text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Soạn bài Luyện viết văn tả người Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 2.Các vế câu trong mỗi câu ghép sau được nối với nhau bằng những quan hệ từ nào? a)Trời mưa nên Lan không đi chơi. b)Vì voi rất khỏe nên người ta đã huấn luyện voi kéo gỗ. Gợi ý: a) nên; b) Vì… nên… 3.Chọn quan hệ từ trong ngoặc đơn thích hợp với mỗi chỗ trống (SGK/55) (tại, vì, nhờ) Gợi ý: a) Nhờ thời tiết thuận nên lúa tôt. b)Tại thời tiết không thuận nên lúa xâu. c)Lúa gạo quý vì ta phải đô bao mồ hôi mới làm ra được. (Theo TRỊNH MẠNH) 4.Chọn cặp quan hệ từ thích hợp điền vào chỗ trống trong hai câu sau (SGK/56) Gợi ý: a) Vì con khỉ này rất nghịch nên các anh bảo vệ thường phải cột dây. (Theo ĐOÀN GIỎI) b) Nhờ mỏ chim bói cá rất dài nên chúng bắt cá rất dễ dàng. 5.Thêm vào chỗ trống một quan hệ từ và vế câu thích hợp để tạo thành câu ghép (SGK/56) Gợi ý: a) Vì bạn Dũng không thuộc bài nên bạn ấy bị cô giáo phê bình. b)Do nó chủ quan nên nó đã thất bại. c)Nhờ các bạn giúp đờ nên Bích Vân đã có nhiều tiến bộ trong học tập.
Soạn bài Luyện viết văn tả người
199
Soạn bài Luật tục xưa của người Ê-Đê Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM Đọc rõ ràng, trôi chảy văn bản. Ngừng nghỉ đúng chỗ có dấu câu. Nhấn giọng ở những từ ngữ trọng tâm của văn bản: như những từ chỉ tính chất, đặc điểm của sự việc và cách xử lí các sự việc đó. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Người xưa đặt ra luật tục để làm gì? Trả lời: Ngựời xưa đặt ra luật tục đế bảo vệ cuộc sông bình yên cho cộng đồng của mình. Câu 2: Kể những việc mà người Ê-đê cho là có tội? Trả lời: Đó là những việc: -Tội không hỏi mẹ cha. -Tội ăn cắp. -Tội giúp kẻ có tội. -Tội dẫn đường cho giặc đến đánh làng mình. Câu 3: Tìm những chi tiết trong bài cho thấy đồng bào Ê-đê xử phạt rất công bằng. Trả lời: Đó là những chi tiết: -Chuyện nhỏ thì xử nhẹ (phạt tiền một song). -Chuyện lớn thì xử nặng (phạt tiền một co). -Người phạm tội là người bà con anh em cũng xử vậy. -Tội quá sức con người thì phải chịu chết. *Tang chứng phải chắc chắn (phải nhìn tận mắt, bắt tận tay; lấy và giữ được gùi, khăn, áo, dao… của kẻ phạm tội; đánh dấu nơi xảy ra sự việc) mới được kết tội, phải có vài ba người làm chứng, tai nghe, mắt thấy thì tang chứng mới có giá trị. -Luật Giao thông đường bộ; Luật Dân sự; Luật Tố tụng hình sự; Luật Nghĩa vụ quân sự; Luật Giáo dục; Luật Bảo vệ môi trường; Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Hôn nhân v.v… *Nội dung chính: Luật tục ngày xưa của người Ê-đê quy định xử phạt rất nghiêm minh công bằng nhằm bảo vệ cuộc sống bình yên cho buôn làng.
Soạn bài Luật tục xưa của người Ê-Đê
300
Soạn bài làm thơ bảy chữ Hướng dẫn I.Chuẩn bị ở nhà 1.Khái niệm và phạm vi luyện tập: Đối với thơ thất ngôn bát cú. a.Vần thơ. Căn cứ vào chữ cuối cùng các câu 1, 2, 4, 6, 8. -Thơ Đường luật thường gieo vần bằng, ít gieo vần trắc. -Cả bài thơ chỉ gieo một vần, gọi là độc vần, và gieo ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8. -Vần gieo có thể là vần chính hay vần thông. -Bài gieo vần cưỡng ép sẽ mất giá trị nhiều. -Thơ Đường chỉ gieo vần ở cuối câu, không gieo vần ở lưng chừng câu. b.Đối -Trong bài thơ theo luật Đường: + Hai câu 3, 4 và 5, 6 phải đối nhau từng đôi. + Và buộc phải đối thanh, nếu đối ý được thì càng hay. c.Luật bằng trắc: -Luật bằng trắc rất nghiêm ngặt: + Buộc các chữ 2, 4, 6 trong mojtoj câu thơ phải theo đúng luật. + Còn các chữ 1, 3, 5 được miễn theo luật: Nhất tam ngũ bất luận Nhị tứ lục phân minh. Muốn viết bài thơ theo luật nào, ta căn cứ vào chữ thứ hai câu đầu tiên, nếu là bằng thì bài thơ theo luật bằng, ngược lại là luật trắc. Ở mỗi câu thơ, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 cùng vần, hoặc bằng hay trắc cả, chữ thứ tư đối vần với hai chữ đó. Tuy có luật bấn luận ở các chữ 1, 3, 5 nhưng có hai trường hợp sau nếu không theo đúng luật bằng trắc chữ đó sẽ khó đọc. Nếu không theo đúng quy luật bằng trắc như luật gọi là thất luật. d.Niêm -Niêm nghĩa là dính, hai câu thơ gọi là niêm với nhau khi có cùng một thứ tự bằng, trắc như nhau. -Các cặp sau của bài thơ Đường phải niêm với nhau: + Câu 1 với 8 + Câu 2 với 3 + Câu 4 với 5 + Câu 6 với 7 e.Bố cục của bài Đường luật: -Để gồm có phá đề (câu 1) tức là mở bài và thừa đề (câu 2) dùng để nối câu phá mà vào bài. -Thực hay trạng (câu 3 và 4): giải thích ý bài. -Luận (câu 5 và 6): bàn bạc rộng nghĩa đầu bài. -Kết (câu 7 và 8): tóm ý toàn bài. f.Tiết tấu trong bài thơ: -Tức là cách ngắt các chữ cho có nhịp điệu uyển chuyển. -Thường có ba cách ngắt: + Ngắt làm 2, 2, 3 như: Một duyên / hai nợ / âu đành phận Năm nắng / mười mưa / dám quản công. + Ngắt làm 4, 3 như: Cơm áo đến rồi / ơn đất nước. Mày râu giữ vẹn / phận tôi trung. + Ngắt 2, 5 như hai câu sau: Lìa Ngô / bịn rịn chìm mây bạc Về Hán / trau chia mảnh má hồng. (Nguyễn Đình Chiểu) 2.Sưu tầm một số bài thơ bảy chữ: Cảnh khuya – Hồ Chí Minh Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Soạn bài làm thơ bảy chữ
480
Soạn bài Làng Hướng dẫn Soạn bài Làng của Kim Lân I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Truyện “Làng” đã xây dựng được môt tình huống truyện độc đáo làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê, tình yêu đất nước của nhân vật ông Hai. Đó là tình huống: ông Hai, một người dân làng Dầu rất yêu và tự hào về làng mình đi tản cư lại nghe được tin làng Chợ Dầu đi theo giặc, làng Chợ Dầu làm việt gian, lập làng tề. Cái tin ấy ông nghe từ chính miệng những người tản cư đi qua. Câu 2. a.Thuật lại diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc đến kết thúc truyện. –Khi nghe tin đột ngột làng chợ Dầu theo giặc, cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da tê rân rân, ông lão lặng đi, tưởng như không thơ được, một lúc sau ông mới hỏi lại giọng lạc hẳn đi nhưng ông chưa tin, đến khi những người tản cư kể rành rọt quá, ông không thể không tin. –Ông đi về nhà, mặt cúi gằm xuống đất, về đến nhà ông vật ra gường, nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão tràn ra. Ông đau đớn rít lên, nguyền rủa bọn phản bội. –Suốt ngày ông Hai ở trong nhà, chẳng chịu đi đâu, chỉ quanh quẩn để nghe ngóng tình hình bên ngoài, có đám đông xúm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói x axa ông cũng chột dạ, lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý mình, thoáng nghe thấy tiếng “Tây”, “Việt gian”, là ông lủi vào góc nhà im thít “Thôi! Lại chuyện ấy rồi”. –Ông quyết đoạn tuyệt với làng để đi theo kháng chiến, theo cách mạng “Làng thì yêu thật nhưng làng làm Việt Gian thì phải thù”. –Khi đi nghe tin cái chính làng chợ Dầu không theo giặc ông Hai như được hồi sinh “cái mặt bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên”. Ông mua bánh chia cho các con. Ông lại đi khắp nơi khóc về làng ông như xưa nhưng bây giờ, trong câu chuyện của ông có thêm cái tin Tây đốt làng ông, đốt cả nhà ông nữa. Đó là bằng chứng hùng hồn của tình yêu đất nước. b.Ông Hai đau đớn, tủi hổ khi nghe tin làng theo giặc vì ông rất yêu làng, tự hào về làng, làng gắn bó máu thịt với cuộc đời ông. Vậy mà nay làng theo giặc. Tình yêu trong ông bị đổ vỡ, bỏ làng hay bỏ cách mạng, bỏ kháng chiến. Dù đã xác định “Làng làm Việt Gian, theo Tây thì phải thù” nhưng tận trong sâu thẳm trái tim ông, ngôi làng với nhà ngói san sát, đường lát toàn đá xanh… vẫn ngự trị trong ông. Yêu tha thiết mà phải dứt bỏ tình yêu ấy ông Hai không đau lòng sao được. Tâm trạng đau đớn tủi hổ đột ngột xuất hiện khi ông Hai nghe tin làng theo. Tin dữ ấy đã trở thành nỗi am ảnh nặng nề, sự sợ hãi thường xuyên, lúc nào ông cũng nơm nớp lo sợ, có lúc ông đã bị đẩy vào tình thế bê tắc đến tuyệt vọng ấy là việc mụ chủ nhà muối đuổi gia đình ông đi không ai chứa chấp bọn Việt Gian. Biết đi về đâu? Về làng thì không được, ở lại cũng không xong. Mối mâu thuẫn trong nội tâm và tình thế của nhân vật đã trở thành sự bế tắc. Câu 3. Câu chuyện giữa ông Hai với thằng con út là một đoạn truyện hết sức cảm động: –Ông Hai trò chuyện với đứa con nhỏ thực chất là tự nhủ với chính mình, tự giãi bày nỗi lòng mình. –Qua lời trò chuyện của con ta thấy: + Tình yêu làng của ông Hai vô cùng sâu nặng. Ông muốn khắc ghi vào ký ức con ông rằng “Nhà ta ở làng chợ Dầu”. + Tình yêu đất nước, tấm lòng chung thủy với kháng chiến, với cách mang, với Bác Hồ. Đó là tình cảm sâu nặng, bền vững, không bao giờ thay đổi “chết thì chết có bao giờ đám đơn sai”. –Tình yêu làng quê, yêu đất nước đã gắn bó làm một, hòa quyện trong con người ông Hai trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng bền vững. Tình yêu ấy không chỉ riêng ở ông Hai mà nó chính là tình cảm của nhân vật Việt với làng quê, với đất nước. Câu 4. Nghệ thuật miêu tả tâm lý và ngôn ngữ nhân vật ông Hai. –Tác giả miêu tả tâm lý nhân vật qua hành động, ngôn ngữ độc thoại, đối thoại, rất hợp lý. Từ chỗ đau đớn rụng rời đến chỗ bế tắc tuyệt vọng và cuối cùng là giải tỏa tâm lý bằng cái tin cải chính. Nhân vật được hồi sinh. –Tác giả đặt nhân vật vào tình huống thử thách bên trong đề bộc lộ chiều sâu tâm trạng. (Từ sự việc bên ngoài đến tình huống nội tâm, từ chuyện làng theo giặc trở thành cuộc xung đột trong lòng nhân vật). –Miêu tả cụ thể gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, đặc biệt tác giả diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật.
Soạn bài Làng
916
Soạn bài Lập làng giữ biển Hướng dẫn A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM Giọng đọc toàn bài là giọng đọc như người đang kể chuyện. Lúc thì thong thả, chậm rãi, trầm lắng, lúc thì hào hứng sôi nổi. Cần thay đổi giọng đọc cho phù hợp với nội dung của từng lời đối thoại nhằm bộc lộ tính cách của từng nhân vật. Ngừng nghỉ đúng chỗ có các dấu câu. Nhấn giọng ở những từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, đặc điểm tính chất của người, sự vật. B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI 1- Phân đoạn: Bài văn có thể chia làm 4 đoạn để luyện đọc. – Đoạn 1: Từ đầu đến… “như tỏa ra hơi muối”. – Đoạn 2: Tiếp đoạn 1 cho đến… “thì để cho ai?”. – Đoạn 3: Tiếp đoạn 2 cho đến… “quan trọng nhường nào”. – Đoạn 4: Phần còn lại của văn bản. 2- Nội dung bài: Câu 1: Bố và ông của Nhụ bàn với nhau việc gì? Trả lời: Bố và ông của Nhụ bàn với nhau việc họp làng để đưa một bộ phận dân làng ra đảo lập làng mới. Câu 2: Việc lập làng mới ngoài đảo có lợi gì? Trả lời: Việc lập làng mới ngoai đảo đem lại nhiều cái lợi cho cuộc sống những người dân chài. Bởi ở đảo có đất rộng, bãi dài, cây xanh, nước ngọt, ngư trường gần đáp ứng được mong ước bấy lâu của những người dân chài là có đất rộng để phơi được một vàng lưới, buộc được một con thuyền. Trả lời: Đó là những chi tiết: – Ông bước ra võng, ngồi xuống võng, vặn mình, hai má phập phồng như người súc miệng khan. Ông đã hiểu những ý tưởng hình thành trong suy tính của con trai ông quan trọng nhường nào. Câu 4: Nhụ nghĩ về kế hoạch của bố như thế nào? Trả lời: Nhụ nghĩ về kế hoạch của bố là: Nhụ với bố sẽ ra đảo trước, sau đó cả nhà sẽ đi. Một làng mới sẽ hình thành. Đó là làng Bạch Đằng Giang ở đảo Mõm Cá Sấu đang bồng bềnh đâu đó ở mãi phía chân trời… hiện lên đầu Nhụ. Và Nhụ tin kế hoạch của bố sẽ thực hiện thành công. * Nội dung chính: Ca ngợi những người dân chài dám nghĩ, dám làm, dám rời mảnh đất của quê cha đất tổ – nơi chôn nhau cắt rốn của mình để lập làng mới trên đảo tít ngoài khơi, quyết tâm xây dựng cuộc sống mới, góp phần bảo vệ vùng biển của Tổ quốc.
Soạn bài Lập làng giữ biển
430
Soạn bài Lặng lẽ Sa Pa Hướng dẫn I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Truyện được trần thuật theo điểm nhìn và ý nghĩ của nhân vật nào? Tác dụng của cách trần thuạt ấy trong việc khắc họa nhân vật chính và thể hiện nội dung tư tưởng của truyện. Truyện được trần thuật chủ yếu theo điểm nhìn và ý nghĩ của ông họa sĩ. Cái nhìn và suy nghĩ của ông họa sĩ là của một người từng trải nghề nghiệp và niềm khát khao của người nghệ sỹ đi tìm đối tượng của nghệ thuật: Qua cái nhìn của nhân vật này, nhân vật chính hiện lên đẹp hơn, thật hơn và cũng giàu chất thơ, chất họa hơn. Câu 2. Phân tích nhân vật anh thanh niên: Anh thanh niên là nhân vật chính của truyện. Nhân vật này không xuất hiện ở đầu truyện mà chỉ hiện ra trong cuộc gặp gỡ với ông họa sĩ, cô gái trẻ, bác lái xe khi xe của họ dừng lại nghỉ. Nhân vật này chỉ hiện ra trong chốc lát để các nhân vật khác soi vào, ghi nhận lại một ấn tượng, một “ký họa chân dung” về anh rồi dường như anh lại khuất lấp vào trong mây mù bạt ngàn và cái lặng lẽ muôn thuở của Sa Pa, ở cái nơi mới nghe tên đã nghĩ đến chuyện là nơi có những người hết lòng làm việc, lo nghĩ cho đất nước. Nhân vật anh thanh niên hiện ra qua suy nghĩ đánh giá của các nhân vật khác như bác lái xe, ông họa sĩ, cô kỹ sư. Nghĩa là hình ảnh anh thanh niên được soi rọi từ nhiều phía, làm nổi bật những nét đẹp đáng yêu, đáng mến. Anh vượt qua mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Ta hãy xem hoàn cảnh sống và làm việc của anh: Anh sống một mình trên núi cao hai nghìn sáu trăm mét, quanh năm suốt tháng với cỏ cây muông thú. Công viêc của anh là: “Đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động của mặt đất, tham gia vào việc dự báo thời tiết hằng ngày phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Chàng trai ấy có những phẩm chất thật đáng quý. -Anh là một người có suy nghĩ đẹp: Anh có quan niệm đúng đắn về hạnh phúc, về lẽ sống. Ta hãy nghe tâm sự của anh: “Khi ta làm việc ta với côn việc là đôi, sao lại gọi là một mình được, huống chi việc của cháu găn liền với bao anh em đồng đội dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy nhưng nếu cất nó đi thì cháu buồn đến chết mất”. Chàng trai ấy quan niệm về hạnh phúc với đẹp làm sao! Hạnh phúc là khi anh được “Góp phần phát hiện một đám mây khô giúp không quân ta bắn rơi máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rông”. Anh thú nhận “Từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc”. Đấy, với anh hạnh phúc là thế, là được cống hiến cho cuộc đời. -Anh có hành động đẹp: Anh vượt qua khó khăn gian khổ, sống một mình trên đỉnh núi cao trong sự cô đơn tuyệt đối để làm nhiệm vụ một cách tự giác, có kết quả cao. Ta hình dung cảnh “Một giờ sáng”, trời mưa tuyết, trong cái im lặng rợn người của Sa Pa “Một mình anh xách đèn đi ra vườn để đo chấn động của vỏ quả đất trên máy, báo về “nhà” góp phần dự báo thời tiết trong ngày. Đây là công việc đòi hỏi phải tỉ mỉ, có tinh thần trách nhiệm cao. -Anh có lối sống đẹp: Chỉ có một mình trên đỉnh núi cao anh vẫn tổ chức sắp xếp cuộc sống ngăn nắp chủ động “Một căn nhà ba gian sạch sẽ với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm… Anh là làm đẹp nơi mình bằng cách trồng hoa, biết bao loài hoa “mùa xuân nở ngay giữa mùa hè” trước ngôi nhà của anh. Không chỉ có thế, anh còn nuôi già, tự học, tự đọc sách ngoài giờ làm việc. Anh sống rất chân thành cởi mở, quan tâm đến mọi người, khao khát được nói chuyện với mọi người, quý trọng tình cảm của người khác. Anh gửi quà cho vợ bác lái xe như một lẽ thường, anh xúc động khi có khách lên thăm. Con người ấy cũng luôn khiêm tốn và thành thực, lúc nào anh cũng cảm thấy những đóng góp của mình là nhỏ bé. Vì vậy khi ông họa sĩ muốn vẽ chân dung anh, anh đã giới thiệu những người khác đáng khâm phục hơn. -Như vậy, dù anh chỉ xuất hiện trong một khoảng khắc ngắn của truyện, ta cũng đã có thể hình dung ra chân dung một nhân vật với những nét đẹp trong suy nghĩ, hành động, tình cảm, cách sống. Anh là người rất tiêu biểu cho tầng lớp thanh niên trong cuộc xây dựng đất nước ở nơi khó khăn gian khổ. Câu 3. Nhân vật ông họa sĩ là nhân vật chủ yêu để qua cái nhìn của ông, tác giả bộc lộ suy nghĩ, nhận xét, đánh giá về cuộc đời, con người đặc biệt là nhìn nhận về anh thanh niên. -Là người khát khao cống hiến, khát khao sáng tác. Luôn tìm kiếm vẻ đẹp trong cuộc sống để đưa vào nghệ thuật “Họa sĩ đã bắt gặp một điều mà thật ra ông vẫn ao ước được biết. Ôi, một nét thôi cũng đủ khẳng định một tâm hồn, khơi gợi một ý sáng tác, một nét mới đã là giá trị một chuyến đi dài”. -Xúc động, trân trọng vẻ đẹp tâm hồn con người đặc biệt là vẻ đẹp của anh thanh niên: “Chao ôi! Bắt gặp một con người như anh ta là cơ hội hân hữu cho sáng tác”. Ông thấy anh thật đáng yêu nhưng anh làm cho “ông nhọc lòng quá với những điều ta suy nghĩ về anh và những điều anh suy nghĩ”. Những cảm xúc và suy nghĩ của ông họa sĩ về anh thanh niên và về những điều khác nữa được gợi lên từ câu chuyện của anh đã làm cho chân dung nhân vật chính trở nên sáng đẹp, chứa đựng những chiều sâu tư tưởng. Câu 4. Các chi tiết tạo nên chất trữ tình trong tác phẩm và tác dụng của nó: a.Chất trữ tình của tác phẩm toát lên từ vẻ đẹp của thiên nhiên Sa Pa thơ mộng là “Những rặng đào, những đàn bò lang, cổ có đeo chuông ở các đồng cỏ trong thung lũng”. Đó là vẻ đẹp kỳ lạ của “Nắng bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây từ kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng”. Đó là cảnh “Mây bị nắng xua, luồn cả và gầm xe”. Rồi thì “những bông hoa đơn, thược dược vàng, tím, đỏ, hồng phấn, tổ ong, mọc ngay giữa mùa hè”, “nắng mạ bạc con đèo, đốt cháy rừng cây, hừng hực như một bó đuốc lớn… b.Chất trữ tình toát lên từ vẻ đẹp tâm hồn của những con người trong truyện: -Anh thanh niên có suy nghĩ, lối sống, hành động đẹp như thơ. -Tâm hồn cô kỹ sư trẻ bừng dậy một tình cảm lớn lao đẹp đẽ khi gặp ánh sáng đẹp đẽ từ cuộc sống, tâm hồn anh thanh niên chiếu rọi. Cả ấn tượng hàm ơn khó tả dạt lên trong lòng cô gái, không phải chỉ vì bó hoa anh thanh niên tặng mà còn vì “Một bó hoa này khác nữa, bó hoa của những hao hức, mơ mộng ngẫu nhiên anh thêm cho cô. Và còn vì một cái gì đó nữa lúc cô chưa kịp nghĩ kỹ”. -Ông họa sĩ bừng lên khát khao sáng tác, trân trọng xúc động trước anh thanh niên. c.Tác dụng: Chất trữ tình tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt của tác phẩm làm cho truyện như một bài thơ. Chất thơ bàng bạc tron toàn truyện, từ phong cảnh đẹp đẽ thơ mộng của thiên nhiên vùng núi cao đến hình ảnh những người đang sống, làm việc trong cái lặng lẽ mà không hề cô độc bởi sự gắn bó của họ với cuộc đời, với mọi người, với đất nước. Tạo không khí thân tình cho tác phẩm nâng cao ý nghĩa và vẻ đẹp của sự vật, con người rất bình dị được miêu tả trong truyện, làm chủ đề tư tưởng của truyện được bộc lỗ rõ nét và sâu sắc. Câu 5. Chủ đề của truyện: Truyện Lặng lẽ Sa Pa ca ngợi những con người lao động bình thường đang hăng say, cống hiến hết mình cho Tổ quốc một cách thầm lặng như anh thanh niên. Qua tác phẩm, nơi chỉ nghe tên đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi – có những con người đang làm việc, cống hiến và lo nghĩ cho đất nước.
Soạn bài Lặng lẽ Sa Pa
1,553
Soạn bài lớp 10: Bài viết số 5 Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Bài viết số 5 Soạn bài lớp 10: Bài viết số 5 Văn thuyết minh được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Thư dụ Vương Thông lần nữa Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật BÀI VIẾT SỐ 5 (Văn thuyết minh) I – ĐỀ BÀI THAM KHẢO 1. Giới thiệu về ca dao Việt Nam. 2. Trình bày một số đặc điểm cơ bản của văn bản văn học. 3. Giới thiệu đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. 4. Thuyết minh yêu cầu đọc – hiểu văn bản văn học. 5. Thuyết minh về đặc điểm của thể loại phú. II – HƯỚNG DẪN 1. Đây là kiểu bài văn thuyết minh về một thể loại văn học, vấn đề văn học; cần phải biết vận dụng sáng tạo các phương pháp thuyết minh thích hợp với từng đối tượng để làm bài. Trong các đề bài trên, đề (1) và đề (5) có đối tượng thuyết minh là thể loại văn học; các đề (2), (3), (4) thuộc dạng thuyết minh về một vấn đề văn học. 2. Để giải quyết được yêu cầu của đề bài, cần chuẩn bị tri thức cũng như tính toán cách làm bài theo các bước sau: a) Huy động tư liệu, tìm hiểu tri thức về đối tượng thuyết minh (thể loại hoặc vấn đề văn học). b) Lựa chọn nội dung thông tin chính xác, khách quan về đối tượng thuyết minh để trình bày trong bài văn. c) Lập dàn ý cho bài văn theo bố cục 3 phần: Mở bài: Giới thiệu chung về đối tượng cần thuyết minh. Thân bài: Trình bày nội dung thông tin về đối tượng thuyết minh theo trình tự nhất định (trình tự lô gích của đối tượng hoặc trình tự nhận thức, quan hệ nhân – quả,…). Kết bài: Có thể đưa ra nhận định chung về đối tượng, ý nghĩa của việc tìm hiểu đối tượng đã thuyết minh. d) Viết bài văn thuyết minh với dàn ý đã lập. 3. Định hướng về nội dung thông tin để giải quyết các đề cụ thể: a) Giới thiệu về ca dao Việt Nam: Ca dao là gì? Tham khảo: Ca dao (còn gọi là phong dao) được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu; trong trường hợp này, ca dao đồng nghĩa với dân ca. Do tác động của hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, từ ca dao đã dần dần chuyển nghĩa. Hiện nay, từ ca dao thường được dùng để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi). Với nghĩa này, ca dao là thơ dân gian truyền thống. (Theo Nhiều tác giả, Từ điển Thuật ngữ Văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004) Ca dao là thơ trữ tình – trò chuyện diễn tả tình cảm, tâm trạng của một số kiểu nhân vật trữ tình: người mẹ, người vợ, người con,… trong quan hệ gia đình; chàng trai, cô gái trong quan hệ tình bạn, tình yêu lứa đôi; người phụ nữ, người dân thường,… trong quan hệ xã hội. Nó không mang dấu ấn tác giả như thơ trữ tình (của văn học viết) mà thể hiện tình cảm, tâm trạng của các kiểu nhân vật trữ tình và có cách thể hiện tình cảm, thế giới nội tâm mang tính chung, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa phương,… của các kiểu nhân vật này. Tuy nhiên, dù mang tính chất chung nhưng mỗi bài ca dao lại có nét riêng độc đáo, sáng tạo, thể hiện được sự phong phú, da dạng của sắc thái tình cảm. (…) Ca dao Việt Nam có những nét đặc sắc gì về nghệ thuật? Hơn 90% các bài ca dao đã sưu tầm được đều sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Ngoài ra, ca dao còn có các dạng hình thức khác như thơ song thất lục bát (câu thơ bảy tiếng kết hợp với câu thơ sáu – tám tiếng), vãn bốn (câu thơ bốn tiếng), vãn năm (câu thơ năm tiếng). Ca dao rất giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ và biểu tượng mang tính truyền thống như hạt mưa, tấm lụa đào, cái giếng, cây đa, bến nước, con thuyền, con đò, chiếc khăn,… – những hình ảnh quen thuộc, gắn với cuộc sống của người bình dân. Các hình thức lặp lại cũng là đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu của ca dao: lặp kết cấu, lặp hình ảnh, lặp hình thức mở đầu hoặc lặp từ, cụm từ,… Được tổ chức dưới hình thức thơ ca nhưng ngôn ngữ của ca dao vẫn rất gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, mang đậm chất địa phương và dân tộc. Vai trò thẩm mĩ của ca dao? Mỗi người, bất kể giàu nghèo, sang hèn,… đều có thể lấy ca dao là tiếng nói tâm tư, tình cảm của mình, có thể soi lòng mình trong ca dao. Cho nên, ca dao còn được coi là “thơ của vạn nhà”, là gương soi của tâm hồn và đời sống dân tộc; nơi lưu giữ vẻ đẹp tâm hồn dân tộc, nguồn mạch vô tận cho thơ ca,… b) Về đặc điểm cơ bản của văn bản văn học: Văn bản văn học (còn gọi là văn bản nghệ thuật, văn bản văn chương) có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, văn bản văn học là tất cả các văn bản sử dụng ngôn từ một cách nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, văn bản văn học chỉ bao gồm các sáng tác có hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng hư cấu (tức là tạo ra những hình tượng bằng tưởng tượng). Văn bản văn học theo nghĩa hẹp vừa có ngôn từ nghệ thuật vừa có hình tượng nghệ thuật. Văn bản văn học có đặc điểm gì về ngôn từ? Ngôn từ văn học được tổ chức đặc biệt, có tính nghệ thuật và thẩm mĩ. Ngôn từ văn học là chất liệu để sáng tạo hình tượng, xây dựng thế giới tưởng tượng. Do yêu cầu sáng tạo hình tượng, ngôn từ văn học có tính biểu tượng và đa nghĩa. Văn bản văn học có đặc điểm gì về hình tượng? Hình tượng văn học là thế giới đời sống do ngôn từ gợi lên trong tâm trí người đọc. Hình tượng văn học là một phương tiện giao tiếp đặc biệt. Đọc – hiểu văn bản văn học là thực hiện quá trình giao tiếp giữa người đọc và tác giả. Văn bản văn học có đặc điểm gì về ý nghĩa? Ý nghĩa của hình tượng văn học chính là ý nghĩa của đời sống được nhà văn gợi lên qua hình tượng. Ý nghĩa của hình tượng văn học thể hiện qua nhân vật, sự kiện, cảnh vật, chi tiết, qua sự sắp xếp, kết cấu của các bộ phận văn bản và qua cách sử dụng ngôn từ. Có thể chia ý nghĩa của hình tượng thành các lớp: đề tài, chủ đề, cảm hứng, tính chất thẩm mĩ, triết lí nhân sinh. Văn bản văn học có đặc điểm gì về cá tính sáng tạo của nhà văn? Văn bản văn học nào cũng do tác giả viết ra và ít nhiều đều để lại dấu ấn của người sáng tạo ra văn bản. Đặc điểm về cá tính sáng tạo của tác giả vừa tạo nên sự phong phú, đa dạng vừa đem lại tính độc đáo cho văn bản văn học. Những hiểu biết về đặc điểm của văn bản văn học có tác dụng gì? Định hướng về thao tác đọc – hiểu văn bản văn học cụ thể. Định hướng về thao tác cảm thụ, đánh giá văn bản văn học cụ thể. c) Về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là gì? Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là loại phong cách ngôn ngữ dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực văn chương (văn xuôi nghệ thuật, thơ, kịch). Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và dấu ấn riêng của tác giả. Văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ, là sự thể hiện giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật, với tư cách là chất liệu xây dựng hình tượng, có sự tổng hoà của ngữ âm và ngữ nghĩa, hoà phối để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ. Tính đa nghĩa của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Nghĩa của văn bản nghệ thuật gồm nhiều thành phần: thành phần biểu thị thông tin khách quan, thành phần biểu thị tình cảm; thành phần nghĩa tường minh, thành phần nghĩa hàm ẩn. Các thành phần nghĩa này thống nhất với nhau trong những hình tượng nghệ thuật vừa cụ thể, vừa sinh động. Trong đó, thành phần nghĩa hàm ẩn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong văn bản nghệ thuật, biểu thị những suy ngẫm, gợi liên tưởng, tưởng tượng,… tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ, những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người. Đặc điểm về dấu ấn riêng của tác giả trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Mỗi nhà văn, nhà thơ thường có sở thích, sở trường riêng trong diễn đạt. Sở thích và sở trường ấy được bộc lộ ở những tác phẩm có giá trị và tạo thành nét độc đáo, dấu ấn riêng của tác giả. Tác dụng của những hiểu biết về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Tác dụng đối với hoạt động đọc – hiểu văn bản văn học. Tác dụng đối với hoạt động sáng tạo văn bản văn học. d) Về yêu cầu đọc – hiểu văn bản văn học: Bản chất của hoạt động đọc văn bản văn học là gì? Khi đọc văn bản văn học, dù với bất kì mục đích nào, người đọc đều thực hiện việc tiếp nhận các giá trị tư tưởng, nghệ thuật; giao lưu tư tưởng, tình cảm với tác giả, với những người đã đọc trước; bày tỏ thái độ đồng cảm hay không đồng cảm với văn bản văn học. Những yêu cầu chính của việc đọc – hiểu văn bản văn học: Người đọc phải trải qua quá trình đọc – hiểu: từ hiểu văn bản ngôn từ, hiểu ý nghĩa của hình tượng, hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả; từ đó hình thành sự đánh giá đối với văn bản và đạt đến mức độ thưởng thức các giá trị của văn bản. Làm thế nào để hình thành được kĩ năng đọc – hiểu văn bản văn học? Người đọc chẳng những phải thường xuyên đọc nhiều tác phẩm văn học mà còn phải biết tra cứu, học hỏi, biết tưởng tượng, suy ngẫm, tạo thành thói quen phân tích và thưởng thức văn học. e) Về đặc điểm của thể loại phú, xem bài Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh.
Soạn bài lớp 10_ Bài viết số 5
1,915
Soạn bài lớp 10: Bình Ngô đại cáo Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Bình Ngô đại cáo Soạn bài lớp 10: Bình Ngô môn Ngữ văn lớp 10 đại cáo hay còn có tên là Đại cáo Bình Ngô do Nguyễn Trãi sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn. Bài soạn văn mẫu bài Bình Ngô đại cáo được đưa ra để các bạn tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Thư dụ Vương Thông lần nữa Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Soạn bài lớp 10: Bài viết số 5 ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ (Bình Ngô đại cáo) NGUYỄN TRÃI I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về tác giả, xem bài trước. 2. Cáo là thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc xa. Cáo được chuyên dùng để vua công bố việc lớn với muôn dân. Nguyễn Trãi dùng hai chữ đại cáo vốn là tên gọi một bài cáo cổ xưa nhất của Trung Quốc để thay lời Lê Lợi công bố với thiên hạ. Cáo thường hay dùng văn biền ngẫu. Văn biền ngẫu hay còn gọi là “biền văn”, “biền lệ văn” hoặc “văn tứ lục” (biền là ngựa đi sóng đôi; ngẫu là đôi, cặp). Văn biền ngẫu có năm đặc điểm: Ngôn ngữ đối ngẫu: các vế đối nhau theo bằng trắc, từ loại; Kiểu câu chỉnh tề, câu 4 chữ đối với câu 4 chữ, câu 6 chữ đối với câu 6 chữ hoặc câu 4/4 và câu 6/6 đối nhau; Có vần điệu, bằng trắc hài hoà; Sử dụng điển cố; Sử dụng từ ngữ bóng bẩy có tính phô trương. Trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi còn có loại câu 5 chữ, 7 chữ, 10 chữ, 14 chữ rất đa dạng. 3. Đại cáo bình Ngô là một bản anh hùng ca về sức mạnh của truyền thống yêu nước, tinh thần độc lập tự cường, tư tưởng đại nghĩa, ý chí của quân và dân ta trong trong cuộc chiến đấu thắng lợi vang dội trước giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sống hoà bình, hạnh phúc cho toàn dân tộc ở thế kỉ XV. 1. Tìm hiểu xuất xứ bài cáo Gợi ý: Cuối năm 1427, sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi viết Đại cáo bình Ngô nhằm tổng kết toàn diện cuộc kháng chiến. 2. Tìm hiểu bố cục bài cáo Gợi ý: Bài cáo gồm 5 đoạn: Đoạn 1 (từ Từng nghe… đến Chứng cớ còn ghi): Nêu luận đề chính nghĩa. Đoạn 2 (từ Vừa rồi… đến Ai bảo thần dân chịu được?): Tố cáo tội ác của giặc. Đoạn 3 (từ Ta đây… đến…lấy ít địch nhiều.): Lãnh tụ và nghĩa quân trong buổi đầu dấy nghiệp. Đoạn 4 (từ Trọn hay… đến Cũng là cha thấy xưa nay): Quá trình kháng chiến đi đến thắng lợi. Đoạn 5 (từ Xã tắc từ đây vững bền đến hết): Tuyên bố hoà bình, khẳng định ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. 3. Tìm những từ ngữ, hình ảnh so sánh đặc sắc dùng để miêu tả thế chiến thắng của quân ta và sự thất bại của giặc. Gợi ý: Khí thế chiến thắng của ta Sự thất bại nhục nhã của giặc Đoạn từ Trọn hay… đến… cho tất cả thế gian. sấm vang chớp giật máu chảy thành sông trúc chẻ tro bay thây chất đầy nội thừa thắng ruổi dài phải bêu đầu đất cũ thu về đành bỏ mạng hăng lại càng hăng cháy lại càng cháy mưu phạt tâm công trí cùng lực kiệt Đoạn từ Bởi thế… đến…chưa thấy xưa nay. điều binh thủ hiểm chặt mũi tiên phong sai tướng chẹn đường tuyệt nguồn lương thực ngày mười tám Liễu Thăng thất thế ngày hai mươi Liễu Thăng cụt đầu ngày hăm lăm Lương Minh bại trận tử vong ngày hăm tám Lí Khánh cùng kế tự vẫn thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau đánh một trận sạch không kình ngạc đánh hai trận tan tác chim muông ………………. …………………….. 4. Phân tích những thủ pháp nghệ thuật đã được sử dụng nhằm làm nổi bật chiến thắng của ta và thất bại của giặc. Gợi ý: Các thủ pháp: liệt kê trùng điệp (những chiến thắng của ta, những thất bại của giặc), đối lập (khí thế, tư thế của bên chủ động, chiến thắng – kẻ tan tác, thất bại nặng nề, thảm khốc), so sánh tương phản (giữa chiến thắng của ta với thất bại của giặc),… Các thủ pháp này kết hợp với sự thay đổi linh hoạt hình thức câu văn ngắn – dài, tiết tấu nhanh – chậm tạo ra những sắc thái biểu cảm đa dạng: khi thể hiện khí thế, sức mạnh của quân ta thì hào hùng, mạnh mẽ, với những câu văn ngắn gọn, đanh chắc (Gươm mài đá, đá núi cũng mòn – Voi uống nước, nước sông phải cạn – Đánh một trận sạch không kình ngạc – Đánh hai trận tan tác chim muông); khi miêu tả sự thất bại của giặc thì thảm hại, tơi bời, với những câu văn dài, như sự những thất bại liên tiếp, kéo dài vô kể (Bị ta chẹn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật! – Thua quân ta ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân). Hình ảnh vị lãnh tụ nghĩa quân và những khó khăn trong buổi đầu dấy nghĩa. Quá trình kháng chiến và thắng lợi vẻ vang. Tuyên bố hoà bình và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa. 6. Về hình tượng người thủ lĩnh Gợi ý: Làm nên sức mạnh chiến thắng, còn phải kể đến vai trò của người thủ lĩnh hết lòng vì sự nghiệp chung, có tài trí, mưu lược: ý thức trách nhiệm cao đối với vận mệnh quốc gia, căm thù giặc sâu sắc, đặt nhiệm vụ cứu nước trở thành hoài bão, điều nung nấu của mình, trọng người hiền tài, thu phục được lòng người tạo thành sức mạnh đoàn kết, tinh thông binh pháp, chiến lược,… 7. Tìm hiểu tư tưởng đại nghĩa trong bài cáo. Gợi ý: Đối với nhân dân, đại nghĩa là vì nhân dân, đem lại cuộc sống yên ổn, hạnh phúc cho nhân dân, cũng tức là phải đánh đuổi kẻ thù ra khỏi bờ cõi (“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”, khi chiến thắng rồi thì “lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức”); đại nghĩa trở thành phương châm, sức mạnh chiến đấu: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn – Lấy chí nhân để thay cường bạo”. Đối với kẻ thù, đại nghĩa thể hiện ở chiến lược đánh bằng mưu lược, đánh vào lòng người: “Chẳng đánh mà người chịu khuất – Ta đây mưu phạt tâm công”. Hơn nữa, khi chiến thắng, chẳng những không giết mà còn cấp cho phương tiện để rút về nước: “Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh – Mã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền… – Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa…”
Soạn bài lớp 10_ Bình Ngô đại cáo
1,185
Soạn bài lớp 10: Ca dao hài hước Hướng dẫn Soạn bài: Ca dao hài hước Soạn bài lớp 10 Ca dao hài hước được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về những bài ca dao tiêu biểu cho tiếng cười giải trí, tiếng cười châm biếm phê phán xã hội. Soạn bài mẫu bài Ca dao hài hước sẽ giúp các em học sinh học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Tấm Cám Soạn bài lớp 10: Tam đại con gà nhưng nó phải bằng hai mày Soạn bài lớp 10: Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự Câu hỏi trắc nghiệm Ngữ văn lớp 10: Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa và Ca dao hài hước CA DAO HÀI HƯỚC I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Những bài ca dao được giới thiệu trong bài này tiêu biểu cho tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào và tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội. 2. Tiếng cười tự trào (tự cười mình) là tiếng cười lạc quan yêu đời của người lao động. Họ đã lấy chính cái nghèo của mình để tự trào một cách hồn nhiên, hóm hỉnh. Dù cuộc sống nghèo hèn nhưng họ đã vượt lên để sống một cách lạc quan bằng cách “thi vị hóa” cuộc sống của mình. 3. Tiếng cười giải trí là tiếng cười của niềm lạc quan yêu đời, là sản phẩm của óc hài hước và trào lộng của nhân dân ta. Tiếng cười giải trí cũng là một cách để quên đi những bộn bề lo âu vất vả của cuộc sống hàng ngày. 4. Tiếng cười phê phán, châm biếm là tiếng cười hướng vào những thói xấu trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhằm đả kích, cải biến nó hoặc tiêu diệt nó (những hạng người lười nhác, ham ăn, những thầy bói dởm, những quan lại bất tài, những người phụ nữ đỏng đảnh, trăng hoa…). Các bài ca dao hài hước đều có cách khắc họa nhân vật rất điển hình, sử dụng nhiều yếu tố, chi tiết cười điệu hóa, cách dựng cảnh rất bài tình… để tạo ra những nét hài hước hóm hỉnh mà châm biếm sâu cay. 1. Có thể sắp xếp bốn bài ca dao thành 2 nhóm: Nhóm tiếng cười tự trào: bài số 1. Nhóm tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội: các bài 2, 3, 4. 2. a) Cưới xin hôn lễ là một chuyện vô cùng hệ trọng và có ý nghĩa đối với cuộc đời của mỗi con người. Nó thường được chuẩn bị chu đáo và cẩn thận. Thế nhưng việc dẫn cưới và thách cưới ở đây đều rất khác thường. Thực ra nó là hai màn tự trào về cảnh nghèo của người lao động. Chàng trai mở đầu màn dẫn cưới bằng rất nhiều điều “to tát”(dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò). Thế nhưng chàng lại viện đủ lí do (mà lí do nào cũng hợp lí: dẫn voi… sợ quốc cấm, dẫn trâu… sợ họ máu hàn, dẫn bò… sợ họ nhà nàng co gân) để khước từ tất cả những việc làm này. Vậy là đám cưới lí ra có voi, có trâu, có bò nhưng rồi chẳng có gì cả. Không những vậy, chàng trai kia còn táo bạo “nhất quyết” đùa cợt đến cùng: Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng Lời đáp của cô gái cũng… chẳng vừa. Thách cưới mà lại thách “một nhà khoai lang” thì dễ đấy nhưng cũng có khác nào làm khó người ta. Song điều quan trọng không phải ở điểm này mà là ở chỗ cô gái hiểu “hoàn cảnh” của nhà em và nhà anh… cũng giống nhau thôi. Và như thế đám cưới chỉ cần một “nhà khoai lang” là cũng quá đủ rồi. Qua lời thách cưới và lời dẫn cưới, chúng ta có thể thấy ở đây người nông dân đã mang cái nghèo của chính mình ra để mà đùa cợt. Tiếng cười ấy hướng vào chính họ nhưng cũng là để cho họ quên đi cảnh khổ mà lạc quan yêu đời và ham sống hơn. b) Bài ca dao có giọng hài ước dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật: Lối nói khoa trương phóng đại: dẫn voi, trâu, bò, nhà khoai lang… Lối nói giảm dần: voi đ trâu đ bò đ chuột củ to đ củ nhỏ đ củ mẻ đ củ rím, củ hà. Cách nói đối lập, phủ định: dẫn voi/ sợ quốc cấm dẫn trâu/ sợ họ máu hàn dẫn bò/ sợ họ co gân dẫn lợn gà/ khoai lang Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng. 3. So với tiếng cười trong bài 1, tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biến, phê phán xã hội. Nó hướng vào những thói hư tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân. Những tật xấu ở đây tuy không đến mức bị đả kích một cách quyết liệt. Nhưng trong khi nhẹ nhàng, thân tình nhắc nhở, thái độ của nhân dân ta cũng không kém phần sâu sắc. Hai đối tượng được dẫn ra để cười cợt ở đây là những người chồng lười nhác, vô dụng và những người vợ vô duyên xấu tính nhưng lại ưa nịnh hót. Có thể thấy nét riêng hài ước của từng bài: Bài 2 và 3 chế giễu loại đàn ông yếu đuối, lười nhác trong xã hội: Bức tranh thứ nhất: Làm trai cho đáng sức trai Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng. Tiếng cười trong câu thơ này bật lên từ nghệ thuật phóng đại và thủ pháp đối lập. Người ta có thể yếu ớt nhưng chắc chắn không ai yếu đến mức “khom lưng chống gối” (ráng hết sức) để “gánh hai hạt vừng” (hai vật quá nhỏ) như vậy. Vậy ra cách nói kia chỉ là một so sánh kín đáo để chế nhạo những kẻ lười nhác trong lao động. Thông điệp mà bài ca dao muốn nhắc nhở những hạng người kia là hãy sống sao cho mạnh mẽ, vững vàng. Làm trai không được ỷ lại, không nên sống nhờ vào người khác. Bức tranh thứ hai: Chồng người đi ngược về xuôi Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo. Hướng mũi tên đả kích vào loại đàn ông lười nhác, không có chí lớn. Nó có khác gì chú mèo kia cứ hàng ngày ăn rồi lại nằm cuộn tròn nơi xó bếp. Là người chủ của gia đình mà lười nhác, vô tích sự như thế thì hỡi ôi! thảm hại biết chừng nào. Bài 4 là bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài ước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh – một loại người không phải không có trong xã hội. Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập. Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao. Dùng ngôn ngữ đời thường nhưng thâm thúy và sâu sắc. Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú. 5. Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” là một lời ứng xử khôn khéo, thông minh. Như trên đã phân tích, cô gái không những không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, tỏ ra vui và thích thú trong lời thách cưới (dù chỉ là lời đối đáp nam nữ trong dân ca). Lời thách cưới ấy là tiếng cười tự trào của người lao động. Nó tô đậm vẻ đẹp tâm hồn, sự vô tư, hồn nhiên và niềm lạc quan yêu đời của họ ngay trong cảnh nghèo nàn. 6. Tham khảo một số bài ca dao hài ước phê phán dưới đây: Lấy chồng cho đỡ nắng mưa Chẳng ngờ chồng lại ngủ trưa đến giờ. Gái sao chồng đánh chẳng chừa Đi chợ vẫn giữ cùi dừa bánh đa. Bực mình chẳng muốn nói ra Muốn đi ăn cỗ chẳng ma nào mời Anh đừng chê thiếp xấu xa, Bởi chưng bác mẹ sinh ra thế này. Anh ham xóc đĩa cò quay, Máu mê cờ bạc, lại hay rượu chè. Lấy chồng từ thuở mười lăm Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi. Sông bao nhiêu nước cũng vừa Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng Tối tối chị giữ mất buồng Cho em manh chiếu, nằm suông chuồng bò Mong chồng chồng chẳng xuống cho Đến cơn chồng xuống gà o o gáy dồn. Thầy cúng ngồi cạnh giường thờ Mồm thì lẩm bẩm tay sờ đĩa xôi. Số cô chẳng giàu thì nghèo Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà Số cô có mẹ có cha Mẹ cô đàn bà cha cô đàn ông…
Soạn bài lớp 10_ Ca dao hài hước
1,518
Soạn bài lớp 10: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa Hướng dẫn Soạn bài: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa Soạn bài lớp 10: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm của ca dao và ý nghĩa của những câu ca dao than thân, cao dao yêu thương tình nghĩa quê hương, đất nước giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Ca dao hài hước Soạn bài lớp 10: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Soạn bài lớp 10: Tam đại con gà nhưng nó phải bằng hai mày CA DAO THAN THÂN VÀ CA DAO YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm ca dao Ca dao là những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa là khi ấy, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian. Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự. 2. Đặc điểm của ca dao Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm… Về nghệ thuật, ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu… (ví dụ lối so sánh ví von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu tính nghệ thuật, lối diễn đạt theo kiểu công thức…). II. RÈN KĨ NĂNG 1. Chùm ca dao trữ tình gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau: Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Nội dung yêu thương tình nghĩa: Bài 4,5: Thể hiện nỗi nhớ và niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa. Bài 6: Là câu hát về tình nghĩa thủy chung của con người (nhất là trong tình yêu và tình chồng vợ). 2. Về các bài 1, 2 a) Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ “thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mìn. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận. b) Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận nổi nênh, thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại có một sắc thái tình cảm riêng: Bài 1: Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?). Bài 2: Đây là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn là lời mời mọc da diết của cô gái. Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong xã hội xưa. a) Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như: Ai làm cho bướm lìa hoa Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng. Ai làm bầu bí đứt dây Chàng nam thiếp bắc gió tây lạnh lùng. Ở trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, là những hủ tục cưới cheo phong kiến hay có khi là chính người tình… b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ (mặt trặng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai). Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian. c) Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc. 4. Về bài 4 Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt. Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa (khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu. Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái. Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu. Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu. Hai ta cách một con sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang Cách nhau có một con đầm Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang Cành trầu lá dọc lá ngang Đố người bên ấy bước sang cành trầm Gần đây mà chẳng sang chơi Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu Sợ rằng chàng chả đi cầu Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em… Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao: Hai bài ca dao trên đều là lời mời gọi của nhân vật trữ tình. Nó có hình thức giống như những câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau ở hình ảnh “chiếc cầu” (cành hồng, cành trầm) nhưng đều có giá trị thẩm mĩ cao. Ở bài ca dao dưới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi và giản dị (ngọn mùng tơi) nhưng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của cô gái hướng đến chàng trai (người ở phía bên kia). 6. Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao. Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay – muối mặn). Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son. Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách (Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng. Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như… Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn, gừng cay – muối mặn… Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, ủ ấu gai… Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở. Thể thơ: lục bát – lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể). Những biện pháp nghệ thuật này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết: nó mang nhiều dấu ấn của cộng đồng. Những dấu hiệu nghệ thuật này đều quen thuộc, dễ nhận ra. Trong khi đó nghệ thuật thơ của văn học viết thường mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ – dấu ấn đặc trưng của từng tác giả. 8. Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng “thân em như…”: Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu Thân em như miếng cau khô Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân. Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao: Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh: thân em – hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn – vui, sướng – khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi. Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời. Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng. 9. Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu và về cái khăn: Nhớ ai như nhớ thuốc lào Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai? Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ. Gửi khăn, gửi áo, gửi lời Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa Nhớ khi khăn mở trầu trao Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình. Bài ca dao khăn thương nhớ ai tuy vẫn nằm trong hệ thống các bài ca dao thương nhớ trên đây nhưng nó vẫn có điểm riêng: Nỗi nhớ trong bài ca dao này vừa cụ thể, sinh động hơn lại vừa tổng hợp khái quát nhiều cung bậc hơn. Chính vì vậy nó cuốn hút và hấp dẫn hơn. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm “Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” vừa lấy ý tứ từ sự thương nhớ của ca dao vừa lại khái quát lên một cấp độ cao hơn – câu thơ chính là một nét đẹp giản dị mà tinh tế sâu sắc của tâm hồn người Việt.
Soạn bài lớp 10_ Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa
2,212
Soạn bài lớp 10: Chiến thắng Mtao-Mxây Hướng dẫn Soạn bài: Chiến thắng Mtao-Mxây Soạn bài lớp 10: Chiến thắng Mtao-Mxây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm của sử thi cũng như hiểu rõ nội dung và tính nghệ thuật được truyền tải trong Chiến thắng Mtao – Mxây được trích trong Đăm Săn sử thi của Tây Nguyên giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Văn bản Soạn bài lớp 10: Tổng quan văn học Việt Nam CHIẾN THẮNG MTAO MXÂY (Trích Đăm Săn – Sử thi Tây Nguyên) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về khái niệm sử thi Sử thi là những tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hay nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại. Có hai tiểu loại sử thi dân gian: Sử thi thần thoại là loại sử thi kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài, sự hình thành các dân tộc, các vùng cư trú thời cổ đại của họ hoặc cũng có khi kể về sự xuất hiện nền văn minh buổi đầu. Ở nước ta có một số bộ sử thi tiêu biểu cho tiểu loại này như: Đẻ đất đẻ nước (Mường), Ẳm ệt luông (Thái), Cây nêu thần (Mơ-nông),…. Sử thi anh hùng là những câu chuyện kể về cuộc đời và những chiến công hiển hách của người anh hùng – người đại diện cao nhất cho sự giàu có, quyền lực, sức mạnh và ước mơ của cộng đồng người thời cổ đại. Các tác phẩm tiêu biểu trong tiểu loại này là: Đam Săn, Đăm Di, Xing Nhã, Khinh Dú (Ê- đê); Đam Noi (Ba- na),…. Trong số những tác phẩm này thì tác phẩm được biết đến rộng rãi và nổi tiếng hơn cả là sử thi Đam Săn. 2. Về đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây thuộc phần giữa của tác phẩm: Sau khi về làm chồng hai chị em tù trưởng Hơ Nhị và Hơ Bhị, Đam Săn trở nên một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy. Các tù trưởng Kên Kên(Mtao Grứ) và tù trưởng Sắt (Mtao Mxây) lừa lúc Đam Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông lao động sản xuất đã kéo người tới cướp phá buôn làng của chàng và bắt Hơ Nhị về làm vợ. Cả hai lần ấy Đam Săn đều tổ chức đánh trả và chiến thắng, vừa cứu được vợ lại vừa sáp nhập được đất đai, của cải của kẻ địch khiến cho oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có và đông đúc hơn. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Tóm tắt diễn biến trận đánh theo đúng trật tự của các tình tiết và sự kiện a) Đam Săn đến nhà Mtao Mxây khiêu chiến nhưng Mtao Mxây còn bỡn cợt chàng mà chưa chịu giao chiến ngay. b) Bước vào cuộc chiến: Hiệp đấu thứ nhất Hai bên lần lượt múa khiên. Mtao Mxây múa trước: tỏ ra yếu ớt và kém cỏi Đam Săn múa khiên: tỏ ra mạnh mẽ, tài giỏi hơn Kết quả hiệp đấu: Mtao Mxây chạy khắp nơi để tránh đường khiên Đam Săn múa. Hiệp đấu thứ hai Đam Săn múa khiên: sức mạnh như gió bão. Cây giáo đâm liên tiếp Mtao Mxây nhưng không thủng. Kết quả Đam Săn nhờ sự giúp đỡ của Ông Trời đã cắt được đầu của Mtao Mxây. Dân làng Mtao Mxây nhất loạt theo Đam Săn về ngôi làng mới. 2. Cuộc chiến giữa Đam Săn và Mtao Mxây là cuộc chiến tranh mang tính chất thống nhất cộng đồng. Nó không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược nhằm mục đích tàn sát, cướp bóc và chiếm giữ. Chính vì thế mà thái độ của nô lệ ở cả hai phía đối với việc thắng thua của hai tù trưởng cũng có những nét riêng: Ở phía Mtao Mxây: Sau khi tù trưởng của mình thất bại, đông đảo nô lệ đều tâm phục và nghe theo lời vị tù trưởng mạnh hơn (“không đi sao được!… người nhà giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa”).Thái độ và hành động của đoàn người này chứng tỏ họ luôn mơ ước được trở thành một tập thể giàu có và hùng mạnh.Họ luôn mơ ước có được một người lãnh đạo dũng cảm, tài ba. 3. Đoạn trích tuy miêu tả cuộc chiến tranh giữa các thị tộc trong thời nguyên thuỷ, thế nhưng lại không chú trọng miêu tả cảnh chết chóc đau thương. Trái lại, tác giả dân gian chủ yếu miêu tả cảnh chiến thắng tưng bừng của phía Đam Săn. Cuộc chiến dừng lại khi Mtao Mxây thất bại. Thế nhưng sự thất bại của Mtao Mxây không làm cho dân làng lo sợ, hoang mang. Họ ngay lập tức theo về phía Đam Săn, hoà nhập với cuộc đồng mới một cách rất tự nhiên. Dân làng của Đam Săn cũng vậy, họ đón tiếp những người bạn mới rất chân tình. Không khí của buổi tiệc sau chiến thắng từng bừng náo nhiệt vui say không hề có một chút gợn nào. Lựa chọn cách thể hiện nghệ thuật này, tác giả dân gian đã nhận ra tính tất yếu của cuộc chiến tranh thị tộc – đó là cuộc chiến tranh không kìm hãm sự phát triểu của xã hội Ê-đê, mà trái lại, nó giúp những tập thể lẽ tẻ, rời rạc tập hợp thành những tập thể lớn hơn, mạnh hơn. Và cũng chỉ như vậy, họ mới trở thành một dân tộc trưởng thành thực sự. Cách lựa chọn để hiện nghệ thuật ấy cũng là cách để dân gian ngợi ca tâm vóc và sứ mệnh lịch sử của người anh hùng. Chỉ có những con người ­u tú của thời đại như vậy mới đủ sức đứng lên thống nhất các thị tộc nhỏ lẻ lại với nhau, gom những thị tộc ấy lại thành một cộng đồng lớn mạnh và giàu có. 4. Trong đoạn trích này, kiểu câu được dùng nhiều nhất là kiểu câu có sử dụng biện pháp so sánh, ví von. Những câu ấy, hoặc chứa biện pháp so sánh kiểu tương đồng (chàng múa trên cao, gió như bão; chàng múa dưới thấp, gió như lốc; đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối…), hoặc so sánh kiểu tăng cấp (Đam Săn múa khiên), cũng có trường hợp so sánh kiểu tương phản (đối lập giữa cảnh múa khiên của Đam Săn và Mtao Mxây). Những câu văn theo kiểu đòn bẩy này có giá trị rất lớn trong việc miêu tả nhân vật người anh hùng. Nó khẳng định và nâng bổng lên tài năng, sức mạnh của Đam Săn – người anh hùng uy danh lừng lẫy làm mờ đi cả sự giàu có và sức mạnh của kẻ thù. 5. Sự xuất hiện của Ông Trời (thần linh) và việc can thiệp của Ông Trời vào chiến thắng của Đam Săn chứng tỏ ở thời kì ấy, con người và thần linh gắn bó mật thiết với nhau. Hay nói cách khác, nó là dấu vết của tư duy thần thoại trong sử thi, dấu vết của một xã hội chưa có sự phân hóa giai cấp rạch ròi. Tuy nhiên cũng từ câu chuyện này có thể nhận thấy, dù có can thiệp vào công việc của con người nhưng thần linh chỉ đóng vai trò là người “cố vấn”, “gợi ý” hành động chứ không phải là người quyết định tối cao kết quả của cuộc chiến. Như vậy trong mối quan hệ với các thần, người anh hùng vẫn giữ được vai trò quyết định và có tính độc lập riêng. Sắp đặt câu chuyện theo kiểu như vậy cũng là một hình thức đề cao vai trò của nhân vật anh hùng, đề cao tinh thần dân chủ của thời thị tộc cổ xưa.
Soạn bài lớp 10_ Chiến thắng Mtao-Mxây
1,388
Soạn bài lớp 10: Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên Hướng dẫn Soạn văn bài Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên Soạn bài lớp 10: Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên được trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ sáng tác do VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo. Bài soạn văn 10 bài Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên này sẽ giúp các bạn học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Tóm tắt tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ Soạn bài lớp 10: Luyện tập về liên kết trong văn bản Soạn bài lớp 10: Thái phó Tô Hiến Thành Giáo án bài Chuyện chức phán sự đến Tản Viên CHUYỆN CHỨC PHÁN SỰ ĐỀN TẢN VIÊN (Tản Viên từ phán sự lục – trích Truyền kì mạn lục) NGUYỄN DỮ I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Dữ người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, hiện chưa rõ ông sinh và mất năm nào. Ông là con trai cả của Nguyễn Tường Phiêu, người đỗ tiến sĩ năm 1496. Thi đỗ hương tiến và ra làm quan ở huyện Thanh Tuyền chưa được một năm thì ông từ quan về phụng dưỡng mẹ già. Với Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ được xem như một tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam trung đại nói chung, văn xuôi tự sự chữ Hán Việt Nam nói riêng. 2. Chuyện chức hán sự đền Tản Viên, cũng như các truyện khác của Truyền kì mạn lục, thuộc thể loại truyền kì. Truyền kì là thể văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ Trung Hoa, dùng yếu tố kì ảo làm phương thức nghệ thuật để phản ánh cuộc sống. Ở Việt Nam thời trung đại, thể loại này rất được ưa chuộng. Truyện truyền kì Việt Nam thường sử dụng truyện dân gian hoặc các mô-típ truyện dân gian để xây dựng thành truyện mới. Truyện truyền kì Việt Nam mang đậm chất yếu tố hiện thực và chất nhân văn. 3. Ngô Tử Văn vốn là người khảng khái, cương trực. Tức giận vì tiếng là đền làng linh ứng, nhưng tên giặc tử trận ở gần đền lại biến thành yêu quái trong dân gian, Tử Văn đã đốt đền. Đốt đền xong, về nhà, Tử Văn thấy người khó chịu, rồi lên cơn sốt. Trong cơn sốt, Tử Văn thấy một người cao lớn khôi ngô, đầu đội mũ trụ tự xưng là cư sĩ đến đòi làm trả lại ngôi đền như cũ. Tử Văn vẫn thản nhiên. Người kia tức giận doạ sẽ kiện Tử Văn ở toà cõi âm. Chiều tối, lại có một ông già phong độ nhàn nhã đến tỏ lời mừng, hỏi ra mới biết đó là Thổ công bị viên tướng bại trận giả làm cư sĩ kia tranh chiếm mất đền. Ông già dặn rằng nếu âm phủ có tra hỏi thì cứ khai ra những lời ông nói, nếu tên kia chối thì cứ đến mà xác minh. 4. Nguyễn Dữ quan tâm phản ánh, phê phán, tố cáo hiện thực xã hội, thể hiện khát vọng chân chính của con người với tinh thần nhân văn cao đẹp. Bằng một nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, với những yếu tố kì ảo mang nội dung hiện thực sâu sắc, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên thể hiện nổi bật gương người cương trực, can đảm, mạnh mẽ đấu tranh chống lại gian tà, loại trừ cái ác, đòi công lí, công bằng. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Truyền kì mạn lục được sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVI, gồm 20 truyện. 2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích Đoạn 1 (từ đầu đến… vung tay không cần gì cả.): Tử Văn đốt đền. Đoạn 2 (từ Đốt đền xong… đến… thầy cũng khó lòng thoát nạn.): Tử Văn với viên Bách hộ họ Thôi và Thổ công. Đoạn 3 (từ Tử Văn vâng lời cho đến… sai lính đưa Tử Văn về): Tử Văn thắng kiện. Đoạn 4 (từ Chàng về đến nhà… đến hết): Tử Văn trở thành phán sự đền Tản Viên. 3. Tìm hiểu hệ thống nhân vật trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Gợi ý: Ngô Tử Văn, Thổ công, hồn ma của viên Bách hộ họ Thôi và Diêm Vương; trong đó, nhân vật chính là Ngô Tử Văn. 4. Những sự kiện nào xảy ra gắn với nhân vật Tử Văn? Gợi ý: Tử Văn đốt đền. Hồn ma Bách hộ họ Thôi giả làm cư sĩ đến đòi Tử Văn dựng trả ngôi đền và doạ sẽ kiện đến Diêm Vương. Thổ công nói cho Tử Văn biết sự thật về viên Bách hộ họ Thôi và dặn chàng nói sự thực trước Diêm Vương. Tử Văn đấu tranh giành sự công bằng. Tử Văn được làm phán sự đền Tản Viên. Các sự việc xảy ra đều chủ yếu nhằm thể hiện tính cách nhân vật Ngô Tử Văn, đối lập với tính cách viên Bách hộ họ Thôi. 5. Phân tích tính cách nhân vật Ngô Tử Văn. Gợi ý: Tử Văn là người cương trực, mạnh mẽ, không khoan nhượng với gian tà. Trước hết, tính cách ấy được thể hiện qua hành động đốt đền. Tuy nhiên, ở hành động đốt đền, cần thấy rằng Tử Văn là kẻ sĩ, không thể không biết đến quan niệm của người xa là tôn trọng thánh thần, xem việc đốt phá đền chùa, miếu mạo là động chạm đến thánh thần. Tử Văn đốt đền xuất phát từ sự bất bình trước việc đền thờ tiếng là linh thiêng mà không giúp dân diệt được gian tà. Người xưa cũng quan niệm chỉ thờ những thần có công lao giúp dân, giúp nước. Hơn nữa, trước khi đốt đền, Tử Văn tắm gội sạch sẽ và khấn trời. Điều đó cho thấy Tử Văn ý thức rất rõ về hành động của mình và mong muốn lòng thành của mình được chứng giám. Tính cương trực, can đảm của Tử Văn được thể hiện nổi bật ở những sự việc đối với viên Bách hộ họ Thôi, với Diêm Vương,… Trước “một người khôi ngô, cao lớn, đầu đội mũ trụ,… tự xưng là cư sĩ” đến đòi dựng trả ngôi đền, Tử Văn “mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên”. Đến âm phủ, trong không khí rùng rợn, hãi hùng, Tử Văn vẫn một mực muốn chứng tỏ sự thật, đòi công bằng, công lí. Tử Văn còn là người lễ độ: khi đã trở thành phán sự đền Tản Viên, gặp người quen vẫn “chắp tay thi lễ. “. 6. Nhận xét về tính cách nhân vật Bách hộ họ Thôi. Gợi ý: Tính cách xảo trá, gian ác của nhân vật này thể hiện rõ ở những diễn biến tâm lí và hành động của y. Thoạt đầu, trước Tử Văn, hắn tự xưng là cư sĩ, dùng nguyên lí của đạo Nho để buộc tội Tử Văn, lấy oai linh của quỷ thần để hăm doạ. Hắn lừa gạt cả thánh thần, ngoan cố vu tội cho Tử Văn; khi thấy tình thế bất lợi, hắn lập lờ cho qua,… Trước sau, nhân vật này nhất quán: khi sống là kẻ giặc đi cướp nước, khi chết là kẻ cướp đền. Gợi ý: Tác giả đã xây dựng được một cốt truyện với những xung đột giàu kịch tính, tính cách nhân vật được chú ý khắc hoạ nhờ nghệ thuật tương phản (giữa Tử Văn và hồn ma viên Bách hộ), yếu tố kì ảo kết hợp tự nhiên với yếu tố hiện thực trong diễn biến linh hoạt của câu chuyện. Những đặc điểm ấy tạo cho truyện sức hấp dẫn. Truyện dày đặc yếu tố kì ảo: kể chuyện thần linh (Thổ công, đức Thánh Tản Viên), ma quỷ (Diêm Vương, hồn ma tướng giặc,…); đốt đền xong, Tử Văn phát bệnh; quỷ sứ đến bắt Tử Văn đi; viên Bách hộ họ Thôi bị đày xuống Cửu u; Tử Văn về đến nhà mới biết mình đã chết được hai ngày; Tử Văn sống lại, rồi không bệnh mà mất, thành phán sự đền Tản Viên; Tử Văn cưỡi gió biến mất,… Truyện vẫn mang nội dung hiện thực: Lai lịch nhân vật: Tử Văn (tên Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang), viên Bách hộ họ Thôi (bộ tướng của Mộc Thạnh). Câu chuyện xảy ra trong không gian, thời gian cụ thể: Cuối đời nhà Hồ, quân Ngô sang xâm chiếm, vùng Yên Dũng, Lạng Giang thành chiến trường (thời gian giặc Minh sang xâm chiếm nước ta: 1407 – 1427). Tử Văn đi nhậm chức phán sự đền Tản Viên vào một buổi sáng năm Giáp Ngọ (1414). Tác giả sống và viết truyện này vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVI. Cho nên, câu chuyện được kể dù có ở thời trước đó thì cũng không có nghĩa là không liên hệ với bối cảnh xã hội đương thời: nhà Lê suy thoái, chính quyền chuyển sang tay nhà Mạc. Mặt khác, bản thân các nội dung khẳng định tính chính nghĩa, cái thiện, ca ngợi người cương trực, ngay thẳng, lên án gian tà,… cũng là những nội dung giàu ý nghĩa hiện thực. 8. Ý nghĩa giáo dục của truyện cũng đã được thể hiện ở đoạn bình cuối truyện. Lời bình đã nói lên lời răn về nhân cách của kẻ sĩ, con người chân chính không nên uốn mình, phải sống cương trực, ngay thẳng. Sự cứng cỏi, lòng can đảm trước những cái xấu, cái ác là thái độ ứng xử tích cực cần được coi trọng. Ý nghĩa về sự ca ngợi, tôn vinh người cương trực, quyết đoán, dám đương đầu với cái ác, cái xấu cũng đã được thể hiện ở phần kết câu chuyện, khi Tử Văn chết lại được sống lại và trở thành đức Thánh ở đền Tản Viên.
Soạn bài lớp 10_ Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên
1,689
Soạn bài lớp 10: Chí khí anh hùng Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Chí khí anh hùng Soạn bài lớp 10: Chí khí anh hùng được trích trong tác phẩm Truyện Kiều do Nguyễn Du sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Nỗi thương mình Soạn bài lớp 10: Thề nguyền Giáo án Chí khí anh hùng Bài giảng Chí khí anh hùng Ngữ văn 10 CHÍ KHÍ ANH HÙNG (Trích Truyện Kiều) NGUYỄN DU I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Xem mục Tìm hiểu về tác giả ở bài Đọc Tiểu Thanh kí và bài Nguyễn Du. 2. Xem mục Thể loại trong bài Truyện Kiều. 3. Với nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đặc sắc, đoạn trích ngợi ca chí khí anh hùng của nhân vật Từ Hải và khẳng định lại một lần nữa tình cảm của Thuý Kiều và Từ Hải là tình tri kỉ, tri âm chứ không chỉ đơn thuần là tình nghĩa vợ chồng. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Kiều bị lừa vào lầu xanh lần thứ hai, tâm trạng nàng vô cùng đau khổ và tuyệt vọng. May sao Từ Hải đột ngột xuất hiện, đã coi Kiều như một tri kỉ và cứu nàng ra khỏi lầu xanh. Hai người đều thuộc hạng người bị xã hội đương thời coi thường (một gái giang hồ và một là giặc) đã đến với nhau tâm đầu ý hợp trong một tình cảm gắn bó của đôi tri kỉ. Từ Hải đánh giá cao sự thông minh, khéo léo và nhạy cảm của Kiều. Kiều nhận ra Từ là đường anh hùng hiếm có trong thiên hạ, là người duy nhất có thể giải oan cho nàng. Nhưng dù yêu quý, trân trọng Từ Hải, Kiều cũng không thể giữ chân bậc anh hùng cái thế. Đã đến lúc Kiều để Từ Hải ra đi lập sự nghiệp anh hùng. 2. Chứng minh rằng đoạn trích Chí khí anh hùng thể hiện nổi bật khuynh hướng lí tưởng hoá khi xây dựng nhân vật anh hùng Từ Hải. Gợi ý: Nhân vật Từ Hải được Nguyễn Du tái tạo theo khuynh hướng lí tưởng hoá. Mọi ngôn từ, hình ảnh và cách miêu tả, Nguyễn Du đều sử dụng rất phù hợp với khuynh hướng này. Về từ ngữ: Tác giả dùng từ “trượng phu”, đây là lần duy nhất tác giả dùng từ này và chỉ dùng cho nhân vật Từ Hải. “Trượng phu” nghĩa là người đàn ông có chí khí lớn. Thứ hai là từ “thoắt” trong cặp câu: Nửa năm hương lửa đương nồng Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương Nếu là người không có chí khí, không có bản lĩnh thì trong lúc hạnh phúc vợ chồng đang nồng ấm, người ta dễ quên những việc khác. Nhưng Từ Hải thì khác, ngay khi đang hạnh phúc, chàng “thoắt” nhớ đến mục đích, chí hướng của đời mình. Tất nhiên chí khí đó phù hợp bản chất của Từ, thêm nữa, Từ nghĩ thực hiện được chí lớn thì xứng đáng với niềm tin yêu và trân trọng mà Thuý Kiều dành cho mình. Cụm từ “động lòng bốn phương” theo Tản Đà là “động bụng nghĩ đến bốn phương” cho thấy Từ Hải “không phải là người một nhà, một họ, một xóm, một làng mà là người của trời đất, của bốn phương” (Hoài Thanh). Hai chữ “dứt áo” trong cụm từ “quyết lời dứt áo ra đi” thể hiện được phong cách mạnh mẽ, phi thường của đấng trượng phu trong lúc chia biệt. Hình ảnh: “Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi” là một hình ảnh so sánh thật đẹp đẽ và đầy ý nghĩa. Tác giả muốn ví Từ Hải như chim bằng cỡi gió bay cao, bay xa ngoài biển lớn. Không chỉ thế, trong câu thơ còn diễn tả được tâm trạng của con người khi được thoả chí tung hoành “diễn tả một cách khoái trá giây lát con người phi thường rời khỏi nơi tiễn biệt”. Nói thế, không có nghĩa là Từ Hải không buồn khi xa Thuý Kiều mà chỉ khẳng định rõ hơn chí khí của nhân vật. Hình ảnh “Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong” cho thấy chàng lên ngựa rồi mới nói lời tiễn biệt, điều đó diễn tả được cái cốt cách phi thường của chàng, của một đấng trượng phu trong xã hội phong kiến. Về lời miêu tả và ngôn ngữ đối thoại: Kiều biết Từ Hải ra đi trong tình cảnh “bốn bể không nhà” nhưng vẫn nguyện đi theo. Chữ “tòng” không chỉ giản đơn như trong sách vở của Nho giáo rằng phận nữ nhi phải “xuất giá tòng phu” mà còn bao hàm ý thức sẻ chia nhiệm vụ, đồng lòng tiếp sức cho Từ khi Từ gặp khó khăn trong cuộc sống. Từ Hải nói rằng sao Kiều chưa thoát khỏi thói nữ nhi thường tình không có ý chê Kiều nặng nề mà chỉ là mong mỏi Kiều cứng rắn hơn để làm vợ một người anh hùng. Từ nói ngày về sẽ có mười vạn tinh binh, Kiều tin tưởng Từ Hải. Điều đó càng chứng tỏ hai người quả là tâm đầu ý hợp, tri kỉ, tri âm. 3. Từ các đoạn trích Trao duyên, Nỗi thương mình, Chí khí anh hùng, hãy phát biểu nhận xét khái quát những đặc điểm trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Nguyễn Du. Nghệ thuật miêu tả tâm lí là một trong những phương diện nghệ thuật đặc sắc bậc nhất của TruyệnKiều. Chính những thành công về nghệ thuật miêu tả tâm lí đã chứng tỏ sự sáng tạo độc đáo, tấm lòng thấu hiểu con người của Nguyễn Du. Có thể nhận định: Tâm lí nhân vật được thể hiện sinh động, trực tiếp trong tình huống cụ thể. Diễn biến tâm lí nhân vật được miêu tả chân thực, theo đúng quy luật và quá trình diễn biến trong thời gian của đời sống bên trong con người. Trạng thái tâm lí mang tính cá thể rất rõ; đó là tâm lí của những con người cụ thể, với đặc điểm riêng về tính cách, hoàn cảnh,… Các hình thức đối thoại, độc thoại và lời trần thuật nửa trực tiếp được sử dụng rất có hiệu quả để miêu tả tâm lí nhân vật. 4. Phân tích hình tượng nhân vật Từ Hải thể hiện trong bốn câu đầu của đoạn trích Gợi ý: Từ Hải xuất hiện trong tác phẩm, trước hết là một anh hùng cái thế, đầu đội trời chân đạp đất. Khi cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, là vì việc nghĩa, là vì trọng Kiều như một tri kỉ. Nhưng khi kết duyên cùng Kiều, Từ thực sự là một người đa tình. Song dẫu đa tình, Từ không quên mình là một tráng sĩ, một người có chí khí mạnh mẽ. Trong xã hội phong kiến, đã làm thân nam nhi phải có chí vẫy vùng giữa đất trời cao rộng. Từ Hải quả là một bậc anh hùng có chí lớn và có nghị lực để đạt được mục đích cao đẹp của bản thân. Chính vì thế, trong khi đang sống với Kiều những ngày tháng thực sự êm đềm, hạnh phúc nhưng Từ không quên chí hướng của bản thân. Đương nồng nàn hạnh phúc, chợt “động lòng bốn phương”, thế là toàn bộ tâm trí hướng về “trời bể mênh mang”, với “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”. Không gian trong hai câu 3, 4 (trời bể mênh mang, con đường thẳng) đã thể hiện rõ chí khí anh hùng của Từ Hải. 5. Chỉ ra tính chất riêng biệt của cuộc tiễn biệt giữa Từ Hải và Thuý Kiều so với hai cuộc chia tay trước đó với Kim Trọng và với Thúc Sinh. Gợi ý: Tác giả dựng lên hình ảnh Từ Hải “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong” rồi mới để cho Từ Hải và Thuý Kiều nói lời tiễn biệt. Liệu có gì phi lôgíc không? Không, vì hai chữ “thẳng rong” có người giải thích là “vội lời”, chứ lên đường đi thẳng rồi mới nói thì vô lí. Vậy có thể hình dung, Từ Hải trên yên ngựa rồi nói những lời chia biệt với Thuý Kiều. Và, có thể khẳng định cuộc chia biệt này khác hẳn hai lần trước khi Kiều từ biệt Kim Trọng và Thúc Sinh. Kiều tiễn biệt Kim Trọng là tiễn biệt người yêu về quê hộ tang chú, có sự nhớ nhung của một người đang yêu mối tình đầu say đắm mà phải xa cách. Khi chia tay Thúc Sinh là để chàng về quê xin phép Hoạn thư cho Kiều được làm vợ lẽ, hi vọng gặp lại rất mong manh vì cả hai đều biết Hoạn Thư chẳng phải tay vừa, do đó gặp lại được như hiện tại là rất khó khăn. Chia tay Từ Hải là chia tay người anh hùng để chàng thoả chí vẫy vùng bốn biển. Do vậy, tính chất ba cuộc chia biệt là khác hẳn nhau. Gợi ý: Từ Hải là người có chí khí phi thường: Khi chia tay, thấy Kiều nói: Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng Chàng đi, thiếp cũng một lòng xin đi” Từ Hải đã đáp lại rằng: Từ rằng: “Tâm phúc tương tri Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình” Trong lời đáp ấy bao hàm lời dặn dò và niềm tin mà Từ Hải gửi gắm nơi Thuý Kiều. Chàng vừa mong Kiều hiểu mình, đã là tri kỉ thì chia sẻ mọi điều trong cuộc sống, vừa động viên, tin tưởng Kiều sẽ vượt qua sự bịn rịn của một nữ nhi thường tình để làm vợ một người anh hùng. Chàng muốn lập công, có được sự nghiệp vẻ vang rồi đón Kiều về nhà chồng trong vinh dự, vẻ vang: Bao giờ mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường. Làm cho rõ mặt phi thường Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia Quả là lời chia biệt của một người anh hùng có chí lớn, không bịn rịn một cách yếu đuối như khi Kiều chia tay Thúc Sinh. Sự nghiệp anh hùng đối với Từ Hải là ý nghĩa của sự sống. Thêm nữa, chàng nghĩ có làm được như vậy mới xứng đáng với sự gửi gắm niềm tin, với sự trông cậy của người đẹp. Từ Hải là người rất tự tin trong cuộc sống: Từ ý nghĩ, đến dáng vẻ, hành động và lời nói của Từ Hải trong lúc chia biệt đều thể hiện Từ là người rất tự tin trong cuộc sống. Chàng tin rằng chỉ trong khoảng một năm chàng sẽ lập công trở về với cả một cơ đồ lớn.
Soạn bài lớp 10_ Chí khí anh hùng
1,823
Soạn bài lớp 10: Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự Hướng dẫn Soạn bài: Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự Soạn bài lớp 10: Chọn sự việc, chi tiết tiểu biểu trong văn tự sự được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về việc chọn sự việc cũng như các chi tiết trong văn bản tự sự giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Tấm Cám Soạn bài lớp 10: Ra-Ma buộc tội Soạn bài lớp 10: Uy-Lít-Xơ trở về CHỌN SỰ VIỆC, CHI TIẾT TIÊU BIỂU TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Sự việc là “cái xảy ra được nhận thức có ranh giới rõ ràng, phân biệt với những cái xảy ra khác” (Theo Từ điển tiếng Việt). Sự việc tiêu biểu là những mốc quan trọng góp phần hình thành bố cục, từ đó dẫn dắt câu chuyện, từng bước hoàn chỉnh văn bản. 2. Mỗi sự việc tiêu biểu bao gồm một số chi tiết đặc sắc. Chi tiết có thể là một lời nói, một cử chỉ, một hành động của nhân vật… Những chi tiết đặc sắc tập trung thể hiện rõ nét sự việc tiêu biểu. 3. Muốn chọn được chi tiết, sự việc tiêu biểu khi viết bài văn tự sự, trước hết cần nắm được yêu cầu của đề văn. Cần phải hình dung được cốt truyện, các nhân vật và quan hệ của chúng. Các chi tiết, sự việc đưa vào bài văn có thể do ta đọc, hoặc tự phát hiện, hoặc ghi lại trong cuộc sống nhưng nhất thiết phải nổi bật, hấp dẫn, tô đậm tính cách nhân vật và tập trung biểu hiện tư tưởng chủ đề của bài văn. II. RÈN KĨ NĂNG 1. a) Trong “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”, tác giả dân gian kể: Chuyện về tình cha con: là câu chuyện về nỗi đau đớn của người cha khi dứt ruột kết liễu đứa con mình vì cô công chúa ngây thơ đã vô tình có tội với dân với nước. Chuyện về tình vợ chồng chung thủy: là câu chuyện về mối tình ngang trái nhưng son sắt thủy chung của Trọng Thủy – Mị Châu. Hai vợ chồng tuy đứng ở hai bên chiến tuyến nhưng tình cảm của họ vẫn vô cùng sâu nặng. Vì thế mà họ đã sống chết thủy chung với lời thề. Chuyện về công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của cha ông ta xưa: trong câu chuyện này, tác giả dân gian muốn giả thích một cách “nhẹ nhàng” nỗi đau mất nước và nhấn mạnh tinh thần cảnh giác, phê phán tính chủ quan trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giả sử ta bỏ không kể sự việc này hoặc bỏ chi tiết “Mị Châu rắc lông ngỗng” thì câu chuyện chắc chẵn sẽ không tiếp nối được. Bởi sự việc ấy và chi tiết này là tiền đề cho các sự việc và chi tiết tiếp theo. 2. Có thể kể tiếp câu chuyện anh con trai lão Hạc trở về theo gợi ý sau: Anh con trai về, nghe ông giáo kể về cha. Sự việc trọng tâm là ông lão đã sống như thế nào và ông lão đã giữ mảnh vườn ra sao? Có thể kể các chi tiết: Lão Hạc đau khổ khi phải bán chú chó vàng Làng mất vè sợi, Lão Hạc phải ăn củ chuối, sung luộc để sống. Lão Hạc bòn tiền gửi ông giáo để lo việc tang ma. Cái chết đau đớn đầy tự trọng của Lão Hạc. Ông giáo trao kỉ vật cho cậu con trai. Cùng ông giáo, anh con trai xúc động ra viếng mộ cha. Có thể kể theo các chi tiết: Nói với cha về những năm tháng vất vả của đời mình. Ân hận vì đã bỏ ra đi. Hứa với cha sẽ sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh của cha. Anh con trai lão Hạc gửi lại ông giáo những di vật và ra đi. Sự việc chính là giải thích cho ông giáo nghe lí do của cuộc ra đi. Chọn các chi tiết kể sau: Cảm ơn ông giáo vì đã quan tâm giúp đỡ cha mình. Kể cho ông giáo biết anh đã giác ngộ và là một người cách mạng. Xin gửi lại ông giáo những kỉ vật của cha để lại tiếp tục ra đi chiến đấu. Hứa hẹn ngày về. 3. Những công việc cần thiết khi chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự: Xác định mục đích của việc lựa chọn (để kể lại, để viết bài văn tự sự hoặc để làm dẫn chứng cho một việc làm nào đó…). Xác định đề tài của văn bản: Kể về một trận đánh, về tình mẹ con, vợ chồng..vv..kể về một tấm gương người tốt hoặc kể về cả về một cuộc đời với nhiều mối quan hệ vô cùng phức tạp… Dự kiến cốt truyện Cốt truyện truyền thống, thường gồm các phần: Trình bày, khai đoạn (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc (mở nút). Cốt truyện phóng khoáng kiểu hiện đại: Là cốt truyện không theo lôgíc kể trên, có thể đảo lộn hoặc thiếu một phần nào đó hoặc có loại tự sự mà không có… chuyện (chỉ miêu tả những dòng cảm xúc). Dù kể theo cách nào thì người kể (người viết) cũng cần chú ý chuẩn bị các yếu tố cấu thành truyện như: Đề tài, bố cục, các sự việc, chi tiết tiêu biểu, các nhân vật (chính, phụ), diễn biến câu chuyện và kết quả. Cuối cùng ta hãy chia cốt truyện thành các đoạn, mỗi đoạn chọn một vài sự việc, chi tiết tiêu biểu nổi bật. Công việc này đòi hỏi ta phải quan sát và suy ngẫm, phải khôi phục những ấn tượng đặc biệt mà ta đã đọc hay học được trong sách vở, trong cuộc sống. Đồng thời phải biết điều phối chúng sao cho cân xứng trong suốt cả bài văn. b) Từ sự việc này có thể rút ra bài học: Khi lựa chọn sự việc và chi tiết tiêu biểu để kể chuyện hoặc để viết bài văn tự sự cần cân nhắc kĩ càng và thận trọng. Các sự việc chi tiết được chọn, phải đảm bảo yêu cầu về sự quan trọng và nổi bật, phải góp phần dẫn dắt cốt truyện, phải tô đậm tính cách của nhân vật, tạo ra sự hấp dẫn và tập trung vào chủ đề của bài văn. 5. Trong đoạn trích “Uy-lít-xơ trở về”, tác giả Hô-me-rơ đã kể lại toàn bộ quá trình Pê-nê-lốp thử thách Uy-lít-xơ trước khi hai người chính thức nhận ra nhau bằng “chìa khoá” là chiếc giường bí mật. Trong màn đoàn tụ ấy, ở cuối đoạn, tác giả có kể một sự việc quan trọng đó là việc Pê-nê-lốp chính thức nhận ra Uy-lít-xơ. Trong sự việc này các chi tiết tiêu biểu là các chi tiết miêu tả chiếc giường đặc biệt (gian phòng của hai vợ chồng được xây quanh cây cảm lãm, gốc cây được đẽo thành một chiếc chân giường làm thành chiếc giường bất di bất dịch…). Đoạn kể này có thể coi là một thành công trong nghệ thuật kể chuyện sử thi của Hô-me-rơ. Nó độc đáo, bất ngờ và lôgíc bởi nó làm tô lên vẻ đẹp tính cách và phẩm chất của các nhân vật sử thi. Lối kể này cũng tạo ra sự hấp dẫn li kì. Vì thế mà nó lôi cuốn, giục giã tính tò mò và sự quan tâm khám phá của người đọc sách.
Soạn bài lớp 10_ Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự
1,302
Soạn bài lớp 10: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh Soạn bài: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn tài liệu dưới đây với mục đích giúp các bạn học sinh chuẩn bị tốt cho bài học môn Ngữ Văn lớp 10 học kì 2 của mình. CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Văn bản thuyết minh nhằm giới thiệu, trình bày chính xác, khách quan về cấu tạo, tính chất, quan hệ, giá trị,… của một sự vật, hiện tượng, một vấn đề nào đó. Có nhiều loại văn bản thuyết minh. 2. Văn bản thuyết minh có thể có nhiều loại hình thức kết cấu khác nhau: Kết cấu theo trình tự thời gian: trình bày sự vật theo quá trình hình thành, vận động và phát triển. Kết cấu theo trình tự không gian: trình bày sự vật theo tổ chức vốn có của nó (bên trên – bên dưới, bên trong – bên ngoài, hoặc theo trình tự quan sát,…). Kết cấu theo trình tự lôgic: trình bày sự vật theo các mối quan hệ khác nhau (nguyên nhân – kết quả, chung – riêng, liệt kê các mặt, các phương diện,…). Kết cấu theo trình tự hỗn hợp: trình bày sự vật với sự kết hợp nhiều trình tự khác nhau. 1. Hình thức kết cấu của văn bản Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân: a) Đối tượng và mục đích thuyết minh: Đối tượng: Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân. Mục đích: nhằm giới thiệu cho người đọc về thời gian, địa điểm và diễn biến của hội thổi cơm thi và ý nghĩa văn hoá của nó trong đời sống tinh thần của người lao động vùng đồng bằng Bắc Bộ. b) Các ý chính của văn bản: Thời gian, địa điểm diễn ra lễ hội. Diễn biến lễ hội: Thi nấu cơm: làm thủ tục bắt đầu cuộc thi, lấy lửa trên ngọn cây chuối, nấu cơm. Chấm thi: các tiêu chuẩn chấm thi, cách chấm để đảm bảo chính xác, công bằng. Ý nghĩa văn hoá của lễ hội đối với đời sống tinh thần của người dân lao động. 2. Hình thức kết cấu của văn bản Bưởi Phúc Trạch: a) Đối tượng và mục đích thuyết minh: Đối tượng: bưởi Phúc Trạch – một loại trái cây nổi tiếng ở Hà Tĩnh. Mục đích: giúp người đọc hình dung, cảm nhận được đặc điểm (hình dáng, màu sắc, hương vị hấp dẫn, giá trị bổ dưỡng) của bưởi Phúc Trạch. b) Các ý chính của văn bản: Về hình dáng bên ngoài của bưởi Phúc Trạch. Về hương vị đặc sắc của bưởi Phúc Trạch. Về sự hấp dẫn và bổ dưỡng của bưởi Phúc Trạch. Danh tiếng của bưởi Phúc Trạch. Văn bản Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân tổ chức kết cấu theo trình tự thời gian, xen lẫn lời kể và lời tả. Văn bản Bưởi Phúc Trạch tổ chức kết cấu theo trình tự quan hệ không gian (từ ngoài vào trong), trình tự quan hệ lôgic (các phương diện khác nhau của quả bưởi: hình dáng, màu sắc, hương vị, giá trị bổ dưỡng) và trình tự quan hệ nhân quả (giữa ý thứ nhất, thứ hai và ý thứ ba; giữa ý thứ ba và ý thứ tư). 4. Nếu cần thuyết minh bài Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão, có thể tổ chức kết cấu như sau: Giới thiệu khái quát về tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Tỏ lòng. Thuyết minh về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ: Giá trị nội dung của bài thơ. Giá trị nghệ thuật của bài thơ. Chú ý: Có thể thuyết minh giá trị nghệ thuật của bài thơ trước rồi mới thuyết minh giá trị nội dung hoặc đan xen. Khẳng định về giá trị của bài thơ. 5. Nếu phải thuyết minh một di tích, một thắng cảnh của đất nước, có thể giới thiệu dựa theo gợi ý sau: Giới thiệu chung về di tích hoặc thắng cảnh: tên gọi, giá trị nổi bật,… Thuyết minh cụ thể về đặc điểm, giá trị các mặt của di tích hoặc thắng cảnh: vị trí, quang cảnh, sự tích, đặc điểm và giá trị tiêu biểu,… Có thể thuyết minh theo trình tự thời gian, không gian, quan hệ lôgic,… hoặc phối hợp một cách linh hoạt, tự nhiên các trình tự kết cấu. Khẳng định, nhấn mạnh về đặc điểm cũng như giá trị của đối tượng đã thuyết minh.
Soạn bài lớp 10_ Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh
767
Soạn bài lớp 10: Cáo bệnh, bảo mọi người Hướng dẫn Soạn bài: Cáo bệnh, bảo mọi người Soạn bài lớp 10: Cáo bệnh, bảo mọi người là tài liệu được sưu tầm, nhằm giúp các bạn học sinh nắm được đôi nét về cuộc đời tác giả Mãn Giác thiền sư cùng nội dung và nghệ thuật của bài thơ Cáo bệnh, bảo mọi người. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 10: Đọc “Tiểu thanh kí” Soạn bài lớp 10: Lời tiễn dặn Cáo bệnh, bảo mọi người (Cáo tật thị chúng – Mãn Giác Thiền Sư) I. Kiến thức cơ bản 1. Mãn Giác thiền sư (1052 – 1096) tên là Lí Trường, sinh thời được Thái hậu và vua rất trọng dụng. 2. Cáo tật thị chúng (nhan đề do người đời sau đặt) là một bài kệ. Kệ là một thể văn của Phật giáo dùng để truyền bá giáo lí Phật pháp. Kệ được viết bằng văn vần, nhiều bài có giá trị văn chương như các bài thơ. 3. Cáo tật thị chúng là một triết lí phật giáo nhưng cũng là một quan niệm nhân sinh. Bài thơ thể hiện cảm giác tiếc nuối thời gian. Thời gian trôi đi, tuổi già đến, con người không thể sống vô nghĩa. Con người với lòng yêu đời đã có một cái nhìn rất lạc quan về cuộc sống. II. Rèn kỹ năng 1. Bốn câu thơ đầu Bốn câu thơ đầu nói lên quy luật hoá sinh của tự nhiên, của con người; hoa cũng như con người không bao giờ đứng yên, bất biến. Sự sống luôn là một vòng quay luân hồi. Nếu đảo ngược vị trí câu thơ thứ hai lên đầu thì mặc dù vẫn nói lên được quy luật tuần hoá biến đổi nhưng đó sẽ là nhìn sự vận động theo quy luật xuân tới để xuân qua, hoa tươi để hoa rụng, chứ không theo quy luật sinh trưởng phát triển tự nhiên (xuân qua rồi xuân tới, hoa rụng rồi hoa tươi). Câu ba và câu bốn nói lên quy luật của đời người – quy luật: Sinh, lão, bệnh, tử theo quan niệm của đạo Phật. Con người cùng với thời gian trôi thì tuổi trẻ sẽ qua đi và tuổi già ắt đến. Tuổi già đến trên đầu mà thời gian thì không ngừng trôi chảy (trước mắt việc đi mãi). Vì thế cuộc đời con người trong khoảnh khắc có khác gì ảo ảnh. Hai câu thơ có chút bâng khuâng nuối tiếc vì thời gian của vũ trụ thì vô thuỷ vô chung còn thời gian của đời người thì ngắn ngủi. Tác giả mượn việc miêu tả thiên nhiên mà nói đến một quan niệm triết lí trong Phật giáo; khi con người đã giác ngộ đạo (hiểu được chân lí và quy luật) thì có sức mạnh lớn lao, vượt lên trên cả lẽ sinh diệt thông thường. Thiền sư đắc đạo trở về với bản thể vĩnh hằng, không sinh, không diệt như nhành mai kia cứ tươi bất kể xuân tàn. Theo cách giải thích này nội dung ý tức của hai câu thơ cuối không hề có chút gì mâu thuẫn với nhau. 3. Nội dung cả bài Bài thơ thể hiện rất rõ lòng yêu đời với cái nhìn lạc quan của nhà thơ. Niềm yêu đời, niềm lạc quan tươi sáng ấy được thể hiện qua cách nói khẳng định, qua các hình tượng thiên nhiên mang vẻ đẹp tươi tắn, gợi lên sự cảm nhận về sự sống sinh sôi và bất diệt. Quy luật của cuộc đời là sinh – tử – sinh nhưng bài thơ mở đầu bằng “xuân tàn” và kết thúc bằng “một nhành mai” tươi. Đó là một cách nhìn lạc quan. Lời kệ được viết khi nhà thơ đau bệnh nhưng nó vẫn toát lên sự bình thản yêu đời, xuất phát từ một thể trạng tinh thần khoẻ mạnh, đầy bản lĩnh, đạt đến độ tự tại ung dung. 4. Ý nghĩa loài hoa mai Trong quan niệm của người xưa, hoa mai là loài hoa chịu được cái giá rét của mùa đông. Trong sương tuyết lạnh, mai vẫn nở hoa, báo hiệu cho mùa xuân đến. Hoa mai tượng trưng cho vẻ đẹp thanh cao, tinh khiết vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn, thử thách, gian nan. Hình tượng hoa mai vì thế tượng trưng cho sức sống bất diệt của con người.
Soạn bài lớp 10_ Cáo bệnh, bảo mọi người
739
Soạn bài lớp 10: Cảm xúc mùa thu Hướng dẫn Soạn bài: Cảm xúc mùa thu (Thu hứng – Đỗ Phủ) Soạn bài: Cảm xúc mùa thu (Thu hứng – Đỗ Phủ) là tài liệu tham khảo được sưu tầm nhằm giúp các bạn nắm được kiến thức về nhà thơ Đỗ Phủ, nội dung và nghệ thuật của bài thơ Cảm xúc mùa thu. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 10: Tỏ lòng Soạn bài lớp 10: Lời tiễn dặn Cảm xúc mùa thu (Thu hứng – Đỗ Phủ) I. Kiến thức cơ bản 1. Tác giả Đỗ Phủ (712 – 770) tự Tử Mỹ, người huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Sống vào thời đất nước Trung Quốc triền miên trong cảnh loạn li, mặc dù Đỗ Phủ có làm vài chức quan nhỏ trong một thời gian ngắn song gia đình ông cũng lâm vào tình cảnh phiêu bạt, cơ cực. Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực lớn nhất, không chỉ của đời Đường, mà của cả lịch sử thơ ca cổ Trung Quốc. 2. Bài thơ Thu hứng Thu hứng là bức tranh mùa thu hiu hắt và cũng là tâm trạng buồn lo của nhà thơ. Nỗi lo ấy bắt nguồn nỗi buồn của tác giả khi ông chứng kiến cảnh đất nước kiệt quệ vì sự tàn phá của chiến tranh. Bài thơ cũng là nỗi lòng của kẻ xa quê, là nỗi ngậm ngùi, xót xa cho thân phận của kẻ tha hương lưu lạc. 3. Đặc sắc nghệ thuật II. Rèn kỹ năng 1. Có thể chia bài thơ thành hai phần (4 câu trên và 4 câu dưới). Chia như vậy bởi hai phần này có tính độc lập nhất định (4 câu trên thiên nhiều hơn về tả cảnh, 4 câu dưới lại thiên nhiều hơn về tả tình). Nội dung của bốn câu thơ trên là miêu tả cảnh mùa thu ảm đạm và hiu hắt (cũng có một chút dữ dội nhưng chỉ làm cho cảnh thêm sâu thẳm, hoang vu). Bốn câu thơ ở phần hai lại chủ yếu miêu tả cái tình của nhà thơ: nỗi nhớ quê và nỗi niềm “dân nước”. 2. Bốn câu thơ đầu là cảnh được nhìn trong tầm bao quát rộng và xa (rừng phong, núi vu, kẽm vu, sóng dợn, mây trùm cửa ải,…) Thế nhưng đến bốn câu sau, không gian bị thu hẹp lại (khóm cúc, con thuyền) rồi gần hơn nữa, nó “lặn” vào tâm hồn của nhà thơ. Sở dĩ có sự vận động của không gian như thế là vì thời gian đang khép lại (chiều dần buông, tầm nhìn bắt đầu thu hẹp). Và thêm nữa để nó phù hợp với sự vận động của tứ thơ (từ cảnh đến tình). 3. Bốn câu thơ đầu là cảnh mùa thu – vừa tiêu điều, hiu hắt (Sương móc trắng xóa làm tiêu điều cả rừng cây phong; Núi vu, kẽm vu hơi thu hiu hắt), lại vừa dữ dội (sóng vỗ Trường Giang; trên cửa ải, mây sa mặt đất). Cảnh ấy vừa gợi nỗi buồn tê tái, vừa ngầm thể hiện nỗi lo âu của nhà thơ (về sự không bình yên ở nơi biên ải). Bài thơ khởi hứng bằng “thu” và quả thực câu nào cũng nói đến mùa thu. Nhưng chỉ có điều thật khó có thể phân biệt rạch ròi đâu là “thu tình” và đâu là “thu cảnh”. Hay nói cách khác, thu cảnh cũng chính là thu tâm (thu – hứng). 4. Câu thơ Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ (Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước) là một câu thơ đa nghĩa, giàu hàm ý. Chữ “lệ” ở trong câu thơ này quả thực rất khó phân biệt đó là lệ của người hay “lệ” của hoa. Tuy nhiên có lẽ nên hiểu: Mỗi lần nhìn hoa cúc nở, nhà thơ lại chạnh lòng nhớ đến quê hương. Những giọt nước mắt theo đó cũng cứ tự nhiên rơi không sao ngăn lại được. Hình ảnh hoa cúc “nở rồi lại nở” vừa gợi ra sự trở đi trở lại của nỗi nhớ quê, vừa gợi ra liên tưởng về những dòng lệ chứa chan ân tình của nhà thơ. Ưu điểm: Bản dịch thơ cơ bản đã thể hiện được khá sắc sảo tinh thần của bài thơ. Bản dịch có thể coi là khá đạt. Nhược điểm: Bản dịch còn có một số vênh lệch so với bản phiên âm: Trong câu đầu, bản dịch thơ chưa chuyển tải được ý nghĩa của từ “điêu thương” – đây là một tính từ đã được động từ hóa (làm tiêu điều). Vì vậy ở trong bản phiên âm nó mang nghĩa rất mạnh – chỉ sự tàn phá khắc nghiệt của sương móc đối với rừng phong. Chữ “thẳm” trong câu ba (bản dịch) chưa thật sát nghĩa. Đồng thời nó còn làm cho âm hưởng thơ trầm xuống. Câu 5, bản dịch bỏ mất chữ “lỡng khai” – là một từ quan trọng của bản phiên âm – nhấn mạnh số lần lặp lại. Cũng vậy ở câu 6, chữ “cô” cha dịch được làm cho câu thơ cha thật sự thể hiện được nỗi lòng của kẻ li hương.
Soạn bài lớp 10_ Cảm xúc mùa thu
876
Soạn bài lớp 10: Cảnh ngày hè Hướng dẫn Soạn bài: Cảnh ngày hè Soạn bài lớp 10: Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới) do đại thi hào Nguyễn Trãi sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè và vẻ đẹp tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Tỏ lòng Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi Trắc nghiệm Ngữ văn lớp 10: Bài – Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi Văn mẫu lớp 10: Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài Cảnh ngày hè Bài giảng Cảnh ngày hè CẢNH NGÀY HÈ (Bảo kính cảnh giới – bài 43) NGUYỄN TRÃI I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là Ức Trai, quê gốc tại làng Ngái (Chi Ngại), huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Ông mất ngày 19 – 9 – 1442, tức 16 tháng Tám năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba, trong vụ án Lệ Chi Viên (tức vụ án Trại Vải, huyện Gia Lương, nay thuộc Bắc Ninh), vụ án tru di tam tộc oan khốc nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Ông là nhà văn hoá, nhà thơ lớn của dân tộc, người mở đầu cho sáng tác thơ Nôm ở Việt Nam. Cảnh ngày hè là một trong những bài thơ đặc sắc trong tập Quốc âm thi tập, một tập thơ Nôm được xem là cổ nhất. Là tập thơ Nôm sớm nhất còn lại đến hôm nay. Nó là một “bông hoa nghệ thuật đầu mùa” của thơ ca Tiếng Việt. Về nội dung, Quốc âm thi tập phản ánh vẻ đẹp con người Nguyễn Trãi (lí tưởng nhân nghĩa; lòng yêu nước, thương dân; tình yêu thiên nhiên, quê hương, con người, cuộc sống,…). Về nghệ thuật, tác giả Quốc âm thi tập vận dụng một cách thành thục thể thơ thất ngôn đường luật của Trung Quốc. Tuy nhiên, có chỗ Nguyễn Trãi lại chen vào một số câu thơ lục ngôn thích hợp (một sự phá cách trong sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ). 3. Bài thơ Cảnh ngày hè thể hiện vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè và vẻ đẹp tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước của Nguyễn Trãi. Bài thơ mang vẻ đẹp bình dị, tự nhiên, có sự đan xen câu lục ngôn (sáu chữ) và bài thơ thất ngôn (bảy chữ). II. RÈN KĨ NĂNG 1. Mạch cảm xúc của bài thơ: Từ thư thái, thanh thản pha sắc thái bất đắc dĩ, có phần chán ngán đến hứng khởi, phấn chấn đó là mạch cảm xúc của Cảnh ngày hè. 2. Bức tranh mùa hè: Cảnh ngày hè hiện ra thật đẹp, đầy sức sống với những chi tiết cụ thể, sinh động: tán hoè xanh thẫm che rợp, thạch hựu bên hiên nhà còn phun màu đỏ, sen hồng trong ao ngát mùi hương, tiếng lao xao vọng lại từ làng chài, tiếng ve như tiếng đàn vang dội lên. Bức tranh cho thấy sức sống sinh sôi, rạo rực khắp nơi nơi. Miêu tả cảnh ngày hè, tác giả đã sử dụng các động từ, tính từ, từ láy giàu sức gợi hình tượng và cảm giác. Ở câu 2, 3, 4, 5, 6 là các từ: đùn đùn, giương, phun, đỏ, tiễn, lao xao, dắng dỏi. Từ đùn đùn gợi tả sắc xanh thẫm của tán hoè lớp lớp, liên tiếp tuôn ra, giương rộng ra; từ phun gợi sự nổi bật, bắt mắt của màu đỏ hoa lựu; tiễn (ngát, nức) gợi tả sức lan toả của hương sen; từ lao xao, dắng dỏi đảo lên trước chợ cá, cầm ve làm nổi bật âm sắc rộn ràng, râm ran rất riêng của mùa hè. Dưới cái nhìn của tác giả, những sự vật vốn tĩnh trở nên động. Chuyển tĩnh thành động, sự cảm nhận cảnh ngày hè của nhà thơ bộc lộ rõ tình yêu sự sống sinh sôi, cái động của thiên nhiên, cảnh vật phản ánh cái động trong lòng người. 4. Nhịp điệu và tiết tấu giàu sức gợi tả: Bức tranh ngày hè sinh động không những được gợi tả bằng hình ảnh màu sắc, âm thanh, sự chuyển động tinh tế của sự vật mà còn thể hiện ở nhịp điệu, tiết tấu. Với đặc điểm về số câu (8 câu), cách gieo vần (cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8), lối đối ngẫu ở hai liên giữa (cặp câu 3 – 4, 5 – 6) thì vẫn thấy đây là bài thơ thất ngôn bát cú. Nhưng bài thơ có một số điểm khác so với thất ngôn bát cú Đường luật: Đa dạng hơn về nhịp điệu: Câu 1: 1 / 2 / 3 Câu 2: 4 / 3 (hoặc 1 / 3 / 3) Câu 3: 3 / 4 Câu 4: 3 / 4 Câu 5: 2 / 2 / 3 Câu 6: 2 / 2 / 3 Câu 7: 3 / 4 Câu 8: 3 / 3. 5. Tâm sự của nhà thơ: Sắc thái của cảnh vật trong bức tranh về sự sống mùa hè đã cho thấy tâm trạng phấn chấn trước vẻ đẹp của cuộc sống đã “phá vỡ” cái tĩnh tại của cuộc sống nhàn dật thuần tuý, qua đó bộc lộ niềm quyến luyến, thiết tha lớn với cuộc đời. Nỗi lòng của nhà thơ đối với đời, với cuộc sống nhân dân hiện ra rõ nét ở hai câu cuối bài. Ông nói đến cây đàn của Ngu Thuấn với mong ước thanh bình, no đủ cho muôn dân. Niềm tha thiết, gắn bó với đời được cụ thể bằng niềm mong mỏi giàu đủ cho nhân dân. Ngay cả trong không gian nhàn dật, ý thức nhập thế, giúp đời luôn thường trực trong tâm hồn Nguyễn Trãi. 6. Cảnh và tình trong bài thơ được kết hợp hài hoà. Tả cảnh ngày hè, bài thơ là một bức tranh tràn đầy sức sống. Sức sống của sự vật trong trong bức tranh tả cảnh mùa hè cũng thể hiện cảm xúc, niềm yêu đời trong tâm hồn nhà thơ. Cảnh gợi cảm xúc, cảm xúc chi phối cái nhìn và tái hiện cảnh vật.
Soạn bài lớp 10_ Cảnh ngày hè
1,086
Soạn bài lớp 10: Dế chọi Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Dế chọi Soạn bài lớp 10: Dế chọi được trích trong tác phẩm Liêu Trai chí dị do Bồ Tùng Linh sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Luận điểm trong bài văn nghị luận Soạn bài lớp 10: Tào Tháo uống rượu luận anh hùng DẾ CHỌI (Trích Liêu Trai chí dị) BỒ TÙNG LINH I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Bồ Tùng Linh (1640 – 1715) tự Lưu Tiên, còn có tự là Kiếm Thần, hiệu Liễu Tuyền, người tỉnh Sơn Đông. Ngoài truyện Liêu Trai chí dị, ông còn để lại bốn quyển Văn tập, sáu quyển Thi tập. Năm 1980, ông được toàn thế giới kỉ niệm như một danh nhân văn hóa. 2. Liêu Trai chí dị (Những truyện quái dị chép ở Liêu Trai) là tập truyện ngắn gồm 431 thiên. Đề tài của truyện do tác giả sưu tầm trong dân gian hoặc rút từ truyện Chí quái lục triều hay Truyền kì Đường rồi gia công sáng tạo thêm. Tác giả đã mượn truyện thần tiên ma quái để chỉ trích nền chính trị tàn bạo của người Mãn Thanh, phê phán những thói hư tật xấu của bọn nho sĩ, thể hiện khát vọng tự do trong tình yêu và hôn nhân… Liêu Trai chí dị là tác phẩm đạt tới đỉnh cao nghệ thuật viết truyện ngắn cổ điển Trung Quốc. Với nghệ thuật tả chân sâu sắc, tác giả đã phản ánh diện mạo xã hội thời đầu Mãn Thanh. Lúc đó xã hội còn thịnh hành tư tưởng mê tín dị đoan, chịu ảnh hưởng của tư tưởng định mệnh, của thuyết luân hồi báo ứng. Điều đó thể hiện rất rõ trong tác phẩm và đem lại màu sắc riêng cho tác phẩm. 3. Trong truyện Dế chọi, thông qua câu chuyện ngắn gọn với một số chi tiết li kì, biến ảo về gia đình Thành Danh tìm bắt, nuôi nấng dế chọi để cống nạp cho nhà vua, tác giả đã phê phán chế độ chính trị tàn bạo đương thời đã đè nén, áp bức, gây ra bao đau cho những người dân hiền lành lương thiện. 1. Phân tích kết cấu truyện Gợi ý: Truyện có kết cấu hết sức chặt chẽ. Chặt chẽ mà vẫn có những biến hoá khôn lườmh, hợp lí và lôgíc chứ không đơn điệu, cứng nhắc. Từ đầu đến cuối truyện mọi tình tiết đều xoay quanh câu chuyện dế chọi. Truyện chỉ viết về một gia đình cụ thể là gia đình Thành Danh với những tình huống may rủi xen kẽ, tất cả đều gắn với chuyện tìm dế chọi, luyện dế chọi để cống nạp nhưng đã để lại những ấn tượng khó quên vì những diễn biến bất ngờ và thú vị. 2. Bình luận về ý nghĩa châm biếm của từ “phúc ấm” trong lời bàn ở cuối tác phẩm Gợi ý: “Phúc ấm”: nguyên văn chữ Hán để chỉ công danh, chức tước triều đình ban cho con cháu do cha ông lập được nhiều công tích. Như thế, nguyên văn của từ này nếu được dùng đúng nghĩa là nghĩa tốt, là sự ban thưởng xứng đáng cho người có công với dân với nước. Ở đây, chữ “phúc ấm” dùng trong câu văn: “Còn ơn trời đền đáp sao mà dài lâu hậu hĩ vậy, khiến cho quan tỉnh, quan huyện đều được hưởng ân huệ và phúc ấm của dế” là dùng với nghĩa mai mỉa vì tìm dế chọi để cống nạp là một việc làm thái quá, gây ra đau khổ cho bao gia đình. Hơn nữa, “phúc ấm” phải do vua ban chứ không phải do dế chọi đem lại. 3. Lệ hiến dế chọi đã gây ra cho gia đình Thành Danh những hậu quả bi thảm như thế nào? Gợi ý: Bản thân Thành Danh: ngày đêm lo lắng, ăn không ngon, ngủ không yên Trước đó, gia đình Thành Danh đã khốn đốn vì “Anh vốn người chất phác, ít nói, cho nên bị bọn hương chức quyền thế ép phải giữ chân chức dịch trong làng. Tuy muôn phương nghìn kế chối từ mà vẫn không thoát. Mới chưa đầy một năm mà cái gia sản nhỏ mọn của anh ta cơ hồ đã kiệt” Đến vụ nộp dế, Thành Danh “lo buồn quá chỉ muốn chết đi cho rảnh”. Vợ Thành Danh phải bỏ tiền mời cô đồng đến nhà, thắp hương làm lễ khấn vái, cầu xin. Khi thấy xác con dưới giếng, Thành Danh “chuyển giận thành thương,… vật vã kêu trời muốn chết”. Sau đó nỗi lo lắng làm cho Thành Danh “nhìn cái lồng dế rỗng không lại như đứt hơi, tắc họng, không nghĩ gì đến con nữa,… Thành vẫn nằm dài, lòng buồn rười rượi”. Con trai Thành Danh lỡ tay làm chết con dế, bị mẹ mắng, sợ hãi bỏ đi, chết đuối dưới giếng. Sau khi được vớt lên, nửa đêm sống lại. Nhưng ở trong tình trạng “đứa con vẫn cứ trơ ra như gỗ, bằn bặt ngủ lịm”. 4. Chỉ ra những chi tiết li kì trong truyện Gợi ý: Tờ giấy bí ẩn của cô đồng Chi tiết Thành Danh tìm bắt dế chọi Chi tiết Thành Danh tìm bắt dế chọi lần hai – Con dế bé nhỏ nhưng sức lực khác thường, chiến thắng cả những con dế có sức vóc to hơn mình, thắng được cả con gà. Chi tiết con dế khi ở trong cung, mỗi lần nghe tiếng đàn cầm, đàn sắt lại nhảy múa theo các tiết điệu. Chi tiết con trai của Thành Danh kể lại việc mình đã hoá dế lanh lẹ, chọi giỏi. 5. Hãy phân tích một chi tiết li kì trong truyện để làm sáng tỏ nhận xét của Tản Đà rằng đây là một “tấm ảnh nhỏ” đã thu vào “nghìn vạn cảnh trạng ở nhân gian”? Học sinh có thể chọn phân tích một chi tiết mà mình tâm đắc. Dù chọn chi tiết nào cũng phải nêu bật được ý của Tản Đà. Ví như chọn chi tiết Thành Danh bắt và chăm sóc dế lần thứ nhất: Đã khổ công mới bắt được con dế (theo sự chỉ bảo trong tờ giấy của cô đồng mà Thành Danh phải cố công luận ra), lại phải chăm sóc dế rất cẩn thận. Khi vô tình đứa con làm chết con dế, Thành Danh đã qua sợ hãi và lo lắng. Phần thì thương con, phần thì lo không có dế chọi để cống nạp. Con thì chết đi sống lại, cha thì đau khổ tuyệt vọng, liên tục trải qua các trạng thái căng thẳng thần kinh, khi thì “lạnh toát xương sống”, khi thì “vật vã kêu trời muốn chết”, khi “như đứt hơi, tắc họng”, lúc lại “nằm dài, lòng buồn rười rượi”… Đó là cảnh ngộ riêng của Thành Danh và gia đình Thành Danh, nhưng cũng có thể hiểu đó là tình cảnh chung của những người dân lương thiện khác trong xã hội đương thời. Quả thật, cảnh tượng hiến dế chọi đã làm nhiều gia đình tiêu tán gia sản, nhân lực, sức khỏe, thậm chí tính mạng nữa. Đúng là một ‘tấm ảnh nhỏ” mà đã thu vào”nghìn vạn cảnh trạng ở nhân gian”. Gợi ý: Những tình huống may rủi mà Thành Danh từng gặp trong tác phẩm làm cho câu chuyên tăng phần hấp dẫn nhưng về nội dung lại khiến người đọc phải suy nghĩ về cuộc sống con người trong xã hội đương thời. Thứ nhất, họ phải chịu đựng một cái lệ hay chính là một cái ách rất vô lý và tệ hại. Cái lệ đó làm họ lo lắng cực độ mỗi khi đến dịp cống nạp, họ mất ăn mất ngủ, tổn hại thời gian, công sức, tiền bạc, sức khỏe và cả tính mạng. Thứ hai, cuộc sống của họ thật bấp bênh, phụ thuộc vào may rủi. Nói khác đi họ không thể làm chủ cuộc sống và vận mệnh của mình.
Soạn bài lớp 10_ Dế chọi
1,366
Soạn bài lớp 10: Hiền tài là nguyên khí quốc gia Hướng dẫn Ngữ văn lớp 10: Hiền tài là nguyên khí quốc gia Soạn bài lớp 10: Hiền tài là nguyên khí quốc gia do Thân Nhân Trung sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Nguyễn Trãi Giáo án bài Hiền tài là nguyên khí quốc gia HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA THÂN NHÂN TRUNG I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Thân Nhân Trung (1418 – 1499), tên chữ là Hậu Phủ, người Yên Ninh, Yên Dũng, nay thuộc tỉnh Bắc Giang, đỗ tiến sĩ năm 1469. Thân Nhân Trung từng là Tao Đàn Phó Nguyên suý trong Hội Tao Đàn do Lê Thánh Tông sáng lập. Ngoài bài văn bia này ông còn sáng tác thơ. 2. Bài trích này nằm trong tác phẩm có tên là Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba, một trong 82 bài văn bia ở Văn Miếu Hà Nội. Văn bia là loại văn khắc trên mặt đá nhằm ghi chép những sự việc trọng đại, hoặc tên tuổi, cuộc đời của những người có công đức lớn để lưu truyền cho đời sau. Bia có ba loại chính: bia ghi công đức, bia ghi việc xây dựng các công trình kiến trúc và bia lăng mộ. Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba thuộc loại văn bia đề danh, ghi công đức. Bia ghi công đức thường có phần tựa nêu lên lí do, quá trình làm bia; có phần ghi ngày tháng, họ tên người làm bia (viết bằng văn xuôi) và phần minh (viết bằng văn vần). Dần dần, phần tựa hoặc kí trở thành nội dung quan trọng nhất, thể hiện tư tưởng, quan điểm của người dựng bia. Bài văn bia này giữ vai trò như một lời tựa chung cho cả 82 tấm bia tiến sĩ ở Văn Miếu. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Bài văn bia này được Tiến sĩ Thân Nhân Trung viết năm 1484, thời Hồng Đức. Trước phần trích có một đoạn dài kể việc từ khi Lê Thái Tổ dựng nước (1428 – 1484), tuy các vua Lê thuở ấy đều chú ý bồi dưỡng hiền tài nhưng chưa có điều kiện dựng bia tiến sĩ. Sau phần trích là danh sách 33 vị đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất. 2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích Gợi ý: Đoạn 1 (từ Tôi dẫu nông cạn… cho đến làm đến mức cao nhất): Nêu lên giá trị của hiền tài đối với đất nước. Đoạn 2 (phần còn lại): Nêu ý nghĩa của việc dựng bia, khắc tên người hiền tài. 3. Nhận xét về kết cấu của đoạn trích Gợi ý: Mở đầu đoạn văn tác giả khẳng định vị trí “nguyên khí” của người hiền tài đối với quốc gia và kết thúc cũng khẳng định vai trò “củng cố mệnh mạch cho nhà nước”. Đây là lối kết cấu đồng tâm, nhằm nhấn mạnh vai trò của người hiền tài đối với quốc gia và khẳng định mục đích của việc dựng bia đề danh. Gợi ý: Lập luận đối lập: “… nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Liệt kê, trùng điệp đối lập: “… kẻ ác lấy đó mà răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước”. 5. Phân tích ý nghĩa của câu “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Gợi ý: Tác giả nói đến hiền tài là để chỉ những người có tài cao, học rộng và có đạo đức. Hiền tài là nguyên khí, nghĩa là khẳng định những người có tài cao, học rộng và có đạo đức chính là khí chất làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước, xã hội. Mối quan hệ giữa hiền tài đối với vận mệnh đất nước: người hiền tài có vai trò quyết định đến sự thịnh – suy của một đất nước, hiền tài dồi dào thì đất nước hưng thịnh, hiền tài cạn kiệt thì đất nước suy yếu. Như vậy muốn cho nguyên khí thịnh, đất nước phát triển thì không thể không chăm chút, bồi dưỡng nhân tài. 6. Dựa vào đoạn trích, để chứng minh: “Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất”. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng trước trật. Nêu tên ở tháp Nhạn, ban cho danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan 7. Việc dựng bia “đề danh tiến sĩ” ở Văn Miếu nhằm mục đích gì? Gợi ý: Lưu danh hiền tài muôn đời, thể hiện sự coi trọng, đề cao hiền tài của “thánh minh”. Để kẻ sĩ trông vào những gương hiền tài được lưu danh mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Việc lưu danh bia đá không những để nêu gương mà còn để nhắc nhở và kêu gọi kẻ sĩ tự rèn đức luyện tài, cống hiến cho đất nước. Việc lưu danh bia đá có thể khiến kẻ hiền tài lấy đó mà răn mình, tránh được hư hỏng, sa đoạ. Tóm lại, lập bia lưu danh tiến sĩ là việc làm hết sức có ý nghĩa: kẻ ác lấy đó mà răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước.
Soạn bài lớp 10_ Hiền tài là nguyên khí quốc gia
982
Soạn bài lớp 10: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Hướng dẫn Soạn bài: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Soạn bài lớp 10: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn. Bài soạn văn Ngữ văn 10 này là tài liệu tham khảo về các khái niệm hoạt động giao tiếp cũng như quá trình của hoạt động giao tiếp giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Tổng quan văn học Việt Nam Soạn bài lớp 10: Chiến thắng Mtao-Mxây I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về khái niệm hoạt động giao tiếp Hoạt động giao tiếp là hoạt động diễn ra thường xuyên giữa mọi người trong xã hội. Giao tiếp có ở mọi nơi, mọi lúc, có thể ở dạng lời nói nhưng cũng có khi tồn tại ở dạng viết. Giao tiếp cũng có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện “ngôn ngữ” khác như: cử chỉ, điệu bộ, hành động, nét mặt, các phương tiện kĩ thuật (tất cả được gọi là các hành vi siêu ngôn ngữ). Tuy nhiên phương tiện quan trọng nhất, phổ biến nhất và hiệu quả tối ưu nhất vẫn là ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ và giao tiếp, con người trao đổi thông tin, bộc lộ tình cảm, thái độ, quan hệ… để tổ chức xã hội hoạt động. 2. Các quá trình của hoạt động giao tiếp Hoạt động giao tiếp có hai quá trình: Quá trình tạo lập (hay sản sinh) lời nói, văn bản. Quá trình này do người nói hoặc người viết thực hiện. Quá trình tiếp nhận (lĩnh hội) lời nói, văn bản do người nghe hoặc người đọc thực hiện. Hai quá trình của hoạt động giao tiếp luôn diễn ra trong quan hệ tương tác với nhau. Trong khi giao tiếp, người nói (viết) có thể vừa là người tạo lập nhưng cũng lại vừa là người tiếp nhận lời nói (văn bản) bởi các vai giao tiếp luôn luôn thay đổi. Chính vì vậy khi xem xét các quá trình giao tiếp, chúng ta phải đặc biệt chú ý tới các tình huống giao tiếp cụ thể khác nhau. Hoạt động giao tiếp có sự tham gia của nhiều nhân tố. Các nhân tố này vừa tạo ra chính hoạt động giao tiếp lại vừa chi phối tới hoạt động giao tiếp. Các nhân tố đó là: a) Nhân vật giao tiếp: Ai nói, ai viết, nói với ai, viết cho ai? b) Hoàn cảnh giao tiếp: Nói, viết trong hoàn cảnh nào, ở đâu, khi nào? c) Nội dung giao tiếp: Nói, viết cái gì, về cái gì? d) Mục đích giao tiếp: Nói, viết để làm gì, nhằm mục đích gì? e) Phương tiện và cách thức giao tiếp: Nói viết như thế nào, bằng phương tiện gì? II. RÈN KĨ NĂNG 1. a) Hoạt động giao tiếp trong văn bản ghi lại cuộc đối thoại giữa vua Nhân Tông và các bô lão. Các nhân vật giao tiếp ở đây có vị thế xã hội khác nhau: Vua là người lãnh đạo cao nhất của đất nước còn các vị bô lão là những đại diện tiêu biểu cho các tầng lớp nhân dân. Sự khác biệt về vị thế ấy dẫn tới sự khác nhau trong ngôn từ giao tiếp: các bô lão dùng những từ tôn kính để nói với đức vua (bệ hạ, xin, thưa); trong khi đó vua Nhân Tông lại dùng nhiều câu tỉnh lược phần chủ ngữ. b) Khi người nói (người viết) dùng từ ngữ để tạo ra lời nói (văn bản) nhằm biểu đạt nội dung tư tưởng, tình cảm của mình, thì người nghe (người đọc) tiến hành hoạt động nghe (đọc) để giải mã từ ngữ rồi lĩnh hội nội dung văn bản đó. Trong hoạt động giao tiếp, nhất là giao tiếp trực tiếp, người nói người nghe liên tục đổi vai nói cho nhau (người nói thành người nghe và ngược lại). Nguyên tắc ấy gọi là nguyên tắc luân phiên lượt lời. c) Hoạt động giao tiếp nói trên diễn ra tại điện Diên Hồng. Khi ấy đất nước ta đang bị giặc Nguyên Mông xâm lược. Quân và dân nhà Trần đang phải tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Hội nghị Diên Hồng là cuộc nghị bàn của vua Trần với các bô lão trong cả nước về kế sách chống lại giặc thù. d) Nội dung giao tiếp là thảo luận về tình hình đất nước và bàn bạc về kế sách đối phó với giặc Nguyên – Mông. Nhà vua vừa thông báo tình hình vừa hỏi ý kiến các bô lão về cách đối phó với giặc. Các bô lão thì đồng thanh nhất trí chọn “đánh” là kế sách duy nhất chống thù. e) Mục đích của cuộc giao tiếp là bàn bạc để thống nhất phương kế đối phó với quân thù. Hội nghị kết thúc bằng một sự thống nhất rất cao, vì thế cuộc giao tiếp đã đạt được mục đích. 2. a) Nhân vật giao tiếp trong hoạt động giao tiếp này là tác giả của cuốn SGK (người viết) và học sinh lớp 10 (người đọc). Người viết tuổi cao, có nhiều vốn sống, có trình độ hiểu biết sâu rộng (nhất là về văn học), hầu hết là những người đã từng nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy văn học. Người đọc, trái lại còn ít tuổi, có vốn sống và trình độ hiểu biết chưa cao. c) Nội dung giao tiếp thuộc lĩnh vực văn học. Đề tài là những nét “Tổng quan văn học Việt Nam”. Nội dung giao tiếp trên gồm những vấn đề cơ bản là: Các bộ phận hợp thành của văn học Việt Nam; Tiến trình lịch sử văn học Việt Nam; Một số nội dung chủ yếu của văn học Việt Nam. d) Sự giao tiếp (thông qua văn bản) nhằm mục đích: Cung cấp một cái nhìn tổng quan về những vấn đề cơ bản của văn học Việt Nam (xét từ phía người tạo lập văn bản). Tiếp nhận và lĩnh hội những kiến thức cơ bản về văn học Việt Nam theo tiến trình lịch sử thông qua việc học các văn bản. Đồng thời cũng qua đó rèn luyện và nâng cao các kĩ năng nhận thức, đánh giá các hiện tượng văn học và kĩ năng tạo lập văn bản (xét từ phía người nghe, người tiếp nhận). e) Văn bản sử dụng rất nhiều các thuật ngữ chuyên ngành văn học. Câu văn phức tạp, nhiều thành phần nhưng rất mạch lạc và chặt chẽ. Về mặt cấu trúc, văn bản có kết cấu mạch lạc, rõ ràng; các đề mục lớn, nhỏ; các luận điểm,… đều được đánh dấu và trình bày sáng rõ.
Soạn bài lớp 10_ Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1,147
Soạn bài lớp 10: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Soạn bài lớp 10: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trích trong Đại Việt sử kí toàn thư do Ngô Sĩ Liên sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn. Soạn văn bài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần này là tài liệu tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Luyện tập về liên kết trong văn bản Soạn bài lớp 10: Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN (Trích Đại Việt sử kí toàn thư) NGÔ SĨ LIÊN I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về tác giả, xem bài Thái sư Trần Thủ Độ. 2. Vua hỏi Hưng Đạo Đại Vương về kế sách giữ nước; Hưng Đạo Đại Vương nhấn mạnh “trên dưới một dạ, lòng dân không lìa”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách”. Mặc dù cha muốn Quốc Tuấn lấy được thiên hạ nhưng đến khi vận nước ở trong tay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông kính cẩn giữ tiết làm tôi, cảm phục trước Dã Tượng, Yết Kiêu khi hai người can nên trung hiếu, hài lòng khi con ông là Hưng Vũ Vương cho rằng không nên tranh giành, nổi giận định trừng trị khi người con thứ Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng khuyên “thừa cơ dấy vận” hòng chiếm lấy thiên hạ; được phong là Thượng quốc công có quyền phong tước song chưa bao giờ phong tước cho một người nào. Khi sắp mất, Quốc Tuấn dặn lại con sau khi ông qua đời phải hoả táng, bí mật chôn trong vườn để người đời không biết ở chỗ nào, lại làm sao cho mau mục. Quốc Tuấn tiến cử người tài giỏi cho đất nước. Quốc Tuấn có tài mưu lược, anh hùng, lại một lòng giữ gìn trung nghĩa, danh tiếng vang dội; đến nay mỗi khi đất nước có giặc, đến lễ ở đền ông, hễ tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn. Quốc Tuấn soạn sách Binh gia diệu lí yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư. 3. Với nghệ thuật lựa chọn sự kiện, tình tiết đặc sắc, kết hợp giữa lối viết sử biên niên và tái hiện chân dung nhân cách nhân vật lịch sử, đoạn trích khắc hoạ đậm nét hình ảnh Trần Quốc Tuấn, một nhân cách vĩ đại, bất tử trong lòng dân tộc. 1. Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Bài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn được trích từ sách Đại Việt sử kí toàn thư, quyển VI, phần Bản kỉ, Kỉ nhà Trần. 2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích Gợi ý: Có thể chia đoạn trích thành bốn đoạn nhỏ: Đoạn một (từ đầu cho đến đó là thượng sách giữ nước vậy.): Quốc Tuấn trả lời vua về kế sách giữ nước. Đoạn hai (từ Quốc Tuấn là con An Sinh Vương,… cho đến ông kính cẩn giữ tiết làm tôi như vậy đấy.): Quốc Tuấn giữ tiết làm tôi. Đoạn ba (từ Quốc Tuấn lại từng soạn sách khích lệ… cho đến Ông lo nghĩ đến việc sau khi mất như thế đấy.): Quốc Tuấn dặn con sau khi mất. Đoạn bốn (phần còn lại): Quốc Tuấn tiến cử người tài giỏi giúp nước và uy lực của ông sau khi chết. 3. Nghệ thuật kết hợp giữa lối viết sử biên niên, ghi chép các sự việc theo diễn tiến thời gian với việc dựng chân dung nhân cách nhân vật lịch sử bằng những sự kiện, chi tiết, việc làm, lời nói cụ thể. Tác giả đưa ra hai mốc thời gian: Tháng 6, ngày 24, sao sa – thời điểm Quốc Tuấn ốm và Mùa thu, tháng 8, ngày 20 – ngày Quốc Tuấn mất. Tuy nhiên, các sự kiện, chi tiết, việc làm hay lời nói của nhân vật lại được tái hiện không theo trình tự thời gian mà xuất hiện linh hoạt, tuỳ theo dụng ý khắc hoạ chân dung nhân cách nhân vật lịch sử của sử gia. 4. Nhận xét về nghệ thuật lựa chọn chi tiết, sự việc. Gợi ý: Sử gia đã rất khéo léo khi lựa chọn chi tiết, sự việc để làm nổi bật đặc điểm nhân cách của nhân vật. Ví dụ: Để chứng tỏ Quốc Tuấn là một người mưu lược, tinh thông thời thế, có tư tưởng đúng đắn, sáng suốt, sử gia đã tái hiện kĩ lưỡng lời nói của ông khi trả lời vua về kế sách giữ nước. Để chứng tỏ Quốc Tuấn một lòng trung nghĩa, sử gia thuật lại lời căn dặn của An Sinh Vương và việc Quốc Tuấn đem lời cha dặn ra hỏi ý kiến hai người gia nô cùng hai người con và nhất là miêu tả những phản ứng của ông khi nghe câu trả lời của họ; trong đó đặc biệt là thái độ, hành động, lời nói của ông trước câu trả lời của con thứ Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng (Quốc Tuấn rút gươm kể tội…; Định giết Quốc Tảng,…). Để nhấn mạnh lòng cảm phục và ngưỡng mộ của nhân dân sâu sắc đến mức thần thánh hoá Hưng Đạo Vương, sử gia đã đưa vào chi tiết về lòng tin của dân chúng vào sự hiển linh của ông, nhất là chi tiết “tráp đựng kiếm có tiếng kêu”. Gợi ý: An Sinh Vương hiềm khích với Trần Thái Tông, trước lúc mất dặn con phải lấy được thiên hạ; Quốc Tuấn ghi nhớ lời dặn của cha nhưng không cho là phải, một lòng kính cẩn giữ tiết làm tôi. Quốc Tuấn soạn sách Binh gia diệu lí yếu lược để dạy các tướng, sưu tập binh pháp các nhà làm thành Bát quái cưu cung đồ, đặt tên là Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Quốc Tuấn giữ Lạng Giang, người Nguyên hai lần vào cướp, ông liên tiếp đánh bại chúng. Quốc Tuấn được Thánh Tông cho phép được phong quyền phong tước cho người khác, từ Minh tự trở xuống, chỉ có tước Hầu thì phong trước rồi râu sau; nhưng ông chưa bao giờ phong tước cho một người nào. Ngày 24, tháng 6, năm 1300, Hưng Đạo Đại Vương ốm, vua ngự tới thăm và hỏi về kế sách giữ nước. Ngày 20, tháng 8, năm 1300, Hưng Đạo Đại Vương mất ở phủ đệ Vạn Kiếp, được tặng Thái sư Thượng phụ Thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương. 6. Bình luận về nhân cách Hưng Đạo Đại Vương được thể hiện trong đoạn trích. Gợi ý: Đoạn trích ngợi ca công đức và nhân cách của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: hai lần tham gia đánh bại quân Nguyên – Mông; có kế sách giữ nước “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”; kính cẩn giữ tiết làm tôi trung, không tranh giành quyền lực, không lạm dụng quyền bính; khéo léo tiến cử người tài giỏi cho đất nước; có tài mưu lược, anh hùng, lại một lòng giữ gìn trung nghĩa,… Đặt nhân vật trong các mối quan hệ với vua, với nước, với cha, với con, với bề dưới,… sử gia khẳng định lòng cảm phục và ngưỡng mộ đối với Hưng Đạo Vương với đủ các đức nhân, trí, nghĩa, dũng. Đoạn trích phản ánh được thái độ của nhân dân với anh hùng dân tộc, cho thấy tư tưởng và khí phách của Hưng Đạo Vương đã trở thành bất tử trong lòng người. (1) Có người hặc tội Trần Thủ Độ quyền hơn cả vua. Trước mặt vua, Trần Thủ Độ xác nhận người hặc tội nói đúng và còn ban thưởng. Sự kiện này chứng tỏ Thủ Độ là người thẳng thắn, nghiêm khắc với bản thân; trọng người trung trực, can đảm, dám vạch tội lỗi hoặc sai lầm của người khác, nhất lại là đối với người bề trên, có quyền lực. (3) Quốc Mẫu, vợ Thủ Độ xin riêng cho một người làm chức quan nhỏ. Ông ra điều kiện người đó phải chặt ngón chân để phân biệt với các quan khác. Người kia kêu van xin thôi. Từ đấy không ai dám đến nhờ cậy, xin xỏ chức tước nữa. Sự kiện này chứng tỏ Thủ Độ là người khéo léo, tế nhị trong xử sự (vừa không làm mất lòng vợ, vừa răn đe được những kẻ xin xỏ chức tước và những kẻ cậy quyền thế ban phát chức tước). (4) Thái Tông muốn cho anh Thủ Độ làm tướng. Thủ Độ phản đối việc anh em trong gia đình cùng làm tướng, vì cho rằng như thế sẽ dễ kết bè đảng, bất lợi cho triều đình. Sự kiện này cho thấy Trần Thủ Độ là người có tầm nhìn, lo lắng cho sự ổn định của triều đình, không đồng tình với tư tưởng gia đình trị. 7. Nhận xét chung về nhân vật Trần Thủ Độ. Gợi ý: Nắm giữ trọng trách của triều đình, Trần Thủ Độ là người tài đức vẹn toàn, chí công vô tư, quyết đoán, cao thượng, sống theo kỉ cương, hết lòng phụng sự đất nước. 8. Có thể tiến hành so sánh giữa tính cách Tô Hiến Thành và Trần Thủ Độ để thấy được những nét tính cách giống nhau giữa hai nhân vật này và qua đó hiểu được những phẩm chất đẹp đẽ của con người mà các sử gia Việt Nam đề cao. Tô Hiến Thành và Trần Thủ Độ sống cách nhau khoảng một trăm năm, trong những bối cảnh lịch sử không giống nhau. Nhưng cả hai nhân vật lịch sử này đều được khắc hoạ với nhân cách lớn, luôn đặt sự nghiệp của đất nước lên trên hết, chí công vô tư, trung trực, không nao núng trước cám dỗ danh lợi,…
Soạn bài lớp 10_ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
1,672
Soạn bài lớp 10: Hồi trống cổ thành Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Hồi trống cổ thành Soạn bài lớp 10: Hồi trống cổ thành trích trong Tam quốc diễn nghĩa do La Quán Trung sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn. Bài soạn văn 10 bài Hồi trống cổ thành này là tài liệu tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Tóm tắt văn bản Hồi trống Cổ Thành (trích Tam Quốc diễn nghĩa) của La Quán Trung Soạn bài lớp 10: Luyện tập đọc – hiểu văn bản văn học Giáo án Ngữ văn lớp 10 bài Hồi trống Cổ Thành Bài giảng Hồi Trống Cổ Thành HỒI TRỐNG CỔ THÀNH (Trích hồi 28 – Tam quốc diễn nghĩa) LA QUÁN TRUNG I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. La Quán Trung (1330 – 1400), nhà văn Trung Quốc, tên là La Bản, tự Quán Trung, hiệu Hồ Hải tản nhân, người Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây, sống vào khoảng cuối Nguyên, đầu Minh. “La Quán Trung với các tác phẩm của mình, đặc biệt là Tam quốc chí diễn nghĩa, đã trở thành người mở đường cho tiểu thuyết lịch sử sau này.”([1]) Về tác phẩm, ngoài Tam quốc chí diễn nghĩa, ông còn viết Tuỳ đường lưỡng triều chí truyện, Tấn Đường ngũ đại sử diễn nghĩa, Bình yêu truyện, và vở tạp kịch Tống Thái Tổ long hổ phong vân hội. 2. Tam quốc diễn nghĩa là bộ tiểu thuyết được viết theo kết cấu chương hồi. Tiểu thuyết chương hồi: một thể thuộc loại tác phẩm tự sự dài hơi của Trung Quốc, thịnh hành vào đời Minh, Thanh. Tiểu thuyết chương hồi thoát thai từ thoại bản, một loại tiểu thuyết bạch thoại từ đời Tống… Thoại bản giảng sử thường là trường thiên. Câu chuyện lịch sử dài, phải chia làm nhiều đoạn, kể làm nhiều lần (hồi). Để phân biệt, người ta đặt tiêu đề cho mỗi hồi gọi là “hồi mục”, và để hấp dẫn, người ta ngắt ở những đoạn có tình tiết quan trọng, và kết bằng câu: “Muốn biết sự việc ra sao, xin xem hồi sau phân giải”. Những đoạn ấy thành chương, hồi trong truyện dài. …Chịu ảnh hưởng kết cấu thoại bản, tiểu thuyết chương hồi có mấy đặc điểm: trước hết, nội dung câu chuyện được thể hiện chủ yếu qua hành động và ngôn ngữ nhân vật hơn là qua sự miêu tả tỉ mỉ về tâm lí, tính cách. Thứ hai, câu chuyện được phát triển qua những tình tiết có xung đột căng thẳng mang nhiều kịch tính. Cuối cùng, nghệ thuật khắc hoạ nhân vật mang nhiều tính ước lệ.”([2]) 3. Trong đoạn trích Hồi trống Cổ Thành, thông qua sự hiểu lầm của Trương Phi đối với Quan Công, tác giả ca ngợi phẩm chất trong sáng, đẹp đẽ của Trương Phi: cương trực, trung thành và trọng nghĩa khí – những phẩm chất đáng trân trọng của một trang hảo hán trong xã hội xưa. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu khái quát về tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa Gợi ý: Đây là bộ tiểu thuyết lịch sử dài 120 hồi, ra đời giữa thế kỉ XIV. Trước khi trở thành tiểu thuyết, cốt truyện của nó được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân và được thêm thắt, bổ sung nhiều. Cuối đời Nguyên đầu đời Minh, La Quán Trung thu thập những câu chuyện lưu truyền trong nhân dân, dựa vào những bản chép tay của những nhà viết sử và những tác phẩm văn học nghệ thuật ra đời trước đó, chỉnh lí lại thành Tam quốc diễn nghĩa. Đoạn trích thuộc hồi thứ 28 của tác phẩm 2. Tóm tắt phần trước của đoạn trích Quan Công trúng kế của Tào Tháo, dẫn quân ra ngoài thành Hạ Bì nên bị thất thủ. Ba anh em Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi lạc nhau mỗi người một nơi. Khi Quan Công bị quân Tào bắt, Trương Liêu, một viên tướng của Tào Tháo là bạn của Quan Công thời trẻ đã đến thuyết phục Quan Công về với Tào Tháo. Quan Công ra ba điều kiện trong đó có một điều kiện là hễ nghe tin Lưu bị ở đâu thì phải để cho Quan Công về ngay với anh. Khi nghe tin Lưu Bị sống ở bên Viên Thiệu, Quan Công đã vượt qua năm cửa ải, chém sáu tướng, đưa hai chị dâu là Cam phu nhân và Mi phu nhân về với Lưu Bị. Trên đường về, đến Cổ Thành, gặp Trương Phi và xung đột đã xảy ra do hiểu lầm. 3. Tìm hiểu bố cục đoạn trích Gợi ý: Có thể chia đoạn trích làm 5 phần: Đoạn 1, phần trình bày (từ đầu đến… bảo Trương Phi ra đón hai chị): Giới thiệu nhân vật, sự việc, hoàn cảnh; Đoạn 2, phần khai đoan (từ Trương Phi từ khi… đến… cũng phải theo ra thành): Mâu thuẫn giữa Trương Phi và Quan Công bắt đầu; Đoạn 3, phần phát triển (từ “Quan Vũ trông thấy Trương Phi ra… đến… Không phải quân mã là gì kia): Các biến cố tiếp diễn; Đoạn 4, phần đỉnh điểm (từ Quan Công ngoảnh lại… đến… Thừa tướng đến bắt mày): Sự xuất hiện của Sái Dương; Đoạn 5, phần mở nút (phần còn lại): Việc Quan Công chém rơi đầu Sái Dương; Những tình tiết cuối khiến kết cục câu chuyện được giải quyết triệt để hơn, cũng có thể xem phần này thuộc phần mở nút. 4. Phân tích những biện pháp nghệ thuật cơ bản đã được sử dụng để khắc hoạ tính cách nhân vật Trương Phi. Gợi ý: Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và tính cách nhân vật: qua ngôn ngữ, cử chỉ, hành động, trong quan hệ với các nhân vật khác… Ngôn ngữ miêu tả của tác giả rất phù hợp tính cách nhân vật (“Trương Phi mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công”); ngôn ngữ nhân vật mang đậm nét tính cách vốn có: bộc trực, nóng nảy. Hành động nhanh gấp. Các nhân vật khác: Tôn Càn, Cam phu nhân, Mi phu nhân ra sức thanh minh cho Quan Công nhằm ngăn hành động vội vàng của Trương Phi nhưng không làm Trương Phi thay đổi suy nghĩ. Chứng tỏ lúc này Trương Phi cũng cẩn trọng trong suy nghĩ chứ không phải nóng vội như bình thường nữa. Nguyên do vì đây là vấn đề hết sức hệ trọng, lời thề trung nghĩa đối với các đấng trượng phu quả là thiêng liêng. Gợi ý: Trương Phi vốn là người cương trực, nóng nảy, suy nghĩ đơn giản. Nhưng ở đoạn này, Trương Phi không dễ dàng nghe lời thanh minh của Tôn Càn hay sự bênh vực Cam phu nhân và Mi phu nhân đối với Quan Công. Chứng tỏ, sự nghi ngờ trong Trương Phi rất lớn, trước vấn đề hệ trọng, Trương Phi quả là rất cẩn trọng. Bởi thế, chỉ có một cách duy nhất là Quan Công tự thanh minh cho mình bằng hành động mới thuyết phục được Trương Phi. Như thế, Trương Phi không chỉ là người nóng nảy, thô lỗ mà còn là người tế nhị và cẩn trọng nữa. Tế nhị và thô lỗ là hai nét tính cách đối lập nhau, vậy mà lại thống nhất với nhau trong con người Trương Phi. Điều đó cũng giống như Quan Công vừa tự cao lại vừa khiêm nhường vậy. Cái tài của tác giả là đã tạo ra được tình huống cho cả hai nhân vật chính của tác phẩm đều bộc lộ sự thống nhất của những nét tính cách đối lập trong bản thân một nhân vật. Vì thế, đoạn trích có kịch tính và rất hấp dẫn đối với người đọc. 6. Cả hai nhân vật Trương Phi và Quan Công đều bộc lộ nét tính cách đối lập so với bản thân trước đó, hãy phân tích để thấy rõ điểm này. Gợi ý: Quan Công tỏ ra khiêm nhường, nhũn nhặn, khác hẳn mọi khi. Trương Phi tỏ ra thận trọng cũng khác hẳn sự giản đơn trong suy nghĩ thường ngày. Để làm nổi rõ vấn đề đó, tác giả đã khéo léo dùng nhiều thủ pháp nghệ thuật như miêu tả hình dung, diện mạo, thái độ, ngôn ngữ và hành động của mỗi nhân vật. 7. Phân tích tính cách nhân vật Quan Công Quan Công là một người trung nghĩa: “Thân tại Tào doanh, tâm tại Hán”, tình thế bắt buộc phải ở doanh trại của Tào nhưng chưa từng xuất hiện trong đầu ý nghĩ phản bội. Quan Công trong đoạn trích này tỏ ra rất khiêm nhường, nhũn nhặn. Đó là thái độ hết sức hợp lí và cần thiết khi mà Quan Công ở trong tình cảnh “tình ngay lí gian”. Để thanh minh, nhất là trước một người nóng nảy như Trương Phi, không thể tự cao, tự phụ, không thể dõng dạc, đường hoàng như ở nơi khác, trong hoàn cảnh khác được. Bởi thế, Quan Công còn phải nhờ đến cả hai chị dâu minh oan cho mình. Không hiệu quả, Quan Công lại phải tự mình kêu oan. Không nên hiểu đây là sự uỷ mị, yếu đuối. Phải hiểu giá trị của lời thề kết nghĩa vườn đào thiêng liêng như thế nào, phải hiểu quan niệm “trung thần thà chịu chết không chịu nhục”, “đại trượng phu không thờ hai chủ” mới thấy cách xử sự của Quan Công trước Trương Phi như thế là hợp tình, hợp lí. 8. Phân tích diễn biến tâm lí của các nhân vật Gợi ý: Trương Phi hiểu lầm cho rằng Quan Công đã từng sống ở doanh trại của Tào Tháo tức là đã theo Tào Tháo, phản bội anh em Lưu Bị và Trương Phi. Khi gặp Trương Phi thấy Trương Phi “mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa bát xà mâu, chạy lại đâm Quan Công”, Quan Công đã nói: “Hiền đệ cớ sao như thế, há quên nghĩa vườn đào ru?”. Câu nói ấy đã như đổ thêm dầu vào lửa, làm Trương Phi càng bừng bừng lửa hận. Thực chất, Quan Công do không biết Trương Phi đang hiểu lầm mình nên đem việc kết nghĩa vườn đào của ba anh em ra để nhắc nhở, uốn nắn thái độ phẫn khích có phần thái quá của Trương Phi. Không ngờ câu nói ấy đã phản tác dụng, vì lúc này Trương Phi đang hiểu lầm Quan Công cho nên Trương Phi coi Quan Công như một kẻ đã phản bội, lại còn ra vẻ nhắc lại lời thề kết nghĩa, như thế thật đáng xử theo đúng luật đã được quy định khi họ thề nguyền: “Nếu ai bội nghĩa quên ơn thì trời người cùng giết”. Gợi ý: Nhan đề Hồi trống Cổ Thành gợi ra không khí trận mạc. Đoạn trích không chỉ nói về một mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa Trương Phi và Quan Công mà còn nói tới một mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn giữa Quan Công và Sái Dương. Sự hấp dẫn của đoạn trích là mâu thuẫn thứ yếu đã có tác dụng làm mâu thuẫn chủ yếu thêm căng thẳng. Trong câu chuyện, hồi trống là điều kiện. Trương Phi ra điều kiện rất khắc nghiệt rằng sau ba hồi trống Quan Công phải chém được đầu Sái Dương. Quan Công, trước đó đã bị Lưu Bị ngờ vực. Khi nghe tin Quan Công ở trong doanh trại Tào Tháo, Lưu Bị đã viết thư khiển trách nặng nề: “Bị cùng túc hạ kết nghĩa vườn đào, thề cùng sống thác, nay sao nửa đường bỏ nhau, cắt đứt ân nghĩa? Túc hạ nếu muốn lập công danh, toan đường phú quý, Bị xin đem đầu dâng túc hạ để túc hạ lập nên công lớn…”. Dù đã viết thư phúc đáp rằng: “… Em có bụng khác, thần người cùng giết. Moi gan rạch mật, bút giấy không nói hết lời… Xin nhủ lòng soi xét”, nhưng trong lòng Quan Công khát vọng minh oan vẫn thôi thúc và vì thế mà sức mạnh và tài năng đã nhân lên gấp bội để tỏ rõ tấm lòng trong sáng của mình. Thêm nữa, sẵn mâu thuẫn với Sái Dương, Quan Công đã chém được đầu Sái Dương trong một thời gian rất ngắn, ngắn hơn cả điều kiện hà khắc mà Trương Phi đã đặt ra. Nhan đề Hồi trống Cổ Thành vừa gợi lên không khí trận mạc, vừa là biểu tượng cho lòng trung nghĩa, cho tinh thần dũng cảm và quang minh chính đại. 10. Có thể đối chiếu với bài Tức cảnh của Hồ Chí Minh để hiểu rõ hơn tính cách của hai nhân vật Trương Phi và Quan Công trong đoạn trích. Đồng thời thấy được tư tưởng đề cao tín nghĩa của người xưa. TỨC CẢNH HỒ CHÍ MINH Nguyên văn: Thụ sao ([3]) xảo hoạ Trương Phi tượng, Xích nhật trường minh Quan Vũ tâm; Tổ quốc chung niên vô tín tức, Cố hương mỗi nhật vọng hồi âm. Dịch thơ: Cành lá khéo in hình Dực Đức, Vầng hồng sáng mãi dạ Quan Công; Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng, Tin tức bên nhà bữa bữa trông. Nam Trân dịch
Soạn bài lớp 10_ Hồi trống cổ thành
2,240
Soạn bài lớp 10: Khái quát văn học dân gian Việt Nam Hướng dẫn Soạn bài: Khái quát văn học dân gian Việt Nam Soạn bài lớp 10: Khái quát văn học dân gian Việt Nam là tài liệu tham khảo được sưu tầm, bài soạn giúp các bạn nắm được những kiến thức cơ bản về văn học dân gian Việt Nam, cùng kỹ năng nhận biết những đặc điểm chính của từng thể loại văn học dân gian, sự khác biệt của văn học dân gian với các thể loại văn học khác. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 10: Tổng quan văn học Việt Nam Soạn bài lớp 10: Ôn tập văn học dân gian Việt Nam Khái quát văn học dân gian Việt Nam I. Kiến thức cơ bản 1. Về khái niệm văn học dân gian Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng được tập thể sáng tạo, nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho những sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng. 2. Các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng. Thực chất của quá trình truyền miệng là sự ghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phổ biến bằng miệng cho người khác. Văn học dân gian khi được phổ biến lại, đã thông qua lăng kính chủ quan (bộ não người) nên thường được sáng tạo thêm. Văn học dân gian thường được truyền miệng theo không gian (từ vùng này qua vùng khác), hoặc theo thời gian (từ đời trước đến đời sau). Quá trình truyền miệng thường được thực hiện thông qua diễn xướng – tức là hình thức trình bày tác phẩm một cách tổng hợp (nói, hát, kể). Văn học dân gian là kết quả của những quá trình sáng tác tập thể. Tập thể là tất cả mọi người, ai cũng có thể tham gia sáng tác. Nhưng quá trình này, lúc đầu do một người khởi xướng lên, tác phẩm hình thành và được tập thể tiếp nhận. Sau đó những người khác (địa phương khác, thời đại khác) tham gia sửa chữa, bổ sung cho tác phẩm biến đổi dần. Quá trình bổ sung này thường làm cho tác phẩm phong phú hơn, hoàn thiện hơn. Mỗi cá nhân tham gia vào quá trình sáng tác này ở những thời điểm khác nhau. Nhưng vì truyền miệng nên lâu ngày, người ta không nhớ được và cũng không cần nhớ ai là tác giả. Tác phẩm dân gian vì thế đã trở thành của chung, ai cũng có thể tùy ý thêm bớt, sửa chữa. Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng. Sinh hoạt cộng đồng là những sinh hoạt chung của nhiều người như lao động tập thể, vui chơi ca hát tập thể, hội hè…Trong những sinh hoạt này, tác phẩm văn học dân gian thường đóng vai trò phối hợp hoạt động, tạo nhịp điệu cho hoạt động (những bài hò: Hò chèo thuyền, hò đánh cá,…). Không những thế, văn học dân gian còn gây không khí để kích thích hoạt động, gợi cảm hứng cho người trong cuộc (ví dụ những câu chuyện cười được kể trong lao động giúp tạo ra sự sảng khoái, giảm bớt sự mệt nhọc trong công việc). Dựa vào những đặc điểm giống nhau cơ bản về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm trong cùng một nhóm, có thể thấy văn học dân gian Việt Nam gồm những thể loại chính như sau: Thần thoại, sử thi dân gian, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, tục ngữ, câu đố, ca dao – dân ca, vè, truyện thơ, các thể loại sân khấu (chèo, tuồng, múa rối, các trò diễn mang tích truyện). 4. Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Văn học dân gian là kho trí thức vô cùng phong phú về đời sống của các dân tộc (kho trí khôn của nhân dân về mọi lĩnh vực của đời sống tự nhiên, xã hội, con người). Kho tri thức này phần lớn là những kinh nghiệm lâu đời được nhân dân ta đúc kết từ thực tế. Vào trong các tác phẩm, nó được mã hoá bằng những ngôn từ và hình tượng nghệ thuật tạo ra sức hấp dẫn người đọc, người nghe, dễ phổ biến, dễ tiếp thu và có sức sống lâu bền cùng năm tháng. Ví dụ: Bài học về đạo lí làm con Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Văn học dân gian thể hiện trình độ nhận thức và quan điểm tư tưởng của nhân dân lao động nên nó mang tính chất nhân đạo, tiến bộ, khác biệt và thậm chí đối lập với quan điểm của giai cấp thống trị cùng thời. Ví dụ: Con vua thì lại làm vua Con sãi ở chùa thì quét lá đa Bao giờ dân nổi can qua Con vua thất thế lại ra quét chùa. Đừng than phận khó ai ơi Còn da: lông mọc, còn chồi: nảy cây… Văn học dân gian ngợi ca, tôn vinh những giá trị tốt đẹp của con người. Vì thế, nó có giá trị giáo dục sâu sắc về truyền thống dân tộc (truyền thống yêu nước, đức kiên trung, lòng vị tha, lòng nhân đạo, tinh thần đấu tranh chống cái ác, cái xấu,…). Văn học dân gian cũng vì thế mà góp phần hình thành những giá trị tốt đẹp cho các thế hệ xưa và nay. Văn học dân gian có giá trị to lớn về nghệ thuật. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nền văn học dân nước nhà. Nó đã trở thành những mẫu mực để đời sau học tập. Nó là nguồn nuôi dưỡng, là cơ sở của văn học viết. 1. Những đặc điểm chính của từng thể loại văn học dân gian Việt Nam Thần thoại Hình thức: Văn xuôi tự sự Nội dung: Kể lại sự tích các vị thần sáng tạo thế giới tự nhiên và văn hoá, phản ánh nhận thức của con người thời cổ đại về nguồn gốc của thế giới và đời sống con người. Sử thi dân gian Hình thức: Văn vần hoặc văn xuôi, hoặc kết hợp cả hai. Nội dung: Kể lại những sự kiện lớn có ý nghĩa quan trọng đối với số phận cộng đồng. Truyền thuyết Hình thức: Văn xuôi tự sự Nội dung: Kể lại các sự kiện và nhân vật lịch sử hoặc có liên quan đến lịch sử theo quan điểm nhìn nhận lịch sử của nhân dân. Truyện cổ tích Hình thức: Văn xuôi tự sự Nội dung: Kể về số phận của những con người bính thường trong xã hội(người mồ côi, người em, người dũng sĩ, chàng ngốc,…) thể hiện quan niệm và mơ ước của nhân dân về hạnh phúc và công bằng xã hội. Truyện cười Hình thức: Văn xuôi tự sự Nội dung: Kể lại các sự việc, hiện tượng gây cười nhằm mục đích giải trí và phê phán xã hội. Truyện ngụ ngôn Hình thức: Văn xuôi tự sự Nội dung: Kể lại các câu chuyện trong đó nhân vật chủ yếu là động vật và đồ vật nhằm nêu lên những kinh nghiệm sống, bài học luân lí, triết lí nhân sinh. Tục ngữ Hình thức: Lời nói có tính nghệ thuật Nội dung: Đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thế giới tự nhiên, về lao động sản xuất và về phép úng xử trong cuộc sống con người. Ca dao, dân ca Hình thức: Văn vần hoặc kết hợp lời thơ và giai điệu nhạc Nội dung: Trữ tình, diễn tả đời sống nội tâm của con người Vè Hình thức: Văn vần Nội dung: Thông báo và bình luận về những sự kiện có tính chất thời sự hoặc những sự kiện lịch sử đương thời. Truyện thơ Hình thức: Văn vần Nội dung: Kết hợp trữ tình và tự sự, phản ánh số phận của người nghèo khổ và khát vọng về tình yêu tự do, về sự công bằng trong xã hội Các thể loại sân khấu Hình thức: Các hình thức ca kịch và trò diễn có tích truyện, kết hợp kịch bản với nghệ thuật diễn xuất Nội dung: Diễn tả những cảnh sinh hoạt và những kiểu mẫu người điển hình trong xã hội nông nghiệp ngày xưa. Văn học dân gian Việt Nam cũng như văn học dân gian của nhiều dân tộc khác trên thế giới có những thể loại chung và riêng. Điều đáng lưu ý là ngay trong hệ thống thể loại văn học dân gian của từng dân tộc lại có thể tìm thấy những điểm tương đồng và khác biệt. Sự tương đồng: Các thể loại văn học dân gian giống nhau ở cách thức sáng tạo (là những sáng tạo tập thể) và ở phương thức lưu truyền (truyền miệng). Về cơ bản các tác phẩm văn học dân gian ở các thể loại khác nhau đều quan tâm phản ánh những nội dung liên quan đến đời sống, tâm tư, tình cảm của cộng đồng (chủ yếu là của tầng lớp bình dân trong xã hội). Sự khác biệt: Tuy nhiên mỗi thể loại văn học dân gian lại có một mảng đề tài và một cách thức thể hiện nghệ thuật riêng(ví dụ: Ca dao quan tâm đến đời sống tâm hồn của con người và thể hiện nó bằng bút pháp trữ tình ngọt ngào, lãng mạn…trong khi đó, Thần thoại lại giải thích quá trình hình thành thế giới, giải thích các hiện tượng tự nhiên,… bằng hình ảnh các thần. Sử thi lại khác, chủ yếu quan tâm phản ánh những sự kiện lớn lao có tính quyết định tới số phận của cộng đồng Sử thi thể hiện nội dung bằng nghệ thuật miêu tả với những hình ảnh hoành tráng và dữ dội…). Sự khác nhau của các thể loại văn học dân gian cho thấy sự đa dạng về nghệ thuật. Đồng thời nó cũng cho thấy khả năng chiếm lĩnh phong phú hiện thực cuộc sống của nhân dân ta.
Soạn bài lớp 10_ Khái quát văn học dân gian Việt Nam
1,706
Soạn bài lớp 10: Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX Hướng dẫn Soạn bài: Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX Soạn bài lớp 10: Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về tính nghệ thuật, văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn như tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Luyện viết đoạn văn tự sự Soạn bài lớp 10: Ôn tập văn học dân gian Việt Nam Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hai bộ phận chủ yếu cấu thành nên văn học trung đại Việt Nam là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Trong quá trình phát triển hai bộ phận này không đối lập nhau mà bổ sung hoàn thiện lẫn nhau. 2. Văn học trung đại Việt Nam được chia thành bốn giai đoạn lớn theo sự phát triển về tư duy nghệ thuật, về nội dung, thể loại và ngôn ngữ văn học: Các giai đoạn văn học từ thế kỉ X – thế kỉ XIV, từ thế kỉ XV – hết thế kỉ XVII, tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của quan niệm: văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí. Cảm hứng chủ đạo của văn học là cảm hứng yêu nước. Thể loại văn học chủ yếu tiếp thu từ Trung Quốc (từ thế kỉ XV mới có những sáng tác bằng chữ Nôm tiêu biểu và có giá trị). 3. Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, cảm hứng thế sự là những đặc điểm lớn về nội dung của văn học trung đại Việt Nam. 4. Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị, tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài là những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học Việt Nam trung đại. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Những điểm chung và những điểm khác nhau của hai bộ phận văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm: Điểm chung: Phát triển trên cơ sở văn tự của người Hán. Đều tích cực phản ánh những vấn đề trong đời sống xã hội, tâm tư, tình cảm của con người thời trung đại. Đều có được những thành tựu rực rỡ và kết tinh được những tác phẩm xuất sắc. Điểm khác: Bộ phận văn học chữ Nôm ra đời muộn hơn. Thành tựu của văn học Nôm chủ yếu là thơ (văn học chữ Hán có thành tựu lớn ở cả hai mảng thơ và văn xuôi). Giai đoạn văn học Nội dung Nghệ thuật Sự kiện văn học, tác giả, tác phẩm Từ thế kỉ X – hết thế kỉ XIV Nội dung yêu nước Văn học chữ Hán. Các thể loại tiếp thu từ Trung Quốc Chiếu dời đô (Lí Thái Tổ), Sông núi nước Nam, Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão)… Văn học mang hào khí Đông A. Từ thế kỉ XV – hết thế kỉ XVII Nội dung thế sự (hiện thực, phê phán) Văn học chữ Hán, chữ Nôm phát triển với nhiều thể loại phong phú. Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập (Nguyễn Trãi), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm… Từ thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX Nhân đạo chủ nghĩa Văn xuôi, văn vần, văn học chữ Hán và chữ Nôm đều phát triển mạnh Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát,… Hoàng Lê Nhất thống chí (văn xuôi)… Nửa sau thế kỉ XIX Nội dung yêu nước – Thế sự – Chữ quốc ngữ xuất hiện Chữ Hán và chữ Nôm vẫn giữ vai trò chủ đạo. Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu), Thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Quang Bích… 3. Một số tác phẩm văn học đã học trong chương trình THCS thể hiện nổi bật nội dung của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX: Nội dung cảm hứng yêu nước: Sông núi nước Nam, Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Thuật hoài,… Nội dung nhân đạo: Chuyện người con gái Nam Xương, Truyện Kiều, Bánh trôi nước,… Nội dung thế sự: Câu chuyện trong phủ chúa Trịnh (Vũ Trung tùy bút), Lục Vân Tiên,… Văn học cổ nói nhiều đến cái chí khí, cái đạo lí trong phép ứng xử hàng ngày của con người. Trong khi đó, văn học hiện đại có điều kiện đi sâu hơn vào đời sống riêng tư, vào thế giới nội tâm của con người. Chính hai điểm lớn này tạo nên sự khác biệt trong quá trình đọc các tác phẩm văn học cổ và văn học hiện đại.
Soạn bài lớp 10_ Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX
859
Soạn bài lớp 10: Luyện tập trình bày một vấn đề Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Luyện tập trình bày một vấn đề Soạn bài lớp 10: Luyện tập trình bày một vấn đề được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo áp dụng vào thực hành cách trính bày một vấn đề một cách rõ ràng hơn và giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam Soạn bài lớp 10: Thực hành viết các đoạn văn chứng minh, giải thích, quy nạp, diễn dịch 1. Các vấn đề có thể chọn để trình bày Lựa chọn trang phục của học sinh, thanh niên thế nào cho phù hợp? Tại sao cần phải tôn trọng và đối xử bình đẳng với bạn nữ? Vì sao phải nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về giao thông? Làm thế nào để có một môi trường xanh, sạch, đẹp? 2. Lập đề cương trình bày vấn đề đã chọn Gợi ý: Ở đây, đối tượng nghe là các bạn trong lớp. Tuỳ theo từng vấn đề trình bày mà cách thức trình bày có thể khác nhau nhưng nhìn chung đề cương trình bày phải đảm bảo theo bố cục 3 phần (Mở đầu, Nội dung cơ bản và Kết thúc). Có thể tham khảo các ý cho từng vấn đề trình bày sau đây: Lựa chọn trang phục của học sinh, thanh niên thế nào cho phù hợp? Mở đầu: Trong cuộc sống, việc lựa chọn trang phục phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng; Thanh niên, học sinh cũng cần phải lựa chọn trang phục cho phù hợp. Nội dung cơ bản: Trang phục phù hợp là trang phục đẹp; Đối với học sinh, trang phục đẹp nghĩa là phải phù hợp với lứa tuổi đi học, phù hợp với môi trường học đường, thuận tiện cho công việc học tập, phù hợp với điều kiện kinh tế gia đình, hoà đồng với tập thể trường, lớp,… phù hợp với từng hoạt động (học tập trên lớp, ngày lễ, dạ hội, lao động,…); Cần phê phán cách ăn mặc chạy theo thời trang mà không phù hợp với thẩm mĩ học đường; Kết thúc: Việc lựa chọn trang phục thể hiện ý thức văn hoá của người thanh niên, học sinh,… Mở đầu: Vấn đề bình đẳng nam nữ; Cần phải tôn trọng và đối xử bình đẳng với bạn nữ. Nội dung cơ bản: Trong xã hội Việt Nam hiện nay, hiện tượng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn, nó biểu hiện trong quan hệ xã hội, trong quan hệ gia đình và ngay cả trong nhà trường phổ thông; Cần phải tôn trọng, đối xử bình đẳng với bạn gái vì: vẻ đẹp của phụ nữ cần được tôn trọng, bảo vệ, bạn gái là phái yếu,…; Những biểu hiện cụ thể của thái độ tôn trọng, đối xử bình đẳng với bạn gái: lời nói, hành động,…; Việc tôn trọng bạn gái không hề làm giảm đi nam tính, mà ngược lại càng khiến hình ảnh người nam giới thêm đẹp,…; Cần phê phán những biểu hiện thiếu tôn trọng, phân biệt đối xử với bạn gái: ngoài xã hội, trong trường, trong lớp,… Kết thúc: Khẳng định và kêu gọi mọi người tôn trọng, đối xử bình đẳng với bạn gái; Có thể đưa ra những tình huống đã gặp trong thực tế để thảo luận,… Vì sao phải nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về giao thông? Mở đầu: Mỗi người cần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật; Việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về giao thông đang là vần đề bức thiết. Nội dung cơ bản: Tai nạn giao thông ở nước ta đang ở tình trạng báo động; Một trong những nguyên nhân cơ bản gây tai nạn giao thông là ý thức chấp hành phát luật về giao thông chưa cao; Ý thức chấp hành pháp luật về giao thông của học sinh còn thấp, những biểu hiện cụ thể: học sinh đi trên đường giờ đến lớp, giờ tan học,…; Những giải pháp góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về giao thông, nhất là đối với học sinh,… Kết thúc: Kêu gọi các bạn cùng chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông; Có thể đưa ra một tình huống hoặc một kiến nghị của mình để tiếp tục thảo luận,… Mở đầu: Môi trường sống có tầm quan trọng đặc biệt; Cần phải có những hành động cụ thể để có một môi trường xanh, sạch, đẹp. Nội dung cơ bản: Môi trường xanh, sạch, đẹp: cây xanh, đảm bảo vệ sinh, không ô nhiễm, đảm bảo mĩ quan; Thực trạng môi trường hiện nay và cảnh báo về nguy cơ ô nhiễm môi trường: chặt phá rừng, thiếu cây xanh, rác thải bừa bãi, chất thải độc hại, ô nhiễm nguồn nước, thiếu mĩ quan,…; Những hành động cụ thể để có một môi trường xanh, sạch, đẹp: ngăn chặn nạn phá rừng, tăng cường trồng cây xanh, không vứt rác bừa bãi, giữ vệ sinh trường lớp, phát động phong trào “Vì một môi trường xanh, sạch, đẹp” trong trường, lớp,… Kết thúc: Kêu gọi mọi người cùng tham gia bảo vệ môi trường, vì chính sự sống của mình,… 3. Hướng dẫn trình bày trước lớp a) Lựa chọn vấn đề trình bày với đề cương đã chuẩn bị b) Trình bày vấn đề trước lớp theo đề cương đã chuẩn bị Chú ý: Hướng tới đối tượng nghe (các bạn trong lớp) Trình bày rõ ý, nhấn vào những ý trọng tâm Cần biết đưa ra những dẫn chứng cụ thể để lập luận của mình thêm sức thuyết phục Khi trình bày, cần kết hợp điều chỉnh giọng nói với cử chỉ, nét mặt và quan sát thái độ của người nghe.
Soạn bài lớp 10_ Luyện tập trình bày một vấn đề
990
Soạn bài lớp 10: Luyện tập từ Hán Việt Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Luyện tập từ Hán Việt Soạn bài lớp 10: Luyện tập từ Hán Việt được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Truyện Kiều Soạn bài lớp 10: Nỗi sầu oán của người cung nữ LUYỆN TẬP VỀ TỪ HÁN VIỆT 1. Chỉ ra nghĩa của tiếng tái, tiếng sinh và của từ tái sinh trong câu thơ sau: Tái sinh chưa dứt hương thề, Làm thân trâu ngựa, đền nghì trúc mai. (Nguyễn Du – Truyện Kiều) Gợi ý: Tái: lần thứ hai, lại, trở lại lần nữa Sinh: đẻ ra, sống Tái sinh: sinh lại một kiếp khác, sống lại ở kiếp sau 2. Tìm những từ Hán Việt khác có tiếng tái và những từ Hán Việt khác có tiếng sinh, với nghĩa như trong tái sinh ở câu thơ trên. Gợi ý: tái bản, tái diễn, tái hiện, tái hợp, tái lập, tái ngộ, tái phạm, tái phát, tái tạo,… sinh động, sinh hạ, sinh hoạt, sinh học, sinh khí, sinh lí, sinh mệnh, sinh nhật, sinh sản, sinh thái, sinh tố, sinh tồn, sinh vật, song sinh, bẩm sinh, giáng sinh, sản sinh, môi sinh, quyên sinh, dưỡng sinh, trường sinh,… 3. Anh (chị) hiểu thế nào về nghĩa của cụm từ tái hồi Kim Trọng? Đặt một câu với cụm từ này. Tái hồi: trở về lại nơi cũ hoặc với người cũ. Tái hồi Kim Trọng gắn với Truyện Kiều, để chỉ Thuý Kiều sau mười lăm năm lưu lạc lại trở về với người yêu cũ là Kim Trọng; về sau cụm từ này được dùng như một thành ngữ để chỉ việc quay lại với người yêu cũ. Tham khảo: Sau mười lăm năm lưu lạc trải bao tủi nhục, đắng cay, Thuý Kiều tái hồi Kim Trọng. 4. a) Phân biệt nghĩa của tái sinh với nghĩa của trùng sinh trong câu thơ sau: Trùng sinh ơn nặng bể trời, Lòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi. (Nguyễn Du – Truyện Kiều) Gợi ý: Trùng sinh: sinh lại, sống lại ở ngay kiếp này một lần nữa. b) So sánh nghĩa của sinh trong câu thơ trên với nghĩa của sinh trong câu thơ dưới đây: Dấn mình trong áng can qua, Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau. (Nguyễn Du – Truyện Kiều) Gợi ý: Sinh trong trùng sinh mang nét nghĩa đẻ ra (sinh ra), còn sinh trong Vào sinh ra tử mang nét nghĩa sống, trái nghĩa với chết. c) Dựa trên sự khác nhau về nét nghĩa của sinh như ở hai trường hợp trên, hay xếp các từ sau đây vào bảng theo hai nhóm. sinh kế, sinh học, sinh nhật, sinh ngữ, sinh lực, sinh mệnh, sinh quán, sinh thành, sinh khí, sinh vật, sinh tố, sinh lí, giáng sinh, bẩm sinh, sản sinh, sơ sinh, song sinh, sinh tồn, sinh động, sinh hoạt, hi sinh, sinh tử, dưỡng sinh Sinh (trùng sinh) Sinh (vào sinh ra tử) ……………….. ……………………. Gợi ý: Các từ có sinh mang nét nghĩa giống với sinh trong vào sinh ra tử: sinh kế, sinh học, sinh lực, sinh mệnh, sinh khí, sinh vật, sinh lí, sinh tồn, sinh động, sinh hoạt, hi sinh, sinh tử, dưỡng sinh; còn lại là các từ có sinh mang nét nghĩa giống với sinh trong trùng sinh. 5. Chỉ ra từ dùng sai trong câu dưới đây và sửa lại cho đúng: Mẹ Tấm chết, người cha tái giá với một người đàn bà khác, sinh ra Cám. Gợi ý: Trong câu này, từ tái giá dùng sai. Tái giá dùng để chỉ người đàn bà goá đi lấy chồng lần nữa, không dùng chỉ người đàn ông đi lấy vợ lần nữa. Có thể sửa lại bằng cách thay tái giá bằng tục huyền hoặc bỏ từ tái giá: Mẹ Tấm chết, người cha lấy một người đàn bà khác, sinh ra Cám. Hoặc: Mẹ Tấm chết, người cha lấy vợ khác, sinh ra Cám. 6. Nhận xét về cách dùng từ tái bản trong các câu sau: Quyển sách này được tái bản lần đầu. Quyển sách này được tái bản lần thứ sáu. Gợi ý: Sách tái bản là sách đã được in lại. Nói tái bản lần đầu nghĩa là sách đó đã được in lại lần thứ hai. Người ta nói tái bản lần thứ bao nhiêu là tuỳ theo thứ tự của lần in lại. nhiệt kế, ampe kế hiện đại hoá, vôi hoá, ôxi hoá Gợi ý: Kế có tác dụng tạo ra danh từ với mang nét nghĩa là cái dùng để đo, ví dụ: điện kế, khí áp kế, lực kế, ẩm kế, vôn kế,…; hoá có tác dụng tạo ra động từ mang nét nghĩa biến thành, trở nên, ví dụ: công nghiệp hoá, bê tông hoá, Âu hoá,… 8. Nhận xét về cách dùng phó trong các trường hợp sau: Hiệu trưởng – phó hiệu trưởng, hiệu phó Trưởng phòng – phó trưởng phòng, phó phòng Chánh văn phòng – phó chánh văn phòng, phó văn phòng Gợi ý: Cả hai cách dùng phó như ở các trường hợp này đều đang tồn tại trong tiếng Việt hiện nay. Cách gọi phó hiệu trưởng, phó trưởng phòng, phó chánh văn phòng thường được dùng trong bối cảnh giao tiếp lễ nghi, trang trọng. Cách gọi hiệu phó, phó phòng, phó văn phòng thường được dùng trong bối cảnh giao tiếp thông tục, không mang tính lễ nghi.
Soạn bài lớp 10_ Luyện tập từ Hán Việt
907
Soạn bài lớp 10: Luyện tập về liên kết trong văn bản Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Luyện tập về liên kết trong văn bản Soạn bài lớp 10: Luyện tập về liên kết trong văn bản được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Thái sư Trần Thủ Độ Soạn bài lớp 10: Thái phó Tô Hiến Thành LUYỆN TẬP VỀ LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN 1. Hãy kể tên các phép liên kết hình thức đã học ở Trung học cơ sở. Lấy ví dụ về từng phép liên kết. Gợi ý: Chú ý các phép liên kết lặp, nối, thế,… 2. Chỉ ra sự thiếu liên kết nội dung trong đoạn văn sau: Cắm bơi một mình trong đêm. Đêm tối bưng không nhìn rõ mặt đường. Trên con đường ấy, chiếc xe lăn bánh rất êm. Khung xe phía cô gái ngồi lồng đầy bóng trăng. Trăng bồng bềnh nổi lên qua dãy Pú Hồng. Dãy núi này có tính chất quyết định đến gió mùa đông bắc nước ta. Nước ta bây giờ là của ta rồi, cuộc đời đã bắt đầu hửng sáng. Gợi ý: Sự liên kết nội dung thể hiện ở sự thống nhất đề tài, chủ đề giữa các câu, các đoạn trong văn bản và ở sự triển khai đề tài, chủ đề hợp lí, lô gic, thuyết phục,… Các câu trong đoạn văn trên nối tiếp nhau bằng những phương thức liên kết hình thức. Nhưng nội dung của các câu lại hướng về những đề tài, chủ đề khác nhau. Các yếu tố liên kết hình thức phải gắn bó chặt chẽ với sự liên kết về mặt nội dung. 3. So sánh hai đoạn văn sau và rút ra nhận xét về tính lô gích của lập luận trong hai cách sắp xếp. Đoạn 1 Kết quả học tập trong học kì vừa qua của lớp 10 A4 rất tốt: 100% đạt điểm trung bình từ 7, 5 trở lên, có 16 bạn đạt điểm tối đa trong tất cả các môn thi học kì. Song, trong lớp vẫn còn hiện tượng đi học muộn, còn có bạn nói chuyện riêng trong giờ học. Lớp 10 A4 đề nghị nhà trường khen thưởng tập thể lớp. Đoạn 2 Gợi ý: Hai đoạn văn có đề tài, chủ đề giống nhau; Hai đoạn văn có trình tự sắp xếp các ý khác nhau. Đoạn 1 trình bày ưu điểm trước, nhược điểm sau. Đoạn 2 trình bày nhược điểm trước, ưu điểm sau. Trong trường hợp người viết muốn đi đến kết luận đề nghị nhà trường khen thưởng thì cách sắp xếp như đoạn 2 hợp lí, thuyết phục hơn. 4. Xác định các phương tiện liên kết câu trong các đoạn văn dưới đây và chỉ ra: Chúng thuộc phép liên kết nào; Chúng có tác dụng gì. a) Hôm sau, vua ra cửa đông chờ đợi, chợt thấy một con rùa vàng từ phương đông lại, nổi lên mặt nước, nói sõi tiếng người, tự xưng là xứ Thanh Giang, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quỷ thần. Vua mừng rỡ nói: “Điều đó chính cụ già đã báo cho ta biết trước”. Bèn dùng xe bằng vàng rước vào trong thành. (Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ) Gợi ý: Phương tiện liên kết “Vua” được dùng theo phép lặp. Tác dụng: Liên kết giữa các câu, tập trung sự chú ý vào nhân vật được nói đến trong lời kể. b) Văn học dân gian nằm trong tổng thể văn hoá dân gian ra đời từ xa xưa và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay (…). Ở Việt Nam, văn học dân gian có vị trí và vai trò rất quan trọng. Trong hàng nghìn năm Bắc thuộc và ở các thời kì dân tộc chưa có chữ viết hoặc chữ viết chưa phổ cập, văn học dân gian đã đóng góp to lớn trong việc gìn giữ, mài giũa và phát triển ngôn ngữ dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân. (Tổng quan nền văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử) Gợi ý: Phương tiện liên kết “Văn học dân gian” được dùng theo phép lặp; Tác dụng: Liên kết giữa các câu, tập trung sự chú ý vào đề tài của đoạn. Hai vợ chồng người em thức khuya, dậy sớm, cố gắng làm lụng. Thấy thế người anh sợ em tranh công, liền bàn với vợ cho em ở riêng. Người anh chỉ chia cho em một gian nhà lụp xụp ở trước cửa có cây khế ngọt. Còn người anh có bao nhiêu ruộng đều cho làm rẽ, ngồi hưởng sung sướng với vợ. Thấy em không ca thán, lại cho là đần độn, không đi lại với em nữa. (Cây khế) Gợi ý: “Rồi”, “nhưng”, “còn” được dùng theo phép nối; ngoài tác dụng liên kết, “rồi” diễn đạt trình tự trước sau của sự việc, “nhưng”, “còn” diễn đạt quan hệ đối chiếu, tương phản về nghĩa giữa các câu. “Họ”, “thấy thế” được dùng theo phép thế; ngoài tác dụng liên kết còn làm cho lời văn ngắn gọn, không bị trùng lặp từ ngữ. “Người anh”, “người em”, “hai anh em” được dùng theo phép lặp; ngoài tác dụng liên kết còn duy trì sự chú ý vào nhân vật được nói đến trong lời kể. 5. Lựa chọn các phương tiện liên kết thích hợp với vị trí […] và chỉ ra phép liên kết được sử dụng. (Theo sách Văn học Việt Nam thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVIII) b) Văn học dân gian là một kho tàng chẳng những quý báu về chất mà còn phong phú về lượng. Sự phát triển mạnh mẽ […] ở nước ta có cơ sở từ những điều kiện lịch sử nhất định. (Tổng quan nền văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử) c) Văn học chữ Hán có một số lượng tác phẩm rất lớn. […] là những tác phẩm văn học chính luận và văn học hình tượng thuộc đủ loại, viết theo thể tản văn, biền văn và vận văn. (Tổng quan nền văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử) Gợi ý: (a): Nhưng – dùng theo phép nối. (b): của văn học dân gian – được dùng theo phép lặp. (c): Đó – được dùng theo phép thế. 6. Phân tích các bình diện và các phương tiện liên kết đã sử dụng trong bài viết số 5 của anh (chị). Gợi ý: Các bình diện: Bài viết đã thể hiện sự liên kết nội dung như thế nào? Bài viết đã thể hiện sự liên kết hình thức ra sao? Các phương tiện liên kết: Bài viết đã sử dụng những phương tiện nào để thể hiện sự liên kết nội dung và liên kết hình thức? Tác dụng của các phương tiện liên kết ấy là gì?
Soạn bài lớp 10_ Luyện tập về liên kết trong văn bản
1,155
Soạn bài lớp 10: Luyện tập đọc – hiểu văn bản văn học Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Luyện tập đọc – hiểu văn bản văn học Soạn bài lớp 10: Luyện tập đọc – hiểu văn bản văn học do VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên Soạn bài lớp 10: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn LUYỆN TẬP ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC 1. Luyện tập đọc – hiểu nghĩa của từ và ý nghĩa của câu, đoạn trong văn bản văn học a) Hai câu thơ dưới đây mang ý nghĩa gì? Hãy giải thích tại sao lại hiểu như vậy. Công danh nam tử còn vương nợ, Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu. (Tỏ lòng) Gợi ý: Hai câu thơ này thể hiện chí khí của vị tướng muốn noi gương Vũ Hầu. Không thể hiểu đây là nỗi hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão khi nghe chuyện Vũ Hầu; bởi vì không có liên hệ nào để hiểu Phạm Ngũ Lão có điều gì đó phải hổ thẹn khi “nghe chuyện Vũ Hầu”. Không thể hiểu hai câu thơ này hàm chứa giả thiết rằng nếu chưa xong nợ công danh thì sẽ thẹn với Vũ Hầu; bởi vì từ ý nghĩa của từ, câu, đoạn,… không thể hiện một giả thiết nào. b) Ý nghĩa của đoạn trích sau là gì? Gươm mài đá, đá núi cũng mòn, Voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận sạch không kình ngạc, Đánh hai trận tan tác chim muông. Nổi gió to trút sạch lá khô, Thông tổ kiến phá toang đê vỡ. (Đại cáo bình Ngô) Gợi ý: Đoạn trích thể hiện uy lực phi thường của nghĩa quân Lam Sơn. Các ý quân đông, voi nhiều, đánh nhanh, đánh mạnh hay sự sụp đổ không thể cứu vãn được của quân Minh là những biểu hiện, chứng tỏ uy lực ấy. c) Hiểu thế nào là “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) của thơ văn? 2. Luyện tập đọc – hiểu mạch ý của đoạn văn a) Chỉ ra các ý và liên hệ giữa các ý trong đoạn văn sau: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên” (Hiền tài là nguyên khí của quốc gia) Gợi ý: Đoạn văn này gồm hai ý, trong hai câu nối tiếp nhau, liên hệ với nhau. Ý thứ nhất được thể hiện trong câu đầu: hiền tài là nguyên khí quốc gia. Trong câu tiếp theo, ý thứ hai là hệ quả của ý được khẳng định trong câu trước: Nhận thức được tầm quan trọng của hiền tài với thịnh suy của đất nước, nên các thánh đế minh vương đều phải ra sức vun trồng hiền tài. b) Trong bài Tựa “Trích diễm thi tập” (Hoàng Đức Lương) có những đoạn văn nào? Ý chính của từng đoạn là gì? Các ý đó liên hệ với nhau như thế nào? Gợi ý: Bài văn này có hai phần: phần một nêu các lí do khiến cho thơ văn không lưu truyền hết ở đời; phần hai nêu động cơ và quá trình biên soạn sách. Phần một gồm các đoạn: Chỉ thi nhân mới thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ca. Người có học thì ít quan tâm đến thơ ca. Người quan tâm đến thơ ca thì năng lực kém, không đủ kiên trì. Chính sách phát hành của nhà nước còn nhiều hạn chế. Thời gian, binh lửa làm hư nát, tiêu huỷ sách vở. Liên hệ giữa các đoạn văn thể hiện liên hệ giữa các lí do: từ những lí do chủ quan đến những lí do khách quan. Phần hai gồm hai đoạn: Những bức xúc trong tình hình biên soạn sách về thơ ca Việt Nam ở thời của tác giả và trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn những giá trị văn hiến dân tộc. Quan điểm và cách thức biên soạn. Quan hệ giữa hai phần trong bài Tựa “Trích diễm thi tập” là mối quan hệ giữa thực trạng và giải pháp. c) Hai bài Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ đều nêu ngày tháng nhân vật mất trước, rồi sau đó kể lại một số sự kiện lúc họ sống. Đây là cách bố cục theo bút pháp “cái quan định luận”. 3. Luyện tập cảm nhận hình tượng văn học a) Trong truyện Chử Đồng Tử có những tình tiết nào hay và độc đáo? Gợi ý: Có thể kể ra các tình tiết như: hai cha con chỉ có một cái khố (tình cảnh khốn cùng); cuộc kì ngộ của Đồng Tử và Tiên Dung; Tiên Dung quyết định kết duyên và ở lại sống cùng Chử Đồng Tử; Đồng Tử được Phật Quang cho một cây gậy và chiếc nón có phép lạ, nhờ đó họ có được một cung điện lộng lẫy, với cả binh lính,… b) Dựa vào những tình tiết tiêu biểu, hãy mô tả lại hình tượng người ở ẩn trong bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Gợi ý: Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh người trí sĩ ẩn cư nhàn dật. Nhân vật trữ tình này xuất hiện trong lời thơ với những chi tiết về cách sống, cách sinh hoạt và quan niệm sống: tự cuốc đất trồng cây, đào củ, câu cá; chọn nơi vắng vẻ, không thích nơi ồn ã; ăn uống, tắm táp thoải mái, tự nhiên; coi phú quý tựa giấc mộng. 4. Luyện tập khái quát tư tưởng, quan điểm của tác phẩm và đoạn trích a) Phát biểu khái quát tư tưởng bài Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương. Gợi ý: Trong bài Tựa “Trích diễm thi tập”, tấm lòng yêu nước của tác giả được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc. b) Động cơ nào khiến tác giả không ngại “vụng về” soạn ra Trích diễm thi tập? Hiểu rõ bốn nguyên nhân làm cho sách vở nước ta thất truyền, xót xa trước nguy cơ sáng tác thi ca bị mai một, tác giả Hoàng Đức Lương đã không ngại “vụng về” soạn ra Trích diễm thi tập. 5. Quá trình đọc – hiểu văn bản văn học có những bước nào? Ở mỗi bước ấy, phải đảm bảo những yêu cầu gì? Gợi ý: Đọc – hiểu ngôn từ: Đọc thông suốt toàn văn bản, hiểu được các từ khó, từ lạ, các điển cố, phép tu từ,… Hiểu được cách diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt từ câu trước đến câu sau, từ ý này chuyển sang ý khác,… Đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật: Tưởng tượng, “cụ thể hoá” các tình cảnh để hiểu những điều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát; Phát hiện các mâu thuẫn tiềm ẩn trong hình tượng và tìm hiểu lô gích bên trong của chúng. Đọc – hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản: Đọc cho ra cái linh hồn của nhà văn ẩn chứa trong văn bản – cái thường được thể hiện ở giữa lời, ngoài lời,… Đọc – hiểu và thưởng thức văn học: Người đọc tự phát hiện, tự khẳng định về thế giới nghệ thuật của tác phẩm; vừa rung động với sự biểu hiện tài nghệ của tác giả vừa giữ lại ấn tượng sâu đậm của mình đối với các chi tiết đặc sắc của tác phẩm. 6. Tưởng tượng, liên tưởng có tác dụng như thế nào đối với việc đọc – hiểu văn bản văn học? Gợi ý: Trong sáng tạo văn bản nghệ thuật, tác giả sử dụng liên tưởng, tưởng tượng để tạo ra hình tượng hàm chứa những nội dung ý nghĩa sâu sắc thông qua so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,… Đến lượt người đọc, nhờ liên tưởng, tưởng tượng mà tái tạo, thâm nhập, cắt nghĩa, lí giải,… nghĩa là làm sống lại thế giới hình tượng đã được nhà văn mã hoá và thưởng thức nó bằng chính vốn sống, sở trường của mình.
Soạn bài lớp 10_ Luyện tập đọc – hiểu văn bản văn học
1,396
Soạn bài lớp 10: Luyện viết đoạn văn tự sự Hướng dẫn Soạn bài: Luyện viết đoạn văn tự sự Soạn bài lớp 10: Luyện viết đoạn văn tự sự được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm về đoạn văn, các loại đoạn văn nội dung của đoạn văn trong văn bản tự sự giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Lời tiễn dặn Soạn bài lớp 10: Ôn tập văn học dân gian Việt Nam LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về khái niệm đoạn văn Đoạn văn là một phần của văn bản, được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng (chấm qua hàng). Đoạn văn có tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức. Trong văn bản tự sự, mỗi đoạn văn thường có câu chủ đề (câu chốt). Các câu còn lại có nhiệm vụ thuyết minh, miêu tả, giải thích… làm cho ý chính được nổi lên. 2. Các loại đoạn văn, nội dung và nhiệm vụ của đoạn văn trong văn bản tự sự Văn bản tự sự do nhiều loại đoạn văn cấu tạo nên: đoạn mở đầu, các đoạn thân bài và đoạn kết thúc. Nội dung của đoạn văn: Nội dung của đoạn văn vô cùng phong phú. Có đoạn văn vừa giới thiệu nhân vật, vừa kể sự việc (đoạn đầu truyện Tấm Cám), có đoạn văn miêu tả tâm trạng nhân vật (đoạn miêu tả cảm xúc của ông Hai khi nghe tên làng mình theo giặc), có đoạn văn vừa kể việc vừa thể hiện tâm tư, tình cảm của nhân vật hay của người kể chuyện (đoạn Lão Hạc gặp ông giáo khi vừa bán Cậu Vàng xong), có đoạn lại thiên về tả cảnh, tả người, đoạn đối thoại, độc thoại,… Nhiệm vụ của đoạn văn: Ngoài nhiệm vụ chung là đều hướng vào làm rõ nội dung, tư tưởng, chủ đề của văn bản, mỗi đoạn văn lại có một nhiệm vụ cụ thể riêng: Đoạn mở đầu: có nhiệm vụ gợi dẫn, giới thiệu vấn đề. Các đoạn thân bài: có nhiệm vụ giải thích, chứng minh, nêu cảm nghĩ, bình luận, đánh giá,… về vấn đề. Đoạn kết thúc: chốt lại vấn đề hoặc có nhiệm vụ liên tưởng mở rộng, nâng cao ý nghĩa của vấn đề. 1. Nhận xét về phần mở đầu và phần kết thúc truyện Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành: a) Các đoạn văn đã thể hiện đúng và rõ ràng những dự kiến của tác giả trước khi viết truyện. Nội dung và giọng điệu của các đoạn văn mở đầu và kết thúc: Giống nhau là: Cả đoạn mở đầu và kết thúc đều miêu tả cảnh rừng xà nu. Nó tạo thành một kết cấu vòng tròn – mở. Kết cấu này vừa đảm bảo sự chặt chẽ về bố cục, vừa tập trung làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. Không những thế, kết cấu kiểu vòng tròn – mở còn gọi cho người đọc những suy nghĩ để liên tưởng “mở rộng vấn đề”. Khác nhau: Hai đoạn mở đầu miêu tả cánh rừng xà nu cụ thể sinh động bằng những chi tiết nghệ thuật giữa sức tạo hình nhằm để tạo không khí cho câu chuyện và để dẫn dắt, lôi cuốn người đọc. Trong khi đó đoạn cuối truyện chủ yếu miêu tả cảnh rừng xà nu mờ dần và bất tận nhằm tạo cho người đọc cảm giác về sự bất diệt của rừng cây và sức sống mãnh liệt của con người. b) Qua việc tìm hiểu các giai đoạn sáng tác tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn Nguyên Ngọc, chúng ta có thể rút ra kinh nghiệm: trước khi viết hoặc kể chuyện cần suy nghĩ, dự kiến trước phần mở đầu và kết thúc của bài văn. Có như vậy bài văn sẽ có một mạch thống nhất, chặt chẽ, rõ ràng và lôi cuốn người đọc, người nghe hơn. 2. Nhận xét về đoạn văn kể về câu chuyện hậu thân của chị Dậu: Vậy là chị được cử về Đông Xá, về cái làng quê bé nhỏ, nghèo khổ của chị. Vừa đặt chân tới con đê cao, con đê chắn ngang mấy nếp nhà lụp xụp, chị Dậu chợt nhìn thấy ở chân trời phía đông một vừng hồng ửng lên […]. Một đoàn người áo quần rách rưới, nhưng nét mặt ai cũng hồ hởi, từ trong làng đi ra. Người cầm gậy, kể cầm dao, cầm kiếm, vác cờ đỏ ào tới vây lấy chị. Người nông dân khốn khổ từng chạy trốn trong cái đêm đen ấy bỗng ứa nước mắt […]. Cố nén xúc động, chị Dậu dang rộng đôi cánh tay như muốn ôm lấy mọi người, rồi nghẹn ngào nói: Cách mạng thành công rồi! Cả dân tộc đã đứng dậy! Bà con ơi, chúng ta hãy lên huyện bắt bọn quan lại, phá kho thóc chia cho dân nghèo. a) Đoạn văn này thuộc phần thân bài (phần phát triển) trong “truyện ngắn” mà bạn học sinh định viết. Đoạn văn này đã kể lại một sự việc quan trọng, đó là chuyện “Chị Dậu về làng lãnh đạo cuộc nổi dậy khi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra”. Sự việc ấy phù hợp với chủ đề và cốt truyện mà bạn học sinh đã nêu ra và lập dàn ý. Có thể xem đây là đoạn văn trong văn bản tự sự. b) Có thể nói, đoạn văn trên mới chỉ thành công trong việc “kể” lại câu chuyện. Nhược điểm của đoạn văn là việc sắp xếp những đoạn tả cảnh, tả tâm trạng còn chưa nhuyễn, chưa hay. Văn phong còn lúng túng, gượng gạo. Có thể sửa chữa lại hai chỗ “lúng túng” trong đoạn văn của bạn học sinh như sau: “… Đặt chân tới con đê cao, con đê chắn ngang nếp nhà lụp xụp của gia đình chị đúng lúc ở phía trời đông ông mặt trời bắt đầu thắp sáng bình minh bằng những ánh hồng rực rỡ, chị Dậu bỗng chợt nhìn thấy một đoàn người…”. “Người đàn bà nhà quê khốn khổ từng chạy trốn trong cái đêm đen ấy vui mừng đến rơi nước mắt. Nhưng cố nén xúc động…”. 3. Từ kinh nghiệm học được ở nhà văn Nguyên Ngọc và đoạn viết về hậu thân của chị Dậu, có thể rút ra một vài ghi nhớ về cách viết đoạn văn trong bài văn tự sự: Khi viết đoạn mở bài và đoạn kết thúc, cần dựa vào đề tài và cốt truyện để xác định nội dung. Hai đoạn văn này cần phải được đảm bảo sao cho ý tứ phải thống nhất và hô ứng với nhau. Sau đoạn mở đầu, vẫn phải dựa vào cốt truyện, dựa vào chủ đề, tư tưởng của bài văn để viết các đoạn thân bài: đoạn miêu tả, đoạn giới thiệu nhân vật, đoạn kể việc, đoạn đối thoại,… Khi viết đoạn văn trong bài văn tự sự cần huy động năng lực quan sát, tưởng tượng, liên tưởng, những kiến thức về cuộc sống,… đồng thời cũng phải thành thạo các thao tác trong việc viết đoạn văn. a) Đoạn văn này kể lại sự việc cô Phương Định – một nữ thanh niên xung phong đang phá bom để mở đường ra mặt trận. Đây là đoạn văn nằm ở phần thân bài (phần phát triển) của văn bản tự sự Những ngôi sao xa xôi (truyện ngắn của Lê Minh Khuê). b) Đoạn văn được chép lại có một số sai sót về ngôi kể. Trong truyện ngắn, người kể chuyện (nhân vật Phương Định xưng tôi, kể chuyện về bản thân mình và tổ thanh niên xung phong). Một số câu trong đoạn này, đại từ “tôi” đã bị thay bằng “cô gái” (câu 5); “Cô” (câu 6, 16), danh từ riêng “Phương Định” (câu 14, 20). Cần sửa lại để văn bản được thống nhất về ngôi kể (ngôi thứ nhất – xưng tôi). c) Từ những phát hiện và chỉnh sửa trên có thể rút ra bài học: Trong văn bản tự sự, người viết cần nhất quán về ngôi kể. Nếu không có sự thay đổi về người kể thì ngôi kể ấy sẽ phải thống nhất từ đoạn đầu đến các đoạn tiếp theo. Có như vậy, văn bản tự sự mới chặt chẽ, lôgic, hấp dẫn và thuyết phục người đọc. 5. Để viết được đoạn văn thuật lại cử chỉ và tâm trạng của cô gái bị ép duyên trong đoạn trích truyện thơ Tiễn dặn người yêu, cần chú ý diễn tả các cử chỉ và tâm trạng sau: Cử chỉ: cất bước theo chồng, vừa đi vừa ngoảnh lại, vừa đi vừa ngoái trông, khi tới rừng ớt ngắt lá ớt ngồi chờ, khi tới rừng cà ngắt lá cà ngồi đợi,… Tâm trạng: lòng càng đau càng nhớ, chờ, đợi,… Lưu ý: Khi viết, cần biết kết hợp giữa diễn tả cử chỉ và tâm trạng, tả cử chỉ cũng là để lột tả tâm trạng luyến lưu, buồn đau của người con gái phải lìa xa người yêu về nhà chồng.
Soạn bài lớp 10_ Luyện viết đoạn văn tự sự
1,568
Soạn bài lớp 10: Luận điểm trong bài văn nghị luận Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Luận điểm trong bài văn nghị luận Soạn bài lớp 10: Luận điểm trong bài văn nghị luận do VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Hồi trống cổ thành Soạn bài lớp 10: Tóm tắt văn bản thuyết minh LUẬN ĐIỂM TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Luận điểm là tư tưởng, quan điểm của người viết đối với vấn đề nghị luận (luận đề) trong bài văn, được thể hiện dưới hình thức những câu văn có tính chất khẳng định hay phủ định. 2. Để đạt được mục đích nghị luận, bày tỏ tư tưởng, quan điểm của người tạo lập văn bản, bài văn nghị luận nhất thiết phải có luận điểm. 3. Luận điểm trong bài văn nghị luận phải đúng đắn, sáng rõ, tập trung, mới mẻ, có tính định hướng, đáp ứng đòi hỏi của thực tế. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc các câu thơ dưới đây trong Truyện Kiều và rút ra một luận điểm về vai trò của đồng tiền đối với cuộc sống con người trong xã hội phong kiến. Trong tay sẵn có đồng tiền, Dầu lòng đổi trắng, thay đen khó gì. Định ngày nạp thái vu quy, Tiền lưng đã có việc gì chẳng xong. Một ngày lạ thói sai nha, Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền. Gợi ý: Trong Truyện Kiều, sức mạnh của đồng tiền ngự trị, tác oai tác quái đối với sự sống của con người. Truyện Kiều còn là tiếng kêu than trước sức mạnh của đồng tiền. Qua Truyện Kiều, xã hội phong kiến với thế lực đồng tiền ngự trị được phơi bày. 2. Nối kết nghĩa của hai câu tục ngữ sau đây để đưa ra một luận điểm: Không thầy đố mày làm nên Học thầy không tày học bạn Gợi ý: Hai câu tục ngữ có những nét nghĩa trái ngược nhau, mỗi câu nhấn mạnh một khía cạnh trong việc học. Để đưa ra được luận điểm bao quát nghĩa của cả hai câu này, cần kết hợp được những điểm nhấn khác nhau ấy trong một nhận định chung. Có thể tham khảo luận điểm: Học không thể thiếu thầy, nhưng học cũng rất cần bạn; hoặc: Học thì phải có thầy, song học ở bạn cũng rất bổ ích. 3. Từ các câu danh ngôn dưới đây, hãy rút ra những luận điểm đúng đắn về việc đọc sách. (1) Đọc sách là cách học tốt nhất, theo dõi những tư tưởng vĩ đại của vĩ nhân, là cách học thú vị nhất. (A. Pu-skin) (2) Người nào chỉ đọc đôi chút cũng đã có trình độ cao hơn nhiều so với người không đọc gì cả. (V. Bi-ê-lin-xki) (E. Bur-ke) (4) Đọc cuốn sách hay cũng như được trò chuyện với người bạn thông minh. (L. Tôn-xtôi) (5) Không có quyển sách nào hay đối với người dốt, không có tác phẩm nào dở đối với người thông minh. (Đ. Đi-đơ-rô) (6) Nền văn hoá ở một nước cao hay thấp không phải chỉ ở các nhà văn mà chính là ở độc giả. (Nhất Linh) Gợi ý: Tham khảo các luận điểm: Đọc sách là một cách học tích cực nhất. Việc đọc sách chỉ có ích khi người đọc biết suy ngẫm, đọc đúng cách. Trong việc đọc, sách là quan trọng nhưng người đọc còn quan trọng hơn. Trình độ đọc cho thấy trình độ văn hoá. 5. Đọc lại truyện ngụ ngôn Việt Nam Thầy bói xem voi và tự rút ra một số luận điểm về cách suy nghĩ, đánh giá và việc tiếp thu ý kiến của người khác. Gợi ý: Tham khảo: Phải xem xét sự vật, hiện tượng dưới nhiều góc độ thì mới có thể đưa ra được nhận định đúng đắn, toàn diện. Không nên chỉ dựa vào sự nhìn nhận của mình, cần biết lắng nghe nhiều ý kiến khác để có được nhận định toàn diện, khách quan về một đối tượng nào đó. Cần biết tôn trọng ý kiến của người khác, không nên bảo thủ, biến tranh luận thành cãi vã, xung đột gây mất đoàn kết. Gợi ý: Thưởng thức nghệ thuật đòi hỏi đi từ nông đến sâu. Thưởng thức nghệ thuật đòi hỏi trải nghiệm của người thưởng thức. Người tiếp nhận có vai trò rất quan trọng trong thưởng thức nghệ thuật. Vẻ đẹp của tác phẩm nghệ thuật do người thưở
Soạn bài lớp 10_ Luận điểm trong bài văn nghị luận
751
Soạn bài lớp 10: Lập dàn ý bài văn tự sự Hướng dẫn Soạn bài: Lập dàn ý bài văn tự sự Soạn bài lớp 10: Lập dàn ý bài văn tự sự được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về nội dung và phương pháp lập dàn ý cho bài văn tự sự để học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Chiến thắng Mtao-Mxây Soạn bài lớp 10: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy LẬP DÀN Ý BÀI VĂN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Lập dàn ý bài văn tự sự là dựng nên bộ khung cho câu chuyện mà mình sẽ viết hay sẽ kể. 2. Muốn lập được một dàn ý tốt cần dự kiến đề tài, xác định các nhân vật, sự kiện, chọn và sắp xếp các sự việc, chi tiết tiêu biểu thành cốt truyện. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu đoạn trích bài Về truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyên Ngọc để nắm được vấn đề hình thành ý tưởng, dự kiến cốt truyện a) Trong văn bản, nhà văn Nguyên Ngọc kể lại câu chuyện về quá trình suy nghĩ, chuẩn bị để sáng tác truyện ngắn Rừng xà nu. b) Qua lời kể của tác giả, có thể rút ra bài học: Để chuẩn bị viết một văn bản tự sự, cần hình thành ý tưởng, dự kiến cốt truyện, suy nghĩ, tưởng tượng về các nhân vật cùng các sự việc, chi tiết tiêu biểu đặc sắc làm nên cốt truyện. Những dự kiến này giúp cho quá trình lập dàn ý được rõ ràng hơn và dàn ý cũng cụ thể, chi tiết hơn. a) Trường hợp 1: Mở bài: Giới thiệu câu chuyện xảy ra từ kết thúc truyện Tắt đèn. Thân bài: Kể lại câu chuyện theo 2 sự việc chính. Sau cái đêm ấy, chị Dậu gặp một cán bộ cách mạng và được giác ngộ (Chị Dậu đã gặp người cán bộ cách mạng trong tình huống nào? Người cán bộ đã làm gì để giác ngộ chị Dậu? Chị Dậu đã giác ngộ cách mạng như thế nào?…). Trong cuộc khởi nghĩa tháng Tám – 1945, chị Dậu dẫn đầu đoàn nông dân lên cướp chính quyền huyện, phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo (Từ việc giác ngộ cách mạng, chị Dậu đã tham gia hoạt động khởi nghĩa ra sao? Chị Dậu đã cùng các nông dân khác cướp chính quyền huyện, phá kho thóc Nhật như thế nào?…). Kết bài: Câu chuyện kết thúc như thế nào? Em suy nghĩ gì về sự giác ngộ và hành động của chị Dậu? b) Trường hợp 2: Mở bài: Giới thiệu câu chuyện xảy ra từ kết thúc truyện Tắt đèn. Thân bài: Kể lại câu chuyện với những sự việc cụ thể. Cuộc kháng chiến chống thực dân pháp nổ ra, chị Dậu đã nhận thức về cuộc kháng chiến này như thế nào? Tuy sống trong vùng địch hậu, chịu sự kiểm soát của địch nhưng chị Dậu vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ, nhiều lần đậy nắp hầm bem cho cán bộ,… (Sống trong vùng địch hậu, chị Dậu gặp những khó khăn gì? Tại sao chị Dậu vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ? Những sự việc nào chứng tỏ lòng căm thù giặc và tinh thần cách mạng của chị Dậu?…), 3. Cách lập dàn ý một bài văn tự sự Bước 1: Trước khi lập dàn ý, cần suy nghĩ để chọn đề tài, chọn một chủ đề hoặc vấn đề sau đó phác thảo qua cốt truyện. Bước 2: Từ đề tài, chủ đề của câu chuyện, người viết phải tưởng tượng, sáng tạo ra những nét chính hình thành nên cốt truyện. Cốt truyện có thể dựa vào cuộc đời và số phận của nhân vật chính hay dựa theo diễn biến của sự việc chính. Bước 3: Dựa vào mô hình dàn ý (3 phần), tìm các yếu tố cấu thành tác phẩm: Lí do, không gian xảy ra câu chuyện, các tình tiết của truyện, các nhân vật và quan hệ của chúng, các cảnh thiên nhiên, các đối thoại chính, tâm trạng của nhân vật… Bước 4: Hệ thống hóa các khâu trên bằng một dàn ý chi tiết. 4. Dựa vào câu nói của Lê-nin (Tôi không sợ khó, không sợ khổ, tôi chỉ sợ những phút yếu mềm của lòng tôi. Đối với tôi chiến thắng bản thân là chiến thắng vẻ vang nhất) để kể về câu chuyện với đề tài: Một học sinh có bản chất tốt, nhưng do một hoàn cảnh nào đó xô đẩy dẫn đến phạm sai lầm nhưng đã kịp thời tỉnh ngộ. Có thể xây dựng cốt truyện như sau: An (học sinh) vốn là một người hiền lành trung thực. Sau khi cha mẹ bỏ nhau, An chán nản, bị kẻ xấu lôi kéo nên đã phạm sai lầm đáng tiếc (chơi bời lêu lổng, lấy cắp xe đạp, học hành bê trễ…). An ân hận, dằn vặt nhưng mặc cảm không dám đến lớp. An được thầy giáo chủ nhiệm giúp đỡ và bảo lãnh cho trở lại trường. An đã cố gắng vươn lên và trở lại con người xưa. 5. Lập dàn ý cho câu chuyện kể lại một kỉ niệm sâu sắc về tình bạn, tình thày trò… Tham khảo dàn ý sau đây (câu chuyện về tình bạn). (A) Mở bài: Hỏi và Tùng gần gũi thân thiết với nhau từ nhỏ. Họ học cùng lớp với nhau. Câu chuyện diễn ra khi ở lớp xảy ra liên tiếp những vụ mất tiền. (B) Thân bài: Kể vắn tắt vài vụ mất tiền mà không tìm thấy nguyên do (trong đó Hải là người mất nhiều nhất). “Một mất mời ngờ”, không khí của lớp trở lên căng thẳng. Cuộc truy tìm thủ phạm bế tắc, mâu thuẫn trong lớp xảy ra. Hải nghi ngờ tất cả mọi người trong đó có Tùng. Họ đã to tiếng và không còn chơi với nhau. Nhờ sự can thiệp của các thầy cô giáo, lớp đã tìm ra thủ phạm (là một học sinh lớp khác). (C) Kết thúc: Không khí lớp trở lại bình thường. Hải xin lỗi Tùng trước lớp. Họ lại thân thiết như xa.
Soạn bài lớp 10_ Lập dàn ý bài văn tự sự
1,044
Soạn bài lớp 10: Lập kế hoạch cá nhân Hướng dẫn Soạn bài: Lập kế hoạch cá nhân Soạn bài lớp 10: Lập kế hoạch cá nhân là tài liệu tham khảo được sưu tầm nhằm giúp các bạn học sinh lớp 10 nhận biết được các kỹ năng cơ bản để lập một bản kế hoạch cá nhân cho riêng mình. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 10: Tổng quan văn học Việt Nam Soạn bài lớp 10: Luyện viết đoạn văn tự sự Lập kế hoạch cá nhân I. Sự cần thiết của việc lập kế hoạch cá nhân. Kế hoạch cá nhân là việc trình bày nội dung và phân bố hoạt động thời gian để hoàn thành tốt công việc của cá nhân. Lập kế hoạch cá nhân ta cần hình dung trước các công việc cần làm, phân bố thời gian hợp lý để hoàn thành tốt các công việc, bỏ sót các công việc cần làm. Biết cách và có thói quen lập kế hoạch cá nhân là một thói quen tốt. II. Cách lập kế hoạch cá nhân. Khi lập kế hoạch cá nhân cần trình bày nội dung trong kế hoạch đó, nó được sắp xếp theo một trình tự hợp lý. Tổ chức vấn đề theo một thứ tự ưu tiên việc quan trọng cần giải quyết trước tiên thứ 2 là cần trình bày một cách khoa học và hợp lý. Nội dung của kế hoạch gồm có 2 phần chính: Phần 1: Nêu họ và tên, nơi làm việc học tập của người viết. Phần 2: Nêu nội dung công việc cần làm, thời gian địa điểm dự kiến và kết quả đạt được. Lời văn cần ngắn gọn, cần thiết có thể kẻ bảng. 1. Văn bản dưới đây không phải là một kế hoạch cá nhân, đây là một thời gian biểu, bởi không có công việc được trình bày một cách hợp lý, nó được sắp xếp theo một trình tự và cần có một có kế hoạch cụ thể và phù hợp với yêu cầu đó. Kế hoạch cá nhân được trình bày một cách hợp lý, nó được trình bày một cách hiệu quả và cụ thể và cũng được trình gồm 2 phần và có hai phần cụ thể. 2. Bảng kế hoạch của Đại hội Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh: Bản kế hoạch đó còn quá sơ sài, sẽ có thể trao đổi để hoàn thiện kế hoạch bản thân: Kế hoạch đó được trình bày quá sơ sài cần trình bày thêm như sau: Cần có hai phần chính đó là: Phần 1 họ và tên, địa điểm học tập, nơi công tác… Phần 2 cần trình nội dung công việc một cách chi tiết, cần cụ thể lại những kế hoạch cá nhân một cách hoàn chỉnh hơn, những nội dung công việc cần có thể chi tiết hơn ví dụ như viết dự thảo báo cáo, và dự kiến nội dung và cách thức tiến hành đại hội, ở đây họ được trình bày một cách chi tiết và hoàn chỉnh hơn. Trình bày những vấn đề được hoàn thành có một cách cụ thể, nội dung dự kiến cần trình bày chi tiết và có thể lên kế hoạch chi tiết hơn. Trước khi trình bày nội dung đó thì cần xin ý kiến của Đoàn trường và ý kiến của cô giáo chủ nhiệm, sau đó tổ chức họp Ban chấp hành Chi đoàn mở rộng để phân công chuẩn bị đại hội. Thời gian hàn thành sẽ trước đại hội. Họ và tên, học sinh lớp, nơi công tác… Lên kế hoạch để sắp xếp thời gian học tập hợp lý, vừa không ảnh hưởng tới chương trình chính trong khóa. Cần có chi phí và sắp xếp hợp lý để có thể thuê thêm máy tính rèn luyện thêm. Trong bảng kế hoạch cũng cần trình bày những ý sau: Nội dung của kế hoạch, yêu cầu của công việc, cách thức thực hiện, thời gian hoàn thành tốt công việc. Những điều đó đều ảnh hưởng tới nội dung và cách thức thực hiện công việc theo một trình tự quan trọng của vấn đề. Bản kế hoạch cần phải viết đầy dủ và trình bày một cách khoa học cần đầy đủ 2 phần là lý lịch và những nội dung chính được trình bày trong vấn đề đó, cần phải hoàn thành và có những kế hoạch phù hợp như thế mới có thể hoàn thành tốt công việc.
Soạn bài lớp 10_ Lập kế hoạch cá nhân
740
Soạn bài lớp 10: Lời tiễn dặn Hướng dẫn Soạn văn 10 bài: Lời tiễn dặn Soạn bài lớp 10: Lời tiễn dặn trích trong truyện thơ Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái được VnDoc sưu tầm và giới thiệu. Soạn văn mẫu lớp 10 bài Lời tiễn dặn này sẽ là tài liệu tham khảo về tâm trạng của Anh trên đường tiễn Chị về nhà chồng và phải chứng kiến cảnh khi ở nhà chồng giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa Soạn bài lớp 10: Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự LỜI TIỄN DẶN (Trích Tiễn dặn người yêu – truyện thơ dân tộc Thái) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về thể loại truyện thơ Truyện thơ là những tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, giàu chất trữ tình, diễn tả tâm trạng và suy nghĩ của con người khi hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội bị tước đoạt. 2. Truyện thơ Tiễn dặn người yêu Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) là một truyện thơ nổi tiếng của dân tộc Thái. Câu chuyện kể về sự trắc trở trong tình yêu và hôn nhân của đôi bạn tình người Thái. Hai người tuy làm bạn với nhau từ nhỏ. Lớn lên lại yêu thương gắn bó nhưng lại không lấy được nhau vì gia cảnh của bạn trai quá nghèo hèn. Chị bị cha mẹ gả cho một nhà giàu rồi tiếp tục Chị lại bị bán vào cửa quan. Cuối cùng tàn tạ, chị bị đem ra chợ bán. Lúc ấy đâu ngờ, Anh đã “mua” được chị với giá chỉ bằng một cuộn dong. Cuối cùng họ nhận ra nhau rồi về sống với nhau cho trọn lời ước cũ: “Không lấy được nhau mùa hạ, sẽ lấy nhau mùa đông. Không lấy nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi goá mụa về già”. Lời tiễn dặn là đoạn trích miêu tả rất rõ tâm trạng của Anh trên đường tiễn Chị về nhà chồng và phải chứng kiến cảnh khi ở nhà chồng, Chị bị chính người chồng đánh đập. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Tâm trạng của Anh trên đường tiễn dặn. Phải tiễn người yêu về với nhà chồng, lòng Anh vô cùng đau xót. Thế nhưng trên đường đưa tiễn, Anh gọi chị là “người đẹp anh yêu”, khẳng định tình yêu trong Anh vẫn còn thắm thiết. Nhưng cũng có lúc, tình cảm của Anh mâu thuẫn với hiện thực khách quan là Chị đang “cất bước theo chồng” (thậm chí đã có con với chồng). Lúc tiễn đưa, Anh có những cử chỉ, hành động dường như muốn níu kéo cho dài ra giây phút được ở thêm bên Chị. Anh phải được dặn Chị đôi câu thì mới “đành lòng” quay gót. Anh muốn ngồi lại bên Chị, âu yếm Chị để “ủ lấy hương người” cho mai sau “khi chết”, lửa xác (của mình) vẫn đượm hơi người thương yêu. Anh nựng con Chị mà như nựng chính con mình. Cách ứng xử ấy nói lên tình thương yêu vô bờ mà Anh dành cho Chị. Như vậy, lúc tiễn đưa, Anh sống trong tâm trạng dằn vặt, day dứt khổ đau. Phải chăng chính vì thế mà hai câu thơ cuối đoạn như là một sự phá phách. Nó khẳng định cái ý chí quyết tâm đoàn tụ của cả hai người. Đoạn thơ là lời của Anh, vì thế tâm trạng của chị chỉ là gián tiếp. Tuy được biểu hiện qua ánh mắt và suy nghĩ của của anh, thế nhưng, chúng ta vẫn có thể nhận ra, chị dường như cũng muốn níu kéo cho dài ra những giây phút cuối cùng ở bên anh. Chị chân bước đi mà đầu “còn ngoảnh lại” mắt còn “ngoái trông anh”, chân bước càng xa thì lòng càng đau đớn,… chính từ các tâm trạng ấy mà cứ mỗi lần qua một cánh rừng chị đều lấy đó là cái cớ để mà dừng lại đợi chờ anh. 3. Tâm trạng của Anh lúc ở nhà chồng của Chị. Văn bản này đã lược đi đoạn mà Chị bị chồng đánh ngã lăn ra bên miệng cối gạo, bên “máng lợn vầy”. Đoạn trích bắt đầu từ hành động chạy lại nâng đỡ chị dậy, phủi áo, chải tóc cho chị của anh. Sau đó, Anh còn đi chặt tre về làm ống lam thuốc cho chị “uống khỏi đau”. Những hành động ấy rõ ràng biểu lộ niềm xót xa thương cảm của anh đối với nỗi đau của chị. Một sự cảm thông, đó là điều mà chị đang rất cần trong hoàn cảnh ấy. Từ nỗi xót xa, trong lòng Anh bỗng bật lên ý chí quyết tâm đưa Chị về đoàn tụ với mình. Từ câu thơ “Tơ rối đôi ta cùng gỡ” đến hết đoạn chính là những câu thơ thể hiện cho cái ý chí và quyết tâm ấy. Vừa đi vừa ngoảnh lại Vừa đi vừa ngoái trông… Chết ba năm hình con treo đó Chết thành sông vục nước uống mát lòng … Chết thành hồn, chung một mái song song. Yêu nhau, yêu trọn đời gỗ cứng Yêu nhau, yêu trọn kiếp đến già… Thể hiện nghệ thuật bằng cách sử dụng nhiều câu thơ với nhiều hình ảnh so sánh tương đồng, những hình ảnh ẩn dụ liên tiếp hay lớp lớp những câu có một cấu trúc cú pháp chung, tác giả dân gian muốn nhấn mạnh sự thuỷ chung son sắt trong tình yêu của đôi bạn trẻ. Nó cũng đồng thời khẳng định cái ý chí và ước mơ đoàn tụ không gì lay chuyển nổi của Anh và Chị. Chọn cách diễn đạt như vậy, tác giả dân gian đã mã hoá ngôn ngữ một cách thành công những cảm xúc đang trào dâng mãnh liệt trong lòng của những con người sống chất phác, mạnh mẽ giữa thiên nhiên núi rừng cường tráng.
Soạn bài lớp 10_ Lời tiễn dặn
1,018
Soạn bài lớp 10: Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự Hướng dẫn Soạn bài: Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự Soạn bài lớp 10: Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm miêu tả cũng như cách miêu tả, biểu cảm trong văn bản tự sự giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Uy-Lít-Xơ trở về Soạn bài lớp 10: Ra-Ma buộc tội Soạn bài lớp 10: Lập dàn ý bài văn tự sự MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG VĂN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Ôn tập về miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự, lưu ý những kiến thức sau: 1. Miêu tả là dùng ngôn ngữ (hay một phương tiện nghệ thuật khác) làm cho người nghe (người đọc, người xem) có thể thấy sự vật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt. Biểu cảm là bộc lộ những tình cảm, cảm xúc của bản thân trước sự vật, sự việc, hiện tượng con người trong đời sống. 2. Miêu tả trong văn miêu tả, biểu cảm trong văn biểu cảm so với miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự không phải khác nhau ở số lượng câu văn mà là ở mục đích sử dụng. Yếu tố miêu tả trong văn miêu tả và trong văn tự sự tuy đều có tác dụng làm cho sự vật, sự việc, con người… trở nên rõ ràng sinh động. Thế nhưng miêu tả cho rõ, cho hay là mục đích của văn miêu tả. Trong khi đó, miêu tả chỉ là phương tiện để việc kể chuyện trong văn tự sự thêm cụ thể, sinh động và lí thú hơn. Cũng như vậy, nếu yếu tố biểu cảm làm cho bài văn biểu cảm dồi dào cảm xúc thì nó cũng chỉ là một phương tiện để biểu hiện và dẫn dắt câu chuyện trong văn tự sự mà thôi. 3. Để đánh giá sự thành công của việc miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự, người ta thường phải xem xét các yếu tố này có phục vụ đắc lực cho mục đích tự sự hay không, hoặc đã phục vụ cho mục đích ấy ở mức độ nào. 4. Muốn miêu tả và biểu cảm thành công, người viết cần phải quan tâm tìm hiểu cuộc sống, con người và bản thân mình, đồng thời chú ý quan sát, liên tưởng, tưởng tượng và lắng nghe những lay động mà sự vật, sự việc khách quan gieo vào trong tâm trí mình. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu kĩ năng miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự qua đoạn trích Những vì sao của A. Đô-đê. Đây là một trích đoạn tự sự bởi nó có các yếu tố như: nhân vật (chàng chăn cừu và cô gái), có sự việc (một cốt truyện nhỏ) và có cả người dẫn chuyện (nhân vật tôi – chàng chăn cừu). Đoạn trích này sử dụng khá nhiều các yếu tố miêu tả và biểu cảm để làm phương tiện cho việc “kể chuyện”. Các yếu tố miêu tả xuất hiện ở phần đầu đoạn văn (miêu tả hiện thực của cảnh ban đêm) và đoạn tả bầu trời ngàn sao ở phần cuối. Yếu tố biểu cảm trong đoạn văn là phần diễn tả những cảm xúc tinh tế của nhân vật tôi khi “đầu nàng nặng trĩu vì buồn ngủ đã ngả vào tôi với tiếng sột soạt êm ái của những dải đăng-ten và làn tóc mây gợn sóng”. Có thể nói, đây là một đoạn văn mà yếu tố miêu tả và biểu cảm đã đóng góp tích cực cho việc nâng cao hiệu quả tự sự. Hai yếu tố này chẳng những đã giúp chúng ta hình dung một cách sinh động về cảnh đêm sao thơ mộng mà còn có tác dụng thúc đẩy diễn biến của cốt truyện. Yếu tố miêu tả làm nền cho việc nảy sinh sự việc và từ đó mới có những rung động khẽ khàng, say sưa mà thanh khiết của chàng chăn cừu bên cô gái ngây thơ, xinh đẹp. Đêm sao thơ mộng cùng những rung động ngọt ngào làm cho đoạn văn trở nên hấp dẫn và lí thú hơn. b) Quan sát: Xem xét để nhìn rõ, biết rõ sự vật hay hiện tượng. c) Tưởng tượng: Tạo ra trong tâm trí hình ảnh của cái không hề có ở trước mắt, hoặc chưa hề gặp. 3. Để miêu tả cho tốt, cho hay, chúng ta không thể “chỉ cần quan sát đối tượng một cách kĩ càng” mà còn phải phát huy tích cực khả năng tưởng tượng và liên tưởng nữa. Ví như, chúng ta sẽ không thể cảm nhận được các hình ảnh, âm thanh rất đặc sắc, rất thơ mộng trong đoạn văn của A. Đô-đê nếu không có sự quan sát tinh tế để thấy: trong đêm, tiếng suối reo nghe rõ hơn, đầm ao nhen lên những đốm lửa nhỏ, những tiếng sột soạt văng vẳng trong không gian… Hay hình ảnh “Cô gái nom như một chú mục đồng nhà trời, nơi có những đám cưới sao…” là sản phẩm của trí tưởng tượng. Và nếu không có sự liên tưởng phong phú thì không thể có được cảnh “cuộc hành trình trầm lặng, ngoan ngoãn của ngàn sao gợi nghĩ đến đàn cừu lớn”. 4. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, tình cảm, cảm xúc của nhân vật “tôi” trong đoạn trích Những vì sao nảy sinh từ việc quan sát kĩ càng, chăm chú cảnh đêm. Một đêm sao huyền ảo và thơ mộng, hơn nữa vẻ đẹp hồn nhiên và ngây thơ của cô gái chắc chắn đã làm lay động trái tim giàu cảm xúc và dễ rung động của chàng trai. Và rõ ràng chính những tình ý ấy đã làm cho đoạn văn thêm mượt mà và hấp dẫn hơn. Cho nên, không thể nói để biểu cảm khi tự sự, chỉ tìm những cảm xúc, những rung động trong tâm hồn người kể. 5. Đoạn văn kể lại cuộc chiến đấu giữa Đam Săn với Mtao Mxây trong sử thi Đam Săn là một đoạn văn có sử dụng nhiều yếu tố miêu tả và biểu cảm. Có thể nói nhờ các yếu tố này mà khung cảnh cũng như diễn biến của cuộc chiến hiện ra cụ thể sinh động tới từng chi tiết trong sự hình dung của người đọc. Các yếu tố miêu tả (những hình ảnh so sánh ví von) và biểu cảm (cảm xúc của các nhân vật cũng như của cộng đồng) đã làm cho cuộc chiến đấu trở nên hoành tráng và dữ dội. Cũng từ đó mà hình ảnh người anh hùng cũng được nâng bổng hơn lên. 7. Viết bài văn tự sự có sử dụng các yếu tố biểu cảm và miêu tả kể về một chuyến đi đã đem lại cho anh (chị) nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan du lịch…). Tham khảo bài viết dưới dây (kể về một lần về quê nội). Quê hương tôi cũng đẹp và đáng yêu như quê hương của Tế Hanh. Cũng có con sông xanh biếc và những hàng tre rợp mát những buổi trưa hè. Chỉ tiếc tôi sống ở quê không nhiều lắm. Mỗi năm tôi chỉ được về quê có một lần và thường là những ngày hè oi bức. Hè năm nay cũng vậy, tôi cũng theo bố mẹ về thăm quê nội. Thế nhưng chuyến đi năm nay buồn man mác và nhói đau hơn. Chả là cách cái ngày tôi về quê tròn hai tháng, nội tôi đã vĩnh viễn ra đi khỏi trái đất này. Mới nghe cái tin dữ ấy, tôi đã khóc suốt buổi trưa và nằng nặc đòi bố mẹ cho về quê để nhìn mặt ông lần cuối. Thế nhưng bố an ủi: “Nội ra đi là một mất mát lớn đối với tất cả chúng ta. Lúc nội còn sống, nội đã rất tin vào sức học của các con. Bây giờ con lại sắp phải thi chuyển cấp. Vì thế con hãy cố gắng ôn và thi cho tốt để làm an lòng linh hồn của nội”. Tôi ngoan ngoãn và ngậm ngùi nghe theo lời dạy bảo của bố tôi. Nỗi đau và niềm nhớ thương ông nội nén lại trong tim tôi nghẹn ngào và da diết. Con tàu ngày xưa vẫn chạy rất nhanh sao hôm nay nó ì ạch và nặng nề biết mấy. Bò ngang qua mấy con đê và không biết đến bao nhiêu cánh đồng mênh mông bát ngát, con tàu dừng lại ngay phía đầu ngôi làng nhỏ của nội tôi. Vừa đặt chân lên mảnh đất của làng, tôi bỗng giật mình nhận ra người bạn xưa quen thuộc – những bụi tre làng. Quê nội tôi có rất nhiều tre, tre đã gắn với bố, với tôi bao kỉ niệm. Những ngày nắng, những đêm mưa, những đêm trăng cùng bạn bè trong xóm với bao trò chơi thú vị, tôi đều đã gửi gắm ở nơi đây. Nhưng hôm nay trời không nắng và không có gió. Những đám trẻ âm thầm, lạnh lẽo và dường như cũng buồn như tâm hồn của chính tôi. Bố nắm chặt tay tôi khi cả nhà đứng trước hai cánh cổng đầy rêu xanh nhà nội. Tôi bắt đầu không cầm được nước mắt. Tôi chạy thẳng vào sân, và vào lòng bà và nức nở. Các cô, các bác và các chị em xúm lại an ủi tôi. Bà nội dắt tôi đến trước bàn thờ ông nội. Tôi thắp nhang trong khi hai mắt vẫn cay xè.Tôi cố gượng để nhìn sâu vào tôi mắt sáng và rất hiền hoà của nội tôi rồi lại oà lên khóc. Tôi thương nội rất nhiều. Qua lời kể của bố tôi, tôi biết ông bà nội đã phải lam lũ suốt cuộc đời để nuôi dạy con cái cho thành đạt. Lúc còn sống, nội thường nói; “nội rất vui vì con cháu đều ngoan ngoãn cả”. Nhưng quả thực nội đã hy sinh trọn cuộc đời mà chưa có được một ngày thảnh thơi vui sướng. Hôm ấy sau khi viếng mộ ông, tôi xin phép bố mẹ một mình ra thăm bờ sông. Nơi ấy xưa nội thường đưa tôi ra hóng mát. Ông dạy tôi cách vót diều và cũng có hôm tôi được ông cho thả diều trên bờ con sông quê ấy. Dòng sông bắt đầu nhô ra trước mắt tôi, uốn khúc bao quanh ngôi làng nhỏ như một dải lụa trắng khổng lồ. Mặt sông hôm nay lăn tăn gợn sóng như đang nói, đang cười, như tâm sự… Tôi đứng lặng trên bờ sông, nhắm mắt và nghe gió thổi vi vu. Hình như trong tiếng gió thổi nghe được tiếng thì thầm đó đây của nội. Tối hôm đó tôi có cảm thấy vui hơn vì được các anh chị đưa ra với đám thiếu niên ngoài xóm. Thế nhưng cuộc vui tàn rất nhanh, tôi ra về lòng không được tươi mới như những lần vui chơi ngày trước. Buổi sáng hôm sau tôi phải theo bố mẹ về ngay thành phố. Bố tôi phải đi công tác gấp, còn tôi năm nay cũng bận hơn với chuyện học hè. Vả lại tôi không dũng cảm để mà ở lại. Tôi muốn nhớ về ông nhưng không phải ngày nào cũng cứ nhìn thấy ông rồi khóc. Bà nội chu đáo chuẩn bị cho bố con tôi rất nhiều quà, trong đó có cả một con diều nhỏ. Tôi nín thở để kìm nén cảm xúc trong lòng. Tôi ôm chặt và thầm cảm ơn ông bà về tất cả. Trời hôm nay nắng và nắng rất to. Bố mẹ và tôi bước ra khỏi đám tre làng uể oải và mệt mỏi. Con đường trước mắt tôi rộng và xa tít. Nhưng không được đi dưới những tán tre làng đôi mắt tôi hình như cứ mỗi lúc hoa lên… Nhìn chung, đây là một bài tập mà ta có thể chủ động viết một cách sáng tạo, linh hoạt, không nên tuân theo một khuôn mẫu nào. Điều đáng lưu ý là không được sa vào kể chuyện “suông” (câu chuyện chỉ gồm các sự việc, chi tiết tiếp nối nhau) hoặc lạc sang kiểu bài thuần biểu cảm.
Soạn bài lớp 10_ Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự
2,118
Soạn bài lớp 10: Nguyễn Trãi Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Nguyễn Trãi Soạn bài lớp 10: Nguyễn Trãi được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Bình Ngô đại cáo NGUYỄN TRÃI I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Trãi là bậc đại anh hùng dân tộc, một nhân vật toàn tài hiếm thấy; song cũng là người có số phận bi thương bậc nhất trong lịch sử. Ông là danh nhân văn hoá, nhà thơ, nhà văn kiệt xuất có những đóng góp to lớn cho sự phát triển văn hoá, văn học dân tộc. 2. Về nội dung, văn chương Nguyễn Trãi thể hiện nổi bật hai nguồn cảm hứng truyền thống của văn học dân tộc: yêu nước và nhân đạo. Thơ văn ông thể hiện một lí tưởng cao cả: “Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược – Có nhân, có trí, có anh hùng” (Bảo kính cảnh giới, bài 5) và đồng thời cho thấy tấm lòng yêu thương dân, gắn bó thiết tha với thiên nhiên, đất nước. 3. Về nghệ thuật, văn chương Nguyễn Trãi đạt đến giá trị kết tinh ở cả hai bình diện thể loại và ngôn ngữ. Ông là cây bút chính luận kiệt xuất, người khơi dòng thơ Nôm, sáng tạo thể loại thất ngôn xen lục ngôn. Tinh thần dân tộc, tình yêu đất nước là ngọn nguồn của vẻ đẹp ngôn ngữ tiếng Việt trong thơ văn Nguyễn Trãi. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Phân tích những sự kiện quan trọng thể hiện con người và tầm vóc vĩ đại của Nguyễn Trãi. Gợi ý: Nguyễn Trãi tên hiệu là Ức Trai, sinh năm Xương Phù thứ 4 đời Trần Đế Phế (1380), tại dinh quan Tư đồ Trần Nguyên Đán ở Thăng Long. Ông mất ngày 19 tháng 9 năm 1442, tức 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3. Cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh, vốn là một học trò nghèo, thi đỗ thái học sinh (tức Tiến sĩ) đời Trần. Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc. Nguyễn Trãi quê ở làng Ngái (Chi Ngại) huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Từ nhỏ, Nguyễn Trãi đã tỏ ra thông minh hơn người. Năm 1400, ông đi thi lần đầu, đỗ ngay Thái học sinh. Sau đó, ông được bổ làm quan Ngự sử đài chánh chưởng. Khoảng cuối năm 1401 đầu 1402, cha ông cũng ra nhận chức quan Học sĩ Viện hàn lâm, sau thăng đến Tư nghiệp Quốc tử giám của triều Hồ. Năm 1407, giặc Minh xâm lược Đại Việt, cha con Hồ Quý Li và các triều thần bị bắt đem về Trung Quốc, trong đó có Nguyễn Phi Khanh. Nguyễn Trãi muốn giữ tròn đạo hiếu, cùng em trai là Nguyễn Phi Hùng theo theo xe tù của cha. Đến ải Nam Quan, Nguyễn Phi Khanh khuyên Nguyễn Trãi quay trở về tìm cách “rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, thì mới là đại hiếu”. Nguyễn Trãi nghe lời cha quay trở về, nhưng vừa đến Đông Quan thì bị giặc Minh bắt giam. Trong thời gian bị giam ở Đông Quan, Nguyễn Trãi đã suy nghĩ về con đường cứu nước phục thù. Trốn khỏi Đông Quan, Nguyễn Trãi tìm theo Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách (tức Kế sách đánh đuổi quân Minh) và được Lê Lợi tin dùng và trở thành quân sư số một của lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn. Ông cùng Lê Lợi bàn mưu tính kế, giúp Lê Lợi soạn các loại văn thư, chiếu lệnh, góp công lớn vào sự nghiệp giải phóng đất nước. Đuổi xong giặc nước, một năm sau (1429), Lê Lợi nghi ngờ Trần Nguyên Hãn mưu phản, truy bức, khiến vị danh tướng này phải nhảy xuống sông tự vẫn. Vì Trần Nguyên Hãn là cháu nội quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi cũng bị bắt, sau lại được tha nhưng không được tin dùng nữa. Nguyễn Trãi xin cáo quan về Côn Sơn, mấy tháng sau vua Lê Thái Tông lại vời ông trở lại triều làm việc nước. Đang hi vọng vào một cơ hội mới được cống hiến cho đất nước thì chỉ ba năm sau; khi vua Lê Thái Tông đi tuần thú duyệt võ ở Chí Linh về ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, lúc ra về đến Lệ Chi Viên (Trại Vải), huyện Gia Bình, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, nửa đêm đột ngột qua đời; ông cùng vợ là Nguyễn Thị Lộ bị vu cho mưu giết vua. Nguyễn Trãi phải nhận án tru di tam tộc (bị giết cả ba họ). Năm 1464, Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi. Năm 1980, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Nguyễn Trãi là danh nhân văn hoá thế giới. Gợi ý: Với tài năng lỗi lạc, Nguyễn Trãi đã để lại cho nước nhà một di sản to lớn về các mặt quân sự, văn hoá và văn học. Các tác phẩm về quân sự, chính trị, Nguyễn Trãi có Quân trung từ mệnh tập và Đại cáo bình Ngô – một áng “thiên cổ hùng văn”, là những tác phẩm tiêu biểu. Về thơ ca, ông có Ức Trai thi tập – tập thơ chữ Hán và Quốc âm thi tập – tập thơ Nôm đánh dấu sự hình thành nền thơ ca tiếng Việt. Ngoài ra ông còn có các tác phẩm về lịch sử như Lam Sơn thực lục, Văn bia Vĩnh Lăng và tác phẩm Dư địa chí – một tác phẩm có giá trị cả về địa lí, lịch sử và dân tộc học. Trong văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận kiệt xuất. Với Quân trung từ mệnh tập và Đại cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi đã thể hiện nổi bật tư tưởng nhân nghĩa mà thực chất là tư tưởng yêu nước, thương dân. Văn chính luận của Nguyễn Trãi đạt đến trình độ nghệ thuật mẫu mực. 3. Tư tưởng yêu nước, thương dân, triết lí thế sự và tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi được biểu hiện như thế nào? Gợi ý: Với tư cách là nhà thơ trữ tình tiêu biểu của thơ ca trung đại Việt Nam, thơ Nguyễn Trãi thể hiện triết lí thế sự sâu sắc, chan chứa tình yêu thiên nhiên và con người. Hai tập thơ Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập cho thấy Nguyễn Trãi vừa là một người anh hùng vĩ đại vừa là con người trần thế. Hình tượng người anh hùng sáng lên vẻ đẹp hoà quyện giữa lí tưởng nhân nghĩa với yêu nước thương dân, vẻ đẹp ngay thẳng cứng cỏi, thanh tao của bậc quân tử. Hình tượng con người trần tục hiện ra khi Nguyễn Trãi đau nỗi đau của con người, yêu tình yêu của con người. Ông đau trước nghịch cảnh xã hội éo le, thói đời đen bạc. Nỗi đau ấy còn như một hệ quả tất yếu của một tấm lòng luôn trăn trở, khao khát sự hoàn thiện của con người và ước mơ thái bình, yên ấm, thịnh trị cho xã hội. 4. Ngyễn Trãi là người đặt nền móng cho thơ ca tiếng Việt. Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là tập thơ Nôm còn lại có thời gian ra đời sớm nhất, với số lượng bài lớn nhất, hay nhất. Có thể nói, đến Nguyễn Trãi, với Quốc âm thi tập, thơ Nôm đã thành thục và văn học chữ Nôm từ đây có vị trí như là một thành phần cấu thành nên nền văn học Việt Nam. Nguyễn Trãi cũng là người đã sớm đưa tục ngữ vào tác phẩm, sử dụng từ láy độc đáo; lại cũng là người đã sáng tạo ra hình thức thơ thất ngôn xen lục ngôn thể hiện tinh thần phá cách độc đáo, mạnh mẽ.
Soạn bài lớp 10_ Nguyễn Trãi
1,390
Soạn bài lớp 10: Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa Hướng dẫn Soạn bài: Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa Soạn bài lớp 10: Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa được trích từ Phạm Tải – Ngọc Hoa là một tác phẩm thuộc loại truyện Nôm bình dân được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Tác giả Nguyễn Du Soạn bài lớp 10: Chí khí anh hùng NGỌC HOA ĐỐI MẶT VỚI BẠO CHÚA (Trích Phạm Tải – Ngọc Hoa) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa trích từ Phạm Tải – Ngọc Hoa, một tác phẩm thuộc thể loại truyện Nôm bình dân. Truyện gồm 928 câu thơ, chủ yếu là những câu lục bát, thỉnh thoảng có những đoạn trữ tình xen vào là những câu song thất lục bát. 2. Qua những lời lẽ đối đáp khôn ngoan, khéo léo của Ngọc Hoa đối với Trang Vương, đoạn trích Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa ca ngợi tinh thần đấu tranh đến cùng của Ngọc Hoa đối với tên bạo chúa để bảo vệ đạo vợ chồng. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu khái quát về nội dung tác phẩm Phạm Tải – Ngọc Hoa Gợi ý: Ngọc Hoa quê ở Thanh Hà, con một viên quan họ Trần, gia đình giàu có. Khi gặp Phạm Tải, người Sơn Tây, mồ côi cha mẹ, phải đi ăn xin để tiếp tục việc học, Ngọc Hoa đem lòng thương yêu rồi nên duyên vợ chồng. Trong làng có một người tên là Biện Điền, trước đó đã ngỏ lời yêu thương nhưng Ngọc Hoa không đồng ý, nay thấy nàng lấy chồng thì sinh lòng thù ghét, nghĩ cách trả thù. Biết Trang Vương hiếu sắc, Biện Điền đã tạc tượng Ngọc Hoa đem dâng Trang Vương. Quả nhiên, Trang Vương mê mệt vì nhan sắc của Ngọc Hoa, cho quan quân về bắt nàng. Mặc dù bị ép buộc phải lấy hắn nhưng ngay giữa triều đình nàng đã dũng cảm cự tuyệt. Trang Vương đổi chiến thuật, thương lượng với Phạm Tải nhường vợ cho hắn nhưng Ngọc Hoa kiên quyết chối từ. Hèn hạ, hắn đã đầu độc Phạm Tải. Sau khi Phạm Tải chết, Trang Vương lại bức bách Ngọc Hoa. Nàng cầm dao rạch mặt, cắt tóc, mặc tang phục vào triều. Nàng viện cớ chồng chết phải để tang ba năm và nói chỉ khi đoạn tang mới trở lại. Trang Vương đành phải ưng thuận. Đoạn trích Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa trích từ câu 403 đến câu 474 kể về cuộc đối mặt giữa Ngọc Hoa, Phạm Tải với Trang Vương tại triều đình. 2. Có thể hình dung đoạn trích như một đoạn kịch được không? Gợi ý: Có thể hình dung đoạn trích như một vở kịch với các yếu tố: Nhân vật: Ngọc Hoa, Phạm Tải, Trang Vương. Địa điểm: tại triều đình. Lời thoại mang kịch tính cao: Vợ chồng Ngọc Hoa bảo vệ lẽ phải, đó là tình nghĩa vợ chồng; Trang Vương đòi hỏi, thuyết phục và ép buộc Ngọc Hoa nhưng không đạt được nguyện vọng. 3. Đoạn trích cho thấy trí tưởng tượng hồn nhiên của tác giả bình dân, hãy chứng minh. Gợi ý: Sự tưởng tượng về diễn biến câu chuyện: Trang Vương ép buộc vợ chồng Ngọc Hoa vào cung, dụ dỗ Ngọc Hoa không được, lại thương lượng với Phạm Tải, rồi lại dùng uy quyền ép buộc hai vợ chồng nàng, nhưng cũng không thắng nổi trí tuệ người bình dân. Cả hai vợ chồng Ngọc Hoa đều đối đáp rất khéo Tưởng tượng ra ngôn ngữ, cử chỉ và hành động của nhân vật: lời lẽ của Ngọc Hoa, Phạm Tải, Trang Vương,… Gợi ý: Ngọc Hoa – một phụ nữ chung thuỷ, kiên trinh bảo vệ hạnh phúc của mình Ngọc Hoa nói rằng mình là gái đã có chồng, vâng mệnh triều đình, ý vua là ý của thiên tử (con trời) nên phải đến triều đình: Tôi là con gái có chồng, ………………………………………. Hiếm gì thiếu nữ trâm anh, Mà vua lại phải ép tình tôi chi? Lí lẽ của nàng rất đanh thép và cách xử sự của nàng vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo. Quả thật, nàng chất vấn Trang Vương rằng mình là phụ nữ đã có chồng, sao Trang Vương lại đòi nàng phải đến đây, trong khi xã hội không thiếu những người con gái đẹp chưa chồng. Sau khi Phạm Tải bị Trang Vương ép bằng cách thương lượng với chàng nhường vợ cho hắn, Ngọc Hoa lại kiên quyết chối từ. Lúc này, lí lẽ của nàng cũng không kém phần đanh thép. Nàng quỳ gối, tâu trình đúng phép tắc của một bề tôi trước bệ hạ: Nghe vua nói hết khúc nhôi ……………………………………………….. Thời tôi tự vẫn khỏi lòng bội phu Nàng quyết tâm bảo vệ hạnh phúc của mình, khẳng định lại lễ giáo phong kiến, nữ nhi an phận chữ tòng, đã lấy chồng là chung thuỷ với chồng, không thể phản bội. Nàng còn khẳng định “Mặt trời lặn quả bóng trăng khôn vì”: Vua tuy rạng rỡ như mặt trời nhưng là mặt trời đã lặn, không thể sánh với Phạm Tải dù chàng chỉ sáng như bóng trăng nhưng là bóng trăng đang lên. Quả thật chỉ những người có đức hạnh và có lòng dũng cảm thì mới dám nói thẳng, nói thật, mới dám bảo vệ hạnh phúc của mình ngay tại triều đình, trước mặt vua như thế. 5. Phân tích tính cách nhân vật Phạm Tải Gợi ý: Trang Vương hứa chia cho Phạm Tải nửa số cung tần mĩ nữ, lại cho đủ tước quyền để Phạm Tải nhường Ngọc Hoa cho hắn, Phạm Tải đã từ chối lời mặc cả đó. Chàng nói: Lộc trời tước nước vua cho thẹn thùng. Gà rừng dù muốn làm công Sợ khi nhảy múa rụng lông tức thì. Cách nói của Phạm Tải rất khôn khéo, chàng dùng hình ảnh ẩn dụ để so sánh mình như con gà rừng, đã là gà không thể hoá thành công, do đó, không thể nhận những gì vua ban. Điều đó chứng tỏ Phạm Tải không phải là người ham hố danh lợi, không màng phú quý vinh hoa. Nói khác đi, vì hạnh phúc, vì tình vợ chồng, chàng sẵn sàng làm một thường dân chứ không vì lợi lộc mà phụ tình Ngọc Hoa. Đặt trong xã hội phong kiến, thái độ ấy, tình cảm ấy là rất đáng trân trọng. 6. Trong đoạn trích, tính cách nhân vật Trang Vương được thể hiện như thế nào? Gợi ý: Lúc đầu, Trang Vương còn tỏ ra lịch sự, khéo léo rằng trước Ngọc Hoa còn ở xa, nay đã gần, muốn kết duyên với Ngọc Hoa, coi nàng như tiên vào đến chốn triều đình và hai người kết duyên sẽ hiển vinh đời đời: “Xưa còn đông liễu, tây đào Nay mừng tiên đã lọt vào Bồng Lai Đôi ta đã hợp duyên hài Trăm năm tơ tóc muôn đời hiển vinh”. Sau khi bị Ngọc Hoa từ chối, Trang Vương đã dùng quyền hành để đòi Phạm Tải vào và ép chàng thương lượng, cho của cải, chức tước, cho sự bình yên,… ra vẻ cho Phạm Tải, nhưng thực chất là dùng uy quyền ép buộc vợ chồng Phạm Tải. Lời lẽ của Trang Vương rất trịch thượng: “Ta là thánh đế nước này Nhẽ đâu ta bắt vợ mày là dân” và lời nói với Ngọc Hoa cũng vậy: “Ta nay quyền cả, ngôi cao Vì nàng một chút, tổn hao muôn nhời” Cách khắc hoạ nhân vật của tác giả dân gian thật tài tình, không dùng nhiều lời mà nhân vật đã lộ rõ chân tướng.
Soạn bài lớp 10_ Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa
1,306
Soạn bài lớp 10: Nhàn Hướng dẫn Soạn bài: Nhàn Soạn bài lớp 10: Nhàn do Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về nhân vật trữ tình này xuất hiện trong lời thơ với những chi tiết về cách sống, cách sinh hoạt và quan niệm sống: tự cuốc đất trồng cây, đào củ, câu cá; chọn nơi vắng vẻ, không thích nơi ồn ã; ăn uống, tắm táp thoải mái, tự nhiên giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Cảnh ngày hè Giáo án bài Nhàn Ngữ Văn 10 Soạn bài lớp 10: Tóm tắt văn bản tự sự Văn mẫu lớp 10: Triết lí nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ “Nhàn” Trắc nghiệm Ngữ văn lớp 10: Bài – Nhàn NHÀN NGUYỄN BỈNH KHIÊM I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương (nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng), từng thi đỗ trạng nguyên. Làm quan được tám năm, ông dâng sớ xin chém mười tám kẻ lộng thần nhưng không được chấp nhận. Sau đó ông xin về trí sĩ ở quê nhà, tự đặt tên hiệu là Bạch Vân cư sĩ, dựng am Bạch Vân, lập quán Trung Tân, mở trường dạy học. Tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm gồm có tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập, tập thơ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi, tập sấm kí Trình Quốc công sấm kí,… 2. Bao trùm trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm từ khi về trí sĩ ở quê nhà là cảm hứng thanh nhàn, tự tại, gắn bó với tự nhiên, không tơ tưởng bon chen phú quý. Cảm hứng ấy được thể hiện bằng ngôn từ giản dị, tự nhiên mà cô đọng, giàu ý vị. Bài thơ Nhàn trích ở tập thơ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi tập là một trường hợp tiêu biểu. 3. Với lời thơ tự nhiên, giản dị mà giàu ý vị, bài thơ Nhàn thể hiện được một cách sâu sắc cái thú và ý nghĩa triết lí trong lối sống nhàn dật mà tác giả đã lựa chọn. Đó là quan niệm sống nhàn là hoà hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh người trí sĩ ẩn cư nhàn dật. Nhân vật trữ tình này xuất hiện trong lời thơ với những chi tiết về cách sống, cách sinh hoạt và quan niệm sống: tự cuốc đất trồng cây, đào củ, câu cá; chọn nơi vắng vẻ, không thích nơi ồn ã; ăn uống, tắm táp thoải mái, tự nhiên; coi phú quý tựa giấc mộng. 2. Âm hưởng hai câu thơ đầu đã gợi ra ngay cái vẻ thung dung. Nhịp thơ 2/2/3 cộng với việc dùng các số từ tính đếm (một…, một…, một…) trước các danh từ mai, cuốc, cần câu cho thấy cái chủ động, sẵn sàng của cụ Trạng đối với cuộc sống điền dã, và còn như là chút ngông ngạo trước thói đời. 4. Sự đối lập giữa “Ta dại” và “Người khôn” trong câu 3 – 4 mang nhiều hàm ý: vừa để khẳng định sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả, vừa thể hiện sắc thái trào lộng, thái độ mỉa mai đối với cách sống ham hố danh vọng, phú quý. Theo đó, cái dại của “ta” là cái “ngu dại” của bậc đại trí, với trí tuệ lớn, thấu triệt lẽ thịnh suy, vong tồn của cuộc đời, sống thanh thản, nhàn dật, thuận lẽ tự nhiên. Cho nên, nơi “ta” chọn là “nơi vắng vẻ”, nghĩa là nơi có thể tĩnh tại, sống an nhàn, không có tranh giành “tư lợi” theo sở thích của “ta”. Còn “người khôn” mà chọn “Đến chốn lao xao”, nghĩa là nơi ồn ã, ở đó con người chen chúc, xô đẩy nhau để giành giật lợi danh, thì lại hoá ra “dại” vậy “khôn” – “dại”, “nơi vắng vẻ” – “chốn lao xao” là những quan niệm sống, cách lựa chọn rất khác nhau. 5. Ở hai câu 5, 6, tác giả nói đến chuyện “ăn” và “tắm” một cách đầy thích thú. Theo vòng quay bốn mùa quanh năm, việc “ăn”, “tắm” của “ta” thuận theo tự nhiên, hoà hợp với tự nhiên; đạm bạc, thanh bần nhưng thú vị, thanh thản. 6. Triết lí nhân sinh Hai câu thơ cuối bài thể hiện tập trung, sâu sắc quan niệm triết lí nhân sinh của tác giả. Hai câu này lấy tích trong truyện đời Đường. Chuyện kể về Thuần Vu Phần là một viên tướng tài, tính tình phóng khoáng, do xúc phạm thống soái, bị quở mắng nên từ chức về nhà, lấy uống rượu làm vui. Một hôm, Vu Phần say rượu ngủ bên gốc cây hoè, mơ thấy mình được làm phò mã cho vua nước Hoè, được hưởng giàu sang phú quý, tỉnh dậy mới biết đó chỉ là giấc mơ. Tác giả mượn điển tích này để bộc lộ thái độ xem thường phú quý, coi chốn quyền danh phú quý chỉ là giấc chiêm bao, không có thực, qua đó khẳng định thêm một lần nữa sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của riêng mình. Lánh đời ẩn dật, cách ứng xử đó của tác giả có vẻ tiêu cực. Nhưng trong hoàn cảnh nào đó, khi muốn giữ gìn nhân cách, sự thanh thản, tĩnh tại cho mình, đó lại là cách ứng xử tích cực. 7. Có thể tham khảo nhận định dưới đây để mở rộng tìm hiểu vẻ đẹp thanh cao của triết lí nhàn dật trong lí tưởng sống của người xưa: “Ông nhàn là người sống với tư cách là một cá nhân, chứ không phải với tư cách thành viên của một cộng đồng nào đó, là một con người có lạc thú, chứ không phải chỉ có chức năng, nghĩa vụ. Sống dưới chế độ chuyên chế theo Nho giáo, con người bị trói buộc bởi hai sợi dây: nghĩa và phận. Phận vạch ranh giới cho từng người, quy định mức cho mỗi người được ngồi, đứng, nói năng, xưng hô, ăn, ở. Nghĩa nhắc nhở mọi người có trách nhiệm đối với người trên kẻ dưới,… Trong xã hội tổ chức như vậy, con người không được coi mình là cá nhân – độc lập, có cái riêng của mình, không được nghĩ đến lạc thú. Do đó tìm nhàn dật là tìm cái vui cho thân tâm, tránh cái lụy hình dịch, là tìm thoát khỏi sự ràng buộc chặt chẽ mà vô hình của thể chế chuyên chế theo Nho giáo,… Ông nhàn tự coi mình là cá nhân không bị ràng buộc. Nhưng một mặt không thể coi cá nhân là cô độc, coi cái “tôi” là trung tâm. Cho nên cố tránh ràng buộc bằng cách từ bỏ danh lợi, không đi con đường công danh, giành phận vị, coi thường giàu nghèo, sang hèn, đứng ngoài sự ràng buộc của phận. Để có chút thoải mái đó, ông nhàn phải chủ động tự hạn chế: không cậy tài, yên phận, không tranh giành và không động lòng về lời khen, tiếng chê.” (Trần Đình Hượu, trong Nguyễn Bỉnh Khiêm danh nhân văn hoá, Bộ Văn hoá thông tin và thể thao xuất bản, H, 1991) 8. Vẻ đẹp cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ “Nhàn” “Nhàn” là một chủ đề lớn trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhàn theo quan niệm của nhà thơ là sống thuận lợi theo lẽ tự nhiên, không màng danh lợi. Bài thơ này là lời tâm sự về cuộc sống và sở thích cá nhân. Nó cũng đồng thời thể hiện một quan niệm nhân sinh độc đáo của nhà thơ. Bài thơ mở đầu bằng những ngôn từ thật vô cùng giản dị: Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Đó là cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm, của cụ Trạng. Nó thuần hậu và thanh khiết biết bao. Câu thơ đưa ta trở về với cuộc sống chất phác nguyên sơ của cái thời “nước giếng đào, cơm cày ruộng”. Cuộc sống tự cung tự cấp mà vẫn ung dung ngông ngạo trước thói đời. Hai câu đầu còn là cái tâm thế nhàn tản, thong dong. Nhịp cầu thơ nghe như nhân vật trữ tình đang nhẹ nhàng đếm bước: một… một… một… Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Vẫn là những ngôn từ giản dị, vẫn là những hình ảnh nghệ thuật dân dã, đời thường, vậy mà hai câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm “sang trọng” biết bao. Nó chăng những không gợi ra vẻ gì khắc khổ mà còn toát lên toàn bộ vẻ thanh cao. Thanh cao trong cách ăn uống sinh hoạt và cả trong cái niềm thích thú khi được hòa mình vào cuộc sống thiên nhiên. Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm là thế, rất giản dị, rất tự nhiên mà vẫn thanh cao và thú vị vô cùng. Nếu chỉ đọc bốn câu thơ miêu tả về cuộc sống, chúng ta có thể nghĩ ngay đến hình ảnh một bậc danh nho đang muốn lánh đời. Thế nhưng trở về với hai câu thực, chúng ta sẽ hiểu hơn cái quan niệm “lánh đời” của nhà thơ: Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người đến chốn lao xao. Vậy ra, Tuyết Giang phu tử về với thiên nhiên là để thoát ra khỏi vòng danh lợi, thoát ra khỏi chốn nhiễu nhương đầy những ganh tị, bon chen. Hai câu thơ diễn ý bằng nói ngược. Vì thế nó tạo cho người đọc một liên tưởng thật hóm hỉnh, sâu cay. Câu thơ đúng là trí tuệ sắc sảo của một bậc đại quan – trí tuệ để nhận ra cái khôn và cái dại thật sự ở đời. Hai câu thơ kết khép lại bằng một phong thái ung dung tự tại: Rượu đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Hai câu thơ chẳng biết đang vẽ cảnh đời hay tiên cảnh. Ở đó nhân vật trữ tình cũng không biết đang tình hay mơ. Tất cả cứ hòa cùng làm một dưới cái nhãn quan tỏ tường và thông tuệ của nhà thơ. ——————————- Trên đây đã giới thiệu tới các em học sinh bài: Soạn bài lớp 10: Nhàn, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 10. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài phân tích bài thơ Nhàn và đọc lại bài thơ Nhàn mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Soạn bài lớp 10_ Nhàn
1,816
Soạn bài lớp 10: Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt Hướng dẫn Soạn bài: Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt Soạn bài lớp 10: Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp các bạn hiểu rõ những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt để học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam Soạn bài lớp 10: Luyện tập trình bày một vấn đề I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tính chính xác và tính nghệ thuật là hai tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá một văn bản về mặt sử dụng ngôn ngữ. 2. Về mặt ngữ âm, chữ viết; khi nói, phải phát âm theo ngữ âm tiếng Việt; khi viết, phải viết đúng chính tả. Hơn nữa, khi nói hay đọc lên, lời văn phải có được âm thanh uyển chuyển, hài hoà. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Phân tích sự hoà phối ngữ âm trong đoạn văn sau: Không, không, sự sống mới đang chói lọi. Đầu óc chúng ta đã nóng rực, xôn xao, ầm ầm trăm ngàn tiếng nói, hình ảnh muốn bay ra ngoài. Chúng ta cứ mạnh bạo sáng tác. Những phút ngượng ngập sẽ qua đi rất chóng. (Nguyễn Đình Thi – Nhận đường) Sự luân phiên bằng – trắc; Các âm tiết ở cuối các cụm từ và cuối các câu: sự sống mới đang chói lọi; nóng rực, xôn xao, ầm ầm trăm ngàn tiếng nói;… 2. Phân tích sự giống và khác nhau về nhịp, tiết tấu và vần của hai đoạn trích sau: (1) Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn Đi vay, đi tạm được tám quan hai Xuống dưới chợ Mai Mua một cái đó. (2) Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn Đi vay đi tạm được một quan tiền Ra chợ Kẻ Diên Mua một vác tre. (Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn,…) Gợi ý: Giống nhau: nhịp, tiết tấu; Khác nhau: vần (hai – Mai, tiền – Diên); thanh ở hai tiếng cuối (đó / tre) 3. Lấy một đoạn văn trong bài viết số 7 của anh (chị) để: Tự đánh giá về chính tả; Tự nhận xét về sự hoà phối âm thanh.
Soạn bài lớp 10_ Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt
396
Soạn bài lớp 10: Nỗi oan của người phòng khuê Hướng dẫn Ngữ văn lớp 10: Nỗi oan của người phòng khuê VnDoc mời bạn đọc tham khảo tài liệu Soạn bài lớp 10: Nỗi oan của người phòng khuê, hy vọng qua bộ tài liệu các bạn học sinh sẽ nắm chắc nội dung bài học một cách đơn giản hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Soạn văn 10: Nỗi oan của người phòng khuê Câu 1: Bài thơ Khuê oán có cấu tứ độc đáo. Vương Xương Linh cấu tứ theo mạch cảm nghĩ của người khuê phụ. Tâm trạng ấy từ “bất tri sầu” (vô tư) sang “hối” (hối tiếc và hối hận). Thực ra khuê phụ đã thay đổi nhận thức. Nhìn mình, khuê phụ thấy tuổi trẻ đang bị “trôi” đi. Còn nhìn về phía chinh phu thì mọi thứ mịt mù thăm thẳm. Hoàn cảnh ấy quả thực không thể không khiến cho người thiếu phụ sầu hận, xót thương. Câu 2: Màu dương liễu vừa là màu của mùa xuân, của tuổi trẻ, vừa là “màu li biệt”, vì thế khi nhìn thấy “màu dương liễu” tâm trạng người khuê phụ lập tức đổi thay ngay: từ vô tư, nàng bắt đầu hối hận vì để chàng đi tìm kiếm tước hầu; từ hối hận, nàng chuyển sang oán thán cái ấn phong hầu, oán ghét chiến tranh phi nghĩa. Khuê phụ giờ mới hiểu hết giá trị của chia li và sự phi lí của chiến tranh. Câu 3: Với chỉ 28 chữ, Khuê oán xứng đáng được coi là bài thơ tiêu biểu cho tinh thần phản đối chiến tranh phi nghĩa của con người thời Đường. Đọc Khuê Oán ta không thấy nói đến chiến tranh nhưng ta lại có thể cảm nhận thấy rất rõ chiến tranh, chiến tranh đang “ăn mòn” cuộc sống con người. Nó không những chôn vùi tuổi trẻ của cả những người đang đứng trước hòn tên mũi đạn mà còn chôn vùi cả những người vợ, người mẹ,… đang mong ngóng nơi quê hương, xứ xở. Không chỉ thế, chiến tranh còn làm mất đi sự lạc quan yêu đời và niềm tin yêu phơi phới vào cuộc sống,… Với những điều như thế thì đúng là dù không trực tiếp nói ra nhưng bài thơ vẫn sục sôi tinh thần phản đối chiến tranh. ——————————————— Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Soạn bài lớp 10: Nỗi oan của người phòng khuê. Để có kết quả cao hơn trong học tập, VnDoc xin giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu Soạn bài lớp 10, Hóa học lớp 10, Thi thpt Quốc gia môn Văn, Thi thpt Quốc gia môn Lịch sử, Thi thpt Quốc gia môn Địa lý, Thi thpt Quốc gia môn Toán, đề thi học kì 1 lớp 11, đề thi học kì 2 lớp 11 mà VnDoc tổng hợp và đăng tải.
Soạn bài lớp 10_ Nỗi oan của người phòng khuê
491
Soạn bài lớp 10: Nỗi sầu oán của người cung nữ Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Nỗi sầu oán của người cung nữ Soạn bài lớp 10: Nỗi sầu oán của người cung nữ được trích trong Cung oán ngâm do Nguyễn Gia Thiều sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Đề văn nghị luận Soạn bài lớp 10: Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ NỖI SẦU OÁN CỦA NGƯỜI CUNG NỮ (Trích Cung oán ngâm) NGUYỄN GIA THIỀU A – TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ 1. Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798), hiệu là Ôn Như, làm quan được phong tước hầu, nên còn gọi là Ôn Như Hầu, quê ở làng Liễu Ngạn, huyện Siêu Loại, xứ Kinh Bắc, (nay là thôn Liễu Ngạn, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Từ nhỏ Nguyễn Gia Thiều đã được cậu ruột là chúa Trịnh Doanh đón vào cung để ăn học, đến khi trưởng thành lại từng giữ nhiều chức quan ở phủ chúa; cho nên, ông có điều kiện hiểu rõ thói hoang dâm vô độ của vua chúa, cùng cảnh sống bi thảm của biết bao cung nữ. 2. Nguyễn Gia Thiều là một tài năng đa dạng. Ông nổi tiếng là người thông minh học rộng, văn võ toàn tài. Theo các tài liệu cũ để lại, ngoài hiểu biết sâu rộng về văn học, sử học, triết học, đặc biệt Nguyễn Gia Thiều còn là một người tinh thông nhiều bộ môn nghệ thuật. Về sáng tác văn học, Nguyễn Gia Thiều có hai tập thơ chữ Hán: Ôn như thi tập (tiền, hậu tập), nay chưa tìm thấy. Sáng tác bằng chữ Nôm có Tây Hồ thi tập và Tứ Trai tập, cũng bị thất lạc, nay chỉ còn Cung oán ngâm. 3. Cung oán ngâm là bài ca ai oán của người cung nữ có tài sắc, được vua yêu chuộng, nhưng chẳng bao lâu bị ruồng bỏ. Ở trong cung, nàng xót thương cho thân phận của mình và oán trách nhà vua phụ bạc. Qua khúc ngâm, tác giả còn gửi gắm quan niệm của mình về cuộc đời bạc bẽo, phù du. Cả khúc ngâm dài 356 câu song thất lục bát, thể hiện một ngôn ngữ tài hoa đài các, nhiều chữ Hán và điển cố. B– KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tìm hiểu bố cục đoạn trích Gợi ý: Có thể chia đoạn trích thành 2 đoạn. Đoạn 1 (bốn khổ thơ đầu): Cuộc sống tồi tàn của cung nữ đối lập với cảnh xa hoa tráng lệ ở nơi cung cấm. Đoạn 2 (năm khổ thơ cuối): Cung nữ thất vọng nặng nề trong cảnh ngày ngóng đêm trông. 2. Nhận xét về nghệ thuật miêu tả không gian và thời gian Gợi ý: Cách miêu tả rất khéo léo, không gian nơi cung cấm, thời gian ban đêm phù hợp với việc đặc tả tâm trạng của cung nữ đang cô đơn sầu tủi và oán hờn. Không gian cụ thể được nhắc tới ở đây là “lầu đãi nguyệt”, “gác thừa lương”, “phòng tiêu”,… nơi cung nữ đứng ngồi không yên, bồn chồn ra vào trông ngóng. Mong ngày, mong đêm, hi vọng rồi lại thất vọng. Những chuỗi ngày nặng nề đó khiến cung nữ mỏi mòn, đau khổ. 3. Cách dùng hình ảnh so sánh trong đoạn trích có gì đặc sắc? Gợi ý: Cung nữ so sánh mình như bông hoa đẹp nỡ bị vua lãng quên, nghe sao mà chua xót: Hoa này bướm nỡ thờ ơ, Để gầy bông thắm, để xơ nhuỵ vàng! Cung nữ còn so sánh cuộc sống bị quên lãng đó chẳng khác nào bị vua giết dần, giết mòn, dẫu không phải giết bằng gươm sắc nhưng “cái u sầu” ấy có độc tố còn khủng khiếp hơn gươm sắc: Giết nhau chẳng cái lưu cầu, Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa! Hình ảnh thơ là sự lên tiếng của nỗi uất hận, sầu oán của cung nữ đối với chế độ cung tần mĩ nữ độc ác đương thời. Quả là, cung cấm đã là mồ chôn biết bao nhan sắc vô tội. Nỗi oán sầu lên đến đỉnh điểm thì cung nữ muốn bứt phá: Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra! 4. Phân tích nghệ thuật sử dụng từ ngữ để thể hiện tâm trạng nhân vật Gợi ý: Tác giả đã lựa chọn được những ngôn từ rất đắt trong việc biểu đạt tâm trạng cung nữ, khi thì dùng từ Hán Việt, khi dùng điển tích, lúc dùng ngôn ngữ bình dân. Tất cả đều có chọn lọc, giàu sức biểu cảm và đạt hiệu quả nghệ thuật cao. Những từ ngữ có sức gợi cảm mạnh mẽ: “Chơi hoa cho rữa nhuỵ dần lại thôi”, “Gương loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi”, “Để gầy bông thắm, để xơ nhuỵ vàng”, “Giết nhau chẳng cái lưu cầu, – Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!”. Những từ Hán Việt thường được đặt cạnh những từ nôm na, với dụng ý làm nổi bật sự đối lập giữa cuộc sống tồi tàn, lạnh lẽo với cảnh xa hoa tráng lệ ở nơi cung cấm: Trong cung quế âm thầm chiếc bóng, Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ, Gác thừa lương thức ngủ thu phong. Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng... 5. Chỉ ra diễn biến tâm trạng cung nữ trong đoạn trích Gợi ý: Cung nữ bị vua bỏ rơi, sống trong cảnh tồi tệ khác xa cuộc sống xa hoa nơi vua ở (4 khổ đầu). Tiếp đó là cảnh đày ải kéo dài với những thất vọng nặng nề mà cung nữ phải gánh chịu mỗi ngày, mỗi đêm (5 khổ tiếp). Nỗi thất vọng của người cung nữ có lúc được đẩy lên đến đỉnh điểm, bộc lộ thành nỗi buồn u ám, nặng nề, tăm tối đè nặng đến nghẹt thở: Lạnh lùng thay giấc cô miên, Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u. Có khi lại thành ra nỗi nỗi buồn thương đến quằn quại, tức tối: Hoa này bướm nỡ thờ ơ, Để gầy bông thắm, để xơ nhuỵ vàng. Có khi mạnh mẽ thể hiện ý muốn bứt phá để thoát ra khỏi cảnh bị giam hãm: Đang tay muốn dứt tơ hồng, Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra! 6. Thân phận bi thảm của người cung nữ được phản ánh như thế nào? Bị bỏ rơi, người cung nữ hết ngày lại đêm đứng tủi ngồi sầu, khắc khoải ngóng trông trong vô vọng. Trong tình cảnh ấy, người cung nữ ý thức rất rõ về thân phận mình và kẻ đã gây tai hoạ khủng khiếp cho đời mình. Một con người đã bị giết chết không phải bằng gươm sắc mà bằng cách kéo dài cuộc sống đày ải trong cảnh chăn đơn gối chiếc, cửa mốc sân rêu. 7. So sánh tâm trạng chinh phụ trong Chinh phụ ngâm với tâm trạng của cung nữ ở đoạn trích Nỗi sầu oán của người cung nữ. Gợi ý: Cả hai nhân vật trữ tình này đều sống trong nhớ nhung, sầu muộn, đều đau đáu đợi chờ trong cô đơn và buồn tủi nhưng tâm trạng họ vẫn có điểm khác nhau. Người chinh phụ tuy lẻ loi, buồn nhớ cùng cực mà vẫn nhẫn nhục, cam chịu; còn người cung nữ có ý thức xã hội rõ hơn, bộc lộ thái độ lên án, tố cáo mạnh mẽ, dữ dội hơn. Thực chất, điều đó có xuất phát từ sự khác nhau về tình cảnh: người cung nữ là người bị bỏ rơi, bị chà đạp, còn người chinh phụ chỉ là người vì hoàn cảnh mà xa chồng. 8. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII – XIX, do chiến tranh liên miên, chế độ phong kiến thối nát, nổi lên nhu cầu khẳng định quyền sống con người. Nhu cầu ấy biểu hiện ra bằng niềm ai oán trước số phận bất công, bất hạnh và cảm hứng thương thân. Đó là khuynh hướng nhân đạo thể hiện trong Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Truyện Kiều và nhiều sáng tác thuộc thể loại khác, như thơ của Hồ Xuân Hương,…
Soạn bài lớp 10_ Nỗi sầu oán của người cung nữ
1,378
Soạn bài lớp 10: Nỗi thương mình Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Nỗi thương mình Soạn bài lớp 10: Nỗi thương mình được trích trong tác phẩm Truyện Kiều do Nguyễn Du sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Trao duyên Soạn bài lớp 10: Khái quát lịch sử Tiếng Việt Phân tích đoạn thơ Nỗi thương mình của Nguyễn Du Giáo án bài Nỗi thương mình NỖI THƯƠNG MÌNH (Trích Truyện Kiều) NGUYỄN DU I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Xem mục Tìm hiểu về tác giả ở bài Đọc Tiểu Thanh kí. 2. Với nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đặc sắc trong diễn tả tâm lí nhân vật, đoạn trích Nỗi thương mình khẳng định về ý thức nhân phẩm của Thuý Kiều qua việc nàng thấy đau đớn, tủi nhục khi buộc phải dấn thân vào chốn lầu xanh ô nhục; từ đó cho thấy sự thấu hiểu, lòng thương của Nguyễn Du đối với những kiếp người bất hạnh. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Đoạn trích nằm ở phần hai của tác phẩm Truyện Kiều (“Gia biến và lưu lạc”, từ câu 1229 đến câu 1248), miêu tả tâm trạng Kiều trong cảnh sống ô nhục ở lầu xanh của mụ Tú Bà. Khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều bị Sở Khanh lừa rủ đi trốn, rồi bị Tú Bà bắt lại, đánh đập dã man và ép phải tiếp khách, ở chốn lầu xanh, Kiều đã cảm thấy đầy đủ nỗi đớn đau, tủi nhục của bản thân. 2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích Gợi ý: Có thể chia đoạn trích làm 2 đoạn nhỏ: Đoạn 1 (12 câu đầu): Cảnh sống ở lầu xanh và thái độ của Kiều. Đoạn 2 (còn lại): Cảnh sắc, công việc ở lầu xanh và thái độ gượng gạo của Kiều. Gợi ý: Nghệ thuật sử dụng từ ngữ sáng tạo: bướm lả ong lơi, lá gió cành chim, dày gió dạn sương, gió tựa hoa kề, bướm chán ong chường,… Sáng tạo kiểu cấu trúc đan xen ở đây vừa có tác dụng nhấn mạnh, vừa làm cho sự vật mơ hồ, không cụ thể, tô đậm cảm giác kéo dài, triền miên, lột tả cuộc sống chìm ngập trong tủi nhục của Kiều. 4. Nhận xét về nghệ thuật miêu tả thời gian Gợi ý: Đối sánh với cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, đây là thời gian ba năm Kiều sống ở nhà chứa. Nhưng ở Truyện Kiều, Nguyễn Du không cho biết thời gian cụ thể là bao lâu mà chỉ nói khái quát: biết bao, đầy tháng, suốt đêm, sớm, tối, khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, khi sao, giờ sao, đòi phen,… Cách biểu hiện này tạo một cảm giác thời gian dài dằng dặc, triền miên, không dứt qua đó diễn tả thái độ thờ ơ, chán chường, lãnh đạm của Kiều. 5. Nghệ thuật sử dụng hình thức lời kể nửa trực tiếp trong đoạn trích đã đạt được hiệu quả như thế nào? Gợi ý: Lời kể là của nhà văn, nhưng từ ngữ, ý thức là của nhân vật. Từ câu 5 đến câu 20, chủ thể của lời kể xưng là “mình”. Đây rõ ràng là lời xưng của nhân vật. Các câu từ 5 đến 10 vừa là câu kể, câu than pha câu hỏi, nghe như chính lời từ trong ý thức nhân vật vang lên. Kiểu diễn đạt này góp phần tạo hiệu quả biểu hiện trực tiếp tâm tư nhân vật. Người kể từ điểm nhìn nhân vật mà trần thuật, nhìn bằng cảm giác, tình cảm của nhân vật. Với dạng lời này, dòng độc thoại nội tâm nhân vật được đan cài linh hoạt trong lời kể của người kể chuyện, nó hiện diện một cách thực thể trong lời kể. 7. Phân tích tâm trạng Thuý Kiều qua sáu câu thơ đầu đoạn trích Gợi ý: Bốn câu đầu miêu tả cảnh sống ở lầu xanh. Đây là nơi xuất hiện của những con người không đứng đắn, cuộc sống ở đây được gọi là suồng sã, trăng gió. Tác giả không trực tiếp miêu tả về nó mà dùng nhiều hình ảnh ẩn dụ. Chính những hình ảnh đó giúp người đọc hình dung về cuộc sống tạm bợ nơi đây và sự chán chường của Kiều khi buộc phải ở nơi này. Hai câu 5, 6 nói thật sâu sắc về tâm trạng Kiều: “Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh” ấy là khi Kiều đối diện với tâm trạng thật của bản thân mình, cảm nhận đầy đủ nỗi ê chề nhục nhã mà một người con gái khuê các phải chịu đựng. 8. Trong các câu thơ sau, tâm trạng của Thuý Kiều được thể hiện như thế nào? Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường. Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân! Gợi ý: Đoạn thơ là sự đối lập như nước với lửa giữa hai khung cảnh cuộc sống: khi còn ở nhà và khi sa cơ lỡ vận. Kiều xót xa, thương tiếc cho bản thân mình, nàng tự ví mình như bông hoa đẹp bị dập vùi tơi tả trong giông bão, khác hẳn cuộc sống sang trọng quý phái trước đây. Đó không chỉ đơn thuần là nỗi đau cho hiện tại mà còn là nỗi đau thân phận: từ địa vị một người con gái khuê các bị đày ải xuống nỗi nhục của một kẻ tôi đòi. Càng thấm thía cảnh ngộ, Kiều càng dằn vặt bởi câu hỏi nhức nhối: sao bản thân mình giờ lại có thể “dày gió dạn sương” tức là chai sạn trước thái độ suồng sã của khách làng chơi ở chốn lầu xanh nhơ bẩn? Sao tấm thân vàng ngọc của mình lại phải sa vào chốn này? Những câu hỏi chua chát ấy vang lên như tiếng kêu đau đớn của nỗi nhục nhã ê chề mà lẽ ra Kiều không phải hứng chịu. Cảnh sắc ở lầu xanh: Những thú vui phong, hoa, tuyết, nguyệt đồng thời cũng tượng trưng cho bốn mùa xuân (hoa), hạ (phong), thu (nguyệt), đông (tuyết). Mỗi mùa có nét đẹp riêng của phong cảnh thiên nhiên. Nhưng, dẫu là cô gái có đời sống nội tâm phong phú, dẫu có yêu cảnh sắc thiên nhiên, Kiều cũng không có tâm trí nào mà hưởng vui thú, không thể ngắm cảnh đẹp. Nhà thơ thật tài tình khi kết luận từ tâm trạng của Kiều: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Vốn có tài năng về cầm, kì, thi, hoạ nhưng ở chốn lầu xanh, Kiều cũng chỉ cố gắng tỏ ra vui một cách gượng ép vì không thể tri âm cùng ai ở chốn này. Đã không có tri âm thì mọi thú vui đều trở thành vô nghĩa: Vui là vui gượng kẻo là Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Soạn bài lớp 10_ Nỗi thương mình
1,184
Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (Tiếp theo) Hướng dẫn Soạn bài: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (tiếp theo) Không những cần phải hiểu về đặc điểm chung của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật mà còn phải biết cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Bài soạn văn: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (Tiếp theo) sẽ giúp bạn biết cách sử dụng chúng một cách hợp lý. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Soạn bài lớp 10: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (Tiếp theo) I. Kiến thức cơ bản 1. Trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, các yếu tố ngữ âm được khai thác tối đa để xây dựng hình tượng; các hình thức khác nhau của chữ viết cũng được tận dụng để gia tăng giá trị biểu hiện của văn bản: Viết hoa, xuống dòng, các loại dấu câu, khoảng trống,… 2. Một mặt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng có chọn lọc những yếu tố của tất cả các lớp từ ngữ khác nhau để biểu hiện hình tượng; mặt khác (nhất là trong văn học cổ, văn học lãng mạn) phong cách ngôn ngữ này còn có lớp từ riêng, đó là lớp từ thi ca: Giang sơn, hải hà, thiên thu, lệ, nguyệt, chàng, nàng,… 3. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng rộng rãi mọi kiểu câu, đồng thời còn có cách vận dụng đặc thù các kiểu câu, tạo nên kiểu cú pháp thi ca. 5. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật hết sức coi trọng vẻ đẹp cân đối, hài hoà trong chiều sâu bố cục, trình bày của tác phẩm. II. Rèn luyện kỹ năng 1. Ở tất cả các phương diện (ngữ âm, chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp, tu từ, bố cục, trình bày), phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có đặc điểm gì nổi bật? – Gợi ý trả lời câu hỏi:Các phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ có chức năng biểu đạt thông thường. Gắn với đặc thù của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, các phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ này đều được sử dụng vào việc biểu hiện thẩm mĩ, truyền tải tư tưởng nghệ thuật của tác giả. Mọi khả năng biểu hiện của ngôn ngữ được tận dụng vào mục đích nghệ thuật, nhằm tạo ra hiệu quả tác động thẩm mĩ cao nhất. 2. Phân tích các trích dẫn để thấy được cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Tự bén hơi xuân tốt lại thêm, Đầy buồng lạ màu thâu đêm; Tình thư một bức phong còn kín, Gió nơi đâu gượng mở xem. (Nguyễn Trãi – Cây chuối) Cối xay tre, nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc. Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. (Quang Dũng, Tây Tiến) Gợi ý trả lời câu hỏi: Về ngữ âm: Chú ý hình thức tổ chức câu văn với dấu phảy ngắt nhịp đều đều, âm ay được điệp lại (xay, quay, nay) có tác dụng gợi tả vòng quay của chiếc cối xay lúa, hàm ý về sự tuần hoàn trì trệ, không biến đổi của xã hội nông nghiệp Việt Nam thủa trước. Sự cộng hưởng âm thanh ở đoạn thơ của Quang Dũng: Năm tiếng vần trắc trong câu đầu (Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm) và các tiếng vần bằng trong câu cuối (Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi) có tác dụng gợi tả, khắc hoạ địa thế hiểm trở của Tây Bắc cùng những cảm nhận của người lính Tây Tiến trên đường hành quân. Hiệp vần trong đoạn thơ của Nguyễn Trãi (thêm, đêm, xem) và đoạn thơ của Quang Dũng (trời, khơi). Về từ ngữ: Các từ bén, gượng,…trong bài thơ Cây chuối của Nguyễn Trãi gợi tả sức xuân và những cảm nhận tinh tế của tác giả; các từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút) được sử dụng rất có hiệu quả gợi tả hình ảnh và cảm xúc trong những câu thơ của Quang Dũng. Về biện pháp tu từ: Biện pháp ẩn dụ (tình thư), nhân hoá (gió gượng mở, súng ngửi trời),..
Soạn bài lớp 10_ Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (Tiếp theo)
732
Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn. Soạn văn 10 bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật này sẽ là tài liệu tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Thư dụ Vương Thông lần nữa Soạn bài lớp 10: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT I – KIẾN THỨC CƠ BẢN Là loại phong cách ngôn ngữ dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực văn chương, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật khác với các phong cách ngôn ngữ khác ở những điểm cơ bản sau: 1. Tính thẩm mĩ Văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ, là sự thể hiện giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật, với tư cách là chất liệu xây dựng hình tượng, có sự tổng hoà của ngữ âm và ngữ nghĩa, hoà phối để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ. 2. Tính đa nghĩa Nghĩa của văn bản nghệ thuật gồm nhiều thành phần: thành phần biểu thị thông tin khách quan, thành phần biểu thị tình cảm; thành phần nghĩa tường minh, thành phần nghĩa hàm ẩn. Các thành phần nghĩa này thống nhất với nhau trong những hình tượng nghệ thuật vừa cụ thể, vừa sinh động. Trong đó, thành phần nghĩa hàm ẩn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong văn bản nghệ thuật, biểu thị những suy ngẫm, gợi liên tưởng, tưởng tượng,… tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ, những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người. Mỗi nhà văn, nhà thơ thường có sở thích, sở trường riêng trong diễn đạt. Sở thích và sở trường ấy được bộc lộ ở những tác phẩm có giá trị và tạo thành nét độc đáo, dấu ấn riêng của tác giả. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Những loại văn bản nào sử dụng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật? Gợi ý: Các loại văn bản văn chương (văn xuôi nghệ thuật, thơ, kịch) sử dụng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. 2. Nói đến phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, cần phải nhớ đến những đặc điểm cơ bản nào? Gợi ý: Tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và dấu ấn riêng của tác giả là những đặc điểm cơ bản của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. 3. Hãy phân tích đặc điểm chung của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện ở bài Phú nhà nho vui cảnh nghèo của Nguyễn Công Trứ. Gợi ý: Về tính thẩm mĩ của văn bản: Tính thẩm mĩ thể hiện ở cấu trúc văn bản theo thể loại phú: Văn bản Phú nhà nho vui cảnh nghèo thuộc thể bài phú, ngôn ngữ được tổ chức theo hình thức biền văn, có sáu mươi tám vế sóng đôi; hai mươi vế đầu miêu tả nơi ở, cách sống và ăn mặc của một nhà nho nghèo. Tính thẩm mĩ thể hiện ở các yếu tố ngôn ngữ, các biện pháp tu từ tập trung diễn tả nơi ở, cách sống và ăn mặc của một nhà nho nghèo: sự lặp lại, sóng đôi, điệp âm (Chém cha… chém cha, rành rành – ấy ấy, bình bịch – kho kho, chát chát chua chua – nhai nhai nhổ nhổ,…; hiệp vần o, ô), đối (Bóng nắng rọi trứng gà bên vách, thằng bé tri trô – Hạt mưa soi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó,…), lối nói “phô trương” (mọt tạc vẽ sao, nhện giăng màn gió, mối giũi quanh co, giun đùn lố nhố, lợn nằm gặm máng, chuột cậy khua niêu, vỗ bụng rau bình bịch, an giấc ngáy kho kho, áo vải thô nặng trịch, khăn lau giắt đỏ lòm,…),… Về dấu ấn riêng của tác giả: Dấu ấn riêng của tác giả thể hiện nổi bật qua giọng điệu mỉa mai, châm biếm (đặc biệt là ở từ phong vị, hay việc sử dụng ngôn ngữ trong cách nói “phô trương”,…). Cũng qua giọng điệu ấy mà hình tượng tác giả hiện ra với một tư thế vừa ngao ngán vừa ngạo nghễ, bất chấp, ngông,… Nguyễn Công Trứ thường để lại ấn tượng về một cá tính ngang tàng, đậm chất tài tử. 4. Phân tích đoạn thơ sau đây để làm sáng tỏ đặc điểm chung của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song; Thuyền về nước lại sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng. (Huy Cận, Tràng giang) Gợi ý: Để phân tích những biểu hiện của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật trong đoạn thơ trên, hãy tham khảo đoạn văn sau. “Ngay câu thơ đầu bài thơ không chỉ nói sông, mà nói buồn, nói về một nỗi buồn bất tận, bằng một hình ảnh ẩn dụ: sóng gợn tràng giang trùng trùng điệp điệp, như nỗi buồn trùng trùng điệp điệp. Giữa tràng giang mà điểm nhìn nhà thơ tụ vào con sóng nhỏ, tuy rất nhiều, nhưng hiện ra rồi tan, muôn thủa. Con thuyền thường là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, cô đơn, vô định. ở đây con thuyền buông mái chèo xuôi dòng (xuôi mái) theo dòng nước, nhưng thuyền và nước chỉ “song song” với nhau chứ không gắn bó gì với nhau, bởi nước xuôi trăm ngả, thuyền theo ngả nào? Thuyền đi với dòng để rồi chia li với dòng. Câu thứ ba đã nói tới sự chia li: “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. Thuyền buồn vì phải rẽ dòng. Nước buồn như không biết trôi về đâu. Câu cuối đoạn này càng thể hiện tập trung cho kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng, vô định: “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Cái nhìn của nhà thơ vẫn tập trung vào các vật nhỏ: sóng, thuyền, củi khô. Tác giả lưu ý, không phải là cây gỗ, thân gỗ, mà chỉ là “củi một cành khô”, một mảnh rơi gẫy, khô xác của thân cây. Cả khổ thơ đầu đã vẽ lên một không gian sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững. Những đường nét: nước song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng không hứa hẹn gì về hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là chia tan, xa vời. Trên con sông đó một con thuyền, một nhánh củi lênh đênh càng tỏ ra nhỏ nhoi bất lực. ở đây không chỉ thuyền buồn, cành củi khô buồn, mà cả sóng gợn, sông nước đều buồn.” (Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr. 234-235)
Soạn bài lớp 10_ Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1,146
Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Hướng dẫn Soạn bài: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt và các dạng thể hiện của ngôn ngữ sinh hoạt giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Ôn tập văn học dân gian Việt Nam Soạn bài lớp 10: Luyện viết đoạn văn tự sự Soạn bài lớp 10: Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt Ngôn ngữ sinh hoạt là khái niệm chỉ toàn bộ lời ăn tiếng nói hàng ngày mà con người dùng để thông tin, suy nghĩ, trao đổi ý nghĩ, tình cảm với nhau, đáp ứng những nhu cầu tự nhiên trong cuộc sống. 2. Các dạng thể hiện của ngôn ngữ sinh hoạt Dạng nói, gồm các kiểu: đối thoại, độc thoại và đàm thoại (qua các phương tiện nghe nhìn). Dạng lời nói bên trong, gồm các kiểu: Độc thoại nội tâm: là tự mình nói với mình nhưng không phát ra thành tiếng. Đối thoại nội tâm: tự tưởng tượng ra một người nào đó đang trò chuyện với mình, đối đáp như một cuộc thoại. Dòng tâm sự: là những suy nghĩ bên trong thành một chuỗi mạch lạc, trong đó có thể có cả đối thoại và độc thoại nội tâm. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Thể hiện đúng giọng điệu các đoạn ghi chép. 2. Trong hoạt động giao tiếp, thường người ta nói ra những điều mà mình nghĩ. Nhưng không phải bao giờ suy nghĩ bên trong và lời nói ra cũng đồng nhất với nhau. Suy nghĩ và lời nói không thống nhất xảy ra trong trường hợp người nói chủ động nói ra những điều không thật hay hoàn cảnh nói không cho phép thông tin được nói ra ngay lúc ấy (Bác sĩ nói với bệnh nhân về tình trạng bệnh tật, thông tin về cái chết…). Còn rất nhiều điều khác tác động đến việc người ta có nói thật lòng mình hay không. Câu châm ngôn: Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói là lời khuyên hãy suy nghĩ kĩ càng trước khi nói ra những điều mà mình mong muốn. Câu châm ngôn còn nhắc nhở ta về cách nói, nghĩa là phải nói như thế nào cho đúng, cho khéo, cho phù hợp với lòng người. Có những lời khen nhưng lại khiến người khác không đồng ý. Có những lời góp ý (thậm chí chê bai) mà người khác vẫn bằng lòng. Tất cả những điều ấy có khi không nằm ở phần thông tin mà nằm ở cách nói. Một lời khen vụng về, lộ liễu sẽ có thể khiến người khác phật lòng. Nhưng một lời góp ý chân thành khéo léo lại giúp tình bạn, tình đồng nghiệp… của chúng ta thêm bền chặt. Dân gian ta từng khuyên nhủ và nhắc nhở chúng ta: Lời nói không quan trọng bằng cách nói, của cho không quan trọng bằng cách cho, nghĩa là từ lời nói đến hành vi nói năng còn có một khoảng cách nữa. Lời nói cũng là một nghệ thuật. Chính vì thế mà mới cần “học ăn, học nói, học gói, học mở”. Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Đây là một lời khuyên của nhân dân ta về cách thức nói năng. Lời nói tuy “chẳng mất tiền mua” nhưng không phải cứ nói tùy tiện theo suy nghĩ và theo ý thích. Từ ngữ và ngữ pháp của tiếng Việt ta vô cùng phong phú cũng bởi vậy mà cùng một lời nói có thể có nhiều cách nói khác nhau. Lựa chọn cách nào để nói khiến người nghe được “vừa lòng” là điều ai cũng cần phải lưu tâm. Khi nói, chúng ta phải quan tâm đến hoàn cảnh, đến thứ bậc của mình và người nghe, đến mục đích của cuộc giao tiếp… có như vậy “lời nói” của chúng ta mới đạt được hiệu quả giao tiếp như mong muốn. Tuy nhiên, làm “vừa lòng nhau” cũng phải tùy từng hoàn cảnh. Nếu cứ làm “vừa lòng nhau” một chiều, thì không khác gì những người hay xu nịnh, thích vuốt ve. Lời nói thẳng thường đơn giản và hiệu quả, tuy không phải lúc nào cũng làm vừa lòng của người nghe. Về câu ca dao: Vàng thì thử lửa, thử than Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời. Đây là một kinh nghiệm sống. Trong cuộc sống, có nhiều tiêu chuẩn được đưa ra để đánh giá một con người. Một trong những tiêu chí ấy là lời ăn tiếng nói. Người “ngoan” là người biết ăn nói khiêm nhường, nhã nhặn, biết “kính trên nhường dưới” Những yếu tố dư có tính chất đưa đẩy nhằm tạo ra sự sồng sã và thân mật: xong chuyện, gì hết, chẳng qua, ngặt tôi,… Những từ ngữ địa phương nhằm tạo ra nét “đặc trưng Nam Bộ” cho tác phẩm như: rượt (đuổi) người, cực (phiền, đau) lòng, phú quới (phú quý)… Sự xuất hiện của các yếu tố ngôn ngữ mang phong cách ngôn ngữ sinh hoạt trong đoạn văn này không phải là một sự ngẫu nhiên. Sự xuất hiện ấy rõ ràng có tính chất khắc họa thêm tính cách của nhân vật (sự hoà nhập và mong muốn được tiêu diệt đàn cá sấu hung dữ nhằm bảo vệ sự bình yên của mọi người). Bên cạnh đó sự xuất hiện của các yếu tố ngôn ngữ này (như đã nói) nhằm tạo ra “màu sắc Nam Bộ” cho tác phẩm. Nó là một cách để nhà văn khơi gợi trí tò mò và sự thích thú của người đọc sách.
Soạn bài lớp 10_ Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
1,007
Soạn bài lớp 10: Phú nhà nho vui cảnh nghèo Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Phú nhà nho vui cảnh nghèo Soạn bài lớp 10: Phú nhà nho vui cảnh nghèo được trính trong tác phẩm Hàn nho phong vị phú của tác giả Nguyễn Công Trứ dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Phú sông Bạch Đằng PHÚ NHÀ NHO VUI CẢNH NGHÈO (Trích Hàn nho phong vị phú) NGUYỄN CÔNG TRỨ I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), huý là Củng, tự Tôn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Cuộc đời làm quan của ông tuy lúc thăng lúc giáng thất thường, nhưng ông luôn vui vẻ, một lòng vì dân, vì n­ước. Các sáng tác: 53 bài thơ Nôm luật Đường, 1 bài thơ chữ Hán, 1 bài phú Nôm, 21 câu đối Nôm, 8 câu đối Hán, 62 bài ca trù,… Nguyễn Công Trứ có vai trò đặc biệt trong thể thơ hát nói. Bài phú Hàn nho phong vị phú cũng là một sáng tạo đặc sắc của ông. “Thơ văn Nguyễn Công Trứ nhất là ca trù ngân lên một giọng điệu mới, phản ánh một khuynh hướng t­ư tưởng khác với tr­ước đó, tập trung vào một số chủ đề gắn bó với con người và cuộc đời tác giả.” 3. Qua miêu tả hết sức cặn kẽ cảnh nghèo, tác giả bộc lộ quan niệm về thú vui sống, thanh thản, nhàn nhã của một nhà nho tài tử. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Các vế sóng đôi, đối nhau, với những hình ảnh cường điệu, cực tả cái nghèo, thể hiện cái nhìn trào lộng, hóm hỉnh. 2. Ngôn ngữ văn xuôi, dân dã được sử dụng với mật độ dày: chém cha, nó, ấy ấy, đầu kèo, tr­ước sân, ống nứa, đầu gi­ường tre, thằng bé tri trô, rọi trứng gà bên vách, xoi hang chuột trong nhà, ngấp ngó, trong cũi, đầu giàn, lợn nằm gặm máng, chuột cậy khua niêu, vỗ bụng rau bình bịch, ngáy kho kho, áo vải thô nặng trịch, khăn lau giắt đỏ lòm,… Qua đó, cảnh nghèo của nhà nho được miêu tả sinh động, chân thực đến suồng sã. 3. Tác giả đã đặt vấn đề gì ở bốn vế đầu của đoạn trích? Gợi ý: Ở bốn vế đầu, tác giả nói đến cái nghèo vừa như muốn vạch trần lại vừa như chữa “tội”, đùa giỡn. Thái độ tr­ước cái nghèo thể hiện ở bốn vế đầu được cụ thể hoá bằng việc tả cảnh nghèo và bộc lộ bản lĩnh sống, thái độ tr­ước cuộc sống nghèo khó của nhà nho ở 16 vế tiếp sau. Gợi ý: Nửa như ca thán, chán ngán cảnh nghèo, nửa như bông đùa, bất chấp cái khó khăn để tìm vui thú, tác giả đã có cái nhìn vừa hết sức thực tế đối với cuộc sống, xót xa tr­ước cảnh nghèo hèn vừa như bỡn cợt, “ngông”. Tác giả đứng ở t­ư thế của người trong cảnh nghèo, nếm trải mọi điều đồng thời cũng là người vượt lên trên hoàn cảnh, tìm lẽ tự tại cho mình.
Soạn bài lớp 10_ Phú nhà nho vui cảnh nghèo
567
Soạn bài lớp 10: Phú sông Bạch Đằng Hướng dẫn Soạn văn 10 bài Phú sông Bạch Đằng Soạn bài lớp 10: Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn. Bài soạn văn Phú sông Bạch Đằng này là tài liệu tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Giáo án Phú sông Bạch Đằng Ngữ Văn 10 Phân tích hình tượng nhân vật khách trong “Phú sông Bạch Đằng” (Bạch Đằng giang phú) của Trương Hán Siêu Phân tích bài “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu Soạn bài lớp 10: Bình Ngô đại cáo PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (Trương Hán Siêu) I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả: Trương Hán Siêu (?-1354) tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Am, huyện Yên Ninh (nay là thị xã Ninh Bình). Dưới triều Anh Tông, Dụ Tông làm quan to, lúc mất được truy tặng Thái bảo, được thờ ở Văn miếu. Ông học vấn uyên thâm, sinh thời được các vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng. 2. Sông Bạch Đằng (SGK) 3. Thể phú: Là một thể tài của văn học trung đại Trung Quốc được chuyển dụng ở Việt Nam. Phú là thể văn vần hoặc văn xuôi kết hợp văn vần dùng để miêu tả cảnh vật, phong tục,… Bố cục bài phú gồm bốn phần: đoạn mở; đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết. 1. Văn bản (SGK) 2. Phân tích a. Nhân vật khách: Ham du ngoạn, giương buồm giong gió, lướt bể chơi trăng, gót giang hồ đi khắp nơi: Cửa Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt…. Là người có tâm hồn phóng khoáng, tự do. Ưa hoạt động, khoái trí, ham hiểu biết. Nhân vật trữ tình đi vào miêu tả không gian cụ thể, phong cảnh cụ thể. Bát ngát sóng kình; thướt tha đuôi trĩ; đất trời một sắc, phong cảnh ba thu; sông chìm giáo gãy; gò đầy sương khô. Khách đề cao cảnh trí sông Đằng. => Cảm hứng thiên nhiên chan hoà với cảm hứng lịch sử, tâm hồn “khách” luyến tiếc ngậm ngùi về thời qúa khứ đẫ qua, thời quá khứ oanh liệt hào hùng của dân tộc. Khách vừa vui, tự hào, vừa buồn, nuối tiếc khi đến sông Bạch Đằng. b. Bạch Đằng giang qua sự hồi tưởng của các bô lão: Cảm xúc trữ tình thành cảm xúc anh hùng ca. Những chiến công ở sông Bạch Đằng lừng danh không chỉ đối với thời đại mà, ý nghiã mãi với lịch sử dân tộc. Là trận đánh kinh thiên động địa: trận thuỷ chiến được khắc hoạ cô đọng hàng loạt hìng ảnh nói lên sự mãnh liệt hùng dũng. Kẻ địch có lực lượng hùng mạnh, lại thêm mưu ma chước quỷ. Ta chiến đấu trên chính nghĩa, vì chính nghĩa nên thuận lẽ trời. Thêm vào đó, ta lại có địa lợi, nhân hoà là những yếu tố quyết định của chiến thắng. Theo binh pháp cổ muốn thắng có 3 nhân tố cơ bản (thiên…. Địa… nhân…). Các bô lão chỉ ra: sự trợ giúp của trời; tài năng của người chèo lái cuộc chiến: con người có tài, nhân vật xuất chúng, đảm đương gánh nặng mà non sông giao phó. Sự anh minh của hai vua Trần, đặc biệt là Tiết chế Quốc công Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn có tài thao lược, có tầm nhìn chiến lược đáng được muôn đời ca ngợi. d. Lời ca của khách: Lời ca các bô lão: nhấn mạnh lẽ đời mang tính quy luật: bất nghĩa tiêu vong; anh hùng lưu danh. Khách: đề cao vai trò hai vị Thánh quân – Hai vua Trần. Đức cao mới thật sự là điều quyết định của chiến cuộc. Đề cao giá trị con người – mang giá trị nhân văn sâu sắc. III. Tổng kết: 1. Nội dung: Phú sông Bạch Đằng là bài ca yêu nước và tự hào dân tộc. Nhà thơ bộc lộ tư tưởng nhân văn sâu sắc tiến bộ: vinh và nhục, thắng và bại, tiêu vong và trường tồn,… 2. Nghệ thuật: Ngôn ngữ tráng lệ, giàu hình ảnh; tác giả sử dụng điển tích, điển cố rất tài tình.
Soạn bài lớp 10_ Phú sông Bạch Đằng
702
Soạn bài lớp 10: Phẩm bình nhân vật lịch sử Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Phẩm bình nhân vật lịch sử Soạn bài lớp 10: Phẩm bình nhân vật lịch sử được trích trong Đại Việt sử lí toàn thư do Lê Văn Hưu sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Hiền tài là nguyên khí quốc gia PHẨM BÌNH NHÂN VẬT LỊCH SỬ (Trích Đại Việt sử kí toàn thư) LÊ VĂN HƯU I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Lê Văn Hưu (1230–1322), người làng Phủ Lí, Đông Sơn (nay là thôn Phủ Lí Trung, xã Thiệu Trung, huyện Đông Sơn), tỉnh Thanh Hoá, đỗ Bảng nhãn năm 1247, là nhà sử học nổi tiếng đời Trần. Lê Văn Hưu hoàn thành Đại Việt sử kí năm 1272 gồm 72 quyển. Công trình này là một trong những cơ sở để nhóm Ngô Sĩ Liên biên soạn thành Đại Việt sử kí toàn thư. Tác phẩm của Lê Văn Hưu hiện thất lạc, chỉ còn lại 31 đoạn dưới dạng bình sử do nhóm Ngô Sĩ Liên ghi lại trong Đại Việt sử kí toàn thư. 2. Bình sử là một mục trong tác phẩm thời x­ưa, bắt đầu có từ đời Tống (Trung Quốc) ghi lại lời bình luận, đánh giá của sử gia đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Những biện pháp nghệ thuật nào đã được tác giả sử dụng khi bàn về Trưng Trắc, Trưng Nhị? Gợi ý: So sánh: “việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay”. Hoán dụ: “bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay”. 2. Khi bình về Tiền Ngô Vương, tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? Gợi ý: Hoán dụ: “một cơn giận mà yên được dân”. 3. Nhận xét về bút pháp Gợi ý: Trong các lời bình, tác giả đã kết hợp giữa bút pháp chính xác của sử học với nghệ thuật bình luận, nghị luận sắc sảo, cô đúc mà tái hiện được nổi bật chân dung lịch sử cũng như thể hiện được quan điểm đánh giá của mình trước các sự kiện. 4. Bàn về Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lê Văn Hưu nhằm khẳng định tài năng và khí phách phi thường của các anh hùng liệt nữ, khen ngợi đồng thời đem đến bài học và lời nhắn nhủ đối với các bậc nam nhi, quân tử. 5. Trong lời bàn của Lê Văn Hưu, vai trò lịch sử của Tiền Ngô Vương và Đinh Tiên Hoàng được nhấn mạnh. Đối với Tiền Ngô Vương, là vai trò của người nối lại chính thống của nước Việt sau nghìn năm Bắc thuộc. Đối với Đinh Tiên Hoàng, vai trò nổi bật là dẹp loạn, yên ổn xã tắc, xưng hoàng đế, khẳng định nền độc lập chính thống. Gợi ý: Cái nhìn chân thực, xuất phát từ tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, ý thức gìn giữ, trân trọng truyền thống được thể hiện qua các lời bình sử của Lê Văn Hưu. Cũng trong những lời bàn về lịch sử ấy, chúng ta còn thấy một tấm lòng ngay thẳng, cương trực, một quan điểm lịch sử chân thực, có phê phán. Điều này thể hiện ở lời bàn của tác giả về việc ban thưởng. Khi quan niệm điềm lành không có nghĩa là đem những thứ quý giá để làm vừa lòng người trên, tác giả đã phê phán thẳng thắn những lề thói, tật xấu của con người trong xã hội mọi thời. Thuở xưa là cung tiến, ngày nay là đút lót, hối lộ, nịnh nọt, thực ra chỉ khác nhau về cách gọi tên mà thôi. Bàn về lịch sử, như thế không chỉ có ích đối với việc nhìn nhận quá khứ mà còn có ích đối với cuộc sống hiện tại và cả với tương lai.
Soạn bài lớp 10_ Phẩm bình nhân vật lịch sử
673
Soạn bài lớp 10: Ra-Ma buộc tội Hướng dẫn Soạn bài: Ra-Ma buộc tội Soạn bài lớp 10 học kì 1: Ra-Ma buộc tội được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Ra-Ma buộc tội trích khúc ca VI, chương 79 Ra-ma-ya-na. Soạn bài ra ma buộc tội mẫu sẽ giúp các em học sinh học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Lập dàn ý bài văn tự sự Soạn bài lớp 10: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy RA-MA BUỘC TỘI (Trích khúc ca VI, chương 79 Ra-ma-ya-na) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tóm tắt Câu chuyện diễn ra ở vương quốc Kô-sa-la. Vua Đa-xa-ra-tha có bốn người con trai do ba bà vợ sinh ra. Ra-ma là con cả, hơn hẳn các em về tài đức. Vua cha có ý định nhường ngôi cho chàng nhưng vì lời hứa với bà vợ thứ Ka-kê-i xinh đẹp nên đã đày Ra-ma vào rừng và trao ngôi lại cho Bha-ra-ta, con của Ka-kê-i. Ra-ma cùng vợ là Xi-ta và em trai Lắc-ma-na vào rừng sống ẩn dật. Quỷ vương Ra-va-na lập mưu cướp Xi-ta đem về làm vợ. Mặc quỷ vương dụ dỗ và ép buộc, Xi-ta vẫn kịch liệt chống cự. Được tướng khỉ Ha-nu-man giúp đỡ, Ra-ma đã cứu được Xi-ta. Nhưng sau đó, Ra-ma nghi ngờ tiết hạnh của Xi-ta và không muốn nhận lại nàng làm vợ. Để chứng tỏ lòng chung thuỷ của mình, Xi-ta đã nhảy vào lửa. Thần lửa biết Xi-ta trong sạch nên đã cứu nàng. Ra-ma và Xi-ta trở về kinh đô. 2. Đoạn trích là thử thách cuối cùng của Ra-ma và Xi-ta trên con đường tìm về với hạnh phúc và danh vọng. Bằng lối kể chuyện giàu kịch tính và nghệ thuật khắc họa tính cách rất điển hình, tác giả đã cho chúng ta thấy được quan niệm của người ấn Độ cổ đại về người anh hùng, về đường quân vương mẫu mực và về người phụ nữ lí tưởng trong xã hội. 1. Có thể nói, màn gặp gỡ giữa Ra-ma và Xi-ta trong một không gian công cộng, giữa đông đủ mọi người, đã chi phối rất nhiều đến tâm trạng cũng như ngôn ngữ đối thoại của Ra-ma và Xi-ta. Với Ra-ma, lúc này chàng không chỉ đứng trên tư cách một người chồng mà còn trên tư cách một người anh hùng, một đường quân vương. Với tư cách ấy, chàng ở trong một hoàn cảnh vô cùng khó xử: vừa yêu thương xót xa cho vợ nhưng vẫn phải giữ bổn phận gương mẫu của một đức vua anh hùng: “Thấy người đẹp khuôn mặt bông sen với những cuộn tóc lượn sóng đứng trước mặt mình, lòng Ra-ma đau như dao cắt. Nhưng vì sợ tai tiếng, chàng bèn nói với nàng, trước mặt những người khác…”. Nàng Xi-ta cũng vậy. Trong màn gặp gỡ này, nàng đã vô cùng đau khổ khi bị kết tội oan. Là một người vợ, hơn nữa còn là một hoàng hậu, nàng không thể để danh dự của mình bị bôi nhọ một cách xấu xa. Nhưng việc ấy đâu có dễ. Lúc đầu nàng ra sức van nài trong khuôn khổ quan hệ tình nghĩa vợ chồng (lời thoại xưng hô chàng – thiết) nhưng rồi nàng chuyển sang quan hệ xã hội: “Hỡi đức vua!… Người…”. Sự thay đổi cách xưng hô ấy cũng cho thấy tình thế khó xử của Gia-na-ki “trước mặt đông đủ mọi người”. 2. Theo lời tuyên bố của Ra-ma thì chàng giao tranh với quỷ Ra-va-na, tiêu diệt hắn để giải cứu Xi-ta vì danh dự người anh hùng bị xúc phạm khi Ra-va-na dám cướp vợ của chàng. Chàng ruồng bỏ Xi-ta vì danh dự không cho phép người anh hùng chấp nhận một người vợ đã chung chạ với kẻ khác (“Người đã sinh trưởng… một vật để yêu đương). Tuy nhiên cũng không phủ nhận được rằng trong thái độ ruồng bỏ Xi-ta của Ra-ma có “sự ghen tuông của người chồng”. Như vậy, nhìn ở khía cạnh nào, chúng ta cũng thấy Ra-ma hành động bằng lí trí bởi chàng phải là khuôn mẫu đạo đức cho dân chúng noi theo; chàng phải hy sinh những tình cảm cá nhân vì những đòi hỏi của cộng đồng. Để nhấn mạnh bổn phận và danh dự, chúng ta thấy Ra-ma nhấn đi nhấn lại nhiều lần những từ ngữ liên quan đến tài năng và danh dự (nhân phẩm, tiếng tăm, uy tín, gia đình cao quý, dòng họ lừng lẫy, trả thù sự lăng nhục,…) của một đức vua cao quý, anh hùng. Khi Xi-ta bước lên giàn lửa, Ra-ma cũng căng thẳng vô cùng. Có thể nói đó cũng là một thử thách dữ dội đối với Ra-ma bởi chàng không thể nghĩ rằng hành động của Xi-ta lại quyết liệt như vậy. Ở vào một tình thế “tiến thoái lưỡng nan” vì thế mà: “Vào lúc đó, chẳng ai trong đám bạn hữu dám nói gì với Ra-ma, hoặc nhìn vào chàng; lúc đó nom chàng khủng khiếp như thần chết. 3. Khi bị đẩy vào bước đường cùng, Xi-ta mặc dù vô cùng đau đớn nhưng nàng vẫn bình tĩnh đưa ra những lời thanh minh thấu tình, đạt lí. Trước hết, Xi-ta khẳng định tư cách và đức hạnh của nàng không thể so sánh với hạng phụ nữ thấp kém tầm thường được. Nàng là con của thần Đất Mẹ và chỉ với việc nàng có thể từ bỏ cung điện nguy nga để theo chồng vào rừng mà chia sẻ bao gian nan thử thách cũng đủ để chứng minh cho phẩm hạnh của nàng rồi. Không thuyết phục được chồng, cuối cùng, Xi-ta đã chọn một hành động quyết liệt hơn: bước lên giàn lửa. Hành động và lời cầu khấn của Xi-ta hướng tới đáng A-nhi cho thấy để chứng minh cho đức hạnh và phẩm tiết thủy chung, Xi-ta sẵn sàng bước qua cả mạng sống của chính mình. 4. Có thể nói cảnh Xi-ta nạp mình cho lửa là một cảnh đầy kịch tính, vừa hào hùng và vừa rất bi thương. Chính vì vậy nó khiến cho quan quân và dân chúng của cả hai bên cũng như anh em bạn hữu vô cùng xúc động (“Ai nấy, già cũng như trẻ đau lòng đứt ruột… Các phụ nữ bật ra tiếng kêu khóc thảm thương. Cả loài Rak-sa-xa lẫn loài Va-na-ra cũng kêu khóc vang trời trước cảnh tượng đó”). Cảnh Xi-ta bước lên giàn lửa đúng là biểu tượng tập trung nhất cho hình mẫu người phụ nữ lí tưởng của ấn Độ thời cổ đại.
Soạn bài lớp 10_ Ra-Ma buộc tội
1,143
Soạn bài lớp 10: Tam đại con gà – Nhưng nó phải bằng hai mày Hướng dẫn Soạn bài: Tam đại con gà nhưng nó phải bằng hai mày Soạn bài lớp 10: Tam đại con gà nhưng nó phải bằng hai mày được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm truyện cười và ý nghĩa nhân văn được đúc rút từ câu chuyện cười giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Tấm Cám Soạn bài lớp 10: Uy-Lít-Xơ trở về Soạn bài lớp 10: Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự TAM ĐẠI CON GÀ NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về khái niệm truyện cười a) Truyện cười là những truyện dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc, hành vi trái tự nhiên của con người, có tác dụng gây cười, nhằm mục đích giải trí và phê phán xã hội. b) Truyện cười thường khai thác những mâu thuẫn trái tự nhiên những hành động kệch cỡm, rởm đời hay dốt nát trong cuộc sống. Truyện thường ngắn nhưng chặt chẽ, ít các chi tiết rườm rà, mâu thuẫn phát triển nhanh và kết thúc bất ngờ. Truyện cười mang ý nghĩa giải trí và giáo dục. Ngoài tiếng cười, nó tập trung phê phán những thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân, vì thế mới có ý kiến cho rằng, truyện cười không chỉ là sản phẩm của óc khôi hài mà còn là một thứ vũ khí đấu tranh đắc dụng của nhân dân ta. c) Truyện cười có hai loại: Truyện khôi hài và truyện trào phúng. Truyện khôi hài chủ yếu nhằm mục đích giải trí (tuy nhiên vẫn bao hàm giá trị giáo dục). Truyện trào phúng được sáng tác với mục đích phê phán. Đối tượng phê phán phần lớn là các nhân vật thuộc tầng lớp trên trong xã hội nông thôn Việt Nam xưa (như: bọn quan lại bất tài, tham nhũng…). Cũng có khá nhiều truyện cười phê phán thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân. 2. Về hai văn bản Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày. Hai truyện cười này đều thuộc loại truyện trào phúng. Đối tượng của sự phê phán là thầy đồ dốt nói chữ và bọn quan lại tham nhũng ở địa phương. Truyện Tam đại con gà hướng sự châm biếm, đả kích vào những kẻ “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”. Cái xấu, cái dốt càng che đậy càng dễ lộ ra, kệch cỡm và đáng cười hơn rất nhiều lần. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Trong truyện Tam đại con gà, “ông thầy” liên tiếp bị đưa vào hai tình huống: Thầy đồ đi dạy học trò nhưng “thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hơi gấp, thầy cuống, nói liều…”. Khi bị người nhà phát hiện dạy sai, thầy ra sức bao biện để chối tội và giấu dốt. Trong lần thứ nhất, để “giải quyết tình huống”, “ông thầy” đã nhắm mắt chọn cách nói liều. Hài ước hơn khi ngay sau đó, “ông thầy” còn viện đến thổ công để “chứng giám” một cách hú họa cho sự dốt nát của mình. Trong tình huống thứ hai, “ông thầy” đã giải quyết để bào chữa cho mình bằng một cái “lí sự cùn”. Qua chỉ hai tình huống, cái bản chất “dốt” của thầy đồ đã được bộc lộ rõ ra. Cái mâu thuẫn trái tự nhiên ở nhân vật này là dốt >< khoe giỏi. Thầy đồ đi dạy học mà dốt đến mức cái chữ tối thiểu trong sách cũng không biết, không đọc được. Dốt như vậy mà thầy đồ vẫn ham khoe giỏi (sau khi khấn thổ công, “thầy lấy làm đắc chí lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to”). Sự hài ước của câu chuyện lên đến đỉnh điểm khi thầy đồ, dù đã biết mình dạy dốt vẫn cứ nhất quyết bao biện cho mình bằng một cái “lí sự cùn” hoàn toàn không thể tin tưởng được. Tất cả những hành động cố gắng “lấp liếm” cái dốt này, quả thực chỉ làm cho thầy đồ càng thảm hại hơn thôi. 2. Qua hình ảnh thầy đồ trong truyện Tam đại con gà, truyện phê phán một tật xấu trong nội bộ nhân dân, phê phán những người dốt mà không chịu học hỏi, dốt mà cứ cố tình che đậy sự dốt nát của mình. Tuy nhiên cái cười trong truyện ngắn này chủ yếu vẫn mang tính chất giải trí – cười sự ngây ngô và liều lĩnh của thầy đồ, chứ chưa tới mức cười nhằm đả kích và triệt tiêu đối tượng. 3. Về truyện Nhưng nó phải bằng hai mày a) Mối quan hệ giữa Cải và thầy lí trước khi xử kiện là mối quan hệ đã được xếp đặt rồi (Cải đã lót tiền trước cho thầy lí năm đồng). Cải cứ nghĩ là quan sẽ cho mình được kiện nên rất ung dung. Tuy nhiên không ngờ khi xử kiện, Cải lại bị thầy lí tuyên bố đánh mười roi. Cải từ thế chủ động chuyển hoàn toàn sang bị động và không thể nói tiếp được lời nào. Ý nghĩa tố cáo của truyện chính là ở chỗ: lẽ phải đối với người xử kiện được tính bằng tiền. Đồng tiền đo lẽ phải, tiền nhiều lẽ phải nhiều, tiền ít lẽ phải ít. 4. Lời nói của thầy lí ở cuối truyện Nhưng nó phải bằng hai mày là một sự vận dụng độc đáo và sáng tạo nghệ thuật chơi ngữ gây cười. “Phải” là một từ chỉ tính chất, đem ghép nó với một từ chỉ số lượng (phải bằng hai) tưởng như vô lí. Thế nhưng khi ta liên tưởng đến năm đồng và mười đồng tiền đút lót của Ngô và Cải, ta lại thấy nó hoàn toàn hợp lí. Lời phán quyết của thầy lí “vô lí” trong xử kiện nhưng lại có lí trong mối quan hệ (tiền bạc) với các nhân vật. Chính việc “đánh lộn sòng” này đã tạo ra tiếng cười hài ước và sự thích thú trong quá trình “giải mã” tác phẩm của mỗi chúng ta. 5. Ở truyện Nhưng nó phải bằng hai mày, nhân vật bị thất bại trong vụ kiện là nhân vật Cải. Cải bị bất ngờ nên không kịp trở tay vì thế mà bị rơi vào tình trạng thảm hại (vừa mất tiền lại vừa bị đánh). Thế nhưng câu chuyện chính là lời phê phán cả hai nhân vật. Sự tham lam của bọn quan lại sẽ càng ngày càng tráo trở hơn nếu còn có những người như Ngô và Cải. Hành vi tiêu cực của chính họ là nguyên nhân làm cho họ trở nên thảm hại. Trong sự việc này, họ là những kẻ đáng thương nhưng cũng là những người đáng giận. a) Đối với truyện Tam đại con gà Câu chuyện có nhiều hành động và lời nói của thầy đồ có tác dụng gây cười: Các hành động của “Ông thầy”: Bảo học trò đọc khe khẽ (vì chưa biết mình dạy đúng hay sai nên phải “thận trọng” để giấu dốt). Xin đài âm dương 3 lần (hành động ngược đời – đúng ra phải hỏi lại người có hiểu biết hơn mình để giảng giải cho học trò rõ). Hành động này hàm ý “Ông thầy” coi cái chuyện dạy học hệ trọng này chẳng khác gì chuyện đánh bạc cầu may. Ngồi bệ vệ trên giường, bảo học trò đọc to (đắc chí với sự ngốc nghếch của mình mà không biết). Lời nói của thầy: Dủ dỉ là con dù dì Dạy cho cháu biết đến tận tam đại con gà Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà. Tất cả các lời nói này đều cho thấy sự ngốc nghếch và phi lí trong những ‘bài học” và lời nói của “Ông thầy”. Xét về mức độ, ta thấy hành động và lời nói của nhân vật được nhà văn sắp xếp theo trật tự tăng tiến. Mức độ phi lí và sự nực cười của lời nói và hành động ngày càng được đẩy lên cao. b) Đối với truyện Nhưng nó phải bằng hai mày Hành động của nhân vật Cải và Ngô: hai người đều tìm cách đưa đút lót trước cho thày lí mà không rõ hành động của người kia. Thầy lí thì tham lam nên nhận tiền của cả hai người. Khi xử kiện lại lấy bàn tay để ra hiệu. Lời nói hài ước của các nhân vật: ” Xin xét lại, lẽ phải về con mà!”(Cải nói). “Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải… bằng hai mày!” (lời đáp của thầy lí) c) Từ hai truyện trên, có thể khái quát mấy đặc trưng chung của thể loại truyện cười: Khai thác những sự việc, hành vi, thói xấu của một bộ phận đối tượng trong dân gian. Chứa đựng những mâu thuẫn trái quy luật tự nhiên và tiềm ẩn những yếu tố gây cười. Dung lượng ngắn, kết cấu lôgíc chặt chẽ và kết thúc bằng những sự việc hoặc liên tưởng bất ngờ.
Soạn bài lớp 10_ Tam đại con gà – Nhưng nó phải bằng hai mày
1,572
Soạn bài lớp 10: Thái phó Tô Hiến Thành Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Thái phó Tô Hiến Thành Soạn bài lớp 10: Thái phó Tô Hiến Thành được trích trong Đại Việt sử lược do VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Thái sư Trần Thù Độ Soạn bài lớp 10: Tựa “Trích diễm thi tập” Văn mẫu lớp 10: Bài học nhân cách từ câu chuyện về Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thù Độ THÁI PHÓ TÔ HIẾN THÀNH (Trích Đại Việt sử lược) I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hiện chưa xác định được tác giả của Đại Việt sử lược. 2. Sử là tác phẩm viết về các sự kiện lịch sử. Mục đích của sử là ghi chép sự thật, nhằm cung cấp những sự kiện lịch sử của dân tộc và thể hiện quan điểm, thái độ của sử gia đối với các sự kiện, nhân vật lịch sử để đời sau học tập, suy ngẫm. Trong văn học trung đại Việt Nam, các tác sử thuộc loại hình văn học chức năng hành chính. Tác phẩm sử xưa có hai thể: biên niên và kỉ sự. Đại Việt sử lược thuộc viết theo lối biên niên. Biên niên là lối viết sử theo trình tự thời gian, khác với kỉ sự là lối viết sử theo các sự kiện hoặc từng sự việc của nhân vật lịch sử. Đại Việt sử lược có kết hợp với lối viết của kỉ sự. Viết sử theo lối biên niên nhưng đồng thời chú ý đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật lịch sử, tác giả Đại Việt sử lược đã tái hiện được chân dung Tô Hiến Thành với một nhân cách đáng kính. 3. Năm 1175, Lí Cao Tông huý là Long Cán, con thứ sáu của Lí Anh Tông, mẹ là Vương hậu Đỗ Thuỵ Châu, lên ngôi lúc mới hai tuổi, theo di chúc của vua cha. Vương đương ấu thơ, mọi việc lớn nhỏ đều giao cho Thái Phó Tô Hiến Thành. Thái hậu có ý phế Long Cán lập Long Sưởng, bèn hối lộ Lã Thị, vợ của Tô Hiến Thành, nhờ tác động để ông thuận theo ý mình, rồi lại trực tiếp gặp Tô Hiến Thành lấy danh lợi phú quý hòng mua chuộc. Tô Hiến Thành một lòng trung thành với cố thác của Tiên Vương, phò ấu chúa, nhất định không nghe theo. Thái hậu bất chấp pháp luật, triệu Bảo Quốc Vương Long Sưởng vào để tự lập làm vua nhưng Tô Hiến Thành đã cùng với triều thần kiên quyết dùng pháp luật để Thái hậu không thực hiện được mưu đồ. Khi Tô Hiến Thành ngã bệnh, chỉ có Tham tri chính sự Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ bên cạnh; quan Gián nghị đại phu Trần Trung Tá bận bịu nhiều việc, không lúc nào rảnh rang để đến thăm. Lúc bệnh của Hiến Thành đã nguy kịch, Thái hậu đến thăm và hỏi rằng khi ông mất, ai sẽ thay chức Tể tướng. Hiến Thành không vì tình riêng, tiến cử Trần Trung Tá vì đó mới là “ngay thần”. Thái hậu tuy khen Hiến Thành nhưng không nghe lời ông mà lấy Đỗ An Thuận coi việc triều chính. 1. Tìm hiểu xuất xứ Bài Thái phó Tô Hiến Thành được trích từ tác phẩm lịch sử Đại Việt sử lược của một sử gia sống vào khoảng nửa cuối thế kỉ XIV. Ở Việt Nam, tác phẩm này đã thất truyền từ lâu. Tác phẩm được in lần đầu tiên ở Trung Hoa, thời Càn Long thế kỉ XVIII do Tuần phủ Sơn Đông dâng lên và Tiền Hi Tộ hiệu đính. 2. Tìm hiểu nghĩa của các từ ngữ: lời cố thác, tuổi đã xế chiều, phụng mệnh,… Gợi ý: lời cố thác: lời dặn dò, gửi gắm của nhà vua trước khi mất. tuổi đã xế chiều: tuổi đã cao, ý nói đã đến tuổi sắp chết. phụng mệnh: vâng theo mệnh lệnh. 3. Nhận xét về nghệ thuật tạo kịch tính bất ngờ trong đoạn nói về việc Tô Hiến Thành tiến cử người thay mình. Gợi ý: Kể việc Tô Hiến Thành ốm nặng, Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ còn Trần Trung Tá bận bịu nhiều việc nên không có lúc nào đến thăm. Đây là bước tạo tình huống, chuẩn bị cho những diễn biến kịch tính tiếp theo. Cuộc đối thoại giữa Thái hậu và Tô Hiến Thành: Khi Thái hậu hỏi “Nếu có mệnh hệ nào, ai thay ông?”, từ chuyện đã kể ở trước, theo lôgic thông thường, ai cũng nghĩ rằng Hiến Thành sẽ tiến cử Vũ Tán Đường. Nhưng bất ngờ Hiến Thành lại trả lời “chỉ có Trung Tá mà thôi”. Kịch tính lên đến cao điểm: Khi Thái hậu nhắc đến ân tình của Tán Đường đối với Hiến Thành, ai cũng nghĩ rằng hoặc là Hiến Thành sẽ thuận theo Thái hậu, hoặc là giải thích rằng Tán Đường không đủ khả năng để làm Tể tướng,… Nhưng bất ngờ Hiến Thành đáp: “Thái hậu hỏi người thay thần, nên thần nói tới Trung Tá; nếu hỏi người hầu hạ phụng dưỡng thần thì phi Tán Đường còn ai nữa?”. Ở thời điểm kịch tính lên cao này, từ câu trả lời của Hiến Thành, bật ra ý nghĩa mỉa mai trước nghịch lí: Chọn người thay chức Tể tướng kiêm Thái phó hay chọn người hầu hạ, phụng dưỡng Tể tướng kiêm Thái phó? Người viết đã chọn lựa đưa ra một cảnh huống có thật nhưng trái với suy đoán thông thường của người đời để khắc hoạ nổi bật tính cách nhân vật và ngụ ý những điều sâu xa về thời thế, nhân sinh. Gợi ý: Viết theo lối biên niên, tác giả vừa đảm bảo tôn trọng tính chân thực của sự kiện, nhân vật, vừa tuân thủ trình tự diễn biến thời gian. Viết sử biên niên tóm lược, tập trung vào việc khắc hoạ nhân vật Tô Hiến Thành, tác giả đã chọn hai thời điểm (1175 và 1179) cách nhau bốn năm, một mặt vẫn đảm bảo trình tự trước sau, mặt khác đó là những thời điểm diễn ra những sự kiện mà qua đó chân dung tinh thần nhân vật bộc lộ rõ nét. Tác giả không trực tiếp miêu tả tâm lí nhân vật, nhưng qua hành động, lời nói của nhân vật đã được lựa chọn để đưa ra, tính cách của nhân vật vẫn được bộc lộ. 5. Những sự kiện lịch sử nào ở triều Lí trong năm 1175 liên quan đến vận mệnh đất nước được tái hiện trong đoạn trích? Gợi ý: Lí Anh Tông qua đời; con trai thứ là Long Cán mới hai tuổi lên nối ngôi; mọi việc triều chính đều uỷ thác cho Thái phó Tô Hiến Thành. Thái hậu Đỗ Thuỵ Châu muốn phế Long Cán, lập Long Sưởng – anh của Long Cán, lên ngôi. Long Cán và Long Sưởng đều là con đẻ của Thái hậu Thuỵ Châu. Long Sưởng trước đây đã từng được lập làm Thái tử, nhưng do mắc lỗi nên bị giáng xuống làm Bảo Quốc Vương. 6. Phân tích hành vi của thái hậu trong việc ép Tô Hiến Thành phế Lí Long Cán. Gợi ý: Thái hậu tiến hành từng bước lôi kéo Thái phó Tô Hiến Thành – người phù Long Cán và có vai trò rất lớn trong triều đình. Thái hậu hối lộ vợ Hiến Thành. Đánh vào tâm lí người nhiều tuổi, Thái hậu trực tiếp mua chuộc Tô Hiến Thành bằng việc đưa ra mồi danh vọng, phú quý. Thái hậu bất chấp pháp luật, triệu Bảo Quốc Vương Long Sưởng vào để tự lập làm vua. Như vậy, mặc dù hành động từng bước, từ tính toán xảo quyệt cho đến liều lĩnh, nhưng Thái hậu vẫn không đạt được âm mưu của mình 7. Đánh giá về nhân vật Tô Hiến Thành. Gợi ý: Tô Hiến Thành trước mưu đồ phế lập của Thái hậu: Tô Hiến Thành đã từng bước đánh bại âm mưu phế lập của Thái hậu. Khi Thái hậu mua chuộc vợ ông, Hiến Thành đã dùng đạo lí làm người, nhấn mạnh đến vai trò Tể tướng của mình và viện cả đến tín ngưỡng để thuyết phục vợ (“… ta biết lấy lời nào để trả lời Tiên Vương ở suối vàng?”). Khi Thái hậu trực tiếp dùng mồi danh vọng, phú quý để dụ Hiến Thành, ông đã dùng lời lẽ của Khổng Tử về cách làm người (“Bất nghĩa mà được phú và quý, đó không phải là điều người trung thần nghĩa sĩ vui làm.”) và cách đối xử với người quá cố trong văn hoá ứng xử truyền thống (lời di chúc của Tiên Vương còn ở bên tai) để từ chối Thái hậu. Trước sự liều lĩnh, bất chấp của Thái hậu, Hiến Thành kiên quyết dùng luật pháp để giữ vững kỉ cương, không cho Thái hậu thực hiện mưu đồ tự phế lập. Chức Tể tướng và chức Thái uý là những trọng trách lớn nhất trong triều đình. Việc chọn người thay thế các vị trí ấy là rất hệ trọng. Nếu như ở sự kiện trước, Tô Hiến Thành đã chứng tỏ đức chính trực, cương trung, “Phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất. ” thì ở sự kiện chọn người thay thế mình ta càng thấy được sự sáng suốt, tinh thần trách nhiệm vì đất nước của ông. Lựa chọn của Tô Hiến Thành không hề theo suy đoán thông thường. Về lí, chức Tham tri chính sự của Vũ Tán Đường to hơn chức Gián nghị đại phu của Trần Trung Tá. Về tình, Vũ Tán Đường luôn gần gũi, phụng dưỡng Hiến Thành; trong khi, vì bận bịu, khi Hiến Thành ốm, Trần Trung Tá không lúc nào đến thăm được. Những điều này cho thấy, hành xử của Hiến Thành một mực chỉ vì xã tắc, tuyệt đối vô tư, xuất phát từ tâm huyết của người có trách nhiệm đối với đất nước; đồng thời cũng chứng tỏ ông có cái nhìn tỉnh táo, sáng suốt ngay cả khi bệnh tình đã rất nguy kịch. Tô Hiến Thành vừa phải chịu áp lực lớn từ phía Thái hậu, vừa phải chịu áp lực từ chính chức trách Thái phó của mình. Trong triều, vua là trên hết; nhưng trong gia đình, Thái hậu lại là mẹ vua, mà con phải vâng lời cha mẹ là đạo lí. ở thời điểm câu chuyện diễn ra, vua còn quá nhỏ, Thái hậu nắm mọi quyền hành. như vậy, vai trò và trách nhiệm của Tô Hiến Thành càng trở nên nặng nề. Vậy mà, như đã thấy, ông đã không chịu khuất phục trước quyền uy, cám dỗ, nhất mực trung thành với sự nghiệp chung, trung trinh, liêm khiết, một lòng vì đất nước mà hành xử mà không chịu lệ thuộc vào bất cứ điều gì. Tô Hiến Thành quả là tấm gương sáng trong lịch sử, để người sau soi mình.
Soạn bài lớp 10_ Thái phó Tô Hiến Thành
1,875
Soạn bài lớp 10: Thái sư Trần Thủ Độ Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Thái sư Trần Thủ Độ Soạn bài lớp 10: Thái sư Trần Thủ Độ do Ngô Sĩ Liên sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Phẩm bình nhân vật lịch sử Văn mẫu lớp 10: Bài học nhân cách từ câu chuyện về Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ (Trích Đại Việt sử kí toàn thư) NGÔ SĨ LIÊN I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Ngô Sĩ Liên người làng Chúc Lí huyện Chương Đức, nay là Chương Mĩ, tỉnh Hà Tây; ông đỗ tiến sĩ năm 1442, hiện chưa rõ năm sinh và năm mất. Ngô Sĩ Liên giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ Đại Việt sử kí toàn thư cả về phương pháp biên soạn và nội dung tác phẩm. 2. Có người hặc tội Trần Thủ Độ quyền hơn cả vua. Trước mặt vua, Trần Thủ Độ xác nhận người hặc tội nói đúng và còn ban thưởng. Có người quân hiệu ngăn kiệu Linh Từ Quốc Mẫu, vợ Thủ Độ, không cho đi qua thềm cấm. Trần Thủ Độ khen người lính đó là biết giữ nghiêm phép tắc và ban thưởng cho. Quốc Mẫu, vợ Thủ Độ xin riêng cho một người làm chức quan nhỏ. Ông ra điều kiện người đó phải chặt ngón chân để phân biệt với các quan khác. Người kia kêu van xin thôi. Từ đấy không ai dám đến nhờ cậy, xin xỏ chức tước nữa. Thái Tông muốn phong cho An Quốc – anh của Thủ Độ làm tướng. Thủ Độ phản đối việc anh em trong gia đình cùng làm tướng, vì cho rằng như thế sẽ dễ kết bè đảng, bất lợi cho triều đình. 3. Kết hợp giữa biên niên với tự sự, bằng những tình huống bất ngờ, giàu kịch tính, những tình tiết ngắn gọn, cô đúc, sử gia đã khắc hoạ nổi bật chân dung nhân cách chính trực, chí công vô tư của Trần Thủ Độ. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Đại Việt sử kí toàn thư hoàn thành năm 1498 trên cơ sở bộ Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu và Sử kí tục biên của Phan Phu Tiên. Công trình này gồm hai phần: Ngoại kỉ và Bản kỉ. Phần Ngoại kỉ viết về lịch sử nước ta từ thời Hồng Bàng đến thế kỉ X; phần Bản kỉ viết tiếp từ thời Đinh Tiên Hoàng đến thời Hậu Lê. Khi mới hoàn thành, Đại Việt sử kí toàn thư gồm 15 quyển; sau đó nhóm tác giả Phạm Công Trứ viết tiếp 5 quyển, tổng là 20 quyển. 2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích Gợi ý: Đoạn 1 (từ đầu đoạn trích đến phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua.): Thông báo sự kiện Trần Thủ Độ chết và giới thiệu khái quát về nhân vật này. Đoạn 2 (từ Bấy giờ có người hặc… đến Vua bèn thôi.): Thuật lại bốn sự kiện lịch sử xảy ra trong cuộc đời hoạt động chính trị – xã hội của Trần Thủ Độ. Đoạn 3 (từ Thủ Độ tuy làm Tể tướng… đến hết): Khẳng định phẩm chất và vai trò lịch sử của Trần Thủ Độ. 3. Giải thích nghĩa của các từ chủ chốt, biểu hiện nội dung bài sử và thái độ đánh giá của sử gia đối với sự kiện và nhân vật lịch sử: người hặc, người hiền, quốc mẫu, công chúa, sinh từ,… Gợi ý: người hặc: người vạch hỏi về lỗi lầm hoặc tội trạng của vị quan nào đó trong triều đình. người hiền: người có đức hạnh và tài năng hơn người. quốc mẫu, công chúa: Năm 1226, sau khi Lí Huệ Tông bị bức tử, hoàng hậu bị giáng xuống làm công chúa và gả cho Trần Thủ Độ. Thái Tông Trần Cảnh thấy bà vốn là hoàng hậu cũ của Huệ Tông, đồng thời là mẹ vợ mình nên phong cho bà làm Linh Từ Quốc Mẫu (gọi tắt là Quốc Mẫu). Trong bài trích, các danh xưng Quốc Mẫu, Linh từ Quốc Mẫu, Công chúa đều chỉ một người: vợ của Trần Thủ Độ. Không phải ngẫu nhiên mà sử gia sử dụng những cách gọi nhân vật với những tên khác nhau. Khi gọi là Linh Từ Quốc Mẫu hoặc Quốc Mẫu là với thái độ tôn trọng, phù hợp với chức phận của bà. Công chúa là cách gọi của Trần Thủ Độ thể hiện thái độ khiêm nhường, đúng với danh phận của vợ mình. sinh từ: đền thờ người còn sống; thời xưa, ai có công lao, đức hạnh lớn, giúp dân cứu đời, mặc dù đang còn sống vẫn được lập đền thờ. Gợi ý: Tính bất ngờ: Cả bốn sự kiện được kể, ở sự kiện nào diễn biến kết cục cũng đều bất ngờ, nằm ngoài dự đoán của người đọc (đối xử với người hặc tội mình; đối xử với người chặn kiệu vợ mình; răn đe người xin chức câu đương; lập luận phản đối việc cử anh trai làm tướng). Kịch tính cao nhưng lại kiệm lời: Tác giả đưa người đọc vào tình huống có vấn đề, để người đọc suy đoán, rồi bất ngờ mở nút theo kiểu “gói kĩ, mở nhanh”. Những diễn biến bất ngờ, cách tái hiện sự việc giàu kịch tính, ngắn gọn ấy đều hướng tới mục đích khắc hoạ chân dung nhân cách nhân vật Trần Thủ Độ. Mặc dù viết theo lối biên niên, nhưng khi cần khắc hoạ chân dung tính cách nhân vật, sử gia cũng đã chọn lọc những chi tiết hết sức tiêu biểu, cô đúc để tô đậm. Sử gia tỏ ra khâm phục, ngợi ca tài đức của Trần Thủ Độ. Tuy nhiên, thái độ ấy được bộc lộ kín đáo, chủ yếu qua sự việc và cách trình bày sự việc. 5. Chỉ ra nội dung thông báo trong phần từ Giáp Tí đến Trung Vũ đại vương. Gợi ý: Thái sư Trần Thủ Độ chết; Sau khi chết được truy tặng. Thông báo sự kiện Trần Thủ Độ chết, sử gia kèm theo thông báo về thời gian cụ thể (Giáp Tí, năm thứ 7; Mùa xuân, tháng giêng). Đây cũng là yêu cầu đối với một tác phẩm lịch sử. 6. Nhân cách Trần Thủ Độ được bộc lộ qua các sự kiện nào? Gợi ý: (1) Có người hặc tội Trần Thủ Độ quyền hơn cả vua. Trước mặt vua, Trần Thủ Độ xác nhận người hặc tội nói đúng và còn ban thưởng. Sự kiện này chứng tỏ Thủ Độ là người thẳng thắn, nghiêm khắc với bản thân; trọng người trung trực, can đảm, dám vạch tội lỗi hoặc sai lầm của người khác, nhất lại là đối với người bề trên, có quyền lực. (3) Quốc Mẫu, vợ Thủ Độ xin riêng cho một người làm chức quan nhỏ. Ông ra điều kiện người đó phải chặt ngón chân để phân biệt với các quan khác. Người kia kêu van xin thôi. Từ đấy không ai dám đến nhờ cậy, xin xỏ chức tước nữa. Sự kiện này chứng tỏ Thủ Độ là người khéo léo, tế nhị trong xử sự (vừa không làm mất lòng vợ, vừa răn đe được những kẻ xin xỏ chức tước và những kẻ cậy quyền thế ban phát chức tước). (4) Thái Tông muốn cho anh Thủ Độ làm tướng. Thủ Độ phản đối việc anh em trong gia đình cùng làm tướng, vì cho rằng như thế sẽ dễ kết bè đảng, bất lợi cho triều đình. Sự kiện này cho thấy Trần Thủ Độ là người có tầm nhìn, lo lắng cho sự ổn định của triều đình, không đồng tình với tư tưởng gia đình trị. 7. Nhận xét chung về nhân vật Trần Thủ Độ. Gợi ý: Nắm giữ trọng trách của triều đình, Trần Thủ Độ là người tài đức vẹn toàn, chí công vô tư, quyết đoán, cao thượng, sống theo kỉ cương, hết lòng phụng sự đất nước. 8. Có thể tiến hành so sánh giữa tính cách Tô Hiến Thành và Trần Thủ Độ để thấy được những nét tính cách giống nhau giữa hai nhân vật này và qua đó hiểu được những phẩm chất đẹp đẽ của con người mà các sử gia Việt Nam đề cao. Tô Hiến Thành và Trần Thủ Độ sống cách nhau khoảng một trăm năm, trong những bối cảnh lịch sử không giống nhau. Nhưng cả hai nhân vật lịch sử này đều được khắc hoạ với nhân cách lớn, luôn đặt sự nghiệp của đất nước lên trên hết, chí công vô tư, trung trực, không nao núng trước cám dỗ danh lợi,…
Soạn bài lớp 10_ Thái sư Trần Thủ Độ
1,488
Soạn bài lớp 10: Thơ Hai-kư của Ba-sô Hướng dẫn Soạn bài: Thơ Hai-kư của Ba-sô giới thiệu đến bạn bài soạn lớp 10: Thơ Hai-kư của Ba-sô, nhằm giúp các bạn chuẩn bị tốt hơn cho việc dạy và học tập môn Ngữ văn lớp 10 học kỳ I. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 10: Đọc “Tiểu thanh kí” Soạn bài lớp 10: Tóm tắt văn bản tự sự Thơ Hai-kư của Ba-sô I. Kiến thức cơ bản 1. Mát-su-ô Ba-sô (1644 – 1694) sinh trưởng trong một gia đình võ sĩ đạo Xa-mu-rai ở thành phố U-e-cô, Nhật Bản. Các tác phẩm của ông để lại khá nhiều, sau này được sưu tập lại trong Ba Tiêu thất bộ tập. Ông là bậc thầy của thơ hai-cư Nhật Bản. Thơ ông mang tính chất đơn sơ, tao nhã, cô liêu, trầm lắng, u buồn, nhưng không chán chường, bi luỵ hay oán đời. 2. Thơ hai-kư là thể thơ vào loại ngắn nhất thế giới, chỉ có 17 âm tiết (một số bài nhiều hơn một chút), ngắt nhịp thành 3 đoạn, theo thứ tự thường là: 5 âm – 7 âm – 5 âm. Mỗi bài thơ hai-kư đều có một tứ thơ nhất định và thường chỉ ghi lại một phong cảnh với vài sự vật cụ thể, trong một thời điểm nhất định, để từ đó khơi gợi lên một cảm xúc, một suy tư nào đó. II. Rèn kỹ năng 1. Về bài 1 Ba-sô quê ở Mi-ê. Ông lên Ê-đô ở được mười năm mới về thăm lại quê. Nhưng rồi Ba-sô đi mà lại thấy Ê-đô, thấy Ê-đô thân thiết như quê hương mình. Bài thơ này thể hiện tình cảm gắn bó thân thiết với nơi mình đang ở. Ba-sô ở kinh đô Ki-ô-tô từ thời trẻ, khi còn là chàng thanh niên, sau đó lên Ê – đô. 20 năm sau, cuối đời ông trở lại, nghe tiếng chim đỗ quyên hót mà mà viết bài này. Chim đỗ quyên hót ở kinh đô mà nhớ kinh đô Trong văn học Trung Quốc, chim Đỗ Quyên gắn với điển tích Vua Thục bị mất nước. Tuy nhiên ở đây các nhà nho cố ý dịch ra thành chim cuốc vì nó cũng xuất hiện vào đầu hè, thường kêu rất buồn và còn đồng âm với chữ quốc (nước). Ở Nhật Bản, chim đỗ quyên là chim hô-tô-tô-ghi-su thường kêu vào đầu hè, nó không hót khi trời đẹp mà hót khi trời xẩm tối, vào đêm trăng, sau khi trời mưa,…tiếng kêu rất tha thiết. Vì thế nó thường được dùng để chỉ sự thương tiếc thời gian, đặc biệt là thể hiện nỗi buồn và sự vô thường. Ba-sô trở về kinh đô sau 20 năm, nghe tiếng đỗ quyên mà nhớ kinh đô năm nào là thế. 3. Về bài 3 Năm 40 tuổi, Ba-sô làm một cuộc du hành đến Kan-sai gần quê nhà. Về đến nhà thì ông hay tin mẹ mất. Người ta đưa lại cho ông di vật là một mớ tóc bạc. Ông đau đớn viết nên bài thơ này. Nỗi xót xa đau đớn của nhà thơ được thể hiện ở giọt lệ nóng hổi rơi xuống bàn tay đang cầm mớ tóc của người mẹ đã khuất. Quý ngữ (từ chỉ mùa) của bài thơ là sương thu. Làn sương thu ở đây là giọt lệ như sương, hay mái tóc của mẹ bạc như sương, hay cuộc đời như giọt sương, ngắn ngủi vô thường. Sương – tóc – lệ tan hoà, tạo nên hình tượng thơ mờ ảo, đa nghĩa. Trong Du kí Phơi thân đồng nội viết năm 1685, Ba-sô kể chuyện một lần đi ngang qua cánh rừng ông bỗng nghe thấy tiếng vượn hú. Tiếng ấy gợi ông nhớ đến tiếng khóc của một em bé bị bỏ rơi trong rừng. Tiếng hú não nề Hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc? Gió mùa thu tái tê Ở Nhật, ngày xưa vào những năm mất mùa có nhà không nuôi nổi con phải bỏ con vào rừng. Thậm chí còn đang tâm giết đứa trẻ nữa. Nghe tiếng vượn hú mà Ba-Sô lại liên tưởng đến tiếng người. Tiếng vượn hay chính là tiếng trẻ con khóc thật. Trong gió mùa thu hay tiếng gió đang than khóc cho nỗi đau của con người. 5. Về bài 5 Bài thơ này Ba-Sô sáng tác khi đi du hành ngang qua một cánh rừng, ông thấy một chú khỉ nhỏ đang lạnh run lên trong cơn mưa mùa đông. Nhà thơ tưởng tượng thấy chú khỉ đang thầm ước có một chiếc áo tơi để che mưa, che lạnh. Hình ảnh chú khỉ đơn độc trong bài thơ gợi lên hình ảnh người nông dân Nhật Bản, gợi hình ảnh những em bé nghèo đang co ro trong cơn lạnh. Bài thơ thể hiện tình thương yêu sâu sắc của nhà thơ đối với những kiếp người nghèo khổ. 6. Về bài 6 Bài thơ này miêu tả cảnh mùa xuân. Quanh hồ Bi-wa có trồng rất nhiều hoa anh đào. Mỗi khi gió thổi, cánh hoa anh đào lại rụng lả tả như mây. Cánh hoa hồng nhạt, mong manh rụng xuống mặt hồ làm cho mặt hồ gợn sóng. Cảnh tượng ấy thể hiện sự tương giao của các vật trong vũ trụ. Triết lí sâu xa nhưng lại được thể hiện bằng những hình tượng giản dị, nhẹ nhàng. Đó chính là cảm thức thẩm mỹ của bài thơ. Bài thơ ra đời trong một lần Ba-sô leo lên núi đá để thăm chính điện chùa Riu-sa-ku-ji. Tiếng ve là thanh, đá là vật. Nhưng trong cảnh u tịch, vắng lặng của chiều tà, khi tất cả đều im ắng hết lại có thể nghe được tiếng ve rền rĩ như nhiễm vào, như thấm vào đá. Liên hệ đó độc đáo, kì lạ mà không hề khoa trương. 8. Về bài 8 Bài thơ này viết ở Ô-sa-ka (năm 1694). Đây là bài thơ từ thế của ông. Trước đó, ông đã thấy mình yếu lắm rồi, như một cánh chim sắp sửa bay khuất vào chân trời vô tận. Nhưng cả cuộc đời Ba-sô là cuộc đời lang thang phiêu bồng, lãng du. Vì thế ngay cả khi sắp từ giã cõi đời, ông vẫn còn lưu luyến lắm, vẫn còn muốn tiếp tục cuộc đi – đi bằng hồn mình. Và ta lại như thấy hồn Ba-sô lang thang trên khắp những cánh đồng hoang vu
Soạn bài lớp 10_ Thơ Hai-kư của Ba-sô
1,075
Soạn bài lớp 10: Thư dụ Vương Thông lần nữa Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Thư dụ Vương Thông lần nữa Soạn bài lớp 10: Thư dụ Vương Thông lần nữa hay còn có tên là Tái dụ Vương Thông thư do Nguyễn Trãi sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Phú nhà nho vui cảnh nghèo Soạn bài lớp 10: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh THƯ DỤ VƯƠNG THÔNG LẦN NỮA (Tái dụ Vương Thông thư) NGUYỄN TRÃI I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là Ức Trai, quê gốc tại làng Ngái (Chi Ngại), huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Ông mất ngày 19 – 9 – 1442, tức 16 tháng tám năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba, trong vụ án Lệ Chi Viên (tức vụ án Trại Vải, huyện Gia Lương, nay thuộc Bắc Ninh), vụ án tru di tam tộc oan khốc nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Trãi, mặc dù bị mất mát nhiều, song vẫn còn khá đồ sộ về số lượng và kiệt xuất về chất lượng: Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, Lam Sơn thực lục, Vĩnh Lăng thần đạo bi, Chí Linh sơn phú, Dư địa chí, Băng Hồ di sự lục, ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập. 2. Trong thời trung đại, thư ban đầu là tên chung của loại thư tín, viết để trao đổi thông tin công việc hoặc tình cảm giữa người với người, hoặc gửi cho vua quan, bạn bè, người thân. Về sau, thư gửi vua được gọi là biểu, tấu còn thư chỉ là hình thức thông tin giữa những người ngang hàng. Trong Quân trung từ mệnh, thư là hình thức công văn, bàn việc nước, việc chiến, việc hoà nên mang đậm nét tính chính luận. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Trong sự nghiệp phò tá Lê Lợi đánh quân Minh, Nguyễn Trãi có nhiệm vụ soạn thảo các thư từ gửi cho các tướng nhà Minh và nhân danh Lê Lợi để khuyên dụ. Nguyễn Trãi đã thực hiện chiến thuật “tâm công” hết sức hiệu quả. Thư lại dụ Vương Thông là thư số 35, một trong những bức thư gửi cho Vương Thông. Bấy giờ thành Đông Quan (Hà Nội nay) bị quân ta vây hãm, quân địch ở trong thành đang khốn đốn. Bức thư này viết vào khoảng tháng 2 – 1427 thì đến tháng 10 năm ấy, sau khi Liễu Thăng bị giết ở gò Mã Yên, Vương Thông không đợi lệnh vua Minh đã “tự ý giảng hoà” với quân Lam Sơn rồi rút quân về nước. 2. Đặt vào hoàn cảnh sáng tác cụ thể để phân tích mục đích của bức thư: Mục đích viết thư của Nguyễn Trãi là dụ giặc ra hàng và rút quân về n­ước. Mục đích này được nói rõ trong các câu: “Các ông là những người xét rõ sự cơ, hiểu sâu thời thế, vậy nên chém đầu Phương Chính, Mã Kì đem đến cửa quân dâng nộp. Như vậy, trong thành sẽ tránh được nạn cá thịt, trong nước sẽ khỏi vạ đau thương, hoà hiếu lại thông, can qua xếp bỏ”. 3. Tìm hiểu bố cục bức thư Gợi ý: Bức thư có bố cục 3 đoạn: Đoạn 1 (từ đầu cho đến Sao đủ để cùng nói việc binh được?): Nêu lên nguyên lí của người dùng binh là phải hiểu biết thời thế. Đoạn 2 (từ Trước đây các ông trong lòng… cho đến… bại vong đó là sáu!): Phân tích thời và thế của đối phương ở thành Đông Quan. Đoạn 3 (phần còn lại): Khuyên hàng, hứa hẹn những điều tốt đẹp, thách đấu và sỉ nhục tướng giặc. Gợi ý: Lôgic giữa các đoạn thể hiện mạch lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục: Người làm dùng binh không thể không hiểu biết thời thế →Nay ở vào thời thế chỉ chuốc lấy bại vong → Trong tình hình như vậy, nếu hiểu biết thời thế thì phải đầu hàng và rút quân về nước → Nếu không thì ra giao chiến phân tài hơn kém, không nên hèn nhát như thế. 5. Phân tích tư tưởng được thể hiện trong đoạn mở đầu Gợi ý: Ở đoạn mở đầu, tác giả nêu tư tưởng về thời thế đối với người dùng binh. Đưa ra tư tưởng thời thế như một nguyên lí căn bản trong việc dùng binh, tác giả đã mở đầu bằng chân lí sáng rõ, phàm là người làm tướng đều thấu hiểu, để từ đó sẽ đi đến phân tích thời thế cụ thể của đối phương nhằm mục đích thuyết phục, dụ hàng; đồng thời khẳng định kẻ địch không những không hiểu thời thế mà còn dối trá, che đậy nguy cơ thảm bại. Đây là đoạn văn có vai trò nêu chủ đề, mở ra hướng lập luận cho toàn bài. 6. Lời lẽ thể hiện tư thế của người viết thư như thế nào? Gợi ý: Mặc dù tư thế của người nắm phần chủ động, hơn về sức mạnh quân sự cũng như thời thế, song thái độ của tác giả hết sức linh hoạt: đối với bọn Vương Chính, Mã Kì tàn ác, ngoan cố thì sỉ mắng, cương quyết tiêu diệt; đối với Vương Thông, Sơn Thọ và các tướng khác thì phân tích thời thế, cương nhu linh hoạt, chủ yếu dụ hàng. Cuối cùng, vừa khuyên nhủ, hứa hẹn lại vừa sỉ mắng, “khích tướng”, thách đánh để chứng tỏ sức mạnh làm chủ tình thế của quân ta. Tác giả khuyên hàng với lí lẽ vừa mềm mỏng, vừa cứng rắn: một là đầu hàng, sẽ được bảo toàn; hai là đem quân ra đọ sức, mà với thời thế như đã phân tích sáng rõ ở phần trên bức thư thì phương án này chỉ đem lại kết quả thảm bại. Bức thư thể hiện địch vận “đánh vào lòng người” của Nguyễn Trãi, cho thấy sự kết hợp tài tình giữa tính chiến đấu mạnh mẽ với lòng yêu chuộng hoà bình thiết tha của tác giả. Gợi ý: Thế của quân Minh ở Trung Quốc: Ngô mạnh không bằng Tần, mà hà khắc lại quá, không đầy một năm tất sẽ theo nhau mà chết, ấy là mệnh trời…; Phía Bắc có giặc Nguyên, trong nước có nội loạn ở Tầm Châu. Thế của quân Minh ở Đông Quan: kế cùng lực kiệt, lính tráng mỏi mệt, trong không lương thảo, ngoài không viện binh,… Sáu cớ bại vong tất yếu, không thể bác bỏ. 8. Bức thư thể hiện niềm tin tất thắng và tinh thần yêu chuộng hoà bình của tác giả, cũng là của nhân dân ta: Chỉ rõ sự thất bại của địch, khẳng định thế tất thắng của ta (sáu cớ bại vong). Khuyên dụ đầu hàng, mở ra đường thoái lui cho đối phương: “sửa sang cầu cống, mua sắm tàu thuyền, thuỷ lục hai đường, tuỳ theo ý muốn; quân ra khỏi bờ cõi, muôn phần bảo đảm được yên ổn”. Bộc lộ quan điểm hoà hữu, bang giao thân thiện, lâu dài: “nước tôi lại phụng cống xưng thần, theo như lệ trước”.
Soạn bài lớp 10_ Thư dụ Vương Thông lần nữa
1,250
Soạn bài lớp 10: Thề nguyền Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Thề nguyền Soạn bài lớp 10: Thề nguyền được trích trong tác phẩm Truyện Kiều do Nguyễn Du sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. THỀ NGUYỀN (Trích Truyện Kiều) NGUYỄN DU I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Xem mục Tìm hiểu về tác giả ở bài Đọc Tiểu Thanh kí và bài Nguyễn Du. 2. Xem mục Thể loại trong bài Truyện Kiều. 3. Với nghệ thuật sử dụng từ ngữ có sức gợi tả sâu sắc, hệ thống hình ảnh hàm súc, gợi cảm, đoạn trích Thề nguyền giúp ta hiểu về quan niệm tình yêu tự do hết sức tiến bộ của Nguyễn Du: Sức mạnh của tình yêu mãnh liệt đã vượt qua lễ giáo phong kiến. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ đoạn trích Gợi ý: Đoạn trích nằm ở phần một của tác phẩm Truyện Kiều có tên “Gặp gỡ và đính ước”. Sau khi đi du xuân, gặp Kim Trọng, Kiều và Kim “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Tiếp đó, Kim Trọng dọn đến ở trọ gần nhà Thuý Kiều. Nhân một lần Kiều bỏ quên chiếc thoa, Kim Trọng bắt được, hai người trao kỉ vật và hứa hẹn chung thuỷ cùng nhau. Rồi một hôm, khi cả nhà Kiều đi mừng thọ bên ngoại, nàng đã chủ động sang nhà Kim Trọng. Hai người tự tình với nhau đến tối mới chia tay. Khi Kiều về nhà, thấy cha mẹ ch­a về, nàng lại sang nhà Kim Trọng lần thứ hai. Đoạn trích kể về buổi tối hai người gặp nhau tại nhà trọ của Kim Trọng, hai người hứa hẹn, thề nguyền chung thuỷ với nhau đến trọn đời. Gợi ý: Ở đây, việc sử dụng điển tích, điển cố và những hình ảnh ẩn dụ, giàu tính ước lệ có tác dụng tạo ra sắc thái trang trọng, tránh cái suồng sã và tô thêm vẻ lãng mạn, nên thơ của mối tình Kim – Kiều. 3. Phân tích hiệu quả biểu đạt của các từ láy được sử dụng trong đoạn trích Gợi ý: Các từ láy được sử dụng (xăm xăm, hắt hiu, thiu thiu, bâng khuâng, mơ màng, vội vàng, vằng vặc, song song,…) là những từ giàu giá trị tạo hình, biểu cảm. Gợi ý: Từ láy xăm xăm đi liền với động từ băng diễn tả bước chân nhanh nhẹn và lòng can đảm, sự hăm hở và mạnh mẽ của Thuý Kiều khi dám dỡ rào, vượt tường sang nhà Kim Trọng để tình tự. Đó là hành động biểu thị rõ rệt về khát vọng một tình yêu tự do chính đáng của thanh niên trong xã hội. Đã có lời bình giữa thế kỉ XX rằng: “Gót sen thoăn thoắt của nàng Kiều còn làm ngơ ngác bao thiếu nữ ngày nay”. 4. Tác giả đã tô đậm tính chất thiêng liêng của cuộc thề nguyền giữa Kiều và Kim Trọng như thế nào? Gợi ý: Tuy rằng đây là cuộc thề nguyền “vụng trộm” (Chưa được phép của cha mẹ) nhưng được Nguyễn Du miêu tả rất trang trọng. Kiều có tình yêu sâu nặng, mãnh liệt với Kim Trọng, do đó bất chấp luật hà khắc của chế độ phong kiến, Kiều đã dám “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” sang nhà Kim Trọng. Kim Trọng là người có học thức, có tình yêu chân thành với Kiều, do đó, chàng đã tiếp đón Kiều rất trang trọng khiến cho cuộc gặp gỡ và thề nguyền có tính chất thiêng liêng: Nàng rằng: khoảng vắng đêm trường, Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa, Kim Trọng đã: Vội vàng làm lễ rước vào, Đài sen nối sáp, lò đào thêm hương Rồi Kim Trọng cùng Thuý Kiều ghi lời thề nguyền (“Tiên thề cùng thảo một chương”), cùng làm các thủ tục của nghi thức thề nguyền (“Tóc mây một món dao vàng chia đôi”), cùng ghi lòng tạc dạ lời thề đồng tâm, đồng lòng đến trăm năm. 5. Phân tích lời nói của Kiều khi sang nhà Kim Trọng Gợi ý: Khi Kiều sang nhà Kim Trọng, chàng vừa mới tỉnh dậy, Kiều đã chủ động nói: “Khoảng vắng đêm trường, – Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa”. Câu nói đó hàm chứa nhiều thông tin quan trọng: Thứ nhất, nhà Kiều ngay gần nhà Kim Trọng trọ học, vậy mà nàng nói “Khoảng vắng đêm trường”, đó là biểu hiện của không gian và thời gian tâm lí. Khi yêu nhau, gần nhau bao nhiêu vẫn là chưa đủ, do đó, mới xa Kim Trọng sau ngày Thanh minh mà Kiều đã có cảm giác lâu lắm không gặp; thêm nữa gần nhau về khoảng cách không gian nhưng không được gặp nhau thì cũng coi như là khoảng cách rất xa. Bởi thế, việc Kiều sang nhà Kim Trọng đêm nay là nỗ lực, cố gắng vượt bậc để vượt qua sự rợn ngợp của thời gian và không gian tâm lí mà vươn tới làm chủ tình yêu, làm chủ số phận của mình. Tiếp đó Kiều nói: Bây giờ rõ mặt đôi ta Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao Câu nói này chứng tỏ Kiều là một phụ nữ rất nhạy cảm, biết quý giá và trân trọng từng giây, từng phút được ở bên người mà mình yêu dấu. Với người phụ nữ nhạy cảm thì tâm lí lo âu, sợ hãi, dự cảm về sự xa cách luôn luôn thường trực. 6. Nhận xét về hình tượng nhân vật Thuý Kiều trong đoạn trích Qua đoạn trích, có thể khẳng định Kiều là một người con gái có tình cảm mạnh mẽ, sâu sắc, mãnh liệt trong tình yêu. Vì tình yêu, vì khát vọng hạnh phúc mà nàng đã bất chấp lễ giáo (lẽ ra nhất nhất phải theo ý cha mẹ), bất chấp quan niệm “trâu đi tìm cọc chứ cọc không thể đi tìm trâu” vốn tồn tại khá nặng nề trong tâm thức con người lúc đó.
Soạn bài lớp 10_ Thề nguyền
1,030
Soạn bài lớp 10: Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ Hướng dẫn Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ Soạn bài lớp 10: Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ là tài liệu tham khảo được sưu tầm, giúp bạn củng cố kiến thức về cách nhận biết, phân biệt và sử dụng hai biện pháp tu từ này sao cho hiệu quả. Mời bạn tham khảo. Soạn bài lớp 10: Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự Soạn bài lớp 10: Luyện viết đoạn văn tự sự Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ I. Kiến thức cơ bản Nhớ lại những điều cơ bản về ẩn dụ và hoán dụ 1. Ẩn dụ Là phép tu từ nghệ thuật được xây dựng dựa trên cơ sở những nét liên tưởng tương đồng. 2. Hoán dụ Là phép tu từ nghệ thuật được xây dựng dựa trên cơ sở những nét liên tưởng tương cận (sự gần gũi nhau giữa hai sự vật, hiện tượng). 3. Ẩn dụ và hoán dụ Đều được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng nhưng cơ chế tạo lập có khác nhau (liên tưởng tương đồng và liên tưởng tương cận). II. Rèn kỹ năng 1. Trong hai câu ca dao, các từ thuyền, bến, cây đa, con đò,… đúng là những từ không chỉ mang nghĩa gọi tên sự vật tồn tại trong hiện thực (thuyền, bến,…) mà còn mang nội dung ý nghĩa hoàn toàn khác. Các hình ảnh thuyền (con đò) – bến (cây đa) lần lượt tạo nên ý nghĩa tượng trưng cho hình ảnh người ra đi và người ở lại. Chính vì vậy câu (1) trở thành lời thề ước, hứa hẹn, nhắn nhủ về sự thủy chung. Câu (2) trở thành lời than tiếc vì thề xa “lỗi hẹn”. Các từ thuyền, bến ở câu (1) và cây đa bến cũ, con đò ở câu (2) có sự khác nhau nhưng chỉ là khác ở nội dung ý nghĩa hiện thực (chỉ sự vật). Xét về ý nghĩa biểu trưng, chúng là những liên tưởng giống nhau (đều mang ý nghĩa hàm ẩn chỉ người đi – kẻ ở). Để hiểu đúng ý nghĩa hàm ẩn này, thông thường chúng ta giải thích rằng: Các sự vật thuyền – bến – cây đa, bến cũ – con đò là những vật luôn gắn bó với nhau trong thực tế. Vì vậy chúng được dùng để chỉ “tình cảm gắn bó keo sơn” của con người. Bến, cây đa, bến cũ mang ý nghĩa hiện thực chỉ sự ổn định, vì thế nó giúp người ta liên tưởng tới hình ảnh người phụ nữ, tới sự chờ đợi, nhung nhớ, thủy chung. Ngược lại thuyền, con đò thường di chuyển không cố định nên được hiểu là người con trai, hiểu là sự ra đi. Có nắm được quy luật liên tưởng như vậy, chúng ta mới hiểu đúng ý nghĩa của các câu ca dao trên. Dưới trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông. Nhà thơ Nguyễn Du đã dùng hai hình ảnh chim đỗ quyên và hoa lựu để cùng biểu đạt ý nghĩa: Mùa hè đã đến. Cả hai hình ảnh này đều là những dấu hiệu báo hè (chim đỗ quyên kêu và hoa lựu nở đều vào thời điểm mùa hè). Vì thế nhìn vào hai dấu hiệu ấy, người ta có thể nghĩ ngay đến sự khởi đầu của mùa hè. Lửa lựu còn gợi liên tưởng đến sức ấm nóng của mùa hè. – Chú ý: Thực ra hai hình ảnh chim quyên và hoa lựu nở cũng có thể hiểu là hai hoán dụ. Bởi mùa hè – chim quyên – hoa lựu đều có thực và gắn bó chặt chẽ với nhau trong thực tế (nghĩa là chúng có mối liên hệ tương cận với nhau). Như vậy chỉ có hình ảnh lửa lựu (sức nóng của mùa hè) ở trong câu này là được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng tương đồng “thực sự” mà thôi. b) Vứt đi những thứ văn nghệ ngòn ngọt, bày ra sự phè phỡn thoả thuê hay cay đắng chất độc của bệnh tật, quanh quẩn vài tình cảm gầy gò của cá nhân co rúm lại. Chúng ta muốn có những tiểu thuyết, những câu thơ thay đổi được cả cuộc đời người đọc – làm thành người, đẩy chúng ta đến một sự sống trước kia chỉ đứng xa nhìn thấp thoáng. Cụm từ “làm thành người” là một ẩn dụ được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng về cách thức. Từ “làm thành” thường dùng để chỉ quá trình thực hiện một việc gì đó (từ cha được đến được, từ cha tốt đến tốt…) Quá trình nhận thức của con người cũng diễn ra như vậy. Do đó làm thành người cũng hiểu là nên người – nghĩa là biết nhận thức đúng đắn về cuộc sống. c) Ơi con chim chiền chiện – Hót chi mà vang trời – Từng giọt long lanh rơi – Tôi đưa tay tôi hứng Đoạn thơ này cũng giống hai câu thơ của Nguyễn Du. Ở đây, hình ảnh chim chiền chiện, giọt sương rơi (giọt long lanh) là những dấu hiệu báo mùa xuân đến. Ẩn dụ này được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng dấu hiệu đặc trưng – mùa. Câu thơ có hai hình ảnh ẩn dụ: Thác – chỉ những khó khăn vất vả, những thử thách. Chiếc thuyền – chỉ con đường cách mạng, chỉ con đường của cả nước non mình. Câu thơ xây dựng hình ảnh ẩn dụ dựa trên những liên tưởng có thực (thác – khó khăn, con thuyền – sức vượt qua) để nói lên sức sống và sức vươn lên mãnh liệt của cả dân tộc chúng ta. e) Câu thơ cũng có hai hình ảnh ẩn dụ: Phù du (liên tưởng đến cuộc đời nổi trội, ngắn ngủi) và phù sa (cuộc sống sung sướng, hạnh phúc, ấm no). Có liên tưởng này vì phù du là một loài côn trùng có cuộc đời ngắn ngủi, trái lại phù sa là “chất dinh dưỡng” tốt nuôi sống cây trái trên đồng. Dùng hai hình ảnh ẩn dụ này, nhà thơ Chế Lan Viên muốn so sánh cuộc đời xưa và nay. Từ đó mà khẳng định giá trị và ý nghĩa nhân văn của cuộc sống hôm nay. 3. Ví dụ một số câu văn có dùng phép ẩn dụ a) Tôi đang nói đến cuộc sống đau thương và không hiểu sao, tôi lại nghĩ ngay đến “các vị la Hán chùa Tây Phương” của nhà thơ Huy Cận. b) Đất trời trở mình sang mùa, đã thấy cái lành lạnh của gió. c) Ông T vẫn ngồi đó. Ông đang nhớ về cái đêm tối tăm nhất của đời ông. 4. a) Đầu xanh đã tội tình gì – Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi Nhà thơ Nguyễn Du dùng từ đầu xanh với ý nghĩ chỉ tuổi trẻ, từ má hồng với ý nghĩ chỉ người con gái đẹp, một mĩ nhân. Cả hai từ này đều dùng để ám chỉ nhân vật Thúy Kiều. Cũng như vậy, Tố Hữu dùng cụm từ áo nâu, áo xanh (Áo nâu liền với áo xanh – Nông thôn liền với thị thành đứng lên) để chỉ hai lớp người trong xã hội: nông dân và công nhân. Trong cả hai trường hợp này, các nhà thơ đã dùng những từ chỉ bộ phận của cơ thể (đầu, má) hay chỉ những trang phục quen dùng (áo xanh, áo nâu) để chỉ con người. Cách gọi tên này chẳng những tránh được sự nhầm nhọt, mòn sáo mà còn đem lại niềm vui thích và gợi ra những tình ý sâu xa. b) Trong trường hợp, khi chúng ta gặp phải một đối tượng đã bị tác giả thay đổi cách gọi tên, để hiểu đúng được đối tượng ấy, chúng ta phải chú ý xem tác giả đã chọn cái gì để thay thế các đối tượng ấy. Cái được tác giả chọn để thay thế thường là một bộ phận, một tính chất, một đặc điểm nào đó… tiêu biểu. Phương thức chuyển đổi nghĩa này là phép tu từ hoán dụ. Nó giúp cho việc gọi tên sự vật, hiện tượng… trở nên phong phú, sinh động và hấp dẫn hơn. Các trường hợp này đều là hoán dụ tu từ. Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào? Trong câu thơ này, hai hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông là hai hình ảnh hoán dụ dùng để chỉ “người thôn Đoài” và “người thôn Đông”. Còn hai hình ảnh cau thôn Đoài và trầu không thôn nào lại là những ẩn dụ dùng để chỉ những người đang yêu. Hai câu thơ là một lời tỏ tình thú vị. Đích của lời nói tuy vẫn hướng về người yêu. Thế nhưng cách nói bâng quơ theo kiểu ngôn ngữ tỏ tình của trai gái đã tạo ra một sự thích thú đặc biệt cho những người tiếp nhận nội dung của câu thơ. Cùng là bày tỏ nỗi nhớ người yêu nhưng nếu câu ca dao Thuyền ơi có nhớ bến chăng…? sử dụng những liên tưởng có phần mòn sáo thì câu thơ của Nguyễn Bính (Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông) lại có những liên tưởng vô cùng mới mẻ. Những liên tưởng này tạo ra nét đẹp riêng và sự thích thú, hấp dẫn cho mỗi câu thơ. 6. Ví dụ một số câu văn có dùng phép tu từ hoán dụ a) Trước Cách mạng tháng Tám, nông dân của ta đều là những Chị Dậu, Lão Hạc, anh Pha cả. b) Nhà nó có mỗi bốn miệng ăn. Vậy mà vợ chồng nó lúc nào cũng ngược xuôi vất vả. c) Người ta ba bốn chục tuổi đầu đã có nhà cao cửa rộng. Đằng này, đã ngoài bốn chục mà nó vẫn cứ nhởn nhơ phè phỡn như không. Sáng sáng, nó ngủ dậy, phi xe ra ngoài phố, ăn bát phở mà có khi đến tận mời giờ. Ăn xong lại rong ruổi đi các phố. Người ta bảo nó là một tay chơi. Tôi chẳng biết, chỉ biết cờ bạc, rượu chè, lô đề,…nó đều thông thạo cả. Khổ thân nhất là bà già nhà nó. Lá vàng sắp rụng đến nơi mà vẫn phải khòng lưng quẩy gánh ngày ngày kiếm vài ba chục để nuôi kẻ đầu xanh.
Soạn bài lớp 10_ Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ
1,766
Soạn bài lớp 10: Trao duyên Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Trao duyên Soạn bài lớp 10: Trao duyên được trích trong tác phẩm Truyện Kiều do Nguyễn Du sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Khái quát lịch sử Tiếng Việt Giáo án Trao duyên Ngữ văn 10 Bài giảng Trao duyên Ngữ văn 10 TRAO DUYÊN (Trích Truyện Kiều) NGUYỄN DU I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Xem lại mục Tìm hiểu về tác giả ở bài Đọc Tiểu Thanh kí. 2. Với tài nghệ miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật của Nguyễn Du, đoạn trích Trao duyên ca ngợi tình yêu sâu sắc của Thuý Kiều đối với Kim Trọng qua việc thể hiện nỗi đau đớn tột cùng mà nàng phải chịu đựng khi phải trao duyên; qua đó thể hiện lòng cảm thông, thương yêu sâu sắc của Nguyễn Du đối với con người “bạc mệnh”. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Đây là một trong những đoạn ở vị trí mở đầu cho cuộc đời lưu lạc đầy đau khổ của Thuý Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt giam do có kẻ vu oan, Thuý Kiều phải bán mình làm vợ Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót quan lại cứu cha và em. Việc nhà đã tạm yên, Kiều mới nghĩ đến tình duyên lỡ dở của mình. Trước hết, nàng nghĩ cho người mình yêu, phận mình dù thế cũng đành, nhưng cảm thấy có lỗi với Kim Trọng. Phải làm thế nào cho người yêu đỡ khổ, suy nghĩ mãi, trong đêm cuối cùng, nàng quyết định nhờ em thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Trao duyên trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều. 2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích Gợi ý: Có thể chia đoạn trích làm hai đoạn nhỏ: Đoạn 1 (14 câu đầu): Thuý Kiều “trao duyên” cho Thuý Vân. Kiều nói với em về nỗi bất hạnh của mình. Nhờ em và trao kỉ vật tình yêu cho em. Đoạn 2 (20 câu còn lại): Tâm trạng Kiều sau khi “trao duyên”. Kiều mong muốn “trở về” gặp lại người yêu. Kiều hướng đến sự đồng cảm với người yêu. Tâm trạng tuyệt vọng của Kiều bởi mâu thuẫn trong tâm hồn nàng (tình yêu sâu nặng và sự chia biệt vĩnh viễn) vẫn không thể giải quyết. Gợi ý: Đoạn trích là một đoạn lời thoại hoàn chỉnh của nhân vật. Nhưng tính chất đối thoại đổi thay dần theo diễn biến tâm lí và cảm xúc của Kiều. Thoạt đầu xưng hô “chị em”; nhưng từ dòng 15 đến dòng 26, Kiều cảm thấy hạnh phúc đời mình đến đây chấm dứt nên tự xưng mình là “người mệnh bạc”, “người thác oan”, “hồn”. Từ dòng 27 cho đến hết, Kiều như quên đang nói với em, chuyển sang nói với Kim Trọng đang vắng mặt, đó là lời đối thoại đau đớn với người yêu trong tưởng tượng. Dòng 27 – 28 là lời than, dòng 29 – 30 là lời nói với Kim Trọng trong tưởng tượng, dòng 31 – 32 lại là lời than, dòng 33 – 34 lại nói với Kim Trọng trong tưởng tượng. Ở đây, dấu hiệu độc thoại nội tâm là người đối thoại trực tiếp (Thuý Vân) không hiện diện nữa. Cho dù Thuý Vân vẫn còn ngồi ở đó, nhưng lời của Kiều không hướng tới nàng. Kiều lúc này chỉ sống với chính mình, với người yêu của mình nên lời nàng hướng vào nội tâm, thể hiện nỗi đau đớn đến quằn quại của riêng nàng. Ở vào trạng thái đau đớn đến cùng cực, người ta mất luôn ý thức về thực tại. Lời độc thoại này có tác dụng thể hiện trạng thái tâm lí ấy. Và giọng thơ từ chỗ đau đớn bỗng oà thành tiếng khóc: “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! – Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!” 4. Bình luận về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong đoạn trích Gợi ý: Nguyễn Du đã thể hiện một nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ tinh tế, điêu luyện. Thuý Kiều nhờ em gái là Thuý Vân thay mình lấy một người mà em chưa thực quen biết. Dù Thuý Vân tính tình đơn giản thế nào thì yêu cầu này cũng quá ư đột ngột, bởi đây là chuyện quan hệ đến cả một đời người. Vì thế lời của Kiều vừa trông cậy, vừa nài ép. Để thể hiện sắc thái này, Nguyễn Du đã rất công phu trong lựa chọn từ ngữ trong ngôn ngữ nhân vật: “cậy”, mời em “ngồi lên cho chị lạy”, rồi sẽ “thưa”,… Cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Kiều dùng “cậy” mà không dùng “nhờ” vì “cậy” có ý nói khó, vật nài buộc người khác phải nghe mình, không cho từ chối; còn nhờ thì tuỳ ý, không có ý nài ép. Kiều dùng “chịu lời” mà không nói “nhận lời”. “chịu lời” là nhận lời làm việc không do mình tự nguyện, hoặc một việc khó chối từ. Chữ “có” ở đây tuy được dùng với ý ướm hỏi cho lịch sự, nhưng thực chất là ép buộc: “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”. Hai chữ “mặc em” nói rõ cái ý ép buộc. Gợi ý: Bi kịch ở đây được hiểu là tâm trạng của một người biết rất rõ, ý thức rất rõ về nỗi đau khổ của mình mà không có cách nào để giải thoát được. Với Thuý Kiều, bi kịch tình yêu là nỗi đau về sự tan vỡ tình yêu hoàn toàn do khách quan đưa lại. Kiều thiết tha yêu Kim Trọng và mong muốn tình yêu được đẹp mãi, đã thề nguyền kết duyên trăm năm nhưng vì để cứu gia đình mà nàng phải phụ tình Kim Trọng. Biết rằng như thế sẽ rất đau khổ, trao duyên cho em cũng chỉ là một cách an ủi phần nào tình yêu với Kim Trọng mà thôi. Biết trước đau khổ mà không có cách nào giải thoát. Đó là nguồn cơn tâm trạng bi kịch của nhân vật trong đoạn trích. 6. Bình luận nhan đề Trao duyên Gợi ý: Chữ duyên theo giáo lí của nhà Phật là nguyên do tạo ra số phận, sau này được hiểu rộng hơn là sự định sẵn từ kiếp trước cho tình cảm của hai người (thường là tình cảm vợ chồng). Duyên là một khái niệm có tính chất vô hình, do đó trao duyên là một điều khó khăn, nhất là với những người có đời sống nội tâm sâu sắc như Thuý Kiều. Trao duyên là một sự hi sinh rất lớn. Trước đó Kiều đã hi sinh tình yêu để làm bổn phận người con hiếu thảo: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nay, trao duyên cho Vân là hi sinh tình yêu của mình vì hạnh phúc của người mà mình yêu. Do vậy, hành động của Kiều làm cho hình tượng nhân vật trở nên cao cả hơn, đẹp đẽ và đáng khâm phục hơn. 7. Phân tích tâm trạng Thuý Kiều thể hiện qua hai câu thơ: Chiếc vành với bức tờ mây Duyên này thì giữ, vật này của chung. Gợi ý: 8. Tác giả đã khắc hoạ tâm trạng Kiều như thế nào sau khi “trao duyên”? Gợi ý: Nếu như phần trên của đoạn trích còn là sự đấu tranh giữa lí và tình, là sự hi sinh vì người mình yêu, thì đến đoạn cuối, sau khi trao duyên, Kiều đã nghĩ đến mình. Giọng điệu của đoạn thơ trở thành giọng điệu thương thân của chính nhân vật. Kiều quan niệm trao duyên tức là đã mất Kim Trọng, như thế thì đời mình coi như cũng hết. Nghĩ đến tương lai, Kiều thấy cái chết hiện diện và khi đó oan hồn của bản thân sẽ theo gió tìm về chốn cũ: Trông ra ngọn cỏ lá cây Thấy hiu hiu gió thì hay chị về Và Kiều đã tưởng tượng oan hồn của mình sẽ cất lời cầu xin chân thành và tội nghiệp: Rảy xin chén nước cho người thác oan Nàng vô cùng đau khổ khi nghĩ đó là tương lai sắp tới mà mình không tránh được. Do đó, Kiều đã khóc, khóc một cách tuyệt vọng cho tình yêu ngắn ngủi của mình: Bây giờ trâm gãy bình tan Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân Tiếng khóc cho mối tình tan vỡ, tiếng khóc cho thân phận khổ đau cất lên từ nhân vật chính của tác phẩm đã đánh động tâm can bao người đương thời và hậu thế. Như thế, ở đây tiếp tục xuất hiện mâu thuẫn không thể giải quyết giữa tình yêu mãnh liệt và sự chia biệt vĩnh viễn, tức là giữa lí và tình.
Soạn bài lớp 10_ Trao duyên
1,502
Soạn bài lớp 10: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy Hướng dẫn Soạn bài: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy Soạn bài lớp 10: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo. Soạn bài truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy sẽ giúp các em rút ra được bài học giữ nước của nhân dân ta ngày xưa để học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY (Truyền thuyết) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tóm tắt: Sau khi giúp An Dương Vương xây dựng xong Loa Thành, trước khi ra về, thần Kim Quy còn tặng cho chiếc vuốt để làm lẫy nỏ thần. Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà khi chúng sang xâm lược. Triệu Đà cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thuỷ, vua vô tình đồng ý. Trọng Thuỷ dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm đổi mất lẫy thần mang về phương Bắc. Sau đó, Triệu Đà phát binh đánh Âu Lạc. Không còn nỏ thần, An Dương Vương thua trận, cùng Mị Châu chạy về phương Nam. Thần Kim Quy hiện lên kết tội Mị Châu, vua chém chết con rồi đi xuống biển. Mị Châu chết, máu chảy xuống biển thành ngọc trai. Trọng Thuỷ mang xác vợ về chôn ở Loa Thành, xác liền biến thành ngọc thạch. Vì quá tiếc thương Mị Châu, Trọng Thuỷ lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc trai, rửa bằng nước giếng ấy thì ngọc trong sáng thêm. 2. Truyền thuyết là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố lịch sử và yếu tố tưởng tượng hoang đường. Nó phản ánh quan điểm đánh giá, thái độ và tình cảm của nhân dân về các sự kiện lịch sử và các nhân vật lịch sử. 3. Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là câu chuyện về bi kịch mất nước của cha con An Dương Vương và bi kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy. Từ câu chuyện ấy, nhân dân ta muốn rút ra và truyền lại cho con cháu các thế hệ sau bài học lịch sử về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu xâm lược của kẻ thù. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Các chi tiết liên quan đến nhân vật An Dương Vương: An Dương Vương xây thành nhưng thất bại. An Dương Vương được Rùa Vàng giúp xây thành và chế nỏ thần. Vua đánh thắng Triệu Đà lần thứ nhất. Vua chủ quan khi Triệu Đà đem quân đánh. Vua thất bại và chém chết Mị Châu. b) Sự thất bại của An Dương Vương bắt đầu từ chỗ nhà vua chấp nhận lời cầu hòa và thêm nữa còn cho Trọng Thủy về ở rể. Trong sự việc này, An Dương Vương đã tỏ ra mơ hồ về bản chất ngoan cố của kẻ thù, tỏ ra mất cảnh giác. Hơn nữa việc mất nước còn do nhà vua chủ quan ỷ vào có vũ khí lợi hại nên đã không đề phòng khi quân giặc tiến công. c) Chi tiết Rùa Vàng, Mị Châu và việc vua chém đầu con gái theo lời kết án của Rùa Vàng được sáng tạo ra để nhân dân ta gửi gắm lòng kính trọng đối với vị vua anh hùng dũng cảm – con người sẵn sàng hi sinh những tình cảm riêng tư để giữ tròn khí tiết và danh dự trước đất nước non sông. Nó cũng phê phán thái độ mất cảnh giác của Mị Châu, đồng thời cũng là lời giải thích “nhẹ nhàng” nhằm xoa dịu nỗi đau mất nước. 2. Những chi tiết liên quan đến vai trò của Mị Châu trong bi kịch mất nước của người Âu Lạc: Mị Châu ngây ngô cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần. Trên đường rút chạy, nàng còn rắc lông ngỗng cho Trọng Thủy và quân lính đuổi theo. Sự mất cảnh giác của Mị Châu là ở chỗ đã cả tin đem trao vào tay giặc bí quyết chống giặc giữ nước của quốc gia. Hơn thế nữa khi hai cha con đã bị thất bại, nàng lại vì bị tình cảm lu mờ mà chỉ đường cho giặc khiến cho hai cha con bị rơi vào con đường cùng tận. Thực ra ý kiến cho rằng “Mị Châu làm vậy là chỉ tuân theo tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ đối với Tổ quốc” và “việc Mị Châu tuyệt đối nghe và làm theo ý chồng là đương nhiên” là không thuyết phục dù chúng ta biết Mị Châu là một người vợ thời phong kiến. Khi dựng truyện, tác giả dân gian cũng chỉ muốn nhấn mạnh sự cả tin và ngây thơ của Mị Châu, vì thế mới có bài học giữ nước cay đắng, xót xa nhưng thấm thía truyền đến tận hôm nay. Phần kết truyện liên quan đến cái chết của Mị Châu thể hiện hai cái nhìn tưởng như trái ngược nhưng lại rất thống nhất của tác giả dân gian. Mị Châu bị trừng trị là một dứt khoát, rõ ràng của lịch sử. Nó xuất phát từ truyền thống yêu nước và lòng thiết tha với độc lập tự do của người Việt ta. Nhưng Mị Châu lại được “hồi sinh” (hóa thân vào ngọc và đá) bởi dân tộc ta bao giờ cũng bao dung. Kết thúc ấy thể hiện niềm cảm thông với sự trong trắng ngây thơ của nàng công chúa. Câu chuyện của Mị Châu quả đúng là lời nhắn nhủ của tác giả dân gian đối với thế hệ trẻ muôn đời trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tình nhà với nghĩa nước, giữa cái riêng với cái chung. 3. Có thể nói Trọng Thủy là thủ phạm trực tiếp gây ra bi kịch của nước Âu Lạc và cái chết của hai cha con Mị Châu. Vừa là con, vừa là bề tôi, Trọng Thủy đã tuân thủ tuyệt đối theo mệnh lệnh của Triệu Đà. Nhìn ở khía cạnh này, Trọng Thủy đúng là một kẻ thù của dân tộc. Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” là một hình ảnh đẹp lại vừa giàu ý nghĩa. Nó là một sự kết thúc hoàn mỹ cho một mối tình. Chi tiết “ngọc trai” đã chứng thực được tấm lòng trong sáng của Mị Châu. Chi tiết “giếng nước” có hồn Trọng Thủy lại là chi tiết được dựng lên để hóa giải nỗi hối hận vô cùng và tội lỗi của nhân vật này. Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” với việc ngọc trai kia đem rửa trong nước giếng này lại càng sáng đẹp hơn còn nói lên rằng Trọng Thủy đã tìm được lời hóa giải trong tình cảm của Mị Châu ở thế giới bên kia. Nhìn ở khía cạnh này Trọng Thuỷ lại là một kẻ si tình thật đáng thương. 4. “Cốt lõi lịch sử” của truyện là việc An Dương Vương xây thành Cổ Loa và sự thực về sự thất bại của Âu Lạc trước sự xâm lược của Triệu Đà. Cái cốt lõi ấy đã được dân gian làm cho sinh động bằng việc thêm vào nhiều sự việc chi tiết thần kì như chuyện xây thành, chế nỏ; chuyện về cái chết của An Dương Vương và của Mị Châu; chi tiết về ” Ngọc trai – giếng nước”…. Chính việc thêm vào truyện các chi tiết thần kì này đã giúp cho câu chuyện thêm hấp dẫn và sinh động. Nó cũng thể hiện một cái nhìn bao dung của nhân dân ta với các nhân vật lịch sử và với tất cả những gì đã xảy ra. Có thể nêu ý kiến: việc Trọng Thủy lấy cắp lẫy nỏ thần và là người trực tiếp gây ra bi kịch mất nước của Âu Lạc và cái chết của hai cha con An Dương Vương là một điều đáng trách. Tuy nhiên, tình yêu mà Trọng Thủy dành cho Mị Châu cũng là chân thật và sâu nặng. Chính vì vậy đối với nhân vật này, chúng ta thấy vừa đáng thương lại vừa đáng giận. 6. An Dương Vương đã tự tay chém đầu người con gái duy nhất của mình. Cách xử lí này hoàn toàn phù hợp với đạo lí truyền thống của dân tộc ta. Nó thể hiện lòng bao dung của dân tộc đối với những đứa con lầm lỗi nhưng đã biết cúi đầu hối hận và chịu tội. Trước đất nước, nhân dân, cách hành xử của nhà vua là đầy trách nhiệm. Thế nhưng về tình nhà, An Dương Vương chắc chắn cũng vô cùng đau đớn. Việc để cho hai cha con đoàn tụ bên nhau (khi chết) là cái kết hợp tình hợp lí và nhân hậu của nhân dân ta. 7. Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, cho đến tận ngày nay vẫn chiếm được cảm tình của người đọc. Người ta đọc truyện để hiểu về lịch sử, để rút ra những bài học bổ ích cho mình và cho con cháu đời sau. Nhưng không chỉ thế, đọc truyền thuyết này, người ta còn muốn hiểu sâu sắc hơn bi kịch của một mối tình rất đẹp trong lịch sử. Sức sống của truyền thống An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy còn khơi nguồn cho những cảm hứng thi ca. Các tác giả như Tố Hữu, Trần Đăng Khoa… đều đã có những sáng tác lấy cảm hứng từ tác phẩm này. Ví dụ trong bài thơ “Tâm sự” rút trong tập thơ “Ra trận” của nhà thơ Tố Hữu, có đoạn viết: … Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu, Trái tim lầm lỡ để trên đầu. Nỏ thần vô ý trao tay giặc, Nên nỗi cơ đồ đắm biểu sâu…
Soạn bài lớp 10_ Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy
1,684
Soạn bài lớp 10: Truyện Kiều Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Truyện Kiều Soạn bài lớp 10: Truyện Kiều do Nguyễn Du sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 học kì 2 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Mời các bạn cùng xem bài Soạn bài Truyện Kiểu của Nguyễn Du, do chúng tôi sưu tầm dưới đây. Soạn bài lớp 10: Nỗi sầu oán của người cung nữ Soạn bài lớp 10: Đề văn nghị luận Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Giáo án Ngữ Văn 9 bài Truyện Kiều của Nguyễn Du Tóm tắt tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du TRUYỆN KIỀU NGUYỄN DU I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Xem lại mục Tìm hiểu về tác giả trong bài Đọc Tiểu Thanh kí. 2. Truyện Kiều thuộc thể loại truyện Nôm bác học. Truyện Nôm là tác phẩm tự sự dài, làm bằng văn vần tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm. Truyện Nôm ra đời vào thế kỉ XVI, XVII và phát triển mạnh mẽ ở thế kỉ XVIII; đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thì sáng tác ít dần. Truyện Nôm lúc đầu có tác phẩm viết bằng thơ Đường luật nhưng càng về sau phổ biến là viết bằng thể thơ lục bát. Có hai loại truyện Nôm: truyện Nôm bình dân viết trên cơ sở chuyện kể dân gian và truyện Nôm bác học viết trên cơ sở cốt truyện có sẵn của văn học Trung Quốc (Truyện Kiều thuộc loại này); có tác phẩm xây dựng theo cốt truyện hư cấu. 3. Truyện Kiều của Nguyễn Du – kiệt tác số một của dân tộc Việt Nam, di sản văn học của nhân loại, là một “tập đại thành” của truyền thống nghệ thuật, văn hoá Việt Nam, tiêu biểu cho cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa, vừa là niềm thương cảm sâu sắc, là tấm lòng “nghĩ tới muôn đời”, vừa là thái độ nâng niu, vun vén cho những giá trị nhân bản cao đẹp của con người. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Nguyễn Du viết Truyện Kiều dựa theo Kim Vân Kiều truyện, tiểu thuyết chương hồi cỡ nhỏ (gồm 20 hồi) của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Thời điểm sáng tác Truyện Kiều tuy chưa xác định được nhưng nhiều nhà khoa học phỏng đoán rằng, tác phẩm được sáng tác trong quá trình dài, bắt đầu từ thời gian “mười năm gió bụi” ở Thái Bình (1789), được hoàn thiện tiếp vào thời gian về Nghi Xuân (1796) cho đến khi Nguyễn Du ra làm quan dưới triều Nguyễn (1802). Gợi ý: Truyện Kiều được Nguyễn Du đặt tên là Đoạn trường tân thanh, gồm 3254 câu thơ lục bát. Nguyễn Du đã biến một câu chuyện tình thành một khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh, gián tiếp phản ánh những sự thực đáng buồn trong giai đoạn lịch sử cuối Lê, đầu Nguyễn, thể hiện lòng thương cảm vô hạn đối với con người, nhất là người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Nguyễn Du đã lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo, về sự báo oán tàn nhẫn và một số chi tiết dung tục trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, thay đổi thứ tự kể và sáng tạo thêm một số chi tiết mới để tạo ra một thế giới nhân vật sống động như thật; biến các sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và người kể; chuyển trọng tâm của truyện từ việc kể sự kiện sang biểu hiện nội tâm nhân vật, làm cho các nhân vật sống hơn, sâu sắc hơn và tác phẩm trở thành một bách khoa thư của muôn vàn tâm trạng. 3. Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Gợi ý: Truyện Kiều thể hiện một nghệ thuật xây dựng nhân vật sống động, vừa có nét điển hình, vừa có nét riêng rất nổi bật, đặc biệt là tâm lí nhân vật, chỉ cần một đôi lời cô đọng là làm lộ ngay thần thái của nó. Nhân vật trong tác phẩm được miêu tả cả ngoại hình và nội tâm. Nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Du xứng đáng bậc thầy nên các nhân vật hiện ra sống động, rõ nét, như đứng trước mặt độc giả. Về nhân vật chính diện: Nguyễn Du tả bằng bút pháp ước lệ, chọn những hình ảnh ước lệ tiêu biểu nhất để nhân vật có được nét cá thể không nhầm lẫn với các nhân vật ước lệ khác trong văn chương trung đại Việt Nam. Với nhân vật phản diện: Nguyễn Du dùng bút pháp tả thực để lột tả cho đầy đủ “cái xác phàm của chúng” (Nguyễn Đăng Mạnh). Với mỗi nhân vật dù là phản diện hay chính diện, Nguyễn Du thường tìm được nét thần thái của nhân vật để miêu tả, dù chỉ đôi dòng hay vài chữ mà lột tả được cả bản chất nhân vật. Gợi ý: Trong Truyện Kiều, khi miêu tả nhân vật chính diện, tác giả dùng hình ảnh ước lệ, khi miêu tả nhân vật phản diện, Nguyễn Du lại tả thực. Khi miêu tả nhân vật chính diện, Nguyễn Du dùng ước lệ vì những hình ảnh đó rất đẹp, phù hợp với tình cảm trân trọng và ngợi ca mà tác giả dành cho nhân vật. Nhân vật chính diện trong tác phẩm của ông vừa đẹp người, lại đẹp nết. Ví dụ, khi miêu tả Thuý Kiều, Thuý Vân, Kim Trọng, Từ Hải,… Khi miêu tả nhân vật phản diện, ông dùng bút pháp tả thực vì ngôn ngữ tả thực gần ngôn ngữ đời thường hơn, để “tả thực cái xác phàm của chúng” với những nét xấu xa về bản chất, như cách dùng từ của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Mạnh, thì ngôn ngữ tả thực là phù hợp hơn cả. Ví dụ, khi miêu tả Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh,… 5. Tìm hiểu về nghệ thuật kể chuyện trong Truyện Kiều Gợi ý: Truyện Kiều là mẫu mực của nghệ thuật kể chuyện và trữ tình bằng thơ lục bát, với bút pháp trần thuật và giới thiệu nhân vật độc đáo, bút pháp miêu tả tinh tế; nhất là nghệ thuật trần thuật từ điểm nhìn nhân vật, làm cho sự việc, cảnh vật thấm đẫm cảm xúc và thế giới tình cảm của nhân vật được bộc lộ một cách trực tiếp. Thể thơ lục bát được sử dụng hết sức điêu luyện, ưu thế của thể loại được vận dụng một cách tối đa nên đã đủ sức diễn tả nhiều sắc thái của cuộc sống và những biểu hiện tinh tế trong đời sống tâm hồn con người. Nhờ tài năng và vốn kiến thức sẵn có, Nguyễn Du đã thành công đặc biệt trong việc xây dựng được một tiểu thuyết bằng thơ lục bát, cả một thiên tiểu thuyết không một câu nào gượng ép. Vì thế, tác phẩm được đông đảo nhân dân yêu thích và sử dụng trong đời sống, làm lời hát ru, làm sách bói… Có người, dù vốn kiến thức hạn chế nhưng thuộc cả Truyện Kiều, thậm chí có nhiều trang còn thuộc ngư­ợc từ dưới lên… Gợi ý: Ngôn ngữ Truyện Kiều rất trong sáng. Trong tác phẩm có sự kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân. Những từ ngữ Hán Việt được sử dụng đều có chọn lọc với mức độ vừa phải, sử dụng hợp lí và đúng chỗ, đúng lúc. Bên cạnh đó, phần nhiều là lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, là ca dao, tục ngữ, thành ngữ được vận dụng một cách nhuần nhị và khéo léo. Lời văn trong Truyện Kiều viết cách đây mấy trăm năm mà bây giờ đọc vẫn có cảm giác hiện đại. Ngôn ngữ dành cho nhân vật được cá thể hóa cao độ, lời nhân vật nào phù hợp nhân vật ấy, làm rõ thần thái nhân vật ấy, không thể lẫn lộn ngôn ngữ của nhân vật này với nhân vật khác dù cùng thuộc hệ thống nhân vật chính diện hoặc phản diện. Qua tác phẩm, Nguyễn Du đã làm cho ngôn ngữ dân tộc được nâng lên thành ngôn ngữ nghệ thuật, đủ sức diễn tả những biến thái của cảnh sắc thiên nhiên và những biểu hiện tinh tế trong tâm hồn con người. 7. Truyện Kiều là bài ca tình yêu tự do và ước mơ công lí Chủ đề ngợi ca tình yêu tự do được thể hiện tập trung ở mối tình giữa Thuý Kiều và Kim Trọng. Chủ đề ước mơ công lí được thể hiện tập trung ở hình tượng Từ Hải. 8. Truyện Kiều là tiếng khóc cho số phận con người: khóc cho tình yêu trong trắng, chân thành bị tan vỡ; khóc cho tình cốt nhục bị lìa tan; khóc cho nhân phẩm bị chà đạp; khóc cho thân xác con người bị đày đoạ. 9. Truyện Kiều là lời tố cáo mạnh mẽ, đanh thép: tố cáo thế lực đen tối trong xã hội phong kiến, phanh phui sức mạnh làm tha hoá con người của đồng tiền; bị ràng buộc bởi thế giới quan trung đại, Nguyễn Du tuy cũng lên án tạo hoá và số mệnh, nhưng bằng trực cảm nghệ sĩ, ông đã vạch ra đúng ai là kẻ chà đạp quyền sống của con người trong thực tế.
Soạn bài lớp 10_ Truyện Kiều
1,624
Soạn bài lớp 10: Tào Tháo uống rượu luận anh hùng Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Tào Tháo uống rượu luận anh hùng Soạn bài lớp 10: Tào Tháo uống rượu luận anh hùng được trích trong Tam quốc diễn nghĩa do La Quán Trung được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Luận điểm trong bài văn nghị luận Giáo án bài Tào tháo uống rượu luận anh hùng Văn mẫu lớp 10: Phân tích đoạn Tào Tháo uống rượu luận anh hùng trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung TÀO THÁO UỐNG RƯỢU LUẬN ANH HÙNG (Trích hồi 21 – Tam quốc diễn nghĩa) LA QUÁN TRUNG I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về tác giả, xem bài Hồi trống Cổ Thành. 2. Về thể loại, xem bài Hồi trống Cổ Thành. 3. Đoạn trích đã ca ngợi tài trí thông minh, sự nhanh nhẹn, linh hoạt trong đối đáp, ứng xử của Lưu Bị khi phải đối mặt với Tào Tháo để bàn luận về người anh hùng trong thiên hạ. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Nhận xét về nghệ thuật xây dựng tình huống truyện Gợi ý: Nhóm Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi lúc đầu còn yếu thế, buộc phải nương tựa vào Tào Tháo ở Hứa Đô, song họ luôn nghĩ cách thoát khỏi sự khống chế đó để xây dựng lực lượng độc lập. Bấy giờ, giữ được bí mật ý đồ chiến lược là nhiệm vụ hàng đầu. Câu chuyện Tào Tháo uống rượu luận anh hùng xảy ra trong tình huống ấy. Có thể xem Tào Tháo uống rượu luận anh hùng là một đoạn trích có cốt truyện hoàn chỉnh, trong đó câu chuyện diễn ra theo trình tự thường thấy của một kết cấu tự sự. Chi tiết đánh dấu đỉnh điểm là việc Tào Tháo trỏ vào Lưu Bị rồi trỏ vào mình mà nói rằng: “Anh hùng trong thiên hạ bây giờ chỉ có sứ quân và Tháo mà thôi”. Chi tiết đánh dấu điểm mở nút là việc “Huyền Đức đã khôn khéo che đậy được hết việc giật mình đánh rơi cả thìa đũa khi nghe Tháo gọi mình là anh hùng”. Gợi ý: Miêu tả trực tiếp qua những ứng phó tinh tế, linh hoạt và những hành động, ngôn ngữ phù hợp. Làm một vườn rau ngày ngày chăm bón để che mắt Tào Tháo. Đến phủ Tào Tháo, sợ tái mặt khi Tào Tháo nói “Huyền Đức độ này ở nhà làm một việc lớn lao đấy nhỉ!”, nhưng cũng ứng phó kịp thời khi nói rằng trồng rau chỉ vì “không có việc gì, làm để tiêu khiển đó thôi”. Bàn luận về anh hùng thì tỏ ra không biết, rồi kể ra những nhân vật mà mình “nghe nói” chứ chưa được gặp mặt, danh sách đó bị Tào phủ nhận hết. Như vậy có vẻ Lưu Bị không biết rõ ai là anh hùng trong thiên hạ thật. Giật mình rơi thìa, đũa nhưng rất nhanh nhẹn đổ lỗi cho tiếng sấm làm mình giật mình. Miêu tả gián tiếp qua sự đối lập với những suy nghĩ đơn giản và nông cạn của Quan Vũ và Trương Phi: Quan Vũ và Trương Phi không hiểu mục đích làm vườn rau và hàng ngày chăm sóc rau của Lưu Bị nên đã lầm tưởng rằng Lưu Bị đã sao nhãng việc lớn nên đã đặt câu hỏi rằng: “Anh không lưu tâm đến việc lớn thiên hạ, học làm chi cái việc của kẻ tiểu nhân này?”. Đưa yếu tố thiên nhiên vào một cách hợp lí: Chi tiết cơn mưa kéo đến, làm nền cho câu chuyện, từ đối cảnh mà sinh câu hỏi của Tào Tháo về “vòi rồng lấy nước”, rồi bàn luận về anh hùng. Chi tiết thứ hai là tiếng sấm xuất hiện đúng lúc, kịp thời giải thoát mối lo âu cho Lưu Bị. Gợi ý: Trong đoạn trích, cả Lưu Bị và Tào Tháo đều sử dụng mưu trí để đối thoại với nhau: Tào Tháo khôn ngoan khi nói lí do đến gặp gỡ Lưu Bị, lại tỏ rõ quan điểm khi “luận anh hùng”, làm phép loại suy, không công nhận bao người Lưu Bị đưa ra là anh hùng vì những lí do rất hợp lí. Để rồi kết luận thẳng thắn rằng: “Anh hùng là người trong bụng có chí lớn, có mưu cao, có tài bao trùm được cả vũ trụ, có chí nuốt cả trời đất kia” và chỉ ra rằng: “Anh hùng trong thiên hạ bây giờ chỉ có sứ quân và Tháo mà thôi”. Lưu Bị vốn là người khiêm nhường, thận trọng, kín đáo, khôn ngoan. Trong tình thế hiện tại nếu bộc lộ chí lớn là điều cực kì nguy hiểm. Do đó, đối thoại cùng Tào Tháo, Lưu Bị rất thận trọng, cả trong ngôn từ, cử chỉ và hành động. Lúc đầu rất dè dặt nói không biết thiên hạ có ai là anh hùng: “Bị này được nhờ ơn Thừa tướng làm quan trong triều, anh hùng trong thiên hạ thực không được biết”. Chỉ sau khi Tào Tháo nói: “Đã đành không biết mặt, nhưng cũng có nghe tiếng chứ?” thì Lưu bị mới đưa ra “danh sách” một số người mà mình “nghe nói” đến trong thiên hạ. Bảy giả thiết Lưu Bị đưa ra đều bị Tào Tháo chê cười không chấp nhận, không coi họ là anh hùng. Khi mà Tào Tháo kết luận anh hùng trong thiên hạ chỉ có Lưu Bị và Tào Tháo thì Lưu Bị đã giật mình, bất giác đánh rơi cả thìa, đũa. Thật may, đúng lúc đó có tiếng sấm rền vang, Lưu Bị nhanh trí nói: “Gớm thật! Tiếng sấm dữ quá!” coi như mình giật mình là tại bởi tiếng sấm vậy. 4. Bình luận về quan niệm anh hùng của Tào Tháo thể hiện trong đoạn trích. Gợi ý: Câu nói: “Anh hùng là người trong bụng có chí lớn, có mưu cao, có tài bao trùm được cả vũ trụ, có chí nuốt cả trời đất” cho thấy quan niệm về người anh hùng của Tào Tháo là quan niệm của giai cấp áp bức, bóc lột trong xã hội phong kiến Trung Quốc lúc bấy giờ: muốn đè đầu cưỡi cổ dân chúng, làm bá chủ thiên hạ. 5. Bình luận về quan niệm anh hùng của Lưu Bị. Gợi ý: Quan niệm về anh hùng của Lưu Bị không đồng nhất với quan điểm với Tào Tháo, ngay từ nhỏ Lưu Bị đã có chí lớn nhưng giờ đây không phải lúc để Lưu Bị tranh luận, lúc này, phải giữ bí mật quan điểm của bản thân để khỏi bị Tào Tháo tiêu diệt. Có thể hiểu đây là lúc Lưu Bị mai danh ẩn tích để chờ đợi thời cơ lộ diện. Bởi thế, đọc qua đoạn trích, tưởng như Tào Tháo phủ nhận ý kiến Lưu Bị, Lưu Bị lúc thì sợ tái mặt, lúc thì đánh rơi cả thìa đũa, có nghĩa là Lưu Bị thua. Nhưng thực chất, trong cuộc đấu trí này, Lưu Bị đã là người giành phần thắng và ông đã thực hiện thành công màn kịch của mình, đó là màn kịch của người có mưu cao, chí lớn trong thiên hạ, biết chờ thời, biết cương nhu đúng lúc, đúng chỗ.
Soạn bài lớp 10_ Tào Tháo uống rượu luận anh hùng
1,248
Soạn bài lớp 10: Tác giả Nguyễn Du Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Tác giả Nguyễn Du Soạn bài lớp 10: Tác giả Nguyễn Du được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo tìm hiểu rõ về các tác phẩm cũng như cuộc đời sáng tác của Nguyễn Du giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Thề nguyền Soạn bài lớp 10: Chí khí anh hùng NGUYỄN DU I – KIẾN THỨC CƠ BẢN Nguyễn Du là nhà thơ lớn của dân tộc, với vốn kiến thức sách vở và thực tế phong phú, với trái tim nhân đạo lớn ông đã viết nên những trang thơ – những trang đời giàu giá trị nhân đạo, bày tỏ lòng thương yêu con người sâu sắc và sự phê phán hiện thực mạnh mẽ. Vì lẽ đó, ông được suy tôn danh hiệu Đại thi hào dân tộc và Danh nhân văn hoá thế giới. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Hãy cho biết các đặc điểm nổi bật trong cuộc đời Nguyễn Du, những sự kiện có ảnh hưởng đến tư tưởng và khuynh hướng sán tác của ông. Gợi ý: Nguyễn Du sinh ra ở Thăng Long, trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có nhiều người sáng tác văn họcThuở nhỏ, Nguyễn Du đã mồ côi, phải sống với người anh cả cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản, giữ chức Tham tụng trong phủ chúa Trịnh. Cuộc đời Nguyễn Du có nhiều thăng trầm: Năm 19 tuổi, Nguyễn Du thi đậu tam trường Hương thí (tú tài) rồi làm chức quan võ ở Thái Nguyên. Năm 1789 nhà Lê sụp đổ, ông bỏ chức quan, lánh về quê vợ ở Thái Bình, sau đó vào sống nhiều năm ở vùng sông Lam, núi Hồng, trải qua “mười năm gió bụi”, sống rất khổ cực. Sự thật là ông đã trải qua mọi cảnh ngộ gian nan: đại gia đình bị phá sản, anh em li tán, cuộc sống nghèo nàn, cơ cực…. “Trong mười năm gió bụi này, có lúc ông dự định ra nhập đám Cần vương phò Lê hay chạy vào Nam theo Nguyễn Ánh, dựa vào quân chúa Nguyễn để khôi phục nhà Lê! Tất cả đều không thành. Năm 1802 Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, lập triều đại Nguyễn ở tân đô Huế. Đầu niên hiệu Gia Long, triều đình xuống chiếu lục dụng các triều thần nhà Lê. Ông được cất nhắc và không thể khước từ”([1]). Dẫu phải miễn cưỡng làm quan dưới triều Nguyễn nhưng Nguyễn Du hết sức thanh liêm, được sĩ phu và nhân dân thương yêu. Gợi ý: Những sáng tác bằng chữ Hán Ngoài tác phẩm Thanh Hiên thi tập (hai tập), còn có Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. Cả ba tập có đến gần một nghìn bài, nay còn lại khoảng 249 bài. Và một số bài thơ đã được nhiều người biết đến như Long Thành cầm giả ca (Bài ca người gảy đàn đất Long Thành), Điếu La Thành ca giả (Viếng người ca nữ đất La Thành), Độc Tiểu Thanh kí (Đọc Tiểu Thanh kí), Thái Bình mại giả ca (Người hát rong ở Thái Bình), Hà Nam đạo trung khốc thử (Nắng dữ trên đường đi Hà Nam), Sở kiến hành (Bài hành về những điều trông thấy), Trở binh hành (Bài hành về việc binh đao làm nghẽn đường)… Những sáng tác bằng chữ Nôm Các tác phẩm Đoạn trường tân thanh tức Truyện Kiều bằng thơ lục bát, Văn tế thập loại chúng sinh, còn có tên là Văn chiêu hồn bằng thơ song thất lục bát. Ngoài ra, còn một số sáng tác đậm chất dân gian như bài vè Thác lời trai phường nón và bài Văn tế Trường Lưu nhị nữ (Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu). Ngoài ra, tương truyền Nguyễn Du còn là tác giả của một số câu hát đối đáp giao duyên lưu hành trong dân gian. Đặc biệt trong kiệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đối diện với hiện thực mà lên án sự tàn nhẫn bạc ác của các thế lực đen tối mà ông gọi chung bằng cái tên “định mệnh”. Nguyễn Du – nhà thơ nhân đạo lỗi lạc: Toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du dù bằng chữ Nôm hay chữ Hán đều toát lên một đặc điểm là sự quan tâm sâu sắc đối với thân phận con người. Điều đó thể hiện rõ nhất trong tác phẩm Truyện Kiều. Truyện Kiều ca ngợi tình yêu tự do, trong sáng, là giấc mơ về công lí và tự do nhưng chủ yếu tác phẩm là tiếng khóc đớn đau cho nhân phẩm và thân phận con người bị chà đạp, đặc biệt là người phụ nữ. Câu thơ giản dị mà sâu sắc: Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. là tiếng lòng nhà thơ dành cho những người phụ nữ tài hoa mệnh bạc trong xã hội đương thời. Từ đó, nhà thơ khái quát lên rằng đó không chỉ là “lời chung” cho thân phận của phụ nữ mà đã là lời chung của mọi kiếp người: Cái án phong lưu khách tự mang. Đọc Văn tế thập loại chúng sinh thì thấy trái tim nhân đạo của Nguyễn Du còn rộng mở tới mọi kiếp người trong xã hội. Chủ nghĩa nhân đạo trong sáng tác của Nguyễn Du xuất phát từ tình thương yêu sâu sắc mà ông dành cho con người trong cuộc đời này. Có thể nói Nguyễn Du đã vượt qua một số ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con người. Đó là tư tưởng sâu sắc nhất mà ông đem lại cho văn học Việt Nam trong thời của ông. 3. Khái quát một số thành tựu cơ bản của Nguyễn Du về ngôn ngữ và thể loại văn học (lấy ví dụ trong các bài và đoạn trích Truyện Kiều đã học để minh hoạ). Gợi ý: Nguyễn Du là một tác gia có vị trí hàng đầu trong lịch sử văn học dân tộc. Thơ chữ Hán vừa phản ánh thực tại, vừa ghi lại cảm xúc trước cuộc đời bằng lời lẽ giản dị mà tài hoa; thơ chữ Nôm với hai thể lục bát và song thất lục bát đạt đến trình độ mẫu mực cổ điển, đa ngôn ngữ văn học tiếng Việt lên một trình độ mới, sắc sảo và tinh luyện. Kiệt tác Truyện Kiều được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, được đông đảo bạn đọc Việt Nam và thế giới mến mộ.
Soạn bài lớp 10_ Tác giả Nguyễn Du
1,134
Soạn bài lớp 10: Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Soạn bài lớp 10: Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích trong Chinh phụ ngâm do Đoàn Thị Điểm diễn giải sang chữ Nôm được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo. Soạn văn 10 bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ này sẽ giúp các em học sinh học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ (Trích Chinh phụ ngâm) Nguyên tác chữ Hán: ĐẶNG TRẦN CÔN Bản diễn Nôm: ĐOÀN THỊ ĐIỂM (?) I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tác giả Đặng Trần Côn – hiện không rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết sống vào khoảng thế kỉ XVIII. Quê tại làng Nhân Mục thường gọi là làng Mọc, huyện Thanh Trì, nay là quận Thanh Xuân, Hà Nội. Đặng Trần Côn còn có nhiều tác phẩm, nổi tiếng hơn cả là Chinh phụ ngâm. Ngoài Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn còn có mấy bài thơ vịnh tám cảnh đẹp ở Tiêu Tương (Tiêu Tương bát cảnh), và một số bài phú như Trương Hàn tư thuần lô (Trương Hàn nhớ rau thuần, cá vược), Trương Lương bố y (Trương Lương áo vải), Khấu môn thanh (Tiếng gõ cửa). Bản diễn Nôm (giới thiệu trong sách giáo khoa) tương truyền là của Đoàn Thị Điểm. Dịch giả Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), hiệu là Hồng Hà, người làng Giai Phạm xứ Kinh Bắc nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Cha là Đoàn Doãn Nghi, anh là Đoàn Doãn Luân, đều đậu hương cống, không ra làm quan, chỉ ở nhà dạy học. Đoàn Thị Điểm là một phụ nữ nhan sắc, tài hoa. Sáng tác tập thơ chữ Hán Truyền kì tân phả và bản dịch Chinh phụ ngâm bằng chữ Nôm. Đã từng làm nghề dạy học và trở thành nhà giáo phụ nữ đầu tiên thành đạt, học trò của bà rất đông, sau này có người đỗ đến đại khoa. 2. Ngâm khúc là thể loại thơ trữ tình trường thiên thuần tuý Việt Nam viết bằng thể thơ song thất lục bát với phương thức trữ tình dài hơi, sử dụng nhiều tiểu đối. Thể loại này phù hợp với việc bày tỏ tâm trạng, cảm xúc hồi tưởng, nhớ nhung, suy tư, sầu muộn, ai oán, xót thương của nhân vật trữ tình. Thể thơ song thất lục bát là thể thơ mỗi khổ gồm hai câu 7 chữ, một câu 6 chữ, một câu 8 chữ. Bốn câu dài ngắn khác nhau kết lại thành một khổ và luân phiên kéo dài bao nhiêu khổ cũng được trong một bài thơ. Hai câu thất ngắt nhịp cố định 3/4 (khác với câu thất ngôn Đường luật ngắt nhịp 4/3); câu 6 và câu 8 ngắt nhịp tự do. Có thể gieo vần bằng hoặc trắc, ở cuối câu hoặc lưng chừng câu. Chinh phụ ngâm là tác phẩm mở đầu, cũng là tác phẩm đặc sắc nhất của thể loại ngâm khúc, một thể loại trữ tình rất phát triển ở thế kỉ XVIII. 3. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ tập trung khắc hoạ tình cảnh lẻ loi và nỗi nhớ thương da diết của người chinh phụ đối với chinh phu trong những ngày dài biền biệt xa cách; qua đó bộc lộ tinh thần nhân đạo sâu sắc của tác giả. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ Đoạn trích từ câu 193 đến câu 288: Sau buổi tiễn đưa, người chinh phụ trở về, tưởng tượng cảnh chiến trường đầy hiểm nguy và chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng. Thương thân mình lẻ loi, cô đơn, một thân “nuôi già dạy trẻ” vò võ chờ chồng… lại nhớ thương và lo lắng cho chồng. Tâm sự đó thể hiện rõ nét ở đoạn trích này. 2. Tìm hiểu khái quát về tác phẩm Chinh phụ ngâm Gợi ý: Chinh phụ ngâm là lời thở than của người vợ có chồng ra trận. Khúc ngâm gồm có ba phần: Phần mở đầu: Người chinh phụ nhớ lại cảnh người chinh phu lên đường. Trong con mắt của người vợ, hình ảnh của người chồng thật hào hùng, đẹp đẽ. Bởi theo suy nghĩ của nàng lúc đó thì việc chàng ra trận là bổn phận thiêng liêng và hứa hẹn ngày lập công chiến thắng cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng vì nhớ thương da diết nên trong tâm trạng nàng, bên cạnh niềm kiêu hãnh, tự hào là nỗi sầu oán: “Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng”. Phần trung tâm của khúc ngâm là cuộc sống “Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây”. Đến đây yếu tố tình cảm trở thành động lực chi phối cái nhìn chiến tranh của chinh phụ. Nàng tưởng tượng ra cảnh chiến trường và cuộc sống của chinh phu ở chiến trường. Thay vì những chiến công, ở đây chỉ thấy những cuộc hành quân, những trận đánh liên miên với bao nhiêu khó khăn nguy hiểm. Chiến trường đồng nghĩa với “tử địa” (đất chết) đâu đâu cũng thê lương, ảm đạm. Còn những người chinh phu thì luôn phải đối diện với cái chết, bộ mặt lúc nào cũng mệt mỏi bi quan. Từ những gì đã phơi bày, người chinh phụ đặt câu hỏi: Trên trướng gấm thấu chăng hay nhẽ, Mặt chinh phu ai vẽ cho nên? Lời chất vấn là thái độ oán trách nhằm vào chính quyền phong kiến đã gây ra chiến tranh nhưng lại không chút bận tâm đến số phận của người ra trận. Cuộc sống đau khổ mà chinh phụ tự bộc lộ chủ yếu tập trung ở bi kịch nội tâm cô quạnh. Trạng thái biểu hiện của nội tâm đó thật nhiều vẻ: luyến tiếc, nhớ nhung, hi vọng, oán trách, ngóng đợi, lo lắng,… tất cả đều nhuốm màu bi thương, kết thành khối sầu muộn chất đầy, ngưng đọng. Ý thức được nỗi khổ đau, chinh phụ từ chỗ đồng tình với việc chồng ra trận, đã hối hận, nhận ra sai lầm của mình: Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu, Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong. Phần kết: Chinh phụ mơ tưởng ngày chồng chiến thắng trở về, lập nên công trạng, vợ con được chung hưởng hiển vinh. Đây là hạn chế nhưng cũng là tâm lí phổ biến. Có giấc mơ nào không vươn đến điều tốt đẹp có tính lí tưởng. Đáng nói là trong cuộc sum họp đó âm hưởng tha thiết nhất đã ngân lên từ những cử chỉ âu yếm vợ chồng. Vì vậy ý nguyện sau chót được khắc sâu: “Giữ gìn nhau vui thuở thái bình” và hoàn toàn nhất quán với cái nhìn thay đổi về chiến tranh như đã nói trên. Đoạn trích kể về tình cảnh người chinh phụ nhớ chồng ngày ngày ra vào trông ngóng không yên, đêm năm canh thao thức, đốt hương, soi gương, gảy đàn đều không nguôi vơi được nỗi nhớ. Muốn gửi tấm tình nhớ thương cho chồng mà cũng đành bất lực. Gợi ý: Tác giả đã sử dụng nhiều từ láy giàu giá trị biểu cảm, gợi hình, tượng thanh. “đằng đẵng” là tính từ chỉ độ dài thời gian vô hạn, đặt trong câu thơ, gắn với không gian “đường lên bằng trời”, con đường cũng dài vô hạn, miêu tả thật thành công nỗi nhớ vô cùng mà người chinh phụ dành cho chồng nơi chiến trận. “dằng dặc”: chỉ độ dài thời gian mà thiếu phụ sống triền miên trong sầu muộn, nhớ thương và lo lắng. “thăm thẳm”: Chỉ độ xa cách của không gian: “Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu”. Trời trong quan niệm của người xưa là đấng tối cao có uy quyền tuyệt đối, có khả năng thấu hiểu mọi sự. Nhưng vì thương nhớ chồng quá mà chinh phụ cảm nhận đến cả trời xanh cũng “thăm thẳm” không tỏ tường được nỗi nhớ của mình. 4. Chỉ ra và phân tích những hình ảnh thơ đặc sắc Gợi ý: Hình ảnh thơ đặc sắc, giàu tính biểu trưng, đặc biệt là hình ảnh hoa, nguyệt trong phần cuối đoạn thơ. Những diễn biến phong phú, tinh vi của tình cảm được diễn tả trên cái nền tâm cảnh buồn khổ, lẻ loi. Cảnh và tình đan bện, làm nổi bật những diễn biến của tâm trạng con người. Hoa – nguyệt là những hình ảnh ẩn dụ để nói về tâm trạng của chinh phụ. Chinh phụ thì đang cô đơn đến tột cùng, vậy mà hoa nguyệt thì cứ sóng đôi quấn quýt. Hoa phô bày vẻ đẹp trước nguyệt, nguyệt chan hoà ánh sáng lên hoa. Đặc biệt hai chữ hoa và nguyệt khi thì được xếp ở đầu hai vế của câu thơ, khi thì gần sát nhau… như biểu tượng về sự gắn kết, giao hoà “nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông”. Tình cảnh ấy càng làm chinh phụ thấm thía sâu sắc nỗi cô đơn quạnh vắng của bản thân. 5. Nhận xét về nhịp điệu thơ Gợi ý: Nhịp điệu thơ linh hoạt, giàu nhạc điệu diễn tả dòng tâm trạng lúc thì buồn bã, thẫn thờ, khi thì tha thiết mong nhớ, trào dâng ước ao,… của người chinh phụ: sự biến nhịp ở các câu lục bát và nhịp 3 / 4 lặp lại trùng trùng trong các câu thất. 6. Đối chiếu hai câu: Bản chữ Nôm Bản chữ Hán Khắc chờ đằng đẵng như niên Sầu tự hải. Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa. Khắc như niên. (Sầu tựa biển Khắc như năm) Gợi ý: Một mặt, người diễn Nôm đã trung thành với cái hay của nguyên tác; đồng thời, trung thành mà vẫn sáng tạo. Nhất là sự sử dụng hết sức thành công các từ tiếng Việt như “đằng đẵng”, “dằng dặc” để tô đậm cảm giác về thời gian và không gian chờ đợi, buồn thương. Ngoài ra, người diễn Nôm đã sắp xếp lại trật tự hai câu thơ: đảo ý “sầu tự hải” xuống dưới, chuyển ý “khắc như niên” lên trên; việc đảo đổi này đem lại một kết cấu mở, diễn tả được cảm giác thời gian chờ đợi dài vô cùng khiến nỗi sầu trở nên vô tận. 7. Tâm trạng của chinh phụ được thể hiện như thế nào trong hai khổ thơ mở đầu đoạn trích? Cảnh hiện ra như một màn kịch: Nhân vật: chinh phụ Thời gian: ban đêm Quang cảnh xung quanh: căn phòng có rèm cửa, có ngọn đèn. Hình ảnh trong phòng ngọn đèn cô đơn, ngoài hiên thiếu phụ một mình dạo bước cực tả sự lẻ loi, đơn chiếc, trống trải. 8. Phân tích diễn biến tâm trạng của chinh phụ trong đoạn thơ từ: “Gà eo óc gáy” đến “phím loan ngại trùng”. Gợi ý: Đoạn từ “Gà eo óc gáy… ” đến “Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”: Nếu đoạn trên là khát khao đồng cảm thì đến đoạn này tác giả lại tập trung diễn tả sự chờ đợi nặng nề khủng khiếp mà chinh phụ phải gánh chịu trong những ngày biền biệt xa chinh phu. Câu 1 và 2 là cảnh đêm và ngày, tình cảnh nào cũng lẻ bóng đơn côi. Không phải ngẫu nhiên tác giả đã xếp hai ý đêm ngày sóng đôi nhau, gợi nỗi thất vọng triền miên trong nỗi khát khao đồng cảm. Đêm thì tiếng gà eo óc gáy suốt năm canh, ngày thì bóng hoè lơ đãng chuyển hết bên này sang bên nọ. Thiên nhiên vạn vật phải chăng đang vô tình trước sự cô đơn lạnh lẽo của chinh phụ. Câu 3 và 4 là cảnh chờ đợi, thời gian chờ đợi dài như thời gian vô tận và không gian mênh mông. Đoạn “Hương gượng đốt… ” đến “… phím loan ngại trùng” nói về những gắng gượng của chinh phụ để thoát khỏi tình cảnh cô đơn hiện tại nhưng không hiệu quả: Miễn cưỡng đem hương ra đốt nhưng như càng bị dấn sâu thêm vào nỗi sầu miên man; đem đàn ra gẩy hi vọng vơi nguôi nỗi buồn nhưng cũng không làm được: dây đàn kinh sợ mà đứt, phím đàn ngần ngại mà chùng. Như thế, mọi gắng gượng đều vô vọng, không vượt thoát được nỗi cô đơn đang bao trùm, vây bủa. 9. Phân tích diễn biến tâm trạng của chinh phụ trong đoạn thơ từ “Lòng này gửi gió đông… ” đến “nào xong” Gợi ý: Nếu trước đó đoạn thơ tập trung diễn tả cảnh lẻ loi đơn chiếc của chinh phụ thì đoạn này chuyển sang diễn tả nỗi lòng chinh phụ hướng về phương xa, nơi nàng hình dung có sự hiện diện của chinh phu. Không gian thay đổi, điểm nhìn thay đổi, từ căn phòng nhỏ hẹp chuyển sang không gian xa rộng và bát ngát không cùng: Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời. Vì nỗi nhớ lớn quá mà nàng nảy sinh một ý nghĩ nên thơ: gửi gió đông đem lòng thương nhớ của mình đến nơi có người chồng đang chinh chiến. Nhưng đó cũng chỉ là một ước mơ vô vọng, không thể thực hiện được. Hỏi trời, trời không thấu và trời ở xa quá: “Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu”. Bởi thế, quả thật là chỉ có thời gian đằng đẵng và không gian mênh mông mới đo được nỗi nhớ của chinh phụ.
Soạn bài lớp 10_ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
2,289
Soạn bài lớp 10: Tóm tắt văn bản tự sự Hướng dẫn Soạn bài: Tóm tắt văn bản tự sự Soạn bài lớp 10: Tóm tắt văn bản tự sự được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về mục đích, yêu cầu và cách tóm tắt văn bản tự sự giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Tỏ lòng Soạn bài lớp 10: Cảnh ngày hè Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Tóm tắt văn bản là một việc làm phổ biến. Để có được một văn bản tóm tắt tốt, trước hết, cần xác định mục đích tóm tắt rõ ràng (để ghi nhớ, để giới thiệu với người khác hoặc để làm dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học…), và nắm vững cách thức tóm tắt. 1. Mục đích, yêu cầu tóm tắt văn bản tự sự a) Mục đích: Trong cuộc sống, việc tóm tắt văn bản tự sự phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Thường chúng ta tóm tắt để dễ dàng ghi nhớ, để hiểu và đánh giá nội dung văn bản. Cũng có khi tóm tắt để ghi chép làm tài tài liệu, làm dẫn chứng trong bài văn hoặc để kể lại cho người khác nghe, để minh hoạ cho một ý kiến nào đó của mình. b) Yêu cầu: Bản tóm tắt phải ngắn gọn nhưng vẫn đảm bảo được nội dung cơ bản hoặc những đặc điểm, những mốc quan trọng trong cuộc đời của nhân vật chính. Bản tóm tắt cũng phải được trình bày theo một bố cục rõ ràng, chính xác theo những yêu cầu chung của văn tự sự. 2. Cách tóm tắc tác phẩm tự sự theo nhân vật chính Đọc kĩ văn bản gốc, chọn các sự việc cơ bản xảy ra với nhân vật chính và diễn biến của các sự việc đó. Tóm tắt rõ các hành động, lời nói, tâm trạng của nhân vật theo diễn biến của cốt truyện (một vài chỗ có thể kết hợp dẫn nguyên văn một số từ ngữ, câu văn trong văn bản gốc). II. RÈN KĨ NĂNG 1. Về Truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thuỷ a) Trong truyện này, có thể xác định An Dương Vương và Mị Châu là hai nhân vật chính (tuy xét về trò quan trọng thì An Dương Vương nổi bật hơn). Hai nhân vật này xuất hiện ở hầu hết các sự việc chính của câu chuyện. Hơn thế nữa, họ còn là những “mắt xích” quan trọng quyết định chiều hướng phát triển của cốt truyện. b) Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thuỷ theo nhân vật An Dương Vương: Vua An Dương Vương nước Âu lạc họ tên là Thục Phán. Vua cho xây thành ở đất Việt Thường nhưng hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy. Một hôm có cụ già từ phương đông tới nói: Sẽ có sứ Thanh Giang đến giúp vua xây thành. Hôm sau vua mừng rỡ cho người ra đón mới biết sứ Thanh Giang là một con rùa vàng. Thành xây nửa tháng thì xong, vững chãi và kiên cố. Trước khi về biển, rùa vàng còn tháo vuốt đưa cho nhà vua là lẫy nỏ thần chống giặc. Có thành cao, hào sâu lại có nỏ thần, vua Thục rất nhiều lần đã đánh cho quân của Triệu Đà đại bại. Đà không dám đối chiến, bèn xin hoà và cho con trai là Trọng Thuỷ sang cầu hôn. Vua đồng ý gả con gái cho Mị Châu, lại cho cả Trọng Thuỷ ở lại Loa Thành làm rể. Có được cơ hội tốt, Trọng Thuỷ bên dụ dỗ Mị Châu cho xem nỏ thần rồi đánh tráo ngay lẫy nỏ. Quân Triệu Đà phá được nỏ thần bèn ồ ạt tất công. An Dương Vương trong khi ấy cậy có nỏ Liên Châu vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, không bố phòng gì cả. Loa Thành bị vỡ, Vua Thục bèn mang theo con gái chạy xuống phía Nam. Thế nhưng cùng lúc ấy Trọng Thuỷ lại theo dấu lông ngỗng mà Mị Châu rắc ở đường đuổi theo. Cùng đường, lại nghe sứ Thanh Giang nhắc nhở “Giặc ở ngay sau nhà vua đó”, An Dương Vương bèn tuốt kiếm chém Mị Châu rồi cầm rừng tê bảy tấc rẽ nước đi xuống biển. c) Tóm tắc truyện theo nhân vật Mị Châu: Mị Châu rất mực yêu chồng lại ngây thơ khờ dại nên đã vô ý đem bí quyết nỏ thần ra nói với người chồng gián điệp. Có được nỏ thần, Trọng Thuỷ muốn xin về, Mị Châu lại nói: Sau này, nếu có gặp cảnh biệt li thì cứ theo dấu chiếc áo lông ngỗng của thiếp mà tìm. Thuỷ về nhà, rồi cùng cha đem đội quân sang đánh. Loa Thành đại bại, Mị Châu theo cha chạy xuống phương Nam nhưng vừa đi nàng lại vừa sắc lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thuỷ. Chạy ra bờ biển vua cha nổi giận tuốt gươm ra chém.Trước khi chết, Mị Châu còn khấn: Nếu có lòng phải nghịch thì khi chết đi nguyện biến thành cát bụi, bằng không thì xin được biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù. Mị Châu chết, máu nàng chảy xuống biển, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Xác nàng được Trọng Thuỷ đêm về mai táng ở Loa Thành, Trọng Thuỷ thương nhớ Mị Châu, sau đó cũng lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông đem về giếng ấy mà rửa thì ngọc càng thêm sáng. d) Có thể rút ra cách thức tóm tắt tác phẩm theo tự sự theo nhân vật chính như sau: Để tóm tắc tác phẩm tự sự theo nhân vật chính cần: Xác định mục đích tóm tắt (tóm tắt phục vụ mục đích gì? Hơn nữa có tác phẩm có thể có nhiều nhân vật chính nên có thể có rất nhiều cách tóm tắt khác nhau). Đọc kĩ văn bản để xác định nhân vật chính (những nhân vật xuất hiện nhiều và có vai trò quyết hướng tới sự phát triển hoặc đổi thay chiều hướng truyện). Đặt nhân vật này trong mối quan hệ vợi các nhân vật khác và diễn biến các sự việc trong cốt truyện để dễ dàng tóm tắt hay lược bỏ. Viết văn bản tóm tắc bằng lời văn của mình để giới thiệu nhân vật, nêu rõ các hành động, lời nói, tâm trạng của nhân vật theo diễn biến của cốt truyện (để khắc hoạ nhân vật, có thể kết hợp trích dẫn nguyên văn một số từ ngữ, câu văn trong tác phẩm). Kiểm tra lại và sửa chữa văn bản tóm tắt cho phù hợp với mục đích và yêu cầu của việc tóm tắt. b) Nguyễn Đình Thi tóm tắt truyện để làm dẫn chứng minh họa cho bài văn nghị luận, vì thế mà định hướng tóm tắt có khác với Từ điển văn học (tóm tắt truyện Tấm Cám nhằm giới thiệu khái quát nội dung tác phẩm). Từ điển văn học đã tóm tắt sự việc “Bụt hiện lên an ủi, giúp đỡ Tấm” trong một câu và sự việc “Tấm biến hóa nhiều lần” được kể lại bằng ba câu. Chuyện người con gái Nam Xương vốn gồm mấy trăm câu, nhưng Nguyễn Đình Thi đã gói gọn lại chỉ trong sáu câu văn ngắn. Qua hai cách làm này, có thể rút ra kinh nghiệm: Dù định hướng tóm tắt theo cốt truyện hay theo nhân vật thì điều quan trọng vẫn là phải biết cách lược đi những sự việc, những chi tiết phụ ; chọn lấy những sự việc, những chi tiết chính. Hơn nữa, trong khi viết, kĩ thuật “nén câu dồn ý” sẽ làm cho bài tóm tắt thêm cô đọng hơn. 3. Tóm tắc Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ theo nhân vật Trọng Thuỷ: Triệu Đà nhiều lần cất quân đánh sang Âu Lạc những điều thất bại bèn sai con trai sang hỏi Mị Châu để cầu hoà. Sau khi An Dương Vương đồng ý gả Mị Châu, Trọng Thuỷ xin ở lại Loa Thanh để chờ có cơ hội dò xét “bí quyết’ đánh giắc của An Dương Vương. Một hôm trong khi nói chuyện, Trọng Thuỷ dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần. Xem xong, Thuỷ ngầm làm một cái lẫy nỏ khác thay vuốt vàng rồi xin phép Thục Phán được về phương bắc thăm cha. Trước khi ra đi, Trọng Thuỷ còn cùng với Mị Châu hứa hẹn: nếu sau này lỡ chẳng may li tán thì cứ theo dấu lông ngông rứt ra từ chiếc áo của Mị Châu mà tìm. Trọng Thuỷ về phương Bắc chế nỏ rồi cùng cha kéo quân xuống phương Nam. Thế quân đang mạnh lại gặp lúc An Dương Vương có ý chủ quan nên chẳng mấy chốc quân của Trọng Thủy đã chiếm được Loa Thành. Không thấy vợ ở trong thành, Thuỷ tức tốc phi ngựa theo dấu lông ngỗng mà đuổi theo. Thế nhưng đến sát bờ biển, Thuỷ đã thấy Mị Châu đã chết tự bao giờ. Trọng Thuỷ ôm xác Mị Châu đem về Loa Thành an táng. Một hôm trong khi đi tắm, Trọng Thuỷ nhìn thấy bóng dáng Mị Châu dưới nước bèn cứ thế lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau đồn rằng đem nước ở giếng này mà rửa ngọc minh châu thi thấy ngọc cứ ngày một sáng thêm lên. 4. Tóm tắc truyện Tấm Cám theo nhân vật Tấm (hoặc Cám) Tấm mồ côi cha từ nhỏ. Cô phải sống cùng với mụ dì ghẻ và cô em gian ác. Trong mọi việc, Tấm luôn là người phải chịu thiệt thòi. Đi bắt tôm bắt tép, Tấm bị Cám lừa trút hết giỏ tép đầy. Tấm nuôi được con cá Bống, mẹ con Cám lại lừa giết thịt ăn. Ngày nhà vua mở hội, mụ dì nghẻ lại lấy gạo và thóc trộn lẫn với nhau bắt Tấm nhặt xong mới được đi xem. Trong tất cả những lần như thế Tấm đều được Bụt hiện lên an ủi và giúp đỡ. Nhờ có Bụt, ngày hội Tấm có quần áo đẹp, khăn đẹp và giầy đẹp. Đi xem hội, Tấm sơ ý đánh rơi mất chiếc giầy nhưng cũng may nhờ chiếc giầy ấy, Tấm trở thành hoàng hậu. Ghen ghét, mẹ con cám lập mưu giết Tấm rồi đưa Cám vào cung để thế chân. Tấm chết, biến hoá nhiều lần thành: chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửa. Mỗi lần như thế lại là một lần Tấm bị mẹ con Cám lập mưu hãm hại. Cuối cùng Tấm biến thành quả thị, âm thầm giúp việc nấu cơm, quét dọn cho bà hàng nước. Nhưng rồi bà cụ cũng phát hiện ra. Bà xé tan vỏ thị và thế là từ đấy Tấm sống cùng bà. Một hôm nọ vua đến quán này uống nước, ăn miếng trầu cánh phượng, vua thấy quen và thế là vua nhận ra người vợ yêu quý của mình. Tấm thẳng tay trừng trị mẹ con nhà Cám rồi trở lại cuộc sống hạnh phúc bên vua. b) Tóm tắt truyện theo nhân vật Cám: Cám xấu tính nhưng lại phải sống bên người chị cùng cha khác mẹ hiền lành, xinh đẹp nên lúc nào cũng tỏ ra ganh ghét. Được mẹ đứng sau hậu thuẫn, Cám luôn tìm cách để đày đoạ chị. Cùng đi hớt tép nhưng Cám lười nhác không bắt được con nào. Cám lừa chị hụp xuống ao để trút giỏ tép mang về. Thấy Tấm nuôi được con cá Bống, Cám lại lừa bắt và giết thịt. Ngày hội, Cám sắm sửa quần áo đẹp đi chơi. Thấy vua mời các thiếu nữ thử giầy kén vợ, Cám cũng len vào nhưng không được. Ghen tức vì Tấm được làm hoàng hậu, nhân ngày dỗ cha, Cám và mẹ lừa Tấm trèo cau rồi giết Tấm. Cám vào cung thay chị. Một hôm đang giặt áo, Cám lại nghe tiếng chim vàng anh hót lời của Tấm. Cám tức giận bắt chim làm thịt rồi nói dối vua. Tưởng đã an tâm nhưng một thời gian sau ở vườn ngự lại mọc lên hai cây xoan đào rất đẹp. Nhà vua lấy làm yêu thích lắm. Biết chuyện Cám lại sai cho lính chặt cây đóng thành khung cửi. Thế nhưng cứ mỗi lần ngồi vào khung cửi, cám lại nghe thấy tiếng chửi rửa mình. Không chịu được, Cám đốt quách khung cửi rồi đổ tro ra mãi bên đường. Lạ thay một hôm không biết từ đâu Tấm trở về. Cám thấy chị xinh đẹp hơn xưa thì tỏ ra ham muốn. Cuối cùng Cám chết một cách thích đáng vì sự tham lam và ngu ngốc của mình.
Soạn bài lớp 10_ Tóm tắt văn bản tự sự
2,191
Soạn bài lớp 10: Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng Hướng dẫn Soạn văn Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng Soạn bài: Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng là tài liệu tham khảo được sưu tầm nhằm giúp quý thầy cô cùng các bạn học sinh lớp 10 chuẩn bị tốt cho môn Ngữ văn học kỳ I. Mời các em cùng tải miễn phí bài soạn văn mẫu lớp 10 này về để học tốt môn Văn lớp 10 hơn. Soạn bài lớp 10: Tam đại con gà – Nhưng nó phải bằng hai mày Soạn bài lớp 10: Ra-Ma buộc tội Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Lí Bạch) I. Kiến thức cơ bản 1.Tác giả Lí Bạch (701 – 762), tự Thái Bạch, nguyên quán ở tỉnh Cam Túc, lớn lên ở Tứ Xuyên, Trung Quốc. Lí Bạch là một trong hai nhà thơ nổi tiếng nhất đời Đường. Ông là một nhà thơ lãng mạn lớn, có nhiều bài thơ nổi tiếng viết về đề tài thiên nhiên, chiến tranh, tình yêu, tình bạn. Âm hưởng chủ đạo trong thơ ông là tiếng nói yêu đời, lạc quan, hào phóng. 2. Tác phẩm Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho mảng đề tài tình cảm bạn bè trong thơ Lí Bạch. Bài thơ kể về một cuộc chia tay nhưng là để gợi lên tình bạn chân thật, giản dị, trong sáng và vô cùng sâu sắc. a) Nhan đề Lầu Hoàng Hạc là một địa danh nổi tiếng ở Trung Quốc, là một di tích lịch sử, một di chỉ thần tiên. Quảng Lăng là một địa danh trong thành Dương Châu. Mạnh Hạo Nhiên là một người bạn thơ của Lý Bạch hơn nhau nhiều tuổi nhưng lại là tri kỉ của nhau. => Nhan đề có ý nghĩa là tiễn bạn hiền trên lầu Hoàng hạc đi Quảng Lăng. b) Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt c) Bố cục: 2 phần Phần 1: 2 câu đầu: Cảnh tiễn biệt. Phần 2: Còn lại: Tình người tiễn biệt II. Rèn kỹ năng 1. Bài thơ của Lí Bạch gần như chỉ thuần tả cảnh. Thế nhưng trong cảnh vẫn hiện lên đằm thắm cái tình. Sở dĩ có điều ấy là vì bài thơ có một sợi dây liên tưởng được tạo nên bởi những hình ảnh và những mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Mối quan hệ không gian được tạo lập bởi ba hình ảnh: Lầu Hoàng Hạc (một thắng cảnh nổi tiếng, biểu tượng cho sự chia li) – thành Dương Châu (nơi bạn nhà thơ sắp đến – một thắng cảnh đô hội phồn hoa). Ở giữa hai địa danh ấy là dòng Trường Giang rộng mênh mông và xa hun hút. Vậy nên dù Lí Bạch có tiễn bạn đến chốn phồn hoa thì buổi chia tay ấy cũng đâu có giấu được nỗi buồn. Lầu Hoàng Hạc đã gợi buồn, khoảng cách giữa mình với nơi bạn đến còn gợi buồn hơn. Mối quan hệ thời gian: Tháng ba – mùa hoa khói. Đó là vào lúc “xuân vừa chín”, sông Trường Giang nhộn nhịp hoa khói mùa xuân (hoa khói cũng tượng trưng cho sự phồn hoa của Dương Châu – nơi Mạnh Hạo Nhiên sắp đến). Cảnh vào lúc ấy tuy có gợi lên một chút nhộn nhịp nhưng vẫn không át được nỗi buồn lúc chia li. Mối quan hệ con người: Tác giả chỉ dành giới thiệu qua hai chữ “cố nhân”. Thế nhưng chỉ với hai chữ đó, tự nó đã gợi ra mối quan hệ gắn bó thân thiết từ lâu giữa bạn với nhà thơ. Có thể nói giải mã được các mối quan hệ này, chúng ta sẽ cảm nhận rõ và sâu sắc hơn cái tình sâu sắc và kín đáo của nhà thơ. 3. Người đi đã đi xa. Vậy mà người đưa tiễn vẫn đứng lặng mãi trên lầu Hoàng Hạc. Bởi chỉ có bằng cách ấy, nhà thơ mới có thể dõi theo bóng bạn. Thời gian mà người tiễn đưa “đứng lặng” hẳn phải rất lâu thì mới nhìn thấy con thuyền – bóng buồm – cột buồm – điểm chấm nhỏ ti rồi cuối cùng mất hẳn. Bài thơ cứ như vậy, tuy không nói lời nào về tình bạn mà sao tình cảm cứ chứa chan hòa cả vào trời mây sông nước bao la. 4. Cái hay của thơ Đường là ở chỗ thể hiện được những “ý ở ngoài lời”. Bài thơ của Lí Bạch cũng sắc sảo và tài hoa như thế: Trước hết, các địa danh được nói đến trong bài (Hoàng Hạc, Dương Châu) đều là những địa danh giàu sức gợi. Nói đến lầu Hoàng Hạc, người ta có thể liên tưởng ngay đến nỗi sầu li biệt. Cũng vậy ở trong bài thơ này, sự xuất hiện của địa danh Hoàng Hạc làm cho cuộc chi li của tác giả với bạn thêm xúc động và da diết hơn. Địa danh ương Châu cũng gợi ra nỗi buồn vì nó giúp ta liên tưởng đến cảnh tượng đối lập: Người đi đến chốn phồn hoa đi hội, người ở lại buồn bã, cô đơn. Hình ảnh cánh buồm càng ngày càng xa thực chất để gợi lên cái tình của nhà thơ: có yêu quý bạn mới đứng lâu như vậy để dõi theo “bóng buồm” của bạn cho đến lúc không còn nhìn thấy nữa. Toàn thể bài thơ thực chất cũng đã làm nên một tín hiệu nghệ thuật theo kiểu “ý ở ngoài lời”. Bởi ẩn đằng sau bức tranh phong cảnh là cái tình lênh láng của nhà thơ (cái không được nói đến chút nào ở trong phần lời của bài thơ). Vạn lạng hoàng kim còn dễ kiếm Thế gian tri kỉ thật khó tìm. Quả đúng là như vậy, bạn bè dù ở bất cứ đâu, bất cứ thời đại nào cũng vô cùng quan trọng và đáng quý đối với mỗi chúng ta. Nó giúp cho cuộc sống của chúng ta thêm đáng yêu và đáng trọng. Ở thời nào cũng vậy, bạn của ta có người tốt và người xấu. Điều quan trọng là ta biết “chọn bạn mà chơi”. Người bạn tốt cũng giống như ngọn đèn sáng trong đêm, không chỉ chiếu sáng cho người mà còn chiếu sáng cho ta. 6. Cảnh tiễn biệt Cảnh tiễn biệt được diễn ra trên lầu Hoàng Hạc, điểm đến của người đi là Dương Châu. “lên đường” thể hiện sự ra đi, chia ly. “hoa khói” => thể hiện sự phồn hoa đô hội. Người bạn mà nhà thơ tiễn biệt chính là “cố nhân” hai từ ấy chỉ dành cho những người bạn tri kỉ có thâm niên cao. Và tình cảm của nhà thơ với bạn mình đã được ba năm kể từ khi gặp mặt. Từ biệt Hoàng Hạc từ biệt nhà thơ người cố nhân ấy xuôi dòng đến chốn Dương châu phồn hoa đô hội. => Hai câu thơ đầu nhà thơ đã vẽ lên một bức tranh tiễn biệt người bạn tri kỉ của mình. Cảnh vật cũng như mang một màu tâm trạng chung với con người. Hình ảnh Dương Châu gắn với những chốn phồn hoa đô hội nơi vui vẻ đông đúc trái ngược với tâm trạng của nhà thơ buồn bac trống vắng chỉ còn lại một mình. “cô phàm” và “bích không tận” mở ra một không gian có trời có thuyền vô cùng đẹp nhưng nó mang cái rộng bao la và hình ảnh con thuyền đang chuyển động đi xa khiến cho lòng người càng cảm thấy mình nhỏ bé. Bản dịch của nhà thơ Ngô Tất Tố đã bỏ mất đi chữ “bích” không thể hiện rõ được ý của bài thơ Lí Bạch. Bóng buồm đã khuất dạng chỉ còn lai bầu trời bao la rộng lớn => điều đó chứng tỏ nhà thơ vẫn còn đang luyến tiếc đứng ngóng bạn mình cho đến tận mãi khi khuất bóng mới thôi. => Cuộc chia ly nào cũng mang đến cảm xúc nhiều nhất cho người ở lại. Bởi họ chẳng thể dịch chuyển đi đâu chỉ ở đó mà ôm cái hoài niệm về một thời đã xa. Còn người đi thường họ xác định được mục đích của mình nên họ sẽ chỉ buồn nhưng rồi sẽ chóng bắt tay vào những việc mình định làm chỉ có người ở lại là luôn nhớ thương thường trực. III. Tổng kết 1. Nội dung: Bài thơ thể hiện một tình bạn đẹp của nhà thơ với người cố nhân, sự chia tay để lại trong lòng nhà thơ biết bao kỉ niệm về tình bạn đẹp ấy. 2. Nghệ thuật: Tả cảnh ngụ tình, miêu tả thiên nhiên tinh tế, ngôn ngữ đường thi.
Soạn bài lớp 10_ Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng
1,478
Soạn bài lớp 10: Tấm Cám Hướng dẫn Soạn bài: Tấm Cám Soạn bài lớp 10: Tấm Cám cùng Tóm tắt truyện Tấm cám mà chúng tôi sưu tầm được dưới đây sẽ giúp các em học sinh có thêm tài liệu tham khảo. Truyện Tấm Cám trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cái thiện và cái ác từ đó chúng ta rút ra nhiều bài học để giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Giáo án Ngữ văn 10 tuần 7: Tấm Cám Soạn bài lớp 10: Uy-Lít-Xơ trở về Soạn bài lớp 10: Ra-Ma buộc tội Soạn bài lớp 10: Lập dàn ý bài văn tự sự TẤM CÁM (Truyện cổ tích) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Truyện cổ tích là những tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận những con người bình thường trong xã hội có giai cấp, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động. Truyện cổ tích được chia thành ba loại: cổ tích về loài vật, cổ tích sinh hoạt và cổ tích thần kì. Truyện cổ tích thần kì phong phú nhất và chiếm số lượng nhiều nhất. 2. Đặc trưng của truyện cổ tích thần kì Sự tham gia của yếu tố thần kì là khá phổ biến (tiên, bụt, sự biến hoá thần kì, những vật có phép màu…). Kết cấu tương đối thống nhất: Dạng kết cấu phổ biến là nhân vật chính trải qua những phiêu lưu, hoạn nạn, thử thách, cuối cùng đạt được ý nguyện của mình. Nhân vật chính phần lớn là những con người bình thường. Mâu thuẫn, xung đột gia đình và xã hội được thể hiện dưới dạng khái quát: đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái thiện và cái ác. 3. Tấm Cám là truyện cổ tích tiêu biểu cho loại cổ tích thần kì. Câu chuyện là cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cái thiện và cái ác. Mẹ con Cám tàn nhẫn và độc ác đã chiếm đoạt tất cả những gì thuộc về Tấm và hơn nữa còn muốn tiêu diệt Tấm đến cùng. Thế nhưng bằng sức sống, sức trỗi dậy mãnh liệt, bằng ước mơ và niềm lạc quan của người lao động, Tấm đã đứng lên chiến đấu quyết liệt với cái ác và giành chiến thắng. 1. Tóm tắt cốt truyện Tấm Cám Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Cha mẹ mất sớm, Tấm ở với dì ghẻ là mẹ của Cám. Dì ghẻ là người cay nghiệt, bắt Tấm phải làm lụng rất vất vả. Trái lại, Cám được nuông chiều. Một lần, khi đi bắt tôm tép ngoài đồng, để được thưởng chiếc yếm đỏ, Cám đã lừa Tấm, trút hết tép vào giỏ của mình. Tấm khóc, Bụt hiện lên bảo Tấm mang con bống còn sót lại trong giỏ về nuôi ở giếng. Mẹ con Cám biết chuyện, lừa Tấm đi chăn trâu đồng xa, bắt bống giết thịt. Mất bống, Tấm ngồi khóc thì Bụt lại hiện ra và bảo Tấm hãy nhặt lấy xương bống bỏ vào bốn lọ chôn ở bốn chân giường. Ít lâu sau, nhà vua mở hội. Dì ghẻ lấy gạo trộn lẫn với thóc, bắt Tấm ở nhà nhặt rồi cùng Cám đi trảy hội. Tấm ngồi khóc một mình, Bụt lại hiện ra và sai đàn chim sẻ xuống nhặt giúp, lại bảo Tấm đào các lọ chôn ở chân giường lên để có đủ mọi thứ để đi trảy hội. Trên đường trảy hội, khi phóng ngựa qua chỗ lội Tấm đánh rơi một chiếc giày mà không kịp nhặt. Nhà vua đi qua nhặt được chiếc giày xinh xắn liền ra hạ lệnh để tất cả đàn bà con gái đi xem hội ướm thử, ai đi vừa thì sẽ lấy làm vợ. Tất cả không ai ngoài Tấm đi vừa chiếc giày. Tấm được rước vào cung làm vợ vua. Ngày giỗ cha, Tấm về nhà, mẹ con Cám ghen ghét bày mưu để Tấm trèo cau rồi chặt gốc, giết chết Tấm. Cám vào cung thay Tấm. Tấm chết hoá thành chim vàng anh quấn quýt bên vua, Cám bắt chim làm thịt vứt lông chim ra vườn. Lông chim hoá ra hai cây xoan đào, vua thấy đẹp bèn sai mắc võng nằm chơi hóng mát hằng ngày, Cám sai chặt hai cây xoan đào làm khung cửi. Cám ngồi dệt, từ khung cửi phát ra tiếng oán trách. Cám đem đốt khung cửi, vứt tro ra xa hoàng cung. Từ đống tro mọc lên cây thị, đến mùa thị chỉ ra một quả và được bà lão hàng nước đem về. Hàng ngày, khi bà lão đi vắng, Tấm từ trong quả thị chui ra giúp bà mọi việc trong nhà xong lại chui trở vào. Bà lão rình biết được bèn ôm choàng lấy Tấm, nhận làm con. Một hôm vua đi chơi qua, ghé vào quán nước của bà lão, nhận ra Tấm và đón nàng về cung. Thấy Tấm ngày càng xinh đẹp, Cám hỏi, Tấm lừa Cám tự đào hố rồi sai đổ nước sôi. Cám chết, Tấm đem xác làm mắm và gửi về cho dì ghẻ. Mụ dì ghẻ ăn đến khi mắm gần hết thì thấy đầu lâu con gái, mụ lăn đùng ra chết. Từ đoạn truyện về chiếc yếm đỏ đến đoạn truyện Tấm đi xem hội phản ánh mâu thuẫn xoay quanh những quyền lợi về vật chất và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày. Đoạn còn lại liên quan đến cái chết của Tấm và sự hóa thân trở đi trở lại của cô, xuất hiện những mâu thuẫn về địa vị và quyền lợi đẳng cấp (mâu thuẫn xã hội) nên tính quyết liệt của mâu thuẫn hiện rõ hơn. Diễn biến của cốt truyện cho ta hình dung về xu hướng phát triển của hai tuyến nhân vật: Tuyến mẹ con Cám: càng ngày càng tỏ ra độc ác hơn, tàn nhẫn hơn. Tuyến nhân vật Tấm, từ những hành động và phản ứng yếu ớt, cô đã trở nên quyết liệt và chủ động hơn để đòi lại hạnh phúc đích thực của mình. 3. Tấm sau khi chết đã hóa thân trở đi trở lại thành: chim vàng anh – hai cây xoan đào – khung cửi – quả thị, nghĩa là đều hóa thành vật. Sự hóa thân thần kì này phản ánh một quan niệm của dân gian xưa: quan niệm đồng nhất giữa người và vật. Cả bốn hình thức biến hóa này đều cho thấy vẻ đẹp về phẩm chất của nhân vật vẫn không thay đổi: bình dị và sáng trong. Bốn lần biến hóa còn cho thấy sự biến chuyển trong ý thức đấu tranh của nhân vật. Ví dụ: Khi là chim vàng anh, nhìn thấy Cám đang giặt áo, chim nói: “Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao”. Nhưng khi chiếc khung cửi lên lời, nó quyết liệt hơn: Cót ca, cót két Lấy tranh chồng chị Chị khoét mắt ra Có thể nói ý nghĩa chung nhất của quá trình biến hóa ấy là thể hiện sức sống mãnh liệt của Tấm. Sức sống ấy không thể bị tiêu diệt bởi bất cứ một thế lực nào. Và nó chính là nguyên nhân quan trọng nhất tạo nên chiến thắng cuối cùng của nhân vật. Mâu thuẫn và xung đột trong truyện cổ tích này trước hết là mâu thuẫn và xung đột trong gia đình phụ quyền thời cổ đại (mâu thuẫn dì ghẻ mâu thuẫn con chồng). Nguyên nhân bắt nguồn từ việc kế thừa tài sản và hưởng những quyền lợi vật chất của các thành viên (con cái) trong gia đình. Truyện cũng thấp thoáng xuất hiện những mâu thuẫn xã hội (về quyền lợi và địa vị) nhưng không phải là chủ đạo. ý nghĩa chung nhất của tác phẩm toát lên từ mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác. Đó là cuộc đấu tranh giữa người lương thiện và những kẻ bất lương. 5. Hành động Tấm giội nước sôi giết Cám, lấy xác làm mắm, gửi cho dì ghẻ ăn gây nhiều tranh cãi và không ít người phản đối cho rằng hành động ấy làm mất đi vẻ đẹp vẹn toàn của nhân vật Tấm. Thực ra phải hiểu rằng: trong truyền thống cảm nhận của dân gian, người ta không quan tâm đến tính chất dã man của sự việc. Theo quan niệm “ác giả ác báo” người ta chỉ chú ý đến việc cái ác bị trừng phạt như thế nào và với mức độ ra sao. Với tác giả dân gian, kết cục của mẹ con Cám như vậy là thích đáng, là phù hợp với những gì mà mẹ con mụ đã gây ra. 6. Những đặc trưng của thể loại truyện cổ tích thần kì được biểu hiện trong Tấm Cám: Cốt truyện có sự tham gia của nhiều yếu tố thần kì: nhân vật Bụt, xương cá bống và những lần biến hóa của nhân dân chính. Về kết cấu, truyện có dạng: nhân vật chính phải trải qua nhiều hoạn nạn cuối cùng mới được hưởng hạnh phúc. Đây là một trong những kiểu kết cấu khá phổ biến của loại truyện cổ tích thần kì. Truyện phản ánh những xung đột trong xã hội thời kì đã có sự phân chia giai cấp. Kết thúc truyện có hậu mang tính nhân đạo và lạc quan.
Soạn bài lớp 10_ Tấm Cám
1,633
Soạn bài lớp 10: Tỏ lòng Hướng dẫn Soạn bài: Tỏ lòng Soạn bài lớp 10: Tỏ lòng (hay Thuật hoài) do Phạm Ngũ Lão sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về tinh thần và ý chí ngoan cường của những con người ấy sẽ vẫn mãi là lí tưởng cho nghị lực và sự phấn đấu của tuổi trẻ hôm nay và mai sau giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Giáo án bài Tỏ lòng Ngữ văn 10 Soạn bài lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Soạn bài lớp 10: Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX TỎ LÒNG (Thuật hoài) PHẠM NGŨ LÃO I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hào khí Đông A Hào khí Đông A là hào khí đời Trần (chữ Đông và chữ A trong tiếng Hán ghép lại thành chữ Trần). Cụm thuật ngữ này từ lâu đã được dùng để chỉ cái không khí oai hùng, hào sảng của thời Trần (thời kì mà chúng ta có những chiến công lừng lẫy khi cả ba lần đều đánh tan sự xâm lược của giặc Nguyên- Mông). Hào khí Đông A là chỉ cái khí thế hừng hực của niềm vui chiến thắng, chỉ cái khát khao mang tính thời đại mà ở đó ai ai cũng muốn góp sức dựng xây hay dang tay bảo vệ cho sự vững bền mãi mãi của non sông đất nước mình. Hào khí Đông A từ xã hội đi vào thơ văn trở thành sự kết tinh cho những biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước. Có không ít tác phẩm nổi tiếng mang hơi thở của Hào khí Đông A: Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lao, Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá về kinh) của Trần Quang Khải, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn,… II. RÈN KĨ NĂNG 1. So sánh câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch, ta thấy hai từ “múa giáo” chưa thể hiện được hết ý nghĩa của hai từ “hoành sóc”. “Hoành sóc” là cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ non sông. Từ ý nghĩa lẫn âm hưởng, từ “hoành sóc” đều tạo ra cảm giác kì vĩ và lớn lao hơn. Trong câu thơ đầu này, con người xuất hiện trong bối cảnh không gian và thời gian đều rộng lớn. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lên theo chiều cao của sao Ngưu thăm thẳm. Thời gian không phải đo bằng ngày bằng tháng mà đo bằng năm, không phải mới một năm mà đã mấy năm rồi (cáp kỉ thu). Con người cầm cây trường giáo (cũng đo bằng chiều ngang của non sông), lại được đặt trong một không gian, thời gian như thế thì thật là kì vĩ. Con người hiên ngang ấy mang tầm vóc của con người vũ trụ, non sông. 3. Tỏ lòng là bài thơ nói chí. Đó là cái chí của những bậc nam nhi trong thiên hạ. Chính vì thế, món “nợ công danh” mà nhà thơ nói đến ở đây vừa là khát vọng lập công, lập danh (mong để lại tiếng thơm, sự nghiệp cho đời) vừa có ý “chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước”. Theo quan niệm lí tưởng của trang nam nhi thời phong kiến thì công danh được coi là một món nợ đời phải trả. Trả xong nợ công danh mới hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nước. Ở phần cuối của bài thơ, tác giả vẫn “thẹn” vì mình ch­a được như Vũ Hầu Gia Cát Lượng, nghĩa là vẫn muốn lập công lập danh để giúp nước giúp đời. 5. Người xưa nói “Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách”. Câu nói ấy quả rất đúng với tinh thần của bài thơ “Tỏ lòng”. Đọc những dòng thơ hào hùng khí thế, ta có thể cảm nhận rât rõ vẻ đẹp sức vóc và ý chí của những trang nam nhi thời đại nhà Trần. Âm hưởng anh hùng ca của thời đại do những con người ấy tạo nên và cũng chính âm hưởng ấy tôn lên vẻ đẹp anh hùng của họ. Họ đã từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, để sẵn sàng chiến đấu và hy sinh cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Tinh thần và ý chí ngoan cường của những con người ấy sẽ vẫn mãi là lí tưởng cho nghị lực và sự phấn đấu của tuổi trẻ hôm nay và mai sau.
Soạn bài lớp 10_ Tỏ lòng
782
Soạn bài lớp 10: Tổng kết lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại Hướng dẫn Soạn bài: Tổng kết lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại Soạn bài lớp 10: Tổng kết lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Luyện tập trình bày một vấn đề Soạn bài lớp 10: Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt TỔNG KẾT LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về cấu trúc, nền văn học Việt Nam thời trung đại được cấu tạo bởi hai bộ phận phát triển song song và có tác động qua lại trong quá trình lịch sử: văn học dân gian và văn học viết. Hai bộ phận văn học này cũng như các thành phần văn học chữ Hán và chữ Nôm thời trung đại có quan hệ mật thiết và tác động qua lại sâu sắc trong quá trình phát triển. 2. Về quá trình lịch sử, sự vận động, phát triển và biến đổi của văn học Việt Nam thời trung đại có quan hệ rất chặt chẽ với các phương diện của lịch sử đất nước, nhất là lịch sử xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởng. Lịch sử văn học viết nước ta từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có thể chia làm hai giai đoạn lớn với mốc là thế kỉ XVIII. Tuy nhiên, mốc thế kỉ XVIII không hề cắt đứt hai giai đoạn mà vẫn thấy được sự kế thừa, phát huy những thành tựu của giai đoạn trước ở giai đoạn sau. 3. Các đặc điểm cơ bản của nền văn học Việt Nam thời trung đại thể hiện ở quan niệm văn học, nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Về nội dung tư tưởng, văn học Việt Nam thời trung đại có truyền thống lớn nhất, sâu sắc nhất là lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, chủ nghĩa anh hùng; có truyền thống tình thương, lòng nhân nghĩa; tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan; có sự gặp gỡ với ba luồng tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo. Về hình thức nghệ thuật, văn học Việt Nam thời trung đại có tính quy phạm chặt chẽ; tính uyên bác và khuynh hướng mô phỏng cổ nhân; cá tính nhà văn chưa có điều kiện thể hiện thật đậm nét. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Văn học Việt Nam thời trung đại gồm những bộ phận, những thành phần nào? 2. Phân tích, chứng minh quan hệ và tác động qua lại giữa các bộ phận, các thành phần văn học Việt Nam thời trung đại trong quá trình vận động phát triển. Gợi ý: Hai bộ phận văn học này cũng như các thành phần văn học chữ Hán và chữ Nôm thời trung đại có quan hệ mật thiết và tác động qua lại sâu sắc trong quá trình phát triển. Các tác phẩm văn học chữ Hán đầu tiên của bộ phận văn học viết (Việt điện u linh tập của Lí Tế Xuyên; Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh, Kiều Phú; Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ,…) hoặc là những công trình sưu tập, chi chép văn học dân gian hoặc khai thác rất nhiều chất liệu từ văn học dân gian. Thành phần văn học chữ Hán và thành phần văn học chữ Nôm cũng có nhiều ảnh hưởng qua lại, bổ sung cho nhau từ nội dung đến hình thức. Các tác phẩm văn học chữ Hán như Vận nước (Pháp Thuận), Cáo bệnh bảo mọi người (Mãn Giác), Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão), Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi),… hướng nhiều hơn đến những đề tài “lớn”, những vấn đề trọng đại. Văn học chữ Nôm lại tập trung nhiều hơn đến những đề tài thuộc đời sống hằng ngày, tâm sự riêng tư, về thân phận con người, thú chơi,…; chẳng hạn: Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi), Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Hàn nho phong vị phú (Nguyễn Công Trứ), Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều), Truyện Kiều (Nguyễn Du),… Văn học chữ Hán chỉ vận dụng những thể thơ mượn của Trung Hoa thì văn học Nôm, bên cạnh các thể loại có nguồn gốc bên ngoài ấy, còn phát huy những thể thơ bản địa,… Gợi ý: Để làm rõ được luận điểm này, cần chú ý những vấn đề sau: Bước ngoặt của lịch sử xã hội: Phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ dữ dội; Chế độ phong kiến bị lay chuyển tận gốc; Ý thức hệ phong kiến khủng hoảng sâu sắc; Vấn đề quyền con người đặt ra gay gắt. Bước ngoặt của lịch sử văn học: Nền văn học phát triển rực rỡ, từ văn học chữ Hán đến văn học chữ Nôm, với đủ các thể loại kể cả vay mượn lẫn bản địa; Hàng loạt các tác gia lớn xuất hiện, hàng loạt các kiệt tác ra đời (Nguyễn Du với Truyện Kiều và thơ chữ Hán; Nguyễn Gia Thiều với Cung oán ngâm; Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm với Chinh phụ ngâm,…). 4. Phân tích một số tác phẩm cụ thể để thấy được đặc điểm về nội dung của văn học Việt Nam trung đại. Gợi ý: Lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, chủ nghĩa anh hùng: Thánh Gióng, Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ, Vận nước, Đại cáo bình Ngô, Phú sông Bạch Đằng,… Tình thương, lòng nhân nghĩa: Tiễn dặn người yêu, ca dao yêu thương tình nghĩa, ca dao than thân, Đại cáo bình Ngô, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Truyện Kiều, Đọc “Tiểu Thanh kí”, Cung oán ngâm, Chinh phụ ngâm,… Tình yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan: Cảnh ngày hè, Nhàn,… Gợi ý: Tập trung phân tích, chứng minh những biểu hiện sau: Tính quy phạm chặt chẽ (niêm, luật, đối,… theo quy phạm thể loại); Tính uyên bác, mô phỏng cổ nhân (dùng điển cố, điển tích, văn liệu của người xưa,…), thể hiện rõ nhất trong Đại cáo bình Ngô, Đọc “Tiểu Thanh kí”, Phú sông Bạch Đằng. Cá tính chưa có điều kiện thể hiện đậm nét: quy phạm chặt chẽ định sẵn, hệ thống các hình ảnh ước lệ,… 6. Thế nào là ước lệ trong sáng tác văn học? Đối với văn học thời phong kiến, bút pháp ước lệ đạt được hiệu quả như thế nào? Vì sao? Gợi ý: Văn học thời nào cũng có ước lệ, nhưng trong văn học thời trung đại ước lệ được sử dụng một cách phổ biến và trở thành đặc trưng thi pháp. Những ước lệ đạt giá trị nghệ thuật tạo nên tính hàm súc cao, “ý tại ngôn
Soạn bài lớp 10_ Tổng kết lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại
1,191
Soạn bài lớp 10: Tổng kết phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học Hướng dẫn Soạn bài: Tổng kết phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học Soạn bài lớp 10: Tổng kết phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm. Bài soạn sẽ giúp bạn củng cố lại kiến thức về phương pháp đọc hiểu văn bản văn học thông qua việc giải các bài tập trong SGK. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 10: Luyện tập đọc – hiểu văn bản văn học Soạn bài lớp 10: Đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam Tổng kết phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học 1. Kiến thức cơ bản Đọc – hiểu văn bản văn học, phải biết dựa vào ngữ cảnh văn bản, ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn học để xác định ý nghĩa của văn bản. Ngữ cảnh văn bản là tổ chức văn bản quy định ý nghĩa và giá trị của các thành phần tạo nên văn bản. Ngữ cảnh tình huống là tình huống cụ thể khi văn bản và ngôn từ xuất hiện. Ngữ cảnh văn hoá là bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hoá mà người phát ngôn sống và sáng tác. Đọc – hiểu văn bản văn học, phải biết lấy tư tưởng chính của văn bản mà soi sáng mọi chi tiết của văn bản. Trong quá trình đọc, qua các chi tiết người đọc có thể dự đoán trước tư tưởng chính của văn bản và sau đó qua các chi tiết khác lại điều chỉnh dự đoán ban đầu, khi nào thấy có sự phù hợp giữa khái quát và tư tưởng chính với tất cả các chi tiết thì mới có thể coi là hiểu được tư tưởng của văn bản. Đọc – hiểu văn bản văn học, phải biết lấy kinh nghiệm sống của bản thân và những người xung quanh mà thể nghiệm ý nghĩa của văn bản. Muốn thể nghiệm, người đọc phải tưởng tượng, liên tưởng để “cụ thể hoá”, “hiện thực hoá” các chi tiết trong văn bản. Đọc – hiểu văn bản văn học, cần tránh cắt xén văn bản, tránh suy diễn tuỳ tiện. Câu 1. Hãy cho biết ngữ cảnh văn bản, ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hoá của các tác phẩm: Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi), các đoạn trích Truyện Kiều (Nguyễn Du). Gợi ý trả lời: Ngữ cảnh tình huống của các bài Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) được thể hiện trong phần tiểu dẫn; ngữ cảnh tình huống của các đoạn trích Truyện Kiều (Nguyễn Du) được nói đến trong bài Truyện Kiều. Đọc lại toàn bộ các văn bản để tìm hiểu ngữ cảnh văn bản: Bố cục của các văn bản: Ý nghĩa của mỗi phần được thể hiện trong mối liên hệ ý nghĩa với các phần khác. Từ ngữ, hình ảnh,… trong văn bản đều chứa đựng liên hệ ý nghĩa với các từ ngữ, hình ảnh trong câu, đoạn và toàn văn bản. Ngữ cảnh văn hoá: Các điển cố, điển tích, động thái hoài cổ, hình ảnh ước lệ,… thể hiện đặc thù của văn hoá thời trung đại. Riêng các đoạn trích Truyện Kiều, việc xác định ngữ cảnh tình huống còn là xác định vị trí đoạn trích trong toàn bộ tác phẩm, trong mạch diễn biến cốt truyện. Câu 2. Nêu mối liên hệ giữa tư tưởng chính và chi tiết trong các văn bản, đoạn trích: Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi), Trao duyên (Nguyễn Du), Thái sư Trần Thủ Độ (Ngô Sĩ Liên). Gợi ý trả lời: Cảnh ngày hè: Cảm xúc về sức sống thiên nhiên và tấm lòng yêu cuộc sống được thể hiện ở các chi tiết miêu tả: Hoè lục đùn đùn, hoa lựu phun thức đỏ, hương sen ngát, lao xao chợ cá,… Trao duyên: Mối giằng xé đau đớn giữa ý thức về nghĩa vụ với ý thức, khát vọng sống của cá nhân thể hiện ra ở ngôn ngữ nhân vật, độc thoại nội tâm, các hình ảnh,… Thái sư Trần Thủ Độ: Các sự kiện, chi tiết đều nhằm khẳng định nhân cách trung trực, cứng cỏi, bản lĩnh của nhân vật Trần Thủ Độ trong việc giữ gìn kỉ cương, phép nước. (1) Bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão thể hiện lí tưởng của người muốn lập công danh. (2) Ở bài thơ Đọc “Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du), nhà thơ chỉ mượn hình ảnh Tiểu Thanh để biểu hiện chính mình. (3) Đoạn trích Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du chỉ thể hiện cảnh sống không đẹp chốn lầu xanh. Gợi ý trả lời: Đối chiếu các luận điểm với nội dung đọc – hiểu đã học. Nhận định (1) đúng, nếu hiểu công danh là lập công trạng trong sự nghiệp giữ nước. Nhận định (2) không đầy đủ, Nguyễn Du trong Đọc “Tiểu Thanh kí” không “chỉ mượn chuyện Tiểu Thanh để biểu hiện chính mình” mà còn bộc lộ niềm thương cảm chung cho những kiếp tài hoa mệnh bạc. Nhận định (3) sai hoàn toàn, đoạn trích Nỗi thương mình diễn tả thân phận đau đớn, tủi nhục của Kiều ở chốn lầu xanh và ý thức về nhân phẩm của nàng chứ không phải “chỉ thể hiện cảnh sống không đẹp chốn lầu xanh”
Soạn bài lớp 10_ Tổng kết phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học
912
Soạn bài lớp 10: Tựa “Trích diễm thi tập” Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Tựa “Trích diễm thi tập” Soạn bài lớp 10: Tựa “Trích diễm thi tập” do Hoàng Đức Lương sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Hiền tài là nguyên khí quốc gia Soạn bài lớp 10: Phẩm bình nhân vật lịch sử TỰA “TRÍCH DIỄM THI TẬP” (Trích) HOÀNG ĐỨC LƯƠNG I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hoàng Đức Lương người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, sau chuyển đến ở làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ tiến sĩ năm 1478. Ông để lại: Trích diễm thi tập, đề tựa năm 1479, thơ chữ Hán còn lại 25 bài chép trong Trích diễm thi tập, sau này được Lê Quý Đôn đưa vào Toàn Việt thi lục. 2. Tựa là bài văn đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lí, hội hoạ, âm nhạc,… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung, quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy. Bài tựa có thể do tác giả tự viết hoặc do một ai đó thích thú tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường có phần lạc khoản: ghi rõ họ tên, chức tước của người viết và ngày tháng, địa điểm làm bài tựa. Bài tựa cũng thể hiện những quan điểm mang tính thời đại và của chủ quan người viết. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường được kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi mang sắc thái trữ tình. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu xuất xứ Gợi ý: Bài tựa này nằm trong Trích diễm thi tập (1497), một tập thơ gồm sáu quyển do Hoàng Đức Lương sưu tầm, tuyển chọn tác phẩm của các tác giả từ thời Trần đến thời Tiền Lê. 2. Tìm hiểu bố cục Gợi ý: Đoạn 1: Lí do làm sách Trích diễm thi tập. Đoạn 2: Quá trình hoàn thành Trích diễm thi tập. Ngoài ra còn phải kể đến phần Lạc khoản. 3. Phân tích mạch lập luận của bài tựa. Gợi ý: Mạch lập luận sáng rõ: Những lí do khiến thơ văn không lưu truyền được -> Ý thức gìn giữ, tinh thần trân trọng di sản văn hoá dân tộc -> Công việc biên soạn sách. 4. Những phân tích và trình bày lí lẽ được kết hợp với yếu tố biểu cảm làm tăng thêm sức thuyết phục cho những điều tác giả muốn diễn đạt: Thái độ đối với thực trạng thất truyền của thơ văn, sách vở: Lòng tha thiết đối với vẻ đẹp của thơ văn; Những câu hỏi đầy day dứt, thể hiện sự xót xa trước thực trạng thơ văn không được lưu truyền và với những mặt trái của đời sống xã hội. Tinh thần tự trọng, ý thức dân tộc và niềm đau xót được bộc lộ trực tiếp: “Than ôi! Một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, chẳng lẽ không có quyển sách nào có thể làm căn bản, mà phải tìm xa xôi để học thơ văn đời nhà Đường. Như thế chả đáng thương xót lắm sao!” Gợi ý: “Tôi không tự lượng sức mình… chẳng khác gì hiện nay ta chê trách người xa vậy”. 6. Theo tác giả, có những lí do nào khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời? Gợi ý: Theo Hoàng Đức Lương, thơ văn không lưu truyền được ở đời vì: Thứ nhất, chỉ thi nhân mới thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ca. Thứ hai, người có học thì ít quan tâm đến thơ ca. Thứ ba, người quan tâm đến thơ ca thì năng lực kém, không đủ kiên trì. Thứ tư, chính sách phát hành của nhà nước còn nhiều hạn chế. Có thể xem đây là các lí do chủ quan. Thơ văn không lưu truyền được ở đời còn vì những lí do khách quan. Lí do này được tác giả phân tích trong đoạn từ “Vì bốn lí do kể trên…” đến “… mà không rách nát tan tành. “, cụ thể là: Thời gian làm hư nát sách vở. Binh lửa chiến tranh tiêu huỷ. 7. Động cơ nào thôi thúc tác giả biên soạn Trích diễm thi tập? Gợi ý: Tác giả trình bày rõ động cơ biên soạn Trích diễm thi tập: Xuất phát từ những bức xúc trong tình hình biên soạn sách về thơ ca Việt Nam ở thời của tác giả (các lí do khiến thơ văn không được lưu truyền). Trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn những giá trị văn hiến dân tộc. Sưu tầm, biên soạn sách thơ văn có nhiều khó khăn, tác giả đã có cái nhìn rất thực tiễn, đồng thời thể hiện thái độ thận trọng, khiêm tốn. Thu lượm, chọn lấy những bài tiêu biểu, phân loại. Biên soạn thành sáu quyển, ở cuối mỗi quyển có tác phẩm do chính tác giả viết. 9. Có thể so sánh bài tựa này với các lời nói đầu trong sách vở ngày nay? Gợi ý: Cùng với sự đa dạng, phong phú của sách vở hiện nay, những lời nói đầu cũng có nhiều dạng, nhiều phong cách. Nhìn chung, ở các lời nói đầu, giống với tính chất của bài tựa, đều có những nhận định khái quát về giá trị của tác phẩm, cũng như thâu tóm những nội dung chính của cuốn sách. Tuy nhiên, chức năng, đặc điểm của lời nói đầu ở những quyển sách sưu tầm, biên soạn gần hơn cả với chức năng, đặc điểm của bài tựa theo kiểu bài tựa của Hoàng Đức Lương: Trình bày kết cấu sách; quan điểm tập hợp, tuyển chọn; tên người viết, nơi viết, thời gian viết,…
Soạn bài lớp 10_ Tựa _Trích diễm thi tập_
977
Soạn bài lớp 10: Uy-Lít-Xơ trở về Hướng dẫn Soạn bài: Uy-Lít-Xơ trở về Soạn bài lớp 10: Uy-Lít-Xơ trở về trích khúc ca XXII Ô-đi-xê được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm của sử thi cũng như hiểu rõ cảnh gặp gỡ của hai vợ chồng sau hai mươi năm xa cách nhưng nó diễn ra không bình thường mà trở thành một cảnh nhận mặt giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Ra-Ma buộc tội Soạn bài lớp 10: Lập dàn ý bài văn tự sự Soạn bài lớp 10: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy UY-LÍT-XƠ TRỞ VỀ (Trích khúc ca XXIII – Ô-đi-xê) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tóm tắt đoạn trích Sau khi hạ được thành Tơ-roa, Uy-lít-xơ “hồi quân” trở về quê hương. Chàng phải lênh đênh góc biển chân trời mười năm đằng đẵng mà vẫn chưa về tới quê nhà. Chàng bị nữ thần Ca-líp-xô, vì yêu chàng nên cầm giữ. Cảm thương số phận Uy-lít-xơ, thần Dớt sai Héc-mét đến lệnh cho Ca-líp-xô phải để chàng đi. Bị bão đánh chìm bè, chàng dạt vào xứ Phê-a-ki, được công chúa Nô-xi-ca yêu và nhà vua tiếp đãi tử tế. Theo ý nhà vua, Uy-lít-xơ kể lại những chuyện li kì, mạo hiểm trên bước đường gian truân phiêu bạt của mình cùng đồng đội: chuyện thoát khỏi xứ sở những tên khổng lồ một mắt, chuyện thoát khỏi tiếng hát đầy quyến rũ của các nàng tiên cá Xi-ren nguy hiểm,… Cảm phục, nhà vua cho thuyền đưa chàng về quê hương I-tác. Về đến nhà, chàng giả dạng người hành khất nên Pê-nê-lốp, vợ chàng, không nhận ra. Để trả lời sự thúc ép của bọn cầu hôn, Pê-nê-lốp thách ai giương được chiếc cung của Uy-lít-xơ và bắn một phát xuyên qua mười hai chiếc vòng rìu thì sẽ lấy người đó. Tất cả bọn cầu hôn đều thất bại, Uy-lít-xơ xin được bắn và chàng đã thắng. Nhân cơ hội đó, cha con chàng trừng trị bọn cầu hôn cùng những gia nhân phản bội. 2. Đoạn trích là cảnh gặp gỡ của hai vợ chồng sau hai mươi năm xa cách nhưng nó diễn ra không bình thường mà trở thành một cảnh nhận mặt. Trong cảnh ấy các nhân vật đã thử thách lẫn nhau để tìm về hạnh phúc. Câu chuyện là bài ca về vẻ đẹp trí tuệ và khát vọng hạnh phúc của người Hi Lạp. Nó nhắc nhở ta tình cảm gia đình bao giờ cũng rất cao quý, thiêng liêng. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Cảnh này có thể chia thành hai phần: Phần một từ đầu đến “…người kém gan dạ” và phần hai là đoạn còn lại. Đoạn 1 (từ đầu đến… xác chết của bọn cầu hôn và người giết chúng.), Ơ-ri-clê và Pê-nê-lốp: Ơ-ri-clê báo tin và thuyết phục Pê-nê-lốp. Đoạn 2 (từ Nói xong, nàng bước xuống lầu cho đến…con cũng không phải là người kém gan dạ), Tê-lê-mác, Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp: Thái độ của Tê-lê-mác đối với việc mẹ không chịu thừa nhận cha. Đoạn 3 (phần còn lại), Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ: Pê-nê-lốp thử thách Uy-lít-xơ, vợ chồng đoàn tụ. 2. Đối thoại của các nhân vật trong các đoạn ấy thể hiện những sắc thái tình cảm riêng: đối thoại của nhũ mẫu Ơ-ri-clê cho thấy niềm vui sướng của người đầy tớ trung thành gắn bó với gia đình, đối thoại của Pê-nê-lốp với nhũ mẫu cho thấy sự thanh thản, với con trai lại cho thấy sự phân vân v.v… 4. Pê-nê-lốp có nhiều phẩm chất cao đẹp, đặc biệt là trí tuệ sắc sảo, sự bình tĩnh tự tin và luôn thận trọng trong mọi tình huống. Khi nàng nhấn mạnh “cha và mẹ… không ai biết hết” chính là lúc nàng cố ý tạo ra một hoàn cảnh thử thách đối với Uy-lít-xơ. Nó là gợi ý về dấu hiệu nhận ra nhau của vợ chồng nàng. Câu nói ấy vừa thể hiện sự thận trọng, vừa thể hiện sự thông minh sắc sảo của Pê-nê-lốp. Thực ra Pê-nê-lốp không phải là người “bao giờ lòng dạ cũng rắn hơn cả đá”, có “một trái tim sắt đá hơn ai hết”. Hai mươi năm phải làm chủ gia đình, lại phải đối diện với bao thử thách, nàng đã phải tạo cho mình cái vỏ bọc cứng rắn. Có như vậy nàng mới chờ được đến ngày người chồng trở về để được ùa vào lòng chàng mà bật lên bao nhiêu cảm xúc dồn nén mấy chục năm. 5. Pê-nê-lốp phải dùng đến cách thử bí mật của chiếc giường trong màn nhận mặt nàng vì bí mật ấy giúp giải tỏa được nhiều mối nghi ngờ. Trước hết, để Pê-nê-lốp biết đó không phải là Uy-lít-xơ giả. Sau nữa, nó còn là minh chứng cho lòng chung thủy của nàng. Nếu chiếc giường đã bị chuyển đi hoặc đã không còn là bí mật của riêng hai vợ chồng nữa thì cũng có nghĩa là phẩm giá của Pê-nê-lốp cũng không còn nguyên vẹn. Phép thử ấy không những chỉ nói lên phẩm chất kiên trinh của Pê-nê-lốp mà còn khắc sâu sự bền vững của tình cảm gia đình, tình cảm vợ chồng cha con. Qua hành động của Pê-nê-lốp (một sự cẩn trọng gần như thái quá) chúng ta có thể thấy được tính chất phức tạp của thời đại – nơi mà những hiểm nguy luôn rình rập, đe dọa con người. 6. Về nhân vật Uy-lít-xơ Sau khi nghe Pê-nê-lốp nói với Tê-lê-mác, Uy-lít-xơ vẫn nhẫn nại mỉm cười nói với con trai: “Tê-lê-mác, con! Đừng làm rầy mẹ, mẹ còn muốn thử thách cha ở tại nhà này. Thế nào rồi mẹ con cũng sẽ nhận ra, chắc chắn như vậy…”; thì còn là nói với chính Pê-nê-lốp. Như vậy, khi nói những lời này, Uy-lít-xơ đã nhận ra ý định thử thách của Pê-nê-lốp và mặc dù chưa biết sự thử thách đó là gì nhưng chàng vẫn sẵn sàng chấp nhận. Có thể nói, Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ đã ngầm đối thoại với nhau. Cái “mỉm cười” của Uy-lít-xơ cho thấy chàng là người hết sức bản lĩnh, biết kìm chế tình cảm để có được sự sáng suốt, chín chắn. Đó là cái “mỉm cười” của người hiểu rõ khả năng của mình, tin vào mình, cũng là cái cười thấu hiểu và độ lượng đối với vợ và con trai mình. 7. Cách kể của Hô-me qua màn gặp mặt là một lối kể mang đậm phong cách kể chuyện của sử thi: chậm rãi, tỷ mỷ và trang trọng. Lối kể ấy làm các sự việc như được kéo dài ra, dền dứ và hồi hộp hơn. Sử thi thường được kể (diễn xướng) trong những khoảng thời gian dài. Vì thế phong cách kể ấy làm cho những đêm nghe kể sử thi hứng khởi và hấp dẫn hơn. Phẩm chất của các nhân vật thường được nhà văn miêu tả qua đối thoại – những đối thoại đầy trí tuệ, có chiều sâu và thường đa nghĩa. Bên cạnh đó biện pháp phân tích diễn biến nội tâm của nhân vật cũng tham gia tích cực vào việc xây dựng nên hình tượng các nhân vật trong đoạn trích này. Trong khổ cuối (“Dịu hiền… buông rời”), Hô-me đã sử dụng biện pháp so sánh mở rộng, kiểu câu tầng bậc và lối lặp đi lặp lại các định ngữ chỉ phẩm chất của nhân vật. Các biện pháp nghệ thuật ấy đã cho thấy vẻ đẹp, phẩm chất đặc biệt là niềm vui mừng khôn xiết của Pê-nê-lốp khi nhận ra người chồng yêu quý của mình. Để khắc hoạ nổi bật hình tượng nhân vật, Hô-me-rơ đã sử dụng một nghệ thuật miêu tả tâm lí đặc sắc. Trong đoạn trích, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sử thi được thể hiện rất rõ trong đoạn từ “Nói xong, nàng bước xuống lầu” cho đến “dưới bộ quần áo rách mướp.”. Nếu như trong tiểu thuyết hiện đại, tâm lí nhân vật thường được diễn tả trực tiếp, với cái nhìn từ bên trong thì ở đây, bút pháp sử thi lại diễn tả tâm lí nhân vật thông qua hành động, cách ứng xử, thái độ từ những biểu hiện bên ngoài, với cái nhìn từ bên ngoài. Tâm trạng phân vân, đầy nghi hoặc của Pê-nê-lốp được diễn tả bằng những chi tiết như: … nàng không biết nên đứng xa xa hỏi chuyện người chồng yêu quý của mình hay nên lại gần, ôm lấy đầu, cầm lấy tay người mà hôn? Khi vào đến nhà, bước qua ngưỡng cửa bằng đá, nàng đến ngồi trước mặt Uy-lít-xơ, dưới ánh lửa hồng, dựa vào bức tường đối diện… …nàng vẫn ngồi lặng thinh trên ghế hồi lâu, lòng sửng sốt, khi thì đăm đăm âu yếm nhìn chồng, khi lại không nhận ra chồng dưới bộ quần áo rách mướp. 8. Có thể so sánh giữa cách miêu tả tâm lí nhân vật giữa sử thi Đam Săn của Việt Nam và sử thi cổ điển Ô-đi-xê của Hi Lạp qua hai đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây và đoạn trích Uy-lít-xơ trở về để thấy được sự giống nhau và khác nhau về bút pháp sử thi giữa hai tác phẩm, hai truyền thống văn học, qua đó nắm được những đặc điểm tiêu biểu của bút pháp sử thi: Giống nhau: Dùng cái bên ngoài hay trực tiếp diễn tả từ bên trong tâm lí nhân vật? Ví dụ? Có sử dụng lối miêu tả cụ thể, tỉ mỉ, chi tiết không? Những đặc điểm miêu tả được lí tưởng hoá như thế nào? Ví dụ? Khác nhau: Những chi tiết dùng để diễn tả tâm lí nhân vật trong trích đoạn sử thi Đam Săn có gì khác so với những chi tiết dùng để diễn tả tâm lí nhân vật trong trích đoạn sử thi Ô-đi-xê? Chất dân gian trong sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ ở trích đoạn Đam Săn khác như thế nào cách sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ trau chuốt, trang trọng, cao nhã trong trích đoạn Ô-đi-xê? 10. Thử nhập vai Uy-lít-xơ để kể lại câu chuyện. Chú ý khi nhập vai Uy-lít-xơ, phải thay đổi các từ ngữ xưng hô, thay một số lời thoại trực tiếp của Uy-lít-xơ thành lời kể gián tiếp của mình (trong vai nhân vật). Tham khảo bài viết dưới đây: Sau khi tiêu diệt hết bọn cầu hôn và cùng với con trai Tê-lê-mác yêu quý trừng phạt những lũ đầy tớ vong ân phản chủ, ta hồi hộp đợi mong thời khắc, Pê-nê-lốp nhận mình. Thế nhưng hôm ấy, sau khi đã ngồi đợi rất lâu, ta mới thấy nang yên lặng bước vào. Nàng ngồi đối diện vơi ta nhưng lặng thinh không nói. Có lúc ta thấy nàng đăm đăm âu yếm nhìn ta nhưng có lúc lại thấy nàng thờ ơ lạnh nhạt. Trong lúc đang băn khoăn quá đỗi thì Tê-lê-mác lên lời. Ta chờ đợi sự phản ứng của nàng sau những lời con trai trách mẹ nhưng nàng vẫn không vồ vập. Nàng khẳng định với con trai nếu ta đúng là chồng nàng thật thì hẳn sẽ có những dấu hiệu riêng để nhận ra nhau. Nghe nàng nói vậy ta đã hiểu nàng muốn nói điều gì. Ta bèn vừa an ủi vừa nhắc nhở con trai Tê- lê-mác hãy đề phòng sự trả thù của bọn cầu hôn, nhắc nhở mọi người mặc quần áo đẹp ca múa làm người ngoài lầm tưởng trong nhà đang làm lễ cưới, rồi ta cũng đi tắm rửa. Ta trở về chỗ cũ ngồi đối diện với Pê-nê-lốp trên chiếc ghế bành rồi nhắc nhũ mẫu Ơ- ri-clê chuẩn bị kê riêng cho mình một chiếc giường để ngủ. Không ngờ ngay lúc ấy người cũng bạo dạn nói với u già: Già hãy khiêng chiếc giường chắc chắn ra khỏi gian phòng vách tường kiên cố do chính tay Uy-lít-xơ đã kê nó ngày xưa. Nghe Pê-nê-lốp nói vậy, ta bỗng giật nẩy mình bởi ta nghĩ rằng bí mật về chiếc giường xưa không còn nữa. Buột miệng ta đã nhắc lại tất cả bí mật về quá trình chế tác chiếc giường. Nhưng vừa mới nói dứt lời song bỗng dưng ta thấy Pê-nê-lốp chạy đến ôm chầm lấy cỏ ta và nói bao lời yêu thương nghẹn ngào trong nước mắt. Lúc ấy ta mới chợt hiểu ra sự thông minh và sắc sảo của vợ mình. Ta ôm chặt lấy nàng, người vợ xiết bao thân yêu, người bạn đời thuỷ chung sau bao nhiêu năm xa cách.
Soạn bài lớp 10_ Uy-Lít-Xơ trở về
2,148
Soạn bài lớp 10: Văn bản quảng cáo Hướng dẫn Soạn bài: Văn bản quảng cáo Soạn bài lớp 10: Văn bản quảng cáo được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm cũng như đặc điểm của văn bản quảng cáo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Ôn tập Tiếng Việt Soạn bài lớp 10: Tổng kết lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Quảng cáo là loại văn bản cung cấp rộng rãi các thông tin, tri thức liên quan đến hàng hoá, dịch vụ, nhằm mục đích tiêu thụ sản phẩm, giới thiệu hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp,… Quảng cáo có vai trò quan trọng trong đời sống, nhất là trong xã hội thông tin và nền kinh tế thị trường. 2. Đặc điểm của văn bản quảng cáo Một văn bản quảng cáo thường có các nội dung như: Tiêu đề quảng cáo; Tên hàng hoá, dịch vụ; Giới thiệu chất lượng, uy tín của sản phẩm và quy trình tạo nên sản phẩm; Nêu các điều kiện ưu đãi; Địa chỉ liên hệ. Văn bản quảng cáo thường được thiết kế theo hai dạng: Quảng cáo bằng ngôn ngữ thuần tuý; Quảng cáo bằng lời kết hợp với hình ảnh minh hoạ. 3. Cách xây dựng văn bản quảng cáo Cách trình bày cụ thể có thể khác nhau, nhưng văn bản quảng cáo phải đảm bảo: Ngôn ngữ quảng cáo cô đọng, tập trung; Giọng nói phải rõ ràng, lôi cuốn; Có sự cân đối giữa ngôn ngữ, hình ảnh; Hình ảnh phải mang tính thẩm mĩ cao, có sức tác động mạnh đến giác quan. Văn bản quảng cáo phải chân thực, đảm bảo đạo đức kinh doanh. Văn bản quảng cáo phải tuân thủ pháp lệnh, quy định của nhà nước. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Quảng cáo thường được sử dụng dưới những hình thức nào? Hãy trình bày một số hình thức quảng cáo cụ thể. Gợi ý: Quảng cáo có thể xuất hiện trên mọi phương tiện truyền thông rộng rãi như sách báo, đài phát thanh, truyền hình, tờ rơi, áp phích,… các vật dụng phổ biến như mũ, áo,…; các nơi tập trung đông người như sân bóng đá, rạp chiếu phim,… Có hình thức quảng cáo thuần tuý bằng lời và có hình thức quảng cáo kết hợp lời với hình ảnh. 2. Hãy thuyết minh về tính hấp dẫn của một quảng cáo nào đó đã từng thấy. Gợi ý: Căn cứ vào yêu cầu, mục đích và các tiêu chuẩn của quảng cáo để phân tích; có thể trình bày sở thích cá nhân. 3. Văn bản quảng cáo dưới đây cần bổ sung những yếu tố nào để hoàn thiện? NHÀ CUNG CẤP CÁC LOẠI ĐỒNG HỒ CHÍNH HIỆU Đảm bảo uy tín Thủ tục mua bán nhanh gọn Gợi ý: Cần bổ sung những thông tin sau: Xuất xứ và tên một số loại đồng hồ nổi tiếng; Giới thiệu tiêu chí về chất lượng; Địa chỉ liên hệ; Các hình thức khuyến mại (nếu có). Ngoài ra, có thể thêm các chi tiết trang trí, hình ảnh minh hoạ,…
Soạn bài lớp 10_ Văn bản quảng cáo
527
Soạn bài lớp 10: Văn bản Hướng dẫn Soạn bài: Văn bản Soạn bài lớp 10: Văn bản được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm, đặc điểm và các loại văn bản thường gặp giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Tổng quan văn học Việt Nam Soạn bài lớp 10: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ VĂN BẢN I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm văn bản Văn bản là sản phẩm được tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó thường gồm nhiều câu và là một chỉnh thể về mặt nội dung và hình thức. 2. Các đặc điểm của văn bản Văn bản bao giờ cũng tập trung nhất quán vào một chủ đề và triển khai chủ đề đó một cách trọn vẹn. Các câu trong văn bản có sự liên kết với nhau chặt chẽ bằng các liên từ và liên kết về mặt nội dung. Đồng thời, cả văn bản còn phải được xây dung theo một kết cấu mạch lạc, rõ ràng. Mỗi văn bản thường hướng vào thực hiện một mục đích giao tiếp nhất định. Mỗi văn bản có những dấu hiệu hình thức riêng biểu hiện tính hoàn chỉnh về mặt nội dung: thường mở đầu bằng một tiêu đề và có dấu hiệu kết thúc phù hợp với từng loại văn bản. 3. Các loại văn bản thường gặp Dựa theo lĩnh vực và chức năng giao tiếp, người ta phân biệt các loại văn bản sau: Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (thư, nhật kí…). Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, tuỳ bút,…). Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học (sách giáo khoa, tài liệu học tập, bài báo khoa học, luận văn, luận án, công trình khoa học,…). Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ (đơn, giấy khai sinh, giấy uỷ quyền,…). Các loại văn bản này thường có mẫu biểu quy định sẵn về hình thức. 1. Các văn bản (1), (2), (3) được người đọc (người viết) tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Các văn bản ấy là phương tiện để tác giả trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm… với người đọc. Có văn bản gồm một câu, có văn bản gồm nhiều câu, nhiều đoạn liên kết chặt chẽ với nhau; có văn bản bằng thơ, có văn bản bằng văn xuôi. 2. Văn bản (1) đề cập đến một kinh nghiệm trong cuộc sống (nhất là việc giao kết bạn bè), văn bản (2) nói đến thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập tới một vấn đề chính trị (kêu gọi mọi người đứng lên chống Pháp). Các vấn đề này đều được triển khai nhất quán trong từng văn bản. Văn bản (2) và (3) có nhiều câu nhưng chúng có quan hệ ý nghĩa rất rõ ràng và được liên kết với nhau một cách chặt chẽ (bằng ý nghĩa hoặc bằng các liên từ). 3. Ở văn bản (2), mỗi cặp câu lục bát tạo thành một ý và các ý này được trình bày theo thứ tự “sự việc” (hai sự so sánh, ví von). Hai cặp câu này vừa liên kết với nhau bằng ý nghĩa, vừa liên kết với nhau bằng phép lặp từ (“thân em”). Ở văn bản (3), dấu hiệu về sự mạch lạc còn được nhận ra qua hình thức kết cấu 3 phần: Mở bài, thân bài và kết bài. Mở bài: Gồm phần tiêu đề và câu “Hỡi đồng bào toàn quốc!”. Thân bài: tiếp theo đến “… thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”. Kết bài: Phần còn lại. 4. Mục đích của việc tạo lập văn bản (1) là nhằm cung cấp cho người đọc một kinh nghiệm sống (ảnh hưởng của môi trường sống, của những người mà chúng ta thường xuyên giao tiếp đến việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân); văn bản (2) nói lên sự thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến (họ không tự quyết định được thân phận và cuộc sống tương lai của mình mà phải chờ đợi vào sự rủi may); mục đích của văn bản (3) là kêu gọi toàn dân đứng lên chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp. Phần kết thúc là hai khẩu hiệu (cũng là hai lời hiệu triệu) để khích lệ ý chí và lòng yêu nước của “quốc dân đồng bào”. 6. Văn bản (1) nói đến một kinh nghiệm sống, văn bản (2) nói lên thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập đến một vấn đề chính trị. Ở các văn bản (1) và (2) chúng ta thấy có nhiều các từ ngữ quen thuộc thường sử dụng hàng ngày (mực, đèn, thân em, mưa sa, ruộng cày…). Văn bản (3) lại sử dụng nhiều từ ngữ chính trị (kháng chiến, hòa bình, nô lệ, đồng bào, Tổ quốc…). Nội dung của văn bản (1) và (2) được thể hiện bằng những hình ảnh giàu tính hình tượng. Trong khi đó, văn bản (3) lại chủ yếu dùng lí lẽ và lập luận để triển khai các khía cạnh nội dung. Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể khẳng định: văn bản (1) và (2) thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, văn bản (3) thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận. Văn bản (2) dùng trong lĩnh vực giao tiếp nghệ thuật. Văn bản (3) dùng trong lĩnh vực giao tiếp về chính trị. Các bài học môn Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,… trong SGK dùng trong lĩnh vực giao tiếp khoa học. Đơn xin nghỉ học, giấy khai sinh dùng trong giao tiếp hành chính. b) Mục đích giao tiếp cơ bản của mỗi loại văn bản Văn bản (2) nhằm bộc lộ tình cảm, cảm xúc. Văn bản (3) nhằm kêu gọi, hiệu triệu toàn dân đứng lên kháng chiến. Các văn bản trong SGK nhằm truyền thụ các kiến thức khoa học ở nhiều lĩnh vực. Văn bản đơn từ và giấy khai sinh nhằm trình bày, đề đạt hoặc ghi nhận những sự việc, hiện tượng liên quan giữa cá nhân với các tổ chức hành chính. c) Về từ ngữ Văn bản (2) dùng các từ ngữ thông thường, giàu hình ảnh và liên tưởng nghệ thuật. Văn bản (3) dùng nhiều từ ngữ chính trị xã hội. Các văn bản trong SGK dùng nhiều từ ngữ, thuật ngữ thuộc các chuyên ngành khoa học. Văn bản đơn từ hoặc giấy khai sinh dùng nhiều từ ngữ hành chính. d) Cách kết cấu và trình bày ở mỗi loại văn bản: Văn bản (2) có kết cấu của ca dao, sử dụng thể thơ lục bát. Văn bản (3) có kết cấu ba phần rõ ràng mạch lạc. Mỗi văn bản trong SGK cũng có kết cấu rõ ràng, chặt chẽ với các phần, các mục… Đơn và giấy khai sinh, kết cấu và cách trình bày đều theo mẫu thường được in sẵn chỉ cần điền vào đó các nội dung.
Soạn bài lớp 10_ Văn bản
1,213
Soạn bài lớp 10: Ôn tập Tiếng Việt Hướng dẫn Soạn bài: Ôn tập Tiếng Việt Soạn bài lớp 10: Ôn tập tiếng Việt được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo tổng kết lại toàn bộ kiến thức đã học trong học kì 2 này giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Tổng kết lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại Soạn bài lớp 10: Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt 1. Hãy nêu những đặc điểm chung và đặc điểm diễn đạt của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Gợi ý: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (còn được gọi là phong cách hội thoại, phong cách khẩu ngữ) chủ yếu tồn tại ở dạng nói, là kiểu diễn đạt trong giao tiếp hằng ngày, mang tính chất tự nhiên, thoải mái và sinh động, giàu cảm xúc, ít trau chuốt. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt thể hiện tính khí, thói quen, nét riêng của mỗi cá nhân trong cách trao đổi, chuyên trò, tâm sự với người khác. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt không dùng những lối nói trừu tượng, chung chung mà ưa chuộng những lối diễn đạt cụ thể, trực quan, sinh động, giàu âm thanh, giàu màu sắc, mang dấu ấn rõ rệt của những tình huống giao tiếp hằng ngày. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ưa thích những cách diễn đạt mới mẻ, tạo được ấn tượng cho người tiếp nhận. Trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, cảm xúc của người nói hay người viết được bộc lộ một cách tự nhiên, gắn với những tình huống giao tiếp cụ thể, muôn hình muôn vẻ. Tính thẩm mĩ: Văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ, là sự thể hiện giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật, với tư cách là chất liệu xây dựng hình tượng, có sự tổng hoà của ngữ âm và ngữ nghĩa, hoà phối để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ. Tính đa nghĩa: Nghĩa của văn bản nghệ thuật gồm nhiều thành phần: thành phần biểu thị thông tin khách quan, thành phần biểu thị tình cảm; thành phần nghĩa tường minh, thành phần nghĩa hàm ẩn. Các thành phần nghĩa này thống nhất với nhau trong những hình tượng nghệ thuật vừa cụ thể, vừa sinh động. Trong đó, thành phần nghĩa hàm ẩn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong văn bản nghệ thuật, biểu thị những suy ngẫm, gợi liên tưởng, tưởng tượng,… tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ, những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người. Dấu ấn riêng của tác giả: Mỗi nhà văn, nhà thơ thường có sở thích, sở trường riêng trong diễn đạt. Sở thích và sở trường ấy được bộc lộ ở những tác phẩm có giá trị và tạo thành nét độc đáo, dấu ấn riêng của tác giả. 2. Trình bày những hiểu biết của anh (chị) về các chức năng của ngôn ngữ, các nhân tố của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Gợi ý: Ngôn ngữ là công cụ để đạt đến mục đích giao tiếp. Với tư cách là công cụ như vậy, ngôn ngữ có những chức năng cơ bản: Chức năng thông báo sự việc; Chức năng bộc lộ (biểu cảm); Chức năng tác động. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ: Nhân vật giao tiếp – người phát (người nói / người viết) và người nhận (người nghe / người đọc); Công cụ giao tiếp và kênh giao tiếp, là ngôn ngữ được chọn dùng làm phương tiện chuyên chở thông tin và hình thức thực hiện giao tiếp; Nội dung giao tiếp, là phạm vi hiện thực bên ngoài ngôn ngữ gồm những sự vật, sự việc nào đó trong đó sự vật thế nào, vì sao, ai làm, làm gì, với ai, ở đâu, khi nào, nhằm mục đích gì,… thường phải được xác định rõ; là bản thân ngôn ngữ, trong trường hợp này, ngôn ngữ được dùng để nói về chính ngôn ngữ; Hoàn cảnh giao tiếp, là những yếu tố thời gian, không gian, những hiểu biết của người tham gia giao tiếp, môi trường xã hội,… của một cuộc giao tiếp cụ thể. 3. Những yêu cầu trong sử dụng tiếng Việt. Gợi ý: SGK 4. Ôn tập những kiến thức khái quát về lịch sử tiếng Việt: nguồn gốc, quan hệ họ hàng và các thời kì phát triển. Gợi ý: Xem lại bài Khái quát lịch sử tiếng Việt. 5. Hãy nêu những đặc điểm của văn bản, đặc điểm của văn bản nói và văn bản viết. Gợi ý: Các đặc điểm của văn bản: Tính thống nhất về đề tài, chủ đề và mục đích; Tính hoàn chỉnh về hình thức (bố cục, câu, liên kết, từ ngữ); Văn bản có tác giả. Các đặc điểm của văn bản nói: dùng trong giao tiếp với sự có mặt của người nói lẫn người nghe, là hình thức giao tiếp cơ bản nhất, sống động nhất, tự nhiên nhất của con người; sử dụng âm thanh, ngữ điệu làm phương tiện biểu hiện, kèm theo các phương tiện phi ngôn ngữ; có tính không trọn vẹn và ít trau chuốt. Các đặc điểm của văn bản viết: có khả năng lưu giữ lâu dài, hướng tới phạm vi người đọc rộng lớn; sử dụng hệ thống các dấu câu, kí hiệu quy ước để biểu đạt và làm cho văn bản tự đầy đủ về ý nghĩa; có những từ ngữ đặc thù, không có trong văn bản nói; Các yếu tố trong văn bản phù hợp với đặc thù giao tiếp gián tiếp và bởi vậy nó có tính tinh luyện và trau chuốt. Kiểu văn bản, các nhân tố giao tiếp, việc đáp ứng yêu cầu sử dụng tiếng Việt; và trình bày văn bản đó dưới dạng nói trước lớp rồi chỉ ra sự khác nhau giữa văn bản ở dạng nói và dạng viết. Gợi ý: Viết văn bản theo các ý sau: Ca dao là gì? Ca dao Việt Nam có đặc điểm gì về nội dung? Ca dao Việt Nam có những nét đặc sắc gì về nghệ thuật? Vai trò thẩm mĩ của ca dao? Đây là kiểu văn bản thuyết minh. Dựa vào gợi ý ở bài tập 2 để xác định các nhân tố giao tiếp liên quan đến văn bản của mình. Đánh giá văn bản theo yêu cầu sử dụng tiếng Việt: về ngữ âm, chữ viết, về từ ngữ, ngữ pháp và về phong cách ngôn ngữ). Dựa vào gợi ý ở bài tập 5 để xác định sự khác nhau giữa văn bản ở dạng nói và dạng viết đối với văn bản của mình.
Soạn bài lớp 10_ Ôn tập Tiếng Việt
1,148
Soạn bài lớp 10: Ôn tập văn học dân gian Việt Nam Hướng dẫn Soạn bài: Ôn tập văn học dân gian Việt Nam Soạn bài lớp 10: Ôn tập văn học dân gian Việt Nam được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm văn học dân gian, các đặc trưng, các thể loại của văn học dân gian Việt Nam giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Lời tiễn dặn Soạn bài lớp 10: Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự ÔN TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Bài học này nhằm củng cố, hệ thống hóa những kiến thức đã học về văn học dân gian Việt Nam. Vì vậy để ôn tập tốt, cần chú ý: Những kiến thức chung về văn học dân gian (khái niệm, đặc điểm về nội dung và nghệ thuật). Những kiến thức về thể loại (nhất là những thể loại đã được học). Những kiến thức về đoạn trích hoặc tác phẩm đã học. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Định nghĩa về văn học dân gian có thể được phát biểu theo nhiều cách nhưng cần chú ý thể hiện được những đặc điểm cơ bản của dòng văn học này: Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, được hình thành, tồn tại và phát triển nhờ tập thể. Tác phẩm văn học dân gian gắn bó và phục vụ cho các hoạt động khác nhau trong đời sống cộng đồng. 2. Các đặc trưng của văn học dân gian (xem chi tiết trong bài 2 – khái quát văn học dân gian Việt Nam): Là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng. Là sáng tạo mang tính tập thể. Gắn bó và phục vụ cho các sinh hoạt cộng đồng. Người ta còn gọi 3 đặc trưng trên là: tính truyền miệng, tính tập thể và tính thực hành. Có thể minh họa: Tính truyền miệng: Các tác phẩm văn học dân gian đều gắn với quá trình diễn xướng. Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong ca dao (gắn với lời hát), sử thi, cổ tích (gắn với hình thức kể),… Ví dụ bài ca dao về “lời dẫn cưới và thách cưới” (học trong bài 9) thực chất là lời hát đối đáp của tập thể trai gái trong ngày hội hoặc trong một buổi sinh hoạt tập thể nào đó. Tính tập thể: Nghĩa là nói đến tính vô danh (tác phẩm là sản phẩm của cả cộng đồng) và tính dị bản của văn học dân gian. Chính việc tác phẩm văn học dân gian không bị “hạn chế” về việc sửa chữa trong quá trình truyền miệng nên mới sinh ra các văn bản khác nhau của cùng một tác phẩm (các dị bản: các câu cao dao có mô típ mở đầu là: “Thân em như…”). Tính thực hành: Đặc trưng này thể hiện rất rõ trong các bài ca nghi lễ, bài hát đối đáp giao duyên, các bài hò lao động… 3. Văn học dân gian Việt Nam gồm những thể loại chính như: thần thoại, sử thi dân gian, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, tục ngữ, câu đố, ca dao – dân ca, vè, truyện thơ, các thể loại sân khấu (chèo, tuồng, múa rối, các trò diễn mang tích truyện). 4. Những đặc trưng chủ yếu của một số thể loại văn học dân gian: a) Sử thi (nhất là sử thi anh hùng) Nội dung: đề cập tới những vấn đề có ý nghĩa lớn đối với đời sống của cộng đồng. Đặc điểm nghệ thuật: Là những tác phẩm tự sự có quy mô lớn. Hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng về sức mạnh và trí tuệ. Câu văn trùng điệp, ngôn ngữ trang trọng, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu với những biện pháp so sánh, ẩn dụ và phóng đại đặc trưng. b) Truyền thuyết Nội dung: Kể bề những sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo quan điểm đánh giá của dân gian. Là những tác phẩm văn xuôi tự sự có dung lượng vừa phải. Có sự tham gia của những chi tiết, của các sự việc có tính chất thiêng liêng kì ảo (các nhân vật thần, các đồ vật kì ảo có phép lạ hay những sự biến thân). c) Truyện cổ tích Nội dung: Là những câu chuyện kể về số phận của những con người bình thường hay bất hạnh trong xã hội (chàng trai nghèo, người thông minh, người em, người đi ở, chàng ngốc,…) Thể hiện tinh thần nhân đạo và sự lạc quan của người lao động. Đặc điểm nghệ thuật: Là những tác phẩm văn xuôi tự sự. Cốt truyện và hình tượng đều được hư cấu rất nhiều. Có sự tham gia của nhiều yếu tố kì ảo hoang đường (nhân vật thần: bụt, tiên, phù thuỷ,… các vật thần kì ảo như cây đũa thần, cái thảm bay,… hoặc những sự biến hoá kì ảo,…). Thường có một kết cấu quen thuộc: Nhân vật chính gặp khó khăn hoạn nạn cuối cùng vượt qua và được hưởng hạnh phúc. d) Truyện cười Nội dung: Phản ánh những điều kệch cỡm, rởm đời trong xã hội, những sự việc xấu hay trái với lẽ tự nhiên trong cuộc sống mà có tiềm ẩn những yếu tố gây cười. Đặc điểm nghệ thuật: Dung lượng ngắn, kết cấu chặt chẽ, mâu thuẫn phát triển nhanh, kết thúc bất ngờ và độc đáo. g) Truyện thơ Nội dung: Diễn tả tâm trạng và suy nghĩ của con người khi hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội bị tước đoạt. Đặc điểm nghệ thuật: Truyện thơ là những tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ nên nó vừa có tính chất tự sự (có cốt truyện) vừa giầu tính chất trữ tình. Thường sử dụng những hình ảnh so sánh, ví von, các biện pháp điệp từ, điệp cú pháp (điệp câu) để nhấn mạnh ý. Là những tác phẩm có dung lượng lớn (Tiễn dặn người yêu có hơn 1800 câu thơ). 5. Bảng tổng hợp các thể loại văn học dân gian Truyện dân gian Câu nói dân gian Thơ ca dân gian Sân khấu dân gian Thần thoại, cổ tích truyền thuyết, ngụ ngôn, sử thi truyện cười, truyện thơ Tục ngữ, câu đố Ca dao – dân ca, vè Chèo, tuồng hài 6. Bảng tổng hợp, so sánh các thể loại văn học dân gian Thể loại Mục đích sáng tác Hình thức lưu truyền Nội dung phản ánh Kiểu nhân vật Đặc điểm nghệ thuật Sử thi anh hùng Ghi lại cuộc sống và mơ ước phát triển cộng đồng người Tây Nguyên xưa Hát – kể Hình ảnh xã hội Tây Nguyên ở giai đoạn tiền giai cấp, tiền dân tộc Người anh hùng kì vĩ, cao đẹp, giàu lí tưởng Sử dụng thủ pháp so sánh phóng đại, trùng điệp tạo ra sự hoành tráng, kì vĩ Truyền thuyết Thể hiện thái độ, cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và các nhân vật lịch sử Kể – diễn xướng (dịp lễ hội) Kể về các sự kiện, nhân vật lịch sử có thật nhưng đã được khúc xạ qua hư cấu tưởng tượng Nhân vật lịch sử được truyền thuyết hóa (An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy) Có sự tham gia của những chi tiết, của các sự việc có tính chất thiêng liêng kì ảo (các nhân vật thần, các đồ vật kì ảo có phép lạ hay những sự biến thân) Truyện cổ tích Thể hiện nguyện vọng ước mơ của nhân dân trong xã hội có giai cấp Kể Xung đột xã hội, cuộc đấu tranh giữa thiện và ác. Giữa chính nghĩa với gian tà Người con riêng, người con út, người bất hạnh, người nghèo, mụ dì ghẻ… Truyện không có thật, kết cấu theo kiểu đường thẳng, nhân vật chính trải qua các chặng khác nhau trong cuộc đời Truyện cười Mua vui, giải trí châm biếm, phê phán xã hội nhằm giáo dục trong nội bộ nhân dân, hoặc lên án, tố cáo giai cấp thống trị Kể Những điều trái tự nhiên, những thói hư tật xấu trong xã hội Kiểu nhân vật có thói hư tật xấu (học trò giấu dốt, thầy lí tham tiền…) Truyện ngắn gọn, tình huống bất ngờ, mâu thuẫn phát triển nhanh và kết thúc đột ngột để gây cười Ca dao yêu thương, tình nghĩa đề cập đến tình bạn cao đẹp, tình yêu đôi lứa (với những cung bậc phong phú như nhớ thương, hờn giận…), tình cảm gia đình, tình nghĩa thủy chung của con người trong cuộc sống,… Ca dao yêu thương thường gắn với những biểu tượng như cái khăn, chiếc cầu,… vì đây là những vật, những nơi mà nam nữ thường có nhiều kỉ niệm. Cái khăn là kỉ vật luôn đi cùng người con gái. Nó mang theo hơi ấm của người yêu. Còn chiếc cầu là nơi nam nữ hẹn hò tâm sự. Ca dao tình nghĩa còn thường sử dụng những ước lệ như cây đa, bến nước, con thuyền, gừng cay, muối mặn… Vì đó là những hình ảnh vừa gần gũi, quen thuộc với người bình dân vừa biểu tượng cho sự chia li, chờ đợi hay cho những ước muốn, khát khao về sự thủy chung tình nghĩa của con người. Trong ca dao hài hước, tiếng cười tự trào là tiếng cười hóm hỉnh, hồn nhiên vô tư nhằm “thi vị hóa” cuộc sống nghèo khổ của mình. Nó là tiếng cười tiếp sức để người ta vượt lên hoàn cảnh. Trong khi đó tiếng cười phê phán xã hội có mục đích đấu tranh xã hội mạnh mẽ hơn. Nó hướng vào những thói hư tật xấu trong nội bộ hoặc lên án giai cấp thống trị ti tiện, tham lam,… Tiếng cười phê phán có nhiều mức độ: nhắc nhở, giễu cợt, đả kích, phủ nhận,… Có thể nhận xét rằng ca dao hài ước là sản phẩm của tâm hồn lạc quan yêu đời của người lao động. Nó nảy sinh ngay từ trong cuộc sống vất vả, khốn khó và bộn bề lo toan của người nông dân. b) Các biện pháp nghệ thuật thường sử dụng trong ca dao: Thường lặp lại các mô thức mở đầu: thân em, em như, cô kia, ước gì,… Sử dụng nhiều các mô típ biểu tượng: gừng cay – muối mặn, con đò, bến đợi, ngọn đèn, tấm khăn, cái cầu,… Sử dụng phổ biến các biện pháp so sánh, ẩn dụ, cường điệu, tương phản đối lập. Sử dụng các thể thơ quen thuộc của dân gian (chủ yếu là lục bát). Ngôn ngữ mang tính chất lời ăn tiếng nói hàng ngày, tuy rất đời thường nhưng mang nhiều hàm nghĩa sâu sắc… Các biện pháp nghệ thuật này có khá nhiều điểm khác với nghệ thuật thơ của văn học viết. Lí do của sự khác biệt đó là do ca dao, là sản phẩm, là tiếng nói của cộng đồng. Tập thể sáng tác bao giờ cũng có xu hướng tìm những cách thức diễn đạt có tính phổ biến chung. Trong khi đó những sáng tác của văn học viết lại in đậm những dấu ấn cá nhân (luôn có xu hướng tìm cách diễn đạt mới, lạ lẫm để thu hút độc giả và để tạo ra những “ấn tượng nghệ thuật” riêng). 8. Nhận xét về hai đoạn miêu tả cảnh Đam Săn múa khiên và đoạn cuối tả hình ảnh và sức khoẻ của chàng trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây: Trong ba đoạn văn này, nét nổi bật trong nghệ thuật miêu tả nhân vật anh hùng nằm ở các thủ pháp sau: Thủ pháp so sánh: Với những câu văn như “chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc”, “Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực…”. Thủ pháp phóng đại: “Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh”, “khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung”… Sự kết hợp linh hoạt của các biện pháp nghệ thuật này cùng với trí tưởng tượng hết sức phong phú của tác giả, dân gian đã góp phần tôn lên vẻ đẹp của người anh hùng sử thi – một vẻ đẹp kì vĩ lớn lao trong một khung cảnh cũng rất hoành tráng và dữ dội. 9. Tấn bi kịch của Mị Châu – Trọng Thủy trong chuỗi truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy. Cái cốt lõi sự thật lịch sử Hư cấu thành bi kịch gì? Với những chi tiết hoang đường kì ảo nào? Tính chất của bi kịch Kết quả của bi kịch Bài học rút ra Cuộc xung đột giữa An Dương Vương và Triệu Đà thời kì Âu Lạc (theo lịch sử nước ta) Bi kịch tình yêu (lồng vào bi kịch gia đình, quốc gia) Thần Kim Quy, lẫy nỏ thần, Ngọc Trai – giếng nước, Rùa vàng rẽ nước dẫn An Dương Vương xuống biển Dữ dội, quyết liệt và toàn diện Mất tất cả: – Tình yêu – Gia đình – Đất nước Cảnh giác giữ nước, không ỷ thế chủ quan, không nhẹ dạ cả tin 10. Đặc sắc nghệ thuật của truyện Tấm Cám là đã khắc họa được hình tượng Tấm có sự phát triển về tính cách. Theo dõi câu chuyện, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều này: Ở giai đoạn đầu, khi gặp những sự đè nén hay những khó khăn, Tấm rất thụ động, yếu đuối, thường chỉ khóc không biết làm gì (lúc mất giỏ cá, lúc mất con bống, lúc bị bắt ngồi nhặt thóc…). Ở giai đoạn này, Tấm chỉ biết trông đợi vào sự giúp đỡ của bên ngoài (ông Bụt). Nhưng đến giai đoạn sau, Tấm đã kiên quyết đấu tranh để giành lại cuộc sống, giành lại hạnh phúc (chim vàng anh, chiếc khung cửi đều lên tiếng dọa Cám và kết thúc truyện, Tấm đã buộc mẹ con Cám phải nhận một kết cục xứng đáng với tội ác của mình). Ở giai đoạn này, tuy Tấm nhiều lần hóa thân nhưng nhân vật Bụt đã không còn xuất hiện. Thay vào đó, Tấm đã chủ động hơn trong những hành động của mình. Có thể nói, sở dĩ có sự phát triển về tính cách như vậy là vì ban đầu, Tấm chưa ý thức được thân phận của mình, những mâu thuẫn thì chưa tới mức căng thẳng và quyết liệt. Hơn nữa, Tấm lại có sự giúp đỡ của nhân vật thần kì nên Tấm còn thụ động. Ở giai đoạn sau, mâu thuẫn bắt đầu quyết liệt đẩy Tấm vào thế phải đấu tranh để giành lại cuộc sống và hạnh phúc của mình. Sự phát triển tính cách của nhân vật Tấm cũng cho thấy sức sống bất diệt của con người trước sự vùi dập của các thế lực thù địch. Nó là sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác trong cuộc sống. 11. Bảng phân tích truyện cười Truyện Đối tượng cười (Cười ai?) Nội dung cười (Cười cái gì?) Tình huống gây cười Cao trào để tiếng cười òa ra Tam đại con gà Anh học trò “dốt hay nói chữ” Tật “giấu dốt” của con người Luống cuống khi không biết chữ “kê” Khi anh học trò nói: “Dủ dỉ là chị con công…” Nhưng nó phải bằng hai mày Thầy lí Cải và Ngô Tấm bi hài kịch của việc hối lộ và ăn hối lộ Đã đút lót tiền hối lộ mà vẫn bị đánh (Cải) Khi thầy lí nói: “… Nhưng nó lại phải… bằng hai mày!”
Soạn bài lớp 10_ Ôn tập văn học dân gian Việt Nam
2,605
Soạn bài lớp 10: Ôn tập về làm văn Hướng dẫn Soạn bài: Ôn tập về làm văn Soạn bài lớp 10: Ôn tập về làm văn, là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm. Bài soạn giúp bạn nắm được kiến thức về làm văn trong chương trình ngữ văn lớp 10, phục vụ việc ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kỳ thi học kỳ 2. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 10: Tổng kết phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học Soạn bài lớp 10: Thực hành thao tác chứng minh, giải thích, quy nạp, diễn dịch Ôn tập về làm văn 1. Ôn lại những kiến thức về các kiểu văn bản và các phương thức biểu đạt. Gợi ý: Văn bản tự sự Phương thức biểu đạt Trình bày các sự việc (sự kiện) có mối quan hệ nhân quả dẫn đến kết cục, biểu lộ ý nghĩa. Mục đích: Biểu hiện con người, quy luật đời sống, bày tỏ tình cảm, thái độ. Ví dụ về hình thức văn bản cụ thể Bản tin báo chí Bản tường thuật, tường trình. Tác phẩm lịch sử Tác phẩm văn học nghệ thuật: Truyện, tiểu thuyết, kí sự. Văn bản miêu tả Phương thức biểu đạt Tái hiện các tính chất, thuộc tính sự vật, hiện tượng làm cho chúng hiển hiện. Mục đích: Giúp con người cảm nhận và hiểu đựơc chúng. Ví dụ về hình thức văn bản cụ thể Văn tả cảnh, tả người, tả sự vật. Đoạn văn miêu tả trong tác phẩm tự sự. Văn bản biểu cảm Phương thức biểu đạt Bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếp tình cảm, cảm xúc của con người đối với con người, thiên nhiên, xã hội, sự vật. Mục đích: Bày tỏ tình cảm và khơi gợi sự đồng cảm. Ví dụ về hình thức văn bản cụ thể Điện mừng, lời thăm hỏi, chia buồn, văn tế, điếu văn. Thư từ biểu hiện tình cảm giữa người với người. Tác phẩm văn học: thơ trữ tình, tuỳ bút, bút kí… Văn bản thuyết minh Phương thức biểu đạt Trình bày thuộc tính, cấu tạo, nguyên nhân, kếtquả, tính có ích hoặc có hại của sự vật, hiện tượng. Mục đích: Giúp người đọc có trí thức khách quan và có thái độ đúng đắn đối với chúng. Ví dụ về hình thức văn bản cụ thể Bản thuyết minh sản phẩm hàng hoá. Lời giới thiệu di tích, thắng cảnh, nhân vật. Văn bản trình bày trí thức và phương pháp trong khoa học tự nhiên và xã hội. Văn bản nghị luận Phương thức biểu đạt Trình bày tư tưởng, quan điểm đối với tự nhiên, xã hội, con người và tác phẩm văn học bằng các luận điểm, luận cứ và cách lập luận. Mục đích: Thuyết phục mọi người tin theo cái đúng, cái tốt, từ bỏ cái sai, cái xấu. Ví dụ về hình thức văn bản cụ thể Cáo, hịch, chiếu, biểu. Xã luận, bình luận, lời kêu gọi. Sách lí luận. Lời phát biểu trong hội thảo về khoa học xã hội. Tranh luận về một vấn đề chính trị, xã hội, văn học. Văn bản điều hành (hành chính-công vụ) Phương thức biểu đạt Trình bày theo mẫu chung và chịu trách nhiệm pháp lí về các ý kiến, nguyện vọng của cá nhân, tập thể đối với cơ quan quản lí; hay người lại, bày tỏ yêu cầu, quyết định của người có thẩm quyền đối với người có trách nhiệm thực thi, hoặc thoả thuận giữa công dân với nhau về lợi ích và nghĩa vụ. Mục đích: Đảm bảo các quan hệ bình thường giữa người và người theo quy định và pháp luật. Ví dụ về hình thức văn bản cụ thể Đơn từ Báo cáo Đề nghị Biên bản Tường trình Thông báo Hợp đồng Trên thực tế, các thao tác thường được kết hợp vận dụng. Sự phân chia thành các phương thức biểu đạt chỉ mang ý nghĩa tương đối. Gợi ý: Yêu cầu tóm tắt: Văn bản tóm tắt phải ngắn hơn văn bản được tóm tắt; Văn bản tóm tắt phải trung thành với nội dung của văn bản được tóm tắt. Sự thể hiện nhân vật chính trong tác phẩm tự sự gắn liền với việc xây dựng cốt truyện, tổ chức, lựa chọn các sự việc. Tóm tắt chuyện của nhân vật chính là viết hoặc kể lại một cách ngắn gọn những sự việc cơ bản xảy ra với nó, qua đó nắm bắt được đặc điểm tính cách và số phận của nhân vật. Để tóm tắt chuyện của nhân vật chính, cần đọc kĩ văn bản và xác định: Nhân vật nào là nhân vật chính; Các sự việc cơ bản liên quan đến nhân vật chính; Trình tự diễn biến các sự việc. Sau đó, dùng lời văn của mình để diễn đạt thành văn bản tóm tắt. Cách tóm tắt một văn bản thuyết minh: Đọc kĩ văn bản cần tóm tắt, xác định ý chính; Ghi lại những câu mang ý chính; Trình bày lại bằng lời của mình về nội dung văn bản dựa theo các ý chính đã xác định. 3. Hãy chọn và tóm tắt một văn bản sử thi, truyền thuyết hay cổ tích trong sách giáo khoa. Gợi ý: Tham khảo các đoạn văn tóm tắt sau: Tóm tắt sử thi Đăm Săn: Do sự can thiệp của Trời, Đăm Săn phải khuất phục trước sức mạnh của tập tục hôn nhânnối dây và lấy hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị. Đăm Săn tiếp tục có những hành động chống lại cuộc hôn nhân, chàng chặt cây smuk, cây “sinh ra Hơ Nhị và Hơ Bhị. Do vậy, Hơ Nhị và Hơ Bhị đã hai lần chết. Khi vợ chết, Đăm Săn lại khóc thương và xin thần linh cho vợ chàng sống lại. Đăm Săn đã lập nên nhiều kì tích. Trong đó, kì tích lẫy lừng hơn cả là những chiến công đánh thắng hai tù trưởng Mtao Grư và Mtao Mxây, hai tù trưởng đã cướp vợ chàng. Buôn làng Đăm Săn trở nên giàu mạnh. Thực hiện khát vọng siêu việt của mình, Đăm Săn đã đi cầu hôn với Nữ thần Mặt Trời nhưng thất bại và bị chết trong rừng. Đăm Săn chết, cháu Đăm Săn lại tiếp tục con đường của cậu mình. Tóm tắt sử thi Ra-ma-ya-na: Câu chuyện diễn ra ở vương quốc Kô-sa-la. Vua Đa-xa-ra-tha có bốn người con trai do ba bà vợ sinh ra. Ra-ma là con cả, hơn hẳn các em về tài đức. Vua cha có ý định nhường ngôi cho chàng nhưng vì lời hứa với bà vợ thứ Ka-kêy-i xinh đẹp nên đã đày Ra-ma vào rừng và trao ngôi lại cho Bha-ra-ta, con của Ka-kêy-i. Ra-ma cùng vợ là Xi-ta và em trai Lắc-ma-na vào rừng sống ẩn dật. Quỷ vương Ra-va-na lập mưu cướp Xi-ta đem về làm vợ. Mặc quỷ vương dụ dỗ và ép buộc, Xi-ta vẫn kịch liệt chống cự. Được tướng khỉ Ha-nu-man giúp đỡ, Ra-ma đã cứu được Xi-ta. nhưng sau đó, Ra-ma nghi ngờ tiết hạnh của Xi-ta và không muốn nhận lại nàng làm vợ. Để chứng tỏ lòng chung thuỷ của mình, Xi-ta đã nhảy vào lửa. Thần lửa biết Xi-ta trong sạch nên đã cứu nàng. Ra-ma và Xi-ta trở về kinh đô. Sau khi giúp An Dương Vương xây dựng xong Loa Thành, trước khi ra về, thần Kim Quy còn tặng cho chiếc vuốt để làm lẫy nỏ thần. Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà khi chúng sang xâm lược. Triệu Đà cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thuỷ, vua vô tình đồng ý. Trọng Thuỷ dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm đổi mất lẫy thần mang về phương Bắc. Sau đó, Triệu Đà phát binh đánh Âu Lạc. Không còn nỏ thần, An Dương Vương thua trận, cùng Mị Châu chạy về phương Nam. Thần Kim Quy hiện lên kết tội Mị Châu, An Dương Vương chém Mị Châu rồi theo Rùa Vàng xuống biển. Mị Châu chết, máu chảy xuống biển thành ngọc trai. Trọng Thuỷ mang xác vợ về chôn ở Loa Thành, xác liền biến thành ngọc thạch. Vì quá tiếc thương Mị Châu, Trọng Thuỷ lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc trai, rửa bằng nước giếng ấy thì ngọc trong sáng thêm. 4. Tóm tắt các bài khái quát về văn học dân gian, các bài văn nghị luận trong sách giáo khoa thành những đoạn văn ngắn. Gợi ý: Đọc lại các bài khái quát về văn học dân gian, các bài nghị luận trong sách giáo khoa: Ghi lại các luận điểm chính (là các đề mục hoặc các câu then chốt); Sắp xếp các luận điểm theo đúng trình tự đã được trình bày ở văn bản; Dùng lời văn của mình diễn đạt lại các luận điểm một cách ngắn gọn. Tham khảo: Văn học dân gian là văn học của quần chúng lao động, có nội dung phong phú, phản ánh cuộc sống, thể hiện lí tưởng xã hội và đạo đức của nhân dân các dân tộc, chứa đựng một kho tàng các truyền thống nghệ thuật. Là những sáng tác tác tập thể, truyền miệng lưu truyền trong nhân dân, văn học dân gian dùng ngôn ngữ nói, đến với người tiếp nhận qua các hình thức lời nói, lời hát, lời kể. Ra đời từ rất xa xưa, văn học dân gian có cách nhận thức và phản ánh hiện thực riêng: phản ánh hiện thực một cách kì ảo, mô tả những sự kiện chỉ có trọng trí tưởng tượng. Căn cứ vào những đặc điểm giống nhau về nội dung và nghệ thuật, người ta chia các tác phẩm văn học dân gian thành các thể loại: thần thoại, sử thi dân gian, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười dân gian, truyện ngụ ngôn, tục ngữ, câu đố, ca dao dân ca, vè, truyện thơ dân gian, các thể loại sân khấu dân gian. 5. Ôn tập về vai trò của quan sát, tích luỹ, thể nghiệm trong làm văn tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh. Gợi ý: Quan sát có nghĩa là xem xét chăm chú, có phương pháp, nhằm khám phá, phát hiện những đổi thay, điều ẩn kín mà mắt thường dễ bỏ qua. Như nhà văn Tô Hoài viết: “Quan sát giỏi phải thấy ra nét chính, thấy được tính riêng, móc được những ngóc ngách của sự việc, của vấn đề. Nhiều khi chỉ chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhất, như một câu nói lột tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn, nét mặt, một trạng thái tư tưởng do mình đã khổ công ngắm, nghe, nghĩ mới bật lên, và khi thấy bật lên thì thích thú, hào hứng.” (Sổ tay viết văn). Thể nghiệm là một cách tích luỹ, đó là quá trình hoạt động để tự mình cảm nhận thế giới bên ngoài. Như M. Go-rơ-ki từng nói: “Nhà sinh học nghiên cứu con cừu không nhất thiết phải tưởng tượng mình là con cừu, nhưng nhà văn khi miêu tả người keo kiệt, thì không thể không tưởng tượng mình là gã keo kiệt…”. Đọc tích luỹ kiến thức là nguồn ý gián tiếp cho việc viết văn. Người biết học tập, tích luỹ là người biết vận ý của người khác mà nuôi dưỡng ý mình hoặc phát triển thêm ý cũ, hoặc nói ngược lại ý của người trước để có những suy ngẫm táo bạo, làm cho ý văn mới mẻ, thú vị. Gợi ý:Quan sát tích cực là quan sát có chủ đích, có phương pháp, kết hợp với thể nghiệm và liên tưởng, tưởng tượng; người quan sát có ý thức tích luỹ lại những gì mình quan sát được. 7. Ôn tập về liên tưởng, tưởng tượng và vai trò của nó trong lập ý khi làm văn. Gợi ý: Trong làm văn, liên tưởng là liên hệ các sự vật, hiện tượng với nhau để nhằm nhận ra một ý nghĩa nào đó, làm nổi bật thực chất một hiện tượng đời sống. Có nhiều cách liên tưởng: Liên tưởng tương cận, liên tưởng tương đồng, liên tưởng đối sánh, trái ngược. Tưởng tượng là quá trình tái hiện và cải tạo các biểu tượng (hình ảnh) trong trí nhớ và sáng tạo ra hình tượng mới chưa từng có. Tưởng tượng thường thông qua các sự việc, kinh nghiệm có thật, biến hoá đi, mở rộng ra, biến đổi không gian, thời gian, nhân vật, tạo ra một hình tượng mới. Liên tưởng và tưởng tượng chắp cánh cho tư duy con người thoát khỏi sự lệ thuộc vào các sự việc trước mắt, mở rộng tầm nhìn, đi vào những chỗ sâu thẳm, bí ẩn của thế giới và con người. Các cách thức như quan sát, thể nghiệm đời sống; đọc tích luỹ kiến thức; liên tưởng, tưởng tượng; chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự có tác dụng tạo ra nguồn ý, nguồn văn phong phú cho bài viết, bởi vì ở tất cả các kiểu văn bản, dù tính chất của ý có khác nhau, nhưng sự phong phú về ý, khả năng biểu đạt đều liên quan tới các cách thức này: Ở văn tự sự, ý là các sự việc tạo nên cốt truyện; Ở văn miêu tả, ý là những đặc điểm riêng, độc đáo của đối tượng được tái hiện qua sự phát hiện của người viết; Ở văn biểu cảm, ý là những suy nghĩ, tình cảm của người viết về đối tượng; Ở văn nghị luận, ý là những ý kiến đánh giá, quan điểm riêng, phán đoán riêng của người viết về đối tượng; Ở văn thuyết minh, ý là các đặc điểm, đặc trưng, phẩm chất, thuộc tính khách quan của đối tượng
Soạn bài lớp 10_ Ôn tập về làm văn
2,288
Soạn bài lớp 10: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Hướng dẫn Soạn bài: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Soạn bài lớp 10: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cũng như sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ nói và viết giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Ca dao hài hước Soạn bài lớp 10: Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự Soạn bài lớp 10: Tam đại con gà nhưng nó phải bằng hai mày ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về khái niệm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, dùng trong giao tiếp tự nhiên hàng ngày; trong đó người nói người nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau, có thể thay phiên nhau trong vai nói và vai nghe. Ngôn ngữ viết là thứ ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác. 2. Những đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết a) Ngôn ngữ nói Ngôn ngữ nói rất đa dạng về ngữ điệu: Giọng nói có thể cao hay thấp, nhanh hay chậm, mạnh hay yếu, liên tục hay ngắt quãng. Trong ngôn ngữ nói, ngữ điệu là yếu tố quan trọng góp phần bộc lộ và bổ sung thông tin. Trong ngôn ngữ nói, ngoài sự kết hợp giữa âm thanh và giọng điệu còn có các phương tiện bổ trợ ngôn ngữ khác như: nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,… của người nói: Từ ngữ trong ngôn ngữ nói được sử dụng khá đa dạng: có những lớp từ mang tính khẩu ngữ, có những từ ngữ địa phương, các tiếng lóng, các biệt ngữ, các trợ từ, thán từ, các từ ngữ đưa đẩy,… Ngôn ngữ nói hay dùng những câu tỉnh lược (có khi lược chỉ còn có một từ) nhưng cũng có khi câu nói rườm rà, có nhiều yếu tố dư, hoặc lặp đi lặp lại (để nhấn mạnh hoặc để người nghe có điều kiện tiếp nhận, lĩnh hội, thấu đáo nội dung giao tiếp. Ngôn ngữ nói được sản sinh nhanh chóng, tức thời, không có sự gọt giũa, suy ngẫm hay lựa chọn. Ngôn ngữ viết được sản sinh một cách có chọn lọc, được suy nghĩ, nghiền ngẫm và gọt giũa kĩ càng. Trong ngôn ngữ viết, sự hỗ trợ của hệ thống dấu câu, của các kí hiệu và văn tự, của các hình ảnh minh hoạ, bảng biểu, sơ đồ…. giúp biểu hiện rõ thêm nội dung giao tiếp. Từ ngữ trong ngôn ngữ viết được lựa chọn, thay thế nên có điều kiện đạt được độ chính xác cao. Đồng thời khi viết, tuỳ từng phong cách ngôn ngữ của văn bản mà người viết có sự lựa chọn hệ thống ngôn từ cho phù hợp. Trong văn bản viết, người ta thường tránh dùng các từ mang tính khẩu ngữ, các từ địa phương, tiếng lóng…. Về câu, ngôn ngữ viết thường dùng các câu dài, câu nhiều thành phần nhưng được tổ chức mạch lạc, chặt chẽ nhờ các quan hệ từ và sự sắp xếp các thành phần phù hợp. 3. Ưu, nhược điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, người nghe có thể phản hồi để người nói điều chỉnh, sửa đổi. Hoặc hai bên có thể trực tiếp giải quyết những thắc mắc để đi đến những thống nhất chung. Tuy nhiên, do giao tiếp bằng ngôn ngữ nói diễn ra tức thời, mau lẹ nên các phương tiện ngôn ngữ thường không được lựa chọn, gọt giũa kĩ càng. Trong khi đó, người nghe cũng phải tiếp nhận lĩnh hội nhanh nên cũng ít có điều kiện suy ngẫm và phân tích. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Đặc điểm ngôn ngữ viết của đoạn trích trong bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt: Sử dụng một hệ thống các thuật ngữ của ngành ngôn ngữ học: vốn chữ, từ vựng, ngữ pháp, phong cách, thể văn,… Ba ý lớn được tách thành ba dòng để trình bày luận điểm một cách rõ ràng, mạch lạc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tiếp nhận. Dùng các từ chỉ thứ tự (một là, hai là, ba là…) để đánh dấu luận điểm và thứ tự trình bày. Dùng các dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu ba chấm, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép. Có phần giải thích rõ ràng (nằm trong ngoặc) thể hiện rõ dụng ý của người viết về việc lựa chọn và thay thế các từ là thuật ngữ. 2. Đặc điểm của ngôn ngữ nói ở đoạn trích trong truyện Vợ nhặt: Các từ ngữ thường gặp trong lời ăn tiếng nói hàng ngày: mấy, có khối, nói khoác, sợ gì, đằng ấy, cười tít,… Miêu tả nhiều cử chỉ điệu bộ (kèm theo lời nói): đẩy vai, cười (nắc nẻ), cong cớn, ngoái cổ, ton ton chạy… Các từ hô gọi: kìa, này, nhà tôi ơi, đằng ấy,… Các từ tình thái: có khối… đấy, đấy, sợ gì,… 3. a) Cần bỏ từ “trong” (để câu có chủ ngữ) và từ “thì”; thay từ “hết ý” bằng từ như “rất” (đẹp) hoặc “vô cùng”,… b) Thay từ “vống lên” bằng “quá mức thực tế” (hoặc từ “vống” bằng từ “quá”), thay “vô tội vạ” bằng “vô căn cứ”. c) Bỏ từ “sất”, thay từ “thì” (từ thứ 2) bằng từ “đến”. Tuy nhiên câu này còn cần phải thay đổi cả nội dung vì câu tương đối tối nghĩa.
Soạn bài lớp 10_ Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
975
Soạn bài lớp 10: Đề văn nghị luận Hướng dẫn Soạn bài lớp 10: Đề văn nghị luận Soạn bài lớp 10: Đề văn nghị luận được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Dế chọi Soạn bài lớp 10: Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Yêu cầu của đề văn nghị luận Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, để luyện tập kĩ năng nghị luận, người viết văn nghị luận cần tuân theo những yêu cầu cụ thể. Thông thường, những yêu cầu này được đưa ra dưới dạng các đề văn. Yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất của một đề văn nghị luận là vấn đề nghị luận (còn gọi là luận đề). Tuỳ thuộc vào nội dung do đề văn đặt ra mà người viết lựa chọn và vận dụng các thao tác lập luận cho phù hợp. Khi gặp những đề văn nêu rõ thao tác lập luận như hãy giải thích, hãy chứng minh, hãy bình luận, hãy phân tích,… người viết cần lưu ý: đó chỉ là yêu cầu về thao tác chính cần sử dụng chứ không phải thao tác duy nhất. Không có bài văn nghị luận nào chỉ sử dụng một thao tác lập luận. Yêu cầu về nội dung cần bàn luận là yêu cầu bắt buộc mà mỗi đề văn cần phải có. Căn cứ vào tính chất của nội dung ấy, người ta thường chia đề văn nghị luận thành hai loại: đề văn nghị luận chính trị – xã hội và đề văn nghị luận văn học. a) Xác định nội dung trọng tâm cần bàn bạc và làm sáng tỏ b) Xác định loại đề văn nghị luận và các thao tác lập luận chính sẽ vận dụng trong bài viết c) Xác định phạm vi tư liệu cần huy động, trích dẫn cho bài viết II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Đọc kĩ các đề văn sau và thực hiện yêu cầu: (1) Vẻ đẹp trong bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão (2) Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài thơ Đọc “Tiểu Thanh kí” 1. Xác định nội dung trọng tâm cần bàn bạc và làm sáng tỏ của mỗi đề văn Gợi ý: Đề (1): Vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão. Đề (2): Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện trong bài Đọc “Tiểu Thanh kí”. 2. Xác định thao tác lập luận chính sẽ vận dụng để giải quyết yêu cầu của mỗi đề văn Gợi ý: Đề (1): Với yêu cầu của đề bài này, cần tập trung vận dụng thao tác phân tích và bình luận. Phân tích những biểu hiện đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời kết hợp bình luận để chứng tỏ sự đánh giá, cảm thụ của mình về vẻ đẹp riêng của tác phẩm. Tuy nhiên, cũng có thể vận dụng các thao tác chứng minh hay giải thích sao cho phù hợp. Có thể đưa ra luận điểm khẳng định về vẻ đẹp của lí tưởng cao cả và khí phách anh hùng, sau đó kết hợp phân tích và chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể trong bài thơ. Có thể sử dụng thao tác giải thích để làm rõ ý nghĩa của “nợ công danh”, từ đó bình luận về vẻ đẹp đậm chất lí tưởng cao cả và khí phách của bậc anh hùng của nhân vật trữ tình. Đề (2): Với yêu cầu về nội dung nghị luận ở đề bài này, cần tập trung vận dụng thao tác giải thích, chứng minh. Giải thích “tiếng khóc” để chỉ ra đó là cách nói hình ảnh về sự cảm thông, tấm lòng tri âm, nói rộng ra là lòng nhân đạo của tác giả đối với bậc tài hoa mệnh bạc. Giải thích về xuất xứ bài thơ, về mối liên hệ giữa bài thơ với Tiểu Thanh kí,… Từ việc giải thích như vậy, người viết từng bước chứng minh bằng những chi tiết, hình ảnh cụ thể của bài thơ: Từ những biểu hiện của nỗi xót thương của nhà thơ tr­ước số phận của Tiểu Thanh ở hai câu đầu, cho đến những cảm nhận về số phận của những kẻ tài hoa bạc mệnh nói chung ở bốn câu giữa, và cuối cùng là nỗi niềm riêng tư­ của tác giả được giãi bày. Cần thiết phải kết hợp sử dụng thao tác bình luận, bình luận về mối đồng cảm, tri âm và thể hiện được những cảm thụ của mình đối với mối cảm thương sâu sắc của tác giả. 3. Xác định phạm vi tư liệu cần huy động, trích dẫn cho mỗi đề văn Đối với hai đề bài này, phạm vi tư liệu nằm trong hai bài đã học: văn bản tác phẩm và hệ thống các tri thức đã nắm bắt trong quá trình đọc – hiểu. Ngoài ra, có thể huy động thêm những bài viết tham khảo để mở rộng những hiểu biết về đối tượng nghị luận.
Soạn bài lớp 10_ Đề văn nghị luận
880
Soạn bài lớp 10: Đọc “Tiểu thanh kí” Hướng dẫn Soạn bài: Đọc “Tiểu thanh kí” Soạn bài lớp 10: Đọc “Tiểu thanh kí” hay ( Độc “Tiểu thanh kí”) do Nguyễn Du sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về tâm trạng xót thương, day dứt của Nguyễn Du đối với nỗi oan của những người tài hoa bạc mệnh giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Nhàn Soạn bài lớp 10: Tóm tắt văn bản tự sự Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du Bài giảng Đọc Tiểu Thanh kí Ngữ văn 10 ĐỌC “TIỂU THANH KÍ” (Độc “Tiểu thanh kí”) NGUYỄN DU I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Độc “Tiểu Thanh kí” nằm ở cuối Thanh Hiên thi tập, tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Bài thơ có liên hệ với Tiểu Thanh kí trong Tiểu Thanh truyện với nhân vật Tiểu Thanh, một người tài hoa bạc mệnh. 2. Với nghệ thuật sáng tạo ngôn từ, hình ảnh hàm súc cao độ, bài thơ thể hiện nổi bật tâm trạng xót thương, day dứt của Nguyễn Du đối với nỗi oan của những người tài hoa bạc mệnh. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Tiểu Thanh có sắc, lại có tài (thơ phú văn chương) thế nhưng cuộc đời của nàng lại gặp quá nhiều bi kịch (phải làm lẽ, bị dập vùi, trước tác bị đốt dở dang). Số phận hẩm hiu, đau khổ của nàng chính là lí do khiến Nguyễn Du cảm thương chia sẻ. Đồng thời cũng từ bi kịch của Tiểu Thanh, nhà thơ suy nghĩ về định mệnh nghiệt ngã của những người có tài văn chương, nghệ thuật. 3. Giá trị nhân bản đặc sắc của bài thơ là ở chỗ Nguyễn Du đã đặt ra vấn đề về quyền sống của người nghệ sĩ. Từ sự thương xót và đồng cảm với Tiểu Thanh, nhà thơ muốn gửi gắm sự trân trọng của mình đến những người nghệ sĩ nói chung – những chủ nhân của những giá trị tinh thần. Bày tỏ sự cảm thông chia sẻ với họ là một dấu hiệu tiến bộ trong chủ nghĩa nhân bản của Nguyễn Du. Tình thương yêu và sự quan tâm của nhà thơ lúc ấy đã vượt qua những giới hạn về không gian và thời gian. Nó không chỉ là sự quan tâm chia sẻ với những con người bất hạnh (những cảnh đói cơm, rách áo) mà hơn thế nữa còn là sự thương yêu và trân trọng con người nói chung. Hai câu thơ đầu là hai câu tả cảnh để mà kể việc. Từ quang cảnh hoang phế ở Tây Hồ, người đọc liên tưởng đến cuộc đời thay đổi. Hai câu này cũng nêu ra hoàn cảnh nảy sinh cảm xúc của nhà thơ (phần “di cảo” thơ của Tiểu Thanh). Hai câu thực nêu lên những suy nghĩ về số phận bất hạnh của nàng Tiểu Thanh thông qua hai hình ảnh ẩn dụ son phấn (vẻ đẹp) và văn chương (tài năng). Hai câu luận bắt đầu khái quát, nâng vấn đề, liên hệ thân phận của nàng Tiểu Thanh với những bậc văn nhân tài tử trong đó có nhà thơ. Hai câu kết là tiếng lòng của nhà thơ mong tìm thấy một tiếng lòng đồng cảm của người đời sau. 5. Đoạn thơ: Rằng: Hồng nhan tự thủa xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu. Nỗi niềm tưởng đến mà đau, Thấy người nằm đó biết sau thế nào? (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Là lời của Thúy Kiều nói về nhân vận Đạm Tiên. Khi thấy chị sụt sùi trước mộ của Đạm Tiên, Thúy Vân đã nói: Vân rằng: “Chị cũng nực cười” Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa. Nghe xong câu này, Thúy Kiều đã nói những câu trên để đáp lời Thúy Vân. Tuy nhiên trong Truyện Kiều có rất nhiều đoạn đối thoại bắt đầu bằng từ “rằng” như ở đoạn thơ này. Trong trường hợp ấy, người ta cũng có thể hiểu đó là lời của tác giả (Nguyễn Du). Căn cứ vào nội dung của đoạn thơ, có thể thấy đề tài mà Nguyễn Du quan tâm trong các sáng tác của ông là hình ảnh những con người tài hoa mà bạc mệnh.
Soạn bài lớp 10_ Đọc _Tiểu thanh kí_
729
Soạn bài lớp 10: Đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam Hướng dẫn Soạn văn lớp 10 bài: Đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam Soạn bài lớp 10: Đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp các bạn hiểu rõ những tác phẩm văn học thời trung đại Việt Nam để học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 10: Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa Soạn bài lớp 10: Thực hành viết các đoạn văn chứng minh, giải thích, quy nạp, diễn dịch I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Văn bản văn học trung đại Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Khi đọc – hiểu cần chú ý đối chiếu giữa văn bản phiên âm, bản dịch nghĩa với văn bản dịch thơ văn. Chú ý đọc kĩ những nội dung chú thích về nghĩa hay điển tích, điển cố. 2. Văn học trung đại thiên về biểu hiện tâm, chí mà ít tả thực các hiện tượng đời sống. Khi đọc – hiểu, cần lưu ý đến tính ước lệ, tượng trưng của các hình ảnh; khai thác những hàm ý ẩn chứa. 3. Văn học trung đại thiên về xây dựng những kết cấu ngôn từ cân đối, hài hoà. Cần khai thác đặc điểm độc đáo về biểu hiện này khi đọc – hiểu văn bản. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Luyện đọc – hiểu văn tự, điển cố, từ cổ a) So sánh bản dịch nghĩa và bản dịch thơ bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão; từ đó cho biết việc so sánh có tác dụng như thế nào? Gợi ý: Câu 1 (Cầm ngang ngọn giáo trấn giữ đất nước vừa chẵn mấy thu / Múa giáo non sông trải mấy thu): Hai chữ “Múa giáo” không hay bằng “cầm ngang ngọn giáo”, làm mất đi cái hiên ngang, vững chãi, lẫm liệt. Câu 2 (Ba quân dũng mãnh như hổ báo khí thế nuốt trâu / Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu): Bản dịch thơ lược bỏ mất “tì hổ” (hổ báo). Câu 3 (Nam nhi mà chưa trả được nợ công danh / Công danh nam tử còn vương nợ): Câu này dịch khá sát. Câu 4 (Xấu hổ khi nghe người ta nói chuyện Vũ hầu / Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu): Câu này dịch khá sát. à Nhờ đối chiếu, ta hiểu đúng hơn, sâu sắc hơn vẻ đẹp của bài thơ. b) Câu thơ “Hồng liên trì đã tiễn mùi hương” (Nguyễn Trãi – Cảnh ngày hè) – hiểu “tiễn” là “ngát”; có bản phiên âm là “Hồng liên trì đã tịn mùi hương” – hiểu “tịn” là “hết”. Theo anh (chị), hiểu theo nghĩa nào thích hợp hơn? Gợi ý: Theo SGK Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một thì “Tiễn: từ Hán Việt có nghĩa đầy, có thừa, trong câu này có thể hiểu là ngát hoặc nức. Hai câu: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ – Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”, ý nói trong khi thạch lựu ở hiên còn đang tiếp tục phun màu đỏ, thì sen hồng trong ao đã ngát mùi hương.” (Sđd, Tr. 160). c) Giải thích ý nghĩa và biểu tượng (được in đậm) trong các câu sau: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo. Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay. Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới; Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào. (Đại cáo bình Ngô) Gợi ý: Nhân nghĩa: nhân là yêu thương, trọng người; nghĩa là theo lẽ phải. Yên dân: làm cho dân yên. Điếu phạt: điếu là thương xót, phạt là trừng phạt kẻ có tội; hai chữ điếu phạt là rút gọn từ điếu dân phạt tội: thương dân, đánh kẻ có tội. Đại nghĩa: nghĩa lớn, nghĩa cao cả. Chí nhân: vô cùng nhân (nghĩa); lòng nhân (nghĩa) ở mức cao nhất. Trúc chẻ tro bay: khí thế chiến thắng mạnh mẽ, không sức nào cản nổi, như chẻ tre, như gió cuốn tro bay. Sấm vang chớp giật: sức mạnh chiến thắng mãnh liệt. Dựng cần trúc ngọn cờ phất phới: lấy ở sách cổ, ý nói vì quá gấp gáp chưa kịp may cờ, phải lấy cành trúc làm cờ để tập hợp lực lượng. Hoà nước sông chén rượu ngọt ngào: lấy ý từ một truyện cổ, kể chuyện Tấn – Sở đánh nhau, có người dâng vua sở vò rượu ngon, vua Sở cho hoà vò rượu vào nước sông để đủ cho vua tôi cùng uống. Quân sĩ cảm động, đồng lòng đánh bại nước Tấn. ở đây ý nói người chỉ huy và quân lính cùng nhau chia ngọt sẻ bùi. Rượu đến cội cây ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. (Nhàn) Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương. (Cảnh ngày hè) Gợi ý: Phú quý tựa chiêm bao: có thể hiểu theo tích xưa, một người nằm ngủ dưới gốc cây hoè chiêm bao thấy mình được làm quan, giàu có, tỉnh dậy thấy mình vẫn nằm dưới gốc cây hoè, mới biết đó chỉ là chiêm bao. Ngu cầm: đàn của vua Ngu Thuấn. Ngu là tên một triều đại huyền thoại do vua Thuấn lập nên, đất nước thanh bình, nhân dân no đủ. Tương truyền vua Nghiêu có ban cho vua Thuấn một cây đàn. Những lúc rỗi rãi, vua Thuấn thường gẩy đàn ca khúc Nam phong: Gió nam mát mẻ, Làm cho dân ta bớt ưu phiền. Gió nam thổi đúng lúc, Làm cho dân ta ngày thêm nhiều của cải. 2. Luyện đọc – hiểu tâm sự, chí hướng, tư tưởng trong văn bản văn học trung đại a) Giải thích ý nghĩa các câu sau: Đến bên sông chừ hổ mặt, Nhớ người xưa chừ lệ chan. Giặc tan muôn thủa thăng bình, Phải đâu đất hiểm cốt mình đức cao. (Phú sông Bạch Đằng) Gợi ý: Đến bên sông chừ hổ mặt – Nhớ người xưa chừ lệ chan: nghĩ tới thời oanh liệt của các vua Trần xưa, thấy xấu hổ và xót xa cho hiện trạng của đất nước đương thời. Giặc tan muôn thủa thăng bình – Phải đâu đất hiểm cốt mình đức cao: Nhấn mạnh vai trò của người lãnh đạo đất nước. b) Phân tích tâm sự của Nguyễn Du trong bài Đọc “Tiểu Thanh kí”. Gợi ý: Xem lại nội dung đọc – hiểu bài Đọc “Tiểu Thanh kí” Tham khảo: Mối đồng cảm, thương xót và tự nghiệm thấm thía mà Nguyễn Du gửi gắm trong Đọc Tiểu Thanh kí có cơ sở từ sự thực cuộc đời, thân phận ông. Nguyễn Du xuất thân trong gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan dưới triều vua Lê, chúa Trịnh. Từng thi đỗ tam trường và làm quan. Năm 1789 nhà Lê suy sụp, gia cảnh tan tác, Nguyễn Du phải lánh về quê vợ. Sau đó ra làm quan dưới triều Nguyễn. Có thể nói Nguyễn Du đã sống và chứng kiến một thời đại biến động dữ dội nhất của lịch sử Việt Nam, ông cũng được chứng kiến những đổi thay, bạc bẽo của cuộc đời và thân phận con người. Là một văn nhân, tuy làm quan nhưng vốn sẵn mối thương đời, thương người, cuộc đời đã lại trải qua nhiều sóng gió, sự đồng cảm giữa Nguyễn Du và Tiểu Thanh là hết sức tự nhiên, cũng giống như mối đồng cảm, đau đớn cho thân phận Thuý Kiều trong Truyện Kiều vậy. c) Chỉ ra tư tưởng, tình cảm của tác giả Nguyễn Dữ trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên. Gợi ý: Chuyện chức phán sự đền Tản Viên thể hiện nổi bật gương người cương trực, can đảm, mạnh mẽ đấu tranh chống lại gian tà, loại trừ cái ác, đòi công lí, công bằng. Truyện thể hiện thái độ phê phán đối với cái ác, cái xấu đồng thời cho thấy tinh thần can đảm đứng về phía chính nghĩa, bênh vực lẽ phải. Ý nghĩa giáo dục của truyện được thể hiện ở đoạn bình cuối truyện. Lời bình đã nói lên lời răn về nhân cách của kẻ sĩ, con người chân chính không nên uốn mình, phải sống cương trực, ngay thẳng. Sự cứng cỏi, lòng can đảm trước những cái xấu, cái ác là thái độ ứng xử tích cực cần được coi trọng. Ý nghĩa về sự ca ngợi, tôn vinh người cương trực, quyết đoán, dám đương đầu với cái ác, cái xấu được thể hiện ở phần kết câu chuyện, khi Tử Văn chết lại được sống lại và trở thành đức Thánh ở đền Tản Viên. 3. Luyện đọc – hiểu giá trị nghệ thuật ngôn từ a) Phân tích cấu trúc cân đối của các câu thơ sau, bình luận về ý nghĩa và vẻ đẹp của chúng: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn người đến chốn lao xao. Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. (Nhàn) Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương. Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương. (Cảnh ngày hè) Gợi ý: Đối về bằng – trắc: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, B – T – B – B – B – T – T Người khôn người đến chốn lao xao. B – B – B – T – T – B – B Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, B – B – B – T – B – B – T Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. B – T – B – B – T – T – B Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, B – B – B – T – T – B – B Hồng liên trì đã tiễn mùi hương. T – T – B – B – B – T – T Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương. T – T – B – B – B – T – B Đối ý: dại / khôn; ăn / tắm thạch lựu đỏ hoa / sen hồng ngát hương; âm thanh chợ cá làng chài / tiếng ve lầu chiều Đối từ loại: tính từ / tính từ (dại / khôn); động từ / động từ (ăn / tắm),… danh từ / danh từ (lựu / liên); động từ / động từ (phun / tiễn),… Tham khảo lời bình luận: Sự đối lập giữa “ta dại” và “người khôn” trong câu 3 – 4 mang nhiều hàm ý: vừa để khẳng định sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả, vừa thể hiện sắc thái trào lộng, thái độ mỉa mai đối với cách sống ham hố danh vọng, phú quý. Theo đó, cái dại của “ta” là cái “ngu dại” của bậc đại trí, với trí tuệ lớn, thấu triệt lẽ thịnh suy, vong tồn của cuộc đời, sống thanh thản, nhàn dật, thuận lẽ tự nhiên. Cho nên, nơi “ta” chọn là “nơi vắng vẻ”, nghĩa là nơi có thể tĩnh tại, sống an nhàn, không có tranh giành “tư lợi” theo sở thích của “ta”. Còn “người khôn” mà chọn “đến chốn lao xao”, nghĩa là nơi ồn ã, ở đó con người chen chúc, xô đẩy nhau để giành giật lợi danh, thì lại hoá ra “dại” vậy. “khôn” – “dại”, “nơi vắng vẻ” – “chốn lao xao” là những quan niệm sống, cách lựa chọn rất khác nhau. Bức tranh ngày hè được miêu tả trong những cặp câu cân đối, hài hoà; cũng là sự cân đối, hài hoà của màu sắc, âm thanh. Vẻ đẹp của cảnh đầy sức sống cũng hé mở cho thấy cái nhìn thấm đẫm tình yêu cuộc sống của nhà thơ. b) Phân tích tính chất hàm súc của hình ảnh trong các câu thơ: Bóng buồm đã khuất bầu không, Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời. (Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng) Quốc thù chưa trả già sao vội, Dưới nguyệt mài gươm đã bấy chầy. (Nỗi lòng) Gợi ý: Hai câu thơ tựa như một bức tranh với bút pháp miêu tả tài hoa, nhưng cảnh ấy là để ngụ tình, tả trạng thái tình cảm của người đưa tiễn. Cái nhìn đầy nhớ nhung, quyến luyến toát lên từ những hình ảnh bóng cánh buồm lẻ loi xa xa, từ sự vận động “mất hút” trong khoảng không gian xanh biếc mênh mang, chữ “Duy kiến” được nhấn mạnh gợi tả cái đang mất đi, hút xa dần, tuột khỏi mình, cho thấy trạng thái cô đơn, trơ vơ còn lại đang rợn ngợp tâm tưởng người đưa tiễn. Bút pháp gợi tả tinh tế còn cho thấy sự vận động chuyển dịch ngày càng xa và sự dõi theo quá trình chuyển dịch ấy. Không nói gì về tình mà tình đã lan toả, vời vợi trong hình ảnh thơ. Đến khi dòng sông choán ngợp cái nhìn (dòng sông ngang trời) thì cảm xúc luyến tiếc, nhớ nhung cùng trạng thái đơn côi, chia lìa đã được đẩy đến đỉnh điểm. Tác giả đã thể hiện chí khí quật cường và tinh thần kiên trì chiến đấu. Hình ảnh vị tướng đầu bạc với mối thù nước đau đáu trong lòng, nung nấu mài kiếm dưới trăng bao phen là hình ảnh mang vẻ đẹp bi hùng, giàu tính biểu tượng. Vẫn không ra ngoài cảm giác bi kịch, trong khi mối thù nước chưa trả đang thôi thúc thì tuổi đã cao, sức lực không còn sung mãn, tâm ấy với lực ấy trong một con người sinh ra bi kịch, nhưng cũng tâm ấy lực ấy mà toát lên vẻ đẹp của chí khí, sự bền bỉ, nhiệt huyết anh hùng, vẻ sáng láng của kẻ lỡ vận, âm thầm mà tâm tráng.
Soạn bài lớp 10_ Đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam
2,334
Soạn bài lớp 11: Ba cống hiến vĩ đại của Các-Mác Hướng dẫn Ba cống hiến vĩ đại của Các-Mác Soạn bài: Ba cống hiến vĩ đại của Các – Mác do Ăng-ghen sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Một thời đại trong thi ca Giáo án bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác Bài giảng Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác Ngữ văn 11 Ba cống hiến vĩ đại của Các-Mác Ăng – ghen. I. TÌM HIỂU CHUNG 1/ Tác giả: Ăng-ghen (1820-1895) (SGK) Các-mác (1818-1883) (SGK). Lưu ý: Là nhà triết học và lí luận chính trị vĩ đại, người Đức Là lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Ông sáng tạo chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, xây dựng học thuyết kinh tế mácxít, chủ nghĩa xã hội khoa học. Học thuyết của ông là vũ khí lí luận và hành động của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống ách thống trị tư sản.. 2/ Hoàn cảnh sáng tác: Văn bản “Ba cống hiến vĩ đại của Các-mác” là bài điếu văn của Ăng-ghen đọc trước mộ Mác. Được sáng tác vào tháng 3/1883, sau khi Các-mác qua đời 14/03/1883 lúc 3 giờ 15 phút 1. Bố cục: 3 phần Phần 1 (đoạn 1-2): Không gian, thời gian và tư thế ra đi của C.Mác Phần 2 (đoạn 3-6): Những công lao và cống hiến của C.Mác đối với sự phát triển nhân loại. Phần 3 (đoạn 7 và câu kết): Giá trị tổng quát của những cống hiến của Mác: hướng vào mục tiêu chung là phục vụ cho nhân loại. 2. Những công lao và cống hiến của Các-mác: C.Mác là người tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người qua các thời kì lịch sử, mà bản chất của quy luật đó là cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng của xã hội. C.Mác đã tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất TBCN hiện nay và của XHTS do phương thức đó để ra. Đó là quy luật về giá trị thặng dư C.Mác đã kết hợp giữa lí luận và thực tiễn, biến các lí thuyết cách mạng khoa học thành hành động cách mạng. Với những cống đến đó, C.Mác đã trở thành một nhà khoa học, một nhà cách mạng lỗi lạc và là người tiên phong trong sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản hiện đại. Ngoài ra, ông còn là người sáng lập ra hội Liên hiệp công nhân quốc tế. Tất cả những cống hiến và đóng góp đó, C.Mác đã trở thành “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong các nhà tư tưởng hiện đại”. a/ Đoạn văn mở đầu: Tình cảm tiếc thương vô hạn đối với sự ra đi của Mác à sự kính trọng của những người bạn những người đồng chí của Mác. Đoạn tiếp theo: Tiếc thương, kính trọng à Mác là nhà cách mạng của giai cấp vô sản và nhà khoa học lịch sử. Kết cấu trùng điệpà vĩ nhân của Các-Mácà Cái chết của Mác là nỗi trống trải, mất mát lớn đối với nhân loại. b/ Mô hình chung toàn bài: thông báo về cái chếà đáng giá sự nghiệp của người quá cốà bày tỏ sự tiếc thương đối với người đã khuất Mác được so sánh với các vĩ nhân khác cùng thời đại với những thành tựu khoa học nổi tiếng à so sánh tương đồng. So sánh vượt trội: “Nhưng không… thôi” –. Ý nghĩa to lớn mà Mác đã phát hiện. Các cụm từ: “Con người khoa học”, “Một nhà cách mạng” được dùng theo cách tăng tiếnà sự tiếp tục đi lên của Mác trong việc cống hiến cho loài người, vừa chỉ sự kết hợp chặt chẽ giữa con người khoa học và nhà cách mạng. 4. Thái độ và tình cảm của Ăng-ghen đối với Mác. Thái độ: đề cao, ca ngợi. Tình cảm: tiếc thương xuất phát tự đáy lòng. * Trong việc trình bày công lao: trình bày các phát hiện của Mác đã có sự kết hợp ca ngợi công lao. Đồng thời ca ngợi khẳng định thể hiện sự thương tiếc của Ăng-ghen đối với Mác. Mác chống lại ai: Chống lại bất công, chống lại cường quyền và bạo ngược “tham gia…dựng nên:. Mác bênh vực ai: Bênh vực những người lao động, những người cùng khổ “Tham gia… giải phóng”. Những cống hiến của Mác có lợi cho ai: Là tài sản chung của nhân loại. Những đóng góp đó không chỉ có giá trị hành động mà góp phần mở đường cho nhân loại tiến lên. => Vì hành động của Mác không phải để phục vụ cho quyền lợi cá nhân mà cho quyền lợi toàn dân do đó “Ông có thể… nào cả”.
Soạn bài lớp 11_ Ba cống hiến vĩ đại của Các-Mác
842
Soạn bài lớp 11: Bài ca ngất ngưởng Hướng dẫn Soạn bài: Bài ca ngất ngưởng Soạn bài lớp 11: Bài ca ngất ngưởng do Nguyễn Công Trứ sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về nhân vật trữ tình xuất hiện trong tác phẩm là một con người có cá tính ngông, một con người đầy tự tin, yêu thích cuộc sống tự do tự tại, coi thường danh lợi giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Thao tác lập luận phân tích Soạn bài lớp 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn Soạn bài lớp 11: Luyện tập về lập luận phân tích xã hội BÀI CA NGẤT NGƯỞNG Nguyễn Công Trứ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Công Trứ (1778 -1858) người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là người có tính tình cương trực, phóng khoáng, thích tự do nên cuộc đời quan trường khá lận đận. Ông để lại khoảng 50 bài thơ và 60 ca trù và một bài phú nổi tiếng Hán nho phong vị phú, đều viết bằng chữ Hán. 2. Bài ca ngất ngưởng thuộc thể hát nói, được sáng tác sau 1848, khi ông đã cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do nhàn tản. Bài thơ là bản tự thuật, tự bạch về một cuộc đời, được nâng lên tầm triết lý sống. Bài thơ thể hiện rất rõ thái độ sống của Nguyễn Công Trứ giai đoạn cuối đời, sau những trải nghiệm đắng cay của cuộc sống quan trường. Đó là thái độ coi thường danh lợi, vượt lên thói thường để sống cuộc sống tự do tự tại. Giữa cái xã hội mà mọi cá tính đều bị thủ tiêu thì cái tôi “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ chẳng những bộc lộ một bản lĩnh cứng cỏi, sự thức tỉnh ý thức cá nhân mà còn thể hiện rõ một nhân sinh quan tiến bộ hiện đại. Bằng giọng điệu khoa trương, ý vị trào phúng đặc biệt của thể thơ hát nói, bài ca đã tạc nên một bức chân dung Nhà thơ – Nhà nho tài tử đầy cá tính giữa đám triều thần phàm tục. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Bài thơ được làm theo thể hát nói – một thể thơ “nửa hát, nửa nói, có tính chất kể chuyện”. Đây là thể thơ được các nhà Nho tài tử ưa dùng để biểu đạt cái nội tâm phóng khoáng, cái chí thoát vòng cương toả, thoát vòng danh lợi để hưởng mọi lạc thú của cuộc đời trần thế mà Nguyễn Công Trứ là một đại biểu ưu tú nhất. 2. Trong bài thơ tác giả đã sử dụng các từ, cụm từ mang tính chất tự xưng, đó là: Ông Hi Văn tài bộ, tay ngất ngưởng, ông ngất ngưởng, phường Hàn Phú. Những cách tự xưng này đã góp phần thể hiện cái ngất ngưởng, thái độ tự tôn, sự ngông ngạo của Nguyễn Công Trứ, làm nổi bật hình ảnh cái tôi cá nhân cao ngạo của tác giả. 3. Ngất ngưởng là một từ láy tượng hình vốn được dùng chỉ sự vật ở độ cao chênh vênh, bất ổn định. Ở bài thơ này, từ ngất ngưởng được dùng với nghĩa chỉ sự khác thường, vượt lên thói thường, coi thường dư luận. Ngoài nhan đề, từ “ngất ngưởng” được nhắc đi nhắc lại 4 lần ở cuối các khổ thơ trở thành một biểu tượng cho một phong cách sống, thái độ sống vượt thế tục, một lối chơi ngông thách thức xung quanh trên cơ sở nhận thức rõ tài năng và nhân cách cá nhân. 4. Sau khi cởi mũ, cáo quan ra khỏi cuộc sống bó buộc chốn quan trường bon chen, Nguyễn Công Trứ có những hành vi kỳ quặc, lập dị đến ngất ngưởng. Người ta cưỡi ngựa đi giao du thiên hạ thì ông cưỡi bò, lại còn đeo cho một cái đạc ngựa khiến cả chủ lẫn tớ đều ngất ngưởng. Đi thăm thú cảnh chùa mà vẫn đeo kiếm cung bên người và mang theo “một đôi dì”. Rõ ràng trong bộ dạng từ bi Nguyễn Công Trứ vẫn vương đầy nợ trần, vẫn đèo bòng đằng sau mấy bóng giai nhân. Cốt cách của một khách tài tử, văn nhân chính là ở đó… Đó là lối sống phá cách của một con người thích làm những chuyện trái khoáy ngược đời để ngạo đời, thể hiện thái độ và khát vọng sống tự do tự tại. Không bận tâm đến những lời khen chê, những chuyện được mất. Đó là một quan niệm sống, triết lý sống phóng khoáng tự do, thoát khỏi vòng danh lợi tầm thường. Coi sự được mất là lẽ thường tình, ông đã ra khỏi vòng danh lợi để sống thảnh thơi, tự do, tự tại để hướng mọi lạc thú, cầm, kỳ, thi, tửu, giai nhân giữa cuộc đời trần thế một cách thoả thích. 5. Nhân vật trữ tình xuất hiện trong tác phẩm là một con người có cá tính ngông, một con người đầy tự tin, yêu thích cuộc sống tự do tự tại, coi thường danh lợi. Con người ấy tự tin vào tài năng và tin tưởng vào quan điểm sống của mình nên đã rất bản lĩnh vượt lên trên thói thường cuộc đời để sống và làm điều mình thích. Nhưng dù ngất ngưởng, ngông ngạo đến đâu, ông vẫn ý thứuc rất rõ trách nhiệm của mình đối với cuộc đời. Vì thế, sau những phút giây cao hứng, thả mình phóng túng cùng trời đất tự do, ông vẫn không quên tự nhắc: “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”. Tư tưởng ấy không hề mâu thuẫn với cái ngông ngạo, ngất ngưởng của ông. Trên thực tế Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho có trách nhiệm với đất nước. Tuy cuộc sống quan trường gặp nhiều lận đận nhưng ông vẫn luôn một lòng trung thành với triuề đình. Dù ham cuộc sống tự do phóng túng nhưng ông vẫn nhiệt tình thực hiện trách nhiệm quân thần. 6. Cá tính sáng tạo của Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở chỗ nhà thơ sử dụng khá nhiều khẩu ngữ trong bài thơ. Điều này tạo nên tính chất sống động, gần gũi, hóm hỉnh cho thể hát nói. Các từ ngữ mang tính chất khẩu ngữ: ông, tay, vào lồng, một đôi dì, nực cười, phường, kìa núi nọ phau phau mây trắng, nên dạng, chẳng… cũng… III. TƯ LIỆU THAM KHẢO 1. Về tác giả Đó là một con người giàu khát vọng tốt đẹp! Khi còn ở nhà, gia cảnh nghèo túng, ông rất chăm chỉ lao động vừa giúp gia đình, vừa quyết chí học tập để đi thi, làm quan, nhằm cống hiến tài năng và sức lực cho đất nước. Khi ra làm quan, ông rất tận tụy, thanh liêm, bất cứ việc gì, lúc nào, ông cũng làm việc hết mình, “quyết đem tất cả sở tồn làm sở dụng”, nghĩa là: luôn mong muốn mình sống có ích nhất cho dân, cho nước. Đó là một con người có tấm lòng tha thiết yêu nước, yêu dân. Khi còn trẻ, sức lực dồi dào, trong chức trách của mình, ông đã lập công lớn, vừa giúp triều đình dẹp những cuộc loạn để nhân dân được sống thanh bình. Rồi ông chỉ đạo dân khai khẩn đất hoang, mở rộng và nâng cao đời sống cho dân. Hàng vạn người dân đói nghèo ở các tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, Quảng Yên, Hải Dương từng kể nhiều chuyện cảm động về tình cảm cụ Dinh điền sứ nhân từ, độ lượng. Trước nạn ngoại xâm, Nguyễn Công Trứ đã làm đơn xin đi giết giặc. Hành động ấy của một cụ già 80 tuổi thật là điều hiếm có. Đó là một con người có cá tính mạnh mẽ, sống rất phóng khoáng, độc đáo nhiều khi đến độ “quá cỡ”, “lập dị” như người đời thường nhận xét. Đó là một phong cách “tài tử” của một lớp nhà nho tài ba, có chí lớn, nhưng không gặp thời. (Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường phổ thông – Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nxb Giáo dục, 1997) “… Nhà nho tài tử Nguyễn Công Trứ, sau khi điểm duyệt một cách “thích trí” những hành vi “ngất ngưởng” của mình trong hành trình cuộc đời (cả lúc “vào lồng” lẫn lúc ra lồng), sơ kết, thì thấy mình đã đứng ngoài được các khuôn thức: “Không Phật, không Tiên, không vướng tục”…; thấy mình đã đi ở giữa những sự phân cực: “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi”. Dẫn đến hệ quả: khi ông Hy Văn đến thăm chùa lễ Phật, thì vẫn có: “Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi di”, “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”… Tất cả là cái khoái cảm tự do tinh thần của một cá nhân không bị trói buộc. Toàn bộ Bài ca ngất ngưởng như một bản hồi ký tóm tắt độ ngất ngưởng ấy chính là một biểu hiện của sự thị tài. Ngất ngưởng ở các bình diện: bước vào cơ chế xã hội- “vào lồng”, như cách nói của ông- với các tước vị thì nên “tay ngất ngưởng”, rồi khi đụng chạm vào các thiết chế tinh thần của cộng đồng thì thành “ông ngất ngưởng”. Ông tự xưng là “ông” (ông Hy Văn), tự cho mình là một “tay” (tay ngất ngưởng) một cách hãnh diện: “Đời ai ngất ngưởng như ông”.” (Đức Mậu, Văn nghệ – tháng 8 – 1992)
Soạn bài lớp 11_ Bài ca ngất ngưởng
1,652
Soạn bài lớp 11: Bài ca ngắn đi trên bãi cát Hướng dẫn Soạn bài: Bài ca ngắn đi trên bãi cát Soạn bài lớp 11: Bài ca ngắn đi trên bãi cát do Cao Bá Quát sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về hình tượng nhân vật trữ tình của bài thơ và con đường trên bãi cát dài tượng trưng cho đường đời xa xôi mờ mịt giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Chạy giặc Soạn bài lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Soạn bài lớp 11: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT Cao Bá Quát I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Cao Bá Quát (1809-1854) người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là ngoại thành Hà Nội). Ông là người tài năng, đức độ nhưng từng chịu nhiều bất hạnh. Ông tong ra làm quan với triều Nguyễn, rồi từ quan và tham gia lãnh đạo khởi nghĩa nông dân để rồi chịu cái án tru di tam tộc oan nghiệt. 2. Sa hành đoản ca thuộc thể thơ cổ thể, không gò bó vào luật, vần gieo tương đối tự do… Bài thơ thể hiện tâm trạng của một con người đang cảm thấy bế tắc trên đường đời. Để thể hiện tâm trạng ấy tác giả đã dùng hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng: một con người đi trên con đường giữa bãi cát dài. Tâm sự của nhân vật trữ tình trong bài thơ chính là những nỗi niềm day dứt của nhà thơ Cao Bá Quát trong hành trình đi tìm lí tưởng sống cho riêng mình. Qua đó thể hiện vấn đề nhanạ đường của người trí thức trong thời kì chế độ phong kiến đã suy tàn và niềm khao khát vươn tới lí tưởng sống cao đẹp của con người. Bài thơ có nhiều yếu tố hiện đại thể hiện những sáng tạo nghệ thuật của tác giả. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Con đường trên bãi cát dài biểu trưng cho đường đời xa xôi mờ mịt. Con đường đi tìm chân lí vô cũng gian nan và nhiều thử thách. Hình ảnh này có ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật cho tâm trạng của nhân vật trữ tình xuyên suốt bài thơ. Đó là sự trăn trở day dứt, là khao khát tìm kiếm con đường lí tưởng cho cuộc đời. 2. Hình tượng nhân vật trữ tình của bài thơ là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng. Đó là một con người cô đơn lẻ loi bước đi những bước vô cùng nặng nhọc và vất vả giữa một bãi cát mênh mông nắng cháy. Người đi ấy đi nhưng bước đi đầy tâm sự. Nguyên nhân sự khó nhọc cất bước ấy không phải là do bãi cát hay con đường mà do tâm trạng. Thông thường đi trên cát thật khó khăn. Bãi cát dài rộng lại khiến ta nghĩ đến những sa mạc mênh mông. Nơi chỉ hứa hẹn với người đến những điều cực khổ và không may mắn. Chọn hình ảnh bãi cát và con đường độc bộ của nhân vật trữ tình là một bài thơ là một lựa chọn rất hiện đại của tác giả. Nhà thơ đã nói lên một quy luật phổ biến của đời sống: con người luôn không ngừng đua chen để dành lấy danh lợi. Và chính điều đó khiến con người rơi vào bi kịch. 3. Tác giả đã dùng nhiều đại từ nhân xưng khác nhau để chỉ nhân vật trữ tình – tác giả, điều này giúp cho nhà thơ có thể cảm nhận tâm trạng ở nhiều vị trí, nhiều chủ thể khác nhau, đồng thời có thể thể hiện độc thoại, đối thoại với chính mình, qua đó thể hiện tâm trạng mâu thuẫn của tác giả trong quá trình đi tìm lí tưởng sống cho mình. Nhân vật trữ tình với các trạng thái tâm trạng khác nhau được thể hiện một cách đa chiều cho thấy diễm biến tâm trạng phức tạp của tác giả khi đứng trước hiện thực mù mịt. Các câu cảm thán (Trèo non, lội suối, giận khôn vơi!, Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!) câu hỏi tu từ (Người say vô số, tỉnh bao người?, Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt, Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít?, Anh đứng làm chi trên bãi cát?) đã góp phần rất quan trọng vào việc thể hiện thành công tâm trạng bế tắc và khát khao tìm ra con đường đi đúng cho bản thân. Sự xuất hiện nhiều lần hai loại câu này đã thể hiện nỗi băn khoăn day dứt đến tuyệt vọng và cả nhữung mâu thuẫn đang giằng xé nội tâm của người đi khi tìm mãi không ra lối thoát cho đường đời. 4. Từ tâm trạng của nhân vật trữ tình có thể suy đoán rằng, tác giả làm bài thơ này sau nhiều lần thất bại và thất vọng trước cuộc đời. Vì thất bại nên nhân vật trữ tình đang muốn tìm một con đường mới. Nhưng con đường mới trên cát thì thật khó khăn. Bài thơ thể hiện rất rõ sự bế tắc của nhà thơ khi đi tìm hướng đi đúng đắn cho cuộc đời mình. Trên thực tế, Cao Bá Quát cũng không ngừng tìm hướng đi, tìm lí tưởng sống cho mình. Ông cũng đã từng loay hoay trong vòng tròn của chế độ thi cử, của con đường quen thuộc “tề gia trị quốc bình thiên hạ” của nhà Nho. Những Cao Bá Quát đã thất bại. Có lẽ, đây là bài thơ thể hiện khá trung thực tâm sự của cái Tôi cá nhân thi sĩ, điều còn ít thấy trong văn học trung đại. “… Bài thơ dựng một hình tượng nhân vật (Khách đi đường, cái tôi của tác giả) với ba cung bực cảm xúc và suy tưởng, càng về cuối càng sâu sắc cứng cỏi, đầy bản lĩnh. a. Sáu câu đầu: Bãi cát, bãi cát dài, …. Trèo non lội suối, giận không nguôi. vẽ một chân dung con người thật gan góc, quả cảm, vừa đẫm chất hiện thực, vừa mang ý nghĩa ẩn dụ đặc sắc. Bãi cát, cũng là cuộc sống nói chung dài rộng, mênh mông luôn thử thách con người. Điệp từ “bãi cát” nối nhau hai lần và hình ảnh con người bước lên một bước, lại như bị đẩy lùi một bước trong ánh chiều tà mặt trời lặn dựng được thật chính xác những khó khăn, thử thách của cuộc đời đối với mỗi kiếp người. Giữa bãi cát buổi chiều tà ấy, người khách bộ hành đã gắng gỏi tưởng đến kiệt sức. Mỗi bước anh đi là một dòng nước mắt và mồ hôi tuôn trào lã chã. Nhưng anh không nản, trái lại chỉ tự giận mình không có phép tiên để chiến thắng đường dài, cát bỏng. Câu thơ “Không học được tiên ông phép ngủ, Trèo non, lội suối giận không nguôi” tuy là một lời than về sự hạn hẹp tài năng sức lực của mình, nhưng vẫn cháy lên một khát vọng. b. Bốn câu tiếp: “Xưa nay phường danh lợi… Say cả, hỏi tỉnh được mấy người.” là một sự đối chứng nghiêm khắc để khách bộ hành cũng chính là nhà thơ kẻ đang rong ruổi trên bãi cát cuộc đời tự động viên mình mà tiếp tục vững bước. Đặt hình ảnh người khách bộ hành đi trên bãi cát “Trèo non, lội suối…” với hình ảnh bọn người danh lợi “Gió thoảng hơi men trong quán rượu” bên nhau, thái độ khẳng định và phê phán của Cao Bá Quát thật rõ ràng dứt khoát. Câu hỏi “Say cả, hỏi tỉnh được mấy người”, rạch ròi một sự đánh giá. Nói cụ thể hơn, đối với Cao Bá Quát “Phường danh lợi” kia là những kẻ… “Say cả”. “Người tỉnh” chả mấy ai và đang rong ruổi, đọa đày trên bãi cát mịt mờ, đầy trắc trở. Nghe ta ca “cùng đồ” một khúc: Phía bắc núi Bắc, núi muôn lớp, Phía nam núi Nam, sóng muôn đợt, Sao mình anh còn trơ trên bãi cát? Cất cao lên tiếng hát cứng cỏi đầy bản lĩnh của người khách bộ hành, cũng chính là thái độ sống mạnh mẽ của Cao Bá Quát. Bài ca “cùng đồ” của nhà thơ vừa tiếp nối hình ảnh bãi cát khủng khiếp ở đoạn trên, vừa nhận mạnh thêm những thử thách mới. “Phía bắc núi Bắc… Phía nam… sóng muôn đợt”. Vậy là con đường trước mặt người đi đâu chỉ có cát mà thêm cả núi non hiểm trở, “sóng biển” trập trùng nối tiếp. Trước cả một vũ trụ dữ dội như thế “Sao mình anh còn trơ trên bãi cát?”. Câu kết của bài thơ ngân lên như một lời tự vấn, hay một lời hứa, lời thề, một khát vọng quyết tâm tiếp bước, một mình tiếp bước. Có lẽ câu thơ mang cả ba ý nghĩa ấy. Trước những thử thách của cuộc đời, Cao Bá Quát đã từng băn khoăn day dứt, muốn buông xuôi, nhưng rồi ông lại vượt lên và bằng một bản lĩnh của nhà nho chân chính yêu thương con người, căm ghét bất công để đi tới và cuối cùng thì tham gia cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương chống lại triều đình nhà Nguyễn thối nát. Tóm lại qua bài Sa hành đoản ca này, chúng ta hiểu rõ hơn nhân cách của nhà thơ Cao Bá Quát. Đó là một con người không chỉ rất tài hoa, giàu tình cảm nhân đạo mà luôn luôn sống cứng cỏi, bản lĩnh, từng vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách của cuộc đời và không nguôi khát vọng đạp bằng mọi chông gai, mọi cát bỏng rộng dài trên con đường đi tới…”. (Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường phổ thông – Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nxb Giáo dục, 1997)
Soạn bài lớp 11_ Bài ca ngắn đi trên bãi cát
1,707
Soạn bài lớp 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn Hướng dẫn Soạn bài: Bài ca phong cảnh Hương Sơn Soạn bài lớp 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về phong cảnh ở Hương Sơn được tác giả sáng tác khi ông trông coi việc trùng tu tôn tạo quần thể thắng cảnh Hương Sơn giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Thương vợ Soạn bài lớp 11: Thao tác lập luận phân tích Soạn bài lớp 11: Luyện tập về lập luận phân tích xã hội BÀI CA PHONG CẢNH HƯƠNG SƠN Chu Mạnh Trinh I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Chu Mạnh Trinh (1862-1905) tự Cán Thần, hiệu Trúc Vân, quê làng Phú Thị, huyện Mễ Sở, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu (nay là Mễ Sở, huyện Văn Giang) tỉnh Hưng Yên. Ông là người tài hoa, thạo đủ cầm, kì, thi, hoạ, lại giỏi cả nghệ thuật kiến trúc, và đặc biệt say mê cảnh đẹp. 2. Hương Sơn phong cảnh ca là một trong ba bài thơ được Chu Mạnh Trinh viết vào dịp ông đứng trông coi việc trùng tu tôn tạo quần thể thắng cảnh Hương Sơn. Bài thơ viết theo thể hát nói. Bài thơ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên xinh đẹp và nên thơ về phong cảnh Hương Sơn. Đây là một bài thơ vịnh cảnh và thể hiện tâm sự. Đó là tâm sự yêu nước, tự hào với cảnh đẹp quê hương đất nước của nhà thơ. 1. Bài thơ có thể chia thành ba đoạn: Đoạn 1 (bốn dòng thơ đầu): giới thiệu thắng cảnh Hương Sơn, nhận xét tổng quát về cảnh đẹp và thể hiện tình cảm. Đoạn 2 (Từ “Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái… Ghập ghềnh mấy lối uốn thang mây”): Tả cảnh đẹp Hương Sơn. Cảnh Hương Sơn mang vẻ đẹp của chốn tiên cảnh, như một bức tranh đẹp và nhiều sắc màu. Đoạn 3 (phần còn lại): Suy nghĩ của nhà thơ về giang sơn đất nước. Đoạn thơ này có thể gắn với hiện thực đất nước để hiểu rộng và sâu hơn giá trị của bài thơ. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương đất nước tha thiết qua một thắng cảnh của đất nước và tâm sự sâu kín của một nhà thơ về đất nước, cuộc đời. 2. Bốn câu thơ đầu giới thiệu bao quát toàn cảnh Hương Sơn và trực tiếp nêu cái thú ban đầu khi đến với Hương Sơn. Hai nhịp cân xứng xác định nét cơ bản bao trùm lên cảnh trí Hương Sơn bằng một nhận xét tinh tế: vừa là danh lam thắng cảnh do tạo hoá ban tặng vừa là công trình tôn giáo. Cảnh được dựng lên vừa mang nét bình dị, gần gũi, vừa thấm đượm không khí huyền diệu, linh thiêng. Đó là niềm “ao ước” không chỉ trong giây lát mà đã trở thành niềm khát khao “bấy lâu nay” của bao du khách. Câu thơ thứ ba có giá trị tạo hình đặc sắc nhờ cách hợp giữa hình thức điệp từ liệt kê và thủ pháp luyến láy “non non, nước nước, mây mây”… Vừa vẽ ra cảnh trí hùng vĩ của non nước, mây trời Hương Sơn như một bức tranh thuỷ mặc cổ điển vừa tạo được âm điệu ngân nga, bâng khuâng man mác như cảm xúc của du khách trước vẻ huyền ảo chốn bồng lai tiên cảnh. 3. Ba khổ giữa miêu tả cảnh đẹp cụ thể của Hương Sơn. Rừng mơ, suối Yến, tiếng chim ca thỏ thẻ “vườn hoa”, dáng cá “lững lờ” dưới dòng nước trong veo, phẳng lặng, tiếng chuông chùa ngân nga… là những hình ảnh sinh động biến hoá như có hồn. Bức tranh phong cảnh vừa hiện thực vừa mang màu sắc huyền thoại lãng mạn được dệt nên bởi nghệ thuật ẩn dụ nhân hoá: “chim cúng trái”, “cá nghe kinh”, cách phối thanh, phối hình tài hoa tinh tế đã gợi lên được thần thái Hương Sơn. Âm điệu của “tiếng chày kình” (tiếng chuông chùa) như dẫn dụ du khách vào giấc mộng cõi tiên cảnh để tâm hồn được cao khiết, thánh thiện hơn. Khung cảnh thiên nhiên đẹp như trong cõi mộng và không gian tĩnh lặng đã khiến cho “khách tang hải giật mình”. Cái giật mình ấy vừa làm nổi bật lên vẻ tĩnh lặng của không gian vừa diễn tả được sự say sưa của khách khi đứng trước cảnh đẹp Hương Sơn. 4. Đoạn kết bài thơ là nơi tập trung thể hiện tư tưởng và cảm hứng về tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc của nhà thơ. Câu hỏi “Chừng giang sơn còn đợi ai đây?” vừa kín đáo biểu lộ niềm tự hào của con người đã đóng góp nhiều công sức tôn tạo thêm vẻ đẹp huyền diệu của Hương Sơn vừa nhắc nhở mọi người cùng có trách nhiệm làm đẹp cho giang sơn đất nước. Bài ca kết lại trong sự hoà quyện giữa cảm hứng tôn giáo đầy thành kính trang nghiêm và tình yêu quê hương đất nước tha thiết. Điều đó góp phần làm cho Hương Sơn đẹp hơn, hấp dẫn hơn.
Soạn bài lớp 11_ Bài ca phong cảnh Hương Sơn
908
Soạn bài lớp 11: Bài thơ số 28 Hướng dẫn Soạn bài: Bài thơ số 28 Soạn bài lớp 11: Bài thơ số 28 là tài liệu tham khảo hay, nhằm giúp các bạn học sinh lớp 11 nắm được nội dung và nghệ thuật của bài thơ số 28 của R.Tago. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 11: Chiều xuân Soạn bài lớp 11: Tương tư Bài thơ số 28 – R.Tago I. Giới thiệu chung 1. Tác giả R.Tago (1861 – 1941): Là một nhà thơ, nhà văn, đồng thời là một nhà văn hóa lớn, có nhiều đóng góp cho dân tộc Ấn Độ và nhân loại. Ông để lại một gia tài khổng lồ các tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau mà ở lĩnh vực nào cũng xuất sắc. Năm 1913, Tagore trở thành người châu Á đầu tiên được trao giải Nobel về văn học với tập Thơ Dâng. 2. Tập thơ Người làm vườn Là một trong những tập thơ nổi tiếng của Tago, gồm 85 bài thơ được viết bằng tiếng Bengal, sau tự dịch sang tiếng Anh, xuất bản năm 1941. Tập thơ tiêu biểu cho phong cách giàu chất trữ tình, chất triết lý của Tago, được dịch ra nhiều thứ tiếng. 3. Bài thơ số 28 Các bài thơ trong tập Người làm vườn không có tên mà chỉ được đánh số. Bài thơ số 28 là bài thơ nổi tiếng trong tập thơ Người làm vườn, có mặt trong nhiều tuyển tập thơ tình thế giới. II. Đọc hiểu văn bản 1. Bố cục Chia bố cục Phần 1 (từ đầu đến…không biết gì tất cả về anh): Khát vọng hòa hợp trong tình yêu. Phần 2 (tiếp đến…em có biết gì về biên giới của nó đâu): Khát vọng dâng hiến trong tình yêu. Phần 3 (Còn lại đến hết): Sự vô cùng của cuộc đời – trái tim – tình yêu. Cuối mỗi phần đều có câu chuyển ý (Em chẳng thể biết tất cả về anh). 2. Tìm hiểu chi tiết văn bản a. Khát vọng hòa hợp trong tình yêu Đôi mắt: Cửa sổ tâm hồn, chứa đựng suy tư của con người. Với Tago, đôi mắt còn là ngọn nguồn của tình yêu. Diễn giải thêm: (Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, là điều khiến người ta nhớ nhung khi xa cách: “Những đêm dài hành quân nung nấu/ Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”. Với Shakespear: “Ánh mắt là ngôn ngữ chân thành nhất của tình yêu”. Với tư cách là một triết gia, Tagore luôn tìm hiểu, khám phá bản chất của tình yêu. Ông luôn băn khoăn, tự hỏi: “Tình yêu bắt đầu từ đâu”. Và trong Bài thơ số 16, nhà thơ đã khẳng định: Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt. “Tay nắm chặt tay, mắt dừng lâu trong mắt/Câu chuyện của lòng ta bắt đầu như vậy đó/ Ấy là đêm tháng ba trăng tỏ/ Hương Kena dịu dàng tỏa khắp không trung”. Cũng chính vì có quan niệm tình yêu bắt đầu từ “đôi mắt”, nên nhà thơ đã dùng “đôi mắt” để phân tích tâm linh, để miêu tả thế giới nội tâm của con người.) Đôi mắt: Băn khoăn, buồn, muốn nhìn sâu vào tâm tưởng của anh. => Đôi mắt rụt rè, chất chứa suy tư khao khát khám phá thế giới tâm hồn bí ẩn của người yêu. Đó là tâm trạng chung của những người đang yêu. Hình ảnh so sánh tượng trưng: Mắt em – trăng: Thế giới nội tâm phong phú, trong sáng. Tâm tưởng của anh – biển cả: Thế giới bí ẩn, bao la. => Trăng và biển là biểu tượng thiên nhiên sóng đôi, thể hiện khát khao hòa chung tâm tưởng của đôi tình nhân được đẩy lên đỉnh điểm. Hình ảnh so sánh trong sáng, diễm lệ, tiêu biểu cho quan niệm về con người của Tago và Ấn Độ Hành động của chàng trai: Chàng trai: Cuộc đời trần trụi dưới mắt em, không giấu một điều gì, (bare, nothing hidden, nothing held back). Khẳng định ước muốn tha thiết muốn hòa hợp. Nghịch lý: Cô gái lại “không biết gì tất cả về anh”. => Cả hai cùng nỗ lực vươn tới nhau nhưng hiểu biết viên mãn về nhau có thể vẫn bất khả. Ta rút ra được triết lý tình yêu: Tình yêu luôn là sự khao khát hòa nhập và khám phá tâm hồn nhau bởi tình yêu luôn là một bí ẩn. Cấu trúc giả định: Nếu A chỉ là B. Hai câu thơ đầu khổ 2: Đời anh chỉ là viên ngọc. Đời anh chỉ là đóa hoa. => Hiện thực hóa cuộc đời (trừu tượng) thành những sự vật cụ thể, tượng trưng cho sự quý giá (ngọc) và thanh cao (hoa). Cuộc đời của thi nhân ngầm chứa sự quý giá và thanh cao ấy. Sự hi sinh của chàng trai: Nếu cuộc đời là viên ngọc: Nguyện “đập vỡ”, “xâu thành chuỗi quàng vào cổ em”. Nếu cuộc đời là đóa hoa: “hái nó đặt lên mái tóc em”. => Kết hợp với những động từ mạnh: “đập” (break), “hái” (pluck) nhằm nhấn mạnh khát vọng tận hiến nồng nhiệt của chàng trai. Sự phủ định: Nhưng A (không là B) lại là C (đời anh không là ngọc, là hoa mà là trái tim không biên giới) Cách ví von tình tứ: Em là nữ hoàng của vương quốc đó => Tiếng nói của anh chàng si tình, nguyên dâng hiến trái tim vô biên cho người mình yêu. => Nghịch lý: Xuất phát từ mong muốn tìm hiểu cuộc đời người mình yêu của cô gái, chàng trai đã không ngần ngại phơi bày cho cô thấy; nhưng càng muốn phơi bày bao nhiêu thì cô gái lại càng như rơi vào mê trận vô biên của trái tim và tình yêu. Càng tìm hiểu, tình yêu càng mông lung, khó nắm bắt. Lặp lại cấu trúc giả định sóng đôi nhau: Trái tim (cụ thể) – phút giây lạc thú (trừu tượng) – nở ra thành nụ cười nhẹ nhõm. Trái tim (cụ thể) – khổ đau (trừu tượng) – tan thành lệ trong, phản chiếu nỗi niềm u ẩn. => Hai trạng thái tâm lý trái ngược nhau: Niềm vui và nỗi buồn, từ đó thể hiện khát khao phơi trải cho người mình yêu thấu suốt trái tim được dề dàng hơn. Cấu trúc phủ định: Nhưng A không là B mà lại là C. => Lặp cấu trúc phủ định kết hợp sử dụng tính từ trái nghĩa vui sướng – khổ đau, đòi hỏi (mong muốn) – giàu sang (sở hữu) cùng với tính từ chỉ sự vô hạn về không gian thời gian (vô biên, trường cửu). Nhằm tô đậm đặc điểm của trái tim tình yêu: Trái tim tình yêu không hề đơn giản, nó là sự tổng hòa của những tâm trạng phức tạp, thậm chí là đối nghịch nhau. Tất cả những điều đó đều tồn tại không phải chỉ trong phút giây chốc lát mà là mãi mãi. Nhà thơ đúc kết triết lý về tình yêu ở hai câu thơ cuối: Đoạn 1: Xuất phát từ đôi mắt băn khoăn buồn của cô gái, chàng trai đã phơi bày toàn bộ cuộc đời mình trước mắt cô => Mối quan hệ: Cô gái – cuộc đời chàng trai là hai khách thể cùng tồn tại. Đoạn 2: Cô gái – nữ hoàng của vương quốc trái tim chàng trai => Mối quan hệ: Sở hữu. Đoạn 3: Trái tim anh ở gần em như chính đời em vậy => Mối quan hệ: Gần như đồng nhất. Thế nhưng ở cả ba khổ nhà thơ đều kết luận: Dù thế nào cô gái cũng không hề biết trọn, biết hết về cuộc đời – trái tim – tình yêu của chàng trai. => Đúc kết triết lý mối quan hệ cuộc đời – trái tim – tình yêu Logic lý trí trong thơ: Cuộc đời khai sinh ra tình yêu nhưng chính tình yêu mới làm cuộc đời thăng hoa, mới biến điều hữu hạn thành vô hạn, biến điều bình dị hóa phi thường. 1. Nội dung Bài thơ số 28 đòi hỏi con người hướng về một tình yêu hòa hợp về mặt tâm hồn. Tình yêu không bao giờ có giới hạn. Muốn có hạnh phúc trong tình yêu, muốn có tình yêu trọn vẹn chỉ có một cách là luôn khám phá cái bí ẩn, cái sâu xa của tình yêu. 2. Nghệ thuật Tago đã vận dụng bút pháp hướng nội, thực hiện lối cấu trúc theo tầng bậc: từ thấp lên cao hoặc ngược lại từ ngoài vào trong. Nghệ thuật miêu tả thế giới nội tâm: Dùng hình ảnh “đôi mắt” Thủ pháp so sánh, tượng trưng, ẩn dụ. Chất suy tư triết lý: Các từ được lặp đi lặp lại: “if” (nếu), “only”(chỉ), “but”(nhưng) giả định rồi khẳng định, nhiều câu tưởng như nghịch lý mà lại rất có lý (câu 3, 4, 5 hoặc 2 câu cuối). Giọng điệu vừa bóng bẩy, trữ tình nhưng đồng thời cũng đầy chất triế
Soạn bài lớp 11_ Bài thơ số 28
1,496
Soạn bài lớp 11: Bản tin Hướng dẫn Soạn bài: Bản tin Soạn bài lớp 11: Bản tin là tài liệu tham khảo được sưu tầm nhằm giúp các bạn học sinh lớp 11 nắm được kiến thức cơ bản về bản tin, từ đó chuẩn bị tốt cho bài học. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 11: Thực hành lựa chọn các bộ phận trong câu Soạn bài lớp 11: Một số thể loại văn học truyện, thơ Bản tin I. Kiến thức cần nắm vững 1. Mục đích – yêu cầu cơ bản của bản tin Bản tin là một thể loại báo chí rất phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay. Căn cứ vào dung lượng, người ta chia ra thành các loại: Tin vắn, tin thường, tin tổng hợp. Tin vắn là loại tin không có nhan đề, dung lượng rất ngắn. Tin thường là loại tin thông báo ngắn gọn nhưng tương đối đầy đủ về một sự kiện nào đó. Đây là loại tin chiếm tỉ lệ cao nhất trong lĩnh vực báo chí. Tin tổng hợp là loại tin đưa ra nhằm mục đích thông tin tổng hợp nhiều sự kiện xung quanh một hiện tượng nào đó có vấn đề đáng quan tâm. Ngày nay, nhu cầu nắm bắt thông tin của con người ngày càng cao, vì vậy thông tin đòi hỏi phải chính xác, nhanh chóng. Để đáp ứng nhu cầu đó, bản tin cần đạt được một số yêu cầu cơ bản như sau: Phải đảm bảo tín thời sự, đưa tin phải kịp thời, nhanh chóng. Nội dung tin phải chân thực, chính xác, có ý nghĩa xã hội. Hình thức tin phải ngắn gọn, ngôn ngữ diễn đạt phải trong sáng, dễ hiểu, có nhan đề. 2. Để thực hiện một bản tin cần trải qua hai bước sau đây a. Khai thác và lựa chọn tin Không phải mọi sự kiện xảy ra trong đời sống đều trở thành nguồn tin để viết bản tin. Muốn trở thành sự kiện để viết bản tin thì đòi hỏi những sự kiện ấy phải có ý nghĩa xã hội, được cộng đồng quan tâm, chú ý. Vì vậy phải khai thác và lựa chọn những thông tin hợp lí, có giá trị. Khi đã lựa chọn được sự kiện, cần xác định đầy đủ những yếu tố sau: Nội dung sự kiện (việc gì đã xảy ra?) Không gian và thời gian xảy ra sự kiện – trả lời cho câu hỏi sự việc xảy ra ở đâu và vào lúc nào? b. Viết bản tin: Sau khi lựa chọn được sự kiện, người viết cần tiến hành ba bước sau để hoàn thành bản tin: Đặt tên cho bản tin: Tên bản tin phải khái quát được nội dung của thông tin sự việc và kết quả sự việc. Ngoài ra để gây hứng thú cho người đọc, nhan đề bản tin phải hấp dẫn, gây ấn tượng. Tên bản tin phải ngắn gọn gồm một cụm từ hoặc một câu ngắn. Viết phần mở đầu bản tin: Thường thông báo khái quát về sự kiện và kết quả sự kiện. Triển khai chi tiết bản tin: Nêu cụ thể, chi tiết hơn sự kiện đã đưa tin. Cắt nghĩa cụ thể nguyên nhân, kết quả của sự kiện. 1. Gợi ý trả lời những câu hỏi trong bản tin: Đội tuyển Ô-lim-píc Toán Việt nam xếp thứ tư toàn đoàn. Câu 1: Bản tin này thông báo kết quả kì thi Ô-lim-líc Toán quốc tế của đoàn học sinh Việt Nam. Kết quả dự thi đứng thứ tư toàn đoàn nhằm khẳng định trình độ của học sinh Việt Nam và thành quả bồi dưỡng nhân tài toán học của nước ta. Câu 2: Bản tin mang tính thời sự nóng hổi vì sự việc xảy ra sau ba ngày đã được đưa tin, thể hiện tính cập nhật thông tin nhanh chóng. Câu 3: Các thông tin nêu lên ở đây là không cần thiết với dạng bản tin này vì chúng không phục vụ gì cho yêu cầu thông báo sự việc chủ yếu là thông báo kết quả của đội tuyển Toán Việt Nam đi thi Ô-lim-píc quốc tế. Câu 4: Việc đưa tin cụ thể không chỉ có tác dụng thông báo mà còn tạo cho người đọc niềm tự hào và niềm tin vào tài năng của thế hệ trẻ nước nhà. 2. Trả lời bài tập số 1. Các sự kiện có thể dùng để viết bản tin là A, B, D, E. 3. Nêu sự giống và khác nhau giữa bản tin với các thể loại báo chí khác như quảng cáo, phóng sự điều tra. Giống nhau: Đều cung cấp tin tức cho cộng đồng. Khác nhau: Bản tin chỉ đơn thuần là dùng để thông báo tin tức. Quảng cáo ngoài truyền tin còn có mục đích chủ yếu là quảng cáo. Phóng sự điều tra có độ dài gấp nhiều lần so với bản tin nhằm miêu tả sự việc cụ thể, chi tiết; qua đó kèm theo phân tích và bình luận sự kiện.
Soạn bài lớp 11_ Bản tin
833
Soạn bài lớp 11: Cha con nghĩa nặng Hướng dẫn Soạn bài lớp 11: Cha con nghĩa nặng do Hồ Biểu Chánh sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn văn lớp 11 dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về đời sống của người dân Nam Bộ và sự thể hiện cảm động tình nghĩa cha con sâu nặng. Bài soạn văn Cha con nghĩa nặng này sẽ giúp các em học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Ngữ cảnh Soạn bài lớp 11: Chữ người tử tù Soạn văn cha con nghĩa nặng bản đầy đủ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Hồ Biểu Chánh (1885 – 1958), tên khai sinh là Hồ Văn Trung, quê ở xã Bình Thành huyện Kiến Hoà, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Kiên Giang). Trong gần 50 năm cầm bút cần mẫn sáng tác, Hồ Biểu Chánh đã để lại một số lượng sáng tác khá lớn. Ông thành công nhất ở thể loại tiểu thuyết. Một số tác phẩm tuy còn hạn chế về mặt tư tưởng nhưng nhìn chung ông đã đóng góp công sức tích cực vào việc hình thành thể loại tiểu thuyết của dân tộc ta trong chặng đường phôi thai đầu tiên. Cha con nghĩa nặng là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Tác phẩm viết về cảnh ngộ bất hạnh của gia đình một người nông dân tên là Trần Văn Sửu. Do vô tình phạm tội giết vợ Trần Văn Sửu đã phải bỏ trốn, để lại hai đứa con thơ là Quyên và Tí cho bố vợ là hương thị Tào nuôi. Thằng Tí và con Quyên đều được mọi người thương yêu. Sống vất vả cực nhọc nơi đất khách quê người, Trần Văn Sửu không nguôi nhớ về các con. Và anh trở về vào đúng lúc các con đang chuẩn bị xây dựng gia đình. Đoạn trích kể về cuộc trở về này. Đoạn trích thể hiện những nét tiêu biểu về nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm: Tình huống truyện có mâu thuẫn từ đó thể hiện được tình cảm của các nhân vật: Trần Văn Sửu trở về thăm con sau hơn mười năm tha hương nhưng lại phải đứng trước những lựa chọn quan trọng. Tình cha con được thể hiện rất xúc động. Ngôn ngữ, cung cách kể chuyện, lối diễn đạt “nôm na bình dân” nhiều lúc có phần rườm rà nhưng lại thể hiện thể hiện chất đặc sắc Nam Bộ. Các nhân vật trong Cha con nghĩa nặng hiện ra như những tính cách Nam Bộ, là sản phẩm của sự lịch lãm Nam Bộ song cũng không vì thế mà chỉ sống được trong thị hiếu Nam Bộ. Giá trị hiện thực: Tác phẩm đã phản ánh một cách sinh động đời sống của người dân Nam Bộ. Không khí và chất Nam Bộ thấm đượm trong từng trang viết và làm nên đặc trưng riêng trong văn Hồ Biểu Chánh. Giá trị nhân đạo của Cha con nghĩa nặng dồn cả vào sự thể hiện cảm động tình nghĩa cha con sâu nặng. Điều đó được thể hiện trong những mâu thuẫn mà nhà văn thể hiện trong đoạn trích. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Có thể chia bài văn thành hai phần: Phần 1: Cuộc rượt đuổi của hai cha con (từ đầu đến “không nói được một tiếng chi hết”). Sau nhiều năm sống lẩn trốn cực khổ, Trần Văn Sửu cải trang thành người Thổ trở về quê với mong muốn tha thiết là được gặp hai con. Nhưng sau khi nghe bố vợ phân tích lợi hại của việc gặp mặt hai con, Trần Văn Sửu phải nén nỗi nhớ mong để ra đi, mong không làm ảnh hưởng đến hạnh phúc của các con. Ông chào bố vợ và ra đi trong lòng vô cùng đau khổ. Thằng Tí lén nghe được cuộc chuyện trò giữa ông ngoại và cha, anh chạy theo cha. Trần Văn Sửu tưởng người làng đuổi bắt nên cố chạy thật nhanh, Tí thì cố đuổi theo cha. Vì thế cuộc rượt đuổi diễn ra rất gay gắt. Đến cầu Mê Tức mới gặp nhau khi Trần Văn Sửu đang định tự vẫn, chấm dứt những ngày khổ cực. Cha con gặp nhau vô cùng mừng rỡ. 2. Trần Văn Sửu là người hết lòng thương yêu vợ con nhưng vì một phút nóng giận, không thể kiềm chế anh đã vô tình giết chết vợ. Và phải sống lẩn trốn nhiều năm với mục đích duy nhất là gặp lại hai con và mong chúng tha thứ. Nhưng anh lại trở về đúng lúc hai con anh sắp lấy vợ lấy chồng. Ông đã chấp nhận ra đi lặng lẽ, không gặp mặt hai con. Nhưng khi ra đi ông đã rất đau khổ. Ông đã định tự vẫn. Ngồi trên cầu với tâm trạng “sầu não”. Ông yên tâm vì con đã hiểu và không trách mình, mừng vì các con đã được sống hạnh phúc sung sướng. Ông nhớ lại những ngày hạnh phúc và cả khổ đau đã qua. Nhà văn đã dùng hình thức độc thoại nội tâm để thể hiện tâm trạng nhân vật. Đây là một biểu hiện của tính chất hiện đại trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. 3. Tí là người con trai có hiếu. Anh đã đuổi theo để giữ cha ở lại. Tí hiểu những khổ cực, thiệt thòi mà người cha đã phải chịu đựng. Nhà văn đã thể hiện rất xúc động tình cảm cha con khi xây dựng cuộc gặp gỡ vô cùng cảm động giữa họ. Gặp cha, Tí “chạy riết lại nắm tay cha”, “dòm sát mặt”, “ôm cứng trong lòng”. Tí quyết không để cha đi, anh quyết theo cha để chăm sóc cha “cha đi đâu con theo đó”, “đi theo đặng làm mà nuôi cha…, con phải làm nuôi cha chứ”… Cuộc đối thoại giữa hai cha con đã thể hiện tình nghĩa cha con xúc động. Tấm lòng cao cả, tình yêu vô bờ, đức hi sinh của người cha và tấm lòng thơm thảo hiếu nghĩa của cậu con trai. Hồ Biểu Chánh là nhà văn có mục đích sáng tác rất rõ ràng, sáng tác để giáo dục đạo đức. Hai cha con Trần Văn Sửu là hai trong số những nhân vật thể hiện tư tưởng đạo đức truyền thống theo quan niệm của nhà văn. 4. Nhà văn đã đẩy hai nhân vật vào một tình huống rất khó xử. Và qua cuộc bàn tình, giằng co giữa hai cha con, nhà văn đã diễn tả được một cách xúc động mong muốn sum họp của hai cha con. Trần Văn Sửu mang tội giết vợ nên phải sống lẩn trốn, việc trở về của anh chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đến hai con. Vì Quyên và Tí được mọi người thương nên đều chuẩn bị lấy vợ, lấy chồng. Nếu Trần Văn Sửu xuất hiện và với tiếng giết vợ, hai con ông khó mà có được hạnh phúc trọn vẹn. Ông đã quyết tâm ra đi nhưng lại rất đau khổ và có ý định tự vẫn. Họ đã phải đứng trước những trở ngại rất lớn Cha không thể trở về vì nếu về hàng tổng sẽ bắt, hạnh phúc của các con sẽ bị ảnh hưởng. Con theo cha thì sẽ phải chịu khổ cực và không chăm sóc được ông ngoại. Hai cha con bàn tính ngược xuôi mãi. Cuối cùng cũng đưa ra được quyết định. Đẩy nhân vật vào tình huống khó xử ấy, nhà văn đã thể hiện rất cảm động tình cha con giữa hai người. 5. Tí là một người con có hiếu, một thanh niên tuy còn trẻ nhưng chín chắn và sâu sắc. Anh đã biết cách xử lí tình huống cho trọn nghĩa vẹn tình. Qua nhân vật này nhà văn đã thể hiện quan niệm đạo lí của tác giả, đó là quan niệm về hiếu nghĩa, làm con phải tận hiếu với cha mẹ, phải chăm sóc yêu thương cha mẹ. Hồ Biểu Chánh là nhà văn của những quan niệm đạo đức truyền thống tốt đẹp. 6. Tí là một người con có hiếu. Anh biết xử sự một cách trọn nghĩa vẹn tình. Vì tấm lòng yêu thương với cha, anh đã chấp nhận hy sinh hạnh phúc riêng để theo chăm sóc cha, bù đắp lại cho người cha những ngày vất vả khổ cực. Anh là một thanh niên trẻ nhưng suy nghĩ chín chắn. Nhân vật này đã thể hiện quan niệm tốt đẹp về đạo lí làm người, làm con cùng những quan niệm về đạo đức truyền thống của nhà văn. Nhà văn đề cao những giá trị đạo đức truyền thống như chữ trung, chữ hiếu. 7. Ngôn ngữ trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh đậm chất Nam Bộ. Ta có thể còn gặp lại lối văn biền ngẫu ở tiểu thuyết của ông. Song, về cơ bản, ngôn ngữ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đã tiến gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày, một thứ ngôn ngữ “bình dân” đậm chất Nam Bộ đã thấm sâu vào ngôn ngữ kể chuyện và trở thành văn phong riêng. Như “Trời chạng vạng tối, hương thị Tào với thằng Tí về tới Giồng Ké. Khi quẹo vô sân, hương thị Tào ngó ra ngoài lộ, thì thấy người Thổ đó đi đường ngang, mà còn liếc mắt ngó vô nhà. Ông lấy làm kì, nên đứng lại mà ngó, thì người ấy bươn bả đi tuốt.”. Lớp phương ngữ Nam Bộ mà tác giả sử dụng một mặt tạo ra sắc thái cá thể cho lời kể, mặt khác có tác dụng làm nhạt đi màu sắc “bác học”, để câu chuyện gần gũi hơn với chính hiện thực sản sinh ra nó. Soạn văn Cha con nghĩa nặng bản rút gọn: I. Tóm tắt cốt truyện Cha con nghĩa nặng Trần văn Sửu một nông dân hiền lành, chăm chỉ. Sửu lấy Thị Lự sinh được ba con: Tí, Quyên, Sung. Anh thương vợ, yêu con nhưng không may gặp phải người tính cách xấu xa. Một hôm Sửu bắt gặp vợ ngoại tình hương hào Hội. Sửu xô vợ, không may vợ ngã vấp vào phản chết ngay. Sửu bỏ trốn, mọi người thì tưởng Sửu nhảy xuống sông tự tử. Anh em thằng Tí về ở với ông ngoại là hương thị Tào. Sung ốm chết, Tí và Quyên đi làm thuê cho bà hương quản Tồn, được bà thương, Quyên trở thành con dâu của bà. Sau mười mấy năm trốn tránh, Sửu lẻn về nhà thăm con, được bố vợ cho biết cuộc sống hai đứa con ổn định và hạnh phúc, sự có mặt của anh lúc này là bất lợi, Sửu vội vã ra đi… Sau đó, Sửu được xóa án và cha con đoàn tụ. II. Hướng dẫn soạn bài Cha con nghĩa nặng Câu 1 (trang 167 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1): Truyện kể về tình cảm cha con sâu đậm của gia đình Trần Văn Sửu. Vì vợ ngoại tình, Sửu tức giận xô vợ, nhưng không may vợ ngã vấp vào phản rồi chết ngay. Sử bỏ trốn, các con của Sửu được ông ngoại và mọi người chăm sóc, giúp đỡ. Mười mấy năm sau, vì thương nhớ các con Sử lẻn về thăm con, được ông ngoại cho biết các con đều ổn định và hạnh phúc, sự có mặt của anh lsuc này là bất lợi, Sửu lại vội vã ra đi. Nhưng con trai của Sửu là Tí đã nghe được câu chuyện, vội vã đuổi theo cha, hai cha con gặp nhau trên cầu Mê Túc. Được cha giải thích mọi chuyện, Tí hiểu và càng thương, quý trọng người cha. – Tình cảm của cha đối với con: + Dù bỏ trốn trong suốt mười một năm nhưng anh vẫn không nguôi nhớ về các con. + Không quản nguy hiểm về thăm các con, anh được cha vợ cho biết các con đều ổn định và hạnh phúc, Trần Văn Sửu vô cùng sung sướng, mãn nguyện: “Miễn là con được sung sướng”; “ Bây giờ mình còn sống nữa làm gì. Bấy lâu nay mình lăn lóc chịu cực khổ mà sống, ấy là vì thương con…”. + Anh còn có ý định tự tử vì sợ liên lụy tới cuộc sống các con. => Trần Văn Sửu là một người cha yêu thương con hết mực. – Tình cảm của con đối với cha + Khi nghe được câu chuyện giữa cha và ông ngoại, Tí hiểu được tình cảm của cha nên càng thương và qusy trọng cha. + Tình cảm mạnh mẽ quyết liệt: Lo lắng, thương cha, sẵn sàng bỏ cả hạnh phúc sắp đến để đuổi theo cha: “Thằng Tí chạy riết lại nắm tay cha! Cha chạy đi đâu dữ vậy?…” => Tý là người con hiếu nghĩa. Câu 3 (trang 167 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1): Để thể hiện tình cha con sâu nặng, tác giả đã xây dựng được một tình huống truuyeejn giàu kịch tính: – Khi thằng Tí nghe cha giải thích việc mình ở lại sẽ bị bắt tù và ảnh hưởng tới hạnh phúc của của anh, em nó. Tí phân vân: “Bây giờ biết làm sao?”. Tình huống đã đẩy mâu thuẫn lên tới đỉnh điểm. Tí đứng trước hoàn cảnh thật khó khăn. – Cách giải quyết của Tí vô cùng cảm động, đó là sẵn sàng hi sinh hạnh phúc của mình để theo cha: “Bây giờ một mình cha nghèo khổ, vậy con phải làm mà nuôi cha chứ”. => Tình huống truyện đã đặt ra thật căng thẳng và phức tạp. Cuộc gặp gỡ của hai cha con đã thỏa lòng mong đợi của ông suốt 11 năm qua. Nhưng hoàn cảnh đặt ra lúc này thật éo le: Sự có mặt của người cha lúc này vô cùng bất lợi, và ảnh hưởng đến sự bình yên của Tí và Quyên. Nhưng nếu ông bỏ đi thì con lại không chịu. Tình huống truyện đã đẩy mâu thuẫn lên tột đỉnh. Câu 4 (trang 167 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1): Nhân vật người con Trần Văn Tí chứng tỏ tính cách mạnh mẽ không chịu bó tay trước hoàn cảnh. Dù phải hi sinh hạnh phúc của mình nhưng Tí vẫn đặt chữ hiếu lên trên hết. Nhân vật người cha và con thể hiện tính cách của người Nam Bộ mạnh mẽ và kiên quyết nhưng cũng rất đôn hậu, yêu thương con. Câu 5 (trang 167 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1): Qua đoạn trích, người đọc thấy được tài năng của Hồ Biểu Chánh. Đoạn đối thoại giữa cha và con cho thấy khả năng thúc đẩy sự kiện qua lời thoại. Nó diễn ra rất nhanh và sinh động. Ngôn ngữ nhân vật cùng ngôn ngữ người kể chuyện gắn với đời sống. Đặc biệt phương ngôn Nam Bộ được sử dụng nhuần nhuyễn tạo nên màu sắc đặc trưng cho văn phong của Hồ Biểu Chánh.
Soạn bài lớp 11_ Cha con nghĩa nặng
2,561
Soạn bài lớp 11: Cha Tôi Hướng dẫn Soạn bài lớp 11: Cha Tôi Soạn bài: Cha tôi trích trong tác phẩm Đặng Dịch Trai ngôn hành lục do Đặng Huy Trứ sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Văn mẫu lớp 11: Trình bày quan điểm của em về câu nói: Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều CHA TÔI (Trích Đặng Dịch Trai ngôn hành lục) Đặng Huy Trứ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đặng Huy Trứ (1825-1874) hiệu là Tĩnh Trai và Vọng Tân, tự là Hoàng Trung, người làng Thanh Lương, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Năm 1843, Đặng Huy Trứ đỗ cử nhân, năm 1848 đỗ Tiến sĩ nhưng vì phạm huý ông đã bị đánh trượt và bị tước luôn học vị cử nhân. 2. Đặng Dịch Trai ngôn hành lục là thuộc thể loại kí, thuộc loại văn tự thuật. Tác phẩm là những trang hồi tưởng của tác giả về người cha đáng kính của Đặng Huy Trứ về cha ông là Đặng Văn Trọng (tên hiệu là Dịch Trai). Qua đó thể hiện những quan niệm về cuộc sống. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Đoạn trích lần lượt thuật lại ba sự kiện tiêu biểu, ba khúc ngoặt trên đường thi cử của nhân vật tôi (tức Đặng Huy Trứ). Sự kiện thứ nhất xảy ra vào mùa thu năm Quý Mão (1843), nhân vật tôi đỗ cử nhân ngay lần đầu đi thi với mục đích làm quen trường thi. Nghe tin con đỗ, một tin vui đối với cả gia tộc, dòng họ nhưng người cha lại có phản ứng thật lạ “cha tôi dựa vào cây xoài, nước mắt ướt áo” như là “gặp việc chẳng lành”. Và ông giải thích “có gì đáng vui đâu. Đỗ đạt cao là để dành cho người có phúc đức. Con tôi tính tình chưa già dặn, chưa có đức nghiệp gì… Cổ nhân đã nói “Thiếu niên đăng khoa nhất bất hạnh dã!”. Sự kiện thứ ba là hai sự việc đồng thời xảy ra trong gia đình để ngợi ca tấm lòng và nhân cách của người cha. “bác ngự y Đặng Văn Chức mất… Tôi thì vừa bị đánh hỏng trong kì thi Đình… Cả nhà lại càng buồn cho tôi”. Trước hai tin dữ ấy, Đặng Văn Trọng đau đớn trước cái chết của người anh và coi việc con trai bị đánh hỏng là “không có chuyện gì đáng kể”. Người cha đã có cách ứng xử rất hợp đạo làm người. Tấm lòng của người cha ấy được thể hiện rõ ở lời nói của ông trong phần kết đoạn trích. Khi việc tang người anh trai đã hơi thư, ông mới quay sang khuyên nhủ con trai. Lời khuyên nhủ này là tâm sự giấu kín từ nơi sâu thẳm tấm lòng người cha: “Đã vào thi Đình thì không còn đánh trượt nữa, từ đời Lê đến nay như thế lâu mà nay con lại bị đánh trượt”. Ông chỉ ra sai lầm của và khuyên nhủ con trai những lời thấu tình đạt lí. 3. Lời khuyên nhủ của người cha đối với người con mang tính triết lí sâu sắc. Triết lí đó có thể thu gọn trong câu “Thất bại là mẹ thành công”. Ông vừa răn dạy (việc con bị đánh hỏng và tược bằng cử nhân là một lỗi lớn, khó tha thứ) vừa khuyên nhủ, an ủi con. Người cha đã giup sngười con nhận ra lỗi lầm của mình nhưng không tuyệt vọng mà có thêm nghị lực, ý chí để tiếp tục vươn lên. Lí lẽ và quan niệm về chuyện thi cử, về thành công và thất bại của người cha đều rất sâu sắc. Đó cũng chính là một bài học nhân sinh quý giá cho người đời sau. 5. Đoạn kết “Ông Phạm Văn Huy ở Thiên Lộc… sửa chữa” là một bài học nhân sinh sâu sắc. Bài học đó là: biết đứng lên sau khi ngã, nhận ra sai lầm của mình để sửa chữa là điều đáng quý nhất ở con người, nó còn quan trọng hơn cả thành công. Ông Đặng Văn Trọng đã dẫn ra các tấm gương về tinh thần vươn lên, về ý chí nghị lực để răn dạy và động viên con trai. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với Đặng Huy Trứ trong hoàn cảnh đó.
Soạn bài lớp 11_ Cha Tôi
763
Soạn bài lớp 11: Chiếu cầu hiền Hướng dẫn Soạn bài: Chiếu cầu hiền Soạn bài lớp 11: Chiếu cầu hiền do Ngô Thì Nhậm sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về lý do viết chiếu cầu hiền và đồng thời chỉ ra cho người hiền tài thấy được trách nhiệm của họ với đất nước, đồng thời thể hiện được nhân cách và phẩm chất của vua Quang Trung giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Đổng Mẫu Soạn bài lớp 11: Xin lập khoa luật Soạn bài lớp 11: Bài ca ngất ngưởng CHIẾU CẦU HIỀN Ngô Thì Nhậm I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) hiệu là Hi Doãn, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, xuất thân trong gia đình có truyền thống thơ văn. Ông đỗ Tiến sĩ năm 1775, từng làm quan dưới triều Lê Cảnh Hưng. Sau ông theo giúp Tây Sơn và được Nguyễn Huệ tin dùng. Chiếu cầu hiền là tác phẩm xuất sắc tiêu biểu cho loại văn bản nghị luận trung đại. Trong tác phẩm này, người viết chú trọng đưa ra những lí lẽ sắc sảo, lời lẽ tâm huyết và đầy sức thuyết phục để kêu gọi người hiền tài ra giúp Quang Trung xây dựng và củng cố đất nước sau những năm nội chiến và nạn ngoại xâm liên miên. Những lí lẽ mà Ngô Thì Nhậm đưa ra để kêu gọi người hiền tài đều là những lí lẽ sắc sảo, hợp đạo lí. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Hoàn cảnh ra đời của Chiếu cầu hiền 2. Ngay ở đoạn mở đầu tác giả đã đặt ra vấn đề: người hiền tài thì phải ra giúp vua xây dựng đất nước, đó là ý trời như “sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần”, không làm như vậy là trái ý trời. Tác giả đã dùng lời của Khổng Tử để xác nhận một lí lẽ rất xác đáng và có ý nghĩa quan trọng với mục đích cầu hiền của bản chiếu. Bởi với các nhà nho, lời của Khổng Tử luôn luôn là đúng đắn. Vì thế việc tác giả dùng lời Khổng Tử sẽ tạo nên sức thuyết phục cho lời “cầu hiền”. 3. Đoạn 2a, tác giả chỉ rõ thái độ của nho sĩ Bắc Hà trước việc Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc diệt Trịnh: ở ẩn, mai danh ẩn tích bỏ phí tài năng, làm việc cầm chừng, sống vô ích, một số người tự vẫn làm uổng phí tài năng… Trong lúc thời thế suy vi, họ lánh đời để bảo toàn phẩm cách là đúng. Tác giả đã dùng những hình ảnh hàm súc để chỉ thái độ của các nho sĩ, điều đó thể hiện sự tôn trọng của tác giả đối với người hiền tài. Nhưng tác giả cũng chỉ ra rằng khi đất nước cần mà chỉ lo sống yên phận là vô trách nhiệm, vô tích sự với xã hội. Có tài mà không ra giúp đời thì sống cũng như chết (chết đuối trên cạn). Ở đoạn 2b lời kêu gọi kiên quyết nhưng cũng rất khiêm nhường nhờ việc sử dụng những từ ngữ như “đức hoa của trẫm chưa kịp thấm nhuần khắp nơi”, “nơm nớp lo lắng”, “một cái cột… dựng nghiệp trị bình” và một loạt câu nghi vấn tu từ đã khiến cho câu văn có thêm sức nặng. Cuối đoạn, tác giả lại dùng lời của Không Tử để khẳng định nhân tài có rất nhiều. Và vua Quang Trung đang mong mỏi và tin rằng họ sẽ ra giúp triều đình. 4. Con đường cầu hiền của Quang Trung rất rộng mở và đúng đắn. Ở đoạn 3, tác giả trình bày hai biện pháp cụ thể, chỉ rõ hai con đường và cách thức ra giúp đời cho người tài. Tất cả các biện pháp tác giả đưa ra đều rất cụ thể và dễ thực hiện. Người viết đã vạch ra và lí giải rõ ràng, cụ thể con đường để người tài ra giúp vua một cách thuận tiện nhất. Cách làm này đã thể hiện thành ý và thái độ trọng dụng người tài của vua Quang Trung. Khẳng định vấn đề: người tài phải ra giúp nước mới hợp ý trời. Đó cũng là điều Khổng Tử đã nói. Thái độ của kẻ sĩ Bắc Hà đối với Tây Sơn: chưa nhiệt tình ủng hộ. Từ đó chỉ ra tính chất của thời đại và vai trò của người hiền tài đối với đất nước. Vạch ra các con đường để người hiền tài ra cống hiến cho đất nước Từ khái quát vấn đề, giải quyết từng khía cạnh cụ thể của vấn đề và khẳng định, cầu hiền một cách khẩn thiết là logic của bản chiếu. Điều đó đã làm nên sức thuyết phục của văn bản đối với những nhà Nho còn đang ẩn dật chờ thời hoặc sống lánh đời để bảo toàn danh phẩm cho riêng mình. Bản chiếu không chỉ là lời kêu gọi người hiền ra giúp đời mà nó còn giúp cho những nho sĩ chưa hiểu thời cuộc, còn ẩn dật, lánh đời hiểu hơn về vua Quang Trung, một vị minh quân.
Soạn bài lớp 11_ Chiếu cầu hiền
909
Soạn bài lớp 11: Chiều tối Hướng dẫn Soạn bài lớp 11: Chiều tối Soạn bài: Chiều tối (Mộ) do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Tràng Giang Soạn bài lớp 11: Đây thôn Vĩ Dạ Giáo án bài Chiều tối Chất cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều tối (Mộ) – Hồ Chí Minh Đề kiểm tra môn Ngữ Văn lớp 11 – “Chiều tối” (Mộ – Hồ Chí Minh) trực tuyến CHIỀU TỐI (MỘ) HỒ CHÍ MINH I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả Hồ Chí Minh (1890 – 1969) Quê: Nam Đàn – Nghệ An. Gia đình: Nhà nho yêu nước. Bản thân: Thông minh, yêu nước và thương dân sâu sắc. Sự nghiệp văn học: Phong phú, đặc sắc. 2. Tác phẩm a. Tập thơ “Nhật kí trong tù” Hoàn cảnh ra đời tập thơ “Nhật kí trong tù”: Là tập nhật kí viết bằng thơ, được Bác sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ từ mùa thu năm 1942 – 1943 tại tỉnh Quảng Tây. Tập thơ gồm 134 bài thơ bằng chữ Hán ghi trong một cuốn sổ tay lấy tên là “Ngục trung nhật kí”. Năm 1960, tập thơ được dịch ra tiếng Việt và có tên là “Nhật kí trong tù”. Vị trí: Bài thứ 31 của tập thơ “Nhật kí trong tù” Hoàn cảnh sáng tác: Trên đường chuyển lao của Hồ Chí Minh từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo vào cuối thu năm 1942. II. Đọc – hiểu văn bản 1. Đọc văn bản 2. Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. 3. Bố cục Gồm 2 phần: Hai câu thơ đầu: Bức tranh thiên nhiên lúc chiều tối qua cảm nhận của nhà thơ; Hai câu thơ cuối: Bức tranh đời sống con người. 4. Đọc – hiểu theo bố cục a. Hai câu thơ đầu: Bức tranh thiên nhiên lúc chiều tối qua cảm nhận của nhà thơ * Bức tranh thiên nhiên: Không gian: Rộng lớn, thinh vắng → làm nổi bật sự lẻ loi, cô đơn của con người, cảnh vật Thời gian: Chiều tối – thời khắc cuối cùng của một ngày→ mỏi mệt, cần được nghỉ ngơi Điểm nhìn: Từ dưới lên cao → phong thái ung dung, lạc quan của tác giả. Cảnh vật: Sự xuất hiện của hai hình ảnh: Chim mỏi: Biểu tượng cho buổi chiều tà → cảm nhận từ trạng thái bên trong của sự vật. Chòm mây: Cô đơn, đang trôi chầm chậm giữa bầu trời bao la. So với bản phiên âm: “Cô vân” dịch thành “chòm mây” → dịch chưa sát, bản dịch làm mất đi tính chất cô độc, lẻ loi của áng mây trên bầu trời. “mạn mạn” dịch thành “trôi nhẹ” → chưa thấy được tư thế chậm chạp gợi vẻ uể oải, lững lờ không muốn trôi của áng mây. Ung dung tự tại Hòa nhập với thiên nhiên Tinh thần lạc quan vượt lên trên hoàn cảnh Yêu tự do. => Tiểu kết Đề tài, hình ảnh quen thuộc, bút pháp chấm phá, tả cảnh ngụ tình. Bức tranh thiên nhiên lúc chiều tối thật đẹp và khoáng đãng mang đậm màu sắc cổ điển. b. Hai câu thơ cuối: Bức tranh đời sống con người. * Bức tranh đời sống Hai câu thơ cuối có sự chuyển đổi của tứ thơ: Điểm nhìn: trên trời → mặt đất. Thời gian: chiều muộn → tối. Không gian: rộng (núi rừng) → hẹp (xóm núi). Hình ảnh: thiên nhiên → con người lao động. → Hình ảnh con người lao động trở thành trung tâm của bức tranh. => Lao động vất vả nhưng tự do, khoẻ khoắn. Điệp vòng: “ma bao túc” – “bao túc ma”: Diễn tả vòng quay của chiếc cối xay ngô; Nhịp điệu lao động hăng xay; Vòng quay của thời gian, không gian; Đem lại cho người đi đường lúc chiều hôm chút hơi ấm của sự sống. So với bản phiên âm: Chữ “thiếu nữ” dịch thành “cô em” chưa thật phù hợp. Dịch thừa chữ “tối” → làm mất sự kín đáo, hàm súc của ý thơ “ý tại ngôn ngoại”. Chữ “hồng” được xem là nhãn tự của bài thơ, nơi hội tụ ánh sáng, sự ấm áp và cả ý nghĩa toàn bài thơ: “hồng” – của ánh lửa lò than hiện thực nơi cô gái đang xay ngô “hồng” – màu hồng của ngọn lửa cách mạng luôn thôi thúc Bác không bỏ cuộc; “hồng” – màu hồng của niềm tin tưởng, sự lạc quan luôn cháy trong tim Bác. * Vẻ đẹp tâm hồn tác giả Lạc quan, yêu đời Yêu lao động Ý chí, nghị lực phi thường; Tình yêu thương nhân dân, nâng niu tất cả chỉ quên mình => Tiểu kết: Bằng thủ pháp điệp vòng, lấy sáng tả tối, tác giả cho ta thấy bức tranh lao động hiện ra thật gần gũi, tươi vui. III. Tổng kết 1. Nội dung Bài thơ “Chiều tối” cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, ý chí vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà thơ chiến sĩ Hồ Chí Minh. 2. Nghệ thuật Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt mang vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại.
Soạn bài lớp 11_ Chiều tối
859
Soạn bài lớp 11: Chiều xuân Hướng dẫn Soạn bài: Chiều xuân Soạn bài lớp 11: Chiều xuân, là tài liệu tham khảo hay giúp bạn thuận tiện hơn trong quá trình soạn bài ở nhà, chuẩn bị tốt cho bài học trên lớp. Bài soạn khái quát về tác giả Anh Thơ, bố cục, nội dung và nghệ thuật của bài Chiều xuân. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 11: Tương tư Soạn bài lớp 11: Từ ấy Chiều xuân – Anh Thơ I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả Anh Thơ tên thật là vương Kiều Ân sinh năm 1921 mất năm 2005 Sinh ra và lớn lên bên bến sông Thương Bà là một nữ sĩ tiêu biểu cho văn học hiện đại Việt Nam Thơ của bà thiên về tả cảnh sắc hương thơm với những nét chân thực, thấm được tình quê pha chút tâm sự bâng khuâng của cái tôi Thơ Mới 2. Tác phẩm a. Xuất xứ: Được rút từ tập bức tranh quê năm 1941 đây là tập thơ đầu tay của Anh Thơ mang lại giải khuyến khích từ nhóm tự lực văn đoàn b. Cảm xúc chủ đạo: Bài thơ ghi lại cảm xúc nhẹ nhàng tinh tế của cái tôi trữ tình trước cảnh chiều xuân mưa phùn nơi đồng quê xứ Bắc c. Bố cục: 3 phần Phần 1 khổ 1: Cảnh xuân trên bến vắng Phần 2: khổ 2: Cảnh xuân trên đường đê Phần 3: khổ 3: Cảnh xuân trong ruộng lúa 1. Cảnh xuân trên bến vắng “mưa đổ” nghe thì có vẻ như là mưa như trút hết nước xuống nhưng tiếp theo đó là “bụi” => Cách tách từ mưa bụi thành mưa đổ bụi thật hàm xúc và nghệ thuật. Nó khiến cho câu thơ trở nên hay hơn. Từ láy “êm êm” càng thể hiện được sự nhẹ nhàng của mưa bụi Đò được nhân hóa giống như con người, nằm biếng lười mặc cho nước trên sông trôi đi => Không gian như vắng lặng Quán tranh đứng im lìm trước làn mưa bay, trước con đò lười, một không gian vô cùng vắng lặng. Chòm xoan hoa tím rụng tơi bời => Sự rơi rụng Bốn câu thơ đầu mang đến cho chúng ta một bức tranh quê nhẹ nhàng ấm áp, có cái gì đó mộc mạc giản dị. Tuy nhiên đẹp thì đẹp đấy nhưng nó mang một nỗi buồn vắng lặng, cỏ cây, quán tranh đều hiện lên vắng lặng như tờ 2. Cảnh xuân trên bờ đê Nhà thơ hướng ánh mắt ra xa nhìn ngắm con đê, con đê hiện lên với hàng cỏ xanh mượt nhờ mưa bụi => Thấy được sự sống Những con sáo đen sà xuống mổ vu vơ => Cảnh tượng nên thơ trữ tình Những cánh bướm rập rờn trước gió Hình ảnh đàn trâu cúi ăn mưa là một hình ảnh nghệ thuật đẹp. Trâu thì ăn cỏ nhưng tác giả đã liên tưởng khi nó cúi xuống bờ cỏ ngập miệng ấy, những đám cỏ ướt nước giống như đang ăn mưa vậy => Tóm lại những hình ảnh ấy hiện lên khiến cho những ai có một tuổi thơ ở làng quê đều nhớ con đê quê mình. Hoa lúa xanh rờn ướt những hạt mưa vương vấn bám lấy lá lúa không chịu rồi, nhưng cái ướt đó cũng chỉ là ướt lặng thể hiện cái vắng lặng cô đơn Những con cò con khi thấy động lại phút chốc bay ra từ đám lứa => Hình ảnh cánh cò quen thuộc luôn đi liền với những cánh đồng lúa Hình ảnh con người xuất hiện, người con gái xưa với hình ảnh áo yếm thắm => Hình ảnh đẹp Hoạt động gắn liền với cô gái là “cúi cuống cào cỏ” => Nghệ thuật chơi chữ thật hay, câu thơ như được tăng thêm âm hưởng lao động => Cảnh xuân trong đồng ruộng cũng tràn đầy sức sống nhưng nó không tươi vui mà vẫn mang một niềm u uất buồn buồn man mác. III. Tổng kết Bài thơ có những hình ảnh rất sinh động cụ thể gần gũi gắn bó với con người thôn quê. Những hình ảnh vào thơ Anh Thơ một cách tự nhiên chân thật mà vẫn tinh tế. Nhà thơ như đang cảm nhận được những bước đi lặng lẽ của mưa xuân, chạm đến từng bến đò, bờ đê, góc ruộng
Soạn bài lớp 11_ Chiều xuân
719
Soạn bài lớp 11: Chí Phèo Hướng dẫn Soạn bài: Chí Phèo Soạn bài lớp 11: Chí Phèo do Nam Cao sáng tácthuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về tấn bi kịch tinh thần lớn nhất của con người, đó là bi kịch bị tha hoá. Những thế lực tàn bạo đã tước đoạt của người nông dân chất phác hiền lành những khát vong và ước mơ về một cuộc sống lương thiện, biến họ thành kẻ lưu manh giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Phong cách ngôn ngữ báo chí Soạn bài lớp 11: Luyện tập kết hợp các thao tác nghị luận Phân tích “tiếng chửi của Chí Phèo” trong tác phẩm Chí Phèo – Nam Cao CHÍ PHÈO Nam Cao I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Nam Cao (1917 – 1951) là một trong những cây bút viết truyện ngắn rất thành công của dòng văn học hiện thực phê phán thời kì trước Cách mạng. Chí Phèo là tác phẩm thành công của Nam Cao viết về đề tài người nông dân. Nhân vật Chí Phèo thể hiện tấn bi kịch tinh thần lớn nhất của con người, đó là bi kịch bị tha hoá. Những thế lực tàn bạo đã tước đoạt của người nông dân chất phác hiền lành những khát vong và ước mơ về một cuộc sống lương thiện, biến họ thành kẻ lưu manh. Và khi lương tâm thức tỉnh, họ đã phải tự kết thúc đời mình khi nhận ra rằng mình không còn con đường trở về với cuộc sống lương thiện. Giá tri hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm đều được tập trung ở nhân vật Chí Phèo. Tác phẩm phản ánh hai mâu thuẫn gay gắt và tiêu biểu nhất trong xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám là: Mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với nhau và mâu thuẫn giữa bọn cường hào ác bá và người nông dân. Nhân vật đều đạt đến trình độ điển hình. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Tóm tắt đoạn trích Chí Phèo vốn không cha không mẹ, được dân làng truyền tay nhau nuôi lớn. Rồi đến làm canh điền cho nhà Bá Kiến. Bá Kiến ghen tuông nên đã đẩy anh vào tù. Bảy tám năm sau, Chí ra tù và trở về làng với bộ dạng của một tên lưu manh. Hắn chuyên uống rượu, rạch mặt ăn vạ. Cả làng lánh xa hắn, Chí bị Bá Kiến lợi dụng thành công cụ cho hắn. Chí gặp Thị Nở, hai người ăn nằm với nhau. Chí tỉnh rượu rồi ốm, được Thị Nở chăm sóc. Bát cháo hành và những cử chỉ chân thật của Thị Nở đã làm sống dậy khát vọng sống cuộc đời lương thiện của Chí. Nhưng bà cô Thị Nở ngăn cấm. Chí tuyệt vọng khi bị Thị Nở từ chối. Anh xách dao đến nhà Bá Kiến đòi lương thiện. Anh đâm chết Bá Kiến và tự vẫn. 2. Ý nghĩa tiếng chửi của Chí phèo ở đoạn mở đầu tác phẩm. Tác phẩm được mở đầu bằng tiếng chửi với nội dung có vẻ bất thường nhưng rất tỉnh táo đã tạo nên sức hấp dẫn cho câu chuyện. Đây cũng là một thủ pháp nghệ thuật trong cách viết của Nam Cao. Nhà văn để nhân vật xuất hiện trong tâm trạng điển hình nhất. Vừa gây sự tò mò cho người đọc, vừa làm nổi bật tư tưởng của tác phẩm. 3. Các nhân vật Bá Kiến, Thị Nở đều có ý nghĩa đặc biệt đối với số pahạn và tính cách của Chí Phèo. Mối quan hệ Chí Phèo – Bá Kiến thể hiện quá trình bị tha hóa của Chí Phèo. Từ anh canh điền khỏe mạnh, hiền lành Chí bị Bá Kiến đẩy vào tù và khi trở về thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Mối quan hệ Chí Phèo – Thị Nở thể hiện quá trình hoàn lương của Chí. Sự chăm sóc của Thị Nở đánh thức bản chất lương thiện vốn có trong Chí. Nó cũng chứng minh rằng những bản chất tốt đẹp của người lao động trong con người Chí không thể bị hủy diệt mà nó chỉ bị khuất lấp đi đằng sau cái vẻ bất cần đời của một con người bị xã hội dồn vào bước đường cùng mà thôi. Sau khi bị Thị Nở tù chối, Chí thà chết chứ không chịu quay lại cuộc sống của một kẻ lưu manh. 4. Tâm trạng của Chí Phèo sau cuộc gặp với Thị Nở Sau cuộc gặp gỡ, Chí bị ốm rồi được Thị Nở chăm sóc. Lần đầu tiên, từ nhữung ngày ở tù về, Chí thấy mình hoàn toàn tỉnh táo và lần đầu tiên sau những cớn say triền miên, kể từ ngày ở tù về hắn nghe được những âm thanh quen thuộc của cuộc sống đời thường. Và khao khát được sống lương thiện đã trỗi dậy trong anh. Chí bắt đầu nghĩ về đời mình về những ngày đã qua và những ngày sắp tới. Anh cảm nhận rõ sự cô độc và bất hạnh của đời mình. Chi mong ngóng Thị Nở, khao khát được cùng Thị xây dựng một gia đình. Bát cháo hành đã đánh thức phần ngườitốt đẹp còn sót lại trong Chí. Chí ngạc nhiên rồi cảm động (thấy mắt hình như ươn ướt), rồi bâng khuâng, vui buồn lẫn lộn. Và nhất là anh thấy ăn năn. Chí hóa hức, sốt ruột, cuống cuồng khi thấy Thị Nở về nhà qua lâu. Tâm trạng chờ đợi ấy thể hiện khao khát mãnh liệt được trở về cuộc sống lương thiện của người bình thường. Nhưng tất cả đã sụp đổ với sự trở lại và lời từ chối của Thị Nở. Nhà văn đã nhập thân vào nhân vật, sử dụng nhiều kiểu giọng diệu trần thuật khác nhau để miêu tả diễn biến nội tâm phức tạp của Chí. Nhưng giây phút hạnh phúc và đầy hy vọng của Chí rất ngắn ngủi. Vì thành kiến mà bà cô Thị Nở không cho Thị Nở giao du và lấy Chí. Khi xách dao đến giết Bá Kiến và tự sát chứng tỏ anh hoàn toàn tỉnh táo. Đây là lời tố cáo quyết liệt của nhà văn đối với xã hội có những kẻ cầm quyền như Bá Kiến. Bọn người thâm hiểm, tham lam và tàn độc ấy đã cướp đi của con người bản chất lương thiện. Cướp đi của người khác bất cứ thứ gì cũng là tội ác, nhưng cướp đi của con người hạnh phúc, ước mơ, bản chất lương thiện là tội ác dã man nhất, nó dã man hơn cả tội giết người. 5. Đặc sắc trong ngôn ngữ kể chuyện của tác giả và ngôn ngữ nhân vật Giọng điệu trần thuật có sự kết hợp hài hòa giữa đối thoại với độc thoại, giữa lời gián tiếp và lời nửa tiếp. Vì vậy, nhiều đoạn có sự lồng ghép giữa ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật. Ví dụ: đoạn kể về tiếng chửi của Chí, đoạn tả tâm trạng Chí sau cuộc gặp với Thị Nở và khi bị từ chối… Đối thoại Chí với Bá Kiến, Chí với Thị Nở… Giọng điệu trần thuật này là những đóng góp quan trọng của Nam Cao trong quá trình hiện đại hóa của thể loại truyện ngắn hiện đại Việt Nam. 6. So sánh hai truyện ngắn Lão Hạc và Chí Phèo để thấy nội dung hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm của Nam Cao Cả hai tác phẩm đều khai thác đề tài số phận người nông dân nghèo ở nông thôn Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến. Qua số phận cùng cực của họ, nhà văn đã phản ánh một cách chân thực và sâu sắc xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Giá trị nhân đạo được thể hiện ở sự đồng cảm sâu sắc của nhà văn đối với bi kịch của người nghèo và phát hiện ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp vững bề của người lương thiện trong mỗi nhân vật. Song ở mỗi tác phẩm nhà văn lại có những sáng tạo riêng trong việc thể hiện tư tưởng nhân đạo. Với nhân vật lão Hạc, nhà văn để nhân vật của mình vào một cuộc lựa chọn giữa cái chết và sống. Lão Hạc đã chọn cái chết để giữ được cho con trai mảnh vườn. Lão Hạc là một người nông dân có bản chất lương thiện và tấm lòng nhân hậu. III. TƯ LIỆU THAM KHẢO “… Nam Cao đã diễn tả với một sức mạnh lạ thường quá trình lưu manh hóa của một số quần chúng cơ bản trong hoàn cảnh bị đè nén, áp bức, bóc lột của xã hội cũ. Nhân vật Nam Cao thường trải qua chuyển biến. Trong truyện Tư cách mõ Nam Cao viết: “Người ta tưởng ông trời sinh hắn ra như thế để mà làm mõ… Không!… Mới chỉ cách đây ba năm hắn vẫn còn được gọi là anh cu Lộ. Anh cu Lộ hiền như đất. Cờ bạc không, rượu chè không. Anh chỉ chăm chăm chú chú làm để nuôi vợ nuôi con”. Chí Phèo hiện ra chỉ biết chửi rủa, kêu làng, vu vạ, cướp bóc, đâm chém, nhưng có một thời hắn là người “hiền lành như đất”, Lí Kiến phải lấy làm “tội nghiệp” thấy hắn “vừa bóp đùi cho bà ba, vừa run run”. Chí Phèo phá phách, hủy hoại chung quanh và tự hủy hoại mình, những hành động hầu như không tự giác, như sai khiến bởi một lực lượng vô hình. Thị Nở, tâm hồn vừa hé nở đón lấy hạnh phúc, đã vội cắt đứt với Chí Phèo: “Thị trút vào mặt hắn tất cả lời bà cô”. Mới thoáng yêu nhau, họ bỗng trở thành thù địch và cả thị lẫn Chí Phèo cũng chả hiểu ra làm sao cả. Nhân vật Nam Cao thường không làm được những điều mình muốn và bắt buộc phải làm những điều không muốn…” Lê Đình Kỵ (Nam Cao, con người và xã hội cũ, Theo Nam Cao, về tác giả và tác phẩm, Sđd, tr.58-59) “Giữa lúc người ta đang đắm mình trong những truyện tình mơ mộng và hùa nhau “phụng sự ” cái thị hiếu tầm thường của độc giả, ông Nam Cao đã mạnh bạo đi theo một lối riêng, nghĩa là ông đã không thèm đếm xỉa đến cái sở thích của độc giả. Những cạnh sắc của tài ông đã đem đến cho văn chương một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con người biết tin ở tài mình, ở thiên chức của mình. Quyển Đôi lứa xứng đôi có được độc giả hoan nghênh hay không, đó là một điều tôi chưa cần biết, tôi chỉ biết rằng lúc viết nó, ông Nam Cao đã không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói, không tả theo lối người ta đã tả. Ông đã dám bước chân vào làng văn với những cạnh sắc của riêng mình… Dám nói và dám viết những cái khác người, ông Nam Cao đã đem đến cho ta những khoái cảm mới mẻ và ông đã tỏ ra một người có can đảm…”. (Lê Văn Trương, Tựa Đôi lứa xứng đôi, 1941. Theo Nam Cao, về tác giả và tác phẩm, Sđd, tr.108-112)
Soạn bài lớp 11_ Chí Phèo
1,965
Soạn bài lớp 11: Chạy giặc Hướng dẫn Soạn bài: Chạy giặc Soạn bài: Chạy giặc do Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về nỗi đau đớn của người dân mất nước chứng kiến cảnh giặc Pháp tấn công và đánh chiếm quê hương của mình giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Cha Tôi Soạn bài lớp 11: Luyện tập phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận CHẠY GIẶC Nguyễn Đình Chiểu I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm lược Việt Nam. Nhưng chúng đã gặp sự kháng cự của quân triều đình và nhân dân. Thực dân Pháp quay sang tiến vào Sài Gòn, tràn tới sống Bến Nghé. Nhà thơ đã chứng kiến cảnh nhân dân chạy loạn và viết bài Chạy giặc. Bài thơ thể hiện lòng yêu nước nồng nàn của nhà thơ và nỗi đau của ông khi phải chứng kiến cảnh nước mất nhà tan. 2. Mặc dù đôi mắt lúc đó đã mù loà, nhưng nỗi đau đớn của một người dân mất nước, hàng ngày chứng kiến cảnh giặc Pháp tấn công và đánh chiếm quê hương đã khiến Nguyễn Đình Chiểu hình dung, tưởng tượng thật rõ ràng cảnh nước mất nhà tan. Ông đã vẽ nên bức tranh đầy máu và nước mắt về một thời điểm lịch sử đen tối của dân tộc. Bài thơ là bức tranh hiện thực những ngày đất nước rơi vào nạn xâm lăng và cũng là tấm lòng của Đồ Chiểu đối với đất nước. 1. Chủ đề của bài thơ thể hiện tấm lòng yêu nước thương dân, tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Bài thơ tái hiện cảnh đau thương của đất nước trong những ngày đầu giặc Pháp đánh chiếm Việt Nam bằng một hệ thống hình ảnh giàu sức gợi. Hệ thống các chi tiết, hình ảnh trong bài thơ có tính thống nhất cao. Tiếng súng Tây dội xuống dẫn đến cảnh tượng thương tâm. Con người, chim chóc, thiên nhiên đều trong dáng vẻ tan tác, xác xơ. Qua bức tranh hiện thực ấy, tác giả bộc lộ tấm lòng tha thiết của mình đối với dân tộc. 2. Tuy bị mù lòa nhưng nhà thơ vẫn miêu tả rất sống động cảnh chạy giặc thông qua một số hình ảnh cụ thể điều đó thể hiện tấm lòng tha thiết chân thành của người viết. Những hình ảnh tuy cụ thể nhưng mang tính khái quát hóa rất cao. Với nỗi đau và niềm đau đáu tình quê hương đất nước nhà thơ đã cảm nhận rất rõ và rất cụ thể nỗi đau của dân tộc. Những hình ảnh ấy không đơn giản là những điều mắt thấy tai nghe mà nó là kết quả của một tình yêu đất nước thiết tha. 3. Nhân vật trữ tình đã thể hiện nỗi đau của một người dân đang đứng trước cảnh nước mất nhà tan với những cung bậc và sắc thái khác nhau. Hai câu đầu là lời kể, tái hiện lại một tình huống, nhưng đã ẩn chứa nỗi lòng nhà thơ qua trong hình ảnh “bàn cờ phút sa tay”. Tình hình đất nước đã rơi vào cảnh nguy khốn. Nỗi lo lắng, sự chua xót, sự bàng hoàng thể hiện ở các từ ngữ “vừa nghe”, “phút sa tay”. Nguy cơ nước mất, dân tộc mất tự do được khái quát ở hình ảnh “bàn cờ thế phút sa tay”. 4. Trước cảnh tang thương của đất nước nhà, tác giả cất tiếng cầu cứu tha thiết: Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng Nỡ để dân đen mắc nạn này? Đây là một câu hỏi tu từ. Giọng điệu vừa đau xót, vừa trách móc, vừa day dứt. Tác giả đã dùng từ “trang” để chỉ những người có trách nhiệm trong việc đánh giặc giữ nước. Cách xưng hô ấy không đơn giản là thể hiện sự kính trọng của ông đối với những người có trách nhiệm, có chí lớn, có tấm lòng với dân tộc. Ẩn chứa sau đó còn là nỗi hoài nghi, sự trách móc chua xót, là niềm mong mỏi của nhân dân dành cho những người có đủ sức đủ quyền và có trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc. Chính từ “nỡ” ở câu kết đã thể hiện điều đó. Câu kết cũng chính là niềm mong mỏi thống thiết của Đồ Chiểu và của nhân dân. Họ mong mỏi có những người có đủ sức, đủ tài và đủ tâm đứng lên thực hiện nhiệm vụ đánh giặc giữ nước. Câu hỏi kết thức bài thơ đã tạo nên âm hưởng thật thống thiết cho toàn bài thơ, đồng thời thể hiện tấm lòng đau đáu nỗi niềm non nuớc của ông Đồ Chiểu.
Soạn bài lớp 11_ Chạy giặc
851
Soạn bài lớp 11: Chữ người tử tù Hướng dẫn Soạn bài: Chữ người tử tù Soạn bài lớp 11: Chữ người tử tù do Nguyễn Tuân sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về cuộc tương phùng kỳ ngộ của những tri kỷ giữa chốn ngục tù xoay quanh việc xin chữ và cho chữ của tử tù, quản ngục và thầy thơ lại giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Tác giả Nguyễn Khuyến Soạn bài lớp 11: Ngữ cảnh Bài giảng Chữ người tử tù Ngữ văn 11 Giáo án bài Chữ người tử tù Phân tích nhân vật viên quản ngục trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ Nguyễn Tuân I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Nguyễn Tuân (1910-1987), quê làng Mọc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Nguyễn Tuân là nhà văn có tài năng và tài hoa đặc biệt của văn học Việt Nam. Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình nhà Nho vào thời buổi Hán học đã lụi tàn. Ông chịu ảnh hưởng từ người cha là một nhà Nho tài hoa bất đắc chí là ông tú Nguyễn An Lan. Nhiều tác phẩm của Nguyễn Tuân thể hiện sự hoài niệm về những nét đẹp văn hoá cổ truyền đã mất đi. Trong đó, tiêu biểu nhất là tập truyện “Vang bóng một thời”. Chữ người tử tù là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước cách mạng. Truyện ngắn có một tình huống truyện rất độc đáo. Huấn Cao là một tử tù nhưng lại là người đại diện cho thiện lương, là một nghệ sĩ ban phát cái đẹp. Viên quản ngục là người đại diện cho chính quyền nhưng lại là người được nhận cái đẹp từ người tử tù. Qua truyện ngắn này, nhà văn muốn thể hiện quan niệm của mình về cái đẹp, về thiên lương. Đó là: cái đẹp, thiện lương có sức mạnh cảm hóa con người. Người biết thưởng thức cái đẹp là người tốt, là người có thiên lương và họ là một người nghệ sĩ. II. TÓM TẮT TÁC PHẨM Truyện được dựng trên một tình huống oái ăm, đầy kịch tính xoay quanh việc xin chữ và cho chữ của tử tù, quản ngục và thầy thơ lại. Quản ngục và thầy thơ lại lại rất yêu cái đẹp, trọng cái tài. Khi nghe tin Huấn Cao, người có tài viết chữ đẹp mà cả đời quản ngục ngưỡng mộ nhưng cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình đã bao lần “bẻ khoá vượt ngục”, sẽ được đưa đến nhà lao chờ ngày lĩnh án, viên quản ngục mong muốn xin chữ. Quản ngục chờ đợi trong những trăn trở suy nghĩ. Ông Huấn Cao được đưa đến nhà lao. Ông xuất hiện trong tư thế hiên ngang. Nhà tù đón tù nhân rất nhã nhặn, khác những lần trước. Quản Ngục bất chấp phép nước đối xử rất tận tình, chu đáo và đặc biệt với Huấn Cao ngay cả khi Huấn Cao tỏ ra lạnh lùng, khin. Sự kiên trì, chờ đợi, hi vọng được gặp và cậy nhờ xin chữ Huấn Cao của Quản Ngục cứ khắc khoải nặng nề một ngày dài tựa thiên thu. Ông “khổ tâm nhất là có Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết thế nào mà xin được chữ”, ông cũng “không can đảm giáp mặt một người cách xa nhiều quá”. Ông phập phồng lo lắng “mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời”. Và “Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục tái nhợt người đi sau khi tiếp nhận công văn của Quan Hình Bộ Thượng thư bắt giải ông Huấn…. vào Kinh” để ra pháp trường. Viên thơ lại giúp ông bày tỏ nỗi lòng với Huấn Cao. Huấn Cao thực sự xúc động trước “sở thích cao quý” của quản ngục, cảm cái tấm ”lòng biệt nhỡn liên tài” mà chủ động cho chữ. Cảnh cho chữ diễn ra trong căn phòng giam chật hẹp, ẩm thấp được Nguyễn Tuân tập trung miêu tả thành một “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. III. RÈN KĨ NĂNG 1. Có thể chia tác phẩm thành ba phần: Phần 1 (đoạn 1): Tâm trạng và nỗi lòng của viên quản ngục khi nhận được trát báo tử tù Huấn Cao, một người có tài viết chữ đẹp nổi tiếng vùng tỉnh Đông sẽ được đưa đến giam tại nhà ngục do ông ta quản lí. Nhân vật viên quản ngục được miêu tả là một người có tấm lòng, “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”. Phần 2 (đoạn 2): Huấn Cao được đưa đến, viên quản ngục tiếp đón đoàn tù binh khác ngày thường. Huấn Cao hiên ngang giữa chốn ngục tù, thản nhiên đón nhận sự biệt đãi của viên quản ngục. Viên quản ngục mong chờ ngày xin được chữ của Huấn Cao để treo trong nhà. Phần 3 (đoạn 3): Cảnh cho chữ. Huấn Cao viết chữ tặng viên quản ngục giữa căn phòng giam chật trội, tối tăm. Khi cho chữ, Huấn Cao khuyên viên quản ngục nên từ bỏ công việc cai ngục để giữ vững thiện lương. Nhân vật viên quản ngục là một sáng tạo thành công và tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. Nhà văn đã phát hiện và ngợi ca vẻ đẹp nghệ sĩ ở viên quản ngục, một kẻ gần cả đời người gắn với tội ác và chết chóc. Dù làm cái nghề cai ngục trong xã hội cũ, nhưng viên quản ngục là người biết trọng tài năng và cái đẹp. Nhà văn đã dùng một hình ảnh so sánh rất độc đáo để viết về viên quản ngục, “là thanh âm trong trẻo giữa bản đàn mà nhạc luật đều đã xô bồ”. Nhân vật viên quản ngục đã chứng tỏ rằng cái đẹp có khả năng cảm hoá con người, giúp con người biết sống tốt hơn. 3. Truyện được dựng trên một tình huống oái ăm, đầy kịch tính đó là cuộc tương phùng kỳ ngộ của những tri kỷ giữa chốn ngục tù xoay quanh việc xin chữ và cho chữ của tử tù, quản ngục và thầy thơ lại. Là người nắm giữ quyền lực nơi đề lao tăm tối, quản ngục và thầy thơ lại lại rất yêu cái đẹp, trọng cái tài. Là người có tài viết chữ đẹp mà cả đời quản ngục ngưỡng mộ nhưng cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình đã bao lần “bẻ khoá vượt ngục”, Huấn Cao xuất hiện giữa đề lao trong vai một tử tù đang chờ ngày lĩnh án. Cuộc gặp gỡ của những nhân cách cao đẹp này trở thành cuộc đối đầu giữa tử tù và cai ngục. Các tình tiết sự kiện cảm xúc cứ dồn nén như thắt lại ở cao trào để tạo hứng thú nghệ thuật ở cuối truyện: cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục trong nhà giam vào đêm trước ngày ra pháp trường – “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. 4. Thành công của tác phẩm tập trung ở cảnh cho chữ. Trong cảnh này, vẻ đẹp của cả hai nhân vật đều toả sáng và đây là cảnh tượng khẳng định sự lên ngôi của tài năng và cái đẹp. Cảnh cho chữ là cảnh tượng xưa nay chưa từng có, cuộc tương phùng kỳ ngộ của những người tri kỷ giữa chốn ngục tù xoay quanh việc xin chữ và cho chữ của tử tù, quản ngục và thầy thơ lại. Đây là một tình huống độc đáo: cái đẹp được sáng tạo trong tù ngục. Người cho chữ là tử tù, người nhận chữ là quản ngục. Cái ác cúi đầu trước thiên lương, cái thiên lương được tôn vinh nơi cái ác ngự trị. Vẻ đẹp của tài năng và thiên lương đã toả sáng nơi tăm tối nhất. Đó là sự vững bền và bất khuất của chân lí. 5. Nhà văn đã sử dụng rất thành công thủ pháp nghệ thuật đối lập khi dung cảnh cho chữ của Huấn Cao giữa chốn ngục tù. Một công việc thanh cao được thực hiện giữa chốn tăm tối, một ngọn đuốc sáng, một vuông lụa trắng tính giữa căn phòng ẩm thấp đầy mạng nhện, người tử tù cổ đeo gông là người nghệ sĩ hiên ngang sáng tạo cái đẹp, viên quan cai ngục vốn là chủ của ngục tù khúm núm cúi đầu trước cái đẹp và trước tài năng… Đó là những hình ảnh tương phản. Những hình ảnh tương phản ấy đã tôn vinh vẻ đẹp của tài năng, khí phách, thiên lương. Cái đẹp đã tỏa sáng và được tôn vinh giữa nơi mà tội ác, sự tối tăm từng ngự trị. 6. Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện ở chỗ nhà văn luôn tiếp cân đối tượng từ phương diện văn hóa thẩm mĩ. Ông đặc biệt chú ý đến cái tài và cái tâm của nhân vật. Trước cách mạng, nhà văn đặc biệt chú ý đề cao cái đẹp, nhất là những nét đẹp văn hóa truyền thống ẩn trong Chữ người tử tù, quan điểm nghệ thuật của nhà văn được tập trung thể hiện ở nhân vật Huấn Cao. Qua nhân vật này nhà văn đề cao vẻ đẹp của tài năng, thiên lương và khí phách. Huân Cao là sự kết hợp hoàn mĩ giữa tài và tâm. Còn nhân vật viên quản ngục là một chúng minh của nhà văn về sức mạnh cảm hóa của cái đẹp. Người sáng tạo ra cái đẹp là người tốt và người biết thưởng thức cái đẹp cũng là người có thiên lương. III. TƯ LIỆU THAM KHẢO 1. Về tác giả … “Nói đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩa đến cái gọi là chủ nghĩa xê dịch. Con người thích chơi ngông ấy rất khoái khi ném ra được những nghịch lý, nghịch thuyết. Chủ nghĩa xê dịch cũng là một thứ nghịch thuyết. Đi không cần mục đích, không cần nơi đến, cốt là cứ được lăn cái vỏ mình mãi mãi trên mặt đất này, dù bằng phương tiện nào, dù đi nhanh hay đi chậm, thậm chí ngồi trên xe hồ lô lăn đường cũng được. Thứ lý thuyết này thực ra chẳng phải do Nguyễn Tuân sáng tạo ra. Ông vay mượn nó ở phương Tây. Người đầu têu ra hình như là nhà triết học Nitso, kế đó là những Angđrê Giđơ, Pôn Môrăng v.v.. Cái lý thuyết nghe có vẻ vớ vẩn như thế thôi ấy vậy mà có một thời cũng hấp dẫn đáo để… … Người ta còn gán cho Nguyễn Tuân một nghịch thuyết khác: Chủ nghĩa ẩm thực. Chính Nguyễn Tuân cũng có lúc tự thấy mình có một cái nhìn sự vật riêng gọi là “Nhỡn quan ẩm thực”. Thực ra nói nhiều về cái ăn, về miếng ăn, đâu có riêng gì Nguyễn Tuân? Ngày xưa có ai đó đã biên soạn cuốn Tản Đà thực phẩm. Ông bạn vong niên này của Nguyễn Tuân vẫn nổi tiếng là người ăn uống sành sỏi và cầu kỳ lắm. Thế hệ sau thì có Thạch Lam, tác giả Hà Nội băm sáu phố phường. Nguyên Hồng cũng hay tả tỉ mỉ những bữa ăn, những món ăn. Nam Cao thì hay triết lý về miếng ăn đối với người nghèo. Vũ Bằng thường viết lối phóng sự tả chân sau này bỗng chuyển sang giọng văn trữ tình khi nhớ lại những miếng ngon Hà Nội (Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội)… Chung quanh miếng ăn, vậy mà cũng đã phân hóa lắm phong cách nghệ thuật khác nhau. Ví như Nguyên Hồng cũng là một cây bút viết rất hay về miếng ăn. Nhưng nhìn chung ôngthành công hơn cả vẫn là khi tiếp cận miếng ăn từ khẩu vị của những người nghèo khổ. Miếng ăn trong văn Thạch Lam, Vũ Bằng thì lại được tiếp cận từ khẩu vị của những lớp thị dân Hà Nội. Nam Cao cũng hay viết về vấn đề miếng ăn và viết với tất cả tâm huyết của mình (Một bữa no, Trẻ con không biết ăn thịt chó, Quên điều độ, Sống mòn…). Nhưng ông không bàn luận về miếng ăn như là một thứ thực phẩm. Ông đau đớn đề cập đến cái phương diện: miếng ăn là miếng nhục. Nhân vật của Nam Cao thường bị cái đói, cái nghèo đẩy tới chỗ phải vứt bỏ nhân cách, phải chịu bị lăng nhục vì miếng ăn. Nguyễn Tuân cũng viết rất hay về miếng ăn, nhưng lại có một cách tiếp cận riêng không lẫn với ai. Đọc văn Nguyễn Tuân thấy con người trước miếng ăn chẳng những không hèn đi mà còn trở nên sang trọng hơn. Chẳng những không bị phàm tục hóa mà còn trở nên có tư cách hơn, có văn hóa, có thẩm mĩ hơn, có tâm hồn hơn, ấy là vì Nguyễn Tuân không nhấm nháp miếng ăn bằng vị giác, nghĩa là tiếp cận nó chỉ như một của ngon. Ông tìm hiểu và đánh giá chén trà buổi sớm, hạt cốm mùa thu, bát phở mùa đông, miếng giò ngày Tết v.v.. ở bình diện văn hóa- lịch sử và thưởng thức những mĩ vị ấy một cách đầy tự hào như những công trình nghệ thuật tuyệt vời mà ông gọi là “đỉnh cao của một dạng văn hóa dân tộc”… (Giò lụa) (Nguyễn Đăng Mạnh, Cảnh sắc và hương vị đất nước qua văn Nguyễn Tuân. Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Sđd, tr.154-159) … “Vang bóng một thời viết về một thời đã qua nay chỉ còn vang bóng, song chưa phải là xa lắm: thời Tây vừa mới đặt xong ách đô hộ lên đất nước, phong trào Cần Vương đã thất bại, những nhà nho lủi thủi dự “khoa thi cuối cùng” trong không khí loạn lạc đầy lo âu… Viết về cái thời xã hội phong kiến suy tàn ấy, nhà văn hầu như chỉ đi vào những nét sinh hoạt tài hoa, cầu kỳ của lớp nho sĩ cuối mùa. Nhân vật trong Vang bóng một thời thuộc loại tài hoa, tài tử và mỗi truyện tập trung nói về một cái “tài” một kiểu ăn chơi “phong lưu” của họ. Đó là ông Huấn Cao có “cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp” (Chữ người tử tù), là cụ Sáu, ông Đốc học, sư cụ chùa Đồi Mai… những người thưởng thức một ấm trà mà thành kính, thiêng liêng, pha trà bằng nước giếng gánh tận trên đồi cao, hoặc nước đọng trên lá sen mặt hồ một buổi sớm…” (Nguyễn Hoành Khung, Từ điển văn học, tập II, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1964) 3. Về tác phẩm “Những nhà văn có phong cách đều tạo ra cho mình một thế giới nhân vật riêng. Thế giới nhân vật của Nguyễn Tuân, nói chung gồm hai loại người đối lập nhau: Loại người tài hoa nghệ sĩ, có nhân cách, có “thiên lương”, tự đặt mình lên trên hạng người thứ hai gồm những kẻ tiểu nhân phàm tục, bằng thái độ ngạo đời, khinh bạc. Loại người thứ nhất, theo Nguyễn Tuân, thường là những linh hồn đẹp còn sót lại của một thời gian đã qua, nay chỉ còn “vang bóng”. Loại người ấy cố nhiên là hiếm hoi. Còn kẻ tiểu nhân phàm tục thì đầy rẫy trong thiên hạ. Chữ người tử tù dựng lên một thế giới tối tăm, tù ngục, trong đó kẻ tiểu nhân, bọn độc ác bất lương làm chủ. Trên cái tăm tối ấy, hiện lên ba đốm sáng lẻ loi, cô đơn: Huấn Cao, người quản ngục và viên thơ lại – những con người có tài và biết trọng tài, có nghĩa khí và biết trọng nghĩa khí. Họ tình cờ gặp nhau trong một tình thế oái oăm, từ chỗ ngờ vực nhau, đối địch nhau, dần dần đi đến hiểu nhau và trở thành tri kỷ. Ba đốm sáng cô đơn ấy cuối cùng tụ lại, tạo thành ngọn lửa ngùn ngụt rực sáng giữa chốn ngục tù- “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Cái đẹp, cái tài, sự trong sạch của tâm hồn đã tập hợp họ lại giữa cái nơi xưa nay chỉ có gian ác, thô bỉ và hôi hám: “ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi trên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ”. Đây là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái tài, cái đẹp đối với cái nhem nhuốc, tục tằn, của thiên lương đối với tội ác…” (Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Sđd, tr.168-169)
Soạn bài lớp 11_ Chữ người tử tù
2,920
Soạn bài lớp 11: Hai đứa trẻ Hướng dẫn Soạn bài: Hai đứa trẻ Soạn bài lớp 11: Hai đứa trẻ do Thạch Lam sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về giá trị hiện thực được tái hiện một cách chân thực cuộc sống buồn tẻ nơi phố huyện qua đó phần nào phản ánh hiện thực đen tối của xã hội Việt Nam trước cách mạng giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Bài ca ngất ngưởng Soạn bài lớp 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam Phân tích hình ảnh chuyến tàu đêm chạy qua phố huyện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam HAI ĐỨA TRẺ Thạch Lam I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Thạch Lam (1910 – 1942) tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi thành Nguyễn Tường Lân. Ông cùng với Nhất Linh và Hoàng Đạo là những cây bút chủ lực của nhóm Tự lực văn đoàn. Tác phẩm chính bao gồm các tập truyện ngắn: Gió đầu mùa, Nắng trong vườn, Sợi tóc, tiểu thuyết Ngày mới, tiểu luận Theo dòng, tuỳ bút Hà Nội băm sáu phố phường. Hai đứa trẻ là truyện ngắn xuất sắc, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam. Tác phẩm thuộc loại truyện nagứn trữ tình, qua tâm trạng của hai đứa trẻ và cảnh sống nghèo cực của những người dân nơi phố huyện nhà văn đã thể hiện những tư tưởng nhân đạo sâu sắc về thân phận con người. Và vậy, tác phẩm vừa có giá trị hiện thực, vừa thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Vận dụng các thủ pháp nghệ thuật đối lập, tương phản, nhà văn đã đặc tả được cảnh nghèo và tương lai không mấy sáng sủa của những người dân phố huyện. Hai đứa trẻ là câu chuyện về một ngày thường như bao ngày tháng khác ở một phố huyện. Nhà văn chọn bối cảnh là một ngày chợ phiên. Và thời điểm bắt đầu truyện là cảnh chợ chiều vừa tàn. Các tình tiết được kể tự nhiên theo chiều thời gian tuyến tính. Liên và An dọn hàng và bắt đầu ngồi chờ đợi chuyến tàu đêm. Cuộc sống của chị em Liên và những người dân nơi phố huyện như vợ chồng bác Xẩm, mẹ con chị Tý, bác phở Siêu đều chẳng có gì đặc biệt. Tất cả đều bàng bạc, lặng lẽ và lầm lụi. Chuyện chợ tàn, chuyện chờ đợi chuyến tàu đêm đi qua với một chút hy vọng được nhìn thấy trong một khoảnh khắc rất ngắn thứ ánh sáng sang trọng trên những toa tầu, hồi ức về những ngày sống sung sướng ở Hà Nội của hai đứa trẻ và những suy nghĩ của cô bé Liên là tất cả tình tiết cơ bản của câu chuyện. Một câu chuyện dung dị, đời thường, không tô vẽ và một lối kể chuyện như tâm tình thủ thỉ với chính mình đã tạo nên thành công cho tác phẩm. Giá trị hiện thực thể hiện ở chỗ nhà văn đã tái hiện một cách chân thực cuộc sống buồn tẻ nơi phố huyện qua đó phần nào phản ánh hiện thực đen tối của xã hội Việt Nam trước cách mạng. Tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc, đó là sự cảm thông của nhà văn đối với những kiếp người nhỏ bé, nhà văn đã lên tiếng đòi quyền sống cho những thân phận vô danh đồng thời ckhẳng định sức sống mãnh liệt không gì có thể hủy diệt được của những những người dân nơi phố huyện. Qua diễn biến nội tâm của nhân vật nhà văn đã thể hiện thật sâu sắc tấm bi kịch tinh thần của những con người nhỏ bé. Những kiếp người nhỏ bé vô danh nơi phố huyện nhỏ ấy rất dễ bị xã hội lãng quên. Tâm trạng của Liên cũng là tâm trạng chung của bao người đang phải sống trong bế tắc của những thân phận nhỏ bé, nghào hèn. Nhà văn đã thể hiện một niềm cảm thông sâu sắc và tình thương yêu đối với những người không may mắn ấy. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Bức tranh phố huyện được nhà văn miêu tả theo trình tự thời gian tuyến tính (trước – sau). Theo đó truyện ngắn Hai đứa trẻ có thể phần làm ba cảnh: cảnh chiều xuống (chợ tàn), cảnh đêm về và cảnh đêm khuya. Cảnh chiều xuống (đoạn 1, 2): Trong đoạn này nhà văn tập trung miêu tả cảnh chợ tàn nơi phố huyện, một phiên chợ nghèo của một vùng quê nghèo. Cảnh đêm về (đoạn 3) miêu tả phố huyện đêm về với một số hoạt động bán hàng, trò chuyện của các cư dân phố huyện. Cảnh đêm khuya (đoạn 4, 5) tái hiện lại cảnh đoàn tàu đến và không gian tĩnh lặng của phố huyện khi con tàu đi qua. Toàn bộ bức tranh phố huyện được nhìn qua tâm trạng của cô bé Liên, một cô bé đảm đang, tốt bụng với một tâm hồn đa cảm. Điều này đã làm nên chất trữ tình cho câu chuyện. Tâm trạng của Liên được miêu tả gắn liền với không gian phố huyện: buồn man mác, mơ hồ khó hiểu trước bức tranh cuộc sống nghèo phố huyện lúc chiều xuống; buồn khắc khoải trong cảnh chờ đợi một điều gì tốt đẹp hơn; buồn thấm thía khi chuyến tàu đi qua. Là nhân vật trung tâm của truyện những hành động của Liên không được chú tâm miêu tả. Câu chuyện như một dòng tâm trạng của nhân vật, từ khi chứng kiến cảnh chiều xuống đến khi chuyến tàu đêm đi qua. Có thể nói nhân vật Liên thuộc loại nhân vật trữ tình trong văn xuôi. Qua những cảm nhận của Liên về cảnh vật và cuộc sống xung quanh nhà văn thể hiện một nỗi buồn thấm thía và sâu sắc về số phận con người. Nỗi buồn của cô bé Liên cứ tăng tiến dần theo sự muộn dần của đêm. Khi chợ tàn và khi nhìn cảnh chiều đến, một buổi chiều êm như ru của phố huyện, lòng Liên man mác buồn mà không rõ nguyên nhân. Khi bóng đêm bao trùm phố huyện, “một đêm mùa hạ êm như nhung”, lại càng đáng sợ hơn. Cuộc sống quá buồn tẻ. Chẳng hứa hẹn một điều gì thay đổi cả. Nỗi buồn của Liên không trực tiếp thể hiện qua ngôn ngữ mà thể hiện ở ánh mắt “trong mắt chị bóng tối ngập đầy dần”, qua tâm trạng chờ đợi chuyến tàu đêm. Chị em Liên cùng những người dân phố huyện đã hàng đêm miệt mài ngồi chờ đợi chuyến tàu đêm đi qua với chút hy vọng vô cùng mong manh. Liên và An háo hức chờ đợi chuyến tàu để được gặp lại chút ánh sáng của những ngày còn được sống sung túc. Những người bán hàng chờ đợi khách xuống tàu dù họ vẫn biết chẳng mấy khi có khách xuống ở cái ga xép này. Chuyến tàu là nơi gửi gắm niềm hy vọng hàng đêm của họ và nó mang đến phố huyện một luồng ánh sáng mới dù chỉ trong chốc lát để họ có thể thoát ra khỏi sự yên ả đến ghê sợ của đêm. Đó là thời điểm vui nhất của chị em Liên bởi chuyến tàu là thứ ánh sáng tinh thần duy nhất để chị hồi ức lại những ngày đã qua. Qua dòng nội tâm của nhân vật có thể thấy rằng: khi miêu tả nội tâm nhân vật, Thạch Lam chú ý và có tài trong việc diễn tả những biến đổi tinh tế, những cảm nhận mơ hồ, sự pha trộn buồn vui lẫn lộn của nhân vật. Chuyến tàu mang đến chút sôi động trong chốc lát nhưng cũng lại làm tăng lên cái ảm đạm và tĩnh mịch của đêm phố huyện. Qua diễn biến nội tâm của nhân vật nhà văn đã thể hiện thật sâu sắc tấm bi kịch tinh thần của những con người nhỏ bé. Những kiếp người nhỏ bé vô danh nơi phố huyện nhỏ ấy rất dễ bị xã hội lãng quên. Tâm trạng của Liên cũng là tâm trạng chung của bao người đang phải sống trong bế tắc của những thân phận nhỏ bé, nghào hèn. Nhà văn đã thể hiện một niềm cảm thông sâu sắc và tình thương yêu đối với những người không may mắn ấy. Nhà văn đã dùng ánh sáng để miêu tả bóng tối, ánh sáng ngọn đèn dầu ở hàng nước chị Tý, ở gánh phở của bác phở Siêu làm nổi bật sự mênh mông của đêm tối ở làng quê. Nghệ thuật tương phản làm người đọc cảm nhận rõ hơn sự mênh mông của đêm tối. Còn ánh sáng đoàn tầu vụt qua trong thoáng chốc với những ồn ào và sôi động của nó càng tăng thêm sự tĩnh mịch, tăm tối và buồn tẻ nơi phố huyện nghèo. Và ánh sáng ngọn đèn dầu của chị Tý chập chờn đi vào giấc ngủ của Liên – hình ảnh kết thúc câu chuyện – đã để lại một niềm day dứt, một dư âm cho tác phẩm. Nhà văn lặp lại nhiều lần chi tiết ngọn đèn con ở hàng nước chị Tý. ánh sáng ấy nhỏ nhoi yếu ớt nhưng đêm nào cũng sáng và sáng từ chập tối đến khi cả phố huyện chìm sâu vào giấc ngủ. Có thể ánh sáng nhỏ nhoi ấy là biểu tượng cho niềm tin, hy vọng, ước mơ của những người dân nghèo nơi đây. Dù cuộc sống có tẻ nhạt, có khó khăn đến đâu họ vẫn vượt lên và vẫn hy vọng. Giống như ngọn đèn của chị Tý hàng đêm vẫn leo lét sáng giữa đêm, dù nhỏ nhoi nhưng không bao giờ lụi tắt. 4. Chuyến tàu là nơi gửi gắm niềm hy vọng hàng đêm của người dân phố huyện và nó mang đến một luồng ánh sáng mới dù chỉ trong chốc lát để họ có thể thoát ra khỏi sự yên ả đến ghê sợ của đêm. Đó là thời điểm vui nhất của chị em Liên bởi chuyến tàu là thứ ánh sáng tinh thần duy nhất để chị hồi ức lại những ngày đã qua. Chuyến tàu mang đến chút sôi động trong chốc lát nhưng cũng lại làm tăng lên cái ảm đạm và tĩnh mịch của đêm phố huyện. Nhà văn đã miêu tả rất chi tiết hình ảnh đoàn tàu đêm đi qua phố huyện. Bắt đầu từ xa, khi xuất hiện ánh đèn ghi phía xa xa rồi đến âm thanh “tiếng còi” vọng lại… rồi con tàu vụt qua trong giây lát, chấm nhỏ của chiếc đèn xanh rồi đêm tối lại bao bọc xung quanh. Cách miêu tả này đã diễn tả được tâm trạng chờ đợi chuyến tàu của chị em Liên và những người dân nơi đây. Liên và An háo hức chờ đợi chuyến tàu để được sống lại những ngày quá khứ tươi đẹp và cũng là để thoát khỏi trong giây lát cuộc sống đơn điệu đến đáng sợ. Chuyến tàu là cứu cánh tinh thần cho những con người nơi đây. Chuyến tàu vụt qua rất nhanh và thường chẳng mang lại lợi ích vật chất cho con người nơi phố huyện nhưng họ vẫn cứ chờ. Sự sôi động, sang trọng của con tàu vụt qua càng làm tăng thêm sự tĩnh mịch buồn tẻ của đêm. Họ gửi gắm ước mơ vào chuyến tàu đêm với một luồng ánh sáng phù hoa tan biến rất nhanh. 5. Lời văn của Thạch Lam trong truyện ngắn Hai đứa trẻ rất bình dị nhưng luôn thấm đượm cảm xúc, tâm trạng, đó là chất trữ tình trong văn xuôi Thạch Lam. Chẳng hạn: “Chiều, chiều rồi… đưa vào” “Một mùi âm ẩm bốc lên… của quê hương này” “Những cảm giác ban ngày lắng đi trong tâm hồn Liên… tịch mịch và đầy bóng tối” 6. Qua bức tranh hiện thực phố huyện nghèo nhà văn thể hiện sự cảm thông sâu sắc đối với con người vô danh. Cuộc sống nghèo không đáng sợ bằng cuộc sống đơn điệu và tẻ nhạt, không ước mơ. Những con người nghèo khó nơi phố huyện ấy dù nhọc nhằn đến đâu cũng vẫn ước mơ và hy vọng. Họ vẫn dọn hàng, vẫn chờ khách dù biết bán hàng chẳng được bao nhiêu. Và họ đợi chuyến tàu với biết bao nhiêu hy vọng. Qua việc tả cảnh kiên trì hàng đêm chờ tàu qua rồi mới dọn hàng, mới đi ngủ của những con người ấy, nhà văn muốn thể hiện một tư tưởng nhân văn. Đó là khẳng định sự bất diệt của khát vọng, ước mơ. Cuộc sống dù nghèo khổ, tăm tối và bế tắc đến đâu cũng không thể dập tắt được hy vọng và khát vọng của con người. Tác phẩm đã thể hiện tình thương yêu vô bờ và sự trân trọng của nhà văn đối với những thân phận nhỏ bé trong xã hội III. TƯ LIỆU THAM KHẢO 1. Về tác giả … “Trong văn hóa Việt Nam trước cách mạng 1945, Thạch Lam là một trong số những nhà văn được nhiều cảm tình của người đọc. Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc. Dưới cái hình thức không những thoát ra khuôn sáo cũ của cách hành văn đương thời mà lại có rất nhiều đức tính sáng tạo ấy, văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và từng trải về sự đời. Thạch Lam có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hàng ngày. Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với những con người ở tầng lớp dân nghèo thành thị khác và thôn quê. Thạch Lam là một nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước sự sống của mọi người chung quanh. Ngày nay đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học. Mặc dù in ra ít, sách Thạch Lam có đánh dấu lại được cái tâm hồn súc tích, rộng rãi và tiến bộ của một nhà văn xuôi chân chính… … Nói đến nghệ thuật của Thạch Lam, tức là nói cụ thể đến nghệ thuật viết truyện ngắn của Thạch Lam. Một số truyện ngắn của Thạch Lam có thể coi như là mẫu mực được. Có những truyện ngắn Thạch Lam, ở cái thời bấy giờ, đọc xong thấy nó đọng lại trong người ta như một câu hỏi bức thiết của tác giả, như là một lời trách móc kín đáo của nhân vật truyện. Những vi phạm vào quyền sống của hạnh phúc tuổi trẻ, những nỗi cay đắng oan uổng của cảnh bị ép duyên, đâm đầu xuống sông mà không chết ngay được, để sau đó phải mòn chết oan trái trong chuyện Hai lần chết. Nhưng cuộc sống phụ nữ hết lo cho em lại đến lo cho chồng, cứ chìm chìm, xám xám như thế quanh một cái chợ. Những Cô hàng xén tuy không lên tiếng đòi quyền sống trong truyện, nhưng qua kẽ dòng truyện, vẫn như hỏi thầm người độc giả rằng ý nghĩa cuộc sống có phải là như thế không?…” (Nguyễn Tuân, theo Tuyển tập Thạch Lam, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.323-329) … “Trước ngọn gió đầu mùa, tôi không khỏi ngăn được những cảm giác sâu xa và mới lạ. Tôi đem tâm nghĩ ngợi đến những cơn gió đột khởi ở lòng người, báo trước những sự thay đổi trong cái bí mật của tâm hồn. Tôi lại nghĩ đến những người nghèo khổ đang lầm than trong cái đói rét cả một đời. Gió heo may sẽ làm cho họ buồn rầu lo sợ, vì mùa đông sắp tới, mùa đông giá lạnh và lầy lội phủ trên lưng họ cái màn lặng lẽ của sương mù.Và lòng tôi se lại khi nghĩ rằng chỉ một chút âu yếm, một chút tình thương, cũng đủ nâng đỡ, an ủi những người khốn ấy. Đó là những ý nghĩ mà Gió đầu mùa đã gây nên trong trí tôi. Những câu chuyện trong quyển sách này tôi viết ra cũng như những cảm giác mới mẻ mà tôi đã thấy. Tôi hết sức diễn tả cho đúng tất cả sự thực rung động và thi vị của cuộc đời. Tôi không có ý muốn kể những truyện thần tiên hay lãng mạn nhưng những cảm tưởng của tôi với các đời sống kín đáo và giản dị quanh mình. Bởi vì đối với tôi, văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”. (Thạch Lam, Lời nói đầu tập Gió đầu mùa, Tuyển tập Thạch Lam, Sđd, tr.25) 3. Về tác phẩm … “Truyện Hai đứa trẻ có một hương vị thật là man mác. Nó gợi một nỗi niềm thuộc về quá vãng, đồng thời cũng dóng lên một cái gì còn ở trong tương lai. Đây là một mẫu sinh hoạt hàng ngày và kéo dài của hai chị em đứa trẻ thay mẹ trông nom một gian hàng vặt ở một cái phố huyện, gần một cái ga xép. Đêm đêm có những bóng người bình thường lù mù đi qua trước gian hàng. Những bóng người ấy cũng lù mù như nhiều chấm lửa ở những nguồn ánh sáng quanh quất nơi phố huyện. Trong cái bốn bề chìm chìm nhạt nhạt, bỗng có những tiếng động mạnh và những luồng ánh sáng mạnh của một chuyến xe lửa kéo qua hàng ngày. Hai chị em đứa trẻ ngày nào cũng chờ một chuyến tàu đêm kéo qua rồi mới chịu đóng cửa hàng. Nơi cái thế giới quan của đôi trẻ ở một phố quê, hình ảnh đoàn tàu và cái tiếng còi tàu đã thành một thói quen của cảm xúc và của ước vọng. Đọc Hai đứa trẻ, thấy bận bịu vô hạn về một tấm lòng quê hương êm mát và sâu kín…” (Nguyễn Tuân, Tuyển tập Thạch Lam, Sđd, tr.325) … “Hai đứa trẻ là một truyện không có chuyện, nhưng lại có sức gợi thật sâu xa. Hai đứa trẻ, hai chị em có trách nhiệm trông nom một chõng hàng; việc bán buôn chắc lời lãi chẳng là bao, nhưng cũng là một khoản thu phụ thêm cho gia đình nghèo. Một chõng hàng nơi phố huyện có gì mà thành chuyện! Nhưng hoạt động của cái chõng hàng đó của hai chị em, đã thành một thói quen, theo lời dặn của mẹ, phải chờ cho đến khi chuyến tàu đêm cuối cùng từ Hà Nội về, xình xịch chạy qua, cho đến khi tiếng ầm ầm của bánh xe ngớt hẳn, rồi mới dọn hàng, tắt đèn đi ngủ, lại gợi một nỗi niềm gì thật xao xác, bâng khuâng. Cái tiếng động đêm khuya ấy lại vang vào truyện một vẻ quạnh hiu, xa vắng vô cùng. Chuyến tàu đầy ánh sáng, đi qua một ga xép, tuy có lưa thưa những ánh đèn dầu, nhưng khuất đầy bóng tối; chuyến tàu đến từ Hà Nội hoa lệ, với những khách sang và hai chị em con nhà nghèo nhìn lên cái ô cửa mà thấy con tàu mang theo đi cùng tiếng động, cả một nỗi niềm gì vừa bâng khuâng vừa sâu thẳm. Hai đứa trẻ, một truyện không có chuyện, mà ngập đầy không khí và tâm trạng. Không khí một cảnh quê, nơi có một ga xép nhờ một chuyến tàu đúng giờ ấy, khắc ấy chạy qua mà mang được chút dư âm, dư vị tỉnh thành… và từ dư âm, dư vị đó mà đưa con người vào một tâm trạng buồn vui lẫn lộn, trước một cái gì vừa thuộc về quá vãng, vừa hướng tới tương lai…”. (Phong Lê, Lời giới thiệu Tuyển tập Thạch Lam, Sđd, tr.14 -15)
Soạn bài lớp 11_ Hai đứa trẻ
3,502
Soạn bài lớp 11: Hạnh phúc của một tang gia Hướng dẫn Soạn bài: Hạnh phúc của một tang gia Soạn bài lớp 11: Hạnh phúc của một tang gia trích trong tác phẩm Số đỏ do Vũ Trọng Phụng sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về một đám tang, nhà văn đã vạch trần thói đạo đức giả của một đại gia đình bất hiếu, từ đó phản ánh sự xuống cấp của đạo đức xã hội giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia Soạn bài lớp 11: Lập luận so sánh Soạn bài lớp 11: Viết đoạn văn lập luận so sánh HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA (Trích Số đỏ) Vũ Trọng Phụng I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) quê ở làng Hảo (Bần Yên Nhân), huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, nhưng ông sinh ra, lớn lên và mất ở Hà Nội. Ông viết văn sớm, có truyện đăng báo từ 1930. Vũ Trọng Phụng viết nhiều thể loại nhưng nổi tiếng với hai thể tiểu thuyết và phóng sự. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng tập trung vạch trần những ung nhọt thối tha trong xã hội Việt Nam những năm ba mươi. Những lố lăng, kệch cỡm của lối sống Âu hoá nửa vời, những sản phẩm nhục nhã của văn hoá nô dịch đã được ghi nhận bằng một ngòi bút sắc sảo, cay nghiệt và đanh đá. Phóng sự, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng thể hiện thái độ gay gắt của ông với xã hội đương thời. Vì lao động quá sức, nhà văn đã mắc bệnh lao và mất khi còn rất trẻ, lúc mới 27 tuổi. Số đỏ là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng. Tác phẩm là một vở đại hài kịch nhiều màn phản ánh chi tiết một Tấn trò đời. Mỗi chương là một tiếng cười sâu cay của tác giả ném vào mặt xã hội đương thời. Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thuộc chương XV của tác phẩm. Qua miêu tả một đám tang, nhà văn đã vạch trần thói đạo đức giả của một đại gia đình bất hiếu, từ đó phản ánh sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Tính chất trào phúng của đoạn trích thể hiện: Tình huống đầy mâu thuẫn: tang gia hạnh phúc. Cái chết của cụ tổ làm cho đám con cháu sung sướng. Niềm hạnh phúc lớn nhất, lâu bền nhất và chung nhất mà cái chết cụ Tổ mang lại cho mọi thành viên trong gia đình là được thừa hưởng tài sản. Thản nhiên khi miêu tả đám tang, nhà văn đã ném vào cái “xã hội chó đểu” những lời chửi cay nghiệt nhất. Đám tang rất to, đầy đủ nhưng xô bồ, láo nháo, con cháu và người đi đưa đều chẳng chú ý gì đến người chết. Qua đám tang nhà văn đã khái quát bộ mặt của xã hội Việt Nam trong một giai đoạn vô cùng phức tạp, giai đoạn có sự chuyển đổi mạnh mẽ về nhiều mặt do có sự giao lưu với văn hoá phương Tây. Vũ Trọng Phụng đã ghi lại một cách chi tiết và chân thực hiện thực xã hội qua đó thể hiện thái độ phản ứng gay gắt của nhà văn đối với những biểu hiện tiêu cực của xã hội đương thời. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Tóm tắt nội dung đoạn trích: Đoạn 1: Cái chết của cụ già và những người có công lớn nhất gây ra cái chết ấy là Xuân tóc đỏ. Tác giả tái hiện lại quá trình chạy chữa để giải thích nguyên nhân cái chết của ông cụ. Những bài thuốc khủng khiếp của các ông lang và sự bối rối của cụ cố Hồng khi cha chết cũng được nhà văn chú ý miêu tả trong đoạn này. Đoạn 2: Đám con cháu vô cùng hạnh phúc trước cái chết của cụ Tổ vì họ đã phải chờ đợi quá lâu. Họ vô cùng sốt ruột vì việc chuẩn bị nghi lễ được tiến hành quá chậm chạp. Mỗi người một tính toán, một niềm hạnh phúc riêng nên họ háo hức chờ đợi đám tang. Đoạn 4: Cảnh đưa tang. Đám tang được giễu qua các phố, đi đến đâu làm nhốn nháo đến đó. Những người tham gia đám tang đều rất thời trang, họ thì thầm những câu chuyện đang là mốt của thời thượng, họ tántỉnh, chim chuột nhau. Đoạn 5: Cảnh hạ huyệt. Cậu Tú Tân say sưa chụp ảnh. Cụ cố Hồng cố tỏ vẻ đau khổ, ông Phán vừa khóc than thảm thiết vừa lén trả tiền công cho Xuân vì Xuân đã gây ra cái chết của ông cụ. 2. Mâu thuẫn trào phúng cơ bản của đoạn trích là: tang gia >< hạnh phúc. Cụ Tổ chết đi, đám con cháu không hề buồn đau xót thương mà lại vô cùng hành phúc. Niềm hạnh phúc chung mà cái chết cụ Tổ mang lại cho mọi thành viên trong gia đình là được thừa hưởng tài sản. Họ được chia tài sản và ai cũng được phần. Ngoài ra, cả người trong gia đình và những người ngoài gia đình đều được hưởng một niềm hạnh phúc riêng. Trong gia đình: Cụ cố Hồng, con trai của người chết thì hạnh phúc vì được mặc áo xô gai, chống gậy lụ khụ, để mọi người nhìn vào cụ mà trầm trồ. Đợi phát phục, cụ “nhắm nghiền mắt lại để mơ màng cái lúc cụ mặc đồ xô gai…”. Đám con cháu thì được thể hiện tài hoặc được diện những bộ đồ tang thời trang nhất mà họ vừa sáng tạo ra để khai hoá văn minh. Đứng đầu là Văn Minh, cháu đích tôn của người chết. Đám cháu gái, cháu dâu thì hạnh phúc vì được mặc những bộ đồ xô gai thời trang, được khoe mình còn “một nửa chữ trinh” với những người đến đưa tang. Cậu Tú Tân, cháu nội người chết, thì sung sướng vì được trổ tài chụp ảnh. Nhà văn nhận xét: “… một bầy con cháu chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ Tổ”. Chúng đúng là “một bầy” thú chứ không phải con người. Chắc phải chứng kiến những điều ngang tai trái mắt lắm nhà văn mới có cái nhìn và thái độ cay nghiệt như vậy. Ngoài gia đình: Trước hết là nhà chức trách – hai viên cảnh sát thuộc bộ thứ 18 là Min Đơ và Min Toa, “Giữa lúc không có ai đáng phạt mà phạt, đương buồn rầu như nhà buôn sắp vỡ nợ, mấy ông cảnh binh này được có đám thuê thì sung sướng cực điểm…”. Những ông bạn của cụ cố Hồng, ngực đầy huân chương đến dự đám tang thì “ai nấy đều cảm động hơn những khi nghe tiếng kèn xuân nữ ai oán não nùng” khi “trông thấy làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết”. Bộ mặt của xã hội được đại diện bởi những gia đình như thế, những người cầm quyền như thế. Những kẻ đi đưa đám thì tranh thủ chim chuột nhau, bình phẩm nhau. Cả một đám ma to, danh giá, không có lấy một người đau đớn hay buồn bã khi nghĩ đến người chết. Xuân Tóc Đỏ được hưởng nhiều hạnh phúc nhất: được thưởng tiền, được gia đình cụ cố Hồng biết ơn và nhất là được danh giá, nổi tiếng hơn. 3. Khi miêu tả đám tang, tác giả đã kết hợp đầy dụng ý giữa tả cận cảnh và toàn cảnh. Toàn cảnh đám tang khiến cho người đọc hình dung được sự nhốn nháo, pha tạp Tây Tàu của đám tang. Nó làm lộ rõ vẻ học đòi vô học và rởm đời của tang chủ. Khi miêu tả cận cảnh, tác giả chú ý đến những hành động, những lời bàn tán thầm thì của những người đi đưa đám. Những câu chuyện chẳng liên quan gì đến người chết. 4. Lời văn trong đoạn trích đậm tính chất trào phúng, từ cách miêu tả đến cách đặt tên đồ vật, lối so sánh ví von, cách tạo giọng văn… Ví dụ: cảnh sát thất nghiệp “buồn như nhà buôn vỡ nợ”, Hai ông lang “từ chối chạy chữa cũng như các vị danh y biết tự trọng”, thuốc chữa bệnh thì “công hiệu đến nỗi họ mất mạng”, “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”, “Thật là một đám ma to tát mà có thể làm cho…” Cách đặt tên gọi nhân vật, đồ vật cũng rất hài hước: ông TYPN, Minđơ, Mintoa, lợn quay đi lọng, lốc bốc xoảng… Tác giả đặc biệt chú ý miêu tả các chi tiết hài hước, dùng những câu văn miêu tả đầy tính châm biếm để đả kích, bóc trần bộ mặt đạo đức giả dối của đám con cháu đại bất hiếu và những kẻ đi đưa vô tình. Ví dụ: Những ông bạn thân của cụ cố Hồng… đều cảm động hơn khi nghe tiếng kèn xuân nữ ai oán, não nùng; Sư cụ Tăng Phú thì sung sướng và vênh váo… là cuộc đắc thắng đầu tiên của báo Gõ mõ vậy… 5. Qua đoạn trích, tác giả đã tập trung phê phán thói đạo đức giả của một lớp người trong xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX. Đó là thói hám danh, hám lợi, thói hợm hĩnh… Cảnh đám tang là một màn bi hài kịch. Nó gợi nỗi chua xót, cay đắng cho sự xuống cấp trầm trọng về đạo đức, nhất là đạo đức gia đình. Từ đầu đến cuối tác phẩm là tiếng cười châm biếm, chế giễu, một kiểu chế giễu rất cay độc của nhà văn đối với những kẻ học đòi một cách vô học. III. TƯ LIỆU THAM KHẢO 1. Về tác giả … “Sáng tác và thế giới quan Vũ Trọng Phụng khác phức tạp và có nhiều mâu thuẫn. Cuộc sống nghèo khổ bị hắt hủi, có thời kỳ ít nhiều chịu ảnh hưởng cách mạng, khiến Vũ Trọng Phụng rất căm ghét cái xã hội thực dân phong kiến đầy bất công, thối nát đương thời, do đó ông đã dựng lên nhiều bức tranh xã hội sinh động bằng ngoài bút đả kích sắc sảo. Nhưng sống trong cái môi trường chật hẹp, toàn những cái xấu xa đồi bại ở thành thị, xa cách nhân dân lao động, Vũ Trọng Phụng thiếu một căn bản nhân đạo vững vàng, dễ tiếp thu ảnh hưởng của những tư tưởng tiêu cực. Vì vậy, bên cạnh những giá trị hiện thực có sức mạnh tố cáo hiển nhiên, tác phẩm Vũ Trọng Phụng có nhiều hạn chế, nhiều chênh lệch nặng nề. Chính mặt yếu này là cơ sở cho những yếu tố tự nhiên chủ nghĩa đậm nét trong nhiều sáng tác của Vũ Trọng Phụng, nhất là những tác phẩm đề cập đến cái “dâm” (Làm đĩ, Lục xì). Ở đó Vũ Trọng Phụng đã xa rời chủ nghĩa hiện thực và rơi vào thứ văn học tự nhiên chủ nghĩa”. (Nguyễn Hoành Khung, Từ điển văn học, tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1984) Ở Vũ Trọng Phụng, cái tư tưởng- nhiệt tình ấy là gì? Ấy là cái niềm căm thù mãnh liệt đối với xã hội độc ác, bất công, vô lý và “chó đểu” thời thuộc Pháp và khát vọng muốn đập phá tan tành nó đi để xây dựng một xã hội công bằng hơn, có nghĩa lý hơn. Muốn đánh giá được niềm căm thù này cần tìm hiểu tình hình tâm lý xã hội của tầng lớn thanh niên trí thức tiểu tư sản những năm 30 và số phận bế tắc đến bi thảm của Vũ Trọng Phụng, đồng thời đặt nhà văn vào cái môi trường sống cụ thể của ông, một trong những trung tâm buôn bán và ăn chơi trụy lạc của Hà Nội cũ (phố Hàng Bạc kề bên Sầm Công, Mã Mây, Hàng Buồm…). Người thanh niên ấy, đúng vào lúc ý thức được giá trị và vai trò của cá nhân mình trong cuộc đời nhờ ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, thì đồng thời cũng nhận ra rằng mọi ngả đường sự nghiệp, công danh đều bị chặn lại một cách tàn nhẫn. Sức mạnh thô bỉ của thằng thực dân và cũng đồng tiền làm chủ tất cả. Nếu không thể lao vào bão táp cách mạng thì mọi con đường của người thanh niên muốn tìm đến vinh quang bằng đạo đức, tài năng và lao động đều không được chấp nhận. Một xã hội như vậy đẻ ra vô vàn những kẻ thờ bạo lực và đồng tiền, chúng biến xã hội thành một thứ sân khấu đại hài kịch để đóng những vai thật là nhố nhăng, bỉ ổi mà Vũ Trọng Phụng gọi là “chó đểu”, hay “vô nghĩa lý”… … Vâng, có thể nói như thế: niềm căm thù mãnh liệt đối với xã hội thực dân, tư sản tàn ác, lố bịch, đểu giả, thối nát, đó là tất cả tài năng của Vũ Trọng Phụng…”. (Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Trọng Phụng và niềm căm uất không nguôi. Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Sđd, tr.105-107) 2. Về tác phẩm … “Muốn đánh giá đúng một tác phẩm nghệ thuật, phải nắm được đặc điểm thể loại và khuynh hướng, cảm hứng của nó. Số đỏ là một cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa. Về mặt là một cuốn tiểu thuyết trào phúng, thành công của nó là đã gây được một tiếng cười, đúng hơn, một chuỗi cười ròn rã từ đầu đến cuối, thông qua một loạt tình tiết, tình huống hài hước và một loạt chân dung hí họa, biếm họa hết sức độc đáo và sinh động. Về mặt là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa, nó đã phát hiện được một cách chính xác và sâu sắc bản chất và quy luật khách quan của xã hội ở một phương diện quan trọng. Đặc điểm ấy của tác phẩm đặt ra một mâu thuẫn mà tác giả đã giải quyết được một cách đầy tài nghệ. Mâu thuẫn ấy là, một mặt phải dùng lối cường điệu, phóng đại một cách thoải mái – điều mà bút pháp trào phúng đòi hỏi- để tạo nên những tình huống oái oăm vô lý, những tính cách quái thai, kỳ quặc; mặt khác lại không hề được nói oan nói ức cho bất kỳ cái gì, cho bất kỳ ai mà nó đề cập đến. Mâu thuẫn ấy giải quyết trong một truyện ngắn đã khó, trong một truyện dài càng khó hơn nhiều.”. Nguyễn Đăng Mạnh (Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Sđd, tr.119-120)
Soạn bài lớp 11_ Hạnh phúc của một tang gia
2,549
Soạn bài lớp 11: Hầu trời Hướng dẫn Soạn bài lớp 11: Hầu trời Soạn bài: Hầu trời do Tản Đà sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài thơ Hầu Trời của Tản Đà Soạn bài lớp 11: Lưu biệt khi xuất dương Soạn bài lớp 11: Vội vàng Giáo án Ngữ văn 11 bài Hầu trời Bài giảng Hầu trời Mời làm: Trắc nghiệm Ngữ Văn lớp 11 – “Hầu trời” (Tản Đà) Giáo án Ngữ văn lớp 11 cơ bản Phân tích cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu trời Soạn văn 11 bài: Hầu trời Hầu trời HẦU TRỜI TẢN ĐÀ I. Kiến thức cơ bản 1. Tác giả – tác phẩm Tản Đà: (1889-1939), tên thật Nguyễn Khắc Hiếu Quê hương: Tỉnh Sơn Tây (Nay thuộc tỉnh Hà Tây) Con người: Sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời. Là “người của hai thế kỷ” (Hoài Thanh) Học chữ hán từ nhỏ nhưng về sau chuyển sang sáng tác văn chương bằng chữ quốc ngữ… Phong cách thơ: Lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương ưu ái. Có thể xem thơ văn ông như một gạch nối giữa hai thời văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại. Các tác phẩm Thơ: Khối tình con người I, II (1916, 1918) Truyện: Giấc mộng con người I, II (1916, 1932) Tự truyện: Giấc mộng lớn (1928) Thơ và văn xuôi: Còn chơi (1921). 2. Văn bản “Hầu trời” a) Xuất xứ Trong tập “Còn chơi” (1921) Bài thơ ra đời vào thời điểm khuynh hướng lãng mạng đã khá đậm nét trong văn chương thời đại. Xã hội thực dân nữa phong kiến tù hãm, u uất, đầy rẫy những cảnh ngang trái, xót đau… Phần 1: Giới thiệu về câu truyện, từ “đêm qua… lạ lùng” Phần 2: “chủ tiên… chợ trời” Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe. Phần 3: “Trời lại phê cho… sương tuyết” thi nhân trò chuyện với trời. II. Nội dung cơ bản 1. Giới thiệu câu chuyện Gợi khoảng khắc yên tĩnh, vắng lặng.”- Câu chuyện xảy ra vào “đêm qua” (câu 1) Câu truyện kể về một giấc mơ được lên cõi tiên (câu 4). Nhân vật trữ tình là tác giả, đang mang tâm trạng “chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng” Biện pháp nghệ thuật: nhấn mạnh tâm trạng cảm xúc của thi nhân. Điệp từ “thật” Bộc lộ cảm xúc bàng hoàng. Câu cảm thán dường như lật lại vấn đề: mơ và tỉnh, hư mà như thực. Câu khẳng định Cách giới thiệu trên đã gợi cho người đọc về tứ thơ lãng mạng nhưng cảm xúc là có thực. Tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái “hồn cốt” trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, hư mà như thực. => Cảm nhận được “cái tôi” cá nhân đầy chất lãng mạng, bảy bổng pha lẫn nét “ngông” trong thơ thi nhân. Với cách vào chuyện độc đáo có duyên đã làm cho câu truyện mà tác giải sắp kể trở nên hấp dẫn lôi cuốn. 2. Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe a) Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình: Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc: Hết văn thuyết lý lại văn chơi” Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình: “Hai quyển khối tình văn lý thuyết Hai khối tình còn là văn chơi Thần tiên, giấc mộng văn tiểu thuyết….” Giọng đọc: đa dạng, hóm hỉnh, ngông nghênh có phần tự đắc. => Đoạn thơ cho thấy thi nhân rất ý thức về tài năng văn thơ của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” cá thể. Ông cũng rất “ngông” khi tìm đến trời để khẳng dịnh tài năng. Đây là niềm khát khai chân thành trong tâm hồn thi sĩ. b) Thái độ của người nghe: Rất ngưỡng mộ tài năng thơ văn của tác giả Thái độ của trời: khen rất nhiệt thành: văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt như sao băng… Thái độ của chư tiên: xúc động, hâm mộ và tán thưởng…Tâm nở dạ, cơ lè lưỡi… => Cả đoạn thơ mang đậm chất lãng mạng và thể hiện tư tưởng thoát li trước cuộc đời. 3. Thi nhân trò chuyện với trời a) Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình Thi nhân kể họ tên, quê quán: ” Con tên Khắc Hiếu họ Nguyễn Quê ở Á châu về địa cầu Sông Đà núi Tản nước Việt Nam” Trong văn chương việc thể hiện họ tên trong tác phẩm chính là một cáh để khẳng định cái tôi cá nhân của mình. Thi nhân kể về cuộc sống: Đó là môt cuộc sống nghèo khó, túng thiếu, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, coi thường. Ở trần gian ông không tìm được tri âm, nên phải lên tận cỏi trời để thoả nguyện nỗi lòng. “Bẩm trời hoàng cảnh con thực nghèo khó” “Trần gian thước đất cũng không có” “Văn chương hạ giới rẻ như bèo” “Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu” Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội lúc bấy giờ, một cuộc sống cơ cực không tấc đất cắm dùi, thân phận bĩ rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn. => Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này. b) Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân Nhiệm vụ trời giao: Truyền bá thiên lương. Nhiệm vụ trên chứng tỏ Tản Đà lãng mạn chứ không hoàn toàn thoát li cuộc sống. Ông vẫn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đời để đem lại cuộc sống ấm no hành phúc hơn. Đó cũng là một cách tự khẳng định mình trước thời cuộc. Thi nhân khát khao được gánh vác việc đời => Như vậy có thể nói trong thơ Tản đà cảm hứng lãng mạng và cảm hứng hiện thực đan xen khăng khít. III. Tổng kết 1. Nội dung Bài thơ thể hiện cái tôi cá nhân ngông nghênh, kiêu bạc, hào hoa và cái tôi cô đơn, bế tắc trước thời cuộc. Có thể thấy nhà thơ đã tìm được hướng đi đúng đắn để khẳng định mình. 2. Nghệ thuật Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc. Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm, không cách điệu, ước lệ. Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật chính. Cảm xúc bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng. Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do…
Soạn bài lớp 11_ Hầu trời
1,104
Soạn bài lớp 11: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945 Hướng dẫn Soạn bài: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945 Soạn bài lớp 11: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945 thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về nền văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ 20 đến cách mạng tháng tám năm 1945 giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Hai đứa trẻ Soạn bài lớp 11: Bài ca ngất ngưởng Soạn bài lớp 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nền văn học được hiện đại hoá a, Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ đến Cách mạng tháng Tám 1945) đây là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện vật chất cho văn học phát triển. Thơ văn của chí sĩ cách mạng, của nho sĩ đã có sự tiến bộ về tư tưởng những về hình thức cơ bản vẫn là của văn học trung đại. b, Giai đoạn thứ hai (khoảng từ 1920 đến 1930): Quá trình hiện đại hoá đã đạt được nhiều thành tích với sự xuất hiện của các thể loại văn học hiện đại và sự hiện đại hoá của thể loại truyền thống. Tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kí đều phát triển. c, Giai đoạn thứ ba (Từ khoảng năm 1930 đến năm 1945): có sự cách tân sâu sắc ở nhiều thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ, phóng sự, phê bình ra đời và đạt nhiều thành tựu. 2. Nhịp độ phát triển mau lẹ Có sự hiện đại hoá nhanh chóng về nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật, ở sự xuất hiện của các thể loại mới với nhiều tác phẩm có giá trị. 3. Sự phân hoá phức tạp thành nhiều xu hướng văn học. a, Bộ phận văn học phát triển hợp pháp gồm các sáng tác được đăng tải và xuất bản công khai. Những tác phẩm này vẫn có tính dân tộc và có tư tưởng lành mạnh nhưng không có được ý thức cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp chính quyền thực dân. b, Bộ phận văn học phát triển bất hợp pháp và nửa hợp pháp là sản phẩm của các nhà văn chiến sĩ. II. Thành tựu văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. 1. Về nội dung tư tưởng vẫn tiếp tục phát huy những truyền thống tư tưởng lớn của văn học dân tộc và đóng góp thêm tinh thần dân chủ. Lòng yêu nước gắn với yêu quê hương, trân trọng truyền thống văn hoá dân tộc, ca ngợi cảnh đẹp quê hương đất nước, lòng yêu nước gắn với tinh thần quốc tế vô sản. Chủ nghĩa nhân đạo gắn với sự thúc tỉnh ý thức cá nhân của người cầm bút. 2. Về hình thức thể loại và ngôn ngữ văn học Các thể loại văn xuôi phát triển mạnh, nhất là tiểu thuyết và truyện ngắn. Các thể loại mới như phóng sự, bút kí, tuỳ bút, kịch nói đều đạt được thành tựu. Thơ ca phát thoát khỏi những quy tắc chặt chẽ của thơ ca trung đại để thể hiện tinh thần dân chủ của thời đại mới với cái Tôi cá nhân đầy cảm xúc. III. RÈN KĨ NĂNG 1. Lập dàn ý (theo phần I) 2. Đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cánh mạng tháng Tám 1945 a, Khái niệm “văn học hiện đại” được dùng trong bài học được hiểu theo quan niệm đối lập với hình thái văn học thời trung đại. Từ đầu thế kỉ XX, nền văn học Việt Nam mới thật sự bước vào quá trình hiện đại hóa. Xã hội Việt Nam có nhiều có nhiều thay đổi lớn dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong ý thức và tâm lí con người. Nền văn hóa và tâm hồn người Việt đến lúv đó có điều kiện vượt được ra ngoài giới hạn của khu vực ảnh hưởng văn hóa, văn học cổ Trung Hoa để tiếp xúc với thế giới hiện đại. Những điều kiện đó dã thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển. Văn học phát triển mau lẹ về mọi mặt theo hệ thống thi pháp hiện đại. Cả về nội dung tư tưởng, hình thức và thi pháp. Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam thời kì này diễn ra qua ba giai đoạn. a, Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ đến Cách mạng tháng Tám 1945) đây là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện vật chất cho văn học phát triển. Giai đoạn thứ hai (khoảng từ 1920 đến 1930) là giai đoạn giao thời, hoàn tất các điều kiện để văn học phát triển vượt bậc ở giai đoạn thứ ba. Giai đoạn thứ ba (từ khoảng năm 1930 đến năm 1945) là giai đoạn phát triển rực rỡ, có sự cách tân sâu sắc ở nhiều thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ, phóng sự, phê bình ra đời và đạt nhiều thành tựu. b, Nguyên nhân sự phát triển mau lẹ của văn học Việt Nam thời kì này Do sự thúc bách của yêu cầu thời đại. Sức sống mãnh liệt của dân tộc mà hạt nhân là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Sự xuất hiện của tầng lớp trí thức Tây học. ở họ có sự thức tỉnh mạnh mẽ của ý thức cá nhân và khao khát đóng góp một cái gì thật sự cho đất nước cho dân tộc. Khoa học kĩ thuật phát triển, công chúng đông đảo và văn chương trở thành một thứ hàng hóa, viết văn trở thành một nghề kiếm sống. c, Các nhà văn thời kì này có ý thức tự giác cao hơn về trách nhiệm người cầm bút, về quan niệm nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mĩ của mình. Cộng thêm sự ra đời của của phê bình văn học đã dẫn đến sự phân hóa thành nhiều xu hướng trong nội bộ nền văn học. Hai bộ phận cơ bản: a, Bộ phận văn học phát triển hợp pháp gồm các sáng tác được đăng tải và xuất bản công khai. Những tác phẩm này vẫn có tính dân tộc và có tư tưởng lành mạnh nhưng không có được ý thức cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp chính quyền thực dân. Bộ phận này chia thành hai khuynh hướng văn học lãng mạn và văn học hiện thực b, Bộ phận văn học phát triển bất hợp pháp và nửa hợp pháp là sản phẩm của các nhà văn chiến sĩ. Họ coi đã dùng văn chương như là một thứ vũ khí chiến đấu sắc bén để chống lại kẻ thù. Các tác giả tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh, Tố Hữu… 3. Các thành tựu: a, Những truyền thống tư tưởng lớn của lịch sử văn học Việt Nam là yêu nước, anh hùng và nhân đạo. Văn học thời kì đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 tiếp tục phát huy truyền thống ấy trên tinh thần dân chủ. b, Các thể loại văn học mới xuất hiện trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 là: kịch nói, bút kí, phóng sự, tiểu thuyết, phê bình văn học… Sự cách tân, hiện đại hóa của thể loại tiểu thuyết được thể hiện ở chỗ có sự thay đổi về hệ thống thi pháp. Tiểu thuyết hiện đại chú trọng xây dựng tính cach nhân vật hơn cốt truyện, đi sâu vào nội tâm nhân vật, thuật truyện không theo trật tự thời gian tự nhiên, tả thực, ngôn ngữ lời văn hiện đại, gần gũi với đời thường, từ bỏ lối văn biền ngẫu… Sự cách tân, hiện đại hóa ở thơ ca: Thơ mới phá bỏ các quy phạm chặt chẽ của thơ cũ, chuyển từ cái ta chung chung sang cái Tôi cá nhân. 4. Văn học thời kì đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 có vị trí rất quan trọng trong toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử văn học Việt Nam. Nó tạo cho nền văn học dân tộc có đà phát triển mạnh mẽ. Nó mở ra một thời kì mới. Những thành tựu và kinh nghiệm phát triển của văn học thời kì này sẽ có ảnh hưởng lâu dài đối với nền văn học dân tộc. IV. TƯ LIỆU THAM KHẢO 1. Ảnh hưởng của công cuộc Âu hóa đối với yêu cầu hiện đại hóa văn chương Việt Nam ... “Nó đã thay đổi những tập quán sinh hoạt hàng ngày, nó đã thay đổi cách ta vận động tư tưởng, tất nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung cảm của ta nữa. Những hình thức mới của cuộc đời, những tư tưởng mới và nhất là ảnh hưởng văn học Pháp ngày một thấm thía, ấy là những lợi khí Âu hóa trong giai đoạn thứ ba này. Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu, ghét, giận, hờn nhất như ngày trước. Đã đành ta chỉ có chừng ấy mối tình như con người muôn nơi và muôn thuở. Nhưng sống trên đất Việt Nam ở đầu thế kỷ XX, những mối tình của ta không khỏi có cái màu sắc riêng, cái dáng dấp riêng của thời đại.”…Các cụ ta ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt… Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng gà lúc đứng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì ta cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì, chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi…, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…”. Mấy câu nói xô bồ, liều lĩnh mà tha thiết của ông Lưu Trọng Lư, ở nhà học hội Quy Nhơn hồi tháng 6-1934 đã vạch rõ tâm lý cả lớp thanh niên chúng ta. Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm, u uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn. Chính ông Lưu Trọng Lư cũng đã viết trong quyển Người sơn nhân hồi tháng 5-1933: “Người thanh niên Việt Nam ngày nay đương bơ vơ đi tìm người thi nhân của mình như người con đi tìm mẹ”. Đã thế, không thể xem phong trào Thơ mới là một chuyện lập dị do một bọn dốt nát bày ra để kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại bắt đầu từ hồi nước ta sáp nhập đế quốc Pháp và xa hơn nữa, từ hồi Trịnh – Nguyễn phân tranh, lúc người Âu mới đến. Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hóa phương Tây cái mầm sau này sẽ nảy nở thành thơ mới…”. Hoài Thanh 2. Sự phát triển nhanh chóng của nền văn học mới … “Đóng góp của văn học mới là ở chỗ nó hình thành đội ngũ nhà văn, du nhập các thể loại của văn học phương Tây, đem chúng thay thế các thể loại có tính chức năng của văn học cũ, đem một quan niệm văn học mới – phản ánh hiện thực đời sống xã hội- thay thế cho quan niệm văn học cũ lấy “tâm”, “chí”, “đạo” làm cơ sở; dùng chữ quốc ngữ thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, dùng ngôn ngữ của bản thân đời sống thay thế ngôn ngữ trang nhã, đầy những điển tích của văn học cũ, mô tả cuộc sống bình thường, hàng ngày và những con người của cuộc sống hiện thực, trần tục. Với sự ra đời của văn học mới, văn học Việt Nam thoát khỏi khuôn mẫu chật hẹp của phương Đông, bước vào quỹ đạo chung của văn học thế giới…”. (Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng, Văn học Việt Nam 1900-1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.208)
Soạn bài lớp 11_ Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945
2,203
Soạn bài lớp 11: Khóc Dương Khuê Hướng dẫn Soạn bài: Khóc Dương Khuê Soạn bài lớp 11: Khóc Dương Khuê do Nguyễn Khuyến sáng tác thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về nỗi đau khi mất một người bạn thân thiết của tác giả giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Tự tình Soạn bài lớp 11: Luyện tập về hiện tượng tách từ Phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến KHÓC DƯƠNG KHUÊ Nguyễn Khuyến I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Dương Khuê (1839 – 1902) là người làng Vân Đình, huyện ứng Hoà, Hà Tây. Đậu cử nhân cùng khoa với Nguyễn Khuyến, sau đậu tiến sĩ nên còn được gọi là Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư. Dương Khuê là người có nhân cách, là một ông quan thanh liêm, chính trực. Ông còn là một nhà thơ lớn của thế kỷ XIX. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê là hai người bạn tâm đầu ý hợp, cùng có tấm lòng với dân tộc, nhưng họ lại đi hai con đường khác nhau, Nguyễn Khuyến cáo quan về ở ẩn còn Dương Khuê tiếp tục làm quan… Bài thơ được Nguyễn Khuyến viết để khóc bạn, lúc đầu viết bằng chữ Hán với nhan đề “Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư”. Sau tác giả tự dịch ra chữ Nôm lấy tên là “Khóc bạn”, nay quen gọi là “Khóc Dương Khuê”. Bài thơ thể hiện xúc động tình bạn tri âm tri kỷ của hai nhà thơ. Nghe tin bạn qua đời, nhà thơ đã vô cùng đau đớn và những kỷ niệm ngày xưa đã ùa về trong kí ức. Qua bài thơ khóc bạn, tác giả đã bộc lộ tâm trạng cô đơn, những trăn trở day dứt của nhà thơ về nhân tình thế thái. 1. Bài thơ có thể chia thành ba đoạn: Hai câu đầu: đau xót khi nghe tin bạn mất. Từ câu 3 đến câu 22: Nhớ lại những kỷ niệm giữa hai người và thể hiện tâm trạng thời cuộc của nhà thơ. Phần còn lại: Nỗi đau mất bạn và tâm sự cô đơn vì thiếu tri kỷ. Bố cục này đã thể hiện một cách chân thực mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình tác giả trước sự ra đi của người bạn tri âm tri kỉ. 2. Hai câu thơ mở đầu đã diễn tả rất tinh tế nỗi đau mất bạn của nhà thơ. Cách gọi “bác” vừa đúng mực, vừa rất thân mật. Để giảm nhẹ nỗi đau, để tự an ủi mình và thể hiện sự trân trọng đối với người bạn vong niên, nhà thơ đã dùng từ “thôi” để chỉ sự ra đi vĩnh viễn của người bạn già. Nhà thơ đã dùng cách nói giảm để thể hiện nỗi đau của mình. Còn nỗi đau mất bạn cũng được diễn tả hình ảnh “Nước mây man mác…”. Nỗi buồn đau thấm cả vào cảnh vật. Nỗi đau của người già thâm trầm kín đáo nhưng sâu sắc. Những từ “man mác”, “ngậm ngùi” đã thể hiệ được sắc thái tinh tế ấy trong cách thể hiện tâm trạng của nhà thơ. Đau đớn nhưng không ồn ào mà da diết. 3. Khi khóc bạn, nhà thơ ôn lại kỉ niệm gắn bó giữa hai người. Kỉ niệm được nhắc lại bắt đầu từ khi họ gặp nhau và cho đó là “duyên trời”. Cách diễn đạt này của tác giả đã khẳng định một lần nữa tình bạn sâu sắc của hai người. Họ đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, cùng “chơi nơi dặm khách”, “rượu ngon cùng nhấp”, cùng “bàn soạn câu văn”. Không chỉ có những kỷ niệm ngọt ngào, họ cũng đều cùng là nạn nhân của thời thế. Vì thế, tin người bạn mất đã làm nhân vật trữ tình vô cùng xúc động. Nỗi niềm ấy được nhà thơ thể hiện một cách chân thực: Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là Ba từ thôi thể hiện rõ nỗi xót xa đau đớn, sự hụt hẫng của người bạn già. Câu thơ vừa là nỗi khóc bạn vừa là nỗi thương mình. 4. Đoạn từ câu 19 đến câu 28 vẫn trực tiếp thể hiện niềm thương tiếc người tri âm tri kỉ. Đó là hồi ức về lần gặp cuối cùng giữa hai người. Tính chất bất ngờ của tin bạn mất lại được nhắc lại: Làm sao bác vội về ngay Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời Sự ra đi của ngươì bạn già lại được dùng bằng một cách nói khác đoạn trên “vội về ngay”. Về là về với tiên tổ. Cũng là một cách nói giảm nhưng xmang sắc thái biểu cảm khác. Không phải chỉ là thương cho người ra đi đã phải sớm từ giã cuộc đời mà còn là thương mình, thương cho người ở lại đã mất đi một tri âm. Vẫn mang trong lòng nỗi u uất thời thế nên trong lời khóc bạn, trong nỗi đau mất tri kỷ có cả nỗi đau thời thế: Ai chẳng biết chán đời là phải, Vội vàng chi đã mải lên tiên. Giữa họ, trong những ngày không gặp nhau khi mỗi người đi một con đường, vẫn chung nỗi đau thế sự. Xác nhận “chán đời là phải” là sự thể hiện một cách kín đáo và thâm trầm của nhà Nho về thời thế. Thời thế hỗn loạn, những giá trị đạo đức văn hoá truyền thống đang bị phá huỷ đã khiến những nhà nho có nhân cách và biết tự trọng như Nguyễn Khuyến luôn cảm thấy “chán đời”.
Soạn bài lớp 11_ Khóc Dương Khuê
966
Soạn bài lớp 11: Lai Tân Hướng dẫn Soạn bài: Lai Tân Soạn bài lớp 11: Lai Tân là tài liệu tham khảo hay giúp bạn nắm được kiến thức cơ bản về tác giả Hồ Chí Minh và bài thơ Lai Tân, kết cấu của bài thơ, giá trị nội dung và nghệ thuật mà tác phẩm mang lại. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài lớp 11: Vĩnh biệt Cửu Trùng đài Soạn bài lớp 11: Ba cống hiến vĩ đại của Các-Mác Lai Tân – Hồ Chí Minh I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả Hồ chí Minh là một nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc ta, chính Bác là người đã đặt nền móng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta khỏi bàn tay của kẻ thù. Bác sinh ra trong một gia đình loạn lạc cho nên sớm đã có tư tưởng yêu nước,khi lớn lên nhận thấy được những phong trào yêu nước của nhiều nhà tiến bộ khác nhau nhưng đều thấy bại cho nên Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Trong cuộc hành trình đầy gian khổ đó,Hồ Chí Minh đã bị chính quyền Tưởng giới Thạch bắt giam trong ngục tù, chịu biết bao khổ cực vất vả, nhưng với tinh thần lạc quan thì Bác đã vượt qua tất cả. Bác đã để lại một kho tàng về thơ ca giàu ý nghĩa, và như một ngôi sao tỏa sáng trên nền trời Việt Nam. Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác trong khoảng bốn tháng đầu của thời gian HCM bị giam giữ tại các nhà tù của bọn Quốc dân đảng Trung Quốc ở Quảng Tây. Mảng đề tài: Bài thơ thuộc mảng thơ hướng ngoại, nội dung phê phán nhà tù và xã hội Trung Quốc với nghệ thuật châm biếm sắc sảo. II. Đọc hiểu 1. Kết cấu: 2 phần Phần 1: (3 câu đầu) là 3 câu tự sự nói về hành vi thường thấy ở 3 viên quan ở Lai Tân. Phần 2: (câu cuối) là một lời kết luận, một nhận xét, đánh giá của tác giả. 2. Chân dung tầng lớp chóp bu ở Lai Tân Ba câu thơ đầu là ba nét vẽ rạch ròi chân dung của những kẻ đứng đầu trong bộ máy quản lí nhà tù của Tưởng Giới Thạch ở Lai Tân: Ban trưởng: Ngày ngày đánh bạc. Cảnh trưởng: Ăn tiền của phạm nhân. Huyện trưởng: Chong đèn làm việc công (việc mờ ám – hút thuốc phiện?) Lần lượt từng tên, hiện ra rõ mồn một, tất cả đều thối nát, đều hoàn toàn vô trách nhiệm. Đó là những kẻ đại diện thực thi, bảo vệ công lí, pháp luật nhưng hành vi lại phi pháp. Nhà tù là nơi cải hoá người xấu thành người tốt nhưng với những kẻ cai quản nhà tù như thế kia thì thực chất của loại nhà tù nàylà gì là điều dễ hiểu. Một kiểu nhà tù như thế với những kẻ cai quản như thế thì làm sao xã hội có thể thái bình thực sự được. Tưởng rằng kết bài sẽ là một lời buộc tội gay gắt nhưng câu thơ cuối buông ra lại quá nhẹ nhàng, mát mẻ. Đại loạn thế, thối nát thế mà “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”. “Thái bình” là nhãn tự, là trục hút châm biếm của cả bài thơ. Hoá ra tình trạng ấy là chuyện bình thường, chuyện bản chất của guồng máy cai trị nơi đây. “Chỉ một chữ ấy mà xé toang tất cả sự “thái bình” dối trá nhưng thực sự là “đại loạn bên trong”. Không “đao to búa lớn” mà theo như cách dân gian thường nói là “Mát nước thối cỏ”, lối châm biếm nhẹ nhàng, mát mẻ của HCM đã có tác dụng lật tẩy bản chất của cả bộ máy nhà nước ở Lai Tân. Qủa là một đòn đã kích độc đáo và bất ngờ. III. Tổng kết 1.Nội dung: Bài thơ nhỏ nhưng có giá trị hiện thực lớn. Nó cho người đọc thấy được tình trạng thối nát phổ biến của bọn quan lại Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch và thái độ bất bình của nhà thơ HCM. 2. Nghệ thuật Nghệ thuật châm biếm nhẹ nhàng mà thâm thuý, thể hiện rõ phong cách châm biếm của HCM
Soạn bài lớp 11_ Lai Tân
715
Soạn bài lớp 11: Luyện tập kết hợp các thao tác nghị luận Hướng dẫn Soạn bài: Luyện tập kết hợp các thao tác nghị luận Soạn bài lớp 11: Luyện tập kết hợp các thao tác nghị luận thuộc môn Ngữ văn lớp 11 học kỳ 1. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về các thao tác nghị luận trong văn bản giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 11 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 11: Nghệ thuật băm thịt gà Soạn bài lớp 11: Phong cách ngôn ngữ báo chí Soạn bài lớp 11: Hạnh phúc của một tang gia LUYỆN TẬP KẾT HỢP CÁC THAO TÁC NGHỊ LUẬN I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Một bài văn phải là một chỉnh thể về hình thức và nội dung bao gồm kiến thức, các bước lập luận… Khi viết một bài văn nghị luận cần phải kết hợp nhiều thao tác nghị luận như so sánh, phân tích, chứng minh, giải thích, bình luận, suy luận… II. RÈN KĨ NĂNG 1. Luận điểm và các thao tác nghị luận được sử dụng trong các ví dụ a) Luận điểm: Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam Thao tác nghị luận chính: so sánh và chứng minh. b) Luận điểm: Người Việt Nam cần đổi mới Thao tác nghị luận chính: so sánh và phân tích. c) Luận điểm: Bóng trăng trong thơ Hồ Xuân Hương. Thao tác nghị luận chính: chứng minh và suy luận. Luận điểm: Cần cù bù khả năng. Thao tác nghị luận chính: giải thích. e) Luận điểm: Cái mới bao giờ cũng chiến thắng cái cũ. Thao tác nghị luận chính: giải thích và chứng minh. 2. Kết hợp các thao tác nghị luận thích hợp (phân tích, so sánh, giải thích, chứng minh, quy nạp, diễn dịch…) để viết đoạn văn thể hiện các ý sau: a. Lí tưởng là nguồn sáng và sức mạnh trong đời. Lí tưởng là gì? (Là niềm tin, là điều con người tôn thờ… và luôn hướng tới). “Nguồn sáng” là gì? (là thứ soi rọi cho con người, Lí tưởng là “nguồn sáng” vì nó chỉ cho con người con đường họ phải đi để đạt được lí tưởng). “Lí tưởng là nguồn sáng tạo ra sức mạnh” vì nó tạo ra động lực, thúc đẩy, động viên con người hành động để đạt được mục đích. Dẫn chứng: Lí tưởng cộng sản soi sáng con đường đấu tranh của biết bao anh hùng Cách mạng, giúp họ vượt chông gai, thử thách… Liên hệ: Tự xây dựng một lí tưởng cao đẹp. b. Nhà thơ Ấn Độ Ta-go nói: “Yêu là tên gọi khác của sự hiểu nhau” Tình yêu là trạng thái tình cảm đặc biệt của con người, luôn được con người khát khao tìm kiếm. Đã có nhiều định nghĩa về tình yêu: “Đố ai định nghĩa về tình yêu? Có khó gì đâu một buổi chiều…” (Xuân Diệu) Định nghã của nhà thơ Ta-go: “Yêu là tên gọi khác của sự hiểu nhau. Tại sao như vậy? đồng cảm là sự đồng điệu về tâm hồn, có đồng cảm mới có thể sẻ chia, cảm thông nhau. Mỗi người phải biết xây dựng một tình yêu đẹp cho riêng mình. c. Nhà thơ Anh Brao-ninh nói: “Nếu tước bỏ tình yêu thì trái đất sẽ trở thành nấm mồ” Tình yêu là tình cảm yêu thương, quan tâm, chia sẻ…giữa con người với con người. “Nấm mồ” biểu tượng cho sự hoang tàn, chết chóc, tăm tối. Ý nghĩa câu nói: Không có tình yêu thế giới sẽ vô cùng tẻ nhạt, buồn thảm, tăm tối. Tại sao lại như vậy? Tình cảm, sự yêu thương là thứ gắn kết con người với con người; tình yêu là cơ sở vững chắc của đời sống tinh thần; không có tình yêu sẽ không còn tình người, chỉ còn sự lạnh nhạt, hờ hững, buồn tẻ. Liên hệ: Rút ra bài học, cần biết yêu thương chia sẻ với người thân, bạn bè, đồng loại “Người với người sống để yêu nhau” (Tố Hữu) d. Con người không thể thiếu bạn. “Bạn” là những người như thế nào? Người cùng ta sẻ chia vui buồn, giúp đỡ động viên ta. Tại sao “Con người… bạn”? Vì con người không thể sống đơn độc, làm mọi thứ một mình; được lắng nghe và được chia sẻ trở thành một nhu cầu không thể thiếu. So sánh: Người không có bạn: tẻ nhạt, buồn bã, cô độc (Câu chuyên “Cô chủ không biết quý tình bạn”); Người có bạn, tình bạn đã giúp con người sống tốt hơn, làm tốt hơn “Giàu vì bạn”, tình bạn Lưu Bình – Dương Lễ… Liên hệ: Chọn bạn mà chơi; tự xây dựng cho mình một tình bạn đẹp. Quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con cái được hình thành như một lẽ tất yếu của đời sống con người. Cha mẹ mong chờ con cái với tất cả khát khao và mong ước. Tình cảm được hình thành tự nhiên, mang nhiều ân nghĩa: ơn mẹ mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày, ơn cha sinh thành dưỡng dục… Tình cảm giữa cha mẹ và con cái là tình cảm chân thành, tự nhiên, không hề vụ lợi, con lớn lên bằng tình yêu thương, sự hi sinh của cha mẹ; cha mẹ lấy con làm nguồn vui sống… Tình cảm cha mẹ với con cái vì vậy hết sức tự nhiên, chân thành, thiêng liêng. Liên hệ, rút ra bài học: Yêu quý, trân trọng cha mẹ, gia đình…
Soạn bài lớp 11_ Luyện tập kết hợp các thao tác nghị luận
911