text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Soạn bài tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em Hướng dẫn Soạn bài tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Văn bản được bố cục thành ba phần. Phần 1: Sự thách thức. Nêu lên những thực tế, những con số về cuộc sống khổ cực trên nhiều mặt, về tình trạng bị rơi vào hiểm họa của nhiều trẻ em trên thế giới hiện nay. Phần 2: Cơ hội – khẳng định những điều kiện thuận lợi cơ bản để cộng đồng quốc tế có thể đẩy mạnh việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em. Phần 3: Nhiệm vụ. Xác định những trách nhiệm cụ thể mà từng quốc gia và cả cộng đồng quốc tế cần làm vì sự sống còn, phát triển của trẻ em. Câu 2. Ở phần “sự thách thức”, bản Tuyên bố đã nêu lên thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới một cách cụ thể, đầy đủ. Đó là tình trạng bị rơi vào hiểm họa, cuộc sống khổ cực nhiều mặt. –Bị trở thành nạn nhân chiến tranh và bạo lực, của sự phân biệt chủng tộc, sự xâm lược, chiếm đóng, thôn tính của nước ngoài. –Chịu đựng những thảm họa của đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, của tình trạng vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp. –Nhiều trẻ em chết mỗi ngày do suy dinh dưỡng và bệnh tật. Câu 3. Phần “cơ hội” đã khẳng định các điều kiện thuận lợi cơ bản để cộng đồng quốc tế hiện nay có thể đẩy mạnh việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em: –Sự liên kết các quốc gia cùng ý thức cao của cộng đồng quốc tế. Đã ra công ước về quyền trẻ em làm cơ sở, tạo ra cơ hội mới. –Sự hợp tác, đoàn kết quốc tế ngày càng có hiểu quả cụ thể trên nhiều lĩnh vực, phong trào giải trừ quân bị được đẩy mạnh tạo điều kiện cải thiện kinh tế, phúc lợi xã hội. Câu 4. Phần “nhiệm vụ” của bản tuyên bố đã nêu lên khá nhiều điểm mà từng quốc gia và cộng đồng quốc tế cần phải nổ lực phối hợp hành động. Các nhiệm vụ được nêu ra có tính chất cụ thể, toàn diện: từ tăng sức khỏe và chế độ dinh dưỡng đến phát triển nền giáo dục cho trẻ em, từ các đối tượng cần quan tâm hàng đầu (trẻ tàn tật, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) đến trẻ em quyền bình đẳng nam nữ đến khuyến khích trẻ em tham gia vào sinh hoạt văn hóa xã hội. Câu 5. HS có thể trình bày những suy nghĩ cá nhân về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề này. Có thể suy nghĩ theo gợi ý từ những câu hỏi sau: –Vì sao phải bảo vệ, chăm sóc trẻ em? Trẻ em là tương lai của nhân loại, là chủ nhân của thế giới ngày mai. –Bảo vệ, chăm sóc trẻ em như thế nào? Chăm sóc mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được phát triển toàn diện và trở thành người có ích cho xã hội. –Em hiểu gì về những việc làm của cộng đồng quốc tế cho trẻ em? Giới thiệu Bản công ước về quyền trẻ em, về hoạt động của một vài tổ chức như Quỹ nhi đồng Liên Hợp quốc…). II.Luyện tập Câu 1. Nêu những nhận xét cá nhân về sự quan tâm tới trẻ em ở địa phương. Ví dụ: Ở đất nước ta, vấn đề bafrp vệ chăm sóc trẻ em đã được sự quan tâm cụ thể của Đảng. Nhà nước, sự tham gia tích cực của nhiều tổ chức xã hội, của toàn dân. (Có thể nêu ra những hoạt động vì trẻ em: tiêm chủng miễn phí, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, mọi trẻ em đều được đi học, các tổ chức xã hội bảo vệ trẻ em, các tổ chức và hoạt động nhân đạo vì trẻ em thiệt thòi, trẻ em đặc biệt khó khăn…). Câu 2. Nêu những hành động cụ thể của cá nhân để xứng đáng với sự quan tâm. Ví dụ: –Tích cực hưởng hứng, tham gia vào các phong trào chăm sóc, bảo vệ trẻ em. –Cố gắng học tập tốt, rèn luyện tốt để trở thành chủ nhân tốt của tương lai.
Soạn bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em
767
Soạn bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền đuợc bảo vệ và phát triển của trẻ em Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Thấy được thực trạng cuộc sống của trẻ em trên thế giới hiện nay; thấy được việc bảo vệ, chăm lo đến sự phát triển của trẻ em là một trong những vấn đề quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa toàn cầu. Văn bản có bố cục rõ ràng, liên kết chặt chẽ, luận chứng đầy đủ, toàn diện. -Rèn kĩ năng hiểu, phân tích một văn bản thuộc thể loại nghị luận chính trị – xã hội. B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP Câu hỏi 1. Văn bản này (gồm 17 mục) được bố cục thành mấy phần? Phân tích tính hợp lí, chặt chẽ của bố cục văn bản. Gợi ý -Văn bản Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em gồm 17 mục, ngoài phần tuyên bố về mục đích tham dự hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em và nhận thức về nhu cầu, quyền được chăm sóc, phát triển của trẻ em, văn bản được bố cục thành ba phần: + Phần 1 (Sự thách thức): Phân tích thực trạng cuộc sống của trẻ cm trên thế giới (trẻ em trước hiểm hoạ chiến tranh và bạo lực; trẻ em trong thảm hoạ đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh, ma tuý,…). Đây là những thách thức đặt ra cho các nhà chính trị. + Phần 2 (Cơ hội): Chỉ ra những điều kiện thuận lợi của bối cảnh quốc tế trong việc thúc đẩy việc chăm sóc, bảo vệ quyền trẻ em. Điều kiện để bảo đảm một tương lai tốt đẹp cho trẻ em. + Phần 3 (Nhiệm vụ): Xác định những nhiệm vụ cụ thể cần phải thực hiện của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế vì sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em. -Ba phần của văn bản này có quan hộ chặt chẽ với nhau. Hai phần trước là cơ sở, căn cứ để rút ra những nội dung ở phần sau. Câu hỏi 2. Ở phần "Sự thách thức", bản Tuyên bố đủ nêu lên thực tế cuộc sống của các em trên thế giới ra sao? Nhận thức, tỉnh cảm của em khi đọc phần này như thế nào? Gợi ý -Phần “Sự thách thức” nêu thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới được trình bày theo những nội dung: + Trẻ em trở thành nạn nhân của hiểm hoạ chiến tranh và bạo lực, của sự phân biệt chủng tộc, của sự xâm lược, phải sống tha hương, bị lãng quên,… + Trẻ em là nạn nhân của thảm hoạ đói nghèo và khủng hoảng kinh tế, của nạn vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp. + Tình trạng trẻ em chết do suy dinh dưỡng, bệnh tật và ma tuý (con số đau lòng: 40000 trẻ em/ ngày). -Em có thể nêu những suy nghĩ, nhận thức của mình trước thực trạng trên. Nêu thêm những thực trạng khác như: nạn buôn bán trẻ em, trẻ em phạm tội, trẻ em mắc HIV,… Câu hỏi 3. Qua phần "Cơ hội", em thấy việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong bối cảnh thế giới hiện nay có những điều kiện thuận lợi gì? Gợi ý Trong bối cảnh thế giới hiện nay có những điều kiện thuận lợi để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Những điều kiện thuận lợi này được nêu ra ở phần "Cơ hội": -Sự liên kết giữa các nước có thể tạo ra đủ các phương tiện, kiến thức để bảo vệ, chăm sóc trẻ em. -Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế mở ra những khả năng giải quyết những vấn đề về phát triển kinh tế, bảo vệ môi ưường, ngăn chặn dịch bệnh, giải trừ quân bị, tăng cường phúc lợi trẻ em. -Công ước về quyền trẻ em ra đời đã tạo cơ hội mới để cho quyền và phúc lợi của trẻ em được thực sự tôn trọng. Câu hỏi 4. Ở phần "Nhiệm vụ", bản Tuyên bố đã nêu lên khá nhiều điểm mà từng quốc gia và cả cộng đồng quốc tế cần phải nỗ lực phối hợp hành động, hãy phân tích tính chất toàn diện của nội dung phần này. Gợi ý Trong phần "Nhiệm vụ”, bản Tuyên bố đã đề ra 8 nhiệm vụ cụ thể rất cơ bản và cấp thiết cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế về quyền dược bảo vộ và phát triển của trẻ em. Đó là những nhiệm vụ: -Tăng cương sức khoẻ và chế độ dinh dưỡng của trẻ em. -Quan tâm, chăm sóc đến trẻ tàn lật, trẻ có hoàn cảnh dặc biệt khó khăn. -Bảo đảm quyền bình đẳng giữa trẻ em trai và gái. -Bảo đảm cho trẻ được học hết bậc phổ thông cơ sở. -Cần giáo dục trách nhiệm kế hoạch hoá gia đình. -Giúp trẻ nhận thức dược giá trị của bản thân. -Bảo đảm tăng trưởng, phát triển kinh tế. -Cần có hợp tác quốc tế để thực hiện các nhiệm vụ trên. Những nội dung này thể hiện tính toàn diện trong việc định hướng hành động. Mỗi một nhiệm vụ tương ứng với một phương diện cần quan tâm: chăm sóc sức khỏe; quan tâm đến trẻ em tàn lật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; bình đẳng giữa trẻ trai và gái; học hành; sức khoẻ sinh sản của phụ nữ; phát tiển kinh tế, hợp tác quốc tế,… và đặc biệt là giúp các em nhận thức được giá trị bản thân. Câu hỏi 5. Qua bản Tuyên bố, em nhận thức như thế nào về lầm quan trọng của vấn dề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề này? Gợi ý -Bản Tuyên bố cho chúng ta thấy dược tầm quan trọng, tính cấp bách có ý nghĩa loàn cầu của nhiệm vụ vì sự sống còn, quyền được bảo vệ, phát triển của trẻ em. -Sự quan tâm của cộng đồng quốc tế về vấn đề này: Trên tinh thần vì tương lai của nhân loại, bản Tuyên bố đã đưa ra những nhiệm vụ cùng là chiến lược hành động một cách toàn diện cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế. Công việc này còn đòi hỏi sự quan tâm của từng gia đinh, từng cá nhân trong: mỗi cộng đồng.
Soạn bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền đuợc bảo vệ và phát triển của trẻ em
1,087
Soạn bài Tà áo dài Việt Nam Hướng dẫn A- KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM Bài “Tà áo dài Việt Nam” là một câu chuyện kể về sự hình thành và phát triển của chiếc áo dài, biểu tượng cho y phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam. Khi đọc, cần đọc rõ ràng, thong thả như người kể chuyện. Ngừng nghĩ đúng chỗ có các dấu câu. Nhấn giọng ở những từ ngừ chỉ đặc điểm, tính chất của chiếc áo dài hiện đại. B- TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Chiếc áo dài đóng vai trò thế nào trong trang phục của phụ nữ Việt Nam xưa? Trả lời: Ngày xưa, người phụ nữ Việt Nam thường hay mặc áo dài thầm màu phủ ra bên ngoài những lớp áo cánh nhiều màu bên trong. Trang phục như vậy, chiếc áo dài tạo nên cho phụ nừ vẻ kín đáo, tế nhị. Nó đóng vai trò quan trọng, tăng thêm vẻ duyên dáng, hấp dẫn cho người phụ nữ Việt Nam xưa. Câu 2: Chiếc áo dài tân thời có gì khác so với chiếc áo dài cổ truyền? Trả lời: Điểm khác của chiếc áo dài tân thời so với chiếc áo dài cổ truyền là: sự kết hợp hài hòa giữa phong cách dân tộc tế nhị, kín đáo vđi phong cách phương Tây hiện đại, trẻ trung. Chỉ có hai thân vải phía trước và phía sau. Còn áo dài cổ truyền thì có loại bốn thân, may từ bốn mảnh, đằng trước không có khuy, khi mặc bỏ buông hoặc buộc thắt vào nhau. Còn áo năm thân như áo tứ thân, nhưng vạt áo trước bên trái may ghép từ hai thân vải, nên rộng gấp đôi vạt bên phải. Trả lời: Áo dài được coi là biểu tượng cho y phục truyền thống của Việt Nam là vì: Chiếc áo dài đả có từ xa xưa được phụ nữ Việt Nam rất ưa thích. Dù có được cải tiến pha trộn phong cách trẻ trung hiện đại của phương Tây thì chiếc áo dài vẫn mang đậm phong cách cổ truyền: kín đáo, tế nhị bộc lộ sự duyên dáng đáng yêu của người phụ nữ Việt Nam. Câu 4: Em có cảm nhận gì về vẻ đẹp của phụ nữ khi họ mặc áo dài? Trả lời: (Em có thế trả lời như sau) vẻ đẹp của người phụ nữ khi họ mặc chiếc áo dài làm cho họ trở nên dịu dàng, thướt tha hơn, duyên dáng hơn, hấp dẫn hơn, ai cũng muốn nhìn ngắm hơn. * Nội dung chính: vẻ đẹp của chiếc áo dài truyền thống Việt Nam, một nét đặc sắc văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, phụ nữ Việt Nam: dịu dàng, kín đáo, tế nhị, duyên dáng.
Soạn bài Tà áo dài Việt Nam
468
Đề bài: Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm Bài Làm I. NHU CẦU BIỂU CẢM VÀ VĂN BIỂU CẢM 1. Nhu cầu biểu cảm của con người a) Câu ca dao thổ lộ tình cảm, cảm xúc: – Bài 1: Sự đồng cảm, thương xót cho con cuốc cứ kêu hoài, kêu mãi mà người đời vẫn không nghe, không chú ý.(không có lẽ công bằng soi tỏ) – Bài 2: Niềm rạo rực phơi phới của người con gái trước cánh đồng lúa và tuổi xuân của mình. b) Người ta thổ lộ tình cảm đểmong được chia sẻ được sự đồng cảm. Khi vui mà được chia sẻ thì niềm vui sẻ nhân lên, khi buồn mà được chia sẻ thì nỗi buồn sẽ vơi bớt đi. c)Người ta có nhu cầu biểu cảm khi có những tình cảm đẹp chất chứa muốn biểu hiện, thổ lộ cho người khác biết. d) Thư gửi cho người thân bạn bè là nơi bộc lộ tình cảm nhiều nhất, bởi vì thư là thể hiện nhu cầu biểu hiện tình cảm. 2. Đặc điểm chung của văn biểu cảm a) – Đoạn văn 1 và 2 biểu đạt nội dung: Đoạn 1 là nỗi nhớ của người viết và những kỷ niệm giữa 2 người. Đoạn 2 là tình cảm gắn bó với quê hương đất nước. – So với nội dung của đoạn văn bản tự sự và miêu tả thì nội dung 2 đoạn văn trên có điểm khác: Cả hai đoạn đều không kể một chuyện gì hoàn chỉnh, mặc dù có gợi lại những kỉ niệm. Đặc biệt là đoạn 2 tác giả sử dụng biện pháp miêu tả, từ miêu tả mà liên tưởng, gợi ra những cảm xúc sâu sắc. Văn biểu cảm khác xa văn tự sự và miêu tả thông thường. c) Muốn biểu cảm được thì người viết phải biết sử dụng những cách thức cụ thể. Đó là lối bộc bạch trực tiếp tình cảm như trong đoạn văn (1); thông qua miêu tả như trong đoạn văn (2). Như vậy, bên cạnh các từ ngữ trực tiếp bộc lộ tình cảm như thương nhớ ơi, mới ngày nào … thế mà, xiết bao mong nhớ,… còn là những kỉ niệm, các hình ảnh gợi liên tưởng như giọng hát dân ca trong đêm, cánh cò, con đường làng,… cũng thể hiện sâu sắc những cung bậc cảm xúc, lay động lòng người,… III. LUYỆN TẬP Bài tập 1: – Đoạn a: Không phải là đoạn văn biểu cảm vì chỉ nêu đặc điểm, hình dáng, công dụng của cây hải đường. Đây là 1 đoạn văn thuyết minh – Đoạn b: là đoạn văn biểu cảm vì nó chứa những yếu tố biểu cảm + Kể chuyện: ‘từ cổng vào lần nào tôi cũng phải dừng lại ngắm những cây hải đường + So sánh: Trông dân dã như cây chè đất đỏ… + Liên tưởng: bỗng nhớ năm xưa, lần đầu tiên từ … => Cảm xúc: người viết cảm nhận được vẻ đẹp rực rỡ của cây hoa hải đường làm xao xuyến lòng người. Đoạn văn là văn biểu cảm vì có thể khơi gọi cảm xúc, đánh giá về loài hoa; lời văn giàu cảm xúc, hình ảnh. Bài tập 2: Nội dung biểu cảm trong hai bài thơ Sông núi nước Nam và Phò giá về kinh: – Bài Sông núi nước Nam: Tự hào về nền độc lập, tự chủ và ý chí, quyêt tâm bảo vệ tổ quốc. – Bài Phò giá về kinh: Ca ngợi, tự hào trước chiến thắng lẫy lừng của dân tộc, khát vọng xây dựng đất nước, niềm tin đất nước vững bền Bài tập 3: Một số bài văn biểu cảm hay:Mẹ tôi (A-mi-xi), Những câu hát về tình cảm gia đình (Ca dao – dân ca), Qua đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan), Lòng yêu nước (I-li-a Ê-ren-bua), Lượm (Tố Hữu). Bài tập 4: Sưu tầm và chép ra một số đoạn văn xuôi biểu cảm. “Cốm là thức quà đặc biệt riêng của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ Việt Nam. Ai nghĩ đầu tiên dùng cốm để làm quà siêu tết? Không có gì hợp hơn với sự vương vít của tơ hồng, thức quà trong sạch, trung thành như các việc lễ nghi. Hồng cốm tốt đôi … Và không bao giờ có hai màu lại hòa hợp hơn nữa: màu xanh tươi của cốm như ngọc thạch quý, màu đỏ thắm của hồng như ngọc lựu già. Một thứ thanh đạm, một thứ ngọt sắc, hai vị nâng đỡ nhau để hạnh phúc được lâu bền. (Thật đáng tiếc khi chúng ta thấy những tục lệ tốt đẹp ấy mất dần, và những thức quý của đất mình thay dần bằng những thức bóng bẩy hào nháng và thô kệch bắt chước nước ngoài: những kẻ mới giàu vô học có biết đâu thưởng thức được những vẻ cao quý kín đáo và nhũn nhặn?).” (Một thứ quà của lúa non: Cốm – Thạch Lam)
Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm
852
Đề bài: Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh Bài làm I. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH 1. Văn bản thuyết minh trong đời sống con người – Những văn bản sgk (tr114-115) trình bày, giới thiệu, giải thích các vấn đề: Văn bản Cây dừa Bình Định: trình bày lợi ích của cây dừa. Lợi ích này gắn liền với những đặc điểm của cây dừa Bình Định mà cây khác không có. Văn bản Tại sao lá cây có màu xanh lục: Giải thích về tác dụng của chất diệp lục làm cho người ta thấy cây có màu xanh. Văn bản Huế: Giới thiệu Huế với tư cách là 1 trung tâm văn hóa nghệ thuật lớn của Việt Nam. Nơi có những đặc điểm riêng tiêu biểu của Huế. – Có thể bắt gặp những văn bản này trong sách khoa học, báo, trang mạng, ti vi,… – Một số văn bản cùng loại: Cầu Long Biên chứng nhân lịch sử, Bức thư của thủ lĩnh da đỏ, Ôn dịch thuốc lá,… 2. Đặc điểm chung của văn bản thuyết minh a) Các văn bản trên không thể coi là văn bản tự sự (hay miêu tả, nghị luận, biểu cảm) được, bởi vì: Chúng không trình bày sự việc, diễn biến, nhân vật như ở văn bản tự sự. Chúng không trình bày chi tiết cụ thể cho ta cảm nhận được sự vật, con người,… như trong văn miêu tả Chúng không trình bày ý kiến, luận điểm như trong văn bản nghị luận. c) Các văn bản trên trình bày đối tượng bằng cách trình bày, giải thích, giới thiệu. d) Ngôn ngữ của các văn bản trên sử dụng ngôn ngữ khoa học. II. LUYỆN TẬP Bài tập 1: Những văn bản này là văn bản thuyết minh, vì: Văn bản Khởi nghĩa Nông Văn Vân đã cung cấp cho người đọc thông tin về lịch sử. Văn bản Con giun đất cung cấp thông tin về khoa học sinh vật. Bài tập 2: Văn bản Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 là một bài văn nghị luận, đề xuất một hành động tích cực bảo vệ môi trường, nhưng đã sử dụng yếu tố thuyết minh để nói rõ tác hại của bao bì ni lông, làm cho đề nghị có sức thuyết phục cao. Bài tập 3: Các loại văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm có cần yếu tố thuyết minh. Vì nhờ thuyết minh văn bản trở nên sáng tỏ, nội dung văn bản mang tính chính xác, khoa học.
Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh
422
Soạn bài Tìm hiểu các yếu tố tự sự và miêu tả trong Văn nghị luận Hướng dẫn Soạn bài Tìm hiểu các yếu tố tự sự và miêu tả trong Văn nghị luận lớp 8 Soạn bài Tìm hiểu các yếu tố tự sự và miêu tả trong Văn nghị luận được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp các bạn học sinh nắm rõ kiến thức từ đó học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn Ngữ văn lớp 8 Tìm hiểu các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận trang 113 SGK I. YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN 1. – Cả hai văn bản a) và b) đều có yêu tố tự sự và miêu tả nhưng chúng là văn bản nghị luận. Bởi cả a) và b) đều giúp cho việc trình bày luận cứ được rõ ràng, cụ thể, sinh động, và vì vậy văn bản có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn. – Yếu tố tự sự ở đoạn văn a) là những chi tiết cụ thể kể lại kiếu bắt lính kì quặc và tàn ác. + “Vị chúa tính” ra lệnh cho quan dưới quyền trong một thời hạn phải nộp cho đủ số người nhất định. + Đầu tiên là tóm những người khỏe mạnh, người khổ, sau đó đòi đến con cái nhà giàu, giam cổ họ lại để vòi tiền… Nếu không có những chi tiết được kể như trên thì ta không thể lường được việc một lính “tình nguyện” đã nhũng nhiễu và làm tiền một cách trắng trợn. – Vai trò của yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận: (Đọc ghi nhớ 1. trang 116) a) Ở văn bản trích “Người anh hùng làng Gióng của Cao Huy Đỉnh ta thấy xuất hiện những yếu tố tự sự và miêu tả trong việc tác giả kể lại hai truyện Chàng Trăng và Nàng Han của dân tộc Hơ-mông và dân tộc Thái. Trong hai đoạn văn, phần lớn là tự sự. Tuy nhiên, có một số câu chữ miêu tả. Chẳng hạn: a1 – Con thỏ trắng – Chàng cưỡi ngựa đá khổng lồ – Để đêm đêm soi xuống dòng thác Bòng-gơ-nhi những vầng sáng bạc a2 – Theo cờ lệnh bằng chăn dệt chỉ ngũ sắc – Gần đấy có những vũng, những ao chi chít nối tiếp nhau b) Tác giả không kể đầy đủ, cặn kẽ toàn bộ hai truyện Chàng Trăng và Nàng Han mà chỉ nhấn vào một số chi tiết cụ thể có sự trùng hợp với hình tượng Thánh Gióng, câu chuyện Thánh Gióng. Chẳng hạn “cưỡi ngựa đá khổng lồ” để cho ta liên tưởng việc Gióng “cưỡi ngựa sắt khổng lồ, những ao vũng chi chít của vết chân voi ngựa nàng Han gợi tả những ao đầm chi chít của gót ngựa Thánh Gióng đi qua. 3. Khi đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào văn nghị luận ta cần chú ý (Đọc Ghi nhớ 2, trang 116)
Soạn bài Tìm hiểu các yếu tố tự sự và miêu tả trong Văn nghị luận
517
Soạn bài tìm hiểu phép lập luận phân tích và tổng hợp Hướng dẫn Câu 1: Trước khi nêu thế nào là trang phục đẹp, tác giải đưa ra một vài hiện tượng ăn mặc không đẹp ( mặc quần áo chỉnh tề mà lại đi chân đất hoặc đi giày có bít đầy đủ nhưng phanh hết cúc áo, lộ cả da thịt ra trước mắt mọi người). Đây là cách mở bài theo lối phản đề. Từ những hiện tượng ăn mặc không đẹp tác giải trình bảy quan niệm thế nào là ăn mặc đẹp. Bài viết đã dùng phép lập luận phân tích khi trình bày hai qui tắc ngầm khi ăn mặc mọi người phải theo cho phù hợp với văn hóa xã hội: quy tắc Ăn cho mình, mặc cho người” qui tác “ Y phục xứng kì đức”. Mỗi quy tắc trên được trình bày trong một hoặc hai đoạn. Tác giả đưa ra các cách ăn mặc không phù hợp với hoàn cảnh xung quanh để chứng minh cho qui tắc: “ Ăn cho mình, mặc cho người” (đi đám cưới không thể ăn mặc lôi thôi, lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn, ở trong hang sâu một mình cô gái không cần mặc váy xòe, váy ngắn, tô mắt xanh, môi đỏ …). Tác giải dùng nhiều lí lẽ để bàn luận cái đẹp của ăn mặc cho phù hợp hay không phù hợp hoàn cảnh hung và riêng chứng minh cho qui tắc “ Y phục là kì đức”. Câu 2: Sau khi trình bày hai qui tắc ngầm về trang phục, đoạn cuối của bài trình bày kết luận rút ra (Thế mới biết, trang phục hợp văn hóa, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp). Cách làm này là theo phép lập luận tổng hợp. Luyện tập 1.Để sáng tỏ luận điểm: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách rốt cuộc là một con đường quan trọng của học vấn”; tác giải đã phân tích như sau: -Nếu ra luận điểm cơ bản làm tiền đề cho lập luận: học vấn là của nhân loại. Sách là nơi ghi chép và lưu truyền học vấn, kho báu tinh thần nhân loại. -Đưa ra giả thiết: muốn tiến lên phía trước phải đọc sách để chiếm lĩnnh thành tựu nhân loại đã đạt được trog quá khứ (câu bắt đầu bằng từ Nếu ….) -Đưa ra giả thiết: khôgnđọc sách là xóa bỏ thành tựu nhân loại đã đạt được trong quá khứ sẽ lùi điểm xuất phát hàng nghìn năm (câu bắt đâu bằng từ Nếu ….) -Từ luận điểm cơ bản làm tiền đề cho lập lụa và hai giả thiết, tác giả đi đến kết luận: Cần đọc sách, đọc sách là sự chuẩn bị để đi trên con đường học vấn. Kết luận này được trình bày trong đoạn tiếp theo. 2.Phân tích lí do phải chọn sách đọc, tác giải nêu ý kiến: -Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu. Chọn sahcs mà đọc cho kĩ, vừa đọc vừa nghiền ngẫm mới có tác dụng. -Sách nhiều dễ bị lạc hướng. chọn sách quan trọng, cơ bản để đọc, không cần đọc nhiều. 3.Tác giải phân tích cách đọc như sau: -Đoc sách không cần nhiều. -Quan trọng nhất là chọn tinh, đọc cho kĩ. + Đọc 10 quyển sách không quan trọng không bằng đọc kĩ mười lần một quyển sách quan trọng. + Đọc ít mà kĩ sẽ tạo thành nếp suy nghĩ sâu xa, tích lũy dần dần tri thức. + Đọc sách không phải để trang trí bộ mặt như kẻ trọc phú khoe mình. Đó là cách đọc sách tự lừa dối mình, thể hiện phẩm chất tầm thường thấp kém. -Phải đọc cả hai loại sách: sách thường thức và sách chuyên môn. Không nên coi thường sách thường thức vì nó tạo nên văn hóa rộng cho chuyên môn sâu. Có những vậy mới có tri thức vững vàng. 4.Phân tích là cách trình bày các khía cạnh khác nhau xung quanh một vấn đề, một sự vật ( bàn về đọc sách là bàn về tầm quan trọng của việc đọc sách với việc tích lũy học vấn, là bàn về việc chọn sách để đọc, là bàn về cách đọc sách). Từ đó người đọc hiểu được nội dung của vấn đề, sự vật.
Soạn bài tìm hiểu phép lập luận phân tích và tổng hợp
730
Đề bài: Soạn Bài Tìm Hiểu Yếu Tố Biểu Cảm Trong Văn Nghị Luận Bài Làm I. YẾU TỐ BIỂU CẢM TRONG VĂN NGHỊ LUẬN Câu 1: a) – Những từ ngữ biểu lộ tình cảm mãnh liệt của tác giả và những câu cảm thán trong văn bản Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: + Các từ ngữ biểu cảm: Hỡi, muốn, phải, nhân nhượng, lấn tới, quyết tâm cướp nước ta lần nữ, không, thà, chứ nhất định không chịu, phải đứng lên, hễ là, ai cũng phải. + Các câu cảm thán: Hỡi đồng bào toàn quốc! Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!Hỡi…dân quân! Dù phải gian lao…Dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm! – Cách dùng từ ngữ của văn bản Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh và Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn giống nhau ở việc sử dụng nhiều từ ngữ và câu văn có giá trị biểu cảm. b) Cả hai văn bản này đều có nhiều từ ngữ biểu cảm, câu văn có giá trị biểu cảm nhưng vẫn là văn bản nghị luận chứ không phải là văn bản biểu cảm, vì nó được viết ra không nhằm mục đích biểu cảm ; mà nó nêu lên quan điểm, ý kiến để bàn luận phải trái, đúng sai, nên suy nghĩ và nên sống như thế nào. Yếu tố biểu cảm không phải là yếu tố cơ bản, nòng cốt mà chỉ đóng vai trò là yếu tố phụ trợ. Câu 2: a) Người viết thực sự xúc động trước những điều mình nói, mình viết. Đó là những tình cảm chân thành, thành thật, tự nhiên mà sâu sắc mãnh liệt. Không chấp nhận những tình cảm nửa vời, thờ ơ lạnh nhạt, lãnh đạm. Tình cảm phải xuất phát từ đáy lòng, từ trái tim người viết. Như Lỗ Tấn đã viết: “ Từ trong nước phun ra toàn là nước, từ trong máu phun ra toàn là máu”. b) Để viết được những câu như: “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả…” hay uốn lưỡi cú diều…”, người viết không chỉ có lòng yêu nước nồng cháy và lòng căm thù giặc sâu sắc mà còn phải biết chuyển tình cảm ấy thông qua phương tiện ngôn ngữ đến người đọc một cách hiệu quả nhất. c) Ko nên dùng quá nhiều từ ngữ biểu cảm và câu cảm thán vì nó sẽ phá vỡ mạch lạc của bài văn nghị luận; nếu dùng quá ít bài văn nghị luận sẽ khô khan, lí luận dông dài. -> Mức độ phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ. Nghị luận là chính yếu, biểu cảm là phụ trợ nhưng không thể thiếu trong bài văn nghị luận. Bài tập 1: – Yếu tố biểu cảm trong phần I – Chiến tranh và “người bản xứ” (văn bản Thuế máu): a. Giễu nhại đối lập: tên da đen bẩn thỉu, an nam mít bẩn thỉu, con yêu, bạn hiền, chiến sĩ bảo vệ công lí tự do. -> Tác dụng nghệ thuật: Phơi bày bản chất dối trá, lừa bịp của bọn thực dân Pháplàm bật lêntiếng cười châm biếm sâu cay. b. Dùng từ ngữ, hình ảnh mỉa mai, giọng điệu tuyên truyền của thực dân Pháp ( người bản xứ đã chứng kiến cảnh kì diệu…hoang vu thơ mộng -> ngôn từ hào nhoángmĩ miều, không che đậy được thực tấ phũ phàng. Lời mỉa mai khinh bỉ sâu sắc, chế nhạo cười cợt -> tiếng cười châm biếm sâu cay. Bài tập 2: – Những từ ngữ biểu cảm, câu cảm, giọng điệu thân mật, gần gũi: + Tôi muốn nói với các bạn rằng…vào người luôn thể dãi bày hết nỗi khổ tâm…Nỗi buồn thứ nhất… + Nói làm sao hết …nhấm bút, lôi thôi bày đặt học thuộc như con vẹt. – Cách biểu hiện cảm xúc: tự nhiên, chân thật làm nổi lên một tấm lòng, một nỗi buồn thấm thía cần được chia sẻ, tâm sự, nhắc nhở. – Hiệu quả: Người đọc, người nghe hiểu, tin, thấm thía. Bài tập 3: Chúng ta không nên học tủ, học vẹt. Học vẹt có nghĩa là học làu làu không suy nghĩ như con vẹt nhại lại người khác, còn học tủ là chỉ chọn một vài bài để học, nhằm “trúng tủ” khi thi cử. Lối học này sẽ biến chúng ta mất đi sự hiểu biết sâu rộng về mọi mặt. Học tủ, học vẹt làm cho khả năng tư duy của con người trở nên hạn hẹp. Chúng ta sẽ giống như một con vẹt chỉ biết những từ được học, chỉ có những hiểu biết nông cạn, thiếu hệ thống xa rời với thực tế. Vì vậy chúng ta cần tránh lối học vẹt, học tủ, bởi nó gây nên nhiều hậu quả thật đáng tiếc. Thế nhưng, thật đáng buồn, ngày nay, lối học này đang được thịnh hành trong một bộ phận học sinh. Chúng ta cần kiên quyết phê phán phương pháp này và khuyến khích mọi người học theo những phương pháp khoa học và sáng tạo hơn. Có như thế thì những gì học được mới có khả năng áp dụng vào cuộc sống. Biểu cảm: Tán thành, phản đối, đáng tiếc, đáng buồn…
Soạn Bài Tìm Hiểu Yếu Tố Biểu Cảm Trong Văn Nghị Luận
881
Soạn bài tìm hiểu đề và cách làm bài văn tự sự Hướng dẫn I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Đề văn tự sự là gì? Đề văn tự sự thường có từ kể. Nhưng cũng có những đề không có từ kể bởi bản thân của nó đã chứa đựng nội dung tự sự. Mỗi một đề thường có một yêu cầu cụ thể. 2.Cách làm bài văn tự sự. Các em thực hiện theo các bước sau đây: Bước 1. Tìm hiểu đề. Tìm hiểu đề yêu cầu các em đọc kĩ đề, gạch chân những từ trọng tâm, sau đó xác định yêu cầu của đề bài. Bước 2. Lập ý. Các em cần xác định những ý chính cần có trong bài. Ví dụ như nhân vật, sự việc, diễn biến, kết quả, ý nghĩa.. Bước 3. Lập dàn ý. Khi đã có các ý, các em sắp xếp chúng theo một trình tự nhất định. Các ý được sắp xếp vào 3 phần (mở, thân và kết bài) nhưng chưa viết cụ thể. Bước 4. Viết. Khâu này, các em viết thành văn từ các ý chính nêu trong phần lập dàn ý. Khi viết tránh lặp lại ý. II.CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP Lập dàn ý theo yêu cầu của đề trên, các em có thể tham khảo phần thân bài như sau: Ý 1: Sự ra đời có tính chất kì ảo của nhân vật Thánh Gióng. Ý 2: Lời nói đầu tiên kì lạ. Ý 4: Đánh tan giặc Ân càng kì lạ. Ý 5: Cùng ngựa sắt bay lên trời càng kì lạ hơn nữa. Ý 6: Dấu tích chiến công còn in đậm trên quê hương.
Soạn bài tìm hiểu đề và cách làm bài văn tự sự
263
Soạn bài Tình hữu nghị Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Kể những điều em biết về sự giúp đỡ của bạn bè năm châu dành cho Việt Nam. Gợi ý: – Nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình là nhà máy lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á do Liên Xô (Nga) giúp đỡ xây dựng và vận hành, có công suất sản sinh điện năng rất lớn. – Đường hầm Thủ Thiêm là hầm vượt hiện đại nhất Đông Nam Á, gồm sáu làn xe được dìm dưới lòng sông Sài Gòn. Đây là nguồn vốn đầu tư từ Hỗ trự phát triển chính thức của chính phủ Nhật Bản, do các nhà thầu Nhật Bản thi công. 3.a) Chọn lời giải nghĩa ở cột B phù hợp với từ ngữ ở cột A. Gợi ý: a) 1 — b; 2 — c; 3 — a; 4 — d. 5.Dựa vào nội dung bài đọc, trả lời câu hỏi: 1)Bài đọc có những nhân vật nào? 2)Anh Thuỷ gặp anh A-lếch-xây ở đâu? 3)Cảnh vật hôm đó có gì đẹp? 4)Dáng vẻ của A-lếch-xây có gì đặc biệt khiến anh Thuỷ chú ý? Gợi ý: Tìm các chi tiết miêu tả vóc dáng, trang phục, mái tóc, khuôn mặt A-lếch-xây. 5)Cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn đồng nghiệp (anh Thuỷ và anh A-lếch-xây) diễn ra như thế nào? Gợi ý: 1) Bài đọc có anh phiên dịch, anh Thuỷ và anh A-lếch-xây. 2)Anh Thuỷ gặp anh A-lếch-xây ở công trường xây dựng. 4)Anh A-lếch-xây có vóc dáng cao lớn; thân hình chắc khoẻ; vận bộ quần áo xanh màu công nhân; mái tóc vàng óng; khuôn mặt to, chất phác; gợi nét giản dị, thân mật. 5)Cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn đồng nghiệp diễn ra trong không khí thân mật và tình hữu nghị thắm thiết. 6.Mỗi em phát biểu ý kiến riêng của mình: Chi tiết nào trong bài khiến em nhớ nhất? Vì sao? Gợi ý: Em nhớ nhất chi tiết anh A-lếch-xây đưa bàn tay vừa to vừa chắc ra nắm lấy bàn tay đầy dầu mỡ của anh Thuỷ lắc mạnh. Cử chỉ thân thiện, thái độ ân cần của một chuyên gia nước ngoài đã nêu bật được tình hữu nghị, hợp tác của các nước bạn với Việt Nam. B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 2.a) Ghi vào vở những tiếng có uô hoặc ua trong bài văn dưới đây: Anh hùng Núp tại Cu Ba Năm 1964, Anh hùng Núp tới thăm đất nước Cu-ba theo lời mời của Chủ tịch Phi-đen Cát-xtơ-rô. Người Anh hùng Tây Nguyên được đón tiếp trong tình anh em vô cùng thân mật. Anh Núp thấy người Cu-ba giông người Tây Nguyên mình quá, cũng mạnh mẽ, sôi nổi, bụng dạ hào phóng như cánh cửa bỏ ngỏ, thích nói to và đặc biệt là thích nhảy múa. Tới chỗ đông người nào, sau một lúc chuyện trò, tất cả lại cùng nhảy múa. Theo NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG b) Nêu nhận xét về cách ghi dấu thanh ở các tiếng có uô và ua. Gợi ý: a) – ua: của, múa. – uô: cuốn, cuộc, buôn, muôn. b) Các tiếng có ua thì ghi dấu thanh ở chữ cái đầu vì không có âm cuối. Các tiếng có uô thì ghi dấu thanh ở chữ cái thứ hai vì có âm cuối. 3.Tìm tiếng có chứa uô hoặc ua thích hợp với mỗi chỗ trống trong các thành ngữ, tục ngữ dưới đây rồi ghi vào vở (SGK/77). Gợi ý: a) Muôn người như một. b)Chậm như rùa. c)Ngang như cua. d)Cày sâu cuốc bẫm. e)Khua trống gõ mõ. g) Đói ăn rau, đau uống thuốc. 4.Chọn thẻ chữ nêu đúng nghĩa của từ hoà hình. a) Trạng thái bình thản. b) Trạng thái không có chiến tranh. c) Trạng thái hiền hoà, yên ã. Gợi ý: b) Trạng thái không có chiến tranh. 5. Tìm từ đồng nghĩa với từ hoà bình. bình yên, lặng yên, hiền hoà, thanh bình, tĩnh lặng, bình thản, thái bình, thanh thản, yên tĩnh, tĩnh mịch Gợi ý: Đáp án: bình yên, thanh bình, thái bình. 6.Mỗi em đặt một câu có từ đồng nghĩa với từ hoà bình. Gợi ý: Chiến tranh kết thúc, mọi người cùng xây dựng đất nước thái bình. Gợi ý Bức tranh làng quê vô cùng yên tĩnh. Dòng kênh hiền hoà dẫn nước vào ruộng lúa, mang đầy cá tôm. Bên gốc cổ thụ, con trâu ung dung nhai rơm mới trông thật thanh thản. Trên đường làng, các cô chú nông dân quang gánh kĩu kịt những bó rau thơm, những chùm quả ngọt vừa thu hoạch về. Cuộc sống hạnh phúc và bình yên quá!
Soạn bài Tình hữu nghị
740
Soạn bài Tình người với đất Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Trò chơi: Giải ô chữ bí mật “Du lịch Việt Nam”. Điền chữ cái vào mỗi ô trông để tìm các địa danh ở hàng ngang và địa danh ở hàng dọc màu xanh (SGK/157). 1)Tên một tỉnh miền núi phía bắc, có hang Pác Bó, suối Lê-nin. 2)Tên thủ đô của nước ta. 3)Tên một thành phố biên giới thuộc tỉnh Quảng Ninh. 4)Tên một thành phố của tỉnh Quảng Nam, có phố cổ được công nhận là Di sản văn hoá thế giới. 5)Tên một con sông có chín nhánh chảy ra biển ở miền Nam nước ta. Gợi ý: 3.a) Nối từ ngữ ở cột A với nghĩa thích hợp ở cột B. Gợi ý: a) Nối A với B: a)– 2; b) – 1; c) – 5; d) – 3; e) – 4. 5.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Mưa ở Cà Mau như thế nào? 2)Cây cối trên đất Cà Mau mọc thế nào? 3)Người Cà Mau dựng nhà cửa như thế nào? 4)Vì sao người Cà Mau phải kiên cường, giàu nghị lực? Gợi ý: 1) Mưa ở Cà Mau rất phũ, hối hả một hồi rồi tạnh ngay. Trong mưa thường nổi cơn dông. 2)Cây cối trên đất Cà Mau mọc thành chòm, thành rặng; rễ dài, cắm sâu vào trong lòng đất. 3)Người Cà Mau dựng nhà cửa dọc theo những bờ kênh, dưới những hàng đước xanh rì. Nhà nọ sang nhà kia phải leo trên cầu bằng thân cây đước. 6.Chọn một tên dưới đây cho từng đoạn trong bài. 1)Mưa ở Cà Mau. 2)Cây cối, nhà cửa ở Cà Mau. 3)Muông thú ở Cà Mau. 4)Con người Cà Mau. Gợi ý: 1) Mưa ở Cà Mau (Đoạn 1) 2)Cây cối, nhà cửa ở Cà Mau (Đoạn 2) 3)Muông thú ở Cà Mau (Đoạn 3) 4)Con người Cà Mau (Đoạn 3) B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Đọc lại bài Cái gì quý nhất? 2.Cùng nhau hỏi – đáp theo các câu hỏi dưới đây: 1)Các bạn Hùng, Quý, Nam tranh luận về vấn đề gì? Mỗi bạn nêu ý kiến thế nào? M: – Hùng nói rằng quý nhất là… vì… 2)Thầy giáo muốn thuyết phục Quý, Hùng, Nam công nhận điều gì? Thầy đã giải thích như thế nào? 3)Cách nói của thầy thể hiện thái độ tranh luận thế nào? Gợi ý: -Thầy có tôn trọng ý kiến của Hùng, Quý, Nam không? Chi tiết nào cho thấy điều đó? -Thầy có ý kiến riêng không? Ý kiến của thầy là gi? -Lí lẽ thầy đưa ra có gì thuyết phục? -Lời lẽ của thầy ôn tồn hay gay gắt? Gợi ý: 1) Các bạn Hùng, Quý, Nam tranh luận về cái gì quý nhất trên đời. Hùng nói rằng quý nhất là lúa gạo vì lúa gạo nuôi sông con người. Quý cho rằng quý nhất phải là vàng vì có vàng sẽ mua được lúa gạo. 2)Thầy giáo muốn các bạn công nhận rằng: người lao động là quý nhất. Thầy giải thích rằng những thứ các bạn nêu đều quý nhưng quý nhất phải là người lao động, vì chính người lao động làm ra lúa gạo, vàng bạc và sử dụng thì giờ một cách hợp lí. 3)Cách nói của thầy thể hiện thái độ hoà nhã, tranh luận vững chắc. Thầy tôn trọng ý kiến của các bạn, nhìn nhận những thứ các bạn nêu là quý. Sự lập luận của thầy có tình, có lí khi ôn tồn giảng giải để thuyết phục học sinh có cái nhìn đúng đắn nhất: chính người lao động là quý nhất. Những thứ quý giá do các bạn nêu đều do người lao động làm ra. 3.Tập thuyết trình, tranh luận. Đóng vai một trong ba bạn (Hùng, Quý hoặc Nam) nêu ý kiến tranh luận bằng cách mở rộng thêm lí lẽ và dẫn chứng để lời tranh luận thêm sức thuyết phục. M: (Hùng) Theo tớ, quý nhất là lúa gạo. Lúa gạo quý như vàng. Trong bài Hạt gạo làng ta, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã gọi hạt gạo là “hạt vàng làng ta”. Lúa gạo nuôi sông tất cả mọi người. Có ai trong chúng ta không ăn mà sống được đâu?… Gợi ý: Dưới đây là một số câu nói cho thấy thóc gạo, vàng bạc, thời gian rất quý: -Quý như vàng, hiếm như vàng, đắt như vàng,… -Thời gian quý hơn vàng, thời gian trôi qua không bao giờ trở lại… Gợi ý: (Quý) Bạn Hùng nói lúa gạo quý nhất là chưa đúng. Theo mình, quý nhất phải là vàng. Tất cả mọi nơi trên thế giới, vàng có giá trị rất cao. Người dễ dàng có được một kí gạo nhưng để có một kí vàng thì không dễ chút nào. Mọi người thường nói quý như vàng. Có vàng là có tiền, có tiền sẽ mua được lúa, gạo. 4.Trao đổi với bạn: Ở thành phố nay ở nông thôn thích hơn? Vì sao? Gợi ý: Mình thích ở nông thôn hơn ở thành phố. Nông thôn có không khí trong lành, cây cối xanh mát, đường sá rộng rãi. Phong cảnh làng quê thật đẹp. Ngày nghỉ, mình có thể cùng các bạn đá bóng, chơi thả diều, tắm sông thật là vui. C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG Tìm hiểu về cây côi, nhà cửa ở địa phương em: 1)Loại cây nào mọc nhiều nhất hoặc được trồng nhiều nhất? Chúng mọc thế nào hoặc được trồng thế nào? 2)Nhà cửa ở địa phương em được xây dựng thế nào? Gợi ý 1) Quê em, dừa được trồng nhiều nhất. Chúng được trồng thành hàng thẳng tắp và cao chót vót. 2) Nhà cửa ở nơi đây được bao bọc bởi vườn cây. Nhà rất đẹp, kiến trúc chắc chắn, khang trang.
Soạn bài Tình người với đất
922
Tình thái từ là một trong những bài học ngữ pháp nằm trong khung chương trình Ngữ văn 8. Thông qua bài soạn mà Giải Văn mang đến cho các em ngày hôm nay sẽ cho các em biết được tình thái từ là gì? Chức năng của tình thái từ,…Hãy cùng theo dõi ngay bài soạn hôm nay nhé! Soạn bài Tình thái từ Ngữ văn 8 Bài làm I- Chức năng của tình thái từ 1. Các em học sinh hãy quan sát chức năng của các từ in đậm và trả lời câu hỏi Nhật thấy được ngay trong các ví dụ (a), (b), (c) nếu bỏ đi các từ in đậm “à”, “đi”, ” thay”, “ạ” thì ta thấy được ý nghĩa của câu sẽ thay đổi cụ thể như sau: + Bỏ từ “à”: Lúc này thì câu không còn là câu nghi vấn + Bỏ từ “đi”: Đọc cả câu không còn là câu cầu khiến nữa + Câu “thay” đi: Ta nhận thấy câu không còn là câu cảm thán 2. Ở ví dụ (d) từ “ạ”: Nó có thể biểu thị thái độ lễ phép của người nói. II- Sử dụng tình thái từ Về các tình thái từ in đậm dưới được dùng ở trong những hoàn cảnh giao tiếp ( quan hệ tuổi tác, về tình cảm, thứ bậc xã hội, …) khác nhau đó chính là: + Từ “à”: Luôn luôn biểu thị sự tò mò, nghi vấn + Từ “ạ”: Lịa biểu thị thái độ lễ phép, kính trọng Luyện tập Bài 1 (Sách giáo khoa trang 81 Ngữ Văn 8 tập 1) Trong các câu dưới đây, từ nào (trong các từ in đậm) là tình thái từ, từ nào không phái là tình thái từ? a) Em thích trường nào thì thi vào trường ấy. b) Nhanh lên nào, anh em ơi! c) Làm như thế mới đúng chứ! d) Tôi dã khuyên bảo nó nhiều lần rồi chứ có phải không đâu. e) Cứu tôi với! g) Nó đi chơi với hạn từ sáng. h) Con cò đậu ở đằng kia. i) Nó thích hát dân ca Nghệ Tĩnh kia. b, Nhanh lên nào anh em ơi! >>>Ta nhận thấy được chính tình thái từ cầu khiến biểu thị sự thúc giục và mang ý nghĩa rủ rê c, Phải làm như thế mới đúng chứ! >>> Ở đây cũng lại nhấn mạnh sự đồng tình, ủng hộ e, Cứu tôi với! >>> Trong câu cũng đã biểu hiện được tình thái từ cầu khiến i, Nó thích hát dân ca Nghệ Tĩnh kia. >>> Đây chính là tình thái từ biểu thị cảm xúc Soạn bài Tình thái từ Ngữ văn 8 Bài 2 (Sách giáo khoa trang 82 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Giải thích ý nghĩa của các tình thái từ in đậm trong những câu dưới đây: a, Có thể thấy tình thái từ nghi vấn “chứ”: tình thái từ này dùng để hỏi, nhưng điều muốn hỏi ít nhiều dường như cũng đã biết trước câu trả lời từ trước. c, Tình thái từ nghi vấn từ “ư”: Nó cũng đã biểu lộ sự hoài nghi, thắc mắc d, Tình thái từ nghi vấn “nhỉ”: Tình thái từ biểu lộ sự băn khoăn, nghi vấn e, Tình thái từ biểu thị sắc thái tình cảm đó là từ “nhé”: Từ nhé cũng đã lại biểu thị thái độ thân mật, cầu mong g, Tình thái từ cảm thán đó là từ “vậy”: dường như cũng đã lại miễn cưỡng đồng ý h, Tình thái từ “cơ mà”: Nó cũng đã biểu thị thái độ động viên, luôn luôn an ủi một cách thân tình nhất có thể. Bài 3 (Sách giáo khoa trang 83 Ngữ Văn 8 tập 1) Đặt câu với các tình thái từ mà, đây, chứ lị, thôi, cơ, vậy. + Em vẫn ngoan ngoãn mà! + Mẹ mua quà cho em đấy. + Nó háu ăn thế chứ lị. + Anh chỉ muốn khuyên em thôi! + Nó cứ nghĩ nó có voi còn muốn đòi tiên cơ! + Thế thì em cũng đành chịu vậy, chứ biết làm sao được. Bài 4 (Sách giáo khoa trang 83 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Đặt câu hỏi có dùng các tình thái từ nghi vấn phù hợp với những quan hệ sau đây + Thầy cô và với học sinh: Hôm nay em bị mệt à? + Bạn nam cùng với bạn nữ cùng lứa tuổi: Cậu có biết chơi cờ vua không vậy? Bài 5 (Sách giáo khoa trang 83 Ngữ Văn 8 tập 1) Tìm một sô tình thái từ trong tiếng địa phương em hoặc tiếng địa phương khác mà em biết. Một số tình thái từ địa phương Nam bộ có thể liệt kê ra như sau: + Ha (giống như từ hả trong từ ngữ của toàn dân): Chiếc ví này đẹp quá ha? + Nghen (được dùng giống từ nhé): Em nhớ ở nhà một mình nghen. + Há (nhỉ): Mệt quá chú Năm há! + Mừ (mà): Anh đã hứa với em rồi mừ! + Đa (nhỉ): Bữa nay nhìn em khó tính dữ đa. Hi vọng với bài soạn trên đã mang đến cho các em được những kiến thức cần thiết để các em học tốt hơn. Tình thái từ sẽ là một bài học hữu ích và dễ dàng nếu như các em học và soạn bài trước khi đến lớp đó!. Chúc các em học tốt! Minh Nguyệt Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm: Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000 Soạn bài Ôn dịch thuốc lá Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8 Soạn bài Bàn về đọc sách Sean bài Trong lòng mẹ
Soạn bài Tình thái từ Ngữ văn 8
926
Soạn bài tình thái từ Hướng dẫn I.Kiến thức cơ bản A.Chức năng của tình thái từ Nếu bỏ các từ in đậm trong các ví dụ thì ý nghĩa của câu có sự thay đổi: a.Nếu lược bỏ từ “à” thì câu này không còn là câu nghi vấn nữa. b.Nếu lược bỏ từ “đi” thì câu này không còn là câu cầu khiến nữa. c.Nếu không có từ “thay” thì không thể cấu tạo được câu cảm thán. d.Từ “ạ” giúp cho câu chào thể hiện tính lễ phép cao hơn. B.Sử dụng tình thái từ. Các từ tình thái in đậm (trong SGK) có ý nghĩa khác nhau. -Bạn chưa về à? (hỏi, thân mật) -Thầy mệt à? (hỏi, kính trọng) -Bạn giúp tôi một tay nhé! (cầu khiến, thân mật) -Bác giúp cháu một tay ạ! (cầu khiến, kính trọng) II.Luyện tập 1.Tìm từ tính thái từ ở các câu trong SGK (in đậm) a.Nào không phải là tình thái từ. b.Nào là tình thái từ. c.Chứ là tình thái từ. d.Chứ không phải là tình thái từ e.Với là tình thái từ f.Với không phải là tình thái từ g.Kia không phải là tình thái từ h.Kia là tình thái từ. 2.Giải thích ý nghĩa của các tình thái từ in đậm trong những câu. a.Chứ nghi vấn, dùng trong trường hợp có điều muốn hỏi, nhưng đã có khẳng định ít nhiều. b.Chứ nhấn mạnh điều vừa khẳng định, ý muốn nói là không thể khắc phục. d.Nhỉ thái độ thân mật. e.Nhé dặn dò, thái độ thân mật. f.Vậy thái độ miễn cưỡng, không muốn như vậy. g.Cơ mà thái độ thuyết phục. 3.Đặt câu với các tình thái từ: mà, đấy, chứ lị, thôi, cơ, vậy. -Vết thương của mẹ còn đau, cẩn thận kẻo lại bị nhiễm trùng. -Mẹ rất chú ý kiêng cự mà! -Đấy, anh lại đi chơi. -Liệu có chắc là bạn ấy làm được bài không? -Chắc làm được chứ lị! Các em đặt câu với các từ tình thái từ còn lại. 4.Đặt câu hỏi có dùng các tình thái từ nghi vấn phù hợp với những quan niệm xã hội. -Thưa cô, bao giờ lớp ta đi thăm quan ạ? (Học sinh và cô giáo) -Các cậu nên phân chia một bên nam một bên nữ đấu bóng chuyền xem sao? (các bạn nam nữ) -Vậy ngày mai chúng ta thực hiện nhé! -Bố ơi, mấy giờ bố con mìn đi thăm ông bà nội? -Con đã chuẩn bị lên đường rồi chứ! (bố nói với con) 5.Một số từ tình thái tiếng địa phương. -Ngày mai anh đến nhé! (Hà Tây) -Anh nói thế dư mà em lại nghĩ khác! (Nam Định) Các em tìm tiếp các từ tình thái ở địa phương khác.
Soạn bài tình thái từ
422
Soạn bài tính thống nhất về chủ đề của văn bản Hướng dẫn Soạn bài tính thống nhất về chủ đề của văn bản I. Chủ đề văn bản Trả lời câu hỏi: Câu 1. Trong văn bản tôi đi học của Thanh Tịnh, tác giả nhớ lại những kỉ niệm sâu sắc của tuổi thơ trong buổi tựu trường đầu tiên trong đời, khi ông được mẹ đưa đến trường học. Những hồi tưởng ấy gợi lên những cảm giác bàng bạc, mơn man, trong sáng, nảy nở trong lòng “như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”. Câu 2. Tôi đi học là một trang hồi ức của Thanh Tịnh, là trang văn đầy chất thơ kỉ niệm ngày tựu trường thời thơ ấu. Nói khơi gợi tâm hồn, kí ức ngày cắp sách đến trường của mỗi chúng ta. Tôi đi học là tiếng lòng man mác, bâng khuâng của một thời để thương, để nhớ và yêu quý vô cùng. Trừ những cuộc đời bất hạnh, chúng ta hầu như ai cũng có một kỉ niệm của tuổi học trò, nhất là buổi tựu trường đầu tiên. Đây là kỉ niệm được ghi lại thành dấu ấn sâu sắc trong suốt cuộc đời. Thanh Tịnh đã diễn tả cảm nghĩ này với một tâm hồn rung động thiết tha, đầy chất thơ. Câu 3. Chủ đề của văn bản là vấn đề chính (chủ yếu) được tác giả nêu lên, đặt ra trong văn bản. II. Tính thống nhất về chủ đề của văn bản. Câu 1. Căn cứ vào nhan đề văn bản Tôi đi học và những câu văn sau đây, em biết văn bản này nói lên những kỉ niệm của tác giả về buổi đầu tiên đến trường. -Trước sân trường làng Mĩ Lí dày đặc cả người, người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa. Câu 2. a.Hãy tìm những từ nữ chứng tỏ tâm trạng đó in sâu trong lòng nhân vật “tôi” suốt cuộc đời: Văn bản Tôi đi học tập tung tô đậm cảm giác trong sáng nảy nở trong lòng nhân vật “tôi” bằng nhiều chi tiết nghệ thuật khác nhau. -Những từ ngữ chứng tỏ tâm trạng ăn sâu trong lòng nhân vật “tôi” suốt cuộc đời: “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều…” “Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”. b.Hãy tìm những từ ngữ, chi tiết nêu bật cảm giác mới lạ xen lẫn bỡ ngỡ của nhân vật “tôi” khi cùng mẹ đến trường, khi cùng bạn đi vào lớp. -“Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi…” -“Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa, hay dám đi từng bước nhẹ…” -“Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp. Câu 3. Văn bản phải có tính mạch lạc, có đối tượng xác định. Tất cả những yếu tố đó đều tập trung thể hiện ý đồ và cảm xúc của tác giả. Tính thống nhất về chủ đề còn thể hiện ở nhan đề và quan hệ giữa các phần của văn bản qua các câu văn và từ ngữ thể hiện. III. Luyện tập Câu 1. a. -Căn cứ để em biết văn bản trên nói về Rừng cọ quê tôi là nhan đề của tác phẩm Rừng cọ quê tôi. -Phần đầu của bài văn miêu tả đời sống của cây cọ. Phân sau nói đến mối quan hệ giữa cây cọ và cuộc sống, sinh hoạt của con người. Phần này tác giả lặp lại nhiều lần từ ngữ rừng cọ. + Căn nhà tôi núp dưới rừng cọ. + Ngôi nhà tôi cũng khuất trong rừng cọ. + Ngày ngày đến lớp tôi đi trong rừng cọ. -Phần cuối nói về sự gắn bó giữa con người và cây cọ. -Các phần ý lớn trong phần thân bài đã được sắp xếp rất rành mạch, liên tục. + Đặc điểm và đời sống cây cọ. + Mối quan hệ của tuổi thơ với cây cọ. + Sự gắn bó của cây cọ đối với đời sống và sinh hoạt. Vì vậy, theo em không thể thay đổi được sự sắp xếp này. b.Văn bản Rừng cọ quê tôi toát lên tình cảm gắn bó giữa người dân sông Thao với rừng cọ. -“Chẳng có nói nào đẹp như sông Thao quê tôi…” -“Người sông Thao đi đâu rồi cũng nhớ về rừng cọ quê mình…” d.Tìm thêm các từ ngữ, các câu tiêu biểu thể hiện ở chủ đề: Các em tìm trong bài các từ ngữ, các câu thể hiện sự gắn bó người dân sông Thao với rừng cọ. Câu 2. a.Văn chương làm cho những hiểu biết của ta về quê hương đất nước thêm phong phú và sâu sắc. b.Văn chương lấy ngôn từ làm phương tiện sử dụng (Ý này hơi bao quát, ít sử dụng). c.Văn chương làm cho ta thêm tự hào về vẻ đẹp của quê hương đất nước, về truyền thống tốt đẹp của ông cha ta. d.Văn chương giúp ta yêu cuộc sống, yêu cái đẹp. e.Văn chương nung nấu lòng căm thù giặc… Câu 3. Để phân tích dòng cảm xúc thiết tha, trong trẻo của nhân vật “tôi” trong văn bản Tôi đi học, có bạn dự kiến triển khai các ý (như trong SGK), có thể điều chỉnh lại cho sát với yêu cầu của đề bài: -Cứ mùa thu về… -Mẹ nắm tay dẫn đến trường. -Sân trường rộng… Con đường đến trường trở nên mới lạ. -Muốn thử cố gắng… -Ông đốc và thầy giáo trẻ trìu mến đón tiếp. Sợ hãi… bước vào lớp.
Soạn bài tính thống nhất về chủ đề của văn bản
961
Soạn bài tóm tắt tác phẩm tự sự Hướng dẫn I.Phần bài học Câu 1. Tại sao phải tóm tắt tác phẩm. Đọc các tình huống và rút ra nhận xét như trong sách giáo khoa: sự cần thiết phải tóm tắt tác phẩm. Nêu tình huống khác cần phải tóm tắt tác phẩm: -Bà em mắt kém, không đọc được sách, bà nhờ em đọc và kể lại cho bà nghe một câu chuyện trên báo văng nghệ. -Bạn không có và chưa được nghe kể về một số truyện trong cuốn Thần thoại Hi Lạp, bạn muốn em kể lại cho bạn nghe. Câu 2. 1. a.SGK nên lên 7 sự việc khá đầy đủ của cốt truyện “Chuyện người con gái Nam Xương”. Tuy vậy vẫn thiếu một sự việc rất quan trọng trong sau sự việc thứ 4. Đó là sau khi Vũ Nương trẫm mình tự vẫn, một đêm Trương Sinh được đứa con chỉ chiếc bóng trên tường và nói đó là người hay tới với mẹ đêm đêm, làm Trương Sinh hiểu ra vợ mình bị oan. Đây là sự việc quan trọng làm rõ kịch tính của câu chuyện. b.Bổ sung thêm sự việc sau việc 4 vừa nêu. 2.Tóm tắt tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” trong khoảng 20 dòng. “Xưa có chàng Trương Sinh, vừa cưới vợ xong đã phải đầu quân đi lính để lại mẹ già và người vợ trẻ là Vũ Thị Thiết, còn gọi là Vũ Nương. Vũ Nương ở nhà nuôi con, chăm mẹ chồng và một dạ chung thủy chờ chồng. Khi mẹ Trương Sinh ốm chết, Vũ Nương lo ma chay chu tất. Giặc tan, Trương Sinh trở về nhà, nghe lời con trai nói có cha hay tới với mẹ đêm đêm, nghi vợ mình không chung thủy nên Trương Sinh dằn hắt vợ. Vũ Nương bị oan, bèn gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Sau đó, một đêm Trương Sinh cùng con trai ngồi bên đèn, đứa con chỉ chiếc bóng trên tường và nói đó chính là người cha hay tới với mẹ đêm đêm. Lúc đó chàng mới hiểu ra vợ mình bị oan. Cùng làng có người tên là Phan Lang do cứu mạng thần rùa Linh Phi nên khi chết đuối ở biển được Linh Phi cứu. Trong động Linh Phi dưới Thủy Cung, Phan Lang tình cờ gặp Vũ nương. Khi Phan Lang trở về trần gian Vũ Nương gửi chiếc hoa vàng cùng lời nhắn Trương Sinh. Trương Sinh nghe Phan Lang kể, bèn lập đàn giải oan cho vợ trên bờ Hoàng Giang. Vũ Nương hiện về ngồi trên chiếc kiệu hoa vàng giữa dòng… lúc ẩn, lúc hiện”. 3.Tóm tắt ngắn gọn hơn. “Chàng Trương Sinh vừa cưới vợ xong đã phải đi lính. Giặc tan Trương Sinh trở về nghe lời nói của con trai, nghi là vợ mình không chung thủy. Vũ Nương bị oan bèn gieo mình xuống sông tự vẫn. Một đêm Trương Sinh cùng con ngồi bên đèn, đứa con bỗng chỉ chiếc bóng và bảo đó là người cha vẫn đã đến vơi mẹ đêm đêm. Lúc đó Trương mới hiểu ra vợ bị oan. Phan Lang tình cờ gặp Vũ Nương ở dưới thủy cung. Lúc trở về Vũ nương gửi chiếc hoa vàng cùng lời nhắn. Trương Sinh lập đàn giải oan bên sông. Vũ Nương trở về trên chiếc kiểu hoa giữa dòng, lúc ẩn, lúc hiện rồi biến mất”. II.Luyện tập Câu 1. Tóm tắt tác phẩm tự sự đã học ở lớp 8. Truyện: Lão Hạc “Lão Hạc có một người con trai, một mảnh vườn và một con chó Vàng. Con trai lão đi phu đồn điền cao su, lão chỉ còn con chó Vàng. Vì muốn giữ lại mảnh vườn cho con, lão đành phải bán con Vàng, mặc dù hết sức buồn bã đau đớn. Lão mang tất cả niềm tin dành dụm được gửi ông giáo và nhờ ông trông coi mảnh vườn. Cuộc sống mỗi ngày một khó khăn, lão kiếm được gì ăn nấy và từ chối tất cả những gì ông giáo giúp. Một hôm lão xin Binh Tư một ít bả chó nói là để giết con chó nào đó hay đến vườn. Nhưng rồi lão bỗng dung chết – cái chết thật dữ dội. Cả làng không ai hiểu vì sao lão chết, chỉ có Binh Tư và ông giáo hiểu.”
Soạn bài tóm tắt tác phẩm tự sự
733
Soạn bài Tôi và chúng ta Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Hiểu phần nào tính cách của các nhân vật liêu biểu như Hoàng Việt, Nguyễn Chính, lừ đó thây được cuộc đấu tranh gay gắt giữa những người mạnh dạn đổi mới, có tinh thần dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm với những kẻ mang tư tưởng bảo thủ, lạc hậu trong sự chuyển mình mạnh mẻ của xã hội ta. -Hiểu thêm vé đặc điểm của thể loại kịch như: cách tạo tình huống, phát triển mâu thuẫn, diễn tả hành động và sử dụng ngôn ngữ. B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP I – Phần bài học Câu hỏi 1. Đọc các chủ thích để hiểu nội dung, chủ đề vở kịch, hiểu vị trí của các nhân vật. Gợi ý Vở kịch Tôi và chúng ta phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt giữa những con người có tư tưởng tiến bộ, muốn thay đổi mạnh mẻ phương thức quản lí, tổ chức và lề lối hoạt động sản xuất với những kẻ bảo thủ, xu nịnh, mượn danh bảo vệ truyền thống ở xí nghiệp Thắng Lợi. Trong giai đoạn khó khăn của đất nước, để phát triển sản xuất cần phải thay đổi các nguyên tắc, quy chế, các phương thức sản xuất cũ, lạc hậu, tức là cần phải thay đổi tư duy. Đổi mới trỏ thành yêu cầu có tính tất yếu trong thơi kì này của đất nước. Cuộc đấu tranh giữa hai phái cũ và mới thật gay gắt nhưng chiến thắng sẽ thuộc về những con người mơi. Ở hai cảnh trước, Lưu Quang Vũ đã hé mở tình huống mâu thuẫn, tính cách của nhân vật chính. Đến cảnh ha này là cuộc đối đầu gay gắt công khai đầu liên giữa hai tuyên nhân vật diễn ra trong phòng làm việc của Giám đốc Hoàng Việt. Câu hỏi 2. Từ phần chú thích và đoạn trích này em hiểu mâu thuẫn cơ bản mà vở kịch Tôi và chúng ta thể hiện là gì? Ý nghĩa của nó đôì với thực tiễn phát triển của xã hội ta thơi kì ấy như thế nào? Gợi ý Mâu thuẫn cơ bản của vở kịch Tôi và chúng ta là mâu thuẫn giữa suy nghĩ và cách làm ăn mới vơi suy nghĩ và cách làm ăn cũ kĩ, lỗi thời. Đây là một vấn đề đã diễn ra ơ mọi nơi, mọi lúc, nó có ý nghĩa lớn lao. Không thể cứ khư khư giữ lấy các nguyên tắc, cơ chế cứng nhắc, lạc hậu mà phải mạnh dạn thay đổi phương thức tổ chức, quản lí để thúc đẩy sản xuất phát triển; không chạy theo chủ nghĩa hình thức mà cần coi trọng thực tiễn, coi trọng hiệu quả thiết thực của công việc; có như thê mơi kích thích được lòng nhiệt tinh, sự đóng góp công sức của mọi người vào sự nghiệp chung. Không có thứ chủ nghĩa tập thể chung chung. Cái "chúng ta" được tạo thành từ những cái "tôi" cụ thể. Vì thế, cần quan tâm một cách thiết thực đến cuộc sống, quyền lợi của mỗi cá nhân con người. Đặt trong tình hình đất nươc ta những năm bấy giờ, vỡ kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, cấp thiết xuất phát từ thực tế cuộc sống, xã hội và có ý nghĩa trực tiếp đối với sự phát triển của đất nước. Câu hỏi 3. Muốn thể hiện sự phát triển của xung đột kịch, tác giả cần tạo được tình huống. Trong cảnh ha này, tình huống đó là gì? Mâu thuẫn cơ bản của tác phẩm đến đây bộc lộ như thế nào? Gợi ý – Tinh trạng ngưng trệ sản xuất của xí nghiệp Tháng Lợi đã đến lúc giải quyết băng những quyết định táo bạo. Sau quá trình tìm hiểu và củng cố lại xí nghiệp, qyền Giám đốc Hoàng Việt (mơi nhận chức vụ này hơn một năm) quyết định công bố kế hoạch mở rộng sản xuất và phương án làm ăn mơi. Như vậy có nghĩa là anh (cùng vơi kĩ sư Lê Sơn) đã công khai "tuyên chiến" với cơ chế quản lí, phương thức tổ chức đã trở nên lỗi thời. Những lơi công bô" của Hoàng Việt liên tiếp gây bất ngơ vơi nhiều ngươi và bị Phó giám đốc Nguyễn Chính, Quản đồc phân xương Trương phản ứng gay gắt. + Ban đầu, Hoàng Việt tuyên bố đỏ án làm ăn mới. Phải bảo thủ im lặng rồi phản ứng khá dè dặt. Thực chất là họ đang tìm kẽ hở để tấn công. Người phản ứng đầu tiên là Phó giám đốc Nguyễn Chính, anh ta đã dựa vào uy lực của cấp trên để phản bác đề án mới. + Khi lí lẽ của Nguyễn Chính bị Hoàng Việt dễ dàng bẻ gày thì đến lượt phản ứng của trưởng phòng Tài vụ liên quan đến biên chế, đến quỹ lương. Bà la không chỉ phản ứng bằng lí lẽ của một người nắm chắc nguyên tắc tài chính – kê toán mà còn phản ứng bằng hành động: không chịu cấp tiền tu sửa máy móc. Lúc này Hoàng Việt phải dùng đến uy quyền của mình dể giải quyết vấn đề. Lí lẻ của Hoàng Việt đưa ra là đời sống công nhân. + Lần thứ ba, Hoàng Việt chủ động tấn công. Anh tuyên bố bãi bỏ chức vụ quản đốc. Lí lẽ đưa ra cũng rất thoả đáng khiến cho Quản đốc phân xương Trương phải lắp bắp, ấp úng, không thể làm gì khác. + Nếu ba lần trước, cuộc đấu tranh chủ yếu là vấn đề quan hệ công việc thì lần thứ tư không chỉ liên quan đến công việc mà còn liên quan đến con người, đến chức vụ. Lí lẽ của Nguyền Chính cũng rất quyết liệt khi dựa trên những giá trị bền vừng, cái cơ chế một thơi từng phát huy tác dụng. Nhưng Hoàng Việt không mất bình tĩnh, anh dã thắng bằng lí lẽ: cái hôm qua là tích cực thì hôm nay dã trở nên lỗi thời. + Đòn phản công cuối cùng tương dối sắc bén của Nguyền Chính là căn cứ vào nghị quyết của Đảng. Nhưng Hoàng Việt lại thắng khi vận dụng một chi tiết quan trọng trong nghị quyết của Đảng "đẩy mạnh sản xuất và ổn định đời sống công nhân". Những xung dột gay gắt trên chứng tỏ muốn mở rộng quy mô sản xuất phải có nhiều thay đổi mạnh mẽ, đồng bộ. – Cái mới thắng lợi nhưng chúng ta cũng nhận thức rõ tính tích cực của cuộc đấu tranh này: cái cũ là sự cản trở nhưng dồng thời cũng là động lực cho cái mới phát triển và khẳng định. Cuộc đấu tranh giừa cái mới và cái cũ càng gay gắt bao nhiêu thì thắng lợi của cái mới càng có ý nghĩa bấy nhiêu. Câu hỏi 4. Qua đoạn trích, em hiểu như thế nào về tính cách của Giám đôc Hoàng Việt, kĩ sư Lê Sơn, Phó giám đốc Nguyễn Chính, Quản đốc phân xương Trương? Gợi ý Vỡ kịch cho ta thấy rõ được tính cách của từng nhân vật: -Giám đốc Hoàng Việt: một người lãnh đạo có tinh thần trách nhiệm cao, năng động, dám nghĩ dám làm vì sự phát triển của xí nghiệp và quyền lợi của anh chị em công nhân. Anh cũng là người trung thực, thẳng thắn, kiên quyết đấu tranh với niềm tin vào chân lí. -Kĩ sư Lê Sơn: một kĩ sư có năng lực, có trình độ chuyên môn giỏi, từng gắn bó nhiều năm cùng xí nghiệp. Dù biết cuộc đâu tranh sẽ rất khó khăn nhưng anh vẫn chấp nhận, sấn sàng cùng Hoàng Việt cải tiến toàn diện hoạt động của đơn vị. -Phó giám đốc Nguyền Chính: tiêu biểu cho loại người máy móc, bảo thủ nhưng cũng gian ngoan, nhiều mánh khoé. Nguyễn Chính vin vào cơ chế, các nguyên tắc dù đã trở thành lạc hậu để chống lại sự đổi mới. Anh ta khéo luồn lọt, xu nịnh cấp trên. -Quản đốc phân xưởng Trương: là người suy nghĩ và làm việc như cái máy và khô cằn tình người, thích tỏ ra quyền thế, hách dịch với anh chị em công nhân. Câu hỏi 5. Em có cảm nhận gì về xu thế phát triển và kết thúc của xung đột kịch? Gợi ý Cuộc đấu tranh trong Tôi và chúng ta là cuộc đấu tranh có tính tất yếu và gay gắt giữa cái cũ và cái mới. Các quan niệm, cách làm mới, táo bạo ở giai đoạn đầu tất nhiên sẽ vấp phải nhiều cản trở. Tinh huống xung đột mà vỏ kịch nêu lên là vân đề nóng bỏng của thực tiỗn đời sống sinh động. Cuộc đấu tranh này gay go nhưng cuối cùng phần thắng sẽ thuộc về cái mới, cái tiến bộ. Cách nghĩ, cách làm của Hoàng Việt, Lê Sơn, Thanh,… phù hợp với yêu cầu của thực tế đời sống, thúc đẩy sự phát triển đi lên của xã hội. Họ không đơn độc mà được sự ủng hộ của số đông anh chị cm công nhân trong xí nghiệp. II – Phần luyện tập Tóm tắt sự phát triển của mâu thuẫn kịch trong đoạn trích trên. (Gợi ý: Tham khảo phần trả lời ở câu hỏi 3).
Soạn bài Tôi và chúng ta
1,590
Soạn bài Tôi đi học của Thanh Tịnh Hướng dẫn I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Không khí và cảnh vật vào cuối thu “lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc” đã gợi lên trong lòng nhân vật “tôi” những kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên. Đọc lại toàn bộ truyện ngắn, em thấy nhà văn diễn tả những kỉ niệm theo trình tự thời gian, không gian. Lúc đầu là buổi sớm mai mẹ dẫn đi trên con đường làng. Sáng đó đứng giữa sân trường, một hồi trống vang lên, nghe ông đốc đọc tên và dặn dò… Câu 2. Những hình ảnh và chi tiết của nhân vật “tôi”. -Tác giả đã dùng phương pháp nhân hóa để viết những câu văn giàu hình tượng và biểu cảm. + “Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”. + “Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính trong tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học”. + Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn. + Chú bé cũng như những trò khác “bỡ ngỡ đứng nép bên người thân” chỉ dám “nhìn một nưa”, chỉ dám “đi từng bước nhẹ”; “lo sợ vẩn vơ”, ngập ngừng e sợ, “thèm vụng và ao ước thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ”. + Được ông đốc học dỗ dành: “Các em đừng khóc. Trưa nay các em được về nhà cơ mà…”. + Tiếng phấn của thầy giáo gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. “Tôi vòng tay lên bàn nhìn thầy viết và lẩm nhẩm đọc: Bài viết tập: TÔI ĐI HỌC Tất cả những dẫn chứng trên được hồi tưởng và diễn tra rất chân thực rất cụ thể, rất ấn tượng và tinh tế lạ thường. Đó là tâm lí chung của rất nhiều học trò lần đầu tiên đi học! Câu 3. Thái độ, cử chỉ của những người lớn đối với các em lần đầu đi học thật là đẹp đẽ, đáng kính. -Ông đốc có giọng nói ân cần, cặp mắt hiền từ. Thầy giáo lớp 5 đón 28 học trò mới với “gương mặt tươi cười” chứng tỏ thầy là người vui tính, giàu lòng yêu thương. -Người mẹ rất thương yêu con, đã quan tâm, dõi theo từng bước đi của con mình với bao âu yếm, động viên… đặc biệt từ khi con đi trên đường đến lúc tới trường, xếp hàng vào lớp học. Như thế thái độ và cử chỉ của những người lớn đối với học trò rất tinh tế, ngọt ngào bởi đó là ngày đầu tiên đi học của con. Câu 4. Những hình ảnh so sánh được nhà văn sử dụng trong truyện ngắn rất sinh động, rất đặc sắc: + Trước mắt tôi, trường Mĩ Lí trông vừa xinh xắn, vừa oai nghiêm như cái đình làng Hòa Ấp. + Họ như những con chim con đứng bên bờ tổ nhìn quãng trời rộng muốn bay, những con ngập ngừng e sợ. Câu 5. Đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Tôi đi học là sử dụng các hình thứ nhân hóa và so sánh đầy thi vị, giọng văn nhẹ nhàng, trong sáng gợi cảm. -Chất thơ của truyện tỏa ra từ thái độ, cử chỉ, gương mặt và lời nói của mỗi người rất tinh tế, gợi cảm. Chất thơ toát ra từ lòng người mẹ hiền thương yêu con. Đã mất lần tác giả tra bàn tay của người mẹ. -Truyện được bố cục trong dòng hồi tưởng. Kết hợp hài hòa giữa kể và tả với sự bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của con người. Hình ảnh thiên nhiên, ngôi trường và các học sinh giàu sức gợi cảm. Toàn bộ truyện ngắn toát lên một chất trữ tình thiết tha, êm dịu. “Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”. Lúc xếp hàng vào lớp, đứa con cảm thấy “có một bàn tay dịu dàng” của mẹ đẩy con tới trước như động viên, khích lệ. Lúc đứa con bé bỏng “khóc nức nở” thì “một bàn tay quen thuộc nhẹ vuốt mái tóc”. Câu 6. Ý nghĩa. “Tôi đi học” là một trang hồi ức của Thanh Tịnh, là trang văn đầy chất thơ kỉ niệm ngày tựu trường thời thơ ấu. Chất thơ ở giọng văn nhẹ nhàng truyền cảm. Nó khơi gợi tâm hồn, kí ức ngày cắp sách đến trường của mỗi chúng ta. “Tôi đi học” là tiếng lòng man mác, bâng khuâng cua một thời để thương, để nhớ và yêu quý vô cùng. II.Luyện tập. Câu 1.Phát biểu cảm nghĩ của em về dòng cảm xúc nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Tôi đi học Câu 2.Viết bài văn ngắn ghi lại ấn tượng của em trong buổi đến khai giảng lần đầu tiên
Soạn bài Tôi đi học của Thanh Tịnh
842
Đề bài: Soạn Bài Tôi Đi Học Lớp 8 Của Thanh Tịnh Bài làm 1. a) Những điều đã gợi lên trong lòng nhân vật “tôi” kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên: Toàn truyện ngắn Tôi đi học là dòng cảm nghĩ lung linh, tha thiết của nhân vật tôi về buổi tựu trường đầu tiên. Dòng cảm nghĩ được khơi nguồn từ hình ảnh thiên nhiên và hình ảnh con người trong hiện tại. Đó là cuối thu khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc và lúc mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường. b) Đọc toàn bộ truyện ngắn, những kĩ niệm về buổi tựu trường đầu tiên được nhà văn diễn tả theo trình tự: Từ hiện tại nhớ về quá khứ: tiết trời cuối thu, hình ảnh các em nhỏ đến trường gợi cho nhân vật “tôi” nhớ lại. Dòng hồi tưởng của nhân vật “tôi” trở về con đường cùng mẹ tới trưởng. Cảm giác của nhân vật “tôi” khi nhìn thấy ngôi trường ngày khai giảng, khi nhìn các bạn, lúc nghe gọi tên mình vào lớp. Tâm trạng hồi hộp của nhân vật “tôi” lúc ngồi vào chỗ của mình trong giờ học đầu tiên. 2. Những hình ảnh, chi tiết chứng tỏ tâm trạng hồi hộp, cảm giác bỡ ngỡ của nhân vật “tôi” khi cùng mẹ đi trên đường tới trường, khi nghe gọi tên và phải rời bàn tay mẹ cùng các bạn đi vào lớp, khi ngồi trong lớp đón giờ học đầu tiên: Con đường, cảnh vật chung quanh vốn rất quen nhưng lần này tự nhiên thấy lạ, nhân vật “tôi” cảm thấy có sự thay đổi lớn trong lòng mình. Cảm thấy trang trọng và đứng đắn với bộ quần áo, với mấy quyển vở mới trên tay. Cẩn thận, nâng niu mấy quyển vở, lúng túng muốn thử sức, muốn khẳng định mình khi xin mẹ được cầm cả bút, thước như các bạn khác. Bỗng thấy sân trường hôm nay dày đặc cả người, ai cũng ăn mặc sạch sẽ, gương mặt tươi vui và sáng sủa. Ngôi trường xinh xắn vừa oai nghiêm khác thường. Cảm thấy mình bé nhỏ so với nó, nhân vật “tôi”o sợ vẩn vơ. Hồi hộp chờ nghe tên mình. “Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng” Bỗng cảm thấy sợ khi sắp phải rời bàn tay dịu dàng của mẹ. Nghe những tiếng khóc của bạn, cảm thấy bước vào thế giới khác, xa lạ. Cảm thấy vừa xa lạ vừa gần gũi với mọi vật, với người bạn ngồi bên cạnh Vừa ngỡ ngàng, vừa tự tin, nhân vật “tôi” nghiêm trang bước vào giờ học đầu tiên. Các bậc phụ huynh đều chuẩn bị chu đáo cho con em mình trong buổi tựu trường đầu tiên, đều trân trọng dự buổi khai giảng và hồi hộp cùng các em. Có lẽ các vị cũng đang lo lắng, hồi hộp cùng con em mình. Ông đốc là một người thầy, một người lãnh đạo nhà trường rất từ tốn, bao dung. Thầy giáo trẻ dạy học sinh lớp mới cũng chứng tỏ là một người vui tính, giàu tình thương yêu. Thái độ, cử chỉ của những người lớn đối với các em bé trong lần đầu đi học chứng tỏ trách nhiệm, tấm lòng của gia đình, nhà trường đối với thệ hệ tương lai rất lớn. 4. Tìm và phân tích các hình ảnh so sánh được nhà văn sử dụng trong truyện ngắn: – Có 3 hình ảnh so sánh đáng chú ý: ” Tôi quên thế nào được cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi giữa bầu trời quang đãng”. “Ý nghĩ ấy thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi” “Họ như con chim con đứng trên bờ tô, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những người học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ”. Nhờ các hình ảnh so sánh như thế mà cảm giác, ý nghĩ của nhân vật “tôi” được người đọc chúng ta cảm nhận cụ thể, rõ ràng hơn. Cũng nhờ chúng, truyện ngắn thêm man mác chất trữ tình trong trẻo. 5. a) Đặc sắc về nghệ thuật thể hiện trong truyện ngắn: Truyện được cấu tạo theo dòng hồi tưởng, cảm nghĩ của nhân vật “tôi”, theo trình tự thời gian của buổi tựu trường. Có sự kết hợp hài hòa giữa kể, miêu tả và bộc lộ tâm trạng, cảm xúc. b) Sức cuốn hút của tác phẩm được tạo nên từ: Tình huống truyện. Tình cảm ấm áp, trìu mến của những người lớn đối với các em nhỏ lần đầu tiên đến trường. Hình ảnh thiên nhiên, ngôi trường và những so sánh giàu sức gợi cảm của tác giả.
Soạn Bài Tôi Đi Học Của Tác Giả Thanh Tịnh
824
Tôi đi học là một sáng tác hấp dẫn, độc đáo và nói lên được rõ ràng phong cách văn chương của tác giả Thanh Tịnh. Bài học được nằm trong chương trình học Ngữ văn lớp 8 chắc chắn sẽ đem lại cho các em có được một giờ học thú vị nhất. Soạn bài Tôi đi học Ngữ văn lớp 8 Bài làm Bố cục của bài được chia bao gồm 3 phần: – Phần 1 (từ đầu cho đến “trên ngọn núi”): Nói được tâm trạng nao nức về kỉ niệm của buổi tự trường đầu tiên. – Phần 2 (tiếp theo cho đến “tôi cũng lấy làm lạ”): Có thể nhận thấy được chính khung cảnh sân trường làng Mĩ Lí nhân ngày khai trường. – Phần 3 (Đoạn còn lại): Nói lên những cảm xúc nhân vật “tôi” khi vào lớp học. Hướng dẫn soạn bài Câu 1 (SGK trang 9 Ngữ Văn 8 tập 1): Những gì đã gợi lên trong lòng nhân vật “tôi” kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên? Đọc toàn bộ truyện ngắn, em thấy những kỉ niệm này được nhà văn diễn tả theo trình tự như thế nào? – Có thể nhận thấy được chính những điều đã gợi lên trong lòng nhân vật “tôi” như cũng đã kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên: Khi mà thời tiết cuối thu, lá rụng ngoài đường nhiều thế rồi cũng trên không có những đám mây bàng bạc. – Thế rồi những kỉ niệm được diễn tả theo trình tự thời gian thật đẹp biết bao nhiêu + Có thể nhận thấy được cũng chính từ hiện tại hồi tưởng về quá khứ: Lúc này đay cũng là đang độ tiết trời cuối thu, có các hình ảnh em nhỏ tới trường. + Chính những dòng hồi tưởng của nhân vật “tôi” dường như cũng nói về con đường cùng mẹ tới trường + Chính những cảm giác nhân vật “tôi” mà khi nhìn thấy ngôi trường trong ngày khai giảng được tác giả thể hiện rất rõ nét. + Không những thế mà tác giả cũng lại còn diễn tả được một tâm trạng hồi hộp của nhân vật “tôi” khi mà nhân vật vào ngồi vào chỗ của mình trong giờ học đầu tiên. Câu 2 (SGK trang 9 Ngữ Văn 8 tập 1): Em có cảm nhận gì về thái độ, cử chỉ cùa những người lớn (ông đốc, thầy giáo đón nhận học trò mới, các phụ huynh) đối với các em bé lán đầu đi học? – Nhà văn cũng đã nói lên được những hình ảnh, những chi tiết chứng tỏ tâm trạng hồi hộp, thêm vào đó chính là cảm giác bỡ ngỡ của nhân vật tôi: + Thế rồi cũng chính trong các chiếc áo vải dù đên cảm thấy mình trang trọng, đứng đắn + Nhân vật dường như cũng muốn được thử sức mình để có cầm bút thước, sách vở để trở thành một người thành thạo + Những ngạc nhiên trước cảnh sân trường Mĩ Lí lúc này đây cũng đã dày đặc người, ai ai dường như cũng lại thật vui tươi, sáng sủa. + Nhân vật lại cảm thấy lo sợ vẩn vơ trước ngôi trường bé nhỏ này + Không chỉ vậy, nhân vật cũng đã lại giật mình lúng túng khi nghe thầy gọi tên + Lúc đó lại cảm thấy sợ lúc sắp rời xa bàn tay mẹ + Khi nhân vật bước vào chỗ ngồi vừa ngỡ ngàng, hào hứng Câu 3 (SGK trang 9 Ngữ Văn 8 tập 1): Em có cảm nhận gì về thái độ, cử chỉ cùa những người lớn (ông đốc, thầy giáo đón nhận học trò mới, các phụ huynh) đối với các em bé lán đầu đi học? – Thái độ, rồi những cử chỉ của ông đốc: + Thế rồi nhìn học trò hiền từ, căn dặn nhẹ nhàng + Nhân vật cũng lại còn nhẫn nại chờ đợi, giàu lòng yêu trẻ – Người thầy giáo trẻ tươi cười, niềm nở và còn ra đón học sinh vào lớp – Lúc này đây thì các bậc phụ huynh chuẩn bị kỹ lưỡng cho con, họ cũng đã lại đưa con tới trường và cũng cứ nhìn con đầy lưu luyến khi con vào lớp học. => Thông qua đây thì tất cả người lớn dường như cũng lại đều dành sự quan tâm và yêu thương, dánh những sự chăm sóc đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Câu 4 (SGK trang 9 Ngữ Văn 8 tập 1): Hãy tìm và phân tích các hình ảnh so sánh được nhà văn sử dụng trong truyện ngắn – Có thể nhận thấy được chính hình ảnh so sánh được miêu tả khá đặc sắc ” Tôi quên thế nào được cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi … giữa bầu trời quang đãng” >>> Tất cả những cảm nhận trong sáng, và vô cùng hồn nhiên trong ngày đầu đi học. – Những ý nghĩ ấy dường như cũng lại đã thoáng qua trong trí óc tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang” – “Trước mắt tôi sân trường làng Mĩ Lí trông vừa xinh xắn, oai nghiêm… đình làng Hòa Ấp” >>> Chính những cảm nhận rõ ràng vẻ đẹp, đó là một sự oai nghiêm của ngôi trường – “Họ như những con chim con đứng bên bờ tổ…còn ngập ngừng e sợ” >>> Chính các sự non nớt, ngỡ ngàng, và cả những khao khát vươn xa của học trò. – “Họ thèm vụng và ước ao thầm… phải rụt rè trong cảnh lạ” >>> Đó cũng chính là những ước muốn được trưởng thành, cứng cáp. Soạn bài Tôi đi học Ngữ văn lớp 8 Câu 5 (SGK trang 9 Ngữ Văn 8 tập 1): Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn này. Sức cuốn hút của tác phẩm, theo em, được tạo nên từ đâu? – Những đặc sắc nghệ thuật: + Có thể cảm nhận được chính những truyện kể hồi kí với theo trình tự thời gian, thế rồi chính cảm xúc của nhân vật “tôi” lúc này đây cũng là hết sức tự nhiên, trong sáng. + Chính những hình ảnh so sánh, các biện pháp nhân hóa đầy thi vị + Có thể nhận thấy một giọng văn vô cùng nhẹ nhàng, trong sáng dường như cũng đã lại diễn tả trọn vẹn cảm xúc chân thật của đứa trẻ ngay từ lần đầu đi học + Khi mà tác giả thật tài tình vì đã chạm tới lòng người đọc bằng chính những trải nghiệm, chính những cảm xúc chung nhất của bất kì ai trong ngày đầu đi học. – Thêm vào đó là sức hút của truyện từ: + Xây dựng được tình huống truyện hấp dẫn + Nói, diễn tả được một cảm xúc trong sáng, chân thật của nhân vật + Có thể nhận thấy được chính những hình ảnh đẹp đẽ, gần gũi. Luyện tập Bài 1 (SGK trang 9 Ngữ Văn 8 tập 1): Phát biểu cảm nghĩ của em về dòng cảm xúc của nhân vật “tôi” trong truyện ngấn Tôi di học. – Có thể nhận thấy được ở nhân vật “tôi” dường như cũng thật bồi hồi xúc động khi đứng trước biến đổi về thiên nhiên, trước những cảnh vật >>> Tất cả những kỉ niệm đẹp, kỉ niệm vô cùng sâu đậm về ngày tựu trường đầu tiên dường như cứ sống lại trong lòng nhân vật hết sức tự nhiên và đẹp đẽ. – Chính những ý nghĩ muốn thử sức mình cầm sách vở, cầm bút thước – Nhân vật còn nhận thấy được ngôi trường vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như đình làng >>> Chính những sự so sánh hết sức ngộ nghĩnh, thú vị, độc đáo. – Nhân vật dường như cũng thật vui vẻ trước sự chào đón của thầy cô, có cả một sự bịn rịn lưu luyến mẹ >>> Tất cả những cử chỉ, cảm xúc tự nhiên nhất nhân vật tôi. Bài 2 (Sách giáo khoa trang 9 Ngữ Văn 8 tập 1): Viết bài văn ngắn ghi lại ấn tượng của em trong buổi đến trường khai giảng lần đầu tiên. – Đây là văn kể chuyện: Chúng ta cũng cần xác định những chi tiết, sự việc chính – Những ấn tượng về một buổi khai giảng đầu tiên: + Thêm vào đó là các cảm xúc trước hôm khai giảng + Tác giả cũng đã chọn cho một hình ảnh về cảnh vật tiêu biểu nhất về đường đi học, hình ảnh của một ngôi trường, bạn bè… để tả, kể + Khi nhìn thấy bạn bè hay thầy cô, trường lớp mới xuất hiện cảm giác của nhân vật được thể hiện cái vẻ dường như háo hức, hồi hộp, vui vẻ…. + Các cảm xúc khi rời xa cha mẹ để tự mình bước vào lớp cùng bạn bè. – Tác giả cũng đã sử dụng một giọng kể tự nhiên, thật chân thành và đằm thắm như để kể theo trình tự thời gian. – Thông qua đây chúng ta cũng có thể so sánh cảm xúc với những buổi tựu trường đầu tiên với cả những buổi tựu trường sau đó nữa Nội dung chính của tác phẩm “Tôi đi học” đó cũng chính là những dòng hồi tưởng về ngày đầu tựu trường của nhân vật “tôi”. Thông qua truyện ngắn này gần như là tự truyện, đồng thời như cũng thật nhẹ vừa man mác vừa ngọt ngào với những dư vị dường như cứ sâu lắng của buổi đầu tựu trường đầu tiên. Bài soạn cũng đã cung cấp cho các em kiến thức cơ bản cần nhớ để có thể học bài thật tốt. Hi vọng giải Văn cũng sẽ là một trong những kênh thông tin bổ ích để giúp cho các em có được một bài học lý thú nhất! Minh Nguyệt Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm: Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8 Soạn bài Bàn về đọc sách
Soạn bài Tôi đi học Ngữ văn lớp 8
1,662
Soạn bài tôi đi học, văn mẫu lớp 8 Hướng dẫn BÀI 1: TÔI ĐI HỌC THANH TỊNH A. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP PHẦN BÀI HỌC Câu hỏi 1. Những gì đã gợi lên trong lòng nhân vật “tôi” kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên? Đọc toàn bộ truyện ngắn, em thấy những kỉ niệm này được nhà văn diễn tả theo trình tự như thế nào? Gơi ý – Sự biến chuyển của trời đất cuối thu, hình ảnh mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lấn đầu tiên được cắp sách đến trường đã gợi lên trong lòng nhân vật “tôi” những ki niệm về buổi tựu trường đầu tiên. – Những kí niệm được diễn tả theo trình tự thời gian: tâm trạng, cảm giác của nhận vật “tôi” trên đường cùng mẹ đến trường, khi đợi gọi tên mình vào lớp và khi ngồi vào chỗ của mình để đón giờ học đầu tiên. Câu hỏi 2. Tim những hình ảnh, chi tiết chứng tỏ tâm trạng hồi hộp, cảm giác bỡ ngỡ của nhân vật “tôi” khi cùng mẹ đi trên đường tới trường, khi nghe gọi tên và phải rời bàn tay mẹ cùng các bạn đi vào lớp, khi ngồi trong lớp đón giò học đầu tiên. Gợi ý – Khi cùng mẹ đi trên đường tới trường: + Con đường, cảnh vật xung quanh vốn rất quen thuộc nhưng lần này tự nhiên thấy lạ, cảm thấy có sự thay đổi lớn trong lòng. + Cảm thấy trang trọng với bộ quần áo, mấy quyển vở mới trên tay. + Bỗng thấy sân trường hôm nay dày đặc cả người, ai cũng ăn mặc sạch sẽ, gương mặt vui tươi, sáng sủa. + Ngôi trường xinh xắn, oai nghiêm khác thường. Cảm thấy mình bé nhỏ so với nó, đâm ra lo sợ vẩn vơ. + Hồi hộp chờ nghe tên mình. “Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng”. + Bỗng càng cảm thấy sợ khi sắp phải rời xa bàn tay dịu dàng của mẹ. Oà khóc nức nở theo các bạn. Cảm thấy mình như bước vào một thế giới khác và cách xa mẹ hơn bao giờ hết. – Khi ngồi trong lớp đón giờ học đầu tiên: + Cảm thấy vừa xa lạ, vừa gần gũi với mọi vật, với người bạn ngồi bên cạnh. + Vừa ngỡ ngàng, vừa tự tin bước vào giờ học đầu tiên. Câu hỏi 3. Em có cảm nhận gì về thái độ, cử chỉ cùa những người lớn (ông đốc, thầy giáo đón nhận học trò mới, các phụ huynh) đối với các em bé lán đầu đi học? Gọi ý – Ông đốc là một người tốt, có lòng bao dung. – Thầy giáo đón học trò mới cũng là một người vui tính, giàu tình yêu thương. – Các phụ huynh đều chuẩn bị chu đáo cho con em ở buổi tựu trường đầu tiên, đều trân trọng tham gia buổi lễ quan trọng này. Có lẽ các vị cũng đang lo lắng, hồi hộp cùng con em mình. Qua các hình ảnh về người lớn, chúng ta nhận ra trách nhiệm, tấm lòng của gia đình, nhà trường đối với thế hệ tương lai. Câu hỏi 4. Hãy tìm và phân tích các hình ảnh so sánh được nhà văn sử dụng trong truyện ngắn. Gọi ý – Cac hình ảnh so sánh trong truyện ngắn: + “Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.” + “Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quàng trời rộng muốn bay nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những người học trò cũ, biết lớp, biết thầy dể khỏi phai rụt rè trong cảnh lạ.” – Phân tích: Các so sánh trên xuất hiện ở thời điểm khác nhau để diễn tả tâm trạng, cảm xúc của nhân vật “tôi”. Những so sánh này làm cho câu văn thêm sinh động, giàu sức gợi cảm; những cảm giác ý nghĩ của nhân vật cũng được người đọc cảm nhận được cụ thể, rõ ràng hơn. Câu hỏi 5. Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn này. Sức cuốn hút của tác phẩm, theo em, được tạo nên từ đâu? Gợi ý – Đặc sắc nghệ thuật: Truyện ngắn được bố cục theo dòng hồi tưởng, từ hiộn tại nhớ về quá khứ đã qua. Diễn biến của câu chuyện theo trình tự thòi gian. Truyện có sự kết hợp hài hòa giữa tự sự và trữ tình, giữa kể, miêu tả với bộc lộ tủm trạng, cảm xúc. – Sức cuốn hút của tác phẩm được tạo nên từ tình huống của truyện (buổi tựu trường đầu tiên trong đời chứa đựng cảm xúc thiết tha với bao kỉ niệm mới lạ, khó quên của nhân vật); từ tình cảm ấm áp, trìu mến của người lớn đối với các em nhỏ lần đầu tiên đi học; từ hình ảnh tươi đẹp, trong sáng của quê hương, ngôi trường. B. PHẦN LUYỆN TẬP Gợi ý Câu chuyện được tái hiện qua sự hồi tưởng của tác giả, đồng thời cũng là nhăn vật “tôi”. Từ thực tại của đất trời cuối thu (thời gian mở đầu năm học), tác giả nhớ về dĩ vãng, về “những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường” đầu tiên trong đời mình. Dòng cảm xúc về kỉ niệm ấy được nhân vật “tôi” nhớ lại theo trình tự thời gian. Đầu tiên là sự háo hức, cảm thấy lòng mình thay đổi, như đã lớn lên, trang trọng và đứng đắn hơn lúc trên đường theo mẹ đến trường; là nỗi e sợ, phải dứng nép vào mẹ khi đứng dưới sản trường; thật sự lúng túng, xúc động khi nghe tiếng trống trường vang lên; ngơ ngác khi nghe gọi đến tên mình và cảm thấy mọi thứ như vừa quen vừa lạ khi ngồi trong lớp học. – Dòng cảm xúc ấy được thê hiện qua những câu văn giàu biểu cảm, kết hợp với miêu tà và kể tạo nên mối gắn kết thống nhất, có sức lay động của truyện. Bài tập 2. Viết bài văn ngắn ghi lại ấn tượng của em trong buổi đến trường khai giảng lần đầu tiên. Gọi ý – Em có thể kể lại những ấn tượng của mình về buổi khai giảng lần đầu tiên. Có thể kể theo trình tự như khi chuẩn bị ở nhà, trên đường đi, ở trường hay theo trình tự sự việc nào ấn tượng nhất thì kể trước. – Cần phải trình bày được tâm trạng, cảm xúc của mình trong buổi khai giảng ấy.
Soạn bài tôi đi học, văn mẫu lớp 8
1,120
Soạn bài tả chợ hoa ngày Tết Hướng dẫn I. Mở bài + Ngày xuân, trăm hoa về dự hội. + Nhiều loài, nhiều màu chào đón mọi người. II. Thân bài 1. Khái quát: chợ hoa đẹp, người đi chợ đông. 2. Miêu tả từng loại bông: + Hoa hồng đỏ thắm. + Hướng dương: vươn về phía mặt trời. + Vạn thọ và các loài cúc: nhiều nhất … 3. Một số hình ảnh đặc biệt + Ong bướm cũng đi hội chợ ghé vào hút nhụy và mật. + Người qua lại mặc áo màu sặc sỡ như hoa. Trở lại miêu tả các loại bông mới và tiêu biểu cho sắc cuân: + Bông đào từ miền Bắc vào đây khoe sắc. + Bông mai rực rỡ một màu vàng. + Những cây kiểng cho những người đón xuân. III. Kết luận + Một ngày vui xuân, em quyến luyến với chợ hoa. + Cảm phục những người chăm sóc và trồng hoa.
Soạn bài tả chợ hoa ngày Tết
147
Soạn bài tả cảnh giờ ra chơi ở trường em Hướng dẫn I. Mở bài. + Buổi chiều, tiết hè oi bức. + Tiếng trống báo giờ ra chơi ở tiết thứ hai. II. Thân bài 1. Bắt đầu giờ ra chơi + Các học sinh đổ ra từ các cảnh cửa lớn của lớp học. + Tập thể dục. + Tản mát khắp nơi, những chiếc áo trắng và những khăn quảng đỏ xuất hiện cùng trường. + Không khí vui nhộn. 2. Những hình ảnh và sinh hoạt trong giờ ra chơi. + Dưới bóng me tây, các bạn nữ nhảy dây. + Đàng xa, bụi bốc mù mịt, tiếng nói huyên náo, các bạn nam đang chơi trò “mèo bắt chuột”. + Bãi cỏ rộng: Thủ thành đang cố gắng bắt những quả phạt mười một mét. Những đám cổ động viên reo cười, vổ tay ủng hộ, khen ngợi thành tích của đội bóng. + Các hành lang: thầy cô đang nhìn chúng em vui chơi. 3. Hình ảnh đặc biệt. + Trên cành cao những chú chim đang bắt chước tụi em đuổi nhau và la lán lót. III. Kết luận + Trống báo giờ học + Xếp hàng vào lớp. + Những con chim ngơ ngác bay đi.
Soạn bài tả cảnh giờ ra chơi ở trường em
193
Soạn bài tả lớp học trong một giờ kiểm tra chất lượng văn hóa Hướng dẫn I. Mở bài – Đến giờ kiểm tra em thường hồi hộp mặc dầu đã học bài kĩ. – Hôm nay là tiết kiểm tra môn địa lí. II. Thân bài 1. Thời gian đầu – Thầy chép để lên bảng – Thái độ của các bạn: + Toàn thể: âm thanh nhao lên như họp chợ + Bạn thì reo lên vì sung sướng là có thể làm bài được. + Bạn thì buồn thất vọng vì không có khả năng làm bài. – Thầy nhắc trật tự. 2. Thời gian làm bài – Không khí chung: im lặng, mọi người chăm chú trên trang giấy. – Biểu hiện thái độ ở các bạn. + Người thì viết nháp. + Người thì đặt bút viết ngay nhưng vẫn sạch sẽ, rõ rang. + Người thì ngơ ngẩn nhì ra cửa sổ hay trần nhà. + Kẻ thì ngẩng đầu, chống tay suy nghĩ rồi viết tiếp. + Kẻ thì vỗ tay vào đầu. 3. Thời gian cuối. – Đọc lại bài cẩn thẩn. – Tiếng kẻng hết giờ học. – Thầy thu bài. III. Kết luận. – Có bạn nạp bài trong sự vui tươi thanh thản. – Có bạn bực bội với mình vì thiếu hoặc sai đề. – Có bạn ngơ ngác vì không làm được bài.
Soạn bài tả lớp học trong một giờ kiểm tra chất lượng văn hóa
208
Soạn bài tả ngôi trường mới Hướng dẫn I. Mở bài Lí do nào nhập học ở ngôi trường mới: gia đình chuyển chỗ ở về thành phố. II. Thân bài 1. Đi đến trường: + Mải mê ngắm phố xá vì lạ. + Thấy tấm biển ghi tên trường. 2. Khung cảnh chung: + Nó đẹp và bề thế hơn trường làng. + Cấu trúc hình chữ U. + Dãy tường bao làm hàng rào của trường mới. 3. Những cảnh chi tiết hơn: + Hai cái cột của cổng trường lát đá hoa đen. + Mùi vôi mới. + Ô cửa sổ, dãy bàn ghế được sắp xếp. + Gốc phượng và ghế đá ngoài sân trường. 4. Tiếp xúc với những con người ở ngôi trường mới: + Bác bảo vệ. + Thầy hiệu trưởng. III. Kết luận. + Nghĩ về một năm học mới. + Nhớ trường xưa và bạn bè cũ.
Soạn bài tả ngôi trường mới
134
Soạn bài Tấm lòng người dân Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Quan sát bức tranh sau và cho biết (SGK/38). -Tranh vẽ những ai? -Tranh vẽ cảnh gì? Gợi ý: – Tranh vẽ các nhân vật: dì Năm, bé An, chú cán bộ, cai, lính. – Tranh vẽ cảnh tên cai và lính đang chĩa súng vào chú cán bộ, bé An đang ôm mẹ bị trói bên mâm cơm đang ăn dở. 3. Ghép mỗi từ ngữ dưới đây với lời giải nghĩa phù hợp: a. Ráng (tiếng Nam Bộ) b. Quẹo vô (tiếng Nam Bộ) c. Thiệt (tiếng Nam Bộ) d. Hổng thấy (tiếng Nam Bộ) e. Lẹ (tiếng Nam Bộ) g. Cai (1)….: chức vụ thấp nhất trong quân đội thời trước, chỉ xếp trên lính thường. (2)…: không thấy. (3)…: thật. (4)…: rẽ vào. (5)…: nhanh. (6)…: cố, cố gắng. Gợi ý: a – (6); b – (4); c – (3); d – (2); e – (5); g – (1). 5.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Chú cán bộ gặp chuyện gì nguy hiểm? 2)Dì Năm đã nghĩ ra cách gì để cứu chú cán bộ? 3)Nối từng ô ở cột A với ô thích hợp ở cột B: Chi tiết trong đoạn kịch Ý nghĩa của chi tiết kịch a) Dì Năm nhận chú cán bộ là chồng 1. cho thấy chú cán bộ hiểu ngay ý dì Năm, nhập vai rất nhanh. b) Chú cán bộ gọi dì Năm là “vợ tôi” 2. cho thấy dì Năm cương quyết bảo vệ chú cán bộ cho dù bị bắn chết. c) Dì Năm xin bọn lính được nói nhưng không phải để khai ra chú cán bộ mà nói những lời chấp nhận cái chết, trăng trôi với hai cha con. 3. cho thấy dì Năm rất nhanh trí và cho thấy người dân rất yêu quý và sẵn sàng bảo vệ người cách mạng. Gợi ý: 1) Chú cán bộ bị địch đuổi bắt, chạy vào nhà dì Năm. 2)Để cứu chú cán bộ, dì Năm vội đưa cho chú chiếc áo để thay, rồi bảo chú ngồi xuống chõng vờ như gia đình đang ăn cơm. 3)a – 2; b – 1; c – 3. 4)Khi tên cai doạ sẽ bắn nếu dì Năm nhận chú cán bộ là chồng thì dì bảo là để tui. Bọn chúng tưởng dì sợ sẽ khai. Hoá ra dì chấp nhận cái chết khi trăn trối cùng chồng và con khiến bọn giặc ngượng ngùng, xãu hố. B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Thi xếp nhanh các từ vào nhóm thích hợp. – Chuẩn bị: Hai nhóm chơi, mỗi nhóm có một bộ thẻ từ: giáo viên, đại uý, trung sĩ, thợ điện, thợ cơ khí, thợ cấy, thợ cày, học sinh tiểu học, học sinh trung học, kĩ sư, bác sĩ, tiểu thương, chủ tiệm -Từng bạn trong nhóm lấy một trong các thẻ từ. -Thi xếp nhanh thẻ từ vào một trong 6 nhóm từ sau: a. công nhân b. Nông dân c. Quân nhân d. Trí thức e. Doanh nhân g. Học sinh … … … … … … Gợi ý: a) Công nhân: thợ điện, thợ cơ khí. b)Nông dân: thợ cấy, thợ cày. c)Quân nhân: đại uý, trung sĩ. d)Trí thức: giáo viên, kĩ sư, bác sĩ. e)Doanh nhân: tiểu thương, chủ tiệm. 3. Đọc truyện “Con Rồng cháu Tiền” và trả lời câu hỏi (SGK/42, 43). a)Vì sao người Việt Nam ta gọi nhau là đồng hào? Đồng bào: những người cùng giống nòi, cùng đất nước {đồng: cùng, bào: màng bọc thai nhi). b)Tìm và ghi vào vở các từ bắt đầu bằng tiếng đồng (có nghĩa là “cùng”). M: – đồng hương (người cùng quê) – đồng lòng (cùng một ý chí) c)Đặt câu với một trong những từ vừa tìm được. Gợi ý: a) Người Việt Nam ta gọi nhau là đồng bào vì đều được sinh ra từ bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ. Đồng bào: những người cùng giống nòi, cùng đất nước (đồng: cùng, bào: màng bọc thai nhi). b)đồng nghiệp, đồng phục, đồng ca, đồng chí, đồng cảm. c)Vào ngày học tiết Thể dục, chúng em đều mặc đồng phục. 4.a) Ghi vần của từng tiếng trong hai dòng thơ sau vào mô hình cấu tạo vần dưới đây: Em yêu màu tím Hoa cà, hoa sim M: Tiếng Vần Âm đệm Âm chính Âm cuối tím i m … … … … b)Dựa vào mô hình cấu tạo vần, em hãy cho biết khi viết một tiếng, dấu thanh cần được đặt vào đâu. -Cấu tạo của vần gồm những phần nào? -Nêu nhận xét về vị trí dấu thanh của các cặp chữ sau: chí chị hoả hoạ – Sự khác nhau về cách đặt vị trí dấu của dấu nặng với các dấu còn lại là gì? a) Tiếng Vần Âm đệm Âm chính Âm cu ôi Em E m yêu yê U màu a U tím i m Hoa a cà a hoa a sim i m b) – Vần gồm có âm đệm, âm chính và âm cuối. -Vị trí dấu thanh đều đặt ở âm chính. -Dấu nặng đặt bên dưới âm chính, các dấu khác đặt trên âm chính.
Soạn bài Tấm lòng người dân
750
Soạn bài Tấm lòng người thầy thuốc Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Quan sát tranh và nói về công việc của người thầy thuốc (SGK/98). -Mỗi bức tranh vẽ gì? -Em thường được bác sĩ chăm sóc khi nào? -Cảm xúc của em khi nhận được sự chăm sóc ấy? Gợi ý: – Từ trái sang phải, từ trên xuống dưới: +Tranh 1: Người thầy thuốc khám chữa bệnh cho trẻ sơ sinh. +Tranh 2: Người thầy thuốc đến vùng sâu vùng xa để khám bệnh cho thiếu nhi. +Tranh 3: Người thầy thuốc khám chữa răng cho thiếu nhi. +Tranh 4: Người thầy thuốc phun thuốc trừ muỗi, sâu bọ. -Em thường được bác sĩ chăm sóc khi em bị bệnh. –Em cảm thấy xúc động và biết ơn bác sĩ. 2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Thầy thuốc như mẹ hiền” (SGK / 99, 100). 5. Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Tìm những chi tiết nói lên lòng nhân ái cùa Lãn Ông trong việc chữa bệnh cho con người thuyền chài. (Đọc đoạn 1) 2)Điều gì thể hiện lòng nhân ái của Lãn ông trong việc chữa bệnh cho người phụ nữ? (Đọc đoạn 2) 3)Vì sao có thể nói Lãn ông là người không màng danh lợi? Chọn ý đúng để trả lời: a)Chữa bệnh cho người nghèo không lấy tiền. b)Ân hận vì cái chết của người bệnh không phải do mình gây ra. c)Được tiến cử vào chức ngự y nhưng khéo léo chối từ. d)Cả ba chi tiết trên. 4)Em hiểu hai câu thơ cuối bài như thế nào? Chọn ý đúng để trả lời: a)Công danh đã bị trôi di theo nước. b)Công danh chẳng đáng coi trọng, lòng nhân nghĩa mới đáng quý. Gợi ý: 1) Lãn Ông nghe tin con nhỏ của người thuyền chài bị bệnh đậu nặng, tự tìm đến thăm, chữa bệnh cho nó cả tháng trời, không ngại khổ. Chữa bệnh xong, ông không lấy tiền mà còn cho họ thêm gạo, củi. 2)Ông rất hối hận về cái chết của người phụ nữ. Dù người bệnh chết do tay thầy thuốc khác nhưng ông cảm nhận như mang tội giết người. 3)c; 4) c. B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 2.Thi tìm và viết vào phiếu học tập từ ngữ chứa các tiếng trong bảng sau a) – rẻ tiền, rẻ rúng -gỗ dẻ, dung dăng dung dẻ -hoa giẻ, chim giẻ cùi -mưa rây bụi. -dây pháo, dây mực, dây cương, dây dưa -giây vào rắc rối, giây lát b)- vàng bạc, vàng hoe, vàng lưới, vàng võ -dềnh dàng, dễ dàng -vào Nam ra Bắc, vào thu, vào việc, vào đề -dào dạt -vỗ tay, vỗ sóng, vỗ béo -dụ dỗ, dỗ ngọt, ăn dỗ (ăn vã) c)- chiêm chiếp, chiêm bao, chiêm ngưỡng, chiêm nghiệm -chim lồng, chim chóc -rau diếp -díp xe -liêm chính, liêm sỉ, thanh liêm -lim dim -truyền kiếp, kiếp trước –cần kíp, kíp người (nhóm người) 3.Chọn tiếng thích hợp điền vào chỗ trống để hoàn chỉnh câu chuyện sau, biết rằng chỗ trông (1) chứa tiếng bắt đầu bằng r hoặc gi, chỗ trống (2) chứa tiếng bắt đầu bằng v hoặc d (SGK/103). Gợi ý: Thầy quên mặt nhà con rồi hay sao? Có anh thợ vẽ truyền thần làm không đủ ăn. Bạn bè đến thăm, anh than thở thì họ bảo: -Cậu hãy vẽ ngay một bức chân dung hai vợ chồng cậu rồi lồng khung kính mà treo. Thiên hạ thấy cậu khéo tay sẽ xô nhau tới, lo gì không khấm khá! Nghe lời bạn, anh bảo vợ ngồi cho anh truyền thần, rồi lại hoạ chính mình ngồi cạnh. Vẽ xong, anh ngắm đi ngắm lại, lấy làm đắc ý lắm. Một hôm, ông bố vợ tới chơi, thây bức hoạ, hỏi: -Anh vẽ hình chị nào treo đó? Anh trả lời: -Chết thật, thầy quên mặt nhà con rồi hay sao? Ông bố vợ nói tiếp: -Thì ra là vợ anh. Thế nó ngồi cạnh người nào mà trông tướng mạo kì dị vậy? Theo TIẾNG CƯỜI DÂN GIAN VIỆT NAM 4.Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong phiếu học tập (SGK/104). Gợi ý: Tính cách Chi tiết, từ ngữ minh hoạ M: (đoạn 1) Trung thực, thẳng thắn Đôi mắt dám nhìn thẳng, nghĩ thế nào dám nói thế Gợi ý: Từ ngữ Đồng nghĩa Trái nghĩa Nhân hậu M: nhân ái, nhân nghĩa, nhăn từ, phúc hậu M: độc ác, ác độc, tàn bạo, bất nhân, bất nghĩa Trung thực M: thật thà, thành thật, thẳng thắn, cương trực M: gian dối, dối trá, gian xảo, lừa đảo, lừa dối Dũng cảm M: anh dũng, gan dạ, quả cảm, gan góc M: hèn nhát, nhu nhược, ươn hèn, nhút nhát Cần cù M: chăm chỉ, siêng năng, cần mẫn, chuyên cần M: lười biếng, biếng nhác, lười nhác. 5.Nhận xét về việc sử dụng từ ngữ để thể hiện tích cách nhân vật. a)Đọc bài văn “Cô Chấm” (SGK/104, 105). b)Cô Chấm trong bài là người có tính cách như thế nào? c)Ghi những chi tiết và từ ngữ minh hoạ cho nhận xét của em vào phiếu bài tập theo mẫu: b), c) Tính cách Chi tiết, từ ngữ minh hoạ M: (đoạn 1) Trung thực, thẳng thắn đôi mắt dám nhìn thẳng, nghĩ thế nào dám nói thế, dám nói thẳng khi bình điểm, trong bụng không có gì độc địa. Chăm chỉ, cần cù lao động để sông, hay làm, không làm thì tay chân bứt rứt, ra đồng từ sớm mồng hai Tết. Giản dị, chân chất không đua đòi may mặc, mùa nào cũng mặc áo cánh nâu, mộc mạc như hòn đất Giàu tình cảm, dễ xúc động hay nghĩ ngợi, dễ cảm thương, khóc gần suốt buổi trong phim có cảnh ngộ đáng thương, nằm mơ, khóc mất bao nhiêu nước mắt C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG 1. Cùng người thân tìm hiểu những tấm gương người thầy thuốc tận tâm với người bệnh. Gợi ý Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thuở nhỏ rất thông minh, chăm học. Sau khi đỗ tú tài, ông học trường đại học Y khoa Hà Nội rồi đi tu nghiệp ở Pháp. Về nước, ông mở phòng mạch trị bệnh lao phổi cho bệnh nhân. Ông nhận thấy bệnh nhân lao đa số là người nghèo nên ông hết lòng thương yêu, quý trọng họ. Ngoài việc khám chữa bệnh và cấp thuốc không lấy tiền, ông còn giúp đỡ người bệnh trong việc đi lại, ăn ở. Đối với bệnh nhân nặng, ông không quản ngày đêm tự lái xe đến tận nơi ở của người bệnh để chữa trị cho họ tới khi qua cơn hiểm nghèo. Trước tấm lòng của ông, người dân gọi ông là “Người thầy thuốc của dân”, “người thầy thuốc có tấm lòng nhân ái của Bồ Tát”.
Soạn bài Tấm lòng người thầy thuốc
1,051
Soạn bài tập làm thơ bảy chữ Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Biết cách làm thơ bảy chữ với những yêu cầu tối thiểu: đặt câu thơ bảy chữ, biết ngắt nhịp 4/ 3, biết gieo đúng vần. -Manh dạn, vui vẻ khi trình bày thơ của mình. B.GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP I. Chuẩn bị ở nhà 1.2: HS tự thực hiện. 3.(SGK, tr. 165) Gợi ý Em tự quan sát và đưa ra nhận xét vé số câu, số chữ của bài thơ, khổ thơ trên. Cách gieo ván và luật bằng trác trong câu của các bài thơ, khổ thơ trên như sau: a)- Cách ngát nhịp của các cáu: 4/3 -Gieo vần: vần bằng “on” (tiếng cuối câu 1,2, 4) -Luật bằng trắc: BBBTTBB TTBBTTB TTBBBTT BBTTTBB Bài thơ làm theo vần bằng (tiếng thứ hai câu thứ nhất là vần bàng). b)- Cách ngất nhịp của câu 1: 3/1/3; câu 2,3: 4/3; câu 4: 2/2/3. -Gieo vần: vần bằng “ây” – “ay” (tiếng cuối câu 1,2, 4) -Luật bằng trắc: BTBBTTB TBBTTBB TBTTBBT TTBBTTB c)- Cách ngất nhịp của các câu: 4/3 -Gieo vần: vần bằng “e” — “oe” (tiếng cuối câu 1,2, 4) -Luật bằng trắc: BBTTTBB TTBBTTB TTBBBTT BBBTTBB 3.Sưu tầm một số bài thơ bảy chữ chép vào vở bài tập. Gợi ý Dựa vào hình thức thơ bảy chữ, em có thể chọn một số bài phù hợp để chép vào vở. 4.Tập làm một bài thơ bôn câu bảy chữ, đề tài tự chọn. Lưu ý không được chép bài có sẵn của người khác. -Nắm chắc luật thơ thất ngôn tứ tuyệt, thơ mới bốn câu, bảy chữ. -Tim đề tài, lấy cảm hứng để sáng tác. II. Hoạt động trên lớp 1.Nhận diện luật thơ (SGK, tr. 166) Gợi ý a)- Nhịp của cả bốn câu trong bài thơ là: 4/3 -Các tiếng cuối các câu 1, 2, 4 gieo vần: ê – e. -Quan hệ bằng trắc của hai câu thơ kể nhau: câu 1 và 2 đối nhau, câu 2 và 3 niêm với nhau, câu 3 và 4 đối nhau. b)- Bài thơ bị chép sai ở hai chỗ của câu thứ hai: + Sau “Ngọn đèn mờ” không có dấu phẩy. Dấu phẩy ở vị trí này khiến cho nhịp đọc bị sai (nhịp 4/3 chứ không phải 3/4). + Tiếng “xanh” bị chép sai (bản gốc là tiếng “lè”) nên vần “anh” trong tiếng này không hợp với vần “e” trong tiếng “che” ở trên. -Sửa lại: bỏ dấu phẩy, thay “xanh” bằng “lè”. Em cũng có thể nghĩ ra một từ khác thay cho từ “xanh xanh”. Từ được thay phải tương đối hợp vói ý câu thơ và hợp vần với “e”, chẳng hạn “vàng khè”. 2.Tập làm thơ a) Hãy làm tiếp hai câu cuối theo ý mình trong bài thơ của Tú Xương mà người biên soạn đã giấu đi. Tôi thấy người ta có hảo rằng: Bảo rằng thằng Cuội ở cung trăng! b)Làm tiếp bài thơ dang dở dưới đây cho trọn vẹn theo ý của mình. Vui sao ngày đã chuyển sang hè, c)Một số học sinh đọc bài thơ bốn câu bảy chữ đã làm ở nhà để cả lớp bình. Gợi ý a)Em có thể sáng tác hai câu thơ tiếp thay vào chỗ hai câu thơ đã bị giấu đi bằng cách phát triển để tài đã được hai câu thơ đẩu nói tới. Em có thể chọn các hướng nội dung sau để phát triển: chuyện chú Cuội nói dối; cung trăng có chị Hằng, củy đa… Bài thơ có thể sáng tác với giọng điệu hóm hỉnh, vui đùa hoặc nghiêm túc. Cần phải chú ý luật bằng trắc của hai câu thơ này: BBTTBBT TTBBTTB (Tất nhiên, trong thơ Đường có luật “nhất, tam, ngũ bất luận”, nghĩa là các tiếng thứ nhất, thứ ba, thứ năm phải theo đúng luật bằng trắc, nhưng nếu không theo cũng được. Hai câu thơ được giấu đi là: Chứa ai chẳng chứa, chứa thằng Cuội Tôi gớm gan cho cái chị Hằng b)Vẻ nội dung, hai câu đầu nói vể mùa hè, ngôi trường. Em có thê phát triển đề tài theo hướng: kỉ niệm về trường lớp, thầy cô, bè bạn; nghỉ hè, hò hẹn năm học sau… Luật bằng trắc của hai câu thơ dang dở sẽ là: TTBBBTT BBTTTBB c)Khi đọc chú ý: Tư thế đọc tự nhiên, thái độ, nét mặt phù hợp với sắc thái biểu cảm của bài thơ, đọc đúng nhịp thơ. (Tìm đọc cuốn Dạy học Tập làm thơ ở Trung học cơ sở của
Soạn bài tập làm thơ bảy chữ
716
Soạn bài tập làm thơ tám chữ Hướng dẫn Soạn bài tập làm thơ tám chữ I.Phần bài học Câu 1. Đọc các đoạn thơ. Câu 2. a.Số chữ trong mỗi dòng thơ: 8. b.Các chữ có chức năng gieo vần ở mỗi đoạn: –Đoạn 1: suối, tan, ngàn, mới, gội, tưng bừng, rừng, ngắt, mật. –Đoạn 2: về, nghe, học, nhọc, bà, xa. –Đoạn 3: bát ngát, hát, non, son, đứng, dựng, tiên, thiên nhiên. c.Cách ngắt nhịp ở mỗi đoạn: 3/5, 4/4. II.Luyện tập Câu 1. Điền từ vào chỗ trống. Hãy cắt đứt những dây đàn ca hát Những sắc tàn vị nhạt của ngày qua Nâng đón lấy mầu xanh hương bát ngát Của ngày mai muôn thuở với muôn hoa. Câu 2. Điền từ theo trình tự thơ của Xuân Diệu. Cũng mất; tuần hoàn; trời đất.
Soạn bài tập làm thơ tám chữ
123
Soạn bài tổng kết phần tập làm văn lớp 9 Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Ôn lại để nắm vững các kiểu văn bản, phân biệt sự khác nhau giữa chúng và nhận biết sự cần thiết phải phối hợp chúng trong thực tế làm bài. -Nâng cao năng lực tích hợp đọc và viết các văn bản thông dụng. B.GỢI Ý TRÀ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP Đọc bảng tổng kết (SGK tập 2, tr. 169) và trả lời các câu hỏi. Câu hỏi 1. Hãy cho biết sự khác nhau của các kiểu văn bản trên. Gợi ý: Tự sự khác miêu tả như thế nào? Thuyết minh khác tự sự và miêu tả như thế nào? Văn bản biểu cảm khác văn bản thuyết minh ở đâu? Văn bản nghị luận khác văn bản điều hành ở những điểm nào? Hãy nêu các phương thức biểu đạt cơ bản của mỗi kiểu để làm sáng tỏ các câu hỏi trên) Gợi ý: -Văn bản tự sự và văn bản miêu tả khác nhau: Văn bản tự sự trình bày các sự việc liên quan với nhau thành một hệ thống có quan hệ qua lại hoặc quan hệ nhân quả nhằm biểu hiện con người, quy luật đời sống và bày tỏ thái độ. Văn bản miêu tả tái hiện các tính chất, thuộc tính của sự vật, hiện tượng giúp con người cảm nhận và hiểu được chúng. -Vãn bản thuyết minh khác văn bản tự sự, miều tả: Văn bản thuyết minh tập trung trình bày thuộc tính, cấu tạo, nguyên nhân, kết quả, tính bổ ích hoặc có hại của sự vật, hiện tượng để người đọc có tri thức khách quan về chúng. -Văn bản biểu cảm khác văn bản thuyết minh: Văn bản biểu cảm bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếp tình cảm, cảm xúc của con người, lừ đó lạo ra sự đồng cảm, xúc động ở người đọc. -Văn bản nghị luận và vãn bản điều hành khác nhau: Văn bản nghị luận trình bày tư tưởng, quan điểm của con người đối với tự nhiên, con người, xã hội thông qua các luận điểm, luận cứ và cách lập luận. Văn bản điều hành trình bày theo mẫu chung và chịu trách nhiệm về pháp lí; nêu các nguyện vọng của cá nhân, tập thể đối với cơ quan quản lí; trình bày các quyết định của người có thẩm quyền đối với người có trách nhiệm thực thi công việc; trình bày các thoả thuận về lợi ích và nghĩa vụ giữa công dân với nhau„.. Câu hỏi 2. Các kiểu văn bản trên có thay thế cho nhau được không? Tại sao? Gợi ý Các văn bản trôn không thay thế cho nhau được. Vì mỗi kiểu văn bản đều có phương thức biểu đạt riêng. Câu hỏi 3. Các phương thức biểu đạt trên có thể phôi hợp với nhau trong một văn bản cụ thể hay không? Vì sao? Nêu một ví dụ để minh hoạ. Gợi ý Thông thường, mỗi văn bản dược viết theo một phương thức biểu đạt chính, đồng thời sử dụng thêm các yếu tố thuộc các phương thức biểu đạt khác. Ví dụ: Trong nghị luận có miêu lả. Bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Hồ Chí Minh. Câu hỏi 4. Từ bảng trôn, hãy cho biết kiểu văn bản và hình thức the hiện, thể loại tác phẩm văn học cổ gì giống nhau và khác nhau. a)Hãy kể tôn các thể loại văn học đà học, ghi lên bảng. b)Mỗi thể loại ấy đã sử dụng các phương thức biểu đạt nào? c)Tác phẩm văn học như thư, truyện, kịch có khi nào sử dụng yếu tố nghị luận không? Cho ví dụ và cho biết yếu tố nghị luận đó có đặc điểm gì? Gợi ý Các kiểu văn bản trên khác nhau vồ phương thức biểu đạt và hình thức thể hiện. a,b) Thơ trừ tình: phương thức biểu cảm. Truyện thơ: phương thức tự sự hoặc biểu cảm. Truyện ngắn, truyện dài: phương thức tự sự. Kịch: phương thức tự sự. c) Tác phẩm văn học như thơ, truyện, kịch có khi sử dụng yếu tố nghị luận. Câu hỏi 5. Kiểu văn bản tự sự và thể loại văn học tự sự khác nhau như thế nào? Tính nghệ thuật trong tác phẩm văn học tự sự thể hiện ở những điểm nào? Gợi ý Các kiểu văn bản và các thổ loại văn học có thể dùng chung một phương thức biểu đạt nào đó. Nhưng chúng khác nhau là: -Kiểu văn bản là cơ sỏ của thể loại văn học, thể loại văn học là "môi trường" cho kiểu văn bản xuất hiện. -Thể loại văn học đòi hỏi phải có cốt truyện, kiểu văn bản tự sự thì không. Câu hỏi 6. Kiểu văn bản biểu cảm và thể loại văn học trữ tình giống và khác nhau ở những điểm nào? Nêu đặc điểm của thổ loại văn học trừ tình. Cho ví dụ minh hoạ. Gợi ý Giống nhau: chúng đều biểu hiện cảm xúc của con người. Khác nhau: -Vãn bản biểu cảm bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếp tình cảm, cảm xúc của con người; còn thể loại vãn học trữ tinh phải thông qua hình tượng nghệ thuật. Câu hỏi 7. Tác phẩm nghị luận có cần các yếu tố thuyết minh, miêu tả, tự sự không? Cần ở mức độ nào, vì sao? Gợi ý Tác phẩm nghị luận cần các yếu tố thuyết minh, miêu tả, tự sự nhằm làm cho bài nghị luận thêm sinh động. Tuy nhiên, các yếu tố này không được lân át phương thức nghị luận vì đây là phương thức chủ yếu của kiểu bài nghị luận. TẬP LÀM VĂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS Câu hỏi 1. Phần Văn và Tập làm văn có mối quan hệ với nhau như thế nào? Hãy nêu ví dụ cho thấy mối quan hệ đó trong chương trình dã học. Gợi ý Phần Đọc hiểu văn bản và phần Tập làm văn có môi quan hệ với nhau. Việc đọc hiểu văn bản là phần cung cấp văn bản tiêu biểu cho học sinh về loại văn bản học ở Tập làm văn. Học cách làm văn bản trong Tập làm vãn giúp cho học sinh hiểu rõ hơn cấu tạo, đặc điểm của phương thức biểu đạt có trong văn bản ở phần Đọc hiểu văn bản. Câu hỏi 2. Phần Tiếng Việt có quan hệ như thế nào với phần Văn và Tập làm văn? Nêu ví dụ chứng minh. Gợi ý Phần Tiếng Việt giúp học sinh nắm các quy tắc dùng từ, đặt câu, hội thoại,… Từ đó để phân tích cái hay, cái đẹp trong văn; giúp HS viết đúng và hay hơn trong khi làm bài làm văn. Cậu hỏi 3. Các phương thức biểu đạt: miêu tả, tự sự, nghị luận, biểu cảm, thuyết minh có ý nghĩa như thế nào đôi với việc rèn luyện kĩ năng làm văn? Gợi ý Các phương thức biểu đạt: miêu tả, tự sự, nghị luận, biểu cảm, thuyết minh có ý nghĩa quan trọng nhằm giúp học sinh vận dụng để làm các bài làm văn. CÁC KIỂU VĂN BẢN TRỌNG TÂM 1.Văn bản thuyết minh (Câu hỏi trong SGK tập 2, tr. 171) Gợi ý a)Văn bân thuyết minh có đích biểu đạt: giúp người đọc có tri thức khách quan và có thái độ đúng đắn đối với vấn đề thuyết minh. b)Muốn làm được vãn bản thuyết minh, cần chuẩn bị những hiểu biết về đề tài, những tư liệu liên quan. c)Các phương pháp thường dùng trong văn bản thuyết minh: nêu khái niệm, đưa ra số liệu, dẫn chứng,… d)Ngôn ngừ trong văn bản thuyết minh cần chính xác, khách quan, đơn nghĩa. 2.Văn bản tự sự (Câu hỏi trong SGK tập 2, tr. 171, 172) Gợi ý a)Văn bản tự sự có đích biểu dạt là thể hiện con người, cuộc sống, bày tỏ thái độ của người viết. b)Các yêu tố tạo thành văn bản tự sự: sự kiện và con người. c)Văn bản tự sự thương kết hợp với các yếu tố miêu tả, nghị luận, biểu cảm nhằm tạo thuận lợi cho việc trình bày các sự kiện, con người một cách sinh động. d) Ngôn ngữ trong văn bản tự sự có đặc điểm: giàu hình ảnh và biểu cảm. 3.Văn bản nghị luận (Câu hỏi trong SGK tập 2, tr. 172) Gợi ý a)Văn bản nghị luận có đích biểu đạt là thuyết phục người đọc tin theo cái đúng, cái tốt, từ bỏ cái sai, cái xấu. b)Văn bản nghị luận do các yếu tcí luận điểm, luận cứ, lập luận tạo thành. c)Yêu cầu đối với luận điểm, luận cứ, lập luận là phải đúng đắn, hợp lí, chân thật, chặt chẽ, khoa học, có cơ sở thực tiễn và lí luận. d,e) Dàn bài chung (xem ở bài học 22, 23).
Soạn bài tổng kết phần tập làm văn lớp 9
1,466
Soạn bài tổng kết phần văn bản nhật dụng lớp 9 Hướng dẫn I.Khái niệm văn bản nhật dụng. Có 3 điểm cần chú ý ghi nhớ. 1.Khái niệm cập nhật: Đó là điểm mấu chốt nói lên ý nghĩa của việc học văn học nhật dụng, tạo điều kiện tích cực để thực hiện nguyên tắc giúp người học hòa nhập với xã hội. 2.’’Không phải là khái niệm thể loại cũng không chỉ kiểu văn bản’’ có nghĩa là văn bản nhật dụng có thể sự dụng mọi thể loại, mọi kiểu văn bản. 3.Tuy nhiên, đây không phải là những bài học của môn Giáo dục công dân hay một hình thức của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Nó vẫn là một bộ phận của môn. Ngữ văn, văn bản được chọn lọc vẫn phải đáp ứng được yêu cầu bồi dưỡng kiến thức và rèn luyện kĩ năng của môn Ngữ văn. ‘’’Vì vậy hoàn toàn có thể tuyển chọn để dạy các văn bản nhật dụng có giá trị như một tác phẩm văn học phù hợp với các thể loại văn học được dạy ở mỗi lớp’’. Do đặc trưng bộ môn, việc dạy văn bản nhật dụng có thế mạnh riêng trong việc giúp học sinh thâm nhập thực tế cuộc sống. II.Nội dung của các văn bản nhật dụng đã học Có mấy điểm cấn nhấn mạnh và làm rõ thêm: 1.Cập nhật là gắn với cuộc sống bức thiết, hằng ngày, song tính bức thiết phải gắn với những vấn đề cơ bản của cộng đồng, cái thường nhật phải gắn với những vấn đề lâu dài của sự phát triển lịch sử, xã hội. 2.Những đề tài, chủ đề của các văn bản nhật dụng đã bảo đảm được các tiêu chuẩn ấy. Đó là những vấn đề thường xuyên được báo, đài đề cập, là nội dung chủ yêu của nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước, của nhiều thông báo, công bố của các tổ chức quốc tế. 3.Bổ sung những văn bản, trong đó có cả văn bản phụ, mà bài tổng kết ở SGK chưa nhắc tới như Trường học của Ét-môn-đô đơ A-mi-xi ở Ngữ văn 7, bản thống kê về động cơ hút thuốc lá của thanh thiếu niên Hà Nội, bản tin về cái chết do nghiện ma túy của một nhà tỉ phú Mĩ ở Ngữ văn 8… III.Hình thức văn bản nhật dụng. 1.Cũng giống các tác phẩm văn chương, văn bản nhật dụng thường không chỉ dùng một phương thức biểu đạt mà kết hợp nhiều phương thức để tăng sức thuyết phục. 2.Có thể kể ra thêm sự kết hợp các phương thức biểu đạt chưa được đề cập. Sự kết hợp đó thể hiện cụ thể ở chỗ nào và phân tích tác dụng của sự kết hợp đó. Chẳng hạn: Những yếu tố biểu cảm trong bài ôn dịch, thuốc lá không chỉ thể hiện ở những câu như Nghĩ đến mà kinh mà còn ở các dùng dấu chấm câu tu từ ở đề mục văn bản. Những yếu tố đó có tác dụng làm cho người đọc ghê tởm hơn những tác hại khôn lường do khói thuốc gây ra. -Hai văn bản có cách đặt đề mục giống nhau (Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử ; Ôn dịch, thuốc lá) lạ dùng hai phương thúc biểu đạt chủ yếu khác nhau (văn bản 1: biểu cảm ; văn bản 2: thuyết minh). Đặc biệt là có thể thông qua nhiều văn bản nhật dụng có thể củng cố các kiến thức đã học về kiểu văn bản nghị luận và thuyết minh. Thậm chí, có thể bổ sung những phép lập luận của văn nghị luận chưa được đề cập hay chưa được đề cập đầy đủ ở phần Tập làm văn (ví dụ, phép lập luận phản bác ở bài Ôn dịch, thuốc lá: ‘’’Có người bảo: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi! Xin đáp lại…’’. IV.Phương pháp học văn bản nhật dụng. SGK đã đề cập 5 điểm cụ thể, cần nhấn mạnh thêm vài khía cạnh của điểm 3 và điểm 4. -Bản thân khái niệm ‘’’nhật dụng’’ đã bao hàm ý ‘’’phải vận dụng thực tiễn’’. Bởi vậy, học nó không phải chỉ để biết mà còn để làm. Việc làm đầu tiên là phải bày tỏ quan điểm, ý kiến riêng của mình về vấn đề được nêu ra và có đủ bản lĩnh, kiến thức, cách thức bảo vệ nhưng quan điểm, ý kiến ấy. Bởi vậy, người làm bài đề xuất ý kiến, biện pháp giải quyết về những vấn đề đã đặt ra trong các văn bản nhật dụng (như vấn đề ô nhiễm tiếng ồn, sự hiểu biết về di tích, thắng cảnh, truyền thống văn hóa địa phương, khủng bố…). -Nội dung mà văn bản nhật dụng đặt ra có liên quan đến khá nhiều môn học khác và ngược lại. + Môi trường là vấn đề được đề cập trong 3 văn bản nhật dụng ở lớp 6 và lớp 8. Đó là vấn đề được hầu hết các môn học đề cập, đặc biệt là một số phần ở Địa lí lớp 7 vfa một số chương về ‘’’Sinh vật và môi trường’’ ở sách Sinh học 9. + Trẻ em là vấn đền được đề cập trong 3 văn bản nhật dụng ở lớp 7 và lớp 9. Một trong những chủ đề pháp luật của Giáo dục công dân lớp 6 và 7 cũng đề là quyền trẻ em, quyền được bảo vệ chăm sóc và giáo dục của trẻ em. Nếu ở lớp 6, HS mới được giới thiệu nội dung Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em ở môn Giáo dục công dân thì ở Ngữ văn 9, các em được học hoàn toàn văn bản tuyên bố ấy. + Ma túy, thuốc lá là vấn đề được đề cập trong văn bản nhật dụng (kể cả văn bản đọc thêm) ở Ngữ văn 8 thì phòng chống tệ nạn xã hội cũng là một chủ đề pháp luật của Giáo dục công dân 8…).
Soạn bài tổng kết phần văn bản nhật dụng lớp 9
1,032
Soạn bài tổng kết phần văn học nước ngoài lớp 9 Hướng dẫn I.YÊU CẦU CẦN ĐẠT -Tổng kết, ôn tập một số kiến thức cơ bản về những tác phẩm văn học nước ngoài đã học ở THCS. – Rèn kĩ năng tổng hợp, hệ thống hoá. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1. Hệ thống hoá các tác phẩm được học trong CT TT Tên tác phẩm (hoặc đoạn trích) Tác giả Nước Thể loại Thế kỉ 1 Xa ngắm thác Núi Lư (Vọng Lư Sơn) Lí Bạch Trung Quốc Thơ Từ TK VII đến TK VIII 2 Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tĩnh dạ từ) Lí Bạch Trung Quốc Thơ 3 Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê (Hồi hương ngầu thư) Hạ Tri Chương Trung Quốc Thơ 4 Bùi ca nhà tranh bị gió thu phá Đồ Phủ Trung Quốc Thơ 5 Mây và sóng Ta-go Ấn Độ Thơ TK XX 6 Ông Giuốc-đunh mặc lễ phục Mô-li-e Pháp Kịch XVII 7 Lòng yêu nước Ê-ren- bua Nga Bút kí chính luận XX 8 Buổi học cuối cùng Đô-đê Pháp Truyện ngắn XIX 9 Đánh nhau với cối xay gió Xéc- van-téc Tây Ban Nha Tiểu thuyết Đôn- Kihôtê XIX 10 Chiếc lá cuối cùng o. Hen- ri Mĩ Truyện ngắn XIX 11 Hai cây phong Ai-lma- tốp Nga (Cư rơ- gid- xtan) Tiẽu thuyết Người thầy XX 12 Cố hương Lỗ Tấn Trung Quốc Truyện ngắn XX 13 Những đứa trẻ Go-rơ-ki Nga Tiểu thuyết Thời thơ ấu XX 14 Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang Đi-phô Anh Tiểu thuyết Rô-bin -Xơn XVIII 15 Bố của Xi mông Mô-pál- xâng Pháp Truyện ngắn XIX 16 Con chó Bấc (Tiếng gọi nơi hoang dà) G. Lân- đơn Mĩ Tiểu thuyết XX 17 Cô bé bán diêm An-đéc- xen Đan Mạch Truyện ngắn XIX 18 Di bộ ngao du Ru-xô Pháp Nghị luận xã hội XVIII 19 Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten Hi-pô-lít-ten Pháp Nghị luận văn chương XIX 2.Tóm tắt nội dung, nghệ thuật (HS làm ở nhà) 3.Các vấn đề về nội dung, nghệ thuật a.Những vấn đề xã hội mà các tác phẩm đề cập? (Sắc thái văn hoá của các dân tộc như: phong tục, tập quán; các vấn đề xã hội, nhân sinh ở các nước thuộc những thời đại khác nhau). b.Ý nghĩa giáo dục của các tác phẩm? (Bồi dưỡng những tình cảm đẹp: yêu cái thiện, ghét cái ác, biết quan tâm đến người khác, biết đấu tranh vươn lên trong cuộc sống). c.Những nét phong cách nghệ thuật nổi bật của các tác phẩm? (Các tác phẩm văn học nước ngoài ở THCS đã cung cấp nhiều kiến thức bổ ích như nghệ thuật thơ Đường (Trung Quô'c), lối thơ văn xuôi (Ta-go, Ấn Độ), bút kí chính luận (Ê-ren-bua), nghệ thuật hài kịch (Mô-li-e), nhiều phương thức tự sự và phong cách văn xuôi khác nhau: các kiểu văn nghị luận) III. LUYỆN TẬP 1.Đọc 1 bài thơ (nước ngoài) đã học mà em yêu thích nhất. Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về bài thơ đó. 2.Hãy chọn một trong những nhân vật sau: -Em bé bán diêm. -A-li-ô-sa. -Xi-mông. Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ xung quanh cuộc đời và số phận của nhân vật. (HS tự làm phần này)
Soạn bài tổng kết phần văn học nước ngoài lớp 9
396
Soạn bài tổng kết phần văn lớp 8 tiếp theo HK 2 Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Nắm được hệ thống các văn bản văn học nước ngoài và văn bản nhật dụng đã học trong chương trình ngữ văn 8. -Thực hiện các bài tập trong SGK. B.GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP Bài tập 7. Lập bảng thống kê các văn bản văn học nước ngoài đã học ở lớp 8 theo các mục: tên văn bản, tên tác giả, tên nước, thế kỉ, thể loại, nội dung chủ yếu, nét đặc sắc nghệ thuật nổi bật. Chọn học thuộc lòng hai đoạn văn ở hai văn bản khác nhau, mỗi đoạn khoảng 10 dòng. Gọi ý Tên văn bản Tên tác giả Tên nước Thế kỉ Thể loại Nội dung chủ yếu Đặc sắc nghệ thuật Cô bé bán diêm An- đéc- xei Đan Mạch XIX Truyện ngắn Lòng thương cảm sâu sắc đối với em bé nghèo khổ, bất hạnh. Kể chuyện hấp dẫn, đan xen hiện thực và mộng tưởng. Tinh tiết diễn biến hợp lí. Đánh nhan với cối xay gió Xéc- van- tét Tây Ban Nha XVI Tiếu thuyết Đôn Ki-hô-tê, Xan-chô Pan-xa tương phản về mọi mặt. Mỗi nhân vật đều có những mặt tốt và mặt xấu. Xây dựng nhân vật đăc sắc. Chiếc lá cuối cùng Ô Hen- ri Mĩ XX Truyện ngắn Tinh yêu thương cao cả giữa những con người nghèo khổ. Tinh tiết hấp dẫn, sắp xếp chặt chẽ, khéo léo, kết cấu đảo ngược tình huống. Bài tập 8. Nhắc lại chủ đề của ba văn bản nhạt dụng đã học ở lớp 8. Chỉ ra phương.thức biểu đạt chủ yếu mà mỗi văn bản sử dụng. Gợi ý 1.Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 – Chủ để: “Vấn đề bảo vệ môi trường”. 2.Ôn dịch, thuốc lá – Chủ đề: “Tác hại của thuốc lá”. 3.Bài toán dân số- Chủ đề: “Cần phải hạn chế gia tăng dân số”.
Soạn bài tổng kết phần văn lớp 8 tiếp theo HK 2
279
Soạn bài tổng kết phần văn lớp 8 tiếp theo Hướng dẫn A.YÊU CẦU Củng cố, hệ thống hóa kiến thức văn học của cụm vãn bản nghị luận được học ở lớp 8 để nắm chắc hơn về đặc trưng thể loại, đồng thời thấy được nét độc đáo về nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của mỗi văn bản. B.GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP Bài tập 2. Qua các văn bản trong bài 22, 23, 24, 25 và 26, hãy cho biết thế nào là văn nghị luận. Em thấy văn nghị luận trung đại (các văn bản trong bài 22, 24, 25) có nét gì khác biệt nổi bật so với văn nghị luận hiện đại (văn bản bài 26 và các văn bản nghị luận đã học ở lớp 7)? Gợi ý Văn nghị luận là loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, một quan điểm nào đó. Nét khác biệt nổi bật giữa văn nghị luận trung đại và văn nghị ỉuận hiên đại (qua các bài đã được học): -Văn nghị luận trung đại đều được viết bằng chữ Hán (trong SGK là bản dịch), thường dùng những từ ngữ cổ, cách diễn đạt cổ; sử dụng nhiều hình ảnh và hình ảnh thường mang tính ước lệ; câu văn biền ngẫu sóng đôi nhịp nhàng; dùng nhiều điển tích, điển cố; văn phong gần với văn phong sáng tác; thể văn nằm ngay trong tên tác phẩm (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Luận học pháp, Bình Ngô đại cáo). Văn nghị luận trung đại mang đậm dấu ấn của thế giới quan con người trung đại: tư tưởng “thiên mệnh” (mệnh trời) trong Chiếu dời đô, đạo “thần chủ” trong Hịch tướng sĩ, lí tưởng nhân nghĩa trong Nước Đại Việt ta.. -Văn nghị luận hiện đại viết bằng chữ quốc ngữ, lời văn giản dị, câu văn gần với lời nói thường, gẩn với đời sống hơn (trong Thuế máu và một số bài đã học ở lớp 7). Mặc dù có nhiều nét khác nhau nhưng các văn bản đã học ở các bài 22, 23, 25 và 26 đều có đặc trưng của thể loại nghị luận. Các văn bản nghị luận trong bài Chiểu dời đô, Hịch tướng sĩ, Nước Đại Việt ta đều được viết có lí, có chứng cứ, có tình (tác giả gửi gắm một thái độ, một niểm tin, một khát vọng thiết tha về một vấn đề hệ trọng nào đó) nên có sức thuyết phục cao. Ba yếu tố được kết hợp chặt chẽ và yếu tố có lí vẫn là chủ chốt. -Chiếu dời đô lấy sử sách làm chỗ dựa cho lí lẽ, từ đó soi sáng vào hai triều đại trước để đi đến kết luận Đại La là nơi nhất để chọn làm kinh đô. Chiếu dùng để ban bố mệnh lệnh của nhà vua nhưng lại có những lời tâm sự tạo được sự đồng cảm giữa vua và thần dân. -Hịch tướng sĩ nêu gương sử sách đế khích lộ chí lập công danh; kể về tội ác, sự ngang ngược của kẻ thù để khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc trong tướng sĩ; nêu mối ân tình giữa chủ và tướng, phê binh những hành động sai, khẳng định những hành động đúng, nhắc nhở trách nhiệm để khích lệ tinh thần giết giặc bảo vộ đất nước của tướng sĩ. Trần Quốc Tuấn đã bộc bạch lòng căm thù giặc, lòng yêu nước của mình bằng những lời sôi sục, tâm huyết. Bài văn có sự kết hợp giữa lập luận chặt chẽ, sắc bén với giọng văn thống thiết nên có sức cuốn hút mạnh mẽ. -Với lập luận chặt chẽ, chứng cứ hùng hồn, đoạn trích Nước Đại Việt ta có ý nghĩa như là một bản tuyên ngôn độc lập. Để khẳng định chủ quyến dộc lập của Đại Việt, tác giả đã dựa vào các yếu tố như: nước ta có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, có phong tục riêng, có chù quyền, có truyền thống lịch sử. Lấy tư tưởng nhân nghĩa làm cơ sở, tác giả khẳng định chúng ta làm viộc nhân nghĩa nên thắng lợi, kẻ thù phản nhân nghĩa nên thất bại. Để làm sáng tỏ thêm lí lẽ của minh, tác giả đã đưa nhiéu chứng cứ: Nguyễn Thiếp khuyên vua, cách giáo dục của Chu Tử… Tác giả bài văn đã đưa ra lời khuyên chân thành rất thiết thực và bổ ích dối với mọi người, đặc biệt là học sinh, sinh viên. -Các luận điểm trong Thuế máu được sắp xếp theo trình tự thời gian trước, trong và sau khi xảy ra chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Đảy là một bố cục hợp lí. Cách bố cục này có nhiẻu lợi thế trong việc phơi bày trọn vẹn bộ mặt giả nhân giả nghĩa, bản chất tàn bạo của chính quyền thực dân. Các chứng cứ đưa ra xác thực, cụ thể, sinh dộng góp phần làm sáng tỏ lí lẽ của bài văn. Cái tinh trong Thuế máu chính là lòng căm thù giặc sắc, mãnh liệt của tác giả đối với chủ nghĩa thực dân Pháp và cũng chính là tình thương vô hạn của người viết đối với nhân dân các dân tộc bị đọa đày. Bài tập 5. Nêu những nét giống nhau và khác nhau cơ bản về nội dung tư tưởng và hình thức thể loại của các văn bản trong bài 22, 23 và 24. Về nội dung tư tưởng, Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Nước Đại Việt ta đều giống nhau ở chỗ thể hiện một tinh thần dân tộc sâu sắc. Trong Chiếu dời đô tinh thần dân tộc ấy được thể hiện ở ý chí tự cường cùa dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh, mong muốn non sông muôn thuở phát triển, bền vững. Trong Hịch tướng sĩ, tinh thần dân tộc ấy thể hiện ở lòng yêu nước, lòng căm thù lũ giặc ngang ngược, bạo tàn và ý chí quyết tâm giết giặc bảo vệ đất nước của các tướng sĩ. Trong Nước Đại Việt ta, tinh thần dân tộc ấy thể hiện ở ý thức sâu sắc đầy tự hào về quyền độc lập tự chủ, vể truyền thống anh hùng của dân tộc. Về hình thức thể loại, cả ba văn bản đểu dùng những từ ngữ cổ, cách diễn đạt cổ, thường sử dụng nhiều hình ảnh mang tính ước lệ, câu van biền ngẫu sóng đôi nhịp nhàng. Bài tập 6. Qua văn bản Nước Đại Việt ta (bài 24), hãy cho biết vì sao tác phẩm Bình Ngô đại cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam khi đó. So với bài Sông núi nước Nam (học ở lớp 7) cũng được coi là mộc tuyên ngôn độc lập, em thấy ý thức về nền độc lập dân tộc thể hiện trong văn bản Nước Đại Việt ta có điểm gì mới? Gợi ý Sông núi nước Nam (học ở lớp 7) được coi là một bản tuyên ngôn độc lập Trong tác phẩm này, ý thức độc lập dân tộc thể hiện ở hai yếu tố: lãnh thổ và chủ quyền (Sông núi nước Nam vua Nam ở). Nhưng đến Bình Ngô đại cáo, ngoài hai yếu tố lãnh thổ và chủ quyền, ý thức độc lập dân tộc còn được thể hiện thêm ở nhiều yếu tố khác như: văn hiến, phong tục, tập quán, truyền thống lịch sử (qua đoạn trích Nước Đại Việt ta).
Soạn bài tổng kết phần văn lớp 8 tiếp theo
1,282
Soạn bài tổng kết phần văn lớp 8 Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Bước đầu củng cố, hệ thống hóa kiến thức văn học qua các văn bản đã học trong SGK lớp 8 (trừ các văn bản tự sự và nhật dụng), khắc sâu những kiến thức cơ bản của những văn bản tiêu biểu. -Tập trung ôn tập kĩ hơn cụm văn bản thơ (các bài 18, 19, 20, 21). B.GỢI Ý TRÀ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP Bài tập 1. Lập bảng thống kê các văn bản văn học Việt Nam đã học từ bài 15 ở lớp 8 theo mẫu sau: (SGK, t.2, tr. 130) Gợi ý Bài tập 2. Nêu lên sự khác biệt nổi bật về hình thức nghệ thuật giữa các văn bản thơ tronç các bài 15, 16 và trong các bài 18, 19. Vì sao thơ trong các bài 18, 19 được gọi là “thơ mới”? Chúng “mới” ở chỗ nào? Hãy chép lại những câu thơ em thích nhất, cho là hay nhất trong 4 bài thơ kể trên, chọn mỗi bài từ 2 đến 4 câu. Gợi ý Ba vãn bản thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác, Đập đá ở Côn Lôn và Muốn làm thằng Cuội trong các bài 15, 16 đều thuộc thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đây là một thể thơ điển hình về tính quy phạm của thơ cổ, số câu, số chữ được hạn định, luật bằng trắc, phép đối, quy tắc gieo vần đều theo một quy định rất chặt chẽ. Thơ mới cũng có luật lệ quy tắc nhất định nhưng không quá chặt chẽ tới mức gò bó như thơ cổ. Trong thơ mới, số lượng câu thơ trong một bài không hạn định, lời thơ tự nhiên gần với lời nói thường, hình ảnh thơ không có tính chất ước lệ, không có công thức khuôn sáo, cảm xúc của nhà thơ được phát biểu một cách chân thực.
Soạn bài tổng kết phần văn lớp 8
321
Soạn bài tổng kết từ vựng (từ đồng nghĩa) Hướng dẫn Soạn bài tổng kết từ vựng I.Từ đồng nghĩa 1.Từ đồng nghĩa là những từ có ý nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau (Một từ nhiều nghĩa có thể thuộc vào nhiều nhóm từ đồng nghĩa). 2.Cách hiểu đúng nhất là D. 3.Tác giả dùng từ “xuân” không dùng từ “tuổi” thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời. Mỗi năm có một mùa xuân. Mỗi mùa xuân ứng với một tuổi. Dựa vào sự chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ(Lấy bộ phận chỉ toàn thể) tác giả đã lấy từ “xuân” thay thế cho từ tuổi. II.Từ trái nghĩa: 1.Từ trái nghĩa là những từ có ý nghĩa trái ngược nhau (Một từ nhiều nghĩa có thể thuộc nhiều cặp từ trái nghĩa khác nhau). 2.Các cặp trái nghĩa. –Xa – gần. –Rộng – hẹp. –Xấu – đẹp 3.Xếp hai nhóm: –Nhóm 1: Sống >< chết, chẵn >< lẻ, chiến tranh >< hòa bình, đực >< cái. –Nhóm 2: Già >< trẻ, yêu >< ghét, cao >< thấp, nông >< sâu, giàu >< nghèo. Nhóm 1: Cặp từ trái nghĩa biểu thị khái niệm đối lập nhau, loại trừ nhau, khẳng định này là phủ định cái kia. Các từ này thường không kết hợp với phó từ chỉ mức độ. Nhóm 2: Cặp từ trái nghĩa biểu thị ý nghĩa thang độ, khẳng định cái này không có nghã là phủ định cái kia, có khả năng kết hợp với phó từ chỉ mức độ như rất, quá, lắm… III.Cấp độ khái quát của nghĩa từ: 1.Cấp độ khái quát của nghĩa từ: nghĩa của một từ ngữ có thể rộng hơn hoặc hẹp hơn nghĩa của một từ ngữ khác: Một từ ngữ được coi là có nghĩa rộng khi phạm vi nghĩa của từ đó bao hàm phạm vi của một số từ ngữ khác. Một từ ngữ được coi là có nghĩa hẹp khi phạm vi của từ ngữ đó được bao hàm trong phạm vi của một từ ngữ khác. Một từ ngữ có nghĩa rộng đối với từ ngữ này đồng thời có thể có nghĩa hẹp đối với một từ ngữ khác. Giải thích: –Từ ghép là từ phức được cấu tạo bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về ý nghĩa. –Từ láy là từ phức được cấu tạo bằng cách ghép các từ có quan hệ với nhau về mặt âm thanh. –Từ ghép đẳng lập là từ ghép trong đó các tiếng có quan hệ bình đẳng về ý nghĩa. IV.Trường từ vựng 1.Trường từ vựng là: Trường từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về ý nghĩa. 2.Phân tích cách dùng từ độ đáo trong đoạn trích. Hai từ cùng trường từ vựng là “tắm”, “bể”, việc sử dụng hai từ này góp phần làm tăng giá trị biểu cảm của câu nói, làm cho câu nói có sức tố cáo mạnh mẽ hơn. V.Từ mượn. 1.Từ mượn là những từ vay mượn của tiếng nước ngoài để biểu thị những sự vật, hiện tượng, đặc điểm… mà tiếng Việt chưa có từ thật thích hợp để biểu thị. 2.Chọn nhận định c là nhận định đúng. 3.Những từ mượn như: –Xăm, lốp, ga, xăng, phanh, đã được Việt hóa hoàn toàn về âm, về nghĩa, cách dùng, nó không khác gì từ thuần Việt. –Axit, ti vi, radio, vitamin là từ mượn có giữ nhiều nét ngoại lai, chưa được Việt hóa hoàn toàn. VI.Từ hán việt. 1.Trong tiếng Việt có một khối lượng khá lớn từ Hán Việt. Tiếng để cấu tạo từ Hán Việt gọi là yếu tố Hán Việt. 2.Chọn cách hiểu đúng c là đúng nhất.
Soạn bài tổng kết từ vựng (từ đồng nghĩa)
595
Soạn bài tổng kết từ vựng lớp 9 HK 1 Hướng dẫn I.Từ đơn và từ phức. Câu 1. Từ đơn: là từ chỉ gồm một tiếng. -Từ phức là từ gồm hai hoặc nhiều tiếng. -Những từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa được gọi là từ ghép còn những từ phức có quan hệ láy âm giữa các tiếng được gọi là từ láy. Câu 2. Từ láy: nho nhỏ, gật gù, lạnh lùng, xa xôi, lấp lánh. -Từ ghép: ngặt nghèo, giam giữ, bó buộc, tươi tốt, bọt bèo, cỏ cây, đưa đón, nhường nhịn, rơi rụng, mong muốn. Câu 3. Từ láy, giảm nghĩa: trăng trắng, đem đẹp, nho nhỏ… -Từ láy tăng nghĩa: nhấp nhô, sạch sành sanh… II.Thành ngữ Câu 1. Thành ngữ là loại cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh. Câu 2. Tổ hợp là thành ngữ. -Đánh trông bỏ dùi là làm việc bỏ dở, không đến nơi đến chốn, thiếu trách nhiệm. -Được voi đòi tiên: tham lam, được cái này lai muốn cái khác hơn. -Nước mắt cá sấu là sự thương xót, thông cảm giả tạo nhằm đánh lừa người khác. Câu 3. Thành ngữ có yếu tố chỉ động vật. -Nuôi ong tay áo: giúp đỡ, che chở một kẻ sau sẽ phản bội mình. -Thẳng ruột ngựa: nghĩ thế nào nói thế, không giấu giếm, nể nang. Câu 4. Thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật. -Dây cà ra dây muống: nói, viết rườm rà, dài dòng. -Cưỡi ngựa xem hoa: làm qua loa. Câu 5. Ví dụ về việc sử dụng thành ngữ trong văn chương: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non. III.Nghĩa của từ Câu 1. Nghĩa của từ là nội dung (sư việc, tính chất, hoạt động, quan hệ…) mà từ biểu thị. Câu 2. Chọn cách hiểu “a”. Câu 3. Cách giải thích “b” là đúng. IV.Từ nhiều nghĩa. Câu 1. Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa của từ, tạo ra những từ nhiều nghĩa. -Chuyển nghĩa là hiện tượng thay đổi nghĩa của từ, tạo ra từ nhiều nghĩa. -Trong từ nhiều nghĩa có: + Nghĩa gốc là nghĩa xuất hiện từ đầu, làm cơ sở để hình thành các nghĩa khác. + Nghĩa chuyển là nghĩa được hình thành các nghĩa khác. + Nghĩa chuyển là nghĩa được hình thành trên cơ sở của nghĩa gốc. -Thông thường, trong câu, từ chỉ có một nghĩa nhất định. Tuy nhiên trong một số trường hợp, từ có thể được hiểu đồng thời cả nghĩa gốc lẫn nghĩa chuyển. 1.Từ “hoa” trong “lệ hoa” được dùng theo nghĩa chuyển. V.Từ đồng âm Câu 1. Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm thanh nhưng nghĩa khác xa nhau, không liên quan gì với nhau. Câu 2. a.Có hiện tượng từ nhiều nghĩa, vì nghĩa của từ lá trong lá phổi có thể coi là kết quả chuyển nghĩa của từ lá trong lá xa cành. b.Có hiện tượng đồng âm. Hai từ đường có vỏ có ngữ âm giống nhau. Bởi vì nghĩa của từ đường trong đường ra trận không có mối liên hệ nào với nghĩa của từ đường trong ngọt như đường. Hoàn toàn không có cơ sở để cho rằng nghĩa này được hình thành trên cơ sở nghĩa kia. VI. Từ đồng nghĩa Bài tập 1. Ôn lại khái niệm từ đồng nghĩa. Gợi ý Từ đồng nghĩa là các từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau (trong một số trường hợp có thể thay thế nhau). Bài tập 2. Chọn những cách hiểu đúng trong những cách hiểu sau: a) Đồng nghĩa là hiện tượng chí có trong một số ngôn ngừ trên thế giới, b) Đồng nghĩa hao giờ cũng là quan hệ nghĩa giữa hai từ, không có quan hệ đồng nghĩa giữa ba hoặc hơn ba từ. c)Các từ đồng nghĩa với nhau bao giờ cùng có nghĩa hoàn toàn giống nhau. d)Các từ đồng nghĩa với nhau có thế không thay thế nhau được trong nhiều trường hợp sử dụng. Gợi ý Chọn cách hiểu (d). Từ đồng nghĩa chỉ có thể thay thế cho nhau trong một số trường hợp, còn lại không thể thay thế được vì đa số các trường hợp là đồng nghĩa không hoàn toàn. Bài tập 3. Đọc câu sau: Khi người ta đã ngoài 70 xuân thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. (Hồ Chí Minh, Di chúc) Cho biết dựa trên cơ sở nào, từ xuân có thể thay thế cho từ tuổi. Việc thay từ trong câu trên có tác dụng diễn đạt như thế nào? Gợi ý Từ xuân có thể thay thế từ tuổi ở đây vì từ xuân đã chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ, lấy bộ phận thay cho toàn thể (lấy một mùa trong năm thay cho năm, tương ứng với một tuổi). VII: Từ trái nghĩa Bài tập 1. Ôn lại khái niệm từ trái nghĩa. Gợi ý Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau. Bài tập 2. Cho biết trong các cặp từ sau đây, cặp từ nào có quan hệ trái nghĩa: ông – bù, xấu – đẹp, xa – gần, voi – chuột, thông minh – lười, chó – mèo, rộng – hẹp, giàu – khổ. Gợi ý Các cặp từ trái nghĩa là: xấu – đẹp, xa – gần, rộng – hẹp. Từ loại của các cặp từ trái nghĩa thường là động từ, tính từ hay số từ, do đó ông – bà, voi – chuột, chó – mèo là danh từ nên không phải là nhừng cặp từ có quan hộ trái nghĩa. Thông minh – lười, giàu – khổ lại là những cặp từ giữa chúng không có nét nghĩa đồng nhất nên cũng không phải là những cặp từ có quan hệ trái nghĩa. Bai tập 3*. Cho những cặp từ trái nghĩa sau: sống – chết, yêu – ghét, chẵn – lẻ, cao – thấp, chiến tranh – hoà bình, già – trẻ, nông – sâu, giàu – nghèo. Có thể xếp những cặp từ trái nghĩa này thành hai nhóm: nhóm 1 như sống – chết (không sống có nghĩa là đã chết, không chết có nghĩa là còn sống), nhóm 2 như già – trẻ (không già không có nghĩa là trỏ, không trẻ không có nghĩa là già). Hãy cho biết mỗi cặp từ trái nghĩa còn lại thuộc nhóm nào. Gợi ý Nhóm 1 biểu thị những khái niệm đối lập nhau, loại trừ nhau; nhóm 2 biểu thị những khái niệm có tính chất thang độ. Các cặp từ trái nghĩa cùng nhóm với sống – chết: chiến tranh – hoà bình, chẩn – lẻ. Các cặp từ trái nghĩa này thể hiện hai khái niệm loại trừ nhau. Các cặp từ trái nghĩa cùng nhóm với già – trẻ: yêu – ghét, cao – thấp, nông – sâu, giàu – nghèo. VIII. Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ Bài tập 1. Ôn lại khái niệm cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ. Gợi ý Nghĩa của một từ ngữ có thể rộng hơn (khái quát hơn) hay hẹp hơn (ít khái quát hơn) nghĩa của từ ngữ khác gọi là cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ. Một từ được coi là: -Có nghĩa rộng khi phạm vi nghĩa của nó bao hàm phạm vi nghĩa của một từ ngữ khác. -Có nghĩa hẹp khi phạm vi nghĩa của nó được bao hàm trong phạm vi nghĩa của một từ ngữ khác. Bài tập 2. Vận dụng kiến thức về các kiểu cấu tạo từ liếng Việt đã học ở lớp 6 và lớp 7 để điền từ ngữ thích hợp vào các ô trống trong sơ đồ sau. Giải thích nghĩa của các từ ngữ đó theo cách dùng từ ngữ nghĩa rộng để giải thích nghĩa của từ ngữ nghĩa hẹp. Chẳng hạn: từ đơn là từ có một tiếng. (Để giải thích nghĩa của từ đơn phải dùng một cụm từ trong đó có từ là từ có nghĩa rộng so với từ đơn) Gợi ý -Từ đơn: từ gồm một tiếng. -Từ phức: từ gồm hai hay nhiều tiếng. -Từ láy: từ phức trong đó các tiếng láy âm với nhau. -Từ láy hoàn toàn: từ láy mà ưong đó các tiếng láy hoàn toàn âm thanh của nhau. -Từ láy bộ phận: từ láy trong đó các tiếng láy lại một phần âm thanh của nhau. -Từ láy âm: từ láy bộ phận trong đó các tiếng láy lại bộ phận âm đầu của nhau. -Từ láy vần: từ láy bộ phận trong đó các tiếng láy lại bộ phận vần của nhau. -Từ ghép: từ phức trong đó các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa. -Từ ghép đẳng lập: từ ghép trong đó các tiếng có quan hệ ngang bằng nhau về nghĩa. -Từ ghép chính phụ: từ ghép trong đó các tiếng có quan hộ chính phụ với nhau về nghĩa. IX. Trường từ vựng Bài tập 1. Ôn lại khái niệm trường từ vựng. Gợi ý Trường từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa. Bài tập 2. Vận dụng kiến thức về trường từ vựng để phân tích sự độc đáo ưong cách dùng từ ở đoạn trích sau: Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. (Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn độc lập) Gợi ý Từ tắm và bé? cùng trường nghĩa. Dùng từ như thế câu văn thêm sinh động, có hình ảnh và do đó giá trị tố cáo mạnh mẽ hơn, tính biểu cảm của câu văn được tăng thêm.
Soạn bài tổng kết từ vựng lớp 9 HK 1
1,594
Soạn bài tổng kết từ vựng tiếp theo (tiết 3) Hướng dẫn Soạn bài tổng kết từ vựng tiếp theo I.Gợi ý trả lời câu hỏi phần tổng kết Câu 1. Ôn lại khái niệm từ mượn –Những từ ngữ mà tiếng Việt không có, hoặc không đủ diễn đạt… phải vay mượn từ tiếng nước ngoài. –Lựa chọn đúng: Tiếng Việt vay mượn nhiều từ ngữ của các ngôn ngữ khác (từ tiếng nước ngoài) là để đáp ứng nhu cầu giao tiếp của người Việt. Câu 2. Khái niệm từ Hán Việt. –Là những từ ngữ tiếng Việt vay mượn từ tiếng Hán. –Lựa chọn đúng: Từ Hán VIệt là bộ phận quan trọng của lớp từ vay mượn gốc Hán. Câu 3. Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt. a. b.Tìm dẫn chứng minh họa: –Phát triển nghĩa của từ ngữ: + Chân là dấu chân trần trên đất. + Chân là cậu ấy có chân trong ban chỉ huy đội. –Phát triển từ ngữ mới: Nền kinh tế tri thức, rừng phòng hộ, sách đỏ. –Mượn từ nước ngoài: Ti vi, trinh bạch. c.Không thể có ngôn ngữ chỉ phát triển từ vựng theo cách phát triển số lượng các từ ngữ vì nếu không có hình thức phát triển nghĩa của từ ngữ thì không thể đáp ứng yêu cầu giao tiếp hằng ngày càng tăng của xã hội. Câu 4. Thuật ngữ. a.Thuật ngữ là những từ ngữ biểu thị khái niệm khoa học, kỹ thuật, công nghệ và thường được dùng trong các văn bản khoa học, kỹ thuật, công nghệ. b.Thuật ngữ có vai trò vô cùng quan trọng vì chúng ta đang sống trong thời đại khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển hết sức mạnh mẽ, có ảnh hưởng lớn đối với đời sống con người. Trình độ dân trí nước ta đang ảnh hưởng lớn đối với đời sống con người. Trình độ dân trí nước ta đang nâng cao, nhu cầu giao tiếp và nhận thức của mọi người về những vấn đề khoa học, kỹ thuật, công nghệ tăng lên chưa từng thấy cho nên thuật ngữ càng ngày càng có vai trò quan trọng. Câu 5. Trau dồi vốn từ. a.Các hình thức trau dồi vốn từ. –Rèn luyện để viết đầy đủ, chính xác về nghĩa của từ. –Rèn để biết thêm những từ mà mình chưa biết để làm tăng vốn từ về số lượng. b.Giải thích nghĩa của từ ngữ. –Bách khoa toàn thư: Từ điển bách khoa, ghi đầy đủ tri thức các ngành. –Bảo hộ mậu dich: Chính sách bảo vệ sản xuất trong nước, chống sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài trên thị trường nước mình. –Dự thảo: Viết ra để đưa thông qua (Động từ) bản thảo đưa cho người có trách nhiệm thông qua (Danh từ). –Đại sứ quán: Cơ quan đại diện chính thức và toàn diện của một nhà nước ở nước ngoài do một đại sứ đặc mệnh toàn quyền đứng đầu. –Hậu duệ: Con cháu của người đã chết. –Khẩu khí: Khí phách của con người toát ra qua lời nói. –Môi sinh: Môi trường sống của sinh vật. Câu 6. Từ ngữ địa phương và biệt ngữ: a.Từ ngữ địa phương khác với từ ngữ toàn dân. Từ ngữ địa phương chỉ sử dụng ở một hoặc một số địa phương nhất định. Biệt ngữ xã hội khác với từ ngữ toàn dân, biệt ngữ xã hội chỉ được dùng trong một tầng lớp xã hội nhất định. b.Trong đoạn thơ Tố Hữu dùng một số từ địa phương: Chi, rứa, nờ, tui, có, răng, ưng, mụ. Những từ ngữ này là từ địa phương miền Trung được dùng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc Trung Bộ như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Đây là một đoạn trích trong bài thơ “Mẹ suốt”. Một bà mẹ Quảng Bình anh hùng đã chở đò bộ đội qua sông dưới làn bom đạn trong suốt những năm tháng chống Mỹ cứu nước. Những từ ngữ địa phương trên góp phần thể hiện chân thực hóa hình ảnh của một vùng quê và tình cảm, suy nghĩ, tính cách môt người mẹ ở vùng quê ấy, làm tăng sự sống động, gợi cảm của tác phẩm. c.Trong tác phẩm văn học lớp 9 học kỳ 1, truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu dùng nhiều từ địa phương hơn cả. –Ví dụ: đàng, vô, bớ, mầy, tiểu thơ, hay vầy… –Những từ địa phương này góp phần khắc họa sinh động, chân thực hình ảnh chàng trai Nam Bộ. d.HS tự nêu một số từ ngữ thuộc biệt ngữ xã hội mà mình biết. Thí dụ: Cày (Nghĩa gốc chỉ hoạt động cày ruộng (nhà nông), là biệt ngữ trong một số trường hợp: –HS: học bài –GV: đi dạy –CN: đi làm. Lượn (nghĩa gốc chỉ hoạt động bay) là biệt ngữ mang nghĩa đi đâu đó. Xòe là biệt ngữ mang nghĩa ngã xe máy. Vồ là biệt ngữ mang nghĩa bị bắt. Phắn là biệt ngữ mang nghĩa đi chỗ khác.
Soạn bài tổng kết từ vựng tiếp theo (tiết 3)
816
Soạn bài tổng kết từ vựng tiếp theo (tiết 5) Hướng dẫn Soạn bài tổng kết từ vựng tiếp theo (tiết 3) Câu 1. Từ “gật gù” thể hiện thích hợp hơn ý nghĩa cần biểu đạt vì “gật đầu” là cúi xuống rồi ngẩng lên ngay thường để chào hỏi hoặc tỏ sự đồng ý. “Gật gù”: gật nhẹ, nhiều lần, biểu thị thái độ đồng tình, tán thưởng thể hiện chính xác câu ca dao: Món ăn tuy đạm bạc nhưng đôi vợ chồng nghèo ăn vẫn thấy ngon vì họ hiểu nhau, hòa thuận, biết chia sẽ niềm vui đơn sơ trong cuộc sống nghèo. Câu 2: Các sự vật, hiện tượng trên được đặt tên theo những từ ngữ đã có sẵn nhưng mang một nội dung mới dựa và đặc điểm của sự vật, hiện tượng được gọi tên. Tìm năm ví dụ về những sự vật, hiện tượng được gọi tên theo cách dựa vào đặc điểm riêng biệt của chúng: Chuồn chuồn kim, cây chân vịt, chim lợn, dưa chuột, dưa bở. Câu 3. Câu chuyện phê phán thói sinh dùng từ nước ngoài của một số người. Câu 4. Câu hỏi: Trước khi tìm ra khí ô xy người ta thở bằng khí gì gây cười vì: Tìm là cố xem nó ở đâu, cố thấy nó như vậy là nó đã có từ trước rồi chứ không phải từ khi làm ra khí ô xy thì mới có ô xy. –Phát hiện: Là tìm thấy cái chưa ai biết nhưng trước đó đã có. –Phát minh: Tìm ra cái có cống hiến lớn cho khoa học và loài người mà trước đó chưa có. Câu 5. Người vợ không hiểu nghĩa của cách nói: “Chỉ có một chân sút” cách nói này có nghĩa là chỉ thuận có một chân, chỉ một chân có thể sút mạnh và chính xác. Câu 6. Vận dụng kiến thức từ vựng đã học để phân tích nét nổi bật của việc dùng từ trong những câu sau: a.Nói quá để diễn tả sự lớn mạnh của nghĩa quân Lam Sơn. b.Dùng từ láy để diễn tả hình dáng của sự vật, vừa diễn tả tâm trạng của con người. c.So sánh để miêu tả sắc nét, sinh động âm thanh của tiếng suối và cảnh rừng dưới đêm trăng sáng. d.Trong khổ thơ có dùng hai trường từ vựng. –Trường từ vựng chỉ màu sắc: đỏ, xanh, hồng… –Trường từ vựng chỉ lừa và những sự vật, hiện tượng có quan hệ liên tưởng đến lửa. Các từ thuộc hai trường từ vựng có quan hệ chặt chẽ với nhau: Màu áo đỏ của cô gái thắp lên trong mắt chàng trai ngọn lửa. Ngọn lửa đó lan tỏa khắp người anh, làm anh say đắm ngất ngây. Ngọn lửa lan cả không gian làm không gian cũng bừng sắc. Trong khổ thơ còn dùng những cặp từ ngữ đối lập: Cây xanh >< ánh hồng, em đi >< anh đứng, vì vậy bài thơ đã tạo được những hình ảnh gây ấn tượng mạnh với người đọc, thể hiện độc đáo một tình yêu mãnh liệt, cháy bỏng. Câu 7. Những từ dùng theo nghĩa gốc: Chân, tay, miệng…. Những từ dùng theo nghĩa chuyển: –Vai (hoán dụ) –Đầu (ẩn dụ)
Soạn bài tổng kết từ vựng tiếp theo (tiết 5)
530
Soạn bài tổng kết từ vựng tiếp theo (Từ tượng thanh và từ tượng hình) Hướng dẫn Soạn bài tổng kết từ vựng tiếp theo I.Từ tượng thanh và từ tượng hình a.Khái niệm –Từ tượng thanh: Là từ được hình ảnh, âm thanh cụ thể, sống động, có giá trị biểu cảm cao, thường được dùng trong văn miêu tả tự sự. –Từ tượng hình: Là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật. b.Loài vật có tên gọi là từ tượng thanh: Chim cu, tắc kè, bò. c.Các từ tượng hình trong đoạn văn: Lốm đốm, lê thê, loáng thoáng, lồ lộ. Những từ này có tác dụng mô tả đám mây một cách cụ thể và sống động. 1.Các biện pháp tu từ từ vựng. a.Khái niệm. –Nói quá: là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. –Nói giảm, nói tránh: là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhỉ, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề, tránh thô tục, thiếu lịch sự. b.Phân tích nét nghệ thuật độc đáo của những câu thơ trong “Truyện Kiều”. –Ẩn dụ: Hoa, cách dùng để chỉ Thúy Kiều và cuộc đời của nàng, từ cây, lá dùng để chỉ gia đình của Kiều và cuộc sống của họ. Câu thơ ý nói Kiều bán mình để cứu gia đình. –So sánh: So sánh tiếng đàn của Kiều với tiếng hạ, tiếng suối, tiếng gió thoáng, tiếng trời đổ mưa diễn tả những cung bậc khác nhau của âm thanh, của cảm xúc người thưởng thức. –Nói quá: Thúy Kiều đẹp đến mức hoa liễu phải hờn ghen. Không chỉ đẹp mà còn tài. Tóm lại, Thúy Kiều toàn vẹn cả tài lẫn sắc làm nghiêng nước, nghiêng thành. Cách nói quá nhằm gây ấn tượng về một nhân vật tài sắc vẹn toàn. –Nói quá: Quan âm, nơi Thúy Kiều bị Hoạn Thư bắt ra chép Kinh gần với phòng đọc sách của Thúc Sinh. Tuy ở gần nhau “gang tấc” nhưng hai người lại cách trở “gấp mười quan san” diễn tả sự xa cách trong cảnh ngộ của Thúc Sinh và Thúy Kiều. –Chơi chữ: tài, tai. c.Phân tích nghệ thuật độc đáo trong các câu. –Dùng điệp ngữ “Còn” và từ nhiều nghĩa “say sưa” vừa uống rượu say vừa say đắm cô hàng xóm. Đó là cách thể hiện tình cảm kín đáo. –Nhân hóa: trăng nhân hóa thành người nhòm vào song cưa ngằm người. Nhờ biện pháp này mà tăng trong thơ trở nên sống động, có hồn, gắn bó với con người. –Ẩn dụ: Con là mặt trời của mẹ, là nguồn sống, nguồn ánh sáng nuôi dưỡng niềm tin của mẹ. –So sánh hai phía của dãy Trường Sơn như hai con người, như anh và em, như hai miền đất Nam và Bắc, hai hướng Đông và Tây của một dải rừng, luôn gắn bó keo sơn không gì chia cắt được. –Ẩn dụ: Dùng sợi dây đàn để chỉ tâm hồn con người nhằm nói đến một tâm hồn rất nhảy cảm, dễ rung động trước cuộc sống. –Điệp ngữ và nhân hóa: Lặp lại “tre”, “anh hùng”. Nhân hóa tre như người nhằm nhấn mạnh hình ảnh cây tre và những chiến công của nó. Nhân hóa làm cho hình ảnh cây tre gẫn gũi với con người hơn, gây ấn tượng với người đọc. d.Nói quá. Chưa ăn đã hết ; Một tấc đến trời ; Một chữ bẻ đôi không biết ; cười vỡ bụng ; Rụng rời chân tay ; Tức lộn ruột ; Tiếc đứt ruột ; Ngáy như sấm ; Nghĩ nát óc ; Đứt từng khúc ruột.
Soạn bài tổng kết từ vựng tiếp theo (Từ tượng thanh và từ tượng hình)
623
Soạn bài tổng kết văn học lớp 9 Hướng dẫn A. YÊU CẦU CẦN ĐẠT 1.HS hệ thống hoá các kiến thức về tác phẩm đã học và đọc thêm trong CT Ngữ vănTHCS. 2.Bước đầu hình thành tri thức sơ giản về ncn văn học Việt Nam: các bộ phận, các thời kỳ lớn, những đặc sắc nổi bật về tư tưởng và nghệ thuật. Củng cố và hệ thống hoá những tri thức đã học về các thể loại văn học gắn với từng thời kì trong tiến trình vận động của văn học. Đọc, hiểu đúng các tác phẩm trong CT. 3.Ròn luyện kĩ năng tổng hợp, hộ thống hoá. B. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI Vai trò vị trí của nền văn học Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc: -Văn học Việt Nam ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự vận động của lịch sử dân tộc, làm nên đời sống tinh thần của đất nước và phản chiếu tâm hồn tư tưởng tính cách, cuộc sống của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. I.Các bộ phận hợp thành nền văn học Việt Nam 1.Văn học dân gian -Hoàn cảnh ra đời: trong đời sống lao động, đấu tranh xã hội. -Đối tượng sáng tác: chủ yếu là những người lao động ở tầng lớp dưới; văn học bình dân, sáng tác mang tính cộng đồng. -Đặc tính: tính tập thể, truyền miệng, dị bản. -Thể loại: phong phú (truyện, ca dao, dân ca, vè, câu đố, chèo,…); có văn hoá dân gian của các dân tộc (Mường, Thái, Chăm,…). -Nội dung sâu sắc, gồm: + Tố cáo xã hội cũ, thông cảm với những nỗi nghèo khổ. + Ca ngợi nhân nghĩa đạo lí. + Ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, tình bạn, gia đình,… + Ước mơ cuộc sống tốt đẹp, có lòng lạc quan tin tưởng,… 2.Vãn học viết -về chữ viết: sáng tác bằng cả chữ Hán, Nôm, chừ Quốc ngừ, Pháp ngữ (Ví dụ: các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc). -về nội dung: bám sát cuộc sống biến dộng của mọi thời kì, thời đại. + Đấu tranh chống xâm lược, chống phong kiên, đế quốc. + Ca ngợi đạo đức, nhân nghĩa, dũng khí. + Ca ngợi lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng. + Ca ngợi lao động. + Ca ngợi thiên nhiên. + Ca ngợi tình bạn bè, tình yêu, tình vợ chồng, tình cha mẹ. II. Tiến trình lịch sử văn học Việt Nam 1. Từ thế kỷ X – thế kỷ XIX (Thời kì văn học trung đại) Các triều đại phong kiến cơ bản giữ được nền dộc lập tự chủ. -Văn học yêu nước chống xâm lược (Lý – Trần – Lê – Nguyền) có Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyen Đình Chiểu. -Văn học tố cáọ xã hội phong kiến thối nát và thể hiện khát vọng tự đo yêu đương, hạnh phúc (Hồ Xuân Hương, Nguyen Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,…). 2.Từ đầu thế kỷ XX – 1945 (Thời kì vãn học hiện đai) -Văn học yêu nước 30 năm đầu thê kỷ (trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đơi): Tản Đà, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyền Ái Quốc (ở nước ngoài). -Sau 1930 – 1945:xu hương hiện đại vơi văn học lãng mạn (Nhớ rừng), văn học hiện thực (Tắt (lèn), văn học cách mạng (Khi con tu hú…). 3.Từ 1945 – 1975: (sau 1945) -Văn học viết về kháng chiên chống thực dân Pháp: Đồng chí, Đêm nay Bac-khanh ngủ, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng. -Văn học viết vồ kháng chiên chông Mỹ: Bài thơ về tiếu đội xe không kính, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Những ngôi sao xa xôi,… Lưu ý, sau 1945: -Văn học viết về chiến tranh thiên về hồi ức, kỉ niệm. -Văn học viết về sự nghiệp xây dựng đất nước tập trung phản ánh quá ưình đổi mơi, và tự thân văn học cũng đổi mới. III.Mấy nét đặc sắc nổi bật của văn học Việt Nam 1.Lòng yêu nước biểu hiện ờ tinh thần quyết tâm chiến dấu, dám hi sinh và xả thân vì nước; ở lòng căm thù giặc sâu sắc; ở tình cảm đồng chí, đồng đội và niềm tin chiến thắng. 2.Tinh thần nhân đạo: Lòng nhân đạo là tình yêu thương con người. Lòng yêu nước và tình yêu con người hoà quyện thành tinh thần nhân đạo Việt Nam (tố cáo bóc lọt, thông cảm với ngươi nghèo khổ, bênh vực quyền lợi con người – nhất là người phụ nữ; thể hiện khát vọng tự do, hạnh phúc…). 3.Sức sống bền bi và tinh thần lục quan: -Trải qua các thời kì dựng nước và giữ nước, qua lao dộng và đâu ưanh, nhân dân Việt Nam đã thể hiện sự chịu dựng gian khổ bền bỉ, mãnh liệt ưong cuộc sống đời thường và trong chiên tranh. Đó là nhân tố tạo nên sức mạnh chiến thắng. -Tinh thần lạc quan, tin tưởng cũng được nuôi dương từ trong cuộc sống, chiến đâu đầy gian khổ, hy sinh và cũng rất hào hùng, đó là bản lĩnh của người Việt, là tâm hồn Việt Nam. 4.Tính thẩm mỹ cao: Tiếp thu truyền thống văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn học nưđc ngoài, văn học Việt Nam không có những tác phẩm đồ sộ nhưng đã có những tác phẩm vừa và nhỏ, chú trọng đến cái đẹp tinh tế, hài hoà, giản dị (ca dao, tục ngữ, sử thi, tiểu thuyết). IV.Sơ lược về một số thể loại văn học 1.Thể loại văn học là gì? Gợi ý Là sự thông nhất giữa nội dung, hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống. 2.Có mấy loại hình sáng tác văn học, là những loại hình nào? Gợi ý Sáng tác văn học có 3 loại hình: tự sự, trữ tình và kịch. Ngoài ra còn có loại nghị luận, chủ yếu sử dụng phương thức lập luận. 3.Thể loại văn học có đặc điểm gì? Cho ví dụ. Gợi ý Thể loại văn học vừa có tính ổn dịnh, vừa biến dổi trong lịch sử, vừa có tính chung của mọi nền văn học, lại mang tính đặc thù của mỗi nền văn học dân tộc. 4.Kể tên các thể loại chính cửa văn học dân gian Việt Nam học trong chương trình Ngữ văn THCS, nêu định nghĩa ngắn gọn về từng thể loại? Gợi ý -Thể loại văn học dân gian gồm 3 nhóm: + Các thể loại tự sự dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn,… (SGK). + Trữ tình dân gian: ca dao, dân ca. + Sân khấu dân gian: chèo, tuồng. 5.Tục ngứ thuộc thể loại nào? Gợi ý Một dạng đặc biệt của nghị luận. 6.Tim trong các truyện cổ tích em biết những nhân vật thuộc loại: nhân vật dũng sĩ, nhân vật có tài năng đặc biệt, nhân vật xấu xí, nhân vật ngốc nghếch. Gợi ý -Nhân vật dũng sĩ: Thạch Sanh. -Nhân vật có tài năng đặc biệt: Thạch Sanh, ba anh tài,… -Nhân vật xâu xí: Sọ Dừa, Hoàng tử Cóc,… -Nhân vật ngốc nghếch: chàng Ngốc,… 7.Nguồn gốc của thơ trung đại Việt Nam? Gợi ý a.Các thể thơ có nguồn gốc thơ ca Trung Quốc: + Thể cổ phong: tương đối tự do, vần không chặt chẽ, không tuân theo niêm luật, không hạn chế số câu, số chữ. Ví dụ: Côn Sơn Ca, Chinh phụ ngâm. + Thể Đường luật: viết theo luật đặt ra từ thời nhà Đường, quy định khá chặt chẽ về vần, thanh, đôi, về số câu, số chữ và câu trúc bài thơ. Có 3 dạng chính: bát cú (8 câu), tứ tuyệt (4 câu), trường luật ( 10 câu). Ví dụ: Sông núi nước Nam (Thất ngôn tứ tuyệt) Bạn đến chơi nhà(Thất ngôn bát cú) Phò giá về kinh(Ngũ ngôn tứ tuyệt) b.Các thể thơ có nguồn gốc dân gian: -Thể lục bát (câu 6, câu 8): bản dịch Bải ca Côn Sơn. -Thể song that lục bát: bản dịch Sau phút chia li. 8.Văn xuôi trung đại có các thể loại gì? Kể cúc tác phẩm tiêu biểu của mỗi loại? Gợi ý Các thể văn xuôi ưung đại: -Truyện kí, gồm: + Tuỳ bút: Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác), Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (Phạm Đình Hổ). + Truyền kì: Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ). + Chí: Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái). -Truyện thơ Nôm: chủ yếu viết bằng thơ lục bát, xuất hiện từ thế kỳ XVII và phát triển rực rỡ ở thế kỷ XVIII, XIX. Có 2 loại: + Truyện thơ nôm bình dân: Truyện Lục Văn Tiên. + Truyện thơ nôm bác học: Truyện Kiều (đỉnh cao). -Một số thể loại văn nghị luận: chiếu, biếu, hịch, cáo,… (không có mục đích văn chương nhưng một số tác phẩm có giá trị văn chương). 9.Văn học hiện đại cỏ những chuyến biến gì về thể loại so với văn học trung đại? Gợi ý Trong văn học hiện đại: + Các thể: cáo, hịch, chiếu,… không tồn tại. + Phóng sự xuất hiện. + Kịch nói phương Tây du nhập đầu thế kỷ XX. + Phê bình văn học: hoạt động độc lập. + Truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết) có sự đổi mới sâu sắc về phương diện. + Tuỳ bút, ký: đổi mới. + Thơ hiện đại: vẫn tiếp lục thơ truyền thống: thơ lục bát, thơ 4 hoặc 5 chữ, nhưng thơ tự đo ngày càng nhiều. Tư tưởng, cảm xúc, phương thức biểu đạt, hình ảnh cấu trúc, ngôn ngữ thơ đều đổi mới. 10.Nói chung văn học hiện đại cỏ những đổi mới quan trọng về mặt thế loại như thế nào? Gợi ý Thể loại trong văn học hiện đại hết sức đa dạng, linh hoạt và luôn biến đổi theo hướng ngày càng tự do, không bị gò bó vào các quy tắc cô định, chủ thể được phát huy và sáng tạo. 11.Sự khác nhau trong cách trần thuật và cách xây dựng nhân vật của các truyện Bến quê, Lão Hạc với Chuyện người con gái Nam Xương và bài trích Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng. Gợi ý -Bến quê và Lão Hạc đồ cập đốn vấn đề xã hội và con người, xây dựng nhân vật bằng nghệ thuật: miêu tả nội tâm, đối thoại, độc thoại nội tâm. Tính cách nhân vật bộc lộ qua những tình huống truyện, qua xung đột nhiều chiều. -Thầy thuốc giỏi cốt nhất à tấm lòng và Chuvện người con gái Nam Xương. nhân vật xây dựng theo kiểu (mẫu) người ước lệ, tính cách không rõ ràng, thiên về trần thuật tâm trạng nhân vật, ít tình huống gay cấn, nhân vật thể hiện mục đích giáo huấn đạo lí của tác giả (nhân vật thường hoàn thiện).
Soạn bài tổng kết văn học lớp 9
1,759
Soạn bài tổng kết văn học tiếp theo lớp 9 HK 2 Hướng dẫn A. Nhìn chung về nền văn học Việt Nam Các bộ phận hợp thành nền văn học Việt Nam. Mục này nói về cấu trục của nền văn học, tức là chỉ ra các bộ phận và thành phần hợp thành nền văn học ấy. Dựa vào bảng thống kê các tác phẩm đã làm, cho biết văn học Việt Nam, cũng như nhiều nên văn học khác, được tạo thành từ hai bộ phận lớn: văn học dân gian và văn học viết. Các ý chính trong mục này: Văn học dân gian – Được hình thành từ thời xa xưa và tiếp tục được bổ sung, phát triển trong các thời kì lịch sử tiếp theo. Văn học dân gian nằm trong tổng thể văn hóa dân gian (folkore). – Là sản phẩm của nhân dân, chủ yếu là tầng lớp bình dân. Vì không phải là tiếng nói của mỗi cá nhân nên văn học dân gian chỉ chú ý chọn lựa những cái gì tiêu biểu chung cho nhân dân hay mỗi tầng lớp trong quần chúng. – Được lưu truyền chủ yếu bằng cách truyền miệng, thường có hiện tượng dị bản. – Có vai trò quan trọng nuôi dưỡng tâm hồn trí tuệ của nhân dân và là kho tàng phong phú cho văn học viết khai thác, phát triển. – Văn học dân gian Việt Nam bao gồm văn học của nhiều dân tộc trên đất nước Việt Nam. Văn học dân gian nước ta vẫn tiếp tục phát triển trong suốt thời đời trung đại, khi văn học viết đã ra đời và phát triển. – Về thể loại, văn học dân gian Việt Nam có hầu hết các thể loại chủ yếu trong văn học dân gian thế giới, đồng thời lại có một số thể loại riêng (vè, truyện, thơ, chèo, tuồng, đồ…). Văn học viết Xuất hiện từ thế kỉ X, trong thời kì giành lại được nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Các thành phần của văn học viết xét về mặt văn tự bao gồm: văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. – Văn học chữ Hán: xuất hiện từ buổi đầu của văn học viết và tồn tại, phát triển trong suốt thời kì văn học trung đại (từ thế kỉ X đế hết thế kỉ XIX) và còn có một số tác phẩm ở thế kỉ XX. Văn học chữ hán tiếp thu nhiều yếu tố của văn hóa và tư tưởng Trung Hoa, nhưng vẫn là một thành phần của văn học Việt Nam, mang tinh thần dân tộc, thể hiện đời sống, tư tưởng, tâm lí dân tộc. – Văn học chữ Nôm: xuất hiện muộn hơn văn học chữ Hán (ở thế kỉ XIII, nhưng tác phẩm cổ nhất còn lại đến nay là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi ở thế kỉ XV). Văn học chữ Nôm phát triển song song với văn học chữ Hán và đặc biết mạnh mẽ ở thế kỉ XVIII – XIX, mà những đỉnh cao tiêu biểu là Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương. – Văn học chữ quốc ngữ: chữ quốc ngữ xuất hiện từ thế kỉ XVII, đến cuối thế kỉ XIX mới được dùng để sáng tác văn học. Từ đầu thế kỉ XX, chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi và dần trở thành văn tự gần như duy nhất dùng để sáng tác văn học ở nước ta. TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM Văn học Việt Nam phát triển trong sự gắn bó mật thiết với lịch sử dân tộc, tuy không phải các thời kì văn học đều trùng khít với các thời kì lịch sử. Văn học Việt Nam (chủ yếu là nói văn học viết) trải qua ba thời kì lớn: – Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX (còn được gọi là thời kì văn học trung đại): Ở thời kì nfay, nền văn học phát triển trong môi trường xã hội phong kiên trung đại qua nhiêu giai đoạn, về cơ bản vẫn là một quốc gia phong kiến độc lập, tuy phải chống lại nhiều cuộc xâm lượt và cả ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Văn học ở thời kì trung đại có nhiều đặc điểm chung về tư tưởng, về quan niệm thẩm mĩ, về hệ thống nhiều đặc điểm chung về tư tưởng, về quan niệm thẩm mĩ, về hệ thống thể loại, ngôn ngữ. Văn học trung đại Việt Nam đã có những giai đoạn phát triển mãnh mẽ, kết tinh được thành tựu ở những tác giả lớn, những tác phẩm xuất sắc, cả chữ Hán và chữ Nôm. – Từ đầu thế kỉ XX đến 1945: văn học chuyển sang thời kì hiện đại. Cuộc xâm lược của thực dân Pháp, tiếp đó là cuộc khai thác thuộc địa của chúng đem lại nhiều biến đổi sâu rộng về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng ở nước ta vào đầu thế kỉ XX. Nền văn học vận động theo hướng hiện đại hóa, có những biến đổi toàn diện và mau lẹ, nhanh chóng theo hướng hiện đại hóa, có những biến đổi toàn diện và mau lẹ, nhanh chóng kết tinh được những thành tựu xuất sắc ở giai đoạn 1930 – 1945, ở cả thơ và văn xuôi. – Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay: nền văn học của thời đại mới – thời đại độc lập, dân chủ và đi lên chủ nghĩa xã hội. Văn học đã trải qua hai giai đoạn: 1945-1975 và từ sau 1975 đến nay. + Giai đoạn 1945- 1975: Cả dân tộc phải tiến hành liên tiếp hai cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Văn học đã phục vụ tích cực cho hai cuộc kháng chiến và các nhiệm vụ cách mạng, nêu cao tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, lòng nhân ái, đức hi sinh, đã sáng tạo những hình ảnh cao đẹp về đất nước và con người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ trong hai cuộc kháng chiến, trong lao động xây dựng. + Từ sau 1975: Văn học bước vào thời kì đổi mới. Mở rộng phạm vi tiếp cận đời sống một cách toàn diện, khám phá con người ở nhiều mặt, hướng tới sự thức tỉnh ý thức cá nhân và tinh thần dân chủ – đó có thẻ coi là những đặc điểm nổi bật văn học trong thời kì đổi mới. Mấy nét đặc sắc nổi bật của văn học Việt Nam Ở mục này, SGK chỉ nêu một cách khái quát nhất những nét được coi là đặc sắc nổi bật về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của văn học Việt Nam, cả văn học dân gian và văn học viết. Về nội dung tư tưởng, chỉ nêu ba điểm nổi bật: tinh thần yêu nước, ý thức cộn đồng, tinh thần nhân đạo, sức sống bền bỉ và tinh thần lạc quan. Về mặt nghệ thuật, chỉ nêu một đặc điểm về quy mô và phạm vi kết tinh nghệ thuật. – Tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng là truyền thống tinh thần nổi bật của dân tộc ta xa xưa và đã trở thành nội dung tư tưởng đậm nét, xuyên suốt qua các thời kì phát triển của văn học Việt Nam. – Tinh thần nhân đạo cũng là một truyền thống tư tưởng sâu đậm của văn học Việt Nam. Tư tưởng ấy có sự phát triển với những biểu hiện phong phú, đa dạng qua các thời kì và mỗi giai đoạn văn học. – Sức sống bền bỉ và tinh thần lạc quan cũng là một nét đặc sắc của văn học Việt Nam, thể hiện sức sống và đặc điểm tâm hồn dân tộc. – Về quy mô và phạm vi kết tinh nghệ thuật: văn học cũng như các loại hình nghệ thuật khác của ta thường được kết tinh trong những tác phẩm gọn, có quy mô không lớn, chú trojgn sự tinh tế mà dung dị có vẻ đẹp hài hòa. Hướng dẫn học bài 1. Căn cứ vào bảng thống kê tác phẩm đã chuẩn bị ở nhà để làm bài này. Có thể kết hợp làm khi tìm hiểu mục Các bộ phận hợp thành nền văn học Việt Nam. 2. Yêu cầu phân biệt được trên những nét chính như sau: – Văn học dân gian là sản phẩm của quần chúng nhân dân, không mang tính cá thể. Còn văn học viết là sản phẩm trực tiếp của nhà văn, mang dấu ấn cá nhân tác giả. – Văn học dân gian chỉ chọn lọc, khái quát nhưng cái chung tiêu biểu cho cộng đồng (toàn thể nhân dân hay một tầng lớp, bộ phận trong quần chúng). Trong văn học viết, đặc biệt là ở thời kì hiện đại, văn học không chỉ quan tâm đến những cái chung mà còn chú ý tới số phận, tính cách và mọi vấn đền của cá nhân con người. – Văn học dân gian được sáng tác và lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng, còn văn học thì phải bằng chữ viết và các hình thức ghi chép, lưu giữ lại được (trên thẻ tre, đá, khắc gỗ, trên giấy…). 3. Tìm ảnh hưởng cuqr VHDG đến văn học viết trên nhiều phương diện như: Thể loại, các mô – típ chủ đề, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh và chi tiết nghệ thuật, thành ngữ tục ngữ, ca dao …. được vận dụng vào văn học viết, Trong Truyện Kiều và thơ Hồ Xuân Hương có rất nhiều câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ đã được vận dụng thích hợp. Những bài thơ hiện đại như Con Cò (Chế Lan Viên), khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (Nguyễn Khoa Điềm), ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa (Nguyễn Du) là những ví dụ tiêu biểu về việc vận dụng thành công ca dao – dân ca. B.SƠ LƯỢC VỀ MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN Mục này nhăm ôn lại kiến thức về các thể loại của VHDG đã học ở lớp 6 và lớp 7. HS nhắc lại các định nghĩa vắn tắt về từng thể loại, minh họa bằng những tác phẩm VHDG đã học và những tác phẩm quen thuộc khác. MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂ HỌC TRUNG ĐẠI Mục này trong SGK tập trung vào các thể thơ, ngoài ra còn đề cập đến các thể văn xuôi, truyện thơ và các thể chính luận. Các em hãy trình bày theo nội dung và trình tự tron SGK. Cần lấy những dẫn chứng minh họa từ các tác phẩm đã học. Khi nói về thể thất ngôn bát cú, có thể chép một bài thơ tiêu biểu rồi chỉ ra luận bằng trắc, đối, niêm giữa các câu trong bài thơ. MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC HIỆN ĐẠI Thể loại văn học hiện đại hêt sức đa dạng, lại biến đổi nhanh chóng vì tính chất dân chủ, không bị ràng buộc quá chặt chẽ vào các quy tắc, đề cao sự tìm tòi, sáng tạo của nhà văn trọng nền văn học hiện đại.
Soạn bài tổng kết văn học tiếp theo lớp 9 HK 2
1,911
Soạn bài tổng kết về ngữ pháp tiếp theo lớp 9 Hướng dẫn A.Thành phần câu. I.Thành phần chính và thành phần phụ. 1.Thành phần chính và các dấu hiệu của chúng. -Chủ ngữ: thường đứng trước vị ngữ trong câu, nêu chủ thể nói đến trong câu. -Vị ngữ: thường đứng sau chủ ngữ, nêu đặc trưng của chủ thế nói ở chủ ngữ. Thành phần phụ và các dấu hiệu của chúng: -Bổ ngữ: thường đứng sau động từ, tính từ ở vị ngữ, nêu đối tượng có liên quan với nghĩa của động từ, tính từ đó. -Trạng ngữ: thường đứng ở đầu câu hoặc đứng gần động từ, tính từ, nêu các hoàn cảnh không gian, thời gian, cách thức, phương tiện, nguyên nhân, mục đích… của hoạt động động, tính chất của câu, của động từ, tính từ. -Đề ngữ: thường đứng trước chủ ngữ, nêu lên đề tài của câu nói, có thể thêm quan hệ từ về, đối với vào trước. 2.Phân tích thành phần câu. a.Đôi càng tôi: chủ ngữ, mẫm bóng: vị ngữ. b.Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi: trạng ngữ; mấy người học trò cũ: chủ ngữ; đến sắp hàng: vị ngữ; dưới hiên: trạng ngữ; đi: vị ngữ; vào lớp: trạng ngữ. c.(Còn) tấm gương bằng thủy tinh tráng bạc: đề ngữ; nó: chủ ngữ, vẫn là: vị ngữ; người bạn trung thực, chân thành, thẳng thắn, không hề nói dối, cũng không bao giờ biết nịnh hót hay độc ác…: bổ ngữ. II.Thành phần biệt lập. 1.Thành phần biệt lập và dấu hiệu của chúng: -Thành phần tình thái được dùng để thể hiện cách nhìn của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu. -Thành phần cảm thán được dùng để bộc lộ tâm lí của người nói (vui, buồn, mừng, giận). -Thành phần gọi – đáp được dùng để tạo lập hoặc để duy trì quan hệ giao tiếp. -Thành phần phụ chú được dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu. Dấu hiệu để nhận biết các thành phần biệt lập chính là vai trò của chúng đối với nội dung của câu: chúng không trực tiếp tham gia vào sự việc được nói trong câu. Cũng vì vậy, chúng được gọi chung là thành phần biệt lập. 2.Tìm thành phần biệt lập thích hợp. a.Có lẽ: tình thái. b.Ngẫm ra: tình thái. c.Dừa xiêm thấp lè tè, quả tròn, nước ngọt, dừa nếp lơ lửng giữa trời, quả vàng xanh mơn mởn, dừa lửa lá đỏ, vỏ hồng….: phụ chú. d.– bẩm: phần gọi. -Có khi: tình thái. e.Ơi: phần gọi. B.CÁC KIỂU CÂU. I.Câu đơn. 1.Chủ ngữ và vị ngữ trong câu. a.Nghệ sĩ: chủ ngữ -Ghi (lại): vị ngữ -Muốn nói: vị ngữ b.Lời gửi: chủ ngữ -Phức tạp hơn, phong phú và sâu sắc hơn: vị ngữ c.Nghệ thuật: chủ ngữ -Là (tiếng nói của tình cảm): vị ngữ. d.Tác phẩm: chủ ngữ. -Vừa là (kết tinh…) vừa là (sợi dây…): vị ngữ. e.Anh: chủ ngữ -Thứ sáu và cũng tên Sáu: vị ngữ. 2.Tìm câu đặc biệt. Các câu đặc biệt trong các đoạn trích. a.– có tiếng nói léo nhéo ở gian trên… -Tiếng mụ chủ… b.Một thanh niên hai mươi bảy tuổi! c.– những ngọn đèn điện trên quảng trường lung linh như những ngôi sao trong câu chuyejn cổ tích nói về những xứ sở thần tiên. -Hoa trong công viên. -Những quả bóng sút vô tội vạ bọn trẻ con trong một góc phố. -Tiếng rao của bà bán xôi sáng có cái mủng đội trên đầu. -Chao ôi, có thể là tất cả những cái đó. II.Câu ghép. 1.Tìm câu ghép. a.Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình gió vào đời sống chung quanh. b.Nhưng vì bom nổ gần, Nho bị choáng. c.Ông lão vừa nói vừa chằm chằm nhìn vào cái bộ mặt lì xì của người bà con họ bên ngoại dãn ra vì kinh ngạc mà ông lão hả hê cả lòng. d.Còn nhà họa sĩ và cô gái cũng nín bặt, vì cảnh trước mặt bỗng hiện lên đẹp một cách kì lạ. e.Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay con vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. 2.Quan hệ nghĩa giữa các vế câu ghép. Câu ở (a): quan hệ bổ sung (bình đẳng). Câu ở (b): quan hệ nguyên nhân (chính phụ) Câu ở (c): quan hệ bổ sung (bình đẳng) Câu ở (d): quan hệ nguyên nhân (chính phụ) Câu ở (e): quan hệ mục đích (chính phụ) 3.Xác định quan hệ nghĩa giữa các vế trong câu ghép cho sẵn. Ở (a): quan hệ tương phản. Ở (b): quan hệ bổ sung. Ở (c): quan hệ điều kiên – giả thiết. 4.Tạo câu ghép có kiểu quan hệ mới trên cơ sở các câu cho sẵn. Vì quả bom tung lên và nổ trên không, nên hầm của ho bị sập => tương phản. Quả bom tung lên và nổ trên không. Hầm của Nho bị sập <= Nếu quả bom tung lên và nổ trên không thì hầm của Nho bị sập => Nhượng bộ. Quả bom nổ khá gần, nhưng hầm của Nho không bị sập => Nguyên nhân. Quả bom nổ khá gần. Hầm của Nho không bị sập <= Hầm của Nho không bị sập, tuy quả bom nổ khá gần => điều kiện. III.Biến đổi câu 1.Câu rút gọn -Quen rồi. -Ngày nào ít: ba lần. 2.Câu là bộ phận của câu khác được tách ra: a.Và là việc có khi suốt đêm. b.Thường xuyên c.Một dấu hiểu chẳng lành. 3.Tạo câu bị động từ các câu cho sẵn: a.Đồ gốm được người thợ thủ công làm ra khá sớm. b.Một cây cầu lớn sẽ được tỉnh ta bắc qua tại khúc sông này. c.Những ngôi đền ấy đã được người ta dựng lên từ hàng trăm năm trước. IV.Các kiểu câu ứng với những mục đích giao tiếp khác nhau. 1.Câu nghi vấn: -Ba con, sao con không nhận? (Dùng để hỏi) -Sao con biết là không phải? (Dùng để hỏi) 2.Câu cầu khiến. Ở (a): -Ở nhà trông em nhá! (Dùng để ra lệnh) -Đừng có đi đâu đấy. (Dung để ra lệnh) Ở (b): -Thì má cứ kêu đi. (Dùng để yêu cầu). -Vô ăn cơm! (Dùng để yêu cầu) Chú ý: Câu ‘’’Cơm chín rồi!’’ là câu trần thuật được dùng gián tiếp làm câu cầu khiến. 3.Câu nói của anh Sáu có hình thức câu nghi vấn. Nó được dùng để bộc lộ cảm xúc, điều này được xác nhận trong câu trên đó của tác giả. ’’Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên’’.
Soạn bài tổng kết về ngữ pháp tiếp theo lớp 9
1,060
Soạn bài tổng kết về ngữ pháp tiếp theo Hướng dẫn A. YÊU CẦU -Ôn lại kiến thức về thành phần câu (thành phần chính, thành phần phụ, thành phần biệt lập), các kiểu câu (câu đơn, câu ghép, biến đổi câu, các kiểu câu theo mụn đích giao tiếp). -Giải được các bài tập trong SGK. B. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP THÀNH PHẦN CÂU THÀNH PHẦN CHÍNH VÀ THÀNH PHẦN PHỤ Bài tập 1. Kổ tên các thành phần chính, thành phần phụ của câu; nêu dấu hiệu nhận biết từng thành phần. Gợi ý -Chủ ngữ: thường đứng trước vị ngữ trong câu, nêu chủ thể nói đến trong câu. Trả lời câu hỏi: Ai?, Cái gì?, Con gì? -Vị ngữ: thường đứng sau chủ ngữ, nêu đặc trưng của chủ thể nói ở chủ ngữ. Trả lời câu hỏi: Thế nào?, Là gì?, Làm sao?, Làm gì? -Trạng ngữ: thường đứng ở đầu câu, cuối hoặc đứng giữa chủ ngữ và vị ngữ; nêu các hoàn cảnh không gian, thời gian, cách thức, phương tiện, nguyên nhân, mục đích của sự việc được nói đến trong câu. -Khởi ngữ: thường đứng trước chủ ngữ, nêu lên đề tài của câu nói, có thể thêm quan hệ từ về, đối với vào trước. Bài tập 2. Hãy phân tích thành phần của các câu sau đây: a)Đôi càng tôi mẫm bóng. (Tô Hoài, Dê Mèn phiêu lưu kí) b)Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. (Thanh Tịnh, Tôi đi học) c)Còn tấm gương bằng thuỷ tinh tráng bạc nó vẫn là người bạn trung thực, chân thành, thẳng thắn, không hề nói dối, cùng không bao giờ biết nịnh hót hay độc ác… (Băng Sơn, u tôi) Gợi ý a)Đôi càng tôi: chủ ngữ, mẫm bóng: vị ngừ. b)Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi: trạng ngữ; mấy người học trồ cũ: chủ ngữ; đến sắp hùng dưới hiên: vị ngữ; đi vào lớp: vị ngữ. c)(Còn) tấm gương bằng thuỷ tinh tráng bạc: khởi ngữ; nó: chủ ngữ, vẫn lù người bạn trung thực, chân thcinh, thảng thắn, không hề nói dối, cùng không bao giờ biết nịnh hót hay độc ác…: vị ngữ. THÀNH PHẦN BIỆT LẬP Bài tập 1. Kể tên và nêu dâu hiệu nhận biết các thành phần biệt lập của câu. Gợi ý -Thành phần tình thái được dùng để thể hiện cách nhìn của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu. -Thành phần cảm thán được dùng để bộc lộ tâm lí của người nói (vui, buồn, mừng, giận,…). -Thành phần gọi – đáp được dùng để tạo lập hoặc để duy trì quan hệ giao tiếp. -Thành phần phụ chú được dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu. Dấu hiệu để nhận biết các thành phần biệt lập: chúng không trực tiếp tham gia vào sự việc được nói đến trong câu. Bài tập 2. Hãy cho biết mỗi từ ngữ in đậm trong các đoạn trích dưới đây là thành phần gì của câu (Xem các câu a, b, c, d, c trong SGK tập 2, tr. 145, 146). Gợi ý a)Có lẽ: tình thái. b)Ngẫm ra: tình thái. c)Dừa xiêm thấp lè tè, quả tròn, nước ngọt, dừa nếp lơ lửng giữa trời, qua vùng xanh mơn mởn,, dừa lửa lá đỏ, vỏ hồng: phụ chú. d)- Bẩm: phần gọi – đáp. – Có khi: tình thái. e)ơi: phần gọi – đáp. CÁC KIỂU CÂU ĐƠN CÂU ĐƠN Bài tập 1. Tìm chủ ngừ, vị ngữ trong các câu đơn sau (Xem các câu a, b, c, d, e trong SGK tập 2, tr. 146, 147). Gợi ý a)Chủ ngữ và vị ngữ trong câu: -nghệ sĩ: chủ ngữ. -ghi lại cái đã có rồi: vị ngữ. -muốn nói một điều gì mới mè: vị ngữ. b)Chủ ngữ và vị ngữ trong câu: -lời gửi… cho nhân loại: chủ ngữ. -phức tạp hơn, càng phong phú và sâu sắc hơn: vị ngữ. c)Chủ ngữ và vị ngữ trong câu: -nghệ thuật: chủ ngữ. -là tiếng nói của tình cảm: vị ngữ. d)Chủ ngữ và vị ngữ trong câu: -tác phẩm: chủ ngữ. -là kết tinh… sáng tác: vị ngữ. -là sợi dây… trong lòng: vị ngữ. e)Chủ ngữ và vị ngữ trong câu: -anh: chủ ngữ. -thứ sáu và cũng tên Sáu: vị ngữ. Bài tập 2. Trong những đoạn trích sau đây, câu nào là câu đặc biệt? (Xem các câu a, b, c trong SGK tập 2, tr. 147). Gợi ý Câu đặc biệt: a)- Có tiếng nói léo xéo à gian trên. – Tiếng mụ chủ… b)Một anh thanh niên hai mươi bảy tuổi! c)- Những ngọn điện trên quảng trường lung linh như những ngôi sao trong câu chuyện cổ tích nói về những xứ sở thần tiên. -Hoa trong công viên. -Những quả bóng sút vô tội vạ của bọn trẻ con trong một góc phố. -Tiếng rao của bà bán xôi sáng có cái mủng đội trên đầu… -Chao ôi, có thể là tất cả những cái đó. CÂU GHÉP Bài tập 1. Hãy tìm câu ghép trong các đoạn trích sau đây (Xem các câu a, b, c, d, e trong SGK tập 2, tr. 147, 148). Gợi ý a)Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh. b)Nhưng vì bom nổ gần, Nho bị choáng. c)Ông lão vừa nói vừa chăm chắm nhìn vào cái bộ mặt lì xì của người bà con họ bên ngoại dãn ra vì kinh ngạc ấy mà ông lão hả hê cả lòng. d)Còn nhà hoạ sĩ và cô gái cũng nín bặt, vì cảnh trước mặt bỗng hiện lên đẹp một cách kì lạ. e)Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Bài tập 2. Chỉ ra các kiểu quan hệ về nghĩa giữa các vế trong những câu ghép tìm được ở bài tập 1. Câu (a): quan hệ bổ sung. Câu (b): quan hệ nguyên nhân. Câu (c): quan hệ bổ sung. Câu (d): quan hệ nguyên nhân. Câu (e): quan hệ mục đích. Bài tập 3. Quan hệ về nghĩa giữa các vế trong những câu ghép sau đây là quan hệ gì? (Xem các câu a, b, c trong SGK tập 2, tr. 148). Gợi ý a)Quan hệ tương phản. b)Quan hệ bổ sung. c)Quan hệ điều kiện – giả thiết. Bài tập 4. Từ mỗi cặp câu đơn sau đây, hãy tạo ra những câu ghép chỉ các kiểu quan hệ nguyên nhân, điều kiện, tương phản, nhượng bộ (theo chỉ dẫn) bằng quan hệ từ thích hợp. -Quả bom tung lên và nổ trên không. Hầm của Nho bị sập. (Nguyên nhân – Điều kiện) -Quả bom nổ khá gần. Hầm của Nho không bị sập. (Tương phản – Nhượng bộ) Gợi ý -Vì quả bom nổ tung và […] nên hầm cua Nho bị sập. -Qur bom tung lên và nổ trên không. Hầm của Nho bị sập. -Nếu qua bom nổ tung và […] thì hầm của Nho bị sập. -Quà bom nổ khá gần nhưng hầm của Nho không bị sập. -Quả bom nổ khá gần. Hầm của Nho không bị sập. -Hầm của Nho không bị sập tuy quả bom nổ khá gần. BIẾN ĐỔI CÂU Bài tập 1. Tìm câu rút gọn trong đoạn trích sau: Dường như vật duy nhất vãn bình tĩnh, phớt lờ mọi biến động chung là chiếc kim đồng hồ. Nó chạy, sinh động và nhẹ nhàng, đè lên những con số vĩnh cửu. Còn đằng kia, lửa đang chui bên trong cái dây mìn, chui vào ruột quả bom… Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần. (Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi) Câu rút gọn: -Quen rồi. -Ngày nào ít: ba lần. Bài tập 2. Trong các đoạn trích sau đây (trích lừ truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê), những câu nào vốn là bộ phận của câu đứng ưước được tách ra? Theo em, tác giả tách câu như vậy để làm gì? a)Đơn vị thường ra đường vào lúc mặt trời lặn. Và làm việc có khi suốt đêm. b)Thế là tối lại ra đường luôn. Thường xuyên. c)Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành. Gợi ý -Câu được tách: a)Và làm việc có khi suốt đêm. b)Thường xuyên. c)Một dấu hiệu chẳng lành. -Mục đích tách: nhấn mạnh nội dung được tách ra. Bài tập 3. Hãy biến đổi các câu sau đây thành câu bị động. a)Người thợ thủ công Việt Nam làm ra đồ gốm khá sớm. b)Tại khúc sông này tỉnh ta sẽ bắc một cây cầu lớn. c)Người ta dã dựng lên những ngôi đền ấy từ hàng trăm năm trước. Gợi ý a)Đồ gốm được người thợ thủ công Việt Nam làm ra khá sớm. b)Một cây cầu lớn sẽ được tỉnh ta bắc qua tại khúc sông này. c)Những ngôi đền ấy đã được người ta dựng lên từ hàng trăm năm trước.
Soạn bài tổng kết về ngữ pháp tiếp theo
1,458
Soạn bài tổng kết về ngữ pháp Hướng dẫn A.Từ loại. I.Danh từ, động từ, tính từ. Câu 1. -Danh từ ; lần, lăng, làng. -Động từ: đọc, nghĩ ngợi, phục dịch, đập. -Tính từ: hay, đột ngột, phải, sung sướng. Câu 2. (c) hay (a) cái (lăng) (c) đột ngột. (b) đọc (b) phục dịch (a) ông (giáo) (a) lần (a) làng (c) phải (b) nghĩ ngợi (b) đập (c) sung sướng Từ nào đứng sau (a) được là danh từ (hoặc loại từ) Từ nào đứng sau (b) được là động từ Từ nào đứng sau (c) được là tính từ. Câu 3. Danh từ có thể đứng sau những, các, một. Động từ có thể đứng sau hãy, đã, vừa. Tính từ có thể đứng sau rất, hơi, quá. Câu 4. Từ các kết quả trên, các em hãy thực hiện việc điền từ vào các cột của bảng. Câu 5. a.Tròn là tính từ, ở đây nó được dùng như động từ. b.Lí tưởng là danh từ, ở đây nó được dùng như tính từ. c.Băn khoăn là tính từ, ở đây nó được dùng như danh từ. II.Các từ loại khác. Câu 1. Số từ, Đại từ, Lượng từ, Chỉ từ, Phó từ, Quan hệ tư, Trợ từ, Tình thái từ, Thán từ. -Ba – tôi – nhưng – ấy – đã – ở – chỉ – hả – trời ơi -Năm – bao nhiêu – đâu – mới – của – cả -Bao giờ – đã – nhưng – ngay -Bấy giờ – đang – như – chỉ Câu 2. Từ chuyên dùng ở cuối câu để tạo câu nghi vấn là à, ư, hử, hở, hả… Chúng thuộc loại tình thái từ. B.Cụm từ. Câu 1. a.ảnh hưởng, nhân cách, lối sống là thành tố chính của cụm danh từ. Các dấu hiệu là những lượng từ đứng trước: những, một, một. b.ngày (khởi nghĩa). Dấu hiệu là những. c.tiếng (cười nói). Dấu hiệu là có thể thêm những vào trước. Câu 2. a.Đến, chạy, ôm. Dấu hiệu là đã, sẽ, sẽ. b.Lên (cải chính). Dấu hiệu và vừa. Câu 3. a.Việt Nam, bình dị, Việt Nam, phương Đông. Dấu hiệu là rất. Ở đây các từ Việt Nam, phương Đông được dùng làm tính từ. b.Êm ả. Dấu hiệu là có thể thêm rất vào phía trước. c.Phức tạp, phong phú, sâu sắc. Dấu hiệu là có thể thêm rất vào phía trước.
Soạn bài tổng kết về ngữ pháp
369
Soạn bài tổng kết về từ vựng (luyện tập tổng hợp) Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Ôn lại những kiến thức về từ vựng đã học. -Vận dụng thực hiện các bài tập trong sách giáo khoa. B.GỢl Ý TRẢ LỜI CẤU HỎI, BÀI TẬP Bài tập 1. So sánh hai dị bản của câu ca dao (SGK): Cho biết trong trường hợp này, gật đầu hay gật gù thể hiện thích hợp hơn ý nghĩa cần biểu đạt. Vì sao? Gợi ý Gật gù là “gật nhẹ và nhiều lần, biểu thị thái độ đồng tình, tán thưởng”; còn gật đầu là “động tác cúi đầu xuống rồi ngẩng lên, thường để chào hỏi hay thể hiện sự đồng ý”. Như vậy, gật gù là từ tượng hình, mang tính biểu cảm hơn từ gât đầu. Dị bản sau của câu ca dao không chỉ thể hiện rõ sự đồng tình, tán thưởng của hai người về món ăn mà còn nói lên được sự hoà hợp của tình nghĩa vợ chồng. Bài tập 2. Nhận xét cách hiểu nghĩa từ ngữ của ngươi vợ trong truyện cười sau dây (SGK, tr. 158): Gợi ý Từ “chân” trong truyộn trôn được người chồng dùng theo cách hoán dụ: "chí có một chân sút” nghĩa là chỉ có một cầu thủ giỏi ghi bàn. Ngươi vự dã hiểu từ “chân” theo nghĩa gốc: ngươi ta có hai chân, cầu thủ "chỉ có một chân” thì không thể chơi bóng được. Như vậy, người vợ đã hiểu sai lời nói của ngươi chồng. Bài tập 3. Đọc đoạn thơ sau (trong bài thư Đồng chí của Chính Hữu) và trả lời câu hỏi (SGK, tr. 158). Gợi ý Các từ miệng (trong Miệng cười buốt giá), chân (trong Chân không giày), tay (trong Thương nhau tay nắm lấy bàn tay) được dùng theo nghĩa gốc. Các từ vui (trong Áo anh rách vui), dầu (trong Đầu súng trăng treo) dùng theo nghĩa chuyển. Nghĩa chuyển của từ vui được dùng theo phương thức hoán dụ (vai ngươi -» vai áo), nghĩa chuyển của từ đầu dược dùng theo phương thức ẩn dụ (đầu người -ý đầu súng, lấy nét nghĩa “phần phía trên”). Bài tập 4. Vận dụng kiến thức đã học về trường từ vựng để phân tích cái hay trong cách dùng từ ở bài thơ sau (Vũ Quần Phương, Áo đỏ – SGK, tr. 159): Gợi ý Các từ (áo) đồ, (cây) xanh, (ánh) hồng, lửa, cháy, tro trong một trường từ vựng: chỉ màu sắc và sự biến đổi do sự cháy tạo nên. Cách dùng từ này diễn đạt được vẻ đẹp rực rơ, cuốn hút của cô gái và tình cảm mãnh liệt của chàng trai đối với cô. Bài tập 5. Đọc đoạn trích sau (Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam) và trả lời câu hỏi (SGK, tr. 159). Gợi ý -Các sự vật và hiện tượng trên được đặt tên theo cách dùng các từ ngữ có sẵn theo một nội dung mới dựa trên đặc điểm, tính chất của bản thân đối tượng: rạch có nhiều cây mái giầm đặt tên là rạch Mái Giầm, kênh có nhiều bọ mắt đặt tên là kênh Bọ Mắt, kênh có nhiều con ba khía đặt tên là kênh Ba Khía. -Có thể kể thêm năm sự vật, hiện tượng khác có cách đặt tên tương tự, chẳng hạn: hoa mào gà, nhân sâm, Vườn Chim, thôn Vườn Trầu, chùa Dơi. Bài tập 6. Truyện cười sau đây (SGK, tr. 159, 160) phê phán điều gì? Gợi ý Thực ra, đốc tờ (dortor) và bác sĩ chỉ là một, nhưng vì là người sính chữ nên ông ta không dùng bác sĩ vì sự gọi bác sĩ không sang bằng đốc tờ.
Soạn bài tổng kết về từ vựng (luyện tập tổng hợp)
611
Soạn bài tổng kết về từ vựng lớp 9 Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Hệ thống lại các kiến thức về: từ đơn, từ phức, lừ ghép, từ láy, thành ngữ, nghĩa của lừ, lừ nhiều nghĩa và hiện lượng nhiều nghĩa của lừ, lừ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ. -Áp dụng để thực hiện các bài lập. B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP TỪ ĐƠN VÀ TỪ PHỨC Bài tập 1. Ôn lại khái niệm từ đơn, từ phức. Phân biệt các loại từ phức. Gợi ý -Khái niệm về từ đơn, từ phức: + Từ đơn là từ chỉ gồm một tiếng. + Từ phức là từ gồm hai hay nhiều liếng. -Phân biệt các loại từ phức: Từ phức gồm có từ láy (các tiếng có quan hộ vơi nhau về âm), từ ghép (các tiếng có quan hộ vơi nhau về nghĩa). Bài tập 2. Trong những từ sau, từ nào là từ ghép, từ nào là từ láy? ngặt nghèo, nho nhỏ, giam giữ, gật gù, bó buộc, tươi tốt. lạnh lùng, bọt bèo, đưa đón, nhường nhịn, rơi rụng, mong muốn. Gợi ý -Từ ghép: ngạt nghèo, giam giữ, bó buộc, tươi tốt, bọt bèo, cồ cây, dưa dón, nhường nhịn, rơi rụng, mong muốn. (Các từ này rất dỗ bị nhầm vơi từ láy. Tuy nhiên, sự giống nhau về âm thanh chỉ là ngẫu nhiên, mỗi tiếng trong các lừ này đều có nghĩa. Quan hệ chủ yếu giữa các tiếng vẫn là quan hệ vô nghĩa.) -Từ láy: lấp lánh, nho nhỏ, gật gù, lạnh lùng, xa xôi. Bài tập 3. Trong các từ láy sau dây, lừ láy nào có sự “giảm nghĩa” và từ láy nào có sự “tăng nghĩa” so vơi nghĩa của yếu tố gốc? trăng trắng, sạch sành sanh, đèm đẹp, sút sàn sạt, nho nhỏ, lành lạnh, nhấp nhô, xôm xốp. Gợi ý Các lừ láy “giảm nghĩa” so với nghĩa của yếu tố gốc là: trăng trắng, đèm đẹp, nho nhỏ, lành lạnh, nhấp nhô, xôm xốp. Các từ sạch sành sanh, sát sàn sạt là từ láy “tăng nghĩa” so với nghĩa của yếu tố gốc. THÀNH NGỮ Bài tập 1. Ôn lại khái niệm thành ngữ. Gợi ý Thành ngữ là tập hợp từ cố định, quen dùng, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh. Nghĩa của thành ngừ thường mang nghĩa bỏng chứ không phải nghĩa cộng của các yếu tố tạo ra. Bài tập 2. Trong những tổ hợp từ sau đây, tổ hợp nào là thành ngữ, tổ hợp nào là tục ngữ? a)gần mực thì đen, gần đèn thì sáng b)đánh trống bỏ dùi c)chó treo mèo đậy d)được voi đòi tiên e)nước mắt cá sấu Giải thích nghĩa của mỗi thành ngữ, tục ngữ đó. Gợi ý -Các thành ngữ: đánh trống bỏ dùi, được voi đòi tiên, nước mắt cá sấu. Các tục ngữ: Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng; Chó treo mèo dậy. -Giải thích nghĩa: + Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng: Gần kẻ xấu bị ảnh hưởng, tiêm nhiễm cái xấu, gần người tốt thì học hỏi, tiếp thu được cái tốt, cái hay mà tiến bộ hơn. + Đánh trống bỏ dùi: Làm việc không đến nơi đến chốn, bỏ dở giữa chừng, thiếu trách nhiệm. + Chó treo mèo đậy: Nghĩa đen: Cách cất thức ăn không cho chó mèo ăn vụng. Nghĩa bóng: Có của phải biết cách giữ gìn, bảo vệ. + Được voi đòi tiên: Quá tham lam, được cái này lại muôn có cái khác, không chịu thỏa mãn. + Nước mắt cú sấu: Khóc lóc giả dối, vờ vịt xót thương nhưng lại chính là kẻ đã gây nôn đau khổ cho người ta. Bài tập 3. Tìm hai thành ngữ có yếu tố chỉ động vật và hai thành ngữ có yêu tố chỉ thực vật. Giải thích ý nghĩa và đặt câu với mỗi thành ngữ tìm được. Gợi ý Chẳng hạn em tìm các thành ngữ sau. -Thành ngữ có yếu tố chỉ động vật: + Chó cùng dứt giậu: Bị dồn vào đương cùng, bí thế thì phải liều lĩnh để thoát thân. + Chim sổ lồng, gà sổ chuồng, vui sướng vì được tự do, thoát khỏi vòng tù túng. -Thành ngừ có yếu tố chỉ thực vật: + Dây cà ra dây muống: tả cách nói, cách viết từ cái này kéo sang cái kia một cách lan man, dài dòng. + Cây cao bóng cả: người có thế lực, có uy tín lớn, có khả năng che chở, giúp đỡ người khác. Em tự đặt câu với mỗi thành ngữ tìm được. Bài tập 4. Tìm hai dẫn chứng về việc sử dụng thành ngữ trong văn chương. Gợi ý Trong văn chương, người viết rất hay sử dụng thành ngữ, vì đó là cách nói giàu hình ảnh, nhịp điệu mà lại kiệm lời. Em có thể tìm được các dẫn chứng trong các tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, Truyện Lục Vân Tiên của Nguyền Đình Chiểu, thơ của Hồ Xuân Hương,… Chẳng hạn: Người nách thước kẻ tay đao, Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Nay đà rò đăng nguồn cơn Nào ai tính thiệt so hơn làm gì. (Nguyễn Đình Chiểu, Truyện Lục Vần Tiên) NGHĨA CỦA TỪ Bài tập 1. Ôn lại khái niệm nghĩa của từ. Gợi ý Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ,…) mà từ biểu thị. Bài tập 2. Chọn cách hiểu đúng trong những cách hiểu sau: a)Nghĩa của từ mẹ là “người phụ nữ, có con, nói ưong quan hệ với con”. b)Nghĩa của từ mẹ khác với nghĩa của từ bố à phần nghĩa “người phụ nữ, có con”. c)Nghĩa của từ mẹ không thay đổi trong hai câu: Mẹ em rất hiền và Thất bụi lù mẹ thành công d)Nghĩa của từ mẹ không có phần nào chung với nghĩa của từ bà Gợi ý Cách giải nghĩa của (a) là đúng. Bài tập 3. Cách giải thích nào trong hai cách giải thích sau là đúng? Vì sao? Độ lượng là: a)đức tính rộng lượng, dễ thông cảm với người có sai lầm và dỗ tha thứ. b)rộng lượng, dễ thông cảm với người có sai lầm và dỗ tha thứ. Gợi ý Cách giải nghĩa ở (b) là đúng vì nguyên tắc giải thích nghĩa từ là: từ loại của vế giải thích và vế dược giải thích phải đồng nhất. Dùng các tính từ (rộng lượng), ngữ tính từ (dễ thu thứ) để giải thích tính từ độ lượng là đúng nguyên tắc này. Còn cách giải thích ở (a) dùng ngữ danh từ (đức tính rộng lượng) để giải thích cho tính từ độ lượng là sai nguyên tắc. TỪ NHIỀU NGHĨA VÀ HIỆN TƯỢNG CHUYẾN NGHĨA CỦA TỪ Bài tập 1. Ôn lại khái niệm lừ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ. Gợi ý Từ có thể có nhiều nghĩa do hiện tượng chuyển nghĩa tạo ra. Trong từ nhiều nghĩa có: -Nghĩa gốc: nghĩa xuất hiện ban đầu, làm cơ sở dể hình thành cho các nghĩa khác. -Nghĩa chuyển: nghĩa được tạo thành trên cơ sở nghĩa gốc. Bài tập 2. Trong hai câu thơ sau, từ hoa trong thềm hoa, lệ hoa dược dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Có thể coi đây là hiện tượng chuyển nghĩa làm xuất hiện từ nhiều nghĩa được không? Vì sao? Nỗi mình thêm tức nồi nhà, Thềm hoa một bước lệ hoa tnấy hùng! (Nguyền Du, Truyện Kiều) Gợi ý Từ hoa được dùng theo nghĩa chuyển. Tuy nhiên, không thể coi đây là hiện tượng chuyển nghĩa làm xuất hiện từ nhiều nghĩa. Bởi vì nghĩa này của từ hoa chỉ xuất hiện tạm thời trong văn cảnh cụ thể trên, chưa có tính ổn định, không được dùng phổ biến như nghĩa của từ hoa trong những bông hoa rất đẹp. TỪ ĐỒNG ÂM Bài tập 1. Ôn lại khái niệm từ đồng âm. Phân biệt hiện tượng từ nhiều nghĩa với hiện tượng từ đồng âm. Gợi ý -Từ đồng âm: Những từ có hình thức âm thanh giống nhau nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau, không có liên quan dốn nhau. Từ nhiều nghĩa: Các nghĩa của từ có liên quan đốn nhau. -Phân biệt hiện tượng từ nhiều nghĩa với hiện tượng từ đồng âm: Hai từ đồng âm là hai từ có nghĩa hoàn loàn khác nhau, không có liên quan đến nhau, còn từ nhiều nghĩa chỉ là một từ. Bài tập 2. Trong hai trường hựp (a) và (b) sau đây, trường hợp nào có hiện tượng từ nhiều nghĩa, trường hợp nào có hiện tượng từ đồng âm? Vì sao? a)Từ lá, trong: Khi chiếc lá xa cành Lá không còn màu xanh Mà sao em xa anh Đời vẫn xanh rời rợi. (Hồ Ngọc Sờn, Gửi em dưới quê làng) và trong: Công viên là lá phổi của thành phố. b)Từ đường, trong: Đường ra trận mùa này đẹp lắm. (Phạm Tiến Duật, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây) và trong: Ngọt như đường. Gợi ý (a)là hiện tượng từ nhiều nghĩa (hai từ lá đầu là nghĩa gốc, từ lá thứ ba là nghĩa chuyển (lấy từ nét nghĩa “hình dẹt”). (b)là hiện tượng từ đồng âm (từ đường đầu khác nghĩa với từ đường thứ hai, giữa chúng không có môi quan hệ nào về nghĩa). TỪ ĐỒNG NGHĨA Bài tập 1. Ôn lại khái niệm từ đồng nghĩa. Gợi ý Từ đồng nghĩa là các từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau (trong một số trường hợp có thể thay thế nhau). Bài tập 2. Chọn những cách hiểu đúng trong những cách hiểu sau: a) Đồng nghĩa là hiện tượng chí có trong một số ngôn ngừ trên thế giới, b) Đồng nghĩa hao giờ cũng là quan hệ nghĩa giữa hai từ, không có quan hệ đồng nghĩa giữa ba hoặc hơn ba từ. c)Các từ đồng nghĩa với nhau bao giờ cùng có nghĩa hoàn toàn giống nhau. d)Các từ đồng nghĩa với nhau có thế không thay thế nhau được trong nhiều trường hợp sử dụng. Gợi ý Chọn cách hiểu (d). Từ đồng nghĩa chỉ có thể thay thế cho nhau trong một số trường hợp, còn lại không thể thay thế được vì đa số các trường hợp là đồng nghĩa không hoàn toàn. Bài tập 3. Đọc câu sau: Khi người ta đã ngoài 70 xuân thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. (Hồ Chí Minh, Di chúc) Cho biết dựa trên cơ sở nào, từ xuân có thể thay thế cho từ tuổi. Việc thay từ trong câu trên có tác dụng diễn đạt như thế nào? Gợi ý Từ xuân có thể thay thế từ tuổi ở đây vì từ xuân đã chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ, lấy bộ phận thay cho toàn thể (lấy một mùa trong năm thay cho năm, tương ứng với một tuổi).
Soạn bài tổng kết về từ vựng lớp 9
1,764
Soạn bài tổng kết về từ vựng tiếp theo (2) Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Ôn tập, hệ thống lại kiến thức, kĩ năng đã học về: sự phát triển của từ vựng, từ mượn, từ Hán Việt, thuật ngữ và biệt ngữ xã hội, trau dồi vốn từ. -Áp dụng thực hiện một số bài tập trong SGK về sử dụng từ, chữa lỗi dùng lừ. B.GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỪ VỰNG Bài tập 1. Ôn lại các cách phát triển của lừ vựng. Vận dụng kiến thức đã học để điền nội dung thích hợp vào các ô trống theo sơ đồ sau: Gợi ý Sơ đồ cách thức phát triển từ vựng: Bài tập 2. Tìm dẫn chứng minh hoạ cho những cách phát triển của từ vựng đã được nêu trong sơ đồ trên. Gợi ý Em tự tìm dẫn chứng, ví dụ: -Phát triển nghĩa của từ ngữ: ăn cơm —> ăn Tết —> (xe) ăn xăng,… -Tăng số lượng từ ngữ: + Tạo thêm từ ngừ mới: phần mềm, tiếp thị, siêu thị, quy hoạch treo, kinh tế tri thức, hội nhập kinh tế thế giới, chuyển giao công nghệ, rừng phòng hộ, trực tuyến,… + Mượn từ ngừ nước ngoài: cà phê, dân quyền, cộng hoà, xà phòng, a-xít, ra- đi-ô, ti-vi, ỉn-tơ-nét, phân, cô ta, AIDS,… Bài tập 3. Có thể có ngôn ngừ mà từ vựng chỉ phát triển theo cách phát triển số lượng từ ngữ hay không? Vì sao? Gợi ý Không thể có ngôn ngữ nào trên thế giới mà từ vựng chỉ phát triển theo cách phát triển số lượng. Vì nếu phát triển từ vựng chỉ theo hướng đỏ thì số lượng từ ngữ sẽ rất lớn. Con người sẽ không nhớ hết và khi sử dụng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. TỪ MƯỢN Bài tập 1. Ôn lại khái niệm từ mượn. Gợi ý Từ mượn là từ có nguồn gốc từ các ngôn ngừ nước ngoài. Bài tập 2. Chọn nhận định đúng trong nhừng nhận định sau: a)Chỉ một số ít ngôn ngữ trên thế giới phải vay mượn từ ngữ. b)Tiêng Việt vay mượn nhiều từ ngữ của các ngôn ngừ khác là do ép buộc của nước ngoài. c)Tiếng Việt vay mượn nhiều từ ngữ của các ngôn ngữ khác là để đáp ứng nhu cầu giao tiếp của người Việt. d)Ngày nay, vốn từ tiêng Việt rất dồi dào và phong phú, vì vậy không cần vay mưựn lừ ngừ tiếng nước ngoài nữa. Gợi ý Nhận định (c) là đúng. Sự vay mượn là quy luật phổ biến của tất cả ngôn ngữ trên thế giới nhằm làm giàu thêm vốn từ và đáp ứng nhu cầu giao tiếp của người bản ngữ. Tiếng Việt vay mượn nhiều ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp, đặc biệt là tiếng Hán. Bài tập 3*. Theo cảm nhận của em thì nhừng từ mượn như săm, lốp, (bếp) ga, xăng, phanh,… có gì khác so với những lừ mượn như: a-xít, ra-đi- ô, vi-ta-min,…! Gợi ý Có những từ tiếng Việt vốn là vay mượn nhưng nay đã Việt hoá hoàn toàn. Việt hoá ở hình thức âm thanh, về nghĩa và về cách dùng. Ví dụ, các từ săm, (bếp) ga, lốp,… là từ mượn nhưng đã được Việt hoá cao độ (chỉ còn một âm tiết), nó gần như đồng hoá vào vốn từ thuần Việt, còn các từ a- xít, ra-đi-ô, vi – ta-min,… còn khá rõ nguồn gốc ngoại lai ở hình thức âm thanh. TỪ HÁN YIỆT Bài tập 1. Ôn lại từ Hán Việt. Gợi ý Từ Hán Việt là từ có nguồn gốc liếng Hán (Trung Quốc) đã được người Việt sử dụng theo cách của mình. Bài tập 2. Chọn quan niệm đúng trong những quan niệm sau đây: a)Từ Hán Việt chiếm một tỉ lệ không đáng kể trong vốn từ tiống Việt. b)Từ Hán Việt là bộ phận quan trọng của lớp từ mượn gốc Hán. c)Từ Hán Việt không phải là một bộ phận của vốn từ tiếng Việt. d)Dùng nhiều từ Hán Việt là việc làm cần phê phán. Gợi ý Cách hiểu (b) là đúng. Từ Hán Việt là những từ được chúng ta mượn khoảng sau thố kỉ VIII. Quá trình vay mượn diễn ra rất ỉâu dài. Từ Hán Việt là bộ phận quan trọng vì nó có số lượng lớn và được dùng trong các văn bản khoa học, văn chương, chính luận, hành chính. Tuy nhiên, tuỳ trường hợp, tuỳ hoàn cảnh để chúng ta dùng từ Hán Việt, không nên lạm dụng. THUẬT NGỮ VÀ BIỆT NGỮ XÃ HỘI Bài tập 1. Ôn lại khái niệm thuật ngữ và biệt ngữ xã hội. Gợi ý -Thuật ngữ: Những từ ngữ biểu thị khái niệm khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội), công nghệ (kĩ thuật), thường dùng trong văn bản khoa học, công nghệ. -Biệt ngữ: Những từ chỉ dùng trong một nhóm người nhất định. Bài tập 2. Thảo luận về vai trò của thuật ngữ trong đời sống hiện nay. Gợi ý Chúng ta đang sống trong thời kì mà khoa học và công nghệ phát triển hết sức mạnh mẽ. Sự phát triển của khoa học, công nghẹ có ảnh hưởng lớn đến đời sống con người. Thuật ngữ về khoa học, công nghệ cũng vì thế mà tăng lên trong kho từ ngữ tiếng Việt. Chúng ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đât nước. Thuật ngữ ngày càng có vai trò to lớn là phản ánh khái niệm khoa học, công nghệ, vì vậy nêu không có ihuậl ngữ thì không thể nghiên cứu, học tập để xây dựng một nền khoa học và công nghệ hiện đại. Bài tập 3. Liệt kô một số từ ngữ là biệt ngữ xã hội. Gợi ý Em có thể kể một số từ ngữ thuộc loại này. Chẳng hạn: trong giáo dục: ngỗng (2 điểm), phao (tài liệu dùng dể quay cóp khi đi thi), cháy giáo án (hết giờ mà dạy chưa hết giáo án), học tủ (chỉ học phần bài học mà người học dự đoán là trong đề thi, đề kiểm tra sẽ hỏi),…
Soạn bài tổng kết về từ vựng tiếp theo (2)
1,006
Soạn bài tổng kết về từ vựng tiếp theo (3) Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Ôn tập, hệ thống lại kiến thức về từ tượng thanh và từ tượng hình, một số phép tu từ từ vựng như: so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ, nói quá, nói giảm, nói tránh, điệp ngữ, chơi chữ. -Vận dụng làm các bài tập trong sách giáo khoa. B.GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP TỪ TƯỢNG THANH VÀ TỪ TƯỢNG HÌNH Bài tập 1. Ôn lại khái niệm lừ tượng thanh và từ tượng hình. Gợi ý -Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh của sự vật. -Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật. Bài tập 2. Tìm nhừng tên loài vật là từ tượng thanh. Gợi ý Một số tên loài vật là từ tượng thanh: tắc kè, (chim) chích, (chim) cu, (chim) cuốc, bìm bịp, mèo,… Bài tập 3. Xác dịnh từ tượng hình và giá trị sử dụng của chúng trong đoạn ưích sau: Đám mây lốm đốm, xúm như đuôi con sóc nối nhau bay quấn sát ngọn cây, lê thê đi mãi, bây giờ cứ loáng thoáng nhạt dần, thỉnh thoang đứt quãng, đã lồ lộ đằng xa một bức vách trắng toát. (Tô Hoài) Gợi ý Các từ tượng hình: lốm đốm, lê thê, loáng thoáng, lồ lộ tả trạng thái của đám mây. Việc sử dụng các từ tượng hình giúp cho việc miêu tả đám mây cụ thể, sinh động hơn. MỘT SỐ PHÉP TU TỪ TỪ VỰNG Bai tập 1. Ôn lại các khái niệm: so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ, nói quá, nói giảm, nói tránh, điệp ngữ, chơi chữ. Gợi ý Các khái niệm của một số phép tu từ từ vựng: -So sánh: đối chiếu sự vật, sự việc này vđi sự vật, sự việc khác có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm. -Ân dụ: gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm. -Hoán dụ: gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gùi với nó nhằm lãng sức gợi hình, gợi cảm. -Nhân hoá: gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật,… bằng từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả người làm cho con vật, cây cối, đồ vật,… trở nên gần gũi. -Nói quá: nói quá mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng nhằm nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. -Nói giảm, nói tránh: là cách nói giảm mức độ, quy mô, tính chất của sự vật hoặc tránh gọi tên sự vật theo cách thông thường nhằm bớt đi cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nỏ, tránh thô bạo, thiếu tế nhị,… -Điệp ngữ: là lặp lại lừ ngữ, câu để làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh. -Chơi chữ: lợi dụng đặc sắc về âm, nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước, thú vị. Bài tập 2. Vận dụng kiến thức đă học vồ một số phép tu từ từ vựng để phân tích nét nghệ thuật độc đáo của những câu thơ sau (trích từ Truyện Kiều của Nguyễn Du): a)Thà rằng liều một thân con, Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây. b)Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoang ngoài, Tiếng mau sầm sập như trời đố mưa. c)Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai. d)Gác kinh viện sách đôi nơi, Trong gang tấc lại gấp mười quan san. e)Có tài mù cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Gợi ý a)Phép ẩn dụ: hoa, cánh dùng để chỉ Thuý Kiều; lá, cây dùng để chỉ gia đinh của nàng. Đây là câu Thuý Kiều khuyên giải cha khi cha nàng toan lự vẫn. Ý nàng: thà hi sinh mình hơn là mất cha. b)Phép so sánh: Tiếng đàn của Thuý Kiều sánh với âm thanh của thiên nhiên (xưa coi thiên nhiên là chuẩn của cái dẹp). c)Phép nói quá: Tài sắc Thuý Kiều đến thiên nhiên cùng khó sánh kịp, khiến cho thiên nhiên phải ghen tức. d)Phép nói quá: Gác kinh (nơi Kiều bị giam lỏng) rất gần viện sách (nơi Thúc Sinh đọc sách) nhưng vì cùng sợ Hoạn Thư nên hai người không dám gần nhau, vì thế mà trở nên xa cách như cách sông, cách núi. e)Phép chơi chữ: Lợi dụng sự gần âm “tài” (tài hoa), và “tai” (tai hoạ). Bài tập 3. Vận dụng kiến thức đà học về một số phép tu từ từ vựng để phân tích nét nghệ thuật độc đáo trong những câu (đoạn) sau: Còn trời còn nước còn non, Còn cô bán rượu anh còn say sưa. (Ca dao) Gươm mài đá, đá núi cũng mòn, Voi uống nước, nước sông phải cạn. (Nguyễn Trãi, Bình Ngô đụi cáo) Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Canh khuya như vẽ người chưa ngu, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. (Hồ Chí Minh, Cảnh khuya) Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. (Hồ Chí Minh, Ngắm trăng) Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi, Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng. (Nguyễn Khoa Điềm, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ) Gợi ý a)Phép điệp ngừ (từ còn) kết hựp chơi chữ (sự đa nghĩa của từ say sưa). b)Phép nói quá dien đạt sự lớn mạnh của nghĩa quân Lam Sơn. c)Phép so sánh: so sánh tiếng suối trong (trong trẻo) với tiếng hát xa. d)Phép nhân hoá làm cho trăng trở nên gần gũi, chia sẻ nỗi niềm với nhà thơ. e)Phép ẩn dụ: từ mật trời (trong câu thứ hai) chỉ cm bé. Em bé như là nguồn sống, niềm hi vọng của người mẹ.
Soạn bài tổng kết về từ vựng tiếp theo (3)
978
Soạn bài tổng kết về từ vựng tiếp theo (tiết 2) Hướng dẫn I.Sự phát triển của từ vựng. Câu 1. Ôn lại các cách phát triển của từ vựng. Vận dụng kiến thức đã học để điền nội dung thích hợp vào các ô trống theo sơ đồ sau đây: Câu 2. Tìm dẫn chứng minh họa cho những cách phát triển của từ vựng đã nêu trong sơ đồ trên. -Phát triển nghĩa: + Tay (một bộ phận của cơ thể con người). Nghĩa phát triển: chân tay phục dịch, một tay anh chị có hạng, một tay súng cừ khôi. + Ngon: dùng để chỉ thức ăn. Nghĩa phát triển: xe chạy ngon, chỗ ngồi ngon, dáng người hơi bị ngon. + Phát triển số lượng từ: Tạo từ mới: chát, sách đen, sách đỏ, dáng người hơi bị ngon. Vay mượn tiếng nước ngoài: in-tơ-nét, e-mai, ra-đi-ô, a-xit. Câu 3. Có thể có ngôn ngữ mà từ vựng chỉ phát triển theo cách phát triển số lượng từ ngữ hay không? Vì sao? Không thể có một ngôn ngữ mà từ vựng chỉ phát triển theo cách phát triển số lượng vì bất cứ từ nào cũng phải chứa đựng một nghĩa nhất định nào đó và khi tăng số lượng từ tất yếu sẽ tăng số lượng nghĩa. II.Từ mượn. Câu 1. Ôn lại khái niệm từ mượn. Từ mượn là từ có nguồn gốc từ ngôn ngữ tiếng nước ngoài. Câu 2. Chọn nhận định đúng trong những nhận định sau. Câu (c) là câu nhận định đúng. Vay mượn là hiện tượng phổ biến ở tất cả các ngôn ngữ, vay mượn vừa làm giàu vốn ngôn ngữ của dân tộc, vừa để đáp ứng nhu cầu giao tiếp của người Việt. Câu 3. Những từ mượn như săm, lốp, ga, xăng, phanh là những từ mượn đã được Việt hóa. Còn những từ như a-xít, ra-đi-ô, vi-ta-min là những từ mượn theo hình thức phiên âm. III.Từ Hán Việt. Câu 1. Ôn lại khái niệm từ Hán Việt. Từ Hán Việt là từ có nguồn gốc tiếng Hán đã được người Việt sử dụng theo cách của mình. Câu 2. Chọn quan niệm đúng trong những quan niệm sau: Câu (b) là quan niệm đúng bởi vì nền văn hóa và ngôn ngữ của người Việt chịu ảnh hưởng rất lớn của ngôn ngữ Hán suốt mấy ngàn năm phong kiến, nó là bộ phận quan trọng của lớp từ mượn gốc Hán. IV.Thuật ngữ và biệt ngữ xã hội. Cau 1. Ôn lại khái niệm thuật ngữ và biệt ngữ xã hội. Thuật ngữ: là từ dùng trong một lĩnh vực khoa học, công nghệ nhất định. Biệt ngữ xã hội: những từ ngữ chỉ dùng trong một nhóm người nhất định, tầng lớp xã hội nhất định. Câu 2. Thảo luận vai trò của thuật ngữ trong đời sống hiện nay. Vai trò của thuật ngữ trong đời sống xã hội hiện nay: -Thuật ngữ phát triển là sự đánh giá sự phát triển của các lĩnh vực khoa học, sự đi lên của một đất nước. -Thuật ngữ là điều không thể thiếu khi muốn nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ. -Phải dùng đúng thuật ngữ và tránh không được lạm dụng. Câu 3. Liệt kê một số từ ngữ là biệt ngữ xã hội. -Trong nghề y: chuyên khoa ti vi, chuyên khoa moi tiền, chuyên khoa khóa lac… -Trong nghề giáo: cháy giáo án, chuồn giờ, cúp học, bác sĩ gây mê (thầy cô dạy quá buồn ngủ)… -Trong buôn bán: mấy vé, mấy xanh (đô la), cớm (công an)… V.Trau dồi vốn từ Câu 1. Ôn lại các hình thức trau dồi vốn từ -Nắm được đầy đủ, chính xác nghĩa của từ và dùng từ một cách chính xác trong từng trường hợp cụ thể. -Rèn luyện thêm những từ chưa biết để làm tăng vốn từ. Câu 2. -Bách khoa toàn thư: từ điển bách khoa, ghi đầy đủ tri thức của các ngành. -Bảo hộ mẫu dịch: chính sách bảo vệ sản xuất trong nước chống lại sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài trên thị trường nước mình. -Dự thảo: thảo ra để thông qua (động từ), bản thảo đưa ra để thông qua (danh từ). -Đại sứ quán: cơ quan đại diện chính thức và toàn diện của một nhà nước ở nước ngoài do một đại sức đặc mệnh toàn quyền đứng đầu -Hậu duệ: con cháu người đã chết. -Khẩu khí: khí phách của con người toát ra qua lời nói. -Môi sinh: môi trường sinh sống của sự vật. Câu 3. Sửa lỗi dùng từ. a. -Sai về dùng từ béo bổ, béo bổ là từ dùng để chỉ thức ăn nuôi cơ thể. -Sửa lại: dùng từ béo bở thay thế, béo bở mang lại nhiều lợi nhuận. b. -Sai về dùng từ đạm bạc – đạm bạc là sự ăn uống đơn giản, đáp ứng nhu cầu tối thiểu của cơ thể -Sửa lại: dùng từ tệ bạc thay thế – tệ bạc là hành động vô ơn không giữ trọng nghĩa tình. c. -Sai về cách dùng từ tấp nập – tấp nập là chỉ sự đông người qua lại. -Sửa lại: dùng từ tới tấp, tới tấp là liên tiếp, dồn dập.
Soạn bài tổng kết về từ vựng tiếp theo (tiết 2)
842
Soạn bài tổng kết về từ vựng tiếp theo (tiết 3) Hướng dẫn I.Từ tượng hình và từ tượng thanh Câu 1. Ôn lại khái niệm từ tượng thanh và từ tượng hình. -Từ tượng thanh: từ mô phỏng âm thanh của sự vật (ầm ầm, rì rào, lao xao, bì bạch, rầm rộ…). -Từ tượng hình: từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật (mấp mé, lè tè, xanh xao, chót vót, lênh khênh, vàng vọt…). Câu 2. Tìm những tên loài vật là từ tượng thanh. Một số tên loài vật là từ tượng thanh. -Loài vật ở rừng: tắt kè, tu hú, bìm bịp, cuốc cuốc, đa đa… -Loài vật ở biển: ba ba, thờn bơn… Câu 3. -Từ tượng hình: lốm đốm, lê thê, loáng thoáng, lồ lộ. -Tác dụng: những từ tượng hình trên đã góp phần miêu tả đám mây một cách sinh động từ màu sắc (lốm đốm) cho đến hình dáng (lê thê) rồi đến sự thay đổi màu sắc hình dáng (loáng thoáng) và cuối cùng là một sắc màu và hình dáng mới (lồ lộ, trắng toát) ở đàng xa. II.Một số phép tu từ từ vựng. Câu 1. Ôn lại các khái niệm: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hóa dụ, nói quá, nói giảm, nói tránh, điệp ngữ, chơi chữ. -So sánh: đối chiếu sự vật này với sự vật khác có nét tương đồng nhằm tăng tính chất gợi cảm (Ví dụ: Mặt xanh như tàu lá). -Ẩn dụ: gọi tên sự vật này bằng tên sự vật khác có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi cảm (Ví dụ: Thuyền về có nhớ bến chăng?). -Hoán dụ: gọi tên sự vật này bằng tên sự vật khác có mối quan hệ gần gũi với nó nhằm tăn tính gợi cảm (Ví dụ: Áo chàm đưa buổi phân li). -Nói quá: nói quá mức độ, quy mô, tính chất của sự vật nhằm phấn mạnh gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm (Ví dụ: Chỉ căm tức rằng chưa xả thịt lột da nuốt gan uống máu quân thù). -Nói giảm, nói tránh: cách diễn đạt tế nhị nhằm tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, tránh thô bạo, thiếu lịch sự (Ví dụ: Ông ấy đã đi rồi – chết). -Điệp ngữ: lặp lại từ ngữ để làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh (Ví dụ: Trời xanh đây là của chúng ta – Núi rừng đây là của chúng ta). -Chơi chữ: dùng sự đồng âm và khác nghĩa của từ để tạo ra sắc thái hài hước dí dỏm (Ví dụ: Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn). Câu 2. a. Thà răng liều một thân con, Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây. -Phép ẩn dụ: Hoa, cánh dùng để chỉ Thúy Kiều. Lá, cây: dùng để chỉ gia đình Kiều. -Tác dụng: thể hiện sự hi sinh vì gia đình của Kiều một cách cảm động sâu sắc. b. Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa. -Phép so sánh: so sánh tiếng đàn của Kiều với tiếng hạc, tiếng suối, tiếng gió, tiếng mưa. -Tác dụng: thể hiện sự đa dạng về các cung bậc và âm thanh của tiếng đàn tuyệt diệu. c. Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh. Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một tài đành họa hai. -Phép nói quá: Kiều đẹp đến mức hoa phải ghen, liễu phải hờn, làm đổ cả nước, làm nghiêng cả thành. -Tác dụng: khẳng định sắc đẹp của Kiều là không gì sánh bằng, một vẻ đẹp hiếm có. d. Gác kinh viện sách đôi nơi, Trong gang tấc lại nấp mười quan san. -Phép nói quá: gác kinh nơi nàng Kiều bị giam lỏng, viện sách nơi Thúc Sinh đọc sách là hai nơi rất gần nhau thế mà giờ đây cách xa giống như hàng vạn dặm. -Tác dụng: diễn tả sự ngăn cách và xa cách của Kiều và Thúc Sinh lúc bấy giờ. e. Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. -Phép chơi chữ: tà và tai chữ gần âm nhưng khác nhau về nghĩa. Tài là tài hoa, tài năng; còn tai là tai họa, tai ương. -Tác dụng: nói đến sự phũ phàng của số phận người tài hoa. Câu 3. a. Còn trời còn nước còn non, Còn cô bán rượu anh còn say sưa. (Ca dao) -Phép điệp: năm chữ còn trong câu thơ ngắn, từ đa nghĩ say sưa. -Tác dụng: khẳng định sự say sưa của anh đối với rượu và đặc biệt say sưa với cô bán rượu, anh say vì rượu thì ít mà say vì cô bán rượu thì nhiều. Sự say sưa đó là một sự hiển nhiên tất yếu như trời đất non nước vậy. b. Gươm mài đá, đá núi cũng mòn Voi uống nước, nước sông phải cạn. (Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo) -Phép nói quá: đá núi to lớn sừng sững thế kia mà gươm có thể mài mòn, nước sông nhiều đến vậy mà voi cũng có thể uống cạn. -Tác dụng: diễn tả sức mạnh to lớn của nghĩa quân Lam Sơn, tạo cảm giác mạnh cho người nghe. c. Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. (Hồ Chí Minh, Cảnh khuya) -Phép so sánh: so sánh tiếng người trong như tiếng hát. -Tác dụng: diễn tả tiếng suối êm dịu, trong lành đưa đến cho con người nhiều cảm xúc thẩm mĩ. d. Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trong nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. (Hồ Chí Minh, Ngắm trăng) -Phép nhân hóa: vầng trăng cũng có tình cảm, hành động như con người, nhòm vào khe cửa để ngắm nhìn con người. -Tác dụng: làm tăng sự sinh động của hình ảnh, nói lên sự gắn bó tri âm tri kỉ giữa trăng và người. e. Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ thì nằm trên lưng. (Nguyễn Khoa Điềm, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ) -Phép ẩn dụ: em bé trên lưng là mặt trời của mẹ. -Tác dụng: em bé là nguồn sống, nguồn hi vọng của đời mẹ. Cách nói kín đáo giàu tính biểu tượng.
Soạn bài tổng kết về từ vựng tiếp theo (tiết 3)
1,026
Tục ngữ xuất hiện trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân ta như quá đỗi quen thuộc, đặc biệt là những câu tục ngữ về con người. Có lẽ chính vì sự quen thuộc này mà bài học Tục ngữ về con người và xã hội nằm trong khung chương trình Ngữ Văn 7 có vị trí quan trọng. Để giúp các em có được một giờ học Tiếng Việt bổ ích, hiệu quả và tìm hiểu được những ý nghĩa của câu tục ngữ thì Giải văn sẽ giúp cho các em có được một bài soạn hoàn chỉnh, chính xác nhất, mong muốn các em học bài nhanh nhớ, nhanh thuộc nhất ngay sau đây: Soạn bài: Tục ngữ về con người và xã hội Bài làm Hướng dẫn soạn bài Câu 1 (Trang 12 sgk ngữ văn 7 tập 2) Em hãy đọc kĩ văn bản và chú thích để hiểu một số câu tục ngữ và một số từ trong văn bản. Các em học sinh đọc kĩ văn bản và chú thích để hiểu câu tục ngữ Câu 2 (trang 12 sgk ngữ văn 7 tập 2) Phân tích từng câu tục ngữ trong văn bản theo những nội dung sau: Câu Nghĩa câu tục ngữ Giá trị câu tục ngữ Giá trị kinh nghiệm mà câu tục ngữ thể hiện 1 Con người quý giá hơn tiền bạc Khẳng định và đề cao giá trị con người Câu tục ngữ khuyên răn dạy con người biết quý trọng bản thân. Đồng thời khuyên con người phải biết tạo lập giá trị tự thân 2 Răng, tóc luôn luôn là phần thể hiện tính nết của con người Nhắc nhở con người ta cần phải biết chăm chút từng yếu tố thể hiện hình thức cũng như về tính nết tốt đẹp của con người Câu tục ngữ như muốn rèn dũa con người từ những điều nhỏ nhất về hình thức trở đi cho đến nhân cách. 3 Tất cả những khó khăn về vật chất vẫn phải sống trong sạch, thiện lương Ngay ở rong hoàn cảnh khó khăn, cần giữ nhân cách tốt đẹp nhất. Khuyên răn con người nên không được tham lam, làm liều ngay cả khi thiếu thốn hay gặp tình huống khó khăn. 4 Câu tục ngữ đã khuyên con người cần phải học cách ăn, nói… đúng chuẩn mực nhất. Con người cũng cần phải học các hành vi ứng xử văn hóa Việc chúng ta học cách ăn nói, giao tiếp lịch sự, hòa ái với mọi người thì khiến cuộc sống tốt đẹp hơn. 5 Ai ai cũng cần phải có thầy cô hướng dẫn, dạy bảo Luôn phải coi trọng vị thế cũng như về vai trò của người thầy trong giáo dục Câu tục ngữ như khuyên con người biết lễ nghĩa, tôn kính thầy cô giáo. 6 Luôn đề cao việc học từ những người gần gũi thân thuộc như là tình cảm bạn bè Việc học quan trọng và học mọi lúc, học ở mọi người. Học không chỉ học ở thầy cô mà cần học ở bạn bè, những người xung quanh nữa Việc tiếp thu kiến thức học không chỉ bó hẹp ở người thầy. 7 Khuyên con người cần phải biết yêu thương người khác cũng giống như yêu bản thân mình Luôn đề cao cách ứng xử hòa ái của con người Nhằm giáo dục con người biết yêu thương, vị tha hơn. 8 Khuyên con người cũng phải biết nhớ ơn người cho trái ngọt, quả lành Luôn phải biết ơn người mang lại thành quả cho mình hưởng thụ Nhắc đến nghĩa cử đền ơn đáp nghĩa 9 Cứ nhiều cá thể gộp lại sẽ tổng hợp được sức mạnh làm việc lớn hơn đơn độc Câu tục ngữ khẳng định sức mạnh của sự đoàn kết Đã giáo dục về lối sống tập thể, đồng thời tránh những tiêu cực cá nhân Soạn bài tục ngữ về con người và xã hội 7 Câu 3 (trang 13 SGK ngữ văn 7 tập 2) So sánh hai câu tục ngữ sau: – Không thầy đố mày làm nên. – Học thầy không tày học bạn. Theo em, những điều răn trong hai câu tục ngữ trên mâu thuẫn với nhau hay bổ sung cho nhau? Vì sao? Em hãy nêu một vài cặp câu tục ngữ tưởng như ngược nhau nhưng lại bố sung cho nhau. So sánh hai câu tục ngữ: – Giống: Cả hai câu tục ngữ lại đều đề cao việc học tập, học hỏi, chỉ có học tập. Đồng thời mỗi người cũng biết tìm thầy mới có thể thành tài, đóng góp được cho xã hội thêm văn Minh, giàu đẹp hơn. – Khác: + Câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên”: Như cũng đã khẳng định tầm quan trọng, vai trò của người thầy trong giáo dục ở mỗi một giai đoạn. + Học thầy không tày học bạn: Câu tục ngữ cũng đã mở rộng môi trường học, có thể học ở bất cứ đâu, học ngay từ bạn bè cũng chính là người mang lại kiến thức cho ta. – Không thể phủ nhận được chính những lời khuyên răn trong hai câu tục ngữ này không mâu thuẫn, hay cũng không trái ngược nhau mà bổ sung lẫn nhau chặt chẽ hơn. Đó là một sự hợp lí khi đề cao việc mở rộng môi trường, phạm vi học hỏi không ngừng mở rộng. – Một số câu tục ngữ tương tự dó là: Câu “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Xảy đàn tan nghé”, “Máu chảy ruột mềm”. Câu 4 (trang 13 sgk ngữ văn 7 tập 2) Chứng minh và phân tích giá trị của các đặc điểm sau trong tục ngữ: – Diễn đạt bằng cách so sánh: + Câu tục ngữ “Học thầy không tày học bạn”: Thể hiện được mối quan hệ so sánh được thể hiện rõ ràng thông qua từ “không tày” + Câu “Một mặt người bằng mười mặt của”: Mang được hình thức so sánh, với đối lập đơn vị chỉ số lượng như một – mười để khẳng định sự quý giá của con người với vật chất. – Diễn đạt bằng hình ảnh ẩn dụ: + Câu tục ngữ “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”: Mang được tính ẩn dụ ngựa – nghĩa đen, thì khi chuyển sang nghĩa bóng là con người. Thông qua đây có thể thấy được một cá thể trong một tập thể, cần được tương hỗ bằng sự yêu thương đùm bọc nhau. + Câu “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”: Từ “cây” – “quả” theo nghĩa đen chuyển sang thành quả và là người có công giúp đỡ sinh thành nên phải biết ơn họ. – Dùng từ và câu có nhiều nghĩa: + Cái răng, cái tóc là góc con người: răng, tóc được hiểu là những yếu tố hình thức nói chung – hình thức nói lên lối sống, phẩm cách + Câu “Đói cho sạch, rách cho thơm”: Người ta không những “đói”, “rách” không mà còn chỉ thiếu thốn cũng như biết bao nhiêu sự khó khăn nói chung. Sạch, thơm chỉ việc giữ gìn nhân cách, tư cách của chính con người. Luyện tập Câu hỏi (trang 13 SGK): Tìm những câu tục ngữ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với những câu tục ngữ trong Bài 19 đã học. Câu tục ngữ đồng nghĩa: “Máu chảy ruột mềm”, “Chết vinh còn hơn sống nhục” Các câu tục ngữ trái nghĩa: “Được chim bẻ ná, được cá quên nơm” hay câu tục ngữ “Trọng của hơn người”. Để học bài học được tốt hơn nữa các em tự trau dồi cho mình thêm những câu tục ngữ về con người để buổi học thêm sôi nổi hơn. Bằng việc tái hiện lại kiến thức bám chắc các câu hỏi trong sách giáo khoa Giải văn đã tập trung giải thích ý nghĩa, gợi ý câu trả lời ngắn gọn nhất hi vọng đây sẽ là tài liệu bổ ích cho các em học sinh. Chúc các em học tập tốt! Minh Nguyệt
Soạn bài tục ngữ về con người và xã hội 7
1,311
Đề bài: Soạn Bài Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội Bài làm Câu 1: Học sinh đọc kĩ văn bản và chú thích để hiểu các câu tục ngữ và một số từ trong văn bản. Câu 2: Phân tích câu tục ngữ theo từng nội dung: Câu Nghĩa của câu tục ngữ Giá trị của kinh nghiệm mà câu tục ngữ thể hiện Một số trường hợp có thể áp dụng 1 Người quý hơn của, quý hơn gấp bội phần Đề cao giá trị của con người. – Phê phán những trường hợp coi của hơn người. – An ủi, động viên những người mất của,… 2 Răng và tóc là các phần thể hiện tình trạng sức khỏe, hình thức, tính nết con người. Phải biết chăm chút từng yếu tố thể hiện hình thức, tính nết tốt đẹp của con người. – Khuyên nhủ, nhắc nhở con người phải biết giữ gìn răng, tóc cho sạch và đẹp 3 – Nghĩa đen: Dù đói cũng phải ăn uống sạch sẽ, dù rách vẫn phải ăn mặc sạch sẽ, gữ gìn cho thơm tho – Nghĩa bóng: Dù nghèo khổ, thiếu thốn cũng phải sống trong sạch; không vì nghèo kkhổ mà làm điều xấu xa, tội lỗi. Giáo dục con người có lòng tự trọng. – Khi một người nào đó lâm nào hoàn cảnh khó khăn 4 Cần phải học cách ăn, nói,… đúng chuẩn mực. Cần phải học các hành vi ứng xử văn hoá. Trong giao tiếp với thầy cô, bạn bè,… 5 Muốn làm được việc gì cũng cần có người hướng dẫn. Đề cao vị thế của người thầy. Trong mối quan hệ với thầy giáo, cô giáo 6 Học thầy không bằng học bạn. Đề cao việc học bạn Trong mối quan hệ với bạn bè 7 Khuyên con người biết yêu người khác như chính bản thân mình. Đề cao cách ứng xử nhân văn. Cộng đồng gặp khó khăn như thiên tai, lũ lụt,… 8 Được hưởng thành quả, phải nhớ ơn người tạo ra thành quả đó. Phải biết ơn với người có công lao giúp đỡ, gây dựng, tạo nên thành quả. Trong cách ứng xử giữa con cháu đối với ông bà, cha mẹ; học trò đối với thầy cô,… 9 Việc lớn, việc khó không thể do một người làm được, mà phải cần nhiều người hợp sức. Khẳng định sức mạnh của tình đoàn kết. Trong các cuộc thi, trong chiến tranh,… Không thầy đố mày làm nên. (Câu 5) Học thầy không tày học bạn. (Câu 6) – Câu 5 khẳng định vai trò, công ơn của thầy. Nghĩa của câu là không được thầy dạy bảo sẽ không làm được việc gì thành công. – Câu 6 đề cao vai trò việc học hỏi thêm ở bạn bè. Nghĩa của cả câu là: cách học theo lời dạy của thầy có khi không bằng cách học tự mình theo gương bạn bè. Những điều khuyên răn trong hai câu tục ngữ trên không mâu thuẫn mà bổ sung ý nghĩa cho nhau. Câu 6 đề cao vai trò việc học bạn, nhưng không hạ thấp việc học thầy, không coi việc học bạn quan trọng hơn học thầy mà chỉ muốn nhấn mạnh đến một đối tượng khác, phạm vi khác mà con người cần học hỏi. Câu 4: Các giá trị nổi bật của các đặc điểm trong tục ngữ: – Diễn đạt bằng so sánh: Các câu có sử dụng biện pháp so sánh: 1, 6, 7. + Câu 1: Từ so sánh: bằng, sự vật so sánh: mặt người, mặt của; kiểu so sánh: so sánh ngang bằng + Câu 6: Từ so sánh: không bằng, sự vật so sánh: học thầy, học bạn; kiểu so sánh: so sánh không ngang bằng + Câu 7: Từ so sánh: như; sự vật so sánh: thương người, thương thân; kiểu so sánh: so sánh ngang bằng – Diễn đạt bằng hình ảnh ẩn dụ: 8, 9 + Câu 9: Một cây: số ít, ba cây: chỉ số nhiều – Dùng từ và câu có nhiều nghĩa: câu 2, 3, 4,… + Câu 2: Cái răng, cái tóc (không những chỉ răng tóc cụ thể, mà còn chỉ các yếu tố hình thức nói chung – là những yếu tố nói lên hình thức, nhân cách con người). + Câu 3: Đói, rách (không những chỉ đói và rách mà còn chỉ khó khăn, thiếu thốn nói chung);sạch, thơm chỉ việc giữ gìn tư cách, nhân phẩm tốt đẹp. + Câu 4: ăn, nói, gói, mở,… chỉ việc học cách giao tiếp, ứng xử nói chung
Soạn Bài Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
725
Tục ngữ được ví như là túi khôn của nhân dân ta, có rất nhiều câu tục ngữ nói về quê hương, đất nước về bài học làm người,… Và không thể không nhắc đến những câu tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất. Bài “Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất” nằm trong chương trình Ngữ văn 7 sẽ là một bài học hay, ý nghĩa cho các em học sinh. Nhằm củng cố, tổng hợp kiến thức giúp cho các em học sinh có thể nắm bắt được tốt hơn nội dung bài học thì Giải văn sẽ giúp các em có được một bài soạn chi tiết và đầy đủ nhất ngay sau đây: Soạn bài tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất Bài làm Bố cục của những câu tục ngữ: + Khi chia các câu tục ngữ trong bài thành hai nhóm chính đó chính là: + Với 4 câu đầu: Nói về tục ngữ về thiên nhiên + Với 4 câu sau: Nói về Tục ngữ về lao động sản xuất Hướng dẫn soạn bài Câu 1 ( Trang 4 trong SGK ngữ văn 7 tập 2) Học sinh đọc kĩ văn bản và chú thích để hiểu các câu tục ngữ và một số từ trong văn bản. Đọc kĩ tục ngữ và chú thích trong sách giáo khoa để có thể trả lời câu hỏi này Câu 2 (Trang 4 trong SGK ngữ văn 7 tập 2) Có thể chia tám câu tục ngữ thành bao nhiêu nhóm Chúng ta có thể chia 8 câu tục ngữ trong bài thành 2 nhóm cơ bản + 4 câu tục ngữ đầu chính là những câu tục ngữ về thiên nhiên + 4 câu tục ngữ sau nói về lao động sản xuất Câu 3 (Trang 4 trong SGK ngữ văn 7 tập 2) Minh hoạ đặc điểm hình thức của tục ngữ: Giải thích câu tục ngữ: Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối – Tháng năm: thì đêm ngắn ngày dài còn với tháng Mười: đêm dài, ngày ngắn. – Có thể nhận thấy được cơ sở thực tiễn của câu tục ngữ luôn luôn do sự vận động của Trái Đất. Vào thời điểm tháng 5 do vị trí nước ta hàng năm luôn nhận lượng ánh sáng lâu hơn, chính vì thế nên ta có cảm giác ngày dài hơn, ngược lại Câu tục ngữ “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa” – Câu tục ngữ này ý muốn nói đó chính là khi mà trời nhiều sao sẽ nắng, trời vắng (vắng) sao thì trời sẽ mưa – Theo kinh nghiệm này thì người xưa cũng đã dựa trên quan sát thực tiễn, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của mình. – Khi nhìn sao ta cũng có thể đoán biết được thời tiết để sắp xếp việc cho hợp lý nhất, có vậy thì vụ mùa mới mong bội thu. “Ráng mỡ gà có nhà thì giữ” – Khi mà bầu trời xuất hiện ráng có màu vàng mỡ gà thì cũng có nghĩa sắp có bão – Đây cũng chính là kinh nghiệm dự đoán bão của ông cha ta – Luôn luôn nhắc nhở ý thức việc chủ động phòng chống bão lũ của nước ta. Soạn bài tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất Câu tục ngữ: Tháng bảy kiến bò chỉ lo lại lụt – Cứ khi vào tháng bảy, nếu như mà thấy kiến di chuyển nhiều thì sắp có mưa lớn, lụt lội diễn ra nên phải cẩn thận. – Cơ sở có được nhận định này: Loài kiến là côn trùng nhạy cảm cứ khi sắp có mưa bão sẽ bò lên nơi cao ráo cho nên nhìn thấy điều này là trời sẽ mưa nên cha ông ta đúc kết được. – Chính từ thực tế quan sát được của người xưa thì cũng áp dụng phòng chống bão lũ, thiên tai để bảo vệ mùa màng, chủ động phòng chống. Câu tục ngữ: Tấc đất tấc vàng – Trong nông nghiệp thì đất vô cùng quý giá, quan trọng được ví như vàng – Thông qua câu tục ngữ này lại mang được một bài học cảnh tỉnh sử dụng tài nguyên đất hợp lí, và đồng thời cũng lại luôn đề cao giá trị của tài nguyên này. Câu: Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền – Câu tục ngữ cho thấy được những thứ tự quan trọng của các nghề đem lại kinh tế cho con người như các ngành nghề nuôi cá, làm vườn, làm ruộng – Có thể thấy được về cơ sở khẳng định xuất phát từ chính lợi ích được mang lại từ những nghề đó cho con người. – Câu tục ngữ lại giúp con người biết khai thác tốt các điều kiện, cũng như vấn đề hoàn cảnh tự nhiên để tạo ra của cải vật chất. Câu: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống – Câu tục ngữ cũng đã hẳng định thứ tự quan trọng các yếu tố khi trồng lúa đó chính là các thành tố nước, phân, lao động, giống lúa – Không dừng lại ở đó, thì đó cũng chính là những bài học kinh nghiệm câu tục ngữ giúp người nông dân hiểu được một tầm quan trọng của từng yếu tố, mối quan hệ của chúng như thế nào. Câu tục ngữ: Nhất thì, nhì thục – Đây chính là câu tục ngữ như cũng muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố thời vụ. Đồng thời cũng nhấn mạnh vào các yếu tố đất đai đã được khai phá để có thể chăm bón với nghề trồng trọt của nước ta. – Câu tục ngữ cũng cứ luôn luôn nhắc nhở về thời vụ, đồng thời nó như cũng chuẩn bị kĩ lưỡng đất đai trong canh tác nông nghiệp như hiện nay. Câu 4 (trang 5 sgk ngữ văn 7 tập 2) Minh hoạ đặc điểm hình thức của tục ngữ: Câu tục ngữ nói về lao động sản xuất: Ráng mỡ gà có nhà thì giữ – Câu tục ngữ vô cùng ngắn gọn: Số lượng từ: chỉ vẻn vẹn 7 từ – Tiếp đến chính là hai vế đối xứng cả hình thức lẫn nội dung như khi mà “ráng mỡ gà” đối với vế phía sau đó là “có nhà thì giữ” – Câu tục ngữ đưa ra những lập luận chặt chẽ, luôn luôn giàu hình ảnh: Chính hình ảnh “ráng mỡ” khi xuất hiện ở chân trời báo hiệu trời sắp có mưa bão lớn. Luyện tập Tìm một số câu tục ngữ nói về hiện tượng mưa nắng, bão lụt đó là: – Chớp đằng tây mưa dây bão giật – Cầu vồng mống cụt, không lụt cũng mưa – Qụa tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa Ý nghĩa – Nhận xét về các câu tục ngữ Thông qua bài học này, thì mỗi người học sinh nhận ra được giá trị, những kinh nghiệm thực tế về thiên nhiên và lao động sản xuất. Tất cả dường như cũng lại chứa đựng trong những câu tục ngữ của dân gian. Không chỉ vậy mà đồng thời xem tục ngữ như một kênh học tập, một kênh để có thể tích lũy vốn sống bản thân. Không dừng lại ở đó thì học sinh cần phân tích được lối nói ngắn gọn, có vần, có nhịp điệu, trong các câu lại thật giàu hình ảnh của tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất của con người. Bài soạn “Những câu tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất” thì Giải văn cũng đã tổng hợp những kiến thức nền tảng, chính xác nhất cho các em học sinh. Hệ thống câu hỏi giống như trong sách giáo khoa trong khung chương trình học để giúp các em tiện theo dõi. Chúc các em học tập thật tốt! Minh Nguyệt Các em có thể tham khảo một số bài soạn liên quan đến chương trình Ngữ văn 7 dưới đây: Soạn bài Tục ngữ về con người và xã hội Soạn bài Cảnh Khuya Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Soạn bài tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất lớp 7
1,344
Đề bài: Soạn Bài Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất Bài làm Câu 1: Học sinh đọc kĩ văn bản và chú thích để hiểu các câu tục ngữ và một số từ trong văn bản. Câu 2: Có thể chia tám câu tục ngữ thành hai nhóm – Nhóm 1: Câu 1, 2, 3, 4 là những câu tục ngữ về thiên nhiên. – Nhóm 2: Câu 5, 6, 7, 8 là những câu tục ngữ về lao động sản xuất. Câu Ý nghĩa Cơ sở khoa học Áp dụng Giá trị 1 Ở nước ta, tháng năm (Âm lịch) ngày dài đêm ngắn, tháng mười thì ngược lại. Do trái quỹ đạo của trái đất với mặt trời và trái đất xoay xung quanh trục nghiêng. Sử dụng thời gian hợp lý vào mùa hè và mùa đông Giúp con người có ý thức chủ động để nhìn nhận, sử dụng thời gian, công việc, sức lao động vào những thời điểm khác nhau trong một năm 2 Đêm trời có nhiều sao, ngày nắng. Đêm trời có ít sao, ngày mưa Đêm ít sao do trời có nhiều mây mù nên sẽ có mưa vào ngày hôm sau. Chuẩn bị công việc thích nghi với thời tiết. Giúp con người có ý thức biết nhìn sao để dự đoán thời tiết, sắp xếp công việc 3 Chân trời có màu vàng (Mỡ gà) báo hiệu sắp có dông bão Sự thay đổi áp suất, luồng không khí di chuyển tạo màu sắc ánh mặt trời phản chiếu khác nhau Phòng chống thiệt hại do dông bão gây ra. Biết dự đoán bão sẽ có ý thức chủ động giữ gìn nhà cửa, hoa màu,… 4 Tháng 7 ở Bắc bộ thường có lũ lụt, kiến bò lên cao tránh lũ. Một số bén biết được sự loài vật có giác quan nhạy thay đổi của thiên nhiên. Phòng tránh thiệt hại do bão lụt Nhân dân có ý thức dự đoán lũ lụt để chủ động phòng chống 5 Đề cao giá trị của đất đai Đồng bằng Bắc bộ hẹp, dân đông Tận dụng đất đai canh tác Con người có ý thức quý trọng đất đai, tránh lãng phí. 6 Thứ tự lợi ích các ngành nghề trong nông nghiệp. Trong nông nghiệp thì nuôi cá, làm vườn có thể có thu nhập khá. Cải thiện đời sống Giúp con người biết khai thác tốt điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên để tạo ra của cải vật chất. 7 Thứ tự quan trọng trong việc trồng lúa để đạt năng suất cao. Nước là yếu tố quan trọng nhất trong canh tác Nâng cao năng suất cây trồng Giúp người nông dân thấy được tầm quan trọng của từng yếu tố. 8 Canh tác phải đúng thời vụ, kế đó phải đầu tư công sức khai khẩn và cải tạo đất trồng. Canh tác muốn có hiệu quả cần theo trình tự hợp lý Kết quả cao trong canh tác Giúp người nông dân nâng cao chất lượng sản xuất nông nghiệp. Câu 4: Minh hoạ đặc điểm hình thức của tục ngữ: – Ngắn gọn: Mỗi câu tục ngữ chỉ có một số lượng từ không nhiều. Có câu rất ngắn như câu: Tấc đất, tấc vàng; Nhất thì, nhì thục.,… Tạo được ấn tượng mạnh khi khẳng định. – Thường có vần, nhất là vần lưng. Hầu như câu tục ngữ nào cũng có vần. Ví dụ: nhất thì, nhì thục; Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa; Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ,… Các vần này làm cho tục ngữ dễ nhớ, dễ thuộc. – Các vế đối xứng nhau cả về hình thức và nội dung. Ví dụ như 2 vế của câu 1, câu 2, câu 3. Sự đối xứng này làm cho câu tục ngữ trở nên nhịp nhàng, cân đối. – Lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh: Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ; Tháng bảy keién bò, chỉ lo lại lụt,… Hình ảnh làm cho các câu tục ngữ trở nên tươi mát, hàm súc và kinh nghiệm được diễn đạt trong đó thuyết phục hơn.
Soạn Bài Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
650
Đề bài: Soạn Bài Tức Cảnh Pác Bó Của Hồ Chí Minh Bài làm Câu 1: Bài thơ thuộc thể thơ tứ tuyệt, vừa mang đậm màu sắc cổ điển vừa hiện đại. Một số bài thơ cùng thể thơ này đã học: Cảnh Khuya, Nguyên Tiêu (Rằm Tháng Giêng)… Câu 2: a. Giọng điệu: Bài thơ gồm bốn câu thật tự nhiên, bình dị, giọng điệu thoải mái, pha chút vui đùa hóm hỉnh, tất cả cho thấy một cảm giác vui thích, sảng khoái. Ý nghĩa tư tưởng của bài thơ cũng toát lên từ đó. + Câu thơ đầu có giọng điệu thoải mái, phơi phới, cho thấy Bác Hồ sống thật ung dung, hòa điệu nhịp nhàng với nhịp sống núi rừng: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang” + Câu thơ thứ hai vẫn tiếp tục mạch cảm xúc đó, nhưng có thêm nét vui đùa: Lương thực, thực phẩm ở Pác Bó thật đầy đủ, đủ đến mức dư thừa “cháo bẹ, rau măng” luôn có sẵn: “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng” b. Tâm trạng của Bác Hồ ở Pác Bó được biểu hiện trong bài thơ: – Tháng 2 – 1941, Bác Hồ sống và làm việc trong hoàn cảnh hết sức gian khổ. Người ở trong hang Pác Bó – một hang núi nhỏ sát biên giới Việt – Trung (Thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng); thường phải ăn cháo ngô, măng rừng thay cơm; bàn làm việc là một phiến đá bên bờ suối Lê-nin. – Mặc dù đi làm cách mạng trong một hoàn cảnh vô cùng gian nan, khổ cực như vậy. Nhưng qua giọng điệu vui đùa, sảng khoái, hóm hỉnh của bài thơ, cho chúng ta thấy Bác Hồ không hề quản ngại khó khăn, gian khổ. Ngược lại Người hết sức thích thú, bằng lòng với cuộc sống chan hòa với thiên nhiên, cây cỏ. – Rõ ràng là với Bác Hồ, được sống giữa núi rừng, có suối, có hang, có vượn hót chim kêu, non xanh nước biếc thật là thích thú, mọi thứ cần gì có nấy, cháo bẹ rau măng hay rượu ngọt chè tươi đều vẫn sẵn sàng, tha hồ, mặc sức hưởng thụ. – Sự thật thì nghèo khổ, thiếu thốn, nhưng với Bác mọi thứ đều thật giàu có, dư thừa, sang trọng. Những câu thơ có giọng khẩu khí, nói cho vui, phần nào khoa trương nhưng nói lên được tinh thần lạc quan, yêu đời của Bác. Niềm vui của người chiến sĩ cách mạng ở đây là rất thật, không chút gượng gạo, “lên gân”. Niềm vui đó toát lên từ toàn bộ bài thơ, từ từ ngữ, hình ảnh đến giọng điệu thơ. – Sang: chỉ sự sang trọng, sự sung túc về tinh thần, về đạo lý (Khác với giàu, giàu chỉ sự đầy đủ về vật chất). – Bác Hồ cảm thấy Cuộc đời cách mạng thật là sang vì các lý do sau: + Sau ba mươi năm xa nước, Bác Hồ được trở về sống giữa lòng đất nước yêu dấu, được sống hòa mình vào thiên nhiên. + Người được làm công việc tìm tòi con đường cứu nước, được trực tiếp lãnh đạo cách mạng để cứu nước, cứu dân. + Bác rất vui vì Người tin chắc rằng thời cơ giải phóng dân tộc đang tới gần, điều mà Bác chiến đấu suốt đời để đạt tới đang trở thành hiện thực. Vì những lí do đó cho nên những gian khổ trong sinh hoạt có nghĩa lý gì; thậm chí, tất cả những hang tối, cháo bẹ, rau măng, bàn đá chông chênh,… kia không phải là gian khổ mà đều trở thành sang trọng, vì đó là cuộc đời cách mạng! Câu 3: – Thú lâm tuyền – cũng như “thú điền viên” – là một tình cảm thanh cao, một nét đẹp có truyền thống từ xa xưa. Vui “thú lâm tuyền” có nghĩa là vui với cái nghèo. Tuy nhiên, “thú lâm tuyền” của Bác Hồ và Nguyễn Trãi có nét giống nhau, nhưng cũng có sự khác nhau. + Giống nhau: Cả hai nhà thơ đều yêu thiên nhiên, sống gắn bó, chan hòa với thiên nhiên.
Soạn Bài Tức Cảnh Pác Bó Của Hồ Chí Minh
695
Tức Cảnh Pác Bó là một sáng tác vô cùng độc đáo của Hồ Chí Minh nói về cuộc sống cách mạng cho dù gian khó thế nhưng Bác vẫn lạc quan. Giải Văn mang đến cho các em bài soạn này hi vọng giúp cho các em có thể tiếp thu bài học tốt nhất!. Soạn bài Tức Cảnh Pác Bó Ngữ văn 8 Bài làm Câu 1: Bài thơ thuộc thể thơ gì? Hãy kể tên một số bài thơ cùng thể thơ này mà em đã học. Nhận xét thấy được bài thơ thuộc thể thơ tứ tuyệt Đường luật. Thế rồi có một số bài thơ cùng thể thơ này đã học đó chính là những bài thơ: Cảnh Khuya, Nguyên Tiêu, Nam quốc sơn hà, Tĩnh dạ tứ, … Câu 2: Nhận xét về giọng điệu chung của bài thơ. Tâm trạng của Bác Hồ ở Pác Bó được biểu hiện như thế nào qua bài thơ? Vì sao Bác cảm thấy cuộc sống gian khổ đó “thật là sang”? Hồ Chí Minh cũng đã sử dụng một giọng thơ hài hước, dí dỏm, tươi vui. Cho dù là cuộc sống khó khăn và thiếu thốn như thế nào đi chăng nữa thì Bác vẫn lạc quan và coi đó là một việc “sang”. Thực sự với Bác thì đó cũng chính là niềm vui lớn nhất là được làm cách mạng, được giúp sức mình cho dân cho nước. >>> Thông qua đây ta nhận thấy được chính cuộc sống của Người vô cùng thư thái, ung dung, say mê cuộc sống cách mạng, hòa hợp với thiên nhiên. Bài thơ độc đáo và vô cùng đặc sắc này cũng lại cho thấy được những cá nhân cách cao khiết của Hồ Chí Minh, đồng thời cũng đã cho thấy sự hi sinh thầm lặng của người cho đất nước. Soạn bài Tức Cảnh Pác Bó Ngữ văn 8 Câu 3: Qua bài thơ, có thể thấy rõ Bác Hồ cảm thấy vui thích, thoải mái khi sống giữa thiên nhiên. Nguyễn Trãi đã từng ca ngợi “thú lâm tuyền” (niềm vui thú được sống với rừng, suối) trong bài Côn Sơn ca. Hãy cho biết “thú lâm tuyền” ở Nguyên Trãi và ờ Bác Hồ có gì giống và khác nhau. Nhận xét về “Thú lâm tuyền” của Nguyễn Trãi xưa đó chính là cái “thú lâm tuyền” của người ẩn sĩ bất lực khi đứng trước thực tế xã hội, lúc đó thì chỉ muốn lánh đục về trong và có thể tự tìm đến cuộc sống mang tính an bần lạc đạo. Thế nhưng chúng ta cũng nhận thấy được ở vị lãnh tụ Hồ Chí Minh thì cái “thú lâm tuyền” lúc này đây lại cứ vẫn gắn với con người hành động, gắn bó với con người chiến sĩ. Thông qua đây ta nhận thấy được cũng chính nhân vật trữ tình trong bài thơ tuy có dáng vẻ của một ẩn sĩ nhưng ta có thể nhận thấy được chính thực tế đó lại là một người chiến sĩ đang tận tâm, luôn luôn tận lực vì tự do độc lập của non sông của đất nước đó chính là “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng”. Hi vọng với việc trả lời câu hỏi bám sát trong sách giáo khoa cũng đã mang lại cho các em được một lượng kiến thức vô cùng bổ ích. Thông qua đây hiểu được phong cách Hồ Chí Minh cùng với sự hi sinh vì nước vì dân của Người. Minh Minh Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm: Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000 Soạn bài Ôn dịch thuốc lá Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8 Soạn bài Bàn về đọc sách Sean bài Trong lòng mẹ
Soạn bài Tức Cảnh Pác Bó Ngữ văn 8
640
Đề bài: Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ Lớp 8 Trích Tắt Đèn Của Ngô Tất Tố Bài làm 1. Tình thế của chị Dậu khi bọn tay sai xông vào nhà chị: Vụ thuế đang trong thời điểm gay gắt nhất: quan sắp về tận làng để đốc thuế; bọn tay sai càng hung hăng xông vào nhà những người chưa nộp thuế để đánh đói, đem ra đình cùm kẹp… Chị Dậu mặc dù phải bán con, bán chó, bán cả gánh khoai để có đủ tiền nộp suất sưu cho chồng, nhưng bọn hào lí lại bắt nhà chị phải nộp cả suất sưu cho người em chồng chết từ năm ngoái; thành thử anh Dậu vẫn cứ là người thiếu sưu. Bọn chugns xông vào nã thuế, trong lúc anh Dậu thì “đang ốm đau rề rề”, tưởng chừng như dã chết đêm qua, giờ mới tỉnh, nếu lại bị chúng đánh trói lần này nữa thì mạng sống khó mà giữ được. => Tình thế nguy cấp. 2. Phân tích nhân vật cai lệ – Tên cai lệ là tên đứng đầu bọn lính ở huyện đường chuyên đi đòi sưu thuế, đây là một tên độc ác chỉ làm những điều sai trái. Hắn là tiêu biểu nhất của hạng tay sai, công cụ đắc lực của cái trật tự xã hội ấy. – Đánh trói người là “nghề” của hắn, được hắn làm với một kĩ thuật thành thạo và sự say mê. – Trong bộ máy thống trị của xã hội đương thời, cai lệ chỉ là một tên tay sai mạt hạng, nhưng nhân vật này lại có ý nghĩa tiêu biểu riêng. Hắn hung dữ, sẵn sàng gây tội ác mà không hề chùn tay, cũng không hề bị ngăn chặn, vì hắn đại diện cho “nhà nước”, nhân danh “phép nước” để hành động. Vì vậy, có thể nói, tên cai lệ vô danh không chút tình người đó là hiện thân đầy đủ, rõ rệt nhất của cái “nhà nước” bất nhân lúc bấy giờ. – Tên cai lệ được phái về làng Đông Xá để giúp lí trưởng làng này đốc thuế. – Cai lệ có tính cách hung bạo và dã thú của một tên tay sai chuyên nghiệp: Vừa “sầm sập” xông vào nhà chị Dậu cùng gã người nhà lí trưởng, hắn đập roi xuống đất, quát thét ra oai, rất hống hách và đểu cáng: “- Thằng kia! Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à? Nộp tiền sưu! Mau!”. Anh Dậu vừa chết đi sống lại, hắn đâu thèm có để ý. Mà nếu anh Dậu chết đêm qua thì chính là hắn phải chịu trách nhiệm trước tiên, chứ không phải ai khác. Vì chính tay hắn hôm trước đã trói gô anh rất chặt, rồi điệu ra đình cùm kẹp giữa lúc anh đang ốm nặng. Vậy mà, giờ đây, trước những lời van xin của chị Dậu mong hắn tha cho anh, hắn đáp lại bằng thái độ hết sức phũ phàng. – Hắn cũng hầu như không có khả năng nghe tiếng nói của đồng loại. Hắn cứ nhằm vào anh Dậu mà không cần biết anh đang thừa sống thiếu chết. Hắn hoàn toàn bỏ ngoài tai những lời van xin, trình bày tha thiết của chị Dậu. Trái lại, hắn đáp lại chị Dậu bằng những lời lẽ thô tục, những hành động đểu cáng, hung hãn táng tận lương tâm tới rợn người. Tàn bạo, không chút tình người là bản chất của hắn. 3. Diễn biến tâm lí, hành động của chị Dậu Bọn tay sai “sầm sập tiến vào” trong lúc chị Dậu vừa “rón rén” bưng bát cháo lên cho anh Dậu, đang chờ xem anh ăn có ngon miệng không. Khi đó, anh Dậu vì khiếp đảm mà lăn đùng ra ngất, chỉ còn một mình chị dậu đứng ra đối phó với lũ “ác nhân”. Ban đầu, chị Dậu cố van xin tha thiết. Vì trong mắt bọn tay sai bây giờ, chồng chị là kẻ cùng đinh đang có tội. Nhưng đến khi tên cai lệ không thèm nghe chị lấy nửa lời, đáp lại chị bằng quả “bịch” vào ngực và cứ xông lên đánh trói anh Dậu, thì đến lúc ấy, chị Dậu mới “hình như tức quá không thể chịu được“, đã “liều mạng cự lại“. Sự “cự lại” của chị Dậu cũng có một quá trình gồm hai bước: Chị dùng lí lẽ phân trần, nói lí lẽ tự nhiên “chồng tôi đau ốm…hành hạ” -> xưng hô “tôi” – “ông” ngang hàng, cứng rắn, cảnh cáo kẻ ác. Sau khi cai lệ “tát vào mặt chị một cái đánh bốp” chị “nghiến răng”: “mày trói chồng bà đi” -> chuyển xưng hô từ tôi- ông sang mày- bà. Lần này chị không đấu lí mà quyết ra tay đấu lực với bọn chúng. Chị đẩy tên cai lệ ngã chỏng quèo, túm tóc lẳng tên người nhà lí trưởng ngã nhào ra thềm. Qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ, ta thấy Ngô Tất Tố đã rất thành công trong việc dựng lên hình tượng chị Dậu, một người phụ nữ dũng cảm. tính cách của người nông dân, của người phụ nữ Việt Nam truyền thống Diễn biến tâm lí của nhân vật này cũng được nhà văn thế hiện, miêu tả hết sức chân thực, tự nhiên và sinh động. Cuối đoạn trích, anh Dậu sợ hãi khuyên can vợ: “- U nó không được thế! Người ta đánh mình không sao, mình đánh người ta thì mình phải tủ, phải tội. Lời nói ấy cho thấy anh vốn là một nông dân lao động, vốn hiền lành nhẫn nhục đã quen. Còn chị Dậu: – Thà ngồi tù. Để chúng nó làm tình làm tội mình mãi thế, tôi không chịu được…” Hành động của chị trong hoàn cảnh đó không thể khác. Tuy liều lĩnh, cô độc và tự phát, nhưng rõ ràng chị không thể không vùng dậy chống lại hành động hung bạo tàn nhẫn cúa bọn cai lệ và người nhà lí trưởng bảo vệ tính mạng cho chồng. 4. Nhan đề của đoạn trích: Tức nước vỡ bờ. Tức nước vỡ bờ một nhan đề có sức gợi hình cao, nhan đề do chính tác giả đặt tên đã bao quát toàn bộ nội dung của đoạn trích. Nhan đề dùng chính tục ngữ của người Việt để nói lên ở đâu có áp bức ở đó có sự đấu tranh, chống cự. Hơn nữa, với nhan đề này, đoạn trích còn toát lên chân lí: Con đường sống của quần chúng bị áp bức chỉ có thể là con đường đấu tranh để tự giải phóng, không có con đường nào khác. – Khéo ở nghệ thuật khắc hoạ tính cách nhân vật: Chị Dậu: Nhẫn nhục nhưng mạnh mẽ (qua lối nói van xin, cự lại, hành động,… Cai lệ: hung hăng, bất nhân, thú tính,… (lời nói, hành động,…) – Miêu tả ngoại hình bằng nghệ thuật đối lập: Chị Dậu: lực điền, khỏe khoắn, quyết liệt Bọn tay sai: sức lẻo khẻo như tên nghiện, ngã chỏng quèo… – Khéo ở ngòi bút miêu tả linh hoạt, sống động: cảnh chị Dậu đánh lại hai tên tay sai,… – Khéo ở ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ đối thoại đặc sắc, bộc lộ sắc nét tính cách nhân vật, phản ánh được diễn biến tâm lí,… 6. Nhà văn Nguyễn Tuân cho rằng với tác phẩm Tắt Đèn, Ngô Tất Tố đã “xui người nông dân nổi loạn”. Ý nói đến nội dung hướng đến tính hành động của tác phẩm. Đó là ý nghĩa tích cực về cảm quan hiện thực và khả năng dự báo của tác phẩm. Ngô Tất Tố đã dự báo về xu hướng đấu tranh của người nông dân- lực lượng đông đảo và bị áp bức nhiều nhất, đối với thế lực thống trị thực dân phong kiến bấy giờ. Tác phẩm “Tắt đèn” có tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng của quần chúng nhân dân, nhất là nông dân trong việc chống lại bọn cường hào ác bá ở nông thôn. Đó cũng là minh chứng nguồn gốc và giá trị của văn học khi văn học bắt nguồn từ đời sống thực tế để rồi quay lại thúc đẩy xã hội phát triển.
Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ Trích Tắt Đèn Của Ngô Tất Tố
1,390
Tức Nước Vỡ Bờ là một trong những tác phẩm hay và độc đáo trong chương trình ngữ văn lớp 8. Bài học là một bức tranh nghèo đói cũng như số phận nghèo khổ bị áp bức bóc lột đến nặng nề của người nông dân trong xã hội cũ. Hãy cùng Giải Văn soạn bài học thật chi tiết và chính xác ngay hôm nay nhé! Soạn bài Tức Nước Vỡ Bờ Bài làm Bố cục của văn bản chia thành 2 đoạn: -Phần 1 (từ đầu cho đến “ăn có ngon miệng hay không?”): Đây chính là cảnh chị Dậu chăm sóc chồng thật chu đáo. -Phần 2 (Phần còn lại): Miêu tả được cảnh chị Dậu phản kháng lại với lũ tay sai Hướng dẫn soạn bài Câu 1 (Sách giáo khoa trang 32 Ngữ Văn 8 tập 1): Khi bọn tay sai xông vào nhà chị Dậu, tình thế của chị như thế nào? Xét về tình thế của chị Dậu khi bọn tay sai xông vào: + Nói về gia cảnh nhà chị Dậu cùng đường: chị Dậu cũng phải bán con, bán chó, bánh gánh khoai, chị cũng đã phải chạy vạy tiền nộp sưu cho chồng và người em chồng đã chết. + Hình ảnh người chồng đau ốm tưởng chết, đã thế lại bị đánh đến ngất đi do thiếu sưu thuế. + Bọn tay sai lúc đó lại sấn sổ xông vào đòi đánh trói anh Dậu. >>> Trước tình thế nguy khốn, cùng đường. Câu 2 (Sách giáo khoa trang 32Ngữ Văn 8 tập 1): Phân tích nhân vật cai lộ. Em có nhận xét gì về tính cách của nhân vật này và về sự miêu tả của tác giả? – Nhân vật cai lệ: Được xem chính là cai cầm đầu đám lính lệ ở huyện đường đồng thời cũng chính là tay sai chuyên đánh người là “nghề” của hắn – Tiếp theo đó chính là cảnh cai lệ vào nhà chị Dậu: + Chúng đã mạnh tay gõ đầu roi xuống đất, đồng thời như cũng đã lại quát bằng giọng khàn khàn. + Nhưng tên tay sai chuyên nghiệp, đánh trói người là nghề của hắn. + Xưng hô vô cùng xấc xược, đểu cáng đó là “ông- thằng” – Có thể nhận thấy được chính bản chất hung bạo, dữ tợn: luôn luôn trợn ngược mắt quát, giọng hầm hè luôn luôn đùng đùng giật phắt thừng, và cũng bịch luôn vào ngực chị Dậu dường như cũng lại tát vào mặt chị đánh cái bốp. – Tàn ác, vô cùng nhẫn tâm, bỏ ngoài tai những lời van xin khẩn thiết của chị Dậu >>> Những tên cai lệ chỉ là tên tay sai vô danh, mạt hạng thế nhưng lại có thái độ hống hách, luôn luôn bạo tàn dám làm những chuyện bất nhân, nhân danh “nhà nước”, nhân danh “phép nước”. Đó đồng thời cũng chính là hình ảnh chân thực nhất về tầng lớp thống trị bấy giờ đó chính là một sự độc ác, hung hãn, không có tính người. Câu 3 (Sách giáo khoa trang 33 Ngữ Văn 8 tập 1): Phân tích diễn biến tâm lí của chị Dậu trong đoạn trích. Theo em, sự thay đổi thái độ của chị Dậu có được miêu tả chân thực, hợp lí không? Qua đoạn trích này, em có nhận xét gì về tính cách cùa chị? – Nhân vật hị Dậu nhẫn nhịn, chịu đựng: + Ban đầu thì chị Dậu luôn luôn van xin tha thiết, chị còn lễ phép xưng cháu để lại gọi ông. + Thế rồi chính chỉ đến khi cai lệ luôn bịch luôn vào ngực chị mấy bịch, thế rồi cũng đã lại sấn đến trói anh Dậu. Lúc đó thì chị Dậu không chịu được nữa, chị mới liều mạng cự lại. + Chị Dậu cũng đã dùng lí lẽ phân trần, nói lí lẽ tự nhiên đó là câu “chồng tôi đau ốm…hành hạ”. Thông qua cách xưng hô “tôi” – “ông” thể hiện một sự ngang hàng, cứng rắn, cảnh cáo kẻ ác đang đe dọa chồng + Thế rồi aau khi cai lệ cũng đã đùng đùng tát vào mặt chị một cái đánh bốp chị Dậu lúc đó phải nghiến rang lại và thách thức: mày trói chồng bà đi và nhanh chóng chị Dậu cũng lại chuyển xưng hô từ tôi – ông sang mày – bà. + Thế rồi khi đẩy tên cai lệ ngã chỏng quèo, túm tóc lẳng tên người nhà lí trưởng ngã nhào ra thềm. >>> Có thể nhận thấy được chính sự phản kháng, luôn luôn trỗi dậy của chị Dậu do uất ức, một sự phẫn nộ, căm tức. Thế rồi cũng chính hành động của chị tự phát nhưng bản lĩnh, một sự cương quyết, phù hợp với diễn biến tâm lí. Chị Dậu được đánh giá chính là nhân vật yêu chồng, thương con và cũng thật tảo tần nhưng mạnh mẽ, bản lĩnh biết bao nhiêu. Soạn bài Tức Nước Vỡ Bờ ​​ Có thể nhận thấy ở nhan đề tức nước vỡ bờ phản ánh quy luật đó chính là ở đâu có áp bức sẽ có đấu tranh. – Khi nhận xét toàn bộ nội dung tác phẩm thì tác phẩm “Tức nước vỡ bờ” cũng chính là tên gọi hợp lý phù hợp với diễn biến truyện nhất. – Chúng ta nhận thấy được tên nhan đề có ý nghĩa khi con người bị áp bức, bóc lột sẽ phản kháng mạnh mẽ. Thông qua đó ta nhận thấy được chính sức mạnh đó bắt nguồn từ ý thức nhân phẩm, cũng như tình yêu thương gia đình. Câu 5 (Sách giáo khoa trang 33 Ngữ Văn 8 tập 1): Hãy chứng minh nhận xét của nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Ngọc Phan: “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo”. – Tác giả Ngô Tất Tố thật tinh tế khi đã tạo dựng tình huống truyện gay cấn: sau khi van xin khẩn thiết, đồng thời cũng đã nói lí lẽ nhưng cai lệ vẫn sấn sổ tới đánh trói, chị Dậu phản kháng lại vô cùng quyết liệt: – Nghệ thuật mà tác giả Ngô Tất Tố sử dụng khắc họa tính cách nhân vật: + Chị Dậu: luôn luôn chịu nhẫn nhục, chịu đựng nhưng vẫn có sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ vô cùng lớn. + Cai lệ: Là những người vô cùng hung tàn, thú tính, ngang ngược, hung hãn – Tác giải cũng đã miêu tả ngoại hình bằng nghệ thuật đối lập có thể nhận thấy được + Chị Dậu: là một người phụ nữ lực điền, khỏe khoắn, quyết liệt + Bọn tay sai: Có sức lẻo khẻo như tên nghiện, đã lại ngã chỏng quèo… – Có thể nhận thấy được chính đoạn miêu tả cảnh phản kháng giữa chị Dậu với bọn tay sai qua ngòi bút linh hoạt, đồng thời như pha chút hóm hỉnh, độc đáo. => Chúng ta nhận thấy được đoạn “tuyệt khéo” trong văn bản này cũng đã thể hiện việc tác giả Ngô Tất Tố như xây dựng các tuyến nhân vật đối lập và cũng thật đặc biệt làm hiện hữu hình ảnh của một người phụ nữ nông dân mạnh mẽ, bản lĩnh – Chị Dậu cũng đã lại dám đương đầu với bè lũ hung tàn đòi quyền sống trong xã hội bất công, áp bức đó. Câu 6 (Sách giáo khoa trang 31 Ngữ Văn 8 tập 1): Nhà văn Nguyễn Tuồn cho rằng, với tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã “xui người nông dân nổi loạn”. Em hiểu thế nào vẻ nhận xét đó? Qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ, hãy làm sáng rõ ý kiến của Nguyễn Tuân. – Cũng đã phản ánh đúng quy luật: có sự áp bức có bóc lột tất yếu sẽ có đấu tranh. – Ngô Tất Tố cũng thật tinh tế khi ông cũng đã nhìn thấy sức mạnh đấu tranh tiềm tàng của người nông dân được thể hiện. – Thêm vào đó cũng chính là một hành động phản kháng là tự phát, dường như cũng đã khơi màn cho những sự trỗi dậy đấu tranh sau đó mạnh mẽ và quyết liệt. – Người đọc cũng có thể nhận thấy được cũng chỉ bằng bạo lực, đấu tranh mới giải quyết được sự đàn áp, giải quyết được một sự gông cùm của chế độ nửa phong kiến thực dân. Hi vọng bài soạn Tức nước vỡ bờ hôm nay mà Giải Văn mang đến cho các bạn cũng sẽ giúp cho các em có được một bài học ý nghĩa, hiểu được thân phận của những người nông dân trong xã hội cũ. Chúc các em học tốt! Minh Nguyệt
Soạn bài Tức Nước Vỡ Bờ Ngữ văn 8
1,453
Soạn bài từ ghép Hướng dẫn I. CÁC LOẠI TỪ GHÉP Câu hỏi 1: Trong các từ ghép bà ngoại, thơm phức ở ví dụ trong SGK, tiếng nào là tiếng chính, tiếng nào là tiếng phụ bổ sung ý nghĩa cho tiếng chính? Em có nhận xét gì về trật tự của các tiếng trong những từ ấy? Các từ ghép bà ngoại, thơm phức: trong đó bà và thơm là tiếng chính, ngoại và phức là tiếng phụ bổ sung nghĩa cho tiếng chính. -Xét về trật tự các tiếng: tiếng chính đứng trước, tiếng phụ đứng sau. Câu hỏi 2: Các tiếng trong hai từ ghép quần áo, trầm bổng ở VD có phân ra tiếng chính, tiếng phụ không? Gợi ý Trong hai từ ghép quần áo và trầm bổng, các tiếng trong đó không phân ra tiếng chính và tiếng phụ, bởi vậy mang nghĩa bao quát và bình đẳng về mặt ngữ pháp. II. NGHĨA CỦA TỪ GHÉP Câu hỏi 1: So sánh nghĩa của từ bà ngoại với nghĩa của bà, nghĩa của từ thơm phức với nghĩa của thơm, em thấy có gì khác nhau? Gợi ý a.So sánh nghĩa của từ bà ngoại với nghĩa của từ bà: + bà: người đàn bà sinh ra mẹ hoặc cha. + bà ngoại: người đàn bà sinh ra mẹ. b.So sánh nghĩa của từ thơm phức với nghĩa của từ thơm. + thơm: có mùi dễ chịu làm cho con người thích ngửi. + thơm phức: có mùi thơm bốc lên mạnh, hấp dẫn Như vậy, từ ghép bà ngoại, thơm phức là từ ghép chính phụ có tính chất phân nghĩa. Nghĩa cùa tiếng chính bao quát hơn nghĩa của từ ghép chính phụ. Gợi ý a.So sánh nghĩa của từ quần áo với nghĩa của mỗi tiếng quần, áo: -Quần và áo là trang phục của con người, quần có hai ống để che phần thân phía dưới, áo che phần thân phía trên và hai tay. -Quần áo là trang phục nói chung của con người. b.So sánh nghĩa của từ trầm bổng với nghĩa của mỗi tiếng trầm, bổng: -Trầm: âm thanh phát ra thấp hơn bổng. -Bổng: âm thanh phát ra cao hơn. -Trầm bổng: âm thanh phát ra khi cao khi thấp. Từ đây có thể rút ra kết luận: Nghĩa của từ ghép đẳng lập có tính chất khái quát hơn so với các tiêng khi đứng độc lập. LUYỆN TẬP Bài tập 1. Xếp các từ ghép suy nghĩ, lâu đời, xanh ngắt, nhà máy, nhà ăn, chài lưới, cây cỏ, ẩm ướt, đẩu đuôi, cười nụ theo bảng phân loại đã cho sẵn. Gợi ý -Có thể xếp các từ ghép sau vào từ ghép chính – phụ: lâu đời, xanh ngắt, nhà máy, nhà ăn, cười nụ. -Các từ sau vào nhóm từ ghép đẳng lập: suy nghĩ, chài lưới, cây cỏ, ẩm ướt, đầu đuôi. Bài tập 2. Điền thêm các tiếng vào sau các tiếng: bút, thước, mưa, làm, ân, trắng, vui, nhát đế tạo từ ghép chính phụ: Gợi ý -bút bi – thước kẻ – ăn bám -trắng tinh – mưa phùn – vui vẻ – làm quen – nhát gan Bài tập 3. Điền thêm tiếng vào sau các tiếng: núi, ham, xinh, mặt, học, tươi để tạo từ ghép đẳng lập. Gợi ý -núi: núi đồi, núi non -ham: ham chơi, ham muốn -xinh: xinh đẹp, xinh tươi – mặt: mặt nạ, mặt mày – học: học hành, học hỏi – tươi: tươi tỉnh, tươi tốt Bài tập 4. Tại sao có thể nói “một cuốn sách, một cuốn vở” mà không thể nói “một cuốn sách vở”? Gợi ý – Vì sách vở là từ ghép đẳng lập có nghĩa khái quát; còn “một cucín sách, một cuốn vở” là hai từ chỉ hai sự vật dưới dạng cá thể có thể đếm được. Vì vậy, có thể nói một cuôn sách, một cuốn vở mà không thể nói một cuốn sách vở. Bài tập 5. a. Có phải mọi thứ hoa có màu hồng đều gọi là hoa hồng không? Gợi ý Trong thực tế, không phải mọi thứ hoa có màu hồng đều được gọi là hoa hồng vì hoa hồng là tên gọi một loài hoa cụ thể, hoa hồng có nhiều màu và nhiều loại: hoa hồng vàng (có màu vàng), hoa hồng bạch (có màu trắng)… b.Em Nam nói: “Cái áo dài của chị em ngắn quá!”. Nói như thế có đúng không? Tại sao? Gợi ý Chiếc áo mà em Nam đề cập có thể ngắn hơn so với tiêu chuẩn nóá chung của một chiếc áo dài. Bởi vậy, cách nói của Nam là hoàn toàn đúng. c.Có phải mọi loại cà chua đều chua không? Nói: “Quả cà chua này ngọt quá!” có được không? Gợi ý: Câu nói trên hoàn toàn đúng vì: cà chua là tên gọi một loại quả có vị chua, song không phải tất cả các loại cà chua đều chua mà còn có cả cả chua mang vị ngọt. d.Có phải mọi loại cá màu vàng đều là cá vàng không? Cá vàng là loại cá như thế nào? Gợi ý Nghĩa của các từ ghép mang tính châ’t bao quát hơn, tổng hợp hơn nghĩa của các tiếng hợp thành. + mát tay: thường dễ đạt được kết quả tốt dễ thành công trong công việc. + nóng lòng: chỉ người có tâm trạng phấp phỏng, luôn mong muốn cao độ làm một việc gì đó. + gang thép: chỉ con người cứng cỏi, mạnh mẽ, luôn vững vàng không gì thay đổi được. + tay chân: nói về người cộng sự đắc lực và tin cẩn cho một người nào đó. Bài tập 7. Thử phân tích cấu tạo của những từ ghép có ba tiếng: máy hơi nước, than tổ ong, bánh đa nem theo mẫu đã cho sẵn. Gợi ý
Soạn bài từ ghép
931
Soạn bài Từ ngữ miêu tả Hướng dẫn HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Gọi tên màu sắc của các sự vật trong tranh dưới đây (SGK/113). M: Lá cờ đỏ Gợi ý: Bông hoa hồng; Con ngựa trắng; Hộp phấn trắng; Dòng kênh xanh; Hàng cây xanh. 2.Xếp các tiếng đỏ, trắng, xanh, hồng, điều, bạch, biếc, đào, lục, son vào nhóm thích hợp trong phiếu học tập hoặc bảng nhóm theo mẫu (SGK/114). Gợi ý: a) Nhóm 1 (chỉ màu đỏ) b) Nhóm 2 (chỉ màu trắng). c) Nhóm 3 (chỉ màu xanh) M: son, đào, đỏ, hồng, điều trắng, bạch xanh, biếc, lục 4.Chọn tiếng trong ngoặc đơn phù hợp với mỗi chỗ trống trong các câu sau (SGK/114) (đen, mun, huyền, ô, mực). Gợi ý: – Bảng màu đen gọi là bảng đen -Mắt màu đen gọi là mắt huyền -Ngựa màu đen gọi là ngựa ô -Mèo màu đen gọi là mèo mun –Chó màu đen gọi là chó mực 5.Đọc bài văn “Chữ nghĩa trong văn miêu tả” và trả lời câu hỏi (SGK/115) -Trong miêu tả, người ta hay dùng biện pháp gì? -So sánh thường kèm theo biện pháp gì? -Trong quan sát để miêu tả, điều quan trọng là phải tìm ra cái gì? Gợi ý: – Trong miêu tả, người ta hay dùng biện pháp so sánh. -So sánh thường kèm theo biện pháp nhân hoá. –Trong quan sát để miêu tả, điều quan trọng là phải tìm ra cái mới, cái riêng. a)Một dòng sông, dòng suối hoặc con kênh đang chảy. b)Đôi mắt của một em bé. c)Dáng đi của một người. Gợi ý a) Dòng sông thướt tha khoác lên mình tấm lụa đào của ánh bình minh. b)Đôi mắt của bé đen láy, lấp lánh như hai vì sao. c)Bà ấy có dáng đi lạch bạch như một cô vịt.
Soạn bài Từ ngữ miêu tả
276
Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội là một bài thuộc phần Ngữ pháp trong chương trình Ngữ văn lớp 8. Thông qua bài soạn này chúng ta hiểu thêm được từ ngữ địa phương của mình và một số nơi trên cùng một lãnh thổ, cho thấy được sự đa dạng trong ngôn ngữ tiếng Việt. Soạn bài Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội Bài làm I- Từ ngữ địa phương – Các từ “bắp” và “bẹ” ở đây cũng lại đều có nghĩa là “ngô”. Thế rồi cũng chính trong ba từ bắp, bẹ, ngô thì ta nhận thấy được từ nào là từ địa phương, từ nào được sử dụng trong toàn dân? Trả lời: Những từ bắp và từ bẹ cũng lại đều là từ ngữ địa phương. Từ ngô được xem là từ ngữ toàn dân. II. Biệt ngữ xã hội a, Ta nhận thấy được cũng chính trong đoạn văn trên tác giả có chỗ dùng là “mẹ”, thế như trên thực tế nhiều chỗ lại dùng “mợ”. Nguyên do cũng chính bởi vì tác phẩm “Trong lòng mẹ” chính là hồi ký chính vì thế nên tác giả Nguyên Hồng cũng đã lại dùng từ “mẹ”- từ ngữ hiện tại. Trên thực tế ta nhận thấy được chính những dòng đối thoại tác giả dùng từ “mợ” trong bài vì đoạn đối thoại đó nằm trong kí ức trước đây. Có thể nói cũng trước cách mạng tháng Tám 1945 thì ta nhận thấy được cũng chính tầng lớp thượng lưu ở nước ta gọi mẹ là “mợ” còn bên cạnh đó thì gọi cha là “cậu”. b, Ta nhận thấy được từ “ngỗng” có nghĩa là điểm hai – đó cũng chính là một hình dạng con ngỗng giống điểm 2 – Thực sự đây cũng chính đều là từ ngữ học sinh hay sử dụng nhất với nhau trong mỗi một kì thi. III- Sử dụng từ ngữ địa phương, biệt ngữ xã hội 1.Tại sao không nên lạm dụng từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội? – Không thể phủ nhận được chính việc sử dụng từ ngữ địa phương hay biệt ngữ xã hội thì chúng ta cũng cần phải chú ý hoàn cảnh giao tiếp để sử dụng cho phù hợp. – Chúng ta cũng không nên lạm dụng từ ngữ địa phương, hay những biệt ngữ xã hội bởi không phải đối tượng nào cũng có thể hiểu nghĩa của từ và sử dụng được những từ đó trong giao tiếp hàng ngày. 2. ​Khi sử dụng từ ngữ địa phương hoặc biệt ngữ xã hội, cần chú ý điều gì? Chúng ta cũng có thể nhận thấy được tác giả Nguyên Hồng trong bài Nhớ, hay trong bài “Bỉ vỏ” đã có sử dụng các từ ngữ địa phương có thể kể ra sau đây như “mô”, “bầy tui”, “ví”… nhằm: + Những từ ngữ này có tác dàm tăng giá trị biểu cảm cho đoạn thơ + Đồng thời cũng đã lại tô đậm màu sắc địa phương, các tầng lớp xã hội và tính cách nhân vật được nổi bật nhất. Soạn bài Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội Luyện tập Bài 1 (trang 58 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Tìm một số từ ngữ địa phương nơi em ở hoặc ở vùng khác mà em biết. Nêu từ ngữ toàn dân tương ứng. Từ ngữ địa phương Từ ngữ toàn dân Má (nam bộ) Mẹ Bọ (Nghệ Tĩnh) Cha Mô ( Nghệ Tĩnh) Đâu Cây viết ( Nam bộ) Cây bút Trái thơm (Nam bộ) Quả dứa O ( Hà Tĩnh) Cô Con tru ( Trung bộ) Con trâu Heo (nam bộ) Con lợn Bài 2 ( trang 59 sgk Ngữ văn 8 tập 10) Tìm một số từ ngữ của tầng lớp HS hoặc của tầng lớp xã hội khác mà em biết và giải thích nghía của các từ ngữ đó (cho ví dụ minh hoạ). – Biệt ngữ của học sinh được sử dụng ở đây: + Từ “gậy” ở đây để chỉ điểm 1 + Từ “học gạo”: ý nói chính là học nhiều, không chú ý tới những việc khác + Từ “quay cóp”: Đó chính là hành động nhìn tài liệu trong giờ thi, trong giờ kiểm tra + Từ “trượt vỏ chuối” ở đây cũng như dùng để chỉ việc thi trượt – Ta nhận thấy được biệt ngữ của vua quan trong triều đình phong kiến xưa đó chính là các từ trẫm, khanh, long bào, ngự gia, ngự bút, long bào… – Đối với biệt ngữ của bọn lưu manh, những bọn trộm cắp ở thành phố: chọi, choai, xế lô, dạt vòm, rụng, táp lô… Bài 3 (Sách giáo khoa trang 59 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Trong những trường hợp giao tiếp sau đây, trường hợp nào nên dùng từ ngữ địa phương, trường hợp nào không nên dùng từ ngữ địa phương? Ta nhận thấy được chính những trường hợp không nên sử dụng từ ngữ địa phương: b, Ở đây thì người nói chuyện với mình lại là người ở địa phương khác c, Khi mà phát biểu ý kiến ở trên lớp d, Khi chúng ta làm bài tập làm văn e, Khi chúng ta viết đơn từ hay viết những báo cáo gửi thầy giáo, cô giáo g, Hay những khi chúng ta nói chuyện với người nước ngoài biết tiếng Việt Bài 4 (Sách giáo khoa trang 59 Ngữ văn 8 tập 1) Sưu tầm một số câu thơ, ca dao, hò, vè của địa phương em (hoặc của địa phương khác) có sử dụng từ ngữ địa phương trong mỗi bài tập làm văn. Ví dụ như câu sau: Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngá Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông (Ca dao) Bầm ơi, có rét không bầm Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn. (Bầm ơi, Tố Hữu) Trèo lên trên rẫy khoai lang Chẻ tre đan sịa cho nàng phơi khoai. ( Hò ba lí của Quảng Nam) Thông qua bài soạn mà giải Văn hướng dẫn cho các em, hi vọng các em có thêm được các kiến thức nhất định để lên lớp học bài tốt nhất. Chúc các em học tốt! Minh Minh Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm: Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8 Soạn bài Bàn về đọc sách Sean bài Trong lòng mẹ
Soạn bài Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội Ngữ văn 8
1,046
Soạn bài từ tượng hình – từ tượng thanh Hướng dẫn I.Đặc điểm – công dụng a.Đoạn tríchLão Hạccủa Nam Cao có những từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, hoạt động trảng thái của sự vật, những từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, con người: -Móm mém, xồng xộc, vật vã, rũ rượi, xộc xệch, long sòng sọc – đó là những từ tượng hình. -Hu hu, ử ử, a! – đó là những từ tượng thanh. b.Những từ ngữ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, hoạt động hoặc mô phỏng âm thanh rất có tác dụng trong văn miêu tả, tự sự. Các từ này gợi ra những cảm xúc, suy nghĩ hoặ tưởng tượng, hình dung ra sự vật mà nhà văn và tác phẩm muốn diễn tả. II.Luyện tập 1.Từ tượng hình và tượng thanh trong những câu trích trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố. a.Từ tượng thanh. -Soàn soạt, bịch, đánh bốp. -Nham nhảm. b.Từ tượng hình. -Rón rén, lực điền, chỏng queo. 2.Năm từ tượng hình gợi tả dáng đi. -Tất bật, hùng hục, thoăn thoắt, lom khom, rón rén. 3.Phân biệt ý nghĩa tượng thanh tả tiếng cười: -Ha hả: cười thành tiếng rất to, rất sảng khoái. -Hì hì: cười tiếng nhỏ có ý giữ thái độ. -Hô hố: cười to, có vẻ thô lỗ. -Hơ hớ: cười thoải mái vui vẻ, không che đậy, giữ gìn. 4.Đặt câu với các từ tượng hình: -Lắc rắc: trời hôm nay mưa lắc rắc suốt ngày. -Lấm tấm: cô giáo mặc áo dài lấm tấm hoa. -Khúc khuỷu: Đoạn đường vào nhà bạn tôi quanh co, khúc khuỷu. -Lập lòe: “Ngõ tối đêm khuya đóm lập lòe” (Nguyễn Khuyến) Các em viết tiếp các câu có những từ còn lại. 5.Bài thơ có cách dùng từ tượng hình, tượng thanh: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo tao Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước ngõ khẽ đưa vèo Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. (Thu điếu – Nguyễn Khuyến) Bài thơ trên có những từ tượng hình, tượng thanh làm cho bài thơ rất giàu hình ảnh và gây ấn tượng. a.Về từ tượng hình: trong veo, sóng biếc, tẻo teo, gợn tí, vắng teo, xanh ngắt. b.Về từ tượng thanh: đưa vèo, đớp động.
Soạn bài từ tượng hình – từ tượng thanh
379
Soạn bài Tự do và công lí Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1. Những bức ảnh dưới đây muốn nói điều gì? (SGK/92). Gợi ý: Những bức ảnh muốn nói rằng trên thế giới có nhiều dân tộc khác nhau, màu da và phong tục khác nhau nhưng tất cả trẻ em đều đáng quý, đáng yêu. Mọi người cần đoàn kết, thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau. 3.Chọn lời giải nghĩa ở cột B phù hợp với từ ngữ ở cột A. Gợi ý: a) – 1); b) – 4); c) – 2; d) – 5); e) – 3). 5.Tìm câu trả lời cho các câu hỏi dưới đây: 1)Ở Nam Phi, dưới chế độ a-pác-thai, người da trắng chiếm bao nhiêu phân dân số. 2)Người da trắng đã chiếm giữ những quyền lợi gì ở đất nước này? Vì sao nói sự chiếm giữ đó là phi lí? Gợi ý: 1) Ở Nam Phi, dưới chế độ a-pác-thai, người da trắng chiếm 1/5 dân số. 2) Người da trắng đã chiếm giữ 9/10 đất trồng trọt, 3/4 tổng thu nhập và toàn bộ hầm mỏ, xí nghiệp, ngân hàng. Sự chiếm giữ đó là phi lí vì số người ít mà có nhiều, trong khi số người nhiều thì lại có ít. 6.Những dòng nào dưới đây nói về việc người da đen bị đối xử bất công dưới chế độ a-pác-thai? a)Không có đất trồng trọt. b)Phải làm những công việc nặng nhọc, bẩn thỉu. d)Lương chỉ bằng 1/7 hay 1/10 lương của công nhân da trắng. e)Phải sông, chữa bệnh, đi học ở những khu riêng. g)Không được nhận làm việc ở xí nghiệp hay ngân hàng. h)Không được hưởng một chút tự do, dân chủ nào. Gợi ý: b, d, e, h. 7.Thảo luận, trả lời câu hỏi: Bài văn cho em biết những gì về vị Tổng thống đầu tiên của nước Nam Phi mới? Gợi ý: Nen-xơn Man-đê-la là vị Tổng thống đầu tiên của nước Nam Phi mới. Ông là một luật sư da đen, từng bị giam cầm suốt 27 năm vì đấu tranh chống chế độ a-pác-thai. B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 2.a) Ghi vào vở những tiếng có ưa hoặc ươ trong hai khổ thơ dưới đây: Thuyền đậu, thuyền đi hạ kín mui Lưa thưa mưa hiển ấm chân trời Chiếc tàu chở cá về bến cảng Khói lẫn màu mây tưởng đảo khơi. Em bé thuyền ai ra giỡn nước Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm Biển bằng không có dòng xuôi ngược Cơm giữa ngày mưa gạo trắng thơm. (Huy Cận) b) Nêu nhận xét về cách ghi dấu thanh ở các tiếng có ưa và ươ. Gợi ý: a) – ưa: lưa thưa, mưa, giữa. – ươ: tưởng, nước, tươi, ngược b) – ưa: không có âm cuối, ghi dấu thanh ở chữ cái đầu của âm chính. – ươ: có âm cuối, ghi dấu thanh ở chữ cái thứ hai của âm chính. Gợi ý: a) Cầu được ước thấy d) Lửa thử vàng, gian nan thử sức. b) Năm nắng, mười mưa e) Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. c) Nước chảy đá mòn g) Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa 4.Thi xếp các thẻ từ vào nhóm thích hợp trong bảng. -Xếp những từ có tiếng hữu ở các thẻ từ vào bảng phân loại. -Viết vào vở kết quả phân loại đúng. hữu nghị, hữu hiệu, chiến hữu, hữu tình, thân hữu, hữu ích, hữu hảo, bằng hữu, bạn hữu, hữu dụng Hữu có nghĩa là bạn bè Hữu có nghĩa là có M: hữu nghị M: hữu ích Gợi ý: • Hữu có nghĩa là bạn bè: hữu nghị, chiến hữu, thân hữu, hữu hảo, bằng hữu, bạn hữu. • Hữu có nghĩa là có: hữu hiệu, hữu tình, hữu ích, hữu dụng. 5.Đặt hai câu với từ có tiếng hữu mang nghĩa khác nhau. Gợi ý: Quê hương em phong cảnh thật hữu tình. Tình hữu nghị giữa Việt Nam và các nước trên thế giới ngày càng bền chặt. 6.Làm bài tập trong phiếu học tập (SGK/98). 1)Nối các từ có tiếng hợp với nhóm A hoặc B: 2)Đặt một câu với một từ chứa tiếng hợp:… Gợi ý: 2) Các lớp trong khôi Năm cùng hợp tác làm báo tường. C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG a)Bốn biển một nhà. b)Kề vai sát cánh. c)Chung lưng đấu sức. Gợi ý: a) Bốn biển một nhà: những người ở khắp mọi nơi đoàn kết, thông nhất như người trong một gia đình. b)Kề vai sát cánh: cùng đồng lòng, hợp sức chia sẻ gian nan, gánh vác một công việc trọng đại. c)Chung lưng đấu sức: đoàn kết, cùng hợp sức giải quyết khó khăn, vượt qua gian nan.
Soạn bài Tự do và công lí
727
Soạn bài viếng lăng bác Hướng dẫn I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Cả bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả từ miền Nam ra viếng lăng Bác. Tác phẩm có giọng thành kính, trang nghiêm phù hợp với không khí thiêng liên ở lăng, nơi vĩ lãnh tụ yên nghỉ. Cùng với giọng suy tư, trầm lắng là nỗi đau xót lẫn nỗi tự hào. -Mạch vận động của cảm xúc đi theo trình tự vào lăng Viếng Bác. + Mở đầu bài là cảm xúc về cảnh bên ngoài lăng, tập trung ở ấn tượng đậm nét về hàng tre bên lăng gợi hình ảnh của quê hươn đất nước. + Tiếp đó là cảm xúc trước hình ảnh dòng người như bất tận ngày ngày vào viếng Bác. Xúc cảm và suy ngẫm về Bác được gợi lên từ những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng: mặt trời, vầng trăng, trời xanh. + Cuối cùng là niềm mong ước thiết tha khi sắp phải trở về quê hương miền Nam, muốn tấm lòng mình vẫn được mãi mãi ở lại bên lăng Bác. -Bố cục khá đơn giản, tự nhiên và hợp lí nhờ có mạch cảm xúc trên. Câu 2. Hình ảnh đầu tiên quanh lăng Bác là hàng tre, biểu tượng của dân tộc. Vì nó là sức sống bền bỉ, kiên cường của dân tộc ’’Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng’’. Hình tượng hàng tre bên lăng Bác sẽ được lặp lại tạo cho bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng, làm đậm nét hình ảnh gây ấn tượng sâu sắc và dòng cảm xúc được trọn vẹn. Câu 3. -Khổ 2: Khổ thơ thứ hai được bắt đầu bằng hình ảnh mặt trời. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. Có hai mặt trời: mặt trời trong câu thơ trên là hình ảnh thực, mặt trời trong câu thơ dưới là hình ảnh ẩn dụ. Lấy mặt trời để ví với Bác, nhà thơ thể hiện sự tôn kính của mình, cũng là sự tôn kính của toàn thể nhân dân Việt Nam đối với vị lãnh tụ vĩ đại. Sự tôn kính ấy còn thể hiện tron hình ảnh dòng người ngày ngày vào viếng Bác. Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân. Người vào thăm Bác, mang hoa đến viếng Bác, đó là một hình ảnh thực. Nhưng nhà thơ lại muốn nói đến một ’’tràng hoa’’ khác. Nhìn dòng người bất tận nối tiếp nhau, nhà thơ thấy giống như một tràng hoa dâng Bác. Lại là một sự kết hợp giữa hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ, tô đậm niềm tôn kính của nhân dân đối với Bác Hồ. -Khổ ba: nhà thơ diễn tả cảm xúc của mình khi đã vào trong lăng. Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim! Khổ thơ gồm 4 câu 7 chữ cân đối, trang nghiêm, phù hợp với không khí thiên liêng và thanh tĩnh trong lăng. Không gian và thời gian như ngưng đọng trước một hình ảnh có tính vĩnh hằng. Nhà thơ cảm nhận như Bác chỉ đang ngủ một “giấc ngủ bình yên”. Đó cũng là anash tượng thực của mọi người khi được vào thăm lăng Bác. Hình ảnh “vầng trăng” là một liên tưởng độc đáo, bất ngờ của nhà thơ. Có thể liên tưởng ấy bắt đầu từ ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo của không gian trong lăng. Khi đã xuất hiện thành hình ảnh thơ, “vầng trăng sáng dịu hiền” gợi nghĩ đến tâm hồn cao đẹp, sáng trong và những vần thơ tràn đầy ánh trăng của Người. Từ hình ảnh “vầng trăng”, nhà thơ lại tiếp tục liên tưởng đến hình ảnh “trời xanh”. Bầu trời xanh là hình ảnh thiên nhiên lớn lao, vĩnh hằng. Nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Bác sống như trời đất của ta”. Bác ra đi, nhưng vẫn còn mãi với non sông đất nước, như trời xanh còn mãi. Dù vẫn tin như thế nhưng không thể không đau xót vì sự ra đi của Người: “Mà sao nghe nhói ở trong tim!”. Câu thơ biểu hiện cụ thể và trực tiếp nỗi đau xót trong hình thức một câu hỏi tu từ. -Khổ cuối: Nhà thơ bày tỏ tâm trạng lưu luyến khi sắp sửa phải trở về miền Nam. Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. “Mai về miền Nam”, nhớ thương Bác đến “trào nước mắt”. Câu thơ có cách diễn đạt chân thành, mộc mạc kiểu Nam Bộ. Ba câu thơ cuối bắt đầu bằng điệp ngữ “muốn làm” bày tỏ niềm mong mỏi. Tấm lòng lưu luyến của nhà thơ gửi vào trong niềm mong ước thiết tha muốn hóa thân vào những cảnh vật bên lăng Bác: muốn làm “con chim hót”, muốn làm bông hoa “tỏa hương” và hơn hết, muốn làm “cây tre trung hiếu” nhập vào “hàng tre bát ngát” quanh lăng Bác. Hình ảnh hàng tre ở khổ thơ đầu được lặp lại ở câu cuối bài tạo nên kết cấu cuối tương ứng, tô đậm hình ảnh gây ấn tượng sâu sắc và dòng cảm xúc trọn vẹn. Câu 4. -Bài thơ có giọng điệu vừa trang nghiêm, vừa tha thiết, đau xót, tự hào, thể hiện đúng tâm trạng xúc động khi vào lăng viếng Bác. Giọng điệu ấy được tạo nên bởi nhiều yếu tố: thể thơ, nhịp điệu của các câu thơ, từ ngữ và hình ảnh. -Thể thơ và nhịp điệu: thể thơ 8 chữ, nhưng có những dong thơ 7 hoặc 9 chữ. Cách gieo vần trong từng khổ cũng không cố định, có khi liền, có khi cách. Nhịp của các khổ thơ nhìn chung là nhịp chậm, diễn tả sự trang nghiêm, thành kính, lắng đọng trong tâm trạng nhà thơ. Riêng khổ cuối nhịp thơ nhanh hơn, với điệp từ muốn làm được lặp ba lần, thể hiện mong ước tha thiết và nỗi lưu luyến của tác giả. -Hình ảnh thơ trong bài có nhiều sáng tạo, kết hơp cả hình ảnh thực, hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng. Đặc sắc nhất là những hình ảnh ẩn dụ – biểu tượng (mặt trời trong lăng, tràng hoa, trời xanh, vầng trăng) vừa quen thuộc, gần gũi với hình ảnh thực, lại vừa sâu sắc, có ý nghĩa khái quát và giá trị biểu cảm.
Soạn bài viếng lăng bác
1,124
Soạn bài Viết bài văn tả cảnh Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Thi điền nhanh dấu câu – Trao đổi, điền nhanh dấu câu vào ô trống trong mẩu chuyện dưới đây. Viết kết quả ra bảng nhóm theo số thứ tự. M: 1 – dấu phẩy – Đại diện nhóm đọc mẩu chuyện trước lớp sau khi đã điền dấu câu (lưu ý đọc cả dấu câu). Đợi ô tô qua Tan học, thấy cu Tí chần chừ mãi không đi về (1) một chị lớp 5 hỏi – Sao em chưa về (3) – Bà dặn em khi nào thấy ô tô qua mới được sang đường (4) – Cổng trường mình có bao giờ ô tô chạy qua đâu (5) Tí rân rấn nước mắt – Chính vì thế nên em không về được (7) (Theo CHUYỆN VUI TRƯỜNG HỌC Gợi ý: 1 – dấu phẩy; 2 – dấu hai chấm; 3 – dấu chấm hỏi; 4 – dấu chấm; 5 – dấu chấm hỏi; 6 – dấu hai châm; 7 – dấu chấm 2.b) Viết vào vở tác dụng của dấu hai chấm trong mỗi trường hợp dưới đây (SGK/61) Gợi ý: b) Câu văn Tác dụng của dấu hai chấm a) Một chú công an vỗ vai em: – Cháu quả là chàng gác rừng dũng cảm! NGUYỄN THỊ CẨM CHÂU báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời nói của nhân vật b) Cảnh vật xung quanh tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học. THANH TỊNH báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời giải thích cho bộ phận đứng trước Gợi ý: a)Trận đánh đã bắt đầu Quân ta ào lên trước Một tên giặc ngã nhào Chết rồi, không dậy được Chết là không nhúc nhích Sao nó cứ lồm cồm? Tính ăn gian chẳng thích Chơi thật thà vui hơn Thằng giặc cuống cả chân Nhăn nhó kêu rối rít: – Đồng ý là tao chết Nhưng đây… tổ kiến vàng! (ĐỊNH HẢI) b) Tôi đã ngửa cổ suốt một thời mới lớn để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay xuống từ trời và bao giờ cũng hi vọng khi tha thiết cầu xin: “Bay đi, diều ơi! Bay đi!”. (Theo TẠ DUY ANH) c) Từ Đèo Ngang nhìn về hướng nam, ta bắt gặp một phong cảnh thiên nhiên kì vĩ: phía tây là dãy Trường Sơn trùng điệp, phía đông là biển cả bao la, ở giữa là một vùng đồng bằng biếc xanh màu lục diệp. (Theo VĂN NHĨ) 4.a) Đọc mẩu chuyện vui “Chỉ vì quên một dấu câu” (SGK/62) b) Trả lời câu hỏi: – Trong mẩu chuyện vui trên, người bán hàng hiểu lầm ý của khách như thế nào? – Để người bán hàng khỏi hiểu lầm, ông khách cần thêm dấu gì vào tin nhắn của mình, dấu đó đặt sau chữ nào? c) Đọc lại mẩu chuyện vui sau khi đã đặt đúng dấu câu. Gợi ý: – Ông khách cần thêm dấu hai chấm, đặt sau chữ chỗ. “Xin ông ghi thêm nếu còn chỗ: Linh hồn bác sĩ được lên thiên đàng”. B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Viết bài văn tả cảnh theo một trong các đề bài sau: a) Tả một ngày mới bắt đầu ở quê em: b) Tả một đêm trăng đẹp: c) Tả trường em trước buổi học: d) Tả một khu vui chơi, giải trí mà em thích: C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG 2.Hỏi người thân về quyền của trẻ em Gợi ý: Quyền của trẻ em -Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe. -Trẻ em có quyền được học tập. -Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi.
Soạn bài Viết bài văn tả cảnh
583
Soạn bài viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh Hướng dẫn I.Đoạn văn trong văn bản thuyết minh 1.Nhận dạng các đoạn văn thuyết minh Đoạn văn a và b có câu chủ đề đầu đoạn, có một số từ ngữ chủ đề (đoạn a: thiếu nước sạch nghiêm trọng, đoạn b: Phạm Văn Đồng: nhà cách mạng nổi tiếng và nhà văn hóa lớn). Các câu sau có chức năng chứng minh cho ý chủ đề. 2.Sửa các đoạn văn thuyết minh chưa chuẩn. -Nhược điểm của các đoạn văn a và b: sắp xếp lộn xộn các ý. -Sửa chữa lại: a.Cấu tạo một chiếc bút bi gồm hai phần, trước hết là ruột bút bi. Đó là một ống nhựa dài, trong đó chứa mực có thể màu xanh hay đen hoặc đỏ – những màu thường gặp ở bút bi. Phía dưới ống mực đó là đầu bút bi. Có một hòn bi trắng nhỏ ở đầu ngòi bút khi viết hòn bi lăn làm mực trong ống nhựa chảy ra, ghi thành chữ. Ngoài ruột bút bi, chiếc bút bi còn có vỏ bên ngoài. Phần bỏ là một ống nhựa hoặc sắt để bọc ruột bút bi và làm cán bút viết. Nó gồm ống và nắp bú hoặc có lò xo (bút bi bấm) hoặc không có (bút bi có nắp đậy). b.Nhà em có một chiếc đèn bàn. Đế đèn được làm bằng một khối thủy tinh hình tròn, trông rất vững chãi trên đế đèn có công tắc đẻ bật hoặc tắt đèn rất tiện lợi: Ở trên bóng đèn có chao đèn làm bằng vải lụa, có khung sắt ở trong và có vòng thép gắn vào bóng đèn. Nhờ có chiếc chao đèn mà ánh sáng trở nên tập trung và dịu hơn. II.Luyện tập Câu 1. a.Mở bài: Nếu ai đi qua trục đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, xin dừng chân lại ghé thăm trường tôi. Đó là trường THCS Võ Thị Sáu. Ngôi trường không rộng mà nhỏ xinh, nằm khuất sau hàng câu phượng lá xanh um rợp mát. b.Kết bài: Chỉ còn một thời gian nữa thôi, tôi sẽ phải từ giã mái trường này để lên lớp vào trường THPT. Biết bao kỉ niệm đẹp của thầy cô, bạn bè đã lưu lại nơi đây. Mỗi lần nghĩ vậy, tôi càng thấy gắn bó và yêu thương hơn bao giờ hết mái trường cấp hai xinh xắn, thân thuộc này. Câu 2. Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Vốn mang trong tim mình nỗi đau mất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã quyết tâm đi tìm đường giải phóng dân tộc. Sauk hi trở về nước, Bác đã dành toàn bộ cuộc đời mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của nước nhà. Chúng ta hôm nay sống trong không khí hạnh phúc, hòa bình một phần lớn phải kể đến công lao và sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Người.
Soạn bài viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh
493
Soạn bài viết đoạn văn trình bày luận điểm Hướng dẫn I.Trình bày luận điểm thành một đoạn văn nghị luận 1.Luận điểm trong các đoạn văn. a.Thật là chốn tụ hội trọng yếu của 4 phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. b.Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng danh với tổ tiên ta ngày trước. -Câu chủ đề có thể đặt ở đầu đoạn văn, cũng có thể đặt ở cuối đoạn văn. -Đoạn a viết theo cách quy nạp (câu chủ đề nằm ở cuối đoạn, tóm lại ý của toàn đoạn). -Đoạn b viết theo cách diễn dịch (câu chủ đề nằm ở đầu đoạn, các câu sau triển khai tiếp ý câu chủ đề). 2. a. -Lập luận là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ, hợp lý thì bài văn mới có sức thuyết phục. -Luận điểm trong đoạn văn: ‘Cho thằng nhà giàu rước chó vào nhà, nó mới càng hiện chất chó đểu của giai cấp nó ra’. -Cách lập luận: tác giả dùng phép tương phản. b.Cách lập luận trong đoạn văn đã làm cho luận điểm trở nên sáng tỏ, chính xác và có sức thuyết phục mạnh mẽ. c.Cách sắp xếp ý trong đoạn văn hợp lý. Nếu tác giả xếp nhận xét Nghị Quế ‘đùng đùng giở giọng chó má ngay với mẹ con chị Dậu’ lên trên và đưa nhận xét ‘vợ chồng địa chủ cũng … thích chó, yêu gia súc’ xuống dưới thì hiệu quả của đoạn văn sẽ không đúng trình tự trước sau của bản thân sự việc là làm nổi bật luận điểm ‘chất chó đểu của giai cấp nó’. d.Trong đoạn văn, những cụm từ ‘chuyện chó con’, ‘giọng chó má’, ‘thằng nhà giàu rước chó vào nhà’, ‘chất chó đểu của giai cấp nó’ được xếp cạnh nhau làm cho sự trình bày luận điểm thêm chặt chẽ và hấp dẫn vì vừa xoay vào một ý tứ chung, vừa khiến bản thân thú vật của bọn địa chủ hiện ra thành hình ảnh rõ ràng, lí thú. II.Luyện tập 1.Diễn đạt thành luận điểm ngắn gọn. a.Trước hết là cần tránh lối viết dài dòng, lan man. b.Ngoài việc mê viết, Nguyên Hồng còn thích truyền nghề cho bạn trẻ. 2. -Luận điêm ‘Tế Hanh là một người tinh lắm’. -Luận điểm ấy gồm 2 luận cứ: + Tế Hanh ghi được … quê hương. + Thơ Tế Hanh đưa ra … cảnh vật. Các luận cứ đó được xếp đặt theo trình tự tăng tiến, luận cứ sau biểu hiện một mức độ tinh tế cao hơn so với luận cứ đầu. Nhờ đó người đọc có được hứng thú tăng thêm. 3.Các luận cứ của luận điểm ấy có thể được sắp xếp như sau: -Văn giải thích được viết ra nhằm làm cho người đọc hiểu. -Giải thích càng khó hiểu thì người viết càng khó đạt được mục đích. -Ngược lại, giải thích càng dễ hiểu thì người đọc càng dễ lĩnh hội, dễ nhớ, dễ làm theo. -Vì thế, văn giải thích không thể không viết cho dễ hiểu.
Soạn bài viết đoạn văn trình bày luận điểm
510
Đề bài: Soạn Bài Viết Đoạn Văn Trình Bày Về Luận Điểm Lớp 8 Bài Làm I. TRÌNH BÀY LUẬN ĐIỂM THÀNH MỘT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN Câu 1: Đọc các đoạn văn và trả lời câu hỏi a) Đoạn (a) câu chủ đề: Thật là…muôn đời; đoạn (b) câu chủ đề: Đồng bào ta…ngày trước b) Đoạn (a) câu chủ đề đặt ở cuối đoạn; đoạn (b) câu chủ đềđặt ở đầu đoạn văn. c) Đoạn diễn dịch là đoạn (b); đoạn quy nạp là đoạn (a). Câu 2: a) Lập luận là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ, hợp lí thì bài văn mới có sức thuyết phục. – Luận điểm có sức thuyết phục là nhờ luận cứ (lí lẽ, dẫn chứng) trình bày hợp lí thì bài viết mới có sức thuyết phục. – Luận điểm: Cho thường nhà giàu rước chó vào nhà, nó mới càng hiện chất chó đểu của giai cấp nó ra b) Cách lập luận: Dùng phép tương phản để làm sáng tỏ cho luận tỏ, chính xác và tạo ra sức thuyết phục mạnh mẽ. c) Các luận cứ được sắp xếp hợp lí theo mức độ tăng tiến có tác dụng làm nổi bật luận điểm. Nếu tác giả xếp nhận xét Nghị Quế “đùng đùng giở giọng chó má ngay ra với mẹ con chị Dậu lên trên và đưa nhận xét “vợ chồng địa chủ… thích chó, yêu gia súc” xuống dưới thì bản chất chó đểu của Nghị Quế sẽ bị mờ nhạt đi. II. LUYỆN TẬP Bài tập 1: a) Cần tránh lối viết dài dòng khiến người đọc khó hiểu. b) Ngoài mê viết, nhà văn Nguyên Hồng thích truyền nghề cho các bạn trẻ. Bài tập 2: -Luận điểm: Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm. – Luận cứ 1: Tế Hanh đã ghi được đôi nét thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương – Luận cứ 2: Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi… cảnh vật – Sắp xếp thứ tự theo trình tự tăng tiến – Tác dụng: Gây hứng thú đối với người đọc Bài tập 3: a, Cho luận điểm: ” Học phải kết hợp với làm bài tập mới hiểu bài”. – Các luận cứ: Học để nắm bắt tri thức, tuy vậy việc củng cố những tri thức nắm bắt được còn quan trọng hơn. (Dẫn chứng: Có nhiều người trong học tập thu nạp được nhiều kiến thức nhưng sau một thời gian không thực hành, kiến thức bị mai một, rơi rụng). Làm bài tập sẽ giúp am hiểu hơn về kiến thức. (Chứng minh: Lý thuyết phải được soi chiếu vào bài tập, từ lý thuyết để tìm ra hướng giải quyết trong bài làm, từ đó kiến thức trở thành có ích). Việc làm bài tập thường xuyên sẽ củng cố tri thức hiệu quả nhất. b, Luận điểm: ” Học vẹt không phát triển được năng lực tư duy”. – Giải thích khái niệm: học vẹt. ( Học vẹt chỉ là nói thao thao như vẹt nhưng không hiểu mình nói gì, nhiều người chỉ cố học thuộc lòng nhưng không nắm được bản chất của vấn đề). – Hậu quả của việc học vẹt: học vẹt làm cho trí não trở nên lười biếng. Khi không sử dụng thao tác tư duy, phân tích, giải thích… các kĩ năng thiết yếu của tư duy không được rèn luyện. Bài tập 4: Để làm sáng tỏ luận điểm: ” Văn giải thích cần viết cho dễ hiểu” có thể đưa ra các luận cứ sau: – Văn giải thích được viết ra nhằm làm cho người đọc hiểu. – Giải thích càng khó hiểu thì người viết càng khó đạt được mục đích. – Ngược lại, giải thích càng dễ hiểu thì người đọc càng dễ lĩnh hội, dễ nhớ, dễ làm theo. – Vì thế, văn giải thích phải được viết sao cho dễ hiểu.
Soạn Bài Viết Đoạn Văn Trình Bày Về Luận Điểm Lớp 8
641
Soạn bài viết đơn Hướng dẫn Soạn bài viết đơn I. Khi cần viết đơn 1.Khi nào hoặc vì sao cần viết đơn -Ví dụ 1: Vì muốn vào Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh. -Ví dụ 2: Khi bị ốm, không đến lớp được. -Ví dụ 3: Vì khi hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn -Ví dụ 4: Khi mất giấy chứng nhận tốt nghiệp Tiểu học. 2.Trường hợp viết đơn a.Viết đơn gửi Cảnh sát khu vực (địa phương cư trú). b.Viết đơn gửi Ban giám hiệu nhà trường d. Viết đơn gửi Ban giám hiệu trường phổ thông cơ sở (ở chỗ mới đến). II. Các loại đơn và những nội dung không thể thiếu trong đơn 2. Cách viết đơn a.Đơn theo mẫu (Đơn xin học nghề) trình bày các mục theo thứ tự: đơn gửi ai, ai gửi đơn, gửi để đề đạt nguyện vọng gì. Đơn không theo mẫu (Đơn xin miễn giảm học phí) trình bày các mục đích theo thứ tự: đơn gửi ai, ai gửi đơn, vì sao gửi đơn, gửi để làm gì. b.Hai mẫu đơn có những điểm giống nhau -Người nhận -Người gửi -Mục đích gửi Hai mẫu đơn có điểm khác nhau: -Lí do gửi đơn (Đơn xin miễm giảm học phí). c.Những thành phần quan trọng, không thể thiếu trong cả hai mẫu đơn: -Người nhận -Người gửi -Mục đích gửi đơn.
Soạn bài viết đơn
213
Đề bài: Soạn Bài Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác Của Phan Bội Châu Bài làm 1. Hai câu đề “Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì hãy ở tù” hào kiệt: người có tài năng, chí khí hơn hẳn người bình thường phong lưu: có dáng vẻ lịch sự, trang nhã, ung dung, đường hoàng. chạy mỏi chân thì hãy ở tù: coi tù ngục là chốn nghỉ ngơi khi mỏi mệt => Phong thái đường hoàng, tự tin, ung dung, thanh thản; khí phách vừa ngang tàng bất khuất lại vừa hào hoa tài tử. Người chiến sĩ cách mạng bị rơi vào vòng tù ngục mà cứ như ngừoi chủ động nghỉ chân ở một nơi nào đó trên chặng đường bôn tẩu dài dằng dặc. Mà thực chất, đâu có phải như vậy, chính tác giả đã kể lại rằng mình bị áp giải đi “Nào xiềng xích, nào trói chặt vào ngục lại bị giam chung 1 chỗ với bọn xử tử…” 2. Hai câu thực: “Đã khách không nhà trong bốn biển Lại người có tôi giữa năm châu.” Âm hưởng, giọng điệu khác với hai câu đề: giọng điệu trầm thống, diễn tả một nỗi đau cố nén, khác với giọng cười cợt đùa vui ở hai câu trên. Bởi vì ở hai câu thơ này, Phan Bội Châu đang tự nói về cuộc đời của mình, một cuộc đời đầy sóng gió và bất trắc. Từ năm 1905 đến khi bị bắt là 1914, gần 10 năm trời lưu lạc: khi thì ở Nhật, khi Trung Quốc, khi Xiêm…10 năm không 1 mái ấm gia đình, cực khổ về vật chất, cay đắng về tinh thần, cộng với sự săn đuổi của kẻ thù, dù ở đâu ông cũng là đối tượng bị truy bắt, nhất là cảnh ngộ éo le lúc này: đang đội trên đầu 1 bản án tử hình. Tuy nhiên, đây không phải là một lời than thân. Một người đã có thể coi thường hiểm nguy đến thế, một người ngay từ lúc dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng đã tự nguyện gắn cuộc đời mình với tồn vong của đất nước như PHan Bôi Châu “Non sông đã chết sống thêm nhục”, con người ấy đâu cần than cho số phận của cá nhân mình. Có chăng, người chiến sĩ cách mạng đang đau nỗi đau của một người con mất nước, và tự dày vò bản thân khi chưa làm được gì cho tổ quốc. 3. Hai câu luận “Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế Mở miệng cười tan cuộc oán thù” Đây là khẩu khí của 1 bậc anh hùng hào kiệt, dù ở trong hoàn cảnh nào vẫn không thay đổi. Vẫn theo đuổi sự nghiệp cứu nước, “Bủa tay…” vẫn có thể ngạo nghễ “Mở miệng…” trước mặt kẻ thù. Lối nói khoa trương, lãng mạn kiểu anh hùng ca khiến con người dường như không còn là con người thật, con người nhỏ bé bình thường trong vũ trụ nữa mà là con người từ tầm vóc đến năng lực, khẩu khí đều trở nên hết sức lớn lao, thần thánh. 4. Hai câu kết “Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.” Khẳng định tư thế hiên ngang của con người đứng cao hơn cái chết, khẳng định ý chí thép gang mà kẻ thù không thể nào bẻ gãy. Con người ấy còn sống là còn chiến đấu, còn tin tưởng vào sự nghiệp chính nghĩa của mình, vì thế mà không sợ bất kì một thử thách gian nan nào.
Soạn Bài Vào Nhà Ngục Quảng Đông Cảm Tác Của Phan Bội Châu
595
Soạn bài Vào nhà ngục Quảng đông cảm tác Hướng dẫn I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Phân tích cặp câu 1 – 2, tìm hiểu khí phách và phong thái của nhà chí sĩ khi rơi vào vòng ngục tù. -Hoàn cảnh thay đổi: Thông thường bị tù đày đọa là lúc người anh hùng “lỡ bước” “sa cơ” tù đày làm nhụt đi ý chí của con người: “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” (một ngày ngồi tù bằng nghìn thu ở ngoài), tù đày là mang đến sự cô đơn, đau đớn. -Khí phách thay đổi: Đối với Phan Bội Châu, ông xem ngồi tù chỉ là trạm nghỉ của cuộc mỏi chân “chạy mỏi chân thì hãng ở tù” còn khí phách không thay đổi “vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu”. + Vẫn điệp từ khẳng định bản lĩnh anh hùng trước sau như một không gì lay chuyển. + Hào kiệt: Người có tài năng, chí khí phi thường, phong lưu. Sự ung dung đường hoàng thể hiện phong thái uy nghi của bậc anh hùng dù ở chốn lao tù. Câu 2. Đọc lại hai cặp câu 3 -4, em thấy giọng điệu có gì thay đổi so với hai câu thơ trên? Vì sao? Lời tâm sự ở nay có ý nghĩa như thế nào? -Giọng thơ thay đổi: từ bay bổng trầm hùng chuyển sang trầm lắng suy tư, dẫu sao người anh hùng cũng phải đối diện với thực tế nghiệt ngã của chốn lao tù và khi con đường hoạt động cách mạng tạm gián đoạn. + Khách không nhà: Cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian truân, bôn ba lênh đênh khắp năm châu bốn biển, phải xa gia đình, quê hương và những người thân yêu. + Người có tội là luôn bị bọn giặc theo dõi ráo riết để bắt bớ truy nã vì “trung với nước hiếu với dân” (Hồ Chí Minh). + Biện pháp đối chặt chẽ cân xứng: Trong bốn biển với giữa năm châu Khách không nhà với người có tội + Hình ảnh kì vĩ hào hùng, “cái tội” ấy và “người khách ây” trở nên thật cao đẹp. Câu 3. Em hiểu thế nào về ý nghĩa của cặp câu 5 -6? Lối nói khoa trưởng nay có tác dụng gì trong việc biểu hiện hình ảnh người anh hùng, hào kiệt này? Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế Mở miệng cười tan cuộc oán thù Nghệ thuật tương đối chặt chẽ làm khẩu khí câu thơ trở nên mạnh mẽ. Bồ kinh tế là hoài bão tự muốn cứu đời, cứu nước, cứu đân, hai tay ôm chặt thật mạnh mẽ và quyết liệt, là lời thề chiến đấu đến cùng Cuộc oán thù là cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, thế mà có thể mở miệng cười tan cái cười kia thật ngão nghệ, thật hào sảng biết bao. Câu 4. Hai câu cuối là kết tinh tư tưởng của toàn bài thơ. Em cảm nhận được điều gì từ hai câu thơ ấy? Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu -Điệp từ còn thể hiện niềm tin mãnh mẽ vào tương lai tươi sáng mặc dù bất cứ hoàn cảnh nào: Thân còn sự nghiệp còn, lời thề thầm lăng thiêng liêng của một bậc anh hùng suốt đời vì dân vì nước. -Câu thơ kết là lời thách thức với thự tế, nhà tù khắc nghiệt trước mắt và những chông gai khó khăn ở phía trước. Tâm thức của người anh hùng vượt trên sự gian khổ và sự bạo tàn của kẻ thù. Tóm lại, bằng giọng điệu hào hùng có sức lôi cuốn mạnh mẽ, bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác là bức chân dung tự họa con người tinh thần của Phan Bội Châu với phong thái ung dung, đường hoàng và khí phách kiên cường, bất khuất vượt lên trên cảnh tù khốc liệt để tự an ủi mình giữ vững lí tưởng, niềm tin và khát vọng cứu nước cứu dân. II.Luyện tập. Ôn lại những kiến thức đã học về thể thất ngôn bát cú đường luật. Em hãy nhận dạng thể thơ của bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác về phương diện số câu, số chữ và cách gieo vần. Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác viết bằng thể thất ngôn bát cú Đường luật. Chữ thứ hai của câu 1 là chữ “là” thuộc thanh bằng, như vậy bài thơ này được viết theo luật bằng.
Soạn bài Vào nhà ngục Quảng đông cảm tác
744
Soạn bài Vì công lí Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1. Kể tên những người có tài xử án mà em biết. Gợi ý: Phí Trực, Nguyễn Khoa Đăng 3. Chọn lời giải nghĩa ở cột B phù hợp với từ ngữ ở cột A. Đáp án: a – 5; b – 3; c – 1; d – 7; e – 4; g – 6; h – 2 5. Thảo luận, thực hiện các nhiệm vụ sau: 1) Trả lời câu hỏi: a) Hai người đàn bà đến công đường nhờ quan phân xử việc gì? b) Không tìm được chứng cứ phát hiện kẻ gian, quan án đã dùng cách gì đế tìm ra kẻ gian, nhanh chóng phá được vụ án? c) Vì sao quan cho rằng người không khóc chính là người lấy cắp? 2) a) Sắp xếp lại thứ tự các sự việc sau cho đứng ưới đoạn kể về cách quan án tìm kẻ lấy trộm tiền nhà chùa: (1) “Đánh đòn” tâm lí: “Đức Phật rất thiêng. Ai gian, Phật sè làm cho thóc trong tay kẻ đó nảy mầm”. (2) Cho gọi hết sư sãi, kê ăn người ơ trong chùa ra, giao cho mỗi người một nắm thóc đã ngâm nước, bảo họ cầm nắm thóc, vừa chạy đàn vừa niệm Phật. (3) Quan sát những người chạy đàn, thấy một chú tiểu thĩnh thoáng hé bàn tay cầm thóc ra xem, lập tức cho bắt vị chỉ kẻ có tật mới hay giật mình. (4) Nhờ sư cụ biện lễ cúng Phật. (1) Vì sao đê tìm ra kẻ lấy trộm tiền, quan lại cho người trong chùa cầm thóc chạy đàn? a. Vì quan tin là thóc trong tay ke gian sẽ nảy mầm. b. Vì quan biết kẻ gian thường lo lắng nên sẽ lộ mặt. c. Vì quan cần có thời gian đế thu thập chứng cứ. d. Vì quan tin là các chú tiểu thường tò mò. (2) Quan án phá được các vụ án rất tài tình là nhờ những lí do nào? a. Nhờ thông minh, có óc phán đoán. b. Nhờ hiểu đặc điểm tâm lí của kẻ phạm tội. c. Vì có người đã ngầm báo trước. d. Vì yêu công lí, lẽ phải, thương dân. Gợi ý: 1) a) Hai người đàn bà nhờ quan xử việc mình bị mất tấm vải. Người nọ tố người kia lấy. b) Để tìm ra kẻ gian, quan sai xé đôi tấm vải và cho trói người không khóc. c) Người không khóc khi tấm vải bị xé vì đó không phải của cải mà họ phải đố mồ hỏi, công sức để làm ra. 2) a) Thứ tự đúng là: 4, 2, 1, 3 3) (1) b; (2) a, b, d B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 2. Tìm tên riêng thích hợp với mỗi chỗ trông, biết rằng những tên riêng đó là: Điện Biên Phủ, Công Lý, Côn Đảo, Sài Gòn, Vỏ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi, Bê Văn Dàn. Gợi ý: a) Người nữ anh hùng trẻ tuổi hi sinh ở nhà tù Côn Đảo là chị Võ Thi Sáu. b) Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, anh Bế Văn Đàn đã lây thân mình làm giá súng. c) Anh Nguyễn Văn Trỗi là người chiến sĩ biệt động Sài Gòn đã đặt mìn trên cầu Công Lý mưu sát Mắc Na-ma-ra. 3. Cửa gió Tùng Chinh Đường tuần tra lên chóp Hai ngàn Gió vù vù quất ngang cành bứa Trông xa xa nhập nhòe ánh lửa Vật vờ đầu núi sương sa. Cửa gió này người xưa gọi Ngã ba Cắt con suối hai chiều dâng lũ Nơi gió Tùng Chinh, Pù mo, Pù xai hội tụ Chắn lối mòn lên đỉnh Tùng Chinh. (Theo ĐÀO NGUYÊN BẢO) 4. Hai Ngàn, Ngã Ba, Pù Mo, Pù Xai C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG 2. Cùng người thân tìm một câu chuyện nói về những người đã góp sức mình bảo vệ trật tự, an ninh hoặc một câu chuyện kể về việc em đã làm để góp phần giữ gìn trật tự, an ninh. Gợi ý: Tham khảo Truyện đọc lớp 5.
Soạn bài Vì công lí
647
Soạn bài Vì hạnh phúc trẻ thơ Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Mỗi em chọn một trong những bức ảnh sau, quan sát và trả lời câu hỏi: Bức ảnh đó nói lên điều gì về trẻ em? (SGK/65) Trẻ em trông như thế nào? Trẻ em có đức tính gì đáng quý, đáng yêu? Gia đình và xã hội cần quan tâm, chăm sóc trẻ em như thế nào?… Gợi ý: Trẻ em trông rất đáng yêu. Trẻ em luôn hồn nhiên, trong sáng. Gia đình, nhà trường và xã hội cần quan tâm giáo dục, uốn nắn các em theo đúng những điều hay, lẽ phải; cần chăm sóc, bồi dưỡng để các em phát triển toàn diện về mặt thể chất lẫn tinh thần. 3. Chọn lời giải nghĩa ở cột B phù hợp với từ ngữ ở cột A Đáp án: a – 4; b – 3; c – 1; d – 2 5. Trao đổi, chọn câu trả lời ở cột B phù hợp với câu hoi ở cột A: Đáp án: (1) – c; (2) – e; (3) – b; (4) – a; (5) – d. 6.a) Nêu những bổn phận của trẻ em được quy định trong Luật. b) Trả lời câu hỏi: Em đã thực hiện được những bổn phận gì của trẻ em, còn những bổn phận gì cần tiếp tục cố gắng để thực hiện? B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Em hiểu nghĩa của từ trẻ em như thế nào? Chọn ý trả lời dứng nhất: b)Tre từ sơ sinh đến 11 tuối c)Người dưới 16 tuổi d) Người dưới 18 tuổi Gợi ý: c 2.a) Trong các từ dưới đây, từ nào đồng nghĩa với trẻ em? Đánh dấu X vào ô trống thích hợp (SGK/69) b) Đặt câu với một từ đồng nghĩa trong bảng trên. Gợi ý: a) b) Trẻ con thời nay có nhiều điều kiện học tập và vui chơi. 3.Tìm những hình ảnh so sánh đẹp về trẻ em (viết vào phiếu) M:- Trẻ em như búp trẽn cành. (Hồ CHÍ MINH) – Lũ trẻ ríu rít như bầy chim non. Gợi ý: – Trẻ em đẹp như thiên thần. -Trẻ em hồn nhiên như tờ giấy trắng. –Trẻ em như búp măng non. 4.Nối từng thành ngữ, tục ngữ ở cột A với nghĩa thích hợp ở cột B. Viết kết quả vào vở. Đáp án: a – 2; b – 1; c – 4; d – 3 6. a) Chép vào vở tên các cơ quan, tổ “Công ước về quyền trẻ em” (SGK/71, 72) M:1)… 2)Ủy ban/ Nhân quyền/ Liên hợp quốc 3)… 4)… 5)Tổ chức / Quốc tế / về bảo vệ trẻ em 6)… 7)… 8)Tổ chức / Cứu trợ trẻ em / của Thụy Điển 9)… (Các chữ về, của đứng đầu một bộ phận câu tạo tên riêng nhưng không viết hoa vì chúng là quan hệ từ). b) Trả lời câu hỏi: Tên các cơ quan, tố chức trên được viết như thế nào? Gơi ý a) 1) Liên hợp quốc 3)Tổ chức / Nhi đồng / Liên hợp quốc 4)Tổ chức / Lao động / Quốc tế 5)Tố chức / Quốc tế / về bảo vệ trẻ em 6)Liên minh / Quốc tế / Cứu trợ trẻ em 7)Tổ chức / Ân xá / Quốc tế 8)Tổ chức / Cứu trợ trẻ em / của Thụy Điển 9)Đại hội đồng / Liên hợp quốc b)Tên cơ quan, tổ chức được viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó.
Soạn bài Vì hạnh phúc trẻ thơ
546
Soạn bài văn bản thông báo Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Hiểu được những trường hợp cần viết văn bản thông báo. Đó là những trường hợp khi cần truyển đạt những thông tin cụ thể từ phía cơ quan, đoàn thể, người tổ chức cho những người dưới quyền, thành viên đoàn thể hoặc những ai quan tâm nội dung thông báo được biết để thực hiện hay tham gia. -Nắm được đặc điểm của văn bản thông báo: Văn bản thông báo phải cho biết rõ ai thông báo, thông báo cho ai ; nội dung công việc, quy định, thời gian, địa điểm… cụ thể, chính xác. Văn bản thông báo phải tuân thủ thể thức hành chính, có ghi tên cơ quan, số công văn, quốc hiệu và tiêu ngữ, tên văn bản, ngày tháng, người nhận, người thông báo, chức vụ của người thông báo. -Biết cách làm một văn bàn thông báo đúng quy cách. B.GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP I. Đặc điểm của vãn bán thông báo Đọc các văn bản sau và trả lời câu hỏi. Văn bản 1 (SGK, t.2, tr. 140) Văn bản 2 (SGK, t.2, tr. 141) Câu hỏi: 1.Trong các văn bản trên, ai là người thông báo, ai là người nhận thông báo? 2.Nội dung thông báo thường là gì? Nhận xét về thể thức của vãn bản thông báo. 3.Hãy dẫn ra một số trường hợp cần viết thông báo trong học tập và sinh hoạt ở trường. 1.Văn bản 1: Người thông báo là phó hiệu trưởng Nguyễn Văn Bằng, người nhận thông báo là giáo viên chủ nhiệm và lớp trưởng các lớp trong toàn trường. Văn bản 2: Người thông báo là liên đội trưởng Trần Mai Hoa, người nhận thông báo là các chi đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trong toàn trường. 2.Nội dung thông báo thường là tình huống công việc cơ quan mà lãnh đạo cấp trên cần phải truyền đạt cho cấp dưới hay những công việc cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội muốn phổ biến cho nhân dân, hội viên được biết. Thể thức văn bản thông báo: -Tên cơ quan chủ quản và đơn vị trực thuộc (ghi góc trái phía trên). -Quốc hiệu, tiêu ngữ (ghi góc trên bên phải). -Địa điểm và thòi gian làm thông báo (ghi góc bên phải). -Tên văn bản (ghi chính giữa, viết chữ in hoa). -Nội dung thông báo. -Nơi nhận (ghi phía dưới, bên trái) -Kí tên và ghi rõ họ tên, chức vụ người có trách nhiệm thông báo (ghi phía dưới bên phải). 3.Ví dụ một số trường hợp cần viết thông báo trong sinh hoạt và học tập ở trường: -Thông báo vể cuộc thi “Tìm hiểu về Đội TNTP Hồ Chí Minh”. -Thông báo về thời hạn nhận hồ sơ nhập học. -Thông báo vế lịch kiểm tra vệ sinh các lớp học của nhà trường. II. Cách làm vãn bàn thông báo 1. Tinh huống cần làm vân bản thông báo Trong các tình huống sau đây, tình huống nào phải viết thông báo, ai thông báo và thông báo cho ai? a)Một học sinh bị mất chiếc xe đạp, muốn báo cáo với công an. b)Sắp tới, Nhà trường sẽ tổ chức đợt tổng vệ sinh trong toàn trường để góp phần xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp. c)Gần cuối năm học, Ban Chỉ huy Liên đội TNTP Hồ Chí Minh muốn triệu tạp các Ban Chỉ huy Chi đội để bàn về việc tổng kết hoạt động của liên đội trong năm học này. Gợi ý Tinh huống (a) viết tường trình, tình huống (c) viết giấy mời, giấy triệu tập. Chỉ có tình huống (b) phải viết thông báo. Ban Giám hiệu thông báo cho giáo viên và học sinh toàn trường.
Soạn bài văn bản thông báo
614
Đề bài: Soạn Bài Văn Bản Tường Trình Ngữ Văn 8 | Làm Văn Mẫu Bài Làm I. ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN TƯỜNG TRÌNH Câu 1: – Người viết tường trình: học sinh THCS, cả hai đều có liên quan đến vụ việc, người gây ra vụ việc(1), người là nạn nhân của vụ việc (2). Người nhận văn bản là giáo viên bộ môn (1), là hiệu trưởng nhà trường (2) (là những người thẩm quyền có trách nhiệm nhận biết và giải quyết sự việc) – Phải viết tường trình vì người có thẩm quyền và trách nhiệm chưa hiểu hết, hiểu rõ nội dung và bản chất của vụ việc nên chưa thể có kết luận và cách thức giải quyết. Vì sao học sinh Dũng nộp bai chậm? Vì sao đã gửi xe tại nhà xe của trường có người trông coi mà vẫn mất xe? Câu 2: – Nội dung của văn bản tường trình: Trình bày sự việc liên quan đến bản thân (phải chăm sóc bố bị ốm nên xin nộp bài trễ) (1), Trình bày sự việc xảy ra liên quan đến việc bị lấy nhầm xe (2). – Thể thức trình bày theo đúng quy cách của loại văn bản này: văn bản hành chính. Câu 3: Thái độ của người viết tường trình cần phải khiêm tốn, trung thực, khách quan thể hiện trong lời văn rõ ràng, mạch lạc, từ ngữ chuẩn xác, giọng văn bình tĩnh đúng mực. Câu 4: Tường trình về việc mất xe đạp ở lớp em tuần trước ; về việc trong hai tuần em không làm bài tập trước khi đến lớp, về việc gây gỗ đánh nhau,… II. CÁCH LÀM VĂN BẢN TƯỜNG TRÌNH 1. Những tình huống cần viết văn bản tường trình. – Các tình huống (a), (b) phải làm tường trình – Tình huống (c) không cần – Tình huống (d) nếu là tài sản lớn thì phải làm tường trình 2. Cách làm văn bản tường trình a) Thể thức phần mở đầu văn bản tường trình – Quốc hiệu( tiêu ngữ ) ghi chính giữa – Địa điểm thời gian làm tường trình ( phải ghi vào góc bên phải ) – Tên văn bản ( ghi chính giữa ) – Người cơ quan nhận bản tường trình: Kính gửi: … b) Nội dung: thời gian, địa điểm, diễn biến, sự việc, nguyên nhân, hậu quả, ai chịu trách nhiệm… – Thái độ tường trình nên khách quan trung thực. c) Thể thức kết thúc văn bản tường trình: Lời đề nghị hoặc cam đoan, chữ kí và họ tên người viết tường trình. 3. Lưu ý (sgk)
Soạn Bài Văn Bản Tường Trình
427
Soạn bài Văn hiến nghìn năm Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 3. Ghép mỗi từ dưđi đây với lời giải nghĩa phù hợp: a. Quốc Tử Giám b. Tiến sĩ c. Văn hiến d. Chứng tích e. Văn Miếu (1)…: truyền thông văn hoá lâu đời và tốt đẹp. (2)…: nơi thờ những người có công mở mang giáo dục thời xưa. (3)…: trường học cao cấp thời xưa, đặt ở khu vực Văn Miếu. (4)…: ở đây chỉ người đỗ cao trong kì thi quốc gia thời xưa (thi Hội). (5)…: vết tích hay hiện vật còn lưu lại làm chứng cho một sự việc đã qua. Gợi ý: 3. a – (3); b – (4); c – (1); d – (5); e – (2). 5. Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Đến thăm Văn Miếu – Quốc Tử Giám, du khách ngạc nhiên vì điều gì? Dựa vào bài đọc, em chọn ý đúng để trả lời: a)Vì biết Văn Miếu – Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. b)Vì biết rằng từ năm 1075, Việt Nam đã mở khoa thi tiến sĩ, đã có truyền thống văn hoá lâu đời. c)Vì thấy Văn Miếu – Quốc Tử Giám được xây dựng từ rất lâu và rất to lớn, tráng lệ. 2)Triều đại nào tể chức nhiều khoa thi nhất? 3)Trều đại nào có nhiều tiến sĩ nhất? 4)Câu văn cuối bài muốn nói với chúng ta điều gì? Em chọn ý đúng để trả lời: b)Văn Miếu — Quốc Tử Giám cho thấy Việt Nam là một nước có nền văn hiến lâu đời. c)Trong 10 thế kỉ, chúng ta đã có gần 3000 tiến sĩ. Gợi ý: 1) Đến thăm Văn Miếu — Quốc Tử Giám, du khách ngạc nhiên vì nước ta đã mở khoa thi từ năm 1075, cách đây 10 thế kỉ. (Câu b). 2)Triều Lê tổ chức nhiều khoa thi nhất. 3)Trều Lê có nhiều tiến sĩ nhất. 4)b B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Tìm trong bài Thư gửi các học sinh hoặc bài Việt Nam thân yêu những từ đồng nghĩa với từ Tổ quốc và ghi vào vở. a)Thư gửi các học sinh:… b)Việt Nam thân yêu:… Gợi ý: a) nước nhà, cơ đồ, non sông. b)đất nước, quê hương. 2.Tìm thêm những từ đồng nghĩa với từ Tổ quốc. Gợi ý: giang sơn, nước non, sơn hà. 3.Trò chơi: Thi tìm nhanh từ có tiếng quốc (với nghĩa là nước). M: Tổ quốc Gợi ý: quốc kì, quốc ca, quốc tế, liên hiệp quốc, quốc hội, quốc phòng, quốc huy. 4.Đặt câu với một trong những từ ngữ dưới đây và chép vào vở. a)Quê hương b)Quê mẹ c)Quê cha đất tổ d)Nơi chôn rau cắt rốn M: Dù đi đâu xa, những người dân quê tôi vẫn luôn nhớ về mảnh đất què cha đất tổ của mình. Quê hương em có ruộng đồng bát ngát, cò bay thẳng cánh. 5.Ghi vần của từng tiếng được in đậm ở trên vào mô hình cấu tạo vần dưới đây (SGK/26, 27). Tiếng Vần M: Nguyên Âm đệm Âm chính Âm cuối u yê n Gợi ý: Tiếng Vần Âm đệm Âm chính Âm cuối Trạng a ng nguyên u yê n Nguyễn u yê n Hiền iê n khoa a thi i làng a ng Mộ ô Trạch a ch huyện u yê n Bình i nh Giang a ng C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG 1.Nói với người thân những điều em biết về Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Gợi ý: Văn Miếu được xây dựng từ năm 1070 dưới đời vua Lý Thánh Tông, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long. Quần thể kiến trúc nơi đây bao gồm hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Giám. Đây là nơi thờ Khổng Tử và là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Từ ngoài vào trong lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Khuê Văn Các, Đại Thành và cổng Thái Học. Ngày nay, Văn Miếu – Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước; đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc, là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến “cầu may” trước khi thi. 2.Tìm đọc những câu chuyện về các anh hùng, danh nhân của nước ta. Các anh hùng, danh nhân của nước ta: Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Nguyễn Huệ, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh.
Soạn bài Văn hiến nghìn năm
664
Soạn bài Vẻ đẹp của bà tôi Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Cùng đoán: Những chi tiết dưới đây nói về một vị lãnh tụ của nước Việt Nam. Đó là ai? -Dáng cao cao, người thanh thanh, mái tóc bạc phơ, vầng trán rộng, mắt sáng như sao, râu hơi dài, nước da nâu vì sương gió, tuy đã già rồi nhưng vẫn vui tươi. -Việc quân, việc nước đã bàn, Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau. Gợi ý: Người đó là Bác Hồ. 2.Đọc hai đoạn văn tả người bà (SGK/37). 3.Ghi vào vở những đặc điểm ngoại hình của bà được miêu tả trong hai đoạn văn trên. Gợi ý: – Mái tóc bà: đen, dày kì lạ, phủ kín cả hai vai, xoã xuống ngực, xuống đầu gối. -Đôi mắt bà: long lanh, dịu hiền, ánh lên những tia sáng ấm áp, tươi vui. –Khuôn mặt bà: đôi má ngăm ngăm có nhiều nếp nhăn, vẫn tươi trẻ. 4.Nhận xét về cách dùng từ ngữ của tác giả trong hai đoạn văn ở hoạt động 2. -Những từ ngữ nào giàu sức gợi tả? -Những chi tiết nào đáng chú ý? Gợi ý: – Những từ ngữ giàu sức gợi tả: kì lạ, phủ kín, đưa một cách khó khăn, ngân nga như tiếng chuông, khắc sâu, như những đoá hoa, đầy nhựa sông. –Những chi tiết miêu tả ngoại hình của người bà đáng chú ý nhất. 6.Tìm quan hệ từ trong đoạn trích dưới đây và cho biết mỗi quan hệ từ nối những từ ngữ nào trong câu: M: Quan hệ từ “của” nối các từ ngữ “cái cày” và”người Hmông”. Gợi ý: – Quan hệ từ “bằng” nối các từ ngữ “bắp cày” và “gỗ tốt màu đen”. – Quan hệ từ “như” nối các từ ngữ “vòng” và “hình cái cung”. – Quan hệ từ “như” nối các từ ngữ “hùng dũng” và “một chàng hiệp sĩ”. 7.Các từ in đậm được dùng trong mỗi câu dưới đây biểu thị những quan hệ gì? a)Quân sĩ cùng nhân dân trong vùng tìm đủ mọi cách cứu voi khỏi bãi lầy nhưng vô hiệu. b)Thuyền chúng tôi tiếp tục chèo, đi tới ba nghìn thước rồi mà vẫn thấy chim đậu trắng xoá trên những cành cây gie sát ra sông. Theo ĐOÀN GIỎI Gie: chìa ra. c)Nếu hoa có ở trời cao Thì bầy ong cũng mang vào mật thơm. NGUYỄN ĐỨC MẬU Gợi ý: Em chọn một trong các từ ngữ trong ngoặc để điền vào chỗ trông để hoàn thành các nhận xét. (quan hệ tương phản, quan hệ giả thiết – kết quả, quan hệ nguyên nhân – kết quả, quan hệ tăng tiến). Gợi ý: Câu a: Từ nhưng biểu thị quan hệ tương phản. Câu b: Từ mà biểu thị quan hệ tương phản. 8.Chọn quan hệ từ (và, nhưng, trẽn, thì, ở, của) thích hợp với mỗi ô trông dưới đây (SGK/39). Gợi ý: a) Trời bây giờ trong vắt, thăm thẳm và cao. b)Một vầng trăng tròn, to và đỏ hồng hiện lên ở chân trời, sau rặng tre đen của một ngôi làng xa. Theo THẠCH LAM c)Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa TỤC NGỮ d)Tôi đã đi nhiều nơi, đóng quân nhiều chỗ đẹp hơn đây nhiều, nhân dân coi tôi như người làng và thương yêu tôi hết mực, nhưng sao sức quyến rũ, nhớ thương vẫn không mãnh liệt, day dứt bằng mảnh đất cọc cằn này. Theo NGUYỄN KHẢI 9.a) Đặt câu với mỗi quan hệ từ sau: mà, thì, bằng. Gợi ý: a) – Gà đã gáy mà trời vẫn chưa sáng. -Trời mưa thì đường trơn. –Mọi người đã giúp đỡ cô ấy bằng tất cả tấm lòng. B. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG 1.Quan sát một người thân làm việc. 2.Ghi lại những điều em quan sát được. Gợi ý: 1. Quan sát bố chăm sóc cây cảnh. 2.Bố vun đất, bón phân cho cây. Bố tỉa bỏ những lá bị sâu và úa vàng. Sau cùng, bố dùng bình xịt tưới cho cây.
Soạn bài Vẻ đẹp của bà tôi
633
Soạn bài Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Gọi đúng tên những trang phục của phụ nữ Việt Nam trong các bức ảnh sau (SGK/22) Gợi ý: Thứ tự từ trái sang phải Ảnh 1: áo bà ba Ảnh 2: áo tứ thân Ảnh 3: áo dài 2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài văn “Tà áo dài Việt Nam” (SGK/23) 5.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Chiếc áo dài có vai trò thế nào trong trang phục của phụ nữ Việt Nam xưa? 2)Chiếc áo dài tân thời có gì khác so với chiếc áo dài cổ truyền? 3)Vì sao áo dài được coi là biểu tượng cho y phục truyền thống của Việt Nam? 4)Em có cảm nhận gì về vẻ đẹp của người phụ nữ trong tà áo dài? Gợi ý: 1) Phụ nữ Việt Nam xưa thường mặc chiếc áo dài thẫm màu bên ngoài, bên trong lấp ló các lớp áo cánh nhiều màu với phong cách tế nhị, kín đáo. 2)Áo dài cổ truyền có áo tứ thân được may từ bốn mảnh vải, hai mảnh sau ghép liền ở giữa sống lưng, đằng trước là hai vạt áo không có khuy, khi mặc bỏ buông hoặc buộc thắt vào nhau. Riêng áo năm thân cũng may như áo tứ thân, chỉ có điều vạt trước phía trái may ghép từ hai thân vải, rộng gấp đôi vạt phải. Áo dài tân thời được cải tiến từ áo dài cổ truyền có sự kết hợp hài hòa giữa phong cách dân tộc tế nhị, kín đáo với phong cách phương Tây hiện đại, trẻ trung với hai thân vải trước và sau. 4)Trong tà áo dài, người phụ nữ đẹp hơn, nhanh nhẹn, uyển chuyển và dịu dàng hơn. 6.Mỗi em chọn đọc một đoạn văn mà mình thích và giải thích vì sao thích đoạn văn đó. Gợi ý: Em thích đoạn văn cuối. Đoạn này miêu tả người phụ nữ Việt Nam rất đẹp trong tà áo dài truyền thống. B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Điền vào chỗ trống trong phiếu sau để hoàn chỉnh cách làm bài văn tả con vật (SGK/25) Gợi ý: Ôn tập về tả con vật a)Bài văn tả con vật gồm ba phần: -Mở bài: Giới thiệu về con vật sẽ tả. -Thân bài: + Tả đặc điểm hình dáng. + Tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật. -Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em đối với con vật. b)Trình tự tả con vật: -Tả hình dáng rồi tả hoạt động. Có thể tả bao quát rồi tả chi tiết. -Tả hình dáng xen lẫn tả hoạt động, thói quen sinh hoạt của con vật. c)Các giác quan được sử dụng khi quan sát: mắt, tai, mũi, tay. d)Biện pháp tu từ thường được sử dụng khi tả con vật: so sánh, nhân hóa. 2.Đọc bài văn “Chim họa mi hót” (SGK/25, 26) và trả lời câu hỏi: b)Tác giả bài văn quan sát chim họa mi hót bằng những giác quan nào? c)Em thích những chi tiết và hình ảnh so sánh nào? Vì sao? Gợi ý: a) Bài văn gồm 4 đoạn: -Đoạn 1: Giới thiệu sự xuất hiện của chim họa mi vào mỗi buổi chiều. -Đoạn 2: Tả tiêng hót đặc biệt của họa mi. -Đoạn 3: Tả dáng ngủ ngộ nghĩnh của họa mi trong đêm. -Đoạn 4: Tả cách hót chào nắng sớm thật dễ thương của họa mi. b)Tác giả quan sát chim họa mi bằng mắt và tai c)- Em thích chi tiết tả chim họa mi ngủ. Đây là chi tiết giúp em biết được cách ngủ rất ngộ nghĩnh của họa mi. – Hình ảnh so sánh: tiếng hót như một điệu đàn trong bóng xế. Hình ảnh so sánh miêu tả đúng tiếng hót của họa mi âm vang giữa buổi chiều tĩnh mịch. 3.a) Viết một đoạn văn khoảng 5 câu tả hình dáng (hoặc hoạt động) của một con vật mà em yêu thích. Tham khảo bài viết tại đây: 4.Kể một câu chuyện em đã nghe hoặc đã đọc về một nữ anh hùng hoặc một phụ nữ tài năng. Tham khảo tại đây: C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG 1.Trao đổi với người thân để hiểu cần làm gì để thể hiện mình là người biết tôn trọng giới nữ. Người biết tôn trọng giới nữ cần quan tâm, chia sẻ việc nhà cho mẹ và chị. Nơi công cộng, nhường cho phụ nữ đi trước, nhường chỗ cho phụ nữ ngồi khi đi xe buýt.
Soạn bài Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam
723
Soạn bài Vẻ đẹp thanh bình Hướng dẫn A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.a) Đọc truyện vui dưới đây: Tiền tiêu Nam: – Cậu biết không, ba mình mới chuyển sang ngân hàng làm việc đấy! Bắc: – Sao cậu bảo ba cậu là bộ đội. Nam: Đúng rồi, thư trước ba mình báo tin: “Ba đang Tổ quốc. Bắc: -!!! b) Vì sao Nam tưởng ba mình đã chuyển sang làm việc tại ngân hàng? Gợi ý: b) Nam tưởng ba minh đã chuyển sang làm việc tại ngân hàng vì Nam nhầm từ tiền tiêu là tiền để chi tiêu. Nghĩa của từ tiền tiêu ở đây là mục tiêu quan trọng, nơi bố trí canh gác cẩn mật trước khu vực đóng quân. 2.Tìm hiểu về từ đồng âm: a)Trong hai câu sau có từ nào được viết giống nhau nhưng có nghĩa hoàn toàn khác nhau: -Mặt trời mọc ở đằng đông. -Đường phố rất đông người. b)Nêu nghĩa của các từ tìm được. Gợi ý: a) Từ đông. b) – Một trong bốn hướng chính. – Nhiều người tụ tập lại. B.HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Thực hiện các yêu cầu trong phiếu học tập: 2) Tra từ điển rồi ghi lại nghĩa của các từ đồng âm (được in đậm) trong mỗi câu (SGK/90). Gợi ý: 1) Nối từ với nghĩa thích hợp: (1) – b); (2) – c); (3) – a). 2)a) Ba và má tôi về quê thăm ngoại tôi. Người cha sinh ra ta. b) Em tôi năm nay mới ba tuổi. Số tự nhiên sau số hai và trước số bốn. 3)Ghi lại từ đồng âm có các nghĩa dưới đây: a)Đá: chất rắn cấu tạo nên vỏ trái đất, thường thành từng tảng, từng hòn. b)Đá: đưa nhanh chân và hất mạnh nhằm làm cho xa ra hoặc làm cho tổn thương. 2.Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm bàn, cờ, nước. M: – Nhà nhà treo cờ mừng ngày Quốc khánh. – Cờ là một môn thể thao được nhiều người yêu thích. Gợi ý: Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm: -bàn: – Bố vừa đóng cho em chiếc bàn học rất đẹp. Ông và chú bàn bạc chuyện để đổi giống lúa cho mùa sau. -cờ:- Mỗi thứ hai em đều đến trường sớm để làm lễ chào cờ. Ngoài bãi, nhiều cây ngô đã trổ cờ. -nước: – Quê em ở miền sông nước, Đất nước Việt Nam ngày càng giàu và đẹp. 3.Đố vui: a)Trùng trục như con chó thui Chín mắt, chín mũi, chín đuôi, chín đầu. (Là con gì?) b)Hai cây cùng có một tên Cây xòe mặt nước, cây trên chiến trường Cây này bảo vệ quê hương Cây kia hoa nở soi gương mặt hồ (Là cây gì?) Theo LÊ NHƯ SÂM Gợi ý: a) Con chó thui. b) Cây hoa súng và khẩu súng. C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG 1. Tìm thêm một số từ đồng âm và ghi lại. hồ (keo dán) – hồ (chứa nước); bánh kẹo – bánh xe.
Soạn bài Vẻ đẹp thanh bình
455
Đề bài: Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư Lớp 7 Của Lí Bạch Bài Làm Câu 1: Căn cứ vào nhan đề bài thơ Vọng Lư sơn bộc bố và câu thứ 2 (cùng với 2 từ vọng và dao; vọng: trông từ xa ; dao: xa ), có thể thấy cảnh núi Lư được nhà thơ quan sát và miêu tả từ xa. Vị trí đó có lợi thế trong việc miêu tả khái quát hình ảnh ngọn núi Hương Lô. Câu 2: “Nhật chiếc Hương Lô sinh tử yên,” – Trong câu âu thứ nhất này Lí Bạch miêu tả cảnh được vẻ đẹp của núi Hương Lô dưới những tia nắng mặt trời. Và làn hơi nước, phản quang ánh sáng mặt trời đã chuyển thành một màu tím vừa rực rỡ, vừa kì ảo. Sự thực là hơi khói đã có từ trước, nói đúng hơn là tồn tại thường xuyên, song dưới ngòi bút của Lí Bạch, với động từ sinh, dường như khi ánh sáng mặt trời xuất hiện thì mọi vật mới sinh sôi nảy nở, trở nên sinh động. – Câu thơ thứ nhất có vai trò là phông nền làm cho vẻ đẹp của thác nước được miêu tả trong ba câu sau vừa như có cơ sở hợp lí, vừa thêm lung linh huyền ảo. Câu 3: Những vẻ đẹp khác nhau của thác nước đã được Lí Bạch phát hiện và miêu tả trong ba câu thơ tiếp. – Bản dịch thơ dịch không sát câu thứ hai. Nguyên tác là: Dao khan bộc bố quải tiền xuyên (nghĩa là: Nhìn xa thấy dòng thác như treo trên dòng sông phía trước). Chữ quải thật thần tình, bản dịch thơ làm mất chữ này. Thác nước cao trông xa như treo trước dòng sông, tựa như một dải lụa khổng lồ (bộc bố: thác nước trên núi chảy xuống, nhìn xa như một tấm vải treo dọc buông rủ xuống). Trước mắt ta hiện ra một cảnh tượng thiên nhiên kì vĩ, phi thường. Hình ảnh dòng thác trên nền cảnh (đã được tạo ra ở câu 1) như một bức ảnh mà ở đó nhà nghệ sĩ đã làm cảnh vật tĩnh lại trong chớp nhoáng, lấy tĩnh mà tả động. – Câu thứ 3: Phi lưu trực há tam thiên xích, Cảnh vật từ tĩnh chuyển sang động (phi, trực). Trực tiếp tả thác đồng thời lại cho người đọc hình dung được thế núi cao và sườn núi dốc đứng. Núi thấp và sườn núi thoai thoải thì không thể “phi lưu” và “trực há” được. – Câu cuối: Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây. Lối nói khoa trương lại diễn tả được một cách chân thực trạng thái cảm nhận về cái kì vĩ, phi thường. Chẳng có hình ảnh nào diễn đạt hơn được nữa cái sức mạnh nên thơ, như thực mà quá đỗi lạ thường của thác nước trong cái nhìn của thi sĩ như dải Ngân Hà rơi xuống từ chín tầng mây này. Kết hợp tài tình cái ảo và cái chân, cái hình và cái thần; tả được cảm giác kì diệu do hình ảnh thác nước gợi lên trong tâm khảm nhà thơ, để lại dư vị đậm đà trong bạn đọc bao thế hệ. Câu 4: – Tâm hồn và tính cách của nhà thơ biểu hiện 1 chất lãng mạn trí tuệ, tính cách phóng khoáng, trí tưởng tượng phong phú. – Thể hiện tình yêu thiên nhiên say đắm, nồng nàn. Câu 5: Không nhất thiết buộc phải hiểu theo một cách nào. Như thế có thể có ba lựa chọn: chọn cách hiểu trong bản dịch, chọn cách hiểu trong phần chú thích hoặc chủ trương phối hợp cả hai cách hiểu đã nêu. Quan trọng là đưa ra được lời giải thích hợp lí (căn cứ vào điểm nhìn của tác giả và nội dung của cả bà thơ).
Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư Lớp 7
653
Soạn bài xưng hô trong hội thoại Hướng dẫn I.Phần bài học Câu 1. Trong tiếng Việt có nhiều từ ngữ dùng để xưng hô như: tôi, cậu, nó, chúng ta… Song cách dùng những từ xưng hô lại rất đa dạng, phong phú, tùy vào đặc điểm của tình huống giao tiếp. Ví dụ: từ xưng hô “mình” có thể dùng để xưng (chỉ chính mình). “Mình rất thích bài hát này”. “Mình” cũng có thể dùng chỉ ngôi thứ hai số ít. (Người đối thoại): “Mình có thể cho tớ mượn truyện này được không?”… Câu 2. Các từ xưng hô trong hai đoạn (Dế Mèn phiêu lưu kí) là: em – anh (Dế Choắt nói với Dế Mèn): tôi – anh (Dế Choắt với Dế Mèn) ; ta – chú mày (Dế Mèn nói với Dế Choắt) ; tôi – anh (Dế Mèn nói với Dế Choắt). Trong đoạn trích thứ nhất, sự xưng hô của hai nhân vật rất khác nhau, đó là sự xưng hô bất bình đẳng của một kẻ ở vị thế yếu và một kẻ ở vị thế mạnh kiêu căng, hách dịch. Nhưng trong đoạn trích thứ hai, sự xưng hô thay đổi hẳn, đó là sự xưng hô bình đẳng. Có sự thay đổi đó vì tình huống giao tiếp thay đổi, vị thế của hai nhân vật thay đổi. Dế Choắt và Dế Mèn đã coi nhau như người bạn. Dế Choắt khuyên nhủ bản chân thành. Dế Mèn xúc động, thấm thía, cảm phục bạn. Như vậy, các từ xưng hô trong tiếng Việt có sắc thái rất tinh tế, giàu sắc thái biểu cảm. Người nói cần căn cứ vào đặc điểm tình huống giao tiếp để xưng hô cho thích hợp. II.Luyện tập Câu 1. Lời mời dự đám cưới có dòng chữ “Ngày mai, chúng ta làm lễ thành hôn, mời thầy đến dự” là có sự nhầm lẫn trong cách dùng từ. -Chúng ta: chỉ một nhóm ít nhất là hai người, bao gồm cả người mời và người được mời. -Còn “Chúng em”, “Chúng tôi” là cũng chỉ một nhóm người trong đó co người nói, nhưng không bao gồm người được mời. -Cô học viên đã dùng từ xưng hô “chúng ta” nhầm lẫn – dễ gây hiểu lầm Câu 2. Việc sử dụng “chúng tôi” thay cho “tôi” trong các văn bản khoa học nhằm tăng thêm tính khách quan cho những luận điểm khoa học trong văn bản. Ngoài ra còn thể hiện thái độ khiêm tốn của tác giả. Câu 3. Trong truyện Thánh Gióng, đứa bé gọi mẹ mình theo cách gọi thông thường. Nhưng cách xưng hô với sứ giả thì dùng: ta – ông. Cách xưng hô như vậy cho thấy Thánh Gióng là một đứa bé kì lạ, khác thường. Câu 4. Câu chuyện về một vi danh tướng trên đường đi kinh lí, ghé vào thăm trường cũ. Vị tướng, tuy đã trở thành một nhân vật nổi tiếng, có quyền cao chức trọng, nhưng khi gặp lại thầy giáo cũ, vẫn gọi thầy cũ của mình là thầy và xưng em. Câu nói và cách xưng hô với thầy “Thưa thầy, với thầy em vẫn là đứa học trò cũ. Em có được những thành công hôm nay là nhờ sự giáo dục của thầy ngày nào…” thể hiện thái độ kính cẩn, lòng biết hơn của vị tướng đối với thầy giáo cũ của mình. Câu 5. Trước cách mạng tháng tám 1945, đất nước ta còn là một nước phong kiến, người đứng đầu nhà nước là vua, xưng với dân chúng là “Trẫm”. Việc Bác, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, xưng “tôi” và gọi dân chúng là “đồng bào” tạo cho người nghe cảm giác gần gũi, thân thiết, tạo sự thân mật giữa người nói với người nghe. Câu 6. Nhận xét về các từ ngữ xưng hô trong đoạn trích. -Cách xưng hô ở lời nói của cai lệ nói với anh Dậu, chị Dậu: thằng kia, ông, mày, chị… là cách xưng hô của một kẻ có vị thế, quyền lực… Cách xưng hô của cai lệ thể hiện sự hống hách, trich thượng. -Cách xưng hô của chị Dậu là cách xưng hô của một người dân, không có địa vị bằng tên cai lệ, ban đầu thì hạ mình, nhẫn nhục: nhà cháu – ông ; nhưng sau bị áp bức thì thay đổi hoàn toàn: tôi – ông rồi bà – mày. Sự thay đổi cách xưng hô thể hiện sự thay đổi hành vi ứng xử của nhân vật. Nó bộc lộ sự phản kháng quyết liệt của 1 con người bị dồn đến bước đường cùng.
Soạn bài xưng hô trong hội thoại
776
Soạn bài: con rồng cháu tiên Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài CON RỒNG CHÁU TIÊN (Truyền thuyết) I. VỀ THỂ LOẠI Truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ. Truyền thuyết là tác phẩm nghệ thuật truyền miệng nên nó thường có yếu tố tưởng tượng, kì ảo. Truyền thuyết thể hiện quan điểm, thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể. Truyền thuyết có mối quan hệ chặt chẽ với thần thoại. Các chi tiết hoang đường, kì ảo vốn là đặc trưng của thần thoại cũng thường xuyên được sử dụng trong truyền thuyết làm chức năng “huyền ảo hoá” các nhân vật, sự kiện; thể hiện sự tôn sùng, ngưỡng mộ của nhân dân đối với các nhân vật đã đi vào truyền thuyết. Có nhiều câu chuyện thần thoại được “lịch sử hoá” để trở thành truyền thuyết (ví dụ như truyền thuyết thời các vua Hùng), điều đó chứng tỏ sự phát triển tiếp nối của truyền thuyết sau thần thoại trong lịch sử văn học dân gian(1). Các truyền thuyết về thời đại Hùng Vương – thời đại mở đầu lịch sử Việt Nam (cách ngày nay khoảng bốn nghìn năm và kéo dài chừng hai nghìn năm) như: Con Rồng cháu Tiên; Bánh chưng, bánh giầy; Sơn Tinh, Thủy Tinh; Thánh Gióng… đều gắn với việc nhận thức về nguồn gốc dân tộc và công cuộc dựng nước, giữ nước dưới thời các vua Hùng. KIẾN THỨC CƠ BẢN Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên có nhiều chi tiết thể hiện tính chất kì lạ, lớn lao, đẹp đẽ về nguồn gốc và hình dạng của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Trước hết, cả hai đều thuộc dòng dõi các thần. Lạc Long Quân là con trai thần Long Nữ (thường ở dưới nước), Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông (ở trên núi). Thứ hai, Lạc Long Quân có sức khoẻ vô địch, có nhiều phép lạ, thường giúp dân diệt trừ yêu quái, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi; Âu Cơ xinh đẹp tuyệt trần. Về việc kết duyên của Lạc Long Quân cùng Âu Cơ và chuyện Âu Cơ sinh nở có nhiều điều kì lạ: Một vị thần sống dưới nước kết duyên cùng một người thuộc dòng họ Thần Nông ở trên núi cao; Âu Cơ không sinh nở theo cách bình thường. Nàng sinh ra một cái bọc một trăm trứng, trăm trứng lại nở ra một trăm người con đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khoẻ mạnh như thần. Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con ra làm hai: năm mươi người theo cha xuống biển, năm mươi người theo mẹ lên núi. Chia như vậy là để khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau. Chi tiết tưởng tượng, kì ảo là những chi tiết không có thật. Đó là những chi tiết có tính chất hoang đường, kì lạ. Trong truyện truyền thuyết, nhân dân sáng tạo ra những chi tiết tưởng tượng, kì ảo nhằm dựng lên những câu chuyện thần kì, giải thích những sự kiện, sự việc chưa thể giải thích theo cách thông thường hoặc là để thần thánh hoá các nhân vật mà nhân dân ngưỡng mộ, tôn sùng. Truyện Con Rồng cháu Tiên tuy có những yếu tố tưởng tượng, kì ảo nhưng về cơ bản đã giải thích, suy tôn nguồn gốc của đất nước ta. Đồng thời truyện cũng thể hiện niềm tự hào dân tộc, ý nguyện đoàn kết, thống nhất từ xa xưa của cộng đồng người Việt: dù ở bất cứ đâu, đồng bằng hay miền núi, trong Nam hay ngoài Bắc, người Việt Nam đều là con cháu các vua Hùng, có chung dòng dõi “con Rồng cháu Tiên”, vì thế phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. (1) Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch trong tiểu luận Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong kiến cho rằng: “Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân; biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kì như cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thường phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” (Nhiều tác giả. Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, H., 1971). 1*. Ở Việt Nam, còn có một số dân tộc khác cũng có một số truyện giải thích nguồn gốc dân tộc tương tự như truyện Con Rồng cháu Tiên, đó là truyện Quả trứng thiêng (trứng Điếng do đôi chim Ây cái Uá sinh ra trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của người Mường, là chiếc trứng thiêng do chim Ông Tôn sinh ra trong sử thi Ẳm ệt luông của người Thái), là hàng trăm dị bản về truyện Quả bầu mẹ từ vùng Tây Bắc xuống đến vùng Trung bộ. Sự giống nhau này chứng tỏ, tuy có sự khác nhau về trình độ kinh tế nhưng quá trình nhận thức về cộng đồng huyết thống và sự phát triển tư duy của các dân tộc là một quá trình tự nhiên và tất yếu. Trong tâm thức cộng đồng, con người ra đời gắn bó chặt chẽ với tự nhiên, là sản phẩm của thiên nhiên. Tóm tắt: Xưa, ở miền đất Lạc Việt có một vị thần thuộc nòi Rồng, tên là Lạc Long Quân. Trong một lần lên cạn giúp dân diệt trừ yêu quái, Lạc Long Quân đã gặp và kết duyên cùng nàng Âu Cơ vốn thuộc dòng họ Thần Nông, sống ở vùng núi cao phương Bắc. Sau đó Âu Cơ có mang và đẻ ra cái bọc một trăm trứng; nở ra một trăm người con. Vì Lạc Long Quân không quen sống trên cạn nên hai người đã chia nhau mỗi người mang năm mươi người con, người lên rừng, kẻ xuống biển. Lời kể: Muốn kể diễn cảm truyện Con Rồng cháu Tiên, cần bám sát các chi tiết cơ bản để xác định giọng kể. – Từ “Ngày xưa” đến “hiện lên” kể bằng giọng trầm. – Từ “Bấy giờ” đến “điện Long Trang” kể bằng giọng hồi tưởng, đến “như thần” thì ngừng lâu hơn khi kết thúc đoạn trước và khi kể “Thế rồi…” chuyển sang giọng cao hơn. – Chú ý thể hiện tính chất của lời thoại (giọng “than thở” của Âu Cơ, giọng “phân trần” của Lạc Long Quân). Đoạn cuối kể chậm và nhấn giọng, thể hiện niềm tự hào. sưu tầm: soanbai
Soạn bài _ con rồng cháu tiên
1,247
Soạn bài: sự tích Hồ Gươm Hướng dẫn Soạn bài sự tích Hồ Gươm – văn lớp 6 I. Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Đức Long Quân cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm thần là vì: -Cuộc khởi nghĩa hợp lòng dân -Ban đầu thế lực còn yếu gặp nhiều thất bại. Câu 2. -Lê Thận gặp được lưỡi gươm khi kéo lưới. Lê Lợi ghi nhận điều là của gươm khi đến nhà Lê Thận: Lưỡi gươm phát sáng và có hai chữ “thuận thiên”. Khi chạy giặc Lê Lợi được chuôi gươm có ánh sáng lạ. Lấy chuôi và lưỡi tra vào thì vừa khớp. -Cách Long Vương cho nghĩa quân Lam Sơn và Lê Lợi mượn gươm như vậy có ý nghĩa nói về sức mạnh của toàn dân: + Lê Lợi chủ tướng được chuôi. + Lê Thận là người đánh cá được lưỡi. + Gươm tỏa sáng biểu hiện cho dân tộc trên dưới đồng lòng sẽ tạo thành sức mạnh cứu nước. + Thuận Thiên thực ra là ý muốn muôn dân muốn Lê Lợi là minh chủ của họ trong cuộc kháng chiến. Câu 3. Sức mạnh của gươm thần. -Từ khi có gươm nhuệ khí nghĩa quân càng tăng. -Gươm thần tung hoành ngang dọc. -Không phải trốn tránh, không thiếu lương đói khổ như trước mà nghĩa quân tìm giặc mà diệt, lấy kho lương của giặc mà dùng. -Cuối cùng gươm thần mở đường đánh tràn ra mãi giải phóng đất nước. -Cách trả gươm. + Ở hồ Tả Vọng. + Một năm sau khi đuổi giặc Minh. + Nhân vật đòi: Rùa Vàng – sứ giả Long Vương. + Vua nâng gươm trân trọng, Rùa đớp lấy rồi lặn xuống. Cau 5. Ý nghĩa: -Ca ngợi tính chất ý nghĩa, tính nhân dân của khởi nghĩa Lam Sơn. -Giải thích tên hồ Hoàn Kiếm. -Thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc. Câu 6. -Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy (hay là An Dương Vương) cũng có Rùa Vàng) -Đây là nhân vật tượng trưng cho sưc mạnh, cho nguyện vọng, cho công lí của nhân dân. II. Luyện tập Câu 1. Truyền thuyết Ấn kiếm Tây Sơn cũng có chi tiết trao gươm thần của Lưỡng Xà. Một ông cắp ngang thanh bảo kiểm có nạm ngọc. Một ông ấn ngọc dâng Nguyễn Huệ. Rõ ràng đây là chi tiết có tính lặp lại và ý nghãi của chúng rất giống nhau. Trao phó, tin tưởng và nguyện dóc lòng vì người “minh chủ” mà nhân dân lựa chọn. Câu 2. Lưỡi gươm ở nước, chuôi ở đất; lưỡi trao cho người đánh cá, chuôi trao cho người lãnh đạo… ngụ ý là một lời khuyên: muốn kháng Minh thành công thì quân dân, vua tôi ở mọi miền đất nước phải cùng nhau một lòng mới tạo nên sức mạnh vô địch đánh đuổi quân thù. Để lắp được thành gươm thần, cuộc khởi nghĩa đã trải qua một quá trình. Chính thời gian này giúp Lê Lợi nhận thức được vai trò của sức mạnh dân tộc trong kháng chiến. Lê Lợi hiểu sứ mạng cầm chuôi của mình và sức mạnh đằng lưỡi của nhân dân. Câu 4. Định nghĩa truyền thuyết (xem chú thích SGK trang 7). Có 4 truyền thuyết (HS tự kể).
Soạn bài _ sự tích Hồ Gươm
529
Soạn bài: Tôi đi học Hướng dẫn Soạn bài tôi đi học của Thanh Tịnh I. Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Không khí và cảnh vật vào cuối thu “lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc” đã gợi lên trong lòng nhân vật “tôi” những kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên. Đọc lại toàn bộ truyện ngắn, em thấy nhà văn diễn tả những kỉ niệm theo trình tự thời gian, không gian. Lúc đầu là buổi sớm mai mẹ dẫn đi trên con đường làng. Sáng đó đứng giữa sân trường, một hồi trống vang lên, nghe ông đốc đọc tên và dặn dò… Câu 2. Những hình ảnh và chi tiết của nhân vật “tôi”. -Tác giả đã dùng phương pháp nhân hóa để viết những câu văn giàu hình tượng và biểu cảm. + “Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”. + “Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính trong tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học”. + Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn. + Chú bé cũng như những trò khác “bỡ ngỡ đứng nép bên người thân” chỉ dám “nhìn một nưa”, chỉ dám “đi từng bước nhẹ”; “lo sợ vẩn vơ”, ngập ngừng e sợ, “thèm vụng và ao ước thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ”. + Được ông đốc học dỗ dành: “Các em đừng khóc. Trưa nay các em được về nhà cơ mà…”. + Tiếng phấn của thầy giáo gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. “Tôi vòng tay lên bàn nhìn thầy viết và lẩm nhẩm đọc: Bài viết tập: TÔI ĐI HỌC Tất cả những dẫn chứng trên được hồi tưởng và diễn tra rất chân thực rất cụ thể, rất ấn tượng và tinh tế lạ thường. Đó là tâm lí chung của rất nhiều học trò lần đầu tiên đi học! Câu 3. Thái độ, cử chỉ của những người lớn đối với các em lần đầu đi học thật là đẹp đẽ, đáng kính. -Ông đốc có giọng nói ân cần, cặp mắt hiền từ. Thầy giáo lớp 5 đón 28 học trò mới với “gương mặt tươi cười” chứng tỏ thầy là người vui tính, giàu lòng yêu thương. -Người mẹ rất thương yêu con, đã quan tâm, dõi theo từng bước đi của con mình với bao âu yếm, động viên… đặc biệt từ khi con đi trên đường đến lúc tới trường, xếp hàng vào lớp học. Như thế thái độ và cử chỉ của những người lớn đối với học trò rất tinh tế, ngọt ngào bởi đó là ngày đầu tiên đi học của con. Câu 4. Những hình ảnh so sánh được nhà văn sử dụng trong truyện ngắn rất sinh động, rất đặc sắc: + Trước mắt tôi, trường Mĩ Lí trông vừa xinh xắn, vừa oai nghiêm như cái đình làng Hòa Ấp. + Họ như những con chim con đứng bên bờ tổ nhìn quãng trời rộng muốn bay, những con ngập ngừng e sợ. Câu 5. Đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Tôi đi học là sử dụng các hình thứ nhân hóa và so sánh đầy thi vị, giọng văn nhẹ nhàng, trong sáng gợi cảm. -Chất thơ của truyện tỏa ra từ thái độ, cử chỉ, gương mặt và lời nói của mỗi người rất tinh tế, gợi cảm. Chất thơ toát ra từ lòng người mẹ hiền thương yêu con. Đã mất lần tác giả tra bàn tay của người mẹ. -Truyện được bố cục trong dòng hồi tưởng. Kết hợp hài hòa giữa kể và tả với sự bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của con người. Hình ảnh thiên nhiên, ngôi trường và các học sinh giàu sức gợi cảm. Toàn bộ truyện ngắn toát lên một chất trữ tình thiết tha, êm dịu. “Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”. Lúc xếp hàng vào lớp, đứa con cảm thấy “có một bàn tay dịu dàng” của mẹ đẩy con tới trước như động viên, khích lệ. Lúc đứa con bé bỏng “khóc nức nở” thì “một bàn tay quen thuộc nhẹ vuốt mái tóc”. Câu 6. Ý nghĩa. “Tôi đi học” là một trang hồi ức của Thanh Tịnh, là trang văn đầy chất thơ kỉ niệm ngày tựu trường thời thơ ấu. Chất thơ ở giọng văn nhẹ nhàng truyền cảm. Nó khơi gợi tâm hồn, kí ức ngày cắp sách đến trường của mỗi chúng ta. “Tôi đi học” là tiếng lòng man mác, bâng khuâng cua một thời để thương, để nhớ và yêu quý vô cùng. II. Luyện tập. Câu 1. Phát biểu cảm nghĩ của em về dòng cảm xúc nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Tôi đi học. Câu 2. Viết bài văn ngắn ghi lại ấn tượng của em trong buổi đến khai giảng lần đầu tiên.
Soạn bài _ Tôi đi học
850
Soạn bài:Tức cảnh Pác Bó Hướng dẫn Soạn bài tức cảnh Pác Bó Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Bài thơ thuộc thể thơ tứ tuyệt. Một số bài thơ cùng thể thơ này đã học: Cảnh Khuya, Nguyên Tiêu (Rằm Tháng Giêng)… Câu 2. Bài thơ bốn câu thật tự nhiên, bình dị, giọng điệu thoải mái, pha chút đùa hóm hình, tất cả toát lên một cảm giác vui thích sảng khoái. Câu thơ đầu có giọng điệu thật thoải mái, phơi phới, cho thấy Bác Hồ sống thật ung dung, hòa điệu nhịp nhàng với nhịp sống núi rừng: Sáng ra bờ suối / tối vào hang. Câu thơ ngắt nhịp 4/3, tạo thành hai vế sóng đôi, toát lên cảm giác về sự nhịp nhàng, nề nếp: sáng ra, tối vào… Câu thứ hai vẫn tiếp tục mạch cảm xúc đó, có thêm nét vui đùa: lương thực, thực phẩm ở đây thật đầy đủ, đầy đủ tới dư thừa ‘cháo bẹ, rau măng’ luôn có sẵn: Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng Có người hiểu câu thơ này là dù phải ăn chỉ có cháo bẹ, rau măng rất khổ nhưng tinh thần vẫn sẵn sàng. Hiểu như vậy không sai về ngữ pháp nhưng không phù hợp với tinh thần chung, giọng điệu chung (đùa vui, thoải mái) của bài thơ, cũng tức là không thật phù hợp với cảm xúc của tác giả. Câu thứ nhất nói về việc ở, câu thứ hai về ăn, câu thứ ba nói về làm việc, cả ba câu đều thuật tả cảnh sinh hoạt của tác giả ở Pác Bó, đều toát lên cảm giác thích thú, bằng lòng. Hai câu này (và cả bài thơ cũng vậy) làm gợi nhớ mạch cảm xúc của bài Cảnh rừng Việt Bắc (1947) của Bác Hồ, cũng diễn tả niềm vui thích, sảng khoái đặc biệt của Người trong cuộc sống ở rừng chắc chắn có nhiều gian khổ lúc bấy giờ: Vượn hót chim kêu suốt cả ngày … Non xanh nước biếc tha hồ dạo Rượu ngọt chè tươi mặc sức say… Rõ ràng là với Bác Hồ, được sống giữa suối rừng, có suối có hang, có ‘vượn hót chim kêu’, ‘non xanh nước biếc’, thật là thích thú, mọi thứ cần gì có nấy, ‘cháo bẹ rau măng’ hay ‘rượu ngọt chè tươi’ đề ‘vẫn sẵn sàng’, ‘tha hồ’, ‘mặc sức’ hưởng thụ. Nhưng kỳ thực, hoàn cảnh sinh hoạt của Bác Hồ ở Pác Bó hết sức gian khổ. Bài Tức cảnh Pác Bó cũng nói đến sự thật gian khổ đó (ngủ trong hang tối, ăn nhiều khi chỉ có cháo bẹ rau măng, bàn làm việc chỉ là tảng đá chông chênh), nhưng đã trở thành một sự thật khác hẳn, không phải là nghèo khổ, thiếu thốn mà là giàu có, dư thừa, sang trọng. Những câu thơ có giọng khẩu khí, nói cho vui, phần nào khoa trương (thường gặp trong hàng loạt bài thơ xưa nói vui cảnh nghèo, một chủ đề đã trở thành huyền thoại). Nhưng niềm vui thích của Bác Hồ ở đây là rất thật, không chút gượng gạo, ‘lên gân’: niềm vui đó toát lên từ toàn bộ bài thơ, từ từ ngữ, hình ảnh đến giọng điệu thơ. Niềm vui lớn của Bác Hồ trong bài thơ không phải chỉ là niềm vui của người ẩn sĩ đang hưởng ‘thú lâm tuyền’ với thái độ ‘vong bần lạc đạo’ xưa – mà trước hết, đó là niềm vui to lớn của người chiến sĩ yêu nước vĩ đại, sau ba mươi năm xa nước, ‘Đêm mơ nước ngày thấy hình của Bác’ (thơ Chế Lan Viên), nay được trở bề sống giữa lòng đất nước yêu dấu: trực tiếp lãnh đạo cách mạng để cứu nước cứu dân: Ba mươi năm ấy chân không mỏi Mà đến bây giờ mới tới nơi (Tố Hữu) Đặc biệt, Bác Hồ còn rất vui vì Người tin chắc rằng thời cơ giải phóng dân tộc đang tới gần, điều mà Bác chiến đấu suốt đời để đạt tới đang trở thành hiện thực. So với niềm vui lớn lao đó thì những gian khổ trong sinh hoạt có nghĩa lý gì: thậm chí, tất cả những hang tối, cháo bẹ, rau măng, bàn đá chông chênh… kia không phải là gian khổ mà đều trở thành sang trọng, vì đó là cuộc đời cách mạng! Trong câu thứ ba, hình tượng người chiến sĩ bỗng nổi bật, như được đặc tả bằng những nét đậm, khỏe, đầy ấn tượng: Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng Chông chênh là từ láy miêu tả duy nhất của bài thơ, rất tạo hình và gợi cảm. Ba chữ dịch sử Đảng toàn vần trắc, toát lên cái khỏe khoắn, mạnh mẽ, gân guốc. Trong một bài tứ tuyệt, câu thứ ba thường có vị trí nổi bật, thường là hình ảnh trung tâm của bài thơ. Như vậy, trung tâm của bức tranh Pác Bó là hình tượng người chiếc sĩ được khắc họa vừa chân thực, sinh động, lại vừa như có một tầm vóc lớn lao, một tư thế uy nghi, lồng lộng, giống như một bức tượng đài về vị lãnh tụ cách mạng. Bác Hồ đang dịch dịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô – đồng thời, chính là đang xoay chuyển dịch sử Việt Nam nơi ‘đầu nguồn’… Cảnh ấy, cuộc sống cách mạng ấy quả thật là đẹp, ‘thật là sang’! Chữ sang kết thúc bài thơ có thể coi là chữ thần, chữ mắt (nhãn tự), đã kết tinh, tỏa sáng tinh thần toàn bài. Câu 2. ‘Thú lâm tuyền’ – cũng như ‘thú điền viên’ – là một tình cảm thanh cao, một nét đẹp có truyền thống từ xưa. Bao triết nhân hiền giả, gặp lúc thời thế nhiễu nhương, lầm bụi, không thể nhập thế hành đạo giúp đời, bạn cùng hoa cỏ gió trăng, giữ tâm hồn trong sạch. Khó thì mặc khó có nài bao Càng khó bao nhiêu chí mới hào Và: Trúc biếc nước trong ta sẵn có Phong lưu rất mực dễ ai bì Nguyễn Trãi cũng viết: Muôn chung chín vạc để làm gì? Nước lã cơm rau hãy tri túc Càng nghèo càng cảm thấy ‘hào’, thiếu thốn đủ thứ mà cảm thấy phong lưu rất mực, tự cho là ‘tri túc’…! Vì thế, cái phong vị nghèo ấy lại là biểu hiện cao quý, của giày sang – giàu sang về tinh thần, về đạo lí. Bài thơ ‘Tức cảnh Pác Bó’ cho thấy rõ ‘thú lâm tuyền’ và niềm vui cảnh nghèo của Bác Hồ khi ở Pác Bó. Dường như Người thật sự hoà nhịp với điệu sống nơi núi rừng, như một ông tiên, một ‘khách lâm tuyền’. Có điều, đây không phải là một ẩn sĩ trốn đời mà là một nhà cách mạng vĩ đại đang nếm mật nằm gai, hoạt động cách mạng bí mật. Và sự nghiệp cách mạng ấy chỉ cho phép Người hưởng niềm vui thú được sống với rừng, suối (thú lâm tuyền) trong hoàn cảnh ấy đầy gian khổ khi ở Pác Bó và sau đó ở Việt Bắc. Phần lớn cuộc đời của Người dành trọng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Soạn bài _Tức cảnh Pác Bó
1,201
Soạn bài Ánh Trăng Hướng dẫn Soạn bài Ánh Trăng của Nguyễn Duy I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Nhận xét về bố cục của bài thơ. Bài thơ có bố cục ba phần, ở mỗi phần có sự thay đổi giọng thơ: Phần 1: Ba khổ thơ đầu, giọng kể, nhịp thơ trôi chảy bình thường. Phần 2: Khổ thơ thứ tư: Giọng thơ đột ngột rất cao, ngỡ ngàng với bước ngoặt của sự việc, của sự xuất hiện vầng trăng. Phần 3: Khổ năm và sáu: Giọng thơ thiết tha rồi trầm lắng cùng với những cảm xúc, suy tư lặng lẽ. “Ánh trăng” có sự kết hợp giữa tự sự với trữ tình. Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian. Dòng cảm nghĩ trữ tình của nhà thơ cũng theo dòng tự sự này mà bộc lộ. Thời gian, quá khứ đã có những biến đổi, một sự thực đáng chú ý: Hồi nhỏ, hồi chiến tranh sống giữa thiên nhiên thường không bao giờ quên “Vầng trăng tình nghĩa” vậy mà: “từ hồi” về “thành phố” quen sống cùng với tiện nghi, hiện đại, vầng trăng xưa, nay “như người dung qua đường”. Theo dòng diễn biến, theo thời gian, sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ đề của tác phẩm: “Thình lình đèn điện tắt Phòng buyn đinh tối om Vội bật tung cửa sổ Đột ngột vầng trăng tròn”. Vầng trăng tròn trên cao với ánh sáng chan hòa đối lập với căn phòng tối om. Chính sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng trong bối cảnh ấy đã gợi nhiều kỷ niệm tình nghĩa trong lòng nhà thơ. Đó chính là bước ngoặt để tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ đề tác phẩm. Câu 2. Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng lớp ý nghĩa. a.Vầng trăng là hình ảnh thiên nhiên hồn nhiên, tươi mát, là người bạn tri kỷ của nhà thơ thời thơ ấu và thời chiến tranh ở rừng. Trong phút chốc sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy trong tâm trí nhà thơ bao kỷ niệm của những năm tháng gian lao, bao hình ảnh của thiên nhiên đất nước bình dị hiền hậu” “Như là đồng là bể Như là sông là rừng” Vầng trăng gợi quá khứ, gợi nỗi nhớ thương, tha thiết thành kính của nhà thơ: –Vầng trăng gợi quá khứ nghĩa tình bao giờ cũng đẹp, cũng sáng trong, vĩnh cửu. –Vầng trăng như im lặng như oán trách, như nhắc nhở kẻ vô tình. b.Khổ thơ cuối thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lý của tác phẩm” “Trăng cứ tròn vành vạnh Kể chi kẻ vô tình Ánh trăng im phăng phắc Khiến cho ta giật mình” “Trăng cứ tròn vành vạnh” như tượng trưng cho quá khứ đẹp dẽ, nguyên vẹn chẳng thể phai mờ. Quá khư đẹp đẽ vĩnh hằng trong vũ trụ: “ánh trăng im phăng phắc” như một người bạn, một nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc. Cái im lặng ấy như đang nhắc nhở nhà thơ, nhắc nhở tất cả chúng ta. Con người có thể vôt ình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên nghĩa tình, quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt, hồn hậu và rộng lượng. Câu 3. Tác phẩm có kết cấu độc đáo. Hai khổ thơ đầu là hình ảnh vầng trăng thở nhỏ và những ngày ở rừng trong chiến tranh. Những ngày ấy khắc ghi đinh ninh trong lòng mối tình với vầng trăng tình nghĩa, vầng trăng tri kỷ. Khổ thơ thứ ba: Hòa bình, về thành phố, quen với ánh sáng điện, với tiện nghi hiện đại. Trong “ngọt bùi” dễ quên “cay đắng”. Thế là vầng trăng đã trở thành người dưng, quá khứ nghĩa tình đã rơi vào lãng quên. Khổ thơ thứ tư: Sự việc bất thường: Mất điện, tối om, bật tung cửa bỗng lại thấy vầng trăng tròn. Vậy là gặp khó khăn gian khổ mới nhớ về quá khứ nghĩa tình. Khổ thơ này tạo bước ngoặt để tác giả bộc lộ cảm xúc. Hai khổ thơ sau: Lời thơ khi ngân nga thiết tha, rưng rưng xúc động gặp lại tri kỷ bị lãng quên, khi trầm lắng nặng trĩu suy tư như một sự hối hận, sự tự vấn: Thiên nhiên, nghĩa tình, quá khứ luôn còn đó sao con người dễ vô tình? Giọng điệu tâm tình bằng thể thơ năm chữ, nhịp thơ khi tuôn chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo nhịp kể, khi ngân nga, khi trầm lắng suy tư. Tất cả những điều đó góp phần quan trọng trong việc bộc lộ những cảm xúc sâu xa của một người lính khi nghĩ về chiến tranh, về quá khứ. Câu 4. Bài thơ viết năm 1978 sau hòa bình ba năm. Gần mười năm trong quân ngũ (1966 – 1975) Nguyễn Duy sống với những người mẹ nghèo bên đồng chiêm, với “hơi ấm ổ rơm”, với gian khổ vất vả của cuộc đời người chiến sĩ. Tất cả những ngày tháng ấy đã trở thành kỷ niệm đẹp đầy nghĩa tình. Khi về thành phố, về nơi “Ngọt bùi” nhà thơ vẫn nhớ lúc “Đắng cay”. Câu chuyện riêng này là lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước, bình dị hồn hậu. Bài thơ không chỉ là chuyện của riêng nhà thơ mà có ý nghĩa đối với cả một thế hệ. Hơn thế bài thơ có ý nghĩa với nhiều người, nhiều thời, bởi vì nó đặt ra vấn đề thái độ với quá khứ, với người đã khuất, với cả chính mình. Bài thơ nằm trong mạch cảm xúc “Uống nước nhớ nguồn” gợi đạo lý thủy chung tình nghĩa. Đó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Soạn bài Ánh Trăng
1,002
Soạn bài Âm thanh trong cuộc sống Hướng dẫn A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 2. Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài thơ “Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà” (SGK/119). 5.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Những chi tiết nào trong bài thơ gợi lên hình ảnh một đêm trăng tĩnh mịch? 2)Chi tiết nào cho thấy đêm trăng tĩnh mịch nhưng vẫn sinh động, vẫn dạt dào sức sông? 3)Những hình ảnh nào trong bài thơ thể hiện sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên trong đêm trăng trên sông Đà? Gợi ý: Tìm những câu thơ miêu tả tiếng đàn (cũng là tâm tư, tình cảm của con người) hoà vào cảnh vật đêm trăng trên sông Đà. Gợi ý: 1) Những chi tiết gợi lên hình ảnh một đêm trăng tĩnh mịch: cả công trường say ngủ cạnh dòng sông; những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ; những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ. 2) Đêm trăng tĩnh mịch nhưng vẫn sinh động, vẫn dạt dào sức sông bởi tiếng dàn của cô gái Nga, với một dòng trăng lấp loá sông Đà. 3) Những hình ảnh thể hiện sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên: tiếng đàn ngân nga cùng dòng sông Đà lấp loáng ánh trăng. 6.Tìm những câu thơ sử dụng biện pháp nhân hoá. Nêu tác dụng của biện pháp nhân hoá trong việc tả cảnh. Gợi ý: Những câu thơ sử dụng biện pháp nhân hoá: Cả công trường say ngủ Những tháp khoanngẫm nghĩ Những xe ủi,sóng vai nhau nằm nghỉ. Biển sẽ nằm bỡ ngỡ Sông Đà chia ánh sáng Trong việc tả cảnh, biện pháp nhân hoá có tác dụng tạo nên những hình ảnh sông động, gần gũi với người đọc. B.HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Đọc bài văn “Vịnh Hạ Long” và trả lời các câu hỏi (SGK/122, 123). a)Xác định phần mở bài, thân bài, kết bài của bài văn trên. b)Phần thân bài gồm có mấy đoạn? Mỗi đoạn miêu tả những gì? c)Những câu văn in đậm có vai trò gì trong mỗi đoạn văn và trong cả bài? Gợi ý: a) Mở bài: “Vịnh Hạ Long… Việt Nam”. Thân bài: “Cái đẹp… vang vọng”. Kết bài: Núi non,… mãi mãi giữ gìn”. -Đoạn 1: miêu tả sự kì vĩ của vịnh Hạ Long. -Đoạn 2: miêu tả vẻ duyên dáng của Hạ Long. -Đoạn 3: miêu tả những nét riêng biệt, hấp dẫn của Hạ Long qua mỗi mùa. c)Những câu văn in đậm có vai trò mở đầu mỗi đoạn, nêu bật ý chính của đoạn. Trong cả bài thì những câu ấy có vai trò chuyển đoạn và kết nôi các đoạn với nhau. 2.Chọn câu mở đoạn cho sắn phù hợp với đoạn văn sau: […] Phần phía nam của dải Trường Sơn nằm ở đây với nhiều ngọn núi cao từ 2000 đến 2600 mét, quanh năm mây trắng phủ đầu. Bên những chóp núi cao là những thảm rừng dày. Có nhiều khu rừng nguyên sinh từ bao đời nay chưa in dấu chân người. Câu mở đoạn: a)Tây Nguyên là miền đất núi non điệp trùng. b)Tây Nguyên có núi cao chất ngất, có rừng cây đại ngàn. c)Đến với Tây Nguyên là đến với mảnh đất của những cánh rừng hoang sơ. Gợi ý: Đáp án: b 3.Viết vào vở câu mở đoạn cho đoạn văn trên theo ý của riêng em. Gợi ý: Nghĩ về Tây Nguyên, ta sẽ nghĩ ngay đến một vùng núi non trùng điệp với những đỉnh cao chót vót được bao phủ bởi những cánh rừng xanh bạt ngàn. 4.Nghe thầy cô kể chuyện Cây cỏ nước Nam. Gợi ý: Cây cỏ nước Nam Nguyễn Bá Tĩnh, tức Tuệ Tĩnh, là một danh y đời Trần. Một lần, ông dẫn các học trò đi ngược vùng Phả Lại để lên núi Nam Tào, Bắc Đẩu, hai ngọn núi cao uy nghi sừng sững đối mặt với một vùng sông nước hiểm trở. Dọc hai bên đường lên núi là những bụi sâm nam lá xoè như những bàn tay, những bụi cây đinh lăng lá xanh mướt, những bụi cam thảo nam leo vướng vít cả mặt đường.Dừng chân bên sườn núi, ông trầm ngâm nói với học trò: -Ta đưa các con đến đây để nói cho các con biết rõ điều mà ta suy nghĩ nung nấu từ mấy chục năm nay. Vài học trò xì xào: -Chắc hẳn là điều gì cao siêu lắm nên thầy mới phải nung nấu lâu đến thế. -Điều ta sắp nói với các con không cao như núi Thái Sơn, cũng chẳng xa như biển Bắc Hải mà ở gần trong tầm tay, ở ngay dưới chân các con đó. Tất cả học trò đều im lặng, duy có người trưởng tràng kính cẩn hỏi: -Thưa thầy, điều thầy định nói với chúng con có phải là cây cỏ ở dưới chân… -Phải, ta muốn nói về ngọn cây và sợi cỏ mà hằng ngày các con vẫn giẫm lên… Chúng chính là một đội quân hùng mạnh góp vào với các đạo hùng binh của các bậc thánh nhân như Hưng Đạo Vương đánh tan giặc Nguyên xâm lược. Rồi ông từ tốn kể: -Ngày ấy, giặc Nguyên nhòm ngó nước ta. Vua quan nhà Trần lo việc phòng giữ bờ cõi rất cẩn trọng. Bên cạnh việc luyện tập dân binh, triều đình còn cắt cử người đôn đôc rèn vũ khí, chuẩn bị voi ngựa, lương thực, thuôc men,… Song, từ lâu nhà Nguyên đã cấm chở thuôc men, vật dụng xuống bán cho người Nam. Khi giáp trận tất có người bị thương và đau ốm, biết lấy gì cứu chữa? Không chậm trễ, các thái y đã toả đi khắp mọi miền quê học cách chữa bệnh của dân gian bằng cây cỏ bình thường. Từ đó, vườn thuôc được lập ở khắp nơi. Núi Nam Tào và Bắc Đẩu chính là hai ngọn dược sơn của các vua Trần xưa. Cây cỏ nước Nam đã góp phần làm cho những đạo binh thêm hùng hậu, bền bỉ, khoẻ mạnh, can trường trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù mạnh hơn mình hàng chục lần, đông hơn mình hàng trăm lần… Kể đến đây, Nguyễn Bá Tĩnh chậm rãi nói thêm: -Ta càng nghĩ càng thêm quý từng ngọn cây, từng sợi cỏ của non sông gấm vóc tổ tiên để lại. Ta định nối gót người xưa để từ nay về sau dân ta có thể dùng thuốc nam chữa cho người Nam. Ta nói để các con biết ý nguyện của ta. Theo con đường của danh y Tuệ Tĩnh, cho đến bây giờ, hàng trăm vị thuốc đã được lấy từ cây cỏ nước Nam, hàng nghìn phương thuốc đã được tổng hợp từ phương thuốc dân gian để trị bệnh cứu người. Gợi ý: -Câu chuyện có những nhân vật nào? -Danh y Nguyễn Bá Tĩnh đã dẫn những học trò của mình đi đâu? -Ông đã kể cho các học trò nghe chuyện gì? -Ông nói với các học trò ý nguyện gì của mình? -Cho đến giờ, cây cỏ nước Nam đã có ích lợi ra sao? Gợi ý: – Câu chuyện có danh y Nguyễn Bá Tĩnh và các học trò của ông. -Danh y đã dẫn học trò đi ngược vùng Phả Lại để lên núi Nam Tào, Bắc Đẩu. -Ồng kể cho học trò nghe chuyện vua quan nhà Trần đã chiến thắng giặc Nguyên nhờ một phần đóng góp của cây cỏ nước Nam. -Ý nguyện của ông là làm cho dân ta có thể dùng thuôc nam chữa cho người Nam. -Cây cỏ nước Nam đã cho ra hàng trăm vị thuốc, hàng nghìn phương thuốc đã được tổng hợp từ phương thuốc dân gian để trị bệnh cứu người. 7.a) Thi kể chuyện trước lớp (kể tóm tắt) Đại diện các nhóm kể tóm tắt câu chuyện trước lớp. b) Trao đổi về ý nghĩa câu chuyện. -Câu chuyện ca ngợi điều gì ở danh y Nguyễn Bá Tĩnh? -Câu chuyện nhắc nhở chúng ta điều gì? Gợi ý: a) Dựa vào lời thuyết minh dưới mỗi tranh để kể. b) – Câu chuyện ca ngợi danh y Nguyễn Bá Tĩnh là một thầy thuốc nổi tiếng, yêu nước thương dân, cố gắng mang hết tâm huyết của mình để tạo phúc cho thế hệ mai sau. –Câu chuyện nhắc nhở chúng ta phải biết yêu quý thiên nhiên, biết được giá trị và trân trọng từng lá cây, ngọn cỏ. C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG Hỏi người thân về một số cây thuốc nam và công dụng của chúng. Gợi ý: Tỏi điều trị các bệnh cảm lạnh. Mầm tỏi giúp phòng chống bệnh ung thư. Cây đinh lăng có tính năng chống dị ứng, mệt mỏi. Cây diệp hạ châu hỗ trợ điều trị các bệnh về gan.
Soạn bài Âm thanh trong cuộc sống
1,423
Soạn bài Ôn dịch thuốc lá là một trong những tác phẩm khá hay và vô cùng đặc sắc trong chương trình Ngữ văn lớp 8. Thông qua bài học ta thấy được tác hại vô cùng to lớn của thuốc lá. Để có thể học được tốt bài này các em cũng cần nên học bài và soạn bài chi tiết. Soạn bài Ôn dịch thuốc lá Bài làm Tóm tắt: Ôn dịch thuốc lá luôn luôn đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS. Có thể nói thì thuốc lá chứa rất nhiều chất độc hại cho cơ thể. Khi con người ta hút thuốc lá cũng đã như gây ảnh hưởng đến sức khỏe cả người hút lẫn người hít phải. Thông qua đó chính là thì tỉ lệ thanh thiếu niên hút thuốc ở nước ta rất cao và dường như cũng đã lại gây nhiều hệ quả như trộm cắp, phạm tội. Thế rồi ta cũng nhận thấy được nên cần phải có chiến dịch chống thuốc lá từ sự chung tay của tất cả mọi người. Bố cục của tác phẩm: Phần 1 (từ đầu cho đến còn nặng hơn cả AIDS): thông báo về nạn dịch thuốc lá. – Phần 2 (tiếp cho đên con đường phạm pháp): tác hại của thuốc lá. – Phần 3 (Phần còn lại): Đây cũng chính là lời kêu gọi chống thuốc lá. Câu 1 (trang 121 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Phân tích ý nghĩa của việc dùng dấu phẩy trong đầu đề của văn bản: Ôn dich, thuốc lá. Có thể sửa thành ôn dịch thuốc lá hoặc Thuốc lú là một loại ôn dịch được không? Vì sao? – Thực sự chính ý nghĩa của dấu phẩy trong nhan đề: một biện pháp tu từ khiến trọng âm rơi vào hai từ “ôn dịch” dường như cũng đã lại để nhấn mạnh biểu thị thái độ căm tức, ghê tởm của người viết. Soạn bài Ôn dịch thuốc lá Câu 2 (trang 121 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Vì sao tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo bàn về đánh giặc trước khi phân tích tác hại của thuốc lá? Điều đó có tác dụng gì trong lập luận? Tác giả thật tài tình khi đã dẫn lời Trần Hưng Đạo trước khi phân tích tác hại của thuốc lá vì đây cũng chính là một cách so sánh ngầm. Tất cả những điều này dường như cũng đã tạo ra một ấn tượng mạnh trước khi phân tích. Ta nhận thấy được cũng chính điều đó làm cho lập luận thêm chặt chẽ, thuyết phục. Câu 3 (trang 121 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Vì sao tác giả đặt giả định “Có người bảo: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!” trước khi nêu lên những tác hại về phương diện xã hội của thuốc lá? Tác giả thjt tài tình khi ông cũng đã đặt giả định trước khi nêu lên những tác hại về phương diện xã hội của thuốc lá. Lý do chính bởi vì muốn cho thấy tác hại của thuốc lá không chỉ ảnh hưởng đến người hút mà nó lại còn cả người hít phải khói thuốc. Đồng thời lại thể hiện thái độ phê phán nghiêm khắc. Tác giả cũng tiếp tục đưa ra những số liệu so sánh tình hình hút thuốc lá nước ta với các nước Âu – Mĩ để cho mọi người thấy sự đối lập đó chính là Ta nghèo hơn nhưng “xài” thuốc lá tương đương với các nước phát triển. Còn với các nước đã thực hiện các chiến dịch chống thuốc lá quyết liệt, vậy chúng ta cũng nên hành động chứ? Đúng không nào? Luyện tập Câu 1 (trang 122 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Tìm hiểu tình trạng hút thuốc ở một số người thân hoặc bạn bè quen biết. Dựa vào cách lập bảng thống kê của bài đọc thêm số 1 để phân loại nguyên nhân Chúng ta có thể phân loại nguyên nhân của tình trạng hút thuốc: – Có thể nhận thấy được chĩnh từ tác động bên ngoài: Tất cả cũng chỉ vì lịch sự, xã giao. Tất cả cũng chỉ là nể nang bạn bè; bắt chước; sự thiếu quan tâm của những người xung quanh. – Từ bản thân: Thông qua đây cũng chính tính tò mò, không kiểm soát; không có ý thức về thuốc lá. Ta có thể nhận xét được chính sản tin của báo Sài Gòn tiếp thị được trích ở bài đọc thêm cho thấy mặt trái của sự giàu có. Thêm vào đó cũng chính là những tác hại của chất kích thích. Hình ảnh anh chàng trẻ tuổi giàu có nhưng lại bị chết sớm vì ham chơi, vì quá đà, thiếu hiểu biết, một phần cũng là vì sự thiếu quan tâm của gia đình, bố mẹ bận kiếm tiền mà quên mất tình cảm gia đình đồng thời cũng đã lại quên cả sự chăm lo giáo dục con cái được. Hi vọng bài soạn văn trên đây cũng sẽ là một bài học vô cùng bổ ích giúp cho các em hiểu bài nhanh chóng. Các kiến thức dễ thuộc, dễ nhớ của giải Văn mang đến cho các em cũng sẽ thực sự hữu ích. Chúc các em học tốt! Minh Minh Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm: Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8 Soạn bài Bàn về đọc sách Sean bài Trong lòng mẹ
Soạn bài Ôn dịch thuốc lá Ngữ văn 8
925
Đề bài: Soạn Bài Ôn Dịch Thuốc Lá Ngữ Văn Lớp 8 Bài làm Câu 1: Ý nghĩa của việc dùng dấu phẩy trong đầu đề của văn bản: Ôn dịch, thuốc lá: Thuốc lá ở đây chính là tệ nghiện thuốc lá So sánh (tệ nghiện) thuốc lá với ôn dịch là rất thỏa đáng vì tệ nghiện thuốc lá cũng là một thứ bệnh (bệnh nghiện) và cả hai có một đặc điểm chung là rất dễ lây lan. Từ ôn dịch trong tên gọi văn bản không đơn thuần chỉ có nghĩa là một thứ bệnh lan truyền rộng. Ở đây tác giả dùng từ ôn dịch, một từ còn “thường dùng làm tiếng chửi rủa”, hơn thế lại đặt một dấu phẩy ngắn cách giữa hai từ “ôn dịch” và “thuốc lá”. Dấu phẩy được sử dụng theo lối tu từ để nhấn mạnh sắc thái biểu cảm vừa căm tức vừa ghê tởm. Có thể diễn ý tên gọi văn bản một cách nôm na như sau: “Thuốc lá! mày là đồ ôn dịch!” Câu 2: Trước khi phân tich tác hại của thuốc lá, tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo bàn về việc đánh giặc: “Nếu đánh giặc như vũ bão thì không dáng sợ, đáng sợ là giặc gặm nhấm như tầm ăn dâu.” Nói như thếnày, nghĩa là tác giả đã so sánh việc chống thuốc lá với chống ngoại xâm, nói cách khác là so sánh việc thuốc lá tấn công loài người như giặc ngoại xâm đánh phá. Mượn lối so sánh đặc sắc của nhà quân sự thiên tài thời xưa, tác giả nhằm thuyết phục người đọc một vấn đề y học thời nay: thuốc lá đã và đang đe dọa sức khỏe và tính mạng của con người. Nó tuy không làm cho người ta lăn đùng ra chết, nên không dễ phân biệt những sự thật vô cùng độc hại. Tác giả so sánh tằm với khói thuốc lá. “Tằm ăn dâu” đến đâu, dù chậm, vẫn biết đến đó. Còn khói thuốc, người hút thường không thấy cái tác hại của nó ngay, tức là khói thuốc lá là một loại giặc “gặm nhấm”, nguy hiểm hơn nhiều với giặc “đánh như vũ bão”. Vì giặc đánh chúng ta còn có thể chống được, còn thứ gặm nhấm từ từ thì rất nguy hiểm. Lập luận như thế này có thể gây ấn tượng mạnh cho người đọc và giúp người đọc hình dung ra một cách cụ thể tác hại vô cùng to lớn của khói thuốc lá: không làm cho con người lăn đùng ra chết mà chết một cách từ từ. Câu 3: Trước khi tác giả nêu lên những tác hại của khói thuốc lá đối với những người không hút thuốc. Tác giả đã đặt giả định: “Có người bảo: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!”. Câu nói này là lời chống chế thường gặp ở những người hút thuốc. Bằng những lập luận chặt chẽ, dẫn chứng sinh động và cả tình cảm nhiệt thành sôi nổi, tác giả đã bác bỏ luận điệu sai lầm ấy. Có hai khái niệm đã được giới khoa học dùng phổ biến là hút thuốc lá chủ động và hút thuốc lá bị động. Không hút thuốc nhưng để khói thuốc gây tác hại đến bẳn thân gọi là hút thuốc lá bị động hoặc là hút thuốc lá thụ động. Như vậy, bản thân hút thuốc lá nghĩa là hút thuốc lá chủ động cũng làm cho những người xung quanh hút thuốc lá bị động theo. Mình tự làm hại sức khỏe mình mà đồng thời cũng làm hại sức khỏe bao nhiêu kẻ khác. Câu 4: Tác giả đã đưa ra số liệu để so sánh tình hình hút thuốc lá ở nước ta với các nước Âu – Mĩ trước khi đưa ra kiến nghị: Đã đến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này. Nước ta nghèo hơn các nước Âu – Mĩ rất nhiều, nhưng theo như so sánh, nước ta “xài” thuốc lá tương đương với các nước đó. Đó là điều thứ nhất không thể chấp nhận được. Hơn nữa, để chống tệ hút thuốc lá, các nước đó đã tiến hành những chiến dịch, thực hiện những biện pháp ngăn ngừa, hạn chế quyết liệt hơn ta. Đó là điều thứ hai để đáng suy nghĩ.
Soạn Bài Ôn Dịch Thuốc Lá Ngữ Văn Lớp 8
736
Soạn bài Ôn dịch, thuốc lá Hướng dẫn I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Phân tích ý nghĩa của việc dùng dấu phẩy trong đầu đề của văn bản Ôn dịch, thuốc lá. Tên gọi của văn bản này không chí có nghĩa là một thứ bệnh dễ lan truyền rộng. Ở đây tác giả dùng từ “ôn dịch”, một từ có ý nghĩa chửi rủa và bắt đầu dấy phẩy ngăn cách giữa hai từ “ôn dịch” và “thuốc lá”, là sử dụng theo lối tu từ để nhấn mạnh sắc thái biểu cảm (vừa căm tức vừa ghê tởm). Ta có thể diễn ý tên gọi văn ản một cách khác là Thuốc là một loại ôn dịch. Câu 2. Vì sao tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo Bàn về việc đánh giặc trước khi phân tích tác hại của thuốc lá? Điều đó có tác dụng gì trong lập luận? Tác giả dẫn lời Trần Hưng Đạo bàn về việc đánh giặc trước khi phân tích tác hại của thuốc lá nhằm mục đích lấy lối so sánh rất hay của nhà quân sự thiên tài để thuyết minh một vấn đề ý học. Nói một cách đơn giản, khói thuốc không làm cho người “lăn đùng ra chết ngay” mà nó gặm nhấm dần sức khỏe của người như tằm ăn lá dâu, nghĩa là người hút không thấy ngay tác hại cua nó… Điều này có tác dụng rất sắc sảo trong lập luận. – Bằng những cứ liệu khoa học, bằng sự giải thích, phân tích tường tận của một nhà khoa học, tác giả chứng minh cho mọi người thấy được tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe của con người nó gây ra những căn bệnh nan y: Viêm phế quản, ung thư phổi và ung thư vòm họng làm tắc động mạch, làm nhồi máu cơ tim… khiến cho người đọc phải rùng mình kinh sợ. Câu 4. Vì sao tác giả đặt giả định “Có người bảo: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!” trước khi nêu lên những tác hại về phương diện xã hội của thuốc lá? Bằng cách này, tác giả bác bỏ lối chống chế thường gặp ở những người hút thuốc. Người hút thuốc trực tiếp bị chất độc nicôtin, oxit cacbon gây tác hại, nhưng còn gây tác hại cho những người xung quanh phải ngửi mùi thuốc (nhất là trẻ con và phụ nữ mang thai). – Để chỉ rõ sự ôn dịch của thuốc là nó không chỉ ảnh hưởng tới một người hút mà nó còn ảnh hưởng, còn đầu độc tới mọi người xung quanh (những người làm việc cùng phòng, vợ, con, đặc biệt là thai nhi bé bỏng dẫn tới việc sinh non rất nguy hiểm). – Thể hiện thái độ phê phán nghiêm khắc với những người hút thuốc là và đề nghị những người hút thuốc lá phải có ý thức ra hành lang hoặc ngoài sân để không ảnh hưởng đến người khác. -> Như vậy bằng tình cảm nhiệt tình, sôi nổi, tác giả đã chỉ ra thuốc lá không chỉ ảnh hưởng đến người hút mà còn ảnh hưởng đến mọi người xunh quanh. Câu 5. Vì sao tác giả đưa ra những số liệu để so sánh tình hình hút thuốc của nước ta với các nước Âu-Mĩ trước khi đưa ra kiến nghị: Đã đến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này? Tác giả so sánh tình hình hút thuốc của nước ta với các nước Âu-Mĩ trước khi đưa ra kiến nghị là để cho thấy hậu quả của việc hút thuốc lá ở nước ta còn nghiêm trọng hơn ở các nước đó. Ta nghèo hơn nhưng lại “xài” thuốc lá tương đương với các nước đó. Đây là điều không thể chấp nhận. Điều thứ hai là cho thấy các nước đã tiến hành những chiến dịch, thực hiện những biện pháp ngăn ngừa, hạn chế thuốc lá quyết liệt hơn ta. Câu 6. Nghệ thuật. Với phong cách ngôn ngữ báo chí, bằng phương pháp liệt kê, phân tích chứng minh… văn bản đã làm sáng tỏ, đầy sức thuyết phục về tác hại của thuốc lá, kêu gọi mọi người hãy đứng lên ngăn ngừa, chặn đứng nạn ôn dịch thuốc lá. Các lí lẽ và dẫn chứng được tác giả nêu lên qua sự phân tích sâu sắc và so sánh liên tưởng rất thực tế, đầy tính thuyết phục. Giống như ôn dịch, nạn nghiện thuốc lá rất dễ lây lan và gây ra những tổn hại to lớn cho sức khỏe và tính mạng con người. Song, nạn nghiện thuốc lá còn nguy hiểm hơn cả ôn dịch: nó gặm nhấm sức khỏe con người nên không dễ kịp thời nhận biết, nó gây tác hại nhiều mặt đối với gia đình và xã hội. Cần quyết tâm phòng chống ôn dịch thuốc lá. Hãy đáp lại tấm lòng của người thầy thuốc, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, thiết tha kêu gọi mọi người, nhất là thanh niên, hãy đứng lên ngăn ngừa, chặn đứng nạn ôn dịch thuốc lá. II.Luyện tập. Câu 1. Tìm hiểu tinh trạng hút thuốc lá ở một số người thân và dựa vào cách lập bảng thống kê để phân loại nguyên nhân. –Lứa tuổi 20 – 25 tuổi. -Vui bạn, nể bạn 30%. -Bắt chước 60%. -Vì lịch sự, xã giao 10%. Câu 2. Ghi lại cảm nghĩ sau khi đọc bản tin của báo Sài Gòn tiếp thị. Hãy ghi lại cảm nghĩ chân thực của mình về cái chết thảm không phải là của người nghèo khổ mà là một tỷ phú ở Mỹ.
Soạn bài Ôn dịch, thuốc lá
944
Đề bài: Soạn Bài Ôn Luyện Về Dấu Câu Lớp 8 | Văn Mẫu Bài làm I. TỔNG KẾT VỀ DẤU CÂU Dấu câu Công dụng Dấu chấm Kết thúc câu trần thuật Dấu chấm hỏi Kết thúc câu nghi vấn Dấu chấm than Kết thúc câu cầu khiến hoặc cảm thán Dấu phẩy Đánh dấu ranh giới các bộ phận của câu: + Thành phần phụ với chủ ngữ vị ngữ + giữa các từ có cùng chức vụ ngữ pháp + giữa một từ với bộ phận chú thích + giữa các vế của một câu ghép Dấu chấm phẩy – Đánh dấu các bộ phận khác nhau trong một phép liệt kê. – Đánh dấu ranh giới giữa các vế của một câu ghép phức tạp. Dấu chấm lửng – Tỏ ý chưa liệt kê hết. – Thể hiện lời nói ngập ngừng hay ngắt quãng. – Biểu thị chỗ ngắt dài giọng, ghi lại chỗ kéo dài của âm thanh hay sự chờ đợi, chỉ ý lược bớt… Dấu gạch ngang – Đánh dấu bộ phận chú thích hay giải thích trong câu – Đặt trước những lời đối thoại – Đặt trước bộ phận liệt kê, đặt giữa các liên số… Dấu ngoặc đơn Giải thích, bổ sung, thuyết minh thêm. Dấu hai chấm – Đánh dấu phần giải thích, thuyết minh cho phần trước đó – Báo trước lời dẫn trực tiếp hay lời đối thoại. Dấu ngoặc kép – Đánh dấu từ, ngữ, câu, đoạn dẫn trực tiếp. – Đánh dấu từ ngữ đặc biệt hay có hàm ý mỉa mai. – Đánh dấu tên tác phẩm, tờ báo, tập san… được dẫn. 1. Thiếu dấu ngắt câu khi câu đã kết thúc – Thiếu dấu ngắt câu sau từ “xúc động”. -> Phải dùng dấu chấm. (Viết hoa từ Trong) 2. Dùng dấu ngắt câu khi câu chưa kết thúc – Dùng dấu chấm sau từ “này” là sai vì câu chưa kết thúc. -> Nên dùng dấu phẩy. 3. Thiếu dấu thích hợp để tách bộ phận câu khi không cần thiết – Thiếu dấu phẩy -> Phải thêm dấu phẩy: Cam, quýt, bưởi, xoài… 4. Lẫn lộn công dụng của các dấu câu – Đặt dấu câu chưa đúng vì nội dung không phù hợp (Câu 1 là câu trần thuật, câu 2 là câu nghi vấn) -> Sửa lại: + Sau c1: đặt dấu chấm + Sau c2: đặt dấu chấm hỏi. III. LUYỆN TẬP Bài tập 1: Con chó cái nằm ở gậm phản bỗng chốc vẫy đuôi rối rít (,) tỏ ra dáng bộ vui mừng (.) Anh Dậu lữ thử từ cổng tiến vào với cái vẻ mặt xanh ngắt và buồn rứt như kẻ sắp bị tù tội (.) Cái Tí (,) thằng Dần cùng vỗ tay reo (:) – A! Thầy đã về(!) A (!) Thầy đã về (!)… Mặc kệ chúng nó (,) anh chàng ốm yếu im lặng dựa gậy lên tấm phên cửa (,) nặng nhọc chống tay vào gối và bước lên thềm. () Rồi lảo đảo đi đến cạnh phản, anh ta lăn kềnh lên trên chiếc chiếu rách (.) Chị Dậu ôm con vào ngồi bên phản (,) sờ tay vào trán chồng và sẽ sàng hỏi (:) (-) Thế nào (?) Thầy em có mệt lắm không (?) Sao chậm về thế(?) Trán đã nóng lên đây mà (!) Bài tập 2: a. Thiếu dấu hỏi chấm. Sửa lại: “Sao mãi tới giờ anh mới về? Mẹ ở nhà …” b. Thiếu dấu ngoặc kép, dấu phẩy. Sửa lại: “Từ xưa trong cuộc sống lao động và sản xuất, nhân dân … Vì vậy có câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách”” c. Dùng sai dấu chấm câu. Sửa lại: “Mặc dù đã qua bao nhiêu năm tháng, nhưng tôi vẫn không quên được những kỉ niệm êm đềm thời học sinh.”
Soạn Bài Ôn Luyện Về Dấu Câu Lớp 8
593
Soạn bài ôn luyện về dấu câu Hướng dẫn I.Tổng kết về dấu câu. Khái niệm: Dấu câu là kí hiệu dùng trong văn viết để phân biệt ý nghĩa, các đơn vị ngữ pháp trong một câu văn, nhờ đó mà người đọc hiểu được dễ dàng hơn (đặc biệt là khi cần đọc diễn ra). Lập bảng tổng kết về dấu câu đã học ở các lớp 6, 7, 8. STT Dấu câu Công dụng 1 Dấu chấm, kí hiệu (.) Thường dùng ở cuối câu trần thuật, báo hiệu hết câu. Khi đọc phải ngắt ở dấu chấm tương đối dài 2 Dấu chấm hỏi, kí hiệu (?) Thường dùng ở cuối câu hỏi (câu nghi vấn). Khi đọc phải ngắt câu ở dấu chấm hỏi với ngữ điệu hỏi (thường lên giọng ở cuối câu) 3 Dấu chấm lửng, kí hiệu (…) Dấu câu dưới dạng 3 chấm (…) đặt cạnh nhau theo chiều ngang. Dấu chấm lửng dùng để: + Biểu thị lời nói đứt quãng vì xúc động. + Biểu thị chỗ ngắt dài dòng với ý châm biếm, hài hước. + Ghi lại chỗ kéo dài âm thanh. + Để chỉ rằng lời dẫn trự tiếp bị lược bớt một số câu. Trường hợp này dấu chấm lửng thường đặt trong dấu ngoặc đơn (…) hoặc trong dấu ngoặc vuông […] + Để chỉ ra rằng người viết chưa nói hết (đặc biệt khi nêu ví dụ). 4 Dấu chấm phẩy, kí hiệu ( 😉 Dấu câu gồm một dấu chấm ở trên, dấu phẩy ở dưới ( 😉 dùng để phân biệt các thành phần tương đối độc lập trong câu: + Trong câu ghép, khi các vế câu có sự đối xứng về hình thức. + Khi các câu có tác dụng bổ sung cho nhau. + Ngắt vế câu trong một liên hợp song song bao gồm nhiều yếu tố. Khi đọc, phải ngắt câu ở dấu chấm phẩy, quãng ngắt dài hơn so với dấu phẩy, nhưng ngắn hơn so với dấu chấm. 5 Dấu chấm than, kí hiệu (!) Dấu câu đặt cuối câu cảm thán hoặc cuối câu khiến, báo hiệu khi đọc phải ngắt câu và có ngữ điệu (cảm hoặc cầu khiến) phù hợp từng hoàn cảnh cụ thể. 6 Dấu gạch ngang, kí hiệu (-) Dấu câu dưới dạng một nét gạch ngang (-), dùng để: + Phân biệt phần chêm, xen. + Đặt trước những lời đối thoại hay đặt giữa câu để giới thiệu người nói. + Đặt ở đầu những bộ phận liệt kê, mỗi bộ phận được trình bày riêng một dòng. + Đặt giữa ba bốn tên riêng hay ở giữa con số để chỉ sự liên kết. Cần phân biệt dấu gạch ngang với dấu ngang nối. (Dấu ngang nối không phải là dấu câu). Dấu ngang nối dùng để nối các tiếng (âm tiết) trong tên phiên âm nước ngoài. + Độ dài của dấu ngang cách dài hơn dấu ngang nối. + Khoảng cách đôi bên của dấu ngang cách lớn hơn khoảng cách hai bên dấu ngang nối. 7 Dấu hai chấm, kí hiệu (:) Dấu câu dưới dạng hai chấm theo chiều thẳng đứng, chấm này dưới chấm kia (:) dùng để báo trước điều trình bày tiếp theo mang ý nghĩa giải thích, thuyết minh. 8 Dấu ngoặc đơn, kí hiệu ( ) Dấu ngoặc đơn dùng để đánh dấu phần chú thích (giải thích, thuyết minh, bổ sung thêm). 9 Dấu ngoặc kép, kí hiệu (‘’ ‘’) Dấu ngoặc kép dùng để: + Đánh dấu từ ngữ, câu đoạn dẫn trực tiếp. + Đánh dấu từ ngữ được hiểu theo nghĩa đặc biệt hay có hàm ý mỉa mai. + Đánh dấu tên tác phẩm, tên tờ báo, tập san. 10 Dấu phẩy, kí hiệu (,) Dấu câu dùng để tách các từ, cụm từ về câu như sau: + Tách các phần cùng loại của câu. + Tách các vế của câu ghép không có liên từ. Tách vế câu chính và vế câu phụ hoặc các vế câu phụ trong câu ghép. +Tách thành phần biệt lập của câu. +Tách các từ, ngữ về mặt ngữ pháp không liên quan đến các thành phần câu (từ cảm, từ hỏi, từ chêm xen, từ khẳng định, phủ định, từ hô gọi). + Dùng tạo nhịp điệu biểu cảm cho câu. II.Các lỗi thường gặp về dấu câu. 1.Lời văn ở đoạn văn thiếu dấu ngắt câu sau từ “xúc động”. Phải dùng dấu chấm để ngắt câu và viết hoa chữ T ở đầu câu. 2.Dùng dấu ngắt câu sau từ “này” là sai vì câu chưa kết thúc. 3.Câu thiếu dấu phẩy để tách các bộ phận liên kết. 4.Lẫn lộn công dụng của các dấu câu. Dấu chấm hỏi ở cuối câu 1 dùng sai vì đây không phải là câu hỏi. Đó là câu trần thuật, phải dùng dấu chấm. Dấu câu ở cuối thứ hai là sai, vì đây là câu hỏi, phải dùng dấu chấm hỏi. III.Luyện tập 1.Ghép đoạn văn và điền các dấu câu vào dấu ngoặc đơn cho phù hợp. -Các em tự làm. -Gợi ý kiểm tra lại cho đúng việc đặt các dấu (thứ tự từ trên xuống dưới). (,) – (.) – (,) – ( 😉 – (-) – (!) – (!) – (!) – ( 😉 ( 😉 – (,) – (,) – (.) – (,) – (.) – (:) – (,) – (:) (-) – (?) – (?) – (?) – (!) 2. Phát hiện lỗi về dấu câu trong các doạn văn và thay dấu câu cho thích hợp (điều chỉnh chữ viết hoa cho thích hợp). a. Sao mãi tới giờ anh mới về? Mẹ dặn là anh phải làm xong… chiều nay. b. … và sản xuất… có câu tục ngữ “lá lành đùm lá rách”. c. … năm tháng, nhưng.
Soạn bài ôn luyện về dấu câu
918
Soạn bài ôn tập kiểm tra phần tiếng Việt lớp 8 HK 1 Hướng dẫn I.Từ vựng 1.Lý thuyết. a.Trường từ vựng: là tập hợp tất cả các từ có nét chung. Về nghĩa (xem lại bài 2 trang 21 SGK Ngữ Văn lớp 8/I) b.Từ tượng hình: là từ có khả năng gợi ra hình dáng, đường nét, hình khối màu sắc của sự vật, hiện tượng: Ví dụ: hí hoáy, tất bật, hì hục, thoăn thoắt. c.Từ tượng thanh: là từ có sức gợi cảm về âm thanh của sự vật hiện tượng. Ví dụ: rả rich, đàng hoàng, róc rách, tí tách. d.Từ ngữ địa phương: là từ ngữ chỉ sử dụng ở một hay một số địa phương nhất định. Ví dụ: mợ = mẹ (tiếng thành phố Hà Nội), đọi = bát tiếng Thanh Hóa, nón = mũ (tiếng Nam Bộ) e.Biệt ngữ xã hội: là các từ ngữ chỉ được dùng trong một tầng lớp xã hội nhất định. Ví dụ: “bắt mồi” (tìm hàng), “thét” (nêu giá) là tiếng của bọn buôn gian bán lận. f.Nói quá, nói giảm: (Các em tìm và trả lời câu này) 2.Luyện tập a.Cấp độ khái quát của từ ngữ văn học dân gian Giải thích những từ ngữ có nghĩa hẹp trong sơ đồ trên. Truyền thuyết: Truyện dân gian về các nhân vật và sự kiện lịch sử xa xưa, có nhiều yếu tố thần kì. Truyện cổ tích: Truyện dân gian kể về cuộc đời, số phận của một số nhân vật quen thuộc (người mồ côi, người mang lố xâu xí, người em, người dũng sĩ) có nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo. Truyện cười: Truyện dân gian dùng hình thức gây cười để mua vui, phê phán, đả kích thói hư tật xấu. Từ ngữ chung trong phần giải thích nghĩa của những từ ngữ trên là truyện dân gian là từ ngữ có nghĩa rộng hơn (cấp độ khái quát cao hơn). Từ đó, khi giải thích nghĩa của những từ ngữ hẹp hơn so với một từ ngữ khác, ta phải xác định được từ ngữ có nghĩa rộng hơn. b.Tìm trong ca dao hai ví dụ về biện pháp tu từ nói quá hay nói giảm, nói tránh. “Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”. “Làm trai cho đáng nên trai Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng”. “Muốn cho biển hẹp như ao Bắc cầu dòn gánh mà trao nhân tình” “Lỗ mũi mười tám gánh lông Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho”. c.Viết hai câu, một câu tượng hình, một câu tượng thanh. -Câu tượng hình: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. (Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến) -Câu tượng thanh: “Chớp Rạch ngang trời Khô khốc Sấm Ghé xuống sân Khanh khách Cười”. (Mưa – Trần Đăng Khoa) 1.Lý thuyết a.Trợ từ: Là những từ chuyên đi kèm một từ ngữ trong câu để nhấn mạnh hoặc biểu thị thái độ đánh giá sự vật, sự việc được nói đến trong từ ngữ đó. Ví dụ: những, chỉ, có, ngay. -Tôi chỉ lấy được hai vé xem bóng đá. -Anh ta mua những hai chiếc xe đạp. b.Thán từ. Là những từ làm dấu hiệu biểu lộ cảm xúc,tình cảm, thái độ của người nói hoặc dùng để gọi. Thán từ có 2 loại chính: -Ạ, ái, ơ, ôi… có thể tách ra khỏi các câu khác làm thành câu đặc biệt, là thán từ biểu lộ tình cảm. + Ôi, đau quá. + Ơ, đi đâu đấy? -Này, ơi, vâng, dạ… là thán từ gọi đáp. + Về à? Này, mai đến nhé. + Vâng. c.Tình thái từ. Là những từ được thêm vào câu để cấu tạo nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán để biểu thị sắc thái ý nghĩa trong câu của người nói. (Đọc lại bài 7 – trang 81) d.Câu ghép. Là câu do hai hoặc nhiều cụm C-V không bao chứa nhau tạo thành. Mỗi cụm C-V được gọi là một vế câu. Nói cách khác, câu ghép là câu có hơn một kết cấu C-V, trong đó mỗi kết cấu C-V làm thành một vế câu tách rời nhau. Loại từ ghép trên đây không dùng từ nối, các vế câu có dấu phẩy, chấm, hoặc dấu hai chấm. Ngoài ra, có loại từ ghép dùng các quan hệ từ (một quan hệ từ hay một cặp) hoặc một cặp phó từ hay đại từ thường đi đôi với nhau (hô ứng). 2.Luyện tập a.Viết hai câu, trong đó một câu dùng trợ từ và tình thái từ, một câu có dùng trợ từ và thán từ: -Ơ, quyển vợ chỉ có hai ngàn đồng thôi à? -Chính nó hư đến thế ư? b.Đọc đoạn trích ở SGK (trang 158), xác định câu ghép. Nếu tách câu ghép đã xác định thành các câu đơn thì có được không? Nếu được thì có làm thay đổi ý cần diễn đạt không? -Câu đầu tiên của đoạn trích là câu ghép, có thể tách câu ghép này thành 3 câu đơn: + “Pháp chạy” + “Nhật hàng” + “Vua Bảo Đại thoái vị”. Nhưng khi tách thành ba câu đơn thì sự liên tục của sự kiện không được thể hiện rõ ràng bằng khi gộp lại thành câu ghép. c.Xác định câu ghép và cách nối các vế câu trong đoạn trích ở SGK (trang 158). Đoạn trích gồm 3 câu: Câu thứ nhất và câu thứ ba là hai câu ghép, các vế câu được nối với nhau bằng quan hệ từ (cũng như, bởi vì).
Soạn bài ôn tập kiểm tra phần tiếng Việt lớp 8 HK 1
893
Soạn bài ôn tập làm văn tiếp theo lớp 9 HK 1 Hướng dẫn Soạn bài ôn tập làm văn tiếp theo lớp 9 HK 1 Câu 7. Văn bản tự sự ở lớp 9 so với văn bản này ở lớp dưới: –Giống nhau: Đã là văn bản tự sự cùng phải tạo nên một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, dẫn đến kêt thúc nhằm nêu lên một ý nghĩa. –Khác nhau: + Văn bản tự sự ở lớp 6 tồn tại độc lập một phương thức riêng. + Văn tự sự ở lớp 8 có sự kết hợp với biểu cảm và miêu tả nhưng chủ yếu là miêu tả ngoại hình, hành động nhân vật. + Đến lớp 9, văn tự sự kết hợp cả lập luận, biểu cảm, miêu tả. Riêng miêu tả còn học thêm miêu tả nội tâm nhân vật, ngôi kể và việc chuyển đổi ngôi kể. Như vậy, văn tự sự lớp 9 vừa lặp lại vừa nâng cao cả kiến thức và kỹ năng của lớp dưới. Câu 8. Giải thích trong một văn bản có đủ các yếu tố miêu tả, biểu cảm, lập luận, vẫn gọi là văn bản tự sự vì: Miêu tả, biểu cảm, lập luận chi dùng như một yếu tố bổ trợ nhằm làm nổi bật phương thức chính là phương thức tự sự. Khi gọi tên một văn bản, người ta căn cứ vào phương thức biểu đạt chính của văn bản đó. Trong thực tế, ít có những văn bản chỉ tồn tại một phương thức biểu đạt duy nhất. Câu 9. Các kiểu văn bản có thể kết hợp với các yếu tố khác: –Tự sự kết hợp với miêu tả, lập luận, biểu cảm, thuyết minh. –Miêu tả kết hợp với tự sự, biểu cảm, thuyết minh. –Lập luận kết hợp với miêu tả, biểu cảm, thuyết minh. –Biểu cảm kết hợp với tự sự, miêu tả, lập luận. –Thuyết minh kết hợp với miêu tả, lập luận. –Điều hành không thể kết hợp với yếu tố nào thuộc năm phương thức trên. Câu 10. Một số tác phẩm tự sự được học trong SGK Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 9 không phải bao giờ cũng phân biệt rõ bố cục ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài. Tuy vậy, khi viết bài làm văn kể chuyện, các em phải có đủ ba phần bởi vì các em đang trong giai đoạn luyện tập, phải rèn theo yêu cầu “thị phạm” của nhà trường. Sau này lớn lên, các em có thể viết tự do, “phá cách” như các nhà văn. Câu 11. Những kiến thức, kỹ năng về kiểu văn tự sự của tập làm văn đã soi sáng thêm nhiều cho việc đọc – hiểu văn bản các tác phẩm văn học trong SGK ngữ văn. Ví dụ học yếu tố đối thoại, độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự của phần tập làm văn giúp em hiểu sâu sắc hơn các đoạn trích trong Truyện Kiều, nhất là đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, hay truyện Làng của Kim Lân. Câu 12. Những kiến thức của phần đọc – hiểu văn bản và phần tiếng Việt tương ứng đã giúp em học tốt hơp khi làm văn kể chuyện. Ví dụ các văn bản tự sự trong SGK ngữ văn đã cung cấp cho em đề tài, nội dung và cách kể chuyện, cách dùng ngôi kể, người kể chuyện, cách dẫn dắt, xây dựng và miêu tả nhân vật, sự việc.
Soạn bài ôn tập làm văn tiếp theo lớp 9 HK 1
584
Soạn bài ôn tập phần tiếng việt lớp 9 hk2 Hướng dẫn A.YÊU CẦU Bằng những ngữ liệu về Khởi ngữ, và các thành phần biệt lập, Liên kết câu và liên kết đoạn văn, Nghĩa tường mình và hàm ý, bài ôn tập này giúp các em hệ thống hoá lại kiến thức mà các em đã học trong học kì 2. B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP KHỞI NGỮ VÀ CÁC THÀNHPHẦN BIỆT LẬP Bài tập 1. Hãy cho biết mỗi từ ngữ in đậm trong các đoạn trích sau đây là thành phần gì của câu. Ghi kết quả phân tích vào bảng tổng kết (theo mẫu). (Xem các câu a, b, c, d trong SGK). Gợi ý Khởi ngữ Các thành phần biệt lập Tinh thái Cảm thán Gọi – đáp Phụ chú Xây cái lăng ấy dường như vất vả quá Thưa ông những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy Bài tập 2. Viết một đoạn văn ngắn giới thiệu truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu, trong đó có ít nhất một câu chứa khởi ngừ và một câu chứa thành phần tình thái. Gợi ý Đoạn văn giới thiệu phải nói về tác phẩm Bến quê của Nguyên Minh Châu và phải có ít nhất một câu có khởi ngữ, một câu có thành phần tình thái. LIẾN NẾT CẤU VÀ LIÊN KẾT OẠN VĂN Bài tập 1, 2. Hãy cho biết mỗi từ ngữ in đậm trong các đoạn trích dưới đây thổ hiện phép liên kết nào? Ghi kết quả phân tích ở bài tập trên vào bảng tổng kết theo mẫu (SGK tập 2, tr. 110) Gợi ý Ngữ liệu Phép liên kết Lặp từ ngữ Đồng nghĩa, trái nghĩa và liên tưởng Thế Nối Đoạn a mưa – mưa đá – tiếng lanh canh – gió nhưng, nhưng rồi, và Đoạn b cô bé cô bé – nó Đoạn c bất bình–khinh bỉ- cười khảy; Pháp – Nã Phá Luân; Mĩ – Hoa Thịnh Đốn bây giờ cao sang rồi thì để ý đâu đến bọn chúng tôi nữa – thế Bài tập 3. Nêu rõ sự liên kết về nội dung, về hình thức giữa các câu trong đoạn văn em viết về truyện ngắn Bến quê của Nguyền minh Châu. Gợi ý Để làm bài tập này, em căn cứ vào bài viết của mình. NGHĨA TƯỜNG MINH VÀ HÀM Ý Bài tập 1. Đọc truyộn cười sau đây và cho biết người ăn mày muốn nói điều gì với người nhà giàu qua câu nói đưực in đậm ở cuối truyện (Truyện cười Chiếm hết chồ, SGK tập 2). Gợi ý Trong câu in đậm ở cuối truyện, người ăn mày muốn nói (bằng hàm ý) với người nhà giàu rằng địa ngục là chỗ dành cho các ông (những nhà giàu). Bài tập 2. Tìm hàm ý của các câu in đậm dưới đây. Cho biết trong mỗi ưường hợp, hàm ý đã được tạo ra bằng cách cố ý vi phạm phương châm hội thoại nào (Các đoạn a, b – SGK). Gợi ý a)Từ câu in đậm có thể hiểu: Nam có ý chê nhưng sợ làm mếch lòng bạn nên đã cô ý vi phạm phương châm hội thoại: nói mơ hồ (phương châm cách thức) và chệch đề tài (phương châm quan hệ). b)Từ câu in đậm có thể hiểu: Huệ muốn nói rằng còn Nam và Tuân mình chưa báo. Huệ cố ý vi phạm phương châm về lượng (nói thiêu Nam và Tuân).
Soạn bài ôn tập phần tiếng việt lớp 9 hk2
553
Soạn bài ôn tập phần tiếng Việt Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Ôn lại các nội dung kiến thức về: các phương châm hội thoại, xưng hô trong hội thoại, cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp. -Thực hiện các bài tập trong sách giáo khoa. B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP I. Các phương châm hội thoại Bài tập 1. Ôn lại nội dung của các phương châm hội thoại. Gợi ý Các nội dung kiến thức này đã dược trình bày trong SGK. Lưu ý: -Phương châm về lượng: nói phải có nội dung, nội dung nói đáp ứng nhu cầu cuộc giao tiếp, không thiếu không thừa. -Phương châm về chất: chỉ nói những điều mình tin là đúng hoặc có hằng chứng xác thực. -Phương châm quan hệ: nói đúng đề tài, tránh lạc đề. -Phương châm cách thức: nói ngắn gọn, rành mạch, tránh mơ hồ. -Phương châm lịch sự: cần tế nhị và tôn trọng người khác. Bài tập 2. Hãy kể một tình huống giao tiếp trong đó có một hoặc một số phương châm hội thoại nào đó không được tuân thủ. Gợi ý Có thể tìm trong truyện vui, truyộn cười hoặc một tình huống giao tiếp nào đó mà mình đã gặp để minh hoạ cho một số phương châm hội thoại không được tuân thủ. Ví dụ trong truyện cười sau, người nói (quan huyện) đã không tuân thủ phương châm quan hệ: NẤU CHÁO GÀ MÀ ĂN Năm ấy trời làm lụt lội, dân tình đói kém. Một viên quan được lệnh đi hành hạt xem xét. Đến một làng nọ nghe lí trưởng tâu: -Bẩm quan, trong làng hiện nay đang đói lắm, nhiều nhà không còn gạo để nấu cơm. Quan huyện nghe xong, liền phán: -Các ông ngu quá vậy. Sao không bảo họ nấu cháo gà mà ăn! (Viện Văn học – Tuyển tập vãn học dân gian Việt Nam) II. Xưng hô trong hội thoại Bài tập 1. Ôn lại các từ ngữ xung hô thông dụng trong tiếng Việt và cách dùng chúng. Gợi ý Tiếng Việt có một hệ thống từ ngữ xưng hô rất phong phú, tinh tế và giàu sắc thái biểu cảm. Đó là các đại từ nhân xưng, các danh từ dùng để xưng hô. Tùy vào đối tượng và tình huống giao tiếp mà người nói xưng hô thích hợp. Bài tập 2. Trong tiếng Việt, xưng hô thường tuân theo phương châm “xưng khiêm, hô tôn”. Em hiểu phương châm đó như thế nào? Cho ví dụ minh hoạ. Gợi ý Người Việt xưng hô theo phương châm “xưng khiêm, hô tốn”, nghĩa là khi xưng thì khiêm nhường (thường dùng từ thể hiện mình ở tuổi ít hơn hoặc vị trí xã hội thấp hơn người đối thoại), khi hô (gọi) thì tôn kính (thường dùng từ gọi đặt người đôi thoại ở vị trí cao hơn mình, lớn tuổi hơn mình). Ví dụ: -Thời xưa, xưng: hàn sĩ, học trò, bần tăng, thảo dân,…; gọi: đại nhân, đại huynh, tiên sinh, bệ hạ,… -Thời nay, cũng còn khá phổ biến cách xưng theo vai dưới (thường hạ một bậc) và gọi người đối thoại bằng vai trên (thường cao hơn một bậc). Hai người đối thoại bằng vai nhưng khi xưng thì xưng là em, khi gọi thì gọi là bác. Những người phụ nữ thường xưng cháu, nhà cháu với người ngang hàng hoặc dưới hàng (đây là cách xưng gọi thay vai). Trong tình huống xã giao lịch sự, trang trọng, người nói thường gọi người đối thoại là quý ông, quý bà, quý cô,… Bài tập 3. Thảo luận vấn đề: Vì sao trong tiếng Việt, khi giao tiếp, người nói phải hết sức chú ý đến sự lựa chọn từ ngữ xưng hô? Gợi ý Đối với người Việt Nam, xưng hô thể hiện mối quan hệ, thái độ, tính cách. Hệ thống xưng hỗ trong tiếng Việt lại hết sức phong phú và linh hoạt. Vì thế, khi giao tiếp, người Việt rất chú ý khi lựa chọn từ ngữ để xưng hô. Nếu xưng hô không phù hợp với tình huống và quan hộ sẽ bị người nghe coi là khiếm nhã, thậm chí hỗn xược, ảnh hưởng trực tiếp dến chất lượng giao tiếp. III.Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp Bài tập 1. Ôn lại sự phân biệt giữa cách dẫn trực tiếp và cách dẩn gián tiếp. Gợi ý -Cách dẫn trực tiếp là nhắc lại nguyên văn lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật. Lời dẫn trực tiếp phải đặt trong dấu ngoặc kép. -Cách dẩn gián tiếp là thuật lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật, có điều chỉnh cho thích hợp. Lời dẫn gián liếp không đặt trong dấu ngoặc kép. Bài tập 2. Đọc đoạn trích và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới (SGK, tr. 190, 191): Gợi ý -Có thể chuyển như sau: Vua Quang Trung hồi Nguyễn Thiếp về việc quân Thanh sang đánh, nếu nhà vua đem binh ra chống cự thì việc thắng thua sẽ thế nào. Nguyễn Thiếp nói rằng giữa lúc trong nước trống không, lòng người tan rã, quân Thanh ở nơi xa tới, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh giữ ra sao, vậy nếu nhà vua cất quân đánh thì không quá mười ngày quân Thanh sẽ bị tiêu diệt. -Khi chuyển những lời trong đoạn trích thành lời dẫn gián tiếp thì một số từ ngữ có thể thay đổi: + Chuyển những từ ngữ xưng hô: tôi (vua Quang Trung xưng với Nguyễn Thiếp – ngôi thứ nhất) sẽ được chuyển sang nhà vua (lời tác giả – ngôi thứ ba); chúa công (Nguyền Thiếp gọi vua Quang Trung – ngôi thứ hai) chuyển sang nhà vua hay vua Quang Trung (lời tác giả – ngôi thứ ba); tiên sinh (vua Quang Trung gọi Nguyễn Thiếp – ngôi thứ hai) được lược bỏ. + Câu của Nguyễn Thiếp: từ bây giờ và từ đây sè được lược bỏ.
Soạn bài ôn tập phần tiếng Việt
992
Soạn bài ôn tập phần tập làm văn lớp 9 HK 1 Hướng dẫn Soạn bài ôn tập phần tập làm văn Câu 1. Tập làm văn trong chương trình ngữ văn 9 có hai nội dung chính đã được học ở các lớp trước nhưng được lặp lại và nâng cao cả kiến thức và kỹ năng: a.Văn bản thuyết minh: Trọng tâm: Luyện tập kết hợp thuyết minh với các phương thức khác như thuyết minh về kết hợp với lập luận giải thích, thuyết minh kết hợp với miêu tả. b.Văn bản tự sự: Trọng tâm: –Tự sự kết hợp với biểu cảm và miêu tả nội tâm; tự sự kết hợp với lập luận. –Một số nội dung mơi trong văn bản tự sự: Đối thoại và độc thoại nội tâm trong văn tự sự. Người kể chuyện và vai trò của người kể chuyện trong văn tự sự. Câu 2. Vị trí, vai trò, tác dụng của giải thích và miêu tả trong văn bản thuyết minh. Trong thuyết minh nhiều khi người ta phải giải thích để làm rõ sự vật cần giải thích, nhất là khi gặp các thuật ngữ, các khái niệm chuyên môn hoặc nhưng nội dung trừu tượng và đương nhiên và cũng phải vận dụng miêu tả để người nghe hình dung ra đối tượng. Yêu cầu giải thích và miêu tả là không thể thiếu trong văn thuyết minh. Ví dụ thuyết minh về ngôi chùa cỗ. –Giải thích kết cấu, những đặc điểm kiến trúc, hoặc giải thích khái niệm nào đó trong quan niệm của nhà Phật thể hiện ở cấu trúc ngôi chùa. –Miêu tả để người nghe hình dung ra dáng vẻ, màu sắc, không gian hình khối, cảnh vật chung quanh ngôi chùa. Câu 3. Sự giống nhau giữa giải thích, thuyết minh và miêu tả. –Giống nhau: Cùng làm cho người khác hiểu rõ về đối tượng. –Khác nhau: + Thuyết minh: trung thành với đối tượng, đảm bảo tính khách quan khoa học, ít dùng tu từ, dùng nhiều số liệu cụ thể chi tiết, ứng dụng nhiều trong cuộc sống, mang một ý nghĩa. + Miêu tả: Không nhất thiết phải trung thành với sự thật, dùng nhiều biện pháp tu từ, ít dùng số liệu cụ thể chi tiết, mang cảm xúc chủ quan, dùng nhiều trong sáng tác văn chương nghệ thuật, mang tính đa nghĩa. + Giải thích: Làm cho người khác hiểu rõ nguồn gốc, nguyên nhân, tư tưởng đạo lý, đặc điểm của đối tượng, mang tính khoa học, rõ ràng, chính xác, thường dùng cách nêu định nghĩa, kể ra các biểu hiện, so sánh đối chiếu với các hiện tượng khác, chỉ ra mặt lợi mặt hại, nhằm nêu ra cách đề phòng hoặc noi theo. Câu 4. a.Văn tự sự trong ngữ văn 9 có hai nội dung: –Kết hợp giữa tự sự với biểu cảm và miêu tả nội tâm, giữa tự sự với lập luận. –Đối thoại và độc thoại nội tâm trong văn tự sự, người kể chuyện và vai trò của người kể chuyện trong văn tự sự. b.Vai trò vị trí tác dụng của các yếu tố miêu tả nội tâm, lập luận trong văn tự sự: –Miêu tả nội tâm có vai trò quan trọng trong văn bản tự sự. Đó là một bước phát triển của nghệ thuật. Vì miêu tả nội tâm là miêu tả những suy nghĩ, tình cảm, diễn biến tâm trạng của nhân vật, miêu tả những gì không quan sát được một cách trực tiếp. Miêu tả nội tâm làm cho nhân vật bộc lộ chiều sâu tư tưởng. Tuy nhiên miêu tả bên trong và miêu tả bên ngoài có mối quan hệ với nhau. Nhiều khi từ việc miêu tả bên ngoài mà người viết cho ta thấy nội tâm của nhân vật và ngược lại, từ việc miêu tả bên trong người đọc hình dung được hình thức bên ngoài của nhân vật. –Lập luận trong văn bản tự sự thường xuất hiện ở các cuộc đối thoại và độc thoại, ở đó nguowifi nói nêu ra những lí lẽ và dẫn chứng nhằm thuyết phục người nghe một vấn đề nào đó, làm cho câu chuyện thật hơn sinh động hơn. c.Ví dụ: –Đoạn văn tự sự có miêu tả nội tâm: “Ông Hai ngồi lặng trên một góc gường. Bao nhiêu ý nghĩ đen tối, ghê rợn, nối tiếp bới bời trong đầu óc ông lão. Biết đem nhau đi đâu bây giờ? Biết ở đâu người ta chứa bố con ông mà đi bây giờ? Thật là tuyệt đường sinh sống! Mà không một gì cái đất Thắng này. Ở Đài, ở Nhà Nam, ở Bố Hạ, Cao Thượng… đâu đâu cũng có người chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi. Mà cho dẫu vì chính sách Cụ Hồ người ta chẳng đuổi nữa, thì mình cũng chằng còn mặt mũi nào đi đến đâu. “Cả làng chúng nó Việt Gian theo Tây…” cái câu nói của người đàn bà tản cư hôm trước lại dội lên trong tâm trí ông. Hay là quay về làng?… Vừa chớm nghĩ như vậy, lập tức ông lão phản đổi ngay. Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hồ… Nước mắt ông lão giàn ra. Về làng tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây. Ông lão nghĩ ngay đến mầy thằng kì lí chuyên môn khue khoét ngày trước lại ra vào hống hách ở trong cái đình. Và cái đình lại như của riêng chúng nó, lại thâm nghiêm ghê gớm, chứa toàn những sự ức hiếp, đè nén. Ngày ngày chúng đóng ra, đóng vào, đánh tổ tôm mà bàn tư việc làng với nhau trong ấy. Những hạng khổ rách áo ôm như ông có đi qua cũng chỉ dám liếc trộm vào, rồi cắm đầu xuống mà lủi đi. Anh nào ho he, hóc hách một tí thì chúng nó tìm hết cách này đến cách khác để hại, cắt phần ruojojng, truất ngôi, trừ ngoại, tóng ra khỏi làng… Ông Hai nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời đen tối, lầm than cũ nổi lên trong ý nghĩ của ông. Ông không thể về cái làng ấy được nữa. Về bây giờ ra ông chịu mất hết à? Không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. (Kim Lân – trích Làng) –Đoạn tự sự có lập luận “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các người đã biêt chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống của nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc của nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các Ngài không nỡ ngồi nhìn chung làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để làm nên công lớn. Chớ có quen thói cũ ăn ở hai lòng, nếu việc phát giác ra, sẽ bị chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo ta không nói trước”. (Ngô Gia Văn Phái – trích Hoàng Lê nhất thống chí). –Đoạn tự sự có miêu tả nội tâm và lập luận: “Lão không hiểu mình, mình nghĩ vậy và mình cũng buồn lắm. Những người nghèo nhiều tự ái thường như thế. Họ dễ tụi thân nên rất hay chanh lòng. Ta khó mà ở cho vừa ý họ… Một hôm mình phàn nàn việc ấy với Binh Tư. Binh Tư là một người láng giềng khác của mình. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá. Hắn bũi môi và bảo: Lão làm bộ đấy! Thật ra lão chỉ tâm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết cũng chẳng vửa đâu: Lão vừa minh mình một ít bả chó… Mình trố to đôi mắt, ngạc nhiên. Hắn thì thầm: Lão bảo có con chó nhà nào cứ đến vườn nhà lão… Lão định chơi nó xơi một bữa. Nếu trúng, lão với mình uống rượu. Hơi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết… Một người như thế ấy… Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!… Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma bởi không muốn liên lụy với hàng xóm, láng giềng… Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời này quả thật cứ mỗi ngày càng thêm đáng buồn…” (Nam Cao – trích Lão Hạc) Câu 5. a. –Đối thoại: Là hình thức đối đáp trò chuyện giữa hai hoặc nhiều người. –Độc thoại là lời nói của một người nào đó không nhằm vào ai hoặc nói với chính mình (Phía trước lời thoại có gạch đầu dòng). –Độc thoại nội tâm là độc thoại không cất thành lời (Không có gạch đầu dòng). Đối thoại và độc thoại làm cho câu chuyện có khôn khí như cuộc sống thực, đi vào nội tâm nhân vật, bộc lộ được tính cách và sự chuyển biến trong tâm lý nhân vật làm cho câu chuyện sinh động hơn. b.Ví dụ: “Có người hỏi: –Sao bảo làng chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà? –Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy! Ông Hai trả tiền nước đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to: –Hà, nắng gớm, về nào… Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. Tiếng cười nói xôn xao của đám người mới tản cư lên ấy vẫn dõi theo. Ông nghe thấy rõ cái giọng chua lanh lảnh của người đàn bà cho con bú: –Cha mẹ tiên sư nhà chúng nó! Đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn thương. Cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát! Ông Hai cúi gặm mặt xuống mà đi! Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà. Về đến nhà, ông Hai nằm vật gia gường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác len lét đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làm Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta hắt hủi rẻ rung đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu? … Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên: –Chúng mày ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái going Việt gian bán nước để nhục nhã thế này. Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đổ đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống, một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy!” (Kim Lân – trích Làng)
Soạn bài ôn tập phần tập làm văn lớp 9 HK 1
2,013
Soạn bài ôn tập phần tập làm văn lớp 9 Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Hệ thống hoá các kiến thức và kĩ năng về làm văn đã học ưong học kì 1, lớp 9. -Chuẩn bị làm bài Tập làm văn trên lớp. B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP Câu hỏi 1. Phần Tập làm văn trong Ngữ vãn 9, tập 1 có những nội dung lớn nào? Những nội dung nào là trọng tâm cần chú ý? Gợi ý -Phần Tập làm văn trong Ngữ văn 9, tập 1 có những nội dung lớn: + Sử dụng các biện pháp nghộ thuật kết hợp miêu tả trong bài văn thuyết minh. + Kết hợp tự sự với biểu cảm và miêu tả nội tâm, tự sự với nghị luận; đốì thoại và độc thoại; vai trò của người kể chuyện,… trong văn tự sự. -Nội dung văn tự sự là trọng tâm cần chú ý. Câu hỏi 2. Vai trò, vị trí, tác dụng của các biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh như thế nào? Cho một ví dụ cụ thể. Gợi ý Các biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả chỉ giữ vai trò thứ yếu trong bài văn thuyết minh. Chúng có tác dụng làm cụ thể hơn, sinh động hơn cho bài văn thuyết minh. Ví dụ, khi thuyết minh về một di tích lịch sử nào đấy, chúng ta có thể sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hoá, liên tưởng,…; yếu tố miêu tả để làm cho di tích ấy rõ hơn, sinh động hơn. Cốu hỏi 3. Văn bản thuyết minh có yếu tố miêu tả, tự sự giống và khác với văn bản miêu tả, tự sự ở điểm nào? Gợi ý -Cả hai loại văn bản có thể cùng một đôi tượng, một đề tài. -Văn thuyết minh phải trung thành với đặc điểm của đối tượng; ít dùng tưởng tượng, so sánh,…; dùng nhiều số liệu chi tiết, chính xác; bảo đảm tính khách quan, khoa học; sử dụng nhiều kiến thức về văn hoá, khoa học,…; thường đơn nghĩa. Văn miêu tả dùng nhiều hình ảnh, cảm xúc; ít dùng số liệu cụ thể, chi tiết; dùng nhiều trong sáng tác văn chương, nghệ thuật; ít có khuôn mẫu và thường đa nghĩa. Câu hỏi 4. Sách ngữ văn 9, tập 1 nêu lên những nội dung gì về văn bản tự sự? Vai trò, vị trí và tác dụng của các yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận trong văn bản tự sự như thế nào? Hãy cho ví dụ một đoạn văn tự sự trong đó có sử dụng yếu tố miêu tả nội tâm; một đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận và một đoạn văn tự sự có sử dụng cả yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận. (Có thể lấy trong các tác phẩm văn học đã học, đã đọc hoặc trong các bài văn tham khảo của bạn cũng như của mình,…). Gợi ý -Sách ngữ văn 9, tập 1 nêu lên những nội dung về văn bản tự sự: kết hợp miêu tả với nghị luận, đối thoại và độc thoại, người kể và ngôi kể. -Vai trò, vị trí và tác dụng của các yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận ưong văn bản tự sự: miêu tả nội tâm giúp cho người viết đi sâu phân tích, trình bày những diễn biến tâm lí, cảm xúc, ý nghĩ,… của nhân vật; nghị luận giúp người viết trình bày dễ dàng những vân đề về triết lí sống, nhân sinh,… -Có thể lấy ví dụ ở những văn bản tự sự đã học có sử dụng yếu tố miêu tả nội tâm như: Lão Hạc, Làng (nhân vật ông Hai), Thuý Kiều ờ lầu Ngân Bích (nhân vật Thuý Kiều),…; yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự: Thúy Kiều báo ân báo oán (lời Hoạn Thư), Lão Hạc (nhận xét của ông giáo), Lặng lẽ Sa Pa (lời ông hoạ sĩ, lời tác giả – người dẫn ưuyện),… (Em tự tìm những câu trong văn bản có sử dụng các yếu tố miêu tả và nghị luận.) Câu hỏi 5. Thế nào là đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm? Vai trò, tác dụng và hình thức thể hiện của các yếu tố này trong văn bản lự sự như thế nào? Tìm các ví dụ về đoạn văn tự sự có sử dụng các yếu lố đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm. Gợi ý -Đôi thoại là cuộc trò chuyện, đối đáp giữa hai hay nhiều nhân vật. Độc thoại là lời nhân vật tự nói với mình. Độc thoại nội tâm là độc thoại diễn ra trong tâm tri nhân vật. -Đôi thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm là những hình thức quan trọng để khắc hoạ nhận vật; miêu tả tính cách, nội tâm nhân vật. Đôi thoại và độc thoại thành lời được thổ hiện bằng cách gạch đầu dòng cho mỗi lượt lời; còn độc thoại nội tâm thì không có gạch đầu dòng. Câu hỏi 6. Tìm hai đoạn văn tự sự, trong đó một đoạn người kể chuyện kể theo ngôi thứ nhất, một đoạn kể theo ngôi thứ ba. Nhận xét vai trò của mỗi loại người kể chuyện đã nêu. Gợi ý Có thể em tìm hai đoạn văn trong hai vãn bản sau: -Chiếc lược ngà: Người kể là người bạn của ông Hai kể chuyện theo ngôi thứ nhất. Cách chọn vai kể này làm cho câu chuyện chân thực, thể hiện được sự đồng cảm của người kể với các nhân vật khác trong truyện. -Lặng lẽ Sa Pa: Người kể là tác giả – người dẫn truyện, ngôi thứ ba. Cách chọn vai kể này tạo thuận lợi ưong việc miêu tả, kể chuyện ở nhiều góc nhìn khác nhau. Với vai kể này, câu chuyện sẽ rõ ràng, cụ thể, sinh động hơn; người kể như hiểu được suy nghĩ, cảm xúc của từng nhân vật.
Soạn bài ôn tập phần tập làm văn lớp 9
1,010
Soạn bài ôn tập thơ lớp 9 học kì 2 Hướng dẫn Bài tập 1. Lập bảng kê các tác phẩm thơ hiện đại ở Ngữ văn 9. STT Tên bài thơ Tác giả Năm sáng tác Thể thơ Tóm tắt nội dung Đặc sắc nghệ thuật 1 Đồng chí Chính Hữu 1948 Tự do Tình đồng chí của những người lính dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu, được thể hiện thật tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người lính cách mạng. Chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng, giàu sức biểu cảm. 2 Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật 1969 Tự do Qua hình ảnh độc đáo – những chiếc xe không kính, khắc họa nổi bật hình ảnh những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống Mĩ với tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam. Chất liệu hiện thực sinh động, hình ảnh độ đáo ; giọng điệu tự nhiên, khỏe khoắn, giàu tính khẩu ngữ. 3 Đoàn thuyền đánh cá Huy Cận 1958 Bảy chữ Những bức tranh đẹp, rộng lớn, tráng lệ về thiên nhiên, vũ trụ và người lao động trên biển cả theo hành trình chuyến ra khơi đánh cá của đoàn thuyền. Qua đó thể hiện cảm xúc về thiên nhiên và lao động, niềm vui trong cuộc sống mới. Nhiều hình ảnh đẹp, rộng lớn, được sang tạo bằng liên tưởng và tưởng tượng ; âm hưởng khỏe khoắn, lạc quan. 4 Bếp lửa Bằng Việt 1963 Kết hợp bảy chứ và tám chữ Những kỉ niệm đầy xúc động về bà và tình bà cháu, thể hiện lòng kính yêu trân trọng của cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước. Kết hợp giữa biểu cảm với miêu tả và bình luận ; sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà. 5 Khúc hát ru những em bé lớn lên trên lưng mẹ Nguyễn Khoa Điềm 1971 Chủ yêu là tám chữ Thể hiện tình yêu thương con của người mẹ dân tộc Tà-ôi gắn liền với lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu và khát vọng về tương lai. Khai thác điệu ru ngọt ngào, trìu mến. 6 Ánh trăng Nguyễn Duy 1978 Năm chữ Từ hình ảnh ánh trăng trong thành phố, gợi lại những năm thám đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, nhắc nhở thái độ sống tình nghĩa, thủy chung. Hình ảnh bình dị mà giàu ý nghĩa biểu tượng ; giọng điệu chân thành, nhỏ nhẹ mà thấm sâu. 7 Con cò Chế Lan Viên 1962 Tự do Từ hình tượng con còn trong những lời hát ru, ngợi co tình mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với đời sống của mỗi con người. Vận dụng sáng tạo hình ảnh và giọng điệu lời ru của ca dao 8 Mùa xuân nho nhỏ Thanh Hải 1980 Năm chữ Cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên và đất nước, thể hiện ước nguyện chân thành góp mùa xuân nhỏ của đời mình vào cuộc đời chung. Thể thơ năm chứ có nhạc điệu trong sang, tha thiết, gần với dân ca ; hình ảnh đẹp giản dị, những so sánh, ẩn dụ sáng tạo. 9 Viếng lăng Bác Viễn Phương 1967 Tám chữ Lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ đối với Bác Hồ trong một lần từ miền Nam ra viếng lăng Bác. Giọng điệu trang trọng và tha thiết ; nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm ; ngôn ngữ bình dị, cô đúc. 10 Sang thu Hữu Thịnh Sau 1975 Năm chữ Biến chuyển của thiên nhiên lúc giao mùa từ hạ sang thu qua sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ. Hình ảnh thiên nhiên được gợi tả bằng nhiều cảm giác tính nhạy, ngôn ngữ chính xác, gợi cảm. 11 Nói với con Y Phương Sau 1975 Tự do Bằng lời trò chuyện với con, bài thơ thể hiện sự gắn bó, niềm tự hào về quê hương và đạo lí sống của dân tộc. Cách nói giàu hình ảnh, vừa cụ thể, gợi cảm, vừa gợi ý nghĩa sâu xa. 12 Mây và sóng Ta-go Trong tập Trẻ con – 1909 (sau đổi là Trăng non) Tự do (bản dịch) Qua lời trò chuyện của em bé với người mẹ, bài thơ thể hiện tình yêu vô hạn với mẹ và ngợi ca tình mẹ con. Lời thơ mang giọng điệu và ngôn ngữ hồn nhiên của trẻ thơ ; nhiều hình ảnh đẹp, giàu sức tưởng tượng và gợi cảm. Bài tập 2. Có thể sắp xếp các bài thơ Việt Nam đã học theo giai đoạn lịch sử, từ 1945 đến nay: + 1945 – 1954: Đồng chí. + 1955 – 1964: Đoàn thuyền đánh cá, bếp lửa, con cò. + 1965 – 1975: Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ. + Sau 1975: Ánh trăng, Mùa xuân nho nhỏ, Viếng lăng Bác, Nói với con, Sang thu. -Các tác phẩm thơ kể trên đã tái hiện cuộc sống đất nước và hình ảnh con người Việt Nam suốt một thời kì lịch sử từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, qua nhiều giai đoạn. + Đất nước và con người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ vơi nhiều gian khổ, hi sinh nhưng rất anh hùng. + Công cuộc lao động, xây dựng đất nước và những quan hệ tốt đẹp của con người. -Nhưng điều chủ yêu mà các tác phẩm thơ đã thể hiện chính là tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của con người trong một thời kì lịch sử có nhiều biến động lớn lao, nhiều đối thay sâu sắc: + Tình cảm yêu nước, tình quê hương. + Tình đồng chí, sự gắn bó với cách mạng, lòng kính yêu Bác Hồ. + Những tình cảm gần gũi và bền chặt của con người: tình mẹ con, bà cháu, trong sự thống nhất với những tinh cảm chung rộng lớn. Bài tập 3. Ba bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Con cò, Mây và sóng đều đề cập đến tình mẹ con. Ba bài thơ đều ngợi ca tình mẹ con thắm thiết, thiêng liêng. Cách thể hiện cũng có điểm gần gũi, đó là dùng điệu ru, lời ru của người mẹ hoặc lời của em bé nói với mẹ. Những nội dung tình cảm, cảm xúc ở mỗi bài lại mang nét riêng biệt. -Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ thể hiện sự thống nhất của tình yêu con với lòng yêu nước, gắn bó với cách mạng và ý chí chiến đấu của người mẹ dân tộc Tà-ôi trong hoàn cảnh hết sức gian khổ ở chiến khu miền tây Thừa Thiên, trong thời ki kháng chiến chống Mĩ. -Con cò khai thác và phát triển tứ thơ từ hình tượng con cò trong ca dao hát tu, để ngợi ca tinh mẹ và ý nghĩa của lời hát ru. -Mây và sóng: hóa thân vào lời trò chuyện hồn nhiên ngây thơ của em bé với mẹ để thể hiện tình yêu mẹ thắm thiết của trẻ thơ. Mẹ đối với em bé là vẻ đẹp, niềm vui, sự hấp dẫn lớn nhất, sâu xa và vô tận, hơn tất cả những điều hấp dẫn khac trong vũ trụ. Bài tập 4. Ba bài thơ Đồng chí, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Ánh trăng đều viết về người lính cách mạng với vẻ đẹp trong tính cánh và tâm hồn họ. Nhưng mỗi bài lại khai thác những nét riêng và đặt trong những hoàn cảnh khác nhau. -Đồng chí viết về người lính ở thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Những người lính trong bài thơ xuất thân từ nông dân nơi những làng quê nghèo khó, tình nguyện và hăng hái ra đi chiến đấu. Tình đồng chí của những người đồng đội dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ, cùng chia sẽ những gian lao, thiếu thốn và cùng lí tưởng chiến đấu. Bài thơ tập trung thể hiện vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí ở những người lính cách mạng. -Bài thơ về tiểu động xe không kính khắc họa hình ảnh những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ làm nổi bật tinh thần dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm, tư thế hiên ngang, niềm lạc quan và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam của người chiến sĩ lái xe – một hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. -Ánh trăng nói về một điều tâm sự của người lính đã đi qua cuộc chiến tranh, nay sống giữa thành phố, trong hòa bình. Bài thơ gợi lại những kỉ niệm gắn bó của người lính với đất nước, với đồng đội trong những năm tháng gian lao của thời chiến tranh, để từ đó nhắc nhở về đạo lí nghĩa tình, thủy chung. Bài tập 5. Bút pháp sáng tạo hình ảnh thơ ở một số bài thơ. -Đồng chí và Đoàn thuyền đánh cá: Hai bài thơ sử dụng hai bút pháp khác nhau trong xây dựng hình ảnh. Bài Đồng chí sử dụng bút pháp hiện thực, đưa những chi tiết, hình ảnh thực của đời sống người lính vào thơ gần như là trực tiếp (như: nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá, đêm rét chung chăn, áo rách vai, quần có vài mảnh vá, chân không giày… ). Hình ảnh ’’đầu súng trăng treo’’ ở cuối bài rất đẹp và giày ý nghĩa biểu tượng, nhưng cũng rất thực, mà tác giả đã bắt gặp trong những đêm phục kích địch ở rừng. Bài Đoàn thuyền đánh cá lại chủ yếu dùng bút pháp tượng trưng, phóng đại với nhiều liên tưởng, tưởng tưởn, so sánh mới mẻ, độc đáo (ví dụ: mặt trời xuống biển như hòn lửa, sóng cài then, đêm sập cửa, thuyên lái bằng gió, buồm là trăng…). Mỗi bút pháp đều có giá trị riêng và phù hợp với tư tưởng, cảm xúc của bài thơ và phong cách mỗi tác giả. -Bài thơ về tiểu đội xe không kính và Ánh trăng: Bài thơ của Phạm Tiến Duật sử dụng bút pháp hiện thực, miêu tả rất cụ thể, chi tiết từ hình dáng chiếc xe không kính đến cảm giác và sinh hoạt của người lái xe. Còn Ánh trăng của Nguyễn Duy tuy có đưa vào nhiều hình ảnh và chi tiết thực, rất bình dị, nhưng chủ yếu dùng bút pháp gợi tả, không đi vào chi tiết mà hướng tới ý nghĩa khái quát và biểu tượng của hình ảnh.
Soạn bài ôn tập thơ lớp 9 học kì 2
1,793
Soạn bài ôn tập tiếng Việt lớp 9 HK 1 Hướng dẫn Soạn bài ôn tập tiếng Việt lớp 9 HK 1 I.Phương châm hội thoại 1. –Phương châm về lượng: Nội dung lời nói phải đúng như yêu cầu giao tiếp, không thừa, không thiếu. –Phương châm về lượng: Không nói những điều mình tin là không đúng hoặc không có bằng chứng xác thực. –Phương châm quan hệ: Nói đúng đề tài giao tiếp, không nói lạc đề. –Phương châm cách thức: Nói gắn gọn, rành mạch, tránh cách nói mơ hồ. –Phương châm lịch sự: Chú ý đến sự tế nhị, khiêm tốn, tôn trọng người khác khi giao tiếp. 2.Tình huống giao tiếp không tuân thủ phương châm hội thoại: Câu chuyện 1: Trong giờ địa lý, thầy giáo hỏi một học sinh đang mải nhìn qua cửa số: –Em cho thầy biết sóng là gì? Học sinh trả lời: –Thưa thầy Sóng là bài thơ nổi tiếng của Xuân Quỳnh ạ. Câu chuyện 2: khoảng mười giờ tối, ông bác sĩ nhận được cú điện thoại của một khách quen ở vùng quê. Ông khách nói, giong hốt hoảng: –Thưa bác sĩ, thằng bé nhà mình nuốt cây bút bi của mình rồi. Bây giờ làm thế nào? Xin bác sĩ đến ngay cho. –Mình lên đường ngay nhưng mưa to gió lớn như thế nào, đường vào làng ông lại lầy lội, một tiếng rưỡi nữa mình mới đến được. –Thế trong khi chờ bác sĩ đến mình biết làm thế nào? –Ông chịu khó dùng tạm bút chì vậy. II.Xưng hô hội thoại. 1.Các từ ngữ xưng hô rất phong phú, đa dạng: mình, chúng mình, ta, chúng ta, anh, em, bác, cháu, mình, cậu… Tùy thuộc vào tính chất của tính huống giao tiếp và mối quan hệ với người nghe mà lựa chọn từ ngữ xưng hô cho thích hợp. 2.Xưng khiêm: Người nói tự xưng mình một cách khiêm nhường. Hô tôn: Gọi người đối thoại một cách tôn kính. Ví dụ: –Quý bà, quý cô, quý ông… để gọi người đối thoại tỏ ý tôn kính. –Người đối thoại ít tuổi hơn mình nhưng vẫn gọi là anh, chị, xưng em. –Tiếng Việt khih giao tiếp, người nói phải hết sức lựa chọn từ ngữ xưng hô. Xưng hô không chi dùng các đại từ xưng hô mà còn dùng các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp, tên riêng. Mỗi phương tiện xưng hô đều thể hiện tình cảm của tình huống giao tiếp và mối quan hệ giữa người nói với người nghe: Tình cảm thân hay sơ, khinh hay trọng. Hầu như không có từ ngữ xưng hô trung hòa. Vì thế, nếu không chú ý để lựa chọn được từ ngữ xưng hô thích hợp với tình huống và quan hệ thì người nói sẽ không đạt được kết quả trong giao tiếp như mong muốn, thậm chí trong nhiều trường hợp, giao tiếp không tiến triển được nữa. III.Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp 1.Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp –Dẫn trực tiếp + Là cách nhắc lại nguyên vẹn lời hay ý của của người hoặc nhân vật. + Dùng dấu hai chấm để ngăn cách phần được dẫn, thường kèm thêm dấu ngoặc kép “». –Dẫn gián tiếp: + Nhắc lại lời hay ý của nhân vật, có điều chỉnh theo kiểu thuật lại, không giữ nguyên vẹn. + Không dùng dấu hai chấm. Có thêm từ “Rằng” hoặc “Là” để ngăn cách phần được dẫn với phần lời của người dẫn cho cả hai cách trên. 2.Chuyển những lời đối thoại trong đoạn trích thành lời dẫn gián tiếp. Phân tích những thay đổi về từ ngữ trong lời dẫn gián tiếp so với lời đối thoại. Vua Quang Trung tự mình đốc xuất đại binh, cả thủy lẫn bộ cùng ra đi. Ngày 29 đến Nghệ An, vua Quang Trung cho vời người cống sĩ ở huyện La Sơn là Nguyễn Thiếp và hỏi xem quân Thanh sang đánh, nếu nhà vua đem binh ra chống cụ thì khả năng thắng hay thua thế nào. Nguyễn Thiếp trả lời rằng bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã, quân Thanh ở xa tới không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh, nên giữ ra sao, vua Quang Trung ra Bắc không quá mười ngày, quân Thanh sẽ bị dẹp tan. Những thay đổi từ ngữ đáng chú ý: –Trong lời đối thoại, tự xưng hô là “Mình” (Ngôi thứ nhất) “Chúa công” (Ngôi thứ hai) thì chuyển thành “Nhà vua” “Vua Quang Trung” (Ngôi thứ ba) trong lời dẫn gián tiếp. –Từ chỉ địa điểm “Đây” trong lời đối thoại thì trích lược trong lời dẫn gián tiếp. –Từ chỉ thời gian “Bây giờ” thì đổi thành “Bấy giờ” trong lời dẫn gián tiếp.
Soạn bài ôn tập tiếng Việt lớp 9 HK 1
784