text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Soạn bài lớp 9: Bến quê Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Bến quê Soạn bài lớp 9 học kì 2: Bến quê do Nguyễn Minh Châu sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. BẾN QUÊ Nguyễn Minh Châu I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Minh Châu (1930-1989) quê ở huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An là một nhà văn quân đội – một trong những cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học chống Mỹ. Sau khi đất nước thống nhất, các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã thể hiện những tìm tòi quan trọng về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần đổi mới văn học nước ta từ những năm 80 của thế kỷ XX. 2. Truyện ngắn Bến quê in trong tập truyện cùng tên của Nguyễn Minh Châu, xuất bản năm 1985. Trong truyện ngắn này, ngòi bút của nhà văn hướng vào đời sống thế sự nhân sinh thường ngày, với những chi tiết sinh hoạt đời thường để phát hiện những chiều sâu của cuộc sống với bao quy luật và nghịch lý, vượt ra khỏi cách nhìn, cách nghĩ trước đây của cả xã hội và của chính tác giả. 3. Nhân vật Nhĩ trong truyện ở vào một hoàn cảnh đặc biệt. Từng di khắp nơi, về cuối đời Nhĩ lại bị cột chặt vào giường bệnh bởi một căn bệnh hiểm nghèo, đến nỗi không thể tự mình dịch chuyển được. Chính vào thời điểm ấy, Nhĩ lại phát hiện ra vùng đất bên kia sông, nơi bến quê thân thuộc, một vẻ đẹp bình dị mà quyến rũ. Đặt nhân vật vào trong tình huống nghịch lý ấy, tác giả muốn dẫn bạn đọc đến những trải nghiệm về cuộc đời: cuộc sống và số phận con người chứa đầy những điều bất thường, những nghịch lý, ngẫu nhiên, vượt ra ngoài những dự định và ước muốn, cả những hiểu biết và toan tính của con người. Qua những suy nghĩ của nhân vật, Nguyễn Minh Châu còn muốn mang đến cho bạn đọc một chiêm nghiệm khác: “con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng chình” và sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp rất gần gũi như cái bãi bồi bên kia sông hay người vợ tảo tần, giàu tình yêu và đức hi sinh thì phải đến lúc này, khi sắp giã biệt cuộc đời, Nhĩ mới cảm nhận, thấm thía được. Đó là một không gian có chiều sâu và bề rộng: từ những bông bằng lăng ngay phía ngoài cửa sổ đến con sông Hồng với màu đỏ nhạt lúc đã vào thu, vòm trời và bãi bồi bên kia sông. Đó là một cảnh đẹp chỉ có thể cảm nhận được bằng những cảm xúc tinh tế: những chùm hoa thưa thớt nhưng lại đậm sắc hơn, mặt sông Hồng như rộng thêm ra, vòm trời như cao hơn, “những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông…”. Những cảnh sắc ấy vốn rất quen thuộc, gần gũi nhưng lại như rất mới mẻ với Nhĩ, tưởng chừng như lần đầu tiên anh mới gặp. Nhĩ khao khát được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Điều ước muốn ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình thường và sâu xa của cuộc sống, những giá trị thường bị người ta bỏ qua hay lãng quên khi những ham muốn xa vời đang lôi cuốn, đang lấn át. Trong hoàn cảnh của Nhĩ, đó là sự thức tỉnh xen lẫn với niềm ân hận và nỗi xót xa. 5. Trong truyện ngắn này, ngòi bút miêu tả tâm lý của Nguyễn Minh Châu rất tinh tế và thấm đượm tinh thần nhân đạo. Điều đó được thể hiện ngay từ cách lựa chọn và xử lý tình huống. Trong văn học, nhiều tác giả cũng đã đặt nhân vật vào hoàn cảnh hiểm nghèo để làm nổi bật lên khát vọng sống và sức sống mạnh mẽ của con người hay về lòng nhân ái, sự hi sinh cao thượng… Nguyễn Minh Châu đã khai thác tình huống này theo một hướng khác. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, nhân vật suy ngẫm, tự trải nghiệm về cuộc đời với những suy nghĩ sâu sắc. 6. Ở đoạn kết truyện, tác giả đã tập trung miêu tả chân dung và cử chỉ của nhân vật với vẻ rất khác thường: “Anh cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát – y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó”. Hành động này của Nhĩ có thể hiểu là anh đang nôn nóng thúc giục cậu con trai hãy mau kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày, thế nhưng qua suy nghĩ của Nhĩ trước đó, ta lại nhận ra một ý nghĩa khác: đó là ý muốn thức tỉnh mọi người về những cái “vòng vèo, chùng chình” để hướng tới những giá trị đích thực vốn rất giản dị, gần gũi và bền vững. 7. Trong truyện ngắn này, hầu như các hình ảnh đều mang tính đa nghĩa, vừa là nghĩa thực vừa là nghĩa biểu tượng: Hình ảnh bãi bồi, bến sông ngoài ý nghĩa thực còn là vẻ đẹp của đời sống bình dị, gần gũi, thân thuộc của quê hương, xứ sở. Những bông hoa bằng lăng cuối mùa màu sắc như đậm hơn, tiếng những tảng đất lở ở bờ sông bên này đổ ụp vào giấc ngủ của Nhĩ lúc gần sáng… gợi ra ý nghĩa sự sống của nhân vật Nhĩ đã ở vào những ngày cuối cùng. Đứa con trai ham chơi gợi suy nghĩ về sự chùng chình, vòng vèo trong đời sống của con người. Hành động, cử chỉ của Nhĩ ở cuối truyện cũng mang ý nghĩa biểu tượng (đã phân tích ở câu 4). II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Kĩ năng tóm tắt truyện: Nhân vật Nhĩ trong truyện ở vào một hoàn cảnh đặc biệt. Từng đi khắp nơi, về cuối đời Nhĩ lại bị cột chặt vào giường bệnh bởi một căn bệnh hiểm nghèo, đến nỗi không thể tự mình dịch chuyển được. Chính vào thời điểm ấy, Nhĩ lại phát hiện ra vùng đất bên kia sông, nơi bến quê thân thuộc, một vẻ đẹp bình dị mà quyến rũ. 2. Kĩ năng phân tích tâm lí nhân vật Dưới đây là bài soạn Bến quê bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Bến quê Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Bến quê
1,224
Soạn bài lớp 9: Bếp lửa Hướng dẫn Soạn bài: Bếp lửa Soạn bài lớp 9 học kì 1: Bếp lửa do Bằng Việt sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về hình ảnh bếp lửa “chập chờn trong sương sớm”, chập chờn trong kí ức. Hơi ấm của bếp lửa bắt đầu truyền thấm, bắt đầu nhen nhóm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc thương yêu của cháu khi nhớ về bà giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. BẾP LỬA Bằng Việt I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. “Bếp lửa” của nhà thơ Bằng Việt khơi gợi, làm nhen lên, lan toả, cháy mãi dòng hồi ức tuổi ấu thơ, thao thức và pha chút đượm buồn. Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa… Bài thơ đã bắt đầu như thế. Bắt đầu bằng hình ảnh bếp lửa “chập chờn trong sương sớm”, chập chờn trong kí ức. Hơi ấm của bếp lửa bắt đầu truyền thấm, bắt đầu nhen nhóm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc thương yêu của cháu khi nhớ về bà. Hình ảnh “Một bếp lửa” điệp lại hai lần như nhắc nhớ, như hơi thở thổi vào bếp lửa đang “ấp iu”, để cho mạch hồi tưởng bắt đầu… Để trong những dòng thơ tiếp theo, bao kỉ niệm thân thương cứ bất tận ùa về: Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói (…) Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng. Cháu nhớ, từ lúc cháu mới lên bốn tuổi, sống bên bà “tám năm ròng”… Nhớ quê mình ngày ấy, những ngày “đói mòn đói mỏi”, những ngày “bố đánh xe khô rạc ngựa gầy”, nhớ “khói hun nhèm mắt”, “sống mũi còn cay” đến tận bây giờ… Nhớ bà kể chuyện Huế trong tha thiết tiếng tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu từ cánh đồng xa, da diết, khắc khoải vọng về, nghe chộn rộn, nao nao, lại như se sắt, xa xăm. Nhớ khi vắng bố mẹ, “bà bảo cháu nghe”, “dạy cháu làm”, “chăm cháu học”. Nhớ “Năm giặc đốt làng”, cháu giúp bà dựng lại nhà. Nhớ lời bà dặn khi viết thư để bố yên tâm,… Cứ thế, trong dòng hồi nhớ nôn nao, những sự việc cụ thể hiện về nguyên vẹn từng chi tiết như thể vừa mới xảy ra hôm qua hay vừa mới đây thôi. Và thấm đẫm trong từng hình ảnh, từng sự việc ấy là tình cảm sâu nặng của cháu với bà, hướng về bà. Hình ảnh người bà được khắc hoạ gắn liền với bếp lửa, là khi “cháu cùng bà nhóm lửa”, “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”, “Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen”, “Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm – Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm”, gắn liền với nguồn năng lượng ấm áp gần gũi… Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng Bà nhóm lửa cũng là khi bà: Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Từ ngọn lửa được nhen lên trong bếp lửa của bà hoá thành ngọn lửa của tình thương yêu ấp ủ, ngọn lửa của niềm tin yêu bền bỉ cháy mãi không thôi. Bà nhóm lửa là bà nhóm lên và truyền cho cháu lẽ sống, lòng cảm thông, đức hi sinh, chia sẻ. Mỗi khi xúc cảm kết thành những suy ngẫm sâu xa, lời thơ lại trào dâng như những điệp khúc bập bùng, chứa đựng niềm xúc động rưng rưng, bừng cháy trong mạch tự sự của nhân vật trữ tình. Những hình ảnh thực, cụ thể, vốn rất đỗi gần gũi, thân quen đã được tác giả nâng lên thành những hình ảnh biểu tượng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc. Điều bình dị đã trở nên quý giá, thiêng liêng, kì lạ. Kì lạ, thiêng liêng vì nó nhỏ bé, giản đơn mà đã trở thành hành trang theo cháu trong suốt cuộc đời. Kì lạ, thiêng liêng là vì đã mấy chục năm rồi mà bếp lửa của bà vẫn nồng đượm trong kí ức thiêng liêng của cháu, ngọn lửa của bà vẫn thầm cháy trong cháu đến tận bây giờ: Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở: – Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa? Bài thơ Bếp lửa được sáng tác khi Bằng Việt đang là sinh viên ngành luật của Trường Đại học Tổng hợp Ki-ép (Liên Xô cũ). Kì lạ và thiêng liêng biết bao khi trong cuộc sống đã Có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả mà lòng vẫn khôn nguôi hình ảnh người bà với bếp lửa ở tận miền kí ức xa xôi của tuổi ấu thơ. Cứ nhẹ nhàng, mộc mạc mà thấm thía, sâu xa, bếp lửa của bà, ngọn lửa của bà, tình thương yêu của bà, cuộc đời bà đã soi rọi, toả ấm con đường cháu đi. Có thể cuộc sống hiện đại sẽ không còn nhiều người biết đến bếp lửa như ở nơi quê nghèo ấy nữa, nhưng nó đã thành biểu tượng, sẽ còn mãi giá trị khơi gợi cho người đọc những kỉ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam. Điều nhỏ nhoi, giản dị mà có ý nghĩa sâu sắc, lớn lao là như vậy. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG 1. Đọc bài thơ bằng giọng hồi tưởng, nhịp chậm. 2. Đọc lại bài thơ “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh (sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập một) để thấy những điểm tương đồng và khác biệt trong việc thể hiện kí ức tuổi thơ giữa hai tác giả. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận được xem là một khúc tráng ca, một bài ca lao động, dạt dào cảm hứng về thiên nhiên và đất nước, con người trước cuộc sống mới. Vì vậy, khi đọc cần chú ý thể hiện chất giọng khoẻ khoắn, sảng khoái, làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người lao động làm chủ thiên nhiên và vũ trụ. Dưới đây là bài soạn Bếp lửa bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Bếp lửa Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Bếp lửa
1,169
Soạn bài lớp 9: Bố của Xi-Mông Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Bố của Xi-Mông Soạn bài lớp 9 học kì 2: Bố của Xi-mong do Mô-pát-xăng sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. BỐ CỦA XI-MÔNG Mô-pát-xăng I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Guy-đơ Mô-pát-xăng (1850-1893) là nhà văn Pháp, thuộc dòng dõi quý tộc nhưng gia đình đã sa sút. Mô-pát-xăng đã từng tham gia chiến tranh Pháp – Phổ (1870). Sau chiến tranh, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông lên Pa-ri để kiếm sống. Từ đây, ông bắt đầu tạo dựng cuộc sống cho mình. Văn bản này là phần đầu của một truyện ngắn viết về một chú bé không có bố. Tình cảnh éo le đó đã gây cho chú biết bao chuyện phiền toái, thậm chí chú còn nghĩ đến chuyện tự tử. Nhờ có tấm lòng nhân hậu của một bác công nhân, chú bé không những đã có bố mà còn có thể tự hào về bố của mình. 2. Có thể tạm chia văn bản này thành bốn đoạn: Đoạn 1 (từ đầu đến “em chỉ khóc hoài”): nỗi tuyệt vọng của Xi-mông. Đoạn 2 (tiếp đến “Người ta sẽ cho cháu… một ông bố”): bác Phi-líp gặp Xi-mông và an ủi em. Đoạn 3 (tiếp đến “bỏ đi rất nhanh”): bác Phi-líp đưa Xi-mông về với mẹ và nhận làm bố của em. Đoạn 4 (còn lại) Xi-mông đến trường và khoe với các bạn rằng em có một ông bố tên là Phi-líp. 3. Đối với một chú bé, việc không có bố thật phiền hà, nhất là khi người ta không thể biết bố của chú là ai. Mẹ của Xi-mông vì lầm lỡ mà sinh ra chú, bởi thế không những bạn bè trong lớp không chơi với chú mà còn khinh ghét, hành hạ chú. Đoạn trích được mở đầu với đoạn miêu tả thời tiết thật ấm áp, dễ chịu. Sở dĩ như thế vì Xi-mông vừa mới khóc xong, nước mắt đã làm vơi đi phần nào nỗi tủi hờn đang đè nặng trong tâm trí. Một chú bé dù sao cũng chỉ là… một chú bé, nghĩa là nhớ đấy rồi lại quên ngay đấy. Nỗi buồn chóng qua đi và cũng dễ trở lại bất cứ lúc nào. Vì nắm vững tâm lí của trẻ em nên đoạn miêu tả này của Mô-pát-xăng không rơi vào trạng thái quá bi thảm sầu não (mặc dù trước đó, thậm chí chú bé còn nghĩ đến chuyện tự tử). Sau khi khóc chán, chú chơi đuổi bắt con nhái bén rồi từ đó lại nhớ nhà, nhớ đến hoàn cảnh tồi tệ của mình và khóc hoài. 4. Blăng-sốt là cô gái một thời lầm lỡ khiến cho Xi-mông trở thành một đứa con không có bố. Tuy nhiên, đó vẫn là một cô gái đức hạnh, đứng đắn. Điều đó được thể hiện ít nhiều qua hình ảnh ngôi nhà: “Một ngôi nhà nhỏ, quét vôi trắng, hết sức sạch sẽ”. Trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ ấy, người phụ nữ bất hạnh đã can đảm nuôi dạy Xi-mông trở thành một đứa trẻ ngoan ngoãn. Bản chất tốt đẹp của Blăng-sốt còn được thể hiện qua cách chị đối xử với khách. Ban đầu bác Phi-líp cũng có ý định không hẳn nghiêm túc, nhưng khi nhìn thấy chị “bỗng tắt nụ cười, vì bác hiểu ngay là không bỡn cợt được nữa với cô gái cao lớn, xanh xao, đứng nghiêm nghị trước cửa nhà mình, như muốn cấm đàn ông bước qua ngưỡng cửa”. Khi nghe Xi-mông hỏi bác Phi-líp “Bác có muốn làm bố cháu không?”, chị “lặng ngắt và quằn quại vì hổ thẹn, dựa người vào tường, hai tay ôm ngực…”. Những biểu hiện ấy càng chứng tỏ Blăng-sốt là người rất có ý thức về nhân cách của mình. 5. Những suy nghĩ của bác Phi-líp cũng khá thú vị. Ban đầu chỉ vì thương chú bé, bác lựa lời an ủi. Nhưng khi biết chú là con của người đàn bà đẹp nhất vùng, bác lại mỉm cười. Nụ cười đầy ẩn ý được nhà văn diễn giải: “có lẽ trong thâm tâm, bác nhủ thầm rằng một tuổi xuân đã lầm lỡ rất có thể lỡ lầm lần nữa”. Suy nghĩ ấy xem ra không được trong sáng lắm nhưng dẫu sao cũng khiến cho câu chuyện thêm phần thú vị. Nhưng đó chỉ là ý nghĩ thoáng qua. Ngay khi gặp mẹ của chú bé, bác lập tức hiểu ra rằng người phụ nữ ấy hoàn toàn không thích hợp với ý định bỡn cợt của bác. Bác trở về với những suy nghĩ hoàn toàn nghiêm túc. Đây chính là điểm nhấn quan trọng cắt nghĩa thái độ của bác sau này. – Bác có muốn làm bố cháu không? Nhìn mẹ chú bé “lặng ngắt và quằn quại vì hổ thẹn” khiến bác cũng chưa biết nên trả lời chú như thế nào. Nhưng khi chú bé nói: – Nếu bác không muốn, cháu sẽ quay trở ra nhảy xuống sông chết đuối. Sự việc diễn ra đường đột và quá nhanh. Nhà văn không miêu tả chi tiết, chỉ thuật lại cuộc đối thoại đang diễn ra. Mặc dù vậy, bạn đọc vẫn có thể hình dung sự bối rối của bác khi nghe câu hỏi của chú bé. Trả lời như thế nào đây để chú bé yên lòng mà vẫn không xúc phạm đến người mẹ? Ban đầu bác đưa đẩy: – Có chứ, bác muốn chứ. Khi chú bé hối thúc, hỏi tên bác, bác đã đáp rất gọn: – Phi-líp. Đó không còn là lời đáp cho qua chuyện, lại càng không phải là sự bỡn cợt. Đó là thái độ hết sức nghiêm túc của người thợ trước hoàn cảnh bất ngờ. Để nâng đỡ, che chở một tâm hồn ngây thơ, non nớt, người thợ quyết định mở lòng mình ra để đón nhận chú bé. Đó cũng không phải là sự ép buộc mà là niềm vui khi thấy mình đã làm được một việc có ích. Bởi thế, khi chú bé nói: “Thế nhé, bác P|hi-líp, bác là bố cháu đấy nhé”, người thợ đã nhấc bổng em lên, đột ngột hôn vào hai má em. Không cần nói thêm một lời nào, đó chính là sự thừa nhận tự nguyện và vui vẻ. Bác bỏ đi rất nhanh như để che giấu những cảm xúc của mình (và cũng để tránh cho người phụ nữ khỏi cảnh khó xử). Người thợ chắc không thể đánh giá hết việc làm của mình có ý nghĩa quan trọng đến mức nào đối với chú bé. Bằng việc nhận làm bố chú bé, bác đã mang đến cho chú niềm tin, đồng thời còn giúp chú có thêm sức mạnh để chống lại những lời chế giễu đầy ác ý của lũ trẻ. Khi bị chúng trêu chọc như mọi ngày, thay vì bỏ chạy, chú bé đã đáp trả bằng giọng đầy tự hào: Đó là một câu trả lời khá bất ngờ đối với bọn trẻ. Ai cũng biết Xi-mông không có bố, vậy mà giờ đây chú ta lại đường hoàng bảo: “bố tao tên là Phi-líp”. Bởi vậy, ngay sau câu nói của chú, “khắp xung quanh dậy lên những tiếng la hét thích thú: – Phi-líp gì? Phi-líp nào? Phi-líp là cái gì?… Mày lấy đâu ra Phi-líp của mày thế?”. Lũ trẻ có thể tin, cũng có thể không tin, nhưng rõ ràng đối với Xi-mông, điều đó có ý nghĩa thật đặc biệt. Bằng chứng là sau khi cứng cỏi đáp trả lũ trẻ, chú không bỏ chạy như mọi khi mà sẵn sàng đứng lại thách thức chúng. Tình cảm bao dung, nhân hậu của người công nhân già đã mang đến cho chú sự tự tin, điều mà trước đó do mặc cảm, chú chưa bao giờ có được. Đó cũng là tình cảm yêu thương con người được biểu hiện một cách giản dị mà sâu sắc trong tác phẩm của Mô-pát-xăng. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Tóm tắt: Có thể chia văn bản này thành bốn đoạn: Đoạn 1 (từ đầu đến “em chỉ khóc hoài”): nỗi tuyệt vọng của Xi-mông; Đoạn 2 (tiếp đến “Người ta sẽ cho cháu… một ông bố”): bác Phi-líp gặp Xi-mông và an ủi em; Đoạn 3 (tiếp đến “bỏ đi rất nhanh”): bác Phi-líp đưa Xi-mông về với mẹ và nhận làm bố của em; Đoạn 4 (còn lại) Xi-mông đến trường, khoe với các bạn và tin tưởng rằng mình em có một ông bố tên là Phi-líp. Dưới đây là bài soạn Bố của Xi-Mông bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Bố của Xi-Mông Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Bố của Xi-Mông
1,559
Soạn bài lớp 9: Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh Hướng dẫn Soạn bài: Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh Soạn bài lớp 9 học kì 1: Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh trích trong tác phẩm Vũ Trung tùy bút do Phạm Đình Hổ sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về thói ăn chơi xa xỉ, vô độ của chúa Trịnh và các quan lại từ đó nhìn ra nỗi cơ cực cùng khổ của người nông dân và chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH (Trích Vũ Trung tuỳ bút) Phạm Đình Hổ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Thói ăn chơi xa xỉ, vô độ của chúa Trịnh và các quan lại hầu cận trong phủ được được miêu tả thông quan những cảnh và những việc cụ thể: Việc xây dựng đình đài và thú ngao du vô độ; Miêu tả tỉ mỉ những cuộc bài trí dạo chơi của chúa Trịnh; Việc thu sản vật, thứ quý; việc bày vẽ trang trí trong phủ gây phiền nhiễu, tốn kém. Tác giả kín đáo bộc lộ thái độ chủ quan của mình trước việc ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh khi miêu tả cảnh vườn trong phủ Chúa: “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ đổ tan tành, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường.”. Cảm nhận của tác giả về cái “triệu bất tường” mang ý nghĩa như sự phê phán, cảnh báo về thói ăn chơi, hưởng lạc sa hoa trên mồ hôi, xương máu của nhân dân sẽ dẫn đến cảnh suy tàn, tan vỡ tang thương. Kết thúc bài tuỳ bút, tác giả ghi lại việc có thực đã từng xảy ra trong nhà mình: “Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc nở hoa, trắng xoá thơm lừng; trước nhà trung đường cũng trồng hai cây lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, bà cung nhân ta đều sai chặt đi”. Câu chuyện thực xảy ra ở chính gia đình tác giả có tác dụng làm tăng thêm tính xác thực, sinh động cho những chứng cứ lên án chúa Trịnh và quan lại. 3. So sánh đặc điểm của thể tuỳ bút với thể truyện qua Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh và Chuyện người con gái Nam Xương, có thể rút ra nhận xét về sự khác nhau giữa hai thể văn này như sau: Tuỳ bút là thể văn dùng để ghi chép những con người và sự việc cụ thể, có thực, qua đó người viết chú trọng bộc lộ thái độ, cảm xúc, suy tư, nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc sống. Truyện là thể văn phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người. Truyện thường phải có cốt truyện và nhân vật; cốt truyện được trình bày có mở đầu, diễn biến, kết thúc; nhân vật được xây dựng có đặc điểm ngoại hình, chi tiết miêu tả nội tâm, diễn biến tâm lí,… Tuỳ bút là sự ghi chép tuỳ hứng, có khi tản mạn, không theo một cốt truyện nào mà chủ yếu nhằm bộc lộ tình cảm, thái độ của tác giả. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Nói tuỳ bút là thể văn ghi chép sự việc một cách cụ thể, sinh động nhưng tuỳ hứng không có nghĩa là bài văn được sắp xếp lộn xộn, không theo trật tự nào. Thực ra, điều đó chỉ có nghĩa rằng văn tuỳ bút không phụ thuộc vào một khuôn mẫu cố định nào đó (ví dụ như thơ Đường luật). Tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể, tác giả lựa chọn, sắp xếp các chi tiết, sự kiện theo những trật tự nhất định nhằm làm nổi bật vấn đề. Cách đọc: Trong bài văn này có nhiều từ cổ khó đọc (trân cầm, dị thú, cổ mộc, quái thạch, trượng, phụng thủ…), cần tập đọc nhiều lần từng từ, sau đó đọc cả đoạn văn rồi mới đọc cả bài. Dưới đây là bài soạn Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh
840
Soạn bài lớp 9: Chuyện người con gái Nam Xương Hướng dẫn Chuyện người con gái Nam Xương Soạn bài lớp 9 học kì 1: Chuyện người con gái Nam Xương dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để hiểu rõ hơn về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Vũ Nương một người phụ nữ Việt Nam thời xưa được trích từ tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ giúp các bạn học sinh tham khảo học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9. CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG (Trích Truyền kì mạn lục) Nguyễn Dữ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Có thể hình dung bố cục của truyện Chuyện người con gái Nam Xương thành ba phần. Phần thứ nhất (từ đầu cho đến “lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.”) kể về cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh, biến cố chia li và phẩm hạnh của Vũ Nương khi chồng đi chiến trận. Phần thứ hai (từ “Qua năm sau, giặc ngoan cố” cho đến “nhưng việc trót đã qua rồi!”) kể về nỗi oan khuất và cái chết thương tâm của Vũ Nương. Phần cuối (từ “Cùng làng với nàng” cho đến hết) kể về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động của Linh Phi vợ vua biển Nam Hải và việc Vũ Nương được giải oan. 2. Vũ Nương là nhân vật trung tâm của truyện. Để khắc hoạ vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nương, tác giả đã đặt nhân vật này vào những hoàn cảnh khác nhau để miêu tả. Trước hết, tác giả đặt nhân vật vào mối quan hệ vợ chồng trong cuộc sống hằng ngày: “Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức.”; trong hoàn cảnh này, Vũ Nương đã “giữ gìn khuôn phép, không từng lần nào vợ chồng phải đến thất hoà.”. Tiếp đến, tác giả đặt Vũ Nương vào trong tình huống chia li để nhân vật này bộc lộ tình nghĩa thắm thiết của mình với chồng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. […] Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.”. Một hoàn cảnh quan trọng khác, đó là tình huống Vũ Nương bị chồng nghi oan. Trong tình huống này, khí tiết, phẩm hạnh của Vũ Nương được bộc lộ một cách rõ nét. Chú ý phân tích các lời thoại của Vũ Nương với chồng và lời nói trước khi tự vẫn để thấy được tính cách tốt đẹp của nhân vật này. Qua những lời tự minh oan cho mình, thuyết phục chồng, lời than thở đau đớn vì oan nghiệt, Vũ Nương đã bộc lộ khao khát về tình yêu, hạnh phúc gia đình như thế nào? Tại sao Vũ Nương lại phải trẫm mình tự vẫn? Hành động này cho thấy lòng tự trọng, ý thức giữ gìn danh dự, tiết hạnh ở người phụ nữ này ra sao? Tóm lại, bằng cách đặt nhân vật vào những hoàn cảnh, tình huống khác nhau, tác giả đã khắc hoạ đậm nét một nhân vật Vũ Nương hiền thục, một người vợ thuỷ chung, yêu thương chồng con hết mực, một người con dâu hiếu thảo, hết lòng vì cha mẹ, gia đình, đồng thời cũng là người phụ nữ coi trọng danh dự, phẩm hạnh, quyết bảo vệ sự trong sạch của mình. 3. Tác giả đã xây dựng nhân vật Trương Sinh với tính cách rõ nét: “đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức.”, nghe lời con trẻ mà không suy xét đúng sai: “Tính chàng hay ghen, nghe con nói vậy, đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được.”, hồ đồ, độc đoán không đếm xỉa đến những lời thanh minh của vợ, đối xử tệ bạc, vũ phu với Vũ Nương: “chỉ lấy chuyện bóng gió này nọ mà mắng nhiếc nàng, và đánh đuổi đi”. Chính Trương Sinh đã đẩy Vũ Nương đến tình cảnh bi kịch, không lối thoát và phải chọn cái chết để giải thoát. Qua đây cũng thấy được thân phận nhỏ nhoi, bèo bọt của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, họ không được làm chủ cuộc sống của mình, luôn luôn là kẻ bị động, hứng chịu những oan khiên, cay đắng. Lời của Vũ Nương nói với Trương Sinh khi từ biệt; Lời của mẹ Trương Sinh nói với Vũ Nương; Đoạn đối thoại giữa hai cha con Trương Sinh; Ba lời thoại của Vũ Nương khi bị nghi oan. Phân tích các lời thoại để thấy được tác dụng của chúng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, diễn biến tâm lí nhân vật, tạo kịch tính cho câu chuyện. 5. Truyền kì được hiểu là những điều kì lạ vẫn được lưu truyền. Yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì có một vai trò rất quan trọng. Nó khiến câu chuyện được kể trở nên lung linh, hư ảo. Chẳng hạn: chuyện nằm mộng của Phan Lang, Chuyện Phan Lang và Vũ Nương dưới động rùa của Linh Phi,… chuyện lập đàn giải oan, Vũ Nương hiện về ngồi trên kiệu hoa, cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện, rồi “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.”. Đó là đặc điểm chung của thể loại truyền kì trung đại. Hơn nữa, Nguyễn Dữ đã sử dụng cách đưa yếu tố truyền kì vào câu chuyện kết hợp với các yếu tố tả thực để tạo hiệu quả nghệ thuật về tính chân thực của truyện (các yếu tố tả thực: địa danh, thời điểm lịch sử, sự kiện lịch sử, miêu tả chân dung nhân vật, khung cảnh…). Ngoài ra, sự có mặt của các yếu tố kì ảo đã tạo ra một thế giới ước mơ, khát vọng của nhân dân về sự công bằng, bác ái. Đây là truyện có dạng truyền kỳ: các yếu tố hiện thực đan xen với những yếu tố kì ảo tạo nên sự hấp dẫn đối với bạn đọc. Chủ đề của truyện cũng khá rõ ràng: đề cao, ca ngợi phẩm hạnh của người phụ nữ, đồng thời thể hiện niềm cảm thương cho số phận bất hạnh của họ dưới chế độ phong kiến. Có thể tạm chia truyện thành hai phần, lấy mốc là việc Vũ Nương nhảy xuống sông tự tử: Đoạn 1 (từ đầu đến “và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”): bị chồng nghi oan. Vũ Nương tự vẫn. Đoạn 2 (còn lại): nỗi oan được giải, Vũ Nương được cứu sống nhưng vẫn không trở về đoàn tụ cùng gia đình. Cách đọc: Đọc chậm rãi, rõ ràng, đặc biệt lưu ý các câu đối thoại: Giọng đứa trẻ: ngây thơ, hồn nhiên khi nói chuyện với bố. Giọng người chồng: tức giận khi nghi kị ghen tuông; khi nài nỉ, van xin khi xót xa hối hận. Giọng Vũ Nương: khi bị chồng nghi oan thì đau khổ, khi trò chuyện với Phan Lang thì ngậm ngùi nhưng khi từ chối đoàn tụ thì cương quyết. Dưới đây là bài soạn Chuyện người con gái Nam Xương bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Chuyện người con gái Nam Xương Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Chuyện người con gái Nam Xương
1,355
Soạn bài lớp 9: Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới Soạn bài: Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THẾ KỶ MỚI I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Người Việt Nam chúng ta có nhiều phẩm chất tốt đẹp, đó là lòng yêu nước, là đức tính cần cù, dũng cảm, là tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”… Đó là những phẩm chất không ai có thể phủ nhận bởi chúng đã được kiểm nghiệm và khẳng định trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tuy nhiên, không ai có thể toàn vẹn, cùng với những phẩm chất cần luôn được phát huy, người Việt Nam chúng ta vẫn có những mặt hạn chế cần sửa đổi. Nhận thức được những mặt mạnh để phát huy, đồng thời cũng nhận thức được những mặt còn yếu kém cần khắc phục là điều hết sức cần thiết để mỗi con người nói riêng và cộng đồng Việt Nam nói chung vươn lên tự hoàn thiện mình, không ngừng tiến bộ để đáp ứng những yêu cầu mới của lịch sử đất nước. 2. Bài viết của Phó Thủ tướng Vũ Khoan trong dịp mở đầu thế kỷ mới đã nêu ra một cách chính xác và kịp thời những vấn đề thiết thực đối với con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, lực lượng quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng đất nước trong thế kỷ mới. 3. Có thể xác định lại dàn ý của bài viết như sau: Bài viết nêu ra bốn ý lớn, mỗi ý lại được cụ thể hoá bằng một hệ thống luận cứ, dẫn chứng khá sinh động: Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới thì quan trọng nhất là sự chuẩn bị bản thân con người. Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề của đất nước. Những cái mạnh, cái yếu của người Việt Nam cần được nhận thức rõ trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới. Trong bài viết này, tác giả đã nêu ra một vấn đề hệ trọng: chúng ta cần nhận thức như thế nào và làm những việc gì để chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới? Vấn đề ấy không chỉ có ý nghĩa thời sự trong thời điểm chuyển giao thế kỷ mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với cả quá trình đi lên của đất nước bởi vì để đáp ứng những nhiệm vụ nặng nề mà lịch sử và dân tộc đã giao phó, con người Việt Nam nói chung và lớp trẻ Việt Nam nói riêng không thể không nhận thức rõ những mặt mạnh cũng như những điểm còn hạn chế của mình để vừa phát huy những mặt tích cực, đồng thời khắc phục, sửa chữa những mặt còn yếu kém, không ngừng hoàn thiện mình, xứng đáng là chủ nhân của đất nước. 5. Trong hành trang vào thế kỷ mới, sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất, bởi vì: Con người bao giờ cũng là động lực phát triển của lịch sử. Trong thời kỳ nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, con người lại càng có vai trò nổi bật. 6. Trong sự phát triển chung của thế giới, khi khoa học, kỹ thuật có tốc độ phát triển vô cùng mạnh mẽ, sự giao thoa, hội nhập ngày càng sâu rộng giữa các nền kinh tế, đất nước ta nói chung và các thế hệ hiện tại nói riêng đang đứng trước những nhiệm vụ vô cùng trọng đại, đó là đồng thời giải quyết ba nhiệm vụ: thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đồng thời nhanh chóng tiếp cận với nền kinh tế tri thức. 7. Khi nêu ra những ưu điểm và nhược điểm của người Việt Nam, tác giả đã không làm một phép liệt kê giản đơn từ ưu điểm đến nhược điểm mà cứ mỗi khi nêu một ưu điểm, tác giả lại đề cập đến một nhược điểm. Điều đáng chú ý là những ưu điểm và nhược điểm đó luôn được đặt trong yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Cụ thể: Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng lại thiếu kiến thức cơ bản, kiến thức thực hành. Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, chưa quen với cường độ lao động khẩn trương. Có tinh thần đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau nhưng đồng thời lại cũng thường đố kị nhau trong công việc. Bản tính thích ứng nhanh nhưng lại có nhiều hạn chế trong thói quen, nếp nghĩ, quen bao cấp, rất sùng ngoại nhưng có khi lại bài ngoại đến mức cực đoan, khôn vặt, ít giữ chữ “tín”. Tuy nhiên, điều đó nếu lặp đi lặp lại mãi sẽ khiến chúng ta không thể đánh giá đúng năng lực và phẩm chất của mình, dẫn đến thái độ ngộ nhận, tự thoả mãn, không chịu học hỏi người khác. Bài viết này đã mang đến cho bạn đọc cảm giác rất bất ngờ. Tác giả không ca ngợi một chiều, cũng không chỉ toàn phê phán một cách cực đoan mà nhìn nhận song song, đối chiếu và đánh giá những điểm mạnh cũng như những điểm yếu của người Việt Nam trong quan hệ với công việc, trong yêu cầu của sự phát triển xã hội. Đó là sự đánh giá rất khách quan và khoa học, xuất phát từ thiện chí của tác giả muốn để chúng ta nhìn nhận về mình một cách đúng đắn, chân thực, ý thức được những mặt tốt cũng như mặt chưa tốt của mình để phát huy hoặc sửa đổi. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ: Trong văn bản, tác giả đã sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ: “nước đến chân mới nhảy”, “trâu buộc ghét trâu ăn”, “liệu cơm gắp mắm”, “bóc ngắn cắn dài”… Việc sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ dân gian như vậy khiến cho bài viết thêm phần sinh Mời các bạn tham khảo tài liệu liên quan Bài soạn văn rút gọn: Soạn Văn Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới của Vũ Khoan
Soạn bài lớp 9_ Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới
1,125
Soạn bài lớp 9: Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La-Phông-Ten Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La-Phông-Ten Soạn bài: Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La-Phông-Ten dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. CHÓ SÓI VÀ CỪU TRONG THƠ NGỤ NGÔN CỦA LA-PHÔNG-TEN H. Ten I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Ngụ ngôn vốn là một thể loại văn học dân gian, thường dựng chuyện về loài vật để nói về con người. Các câu chuyện ngụ ngôn có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc, chính vì vậy mà một số nhà văn cũng thường sáng tác theo thể loại này, tiêu biểu như E-dốp, La-phông-ten… 2. Hi-pô-lít Ten (1828-1893) là triết gia, sử gia đồng thời cũng là nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng của Pháp, Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về truyện ngụ ngôn của La-phông-ten. Đây là một bài nghị luận văn chương, trích từ chương II, phần II của công trình La-phông-ten và thơ ngụ ngôn của ông, in năm 1853. 3. Văn bản có bố cục hai phần: Phần một (từ đầu đến “tốt bụng như thế”): hình tượng con cừu trong thơ La-phông-ten. Phần hai (còn lại): hình tượng chó sói trong thơ La-phông-ten. 4. Buy-phông viết về loài cừu và loài chó sói từ quan điểm của một nhà khoa học, bởi vậy, các chi tiết đều giống như trong đời thực. Ông không nói đến “sự thân thương của loài cừu” cũng như “nỗi bất hạnh của loài sói” bởi vì đó không phải là đặc điểm tiêu biểu của chúng. Những đặc điểm đó do con người “gán” cho loài vật, không thể xuất hiện trong công trình nghiên cứu của một nhà khoa học. 5. Khi xây dựng hình tượng con cừu, trước hết, La-phông-ten đã đặt một chú cừu con trong một hoàn cảnh đặc biệt: đối mặt với chó sói bên dòng suối. Hoàn cảnh đó làm nổi bật lên tính chất hiền lành, nhút nhát – cũng là một đặc điểm tiêu biểu cho tính nết của loài cừu. Vì sáng tác theo thể loại ngụ ngôn nên La-phông-ten đã nhân cách hoá con cừu, miêu tả cả chó sói và cừu như những con người cụ thể. Chó sói là kẻ đáng cười (vì không kiếm nổi miếng ăn nên đói meo). Chó sói còn là một kẻ đáng ghét vì nó làm hại đến người khác. Để làm sáng tỏ hai luận điểm trên, có thể phân tích hình tượng chó sói trong thơ ngụ ngôn của La-phông-ten theo những gợi ý sau: Con chó sói được nói đến trong bài thơ là một con sói cụ thể, rất sinh động (gầy giơ xương, đi kiếm mồi, muốn ăn thịt cừu non…). Con chó sói được nhân cách hoá như hình tượng cừu dưới ngòi bút phóng khoáng của nhà thơ và đặc trưng của thể loại ngụ ngôn. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Kĩ năng lập luận và phân tích. 2. Đọc văn bản cần chú ý giọng đọc giữa lời văn nghị luận với lời dẫn thơ. Dưới đây là bài soạn Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La-Phông-Ten
667
Soạn bài lớp 9: Chị em Thúy Kiều Hướng dẫn Soạn bài: Chị em Thúy Kiều Soạn bài lớp 9 học kì 1: Chị em Thúy Kiều trích trong Truyện Kiều do Nguyễn Du sáng tác để thấy được nét nổi bật của người phụ nữ Việt Nam trong thời kì phong kiến đồng thời làm nổi bật sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành của chị em Thúy Kiều, mời các bạn tải và tham khảo bài soạn văn dưới đây CHỊ EM THUÝ KIỀU (Trích Truyện Kiều) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tìm hiểu kết cấu đoạn trích: Bốn câu thơ đầu: giới thiệu về khái quát về hai chị em Thuý Kiều; Bốn câu thơ tiếp: vẻ đẹp của Thuý Vân; Mười sáu câu thơ còn lại: vẻ đẹp của Thuý Kiều. Trình tự miêu tả các nhân vật theo kết cấu đoạn trích là miêu tả từ khái quát đến cụ thể. 2. Nét riêng về nhan sắc và tính cách của Thuý Vân được gợi tả bằng các hình ảnh ước lệ (trăng, cười, ngọc, mây, tuyết) trong bốn câu thơ: Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Vẻ đẹp của Thuý Vân được gợi tả là vẻ đẹp sang trọng, quý phái, đầy đặn, nở nang… về nhan sắc; đoan trang, trung thực, phúc hậu… về tính cách. Hình ảnh chân dung, tính cách còn có tác dụng gợi tả số phận: cuộc đời bình lặng, yên ổn. Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn: “sắc sảo” và “mặn mà” đều có tác dụng vừa gợi tả nhan sắc, vừa gợi tả tính cách, tài trí. Về nhan sắc, mặc dù không gợi tả cụ thể như khi tả Thuý Vân, nhưng qua những hình ảnh đậm màu sắc tượng trưng, ước lệ, tác giả đã tạo được ấn tượng về một vẻ đẹp của giai nhân tuyệt thế. Đặc biệt là việc gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt: “làn thu thuỷ”; đôi mắt trong sáng như nước mùa thu, gợi vẻ lanh lợi, sắc sảo hơn người. 4. Bên cạnh vẻ đẹp hình thức, nhan sắc, tác giả còn nhấn mạnh vẻ đẹp tài năng, tâm hồn của Kiều. Ở Kiều hội tụ đầy đủ mọi tài năng theo quan niệm của tư tưởng phong kiến: cầm – kì – thi – hoạ. Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh tài đánh đàn của Kiều (Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương) và gợi tả về tính cách đa sầu, đa cảm của Kiều qua khúc nhạc nàng tự sáng tác – một thiên “bạc mệnh”. Cũng như khi miêu tả Thuý Vân, những nét riêng về tài và sắc của Thuý Kiều còn gợi ra những dự cảm về số phận, chỉ khác là những nét riêng về tài sắc của Kiều lại gợi ra cái nghiệt ngã, éo le của số phận (theo quan niệm “tài mệnh tương đố” của tư tưởng trung đại). Cho nên, nói: Sắc đẹp của Thuý Vân “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”, còn sắc đẹp của Thuý Kiều “Hoa ghen đua thắm, liễu hờn kém xanh” là sự dự báo số phận của hai người là có cơ sở. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Đoạn thơ này miêu tả vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều và Thuý Vân. Với ngòi bút tài hoa, khả năng vận dụng khéo léo ngôn ngữ dân tộc kết hợp với các điển tích, điển cố, có thể nói Nguyễn Du đã giúp bạn đọc hình dung được những chuẩn mực về vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa, đó cũng có thể coi là chuẩn mực của cái đẹp trong của văn học trung đại. Không chỉ miêu tả những hình mẫu, chân dung Thuý Kiều và Thuý Vân trong tác phẩm còn thể hiện những dụng ý nghệ thuật sâu xa của tác giả. Mặc dù “Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười” nhưng với mỗi nhân vật, sự miêu tả của Nguyễn Du dường như đã dự báo những số phận khác nhau của hai chị em. Điều đó vừa thể hiện bút pháp miêu tả nhân vật khá sắc sảo của Nguyễn Du nhưng đồng thời cũng cho thấy quan niệm “tài mệnh tương đố” của ông. Dưới đây là bài soạn Chị em Thúy Kiều (trích Truyện Kiều) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Chị em Thúy Kiều (trích Truyện Kiều) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Chị em Thúy Kiều
834
Soạn bài lớp 9: Con chó Bấc Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Con chó Bấc Soạn bài lớp 9 học kì 2: Con chó Bấc do Giắc lan-don sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. CON CHÓ BẤC Giắc Lân-đơn I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Giắc Lân-đơn (1876-1916) là một nhà văn Mỹ. Ông sinh ở Xan Phran-xít-xcô và đã từng trải qua một thời thơ ấu rất vất vả, từng phải làm nhiều nghề để sinh sống. Sau đó ông vào học ở trường đại học Bớc-cơ-li và bắt đầu sáng tác truyện ngắn đăng trên tờ báo sinh viên. Giắc Lân-đơn nổi tiếng với các tác phẩm: Tiếng gọi nơi hoang dã (1903), Mác-tin I-đơn (1909), Sói biển (1904), gót sắt (1907)… 2. Con chó Bấc là đoạn trích trong truyện ngắn rất nổi tiếng Tiếng gọi nơi hoang dã của nhà văn Mĩ Giắc Lân-đơn. Trí tưởng tượng cực kì phong phú đã giúp nhà văn dựng lên bức chân dung sinh động về một con chó làm nghề kéo xe. Đằng sau bức chân dung ấy, người ta thấy rất rõ toàn cảnh nước Mĩ trong thuở ban đầu, khi nền văn minh mới sơ khai. 3. Đoạn trích có thể chia làm ba phần: Mở đầu (đoạn 1). Tình cảm của Thoóc-tơn đối với Bấc (đoạn 2). Tình cảm của Bấc đối với Thoóc-tơn (còn lại). Trong ba phần trên, phần thứ ba dài hơn cả. Điều đó cho thấy mục đích chính của tác giả là kể chuyện con chó Bấc và miêu tả tình cảm của nó đối với chủ. 4. Thoóc-tơn đối xử vs nx con chó của anh, đặc biệt là đối với Bấc “như là con cái của anh vậy”. Cả trong suy nghĩ và trong hành động, anh không coi Bấc chỉ là một con chó mà là người bạn đồng hành, là bạn bè của anh. 5. Những sự việc hằng ngày diễn ra trong mối quan hệ giữa Thoóc-tơn và Bấc được tác giả kể lại rất giản dị nhưng có sức hấp dẫn thật đặc biệt. Những cử chỉ, hành động được miêu tả xen kẽ với những chi tiết cụ thể, sinh động cho thấy tình cảm của Thoóc-tơn dành cho Bấc đã vượt qua mối quan hệ chủ tớ thông thường. Anh chăm sóc những con chó “như thể chúng là con cái của anh vậy”. Bấc vốn là một con chó thông minh, nó hiểu những cử chỉ của chủ có ý nghĩa như thế nào, bởi vậy, nó cũng đáp lại bằng một tình cảm chân thành nhưng không kém phần nồng nhiệt. Bản thân nó quá đỗi vui sướng, đến độ “tưởng chừng như quả tim mình nhảy tung ra khỏi cơ thể vì quá ngây ngất”. Mỗi cử chỉ của Bấc cũng thể hiện quá nhiều ý nghĩa khiến cho Thoóc-tơn cũng như muốn kêu lên, tưởng như con chó đang nói với anh bằng lời chứ không phải chỉ qua hành động. Cách biểu lộ tình cảm của Bấc cũng rất khác thường. Cái cách nó ép hai hàm răng vào tay chủ một lúc lâu cho thấy tình cảm của Bấc dành cho Thoóc-tơn mãnh liệt đến mức nào. Mặt khác, nó lại không hề vồ vập, săn đón như những con chó khác mà chỉ lặng lẽ tôn thờ, quan sát chủ theo một cách rất riêng mà chỉ nó mới có thể bộc lộ như vậy. Sự giao cảm bằng ánh mắt giữa nó và Thoóc-tơn đã nói lên tất cả sự ngưỡng mộ, thành kính, tình thương yêu của Bấc đối với người chủ mang trong mình những tình cảm mà trước đó nó chưa từng cảm nhận được bao giờ. Sự gắn bó về tình cảm giữa Bấc và chủ được thể hiện sâu hơn trong phần cuối của đoạn trích. Càng yêu chủ bao nhiêu thì Bấc lại càng sợ mất bấy nhiêu. Bởi vậy, nó luôn bám theo Thoóc-tơn và không rời anh nửa bước. Chi tiết Bấc không ngủ “trườn qua giá lạnh đến tận mép lều, đứng đấy, lắng nghe tiếng thở đều đều của chủ…” rất sống động, có sức diễn tả lớn hơn cả những lời giãi bày trực tiếp, nó biểu hiện khả năng quan sát và miêu tả rất tinh tế của tác giả. 6. Sức hấp dẫn của đoạn trích này nói riêng và cả truyện ngắn Tiếng gọi nơi hoang dã nói chung đối với bạn đọc còn ở ý nghĩa xã hội sâu sắc mà nó đã gợi lên. Trong cuộc đua tranh khốc liệt để giành giật của cải, giành giật sự sống của con người, mọi quan hệ tình cảm đều bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Tình cảm, lòng yêu thương sâu sắc giữa Bấc và Thoóc-tơn là lời ca ca ngợi những tình cảm nhân hậu, cao quý, kêu gọi con người hãy tạm gác lại những đam mê vật chất để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp, có ý nghĩa hơn. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Tóm tắt: Đoạn trích có thể chia làm ba phần: Mở đầu (đoạn 1); Tình cảm của Thoóc-tơn đối với Bấc (đoạn 2); Tình cảm của Bấc đối với Thoóc-tơn (còn lại). Dưới đây là bài soạn Con chó Bấc bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Con chó Bấc Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Con chó Bấc
987
Soạn bài lớp 9: Con cò Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Con cò Soạn bài: Con cò do Chế Lan Viên sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. CON CÒ Chế Lan Viên I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nhà thơ Chế Lan Viên (1920 – 1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ – Quảng Trị. Trước Cách mạng tháng Tám Chế Lan Viên đã nổi tiếng trong phong trào Thơ mới qua tập Điêu tàn. Chế Lan Viên đã có những đóng góp lớn vào những thành tựu của văn học kháng chiến, ông là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ Việt Nam thế kỷ XX. 2. Bài thơ Con cò được sáng tác năm 1962, in trong tập thơ Hoa ngày thường, chim báo bão. Hình tượng con cò trong những câu hát ru đã thể hiện những suy nghĩ sắc sảo và chan chứa cảm xúc của tác giả về tình mẹ và lời ru. 3. Hình tượng bao trùm cả bài thơ là hình tượng con cò. Đó là con cò trong ca dao truyền thống, xuất hiện rất phổ biến và được dùng với nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng ý nghĩa phổ biến nhất là hình ảnh người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống nhiều vất vả, nhọc nhằn nhưng luôn thể hiện được những đức tính tốt đẹp và niềm vui sống. Đoạn 1: hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với tuổi ấu thơ. Đoạn 2: hình ảnh con cò đi vào tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi và sẽ theo con người đi suốt cuộc đời. Đoạn 3: từ hình ảnh con cò, nhà thơ suy ngẫm và triết lý về ý nghĩa của lời ru và tình mẹ đối với cuộc đời mỗi con người. 5. Trong đoạn đầu bài thơ, tác giả đã sử dụng những câu ca dao: Con cò bay lả bay la Bay từ cổng phủ, bay ra cánh đồng Con cò bay lả bay la Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng Con cò mày đi ăn đêm Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao Ông ơi ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con. Trong hai bài ca dao trước, hình ảnh con cò gợi tả không gian và khung cảnh quen thuộc, nhịp điệu nhẹ nhàng, thong thả của cuộc sống thời xưa. Trong bài ca dao sau (Con cò mày đi ăn đêm…), hình ảnh con cò lại tượng trưng cho những con người, nhất là người phụ nữ đang nhọc nhằn, vất vả để kiếm sống nuôi con. 6. Hình tượng trung tâm trong bài thơ là cánh cò nhưng cảm hứng chủ đạo lại là tình mẹ. Hình ảnh con cò đã gợi ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ đầy dịu dàng của người mẹ. Bởi vậy, những câu thơ mang tính khái quát trong bài đều là những câu thơ chan chứa tình cảm yêu thương của người mẹ: Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con. Đó là một quy luật tình cảm bền vững và sâu sắc, thể hiện tình cảm yêu thương vô bờ bến của người mẹ. Dù ở đâu, bên mẹ hay đến phương trời khác, dù còn nhỏ hay đã lớn khôn thì con vẫn được mẹ hết lòng thương yêu, che chở. Một con cò thôi Con cò mẹ hát Cũng là cuộc đời Vỗ cánh qua nôi. Lời ru cũng là khúc hát yêu thương. Sự hoá thân của người mẹ vào cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa, kết tụ những hi sinh, gian khổ, nhọc nhằn để những lời yêu thương càng trở nên sâu sắc, đằm thắm. Câu thơ cuối là một hình ảnh rất đẹp. Cánh cò vỗ qua nôi như dáng mẹ đang nghiêng xuống chở che, đang nói với con những lời tha thiết của lòng mẹ. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Dựa vào đặc điểm nghệ thuật của bài thơ, có thể nhận diện: 1. Về thể thơ: Trong bài thơ này, tác giả sử dụng thể thơ tự do nhưng các đoạn thường được bắt đầu bằng những câu thơ ngắn, có cấu trúc giống nhau, nhiều chỗ lặp gợi âm điệu lời ru. Tuy nhiên, trong bài thơ, ta còn nhận thấy giọng suy ngẫm, triết lý. 2. Về hình ảnh: Hình ảnh con cò trong ca dao trở thành điểm tựa cho những liên tưởng, tưởng tượng của tác giả. Những hình ảnh trong bài thơ vừa rất gần gũi, xác thực nhưng đồng thời cũng giàu ý nghĩa biểu tượng và sắc thái biểu cảm. Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Con cò
879
Soạn bài lớp 9: Các phương châm hội thoại Hướng dẫn Soạn bài: Các phương châm hội thoại Soạn bài lớp 9 học kì 1: Các phương châm hội thoại dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo. Soạn văn 9 bài Các phương châm hội thoại này sẽ giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9, hiểu rõ hơn về phương châm dùng trong hội thoại, các loại phương châm thường được dùng trong văn bản, hội thoại thường diễn ra. Soạn bài lớp 9: CÁC PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Phương châm về lượng a) Đọc và nhận xét về đoạn hội thoại sau: An: – Này, cậu có biết bơi không? Ba: – Biết chứ, thậm chí còn bơi giỏi nữa. An: – Thế cậu học bơi ở đâu vậy? Ba: – Chẳng lẽ cậu không biết à? Dĩ nhiên là ở dưới nước chứ còn đâu. Gợi ý: Chú ý tới nội dung trao đáp giữa các lượt lời. b) Câu trả lời của Ba (Dĩ nhiên là ở dưới nước chứ còn đâu) có thoả mãn được câu hỏi của An (Thế cậu học bơi ở đâu vậy?) không? Vì sao? Gợi ý: An cần biết điều gì? Ba đã cho An biết điều gì? Nếu câu trả lời của Ba chưa có nội dung mà An cần biết thì nội dung đó là gì? Bản thân từ “bơi” đã cho người ta biết: ở dưới nước. Điều mà An cần biết là một địa điểm học bơi cụ thể (Bể bơi nào? Sông, hồ,… nào?). Câu trả lời của Ba chỉ có nội dung mặc nhiên đã được biết, không có lượng thông tin cần thiết đáp ứng nhu cầu của người đối thoại. c) Như vậy, khi giao tiếp ta cần chú ý điều gì? Gợi ý: Lời nói thiếu nội dung sẽ không đảm bảo tiêu chuẩn giao tiếp. d) Đọc truyện sau và cho biết yếu tố gây cười ở đây là gì? LỢN CƯỚI, ÁO MỚI Có anh tính hay khoe của. Một hôm, may được cái áo mới, liền đem ra mặc, rồi đứng hóng ở cửa, đợi có ai đi qua người ta khen. Đứng mãi từ sáng đến chiều chả thấy ai hỏi cả, anh ta tức lắm. Đang tức tối, chợt thấy một anh, tính cũng hay khoe, tất tưởi chạy đến hỏi to: – Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không? Anh kia liền giơ ngay vạt áo ra, bảo: – Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả! (Truyện cười dân gian Việt Nam) Vì muốn khoe khoang nên cả hai anh chàng trong truyện trên đều đưa vào lời nói những nội dung không cần thiết. Đây cũng chính là yếu tố gây cười của truyện. e) Như vậy, trong giao tiếp, bên cạnh việc phải đảm bảo đủ (không thiếu) thông tin, người ta còn phải chú ý đến điều gì để thực hiện phương châm về lượng? Gợi ý: Lời nói phải có thông tin; thông tin ấy phải phù hợp với mục đích giao tiếp; Nội dung của lời nói phải đủ (không thiếu, không thừa). 2. Phương châm về chất a) Tại sao nói truyện dưới đây có tính phê phán? Hai anh chàng đi qua một khu vườn trồng bí. Một anh thấy quả bí to, kêu lên: – Chà, quả bí kia to thật! Anh bạn có tính hay nói khoác, cười mà bảo rằng: – Thế thì đã lấy làm gì mà to. Tôi đã từng thấy những quả bí to hơn nhiều. Có một lần, tôi tận mắt trông thấy một quả bí to bằng cả cái nhà đằng kia kìa. Anh kia nói ngay: – Thế thì đã lấy gì làm lạ. Tôi còn nhớ, một bân tôi trông thấy một cái nồi đồng to bằng cả cái đình làng ta. Anh nói khoác ngạc nhiên hỏi: – Cái nồi ấy dùng để làm gì mà to đến như vậy? Anh kia giải thích: – à, thế anh không biết à? Cái nồi ấy dùng để luộc quả bí anh vừa nói ấy mà. Anh nói khoác biết bạn chế nhạo mình, mới nói lảng ra chuyện khác. (Truyện cười dân gian Việt Nam) Gợi ý: Tiếng cười trong truyện cười có tác dụng lên án, phê phán những cái xấu. Ở mẩu chuyện trên, tình tiết gây cười nằm ở lời đối đáp giữa hai nhân vật, đặc biệt là ở lời thoại cuối. Cái xấu bị phê phán ở đây là tính nói khoác, nói không đúng sự thật. b) Câu chuyện trên nhắc nhở chúng ta điều gì? Gợi ý: Khi nói, nội dung lời nói phải đúng sự thật. Không nói những gì mà mình không tin là đúng, không có căn cứ chính xác. Đây cũng chính là phương châm về lượng mà người giao tiếp phải tuân thủ. 1. Các câu sau vi phạm phương châm về lượng như thế nào? a) Trâu là một loài gia súc nuôi ở nhà. b) Én là một loài chim có hai cánh. Gợi ý: Cần nắm chắc phương châm về lượng là gì để xác định lỗi và cách khắc phục lỗi trong hai câu này. Câu (a): Nếu nói thành “Trâu là một loài gia súc.” thì có ảnh hưởng gì đến nội dung của câu không? Tại sao khi bớt đi một số từ ngữ mà nội dung của câu vẫn không thay đổi? Câu (b): Nếu nói thành “Én là một loài chim.” thì người nghe có hiểu được là én có hai cánh không? Câu này diễn đạt thừa như thế nào? 2. Hãy chọn các từ ngữ cho bên dưới để điền vào chỗ trống – (…) – trong các câu sau cho thích hợp: a) Nói có căn cứ chắc chắn là (…) b) Nói sai sự thật một cách cố ý, nhằm che giấu điều gì đó là (…) c) Nói một cách hú hoạ, không có căn cứ là (…) d) Nói nhảm nhí, vu vơ là (…) e) Nói khoác lác, làm ra vẻ tài giỏi hoặc nói những chuyện bông đùa, khoác lác cho vui là (…) (1- nói trạng; 2 – nói nhăng nói cuội; 3 – nói có sách, mách có chứng; 4 – nói dối; 5 – nói mò) Gợi ý: (a) – 3; (b) – 4; (c) – 5; (d) – 2; (e) – 1. 3. Trong các câu ở bài tập trên (2), câu nào chỉ phương châm về chất, câu nào chỉ hiện tượng vi phạm phương châm này? Gợi ý: Trả lời câu hỏi: Phương châm về chất là gì? Như thế nào thì bị xem là vi phạm phương châm về chất? Từ đó phân biệt nội dung giữa các câu trên. 4. Trong truyện sau, phương châm hội thoại nào đã bị vi phạm? Tại sao? CÓ NUÔI ĐƯỢC KHÔNG Một anh, vợ có thai mới hơn bảy tháng mà đã sinh con. Anh ta sợ không nuôi được, gặp ai cũng hỏi: Một người bạn an ủi: – Không can gì mà sợ. Bà tôi sinh ra bố tôi cũng đẻ non trước hai tháng đấy! Anh kia giật mình hỏi lại: – Thế à? Rồi có nuôi được không? (Truyện cười dân gian Việt Nam) Nội dung của hai lời thoại có mâu thuẫn nhau không? Tại sao có thể nói câu hỏi ở cuối truyện của anh chàng có vợ đẻ non là thừa? Tình huống gây cười của truyện trên dựa trên hiện tượng vi phạm phương châm về lượng trong hội thoại. 5. Khi hội thoại, người ta thường dùng các từ ngữ sau: a) như tôi được biết; tôi tin rằng; nếu tôi không lầm thì; tôi nghe nói; theo tôi nghĩ; hình như là,… b) như tôi đã trình bày; như chúng ta đã biết,… Hãy cho biết các từ ngữ trên có tác dụng gì trong diễn đạt? Hai nhóm từ ngữ trên thuộc những phương châm hội thoại nào? Gợi ý: Để đảm bảo phương châm về chất, người tham gia hội thoại phải lưu ý điều gì? Các từ ngữ trong nhóm (a) có tác dụng như thế nào trong việc đảm bảo phương châm này? Để đảm bảo phương châm về lượng, người tham gia hội thoại phải lưu ý điều gì? Các từ ngữ trong nhóm (b) có tác dụng ra sao trong việc bảo đảm phương châm này? 6. Đọc các thành ngữ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới: ăn đơm nói đặt; ăn ốc nói mò; ăn không nói có; cãi chày cãi cối; khua môi múa mép; nói dơi nói chuột; hứa hươu hứa vượn. Giải thích nghĩa của các thành ngữ. Các thành ngữ trên có liên quan đến những phương châm hội thoại nào? Gợi ý: Tra từ điển thành ngữ để nắm được nghĩa của các thành ngữ; Các thành ngữ trên đều chỉ những trường hợp vi phạm phương châm về chất. Phải tránh những cách nói, nội dung nói được chỉ ra trong các thành ngữ trên. Bài tiếp theo: Soạn bài lớp 9: Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh Dưới đây là bài soạn Các phương châm hội thoại bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Các phương châm hội thoại Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Các phương châm hội thoại
1,589
Soạn bài lớp 9: Các thành phần biệt lập (tiếp theo) Hướng dẫn Soạn bài Các thành phần biệt lập (tiếp theo) lớp 9 VnDoc xin giới thiệu với các bạn bài soạn môn Ngữ văn lớp 9 học kì II với đề bài: Các thành phần biệt lập (tiếp theo) để tham khảo chuẩn bị tốt cho bài giảng, theo kịp tiến độ của thầy cô trên lớp giúp bạn học tốt môn Văn hơn. Mời các bạn tải và tham khảo Soạn bài: Các thành phần biệt lập (tiếp theo) – Ngữ văn lớp 9 I. Thành phần gọi – đáp Câu 1: Từ Này dùng để gọi, cụm từ Thưa ông dùng để đáp. Câu 2: Những từ ngữ dùng để gọi người khác hay đáp lời người khác không tham gia diễn đạt nghĩa sự việc của câu. Nội dung sự việc của câu (1) nằm ở phần “bác có biết mấy hôm nay súng nó bắn ở đâu mà nghe rát thế không?”; ở câu (2), nằm ở “chúng cháu ở Gia Lâm lên đấy ạ.”. Câu 3: Từ Này được dùng để tạo lập cuộc thoại. Từ Thưa ông được dùng để duy trì cuộc thoại đang diễn ra. II. Thành phần phụ chú Câu 1: Nghĩa sự vật của các câu trên không thay đổi khi lược bỏ phần từ ngữ in đậm “và cũng là đứa con gái đầu lòng duy nhất của anh”, “tôi nghĩ vậy”. Đây là thành phần phụ chú của câu, một trong những thành phần biệt lập. Nội dung chính của câu không nằm trong thành phần này. Thành phần phụ chú chỉ có vai trò bổ sung ý nghĩa cho thành phần chính. Câu 3: Cụm chủ – vị “tôi nghĩ vậy” làm thành phần phụ chú trong câu (2) có tác dụng báo cho độc giả biết rằng nhận định “Lão không hiểu tôi” diễn ra trong suy nghĩ của riêng “tôi”, là suy đoán chủ quan của “tôi”, chứ chưa hẳn đã đúng. III. Luyện tập Câu 1: Các thành phần gọi đáp: Này (để gọi), vâng (để đáp). Quan hệ giữa người gọi và người đáp là quan hệ trên – dưới và là quan hệ thân mật. Câu 2: Thành phần gọi đáp: Bầu ơi. Đây chỉ là gọi hướng tới mọi người nói chung (bầu, bí, giàn – ẩn dụ chỉ những người trong một nước, tuy khác nhau nhưng có quan hệ gắn bó). Câu 3: Thành phần phụ chú là: (a): Kể cả anh (bổ sung cho chúng tôi, mọi người) (b): Các thầy, cô giáo, các bậc cha mẹ, đặc biệt là những người mẹ (giải thích thêm cho những người nắm giữ chìa khóa của cánh cửa này bao gồm những ai và ai có vai trò quan trọng nhất). (c): Những người chủ thực sự của đất nước trong thế kỉ tới (giải thích thêm cho lớp trẻ hôm nay là ai trong tương lai). (d): Có ai ngờ; thương thương quá đi thôi (thể hiện thái độ ngạc nhiên của người nói; thể hiện tình cảm thương mến của người nói). (a): Kể cả anh – giải thích cho cụm từ mọi người; chú thích phạm vi bao quát của cụm từ này. (b): Các thầy, cô giáo, các bậc cha mẹ, đặc biệt là những người mẹ – giải thích cho cụm từ Những người nắm giữ chìa khoá của cánh cửa này; cụ thể hoá ý nghĩa cho cụm từ này. (c): Những người chủ thực sự của đất nước trong thế kỉ tới chú thích cho cụm từ lớp trẻ, mở rộng đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa về vai trò của lớp trẻ đối với tương lai của đất nước. (d): Có ai ngờ, thương thương quá đi thôi chú thích về thái độ của người nói đối với sự việc được nói đến. Câu 5: Viết một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về việc thanh niên chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới, trong đó có câu chứa thành phần phụ chú ngữ. Đất nước ta đang bước vào một thế kỷ mới, một thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới mới, vì vậy mỗi người đều phải chuẩn bị hành trang cho mình để vững vàng hơn khi bước vào thế kỷ này, trong đó, sự chuẩn bị của thanh niên là vô cùng quan trọng vì thanh niên là những thế hệ tương lai của đất nước. Hành trang – đó là tri thức, kĩ năng, thói quen, được coi là điều kiện cần và đủ để thanh niên có thể tự tin trước sự phát triển của khoa học kĩ thuật, của sự hội nhập kinh tế thế giới với tính kỉ luật và cường độ lao động cao. Muốn có hành trang như vậy để bước vào thế kỉ mới, thì hơn bao giờ hết thanh niên phải là những người đi tiên phong trong học tập, học tập có hiệu quả. Nhanh chóng nắm vững tri thức và kịp thời vận dụng các tri thức ấy vào sự nghiệp cộng hoá, hiện đại hoá đất nước. Chỉ có như vậy thì đất nước chúng ta mới nhanh chóng thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu để hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới một cách bình đẳng, phát triển đất nước một cách bền vững. Và cũng chỉ có như vậy, thanh niên mới xứng đáng là những người chủ tương lai của đất nước. Bài Soạn văn rút gọn: Soạn Văn 9: Các thành phần biệt lập (tiếp theo) Soạn bài lớp 9: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý Ngoài việc ôn tập đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Các thành phần biệt lập (tiếp theo)
1,010
Soạn bài lớp 9: Các thành phần biệt lập Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Các thành phần biệt lập VnDoc xin giới thiệu với các bạn bài soạn môn Ngữ văn lớp 9 học kì II với đề bài: Các thành phần biệt lập để tham khảo chuẩn bị tốt cho bài giảng, theo kịp tiến độ của thầy cô trên lớp giúp bạn học tốt môn Văn hơn. Soạn bài lớp 9: Bàn về đọc sách Soạn bài lớp 9: Phép phân tích và tổng hợp Soạn bài lớp 9: Tiếng nói của văn nghệ CÁC THÀNH PHẦN BIỆT LẬP I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Thành phần tình thái a) Những từ ngữ in đậm trong các câu sau (trích từ truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng) thể hiện điều gì? (1) Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh. (2) Anh quay lại nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi. Gợi ý: Các từ ngữ in đậm trong những câu trên thể hiện nhận định của người nói đối với sự việc nêu ở trong câu. (1) – chắc: thể hiện độ tin cậy cao của người nói (người kể chuyện) đối với nội dung được nói đến trong câu (ý nghĩ của nhân vật). (2) – Có lẽ: cũng thể hiện độ tin cậy cao của người nói (người kể chuyện) đối với nội dung được nói đến trong câu (tâm trạng, cử chỉ của nhân vật), nhưng ở một mức độ không cao như từ chắc. Gợi ý: Thànhphần tình thái không quyết định đến nghĩa sự việc của câu. Cho nên khi bỏ đi các từ ngữ chắc, có lẽ thì nội dung cơ bản của những câu trên không thay đổi. 2. Thành phần cảm thán a) Các từ ngữ in đậm trong những câu dưới đây có chỉ sự vật hay sự việc gì không? (1) Ồ, sao mà độ ấy vui thế. (Kim Lân, Làng) (2) Trời ơi, chỉ còn có năm phút! (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) Gợi ý: Các từ ngữ Ồ, Trời ơi trong hai câu này không chỉ sự vật hay sự việc cụ thể nào. Đây là thành phần cảm thán, có tác dụng bộc lộ tâm lí của người nói. b) Căn cứ vào những từ ngữ nào trong câu để chúng ta hiểu được tại sao người nói kêu ồ hoặc trời ơi? Gợi ý: Nhờ những phần tiếp theo của câu mà chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa cảm thán của từng câu, rằng tại sao người nói lại kêu lên ồ và trời ơi. 3. Các thành phần tình thái và cảm thán không tham gia vào việc diễn đạt nghĩa sự việc của câu cho nên chúng được gọi là thành phần biệt lập. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc các câu sau đây và chỉ ra những thành phần tình thái, cảm thán: a) Nhưng còn cái này nữa mà ông sợ, có lẽ còn ghê rợn hơn cả những tiếng kia nhiều. b) Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài. (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) c) Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà) d) Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được. (Kim Lân, Làng) Gợi ý: Các thành phần tình thái: có lẽ, hình như, chả nhẽ Các thành phần cảm thán: chao ôi 2. Hãy sắp xếp các từ ngữ sau đây theo trình tự tăng dần độ tin cậy (hay độ chắc chắn): chắc là, dường như, chắc chắn, có lẽ, chắc hẳn, hình như, có vẻ như. Gợi ý: Có thể có những từ ngữ có mức độ tin cậy (hay chắc chắn) ngang hàng nhau, chỉ khác nhau về thói quen hay hoàn cảnh sử dụng. dường như/hình như/có vẻ như →có lẽ → chắc là → chắc hẳn →chắc chắn 3. Lần lượt thay các từ chắc/hình như/chắc chắn vào chỗ trống trong câu sau đây và cho biết với từ nào thì người nói phải chịu trách nhiệm cao nhất (và với từ nào thì trách nhiệm đó thấp nhất) về độ tin cậy của sự việc do mình nói ra. Tại sao nhà văn Nguyễn Quang Sáng lại chọn từ chắc? Gợi ý: Trong số 3 từ, với từ chắc chắn, người nói sẽ phải chịu trách nhiệm cao nhất về độ tin cậy của sự việc do mình nói ra; với từ hình như, trách nhiệm về độ tin cậy mà người nói phải chịu thấp nhất. Nhà văn chọn từ chắc là chính xác nhất. Đây là lời của người kể chuyện nói về suy nghĩ của nhân vật (anh). Cho nên, nếu dùng từ với mức độ tin cậy cao (như chắc chắn) thì sẽ giảm tính khách quan cho lời kể, bởi vì dù sao thì người kể và nhân vật cũng là những chủ thể khác nhau, chỉ có thể khẳng định chắc chắn khi suy nghĩ ấy là của chính mình. Nếu dùng từ hình như thì độ tin cậy không đủ để tạo ra sức thuyết phục cho lời kể, khi đó người kể hoàn toàn tách rời với nhân vật. 4. Viết một đoạn văn ngắn, có sử dụng câu chứa thành phần cảm thán hoặc tình thái, nói về cảm xúc của em khi được thưởng thức một tác phẩm văn nghệ (truyện, thơ, phim, ảnh, tượng,…). Gợi ý: Những yếu tố tình thái thường được sử dụng: chắc chắn, chắc hẳn, chắc là, hình như, dường như, hầu như, có vẻ như… Những yếu tố cảm thán thường được sử dụng: ôi, chao ôi, than ôi, chà, trời ơi…
Soạn bài lớp 9_ Các thành phần biệt lập
1,017
Soạn bài lớp 9: Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống Soạn bài: Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 9: Con cò Soạn bài lớp 9: Luyện tập liên kết câu và liên kết đoạn văn CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đề bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống a) Đọc và so sánh các đề bài sau: Đề 1: Đất nước ta có nhiều tấm gương học sinh nghèo vượt khó, học giỏi. Em hãy trình bày một số tấm gương đó và nêu suy nghĩ của mình. Đề 2: Chất độc màu da cam mà đế quốc Mĩ đã rải xuống các cánh rừng miền Nam thời chiến tranh đã để lại di hoạ nặng nề cho hàng chục vạn gia đình. Hàng chục vạn người đã chết. Hàng vạn trẻ em chịu tật nguyền suốt đời. Cả nước đã lập quỹ giúp đỡ các nạn nhân nhằm phần nào cải thiện cuộc sống và xoa dịu nỗi đau cho họ. Em hãy nêu suy nghĩ của mình về các sự kiện đó. Đề 3: Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì mải chơi mà sao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó. Đề 4: Đọc mẩu chuyện sau đây và nêu những nhận xét, suy nghĩ của em về con người và thái độ học tập của nhân vật. Nguyễn Hiền nhà rất nghèo, phải xin làm chú tiểu trong chùa. Việc chính là quét lá và dọn dẹp vệ sinh. Nhưng cậu rất thông minh và ham học. Những buổi thầy giảng kinh, cậu đều nép bên cửa lắng nghe, rồi chỗ nào chưa hiểu, cậu hỏi thầy giảng thêm. Thấy Nguyễn Hiền thông minh, mau hiểu, thầy dạy cho cậu học chữ. Không có giấy, Nguyễn Hiền lấy lá để viết chữ, rồi lấy que tre xâu thành từng xâu ghim xuống đất. Mỗi ghim là một bài. Một hôm Nguyễn Hiền xin thầy cho đi thi. Thầy ngạc nhiên bảo: – Con đã học tập được bao nhiêu mà dám thi thố với thiên hạ? – Con xin thi thử xem sức học của mình đến đâu. Năm ấy, Nguyễn Hiền đã đỗ trạng nguyên. Vua Trần cho Nguyễn Hiền còn nhỏ quá, mới 12 tuổi, nên không bổ dụng. Một thời gian sau, vua có việc tiếp sứ giả nước ngoài, cho gọi Nguyễn Hiền về triều. Nguyền Hiền bảo: – Đón trạng nguyên mà không có võng lọng sao? Ông về tâu với vua xin cho đầy đủ nghi thức. Vua đành cho các quan mang võng lọng rước quan Trạng tí hon về kinh.. (Theo Cửu Thọ, Một trăm gương tốt thiếu nhi Việt Nam,NXB Trẻ, TPHCM, 1999) Gợi ý: Một đề bài văn nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống thường có phần: nêu sự việc, hiện tượng cần bàn và nêu yêu cầu cần thực hiện. c) Em thử nghĩ ra những đề bài tương tự như các đề bài trên. Gợi ý: Sự việc, hiện tượng nghị luận có thể là sự việc, hiện tượng tốt đáng ca ngợi, biểu dương; cũng có thể là sự việc, hiện tượng không tốt, cần phê phán, khuyến cáo. Sự việc, hiện tượng cần nghị luận có thể được nêu ra cụ thể trong đề bài hoặc chỉ gợi ý, yêu cầu người nghị luận phải tự hình dung, mô tả. Yêu cầu của đề bài thường là: “nêu suy nghĩ”, “nêu ý kiến nhận xét”, “đánh giá”, “bày tỏ thái độ”… 2. Cách làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống Cho đề bài: Báo đưa tin: “Bạn Phạm Văn Nghĩa là học sinh lớp 7 trường Trung học cơ sở Bắc Sơn, quận Gò Vấp, nhà ở Hóc Môn. Nghĩa thường đồng giúp mẹ trồng trọt. Một hôm, mẹ thấy Nghĩa cầm tờ giấy hứng cái gì đó, mẹ hỏi: “Con làm gì đấy?”. Nghĩa trả lời: “Con thụ phấn cho bắp”. Vụ ấy ruộng bắp nhà Nghĩa năng suất cao hơn mọi năm. Ở nhà Nghĩa còn nuôi gà, nuôi heo. Em còn làm một cái tời để mẹ kéo nước cho đỡ mệt. Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minhh đã phát động phong trào “Học tập Phạm Văn Nghĩa”. Phong trào ấy được các bạn học sinh nhiệt liệt hưởng ứng”.” Em hãy nêu suy nghĩ của mình về hiện tượng ấy. Tìm hiểu đề Đề thuộc loại gì? Đề đưa ra hiện tượng, sự việc gì? Đề yêu cầu em phải làm gì? Tìm ý: Phân tích sự việc, hiện tượng đề đưa ra để tìm ý nghĩa của nó. Những việc làm của Nghĩa cho thấy em là người như thế nào? Vì sao Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh phát động phong trào học tập Bạn Nghĩa? Những việc làm của Nghĩa có khó không? Nếu mọi học sinh đều có ý thức làm như Nghĩa thì cuộc sống sẽ tốt lên như thế nào? (2) Lập dàn bài Sắp xếp các ý theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận: a) Mở bài: Giới thiệu hiện tượng Phạm Văn Nghĩa: Em được biết đến hiện tượng này qua phương tiện thông tin nào hay trực tiếp chứng kiến? Phạm Văn Nghĩa bao nhiêu tuổi, học lớp mấy, trường nào, quê ở đâu? Giới thiệu ý nghĩa tấm gương Phạm Văn Nghĩa: Nghĩa đã làm gì, việc làm ấy có ý nghĩa thế nào? (Nêu khái quát). b) Thân bài: Phân tích ý nghĩa những việc làm của Phạm Văn Nghĩa; Đánh giá việc làm của Phạm Văn Nghĩa; Đánh giá ý nghĩa của việc phát động học tập theo gương Phạm Văn Nghĩa. c) Kết bài: Khái quát ý nghĩa tấm gương Phạm Văn Nghĩa: nêu suy nghĩ, nhắn nhủ mọi người; Tự rút ra bài học cho bản thân: Em sẽ học tập gương Phạm Văn Nghĩa như thế nào? (làm những việc cụ thể nào để học tập gương ấy). Chú ý mối liên kết khi viết các phần (Mở bài – Thân bài – Kết luận); Chú ý viết phần thân bài: Mỗi ý đã lập và sắp xếp trong dàn bài viết thành một đoạn văn. Cần phân tích các việc làm của Nghĩa: Có thể phân tích trước rồi từ đó rút ra ý nghĩa của từng việc làm hoặc ngược lại. Ý nghĩa chung của tấm gương Phạm Văn Nghĩa phải được rút ra sau những phân tích cụ thể (nêu sự việc trước, chỉ ra ý nghĩa sau). Biết đưa ra những suy nghĩ của riêng mình về những việc làm của Phạm Văn Nghĩa cũng như ý nghĩa của những việc làm ấy. Chú ý cách đặt câu, lựa chọn từ ngữ. (4) Đọc lại bài viết và sửa chữa Mở bài và Kết bài đã hợp lí chưa? Chú ý sửa lỗi viết đoạn: Đoạn đã tập trung làm nổi bật được ý chưa? Các đoạn có liên kết, mạch lạc với nhau không? Sửa các lỗi về câu, từ ngữ, chính tả.
Soạn bài lớp 9_ Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
1,221
Soạn bài lớp 9: Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện Soạn bài học kì II: Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (HOẶC ĐOẠN TRÍCH) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Chỉ ra vấn đề nghị luận trong các đề bài sau: Đề 1: Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương ở Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Đề 2: Phân tích diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Đề 3: Suy nghĩ về thân phận Thuý Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều của Nguyễn Du. Đề 4: Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. Gợi ý: Nghị luận về: Thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương ở Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Thân phận Thuý Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều của Nguyễn Du. Đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. 2. So sánh yêu cầu của từng đề bài trên. Gợi ý: Sự khác nhau về yêu cầu (mệnh lệnh) trong các đề bài trên thể hiện ở hai từ phân tích và suy nghĩ: Phân tích: Phân tích tác phẩm hoặc một phương diện nào đó của tác phẩm để đưa ra nhận định về giá trị của tác phẩm. Suy nghĩ: Đưa ra nhận định, đánh giá về tác phẩm theo một khía cạnh, góc nhìn hay vấn đề nào đó. Trong bài văn trình bày suy nghĩ về tác phẩm (hoặc đoạn trích) có thể sử dụng nhiều thao tác, trong đó có cả phân tích. 3. So sánh đề bài sau với các đề bài trên. Gợi ý: Đề bài này không đưa ra mệnh lệnh cụ thể (phân tích hay nêu suy nghĩ); dạng đề bài này có tính chất mở, đòi hỏi người viết phải tự vận dụng tổng hợp các thao tác cho có hiệu quả nhất. 4. Tìm hiểu các bước làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) với đề bài: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân. Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý Tìm hiểu đề: Đọc kĩ đề bài để: Xác định vấn đề nghị luận: nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân; Xác định yêu cầu (mệnh lệnh) của đề bài: nêu suy nghĩ. Tìm ý: Vấn đề nghị luận biểu hiện trong tác phẩm (hoặc đoạn trích) như thế nào? Nội dung nào là trọng tâm của vấn đề nghị luận? Em cần đưa ra suy nghĩ của mình về những nội dung nào của vấn đề nghị luận? Cần chứng minh cho nhận định của mình bằng những hình ảnh, chi tiết nào trong tác phẩm (hoặc đoạn trích)? Chẳng hạn: Ở nhân vật ông Hai, tình yêu làng hoà quyện với lòng yêu nước như thế nào? Nhân vật ông Hai có đặc điểm gì nổi bật nhất? Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai được bộc lộ trong tình huống nào? Những hình ảnh, chi tiết nào cho thấy một cách sinh động tình yêu làng, yêu nước của nhân vật này? (tâm trạng, cử chỉ, hành động, lời nói…). Bước 2: Lập dàn bài Sắp xếp các ý theo bố cục 3 phần: (1) Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác phẩm (hoặc đoạn trích) và vấn đề nghị luận: Giới thiệu khái quát về tác giả Kim Lân và truyện ngắn Làng; Giới thiệu nhân vật chính của truyện – ông Hai; Đưa ra nhận định chung về nhân vật này. (2) Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận thành những luận điểm, thể hiện những nội dung khác nhau của vấn đề nghị luận, chứng minh bằng những luận cứ cụ thể trong tác phẩm (hoặc đoạn trích); trình bày nhận định của mình về từng nội dung của vấn đề nghị luận. Tình yêu làng, yêu nước ở nhân vật ông Hai: Ở nơi tản cư, ông Hai luôn nhớ về cái làng của mình; Ông Hai thường xuyên theo dõi tin tức kháng chiến; Tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng mình theo Tây; Tâm trạng ông Hai khi tin đồn được cải chính. Đặc sắc về nghệ thuật xây dựng nhân vật: Đặt nhân vật vào tình huống giàu kịch tính để khắc hoạ tính cách; Nghệ thuật miêu tả nhân vật: nội tâm, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ… Nghệ thuật kể chuyện: khắc hoạ nhân vật qua đối thoại, độc thoại… (3) Kết bài Đánh giá khái quát về ý nghĩa của vấn đề nghị luận: Qua hình tượng nhân vật ông Hai, nhà văn Kim Lân ngợi ca tình yêu quê hương đất nước của người nông dân. Nhà văn đã xây dựng thành công nhân vật. Mở rộng liên hệ, trình bày suy nghĩ, bài học từ vấn đề vừa nghị luận: Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai giúp em hiểu thêm điều gì? Bước 3: Viết bài Dựa theo dàn bài đã xây dựng, viết thành bài văn hoàn chỉnh. Chú ý viết đoạn văn phải thể hiện được nổi bật luận điểm và chứng minh bằng những luận cứ rõ ràng. Các đoạn phải có liên kết, chuyển tiếp nhau. Ngoài việc viết đúng, cần rèn luyện để lời văn giàu hình ảnh, gợi cảm. Bước 4: Đọc lại bài viết và sửa chữa Kiểm tra xem bố cục bài viết đã hoàn chỉnh chưa; Các luận điểm trình bày như thế đã rõ chưa? Luận cứ đã thuyết phục chưa? Có cần bổ sung dẫn chứng không? Soát xem có mắc các lỗi chính tả, dùng từ, câu nào không? II. Rèn luyện kĩ năng Cho đề bài: Suy nghĩ của em về truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao. 1. Hãy lập dàn bài. Gợi ý: Thực hiện theo trình tự các bước từ tìm hiểu đề, tìm ý đến lập dàn bài. Chú ý: Với vấn đề nghị luận là truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao, cần trình bày suy nghĩ của mình về những phương diện sau: Cốt truyện: Tóm tắt được cốt truyện và nêu được ý nghĩa của câu chuyện; Nhà văn đã phản ánh sinh động, sâu sắc bi kịch của người nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến, qua đó ngợi ca vẻ đẹp nhân cách, lòng tự trọng của con người. Nghệ thuật xây dựng nhân vật: miêu tả nội tâm, ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời nói… Nghệ thuật kể chuyện: Câu chuyện về số phận của Lão Hạc được kể qua nhân vật ông giáo – xưng “tôi”. Cách dẫn dắt truyện bất ngờ, giàu kịch tính. Ngôn ngữ sắc sảo, sinh động. Em đưa ra những suy nghĩ của mình từ những phương diện trên. Cuối cùng, phải đánh giá được giá trị của toàn bộ tác phẩm. 2. Viết phần mở bài, và một đoạn thân bài cho bài văn với đề bài trên. Gợi ý: Có nhiều cách mở bài: Đi từ khái quát đến cụ thể, từ chung đến riêng: Giới thiệu về tác giả Nam Cao -> giới thiệu về truyện ngắn Lão Hạc -> nêu khái quát nhận định của mình về tác phẩm. Giới thiệu trực tiếp vào truyện: Giới thiệu truyện ngắn Lão Hạc -> nêu nhận định khái quát về giá trị của tác phẩm. Mỗi đoạn văn thể hiện trọn vẹn một ý, em nên chọn một trong các ý của dàn bài để viết thành một đoạn văn. Chú ý: Đưa ra luận điểm -> Chứng minh bằng luận cứ cụ thể trong tác phẩm -> Chốt lại đoạn, và chuyển ý (sang đoạn tiếp theo). Dưới đây là bài soạn Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện
1,444
Soạn bài lớp 9: Cách làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Hướng dẫn Soạn văn 9 bài: Cách làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Soạn bài lớp 9 học kì II: Cách làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu. Các bạn có thể tải bài soạn văn 9 này về tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đề bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ a) Đọc các đề bài sau và nhận xét về cấu tạo của chúng. Đề 1. Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ sau: Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội, Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt, Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? (Thế Lữ, Nhớ rừng) Đề 2. Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn kết trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. Đề 3. Cảm nhận của em về tâm trạng của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng cuội. Đề 4. Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Đề 5. Bài thơ ánh trăng của Nguyễn Duy gợi cho em những suy nghĩ gì? Đề 6. Phân tích khổ thơ đầu trong bài Sang thu của Hữu Thỉnh. Đề 7. Những đặc sắc trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương. Đề 8. Cảm nhận và suy nghĩ của em về tình cảm cha con trong bài Nói với con của Y Phương. Gợi ý: Phần quan trọng mà đề bài nào cũng có, đó là đưa ra vấn đề nghị luận. Vấn đề nghị luận có thể là đoạn thơ, bài thơ hoặc vấn đề gắn với đoạn thơ, bài thơ. Đề bài có thể chép ra đoạn thơ cũng có thể chỉ nhắc tới, yêu cầu các em phải tự nhớ lại. Thông thường thì đề bài đưa ra định hướng từ những yêu cầu, mệnh lệnh cụ thể (phân tích, cảm nhận, suy nghĩ, cảm nhận và suy nghĩ…) nhưng cũng có khi đề bài không đưa ra yêu cầu, mệnh lệnh cụ thể (Đề 4, 7). b) Giữa các yêu cầu phân tích, cảm nhận và suy nghĩ (hoặc có khi đề bài không có lệnh) có gì khác nhau? Gợi ý: Khi đề bài yêu cầu phân tích là muốn định hướng cụ thể về thao tác, khi đó phải phân tách, xem xét đối tượng dưới nhiều góc độ, đối chiếu, so sánh… để từ đó đi đến nhận định về đối tượng. Khi đề bài yêu cầu nêu cảm nhận và suy nghĩ là muốn nhấn mạnh đến việc đưa ra cảm thụ, ấn tượng riêng (cảm nhận) và nhận định, đánh giá (suy nghĩ) về đối tượng; đối với loại yêu cầu này, để thuyết phục, chứng minh được ý kiến của mình, người làm cũng phải tiến hành giảng giải bằng các thao tác như phân tích, giải thích… Với đề bài không có lệnh cụ thể, người làm tự lựa chọn những thao tác cần thiết để làm rõ, chứng minh cho ý kiến của mình về đối tượng được nêu ra trong đề bài. 2. Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ a) Cần nắm vững các bước làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Chẳng hạn, với đề bài “Phân tích tình yêu quê hương trong bài thơ Quê hương của Tế Hanh”, ta có trình tự các bước như sau: Bước 1. Tìm hiểu đề và tìm ý Tìm hiểu đề: Đề bài đưa ra vấn đề nghị luận nào? (tình yêu quê hương trong bài thơ Quê hương của Tế Hanh). Đề bài có đưa ra yêu cầu (mệnh lệnh) cụ thể không, nếu có thì yêu cầu ấy là gì? (Phân tích) Tìm ý: Đọc kĩ lại bài thơ (nếu là đoạn thơ thì cũng phải đọc kĩ cả bài, đặt đoạn thơ đó vào bài thơ để tìm hiểu). Tìm hiểu khái quát về tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ (nếu có): Tế Hanh sinh ra tại một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Ông xuất hiện ở chặng cuối của phong trào Thơ mới với những bài thơ mang nặng nỗi buồn và tình yêu quê hương thắm thiết. Sắc thái cảm xúc xuyên suốt bài thơ là gì (?): tha thiết, ngọt ngào. Tìm hiểu những nét đặc sắc nổi bật nhất về nội dung và nghệ thuật của bài thơ: Bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân chài và sinh hoạt lao động làng chài được thể hiện bằng những vần thơ bình dị, giàu sức gợi cảm. Trong cách xa, nhà thơ nhớ về quê hương như thế nào? Hình ảnh làng quê hiện lên trong nỗi nhớ của nhà thơ có những đặc điểm và vẻ đẹp gì? Bài thơ có những hình ảnh, câu thơ nào gây ấn tượng sâu sắc đối với em? Ngôn từ, giọng điệu của bài thơ có gì đặc sắc? Bước 2. Lập dàn bài Trình bày các luận điểm theo bố cục 3 phần: * Mở bài: Giới thiệu bài thơ, nêu khái quát nhận định của mình về vấn đề nghị luận: Giới thiệu sơ lược về bài thơ Quê hương của Tế Hanh, nêu nhận định của em về tình yêu quê hương trong bài thơ. * Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: Phân tích những biểu hiện cụ thể của tình yêu quê hương trong bài thơ. Nêu nhận xét chung về bài thơ: Bài thơ Quê hương thể hiện một tình yêu quê hương tha thiết, trong sáng, đậm chất lí tưởng, lãng mạn. Tình yêu quê hương biểu hiện cụ thể ở vẻ đẹp của cảnh ra khơi và cảnh trở về: Cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi: khoẻ khoắn, đầy sức sống Cảnh đón thuyền cá về bến về: tấp nập, bình yên, no đủ Tình yêu quê hương thể hiện ở nỗi nhớ: những hình ảnh của quê hương in đậm trong kí ức của nhà thơ. * Kết bài: Chốt lại vấn đề nghị luận, mở rộng liên tưởng: Khẳng định vẻ đẹp, tình yêu quê hương được gửi gắm trong bài thơ. Nêu lên ấn tượng mà vẻ đẹp của bài thơ đã để lại trong tâm trí em. Bước 3. Viết bài Từ dàn bài, hãy viết thành bài văn hoàn chỉnh. Chú ý: đảm bảo sự chặt chẽ, liên kết của bố cục (liên kết nội dung và hình thức giữa các đoạn Mở bài, Thân bài, Kết bài). Mỗi luận điểm, nên viết thành một đoạn văn; chú ý liên kết giữa các câu trong đoạn. Thao tác chủ yếu là phân tích, nhưng cần chú ý kết hợp với cảm thụ để khai thác được đặc sắc của trạng thái cảm xúc, vẻ đẹp của hình ảnh thơ. Chú ý diễn đạt tự nhiên, trôi chảy, lời văn gợi cảm. Bước 4. Đọc lại bài viết và sửa chữa Đọc lại toàn bộ bài viết, kiểm tra lại cách diễn đạt, soát lỗi về dùng từ, chính tả… b) Cách tổ chức, triển khai luận điểm Đọc và chỉ ra bố cục của văn bản dưới đây: QUÊ HƯƠNG TRONG TÌNH THƯƠNG, NỖI NHỚ Quê hương trong xa cách là cả một dòng cảm xúc dạt dào, lấp lánh suốt đời thơ Tế Hanh. Cái làng chài nghèo ở một vùng cù lao trên sông Trà Bồng nước bao vây cách biển nửa ngày sông đã nuôi dưỡng tâm hồn Tế Hanh, đã trở thành nỗi nhớ da diết để ông viết nên những vần thơ thiết tha, lai láng. Trong dòng cảm xúc ấy, Quê hương là thành công khởi đầu rực rỡ. Nhà thơ đã viết về Quê hương bằng tất cả tình yêu tha thiết, trong sáng, đầy thơ mộng của mình. Nổi bật lên trong bài thơ là cảnh ra khơi đánh cá của trai làng một sớm mai đẹp như mơ: Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Tâm hồn nhà thơ náo nức những hình ảnh đầy sức mạnh: Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng máu chèo, mạnh mẽ vượt trường giang Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Giữa trời nước bao la nổi bật hình ảnh con thuyền hiêng ngang, hăng hái, đầy sinh lực dưới bàn tay điều khiển thành thạo của dân trai tráng đang nhẹ lướt trên sóng qua hình ảnh so sánh như con tuấn mã. Bằng các từ ngữ sinh động, nhà thơ đã khắc hoạ tư thế kiêu hãnh chinh phục sông dài, biển rộng của người làng chài. Lời thơ như băng băng về phía trước, như rướn lên cao bao la cùng với con thuyền, với cánh buồm! Tế Hanh đã cảm nhận cuộc sống lao động của làng quê bằng cả tâm hồn thiết tha gắn bó nên mới liên tưởng: Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng. Bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, bao nhiêu hi vọng mưu sinh của người lao động được gửi gắm ở đấy. Cảnh đón thuyền đánh cá trở về ồn ào, tấp nập cũng được miêu tả với một tình yêu tha thiết: Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. “Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”, Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Ở đoạn trước, khi tả cảnh ra đi mạnh mẽ vượt trường giang của đoàn thuyền hơi thơ băng băng, phơi phới. Đến đoạn này, âm điệu thơ thư thái và dần lắng lại theo niềm vui no ấm, bình yên của dân làng. Chính từ đây, xuất hiện những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của Quê hương: Cả thân hình nồng thở vị xa xăm; Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Chỉ ai là người con của một vạn chài mới viết được những câu thơ như thế. Tế Hanh như khắc tạc bức tượng đài người dân chài giữa đất trời lộng gió với hình khối, màu sắc và cả hương vị không thể lẫn: bức tượng đài nồng thở vị xa xăm – vị muối mặn mòi của biển khơi, của những chân trời tít tắp mà họ thường chinh phục. Chất muốn mặn mòi ấy thấm vào thân hình người dân chài quê hương, thấm dần trong thớ vỏ chiếc thuyền hay đã thấm sâu vào làn da thớ thịt, vào tâm hồn Tế Hanh để thành niềm cảm xúc bâng khuâng, kỳ diệu? Một tâm hồn như thế khi nhớ nhung tất chẳng thể nhàn nhạt, bình thường. Nỗi nhớ quê hương trong đoạn kết đã đọng thành những kỷ niệm ám ảnh, vẫy gọi. Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá – Câu thơ cuối cùng cho ta rõ thêm tâm hồn thiết tha, thành thực của Tế Hanh. Quê hương của Tế Hanh đã cất lên một tiếng ca trong trẻo, nồng nàn, thơ mộng về cái làng vạn chài từng ôm ấp, ru vỗ tuổi thơ mình. Bài thơ đã góp phần bồi đắp cho mỗi người đọc chúng ta tình yêu quê hương thắm thiết. (Bài làm của học sinh) Gợi ý: Mở bài (từ đầu cho đến “là thành công khởi đầu rực rỡ.”): Giới thiệu khái quát về tác giả Tế Hanh và bài thơ Quê Hương. Thân bài (từ “Nhà thơ đã viết về…” cho đến ” thành thực của Tế Hanh.”): Trình bày những cảm nhận, phân tích về tình yêu quê hương tha thiết, trong sáng, thơ mộng của nhà thơ qua bức tranh dân chài ra khơi và cảnh trở về bến cùng những hình ảnh đặc sắc thể hiện nỗi nhớ, tình thương của tác giả. Kết bài (đoạn còn lại): Khẳng định vẻ đẹp của bài thơ Quê hương và tác dụng bồi đắp tình yêu quê hương cho mỗi người đọc của bài thơ. Nhận xét về cách trình bày luận điểm, tổ chức liên kết giữa các phần trong văn bản trên. Gợi ý: Các luận điểm chính của phần Thân bài: Nhận định khái quát: Nhà thơ đã viết về Quê hương bằng tất cả tình yêu tha thiết, trong sáng, đầy thơ mộng của mình. Cảnh ra khơi đánh cá của trai làng một sớm mai đẹp như mơ. Cảnh đón thuyền đánh cá trở về ồn ào, tấp nập, no ấm, yên bình. Hình ảnh người dân chài được khắc hoạ nổi bật giữa đất trời lộng gió với hình khối, màu sắc và cả hương vị không thể lẫn. Những kỉ niệm ám ảnh, vẫy gọi. Giữa Mở bài, Thân bài và Kết bài có mối liên kết chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức. Nhận xét về sức thuyết phục, hấp dẫn của văn bản Quê hương trong tình thương nỗi nhớ. Gợi ý: Bố cục mạch lạc, sáng rõ. Luận điểm được triển khai rõ ràng, từng luận điểm được chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể trong bài thơ. Bài văn ngắn gọn, lời lẽ súc tích, thể hiện được rung động, đồng cảm của người viết trước vẻ đẹp và cảm xúc của bài thơ. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Lập dàn bài cho bài văn với đề bài: Phân tích khổ thơ đầu bài Sang thu của Hữu Thỉnh. Gợi ý: Thực hiện theo trình tự các bước: Tìm hiểu đề và tìm ý: Tìm hiểu đề: Vấn đề nghị luận là gì? (khổ thơ đầu bài Sang thu của Hữu Thỉnh). Yêu cầu (mệnh lệnh) làm gì? (phân tích). Tìm ý: Nội dung cảm xúc của bài thơ Sang Thu của Hữu Thỉnh là gì? Nội dung cảm xúc của khổ thơ đầu bài thơ này là gì? Cảm xúc của nhà thơ được gợi lên từ hương vị, đặc điểm gì của thiên nhiên? Khổ thơ có gì đặc sắc về hình ảnh thơ, ngôn từ? Lập dàn bài theo bố cục 3 phần: Chú ý xây dựng các luận điểm chính và chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể trong khổ thơ. Ở phần Thân bài, có thể triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: Cảm xúc bâng khuâng, vấn vương trước đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng. Cảm nhận tinh tế về hương vị: hương ổi phả vào trong gió se. Hình ảnh sương đầu thu, nhẹ nhàng giăng mắc. Hình ảnh thơ độc đáo được tạo nên bởi những từ ngữ giàu sức gợi cảm: bỗng, phả vào, gió se, chùng chình, hình như. 2. Chủ đề của văn bản sau đây là gì? Hãy nhận xét về bố cục và chỉ ra những luận điểm chính của nó. Ở mỗi người Việt Nam chúng ta, niềm kính yêu, lòng biết ơn Bác Hồ luôn luôn là tình cảm thiêng liêng, sâu sắc. Viếng lăng Bác của Viễn Phương là bài thơ nói lên một cách thiết tha, cảm động tình cảm ấy. Từ mảnh đất miền Nam mấy chục năm trời chiến đấu gian khổ, anh làm một cuộc hành hương về đất Bắc. Bồi hồi xúc động, anh tìm đến viếng Bác ở Ba Đình – Hà Nội. Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam… Đoạn thơ mở đầu thiêng liêng, thành kính nhưng vẫn gợi một không khí ấm áp, gần gũi, không chỉ ở cách xưng hô mà còn nhờ tác giả đã chọn một hình ảnh rất thân thuộc: cây tre. Nói đến cây tre là ta nghĩ tới đất nước, tới con người Việt Nam với bao đức tính cao quý nhất, trong sáng nhất. Song hình ảnh cây tre mới như một khúc dạo đầu để mở ra một loạt những suy tưởng khác, sâu lắng hơn, mênh mông hơn. Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi… Vầng trăng… trời xanh… các hình ảnh kì vĩ nối tiếp nhau xuất hiện khiến ta phải suy ngẫm. Ngẫm về cái bất diệt, cái vô cùng của vũ trụ đến cái bất diệt, cái vô cùng cao cả ở một con người. Bài thơ được viết theo mạch cảm xúc thời gian. Còn đứng trên đất Bắc, tác giả đã phải bịn rịn nghĩ tới lúc chia tay, phải xa nơi Bác nghỉ. Và đây cũng là dòng cảm xúc được đẩy tới mức cao nhất, tuôn trào mạnh mẽ nhất: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Câu thơ như lời nói thường, không cần dùng đến kĩ thuật. Giọng thơ không ồn ào. Thế mà đọc lên thấy xúc động. Trước hết bởi cách nói, cách bộc lộ có một cái gì rất Nam Bộ. Chân thành, bộc trực mà không thô. Tác giả thay mặt cho đồng bào miền Nam – những người con ở xa – bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn. Người đọc đồng cảm với anh, bởi nỗi thương nhớ, xót xa, ân hận khi đến trước Bác, nào phải của riêng ai! Cả cái ước nguyện chân thành ở cuối bài thơ cũng không của riêng người nào: Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. Hình ảnh cây tre lại đến, thật tự nhiên, nhuần nhị để khép bài thơ lại, song không còn là hàng tre – khách thể ở trên mà đã tan hoà vào chủ thể. Nhà thơ nói cho mình, cũng là nói hộ ý nguyện của mỗi chúng ta: muốn được hoá thân làm cây tre trung hiếu, mãi mãi đứng bên Bác. Viếng lăng Bác giàu chất suy tưởng, chất trữ tình đằm thắm với cách sử dụng nhiều luyến láy trong ngôn ngữ, phong phú âm điệu, khiến bài thơ mau chóng được đông đảo bạn đọc tiếp nhận. Cũng chính vì vậy nó đã sớm được phổ nhạc để trở thành một bài hát giàu sức truyền cảm, quen thuộc với mỗi người chúng ta. (Theo Đức Thảo, báo Văn nghệ, số 1186, ngày 26 – 7 – 1985) Gợi ý: Xác định được chủ đề của văn bản nghĩa là em đã nắm được vấn đề nghị luận. Văn bản này có chủ đề là: Niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng tha thiết, thành kính của tác giả từ miền Nam ra viếng Bác Hồ trong bài thơ Viếng lăng Bác. Chủ đề nghị luận được triển khai thành các luận điểm: Đoạn thơ mở đầu thiêng liêng, thành kính nhưng vẫn gợi một không khí ấm áp, gần gũi, không chỉ ở cách xưng hô mà còn nhờ tác giả đã chọn một hình ảnh rất thân thuộc: cây tre. Từ cái bất diệt, cái vô cùng của vũ trụ đến cái bất diệt, cái vô cùng cao cả ở một con người. Bài thơ được viết theo mạch cảm xúc thời gian. Cách nói, cách bộc lộ có một cái gì rất Nam Bộ chân thành, bộc trực mà không thô. Nhà thơ nói cho mình, cũng là nói hộ ý nguyện của mỗi chúng ta. Giàu chất suy tưởng, chất trữ tình đằm thắm với cách sử dụng nhiều luyến láy trong ngôn ngữ, phong phú âm điệu. Các luận điểm được chứng minh bằng những cảm nhận sâu sắc từ những hình ảnh cụ thể trong bài thơ. Dưới đây là bài soạn Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Cách làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
3,413
Soạn bài lớp 9: Cảnh ngày xuân Hướng dẫn Soạn bài: Cảnh ngày xuân Soạn bài lớp 9 học kì 1: Cảnh ngày xuân trích trong tác phẩm Truyện Kiều do Nguyễn Du sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh Minh và cảnh du xuân của chị em Kiều từ đó chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. CẢNH NGÀY XUÂN (Trích Truyện Kiều) Nguyễn Du I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân tươi đẹp, trong sáng: Gợi tả không gian và thời gian: Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quan chín chục đã ngoài sáu mươi. Hình ảnh thiên nhiên: Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Nền cảnh của bức tranh thiên nhiên được hoạ nên bởi màu xanh non, tươi mát của thảm cỏ trải ra bao la. Trên nền xanh tươi, trong trẻo ấy điểm xuyết sắc trắng tinh khôi của vài bông hoa lê. Chữ điểm có tác dụng gợi vẻ sinh động, hài hoà. Tác giả sử dụng bút pháp hội hoạ phương Đông: chấm phá, lấy tĩnh tả động. 2. Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh Minh được gợi tả trong tám câu thơ tiếp: Phong tục tảo mộ (viếng mộ, sửa sang phần mộ của người thân) và du xuân (hội đạp thanh); Từ ghép danh từ: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân; Từ ghép động từ: sắm sửa, dập dìu; Từ ghép tính từ: gần xa, nô nức. 3. Ở sáu câu thơ cuối là cảnh chị em Kiều du xuân trở về. Bên cạnh vẻ thanh thoát, dịu nhẹ của mùa xuân như ở những câu thơ trước, khung cảnh mùa xuân đến đây đã mang một sắc thái khác với bức tranh lễ hội rộn ràng, nhộn nhịp: Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về. Bước lần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Khung cảnh toát lên vẻ vương vấn khi cuộc du xuân đã hết; Các từ tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ vừa gợi tả sắc thái cảnh vật vừa gợi ra tâm trạng con người. Dường như có cái gì đó đang mơ hồ xâm lấn, cảnh vật đã nhuốm sắc thái vương vấn, man mác của tâm trạng con người. Đến những câu thơ cuối đoạn trích này, sự chuyển biến dù nhẹ nhàng của cảnh vật và tâm trạng con người cũng đủ tạo ra dự cảm về những sự việc sắp xảy ra. 4. Đoạn trích Cảnh ngày xuân có bố cục cân đối, hợp lí. Mặc dù không thật rõ ràng nhưng cũng có thể nói đến kết cấu ba phần: mở đầu, diễn biến và kết thúc. Nguyễn Du đã cho thấy một nghệ thuật miêu tả thiên nhiên điêu luyện, sắc sảo. Trong đoạn trích, mặc dù chủ yếu là miêu tả cảnh ngày xuân nhưng vẫn thấy sự kết hợp với biểu cảm và tự sự (diễn biến cuộc tảo mộ, du xuân của chị em Thúy Kiều, dự báo sự việc sắp xảy ra). 1. Đây là đoạn tả cảnh ngày xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của chị em Thuý Kiều. 2. Trong đoạn thơ, có nhiều điển tích, điển cố, từ ít thông dụng. Cần đọc kĩ các chú thích trước khi tìm hiểu giá trị nghệ thuật và nội dung. 3. Đọc đoạn thơ bằng giọng miêu tả xen kể chuyện. Dưới đây là bài soạn Cảnh ngày xuân (Trích Truyện Kiều) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Cảnh ngày xuân (Trích Truyện Kiều) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Cảnh ngày xuân
715
Soạn bài lớp 9: Hoàng Lê nhất thống chí Hướng dẫn Soạn bài: Hoàng Lê nhất thống chí Soạn bài Hoàng Lê nhất thống chí thuộc môn ngữ văn lớp 9, học kì 1 do Ngô gia văn phái sáng tác. Soạn bài mẫu môn ngữ văn lớp 9 này được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về nội dung và ý nghĩa của hồi thứ mười bốn Hoàng Lê nhất thống chí để chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ (Hồi thứ mười bốn) Ngô gia văn phái I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hồi thứ mười bốn là một trong những phần hay nhất của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Qua hồi này, tác giả đã dựng lên hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và sự thất bại thảm hại tất yếu của bọn xâm lược và lũ vua quan phản nước, hại dân một cách chân thực, sinh động. Nội dung này được cụ thể bằng những ý chính trong ba đoạn sau: Đoạn từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788).”: Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, vua Lê thụ phong, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, tự mình đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc. Đoạn từ “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” cho đến “vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành…”: cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung đối với quân Thanh. Đoạn từ “Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê” cho đến hết: Thất bại thảm hại của quân Tôn Sĩ Nghị và sự thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống. 2. Hình tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ được xây dựng chân thực, sinh động với hành động, trí tuệ, tài điều binh khiển tướng, mưu lược… của một vị anh hùng dân tộc: Tiếp được tin báo quân Thanh chiếm đóng Thăng Long, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay; Lên ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc; Gặp Nguyễn Thiếp để hỏi cơ mưu; Tuyển mộ quân lính ở Nghệ An, duyệt binh, phủ dụ quân sĩ, lên kế hoạch tiến quân đánh giặc; Trí tuệ sáng suốt, mẫn cán, điều binh khiển tướng tài tình: Phân tích tình hình, quyết định tiến quân tiêu diệt giặc; Lời lẽ sắc bén, chặt chẽ, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ: lời phủ dụ; Vạch kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng của giặc, chiến thuật nghi binh…); Biết dùng người đúng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng. Ý chí quyết chiến quyết thắng, tầm nhìn xa trông rộng: mạnh bạo, tự tin trong kế sách đánh giặc, tính toán trước sau chu toàn (trước khi đánh giặc đã tính đến cả đối sách với giặc sau khi chiến thắng)… Hình tượng vua Quang Trung đã được miêu tả với đầy đủ những phẩm chất của một vị anh hùng, mang vẻ đẹp oai phong lẫm liệt. Tác giả Ngô gia văn phái vốn trung thành với nhà Lê mà vẫn viết về vua Quang Trung đầy tinh thần ngợi ca như vậy là vì họ đứng trên tinh thần dân tộc mà phản ánh. Nhờ vậy, càng tạo ra cho tác phẩm sức thuyết phục, tính chân thực cao, chứng tỏ tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử. Đây cũng là điểm đặc sắc của thể loại tiểu thuyết lịch sử. 3. Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân: Quân tướng nhà Thanh: Tôn Sĩ Nghị bất tài, không nắm được tình hình thực tế, kiêu căng tự mãn, trễ nải quân cơ: “chỉ chăm chú vào yến tiệc, vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc; khi quân Tây Sơn đánh đến thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao”… Quân tướng hèn nhát, thảm bại: khi nghe tiếng quân Tây Sơn, quân Thanh ở trong đồn Hạ Hồi “ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng”; ở đồn Ngọc Hồi quân thì “bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, tướng thì tự thắt cổ chết; thấy nghi binh thì “đều hết hồn hết vía, vội trốn”; khi nghe tin Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy “đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.”… Vì lợi ích của dòng họ, vị thế nhà Lê mà trở thành những kẻ phản động, cõng rắn cắn gà nhà, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc; Đớn hèn, nhục nhã trước quân Thanh; Tháo chạy thục mạng, cướp cả thuyền của dân mà qua sông, khi đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị thì “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”, rồi chấp nhận phận vong quốc, sau này phải cạo đầu tết tóc như người Mãn Thanh… 4. Về bút pháp của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (một của quân tướng nhà Thanh, một của vua tôi Lê Chiêu Thống): Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh được miêu tả dưới cái nhìn hả hê, mãn nguyện của người thắng trận trước sự thất bại thảm hại của kẻ thù cướp nước: âm hưởng nhanh, gợi tả sự tán loạn, tan tác… Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả dài hơn, âm hưởng chậm hơn, toát lên vẻ chua xót, ngậm ngùi. Sở dĩ có sự khác biệt đó là vì: mặc dù tôn trọng tính khách quan trong phản ánh, song không thể chối bỏ được thái độ chủ quan khi quan sát, nhìn nhận; đối với quân tướng nhà Thanh, tác giả miêu tả với một tâm thế khác với khi miêu tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống – dẫu sao thì cũng là vương triều mình đã từng phụng thờ. Văn bản này được trích từ Hồi 14 – tiểu thuyết chương hồi của Ngô gia văn phái – tái hiện lại những diễn biến quan trọng trong cuộc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung – Nguyễn Huệ. Mặc dù là một tiểu thuyết lịch sử nhưng Hoàng Lê nhất thống chí (biểu hiện cụ thể ở đoạn trích này) không chỉ ghi chép lại các sự việc, sự kiện mà đã tái hiện khá sinh động hình ảnh của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự thảm bại của quân xâm lược cùng với số phận bi đát của đám vua tôi nhà Lê phản dân, hại nước. Khi đọc, chú ý giọng đối thoại và giọng của tiểu thuyết chương hồi. Dưới đây là bài soạn Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Hoàng Lê nhất thống chí
1,316
Soạn bài lớp 9: Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Hướng dẫn Soạn bài: Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Soạn bài lớp 9 học kì 1: Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về khúc hát ru những em bé trên lưng mẹ ngân lên khi đất nước đang oằn mình dưới bom đạn chiến tranh. Những lời người mẹ ru con bộc lộ sâu sắc tinh thần yêu nước cùng ý chí quyết tâm đánh giặc đến cùng của đồng bào các dân tộc nói riêng và nhân dân ta nói chung giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ Nguyễn Khoa Điềm I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ ngân lên khi đất nước còn đang oằn mình dưới bom đạn chiến tranh. Đất nước ấy, trong cảm hứng của Nguyễn Khoa Điềm là “Đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại”. Đất nước trải nhiều đau thương cũng là đất nước của khát vọng hoà bình. Tâm hồn Việt Nam ưa chuộng thơ ca, đất nước Việt Nam luôn vang tiếng hát, trong chiến đấu cam go cũng như khi lao động, trong gian khó cũng như lúc thảnh thơi: Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất nước mình thì bắt lên câu hát Ng­ười đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi… (Nguyễn Khoa Điềm, Trích Trường ca mặt đường khát vọng) Đó cũng là đất nước của những khúc hát mẹ ru con ngàn đời. Là cánh cò bay lả bay la trong lời ru con của bà mẹ Bắc Bộ, là gió mùa thu thao thức năm canh trong câu hát bà mẹ phương Nam,… Và là lời ru của bà mẹ dân tộc Tà-ôi trong khúc hát của Nguyễn Khoa Điềm. Mạch cảm hứng về Đất nước thêm một lần kết tụ, phổ thành tình yêu thương con, ước vọng cho con, thành tinh thần chiến đấu, khát vọng tự do của bà mẹ dân tộc trong lời ru ngọt ngào, tha thiết. Hát ru vốn sống trong dân gian, của dân gian, là tâm tư, tình cảm của bao người, bao đời. Khúc hát của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng có được sức sống ấy, nên cứ ngỡ nó là một sáng tác dân gian! 2. Có thể dễ dàng nhận thấy bài thơ được chia thành 3 phần, ba khúc hát, mỗi khúc được mở đầu giống nhau bằng hai câu “Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi; Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ” và kết thúc mỗi khúc là lời ru trực tiếp của người mẹ. Cũng có thể xem ở mỗi khúc có hai lời ru: “lời ru của nhà thơ và lời ru của mẹ” (Theo Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB Giaó dục, 2001, tr. 395) Nhưng dù là lời ru của mẹ hay lời của nhà thơ thì các câu thơ đều được ngắt nhịp đều đặn ở giữa. Đối với những câu 7 chữ là nhịp 3/4, đối với câu thơ 8 chữ là nhịp 4/4. Như nhịp bước chân, nhịp lên xuống của lưng mẹ, như nhịp chày, nhịp tỉa bắp, tra hạt, như nhịp thở ấm nồng,… Nhịp nhàng, đều đặn, dìu dặt là đặc điểm chung về nhịp điệu của hát ru. Nó vừa có tác dụng đưa em bé vào giấc ngủ, vừa là nhịp để người mẹ có thể tự sự, giãi bày. Điều đặc biệt ở bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm là nhịp thơ phù hợp với nhịp hát ru, lại phù hợp với nhịp của những công việc mà người mẹ Tà-ôi làm, được cảm nhận từ chính em bé trên lưng mẹ. Trong địu trên lưng mẹ, bé và mẹ hai mà là một. Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ Ba lần lời dỗ dành ấy cất lên trong ba hoàn cảnh khác nhau. Lần đầu là khi mẹ đang giã gạo: Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lưng đưa nôi và tim hát thành lời Lần thứ hai là khi mẹ đang tỉa bắp: Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-lưi Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ Em ngủ ngoan em đừng làm mẹ mỏi Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng Lần thứ ba là khi mẹ đang chuyển lán: Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông Mẹ địu em đi để giành trận cuối Từ trên lưng mẹ, em đến chiến trường Từ trong đói khổ, em vào Trường Sơn Những câu thơ cho ta thấy hình ảnh một người mẹ chịu thương chịu khó, yêu thương con hết mực và hết lòng với kháng chiến. Con nằm trên lưng mẹ mà có khác gì con đang nằm trong bụng mẹ. Mẹ giã gạo, nhịp chày là nhịp ru con. Mẹ tỉa bắp, nhịp tỉa bắp là nhịp đưa con vào giấc ngủ. Mẹ đạp rừng chuyển lán, con chẳng rời mẹ, để con bình yên trong nhịp chân của mẹ. Người mẹ Tà-ôi địu con trên lưng mà giã gạo nuôi bộ đội, tỉa bắp trên núi, đạp rừng chuyển lán. Cả bài thơ chỉ có một vài hình ảnh gợi tả hình dáng người mẹ (Vai mẹ gầy…,… lưng mẹ thì nhỏ). Nhưng tình cảm của người mẹ, lòng thương yêu con, những việc làm của mẹ cho con, cho kháng chiến lại được thể hiện sinh động, rõ nét. Cho nên người đọc vẫn thấy chân dung người mẹ hiện ra cụ thể, chân thật. Chân dung tinh thần ấy càng trở nên đẹp đẽ, giàu sức lay động trong những lời người mẹ hát lên, tiếng hát tha thiết từ trái tim. Mặt trời, ánh sáng, những cái mà cây không thể thiếu, là phía hoa lá hướng về thì nằm trên đồi. Mặt trời, niềm tin và hi vọng của mẹ, là bé đang nằm trên lưng. Hình ảnh ẩn dụ (Mặt trời của mẹ) đã diễn tả sâu sắc ý nghĩa của con trong sự sống của mẹ. Ước mơ, khát vọng của mẹ hướng cả về con. Trong lời ru, mẹ giãi bày, thổ lộ ước mơ, khát vọng ấy: Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần Mai sau con lớn vung chày lún sân… Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi Mẹ thương a-kay, mẹ thương làng đói Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi… Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi Mẹ thương a-kay, mẹ thương đất nước Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ Mai sau con lớn làm người Tự do… Trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, lời ru của người mẹ gửi gắm những ước mơ khác nhau. Song tất cả đều là ước vọng về con trong tương lai. Mẹ giã gạo, lời ru nhắn nhủ con hãy chắp ước mơ của mẹ cho “gạo trắng ngần”, ước mơ mai sau con trưởng thành với sức vóc “vung chày lún sân”. Mẹ tỉa bắp trên núi, lời ru nhắn nhủ con hãy chắp ước mơ của mẹ cho “hạt bắp lên đều”, mong ước mai sau con lớn có được sức mạnh có thể “phát mười Ka-lưi”. Và trong khúc ru cuối bài thơ, là ước vọng của người mẹ về ý chí, niềm tin vào tương lai chiến thắng, là mong mỏi con sẽ chắp ước mơ được thấy Bác Hồ của mẹ, khao khát Tự do cho đất nước, Tự do của mẹ, Tự do cho con. Câu hát mỗi lúc một bay cao hơn, ước mơ của người mẹ mỗi lúc một lớn hơn, vươn tới những điều đẹp đẽ, cao cả hơn, và niềm tin vững chắc, hi vọng vào t­ương lai cũng theo đó mà bay bổng, mang dáng vóc của anh hùng ca: Mai sau con lớn vung chày lún sân Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi Mai sau con lớn làm người tự do. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG 1. Dân tộc ta có những truyền thống cao quí mà nổi bật là truyền thống đấu tranh anh dũng chống giặc ngoại xâm. Truyền thống ấy được phát huy từ tinh thần đoàn kết của cả dân tộc, từ thành thị đến nông thôn, từ miền đồng bằng cho đến vùng rừng núi. Trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện truyền thống ấy một cách đặc sắc qua hình ảnh bà mẹ cõng con lên rẫy. Những lời người mẹ ru con bộc lộ sâu sắc tinh thần yêu nước cùng ý chí quyết tâm đánh giặc đến cùng của đồng bào các dân tộc nói riêng và nhân dân ta nói chung. 2. Cách đọc: Đọc kĩ bài thơ và phần chú thích trong sách giáo khoa. Đọc diễn cảm cả bài thơ, chú ý cách ngắt nhịp trong các câu thơ để diễn tả tình cảm yêu thương tha thiết của người mẹ Tà-ôi với con và với cách mạng thể hiện qua lời ru dịu dàng, đằm thắm. Dưới đây là bài soạn Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ
1,713
Soạn bài lớp 9: Khởi ngữ Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Khởi ngữ VnDoc xin giới thiệu với các bạn bài soạn môn Ngữ văn lớp 9 học kì 2 có nội dung và đề tài: Khởi ngữ để tham khảo và chuẩn bị tốt cho bài học sắp tới đây của mình. Chúc các bạn ôn tập và học tập tốt cho học kì sắp tới này. Soạn bài lớp 9: Bàn về đọc sách KHỞI NGỮ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Giúp HS nắm được đặc điểm và công dụng của khởi ngữ trong câu. 1. Xác định thành phần chủ ngữ trong các câu có từ ngữ in đậm dưới đây: a) Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động. (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà) b) Giàu, tôi cũng giàu rồi. (Nguyễn Công Hoan, Bước đường cùng) c) Về các thể văn trong lĩnh vực văn nghệ, chúng ta có thể tin ở tiếng ta, không sợ nó thiếu giàu và đẹp […] (Phạm Văn Đồng, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt) Gợi ý: Còn anh,anh không ghìm nổi xúc động. CN Giàu, tôi cũng giàu rồi. CN Về các thể văn trong lĩnh vực văn nghệ, chúng ta có thể tin ở tiếng ta CN 2. So sánh giữa chủ ngữ trong các câu trên với những từ ngữ in đậm đứng trước nó. Gợi ý: Về vị trí trong câu: các từ ngữ in đậm đứng trước chủ ngữ. Về quan hệ với vị ngữ: các từ ngữ in đậm không phải là chủ ngữ trong câu, không có quan hệ với thành phần vị ngữ như là chủ ngữ. Gợi ý: Khởi ngữ đứng trước vị ngữ và có nhiệm vụ nêu lên đề tài được nói đến trong câu. 4. Những từ nào thường đứng kèm trước khởi ngữ? Gợi ý: Đứng kèm trước khởi ngữ thường là các quan hệ từ như về, đối với. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm khởi ngữ trong các đoạn trích dưới đây: a) Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Điều này ông khổ tâm hết sức. (Kim Lân, Làng) b) – Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng. (Nam Cao, Lão Hạc) c) Một mình thì anh bạn trên trạm đỉnh Phan-xi-păng ba nghìn một trăm bốn mươi hai mét kia mới một mình hơn cháu. (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) d) Làm khí tượng, ở được cao thế mới là lí tưởng chứ. (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) e) Đối với cháu, thật là đột ngột […]. (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) Gợi ý: Chú ý vị trí của khởi ngữ để xác định, phân biệt với chủ ngữ: khởi ngữ đứng trước chủ ngữ. Các khởi ngữ: (a) – Điều này; (b) – Đối với chúng mình; (c) – Một mình; (d) – Làm khí tượng; (e) – Đối với cháu. a) Anh ấy làm bài cẩn thận lắm. b) Tôi hiểu rồi nhưng tôi chưa giải được. Gợi ý: Cụm từ làm bài trong câu (a), từ hiểu, giải trong câu (b) đóng vai trò trung tâm vị ngữ của câu. 3. Hãy viết lại hai câu trong bài tập trên bằng cách chuyển phần in đậm thành khởi ngữ (có thể thêm trợ từ thì). Gợi ý: Làm bài, anh ấy cẩn thận lắm. Hiểu thì tôi hiểu rồi, nhưng giải thì tôi chưa giải được.
Soạn bài lớp 9_ Khởi ngữ
556
Soạn bài lớp 9: Kiều ở lầu Ngưng Bích Hướng dẫn Soạn bài: Kiều ở lầu Ngưng Bích Soạn bài lớp 9 học kì 1: Kiều ở lầu Ngưng Bích trích trong tác phẩm Truyền Kiều do đại thi hào Nguyễn Du sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về nỗi cô đơn và nhớ thương của Kiều được diễn tả sâu sắc qua từng câu thơ giúp các bạn học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH (Trích Truyện Kiều) Nguyễn Du I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Trong sáu câu thơ đầu, khung cảnh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian được nhìn qua con mắt của nhân vật, bộc lộ hoàn cảnh tâm trạng cô đơn, tội nghiệp của Thuý Kiều: Kiều bị giam lỏng trong lầu Ngưng Bích: khoá xuân; Vẻ mênh mông, chống chếnh của không gian tô đậm tình cảnh cô đơn, trơ trọi của Kiều: non xa, trăng gần, bốn bề bát ngát, xa trông, non xa, trăng gần… Đúng là: Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Hình ảnh trăng, mây sớm đèn khuya biểu đạt sự quay vòng của thời gian. Cùng với những hình ảnh gợi tả không gian, sự tuần hoàn đều đặn của thời gian càng nhấn đậm thêm tình cảnh cô đơn, buồn bã của Kiều. 2. Nỗi nhớ thương của Kiều được diễn tả sâu sắc trong tám câu thơ tiếp theo: Kiều nhớ đến cha mẹ, thương cha mẹ ngày ngày tựa cửa ngóng tin con (Xót người tựa cửa hôm mai), ngậm ngùi vì tuổi già trước sự khắc nghiệt của thời gian (Sân Lai cách mấy nắng mưa – Có khi gốc tử đã vừa người ôm), day dứt vì mình không được ở bên để báo đáp công ơn sinh thành (Quạt nồng ấp lạnh biết ai đó giờ). Nguyễn Du để Kiều nhớ tới Kim Trọng trước là hoàn toàn phù hợp với diễn biến tâm lí của nhân vật trong cảnh ngộ cụ thể, đảm bảo tính chân thực cho hình tượng. Trong tình cảnh bị Mã Giám Sinh làm nhục, lại ép tiếp khách làng chơi nên hiện trạng tâm lí Kiều là nỗi đau đớn về “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”, là nỗi buồn nhớ người yêu, nuối tiếc mối tình đầu đẹp đẽ. Kiều đã hi sinh thân mình vì đạo hiếu, khi lâm vào tình cảnh đáng thương, nàng lại một lòng nhớ đến Kim Trọng, nhớ thương cha mẹ, quên cả cảnh ngộ của mình. Trong đoạn trích này, Kiều hiện ra với đức vị tha cao đẹp. 3. Ở tám câu thơ cuối đoạn trích, Nguyễn Du đã cho thấy một bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh vật được miêu tả qua tâm trạng, tâm trạng nhuốm lên cảnh vật, cảnh vật thể hiện tâm trạng: Sắc thái của bức tranh thiên nhiên thể hiện từng trạng thái tình cảm của Thuý Kiều: Nhớ thương cha mẹ, quê hương, cảnh vật là: Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa. Nhớ người yêu, xót xa cho tình duyên lỡ dở, thì cảnh là: Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu. Buồn tủi, đau đớn cho thân mình, thì cảnh là: Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Như vậy, từng chi tiết, hình ảnh khung cảnh thiên nhiên đều mang đậm trạng thái tình cảm của Thuý Kiều. Mỗi cảnh là mỗi tình, song tất cả đều buồn thương, đúng là: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cụm từ Buồn trông lặp lại bốn lần trong tám câu thơ như những đợt sóng lòng trùng điệp, càng khiến nỗi buồn dằng dặc, mênh mông, kết hợp với cái nhìn từ xa đến gần, thu hẹp dần vào nội cảm con người để đến cuối đoạn thì tâm trạng cô đơn, sầu nhớ, cảm giác đau đớn trào lên. Sóng gió nổi lên như sự báo về những đau khổ ê chề rồi đây sẽ xảy ra đối với Kiều, là dự cảm cho một đoạn đời “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.”. 1. Đây là đoạn trích miêu tả cảnh Thuý Kiều ở lầu Ngưng Bích. Cảnh vật tuy đẹp nhưng lòng người vô cùng sầu não đã khiến cho cảnh vật cũng trở nên não nề. Qua đoạn trích này, chúng ta sẽ hiểu thêm nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du, nhất là quan niệm của ông về mối quan hệ giữa cảnh và tình (“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”). 2. Khi đọc, chú ý nhấn giọng ở tám câu cuối, thể hiện tâm trạng rối bời, tuyệt vọng của Thý Kiều trong hoàn cảnh éo le. Dưới đây là bài soạn Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Kiều ở lầu Ngưng Bích
924
Soạn bài lớp 9: Kiểm tra phần tiếng Việt Hướng dẫn Soạn văn Kiểm tra phần tiếng Việt Soạn văn Kiểm tra phần tiếng Việt dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các em cùng tham khảo bài soạn văn mẫu Kiểm tra phần tiếng Việt để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 hơn nhé. KIỂM TRA PHẦN TIẾNG VIỆT Luyện tập theo các đề bài sau: 1. Tìm khởi ngữ trong câu sau và viết lại câu này thành câu không có khởi ngữ. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”. (Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi) Gợi ý: Khởi ngữ là “mắt tôi”; có thể viết lại câu này thành: Nhìn mắt tôi, các anh lái xe bảo: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”. 2. Chỉ ra thành phần biệt lập trong những câu sau và giải thích phần ý nghĩa mà nó đem lại cho câu chứa nó. a) Thật đấy, chuyến này không được Độc lập thì chết cả đi chứ sống làm gì cho nó nhục. (Kim Lân, Làng) b) Cũng may mà bằng mấy nét vẽ, hoạ sĩ ghi xong lần đầu gương mặt của người thanh niên. (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) Gợi ý: (a): “Thật đấy” là thành phần tình thái, dùng để xác nhận điều được nói đến trong câu. 3. Cho biết những từ ngữ in đậm trong các đoạn trích dưới đây có tác dụng liên kết câu chứa chúng với câu nào. Đó là phép liên kết nào? a) – Ba không giống cái hình ba chụp với má. – Sao không giống, đi lâu, ba con già hơn trước thôi. – Cũng không phải già, mặt ba con không có cái thẹo trên mặt như vậy. à ra vậy, bây giờ bà mới biết. (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà) b) Không một hôm nào bà Hai ở quán về mụ không sấn đến vạch thúng ra xem: – Ái chà! Nhà này có mớ cá ngon gớm, chiều tớ phải xin một bát mấy được. Thế là đến chiều mụ sai con bưng bát đến xin. (Kim Lân, Làng) Gợi ý: (a): Phép lặp (giống, ba, già, ba con); phép thế (vậy). (b): Phép nối (Thế là). 4. Chỉ ra phép lặp từ ngữ và phép thé để liên kết câu trong đoạn trích sau đây: – Hoạ sĩ nào cũng đến Sa Pa! ở đấy tha hồ vẽ. Tôi đi đường này ba mươi hai năm. Trước Cách mạng tháng Tám, tôi chở lên chở về mãi nhièu hoạ sĩ như bác. Hoạ sĩ Tô Ngọc Vân này, hoạ sĩ Hoàng Kiệt này… (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) 5. Chỉ ra sự liên kết về nội dung, về hình thức giữa các câu trong một đoạn văn ở một bài tập làm văn của em. Gợi ý: Liên kết về nội dung là gì? Nó được biểu hiện trong văn bản như thế nào? (Bài văn của em có thống nhất về nội dung không? Chọn một đoạn văn thể hiện sự thống nhất về mặt nội dung – chủ đề). Liên kết hình thức là gì? Bài làm của em đã sử dụng những phép liên kết hình thức nào? Chọn một đoạn văn có sử dụng phép liên kết hình thức (thế, lặp, nối,…). 6. Đọc truyện cười sau đây và trả lời câu hỏi. HAI KIỂU ÁO Có ông quan lớn đến hiệu may để may một cái áo thật sang tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luồn cúi quan trên, hách dịch với dan, người thợ may bèn hỏi: – Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ? Quan lớn ngạc nhiên: – Nhà ngươi biết để làm gì? Người thợ may đáp: – Thưa ngài, con hỏi để may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt đằng trước phải mau ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì vạt đằng sau phải may ngắn lại. Quan ngẫm nghĩ một hồi rồi bão: – Thế thì nhà ngươi may cho ta cả hai kiểu. (Theo Trường Chính – Phong Châu, Tiếng cười dân gian Việt Nam) Gợi ý: Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt đằng trước phải mau ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì vạt đằng sau phải may ngắn lại. b) Nêu nội dung hàm ý của câu vừa tìm được. Gợi ý: Hàm ý của câu này là: Ngài phải cúi đâù (luồn cúi) trước quan trên, ngửng cao đầu (hách dịch) trước dân đen. c) Theo em, người nghe có giải đoán được hàm ý của người nói không? Dựa vào đâu để khẳng định như vậy? Gợi ý: Người nghe (viên quan) không hiểu được hàm ý sâu xa của câu nói. Nếu hiểu được được ý chế giễu và phê phán của câu nói thì viên quan đã nổi giận. Dưới đây là bài soạn Kiểm tra phần tiếng Việt bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Kiểm tra phần tiếng Việt Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Kiểm tra phần tiếng Việt
930
Soạn bài lớp 9: Kiểm tra truyện trung đại Hướng dẫn Soạn bài: Kiểm tra truyện trung đại Soạn bài lớp 9 học kì 1: Kiểm tra truyện trung đại dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về một số tác phẩm được sáng tác vào kỳ trung đại trong lịch sử văn học giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. KIỂM TRA TRUYỆN TRUNG ĐẠI 1. Kiến thức cơ bản: Số TT Tên văn bản (đoạn trích, tác phẩm) Tác giả Nội dung chủ yếu Đặc sắc nghệ thuật 1 Chuyện người con gái Nam Xương Nguyễn Dữ Phẩm chất tốt đẹp và số phận oan trái của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến Khắc hoạ quá trình tâm lí và tính cách nhân vật, nghệ thuật kể chuyện sinh động, hấp dẫn. 2 Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh Phạm Đình Hổ Cuộc sống xa hoa của vua chúa, quan lại phong kiến. Nghệ thuật viết tuỳ bút chân thực, hấp dẫn. 3 Hoàng Lê nhất thống chí Ngô gia văn phái Vẻ đẹp hào hùng của người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ trong chiến công đại phá quân Thanh, sự thảm bại của bọn xâm lược và số phận bi thảm của lũ vua quan phản nước, hại dân. Lối văn trần thuật đặc sắc kết hợp với miêu tả chân thực, sinh động. 4 Truyện Kiều Nguyễn Du Cảm hứng nhân văn, nhân đạo, sự trân trọng sắc đẹp, tài năng, phẩm cách con người. Bút pháp nghệ thuật ước lệ, nghệ thuật miêu tả và khắc hoạ hình tượng đặc sắc. 5 Truyện Lục Vân Tiên Nguyễn Đình Chiểu Khát vọng cứu đời, giúp người, ca ngợi tinh thần trọng nghĩa, khinh tài. Ngôn ngữ mộc mạc, bình dị, lối kể chuyện tự nhiên, sinh động. Số phận bi kịch, đau khổ, oan khuất (nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương), bi kịch điển hình của người phụ nữ bị chà đạp nhân phẩm (nhân vật Thuý Kiều trong Truyện Kiều). Vẻ đẹp của người phụ nữ: vẻ đẹp nhan sắc và tài năng (chị em Thuý Kiều), vẻ đẹp về tâm hồn, hiếu thảo, thuỷ chung (Vũ nương, Thúy Kiều), khát vọng tự do, công lý (Thuý Kiều). 3. Bộ mặ xấu xa, thối nát của giai cấp thống trị, của xã hội phong kiến: Ăn chơi xa hoa, truỵ lạc (Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh). Hèn nhát, xu nịnh ngoại bang (Hoàng Lê nhất thống chí). Giả dối, bất nhân, vì tiền mà táng tận lương tâm (Truyện Kiều). 4. Phân tích hình tượng các nhân vật: Nguyễn Huệ: Lòng yêu nước nồng nàn; Quả cảm, tài trí; Nhân cách cao đẹp. Lục Vân Tiên: Lí tưởng đạo đức cao đẹp; Thể hiện quan điểm đạo đức Nho gia avf quan niệm đạo đức của nhân dân. 5. Nguyễn Du và Truyện Kiều: Nguyễn Du (1765-1820) quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc có truyền thống về văn học. Cuộc đời Nguyên Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX. Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật: chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng và bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi. Nguyễn Du sống phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh, sau đó ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813-1814 ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc. Năm 1820 ông được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc lần thứ hai nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh, mất tại Huế. Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc. Ông có vốn sống phong phú, niềm thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn cả bằng chữ Hán và chữ Nôm. Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Kiểm tra truyện trung đại
757
Soạn bài lớp 9: Kiểm tra về truyện trung đại Hướng dẫn Soạn bài Kiểm tra về truyện trung đại Ngữ văn lớp 9 Soạn bài lớp 9: Kiểm tra về truyện trung đại là tài liệu được VnDoc sưu tầm và tổng hợp, giúp các bạn học sinh lớp 9 tổng hợp kiến thức môn văn nhằm ôn thi học kì 1, ôn thi vào lớp 10 các trường THPT. Chúc các bạn ôn tập tốt và đạt kết quả cao trong các kỳ thi sắp tới. Kiểm tra về truyện trung đại trang 134 SGK Ngữ Văn 9 1. Xem lại các phần Ghi nhớ và bài giảng để ghi ngắn gọn vào bảng thống kê. 2. Người phụ nữ qua Chuyện người con gái Nam Xương và qua các trích đoạn Truyện Kiều. – Số phận bi kịch: Đau khổ, oan khuất (Chuyện người con gái Nam Xương); bi kịch điển hình của người phụ nữ (nhân vật Thúy Kiều hội đủ những đau khổ của người phụ nữ trong xã hội xưa mà hai bi kịch lớn nhất là bi kịch tình yêu tan vỡ và bi kịch nhân phẩm). – Vẻ đẹp người phụ nữ. + Vẻ đẹp về nhan sắc, tài năng (Chị em Thúy Kiều); + Vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất: Hiếu thảo, thủy chung son sắt (Vũ Nương, Thúy Kiều), khát vọng tự do, công lý chính nghĩa (Thúy Kiều). 3. Chủ đề phản ánh hiện thực xã hội phong kiến với bộ mặt xấu xa của giai cấp thống trị: – Hèn nhát, thần phục ngoại bang một cách nhục nhã (Quang Trung đại phá quân Thanh). – Giả dối, bất nhân, vì tiền mà táng tận lương tâm (Mã Giám Sinh mua Kiều). 4. Người anh hùng với lý tưởng đạo đức cao đẹp qua hình tượng Lục Vân Tiên (Lục Vân Tiên cửu Kiều Nguyệt Nga). + Lý tưởng theo quan niệm tích cực của Nho gia: “Nhớ câu kiến ngãi bất vi – Làm người thế ấy củng phi anh hùng”. + Lý tưởng theo quan niệm đạo lý của nhân dân: Trừng trị cái ác, cứu giúp những người hoạn nạn. – Người anh hùng dân tộc qua hình tượng Nguyễn Huệ trong Quang Trung đại phá quân Thanh. + Lòng yêu nước nồng nàn: + Quả cảm, tài trí: + Nhân cách cao đẹp; 5. Những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du. – Tóm tắt Truyện Kiều 6. Giá trị nhân đạo của Truyện Kiều qua các đoạn trích đã học: – Khẳng định, đề cao con người (Chị em Thúy Kiều) – Lên án, tố cáo thế lực tàn bạo chà đạp lên con người (Mã Giám Sinh mua Kiều) – Thương cảm trước những đau khổ, bi kịch của con người (Mã Giám Sinh mua Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích). – Đề cao tấm lòng nhân hậu, đề cao ước mơ công lý chính nghĩa (Thúy Kiều báo ân báo oán). – Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên: + Trực tiếp miêu tả thiên nhiên: + Tả cảnh ngụ tình (Kiều ở lầu Ngưng Bích). – Nghệ thuật miêu tả nhân vật: + Khắc họa bằng bút pháp nghệ thuật ước lệ (Chị em Thúy Kiều); + Khắc họa tính cách nhân vật qua miêu tả ngoại hình, ngôn ngữ, cử chỉ (Mã Giám Sinh mua Kiều); + Miêu tả đời sống nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình (Kiều ở lầu Ngưng Bích) + Khắc họa tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại (Thúy Kiều báo ân báo oán).
Soạn bài lớp 9_ Kiểm tra về truyện trung đại
579
Soạn bài lớp 9: Liên kết câu và liên kết đoạn văn Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Liên kết câu và liên kết đoạn văn Soạn bài: Liên kết câu và liên kết đoạn văn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Để hiểu thế nào là liên kết, em hãy thực hiện theo các yêu cầu: 1. Đoạn văn sau đây bàn về vấn đề gì? Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại (1). Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ (2). Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh (3). (Nguyễn Đình Thi, Tiếng nói của văn nghệ) Gợi ý: Đoạn văn bàn về vấn đề người nghệ sĩ phản ánh thực tại trong tác phẩm. 2. Chủ đề của đoạn văn trên có quan hệ như thế nào với chủ đề chung của văn bản? Gợi ý: Chủ đề chung của văn bản là tiếng nói của văn nghệ. Chủ đề của đoạn văn trên nằm trong chủ đề chung của toàn văn bản, là một phần tạo nên chủ đề chung. 3. Nội dung chính của mỗi câu trong đoạn văn trên là gì? Những nội dung ấy có quan hệ như thế nào với chủ đề của đoạn văn? Các câu đã được sắp xếp theo trình tự như thế nào? Nội dung chính của câu (1): Tác phẩm nghệ thuật phản ánh thực tại đời sống. Nội dung chính của câu (2): Điều quan trọng là người nghệ sĩ phải nói cái mới mẻ. Nội dung chính của câu (3): Những điều mới mẻ là sự gửi gắm của người nghệ sĩ đóng góp vào đời sống. Những nội dung của các câu đều xoay quanh chủ đề cách phản ánh đời sống của tác phẩm văn nghệ. Các câu được sắp xếp theo trình tự triển khai chủ đề của đoạn, câu sau nối tiếp ý của câu trước. 4. Mối quan hệ chặt chẽ về nội dung giữa các câu trong đoạn văn trên được thể hiện bằng những biện pháp nào? (chú ý những từ ngữ in đậm). Gợi ý: Sự lặp lại các từ: tác phẩm – tác phẩm; Sử dụng các từ cùng trường liên tưởng: tác phẩm – nghệ sĩ, ghi lại – muốn nói – gửi vào – góp vào; Thay thế: những vật liệu mượn ở thực tại = cái đã có rồi, nghệ sĩ = anh; Dùng quan hệ từ: nhưng. 5. Như vậy, các đoạn văn trong văn bản cũng như các câu trong đoạn văn phải có sự liên kết với nhau cả về nội dung và hình thức. Về nội dung, các đoạn văn trong văn bản hay các câu trong đoạn văn phải phục vụ chủ đề chung của văn bản hay của đoạn văn; các đoạn văn, các câu phải được sắp xếp theo một trình tự hợp lí. Về hình thức, các đoạn văn và các câu phải được liên kết với nhau bằng những biện pháp liên kết (lặp, liên tưởng, thế, nối…). II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc đoạn văn sau đây và cho biết các câu liên kết với nhau về mặt nội dung như thế nào. Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh, nhạy bén với cái mới. Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là một yêu cầu hàng đầu. Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng còn tồn tại không ít cái yếu. ấy là những lỗ hổng kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học “thời thượng”, nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề. Không nhanh chóng lấp lỗ hổng này thì khó bề phát huy trí thông minh vốn có và không thể thích ứng với nền kinh tế mới chứa đựng đầy tri thức cơ bản và biến đổi không ngừng. (Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới) Gợi ý: Để phân tích được mối liên kết về nội dung giữa các câu trong đoạn, trước hết phải xác định được chủ đề của đoạn. Sau đó, xét xem nội dung của các câu trong đoạn văn phục vụ chủ đề ấy như thế nào và các câu được sắp xếp theo trình tự ra sao. Chủ đề của đoạn văn trên là khẳng định tư chất trí tuệ đồng thời chỉ ra điểm yếu mà người Việt Nam cần khắc phục để chuẩn bị cho thế kỉ mới. Các câu trong đoạn văn đều xoay quanh và triển khai chủ đề chung này. 2. Phân tích liên kết về mặt hình thức giữa các câu trong đoạn văn trên. Gợi ý: Trong đoạn văn trên, người viết đã sử dụng những phép liên kết nào để liên kết các câu với nhau? Thế đồng nghĩa: sự thông minh, nhạy bén với cái mới <=> Bản chất trời phú ấy Nối: <=> Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng còn <=>ấy là Lặp: Lỗ hổng ó lỗ hổng này; sự thông minh (câu 1) <=> trí thông minh (câu 5). Dưới đây là bài soạn Liên kết câu và liên kết đoạn văn bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Liên kết câu và liên kết đoạn văn Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Liên kết câu và liên kết đoạn văn
1,032
Soạn bài lớp 9: Luyện tập liên kết câu và liên kết đoạn văn Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Luyện tập liên kết câu và liên kết đoạn văn Soạn bài: Luyện tập liên kết câu và liên kết đoạn văn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. LUYỆN TẬP LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN 1. Trong các đoạn trích sau đây, những phép liên kết câu và liên kết đoạn văn nào đã được sử dụng? a) Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân và phong kiến. Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa. (Hồ Chí Minh, Về vấn đề giáo dục) b) Văn nghệ đã làm cho tâm hồn họ thực sự được sống. Lời gửi của văn nghệ là sự sống. Sự sống ấy toả đều cho mọi vẻ, mọi mặt của tâm hồn. Văn nghệ nói chuyện với tất cả tâm hồn chúng ta, không riêng gì trí tuệ, nhất là trí thức. (Nguyễn Đình Thi, Tiếng nói của văn nghệ) c) Thật ra, thời gian không phải là một mà là hai: đó vừa là một định luật tự nhiên, khách quan, bao trùm thế giới, vừa là một khái niệm chủ quan của con người đơn độc. Bởi vì chỉ có con người mới có ý thức về thời gian. Con người là sinh vật duy nhất biết rằng mình sẽ chết, và biết rằng thời gian là liên tục. (Thời gian là gì? trong Tạp chí Tia sáng) (Nam Cao, Chí Phèo) Gợi ý: (a): Liênkết câu: trường học <=> trường học (phép lặp); Liên kết đoạn: trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân và phong kiến <=> như thế (phép thế). (b): Liên kết câu: Văn nghệ <=> văn nghệ (phép lặp); Liên kết đoạn: sự sống <=> Sự sống; văn nghệ <=> Văn nghệ (phép lặp). (c): Liên kết câu: thời gian <=> thời gian <=> thời gian; con người <=> con người <=> Con người (phép lặp). (d): Liên kết câu: yếu đuối <=> mạnh; hiền lành <=> ác (liên hệ trái nghĩa). 2. Tìm các cặp từ ngữ trái nghĩa trong hai câu văn sau đây và cho biết chúng có tác dụng như thế nào trong việc liên kết câu. Thời gian vật lí vô hình, giá lạnh, đi trên một con đường thẳng tắp, đều đặn như một cái máy (tuyệt hảo bởi không bao giờ hư), tạo tác và phá huỷ mọi sinh vật, mọi hiện hữu. Trong khi đó, thời gian tâm lí lại hữu hình, nóng bỏng, quay theo một hình tròn, lúc nhanh lúc chậm với bao kỉ niệm nhớ thương về dĩ vãng, cũng như bao nhiêu dự trù lo lắng cho tương lai. (Thời gian là gì? trong Tạp chí Tia sáng) Gợi ý: Các cặp từ ngữ trái nghĩa: Thời gian vật lí Thời gian tâm lí vô hình Hữu hình giá lạnh nóng bỏng thẳng tắp Hình tròn đều đặn lúc nhanh lúc chậm Đoạn văn có chủ đề là phân biệt thời gian vật lí và thời gian tâm lí. Trong sự diễn đạt đặc điểm của hai loại thời gian, mối liên hệ giữa các cặp từ trái nghĩa tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa hai câu văn. a) Cắm bơi một mình trong đêm. Trận địa đại đội 2 ở phía bãi bồi bên một dòng sông. Hai bố con cùng viết đơn xin ra mặt trận. Mùa thu hoạch lạc đã vào chặng cuối. (Dẫn theo Trần Ngọc Thêm) b) Năm 19 tuổi chị đẻ đứa con trai, sau đó chồng mắc bệnh, ốm liền trong hai năm rồi chết. Chị làm quần quật phụng dưỡng cha mẹ chồng, hầu hạ chồng, bú mớm cho con. Có những ngày ngắn ngủi cơn bệnh tạm lui, chồng chị yêu thương chị vô cùng. (Dẫn theo Trần Ngọc Thêm) Gợi ý: (a): Theo sự diễn đạt này, các câu vi phạm liên kết nội dung: không cùng chung một chủ đề. Có thể sửa lại bằng cách thêm một số từ ngữ vào để tạo ra liên kết chủ đề giữa các câu: Cắm bơi một mình trong đêm. Trận địa đại đội 2 của anh ở phía bãi bồi bên một dòng sông. Anh chợt nhớ hồi đầu mùa lạc hai bố con anh cùng viết đơn xin ra mặt trận. Bây giờ thì mùa thu hoạch lạc đã vào chặng cuối. (b): Câu này vi phạm liên kết nội dung: trình tự các sự việc nêu trong các câu không hợp lí. Có thể chữa lỗi liên kết này bằng cách thêm vào cho câu 2 thành phần trạng ngữ chỉ thời gian để làm rõ diễn biến trước – sau của sự việc: Năm 19 tuổi chị đẻ đứa con trai, sau đó chồng mắc bệnh, ốm liền trong hai năm rồi chết. Suốt thời gian anh ốm, chị làm quần quật phụng dưỡng cha mẹ chồng, hầu hạ chồng, bú mớm cho con. Có những ngày ngắn ngủi cơn bệnh tạm lui, chồng chị yêu thương chị vô cùng. 4. Tìm và chữa các lỗi liên kết hình thức trong các đoạn trích sau: (Báo) b) Tại văn phòng, đồng chí Bộ trưởng đã gặp gỡ một số bà con nông dân để trao đổi ý kiến. Mỗi lúc bà con kéo đến hội trường một đông. (Báo) Gợi ý: (a): Lỗi thay thế, từ nó trong câu 2 không thể thay thế cho loài nhện. Chữa: thay nó bằng chúng. (b): Lỗi dùng từ không thống nhất, từ hội trường không thể đồng nghĩa với từ văn phòng cho nên không thể thay thế được cho nhau. Chữa: bỏ từ hội trường trong câu 2 hoặc thay từ này bằng từ văn phòng. Dưới đây là bài soạn Luyện tập: Liên kết câu và liên kết đoạn văn bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Luyện tập: Liên kết câu và liên kết đoạn văn Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Luyện tập liên kết câu và liên kết đoạn văn
1,119
Soạn bài lớp 9: Luyện tập phân tích và tổng hợp Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Luyện tập phân tích và tổng hợp Soạn bài: Luyện tập phân tích và tổng hợp dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Bài soạn Luyện tập phân tích và tổng hợp được sưu tầm và tổng hợp kỹ càng, hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn học sinh cũng như giáo viên giảng dạy môn Văn lớp 9. Soạn bài lớp 9: Phép phân tích và tổng hợp Soạn bài lớp 9: Khởi ngữ Soạn bài lớp 9: Bàn về đọc sách LUYỆN TẬP PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP 1. Trong các đoạn văn dưới đây, những phép lập luận nào đã được sử dụng? a) Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài […] không thể tóm tắt thơ được, mà phải đọc lại. Cái thú vị của bài “Thu điếu” ở các điệu xanh: xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi; ở những cử động: chiếc thuyền con lâu lâu mới nhích, sóng gợn tí, lá đưa vèo, tầng mây lơ lửng, ngõ trúc quanh, chiếc cần buông, con cá động; ở các vần thơ: không phải chỉ giỏi vì là những tử vận hiểm hóc, mà chính hay vì kết hợp với từ, với nghĩa chữ, đến một cách thoải mái đúng chỗ, do một nhà nghệ sĩ cao tay; cả bài thơ không non ép một chữ nào, nhất là hai câu 3, 4: đối với: Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. thật tài tình; nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá: vèo, để tương xứng với cái mức độ gợn của sóng: tí. (Toàn tập Xuân Diệu, tập 6) b) Mấu chốt của thành đạt là ở đâu? Có người nói thành đạt là do gặp thời, có người lại cho là do hoàn cảnh bức bách, có người cho là do có điều kiện học tập, có người lại cho là do có tài năng trời cho. Các ý kiến đó mỗi ý chỉ nói đến một nguyên nhân, mà lại đều là nguyên nhân khách quan, họ quên mất nguyên nhân chủ quan của con người. Thật vậy. Gặp thời tức là gặp may, có cơ hội, nhưng nếu chủ quan không chuẩn bị thì cơ hội cũng sẽ qua đi. Hoàn cảnh bức bách tức là hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục. Nhưng gặp hoàn cảnh ấy có người bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí; có người lại gồng mình vượt qua. Điều kiện học tập cũng vậy, có người được cha mẹ tạo cho mọi điều kiện thuận lợi, nhưng lại mải chơi, ăn diện, kết quả học tập rất bình thường. Nói tới tài năng thì ai cũng có chút tài, nhưng đó chỉ mới là một khả năng tiềm tàng, nếu không tìm cách phát huy thì nó cũng bị thui chột. Rút cuộc mấu chốt của thạnh đạt là ở bản thân chủ quan mỗi người, ở tinh thần kiên trì phấn đấu, học tập không mệt mỏi, lại phải trau dồi đạo đức cho tốt đẹp. Không nên quên rằng, thành đạt tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận. (Nguyên Hương, Trò chuyện với bạn trẻ) Trong đoạn văn (a), người viết sử dụng phép lập luận phân tích để làm rõ cái hay của bài thơ Thu điếu. Trong đoạn văn (b), người viết sử dụng chủ yếu phép lập luận phân tích, có kết hợp với tổng hợp. 2. Nhận xét về cách sử dụng các phép lập luận phân tích, tổng hợp trong hai đoạn văn trên. Gợi ý: Cái hay của bài thơ Thu điếu được phân tích theo các ý: “các điệu xanh” – “những cử động” – “vần thơ”. Các nguyên nhân khách quan của thành đạt được phân tích để từ đó đi đến bác bỏ nguyên nhân khách quan, khẳng định nguyên nhân chủ quan. Câu “Rút cuộc…” là biểu hiện của phép lập luận tổng hợp. 3. Học qua loa, đối phó, không học thật sự sẽ gây ra nhiều tác hại. Em hãy phân tích bản chất của lối học đối phó để nêu lên những tác hại của nó. Gợi ý: Học như thế nào được xem là học đối phó? Có những biểu hiện nào của lối học đối phó mà em thường gặp? Hãy phân tích. Từ những biểu hiện cụ thể của lối học đối phó đã phân tích, hãy sử dụng phép tổng hợp để rút ra những tác hại của lối học này. 4. Dựa vào văn bản Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm, em hãy phân tích các lí do khiến mọi người phải đọc sách. Vì những lí do nào mà mọi người phải đọc sách? Phân tích từng lí do, chú ý đến mối liên hệ giữa các lí do để phân tích cho chặt chẽ. 5. Viết một đoạn văn tổng hợp lại những điều đã phân tích trong bài Bàn về đọc sách. Gợi ý: Bài văn Bàn về đọc sách gồm những luận điểm chính nào? (Tầm quan trọng của việc đọc sách; Phải chọn sách mà đọc; Phải biết kết hợp giữa đọc sách chuyên môn và sách thường thức…). Đoạn văn phải thâu tóm được những luận điểm chính đã phân tích để rút ra nhận định chung về việc đọc sách.
Soạn bài lớp 9_ Luyện tập phân tích và tổng hợp
937
Soạn bài lớp 9: Luyện tập sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh Hướng dẫn LUYỆN TẬP SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH Soạn bài lớp 9 học kì 1: Luyện tập sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo. Bài soạn văn 9 này sẽ giúp học tốt môn Ngữ Văn lớp 9 hiểu rõ hơn về một số biện pháp nghệ thuật thường được vận dụng trong văn bản thuyết minh. Soạn bài Luyện tập sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh I. HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ Ở NHÀ 1. Viết dàn ý cho đề bài: Thuyết minh giới thiệu một trong các đồ dùng: cái quạt, cái bút, cái kéo, cái nón. 2. Viết đoạn văn Mở bài cho bài văn với đề bài trên. Gợi ý: Dàn bài đáp ứng một số yêu cầu sau: Nội dung thuyết minh: Lập dàn ý theo bố cục ba phần; Nêu được công dụng, đặc điểm cấu tạo, lịch sử của vật lựa chọn làm đối tượng thuyết minh. Hình thức thuyết minh: Sử dụng các biện pháp thuyết minh thông dụng; Vận dụng các biện pháp nghệ thuật để tạo sức hấp dẫn cho văn bản thuyết minh (nhân hoá, so sánh, miêu tả, kể chuyện,…). II. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP TRÊN LỚP 1. Trình bày dàn ý trước tổ, trước lớp; đọc đoạn văn Mở bài. 2. Trao đổi, tham khảo các dàn ý của các bạn, lắng nghe nhận xét của thầy, cô giáo rồi tự điều chỉnh dàn ý của mình. 3. Đọc các bài văn sau và nhận xét về nội dung thuyết minh, cách thức thuyết minh: HỌ NHÀ KIM Trong mọi dụng cụ của con người, có lẽ chúng tôi thuộc loại bé nhất. Tuy bé nhưng nhà ai cũng cần đến. Các bạn có biết chúng tôi là ai không? chúng tôi là cái kim khâu, bằng kim loại, bề ngang độ nửa li, bề dài khoảng hai ba phân, một đầu nhọn, một đầu tù, có lỗ chôn để sâu chỉ. Kim phải cứng mới dùng được. Khi đứt cúc, sứt chỉ thế nào cũng có tôi thì mới xong. Họ nhà kim chúng tôi rất đông. Ngoài kim khâu vải may áo, còn có loại kim bé hơn để thêu thùa, lại có kim khâu trong khi mổ, kim to khâu giày, kim đóng sách,… Công dụng của kim là để luồn chỉ mềm qua các vật dày, mỏng để kết chúng lại. Thiếu chúng tôi thì nhiều nghành sản xuất gặp khó khăn đấy! Nghe nói từ cuối thế kỷ XVIII, một người Anh đã sáng chế ra máy khâu, nhưng máy vẫn cứ phải có kim thì mới khâu được! Cùng họ Kim chúng tôi còn có cây kim châm cứu. Nó bé mà dài, làm bằng bạc, dùng để chích vào huyệt nhằm chữa bệnh. Những cây kim của ông Nguyễn Tài Thu đã nổi tiếng thế giới! Họ kim lại còn có kim tiêm. Vẫn thân hình bé nhỏ, cứng cáp, có đầu nhọn, nhưng trong ruột lại rỗng, dùng để đưa thuốc chữa bệnh vào trong cơ thể con người. Khi ốm nặng, cần tiêm mà không có kim tiêm sạch thì nguy! Chúng tôi bé thật đấy, nhưng không tầm thường tí nào! Chúng tôi làm được những việc mà những kẻ to xác không làm được, có phải là rất đáng tự hào không? (Bài làm của HS) Trong các loài vật xung quanh ta có lẽ chẳng ai lạ gì con kiến. Thôi thì kiến vàng, kiến đen, kiến lửa… ai mà chẳng biết? Ấy thế nhưng mà kiến là một loài rất lạ! Cái lạ thứ nhất là kiến không có bộ não, không có mắt, không có tai, không có bộ phận máy phát âm, chỉ nhờ có xúc giác, thế mà cái gì nó cũng biết, lại còn lôi kéo cả đàn làm theo. Thức ăn, bánh kẹo, mật ong…. không cất cẩn thận thế nào nó cũng bu đến! Đặc biệt nó biết rõ thời tiết. Hễ động trời sắp mưa là nó biết ngay, lo tích thức ăn, bịt kín tổ kiến. Cái lạ thứ 2 là nó rất khoẻ. Mỗi con kiến có thể mang một trọng lượng nhiều gấp 40 lần trọng lượng cơ thể nó. Trên thế giới này hẳn không có loài vật nào có sức mạnh như thế. Đã thế kiến là loài vật ném không chết. Người ta ném con kiến từ độ cao gấp hàng nghìn lần cơ thể nó, vậy mà khi rơi xuống nó vẫn bình yên bì đi như không! Cái lại thứ ba: Kiến là một kiến trúc sư tài ba. Bạn đã có dịp thấy tổ kiến chưa? Nếu cắt ra mà xem mới thấy đó là một thành phố có nhiều nhà cao tầng, đường đi lối lại thông suốt, trong đó có cung vua, có hậu cung, có nhà trẻ, kho lương thực, có nhà chung cư! Ở châu Phi có tổ kiến hình trụ hoặc hình kim tự tháp cao mười mấy mét! Chất liệu làm tổ chỉ là đất với nước bọt của chúng mà tổ kiến rất chắc, dùng rìu chặt cũng không đứt! Cái lạ thứ tư: Kiến là loài vật dũng cảm và hung dư vào loại hiếm có. Nếu gặp địch thủ, dù to lớn thế nào, kiến đều xông vào chiến đấu, không sợ hy sinh, cho đến khi hạ gục đối thủ, hoặc là ăn ngay tại trận, hoặc là mang về tổ. Ở châu Mĩ nhiều người bị kiến tấn công, tiêm nọc độc rồi trong chớp mắt, đàn kiến đông bu lại ăn hết thịt! Kiến là động vật có hại, vì nó nuôi rệp, lại hay làm tổ ở chân đê gây vỡ đê khi lũ. Nhưng cũng có nơi lấy kiến làm thức ăn, nghe nói giá trị dinh dưỡng gấp ba lần thịt bò! Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu loài kiến để hạn chế tác hại, lợi dụng các khả năng của chúng nhằm mưu lợi cho con người. (Dựa theo Bách khoa loài vật) Về nội dung thuyết minh: Chủ đề thuyết minh của văn bản là gì? Văn bản đã giới thiệu, trình bày về đối tượng với những nội dung nào? Có đầy đủ và sâu sắc không? Về phương pháp thuyết minh: Văn bản đã sử dụng các biện pháp thuyết minh thông dụng nào? Văn bản có kết hợp sử dụng các biện pháp nghệ thuật không? Đó là những biện pháp nào? Phân tích tác dụng của các biện pháp nghệ thuật. Dưới đây là bài soạn Luyện tập sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Luyện tập sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Luyện tập sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh
1,236
Soạn bài lớp 9: Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh Hướng dẫn Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh Soạn bài lớp 9: Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 hiểu rõ hơn về phương thức và vận dụng yếu tố miêu tả thường dùng trong văn bản thuyết minh. LUYỆN TẬP SỬ DỤNG YẾU TỐ MIÊU TẢ TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH I. HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ Cho đề bài sau: Con trâu ở làng quê Việt Nam 1. Tìm hiểu đề: Xác định đối tượng thuyết minh; Xác định thao tác thuyết minh: giới thiệu, trình bày, giải thích hay kết hợp các thao tác? 2. Tìm hiểu đối tượng thuyết minh: về con trâu (đặc điểm, ích lợi,…), về làng quê Việt Nam (tập quán, văn hoá, đặc thù lao động sản xuất,…). 3. Tìm ý, lập dàn ý: Em dự định sẽ trình bày những ý nào? Sắp xếp các ý theo trình tự hợp lí. 4. Tham khảo văn bản thuyết minh khoa học sau và tự rút ra những kiến thức cần thiết cho bài thuyết minh của mình: Trâu động vật thuộc họ Bò (Bovidae), phân bộ Nhai lại (Ruminantia), nhóm Sừng rỗng (Cavicornes), bộ Guốc chẵn (Actiodactyla), lớp Thú có vú (Mammalia). Trâu Việt Nam (Bubalus bubalus) có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hoá, thuộc nhóm trâu đầm lầy. Lông màu xám, xám đen, thân hình vạm vỡ, thấp, ngắn, bụng to, mông dốc, bầu vú nhỏ, sừng hình lưỡi liềm. Có 2 đai màu trắng: dưới cổ và chỗ đầu xương ức. Trâu cái nặng trung bình 350 – 400kg (300 – 600kg), trâu đực: 400 – 450kg (350 – 700 kg). […] Trâu 3, 4 tuổi có thể đẻ lứa đầu. Trâu đẻ có mùa vụ. Một đời trâu cái thường cho 5 – 6 nghé, nghé sơ sinh nặng 22 – 25kg. Đôi răng cửa giữa cố định bắt đầu mọi lúc 3 tuổi và trâu kết thúc sinh trưởng khi hết 6 tuổi (8 răng cửa). Trâu nuôi chủ yếu để kéo cày: Lực kéo trung bình trên ruộng 70 – 75 kg bằng 0,36 – 0,40 mã lực. Trâu loại A, một ngày cày 3 – 4 sào, loại B: 2 – 3 sào và loại C: 1,5 – 2 sào Bắc Bộ; kéo xe: ở đường xấu tải trọng 400 – 500kg, đường tốt 700 – 800kg và trên đường nhựa với bánh xe hơi kéo trên 1 tấn; kéo gỗ: trên đường đồi núi, thường một trâu kéo 0,5 – 1,3 m3 với đoạn đường 3 -5km. Khả năng cho thịt: Trâu cái có tỉ lệ thịt xẻ 42%; Trâu thiến: 45% và trâu đực 2 tuổi: 48%. Khả năng cho sữa: 400 – 500kg sữa trong một chu kì vắt. Mỡ sữa 9 – 10%. Khả năng cho phân: Trong 24 giờ, trâu 2 răng thải ra 10kg phân, trâu 4 răng: 12 – 15kg và trâu trưởng thành: 20 – 25kg… (Theo Từ điển Bách khoa Nông nghiệp, Hà Nội, 1991) II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Sử dụng thao tác miêu tả để thuyết minh giới thiệu các nội dung sau: Con trâu ở làng quê Việt Nam (hình ảnh con trâu trong khung cảnh đồng ruộng, thôn xóm ở làng quê Việt Nam); Con trâu trong công việc đồng áng, chuyên chở (cày ruộng, kéo xe,…); Con trâu trong một số lễ hội (lễ hội chọi trâu, đua trâu,…); Con trâu với tuổi thơ ở nông thôn. Gợi ý: Đối với những học sinh ở vùng nông thôn: chú ý quan sát, ghi chép để giới thiệu, miêu tả chính xác, tỉ mỉ. Đối với những học sinh không sống ở nông thôn: cần tìm hiểu qua tài liệu, tham khảo ý kiến của người lớn,… để có được tri thức cần thiết về đối tượng thuyết minh. 2. Chọn một trong các chủ đề ở trên để viết thành một đoạn văn thuyết minh có sử dụng yếu tố miêu tả. Vận dụng kết hợp các biện pháp nghệ thuật để tăng thêm sức hấp dẫn cho đoạn văn thuyết minh. Gợi ý: Kết hợp sử dụng các phương pháp thuyết minh: định nghĩa, liệt kê, nêu số liệu,… Kết hợp yếu tố miêu tả; Vận dụng các biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, so sánh, nhân hoá,…; có thể dẫn những câu tục ngữ, ca dao về con trâu để đoạn văn thêm sinh động, hấp dẫn. DỪA SÁP Giồng cây xanh – một vùng ven thị trấn cầu kè, tỉnh Trà Vinh là nơi duy nhất trên nước ta trồng loại dừa độc nhất vô nhị có cái tên nghe ngồ ngộ là dừa sáp. Và loại dừa này dùng để ăn chứ không để uống… Từ lâu dừa sáp là đặc sản nổi tiếng của huyện Cầu Kè. Theo những người cao niên trong làng thì dừa sáp được trồng vào giữa thế kỷ XX do sư cả Chùa Chợ đến Cam-pu-chia mua về trồng. Nhìn bề ngoài thì cây dừa sáp cũng giống như cây dừa ta. Sở dĩ dừa được gắn với tên sáp là vì cơm của nó vừa mềm, vừa xốp lại dẻo như bột đã được nhào sệt, đồng thời lại có màu đùng đục của sáp. Đặc biệt là cơm dừa chiếm trọn gần cả gáo. Các bạn nhiều nơi thiệt thòi vì còn ít, hoặc chưa bao giờ được nếm, thậm chí chỉ chiêm ngưỡng thôi, loại dừa có một không hai này. Thời gian trước người ta thưởng thức dừa bằng cách nạo cơm dừa rồi bỏ vào ly sẵn đá rồi sau đó cho sữa bò vào. Ngày nay người ta bỏ cơm dừa vào máy say sinh tố có chứa sữa và đá ở trong đó. Vị lạnh của đá đã được say nhuyễn làm cho vị thơm ngon của dừa trộn sữa toát ra hết rồi lan toả khắp miệng để lại dư vị tuyệt vời trên đầu lưỡi. Có lẽ nhờ hương vị của ly dừa tuyệt hảo mà mỗi trái dừa sáp có giá cao hơn dừa thường gấp 10 lần. Bình thường thì mỗi trái dừa là 10 000 đồng. Vào những dịp lễ hội lớn như lễ thanh minh, lễ cúng chùa ông Bổn vào ngày rằm tháng bảy âm lịch, lễ Vu Lan là khách từ các nơi nườm nượp đổ về, ai cũng muốn thưởng thức đặc sản của quê hương Cầu Kè và đồng thời mua về làm quà cho người thân, khiến cho dừa sáp vọt lên với giá 25 000 đồng. Hiện tại, cả Giồng Cây Xanh cũng chỉ có được khoảng 700 cây dừa sáp. Cặp dừa giống mà vị sư cả đem về trồng ở trong sân chùa hơn 50 năm qua giờ đã trở thành thuỷ tổ của loại dừa sáp. Người dân ở nơi đây đã cố nhân giống loại dừa siêu ngon này khắp nơi nhưng lạ thay nó chỉ chịu cho sáp ở các nơi như: Tam Ngãi, Phong Phú, Phong Thạnh… có nghĩa là nó chỉ “mến” vùng đất quanh thị trấn Cầu Kè còn nếu trồng chệch qua phần đất khác thì dừa sẽ không cho sáp. Trước đây thường mỗi buồng dừa có khoảng 12 trái thì có đến hơn phân nửa là dừa sáp nhưng hiện thì chỉ có được 3 – 4 trái có sáp, có khi còn không có trái nào. Lí giải hiện tượng này, chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Trà Vinh cho biết, do dừa sáp trồng cùng vùng với dừa thường nên dẫn đến tình trạng hoa của dừa sáp thụ phấn của dừa thường. Để khắc phục, cần phải có vùng đất riêng để trồng nó. Nhưng muốn có một “giang sơn” cho dừa sáp là điều mà các nhà khoa học còn phải “đau đầu” (Thanh Thuý, Báo Thiếu niên tiền phong, số 80 – 2004) Người viết đã sử dụng miêu tả như thế nào để giới thiệu về cây dừa sáp? (miêu tả những gì? tác dụng của yếu tố miêu tả ra sao?). Tự rút ra kết luận về việc sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh, cách thức cũng như tác dụng của việc kết hợp này.
Soạn bài lớp 9_ Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
1,386
Soạn bài lớp 9: Luyện tập viết biên bản Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Luyện tập viết biên bản Soạn bài lớp 9 học kì 2: Luyện tập viết biên bản dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. LUYỆN TẬP VIẾT BIÊN BẢN 1. Cần nhớ những đặc điểm của biên bản: mục đích, trách nhiệm và thái độ của người viết, bố cục, lời văn và cách trình bày. 2. Để viết biên bản cho một Hội nghị trao đổi kinh nghiệm học tập môn Ngữ văn, em hãy dựa theo bố cục sau: (1) Quốc hiệu và tiêu ngữ (2) Địa điểm, thời gian hội nghị (3) Tên biên bản (4) Thành phần tham dự (5) Diễn biến và kết quả hội nghị (6) Thời gian kết thúc, thủ tục kí xác nhận (chủ trì, thư kí – người viết biên bản). 3. Ghi lại biên bản họp lớp tuần vừa qua. Gợi ý: Phần nội dung biên bản phải ghi lại được chính xác những diễn biến của cuộc họp lớp, các nội dung trao đổi, thống nhất trong cuộc họp. 4. Ghi biên bản bàn giao nhiệm vụ trực tuần của chi đội em cho chi đội bạn. Gợi ý: Về thành phần tham dự bàn giao, nhất thiết phải có người đại diện cho chi đội bạn (nhận bàn giao) và đại diện của chi đội em (bàn giao). Về nội dung, cần ghi lại được cụ thể từng nội dung bàn giao. Cuối văn bản phải có kí nhận của đại diện hai chi đội. Gợi ý: Ngoài các phần theo quy định của một biên bản, ở phần nội dung biên bản phải nêu rõ được lí do xử phạt, mức độ xử phạt. Biên bản dạng này phải có tính công khai (được đọc lên và yêu cầu đối tượng vi phạm kí nhận). Dưới đây là bài soạn Luyện tập viết biên bản bản đầy đủ nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Luyện tập viết biên bản Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Luyện tập viết biên bản
427
Soạn bài lớp 9: Luyện tập viết hợp đồng Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Luyện tập viết hợp đồng Soạn bài lớp 9 học kì 2: Luyện tập viết hợp đồng dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. LUYỆN TẬP VIẾT HỢP ĐỒNG I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Mục đích của hợp đồng là gì? Gợi ý: Ghi lại những nội dung thoả thuận về trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của hai bên tham gia giao dịch nhằm đảm bảo thực hiện đúng thoả thuận đã cam kết. 2. Văn bản hợp đồng là kiểu văn bản có tính chất pháp lí. 3. Một bản hợp đồng gồm có những mục nào? Phần nội dung chính của hợp đồng được trình bày ra sao Gợi ý: Phần mở đầu: Quốc hiệu và tiêu ngữ Tên hợp đồng Thời gian, địa điểm Họ tên, chức vụ, địa chỉ của các bên kí hợp đồng. Phần nội dung: Ghi lại nội dung của hợp đồng theo từng điều khoản đã được thống nhất giữa các bên. Phần kết thúc: Ghi chức vụ, chữ kí, họ tên của đại diện các bên tham gia kí kết trong hợp đồng và xác nhận dâu của cơ quan (nếu có). 4. Lời văn của hợp đồng phải ngắn gọn, sáng rõ, chặt chẽ; số liệu phải đảm bảo chân thực, chính xác, thống nhất. 1. Chọn cách diễn đạt nào trong hai cách sau? Tại sao? a) Hợp đồng có giá trị từ ngày… đến ngày… tháng… năm… đến hết ngày… tháng… năm… (1) Hợp đồng có giá trị một năm (2) b) Bên B phải thanh toán cho bên A bằng ngoại tệ (1) Bên B phải thanh toán cho bên A bằng đô la Mĩ (2) c) Bên A có thể sẽ không nhận nếu bên B đưa loại hàng không đúng phẩm chất, không đúng quy cách như đã thoả thuận (1) Bên A sẽ không nhận nếu bên B đưa loại hàng không đúng phẩm chất, không đúng quy cách như đã thoả thuận (2) d) Bên A có trách nhiệm bảo đảm số lượng, chất lượng, chủng loại hàng. (1) Bên A có trách nhiệm bảo đảm số lượng, chất lượng, chủng loại hàng như đã thoả thuận với bên B. (2) Gợi ý: (a) – (1); (b) – (2); (c) – (2); (d) – (2). 2. Lập hợp đồng cho thuê xe đạp dựa trên những thông tin sau đây: Người có xe cho thuê: Nguyễn Văn A, tại số nhà X, phố…phường… thành phố Huế. Người cần thuê xe: Lê Văn C, ở tại khách sạn Y, mang giấy chứng minh nhân dân số:… do Công an thành phố…cấp ngày… tháng… năm… Đối tượng: Chiếc xe đạp mi-ni Nhật, màu tím, trị giá 1 000 000 đ. Thời gian thuê: 3 ngày đêm. Giá cả: 10 000 đ/ngày đêm. Nếu mất hoặc bị hư hại thì người thuê phải bồi thường. CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——– HỢP ĐỒNG THUÊ XE ĐẠP Hôm nay, ngày… tháng… năm… Tại… Chúng tôi gồm: Bên A: Nguyễn Văn A, tại số nhà X, phố… phường… thành phố Huế. Bên B: Lê Văn C, ở tại khách sạn Y, mang giấy chứng minh nhân dân số:… do Công an thành phố…cấp ngày… tháng… năm… Hai bên thoả thuận kí kết Hợp đồng thuê xe đạp với các nội dung và điều khoản sau: Điều 1. Điều 2. 3. Gia đình em cần thuê lao động để mở rộng sản xuất. Em hãy soạn thảo hợp đồng đó. Gợi ý: Xác định được vai trò của các bên giao dịch; Soạn thảo các điều khoản thể hiện được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của bên cho thuê lao động (bên A) và bên thuê lao động (bên B); Hợp đồng phải có nội dung chặt chẽ, số liệu cụ thể, chính xác. 4. Dựa vào hướng dẫn về các mục của văn bản hợp đồng, em tự soạn một trong các hợp đồng: sử dụng điện thoại, sử dụng nước sạch, sử dụng điện sinh hoạt. Dưới đây là bài soạn Luyện tập viết hợp đồng bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Luyện tập viết hợp đồng Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Luyện tập viết hợp đồng
776
Soạn bài lớp 9: Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận Hướng dẫn Soạn bài: Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận Soạn bài lớp 9 học kì 1: Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về cách viết đoạn văn tự sự có dùng yếu tố nghị luận giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ CÓ SỬ DỤNG YẾU TỐ NGHỊ LUẬN 1. Viết một đoạn văn kể lại buổi sinh hoạt lớp, trong đó em đã phát biểu ý kiến chứng minh một bạn đã có hành động rất tốt. Cho biết em đã sử dụng nghị luận trong kể chuyện như thế nào. Gợi ý: Xác định các sự việc, nhân vật dự định sẽ kể: Buổi sinh hoạt lớp bắt đầu, diễn biến và kết thúc như thế nào? Ai là người điều khiển buổi sinh hoạt? Buổi sinh hoạt đề cập đến những vấn đề gì của lớp? Không khí của buổi sinh hoạt ra sao? Em đã phát biểu điều gì, vào thời điểm nào? Tại sao em lại phát biểu điều đó? Em đã thuyết minh cả lớp về hành động tốt của bạn nào? Tại sao phải làm như vậy? Vì sao có thể xem hành động đó là hành động tốt (lí lẽ)? Cụ thể hành động đó là gì (dẫn chứng)? Mọi người phải noi gương ra sao? Để làm gì? 2. Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới: MỘT HỌC SINH XẤU TÍNH Trong lớp chúng tôi có một đứa rất khó chịu, đó là Phran-ti. Tôi ghét thằng này vì nó là một đứa rất xấu bụng. Khi thấy một ông bố nào đấy đến nhờ thầy giáo khiển trách con mình, là nó mừng rỡ. Khi có người khóc là nó cười. Nó run sợ trước mặt Ga-rô-nê, nhưng lại đánh cậu bé thợ nề không đủ sức tự vệ. Nó hành hạ Grốt-xi, cậu bé bị liệt một cánh tay, chế giễu Prê-cốt-xi mà mọi người đều nể, nhạo báng cả Rô-bét-ti, cậu học lớp hai, đi phải chống nạng vì đã cứu một em bé. Nó khiêu khích những người yếu nhất, và khi đánh nhau thì nó hăng máu, trở nên hung tợn, cố chơi những miếng rất hiểm độc. Có một cái gì làm cho người ta ghê tởm ở cái trán thấp ấy, trong cái nhìn vẩn đục ấy, được che dấu dưới cái mũi có lưỡi trai bằng vải dầu […]. Sách, vở, sổ tay của nó đều giây mực bê bết, rách nát và bẩn thỉu; thước kẻ thì như có răng cưa, ngòi bút thì toè ra, móng tay thì cắn bằng mồm, quần áo thì rách tứ tung trong những lúc đánh nhau... (Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, Những tấm lòng cao cả, Hoàng Thiếu Sơn dịch, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1979.) Nhân vật “tôi” đã đưa ra nhận xét về Phran-ti trong những câu văn nào? Nhân vật “tôi” đã làm gì để chứng minh cho những nhận xét của mình về Phran-ti? Hãy tóm tắt dàn ý của đoạn văn trên để tìm hiểu việc kết hợp nghị luận với tự sự. Nếu không sử dụng yếu tố nghị luận, liệu nhân vật “tôi” có thực hiện được ý đồ của mình trong câu chuyện không? Vì sao? 3. Viết đoạn văn kể về việc làm hoặc những lời dạy bảo của người bà kính yêu. 4. Tóm tắt dàn ý của đoạn trích dưới đây và đối chiếu với đoạn văn vừa viết để tự rút ra bài học về viết đoạn văn tự sự có yếu tố nghị luận: BÀ NỘI […] Tôi ngẩng cao đầu mới thấy tuổi của bà; chứ cứ nhìn bà nhặt củi, nhổ sắn, nhìn bà đứng, bà đi thì không ai biết bà đã gần bảy mươi. Bà làm nhanh, đi nhanh, lưng thẳng. Bà không hút thuốc lào như u tôi, không ăn giầu. Bà như một chiếc bóng; lặng lẽ, đi không ai biết, về không ai hay. Bà tất bật khi đi giồng sắn ở trại, khi đi bắt cua bán, lúc đi cấy thuê. Có lần bà bỏ nhà bốn năm ngày. Tôi hỏi Lĩnh, nó rớm nước mắt. Tuần phu đi rầm rập bắt thuế. Trống dồn sôi cả bụng, đập thình thịch vào cái ngực bé nhỏ của tôi. Cả làng đã im ắng. Bà như chiếc bóng giở về. Ít khi tôi thấy bà nói chuyện, nói trò với ai khác ngoài các cháu ra. Ít khi tôi thấy bà đôi co với ai. Dân làng bảo bà hiền như đất. Nói cho đúng, bà hiền như chiếc bóng. Nếu ai lành chanh lành chói, bà rủ rỉ khuyên. Bà nói nhiều bằng ca dao, tục ngữ. Những chị mồm năm miệng mười, sau khi bà khuyên chỉ còn mồm một miệng hai. Người ta bảo: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Bà như thế thì chúng tôi hư làm sao được. U tôi như thế, chúng tôi không nỡ hư nỡ hỏng. […] Bà tôi có học hành gì đâu, một chữ cắn đôi không biết. Bà lặng lẽ, cứ tưởng bà không biết gì. Bà thuộc như cháo hàng trăm hàng nghìn câu ca. Bà nói những câu sao mà đúng thế. Bà bảo U tôi: Dạy con từ thuở còn thơ Dạy vợ từ thưở bơ vơ mới về Người ta như cây. Uốn cây phải uốn từ non. Nếu để lớn lên mới uốn, nó gẫy. Có khi nó còn bật vỡ mặt mình. (Theo Duy Khán, Tuổi thơ im lặng, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1996) Khi kể chuyện về người bà kính yêu của mình, tác giả đã bày tỏ tình cảm như thế nào? Việc kết hợp giữa tự sự với miêu tả, biểu cảm, nghị luận có tác dụng gì? Dưới đây là bài soạn Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận
1,136
Soạn bài lớp 9: Làng Hướng dẫn Soạn bài: Làng Soạn bài lớp 9 học kì 1: Làng do Kim Lân sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về hình ảnh một lão nông dân tha thiết yêu làng quê của mình, một lòng một dạ theo kháng chiến hiện ra sắc nét, với chiều sâu tâm lí, ngôn ngữ mang đậm màu sắc cá thể hoá giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. LÀNG KIM LÂN I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tình yêu quê hương đất nước trong mỗi con người cụ thể mang một hình hài riêng. Có thể là sự hi sinh anh dũng của những chiến sĩ ngoài mặt trận, có thể là công sức khai hoang, vun trồng những thửa ruộng, có thể là cái mượt mà hay hùng tráng của một ca khúc ca ngợi tình người, tình đời, v.v… Và ở đây là tình yêu, sự gắn bó thuỷ chung với cái làng của mình, của một người nông dân phải rời làng đi tản cư trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. 2. Thành công của truyện Làng chính là ở hình tượng nhân vật lão Hai với những trạng huống tâm lí, ngôn ngữ được khắc hoạ sắc sảo, chân thực và sinh động. Tuy nhiên, để nhân vật bộc lộ được tâm lí hay ngôn ngữ, trước hết, nhà văn phải xây dựng được tình huống truyện. Tính cách nhân vật chỉ được thể hiện trong một sự việc cụ thể nào đó. Hiểu lầm rồi vỡ lẽ là dạng tình huống thường được các nhà văn sử dụng. Việc rời làng đi tản cư là sự việc có ý nghĩa tạo khung cho câu chuyện. Đó chưa phải là tình huống. Phải đến khi ông Hai nghe tin đồn làng của ông theo Tây làm Việt gian thì tình huống mới thực sự bắt đầu. Tình huống truyện kết thúc khi ông Hai biết được sự thực làng của ông không theo giặc. Qua tình huống này, hình ảnh một lão nông dân tha thiết yêu làng quê của mình, một lòng một dạ theo kháng chiến hiện ra sắc nét, với chiều sâu tâm lí, ngôn ngữ mang đậm màu sắc cá thể hoá. 3. Sở dĩ cái tin làng chợ Dầu theo giặc làm ông Hai khổ tâm là vì nó đã động chạm đến điều thiêng liêng, nhạy cảm nhất trong con người ông. Cái làng đối với người nông dân quan trọng lắm. Nó là ngôi nhà chung cho cộng đồng, họ mạc. Đời này qua đời khác, ng­ời nông dân gắn bó với cái làng như máu thịt, ruột rà. Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên, là hiện thân cho đất nước đối với họ. Trước Cách mạng tháng Tám, ông Hai thuộc loại “khố rách áo ôm”, từng bị “bọn hương lí trong làng truất ngôi trừ ngoại xiêu dạt đi, lang thang hết nơi này đến nơi khác, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn kiếm ăn. Ba chìm bảy nổi mười mấy năm trời mới lại được trở về quê hương bản quán.”. Nên ông thấm thía lắm cái cảnh tha hương cầu thực. Ông yêu cái làng của mình như đứa con yêu mẹ, tự hào về mẹ, tôn thờ mẹ, một tình yêu hồn nhiên như trẻ thơ. Cứ xem cái cách ông Hai náo nức, say mê khoe về làng mình thì sẽ thấy. Trước Cách mạng tháng Tám, ông khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng ông: “Chết! Chết, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào mà lại được như cái dinh cơ cụ thượng làng tôi.”. Và mặc dù chẳng họ hàng gì nhưng ông cứ gọi viên tổng đốc là “cụ tôi” một cách rất hả hê! Sau Cách mạng, “người ta không còn thấy ông đả động gì đến cái lăng ấy nữa”, vì ông nhận thức được nó làm khổ mình, làm khổ mọi người, là kẻ thù của cả làng: “Xây cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó. […] Cái chân ông đi tập tễnh cũng vì cái lăng ấy”. Ông lão đang náo nức, “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!” vì những tin kháng chiến thì biến cố bất ngờ xảy ra. Cái tin làng chợ Dầu theo giặc đã làm ông điếng người: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng nh­ đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặng è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ […] giọng lạc hẳn đi”, “Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi” và nghĩ đến sự dè bỉu của bà chủ nhà. Ông lão như vừa bị mất một cái gì quý giá, thiêng liêng lắm. Những câu văn diễn tả tâm trạng thật xúc động: “Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra… Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…”. Nỗi nhục nhã, mặc cảm phản bội hành hạ ông lão đến khổ sở: “Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước…”. Cả nhà ông Hai sống trong bầu không khí ảm đạm: “Gian nhà lặng đi, hiu hắt, ánh lửa vàng nhờ nhờ ở ngọn đèn dầu lạc vờn trên nét mặt lo âu của bà lão. Tiếng thở của ba đứa trẻ chụm đầu vào nhau ngủ nhẹ nhàng nổi lên, nghe như tiếng thở của gian nhà.” Ông Hai ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớm, bất ổn trong nỗi tủi nhục ê chề. Thậm chí ông không dám nhắc tới, phải gọi tên cái chuyện phản bội là “chuyện ấy”. Ông tuyệt giao với tất cả mọi người, “không dám bước chân ra đến ngoài” vì xấu hổ. Và cái chuyện vợ chồng ông lo nhất cũng đã đến. Bà chủ nhà bóng gió đuổi gia đình ông, chỉ vì họ là người của làng theo Tây. Gia đình ông Hai ở vào tình thế căng thẳng. Ông Hai phải đối mặt với tình cảnh khó khăn nhất: “Thật là tuyệt đường sinh sống! […] đâu đâu có người chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi. Mà cho dẫu vì chính sách của Cụ Hồ người ta chẳng đuổi đi nữa, thì mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu.”. 4. Từ chỗ yêu tha thiết cái làng của mình, ông Hai đâm ra thù làng: “Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hồ…”. Và “Nước mắt ông giàn ra”. Ông lại nghĩ đến cảnh sống nô lệ tăm tối, lầm than trước kia. Bao nỗi niềm của ông không biết giãi bày cùng ai đành trút cả vào những lời trò chuyện cùng đứa con thơ dại: – Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con của ai? – Là con thầy mấy lị con u. – Thế nhà con ở đâu? – Nhà ta ở làng chợ Dầu. – Thế con có thích về làng chợ Dầu không? Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ: – Có. Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu lại hỏi: – À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai? Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt: – Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm! Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ: – Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ. Những lời đáp của con trẻ cũng là tâm huyết, gan ruột của ông Hai, một người lấy danh dự của làng quê làm danh dự của chính mình, một người son sắt một lòng với kháng chiến, với Cụ Hồ. Những lời thốt ra từ miệng con trẻ như minh oan cho ông, chân thành và thiêng liêng như lời thề đinh ninh vang lên từ đáy lòng ông: Anh em đồng chí biết cho bố con ông Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông. Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. 5. Nhà văn đã nhìn thấy những nét đáng trân trọng bên trong người nông dân chân lấm tay bùn. Nhân vật ông Hai hiện ra chân thực từ cái tính hay khoe làng, thích nói về làng bất kể người nghe có thích hay không; chân thực ở đặc điểm tâm lí vì cộng đồng, vui cái vui của làng, buồn cái buồn của làng và chân thực ở những diễn biến của trạng thái tâm lí hết sức đặc trưng của một người nông dân tủi nhục, đau đớn vì cái tin làng mình phản bội. Nếu như trong biến cố ấy tâm trạng của ông Hai đau đớn, tủi cực bao nhiêu thì khi vỡ lẽ ra rằng đó chỉ là tin đồn không đúng, làng chợ Dầu của ông không hề theo giặc, sự vui sướng càng tưng bừng, hả hê bấy nhiêu. Ông Hai như người vừa được hồi sinh. Một lần nữa, những thay đổi của trạng thái tâm lí lại được khắc hoạ sinh động, tài tình: “Cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy…”. Ông khoe khắp nơi: “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn![…] Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả.”, “Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn.[…] Ra láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục đích cả!”. Đáng lẽ ra ông phải buồn vì cái tin ấy chứ? Nhưng ông đang tràn ngập trong niềm vui vì thoát khỏi cái ách “người làng Việt gian”. Cái tin ấy xác nhận làng ông vẫn nhất quyết đứng về phía kháng chiến. Cái tin ấy khiến ông lại được sống như một người yêu nước, lại có thể tiếp tục sự khoe khoang đáng yêu của mình,… Mâu thuẫn mà vẫn hết sức hợp lí, điểm này cũng là sự sắc sảo, độc đáo của ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn Kim Lân. 6. Kim Lân đã từng được đánh giá là một cây bút hàng đầu về đề tài phong tục. Trong truyện Làng, sự thông hiểu về lề thói, phong tục của làng quê được ông vận dụng hết sức khéo léo vào xây dựng tâm lí, hành động, ngôn ngữ nhân vật. Cốt truyện đơn giản, sức nặng lại dồn cả vào mạch diễn biến tâm trạng, vào lời thoại của nhân vật nên câu chuyện có sức hấp dẫn riêng, ấn tượng riêng, độc đáo. Trong số rất nhiều những nhân vật nông dân khác, người đọc khó có thể quên một ông Hai yêu làng quê, yêu đất nước, thuỷ chung với kháng chiến, với sự nghiệp chung của dân tộc. Một ông Hai thích khoe làng, một ông Hai sốt sắng nghe tin tức chính trị, một ông Hai tủi nhục, đau đớn khi nghe tin làng mình theo giặc, một ông Hai vui mừng như trẻ thơ khi biết tin làng mình không theo giặc,… Ai đó đã một lần thấy nhà văn Kim Lân, nghe ông nói chuyện còn thú vị hơn nữa: hình nh­ ta gặp ông đâu đó trong Làng rồi thì phải. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Khi đọc truyện, cần chú ý nghệ thuật xây dựng tình huống tâm lí, miêu tả sinh động diễn biến tâm trạng, ngôn ngữ của nhân vật để cảm nhận được tình yêu làng quê thắm thiết thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của ông Hai trong truyện. Dưới đây là bài soạnLàng bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Làng Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Làng
2,166
Soạn bài lớp 9: Lặng lẽ Sa Pa Hướng dẫn Soạn bài: Lặng lẽ Sa Pa Soạn bài lớp 9 học kì 1: Lặng lẽ Sa Pa do Nguyễn Thành Long sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn. Bài soạn văn Lặng lẽ Sa Pa này là tài liệu tham khảo giúp các bạn hiểu rõ hơn về sự thay đổi trong cái nhìn về Sa Pa mà còn là sự thay đổi trong quan niệm của một nghệ sĩ về cuộc sống, về cái đẹp giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. LẶNG LẼ SA PA Nguyễn Thành Long I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long nhẹ nhàng mà sâu sắc, thẫm đẫm chất thơ. Nhẹ nhàng, kín đáo như Sa Pa thành phố trong sương, và cũng giàu sức sống với hoa trái ngát hương bốn mùa. Lặng lẽ mà không buồn tẻ, những con người nơi đây đang từng ngày thầm lặng cống hiến sức lực của mình, thầm lặng đem lại hương sắc cho cuộc sống. Đọc truyện ngắn này, chúng ta chúng ta có thể thấy: “Sa Pa không chỉ là một sự yên tĩnh. Bên dưới sự yên tĩnh ấy, người ta làm việc!” 2. Lặng lẽ Sa Pa có một cốt truyện đơn giản. Chỉ là cuộc hội ngộ giữa bốn người: ông hoạ sĩ già, cô kĩ sư mới tốt nghiệp, bác lái xe và anh thanh niên phụ trách trạm khí tượng trên núi Yên Sơn. Tác giả không hề cho biết tên của các nhân vật. Qua cuộc hội ngộ của những con người “không có tên” ấy, hiện ra chân dung con người lao động thầm lặng, trên cái nền lặng lẽ thơ mộng của Sa Pa. Câu chuyện về cuộc hội ngộ chỉ diễn ra trong vòng ba mươi phút, người hoạ sĩ chỉ kịp phác thảo bức chân dung của mình nhưng chân dung của chàng thanh niên, của những con người đang cống hiến tuổi xuân, ngày đêm lặng lẽ làm việc thì đã hiện ra rõ nét. Chân dung ấy hiện ra trước hết qua sự giới thiệu của bác lái xe vui tính, qua sự quan sát, cảm nhận, suy ngẫm nhà nghề của bác hoạ sĩ, qua sự cảm nhận của cô gái trẻ và qua sự tự hoạ của chàng trai. 3. Theo lời giới thiệu của bác lái xe, cái con người “cô độc nhất thế gian” là một thanh niên hai mươi bảy tuổi, làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu. Trong câu chuyện phác thảo chân dung của bác lái xe, đáng chú ý là chuyện “thèm người” của anh chàng “cô độc nhất thế gian” kia. Không phải anh ta “sợ người” mà lên làm việc ở đây, trái lại, anh ta từng chặt cây ngáng đường ngăn xe dừng lại để được gặp người “nhìn trông và nói chuyện một lát”. Trong sự cảm nhận của cô kĩ sư mới ra trường, cuộc sống của người thanh niên là “cuộc sống một mình dũng cảm tuyệt đẹp”, anh mang lại cho cô “bó hoa của những háo hức và mơ mộng ngẫu nhiên”. Nếu như người hoạ sĩ lão thành mới chỉ ghi được “lần đầu gương mặt của người thanh niên” thì chính những lời tâm sự của một kẻ “thèm người” khi được gặp người đã là một bức chân dung tự hoạ khá hoàn chỉnh. Chân dung là gì nếu không phải là những nét vẽ tinh thần, những nét gợi tả phẩm chất? Những nét tự hoạ của anh thanh niên về cả những con người đang làm việc như anh khiến người hoạ sĩ già, dù đã trải nhiều chuyện đời phải suy ngẫm rất nhiều: “Người con trai ấy đáng yêu thật, nhưng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm cho người ta suy nghĩ về anh. Và về những điều anh suy nghĩ trong cái vắng vẻ vòi vọi hai nghìn sáu trăm mét trên mặt biển, cuồn cuộn tuôn ra khi gặp người.” Vậy những điều gì ở chàng thanh niên đã làm cho người hoạ sĩ già suy nghĩ và thậm chí làm thay đổi cả cái quan niệm về mảnh đất Sa Pa vốn có trong ông? Nỗi “thèm người” ở anh thanh niên không phải nỗi nhớ cuộc sống đông đúc, tiện nghi, an nhàn, như anh nói: “Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì xoàng.”. Người thanh niên hiểu rất rõ công việc của mình, chấp nhận sống trong hoàn cảnh buồn tẻ, cô độc để làm công việc “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Nhưng con người ấy không hề thấy buồn tẻ, cô độc. Cái sự “thèm người” của chàng thanh niên là lẽ bình thường của con người, nhất lại là tuổi trẻ. Anh sống với triết lí: “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?”. Được làm việc có ích đối với anh thế là niềm vui. Hơn nữa công việc của anh gắn liền với công việc của bao anh em đồng chí khác ở những điểm cao hơn hoặc thấp hơn. Người hoạ sĩ đã thấy bối rối khi bất ngờ được chiêm ngưỡng một chân dung đẹp đẽ đến thế: “bắt gặp một con người như anh là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài”. Và chắc chắn ông sẽ còn bối rối khi muốn dựng lên chân dung của Sa Pa. Bởi vì, trong sự tự hoạ của chàng trai còn hiện ra những chân dung khác nữa, cũng quên mình, say mê với công việc nh­ anh kĩ sư rau dưới Sa Pa “Ngày này sang ngày khác… ngồi im trong vườn su hào, rình xem cách ong lấy phấn, thụ phấn cho hoa su hào…”, nhà nghiên cứu sét mười một năm không rời xa cơ quan một ngày vì sợ có sét lại vắng mặt. Cái lặng lẽ của cảnh sắc Sa Pa thì cây cọ trên tay người hoạ sĩ có thể lột tả không mấy khó khăn, nhưng cái không lặng lẽ của Sa Pa như ông đã thấy qua những con người kia thì vẽ thế nào đây? Người hoạ sĩ nhận thấy rất rõ “sự bất lực của nghệ thuật, của hội hoạ trong cuộc hành trình vĩ đại là cuộc đời.”. Đây không chỉ là sự thay đổi trong cái nhìn về Sa Pa mà còn là sự thay đổi trong quan niệm của một nghệ sĩ về cuộc sống, về cái đẹp. Còn cô gái? Khi từ biệt, “Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như người ta trao cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay”. Cô đã hiểu được nhiều điều từ cuộc sống, công việc của chàng trai. Có lẽ trong cái bắt tay ấy là niềm tin, là ý nghĩa đích thực của lao động, là cả sự thầm lặng cống hiến cho đời,… Những điều đó sẽ giúp cô vững vàng hơn trong những bước đầu tiên vào đời. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Qua việc đọc, phân tích các yếu tố nghệ thuật: miêu tả nhân vật, miêu tả thiên nhiên,… có thể cảm nhận được vẻ đẹp của nhân vật trong truyện, chủ yếu là nhân vật anh thanh niên trong công việc thầm lặng, trong cách sống và những suy nghĩ, tình cảm, trong quan hệ với mọi ngươi; đồng thời thấy được nghệ thuật viết truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Nguyễn Thành Long. Dưới đây là bài soạn Lặng lẽ Sa Pa bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Lặng lẽ Sa Pa Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Lặng lẽ Sa Pa
1,421
Soạn bài lớp 9: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga Hướng dẫn Soạn bài: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga Soạn bài lớp 9 học kì 1: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga do Nguyễn Đình Chiểu sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về Hình ảnh Lục Vân Tiên trong đoạn trích là một chàng trai nghĩa hiệp, tài giỏi, không chịu nổi cảnh “bất bình” đã cứu Kiều Nguyệt Nga khỏi tay ác bá giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA (Trích Truyện Lục Vân Tiên) Nguyễn Đình Chiểu I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu từng được xem là “một trong những sản phẩm hiếm có của trí tuệ con người có cái ưu điểm lớn là diễn tả được trung thực những tình cảm của một dân tộc” (Lời nói đầu bản dịch của G. Ô-ba-rê, trong Một số tư liệu về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, NXB Khoa học xã hội, 1965). 2. Truyện Lục Vân Tiên có kiểu kết cấu ước lệ theo khôn mẫu của truyện truyền thống: người tốt gặp gian truân, bị kẻ xấu hãm hại nhưng được phù trợ và cứu giúp, cuối cùng được đền đáp xứng đáng, kẻ xấu bị trừng trị. Đây là loại truyện thể hiện khát vòng cháy bỏng của nhân dân: ở hiền gặp lành, cái thiện chiến thắng cái ác. Vân Tiên ghé lại bên đàng, Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô… Vân Tiên tả đột hữu xông Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang Hành động đó thể hiện tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng cao thượng của Vân Tiên. Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả theo phong cách văn chương cổ, đó là theo cách so sánh với mẫu hình lí tưởng Triệu Tử Long (Triệu Vân) một mình phá vòng vay của Tào Tháo trong trận Đương Dang (Đương Dương) nổi tiếng. Thái độ cư xử của Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp cũng thể hiện rõ bản chất của con người hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, từ tâm, nhân hậu. Tuy có màu sắc của lễ giáo phong kiến (Khoa khoan ngồi đó chớ ra – Nàng là phận gái, ta là phận trai) nhưng đoạn thơ vẫn thể hiện đức tính khiêm nhường đáng quí của chàng. 4. Đoạn trích cũng cho thấy: Kiều Nguyệt Nga tuy là cô gái khuê các nhưng thuỳ mị, nết na, có học thức. Trước ân nhân, nàng giãi bày rất chan thành: Trước xe quân tử tạm ngồi Xin cho tiện thiếp lay rồi sẽ thưa Không những thế, nàng còn tỏ ra rất áy náy, tìm mọi cách để trả ơn chàng, và ý thức sâu sắc rằng: Đó là một vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, cũng là vẻ đẹp lí tưởng nhân văn của tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên. 4. Truyện Lục Vân Tiên ban được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác và truyền miệng qua các môn đệ, dưới hình thức “kể thơ”, tác giả trực tiếp thể hiện tình cảm của mình đối với nhân vật, do đó có tính dân gian đậm nét. Ngôn ngữ thể hiện trong đoạn trích là ngôn ngữ bình dân, giản dị, gần với lời ăn tiếng nói của người dân Nam Bộ, rất tự nhiên cho nên nó có sức sống lâu bền trong đời sống. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG 1. Đoạn thơ có nhiều đoạn đối thoại, cần đọc rõ giọng của nhân vật. 2. Đây cũng là đoạn thơ có nhiều thuận lợi cho việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm, từ đó có thể hiểu thêm về sắc thái đa dạng của ngôn ngữ. Dưới đây là bài soạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
757
Soạn bài lớp 9: Lục Vân Tiên gặp nạn Hướng dẫn Soạn bài: Lục Vân Tiên gặp nạn Soạn bài lớp 9 học kì 1: Lục Vân Tiên gặp nạn trích trong truyện Lục Vân Tiên do Nguyễn Đình Chiểu sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về sự đối lập giữa thiện và cái ác đã được tác giả khắc họa qua đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. LỤC VÂN TIÊN GẶP NẠN (Trích Truyện Lục Vân Tiên) Nguyễn Đình Chiểu I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Chủ đề của đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn là: qua sự đối lập giữa thiện và ác, tác giả thể hiện niềm tin vào những điều tốt đẹp ở đời. 2. Tâm địa độc ác của Trịnh Hâm: Đang tâm hãm hại một con người tội nghiệp, đang trong cơn hoạn nạn, cậy nhờ sự giúp đỡ của Trịnh Hâm mà bị hắn lừa gạt (Lục Vân Tiên đã bị mù, tiền bạc hết, tớ thấy đang bơ vơ). Phản bội lại bạn bè, phản bội lại lời hứa của chính mình là sẽ đưa Vân Tiên trở lại quê nhà. Đó là hành động vừa bất nhân vừa bất nghĩa, vừa gian ngoan vừa xảo quyệt, tất cả cũng vì lòng ganh ghét, vì sự đố kị tài năng. Lòng ganh ghét đa ngấm vào xương tuỷ, trở thành bản chất độc ác của Trịnh Hâm. 3. Đối lập với cái ác, cái thiện trong đoạn trích được thể hiện rất rõ nét qua các phương diện: Việc ông Ngư và cả gia đình đã cứu sống Vân Tiên hết sức tận tình, chu đáo. Hai câu thơ: Hối con vầy lừa một giờ, Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày Đã thể hiện được tinh thần đó. Câu thơ mộc mạc, chỉ kể lại sự việc một cách tự nhiên, nhưng ẩn chứa bao ân tình của cả một gia đình vợ chồng, con cái đối với người gặp nạn. Điều này đối lập với hành động độc ác, bất nhân của Trịnh Hâm. Việc ông Ngư và cả gia đình sẵn sàng cưu mang người hoạn nạn: chân thành ngỏ ý mời Vân Tiên ở lại cùng sớm hôm chia sẻ cuộc sống đạm bạc nhưng đầm ấm tình người. Lòng vị tha, tinh thần trọng nghĩa khinh tài của ông Ngư: làm ơn mà không hề trông chờ sự báo đáp. Cuộc sống lao động của ông Ngư là một cuộc sống trong sạch, không chạy theo danh lợi, khinh ghét thói đời bạc đen, tráo trở. Bằng đoạn thơ trên, tác giả gửi gắm khát vọng và niềm tin vào cái thiện, vào bản chất tốt đẹp của con người lao động bình thường. Đó là quan điểm nhân dân tiến bộ của Nguyễn Đình Chiểu. 1. Rèn kĩ năng đọc diễn cảm, thể hiện tinh thần, thái độ của tác giả đối với mỗi nhân vật trong đoạn trích. 2. Rèn kĩ năng cảm thụ về những câu thơ đặc sắc trong đoạn trích. Dưới đây là bài soạn Lục Vân Tiên gặp nạn bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Lục Vân Tiên gặp nạn Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Lục Vân Tiên gặp nạn
630
Soạn bài lớp 9: Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự Hướng dẫn Soạn bài: Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự Soạn văn 9 bài Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo. Soạn bài mẫu lớp 9 bài Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự này nhằm giúp các em hiểu rõ hơn về khái niệm, cách miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. MIÊU TẢ NỘI TÂM TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. MIÊU TẢ BÊN NGOÀI Đọc lại đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích và cho biết bức tranh thiên nhiên được miêu tả ở những câu thơ nào? Gợi ý: Thiên nhiên được miêu tả trong 4 câu thơ đầu và 8 câu thơ cuối đoạn trích. Qua cái nhìn của Kiều, thiên nhiên hiện ra không thuần tuý chỉ là sự miêu tả bên ngoài mà còn có tác dụng gợi tả tâm trạng của nhân vật trữ tình. Khung cảnh thiên nhiên bên ngoài được miêu tả trực tiếp hơn ở 4 câu thơ đầu: Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân, Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung. Bốn bề bát ngát xa trông, Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia. Miêu tả bên ngoài để gợi tả bên trong, tâm trạng bên trong lại nhuốm lên cảnh vật, tạo ra bức tranh đẹp mà buồn thương. Điều này được thể hiện rõ hơn ở những câu thơ cuối: Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ dàu dàu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Miêu tả bên ngoài còn là miêu tả hình dáng, hành động, ngôn ngữ,… con người. Hãy tìm dẫn chứng cho đặc điểm này trong các tác phẩm tự sự đã được học. 2. MIÊU TẢ BÊN TRONG Tâm trạng nhớ thương của Kiều được miêu tả trực tiếp ở những câu thơ nào trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích? Gợi ý: Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ. Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ? Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm. Lưu ý, bút pháp ước lệ của văn học cổ chi phối nghệ thuật miêu tả tâm trạng bên trong con người: qua những hình ảnh mang tính ước lệ (mây sớm đèn khuya, dưới nguyệt chén đồng, tin sương, quạt nồng ấp lạnh, sân Lai, gốc tử). Cho nên, những câu thơ trên vẫn là những câu trực tiếp miêu tả diễn biến nội tâm nhân vật. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc lại đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều và cho biết: Chân dung bên ngoài của Mã Giám Sinh được miêu tả ở những câu thơ nào? Việc miêu tả này có tác dụng như thế nào trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật? Tâm trạng của Kiều được miêu tả trong những câu thơ nào? Chân dung bên ngoài của Mã Giám Sinh được miêu tả trong những câu thơ tiêu biểu: Quá niên trạc ngoại tứ tuần, Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao. … Ghế trên ngồi tót sỗ sàng Những đặc điểm về ngoại hình có tác dụng làm nổi bật bản chất xấu xa của hạng người bất nhân, tính cách con buôn. Tâm trạng của nàng Kiều được miêu tả trong các câu tiêu biểu: Nỗi mình thêm tức nỗi nhà, Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng. Ngại ngùng dợn gió e sương, Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày. 2. Dựa vào đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều, hãy viết một đoạn văn kể lại việc Mã Giám Sinh mua Kiều. Gợi ý: Chú ý kết hợp kể chuyện (Mã Giám Sinh và Tú Bà mặc cả mua bán Kiều) với miêu tả ngoại hình Mã Giám Sinh, miêu tả tâm trạng đau đớn, ê chề của Kiều. 3. Dựa vào đoạn trích Kiều báo ân báo oán, trong vai nàng Kiều, hãy kể lại việc báo ân báo oán. Trong lời kể, cố gắng làm nổi bật tâm trạng của Kiều khi đối diện với Hoạn Thư. Gợi ý: Lựa chọn ngôi kể: để nhập được vai một cách sâu sắc, tự do và trực tiếp hơn trong diễn tả nội tâm, là “tôi” – Kiều, chứ không phải là kể từ ngôi thứ ba “Kiều” – “nàng”; Kết hợp kể chuyện phiên toà báo ân báo oán với việc miêu tả chân dung nhân vật qua đặc điểm ngoại hình, hành động, cử chỉ, ngôn ngữ; đặc biệt chú ý diễn tả những phản ứng trong tâm trạng của Kiều trước từng nhân vật, từng sự việc; Tập trung làm nổi bật cuộc đối thoại giữa Kiều với Hoạn Thư, nhấn mạnh những suy nghĩ, diễn biến tình cảm của Kiều trước kẻ đã từng vùi dập mình và những suy nghĩ dẫn tới hành động tha bổng. Gợi ý: Có thể ghi lại diễn biến tâm trạng của mình theo một số định hướng: Nhớ lại suy nghĩ của mình trước và trong lúc gây ra việc không tốt; Kể lại trạng thái tình cảm của mình sau khi gây ra việc không tốt: buồn, ân hận, tự trách mình,… Dưới đây là bài soạn Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự
1,053
Soạn bài lớp 9: Miêu tả trong văn bản tự sự Hướng dẫn Soạn bài: Miêu tả trong văn bản tự sự Soạn bài lớp 9 học kì 1: Miêu tả trong văn bản tự sự dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về các yếu tố miêu tả, phương thức miêu tả trong văn bản tự sự chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. MIÊU TẢ TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Yếu tố miêu tả có vai trò gì trong văn bản tự sự Đọc đoạn trích sau đây và thực hiện các yêu cầu bên dưới: (1) Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền 3 tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính khỏe mạnh, cứ mười người khênh một bức, lưng dắt dao ngắn, hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”, vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mùng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh nổ súng bắn ra, chẳng trúng người nào cả. Nhân có gió bắc, quân Thanh bèn dùng ống phun khói lửa ra, khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì hòng làm cho quân Nam rối loạn. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió nam, thành ra quân Thanh lại tự hại mình. Vua Quang Trung liền gấp rút sai đội khiêng ván vừa che, vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy đều cầm dao chém bừa, những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh. Quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết. Quân Tây Sơn thừa thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đồng máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại. (Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí) Tóm tắt các sự việc chính trong đoạn trích văn bản tự sự trên. Đoạn văn dưới đây có thể hiện được diễn biến sinh động của câu chuyện như đoạn trích trên không? Vì sao? Gợi ý: Tóm tắt các sự việc trong văn bản tự sự tức là trả lời câu hỏi: Văn bản kể về những sự việc gì? Bản thân các sự việc của câu chuyện được đặt theo trình tự trước – sau đúng như nó diễn ra trong câu chuyện chỉ thể hiện được rất hạn chế diễn biến cụ thể, sinh động của câu chuyện (như đoạn văn trên). Sở dĩ như vậy bởi vì muốn tái hiện một cách cụ thể, sinh động, hấp dẫn diễn biến các sự việc trong câu chuyện, người ta phải kết hợp sử dụng yếu tố miêu tả. Ở đoạn văn trên, là sự lắp ghép các sự việc, yếu tố miêu tả đã bị tước đi, vì thế không tái hiện được diễn biến của trận đánh. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc lại hai đoạn trích Chị em Thuý Kiều và Cảnh ngày xuân để tìm những yếu tố tả người và tả cảnh. Gợi ý: Trong đoạn trích Chị em Thuý Kiều: Có một câu tả cảnh (Êm đềm trướng rủ màn che); còn lại chủ yếu là các hình ảnh tả tài sắc của Thuý Kiều và vẻ đẹp của Thuý Vân. Các hình ảnh thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên được lấy để khắc hoạ vẻ đẹp của hai nhân vật chứ không phải để tả thiên nhiên. Đây là đặc điểm ước lệ của văn học trung đại. Trong đoạn trích Cảnh mùa xuân: Chú ý các hình ảnh tả cảnh: con én đưa thoi; Cỏ non xanh tận chân trời; Cành lê trắng điểm một vài bông hoa; Ngổn ngang gò đống kéo lên; Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay; Tà tà bóng ngả về tây; phong cảnh có bề thanh thanh; Nao nao, dòng nước uốn quanh; Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Tả người: Gần xa nô nức yến anh; Dập dìu tài tử giai nhân; Ngựa xe như nước, áo quần như nêm; Chị em thơ thẩn dan tay ra về. Gợi ý: Chú ý vai trò của yếu tố miêu tả trong việc khắc hoạ vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều. Nhờ yếu tố miêu tả, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp khác nhau giữa hai chị em Thuý Kiều như thế nào? Yếu tố miêu tả có tác dụng gì trong việc ca ngợi vẻ đẹp của con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh? 3. Dựa vào đoạn trích Cảnh ngày xuân, hãy tưởng tượng và viết một đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố miêu tả kể về việc chị em Thuý Kiều đi chơi trong chiều Thanh Minh. Gợi ý: Xác định nội dung của đoạn văn: sự việc, nhân vật, phong cảnh, diễn biến cuộc du xuân. Trong đó, chú ý dựa vào những hình ảnh gợi tả ở đoạn trích để miêu tả về cảnh đẹp ngày xuân, khung cảnh chơi xuân nhộn nhịp, cảnh chiều tà, dáng vẻ của chị em Thuý Kiều khi chuẩn bị ra về,… 4. Viết một đoạn văn giới thiệu về vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều. Gợi ý: Không nên dùng lại y nguyên những hình ảnh ước lệ trong đoạn trích Chị em Thuý Kiều để giới thiệu mà phải biết liên tưởng từ những hình ảnh gợi tả mà tác giả sử dụng để làm nổi bật vẻ đẹp của hai nhân vật này theo cảm nhận của riêng mình. Chú ý đảm bảo mạch giới thiệu theo câu chuyện (ở đây là việc giới thiệu về gia đình Thuý Kiều, trình tự giới thiệu từ Thuý Vân đến Thuý Kiều, từ vẻ đẹp hình thức đến tài hoa,…). Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Miêu tả trong văn bản tự sự
1,093
Soạn bài lớp 9: Mây và Sóng Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Mây và Sóng Soạn bài lớp 9 học kì 2: Mây và sóng do Ta-go sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các em cùng tham khảo soạn bài mẫu bài Mây và Sóng của Ta-go, do VnDoc trình bày dưới đây. MÂY VÀ SÓNG Ta-go I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tên tuổi nhà thơ Ta-go (1861-1941) đã rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Ông là nhà thơ hiện đại lớn nhất Ấn Độ. Những tác phẩm của ông mang đến cho bạn đọc những cảm xúc rất sâu sắc, mãnh liệt một phần cũng bởi đã được trải nghiệm qua cuộc sống đầy gian nan, trắc trở của chính nhà thơ. Ta-go có sức sáng tạo thật phi thường. Ông đã để lại một gia tài văn hoá nghệ thuật đồ sộ với 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 bộ tiểu thuyết, ngoài ra còn có trên một trăm truyện ngắn và 1.500 bức hoạ… Ông là nhà văn châu Á đầu tiên được nhận giải thưởng Nô-ben về văn học. 2. Bài thơ Mây và sóng được viết bằng tiếng Ben-gan, in trong tập Si-su, xuất bản năm 1909, sau này được chính Ta-go dịch ra tiếng Anh, in trong tập Trăng non, xuất bản năm 1915. 3. Bài thơ có hai phần, cấu trúc khá giống nhau: Ban đầu là thuật lại lời rủ rê Tiếp đến thuật lại lời từ chối và lý do từ chối. Những trò chơi do em bé sáng tạo. Mới thoạt nhìn, tưởng như đó là hai đoạn thơ độc lập bởi đoạn nào cũng đủ ý, diễn tả trọn vẹn một sự việc xảy ra giữa em bé và thiên nhiên bè bạn. Tưởng như việc loại bỏ bớt đoạn thứ hai không ảnh hưởng nhiều đến ý nghĩa chung của cả bài thơ. Tuy nhiên, mỗi tác phẩm văn học là một cấu trúc thống nhất. Việc tác giả lặp đi lặp lại một kiểu cấu trúc, một ý tưởng hẳn là phải có lý do nào đó. Điều này có thể giải thích qua những đặc điểm tâm lý, tính cách của một cậu bé. Đã là trẻ con ai chẳng ham chơi. Những trò chơi của bạn bè đồng trang lứa có sức hấp dẫn thật kỳ lạ. Việc bạn bè đến rủ đi chơi có thể coi là những thử thách. Nhưng những người bạn lại đến rủ đi chơi. Lúc này là một thử thách thực sự đối với tâm tính của một chú bé. Cũng như lần trước, chú lại băn khoăn: “Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?”. Những người bạn lại nhiệt tình chỉ đường. Nhưng một lần nữa chú bé lại từ chối vì lòng yêu mẹ: “Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà…”. Thử thách càng lớn thì lòng yêu mẹ của chú bé lại càng được chứng minh, được củng cố. Như vậy, việc nêu ra sự việc thứ hai (cũng là thử thách thứ hai) càng chứng tỏ tình yêu tha thiết của chú bé đối với mẹ. Trong trường hợp này, khổ thơ thứ hai có tác động trùng điệp, hô ứng, khẳng định những tình cảm đã được thể hiện trong thử thách thứ nhất. Bởi vậy, không thể bỏ khổ thơ thứ hai đi được. 4. Trong cả hai lần, khi những người bạn đến rủ rê, chú bé đều hỏi lại: “Con hỏi: Nhưng làm thế nào mình lên đó được?”. “Con hỏi: Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?”. Hỏi và được nghe trả lời, hướng dẫn chu đáo. Chi tiết này chứng tỏ tính xác thực, hấp dẫn của bài thơ. Trẻ con nào mà chẳng ham chơi. Khi nghe những lời mời gọi, lần nào chú bé cũng tỏ ra băn khoăn. Mặc dù vậy, tình yêu mẹ vẫn luôn chiến thắng. Chỉ cần nghĩ đến việc mẹ đang đợi ở nhà, mẹ không muốn chú đi chơi, chú bé đã nhất định từ chối những lời rủ rê dù những trò chơi ấy hấp dẫn đến đâu chăng nữa. 5. Có thể nhận thấy những trò chơi chú bé sáng tạo ra không có gì đặc biệt: “Con là mây và mẹ sẽ là trăng Hai bàn tay con ôm lấy mẹ, và mái nhà ta là bầu trời xanh thẳm”. “Con là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kỳ lạ Con lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ”. thậm chí có thể coi đó không phải là những trò chơi đúng nghĩa. Nhưng có sao đâu, điều quan trọng nhất đối với chú bé là luôn được ở bên cạnh mẹ, có thể biểu hiện tình yêu đối với mẹ. “Hai bàn tay con ôm lấy mẹ”, “Con lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ”. Quả là những trò chơi thật kỳ lạ, chúng cho thấy tình cảm mẹ con nồng ấm, thân thiết đến mức nào. 6. Mây, trăng, sóng, bờ biển, bầu trời… là những hình ảnh đẹp do thiên nhiên ban tặng. Nhưng ai là người đang đến rủ chú bé đi chơi? “Trong mây có người gọi con”, “Trên sóng có người gọi con”… Thực ra đó chỉ là những âm thanh do chú bé tưởng tượng ra. Trên mây là tiếng của mây, trong sóng là tiếng của sóng. Hai hình ảnh đó có thể coi là biểu tượng của cuộc sống rộn rã, cuốn hút xung quanh, có sức cuốn hút kì lạ đối với mỗi con người, đặc biệt là với một chú bé. Đó là những hình ảnh ẩn dụ. 7. “Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta đang ở đâu” Yêu mẹ, chú bé đã bày ra những trò chơi mà người tham gia chỉ là hai mẹ con. Đây không đơn giản là một ước muốn biệt lập, tách rời cuộc sống xung quanh mà là một tình yêu vô cùng sâu sắc, đằm thắm của chú bé đối với mẹ. Tình yêu ấy vượt lên trên cả những thú vui hằng ngày, thậm chí mãnh liệt đến mức lấn át tất cả những mối quan hệ khác. Chỉ cần hai mẹ con là đủ. 8. Ngoài ý nghĩa ca ngợi tình mẹ con, bài thơ gợi cho ta nhiều suy ngẫm: Conngười trong cuộc sống thường gặp những cám dỗ (nhất là với một đứa trẻ). Muốn khước từ chúng, cần có những điểm tựa vững chắc, trong đó tình mẫu tử là điểm tựa vững chắc nhất. Hạnh phúc không phải là điều gì bí ẩn. Hạnh phúc ở ngay trên trần thế, do chính con người tạo dựng nên… Luyện đọc thơ văn xuôi. Chú ý cách ngắt nhịp hợp lí. Nếu có thể, hãy đọc bản Tiếng Anh để so sánh: CLOUDS AND WAVES Mother, the folk who live up in the clouds call out to me – “We play from the time we wake till the day ends. We play with the golden dawn, we play with the silver moon. I ask, “But, how am I to get up to you?” They answer, “Come to the edge of the earth, lift up your hands to the sky, and you will be taken up into the clouds.” “My mother is waiting for me at home,” I say. “How can I leave her and come?” Then they smile and float away. But I know a nicer game than that, mother. I shall be the cloud and you the moon. I shall cover you with both my hands, and our house-top will be the blue sky. The folk who live in the waves call out to me – “We sing from morning till night; on and on we travel and know not where we pass.” I ask, “But, how am I to join you?” They tell me, “Come to the edge of the shore and stand with your eyes tight shut, and you will be carried out upon the waves.” I say, “My mother always wants me at home in the evening -how can I leave her and go?” Then they smile, dance and pass by. But I know a better game than that. I will be the waves and you will be a strange shore. I shall roll on and on and on, and break upon your lap with laughter. And no one in the world will know where we both are. Dưới đây là bài soạn Mây và sóng bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Mây và sóng Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Mây và Sóng
1,510
Soạn bài lớp 9: Mã Giám Sinh mua Kiều Hướng dẫn Soạn bài: Mã Giám Sinh mua Kiều Soạn bài lớp 9 học kì 1: Mã Giám Sinh mua Kiều trích trong tác phẩm Truyện Kiều do Nguyễn Du sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về tình cảnh của Thúy Kiều khi phải bán thân, chấp nhận hi sinh tình duyên để cứu giúp gia đình và miêu tả chân thật sự đồi bại của chế độ phong kiến đối với người phụ nữ giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. MÃ GIÁM SINH MUA KIỀU (Trích Truyện Kiều) Nguyễn Du I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Trong đoạn trích, từ ngoại hình đến tính cách, bản chất xấu xa của Mã Giám Sinh được bộc lộ rõ nét: Ngoại hình: Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao Cử chỉ, hành động, cách nói năng: Ghế trên ngồi tót sỗ sàng; Đắn đo cân sắc cân tài – ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ; Cò kè bớt một thêm hai,… Tính cách: thể hiện bản chất con buôn, bất nhân, xem con người chỉ như một món hàng hoá có thể mua bán, thậm chí cò kè bớt xén; giả dối từ việc giới thiệu lí lịch cho đến trình bày mục đích mua Kiều rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều – Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”… Nỗi mình thêm tức nỗi nhà, Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng. Một người con gái tài sắc tuyệt trần như Kiều trở thành một món hàng trong một cuộc mua bán. Thương thân, xót phận mình là một lẽ, hơn nữa còn là cảm giác đau đớn, tái tê vì lòng tự trọng của một con người. Chỉ thoáng gợi, Nguyễn Du đã thể hiện được tâm trạng của Thuý Kiều trong một tình cảnh đáng thương, tội nghiệp. 3. Đoạn trích thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du: Tấm lòng cảm thương, xót xa trước thân phận nhỏ nhoi của con người, giá trị con người bị chà đạp; Vạch trần thực trạng xã hội đen tối, thế lực và đồng tiền lộng hành; Gián tiếp lên án thế lực phong kiến đã đẩy con người vào tình cảnh đau đớn, lên án thế lực đồng tiền bất nhân; Bày tỏ thái độ căm phẫn, khinh bỉ trước bọn buôn người giả dối, bất nhân. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Đọc đoạn trích, nhấn giọng ở các từ ngữ thể hiện cách nói năng của Mã Giám Sinh: Mã Giám Sinh Huyện Lâm Thanh cũng gần Đồng thời nhấn giọng khi đọc các câu thơ đặc tả ngoại hình của Mã Giám Sinh: Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao Ngoại hình đó đối lập với tính cách: Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm Điều đó thể hiện tính chất con buôn của nhân vật này. Dưới đây là bài soạn Mã Giám Sinh mua Kiều (trích Truyện Kiều) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Mã Giám Sinh mua Kiều (trích Truyện Kiều) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Mã Giám Sinh mua Kiều
609
Soạn bài lớp 9: Mùa xuân nho nhỏ Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Mùa xuân nho nhỏ Soạn bài: Mùa xuân nho nhỏ do Thanh Hải sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. MÙA XUÂN NHO NHỎ Thanh Hải I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nhà thơ Thanh Hải (1930-1980) quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông hoạt động văn nghệ trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ và là một trong số những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam thời kỳ đầu. 2. Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ thể hiện niềm yêu mến thiết tha với cuộc sống, với đất nước và ước nguyện của tác giả về một cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn. 3. Từ xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời đến mùa xuân của mỗi con người trong mùa xuân lớn của đất nước, thể hiện khát vọng được dâng hiến “mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của cuộc đời chung. Có thể xác định bố cục của bài thơ gồm bốn đoạn: Khổ đầu (6 dòng thơ): cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời. Hai khổ 2, 3 (từ “Mùa xuân người cầm súng” đến “cứ đi lên phía trước”): hình ảnh mùa xuân đất nước. Hai khổ 4, 5 (từ “Ta làm con chim hót” đến “Dù là khi tóc bạc”): những suy nghĩ và ước nguyện của nhà thơ trước thiên nhiên đất nước. Khổ thơ cuối: Lời ca ngợi quê hương, đất nước qua điệu ca Huế. Cảm xúc của tác giả trước cảnh mùa xuân được diễn tả qua hai câu thơ: Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. Có nhiều cách hiểu về hai câu thơ này, tuy nhiên có thể hiểu “từng giọt” là “những giọt mùa xuân”, là sự chuyển đổi các cảm giác, từ màu sắc, âm thanh, hình ảnh… sang hình khối, đường nét, một sự cụ tượng hoá những yếu tố vô hình (âm thanh, màu sắc…) thành một yếu tố hữu hình, có thể cảm nhận được bằng nhiều giác quan. Dù hiểu như thế nào thì hai câu thơ cũng thể hiện niềm say sưa ngây ngất của nhà thơ trước cảnh mùa xuân. 5. Từ cảm xúc về mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, nhà thơ chuyển sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm về mùa xuân đất nước. Đó là khát vọng được hoà nhập vào cuộc sống, được cống hiến phần tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Đoạn thơ gợi cho ta những suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người biết sống, biết chăm lo cho cuộc đời chung và có thể đóng góp những gì tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. 6. Bài thơ có nhịp điệu trong sáng, thiết tha, gợi cảm, gần gũi với dân ca. Đặc điểm ấy có được là nhờ nhà thơ đã sử dụng các yếu tố như thể thơ, cách ngắt nhịp, cách gieo vần, cách sử dụng các điệp từ, điệp ngữ rất hiệu quả: Thể thơ năm chữ gắn liền với các điệu dân ca, nhất là dân ca miền Trung, có âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết. Cách gieo vần liền giữa các khổ thơ cũng góp phần toạ nên sự liền mạch cho cảm xúc. Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị (bông hoa tím, tiếng chim hót, vì sao…) với các hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát (đất nước như vì sao…). Tứ thơ xoay quanh hình ảnh mùa xuân, từ mùa xuân của đất trời đến mùa xuân của quê hương đất nước. Cách cấu tứ như vậy khiến cho ý thơ luôn tập trung, cảm xúc trong thơ không bị dàn trải. Giọng điệu của bài thơ thể hiện đúng tâm trạng của tác giả, biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn: vui, say sưa ở đoạn đầu, trầm lắng, thiết tha khi bộc bạch tâm niệm, sôi nổi, tha thiết ở đoạn kết. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Thể hiện giọng đọc chậm, tình cảm. Dưới đây là bài soạn Mùa xuân nho nhỏ bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Mùa xuân nho nhỏ Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Mùa xuân nho nhỏ
832
Soạn bài lớp 9: Nghĩa tường minh và hàm ý Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Nghĩa tường minh và hàm ý Soạn bài lớp 9 học kì II: Nghĩa tường minh và hàm ý dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các bạn cùng tham khảo soạn bài mẫu bài Nghĩa tường minh và hàm ý dưới đây. NGHĨA TƯỜNG MINH VÀ HÀM Ý I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Phân biệt nghĩa tường minh và hàm ý a) Đọc đoạn trích sau đây và cho biết khi nói “Trời ơi, chỉ còn có năm phút!”, có phải anh thanh niên chỉ muốn thông báo về thời gian hay không, nếu không thì anh muốn nói điều gì? – Trời ơi, chỉ còn có năm phút! Chính là anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ. Anh chạy ra nhà phía sau, rồi trở vào liền, tay cầm một chiếc làn. Nhà hoạ sĩ tặc lưỡi đứng dậy. Cô gái cũng đứng lên, đặt lại chiếc ghế, thong thả đi đến chỗ bác già. – Ô! Cô còn quên chiếc mùi soa đây này! Anh thanh niên vừa vào, kêu lên. Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Cô kĩ sư mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và vội quay đi. (Theo Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) Gợi ý: Câu nói không chỉ thông báo về thời gian mà còn ngụ ý: “Tôi rất tiếc.”. Đây là câu mang nghĩa hàm ý. Gợi ý: Có thể vì ngại ngùng, không muốn người khác thấy tình cảm của mình; có thể vì tế nhị hay do cách nói. 3. Câu nói thứ hai của anh thanh niên (- Ô! Cô còn quên chiếc mùi xoa đây này!) có ẩn ý gì không? Gợi ý: Câu này không chứa ẩn ý, là câu mang nghĩa tường minh. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc lại đoạn trích truyện Lặng lẽ Sa Pa đã dẫn ra ở phần trên và cho biết: a) Câu văn nào cho thấy ông hoạ sĩ cũng chưa muốn chia tay anh thanh niên? Căn cứ vào đâu để khẳng định như vậy? Gợi ý: Câu “Nhà hoạ sĩ tặc lưỡi đứng dậy.”, đặc biệt là cụm từ tặc lưỡi. Người kể chuyện không nói rõ là người hoạ sĩ cũng chưa muốn chia tay, nhưng qua hình ảnh này, người đọc hiểu được điều đó. b) Những từ ngữ nào miêu tả thái độ của cô gái trong câu cuối đoạn văn. Từ thái độ ấy, em đoán ra điều gì liên quan đến chiếc mùi soa? Gợi ý: Thái độ của cô gái được miêu tả qua các từ ngữ: mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn, vội quay đi. Những từ ngữ này cho thấy cô gái rất ngượng, đành phải nhận lại chiếc khăn và muốn dấu đi sự xấu hổ của mình. Thì ra, vì cảm mến, cô gái định để lại chiếc khăn mùi soa lại cho người thanh niên làm kỉ vật nhưng anh ta không nghĩ ra, tưởng cô bỏ quên nên đã thật thà đem trả lại. Những điều này được tác giả khéo léo ngụ ý. – Đây, tôi giới thiệu với anh một hoạ sĩ lão thành nhé. Và đây là cô kĩ sư nông nghiệp. Anh đưa khách về nhà đi. Tuổi già cần nước chè: ở Lào Cai đi sớm quá. Anh hãy đưa ra cái món chè pha nước mưa thơm như nước hoa của Yên Sơn nhà anh. (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) Gợi ý: Đây là câu có hàm ý, có thể hiểu là: Khi đi, ông hoạ sĩ chưa kịp uống nước chè. 3. Trong đoạn trích sau đây, câu nào là câu chứa hàm ý? Nội dung của hàm ý ấy là gì? Mẹ nó đâm nổi giận quơ đũa bếp doạ đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng: – Vô ăn cơm! Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm”. Con bé cứ đứng trong bếp nói vọng ra: – Cơm chín rồi! Anh cũng không quay lại. (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà) Gợi ý: Câu chứa hàm ý: – Cơm chín rồi! Hàm ý: Ông vô ăn cơm! 4. Trong các đoạn trích (từ truyện ngắn Làng của Kim Lân) dưới đây, những câu in đậm có phải là câu chứa hàm ý hay không? Vì sao? a) Có người hỏi: – Sao bảo làng Chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà?… – ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy! Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to: – Hà, nắng gớm, về nào… Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. Tiếng cười nói xôn xao của đám người mới tản cư lên ấy vẫn dõi theo. b) – Này, thầy nó ạ. ông Hai nằm rũ ra trên giường không nói gì. – Thầy nó ngủ rồi à? – Gì? Ông lão khẽ nhúc nhích. – Tôi thấy người ta đồn… Ông lão gắt lên: – Biết rồi! Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi, hiu hắt. Gợi ý: Câu “- Hà, nắng gớm, về nào…” là câu nói lảng; câu “- Tôi thấy người ta đồn…” là câu bị chen ngắt ngang. Hai câu này không phải là câu mang hàm ý. Gợi ý: Nghĩa tường minh là phần thông báo được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu. Nghĩa hàm ý là phần thông báo tuy không được biểu đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu nhưng có thể suy ra được từ những từ ngữ ấy. Dưới đây là bài soạn Nghĩa tường minh và hàm ý bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Nghĩa tường minh và hàm ý Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Nghĩa tường minh và hàm ý
1,061
Soạn bài lớp 9: Nghị luận trong văn bản tự sự Hướng dẫn Soạn bài: Nghị luận trong văn bản tự sự Soạn bài lớp 9 học kì 1: Nghị luận trong văn bản tự sự dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về khái niệm và cách vận dụng nghị luận trong văn bản tự sự giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nghị luận là “bàn bạc và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó” (Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, 2002, tr. 678). Dựa vào cách hiểu này, hãy tìm trong các đoạn trích dưới đây những câu, chữ thể hiện tính chất nghị luận: (1) Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thương… Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận. (Nam Cao, Lão Hạc) (2) Thoắt trông nàng đã chào thưa: “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây! Đàn bà dễ có mấy tay, Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan! Dễ dàng là thói hồng nhan, Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều” Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu, Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca. Rằng: “Tôi chút phận đàn bà, Ghen tuông thì cũng người ta thường tình. Nghĩ cho khi gác viết kinh, Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo. Lòng riêng riêng những kính yêu, Chồng chung chưa dễ ai nhường cho ai. Trót lòng gây việc chông gai, Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”. Khen cho: “Thật đã nên rằng, Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời. Tha ra, thì cũng may đời, Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.” (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Các từ ngữ lập luận trong đoạn trích (1): nếu… thì…; khi… thì…;… vậy, nên… Các từ ngữ lập luận trong đoạn trích (2): càng… càng…; rằng… thì…;… thì… thì… 2. Ở mỗi đoạn trích trên, nghị luận được sử dụng vào mục đích gì? Phân tích nghệ thuật lập luận trong từng đoạn trích. Gợi ý: Trước hết phải xác định được nội dung đoạn trích, nội dung tự sự để thấy nghị luận có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện nội dung ấy. Lần lượt tìm hiểu nghệ thuật lập luận theo những định hướng: Vấn đề nghị luận? Luận cứ (lí lẽ, luận chứng)? Lập luận? Ở đoạn trích (1), để khắc hoạ cuộc đối thoại ngầm diễn ra trong ý thức của nhân vật ông giáo về cách nhìn đời, nhìn người, tác giả đã để cho nhân vật này tự đánh giá về vợ mình rằng “Vợ tôi không ác” để lí giải cho tâm trạng “chỉ buồn chứ không nỡ giận”. Thuyết phục luận điểm này, các luận điểm được đưa ra theo trình tự lập luận như sau: Nếu ta không cố tìm mà hiểu những người xung quanh mình thì ta chỉ thấy toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thương… Đây là luận điểm có tính chất đặt vấn đề. Vợ tôi không ác, nhưng vì thị khổ quá rồi nên sinh ra ích kỉ, tàn nhẫn với người khác. Đây là luận điểm có tính chất phát triển lập luận, triển khai vấn đề nghị luận. Các luận chứng và lí lẽ được đưa ra: một người đau chân….; khi người ta khổ quá thì… Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận. Đây là luận điểm kết luận, kết thúc lập luận. Với việc lập luận như trên, tác giả đã “kể được” câu chuyện về nỗi giằng xé, trăn trở, bi kịch bên trong con người; khẳng định về quan điểm nhìn nhận, đánh giá con người và cuộc đời. Đồng thời, phác ra được thực trạng nhân sinh cùng khổ trong bối cảnh xã hội đầu thế kỉ XX. 3. Tự rút ra: Nghị luận trong văn bản tự sự là gì? Có tác dụng như thế nào? Những hình thức ngôn ngữ nào thường được sử dụng để lập luận? II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đặt đoạn trích trong truyện Lão Hạc ở trên vào tác phẩm để phân tích ý nghĩa của nó trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm: Lời văn của ai? Nói với ai? Có ý nghĩa thế nào trong việc thể hiện quan điểm của tác giả? Bằng chính tấn bi kịch của nhân vật Lão Hạc, hãy chứng minh rằng nhận định của nhân vật ông giáo trong đoạn trích là đúng đắn, giàu sức thuyết phục. Gợi ý: Nhớ lại những giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của truyện ngắn Lão Hạc. Đặt đoạn trích vào tác phẩm để hình dung ra ngữ cảnh cụ thể, tình huống cụ thể. Là lời của nhân vật ông giáo – người kể chuyện xưng “tôi”, một trí thức,… thì có vai trò như thế nào trong việc phát biểu về quan điểm nghệ thuật, ý thức nhân đạo của tác giả? Nội dung của lời văn hướng tới những đối tượng nào, nói với ai, có phải chỉ là đối thoại với chính nhân vật không hay còn là đối thoại với ai? Nếu chỉ nhìn vẻ bề ngoài, những hành động có vẻ như gàn dở của Lão Hạc thì có thể thấy được vẻ đẹp bên trong nhân cách con người này không? Nghị luận về một vấn đề cụ thể của tác phẩm, những suy nghĩ của ông giáo có sức khái quát ra sao đối với cuộc sống? Gợi ý: Dựa vào những điều đã phân tích về lập luận tự bào chữa của Hoạn Thư đã thực hiện ở trên để khẳng định lời nhận xét của Kiều là xác đáng. 3. Hãy chứng minh rằng nghệ thuật khắc hoạ tính cách nhân vật bằng việc sử dụng nghị luận trong đoạn trích Thuý Kiều báo ân báo oán đã thể hiện cái nhìn hiện thực, thấm đẫm tinh thần nhân văn của Nguyễn Du. Gợi ý: Để chứng minh rằng nghệ thuật khắc hoạ tính cách nhân vật bằng việc sử dụng nghị luận trong đoạn trích Thuý Kiều báo ân báo oán đã thể hiện cái nhìn hiện thực, thấm đẫm tinh thần nhân văn của Nguyễn Du; em hãy tiến hành theo một số định hướng như sau: Cái nhìn hiện thực: Trong tình huống đối chất với Thuý Kiều với tư cách bị cáo, chân dung Hoạn Thư hiện lên có chân thực không? Sức thuyết phục trong lời bào chữa của Hoạn Thư một mặt do hình thức dẫn dắt, còn về nội dung? Những điều nhân vật này nói có đúng không? Tại sao có thể nói quyết định tha bổng của Kiều là hợp tình và ở một mức độ nào đó là hợp lí? Tất nhiên tác giả đứng về phía Kiều, bênh vực lẽ phải, đạo lí nhưng có sự thông cảm nào dành cho Hoạn Thư không? Điều này cho thấy ý nghĩa nhân đạo như thế nào? Dưới đây là bài soạn Nghị luận trong văn bản tự sự bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Nghị luận trong văn bản tự sự Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Nghị luận trong văn bản tự sự
1,383
Soạn bài lớp 9: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống VnDoc xin giới thiệu với các bạn bài soạn môn Ngữ văn lớp 9 học kì II với đề bài: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống để tham khảo chuẩn bị tốt cho bài giảng, theo kịp tiến độ của thầy cô trên lớp giúp bạn học tốt môn Văn hơn. Soạn bài lớp 9: Tiếng nói của văn nghệ Soạn bài lớp 9: Các thành phần biệt lập NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Em hãy thực hiện các yêu cầu sau đây để hiểu thế nào là một bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. 1. Bài văn sau đây bàn đến sự việc, hiện tượng gì của đời sống? Vấn đề được bàn bạc có ý nghĩa đối với đời sống xã hội không? BỆNH LỀ MỀ Trong đời sống hiện nay có một hiện tượng khá phổ biến, mọi người đều thấy, nhưng thường bỏ qua. Đó là bệnh lề mề mà coi thường giờ giấc là một biểu hiện. Cuộc họp ấn định vào lúc 8 giờ sáng mà 9 giờ mới có người đến. Giấy mời hội thảo ghi 14 giờ mà mãi đến 15 giờ mọi người mới có mặt. Hiện tượng này xuất hiện trong nhiều cơ quan, đoàn thể, trở thành một bệnh khó chữa. Những người lề mề ấy, khi ra sân bay, lên tàu hoả, đi nhà hát chắc không dám đến muộn, bởi đến muộn là có hại ngay đến quyền lợi thiết thân của họ. Nhưng đi họp, hội thảo là việc chung, có đến muộn cũng không thiệt gì. Thế là hết chậm lần này đến chậm lần khác, và bệnh lề mề không sửa được. Bệnh lề mề suy cho cùng là do một số người thiếu tự trọng và chưa biết tôn trọng người khác tạo ra. Họ chỉ quý thời gian của mình mà không tôn trọng thời gian của người khác. Họ không coi mình là người có trách nhiệm đối với công việc chung của mọi người. Bệnh lề mề gây hại cho tập thể. Đi họp muộn, nhiều vấn đề không được bàn bạc thấu đáo, hoặc khi cần lại phải kéo dài thời gian. Bệnh lề mề gây hại cho những người biết tôn trọng giờ giấc. Ai đến đúng giờ lại cứ phải đợi người đến muộn. Bệnh lề mề còn tạo ra tập quán không tốt: Muốn người dự đến đúng giờ như mong muốn, giấy mời thường phải ghi giờ khai mạc sớm hơn 30 phút hay 1 giờ! Cuộc sống văn minh hiện đại đòi hỏi mọi người phải tôn trọng lẫn nhau và hợp tác với nhau. Những cuộc họp không thật cần thiết thì không nên tổ chức. Nhưng những cuộc họp cần thiết thì mọi người cần tự giác tham dự đúng giờ. Làm việc đúng giờ là tác phong của người có văn hoá. (Phương Thảo) 2. Tác giả đã làm thế nào để người đọc nhận ra bệnh lề mề? Hiện tượng này có những biểu hiện như thế nào? Tác giả có nêu rõ được vấn đề đáng quan tâm của hiện đó không? Gợi ý: Để người đọc nhận ra bệnh lề mề, người viết đã chỉ ra những biểu hiện của hiện tượng này (coi thường giờ giấc, đến muộn so với giờ hẹn,…). Bài viết đã nêu được biểu hiện phổ biến, đáng quan tâm của một hiện tượng tiêu cực của xã hội. 3. Bài văn có chỉ ra được nguyên nhân của bệnh lề mề không? Đó là những nguyên nhân nào? Gợi ý: Các nguyên nhân của bệnh lề mề được chỉ ra trong bài văn: thiếu trách nhiệm, không coi trọng việc chung; thiếu tự trọng, không tôn trọng người khác. Gợi ý: Người viết đã chỉ ra những tác hại của bệnh lề mề: gây hại cho tập thể, lãng phí thời gian, làm mất thời gian của người khác, làm cho công việc trì trệ, gây ra tập quán không tốt… 5. Người viết đã bộc lộ thái độ đánh giá của mình trước hiện tượng được bàn đến như thế nào? Gợi ý: Người viết tỏ rõ thái độ phê phán đối với hiện tượng lề mề coi thường giờ giấc, xem đây như một thứ bệnh gây tác hại đối với sự tiến bộ của xã hội. 6. Bài viết được bố cục như thế nào? Bố cục như thế có mạch lạc và chặt chẽ không? Vì sao? Gợi ý: Bố cục của bài viết mạch lạc và chặt chẽ (có thể chia thành 3 phần tương ứng với Mở bài, Thân bài, Kết bài). Mở đầu, tác giả chỉ ra hiện tượng cần bàn bạc. Tiếp đến, tác giả phân tích những tác hại của hiện tượng. Cuối cùng, tác giả đưa ra giải pháp khắc phục. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Hãy nêu ra các sự việc, hiện tượng tốt, đáng biểu dương mà em thấy ở trường của mình hoặc ở ngoài xã hội. Gợi ý: Chú ý quan sát, hoặc nhớ lại những sự việc, hiện tượng tốt đáng biểu dương của các bạn cùng lớp, cùng trường hay ngoài xã hội, trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày (có thể là việc làm tốt, gương học tập đáng noi theo, ý thức vươn lên, ý thức giữ nền nếp tốt…). Gợi ý: Sự việc, hiện tượng được đem ra nghị luận phải là những sự việc nổi bật, có ý nghĩa đối với mọi người hoặc là những sự việc, hiện tượng có nhiều điều cần phải suy nghĩ. 3. Có một hiện tượng như sau: Theo một cuộc điều tra 2 000 thanh niên nam ở Hà Nội năm 1981 cho thấy: từ 11 đến 15 tuổi, 25% các em đã hút thuốc lá; từ 16 đến 20: 52%; trên 20 tuổi: 80%. Tỉ lệ này ngang với các nước châu Âu. Trong số các em hút thuốc lá, có đến 80% lâu lâu có triệu chứng như ho hen, khạc đờm, đau ngực, còn trong số những em không hút chỉ có không đến 1% có các triệu chứng ấy. (Theo Nguyễn Khắc Viện) Hãy cho biết hiện tượng này có thể trở thành đối tượng để viết một bài văn nghị luận xã hội không? Vì sao? Gợi ý: Muốn biết hiện tượng này có thể trở thành đối tượng để viết một bài văn nghị luận xã hội không, hãy trả lời các câu hỏi sau: Đây có phải là hiện tượng có thực của đời sống xã hội không? Hiện tượng này có phổ biến, bức xúc không? Hiện tượng này có tác hại nhiều hay ít? Bàn đến hiện tượng này thì có tác dụng gì?
Soạn bài lớp 9_ Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
1,142
Soạn bài lớp 9: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Hướng dẫn Soạn văn 9 bài: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Soạn bài lớp 9 học kì II: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải bài soạn văn 9 Nghị luận về một đoạn thơ bài thơ dưới đây. NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đọc và cho biết vấn đề nghị luận của văn bản sau đây là gì? KHÁT VỌNG HOÀ NHẬP, DÂNG HIẾN CHO ĐỜI Mùa xuân là mùa của thiên nhiên thắm tươi, của vạn vật sinh sôi nảy nở. Văn học Việt Nam từng có không ít vần thơ thể hiện cảm xúc rạo rực, trẻ trung trước mùa xuân. Ngay từ khi ra đời, Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải đã chiếm được cảm tình của đông đảo bạn đọc. Bài thơ toát lên một không khí vừa rạo tực vừa trong sáng, êm dịu đến dễ thương, thể hiện tình yêu tha thiết đối với thiên nhiên, đất nước và một nguyện ước cống hiến thật đáng trân trọng. Hình ảnh mùa xuân trong bài thơ của Thanh Hải mang nhiều tầng ý nghĩa. Từ hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên, đất nước trong lao động và chiến đấu, nhà thơ đi đến nguyện ước làm Một mùa xuân nho nhỏ – Lặng lẽ dâng cho đời, cất lên khúc hát xao xuyến, tươi vui hoà trong bản tình ca, anh hùng ca của cách mạng. Trong đó, mùa xuân nào cũng thật gợi cảm, cũng thật đáng yêu. Bức tranh xuân của thiên nhiên, đất nước được tạo nên từ chi tiết rất tiêu biểu, được vẽ bằng cả màu sắc lẫn âm thanh. Đó là dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, là lộc giắt đầy quanh lưng người ra trận và trải dài trên những cánh đồng (tượng trưng cho sự nảy nở, sinh sôi, cho sự dồi dào, thành đạt). Đó là tiếng chim chiền chiện lảnh lót vang trời. Hình ảnh mùa xuân hiện lên trong cảm xúc thiết tha, trìu mến của nhà thơ, trong lời kêu, giọng hỏi: ơi…, hót chi mà,… Đặc biệt, tình cảm nâng niu vẻ đẹp của mùa xuân, khát vọng thu nhận và giữ gìn vẻ đẹp ấy được thể hiện qua tư thế độc đáo: Tôi đưa tay tôi hứng từng giọt âm thanh từ trời xanh rơi xuống. Tiếng chim chiền chiện thả vào không gian trong suốt của mùa xuân được cảm nhận thành từng giọt mang màu sắc long lanh. Cảm giác ấy, động tác ấy chỉ có được ở một tâm hồn thi sĩ, ở một tấm lòng tha thiết yêu mến cuộc sống này. Từ hình ảnh mùa xuân gần gũi, nhà thơ liên tưởng khái quát đến truyền thống bốn nghìn năm, đến sức xuân cứ đi lên phía trước của đất nước. Khi đúc kết, khái quát như thế, lời thơ dễ khô khan. Nhưng khổ thơ thứ ba cứ tự nhiên được cuốn đi trong dòng cảm xúc dịu dàng, đằm thắm, do đó vẫn nằm trong mạch tâm tình. Từ rung cảm thiết tha trước mùa xuân đẹp của quê hương, đất nước, Thanh Hải bộc lộ một nguyện ước chân thành: Ta làm con chim hót Ta làm một nhành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến. Đó chính là hình ảnh Một mùa xuân nho nhỏ – Lặng lẽ dâng cho đời thể hiện khát vọng đựơc hoà nhập, được dâng hiến. Đến đây, ta bỗng thấm thía ý nghĩa của nhan đề bài thơ. Trước Thanh Hải quả chưa từng có hình ảnh thơ vừa lạ, vừa hồn nhiên, thân thương này. Hình ảnh mùa xuân nho nhỏ chứa đựng sự khiêm nhường mà cũng tự tin, tự hào biết mấy của con người ý thức sâu sắc về giá trị cuộc đời, về hạnh phúc của hiến dâng và đón nhận. Nốt trầm xao xuyến của mùa xuân nho nhỏ này cứ tự nhiên hoà vào mùa xuân lớn của thiên nhiên đất nước nhờ sự chiếu ứng giữa hai phần của bài thơ. Khổ đầu đã xuất hiện hình ảnh bông hoa tím, con chim chiền chiện giữa trời xanh với tiếng chim hót từng giọt long lanh. Giờ đây, đến khổ thứ tư, nguyện ước của nhân vật trữ tình, của mùa xuân nho nhỏ chính là sự láy lại các hình ảnh ấy của mùa xuân. Như vậy, giữa các khổ, các phần của Mùa xuân nho nhỏ có sự gắn kết tự nhiên, chặt chẽ, vừa luyến láy vừa được nâng cao. Bài thơ này lay động tâm hồn chúng ta bởi chất hoạ gợi cảm, chất nhạc vấn vương, quyến luyến, bởi nguyện ước tha thiết, chân thành. Cái nguyện ước lặng lẽ dâng cho đời một mùa xuân nho nhỏ kia đâu còn của riêng Thanh Hải mà có lẽ đã trở thành tiếng lòng của nhiều bạn đọc. (Hà Vinh) Gợi ý: Vấn đề nghị luận của bài văn là hình ảnh mùa xuân trong cảm xúc thiết tha, chân thành của nhà thơ Thanh Hải ở bài “Mùa xuân nho nhỏ” 2. Chủ đề hình ảnh mùa xuân trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được thể hiện bằng những luận điểm nào? Gợi ý: Các luận điểm: Hình ảnh mùa xuân trong bài thơ của Thanh Hải mang nhiều tầng ý nghĩa, tất cả đều gợi cảm, đáng yêu. Bức tranh mùa xuân, với cả màu sắc lẫn âm thanh, hiện lên trong cảm xúc thiết tha, trìu mến, đằm thắm, dịu dàng. Từ mùa xuân tươi đẹp của quê hương, đất nước, đến mùa xuân của nguyện ước hoà nhập, dâng hiến chân thành. 3. Các luận điểm của bài viết đã được làm sáng tỏ bởi những luận cứ nào? Gợi ý: Người viết thuyết phục các luận điểm bằng sự phân tích, bình giảng những câu thơ, hình ảnh thơ đặc sắc, với nhận định về cảm hứng, giọng điệu, kết cấu… Gợi ý: Bài viết có bố cục 3 phần cân đối, chặt chẽ: Mở bài: từ đầu cho đến “thật đáng trân trọng.”. Thân bài: từ “Hình ảnh mùa xuân…” cho đến “các hình ảnh ấy của mùa xuân.”. Kết bài: đoạn còn lại. 5. Nhận xét về cách diễn đạt luận điểm trong từng đoạn văn bản. Gợi ý: Mỗi luận điểm được triển khai trong một đoạn văn. Tuy nhiên, đối tượng nghị luận ở đây là văn bản thơ cho nên việc triển khai, chứng minh luận điểm đã được trình bày một cách tự nhiên, truyền tải được cái thiết tha, trìu mến của tình điệu cảm xúc ở bài thơ. Cái cốt yếu của bài thơ (hay đoạn thơ) là tình cảm, cảm xúc, nên việc nghị luận còn đòi hỏi sự cảm thụ, đồng cảm giữa người viết và chủ thể trữ tình trong tác phẩm. Bài viết cũng đã đảm bảo được điều này. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Theo em, các luận điểm của bài văn Khát vọng hoà nhập, dâng hiến cho đời đã nêu được hết những nét đặc sắc của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ chưa? Gợi ý: Những đặc sắc của một tác phẩm thơ ca thường được bộc lộ ở những phương diện: màu sắc cảm xúc, hình ảnh thơ, kết cấu, giọng điệu trữ tình, nhạc điệu,… Bài văn trên chủ yếu tập trung sự cảm nhận vào ý nghĩa, hình ảnh thơ, mạch cảm xúc. Gợi ý: Có thể lưu ý thêm một số luận điểm: Bài thơ có nhạc điệu trong sáng, thiết tha, gần gũi với dân ca. Mạch cảm xúc tự nhiên của bài thơ được thể hiện trong một kết cấu chặt chẽ, giàu sức gợi mở. Dưới đây là bài soạn Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
1,435
Soạn bài lớp 9: Nghị luận về tác phẩm truyện Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Nghị luận về tác phẩm truyện Soạn bài học kì II: Nghị luận về tác phẩm truyện dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (HOẶC ĐOẠN TRÍCH) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tìm hiểu bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) truyện Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu. Gấp lại truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”, lòng ta cứ xao xuyến, vấn vương trước vẻ đẹp của những con người, trước những tình cảm chân tình, nồng hậu trong một cuộc sống đầy tin yêu. Viết về một mảng hiện thực trên miền đất Sa Pa trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, thiên truyện như muốn nói với ta rằng: Bên trong vẻ lặng lẽ của núi rừng, cuộc sống ở đây chứa bao vẻ đẹp đáng yêu, đang có không ít sự hi sinh thầm lặng. Dù được miêu tả nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, nhân vật nào của “Lặng lẽ Sa Pa” cũng hiện lên với nét cao quý đáng khâm phục. Trong đó, anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu – nhân vật chính của tác phẩm – đã để lại cho chúng ta nhiều ấn tượng khó phai mờ. Trước tiên, nhân vật anh thanh niên này đẹp ở tấm lòng yêu đời, yêu nghề, ở tinh thần trách nhiệm cao với công việc lắm gian khổ của mình. Trong lời giới thiệu với ông hoạ sĩ già và cô gái, bác lái xe gọi anh là “người cô độc nhất thế gian”. Đã mấy năm nay, anh sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao hai nghìn sáu trăm mét, bốn bề chỉ có cây cỏ và mây mù lạnh lẽo. Công việc hàng ngày của anh là đo gió, đo nhiệt độ, đo mưa, đo nắng rồi ghi chép, rồi gọi vào máy bộ đàm báo về trung tâm. Nhiều mùa, nhiều đêm anh phải đối chọi với gió tuyết và lặng im. Vậy mà anh rất yêu công việc của mình. Chúng ta hãy nghe lời nói của anh thanh niên với ông hoạ sĩ: “[..] khi ta làm việc, ta với công việc là đôi sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất”. Còn đây là tâm sự của anh với cô kĩ sư trẻ: “[…] lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà!”. Tuy sống trong điều kiện thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần nhưng người thanh niên ấy vẫn ham mê công việc, vẫn biết sắp xếp, lo toan cuộc sống riêng ngăn nắp, ổn định. Anh nuôi gà, trồng hoa, đọc sách. Thỉnh thoảng anh xuống đường tìm gặp bác lái xe cùng hành khách để trò chuyện cho nguôi nỗi nhớ nhà, vợi bớt cô đơn. Sống trong hoàn cảnh như thế, sẽ có người dần thu mình lại trong nỗi cô đơn. Nhưng anh thanh niên này thật đáng yêu ở nỗi “thèm người”, lòng hiếu khách đến nồng nhiệt, ở sự quan tâm đến người khác một cách chu đáo. Ngay từ những phút gặp gỡ ban đầu, lòng mến khách, nhiệt tình của anh đã gây được thiện cảm tự nhiên đối với người hoạ sĩ già, cô kĩ sư trẻ. Niềm vui được đón khách dào dạt trong lòng anh, toát lên trên nét mặt, qua từng cử chỉ. Anh biếu bác lái xe củ tam thất để mang về cho vợ bác mới ốm dậy. Anh mừng quýnh đón quyển sách bác mua hộ. Anh hồ hởi đón mọi người lên thăm “nhà” mình và hồn nhiên kể về công việc, cuộc sống của mình, của bạn bè nơi Sa Pa lặng lẽ. Chúng ta khó có thể quên việc làm đầu tiên của anh thanh niên khi có khách lên thăm nơi ở của mình: hái một bó hoa rực rỡ sắc màu tặng người con gái chưa hề quen biết. “Anh con trai, rất tự nhiên, như với một người bạn đã quen thân, trao bó hoa đã cắt cho người con gái, và cũng rất tự nhiên, cô đỡ lấy”. Củ tam thất gửi vợ bác lái xe, làn trứng, bó hoa tiễn người hoạ sĩ già, cô gái trẻ tiếp tục cuộc hành trình, đó là những kỉ niệm của một tấm lòng sốt sắng, tận tình đáng quý. Công việc vất vả, có những đóng góp quan trọng cho đất nước như thế nhưng người thanh niên hiếu khách và sôi nổi ấy lại rất khiêm tốn. Anh cảm thấy đóng góp của mình bình thường, nhỏ bé so với bao người khác. Bởi thế anh ngượng ngùng khi ông hoạ sĩ già phác thảo chân dung của mình vào cuốn sổ tay. Con người khiêm tốn ấy hào hứng giới thiệu cho hoạ sĩ những người đáng để vẽ hơn mình. Đó là ông kĩ sư ở vườn rau dưới Sa Pa vượt qua bao khó khăn, vất vả để tạo ra những củ su hào to hơn, ngon hơn cho nhân dân toàn miền Bắc, là anh cán bộ khí tượng dưới trung tâm suốt mười một năm nay chuyên tâm nghiên cứu và thiết lập một bản đồ sét. Dù còn trẻ tuổi, anh thấm thía cái nghĩa, cái tình của mảnh đất Sa Pa mà mình được sinh ra, lớn lên, thấm thía sự hi sinh lặng thầm của những con người ngày đêm làm việc, lo nghĩ cho đất nước. Bằng một cốt truyện khá nhẹ nhàng, những chi tiết chân thực, tinh tế, bằng ngôn ngữ đối thoại sinh động, Nguyễn Thành Long đã kể lại một cuộc gặp gỡ tình cờ mà thú vị nới Sa Pa lặng lẽ. Chưa đầy ba mưoi phút tiếp xúc với anh thanh niên khiến người hoạ sĩ già thêm suy ngẫm về vẻ đẹp cuộc đời mà mình không bao giờ thể hiện hết được, khiến cô kĩ sư trẻ lòng bao cảm mến, bâng khuâng. Với truyện ngắn này, phải chăng nhà văn muốn khẳng định: Cuộc sống của chúng ta được làm nên từ bao phấn đấu, hi sinh lớn lao và thầm lặng? Những con người cần mẫn, nhiệt thành như anh thanh niên ấy thật đáng trân trọng, thật đáng tin yêu. (Quỳnh Tâm) a) Văn bản này nghị luận về vấn đề gì? b) Từ vấn đề nghị luận đã rút ra, hãy đặt nhan đề cho văn bản trên. Gợi ý: Có thể đặt tên cho văn bản là: Con người của Sa Pa lặng lẽ hay Hình ảnh anh thanh niên làm công tác khí tượng trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, hoặc Sức sống Sa Pa… c) Vấn đề nghị luận được người viết triển khi bằng những luận điểm nào? Tìm những câu văn thể hiện luận điểm của bài văn. Gợi ý: Dựa vào những câu thể hiện luận điểm chính của bài văn để hình dung về hệ thống luận điểm của nội dung nghị luận: Dù được miêu tả nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, nhân vật nào của “Lặng lẽ Sa Pa” cũng hiện lên với nét cao quý đáng khâm phục. Trong đó, anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu – nhân vật chính của tác phẩm – đã để lại cho chúng ta nhiều ấn tượng khó phai mờ. Trước tiên, nhân vật anh thanh niên này đẹp ở tấm lòng yêu đời, yêu nghề, ở tinh thần trách nhiệm cao với công việc lắm gian khổ của mình. Nhưng anh thanh niên này thật đáng yêu ở nỗi “thèm người”, lòng hiếu khách đến nồng nhiệt, ở sự quan tâm đến người khác một cách chu đáo. Công việc vất vả, có những đóng góp quan trọng cho đất nước như thế nhưng người thanh niên hiếu khách và sôi nổi ấy lại rất khiêm tốn. Cuộc sống của chúng ta được làm nên từ bao phấn đấu, hi sinh lớn lao và thầm lặng? Những con người cần mẫn, nhiệt thành như anh thanh niên ấy thật đáng trân trọng, thật đáng tin yêu. Gợi ý: Các luận điểm được diễn đạt rõ ràng, làm nổi bật được vấn đề nghị luận. e) Người viết đã làm như thế nào để khẳng định luận điểm? Nhận xét về những luận cứ được người viết đưa ra để làm sáng tỏ cho từng luận điểm. Gợi ý: Các luận điểm được phân tích và chứng minh bằng những dẫn chứng cụ thể trong tác phẩm. Người viết đã tập trung vào những chi tiết, hình ảnh đặc sắc của tác phẩm để khái quát luận điểm, chứng minh cho luận điểm. g) Nhận xét về cách dẫn dắt, lập luận của bài văn. Gợi ý: II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Vấn đề nghị luận của đoạn văn dưới đây là gì? Từ việc miêu tả hoạt động của các nhân vật, Nam Cao đã gián tiếp đưa ra một tình thế lựa chọn đối với lão Hạc mà các dấu hiệu của nó đã được chuẩn bị ngay từ đầu. Đó là việc giải quyết cái sống và cái chết: sống liệu có giữ được mảnh vườn cho con mà vẫn có cái để mà ăn hay không (bán mất mảnh vườn sẽ là một trọng tội không thể tha thứ được của lão đối với người vợ đã khuất và đứa con đang ở xa); hay là chết thì sẽ giữ được mảnh vườn, lương tâm yên ổn? Nhưng nếu chết thì phải chết như thế nào, chuẩn bị cho nó ra sao?… Cuối cùng, lão Hạc lựa chọn cái chết. Đầu tiên lão để cho cậu vàng chết trước. Sau đó mới đến mình. Lão âm thầm chuẩn bị, dọn dẹp chu tất một con đường sạch sẽ để bước đến nhà mồ (nhờ ông giáo giữ vườn để khỏi ai tranh chiếm, nhòm ngó, gửi cầm 30 đồng bạc để cậy bà con lo liệu ma chay nếu mình có mệnh hệ gì). Lão đã chọn cái chết trong còn hơn phải sống khổ, sống nhục. Lão đã chết một cách cao ngạo và thảm khốc. Chỉ có bằng cách này lão mới khỏi phạm vào mảnh đất thiêng dành cho con mình, mới có thể chấm dứt kiếp sống lay lắt, héo úa. Cái chết của lão Hạc khiến ta đau đớn nhận ra một tình phụ tử thiêng liêng và thăm thẳm. Tội nghiệp cho lão, chắc hẳn lão nung nấu ý định chết từ lâu rồi, từ cái ngày đầu sang nói chuyện bán cậu vàng với ông giáo, rõ nhất là cái hôm lão sang gửi vườn và tiền. Chả thế mà câu chuyện của lão rề rà, vòng vo, nặng nhọc, nhức nhối một điều gì đó thật khó nói; tâm can lão bị đè nặng bởi ý định tự tử phải giấu. Lão đã làm tất cả những gì có thể làm được trước khi đi đến cái chết, tuy lặng lẽ, âm thầm mà thật dứt khoát, quyết liệt. Để bảo toàn nhân cách của mình, lão không có con đường nào khác là phải chủ động tìm đến cái chết. Lão Hạc đã dùng cái chết của mình để cấy cái sống cho đứa con trai đang đi phu đồn điền biền biệt. Đó là một lựa chọn tột cùng đau đớn cuả thân phận con người. ý nghĩa câu chuyện chủ yếu được phát sáng từ điểm then chốt này. Gợi ý: Đoạn văn nghị luận về sự lựa chọn nghiệt ngã của nhân vật lão Hạc qua đó thấy được vẻ đẹp nhân cách của nhân vật này trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao. 2. Đoạn văn đã triển khai vấn đề nghị luận bằng những ý nào? Gợi ý: Các ý của đoạn văn: Lão Hạc phải lựa chọn giữa sống và chết; Lão Hạc đã chọn cái chết trong còn hơn sống khổ, sống nhục. 3. Người viết đã làm gì để tạo ra sức thuyết phục cho ý kiến của mình? Gợi ý: Qua những chi tiết cụ thể trong tác phẩm, người viết tập trung phân tích những diễn biến tâm lí của nhân vật lão Hạc trong tình thế lựa chọn nghiệt ngã của số phận. Dưới đây là bài soạn Nghị luận về tác phẩm truyện bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Nghị luận về tác phẩm truyện Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Nghị luận về tác phẩm truyện
2,237
Soạn bài lớp 9: Người kể trong văn bản tự sự Hướng dẫn Soạn bài: Người kể trong văn bản tự sự Soạn bài lớp 9 học kì 1: Người kể trong văn bản tự sự dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về khái niệm, cách vận dụng người kể trong văn bản tự sự giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. NGƯỜI KỂ TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đọc đoạn trích sau và cho biết chuyện kể về ai và về việc gì? – Trời ơi, chỉ còn có năm phút! Chính là anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ. Anh chạy ra nhà sau, rồi trở vào liền, tay cầm một cái làn. Nhà hoạ sĩ tặc lưỡi đứng dậy. Cô gái cũng đứng lên, đặt lại chiếc ghế, thong thả đi đến chỗ bác già. – Ô! Cô còn quên chiếc mùi xoa đây này! Anh thanh niên vừa vào, kêu lên. Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Cô kĩ sư nhếch mép, mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và quay vội đi. – Chào anh. – Đến bậu cửa, bỗng người hoạ sĩ già quay lại chụp lấy tay người thanh niên lắc mạnh. – Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại. Tôi ở với anh ít hôm được chứ? Đến lượt cô gái từ biệt. Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như người ta cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay. Cô nhìn thẳng vào mắt anh – những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy. – Chào anh. (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) Gợi ý: Chuyện kể về người hoạ sĩ già, cô gái và anh thanh niên trong giây phút chia tay sau cuộc gặp gỡ tình cờ. 2. Ai là người kể câu chuyện về phút chia tay giữa người hoạ sĩ già, cô gái và anh thanh niên? Câu chuyện được kể theo ngôi thứ mấy? Có phải một trong ba nhân vật (người hoạ sĩ già, cô gái, anh thanh niên) kể lại câu chuyện? Hay có người khác giấu mặt kể lại câu chuyện về ba nhân vật này? Chuyện được kể bằng ngôi thứ ba (anh thanh niên – anh; cô kĩ sư – cô gái – cô; nhà hoạ sĩ – người hoạ sĩ già); nếu người kể là một trong ba nhân vật thì nhân xưng phải là tên một trong ba người này hoặc là xưng “tôi”. Các nhân vật là những đối tượng được kể lại từ một người khác, không xuất hiện trực tiếp trong câu chuyện nhưng biết tất cả, chứng kiến tất cả. Cần phân biệt giữa người kể chuyện và tác giả, ngay cả khi chuyện được kể theo ngôi thứ nhất, người kể chuyện xưng “tôi”. 3. Những lời “giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ”, “những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy.”,… là lời của ai? Dựa vào đâu để khẳng định như vậy? Gợi ý: Người kể trong loại truyện kể theo ngôi thứ ba thường không lộ diện. Song cũng có khi người kể chuyện lộ diện để nhận xét, bình luận, đánh giá về đối tượng được kể hoặc thay lời nhân vật để bày tỏ sự nhận xét, bình luận, đánh giá. Những lời trên là của người kể chuyện. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc đoạn trích sau, so sánh với đoạn trích trước (trong Lặng lẽ Sa Pa) và cho biết cách kể ở đoạn trích này có gì khác? Xe chạy chầm chậm… Mẹ tôi cầm nón vẫy tôi, vài giây sau, tôi đuổi kịp. Tôi thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi và khi trèo lên xe, tôi ríu cả chân lại. Mẹ tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi hỏi, thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở. Mẹ tôi cũng sụt sùi theo: – Con nín đi! Mợ đã về với các con rồi mà. Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe. Đến bấy giờ tôi mới kịp nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má. Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc? Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường. Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng. (Nguyên Hồng, Trong lòng mẹ) Gợi ý: Người kể trong đoạn trích này là ai? Kể về ai và về việc gì? Ngôi kể có giống với đoạn trích trước không? Kể theo ngôi kể như ở đoạn trích này thì có lợi thế gì so với việc kể theo ngôi kể ở đoạn trích trước? 2. Thử chuyển đoạn văn trích trong truyện Lặng lẽ Sa Pa ở trên thành truyện kể theo ngôi thứ nhất. Gợi ý: Có thể lựa chọn một trong ba nhân vật (người hoạ sĩ già, cô gái hoặc anh thanh niên) để làm người kể chuyện. Lưu ý: việc chọn ai là người kể chuyện có ảnh hưởng đến cách nhìn, quan sát và sự thể hiện tình cảm, thái độ trong lời kể. Chẳng hạn, nếu chọn kể theo điểm nhìn của cô gái thì những lời như: “Anh thanh niên vừa vào, kêu lên. Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Cô kĩ sư nhếch mép, mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và quay vội đi.” sẽ phải thay đổi. Có thể viết: Anh thanh niên vừa vào, kêu lên. Để tôi khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho tôi. Nhưng không thể viết: “Tôi nhếch mép, mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và quay vội đi.”, vì “tôi” chỉ có thể cảm thấy mặt mình đỏ ửng chứ không thể nhìn thấy mặt “tôi” đỏ ửng để miêu tả như nhìn từ bên ngoài vào như thế. Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Người kể trong văn bản tự sự
1,274
Soạn bài lớp 9: Những ngôi sao xa xôi Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Những ngôi sao xa xôi Soạn bài lớp 9 học kì 2: Những ngôi sao xa xôi do Lê Minh Khuê sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn văn 9 bài Những ngôi sao xa xôi mẫu 1 1. Tóm tắt câu chuyện Truyện được trần thuật từ nhân vật Phương Định. Việc lựa chọn như vậy thuận lợi để tác giả miêu tả, thể hiện cảm xúc trực tiếp của nhân vật chính, người tham gia câu chuyện. Đồng thời cho người đọc cảm giác được tiếp xúc trực tiếp với các nhân vật, chứng kiến những gian khổ, nguy hiểm trong cuộc sống chiến đấu của họ. 2. Những cô gái thanh niên xung phong có nét chung gắn bó thành một khối thống nhất. Đó là: Ba cô đều làm chung một nhiệm vụ là trinh sát mặt đường. Cụ thể là đo khối lượng đất đá cần san lấp, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom. Đó là công việc nguy hiểm mà cái chết luôn rình rập. Họ đều là các cô gái còn trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao với công việc, yêu thương và gắn bó với đồng đội. Họ chiến đấu dũng cảm và sống giản dị, lạc quan, thích ca hát, thêu thùa. Họ hồn nhiên, vui thích đón nhận cơn mưa đá với niềm vui con trẻ. Mỗi người trong họ có cá tính riêng, có những nét riêng. Phương Định là con gái thành phố, xinh đẹp, thích mơ mộng và hay hát. Nho thích thêu thùa, chị Thao hay chép bài hát, bình tĩnh, can đảm nhưng sợ máu vắt và không ưa nước mắt. 3. Phương Định là một cô gái thành phố, tự biết mình đẹp nhưng trong lòng cô luôn coi những người mặc quân phục với ngôi sao trên mũ là đẹp nhất. Phương Định thuộc nhiều bài hát, thích bịa bài hát, hay mơ mộng “hát và nghĩ vớ vẩn”. Cô hay quan sát, để ý đồng đội của mình. Cô dành tình cảm yêu thương cho Nho – người bạn như cây kem trắng; dành tình cảm quý mến, trân trọng cho chị Thao, con người “cương quyết, táo bạo”. Phương Định làm quen với bom nổ, với căng thẳng hàng ngày. Nhưng mỗi lần phá bom là một thử thách mới. Cô đi thẳng đến quả bom chưa nổ. Cô đào đất và đặt thuốc nổ dưới quả bom có thể nổ bất kì lúc nào. Hành động của cô thật nhanh gọn, khéo léo trong một không khí cực kì căng thẳng. Với cô cái chết thật mờ nhạt trước điều quan tâm lớn nhất: Liệu mìn có nổ, liệu bom có nổ không? Không thì làm cách nào để châm mìn lần thứ hai? Khi Nho bị thương Phương Định bình tĩnh chăm sóc bạn, rửa vết thương, băng và tiêm cho bạn. Gặp cơn mưa đá bất ngờ, tính hồn nhiên của cô được bộc lộ mạnh mẽ. Cô vui thích, cuống cuồng “Những niềm vui con trẻ…lại nở tung ra, say sưa, tràn đầy”. Và cơn mưa gợi cho cô nhớ về thành phố, về mẹ, về những ngôi sao to trên bầu trời thành phố. 4. Ngôn ngữ của truyện là ngôn ngữ của nhân vật xưng “tôi” – Phương Định. Cách lựa chọn ngôi kể này làm cho câu truyện được kể trực tiếp từ người trong cuộc – một cô gái. Điều đó khiến cho lời lẽ kể truyện hồn nhiên, trẻ trung và giàu nữ tính. Người kể truyện còn thêm vào những suy nghĩ, những bình luận làm cho những bình luận làm cho câu truyện không chỉ là sự việc mà còn là sự việc được bình giá, được suy ngẫm. Nhịp kể của câu truyện cũng thay đổi. Khi khẩn trương, căng thẳng, khi chậm rãi, sâu lắng. Điều đó cũng góp phần làm cho câu truyện trở lên linh hoạt và sinh động. 5. Thế hệ trẻ trong thời kháng chiến chống Mỹ là những người sẵn sàng làm nhệm vụ. Họ là những cô thanh niên xung phong như Phương Định, Nho, chị Thao (Những ngôi sao xa xôi). Họ là những chiến sĩ lái xe lạc quan, dũng cảm “Ung dung buồng lái ta ngồi – Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” (Phạm Tiến Duật – Bài thơ về tiểu đội xe không kính). Họ là những chàng trai trên đỉnh Yên Sơn làm nhiệm vụ trên đài khí tượng, lặng lẽ cống hiến cho đất nước, những con số về gió, mây, mưa, góp phần cho sản xuất và chiến đấu chống máy bay Mỹ (Lặng lẽ Sapa). Họ còn là cô kỹ sư, là đoàn viên sẵn sàng nhận phân công, công tác ở bất cứ đâu. Thế hệ những người trẻ tuổi đó hồn nhiên, dũng cảm, ham học hỏi, sẵn sàng làm bất cứ công việc gì mà đất nước yêu cầu. Đó là một thế hệ rất đáng tự hào, rất đáng để cho thanh niên ngày nay học tập. Soạn bài lớp 9: Những ngôi sao xa xôi mẫu 2 NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI Lê Minh Khuê I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Lê Minh Khuê sinh năm 1949, quê ở huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá, thuộc thế hệ những nhà văn bắt đầu sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Các tác phẩm của Lê Minh Khuê ra đời đầu những năm 70 của thế kỷ XX đều viết về cuộc sống chiến đấu của thanh niên xung phong và bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn khói lửa. Từ sau năm 1975, sáng tác của Lê Minh Khuê đã bám sát những biến chuyển của đời sống, đề cập đến nhiều vấn đề bức xúc của xã hội thời đổi mới. Ngòi bút miêu tả tâm lý của Lê Minh Khuê khá sắc sảo, nhất là khi miêu tả tâm lý phụ nữ. 2. Truyện Những ngôi sao xa xôi viết về ba cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ phá bom ở một cao điểm trong thời kì cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ đang diễn ra khốc liệt. Miêu tả các cô gái hằng ngày, hằng giờ đối mặt với hiểm nguy nhưng sức hấp dẫn của truyện không phải ở những chi tiết, sự kiện hồi hộp, nóng bỏng mà ở khả năng miêu tả đời sống tâm hồn con người khá sinh động, sâu sắc của tác giả. 3. Tóm tắt nội dung: Ba nữ thanh niên xung phong thuộc tổ trinh sát mặt đường tại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Nhiệm vụ của họ là quan sát khi địch ném bom, đo khối lượng đất đá cần phải san lấp, đánh dấu vị trí các quả bom chưa nổ và phá bom. Công việc của họ hết sức nguy hiểm. Mặc dù vậy, cuộc sống của họ vẫn vẫn có những niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thanh thản, mơ mộng và đặc biệt là gắn bó, yêu thương nhau trong tình đồng đội. 4. Truyện được trần thuật từ ngôi thứ nhất, theo lời kể của Định – nhân vật chính. Sự lưạ chọn vai kể như vậy rất phù hợp với nội dung tác phẩm cũng thuận lợi cho việc miêu tả, biểu hiện thế giới tâm hồn, những cảm xúc và suy nghĩ của ba cô gái. 5. Nhân vật trong truyện là ba cô gái trong tổ rà phá bom. Người kể chuyện cũng là một trong ba cô gái ấy. Từ góc nhìn này, tác giả có điều kiện miêu tả những suynghĩ, tâm trạng của các cô một cách chân thực, cụ thể và gần gũi. Cùng chung một tổ, cùng trải qua cuộc sống đầy những khó khăn, hiểm nghèo, họ đã trở thành những con người dũng cảm, can trường, coi những việc đếm bom, phá bom… chỉ là những công việc bình thường hàng ngày. Đó là những người có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc nhưng đồng thời cũng dễ xúc cảm, giàu ước mơ, dễ vui mà cũng dễ trầm tư. Họ thích làm đẹp của cuộc sống của mình và không bao giờ tỏ ra chán nản, thất vọng. Họ có những điểm chung đồng thời cũng có những nét tính cách riêng: Phương Định nhạy cảm và hồn nhiên, thích mơ mộng, ưa sống với những kỷ niệm của tuổi thiếu nữ vô tư, Chị Thao từng trải hơn nhưng cũng không thiếu những rung động, khát khao của tuổi trẻ, Nho trông có vẻ yếu đuối nhưng cũng rất tinh nghịch. Xen giữa những trận bom, giữa những câu chuyện của ba chị em trong cuộc sống đời thường nhưng rất nóng bỏng ấy là dòng suy nghĩ lan man của nhân vật “tôi”. Từ những suy nghĩ vui vui về các anh bộ đội đến nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ rất rõ những đồ vật, những kỉ niệm ngày còn ở nhà… Đó là những suy nghĩ rất đời thường nhưng càng làm cho bức tranh chân dung người chiến sĩ thêm sống động. Nhất là đoạn cuối truyện, khi cơn mưa đá đã tan thì niềm vui nhỏ bé của các cô cũng không còn. Cô gái lại đắm chìm và những hồi ức về quê nhà. Bao nhiêu hình ảnh gắn liền với bấy nhiêu kỉ niệm: mẹ, cái cửa sổ, bà bán kem, lũ trẻ, hoa trong công viên… mỗi hình ảnh chỉ kịp vụt qua trong thoáng chốc nhưng rất sắc nét, rất cụ thể. 7. Hình ảnh ba cô gái thanh niên xung phong trong truyện ngắn này là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Có thể nêu những nhận xét khái quát về hoàn cảnh sống và chiến đấu, về tính cách, phẩm chất nổi bật của họ: hoàn cảnh ngặt nghèo, thường xuyên đối mặt với hiểm nguy; hồn nhiên, yêu đời; sẵn sàng đương đầu với thử thách, tình cảm đồng đội cao đẹp… II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tóm tắt: Ba nữ thanh niên xung phong thuộc tổ trinh sát mặt đường tại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Nhiệm vụ của họ là quan sát khi địch ném bom, đo khối lượng đất đá cần phải san lấp, đánh dấu vị trí các quả bom chưa nổ và phá bom. Công việc của họ hết sức nguy hiểm. Mặc dù vậy, cuộc sống của họ vẫn vẫn có những niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thanh thản, mơ mộng và đặc biệt là gắn bó, yêu thương nhau trong tình đồng đội. 2. Đọc diễn cảm. Mời các bạn tham khảo tài liệu liên quan Dưới đây là bài soạn Những ngôi sao xa xôi bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Những ngôi sao xa xôi Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Những ngôi sao xa xôi
1,934
Soạn bài lớp 9: Nói với con Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Nói với con Soạn bài lớp 9 học kì II: Nói với con do Y Phương sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. NÓI VỚI CON Y Phương I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Y Phương là một nhà thơ dân tộc Tày. Ông sinh năm 1948, quê ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Y Phương từng có thời gian trong quân ngũ từ 1968 – 1981. Từ năm 1993, Y Phương là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng. Hiện ông sống tại Hà Nội. 2. Thơ Y Phương là tiếng lòng của một tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng. 3. Mượn lời một người cha nói với con, bài thơ gợi về cội nguồn của mỗi con người, đồng thời bộc lộ niềm tự hào trước sức sống mạnh mẽ, bền bỉ của quê hương mình. Bố cục của bài thơ thể hiện ý tưởng đó theo hai đoạn: Đoạn 1 (từ đầu đến câu “Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”): con lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ và quê hương. Đoạn 2 (còn lại): lòng tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, với truyền thống cao đẹp của quê hương. Theo bố cục, nhất là theo diễn biến tâm trạng của nhà thơ, có thể thấy nhà thơ đã mở rộng từ tình cảm gia đình đến tình cảm quê hương, từ những kỷ niệm gần gũi, thiết tha mà nâng lên thành lẽ sống. Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười. Những câu thơ có cách diễn đạt thật độc đáo đã cho thấy tình yêu thương của cha mẹ đối với con. Con lớn lên hàng ngày trong tình yêu thương ấy, trong sự nâng niu, mong chờ của cha mẹ. Không chỉ có tình yêu thương của cha mẹ. Thời gian trôi qua, con trưởng thành trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và nghĩa tình của quê hương. Đó là cuộc sống của những “người đồng mình”, rất cần cù và tươi vui. Những từ ngữ giàu sắc thái biểu hiện (cài nan hoa, ken câu hát) đã miêu tả cụ thể cuộc sống ấy đồng thời thể hiện tình cảm gắn bó, quấn quýt của con người quê hương. Rừng núi quê hương thơ mộng và trữ tình cũng là một trong những yếu tố nuôi con khôn lớn, nâng đỡ tâm hồn con. Thiên nhiên với những sông, suối, ghềnh, thác… đã nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn và lối sống: “Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng”. 5. Người cha nói với con về những đức tính cao đẹp của “người đồng mình”: không lo cực nhọc, sống vất vả mà gần gũi, khoáng đạt, gắn bó với quê hương dẫu còn cực nhọc, đói nghèo… Từ những phẩm chất ấy, có thể thấy “người đồng mình” (người quê mình) thật đẹp, thật đáng ca ngợi. Đó cũng chính là vẻ đẹp của quê hương. Là một thành viên của quê hương, con cần phải biết kế tục, phát huy một cách xứng đáng truyền thống ấy. 7. Bài thơ có nhiều nét đặc sắc về nghệ thuật, tuy nhiên, độc đáo nhất và đặc sắc nhất là cách thể hiện, diễn tả tình cảm. Những từ ngữ, hình ảnh trong bài rất mộc mạc nhưng đồng thời cũng rất giàu hình ảnh gợi tả, vừa cụ thể vừa có sức khái quát cao. Ngoài ra, còn có thể kể đến bố cục chặt chẽ, cách dẫn dắt rất tự nhiên của tác giả. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Chú ý đọc các chú thích. 2. Đọc chậm, thể hiện giọng thủ thỉ tâm tình của tác giả. Dưới đây là bài soạn Nói với con bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Nói với con Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Nói với con
759
Soạn bài lớp 9: Phong cách Hồ Chí Minh Hướng dẫn Soạn bài Phong cách Hồ Chí Minh Soạn bài lớp 9 học kì 1: Phong cách Hồ Chí Minh do Lê Anh Trà sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo. Bài soạn văn Phong cách Hồ Chí Minh này sẽ giúp học tốt môn Ngữ Văn lớp 9 hiểu rõ hơn về phong cách, tinh thần học hỏi trau dồi kiến thức về lối sống và làm việc của chủ tịch Hồ Chí Minh để tham khảo chuẩn bị tốt cho bài học sắp tới đây của mình. Soạn văn 9 bài PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH (Lê Anh Trà) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hồ Chí Minh có một vốn tri thức văn hoá nhân loại sâu rộng. Đó là những hiểu biết uyên thâm về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hoá thế giới từ Đông sang Tây, từ văn hoá các nước châu Á, châu Âu cho đến châu Phi, châu Mĩ. Để có được vốn tri thức văn hoá sâu rộng ấy, Người đã: Học tập để nói và viết thạo nhiều thứ tiếng nước ngoài như: Pháp, Anh, Hoa, Nga…; Đi nhiều nơi, làm nhiều nghề – tức là học hỏi từ thực tiễn và lao động; Tìm hiểu văn hoá, nghệ thuật của các khu vực khác nhau trên thế giới một cách sâu sắc, uyên thâm; Hơn nữa, trong việc học hỏi, trau dồi vốn tri thức văn hoá, Hồ Chí Minh đã thể hiện một phương châm đúng đắn: “đã tiếp thu mọi cái đẹp và cái hay đồng thời với việc phê phán những tiêu cực của chủ nghĩa tư bản,… Những ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hoá dân tộc không gì lay chuyển được ở Người, để trở thành một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại”. Tức là chủ động lựa chọn, tiếp thu những thành tựu văn hoá của nhân loại một cách có phê phán dựa trên nền tảng căn bản của văn hoá dân tộc. Nói ở Bác Hồ có sự thống nhất giữa dân tộc và nhân loại là như thế. Nơi ở và nơi làm việc rất mộc mạc đơn sơ: “chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao”, chiếc nhà sàn “chỉ vẻn vẹn có vài phòng tiếp khách, họp Bộ Chính trị, làm việc và ngủ, với những đồ đạc rất mộc mạc đơn sơ”; Trang phục hết sức giản dị: bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ; Ăn uống rất đạm bạc: cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa… 3. Lối sống của Hồ Chí Minh giản dị mà thanh cao một cách tự nhiên: Giản dị mà không kham khổ; Không phải là một cách tự thần thánh hoá, tự làm cho khác đời, hơn đời mà xuất phát từ cốt cách, từ trong quan niệm thẩm mĩ thuần thục, tự nhiên của nhân cách Hồ Chí Minh. 4. Những biện pháp được sử dụng nhằm làm nổi bật phong cách Hồ Chí Minh trong bài văn: Sử dụng lập luận: tiêu biểu là ở đoạn nói về vốn tri thức văn hoá sâu rộng và phương châm học hỏi của Hồ Chí Minh; Phân tích thực tế: những biểu hiện cụ thể trong lối sống của Bác; Thủ pháp tương phản: chủ tịch nước – bình dị, mộc mạc; tri thức văn hoá phương Đông – tri thức văn hoá phương Tây; rất truyền thống, rất Việt Nam – rất hiện đại, nhân loại. So sánh: Hồ Chủ Tịch – vị tiên siêu phàm, các hiền triết ngày xưa (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm). Viết về “phong cách Hồ Chí Minh”, tác giả đưa ra luận điểm then chốt: Phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hoà giữa tính dân tộc và tính nhân loại, truyền thống và hiện đại, giữa vĩ đại và giản dị. Để làm sáng tỏ luận điểm này, tác giả đã vận dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ, với những dẫn chứng xác thực, giàu sức thuyết phục về những chặng đường hoạt động cách mạng, ngôn ngữ và về cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của Bác. Cần chú ý đọc bài văn bằng giọng chậm rãi, trang trọng, chú ý nhấn mạnh những câu thể hiện chủ đề: “Trong cuộc đời đầy truân chuyên của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với văn hoá nhièu nước, nhiều vùng trên thế giới, cả ở phương Đông và phương Tây”. “một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại”… “Nếp sống giản dị và thanh đạm của Bác Hồ… là lối sống thanh cao, một cách di dưỡng tinh thần, một quan niệm thẩm mĩ về cuộc sống, có khả năng đem lại hạnh phúc thanh cao cho tâm hồn và thể xác”. Dưới đây là soạn bài lớp 9: Phong cách Hồ Chí Minh bản đầy đủ nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Phong cách Hồ Chí Minh
Soạn bài lớp 9_ Phong cách Hồ Chí Minh
881
Soạn bài lớp 9: Phép phân tích và tổng hợp Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Phép phân tích và tổng hợp VnDoc xin giới thiệu với các bạn bài soạn môn Ngữ văn lớp 9 học kì II với đề bài: Phép phân tích và tổng hợp để tham khảo chuẩn bị tốt cho bài giảng, theo kịp tiến độ của thầy cô trên lớp giúp bạn học tốt môn Văn hơn. Soạn bài lớp 9: Khởi ngữ Soạn bài lớp 9: Bàn về đọc sách PHÉP PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Văn bản sau đây có mấy phần? Nội dung của từng phần là gì? TRANG PHỤC Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối sâu,… phải cởi giày ra đi chân đất, thông thường trong doanh trại hay nơi công cộng, có lẽ không ai mặc quần áo chỉnh tề mà lại đi chân đất, hoặc đi giày có bít tất đầy đủ nhưng phanh hết cúc áo, lộ cả da thịt ra trước mặt mọi người. Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng. Cô gái một mình trong hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát nước hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp… Trang phục không có pháp luật nào can thiệp, nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự đám tang không được mặc áo quần loè loẹt, nói cười oang oang. Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc sao cũng phải phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình vào cộng đồng như thế, không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có một cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì đáng hãnh diện”. Chí lí thay! Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp. (Theo Băng Sơn, Giao tiếp đời thường) 2. Ở đoạn mở đầu, tác giả nêu ra một loạt dẫn chứng về cách ăn mặc nhằm nói lên điều gì? Gợi ý: Tác giả nêu ra các dẫn chứng về ăn mặc nhằm gợi ra vấn đề về tính chỉnh tề, đồng bộ, thích hợp trong sử dụng trang phục. 3. Xác định 2 luận điểm chính của văn bản. Tác giả đã làm như thế nào để diễn đạt hai luận điểm đó? Gợi ý: Hai luận điểm chính của bài văn là: (1) Ăn mặc phải phù hợp với hoàn cảnh chung và thích hợp với từng công việc, từng hoàn cảnh cụ thể. (2) Ăn mặc phải phù hợp với đạo đức, giản dị, hoà mình với cộng đồng. Các luận điểm trên được diễn đạt bằng phép lập luận phân tích. 4. Tác giả đã phân tích những biểu hiện khác nhau của “quy tắc ngầm” trong sử dụng trang phục từ đó kết luận vấn đề. Hãy cho biết tác giả đã triển khai kết luận bằng cách nào? II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc lại văn bản Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm, chú ý việc sử dụng phép lập luận phân tích của tác giả. 2. Tác giả đã phân tích như thế nào để làm rõ luận điểm: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn”? Gợi ý: Nhận xét về việc trình bày các ý phân tích theo trình tự chặt chẽ. Để trả lời câu hỏi “Tại sao đọc sách là một con đường quan trọng của học vấn?”, tác giả đã lần lượt triển khai phân tích các ý: Học vấn là của nhân loại; Học vấn được tích luỹ, lưu truyền trong sách; Muốn tiến lên thì phải nắm vững những học vấn đã được lưu truyền; Nếu không tận dụng những thành quả đã được lưu truyền thì sẽ lạc hậu, tụt hậu. 3. Nhận xét về việc phân tích lí do phải chọn sách mà đọc của tác giả. Gợi ý: Tác giả đã phân tích lí do phải chọn sách mà đọc bằng các ý: Số lượng sách nhiều, chất lượng lại khác nhau; Sức người có hạn; Có sách chuyên môn, có sách thường thức; giữa tri thức chuyên môn và tri thức thường thức lại có quan hệ với nhau. Gợi ý: Các ý trong lập luận phân tích của tác giả: Đọc sách thì mới có điểm xuất phát cao; Muốn tiếp cận tri thức một cách nhanh nhất thì phải đọc sách. Đọc sách mà không chọn lọc thì đọc không xuể, kém hiệu quả. Đọc kĩ mới có hiệu quả. 5. Nhận xét về tác dụng của phép phân tích. Gợi ý: Phép phân tích giúp chúng ta hiểu sâu sắc, cụ thể các đặc điểm của đối tượng mà chúng ta đang quan tâm. Kết quả của việc phân tích sẽ là cơ sở để tiến tới kết luận một vấn đề nào đó. Không có sự phân tích đúng đắn thì sẽ làm mất đi tính thuyết phục của kết luận.
Soạn bài lớp 9_ Phép phân tích và tổng hợp
973
Soạn bài lớp 9: Rô-Bin-Xơn ngoài đảo hoang Hướng dẫn Soạn bài: Rô-Bin-Xơn ngoài đảo hoang Soạn bài lớp 9 học kì 2: Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang do Đi-phô sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. RÔ-BIN-XƠN NGOÀI ĐẢO HOANG Đi-phô I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đi-phô (1660-1731) là nhà văn Anh, sinh ở Luân Đôn. Ông là nhà văn có tư tưởng tiến bộ, thể hiện qua những tác phẩm nổi tiếng như: Rô-bin-xơn Cru-xô, Thủ lĩnh Xinh-gơ-tơn, Đại tá Jêc, Rô-xa-na,… Văn bản này được trích từ tác phẩm nổi tiếng Rô-bin-xơn Cru-xô của Đi-phô, một nhà văn Anh, sống vào khoảng cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII. Cách thời đại ngày nay đến gần 300 năm nhưng Rô-bin-xơn Cru-xô vẫn được nhiều bạn đọc say mê, không chỉ bởi cốt truyện li kì, hấp dẫn mà còn bởi văn phong mới mẻ, hiện đại, vừa trong sáng vừa dí dỏm. 2. Có thể chia đoạn trích là hai phần: một phần tả trang phục, một phần tả diện mạo. Trang phục thì kì cục còn diện mạo cũng hài hước không kém, tuy vậy, qua cách miêu tả của tác giả, bạn đọc có thể hình dung được ít nhiều những gian nan vất vả mà nhân vật đã phải trải qua, đồng thời cảm nhận được một nghị lực phi thường, tình yêu cuộc sống mãnh liệt được biểu hiện qua những lời nhân vật tự miêu tả mình, nhất là qua tiếng cười chỉ chực bật ra sau những câu chữ. 3. Bài văn có thể chia làm bốn phần: Phần 1 (đoạn 1): mở đầu. Phần 2 (đoạn 2, 3): trang phục của Rô-bin-xơn. Phần 3 (Từ “Quanh người tôi…” đến “bên khẩu súng của tôi”): trang bị của Rô-bin-xơn. Phần 4 (còn lại): diện mạo của Rô-bin-xơn. Đây cũng là một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Bằng cách kể theo ngôi thứ nhất, từ góc nhìn như vậy, tác giả có thể miêu tả một bộ dạng kỳ khôi, thu hút sự chú ý của bạn đọc. 5. Rô-bin-xơn đã sống một mình ngoài đảo hoang trên mười năm. Mọi trang phục của chàng hầu hết đều bằng da dê: “bộ quần áo” là những tấm da dê buộc túm lại, ủng cũng bằng da dê, thậm chí cả bao đựng đạn cũng bằng da dê. Bên cạnh đó là những vật dụng khác: dao kiếm, cưa, rìu… Chỉ qua trang phục và các vật dụng chàng mang trên người cũng đủ thấy cuộc sống của Rô-bin-xơn khi đó vất vả, khó khăn như thế nào, đồng thời cũng cho ta thấy một nghị lực phi thường, một ý chí sắt đá, một bản lĩnh sống không gì khuất phục nổi. 6. Mở đầu đoạn trích, nhân vật “tôi” đã tưởng tượng: “Nếu có ai đó ở nướcAnh gặp một kẻ như tôi lúc bấy giờ, chắc tôi sẽ làm cho họ hoảng sợ hoặc phá lên cười sằng sặc; và lắm khi tôi đứng lặng ngắm nghía bản thân mình, tôi cứ mỉm cười tưởng tượng tôi lang thang khắp miền Y-oóc-sai với trang bị và áo quần như vậy…”. Có thể nhận thấy ngay rằng, không cần phải trở về nước Anh, ngay lúc đó nhân vật “tôi” cũng đang “phá lên cười sằng sặc” bởi cái bộ dạng kì quái của mình. Từ cái mũ “to tướng, cao lêu đêu chẳng ra hình thù gì”, chiếc áo có vạt “dài tới khoảng lưng chừng hai bắp đùi” cho đến cái quần “loe đến đầu gôi”, lại thêm một đôi chẳng biết nên gọi là bít tất hay là giày, tất cả đều bằng da dê. Điều đó trước hết cho thấy một sự thực: Rô-bin-xơn đã không còn lấy một mảnh vải mà may áo quần (làm gì có thứ vải nào còn lại được qua mấy chục năm trời?). Nhưng đằng sau đó là một sự thật đáng khâm phục: để có thể tồn tại được, Rô-bin-xơn đã làm tất cả những gì có thể (trong truyện kể anh ta còn thuần hoá và nuôi được cả dê, trồng được lúa mạch để làm bánh…). Những thứ trang phục kì quái ấy (mũ, quần áo, giày, đai lưng để đeo các vật dụng sinh hoạt, ô che nắng mưa…) đều được chế tạo phù hợp nhằm thay thế một cách tốt nhất cho quần áo thông thường. Chỉ qua trang phục thôi, chúng ta cũng đã thấy ý chí và nghị lực của nhân vật “tôi” lớn đến mức nào. Thay vì bị hoàn cảnh éo le khuất phục, Rô-bin-xơn đã không ngừng lao động, cải tạo nó để nó phục vụ cho cuộc sống của mình. Dù chỉ là một đoạn trích nhưng Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang đã giúp chúng ta hình dung rất rõ những gian nan, vất vả mà nhân vật đã phải trải qua, đồng thời ca ngợi tinh thần lạc quan, ý chí vượt lên mọi khó khăn gian khổ của con người. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Tóm tắt: Có thể chia đoạn trích là hai phần: một phần tả trang phục, một phần tả diện mạo. Trang phục thì kì cục còn diện mạo cũng hài hước không kém, tuy vậy, qua cách miêu tả của tác giả, bạn đọc có thể hình dung được ít nhiều những gian nan vất vả mà nhân vật đã phải trải qua, đồng thời cảm nhận được một nghị lực phi thường, tình yêu cuộc sống mãnh liệt được biểu hiện qua những lời nhân vật tự miêu tả mình, nhất là qua tiếng cười chỉ chực bật ra sau những câu chữ. Dưới đây là bài soạn Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Rô-Bin-Xơn ngoài đảo hoang
1,063
Soạn bài lớp 9: Sang thu Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Sang thu Soạn bài học kì II: Sang thu do Hữu Thỉnh sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn. Soạn văn 9 bài Sang Thu sẽ là tài liệu tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. SANG THU Hữu Thỉnh I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nhà thơ Hữu Thỉnh sinh năm 1942, quê ở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông đã từng nhập ngũ, vào binh chủng Tăng – Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hoá tuyên truyền của quân đội. Từ năm 2000, Hữu Thỉnh được bầu làm Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Hữu Thỉnh rất gắn bó với cuộc sống nông thôn. Ông có nhiều bài thơ hay về con người và cuộc sống nông thôn. 2. Bài thơ Sang thu được tác giả sáng tác năm 1977. 3. Sự biến đổi của đất trời sang thu được nhà thơ cảm nhận bắt đầu từ những tín hiệu chuyển mùa: ngọn gió se mang theo hương ổi. Những sự biến đổi đó mang đến tâm trạng ngỡ ngàng, bâng khuâng được thể hiện qua các từ bỗng, hình như… 4. Sự biến chuyển của trời đất lúc thu sang được nhà thơ cảm nhận qua nhiều yếu tố, bằng nhiều giác quan và sự rung động tinh tế: Hương ổi phả vào trong gió se. Gió thu giăng mắc chầm chậm. Dòng sông dềnh dàng trôi. Những cánh chim bắt đầu vội vã (chuẩn bị cho chuyến đi tránh rét). Đám mây mùa hạ đã “vắt nửa mình sang thu”. Nắng cuối hạ vẫn còn nhiều nhưng đã vơi dần những cơn mưa… 5. Hai câu thơ cuối có cách diễn tả thật độc đáo: Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi. Xét về ý nghĩa tả thực, hai câu thơ này có thể được hiểu rằng: Những tiếng sấm không còn bất ngờ nữa, thực chất là đã ít đi những tiếng sấm gắn liền với những cơn mưa mùa hạ quen thuộc. Một hiện tượng không có gì đặc biệt, thậm chí có thể coi là hiển nhiên nhưng cái hay của câu thơ nằm ở cách diễn đạt. Có cái gì đó thật ngộ nghĩnh, hồn nhiên trong cách cảm nhận và quan sát nhưng lại cũng rất già dặn, từng trải trong cách miêu tả và biểu hiện. Sấm là một hiện tượng thiên nhiên có tính bất thường. Trong hai câu này, dường như sấm còn là biểu tượng cho những vang động của cuộc sống sôi nổi. Mùa hè vốn đầy ắp âm thanh và màu sắc, mùa thu, trái lại, yên tĩnh và sâu lắng hơn. Chi tiết “sấm cũng bớt bất ngờ” cũng là một tín hiệu cho thấy mùa thu đang đến. 1. Bài thơ thể hiện sự cảm nhận tinh tế của tác giả trước biến thái thiên nhiên, do đó cần đọc bằng giọng nhẹ nhàng. Dưới đây là bài soạn Sang thu bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Sang thu Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Sang thu
598
Soạn bài lớp 9: Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh Hướng dẫn Soạn văn 9 bài: Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh Soạn bài: Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo. Bài soạn văn 9 mẫu này sẽ giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 9 I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh a) Dựa vào gợi ý dưới đây để ôn lại những kiến thức về văn bản thuyết minh ở chương trình Ngữ văn 8: Đặc điểm, tính chất của văn bản thuyết minh; Mục đích của văn bản thuyết minh (chú ý phân biệt với mục đích của các phương thức biểu đạt khác như tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận); Những phương pháp thuyết minh thường dùng. Gợi ý: Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thường gặp trong mọi lĩnh vực đời sống, có chức năng cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,… của các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng cách trình bày, giới thiệu, giải thích. Văn bản thuyết minh không giống với các văn bản thuộc loại tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận vì kiểu văn bản này không nhằm kể chuyện, tái hiện, biểu lộ tình cảm hay nghị luận mà nhằm cung cấp tri thức về các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội một cách khách quan, chân thực, có ích cho con người. Để đạt được hiệu quả giao tiếp gắn với mục đích đặc trưng, ngôn ngữ của văn bản thuyết minh phải đảm bảo tính khoa học, chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dẫn. b) Đọc văn bản thuyết minh sau và trả lời câu hỏi: HẠ LONG – ĐÁ VÀ NƯỚC Sự kì lạ của Hạ Long là vô tận. Chính là do tài thông minh của Tạo Hoá biết dùng đúng chất liệu hay nhất cho cuộc sáng tạo của mình: Nước. Chính Nước làm cho đá sống dậy, làm cho Đá vốn bất động và vô tri bỗng trở nên linh hoạt, có thể động đến vô tận, và có tri giác, có tâm hồn. Nước tạo nên sự di chuyển. Và di chuyển theo mọi cách. Có thể mặc cho con thuyền của ta mỏng như lá tre tự nó bập bềnh lên xuống theo cho triều; có thể thả trôi theo chiều gió, theo các dòng chảy quanh co phức tạp giữa các đảo; cũng có thể thong thả khua khẽ mái chèo mà lướt đi, trượt nhẹ và êm trên sóng; có thể nhanh tay hơn một chút để tạo một cảm giác xê dịch thanh thoát; có thể bơi nhanh hơn bẳng thuyền buồm, nhanh hơn nữa bằng thuyền máy, cũng như bay trên các ngọn sóng lượn vun vút giữa các đảo trên canô cao tốc; có thể thả sức phóng nhanh hàng giờ, hàng buổi, hàng ngày khắp các trân đồ bát quái đá trộn với nước này. Mà cũng có thể, một người bộ hành tuỳ hứng, lúc đi lúc dừng, lúc nhanh lúc chậm, lúc tiến lúc lùi, thẳng tắp hay quanh co, lao ra những quãng trống hay len lỏi qua các khe hẹp giữa các đảo đá…. Và cái thập loại chúng sinh chen chúc khặp vịnh Hạ Long kia, già đi, tre lại, trang nghiêm hơn hay dỗng nhiên nhí nhảnh tinh nghịch hơn, buồn hơn hay vui hơn,… hoá thân không ngừng. Tuỳ theo góc độ và tốc độ di chuyển của ta trên mặt nước quanh chúng, hoặc độ xa gần và hướng ta tiến đến chúng hay rời xa chúng. Còn tuỳ theo cả hướng ánh sáng rọi vào chúng, hoặc đột nhiên khiến cho mái đầu một nhân vật đá trẻ trung ta chừng đã quen lắm bỗng bạc xoá lên, rõ ràng trước mắt ta là một bậc tiên ông không còn có tuổi. Ánh sáng hắt lên từ mặt nước lung linh chảy khiến những con người bằng đá vây quanh ta trên mặt vịnh càng lung linh, xao động, như đang đi lại, đang tụ lại cùng nhau, hay đang toả ra. Hoặc cũng rất có thể, khi đêm đã xuống, dưới ánh sao chi chít trên bầu trời và chi chít xao động dưới cả mặt nước bí ẩn nữa, sẽ có cuộc họp của cả thế giới người bằng đã sống động đó, biết đâu…! […] Để rồi, khi chân trời đằng đông vừa ửng tím nhạt, rồi từ từ chuyển sang hồng… thì tất cả bọn người đá ấy lại hối hả trở về vị trí của họ. Mà vẫn còn nóng hổi hơi thở cuộc sống đêm chưa muốn dứt. Hạ Long vậy đó, cho ta một bài học, sơ đẳng mà cao sâu: Trên thế gian này, chẳng có gì là vô tri cả. Cho đến cả đá. Ở đây Tạo Hoá đã chọn đá làm một trong hai nguyên liệu chủ yếu và duy nhất của Người để bày nên bản phác thảo của Sự Sống. Chính là Người có ý tứ sâu xa đấy: Người chọn lấy cái vẫn được coi là trơ lì, vô tri nhất để thể hiện cái hồn ríu rít của sự sống. Thiên nhiên bao giờ cũng thông minh đến bất ngờ; nó tạo nên thế giới bằng những nghịch lí đến lạ lùng… (Nguyên Ngọc, Hạ Long – Đá và Nước, Ban quản lí vịnh Hạ Long, 2002) Đối tượng thuyết minh của văn bản trên là gì? Mục đích của văn bản thuyết minh là cung cấp tri thức khách quan về đối tượng, văn bản trên có thể hiện điều này không? Chủ đề của văn bản: sự kì lạ vô tận của vịnh Hạ Long. Văn bản cung cấp cho người đọc những hiểu biết về vẻ đẹp của một di sản văn hoá thế giới. Để khám phá ra vẻ kì lạ vô tận của Hạ Long, người ta phải có được sự tinh tế, lịch lãm trong cảm nhận, thưởng thức. Bằng sự tinh tế, lịch lãm ấy, Nguyên Ngọc đã đem đến cho chúng ta những tri thức về sự kì lạ của Hạ Long. c) Nhận xét về phương pháp thuyết minh của văn bản Hạ Long – đá và nước. Ngôn ngữ, cách diễn đạt của văn bản này có gì khác so với các văn bản thuyết minh em đã được đọc? Gợi ý: Tuỳ từng đối tượng mà người ta lựa chọn cách thuyết minh cho phù hợp, nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất. Văn bản Hạ Long – đá và nước thuyết minh về sự kì lạ vô tận của vịnh Hạ Long. Để thuyết minh vẻ đẹp sinh động, kì thú, biến ảo của Hạ Long, người viết không thể chỉ sử dụng các biện pháp thuyết minh thông dụng. Cái “vô tận, có tri giác, có tâm hồn” của Hạ Long không dễ thấy được chỉ qua cách đo đếm, liệt kê, định nghĩa, giải thích, nêu số liệu,… mà phải kết hợp với trí tưởng tượng, liên tưởng. Tìm các hình ảnh ẩn dụ, so sánh, nhân hoá, liên tưởng trong bài văn. 1. Xác định chủ đề của bài văn dưới đây: NGỌC HOÀNG XỬ TỘI RUỒI XANH Do loài người phát đơn kiện, Ngọc Hoàng Thượng đế mở phiên toà công khai xử tội loài ruồi. Ngọc Hoàng truyền cho vệ sĩ Nhện điệu ruồi xanh lên điện, đập bàn thị uy: – Ruồi kia, loài người kiện mi làm hại chúng sinh, mau mau khai ra tên họ, chủng loại và nơi ở! Ruồi sợ hãi quỳ thưa trước vành móng ngựa: – Con là ruồi xanh, thuộc họ côn trùng hai cánh mắt lưới. Họ hàng con rất đông, gồm ruồi trâu, ruồi mắt đỏ, ruồi nhà… Nơi ở là nhà xí, chuồng lợn, chuồng trâu, nhà ăn, quán vỉa hè…, bất kì chỗ nào có thức ăn mà không đậy điệm con đều lấy làm nơi sinh sống. Ngọc Hoàng yêu cầu Thiên Tào tra sổ xác nhận rồi cho đọc cáo trạng: Bị cáo ruồi bị cáo buộc hai tội. Một là sống nơi dơ bẩn, mang nhiều vi trùng gieo rắc bệnh tật. Các nhà khoa học cho biết bề ngoài con ruồi mang 6 triệu vi khuẩn, trong ruột chứa đến 28 triệu vi khuẩn. Chúng gieo rắc bệnh tả, kiết lị, thương hàn, viêm gan B. Tội thứ hai là sinh đẻ nhanh quá mức, vô kế hoạch. Mỗi đôi ruồi, trong một mùa từ tháng 4 đến tháng 8, nếu đều mẹ tròn con vuông sẽ đẻ ra 19 triệu tỉ con ruồi, ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái. Một luật sư biện hộ nói: Ruồi tuy tội nhiều nhưng nó cũng có nét đặc biệt ví như mắt lưới, một mắt chứa hàng triệu mắt nhỏ; chân ruồi có thể tiết ra chất dính làm cho nó đậu được trên mặt kính mà không trượt chân. Nếu con người biết bắt chước mắt ruồi mà làm máy chụp ảnh, mô phỏng chân ruồi mà làm giày leo núi thì cũng hay. Đó đều là tình tiết giảm nhẹ tội cho ruồi. Ngọc Hoàng cân nhắc, tuyên phạt ruồi khổ sai chung thân. Truyền cho chim chóc, cóc, nhái, thằn lằn, kiến, nhện ra sức giết bớt ruồi, không cho đẻ nhiều. Ngọc Hoàng lại nói với Người: “Ruồi có tội mà con người cũng có lỗi. Con người phải thường xuyên làm vệ sinh, đậy điệm thức ăn, nhà xí, chuồng trại phải xây dựng theo lối mới thì mới ngăn chặn ruồi sinh sôi và hạn chế tác hại của ruồi được. Lời tuyên án của Ngọc Hoàng làm cho các loài vật phấn khởi, còn con người thì trầm ngâm nghĩ ngợi. (Trích báo tường của HS) 2. Người viết đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào trong bài Ngọc Hoàng xử tội ruồi xanh? Gợi ý: Văn bản thuyết minh trên đã sử dụng các biện pháp định nghĩa, phân loại, phân tích, liệt kê, nêu số liệu,… như thế nào? 3. Trong văn bản trên, người viết có sử dụng các biện pháp nghệ thuật không? Đó là những biện pháp gì? Hãy phân tích tác dụng thuyết minh của các biện pháp ấy. Gợi ý: Mượn hình thức kể chuyện để thuyết minh; Sử dụng triệt để biện pháp nhân hoá; Việc mượn hình thức kể chuyện để thuyết minh có tác dụng gì? Người viết đã sử dụng biện pháp nhân hoá để làm gì? Hình thức kể chuyện và biện pháp nhân hoá tạo ra sức hấp dẫn cho văn bản thuyết minh như thế nào? 4. Đọc lại văn bản Phong cách Hồ Chí Minh và nhận xét về việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong thuyết minh. Gợi ý: Tìm các yếu tố miêu tả, so sánh,… trong văn bản này và cho biết chúng có tác dụng như thế nào trong việc khắc hoạ phong cách kết hợp hài hoà giữa truyền thống văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, giữa vĩ đại và giản dị ở Hồ Chí Minh? Bài tiếp theo: Soạn bài lớp 9: Đấu tranh cho một thế giới hoà bình Dưới đây là bài soạn Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh
2,034
Soạn bài lớp 9: Sự phát triển của từ vựng Hướng dẫn Soạn bài: Sự phát triển của từ vựng Soạn bài lớp 9: Sự phát triển của từ vựng được VnDoc sưu tầm và chọn lọc giới thiệu tới các bạn học sinh tham khảo giúp học tốt môn Ngữ Văn lớp 9 hiểu rõ hơn về sự phát triển của từ vựng trong văn bản để chuẩn bị tốt cho bài giảng học kì mới sắp tới đây của mình. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỰNG I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Để biết nghĩa của từ biến đổi và phát triển như thế nào, hãy thực hiện theo các yêu cầu dưới đây: 1. Đọc lại văn bản thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu (Ngữ văn 8, tập một) và cho biết nghĩa của từ “kinh tế” trong câu “Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế” là gì? Nghĩa của từ “kinh tế” trong bài thơ này có khác với nghĩa của từ “kinh tế” mà chúng ta vẫn dùng hiện nay không? Gợi ý: Xem lại phần chú thích; từ “kinh tế” trong văn bản thơ này là cách nói rút gọn từ kinh bang tế thế, có nghĩa là trị nước cứu đời chứ không có nghĩa chỉ một lĩnh vực của đời sống xã hội như hiện nay: hoạt động lao động sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng sản phẩm, của cải vật chất. 2. Qua trường hợp trên, hãy rút ra nhận xét về nghĩa của từ trong quá trình lịch sử. Gợi ý: Nghĩa của từ không phải nhất thành bất biến mà có thể biến đổi và phát triển theo thời gian; có thể mất đi nét nghĩa nào đó và cũng có thể được thêm vào những ý nghĩa mới. 3. Từ thường có nghĩa gốc và nghĩa chuyển. Hãy đọc những câu thơ sau, chú ý nghĩa của các từ in đậm và cho biết nghĩa nào là nghĩa gốc, nghĩa nào là nghĩa chuyển của các từ này: – Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm. – Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ thay lời nước non. (2) – Được lời như cởi tấm lòng, Giở kim thoa với khăn hồng trao tay. – Cũng nhà hành viện xưa nay, Cũng phường bán thịt cũng tay buôn người. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Gợi ý: Tra từ điển để nắm được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của các từ xuân, tay. Dựa vào gợi ý dưới đây để xác định trường hợp nào từ được dùng với nghĩa gốc, trường hợp nào thì từ được dùng với nghĩa chuyển: xuân: Nghĩa gốc: mùa chuyển tiếp từ đông sang hạ, thời tiết ấm dần, thường được xem là thời điểm mở đầu của một năm mới; Nghĩa chuyển: chỉ tuổi trẻ, thời trẻ. tay: Nghĩa gốc: bộ phận gắn với phần trên của cơ thể, từ vai đến các ngón, dùng để cầm, nắm; Nghĩa chuyển: người chuyên hoạt động giỏi về một lĩnh vực nào đó, một môn thể thao hoặc một nghề. 4. Sự chuyển nghĩa của từ thường diễn ra theo hai kiểu quan hệ: ẩn dụ và hoán dụ. Theo quan hệ ẩn dụ, giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển có liên hệ tương đồng (ví dụ: nghĩa của từ xuân trong các câu thơ trên). Theo quan hệ hoán dụ, giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển có liên hệ gần nhau (ví dụ: nghĩa của từ tay trong các câu thơ trên). II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc các câu sau, chú ý nghĩa của từ chân và trả lời các câu hỏi bên dưới: (a) Đề huề lưng túi gió trăng Sau chân theo một vài thằng con con. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) (b) Năm em học sinh lớp 9A có chân trong đội tuyển của trường đi dự “Hội khoẻ Phù Đổng”. (c) Thì ta vẫn vững như kiềng ba chân. (Ca dao) (d) Buồn trông nội cỏ dàu dàu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Từ chân được dùng với nghĩa gốc trong câu nào? Từ chân được dùng với nghĩa chuyển trong câu nào? Chỉ rõ trường hợp nào từ chân được chuyển nghĩa theo quan hệ ẩn dụ, trường hợp nào chuyển nghĩa theo quan hệ hoán dụ? Gợi ý: Tra từ điển để nắm được nghĩa gốc cũng như các nghĩa chuyển thương dùng của từ chân. Từ chân được dùng với nghĩa chuyển trong trường hợp (b) – hoán dụ, (d) – ẩn dụ. 2. Có cách định nghĩa từ trà như sau: Trà: búp hoặc lá cây chè đã sao, đã chế biến, để pha nước uống (pha trà, uống trà, trà ngon, hết tuần trà,…) Hãy so sánh với nghĩa của từ trà trong các trường hợp: trà a-ti-sô, trà hà thủ ô, trà sâm, trà linh chi, trà tâm sen, trà khổ qua (mướp đắng),… Trong các trường hợp trên, nghĩa của từ trà được chuyển theo phương thức ẩn dụ hay hoán dụ? Gợi ý: Từ trà trong các trường hợp trà a-ti-sô, trà hà thủ ô, trà sâm, trà linh chi, trà tâm sen, trà khổ qua (mướp đắng),… được dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ. 3. Nghĩa gốc của từ đồng hồ được giải thích là: dụng cụ đo thời gian một cách chính xác (đồng hồ đeo tay, đồng hồ báo thức,…). Từ đồng hồ đã được chuyển nghĩa theo cách nào trong các trường hợp: đồng hồ điện, đồng hồ nước, đồng hồ xăng,…? Gợi ý: Trong các từ đồng hồ điện, đồng hồ nước, đồng hồ xăng,…; từ đồng hồ được dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ: dung cụ đo có hình thức giống đồng hồ. 4. Các từ hội chứng, ngân hàng, sốt, vua có là từ nhiều nghĩa không? Hãy tìm những ví dụ để chứng minh. 5. Trong hai câu thơ sau, từ nào được dùng với nghĩa chuyển? Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. (Viễn Phương, Viếng lăng Bác) Gợi ý: Tra từ điển để nắm được nghĩa gốc của từ mặt trời; so sánh nghĩa của từ mặt trời trong câu thứ nhất và nghĩa của từ mặt trời trong câu thứ hai. 6. Từ mặt trời trong câu thơ Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ (Viễn Phương, Viếng lăng Bác) được chuyển theo phương thức nào? Hãy phân tích tác dụng của sự chuyển nghĩa này. Gợi ý: Từ mặt trời trong câu thơ trên được dùng theo phép ẩn dụ. Tác giả ví Bác với mặt trời là để nói điều gì? Tại sao lại có thể ví như thế? Dưới đây là bài soạn Sự phát triển của từ vựng bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Sự phát triển của từ vựng Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Sự phát triển của từ vựng
1,209
Soạn bài lớp 9: Thuật ngữ Hướng dẫn Soạn bài: Thuật ngữ Soạn bài lớp 9 học kì 1: Thuật ngữ dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về khái niệm và đặc điểm các thuật ngữ chuyên ngành và chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. THUẬT NGỮ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. THUẬT NGỮ LÀ GÌ? a) Trong hai cách giải thích nghĩa của từ nước và muối dưới đây, cách giải thích nào là cách giải thích thông thường, cách giải thích nào là của chuyên môn sâu: (1) Nước là chất lỏng không màu, không mùi, có trong sông, hồ, biển,… Muối là tinh thể trắng, vị mặn, thường tách từ nước biển, dùng để ăn. (2) Nước là hợp chất của các nguyên tố hiđrô và ôxi, có công thức là H2O. Muối là hợp chất mà phân tử gồm có một hay nhiều nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều gốc axít. Gợi ý: Có nhiều cách giải thích khác nhau trước mỗi đối tượng. Có cách giải thích thông thường và cách giải thích của những lĩnh vực chuyên môn sâu. Trong hai cách giải thích trên, cách giải thích thứ hai là cách giải thích thuật ngữ chuyên môn, đòi hỏi phải có tri thức nhất định về lĩnh vực hoá học mới hiểu được thấu đáo. b) Đọc các định nghĩa sau và cho biết chúng thuộc bộ môn nào? Thạch nhũ là sản phẩm hình thành trong các hang động do sự nhỏ giọt của dung dịch đá vôi hoà tan trong nước có chứa axít cácbôníc. Bazơ là hợp chất mà phân tử gồm có một nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều nhóm hiđrôxít. Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó. Phân số thập phân là phân số mà mẫu số là luỹ thừa của 10. Gợi ý: Các định nghĩa trên của những bộ môn khoa học khác nhau: thạch nhũ – địa lí; bazơ – hoá học; ẩn dụ – ngữ văn; phân số thập phân – toán học. Mỗi chuyên môn khoa học, công nghệ thường có những từ ngữ biểu thị những khái niệm riêng và chúng chủ yếu được sử dụng trong những văn bản khoa học, công nghệ. Đó chính các thuật ngữ. a) Trong mỗi lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, công nghệ mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị bằng một khái niệm và ngược lại, mỗi khái niệm chỉ được biểu thị bằng một thuật ngữ. Đặc điểm này phù hợp với yêu cầu về tính chính xác, thống nhất, tính quốc tế của khoa học, kĩ thuật, công nghệ. b) So sánh từ muối trong hai trường hợp sau và cho biết ở trường hợp nào từ này mang sắc thái biểu cảm? (1) Muối là tinh thể trắng, vị mặn, thường tách từ nước biển, dùng để ăn. (2) Ai ơi chua ngọt đã từng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau. Gợi ý: Muối ở trường hợp (2) được dùng theo phong cách văn bản nghệ thuật, mang sắc thái biểu cảm. Muối ở trường hợp (1) là thuật ngữ, được dùng theo ngôn ngữ khoa học, không mang sắc thái biểu cảm. c) Như vậy, thuật ngữ có tính biểu cảm không? II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Hãy điền những từ ngữ thích hợp vào chỗ trống – (…): a) (…) là tác dụng đẩy, kéo của vật này lên vật khác. b) (…) là làm huỷ hoại dần dần lớp đất đá phủ trên bề mặt đất do các tác nhân: gió, băng hà, nước chảy,… c) (…) là hiện tượng trong đó có sinh ra chất mới. d) (…) là tập hợp tất cả các từ có nét chung về nghĩa. e) (…) là nơi có dấu vết cư trú và sinh sống của người xưa. f) (…) là hiện tượng hạt phấn tiếp xúc với đầu nhuỵ. Gợi ý: lực, xâm thực, hiện tượng hoá học, trường từ vựng, di chỉ, thụ phấn. 2. Bằng những kiến thức đã học trong các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Toán học, Vật lí, Hoá học, Sinh học, hãy định nghĩa các thuật ngữ cho trước dưới đây: Lưu lượng…. Trong lực… Khí áp… Đơn chất… Thị tộc phụ hệ… Đường trung trực… Tự sự… 3. Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi: Nếu được làm hạt giống để mùa sau Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa Vui gì hơn làm người lính đi đầu Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa! (Tố Hữu, Chào xuân 67) Ở đây, từ điểm tựa có được dùng như một thuật ngữ Vật lí hay không? Thử phân tích ý nghĩa của từ điểm tựa trong đoạn thơ trên và so sánh với ý nghĩa của thuật ngữ điểm tựa trong bộ môn Vật lí. Gợi ý: Mặc dù có nét nghĩa nào đó giống với thuật ngữ điểm tựa trong Vật lí (trong vật lí, điểm tựa là điểm cố định của một đòn bẩy, thông qua đó lực tác động được truyền tới lực cản; ở đoạn thơ này, điểm tựa có nghĩa một chỗ dựa tin tưởng, gánh trọng trách) nhưng từ điểm tựa ở đây không được dùng với tư cách là một thuật ngữ Vật lí mà nó được dùng với tư cách là ngôn ngữ nghệ thuật. 4. Cho hai câu sau: a) Nước tự nhiên ở sông, hồ, ao, biển,… là một hỗn hợp. b) Đó là một chương trình biểu diễn hỗn hợp nhiều tiết mục. Từ hỗn hợp trong câu nào được dùng với ý nghĩa thuật ngữ? Biết rằng hỗn hợp hiểu theo môn Hoá học là “nhiều chất trộn lẫn vào nhau mà không hoá hợp thành một chất khác”, còn theo định nghĩa thông thường thì hỗn hợp là “gồm có nhiều thành phần trong đó mỗi thành phần vẫn không mất đi tính chất riêng của mình”. 5. “Trong Sinh học, cá voi, cá heo được xếp vào lớp thú, vì tuy những động vật này có xương sống, ở dưới nước, bơi bằng vây, nhưng không thở bằng mang mà thở bằng phổi”. Dựa vào nhận định này, hãy định nghĩa thuật ngữ cá. Gợi ý: Cá là động vật có xương sống, ở dưới nước, bơi bằng vây, thở bằng mang. Như vậy, trong ngôn ngữ thông thường của chúng ta thì từ cá (cá voi, cá heo) không mang ý nghĩa chặt chẽ như định nghĩa của sinh học. 6. Một trong những ý nghĩa cơ bản của thuật ngữ thị trường của Kinh tế học (thị: chợ – yếu tố Hán Việt) là chỉ nơi thường xuyên tiêu thụ hàng hoá; nhưng thuật ngữ thị trường (thị: thấy – yếu tố Hán Việt) của Vật lí lại khác hẳn: chỉ phần không gian mà mắt có thể quan sát được. Điều này có vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ – một khái niệm không? Vì sao? Gợi ý: Hiện tượng trên là hiện tượng đồng âm khác nghĩa vẫn thấy trong ngôn ngữ; nó chỉ vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ – một khái niệm khi thuộc cùng một lĩnh vực chuyên môn. Trong những lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, công nghệ khác nhau, có thể có những từ ngữ giống nhau về âm nhưng lại là những thuật ngữ với nội hàm khác nhau hoàn toàn. Dưới đây là bài soạn Thuật Ngữ bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Thuật Ngữ Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Thuật ngữ
1,332
Soạn bài lớp 9: Thúy Kiều báo ân báo oán Hướng dẫn Soạn bài: Thúy Kiều báo ân báo oán Soạn bài lớp 9 học kì 1: Thúy Kiều báo ân báo oán trong tác phẩm Truyện Kiều do Nguyễn Du sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về cảnh báo ân và báo oán của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng, Từ Hải, Hoạn Thư, Mã Giám Sinh… giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. THUÝ KIỀU BÁO ÂN BÁO OÁN (Trích Truyện Kiều) Nguyễn Du I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng dựng lên một cảnh báo ân báo oán. Thế nhưng, khác rất nhiều so với các câu chuyện cổ tích, cảnh báo ân báo oán trong Truyện Kiều không đơn giản là sự thể hiện khát vọng công lí của nhân dân. Sức hấp dẫn của đoạn trích thể hiện chủ yếu ở khả năng khắc hoạ tâm lí nhân vật của nhà thơ. Cả đoạn trích gồm 34 câu với ba nhân vật, rất ít lời miêu tả, hầu như chỉ có lời Thuý Kiều nói với Thúc Sinh, lời qua tiếng lại giữa Thuý Kiều và Hoạn Thư, vậy mà không chỉ chân dung, từ giọng điệu, tính tình của từng nhân vật đều được bộc lộ hết sức sinh động. Có thể dễ dàng nhận thấy trong đoạn trích có hai cảnh: báo ân và báo oán. 2. Chàng Thúc Sinh khi được “gươm mời đến” thì “Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run”. Thúc Sinh run vì nhiều lẽ: trước cảnh ba quân gươm giáo sáng loà – run ; được chứng kiến Thuý Kiều đã trừng trị những kẻ đã gây bao đau khổ cho đời nàng như thế nào lại càng dễ run hơn nữa. Thúc Sinh không thể nghĩ rằng mình lại được trả ân bằng “gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” bởi trong thực tế, chàng ta chẳng có công lao gì nhiều với Thuý Kiều. Ngay cả khi chứng kiến vợ mình hành hạ Thuý Kiều, Thúc Sinh cũng chỉ biết ngậm đắng nuốt cay, không biết bênh vực thế nào. Vậy tại sao Thúc Sinh lại được Thuý Kiều “báo ân” hậu hĩnh như thế? Lí giải được điều này, chúng ta sẽ hiểu thêm về Thuý Kiều, từ đó càng hiểu thêm nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du. Nhân vật Thuý Kiều đã được xây dựng rất nhất quán từ đầu đến cuối tác phẩm. Dù khi phải dằn lòng trao duyên cho Thuý Vân, khi một mình đối cảnh ở lầu Ngưng Bích hay khi có đủ vị thế để báo ân báo oán sòng phẳng thì Thuý Kiều vẫn luôn là người nặng tình nặng nghĩa: Nàng rằng: “Nghĩa nặng tình non Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không? Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân? Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân. Tạ lòng, dễ xứng báo ân gọi là…”. Lí lẽ của Thuý Kiều rất rõ ràng: đây không phải là sự báo ân mà là sự trả nghĩa, đúng hơn là trả cái tình mà Thúc Sinh đã dành cho nàng trước đây. Như vậy, đối với Thúc Sinh, Thuý Kiều đã không xử bằng lí mà bằng cái tình của nàng. Điều này có vẻ như không hợp với cách nghĩ thông thường, không thoả mãn được một số bạn đọc khó tính nhưng chính ở đây lại làm bật lên giá trị nghệ thuật của tác phẩm: Nguyễn Du đã không xây dựng nhân vật Thuý Kiều theo một công thức định sẵn. Ngược lại, ông đã tạo nên một nhân vật rất sinh động, rất đời thường. Kiều đã suy nghĩ, nói năng và hành động hoàn toàn hợp với phẩm chất và tính cách của nàng. Điều này càng được chứng minh rõ ràng hơn qua cảnh tiếp theo. Thế nhưng Nguyễn Du đã không để cho lí trí của mình dẫn dắt sự việc một cách giản đơn. Ông âm thầm chứng kiến cuộc đối đầu giữa hai người đàn bà (mà theo Thuý Kiều là “kẻ cắp, bà già gặp nhau”), thuật lại cuộc đấu khẩu của họ. Biệt tài của Nguyễn Du là khi chứng kiến và miêu tả cuộc đụng độ “nảy lửa” ấy, ông đã không thiên vị một ai, không đứng về phía nào. Ông để cho sự việc tự nó phát triển, từ đó đã tạo nên một trong những chi tiết nghệ thuật giàu chất sống, chất “tiểu thuyết” nhất của tác phẩm. Vị thế giữa hai người phụ nữ đã hoàn toàn đảo ngược. Trước đây, khi Hoạn Thư làm chủ tình thế, Thuý Kiều không những bị đánh đập mà còn bị làm nhục theo một cách thức rất riêng của Hoạn Thư. Nỗi đau tinh thần của Kiều lúc ấy còn lớn gấp hàng chục lần nỗi đau thể xác. Thế nhưng giờ đây, người làm chủ tình thế lại là Thuý Kiều. Chỉ cần nàng phẩy tay một cái, hẳn Hoạn Thuý Kiều đã khởi sự “báo oán” như thế nào? Thoắt trông nàng đã chào thưa: “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây! Đàn bà dễ có mấy tay Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan! Dễ dàng là thói hồng nhan, Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”. Ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du thật đáng nể phục. Nàng Kiều duyên dáng, thuỳ mị, “e lệ nép vào dưới hoa” ngày nào, giờ đối diện với kẻ thù, dường như đã hoá ra một con người khác. Nếu như Kiều ra lệnh trừng phạt Hoạn Thư ngay thì không có gì nhiều để bàn luận. Nhưng Kiều đang sung sướng hưởng thụ cảm giác của kẻ bề trên, đang tìm cách dùng lời nói để “rứt da rứt thịt” Hoạn Thư theo đúng cách mà trước đây mụ ta đã đối xử với nàng. Bằng giọng điệu đầy vẻ châm biếm, Kiều gọi Hoạn Thư là “tiểu thư”, cẩn thận báo cho mụ ta biết về “luật nhân quả” ở đời (“Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”). Kiều tin chắc vào chiến thắng đến mức sẵn sàng chấp nhận đấu khẩu! Thế nhưng Hoạn Thư thật xứng với danh tiếng “Bề ngoài thơn thớt nói cười – Mà trong nham hiểm giết người không dao”: Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu Khấu đầu dưới chiếu, liệu điều kêu ca. Rằng: “Tôi chút phận đàn bà, Ghen tuông thì cũng người ta thường tình…”. Giữa dáng điệu bề ngoài với lời nói bên trong của Hoạn Thư có cái gì đó rất mâu thuẫn. Nếu quả thật đã “hồn lạc phách xiêu”, Hoạn Thư khó có thể biện hộ cho mình một cách khéo léo như vậy. Không những khẳng định “ghen tuông chỉ là thói thường của đàn bà”, Hoạn Thư còn kể đến những việc mà tưởng như mụ đã “làm ơn” cho Thuý Kiều: cho ra nhà gác để viết kinh, khi Thuý Kiều trốn đã không đuổi bắt… Đó là những lí lẽ rất khôn ngoan mà Kiều khó lòng bác bỏ được. Thì ra, vẻ “hồn lạc phách xiêu” chỉ là bộ điệu mà mụ ta tạo ra để đánh vào chỗ yếu của Thuý Kiều. Đứng trước cơ hội duy nhất để có thể thoát tội, mụ đã vận dụng tất cả sự khôn ngoan, lọc lõi của mình. 4. Rốt cuộc, người thua trong cuộc đấu trí, đấu khẩu đó lại chính là Thuý Kiều. Bằng chứng là khi nghe xong những lời “bào chữa” của Hoạn Thư, Thuý Kiều đã xuôi lòng mà tha bổng cho mụ, không những thế lại còn khen: “Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời” và tự nói với mình rằng: “Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen”. Kết cục đó có thể bất ngờ với người đọc nhưng lại rất hợp lí với lô gích của tác phẩm. Đoạn “báo ân” với Thúc Sinh đã cho thấy: dù thế nào đi nữa, nàng vẫn là người phụ nữ đa sầu đa cảm, nặng tình nặng nghĩa. Một người phụ nữ như thế, thật khó có thể đối đầu được với một kẻ gian ngoan, quỷ quyệt như Hoạn Thư. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG 1. Từ Hải cứu Thuý Kiều khỏi chốn lầu xanh ô nhục, lại giúp nàng đền ơn trả nghĩa, đồng thời trừng trị những kẻ đã đày đoạn nàng những năm tháng vừa qua. Trong đoạn trích này chỉ có hai nhân vật được gọi đến là Thúc Sinh và Thuý Kiều. Tuỳ theo công và tội của mỗi người, Thuý Kiều đã cư xử rất có lí, có tình. Điều này cho thấy tấm lòng nhân hậu, vị tha của nàng. 2. Qua đoạn trích, ta càng thấy rõ thêm tài năng của Nguyễn Du trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật hầu như chỉ qua ngôn ngữ đối thoại: Lời lẽ của Thuý Kiều với Thúc Sinh: … Nghĩa nặng nghìn non Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không? Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng, Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân? Lời lẽ của Thuý Kiều với Hoạn Thư: “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây! Đàn bà dễ có mấy tay, Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan! Dễ dàng là thói hồng nhan, Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”. Lời lẽ của Hoạn Thư với Thuý Kiều: Rằng: “Tôi chút phận đàn bà, Ghen tuông thì cũng người ta thường tình. Nghĩ cho khi gác viết kinh, Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo. Lòng riêng riêng những kinh yêu, Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Dưới đây là bài soạn Thúy Kiều báo ân báo oán (Trích Truyện Kiều) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Thúy Kiều báo ân báo oán (Trích Truyện Kiều) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Thúy Kiều báo ân báo oán
1,725
Soạn bài lớp 9: Tiếng nói của văn nghệ Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Tiếng nói của văn nghệ Soạn bài: Tiếng nói của văn nghệ của tác giả Nguyễn Đình Thi dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài lớp 9: Bàn về đọc sách Soạn bài lớp 9: Phép phân tích và tổng hợp Soạn bài lớp 9: Luyện tập phân tích và tổng hợp TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ Nguyễn Đình Thi I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Đình Thi (1924-2003) là một nghệ sĩ có tài năng về nhiều mặt. Không chỉ nổi tiếng với những tác phẩm thơ, văn, nhạc, kịch, ông còn là một cây bút lý luận phê bình sắc sảo. Ông tham gia vào các hoạt động văn nghệ từ khá sớm, trên mỗi lĩnh vực đều để lại những tác phẩm nổi tiếng: Đất nước (thơ), Người Hà Nội (nhạc)… 2. Tiểu luận Tiếng nói của văn nghệ được Nguyễn Đình Thi viết năm 1948, in trong cuốn Mấy vấn đề văn học (lý luận phê bình, xuất bản năm 1956), có nội dung lý luận sâu sắc, được thể hiện qua những rung cảm chân thành của một trái tim nghệ sĩ. 3. Bài viết có bố cục khá chặt chẽ, được thể hiện qua hệ thống luận điểm lô gích, mạch lạc. Giữa các luận điểm vừa có sự tiếp nối tự nhiên vừa bổ sung, giải thích cho nhau: Văn nghệ không chỉ phản ánh thực tại khách quan mà còn là nhận thức mới mẻ, là tư tưởng, tình cảm của cá nhân nghệ sĩ. Tiếng nói của văn nghệ rất cần thiết với cuộc sống của con người, nhất là trong hoàn cảnh những năm đầu kháng chiến. Văn nghệ có khả năng cảm hoá, có sức lôi cuốn thật kỳ diệu bởi đó là tiếng nói của tình cảm, tác động tới con người qua những rung cảm sâu xa. Tác phẩm nghệ thuật phản ánh đời sống khách quan nhưng đó không phải là sự sao chép giản đơn, “chụp ảnh” nguyên xi thực tại. Trong sự phản ánh của văn nghệ có cách nhìn, cách đánh giá cuộc sống, đồng thời đó cũng là tư tưởng, là tấm lòng của người nghệ sĩ gửi gắm trong đó. Tác phẩm văn nghệ có tính giáo dục, tác động mạnh mẽ đến người đọc nhưng đó không phải là những lời thuyết lý khô khan mà ngược lại, khả năng tác động của văn nghệ bắt nguồn từ những tình cảm sâu sắc, những say sưa, vui buồn, yêu ghét… của người nghệ sĩ. Nó khiến ta rung động trước những vẻ đẹp của cuộc sống, từ đó làm thay đổi tư tưởng, tình cảm, thậm chí cả quan điểm sống, lối sống của ta. Nội dung của văn nghệ còn là những rung cảm, nhận thức của từng người tiếp nhận, được mở rộng, lan truyền từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn nghệ giúp chúng ta sống đầy đủ hơn, phong phú hơn trên phương diện tinh thần. Trong những trường hợp con người bị ngăn cách đối với đời sống, văn nghệ là sợi dây liên hệ giữa người đó với thế giới bên ngoài. Văn nghệ góp phần làm cho đời sống của chúng ta ngày càng đẹp đẽ, đáng yêu hơn. Một tác phẩm văn nghệ hay giúp con người cảm thấy yêu tin cuộc sống, biết rung cảm và ước mơ trước cái đẹp. 6. Văn nghệ tác động đến con người qua nội dung của nó và đặc biệt là còn đường mà nó đến với người đọc, người nghe: Tình cảm là một yếu tố then chốt của văn nghệ. Dù phản ánh cuộc sống nào thì một tác phẩm lớn luôn chan chứa những tình cảm sâu xa của người viết. Không có những tình cảm sâu sắc, mãnh liệt đối với đời sống, một tác phẩm dù đề cập đến những vấn đề rộng lớn đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa, ngay cả đối với bản thân người sáng tác. Sự tác động của văn nghệ đối với con người chủ yếu cũng qua con đường tình cảm. Những xúc cảm, tâm sự của tác giả đối với đời sống làm lay động cảm xúc của người đọc, người nghe. Bạn đọc được sống cuộc sống mà nhà văn miêu tả, được yêu, ghét, vui, buồn cùng các nhân vật trong đó, dần dần thay đổi suy nghĩ, quan niệm về đời sống, thậm chí thay đổi cả cách ứng xử đối với những người xung quanh. Văn nghệ khiến cho ta cảm thấy yêu cuộc sống hơn, đồng thời muốn đóng góp công sức của mình để làm cho cuộc sống ngày càng đẹp hơn. 1. Cách lập luận: Văn nghị luận cũng là một thể loại quen thuộc trong các sáng tác của Nguyễn Đình Thi. Tiếng nói của văn nghệ có thể coi là tác phẩm tiêu biểu cho các sáng tác thuộc thể loại này: Bố cục của văn bản rất chặt chẽ, hợp lý, mọi vấn đề đều được dẫn dắt tự nhiên. Cách viết giàu hình ảnh với những dẫn chứng sinh động, hấp dẫn, cả trong văn chương cũng như trong đời sống. 2. Cách đọc: Thể hiện giọng văn chân thành, say sưa, thể hiện những xúc cảm mạnh mẽ của người viết.
Soạn bài lớp 9_ Tiếng nói của văn nghệ
916
Soạn bài lớp 9: Trau dồi vốn từ Hướng dẫn Soạn bài: Trau dồi vốn từ Soạn bài lớp 9 học kì 1: Trau dồi vốn từ dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về nghĩa của từ, cách dùng từ để từ đó trau dồi vốn từ hơn giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. TRAU DỒI VỐN TỪ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Rèn luyện để nắm chắc nghĩa của từ và cách dùng từ là vô cùng quan trọng đối với việc trau dồi vốn từ. Từ đoạn trích dưới đây, hãy tự rút ra bài học về việc phải rèn luyện để trau dồi vốn từ: Ở đây tôi muốn nhấn mạnh đến cái giàu của tiếng Việt chúng ta. Tiếng Việt hiện nay có khả năng rất lớn, phải nói là khả năng vô bờ bến để diễn tả đời sống tư tưởng và tình cảm ngày càng phong phú, đẹp đẽ của dân tộc ta. Bản thân nó đã giàu, nó lại còn có khả năng biến hoá vô cùng, nếu chúng ta biết giữ nó, dùng nó, biết phát triển nó. Chúng ta có thể lấy rất nhiều ví dụ. Trong tiếng ta, một chữ có thể dùng để diễn tả rất nhiều ý; hoặc ngược lại, một ý nhưng lại có bao nhiêu chữ để diễn tả. Vì vậy, nếu nói tiếng Việt của ta có những khả năng rất lớn để diễn đạt tư tưởng và tình cảm trong nhiều thể văn thì điều đó hoàn toàn đúng. Không sợ tiếng ta nghèo, chỉ sợ chúng ta không biết dùng tiếng ta. (Phạm Văn Đồng, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt) 2. Rèn luyện để làm tăng vốn từ về số lượng Từ đoạn văn dưới đây, hãy rút ra bài học về việc trau dồi vốn từ về số lượng: Từ lúc chưa có ý thức, cho tới lúc có ý thức, chúng ta đã học chữ của Nguyễn Du chắc ai cũng đồng ý với tôi rằng nếu chữ nghĩa “Truyện Kiều” mà xoàng xĩnh thôi thì chắc Truyện Kiều, dù tư tưởng sâu xa đến đâu cũng chưa thể thành sách của mọi người. Tôi càng phục tài học với sức sáng tạo của Nguyễn Du trong chữ nghĩa, khi tôi đọc đến câu thơ ông viết ông đã ” ở trong ruộng bãi để học câu hát hay của người trồng dâu”. Đó không phải là một câu nói bóng, mà nó là một tâm sự, một kế hoạch học chữ, hay nói theo cách nói của chúng ta ngày nay: Nguyễn Du đã đi vào lời ăn tiếng nói của nhân dân, cơ sở sáng tạo ngôn ngữ của nhà thơ thiên tài đã dựa thẳng vào đấy. Xin kể lại hai ví dụ. Câu thơ Nguyễn Du có chữ “áy” (cỏ áy bóng tà…). Chữ “áy” ấy, tài giỏi đến độ dù ta không hiểu nghĩa nó cũng hiện lên sự ảm đạm. Cho tới năm trước, có dịp đi Thái Bình, về huyện Thái Ninh, tôi được biết chữ áy là tiếng vùng quê ấy. Quê vợ Nguyễn Du ở Thái Bình, Nguyễn Du đã ở lâu đất Thái Bình, “cỏ áy” có nghĩa là cỏ vàng úa. Tiếng “áy” ở Thái Bình đã vào văn chương “Truyện Kiều” và trở thành tuyệt vời. Ví dụ nữa, ba chữ “bén duyên tơ” ở “Truyện Kiều”. Thông thường, ta hiểu “bén duyên” có thể gần gũi với câu tục ngữ “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Nhưng không phải. Trong nghề ươm tơ lúc tháo con tằm lấy tơ thì người ta ngâm tằm vào nồi nước nóng, rồi đem guồng ra, vớt tơ lên quay vào guồng, lúc sợi tơ bắt đầu quay vào guồng, người nhà nghề gọi là “tơ bén”. Nếu chỉ viết “bén duyên” không thì còn có thể ngờ, chứ “bén duyên tơ” thì rõ ràng Nguyễn Du của chúng ta đã nghe, học và sáng tạo trên cơ sở công việc người hái dâu chăn tằm. Nguyễn Du đã trau dồi ngôn ngữ, đêm ngày mài dũa chữ nghĩa kì khu biết chừng nào! (Theo Tô Hoài, Mỗi chữ phải là một hạt ngọc, trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, sđd) II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Nói “Trong tiếng ta, một chữ có thể dùng để diễn tả rất nhiều ý; hoặc ngược lại, một ý nhưng lại có bao nhiêu chữ để diễn tả.” là muốn nói đến hiện tượng gì trong từ vựng? Cho ví dụ và phân tích. Gợi ý: Câu nói trên đề cập đến hiện tượng từ nhiều nghĩa và từ gần nghĩa, đồng nghĩa trong tiếng Việt. Ví dụ về hiện tượng từ nhiều nghĩa: xuân trong “Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân”; hoa trong “Hoa trôi man mác biết là về đâu?”. Ví dụ về hiện tượng gần nghĩa, đồng nghĩa: chết – hi sinh – qua đời – mất – thác – tử vong,…; cho – biếu – tặng – hiến – thí,… Để có khả năng sử dụng chính xác, linh hoạt các từ ngữ thuộc những hiện tượng này thì cần phải không ngừng trau dồi sự hiểu biết về nghĩa của từ, vốn hiểu biết thực tế, rèn luyện sử dụng từ trong những tình huống giao tiếp cụ thể,… 2. Chọn từ để điền vào chỗ trống cho thích hợp: a)… là kết quả sau cùng; … là kết quả xấu; b)… là chiếm được phần thắng; … là thu được kết quả tốt; c)… là phần thuần khiết và quý báu nhất; … là sao trên trời (nói khái quát). (tinh tú, hậu quả, đoạt) Gợi ý: hậu quả là kết quả xấu; đoạt là chiếm được phần thắng; tinh tú là sao trên trời (nói khái quát). 3. Âm tuyệt (Hán Việt) có những nghĩa thông dụng nhất như sau: (1) dứt, không còn gì; (2) cực kì, nhất. Âm này mang nghĩa nào trong mỗi trường sau: tuyệt chủng, tuyệt đỉnh, tuyệt giao, tuyệt mật, tuyệt tác, tuyệt trần, tuyệt tự, tuyệt thực, tuyệt vời. Gợi ý: (1), (2), (1), (2), (2), (2), (1), (1), (2). 4. Âm đồng (Hán Việt) có những nghĩa thông dụng nhất như sau: (1) – a: cùng nhau, b: giống nhau; (2) trẻ em; (3) (chất) đồng. Âm này mang nghĩa nào trong mỗi trường sau: đồng âm, đồng ấu, đồng bào, đồng bộ, đồng chí, đồng dạng, đồng dao, đồng khởi, đồng môn, đồng niên, đồng sự, đồng thoại, đồng tiền. Gợi ý: (1)-b, (2), (1)-a, (1)-a, (1)-a, (1)-b, (2), (1)-a, (1)-a, (1)-a, (1)-a, (2), (3). 5. Phát hiện lỗi về dùng từ trong các câu sau và sửa lại cho đúng: a) Vào đêm khuya, đường phố im lặng. b) Trong thời kì đổi mới, Việt Nam đã thành lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới. c) Những hoạt động từ thiện của ông khiến chúng tôi rất cảm xúc. d) Các nhà khoa học dự đoán những chiếc bình này đã có cách đây 2500 năm. Gợi ý: Tra từ điển để nắm được nghĩa và cách dùng các từ: im lặng, thành lập, cảm xúc, dự đoán. Đây là các từ dùng sai trong các câu trên. Có thể thay thế các từ như sau: im lặng/vắng lặng; thành lập/thiết lập; dự đoán/ước đoán. 6. Trong đoạn trích dưới đây, tác giả đã đề cập đến vấn đề gì: Hãy nghe một thanh niên nông thôn rồi nghe bà mẹ của anh hay ông nội của anh nói chuyện ta sẽ hiểu ai là người có tiếng nói giàu hình ảnh sắc màu. Chỉ một chuyện cây lúa thôi, mà biết bao là sáng tạo về ngôn ngữ: Gió bấc là duyên lúa mùa Được mùa lúa, úa mùa cau Được mùa cau, đau mùa lúa Chiêm khôn hơn mùa dại Mùa nứt nanh, chiêm xanh đầu Lúa chiêm nép ở đầu bờ Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên. Cô kĩ sư nông học ơi, nếu ngày nay cô không nói được tiếng nói như vậy nữa, thì cô có thu được mùa lúa, nhưng đã bỏ mất cả một mùa ngôn ngữ đẹp đẽ của tộc đấy. Bởi thế, tôi muốn nói, đồng thời với việc giữ gìn sự trong sáng cảu tiếng Việt, phải giữ gìn sự giàu có, muôn vàn giàu có của nó. Trong thói quen, chúng ta hay tự ti; khẳng định lại một lần nữa sự giàu có của tiếng nói dân tộc, cũng là một điều quan trọng chứ sao. (Chế Lan Viên, Làm cho tiếng nói trong sáng, giàu và phát triển, trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt) Gợi ý: So sánh với ý kiến trong đoạn trích Mỗi chữ phải là hạt ngọc của nhà văn Tô Hoài. Chế Lan Viên và Tô Hoài thống nhất với nhau về điều gì? 7. Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi: Muốn có tài liệu thì phải tìm, tức là: 1. Nghe: Lắng tai nghe các cán bộ, nghe các chiến sĩ, nghe đồng bào để lấy tài liệu mà viết. 2. Hỏi: Hỏi những người đi xa về, hỏi nhân dân, hỏi bộ đội những việc, những tình hình ở các nơi. 3. Thấy: Mình phải đi đến xem xét, mà thấy. 4. Xem: Xem báo chí, xem sách vở. Xem báo chí trong nước, báo chí nước ngoài. 5. Ghi: Những cái gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã học được, thì chép lấy để dùng mà viết […]. (Hồ Chí Minh, Cách viết, trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, sđd) Có thể vận dụng cách tìm tài liệu được nêu trong đoạn trích trên vào việc trau dồi vốn từ vựng như thế nào? Gợi ý: Có thể lấy các hình thức nghe, hỏi, thấy, xem, ghi làm phương châm trau dồi, phát triển vốn từ được không? Tại sao? Các thao tác trên là hướng dẫn việc tìm tài liệu, cần thay đổi nội dung của từng hoạt động như thế nào cho phù hợp với việc trau dồi, phát triển từ vựng? 8. Chọn các từ ngữ trong số: phương tiện, cứu giúp, mục đích cuối cùng, viện trợ, yếu điểm, điểm yếu, điểm thiếu sót, khuyết điểm, đề bạt, đề cử, đề đạt, đề xuất, láu lỉnh, láu táu, liến láu, liến thoắng, hoảng hồn, hoảng loạn, hoảng hốt, hoảng sợ; để điền vào chỗ trống trong các câu sau sao cho thích hợp: a) Đồng nghĩa với “cứu cánh” là… b) Đồng nghĩa với “nhược điểm” là… c) Trình ý kiến, nguyện vọng lên cấp trên là… d) Nhanh nhảu mà thiếu chín chắn là… e) Hoảng đến mức có những biểu hiện mất trí là… Gợi ý: Lưu ý, nghĩa của từ cứu cánh không liên quan đến cứu giúp mà chỉ mục đích cuối cùng. Phân biệt giữa điểm yếu (nhược điểm, điểm hạn chế) và yếu điểm (điểm quan trọng). Phân biệt giữa đề đạt với đề bạt, đề cử, đề xuất. Phân biệt giữa láu táu với láu lỉnh, liến láu, liến thoắng. Phân biệt giữa hoảng loạn với hoảng hồn, hoảng hốt, hoảng sợ. Có thể sử dụng từ điển để tra, so sánh nghĩa và cách sử dụng các từ. 9. Các cặp từ sau đây có gì khác nhau về nghĩa? Hãy đặt câu với mỗi từ. a) nhuận bút / thù lao; c) kiểm điểm / kiểm kê; d) lược khảo / lược thuật. Gợi ý: Nghĩa của từ nhuận bút rộng hơn hay nghĩa của từ thù lao rộng hơn? Trong trường hợp nào thì dùng nhuận bút, trường hợp nào thì dùng thù lao? Có thể nói: “Toà soạn Báo A trả thù lao cho tác giả bài viết X” được không? Tại sao? Có thể định nghĩa “Bị mất hết tất cả tiền bạc, của cải, hoàn toàn không còn gì là tay trắng” được không? Nét nghĩa “bị mất”, “không còn gì” phù hợp với từ trắng tay không phù hợp với từ tay trắng. Có thể nói “Kiểm điểm lại sách trong thư viện” được không? Vì sao? Có thể nói “Kiểm kê lại công việc trong quý I năm 2005” được không? Vì sao? Tra từ điển Hán Việt để biết nghĩa của khảo và thuật. 10. Trong tiếng Việt có các từ ghép như: kì lạ – lạ kì, nguy hiểm – hiểm nguy, thương xót – xót thương; hoặc các từ láy như: khắt khe – khe khắt, lừng lẫy – lẫy lừng,… là những từ có các yếu tố cấu tạo giống nhau và nghĩa, về cơ bản, không khác nhau. Hãy tìm thêm những từ tương tự. Gợi ý: đấu tranh – tranh đấu, thương yêu – yêu thương, tình nghĩa – nghĩa tình, chờ đợi – đợi chờ, triển khai – khai triển, màu sắc – sắc màu…; dào dạt – dạt dào, xác xơ – xơ xác, nhớ nhung – nhung nhớ, thiết tha – tha thiết, đau đớn – đớn đau, khát khao – khao khát, phất phơ – phơ phất, ngất ngây – ngây ngất,… 11. Khi sử dụng, căn cứ vào đâu để lựa chọn giữa những từ ghép và từ láy có cấu tạo giống nhau và ý nghĩa, về cơ bản, trùng nhau như trên? Gợi ý: Dựa vào ngữ cảnh (ở đây là sắc thái biểu cảm cụ thể, sự hài hoà về âm thanh với các từ ngữ khác) để lựa chọn. Có khi sử dụng từ nào là do thói quen ngôn ngữ ở từng người. 12. Cho các tiếng Hán Việt: bất (không, chẳng), bí (kín), đa (nhiều), đề (nâng, nêu ra), gia (thêm vào), giáo (dạy bảo), hồi (về, trở lại), khai (mở, khơi), quảng (rộng, rộng rãi), suy (sút, kém), thuần (ròng, không pha tạp), thủ (đầu, đầu tiên, người đứng đầu), thuần (thật, chân thật, chân chất), thuần (dễ bảo, chịu khiến), thuỷ (nước), tư (riêng), trữ (chứa, cất), trường (dài), trọng (nặng, coi nặng, coi là quý), vô (không, không có), xuất (đưa ra, cho ra), yếu (quan trọng). Với mỗi tiếng, hãy tìm hai từ ghép có chứa yếu tố đó. Gợi ý: Chú ý phân biệt nghĩa của các yếu tố đồng âm (thuần) và các tiếng gần nghĩa (bất – vô) để lựa chọn cho chính xác. Ví dụ: thuần chủng, thuần khiết, thuần nhất, thuần tuý,… (thuần: ròng, không pha tạp); thuần hậu, thuần phác,… (thuần: thật, chân thật, chân chất); thuần dưỡng, thuần phục, thuần hoá,… (thuần: dễ bảo, chịu khiến). bất biến, bất khuất, bất bại, bất nhất, bất chính,…; vô biên, vô độ, vô cùng, vô tâm, vô sự, vô tư, vô giá, vô định, vô hiệu,… Dưới đây là bài soạn Trau dồi vốn từ bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Trau dồi vốn từ Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Trau dồi vốn từ
2,532
Soạn bài lớp 9: Truyện Kiều Hướng dẫn Soạn bài: Truyện Kiều Soạn bài lớp 9 học kì 1: Truyện Kiều do Nguyễn Du sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về cuộc đời của nàng Kiều khi gia đình có biến cố, niềm khát khao được hạnh phúc của Thúy Kiều chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. “TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du có ảnh hưởng đến việc sáng tác Truyện Kiều: Thời đại có nhiều biến động: cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn đánh đổ các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh, Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân Thanh, rồi phong trào Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn được thiết lập. Những biến cố lớn lao của thời đại in dấu ấn trong sáng tác của Nguyễn Du, như chính trong Truyện Kiều ông viết: Trải qua một cuộc bể dâu – Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học: cha là Nguyễn Nhiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng; anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản từng làm quan to dưới triều Lê – Trịnh. Nhưng sớm mồ côi cha mẹ (mồ côi cha từ năm 9 tuổi, mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi). Hoàn cảnh gia đình cũng có tác động đến sáng tác của Nguyễn Du. 2. Tóm tắt Truyện Kiều theo ba phần. Có thể dựa vào gợi ý dưới đây để tóm lược nội dung chính của từng phần một cách ngắn gọn nhất: Gặp gỡ và đính ước: Kiều xuất thân như thế nào? Có đặc điểm gì về tài sắc? Kiều gặp Kim Trọng trong hoàn cảnh nào? Mối tình giữa Kiều và Kim Trọng đã nảy nở ra sao? Họ kiếm lí do gì để gần được nhau? Kiều và Kim Trọng đính ước. Gia biến và lưu lạc: Gia đình Kiều bị mắc oan ra sao? Kiều phải làm gì để cứu cha? Làm gì để không phụ tình Kim Trọng? Kiều bị bọn Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào cuộc sống lầu xanh; Kiều được Thúc Sinh cứu ra khỏi lầu xanh; Kiều trở thành nạn nhân của sự ghen tuông, bị Hoạn thư đày đoạ; Kiều trốn đến nương nhờ cửa Phật, Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà – Kiều rơi vào lầu xanh lần thứ hai; Thuý Kiều đã gặp Từ Hải như thế nào? Tại sao Từ Hải bị giết? Kiều bị Hồ Tôn Hiến làm nhục ra sao? Kiều trẫm mình xuống sông Tiền Đường, được sư Giác Duyên cứu. Kim Trọng trở lại tìm Kiều như thế nào? Tuy kết duyên cùng Thuý Vân nhưng Kim Trọng chẳng thể nguôi được mối tình với Kiều; Kim Trọng lặn lội đi tìm Kiều, gặp Giác Duyên, gặp lại Kiều, gia đình đoàn tụ; Chiều ý mọi người, Thuý Kiều nối lại duyên với Kim Trọng nhưng cả hai cùng nguyện ước điều gì? II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Rèn luyện cách tóm tắt và kể lại nội dung văn bản. Dưới đây là bài soạn Truyện Kiều của Nguyễn Du bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Truyện Kiều của Nguyễn Du Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Truyện Kiều
675
Soạn bài lớp 9: Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Hướng dẫn Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Soạn bài lớp 9 học kì 1: Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để hiểu rõ hơn về bản tuyên bố thế giới về quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9. I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Văn bản Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em gồm 17 mục, ngoài phần tuyên bố về mục đích tham dự Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em và nhận thức về nhu cầu, quyền được chăm sóc, phát triển của trẻ em, văn bản được bố cục thành ba phần: Phần Sự thách thức: phân tích thực trạng cuộc sống của trẻ em trên thế giới (trẻ em trước hiểm hoạ chiến tranh và bạo lực, trẻ em trong thảm hoạ đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh, ma tuý…); Phần Cơ hội: Chỉ ra những điều kiện thuận lợi của bối cảnh quốc tế trong việc thúc đẩy việc chăm sóc, bảo vệ quyền trẻ em; Phần Nhiệm vụ: Xác định những nhiệm vụ cần phải thực hiện của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế vì sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em. 2. Thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới đã được nêu lên ở phần Sự thách thức. Thực trạng này được khái quát theo những nội dung: Trẻ em trở thành nạn nhân của hiểm hoạ chiến tranh và bạo lực, của sự phân biệt chủng tộc, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài; Trẻ em là nạn nhân của đói nghèo và khủng hoảng kinh tế, của nạn vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp; Tình trạng trẻ em chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật, ma tuý. Những nội dung về thực trạng cuộc sống của trẻ em đặt ra những nhiệm vụ cấp bách cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế. 3. Bối cảnh quốc tế hiện nay có những điều kiện thuận lợi cơ bản để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Những điều kiện thuận lợi này được chỉ ra trong phần Cơ hội, cụ thể là: Mối liên kết về phương tiện, kiến thức giữa các quốc gia: công ước về quyền trẻ em; Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế mở ra những khả năng giải quyết những vấn đề về phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, ngăn chặn dịch bệnh, giải trừ quân bị, tăng cường phúc lợi trẻ em. 5. Bản tuyên bố cho chúng ta thấy được tầm quan trọng, tính cấp bách, toàn cầu của nhiệm vụ vì sự sống còn, quyền được bảo vệ, phát triển của trẻ em. Trên tinh thần vì tương lai của nhân loại, bản Tuyên bố đã đưa ra những nhiệm vụ cũng là chiến lược hành động một cách toàn diện cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế. Công việc này còn đòi hỏi sự quan tâm của từng gia đình, từng cá nhân trong mỗi cộng đồng. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Tuy chỉ là một trích đoạn nhưng bài viết này có thể coi là một văn bản khá hoàn chỉnh về hiện thực và tương lai của trẻ em cũng như những nhiệm vụ cấp thiết mà cộng đồng quốc tế phải thực hiện nhằm đảm bảo cho trẻ em có được một tương lai tươi sáng. Phần một (sự thách thức): thực trạng cuộc sống khốn khổ của rất nhiều trẻ em trên thế giới – những thách thức đặt ra với các nhà lãnh đạo chính trị. Phần hai (cơ hội): những điều kiện thuận lợi đối với việc bảo vệ và phát triển cuộc sống, đảm bảo tương lai cho trẻ em. Phần ba (nhiệm vụ): những nhiệm vụ cụ thể, cấp thiết cần thực hiện nhằm bảo vệ và cải thiện đời sống, vì tương lai của trẻ em. Cách đọc: Đọc bài văn bằng giọng mạnh mẽ, hùng hồn. Dưới đây là bài soạn Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em
870
Soạn bài lớp 9: Tôi và chúng ta Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Tôi và chúng ta Soạn bài lớp 9 học kì 2: Tôi và chúng ta do nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh gay gắt giữa những con người mạnh dạn đổi mới, có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm với những kẻ mang tư tưởng bảo thủ, lạc hậu trong sự chuyển mình mạnh mẽ của xã hội ta. TÔI VÀ CHÚNG TA Lưu Quang Vũ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Lưu Quang Vũ (1948-1988), sinh tại Phú Thọ, quê gốc Đà Nẵng, vừa là nhà thơ vừa là nhà viết kịch nổi tiếng. Ngòi bút viết kịch Lưu Quang Vũ rất nhạy bén, sắc sảo. Các tác phẩm của ông luôn đề cập đến những vấn đề có tính thời sự nóng hổi trong cuộc sống đương thời, đáp ứng được những đòi hỏi của đông đảo người xem trong thời kỳ xã hội đang có những biến chuyển mạnh mẽ. Thuở nhỏ Lưu Quang Vũ sống cùng gia đình ở chiến khu Việt Bắc. Hòa bình lập lại, về Hà Nội và suốt thời gian đi học sống ở đó. Năm 1965 xung phong vào bộ đội, thuộc quân chủng Phòng không Không quân. Cuối năm 1970 xuất ngũ. Những năm sau đó làm nhiều nghề khác nhau: vẽ tranh, viết báo, làm thơ… Từ tháng 8 năm 1979 cho đến khi mất, làm phóng viên tạp chí Sân khấu. Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ tài năng về nhiều mặt: thơ, truyện, phê bình sân khấu. Lĩnh vực nào cũng có những thành công nhất định. Tài năng ấy có được trước hết là do anh sinh ra và lớn trên trong một gia đình có truyền thống say mê văn học nghệ thuật, sau đó là ý thức lao động sáng tạo và tư chất văn chương của một nghệ sĩ. Từ năm 80 đến cuối đời, tài năng thơ và vốn hiểu biết về sân khấu của Lưu Quang Vũ đã kết tinh trong hơn 50 vở kịch. Lưu Quang Vũ được xem như là tác giả tiêu biểu của kịch trường Việt Nam thời kỳ những năm tám mươi của thế kỷ XX. Có những vở gây xôn xao dư luận như: Hồn Trương Ba da hàng thịt (1981), Nàng Si-ta (1982), Tôi và chúng ta (1984), Nguồn sáng trong đời (1984), Lời nói dối cuối cùng (1985)… Sự xuất hiện của Lưu Quang Vũ đã làm lu mờ đi, thậm chí vơi hẳn đi cả một thể hệ tác giả từng ngự trị sân khấu suốt một thời” (1). Bối cảnh ra đời kịch của Lưu Quang Vũ là vào những năm 80. Đây là giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh và cơ chế quan liêu bao cấp lỗi thời đã trở thành lực cản cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Cuộc đấu tranh bây giờ không chỉ là giản đơn ở hai tuyến địch – ta, mà là một cuộc đấu tranh để khẳng định cái mới, cái phù hợp với xu thế phát triển của đất nước. Việc xây dựng hình tượng con người mới trong văn học nói chung, trong kịch nói riêng cần phải thay đổi phù hợp với những chuyển động mạnh mẽ của đời sống. 2. Tác phẩm đã xuất bản: Hương Cây – Bếp lửa (thơ, in chung, 1968); Diễn viên và sân khấu (tiểu luận, in chung); Mùa hè đang đến (truyện, 1983); Người kép đóng hổ (truyện, 1984); Mây trắng của đời tôi (thơ, 1989); Bầy ong trong đêm sâu (thơ, 1993); Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ (1994); Lưu Quang Vũ đã viết khoảng hơn 50 kịch bản sân khấu đã được dàn dựng và xuất bản: Sống mãi tuổi 17 (1979); Hồn Trương Ba da hàng thịt (1984); Người tốt nhà số 5 (1981); Khoảnh khắc và vô tận (1986); Bệnh sĩ (1988); Lời thế thứ 9 (1988); Điều không thể mất (1988)… Các giải thưởng: – Bảy Huy chương vàng trong các kỳ hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc – Hai lần được Giải thưởng của Hội văn nghệ Hà Nội – Hai lần được Giải thưởng của Tổng Liên đoàn Lao động – Tặng thưởng văn học của Bộ quốc phòng 1992. 3. Mâu thuẫn trong Tôi và chúng ta không diễn ra quyết liệt, ở thế một mất một còn như mâu thuẫn giữa ta và địch trong các tác phẩm văn học kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Đó là cuộc đấu tranh âm thầm nhưng dai dẳng và không kém phần gay gắt giữa cái mới (những tư tưởng tiến bộ, cách mạng) và cái cũ, vốn chủ yếu dựa vào những quy chế, quy định lỗi thời, bảo thủ nhưng khá kiên cố. Lúc ban đầu, cái mới thường yếu thế hơn, thậm chí có khi bị cái cũ lấn át nhưng dần dần, cái mới sẽ mạnh lên và chiến thắng theo xu thế tất yếu của xã hội. 4. Qua đối tượng cụ thể là xí nghiệp Thắng Lợi, vở kịch Tôi và chúng ta phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt để thay đổi phương thức quản lý, tổ chức, lề lối hoạt động sản xuất trên đất nước ta những năm đổi mới. Khi nhiệm vụ chính đã được xác định, các nguyên tắc, quy chế, các phương thức sản xuất cũ đã trở nên quá lạc hậu, lỗi thời. Để phát triển sản xuất, cần thay đổi tư duy, thay đổi phương thức quản lý, tổ chức… từ đó đổi mới cách làm, đổi mới tư duy quản lý cũng như sản xuất. 5. Mâu thuẫn cơ bản của vở kịch Tôi và chúng ta trong đoạn trích chính là mâu thuẫn giữa những suy nghĩ, cách làm ăn mới mẻ với những cơ chế, cách làm ăn đã quá cũ kỹ, lỗi thời. Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng và rất phổ biến bởi nó xảy ra mọi nơi, mọi lúc. Không thay đổi cơ chế quản lý, không kích thích được người lao động nhiệt tình tham gia vào công việc và đóng góp công sức vào sự nghiệp chung, mọi khẩu hiệu kêu gọi cũng sẽ trở nên trống rỗng. 6. Việc miêu tả cuộc đấu tranh với tương quan lực lượng như vậy cho thấy khả năng phản ánh đúng đắn quy luật phát triển xã hội của tác giả. Khi cái mới còn chưa chứng tỏ được ưu thế và sức mạnh của mình, nó rất dễ bị cô lập. Cản trở sự vận động của cái mới là những tư tưởng cũ kĩ, bảo thủ, lạc hậu. Những con người tiêu biểu cho nếp nghĩ cũ đó một phần xuất phát từ những tư tưởng tư lợi nhưng điều chủ yếu, họ là những con người mang những nếp nghĩ quá lỗi thời, đã trở nên khô cứng. Họ sợ mọi sự đổi thay, không hẳn vì ngại cái mới làm giảm đi đi những quyền lợi vật chất mà họ đã quen được hưởng mà còn vì tư tưởng quen dựa dẫm, không dám chịu trách nhiệm trước bất cứ việc gì. Giống như người đã quen đi trên con đường nhỏ, nay sợ hãi khi bước ra đường lớn, họ đã vô tình hay cố ý trở thành vật cản của xã hội. Cuộc đấu tranh mới – cũ diễn ra theo bốn sự kiện chính: Ban đầu, khi giám đốc Việt tuyên bố đề án làm ăn mới, phái bảo thủ im lặng hoặc phản ứng một cách dè dặt. Sự im lặng ấy hàm chứa nhiều ý nghĩa. Rất có thể họ đang vờ lắng nghe nhưng thực chất là đang tìm ra những kẽ hở của đối phương để phản công. Khi giám đốc phân tích sự bất hợp lí giữa số lượng công nhân và yêu cầu thực tế của công việc, trưởng phòng tổ chức lao động bắt đầu lên tiếng. Cơ chế sản xuất cũ là cơ sở để ông ta bám vào. Cuộc tranh luận về vấn đề này đã làm bật ra một thực tế đã từng tồn tại trong thời bao cấp: các chỉ tiêu, kế hoạch được đề ra theo những cách thức chủ quan, áp đặt, hoàn toàn không căn cứ vào thực tế sản xuất. Điều đó đã được chỉ ra qua một đoạn đối thoại khá sinh động: Hoàng Việt – Cái kế hoạch sản xuất ấy ở đâu ra, anh Chính? Nguyễn Chính – Ở cấp trên ạ. Hoàng Việt – Nhưng cấp trên dưa vào đâu mà ra cái kế hoạch đó? Nguyễn Chính – Có lẽ… dựa vào cấp trên cao hơn, dĩ nhiên! Từ “Có lẽ…” đến “dĩ nhiên” là hai sắc thái hoàn toàn khác nhau. Ban đầu là phỏng đoán, ngập ngừng, sau đó là khẳng định dứt khoát. Uy lực của “cấp trên” là yếu tố khiến cho Nguyễn Chính có đủ tự tin vào lí lẽ của mình. Sự phát triển của tình thế đã cho thấy bản lĩnh của vị giám đốc mới. Nếu như trong đợt phản công trước của nhóm “bảo thủ”, Hoàng Việt chủ yếu dùng lí lẽ để bác bỏ thì trong lần thứ hai này, anh đã dùng uy quyền của mình để giải quyết vấn đề. Tất nhiên, uy quyền ấy muốn có hiệu lực phải dựa trên những lí lẽ xác đáng. Cơ sở cho những lí lẽ của giám đốc Việt là điều kiện để phát triển sản xuất mà một trong những yếu tố đó là đời sống của anh chị em công nhân. Đây có thể coi là điểm mấu chốt khiến cho đề án sản xuất mới được những người công nhân như ông Quých, bà Bộng (và những người khác sau này) đồng tình ủng hộ. Khác với hai lần trước, ở lần thứ ba này, giám đốc Việt là người chủ động tấn công. Anh tuyên bố bãi bỏ chức vụ quản đốc. Đây là một quyết định khá bất ngờ bởi chức vụ quản đốc vốn đã tồn tại từ lâu. Mặc dù vậy, bằng lí lẽ thoả đáng của mình, giám đốc Việt vẫn khiến cho quản đốc Trương hoàn toàn chịu khuất phục. Anh ta chỉ còn biết lắp bắp, ấp úng mà không thể làm gì khác (có lẽ cũng bởi quá bất ngờ). Cách dàn cảnh như vậy cũng cho thấy phần nào sự sắc sảo trong nghệ thuật viết kịch của Lưu Quang Vũ. Kịch là nghệ thuật sân khấu, vốn tối kị sự lặp lại trong các thao tác. Khai thác ba mối quan hệ khác nhau nhưng thực chất mâu thuẫn không thay đổi (vẫn là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ), tác giả đã để cho các nhân vật hoạt động theo ba cách thức khác nhau. Đây là yếu tố quan trọng đảm bảo cho vở kịch có được sức lôi cuốn liên tục. Trong mối quan hệ thứ tư, kịch tính được đẩy lên cao độ. Nếu như trong ba cuộc đấu tranh trước đó, quan hệ chủ yếu vẫn là quan hệ công việc thì lần này, không chỉ là quan hệ công việc mà còn là quan hệ con người, quan hệ chức vụ khá gần gũi giữa giám đốc và phó giám đốc. Khác với thái độ dè dặt ban đầu, thái độ của phó giám đốc Nguyễn Chính rất quyết liệt: “Nguyễn Chính – Đã cũ kĩ lạc hậu. Không đầu! Cái cơ chế mà đồng chí mạt sát ấy tồn tại bền vững mấy chục năm nay. Nhờ nó mà chúng ta có hôm nay, có chủ nghĩa xã hội như ngày hôm nay, hạt gạo đồng chí ăn, cái áo đồng chí mặc và cả chính con người đồng chí nữa đã được rèn luyện và trưởng thành trong cơ chế ấy. Đừng vội vã phủ nhận!”. Đó có thể coi là một giọng điệu khá “đanh thép” dựa trên những giá trị bền vững. Quả thật, cơ chế ấy đã từng tồn tại và không phải không có thời đã từng phát huy tác dụng, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh đòi hỏi sự tập trung nhân lực, vật lực đến mức tối đa. Tuy nhiên, điều đó không làm cho giám đốc Việt mất bình tĩnh. Quy luật vận động của xã hội đóng vai trò then chốt. Cái hôm qua là tích cực thì hôm nay đã trở nên lỗi thời. Hoàng Việt đã chiến thắng bởi anh không phủ nhận quá khứ nhưng vẫn đứng vững trên lí luận của thực tại, của quy luật vận động lịch sử. Không thể bẻ gãy được lí lẽ sắc sảo ấy, Nguyễn Chính tung ra “miếng đòn” cuối cùng: “Nguyễn Chính – Tất cả những việc đồng chí định tiến hành, không có trong nghị quyết Đảng uỷ xí nghiệp. Đảng uỷ chưa quyết định, đồng chí Việt ạ”. Cuộc đối thoại sau đó giữa Hoàng Việt và Lê Sơn như báo trước cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới chưa thể chấm dứt, nó sẽ còn diễn ra thậm chí còn gay go, quyết liệt hơn. Câu nói vui của Lê Sơn cuối đoạn trích cũng cho thấy rằng quan điểm táo bạc, tích cực của giám đốc Việt đã được nhiều người đồng tình ủng hộ và trong xu thế tất yếu, chắc chắn nó sẽ trở thành hiện thực. Cũng cần nhận thức rõ tính chất tích cực của cuộc đấu tranh này. Cái cũ là sự cản trở nhưng đồng thời cũng là động lực cho cái mới nhanh chóng phát triển và khẳng định được mình. Cuộc đấu tranh mới – cũ càng gay gắt bao nhiêu thì thắng lợi của cái mới trước cái cũ lại càng có ý nghĩa bấy nhiêu. Chỉ qua một đoạn trích, chúng ta chưa thấy được kết quả của cuộc đấu tranh ấy nhưng hiện thực cuộc sống hôm nay đã chứng tỏ tác giả có một tầm nhìn xa và khả năng dự báo xã hội chính xác. 7. Cảnh ba của vở kịch thể hiện khá rõ tính cách của các nhân vật: Giám đốc Hoàng Việt là một người lãnh đạo có tinh thần trách nhiệm cao, năng động, táo bạo, dám nghĩ dám làm vì sự nghiệp chung của nhà máy cũng như quyền lợi của anh chị em công nhân. Lê Sơn cũng là một kỹ sư có năng lực, có trình độ chuyên môn giỏi, từng gắn bó nhiều năm cùng xí nghiệp. Dù biết khó khăn nhưng anh vẫn chấp nhận, sẵn sàng cùng Hoàng Việt cải tiến toàn bộ hoạt động của đơn vị. Phó giám đốc Nguyễn Chính tiêu biểu cho loại người bảo thủ nhưng cũng rất khôn ngoan, nhiều mánh khoé. Anh ta luôn vin vào cơ chế, không muốn đổi thay những nguyên tắc dù đã rất lạc hậu. Quản đốc Trương là người suy nghĩ và làm việc như cái máy, thiếu tình người, thích tỏ ra quyền thế, hách dịch với chị em công nhân. 8. Cuộc đấu tranh trong Tôi và chúng ta là cuộc đấu tranh gay gắt giữa cái cũ và cái mới. Đó là vấn đề nóng bỏng của thực tiễn đời sống sinh động. Tuy gay go nhưng cuối cùng phần thắng sẽ thuộc về cái mới, cái tiến bộ. Cách làm việc, những chủ trương đổi mới của Việt, Lê Sơn, Thanh… phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, với nguyện vọng của anh em trong xí nghiệp, bởi vậy, những chủ trương ấy luôn được mọi người ủng hộ. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc phân vai, thể hiện các vai kịch. 2. Tóm tắt: Sau một năm về làm quyền giám đốc xí nghiệp Thắng Lợi, Hoàng Việt đã quyết định củng cố lại xí nghiệp và thực thi phương án làm ăn mới, dứt khoát không tuân thủ theo những lối mòn các nguyên tắc lạc hậu đã kìm hãm sự phát triển của xí nghiệp. Những ý kiến của Hoàng Việt về kế hoạch mở rộng sản xuất và phương án làm ăn mới của xí nghiệp không được sự đồng thuận và chia sẻ của những con người bảo thủ đang là cộng sự của mình. Những mâu thuẫn đó đã tạo nên xung đột kịch, những mâu thuẫn dồn dập giữa hai tuyến nhân vật tiên tiến và bảo thủ đã làm cho cảnh diễn trở nên hấp dẫn. Dưới đây là bài soạn Tôi và chúng ta bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Tôi và chúng ta Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Tôi và chúng ta
2,910
Soạn bài lớp 9: Tập làm thơ tám chữ Hướng dẫn Soạn bài: Tập làm thơ tám chữ Soạn bài lớp 9 học kì 1: Tập làm thơ tám chữ dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về khái niệm, cách ngắt nhịp, tạo vần khi làm thơ tám chữ giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. TẬP LÀM THƠ TÁM CHỮ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đọc các đoạn thơ sau và nhận xét về số chữ trong mỗi dòng thơ: Đoạn 1: Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Nào đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội, Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt, Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? – Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? (Thế Lữ, Nhớ rừng) Đoạn 2: Mẹ cùng cha con công tác bận không về Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học. Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc, Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa? (Bằng Việt, Bếp lửa) Đoạn 3: Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non Yêu biết mấy, những con đường ca hát Qua công trường mới dựng mái nhà son! Yêu biết mấy, những bước đi dáng đứng Của đời ta chập chững buổi đầu tiên Tập làm chủ, tập làm người xây dựng Dám vươn mình cai quản lại thiên nhiên! (Tố Hữu, Mùa thu mới) 2. Những chữ nào trong các đoạn thơ trên có chức năng gieo vần? Nhận xét về cách gieo vần trong mỗi đoạn. Gợi ý: Đối với thể thơ tám chữ, người ta có thể gieo vần theo nhiều cách (vần chân, vần lưng) nhưng phổ biến nhất vẫn là vần chân (những chữ in đậm là vị trí gieo vần); được gieo liên tiếp hoặc gián cách hoặc kết hợp cả hai. 3. Nhận xét về số dòng thơ, cách ngắt nhịp của các đoạn thơ trên. Gợi ý: Thể thơ tám chữ không gò bó về số dòng thơ, có thể được tổ chức thành các khổ thơ (thường là khổ 4 câu); cách ngắt nhịp tự do, linh hoạt. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Cho các từ ca hát, bát ngát, ngày qua, muôn hoa; hãy lựa chọn các từ này và điền vào những chỗ trống trong đoạn thơ sau sao cho phù hợp: Hãy cắt đứt những dây đàn… Những sắc tàn vị nhạt của… Nâng đón lấy màu xanh hương… Của ngày mai muôn thủa với… (Theo Tố Hữu, Tháp đổ) Gợi ý: Chú ý đảm bảo cách gieo vần của đoạn thơ. Thứ tự các từ là: ca hát, ngày qua, bát ngát, muôn hoa. 2. Điền các từ cũng mất, đất trời, tuần hoàn, mãi vào các chỗ trống trong đoạn thơ sau cho phù hợp: Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết, nghĩa là tôi…; Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật. Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn… Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại! Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi… Nên bâng khuâng tôi tiếc cả…; Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt. (Theo Xuân Diệu, Vội vàng) 3. Đoạn thơ sau trong bài Tựu trường của Huy Cận đã bị chép sai ở câu thứ ba. Em hãy chỉ ra chỗ sai trong câu thơ này, sửa lại và cho biết tại sao lại sửa như vậy. Giờ náo nức của một thời trẻ dại! Hỡi ngói nâu, hỡi tường trắng, cửa gương! Những chàng trai mười lăm tuổi vào rộn rã, Rương nhỏ nhỏ với linh hồn bằng ngọc. Gợi ý: Chữ rộn rã có đúng vần không? Thay chữ này bằng chữ nào thì đúng vần và đồng thời đảm bảo ý thơ? Nguyên tác là: Những chàng trai mười lăm tuổi vào trường. 4. Tìm những từ để điền vào chỗ trống trong đoạn thơ sau sao cho đúng thanh, đúng vần: Trời trong biếc không qua mây gợn trắng Gió nồm nam lộng thổi cánh diều xa Hoa lựu nở đầy một /…/ đỏ nắng Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay /…/ (Theo Anh Thơ, Trưa hè) Gợi ý: Chọn trong số các từ: vườn, trời, ra, qua. 5. Viết tiếp một câu thơ vào ba câu cho dưới đây để thành một khổ thơ 4 câu hoàn chỉnh. Mỗi độ thu về lòng xao xuyến lạ Nhớ nôn nao tiếng trống buổi tựu trường Con đường nhỏ tiếng nói cười rộn rã Gợi ý: Chú ý đảm bảo số chữ (tám chữ), vừa đúng vần, vừa phù hợp với ý thơ và nội dung cảm xúc của các câu trước (chữ cuối phải hợp với vần ương của chữ trường trong câu thứ hai, và phải là thanh bằng). Gợi ý: Bài thơ phải đảm bảo có vần nhịp nhưng tránh tình trạng được vần thì mất ý. Phải biết kết hợp giữa mạch cảm xúc tự nhiên và vần, nhịp. Sau khi làm xong, hãy kiểm tra lại bài thơ của mình theo định hướng sau: Bài thơ đã đúng thể thơ tám chữ chưa? Bài thơ có vần chưa? Cách gieo vần như thế nào? Bài thơ có nhịp điệu ra sao? Có phù hợp với cảm xúc không? Kết cấu bài thơ như thế nào? Các phần có thống nhất với nhau không? Em muốn nói điều gì qua bài thơ? Dưới đây là bài soạn Tập làm thơ tám chữ bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Tập làm thơ tám chữ Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Tập làm thơ tám chữ
1,038
Soạn bài lớp 9: Tổng kết về từ vựng Hướng dẫn Soạn bài: Tổng kết về từ vựng Soạn bài lớp 9 học kì 1: Tổng kết về từ vựng dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về khái niệm về từ đơn, từ ghép và cách sắp xếp các từ vào bảng phân loại giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. Tổng kết về từ vựng I. TỪ ĐƠN VÀ TỪ PHỨC 1. Về khái niệm từ đơn, từ phức Thế nào là từ đơn? Cho ví dụ và phân tích. Thế nào là từ phức? Từ phức gồm những loại nào? Cho ví dụ và phân tích. Gợi ý: Từ được cấu tạo nên bởi tiếng. Từ chỉ gồm có một tiếng là từ đơn, từ gồm hai tiếng trở lên là từ phức. Từ phức có hai loại: từ ghép và từ láy. Phức được cấu tạo bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa là từ ghép. Từ láy trong đó các tiếng có quan hệ láy âm với nhau. 2. Sắp xếp các từ vào bảng phân loại: ngặt nghèo, nho nhỏ, giam giữ, gật gù, bó buộc, tươi tốt, lạnh lùng, bọt bèo, xa xôi, cỏ cây, đưa đón, nhường nhịn, rơi rụng, mong muốn, lấp lánh TỪ LÁY “tăng nghĩa” “giảm nghĩa” Yếu tố gốc Yếu tố láy Yếu tố gốc Yếu tố láy … … … … Gợi ý: Lưu ý phân biệt giữa những từ láy phụ âm đầu với những từ ghép có các tiếng trùng nhau về phụ âm đầu. Ví dụ các từ ghép: giam giữ, bó buộc,… 3. Phân tích nghĩa của các từ láy sau đây và cho biết từ nào có sự “giảm nghĩa” từ nào có sự “tăng nghĩa” so với nghĩa của yếu tố gốc: trăng trắng, sạch sành sanh, đèm đẹp, sát sàn sạt, nho nhỏ, lành lạnh, nhấp nhô, xôm xốp. Gợi ý: Dựa vào mẫu sau: TỪ LÁY “tăng nghĩa” “giảm nghĩa” Yếu tố gốc Yếu tố láy Yếu tố gốc Yếu tố láy sạch sành sanh nhỏ nho … … … … 4. Tìm các từ dùng sai trong những câu sau và thay thế chúng bằng những từ phức thích hợp: (1) Mới tháng trước những cây trong vườn còn đang xanh tươi mà nay đã vàng. (2) Chúng tôi ân hận vì đã đối xử với họ một cách lạnh. Gợi ý: Trong câu, bên cạnh việc sử dụng các từ cho đúng nghĩa (nghĩa cơ bản) thì phải lựa chọn các từ cho thích hợp về sắc thái nghĩa, phù hợp với những từ khác và đảm bảo sự hài hoà về âm thanh. Từ xanh tươi đòi hỏi từ tương phản với nó phải là vàng úa. Để hài hoà về âm thanh và đảm bảo sắc thái biểu cảm, từ lạnh trong câu (2) phải thay bằng từ lạnh lùng hoặc các từ ngữ gần nghĩa khác. 1. Thành ngữ là gì? Gợi ý: Thành ngữ là loại cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh. Ý nghĩa đó thường là những khái niệm. 2. Thành ngữ khác tục ngữ như thế nào? Gợi ý: Tục ngữ là những tổ hợp từ biểu thị nhận định, phán đoán mang tính kinh nghiệm của dân gian. 3. Trong các tổ hợp từ dưới đây, tổ hợp từ nào là thành ngữ, tổ hợp từ nào là tục ngữ? Hãy giải thích ý nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ ấy. (1) gần mực thì đen, gần đèn thì rạng; (2) đánh trống bỏ dùi; (3) chó treo mèo đậy; (4) được voi đòi tiên; (5) nước mắt cá sấu. Gợi ý: (1) – tục ngữ; (2) – thành ngữ; (3) – tục ngữ; (4) – thành ngữ; (5) – thành ngữ. 4. Tìm các thành ngữ có yếu tố chỉ động vật. Giải thích nghĩa các thành ngữ tìm được và đặt câu với một trong các thành ngữ ấy. Gợi ý: chuột sa chĩnh gạo, được voi đòi tiên, nước mắt cá sấu, miệng hùm gan sứa, mèo mả gà đồng,… 5. Tìm các thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật. Giải thích nghĩa các thành ngữ tìm được và đặt câu với một trong các thành ngữ ấy. Gợi ý: bãi bể nương dâu, cưỡi ngựa xem hoa, lá rụng về cội, hoa cà hoa cải,… 6. Lấy hai ví dụ về việc sử dụng thành ngữ trong văn bản văn học. Gợi ý: “Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được.” (Nguyễn Dữ, Chuyện người con gái Nam Xương) III. NGHĨA CỦA TỪ 1. Nghĩa của từ là gì? Gợi ý: Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ,…) mà từ biểu thị. 2. Đọc các giải thích về nghĩa của từ sau đây và cho biết cách hiểu nào đúng, cách hiểu nào sai. Vì sao? (1) Nghĩa của từ mẹ là khái niệm “người phụ nữ, có con, nói trong quan hệ với con”; (3) Nghĩa của từ mẹ không thay đổi trong hai câu: Mẹ em rất hiền và Thất bại là mẹ của thành công. (4) Nghĩa của từ mẹ không có phần nào chung với nghĩa của từ bà. Gợi ý: Cách hiểu (1) đúng. Cách hiểu (2) không đúng vì nghĩa của từ mẹ chỉ khác với nghĩa của từ bố ở nét nghĩa “người phụ nữ”. Cách hiểu (3) không đúng vì nghĩa của từ mẹ trong câu Thất bại là mẹ của thành công có sự thay đổi theo phương thức ẩn dụ. Cách hiểu (4) không đúng vì nghĩa của từ mẹ có nét nghĩa chung với nghĩa của từ bà là “người phụ nữ”. 3. Nhận xét về các cách giải thích nghĩa của từ độ lượng: (1) đức tính rộng lượng, dễ thông cảm với người có sai lầm và dễ tha thứ. (2) rộng lượng, dễ thông cảm với người có sai lầm và dễ tha thứ. Gợi ý: (1) là cụm danh từ, không thể lấy một cụm danh từ để giải thích cho một tính từ (độ lượng). IV. TỪ NHIỀU NGHĨA VÀ HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA CỦA TỪ 1. Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa. 2. Chuyển nghĩa là hiện tượng thay đổi nghĩa của từ, tạo ra những từ nhiều nghĩa. Trong một từ nhiều nghĩa có nghĩa gốc, là nghĩa xuất hiện từ đầu, làm cơ sở để hình thành các nghĩa khác; và nghĩa chuyển, là nghĩa được hình thành trên cơ sở nghĩa gốc. 3. Phân tích nghĩa của từ hoa trong thềm hoa và lệ hoa trong hai câu thơ sau và cho biết các từ này đã được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Nỗi mình thêm tức nỗi nhà, Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Gợi ý: Từ hoa trong thềm hoa và lệ hoa đều được dùng với nghĩa chuyển. 4. Có thể coi hiện tượng chuyển nghĩa từ hoa trong hai câu thơ trên là hiện tượng thay đổi nghĩa của từ làm xuất hiện từ nhiều nghĩa mới chưa? Tại sao? Gợi ý: Bất cứ sự chuyển nghĩa nào cũng tạo ra cho từ được chuyển nghĩa những ý nghĩa mới. Nhưng để có thể dẫn tới hình thành được từ nhiều nghĩa mới (trở thành biểu tượng cố định, có thể đưa vào từ điển) thì phải có quá trình sử dụng, phổ biến trong giao tiếp (hoặc trong ngôn ngữ nghệ thuật). Từ hoa trong thềm hoa và lệ hoa ở hai câu thơ của Nguyễn Du là hiện tượng chuyển nghĩa rất đặc sắc, nhưng vẫn là những hiện tượng cá biệt, chưa làm biến đổi nghĩa của từ trong cách hiểu của mọi người. 1. Thế nào là từ đồng âm? Gợi ý: Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm thanh nhưng nghĩa khác xa nhau, không liên quan gì đến nhau. 2. Phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm Gợi ý: Nhiều nghĩa là hiện tượng phát triển nghĩa theo cơ chế chuyển nghĩa của từ. Nói nghĩa gốc, nghĩa chuyển là xét trong bản thân từ và việc sử dụng nó trong ngữ cảnh. Còn từ đồng âm là hiện tượng giống nhau về âm thanh, khác nhau về nghĩa của những từ khác nhau, không phải hiện tượng xảy ra trong một từ. 3. Trong hai trường hợp sử dụng từ lá và từ đường sau đây, trường hợp nào là từ nhiều nghĩa, trường hợp nào là hiện tượng đồng âm? (1) Khi chiếc lá xa cành Lá không còn màu xanh Mà sao em xa anh Trời vẫn xanh rời rợi. (Hồ Ngọc Sơn, Gửi em dưới quê làng) Công viên là lá phổi của thành phố. (2) Đường ra trận mùa này đẹp lắm (Phạm Tiến Duật, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây) Ngọt như đường. Gợi ý: Từ lá trong “lá xa cành” được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Có thể xem từ lá trong lá phổi là sự chuyển nghĩa từ lá trong “lá xa cành” được không? Từ đường trong Đường ra trận và từ đường trong Ngọt như đường có quan hệ gì với nhau về nghĩa không? Đó là những từ giống nhau về âm thanh nhưng mang những nội dung sự vật hoàn toàn khác nhau. Dưới đây là bài soạn Tổng kết về từ vựng bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Tổng kết về từ vựng Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Tổng kết về từ vựng
1,643
Soạn bài lớp 9: Viếng lăng Bác Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Viếng lăng Bác Soạn bài: Viếng lăng Bác do Viễn Phương sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. VIẾNG LĂNG BÁC Viễn Phương I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nhà thơ Viễn Phương sinh năm 1928, quê ở tỉnh An Giang. Ông là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Thơ Viễn Phương thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm, khá quen thuộc với bạn đọc thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ. 2. Bài thơ Viếng lăng Bác được viết khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng xong, đất nước thống nhất, đồng bào miền Nam đã có thể thực hiện được mong ước ra viếng Bác. Trong niềm xúc động vô bờ của đoàn người vào lăng viếng Bác, Viễn Phương đã viết bài thơ này. 3. Cảm xúc bao trùm trong bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào xen lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác. Giọng điệu trong bài thơ là giọng thành kính, trang nghiêm trong những suy tư trầm lắng. Cảm xúc đó được thể hiện theo trình tự cuộc vào lăng viếng Bác. Mở đầu là cảm xúc về cảnh bên ngoài lăng, tiếp đó là cảm xúc trước hình ảnh dòng người bất tận ngày ngày vào lăng viếng Bác. Nỗi xúc động thiêng liêng khi vào lăng được gợi lên từ những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng: mặt trời, vầng trăng, trời xanh. Trong khổ thơ cuối, tác giả thể hiện niềm mong ước thiết tha muốn tấm lòng mình mãi mãi ở lại bên lăng Bác. 4. Hàng tre là hình ảnh đầu tiên được tác giả miêu tả trong bài thơ. Đây là hình ảnh thực nhưng đồng thời cũng có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Đó là hình ảnh thân thuộc của làng quê, của đất nước Việt Nam, một biểu tượng của dân tộc Việt Nam kiên cường, bất khuất, bền bỉ. Cuối bài thơ, hình ảnh hàng tre còn được lặp lại với ý nghĩa cây tre trung hiếu. Đó cũng là một phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Cách kết cấu như vậy gọi là kết cấu đầu cuối tương ứng, làm đậm nét hình ảnh, gây ấn tượng sâu sắc và cảm xúc được nâng cao lên. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. Hình ảnh mặt trời trong câu thơ thứ hai vừa nói lên sự vĩ đại của Bác Hồ vừa thể hiện được sự thành kính của nhà thơ và của cả dân tộc đối với Bác. Đến hai câu tiếp theo, hình ảnh “dòng người đi trong thương nhớ” là thực nhưng “Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” lại là một ẩn dụ đẹp và rất sáng tạo, thể hiện sâu sắc những tình cảm thành kính, thiêng liêng của nhân dân đối với Bác. Đến khổ thứ ba, dòng người đang yên lặng đi qua linh cữu Bác trong nỗi nhớ thương và xót xa vô hạn. Không khí tĩnh lặng, khung cảnh yên tĩnh nơi đây đã khiến cho ngay cả hình ảnh thơ cũng thay đổi: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Hình ảnh mặt trời rực đỏ trong lăng đã được thay bằng vầng trăng “sáng dịu hiền”. Sự thay đổi ấy thể hiện rất nhiều ý nghĩa. Bác không chỉ là một người chiến sĩ cách mạng, là ngọn đuốc sáng soi đường cho dân tộc (ý nghĩa biểu tượng từ mặt trời), Bác còn là một người Cha có “đôi mắt Mẹ hiền sao!”. Hình ảnh vầng trăng còn gợi ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng của Người. Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim. Đây là những câu thơ hết sức chân thành, mãnh liệt. Tình cảm mãnh liệt của tác giả đã khiến cho câu thơ vượt lên trên ý nghĩa biểu tượng thông thường, đồng thời tạo nên một mạch liên kết ngầm bên trong. Hình ảnh Bác được ví với mặt trời rực rỡ, với mặt trăng dịu mát, êm đềm và với cả trời xanh vĩnh cửu. Đó đều là những vật thể có ý nghĩa trường tồn gần như là vĩnh viễn nếu so với đời sống của mỗi cá nhân con người. Mặc dù vậy, tác giả vẫn thốt lên: “Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Đó là lời giãi bày rất thực, xuất phát từ những tình cảm mãnh liệt của nhân dân, đồng bào đối với Bác. Thông thường, trong những hoàn cảnh tương tự, việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ là một thủ pháp nhằm giảm nhẹ nỗi đau tinh thần. Mặc dù vậy, tác giả thốt lên: “Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Dường như nỗi đau quá lớn khiến cho những hình ảnh ẩn dụ trở nên không còn ý nghĩa, chỉ có cách diễn tả trực tiếp tâm trạng mới có thể giúp nhà thơ giãi bày tình cảm của mình. Khổ thơ cuối thể hiện ước nguyện của nhà thơ được mãi mãi ở bên Bác. Đã đến giờ phút phải chia tay, tác giả chỉ có thể biểu hiện tấm lòng mình bằng ước muốn hoá thân vào những cảnh vật, sự vật ở bên Bác: muốn làm con chim cất cao tiếng hót, muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây, và nhất là muốn làm cây tre trung hiếu để có thể mãi mãi ở bên Bác. Thể hiện giọng đọc bài này cần chú ý: Giọng điệu trong bài thơ thể hiện rất nhiều tâm trạng: đó là giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lắng vừa xót xa, tha thiết lại chan chứa niềm tin và lòng tự hào, thể hiện đúng những tâm trạng bộn bề của bao người khi vào lăng viếng Bác. Bài thơ sử dụng thể 8 chữ là chủ yếu nhưng có những câu 7 chữ hoặc 9 chữ. Nhịp điệu trong thơ chậm rãi, khoan thai, diễn tả khá sát hình ảnh đoàn người đang nối nhau vào cõi thiêng liêng để được viếng Bác, để được nghiêng mình thành kính trước vong linh của một người Cha nhưng cũng đồng thời là một vị anh hùng dân tộc. Hình ảnh thơ trong bài rất sáng tạo, vừa cụ thể, xác thực vừa giàu ý nghĩa biểu tượng. Những hình ảnh ẩn dụ như hàng tre, mặt trời, vầng trăng, trời xanh… tuy đã rất quen thuộc nhưng khi đi vào bài thơ này đã thể hiện được những ý nghĩa rất mới mẻ, có sức khái quát cao đồng thời cũng chan chứa tình cảm của tác giả, của đồng bào miền Nam nói riêng và nhân dân cả nước nói chung đối với Bác. Dưới đây là bài soạn Viếng lăng Bác bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Viếng lăng Bác Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Viếng lăng Bác
1,297
Soạn bài lớp 9: Xưng hô trong hội thoại Hướng dẫn Xưng hô trong hội thoại Soạn bài lớp 9 học kì 1: Xưng hô trong hội thoại dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về cách dùng từ ngữ xưng hô trong hội thoại đúng ngữ cảnh nhất và chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Từ ngữ xưng hô và việc sử dụng từ ngữ xưng hô a) Hãy kể ra một số từ ngữ thường dùng để xưng hô trong tiếng Việt. Gợi ý: Thường ngày em vẫn dùng những từ ngữ nào để xưng hô (xưng mình và gọi người khác)? Ví dụ: tôi – chúng tôi; bạn – các bạn; nó – chúng nó (họ); ta – chúng ta; anh, bác, ông – các anh, các bác, các ông; tao – chúng tao; mày – chúng mày; anh ấy, chị ấy,… b) Xác định từ ngữ xưng hô trong hai đoạn trích sau: (1) Dế Choắt nhìn tôi mà rằng: – Anh đã nghĩ thương em như thế thì hay là anh đào giúp cho em một cái ngách sang bên nhà anh, phòng khi tắt lửa tối đèn có đứa nào đến bắt nạt thì em chạy sang… Chưa nghe hết câu, tôi đã hếch răng lên, xì một hơi rõ dài. Rồi, với bộ điệu khinh khỉnh, tôi mắng: – Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ! Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết! Tôi về, không chút bân tâm. (2) Choắt không dậy được nữa, nằm thoi thóp. Thấy thế, tôi hốt hoảng quỳ xuống, nâng đầu Choắt lên mà than rằng: – Nào tôi đâu biết cơ sự lại ra nông nỗi này! Tôi hối lắm! Tôi hói hận lắm. Anh mà chết là chỉ tại cái tội ngông cuồng dại dột của tôi. Tôi biết làm thế nào bây giờ? Tôi không ngờ Dế Choắt nói với tôi một câu thế này: – Thôi, tôi ốm yếu quá rồi, chết cũng được. Nhưng trước khi nhắm mắt, tôi khuyên anh: ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy. (Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí) Gợi ý: Dế Mèn (nhân vật kể chuyện) tự xưng là gì? Dế Choắt xưng hô thế nào với Dế Mèn? Dế Mèn xưng hô thế nào với Dế Choắt? Dế Mèn – nhân vật kể chuyện xưng “tôi”; Dế Mèn xưng hô với Dế Choắt: ta – chú mày trong đoạn trích (1), tôi – anh trong đoạn trích (2). Dế Choắt xưng hô với Dế Mèn: em – anh trong đoạn trích (1), tôi – anh trong đoạn trích (2). c) So sánh cách xưng hô giữa hai nhân vật Dế Mèn – Dế Choắt trong hai đoạn trích. Sự thay đổi cách xưng hô giữa hai nhân vật trong hai đoạn trích trên có ý nghĩa như thế nào? Gợi ý: Sự thay đổi cách xưng hô giữa hai nhân vật trong hai đoạn trích cho thấy sự thay đổi về vị thế của các nhân vật này trong hai tình huống giao tiếp. Phân tích mối quan hệ giữa hai nhân vật trong hai đoạn trích để thấy được tính chất khác nhau giữa hai tình huống giao tiếp. Giữa hai đoạn trích, trong câu chuyện đã có biến cố gì xảy ra? Biến cố này có ảnh hưởng gì đến sự thay đổi trong cách xưng hô của Dế Mèn và Dế Choắt? Ở đoạn tích thứ nhất, có sự bình đẳng không trong cách xưng hô của hai nhân vật giao tiếp? Tại sao Dế Mèn và Dế Choắt lại thay đổi cách xưng hô với nhau trong đoạn trích thứ hai? Gợi ý: Lưu ý đến tình huống giao tiếp và mối quan hệ giữa người nói với người nghe trong tình huông giao tiếp để lựa chọn từ ngữ xưng hô cho thích hợp. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Một vị giáo sư Việt Nam nhận được một tấm thiếp mời dự đám cưới của một nữ sinh viên người châu Âu đang học tiếng Việt, trên tấm thiếp mời có ghi: Ngày mai, chúng ta làm lễ thành hôn, mời thầy đến dự. Các từ ngữ được dùng trong câu trên có đúng không? Người viết đã phạm phải sai lầm gì? Gợi ý: Cần phân biệt các phương tiện từ ngữ chỉ ngôi: chúng ta: gồm cả người nói và người nghe; chúng tôi/chúng em: không gồm người nghe; chúng mình: có thể gồm người nghe hoặc không. Việc dùng từ xưng hô chúng ta trong câu trên có thể dẫn đến sự hiểu lầm nào? Cần dùng từ nào để xưng trong tình huống này? Vì sao? 2. Lưu ý về cách dùng từ ngữ xưng hô trong các văn bản khoa học: Trong các văn bản khoa học, mặc dù có khi tác giả của văn bản chỉ gồm 1 người nhưng người ta vẫn xưng là chúng tôi. Việc dùng chúng tôi trong những trường hợp này là có dụng ý làm tăng tính khách quan trong ngôn ngữ khoa học và thể hiện sự khiêm tốn của tác giả. Cũng có khi tác giả của văn bản khoa học xưng tôi, khi đó người viết (nói) muốn nhấn mạnh quan điểm riêng của mình trước một vấn đề nào đó hoặc có ý bộc lộ tính chủ quan của ý kiến. 3. Đọc đoạn trích sau và nhận xét về cách xưng hô của cậu bé Gióng với mẹ và với sứ giả: Đứa bé nghe tiếng rao, bỗng dưng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo: “Ông về tâu vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. (Thánh Gióng) Điều gì được thể hiện trong cách xưng hô ấy? Gợi ý: So sánh cách xưng hô giữa cậu bé Gióng với mẹ và với sứ giả. Cách xưng hô của cậu bé Gióng với sứ giả (ông – ta) có gì khác thường không? Điều này có liên quan gì đến sự ra đời khác thường của cậu bé trong câu chuyện? 4. Đọc câu chuyện sau và trả lời câu hỏi: Chuyện kể rằng có một danh tướng trên đường kinh lí, một hôm đi ngang qua trường học cũ của mình, ông ghé vào thì gặp lại người thầy từng dạy ông ở lớp 1. Ông kính cẩn thưa: – Thưa thầy, thầy còn nhớ em không? Em là… Người thầy giáo già hoảng hốt: – Thưa ngài, ngài là… – Thưa thầy, với thầy, em vẫn là đứa học trò cũ. Em có được những thành công hôm nay là nhờ sự giáo dục của thầy ngày nào… Cách xưng hô của danh tướng với người thầy như thế nào? Cách xưng hô của người thầy với học trò cũ của mình có gì khác thường không? Tại sao lại như vậy? Gợi ý: Cách xưng hô của vị tướng đối với thầy của mình thể hiện thái độ tôn trọng người đã dạy dỗ mình. Cách xưng hô của người thầy với vị tướng thể hiện sự khiêm tốn, lịch sự và thể hiện sự tôn trọng người đối thoại với mình. Câu chuyện trên khuyên chúng ta phải biết “tôn sư trọng đạo”. 5. Đọc đoạn trích sau và cho biết Bác đã xưng hô với nhân dân như thế nào? Cách xưng hô ấy thể hiện điều gì? Đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đến nửa chừng, Bác dừng lại và bỗng dưng hỏi: – Tôi nói, đồng bào nghe rõ không? Một triệu con người cùng đáp, tiếng dậy vang như sấm: – Co.o.ó…! Từ giây phút đó, Bác cùng với cả biển người đã hoà làm một… (Võ Nguyên Giáp kể, Hữu Mai ghi, Những năm tháng không thể nào quên) Gợi ý: Tra từ điển Hán Việt để hiểu được nghĩa của từ đồng bào. Việc Bác Hồ, người đứng đầu nhà nước Việt Nam lúc bấy giờ, xưng tôi và gọi nhân dân là đồng bào thể hiện sự gần gũi, gắn bó, bình đẳng trong quan hệ giữa lãnh tụ và nhân dân. 6. Trong đoạn trích sau, những từ ngữ nào được dùng để xưng hô? Gõ đầu roi xuống đất, cai lệ thét bằng giọng khàn khàn của người hút nhiều xái cũ: – Thằng kia! Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à? Nộp tiền sưu! Mau! Hoảng quá, anh Dậu vội để bát cháo xuống phản và lăn đùng ra đó, không nói được câu gì. Người nhà lí trưởng cười một cách mỉa mai: – Anh ta lại sắp phải gió như đêm qua đấy! Rồi hắn chỉ luôn vào mặt chị Dậu: – Chị khất tiền sưu đến chiều mai phải không? Đấy! Chị hãy nói với ông cai, để ông ấy ra đình kêu với quan cho! Chứ ông lí với tôi thì không có quyền dám cho chị khất một giờ nào nữa! Chị Dậu run run: – Nhà cháu đã túng lại đóng cả suất sưu của chú nó nữa, nên mới lôi thôi như thế. Chứ cháu có dám bỏ bễ tiền sưu của của nhà nước đâu? Hai ông làm phúc nói với ông lí cho cháu khất… Cai lệ không để cho chị được nói hết câu, trợn ngược hai mắt, hắn quát: – Mày định nói cho cha mày nghe đấy à? Sưu của nhà nước mà dám mở mồm xin khất! Chị Dậu vẫn thiết tha: – Khốn nạn! Nhà cháu đã không có, dẫu ông có chửi mắng cũng đến thế thôi. Xin ông trông lại! Cai lệ vẫn giọng hầm hè: – Nếu không có tiền nộp sưu cho ông bây giờ, thì ông sẽ dỡ cả nhà mày đi, chửi mắng thôi à! Rồi hắn quay ra bảo anh người nhà lí trưởng: – Không hơi đâu mà nói với nó, trói cổ thằng chồng nó lại, điệu ra đình kia! Người nhà lí trưởng hình như không dám hành hạ một người ốm nặng, sợ hoặc xảy ra sự gì, hắn cứ lóng ngóng, ngơ ngác, muốn nói mà không dám nói. Đùng đùng, cai lệ giật phắt cái thừng trong tay anh này và chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu: Chị Dậu xám mặt, vội vàng đặt con xuống đất, chạy đến đỡ lấy tay hắn: – Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho! – Tha này! Tha này! Vừa nói hắn vừa bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi lại sấn đến để trói anh Dậu. Hình như tức quá không thể chịu được, chị Dậu liều mạng cự lại: – Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ! Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu. Chị Dậu nghiến hai hàm răng: – Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem! (Ngô Tất Tố, Tắt đèn) 7. Cuộc đối thoại trong đoạn trích trên diễn ra giữa những nhân vật nào? Các nhân vật này có vị thế xã hội, tính cách ra sao? Điều này có liên quan gì đến cách xưng hô? 8. Trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ, Ngô Tất Tố đã rất thành công khi xây dựng tình huống truyện đầy kịch tính, thể hiện rõ cá tính của các nhân vật. Hãy phân tích cách xưng hô của các nhân vật trong lời thoại để thấy được điều này. Gợi ý: Đọc lại đoạn trích Tức nước vỡ bờ và ôn lại những kiến thức khi đọc văn bản này. Tham khảo đoạn văn sau để hiểu được ý nghĩa của cách dùng đại từ xưng hô trong đoạn trích trên: “Thoạt đầu chị xưng cháu gọi cai lệ bằng ông. Nhưng đáp lại những lời lẽ thấu tình đạt lí của chị là: Mày định nói cho cha mày nghe đấy à?”, rồi: “Ông sẽ dỡ cả nhà mày đi”, chưa hết: “Đùng đùng, cai lệ giật phắt cái thừng trong tay anh này và chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu”. Đến lúc này, chị Dậu vẫn một mực tha thiết: “Cháu van ông,… ông tha cho!”. Đến mức như thế nhưng cai lệ không những không mủi lòng mà còn đấm vào ngực chị Dậu mấy đấm. Đến đây, bắt đầu thấy những dấu hiệu của sự phản kháng: chị xưng tôi, gọi cai lệ là ông. Không thể chịu được nữa, chị Dậu đã đứng lên, với vị thế của kẻ ngang hàng, trực diện với kẻ thù. Quá trình diễn biến ấy được đẩy lên đỉnh điểm, kịch tính đã hết mức căng thẳng khi tên cai lệ tát “đánh bốp” vào mặt chị Dậu. Thế là thực sự bắt đầu một giai đoạn mới của sự phản kháng, chị xưng bà gọi mày với tên cai lệ. Từ cháu – ông đến tôi – ông và đến đây là bà – mày, niềm căm phẫn đang bốc lên ngùn ngụt trong người phụ nữ nông dân ấy.” (Theo Nguyễn Trọng Hoàn – cb, Rèn kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh lớp 8) Dưới đây là bài soạn Xưng hô trong hội thoại bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Xưng hô trong hội thoại Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Xưng hô trong hội thoại
2,314
Soạn bài lớp 9: Ánh trăng Hướng dẫn Soạn bài: Ánh trăng Soạn bài lớp 9 học kì 1: Ánh trăng dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của ánh trăng của Nguyễn Duy đã mang sức sáng nối liền giữa quá khứ và hiện tại và là tấm gương để soi lòng, sự thức tỉnh bừng ngộ chân lý giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. ÁNH TRĂNG Nguyễn Duy I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Ánh trăng của Nguyễn Duy mang sức sáng nối liền quá khứ – hiện tại, là tấm gương trăng để soi lòng. Con người của gốc lúa bờ tre, của nắng nỏ trời xanh, của lời ru trọn kiếp người không đi hết, của “Nước chè tươi rót vàng mơ” ấy thường hay giật mình giữa chốn đô hội ồn ào: Tắc kè… tắc kè… tôi giật mình […] cái âm thanh của rừng lạc về thành phố […] Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia” (Nghe tắc kè kêu trong thành phố) 2. Những năm tháng “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã trở thành nguồn mạch hồi ức thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Cho nên chỉ một tiếng tắc kè kêu cũng đủ khơi cho nguồn mạch ấy dào dạt chảy. Thì ra, người vốn thiết tha với đồng quê bình dị, say sưa với ca dao hò vè cũng là người ân tình với quá khứ gian lao, nặng lòng với núi rừng một thủa. Với Ánh trăng, Nguyễn Duy lại thêm một cái “giật mình”. Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. Mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ. Trăng hiện diện trong quá khứ, đột ngột sáng trong hiện tại và mặc nhiên vằng vặc trong suy ngẫm nhân tình. Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa Con người và thiên nhiên hài hoà trong mối kết giao tri kỉ, thuỷ chung. Từ những năm tháng tuổi thơ bươn trải nhọc nhằn gắn bó với đồng, với sông rồi với bể cho đến những năm tháng chiến tranh gian khổ sống với rừng, bao giờ trăng cũng gần gũi, thân thiết. Giữa con người với thiên nhiên, với trăng là mối quan hệ chung sống, quan hệ thâm tình khăng khít. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của kí ức chan hoà tình nghĩa. Người ta cứ đinh ninh về sự bền chặt của mối giao tình ấy, nhưng: Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện, cửa gương đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa hình ảnh vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trong quá khứ và vầng trăng “như người dưng qua đường” trong hiện tại. Sự đối lập này diễn tả những đổi thay trong tình cảm của con người. Thủa trước, ta hồn nhiên sống với đồng, với sông, với bể, với gian lao “ở rừng”, khi ấy trăng chan hoà tình nghĩa, thiên nhiên và con người gần gũi, hoà hợp. Bây giờ, thói quen cuộc sống phương tiện đủ đầy khiến ta không còn thấy trăng là tri kỉ, nghĩa tình nữa. Nhà thơ nói về trăng là để nói thế thái, nhân tình. Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại luôn có những bất trắc. Và chính trong những bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc người ta nhận thấy giá trị của quá khứ gian lao mà tình nghĩa, thiếu thốn mà đủ đầy: Thình lình đèn điện tắt phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn Đây là khổ thơ quan trọng trong cấu tứ của toàn bài, là sự chuyển biến có ý nghĩa bước ngoặt của mạch cảm xúc, bộc lộ rõ chủ đề tư tưởng của bài thơ. 3. Không chỉ là sự thay thế đúng lúc của ánh trăng cho ánh điện, ở đây còn là sự thức tỉnh, bừng ngộ về ý nghĩa của những ngày tháng đã qua, của những cái bình dị của cuộc sống, của tự nhiên, là sức sống vượt ra ngoài không gian, thời gian của tri kỉ, nghĩa tình. Các từ “bật tung”, “đột ngột” diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ. Có cái gì như thảng thốt, lo âu trong hình ảnh “vội bật tung cửa sổ”. Vầng trăng tròn đâu phải khi “đèn điện tắt” mới có? Cũng như những tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi. Và thế là trong cái khoảnh khắc “thình lình” đối diện với trăng ấy, ân tình xưa “rưng rưng” sống dậy, thổn thức lòng người: Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng Đối diện với trăng là đối diện với chính mình, với con người hiện tại và cả với con người trong quá khứ. Sự đồng hiện thời gian – không gian/trăng – người được thể hiện bằng ngôn ngữ lập thể. Vầng trăng mang ý nghĩa biểu tượng. Mặt trăng đối diện với mặt người, mặt trăng cũng là mặt người, là quá khứ đang sáng trong thực tại, trăng là tri kỉ, ân tình xưa,… II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG 1. Hình ảnh thơ trong bài có tính biểu tượng. Hiểu được ý nghĩa của hình ảnh ánh trăng, mới hiểu được cảm xúc ân tình với quá khứ gian lao, tình nghĩa của tác giả và từ đó rút ra bài học về cách sống cho bản thân. 2. Khi đọc, cần chú ý sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự trong bố cục, giữa ý nghĩa cụ thể và ý nghĩa khái quát của hình tượng thể hiện trong bài thơ. Dưới đây là bài soạn Ánh trăng bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Ánh trăng Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Ánh trăng
1,172
Soạn bài lớp 9: Ôn tập về thơ Hướng dẫn Soạn bài Ôn tập về thơ Soạn bài lớp 9: Ôn tập về thơ được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các bạn cùng tham khảo soạn bài mẫu dưới đây Soạn bài: Ôn tập về thơ Câu 1: Lập bảng kê các tác phẩm thơ hiện đại ở Ngữ văn 9. STT Tên bài thơ Tác giả Năm sáng tác Thể thơ Tóm tắt nội dung Đặc sắc nghệ thuật 1 Đồng chí Chính Hữu 1948 Tự do Tình đồng chí của những người lính dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu, được thể hiện thật tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người lính cách mạng. Chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng, giàu sức biểu cảm. 2 Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật 1969 Tự do Qua hình ảnh độc đáo – những chiếc xe không kính, khắc họa nổi bật hình ảnh những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống Mĩ với tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam. Chất liệu hiện thực sinh động, hình ảnh độ đáo; giọng điệu tự nhiên, khỏe khoắn, giàu tính khẩu ngữ. 3 Đoàn thuyền đánh cá Huy Cận 1958 Bảy chữ Những bức tranh đẹp, rộng lớn, tráng lệ về thiên nhiên, vũ trụ và người lao động trên biển cả theo hành trình chuyến ra khơi đánh cá của đoàn thuyền. Qua đó thể hiện cảm xúc về thiên nhiên và lao động, niềm vui trong cuộc sống mới. Nhiều hình ảnh đẹp, rộng lớn, được sang tạo bằng liên tưởng và tưởng tượng; âm hưởng khỏe khoắn, lạc quan. 4 Bếp lửa Bằng Việt 1963 Kết hợp bảy chứ và tám chữ Những kỉ niệm đầy xúc động về bà và tình bà cháu, thể hiện lòng kính yêu trân trọng của cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước. Kết hợp giữa biểu cảm với miêu tả và bình luận; sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà. 5 Khúc hát ru những em bé lớn lên trên lưng mẹ Nguyễn Khoa Điềm 1971 Chủ yêu là tám chữ Thể hiện tình yêu thương con của người mẹ dân tộc Tà-ôi gắn liền với lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu và khát vọng về tương lai. Khai thác điệu ru ngọt ngào, trìu mến. 6 Ánh trăng Nguyễn Duy 1978 Năm chữ Từ hình ảnh ánh trăng trong thành phố, gợi lại những năm thám đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, nhắc nhở thái độ sống tình nghĩa, thủy chung. Hình ảnh bình dị mà giàu ý nghĩa biểu tượng; giọng điệu chân thành, nhỏ nhẹ mà thấm sâu. 7 Con cò Chế Lan Viên 1962 Tự do Từ hình tượng con còn trong những lời hát ru, ngợi co tình mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với đời sống của mỗi con người. Vận dụng sáng tạo hình ảnh và giọng điệu lời ru của ca dao 8 Mùa xuân nho nhỏ Thanh Hải 1980 Năm chữ Cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên và đất nước, thể hiện ước nguyện chân thành góp mùa xuân nhỏ của đời mình vào cuộc đời chung. Thể thơ năm chứ có nhạc điệu trong sang, tha thiết, gần với dân ca; hình ảnh đẹp giản dị, những so sánh, ẩn dụ sáng tạo. 9 Viếng lăng Bác Viễn Phương 1967 Tám chữ Lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ đối với Bác Hồ trong một lần từ miền Nam ra viếng lăng Bác Giọng điệu trang trọng và tha thiết; nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm; ngôn ngữ bình dị, cô đúc. 10 Sang thu Hữu Thịnh Sau 1975 Năm chữ Biến chuyển của thiên nhiên lúc giao mùa từ hạ sang thu qua sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ. Hình ảnh thiên nhiên được gợi tả bằng nhiều cảm giác tính nhạy, ngôn ngữ chính xác, gợi cảm. 11 Nói với con Y Phương Sau 1975 Tự do Bằng lời trò chuyện với con, bài thơ thể hiện sự gắn bó, niềm tự hào về quê hương và đạo lí sống của dân tộc. Cách nói giàu hình ảnh, vừa cụ thể, gợi cảm, vừa gợi ý nghĩa sâu xa. 12 Mây và sóng Ta-go Trong tập Trẻ con – 1909 (sau đổi là Trăng non) Tự do (bản dịch) Qua lời trò chuyện của em bé với người mẹ, bài thơ thể hiện tình yêu vô hạn với mẹ và ngợi ca tình mẹ con. Lời thơ mang giọng điệu và ngôn ngữ hồn nhiên của trẻ thơ; nhiều hình ảnh đẹp, giàu sức tưởng tượng và gợi cảm. Câu 2: Có thể sắp xếp các bài thơ Việt Nam đã học theo giai đoạn lịch sử, từ 1945 đến nay: – 1945 – 1954: Đồng chí. – 1955 – 1964: Đoàn thuyền đánh cá, bếp lửa, con cò. – 1965 – 1975: Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ. – Sau 1975: Ánh trăng, Mùa xuân nho nhỏ, Viếng lăng Bác, Nói với con, Sang thu. – Các tác phẩm thơ kể trên đã tái hiện cuộc sống đất nước và hình ảnh con người Việt Nam suốt một thời kì lịch sử từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, qua nhiều giai đoạn. + Đất nước và con người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ vơi nhiều gian khổ, hi sinh nhưng rất anh hùng. + Công cuộc lao động, xây dựng đất nước và những quan hệ tốt đẹp của con người. – Nhưng điều chủ yếu mà các tác phẩm thơ đã thể hiện chính là tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của con người trong một thời kì lịch sử có nhiều biến động lớn lao, nhiều đổi thay sâu sắc: + Tình cảm yêu nước, tình quê hương. + Tình đồng chí, sự gắn bó với cách mạng, lòng kính yêu Bác Hồ. + Những tình cảm gần gũi và bền chặt của con người: Tình mẹ con, bà cháu, trong sự thống nhất với những tinh cảm chung rộng lớn. Câu 3: So sánh những bài thơ có đề tài gần gũi nhau để thấy điểm chung và riêng Dưới đây là bài soạn Ôn tập về thơ bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Ôn tập về thơ Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Ôn tập về thơ
1,157
Soạn bài lớp 9: Đoàn thuyền đánh cá Hướng dẫn Soạn bài: Đoàn thuyền đánh cá Soạn bài lớp 9: Đoàn thuyền đánh cá do Huy Cận sáng tác được VnDoc sưu tầm và chọn lọc giới thiệu tới các bạn học sinh tham khảo giúp học tốt môn Ngữ Văn lớp 9 hiểu rõ hơn vẻ đẹp kì vĩ tráng lệ của thiên nhiên mà còn luyện phân tích những hình ảnh thơ vừa cổ điển vừa mới mẻ trong bài thơ. ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ Huy Cận I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nhà thơ Huy Cận đã từng gọi bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (1958) của mình là “khúc tráng ca”. Quả đúng như vậy, bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi vẻ đẹp khoẻ khoắn của con người lao động trong sự hài hoà với vẻ đẹp tráng lệ của thiên nhiên kì vĩ. Không còn thấy dấu vết của một “nỗi buồn thế hệ” cô đơn, li tán đã từng dằng dặc, triền miên trong thơ ông hồi trước Cách mạng tháng Tám, mà tràn đầy sức sống của niềm vui lao động: Mặt trời xuống biển như hòn lửa, Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi. Hát rằng: Cá bạc biển Đông lặng Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn màu sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi! Đó là sự khác nhau của hai nguồn sống, ở hai giai đoạn sống của một tâm hồn. Đoàn thuyền đánh cá là hình ảnh của cuộc sống mới, cuộc sống mà người ta tìm thấy niềm tin vui bất diệt trong lao động. 2. Bài thơ miêu tả trọn vẹn một đêm lao động trên biển của đoàn thuyền đánh cá. Hai khổ thơ đầu là cảnh ra khơi. Khung cảnh thiên nhiên dẫu chỉ phác hoạ ít nét mà vẫn cho ta cảm nhận được vẻ chắc nịch, thấm đậm không khí khẩn trương của một buổi xuất bến ra khơi. Hai câu thơ đầu gợi tả sự vận động của thời gian, mặt trời xuống biển, từng đợt sóng gợn những nét ngang luân chuyển qua lại như then cửa và mặt trời xuống đến đâu, cánh cửa đêm như được kéo xuống đến đó. Khi những ánh sáng mặt trời tắt hẳn cũng là lúc “sóng đã cài then”, “đêm sập cửa”. Đúng thời điểm ấy, trong không gian của một đêm đã bắt đầu ấy, thênh thênh vút lên, bừng sáng tiếng hát của ngư dân. Không phải ánh sáng toát lên từ cánh buồm trắng trong một buổi mai như ở Quê hương của Tế Hanh: Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá (…) Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Mà là ánh sáng của thanh âm, của khúc hát lãng mạn cất lên từ lòng tin, từ tình yêu lao động, của sắc cá bạc đan dệt thành. Những vần trắc trong khổ thơ đầu (lửa, cửa, khơi, khơi) hoà điệu cùng khúc hát, rất có giá trị trong việc gợi tả vẻ thoáng đạt, sáng láng ấy. Một cách tự nhiên, những vần thơ mở đầu hút người đọc vào không khí lao động của ngư­ dân lúc nào không hay. 3. Bốn khổ thơ tiếp theo là cảnh lao động trên biển đêm. Những khổ thơ này tập trung nhiều hình ảnh tráng lệ, vẻ tráng lệ đã được gợi ra từ đầu bài thơ với hình ảnh “Mặt trời… như hòn lửa”. Đến đây, cảnh đánh cá đêm trên biển được miêu tả hết sức sinh động. Đó là những động từ mạnh mẽ (lái gió, lướt, dàn đan, quẫy, kéo xoăn tay,…), là những hình ảnh gợi tả cái kì vĩ, lớn lao (mây cao, biển bằng, dặm xa, bụng biển, thế trận, vây giăng, đêm thở), là những sắc màu lộng lẫy, rực rỡ như trẩy hội, và cả những nét thơ mộng, bay bổng (buồm trăng, lấp lánh đuốc đen hồng, trăng vàng choé, sao lùa, vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông, nắng hồng,…). Vẻ đẹp của biển trời hoà quyện với vẻ đẹp của con người lao động dệt lên bức tranh tráng lệ, rạo rực sức sống, rạng rỡ vẻ đẹp giàu say lòng người. Có lẽ không ở đâu nữa vẻ đẹp và cái nguồn sống bất tận diệu kì của biển Đông lại đẹp hơn ở những câu thơ này: Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé, Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long. Chỉ một hình ảnh “Đêm thở” mà ta như thấy cả màn đêm phập phồng, thấy cả gió, cả sóng nước. Theo nhịp thở của vũ trụ, ngàn con sóng dồn đuổi ánh lên những đợt vàng sáng lấp lánh của vẩy cá phản chiếu ánh trăng, của ánh trăng, của sao… Thật huyền diệu! 4. Cá đã đầy khoang, lấp loá trong ánh rạng đông cũng là lúc đoàn thuyền kết thúc một đêm lao động. Buồm lại căng lên đón ánh nắng sớm. Khổ thơ cuối là cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá: Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. Lại một sự hoà quyện tuyệt vời giữa thiên nhiên và con người. Vẻ đẹp của bài thơ bừng lên trong ánh sáng huy hoàng, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của sức lao động đã thành thành quả, của niềm vui lao động chân chính. 5. Nhìn lại toàn bộ bức tranh mà tác giả đã miêu tả trong bài thơ, ta càng thấy rõ hình ảnh con người vừa làm chủ tự nhiên(Ra đậu dặm xa dò bụng biển; Dàn đan thế trận lưới vây giăng), vừa phô vẻ đẹp hoà quyện cùng thiên nhiên (Câu hát căng buồm cùng gió khơi; Thuyền ta lái gió với buồm trăng, Lướt giữa mây cao với biển bằng; Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời). Trong sự hài hoà ấy, vũ trụ cũng được cảm nhận cùng với sự vận động theo nhịp sống của con người: Ta hát bài ca gọi cá vào, gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Đúng như nhà thơ Huy Cận đã bày tỏ: II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận được xem là một khúc tráng ca, một bài ca lao động, dạt dào cảm hứng về thiên nhiên và đất nước, con người trước cuộc sống mới. Vì vậy, khi đọc cần chú ý thể hiện chất giọng khoẻ khoắn, sảng khoái, làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người lao động làm chủ thiên nhiên và vũ trụ. Dưới đây là bài soạn Đoàn thuyền đánh cá bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Đoàn thuyền đánh cá Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Đoàn thuyền đánh cá
1,235
Soạn bài lớp 9: Đấu tranh cho một thế giới hoà bình Hướng dẫn Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hoà bình Soạn bài lớp 9: Đấu tranh cho một thế giới hoà bình dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo. Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình sẽ giúp các bạn học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 hiểu rõ hơn về nội dung tác phẩm của tác giả G.G.Mac-ket được diễn tả trong bài “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” về việc chạy đua vũ trang của các nước trên thế giới. ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HOÀ BÌNH (G. G. Mác-két) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Luận điểm và hệ thống luận cứ của văn bản: Luận điểm: Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe doạ toàn thể loài người và sự sống trên trái đất, vì vậy đấu tranh cho hoà bình, ngăn chặn và xoá bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân là nhiệm vụ thiết thân và cấp bách của mỗi người, toàn thể loài người. Hệ thống luận cứ: Số lượng vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốn hành tinh khác nữa và phá huỷ thế thăng bằng của hệ Mặt Trời; Cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân làm mất đi khả năng sống tốt đẹp hơn của toàn thế giới. Dẫn chứng: so sánh giữa chi phí cho các lĩnh vực xã hội, cứu trợ y tế, hỗ trợ phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm, giáo dục… với chi phí khổng lồ cho việc chạy đua vũ trang, vũ khí hạt nhân từ đó chứng tỏ tính chất điên cuồng, phi lí của các hoạt động này; Chạy đua vũ trang không những là đi ngược lại lí trí của loài người mà còn đi ngược với quy luật tiến hoá của tự nhiên, phi văn minh, phản lại sự tiến bộ của xã hội loài người; Vì vậy phải chống lại chạy đua vũ trang, đấu tranh vì một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng. Xác định thời điểm cụ thể của thông tin: ngày 8 – 8 – 1986; Đưa ra số liệu cụ thể về trữ lượng đầu đạn hạt nhân: 50 000 đầu đạn hạt nhân trên khắp hành tinh; Giải thích về khả năng huỷ diệt của nó: mỗi người như đang ngồi trên 4 tấn thuốc nổ, có khả năng huỷ diệt 12 lần toàn bộ sự sống trên Trái Đất, có khả năng tàn phá tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốn hành tinh khác nữa và phá huỷ thế thăng bằng của hệ Mặt Trời. Tác giả đã sử dụng phương pháp nêu số liệu, giải thích dựa trên những tính toán lí thuyết khoa học, chính xác, cụ thể hoá để thuyết minh về nguy cơ của vũ khí hạt nhân. 3. Bằng lập luận chặt chẽ, chứng cứ rõ ràng, xác thực, tác giả đã chỉ ra sự tốn kém và tính chất phi lí của chạy đua vũ trang. Cụ thể: Lí lẽ: “Chỉ sự tồn tại của nó không thôi, cái cảnh tận thế tiềm tàng trong các bệ phóng cái chết cũng đã làm tất cả chúng ta mất đi khả năng sống tốt đẹp hơn” Dẫn chứng về chương trình không thực hiện được của UNICEF vì thiếu kinh phí; Dẫn chứng về y tế; Dẫn chứng về tiếp tế thực phẩm; Dẫn chứng về giáo dục. 4. Mác-két đã cảnh báo về nguy cơ huỷ diệt sự sống và nền văn minh một khi chiến tranh hạt nhân xảy ra, rằng chiến tranh hạt nhân không những đi ngược lại lí trí con người mà đi ngược lại cả lí trí tự nhiên. Để hiểu được nội cảnh báo này, cần phải cắt nghĩa được “lí trí con người” và “lí trí tự nhiên” ở đây là gì. Có thể hiểu “lí trí con người” là quy luật phát triển của văn minh loài người và “lí trí tự nhiên” là quy luật tiến hoá tất yếu của tự nhiên, sự sống. Từ đó để hiểu: chiến tranh hạt nhân xảy ra sẽ phá huỷ, xoá sạch những thành quả tiến hoá của văn minh loài người cũng như tiến trình tiến hoá của sự sống, tự nhiên trên Trái Đất. Luận cứ cảnh báo này được làm sáng tỏ bằng những chứng cứ với số liệu cụ thể về thời gian tiến hoá của sự sống con người và tự nhiên trong thế đối sánh với sức tàn phá của chiến tranh hạt nhân. 5. Nhan đề Đấu tranh cho một thế giới hoà bình thể hiện chủ đề của bài văn. Như vậy, vấn đề là muốn ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân thì phải xác định một thái độ hành động tích cực, đấu tranh cho hoà bình vì sự sống của chính con người. Thông điệp này của Mác-két mang ý nghĩa thời đại, có tính nhân văn sâu sắc. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Đây là một bài văn nghị luận xã hội. Tác giả nêu ra hai luận điểm cơ bản có liên quan mật thiết với nhau: Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe doạ cuộc sống trên trái đất. Nhiệm vụ cấp bách của nhân loại là phải ngăn chặn nguy cơ đó, đồng thời đấu tranh cho một thế giới hoà bình. Để làm sáng tỏ hai luận điểm trên, tác giả đã đưa ra một hệ thống lập luận chặt chẽ, đặc biệt là những dẫn chứng rất cụ thể, xác thực, giàu sức thuyết phục. Cách đọc: Bài văn có giọng tranh luận, đối thoại ngầm, hệ thống lập luận, dẫn chứng rất ngắn gọn, súc tích, có sắc thái khẳng định mạnh mẽ. Khi đọc cần sử dụng giọng đọc mạnh mẽ, dứt khoát, rõ ràng từng ý, từng câu. Bài tiếp theo: Soạn bài Các phương châm hội thoại (Tiếp theo)
Soạn bài lớp 9_ Đấu tranh cho một thế giới hoà bình
1,008
Soạn bài lớp 9: Đối thoại và độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự Hướng dẫn Soạn bài: Đối thoại và độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự Soạn bài lớp 9 học kì 1: Đối thoại và độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về khái niệm, các hình thức đối thoại và độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. ĐỐI THOẠI VÀ ĐỘC THOẠI, ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: Có người hỏi: – Sao bảo làng chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà?… – Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy! Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to: – Hà, nắng gớm, về nào… Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. Tiếng cười nói xôn xao của đám người mới tản cư lên ấy vẫn dõi theo. Ông nghe rõ cái giọng chua lanh lảnh của người đàn bà cho con bú: – Cha tiên sư nhà chúng nó! Đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn thương. Cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát! Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi. Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà. Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lét đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ trào ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu… Ông lão nắm tay lại mà rít lên: – Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này! (Kim Lân, Làng) Gợi ý: Đối thoại là hình thức đối đáp, trò chuyện giữa hai hoặc nhiều người. Trên văn bản, đối thoại được thể hiện bằng các gạch đầu dòng ở đầu lời trao và đáp (mỗi lượt lời là một lần gạch đầu dòng). Trong ba câu đầu đoạn trích trên, có ít nhất hai người phụ nữ; mỗi lời nói đều hướng tới người đối thoại; mỗi lượt lời được đánh dấu bằng một gạch đầu dòng. Đây là hình thức đối thoại. 2. Câu “Hà, nắng gớm, về nào…” của ông Hai có phải là đối thoại không? Vì sao? Trong đoạn trích còn câu nào tương tự như vậy? Gợi ý: Đây không phải là đối thoại, vì: chỉ có một lượt lời, không tham gia vào câu chuyện của hai người đàn bà tản cư và cũng không hướng tới người đối thoại nào, không có ai đáp lại lượt lời này. Đây là lời độc thoại. Độc thoại là lời nói của một người nào đó không nhằm vào một ai hoặc nói với chính mình. Trên văn bản, khi lời độc thoại vang lên thành tiếng thì nó được đánh dấu bằng dấu gạch đầu dòng. Có thể thấy đặc điểm này qua câu độc thoại khác: “- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này!”. 3. Câu “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…” có gì giống và khác với các câu độc thoại trên? Gợi ý: Câu này giống với các câu độc thoại trên trừ hai điểm: không vang lên thành tiếng và không được đánh dấu bằng dấu gạch đầu dòng. Đây là lời độc thoại nội tâm. 4. Các hình thức đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm trong đoạn trích trên có tác dụng như thế nào trong việc tái hiện không khí của câu chuyện và thái độ những người tản cư trong buổi trưa ông Hai gặp họ? Nhà văn đã sử dụng những hình thức diễn đạt này để khắc hoạ những diễn biến tâm lí của nhân vật ông Hai ra sao? Gợi ý: Nhà văn đã sử dụng hình thức đối thoại và độc thoại để tái hiện không khí tản cư; làm cho câu chuyện sinh động như nó đang diễn ra thực sự trong thực tế; thể hiện thái độ căm phẫn, khinh bỉ của nhóm người tản cư đối với hành động phản bội của dân chợ Dầu. Đây cũng là tình huống quan trọng để nhân vật bộc lộ những diễn biến tâm lí, trạng thái tình cảm, qua đó tính cách nhân vật ông Hai được khắc hoạ rõ nét, có chiều sâu. Xét trong toàn bộ câu chuyện của truyện ngắn Làng, tình huống trên là một mốc lớn, cho thấy những biến chuyển trong con người ông Hai, có tác dụng lớn trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Phân tích tác dụng của hình thức đối thoại trong đoạn trích dưới đây: Mãi khuya, bà Hai mới chống gối đứng dậy. Bà lẳng lặng xuống bếp châm lửa ngồi tính tiền hàng. Vẫn những tiền cua, tiền bún, tiền đỗ, tiền kẹo,… Vẫn cái giọng rì rầm, rì rầm thường ngày. – Này, thầy nó ạ. Ông Hai nằm rũ ra ở trên giường không nói gì. – Thầy nó ngủ rồi à? – Gì? Ông lão khẽ nhúc nhích. – Tôi thấy người ta đồn… Ông lão gắt lên: – Biết rồi! Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi hiu hắt… (Kim Lân, Làng) Đối thoại giữa ai với ai? Trong tình huống nào? Về vấn đề gì? Thái độ của từng người tham gia đối thoại được bộc lộ ra sao? Hình thức đối thoại trong đoạn trích có gì bất thường? Cuộc đối thoại gợi ra không khí gia đình ông Hai như thế nào khi nghe tin làng mình theo giặc? Chú ý phân tích lượt lời của ông Hai, tác dụng của đối thoại trong việc thể hiện tâm trạng buồn chán, thất vọng, đau khổ của một người quá yêu làng mình. 2. Viết một đoạn văn theo chủ đề tự chọn trong đó có sử dụng cả ba hình thức đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm. Gợi ý: Có thể viết đoạn văn theo chủ đề được gợi ý trong các đề bài ở Bài văn số 3. Dưới đây là bài soạn Đối thoại và độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Đối thoại và độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Đối thoại và độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự
1,252
Soạn bài lớp 9: Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự Hướng dẫn Soạn bài lớp 9: Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự Soạn bài lớp 9 học kì I: Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn học sinh tham khảo giúp học tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Giáo án bài Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự ĐỐI THOẠI, ĐỘC THOẠI VÀ ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: Có người hỏi: – Sao bảo làng chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà?… – Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy! Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to: – Hà, nắng gớm, về nào… Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. Tiếng cười nói xôn xao của đám người mới tản cư lên ấy vẫn dõi theo. Ông nghe rõ cái giọng chua lanh lảnh của người đàn bà cho con bú: – Cha tiên sư nhà chúng nó! Đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn thương. Cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát! Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi. Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà. Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lét đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ trào ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu… Ông lão nắm tay lại mà rít lên: – Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này! (Kim Lân, Làng) Gợi ý: Đối thoại là hình thức đối đáp, trò chuyện giữa hai hoặc nhiều người. Trên văn bản, đối thoại được thể hiện bằng các gạch đầu dòng ở đầu lời trao và đáp (mỗi lượt lời là một lần gạch đầu dòng). Trong ba câu đầu đoạn trích trên, có ít nhất hai người phụ nữ; mỗi lời nói đều hướng tới người đối thoại; mỗi lượt lời được đánh dấu bằng một gạch đầu dòng. Đây là hình thức đối thoại. 2. Câu “Hà, nắng gớm, về nào…” của ông Hai có phải là đối thoại không? Vì sao? Trong đoạn trích còn câu nào tương tự như vậy? Gợi ý: Đây không phải là đối thoại, vì: chỉ có một lượt lời, không tham gia vào câu chuyện của hai người đàn bà tản cư và cũng không hướng tới người đối thoại nào, không có ai đáp lại lượt lời này. Đây là lời độc thoại. Độc thoại là lời nói của một người nào đó không nhằm vào một ai hoặc nói với chính mình. Trên văn bản, khi lời độc thoại vang lên thành tiếng thì nó được đánh dấu bằng dấu gạch đầu dòng. Có thể thấy đặc điểm này qua câu độc thoại khác: “- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này!”. 3. Câu “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…” có gì giống và khác với các câu độc thoại trên? Gợi ý: Câu này giống với các câu độc thoại trên trừ hai điểm: không vang lên thành tiếng và không được đánh dấu bằng dấu gạch đầu dòng. Đây là lời độc thoại nội tâm. 4. Các hình thức đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm trong đoạn trích trên có tác dụng như thế nào trong việc tái hiện không khí của câu chuyện và thái độ những người tản cư trong buổi trưa ông Hai gặp họ? Nhà văn đã sử dụng những hình thức diễn đạt này để khắc hoạ những diễn biến tâm lí của nhân vật ông Hai ra sao? Gợi ý: Nhà văn đã sử dụng hình thức đối thoại và độc thoại để tái hiện không khí tản cư; làm cho câu chuyện sinh động như nó đang diễn ra thực sự trong thực tế; thể hiện thái độ căm phẫn, khinh bỉ của nhóm người tản cư đối với hành động phản bội của dân chợ Dầu. Đây cũng là tình huống quan trọng để nhân vật bộc lộ những diễn biến tâm lí, trạng thái tình cảm, qua đó tính cách nhân vật ông Hai được khắc hoạ rõ nét, có chiều sâu. Xét trong toàn bộ câu chuyện của truyện ngắn Làng, tình huống trên là một mốc lớn, cho thấy những biến chuyển trong con người ông Hai, có tác dụng lớn trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm. 1. Phân tích tác dụng của hình thức đối thoại trong đoạn trích dưới đây: Mãi khuya, bà Hai mới chống gối đứng dậy. Bà lẳng lặng xuống bếp châm lửa ngồi tính tiền hàng. Vẫn những tiền cua, tiền bún, tiền đỗ, tiền kẹo,… Vẫn cái giọng rì rầm, rì rầm thường ngày. – Này, thầy nó ạ. Ông Hai nằm rũ ra ở trên giường không nói gì. – Thầy nó ngủ rồi à? – Gì? Ông lão khẽ nhúc nhích. – Tôi thấy người ta đồn… Ông lão gắt lên: – Biết rồi! Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi hiu hắt… (Kim Lân, Làng) Gợi ý: Đối thoại giữa ai với ai? Trong tình huống nào? Về vấn đề gì? Thái độ của từng người tham gia đối thoại được bộc lộ ra sao? Hình thức đối thoại trong đoạn trích có gì bất thường? Cuộc đối thoại gợi ra không khí gia đình ông Hai như thế nào khi nghe tin làng mình theo giặc? Chú ý phân tích lượt lời của ông Hai, tác dụng của đối thoại trong việc thể hiện tâm trạng buồn chán, thất vọng, đau khổ của một người quá yêu làng mình. 2. Viết một đoạn văn theo chủ đề tự chọn trong đó có sử dụng cả ba hình thức đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm. Gợi ý: Có thể viết đoạn văn theo chủ đề được gợi ý trong các đề bài ở Bài văn số 3.
Soạn bài lớp 9_ Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự
1,115
Soạn bài lớp 9: Đồng Chí Hướng dẫn Soạn bài: Đồng Chí Soạn bài lớp 9 học kì 1: Đồng chí do Chính Hữu sáng tác dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để. Bài soạn văn 9 này là tài liệu tham khảo để hiểu rõ hơn về tình người, tình tri kỉ kề vai sát cánh bên nhau của những người chung lí tưởng và chí hướng giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất. Soạn bài ĐỒNG CHÍ Chính Hữu I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nói đến thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp không thể không nói đến Đồng chí (1948) của Chính Hữu. Bài thơ mang vẻ đẹp của tình đồng đội, đồng chí giản dị, mộc mạc mà sâu sắc của những người lính cách mạng trong những tháng ngày kháng chiến gian lao. 2. Không gian trữ tình trong Đồng chí giá buốt mà không lạnh lẽo. Hơi ấm toả ra từ tình người, từ tình tri kỉ, kề vai sát cánh bên nhau của những con người chung lí tưởng, chung chí hướng. Đứng trong hàng ngũ cách mạng, chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc, người lính vượt lên trên mọi gian khó bằng sự sẻ chia, đồng tâm hiệp lực. Họ sống trong tình đồng đội, vì đồng đội. Những người đồng đội ấy thường là những người “nông dân mặc áo lính”. Điểm giống nhau về cảnh ngộ xuất thân giúp họ có thể dễ dàng gần gũi, đồng cảm với nhau: Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá. Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau, “Anh và tôi” từ những vùng quê khác nhau, chỉ giống nhau cái nghèo khó của đất đai, đồng ruộng. Anh từ miền quê ven biển: “nước mặn đồng chua”. Tôi từ vùng đất cao “cày lên sỏi đá”. Hai người xa lạ, từ hai phương trời xa lạ trở thành tri kỉ: Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Những người “nông dân mặc áo lính” ấy gặp nhau trong cuộc chiến đấu vì chính cuộc sống của họ, cùng đứng trong hàng ngũ những “người lính cụ Hồ”. Sự nghiệp chung của dân tộc đã xoá bỏ mọi khoảng cách xa lạ về không gian nơi sinh sống của mỗi người. “Súng bên súng” là chung chiến đấu, “đầu sát bên đầu” thì chung rất nhiều: không chỉ là gần nhau về không gian mà còn chung nhau ý nghĩ, lí tưởng” (Theo Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB GD, 2001, tr 380). Đến khi đắp chung chăn trong đêm giá rét thì họ đã thực sự là anh em một nhà. Nhà thơ Tố Hữu cũng từng viết: “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” để thể hiện tình kháng chiến gắn bó, bền chặt. Để nói về sự gần gũi, sẻ chia, về cái thân tình ấm áp không gì hơn là hình ảnh đắp chăn chung. Như thế, tình đồng chí đã bắt nguồn từ cơ sở một tình tri kỉ sâu sắc, từ những cái chung giữa “anh” và “tôi”. 4. Ở phần tiếp theo của bài thơ, với những chi tiết, hình ảnh cụ thể tác giả đã thể hiện tình cảm sâu sắc của những người đồng chí. Trước hết, họ cùng chung một nỗi nhớ quê hương: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Trong nỗi nhớ quê hương ấy có nỗi nhớ ruộng nương, nhớ ngôi nhà, nhớ giếng nước, gốc đa. Nhưng ruộng nương cũng như nhớ tay ai cày xới, ngôi nhà nhớ người trong lúc gió lung lay, và giếng nước, gốc đa cũng đang thầm nhớ người ra đi. Nỗi nhớ ở đây là nỗi nhớ hai chiều. Nói giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính cũng là thổ lộ nỗi nhớ cồn cào về giếng nước, gốc đa. Tình quê hương luôn thường trực, đậm sâu trong những người đồng chí, cũng là sự đồng cảm của những người đồng đội. Người lính hiện ra cứng cỏi, dứt khoát lên đường theo tiếng gọi non sông song tình quê hương trong mỗi người không khi nào phai nhạt. Và bên cạnh hình bóng quê hương, điểm tựa vững chắc cho người lính, là đồng đội: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Kể sao xiết những gian khổ mà người lính phải trải qua trong chiến đấu. Nói về cái gian khổ của người lính trong kháng chiến chống Pháp, ta nhớ đến cái rét xé thịt da trong bài Lên Cấm Sơn của Thôi Hữu: Cuộc đời gió bụi pha sương máu Đợt rét bao lần xé thịt da Khuôn mặt đã lên màu tật bệnh Đâu còn tươi nữa những ngày hoa! Lòng tôi xao xuyến tình thương xót Muốn viết bài thơ thấm lệ nhòa Nhớ đến cái ác nghiệt của bệnh sốt rét trong Tây Tiến của Quang Dũng: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm. Ta cũng có thể thấy cái buốt giá của núi rừng Việt Bắc, cái ớn lạnh toát mồ hôi của bệnh sốt rét trong những câu thơ của Chính Hữu. Nhưng nếu như Thôi Hữu viết về cái rét xé thịt da để khắc hoạ những con người chấp nhận hi sinh, “Đem thân xơ xác giữ sơn hà”, Quang Dũng nói đến sốt rét để tô đậm vẻ đẹp bi tráng của những người chiến sĩ thì Chính Hữu nói về cái rét, cái ác nghiệt của sốt rét là để nói về tình đồng đội, đồng chí trong gian khổ, là sự thấu hiểu, cảm thông giữa những người lính. Trong bất cứ sự gian khổ nào cũng thấy họ sát cánh bên nhau, san sẻ cho nhau: “Anh với tôi biết…”, “áo anh… – Quần tôi…”, “tay nắm lấy bàn tay”. Cái “Miệng cười buốt giá” kia là cái cười trong gian khổ để vượt lên gian khổ, cười trong buốt giá để lòng ấm lên, cũng là cái cười đầy cảm thông giữa những người đồng đội. Giá buốt mà không lạnh lẽo cũng là vì thế. 5. Bài thơ kết bằng hình tượng những người đồng chí trong thời điểm thực tại, khi họ đang làm nhiệm vụ chiến đấu: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. Có thể xem đây là một trong những hình ảnh thơ đẹp nhất về người lính trong thơ ca kháng chiến. Ba câu thơ phác ra một bức tranh vừa mang chất chân thực của bút pháp hiện thực, vừa thấm đẫm cái bay bổng của bút pháp lãng mạn. Trên sắc xám lạnh của nền cảnh đêm rừng hoang sương muối, hiện lên hình ảnh người lính – súng – vầng trăng. Dưới cái nhìn của người trong cuộc, người trực tiếp đang cầm súng, trong một sự kết hợp bất ngờ, đầu súng và vầng trăng như không còn khoảng cách xa về không gian, để thành: “Đầu súng trăng treo”. Sự quan sát là hiện thực, còn sự liên tưởng trong miêu tả là lãng mạn. Hình ảnh súng tượng trưng cho hành động chiến đấu, tinh thần quyết chiến vì đất nước. Trăng tượng trưng cho cái đẹp yên bình, thơ mộng. Hình ảnh “đầu súng trăng treo” mang ý nghĩa khái quát về tư thế chủ động, tự tin trong chiến đấu, tâm hồn phong phú của người lính. Nói rộng ra, hai hình ảnh tương phản sóng đôi với nhau tạo nên biểu tượng về tinh thần, ý chí sắt đá mà bay bổng, trữ tình của dân tộc Việt Nam. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG 1. Rèn kĩ năng đọc diễn cảm. Bài thơ được viết theo thể tự do, độ dài ngắn của các câu khác nhau, do đó cần kéo dài giọng hoặc ngừng nghỉ chính xác để giữ nhịp thơ, thể hiện tình cảm sâu lắng về tình đồng đội. 2. Tập phân tích và nêu cảm nhận về hình tượng: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo Dưới đây là bài soạn Đồng chí bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Đồng chí Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài lớp 9_ Đồng Chí
1,506
Soạn bài Lời khuyên của Bác Hướng dẫn A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.a) Quan sát bức tranh minh hoạ cho chủ điểm Việt Nam – Tổ quốc em. b)Nghe thầy cô giới thiệu để hiểu bức tranh cho ta biết điều gì về Tổ quốc Việt Nam. Gợi ý: a) Tranh minh hoạ có hình ảnh Bác Hồ, lá cờ Tổ quốc và các bạn học sinh. b) Tổ quốc Việt Nam có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống. Lá cờ đỏ sao vàng tung bay có hình chữ S, gợi dáng hình đất nước. Ngày 2-9-1945, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. 2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Thư gửi các học sinh” (Trích) SGK/4,5. 5.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Ngày khai trường tháng 9 năm 1945 có gi đặc biệt so với những ngày khai trường trước đó? 2)Sau Cách mạng tháng Tám, nhiệm vụ của toàn dân là gì? 3)Theo Bác Hồ, vì sao học sinh phải siêng năng học tập, rèn luyện? Em chọn ý đúng để trả lời: a)Vì đó là việc làm để bắt buộc đối với mỗi học sinh. b)Vì đó là việc làm giúp nước ta sánh vai được với các cường quốc năm châu. c)Vì đó là việc làm giúp nước nhà thoát khỏi cảnh yếu hèn sau hơn 80 năm trời nô lệ. Gợi ý: 1) Ngày khai trường tháng 9 năm 1945 là ngày khai trường của nước Việt Nam độc lập sau 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ; từ ngày khai trường này trở đi, các học sinh được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. 2)Sau Cách mạng tháng Tám, nhiệm vụ của toàn dân là xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại, làm cho nước nhà theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. So sánh nghĩa của hai cặp từ sau để hiểu thế nào là từ đồng nghĩa: a)học sinh – học trò Nghĩa của hai từ học sinh, học trò có điểm nào giông nhau? (Hai từ này cùng chỉ ai?) b)khiêng – vác -Quan sát tranh và đọc lời giải nghĩa dưới tranh (SGK/7). -Nghĩa của hai từ: khiêng, vác có điểm nào giông nhau, có điểm nào khác nhau? Gợi ý: a) Hai từ học sinh, học trò cùng chỉ người theo học ở trường. b) Nghĩa của hai từ khiêng, vác có điểm: -giống nhau: nâng và chuyển vật nặng hoặc cồng kềnh. –khác nhau: thao tác bằng sức của hai hay nhiều người hợp lại (khiêng); thao tác bằng cách đặt lên vai (vác). B.HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Xếp 6 từ in đậm trong đoạn sau thành ba cặp từ đồng nghĩa: Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em. HỒ CHÍ MINH M: nước nhà – non sông Gợi ý: 1) nước nhà — non sông 2)xây dựng — kiến thiết 3)hoàn cầu — năm châu 2.Ghi lại từ đồng nghĩa với mỗi từ sau đây: đẹp, to, học tập. M: đẹp – xinh to -… Gợi ý: đẹp – xinh; to – lớn; học tập – học hành 3.Đặt câu với một cặp từ đồng nghĩa em vừa tìm được ở hoạt động 2 và chép vào vở. M: – Quê hương em rất đẹp. – Bé Hà rất xinh. Gợi ý: – Bố câu được một con cá rất to. – Cây bàng sân trường em cao và có nhiều tán lớn. 5.Điền tiếng thích hợp vào mỗi chỗ trống để hoàn chỉnh các đoạn văn viết về ngày Độc lập. (SGK/9, 10). Biết rằng: (1): chứa tiếng bắt đầu bằng ng hoặc ngh. (2) : chứa tiếng bắt đầu bằng g hoặc gh. (3) : chứa tiếng bắt đầu bằng c hoặc k. Gợi ý: Ngày độc lập Mùng 2 tháng 9 năm 1945 — một ngày đáng ghi nhớ. Hà Nội tưng bừng màu đỏ. Một vùng trời bát ngát cờ, đèn, hoa và biểu ngữ. Các nhà máy đều nghỉ việc. Chợ búa không họp. Mọi hoạt động sản xuất, buôn bán của thành phố tạm ngừng. Già, trẻ, gái, trai đều xuống đường. Mọi người đều thấy mình cần có mặt trong ngày hội lớn của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng triệu đồng bào. Lời của vị lãnh tụ điềm đạm, ấm áp, khúc chiết, rõ ràng; từng câu, từng tiếng đi vào lòng người… Buổi lễ kết thúc bằng những lời thề độc lập. Đó là ý chí của toàn dân Việt Nam kiên quyết thực hiện lời Hồ Chủ tịch trong bản Tuyên ngôn: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Theo VÕ NGUYÊN GIÁP 6.Điền chữ thích hợp với mỗi ô trống (SGK/10). Gợi ý: Âm đầu Đứng trước i, ê, e Đứng trước các âm còn lại Âm “cờ” Viết là k Viết là c Âm “gờ” Viết là gh Viết là g Âm “ngờ” Viết là ngh Viết là ng C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG 1.Chia sẻ với người thân những điều em biết về Tổ quốc qua bức tranh chủ điểm Việt Nam – Tổ quốc em. (Em nói về ý nghĩa của những hình ảnh trong bức tranh: lá cờ Tổ quốc, đường cong hình chữ S, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, các bạn nhỏ đeo khăn quàng với những bộ trang phục khác nhau của các dân tộc). Gợi ý Lá cờ Tổ quốc có màu đỏ tượng trưng cho cách mạng, ngôi sao màu vàng tượng trưng cho dân tộc da vàng, năm cánh ngôi sao là biểu tượng cho sự đoàn kết của các tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh (người trí thức, người nông dân, người công nhân, người buôn bán và quân đội). Dải lãnh thổ Việt Nam trải dài từ bắc đến nam có dáng cong như hình chữ S. Qua nhiều thế kỉ không ngừng đấu tranh chống giặc ngoại xâm, với tinh thần bất khuất, sự dũng cảm và lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân ta đã giành được độc lập. Ngày 2/9/1945, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, non sông liền một dải, mang đến hạnh phúc cho các bạn nhỏ trên khắp mọi miền đất nước. Dù trang phục có khác nhau của các dân tộc anh em nhưng các bạn đều vui vẻ, phấn khởi tung tăng đến trường với chiếc khăn quàng đỏ trên vai.
Soạn bài Lời khuyên của Bác
1,157
Soạn bài Lời tâm tình của người chiến sĩ Hướng dẫn A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Quan sát các bức tranh và đọc lời gợi ý dưới tranh, cùng đoán xem đó là bài thơ hoặc câu chuyện nào em đã học (SGK/38) Gợi ý: Thứ tự từ trái sang phải -Tranh 1: Câu chuyện “Người mẹ”: Câu chuyện cảm động của nhà văn An-đéc-xen viết về người mẹ rất dũng cảm, rất yêu con. – Tranh 2: Bài thơ “Mẹ ốm”: Bài thơ viết về tình cảm yêu thương sâu sắc, sự hiếu thảo và lòng biết ơn của bạn nhỏ với người mẹ bị ốm. 2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài thơ “Bầm ơi (Trích)” (SGK/39) 5.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Điều gì gợi cho anh chiến sĩ nhớ tới mẹ? Anh nhớ hình ảnh nào của mẹ? 2)Những hình ảnh so sánh nào cho thấy tình cảm mẹ con thắm thiết, sâu nặng? 3)Anh chiến sĩ đã dùng cách nói như thế nào để làm yên lòng mẹ? Gợi ý: 1) Cảnh chiều rét, gió núi, mưa phùn lâm thâm khiến anh chiến sĩ nhớ tới mẹ. Anh nhớ hình ảnh mẹ lội ruộng cấy mạ non mà run vì trời rét. 2)Những hình ảnh so sánh cho thấy tình cảm mẹ con thắm thiết, sâu nặng: Mạ non bầm cây mấy đon Ruột gan bầm lại thương con mấy lần. (mẹ thương con) Mưa phùn ướt áo tứ thân Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu! 3)Để làm yên lòng mẹ, anh chiến sĩ đã dùng cách nói so sánh: Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi Anh so sánh những việc anh đang làm không bằng những khó nhọc, vất vả của mẹ nơi quê nhà. 6.Qua lời tâm tình của anh chiến sĩ, em nghĩ gì về người mẹ của anh? Viết tiếp vào chỗ trống dưới đây để trả lời (SGK/40) Gợi ý: Lời tâm tình của anh chiến sĩ cho thấy người mẹ của anh là một phụ nữ Việt Nam điển hình: hiền hậu, chịu thương chịu khó, yếu thương con hết mực. B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Liệt kê nhừng bài văn tả cảnh đã học trong học kì I vào bảng (SGK/41) Gợi ý: Tuần Các bài văn tả cảnh 1 – Quang cảnh làng mạc ngày mùa – Hoàng hôn trên sông Hương – Nắng trưa – Buổi sớm trên cánh đồng 2 – Rừng trưa – Chiều tối 3 – Mưa rào 6 – Đoạn văn tả biển (Vũ Tú Nam) – Đoạn văn tả con kênh (Đoàn Giỏi) 7 – Vịnh Hạ Long 8 – Kì diệu rừng xanh 9 – Bầu trời mùa thu – Đất Cà Mau 2.Viết vào vở dàn ý của một trong các bài văn trên. Dàn ý gồm có 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài. Xác định nội dung chính của mỗi đoạn văn trong từng phần. Gợi ý: Dàn ý bài “Mưa rào” A.Mở bài: Những dâu hiệu báo cơn mưa sắp đến. B.Thân bài: Miêu tả cơn mưa từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc. C. Kết bài: Miêu tả cảnh, vật sau cơn mưa. 3.Đọc thầm bài văn “Buổi sáng ở Thành phố Hồ Chí Minh” (SGK/41, 42) 4.Thảo luận, trả lời câu hỏi: -Bài văn miêu tả buổi sáng ở Thành phô Hồ Chí Minh theo trình tự nào (trình tự thời gian hay không gian)? -Những chi tiết nào cho thấy tác giả quan sát cảnh vật rất tinh tế? -Hai câu cuối bài: “Thành phố mình đẹp quá! Đẹp quá đi! Thể hiện tình cảm gì của tác giả đối với cảnh được miêu tả? Gợi ý: – Bài văn miêu tả buổi sáng ở Thành phố Hồ Chí Minh theo trình tự thời gian. -Tác giả quan sát cảnh vật rất tinh tế qua các chi tiết: tầng tầng, lớp lớp bụi hồng ánh sáng… -… nguy nga, đậm nét; màn đêm mờ ảo… chìm vào đất; thành phố… biển hơi sương; những vùng cây xanh… nắng sớm; ánh đèn… thưa thớt tắt; ba ngọn đèn đỏ… kéo gần lại; Mặt trời… mềm mại. –Hai câu cuối bài thể hiện sự tự hào, ngưỡng mộ và yêu quý của tác giả với vẻ đẹp của thành phố. C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG Tìm hiếu, quan sát cảnh một ngày mới bắt đầu ở quê em (hoặc cảnh một đêm trăng đẹp; cảnh trường em trước buổi học; cảnh một khu vui chơi, giải trí) và viết lại kết quả quan sát. Gợi ý: – Cảnh trường em trước buổi học -Cổng trường tập trung đông đúc phụ huynh đưa con em đến trường. -Sân trường rộng rãi, khoáng đãng. -Một số bạn học sinh ngồi trên ghế đá ăn sáng. -Đa số học sinh ngồi vào hàng để truy bài. -Nhiều thầy, cô tập trung tại phòng giáo viên: người đọc báo, người xem bài dạy hôm nay, một số thầy cô trò chuyện cùng nhau. -Chim chóc, ong bướm quây quần trong tán cây, quanh những khóm hoa rực rỡ dưới ánh nắng mai.
Soạn bài Lời tâm tình của người chiến sĩ
796
Soạn bài lời văn đoạn văn tự sự Hướng dẫn I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Văn tự Sự: chủ yếu là văn kể người và sự việc. Khi kể người thì phải kể tên, họ, lai lịch,… Khi kể việc thì kể các hành động, việc làm, kết quả và sự đổi thay do các hành động ấy mang lại. 2.Câu chủ đề: câu chủ đề là câu mang nội dung chính, các câu còn lại bổ sung ý nghĩa cho câu chủ đề. II.CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP Câu 1.Đọc đoạn văn dưới đây và trả lời câu hỏi: a) Thế là Sọ Dừa đến ở nhà phú ông. Cậu chăn bò rất giỏi. Hằng ngày, Sọ Dừa lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về chuồng. Ngày nắng cũng như ngày mưa, bò con nào con nấy bụng no căng. Phú ông mừng lắm. b)Ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm cả, phú ông có ba cô con gái thay phiên nhau đưa cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị ác nghiệt, kiêu kì, thường hắt hủi Sọ Dừa; còn có cô em út hiền lành, tính hay thương người, đối dãi với Sọ Dừa rất tử tế. (Sọ Dừa) c)Cô không đẹp, chí xinh thôi. Và tính cô cũng như tuổi cô còn trẻ con lắm. Thấy khách hàng nói một câu bông đùa, cô đã tưởng người ta chòng ghẹo minh, díu đôi lông mày lại và ngoe nguẩy cái mình. Khách trông thấy chí cười. Nhưng cô cũng không giận ai lâu, chỉ một lát cô lại vui tính ngay. Câu hỏi: Mỗi đoạn vàn trên kế về điều gì? Hày gạch dưới câu chủ đề có ý quan trọng nhất của mồi đoạn văn. Các câu văn triển khai chủ đề ấy theo thứ tự nào? Gơi ý: Đoạn 1: Sọ Dừa làm thuê trong nhà phú ông. -Câu chủ chốt: Cậu chăn bò giỏi lắm. + Câu 1: Hành động bắt đầu. + Câu 2: Nhận xét chung về hành động. + Câu 3, 4: Hoạt động cụ thể. + Câu 4: Kết quả, ảnh hưởng của hoạt động. -Đoạn 2: Thái độ của các con gái phú ông đôi với Sọ Dừa. + Câu chủ chốt: Câu 2 + Quan hệ: Hoạt động nối tiếp và ngày càng cụ thể. -Đoạn 3: Tính nết cô Dần. + Câu chủ chốt: câu 2 + Quan hệ: Câu 1 + Câu 2: quan hệ nối tiếp Câu 3 + Câu 4: Đối xứng + Câu 2, 3, 4: Quan hệ giải thích. + Câu 5, 4: Đôi xứng. Câu 2.Đọc hai câu văn sau, theo em, câu nào đúng câu nào sai, vì sao? a)Người gác rừng cười ngựa, lao vào bóng chiều, nhảy lên lưng ngựa, đóng chắc chiếc yên ngựa. b)Người gác rừng đóng chắc chiếc yên ngựa, nhảy lên lưng ngựa, rồi lao vào bóng chiều. Gơi ý: -Câu b: Đúng vì đúng mạch lạc -Câu a: Sai, mạch lộn xộn. Câu 3. Hai câu văn sau đây, theo em, câu nào đúng câu nào sai? Vì sao? a) Người gác rừng cưỡi ngựa, lao vào bóng chiều, nhảy lên lưng ngựa, đóng chắc chiếc yên ngựa. Gợi ý: Trong lời kể, các sự việc được kể phải diễn ra theo đúng lôgic của diễn biến sự việc trong thực tế: sự việc nào xảy ra trước phải được kể đến trước, xảy ra sau phải được kể đến sau, không được đảo lộn. Câu (a) sai vì không phản ánh đúng diễn biến trên thực tế của sự việc; phải đóng yên ngựa trước, rồi mới nhảy lên lưng ngựa, rồi mới “lao vào bóng chiều”. Câu 4. Xem lại cách viết câu giới thiệu nhân vật, hãy viết lời kể giới thiệu các nhân vật: Thánh Gióng, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Tuệ Tĩnh. Gợi ý: – Giới thiệu về nhân vật Thánh Gióng: đọc lại phần mở bài truyện Thánh Gióng, từ đầu cho đến “… cứ đặt đâu thì nằm đấy.” – Giới thiệu về hai nhân vật Lạc Long Quân và Âu Cơ: đọc lại phần giới thiệu nhân vật ở phần đầu truyện Con Rồng cháu Tiên, từ đầu cho đến “… ở cung điện Long Trang.” – Giới thiệu về nhân vật Tuệ Tĩnh: đọc lại Phần mở bài của bài văn về Tuệ Tĩnh ở bài 4. Câu 5. Viết đoạn văn kể chuyện Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt xông trận, ngựa phun lửa giết giặc Ân và đoạn kể chuyện Thánh Gióng khi roi sắt gãy, nhổ tre đằng ngà tiếp tục đánh đuổi quân giặc. Có thể viết một hoặc hai đoạn văn. Nếu viết một đoạn thì kể diễn biến câu chuyện từ sự việc sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến, cho đến sự việc Thánh Gióng nhổ tre quật vào quân giặc. Nếu viết hai đoạn thì đoạn 2 – kể về chuyện Gióng nhổ tre đánh giặc – nên có câu dẫn dắt mở đầu để thể hiện được diễn biến liền mạch, ví dụ: Dưới roi sắt của tráng sĩ, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre bên đường quật vào quân giặc tơi bời. Giặc tháo chạy.
Soạn bài lời văn đoạn văn tự sự
845
Soạn bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga Hướng dẫn Soạn bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Truyện Lục Vân Tiên được kết cấu theo kiểu thông thường của các loại truyện đời xưa. Đó là kiểu kết cấu truyền thống của loại truyện phương Đông, nghĩa là theo chương hồi, xoay quanh diễn biến cuộc đời các nhân vật chính. Truyện được viết ra nhằm mục đích trực tiếp truyền dạy đạo lý làm người. Câu 2. Hành động đánh cướp bộc lộ tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng trọng nghĩa của Lục Vân Tiên. Chàng chỉ có một mình, tay không trong khi bọn cướp đông người, gươm giáo đầy đủ, thanh thế lẫy lừng. “Người đều sợ nó có tài đương khôn”. Vậy mà Vân Tiên vẫn bẻ cây làm gậy xông vào đánh cướp. Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả thật đẹp – vẻ đẹp của người dũng tướng theo phong cách văn chương thời xưa, có thể so sánh với những hình mẫu lí tưởng như dũng tướng Triệu Tử Long trong Tam Quốc – không mấy ai không thán phục…! Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người vì nghĩa quên thân, đem cái tài và sức mạnh của bậc anh hùng bênh vực kẻ yếu, chiến thắng những thế lực tàn bạo. Thái độ cư xử của Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp lại bộc looj tư cách của con người chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, rất từ tốn, nhân hậu. Thấy hai cô hái chưa hết hãi hùng. Vân Tiên “động lòng” tìm cách an ủi họ và ân cần hỏi han/ Khi nghe họ nói muốn được lạy tạ ơn, Vân Tiên vội gạt đi ngay “Làm ơn không để trông người trả ơn”, từ chối lời mời về thăm nhà Nguyệt Nga, để cha nàng đền đáp, từ chối nhận chiếc trâm vàng của nàng, chỉ cùng nhau xướng họa một bài thơ rồi thanh thản ra đi. Dường như đối với Vân Tiên, làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên. Đó là cách cư xử mang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán. Với những nét tính cách đó, hình ảnh Lục Vân Tiên là một hình ảnh đẹp, hình ảnh lí tưởng mà tác giả gửi gắm niềm tin và ước vọng của mình. Câu 3. Là người chịu ơn, trong đoạn truyện này, Kiều Nguyệt Nga cũng đã bộc lộ những nét đẹp trong tâm hồn. Qua lời lẽ nàng giãi bày với Lục Vân Tiên, có thể thấy nàng là một cô gái khuê các, thùy mị, nết na, có học thức, cách xưng hô “quân tử”, “tiện thiếp” khiêm nhường; cách nói văn vẻ, dịu dàng, mực thước, cách trình bày vấn đề rõ ràng, khúc chiết vừa đáp ứng đầy đủ những điều thăm hỏi ân cần của Lục Vân Tiên, vừa thể hiện chân thành niềm cảm kích, xúc động của mình. Trước xe quân tử tạm ngồi Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa. Nàng là người chịu ơn cứu mạng, Vân Tiên đã cứu cả cuộc đời trong trắng của nàng. Nàng rất áy náy, băn khoăn tìm cách trả ơn. Bởi thế cuối cùng nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời với chàng trai khẳng khái hào hiệp đó và đã giám liều mình để giữ trọn ân tình thủy chung với chàng. Nét đẹp đó của Kiều Nguyệt Nga khiến người đọc cảm mến. Câu 4. Nhân vật trong đoạn truyện được miêu tả chủ yếu qua hành động, cử chỉ, lời nói. Do mục đích sáng tác ban đầu là để đọc truyền miệng, kể thơ, vì thế tác giả ít chú ý khắc họa chân dung ngoại hình, cũng ít đi sâu và diễn biến nội tâm, giống như truyện cổ dân gian. Hai nhân vật chính trong đoạn được giới thiệu bằng vài nét ước lệ còn chủ yếu được đặt trong những mối quan hệ xã hội, trong những tình huống xung đột của đời sống, rồi bằng hành động, cử chỉ, lời nói của mình tự bộc lộ tính cách. Câu 5. Ngôn ngữ tác giả mộc mạc, bình dị, gần với lời nói thông thường, mang màu sắc địa phương Nam Bộ. Nó có phần thiếu trau chuốt, uyển chuyển nhưng lại phù hợp với ngôn ngữ kể, rất tự nhiên, dễ đi vào quần chúng. Ngôn ngữ đa dạng, phù hợ với diễn biến trình tự tính cách nhân vật.
Soạn bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
770
Soạn bài Lục Vân Tiên gặp nạn Hướng dẫn Soạn bài Lục Vân Tiên gặp nạn I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Chủ đề của đoạn trích: thể hiện niềm tin vào cái Thiện, vào những điều tốt đẹp ở đời. Câu 2. Qua hành động hãm hại Lục Vân Tiên, có thể thấy rõ tâm địa độc ác của Trịnh Hâm. Trịnh Hâm quyết tâm hãm hại bạn chỉ vì tính đố kị, ganh ghét tài năng, lo cho con đường tiến thân tương lai của mình. Đến lúc này, khi Vân Tiên đã mù mà hắn vẫn tìm cách hãm hại, chứng tỏ sự ác độ dường như đã ngấm vào máu thịt hắn, đã trở thành bản chất của hắn. Đó là hành động độc ác, bất nhân, bất nghĩa: vì Trịnh Hâm đang tâm hãm hại một con người tội nghiệp đang cơn hoạn nạn, không nơi nương tựa, không có gì để chống đỡ. Hơn nữa, Vân Tiên lại vốn là bạn của hăn. Đó là hành động có toan tính, có âm mưu, kế hoạch sắp đặt khá kĩ lượng, chặt chẽ. Chỉ có tám dòng thơ để kể về một tội ác tày trời và lột tả tâm địa của một kẻ bất nhân, bất nghĩa. Nguyễn Đình Chiểu đã thành công ở cách sắp xếp các tình tiết hợp lý, diễn biến hành động nhanh gọn, lời thơ vẫn giữa được vẻ mộc mạc, bình dị vốn có của tác phẩm. Câu 3. Đối lập với tính ích kỉ, nhỏ nhen đến độc ác của Trịnh Hâm là tấm lòng bao dung nhân ái, hào hiệp của ông Ngư. Sauk hi cứu sống Vân Tiên, biết tình cảnh khốn khổ của chàng, ông Ngư sẵn lòng cưu mang chàng, dù chỉ là chia sẻ một cuộc sống đói nghèo hẩm hút, tương rau, nhưng đầm ấm tình người. Ông cũng chẳng hề tính toán đến cái ơn cứu mạng mà Vân Tiên chẳng thể báo đáp “Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn”. Cuộc sống lao động của ông Ngư cũng được miêu tả rất đẹp. Đó là một cuộc sống của người dân chài bình thường trên sống nước được thi vị hóa phần nào trở nên thơ mộng hơn; một cuộc sống trong sạch ngoài vòng danh lợi ô trọc, một cuộc sống tự do phóng khoáng giữa đất trời cao rộng, hòa nhập bầu bạn với thiên nhiên, thảnh thơi giữa sống nước, gió trăng và do thế cũng đầy ắp niềm vui bởi con người lao động tự do, tự làm chủ mình, có thể ứng phó với mọi tình thế. Cuộc sống ấy hoàn toàn xa lạ với những toan tính nhỏ nhen, ích kỉ mưu danh, trục lơi, sẵn sàng chà đạp lên cả đạo đức nhân nghĩa. Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm khát vọng vào niềm tin về cái thiện, vào con người lao động bình thường qua việc làm nhân đức và nhân đạo cao cả của Ngư ông. Câu 4. Đoạn thơ giàu cảm xúc khoáng đạt, ngôn ngữ bình dị, dân dã. Đoạn cuối có nhiều hình ảnh thơ đẹp, gợi cảm, mở ra một khoảng thiên nhiên cao rộng với những: doi, vịnh, chích, đầm, trời đất, gió trăng… Con người hòa nhập thiên nhiên, tràn đầy niềm vui sống. II.Luyện tập Trong truyện Lục Vân Tiên còn có những nhân vật tiêu biểu cho cái thiện ngư Ngư ông ở đoạn trích. Đó là: ông Tiễu, chú tiểu đồng, bà lão dệt vải trong rừng… Họ là những con người nghèo khổ mà nhân hậu, vị tha, trọng nghĩa. Tác giả muốn gửi gắm niềm tin về cái thiện, vào con người lao động bình thường thông qua các nhân vật đó.
Soạn bài Lục Vân Tiên gặp nạn
620
Đề bài: Soạn Bài Lựa Chọn Trật Tự Từ Trong Câu Luyện Tập | Văn Mẫu Bài Làm Câu 1: a) Mỗi việc được kể là một khâu trong công tác vận động quần chúng, khâu này nối tiếp khâu kia. Đầu tiên là giải thích cho quần chúng hiểu -> tuyên truyền cho quần chúng hưởng ứng -> rồi đến tổ chức cho quần chúng làm, lãnh đạo quần chúng làm cho đúng, kết quả tinh thần yêu nước được thực hiện vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến. b) Các hoạt động được sắp xếp theo thứ bậc chính phụ: – Việc diễn ra hàng ngày là bán bóng đèn – Bán vàng hương chỉ là việc làm thêm trong những phiên chợ chính. Câu 2: Các cụm từ in đậm được đặt ngay ở đầu câu là để liên kết câu ấy với những câu trước đó cho được chặt chẽ hơn. Câu 3: a) Việc đảo trật tự từ của câu nhằm nhấn mạnh vẻ hoang sơ, tiêu điều, thưa thớt ít ỏi của sự sống nơi đèo Ngang và tâm trạng nhớ nước thương nhà của tác giả khi đặt chân tới đèo Ngang lúc chiều tà. b) Nhấn mạnh hình ảnh trong sáng, tươi đẹp của anh giải phóng quân cùng với lá ngụy trang nơi lưng đèo trong một buổi chiều. Câu 4: Cả 2 câu, phụ ngữ của động từ thấy đều là cụm CV. – Trong câu (a), cụm CV này có chủ ngữ đứng trước, nhằm nêu tên nhân vật và miêu tả hoạt động của nhân vật. -> Đối chiếu với văn cảnh, nhất là với câu cuối cùng trong đoạn trích, chúng ta thấy câu thích hợp để điền vào chỗ trống là câu (b). Câu 5: Với năm từ: xanh, nhũn nhặn, ngay thẳng, thuỷ chung, can đảm sẽ có rất nhiều cách sắp xếp trật tự từ. Nhưng cách sắp xếp của nhà văn Thép Mới là hợp lí nhất vì nó đúc kết được những phẩm chất đáng quý của cây tre theo đúng trình tự miêu tả trong bài văn. Câu 6: a) Đoạn văn: Lợi ích của đi bộ đối với sức khoẻ: – Đi bộ rất có lợi cho sức khỏe. Đi bộ làm cho khí huyết lưu thông đầu óc trở nên sảng khoái minh mẫn. Nếu chúng ta đi bộ hằng ngày đều đặn, gân cốt sẽ săn chắc hơn và lại tiêu hao bớt đi những năng lượng dư thừa. Đi bộ nhiều sức lực sẽ dẻo dai hơn, giúp ta học tập và lao động tốt hơn. Vậy nhưng, trong xã hội bận rộn ngày nay, chúng ta ngày càng lười vận động. Và chính việc ngồi nhiều, lười vận động ấy sẽ khiến con người mắc rất nhiều bệnh nguy hiểm như tim mạch, béo phì, huyết áp,… b) Đoạn văn: Lợi ích của di bộ đôi với việc mở rộng hiểu biết thực tế: – Đi bộ ta có dịp tiếp xúc trực tiếp với các sự vật cây cỏ, hoa lá chim muông, những thứ mà trước đó ta chỉ thấy trong sách báo hoặc bằng những hình ảnh minh hoạ. Ta có thể tìm hiểu những phong tục tập quán ở các miền quê mà ta đi qua. Đi bộ gặp những lúc trời nắng như đổ lửa, hay cơn mưa ào lạnh giá sẽ giúp ta hiểu hơn sự dãi nắng dầm mưa vất vả của người lao động trong cuộc mưu sinh. – Cụm từ: “trời nắng như đổ lửa” đứng trước cụm từ “hay cơn mưa ào giá lạnh” có tác dụng hài hoà về mặt ngữ âm.
Soạn Bài Lựa Chọn Trật Tự Từ Trong Câu Luyện Tập
599
Soạn bài miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự Hướng dẫn A. YÊU CẦU Nắm được: -Miêu tả trong văn tự sự gồm miêu tả bên ngoài và miêu tả nội tâm. Miêu lả nội tâm là tái hiện những ý nghĩ, cảm xúc và diễn biến tâm trạng của nhân vật. Đó là biện pháp quan trọng để xây dựng nhân vật, làm cho nhân vật sinh động. -Có thể miêu tả nội tâm trực tiếp bàng cách diễn tả những ý nghĩ, cảm xúc, tình cảm của nhân vật; cũng có thể miêu lả gián tiếp bằng cách miêu tả cảnh vật, nét mặt, cử chỉ, trang phục,… của nhân vật. B. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP I – Phần bài học TÌM HIỂU YỂU TỐ MIỀU TẰ NỘI TẲM TRONG VÄN BÁN TỰ SỰ Bài tập 1. Đọc lại đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, tr. 93 – 94 và thực hiện các yêu cầu sau: a)Tìm những câu thơ tả cảnh và những câu thơ miêu tả tâm trạng của Thuý Kiều. b)Những câu thơ tả cảnh có mối quan hệ như thế nào với việc thế hiện nội tâm nhân vật? c)Miêu tả nội tâm có tác đụng như thế nào đối với việc khắc hoạ nhân vật trong văn bản tự sự? Gợi ý a)Những câu thơ tả cảnh trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích: -Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân -Bốn bề bát ngát xa trông, Cát vùng cồn nọ, bụi hồng dặm kia. Những câu thơ miêu tả tâm trạng: -Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. -Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ? -Tưởng người dưới nguyệt chén dồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ. Những câu thơ tả cảnh vật (qua tâm trạng buồn chán): -Vẻ non xa tấm trũng gần ở chung. Buồn trông cửa bể chiều hôm, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. b)Những câu thơ miêu tả cảnh có mối quan hệ mật thiết với việc miêu tả nội tâm nhân vật. Cảnh rộng, xa tạo nên sự mênh mang, vẻ trống vắng, đối lập vđi sự lẻ loi, lâm trạng cô đơn của nhân vật. Cảnh cánh buồm thấp thoáng, ngọn nước sa, hoa trôi, xanh xanh nội cỏ, gió cuốn, ầm ầm tiếng sóng thể hiện tâm trạng buồn chán, thân phận vô định, mịt mờ của nhân vật. c)Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự có tác dụng khắc hoạ sinh động, chân thật hình tượng nhân vật, làm cho nội dung tác phẩm có chiều sâu. II – Phần luyện tập Bài tập 1. Thuật lại đoạn ưích Mã Giám Sinh mua Kiều, tr. 97 – 98 bằng văn xuôi, chú ý miêu tả nội tâm của nàng Kiều. Gợi ý –Đoạn văn xuôi thuật lại đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều cần phải đảm bảo được các chi tiết: Mã Giám Sinh xuất hiện với ngoại hình “mày râu nhẩn nhụi, áo quần bảnh bao” cùng với bọn đầy tớ láo nháo và được bà mối đưa vào lầu trang. Vào trong, Mã Giám Sinh “ngồi tót sỗ sàng”. Kiều được bà môi đưa ra giới thiệu vđi Mã Giám Sinh, Kiều trở thành món hàng khiến nàng rất đau đớn, tủi hổ. Mã Giám Sinh xem “hàng” và sự cò kè ngã giá. -Em có thể chú ý đến nhữhg câu thơ miêu tả ngoại hình của Mã Giám Sinh: + Quá niên trạc ngoại tứ tuần, Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao. + Ghế trên ngồi tót sỗ sùng Những câu thơ tả nội tâm Thuý Kiều: + Nỗi mình thêm tức nỗi nhà, Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hùng! + Ngại ngùng dợn gió e sương, Ngừng hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày. Bài tập 2. Hãy đóng vai nàng Kiều viết đoạn văn kể lại việc báo ân báo oán, trong đó bộc lộ trực tiếp tâm trạng của Kiều lúc gặp lại Hoạn Thư. Gợi ý -Em cần đọc lại đoạn trích Thuý Kiều báo ân báo oán để nắm lại nội dung. Đặc biệt phần Kiều gặp Hoạn Thư. -Ngôi thứ nhất trong đoạn văn là Kiều. Với vai Kiều, em kể lại việc mình báo oán Hoạn Thư như thế nào. Bài tập 3. Ghi lại tâm ưạng của em sau khi để xảy ra một chuyện có lỗi đối với bạn. Gợi ý -Chọn một chuyện có thật hoặc tự sáng tạo một chuyện mình có lỗi với bạn. -Ghi lại tâm trạng của mình. Tâm trạng ấy có thể được thể hiện trực tiếp: buồn, hối hận,… cũng có thể tâm trạng ấy được thể hiện gián tiếp thông qua miêu tả cảnh vật.
Soạn bài miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự
764
Soạn bài miêu tả trong văn bản tự sự Hướng dẫn Soạn bài miêu tả trong văn bản tự sự I.Phần bài học a.Đoạn trích kể lại chuyện vua Quang Trung đánh đồn Ngọc Hồi. b.Đoạn trích kể ba sự việc chính. –Vua Quang Trung cho ghép ván lại, cứ mười người khiêng một bức, rồi tiến sát đền đồn Ngọc Hồi. –Quân Thanh bắn ra không trúng người nào, sau đó phun khói lửa. –Quân của vua Quang Trung khiêng ván nhất tề xông lên mà đánh. –Quân Thanh chống đỡ không nổi, tướng nhà Thanh là Sầm Nghi Đống thắt cổ chết. Quân Thanh đại bại. Nếu chỉ kể lại sự việc diễn ra như trong sách đã dẫn thì câu chuyện không sinh động, vì chỉ đơn giản kể lại các sự kiện. So với đoạn trích thì trận đánh được tái hiện lại một cách sinh động nhờ những yếu tố miêu tả. II.Luyện tập Câu 1. Tìm và phân tích yếu tố miêu tả (người và cảnh) trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” và “Cảnh ngày xuân”. Trong đoạn “Chị em Thúy Kiều” và “Cảnh ngày xuân”, Nguyễn Du đã sử dụng rất nhiều yếu tố miêu tả. –Tả chân dung “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” của Thúy Kiều và Thúy Vân. Ở Thúy Vân tác giả đã chú ý miêu tả cụ thể khuôn mặt, lông mày, nụ cười, giọng nói, mái tóc và làn da. Vẻ đẹp ấy được so sánh với những thứ đẹp đẽ như trăng, hoa, tuyết, ngọc. Ở Thúy Kiều, Nguyễn Du lại chú ý tập trung gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt thể hiện tâm hồn, trí tuệ. Đôi mắt ấy được so sánh với làn nước mùa thu trong sáng và long lanh. Cách tư ấy làm nổi bật được vẻ đẹp khác nhau ở mỗi nhân vật. Đó là vẻ đẹp phúc hậu của Thúy Vân, vẻ đẹp mặn mà của Thúy Kiều. –Trong đoạn “Cảnh ngày xuân”, Nguyễn Du đã chọn cách miêu tả những chi tiết làm nổi bật cảnh sắc mùa xuân như: bầu trời trong sáng, cỏ non, cành lê, lễ tảo mộ, hội Đạp Thanh. Câu 2. Viết đoạn văn kể về việc chị em Thúy Kiều đi chơi trong buổi chiều ngày Thanh minh dựa vào đoạn trích “Cảnh ngày xuân”. Ngày tháng thấm thoắt như thoi đưa, mới xuân về mà đã sang tiết tháng ba. Nhân ngày Thanh minh đẹp trời, chị em Thúy Kiều cùng nhau đi tảo mộ, hòa vào dòng người nhộn nhịp ngựa xe ngược xuôi nô nức. Đến buổi chiều, mặt trời đã xế đằng tây, chị em Thúy Kiều cùng nhau ra về. Họ lững thững đi dọc theo dòng suối nhỏ chạy uốn lượn quanh co, phía cuối dòng suối có một chiếc cầu nhỏ bắc ngang. Phong cảnh nơi đây trong buổi chiều tà thật là thanh tĩnh và thoang thoảng buồn. Câu 3. Viết đoạn văn giới thiệu vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều. Hs có thể viết đoạn theo những cách khác nhau nhưng cố gắng bám sát những chi tiết nói về vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều trong văn bản đã học. Chú ý cách tả làm nổi bật được vẻ đẹp khác nhau ở mỗi nhân vật: vẻ đẹp phúc hậu của Thúy Vân, vẻ đẹp mặn mà của Thúy Kiều. –Thúy Vân là người phụ nữ có vẻ đẹp phúc hậu nên cái gì trên khuôn mặt cũng tròn trịa, viên mãn: gương mặt đầy đặn như vầng trăng, lông mày nở nang cân đối như đôi râu ngài, lời nói đoan trang, nụ cười đẹp như hoa như ngọc, mái tóc đầy mượt như mây, nước da trắng ngần như tuyết. Vẻ đẹp của Thúy Vân sánh với những thứ đẹp đẽ của thiên nhiên như trăng, hoa, tuyết, ngọc. –Thúy Kiều là người phụ nữ có vẻ đẹp tài sắc vẹn toàn “sắc đành đòi một, tài dành họa hai”. Đó là vẻ đẹp có phần trội hơn Thúy Vân, vẻ mặn mà của nhan sắc kết hợp với sự sắc sảo thông minh. Nguyễn Du chú ý tập trung gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt Thúy Kiều so sánh với làn nước mùa thu trong sáng, long lanh ; vẻ đẹp của đôi lông mày như nét núi yểu điệu mùa xuân ; và nhấn mạnh đó là một vẻ đẹp khiến những loài cây hoa đẹp của phải tị nạnh, hờn ghen, một vẻ đẹp khiến nghiêng nước nghiêng thành.
Soạn bài miêu tả trong văn bản tự sự
745
Soạn bài miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự Hướng dẫn I.Sự kết hợp các yếu tố kể, tả và biểu lộ tình cảm trong văn bản tự sự. -Kể: thường tập trung nêu sự việc, hành động, nhân vật. -Tả: thường tập trung chỉ ra tính chất, màu sắc, mức độ của sự việc, nhân vật hành động. -Biểu cảm: thường biểu hiện ở các chi tiết bày tỏ cảm xúc, thái độ của người biết trước sự việc, nhân vật, hành động. 1.Yếu tố miêu tả và các yếu tố biểu cảm trong đoạn văn trong SGK. Đây là đoạn trích kể lại cuộc gặp gỡ cảm động của nhân vật “tôi” với người mẹ lâu ngày xa cách. Sự việc được diễn ra bằng các chi tiết như sau: -Mẹ tôi vẫy tôi. -Mẹ kéo tôi lên xe. -Tôi òa lên khóc. -Mẹ tôi cũng sụt sùi theo. -Tôi ngồi bên mẹ, ngả đầu vào cánh tay mẹ, quan sát gương mặt của mẹ. Các yếu tố miêu tả có trong những câu: -Tôi thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi, ríu cả chân lại. -Mẹ tôi không còm cõi. -Gương mặt vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước dan mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má. Các yếu tốt biểu cảm có trong đoạn trích là: -Diễn tả sự suy nghĩ: Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và được ôm ấp cái hình hàu máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc. -Bộc lộ sự cảm nhận: Những cảm giác ấp áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường. Các yếu tố trên không tách riêng mà đan xen vào nhau, vừa kể, vừa tả và biểu cảm. Có thể thấy trong đoạn văn sự đan xen đó: -Về sự việc: tôi ngồi trên đệm xe. -Tả: đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi. -Biểu cảm: Những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. 2.Bỏ hết các yếu tố miêu tả và biểu cảm, chỉ chép lại câu văn kể người và sự việc thành một đoạn. “Mẹ tôi vẫy tôi. Tôi chạy theo chiếc xe chở mẹ. Mẹ kéo tôi lên xe. Tôi òa khóc. Mẹ tôi khóc theo. Tôi ngồi bên mẹ, ngả đầu và cánh tay mẹ, quan sát gương mặt mẹ”. Nhận xét: -Các yếu tố miêu tả và biểu cảm đã làm cho ý nghĩa truyện thêm sâu sắc. -Nếu không có yếu tố miêu tả giúp cho việc kể lại cuộc gặp gỡ giữa hai mẹ con thì đoạn văn mất đi sự sinh động về màu sắc, hương vị, hình dáng, diện mạo của sự việc, nhân vậ, hành động. Ở đây ta thấy yếu tố biểu cảm đã giúp người viết thể hiện rõ tình mẫu tử sâu nặng. Đoạn văn buộc người đọc phải xúc động, trăn trở, suy nghĩ trước sự việc và nhân vật. Ta biết cốt truyện là do sự việc và nhân vật cùng với các hành động tạo nên. Các yếu tố miêu tả và biểu cảm chỉ có thể bám vào sự việc và nhân vật mới phát triển được. Như vậy yếu tố kể người và sự việc trong văn tự sự là quan trọng. II.Luyện tập 1.Một số đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm. Tôi đi học. + Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều. + Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng… (Các em tìm thêm) -Tức nước vỡ bờ. + Thằng Dần vục đầu vừa thổi vừa húp xoàn xoạt. Chị Dậu rón rén bưng một bát lớn đến chỗ chồng nằm: + Thầy em cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột. + Rồi chị đón lấu cải Tỉu ngồi xuống đó như có ý chờ xem chồng chị ăn có ngon miệng không. -Lão Hạc. + Lão hút xong, đặt xe điếu xuống, quay ra ngoài thở khói… + Sau một điếu thuốc lào, óc người ta tê dại đi trong nỗi đê mê nhẹ nhõm. Lão Hạc ngồi lặng lẽ, hưởng chút khoái lạc cỏn con ấy. Các đoạn văn trên có yếu tố miêu tả làm hiện ra trước mắt người đọc cảnh vật, sự việc và có tác động đến những câu văn biểu cảm, làm cho đoạn văn bật ra được ý nghĩa sâu sắc đầy hình tượng. “Khác với mọi ngày, chiều nay em đi học về thấy cánh cửa nhà mở thật rộng. Qua hàng rào hoa dâm bụt em thấy trong nhà có một bóng người cao lớn đang đi lại… Em thắc mắc tự hỏi “ai đây nhỉ?” và đi vội về…Vừa bước đến cửa thì một gương mặt thương nhớ hơn hai năm nay đối với em hiện ra làm em xúc động lặng người. Em vứt cái cặp xuống, chạy ào đến ôm cái thân hình vạm vỡ đầy sương gió và kêu lên: “Ôi, bố”. Em hỏi bó trong lời nghẹn ngào, “Bố về bao giờ thế?” và đôi dòng nước mắt trào ra. Bố em vừa cốc nhẹ lên đầu em, vừa nói: -Con gái bố lớn quá rồi. Em vừa xoa đôi má rám nắng, vừa hôn lên nước da ngăm đen mặn mùi nước biển ấy, thế rồi hai bố con bỗng nhiên cười rất to…” (Vũ Tiến Quỳnh) Các em hãy tìm các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong đoạn văn trên.
Soạn bài miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự
937
Đề bài: Soạn Bài Miêu Tả Và Biểu Cảm Trong Văn Tự Sự Bài làm I. SỰ KẾT HỢP CÁC YẾU TỐ KỂ, TẢ VÀ BIỂU LỘ TÌNH CẢM 1. – Yếu tố miêu tả: Tôi thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi, và khi trèo lên xe tôi ríu cả chân lại Mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như lời cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má – Yếu tố biểu cảm: + Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tỏi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc? Tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mật vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng. – Các yếu tốmiêu tả và biểu cảm đan xen với yếu tố tự sự. 2. – Bỏ hết yếu tố miêu tả và biểu cảm, đoạn văn sẽ thành: Mẹ tôi vẫy tôi. Tôi chạy theo chiếc xe chở mẹ. Mẹ kéo tôi lên xe. Tôi òa khóc. Mẹ tôi khóc theo. Tôi ngồi bên mẹ, ngả đầu và cánh tay mẹ, quan sát gương mặt mẹ. – Nhận xét: Nếu không có các yếu tố miêu tả và biểu cảm thì đoạn văn sẽ rất khô khan, chỉ toàn chuỗi sự việc. Các yếu tố miêu tả giúp cho việc kể lại cuộc gặp gỡ giữa hai mẹ con thêm sinh động, tất cả màu sắc, hương vị, hình dáng, diện mạo của sự việc, nhân vật, hành động,… như hiện ra trước mắt người đọc. Yếu tố biểu cảm đã giúp người viết thể hiện rõ tình mẫu tử sâu nặng, buộc người đọc phải xúc động, trăn trở, suy nghĩ trước sự việc và nhân vật. Các yếu tố miêu tả và biểu cảm này làm cho ý nghĩa của truyện càng thêm thấm thía và sâu sắc. Nó cũng giúp tác giả thể hiện được thái độ trân trọng và tình cảm yêu mến của mình đối với nhân vật và sự việc. II. LUYỆN TẬP Chọn đoạn trích “ Lão cố làm ra vẻ… nỡ tâm lừa nó”– Yếu tố miêu tả: + Cười như mếu, đôi mắt ầng ậng nước + Mặt lão đột nhiên co rúm lại + Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra + Cái đầu nghẹo về một bên, miệng móm mém của lão mếu như con nít – Yếu tố biểu cảm: + Tôi không xót xa năm quyển sách của tôi như trước nữa + Tôi bằng này tuổi đầu rồi còn nỡ đánh lừa một con chó + Nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó. – Các yếu tốmiêu tả và biểu cảm trong đoạn văn giúp người đọc hình dễ dàng hình dung được tâm trạng ân hận, ăn năn, hối lỗi của lão Hạc sau khi bán cậu vàng. Các yếu tố này làm cho đoạn văn sinh động hơn, hay hơn, truyền cảm hơn. Viết đoạn văn kể về những giây phút đầu tiên khi em gặp lại một người thân sau một thời gian xa cách, trong đoạn văn có sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm.
Soạn Bài Miêu Tả Và Biểu Cảm Trong Văn Tự Sự
583
Đề bài: Soạn Bài Muốn Làm Thằng Cuội Lớp 8 Của Tản Đà Bài làm 1. Hai câu thơ đầu “Đên thu buồn lắm chị Hằng ơi Trần thế em nay chán nửa rồi. Đây là lời tâm sự của tác giả với chị Hằng trong một đêm thu, nó được khởi lên như một tiếng than, một nỗi lòng, một tâm trạng, nói như nhà thơ Xuân Diệu, đó là “tiếng của trái tim, tiếng của linh hồn”, là “cái gì quý báu nhất của một thi sĩ”. Tiếng than đó chất chứa một nỗi sầu da diết khôn nguôi, tác giả diễn tả qua hai tiếng giản dị mà hàm súc: “buồn lắm”. Đó cũng là nỗi buồn bàng bạc, trong hầu khắp các bài thơ của Tản Đà mà có lúc thi sĩ đã dẫn giải thật cụ thể trong một bài văn xuôi ngắn Giải sầu: “Từ độ sầu đến nay, ngày cũng có sầu, đêm cũng có sầu. Mưa dầm lá rụng mà sầu, trăng trong gió mát cũng là sầu, nằm vắt tay lên trán mà sầu…”. Cái sầu của bài thơ này là cộng hưởng nỗi buồn đêm thu với nỗi chán đời. Nỗi buồn đêm thu đã là cái thường tình thi sĩ, còn nỗi chán đời có duyên cớ: có nỗi ưu thời mẫn thế trước sự tồn vong của đất nước, của dân tộc, có nỗi đau nhân sinh trước những cảnh đời “gió gió mưa mưa”, có nỗi cô đơn, thất vọng, bế tắc của thân thế cá nhân mình trước một cái xã hội ngột ngạt, tầm thường, đầy bất công; nhân dân bị áp bức không lối thoát. Bởi thế Tản Đà cảm thấy bất hòa sâu sắc với xã hội và muốn thoát li khỏi cuộc đời đáng chán nản. Ngông là làm những việc trái với lẽ thường, khác với mọi người xung quanh mình. Trong văn học, ngông là biếu hiện cùa ngòi bút có cá tính mạnh mẽ, bất hòa sâu sắc với xã hội đương thời, không chịu gò ép mình trong khuôn khổ chật hẹp của lễ nghi lề thói thông thường, chẳng hạn Nguyễn Công Trứ lấy mo cau che đít bò đủng đỉnh cưỡi lên chùa trong Bài ca ngất ngưởng hay Trần Tế Xương trong bài Bần nhi lạc đã ngợi ca lối sống của chú Mán: “Không đội nói chịu màu da dãi nắng. Chẳng nhuộm răng, dể trắng dễ cười đời”. Tản Đà ngông khi chọn cách xưng hô thân mật, thậm chí hơi suồng sã với chị Hằng (gọi chị và xưng em), khi dám lên tận trời cao, tự nhận mình là tri kỉ, xem chị Hằng như một người bạn tâm tình để giãi bày mọi nỗi niềm sâu kín. Tản Đà cũng rất ngông trong ước nguyện “muốn làm thằng Cuội”. Thật là mơ mộng và thật là tình tứ khi tác giả muốn lên cung trăng để bầu bạn với chị Hằng, thoát li hẳn khỏi “cõi trần nhem nhuốc” mà ông đang rất chán ghét. Chính Tản Đà đã tự nhận mình vốn xưa là một vị tiên trên đời, bị đày xuống hạ giới vì tội “ngông”, đã từng viết bài thơ “Dạm bán áo đoạn” để mà “mua giấy viết ngông”. “Tựa nhau trông xuống thế gian cười” Đêm trung thu trăng sáng đẹp, người người đều ngẩng đầu lên chiêm ngưỡng trăng thì nhà thơ lại đang ngồi trên cung trăng, tựa vai chị Hằng để cùng ngắm thế gian và… cười. Cái cười ở đây có thể có hai ý nghĩa, vừa thỏa mãn vì đã đạt được khát vọng thoát li mãnh liệt, đã xa lánh hẳn được cõi trần bụi bặm, vừa thể hiện sự mỉa mai, khinh bỉ cái cõi trần gian giờ đây chỉ còn là “bé tí” khi mình đã bay bổng được lên trên nó. 4. Nghệ thuật độc đáo của bài thơ: Nguồn cảm xúc mãnh liệt, dồi dào, vừa phóng túng vừa bay bổng, lại vừa sâu lắng, thiết tha, được biểu hiện một cách tự nhiên, thoải mái, nhuần nhị như giọng tâm tình thân mật với người bạn tri âm, tri kỉ. Lời lẽ giản dị, trong sáng, không gọt đẽo cầu kì mà vẫn mượt mà, ý nhị, giàu sức biểu cảm, lại rất đa dạng trong lối biểu hiện. Sức tưởng tượng phong phú, táo bạo. Thể thơ Đường luật vẫn tuân thủ nghiêm chỉnh các quy tắc về vần, luật nhưng hoàn toàn không gò bò, công thức
Soạn Bài Muốn Làm Thằng Cuội Lớp 8 Của Tản Đà
747
Soạn bài Muốn làm thằng cuội Hướng dẫn I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Hai câu thơ đầu là tiếng than và lời tâm sự của Tản Đà với chị Hằng. Theo em, vì sao Tản Đà có tâm trạng chán trần thế? -Nhà thơ muốn làm thằng Cuội, lên chơi cung trăng cùng với chị Hằng là vì ông buồn, chán cuộc sống nơi trần thế, thích làm bạn cùng gió, cùng mây. “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi! Trần thế em đây chán nửa rồi”. -Nhà thơ nói chuyện muốn lên chơi trăng, nhưng thực ra ông muốn giãi bày tâm sự của mình: + Cái buồn, chán ở đây là có thực trong tâm trạng của Tản Đà. + Khi đó cuộc sống có nhiều điều đáng buồn chán, nhất là đối với một tâm hồn thi sĩ như ông. + Đất nước không có chủ quyền, những kẻ hãnh tiến thi nhau ganh đua, bon chen mà quên đi nỗi nhục mất nước. + Mặt khác, ông buồn vì mình là người tài hoa nhưng số phận nhiều rủi ro, lận đận trong đường đời. + Vì không đủ sức để thay đổi hiện thực bi kịch ấy nên ông muốn thoát ra khỏi nó, muốn làm thằng Cuội lên chơi trăng. Câu 2. Có nhận xét, Tản Đà là một hồn thơ “ngông”. Em hiểu “ngông” nghĩa là gì? Hãy phân tích cái “ngông” của Tản Đà trong ước muốn được làm thằng Cuội. Tản Đà với cá tính sống mà dường như nằm giữa cõi mộng và cõi thực, giữa cái tỉnh và cái điên, không giống như một ai như thế. Từ lâu, ông đã được mệnh danh là một hồn thơ “ngông”, vua ngông. Nhưng thực chất của cái ngôn đó là gì? “Thế gian có bác Tản Đà Quê hương thì có, cửa nhà thì không Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt li”. + Sống giữa cảnh đất nước lầm than và nhố nhăng thời đó, Tản Đà không phải không đủ sức tạo cho mình một cuộc sống sung túc, thậm chí giàu sang. + Tản Đà sẵn sàng đánh đổi cái nghèo vật chất để lấy cái giàu tinh thần. + Giữa cái ác, Tản Đà tách ra để đi đến cái thiện. + Giữa cái xấu, Tản Đà còn có ý thức vươn lên cái đẹp. Đẹp của đất trời. Đẹp của con người. Đẹp của văn chương. Đẹp cả trong cách sống. Cho nên, đúng là trong cái “ngông” của Tản Đà mà người đời từ lâu đã tinh ý nhận ra để không những không ghét, không khó chịu, lại còn cảm thấy vui, làm quý, bởi ở trong đó, đằng sau đó là nhân cách, là đạo lí làm người, là giá trị nhân bản. Cái “ngông” của Tản Đà một phần là cá tính tự nhiên, nhưng một phần cũng là do Tản Đà phải tự tạo để phản ứng lại với thứ ô trọc giữa cuộc đời. (Theo Nguyễn Đình Chú – Thơ văn Tản Đà) Câu 3. Phân tích hình ảnh cuối bài thơ: “Tựa nhau trông xuống thế gian cười” Em hiểu cái cười ở đây có nghĩa là gì? Cái “ngông” của Tản Đà trong bài thơ này tập trung chủ yếu ở hai câu cuối: “Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám Tựa nhau trông xuống thế gian cười”. Ở đây ông tự cho mình là người ở vị trí cao hơn tất cả, còn cuộc sống nơi trần thế chỉ là trần tục, thấp hèn, đáng cười. Ông cười tất cả. Đó chính là cái “ngông” của Tản Đà. Câu 4. Theo em những yếu tố nghệ thuật nào đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ? Bài thơ Muốn làm thằng cuội là bài thơ độc đáo, thú vị, giọng thơ nhẹ nhành, thanh thoát, chơi vơi. Trí tưởng tượng lại phong phú, kì diệu. Chất mộng ảo, chất ngông thấm đẫm bài thơ. Bài thơ có cái kết thoát li. Một cách nói phong tình tài hoa: “Thơ của ông là chất thơ trong như lọc với những cảnh tưởng không rõ rệt, những hình ảnh mờ mờ, ông vẽ những bức tranh tuyệt bút ; với những tư tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ mộng, ông làm nên những câu thơ tuyệt mĩ”. (Thi sĩ Tản Đà – Lê Thanh) Câu 5. Ý nghĩa. Tác giả khát khao được sống trong sạch hơn, thanh cao hơn để giữ mãi thiên lương cao đẹp. Bài thơ tuy có nói đến buồn, đến chán, đến thoát li, nhưng vẫn thấm đượm phong tình… Toàn bài thơ toát lên một tinh thần phủ định thực tại xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến xấu xa, mục nát. Sức hấp dẫn của bài thơ chính là sự tưởng tượng bay bổng của một tâm hồn thi sĩ lãng mạng. Đó là giá trị của bài thơ Muốn làm thằng Cuội. II.Luyện tập Câu 1. Nhận xét về phép đối trong 2 câu 3, 4 và 5, 6. -Phép đối trong 2 câu 3, 4. Nhà thơ cất tiếng hỏi: Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Nhưng không đợi trả lời, mà là để ngỏ lời: Cành đa, xin chị nhắc lên chơi. Phép đối ở đây không phải là sự trao đôi giữa hai người mà chỉ có nhà thơ. “Cung quế…”, “Cành đa” là nơi tượng trưng ở thiên giới, nơi tượng trưng ở trần gian. -Phép đối trong 2 câu 5, 6. Phép đối ở đây cũng diễn ra rất tế nhị: Có bầu có bạn, ca chi tủi, Cùng gió, cùng mây thế mới vui. + “Có bầu có bạn” với “cùng gió, cùng mây”. + “Can chi tủi” với “thế mới vui”. Lời thơ tuy có phong tình ỡm ờ một chút mà vẫn không buôn thả. Cạnh người đẹp, thi sĩ sẽ thoát khỏi cuộc đời trần thế ngột ngạt, tầm thường. Ở nơi trần thế, thi sĩ cô đơn không có bầu bạn, không có tri âm tri kỉ, điều đó thật tủi cực. Nay lên cung trăng với chị Hằng là tha hồ mở lòng ra “cùng gió, cùng mây” và theo ông “thế mới vui”, nghĩa là giải tỏa được nỗi buồn chán trong lòng. Trong cách nói ở hai câu 5, 6 không có dấu hiệu về ham muốn vật chất tầm thường, chỉ có ý nghĩa trân trọng những giá trị tinh thần cao đẹp. Câu 2. So sánh ngôn ngữ và giọng điệu ở bà thơ này với bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan ta thấy có những điều rất thú vị: -Ở bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh QUan, ta thấy giàu nhạc điệu, tạo nên vẻ đài các, trang nhà rất chuẩn của thơ Đường. Nghệ thuật dùng từ và diễn tả tài tình, đọc lên lòng ta có một cảm giác bâng khuâng, một nỗi buồn man mác. Nhà thơ đã sử dụng thành thạo các từ láy, từ tượng hình, tượng thanh và cách chơi chữ đồng âm trong thơ. -Ơ bài thơ Muốn làm thằng Cuội ta thấy giai điệu thật nhẹ nhàng, thanh thoát, pha chú tình tứ hóm hỉnh, có nét phóng túng, ngông nghênh của một hồn thơ lãng mạn. Lời thơ giản dị, trong sáng, gần với những lời nói thường ngày. Vần luật vẫn chặt chẽ nhưng không còn là thứ trói buộc hồn thi sĩ, tâm sự cứ tự nhiên tuôn chảy như không hề câu nệ một khuôn sáo nào. Sức hấp dẫn bài thơ chính là ở đó. Vẫn số câu, số chữ ấy, ý tứ vẫn hàm súc, chất chứa tâm trạng, nhưng nó không mực thước, trang trọng, đăng đối như bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.
Soạn bài Muốn làm thằng cuội
1,266
Soạn bài Mây và sóng Hướng dẫn Đọc – Hiểu văn bản Bài tập 1: Bài thơ có hai phần, cấu trúc tương đồng. -Ban đầu là thuật lại lời rủ rê. -Tiếp đến thuật lại lời từ chối và lí do từ chối. -Những trò chơi do em bé sáng tạo. Cứ tưởng đó là hai đoạn thơ độc lập bởi đoạn nào cũng đủ ý, diễn tả trọn vẹn một sự việc xảy ra giữa em bé và thiên nhiên bè bạn. Tưởng như việc loại bỏ bớt đoạn hai không ảnh hưởng nhiều đến ý nghĩa chung của cả bài thơ. Tác giả lại lặp đi lặp lại một kiểu cấu trúc, một ý tưởng là phần có lí do nào đó. Điều này có thể giải thích qua những đặc điểm tâm lí, tính cách của một cậu bé. Đã là trẻ con ai chẳng ham chơi. Những trò chơi của bạn bè đồng trang lứa có sức hấp dẫn thật kì lạ. Việc bạn bè đến rủ đi chơi có thể coi là những thử thách. Với thử thách thứ nhất, chú bé đã vượt qua bởi vì chú luôn yêu mẹ. Chú nghĩ đến việc mẹ đang đợi chú ở nhà và từ chối. Nhưng những người bạn lại đến rủ đi chơi. Lúc này là một thử thách thực sự đối với tâm tính của một chú bé. Cũng như lần trước, chú lại băn khoăn: “Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?”. Những người bạn lại nhiệt tình chỉ đường. Nhưng một lần nữa chú lại từ chối vì lòng yêu mẹ: “Buổi chiều mẹ luôn muốn ở nhà…”. Thử thách càng lớn thì lòng yêu mẹ của chú lại càng được chứng minh, được củng cố. Như vậy, việc nêu ra sự việc thứ hai (cũng là thử thách thứ hai) càng chứng tỏ tình yêu tha thiết của chú bé đối với mẹ. Trong trường hợp này, khổ thơ thứ hai có tác động trùng điệp, hô ứng, khẳng định những tình cảm đã được thể hiện trong thử thách thứ nhất. Bởi vậy, cả hai đoạn thơ là một cấu trúc thống nhất. Bài tập 2: Trong cả hai lần, khi những người bạn đến rủ rê, chú bé đều hỏi lại: “Con hỏi: Nhưng làm thế nào mình lên đó được?”. “Con hỏi: Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?”. Hỏi và được nghe trả lời, hướng dẫn chu đáo. Chi tiết này chứng tỏ tính xác thực, hấp dẫn của bài thơ. Trẻ con nào mà chẳng ham chơi. Khi nghe những lời mời gọi, lần nào chú bé cũng tỏ ra băn khoăn. Mặc dù vậy, tình yêu mẹ vẫn luôn chiến thắng. Chỉ cần nghĩ đến việc mẹ đang đợi ở nhà, mẹ không muốn chú đi chơi, chú đã nhất định từ chối những lời rủ rê dù những trò chơi ấy hấp dẫn đến đâu chăng nữa. Bài tập 3. Có thể nhận thấy những trò chơi chú bé sáng tạo ra không có gì đặc biệt: -’’Con là mây và mẹ sẽ là trăng Hai bàn tay com ôm lấy mẹ, và mái nhà ta là bầu trời xanh thẳm’’. -’’Con là sóng và mẹ là bến bờ kì lạ Con lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ’’. Thậm chí có thể coi đó không phải là những trò chơi đúng nghĩa. Nhưng có sao đâu, điều quan trọng nhất đối với chú bé là luôn được ở bên cạnh mẹ, có thể biểu hiện tình yêu đối với mẹ. ’’Hai bàn tay con ôm lấy mẹ’’, ’’Con lăn, con lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ’’. Quả là những trò chơi thật kì lạ, chúng cho thấy tình cảm mẹ con nồng ấm, thân thiết đến mức nào. Bài tập 4. Mây, trăng, sóng, bờ biển, bầu trời… là những hình ảnh đẹp do thiên nhiên ban tặng. Nhưng ai là người đang đến rủ chú bé đi chơi? ’’Trong mây có người gọi con’’, ’’Trên sóng có người gọi con’’… Thực ra đó chỉ là những âm thanh do chú bé tưởng tượng ra. Trên mây là tiếng của mây, trong sóng là tiếng của sóng. Hai hình ảnh đó có thể là biểu tượng của cuộc sống rộn rã, cuốn hút xung quanh, có sức hút kì lạ đối với mỗi con người, đặc biệt là với một chú bé. Đó là những hình ảnh ẩn dụ. Bài tập 5. ’’Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta đang ở đâu’’. Yêu mẹ, chú bé đã bày ra những trò chơi mà người tham gia chỉ là hai mẹ con. Đây không đơn giản là một ước muốn biệt lập, tách rời cuộc sống xung quanh mà là một tình yêu vô cùng sâu sắc, đằm thắm của chú bé đối với mẹ. Tình yêu ấy vượt lên trên cả những thú vui hằng ngày, thậm chú mãnh liệt đến mức lấn át tất cả những mối quan hệ khác. Chỉ cần hai mẹ con là đủ. Bài tập 6. Ngoài ý nghĩa ca ngợi tình mẹ con, bài thơ gợi cho ta nhiều suy ngẫm: -Con người trong cuộc sống thường gặp những cám dỗ (nhất là với một đứa trẻ). Muốn khước từ chúng, cần có những điểm tựa vững chắc, trong đó tình mẫu tử là điểm tựa vững chắc nhất. -Hạnh phúc không phải là điều bí ẩn. Hạnh phúc ở ngay trên trần thế, do chính con người tạo dựng nên…
Soạn bài Mây và sóng
917
Soạn bài Mã Giám Sinh mua Kiều Hướng dẫn I. Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Mã Giám Sinh, nhân vật chính của đoạn trích được thể hiện với những đặc điểm sau. a. Mã Giám Sinh là một kẻ lừa dối, vô học. Lừa dối: – Xưng danh không rõ ràng: thông thường họ tên phải đi liền với nhau như: Họ Kim tên Trọng, hay họ Từ tên Hải… Ở đây, hỏi tên lại trả lời bằng nghề nghiệp: Giám Sinh là thư sinh trường Quốc Tử Giám. Thực tế hắn không phải là thư sinh mà là một tay buôn người, nói dối là thư sinh để đánh lừa gia đình Thúy Kiều. – Lừa dối còn được thể hiện qua cách ăn mặc: hắn thuộc loại quá niên trạc ngoại tứ tuần, như vậy không còn trẻ nữ. Hắn muốn lấy vợ – mà lấy một người đẹp như Kiều thì cần phải trẻ để tương xứng, nên mới: Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao. Vô học: – Qua cách trả lời khi vấn danh: Hỏi tên, rằng….. – Hỏi quê, rằng…. Cách trả lời cộc lốc còn thể hiện vẻ vô lễ ngạo mạn. – Qua tư thế: đi hỏi vợ phải trịnh trọng, thế mà Mã Giám Sinh đến với hình ảnh một lũ đầy tớ nhốn nháo xô bồ như ở đường ở chợ. "Trước thầy sau tớ xôn xao" – Qua hành động ngang nhiên, ngạo mạn. "Ghế trên ngồi tót sỗ sàng" Ghế trên là ghế dành cho các bậc bề trên cao tuổi. Mã Giám Sinh đi hỏi vợ là phận con cháu thế mà lại nhảy tót lên ngồi. Ngồi tót là tư thế ngồi bất nhã, đó là cách ngồi của những kẻ vô học, kém văn hóa, cách ngồi của kẻ cậy cửa, khinh người. b. Mã Giám Sinh là kẻ vô lương tâm, tàn nhẫn. – Kiều là người con gái liễu yếu đào tơ. Gia cảnh lại đang trong cơn hoạn nạn, thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng, thế mà hắn không động lòng trắc ẩn. – Kiều không những là một tuyệt thế giai nhân mà còn là người con gái hiếu thảo, giàu đức hi sinh, bán mình chuộc cha. Hành động của nàng không ai lại không cảm phục. Nhưng Mã Giám Sinh vẫn không một chút mủi lòng, vẫn tiến hành mua bán một cách trắng trợn và thô bạo, bày trò Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ. c. Mã Giám Sinh là một tay buôn keo kiệt, bủn xỉn, lọc lõi lão luyện. – Lọc lõi lão luyện được thể hiện qua việc "chọn hàng, thử hàng". Kiều mà một người tài hoa, xinh đẹp thế nhưng Mã Giám Sinh xem nàng như một đồ vật, mà: "Đắn đo cân sức cân tài Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ". Đắn đo, cân, ép, thử… đủ thứ trò, lật nghiêng, xoay phải, xoay trái, xem phải để tìm ra vết xước nếu có – để kiểm định chất lượng của "món hàng" như thế nào. Hắn thuộc loại chỉ có lừa người chứ không bao giờ bị người ta lừa. – Bủn xin, keo kiệt: Sau khi xác định được "món hàng" là tuyệt hảo, đáng giá nghìn vàng, hắn mới bắt đầu trả giá: "Cò kè bớt một thêm hai Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm" Đáng giá nghìn vàng – mà chỉ trả với giá vàng ngoài bốn trăm. Hắn thừa biết gia cảnh của nàng Kiều hiện tại để bắt bí với giá rẻ mạt nhất. Chỉ có những kẻ lão luyện, tinh ranh trong nghề mới có thể mua bán được như vậy. Câu 2. Cảm nhận của em về hình ảnh của Thúy Kiều. Cuộc đời của Thúy Kiều, một cô gai tài hoa nhưng bạc mệnh, cuộc đời của nàng là một chuỗi dài của sự bi thương đau đớn. Trong đoạn trích, hình ảnh của nàng là một chuỗi dài của sự bi thương đau đớn. Trong đoạn trích, hình ảnh của nàng hiện lên tuy không nhiều nhưng chúng ta vẫn cảm nhận được tình cảnh tội nghiệp và nỗi đau đớn tái tê của nàng. a. Tình cảnh tội nghiệp. – Gia đình nàng gặp cơn nguy biến, bị thằng bán tơ vu oan. Bọn sai nha lập tức ùa tới "sạch sành sanh" vét cho đầy túi tham. – Cha và em nàng bị bắt, bị đánh đập tàn nhẫn: Tường cao rút ngược dây đàn – Dẫu là đá cũng nát gan là người. – Để cứu cha và em, Kiều đã hi sinh mối tình với Kim Trọng, bán mình chuộc cha. b. Nỗi đau đớn, tái tê. – Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng, Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai. Đó là nỗi đau đớn đến tột cùng. Từ một cô gái khuê các, sống trong cảnh "trướng gấm màn che" bỗng dưng nàng bị ném vào cuộc đời ô trọc, bầm dập. – Trong lòng nàng lúc bấy giờ đang ngổn ngang trăm mối tơ vò: tình duyên đứt đoạn, cha và em bị đánh đập, cửa nhà tan nát thế nhưng nàng phải đánh đàn, phải làm thơ để cho Mã Giám Sinh vừa lòng, trong lòng thì lại chất chứa lo lắng vì số phận sắp tới của mình. Câu 3. Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích. – Khinh bỉ, căm giận bọn người bất lương: Mã Giám Sinh là nhân vật xấu, tiêu biểu cho xã hội đầy thối nát lúc bấy giờ. Chính y và những kẻ khác đã đẩy cuộc đời những người dân lương thiện vào đường cùng ngõ cụt, vào tình cảnh đau đớn. Ngòi bút của Nguyễn Du vạch trạch bản chất của y và thực trạng đen tối của xã hội. – Đau đớn xót xa trước tình cảnh con người bị chà đạp: Thúy Kiều đẹp đẽ, tài sắc đến thế mà bị trở thành như một món hàng để cho những kẻ có tiền mặc sức mua bán, trả giá. Thân phận con người bị chà đạp, bị coi khinh. Mỗi bước đi của Kiều thấm đầy nước mắt, đó đâu chỉ là nước mắt của Kiều mà còn là nước mắt của Nguyễn Du khóc thương cho sự bất hạnh của con người.
Soạn bài Mã Giám Sinh mua Kiều
1,036
Soạn bài Môi trường quanh ta Hướng dẫn A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Cùng chơi: Tìm từ thích hợp với mỗi chỗ trống trong câu. Các nhóm thi chọn một quan hệ từ phù hợp với mỗi chỗ trông để hoàn thành hai câu sau (SGK/16). Gợi ý: a) Nếu rừng cây cứ bị chặt phá xơ xác thì mặt đất sẽ ngày càng thưa vắng bóng chim. b) Lúa gạo quý vì ta phải đổ bao mồ hôi mới làm ra được. 2.Tìm hiểu về quan hệ từ. 1)Đọc các câu sau: a)Rừng say ngây và ấm nóng MA VĂN KHÁNG b)Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục các loài chim dạo lên những khúc nhạc tưng bừng, ca ngợi núi sông đang đổi mới. VÕ QUẢNG c)Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt, không đơm đặt như hoa đào. Nhưng cành mai uyển chuyển hơn cành đào. Theo MÙA XUÂN VÀ PHONG TỤC VIỆT NAM 2)Trong mỗi ví dụ trên, từ in đậm được dùng để làm gì? Chọn câu trả lời đúng: a)Để nối các từ ngữ và biểu thị quan hệ giữa các từ ngữ được nối. b)Để xưng hô và biểu thị quan hệ giữa người này với người khác. c)Để thay thế và biểu thị mối quan hệ giữa các từ ngữ với nhau. 3)Chép lại câu dưới đây rồi gạch dưới cặp từ nối hai vế câu (SGK/17). Gợi ý: 2) a. 3)Tuy mảnh vườn ngoài ban công nhà Thu thật nhỏ bé nhưng bầy chim vẫn thường rủ nhau về tụ hội. 1.Tìm quan hệ từ trong mỗi câu sau và nêu rõ mỗi quan hệ từ nối những từ ngữ nào với nhau. a) Chim, Mây, Nước và Hoa đều cho rằng tiếng hót kì diệu của Hoạ Mi đã làm cho tất cả bừng tỉnh giấc. VÕ QUẢNG b)Những hạt mưa to và nặng bắt đầu rơi xuông như ai ném đá, nghe rào rào. NGUYỄN THỊ NGỌC TÚ c)Bé Thu rất khoái ra ban công ngồi với ông nội, nghe ông rủ rỉ giảng về từng loài cây. Theo VÂN LONG M: (Câu c) Quan hệ từ với nối ngồi và ông nội. Gợi ý: a) Quan hệ từ và nối Chim, Mây, Nước với Hoa. Quan hệ từ rằng nối cho với bộ phận đứng sau. Quan hệ từ của nổi tiếng hót kì diệu với Hoạ Mi. b) Quan hệ từ và nối to với nặng. Quan hệ từ như nối rơi xuống với ai ném đá. 2.Tìm gặp quan hệ từ trong mỗi câu sau và cho biết chúng biểu thị quan hệ gì giữa các bộ phận của câu. a)Vì mọi người tích cực trồng cây nên quê hương em có nhiều cánh rừng xanh mát. b)Tuy mưa nhiều nhưng rau vườn nhà em vẫn không bị dập nát. Gợi ý: Cặp quan hệ từ trong mỗi câu trên có thể biểu thị một trong số các quan hệ sau: nguyên nhân — kết quả, tương phản, điều kiện – kết quả. a) Vì… nên…: biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả. b) Tuy… nhưng…: biểu thị quan hệ tương phản. 3.a) Đặt câu với mỗi quan hệ từ: và, nhưng, của. Gợi ý: a) – Em và Lan cùng học nhóm. -Trời mưa to nhưng mẹ vẫn ra đồng. –Trái đất nay là của chúng mình. 4.Tìm ý để chuẩn bị viết đơn theo đề bài sau: Phố em có một hàng cây to, nhiều cành vướng vào đường dây điện, một sô” cành sà xuống thấp, mùa mưa bão đến dễ gây nguy hiểm. Em hãy giúp bác tổ trưởng dân phố làm đơn gửi công ti cây xanh hoặc uỷ ban nhân dân địa phương (quận, huyện, thị xã, thị trấn,…) đề nghị cho tỉa cành để tránh xảy ra tai nạn đáng tiếc. 5.Viết đơn theo nội dung em đã chuẩn bị. Gợi ý: CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Thành phố Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm… ĐƠN ĐỀ NGHỊ TỈA CÀNH SỚM Kính gửi: Công ti Cây xanh của thành phố. Tôi tên: Nguyễn Văn An. Sinh năm 1964. Là tổ trưởng tổ dân phố 12, khu phô” 4, phường 14, quận 5. Kính thưa quý Công ti, Mùa mưa đã gần kề, khu phố chúng tôi có một hàng cây to, cành nhánh loà xoà, nhiều nhánh vướng vào đường dây điện không được an toàn. Chúng tôi e rằng khi mùa mưa bão đến, nhiều khả năng gây ra những sự cô” đáng tiếc. Các cành khô gãy rơi xuông gây nguy hiểm cho người đi đường, còn những cành nhánh vướng vào đường dây điện kia rất dễ gây ra sự cố chập điện, cháy nổ ảnh hưởng đến cả một khu vực. Kính mong quý Công ti sớm xem xét và giải quyết đề nghị của chúng tôi. Chúng tôi cùng toàn thể người dân tổ 12 xin chân thành cảm ơn. Kính đơn Kí tên Nguyễn Văn An C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG 1. Tìm hiểu về việc bảo vệ môi trường ở địa phương em. Gợi ý: -Người dân địa phương em đã làm gì để môi trường luôn sạch, đẹp? -Rác thải ở địa phương em được xử lí như thế nào? -Cây cối ở địa phương em được trồng, chăm sóc và bảo vệ ra sao? Gợi ý: – Để môi trường luôn sạch, đẹp, người dân địa phương em không xả rác bừa bãi. Rác thải được phân loại rồi bỏ vào bao cho xe rác đến lấy. Hằng tuần vào ngày chủ nhật, mọi người cùng nhau phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh. Hàng cây được trồng ven đường cho bóng mát và lọc không khí cũng được cắt tỉa gọn gàng.
Soạn bài Môi trường quanh ta
902
Mùa Xuân Của Tôi là một bài văn hay nằm trong chương trình Ngữ văn lớp 7, tập 1. Việc học bài sẽ rất khó nếu như học sinh chúng ta không đọc bài, soạn bài trước khi đến lớp. Thấu hiểu được điều này thì Giải Văn cũng đã hệ thống hóa câu hỏi, câu trả lời cho các em học sinh trong bài soạn ngày hôm nay. Soạn bài: Mùa xuân của tôi Bài làm Hướng dẫn soạn bài Bố cục bài Mùa xuân của tôi – Phần 1 (Từ đầu … mê luyến tâm hồn): Đó cũng chính là những cảm nhận về quy luật tình cảm con người. – Phần 2 (tiếp … mở hội liên hoan): Miêu tả được những cảnh sắc, không khí mùa xuân Hà Nội. – Phần 3 (còn lại): Miêu tả được cảnh sắc, không khí mùa xuân sau ngày rằm tháng giêng đẹp đẽ. Câu 1 (Sách giáo khoa trang 177 Ngữ Văn 7 Tập 1): Bài văn viết về cảnh sắc và không khí mùa xuân ở đâu? Hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả khi viết bài này? Bài văn “Mùa xuân của tôi” đã viết về cảnh sắc, không khí mùa xuân ở miền Bắc (Hà Nội). Tác phẩm cũng đã được viết khi tác giả ở Sài Gòn trước 1975 trong sự kiểm soát của Mĩ ngụy và nó cũng miêu tả được tâm trạng nhớ thương da diết. Câu 2 (Sách giao khoa trang 177 Ngữ Văn 7 Tập 1): Bài văn có thế chia thành mấy đoạn? Nêu nội dung chính của mỗi đoạn và sự liên kết giữa các đoạn. Chúng ta nhận thấy được bố cục bài văn được chia như ở trên và các đoạn được liên kết với nhau bằng mạch cảm xúc chặt chẽ, liên kết với nhau. Câu 3 (Sách giáo khoa trang 177 Ngữ Văn 7 Tập 1): Đọc lại đoạn văn “tôi yêu sông xanh, núi tím” đến “mở hội liên hoan” và cho biết: a- Cảnh sắc của mùa xuân Hà Nội và miền Bắc được gợi tả như thê nào, qua những chi tiết nào? b- Mùa xuân đã khơi dậy sức sống trong thiên nhiên và con người như thế nào? Những tình cảm gì trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng tác giả khi mùa xuân đến? c- Em có nhận xét gì về giọng điệu và ngôn ngữ của đoạn văn này? a. Thông qua đoạn văn chúng ta có thể nhận thấy được chính cảnh sắc mùa xuân Hà Nội và miền Bắc được gợi tả: Hình ảnh cảnh sắc đất trời (sông xanh núi tím, mưa riêu, gió, đường không lầy lội, hay đó còn có cả những tiếng nhạn trong đêm, tiếng trống chèo, tiếng hát huê tình đằm thắm). Hơn hết ở đó có cả con người (nghi lễ đón xuân, có cả không khí gia đình êm đềm, ấm áp). c. Tiếp đến chính là cái giọng điệu trữ tình vừa sôi nổi vừa tha thiết, ngôn ngữ thiên về gợi cảm thật đẹp đẽ. Câu 4 (Sách giáo khoa trang 177 Ngữ Văn 7 Tập 1):Đọc từ đoạn văn “Đẹp quá đi” đến hết và tìm hiểu: a- Không khí và cảnh sắc thiên nhiên từ sau ngày rằm tháng giêng qua sự miêu tả của tác giả. b- Qua việc tái hiện những cảnh sắc và không khí ấy, tác giả đã thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm trước thiên nhiên như thế nào? a. Về không khí, cảnh sắc thiên nhiên sau ngày rằm tháng giêng hiện lên thật đẹp: – Khi Tết hết mà chưa hết hẳn, hình ảnh đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong. – Cây cỏ lúc này đây không mướt xanh nhưng nức một mùi hương man mác. – Hình ảnh con người trở về bữa cơm giản dị thật vui biết bao nhiêu. – Không chỉ dừng lại ở đó thì các trò vui ngày tết tạm kết thúc nhường chỗ cho cuộc sống thường nhật tiếp diễn. b. Chúng ta nhận thấy được thông qua việc tái hiện cảnh sắc, không khí thiên nhiên thì đã cho thấy tác giả vô cùng tinh tế, vô cùng nhạy cảm, rất am hiểu phong tục tập quán người Việt và rất yêu thiên nhiên nữa. Soạn bài Mùa Xuân Của Tôi Ngữ Văn 7 Câu 5* (Sách giáo khoa trang 178 Ngữ Văn 7 Tập 1): Có lẽ rằng cũng chính cảnh sắc mùa xuân miền Bắc qua ngòi bút Vũ Bằng thật đẹp. Đồng thời ở đây cũng chính là một sự giao hòa đất trời, xuân xây mộng ước mơ, đầy sức sống luôn luôn đằm thắm yêu thương, đoàn tụ sum vầy, đậm bản sắc dân tộc Việt. Luyện tập Câu 1 (Sách giáo khoa trang 178 Ngữ Văn 7 Tập 1): Nêu cảm nhận của em về cảnh sắc mùa xuân qua ngòi bút tài hoa và tinh tế của tác giả. Chỉ ra một số đoạn văn, câu thơ hay về mùa xuân sau đây: – Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ. (Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải) Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già (Vội vàng – Xuân Diệu) Câu 2 (Sách giáo khoa trang 178 Ngữ Văn 7 Tập 1): Viết một đoạn văn diễn tả cảm xúc của em về một mùa trong năm ở quê hương hay nơi mình đang sống. Đoạn văn tham khảo dưới đây: Trong trời đất thì mỗi mùa lại mang được một vẻ đẹp riêng vốn có của nó. Nếu như mùa đông mang cái lạnh cắt da cắt thịt, mùa xuân cây cối đâm chồi nảy lộ. Hay còn mùa hè thì cảnh sắc cây cối xanh um, những chùm quả chín mọng thì mùa thu lại mang được một vẻ đẹp trữ tình. Cảnh vật mùa thu như được nhuốm màu vàng của lá, không khí thì mát mẻ có lúc lại se se lạnh. Cảnh thu khiến cho con người ta phải suy ngẫm về cuộc đời, là một khoảng lặng để con người ta nhìn nhận và nhận ra được mình cần phải làm gì. Mùa thu thật đẹp và cũng thật ý nghĩa! Toàn bộ bài soạn văn “Mùa xuân của tôi” cũng đã được giải Văn chọn lọc, miêu tả và hệ thống hóa kiến thức đầy đủ nhất tiện cho các em học sinh theo dõi. Hi vọng bài soạn cũng chính là một cuốn sổ tay văn học cho các em học sinh học bài hiệu quả hơn. Chúc các em học tốt! Minh Nguyệt Các em có thể tham khảo một số bài soạn liên quan đến chương trình Ngữ văn 7 dưới đây: Soạn bài Tục ngữ về con người và xã hội Soạn bài Cảnh Khuya Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta Soạn bài Những câu hát than thân Soạn bài Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người
Soạn bài Mùa Xuân Của Tôi Ngữ Văn 7
1,141
Soạn bài Mùa xuân nho nhỏ Hướng dẫn I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Thể thơ 5 chữ của bài thường không ngắt nhịp ổn định trong từng câu. Chẳng hạn: Mọc giữa dòng (3) sông xanh (2) Từng giọt (2) long lanh rơi (3) và các khổ thơ cũng không đều đặn. Chẳng hạn khổ 1 và 2 có 6 dòng, khổ 3, 4, 5 có 4 dòng nhưng khổ 6 lại 5 dòng. Nhịp điệu và giọng điệu của bài có biến đổi theo mạch cảm xúc: say sưa, trìu mến ở phần đầu khi diễn tả cảm xúc về mùa xuân đất trời; nhịp nhanh, hối cả, phấn chấn khi nói về mùa xuân đất nước; giọng tha thiết, trầm lawsg khi bày tỏ suy nghĩ và ước nguyện được góp “mùa xuân nhỏ” của đời mình vào “mùa xuân lớn”của đất nước. -Từ mạch cảm xúc, ta xác định bố cục bài thơ: + Khổ đầu (gồm 6 dòng): Cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời. + Hai khổ tiếp theo (“Mùa xuân người cầm súng… Cứ đi lên phía trước”): Hình ảnh mùa xuân đất nước. + Hai khổ tiếp (“Ta làm con chim hót… Dù là khi tóc bạc”): Suy nghĩ và ước nguyện của nhà thơ trước mùa xuân đất nước. + Khổ cuối: Lời ngợi ca quê hương, đất nước qua điệu dân ca xứ Huế. Câu 2. Hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên và đất nước qua cảm xúc nhà thơ. -Mùa xuân ở khố thơ đầu là mùa của thiên nhiên, đất trời. -Vài nét phác họa của tác giả về mùa xuân: dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót vang trời. Chỉ bằng vài bức họa nhưng vẽ ra được cả không gian cao rộng (với dòng sông, mặt đất, bầu trời bao la), cả màu sắc tươi thắm của mùa xuân (sông xanh, hoa tím biếc màu tím đặc trưng cho xứ Huế), cả âm thanh vang vọng, tươi vui của chim chiền chiện (Hót chi mà vang trời). -Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên được diễn tả tập trung ở các chi tiết rất tạo hình này: Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng + Từng giọt ở đây là giọt mùa xuân long lanh trong ánh sáng của trời xuân. + Nhưng cũng còn có thể hiểu đưa tay hứng từng giọt âm thanh tiếng chim. Tiếng chim từ chỗ âm thanh (cảm nhận được bằng chính giác) chuyển thành từng giọt (hình khối, cảm nhận được bằng thị giác), từng giọt long lanh ánh sáng và màu sắc, có thể cảm nhận cả bằng xúc giác (tôi đưa tay tôi hứng). + Dù hiểu theo cách nào thì hai câu thơ vẫn biểu hiện niềm say sưa, ngây ngất của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất lúc vào xuân. -Từ mùa xuân của thiên, trời đất, nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân của đất nước với hình ảnh ‘’người cầm súng’’, ’’người ra đồng’’ biểu trưng cho hai nhiệm vụ chiến đấu và lao động xây dựng đất nước. Thực ra ý này không mới, nhưng tác giả đã tạo nên sức gợi cảm cho câu thơ bằng hình ảnh lộc non của mùa xuân gắn với người cầm súng, người ra đồng: ’’Lộc giắt đầy trên lưng… Lộc trải dài nương mạ’’. Mùa xuân của đất trời đọng lại trong hình ảnh lộc non, đã theo người cầm súng và người ra đồng, hay chính là họ đã đem mùa xuân đến với mọi nơi trên đất nước. Sức sống của mùa xuân đất nước còn được cảm nhận trong nhịp điệu hối hả, những âm thanh xôn xao. Và đất nước được hình dung bằng một hình ảnh so sánh đẹp: Đất nước như vì sao / Cứ đi lên phía trước. Câu 3. Tâm niệm của nhà thơ. -Từ cảm xúc về mùa xuân của thiên nhiên, đất nước, mạch thơ chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân đất nước. Đó là khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên, giản dị và đẹp. Đẹp và tự nhiên vì nhà thơ đã dùng những hình ảnh đẹp đẽ của thiên nhiên để nói lên ước nguyện của mình: ’’Ta làm con chim hót / Ta làm một nhành hoa’’. Để nói đến điều này, ngay ở phần đầu của bài thơ, tác giả đã phác họa hình ảnh mùa xuân bằng các chi tiết bông hoa và tiếng chim hót. Cách cấu tứ lặp lại như vậy tạo ra sự đối ứng chặt chẽ. Những hình ảnh chọn lọc ấy được trở lại đã mang một ý nghĩa mới: niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên như con chim mang đến tiếng hót, bông hoa tỏa hương sắc cho đời. Nét riêng của Thanh Hải là nói một cách tha thiết, nhỏ nhẹ như điều tâm niệm chân thành qua những hình tượng đơn sơ nhiều xúc cảm. Câu 4. Những phương tiện, thủ pháp nghệ thuật. -Thể thơ 5 chữ gần với các điệu dân ca, đặc biệt là dân ca miền Trung, có âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết. Sử dụng cách gieo vần liền giữa các khổ thơ tạo sự liền mạch của dòng cảm xúc. -Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị từ thiên nhiên với những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát. Điều đáng chú ý là những hình ảnh biểu trưng thường được phát triển từ những hình ảnh thực, tạo nên sự lặp lại mà nâng cao, đổi mới của hệ thống hình ảnh (cành hoa, con chim, mùa xuân). -Cấu tứ của bài thơ chặt chẽ, dựa trên sự phát triển của hình ảnh mùa xuân. Từ mùa xuân của đất trời sang mùa xuân của đất nước và mùa xuân của mỗi người góp phần vào mùa xuân lớn của cuộc đời chung. -Giọng điệu bài thơ thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của tác giả. Giọng điệu có sự biến đổi phù hợp với nội dung từng giai đoạn: vui, say sưa ở đoạn đầu ; trầm lắng, hơi trang nghiêm mà thiết tha ở đoạn bộc bạch những tâm niệm ; sôi nổi và tha thiết ở đoạn kết. Câu 5. Sự sáng tạo đặc sắc nhất của Thanh Hải trong bài thơ là ở hình ảnh mùa xuân nho nhỏ. Cùng với những hình ảnh cành hoa, con chim, nốt nhạc trầm xao xuyến, tất card đều mang một vẻ đẹp bình dị, khiêm nhường, thể hiện điều tâm niệm chân thàn, tha thiết của nhà thơ. Mỗi người phải mang đến cho cuộc đời chung một nét riêng, cái phần tinh chất tài năng và nhiệt tình của mình, dù nhỏ bé, góp và cuộc đời rộng hơn. Nhưng dâng hiến, hòa nhập mà không làm mất đi nét riêng của mỗi người. Nguyện ước rất khiêm nhường. Nhà thơ muốn làm một nốt trầm trong bản hòa ca, nhưng là một nốt trầm xao xuyến. Người ta đã dùng nhiều định ngữ gắn với mùa xuân như mùa xuân chín, mùa xuân xanh, xuân ý, xuân lòng… nhưng mùa xuân nho nhỏ là một phát hiện mới mẻ và sáng tạo. Nhà thơ nguyện làm một mùa xuân, nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường là một mùa xuân nhỏ góp vào mùa xuân lớn của đất nước, của cuộc đời chung.
Soạn bài Mùa xuân nho nhỏ
1,302
Soạn bài Mẹ tôi Hướng dẫn Câu hỏi 1: Văn bản là một bức thư của một người bố gửi cho con, nhưng tại sao tác giả lại lấy nhan đề là “Mẹ tôi”? Gợi ý -Vai trò cao cả và lớn lao của người mẹ là điều mà người bô’ muôn En- ri- cô hiểu được khi cậu trót vô lễ với mẹ. -Thông qua người bố, En-ri-cô sẽ hiểu được một cách khách quan những gian khổ, hi sinh mà người mẹ đã âm thầm, lặng lẽ dành cho đứa con. -Người mẹ chính là hình ảnh trung tâm của bức thư. Bởi vậy, tác giả lấy nhan đề là “Mẹ tôi” mặc dù văn bản là một bức thư của người bô’ gửi cho con. Câu hỏi 2: Thái độ của người bố đối với En- ri- cô là thái độ như thế nào? Dựa vào đâu mà em biết được? Lí do gì đã khiến ông có thái độ ấy? Gợi ý -Người cha có thái độ hết sức buồn bã, đau đớn và tức giận đối với En- ri- cô khi cậu phạm lỗi với mẹ (lúc cô giáo đến thăm), thể hiện rất rõ qua các từ ngữ, câu văn sau: +“Sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy”. +“Nhớ lại điều ấy, bô’ không thể nén được cơn tức giận đối với con”. +“Thà rằng bố không có con, còn hơn là thấy con bội bạc.” -Lí do khiến ông có thái độ buồn bã, đau đớn tức giận: – “Lúc cô giáo đến thăm, khi nói với mẹ, tôi có nhỡ thốt một lời thiếu lễ độ” Điều này cho thấy ông là một người bố rất yêu con, xem con cái là niềm hy vọng tha thiết nhất của cuộc đời. Câu hỏi 3: Trong truyện có những hình ảnh, chi tiết nào nói về người mẹ của En- ri- cô? Qua đó, em hiểu mẹ của En- ri- cô là người như thế nào? Gợi ý Những hình ảnh, chi tiết nói về người mẹ: “Mẹ đã phải thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con!…”; “người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng đế cứu sống con!”. Chúng ta vô cùng xúc động trước hình ảnh một người mẹ dịu dàng, vị tha và cảm nhận sâu sắc lòng yêu thương vô bờ mẹ đã dành cho đứa con yêu dấu. Mẹ sắn sàng hy sinh tất cả vì con. Câu hỏi 4. Theo em, điều gì đã khiến En- ri-cô “xúc động vô cùng” khi đọc thư của bố? Hãy tìm hiểu và lựa chọn những lí do mà em cho là đúng. Ngoài những lí do đó, còn có lí do nào khác không? Có thể lựa chọn các phương án a, c, d. Tuỳ vào sự cảm nhận mà HS có thể nêu lên các lí do khác, chẳng hạn như -En- ri- cô là một cậu bé thông minh, nhạy cảm và hiếu thảo nên cậu đã nhận ra lỗi lầm của mình và thâm thìa những lời dạy bảo của người cha. -En- ri- cô đã thấu hiểu sự hi sinh cao cả của mẹ dành cho mình và niềm tin yêu của người cha dành cho em. Câu hỏi 5: Theo em tại sao người bố không nói trực tiếp với En- ri- cô mà lại viết thư? Gợi ý Nếu người bố nói trực tiếp với đứa con về những lỗi lầm mà con đã gây ra thì tác dụng giáo dục sẽ không cao. Bởi vậy ông thật thông minh khi tâm sự với con qua lá thư: vừa kín đáo, tế nhị lại vừa có thể bộc lộ tình cảm sâu sắc, chân thành và bản thân người con khi đã phạm lỗi được bố chỉ ra khuyết điểm cũng không bị làm mất đi lòng tự trọng. Mặt khác, qua lá thư En- ri- cô cũng có thời gian để ngẫm nghĩ và thấu hiểu những lời dạy bảo của cha. LUYỆN TẬP Bài tập 1. Hãy chọn một đoạn trong thư của bố En- ri- cô có nội dung thể hiện vai trò vô cùng lớn lao của người mẹ đối với con và học thuộc đoạn đó. -Mỗi HS đều có thế’ lựa chọn và học thuộc đoạn văn mà bản thân cho là sâu sắc nhất để thể hiện vai trò vô cùng to lớn của người mẹ đối với con. -Đó chính là đoạn văn: “Con hãy nhớ rằng, tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình yêu thương đó”… Bài tập 2. Hãy kể lại một sự việc em đã gây ra khiến bố, mẹ buồn phiền? Gợi ý -Trong cuộc sông của mỗi con người, chắc chắn ai cũng đã một lần vi phạm khuyết điểm làm cho cha, mẹ phải phiền lòng. Vì vậy, mỗi em đều có thế kể lại các sự việc khác nhau của bản thân. Các sự việc đó có thể đi từ: Em mắc lỗi làm cho cha, mẹ đau khổ phiền lòng. Em cảm thấy ăn năn, hối lỗi khi nhận ra cha mẹ là người vô cùng yêu thương và sẵn sàng hi sinh tất cả vì con cái. Em xin lỗi, sửa chữa và cố gắng học hành chăm ngoan.
Soạn bài Mẹ tôi
927
Soạn bài Một dải biên cương Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Quan sát các tâm ảnh dưới đây và cho biết em có cảm nhận gì về cảnh vật và những con người trong ảnh (SGK/66). Gợi ý: Cảnh vật thiên nhiên đẹp như tranh vẽ với những dòng sông uốn lượn, nhừng thác nước hùng vĩ cùng cây côi bạt ngàn. Con người chân chất, hồn nhiên và cần cù lao động, xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp hơn. 2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Cao Bằng” (SGK/67) 5.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Những từ ngữ và chi tiết nào ở khổ thơ 1 nói lên địa thế xa xôi, hiểm trở của Cao Bằng? 2)Tác giả sử dụng những từ ngữ, hình ảnh nào ở khổ thơ 2 và 3 để nói lên: -Lòng mến khách của người Cao Bàng? -Sự đôn hậu của người Cao Bẳng? 3)Tìm những hình ảnh thiên nhiên được so sánh với lòng yêu nước cùa người Cao Bằng (khổ thơ 4 và 5). 4)Qua khổ thơ cuối bài, tác giả muốn nói điều gì? Chọn ý đúng để trả lời: a.Cao Bằng có vị trí rất quan trọng, người Cao Bằng đã vì cả nước mà giữ vững biên cương. b.Khó đo được chiều cao của núi non Cao Bằng, không đo hết được tình yêu đất nước của người Cao Bằng. c.Tình yêu nước của người Cao Bàng thầm lặng mà trong trẻo như suối sâu. Gợi ý: -Từ ngữ: Sau khi qua, Ta lại vượt, lại vượt -Chi tiết: Đèo Gió, Đèo Giàng, đèo Cao Bắc 2)Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện: -Lòng mến khách của người Cao Bằng: mận ngọt đón môi ta dịu dàng. -Sự đôn hậu: rất thương, rất tháo, lành như hạt gạo, hiền như suối trong. 3)Những hình ảnh thiên nhiên so sánh với lòng yêu nước của người Cao Bằng: núi non Cao Bằng, trong suốt như suối. 4)a B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Dựa vào kiến thức đã học ở lớp 4, trả lời các câu hỏi sau (viết vào phiếu học tập) (SGK/69) Gợi ý: a) Thế nào là kể chuyện? Kể một chuỗi sự việc có đầu, có cuối; liên quan đến một hay một số nhân vật. Mỗi câu chuyện đều có ý nghĩa của nó. b) Tính cách của nhân vật được thể hiện qua những mặt nào? – Hành động – Lời nói, ý nghĩ – Đặc điểm ngoại hình c) Bài văn kể chuyện có cấu tạo như thế nào? – Mở đầu câu chuyện – Diễn biến câu chuyện – Kết thúc câu chuyện 2.a) Đọc câu chuyện “Ai giỏi nhất” (SGK/69) b) Chọn ý đúng nhât đế trả lời câu hỏi: b1. Câu chuyện trên có mấy nhân vật? ….. Hai….. Ba….. Bốn b2. Tính cách của các nhân vật được thể hiện qua những mặt nào? …. Lời nói…. Hành động… Cả lời nói và hành động b3. Ý nghĩa của câu chuyện trên là gì? ….Khen ngợi Sóc thông minh và có tài trồng cây, gieo hạt. ….Khuyên người ta biết lo xa và chăm chỉ làm việc. ….Khuyên người ta tiết kiệm. Gợi ý: b) b1. Bốn; b2. Cả lời nói và hành động; b3. Khuyên người ta biết lo xa và chăm chỉ làm việc 3.Đọc lời giới thiệu sau và nghe thầy cô kể câu chuyện “Ông Nguyền Khoa Đăng”. (SGK/70) Tham khảo tại 6.Nói về sự thông minh, tài trí của ông Nguyễn Khoa Đăng: a)- Trong cách tìm ra kẻ ăn cắp tiền của anh bán dầu. -Trong phán đoán đúng đắn, lột được mặt nạ của kẻ giả mù. b)- Trong mưu kế tố chức bắt bọn cướp, trong ngoài phối hợp, rất bất ngờ. -Trong việc sử dụng sức người để khai khẩn đất hoang vùng biên giới. Gợi ý: a) – Ông lấy tiền của kẻ mù bỏ vào nước thì có váng dầu nổi lên; chứng tỏ đồng tiền ấy là của anh bán dầu. – Ông phán đoán đúng đắn khi xác định chỉ có kẻ sáng mới biết chỗ anh bán dầu đế tiền mà lấy. Và lột mặt nạ của kẻ giả mù. b) – Ông khéo léo sắp xếp binh lính núp trong hòm gỗ kín đế bọn cướp khiêng về tận sào huyệt. Rồi bất thình lình xông ra từ trong sào huyệt, phối hợp cùng phục binh của triều đình từ bên ngoài tóm gọn bọn cướp. – Ông đã sử dụng nguồn lực của bọn cướp để khai khẩn đất hoang vùng biên giới, vừa tạo việc làm để bọn cướp hoàn lương vừa phát triển vùng rừng núi thành những xóm làng sầm uất.
Soạn bài Một dải biên cương
732
Soạn bài Một thứ quà của lúa non: cốm (Thạch Lam). Hướng dẫn 1. Mở bài: * Giới thiệu chung: – Thạch Lam (1910 – 1942) là một trong những cây bút chủ chốt của Tự lực văn đoàn vào nhừng năm ba mươi của thếkỉ XX. – Ông viết nhiều về số phận của những con người nghèo khổ, dành cho họ tình cảm xót thương rất chân thành. – Truyện ngắn Thạch Lam nhẹ nhàng, tinh tếmà không kém phần sâu sắc, xúc động. – Ngoài ra, Thạch Lam còn rất thành công ở thế kỉ, nhất là khi viết về bản sắc văn hóa lâu đời của con người Hà Nội. Bài Một thứ quảcủa lúa non: Cốm trích trong tập tuỳ bút Hà Nội băm sáu phố phường, xuất bản năm 1943 là một ví dụ tiêu biểu. 2. Thân bài: * Giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ: + Nội dung: – Tác giả giới thiệu cốm là một món quà đặc biệt chỉ riêng Hà Nội mới có bằng tình cảm yêu mến, tự hào. – Khẳng định: “Cốm là thứ quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ”… – Nêu rõ mùa cốm, nguồn gốc của cốm và cách thức chế biến cốm. – Cốm Vòng nổi tiếng nhất, ngày xưa dùng đểtiến vua. + Nghệ thuật: – Giọng điệu bài văn nhịp nhàng, âm hưởng trầm bổng, du dương. – Ngôn ngữ chọn lọc, trau chuốt, giàu hình ảnh gợi tả, gợi cảm, khơi dậy niềm xúc động trong lòng người đọc. 3. Kết bài: – Giữa món ăn dân dã là món cốm với người nông dân Việt Nam có những nét tương đồng: tự nhiên, thuần hậu, chất phác nhưng đáng quý vô cùng. – Bài văn đẹp và hay giông như một bài thơ trữ tình xuất sắc.
Soạn bài Một thứ quà của lúa non_ cốm (Thạch Lam).
320
Soạn bài Một vụ đắm tàu Hướng dẫn A- KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM Giọng đọc toàn bài là giọng đọc của người đang kể chuyện. Em cần căn cứ vào nội dung của từng đoạn để có giọng đọc phù hợp với nội dung, sự việc diễn ra trong từng đoạn. Phần đầu thong thả, chậm rãi, phần cuối đọc nhanh theo diễn biến của sự việc. Kết thúc câu chuyện, giọng đọc trầm xuống thể hiện sự bàng hoàng, xúc động trong những giờ khắc tuyệt vọng, đau xót của Giu-li-ét-ta giơ tay chào lần cuối Ma-ri-ô người bạn có một tấm lòng cao thượng, đáng yêu, đáng kính trọng nhất của mình: sẵn sàng nhận cái chết để cho mình sống. B- TÌM HIỂU NỘI DƯNG BÀI 1-Phân đoạn: Bài văn có thể chia làm 5 đoạn để luyện đọc. -Đoạn 1: Từ đầu đến… “về quê sông với họ hàng”. -Đoạn 2:Tiếp đoạn1 cho đến… “băng cho bạn”. -Đoạn 3:Tiếp đoạn2 cho đến… “quang cảnh thậthỗnloạn”. -Đoạn 4:Tiếp đoạn3 cho đến… “thẫn thờ, tuyệtvọng”. -Đoạn 5:Phần cònlại của câu chuyện. 2-Nội dung bài: Câu 1: Nêu hoàn cảnh và mục đích chuyến đi của Ma-ri-ô và Giu-li-ét-ta. Trả lời: – Ma-ri-ô do hoàn cảnh bố mất nên về quê sống với họ hàng. -Giu-li-ét-ta trên đường về nhà để gặp bố mẹ. Câu 2: Giu-li-ét-ta chăm sóc Ma-ri-ô như thế nào khi bạn bị thương? Trả lời: Khi bạn bị thương Giu-li-ét-ta chăm sóc bạn rất tận tình, chu đáo: thấy bạn bị ngã dụi, Giu-li-ét-ta hốt hoảng chạy lại, quỳ xuống bên bạn, lau máu trên trán bạn, dịu dàng gỡ chiếc khăn đỏ trên mái tóc băng vết thương cho bạn. Trả lời: Quyết định nhường bạn xuống xuồng cứu nạn của Ma- ri-ô là một hành động dũng cảm tuyệt vời, thể hiện một tâm hồn cao thượng, biết là mình sẽ chết nhưng sẵn sàng nhường sự sống cho bạn. Câu 4: Hãy nêu cảm nghĩ của em về hai nhân vật chính trong truyện. Trả lời: Em có thể nêu như sau: Qua tình cảm và hành động của cả hai đoạn: Giu-li-ét-ta và Ma-ri-ô đối với nhau em thật sự cảm mến, cảm phục và trân trọng cả hai bạn: -Giu-li-ét-ta thì tốt bụng, giàu tình cảm, biết quan tâm đến người khác, dịu dàng, dễ thương và rất nữ tính. -Ma-ri-ô thì kín đáo, cao thượng, hành động dứt khoát, dũng cảm sẵn sàng nhận những gì bất lợi về cho mình, nhường thuận lợi cho bạn, rất nam tính. * Nội dung chính: Ca ngợi tình cảm giữa Giu-li-ét-ta và Ma-ri- ô. Ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của phái nam và phái nữ.
Soạn bài Một vụ đắm tàu
435
Soạn bài Nam và nữ Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Quan sát tranh và trả lời câu hỏi (SGK/3) -Tranh vẽ cảnh gì? -Vẻ mặt, điệu bộ của những người trong tranh nói lên điều gì? Gợi ý: -Tranh vẽ cảnh một con tàu đang bị chìm dần trong biển cả. –Vẻ mặt, điệu bộ của những người trong tranh cho thấy họ thật sự hoảng loạn và đau đớn khi vĩnh biệt những người còn lại trên chiếc tàu đang chìm dần. 2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài văn “Một vụ đắm tàu” (SGK/4) 5.Thảo luận, trả lời câu hói: 1) Sắp xếp các sự việc sau theo đúng trình tự câu chuyện: (Em viết vào vơ thứ tự các sự việc được sắp xếp đúng theo mẫu: M: 1 – (c),…) 2)Nêu cảm nhận, suy nghĩ của mình về hành động nhường bạn xuống xuồng cứu nạn của Ma-ri-ô. 3)Cùng nói về ý nghĩa của câu chuyện. 4) Mỗi em hãy tưởng tượng và nêu một kết cục khác cho câu chuyện. Gợi ý: 1) 1 – (c); 2 – (d); 3 – (b); 4 – (a). 2)Ma-ri-ô là con người cao thượng, hi sinh bản thân, nhường sự sống cho bạn. 3)Câu chuyện ca ngợi tình bạn đẹp đẽ giữa Ma-ri-ô và Giu-li-ót-ta. Ma- ri-ô cao thượng, vị tha; Giu-li-ét-ta dịu dàng, ân cần, giàu tình cảm. 4)Bất ngờ, một vầng sáng phát ra từ trên cao, rọi thẳng ngay phía Ma-ri-ô đang đứng. Một sợi thang dây từ chiếc trực thăng cứu hộ được thả xuống. Ma-ri-ô vội bám vào và chiếc thang từ từ được kéo lên. B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 2. a) Tìm các cụm từ chỉ huân chương, danh hiệu và giải thương trong đoạn văn sau: Gắn bó với miền Nam Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (1909 – 1968) quê ở Quảng Nam là người đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo vệ sức khỏe cho bộ đội, đặc biệt là trong lĩnh vực chống bệnh lao. Sinh thời, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và các phần thưởng cao quý: Huân chương Kháng chiến, Huân chương Lao động. Sau khi mất, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. (Theo Từ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM) b) Thảo luận, nêu cách viết hoa các cụm từ đó. Gợi ý: a)Anh hùng Lao động, Huân chương Kháng chiến, Huân chương Lao động, Giải thưởng Hồ Chí Minh. b)Các cụm từ ấy được viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó. Nêu trong cụm từ có tên riêng chỉ người (Hồ Chí Minh) thì viết hoa chữ cái đầu mỗi tiếng. 3.Viết vào vở tên các danh hiệu trong đoạn văn dưới đây cho đúng: Với các thành tích xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, huyện cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) đã được Nhà nước tuyên dương dơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Toàn huyện có 2 xã được tặng danh hiệu đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, có 28 bà mẹ được tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng. Gợi ý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. 4.Ôn luyện về dấu chấm, châni hỏi, chấm than. a)Tìm và nêu tác dụng của các dấu chấm, chấm hỏi và chấm than trong mẩu chuyện vui “Kỉ lục thế giới’ (SGK/7) (gạch dưới các dấu câu theo yêu cầu) b)Viết vào phiêu nhóm tác dụng của mỗi dấu câu (SGK/8). Gợi ý: a) Một vận động viên đang tích cực luyện tập để tham gia thế vận hội. Không may, anh bị cám nặng. Bác sĩ bảo: -Anh sốt cao lắm! Hãy nghỉ ngơi ít ngày đã! Người bệnh hỏi: -Thưa bác sĩ, tôi sốt bao nhiêu độ? Bác sĩ đáp: -Bốn mươi mốt độ Nghe thấy thế, anh chàng ngồi phắt dậy: -Thế kỉ lục thế giới là bao nhiêu? (MINH CHÂU sưu tầm) b) Dấu câu Tác dụng Dấu chấm Dùng đế kết thúc câu kể Dấu chấm hỏi Dùng để kết thúc câu hỏi Dấu chấm than Dùng để kết thúc câu cảm, câu cầu khiến 5.Tìm chỗ thích hợp để đặt dấu chấm. Viết lại các chữ đầu câu cho đúng quy tắc viết hoa (SGK/8) Gợi ý: Thiên đường của phụ nữ Thành phố Giu-chi-tan nằm ở phía nam Mê-hi-cô là thiên đường của phụ nữ. Ở đây, đàn ông có vẻ mảnh mai, còn đàn bà lại đẫy đà, mạnh mẽ. trong mỗi gia đình, khi một đứa bé sinh ra là phái đẹp thì cả nhà nhảy cẫng lên vì vui sướng hết lời tạ ơn đấng tối cao. (Theo tạp chí THẾ GIỚI MỚI) – Viết hoa lại các chữ đầu câu: Ở đây, Trong mỗi gia đình,…
Soạn bài Nam và nữ
774
Soạn bài Nghĩa thầy trò Hướng dẫn A- KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM Âm điệu chung của bài văn là âm điệu kể chuyện. Đọc rõ ràng, trôi chảy, ngừng nghỉ đúng chỗ có các dấu câu. Thay đổi ngữ điệu cho phù hợp với nội dung của từng câu, lời nói: Lời của thầy Chu, nhẹ nhàng, tình cảm đậm màu sắc dạy dỗ khuyên bảo (câu nói đầu). Câu nói sau cũng là của thầy Chu, nhưng với tư cách là một người học trò, thể hiện sự cung kính, trang trọng, biết ơn người đã dạy dỗ mình nên người trước đây. B- TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI 1-Phân đoạn: Bài văn chia làm 3 đoạn để luyện đọc. -Đoạn 1: Từ đầu đến… “mang ơn rất nặng”. -Đoạn 2: Tiếp đoạn 1 cho đến… “đến tạ ơn thầy”. -Đoạn 3: Phần còn lại của văn bản. 2-Nội dung bài: Câu 1: Các môn sinh của cụ giáo Chu đến nhà thầy để làm gì? Trả lời: Các môn sinh của cụ giáo Chu đến nhà thầy để mừng thọ thầy, biểu hiện tấm lòng yêu quý kính trọng thầy, một nghĩa cử “uống nước nhớ nguồn” mà cha ông ta đã từng dạy bảo. Câu 2: Tìm nhừng chi tiết cho thấy học trò rất tôn kính cụ giáo Chu. Trả lời: Đó là những chi tiết: -Từ sáng sớm, các môn sinh đã tề tựu trước sân nhà cụ giáo Chu để mừng thọ thầy. -Khi nghe thầy nói cùng theo thầy “tới thăm một người mà thầy mang ơn rất nặng” thì họ “đồng thanh dạ ran” và đi sau thầy. Câu 3: Tình cảm của cụ giáo Chu đốì với người thầy đã dạy cho cụ từ thuở học vở lòng như thế nào? Tìm những chi tiết biểu hiện tình cảm đó. Trả lời: Tình cảm của cụ giáo Chu đối với người thầy đã dạy cho cụ từ thuở học vỡ lòng là rất tôn kính và biết ơn. Những chi tiết biểu hiện sự tôn kính, biết ơn đó là: -Thầy mời tất cả các môn sinh đến thăm một người mà thầy mang ơn rất nặng. -Thầy chắp tay cung kính vái người thầy của mình. -Cung kính thưa: “Lạy thầy! Hôm nay con đem tất cả các môn sinh đến tạ ơn thầy”. Câu 4: Những thành ngừ tục ngữ nào dưới đây nói lên bài học mà các môn sinh nhận được trong ngày mừng thọ cụ giáo Chu? a)Tiên học lễ, hậu học văn. b)Uống nước nhớ nguồn. c)Tôn sư trọng đạo. d)Nhất tự vi sư, bán tự vi sư (Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy). Trả lời: Đó là những thành ngữ, tục ngữ b, c, d. -Uống nước nhớ nguồn. -Tôn sư trọng đạo. -Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. * Nội dung chính: Qua tình cảm và việc làm của cụ giáo Chu, câu chuyện nhằm ca ngợi truyền thông tôn sư trọng đạo của nhân dân ta – Một truyền thống tốt đẹp cần giữ gìn và phát huy.
Soạn bài Nghĩa thầy trò
492
Soạn bài nghĩa tường minh và hàm ý tiếp theo Hướng dẫn I.Điều kiện sử dụng hàm ý. 1.Câu nói thứ nhất của chị Dậu có hàm ý là ’’Sau bữa ăn này con không còn được ở nhà với thầy mẹ và các em nữa. Mẹ đã bán con’’. Đây là điều đau lòng nên chị Dậu tránh nói thẳng ra. 2.Câu nói thứ hai của chị Dậu có hàm ý là ’’Mẹ đã bán con cho nhà cụ Nghị’’. Hàm ý này rõ hơn vì cái Tý không hiểu được hàm ý của câu thứ nhất. Sự ’’giãy nảy’’ và câu nói trong tiếng khóc của cái Tí ’’U bán con thật đấy ư?’’ cho thấy Tí đã hiểu ý mẹ. II.Luyện tập. Bài tập 1. a.Người nói là anh thanh niên, người nghe là họa sĩ và cô gái. Hàm ý của câu in đậm là ’’Mời bác và cô vào uống nước’’. Hai người nghe đều hiểu hàm ý đó, chi tiết ’’Ông theo liền anh thanh niên vào trong nhà’’ và ’’ngồi xuống ghế’’ cho biết điều này. b.Người nói là anh Tấn, người nghe là chị hàng đậu (ngày trước). Hàm ý của câu im đậm là ’’Chúng tôi không thể cho được’’. Người nghe hiểu được hàm ý đó, thể hiện ở câu nói cuối cùng: ’’Thật là càng giàu có cang không dám rời một đồng xu! Càng không dám rời đồng xu càng giàu có!’’. c.Người nói là Thúy Kiều, người nghe là Hoạn Thư. Hàm ý câu in đậm là cách chào ’’mát mẻ’’, ’’giễu cợt’’. Hàm ý câu in đậm sau là ’’Hãy chuẩn bị cho sự báo oán thích đáng’’. Hoạn Thư hiểu hàm ý đó, cho nên ’’hồn lạc phách xiêu – Khâu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca’’. Bài tập 2. Hàm ý của câu in đậm là ‘’’chắt dùm nước để cơm khỏi nhão’’. Em bé dùng hàm ý vì đã có lần (trước đó) nói thẳng rồi mà không có hiệu quả và vì vậy đã bực mình. Vả lại, lần nói thứ hai này có thêm yếu tố thời gian bức bách (tránh để lâu nhão cơm). Việc sử dụng hàm ý không thành công vì ‘’’Anh Sáu cứ vẫn ngồi im’’, tức là anh tỏ ra không cộng tác (vờ nhưng không nghe, không hiểu). Bài tập 3. Có thể nêu lên việc phải làm vào ngày mai (nên không thể đi được), ví dụ: ’’Bận ôn thi’’, ’’Phải đi thăm người ốm’’… Chú ý là phải dùng câu chứa hàm ý ’’từ chối’’ theo yêu cầu của đề, không dùng những câu mơ hồ như ’’Để mình xem đã’’, ’’Mai hẵng hay’’… Bài tập 4. Qua sự so sánh của Lỗ Tấn có thể nhận ra hàm ý: Tuy hu vọng chưa thể nói là thực hay hư, nhưng nếu cố gắng thực hiện thì có thể đạt được.
Soạn bài nghĩa tường minh và hàm ý tiếp theo
467
Soạn bài nghĩa tường minh và hàm ý Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Hiểu được nghĩa tường minh là nghĩa được diễn đạt trực tiếp qua từ ngữ trong câu, nghĩa hàm ý là nghĩa dươc suy ra từ nghĩa tường minh của câu, tức là nghĩa không được diễn đạt trực tiếp qua từ ngữ trong câu. -Xác định được nghĩa tường minh và nghĩa hàm ý trong câu. B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP I – Phần bài học Đọc đoạn văn trích (SGK trang 74, 75), trả lời câu hỏi. Câu hỏi 1. Qua câu "Trời ơi, chỉ còn có năm phút!", em hiểu anh thanh niên muôn nói điều gì? Vì sao anh không nói thẳng điều đó với hoạ sĩ và cô gái? Gợi ý Muốn hiếu anh thanh niên muốn nói điều gì, ta phải đặt câu nói đó trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. "Trời ơi, chí còn có năm phút!" là sự luyến tiếc của anh thanh niên khi phải chia tay hai người khách. Nhưng do ngại ngùng, muốn che giấu tình cảm của mình, anh không dùng từ ngữ để nói ra điều đó. Câu hỏi 2. Câu nói thứ hai của anh thanh niên có ẩn ý gì không? Gợi ý Câu nói thứ hai không chứa ẩn ý. Câu nói đưực hiểu theo nghĩa tường minh. II – Phần luyện tập Bài tập 1. Đọc lại đoạn trích đã dẫn ở mục I và cho biết: a)Câu nào cho thấy hoạ sĩ cũng chưa muốn chia tay anh thanh niên? Từ ngữ nào giúp em nhận ra điều ấy? b)Tìm những từ ngừ miêu tả thái độ của cô gái trong câu cuối đoạn văn. Thái dộ ấy giúp em đoán ra điều gì liên quan tới chiếc mùi soa? Gợi ý a)Câu cho thấy hoạ sĩ cũng chưa muôn chia tay anh thanh niên; "Nhà hoạ sĩ tặc lười đứng dậy". b)Những từ ngữ miêu tả thái độ của cô gái trong câu cuối đoạn văn: -Mặt đỏ ửng (cô gái ngưựng ngùng). -Nhận lại chiếc khăn (vì không khác được). – Quay vội đi (cô gái quá ngượng, không muốn anh thanh niên biết tâm trạng thật của mình). Qua các hình ảnh này có thể thấy cô gái đang bối rối đôn vụng về vì ngượng. Cô ngượng vì cô "cố tình" để quên khăn làm kỉ vật, thế mà người thanh niên lại quá thật thà tưởng là cô bỏ quên, nên gọi cô để trả lại. Bài tập 2. Hãy cho biết hàm ý của câu in đậm trong đoan trích sau đây (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa, SGK, tập 1). Gợi ý Hàm ý của câu in đậm là: Sáng nay đi quá sớm nẽn hoạ sĩ già chưa kịp uống nước chè đấy. Bài tập 3. Tìm câu chứa hàm ý ưong đoạn trích sau và cho biết nội dung của hàm ý (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà – SGK, tập 1). Gợi ý Câu ”Cơm chín rồi!" có chứa hàm ý đó là: bé Thu muốn mời ông Sáu vào nhà ăn cơm nhưng nó tránh tiếng "ba", không muốn gọi "Mời ba vô ăn cơm" nên mới phải nói như vậy. Bài tập 4. Đọc các đoạn trích sau đây (trích từ nguyộn ngắn Lừng của Kim Lân, SGK tập 1) cho biết những câu in đậm có phải là câu chứa hàm ý không. Vỉ sao? Gợi ý Nhừng câu in đậm ở đây không chứa hàm ý. Câu in đậm thứ nhất là câu nói lảng (nói sang chuyện khác tránh đề tài đang bàn). Câu in đậm thứ hai là câu nói dở dang.
Soạn bài nghĩa tường minh và hàm ý
590
Soạn bài nghị luận trong văn bản tự sự Hướng dẫn Soạn bài nghị luận trong văn bản tự sự Gợi ý trả lời câu hỏi I.Phần bài học. a.Những câu có tính chất lập luận. –Đoạn 1: + Nếu ta không cố tình hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện… + Vợ mình không ác nhưng thị khổ quá rồi. + Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình. + Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ đến ai được nữa + Mình biết vậy nên mình chỉ buồn nhưng không nỡ giận. –Đoạn 2. Lập luận trong đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán. + Lập luận của Kiều thể hiện ở mấy câu đầu. Đó là những lời mỉa mai đay nghiến: ++ Xưa nay, đàn bà có mấy người ghê ghớm, cay nghiệt như mụ. ++ Càng cay nghiệt càng chuốc nhiều oan trái (Đây là kiểu câu khẳng định). + Lập luận của Hoạn Thư thể hiện ở tám dòng sau: ++ Thứ nhất: mình là đàn bà, ghen tuông là chuyện bình thường. ++ Thứ hai: mình đã đối xử rất tôt với cô khi cô chép kinh ở “Quan Âm Các”. ++ Thứ ba: mình và cô đều là cánh chồng chung nên chẳng nhường cho nhau được.. ++ Thứ tư: dù sao mình đã gây ra nhiều đau khổ cho cô, giờ đây mình chỉ còn trông vào lòng khoan dung rộng lớn của cô. Tóm lại: Với lập luận trên của Hoạn Thư, Kiều phải công nhận Hoạn Thư là một người “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”. Kiều phải băn khoăn và sau cùng đã tha bổng cho Hoạn Thư. b.Dấu hiệu và đặc điểm của lập luận trong văn bản tự sự. –Lập luận trong văn bản tự sự là những cuộc đối thoại. Với các nhận xét hoặc phán đoán nhằm thuyết phục người đọc, người nghe. –Trong đoạn văn lập luận người ta thường dùng các câu phủ định, khẳng định, câu có mệnh đề hô ứng: nếu … thì.. và các từ lập luận. II.Luyện tập. Câu 1. Trong đoạn trích “Lão Hạc” nêu trên đó là lời của ông giáo. Ông giáo thuyết phục chính mình. Thuyết phục rằng vợ mình không ác. Câu 2, 3. Dựa vào phần bài học.
Soạn bài nghị luận trong văn bản tự sự
378
Soạn bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống Hướng dẫn I.Tìm hiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. 1.– Trong văn bản trên, tác giả bàn luận về sự hiện tượng coi thường giờ giấc ở những công việc chung. -Biểu hiện ở một số dẫn chứng sau: + trễ giờ ở các cuộc họp, các cuộc hội thảo. + Quý thời gian của mình chứ không tôn trọng thời gian của kẻ khác. + Tạo ta tập quán xấu: các giấy mời phải ghi sớm. -Tác giả đã quan tâm tới bệnh lề mề rất nhiều góc độ khác nhau. Có nêu sự kiện và có phát biểu suy nghĩ về sự việc đó. 2.Nguyên nhân chính gây nên bệnh lề mề là: -Không biết quý trọng thời gian trong các cơ quan, đoàn thể. -Không coi trọng mình là người có trách nhiệm đối với mọi người. 3.Tác hại. + Thành thói quen, khó thay đổi. + Không biết tự trọng, ích kỉ. + Gây hại cho tập thể. -Sự phân tích của tác giả về các tác hại của bệnh lề mề rất ngắn gọn mạch lạc và có sức thuyết phục cao. Chẳng hạn: + Nêu ý khái quát: Bệnh lề mề do thiếu tự trọng, thiếu tôn trọng người khác. + Triển khai cụ thể hơn: Họ quý thời gian của mình mà không tôn trọng thời gian của người khác. + Suy ra kết luận: Họ không có trách nhiệm với việc chung.
Soạn bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống
238