một kịch tác gia nổi tiếng. Vở kịch Hồn trương Ba, da hàng thịt xứng đáng là một tác phẩm hay trong kho tàng văn học nước nhà. Nhà văn đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc: sự tranh chấp giữa linh hồn và thể xác trong quá trình con người sống và hướng tới sự hoàn thiện. Thực ra, người ta ai mà chẳng phải sống bằng cả linh hồn và thể xác. Nhân vật Trương Ba trong vở kịch cũng vậy. Trương Ba khồn chỉ sống chỉ bằng phần hồn. Nhưng phần hồn ấy, vì những trớ trêu, éo le của số phận, lại bị nhập vào xác của anh hàng thịt. Chẳng qua đó cũng chỉ là một cái xác “âm u, đui mù” nếu không có hồn Trương Ba. Nhưng nó cúng không để hồn Trương Ba được yên mà làm hồn phát bệnh vì những đòi hỏi, ham muốn quá quắt.
4. Những yêu cầu cơ bản của việc dùng từ ngữ trong văn nghị luận
Lựa chọn các từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề cần nghị luận, tránh dùng từ khẩu ngữ hoặc những từ ngữ sáo rỗng, cầu kì.
Kết hợp sử dụng những biện pháp tu từ vựng (ẩn dụ, hoán dụ, so sánh…) và một số từ ngữ mang tính biểu cảm, gợi hình tượng để bộc lộ cảm xúc phù hợp.
1. Ví dụ 1
a. Cách sử dụng và kết hợp các kiểu câu trong hai đoạn văn:
Đoạn 1: chủ yếu sử dụng kiểu câu trần thuật, có sự kết hợp câu ngắn câu dài.
Đoạn 2: sử dụng kết hợp các kiểu câu đơn, câu ghép, câu ngắn, câu dài, câu nhiều tầng bậc, câu hỏi, câu cảm thán,…
b. Việc sử dụng và kết hợp các kiểu câu khác nhau trong một đoạn văn nghị luận khiến cho việc diễn đạt trở nên linh hoạt, lập luận chặt chẽ, có sự hài hoà giữa lí lẽ và cảm xúc, đồng thời tạo cho đoạn văn có nhạc điệu.
c. Đoạn 2: đã sử dụng biện pháp tu từ cú pháp. Đó là câu hỏi tu từ, lặp cú pháp. Sử dụng các biện pháp tu từ này làm cho đoạn văn diễn đạt khắc sâu hơn về ý, biểu hiện rõ hơn thái độ, tình cảm của người viết, lời văn có nhạc điệu.
d. Trong bài văn nghị luận nên sử dụng một số biện pháp tu từ cú pháp vì sử dụng như vậy sẽ kết hợp được nhiều kiểu câu khiến cho việc diễn đạt trở nên linh hoạt, phong phú, có sắc thái tình cảm.
Các biện pháp tu từ cú pháp thường được sử dụng trong văn nghị luận:
Lặp cú pháp: “trời thu thì xanh ngắt những mấy từng tre, cây tre thu lại chỉ còn coa một cành trúc, khói phủ thành tầng trên mặt nước, song cửa để mặc ánh trăng vào, hoa năm nay giấu vào hoa năm ngoái, tiếng ngỗng vang trong mơ hồ…” (Lê Trí Viễn – “Thu ẩm” của Nguyễn Khuyến).
Câu hỏi tu từ: “Bác nói cùng ai? Hỡi đồng bào cả nước, lời mở đầu bản tuyên ngôn đã chỉ rõ… Nhưng có phải chỉ nói với đồng bào ta không?” (Chế Lan Viên – Trời cao xanh ngắt sáng tuyên ngôn)
2. Ví dụ 2
a. Trong đoạn văn này, người viết chủ yếu sử dụng kiểu câu kể của Tiếng Việt. Kiểu câu này truyền đạt nội dung thông báo mang tính tự sự, tản mạn để cung cấp thêm cho người đọc những tri thức rộng về đối tượng nghị luận.
b. Câu văn: “Chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng” là câu đặc biệt biểu lộ cảm xúc (khác với những câu khác – tự sự). Câu văn này cho thấy tâm trạng lắng lại của người viết khi nghĩ về đối tượng nghị luận.
3. Ví dụ 3
Đoạn văn (1) có nhược điểm là sử dụng và kết hợp các câu có cùng một kết cấu “Qua…” khiến cho việc diễn đạt thiếu linh hoạt, có cảm giác lặp ý, rườm rà.
Đoạn văn (2) có nhược điểm là sử dụng và kết hợp các câu có cùng một chủ ngữ “Kho tàng văn học dân gian…” hoặc “văn học dân gian…” khiến cho người đọc có cảm giác trùng lặp, nhàm chán.
4. Những yêu cầu cơ bản của việc sử dụng và kết hợp các kiểu câu trong văn nghị luận
Phối hợp một số kiểu câu trong đoạn, trong bài để tránh sự đơn điệu, nặng nề, tạo nên giọng điệu linh hoạt, biểu hiện cảm xúc: câu ngắn, câu dài, câu mở rộng thành phần, câu nhiều tầng bậc,…
Sử dụng các biện pháp tu từ cú pháp để tạo nhịp điệu, nhấn mạnh rõ hơn thái độ, cảm xúc: lặp cú pháp, song hành, liệt kê, câu hỏi tu từ,… | Soạn bài lớp 12_ Diễn đạt trong văn nghị luận | 1,421 | |
Soạn bài lớp 12: Giá trị văn học và tiếp nhận văn học
Hướng dẫn
Soạn bài: Giá trị văn học và tiếp nhận văn học
Soạn bài lớp 12: Giá trị văn học và tiếp nhận văn học được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn học sinh tham khảo hiểu rõ thêm về giá trị văn học cũng như sự tiếp nhận văn học của học sinh để học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Những đứa con trong gia đình
Soạn bài lớp 12: Chiếc thuyền ngoài xa
I. Giá trị văn học
* Giá trị văn học là gì?
GTVH là sản phẩm kết tinh từ quá trình sáng tạo văn học của nhà văn, đáp ứng nhu cầu khác nhau của đời sống con người, tác động sâu sắc đến cuộc sống và con người.
Giá trị nhận thức:
* Cơ sở:
Là quá trình khám phá, lí giải hiện thực để chuyển hóa thành nội dung tác phẩm của nhà văn.
Do sự giới hạn tồn tại trong không gian, thời gian, quan hệ xã hội của người đọc.
* Nội dung:
Hiểu được cuộc sống hiện thực phong phú.
Hiểu đc bản chất của con người.
Hiểu bản thân mình hơn.
Giá trị giáo dục:
* Cơ sở:
Khách quan: Nhu cầu hướng thiện: Con người luôn khao khát một cuộc sống tốt lành, chan hòa tình yêu thương giữa người với người (cho Vd).
* Nội dung:
Giúp con người rèn luyện bản thân mình ngày 1 tốt đẹp hơn.
Có thái độ và lẽ sống đúng đắn. (Ví dụ).
* Đặc trưng của giá trị giáo dục của văn học: Văn học giáo dục con người bằng con đường từ cảm xúc đến nhận thức bằng cái thật, cái đúng, cái đẹp của những htượg sinh động.
Giá trị thẩm mỹ:
* Cơ sở:
Con người luôn có nhu cầu cảm thụ và thưởng thức cái đẹp
Nhà văn bằng tài năng đã thể hiện cái đẹp của cuộc sống, của con người vào trong tác phẩm của mình giúp người đọc cảm nhận, rung động.
* Nội dung:
Văn học mang đến cho con người vẻ đẹp muôn màu của cuộc đời (vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người…)
Miêu tả, thể hiện cái đẹp của con người từ ngoại hình đến thế giới nội tâm phong phú tinh tế bên trong.
Cái đẹp trong văn học không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn ở hình thức nghệ thuật tác phẩm: kết cấu, ngôn từ chặt chẽ, mới mẻ, độc đáo.
=> Cả 3 giá trị văn học đều có mối quan hệ mật thiết.
II. Tiếp nhận văn học:
1. Tiếp nhận trong đời sống văn học:
a. Vai trò của tiếp nhận trong đời sống văn học: Mối quan hệ qua lại: Sáng tạo – Truyền bá – Tiếp nhận.
b. Khái niệm TNVH:
TNVH là hoạt động tích cực của cảm giác, tâm lý người đọc biến văn bản thành thế giới nghệ thuật trong tâm trí mình.
2. Tính chất tiếp nhận văn học:
TNVH là một quá trình giao tiếp giữa tác giả và người đọc. Trong quá trình giao tiếp cần chú ý các tính chất sau:
a. Tính chất cá thể hóa, tính chủ động tcực của người tiếp nhận.
b. Tính đa dạng không thống nhất trong tiếp nhận văn học.
* Lưu ý: Dù có cách hiểu khác nhau nhưng cần đạt đến cách hiểu đúng với tác phẩm để trở về đúng với giá trị đích thực của nó.
3. Các cấp độ tiếp nhận văn học
a. Có 3 cấp độ TNVH:
Cấp độ thứ nhất: Tập trung vào nội dung cụ thể, nội dung trực tiếp của tác phẩm.
-> Cách tiếp nhận văn học đơn giản nhất nhưng phổ biến.
Cấp độ thứ hai: Qua nội dung tác phẩm để thấy được nội dung tư tưởng của tác phẩm.
Cấp độ thứ ba: Cảm thụ chú ý đến cả nội dung và hình thức để thấy được giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
b. Để tiếp nhận văn học có hiệu quả thực sự, người tiếp nhận cần:
Nâng cao trình độ
Tích lũy kinh nghiệm
Trân trọng tác phẩm, tìm cách hiểu tác phẩm một cách khách quan, toàn vẹn.
Tiếp nhận một cách chủ động tích cực, sáng tạo, hướng tới cái hay, cái đẹp, cái đúng.
Không nên suy diễn tùy tiện. | Soạn bài lớp 12_ Giá trị văn học và tiếp nhận văn học | 725 | |
Soạn bài lớp 12: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Hướng dẫn
Soạn bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Soạn bài lớp 12: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là tài liệu học tốt Ngữ văn 12, giúp các bạn học sinh nắm bắt được nội dung chính trong bài, từ đó có trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Bài soạn bài lớp 12 này còn bao gồm lời giải của các bài tập giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt lớp 12. Mời các bạn cùng tham khảo.
Soạn văn 12 bài: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
I. Sự trong sáng của tiếng Việt
Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, tiếng Việt đã đạt được phẩm chất trong sáng, nhưng vẫn luôn đặt ra yêu cầu giữ gìn trong sáng mỗi khi sử dụng tiếng Việt.
Sự trong sáng của tiếng Việt được biểu lộ qua một số phương diện cơ bản như sau:
1. Nói hoặc viết đúng chuẩn mực, đúng quy tắc của tiếng Việt
Ví dụ:
Nói: Chúng tôi chúc mừng các bạn (đúng ngữ pháp)
Không nói: Chúng tôi tự hào các bạn (không đúng ngữ pháp)
(Xem thêm các câu a, b, c trong SGK)
Chuẩn mực không phù nhận những sự chuyển đổi linh hoạt, những sự sáng tạo, không phủ nhận cái mới, miễn là cái sáng tạo, cái mới phù hợp với phương thức chung, quy tắc chung.
Ví dụ:
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con.
(Nguyễn Duy, Tre Việt Nam)
Lưng, áo, con được sáng tạo theo nguyên tắc chuyển nghĩa của từ theo phương pháp ẩn dụ, nên câu thơ trên vẫn đảm bảo được sự trong sáng của tiếng Việt, hơn nữa, lại có hình ảnh và gợi cảm.
(Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập)
Từ tắm đã được sử dung với một nghĩa mới theo phương thức chuyển hóa của từ về ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp: câu văn không những trong sáng mà còn có giá trị biểu cảm cao.
2. Không cho phép pha tạp, lai căng một cách tùy tiện những yếu tố của một ngôn ngữ khác. Để cho tiếng Việt trong sáng, giàu có và phát triển một mặt cần tiếp thu những tinh hoa trong các ngôn ngữ khác, đồng thời tránh lạm dụng, pha tạp khi không cần thiết.
Ví dụ: Việt sử dụng hỗn tạp các loại ngôn ngữ hiện nay đã vi phạm cơ bản nguyên tắc trên. Trong lời nói hoặc viết hằng ngày, chúng ta dễ dàng bắt gặp từ tiếng Anh trong những câu tiếng Việt. Đây là một biểu hiện của sự pha tạp, lai căng trong sử dụng tiếng Việt.
3. Sự trong sáng của tiếng Việt cũng biểu hiện ở tính văn hóa, lịch sử của lời nói. Nói năng lịch sự, có văn hóa chính là sự biểu lộ sự trong sáng của ngôn ngữ. Ngược lại, nói năng thô tục, thiếu văn hóa, bất lịch sự tức làm cho tiếng Việt mất đi vẻ trong sáng vốn có của nó.
Ví dụ: Đoạn hội thoại giữa nhân vật lão Hạc và ông giáo trong truyện ngắn lão Hạc của Nam Cao: lời nói của họ đều thể hiện một ứng xử văn hóa, lịch sử (xem SGK).
II. Trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là trách nhiệm của mỗi người Việt Nam. Đó chính là trách nhiệm đối với tiếng mẹ đẻ của mình.
Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, mỗi người khi nói hoặc viết cần thực hiện được những yêu cầu sau:
Có ý thức tôn trọng và tình cảm yêu quý tiếng Việt. Mỗi người cần thấy rằng: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm nó phổ biến và ngày càng rộng khắp”. (Hồ Chí Minh)
Có thói quen cẩn trọng, cân nhắc, “lựa lời” khi sử dụng tiếng Việt để giao tiếp, sao cho lời nói thích hợp với các nhân tố giao tiếp và đạt được hiệu quả cao nhất.
Rèn luyện năng lực nói và viết theo đúng các chuẩn mực về ngữ âm, về chữ viết, về từ ngữ, ngữ pháp và về các đặc điểm phong cách. Muốn vậy, mỗi cá nhân cần luôn trau dồi lời ăn tiếng nói của mình theo tinh thần của câu châm ngôn “học ăn, học nói, học gói, học mở” để nói đúng, viết đúng và nói hay, viết hay, đạt được mức độ “lời hay, ý đẹp” và có tính lịch sự, văn hóa.
Cần tránh những câu nói thô tục, kệch cỡm, tránh những yếu tố pha tạp, lai căng, tuy rằng vẫn cần tiếp nhận những từ ngữ hoặc cách diễn đạt có giá trị tích cực của ngôn ngữ khác.
III. Luyện tập
1. Tính chuẩn xác trong việc dùng từ ngữ của Hoài Thanh và Nguyễn Du khi lột tả tính cách các nhân vật trong Truyện Kiều.
Chàng Kim: rất mực chung tình
Thúy Vân: cô em gái ngoan
Hoạn Thư: người đàn bà bản lĩnh khác thường, biết điều nhưng cay nghiệt.
Thúc Sinh: anh chàng sợ vợ
Từ Hải: chợt hiện ra, chợt biến đi như một vì sao
Sở Khanh: cái vẻ chải chuốt dịu dàng
Bọn nhà chứa: cái xã hội ghê tởm đó sống nhơ nhúc.
1.2. Từ ngữ của Nguyễn Du
Tú Bà: nhờn nhợt màu da
Mã Giám Sinh: mày râu nhẵn nhụi
Bạc Hà, Bạc Hạnh: miệng thề xoen xoét.
Những từ ngữ trên đây đã lột tả đúng thần thái và tính cách của từng nhân vật, đến mức tưởng như không thể có từ ngữ nào có thể đúng hơn, có thể thay thế cho các từ ngữ đó được.
2. Đặt lại các dấu câu vào vị trí thích hợp để đảm bạo sự trong sáng của đoạn văn
Đặt dấu chấm (.) giữa hai dòng sông (ở dòng chữ đầu)
Đặt dấu chấm (.) sau những dòng nước khác (ở dòng chữ thứ hai)
Đặt dấu phẩy (,) sau dòng ngôn ngữ cũng vậy (ở dòng chữ thứ hai).
3. Trong 4 câu a, b, c, d thì câu a không trong sáng do từ đòi hỏi không cần thiết, nếu bỏ từ này thì câu văn sẽ đạt được sự trong sáng.
Ba câu b, c, d là những câu trong sáng do viết đúng ngữ pháp, câu đủ thành phần, diễn đạt trong sáng.
4. Từ nước ngoài không cần thiết sử dụng vì đã có từ Việt thay thế: Valentine (ngày Valentine – > ngày lễ Tình nhân hoặc ngày Tình yêu). | Soạn bài lớp 12_ Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt | 1,112 | |
Soạn bài lớp 12: Hồn Trương Ba da hàng thịt
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Hồn Trương Ba da hàng thịt
Soạn bài lớp 12: Hồn Trương Ba, da hàng thịt do Lưu Quang Vũ sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn. Soạn văn 12 bài Hồn Trương Ba da hàng thịt này là tài liệu tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT
LƯU QUANG VŨ
I. Tiểu dẫn
1. Tác giả
Lưu Quang Vũ (1948-1988), quê gốc ở Đà Nẵng, sinh tại Phú Thọ trong một gia đình trí thức.
Từ 1965-1970: Lưu Quang Vũ vào bộ đội và được biết đến với tư cách một nhà thơ tài năng đầy hứa hẹn.
Từ 1970-1978: Ông xuất ngũ, làm nhiều nghề để mưu sinh.
Từ 1978-1988: biên tập viên Tạp chí Sân khấu, bắt đầu sáng tác kịch và trở thành một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm 80 với những vở đặc sắc như: Sống mãi tuổi 17, Hẹn ngày trở lại, Lời thề thứ chín, Khoảnh khắc vô tận, Bệnh sĩ, Tôi và chúng ta, Hai ngàn ngày oan trái, Hồn trương Ba, da hàng thịt,…
Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, viết truyện, viết tiểu luận,… nhưng thành công nhất là kịch. Ông là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nên Văn học Nghệ thuật Việt Nam hiện đại.
Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.
Từ một cốt truyện dân gian, tác giả đã xây dựng một vở kịch nói hiện đại, đặt ra vấn đề mới mẻ có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc.
Truyện dân gian gây kịch tính sau khi Hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt dẫn tới “vụ tranh chấp” chồng của hai bà vợ phải đưa ra xử, bà Trương Ba thắng kiện được đưa chồng về. Lưu Quang Vũ khai thác tình huống kịch bắt đầu ở chỗ kết thúc của tích truyện dân gian. Khi Hồn Trương Ba được sống “hợp pháp” trong xác anh hàng thịt, mọi sự càng trở nên rắc rối, éo le để rồi cuối cùng đau khổ, tuyệt vọng khiến Hồn Trương Ba không chịu nổi phải cầu xin Đế Thích cho mình được chết hẳn.
3. Đoạn trích
Là phần lớn cảnh VII. Đây cũng là đoạn kết của kịch.
II. Đọc – hiểu văn bản
1. Trước khi Đế Thích xuất hiện
“Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán….”
=> Những câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng với ước nguyện… => Tâm trạng vô cùng đau khổ, bức bối. Hồn bức bối bởi không thể nào thoát khỏi thân xác mà hồn ghê tởm. Hồn đau khổ bởi hồn không còn là mình nữa. Hồn Trương Ba càng lúc càng rơi vào đau khổ, tuyệt vọng.
* Cuộc đối thoại với những người thân:
Với vợ: “ông đâu còn là ông, đâu còn là Trương Ba làm vườn ngày xưa nữa…”
Cái Gái: “Tôi không phải là cháu ông…Ông nội tôi chết rồi”.
Con dâu:… nhưng thầy ơi, con sợ lắm…”
2. Sau khi Đế Thích xuất hiện
Không thể bên trong một đàng, bên ngoaì một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.
=> Lời thoại mang triết lí sâu sắc. Con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hoà.
=> Quyết định dứt khoát xin tiên Đế Thích cho mình được chết hẳn là kết quả của một quá trình diễn biến hợp lí, cho thấy Trương Ba là người nhân hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt, đó là người ý thức được ý nghĩa của cuộc sống.
III. Tổng kết: Xem SGK. | Soạn bài lớp 12_ Hồn Trương Ba da hàng thịt | 641 | |
Soạn bài lớp 12: Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến hết thế kỷ XX
Hướng dẫn
Soạn bài: Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến hết thế kỷ XX
Soạn bài lớp 12: Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến hết thế kỷ XX được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn học sinh tham khảo hiểu rõ thêm về quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ cách mạng Tháng Tám đến hết thế kỉ 20 để học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 1 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Ôn tập nghị luận xã hội
Soạn bài lớp 12: Tuyên ngôn độc lập
I. Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975
1. Vài nét về hoàn cảnh lịch sử xã hội văn hoá
Văn học Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh: cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ngày càng ác liệt:
Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp.
Hai mươi mốt năm kháng chiến chống Mĩ.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc.
a. Mười năm (1945 – 1964) cuộc sống con người có nhiều thay đổi.
Nền kinh tế nghèo nàn, chậm phát triển hình ảnh quê hương, đất nước và những con người kháng chiến như bà mẹ, anh vệ quốc quân, chị phụ nữ, em bé liên lạc. Tất cả đều thể hiện chân thực và gợi cảm.
b. Từ 1954 – 1965
* Chủ đề
Tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ca ngợi đất nước và con người trong những ngày đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc với cảm hứng lãng mạn, tràn đầy niềm vui và tin tưởng vào ngày mai.
Hướng về miền Nam với nỗi đau chia cắt và ý chí thống nhất đất nước.
* Thành tựu
Văn xuôi: Những tác phẩm tiêu biểu: Cửa biển (4 tập) – Nguyên Hồng, Vỡ bờ (2 tập) – Nguyễn Đình Thi, Sống mãi với thủ đô – Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng – Hữu Mai, Trước giờ nổ súng -Lê Khâm, Mười năm – Tô Hoài, Cái sân gạch, Mùa lúa chiêm – Đào Vũ, Mùa lạc – Nguyên Khải, Sông Đà – Nguyễn Tuân.
Thơ: Gió lộng – Tố Hữu, Ánh sáng và phù sa – Chế Lan Viên, Riêng chung – Xuân Diệu, Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài ca cuộc đời – Huy Cận, Tiếng sóng – Tế Hanh, Bài thơ Hắc Hải – Nguyễn Đình Thi, Những cánh buồm – Hoàng Trung Thông.
Về kịch: Kịch phát triễn mạnh Đó là các vở: Một Đảng viên – Học Phi, Ngọn lửa – Nguyễn Vũ, Nổi gió, Chị Nhàn – Đào Hồng Cẩm.
Chủ đề bao trùm:
Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng (không sợ giặc, dám đánh giặc, quyết đánh giặc). Có đời sống tình cảm hài hoà giữa riêng và chung, bao giờ cũng đặt cái chung lên trên hết, có tình cảm quốc tế cao cả.
Tổ quốc và xã hội chủ nghĩa.
Văn xuôi:
Người mẹ cầm súng, Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Đình Thi, Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc).
Ở Miền Bắc: Kí của Nguyễn Tuân – Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi,Vùng trời (3 tập).
Thơ: Ra trận. Máu và hoa (Tố Hữu), Hoa ngày thường, chim báo bão (Chế Lan Viên). Và những gương mặt: Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm. Tất cả đã mang tới cho thơ ca tiếng nói mới mẻ, sôi nổi, trẻ trung.
Kịch: Đại đội trưởng của tôi – Đào Hồng Cẩm, Đôi mắt – Vũ Dũng Minh.
Lý luận, nghiên cứu phê bình: Tập trung ở một số tác giả như Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên.
d. Văn học vùng địch tạm chiếm từ 1945-1975
Văn học vùng địch tạm chiếm từ 1945 -1975 có hai thời điểm.
Dưới chế độ thực dân Pháp (1945 -1954).
Dưới chế độ Mĩ – Nguỵ (1954-1975).
Chủ yếu là những xu hướng văn học tiêu cực phản động xu hướng chống phá cách mạng xu hướng đồi truỵ.
Bên cạnh các xu hướng này cũng có văn học tiến bộ thể hiện lòng yêu nước và cách mạng.
Vũ Hạnh với (Bút máu).
Vũ Bằng với (Thương nhớ mười hai).
Sơn Nam với (Hương rừng Cà Mau).
a. Văn học vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước.
Nhà văn – chiến sĩ.
Văn học trước hết phải là một thứ vũ khí đấu tranh Cách mạng.
Hiện thực đời sống Cách mạng và kháng chiến là nguồn cảm hứng lớn cho văn học.
Quá trình vận động, phát triển của nền văn học mới ăn nhịp với từng chặng đường của lịch sử dân tộc.
Đề tài chủ yếu:
Đề tài Tổ Quốc.
Đề tài XHCN.
Nhân vật trung tâm: Người chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh vũ trang và những người trực tiếp phục vụ chiến trường, người lao động.
b. Nền văn học hướng về đại chúng
Quần chúng đông đảo vừa là đối tượng phản ánh vừa là đối tượng phục vụ; vừa là nguồn cung cấp, bổ sung lực lượng sáng tác cho văn học:
Quan tâm tới đời sống của nhân dân lao động, nói lên nỗi bất hạnh cũng như niềm vui, niềm tự hào của họ.
Nền văn học mới tập trung xây dựng hình tượng quần chúng Cách mạng: miêu tả người nông dân, người mẹ, người phụ nữ, em bé…
c. Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Khuynh hướng sử thi:
Đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân tộc.
Nhân vật chính thường là những con người đại diện cho tinh hoa, khí phách, phẩm chất và ý chí của dân tộc; tiêu biểu cho lý tưởng cộng đồng hơn là lợi ích và khát vọng cá nhân -> Con người chủ yếu được khám phá ở lẽ sống lớn và tình cảm lớn.
Giọng văn ngợi ca, hào hùng….
Cảm hứng khẳng định cái tôi tràn đầy cảm xúc và hướng tới lý tưởng. Ca ngợi CN anh hùng Cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc -> Nâng đỡ con người Việt Nam vượt qua thử thách.
=> Khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứng lãng mạn đã làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, đồng thời đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển Cách mạng
II. Vài nét khái quát Văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX
1. Vài nét về hoàn cảnh lịch sử xã hội, văn hoá
Chiến tranh kết thúc, đời sống về tư tưởng tâm lí, nhu cầu vật chất con người đã có những thay đổi so với trước. Từ 1975 – 1985 ta lại gặp phải những khó khăn về kinh tế sau cuộc chiến kéo dài cộng thêm là sự ảnh hưởng của hệ thống XHCN ở Đông Âu bị sụp đổ.
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) mở ra những phưương hướng mới thực sự cởi mở cho văn nghệ Đẳng khẳng định: “Đổi mới có ý nghĩa sống còn là nhu cầu bức thiết. Thái độ của Đảng nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”.
2. Quá trình phát triễn và thành tựu chủ yếu
Trường ca: “Những người đi tới biển” (Thanh Thảo)
Thơ: “Tự hát” (Xuân Quỳnh), “Xúc xắc mùa thu” (Hoàng Nhuận Cầm),…
Văn xuôi: “Đứng trước biển”, “Cù lao tràm”, (Nguyễn Mạnh Tuấn), Thời xa vắng (Lê Lựu)…
Kí: “Ai đã đặt tên cho dòng sông” (Hoàng Phủ NgọcTường), “Cát bụi chân ai” (Tô Hoài).
III. Kết luận: Xem SGK. | Soạn bài lớp 12_ Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến hết thế kỷ XX | 1,311 | |
Soạn bài lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt
Soạn bài lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt giúp các bạn củng cố kiến thức về việc vận dụng các phương thức biểu đạt: tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh vào văn nghị luận; hướng dẫn các bạn làm các bài tập về phương thức biểu đạt. Mời các bạn cùng tham khảo.
Soạn bài lớp 12: Thực hành một số phép tu từ cú pháp
Soạn bài lớp 12: Sóng
Soạn bài lớp 12: Đàn ghi ta của Lorca
Soạn bài luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt
I. Hướng dẫn học bài
BT 1. GV yêu cầu HS xem xét các câu trả lời ở mục bài tập 1 và trả lời các câu hỏi.
a. Vì sao trong một bài văn nghị luận, chúng ta có những lúc cần vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm?
Trong bài văn nghị luận có lúc cần vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả và biểu cảm vì:
Khắc phục hạn chế của bài văn nghị luận là sự khô khan, thiên về lí tính, khiến người đọc khó đọc, khó hiểu.
Yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm đem lại sự cụ thể, sinh động cho văn nghị luận.
Bài văn phải thuộc một kiểu văn bản chính, ở đây kiểu văn bản chính dứt khoát phải là văn nghị luận.
Kể, tả, biểu cảm chỉ là những yếu tố kết hợp. Chúng không được làm mất, làm mờ đi đặc trưng nghị luận của bài văn.
Các yếu tố kể, tả, biểu cảm khi tham gia vào bài văn nghị luận, phải chịu sự chi phối và phải phục vụ quá trình nghị luận.
BT 2. Vận dụng kết hợp phương thức biểu đạt chứng minh trong văn nghị luận.
Gợi ý
Chứng minh là thao tác trình bày các luận chứng một cách chính xác, khách quan nhằm làm sáng tỏ một luận điểm, luận cứ cho trước.
Trong đoạn trích, người viết muốn khẳng định về sự cần thiết của chi tiêu GNP (bên cạnh GDP).
Để làm cho bài viết của mình thuyết phục ngoài việc sử dụng các thao tác lập luận, người viết còn vận dụng thao tác chứng minh, với những con số rõ ràng, chính xác về chỉ số GDP và GNP ở Việt Nam.
Tác dụng, ý nghĩa của việc sử dụng thao tác chứng minh:
Hỗ trợ đắc lực cho sự bàn luận của tác giả, đem lại những hiểu biết thú vị.
Giúp người đọc hình dung vấn đề một cách cụ thể và hình dung về mức độ nghiêm túc của vấn đề.
Gợi ý
HS đọc kỹ hướng dẫn trong SGK, tham khảo đoạn văn viết về Thạch Lam (Nguyễn Tuân viết); lập dàn ý cho bài viết ngắn.
Có thể theo dàn ý sau:
Nhà văn mà anh, chị hâm mộ là ai? Tên, tuổi, quê quán, thời đại, những tác phẩm chính?
Vì sao anh, chị lại hâm mộ nhà văn này? (Cống hiến lớn hay có phong cách độc đáo như thế nào?).
Ước muốn, nguyện vọng của anh chị đối với nhà văn mà mình ngưỡng mộ. (HS đọc và tóm tắt những kiến thức chính trong mục Ghi nhớ trong SGK).
II. Luyện tập ở nhà
BT 1. Gợi ý
Cả 2 nhận định đều đúng vì:
Một bài văn nghị luận chỉ hấp dẫn khi sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt nếu không nó rất dễ sa vào trừu tượng, khô khan.
Tác phẩm nghị luận chỉ vận dụng một phương pháp sẽ rơi vào đơn điệu, nhàm chán, khô cứng.
BT 2. Viết bài văn nghị luận với chủ đề: “Gia đình trong thời hiện đại”. HS nghiên cứu yêu cầu và gợi ý trong SGK, tự viết bài này ở nhà)
III. Tổng kết
Việc vận dụng phương thức biểu đạt tự sự, miêu tả, biểu cảm thuyết minh trong văn nghị luận là rất cần thiết.
Việc vận dụng các phương thức biểu đạt này phải xuất phát từ yêu cầu và mục đích nghị luận.
Nếu sử dụng khéo léo, người viết có thể làm cho tiến trình nghị luận trở nên đặc sắc, hấp dẫn và thuyết phục. | Soạn bài lớp 12_ Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt | 726 | |
Soạn bài lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận
Hướng dẫn
Ngữ văn lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận
Soạn bài lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm và đăng tải. Với tài liệu này, các bạn sẽ được củng cố kiến thức về các thao tác lập luận trong một văn bản nghị luận, biết cách vận dụng các thao tác đó để hoàn thành bài văn nghị luận. Chúc các bạn học tốt.
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
Soạn bài lớp 12: Bác ơi
Soạn bài lớp 12: Tự do
Soạn bài lớp 12: Quá trình văn học và phong cách văn học
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
Soạn bài lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
Soạn bài luyện tập vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận
I. Hướng dẫn học bài
Ôn tập các thao tác lập luận và những đặc trưng cơ bản của thao tác lập luận.
BT 1. Hãy nhắc lại những thao tác lập luận mà anh / chị đã học. Nêu những đặc trưng cơ bản của từng thao tác.
Gợi ý
Thao tác lập luận phân tích: chia đối tượng ra thành nhiều yếu tố, bộ phận nhỏ để có thể nhận biết đối tượng một cách cặn kẽ, thấu đáo.
Thao tác lập luận so sánh: làm rõ thông tin về sự vật bằng cách đối chiếu với đối tượng sự vật khác quen thuộc hơn, cụ thể hơn để chỉ ra sự giống nhau và khác nhau giữa chúng.
Thao tác lập luận giải thích: là giảng giải về các vấn đề liên quan đến đối tượng một cách cụ thể, rõ ràng cho người nghe, người đọc hiểu tường tận.
Thao tác lập luận chứng minh: mục đích của chứng minh là làm người ta tin tưởng về những ý kiến, nhận xét có đầy đủ căn cứ từ trogn những sự thật hoặc chân lí hiển nhiên.
Thao tác lập luận bác bỏ: chính là dùng lí lẽ và chứng cứ để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác, từ đó nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe.
Thao tác lập luận bình luận: nhằm đề xuất và thuyết phục người đọc tán đồng với nhận xét đánh giá, bàn luận của mình về một hiện tượng trong đời sống hoặc trong văn học.
Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh: những yếu tố này có thể đem lại sự cụ thể, sống động cho văn nghị luận.
Gợi ý
Các thao tác lập luận trong đoạn trích Tuyên ngôn Độc lập:
Thao tác lập luận phân tích.
Thao tác lập luận chứng minh.
Thao tác lập luận bình luận.
Các thao tác này được vận dụng tổng hợp, kết hợp rất linh hoạt trong đoạn trích.
BT 3. Viết bài văn nghị luận trong đó vận dụng tổng hợp ít nhất ba thao tác lập luận khác nhau.
Ví dụ:
a. Đề văn: Suy nghĩ của anh/chị về tình yêu tự do sau khi học bài thơ Tự do của P.Ê-luy-a.
b. Phân tích đề:
Nội dung: tình yêu tự do
Thao tác lập luận: phân tích, chứng minh, bình luận
Tư liệu: bài thơ Tự do và một số tác phẩm khác
II. Luyện tập
BT 1. Sưu tầm bài / đoạn văn nghị luận hay trong đó vận dụng nhiều thao tác lập luận.
Gợi ý
HS có thể tìm các tác phẩm nghị luận, có thể ở ngay trong sách này hoặc SGK Ngữ văn 12, 11… VD: Bài Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh (Ngữ văn 11), Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của Phạm Văn Đồng (Ngữ văn 12)…
Sau khi sưu tầm, HS đọc và nghiên cứu kĩ bài viết, chỉ ra các thao tác đã được vận dụng trong văn bản. Đánh giá sự thành công và nêu nguyên nhân của những thành công đó.
BT 2. Viết bài văn trong đó vận dụng tổng hợp ít nhất 3 thao tác lập luận, theo chủ đề: một tác phẩm văn học mới ra đời và đan được nhiều người quan tâm bàn luận.
Gợi ý
Các ý chính:
Giới thiệu tên tác phẩm mới ra đời đang được công chúng quan tâm (Muốn biết tác phẩm này đang được quan tâm, nên theo dõi báo Văn nghệ, Văn nghệ trẻ…).
Tóm tắt nội dung tác phẩm đó. (Tác phẩm viết về đề tài nào? Chủ đề? Đặc sắc nghệ thuật)
Dư luận đan quan tâm đến vấn đề gì trong tác phẩm? Các loại ý kiến khác nhau?
Ví dụ: với tác phẩm Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau. Có người không đồng tình với Trần Đăng Khoa, cho rằng anh đã làm thay đổi một cách không đúng những giá trị đã ổn định trong đời sống văn học. Cũng có người ủng hộ tác giả vì cho rằng, cần thay đổi cách nhìn, cách nghĩ đã quá mòn sáo trong phê bình văn học.
Nêu ý kiến của anh / chị (Đồng tình hay phản đối? Vì sao?)
Kết luận: Khẳng định tính đúng đắn của vấn đề, hoặc phủ định những sai lầm trong quan niệm cần bác bỏ.
(HS có thể chọn chủ đề khác theo yêu cầu trong SGK) | Soạn bài lớp 12_ Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận | 925 | |
Soạn bài lớp 12: Luật thơ
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Luật thơ
Soạn bài lớp 12: Luật thơ là tài liệu tham khảo hay, giúp các bạn nắm bắt các kiến thức cơ bản về luật thơ của các thể thơ truyền thống, các thể thơ Đường luật, các thể thơ hiện đại. Bài soạn văn luật thơ còn hướng dẫn các bạn trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa, từ đó chuẩn bị bài trước khi đến lớp hiệu quả. Chúc các bạn học tốt.
Soạn bài lớp 12: Việt Bắc
Soạn bài lớp 12: Tây Tiến
Soạn bài lớp 12: Đất nước – Nguyễn Khoa Điểm
Soạn bài luật thơ
I.Khái quát về luật thơ
1. Luật thơ của thể thơ là toàn bộ những quy tắc về số câu, số tiếng, cách gieo vần, phép hài thanh, ngắt nhịp… được khái quát theo một kiểu mẫu nhất định. Ví dụ: Luật của các thể lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn và thất ngôn…
Nói chung, ta có thể chia các thể thơ Việt Nam thành 3 nhóm chính:
Các thể thơ dân tộc gồm: lục bát, song thất lục bát và hát nói.
Các thể thơ Đường luật gồm: ngũ ngôn, thất ngôn (tứ tuyệt và bát cú).
Các thể thơ hiện đại gồm: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, hỗn hợp, tự do, thơ – văn xuôi…
2. Sự hình thành các luật thơ cũng như sự vay mượn, mô phỏng và cách tân các thể thơ đều phải dựa trên các đặc trưng ngữ âm của tiếng Việt, trong đó tiếng là đơn vị có vai trò quan trọng. Số tiếng và các đặc điểm của tiếng và cách gieo vần, phép hài thanh, ngắt nhịp… là các nhân tố cấu thành luật thơ.
II. Một số thể thơ truyền thống.
1. Thể lục bát (còn gọi là thể sáu – tám)
Ví dụ:
Trăm năm trong cõi người ta.
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
– Số tiếng: Mỗi cặp lục bát gồm hai dòng: dòng lục (6 tiếng), dòng bát (8 tiếng). Bài thơ lục bát là sự kế tiếp của các cặp thơ như thế.
– Vần: Vần lưng hiệp vần ở tiếng thứ 6 của hai dòng và giữa tiếng thứ 8 của dòng bát với tiếng thứ 6 của dòng lục.
– Nhịp: Nhịp chẵn dựa vào tiếng có thanh không đổi (tức các tiếng 2, 4 6): 2-2-2.
– Hài thanh: Có sự đối xứng luân phiên B – T – B ở các tiếng 2, 4, 6 trong dòng thơ và đối lập âm vực trầm bổng ở tiếng thứ 6 và tiếng thứ 8 dòng bát.
2. Thể song thất lục bát (còn gọi là gián thất hay song thất)
Ví dụ:
Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
(Đoàn Thị Điểm (?), Chinh phụ ngâm)
– Số tiếng: cặp song thất (7 tiếng) và cặp lục bát (6 – 8 tiếng) luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài.
– Vần: gieo vần lưng ở mỗi cặp (lọc – mọc, buồn – khôn); cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vần bằng. Giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền (non – buồn).
– Nhịp: 3 -4 ở hai câu thất và 2 – 2 – 2 ở cặp lục bát.
– Hài thanh: cặp song thất lấy tiếng thứ ba làm chuẩn mực, có thể có thanh bằng (câu thất – bằng) hoặc trắc (câu thất – trắc) nhưng không bắt buộc.
Ví dụ:
Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
(Đoàn Thị Điểm (?), Chinh phụ ngâm)
Còn cặp lục bát thì sự đối xứng bằng – trắc chặt chẽ hơn (giống như ở thể lục bát).
3. Các thể ngũ ngôn Đường luật
Gồm có hai thể chính: ngôn ngữ tứ tuyệt (5 tiếng 4 dòng) và ngũ ngôn bát cú (5 tiếng 8 dòng). Thể ngũ ngôn bát cú có bố cục 4 phần: đề, thực, luận, kết.
MẶT TRĂNG
Vằng vặc bóng thuyền quyên,
Mây quang gió bốn bên,
Nề cho trời đất trắng,
Quét sạch núi sông đen
Có khuyết nhưng tròn mãi
Tuy già vẫn trẻ lên
Mảnh gương chung thế giới
Soi rõ: mặt hay, hèn.
(Khuyết Danh)
– Số tiếng: 5 tiếng
– Số dòng: 8 dòng (thơ tứ tuyệt chỉ có 4 dòng)
– Vần: 1 vần (độc vận), gieo vần cách (bên,đen, lên, hèn).
– Nhịp kẻ: 2 – 3
– Hài thanh: có sự luân phiên B – T hoặc niêm B – B, T – T ở tiếng thứ 2 và thứ 4.
4. Các thể thơ thất ngôn Đường luật
Gồm có hai thể chính: thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú. Mỗi thể lại chia ra thất ngôn luật bằng (thể bằng) và thất ngôn luật trắc (thể trắc). Đây là hai thể thơ có kết cấu, niêm luật chặt chẽ, được nhiều người ưa thích và đến nay vẫn được nhiều người sử dụng để sáng tác.
4.1. Thất ngôn tứ tuyệt (còn gọi là thể tứ tuyệt hay tuyệt cú) Một bài thơ tứ tuyệt thể trắc:
ÔNG PHỖNG ĐÁ
Ông đứng làm cho đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng.
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?
Non nước đầy vơi có biết không?
(Nguyễn Khuyến)
– Số tiếng: 7 tiếng
– Số dòng: 4 dòng
– Vần: 1 vần. Cách hiệp vần: vần chân, gieo vần cách (đồng – không).
– Nhịp: 4 – 3
– Hài thanh: Theo mô hình sau:
4.2. Thất ngôn bát cú
Một bài thất ngôn bát cũ thể trắc: Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan
– Số tiếng: 7 tiếng
– Số dòng: 8 dòng (chia thành 4 phần: Đề, thực, luận, kết).
– Vần: gieo vần chân, độc vần (hoa, nhà, gia, ta và tà ở dòng thơ thứ nhất).
– Nhịp: 4 – 3
– Hài thanh: Theo mô hình sau:
Luật thơ thất ngôn bát cú rất chặt chẽ: một mặt là luật hài thanh, đối xứng giữa các tiếng 2, 4, 6 (có thể theo thể trắc hoặc theo thể bằng); mặt khác, đòi hỏi phải niêm (dính) giữa các dòng 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7 và 1-8. Về bố cục, bài thơ chia thành 4 cặp: 2 dòng đầu là đề (phá đề và thừa đề) để vào bài; 2 dòng tiếp theo là thực để giải thích rõ đề, 2 dòng luận để bàn luận và hai dòng kết để kết bài.
III. Các thể thơ hiện đại
Thành tựu lớn của phong trào Thơ mới (1932 – 1945) là đã đổi mới và sáng tạo nhiều thể thơ mới. Thơ Việt Nam hiện đại có đủ các thể, từ thơ hai, ba, bốn đến năm, sáu, bảy, tám tiếng; thơ tự do và cả thơ – văn xuôi. Các nhà thơ trong phong trào Thơ mới đã tiếp nhận ảnh hưởng của thơ Pháp và đổi mới luật thơ cũ, tạo thành nhiều thể thơ hiện đại.
IV. Luyện tập
Phân biệt cách gieo vần, ngắt nhịp và hài thanh của hai câu thơ bảy tiếng trong thể song thất lục bát với thể thơ thất ngôn Đường luật qua các ví dụ (SGK).
Gợi ý.
1. Đoàn Thị Điểm – Chinh phụ ngâm
Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mở mịt thức mây.
Cách gieo vần: gieo vần lưng: nguyệt, mịt
Ngắt nhịp: nhịp 3 – 4.
Trống Tràng thành / lun lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền / mờ mịt thức mây.
Hài thanh: cặp song thất lấy tiếng thứ 3 làm chuẩn, có thể có thanh bằng hoặc trắc. Ở đây là thanh bằng: Trống Tràng thành (B) Khói Cam Tuyền (B)
2. Cảnh khuya – Hồ Chí Minh
Cách gieo vần: 1 vần, vần chân ở cuối câu thơ thứ 1, 2, 4: xa, hoa, nhà.
Ngắt nhịp: Nhịp ¾
Hài thanh: theo mô hình sau:
Dòng 1: T-B-T
Dòng 2: B-T-B
Dòng 3: B-T-B
Dòng 4: T-B-T
= > Tiếng thứ 2, thứ 4, thứ 6. | Soạn bài lớp 12_ Luật thơ | 1,316 | |
Soạn bài lớp 12: Mùa lá rụng trong vườn
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Mùa lá rụng trong vườn
Soạn bài lớp 12: Mùa lá rụng trong vườn do Ma Văn Kháng sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Thuốc
Giáo án Ngữ văn Mùa lá rụng trong vườn
MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN
MA VĂN KHÁNG
I. Tìm hiểu kái quát về tác phẩm tác giả
1. Tác giả
Ma Văn Kháng, tên khai sinh Đinh Trọng Đoàn, sinh năm 1936, quê gốc ở phường Kim Liên, quận Đống Đa Hà Nội, là người đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự vận động và phát triển nhiều mặt của văn học nghệ thuật. Ông được tặng Giải thưởng Văn học ASEAN năm 1998 và giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.
Tác phẩm chính SGK
2. Mùa lá rụng trong vườn
Truyện đươc tặng giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1986. Thông qua câu chuyện xảy ra trong gia đình ông Bằng, một gia đình nề nếp, luôn giữ gia pháp nay trở nên chao đảo trong những cơn địa chấn từ bên ngoài, nhà văn bày tỏ niềm lo lắng sâu sắc cho giá trị truyền thống trước những đổi thay của thời cuộc.
1. Nhân vật chị Hoài
Chị Hoài mang vẻ đẹp đằm thắm của người phụ nữ nông thôn: “người thon gọn trong cái áo lông chần hạt lựu. Chiếc khăn len nâu thắt ôm khuôn mặt rộng có cặp mắt hai mí đằm thắm và cái miệng cười rất tươi”.
Nét đằm thắm, mặn mà toát lên từ tâm hồn chị, từ tình cảm đôn hậu, từ cách ứng xử, quan hệ với mọi người. Từng là dâu trưởng trong gia đình ông Bằng, bây giờ chị đã có một gia đình riêng với những quan hệ riêng, lo toan riêng, mọi thứ vẫn nhớ, vẫn quý, vẫn yêu chị. Bởi vì “người phụ nữ tưởng đã cắt hết mối dây liên hệ với gia đình này, vẫn giao cảm, vẫn chia sẻ buồn vui và cùng tham dự cuộc sống của gia đình này” (biết chuyện cô Phượng đã chuyển công tác, nhận được thư bố chồng cũ, sợ ông buồn nên phải lên ngay; chu đáo xởi lởi chuẩn bị quà, hỏi thăm tất cả mọi người lớn, bé; sự thành tâm của chị trước bàn thờ tổ tiên chiều 30 tết…). Trong tiềm thức mỗi người “vẫn sống động một chị Hoài đẹp người đẹp nết”.
Nhân vật chị Hoài là mấu người phụ nữ vẫn giữ được nét đẹp truyền thống quý giá trước những “cơn địa chấn” xã hội.
2. Cảnh sum họp trước giờ cúng tất niên
Ông Bằng: “nghe thấy xôn xao tin Hoài lên”, “ông sững khi nhìn thấy Hoài, mặt thoáng một chút ngơ ngẩn. Rồi mắt ông chớp liên hồi, môi ông bật không thành tiếng, có cảm giác ông sắp khóc oà”, “giọng ông bỗng khê đặc, khàn rè: Hoài đấy ư, con?” Nỗi vui mừng, xúc động không giấu giếm của ông khi gặp lại người đã từng là con dâu trưởng mà ông rất mực quý mến.
Chị Hoài: “gần như không chủ động được mình lao về phía ông Bằng, quên cả đôi dép, đôi chân to bản… kịp hãm lại khi còn cách ông già hai hàng gạch hoa”. Tiếng gọi của chị nghẹ ngào trong tiếng nấc “ông!”.
Cảnh gặp gỡ vui mừng nhuốm một nỗi tiếc thương đau buồn, ê nhức cả tim gan.
Khung cảnh tết: khói hương, mân cỗ thịnh soạn “vào cái buổi đât nước còn nhiều khó khăn sau hơn ba mươi năm chiến tranh…” mọi người trong gia đình tề tựu quây quần… Tất cả chuẩn bị chu đáo cho khoảnh khắc tri ân trước tổ tiên trong chiều 30 tết.
Ông Bằng “soát lại hàng khuy áo, chỉnh lại cà vạt, ho khan một tiếng, dịch chân lại trước bàn thờ”, “Thoáng cái ông Bằng nhưng quên hết xung quanh và bản thể. Dâng lên trong ông cái cảm giác thiêng liêng rất đỗi quen thân và tâm trí ông bỗng mờ nhoà… Thưa thầy mẹ đã cách trở ngàn trùng mà vần hằng sống cùng con cháu. Con vẫn hằng nghe đâu đấy lời giáo huấn…”.
Những hình ảnh sống động gieo vào lòng người đọc niềm xúc động rưng rưng, để rồi “nhập vào dòng xúc động tri ân tiên tổ và những người đã khuất”.
Bày tỏ lòng tri ân trước tổ tiên trước những người đã mất trong lễ cúng tất niên chiêu 30 tết, điều đó đã trở thành một nét văn hoá truyền thống đáng trân trọng và tự hào của dân tộc ta. Tổ tiên không tách rời với con cháu. Tất cả liên kết một mạch bền chặt thuỷ chung”. Dù cuộc sống hiện đại muôn sự đổi thay cùng sự thay đổi của những cách nghĩ, cách sống, những quan niệm mới, nét đẹp truyền thống văn hoá ấy vẫn đang và rất cần được gìn giữ trân trọng.
Tổng kết giá trị đoạn trích dựa trên hai mặt:
Giá trị nội dung tư tưởng.
Giá trị nghệ thuật. | Soạn bài lớp 12_ Mùa lá rụng trong vườn | 883 | |
Soạn bài lớp 12: Mấy ý nghĩ về thơ
Hướng dẫn
Soạn bài môn Ngữ văn lớp 12 học kì I
Soạn bài lớp 12: Mấy ý nghĩ về thơ là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm và đăng tải, giúp các bạn đọc – hiểu tác phẩm, nắm được các nội dung chính mà Nguyễn Đình Thi muốn truyền đát, hướng dẫn trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa. Chúc các bạn học tốt.
Soạn bài Tây Tiến
Soạn bài lớp 12: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Soạn bài lớp 12: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
Soạn bài lớp 12: Đô-xtôi-ép-xki
Soạn bài Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi
1. Về tác giả
Nguyễn Đình Thi (1924-2003) sinh tại Luông Pha-bang (Lào) quê gốc ở Hà Nôi, thuở nhỏ cùng gia đình ở Lào.
Năm 1931 theo gia đình về nước. Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1941. Sau cách mạng, ông giữ nhiều trọng trách quan trọng trong Hội Văn học – nghệ thuật, sau này là Hội Nhà văn Việt Nam.
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài: biên khảo triết học, viết văn, làm thơ, phê bình văn nghệ, ở lĩnh vực nào cũng có đóng góp đáng ghi nhận. Năm 1996, ông được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Các tác phẩm chính.
Tiểu thuyết: Xung kích (1951), Vào lửa (1966).
Thơ: Người chiến sĩ (1956), Bài thơ Hắc Hải (1958), Dòng sông trong xanh (1974)…
Kịch: con nai đen (1961), Hoa và Ngần (1975).
Tiểu luận: Mấy vấn đề về văn học (1956), Công việc của người viết tiểu thuyết (1964).
2. Về văn bản
a. Hoàn cảnh ra đời
Mấy ý nghĩ về thơ được viết vào tháng 9-1949 tại Hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc.
Bài viết này về sau được đưa vào tập Mấy vấn đề về văn học.
b. Thể loại: tiểu luận
3. Một số câu hỏi, bài tập
BT 1. Nguyễn Đình Thi đã phân tích như thế nào về đặc trưng cơ bản nhất của thơ là biểu hiện tâm hồn con người?
Gợi ý:
Để làm nổi bật đặc trưng cơ bản nhất của thơ là biểu hiện tâm hồn con người, Nguyễn Đình Thi đã phân tích, lí giải về mối quan hệ giữa thơ với tâm hồn con người bằng cách đưa ra một loạt dẫn chứng.
Ta nói trời hôm nay nên thơ nhưng chính ra lòng chúng ta mang một nỗi niềm vui buồn nào mà muốn làm thơ, hoặc đọc thơ về trời xanh… Mưa phun buổi chiều gợi những câu thơ nào nhớ nhung nhưng chính nỗi nhớ nhung gặp buổi chiều mưa mà muốn thì thầm những câu thơ chưa thành hình rõ.
Làm một câu thơ yêu, tâm hồn cũng rung động như khi có người yêu trước mắt.
Những câu, những lời thơ diễn lên, làm sống ngay lên một tình cảm, một nỗi niềm trong lòng người đọc.
Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm với cuộc sống. Qua đó tác giả muốn nhấn mạnh giữa thơ với tâm hồn con người có sự tác động qua lại lẫn nhau.
Tiếp theo tác giả đưa ra đặc điểm của thơ để khẳng định thơ diễn tả tâm hồn con người.
“Thơ là một thứ nhạc”, “một thứ nhịp điệu bên trong, một thứ nhịp điệu khoảng im lặng, tình ý” và nói chung những cái đó là “của tâm hồn”.
Nhịp điệu thơ được hinh thành từ những cảm xúc, hình ảnh và trong khoảng im lặng “cũng la nơi trú ngụ kín đáo của sự xúc động”.
Cuối cùng tác giả kết luận “đường đi của thơ là đi thẳng vào tình cảm“. Điều đó có nghĩa là phương tiện biểu hiện của tâm hồn con người.
BT 2. Những yếu tố đặc trưng khác của thơ (hình ảnh, tư tưởng, cảm xúc, cái thực…) đã được Nguyễn Đình Thi đề cập ra sao?
Bên cạnh việc thể hiện tâm hồn con người, thơ còn mang nhiều yếu tố đặc trưng cơ bản khác cũng được Nguyễn Đình Thi đề cập đến.
Hình ảnh thơ: “là hình ảnh thực nẩy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hoặc trạng thái nào đấy”, ví như “những tia lửa tóe lên khi búa đập vào sắp trên đe” được thu lượm kết nên một bó sáng.
Tư tưởng trong thơ: “Những tư tưởng trong thơ là tư tưởng dính liền với cuộc sống, ở trong cuộc sống. Tư tưởng của nhà thơ nằm ngay trong cảm xúc, tình tự”.
Cảm xúc trong thơ: “Cảm xúc là phần xương thịt hơn cả của đời sống tâm hồn” “bất cứ cảm xúc tình tự nào của con người cũng dính liền với sự suy nghĩ”.
Cái thực trong thơ: “là những hình ảnh sống, những hình ảnh có sức lôi cuốn và thuyết phục người đọc. Đó là những hình ảnh chưa có vết nhòa của thói quen, không bị dập khuôn vào những ý niệm trừu tượng định trước.”
BT 3. Ngôn ngữ thơ có gì đặc biệt so với ngôn ngữ các thể loại văn học khác? Nguyễn Đình Thi quan niệm như thế nào về thơ tự do, thơ không vần?
a. Ngôn ngữ thơ khác với ngôn ngữ của các thể loại văn học khác ở chỗ: nó có nhịp điệu có tính nhạc va ý ở ngoài lời “thi tại ngôn ngoại”.
Nguyễn Đình Thi đã so sánh ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi để tìm ra điểm riêng của thơ; “Đường đi của thơ là con đường đi thẳng vào tình cảm, không quanh co“. Trong khi “văn xuôi lôi cuốn người như dòng nước, đưa ta đi lần lượt, từ điểm này qua điểm khác” thì thơ “chỉ chọn một ít điểm chính, bấm vào những điểm ấy thì toàn thể động lên theo”.
b. Nguyễn Đình Thi trực tiếp bày tỏ quan niệm về thơ tự do và thơ không vần.
Trước tiên tác giả công nhận vai trò sứ mạng của vần, nhịp, luật thơ, sau đó sử dụng thành thao tác lập luận bác bỏ để khẳng định không có nó người làm thơ vẫn thành côn: “Theo tôi những luật lệ của thơ từ âm điệu đến vần đều là những vũ khí rất mạnh trong tay người làm thơ. Nhưng không phải hễ thiếu những vũ khí ấy là trận đánh nhất định thua. Thiếu vũ khí ấy trận đánh gay go thêm nhiều, nhưng người làm thơ vẫn có thể thắng”.
Đưa ra quan niệm: “Tôi nghĩ rằng, không có vấn đề thơ tự do, thơ có vần và thơ không có vần“.
Định hướng cách hiểu về thơ. “Tôi cho rằng chúng ta không nên lo thơ đi vào hình thức này hay hình thức khác mà trước hết nên lo sao phải nói lên được những tình cảm tư tưởng mới của thơi đại. Dùng bất cứ hình thức nào miễn la thơ diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay”.
Đây chính là vấn đề trọng tâm, cốt lõi trong quan niệm về thơ của Nguyễn Đình Thi.
Quan niệm về thơ của Nguyễn Đình Thi đúng đắn, tiến bộ, sát thực với tình hình thơ ca đương thời.
Quan niệm về thơ của Nguyễn Đình Thi ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
BT 4. Quan niệm về thơ của Nguyễn Đình Thi ngày nay còn có giá trị không? Vì sao?
Gợi ý:
Quan niệm về thơ của Nguyễn Đình Thi ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, vì:
Sáng tác thơ ca và thưởng thức thơ là những hoạt động nghệ thuật không ngừng nghỉ. Bất kì ở thời đại nào con người cũng có nhu cầu thể hiện tư tưởng, tình cảm, cảm xúc và thơ chính là chuyện đồng điệu của những tâm hồn.
Dẫu quan niệm về thơ có đổi mới về một số mặt thi pháp nhưng những luận điểm cơ bản trên đây vẫn còn giữ vững giá trị.
Quan niệm về thơ của Nguyễn Đình Thi con có ý nghĩa rất lớn đối với việc định hướng sáng tạo và cảm thụ thơ ca.
BT 5. Nêu rõ nét tài hoa của Nguyễn Đình Thi trong nghệ thuật lập luận đưa dẫn chứng, sử dụng từ ngữ, hình ảnh… để làm sáng tỏ từng vấn đề đặt ra.
Gợi ý:
Bài tiểu luận Mấy ý nghĩ về thơ đã thể hiện nét tài hoa của Nguyễn Đình Thi trong nghệ thuật lập luận, đưa dẫn chứng sử dụng từ ngữ, hình ảnh.
Hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, sắc sảo. Tác giả sử dụng linh hoạt các thao tác lập luận so sánh, phân tích, giải thích, bác bỏ. Cách suy luận logic.
Cách lấy dẫn chứng: độc đáo, tinh tế, sát thực có tác dụng soi sáng cho luận điểm.
Từ ngữ giàu có, ngôn ngữ chọn lọc, được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo.
Cách viết có hình ảnh, hình ảnh chân thực, độc đáo gợi nhiều liên tưởng.
Phân tích tác phẩm Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi
Đã là một thi sĩ, không mấy ai không có những suy nghĩ riêng về thơ, được phát biểu dưới dạng này hay dạng khác. Nhìn trên đại thể, đó đều là những suy nghĩ đáng trân trọng. Tuy nhiên, không phải suy nghĩ nào, phát biểu nào cũng gây dược sự chú ý rộng rãi, nếu nó không đạt tới một khả năng khái quát cần thiết và không thể hiện được một định hướng sáng tạo rõ ràng, có tính cách tân. Điều đáng nói là khi tham gia phát biểu về thơ, nhiều người rất thích nêu định nghĩa, và cụm từ “thơ là”… thường được nhắc đi nhắc lại. Hẳn họ thật lòng tin rằng định nghĩa về thơ do mình đưa ra là có giá trị của chân lí phổ quát. Sự thực, mọi định nghĩa về thơ chỉ “đúng” một cách tương đối. Trước hết, hãy tạm cho rằng chúng chỉ dúng với trường hợp của người đã phát biểu quan niệm, định nghĩa đó mà thôi.
Nguyễn Đình Thi hẳn ý thức rất rõ điều này. Bài viết của ông không hướng tới một định nghĩa khép kín, mà gợi mở những suy nghĩ mới về thơ, gợi mở chân trời sáng tạo rộng lớn ở phía trước cho những nhà thơ Việt Nam vào thời điểm những năm cuối của thập niên bốn mươi của thế kỉ XX, tức là thời điểm có những chuyển biến cách mạng lớn lao trong đời sống xã hội, và con đường hiộn đại hoá thơ ca Việt đã tiến được một bước dài. Đây là một trong những bài phát biểu quan niệm về thơ thực sự có giá trị và gần đây rất hay được nhắc tới, mỗi khi người ta đề cập đến con đường thơ cũng như khá nàng cách tân thơ của người nghệ sĩ đa tài Nguyễn Đình Thi.
Trong phần đầu bài viết, tác giả đối thoại với một số cách nhìn nhận về thơ đã từng chi phối hành động sáng tạo và cảm thụ thơ của một bộ phận khá lớn thi sĩ và độc giả. Có ba cách nhìn nhận đã được nêu lên: đã là thơ thì phải có “lời đẹp” ; đề tài của thơ phải là “đề tài đẹp” ; “thơ khác với các thể văn khác ở chỗ thơ in sâu vào trí nhớ”. Theo tác giả, cả ba cách nhìn nhận nêu trên đều có phần phiến diện, bởi có nhiều ví dụ trong thực tiễn thi ca chứng minh điều ngược lại. Cách đối thoại của tác giả hết sức nhẹ nhàng, nhưng điều có thể được rút ra từ đây thì rất có sức nặng: những chữ tầm thường của lời nói hằng ngày hoàn toàn có thể được đưa vào thơ và có thể vẫn đầy chất thơ; “Nhà thơ ngày nay không đi tìm cái muôn đời viễn vông bên ngoài cuộc sống thực của con người” và những đề tài phong hoa tuyết nguyệt, nhớ mong sầu luỵ đã không còn là những đề tài thiết yếu nữa. Những điều vừa “rút ra” đó phản ánh một quan niệm mới về thơ của Nguyễn Đình Thi – cái quan niệm nếu trở thành nhận thức phổ biến thì có thể sẽ đưa thơ ca Việt Nam đi tới những bước chuyển lớn.
Sang phần tiếp theo, để làm sáng tỏ giả định: “Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn con người chăng?”, tác giả đã miêu tả (thông qua những hình ảnh so sánh rất ý vị) trạng thái tâm hồn con người khi có “rung động thơ” và vai trò của bài thơ trong việc thể hiện cũng như làm lan truyền sự rung động ấy. Theo tác giả, bài thơ hình thành trong tâm trí nhà thơ hay ngân lên trong nỗi nhớ của độc giả một khi ở họ xuất hiện “trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thường”, “do một sự va chạm nào với thế giới bên ngoài, với thiên nhiên, với những người khác”. Chính sự “va chạm” ấy giúp tâm hồn biết “tự soi vào nó”. Và khi làm thơ, nhà thơ không phải sống với kí ức thuần tuý mà sống với sự tương tác giữa kí ức và điều đang trải nghiệm ngay lúc đó. Quá khứ và hiện tại quyện hoà vào nhau trên nền tự ý thức của nhà thơ làm nảy sinh cảm xúc thơ. Ý nghĩ này của tác giả cũng có điểm gần gũi với ý nghĩ của nhà thơ Uy-li-am Uốtx-uốt: “Tôi đã nói rằng thơ là sự tuôn trào bột phát những tình cảm mãnh liệt: nó bắt nguồn từ trong cảm xúc được nhớ lại trong sự bình tâm; cảm xúc được chiêm nghiệm cho tới lúc, do một thứ phản ứng đặc biệt, sự bình tâm dần dần bị biến mất, và một cảm xúc khác thần thuộc với cái trước đó là đối tượng của sự chiêm nghiệm lần lần nảy sinh và nó thực sự tồn tại trong tâm tưởng”.
Tác giả quan niệm, bài thơ có một khả năng kì diộu là bảo lưu sống động trạng thái tâm hồn của nhà thơ khi anh ta làm thơ, thông qua những “chữ”, những “lời”. Chính những “chữ”, những “lời” đó lại là đầu mối đưa đến sự giao cảm giữa nhà thơ và bạn đọc. Đã có “rung động thơ”, nghĩa là một loại hình rung động khác thường như đã nói trên, độc giả dễ dàng cộng hưởng với những tần số rung động của nhà thơ “khi nhìn những chữ, khi nghe những lời”, bởi kéo theo lời, chữ ấy là “những hình ảnh, những ý nghĩ, những mong muốn, những tình cảm”, như thể một “vùng sáng xung quanh ngọn lửa”. Hình ảnh so sánh mà tác giả đưa ra ở dây vô cùng tinh tế. Nó cũng lung linh như chính bản chất thơ và đã diễn tả được một cách sống động cái gọi là sự gắn bó hữu cơ giữa nội dung và hình thức ở loại hình sáng tác này.
Trước đoạn bàn trực tiếp về hình ảnh trong thơ, tác giả khẳng định “thơ phải có tư tưởng, có ý thức”, nhưng “thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý”, bởi nếu thế, thơ đã bị đánh đồng với đạo đức (luận lí, triết học,… Con đường của thơ hướng tới việc “lay động những chiều sâu của tâm hồn, đem cảm xúc mà đi thẳng vào sự suy nghĩ”, do vậy, nó cần phải có hình ảnh. Tuy nhiên, hình ảnh ở đây không thể là hình ảnh mang tính chất minh hoạ thuần tuý cho tư tưởng hay là sự “phiên dịch” ý tình một cách giản đơn. Nó cũng không phải là một cái gì “cầu kì”, rắc rối. Đổ diễn tả quan niệm về hình ảnh, tác giả lại đưa ra ngay một hình ảnh so sánh rất ý vị: “Hình ảnh của thơ trái lại, phải là hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hoặc trạng thái nào đấy. Đụng chạm với hành động hằng ngày, tâm hồn nảy lên bao nhiêu hình ảnh như những tia lửa toé lên khi búa đập vào sắt trên đe. Người làm thơ lượm những tia lửa ấy, kết nên một bó sáng, nó là hình ảnh thơ”. Phải nói rằng với hình ảnh trong đoạn văn vừa dẫn, Nguyễn Đình Thi không chỉ cho ta nắm bắt được một thông tin mang tính khoa học về thơ mà còn làm ta rung cảm để tiếp theo nhận ra một cái gì đó của thơ không dễ nói bằng ngôn từ luận lí. Chính các hình ảnh “tia lửa”, “bó sáng” mà tác giả dùng trong trường hợp này cũng thấm đẫm chất thơ, mặc dù rõ ràng chúng không phải là hình ảnh thơ. Nhằm làm sáng tỏ hơn nữa quan niệm của mình về hình ảnh thơ, tác giả còn lưu ý nhà thi sĩ về một số điểm thuộc “quy trình sáng tạo”: đừng vội “chăng lưới bắt lấy ý nghĩ hay tình cảm”, đừng “cố gắng nặn nọt”. Vấn đề là ở chỗ: hình ảnh thơ là “hình ảnh sống”, nó đến theo kiểu “bắt chợt”, nó có khả năng “truyền cảm”, nó mang tính “tự nhiên”, “tươi nguyên”, “mới mẻ”, đột ngột”, “lạ lùng”, thoát ra khỏi “thói quen”, “sự rập khuôn”. Hiểu tất cả những điều đó rồi thì việc nhà thơ cần làm là: “đi giữa cuộc đời, mở rộng cả tâm hồn mình” để “mỗi con mắt nhìn gặp trên dường, mỗi cảnh ngộ, mỗi con người cho đến mỗi tiếng nghe thấy, mỗi giọt nắng, mỗi chiếc lá tự nhiên mà vào trong lòng”, “động sâu đến tư tưởng và tình cảm”. Khi ấy, “hình ảnh tự nhiên hiện lên trước nhất”, quen mà lạ, gần gũi mà hàm chứa bao điều sâu xa!
Bàn về “chữ”, “tiếng” trong thơ, tác giả cũng có những tư tưởng mới mẻ và dộc đáo. Người ta vẫn thường nói “chữ nào nghĩa nấy”, điều đó đúng theo một số góc nhìn nhất định. Nhưng trong thơ, theo tác giả, “chữ”, “tiếng” không chỉ có giá trị “ý niệm”. Nếu chí có thế, “Mỗi chữ và tiếng mới như một ngọn nến trắng cắt bằng giấy dán trên nền đen. Mỗi ngọn nến vẫn trắng như nền đen vẫn đen. Mỗi chữ là một nghĩa nhưng bài thơ vẫn chưa có hồn”. Tác giả viết tiếp: “Người làm thơ chọn chữ và tiếng không những vì ý nghĩa của nó, cái nghĩa thế nào là thế ấy, đóng lại trong một khung sắt. Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của câu thơ là ở sức gợi ấy”. Ở đây, các hình ảnh được đưa ra ví von có một khả năng biểu đạt ý tưởng hết sức đắc lực. Với trường hợp Nguyễn Đình Thi, tư duy lí luận và tư duy thơ không nằm trong tương quan loại trừ mà ngược lại. Nhiều tiểu luận của ông dọc rất hấp dẫn chính nhờ đặc điểm này, cũng thế, nhiều bài thơ của ông vừa mạnh phần cảm giác (do hệ thống hình ảnh tạo nên), vừa giàu phẩm chất trí tuệ. Gây ấn tượng mạnh nhất trong đoạn văn, cũng có thể nói là trong cả bài, chính là hình ảnh sau đây: “Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng sáng chung. Ánh sáng không những ở đầu ngọn nến, nó ở tất cả xung quanh những ngọn nến. Ý thơ không những trong những chữ, nó vây bọc xung quanh”. Thật khó có thể chọn được một cách nói nào hay hơn về “chữ”, về mối quan hệ tương tác giữa các “chữ” trong bài thơ. Là một người được đào luyện trong môi trường Tây học, rất có thể, khi phát biểu điều này, tác giả đã có sự kế thừa những quan niệm về thơ từng được nhiều nhà thơ và nhà nghiên cứu văn học phương Tây nêu lên trong mấy thập niên đầu của thế kỉ XX. Ít ra, nó cũng là một khái quát lí luận phù hợp với những tìm tòi mới trong thơ của các nhà thơ Việt Nam hậu kì thơ mới như Bích Khê hay một số nhà thơ thuộc nhóm Xuân thu nhã tập.
Theo những nhà thơ này, từ, ngữ (“chữ”, “tiếng”) từ chỗ là một dấu hiệu (signe) hiểu nghĩa, hoàn toàn mang tính chất quy chiếu (có chức năng chỉ một đối tượng rất xác định nào đó), đã đoạt lấy vị trí chủ động, có giá trị tự thân, không hoàn toàn chịu sự sai khiến “độc đoán” của nhà thơ, là từ, ngữ – sự vật (mots – choses). Nói đến thơ, không ai không chú ý tới “yếu tố” nhịp điệu. Nguyễn Đình Thi cũng thế. Vả lại, theo lô gích của vấn đề, ông đang muốn trình bày cách hiểu của mình về nhịp điệu để cắt nghĩa “cái kì diệu của tiếng nói trong thơ” được nêu ở phần viết trên.
Việc ông theo đuổi tạo ra một thứ thơ không vần trong những năm cuối thập niên bốn mươi và những năm đầu thập niên năm mươi của thế kỉ XX là một việc làm đầy ý thức, được thôi thúc bởi ý chí cách tân mạnh mẽ (đọc lại những bài như Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948), Đêm mít tinh (1949), ta có thể kiểm nghiêm điều này). Như vậy, ở Nguyễn Đình Thi, việc nêu quan niệm thơ cũng là việc báo trước một chặng đường phát triển mới của thơ ca Việt, mà trong sự phát triển đó, ông có góp phần tích cực. Tất nhiên, khi đã nhận thấy giá trị của “những khoảng lung linh giữa chữ”, “những khoảng im lặng”, tác giả hoàn toàn có cơ sở để viết rằng:”Đường đi của thơ là con đường đưa thẳng vào tình cảm, không quanh co, qua những chặng, những trung gian, những cột cây số. Văn xuôi lôi cuốn người như dòng nước, đưa ta đi lần lượt, từ điểm này qua điểm khác. Thơ, trái lại, chỉ chọn một ít điểm chính, bấm vào những điểm ấy thì toàn thể động lên theo”, và: “Thơ là tổng hợp, kết tinh. Văn xuôi được phép không mười phần hoàn hảo, nhưng thơ thì luôn luôn đòi hỏi sự toàn bích”. Không phải ổng đã cực đoan khi kết luận như trên. Chẳng qua những từ “hoàn hảo”, “toàn bích” đã được hiểu theo một nghĩa riêng, do văn cảnh bài viết xác định. Phần cuối của bài viết được dành để bàn riêng về thơ tự do, thơ không vần – một vấn đề có tính thời sự vào thời điểm đó. Tác giả tỏ ý ngờ vực lập luận cho rằng thơ Việt không thể thiếu vần. Trong khi thừa nhận “những luật lệ của thơ, từ âm điệu, đến vần, đều là những võ khí rất mạnh trong tay người làm thơ”, tác giả vẫn nghĩ không phải cứ hễ thiếu chúng thì người làm thơ không thể có thơ, hay nói cách khác là không thể “thắng” trong “trận đánh” của nghệ thuật. Ông nói rõ: “không có vấn để thơ tự do, thơ có vần và thơ không có vần. Chỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ”.
Ở đây cần phải hiểu đúng ý tác giả, rằng một nền thơ không thể chỉ có một sự lựa chọn duy nhất đối với một hình thức thơ nào đó. Thơ tự do, có vần hay không vần đều có chỗ đứng của mình. Ông láy lại ý này trong câu “Tôi cho rằng chúng ta không nên lo thơ đi vào hình thức này hay hình thức khác. Mà trước hết nên lo sao thơ phải nói lên được những tình cảm, tư tưởng mới của thời đại. Dùng bất cứ hình thức nào, miễn là thơ diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay”. Đây hiển nhiên là một tư tưởng đúng, nhưng phải chăng nó có thể dẫn tới một sự dung hoà ít có tác dụng kích thích sự sáng tạo ra cái mới, đặc biệt là cái mới thuộc phạm trù hình thức thơ? Sự thực không phải thế. Chẳng qua tác giả muốn tránh lối nhìn nhận vấn đề cực đoan, độc đoán, còn nếu theo chủ kiến của riêng mình, ông muốn thơ củà thời đại mới này phải thoát khỏi những “hình thức đều đặn, cố định” để tiến đến một hình thức khác, nhịp điộu khác, phản ánh được nhịp sống trẻ trung, sôi nổi, ào ạt của cuộc đời cách mạng. Với tầm bao quát rộng rãi nhiều dữ kiện của đời sống và nghệ thuật, tác giả không quên lường tính và giải đáp trước những câu hỏi, những băn khoăn, thắc mắc có thể được đặt ra cho con đường đi tới của thơ, xuất phát từ nhiều đối tượng khác nhau. Không, hình thức mới không bao giờ là sự phế bỏ giản đơn những hình thức cũ, ngược lại, trong nó, những hình thức cũ đã được tái tạo, được nâng lcn một trình độ cao hơn so với trước. Một vấn đề khác là không nên quá lo thơ sẽ trở nên “buông thả, bừa bãi”, bởi những điều đó “chưa bao giờ đi đôi được với nghệ thuật”. Khi lường tính và giải đáp những câu hỏi này, tính chính luận của bài viết được bộc lộ rất đậm nét.
Dường như một quan điểm văn nghệ đầy tính cởi mở đã được xây dựng cùng vói những dòng viết sau: “Kỉ luật của những tổ chức cách mạng chưa bao giờ dựa trên sự trừng phạt đe doạ mà tồn tại được, kỉ luật ấy phải tự giác mới bền vững. Nghệ thuật có kỉ luật sắt của nó, nhưng đó không thể là những trói buộc, lề lối định sẩn bên ngoài. Nó phải là sự tự kiểm soát, tự chủ từ bên trong sự sáng tác mà ra. Bỏ những luật lệ máy móc bên ngoài, những luật lệ bản thân của nghệ thuật, những luật lệ từ bên trong mà ra, chỉ càng quan trọng hơn. Đạp đổ bức tường giam trước mặt rồi, giới hạn chỉ còn do sức đi xa của mình”. Ta nhận thấy ở đây vừa là một lời nhắc nhở đối với những người chịu trách nhiệm lãnh đạo văn nghệ, vừa là một lời tự nhắc của giới văn nghệ về sứ mệnh, chức năng của mình.
Mấy ỹ nghĩ về thơ là bài viết rất tiêu biểu cho phong cách tiểu luận văn học Nguyên Đình Thi. Đọc nó, ta cảm thấy tiếc vì nhiều ý nghĩ độc đáo trong đó một thời chưa được đánh giá đúng mức, chưa được nhìn nhận như một sự gợi ý quý báu đối với vấn đề định hướng phát triển cho cả nền thơ, nền văn học. Tuy nhiên, những giá trị thật thì cứ còn mãi, huống chi, không ít điều được nói hôm qua dến hôm nay vẫn còn nguyên tính thời sự. | Soạn bài lớp 12_ Mấy ý nghĩ về thơ | 4,669 | |
Soạn bài lớp 12: Một người Hà Nội
Hướng dẫn
Soạn bài môn Ngữ văn lớp 12
Soạn bài lớp 12: Một người Hà Nội do Nguyễn Khải sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Tóm tắt tác phẩm Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
Soạn bài lớp 12: Vợ nhặt
Soạn bài lớp 12: Những đứa con trong gia đình
MỘT NGƯỜI HÀ NỘI
NGUYỄN KHẢI
I. Khái quát về tác giả, tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Khải (1930-2008), tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải, sinh tại Hà Nôị nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiều nơi.
Nguyễn Khải viết văn từ năm 1950, băt đầu được chú ý từ tiểu thuyết “Xung đột”. Trước Cách mạng, sáng tác của Nuyễn Khải tập trung về đời sống nông thôn trong quá trình xây dựng cuộc sống mới: Mùa lạc (1960), Một chặng đường (1962), Tầm nhìn xa (1963), Chủ tịch huyện (1972),… và hình tượng người lính trong kháng chiến chống Mĩ: Họ sống và chiến đấu (1966), Hoà vang (1967), Đường trong mây (1970), Ra đảo (1970), Chiến sĩ (1973)… Sau năm 1975, sáng tác của ông đề cập đến nhiều vấn đề xã hội – chính trị có tính thời sự và đặc biệt quan tâm đến tính cách, tư tưởng tinh thần của con người hiện nay trước những biến động phức tạp của đời sống: Cha và con (1970), Gặp gỡ cuối năm (1982)…
Một người Hà Nội: in trong tập truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Khải (1990). Truyện đã thể hiện những khám phá, phát hiện của Nguyễn Khải về vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn, tính cách con người Việt Nam qua bao biến động, thăng trầm của đất nước.
II. Đọc hiểu văn bản
1. Nhân vật cô Hiền
a. Tính cách, phẩm chất
Nhân vật trung tâm của truyện ngắn là cô Hiền. Cũng như người Hà Nội khác, cô đã cùng Hà Nội, cùng đất nước trải qua nhiều biến động thăng trầm nhưng vẫn giữ được cốt cách người Hà Nội. Cô sống thẳng thắn, chân thành, không giấu giếm quan điểm, thái độ của mình với mọi hiện tượn xung quanh.
Hoà bình lập lại ở miền Bắc, cô Hiền nói về niềm vui và cả những cái có phần máy móc, cực đoan của cuộc sống xung quanh: “vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều”, theo cô “chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá”… Cô tính toán mọi việc trước sau rất khôn khéo và “đã tính là làm, đã làm là không để ý đến những điều đàm tiếu của thiên hạ”…
Miền Bắc bước vào thời kì đương đầu với chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ. Cô Hiền dạy con cách sống “biết tự trọng, biết xấu hổ”, biết sống đúng với bản chất người Hà Nội. Đó cũng là lí do vì sao cô sẵn sàng cho con trai ra trận: “tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn sống bám vào sự hy sinh của bạn. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”…
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, đất nước trong thời kì đổi mới, giữa không khí xô bồ của thời kinh tế thi trường, cô Hiền vẫn là “một người Hà Nội của hôm nay, thuần tuý Hà Nội, không pha trộn”. Từ chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn, cô Hiền nói về niềm tin vào cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
b. Cô hiền “một hạt bụi vàng” của Hà Nội
Nói đến hạt bụi, người ta nghĩ đến vật nhỏ bé, tầm thường. Có điều là hạt bụi vàng thì dù nhỏ bé nhưng có giá trị quý báu.
Cô Hiền kà một người Hà Nội bình thường nhưng cô thấm sâu vào những cái tin hoa trong bản chất người Hà Nội. Bao nhiêu hạt bụi vàng, bao nhiêu người như cô Hiến sẽ hợp lại thành những “ánh vàng” chói sáng. Ánh vàng ấy là phẩm giá người Hà Nội, là cái truyền thống cốt cách người Hà Nội.
Nhân vật “tôi”: Thấp thoáng sau những dòng chữ là nhân vật “tôi” đó là một người đã chứng kiến và tham gia vào nhiều chặng đường lịch sử của dân tộc. Trên những chặng đường ấy, nhân vật “tôi” đã có những quan sát tin tế, cảm nhận nhạy bén, sắc sảo, đặc biệt là về nhân vật cô Hiền, về Hà Nội và người Hà Nội. Ẩn sâu trong giọng điệu vừa vui đùa, khôi hài, vừa khôn ngoan, trải đời là hình ảnh một người gắn bó thiết tha với vận mệnh đất nước, trân trọng những giá trị văn hó của dân tộc. Nhân vật “tôi” mang hình bóng Nguyễn Khải, là người kể chuyện, một sáng tạo nghệ thuật sắc nét đem đến cho tác phẩm một diểm nhìn trầm thuật chân thật, khách quan và đúng đắn, sâu sắc.
Nhân vật Dũng: con trai đầu rất mực yêu quý của cô Hiền. Anh đã sống đúng với những lời mẹ dạy về cách sống của người Hà Nội, cùng với 600 thanh niên ưu tú của Hà Nội lên đường hiến dâng tuổi xuân của mình cho đất nước. Dũng, Tuất và tất cả những chàng trai Hà Nội ấy đã góp phần tô thắm thêm cốt cách tinh thần người Hà Nội, phẩm giá cao đẹp của con người Việt Nam.
Bên cạnh sự thật về những người Hà Nội có phẩm cách cao đẹp, còn có những người tạo nên “nhận xét không mấy vui vẻ” của nhân vật “tôi” về Hà Nội. Đó là “ông bạn trẻ đạp xe như gió” đã làm xe người ta suýt đổ lại còn phóng xe vượt qua rồi quay mặt lại chửi “tiên sư cái anh già”…, là những người mà nhân vật “tôi” quên đường phải hỏi thăm… Đó là những “hạt sạn của Hà Nội”, làm mờ đi nét đẹp tế nhị, thanh lịch của người Tràng An. Cuộc sống của người Hà Nội nay cần phải làm rất nhiều điểm để giữ gìn và phát huy cái đẹp trong tính cách người Hà Nội.
Hình ảnh… nói lên quy luật bất diệt của sự sống. Quy luật này được khẳng định bằng niềm tin của con người thành phố đã kiên trì cứu sống được cây si.
Cây si cũng là một biểu tượng nghệ thuật, một hình ảnh ẩn dụ về vẻ đẹp của Hà Nội: có thể bị tàn phá, bị nhiễm bệnh nhưng vẫn là một người Hà Nội với truyền thống văn hoá đã được nuôi dưỡng suốt trường kì lịch sử, là cốt cách, tinh hoa, linh hồn của đất nước.
4. Giọng điệu trần thuật và nghệ thuật xây dựng nhân vật
Giọng điệu trần thuật: một giọng điệu rất trải đời, vừa tự nhiên, dân dã vừa trĩu nặng suy tư, vừa giàu chất khía quát, triết lí. Vừa đậm tính đa thanh. Cái tự nhiên, dân dã tạo nên phong vị hài hước rất có duyên trong giọng kể của nhân vật “tôi”; tính chất đa thanh thể hiện trong lời kể: nhiều giọng (tự tin xen lẫn hoài nghi, tự hào xen lẫn tự trào…). Giọng điệu trần thuật đã làm cho truyện ngắn đậm đặc chất tự sự rất đời thường mà hiện đại.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
Tạo tình huống gặp gỡ giữa nhân vật “tôi” và nhân vật khác.
Ngôn ngữ nhân vật góp phần khắc hoạ tính cách (ngôn ngữ nhân vật “tôi” đậm vẻ suy tư, chiêm nhiệm, lại pha chút hài hước, tự trào; ngôn ngữ của cô Hiền ngắn gọn, rõ ràng, dứt khoát…). | Soạn bài lớp 12_ Một người Hà Nội | 1,300 | |
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Hướng dẫn
Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ giúp các em học sinh nhanh chóng củng cố, nâng cao những hiểu biết về văn nghị luận, có kĩ năng làm bài văn nghị luận về một bài thơ, một đoạn thơ. Chúc các em học tốt môn Ngữ văn 12 qua bài Soạn bài mẫu này.
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Soạn bài lớp 12: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS
Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận
Soạn bài lớp 12: Tây Tiến
Soạn bài Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
I. CÁCH VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ
1. Nghị luận về một bài thơ
Đề: Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh. (Xem toàn văn bài thơ trong SGK).
Đối với một bài thơ, các bước làm bài có thể như sau:
a) Đọc chậm nhiều lần bài thơ để có cảm nhận chung về tác phẩm: bài thơ nói về vấn đề gì, tình cảm của tác giả bộc lộ trong bài thơ như thế nào?,…
b) Tìm hiểu sâu về bài thơ.
Về nội dung: đề cập đến những ý gì, điều gì trong cuộc sống của con người.
Về nghệ thuật: có những điểm nào cần chú ý: về hình ảnh, âm điệu, ngôn ngữ, thể thơ,..
Điểm đặc sắc nhất của bài thơ là gì?
c) Lập dàn ý cho bài phân tích của mình:
Nêu các luận điểm để phân tích bài thơ. Có thể có nhiều luận điểm khác nhau tùy theo cảm nhận và suy nghĩ của từng người viết. Các luận điểm đó được sắp xếp trong một lập luận lôgic của bài làm.
Trình tự bài có thể có nhiều cách.
Ví dụ:
Cách 1: Theo trình tự các đoạn thơ, câu thơ
Cách 2: Theo trình tự nội dung – nghệ thuật – đánh giá bài thơ.
Cách 3: Nêu nét đặc sắc nổi bật của tác phẩm – phân tích cái hay, vẻ đẹp – đánh giá bài thơ.
d) Viết bài theo dàn ý đã lập bằng phong cách nghị luận văn học với cảm hứng của mình.
Chú ý:
Nghị luận về một bài thơ không chỉ đơn thuần làm công việc giảng giải, phân tích bài thơ đó mà quan trọng hơn là phải phẩm bình, thưởng thức, đánh giá bài thơ bằng những cảm nhận riêng, rung động riêng và chủ kiến của mình về bài thơ đó.
Nghị luận về một bài thơ (mà đề bài không nêu yêu cầu cụ thể), người viết có thể nghị luận về toàn bộ bài thơ đó, hoặc chỉ chọn một hoặc vài ba điểm đáng nói nhất, thích thú nhất để bình luận.
2. Nghị luận về một đoạn thơ
Nghị luận về một đoạn thơ, xét chung, về cách làm cũng giống như nghị luận về một bài thơ. Chỉ có điều, ở một tác phẩm thơ thì ý tưởng và chủ đề trọn vẹn hơn, còn ở một đoạn thơ thì có khi cũng là một ý tiêu biểu cho cả bài thơ, nhưng cũng có trường hợp nó lại là một ý đặc sắc nào khác chưa hẳn đã là ý bao trùm cho chủ đề của tác phẩm. Vì vậy, điều căn cứ vào để nghị luận chính là văn bản của đoạn thơ chứ không phải bài thơ. Bài thơ ở đây chỉ là một tài liệu để giúp ta soi sáng thêm đoạn thơ nhằm hiểu sâu sắc thêm đoạn thơ. Vì vậy, trong điều kiện có thể, cũng nên tìm đọc bài thơ có đoạn thơ cần nghị luận. Anh (chị) có thể dựa vào các bước làm bài của dạng bài nghị luận về một bài thơ trên đây đề làm dạng bài này (nghị luận về một đoạn thơ).
Thông thường, người ta có thể ra đề: Phân tích về đoạn thơ A hoặc Suy nghĩ về đoạn thơ B,…; anh (chị) cần theo yêu cầu đó (phân tích hoặc suy nghĩ) để làm bài cho đúng.
Anh (chị) cần đọc kỹ, tham khảo những gợi ý trong SGK để làm bài này và cố gắng tập viết thành một bài nghị luận văn học bằng cảm hứng và những suy nghĩ riêng của mình.
Phân tích đoạn thơ trong bài Tràng giang của Huy Cận (xem văn bản trong SGK).
Gợi ý:
Cảnh chiều xuống trên sông: đẹp nhưng đượm buồn.
Tâm trạng thi nhân: nỗi buồn nhớ nhà dâng lên sâu thăm thẳm.
Nghệ thuật:
Hình ảnh đối lập, gợi cảm: núi mây hùng vĩ / cánh chim bé nhỏ.
Âm điệu phù hợp: dập dềnh như sóng nước trên Tràng giang.
Tứ thơ mới mẻ: học tập thơ xưa và sáng tạo thêm cái mới.
Nét đặc sắc: sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển của thơ Đường với bút pháp lãng mạn của Thơ mới. | Soạn bài lớp 12_ Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ | 826 | |
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Hướng dẫn
Soạn bài môn Ngữ văn lớp 12 học kì I
Soạn bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống nằm trong chương trình học môn Ngữ Văn lớp 12, giúp các bạn biết được thế nào là một bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống, nắm được các làm một bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống. Chúc các bạn học tốt môn Ngữ văn 12 với bài soạn Nghị luận về một hiện tượng đời sống dưới đây.
Soạn bài Tây Tiến
Soạn bài lớp 12: Mấy ý nghĩ về thơ
Soạn bài lớp 12: Đô-xtôi-ép-xki
Soạn bài lớp 12: Phong cách ngôn ngữ khoa học
Nghị luận xã hội về hiện tượng nghiện Internet
I. CÁCH LÀM MỘT BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
1. Dạng đề bài (xem SGK)
Đề bài nêu lên một hiện tượng trong đời sống qua một số thông tin vắn tắt về một câu chuyện lạ lùng của một con người có thật (chàng thanh niên trẻ tiêu biểu Thành phố Hồ Chí Minh 2007 Nguyễn Hữu Ân).
Yêu cầu của đề: bày tỏ ý kiến của mình về hiện tượng đó.
2. Các bước thực hiện
Có thể thực hiện theo 3 bước sau đây:
a) Tìm hiểu đề bài
Xác định hiện tượng cần bàn luận: một tấm gương tốt của tuổi thanh niên rất đáng học tập.
Suy nghĩ về nội dung bàn luận:
Bàn luận những ý gì: (luận điểm)
Minh họa những dẫn chứng nào? (luận cứ)
Xác định cách lập luận: vận dụng những thao tác lập luận nào?
b) Lập dàn ý
Mở bài: giới thiệu hiện tượng cần nghị luận, nhấn mạnh đặc điểm của nó.
Thân bài: bàn luận về hiện tượng đó:
Đúng, đẹp như thế nào? vì sao lại là câu chuyện lạ lùng?
Đáng ghi nhận, ngợi ca, đáng học tập như thế nào?
Ớ góc độ riêng của mình (học sinh lớp 12), sẽ đi sâu bàn luận điều gì đặc biệt?
Có cho đó là hiện tượng “phi thường”, cá biệt, khó có thể học tập không?, vv…
Kết bài: Nêu suy nghĩ sâu sắc nhất của bản thân trước hiện tượng đó.
c) Viết bài
Dựa vào dàn ý đã lập (có thể khác dàn ý này) để viết thành bài văn mang suy nghĩ riêng của mình.
Có thể bàn luận toàn diện, cũng có thể chỉ đi sâu vào suy nghĩ tâm huyết nhất của mình. (Để bài viết cập nhật, cần đọc kĩ tư liệu tham khảo về câu chuyện của Nguyễn Hữu Ân).
3. Rút ra kết luận
Có thể rút ra hai kết luận sau:
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn về một hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội.
Bài nghị luận cần nêu rõ hiện tượng, phân tích mặt đúng, mặt sai, mặt lợi, mặt hại, chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết bằng các thao tác lập luận phù hợp; cần chọn góc độ riêng để bàn luận nhằm nêu lên những suy nghĩ của riêng mình.
II. LUYỆN TẬP
1. Đọc văn bản của Nguyễn Ái Quốc và trả lời câu hỏi.
a) Điều mà tác giả Nguyễn Ái Quốc bàn là hiện tượng thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ (những năm 20 của thế kỉ XX): sống không có lí tưởng, mục đích, thiếu nghị lực, chí tiến thủ, chỉ biết vui chơi, hưởng thụ cá nhân mà không biết học tập cho bản thân, cho nước nhà, cho dân tộc. Ngày nay, hiện tượng đó không phải không còn ở một số thanh niên nhất định, cần phải cảnh báo và chấn chỉnh lại.
b) Trong văn bản, Bác Hồ đã sử dụng các thao tác lập luận: so sánh, phân tích và bình luận.
c) Cách viết của Bác rõ ràng, trong sáng, lập luận chặt chẽ, giọng văn tâm huyết, đầy thuyết phục.
2. Bàn về hiện tượng “nghiền” ka-ra-o-kê và in-tơ-net trong nhiều bạn trẻ hiện nay.
Bài này anh (chị) tự làm và cần nêu rõ chủ kiến của mình trước hiện tượng đời sống đó.
Nghị luận xã hội về hiện tượng nghiện Internet
III. TƯ LIỆU THAM KHẢO
Tư liệu tham khảo này là một tài liệu tốt, giúp ích thiết thực cho việc làm đề tài trên đây. cần đọc kĩ, tự rút ra những điều cần thiết (về ý, về dẫn chứng) cho bài làm của mình.
Bài văn mẫu 1: Nghị luận về hiện tượng ăn mặc sexy của giới trẻ hiện nay
Trước đây, khi đời sống kinh tế còn khó khăn, con người chỉ nghĩ đến việc “ăn no, mặc ấm”. Còn ngày nay, khi nền kinh tế xã hội phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng lên và phải hội nhập với văn hóa thế giới nên con người hướng đến “ăn ngon, mặc đẹp”. Những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất của phong cách thời trang hiện đại là các bạn thanh niên, đặc biệt là các bạn nữ sinh.
Trước đây, phụ nữ Việt Nam luôn tự hào mang trong mình vẻ đẹp đẹp đằm thằm, dịu dàng trong trang phục áo dài truyền thống hoặc chiếc áo bà ba thướt tha. Những trang phục truyền thống đó làm toát lên vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam – một vẻ đẹp rất riêng biệt, khác biệt với những người phụ nữ ở các quốc gia khác. Dần dần tà áo dài trở thành nét đẹp văn hóa – biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam.
Tuổi trẻ vốn thích những điều mới lạ và khác biệt. Đúng là khi mặc trên người những trang phục đó các bạn sẽ thu hút được sự chú ý của mọi người, thậm chí là những sự chầm chồ hoặc những cái nhìn tò mò. Chỉ có điều đó không phải là sự khen ngợi rằng bạn xinh đẹp, bạn trẻ trung mà đó là sự đánh giá về con người bạn rằng bạn là người không lịch sự và là người không biết cách ăn mặc. Những trang phục đó, xét về một mặt nào đó, thì chúng không lịch sự bởi chúng quá ngắn hoặc quá rách, đó không phải là thời trang mà đó là thảm họa. Những trang phục đó được đánh giá là thời trang chỉ khi chúng được trình diễn bởi các người mẫu trên sàn catwalk, chứ chúng không thể mặc khi ra ngoài. Có những bạn nữ sinh mặc áo có cổ quá thấp có thể hở ngực hoặc những chiếc quần siêu ngắn chỉ cần ngồi xuống là sẽ nhìn thấy cơ thể bên trong hoặc có những bạn còn mặc những chiếc áo ren mà nhìn rõ cả nội y. Đó thực sự là những trang phục gây phản cảm bởi chúng thực sự không hợp với văn hóa người Việt là kín đáo và nữ tính. Những người mặc những trang phục đó, chính họ đã tự làm mất đi giá trị bản thân mình bởi người khác sẽ đánh giá bản chất con người họ thông qua trang phục mà họ đang mặc trên người. Mọi người sẽ đánh giá họ không hiểu thế nào là thời trang và không hiểu thế nào là văn hóa. Hơn thế nữa, họ là nữ sinh, là những người hơn ai hết phải biết tiếp thu những văn hóa hiện đại và xu hướng quốc tế, họ phải ăn mặc đẹp và hợp thời trang để tạo nên phong cách trẻ trung, năng động cho thế hệ trẻ Việt Nam, nhưng ngược lại dần dần họ đang đánh mất đi chính mình.
Trang phục tạo nên vẻ đẹp của một con người và chúng góp phần tạo dựng hình ảnh của một người trong con mắt của người khác và của toàn xã hội nhất là đối với người phụ nữ. Các bạn nữ sinh ở tuổi mới lớn, các bạn hãy chọn cho mình phong cách thời trang hợp với lứa tuổi và hợp với văn hóa xã hội. Dù các bạn muốn mình trở thành một người thu hút mọi ánh nhìn đi chăng nữa thì các bạn cũng nên chú ý đến giới hạn xã hội vốn có để bạn không làm mất đi hình ảnh của chính mình. Trang phục đẹp là trang phục phù hợp với vóc dáng của người mặc và phù hợp với văn hóa của từng đất nước, vùng, miền.
Bài văn mẫu 2: Nghị luận xã hội về hiện tượng ô nhiễm môi trường hiện nay
Hàng ngày trên các phóng sự, bản tin đâu đâu cũng thấy nói những cụn từ như băng tan, Trái Đất nóng lên, mưa axit, biến đổi khí hậu toàn cầu hay lại thêm những vùng đất mới trở thành bãi rác công nghiệp. Tất cả đều là những hậu quả mà ô nhiễm môi trường gây nên. Còn rất nhiều, rất nhiều những cụm từ khác liên quan đến môi trường mà luôn được cập nhật hàng ngày. Đã từ lâu những thông tin về ô nhễm môi trường được mọi người trong xã hội quan tâm và đăc biệt chú ý. Bởi mọi người đã ý thức được những tác hại mà nó gây ra. Và ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nóng hiện nay.
Tại sao tôi lại nói rằng ô hiễm môi trường là một vấn đề nóng. Bởi vấn đề ấy ngày càng trở nên trầm trọng và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của con người cũng như các loài động thực vật sinh sống trên Trái Đất. Nhiều người vẫn còn chưa hiểu rõ về ô nhiễm môi trường. Có người vẫn chỉ hiểu đơn thuần nó như một hiện tượng xấu nào đó ma không biết những tác nhân, hậu quả hay cụ thể hơn là những biểu hiện của nó. Chính vì thế hôm nay tôi sẽ giúp họ hiểu hơn về những nội dung này. Trước tiên là khái niệm ô nhễm môi trường. Môi trường là khái niệm chỉ toàn bộ mọi thứ xung quanh con người, được hiểu như tất cả điều kiện tự nhiên và vật chất mà Trái Đất có được. Nhưng thông thường về ô nhiễm môi trường, người ta chỉ chia ra thành ba loại chính đó là đất, nước và không khí. Ba thành phần này là những bộ phận cơ bản nhất ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người cũng như các loài động thực vật khác. Thật vậy, chẳng ai hay bất kì sinh vậ nào có thể sống thiếu những thành tố trên. Đất là nơi sinh sống, là nơi trú ngụ của mọi sinh vật. Nước là sự sống. Con người có thể không ăn nhưng không thể thiếu nước. Bạn cứ tưởng tượng một ngày bị “mất” nước cuộc sống của bạn sẽ rơi vào hoàn cảnh như thế nào?. Hay không khí. Mất không khí bạn sẽ không thể thở. Chỉ cần ngừng thở hơn một phút, tim bạn sẽ ngừng hoạt động và bạn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo rồi đó. Khi ba thành tố này bị ô nhiễm, bạn cũng có thể hiểu như chúng đang dần mất đi. Sự tàn phá của ô nhiễm môi trường cũng không khác gì so với hậu quả của chiến tranh thế giới. Ô nhiễm môi trường cứ từng bước gây hại, một cách từ từ và lâu dài. Đầu tiên, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống của các sinh vật trên Trái Đất. Sức khỏe con người, sự tồn tại và phát triển của các loài động thực vật khác. Tại sao nó ảnh hưởng thì tôi đã nói ở trên rồi. Vậy ảnh hưởng như thế nào? Thì trước hết là về vấn đề sức khỏe con người. Ô nhiễm môi trường gây ra hiện tượng thủng tầng ozon mà ai cũng biết tầng ozon là lá chắn bảo vệ Trái Đất của chúng ta khỏi những tác nhân gây hại như tia cực tím, tia uv, các xung cường độ sóng có hại. Lá chắn này bị hủy hoại đã gây ra rất nhiều những vấn đề về môi trường. Tia cực tím, tia uv.. là các tác nhân chính gây ra các bệnh khó chữa ở người mà điển hình là ung thư. Mặc dù nhiều căn bệnh hiện nay đã có phương pháp chữa trị tuy nhiên hiệu quả vẫn chưa được cao. Sức khỏe con người bị đe dọa là vậy, các loài động thực vật khác cũng không tránh khỏi. Ô nhiễm môi trường với những đợt mưa axit ảnh hưởng trực tiếp đến thực vật, cháy rừng thiêu rụi biết bao đa dạng sinh học, làm mất đi nơi cư trú của biết bao loài động vật hoang dã. Biến đổi khí hậu đột ngột dẫn đến sự tuyệt chủng của biết bao loài động vật quý hiếm. Nước biển dâng còn mang nguy cơ nhấn chìm nhiều nên văn minh nhân loại.
Môi trường rất quan trọng với mọi sinh vật trên Trái Đất này. Môi trường bị ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến con người mà còn cả các loài động thực vật khác. Không bảo vệ môi trường, nguy cơ cuộc sống của chúng ta bị hủy hoại càng lớn. Trái Đất bị hủy diệt kéo theo sự sống cũng lụi tàn. Chính vì vậy hãy tự vấn bản thân mình để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của chính bạn và lan tỏa bầu nhiệt huyết bảo vệ môi trường ấy cho mọi người xung quanh. Hãy chung tay bảo vệ môi trường vị chính cuộc sống của bạn và những người thân yêu.
Mỗi thời đại sẽ có những cách khác nhau để liên lạc, trao đổi thông tin. Ngày xưa, con người thường viết thư và chờ đợi những bức thư phản hồi, thời gian rất rất là lâu vì khoảng cách xa xôi, vì phương tiện,… Nhưng ngày nay, khi nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng phát triển, thì những bức thư chờ đợi đó được thay thế bằng những cú click những dòng enter của phương tiện thông tin đại chúng. Nhưng cũng vì quá lạm dụng bởi tốc độ nhanh chóng đó, sự tiện lợi đó mà các bạn trẻ hiện nay tự tập cho mình một lối sống không lành mạnh- sống ảo.
Chúng ta hãy tự đặt câu hỏi, Sống ảo là gì? Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn cứ chìm đắm, đêm mê vào lối sống không hiện thực này?
Sống ảo là một cách sống không thực tế, hoang tưởng, mờ hồ, không tồn tại trong cuộc sống. Sống ảo khiến cho các bạn trẻ đánh mất đi quyền giao lưu, quyền được vui chơi tham gia vào những chương trình, vào những hoạt động ngoại khóa mà ở đó các bạn có thể trực tiếp kết bạn, trực tiếp trò chuyện với những con người thật. Và bạn ngồi đó và chỉ cần gõ, một cú click chuột là có thể kết bạn giao lưu với mọi người trên khắp thế giới. Đây cũng chính là lẽ mà rất nhiều bạn đam mê nó. Trên các trang mạng xã hội như Facebook, Instragram, Zalo, Twitter…và vô số trang mạng xã hội khác nữa. Việc giao tiếp trở nên quá dễ dàng, khoảng cách như được thu hẹp lại, vì thế làm sao mà chúng ta không đam mê, không yêu thích. Nhưng nếu nó trở nên quá mức. Hàng giờ, hàng ngày bạn ngồi trước màn hình máy tính, nhắn tin trò chuyện với những người mới quen, những nguwoif xa lạ. Nhưng! Những người bạn ngoài đời, những người thân quen của bạn thì dường như bạn đang quên mất họ, bỏ qua sự tồn tại của họ. Một thế giới ảo, tạo cho bạn một viễn tưởng về cuộc sống vô cùng tươi đẹp và hấp dẫn. Trên đó, mỗi người có thể xây dựng cho mình một hình tượng trong mơ, những ngôi nhà, những hình ảnh tuyệt đẹp, và có vô số vô số những người bạn nhưng chưa bao giờ gặp mặt ở ngoài cuộc sống. Và vì thế, nhiều hệ lụy đã xảy ra, vì muốn được tung hô, nổi tiếng, nhiều bạn trẻ đã biến mạng xã hội là một bước đã tiến thân, đăng những hình ảnh không lành mạnh để mong nhận được sự chú ý của mọi người, hay sử dụng những lời nói không văn mình nhằm thể hiện bản lĩnh của mình. Những anh hùng bàn phím được ra đời từ đây. Những người đó đã gây ra không ít những mâu thuẫn, những thông tin sai lệch cho mọi người, Hệ lụy cao hơn, đó chính là làm ảnh hưởng xấu đến người khác, mang một lối sống lệch lạc, tinh thần không ổn định, khiến không ít người đi theo vết xe đổ này. Việc giao lưu, kết bạn trên mạng đã xuất hiện nhiều tình yêu online. Đây không hẳn là tình trạng xấu, điều sai, nhưng nó cũng gây ra nhiều trường hợp không tốt, như dễ bị lợi dụng, lừa lọc, và trở thành mục tiêu của rất nhiều kẻ xấu. Kết quả để lại là sự hối hận, mất mát cả về vật chất lẫn tinh thần. Thật sự đây là điều nguy hiểm mà các bạn khó có thể lường trước được.
Khi các bạn dành thời gian lên mạng, chìm đắm vào một thế giới ảo không hiện thực thì đến lúc bước ra thế giới thật, các bạn sẽ cảm thấy mình bị bỏ rơi, cảm thấy lạ lẫm, không thể nào xác định cho mình được một hướng đi đúng đắn. Đôi khi trầm trọng hơn, là lúc bạn nhận ra, tình cảm của mình và bố mẹ ngày càng bị rạn nứt, bạn bè của bạn sẽ xa lánh bạn. Xã hội phát triển là điều tốt, một thế giới mà sự kết bạn và giao lưu được nhanh chóng và xích lại gần nhau hơn nhưng hãy cho nó đi vào một hường đúng và hợp lý. Đừng sống ảo.
Sống ảo chính là một căn bệnh khó có thể chữa được. Nó như con sâu đang ăn dần sức khỏe và tinh thần của các bạn trẻ. Vì vậy, hãy sống lành mạnh, sử dụng mạng xã hội hợp lý, hãy để nó là một phương tiện giúp bạn phát triển và tốt hơn. Đừng để nó giết chết đi tâm hồn của bạn. | Soạn bài lớp 12_ Nghị luận về một hiện tượng đời sống | 3,113 | |
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi được sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Vợ chồng A Phủ
Soạn bài lớp 12: Nhân vật giao tiếp
Soạn bài lớp 12 Vợ nhặt
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM, MỘT ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI
(Ngữ văn 12 – Cơ Bản)
I. Cách viết bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
1. Gợi ý các bước làm đề ở bài tập 1
Tìm hiểu đề, định hướng bài viết.
Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan tức là phân tích nghệ thuật đặc sắc làm nổi bật nội dung của truyện.
Cách dựng truyện đặc biệt: sau tờ trát của quan trên là các cách bắt bớ.
Đặc sắc kết cấu của truyện là sự giống nhau và khác nhau của các sự việc trong truyện.
Mâu thuẫn trào phúng cơ bản: tinh thần thể dục và cuộc sống khốn khổ, đói rách của nhân dân.
2. Cách làm nghị luận một tác phẩm văn học
Đọc tìm hiểu, khám phá nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
Đánh giá giá trị của tác phẩm.
Tìm hiểu đề, định hướng bài viết.
Đề yêu cầu nghị luận về một khía cạnh của tác phẩm: nghệ thuật sử dụng ngôn từ
Các ý cần có:
Giới thiệu truyện ngắn Chữ người tử tù, nội dung và đặc sắc nghệ thuật, chủ đề tư tưởng của truyện.
Tài năng nghệ thuật trong việc sử dụng ngôn ngữ để dựng lại một vẻ đẹp xưa-một con người tài hoa, khí phách, thiện lương nên ngôn ngữ trang trọng (dẫn chứng ngôn ngữ Nguyễn Tuân khi khắc hoạ hình tượng Huấn Cao, đoạn ông Huấn Cao khuyên quản ngục).
So sánh với ngôn ngữ trào phúng của Vũ trọng Phụng trong Hạnh phúc của một tang gia đề làm nổi bật ngôn ngữ Nguyễn Tuân.
4. Cách làm nghị luận một khía cạnh một tác phẩm văn học
Cần đọc kĩ và nhận thức được khía cạnh mà đề yêu cầu.
Tìm và phân tích những chi tiết phù hợp với khía cạnh mà đề yêu cầu.
5. Cách làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
Có đề nêu yêu cầu cụ thể, bài làm cần tập trung đáp ứng các yêu cầu đó.
Có đề học sinh tự chọn nội dung viêt. Cần phải khảo sát và nhận xét toàn truyện. Sau đó chọn ra hai, ba điểm nổi bật nhất, sắp xếp theo thứ thự hợp lí để trình bày. Các phầm khác nói lướt qua. Như thế bài làm sẽ nổi bật phần trọng tâm, không lan man.
1. Nhận thức đề
Yêu cầu nghị luận một khía cạnh của tác phẩm: châm biếm, đả kích trong truyện ngắn Vi hành của Nguyến Ái Quốc.
2. Các ý cần có
Sáng tạo tình huống: nhầm lẫn.
Tác dụng của tình huống: miêu tả chân dung Khải Định mà không cần y xuất hiện, từ đó là rõ thực chất những ngày trên đất Pháp của vị vua An Nam này, đồng thời tố cáo cái gọi là “văn minh”, “khai hoá” của thực dân Pháp. | Soạn bài lớp 12_ Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi | 576 | |
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
Hướng dẫn
Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí được sưu tầm và đăng tải, giúp các bạn hiểu thế nào là một bài văn nghị luận về tư tưởng đạo lí, cách làm một bài văn nghị luận về tư tưởng đạo lí. Với tài liệu này, các bạn học sinh sẽ chuẩn bị bài trên lớp hiệu quả hơn, từ đó học tốt môn Ngữ văn 12. Mời các bạn cùng tham khảo.
Soạn bài Tây Tiến
Soạn bài lớp 12: Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến hết thế kỷ XX
Soạn bài lớp 12: Ôn tập nghị luận xã hội
Nghị luận xã hội về câu nói truyền cảm hứng của Tổng thống Barack Obama
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
I. Tìm hiểu chung
1. Khái niệm
Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời
Tư tưởng đạo lí trong cuộc đời bao gồm:
Lí tưởng (lẽ sống).
Cách sống.
Hoạt động sống.
Mối quan hệ giữa con người với con người (cha mẹ, vợ chồng, anh em, và những người thân thuộc khác) ở ngoài xã hội có các quan hệ trên dưới, đơn vị, tình làng nghĩa xóm, thầy trò, bạn bè….
2. Yêu cầu làm bài văn về về tư tưởng đạo lí
a. Hiểu đựoc vấn đề cần nghị luận, ta phải qua bước phân tích, giải đề, xác định được vấn đề, với đề trên đây ta thực hiện.
Hiểu được vấn đề nghị luận là gì?
Ví dụ: “Sống đẹp là thế nào hỡi bạn”
Muốn tìm thấy các vấn đề cần nghị luận, ta phải qua các bước phân tích, giải đề xác định được vấn đề, với đề trên đây ta thực hiện.
Thế nào là sống đẹp?
Sống có lí tưởng đúng đắn, cao cả, phù hợp với thời đại, xác định vai trò trách nhiệm.
Có đời sống tình cảm đúng mực, phong phú và hài hoà.
Có hành động đúng đắn.
b. Từ vấn đề nghị luận xác định người viết tiếp tục phân tích, chứng minh những biểu hiện cụ thể của vấn đề, thậm chí bàn bạc, so sánh bãi bỏ nghĩa là áp dụng nhiều thao tác lập luận.
c. Phải biết rút ra ý nghĩa vấn đề.
d. Yêu cầu vô cùng quan trọng là người thực hiện nghị luận phải sống có lí tưởng và đạo lí.
3. Cách làm bài nghị luận
a. Bố cục: Bài nghị luận về tư tưởng đạo lí cũng như các bài văn nghị luận khác gồm 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài.
b. Các bước tiến hành ở phần thân bài: phụ thuộc vào yêu cầu của thao tác những vấn đề chung nhất.
II. Củng cố
III. Luyện tập
Câu 1: Vấn đề mà Nê -ru, cố Tổng thống Ấn Độ nêu ra là văn hoá và những biểu hiện ở con người.
Dựa vào đây ta đặt tên cho văn bản là: Văn hoá con người.
Tác giả sử dụng các thao tác lập luận.
Giải thích + chứng minh.
Phân tích + bình luận.
Đoạn từ đầu đến “hạn chế về trí tuệ và văn hoá”: Giải thích + khẳng định vấn đề (chứng minh).
Những đoạn còn lại là thao tác bình luận.
Cách diễn đạt rõ ràng, giàu hình ảnh.
* Hiểu câu nói ấy như thế nào?
Giải thích khái niệm:
Tại sao lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường, vạch phương hướng cho cuộc sống của thanh niên ta và nó thể hiện như thế nào?
Suy nghĩ:
Vấn đề cần nghị luận là đề cao lí tưởng sống của con người và khẳng định nó là yếu tố quan trọng làm nên cuộc sống con người.
Khẳng định: đúng.
Mở rộng bàn bạc.
Làm thế nào để sống có lí tưởng?
Người sống không có lí tưởng thì hậu quả sẽ ra sao?
Lí tưởng của thanh niên ta hiện nay là gì? Ý nghĩa của lời Nê-ru.
Đối với thanh niên ngày nay?
Đối với con đường phấn đấu lí tưởng, thanh niên cần phải như thế nào?
IV. Soạn bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trang 20 SGK Văn 12
Câu 1. Đọc kĩ đoạn văn của J. Nê-ru để xác định câu trả lời cho những câu hỏi bên dưới:
a) Vấn đề mà J. Nê-ru đưa ra để nghị luận là gì? Căn cứ vào nội dung cơ bản của vấn đề ấy, hãy đặt tên cho văn bản.
– Vấn đề mà Nê-ru cô Tổng thống Ấn Độ nêu ra là văn hoá và những biểu hiện của văn hoá ở con người.
– Có thể đặt tên cho văn bản là: Bàn về văn hoá của con người.
b. Để nghị luận, tác giả đã sử dụng những thao tác lập luận nào, nêu ví dụ
– Tác giả sử dụng các thao tác lập luận: Giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận.
Ví dụ (Về thao tác giải thích):
“Văn hoá có phải là sự phát triển nội tại bên trong một con người hay không? Có phải là cách ứng xử của anh ta với người khác không? Văn hoá có phải là khả năng hiểu được bản thân mình và hiểu được người khác, là khả năng làm người khác hiểu được mình không? Tôi nghĩ rằng văn hoá là tất cả những cái đó.”
+ Những đoạn còn lại là thao tác phân tích, nghị luận.
c. Cách diễn đạt trong văn bản trên có gì đặc sắc?
Nét đặc trưng trong diễn đạt:
+ Dùng câu nghi vấn để thu hút + Lặp cú pháp và phép thế + Sử dụng phép diễn dịch – quy nạp + Cách diễn đạt rõ ràng, giàu hình ảnh.
Câu 2. Nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng trong cuộc sống của con người (từ câu nói của nhà văn L. Tôn-xtôi)
a. Khái niệm “Lí tưởng”
– Lí tưởng là ước mơ cao đẹp nhất, là hình ảnh tuyệt vời về một con người kiểu mẫu, một xã hội hoàn hảo, là biểu tượng trong sáng hoàn thiện, hoàn mĩ của cuộc sống mà cá nhân tự xây dựng cho bản thân mình và xem như mục đích để vươn tới. Lí tưởng là lẽ sống, là mục tiêu phấn đấu thu hút mọi hoạt động của cả đời người.
b. Vai trò của lí tưởng:
– Khát vọng chi phối sự phấn đâu
– Hướng tới cái đẹp hoàn thiện
– Vẫy gọi người ta vươn tới
– Tạo niềm lạc quan và tự do trong hành động
“Người nào không biết ngày mai mình sẽ làm gì, thì người đó là kẻ khốn khổ ” (M. Gor-ki).
c. Thái độ
d. Lí tưởng của cá nhân và con đường phấn đấu cho lí tưởng ấy
Không ngừng học tập, tu dưỡng và hành động. | Soạn bài lớp 12_ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí | 1,148 | |
Soạn bài lớp 12: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
Soạn bài lớp 12: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc là tài liệu để học tốt môn Ngữ văn lớp 12 dành cho các bạn tham khảo, nhằm chuẩn bị bài trước khi đến lớp hiệu quả hơn. Mời các bạn cùng tham khảo soạn bài mẫu lớp 12 bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc dưới đây.
Bài viết số 3 lớp 11 đề 4: Những cảm nhận sâu sắc của anh (chị) qua tìm hiểu cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
Soạn bài Tây Tiến
Soạn bài lớp 12: Tuyên ngôn độc lập
Soạn bài lớp 12: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Bài giảng Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc Ngữ văn 12
Soạn bài lớp 12: Mấy ý nghĩ về thơ
Soạn bài Nguyễn Đình Chiểu – Ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn Đồng)
I. Kiến thức cơ bản
1. Tác giả
Đọc kĩ phần tiểu dẫn để nắm được những nét chính về tác giả Phạm Văn Đồng. Chúng ta cần lưu ý hai điểm chính sau:
Phạm Văn Đồng (1906 – 2000) là nhà chính trị, nhà ngoại giao, đồng thời cũng là giáo dục tâm huyết, nhà lí luận văn hóa, văn nghệ lớn, có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Riêng trong lĩnh vực văn học, ông để lại cho nền văn học nước ta nhiều tác phẩm có giá trị, mà tiêu biểu là cuốn sách nổi tiếng: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ.
2. Tác phẩm
Tác phẩm “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” là bài viết của Phạm Văn Đồng đăng trong Tạp chí Văn nghệ số 7 – 1963 nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3-7-1888). Đây là bài viết có phát hiện mới mẻ và những định hướng nghiên cứu đúng đắn về nhà thơ lớn Nguyễn Đình Chiểu. Bằng sự từng trải cách mạng, sự gắn bó sâu sắc với đất nước, với nhân dân và cách nghĩ sâu rộng của một nhà văn nghệ lớn, tác phẩm đã nhìn nhận cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong mối liên hệ khăng khít với hoàn cảnh của Tổ quốc lúc bấy giờ và với thời đại hiện nay, từ đó phát hiện ra những điều mới mẻ giúp ta điều chỉnh lại cách nhìn về nhà thơ yêu nước lớn ở miền Nam, để càng thêm yêu quý có người và tác phẩm của nhà thơ lớn đó. Bài viết ra đời từ năm 1963, cách đây hơn 40 năm nhưng vẫn còn nguyên giá trị cả về mặt khoa học và mặt tư tưởng.
II. Đọc – hiểu văn bản
1. Những luận điểm lớn của bài văn
Bài viết gồm ba phần, ứng với ba luận điểm lớn:
Phần 1: Tác giả nêu luận điểm xuất phát, đó là phải có một cách nhìn đúng đắn về Nguyễn Đình Chiểu và thơ văn của ông. Cách nhìn đó là: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”.
Phần 2: Tác giả nêu các luận điểm bổ sung chứng minh cho luận điểm xuất phát: Cách nhìn đúng đắn đó được cụ thể hóa qua cách đánh giá của tác giả về:
Cuộc đời và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu.
Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu (chủ yếu là bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc).
Tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (cả nội dung và nghệ thuật).
Phần 3: Luận điểm kết luận, cái đích của bài viết: đánh giá đúng vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc theo cách nhìn mới mẻ đã nêu ở phần mở đầu: “Nguyễn Đình Chiểu là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta. Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sức mạnh của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa và tư tưởng.”
Nhìn chung, cách sắp xếp các luận điểm như vậy là phù hợp với nội dung của bài viết. Nếu có khác với trật tự thông thường (nghiên cứu các tác phẩm theo trình tự thời gian xuất hiện) thì ở đây, tác giả lại nói về thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu trước, sau đó mới nói đến Truyện Lục Vân Tiên (truyện Nôm). Phải chăng, tác giả muốn người đọc chú ý hơn đến thơ văn yêu nước của Đồ Chiểu?
Tác giả cho rằng văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng giống như “những vì sao có ánh sáng khác thường”, “con mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy“. Đó là một phát hiện có ý nghĩa phương pháp luận trong cách nhìn về nhà thơ yêu nước lớn này.
“Những vì sao có ánh sáng khác thường”: ánh sáng đẹp nhưng ta chưa quen nhìn nên khó phát hiện ra vẻ đẹp ấy. Cái ánh sáng khác thường ở đây chính là vẻ đẹp mộc mạc, giản gị, dân dã của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, vẻ đẹp của hai loại văn chương hướng về đại chúng gắn bó máu thịt với nhân dân, phục vụ cuộc sống của người dân, mang tính nhân dân sâu sắc. Văn chương Đồ Chiểu không óng mượt, bóng bẩy mà chân chất, xác thực, có chỗ tưởng như thô kệch nhưng lại chứa đựng trong đó những tư tưởng, tình cảm nồng hậu, cao quý của nhân dân. “Nó không phải là vẻ đẹp của đống thóc mẩy vàng” (Nguyễn Đình Chú). Vẻ đẹp khác thường này rất đáng quý, và đáng quý hơn khi ta biết nhà thơ đã sáng tác trong hoàn cảnh mù lòa, cuộc sống gặp nhiều khó khăn và bất hạnh.
“Con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn mới thấy” chính là vì thế! Bởi lâu nay, chúng ta quen nhìn loại ánh sáng khác, vẻ đẹp khác. Đó là văn chương trau chuốt, gọt giũa, lời lẽ hoa mỹ với hình tượng hùng vĩ, tráng lệ, phi thường… Cách nhìn như vậy thật khó đến với văn chương Đồ Chiểu, nói chi đến việc cảm nhận được tình ý sâu xa để tháy hết vẻ đẹp đích thực của văn thơ ông. Vì vậy “phải chăm chú nhìn thì mới thấy“, tức phải dày công, kiên trì nghiên cứu thì mới khám phá được vẻ đẹp ấy, nhưng phải chăm chú nhìn theo một cách khoa học, đúng đắn về Nguyễn Đình Chiểu.
Điều này có ý nghĩa phương pháp luận trong việc nghiên cứu, đánh giá thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, nó là một sự điều chỉnh về cách nhìn để có một định hướng đúng đắn trong việc nghiên cứu, tiếp cận một nhà thơ như Nguyễn Đình Chiểu. Trên cách nhìn mới mẻ này, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về Nguyễn Đình Chiểu như Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao vàng nhìn càng sáng của Lê Trí Viễn, Nguyễn Đình Chiểu – ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc của Đoàn Lệ Giang.
Trước hết là về cuộc sống và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Đó là mọt cuộc đời đẹp, đầy nghị lực, dù gặp nhiều khó khăn và bất hạnh, nhưng vẫn đứng thẳng, vẫn ngẩng cao đầu mà sống, không phải vì mình mà vì dân, vì nước, theo lí tưởng “Kiến nghĩa bất vi vô dõng dãi”, tỏ thái độ bất khuất, bất hợp tác quyết liệt trước sự mua chuộc của thực dân Pháp. Cùng với cuộc sống đẹp là quan niệm sáng tác đúng đắn và tiến bộ: Chở bao nhiêu thuyền không khẳm – Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà! Đó là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng. Đối với Nguyễn Đình Chiểu, cầm bút, viết văn là một thiên chức, và ông đã làm đúng thiên chức đó.
Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu phục vụ đăc lực cuộc chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, làm sống lại tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ năm 1960 về sau, suốt hai mươi năm trời, với những bài văn tế mà tiêu biểu là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, những bài điếu như Ngư Tiều y vấn đấp… Đó là những tác phẩm sôi sục lòng căm thù và dạt dào lòng yêu nước với những hình tượng cao đẹp của người nông dân nghĩa sĩ đánh giặc, những lãnh tụ của nghĩa quân, những tấm gương bất khuất cao độ trước kẻ thù.
Truyện Lục Vân Tiên là một bài thơ hào hùng mà thiết tha lí tưởng đạo đức của nhân dân, ca ngợi những con người trọng nghĩa, khinh tài, trước sau một tấm lòng, mặc dầu khổ cực, gian nguy quyết phấn đấu vì nghĩa lớn như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Tiểu Đồng, Vương Tử Trực, Hán Minh… Bằng cách nhìn mới mẻ mà đúng đắn, tác giả đã có sự nhìn nhận và đánh giá lại “giá trị văn nghệ của bản trường ca thật là hấp dẫn từ đầu đến cuối” này. Đây là một sự “điều chỉnh” cần thiết để khôi phục lại giá trị nghệ thuật như vốn có của tác phẩm.
Chính là vì:
Cho đến nay, vẫn còn nhiều người chưa hiểu hết giá trị văn chương của Nguyễn Đình Chiểu, trong đó không ít người còn nhìn nhận phiến diện về thơ văn ông, thậm chí còn “chê” văn thơ ông là thô ráp, nôm na…
“Phải sáng tỏ hơn nữa trong thời đại hiện nay” để khôi phục lại giá trị đích thực của nhà thơ yêu nước miền Nam từng có tác dụng to lớn và sâu rộng trong nhân dân ta, không chỉ trong thời bấy giờ mà ngay cả trong cuộc sống hiện nay.
5. Bài nghị luận này không hề khô khan mà đầy sức hấp dẫn, lôi cuốn là nhờ những yếu tố sau đây:
Cách nghị luận không chỉ xác đáng, chặt chẽ, mà còn xúc động, thiết tha, với nhiều hình ảnh, ngôn ngữ đặc sắc, khiến người dọc còn nhớ mãi.
Cách nhìn mới mẻ, có giá trị phát hiện của tác giả đã lôi cuốn người đọc vào bài viết của mình.
Nhưng quan trọng nhất là tấm lòng của người viết đối với cuộc đời cao đẹp và thơ văn có giá trị đích thực của Nguyễn Đình Chiểu. Đó cũng là tấm lòng gắn bó sâu sắc của tác giả, đối với vận mệnh đất nước và cuộc sống của nhân dân ta lúc bấy giờ. Chính tấm lòng này đã làm nên chất văn cho bài viết, và qua bài viết, ta thấy được hơi thở của cuộc sống thấm trong từng câu chữ, để người viết có thể làm sống lại một thời kì lịch sử đau thương mà anh hùng của dân tộc, trên cái nền đó mà biểu dương, ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu – một người trọn đời dùng cây bút làm vũ khí chiến đấu cho dân, cho nước, nêu cao tấm gương của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
II. Luyện tập
Gợi ý làm bài:
Phân tích rõ vì sao văn thơ Nguyễn Đình Chiểu không xa lạ với giới trẻ ngày nay (về nội dung, về nghệ thuật).
Trên cơ sở bác bỏ quan niệm không đúng về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, xây dựng một lập luận về việc cần thiết phải học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trong nhà trường để làm gì? Có lợi như thế nào? (về mặt tư tưởng và văn học). | Soạn bài lớp 12_ Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc | 2,063 | |
Soạn bài lớp 12: Người lái đò sông Đà
Hướng dẫn
Soạn bài môn Ngữ văn lớp 12 học kì I
Soạn bài lớp 12: Người lái đò sông Đà là tài liệu văn mẫu lớp 12, hướng dẫn các bạn đọc – hiểu tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, từ đó thấy được phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác của tác giả, lời ngợi ca của nhà văn dành cho vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước và người lao động giàu ý chí, làm chủ thiên nhiên. Mời các bạn cùng tham khảo.
Soạn bài lớp 12: Quá trình văn học và phong cách văn học
Bài giảng Người Lái Đò Sông Đà
Giáo án Người lái đò sông Đà
Phân tích hình tượng người lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Soạn bài lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
Soạn bài lớp 12: Ai đã đặt tên cho dòng sông
Soạn bài Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân văn 12
I. Đọc hiểu chung
1. Tác giả
Nguyễn Tuân là một người tri thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.
Nguyễn Tuân là một nhà văn uyên bác tài hoa.
Nguyễn Tuân là người có cá tính mạnh mẽ và phóng khoáng, ông không thích những cái gì bằng phẳng nhợt nhạt, nhà văn luôn hứng thú với những biểu hiện mạnh mẽ phi thường của tạo vật và con người.
2. Tác phẩm
Người lái đò sông Đà là một áng văn trong tùy bút sông Đà (1960)
Tác phẩm là thành quả của nhà văn trong chuyến ông đi tới Tây Bắc tìm kiếm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây bắc đặc biệt là chất vàng mười đã qua thử lửa ở tâm hồn con người lao động chiến đấu trên miền sông núi Tây Bắc hùng vĩ và thơ mộng.
Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà văn sau cách mạng tháng Tám.
1. Hình tượng con sông Đà
Con sông Đà được nhân hóa như con người và mang hai nét tính cách cơ bản: hung bạo và trữ tình
Hung bạo:
Cảnh đá ở bờ sông: đá dựng vách thành lòng sông hẹp, có quãng con hươi con nai còn nhảy vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia, nhìn từ dưới lên như nhìn lên cái tòa nhà cao vừa tắt phụt đèn điện.
Mặt ghềnh Hát loong: dài hàng ngàn cây số, “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn, luồng gió gùn ghè suốt năm như đòi nợ suýt bất cứ ai đi qua quãng ấy.
Cái hút nước giống như cái giếng bê tông, nước thở và kêu như cái cống cái bị sặc, tưởng tượng một anh quay phim táo bạo ngồi thuyền thúng mà cầm máy quay cùng chìm xuống cái xoáy ấy.
Thác nước: tiếng nước gần mãi réo lên, lúc thì gầm réo oán trách van xin, khiêu khích, lúc thì nghe như đàn trâu mộng “…nổ lửa” → nghệ thuật lấy lửa tả nước.
Đá ở lòng sông: như bày thạch trận
Thơ mộng: đi hết thượng nguồn đến hạ nguồn ta bắt gặp cảnh đẹp này.
Hình dáng: “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời tây Bắc… xuân” → đẹp như một người thiếu nữ.
Màu nước sông Đà: thay đổi theo mùa: mùa xuân màu xanh ngọc bích, mùa thu lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, chưa bao giờ nước sông Đà màu đen cả → đẹp độc đáo.
Sông Đà gợi cảm:
cố nhân
con sông còn gợi lên những niềm thơ
Cảnh hai bờ sông giống như một bờ tiền sử, cổ tích thơ mộng trữ tình và thanh vắng.
2. Hình tượng người lái đò
Nguyễn Tuân nói về người lái đò là một tay lái ra hoa
Ngoại hình: có ngoại hình độc đáo “tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh khuỳnh”
Vẻ đẹp được thể hiện qua những lần vượt thác.
Ông phải vượt qua 3 vòng thạch trận với vòng một có 5 cửa thì 4 cửa tử một cửa sinh lập lờ bên tả ngạn. Ông phải dùng hai chân kẹp chặt cuống lái, mặt méo bệch đi nhưng vẫn tỉnh táo chỉ huy để con thuyền vào cửa sinh.
Vòng 2: tăng thêm nhiều cửa tử, 1 cửa sinh ở hữu ngạn -> ông nắm chặt bờm sóng ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước phóng vào cửa sinh. Ông phải thay đổi chiến thuật, chứng tỏ ông lái đò rất am hiểu về quân sự.
Vòng 3: bên phải bên trái đều là cửa tử, cửa sinh ở giữa nhưng xung quanh lại có bọn đá hậu về. Ông lái đò cứ phóng thuyền chọc thẳng cửa giữa thuyền vút qua cổng mở cổng khép giống như một mũi tên tre xuyên qua hơi nước.
III. Tổng kết
Nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hai hình tượng lớn trong tác phẩm. Đó là thiên nhiên Tây Bắc mà cụ thể là hình tượng con sông Đà mang vẻ đẹp hùng vĩ mà thơ mộng, và hình ảnh con người lao động Tây Bắc dũng cảm và tài hoa trong lao động. Có thể nói đấy chính là chất vàng thử lửa mà Nguyễn Tuân đã tìm thấy ở Tây Bắc. | Soạn bài lớp 12_ Người lái đò sông Đà | 892 | |
Soạn bài lớp 12: Nhân vật giao tiếp
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Nhân vật giao tiếp
Soạn bài lớp 12: Nhân vật giao tiếp sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12. Mời các bạn tham khảo bài Soạn bài môn Ngữ văn lớp 12 bài Nhân vật giao tiếp để chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Vợ chồng A Phủ
NHÂN VẬT GIAO TIẾP
(Ngữ văn 12 – Cơ Bản)
I. Phân tích các ngữ liệu
1. Ngữ liệu 1
a. Hoạt động giao tiếp trên có những nhân vật giao tiếp là: Tràng, mấy cô gái và “thị”. Những nhân vật đó có đặc điểm:
Về lứa tuổi: Họ đều là những người trẻ tuổi.
Về giới tính: Tràng là nam còn lại là nữ.
Về tầng lớp xã hội: Học đều là những người dân lao động nghèo đói.
b. Các nhân vật giao tiếp chuyển đổi vai người nói, vai người nghe và luân phiên lượt lời như sau:
Lúc đầu: Hắn (Tràng) là người nói, mấy co gái là người nghe.
Tiếp theo: Mấy cô gái là người nói Tràng và “thị” là người nghe.
Tiếp theo: “Thị” là người nói, Tràng (là chủ yếu), và mấy cô gái là người nghe.
Tiếp theo: Tràng là người nói, “Thị” là người nghe.
Cuối cùng: “Thị” là người nói, Tràng là người nghe.
d. khi bắt đàu cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp trên có quan hệ hoàn toàn xa lạ.
e. Những đặc điểm về vị thế xã hội, quan hệ thân-sơ, lứa tuổi, giới tính, nhề nghiệp,… chi phối lời nói của nhân vật khi giao tiếp. Ban đầu chưa quen nên chỉ là trêu đùa thăm dò. Dần dần, khi đã quen học mạnh dạn hơn. Vì cùng lứa tuổi, bình đẳng về vị thế xã hội, lại cùng cảnh ngộ nên cac nhân vật giao tiếp tỏ ra rất suồng sã.
2. Ngữ liệu 2
a. Các nhân vật giao tiếp trong đoạn văn: Bá Kiến, mấy bà vợ Bá Kiến, dân làng và Chí Phèo.
Bá Kiến nói với một người nghe trong trường hợp quay sang nói vơi Chí Phèo. Còn lại, khi nói với mấy bà vợ, với dân làng, với Lí Cường Bá Kiến nói cho nhiều người nghe (trong đó có cả Chỉ Phèo).
b. Vị thế xã hội của Bá Kiến với từng người nghe:
Với mấy bà vợ-Bá Kiến là chồng (chủ gia đình) nên “quát”.
Với dân làng-Bá Kiến là cụ lớn, thuộc từng lớp trênlời nói có vẻ tôn trọng (các ông, các bà) nhưng thực chất là đuổi (về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại thế này?).
Với Chí Phèo-Bá Kiến vừa là ông chủ cũ, vừa là kẻ đã đẩy Chí Phèo vào tù, kẻ mà lúc này Chí Phèo đến “ăn vạ”. Bá Kiến vừa thăm dò, vừa dỗ dành, vừa có vẻ đề cao, coi trọng.
Với Lí Cường-Bá Kiến là cha, cụ quát con những thực chất là để xoa dịu Chí Phèo.
Đuổi mọi người về để cô lập Chí Phèo.
Dùng lời nói ngọt nhạt để vuốt ve, mơn trớn Chí Phèo.
Nâng vị thế Chí Phèo lên ngang hàng mình để xoa dịu Chí.
d. Với chiến lược giao tiếp như trên, Bá Kiến đã đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp. Những người nghe trong cuộc đối thoại với Bá Kiến đều răm rắp nghe theo lời Bá Kiến.
Đến như Chí Phèo, hung hãn thế mà cuối cùng cũng bị khuất phục.
II. Nhận xét về nhân vật giao tiếp trong hoạt động giao tiếp
1. Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, các nhân vật giao tiếp xuất hiện trong vai người nói hoặc người nghe. Dạng nói, các nhân vật giao tiếp thường đổ vai luân phiên với nhau. Vai người nghe có thời gồm nhiều người, có trường hợp người nghe không hồi đáp người nói.
2. Quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp cùng với những đặc điểm khác biệt (tuổi, giới tính, ghề nghiệp, vốn sống, văn hoá, môi trường xã hội), chi phối lời nói (nội dung và hình thức ngôn ngữ).
3. Trong giao tiếpcác nhân vật giao tiếp tuỳ ngữ cảnh mà lựa chọn chiến lược giao tiếp phù hợp để đạt được mục đích và hiệu quả. | Soạn bài lớp 12_ Nhân vật giao tiếp | 724 | |
Soạn bài lớp 12: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
Soạn bài lớp 12: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc do Trần Đình Hựu sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Ông già và biển cả
Soạn bài lớp 12: Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận
NHÌN VỀ VỐN VĂN HOÁ DÂN TỘC
(Trích) Trần Đình Hựu
I- Tiểu dẫn:
1. Tác giả:
Trần Đình Hượu (1927-1995), là một chuyên gia về các vấn đề văn hóa, tư tưởng Việt Nam. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, tư tưởng có giá trị: Đến hiện đại từ truyền thống (1994), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (1995), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông (2001),…
2- Tác phẩm:
Được trích từ phần II của tiểu luận “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hoá dân tộc”
Tên bài do người biên soạn đặt.
II- Đọc hiểu:
1- Cảm nhận chung về đoạn trích:
Có một giọng văn điềm tĩnh, khách quan khi trình bày các luận điểm.
Cảm hứng: góp phần xây dựng một chiến lược phát triển mới cho đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển như hiện thời.
Khi khẳng định “Giữa các dân tộc… đặc sắc nổi bật”, tác giả dựa vào những căn cứ:
Ở VN, kho tàng thần thoại không phong phú.
Tôn giáo, triết học đều không phát triển.
Không có ngành khoa học, kĩ thuật nào phát triển đến thành truyền thống.
Âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ.
Thơ ca rất được yêu thích nhưng các nhà thơ không ai nghĩ sự nghiệp của mình là ở thơ ca.
→ Những căn cứ làm tăng sức thuyết phục của luận điểm.
3- Luận điểm 3: “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo… duyên dáng và có qui mô vừa phải”
VN không có những công trình kiến trúc đồ sộ như Kim Tự Tháp, Vạn Lí Trường Thành,… Chùa Một Cột – một biểu tượng của văn hóa VN có qui mô rất bé.
Chiếc áo dài: có vẻ đẹp nền nã, dịu dàng, thướt tha.
Nhiều câu tục ngữ, ca dao khi nói về kinh nghiệm sống, ứng xử rất đề cao sự hợp lí, hợp tình: “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, “Ở rộng người cười, ở hẹp người chê”,…
4- Luận điểm 4: ” Tinh thần chung của văn hoá VN là thiết thực, linh hoạt dung hoà”
III- Kết luận: Về vấn đề đi tìm đặc sắc văn hoá VN.
Phải có cái nhìn sát với thực tế ở VN, không thể vận dụng những mô hình cố định.
Phải thấy văn hóa VN là một hệ thống, trong đó có sự tổng hoà của nhiều yếu tố, nó hiện diện và thấm nhuần trong lối sống, trong ứng xử của cả một dân tộc.
Phải tìm ra cội nguồn của hiện tượng “Không có những điểm đặc sắc nổi bật như các dân tộc khác” để thấy được “đặc sắc” của văn hoá VN. Vấn đề có hay không khi chưa quan trọng bằng “Tại sao có?”, “Tại sao không?” | Soạn bài lớp 12_ Nhìn về vốn văn hóa dân tộc | 564 | |
Soạn bài lớp 12: Những ngày đầu của nước Việt Nam mới
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Những ngày đầu của nước Việt Nam mới
Soạn bài lớp 12: Những ngày đầu của nước Việt Nam mới giúp các em học sinh hiểu hơn về tác phẩm để thấy được những người thực việc thực, những sự kiện lịch sử quan trọng ở vào một thời điểm trọng đại, một giai đoạn đầy khó khăn và vinh quang của đất nước, để từ đó biết trân trọng và không quên những năm tháng ấy. Mời các bạn cùng tham khảo.
Soạn bài lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
Soạn bài lớp 12: Ai đã đặt tên cho dòng sông
Soạn bài lớp 12: Vợ chồng A Phủ
Soạn bài Những ngày đầu của nước Việt Nam mới
Trích Những năm tháng không thể nào quên – Võ Nguyên Giáp
I. Hướng dẫn học bài
1. Tiểu dẫn
BT 1. Đọc phần Tiểu dẫn và tóm tắt tiểu sử Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Gợi ý
Tiểu sử Đại tướng Võ Nguyên Giáp:
Sinh ngày 25-8-1911, quê ở Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình.
Bắt đầu hoạt động cách mạng từ 1925.
Tháng 12-1944 được Hồ Chủ tịch giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Sau đó đảm nhiệm nhiều chức trách quan trọng: Ủy viên Ủy ban Quân sự Bắc Kì, thành viên Uy ban Khởi nghĩa toàn quốc, Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, trực tiếp chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng (1951-1982), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Thủ tướng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Là nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Cuộc đời ông găn liền với những năm tháng không thể nào quên của cách mạng.
Các tác phẩm hồi kí: Những năm tháng không thể nào quên (1970), Chiến đấu vòng vây (1978), Điện Biên Phủ – điểm hẹn lịch sử (1994)…
BT 2. Vị trí của đoạn trích?
Gợi ý
Đoạn trích thuộc chươn XII của tập hồi kí Những năm tháng không thể nào quên (do nhà văn Hữu Mai thể hiện – Tên bài do người biên soạn đặt).
II. Đọc – hiểu văn bản
BT 1. Đọc văn bản và nêu đặc điểm của thể loại hồi kí. Tìm hiểu bố cục đoạn trích?
Gợi ý
a. Đôi nét về thể loại hồi kí:
Hồi kí là thể loại ghi chép về những gì xảy ra trong quá khứ trên cơ sở hồi tưởng. Tác giả thường là người nổi tiếng: lãnh tụ, các nhà hoạt động xã hội, các nhà văn… Họ tự kể (hoặc có người khác ghi lại và thể hiện) về cuộc đời mình, những sự kiện lịch sử tiêu biểu, những biến động xã hội rộng lớn (mà họ là người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến, hoặc nghe kể lại) của thời quá khứ. Đặc điểm quan trọng nhất của hồi kí là tính xác thực cao độ trong mọi hoạt động miêu tả, trần thuật, do đó không chỉ có giá trị về văn học mà cả về xã hội, lịch sử.
Đặc điểm: Không nhằm tự thuật về cuộc đời tác giả mà hướng tới tái hiện những sự kiện trọng yếu, những biến cố có tính chất bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam, từ những ngày sục sôi trước Cách mạng tháng Tám đến những ngày gay go ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, song song với việc tái hiện các sự kiện, biến cố lịch sử, khắc họa hình ảnh những con nười tiêu biểu của thời đại, từ những người bình thường vô danh đến những người lãnh đạo đất nước. Điểm nhìn trần thuật đó giúp cuốn hồi kí tái hiện lịch sử ở những nét lơn, những bức tranh toàn cảnh, tổng thể, đồng thời lại có sự đánh giá, bình luận ở tầm khái quát hết sức sâu sắc.
Đoạn 1 (Từ đầu đến “ập và miền Bắc”): Từ thế đứng hiên ngang của dân tộc thời chống Mĩ, tác giả hồi tưởng về “giờ phút hiểm nghèo” của đất nước Việt Nam mới.
Đoạn 2 (Tiếp theo đến “thêm trầm trọng”): Những khó khăn mọi mặt của đất nước, tưởng khó có thể vượt qua.
Đoạn 3 (Tiếp theo đến “ba trăm bảy mươi ki-lô-gam vàng”): Những biện pháp tích cực của chính quyền mới và quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách của toàn Đảng, toàn dân ta.
Đoạn 4 (còn lại): Hình ảnh Bác Hồ là tượng trưng cho một chính thể mới, nhà nước mới, nhà nước của dân, do dân, vì dân.
BT 2. Nêu điểm nhìn và những cảm nghĩ cụ thể của tác giả?
Gợi ý
Điểm nhìn hiện tại là bối cảnh đất nước năm 1970, thời điểm cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra vô cùng gay go, ác liệt. So với 25 năm trước thì tuy khó khăn nhưng thế và lực của ta đã khác. Năm 1945 là “thời kì làm mưa, làm gió của chủ nghĩa đế quốc”, “gần hai chục vạn quân Tưởng từ mấy ngả ập vào miền Bắc”; còn bây giờ (1970), “mỗi hành động kẻ cướp… không tránh khỏi bị trừng phạt”, mọi cách tô son trát phấn của đế quốc Mĩ với bọn ngụy quyền tay sai ở miền Nam đều “hoàn công vô ích”. Năm 1945, nước Việt Nam chưa có tên trên bản đồ thế giới, cả Đông Dương khi đó mang tên Indo-China (vùng giáp giới Ấn Độ – Trung Quốc) thuộc Pháp; còn bây giờ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã là một nước tự do.
BT 3. Phần trích đã nêu rõ những khó khăn nguy nan của nước Việt Nam mới ra sao?
Gợi ý
Nước Việt Nam mới vừa khai sinh đã phải đương đầu với bao khó khăn, nguy nan “nằm giữa bốn bể hùm sói, phải tự dốc sức mình đấu tranh dũng cảm, mưu trí, phải tìm mọi cách để sống còn”. Đảng phải hoạt động bí mật, các Đảng viên đều công tác dưới danh nghĩa những cán bộ Việt Minh. Chính quyền cách mạng mới, “chưa được nước nào công nhận”. Kinh tế hết sức khó khăn: Ruộng đất vẫn trong tay địa chủ, bão lụt, hạn hán liên miên, buôn bán với nước ngoài đình trệ, hàng hóa khan hiếm, ngân khố chỉ còn một triệu bạc rách. Nạn thất nghiệp tăng, nạn đói, dịch tả phát sinh trở lại. Đúng là tình thế “ngàn cân treo sởi tóc”. Đúng lúc ấy, tiếng súng xâm lược của bọn Pháp đã vang lên ở Nam Bộ làm cho khó khăn “càng thêm trầm trọng”. Đây là thách thức quá lớn đối với chính quyền cách mạng đang còn rất non trẻ.
Gợi ý
– Việc quan trọng trước hết là phải củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng, giải tán chính quyền cũ (chính quyền của thực dân phong kiến) xây dựng bộ máy chính quyền mới, từ chính quyền cơ sở là Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính đến Trung ương là Quốc dân đại hội, toàn dân đóng góp ý kiến cho dự án Hiến pháp, thi hành một số chính sách mới: địa chủ phải giảm tô 25%, xóa nợ cho nông dân, toàn dân tăng cường học chữ quốc ngữ, học tập thi cử đều miễn phí, động viên tinh thần đóng góp trong nhân dân, lập “Quỹ Độc lập”, kêu gọi đồng bào hưởng ứng “Tuần lễ vàng”. Nội lực của nước Việt Nam mới được nâng lên nhanh chóng.
BT 5. Trong cả phần trích, đâu là hình tượng tiêu biểu, gây ấn tượng sâu sắc nhất? Vì sao? Muốn được dân ủng hộ, chính quyền mới phải mang bản chất căn bản gì? Phải hành động ra sao?
Gợi ý
Gây ấn tượng mạnh là hình ảnh Bác Hồ, người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Đảng và Chính phủ, người cầm lái con thuyền cách mạng vượt qua sóng to gió lớn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cho ta thấy một nét đẹp ngời sáng và cao cả của Bác là toàn tâm toàn ý vì dân, vì nước: “Ở Người, mọi vấn đề, mọi chuyện của Đảng, của nước, của dân đều trở thành những rung động sâu xa trong tình cảm”. Để chính quyền mới có thể tồn tại và lớn mạnh dần, Bác chủ trương xây dựng “mối quan hệ giữa những người làm việc trong bộ máy chính quyền mới với nhân dân”. Bác đề ra ba mục tiêu quan trọng “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, muốn thế phải dựa vào lực lượng và tinh thần của dân.
Chính quyền mới phải làm tất cả mọi việc “để mưu cầu hạnh phúc cho dân”. Bác viết: Nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì. Tác giả hồi kí đã khái quát rất sâu sắc: Hạnh phúc cho dân đó là mục đích của việc giành lấy chính quyền và giữ vựng chính quyền ấy. Đó là lí tưởng của Người, là tấm lòng của Người. Bác đưa ra chủ trương kiên quyết chống lại những biểu hiện tiêu cực, khuyết điểm của những người làm việc tại các cơ quan. Bác viết bài Tự phê bình cho đăng trên các báo, vạch ra “các tệ nạn tham ô nhũng lạm” và nói thành thật, “những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm trên là lỗi tại chúng tôi”, vì những lẽ đó có thể nói như tác giả hồi kí: “Đồng bào ta nhận thấy ở Bác Hồ, hình ảnh tượng trưng cao đẹp nhất của dân, của nước, của cách mạng…”.
Nghệ thuật viết hồi kí của tác giả có gì đặc biệt?
Thông thường, hồi kí thường mang đậm dấu ấn cá nhan: từ điểm nhìn của một con người cụ thể, tác giả kể lại những gì xảy ra với mình hoặc những gì mình chứng kiến mang nặng tính chủ quan. Còn ở đây tác giả trần thuật mọi sự kiện từ điểm nhìn của một người đại diên cho bộ máy lãnh đạo Đảng và Chính Phủ, do đó các sự kiện được kể lại thường mang tính chất toàn cảnh, tổng thể, phác họa những nét lớn, gây ấn tượng sâu sắc với nhiều người, nó cũng tiêu biểu cho cảm nghĩ chung của những người lãnh đạo Đảng và Chính phủ: “Trong tình hình kinh tế, tài chính khó khăn, Chính phủ làm thế nào có tiền để giải quyết các khoản chi phí cần thiết, nhất là những chi phí to lớn về quốc phòng”, cũng có khi tiêu biểu cho cảm nghĩ của nhân dân: “Người dân lao động bình thường đã nhận thấy Nhà nước hôm nay đúng là Nhà nước của mình”. Cách trần thuật như thế đã làm cho tác phẩm này không phải là sách tự thuật về một cuộc đời mà gần như là một cuốn biên niên sử của cả một dân tộc. Thể hồi kí đã có một diện mạo mới, một tầm vóc mới.
Câu hỏi: Đoạn trích đã cho anh/ chị những cảm nhận gì về Đảng và Bác Hồ trong những ngày mới khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa?
Gợi ý
Đảng và Bác Hồ ngay từ những ngày đầu của cách mạng đã luôn chứng tỏ mục đích vì nước, vì dân trong mọi hoạt động của mình.
Trong những ngày đầu của cách mạng, Đảng đã có những nổ lực lớn, các quyết sách kịp thời, đúng đắn và có hiệu quả cao.
Bác Hồ luôn là vị lãnh tụ tinh thần, là chỗ dựa vững chắc của toàn Đảng, toàn dân. Lí tưởng và lòng yêu nước, thương dân của Bác luôn là ánh sáng dẫn đường cho mọi hoạt động cách mạng. | Soạn bài lớp 12_ Những ngày đầu của nước Việt Nam mới | 2,031 | |
Soạn bài lớp 12: Phong cách ngôn ngữ hành chính
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Phong cách ngôn ngữ hành chính
Soạn bài lớp 12: Phong cách ngôn ngữ hành chính được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Phát biểu tự do
Soạn bài lớp 12: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
PHONG CÁCH NGÔN NGỮ HÀNH CHÍNH
I- Văn bản hành chính và ngôn ngữ hành chính:
1- Văn bản hành chính:
Văn bản 1: là nghị định của chính phủ. Gần với nghị định là các văn bản khác của các cơ quan Nhà nước như: pháp lệnh, nghị quyết, thông tư, thông cáo, chỉ thị, quyết định,…
Văn bản 2: Giấy chứng nhận (văn bằng, chứng chỉ, giấy khai sinh,…)
Văn bản 3: là đơn của một học sinh gởi một cơ sở đào tạo nghề (bản khai, báo cáo, biên bản,..)
Phong cách ngôn ngữ hành chính là phong cách ngôn ngữ được dùng trong các văn bản hành chính
2- Ngôn ngữ hành chính:
Về cách trình bày: thường có ba phần theo một khuôn mẫu nhất định.
Về từ ngữ: Có một lớp từ hành chính được dùng với tầng số cao.
Về kiểu câu
II- Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ hành chính:
1- Tính khuôn mẫu:
Phần đầu:
Quốc hiệu và tiêu ngữ.
Tên cơ quan ban hành văn bản.
Địa điểm, thời gian ban hành văn bản.
Phần chính: Nội dung chính của văn bản.
Phần cuối:
Chức vụ, chữ kí và họ tên của người kí văn bản, dấu của cơ quan.
Nơi nhận.
Văn bản hành chính có rất nhiều loại nên cách trình bày cũng có thể có những điểm khác biệt nhất định. Kết cấu nêu trên có thể thay đổi ít nhiều ở các loại văn bản khác nhau.
2- Tính minh xác:
Mỗi từ một nghĩa, mỗi câu một ý.
Không dùng các biện pháp tu từ.
Không tuỳ tiện xoá bỏ, thay đổi, sửa chữa ngôn từ, cần chính xác đến từng dấu chấm, dấu phẩy, chữ kí, cả về thời gian mà văn bản có hiệu lực.
3- Tính công vụ:
Tính chất công vụ là tính chất công việc chung của cả cộng đồng, do đó hạn chế những biểu đạt tình cảm của cá nhân.
Ngôn ngữ hành chính không phải ngôn ngữ của cảm xúc.
Những từ ngữ cảm xúc, những phép tu từ,… không tạo hiệu quả bằng sự chính xác của ngôn từ và nội dung thông tin cần thiết.
III- Luyện tập:
1) Bài tập 1.
Một số loại văn bản hành chính thường liên quan đến công việc học tập trong nhà trường của hs: giấy khai sinh, đơn xin phép, giấy chứng nhận tốt nghiệp, lí lịch,…
Một số đặc điểm tiêu biểu của văn bản quyết định về việc ban hành chương trình THCS.
Kết cấu ba phần theo khuôn mẫu chung.
Dùng nhiều từ ngữ hành chính: quyết định, ban hành, căn cứ, nghị định, quyền hạn, trách nhiệm, quản lí nhà nước, chỉ thị, hiệu lực, hướng dẫn, thi hành,…
Ngắt dòng, ngắt ý và đánh số rõ ràng, mạch lac. Có thể các ý đó viết liền thành một câu. Ví dụ: Bộ trưởng bộ GD & ĐT căn cứ vào nghị định (…) quyết định điều 1 (…), điều 2 (…), điều 3 (…).
3) Bài tập 3:
Khi ghi biên bản cần chú trọng những nội dung sau:
Quốc hiệu, tiêu ngữ, tên biên bản;
Địa điểm và thời gian họp;
Thành phần cuộc họp;
Nội dung họp: người điều khiển, người phát biểu, nội dung thảo luận, kết luận của cuộc họp;
Chủ toạ và thư kí (người ghi biên bản), kí tên. | Soạn bài lớp 12_ Phong cách ngôn ngữ hành chính | 612 | |
Soạn bài lớp 12: Phong cách ngôn ngữ khoa học
Hướng dẫn
Soạn bài Phong cách ngôn ngữ khoa học ngữ Văn lớp 12
Soạn bài lớp 12: Phong cách ngôn ngữ khoa học giúp các em học sinh nắm vững các khái niệm văn bản khoa học và các đặc trưng của phong cách ấy, hướng dẫn các em trả lời các bài luyện tập về phong cách khoa học lớp 12. Mời các em học sinh tải miễn phí và tham khảo bài soạn phong cách ngôn ngữ khoa học dưới đây. Chúc các em học tốt.
Soạn bài Tây Tiến
Soạn bài lớp 12: Đô-xtôi-ép-xki
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một hiện tượng đời sống
6 phong cách ngôn ngữ văn bản và cách phân biệt
Soạn bài lớp 12: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS
I. VĂN BẢN KHOA HỌC VÀ NGÔN NGỮ KHOA HỌC
1. Văn bản khoa học
Đọc kĩ và nắm bắt cách diễn đạt của các văn bản sau:
a) Văn bản về một đất nước thống nhất của Phan Ngọc.
b) Văn bản về định nghĩa véctơ trong Hình học 10, 2006.
c) Văn bản về trẻ em suy dinh dưỡng của Lê Thị Hải.
Nhận xét: Các văn bản trên đều được diễn đạt bằng ngôn ngữ khoa học (khoa học xã hội nhân văn hoặc khoa học tự nhiên); chúng đều là văn bản khoa học, một kiểu văn bản rất thông dụng và cần thiết trong cuộc sống hiện đại ngày nay của chúng ta. (Tìm thêm những văn bản khoa học khác để minh họa).
Tuy đều sử dụng ngôn ngữ khoa học và phục vụ giao tiếp trong lĩnh vực khoa học, nhưng các văn bản khoa học có thể phân chia thành ba loại:
a) Các văn bản chuyên sâu, bao gồm: chuyên khảo, luận án, luận văn, tiểu luận, báo cáo khoa học, dự án,… Những văn bản này đòi hỏi phải chính xác về thông tin, lôgic trong tập luận, phải chặt chẽ nghiêm ngặt trong kiến giải. Loại văn bản này thường giới hạn trong những chuyên ngành khoa học. (văn bản a)
b) Các văn bản dùng để giảng dạy các môn khoa học, bao gồm: giáo trình, giáo án… giảng dạy các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn. Những văn bản này ngoài yêu cầu về khoa học còn có yêu cầu về sư phạm, tức là phải trình bày nội dung từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, phù hợp với trình độ học sinh theo từng cấp, từng lớp, có định lượng kiến thức từng tiết, từng bài. (văn bản b)
Chú ý:
Các kiểu đề văn về nghị luận (giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận) là những bài tập luyện kỹ năng lập luận nhằm tạo các văn bản khoa học từ dễ đến khó, từ thấp đến cao.
2. Ngôn ngữ khoa học
Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong các loại văn bản khoa học, trong phạm vi giao tiếp và truyền thụ kiến thức khoa học: khoa học tự nhiên (Toán, Lí, Hóa, Sinh,…) và khoa học xã hội nhân văn (Triết học, Xã hội học, Giáo dục học, Tâm lí học, Sử học, Chính trị kinh tế học,…).
Ngôn ngữ khoa học phần lớn sử dụng dạng viết, cũng có thể sử dụng ở dạng nói (hội thảo, diễn giải, nói chuyện,…), nhưng dù ở dạng nào cũng có những đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học.
II. ĐẶC TRƯNG CỦA PHONG CÁCH NGÔN NGỮ KHOA HỌC
Ngôn ngữ khoa học khác ngôn ngữ thuộc các phong cách về mặt từ ngữ và cú pháp, đặc biệt là cách trình bày, lập luận trong một văn bản khoa học.
1. Nhận xét về từ ngữ và câu văn trong văn bản khoa học
a) Từ ngữ trong các văn bản khoa học phần lớn cũng là những từ ngữ thông thường.
Ví dụ: Ta hãy, Thế nào là, và luôn thể… (đoạn văn của Hoài Thanh).
Nhưng những từ ngữ này chỉ có một nghĩa. Văn bản khoa học không dùng từ đa nghĩa, không dùng từ theo nghĩa bóng và ít dùng các biện pháp tu từ.
Ví dụ: vectơ, đoạn thẳng (hình học); thơ, thơ cũ, thơ mới, thơ tự do… (nghiên cứu văn học). Thuật ngữ khoa học là những từ chứa đựng khái niệm cơ bản của chuyên ngành khoa học, là công cụ để tư duy khoa học. Những thuật ngữ đó có thể được xây dựng từ những từ ngữ thông thường, ví như trong hình học có: điểm, đường, đoạn thẳng, góc,…, cũng có thể vay mượn từ hệ thống ngôn ngữ khoa học nước ngoài như: ôxi, hiđrô, cacbonat canxi (hóa học),…
Thuật ngữ về lớp từ vựng khoa học chuyên ngành mang tính khái quát, tính trừu tượng và tính hệ thống, không giống với từ ngữ thông thường mà người dân sử dụng khi giao tiếp hằng ngày.
c) Ngoài ra, trong văn bản khoa học còn sử dụng các kí hiệu bằng chữ số Ả Rập (1,2, 3,…), chữ số La Mã (I, II, III,…), những con chữ (a, b, c,…), những biểu đồ, công thức trừu tượng. Như vậy, tính trừu tượng là một đặc trưng khái quát của ngôn ngữ khoa học.
d) Câu văn trong văn bản khoa học là một đơn vị thông tin, đơn vị phán đoán, lôgic, được xây dựng từ hai khái niệm khoa học trở lên theo một quan hệ nhất định.
Ví dụ:
– Quả đất là một hành tinh quay xung quanh mặt trời.
Câu văn trong văn bản khoa học đòi hỏi tính chính xác không phải bằng cảm nhận mà bằng phán đoán lí trí chặt chẽ, đúng đắn. Câu phải dựa trên cú pháp chuẩn, không dùng câu đặc biệt, không dùng biện pháp tu từ cú pháp. Văn bản khoa học phải chính xác về từ ngữ, khái niệm, các nhận định đánh giá cũng phải chuẩn xác (xem các ví dụ về cách viết sai của học sinh trong sách giáo khoa). Như vậy, tính lí trí là một đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học.
e) Nét chung nhất của ngôn ngữ khoa học là thứ ngôn ngữ phi cá thể: ít mang màu sắc cá thể. Tính phi cá thể trong sử dụng ngôn ngữ là đặc trưng thứ ba của ngôn ngữ khoa học, trái với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngộn ngữ nghệ thuật mang dấu ấn cá thể của người sử dụng.
Phong cách ngôn ngữ khoa học là phong cách ngôn ngữ trong các văn bản khoa học mang các đặc trưng cơ bản là tính trừu tượng, tính lí trí và tính phi cá thể, thể hiện ở những yêu cầu dùng từ đặt câu và tạo văn bản.
III. LUYỆN TẬP
Bài tập 1: Đọc lại bài Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX để trả lời ba câu hỏi trong bài tập.
Nội dung thông tin là những kiến thức khoa học: khoa học văn học, chính xác hơn là khoa học Lịch sử văn học
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng luận chứng (sự phát triển của xã hội từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX) và trình bày các luận điểm về phát triển văn học
Văn bản này thuộc loại văn bản khoa học giáo khoa, dùng để giảng dạy trong nhà trường. Vì vậy một mặt trình bày kiến thức văn học sử, mặt khác cần phải làm cho hs tiếp nhận ghi nhớ và có kĩ năng vận dụng để hiểu khái quát một giai đoạn văn học trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam
Ngôn ngữ khoa học: dùng nhiều thuật ngữ khoa học
Bài tập 2. Giải thích và phân biệt những từ ngữ khoa học với từ ngữ thông thường qua các ví dụ trong môn Hình học: điểm, đường thẳng, đoạn thẳng, mặt phẳng, góc, đường tròn, góc vuông,…
(Gợi ý: Căn cứ vào ba đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ khoa học ở lĩnh vực hình học để phân biệt với từ ngữ thông thường tương ứng.)
Bài tập 3:
Thuật ngữ: khảo cổ, người vượn, hạch đá, mảnh tước, rìu tay, di chỉ, công cụ đá…
Tính lí trí và logic: thể hiện ở lập luận:
Câu đầu: nêu lên luận điểm
Các câu sau: nêu các luận cứ, cứ liệu thực tế
→ Kết cấu diễn dịch | Soạn bài lớp 12_ Phong cách ngôn ngữ khoa học | 1,413 | |
Soạn bài lớp 12: Phát biểu theo chủ đề
Hướng dẫn
Soạn văn 12 bài Phát biểu theo chủ đề
Soạn bài lớp 12: Phát biểu theo chủ đề hướng dẫn các bạn học sinh trình bày ý kiến của mình trước tập thể phù hợp với chủ đề thảo luận và tình huống giao tiếp. Đây là tài liệu tham khảo hay, giúp các bạn chuẩn bị bài trước khi đến lớp hiệu quả. Chúc các bạn học tốt môn Ngữ văn 12.
Soạn bài lớp 12: Đất nước – Nguyễn Khoa Điểm
Soạn bài lớp 12: Đất nước – Nguyễn Đình Thi
Soạn bài lớp 12: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm
Soạn bài lớp 12: Thực hành một số phép tu từ cú pháp
Soạn bài phát biểu theo chủ đề
I. Tìm hiểu chung
1. Đề bài: Chi Đoàn tổ chức hội thảo với chủ đề: Thanh niên học sinh làm gì để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông. Anh (chị) hãy phát biểu ý kiến đóng góp cho hội thảo.
* Nội dung cần đạt
Những hậu quả nghiêm trọng của tai nạn giao thông đối với cuộc sống con người.
Nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông.
Tuyên truyền ý thức tự giác chấp hành luật giao thông cho mọi người.
Tăng cường công tác giáo dục về luật an toàn giao thông trong nhà trường.
2. Các bước chuẩn bị phát biểu
Xác định đúng nội dung cần phát biểu.
Chủ đề buổi hội thảo.
Những nội dung chính của chủ đề.
Lựa chọn nội dung cần phát biểu.
Dự kiến đề cương cần phát biểu:
Mở đầu: Giới thiệu chủ đề phát biểu.
Nội dung phát biểu:
Kết thúc: khái quát lại nội dung đã phát biểu.
Mở đầu lời phát biểu phải hướng vào người nghe đưa ra được cái mới lạ, cái riêng của mình về vấn đề song phải phù hợp với nội dung chủ đề phát biểu để lôi cuốn sự chú ý của người nghe.
Trình bày nội dung phát biểu theo đề cương đã dự kiến, tránh lan man xa đề, lạc đề.
Lời phát biểu cần ngắn gọn, súc tích nhưng cần có những ví dụ minh họa cần thiết.
Trong quá trình phát biểu cần lưu ý điều khiển thái độ cử chỉ giọng nói theo phản ứng của người nghe.
II. Luyện tập
1. Đề bài 1
Tại cuộc hội thảo phát biểu về chủ đề “Quan niệm về hạnh phúc của tuổi trẻ trong thời đại ngày nay” anh (chị) sẽ phát biểu những ý nào? Lập dàn ý bài phát biểu đó và phát biểu trước lớp.
* Ý chính cần đạt: Tuổi trẻ ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về hạnh phúc.
Hạnh phúc là được làm theo ý thích của mình, là được tự do tuyệt đối không bị phụ thuộc vào ai, vào bất cứ điều gì.
Hạnh phúc là kiếm được nhiều tiền vì có tiền là có tất cả.
Hạnh phúc là được cống hiến và hưởng thụ một cách hợp lí.
Hạnh phúc là thực sự hài hoà giữa hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc của cộng đồng.
Hạnh phúc là mang đến niềm vui, điều tốt đẹp cho mọi người.
Hạnh phúc là có nhiều bạn tốt.
* Ý chính cần đạt
Vào đại học là một trong những cách lập thân tốt của thanh niên ngày nay song đó không phải là cách duy nhất vì:
Không phải mọi thanh niên đều có khả năng vào được đại học.
Ngoài việc vào đại học, thanh niên còn có nhiều cách lập thân khác như: học nghề, làm kinh tế gia đình…
Có nhiều thanh niên dù đã học đại học song vẫn không có khả năng lập thân lập nghiệp.
Trong thực tế cuộc sống có nhiều thanh niên dù không được học đại học song vẫn có khả năng và đã lập thân, lập nghiệp tốt.
Việc lập thân phải tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi người sống quan trọng nhất là phải có ý chí và nghị lực vươn lên trong cuộc sống.
III. Tổng kết
Học sinh nhớ và hiểu những yêu cầu của việc phát biểu theo chủ đề
Có kỹ năng phát biểu về một chủ đề nào đó trong cuộc sống | Soạn bài lớp 12_ Phát biểu theo chủ đề | 686 | |
Soạn bài lớp 12: Phát biểu tự do
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Phát biểu tự do
Soạn bài lớp 12: Phát biểu tự do được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Ông già và biển cả
Soạn bài lớp 12: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
PHÁT BIỂU TỰ DO
I- Tìm hiểu chung:
1- Khái niệm: Phát biểu tự do là một dạng phát biểu mà chúng ta vẫn thường gặp trong đời sống; ở đó, người phát biểu có thể hào hứng trình bày ý kiến của mình với người nghe. Đó là những ý kiến hoàn toàn không theo một chủ đề nào đã qui định trước.
2) Những nhu cầu thôi thúc con người phát biểu tự do:
Xuất phát từ những tình huống trong đời sống.
Hoặc là những trăn trở về đời sống được vô tình gợi ra.
3) Những yếu tố giúp bài phát biểu tự do thành công:
Cần phải am hiểu chủ đề mà mình phát biểu.
Không được xa đề, lạc đề, cần phải bám sắt vào chủ đề phát biểu.
Rèn luyện năng lực tìm ý và sắp xếp ý nhanh chóng.
II- Luyện tập:
1- Bài tập 1:
Có thể sưu tầm, chẳng hạn, những lời phát biểu tự do ngắn, nhưng rất có giá trị sau đây của V. I. Lênin về văn hào vĩ đại người Nga L. Tôn-xtôi, qua lời kể lại của M. GO-rơ-ki.
Một lần, tôi đến gặp Vla-đi-mia và tôi thấy trên bàn của Người một cuốn sách: “Chiến tranh và hoà binh”.
– Phải rồi, đó là của Tôn-xtôi. Tôi vừa định đọc các đoạn nói về cuộc đi săn(…).
– Thật là một bậc vĩ nhân, phải không? Một con người vĩ đại! Này bạn, đó mới thật là một nghệ sĩ,…Và bạn có biết còn điểm nào kì lạ nữa không? Việc kì là là trước thời bá tước này, ta chưa từng thấy có một người nông phu chính cống nào được đưa vào trong văn chương cả.
Rồi, nhìn tôi với cặp mắt lim dim, Người hỏi tôi:
– Có thể lấy ai ở châu Âu đặt ngang hàng với Tôn-xtôi được nhỉ?
Người tự trả lời cho mình:
– Không có ai cả.
Thế rồi, xoa xoa bàn tay, Người liền cười, sung sướng như một con mèo sưởi nắng.
2- Bài tập 2: Tham khảo phần đọc thêm trong sgk. | Soạn bài lớp 12_ Phát biểu tự do | 414 | |
Soạn bài lớp 12: Quá trình văn học và phong cách văn học
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Quá trình văn học và phong cách văn học
Soạn bài lớp 12: Quá trình văn học và phong cách văn học giúp các em học sinh nhanh chóng hiểu được khái niệm quá trình văn học, phong cách văn học, bước đầu có ý niệm về các trào lưu văn học tiêu biểu, biết nhận diện những biểu hiện của phong cách văn học, nhận diện quá trình văn học, phong cách văn học. Đồng thời hướng dẫn các em làm bài tập trong sách giáo khoa. Mời các em cùng tham khảo.
Soạn bài lớp 12: Đàn ghi ta của Lorca
Soạn bài lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận
Soạn bài lớp 12: Người lái đò sông Đà
SOẠN BÀI: QUÁ TRÌNH VĂN HỌC VÀ PHONG CÁCH VĂN HỌC
I. Quá trình văn học:
1. Khái niệm “Quá trình văn học”:
Quá trình văn học: là sự hình thành, tồn tại, thay đổi, biến chuyển của toàn bộ đời sống văn học (tác giả, tác phẩm, trào lưu, khuynh hướng,…)
Các qui luật chung của QTVH:
Qui luật phổ biến của văn học là gắn bó với đời sống và lịch sử.
Qui luật kế thừa và cách tân.
Qui luật bảo lưu và tiếp biến.
2. Trào lưu văn học:
Các tráo lưu văn học:
Văn học phục hưng: đề cao con người, giải phóng cá tính, chống lại tư tưởng khắc nghiệt thời Trung Cổ.
Vd: Đôn – ki – hô – tê của Xéc – van – tet; Rô-mê-ô & Giu-li-et của Sếch-xpia.
Chủ nghĩa cổ điển: luôn đề cao lí trí, sáng tác theo qui phạm chặt chẽ.
Vd: Lão hà tiện của Mô-li-e.
Chủ nghĩa lãng mạn: đề cao những nguyên tắc chủ quan, thường lấy đề tài trong thế giới tưởng tượng của nhà văn, cố gắng xây dựng hình tượng nghệ thuật sao cho phù hợp với ước mơ của nhà văn.
Vd: Những người khốn khổ của V. Huy-gô.
Chủ nghĩa hiện thực phê phán: chú ý chọn đề tài trong cuộc sống hiện thực, chủ trương nhà văn “người thư kí trung thành của thời đại”.
Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa: miêu tả cuộc sống trong quá trình phát triển của cách mạng.
Chủ nghĩa siêu thực.
Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
Chủ nghĩa hiện sinh.
Ảnh hưởng các trào lưu đó đối với văn học VN: sgk
1. Khái niệm phong cách văn học:
Là tính độc đáo trong sáng tác của nhà văn.
Ý nghĩa:
Thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ đa dạng, mới mẻ.
Làm cho văn học đa dạng, không đơn điệu, nghèo nàn.
2. Những biểu hiện của phong cách văn học:
Cái nhìn, cách cảm thụ có tính khám phá đối với nghệ thật (cái riêng).
→ Chi phối giọng điệu riêng của nhà văn.
Hệ thống thủ pháp nghệ thuật riêng.
Cội nguồn của phong cách:
Đời sống phong phú.
Cá tính sáng tạo.
Những đặc điểm chú ý:
Phong cách là tính độc đáo có ý nghĩa trong sáng tác nhà văn.
Là nét thống nhất trong sự đa dạng.
Nét ổn định trong sự biến đổi
III. Luyện tập:
1. Bài tập 1:
Nguyễn Tuân: hướng về quá khứ và tưởng tượng tình huống gặp gỡ đầy éo le, oái ăm giữa người tử tù Huấn Cao với viên Quản Ngục trong nhà giam. Vũ Trọng Phụng xoáy sâu vào hiện tại và ghi lại một cách chân thực những cái đồi bại, lố lăng, vô đạo đức của xá hội tư sản đương thời.
Nguyễn Tuân xây dựng hình tượng HC phù hợp với lí tưởng thẩm mĩ của ông về con người mang vẻ đẹp của tài hoa, thiên lương trong sáng, khí phách anh hùng, dũng cảm chống lại cường quyền. VTP sáng tạo một loạt điển hình để bóc trần bộ mặt giả dối của những kẻ thượng lưu, thành thị, để chôn vùi cả cái xã hội xấu xa, đen tối đó.
Những nét chính của phong cách nghệ thuật NT:
Có cảm hứng đặc biệt với những gì phi thường.
Nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ.
Miêu tả hiện thực bằng nhiều tri thức khoa học, văn hoá, nghệ thuật.
Nghệ thuật điêu luyện trong việc dùng thể tuỳ bút và ngôn ngữ.
Những nét chính của phong cách nghệ thuật Tố Hữu:
Nội dung tác phẩm mang tính chất trữ tình, chính trị.
Nghệ thuật biểu hiện đậm đà tính dân tộc. | Soạn bài lớp 12_ Quá trình văn học và phong cách văn học | 727 | |
Soạn bài lớp 12: Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận
Soạn bài lớp 12: Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Hồn Trương Ba da hàng thịt
Soạn bài lớp 12: Diễn đạt trong văn nghị luận
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG MỞ BÀI, KẾT BÀI TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
I. Kiến thức cần nhớ
1. Ngữ liệu (1): Xét về mặt kết cấu thì chấp nhận được nhưng đưa những thông tin về lai lịch tác giả là không cần thiết.
Ngữ liệu (2): Câu đầu tiên đưa thông tin không chính xác. Giới thiệu được đề tài và định hướng được nội dung bài làm. Cần học tập.
Ngữ liệu (3): Tương đối tốt, cần học hỏi.
2. Tìm hiểu các ngữ liệu sau.
a. Ngữ liệu (1): Đề tài của văn bản sẽ là vấn đề quyền tự do, bình đẳng dân tộc.
Ngữ liệu (2): Đề tài của văn bản sẽ là nội dung và nghệ thuật xuất sắc của bài thơ Tống biệt hành.
Ngữ liệu (3): Đề tài của văn bản sẽ nghị luận về truyện Chí Phèo – tác phẩm viết về đề tài nông dân thực sự sâu sắc và độc đáo.
Ngữ liệu (2): Người viết sử dụng phương pháp so sánh tương đồng để nêu đề tài, giới thiệu luận đề.
Ngữ liệu (3): Người viết sử dụng phương pháp mở bài so sánh nhưng bên cạnh điểm tương đồng, người viết nhấn mạnh điểm khác biệt để giới thiệu luận đề.
3. Mở bài thực hiện chức năng giới thiệu đề tài (đề làm văn), do đó cần nêu được xuất xứ của đề tài và phải thông báo chính xác, ngắn gọn đề tài, cách hành văn phải tạo được hứng chú cho người đọc.
II. Kĩ năng viết phần kết bài.
1. Ngữ liệu (1): Nội dung tổng hợp một cách chung chung, chưa khái quát nổi bật hình tượng ông lái đò cũng như nghệ thuật khắc họa nhân vật của nhà văn. Thiếu phương tiện liên kết với phần thân bài.
Ngữ liệu (2): Khá tiêu biểu, cần học tập. Phần kết bài này đã đưa ra nhận định khái quát, mở rộng và nâng cao được đề tài. Có phương tiện liên kết rõ ràng với phần thân bài.
2. Tìm hiểu các ngữ liệu sau.
Ngữ liệu (1): Người viết đã tổng hợp khái quát và khẳng định ý nghĩa của nhan đề Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập… sau đó người viết nhấn mạnh khía cạnh quan trọng nhất của vấn đề: Ý chí bảo vệ quyền tự do, độc lập của toàn thể nhân dân Việt Nam.
Cả hai ngữ liệu đều sử dụng phương tiện liên kết với phần thân bài khiến cho bài nghị luận vừa mạch lạc vừa rất chặt chẽ: (1) Vì những lẽ trên… (2) Hai đứa trẻ đã thực hiện được điều này… dấu ấn của phố huyện ấy…
3.Chọn phương án C
Ghi nhớ (SGK)
III. Luyện tập
1. Cách mở bài 1: Rõ ràng, đề tài nổi bật.
Cách mở bài 2: Hấp dẫn, gợi mở vấn đề và định hướng được nội dung sẽ trình bày ở phần thân bài.
2. Mở bài đưa nhiều thông tin về tác giả là không cần thiết. Giới thiệu luận điểm: bi kịch của Mị quá tỉ mỉ, còn luận điểm về vẻ đẹp phẩm chất của Mị thì chỉ giới thiệu một luận cứ cơ bản: sức sống tiềm tàng.
Kết bài: Nhận định khái quát không đầy đủ và mất cân đối giữa bi kịch số phận và vẻ đẹp tâm hồn.
Câu thứ hai lặp ý câu thứ nhất.
Câu thứ ba rời rạc.
HS tự viết lại.
3. HS tự làm | Soạn bài lớp 12_ Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận | 672 | |
Soạn bài lớp 12: Rừng xà nu
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Rừng xà nu
Soạn bài lớp 12: Rừng xà nu do Nguyễn Trung Thành sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Vợ chồng A Phủ
Giáo án Rừng Xà Nu
Bài giảng Rừng xà nu Ngữ văn 12
Mời làm: Đề kiểm tra Ngữ văn lớp 12 – “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành)
Phân tích hình tượng cây xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
RỪNG XÀ NU
NGUYỄN TRUNG THÀNH
I. Vài nét chung
1. Tác giả
Tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu.
Bút danh: Nguyên Ngọc, Nguyễn Trung Thành.
1950: Gia nhập quân đội khi đang học trung học chuyên khoa.
1962: Chủ tịch chi hội văn nghệ giả phóng miền Trung Trung Bộ.
Gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên.
2. Tác phẩm
a. Xuất xứ: Truyện được in trong tập “Trên quê hương những người anh hùng Điện Ngọc” viết năm 1965.
b. Cốt truyện: Chuyện về cuộc đời Tnú lồng vào cuộc nổi dậy của dân làng Xôman.
II. Đọc hiểu
1. Hình tượng cây xà nu
Cả rừng không cây nào không bị thương, nhựa ứa ra-từng cục máu lớn.
Không giết nổi…
Vết thương chóng lành, lớn nhanh, thay thế những cây đã ngã.
Cây mẹ ngãcây con mọc lên.
Ưỡn tấm ngực ra che chở cho làng.
Những đồi (rừng) xà nu nối tiếp nối.
=> Cây xà nu, rừng xà nu tiêu biểu cho số phận, phẩm chất, sức sống bất diệt, tinh thần dấu tranh quật cường của nhân dân Tây Nguyên.
Các thế hệ cây xà nu tượng trưng cho các thế hệ dân làng Xoman và nhân dân Việt Nam.
2. Hình tượnh người dân Xôman
a. Cụ Mết
Tiếng nói ồ ồ, bàn tay nặng trịch, mắt sáng, râu dài tới ngực, ngực căng như thân cây xà nu lớn => Khoẻ mạnh, quắc thước.
Lúc ông nói: Nó cầm súng => mình cầm giáo mác, mọi người nín bặt => có uy tín đối với dân làng.
=> Là người đại diện cho quần chúng, biểu tượng cho sức mạnh tinh thần và vật chất có tính truyền thống, cội nguồn của miền núi Tây Nguyên, là người trực tiếp lãnh đạo dân làng vùng lên đánh giặc.
b. Nhân vật Dít
Sự hiện thân tiếp nối của Mai.
Lúc nhỏ: Gan góc lanh lợi.
Lớn lên: Bí thư kiêm chính trị viên xã đội.
Đôi mắt: bình thản trong suốt khi nhìn kẻ thù; ráo hoảnh khi mọi người khóc Mai; nghiêm khắc nhìn Tnú.
=> Sống có nguyên tác và giàu tình yêu thương. Đôi mắt chị chứa đầy chiều sâu nghị lực. Cùng với Tnú, họ là lớp trẻ đáng tin cậy là chỗ dựa của dân làng Xôman.
Gợi lại tuổi thơ của Mai, Dít, Tnú.
=> Tượng trưng cho lớp người kế tiếp đầy sinh lực, đầy nhựa sống, hứa hẹn một thế hệ Cách mạng mới vững vàng.
d. Nhân vật Tnú
Xuất hiện qua lời kể của cụ Mết.
Cuộc đời:
Lúc nhỏ: mồ côi, được dân làng Xôman cưu mang; gan góc, lanh lợi, dũng cảm, táo bạo, sớm đến với Cách mạng.
Bị giặc bắt: chỉ vào bụng nói “cộng sản ở đây này”.
Lớn lên: Ra tù, gặp Mai, lãnh đạo dân làng đánh giặc; tận mắt chứng kiến cảnh vợ con bị giết; bản thân bị địch bắt, tra tấn dã man; gia nhập bộ đội.
=> Can đảm vượt lên mọi đau đớn-bi kịch cá nhân, quyết tâm trả thù nhà đền nợ nước.
Đôi bàn tay:
Khi nguyên vẹn: là đôi bàn tay tình nghĩa.
Khi tật nguyền: vẫn vững vàng cầm vũ khí.
Ngày về phép: Về đúng một đêm; lặng người đi khi nghe tiếng chày; nhớ rõ từng người-nhắc tên từng người trong một niềm xúc động sâu xa.
=> Có tính kỷ luật cao và giàu tình yêu thương đối với đồng bào.
=> Là đứa con chung của dân làng Xôman.
3. Vài nét nghệ thuật
Nghệ thuật kể chuyện ngắn gọn, hàm súc, hấp dẫn, nghệ thuật miêu tả tỉ mỉ, sinh động.
Giọng kể hào hùng thâm trầm, xúc động mang âm hưởng sử thi.
Nghệ thuật xây dựng hình tượng cây xà nu và rừng xà nu.
Truyện cô đúc mang âm hưởng sử thi hùng tráng Thông qua việc miêu tả sức sống mãnh liệt của cây xà nu và người dân Xôman, tác giả đã khắc hoạ hình ảnh Tây Nguyên anh hùng, bất khuất một lòng đi theo Đảng. Thể hiện thành công chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam. | Soạn bài lớp 12_ Rừng xà nu | 765 | |
Soạn bài lớp 12: Sóng
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Sóng
Sóng là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ của Xuân Quỳnh. Bài thơ bộc lộ một khát vọng vừa hồn nhiên, chân thật vừa da diết, sôi nổi về tình yêu mãnh liệt rộng lớn và vĩnh hằng của trái tim người phụ nữ. Cùng tham khảo hướng dẫn soạn bài lớp 12 bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh hiểu hơn về tác phẩm.
Soạn bài lớp 12: Tiếng hát con tàu
Soạn bài lớp 12: Đò Lèn
Soạn bài lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt
Giáo án bài Sóng
Soạn bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
a. Cuộc đời
Xuân Quỳnh tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh (1942-1988)
Quê ở làng La Khê- Hà Đông- Hà Tây
Xuân Quỳnh có một tuổi thơ thiếu thốn tình thương
Mẹ mất sớm
Không được ở với cha
-> Có lẽ chính điều này đã tác động rất lớn đến Xuân Quỳnh khiến cho nhà thơ luôn luôn khao khát mái ấm gia đình, thơ bà thì dạt dào cảm xúc yêu thương.
Ban đâu Xuân Quỳnh chưa đến sự nghiệp văn chương mà là một diễn viên múa. Bà yêu một người bạn đồng nghiệp sau đó họ chia tay vì không hợp nhau.
Sau này Xuân Quỳnh chuyển sang làm thơ và nên duyên vợ chồng với nhà viết kịch nổi tiếng lưu Quang Vũ. Cả hai người đã có những phút giây hạnh phúc bên nhau mặc dù cả hai đều có con riêng. Thế nhưng hạnh phúc chẳng được bao lâu thì gia đình họ gặp phải một tai nạn kinh hoàng. Và tai nạn ấy đã cướp đi tính mạng của tất cả gia đình họ.
Xuân Quỳnh là một người phụ nữ có cuộc đời đa đoan nhiều lo âu vậy nên bà rất biết quý trọng và nâng niu hạnh phúc gia đình.
Xuân Quỳnh là một nhà thơ trẻ tiêu biểu thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Tác phẩm chính của bà: tự hát, hoa dọc chiến hào, tiếng gà trưa…
Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh: Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của người phụ nữ giàu tình yêu thương, vừa hồn nhiên tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm, đầy mãnh liệt và khát khao trong tình yêu. Vừa lo âu về sự tàn phai đỗ vỡ cũng như dự cảm bất trắc.
2. Bài thơ
a. Hoàn cảnh sáng tác
Bài thơ được sáng tác vào năm 1967 trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền. Bài thơ ra đời khi nhà thơ đã phải niếm trải những đỗ vỡ của cuộc hôn nhân thứ nhất. Đây là một bài thơ biểu hiện cho phong cách nghệ thuật của Xuân Quỳnh.
Bài thơ được in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào.
b. Bố cục: 3 phần
Hai khổ đầu: sóng và tình yêu
Bốn khổ sau: tình yêu và nỗi nhớ
Còn lại: tình yêu và khát vọng
c. Hình tượng
Có hai hình tượng luôn song hành cùng nhau đó là sóng và em. Có lúc phản ánh lẫn nhau, có lúc tách rời có lúc lại hòa vào làm một => hình tượng này tuy hai mà một.
II. Đọc hiểu chi tiết
1. Sóng biển và tình yêu
– Nhà thơ mở đầu bằng những đối lập của sóng biển:
“ồn ào” >< “lặng lẽ”
-> Sóng biển được diễn tả dưới nhiều cung bậc hình thức, nghệ thuật đối lập để thấy được những trạng thái của sóng biển. Và đồng thời nó cũng ẩn dụ cho hình tượng người em gái đang yêu. Khi yêu con gái thường có những cung bậc cảm xúc khác nhau lúc yêu thương nhưng lúc lại giận hờn vu vơ.
– Nghệ thuật đối lập “sông” >< “bể” cho thấy giới hạn, tình yêu thì không thể giới hạn người con trai không hiểu được người con gái thì người con gái sẽ tìm đến một người có tấm lòng rộng lớn hơn đủ hiểu người con gái là được.
-> Bốn câu thơ thể hiện được quan niệm mới mẻ trong tình yêu của Xuân Quỳnh. Người con gái không phải chờ đợi mà tự có thể đi tìm lấy hạnh phúc của mình, quyết đình rời xa sông để tìm đến bể. quy luật của sóng từ trước đến nay vẫn thế cũng như quy luật của tình yêu cũng luôn mãi dạt dào trong trái tim trẻ.
2. Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ
Đã yêu là phải nhớ nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết:
“Đố ai sống được mà không yêu không nhớ không thương một kẻ nào”
Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh của sóng để cắt nghĩa tình yêu tuy nhiên nhà thơ lại không thể lí giải được. Nhà thơ tự mình đặt ra hàng loạt những câu hỏi tu từ nhưng cuối cùng lại trả lời trong một cái lắc đầu đáng yêu “em cũng không biết nữa khi nào ta yêu nhau”.
Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ, con sóng ngoài kia ngày đêm vỗ vào bờ, dù là con sóng dưới lòng sông, con sóng trên mặt nước, dẫu có muôn với cách trở thì con sóng vẫn nhớ bờ mà vỗ về tha thiết, còn người con gái thì nhớ đến anh cả trong mơ vẫn cứ tưởng là vẫn thức.
Nhà thơ chọn cách nói ngược để thấy được sự yêu thương ấy. dẫu tình yêu có ngang trái đến mức nào thì em cũng chỉ nghĩ về phương anh mà thôi.
3. Tình yêu và khát vọng
Bằng thủ pháp nghệ thuật đối lập nhà thơ đã khẳng định sự hữu hạn nhỏ bé của đời người, sự ngắn ngủi mong manh như sương khói của tình yêu. Nó đối lập với sự vĩnh hằng của thiên nhiên.
Và từ hình ảnh sóng vỗ bờ thi sĩ thể hiện ước nguyện của mình làm sao có thể tan ra để trở thành những con sóng vĩnh cữu đó mãi mãi hòa vào đại dương tình yêu đến muôn đời.
III. Tổng kết
Nhà thơ Xuân Quỳnh đã mang đến cho chúng ta một bài thơ giàu cảm xúc. Không những thế nó còn mang tính triết lý khi nói về quy luật của tình yêu. Đã yêu là phải nhớ mà đã nhớ thì đến khi mơ vẫn cứ nghĩ là mình còn thức. Với việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật linh hoạt nhà thơ đã thành công trong việc diễn đạt tình yêu. | Soạn bài lớp 12_ Sóng | 1,074 | |
Soạn bài lớp 12: Số phận một con người
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Số phận một con người
Soạn bài lớp 12: Số phận một con người của tác giả A. Sô-lô-khốp sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Thuốc
Soạn bài lớp 12: Thực hành về hàm ý
SỐ PHẬN MỘT CON NGƯỜI
SÔ LÔ KHỐP
I. Tìm hiểu khái quát về tác giả và tác phẩm
1. Tác giả
A. Sô-lô-khốp (1905-1984) là nhà văn Xô viết lỗi lạc, được vinh dự nhận giải thưởng Nô-ben về Văn học năm 1965 (ông còn được nhận giải thưởng Lê-nin, Giải thưởng văn học quốc gia.
Cuộc đời và sự nghiệp cua Sô-lô-khốp gắn bó mật thiết với sự ra đời của một chế độ – chế độ xã hội chủ nghĩa tại vùng đất sông Đông trù phú, đậm đà bản sắc văn hoá người dân Cô-dắc.
Là nhà văn xuất thân từ nông dân lao động, Sô-lô-khốp am hiểu và đồng cảm sâu sắc vời những con người trên mảnh đất quê hương. Đặc điểm nổi bật trong chủ nghĩa nhân đạo của Sô-lô-khốp là việc quan tâm, trăn trở về số phận của đất nước, của dân tộc, nhân dân cũng như về số phận cá nhân con người.
Phong cách nghệ thuật của Sô-lô-khốp: nét nổi bật là viết đúng sự thật. Ông không né tránh những sự thật dù khắc nghiệt trong khi phản ánh những bức tranh thời đại rộng lớn, những cảnh đời, những chân dung số phận đau thương. Trong sáng tác của ông, chất bi và chất hùng, chất sử thi và chất tâm lí luôn được kết hợp nhuần nhuyễn.
Sông Đông êm đềm: 1927.
Đất vở hoang I: 1932.
Đất vỡ hoang II: 1959.
Số phận con người: 1956.
2. Tác phẩm
Truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khốp là cột mốc quan trọng mở ra chân trời mới cho văn học Xô viết. Truyện có một dung lượng tư tưởng lớn khiến cho có người liệt nó vào loại tiểu thuyết anh hùng ca.
II. Đọc hiểu văn bản
1. Phân tích nhân vật An-đrây Xô-cô-lốp
Hoàn cảnh riêng: vợ chết – con chết vì chiến tranh.
Bản thân: bị địch bắt, tra tấn, tù đày.
=> Trái tim chai sạn vì đau khổ.
* Khi anh gặp Vania: Thấy qúy và nhớ Vania.
=> Quyết định nhận Vania làm con => quyết định hồn nhiên, xuất phát từ đáy lòng
Chăm sóc Vania chu đáo như con đẻ.
Âm thầm chịu đựng những đau khố vì sợ Vania đau khổ.
=> Vượt lên tình thế bi đát cỉa mình, sự cô đơn, kiếm kế sinh nhai dần dần đã tìm thấy niềm vui của trái tim được hồi phục.
Xô-lô-cốp giàu tình yêu thương, giàu đức hy sinh, vị tha cao thượng. Tuy nhiên trái tìm Xô-lô-cốp vẫn không nguôi đau thương, nước mắt đầm đìa => nỗi đau không có gì bù đắp được.
2. Tình cảnh của Vania dành cho Xô-lô-cốp
Gắn bó, quyến luyến:
Ôm chặt cô.
Áp chặt má.
Khóc.
=> Hai cuộc đời bất hạnh đã nương tựa vào nhau tìm nguồn vui sướng.
Cả ba nhân vật được nhắnc đến trong đoạn trích ngắn ngủi này khóc giọt nước mắt của tình người.
III. Tổng kết
Với bút pháp hiện thực, tác giả đã thể hiện chất kiên cường của dân tộc Nga, bộc lộ qua nhân vật Xô-lô-cốp. Với bản kĩnh cao đẹp, với lòng nhân hậu thắm thiết, Xô-lô-cốp không những không rơi vào bế tắc tuyệt vọng mà còn trở thành chỗ dựa vững chắc cho một số phận bất hạnh khác. | Soạn bài lớp 12_ Số phận một con người | 613 | |
Soạn bài lớp 12: Thuốc
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Thuốc
Soạn bài lớp 12: Thuốc do Lỗ Tấn sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Một người Hà Nội
Giáo án Ngữ văn lớp 12 bài Thuốc
Phân tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn
THUỐC – LỖ TẤN
I. Tìm hiểu khái quát về tác giả, tác phẩm
1. Tác giả
Lỗ Tấn (1981-1936) tên thật là Chu Thu Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, miền Đông Nam Trung Quốc.
Ông là nhà văn Cách mạng lỗi lạc của Trung Quốc thế kí XX. “Trước Lỗ Tấn chưa hề có Lỗ Tấn, sau Lỗ Tấn có vô vàn Lỗ Tấn” (Quách Mạt Nhược).
Tuổi trẻ của Lỗ Tấn đã nhiều lần đổi nghệ để tìm một con đường cống hiến cho dân tộc: từ làm nghệ khai mỏ đến hàng hải rồi nghề y, cuối cùng làm văn nghệ để thức tỉnh quốc dân đồng bào. Cong đường gian nan để chọn ngành nghề của Lỗ Tấn vừa mang đậm dấu ấn lịch sử Trung Hoa thời cận hiện đại, vừa nói lên tâm huyết của một người con ưu tú của dân tộc.
Quan điểm sáng tác của Lỗ Tấn được thể hiện nhất quán trong toàn bộn sáng tác của ông: phê phán những căn bệnh tinh thần khiến cho quốc dân mê muội, tự thoả mãn “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”.
Tác phẩm chính: AQ chính truyện (kiệt tác của văn học hiện đại Trung Quốc và thế giới), các tập Gào thét, Bàng hoàng, truyện cũ viết theo lối mới, hơn chục tập tạp văn có giá trị phê phán, tính chiến đấu cao.
2. Hoàn cảnh sáng tác truyện Thuốc.
Thuốc được viết năm 1919, đúng vào lúc cuộc vận động Ngũ tướng bùng nổ. Đây là thời kì đất nước Trung Hoa bị các đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Nhật xâu xé. Xã hội Trung Hoa biến thành nửa phong kiến, nửa thuộc địa, nhưng nhân dân lại an phận chịu nhục. “Người Trung Quốc ngủ mê trong một cái nhà hộp không có cửa sổ” (Lỗ Tấn). Đó là căn bệnh đớn hèn, tự thoả mãn, cản trở nghiêm trọng con đường giải phóng dân tộc. Thuốc đã ra đời trong bối cảnh ấy với một thông điệp cần suy nghĩ nghiêm khắc về một phương thuốc để cứu dân tộc
1. Bố cục
Phần 1: Thuyên mắc bệnh lao. Mẹ Thuyên đưa tiền cho chồng ra chỗ hành hình người cộng sản mua bánh bao tẩm máu về chữa bệnh cho con (Thuốc).
Phần 2: Thuyên ăn cái bánh bao đẫm máu nhưng vẫn ho. Thuyên nghe tim mình đập không sao cầm nổi, đưa tay vuôt ngực, lại một cơn ho (uống thuốc).
Phần 3: Cuộc bàn luận trong quán trà về thuốc chữa bệnh lao, về tên “giặc” Hạ Du (bàn về thuốc).
Phần 4: Nghĩa địa vào dịp tiết Thanh minh. Hai người mẹ trước hai nấm mồ: một của người chết bệnh, một chết vì nghĩa ở hai khu vực, ngăn cách bởi một con đường mòn (hậu quả của thuốc).
2. Ý nghĩa nhan đề truyện và hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu
Thuốc, nguyên văn là Dược (trong từ nghép Dược phẩm), phản ánh một quá trình suy tư nặng nề của Lỗ Tấn (động cơ và mục đích đổi nghề của Lỗ Tấn). Nhận thức rõ thực trạng nhận thức của người dân Trung Quóc thời bấy giờ “ngu muội và hèn nhát”, nhà văn không có ý định và cũng không đặt ra vấm đề bốc thuốc cho xã hội mà chỉ muốn “lôi hết bệnh tật của quốc dân, làm cho mọi người chú ý và tìm cách chạy chữa”. Tên truyện chỉ có thể dịch là Thuốc (Trương Chính), Vị thuốc (Nguyễn Tuân) chứ không thể dịch là Đơn thuốc (Phan Khải). Nhan đề truyện có nhiều ý nghĩa.
Tầng nghĩa ngoài cùng là phương thuốc truyền thống chữa bệnh lao. Một phương thuốc u mê ngu muội giống hệt phương thuốc mà ông thầy lang bốc cho bố Lỗ Tấn bi bệnh phù thũng với hai vị “không thể thiếu” là rễ cây nứa kinh sương ba năm và một đôi dế đử con đực, con cái dẫn đến cái chết oan uổng của ông cụ.
“Bánh bao tẩm màu người”, nghe như chuyện thời trung cổ nhưng vẫn xảy ra ở nước Trung Hoa trì trệ. Tầng nghĩa thứ nhất – nghĩa đen của tên truyện là: thuốc chữa bệnh lao. Thứ mà ông bà Hoa Thuyên xem là “tiên dược” để cứu mạng thằng con “mười đời độc đinh” đã không cứu được nó mà ngược lại đã giết chết nó – đó là thứ thuốc mê tín.
Trong truyện, bố mẹ thằng Thuyên đã áp đặt cho nó một phương thuốc quái gở. Và cả đám người trong quán trà cũng cho rằng đó là thứ thuốc tiên. Như vậy, tên truyện còn hàm nghĩa sâu xa hơn, mang tính khai sáng: đây là thứ thuốc độc, mọi người cần phải giác ngộ ra rằng cái gọi là thuốc chữa bệnh lao được sùng bài là một thứ thuốc độc.
Người Trung Quốc cần phải tỉnh giấc, không được ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ.
Chiếc bánh bao – liều thuốc độc hại được pha chế bằng máu của người Cách mạng – một người xả thân vì nghĩa, đổ máu cho sự nghiệp giải phóng nông dân… Những người dân ấy (bố mẹ thằng Thuyên, ông Ba, Cả Khang…) lại dửng dưng, mua máu người Cách mạng để chữa bệnh… Với hiện tượng chiếc bánh bao tẩm máu Hạ Du, Lỗ Tấn đã đặt ra một vấn đề hết sức hệ trọng là ý nghĩa của hy sinh. Tên truyện vì thế mang tầng nghĩa thứ ba: phải tìm một phương thuốc làm cho quần chúng giác ngộ Cách mạng và làm cho Cách mạng gắn bó với quần chúng.
Chủ đề bàn luận của những người trong quán trà của lão Hoa trước hết là công hiệu của “thứ thuốc đặc biệt” – chiếc bánh bao tẩm máu người.
Từ việc bàn về công hiệu của chiếc bánh bao tẩm máu Hạ Du chuyến sang bàn về bản thân nhân vật Hạ Du là diễn biến tự nhiên, hợp lí.
Người tham gia bàn luận tán thưởng rất đông song phát ngôn chủ yếu vẫn là tên đao phủ Cả Khang, ngoài ra còn có một người có tên kèm theo đặc điểm (cậu Năm gù) và hai người chỉ có đặc điểm (“người tóc hoa râm”, “anh chàng hai mươi tuổi”).
Những lời bàn luận đã cho ta thấy:
Bộ mặt tàn bạo thô lỗ của Cả Khang.
Bộ mặt lạc hậu của dân chúng Trung Quốc đương thời.
Lòng yêu nước của người chiến sĩ cách mạng Hạ Du.
4. Không gian, thời gian nghệ thuật và ý nghĩa của chi tiết vòng hoa trên mộ Hạ Du
Câu chuyện xảy ra trong hai buổi sớm vào hai mùa thu, mùa xuân có ý nghĩa không tượng trưng. Buổi sáng đầu tiên có ba cảnh: cảnh sáng tinh mơ đi mua bánh bao tẩm màu người, cảnh pháp trường và cảnh cho con ăn bánh, cảnh quán trà… Ba cảnh gần như liên tục, diễn ra trong mùa thu lạnh lẽo. Bối cảnh quan trà và nới đương phố là nơ tụ tập của nhiều loại người, do đó hình dung được dư luận và ý thức xã hội. Buổi sáng cuối cùng là vào dịp tiết Thanh minh – mùa xuân tảo mộ. Mùa thu lá rụng, mùa xuân đâm chồi nảy lộc gieo mầm.
Vòng hoa trên mộ Hạ Du: có thể xem vòng hoa là cực đối lập của “chiếc bánh bao tẩm máu”. Phủ định vị thuốc là bằng chiếc bánh bao tẩm máu, tác giả mơ ước tìm kiếm một vị thuốc mới – chữa được cả những bệnh tật về tinh thần cho toàn xã hội với điều kiện tiên quyết là mọi người phải giác ngộ Cách mạng, phải hiểu rõ “ý nghĩa của sự hy sinh” của những người Cách mạng.
Nhờ chi tiết vòng hoa trên mộ Hạ Du, chủ đề tư tưởng tác phẩm được thể hiện trọn vẹn, nhờ đó mà không khí của truyện vốn rất u buồn tăm tối song điều mà tác giả đưa đến cho người đọc không phải là tư tưởng bi quan.
Với cốt truyện đơn giản, cách viết cô đọng, giàu hình ảnh mang tính biểu tượng, Thuốc của Lỗ Tấn thể hiện một nội dung sâu sắc: một dân tộc chưa ý thức được bệnh tật của mình và chưa có được ánh sáng tư tưởng cách mạng, dân tộc đó vẫn chìm đắm trong mê muội. | Soạn bài lớp 12_ Thuốc | 1,499 | |
Soạn bài lớp 12: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS
Hướng dẫn
Soạn bài môn Văn lớp 12 bài: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS
Soạn bài lớp 12: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS là tài liệu tham khảo hay dành cho các bạn tham khảo. Soạn bài môn Văn lớp 12 này sẽ hướng dẫn các bạn trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa, nhằm chuẩn bị bài trước khi đến lớp hiệu quả. Chúc các bạn học tốt.
Tóm tắt Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003 (Cô-phi-annan)
Phân tích tác phẩm Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1-12-2013 của Cô-Phi An-Nan
Soạn bài Tây Tiến
Soạn bài lớp 12: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
Soạn bài lớp 12: Phong cách ngôn ngữ khoa học
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Bài giảng Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS Ngữ văn 12
Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Soạn bài thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS của Cô-phi An-nan
I. Hướng dẫn học bài
BT 1. Dựa vào Tiểu dẫn trong SGK giới thiệu khái quát về bài viết và tác giả Cô-phi An-nan.
Gợi ý
Tác giả Cô-phi An-nan sinh 8-4-1938 tại Ga na. Ông là Tổng thư kí Liên hợp quốc trong hai nhiệm kì (từ 1997 – 2007). Ông đã ra lời kêu gọi hành động năm điều về đại dịch HIV/AIDS, kêu gọi thành lập Quỹ Sức khỏe và AIDS toàn cầu, kêu gọi chống khủng bố trên toàn thế giới. Được trao Giải thưởng Nô-ben hòa bình.
Văn bản được Tổng thư kí liên hợp quốc Cô-phi An-nan viết và gửi nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003.
BT2. Bản thông điệp nêu lên vấn đề gì? Vì sao cho rằng đó là một vấn đề rất cần phải đặt lên vị trí hàng đầuu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mỗi quốc gia và mỗi cá nhân?
Gợi ý
a.Bản thông điệp nêu lên vấn đề phòng chống AIDS.
b. Đó là một vấn đề rất cần phải đặt lên “vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế” của mỗi quốc gia và mỗi cá nhân vì:
HIV/AIDS là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết của toàn nhân loại và đe dọa nghiêm trọng tới con người. AIDS vẫn đang hoành hành, lây lan với tốc độ báo động, nhất là ở phụ nữ và có rất ít dấu hiệu suy giảm.
HIV/AIDS làm tuổi thọ của người dân bị giảm sút nghiêm trọng, tỉ lệ tử vong cao.
BT3. Tìm hiểu cách tác giả điểm lại tình hình đã qua. Vị Tổng thư kí Liên hợp quốc đã làm thế nào để cho việc tổng kết tình hình thực tế không chỉ trung thực đáng tin cậy mà còn là cơ sở để dẫn tới những kiến nghị mà ông sẽ nêu bên dưới?
Gợi ý
a. Cách tác giả điểm lại tình hình đã qua
Đầu tiên tác giả nhấn mạnh phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc về HIV/AIDS các quốc gia đã thống nhất thông qua Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS đưa ra các mục tiêu, cam kết, nguồn lực và hành động.
Tác giả đưa ra một số kết quả đạt được như:
Ngân sách dành cho phòng chống HIV/AIDS đã tăng lên một cách đáng kể.
Quỹ toàn cầu về phòng chống AIDS, lao, sốt rét đã được thông qua.
Đại đa số các quốc gia đã xây dựng chiến lược phòng chống HIV/AIDS.
Ngày càng nhiều các công ty áp dụng chính sách phòng chống HIV/AIDS tại nơi làm việc.
Các nhóm từ thiện cộng đồng luôn đi đầu trong cuộc chiến chống AIDS và có các hoạt động tích cực, phối hợp với chính phủ, các tổ chức khác. Tuy nhiên với những kết quả đó thì đại dịch HIV/AIDS vẫn còn rất ít dấu hiệu suy giảm và hiện tại vẫn hoành hành gây tỉ lệ tử vong cao, lây lan với tốc độ báo động.
Tiếp đó, tác giả nêu ra: “Chúng ta đã không hoàn thành được một số mục tiêu đề ra cho năm nay theo Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS. Với tiến độ như hiện nay thì sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào trong năm 2005. Tác giả đã điểm lại tình hình đã qua một cách trung thực đáng tin cậy.
Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV.
Ở những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, tuổi thọ của người dân bị giảm sút nghiêm trọng.
HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ. Giờ đây phụ nữ đã chiếm tới một nửa trong tổng số người nhiễm trên toàn thế giới.
Dịch bệnh lan nhanh nhất ở chính những khu vực mà trước hầu như vẫn còn an toàn, đặc biệt là Đông Âu, toàn bộ Châu Á từ dãy núi A-ran đến Thái Bình Dương.
Ngoài ra tác giả còn sử dụng các câu mở đầu bằng từ “lẽ ra” để làm cơ sở đưa ra kiến nghị ở phía sau của mình.
Lẽ ra chúng ta phải giảm được ¼ số thanh niên bị nhiễm HIV ở các nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.
Lẽ ra chúng ta phải triển khai các chương trình chăm sóc toàn diện ở khắp mọi nơi.
Nhận xét: Nghệ thuật lập luận chặt chẽ có sức thuyết phục.
BT4. Trong lời kêu gọi mọi người phải nỗ lực phòng chống HIV/AIDS nhiều hơn nữa, tác giả nhấn mạnh đặc biệt đến điều gì? Từ đấy em cảm nhận được những gì về con người tác giả, về đặc sắc của bài văn?
Gợi ý
a. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh: Thậm chí chúng ta còn bị chậm hơn nữa, nếu sự kì thị và phân biệt đối xử vẫn tiếp tục diễn ra đối với những người bị HIV/AIDS.
b. Từ đây có thể thấy: Tác giả là một con người có trái tim nhân hậu, chan chứa yêu thương, một tấm lòng nhân đạo sâu sắc. Ông có tầm nhìn sâu rộng đối với sự vận động không ngừng của sự sống, luôn quan tâm đến vận mệnh của loài người hơn bao giờ hết. Là một con người sống vì công việc, vì sự ổn định tốt đẹp của toàn nhân loại.
Bài văn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố chính luận với giọng văn trữ tình thấm đượm tình cảm, cảm xúc của tác giả.
Cách lập luận chặ chẽ, đáng tin cậy khi tác giả lần lượt điểm lại tình hình đã qua, thực trạng của HIV/AIDS và hướng tới kêu gọi mọi người hãy sát cánh để chống HIV/AIDS bởi Cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính các bạn.
Bởi vậy bài văn có sức lôi cuốn.
BT5. Trong bản thông điệp này, những nội dung và câu văn nào đã làm cho em thấy xúc động nhiều hơn cả? Vì sao? Qua đó em rút ra được bài học nào cho việc làm văn nghị luận của bản thân mình?
Gợi ý
a. Các câu văn cảm động
Hãy đừng để một ai có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào ngăn cách giữa chúng ta và họ. Trong thế giới khốc liệt AIDS này không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết.
Hãy cùng tôi đánh đổ các thành lũy của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử bao vây quanh bệnh dịch này.
b. Bởi vì:
Đó là những câu văn giản dị, chân thành thiết tha thể hiện tâm huyết của người viết.
Trong cuộc sống chỉ có tình thương chân thành mới níu giữ con người ta khỏi rơi vào cái xấu, cái ác, nâng đỡ con người khi lầm lỗi, tiếp sức cho họ vững bước, tự tin trên đường đời. Đối với những người bị bệnh HIV càng rất cần có tình thương, sự quan tâm động viên, an ủi của mọi người. Chỉ khi tất cả mọi người cùng lên tiếng để chống lại HIV/AIDS, thông cảm, sẻ chia với những người bất hạnh, lúc ấy cuộc sống mới thật sự dễ chịu, có ý nghĩa thay vì sự dè dặt im lặng vô ích.
c. Bài học cho việc làm văn nghị luận
Lập luận chặt chẽ logic.
Dẫn chứng thuyết phục, sát thực.
Bài viết thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan điểm của mình một cách rõ ràng. – Lời văn trong sáng, logic, giàu sức thuyết phục.
BT 6. Em có cho rằng khi đại dịch HIV/AIDS đã qua đi thì bản thông điệp này cũng không còn giá trị nữa không? Vì sao?
Gợi ý
a. Khi đại dịch HIV/AIDS qua đi thì bản thông điệp này vẫn còn nguyên giá trị.
b. Vì nó mang giá trị cuộc sống cao.
Ở bất kì thời đại nào, ở đâu, vấn đề sức khỏe con người vấn được đặt lên hàng đầu.
Bản thông điệp sẽ mãi là bài học nhắc nhở con người ta phải sống sao cho lành mạnh không sa ngã vào các tệ nạn xã hội.
Đề phòng luôn là yếu tố quan trọng hơn chống HIV/AIDS qua đi nhưng nó vẫn có thể quay trở lại.
Bản thông điệp còn có giá trị nhân văn sâu sắc, nhắc nhở mỗi con người về đạo làm người là phải biết yêu thương quan tâm giúp đỡ lẫn nhau.
Bài văn có sức thuyết phục mạnh mẽ vì đã diễn đạt được những suy nghĩ và cảm xúc của một con người có tấm lòng nhân đạo, có tầm nhìn rộng lớn và luôn quan tâm sâu sắc đến vân mệnh của loài người.
II. Luyện tập
1. Viết một bản báo cáo về tình hình phòng chống HIV-AIDS ở phương em.
Gợi ý:
a. Mở bài: Giới thiệu về tệ nạn xã hội HIV/AIDS ở địa phương.
VD: Hiện nay HIV/AIDS đang là một căn bệnh thế kỉ, làm đau đầu các nhà chức trách, chính trị gia và là mối quan tâm lo lắng của toàn nhân loại. Căn bệnh ấy không trừ bất cứ nơi đâu, mà vấn đề là ở đó ít hay nhiều mà thôi. Trước vấn đề cấp thiết đó ở địa phương, tôi cũng góp tiếng nói của mình để đẩy lùi, phòng chống nó.
b. Thân bài
Trong những năm gần đây địa phương tôi không ngừng đưa ra các biện pháp để phòng chống HIV/AIDS.
Mở các lớp học tuyê truyền về cách phòng chống HIV/AIDS, nêu lên tác hại to lớn mà HIV/AIDS gây ra.
Vận động nhân dân không được xa lánh với người bệnh.
Tuyên truyền về nếp sống văn hóa lành mạnh, sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật.
Tổ chức các hội thi…
Tuy nhiên HIV/AIDS cũng rất khó đẩy lùi ở địa phương. Nguyên nhân:
Do một số thanh thiếu niên đua đòi, ăn chơi.
Hiệu quả của việc tuyên truyền chưa mang lại kết quả như mong đợi.
Việc quả lí nhập cư từ nơi này sang nơi khác làm chưa tốt có khi người đến đem theo HIV/AIDS vào địa phương.
Do sự bất cẩn khi không có phương pháp đúng đắn phòng tránh HIV/AIDS.
Khẳng định chỉ có con đường phòng chống HIV/AIDS, đẩy nó ra khỏi cuộc sống mới làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì vậy phải ra sức đẩy lùi căn bệnh nguy hiểm này.
c. Kết bài Tình hình phòng chống HIV/AIDS là vẫn đề nan giải của địa phương, nhưng địa phương tôi đang cố gắn nổ lực để tiêu diệt căn bệnh này.
2. Phát biểu suy nghĩ của anh (chị) về câu cuối của bức thông điệp: Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV-ADIS bắt đầu từ chính các bạn. Em sẽ làm gì để tham gia cuộc chiến chống đại dịch này? | Soạn bài lớp 12_ Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS | 2,013 | |
Soạn bài lớp 12: Thực hành một số phép tu từ cú pháp
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Thực hành một số phép tu từ cú pháp
Soạn bài lớp 12: Thực hành một số phép tu từ cú pháp hướng dẫn học sinh tìm hiểu và luyện tập nhận biết một số phép tu từ cú pháp: phép lặp cú pháp, phép liệt kê, phép chêm xen. Hi vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học tốt môn Ngữ văn 12. Mời các bạn cùng tham khảo.
Soạn bài lớp 12: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm
Soạn bài lớp 12: Phát biểu theo chủ đề
Soạn bài lớp 12: Tiếng hát con tàu
Soạn bài thực hành một số phép tu từ cú pháp
I. Phép lặp cú pháp
Bài tập 1.
1.1. Xác định những câu có lặp kết cấu cú pháp trong đoạn văn trích Tuyên ngôn Độc lập:
– Sự thật là … chứ không phải …, Sự thật là … chứ không phải …
– Dân ta đã đánh đổ … để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập.
Dân ta đánh đổ … mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
Phép lặp đó có tác dụng nhấn mạnh ý (khắc sâu một ý) khiến câu văn hùng hồn, có tính khẳng định.
1.2.
– Lặp kết cấu:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
– Lặp kết cấu
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sôn đỏ nặng phù sa.
Phép lặp đó có tác dụng nhấn mạnh ý tự hào và tình yêu tha thiết đất nước của nhà thơ.
1.3. Lặp kết cấu
Phép lặp đó có tác dụng làm cho nỗi nhớ của người về xuôi (cũng chính là của tác giả) đối với quê hương cách mạng Việt Bắc thêm thiết tha sâu nặng.
1.1. Tục ngữ
Kết cấu đối lập để nhấn mạnh ý cần nói:
Đối lập vế: vế 1 với vế 2 (mỗi vế gồm 4 tiếng g)
Đối lập từ: bán – mua; anh em – láng giềng; xa – gần.
Nhờ kết cấu đối lập mà ý ở vế 2 được nhấn mạnh: láng giềng gần còn quan trọng, cần thiết hơn anh em xa.
Gần mực thì đen – gần đèn thì rạng
Cũng là kết cấu câu đối lập 2 vế để nhấn mạnh ý nhưng ở câu tục ngữ này có khác ở điểm: hai vế có 2 từ giống nhau (gần, thì) và 2 từ đối lập nhau về nghĩa (mực – đèn, đen – rạng) để nêu bật ý: cần chọn môi trường tốt đẹp để sống.
1.2. Câu đối
Có sự đối lập giữa:
Hai vế đối
Từ ngữ trong hai vế đối (Cụ già – Chú bé; ăn – trèo; củ ấu non – cây đại lớn)
Đối lập về nghĩa trong từng vế:
Cụ già (lại) ăn củ ấu non (ấu có nghĩa là non bé)
Chú bé (lại) trèo cây đại lớn (đại có nghĩa là lớn).
1.3. Thơ đường luật
Đối rất chỉnh trong cặp câu thơ:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao.
1.4. Văn biền ngẫu Đối trong từng bộ phận của câu văn:
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.
Bài tập 3. Gợi ý ba câu văn hoặc thơ có dùng phép lặp cú pháp trong SGK Ngữ văn 12.
1.2. Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa (Chế Lan Viên)
1.3. Dữ dội và êm dịu
Ồn vào và lặng lẽ
(Xuân Quỳnh)
II. Phép liệt kê
Câu 1. Hiệu quả của phép lặp cú pháp trong đoạn văn trích Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn:
Trong đoạn văn này, tác giả đã kết hợp phép lặp cú pháp với phép liệt kê để bày tỏ nỗi lòng của mình cho tướng sĩ biết nhằm động viên khích lệ tướng sĩ dốc lòng học tập binh thư, đoàn kết một lòng đánh giặc bảo vệ đất nước. Tác giả đã liệt kê rất nhiều sự việc như cho áo, cho cơm, thăng chức, cấp bổng, cho thuyền, cho ngựa, cùng nhau sống chết, cùng nhau vui cười… khiến cho giọng văn nhiệt tình, truyền cảm, có tác dụng thuyết phục người đọc (người nghe).
Câu 2. Hiệu quả của phép lặp cú pháp đoạn văn trích Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh:
Đây là đoạn Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án và tố cáo tội ác về chính trị của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Đoạn văn có lời lẽ hùng biện, giọng văn đanh thép là nhờ người viết đã sử dụng rất thành công phép lặp cú pháp kết hợp phép liệt kê. Những tội ác dã man về chính trị của thực dân Pháp đã được tác giả kể ra dồn dập, liên tiếp, từ những luật pháp dã man đến việc lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thẳng tay chém giết những người yêu nước của ta, tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu, thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn để lfam cho nòi giống ta suy nhược… Tất cả, không chỉ tố cáo, vạch mặt kẻ thù một cách rõ ràng, đanh thép mà còn truyền tới người đọc (người nghe) lòng căm thù cao độ và sâu sắc của Người khi viết đoạn văn này. Sự kết hợp giữa phép lặp cú pháp và phép liệt kê được thể hiện qua công thức mà Người đã dùng trong đoạn văn:
Chúng – tội ác 1
Chúng – tội ác 2
Chúng – tội ác 3
II. Phép chêm xen
1. Phép chêm xen cũng thường được dùng trong văn hiện đại. Phân tích các câu văn nêu trong SGK ta thấy:
Câu a.
Vị trí và vai trò ngữ pháp trong câu: trạng ngữ cho vị ngữ “thị hỏi hắn’’.
Dấu tách biệt bộ phận đó: dấu ngoặc đơn (…)
Tác dụng của bộ phận đó: để bổ sung thông tin cái khoảnh khắc “Thị Nở đặt bàn tay lên ngực hắn’’ (tức Chí Phèo).
Câu b.
Vị trí và vai trò ngữ pháp trong câu: bổ sung cho từ “cô độc’’ đứng trước.
Dấu tách biệt bộ phận đó: dấu phẩy (,).
Tác dụng của bộ phận đó: giải thích, làm rõ ý nghĩa của từ “cô độc’’ đối với nhân vật Chí Phèo lúc bấy giờ (trong tương quan với đói rét và ốm đau).
2. Gợi ý
Câu đầu tiên trong đoạn thơ văn về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc, trong đó có sử dụng phép chêm xen.
Phép chêm xen ở câu văn này (phần giữa hai dấu gạch ngang) có tác dụng thuyết minh rõ cho chủ ngữ trong câu là Tố Hữu. | Soạn bài lớp 12_ Thực hành một số phép tu từ cú pháp | 1,112 | |
Soạn bài lớp 12: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm
Soạn bài lớp 12: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm giúp các bạn học sinh củng cố và nâng cao nhận thức về một số phép tu từ ngữ âm (tạo nhịp điệu, âm hưởng, điệp âm, điệp vần, điệp thanh), từ đó biết phân tích các phép tu từ trong văn bản, bước đầu biết sử dụng các phép tu từ. Mời các bạn cùng tham khảo.
Soạn bài lớp 12: Đất nước – Nguyễn Khoa Điểm
Soạn bài lớp 12: Đất nước – Nguyễn Đình Thi
Soạn bài lớp 12: Phát biểu theo chủ đề
I. Tạo nhịp điệu và âm hưởng cho câu
Bài tập 1. Gợi ý.
Sự phối hợp nhịp ngắn và dịp dài:
Một dân tộc – đã gan góc – chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay: 3 – 3 – 11.
Dân tộc đó – phải được tự do: 3 – 4
Dân tộc đó – phải được độc lập: 3 – 4
Sự thay đổi thanh bằng, thanh trắc cuối mỗi nhịp:
tộc (T), góc (T) (hai bộ phận câu này đều giống nhau, đều cân xứng với nhau).
đó (T), do (B)
đó (T), lập (T)
Tính chất mở hay đóng của âm tiết kết thúc mỗi nhịp:
tộc, góc (đóng); nay (mở)
đó (đóng); do (mở)
đó (đóng); lập (mở)
Đoạn văn có sự phối hợp vần bằng và vần trắc, tạo sự hài hòa về thanh điệu cuối mỗi nhịp và sắc thái thiêng liêng, trang trọng cho lời văn.
Nhịp điệu phối hợp nhanh, chậm, ngắn, dài và còn do các từ phản nghĩa với nhau tạo nên (đàn ông – đàn bà, già – trẻ, súng – gươm…) làm tăng sức thuyết phục cho lời văn.
Các cụm từ, các vế và các đoạn câu đối xứng nhau (đàn ông – đàn bà, người già – người trẻ, ai có súng dùng súng – ai có gươm dùng gươm…) tạo nên sái thái hùng hồn cho lời văn.
Bài tập 3. Gợi ý
Nhịp điệu thay đổi tạo ra âm hưởng thích hợp để diễn tả đúng nội dung của đoạn văn nhằm ca ngợi cây tre, hình ảnh tượng trưng cho sức mạnh, ý chí kiên cường của con người Việt Nam):
Gậy tre – chông tre – chống lại sắt thép của quân thù: 2 – 2 – 7
Tre xung phong vào xe tăng – đại bác: 6 – 2
Tre giữ làng – giữ nước – giữ mái nhà tranh – giữ đồng lúa chín: 3 – 2- 4- 4
Tre hi sinh – để bảo vệ con người: 3 – 5
Tre – anh hùng lao động: 1 – 4
Tre – anh hùng chiến đấu: 1 – 4
II. Điệp âm, điệp vần, điệp thanh
Bài tập 1. Gợi ý
1.1. Phân tích điệp âm đầu ngữ của phụ âm – trong cụm từ lửa lựu lập lòe (nêu hiệu quả nghệ thuật).
Bài tập 2. Gợi ý
Trong đoạn thơ của Tố Hữu, vầng ang được lặp đi lặp lại nhiều nhất (7 lần): Bàng, đàng, giang, mang, đang, ngang, sang.
Vần ang là vần mở rộng (ở đây là thanh bằng) nên tạo được cảm giác mở rộng, lan ra một không gian rộng lớn, mênh mang, thích hợp với không gian của mùa xuân đang về với mọi người, với không khí của bài thơ Tiếng hát sang xuân. Tác dụng gợi cảm có được là nhờ phép điệp vần.
Bài tập 3. Gợi ý
Xem lại bài học về Tây Tiến của Quang Dũng. Đoạn thơ được xem là những câu thơ tuyệt bút, nhờ những yếu tố nghệ thuật sau đây:
Từ ngữ: từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút) [điệp phụ âm đầu]
Phép đối: Ngàn thước lên cao – ngàn thước xuống
Phép lặp: lại từ ngữ: dốc, ngàn thước
Phép nhân hóa: súng ngửi trời – Phép lặp cú pháp: câu 1, câu 3
Nhịp điệu của các dòng thơ: 3 câu trên nhịp 4 – 3, câu cuối dường như không có nhịp.
Thanh điệu:
Sự phối hợp các thanh trắc và bằng ở ba dòng đầu rất hài hào, đặc biệt ở dòng 3: Ngàn thước lên cao (B), ngàn thước (T) xuống (T).
Điệp thanh toàn thanh bằng ở dòng cuối tạo cảm giác nhẹ nhàng, êm ả, mênh mang; Nhà ai Pha Luông mưa kha khơi. | Soạn bài lớp 12_ Thực hành một số phép tu từ ngữ âm | 726 | |
Soạn bài lớp 12: Thực hành về hàm ý
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Thực hành về hàm ý
Soạn bài lớp 12: Thực hành về hàm ý thuộc môn Ngữ Văn lớp 12 được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.
Soạn bài lớp 12: Một người Hà Nội
Soạn bài lớp 12: Những đứa con trong gia đình
THỰC HÀNH VỀ HÀM Ý
I. Ôn lại khái niệm về hàm ý
Hàm ý: là những nội dung, ý nghĩ mà người nói không nói ra trực tiếp bằng từ ngữ, tuy vẫn có ý định truyền báo đến người nghe. Còn người nghe phải dựa vào nghĩa tường minh của câu và tình huống giao tiếp để suy ra thì mới hiểu đúng, hiểu hết ý của người nói.
II. Thực hành về hàm ý
Bài tập 1
Lời đáp của A Phủ thiếu thông tin cần thiết nhất của câu hỏi: Số lượng bò bị mất (mất mấy con bò?). A Phủ đã lờ yêu cầu của Pá Tra.
Lời đáp có chủ ý thừa thông tin so với yêu cầu của hỏi: A Phủ không nói về số bò bị mất và nói đến công việc dự định và niềm tin của mình (Tôi về lấy súng thế nào cũng bắn được con hổ này to lắm).
Cách trả lời của A Phủ có độ khôn khéo: Không trả lời thẳng, gián tiếp công nhận để mất bò. Nói ra dự định “lấy công chuộc tội” (bắn hổ chuộc tội mất bò); chủ ý thể hiện sự tin tưởng bắn được hổ và nói rõ “con hổ này to lắm”.
Cách nói hòng chuộc tội, làm giảm cơn giận dữ của Pá Tra. Câu trả lời của A Phủ chứa nhiều hàm ý.
Bài tập 2
a. Anh thanh niên đi chệch ra ngoài đề tài “hỏi đường-chỉ đường”, bằng cách đọc thuộc lòng cả một bài dài đến dăm trang giấy về “cuộc trường kì kháng chiến”. Nghĩa là anh ta vi phạm phương châm quan hệ trong hội thoại, đồng thời vi phạm cả phương châm về lượng (nói thừa lượng thông tin).
Các thông tin về cuộc kháng chiến không hề liên quan đến đề tài ” hỏi đường-chỉ đường”.
Chủ ý tuyên bố một cách hồn nhiên đường lối kháng chiến.
Muốn bộc lộ sự kiêu hãnh, tự hào khi được tham gia vào một công cuộc mà ở nông thôn vào thời điểm bấy giờ ít có dịp và ít có người làm được. Đó là cách thể hiện bầu nhiệt huyết, niềm say mê đối với cuộc kháng chiến. Đó là điểm đáng trân trọng, đáng ca ngợi tuy sự bộc lộ không được đúng chỗ (không phù hợp với cuộc thoại) và hơi quá mức độ (nói dài dòng) thừa kượng thông tin mà cuộc thoại cần đến.
c. Kết luận: Khi người nói chủ ý vi phạm phương châm quan hệ trong giao tiếp, để hàm ý có tác dụng cần: nói đúng chỗ, phù hợp với cuộc thoại và diễn đạt ngắn gọn, đúng lượng thông tin mà cuộc thoại cần đến.
Bài tập 3
Câu hỏi của Bá Kiến với Chí Phèo: “tôi không phải là cái kho” có hàm ý: Từ chối trước lời đề nghị xin tiền như mọi khi của Chí Phèo (cái kho – biểu tưởng của cải, tiền nong, sự giàu có. Tôi không có nhiều tiền).
Cách nói vi phạm phương châm cách thức (không nói rõ ràngrành mạch. Nếu nói thẳng thì nói: “Tôi không có tiền để cho anh luôn như mọi khi”).
Bài tập 4
a. Lượt lời thứ nhất bà đồ nói: “Ông lấy giấy khổ to mà viết có hơn không?” Câu nói có hình thức hỏi những không nhàm mục đích để hỏi mà nhằm gợi ý một cách lựa chọn cho ông đồ.
Qua lượt lời thứ hai của bà đồ chứng tỏ từng lượt lời thứ nhất của bà có hàm ý: Khuyên ông sử dụng giấy cho có lợi ích; cho rằng ông đồ viết văn kém, ông dùng giấy viết văn chỉ thêm lãng phí, hay bỏ phí giấy, vứt giấy đi một cách lãng phí.
b. Bà đồ chọn cách nói có hàm ý vì lí do tế nhị, lịch sự đối với chồng, bà không muốn trực tiếp chê văn của chồng mà thông qua lời khuyên để gợi ý cho ông đồ lựa chọn.
III. Cách thức tạo câu có hàm ý
Để có một câu có hàm ý, người ta thường dùng một cách nói chủ ý vi phạm một (hoặc một số) phương châm hội thoại nào đó, sử dụng các hành động nói gián tiếp; chủ ý vi phạm phương châm về lượng, nói thừa hoặc thiếu thông tin mà đề tài yêu cầu; chủ ý vi phạm phương châm quan hệ, đi chệch đề tài cuộc giao tiếp; chủ ý vi phạm phản cách thức, nói mập mờ, vòng vo, không không rõ ràng rành mạch.
Bài tập 1
Trong lượt mở đầu cuộc thoại, bác Phô gái van xin: “Thầy tha cho nhà con, đừng bắt nhà con đi xem đá bóng nữa”. Lời đáp của ông lí mang sắc thái mỉa mai, giễu cợt (Ồ, việc quan không phải thứ chuyện đàn bà của các chị). Nếu là cách đáp thường minh phù hợp thì phải là lời chấp nhận sự van xin hoặc từ chối, phủ nhận sự van xin.
Lời của ông Lí không đáp ứng trực tiếo sự van xin của bác Phô mà từ chối một cách dán tiếp. Đồng thời mang sắc thái biểu cảm: Bộc lộ quyền uy, thể hiện sự từ chối van xin, biểu lộ thái độ mỉa mai, giễu cợt cách suy nghĩ của đàn bà.
Đấy là chứng minh cho tính hàm súc củ câu có hàm ý.
Bài tập 2
a. Câu hỏi đầu tiên của Từ: “Có lẽ hôm nay đã là mồng hai, mồng ba đây rồi mình nhỉ?”. Không phải chỉ hỏi về thời gian mà thực chất, thông qua đó Từ muốn nhắc khéo chồng nhớ đến ngày đi nhận tiền (hàng tháng cứ vào kì đầu tháng thì chồng Từ đều đi nhận tiền nhuận bút).
b. Câu nhắc khéo thứ hai: “Hèn nào mà sáng nay em thấy người thu tiền nhà đã đến…”. Từ không nói trực tiếp đến việc trả tiền nhà. Từ muốn nhắc Hộ đi nhận tiền về để trả các khoản nợ (chủ ý vi phạm phương châm cách thức).
c. Tác dụng cách nói của Từ:
Từ thể hiện ý muốn của mình thông qua câu hỏi bóng gió về ngày tháng, nhắc khéo đến một sự việc có liên quan (người thu tiền nhà)… Cách nói nhẹ nhàng, xa xôi nhưng vẫn đạt được mục đích. Nó tránh được ấn tượng nặng nề, làm dịu đi không khí căng thẳng trong quan hệ vợ chồng khi lâm vào tình cảnh khó khăn.
a. Câu trả lời thứ nhất của anh chàng mua kính:
“Kính tốt thì đọc được chữ rồi” – chứng tỏ anh ta quan niệm kính tốt thì phải giúp cho con người đọc được chữ. Từ đó suy ra, kính không giúp con người đọc được chữ là kính xấu. Anh ta chê mọi cặp kính của nhà hàng vì không có cặp kính nào giúp anh ta đọc được chữ.
b. Câu trả lời thứ hai: “Biết chữ thì đã không cần mua kính”. Câu trả lời này giúp người đọc xác định được anh ta là người không biết chữ (vì không biết chữ nên mới cần mua kính). Cách trả lời vừa đáp ứng được câu hỏi, vừa giúp anh ta giữ được thể diện.
Bài tập 4: Lớp nghĩa tường minh và hàm nghĩa của bài thơ Sóng.
Lớp nghĩa tường minh: Cảm nhận và miêu tả hiện tượng sống biển với những đặc điểm trạng thái của nó.
Lớp nghĩa hàm ý: Vẻ đẹp tâm hồn của người thiếu nữ đang yêu: đắm say, nồng nàn, tin yêu.
Tác phẩm văn học dùng cách thể hiện có hàm ý sẽ tạo nên tính hàm súc, tư tưởng của tác giả một cách tinh tế, sâu sắc.
Bài tập 5: Cách trả lời có hàm ý cho câu hỏi: “Cậu có thích truyện Chí Phèo của Nam Cao không?”.
Ai mà chẳng thích?
Hàng chất lượng cao đấy!
Xưa như Trái Đất rồi!
Ví đem vào tập đoạn trường
Thì treo giải nhất chi nhường cho ai?
V. Tổng kết
Tác dụng và hiệu quả của cách nói có hàm ý: Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, hàm ý có thể mang lại:
Tính hàm súc cho lời nói: lời nói ngắn gọn mà chất chứa nhiều nội dung, ý nghĩa.
Hiệu quả mạnh mẽ, sâu sắc với người nghe.
Sự vô can, không phải chịu trách nhiệm của người nói về hàm ý (vì hàm ý là do người nghe suy ra..).
Tính lịch sự và thể diện tốt đẹp trong giao tiếp bằng ngôn ngữ. | Soạn bài lớp 12_ Thực hành về hàm ý | 1,500 | |
Soạn bài lớp 12: Tiếng hát con tàu
Hướng dẫn
Soạn bài: Tiếng hát con tàu
Soạn bài lớp 12: Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên là tài liệu văn mẫu lớp 12, giúp các bạn đọc hiểu tác phẩm, cảm nhận được những cảm xúc chân thành, tha thiết của tác giả trong công cuộc dựng xây đất nước, sự hòa nhập với nhân dân, với cuộc sống mới. Mời các bạn cùng tham khảo.
Soạn bài lớp 12: Đất nước – Nguyễn Khoa Điểm
Soạn bài lớp 12: Đất nước – Nguyễn Đình Thi
Giáo án Ngữ văn bài Tiếng hát con tàu
Phân tích tác phẩm Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
TIẾNG HÁT CON TÀU
(Chế Lan Viên)
I. GIỚI THIỆU CHUNG:
Chế Lan Viên là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới. Trước Cách mạng, thơ ông thể hiện tư tưởng siêu hình và bế tắc về thế giới và nghệ thuật. Sau 1945, hiện thực cách mạng và nhân dân đã làm cuộc đời và hồn thơ Chế Lan Viên thay đổi mạnh mẽ.
“Tiếng hát con tàu” in trong tập “Ánh sáng và phù sa” (1960). Tác phẩm lấy cảm hứng từ cuộc vận động nhân dân miền xuôi lên Tây Bắc để xây dựng kinh tế miền núi những năm 58- 60.
II. NỘI DUNG CHÍNH:
1. Nhan đề và lời đề từ: Hình ảnh “Con tàu” và “Tây Bắc” mang ý nghĩa biểu tượng trong suốt bài thơ.
* Ý nghĩa nhan đề:
Bài thơ ra đời khi thực tế chưa có đường tàu lên Tây Bắc. Hình ảnh “con tàu” thực chất là hình ảnh biểu tượng thể hiện khát vọng lên đường và niềm mong ước của nhà thơ được đến với mọi miền đất nước.
Tây Bắc là vùng đất xa xôi của Tổ quốc cần được xây dựng lại sau chiến tranh
“Tiếng hát con tàu”: Là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ – một tâm hồn tràn ngập niềm tin vào lí tưởng, vào cuộc đời. Tâm hồn nhà thơ đã hóa thân thành con tàu, hăm hở làm cuộc hành trình đến với Tây Bắc, đến với cuộc sống lớn của nhân dân. Đến với đất nước, nhân dân cũng là đến với cội nguồn của cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, trong đó có thơ ca.
2. Là sự trăn trở, giục giã lên đường (khổ 1+2):
Bằng những biểu tượng “con tàu” và “Tây Bắc” – nhà thơ bộc lộ cảm xúc, tình cảm đối với sự nghiệp xây dựng đất nước của toàn dân.
Lời thơ giục giã, gấp gáp, khẩn trương hàng loạt câu hỏi dồn dập, thôi thúc (anh đi chăng? anh có nghe? sao chửa ra đi?…) à là lời kêu gọi khẩn thiết, cấp bách, với mọi người hãy đi xây dựng Tây Bắc.
Còn là lời tự vấn đầy trăn trở và thể hiện tâm hồn, khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống của nhân dân.
-> Tác giả kêu gọi mọi người cũng chính là tự nói với lòng mình, thể hiện nhận thức mới tiến bộ của người nghệ sĩ
3. Kỉ niệm về Tây Bắc trong những ngày kháng chiến gian khổ (khổ 3 – 11):
Nhớ về vùng đất Tây Bắc “thiêng liêng, anh hùng”, đã trở thành biểu tượng của Đất nước gian lao mà anh dũng (khổ 3+4). Nhà thơ bộc lộ tình cảm của mình như đứa con với mẹ thân yêu “Cho con về gặp lại mẹ yêu thương”…
Nhớ về Tây Bắc bằng niềm khao khát được trở về với nhân dân, với cảm xúc như được trở về cội nguồn, về với niềm hạnh phúc lớn lao (khổ 5). Nhà thơ sử dụng những hình ảnh so sánh cụ thể mang vẻ đẹp thơ mộng, niềm vui sướng, hạnh phúc được gặp lại những gì thân thiết sâu nặng (Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ. Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa. Như đưa trẻ thơ đói lòng gặp sữa. Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa).
Nhà thơ nhớ về những con người cụ thể: anh du kích, em liên lạc, bà mế tóc bạc, em gái nuôi quân…(khổ 6, 7, 8, 11). Cách xưng hô gần gũi, thân thiết (con, anh con, em con, mế…), thể hiện sự gắn bó máu thịt và lòng biết ơn sâu nặng -> Chính điều đó đã khơi nguồn cho tinh thần trách nhiệm đối với Tây Bắc, với Tổ quốc.
Từ những câu thơ bày tỏ tình cảm cụ thể, riêng tư đối với thiên nhiên, đất nước, con người Tây Bắc, nhà thơ đã nâng lên thành những câu thơ có chất suy tưởng khái quát giống như châm ngôn nhưng chứa chan tình cảm, xúc cảm về quê hương đất nước: “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mấy phủ – Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương- Khi ta ở chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”… “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”.
4. Hướng về Tây Bắc trong công cuộc xây dựng đất nước (khổ 12 – 15):
Niềm khao khát được hòa nhập tình cảm của bản thân và nghĩa vụ với nhân dân, đất nước (khổ 12,13).
Niềm khao khát được trở về Tây Bắc như để khẳng định lại phẩm chất cao quí của con người đã được tôi luyện trong gian khổ của chiến tranh, nay được phát huy ở công cuộc xây dựng đất nước (khổ 14).
Khổ thơ cuối với nhiều hình ảnh thơ mộng, lãng mạn, mang ý nghĩa biểu tượng (Tây Bắc ơi… mẹ của hồn thơ, mộng tưởng, vầng trăng, mặt hồng em, suối lớn mùa xuân..) và bộc lộ niềm vui sướng được trở về với Tây Bắc như trở về với hồn thơ, với cội nguồn sáng tạo nghệ thuật, được hòa mình với cuộc sống của nhân dân.
III. NGHỆ THUẬT:
Hình ảnh thơ mới lạ, phong phú, có giá trị thẩm mĩ cao, tạo nên những liên tưởng so sánh bất ngờ.
Lời thơ có nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc, giàu chất trí tuệ, bộc lộ cách thể hiện riêng tài hoa, độc đáo, tạo ấn tượng thẩm mỹ cho người đọc.
Sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật với giọng điệu tha thiết, chân thành.
IV. KẾT LUẬN: | Soạn bài lớp 12_ Tiếng hát con tàu | 1,045 | |
Soạn bài lớp 12: Tuyên ngôn độc lập
Hướng dẫn
Soạn bài lớp 12: Tuyên ngôn độc lập
Soạn bài lớp 12: Tuyên ngôn độc lập là tài liệu hướng dẫn soạn văn lớp 12 hay dành cho các em học sinh tham khảo. Bài soạn văn 12 Tuyên ngôn độc lập này nhằm giúp các em học sinh hiểu rõ hơn về một trong những văn bản quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại, bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh. Hi vọng tài liệu này sẽ giúp các em tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn cũng như soạn bài môn ngữ văn 12 tốt hơn.
SOẠN BÀI TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Hồ Chí Minh sinh thời đã không bao giờ tự nhận mình là nhà văn nhà thơ nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng Người lại biến văn thơ làm vũ khí chiến đấu lại quân thù.
Với những quan điểm văn học nghệ thuật vô cùng tích cực Hồ Chí Minh đã thành công trên ba lĩnh vực văn học là thơ ca, truyện kí và văn chính luận
Bác để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ và khổng lồ làm giàu cho nền văn học Việt Nam.
Ở mỗi thể loại Bác đều thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo đa dạng và thống nhất.
2. Tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác:
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh không điều kiện, toàn quốc ta nổi dậy giành chính quyền.
Cách mạng tháng Tám thành công lật đổ chế độ phong kiến, đánh đuổi quân xâm lược tuy nhiên đất nước ta phải đứng trước muôn vàn khó khăn.
Các nước phương Tây như Anh, Mỹ, Pháp, cùng Trung Quốc đang lăm le tiến đến xâm lược nước ta đồng thời mở đường cho Pháp quay lại xâm lược.
Trong nước quân đội Nhật đang chờ giải giáp.
-> Trước tình hình đó Hồ Chí Minh về Hà Nội lập bản tuyên ngôn độc lập đứng trước quảng trường Ba Đình rực nắng đọc tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Đối tượng hướng đến:
Nhân dân trong nước.
Toàn bộ thế giới.
Mục đích:
Tuyên bố chấm dứt quyền hành của thực dân Pháp của Việt Nam lật đổ phong kiến và đánh tan âm mưu quay trở lại xâm lược của chúng.
Khẳng định quyền độc lập dân chủ của Việt Nam.
Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử, giá trị tư tưởng lại có giá trị văn chương.
Bố cục: 3 phần.
Phần 1: từ đầu đến cãi được: cơ sở pháp lý và chính nghĩa.
Phần 2: tiếp đến độc lập: tố cáo tội ác của thực dân Pháp.
Phần 3: còn lại: lời tuyên bố độc lập của nhân dân ta.
II. Tìm hiểu chi tiết.
1. Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản tuyên ngôn độc lập.
Hồ Chí Minh trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ đề làm mở đầu cho bài tuyên ngôn.
Trước hết là ca ngợi hai cuộc kháng chiến vĩ đại ấy.
Hai là chọc thẳng tim đen kế hoạch xâm lược lần nữa của chúng, đây là kế gậy ông đập lưng ông.
Từ hai bản tuyên ngôn tác giả suy rộng ra con người ai cũng có quyền được sống được tự do và sung sướng đó là quyền không thể xâm phạm được.
-> Chính sự suy rộng ra ấy đã nâng quyền sống của con người lên là một quyền cho toàn thế giới, nâng cuộc cách mạngViệt Nam đòi quyền sống cũng giống như dân tộc trên toàn thế giới đòi quyền sống.
Đặt 3 bản tuyên ngôn ngang hàng nhau nhằm thể hiện, cuộc đấu tranh của Việt Nam ngang hàng với cuộc đấu tranh của Mỹ và Pháp.
-> Như vậy bằng cách lập luận chăt chẽ, dẫn chứng thuyết phục bác đã chọc thủng tim đen quân xâm lược. Chúng hành động ngược với tổ tiên của chúng chẳng phải là chúng đã dập đạp lên lá cờ nhân nghĩa của tổ tiên chúng hay sao.
2. Bản cáo trạng đanh thép về tội ác của quân giặc Pháp và quá trình đấu tranh của nhân dân ta.
a. Bản cáo trạng đanh thép về tội ác của giặc Pháp.
Từ nối “thế mà” -> sự trái ngược trước hành động và lời nói của chúng.
Về chính trị:
Chúng cướp quyền tự do.
Thi hành luật pháp dã man.
Chúng lập ra nhiều nhà tù nhiều trường học, chém giết những người yêu nước.
Ràng buộc dư luận, chính sách ngu dân.
Về kinh tế:
Bóc lột đến tận xương tủy.
Cướp không ruộng đất.
Độc quyền in giấy bạc.
Đặt ra nhiều thứ thuế vô lí.
Bẻ gãy luận điệu xảo trá về một nền bảo hộ khai hóa văn minh của chúng.
Chúng không những không có công mà còn có tội, chúng quỳ gối đầu hàng nhật và mở đường cho chúng xâm lược nước ta.
Chúng thẳng tay khủng bố Việt Minh giết chết những người tù chính trị.
-> Bằng những lời lẽ đanh thép tội ác của thực dân Pháp đã được tác giả phơi bày trước ánh sáng.
b. Quá trình đấu tranh của nhân dân ta.
Đối lập với những việc làm của chúng, quân dân việt Nam đã anh dũng chống lại Nhật.
Điệp từ “sự thật” nhấn mạnh vào những sự thật lịch sử hai năm rõ mười không thể chối cãi được.
Chúng ta dành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải tay Pháp.
Chúng ta thậm chí không giết những người tù chính trị của chúng mà còn tạo điều kiện cho họ trở về.
-> Chính vì thế mà Pháp không có quyền nói với thế giới rằng Đông Dương thuộc quyền Pháp, khi mà đất nước cần chúng bảo hộ thì chúng lại giơ tay đầu hàng mà trao Việt Nam cho Nhật.
Và sự thật là Việt Nam đã giành được độc lập, lật đổ phong kiến đánh đuổi phát xít cũng như Pháp.
Bác Hồ kêu gọi nhân dân toàn quốc đoàn kết để giữ gìn nền độc lập ấy.
3. Lời tuyên bố độc lập.
Tuyên bố nền độc lập.
Thể hiện ý chí bảo vệ nền độc lập của Việt Nam.
III. Tổng kết.
Bằng những lời kết tội đanh thép, dẫn chứng thuyết phục, lập luận chặt chẽ sắc bén Hồ Chí Minh đã thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam tố cáo tội ác của thực dân Pháp đồng thời chặn ngang âm mưu quay trở lại xâm lược của các nước đế quốc. Khẳng định nền độc lập và tất cả làm vì nền độc lập đó.
Bài 1: Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập – Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngày 2.9.1945 là một sự kiện lớn, một dấu ấn không phai mờ trong lịch sử dân tộc, trong tâm trí của người dân Việt Nam. Hơn sáu mươi năm đã trôi qua nhưng mỗi khi xem lại những thước phim tư liệu chúng ta lại hồi hồi như đang đứng giữa Quảng trường Ba Đình năm ấy và lại rưng rưng cảm giác xúc động vui sướng, tự hào khi nghe giọng Bác trầm ấm” Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” khi đọc lời tuyên ngôn độc lập – mội văn kiện lịch sử đặc biệt – một áng văn chính luận bất hủ.
Toàn văn bản tuyên ngôn độc lập không dài, chỉ gói gọn trong khoảng chưa đầy một ngàn chữ những vô cùng chặt chẽ và súc tích. Bản Tuyên ngôn chia làm ba phần rõ rệt, mỗi phần một ý, liền mạch với nhau theo một bố cục chặt chẽ mạch lạc.
Phần đầu, bản Tuyên ngôn nêu lên những chân lí về nhân quyền và dân quyền. Tác giả trích dẫn lời hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới, bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp là có dụng ý sâu sắc. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ ra đời sau khi nước Mĩ đấu tranh giành độc lập thành công. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền cũng ra đời trong chiến thắng của cách mạng Pháp, cuộc cách mạng của những thị dân và nông dân chống áp bức, bất công. Lời lẽ của hai bản Tuyên ngôn trên tự thân đã nêu lên những chân lí, là kết quả của những cuộc cách mạng có
Tính chất tiên phong của những nước có ảnh hưởng lớn trên thế giới, khiến cho không ai có thể phủ nhận tính đúng đắn của chúng. Ta có thể thấy sự hiểu biết và cân nhắc kĩ càng của vị Chủ tịch khi trích dẫn những chân lí đó. Hơn thế Người còn vận dụng sáng tạo:
“Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”, người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và cũng đầy thuyết phục. Điều đáng nói hơn nữa là ngay ở đoạn đầu này, cũng chính là lời trích dẫn bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền đã toả ra chiến đấu mạnh mẽ và tiềm tàng của hành động trái ngược hẳn: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”. Rõ ràng qua cách lập luận như thế, một sự thật được phơi bày cách hiển nhiên là bản chất của thực dân Pháp ở Việt Nam trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Kết thúc phần này là một câu khẳng định ngắn gọn dầy sức thuyết phục: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Mở rộng hơn, phần thứ hai liệt kê ngắn gọn và đầy đủ những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra trên đất nước ta trong suốt gần một trăm năm đô hộ. Trước tiên, chúng tước đoạt tự do chính trị, “tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”. Kế đó là “chúng thi hành những luật pháp dã man, ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết…” Cả đoạn dày đặc những câu liệt kê định tội rắn rỏi, tố cáo toàn diện tội ác cùa bọn cướp nước. Từng câu, từng chữ đã nêu bật bản chất bọn xâm lược. Thực dân Pháp đã thi hành chính sách ngu dân, tiêu diệt văn hoá, chính là muốn diệt trừ tận gốc bản sắc dân tộc, ý thức lịch sử và truyền thống dân tộc bằng cách “lập ra nhà tù nhiều hơn trường học”. Chúng đàn áp thẳng tay và dã man những người yêu nước, “tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”, cướp đoạt trắng trợn và bất công quyền thiêng liêng nhất của con người: quyền được sống. Đó là thực chất khai hoá, cái gọi là đem văn minh đến cho người bản xứ mông muội. Chúng còn “bóc lột dân la đến xương tuỷ… cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu… đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta trở nên tin cùng… chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”. Hành động của chúng thật hết sức vô nhân đạo và chánh nghĩa. Hơn nữa, khi bị Nhật tước khí giới, chúng đã bỏ chạy, đầu hàng, bán nước hai lần cho Nhật. Đó là thực chất bảo hộ của chúng, sự thật lịch sử đã tố cáo bản chất dối trá, hèn nhát của bọn xâm lược.
Chỉ trong một đoạn ngắn hai mươi mốt câu, tác giả đã xé toang chiêu bài “khai hoá, bảo hộ” giả dối bịp bợm mà bây lâu chúng dùng để che đậy những việc làm xấu xa độc ác. Tác giả dùng liên tiếp những sắc thái từ cao độ: hắn, tuyệt đối không cho, dã man, thẳng tay chém giết, tắm… trong những bể máu, bóc lột đến tận xương tuỷ…. ngôn ngữ linh hoạt, sắc bén, đầy hình ảnh cụ thể, chính xác, gợi tả, tỏ thái độ căm giận sâu sắc trước những tội ác man rợ đó. Điệp từ chúng xuất hiện dày đặc, lồng trong những câu song hành, đồng nghĩa, như những nhát búa đập thẳng vào lớp vỏ bọc hoa mĩ bọn thực dân vẫn tuôn ra bấy lâu, tạo những âm vang sóng dội, nhấn mạnh và trở đi trở lại, như khắc sâu ghi nhớ, như kết án luận tội đồng thời tỏ ra sức mạnh của chúng ta, sức mạnh của chính nghĩa. Đối lập với những hành động phi nhân đó của thực dân Pháp cuộc đấu tranh đầy nhân đạo chính nghĩa của nhân dân ta. Từ những hành động tàn nhẫn của thực dân Pháp như khủng bố Việt Minh, giết chính trị phạm, tác giả dẫn dắt chúng ta đến những hành động nhân đạo, khoan hồng của quân và dân ta: giúp nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Điệp ngữ Sự thật là… đã khẳng định chiến thắng của ta: ta đã lấy lại đất nước từ trong tay Nhật, đất nước mà thực dân Pháp đã cướp lấy rồi bán cho phát xít Nhật. Chúng ta chiến đấu chống phái xít, đứng về phía mặt trận dân chủ chống phát xít, có vai trò và vị trí xứng đáng trước thế giới chính do sức mạnh tự chủ tự thân của dân tộc. Như vậy các nước tiến bộ trên thế giới phải đồng tình ủng hộ quyền được hưởng tự do độc lập một cách chính đáng của dân tộc ta. Câu tuyên bố “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” ngắn gọn và súc tích, nghe như một lời reo vui. Câu này cũng có thể làm một ví dụ tiêu biểu cho văn phong Hồ Chí Minh là ngắn gọn chuẩn xác mà đầy uy lực, giàu ý nghĩa. Tuyên bố với thế giới về việc thành lập của một đất nước mới nhưng đã phải chịu nhiều đau thương, tác giả đã rất đanh thép và triệt để khi dùng những cụm từ thoát li hẳn, xoá bỏ hết, Xóa bỏ tất cả để nhấn mạnh sự phủ định tuyệt đối mọi quan hệ lệ thuộc với Pháp, chặt nốt những mắt xích cuối cùng ràng buộc Việt Nam, để đất nước này đứng lên trong tự do hoàn toàn, xây dựng một chế độ mới.
Đây là bản Tuyên ngôn độc lập lần đầu tiên tuyên bố với thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới, đánh dấu một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập tự do cho một dân tộc bất khuất kiên cường. Nó đánh dấu thắng lợi đầu tiên của một nước ở châu Á. Mặt khác, bản Tuyên ngôn còn là một áng văn chính luận mẫu mực, đanh thép và lôi cuốn ở lí lẽ và lập luận chặt chẽ, ở từ ngữ, hình ảnh dễ cảm, chính xác, mạnh mẽ. Ở câu văn gọn mà sắc, giản dị mà hùng hồn, đã vừa cảnh cáo, vạch mặt kẻ thù, vừa khích lệ, động viên tinh thần nhân dân và tranh thủ sự đồng tình quốc tế.
Có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kế thừa được những chân lí cùa lịch sử dân tộc và thế giới vừa mang tính thời đại. Bản tuyên ngôn còn đồng thời mang tính tính lịch sử và mang tính văn chương. Bởi thế nó mãi mãi là áng văn bất hủ, là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam yêu nước.
Bài 2: Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập – Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong số những tác phẩm của Bác có những kiệt tác sánh ngang với các thiên cổ hùng văn của dân tộc thì Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm tiêu biểu nhất. Tác phẩm có giọng văn hùng hồn thống thiết, có lí luận chặt chẽ sắc bén, có sức thuyết phục cao đối với người đọc và người nghe- Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh của những con người anh hùng Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. “Bản tuyên ngôn Độc lập” là kết quả của bao nhiêu hi vong, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam (Trần Dân Tiên).
Tuyên ngôn Độc lập mở đầu là nêu thẳng vấn đề. Người nêu những căn cứ pháp lí, “những lẽ phải không ai chối cãi được”. Đó là những câu tuyên bố nổi tiếng được Bác rút ra từ hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của Pháp và Mĩ. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ: “Tất cả mọi người đều sinh ra… mưu cầu hạnh phúc”. Để làm nổi bật tính phổ biến của những lẽ phải, Người còn nêu những lời trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra… về quyền lợi). Cách nêu dẫn chứng như thế vừa khéo léo vừa kiên quyết. Khéo léo vì tỏ ra tôn trọng chân lí chung dù chân lí ấy của các nước đang là kẻ thù gây ra. Cách nêu dẫn chứng ấy cũng hàm chứa một sự phê phán. Thực dân Pháp và đế quốc Mĩ – những kẻ xâm lược đã chà đạp lên chân lí, chà đạp lên lương tâm và lý tưởng của cha ông chúng. Đó là cách dùng lí lẽ của kẻ thù để chống lại kẻ thù, dùng gậy ông đập lưng ông. Hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đều nhấn mạnh quyền con người, Bác nói thêm về quyền dân tộc. Câu nói của Người mở đầu cho trào lưu giải phóng dân tộc trên khắp thế giới. Đồng thời, đặt Bản tuyên ngôn của nước ta ngang hàng với hai bản tuyên ngôn đã nêu.
Về kinh tế, Bác cũng kết tội thực dân Pháp từ khái quát đến cụ thể “Chúng bóc lột dân ta đến… tiêu điều”. Bác quan tâm đến những hạng người như: “dân cày và dân buôn trở nên bần cùng”, “chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên”. Lập luận như vậy là Bác muốn tranh thủ sự ủng hộ của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc bảo vệ nền Độc lập. Cả đoạn văn tác giả chỉ dùng một chủ ngữ “chúng” để chỉ thực dân Pháp, nhưng vị ngữ thì luôn thay đổi: “thi hành”, “lập ra”, “thẳng tay chém giết”, “tắm”… chỉ một ke thù là thực dân Pháp nhưng tội ác của chúng gây ra trên đất nước ta vô cùng nhiều. Cách lập lụân đanh thép cùng với những dẫn chứng cụ thể khiến kẻ thù hết đường lẩn tránh tội ác.
Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp gây ra là nạn đói khủng khiếp năm 1945: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căm cứ đánh đồng minh thì thực dân Pháp quì gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó, nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó, nhân dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói”.
Tác giả cũng không bỏ xót nhữung tội ác khác của bọn thực dân Pháp như “trong năm năm chung bán… cho Nhật”, tội thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa, tội “giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.”
Người kết tội thực dân Pháp một cách hùng hồn và đanh thép như vậy nhằm phơi bày bản chất tan bạo, dã man của thực dân Pháp, lột mặt nạ “khai hoá’, “bảo hộ” của chúng trước nhân dân thế giới, khơI lòng căm thù của nhân dân ta với thực dân Pháp.
Tác giả biếu dương sức mạnh dân tộc tỏngcông cuộc chống thực dân phong kiến và giành lấy nền Độc lập “Pháp chạy, Nhật hàng…chế độ dân chủ cộng hoà”. Đoạn văn này diễn tả đầy hào khí. Chỉ có 9 chữ “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, Bác dựng lại cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động và cực kì oanh liệt của dân tộc ta. Biểu dương truyền thống bất khuất của dân tộc, tác giả nhằm kích thích tinh thần tự hào dân tộc, kích thích ý chí chiến đấu để nhân dân ta quyết tâm chống lại âm mưu của thực dân Pháp.
Tiếp theo, Người nêu cơ sở chính nghĩa của việc thành lập nước Việt Nam mới. Việt Minh là tổ chức cách mạng của toàn bộ dân tộc Việt Nam. Việt minh đã đứng về phe đồng minh, đã chống lại thực dân Pháp và phát xít Nhật và đã giành chính quyền từ tay Nhật. Hai lần Người nhấn mạnh nền Độc lập của đất nước bẳng những câu văn điệp ngữ mạnh mẽ: “Sự thật là…”.
Trên cơ sở ấy, Người tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ trên đất nước Việt Nam…”
Cuối cùng thay mặt cho cả một dân tộc vừa giành được tự do độp lập. Người nêu lời thề “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cảI để giữ vững quyền tự do Độc lập ấy”- Tuyên ngôn Độc lập là kiệt tác của Hồ Chí Minh. Bằng tâm huyết và tài hoa, Người đã thể hiện được khí phách của một dân tộc đang vùng dậy chống đế quốc, thực dân phong kiến, giành Độc lập tự do cho nước nhà. Với Tuyên ngôn Độc lập, lần đầu tiên Việt Nam hiện diện trên trường quốc tế với tư cách là một nước tự do và Độc lập và nhân dân thế giới cũng thấy được tinh thần quyết tâm bảo vệ nền Độc lập của dân tộc Việt Nam.
Tuyên ngôn Độc lập trước hết là một văn kiện lích sử. Nó là bản văn quan trọng bậc nhất của nước ta. Để có được Tuyên ngôn Độc lập, biết bao đồng bào, đồng chí đã hy sinh trong suốt 80 năm chống Pháp. Tuyên ngôn Độc lập là một cột mốc lịch sử, nó chấm dứt giai đoạn mất nước, giai đoạn nhân dân ta sống kiếp ngựa trâu, nô lệ của dân tộc, nó mở đầu một kỉ nguyên mới: ki nguyên Độc lập tự do.
Với hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, thống thiết, Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng sánh ngang với các bản tuyên ngôn trên thế giới và các thiên cổ hùng văn của các dân tộc khác như Hích tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi… | Soạn bài lớp 12_ Tuyên ngôn độc lập | 3,935 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.