text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Soạn bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí
Hướng dẫn
Trả lời câu hỏi:
-Văn bản bàn về giá trị của tri thức khoa học và ngươi tri thức.
-Văn bản có thể chia làm 3 phần:
Phần mở bài (đoạn 1) nêu vấn đề.
Phần thân bài (gồm 2 đoạn) nêu hai ví dụ chứng minh tri thức là sức mạnh. Một đoạn nêu tri thức có thể cứu một cái máy khỏi số phận một đống phế liệu. Một đoạn nêu tri thức là sức mạnh của cách mạng. Bác Hồ đã thu hút nhiều nhà tri thức lớn theo Người tham gia đóng góp cho cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ thành công.
Phần kết bài (gồm đoạn còn lại) phê phán một số người không biết quý trọng tri thức, sử dụng không đúng chỗ.
-Đánh dấu câu có luận điểm: Bốn câu đầu của đoạn mở bài. Câu mở đoạn và hai câu kết đoạn hai. Câu mở đoạn ba. Câu mở đoạn và câu kết đoạn bốn.
-Phép lập luận chủ yếu trong bài này là chứng minh.
-Bài này dùng sự thực tế để nêu một vấn đề tư tưởng, phê phán tư tưởng không biết coi trọng tri thức, dùng sai mục đích.
-Sự khác biệt giữa bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí là: một đằng từ sự việc, hiện tượng đời sống mà nêu ra những vấn đề tư tưởng, còn một đằng dùng giải thích, chứng minh… làm sáng tỏ các tư tưởng, đạo lí quan trọng đối với đời sống con người.
Luyện tập
a.Văn bản Thời gian là vàng thuộc loại nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
b.Văn bản nghị luận về giá trị của thời gian.
Các luận điểm chính làm câu chủ đề của từng đoạn là:
-Thời gian là sự sống.
-Thời gian là thắng lợi.
-Thời gian là tiền.
-Thời gian là tri thức.
Sau mỗi luận điểm là một dẫn chứng chững minh thuyết phục cho giá trị của thời gian.
c.Phép lập luận trong bài chủ yếu là phân tích và chứng minh. Các luận điểm được triển khai theo lối phân tích những biểu hiện chứng tỏ thời gian là vàng. Sau mỗi luận điểm là dẫn chứng chứng minh cho luận điểm. | Soạn bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí | 388 | |
Soạn bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)
Hướng dẫn
A.YÊU CẦU
-Các em phải hiểu được nghị luận về lác phẩm truyện (hoặc đoạn trích), nhận diện bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
-Nắm được yêu cầu viết một bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) để có thể rèn luyện viết được một bài nghị luận loại này.
B.GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP
I – Phần bài học
Đọc văn bản (SGK tập 2, trang 61, 62), trả lời câu hỏi.
Câu hỏi a. Vấn đề nghị luận của văn bản này là gì? Hãy đặt một nhan đề thích hợp cho văn bản.
-Vấn đề nghị luận của văn bản này là: Tác giả nhận xét, đánh giá về nhân vật anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu với những phẩm chất, đức tính đẹp đẽ, đáng yêu trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long.
-Bài văn cố thể được đặt tên: Hình tượng nhân vật anh thanh niên trong “Lạng lẽ Sa Pa " hoặc vẻ đẹp trong “Lặng lẽ Sa Pa ”…
Câu hỏi b. Vấn đề nghị luận được người viết triển khai qua những luận điểm nào? Tìm những câu nêu lên hoặc cô đúc luận điểm của văn bản.
Gợi ý
Những câu có ý nghĩa neu lên hoặc cô đúc luận điểm của bài văn:
-Hai câu nêu vấn đc nghị luận: Dù được miêu tả nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, nhân vật nào của “Lạng lẽ Sa Pa” cùng hiện lên với nét cao quý đủng khâm phục. Trong đó, anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu – nhân vật chính của tác phẩm – đã để lại cho chúng ta nhiều ấn tượng khó phai mờ
-Hai câu nêu luận điểm:
+ Nhưng anh thanh niên này thật đáng yêu ở nỗi “thèm người”, lòng hiếu khách đến nồng nhiệt, ở sự quan tâm đến người khác một cách chu đáo.
+ Công việc vất vả, có những đóng góp quan trọng cho đất nước như thế nhifng người thanh niên hiếu khách vả sôi nổi ấy lại rất khiêm tốn.
– Câu kết lại vấn đề nghị luận: Những con người cần mẫn, nhiệt thành như anh thanh niên ấy thật đáng trân trọng, thật đáng tin yêu.
Câu hỏi c. Để khẳng định các luận điểm, người viết đã lập luận (dẫn dắt, phân tích, chứng minh) như thế nào? Nhận xét về những luận cứ được người viết đưa ra để làm sáng tỏ cho từng luận điểm. (Gợi ý: Những luận cứ đó được lấy ở đâu, gồm những điều gì?)
Gợi ý
-Các luận điểm được nêu lên rõ ràng, ngắn gọn, dẫn dắt tự nhiên, bố cục chặt chẽ, lô gíc.
Từng luận điểm được phân tích, chứng minh một cách thuyết phục bằng dẫn chứng cụ thể trong tác phẩm. Đó là những chi tiết, hình ảnh sinh động, đặc sắc tạo nên những luận cứ xác đáng.
Từ nêu vân đề, người viết đi vào phân tích, diễn giải rồi sau đó khẳng định, nâng cao vấn đề nghị luận.
-Các luận cứ đều được rút ra từ hành động, lời nói, của anh thanh niên được miêu tả trong truyện,
II – Phần luyện tập
Bài tập. Đọc đoạn văn Chiều sâu truyện “Lão Hạc” của Văn Giá (SGK tập 2, tr. 64), trả lời câu hỏi: Vân đề nghị luận của đoạn văn là gì? Đoạn văn nêu lên những ý kiến chính nào? Các ý kiến ấy giúp ta hiểu thêm gì về nhân vật lão Hạc?
Gợi ý
-Vấn đề nghị luận của đoạn văn ngắn này là tình thế lựa chọn nghiệt ngã giữa cái sống và cái chết của nhân vật lão Hạc. Sự lựa chọn diễn ra một cách âm thầm, lặng lẽ trước đó. Bằng sự phân tích cụ thể nội tâm, hành động của nhân vật, đoạn văn đã làm sáng tỏ nét đẹp tâm hồn, nhân cách, sự hi sinh cao quý của lão Hạc.
-Đoạn văn đã nêu lên những ý kiến chính: Lão Hạc đã chọn cái chết trong còn hơn phải sống khổ, sống nhục. Ý nghĩa cao cả của cái chết đó là “để bảo toàn nhân cách”. Đó là một phẩm cách cao quý của lão Hạc. Cái chết ấy biểu hiện “tình phụ tử thiêng liêng và thăm thẳm”. Lão chết để cho con trai mình được sống.
-Đoạn Văn cho ta hiểu thêm về vẻ đẹp nhân cách, về tấm lòng hi sinh cao quý của lão Hạc. | Soạn bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) | 768 | |
Soạn bài Người chiến sĩ tình báo
Hướng dẫn
A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Hộp thư mật” (SGK/102)
Gợi ý:
Hộp thư được đặt tại nơi dễ tìm mà ít bị chú ý. Báo cáo đã xếp trong một vỏ đựng thuốc đánh răng đặt dưới một hòn đá dẹt, được trỏ bởi hòn đá hình mùi tên, nằm sau cột cây số giữa cánh đồng vắng.
5.Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1)Những chi tiết nào cho thấy cách ngụy trang hộp thư mật khéo léo của người liên lạc?
2)Qua những vật gợi ra hình chữ V, người liên lạc muốn nhắn gửi chú Hai Long diều gì? Chọn ý đúng để trả lời:
a.Tình cảm yêu mến cua mình với chú Hai Long.
b.Tình yêu Tổ quốc của mình và lời chào chiến thắng.
c.Địa điểm của hộp thư mật lần sau.
3)Nêu cách lấy thư và gửi báo cáo của chú Hai Long. (Chú giả vờ sửa xe như thể nào? Chú lấy thư như thế nào?)
4)Vì sao chú Hai Long phải lấy thư và gửi báo cáo theo cách trẽn?
5)Vì sao nói hoạt động trong vùng địch của các chiến sĩ tình bảo có ỷ nghĩa rất quan trọng dối với sự nghiệp báo vệ Tổ quốc?
Gợi ý:
2)b
3)Chú dừng xe, tháo bu-gi ra mà đôi mắt chăm chú quan sát mặt đất, tìm thây hòn đá hình mũi tên phía sau cột cây số trỏ vào một hòn đá dẹt, một tay cầm bu-gi, một tay bấy nhẹ hòn đá lấy chiếc vỏ đựng thuốc đánh răng. Chú nhẹ nhàng cạy đáy hộp thuốc, rút ra mảnh giấy nhỏ, thay vào đó thư báo cáo của mình, rồi trả hộp thuốc về chồ cũ.
5)Hoạt động của các chiến sĩ tình báo cung cấp thông tin mật của kẻ địch, giúp ta có kế hoạch đôi phó, giành thắng lợi mà đỡ tổn thất về vũ khí lẫn con người.
6.Bài văn muốn ca ngợi điều gì?
Em viết câu trả lời vào vở.
Gợi ý:
Bài văn ca ngợi sự dũng cảm, mưu trí của nhừng chiến sĩ tình báo nhằm giữ vững đường dây liên lạc, góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
2.Tìm các phần mở bài, thân bài, kết bài trong bài Chiếc áo của ba (SGK/104), viết kết quả vào phiếu học tập (SGK/105)
Gợi ý:
Mở bài
-Từ đầu đến màu cỏ úa.
-Cách mơ bài: mở bài theo kiểu trực tiếp.
Thân bài
– Từ chiếc áo sờn vai đến của ba.
-Các chi tiết thể hiện cách thức miêu tả cái áo:
+ Tả bao quát: cái áo xinh xinh, trông rất oách.
+ Tả những bộ phận có đặc điểm cụ thể: những đường khâu, hàng khuy, cố áo, cầu vai, măng – sét
+ Nêu công dụng và tình cám với cái áo: rất hãnh diện, chừng chạc như anh lính tí hon.
-Có cảm giác như vòng tay mạnh mẽ và yêu thương của ba đang ôm lấy, như dược dựa vào lồng ngực ấm áp của ba.
-Phần còn lại
–Cách kết bài: kết bài theo kiểu mở rộng
3.Tìm các hình ảnh 30 sánh và nhân hóa trong bài Chiếc áo của ba.
Gợi ý:
+ So sánh:
Đường khâu đều đặn như khâu máy, hàng khuy thẩng tắp như hàng quân danh dự, cố áo như cái lá non, có cảm giác như được ba ôm, như được dựa vào lồng ngực ấm áp của ba, tôi chững chạc như một anh lính tí hon, chide áo còn nguyên như ngày nào.
+ Nhân hóa:
Người bạn đồng hành quý báu, cái mãng – sét ôm khít lấy cổ tay tôi.
4.Viết một câu có hình ảnh so sánh và một câu có hình ảnh nhân hóa mà em thích vào vở.
Gợi ý:
– Cái cổ áo như hai cái lá non trông thật dẻ thương.
– Cái măng – sét ôm khít lấy cô tay tôi.
5.Nói về hình dáng hoặc công dụng của một đồ vật gần gũi với em.
Gợi ý:
Tham khảo phần hoạt động ứng dụng ở bài 24A.
6.Viết một đoạn văn khoảng 5 câu tả hình dáng hoặc công dụng của một đồ vật gần gũi với em.
Gợi ý:
Tả hình dáng cây bút
Từ nhiều năm nay, cây bút là người bạn thân thiết của em. Vỏ thân bút bằng nhựa cứng có màu đỏ nâu. Nắp bút bằng kim loại mạ vàng bóng loáng. Nôi thân với nắp là một khoen kim loại sáng trắng. Nắp bút còn có một thanh cài vào túi áo trông thật chững chạc. Tháo nắp ra, ngòi bút hình lá tre lấp loáng còn tươm mực. Bút đã giúp em viết chữ đẹp, luôn được cô khen.
2. Tìm hiểu, quan sát quyển sách Hướng dẫn học Tiêng Việt 5 (hoặc một đồ vật trong nhà mà em yêu thích, một đồ vật hoặc món quà có ý nghĩa sâu sắc với em, một đồ vật trong viện bao tàng hoặc trong nhà truyền thống) và ghi lại kết quả quan sát được.
Gợi ý:
Quyển sách Hướng dẫn học Tiếng Việt 5 của em thật đẹp. Bìa sách làm bằng giây dày và láng. Sách có chiều dài 27cm và chiều rộng 20cm. Các bài học được sắp xếp theo chủ điểm và có tranh ảnh minh họa rất sống động. Nội dung bài học xen kẽ các phần luyện tập, thực hành và ứng dụng thật bổ ích. | Soạn bài Người chiến sĩ tình báo | 889 | |
Soạn bài Người công dân số một (tiếp theo) (VNEN)
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1. Quan sát bức tranh sau và cho biết tranh vẽ cảnh gì (SGK/12)
Gợi ý:
Dưới ngọn đèn dầu lù mù trong một căn phòng đơn sơ nhưng ngăn nắp, anh Thành đang ngồi nói chuyện cùng anh Lê thì anh Mai gõ cửa rồi bước vào.
3. Chọn lời giải nghĩa ở cột B phù hợp với từ ngữ ở cột A:
Gợi ý:
a – 3; b – 1; c – 4;. d – 2; e – 5
5. Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1)Anh Lê, anh Thành đều là những thanh niên yêu nước, nhưng giữa họ có gì khác nhau’?
2)Quyết tâm của anh Thành đi tìm đường cứu nước được thể hiện qua những lời nói, cử chỉ nào? Tìm và ghi lại vào hảng nhóm.
3)“Người nông dân số Một” trong đoạn kịch là ai? Vì sao có thể gọi như vậy? Viết câu trả lời của em vảo vở.
Gợi ý:
1) Anh Lê cảm thây mình quá lạc hậu, yếu đuôi và nhỏ bé trưó’c sức mạnh vũ khí của kẻ thù.
Anh Thành không cam chịu, muốn ra nước ngoài học cái hay, cái mới đế về cứu dân, cứu nước.
2)
Lời nói
Cử chỉ
– Tôi muốn… về cứu dân mình.
– Tiền đây chứ đâu?
– Tôi nghĩ… được không anh?
– Sẽ có một ngọn đèn khác anh ạ.
– Xòe hai bàn tay ra.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Trong hai đoạn văn mở bài bài văn tả một người thân sau đây, đoạn nào mở bài trực tiếp? Đoạn nào mở bài gián tiếp? Hai đoạn văn có điểm nào giống và khác nhau?
a)Nếu có ai hỏi rằng: “Em yêu ai nhất?” thì không cần suy nghĩ, em có thể trả lời ngay: “Em yêu bà nhất.”
b)Đã gần Tết rồi. Năm nay, em lại được về quê nội ăn Tết, thật là vui. Em sẽ được đi chơi, được mừng tuổi. Nhưng vui nhât là được về với bà nội, người em yêu quý nhất.
Gợi ý:
Đoạn a mở bài trực tiếp, đoạn b mở bài gián tiếp.
-Hai đoạn đều giới thiệu người sè tả là người bà.
-Hai đoạn khác nhau:
+ Đoạn a: Giới thiệu ngay người bà trong gia đình.
+ Đoạn b: Giới thiệu về hoàn cánh, niềm vui khi về quê rồi mới giới thiệu người bà định tả.
2.Viết vào vở phần mở bài cho một trong các đề bài dưới đây theo hai cách: mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp.
a)Tả một người thân trong gia đình em.
b)Tả một người bạn cùng lớp hoặc người bạn ở gần nhà em.
d)Tả một nghệ sĩ hài mà em yêu thích.
Gợi ý:
a) • Mở bài trực tiếp:
Trong gia đình, người em yêu thương và gần gũi nhất chính là mẹ.
•Mở bài gián tiếp:
Em có một gia đình hạnh phúc. Mọi người trong nhà từ ông bà, cha mẹ đến anh chị đều yêu thương em. Nhưng ngưừi mà em yêu thương và gần gùi nhất chính là mẹ.
b) • Mở bài trực tiếp:
Bạn Lan là người bạn rát đáng quý. Đây cũng là người bạn thân nhất của em.
•Mở bài gián tiếp:
Lớp em luôn đoàn kết và yêu thương nhau. Tất cả các bạn đều quan tâm, giúp đờ nhau cùng tiến bộ. Trong sô những người bạn tốt ấy, em thân với Lan nhất. Lan là một người bạn rất đáng quý.
c)• Mở bài trực tiếp:
Thần tượng của em đã xuất hiện. Đó là ca sĩ Mỹ Tâm.
•Mở bài gián tiếp:
Hôm nay là ngày cuối tuần, cả nhà em quây quần bên mâm cơm và cùng xem ti vi. Chương trình ca nhạc đặc sắc đả bắt đầu với nhiều ca sĩ nổi tiếng. Niềm vui của em càng dâng cao khi ca sĩ Mỹ Tâm xuất hiện.
d)• Mở bài trực tiếp:
Trong số những nghệ sĩ hài dễ thương, em thích nhất nghệ sĩ Hoài Linh.
•Mở bài gián tiếp:
Sân khấu hài kịch mang đến sự thư giãn cho mọi người sau những ngày học tập và làm việc vất vả. Để làm được điều đó thì cần có những nghệ sĩ hài tài năng như Trấn Thành, Chí Tài, Trường Giang, Việt Hương, Hoài Linh,…
4. Nghe thầy cô kể chuyện Chiếc đồng hồ (Theo sách BÁC HỒ KÍNH YÊU) 2-3 lần.
Tham khảo bài kể tại đây:
C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
2. Chia sẻ với người thân điều em học được từ câu chuyện.
Gợi ý:
Mỗi người lao động đều có công việc riêng của mình. Công việc nào cũng quan trọng, cũng đáng quý và mang lợi ích cho xã hội. | Soạn bài Người công dân số một (tiếp theo) (VNEN) | 760 | |
Soạn bài Người công dân số một (tiếp theo)
Hướng dẫn
A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
– Giọng đọc rõ ràng, trôi chảy. Luôn thay đổi giọng đọc phù hợp với từng nhân vật. Biết ngừng nghỉ ở chỗ có các dấu câu. Biết lên giọng, xuống giọng phù hợp với các loại câu hỏi, câu kể…
B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI
Câu 1. Anh Lê, anh Thành đều là những thanh niên yêu nước, nhưng giữa họ có gì khác nhau?
Trả lời: Đều là những thanh niên yêu nước nhưng giữa họ có những điểm khác nhau.
– Anh Lê thì có tâm lí tự ti, cam chịu cảnh sống nô lệ, cảm thấy mình yếu đuối, nhỏ bé, cho rằng mình khôrg đủ sức đánh lại bọn xâm lược.
– Anh Thành thì không cam chịu sống nô lệ, không cho mình là nhỏ bé, yếu đuối ngược lại anh luôn tin tưởng ở mình, ở ý chí, nghị lực và trí tuệ của bản thân, quyết tâm đi ra ngoài tìm con đường cứu nước, cứu dân.
Câu 2: Quyết tâm của anh Thành đi tìm đường cứu nước, cứu dân thể hiện qua những lời nói, cử chỉ nào?
Trả lời: Quyết tâm của anh Thành đi tìm đường cứu nước, cứu dân thể hiện qua những lời nói và cử chỉ sau:
* Lời nói:
– Để giành lại non sông, chỉ có hùng tâm tráng khí chưa đủ, phải có trí, có lực… Tôi muốn sang nước họ, xem cách làm ăn của họ, học cái trí khôn của họ để về cứu dân mình.
– Sẽ có một ngọn đèn khác anh ạ?
* Cử chỉ: Xòe hai bàn tay ra: “Tiền đây chứ đâu?”
Câu 3: Người công dân số 1 trong đoạn kịch là ai? Vì sao có thể gọi như vậy?
Trả lời: Người công dân số 1 trong đoạn kịch là anh Thành, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể gọi anh Thành – Nguyễn Tất Thành là “Người công dân số 1” vì anh là người đầu tiên ý thức về công dân của một nước Việt Nam độc lập và chính anh là người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, lãnh đạo nhân dân ta đứng lên giành độc lập cho dân tộc mình, đất nước mình.
* Nội dung chính: Ca ngợi lòng yêu nước và ý chí quyết tâm đi tìm con đường giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ lập nên một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc. | Soạn bài Người công dân số một (tiếp theo) | 421 | |
Soạn bài Người công dân số một (VNEN)
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1. Quan sát bức tranh minh hoạ chủ điểm Người công dân và trả lời câu hỏi (SGK/3)
a)Các bạn thiếu nhi đang làm gì để thực hiện quyền của người đội viên?
b)Em nghĩ gì về trách nhiệm và nghĩa vụ của người công dân tương lai?
Gợi ý:
a)Để thế hiện quyền của người đội viên, các bạn thiếu nhi bỏ phiếu tín nhiệm, bầu chọn Ban chỉ huy Đội, Liên đội.
b)Người công dân không phân biệt dân tộc, nam nừ, thành phần xã hội, đủ mười tám tuổi trớ lên đều có quyền bầu cử, chọn người tài đức lãnh đạo đất nước.
2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài
“Người công dân số một” (Trích SGK/4, 5)
5. Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1.Anh Lê giúp anh Thành việc gì?
2.Những câu nói nào của anh Thành cho thấy anh luôn nghĩ tới dân, tới nước?
3.Những cặp thoại nào dưới dây cho thấy câu chuyện giữa anh Thành và anh Lê nhiều lúc không ăn nhập với nhau? Vì sao?
a)
Lê: Anh Thành! Mọi thư tôi thu xếp xong rồi. Súng mai anh có thể đến nhận việc đấy.
Thành: Có lẽ thôi, anh ạ.
h)
Lê: Vậy anh vào Sài Gòn này làm gì?
Thành: Anh Lê này! Anh học trường Sa-xơ-lu Lô-ba… thì… ở… anh là người nước nào?
c)
Lê: Anh hỏi lạ thật. Anh người nước nào thì tôi là người nước ấy.
Thành: Dáng! Chúng ta là đồng bào. Cùng máu đỏ da vàng với nhau.
Gợi ý:
1) Anh Lê giúp anh Thành tìm việc làm ở Sài Gòn.
3)Cặp thoại b và d
Anh Lê chỉ nghĩ đến công ăn việc làm cho bạn.
Anh Thành nghĩ đến việc cứu dân, cứu nước
7. Tìm hiểu câu ghép:
1.Đọc đoạn văn dưới đây:
(1) Mỗi lần dời nhà đi, bao giờ con khỉ cùng nhảy phóc lên ngồi trôn lưng con chó to. (2) Hễ con chó đi chậm, con khỉ cấu hai tai chó giật giật. (3) Con chó chạy sải thì khi gò lưng như người phi ngựa. (4) Chó chạy thong thả, khỉ buông thõng hai tay, ngồi ngúc nga ngúc ngắc.
Đoàn Giỏi
2.Xếp các câu trong đoạn trên vào nhóm thích hợp và ghi vào bảng nhóm:
a)Câu do một cụm chủ ngữ – vị ngữ tạo thành.
b)Câu do nhiều cụm chủ ngữ – vị ngữ tạo thành.
3.Có thế tách hai cụm chủ ngừ – vị ngữ trong các câu ở nhóm b) thành hai câu không? Vì sao?
Gợi ý:
2. a) Câu (1)
b) Câu (2), (3), (4)
3. Không thể tách hai cụm chủ ngữ – vị ngữ trong các câu ở nhóm b) thành hai câu. Các vế câu của mỗi cụm diễn tả những ý có quan hệ chặt chẽ, gắn kết với nhau về nghĩa.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.a) Đọc đoạn văn sau (SGK/8)
b)Tìm câu ghép trong đoạn văn trên và viết vào bảng nhóm theo mẫu (SGK/9)
c)Có thể táh mỗi vê trong câu ghép vừa tìm được thành một câu đơn không? Vì sao?
b)
Câu ghép
Vế câu thứ nhất
Vế câu thứ hai
Câu 2
Trời xanh thẳm
biển cũng thắm xanh, như dâng cao lên, chắc nịch.
Câu 3
Trời rải mây trắng nhạt
biển mơ màng dịu hơi sương.
Câu 4
Trời âm u mây mưa
biển xám xịt, nặng nề.
Câu 5
Trời ầm ầm dông gió
biển đục ngầu, giận dữ.
Câu 6
Biển nhiều khi rất đẹp
ai cũng thây như thế.
c) Không thể tách mỗi vế trong câu ghép vừa tìm được thành một câu đơn. Mỗi vế câu thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của vế khác.
2.Thêm một vế câu vào chỗ trống để tạo thành câu ghép rồi ghi vào vở (SGK/9)
Gợi ý:
a) Mùa xuân đã về, trăm hoa đua nở.
b)Mặt trời mọc, đoàn thuyền ra khơi.
c)Trong truyện cố tích Cây khế, người em chăm chỉ, hiền lành, còn người anh tham lam, ích kỉ.
d)Vì trời mưa to nên đường sá lầy lội.
4.Chọn chữ thích hợp đế điền vào chỗ trống trong phiêu học tập, biết rằng (SGK/10)
(1)Chữ r, d hoặc gi
(2)Chữ o hoặc ô (thêm dấu thanh thích hợp)
Gợi ý: Tháng giêng của bé
Đồng làng vương chút heo may
Mầm cây tỉnh giấc, vườn đầy tiếng chim
Hạt mưa mải miết trốn tìm
Cây đào trước cửa lim dim mắt cười
Quất gom từng hạt nắng rơi
Làm thành quả — những mặt trời vàng mơ
Tháng giêng đến tự bao giờ?
Đất trời viết tiếp bài thơ ngọt ngào.
(Theo ĐỖ QUANG HUỲNH)
5.Chọn bài a hoặc b (SGK/10, 11)
a)Tìm tiếng bắt đầu bằng r, d hay gi thích hợp mỗi ô trông. Ghi lại các từ có tiếng tìm được vào vở.
b)Tìm vần chứa o hoặc ô thích hợp với mỗi ô trống. Ghi lại các từ tạo được và lời giải câu đố vào vở.
Gợi ý:
a)Làm việc cho cả ba thời
Có một con ve thây bác nông dân nọ làm việc miệt mài, từ sáng đến tối chẳng lúc nào nghỉ ngơi, liền tò mò hỏi:
-Bác làm việc quần quật như thế để làm gì?
Bác nông dân đáp:
-Tôi làm cho cả ba thời nên không thể ngừng tay.
Ve nghĩ mãi không ra, lại hỏi:
-Thế nào là làm việc cho cả ba thời?
Bác nông dân ôn tồn giảng giải:
-Trước hết, tôi phải làm việc để nuôi thân. Đó là làm việc cho hiện tại. Nhà tôi còn bố mẹ già. Làm việc để phụng dưỡng bố mẹ là làm vì quá khứ. Còn làm để nuôi con là dành dụm cho tương lai. Sau này tôi già, các con tôi lại nuôi tôi như bây giờ tôi đang phụng dưỡng cha mẹ.
(TRUYỆN VUI DÂN GIAN THẾ GIỚI)
b)- Hoa gì đơm lửa rực hồng
Lớn lên hạt ngọc đầy trong bị vàng?
(Là hoa lựu)
– Hoa nở trên mặt nước
Lại mang hạt trong mình
Hương bay qua hồ rộng
Lá đội đầu mướt xanh.
(Là cây sen)
C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
Cùng người thân tìm thêm một mẫu chuyện về Bác Hồ.
Gợi ý:
Tìm đọc tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng. | Soạn bài Người công dân số một (VNEN) | 981 | |
Soạn bài Người công dân số một
Hướng dẫn
A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
-Đọc đúng chuẩn xác các từ ngữ sau: phắc-tuya; Sa-xơ-lup Lô-ba, máu đỏ da vàng, nhau, Phú Lãng Sa.
-Luôn thay đổi giọng đọc cho phù hợp với tính cách cùa từng nhân vật. Biết lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ thấp giọng ở cuối câu kể.
Bộc lộ cảm xúc, thái độ cuối câu cảm thán.
B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI
Câu 1: Anh Lê giúp anh Thành việc gì?
Trả lời: Anh Lê giúp anh Thành tìm việc làm ở Sài Gòn.
Câu 2: Những câu nói nào của anh Thành cho thấy anh luôn luôn nghĩ tới dân, tới nước?
Trả lời: Đó là những câu:
+ Nếu chỉ cần miếng cơm manh áo thì tôi ở Phan Thiết cũng đủ sống…
+ Chúng ta là đồng bào. Cùng máu đỏ da vàng với nhau. Nhưng… anh có khi nào nghĩ đến đồng bào không?
+ Vì anh với tôi… chúng ta là công dân nước Việt…
Câu 3: Câu chuyện giữa anh Thành và anh Lê nhiều lúc không ăn nhập với nhau. Hãy tìm những chi tiết thể hiện điều đó và giải thích vì sao như vậy?
Trả lời:
– Những chi tiết cho thấy câu chuyện giữa anh Thành và anh Lê không ăn nhập với nhau.
+ Anh Lê gặp anh Thành và thông báo cho anh Thành biết mình đã xin được việc làm cho anh Thành nhưng anh Thành thì không nói đến chuyện đó.
-Anh Lê hỏi: Vậy anh vào Sài Gòn này làm gì?
-Anh Thành đáp: Anh học trường Sa-xơ-lu Lô-ba… thì… ờ… anh là người nước nào?
-Anh Lê nói: Nhưng tôi chưa hiểu vì sao anh thay đổi ý kiên, không định xin việc làm ở Sài Gòn này nữa.
-Anh Thành trả lời:…Vì đèn dầu ta không sáng bằng đèn Hoa Kì.
Đèn Hoa Kì lại không sáng bằng đèn tọa đăng. Hôm qua tôi đi xem chớp bóng lại thấy ngọn đèn điện mới thật là sáng nhất. Sáng như ban ngày mà không có mùi, không có khói.
*Giải thích: Vì mỗi người theo đuổi một ý nghĩ khác nhau. Anh Lê chỉ nghĩ đến công việc làm của bạn, tiền lương và cuộc sống của bạn. Anh Thành thì nghĩ đến việc cứu nước, cứu dân.
*Nội dung chính: Qua cuộc đối thoại giữa anh Lê và anh Thành trong đoạn trích của vở kịch ta thấy hiện lên tâm trạng day dứt, trăn trở của anh Thành (tên của Bác Hồ thời trẻ) luôn nghĩ về dân, về nước, mong tìm con đường cứu nước, cứu dân đưa đất nước ta thoát khỏi ách nô lệ của thực dân, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho dân tộc. | Soạn bài Người công dân số một | 451 | |
Soạn bài Người dời núi mở đường
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Quan sát bức tranh và cho biết tranh vẽ cảnh gì (SGK/117).
Gợi ý:
Tranh vẽ cảnh những người nông dân ở miền núi đang đào núi, dẫn nước về thôn làng để sản xuất, trồng trọt.
2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Ngu Công xã Trịnh Tường” (SGK/118)
5. Thảo luận, trả lời câu hỏi
1)Ông Lìn đã làm thế nào để đưa được nước về thôn? (Đọc đoạn 1)
2)Nhờ có mương nước, tập quán canh tác và cuộc sống ở thôn Phin Ngan đã thay đổi như thế nào?
3)Ông Lìn đã nghĩ ra cách gi để giữ rừng, bảo vệ nguồn nước? (Đọc đoạn 3).
4)Câu chuyện giúp em hiểu điều gì?
Gợi ý:
1) Để đưa được nước về thôn, ông Lln đã lần mò cả tháng trời trong rừng tìm nguồn nước, cùng vợ con đào suốt một năm trời được gần bốn cây số mương xuyên đồi.
2)Nhờ có mương nước, nương lúa khô hạn được thay bằng ruộng bậc thang với những giông lúa cao sản, cả thôn không còn hộ đói, mọi người cấy lúa nước, không còn phá rừng làm nương.
3)Để giữ rừng, bảo vệ nguồn nước, ông Lìn cùng bà con trồng cây thảo quả.
4)Câu chuyện giúp chúng ta hiểu rằng muốn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc thì người ta phải biết cố gắng sự quyết tâm và tinh thần vượt khó.
2. Viết vần của từng tiếng trong dòng thơ đầu vào phiếu học tập:
Con ra tiền tuyến xa xôi
Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.
TỐ HỮU
Gợi ý:
Mô hình cấu tạo vần
Tiếng
Vần
Âm đệm
Âm chính
Âm cu ô i
Con
n
ra
a
tiền
iê
n
tuyến
u
yê
n
xa
a
xôi
ô
i
4.Tìm những tiếng bắt vần với nhau trong câu thơ trên và ghi vào vở.
Gợi ý:
Những tiếng bắt vần với nhau: xôi – đôi.
5.Xếp các từ trong khổ thơ sau vào nhóm thích hợp:
(Các từ được phân cách với nhau bằng dấu gạch chéo)
Hai / cha con / bước / đi / trên / cát /
Ánh / mặt trời / rực rỡ / biển / xanh /
Bóng / cha / dài / lênh khênh /
Bóng / con / tròn / chắc nịch/.
HOÀNG TRƯNG THÔNG
a) Từ đơn;
b) Từ ghép;
c) Từ láy
Gợi ý:
a) hai, bước, đi, trên, cát, ánh, biển, xanh, bóng, cha, dài, bóng, con, tròn.
b)cha con, mặt trời, chắc nịch.
c)rực rỡ, lênh khênh.
6.Nối nhóm từ (in đậm) ở cột A với tên gọi thích hợp ở cột B.
Gợi ý:
a) – 2; b) – 3; c) – 1.
7.Tìm từ đồng nghĩa.
a)Đọc bài văn “Cây rơm” (SGK/122, 123).
b)Tìm và viết vào bảng nhóm từ đồng nghĩa với các từ in đậm trong bài.
Gợi ý:
– Tinh ranh: tinh nghịch, tinh khôn, khôn ngoan, ranh mãnh.
-Dâng: tặng, hiến, đưa, nộp, biếu, cho.
-Êm đềm: êm dịu, êm ái, êm ả, êm xuôi.
8.Tìm từ trái nghĩa với từ in đậm để điền vào chỗ trống trong các thành ngữ, tục ngữ sau (SGK/124).
Gợi ý:
a) Có mới nới cũ.
b)Xấu gỗ, tốt nước sơn.
c)Mạnh dùng sức, yếu dùng mưu.
C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
Hỏi người thân về những người lao động giỏi ở miền núi.
Gợi ý
Những người lao động giỏi ở miền núi: vợ chồng A Phủ, Hạng A Cháng. | Soạn bài Người dời núi mở đường | 522 | |
Soạn bài người kể chuyện trong văn bản tự sự
Hướng dẫn
A.YÊU CẦU
HS hiểu được:
-Trong văn bản tự sự, ngươi kể chuyện thương đứng ở ngôi thứ nhât (xưng “tôi”) hoặc giấu mình trong ngôi thứ ba.
-Người kể chuyện có vai trò dần dắt người đọc đi vào câu chuyện: giới thiệu nhân vật và tình huống, tả người và tả cảnh, đưa ra các nhận xét, đánh giá về những điều được kể.
B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP
I – Phần hài học
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG VĂN VĂN TỰ SỰ
Bài tập 1. Đọc đoạn trích trong Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, SGK, tr. 192).
Bài tập 2. Suy nghĩ và trả lời câu hỏi (a, b, c, d):
Gợi ý
a)Đoạn trích kể về cuộc chia tay của ba nhân vật: anh thanh niên làm ở trạm khí tượng, người hoạ sĩ già và cô kĩ sư đi cùng. Cuộc chia tay giữa họ có phần lưu luyến, bịn rịn.
b)Người kể là một người “vô hình” – người kể chuyện. Người kể đã giấu mình trong ngôi thứ ba. Người kể không phải là một trong các nhân vật bởi vì không có ai xưng “tôi”. Nếu là một trong ba nhân vật đóng vai trò là người kể chuyện thì phải xưng là “tôi” và lời văn phải thể hiện đúng tính cách, tâm trạng của nhân vật.
c)Những câu như “giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ”, “những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy” là lời nhận xét của người kể chuyện về tâm trạng của anh thanh niên. Hay nói cách khác, người kể chuyện đă nhập vai vào nhân vật anh thanh niên để nói hộ anh ta những suy nghĩ, cảm xúc của mình lúc chia tay cô gái.
(1*) Người kể chuyện đã kể lại câu chuyện một cách rõ ràng, cụ thể, sinh động, hiểu được suy nghĩ, cảm xúc của các nhân vật. Do vậy, ta thấy dường như người kể chuyện thấy hết và biết tất cả mọi việc, mọi hành động, tâm tư, tình cảm của các nhân vật.
II – PHẦN LUYỆN TẬP
Bài tập 1. Đọc đoạn trích sau (Nguyên Hồng, Trong lòng mẹ). Suy nghĩ và trả lời câu hỏi (SGK).
Gợi ý
a) So với đoạn văn trong Lặng lẽ Sa Pa, đoạn văn trích trong Trong lòng mẹ có những điểm khác sau:
-Người kể là nhân vật “tôi” – một nhân vật của câu chuyện trong cuộc gặp mẹ.
-Ngôi kể này có ưu điểm: Nhân vật có thể bộc lộ tât cả những suy nghĩ, tình cảm, tâm trạng thầm kín nhất của mình.
Hạn chế của ngôi kể này là không thể hiện ý nghĩ, tâm trạng,… của nhân vật khác. Những hạn chế này không có ở đoạn trích trong Lặng lẽ Sa Pa.
b) Em hãy chọn một nhân vật là người kể chuyện. Chọn nhân vật nào thì nhân vật đó phải xưng là “tôi”. Khi kể, mọi sự việc, con người trong đoạn truyện phải phù hợp với cái nhìn của nhân vật được chọn làm người kể chuyện. | Soạn bài người kể chuyện trong văn bản tự sự | 526 | |
Soạn bài người kể và ngôi kể trong văn bản tự sự
Hướng dẫn
I.Phần bài học
a.Chuyển kể về ai? Về việc gì?
-Chuyển kể về anh thanh niên, cô gái trẻ và ông họa sĩ.
-Kể về cuộc chia tay giữa thanh niên với cô kỹ sư trẻ và ông họa sĩ già.
b.Người kể là ai?
-Người kể về phút chia tay giữa ba người không xuất hiện, không phải là một trong ba nhân vật trên.
-Vì: Nếu là một trong ba nhân vật thì ngôi kể phải thay đổi. Trong đoạn văn ta thấy các nhân vật đều trơ thành đối tượng miêu tả một cách khách quan: “Anh thanh niên vừa vào, kêu lên” “Cô kỹ sư nhếch mép, mặt đỏ ửng” “Bỗng người họa sĩ già quay lại”.
-Nếu là một trong ba nhân vật trên thì ngôi kể và lời văn phải thay đổi. Hoặc là người kể xưng “Mình” hoặc là gọi tên một trong ba nhân vật để kể lại chuyện. Như vậy, người kể chuyên ở đây là vô nhân xưng, không xuất hiện trong truyện.
c.Những câu “Những giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ” ; “Những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp lại được nữa, hay nhìn ta như vậy” là nhận xét của người kể chuyện về anh thanh niên và suy nghĩ của anh. Nhận xét thứ hai, người kể chuyện như nhập vào anh thanh niên để nói hộ suy nghĩ và tinh cảm của anh nhưng vẫn là câu trần thuật của người kể chuyện. Câu nói đó không chi nói hộ anh thanh niên mà còn là tiếng lòng của nhiều người trong hoàn cảnh, tình huống của anh thanh niên. Nếu là tiếng nói trực tiếp của anh thanh niên thì tính khái quát sẽ bị hạn chế rất nhiều.
d.Căn cứ vào đâu có thể nhận xét: Người kể chuyện ở đây dường như thấy hết và biết tất cả mọi việc, mọi người, mọi hoạt động, mọi tâm tư tình cảm của nhân vật?
Căn cứ vào chủ thể đứng ra kể chuyện, đối tượng được miêu tả, ngôi kể, điểm nhìn và lời văn ta có thể kết luận người kể chuyện ở đây dường như thấy hết, biết tất cả mọi việc, mọi người, mọi hành động, tâm tư, tình cảm của các nhân vật.
II. Luyện tập
Câu 1. Đoạn trích Những ngày thơ ấu – Nguyên Hồng.
-Người kể trong đoạn văn của Nguyên Hồng là nhân vật “Mình” (Ngôi thứ nhất) đó là lời kể của chú bé mồ côi cha, xa mẹ, ở với những người họ hàng cay nghiệt nay được gặp mẹ sau những ngày xa cách.
-Ưu điểm và hạn chế của ngôi kể.
+ Ưu điểm: Giúp người kể dễ đi sâu vào tâm tư, tìm cảm, miêu tả được những diễn biến tâm lý tinh vi, phức tạp diễn ra trong tâm hôn nhân vật “Mình”.
+ Hạn chế: Khó miêu tả bao quát các đối tượng khách quan, sinh động, khó tạo ra cái nhìn nhiều chiều, dễ gây sự đơn điệu trong giọng văn…
Câu 2. Kể lại đoạn truyện cho phù hợp với ngôi thứ nhất. | Soạn bài người kể và ngôi kể trong văn bản tự sự | 526 | |
Soạn bài Người phụ nữ dũng cảm
Hướng dẫn
A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Quan sát bức ảnh sau và nói những điều em biết về bà Nguyễn Thị Định (SGK/31)
Gợi ý:
Bà Nguyễn Thị Định được sinh ra tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Sớm có ý thức giác ngộ cùng lòng yêu nước sâu sắc, năm 16 tuổi bà đã tham gia Cách mạng và trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ thắng lợi. Từ sau ngày đất nước thống nhất, bà giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước.
2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài văn “Công việc đầu tiên” (SGK/32, 33)
5.Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1.Công việc đầu tiên anh Ba giao cho chị út là gì? (Đọc đoạn 1)
2.Những chi tiết nào cho thấy chị út rất hồi hộp khi nhận công việc đầu tiên này? (Tìm các chi tiết ở hai câu văn đầu đoạn 2 để trả lời)
3.Chị út đã nghĩ ra cách gì để rải hết truyền đơn? (Đọc các câu văn từ Khoảng ba giờ sáng đến trời cũng vừa sáng tỏ để trả lời)
4.Vì sao chị Út muốn được thoát li? (Đọc câu văn cuối để trả lời)
Gợi ý:
1) Công việc đầu tiên anh Ba giao cho chị út là rải truyền đơn.
2)Khi nhận công việc đầu tiên, chị út rất hồi hộp.
Cả đêm chị ngủ không yên, trong người bồn chồn, thâp thỏm, lục đục dậy từ nửa đêm, ngồi nghĩ cách giấu truyền đơn.
4)Chị Út muôốn được thoát li vì chị muốn làm thật nhiều việc cho Cách mạng.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Tìm hiểu nghĩa của từ
Bác Hồ đã khen tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng: anh hùng, hất khuất, trung hậu, đảm đang.
Chọn lời giải nghĩa ở cột B phù hợp với từ ngữ ở cột A
Đáp án: a – 2; b – 3; c – 4; d – 1
2. Thi tìm nhanh những từ ngữ chỉ các phẩm chất của phụ nữ Việt Nam Mỗi nhóm viết nhanh vào bảng nhóm 3 từ ngữ chỉ các phẩm chât của phụ nữ Việt Nam.
Gợi ý:Cần cù, nhân hậu, vị tha
3.Mỗi câu tục ngữ dưới đây nói lên phẩm chất gì của người phụ nữ Việt Nam? Viết câu trả lời vào vở.
a) Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn. (Mẹ bao giờ cũng nhường những gì tốt nhất cho con)
b)Nhà khó cậy vợ hiền, nước loạn nhờ tướng giỏi. (Khi cảnh nhà khó khăn, phải trông cậy vào người vợ hiền. Khi đất nước có loạn, phải nhờ cậy vị tướng giỏi)
c)Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh. (Đất nước có giặc, phụ nữ cũng tham gia diệt giặc)
a) Lòng thương con bao la, sự hi sinh.
b)Sự đảm đang, giỏi giang, vun vén cho gia đình.
c)Sự dũng cảm, kiên cường, lòng yêu nước sâu sắc.
5.Xếp tên các huy chương, danh hiệu và giải thưởng dưới đây vào ô thích hợp. Viết lại các tên ấy cho đúng (SGK/36)
nghệ sĩ nhân dân, huy chương vàng, quả bóng bạc, huy chương bạc, nghệ sĩ ưu tú, quả bóng vàng, đôi giày vàng, huy chương dồng, đôi giày bạc.
Gợi ý:
PHIẾU HỌC TẬP
a) Giải thương trong các kì thi văn hóa, văn nghệ, thể thao
-Giải nhất: Huy chương Vàng
-Giải nhì: Huy chương Bạc
-Giải ba: Huy chương Đồng
b) Danh hiệu dành cho các nghệ sĩ tài năng
-Danh hiệu cao quý nhất: Nghệ sĩ Nhân dân
-Danh hiệu cao quý: Nghệ sĩ ưu tú
c) Danh hiệu dành cho cầu thủ, thu môn bóng đá xuất sắc hằng năm
-Cầu thủ, thủ môn xuất sắc nhất: Đôi giày Vàng, Quả bóng Vàng
–Cầu thủ, thủ môn xuất sắc: Đôi giày Bạc, Quả bóng Bạc
6.Viết vào vở tên các danh hiệu, giải thưởng, huy chương và kỉ niệm chương được in nghiêng dưới đây cho đúng:
a)Để tôn vinh các nhà giáo, những người có công với thế hệ trẻ, Nhà nước đã dành cho họ những phần thưởng tinh thần cao quý: các danh hiệu Nhà giáo nhân dân, nhà giáo Ưu tú, Kỉ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, kỉ niệm chương Vì sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam.
(Theo VŨ HƯƠNG GIANG)
M: Nhà giáo Nhân dân
Gợi ý:
a) Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú, KI niệm chương Vì sự nghiệp giáo dục, KI niệm chương Vì sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam.
b) Huy chương Đồng, Giải nhất tuyệt đối, Huy chương Vàng, Giải nhất về thực nghiệm.
C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
2. Hỏi người thân về những người phụ nữ anh hùng trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm của nước ta.
Gợi ý:
Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Thị Định. | Soạn bài Người phụ nữ dũng cảm | 784 | |
Đề bài: Soạn Bài Ngẫu Nhiên Viết Nhân Buổi Mới Về Quê Của Hạ Tri Trương
Bài Làm
Câu 1: Ngày xưa, tình cảm quê hương thường được thể hiện qua nỗi nhớ quê, qua nỗi xầu xa xứ. Bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê hoàn toàn khác, tình quê lại thể hiện ngay lúc vừa mới đặt chân tới quê nhà. Đây chính là tình huống tạo nên tính độc đáo cho bài thơ. Như vậy, ở đây chúng ta thấy Hạ Tri Chương khác với Lí Bạch trong bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh, Lí Bạch ở xa quê nhớ quê nên mới viết về quê.
Câu 2: Phép đối trong hai câu thơ đầu:
“Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.”
Hai câu đối, mỗi câu hai vế, mỗi vế có hai bộ phận đối nhau rất chỉnh. Lí gia đối với đại hồi, hương âmđối với mấn mao là chỉnh cả ý lẫn lời ; thiếu tiểu đối với lão, vô cải đối với tồi. Tuy có hơi chênh về lời song về ý rất chỉnh (thiếu tiểu: còn nhỏ ; lão: về già ; vô cải: không thay đổi ; tồi: chỉ sự thay đổi). Xét về ý nghĩa ngữ pháp, thiếu tiểu và lão đều là chủ ngữ cũng như vô cải và tồi đều là vị ngữ, hai câu đối đọc lên nghe rất hài hoà.
Đối giữa các vế trong câu gọi là tiểu đối. Vừa làm cho câu văn cân đối, nhịp nhàng, vừa khái quát được quãng đời xa quê và làm nổi bật sự thay đổi về vóc dáng và tuổi tác, đồng thời bước đầu hé lộ tình cảm quê hương của nhà thơ.
Phương thức biểu đạt
Tự sự
Miêu tả
Biểu cảm
Biểu cảm qua tự sự
Biểu cảm qua miêu tả
Câu 1
X
X
X
Câu 2
X
X
X
Câu 4: Sự khác nhau về giọng điệu biểu trong việc biểu hiện tình cảm quê hương ở hai câu trên và hai câu dưới:
– Giọng điệu của hai câu trên là bề ngoài dường như bình thản, khách quan song vẫn phảng phất buồn.
– Ở hai câu dưới: vì tác giả đã thay đổi quá nhiều (vóc người, tuổi tác, mái tóc – hai câu trên) nên khi về quê chẳng còn ai nhận ra ông nữa! (hai câu dưới), nên giọng điệu ở đây hóm hỉnh, bi hài:
Sự ngây thơ, hồn nhiên của trẻ thơ.
Hoàn cảnh trớ trêu, bị gọi là khách ngay trên quê nhà.
Cảm giác bơ vơ, lạc lọng khi trở về quê không còn người thân thích, quen biết, nỗi ngậm ngùi đau xót.
Câu hỏi hồn nhiên của các em nhỏ làm cho tác giả vừa vui, vừa buồn. | Soạn Bài Ngẫu Nhiên Viết Nhân Buổi Mới Về Quê Của Hạ Tri Trương | 451 | |
Soạn bài Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê
Hướng dẫn
Câu hỏi 1: Qua tiêu đề bài thơ, có thế thây sự biểu hiện tình quê hương ở bài thơ này có gì độc đáo?
Gợi ý:
Đọc văn bản, điều đầu tiên mà người đọc rất ấn tượng đó là nhan đề bài thơ: Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê. Nếu như bài thơ Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch là nỗi nhớ về quê cũ của người xa xứ thì bài thơ trên lại viêt về quê hương ngay cả khi tác giả đã trở về sau một thời gian khá dài xa quê. Nay trở về nỗi buồi đau dâng lên khi bản thân bị xem là “khách”. Khi đó, cảm xúc đã xuất hiện một cách ngẫu nhiên (vì làm thơ lúc này là không có chủ định) nhưng vì một điều bức xúc trong tình cảm mà trào dâng ra thành thơ, điều này lí giải vì sao tiêu đề là “Ngầu nhiên viết”. Như vậy ta có thể khẳng định, bên cạnh cái ngẫu nhiên thì cảm xúc của tác giả đả bị dồn nén, chứa chất ở trong lòng và cuối cùng nhà thơ đã sáng tác ra một bài thơ sâu sắc và ấn tượng đến như vậy.
Câu hỏi 2: Chứng minh hai câu đầu đã dùng phép đối trong câu (còn gọi là tiểu đôi, tự đối). Nêu tác dụng của việc dùng phép đối ấy.
Hai câu đầu tác giả đã dùng phép đối rất chỉnh về mặt nghĩa:
-Ớ câu thứ nhất: Thiếu tiếu li gia >< lão đại hồi (tiểu >< đại, li >< hồi)
-Câu thứ hai: Hương âm vô cải >< mấn mao tồi (hương âm >< mấn mao, vô cải >< tồi).
Phép đối ở câu thứ nhất tác giả đã khái quát một cách ngắn gọn cả một quãng thời gian dài rời xa quê hương của bản thân, ơ câu thứ hai nêu bật lên yếu tố thay đổi (mái tóc đã bạc) và khẳng định một yếu tố không thay đối (giọng quê). Cách diễn đạt đó vừa chân thực vừa làm nổi bật tình quê hương sâu sắc bền vững trong tâm hồn của nhà thơ.
Câu hỏi 3: Câu thơ 1 và 2 sử dụng các phương thức biểu đạt nào?
Gợi ý:
Hai câu thơ đầu tiên với phương thức biếu đạt chính là biểu cảm nhưng được tác giả biếu cảm một cách trực tiếp:
-Câu 1 là câu kể, nên phương thức biếu đạt là tự sự, tuy vậy ở đây vẫn có yếu tố biếu cảm. Vì vậy phương thức biểu đạt chủ yếu là biểu cảm qua tự sự.
-Câu 2 là câu tả, nên phương thức biểu đạt là miêu tả. Bên cạnh đó vẫn có yếu tố biếu cảm. Vì vậy, phương thức biểu đạt chủ yếu là biểu cảm qua miêu tả.
Câu hỏi 4: Sự biểu hiện tình quê hương ở hai câu trên và hai câu dưới có gì khác nhau về giọng điệu?
Cả bài thơ là sự nhất quán về biểu hiện của tình quê hương thắm thiết. Tuy vậy, giọng điệu ở hai câu đầu và hai câu thơ cuối có sự khác nhau:
Hai câu thơ đầu có giọng điệu nhẹ nhàng, bình thản, khách quan song pha lần nỗi buồn bởi quá lâu rồi tác giả mới về thăm quê.
Hai câu sau là giọng điệu bi hài chứa đựng một nỗi buồn ngậm ngùi, cô đơn của tác giả khi về đến quê nhà. Mâu thuẫn trong nội tâm là ở chỗ tình cảm sâu nặng thủy chung của nhà thơ đối với quê hương nhưng nay bỗng thành người xa lạ. Chủ nhân mới của làng quê là những đứa trẻ với tiếng cười hồn nhiên và câu hỏi ngây thơ: “Hỏi răng: Khách ở nơi nào đến chơi?” Những chi tiết đó đã tạo cho hai câu cuối một giọng điệu đặc biệt khác với hai câu thơ đầu.
LUYỆN TẬP
Bài tập. Căn cứ vào bản dịch nghĩa bài Hồi hương ngẫu thư và những điều cảm nhận được qua học bài thơ, hãy so sánh hai bản dịch thơ của Phạm Sĩ Vĩ và Trần Trọng San.
Gợi ỷ:
Về cơ bản, cả hai bản dịch đều toát lên nội dung chính của bài thơ. Tuy vậy bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ bám sát nguyên tác hơn, từng câu thơ tương đối rõ ý. Trong khi đó bản dịch của Trần Trọng San có những điếm dịch chưa chuẩn, chưa toát lên được ý. | Soạn bài Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê | 758 | |
Soạn bài Ngắm Trăng (Vọng Nguyệt)
Hướng dẫn
Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. Câu thứ nhất dịch sát với nguyên tác, câu thứ hai của nguyên tác có nghĩa là: “Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?” Câu thơ được dịch (Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ) đã bỏ đi cái xốn xang, bối rối được thể hiện ở lời tự hỏi “nại nhược hà” (biết làm thế nào?). Dịch là “khó hững hờ” thì lại cho thấy nhân vật trữ tình quá bình thản, có phần… hững hờ, chứ không rung cảm mạnh mẽ như trong câu thơ chữ Hán.
Hai câu sau của bài thơ chữ Hán có kết cấu đăng đối đáng chú ý, đối trong từng câu và đối hai câu với nhau:
Nhân hướng song tiền khan minh nguyệt
Nguyệt tòng song khích khan thi gia.
Ở mỗi câu, chữ chỉ người (nhân, thi gia) và chữ chỉ trăng (nguyệt) đặt ở hai đầu, ở giữa là cửa nhà tù (song), mặt khác, hai câu còn tạo thành một cặp đối, cũng người và trăng, minh nguyệt và thi gia đối với nhau. Với kết cấu đó, bài thơ có một hiệu quả về nghệ thuật đáng kể. Hai câu thơ dịch đã làm mất đi cấu trúc đăng đối, tức cũng giảm đi phần nào sức truyền cảm. Ngoài ra, câu thơ dịch thứ tư có hai từ gần đồng nghĩa (nhòm, ngắm) rõ ràng là chưa cô đúc, đó là chưa kể chữ nhòm ở đây không được nhã (nhất là lại nhòm khe cửa!).
Câu 2. Vọng nguyệt (hay đối nguyệt, khan minh nguyệt) là một thi đề rất phổ biến thuở xưa. Thi nhân xưa, gặp cảnh trăng đẹp, thường đem rượu uống trước hoa để thưởng trăng: có rượu và hoa thì sự thưởng trăng khi thảnh thơi, tâm hồn thư thái. Nhưng ở đây, Hồ Chí Minh đã ngắm trăng trong một hoàn cảnh đặc biệt, trong ngục tù! Bậc tao nhân mặc khách thưởng trăng của cái nhà tù tàn bại dã man mà tù nhân phải sống cuộc sống “khác loài người” làm sao phù hợp với việc thưởng nguyệt! Làm sao có rượu và hoa để thưởng trăng? Không thể cho rằng câu thơ này mang ý nghĩa phê phán (vì chẳng có nhà tù nào là “nhân đạo” đến nỗi mỗi kỳ trăng sáng lại đem rượu và hoa đến cho tù nhân ngắm trăng!). Chỉ có thể hiểu rằng, trước cảnh đêm trăng quá đẹp, Hồ Chí Minh bỗng khao khát được thưởng trăng một cách trọng vẹn và lấy làm tiếc không có rượu và hoa. Việc nhớ đến rượu và hoa trong cảnh tù ngục khắc nghiệt ấy đã cho thấy người tù này không hề vương bận bởi những ách nặng về vật chất, tâm hồn vẫn tự do, vẫn ung dung, vẫn them được tận hưởng cảnh trăng đẹp.
Câu 3. Cấu trúc cả hai câu đều thấy giữa nhân và nguyệt (Ngoài trời) có song sắt nhà tù chắn ở giữa. Tuy nhiên, người đã thả tâm hồn vượt ra ngoài cửa sắt nhà tù để tìm đến ngắm trăng sáng (khan minh nguyệt), tức là để giao hòa với vầng trăng tự do đang tỏa mộng giữa trời.
Đây không phải là cuộc vượt ngục về tinh thần duy nhất của người tù cách mạng Hồ Chí Minh để tìm đến vầng trăng tri kỉ. Trong bài Trung thu, Bác đã viết:
Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt
Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu
(Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt
Tâm tùy thu nguyệt cộng du du).
Và vầng trăng trong bài Ngắm trăng cũng vượt qua song sắt nhà tù để tìm đến ‘ngắm nhà thơ’ (khán thi gia) trong tù. Vậy là cả người và trăng đều chủ động tìm đến giao thoa cùng nhau, ngắm nhau say đắm. Cấu trúc đôi của hai câu chữ Hán đã làm nổi bật ‘tình cảm song phương’ đều mãnh liệt của cả người và trăng. Tất nhiên, đây là biện pháp nhân hoa của nghệ thuật, nhưng đã cho thấy với Bác Hồ, trăng đã hết sức gắn bó, thân thiết, trở thành tri âm tri kỉ từ lâu.
Câu 4. Bài thơ vừa thể hiện tình cảm thiên nhiên đặc biệt sâu sắc, mạnh mẽ, một biểu hiện nổi bật của tâm hồn nghệ sĩ ở Bác Hồ, vừa cho thấy sức mạnh tinh thần to lớn của người chiến sĩ vĩ đại đó. Vì vậy, có thể nói, đằng sau những câu thơ rất thơ đó lại là một tinh thần thép, mà biểu hiện ở đây là sự tự do nội tại, phong thái ung dung vượt hẳn lên sự đè nặng của ngục tù. Qua bài thơ, người đọc cảm thấy người tù cách mạng ấy dường như không chút bận tâm về những cùm xích, đói rét, mỗi rệp, ghẻ lở… của chế độ nhà tù khủng khiếp, cũng bất chấp song sắt thô bạo của nhà tù, đã để tâm hồn bay bổng tìm đến ‘đối diện đàm tâm’ với vầng trăng tri âm.
Bài thơ là một minh chứng sinh động cho hai câu thơ Hồ Chí Minh viêt ngoài bìa tập Nhật kí trong tù: ‘Thân thể ở trong lao – Tinh thần ở ngoài lao’.
a.Một số bài thơ Bác viết về trăng:
-Bài ‘Trung thu’:
Gương trăng vành vạnh giữa trời thu,
Sáng khắp nhân gian bạc một màu,
Sum họp nhà ai ăn Tết đó
Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu.
***
Trung thu ta cũng Tết trong tù,
Trăn gió đêm thu gợi vẻ sầu
Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt.
Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu.
(được viết khi Bác bị bắt giam ở nhà tù Tưởng Giới Thạch)
-Bài ‘Cảnh khuya’:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẻ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
(1947)
– Bài ‘Rằm tháng giêng” (Nguyên tiêu)
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
(1948)
– Bài “Đối trăng” (Đối nguyệt):
Ngoài song, trăng rọi cây sân,
Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song.
Việc quân, việc nước bàn xong
Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm.
(được viết trong kháng chiến chống thực dân Pháp)
Điều đáng lưu ý là thơ Bác dành một vị trí trang trọng cho trăng. Giữa trăng và thi nhân có một khối giao hòa đồng điệu như tri âm tri kỉ. Vì thế, viết về trăng, các bài thơ của Hồ Chí Minh bộc lộ một tâm hồn nhảy cảm với cái đẹp, tinh tế trước cảnh sắc thiên nhiên. Bên cạnh phẩm chất nghệ sĩ ấy là cốt cách người chiến sĩ với phong thái ung dung, lạc quan, luôn hướng về ánh sáng. Mặc khác, các bài thơ viết về trăng cho thấy một phong cách đặc sắc trong thơ trữ tình của Người, đó là sự hòa quyện giữa chất cổ điện và tinh thần hiện đại. | Soạn bài Ngắm Trăng (Vọng Nguyệt) | 1,169 | |
Ngắm Trăng là một trong những sáng tác vô cùng độc đáo của Hồ Chí Minh. Thông qua vẻ đẹp của thiên nhiên thì ta nhận thấy được tâm tư của một người lính cách mạng, một vị lãnh tụ luôn luôn nặng tình, nặng nghĩa với dân với nước. Để có thể hiểu hơn bài học chúng ta hãy đến với bài soạn ngày hôm nay nhé!
Soạn bài Ngắm Trăng Ngữ văn 7
Bài làm
Câu 1: Đọc kĩ phần phiên âm, phần dịch nghĩa và phần giải nghĩa chữ Hán để hiểu chính xác từng câu trong bài thơ. Học thuộc bản dịch thơ và nhận xét về các câu thơ dịch.
– Có thể nhận thấy được ở chính câu thứ hai trong nguyên tác có nghĩa là “Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?”. Thông qua đây chúng ta nhận thấy được câu thơ dịch dịch thành “Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ đã” dường như cũng đã lại làm mất đi cái xốn xang, cứ như thật bối rối của nhân vật trữ tình khi đứng trước vẻ đẹp của thiên nhiên.
Ở hai câu thơ cuối (bản dịch) dường như cũng kém ở phần đăng đối hơn so với phiên âm. Hơn nữa, ta có thể nhận thấy được chính từ “nhòm” và “ngắm” trong câu cuối là hai từ đồng nghĩa tất cả điều này như cũng lại khiến cho lời dịch không bảo đảm được sự hàm súc, sự cô đúc của ý tứ và thể thơ độc đáo nữa.
Theo lẽ thông thường thì người ta ngắm trăng vào những lúc thảnh thơi, thư thái. Thế nhưng ta nhận thấy được ở đây, Hồ Chí Minh cũng đã lại ngắm trăng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt đó chính là cảnh ở trong lao tù. Khi Bác Hồ nói “Trong tù không rượu cũng không hoa”chúng ta cũng không nên nghĩ đây là Bác đang than thở mà đó là một sự thật. Chỉ vì đêm trăng đẹp quá và người xưa vẫn hay thưởng trăng khi có đầy đủ rượu và hoa mà thôi. Thế nhưng trăng lại quá đẹp và khiến cho Bác không thể nào hững hờ được cho nên chẳng cần hoa và rượu thì người vẫn cứ thưởng trăng, nhìn ngắm nét đẹp của thiên nhiên.
Câu 3: Trong hai câu thơ cuối của bài thơ chữ Hán, sự sắp xếp các từ nhân (và thi gia), song, nguyệt (và minh nguyệt) có gì đáng chú ý? Sự sắp xếp như vậy và việc đặt hai câu dưới dạng đối nhau có hiệu quả nghệ thuật như thế nào?
Ở trong hai câu cuối của bài thơ chữ Hán đối nhau rất chỉnh đó chính là:
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
Có lẽ rằng cũng các từ chỉ người (nhân, thi gia) và các từ chỉ trăng (nguyệt) Bác cũng cứ vẫn khéo léo để đặt ở hai đầu, ở giữa là cửa nhà tù (song). Thế nhưng, ta nhận thấy được cũng chính giữa người và trăng lúc này đây dường như cũng lại vẫn tìm được sự giao hoà với nhau. Có lẽ chính cấu trúc đối này đã làm nổi bật tình cảm mãnh liệt giữa người và trăng. Ở đó sự nổi bật sự gắn bó thân thiết của một mối quan hệ từ lâu đã trở thành tri kỉ thật bền chặt.
Soạn bài Ngắm Trăng
Câu 4: Qua bài thơ, em thấy hình ảnh Bác Hồ hiện ra như thế nào?
Hình ảnh Bác lúc này đây cũng đã lại hiện lên trong bài thơ nổi bật ở khía cạnh người chiến sĩ dường như lại không chút bận tâm về gông cùm, đói rét, … Khi đứng trước những khó khăn thì hình ảnh Bác lúc này đây cứ vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Ta như nhận thấy được bài thơ cũng lại còn thể hiện nổi bật tâm hồn nghệ sĩ của Bác Hồ, đó cũng chính là một tâm hồn luôn rộng mở với thiên nhiên.
Câu 5: Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét: “Thơ Bác đầy trăng”. Hãy chép lại bài thơ Bác Hổ viết về trăng mà em biết (chú ý ghi rõ thời điểm sáng tác mỗi bài). Cuộc “ngắm trăng” trong bài Vọng nguyệt và hình ảnh trăng được thể hiện trong các bài thơ khác của Bác có gì đáng chú ý?
Chúng ta cũng biết được nhà phê bình Hoài Thanh dường như thật tài tình, thật chính xác khi ông cũng đã rất chính xác và tinh tế khi nhận xét rằng: “Thơ Bác đầy trăng”.Qủa thực Bác co rất nhiều bài thơ có hình ảnh trăng có thể kể ra như các bài thơ: Ngắm trăng, Trung thu, Đêm thu, Rằm tháng giêng, cảnh khuya, … Thực sự hình ảnh trăng trong thơ Bác mang nhiều sắc vẻ khác nhau. Cho dù là ở chốn lao ngục, hay lúc bận trăm công ngàn việc thì tâm hồn của Người dường như cũng cứ luôn luôn hướng về cái đẹp. Hình ảnh trăng như một người tri kỉ với Bác luôn sáng trong và thật đẹp.
Chúc các em học tốt!
Minh Minh
Các em có thể tham khảo một số bài soạn liên quan đến chương trình Ngữ văn 7 dưới đây:
Soạn bài Tục ngữ về con người và xã hội
Soạn bài Cảnh Khuya
Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Soạn bài Những câu hát than thân
Soạn bài Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người | Soạn bài Ngắm Trăng Ngữ văn 7 | 935 | |
Đề bài: Soạn Bài Ngắm Trăng Ngữ Văn Lớp 8 Tập 2 | Văn Mẫu
Bài làm
Câu 1: So sánh bản chữ Hán và bản dịch thơ:
– Câu thứ hai của nguyên tác có nghĩa là “Trựớc cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?” Câu thơ dịch (Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ) đà bỏ đi cái xốn xang, bối rối được thể hiện ở lời tự hỏi “nại nhược hà?” (biết làm thế nào?). Dịch là “khó hững hờ” thì lại cho thấy nhân vật trừ tình quá bình thản, có phần… hững hờ, chứ không rung cám mạnh mẽ như trong câu thơ chừ Hán.
– Hai câu sau của bài thơ chừ Hán có kết cấu đăng đối đáng chú ý, đối trong từng câu và đối hai câu với nhau:
“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.”
Ở mỗi câu, chữ chỉ người (nhân, thi gia) và chữ chỉ trăng (nguyệt) đặt ở hai đầu, ở giữa là cửa nhà tù (song); mặt khác, hai câu còn tạo thành một cặp đối, cũng nhân và nguyệt, minh nguyệt và thi gia đối với nhau. Với kết cấu đó, bài thơ có một hiệu quả nghệ thuật riêng đáng kể. Hai câu thơ dịch đà làm mất đi cấu trúc đăng đối, tức cũng giảm đi phần nào sức truyền cảm. Ngoài ra, câu thơ dịch thứ tư có hai từ gần đồng nghĩa (nhòm, ngắm) rõ ràng là chưa cô đúc; đó là chưa kể chữ nhòm ở đây không được nhã (nhất lại là nhòm khe cửa!)
Câu 2: Các bậc tao nhân mặc khách xưa thường chỉ ngắm trăng trong khi thảnh thơi, thư thái và thường gắn với uống rượu, thưởng hoa. Còn Bác Hồ, “chẳng được tự do mà thưởng nguyệt” như vậy mà Người đã ngắm trăng trong hoàn cảnh đặt biệt: trong ngục tù:
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”
Trong tù, rõ ràng là không có rượu, cũng không có hoa. Và ý thơ của Người cũng không nhằm mục đích kể cái thiếu thốn, khó khăn, không miêu tả hiện thực trần trụi của nhà tù, mà thể hiện tâm thế và khát vọng của người tù. Bởi “trước cảnh đẹp đêm nay” mà có rượu, có hoa thì người ngắm trăng đã không phải “nại nhược hà?” – bối rối, băn khoăn. Nhưng đó là sự bối rối, băn khoăn rất nghệ sĩ bởi trăng đẹp thế mà không có hoa và rượu để thưởng trăng cho trọn vẹn. Nỗi băn khoăn cho thấy một tâm hồn thanh thản, yêu cái đẹp vượt lên gian khổ, khó khăn của ngục tù để mơ được thưởng trăng thật đủ đầy, trọng vẹn. Nếu như ở những bài thơ khác, Bác thường thưởng trăng vào lúc đêm khuya, khi “không ngủ vì lo nỗi nước nhà” (Cảnh khuya), có lúc Bác đón trăng sau khi đã “bàn việc quân”: “khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền” (Rằm tháng giêng), khi khác Người lại lỡ hẹn với trăng: “Việc quân đang bận xin chờ hôm sau” (Tin thắng trận). Còn lần này Bác có cả ngày dài để mong trăng, đón trăng. Vậy mà khi trăng đến thì lại không có rượu và hoa những nghi thức giản dị mà trang trọng để đón trăng. Điều đó khiến cho Người bối rối, băn khoăn. Sự bối rối ấy cho ta thấy tình cảm yêu mến, thái độ trân trọng của Bác đối với trăng – một người bạn tâm giao.
Câu 3:
Hai câu thơ cuối của bài thơ chữ Hán Vọng Nguyệt, có cấu trúc đăng đối: nhân – nguyệt; nguyệt – thi gia; song – song. Điều đó có nghĩa là giữa người và trăng là song sắt nhà tù chắn giữa nhưng đã thành vô nghĩa. Từ trong ngục tối người vẫn hướng ra ngoài để thưởng thức vẻ đẹp của trăng và trăng cũng vượt qua song sắt để đến “khán thi gia” (ngắm nhà thơ). Tình cảm giữa người và trăng đã tạo nên một khoảnh khắc thật kì diệu. Không một âm thanh, không một tiếng động, tất cả đều im lặng trong giây phút giao hòa mãnh liệt của người và trăng. Cấu trúc đăng đối của hai câu thơ đã làm nổi bật được “tình cảm song phương” mãnh liệt của cả người và trăng. Cả hai đều có hành động (hướng – khán, tòng – khán) cho thấy sự chủ động tìm đến giao hòa cũng nhau, để ngắm nhau say đắm, cho thỏa nỗi yêu thương. Khoảnh khắc giao hòa kì diệu ấy khiến cho mọi khó khăn, gian khổ của ngục tù đều biến mất, chỉ còn lại lãng mạn, mộng mơ, làm cho tâm hồn con người trở nên đẹp, để người thành nhà thơ hay bởi trăng tinh tế đã nhận ra cốt cách thi nhân trong người tù đặc biệt ấy nên mới có sự gặp gỡ – giao hòa kì lạ và kì diệu ấy.
Câu 5: Những bài thơ của Bác viết về trăng
– Bài Tin thắng trận:
Trăng vào cửa sổ đòi thơ,
Việc quân đang bận, xin chờ hôm sau,
Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu,
Ấy tin thắng trận Liên khu báo về.
(Năm 1948)
– Bài Cảnh khuya
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lổng cố thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ:
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
(Năm 1947)
– Bài Rằm tháng giêng (Nguyên tiêu)
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”.
(Năm 1948)
– Trăng trong thơ của Bác có nhiều sắc vẻ, trạng thái khác nhau.
+ Trăng được cảm nhận ở hoàn cảnh ngục tù, hay giữa trời nước bao la, lúc bận việc quân, lúc thư nhàn…
+ Trăng hiện lên như tri âm, tri kỷ với Người | Soạn Bài Ngắm Trăng Ngữ Văn Lớp 8 Tập 2 | 983 | |
Soạn bài Ngữ văn lớp 8: Kiểm tra văn
Hướng dẫn
Soạn bài Văn lớp 8 Kiểm tra văn
Soạn bài Ngữ văn lớp 8: Kiểm tra văn được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.
Soạn bài Kiểm tra văn trang 110 SGK Ngữ Văn 8
I. NHẬN XÉT CHUNG
1. Có thể thay đổi trật tự từ trong câu in đậm theo những cách mà không làm thay đổi nghĩa:
(1) Cai lệ gõ đầu roi xuống đất, thét bằng giọng khàn khàn (…)
(2) Thét bằng giọng khàn khàn của người hút nhiều xái cũ, cai lệ gõ đầu roi xuống đất.
2. Việc tác giả lựa chọn trật tự trên là để nhấn mạnh vào hành động “Gõ đầu roi xuống đất” của tên cai lệ. Tác giả muốn miêu tả sự hung hăng, ưa chứng minh quyền uy của “nhà nước” trao cho một tên cường hào ác bá. Hành động này là khởi đầu cho những hành động tiếp theo: Đe dọa, bắt trói và định giở thói côn đồ tra tấn người thiếu sưu.
3. Nếu ta lựa chọn cách viết như (2) ở câu 1 thì ấn tượng về tên cai lệ lại là kẻ nghiện thuốc phiện. Yếu tố quyền uy mà hắn muốn dương oai tác quái bị đặt ở vị trí thứ yếu trong cảm nhận của người đọc.
1. a) Trật tự từ trong cụm từ và câu in đậm ở đây đã thể hiện thứ tự trước sau của hoạt động
(1) Từ hành động “giật phắt cái thừng” đến hành động “chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu”.
(2) Từ sự thay đổi của nét mặt bình thường trở nên “xám mặt” của chị Dậu. Hàng loạt các hành động khác diễn tiến theo tình huống của chuyện. Chị Dậu “vội vàng đặt con xuống đất”, sau đó “chạy đến” rồi đỡ lấy tay hắn”.
b) Ở đây những cụm từ in đậm đã thể hiện sự lựa chọn trật tự thứ bậc quan trọng của các sự vật.
(1) “Cai lệ” có vị trí cao hơn “người nhà lí trưởng”
(2) “Roi song” là sự vật dùng để đập đánh, tra tấn hành hạ, “tay thước”, “dây thừng” là những vật dụng được dùng sau khi đã trị tội người dân dám chống lại lệnh nhà nước không đóng sưu. Sau khi đánh đập là việc trói người có tội để lôi ra sân đình!
2. Câu chuẩn là của nhà văn Thép Mới. Thứ tự sắp xếp của tác giả hoàn toàn có dụng ý.
Tre giữ làng, (1) giữ nước. (2) giữ mái nhà tranh, (3) giữ đồng lúa chín (4)
Vai trò của cây tre có ý nghĩa từ không gian hẹp tới rộng, từ khái niệm làng, nước đến khái niệm nhà, đồng thân quen hơn, gần gũi hơn. Câu văn nhờ sự sắp xếp đối xứng 2/2, 4/4 và luân phiên bằng trắc cho nên nhịp nhàng, tự nhiên, giàu chất thơ. | Soạn bài Ngữ văn lớp 8_ Kiểm tra văn | 507 | |
Soạn bài Ngữ văn lớp 8: Tổng kết phần văn
Hướng dẫn
Soạn bài Tổng kết phần văn lớp 8
Soạn bài Ngữ văn lớp 8: Tổng kết phần văn là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp bạn thuận tiện hơn trong quá trình soạn bài để chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo.
Soạn bài Ngữ văn lớp 8: Tổng kết phần văn trang 130 SGK
1. Lập bảng thống kê các văn bản Văn học Việt Nam từ bài 15 ở chương trình lớp 8
Văn bản
Tác giả
Thể loại
Giá trị nội dung chủ yếu
Cảm tác từ nhà ngục Quảng Đông
Phan
Bội
Châu
Bát cú Đường luật
Phong thái ung dung, đường hoàng và khí phách kiên cường bất khuất vượt lên trên tù ngục khắc nghiệt.
Đập đá ở Côn Lôn
Phan
Châu
Trinh
Bát cú Đường luật
Hình tượng người anh hùng cứu nước lẫm liệt ngang tàng dù gặp nguy nan nhưng không đổi dời chí khí
Muốn làm thằng Cuội
Tản
Đà
Bát cú Đường luật
– Tâm sự của con người bất hòa sâu sắc với thực tại tầm thường
– Khát vọng muốn thoát li bằng mộng lên bầu bạn với chị Hằng.
Hai chữ nước nhà
Trần
Tuấn
Khải
Song thất lục bát
Mượn câu chuyện lịch sử về cuộc chia tay của Nguyền Trãi và cha mình để bộc lộ cảm xúc. khích lệ lòng yêu nước, ý chí cứu nước của đồng bào.
Ông đồ
Vũ
Đình
Liên
Ngũ
ngôn
– Tình cảm đáng thương của “ông đồ”
– Niềm cảm thông với một kiếp người và một thời đang tàn.
Nhớ rừng
Thế Lữ
Thơ tám chữ
Mượn lời con hổ bị nhốt ở vườn bách thú để thể hiện sự căm ghét thực tại tù túng, khao khát sống tự do.
Quê hương
Tế
Hanh
Thơ tám chữ
– Bức tranh tươi sáng sinh động về làng quê miền biển
– Hình ảnh khoẻ khoắn đầy sức sống của người dân chài.
Khi con tu hú
Tố Hữu
Lục bát
Lòng yêu cuộc sống và niềm khao khát tự do của người tù cộng sản
Tức cảnh Pác Bó
Hồ Chí Minh
Tuyệt
cú
Đường
luật
Niềm vui cua Bác Hồ trong cuộc sống cách mạng đầy gian khổ ở Pác Bó
Vọng nguyệt
Hồ Chí Minh
Tuyệt
cú
Đường
luật
Lòng yêu thiên nhiên và phong thái ung dung của Bác Hồ ngay trong cảnh ngục tù.
Tẩu lộ
Hồ Chí Minh
Tuyệt
cú
Đường
luật
Từ việc đi đường, rút ra chân lí vượt qua gian lao sẽ tới thắng lợi vẻ vang
Thiên đô chiếu
Lí
Công
Uấn
Nghị
luận
trung
đại
(chiếu)
Khát vọng về một đất nước độc lập, thống nhất và khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà phát triển.
Hịch tướng sĩ
Trần
Quốc
Tuấn
Nghị
luận
trung
đại
(hịch)
Lòng căm thù sâu sắc và ý chí quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược
Nước Đại Việt ta
Nguyễn
Trãi
Nghị luận trung đại (cáo)
Khẳng định nước ta có nền văn hiến từ lâu đời, có lãnh thổ riêng, có phong tục riêng, có truyền thống lịch sử. Kẻ xâm lược phi nghĩa nhất định thất bại.
Bàn luận về phép học
Nguyễn
Thiếp
Nghị luận trung đại (tâu)
Học là làm người có đức có trí để làm đất nước hưng thịnh. Học phải có phương pháp. Học phải đi đôi với hành
Thuế máu
Nguyễn
Ái
Quốc
Nghị
luận
Bộ mặt giả nhân giả nghĩa, thủ đoạn tàn bạo của chính quyền thực dân Pháp trong việc sử dụng người dân thuộc địa làm bia đỡ đạn trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa
Đi bộ ngao du
Ru-xô
Nghị
luận
Tác giả cho rằng muốn ngao du cần phải đi bộ. Đi bộ ngao du cho ta biết quý trọng tự do, có tình yêu với thiên nhiên.
Ông Giuôc -đanh mặc lễ phục
Mô-li -e
Kịch
Tính cách lố lăng của một tay trưởng giả muốn học làm sang
Mời các bạn tham khảo tài liệu liên quan
Dưới đây là bài soạn Tổng kết phần văn bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 8: Tổng kết phần văn
Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 8 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 8 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Soạn bài Ngữ văn lớp 8_ Tổng kết phần văn | 680 | |
Soạn bài Nhà tài trợ đặc biệt của cách mạng
Hướng dẫn
A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
Đọc với giọng điệu của người đang kể chuyện, thong thả, nhẹ nhàng. Ngừng nghỉ đúng chỗ các dấu câu có trong bài. Nhấn giọng ở những từ ngừ thể hiện sự đóng góp về tiền của cho cách mạng qua các thời kì của ông Đỗ Đinh Thiện.
B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI
Câu 1: Kể lại những đóng góp to lớn và liên tục của ông Thiện qua các thời kì:
a) Trước cách mạng.
b) Khi cách mạng thành công.
c) Trong kháng chiến.
d) Sau hòa bình lập lại.
Trả lời: Những đóng góp to lớn và liên tục của ông Thiện cho cách mạng qua các thời kì được thể hiện như sau:
a) Trước cách mạng: Ông gửi ủng hộ quỹ Đảng 3 vạn đồng Đông Dương
b) Khi cách mạng thành công: Ông đã ủng hộ chính phủ 64 lạng vàng; ủng hộ quỹ Độc lập Trung ương 10 vạn đồng Đông Dương…
c) Trong thời kì kháng chiến chống Pháp: Ông ủng hộ cán bộ, bộ đội khu 2 hàng trăm tấn thóc.
d) Sau hòa bình lập lại (1954): Ông hiến toàn bộ đồn điền Chi Nê màu mỡ cho nhà nước.
Câu 2: Việc làm của ông Thiện thể hiện phẩm chất gì?
Trả lời: Việc làm của ông Thiện thể hiện tấm lòng yêu nước của một công dân lúc nào cũng hướng về cách mạng, hướng về Đảng, vì dân tộc, sẵn sàng hiến tặng số tài sản của mình cho cách mạng, mong muốn được đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung của cả dân tộc.
Trả lời: Qua câu chuyện về “Nhà tài trợ đặc biệt cho cách mạng”, em thấy người công dân phải biết yêu nước, có trách nhiệm với nước, đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp chung.
* Nội dung chính: Ca ngợi một công dân yêu nước, sẵn sàng đóng góp cho cách mạng tiền bạc và tài sản của mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. | Soạn bài Nhà tài trợ đặc biệt của cách mạng | 341 | |
Soạn bài Nhân vật em yêu thích
Hướng dẫn
HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Hỏi – đáp về nhân vật em yêu thích, hầm mộ, khâm phục,…
Yêu cầu: Câu trả lời phải sử dụng dấu gạch ngang để đánh dấu bộ phận chú thích.
M:
Hỏi: – Trong những truyện đã học ở lớp 5, bạn thích nhân vật nào nhất?
Đáp: – Tôi thích Giang Văn Minh – sứ thần trong truyện Trí dũng song toàn.
Hỏi: – Trong những nhà khoa học đã biết, bạn ngưỡng mộ ai nhất?
Đáp: – Tôi ngưỡng mộ Ê-đi-xơn – một cậu bé nghèo đã trở thành nhà khoa học vĩ đại, cống hiến hơn một ngàn phát minh cho loài người.
Hỏi: – Theo bạn, trong phim hoạt hình, nhân vật con vật nào láu lỉnh nhất?
Đáp: – Láu lỉnh, thông minh nhất là Thỏ – nhân vật trong phim Hãy đợi đấy!.
Gợi ý:
Hỏi: – Trong những nhân vật lịch sử của nước ta, bạn tôn sùng nhân vật nào nhất?
Đáp: – Tôi tôn sùng vị Anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuân – Người đã lãnh đạo toàn dân đánh tan quân xâm lược Mông – Nguyên.
Hỏi: – Trong những nữ anh hùng của nước ta, bạn kính phục nhân vật nào nhất?
Đáp: – Tôi kính phục và hâm mộ bà Nguyễn Thị Định – nhân vật nữ anh hùng xuất sắc trong bài “Công việc đầu tiên”.
2.Viết kí hiệu vào ô thích hợp để xác định tác dụng của dấu gạch ngang trong mỗi câu dưới đây (SGK/98)
Tác dụng của
Đánh dấu chỗ bắt đầu lời nói của nhân vật trong đối thoại
Đánh dấu phẩn chủ thích trong câu
Đánh dấu các ý trong đoạn liệt kê
a) Chú hề vội tiếp lời:
– (1) Tất nhiên rồi. Khi một con hươu mất sừng, cái sừng mới sẽ mọc ra. Sau khi đêm thay thế cho ngày, ngày lại thế chỗ của đêm.
– (2) Mặt trăng cũng như vậy, mọi thứ đều như vậy…
– (3) Giọng công chúa nhỏ dần, nhỏ dần. Nàng đã ngủ. Chú hề đắp chăn cho công chúa rồi rón rén ra khỏi phòng.
Theo PHƠ-BƠ
– (1)
– (2)
– (3)
b) Đứng ở đây, nhìn ra xa, phong cảnh thật là đẹp. Bên phải là đỉnh Ba Vì vòi vọi, nơi Mị Nương – (1) con gái vua Hùng Vương thứ 18 – (2) theo Sơn Tinh về trấn giữ núi cao.
Theo ĐOÀN MINH TUẤN
– (1)
(2)
(c) Thiếu nhi tham gia công tác xã hội:
– (1) Tham gia tuyên truyền, cổ động cho các phong trào.
– (2) Tham gia Tết trồng cây, làm vệ sinh trường lớp, xóm làng.
– Chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ; giúp đỡ người già neo đơn, người có hoàn cảnh khó khăn.
– (1)
– (2)
– (3)
3.Đọc mẩu chuyện “Cái bếp lò” và ghi tác dụng của dấu gạch ngang được sử dụng trong từng trường hợp vào bảng (SGK/99)
Gợi ý:
a) Dấu gạch ngang ở vị trí (2) và (4) trong mỗi cặp câu sau đây dùng để làm gì?
– (1) Chào bác! – (2) Em bé nói với tôi.
– (3) Cháu đi đâu vậy? – (4) Tôi hỏi em.
: đánh dấu phần chú thích.
b) Các dấu gạch ngang ở các vị trí còn lại (1), (3), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11) trong mẩu chuyện trên dùng để làm gì?
: đánh dấu chỗ bắt đầu lời nói của nhân vật trong đối thoại. | Soạn bài Nhân vật em yêu thích | 557 | |
Soạn bài nhớ rừng của Thế Lữ
Hướng dẫn
Soạn bài nhớ rừng của Thế Lữ
Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. Bài thơ chia làm 5 đoạn với nội dung mỗi đoạn:
-Đoạn 1: Cảnh ngộ bi kịch – bị tù hãm, bị biến thành thứ đồ chơi của đám người nhỏ bé mà ngạo mạn, ngang bầy với “bọn gấu dở hơi”, “cặp báo (…) vô tư lự” và tâm trạng uất hận, ngao ngán đành buông xuôi bất lực của con hổ.
-Đoạn 2 và đoạn 3: Nỗi nhớ nhung, niềm khao khát tự do mãnh liệt qua hoài niệm về cảnh núi rừng đại ngàn dữ dội, kì vĩ tương xứng với vẻ đẹp oai hùng, sức mạnh vô biên của vị chúa sơn lâm.
-Đoạn 3, ngoài nỗi nhớ, niềm khao khát tự do và sự kiêu hãnh còn có cả nỗi thất vọng, nuối tiếc với tiếng thở dài chua xót của chúa tể rừng xanh: “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”.
-Đoạn 4: Sự khinh ghét của con hổ về vẻ đơn điệu, tầm thường và giả dối củ cảnh vườn Bách thú, nơi hoàn toàn đối lập với chốn núi rừng thâm nghiêm, hùng vĩ…
-Đoạn 5: Niềm đau đớn và vô vọng của kẻ anh hùng sa cơ, đành thả hồ trong “giấc mộng ngàn to lớn” – giấc mộng về rừng thẳm, giấc mộng tự do.
Câu 2. Bài thơ có sự tương phản gay gắt giữa cảnh vườn bách thú, noi con hổ bị nhốt (đoạn 1 và đoạn 4) với cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những ngày xưa (đoạn 2 và đoạn 3).
a.Cảnh nơi vườn bách thú tù tung (cũi sắt), nhàm tẻ (những cảnh “không đời nào thay đổi”, nhân tạo (chứ không phải là thế giới của tự nhiên), đều do bàn tay sửa sang, tỉa tót của con người và hết sức tầm thường giả dối, “học đòi, bắt chước” đại ngàn hoang vu.
Đối laoaj với cảnh vườn Bách thú tầm thường là cảnh núi rừng oai linh, hùng vĩ với vẻ thâm nghiêm bóng cả cây già chứa đựng nhiều bí ấn: “hang tối”, “thaoe hoa không tên tuổi”, “rừng sâu bí mật”, với những âm thanh dữ dội, man dại, “gió gào ngàn”, “nguồn hút núi”. Cảnh vật không chỉ oai hùng, linh nghiêm mà còn rực rỡ vô cùng, “những đêm vàng bên bờ suối”, “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn”, “những bình minh nắng gọi”, “những chiều lênh láng máu sau rừng”, tươi vui vô cùng: “tiếng chim ca giấc nhủ ta tưng bừng”.
-Ở đây, tác giả đã sử dụng những động từ, tính từ mạnh để dựng nên sự kì vĩ của núi rừng cũng như tư thế uy nghi của con mãnh thú: tung hoành, hóng hách, gào, thét, hút, dữ dội, dõng dạc, cuộn, quắc. Cộng thêm là cách dùng đại từ xưng hô “Ta” đầy quyền uy và kiêu hãnh, góp phần tôn xưng tư thế vị chúa sơn lâm.
-Hình ảnh phong phú, gợi cảm, đặc biệt giàu chất tạo hình.
Giữa cảnh núi rừng kì vĩ hiện lên (hình ảnh) oai linh của chúa sơn lâm. Trước khi để con hổ xuất hiện, tác giả dựng lên một không gian rộng lớn, một không khí oai hùng kinh sợ. Khi rừng xanh “thét gào khúc trường ca dữ dội, chúa sơn lâm xuất hiện. Trước hết là bàn chân, một bước chân dõng dạc đường hoàng và sau đó mới là tấm thân với chiều dài uốn lượn của tấm lưng “lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng vờn bóng âm thầm lá gai, cỏ sắc” rất uyển chuyển, mềm mại – một vẻ đẹp của sự “tích trữ sức mạnh” (Vũ Quốc Phương).
Cuối cùng, tác giả tập trung thể hiện ánh mắt “mắt thần khi đã quắc là khiến mọi vật đều im hơi”. Cách chọn lựa các chi tiết đã giúp tác giả thể hiện được vẻ đẹp vừa dũng mãnh vừa mềm mại của chúa sơn lâm. Nếu đoạn 2, Thế Lữ tập trung thể hiện các chi tiết lấy từ sinh hoạt của ác thú, từ đó, người đọc cảm nhận đầy đủ vẻ đẹp và sức mạnh của chúa rừng xanh. Có bốn cảnh như một bộ tứ bình những nét đậm rõ, những mảng màu lớn đậm: đêm trăng, ngày mưa, sáng xanh chiều đỏ. Đối diện với bốn khung cảnh của thiên nhiên vũ trụ, con hổ đều ở thế ngự với những tư thế chủ động. Có khi là thi sĩ mơ màng “đứng uống ánh trăng tan”, khi là nhà hiền triết “lặng ngắm giang sơn”, khi thành bậc đế vương có “chim ca” hầu “giấc ngủ”, khi lại là bạo chúa làm chủ bóng tối.
Ở đoạn 3, sức mạnh của con mãnh thú không còn giới hạn chỉ trong xứ sở của mình mà mở ra phạm vi vũ trụ. Tập trung khắc họa uy quyền của vị chúa tể rừng xanh, vũ trụ là hình ảnh:
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật
Hình ảnh rực rỡ và dễ sợ trong gam màu đỏ của máu lênh láng. Nhưng đây không phải màu của con thú rừng xấu số nào đó mà của mặt trời trong giây phút hấp hối. Ánh tà dương lúc mặt trời sắp tắt qua cảm nhận của con mãnh thú chính là sắc màu lênh láng đó. Nếu từ “chết” biến mặt trời thành một sinh thể đang hấp hối sau một cuộc đọ sức ghê gớm thì từ “mảnh” đã nâng cao vị thế của chúa sơn lâm. Dưới con mắt của nó, mặt trời cũng chỉ là “mảnh” mà thôi, thật nhỏ bé và thảm hại! Bàn chân ngạo nghễ của con thú như đã dậm đạp lên cả bầu trời và cái bóng của nó như bao trùm cả vũ trụ. Thế Lữ, với hình ảnh này, đã nâng con mahx thú này lên tầm vóc vũ trụ với bút pháp cường điệu.
-Giọng điệu rất phong phú: khi hào hùng sôi nổi mà đĩnh đạc (Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa… Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi), khi than thở nuối tiếc mà xót xa, mà chất vấn. Giọng điệu đó hù hợp tâm trạng con hổ từ đỉnh cao huy hoàng của sự hồi tưởng, hổ sực tỉnh cảnh ngộ tù hãm.
c.Với việc tạo dựng hai cảnh tưởng đối lập như đã nêu trên, Thế Lữ đã thể hiện thành công tâm sự con hổ ở vườn Bách thú. Đó là nỗi bất hòa, chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm khao khát tự do mãnh liệt.
Trước hết đây là tâm trạng của nhân vật lãng mạn: khát khao vươn tới cái cao cả phi thường, không chấp nhận cái tầm thường, vô nghĩa. Khao khát ấy là một cách thức khẳng định cái “tôi”, khẳng định cá tính. Với khát khao đó, con người lãng mạn mang tâm trạng bất hòa với thực tại, bởi thực tại chỉ là tầm thường bó buộc, giam hãm, đối lập với ước mơ, sự tự do, cái cao cả.
Câu 3. Với hình ảnh con hổ, tác giả đã có một biểu tượng rất thích hợp và vẻ đẹp để thể hiện chủ đề bài thơ.
Con hổ có một vẻ đẹp oai hùng, lại được coi là chúa sơn lâm, huy hoàng đầy hống hách ở chốn đại ngàn sâu thẳm, trong vũ trụ rộng lớn, hay bị giam hãm trong cũi sắt là biểu tượng rất đắt về anh hùng chiến bại mang tâm sự u uất. U uất vì tù túng, mà phải chấp nhận cái tẻ nhạt, tầm thường. Cảnh rừng khoáng đạt, hùng vĩ – giang sơn của chúa sơn lâm – là biểu tượng của thế giới rộng lớn, tự do và cao cả. Với hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng đó, nhà thơ rất thuận lợi trong việc nói lên tâm sự và cảm hứng lãng mạn của mình.
Câu 4. Dàn ý sơ lược.
a.Giải thích ý kiến:
-Hoài Thanh đề cập đến nội dung cảm xúc mãnh liệt tương ứng với một hình thức thể hiện khoáng đạt, linh hoạt.
-Từ đó, ông đánh giá tài ghệ của Thế Lữu trong việc “điều khiển đội quân Việt ngữ”.
b.Chững minh ý kiến của Hoài Thanh: ý kiến đó được thể hiện rõ ở những khía cạnh:
-Cảm xúc phong phú, mãnh liệt.
-Sự mãng liệt của cảm xúc thể hiện qua:
+ Giọng thơ sôi nổi, da diết và hùng tráng với nhịp điệu linh hoạt.
+ Mạch thơ cuồn cuộn, dạt dào.
+ Hình ảnh thơ rực rỡ giàu tính tạo hình, biểu cảm với những so sánh và ẩn dụ táo bạo.
Từ ngữ phong phú được sử dụng rất ấn tượng, đắc địa.
Tóm lại, “Nhớ rừng” là một “khúc trường ca dữ dội” thể hiện tâm trạng vĩ đại của chúa sơn lâm đồng thời là một tác phẩm hội họa hoành tráng, kì vĩ làm hẳn lên mặt bằng câu chữ hình tượng vị “chúa tể cả muôn loài”. | Soạn bài nhớ rừng của Thế Lữ | 1,531 | |
Nhớ Rừng của tác giả Thế Lữ à một bài thơ hay và vô cùng độc đáo. Nằm trong khung chương trình học lớp 8 cũng đã gợi nhắc về một thời quá khứ vàng son của lịch sử dân tộc. Lấy hình tượng của chúa sơn lâm để nói về tình cảnh của những người dân mất nước chắc chắn sẽ mang lại một bài học vô cùng lý thú cho các emm. Hãy cùng theo dõi nhé!
Soạn bài Nhớ Rừng của tác giả Thế Lữ
Bài làm
Câu 1: Bài thơ được tác giả ngắt thành 5 đoạn, hãy cho biết nội dung mỗi đoạn.
Xét trong bài thơ chia làm 5 đoạn với nội dung mỗi đoạn như sau:
– Đoạn 1 và đoạn 4: Tác giả Thế Lữ cũng đã nói lên niềm uất hận của con hổ khi bị làm một thứ đồ chơi ngang với lũ gấu dở hơi. Hơn nữa đó cũng chính là cảnh tầm thường, tù túng có một sự nhân tạo giả dối ở vườn bách thú.
– Đoạn 2 và 3: Trong hai đoạn này chính là sự hồi tưởng cảnh tượng tự do, phóng khoáng nơi núi rừng thời oanh liệt của con hổ.
– Đoạn 5: Một sự hoài niệm nơi núi rừng khi xưa với giấc mộng đại ngàn xưa.
Câu 2: Trong bài thơ có hai cảnh được miêu tả đầy ấn tượng: cảnh vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt (đoạn 1 và đoạn 4) ; cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những “ngày xưa” (đoạn 2 và đoạn 3).
a) Hãy phân tích từng cảnh tượng.
b) Nhận xét việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu các câu thơ trong đoạn 2 và đoạn 3. Phân tích để làm rỏ cái hay của hai đoạn thơ này.
c) Qua sự đối lập sâu sác giữa hai cánh tượng nêu trên, tâm sự con hổ ở vườn bách thú được biểu hiện như thế nào? Tâm sự ấy có gì gần gũi với tâm sự người dân Việt Nam đương thời?
a,
– Chính cảnh tượng ở vườn bách thú là cảnh tượng rất tù túng luôn ngột ngạt.
+ Đoạn 4: Tác giả Thế Lữ cũng đã thể hiện được một cảnh tượng vườn bách thútrong mắt con hổ rất đáng khinh. Tất cả ở đây chính là một cảnh nhân tạo, giả dối, thấp kém luôn luôn học đòi, không có chút gì mang dáng dấp của rừng núi hoang sơ và địa ngàn cả. Thông qua đây cũng đã thể hiện được những thái độ ngao ngán, chán ghét cao độ với xã hội đương thời xưa.
– Cảnh núi rừng đại ngàn vô cùng hùng vĩ – nơi con hổ ngự trị ngày xưa
+ Đoạn 2+3: Thông qua những sự miêu tả cảnh núi rừng đại ngàn, ở đó cái gì cũng lớn lao, cao cả và vô cùng phi thường. Nơi bóng cả, cây già và lại còn gió gào ngàn và nguồn hét núi. Hình ảnh của chúa sơn lâm có vẻ đẹp vừa tinh tế đã vậy lại cũng vừa mang được một vẻ dũng mãnh, uy nghi thế nhưng lại không kém phần mềm mại uyển chuyển chút nào cả.
b. Cảnh núi rừng có ý nghĩa:
– Có lẽ rằng cũng chính cảnh núi rừng hùng vĩ với những bóng cả cây già dường như đã thể hiện được một vẻ thâm nghiêm.
– Cảnh núi rừng cũng vô cùng hùng tráng với âm thanh dữ dội có cả tiếng gió gài ngàn với cả giọng nguồn hét núi nữa.
– Tiếp đến chính sự hoang dã của chốn thảo hoang ngàn năm không tên không tuổi.
>>> Thông qua đây ta nhận thấy được chính những từ ngữ chọn lọc, phong phú dường như cũng đã gợi tả, diễn tả được một cảnh đại ngàn hùng vĩ, lớn lao mang được một sự mạnh mẽ phi thường bí ẩn linh thiêng giang sơn của con hổ.
c) Ta có thể cảm nhận thấy được có một sự tương phản, đối lập dường như vô cùng gay gắt giữa cảnh tượng vườn bách thú với cảnh núi rừng hùng vĩ xưa kia. Và một nỗi nhớ như da diết, đau đớn của con hổ chính với quá khứ huy hoàng của nó.
>>> Từ hình ảnh con hổ ta nhận thấy được tâm sự của con hổ là tâm trạng của người dân Việt Nam khi mất nước đang sống trong cảnh lầm than, nô lệ. Những người dân luôn tiếc nhớ khôn nguôi thời oanh liệt của mình với biết bao nhiêu những chiến công chống giặc ngoại xâm hào hùng trong lịch sử dân tộc.
Soạn bài Nhớ Rừng
Câu 3: Căn cứ vào nội dung bài thơ, hãy giải thích vì sao tác giả mượn “lời con hổ ở vườn bách thú”. Việc mượn lời đó có tác dụng thế nào trong việc thê hiện nội dung cảm xúc của nhà thơ?
Cũng chính với hình ảnh con hổ, tác giả Thế Lữ cũng đã có một biểu tượng rất thích hợp và vẻ đẹp để thể hiện chủ đề bài thơ. Hình ảnh của con hổ cũng lại có một vẻ đẹp oai hùng, đồng thời cũng lại được coi là chúa sơn lâm, huy hoàng đầy hống hách ở chốn đại ngàn sâu thẳm. Thế rồi cũng chính trong vũ trụ rộng lớn, hay bị giam hãm trong cũi sắt đó được hiểu như chính là một biểu tượng rất đắt về anh hùng chiến bại mang tâm sự u uất đến tột độ. Tâm trạng như u uất vì tù túng, mà cũng đành phải chấp nhận cái tẻ nhạt, chấp nhận những sự tầm thường. Tác giả Thế Lữ cũng đã miêu tả được cảnh rừng khoáng đạt, hùng vĩ – giang sơn của một chúa sơn lâm đồng thời cũng chính là biểu tượng của thế giới rộng lớn, một thế giới tự do và cao cả. Thực sự Thế Lữ cũng thật tài tình biết bao nhiêu khi ông cũng có thể miêu tả hình ảnh lại có ý nghĩa biểu tượng đó, nhà thơ thật tinh tế khi ông cũng đã dựa vào hình ảnh biểu tượng này cũng rất thuận lợi trong việc nói lên tâm sự và cảm hứng lãng mạn của chính mình.
Nhà phê bình Hoài Thanh cũng đã ca ngợi Thế Lữ giống như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được. Thế rồi cũng chính điều này nói lên nghệ thuật sử dụng từ điêu luyện, luôn lại đạt đến độ chính xác cao nhất
– Chỉ xét riêng về những âm thanh núi rừng Thế Lữ cũng đã cho ta nghe thấy tiếng gió gào ngàn và cũng lại có giọng nguồn hét núi. Đó đồng thời là một tiếng thét khúc trường ca dữ dội của đại ngàn.
– Cũng chính phần điệp ngữ tạo ra sự tiếc nuối (đó là những câu nào đâu, đâu những, …)
– Câu thơ dường như cũng thật nhịp nhàng, luôn luôn cân đối khi miêu tả dáng điệu hùng dũng, mềm mại của con hổ – chúa sơn lâm.
“Nhớ rừng” chính là một trong những sáng tác hay và ấn tượng, hãy soạn bài đầy đủ để có được một buổi học hoàn hảo nhất cùng với giải Văn nhé!
Chúc các em học tốt!
Minh Nguyệt
Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm:
Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8
Soạn bài Bàn về đọc sách | Soạn bài Nhớ Rừng của tác giả Thế Lữ | 1,266 | |
Soạn bài Nhớ ơn thầy cô
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Quan sát bức tranh sau và trả lời câu hỏi (SGK/129)
Những người trong tranh là ai? Họ đang làm gì?
Gợi ý:
Những người trong tranh là những người thầy và các học trò thời xưa. Họ đến thăm thầy cũ và mừng thọ cho thầy.
2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Nghĩa thầy trò” (SGK/130)
5. Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1)Các môn sinh học của giáo Chu đến nhà thầy để làm gì?
2)Ghi lại những chi tiết cho thấy:
-Các học trò tôn kính cụ giáo Chu.
-Cụ giáo Chu tôn kính thầy cũ của mình.
3)Những thành ngữ, tục ngữ nào dưới dây nói lên bài học mà các môn sinh nhận được trong ngày mừng thọ cụ giáo Chu?
a) Tiên học lễ, hậu học văn
b) Uống nước nhớ nguồn
c)Tôn sư trọng đạo
d)Nhất tự vi sư, bán tự vi sư (Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy).
Gợi ý:
1) Các môn sinh của cụ giáo Chu đến nhà thầy để mừng thọ cho thầy, thế hiện lòng kính trọng và sự biết ơn thầy đã dạy dỗ họ nên người.
2) – Các môn sinh tề tựu trước sân nhà cụ giáo Chu từ sáng sớm, dâng biếu thầy những cuốn sách quý, khi thầy bảo theo thầy tới thăm một người mà thầy mang nặng ơn thì các môn sinh đồng dạ ran và đi sau thầy theo thứ tự từ lớn đến nhỏ.
3) a, b, c, d.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Dựa vào nghĩa của tiếng truyền, xếp các từ sau thành 3 nhóm: truyền thống, truyền bá, truyền nghề, truyền tin, truyền máu, truyền hình, truyền nhiễm, truyền ngôi, truyền tụng.
a)Truyền có nghĩa là trao lại cho người khác (thường thuộc thế hệ sau)
b)Truyền có nghĩa là lan rộng hoặc làm lan rộng ra cho nhiều người biết.
c)Truyền có nghĩa là nhập vào hoặc đưa vào cơ thể người.
Gợi ý:
a)truyền thống, truyền nghề, truyền ngôi
b)truyền bá, truyền tin, truyền hình, truyền tụng
c)truyền máu, truyền nhiễm
2.Tìm và ghi vào vở những từ ngữ chỉ người và sự vật gợi nhớ lịch sử và truyền thống dân tộc có trong đoạn văn sau (SGK/132).
Gợi ý:
– Chỉ người: các vua Hùng, cậu bé làng Gióng, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản.
–Chỉ sự vật: nắm tro bếp, mũi tên đồng cố Loa, con dao cắt rôn bằng đá, Vườn Cà bên sông Hồng, thanh gươm giữ thành Hà Nội, chiếc hốt đại thần.
3.Tìm các tên riêng trong bài sau và cho biết các tên riêng đó được viết hoa như thế nào (SGK/133).
Gợi ý:
Chi-ca-gô, Mĩ, Niu Y-oóc, Ban-ti-mo, Pít-sbơ-nơ. Ngoài tên riêng Mĩ được viết theo âm Hán Việt, các tên riêng khác viết hoa chữ cái đầu mồi bộ phận của tên. Giữa các tiêng trong mỗi bộ phận của tên được ngăn cách bằng dấu gạch nối.
1.Kể cho người thân nghe một kỉ niệm của em về cô giáo / thầy giáo cũ.
Gợi ý:
Em rất nhớ hình ảnh cô giáo dạy em năm học lớp Một.
Cô rất hiền và đẹp như cô tiên trong truyện cổ tích. Buổi đầu đến lớp, em thật bở ngỡ và rất lo lắng. Cô đã đến cạnh em, vỗ về và động viên em. Em cảm thấy cô rất thân thiện, dễ gần gũi. Từ đấy, em học rất tốt với những lời khen ngợi của cô. | Soạn bài Nhớ ơn thầy cô | 560 | |
Soạn bài Những bài ca lao động
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Quan sát tranh và trả lời câu hỏi (SGK/125)
-Bức tranh vẽ ai? Người đó đang làm gì?
-Em biết những câu thơ, thành ngữ, tục ngữ nào nói về sự lao động vất vả của người nông dân?
Gợi ý:
Bức tranh vẽ người nông dân. Người đó đang cày ruộng.
– Cày sâu cuổc bẫm.
Một nắng hai sương.
2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Ca dao về lao động sản xuất” (SGK/126).
4. Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1)Những hình ảnh nào nói lên nỗi vất vả, lo lắng của người nông dân trong lao động sản xuất?
Gợi ý:
-Nỗi vất vả (đọc bài 1).
-Sự lo lắng (đọc bài 3).
2)Những câu nào thể hiện tinh thần lạc quan của người nông dân? (Đọc bài 2).
3) Tìm những câu ở cột A phù hợp với từng nội dung ở cột B.
Gợi ý:
1) – Nỗi vất vả: cày đồng buổi ban trưa, mồ hôi thánh thót như mưa, đắng cay muôn phần.
-Sự lo lắng: trông nhiều bề: trời, đất, mây, mưa, nắng, ngày, đêm. Trông chân cứng đá mềm, trời yên, biển lặng.
2)Những câu thể hiện tinh thần lạc quan: “Công lênh… cơm vàng”.
3)a – 3; b – 1; c – 2.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Chuẩn bị kể cho các bạn nghe một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc nói về những người biết sống đẹp, biết đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người khác.
Tham khảo Truyện đọc lớp 5.
3.Điền các thông tin của em để hoàn thành đơn xin học theo mẫu dưới đây (SGK/129).
Gợi ý:
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Quận 10, ngày 01 tháng 08 năm 2016
ĐƠN XIN HỌC
Kính gửi Thầy (Cô) Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Diên Hồng.
Em tên là: Lê Thành Nam
Nam, nữ: Nam
Sinh ngày: 12 – 9 – 2005
Tại: Quận 10
Quê quán: Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ trường trú: 234/7/5 Thành Thái, Phường 14, Quận 10.
Đã hoàn thành chương trình Tiểu học Tại Trường Tiểu học: Lê Đình Chinh
Em làm đơn này xin đề nghị Trường Trung học cơ sở Diên Hồng xét cho em được vào học lớp 6 của Trường.
Em xin hứa thực hiện nghiêm chỉnh nội quy của Nhà trường, phấn đấu học tập và rèn luyện tốt.
Em xin trân trọng cảm ơn.
Ý kiến của cha mẹ học sinh Người làm đơn
Kí tênKí tên
5. Dựa vào mẫu đơn trên, hãy viết đơn gửi Ban Giám hiệu xin được tham gia một trong các hoạt động sau:
-Học một môn học tự chọn (Tiếng Dân tộc, Tiêng Anh, Tin học,…).
-Tham gia các hoạt động năng khiếu (hát, múa, thể dục,…).
Gợi ý
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Quận 5, ngày 06 tháng 09 năm 2016
Kính gửi Ban giám hiệu trường Tiểu học Hoà Bình
Em tên là: Lê Thuý Vy
Sinh ngày: 25 – 3 – 2006
Tại: Long An
Quê quán: Bến Tre
Địa chỉ thường trú: 159/265 Phó Cơ Điều. Phường 6. Quận 11.
Học sinh lớp 5/2 trường Tiểu học Hoà Bình.
Em làm đơn này kính xin Ban giám hiệu nhà trường xét cho em được học môn tự chọn Tiếng Anh.
Em xin hứa thực hiện nghiêm chỉnh nội quy của lớp học, thực hiện tốt các yêu cầu của lớp học.
Em xin chân thành cảm ơn.
Ý kiến của cha mẹ học sinh Người làm đơn
Kính xin Ban giám hiệu xem xét Kí tên
giải quyết cho cháu Vy được học môn tự chọn Tiếng Anh. | Soạn bài Những bài ca lao động | 584 | |
Soạn bài Những con số nói gì?
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Nhận xét về báo cáo thống kê.
a)Đọc lại bài Nghìn năm văn hiến.
b)Nhắc lại các số liệu thống kê trong bài về:
-Số khoa thi, số tiến sĩ của nước ta từ năm 1075 đến năm 1919.
-Số khoa thi, số tiến sĩ và số trạng nguyên của từng triều đại.
-Số bia và số tiến sĩ có tên khắc trên bia còn lại đến ngày nay.
c)Các số liệu thông kê trên được trình bày dưới hình thức nào?
d)Các số liệu thông kê nói trên có tác dụng gì?
Gợi ý:
b) – Từ năm 1075 đến năm 1919 có 185 khoa thi, 2896 tiến sĩ.
-• Triều Lý: 6 khoa thi, 11 tiến sĩ.
• Triều Trần: 14 khoa thi, 51 tiến sĩ, 9 trạng nguyên.
•Triều Hồ: 2 khoa thi, 12 tiến sĩ.
•Triều Lê: 104 khoa thi, 1780 tiến sĩ, 27 trạng nguyên.
•Triều Mạc: 21 khoa thi, 484 tiến sĩ, 11 trạng nguyên.
• Triều Nguyễn: 38 khoa thi, 558 tiến sĩ.
-Ngày nay còn 82 tấm bia khắc tên 1306 tiến sĩ.
c)Các số liệu thống kê được trình bày dưới nêu số liệu và trình bày bảng số liệu.
d)Các số liệu thông kê có tác dụng giúp người đọc dễ nắm được thông tin, có sự so sánh chính xác và là bằng chứng hùng hồn, giàu sức thuyết phục, khẳng định dân tộc Việt Nam có truyền thông văn hoá từ lâu đời.
Gợi ý:
Tổ
Số học sinh
Học sinh nữ
Học sinh nam
Học sinh xuất sắc
Tổ 1
6
1
5
2
Tổ 2
6
6
4
Tổ 3
6
6
2
Tổ 4
6
6
3
Tổ 5
6
6
2
Tổ 6
6
1
5
2
Tổng số học
36
14
22
15
sinh trong lớp
3.Tìm và ghi vào vở những từ đồng nghĩa trong đoạn văn sau:
Chúng tôi kể chuyện về mẹ của mình. Bạn Hùng quê Nam Bộ gọi mẹ bằng má. Bạn Hoà gọi mẹ bằng u. Bạn Na, bạn Thắng gọi mẹ là bu. Bạn Thành quê Phú Thọ gọi mẹ là bầm. Còn bạn Phước người Huế lại gọi mẹ là mạ.
Gợi ý:
Những từ đồng nghĩa: mẹ, má, u, bu, bầm, mạ.
4.Trò chơi: Thi xếp nhanh các từ đã cho vào ba nhóm từ đồng nghĩa.
Cách chơi:
-Từng bạn trong nhóm lấy lần lượt một trong các thẻ từ: bao la, lung linh, vắng vẻ, hiu quạnh, long lanh, lóng lánh, mènh mông, vắng teo, vắng ngắt, bát ngát, lấp loáng, lấp lánh, hiu hắt, thênh thang.
-Thi xếp nhanh thẻ từ vào trong ba nhóm đồng nghĩa.
Gợi ý:
Nhóm 1
Từ ngữ chỉ khoảng không gian rộng
Nhóm 2
Từ ngữ chỉ sự vắng vẻ
Nhóm 3
Từ ngữ chỉ sự phản chiếu của ánh sáng
bao la, mênh mông,
bát ngát, thênh thang
vắng vẻ, hiu quạnh, vắng teo,
vắng ngắt, hiu hắt.
lung linh, long lanh,
lóng lánh, lấp loáng, lấp lánh.
5.Viết một đoạn văn tả cảnh (khoảng 5 câu), trong đó có dùng một số từ đã nêu ở hoạt động 4.
Gợi ý:
Con đường đất đỏ dẫn vào làng rộng thênh thang. Những cánh đồng sau vụ mùa chỉ còn trơ gốc rạ. Con rạch đầy ắp nước lóng lánh ánh nắng mai. Trong khóm khoai nước ven con rạch, dăn ba phiến lá to phô bày những giọt sương sớm long lanh như những viên ngọc. Khoảng trời hao la và trong vắt.
B. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
Tìm những từ đồng nghĩa gọi tên những đồ vật, con vật, cây cối xung quanh em.
M: – bóng – banh
-(con) ngan – vịt xiêm
-(cây) roi – mận
Gợi ý
– Đồ vật: muỗng – thìa, bút — viết, tập — vở.
-Con vật: cọp – hổ, cá quả – cá lóc, cún – chó con.
-Cây côi: vải – lệ chi, ngô – bắp, nha đam – lô hội. | Soạn bài Những con số nói gì_ | 590 | |
Trong những câu ca dao, tục ngữ của nhân dân ta luôn luôn phản ánh tất cả những khía cạnh trong cuộc sống từ kinh nghiệm, vốn sống, cách học làm người, sự phê phán,… Mỗi câu hát luôn ẩn chứa những bài học sâu sắc. Những câu hát châm biếm chính là một bài nằm trong khung chương trình học lớp 7. Bài học cũng có rất nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ cho nên muốn học tốt bài thì chúng ta phải soạn bài thật kỹ. Đừng bỏ qua bài soạn mà Giải văn mang đến cho các bạn hôm nay nhé!
Soạn bài Những câu hát châm biếm
Bài làm
Bài 1: Sự “giới thiệu” về “chú tôi” như thế nào? Ngay ở trong hai dòng đầu có ý nghĩa gì? Bài này châm biếm hạng người nào ở trong xã hội?
– “Hay tửu hay tăm”: Nói về thói nghiện rượu.
– “Hay nước chè đặc”: Nói về thói nghiện chè đậm.
– “Hay nằm ngủ trưa” còn về ban ngày thì ước có được những ngày mưa, thế rồi vào ban đêm thì lại luôn ao ước có những “đêm thừa trống canh”’ và thói nghiện ngủ.
Thông qua đây ta nhận thấy được hình ảnh “chú tôi” ở đây như là một gười vô cùng nhiều tật như rượu chè và lại còn lười biếng nữa. Kho giới thiệu về việc nhân duyên thì người ta luôn nói những điều tốt đẹp thế nhưng trong câu hát lại ngược lại hoàn toàn đó là cách nói ngược để châm biếm.
Chúng ta có thể nhận thấy được ở đây cũng chính với hai dòng đầu của bài ca vừa để bắt vần, đồng thời như cũng lại vừa để chuẩn bị cho việc giới thiệu nhân vật. Có thể nói đây cũng chính là hiện tượng thường gặp trong các bài ca dao xưa.
>>> Tóm lại thì đây chính là bài mà phê phán, châm biếm được những hạng người lười biếng trong xã hội.
Bài 2: Nhai lại lời của ai nói với ai? Em có nhận xét gì về lời của thầy bói? Bài ca này phê phán hiện tượng nào trong xã hội? Hãy tìm những bài ca dao khác có nội dung tương tự để làm rõ hơn.
Có thể nhận thấy được ở đây cũng chính là lời của thầy bói là kiểu nói nước đôi, luôn luôn nói những chuyện hiển nhiên. Thế nhưng, chúng ta cũng đều nhận thấy rằng thầy bói lại luôn dùng cái trò ấu trĩ để hòng lừa gạt những người nhẹ dạ cả tin. Không chỉ dừng lại ở đó thì bài ca cũng đã dùng chính lời của thầy bói để nói ra bản chất của thầy bói là gì. Tác giả cũng đã sử dụng nghệ thuật gậy ông đập lưng ông để gây cười và châm biếm sâu sắc.
Tìm bài ca dao có nội dung tương tự như bài ca dao trên:
Chập chập thôi lại cheng cheng,
Con gà trống thiến để riêng cho thầy.
Đơm xôi thì đơm cho đầy
Đơm vơi thì thánh nhà thầy mất thiêng!
Câu 3: Mỗi con vật trong bài 3 tượng trưng cho ai, hạng người nào trong xã hội xưa? Việc chọn các con vật để miêu tả, “đóng vai” như thế lí thú ở điểm nào? Cảnh tượng trong bài có phù hợp với đám tang không? Bài cao dao này phê phán, châm biếm cái gì?
Chúng ta nhận thấy được rằng cũng chính mỗi con vật trong bài 3 là tượng trưng cho một loại người, chứng minh cho một hạng người. Có thể thấy được hình ảnh con cò tượng trưng cho người nông dân, tượng trưng cho hạng người dân thường, người nghèo ở làng xã. Còn con Cà cuống tượng trưng cho những kẻ tai to mặt lớn được hiểu đó chính như xã trưởng, lí trưởng và đây cũng chính là hạng người lợi dụng quyền thế, luôn luôn lợi dụng cơ hội để có miếng ăn. Còn hình ảnh chim ri, chào mào lại là hình ảnh như tượng trưng cho loại người giông như cai lệ giống như lính lệ trong làng. Qủa thực đây còn được biết đến là loại người có tý quyền lực nhưng lại thừa cơ ăn theo.
Có thể nói chính việc chọn các con vật để miêu tả hay để có thể “đóng vai” như thế thật là lí thú biết bao nhiêu. Nguyên do cũng chính là vì các con vật là hình ảnh sinh động của đủ loại, cũng lại đã đủ những hạng người trong một đám tang. Chúng ta cũng nhận thấy được những người bị nạn đến người lợi dụng tai nạn người khác để chè chén kiếm phần thiệt hơn. Thông qua đó chúng ta cũng thấy được nội dung bài ca dao trở nên châm biếm, như cũng đã phê phán sâu sắc hơn.
Chính cảnh tượng trong bài cũng hoàn toàn không phù hợp với một đám tang một chút nào cả. Thông qua đó ta nhận ra được cái chết thương tâm và một cái chết như cũng thật tang tóc của gia đình con cò lúc này đây cũng đã lại trở thành dịp ăn nhậu và như lao xao chia phần một cách vô tội vạ.
>>> Nói tóm lại ta nhận thấy được bài ca này phê phán, cũng như đã châm biếm hủ tục ma chay trong xã hội xưa cũ. Cho đến nay hủ tục này vẫn còn đó.
Soạn bài Những câu hát châm biếm Ngữ văn 7
Câu 4: Trong bài 4, chân dung “cậu cai” được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về nghệ thuật châm biến của bài ca dao này?
Chúng ta có thể nhận thấy được chính trong bài 4 chân dung “cậu cai” luôn luôn được miêu tả với những nét chính đó là:
– Đầu thì đội “nón dấu đuôi gà”: Thông qua chi tiết này chứng tỏ cậu cai là lính và cũng chứng tỏ đây cũng là người có “quyền hành”, địa vị trong xã hội.
– Với hình ảnh “Ngón tay đeo nhẫn”: Thông qua chi tiết này thì cho thấy cậu cai có vẻ cố làm thêm ra dáng giàu sang nữa.
– Thế nhưng thật bất ngờ biết bao nhiêu khi áo quần của cậu thì phải “đi mượn”, “đi thuê” thật là buồn cười. Một con người quyền hành như cậu Cai mà phải đi thuê quần áo và thông qua đây nói lên sự khoe khoang, luôn luôn cố làm ra vẻ bên ngoài để có thể dọa, lòe bịp những người khác mà thôi.
– Tác giả dân gian cũng đã gọi anh cai lệ là “cậu cai” điều này dường như cũng vừa như để lấy lòng, vừa đồng thời cũng như xếp anh vào hạng trai lơ để mỉa mai kín đáo nhất.
– Có thể nhận thấy được cũng chính cách định nghĩa về cậu cai ở hai dòng đầu, tác giả dân gian lúc này đây dường như bĩu môi mà nói rằng khi đội nón lên rồi đeo nhẫn vào là thành cậu cai, chứ cai là cái thứ gì chứ.
– Câu nói “Ba năm được một chuyến sai” chính là từ cũng được dùng nghệ thuật phóng đại thật tài tình. Thông qua đây thì cũng có ý nói chẳng mấy khi cậu cai mới được một “chuyến sai”. Cũng vì thế mà chẳng mấy khi cho nên áo quần quan cũng có mấy lần mặc cũng chẳng cần phải chuẩn bị làm gì nữa. Lý do vậy cho nên đi thuê, đi mượn.
Những câu hát châm biếm chắc chắn sẽ là một bài học lý thú, tạo được tiếng cười cho mỗi người học sinh. Và đặc biệt nếu được soạn bài cẩn thận thì đây hoàn toàn có thể là một buổi học thành công. Trên đây Giải văn cũng mang đến cho chúng ta được kiến thức bổ ích, dễ học, dễ nhớ của bài.
Chúc các em có một giờ học vui vẻ!
Minh Nguyệt
Các em có thể tham khảo một số bài soạn liên quan đến chương trình Ngữ văn 7 dưới đây:
Soạn bài tục ngữ về con người và xã hội
Soạn bài cảnh khuya
Soạn bài tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Soạn bài những câu hát than thân
Soạn bài những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người | Soạn bài Những câu hát châm biếm Ngữ văn 7 | 1,405 | |
Những câu hát châm biếm là một trong bài học thú vị trong chương trình Ngữ văn 7. Trong kho tàng ca dao tục ngữ của nhân dân ta có biết bao nhiêu câu ca dao hay về lao động sản xuất, câu hát về cơ ngợi tình yêu quê hương đất nước. Và một trong số đó có các câu ca dao, tục ngữ châm biếm cũng thật đặc sắc. Để học tốt bài Những câu hát châm biếm thì chúng ta hãy đến ngay với bài soạn dưới đây nhé!
Soạn bài Những câu hát châm biếm
Bài làm
Hướng dẫn soạn bài
Câu 1 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) “giới thiệu” về “chú tôi” như thế nào? Hai dòng đầu có ý nghĩa gì? Bài này châm biếm hạng người nào trong xã hội?
– “Giới thiệu” về chinh bức chân dung của “chú tôi” luôn luôn có nét biếm họa giễu cợt, mỉa mai:
+ Hay tử hay tăm: Ý muốn nói nghiện ngập, nát rượu
+ Hay nước chè đặc: nói về sự nghiện chè
+ Hay nằm ngủ trưa, ước ngày mưa, ước đêm thừa trống canh: Chỉ sự lười biếng, không muốn làm việc
– Dùng chữ “hay” (giỏi) và thêm vào đó cũng chính là lối nói ngược để châm biếm thói hư tật xấu của tên “chú tôi”
>>> Hình ảnh con người lắm tật xấu, lười biếng
Người ta nhận thấy được chính nhân vật đối lập với “chú tôi” là cô yếm đào:
+ Người con gái đẹp và vô cùng trẻ trung
+ Cần cù chăm chỉ (lặn lội bờ ao)
>>> Thông qua đây ta nhận thấy được hình ảnh đối lập càng có giá trị châm biếm những kẻ lười lao động, ăn chơi và suốt ngày nát rượu
Câu 2 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) Nhại lại lời của ai nói với ai? Em có nhận xét gì về lời của thầy bói? Bài ca này phê phán hiện tượng nào trong xã hội? Hãy tìm những bài ca dao khác có nội dung tương tự.
Sự nhại lại lời của ông thầy bói nói với cô gái đó chính là:
+ Nói bố cô đàn ông, mẹ cô đàn bà
+ Câu: ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà
+ Sinh con chẳng gái thì trai
– Đây là những lời phán của thầy bói trở nên vô nghĩa, cổ hủ và có cả sự nực cười
>>> Thông qua đây thì tác giả dân gian lật tẩy bản chất bịp bợm của tên thầy bói rởm đời
Soạn bài Những câu hát châm biếm Văn lớp 7
– Đây chính là một bài ca dao phê phán kẻ hành nghề mê tín chuyên lừa lọc đã thế lại còn dốt nát, lừa bịp lòng tin của người khác để có thể kiếm chác
– Đồng thời qua câu hát thì nó cũng đã lại châm biếm sự mê tín đến mù quáng của những người thiếu hiểu biết, mê muội biết bao nhiêu.
Câu 3 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) Mỗi con vật trong bài 3 tượng trưng cho ai, hạng người nào trong xã hội xưa? Việc chọn các con vật để miêu tả, “đóng vai” như thế lí thú ở điểm nào? Cảnh tượng trong bài có phù hợp với đám tang không? Bài cao dao này phê phán, châm biếm cái gì?
Ta nhận thấy được bài ca dao 3 là cảnh đám ma theo tục lệ cũ, và cứ mỗi con vật ứng với một kiểu người:
+ Con cò: Chính là hình ảnh tượng trưng người nông dân thường ở làng xã
+ Cà cuống: Ở đây cũng chính là những kẻ có thể lực, tai to mặt lớn
+ Chim ri, chào mào: Ý muốn nói cai lệ, lính lệ
+ Chim chích: Tất cả như cũng lại gợi ra hình ảnh những anh mõ làng
– Thế giới loài vật như muốn tượng trưng cho thế giới con người:
+ Tác giả dùng thế giới loài vật để nói về thế giới con người
+ Thế rồi cừng con vật tiêu biểu cho các loại người, thêm vào đó chính là những hạng người trong xã hội mà nó ám chỉ
+ Nội dung châm biếm, cũng như sự phê phán trở nên kín đáo, sâu sắc
– Chính cảnh tượng trong bài mang giá trị tố cáo: Đó cũng chính là một cuộc đánh chén, chia chác vui vẻ có lúc vô tâm diễn ra ngay trong những mất mát, tang tóc của gia đình người chết
>>> Thông qua đây ta nhận thấy được chính bài ca phê phán, luôn luôn châm biếm hủ tục ma chay rườm rà đã làm khổ người nghèo trong xã hội cũ
Câu 4 (Sách giáo khoa trang 52 ngữ văn 7 tập 1) Trong bài 4, chân dung “cậu cai” được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về nghệ thuật châm biến của bài ca dao này?
Đó chính là chân dung cậu cai đã vẽ nên bức tranh châm biếm sinh động và có cả một sự chân thực:
+ Cậu chính là cai lính để có thể bộc lộ quyền lực của cậu cai (nón dấu lông gà)
+ Có thể nhận thấy được chính tính cách phô trương, khoe mẽ của cậu cai (ngón tay đeo nhẫn)
+ Cậu cai lúc này đây cũng lại có thân phận nhỏ bé, đã vậy lại còn thảm hại khi phải thuê mượn quần áo
>>> Có thể nhận thấy được chính tất cả vẻ bề ngoài của cậu cai là khoe mẽ, dường như cũng đã cố làm “ra dáng” lừa bịp người
– Nói về nghệ thuật châm biếm đặc sắc:
+ Dân gian luôn luôn gọi “cậu cai”, thông qua đó ta nhận thấy được mục đích như để châm chọc tên cai lệ mà cũng không chút quyền hành
+ Tác giả cũng đã dùng kiểu câu nêu “định nghĩa”, thế rồi cũng giống như vài nét phác họa mỉa mai cậu cai để có thể xuất hiện như kẻ lố lăng, khoe mẽ, thảm hại
>>> Thông qua đây như nhằm mục đích đó là nhấn mạnh thân phận thảm hại thực chất chỉ là tay sai chứ không có quyền năng gì
Luyện tập
Bài 1 (Sách giáo khoa trang 53 ngữ văn 7 tập 1): Nhận xét về sự giống nhau của 4 bài ca dao, em đồng ý với ý kiến nào?
Sự giống nhau của bốn bài ca dao được thể hiện:
– Ở đây cũng chính là cả nội dung và nghệ thuậ châm biếm
Bài 2 (Sách giáo khoa trang 53 ngữ văn 7 tập 1) Những câu hát châm biếm nói trên có điểm gì giống truyện cười dân gian?
Chỉ ra những câu hát châm biếm giống với truyện cười dân gian ở các điểm:
+ Đối tượng: Đó chính là những thói hư tật xấu, những kẻ đáng chê cười trong chính đời sống
+ Nghệ thuật châm biếm: Cũng lại sử dụng biện pháp phóng đại, luôn luôn chỉ ra mâu thuẫn của sự vật.
Trên đây là bài soạn những câu hát châm biếm, những thói hư, tật xấu được phản ánh trong các câu ca, vần điệu thật độc đáo. Khi đọc câu hát nói về thói hư tật xấu đều mang tính hài hước thế nhưng đằng sau đó lại là bài học vô cùng bổ ích.
Chúc các em học tốt!
Minh Minh
Các em có thể tham khảo một số bài soạn liên quan đến chương trình Ngữ văn 7 dưới đây:
Soạn bài Tục ngữ về con người và xã hội
Soạn bài Cảnh Khuya
Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Soạn bài Những câu hát than thân
Soạn bài Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người | Soạn bài Những câu hát châm biếm Văn lớp 7 | 1,287 | |
Đề bài: Soạn Bài Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình Lớp 7 (Soạn bài 1 và 4; Bài 2 và 3 giảm tải theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Bài làm
Câu 1:
– Bài 1: Lời mẹ ru con, nói với con về công lao trời biển của cha mẹ đối với con cái và bổn phận, trách nhiệm của kẻ làm con trước công lao to lớn ấy. Vì có tiếng ru của mẹ “Ru hơi, ru hỡi, ru hời”; tiếng gọi “con ơi”.
– Bài 4: Nội dung là lời của những người lớn trong gia đình (ông bà, cha mẹ, cô bác..) nói với những người nhỏ (con, cháu) trong gia đình, hoặc là lời của anh em tâm sự với nhau. Vì nội dung câu hát là lời căn dặn, lời tâm sự.
Câu 2:
– Nội dung bài 1 muôn nói đến công lao trời biển của cha đối với con cái và bổn phận, trách nhiệm của con cái đôi với công lao to tát ây.
– Những đặc sắc về nghệ thuật của bài ca dao:
Hình thức hát ru.
So sánh: Lấy cái to lớn, vĩnh hằng của thiên nhiên kết hợp với những định ngữ chỉ mức độ (núi ngất trời, núi cao, biển rộng mênh mông) làm nổi bật công lao sinh thành của cha mẹ. Núi ngất trời, biển rộng mênh mông không thể nào đo được, cũng như công cha, nghãi mẹ đối với con. Với những hình ảnh so sánh ấy, công cha, nghĩa mẹ trở nên cụ thể, sinh động, đồng thời biểu lộ lòng biết ơn sâu nặng của con cái đối với cha mẹ (văn hóa phương Đông so sánh cha với trời – núi, mẹ với đất – biển -> đó là cặp biểu tượng truyền thống.
+ “Công cha như núi… đạo con”
+ “Ơn cha nặng lắm ai ơi
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”
Câu 3, 4: Nội dung giảm tải
Câu 5:
– Bài 4 là tiếng hát về tình cảm anh em thân thương, ruột thịt.
Nguồn gốc: Anh em tuy hai mà một, cùng một cha mẹ sinh ra, cùng chung sống, sướng khổ có nhau trong một nhà.
– Ca dao dùng cách so sánh: quan hệ anh em được so sánh bằng hình ảnh như thể chân tay vừa gần gũi dể hiểu vừa cảm nhận sự gắn bó.
– Nói lên sự gắn bó, bài ca dao muốn nhắc nhở: anh em phải hòa thuận để cha mẹ vui lòng, phải biết nương tựa vào nhau.
Câu 6: Những biện pháp nghệ thuật được cả bốn bài ca dao sử dụng:
– Thể thơ lục bát và lục bát biến thể.
– Hình ảnh quen thuộc để diễn đạt tính cảm như: núi, biển, ngõ sau, tay, chân… trong đó thường sử dụng biện pháp tu từ so sánh. | Soạn Bài Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình Lớp 7 | 473 | |
Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người là một bài học trong khung chương trình học Ngữ văn lớp 7. Đây cũng sẽ luôn luôn là một trong những bài học ấn tượng và cũng thật khó nếu như chúng ta không chuẩn bị bài. Giải văn hôm nay sẽ hệ thống cho chúng ta được những kiến thức cơ bản nhất để có thể tiếp cận được bài học nhanh nhất, chính xác nhất ngay sau đây nhé!
Soạn bài những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người
Bài làm
Câu 1: Nhận xét về bài 1, em đồng ý với ý kiến nào dưới đây:
a- Bài ca là lời của một người và chỉ có một phần.
b- Bài ca có hai phần: Phần đầu là câu hỏi của chàng trai, phần sau là: lời đáp của cô gái.
c- Hình thức đối đáp này có rất nhiều trong ca dao, dân ca.
d- Hình thức đối đáp này không phố biến trong ca dao, dân ca
a. Trả lời ý kiến b và ý kiến c là đúng.
– Chúng ta nhận thấy được thật khác với những bài ca dao trong phần “Những câu hát về tình cảm gia đình” mà các bạn học sinh đã được học thì nó thường là lời của 1 người và chỉ có một phần duy nhất. Còn đối với bài ca dao này lại có cả hai vế đối đáp với nhau.
Chính ở phần đầu tiên thì đó chính là lời chàng trai và cô gái.
Tiếp đến chính là phần sau là lời người con gái đáp lại lời đối đáp của chàng trai.
– Thực tế ta nhận thấy đây cũng chính là hình thức khá phổ biến trong ca dao – dân ca. Chúng ta nhận thấy được mục đích thử tài nhau cũng lại thường được sử dụng vào những dịp lễ hội hoặc vui chơi trong lao động cuộc sống.
Ví dụ như các câu ca dao:
– Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng.
Tre non đủ lá, đan sàng nên chăng
– Chàng hỏi thì thiếp xin vâng.
Tre non đủ lá, nên chăng hỡi chàng? …
Câu 2: Trong bài 1, vì sao chàng trai, cô gái lại dùng những địa danh với những đặc điếm (của từng địa danh) như vậy để hỏi – đáp?
Nhận thấy được chính trong bài 1, chàng trai và cô gái lúc này đâu cũng đã lại dùng những địa danh với nhưng đặc điểm của chính địa danh như vậy để hỏi và đáp lời nhau nhau. Có lẽ vì đây là lời mà các chàng trai và các cô gái hát giao duyên chính ngay trong chặng hát đố đó chính là một chặng hát thử tài hiểu biết của nhau về lịch sử, địa lí,…của các vùng miền trên đất nước Việt Nam.
Câu 3: Phân tích cụm từ “Rủ nhau” và nêu nhận xét của em về cách tả cảnh của bài 2. Địa danh và cảnh trí trong bài gợi lên điều gì? Suy ngẫm của em về câu hỏi cuối bài ca: “Hỏi ai gây dựng nên non nước này?”
a. Có thể nhận thấy được chính cụm từ mà tác giả dân gian sử dụng là “Rủ nhau” đứng ở đầu bài ca dao có ý nghĩa và vô cùng thiết thực.
– Người ta lúc đó cũng chỉ “Rủ nhau” khi giữa mọi người có mối quan hệ thân thiết gần gũi hơn bao giờ hết.
– Tất cả mọi người cũng lại cùng có chung ý muốn, sở thích với nhau.
– Nhận thấy được chính điều mà khiến cho mọi người “Rủ nhau” nhưng cũng lại luôn luôn phải có sự hấp dẫn hứng thú nhất đó chính là không thể không đi, không thể không làm và ở đó lại có được một niềm háo hức của người làm cảnh.
b. Cách miêu tả của bài ca dao
– Tác giả dân gian không miêu tả cụ thể mà lại liệt kê những địa danh và những thắng cảnh nổi bật nhất trong bài:
– Ý nghĩa: Mang được những vẻ đẹp của cảnh là vô cùng phong phú, đa dạng.
c. Cảm xúc gợi lên từ cảnh vật
– Ở đây cũng chính là địa danh nổi tiếng bậc nhất của chốn kinh kì ngàn năm vẫn văn vật dường như cũng đã đi vào máu thịt, đi vào chính tâm hồn của mọi người
– Tả cảnh mà vừa có hồ (hồ Hoàng Kiếm) vừa có đền ý chỉ đền Ngọc Sơn mà lại vừa có cầu lại vừa có Đài Nghiên, Tháp Bút đây cũng chính là một quần thể thiên tạo và nhân tạo hài hòa với nhau. Cảnh này vô cùng hữu tình mà lại rất đỗi thiêng liêng chính vì thế mang được một màu sắc văn hóa và lịch sử.
– Câu thơ cũng đã lại gợi nhắc đến công lao của cha ông đã tạo đựng nên thắng cảnh vô cùng hữu tình.
– Không dừng lại ở đó thì câu thơ cũng lại còn là lời nhắn nhủ con cháu cần phải có trách nhiệm bảo vệ, đồng thời cũng phải biết giữ gìn và xây dựng để cho đất nước ngày càng đẹp hơn nữa.
Soạn bài những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người
Câu 4: Nhận xét của em về cảnh trí xứ Huế và cách tả cảnh trong bài 3. Em hãy phân tích đại từ “ai” và chỉ ra những tình cảm ẩn chứa trong lời mời, lời nhắn gửi: “Ai vô xứ Huế thì vô…”
Những câu thơ nhưng miêu tả được cảnh trí xứ Huế trong bài 3 được tác giả dân gian phác hoạ thôn qua vẻ đẹp, hình ảnh của con đường. Hình ảnh của con đường được gợi nên bằng những màu sắc rất nên thơ, đó là một sự tươi tắn trông chẳng khác gì tranh họa đồ cả. Bức tranh xứ Huế cũng đã được gợi lên bằng ngôn từ nhưng lại vô cùng đẹp đẽ, người ta vẫn cảm nhận được. Thông qua đây thì chính biện pháp tu từ được sử dụng chủ đạo tạo nên vẻ đẹp ở chính trong những câu ca dao này là so sánh.
Tiếp đến chính là đại từ “Ai” trong lời mời trong lời nhắn gửi chính là một đại từ phiếm chỉ đa nghĩa và như là lời nhắn nhủ đến tất cả mọi người hãy đến với cảnh đẹp xứ Huế.
Câu 5: Hai dòng thơ đầu bài 4 có những gì đặc biệt về từ ngữ? Nhửng nét đặc biệt ấy có tác dụng, ý nghĩa gì?
– Người đọc cảm nhận được chính dòng thơ 12 tiếng thay vì 6 tiếng và 8 tiếng (thể thơ lục bát) mà chúng ta vẫn thường gặp ở các bài ca dao khác trong kho tàng ca dao Việt Nam
– Trong câu ca dao này cũng lại sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật: đối xứng, điệp ngữ, đạo từ để tạo lên được một sự độc đáo.
+ Đứng bên ni đồng – Đứng bên tê đồng -> Nghệ thuật điệp từ và đối
– Ý nghĩa tác dụng của những biện pháo này:
+ Làm tăng thêm sự rộng lớn mênh mông của cánh đồng.
+ Các biện pháp này cũng đã thể hiện sự sống căng nồng, sự tốt tươi của cánh đồng đang thì con gái đang mơn mởn.
Câu 6: Phân tích hình ảnh cô gái trong hai dòng cuối bài 4.
Ta nhận thấy được cũng chính cách hiểu phổ biến hơn cả cho rằng đây chính là hai câu ca dao miêu tả vẻ đẹp của cô gái. Khi mà đứng trước cánh đồng mênh mông, bát ngát tươi xanh là vậy thì hình ảnh cô gái có vẻ nhỏ bé nhưng cô chính là người làm ra cánh đồng xanh đó. Cô chẳng khác gì chẽn lúa đòng đòng – Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai cả. Đây là câu ca dao thật đẹp, vẻ đẹp kết tinh từ sắc trời, hương đất, vẻ đẹp từ cánh đồng “bát ngát mênh mông” ngoài kia.
Câu 7: Bài 4 là lời của ai? Người ấy muốn biểu hiện tình cảm gì? Em có biết cách hiểu nào khác về bài ca này và có đồng ý với cách hiếu đó không? Vì sao?
Nếu như theo cách hiểu trên thì đây là lời chàng trai đang ngắm cô gái đứng trên cánh đồng. Thì hình ảnh chàng trai thấy cánh đồng mênh mông bát ngát và thấy cô gái hồn nhiên và vô cùng trẻ trung, đầy sức sống. Nhưng ngoài ra, chúng ta cũng lại thấy được cũng lại còn có cách hiểu khác cho rằng đây là lời của cô gái nói chứ không phải chàng trai. Đó chính là khi đứng trước cánh đồng lúa mênh mông người con gái như than thân, trách phận mình nhỏ bé và vô định.
Trên đây là toàn bộ kiến thức của bài soạn Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người của Giải văn. Hi vọng các kiến thức dễ hiểu trên cũng sẽ giúp cho các em học sinh có hứng thú với việc học tập bộ môn Ngữ văn 7 hơn.
Chúc các em học tập tốt!
Minh Nguyệt
Các em có thể tham khảo một số bài soạn liên quan đến chương trình Ngữ văn 7 dưới đây:
Soạn bài Tục ngữ về con người và xã hội
Soạn bài Cảnh Khuya
Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Soạn bài Những câu hát than thân
Soạn bài Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người | Soạn bài những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người | 1,608 | |
Soạn bài Những công dân dũng cảm
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Quan sát tranh và cho biết những người trong tranh đang làm gì (SGK/49).
Gợi ý:
Những người trong tranh ra sức cứu chữa cho người bán bánh giò có chiếc chân bằng gỗ. Người bán bánh giò đã dũng cảm xông vào lửa để cứu một em bé và những người trong căn nhà bị hỏa hoạn.
3. Chọn lời giải nghĩa ở cột B phù hợp với từ ngừ ở cột A:
Gợi ý:
a – 5; b – 4; c – 1; d – 2; e – 3
5. Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1.Dám cháy xảy ra vào lúc nào?
2.Người dã dũng cảm cứu em bé lả ai? Con người và hành động của anh có gì đặc biệt?
3.Những chi tiết nào trong câu chuyện gây bất ngờ cho người dọc?
4.Câu chuyện trên gợi cho em suy nghĩ gì về trách nhiệm công dân của mỗi người trong cuộc sống?
Gợi ý:
1. Đám cháy xảy ra vào lúc nửa dêm.
2.Người đã dũng cảm cứu em bé là người bán bánh giò. Anh là một thương binh bị mất hết một chân, hằng đêm đi bán bánh giò. Khi phát hiện đám cháy, anh đã báo động và dũng cảm xông vào lửa đỏ, xả thân cứu một gia đình.
3.Người đọc bất ngờ trước những chi tiết: phát hiện cái chân gỗ khi cấp cứu cho người đàn ông; phát hiện anh là thương binh khi tìm ra giấy tờ; ở góc tường có chiếc xe đạp nằm cạnh những chiếc bánh giò tung tóe thì biết người bán bánh giò hằng đêm là anh thương binh.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Lập chương trình cho một trong các hoạt động dưới đây (hoặc cho một hoạt động khác mà trường em dự kiến tổ chức) rồi dán lên tường lớp: Khi xây dựng chương trình công tác cua liên đội trong năm học. Ban chỉ huy liên đội trường em dự kiến tổ chức một số hoạt động sau:
1)Hội trại Chúng em tiến bước theo Đoàn (nhân kỉ niệm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh 26-3).
2)Thi nghi thức Đội.
3)Làm vệ sinh nơi công cộng.
4)Giúp đỡ các gia đình thương binh liệt sĩ.
5)Quyên góp ủng hộ thiếu nhi và nhân dân các vùng bị thiên tai.
Gợi ý:
Chương trình quyên góp ủng hộ thiếu nhi và nhân dân các vùng bị thiên tai
I.Mục đích
-Hiểu tình hình lũ lụt ở các tỉnh miền Trung: thông cảm với nỗi cơ cực của thiếu nhi và nhân dân nơi đó.
-Nhận thức đúng: quyên góp ủng hộ là việc làm thể hiện tinh thần tương thân tương ái “Lá lành đùm lá rách”.
-Có hành động ủng hộ thiết thực.
II.Các việc cụ thể – phân công:
-Họp lớp thông nhất nhận thức, quà ủng hộ: Chủ tịch Hội đồng chủ trì (CT)
-Lập ban chỉ huy (dự kiến): CT, Chi đội trương (CĐT), các tổ trưởng (TT)
-Đóng gói, chuyển quà: Ban chỉ huy (BCII)
III.Thứ tự các việc
1.Chiều thứ sáu (15/1): Họp thống nhất nhận thức, quà ủng hộ.
-Phát biểu ý kiên về tình hình, kêu gọi ủng hộ (CT, CĐT).
-Trao đổi ý kiến, thống nhất loại quà (CT: chủ trì. Thư kí: TT tố 4) Dự kiến quà: quần áo, đồ dùng học tập, sách vơ, tiền bỏ ống…
-Lập BCH
-Phân công
+ 4 TT thu quà theo loại (ghi tên, quà, số lượng) chuyển về BCH + BCH đóng gói, nộp lên trường
2.Sáng thứ hai (18/1): bắt đầu nhận quà TT tổ 1: sách, vở
TT tổ 2: nhận tiền
TT tố 3: nhận quà là quần áo, giày dép TT tổ 4: giấy bút, đồ dùng học sinh
3.Chiều thứ hai (18/1)
BCH nhận quà từ các TT, thống kê, đóng gói, nộp lên cho trường
2.Chọn một trong các đề bài sau để chuẩn bị kể chuyện:
Đề 1: Kể một việc làm của những công dân nhờ thể hiện ý thức bảo vệ các công trình công cộng, các di tích lịch sử – văn hóa.
Đề 2: Kể một việc làm thể hiện ý thức chấp hành Luật Giao thông đường bộ.
Đề 3: Kể một việc làm thể hiện lòng biết ơn các thương binh, liệt sĩ. | Soạn bài Những công dân dũng cảm | 695 | |
Soạn bài Những công trình mới
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài thơ “Về ngôi nhà đang xây” (SGK/87, 88).
5. Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1)Những chi tiết nào vẽ lên hình ảnh một ngôi nhà đang xây? (Đọc cả bài)
2)Tìm những hình ảnh so sánh nói lên vẻ đẹp của ngôi nhà.
Gợi ý: Tìm những câu thơ có từ so sánh: như, tựa, giống, là.
3)Tìm những hình ảnh nhân hoá làm cho ngôi nhà được miêu tả sông động, gần gũi.
Gợi ý: Em chú ý những câu thơ có từ ngữ chỉ hoạt động của con người: tựa vào, thở ra, lớn lèn,…
4)Hình ảnh những ngôi nhà đang xây nói lên điều gì về cuộc sống trên đất nước chúng ta?
Chọn ý đúng để trả lời:
a)Đất nước ta có nhiều ngôi nhà đẹp.
b)Đất nước ta đang phát triển và thay đổi hằng ngày, hằng giờ.
c)Đất nước ta ngổn ngang như một công trường xây dựng.
Gợi ý:
1) Những chi tiết vẽ lên hình ảnh một ngôi nhà đang xây: giàn giáo, trụ bê tông nhú lên, bác thợ nề huơ cái bay, ngôi nhà thở ra mùi vôi vữa, còn nguyên màu vôi gạch, những rãnh tường chưa trát vữa.
2)Trụ bê tông nhú lên như một mầm cây.
Ngôi nhà giống bài thơ sắp làm xong.
Là bức tranh còn nguyên màu vôi, gạch.
Ngôi nhà như trẻ nhỏ…
Thở ra mùi vôi vữa…
… Lớn lên với trời xanh…
4)b.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Nghe thầy cô nêu yêu cầu kể chuyện:
Đề bài: Hãy kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc nói về những người đã góp sức mình chống lại đói nghèo, lạc hậu, vì hạnh phúc của nhân dân.
Gợi ý:
Tham khảo Truyện đọc lớp 5. 5.
5.Nhận xét về cách tả hoạt động trong bài văn tả người.
1)Đọc bài văn “Công nhân sửa đường” (SGK/91).
2)Xác định các đoạn của bài văn và nội dung chính của mỗi đoạn. Ghi lại vào bảng nhóm kết quả thảo luận (SGK/92).
3)Tìm và ghi vào vở những câu văn miêu tả hoạt động của bác Tâm.
Gợi ý:
2)
Các đoạn
Nội dung của mỗi đoạn
Đoạn 1: từ đầu đến loang ra mãi
Tả công việc vá đường của bác Tâm
Đoạn 2: từ Mảng đường đến vá áo ấy!
Tả thành quả lao động của bác Tâm
Đoạn 3: từ Bác Tâm đến khuôn mặt bác.
Tả niềm vui của bác Tâm sau khi xong công việc.
3)Câu 1: Tay trái bác xếp rất khéo những viên đá bọc nhựa đường đen nhánh vào chỗ trũng.
Câu 2: Bác đập búa đều đều xuông những viên đá để chúng ken chắc vào nhau.
Câu 3: Hai tay bác đưa lên hạ xuống nhịp nhàng.
6.Viết đoạn văn tả hoạt động của một người mà em yêu mến.
Mẹ em, người nội trợ đảm đang của gia đình.
Trước ngực là chiếc tạp dề, tay phải của mẹ xào rau, tay trái nêm gia vị vào nồi canh. Trông mẹ chẳng khác gì nhạc trưởng của một dàn nhạc giao hưởng. Rau xào vừa đặt xong vào đĩa, mẹ đã đảo những con cá chiên vàng hươm sang mặt kia. Thuận tay, mẹ tắt bếp của nồi canh nhưng không quên nhón tí rau nêm vào nồi. Khuôn mặt của mẹ đỏ bừng, mồ hôi lấm tấm trên vầng trán rộng; không biết do mệt hay sức nóng của bếp lửa. Ánh mắt của mẹ sáng lên cùng nụ cười rạng rỡ. | Soạn bài Những công trình mới | 566 | |
Soạn bài những ngôi sao xa xôi
Hướng dẫn
Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. Tóm tắt nội dung tác phẩm: Ba nữ thanh niên xung phong thuộc tổ trinh sát mặt đường tại một điểm trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Nhiệm vụ của họ là quan sát khi địch ném bom, đo khối lượng đất đá cần phải san lấp, đánh dấu vị trí của các quả bom chưa nổ và phá bom. Công việc của họ hết sức nguy hiểm. Mặc dù vật, cuộc sống của họ có những niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thanh thản, thơ mộng và đặc biệt là gắn bó, yêu thương nhau trong tình đồng đội.
-Truyện được trần thuật từ ngôi thứ nhất, theo lời kể của Định – nhân vật chính. Sự lựa chọn vai kể như vậy rất phù hợp với nọi dung tác phẩm cũng thận lợi cho việc miêu tả, biểu hiện thế giới tâm hồn, những cảm xúc và suy nghĩa của ba cô gái.
Câu 2. Nhân vật trong truyện là ba cô gái trong tổ rà phá bom. Người kể chuyện cũng là một cô gái ấy. Từ góc nhìn này, tác giả có điều kiện miêu tả những suy nghĩ, tâm trạng của các cô một cách chân thực, cụ thể và gần gũi.
-Cùng là một tổ, cùng trải qua cuộc sống đầy khó khăn, hiểm nghèo, họ đã trở thành những con người dũng cảm, can trường, coi việc ném bom, phá bom… chỉ là những công việc bình thường hàng ngày. Đó là những người có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc nhưng đồng thời cũng dễ xúc cảm, giàu ước mơ, dễ ui mà cũng dễ trầm tư. Họ thích làm đẹp cho cuộc sống của mình và không bao giờ tỏ ra chán nản, thất vọng.
Họ có những điểm chung đồng thời cũng có những nét tính cách riêng: Phương Định nhảy cảm và hồn nhiên, thích mơ mộng, ưa sống với những kỉ niệm của tuổi thiếu nữ vô tư, Chị Thao từng trải hơn nhưng cũng không thiếu những rung động, khát khao của tuổi trẻ. Nho trông có vẻ yếu đuối nhưng cũng rất tinh nghịch.
Xen giữa những trận bom, giữa những câu chuyện của ba chị em trong cuộc sống đời thường nhưng rất nóng bỏng ấy là dòng suy nghĩ lan man của nhân vật ‘’’tôi’’. Từ những suy nghĩ vui vui về các anh bộ đội đến nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ rất rõ những đồ vật, những kỉ niệm ngày còn ở nhà… Đó là những suy nghĩ rất đời thường nhưng làm cho bức tranh chân dung người chiến sĩ thêm sống động. Nhất là đoạn cuối truyện, khi cơn mưa đá đã tan thì niềm vui nhỏ bé của các cô cũng không còn. Cô gái lại đắm chim vào những hồi ức quê nhà: bao nhiêu hình ảnh gắn liền với bấy nhiêu kỉ niệm: mẹ, cái cửa sổ, bà bán kem, lẽ trẻ, hoa trong công viên… mỗi hình ảnh chỉ kịp vụt qua trong thoáng chốc nhưng rất sắc nét, rất cụ thể.
Câu 4. Trong truyện, tác giả sử dụng ngôn ngữ trần thuật phù hợp với nhân vật kể chuyện – cô gái thanh niên xung phong người Hà Nội – tạo cho tác phẩm có giọng điệu và ngôn ngữ tự nhiên, trẻ trung và đầy nữ tính. Những câu văn ngắn, nhịp nhanh tạo được không khí khẩn trương trong hoàn cảnh chiến trường. Ở những đoạn hồi tưởng, nhịp kể chậm lại, gợi nhớ những kỉ niệm của tuổi thiếu niên hồn nhiên, vô tư. | Soạn bài Những ngôi sao xa xôi | 618 | |
Soạn bài Những người lao động
Hướng dẫn
HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Gọi tên và nói về nghề nghiệp của những người trong các bức tranh dưới đây (SGK/94).
Gợi ý:
2. Cô nông dân – gặt lúa.
3.Bác công nhân – làm ra sản phẩm.
4.Vị bác sĩ – khám bệnh.
5.Người hoạ sĩ – vẽ tranh.
6.Cô ca sĩ – ca hát.
2.Điền vào chỗ trống các từ ngữ thích hợp trong bảng nhóm.
a)Chỉ những người trong gia đình:
M: cha, mẹ,…
b)Chỉ những người làm việc trong trường học:
Mĩ cô giáo,…
c)Chỉ các nghề nghiệp:
M: công nhân,…
d)Chỉ các dân tộc anh em:
M: Tày, Thái,…
Gợi ý:
a) Ông, bà, cô, chú, bác, dì, cậu, mợ, thím, dượng, anh, chị, em.
b)Thầy giáo, hiệu trưởng, hiệu phó, thầy cô tổng phụ trách, thầy cô giám thị, cô bảo mẫu, cô cấp dưỡng, chú bảo vệ, bạn học.
c)Nông dân, kĩ sư, bác sĩ, giáo viên, kiến trúc sư, thợ xây, thợ cơ khí, tiểu thương, doanh nhân, nhân viên bán hàng.
d)Nùng, Dao, Hmông, Ê-đê, Gia Rai, Mường, Mèo, Chăm, Khơ-me.
3.Tìm các câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao và viết vào vở hoặc bảng nhóm theo mẫu:
Gợi ý:
a) Quan hệ gia đình
b) Quan hệ thầy trò
c) Quan hệ bạn bè
M: Chị ngã em nâng.
M: Không thầy đố mày làm nên.
M: Học thầy không tày học bạn.
Máu chảy ruột mềm
Môi hở răng lạnh.
Trọng thầy mới được làm thầy.
Thầy hay trò giỏi.
Bạn nối khố.
Ở chọn nơi, chơi chọn bạn.
a)Miêu tả mái tóc: (M: óng mượt)…
b)Miêu tả đôi mắt: (M: đen láy)…
c)Miêu tả khuôn mặt: (M: bầu bĩnh)…
d)Miêu tả làn da: (M: trắng hồng)…
e)Miêu tả dáng người: (M: dong dỏng)…
Gợi ý:
a) đen mượt, suôn đuột, xoăn tít, hoa râm, bạc trắng.
b)đen mun, tròn xoe, ti hí, hiền từ, cú vọ.
c)trái xoan, vuông vức, tròn trịa, bụ bẫm, khả ái.
d)trắng nõn, trắng ngần, ngăm ngăm, đen đúa, trổ đồi mồi.
e)tầm thướt, cao lớn, đẫy đà, thấp đậm, lùn tịt.
5.Viết vào vở đoạn văn (khoảng 5 câu) miêu tả hình dáng của một người thân hoặc một người mà em quen biết.
Gợi ý:
Chủ tịch hội đồng tự quản lớp em là người ai cũng quý mến.
Bạn ấy bằng tuổi em nhưng lại cao lớn như các anh chị học cấp hai.
Mái tóc hớt cao làm nổi bật khuôn mặt đầy đặn của bạn ấy. Bạn rất thông minh và hiếu động. Sự nhanh nhẹn, sáng dạ được bộc lộ qua đôi mắt nâu sẫm tinh anh. Với làn da căng bóng, chắc nịch, bạn luôn đạt thành tích cao trong phong trào thể dục thể thao của trường. Tuy là nam nhưng bạn luôn tỏ ra điềm đạm và ôn hoà với mọi người. Em rất thích tác phong của bạn và luôn noi gương bạn ấy.
6.Lập dàn ý cho bài văn tả hoạt động của một bạn nhỏ hoặc một em bé ở tuổi tập đi, tập nói.
7.Dựa vào dàn ý đã lập, viết đoạn văn tả hoạt động của bạn nhỏ hoặc em bé.
Gợi ý
Bé có gương mặt bầu bĩnh và làn da trắng hồng, căng mịn. Đôi mắt bé đen láy và tròn xoe xoe. Lúc nào chúng cũng mở to khi nhìn mọi người, trông mới dễ thương làm sao. Bé còn dang tập nói, mỗi lần chỉ được một tiếng. Giọng nói còn ngọng líu ngọng lịu. Thế nhưng mỗi lần cái miệng chúm chím như một nụ hoa của bé bập bẹ ba…, ba… hoặc ma…, ma… cũng đủ làm cho ba má và cả nhà cười vui, thích thú. Bé có một vũ khí rất lợi hại: đó chính là khóc. Vòi gì không được là cô nàng khóc toáng lên, ngồi bệt xuống đất đạp chân đành đạch. Những giọt nước mắt lăn dài trên đôi má bầu bĩnh làm người khác khó mà cầm lòng được đành phải chiều theo ý bé. Lập tức cô nàng nhoẻn miệng cười toe toét, để lộ hai cái răng thỏ to đùng còn nét mặt ngây thơ thì tươi tắn ngay như chưa khóc bao giờ.
Mọi yêu thương đều dành cho bé. | Soạn bài Những người lao động | 668 | |
Soạn bài Những tấm lòng cao cả của Đơ A-mi-xi
Hướng dẫn
“Những tấm lòng cao cả” là cuốn nhật kí của cậu bé En-ri-cô người Ý 11 tuổi, học Tiểu học. Chú ghi lại những bức thư của bố, mẹ, những truyện đọc hàng tháng, những kỉniệm sâu sắc, cảm động về thầy giáo, cô giáo, bạn bè tuổi thơ, những con người bất hạnh đáng thương, v.v… Cuốn nhật kí khởi đầu từ tháng 10 năm trước đến tháng 7 năm sau. “Từ biệt” là trang nhật kí cuối cùng ghi lại cảnh thầy giáo đọc danh sách những học sinh được lên lớp. En-ri-cô và nhiều bạn được lên lớp 4. Cảnh từ biệt thầy, cô giáo, từ biệt bạn bè và ngôi trường tuổi thơ được nói đến thật xúc động. En-ri-cô ôm hôn các bạn. Bố cậu nhìn ngôi trường, giọng run run nói: “Vậy thì xin từ biệt!”. Mẹ cậu cũng nhắc lại: “Xin từ biệt!”. Còn En- ri-cô thì quá xúc động, không thể nói lên được một lời. Cậu đã 12 tuổi…
Tác phẩm “Những tấm lòng cao cả” có sáu bức thư của bố và ba bức thư của mẹ gửi cho cậu con trai En-ri-cô. En-ri-cô ở với bố mẹ dưới một mái ấm gia đình, nhưng tháng nào, bố hoặc mẹ cũng viết cho đứa con yêu quý một bức thư nhằm khuyên răn, dạy bảo con một bài học đạo đức. Cách viết thư này rất độc đáo, thường có trong các gia đình trung lưu, hoặc trí thức. Đó là cách giáo dục tế nhị, sâu sắc. Đứa con sẽ được đọc bức thư nhiều lần. Cùng với các truyện đọc hàng tháng, những bức thu này đều được En-ri-cô chép vào cuốn nhật kí, kèm theo cảm xúc, ý nghĩ của mình.
Trong lời giới thiệu “Những tấm lòng cao cả”, giáo sư Hoàng Thiếu Sơn đã viết: “Trong gia đình En-ri-cô, tháng nào bố hay mẹ cũng viết cho con một lá thư, không phải vì đi đâu gửi vê, mà ở ngay trong nhà viết đưa cho con đọc và suy nghĩ; thư thì khuyên răn, thư thì cảnh cáo, có khi là trách mắng. Đó là những trường hợp phải nói chuyện với con một cách trang nghiêm”. | Soạn bài Những tấm lòng cao cả của Đơ A-mi-xi | 381 | |
Soạn bài Những tấm lòng cao đẹp
Hướng dẫn
A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Quan sát và nói về các bức ảnh sau đây (SGK/59).
-Đó là những đồ vật gì?
-Em thường nhận được các món quà trên vào dịp nào?
-Cảm xúc của em khi nhận được những món quà ấy?
Gợi ý:
Từ trái sang phải, từ trên xuống dưới là những đồ vật: chiếc kẹp tóc xinh xắn, chiếc xe cứu hộ bằng nhựa trông như xe thật, bộ đồ chơi xếp hình để học toán đủ màu sắc, em bé búp bê thật dễ thương, chiếc áo sơ mi ngắn tay và chiếc nơ đỏ rực.
-Em thường nhận được các món quà trên vào dịp sinh nhật và dịp Tết.
–Em cảm thấy thật vui và hạnh phúc khi nhận được những món quà ấy.
2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Chuỗi ngọc lam” (SGK/60, 61).
5. Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1)Cô bé mua chuỗi ngọc lam để tặng ai? (Đọc đoạn 1)
2)Chi tiết nào cho biết cô bé không đủ tiền mua chuỗi ngọc?
Chọn ý đúng để trả lời:
a)Cô bé mở khăn tay đổ lên bàn một nắm xu.
b)Cô nói đó là số tiền cô đã đập lợn đất.
c)Pi-e trầm ngâm nhìn cô và gỡ mảnh giấy ghi giá tiền.
d)Cả ba chi tiết trên.
3)Chị của cô bé tìm gặp Pi-e để làm gì?
Chọn ý đúng để trả lời:
a)Để cảm ơn Pi-e.
c)Để tìm hiểu xem vì sao cô bé mua được chuỗi ngọc.
4)Vì sao Pi-e nói cô bé đã trả giá rất cao để mua chuỗi ngọc? (Đọc đoạn 2)
5)Những nhân vật trong câu chuyện này là những người như thế nào?
Gợi ý:
1) Cô bé mua chuỗi ngọc lam để tặng người chị đã nuôi mình từ khi mẹ cô mất.
2) d.
3) c.
4)Pi-e nói cô bé đã trả giá rất cao để mua chuỗi ngọc vì cô bé đã dùng tất cả số tiền mình dành dụm được.
5)Những nhân vật trong câu chuyện này là những người tốt, giàu lòng nhân hậu, biết sống cho nhau, biết mang hạnh phúc và niềm vui cho người khác.
B.HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
2. Tìm và viết vào phiếu học tập những từ ngữ chứa các tiếng đã cho (chọn a hoặc b).
a)Từ ngữ chứa tiếng bắt đầu bằng tr hay clv.
b)Từ ngữ chứa tiếng có vần ao hay au.
Gợi ý:
a) – tranh luận, nhà tranh – chanh chua, lanh chanh.
-trưng bày, trưng dụng – chưng diện, chưng cất.
-trúng tuyển, trúng thưởng – chúng sinh, chúng ta.
-leo trèo, trèo trẹo – chèo chống, chèo bẻo.
b) – báo cáo, báo cô – châu báu, báu vật.
-cao cả, cao cấp – trầu cau, cau có.
-lao động, lao đao – lau chùi, lau lách.
–mào gà, mào đầu – màu mè, màu mỡ.
3.Điền vào chỗ trống vần ao / au hoặc âm đầu tr / ch để hoàn chỉnh mẩu tin dưới đây (SGK/64).
Nhà môi trường 18 tuổi
Người dân hòn đảo Ha-oai rất tự hào về bãi biển Cu-a-loa vì vẻ đẹp mê hồn của thiên nhiên ở đây. Nhưng đã có một dạo, môi trường ven biển bị đe doạ trầm trọng do nguồn rác từ các tàu đánh cá, những vỉa san hô chết, cá, rùa bị mắc bẫy,… tấp vào bờ. Trước tình hình đó, một cô gái tên là Na-ka-mu-ra, 18 tuổi, đã thành lập nhóm Hành động vì môi trường gồm 60 thành viên. Họ đã giăng những tấm lưới khổng lồ ngăn rác tấp vào bờ. Tháng 3 năm 2000, chỉ trong 8 ngày nghỉ cuốituần, 7 xe rác khổng lồ đã được chở đi, trả lại vẻ đẹp cho bãi biển.
Theo báo TIỀN PHONG
4.Tìm và ghi vào vở danh từ chung có trong câu văn thứ nhất và danh từ riêng có trong đoạn văn sau: (SGK/64, 65).
Gợi ý:
Danh từ chung: chiều, hôm ấy, em gái, trán, tủ kính, cửa hàng, đồ vật, thứ.
–Danh từ riêng: Pi-e, Nô-en.
5.Viết lại vào vở cho đúng chính tả các tên riêng sau:
a)nguyễn huệ, bế văn đàn, võ thị sáu, kim đồng
b)ví ch to huy gô, lu i pa xtơ, pa ri, von ga
c)bắc kinh, tây ban nha, lỗ tấn, đỗ phủ
Gợi ý:
Viết lại vào vở cho đúng chính tả các tên riêng sau:
a)Nguyễn Huệ, Bế Văn Đàn, Võ Thị Sáu, Kim Đồng
b)Vích-to Huy-gô, Lu-i Pa-xtơ, Pa-ri, Von-ga
6.Tìm và viết vào bảng nhóm các đại từ xưng hô có trong đoạn văn sau (SGK/65).
Gợi ý:
Các đại từ xưng hô: chị, em, tôi, chúng tôi.
7.Tìm và viết vào vở một câu “Ai làm gì?”, một câu “Ai thế nào?” và gạch dưới bộ phận chủ ngữ của các câu vừa tìm được.
Gợi ý:
– Ban Lan đánh đàn cho cả lớp hát.
-Trường em rộng và đẹp. | Soạn bài Những tấm lòng cao đẹp | 773 | |
Soạn bài những đứa trẻ
Hướng dẫn
Soạn bài những đứa trẻ của Mác-xim Go-rơ-ki
I.Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. Chia bài văn thành ba phần.
Phần 1: Từ đầu đến “ấn em nó cúi xuống”: Tình bạn tuổi thơ trong trắng.
Phần 2: Từ “Trời bắt đầu tối” đến “Cấm không được đến nhà tao”: Tình bạn bị cấm đoán.
Phần 2: Còn lại: Tình bạn vẫn cứ tiếp diễn.
Những chi tiết xuất hiện ở phần một: Ba đứa trẻ hàng xóm, chuyện về những con chim, những câu chuyện cổ tích, chuyện về người bà hiền hậu lại xuất hiện ở phần ba tạo nên sự kết nối chặt chẽ, gây ấn tượng lắng đọng ở người đọc.
Câu 2. Xem xét hoàn cảnh của chú bé A – li – ô – sa, ba đứa con đại tá Ốp – xi – a – ni – cốp và quan hệ giữa hai gia đình để lý giải vì sao tình bạn tuổi thơ trong trắng ấy để lại ấn tượng sâu sắc cho nhà văn khiến hơn ba mươi năm sau ông vẫn còn nhớ như in và thuật lại hết sức xúc động.
–Ông bà ngoại của A – li – ô – sa là hàng xóm với đại tá Ốp – xi – a – ni – cốp nhưng thuộc thành phần xã hội khác nhau. Một bên là dân thường, một bên là quan chức ở xa. Đại tá không cho những đứa con của mình chơi với A – li – ô – sa.
–Do sự tình cờ A – li – ô – sa đã góp sức cứu đứa nhỏ nhà đại tá rơi xuống giếng nên ba đứa trẻ nhà đại tá biết tấm lòng A – li – ô – sa và rủ A – li – ô – sa sang nhà chơi.
–A – li – ô – sa mất bố, mẹ đi lấy chồng khác. Em có mẹ mà như không. Em thường bị ông ngoại đánh đòn, chỉ có bà ngoại là người hiền hậu. Qua trò chuyện, A – li – ô – sa biết mấy đứa bạn con nhà đại tá tuy sống trong cảnh giàu sang nhưng cũng chẳng sung sướng gì. Mẹ chúng chết, chúng sống với gì ghẻ. Bố chúng cũng cấm đoán, cũng đánh đòn.
+ Từ hoàn cảnh sống thiếu tình thương giống nhau nên A – li – ô – sa thân thiết với mấy đứa trẻ kia. Tình cảm ấy để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhà văn khiến mấy chục năm sau ông vẫn nhớ như in và kể lại hết sức xúc động.
Câu 3. Phân tích, bình luận một số hình ảnh của ba đứa trẻ hàng xóm qua sự cảm nhận tinh tế của A – li – ô – sa. Những quan sát và nhận xét tinh tế:
–Trước khi quen thên nhìn sang hàng xóm, A – li – ô – sa chỉ biết: “Ba đứa cùng mặc áo cánh và quần dài màu xám, cùng đội mũ như nhau. Chúng có khuôn mặt tròn, mắt sáng và giống nhau đến nỗi mình chủ có thể phân biệt được chúng theo tầm vóc.
–Khi mấy đứa trẻ kể chuyện mẹ chết, chỉ còn dì ghe mà chúng gọi là “Mẹ khác” rồi lặng đi, Gor-ki kể: “Chúng ngồi sát vào nhau giống như chú gà con”. Sự so sánh chính xác khiến cho ta liên tưởng đến lũ gà con sợ hãi diều hâu, co cụm vào nhau. Sự so sánh ấy cũng toát lên niềm thông cảm của A-li-ô-sa với nỗi bất hạnh của các bạn nhỏ.
–Khi đại tá Ốp-xi-a-ni-cốp bất chợ xuất hiện, mắng: “Đứa nào gọi nó sang?”, Gor-ki viết: “Tức thì cả mấy đứa trẻ lặng lẽ bước ra khỏi chiếc xe và đi vào nhà, khiến mình lại nghĩ đến những con ngỗng ngoan ngoãn”. Đây là lần thứ hai nhà văn dùng hình ảnh so sánh này. Cách so sánh chính xác vừa thể hiện dáng dấp bên ngoài, vừa thể hiện thế giới nội tâm của những đứa trẻ. Rõ ràng chúng bị bố áp chế, lằng lặng vào nhà chẳng dám hé răng. Tác giả còn kể tiếp ở đoạn dưới: “Mình nhớ lại không bao giờ chúng nói một lời nào về bố và gì ghẻ”. A – li – ô – sa thông cảm với cuộc sống thiếu tình thương của các bạn nhỏ biết bao.
Câu 4. Chuyện đời thường và vườn cổ tích được lồng vào nhau trong nghệ thuật kể chuyện của Gor-ki.
–Mấy đứa trẻ hàng xóm vừa nhắc đến chuyện gì ghẻ mà chúng gọi là “Mẹ khác” A – li – ô – sa liên tương ngay đến nhân vật mụ dì ghẻ độc ác trong các truyện cổ tích.
–Chuyện đời thường và vườn cổ tích lồng vào nhau qua các chi tiết người “Mẹ thật”: “Mẹ thật của các câu chuyện thế nào cũng sẽ về, rồi các cậu xem!
Thằng anh lớn nhún vai.
–Chết rồi cơ mà về làm sao được…
–Không được ư? Trời ơi, biết bao nhiêu lần những người chết, thậm chí đã bị xả ra từng mảnh, mà chỉ vẩy cho ít phép là sống lại; có biêt bao nhiêu người chêt mà không phải là chết thật, vì phép của bọn phù thủy”.
–Chuyện đời thường và vườn cổ tích lồng vào nhau qua người bà hiền hậu. Ta biết bà ngoại của A – li – ô – sa là người rất nhân hậu. Trong bài văn này, mỗi lần A – li – ô – sa nhắc đến bà ngoại là để gắn với một câu chuyện cổ tích mà bà kể và bây giờ chú lại kể cho các bạn nghe, chỗ nào quên lại chạy về hỏi bà. Khi đứa con lớn của đại tá khái quát: “Có lẽ tất cả các bà đều tốt, bà mình trước cũng rất tốt…”. Thì trước mắt chúng ta hiện lên hình ảnh các nhân vật bà nội, bà ngoại trong vườn cổ tích. Nhất là khi thằng lớn con đại tá thường nói một cách buồn bã: “Ngày trước, trước kia, đã có thời… dường như nó sống trong trái đất này một trăm năm, chứ không phải một năm” thì không khí cổ tích càng hiện rõ trong tác phẩm.
–Không thấy A – li – ô – sa nhắc tên mấy đứa bạn. Chắc khi chơi thân với nhau, thế nào chúng cũng hỏi tên nhau. A – li – ô – sa biết rõ thằng lớn mười một tuổi song nhà văn không chú tâm nhắn tên của mấy đứa trẻ. Làm như vậy, câu chuyện về tình bạn của bọn trẻ thiếu tình thương mang ý nghĩa khái quát và đậm cổ tích nhiều hơn. | Soạn bài những đứa trẻ | 1,135 | |
Soạn bài Nét đẹp xưa và nay
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Quan sát các bức tranh sau và trả lời câu hỏi (SGK/143)
-Mỗi bức tranh vẽ gì?
-Em thích bức tranh nào nhất? Vì sao?
Gợi ý:
Thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới:
+Tranh 1: Một bạn nhỏ đang ôm con gà.
+Tranh 2: Con gà trống với bộ lông sặc sỡ, dáng oai vệ đang chuẩn bị cất tiếng gáy.
+ Tranh 3: Các võ sĩ đang thi đấu vật.
+Tranh 4: Đàn lợn con đang quây quần bên lợn mẹ có khoáy âm dương thật đẹp.
– Em thích bức tranh 1 nhất. Bạn nhỏ thật xinh xắn, thông minh ôm chú gà lông trắng thật ngộ nghĩnh.
2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Tranh làng Hồ” (SGK/144)
5Thảo luận, thực hiện các nhiệm vụ sau:
1)Kể tên một số bức tranh làng Hồ lấy đề tài trong cuộc sống hàng ngày của làng quê Việt Nam.
2)Nêu những đặc điểm của kĩ thuật tạo màu của tranh làng Hồ.
3)Tìm những từ ngữ ở hai đoạn cuối thể hiện sự đánh giá của tác giả đối với tranh làng Hồ.
4)Nêu lí do vì sao tác giả biết ơn những người nghệ sĩ dân gian làng Hồ.
5)Mỗi bạn chọn một đoạn mình thích và đọc trước nhóm, giải thích vì sao mình thích đoạn văn đó.
Gợi ý:
1) Đám cưới chuột, Chăn trâu thổi sáo, Cưỡi trâu thả diều, Chọi trâu, Gà đại cát, Hứng dừa.
3)Tranh khắc lợn ráy có khoáy âm dương rất có duyên, tranh vẽ được đàn gà con tưng bừng bên gà mẹ, kĩ thuật trang trí tinh tế, màu trắng điệp là sự sáng tạo góp phần vào kho tàng màu sắc của dân tộc trong hội họa.
4)Người nghệ sĩ dân gian làng Hồ đã đem vào cuộc sống một cách nhìn thuần phác, đậm đà, lành mạnh, hóm hỉnh và vui tươi.
5)Chọn đọc đoạn 3. Đoạn 3 nêu bật được kĩ thuật pha màu từ thiên nhiên vô cùng độc đáo.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
2.Tìm các tên riêng có trong đoạn trích sau và viết vào vở:
Đỉnh E-vơ-rét trong dây Hi-ma-lay-a là đỉnh núi cao nhất thế giới. Những người đầu tiên chinh phục được độ cao 8848 mét này là Ét- mân Hin-la-ri (người Niu Di-lân) và Ten-sinh No-rơ-gay (một thổ dân vùng Hi-ma-lay-a). Ngày nóc nhà thế giới này bị chinh phục là 29-5-1953.
(Theo TÂN TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA TOÀN THƯ)
Gợi ý:
Ê-vơ-rét, Hi-ma-lay-a, Ét-mân Hin-la-ri, Niu Di-lân, Ten-sinh No-rơ-gay.
3.Trao đổi về cách viết hoa các tên riêng trong đoạn trích.
Gợi ý:
Cách viết hoa tên riêng nước ngoài.
4.a) Chọn câu ca dao / tục ngữ ở cột B nêu được truyền thông quý báu của dân tộc ta ở cột A.
Gợi ý:
a) a – 3; b – 4; c – 1; d – 2
b)(a) Lòng yêu nước căm thù giặc của toàn dân.
(b)Chăm chỉ lao động sẽ gặt hái được thành quả tốt đẹp.
(c)Nêu lên sức mạnh của sự đoàn kết một lòng.
(d)Đề cao tinh thần tương thân tương ái, quan tâm chia sẻ.
5.Chọn từ ngữ trong ngoặc đơn điền vào từng chỗ trống trong các câu sau cho thích hợp (SGK/147)
(thương, cầu kiều, khác giống, ăn cơm, cá ươn)
Gợi ý:
1) Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
2)Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
3)Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Cá không ăn muôi cá ươn
Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.
5) Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Ăn cơm nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng. | Soạn bài Nét đẹp xưa và nay | 593 | |
Soạn bài nói quá lớp 8
Hướng dẫn
Soạn bài nói quá lớp 8
I. Nói quá và tác dụng của nói quá
Đọc các câu tục ngữ và ca dao trong SGK ta thấy:
1.Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối
Và:
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Thực chất là sự phóng đại mức độ, tính chất nội dung của các câu này.
2.Trong ngôn ngữ nói và viết, có lúc người ta diễn tả một cách cường điệu sự vật quá mức bình thường để nhấn mạnh. Những cách diễn đạt như vậy gọi là nói quá nhưng không phải là nói sai nên người nghe vẫn hiểu ý đó là nhấn mạnh, làm đậm nét hơn ý muốn nói.
II. Luyện tập.
1.
a.Nói quá về sức người, nhưng rất đúng: bàn tay con người có thể biến sỏi đá thành cơm (lao động tỉa trên sỏi đá để lấy hạt thóc).
b.Có ý nhấn mạnh dù vết thương có đau vẫn có thể đi bất cứ đâu – đi lên đến tận chân trời.
c.Ý muốn nói quá về lời nói của con người có quyền hành, mỗi lời nói ra là người khác phải nghe theo. « Thét ra lửa » là nói quá về nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm Chí Phèo.
2.
a.Ở nói chó ăn đá gà ăn sỏi thế này, đến cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.
c.Cô Nam tính tình xởi lợi ruột để ngoài da.
Các em làm tiếp câu d và câu e.
3.
-Kiều có vẻ đẹp nghiên nước nghiêng thành.
-Việc xây dựng các nhà máy thủy điện, có khác gì chúng ta dời non lấp biển.
-Bà Nữ Oa là người đội đá vá trời.
-Bộ đội ta mình đồng da sắt.
-Bài toán nay tớ nghĩ đã nát óc mà chưa giải được.
4.Năm thành ngữ có biện pháp nói quá.
-Nhìn như muốn nuốt chửng người ta.
-Khỏe như voi.
-Ăn như lợn.
-Nhanh như cắt.
-Hiền như đất.
-Chậm như rùa.
5.Viết đoạn văn hoặc làm một bài thơ có dùng đến biện pháp nói quá.
CA DAO (Sưu tầm)
Lỗ mũi mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo: Tơ hồng trời cho.
Đêm nằm thì gáy o o,
Chồng yêu chồng bảo: Ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo: về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùng cơm.
Chồng yêu chồng bảo: Hoa thơm rắc đầu.
-Làm trai cho đáng sức trai
Khom lưng uốn gối gánh hai hạt vừng.
-Mình chạy như bay đén nỗi mấy chiếc máy bay đuổi theo cũng không kịp. Thế mà vẫn không kịp giờ vào lớp. Sau khi xin cô giáo vào lớp, mình ngồi xuống đọc đề văn rồi ngoáy như điên mà cũng không kịp.
-Mặt trời đã lên cao, song sương không biến hẳn. Nó lãng đãng, vần vũ, chỗ đậm, chỗ nhạt, để rồi lại quánh sệt vào sáng hôm sau. | Soạn bài nói quá lớp 8 | 469 | |
Nói quá là một trong những phương thức nói quá lên, nói cường điệu lên để nhằm có thể nhấn mạng cũng như gấy ấn tượng đối với người nghe. Để có thể học tốt bài Nói quá các em học sinh hãy cùng theo dõi bài soạn mà hôm nay Giải Văn mang đến cho các em nhé!
Soạn bài Nói quá Ngữ văn 7
Bài làm
I- Nói quá và tác dụng của nói quá
1. Người ta nói
Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối
Hay Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày là quá sự thật.
+ Thực chất, ta biết được câu tục ngữ này muốn nhấn mạnh tới sự đối lập về thời gian hai mùa trong năm đó chính là về mùa hè – mùa đông.
+ Hai câu trên cũng đã khuyên chúng ta cần biết trân trọng thời gian, biết cách sắp xếp hợp lývào những công việc của mình.
2. Chính cách nói cường điệu có tác dụng nhấn mạnh, dường như cũng đã lại gây ấn tượng tới điều được nói tới.
Luyện tập
Bài 1 (Sách giáo khoatrang 102 Ngữ văn 8 tập 1) Tìm biện pháp nói quá và giải thích ý nghĩa của chúng trong các ví dụ sau
a, Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.
– Câu nói này nói quá nhấn mạnh vai trò của những sức lao động con người có thể cải tạo tự nhiên mang lại nguồn sống cho chính con người.
– Câu này nói quá nhằm khẳng định không ngại khó, không ngại khổ gì cả
c, cụ bà thét ra lửa
– Trong trường hợp này nói quá thể hiện nhân vật bà cụ có thế lực và cũng lại có quyền lực.
Soạn bài Nói quá
Bài 2 (Sách giáo khoa trang 102 Ngữ văn 8 tập 1) Điền các thành ngữ sau đây vào chỗ trống l…l để tạo biện pháp tu từ nói quá: Bầm gan tím ruột, chó ăn đá gà ăn sỏi, nở từng khúc ruột, ruột để ngoài da, vắt chân lên cổ.
a) Ở nơi l…l thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.
b) Nhìn thấy tội ác của giặc, ai ai cũng l…l.
c) Cô Nam tính tình xởi lởi, l…l. d) Lời khen của cô giáo làm cho nó l…l.
e) Bọn giặc hoảng hồn l…l mà chạy.
a, Chó ăn đá gà ăn sỏi
b, Bầm gan tím ruột
c, Ruột để ngoài da
d, Nở từng khúc ruột
e, Vắt chân lên cổ
Bài 3 (Sách giáo khoa trang 102 Ngữ văn 8 tập 1) Đặt câu với các thành ngữ dùng biện pháp nói quá sau đây: nghiêng nước nghiêng thành, dời non lấp hiển, lấp biển vá trời, mình đồng da sắt, nghĩ nát ốc.
+ Nàng Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của tác giả Nguyễn Du có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành.
+ Thực sự thì nhân dân ta có sức mạnh dời non lấp biển để có thể đánh tan mọi âm mưu, đánh tan mọi thủ đoạn của bọn đế quốc Mĩ và tay sai.
+ Mong muốn của tôi là luôn thích nghe cô ấy kể về chuyện thần Nữ Oa lấp biển vá trời.
+ Hiện tại thì chúng tôi đâu phải mình đồng da sắt để có thể chịu được thời tiết biến đổi nóng hầm hập như vậy chứ.
+ Tôi và các nạn cũng đã nghĩ nát óc mà chưa tìm ra cách giải bài toán thầy giao.
Bài 4 (Sách giáo khoa trang 103 Ngữ Văn 8 tập 1) Tìm năm thành ngữ so sánh có dùng biện pháp nói quá.
– Lấy 5 thành ngữ so sánh có sử dụng biện pháp nói quá
5 thành ngữ so sánh có sử dụng biện pháp nói quá đó chính là:
+ Đen như than
+ Ngáy như sấm
+ Đau như đứt ruột
+ Kêu như tránh đánh
+ Nắng như đổ lửa
Bài 5 (Sách giáo khoa trang 103 Ngữ Văn 8 tập 1) Viết một đoạn văn hoặc làm một bài thơ có dùng biện pháp nói quá.
Em cũng hoàn toàn có thể chọn bài ca dao/ câu tục ngữ để phân tích về biện pháp nói quá có sử dụng trong bài tập.
+ Hãy nghị luận về sức mạnh của tuổi trẻ, ý chí cũng như nghị lực của con người…như Bác Hồ từng nói:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Quyết chí ắt làm nên.
Bài 6 (Sách giáo khoa trang 103 Ngữ Văn 8 tập 1) (Thảo luận ờ tổ hoặc ở lớp) Phân biệt biện pháp tu từ nói quá với nói khoác.
Điểm giống nhau:
– Đều nói lên những điều không có thật, nói phóng đại lên.
Khác nhau đó là:
– Nói quá để có thể nhằm gây ấn tượng mạnh, khẳng định, tăng sức biểu cảm cho câu, cho lời nói.
– Nói khoác được hiểu là nói những điều không đúng sự thật, và cũng lại không có thật để phô trương, khoe khoang…
Thông qua bài học này các em nhận biết được đâuu là từ khóa, từ khóa có tác dụng gì trong giao tiếp cũng như trong sác tác để từ đó có thẻ vận dụng một cách nhuần nhuyễn nhất, hay nhất.
Chúc các em thành công!
Minh Minh
Các em có thể tham khảo một số bài soạn liên quan đến chương trình Ngữ văn 7 dưới đây:
Soạn bài Tục ngữ về con người và xã hội
Soạn bài Cảnh Khuya
Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Soạn bài Những câu hát than thân
Soạn bài Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người
Từ khóa từ Google:
soạn bài nói quá | Soạn bài Nói quá Ngữ văn 7 | 928 | |
Soạn bài nói quá
Hướng dẫn
I.Nói quá và tác dụng của nói quá
Đọc các câu tục ngữ và ca dao trong SGK ta thấy:
1.Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối
Và:
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Thực chất là sự phóng đại mức độ, tính chất nội dung của các câu này.
2.Trong ngôn ngữ nói và viết, có lúc người ta diễn tả một cách cường điệu sự vật quá mức bình thường để nhấn mạnh. Những cách diễn đạt như vậy gọi là nói quá nhưng không phải là nói sai nên người nghe vẫn hiểu ý đó là nhấn mạnh, làm đậm nét hơn ý muốn nói.
II.Luyện tập.
1.
a.Nói quá về sức người, nhưng rất đúng: bàn tay con người có thể biến sỏi đá thành cơm (lao động tỉa trên sỏi đá để lấy hạt thóc).
b.Có ý nhấn mạnh dù vết thương có đau vẫn có thể đi bất cứ đâu – đi lên đến tận chân trời.
c.Ý muốn nói quá về lời nói của con người có quyền hành, mỗi lời nói ra là người khác phải nghe theo. “Thét ra lửa” là nói quá về nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm Chí Phèo.
2.
a.Ở nói chó ăn đá gà ăn sỏi thế này, đến cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.
b.Nhìn thấy tội ác của giặc ai ai cũng bầm gan tím ruột.
Các em làm tiếp câu d và câu e.
3.
-Kiều có vẻ đẹp nghiên nước nghiêng thành.
-Việc xây dựng các nhà máy thủy điện, có khác gì chúng ta dời non lấp biển.
-Bà Nữ Oa là người đội đá vá trời.
-Bộ đội ta mình đồng da sắt.
-Bài toán nay tớ nghĩ đã nát óc mà chưa giải được.
4.Năm thành ngữ có biện pháp nói quá.
-Nhìn như muốn nuốt chửng người ta.
-Khỏe như voi.
-Ăn như lợn.
-Nhanh như cắt.
-Hiền như đất.
-Chậm như rùa.
5.Viết đoạn văn hoặc làm một bài thơ có dùng đến biện pháp nói quá.
CA DAO (Sưu tầm)
Lỗ mũi mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo: Tơ hồng trời cho.
Đêm nằm thì gáy o o,
Chồng yêu chồng bảo: Ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo: về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùng cơm.
Chồng yêu chồng bảo: Hoa thơm rắc đầu.
-Làm trai cho đáng sức trai
Khom lưng uốn gối gánh hai hạt vừng.
-Mình chạy như bay đén nỗi mấy chiếc máy bay đuổi theo cũng không kịp. Thế mà vẫn không kịp giờ vào lớp. Sau khi xin cô giáo vào lớp, mình ngồi xuống đọc đề văn rồi ngoáy như điên mà cũng không kịp.
-Mặt trời đã lên cao, song sương không biến hẳn. Nó lãng đãng, vần vũ, chỗ đậm, chỗ nhạt, để rồi lại quánh sệt vào sáng hôm sau. | Soạn bài nói quá | 461 | |
Soạn bài Nói với con
Hướng dẫn
A.YÊU CẦU
-Cảm nhận được tình cảm thắm thiết của cha mẹ đối với con cái, thây được niềm tự hào, tình yêu sâu nặng của nhà thơ đốì với quê hương, dân tộc.
-Bước đầu hiểu được cách diễn tả độc đáo, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm của bài thơ.
B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP
I- Phần bài học
Câu hỏi 1. Mượn lời nói với con, nhà thơ gợi về cội nguồn sinh dương mỗi con người, gợi về sức sống mạnh mè, bền bỉ của quê hương mình. Bố cục của bài thơ đã thể hiện ý tưởng đó như thế nào?
Gợi ý
Mượn lời người cha nói với con, Y Phương gợi về cội nguồn sinh dưỡng mỗi con người, bộc lộ niềm tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền bỉ của quê hương mình. Bài thơ được chia thành hai đoạn:
-Đoạn 1 (từ đầu đến "Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời"): Con lớn lên trong tình yẽu thương, sự nâng đỡ của cha mẹ, trong cuộc sống lao động của quê hương.
-Đoạn 2 (phần còn lại): Lòng tự hào với sức sông mạnh mẽ, bền bĩ, với truyền thống tốt đẹp của quê hương và niềm mong ước con hày kế tục xứng đáng truyền thông ấy.
Với bố cục này, bài thơ đi từ tình cảm gia đình và mở rộng ra tình cảm quê hương, từ những kỉ niệm gần gũi, thiết tha mà nâng lên thành lẽ sống.
Câu hỏi 2. Con được lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ, trong sự đùm bọc của quê hương. Hãy tìm và phân tích các câu thơ nói lên điều ấy.
Gợi ý
-Ở bốn câu thơ đầu, bằng các hình ảnh thật cụ thể, Y Phương đã tạo được không khí gia đình đầm ấm, quân quýt. Từng bước đi, từng tiếng nói, tiếng cười của con đều được cha mẹ chăm chút, mừng vui đón nhận. Đó là tình yêu thương, chở che, nâng đỡ mà cha mẹ dành cho con.
-Con còn được trưởng thành trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và nghĩa tình của quê hương. Đó là cuộc sống lao động cần cù và tươi vui của "người đồng mình", được nhà thơ gợi lên qua các hình ảnh đẹp:
Đan lờ cùi nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Các động từ cài, ken vừa miêu tả cụ thể, vừa nói lên được tình cảm gắn bó, quấn quýt của con người đối với quê hương.
Rừng núi quê hương thơ mộng và nghĩa tình, đã che chở, nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn, lối sống:
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Câu hỏi 3. Ngươi cha nói với con về những đức tính cao đẹp gì của người "đồng mình", từ đó nhắc nhở con trên đương đời cần phải như thế nào?
Gợi ý
-Người cha nói với con về những đức tính cao đẹp của "người đồng mình":
+ Sống vất vả mà mạnh mẽ, khoáng đạt, bền bỉ gắn bó với quê hương dẫu còn cực nhọc, đói nghèo.
-Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
-Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc
Từ đó, người cha mong muốn con phải có nghĩa tình chung thuỷ với quê hương, biết chấp nhận và vượt qua gian nan, thử thách băng ý chí, bằng niềm tin của mình.
"Người đồng mình" mộc mạc nhưng giàu chí khí, niềm tin. Họ có thể "thô sơ da thịt" nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí và luôn mong ước xây dựng quê hương. Chính những con người như thế, bằng sự lao động cần cù, nhẫn nại hăng ngày, đã làm nên quê hương với truyền thông, với phong tục tập quán tốt đẹp:
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
-Qua việc ca ngợi những đức tính cao đẹp của "người đồng mình", nhà thơ dặn dò con cần kế tục, phát huy một cách xứng đáng truyền thống của quê hương, biết tự hào với truyền thống quê hương. Hai ý này không tách rời nhau trong đoạn 2 của bài thơ nên lời dặn dò trở nên vừa lự nhiên, vừa thấm thìa.
Câu hỏi 4. Em cảm nhận như thế nào về tình cảm của người cha đối với con trong bài thơ? Điều lớn lao nhất mà người cha muốn truyền cho con qua những lời này là gì?
Gợi ý
-Có thể cảm nhận về tình cảm của người cha đối với con thật yêu thương trìu mến, thiết tha và tin tưởng.
-Điều lớn lao nhất mà người cha truyền tới cho con chính là lòng tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, với truyền thống tốt đẹp của quê hương và sự vững tin để con bước vào đời.
Câu hỏi 5. Nhận xét về cách diỗn tả tinh cảm và suy nghĩ băng hình ảnh của nhà thơ. (Gơi ý: Người miền núi thường có cách nói giàu hình ảnh, cụ thể, mộc mạc mà có tính khái quát, giàu chất thơ. Chẳng hạn bốn dòng thơ đầu bài hay các câu: "Đan lờ cài nan hoa / Vách nhà ken câu hát", "Ngươi đồng mình lự đục đá kê cao quê hương",…).
Gợi ý
Điểm đặc sắc nhât của bài thơ có lẽ là cách diễn tả tình cảm và suy nghĩ bằng hình ảnh của nhà thơ.
Bài thơ được diễn đạt bằng một giọng điệu thiết tha, trìu mến. Điều này có thể thây ngay ở các lời gọi mang ngữ điệu cảm thán: "Người đồng mình yêu lâm con ơi", "Người đồng mình thương lắm con ơi" và những lời tâm linh, dặn dò: "Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn", Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con", "Nghe con",…
Bài thơ có nhiều hình ảnh cụ thể mà có sức khái quát cao, mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ.
II – Phần luyện tập
Em hãy hình dung mình là đứa con trong bài thơ đang nghe cha mình nói với mình để thực hiện yêu cầu được nêu ở phần này trong SGK trang 74. | Soạn bài Nói với con | 1,036 | |
Soạn bài Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô Đại cáo)
Hướng dẫn
Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. Khi nêu tiền đề sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Việ Nam ta. Nguyễn Trãi đã khẳng định những chân lý:
-Nước ta có nền văn hiến lâu đời.
-Nước ta có cương vực lãnh thổ riêng.
-Nước ta có phong tục tập quán.
-Nước ta có lịch sử riêng, chế độ riêng.
Câu 2. Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là ‘yên dân’, ‘trừ bạo’. Yên dân là là cho dân được an hưởng thái bình, hạnh phúc. Muốn yên dân thì phải trừ diệt mọi thế lực bạo tàn. Đặt trong hoàn cảnh Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo thì người dân mà tác giả nói tới là người dân Đại Việt đang bị xâm lược, còn kẻ thù tàn bạo chính là giặc Minh cướp nước. Như vậy, với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa gắn liền với yêu nước, chống ngoại xâm. Nhân nghĩa không những trong quan hệ giữa người với người mà còn trong quan hệ giữa dân tộc với dân tộc. Đây là nội dung mới, là sự phát triển của tư tưởng nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi so với Nho giáo. Nhân nghĩa trong phạm trù Nho giáo chủ yếu là mối quan hệ giữa người với người, khi vào Việt Nam, do hoàn cảnh riêng của nước ta thường xuyên phải chống xâm lược, trong nội dung nhân nghĩa còn có cả mối quan hệ dân tộc với dân tộc.
Trong bài Nam quốc sơn hà, tác giả đã thể hiện một ý thức dân tộc, niềm tự hào dân tộc sâu sắc qua từ ‘đế’. Ở Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy niềm tự hào dân tộc sâu sắc, mạnh mẽ đó: ‘mỗi bên xưng đế một phương’. Cần phân biệt sự khác nhau giữa ‘đế’ và ‘vương’ mặc dù dịch sang tiếng Việt đều là ‘vua’. Nếu ‘đế’ là vua thiên tử, duy nhất, toàn quyền thì ‘vương’ là vua chư hầu, có nhiều và phụ thuộc vào đế. Nêu cao tư tưởng hoàng đế là phủ nhận tư tưởng ‘trời không có hai mặt trời, đất không có hai hoàng đế’ là khẳng định Đại Việt có chủ quyền ngang hàng với phương Bắc.
-Tác giả sử dụng những từ ngữ thể hiện tính chất hiển nhiên, vốn có, lâu đời của nước Đại Việt độc lập, tự chủ. Bản dịch đã cố gắng lột tả bằng các từ ‘từ trước’, ‘vốn có’, ‘đã lâu’, ‘đã chia’, ‘cũng khác’ (Nguyên văn: ‘duy ngã …’, ‘thực vi … ‘, ‘kỳ thù’, ‘diệc dị’).
-Sử dụng biện pháp so sánh: so sánh ta với Trung Quốc, đặt ta ngang hàng với Trung Quốc, ngang hàng về trình độ chính trị, tổ chức chế độ, quản lí quốc gia (Triệu, Đinh, Lý, Trần ngang hàng với Hán, Đường, Tống, Nguyên).
Câu 5. Câu văn biến ngẫu cân xứng, nhịp nhàng.
Ở bài thơ Nam quốc sơn hà, tác giả cũng khẳng định sức mạnh của chân lý chính nghĩa của độc lập dân tộc, kẻ xâm lược là giặc bạo ngược (nghịch lỗ) làm trái lẽ phải, phạm vào sách trời (thiên thư) cùng có nghĩa là đi ngược lại chân lý khách quan nhất định sẽ chuốc lấy thất bại hoàn toàn (thủ bại hư).
Ở Bình Ngô đại cáo sau khi nêu nguyên lí nhân nghĩa, nêu chân lí khách quan. Nguyễn Trãi đưa ra những chứng minh đầy tính thuyết phục về sức mạnh của nhân nghĩa, của chân lí, nói chung lại là sức mạnh của chính nghĩa. Lưu Cung thất bại, Triệu Tiết tiêu vong. Toa Đô, Ô Mã, kẻ bị giết, người bị bắt. Tác giả lấy ‘chứng cớ còn ghi’ để chứng minh cho sức mạnh của chính nghĩa đồng thời thể hiện niềm tự hào dân tộc.
-Có thể khái quát trình tự lập luận trong đoạn trích Nước Đại Việt ta bằng sơ đồ sau.
Luyện tập
(Xem câu 3) ở mục Đọc – hiểu văn bản | Soạn bài Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô Đại cáo) | 679 | |
Đề bài: Soạn Bài Nước Đại Việt Ta Ngữ Văn 8
Bài Làm
Câu 1: Đoạn trích là phần mở đầu bài Bình Ngô đại cáo. Đoạn này có ý nghĩa nêu tiền đề cho toàn bài, và tất cả nội dung được phát triển về sau đều xoay quay tiền đề đó. Khi nêu tiền đề, tác giả đã khẳng định nguyên lí nhân nghĩa (hai câu đầu):
Câu 2:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo“
Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là “yên dân”, “trừ bạo”. Yên dân là làm cho dân được an hưởng thái bình, hạnh phúc. Muốn yên dân thì phải trừ diệt mọi thế lực bạo tàn. Đặt trong hoàn cảnh Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo thì người dân mà tác giả nói tới là người dân Đại Việt, đang bị xâm lược, còn kẻ bạo tàn chính là giặc Minh cướp nước. Như vậy, với Nguyễn Trãi nhân nghĩa gắn liền với yêu nước chống xâm lược.
Nhân nghĩa của nho giáo là mối quan hệ giữa người với người, đến Nguyễn Trãi ông phát triển lên thành mối quan hệ giữa dân tộc với dộc. Đây là 1 tư tưởng lớn, mới mẻ, tiến bộ, xuất phát từ 1 con người “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Và tư tưởng này đến nay vẫn thể hiện rõ tính chất đúng đắn của nó qua chính sách của Đảng ta: do dân, vì dân.
– Nền văn hiến lâu đời
– Cương vực lãnh thổ
– Phong tục tập quán
– Lịch sử riệng
– Chế độ riêng
So với văn bản Sông núi nước Nam (đã học ở lớp 7) thì quan niệm của Nguyễn Trãi về quốc gia dân tộc đã được kế thừa và phát huy.:
Sông núi nước Nam
Bình Ngô đại cáo
Lãnh thổ
Chủ quyền
Lãnh thổ
Chủ quền
Nền văn hiến lâu đời
Phong tục tập quán
Truyền thống lịch sử
Chế độ riêng
Qua đây, chúng ta thấy so với thời Lý, học thuyết của Nguyễn Trãi về quốc gia, dân tộc phát triển cao hơn, mang tính toàn diện và sâu sắc hơn. Nguyễn Trãi đã ý thức được văn hiến và truyền thống lịch sử là yếu tố căn bản nhất, là hạt nhân để xác định dân tọc. sự sâu sắc của Nguyễn Trãi còn thể hiện ở chỗ: điều mà kẻ xâm lược luôn tìm cách phủ định (văn hiến nước nam) thì chính lại là thực tế, tồn tại với sức mạnh của chân lý khách quan. Quan niệm về quốc gia, dân tộc của Nguyễn Trãi mang tính toàn diện và sâu sắc, qua đó chân lí đó được khẳng định đanh thép như 1 bản tuyên ngôn độc lập.
Soạn Bài Nước Đại Việt Ta Ngữ Văn 8 | Làm Văn Mẫu
Câu 4: Những nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn trích:
– Tác giả sử dụng những từ ngữ thể hiện tính chất hiển nhiên, vốn có, lâu đời của nước đại việt độc lập, tự chủ.
– Cách lập luận chặt chẽ, chứng cớ hùng hồn
– Sử dụng những từ ngữ thể hiện tính chất hiển nhiên, vốn có, lâu đời của nước Đại Việt
– Biện pháp so sánh: đặt các triều đại Đại Việt song song cùng các triều đại Trung Hoa
Câu 5:
Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và thực tiễn. Nguyễn Trãi đã tự tin khẳng định truyền thống văn hiến lâu đời của nước Việt ta. Và quả thực chúng ta rất tự hào bởi trên thực tế:
“Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác”
Nhân dân ta có chủ quyền, có thuần phong mỹ tục riêng làm nên hai phương Bắc – Nam khác biệt. Ta có nền độc lập vững vàng được xây bằng những trang sử vẻ vang. Hùng cứ cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên ở phương Bắc là các triều Triệu, Đinh, Lý, Trần ở phương Nam. Hơn thế nữa, bao đời nay:
“Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
So với Nam quốc sơn hà, khái niệm quốc gia dân tộc của Nguyễn Trãi hoàn thiện hơn nhiều. Vậy là sức mạnh của nhân nghĩa, một khái niệm chung chung trừu tượng đã được người anh hùng dân tộc làm cho sinh động bằng chính thực tiễn lịch sử oai hùng của dân tộc. | Soạn Bài Nước Đại Việt Ta Ngữ Văn 8 | 754 | |
Soạn bài Nối những mùa hoa
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Dựa vào những bức ảnh bên dưới và các câu hỏi trong vòng tròn ở giữa sơ đồ, nói những điều em biết về loài ong (SGK/30).
Gợi ý:
Ong là loài động vật có cánh, sống tập thể và có tính kỉ luật cao. Hằng ngày, không kể thời gian, không kể quãng đường, đàn ong tìm mật của hoa để tạo ra mật ong. Mật ong là chất tinh tuý của hoa, rất tốt cho sức khoẻ và chữa được một số bệnh.
2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài thơ “Hành trình của bầy ong” (SGK/31).
5.Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1)Những chi tiết nào nói lên hành trình vô tận của bầy ong? (Đọc khổ thơ đầu).
2)Bầy ong đến tìm mật ở những nơi nào? (Đọc khổ thơ 2).
3)Nơi rừng sâu, biển xa, quần đảo mà bầy ong đến có vẻ đẹp gì đặc biệt? (Đọc khổ thơ 2).
4)Em hiểu câu thơ “Đất nơi đâu cũng tìm ra ngọt ngào” ý nói gì?
5)Qua hai dòng thơ cuối bài, tác giả muốn nói diều gì về sự cần cù và công việc của loài ong?
Gợi ý:
1) Những chi tiết nói lên hành trình vô tận của bầy ong: bay đến trọn đời, thời gian vô tận.
2)Bầy ong đến tìm mật ở những nơi rừng sâu thăm thẳm, ở biển cả, quần đảo, ở cả trăm miền.
Biển xa có hàng cây chắn bão nở hoa dịu dàng.
Quần đảo có những loài hoa không tên nở rộ.
4)Dù đến bất cứ nơi đâu, bầy ong cũng chăm chỉ tìm hoa làm mật, mang hương vị ngọt ngào cho đời.
5)Sự cần cù và công việc của loài ong thật đẹp đẽ và có ý nghĩa: giữ cho người những mùa hoa đã tàn nhờ chắt lọc trong vị ngọt hương thơm của hoa những giọt mật tinh tuý.
7.Tìm hiểu cấu tạo bài văn tả người.
1)Đọc bài văn “Hạng A Cháng” (SGK/33).
2)Mỗi phần 1, 2, 3 của bài văn trên có nội dung gì?
(Nối tên mỗi phần của bài văn ở cột A với nội dung tương ứng ở cột B trong phiếu bài tập để trả lời).
3)Tác giả giới thiệu Hạng A Cháng bằng cách nào?
4)Ngoại hình của A Cháng có những điểm gì nổi bật?
Gợi ý: Em tìm những từ ngữ miêu tả nước da, dáng vóc, đôi vai, bộ ngực, bắp tay, bắp chân,… của A Cháng.
5)Qua đoạn văn miêu tả hoạt động của A Cháng, em thấy A Cháng là người như thế nào?
Gợi ý: Em nhận xét về ngoại hình, sức khoẻ, tinh thần lao động của Hạng A Cháng.
6)Ý chính của đoạn kết bài là gì? Chọn ý đúng để trả lời:
a)Ca ngợi vẻ đẹp ngoại hình của Hạng A Cháng.
b)Ca ngợi sức lực tràn trề của Hạng A Cháng.
d)Ca ngợi dòng họ của Hạng A Cháng.
7)Từ bài văn trên, nhận xét về cấu tạo của bài văn tả người.
-Bài văn tả người thường gồm mấy phần? Đó là những phần nào?
-Mỗi phần trong bài văn tả người thường có nội dung gì?
Gợi ý:
2) Phần 1 — c; phần 2 – a; phần 3 – b.
3)Tác giả giới thiệu Hạng A Cháng bằng cách đưa ra lời khen của các cụ già trong làng về thân hình khoẻ và đẹp của anh.
4)Hạng A Cháng ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay bắp chân chắc như trắc, gụ, vóc cao, vai rộng, người đứng thẳng như cột đá.
5)A Cháng là người có ngoại hình đẹp, rất khoẻ, lao động cần cù và giỏi giang.
6)b.
7)Nội dung ghi nhớ SGK / 35.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Lập dàn ý chi tiết cho bài văn tả một người trong gia đình em (chú ý những nét nổi bật về ngoại hình, tính tình và hoạt động của người đó).
2.Kể cho các bạn nghe một câu chuyện em đã đọc hay đã nghe có nội dung bảo vệ môi trường.
Gợi ý
1. Tham khảo bài lập dàn ý bài văn tả mẹ tại đây:
2.Tham khảo sách Truyện đọc lớp 5. | Soạn bài Nối những mùa hoa | 676 | |
Soạn bài Nữ tính và nam tính
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Chọn tên huân chương (Huân chương Lao động, Huân chương Quân công, Huân chương Sao vàng) điền vào từng chỗ trống dưới đây:
a)Huân chương cao quý nhất cua nước ta là…
b)… là huân chương dành cho những tập thể và cá nhân lập nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, cung cố quốc phòng.
c)… là huân chương dành cho những tập thể và cá nhân lập nhiều thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất.
Gợi ý:
a)Huân chương Sao vàng
b) Huân chương Quân công
c) Huân chương Lao động
3.a) Viết vào vở cho đúng tên các danh hiệu, huân chương được in nghiêng dưới đây:
Bác Hồ nói: “Non sông gấm vóc cúa chúng ta do phụ nữ ta, trẻ cũng như già góp phần thêu dệt nên”. Tiếp nối truyền thống của Hai Bà Trưng và Bà Triệu, ngày nay, phụ nữ đã có những đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiêu biểu cho những anh hùng của thời đại mới là 214 cô bác được nhận các danh hiệu cao quý: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là một trong những tổ chức quần chúng lớn mạnh của nước ta. Hội đã được Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như: huân chương sao vàng (1985), huân chương độc lập hạng ba (1997), huân chương lao động hạng nhất (1998), huân chương độc lập hạng nhất (2000)
Gợi ý:
a) Anh hùng Lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang, Huân chương Sao vàng, Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất.
4.a) Em có đồng ý với ý kiến sau không?
Những phẩm chất quan trọng nhất của nam giới là dũng cảm, cao thượng, năng nổ, thích ứng được với mọi hoàn cảnh; còn ở phụ nữ, quan trọng nhất là dịu dàng, khoan dung, cần mẫn và biết quan tâm đến mọi người.
b)Em thích phẩm chất nào nhất:
-Ở một bạn nam?
-Ở một bạn nữ?
c)Hãy giải thích nghĩa của từ ngữ chỉ phẩm chất mà em vừa chọn.
Gợi ý:
a) Em đồng ý
b)- Ở một bạn nam: dũng cảm
-Ở một bạn nữ: dịu dàng
c)- Dũng cảm: gan dạ, không ngại gian khó, không sợ nguy hiểm
–Dịu dàng: nhẹ nhàng, hòa nhá, cứ chỉ và lời nói nho nhẹ
5.Đọc lại truyện Một vụ đắm tàu. Theo em, Giu-li-ét-ta và Ma-ri-ô có chung những phẩm chất gì? Mỗi nhân vật có những phẩm chất gì tiêu biểu cho nữ tính và nam tính?
Gợi ý:
Giu-li-ét-ta và Ma-ri-ô có chung những phẩm chất tốt đẹp: giàu tình cảm, biết quan tâm, chia sẻ.
-Ma-ri-ô: kín đáo, mạnh mẽ, quyết đoán, cao thượng
–Giu-li-ét-ta: dịu dàng, ân cần, đầy nữ tính
B. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1.Kể cho người thân nghe những trò chơi / những công việc mà bạn nam, bạn nữ trong lớp thích.
– Bạn nam: đá bóng, đá cầu, khuân bàn ghế, lau bảng lớp.
-Bạn nữ: nhảy dây, banh đùa, trang trí lớp. | Soạn bài Nữ tính và nam tính | 526 | |
Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà văn hóa, một vị lãnh tụ tài ba mà Người còn là một người vô cùng giản dị trong phong cách sống. Phong cách Hồ Chí Minh chính là một trong những bài học hấp dẫn trong chương trình văn học lớp 8. Giải Văn hôm nay sẽ giúp cho các em có được một bài giải hay, chính xác và ngắn gọn nhất nhé!
Soạn bài Phong cách Hồ Chí Minh
Bài làm
Bố cục bài Phong cách Hồ Chí Minh
– Phần 1 (từ đầu … rất hiện đại): Phần này nêu ra được Hồ Chí Minh tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
– Phần 2 (tiếp … hạ tắm ao): Cho thấy được vẻ đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh.
– Phần 3 (Đoạn còn lại): Nói lên được nghĩa phong cách Hồ Chí Minh.
Đọc hiểu văn bản
Câu 1 (SGK trang 8 Ngữ Văn 9 Tập 1): Vốn tri thức văn hóa nhân loại sâu rộng của Hồ Chí Minh được thể hiện ở đâu? Và để có vốn tri thức sâu rộng ấy Bác đã làm những gì?
– Có thể nhận thấy được vốn tri thức văn hóa sâu rộng của Hồ Chí Minh: Người cũng đã tiếp xúc, am hiểu văn hóa các dân tộc thế giới. Không những thế mà Người cũng nói viết thành thạo nhiều ngôn ngữ trên thế giới (Pháp, Anh, Hoa, Nga … )
– Lí do:
+ Bác có tính ham học hỏi, đi đến đâu cũng học hỏi tìm hiểu.
+ Bác Hồ cũng đã lại tiếp thu một cách có chọn lọc, biết phê phán những cái tiêu cực.
Câu 2 (SGK trang 8 Ngữ Văn 9 Tập 1): Lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất Phương Đông của Hồ Chí Minh được biểu hiện ở mặt nào?
Có thể nhận thấy được những biểu hiện của lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông của Bác Hồ như:
– Ngay cả nơi ở và làm việc mộc mạc đơn sơ và vô cùng giản dị: Ngôi nhà sàn nhỏ ít phòng, ít đồ đạc ở cạnh ao.
– Trang phục của Bác cũng rất giản dị: Bác mặc bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ và có đôi dép lốp cao su.
– Bác ăn uống đạm bạc: Tất cả những món ăn dân dã không cầu kì như cá kho, rau luộc, cà muối …
Soạn bài Phong cách Hồ Chí Minh Ngữ văn 8
Câu 3 (SGK trang 8 Ngữ Văn 9 Tập 1): Lối sống của Bác là sự kết hợp giữa giản dị và thanh cao bởi đâu?
Có thể nhận thấy được chính lối sống của Bác là sự kết hợp giữa giản dị và thanh cao. Thực sự rằng đây không phải lối sống tự tìm niềm vui trong cảnh nghèo. Người ta thấy từ cách bài trí cho đến ăn ở, sinh hoạt của Bác cũng đều thể hiện sự thanh thản, tự tại. Cuộc sống của Bác – vị lãnh tụ của cả một quốc gia được ví như những nhà hiền triết ẩn dật Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,… tuy thế nhưng không phải một cách tự thần thánh hóa …
Những cảm nhận về những nét đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện:
– Ở đây cũng lại có được sự kết hợp hài hòa, luôn luôn trọn vẹn giữa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại.
– Đồng thời cũng lại có được sự học tập không ngừng, tiếp thu có chọn lọc.
– Chính những lối sống giản dị mà thanh cao trong mọi mặt của Bác được thể hiện như nhà ở, trang phục, ăn uống, tư trang.
Luyện tập
Bài tập trang 8 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1: Em hãy tìm đọc và kể lại một số câu chuyện về lối sống giản dị mà cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà em biết:
+ Tác phẩm “Tức cảnh Pác Bó”, đó là những câu chuyện khi Bác ở Pác Bó.
+ Việc chi tiêu của Bác Hồ. Khi các đồng chí ở gần Bác đều cho biết Bác rất tiết kiệm. Bác có đôi tất rách đã vá đi, mà đáng nói là đã vá lại mấy lần Bác cũng không dùng tất mới. Bác nói rằng:
– Cái gì còn dùng được nên dùng. Bỏ đi không nên…
Thế rồi khi tất rách chưa kịp vá, anh em cũng đã đưa đôi mới để Bác dùng, Bác Hồ xoay chỗ rách vào bên trong rồi cười xí xóa rằng:
Thế rồi lại có quả chuối hơi nẫu, lúc đó thì anh cán bộ chê không ăn, Bác Hồ cũng đã lấy dao gọt phần nẫu đi, bóc ăn ngon lành, rồi Bác nhẹ nhàng nói:
– Ở chiến khu có được quả chuối này cũng đã quý…
Tác phẩm đã cho thấy được phong cách giản dị, cũng như sự ham học hỏi của một vị lãnh tụ. Hi vọng với cách soạn bám sát chương trình thì Giải Văn cũng đã mang đến cho bạn đọc một bài học bổ ích.
Chúc các em học tốt!
Minh Nguyệt
Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm:
Soạn bài Em bé thông minh
Soạn bài Trường từ vựng
Soạn bài Đánh nhau với cối xay gió
Soạn bài Ông Đồ | Soạn bài Phong cách Hồ Chí Minh Ngữ văn 8 | 892 | |
Soạn bài phong cách Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
I.Đọc – hiểu văn bản
Câu 1.
a.Vốn tri thức văn hóa nhân loại sâu rộng của Hồ Chí Minh: Trong quá trình hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh đã đến nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa từ phương Đông sang phương Tây. Người có những hiểu biết sâu sắc về nền văn hóa các nước Châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mĩ.
b.Để có vốn tri thức sâu rộng ấy Bác đã:
-Nắm vững phương tiện giao tiếp là ngôn ngữ, nói và viết thành thạo nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Hoa, Nga.
-Hỏi qua công việc lao động hằng ngày (Người đã làm nhiều nghề: phụ bếp, xúc tuyết…)
-Học hỏi tìm hiểu đến mức uyên thâm nền văn hóa của các nước khác.
Điều quan trọng là Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài một cách có chọn lọc, không ảnh hưởng thụ động. Người biết tiếp thu cái hay, cái đẹp đồng thời với việc phê phán những hạn chế, những tiêu cực của chủ nghĩa tư bản, trên nền tảng văn hóa dân tộc và ảnh hưởng quốc tế mà nhào nặn một nhân cách rất Việt Nam, rất bình dị, rất phương Đông và cũng rất hiện đại.
Câu 2: Lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất Phương Đông của Hồ Chí Minh được biểu hiện ở nhiều mặt:
-Nơi ở và làm việc:
+ Ngôi nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao.
+ Nhà chỉ vẻn vẹn vài phòng để tiếp khách, họp bộ chính trị, làm việc và ngủ.
-Trang phục hết sức giản dị: Bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ như của các chiến sĩ Trường Sơn.
-Ăn uống rất đạm bạc: Cá kho, rau muống, cà muối, dưa ghém, cháo hoa.
Câu 3. Lối sống của Bác là sự kết hợp giữa giản dị và thanh cao bởi lẽ:
-Đây không phải là lối sống kham khổ của những người tự tìm vui trong cảnh nghèo.
-Đây không phải là cách tự thần thánh hóa, tự cho mình khác đời, hơn đời.
-Đây là một cách sống có văn hóa, một cách di dưỡng tinh thần, một quan niệm thẩm mỹ: Cái đẹp là sự giản dị tự nhiên.
Câu 4. Cảm nhận về những điểm đã tạo nên vẻ đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh:
-Con người Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa, trọn vẹn giữa truyền thống văn hóa dân tộc với văn hóa tinh hoa nhân loại.
-Lối sống rất dân tộc, rất Việt Nam của Bác gợi cho ta nhớ đến các vị hiền triết trong lịch sử như Nguyễn Trãi ở Côn Sơn với lối sống giản dị, thanh cao:
“Ao cạn vớt bèo cấy muống
Đìa thanh phát cỏ ương sen”.
Hay Nguyễn Bỉnh Khiêm với lối sống thanh bạch:
“Thu ăn măng thúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”.
II.Luyện tập
Câu chuyện về lối sống giản dị mà cao đẹp của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. | Soạn bài phong cách Hồ Chí Minh | 505 | |
Soạn bài Phong cảnh đền Hùng
Hướng dẫn
A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
Bài văn thuộc thể miêu tả phong cảnh. Hành văn mượt mà, giàu hình ảnh thu hút người đọc, người nghe với một cảm giác mới lạ, hâp dẫn của cảnh vật rừng núi vùng đất tổ Hùng Vương nơi đặt đền thờ của các vua Hùng dựng nước. Khi đọc, em cần chú ý nhấn mạnh những từ ngữ miêu tả màu sắc, địa hình. Ngắt nghỉ đúng chỗ có các dấu câu. Đọc thong thả, trôi chảy tạo nên một âm điệu nhẹ nhàng, xúc cảm trước những cảnh vật phong phú, trang nghiêm đầy sức quyến rũ của đền Hùng – Di tích lịch sử nổi tiếng của nước ta..
B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI
Câu 1: Hãy kể những điều em biết về các vua Hùng.
Trả lời: Có thể em nêu những ý sau đây: Các vua Hùng là những người đầu tiên lập nên nhà nước Văn Lang, đóng đô ở thành Phong
Châu vùng Phú Thọ, cách nay khoảng 4000 năm. Văn Lang là tên nước Việt Nam từ ngàn xưa. Lúc lên thăm Đền Hùng, Bác Hồ căn dặn các chú bộ đội: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước”. Vì vậy em biết các vua Hùng phải là những người có công dựng nước. Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân phong cho người con trai trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương, đóng đô ở thành Phong Châu. Hùng Vương truyền được 18 đời, tự vị 2621 năm (từ năm Nhâm Tuất 2879 trước Công Nguyên đến năm 258 trước Công Nguyên).
Trả lời: Đó là những từ ngữ:
-Những khóm hải đường đâm bông rực đỏ.
-Những cánh bướm dập dờn bay lượn.
-Bên trái là đỉnh Ba Vì vời vợi, bên phải là dãy Tam Đảo như bức tường xanh sừng sững, xa xa là núi Sóc Sơn, trước mặt là Ngã Ba Hạc, những cành hoa đại cổ thụ tỏa hương thơm, những gốc thông già hàng năm sáu thế kỉ, giếng Ngọc trong xanh.
Những từ ngữ ấy cho ta thấy, cảnh vật ở Đền Hùng thật hùng vĩ, tráng lệ hấp dẫn khách thập phương.
Câu 3: Bài văn đã gợi cho em nhớ đến một số truyền thuyết về sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Hãy kể tên các truyền thuyết đó.
Trả lời: Bài văn gợi cho em nhớ đến một số truyền thuyết về sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, như sau:
-Địa danh núi Ba Vì gợi cho em nhớ đến truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh (câu chuyện về sự nghiệp dựng nước).
-Địa danh Sóc Sơn gợi cho em nhớ đến truyện Thánh Gióng nơi chàng trai Phù Đổng sau khi dẹp xong giặc Ân, phi ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn tạm biệt mẹ già và dân làng để bay về trời. Câu chuyện kế về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.
-Hình ảnh cái cột đá cao đến năm gang, rộng khoảng ba tấc gợi cho em nhớ về truyền thuyết An Dương Vương. Đây là truyền thuyết về sự nghiệp dựng nước, giữ nước và bài học nêu cao tinh thần cảnh giác trong lịch sử chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước của tổ tiên ta.
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba.
Trả lời: Câu ca dao gợi cho em suy nghĩ về lời nhắn gửi của người xưa. Dù đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì, đã là con cháu Lạc Hồng thì không được phép quên ngày giỗ Tổ, không được quên cội nguồn. Bởi đó là sự biếu hiện của truyền thống yêu nước, yêu quê cha đất tổ, luôn hướng về cội nguồn của con người Việt Nam ta “Ăn quả phải nhớ người trồng cây”.
* Nội dung chính: Ca ngợi vẻ đẹp tráng lệ, hùng vĩ của Đền Hùng và tấm lòng thành kính luôn hướng về cội nguồn của con người Việt Nam ta. | Soạn bài Phong cảnh đền Hùng | 681 | |
Soạn bài Phân xử tài tình
Hướng dẫn
A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
Âm điệu chung của toàn bài là âm điệu của người kể chuyện: Đọc rõ ràng, trôi chảy, ngừng nghỉ đúng chỗ các dấu câu. Luôn thay đổi giọng đọc phù hợp với nội dung lời nói của từng nhân vật trong truyện nhằm bộc lộ tính cách của từng nhân vật.
B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI
1-Phân đoạn: Chia làm 3 đoạn để luyện đọc.
-Đoạn 1: Từ đầu đến… “Bà này lấy trộm”.
-Đoạn 2: Tiếp đoạn 1 cho đến… “cúi đầu nhận tội”.
-Đoạn 3: Phần còn lại của câu chuyện.
2-Nội dung bài:
Câu 1: Hai người đàn bà đến công đường nhờ quan phân xử việc gì?
Trả lời: Hai người đàn bà đến công đường nhờ quan phân xử về một tấm vải. Người nào cũng tự nhận tấm vải đó là của mình nên không ai chịu nhường cho ai. Người này tố cáo người kia là kẻ trộm.
Câu 2: Quan án đã dùng những biện pháp nào để tìm ra người lấy cắp vải? Vì sao cho rằng người không khóc chính là người lấy cắp?
Trả lời: Quan án đã dùng các biện pháp sau để tìm ra người lấy cắp vải.
+ Cho đòi người làm chứng (nhưng không có người làm chứng).
+ Cho lính về nhà của hai người để điều tra (nhưng không tìm được chứng cứ).
+ Sai lính xé tấm vải làm đôi đưa cho mỗi người một nửa. Tức thì có một người bật khóc. Quan bèn sai lính đưa toàn bộ tấm vải cho người vừa khóc, và thét lính trói người đàn bà kia lại.
Câu 3: Kể lại cách quan án tìm kẻ lấy trộm tiền nhà chùa.
Trả lời: Khi nghe sư cụ nhờ quan án tìm ra kẻ lấy trộm tiền của nhà chùa, quan án yêu cầu sư cụ tập trung toàn bộ sư vãi, kẻ ăn người ở trong chùa, giao cho mỗi người cầm nắm thóc và nói: “Đức Phật rt thiêng. Ai gian, Phật sẽ làm cho thóc trong tay của mỗi người nảy mầm. Như vậy ngay, gian sẽ rõ”. Có một chú tiểu mới chạy được mấy vòng đã hé bàn tay cầm thóc ra xem. Quan án lập tức cho bắt chú tiểu đó. Chú tiểu kia đành nhận tội. Vì những kẻ có tật bao giờ cũng hay giật mình.
Câu 4: Vì sao quan án dùng cách trên? Chọn ý trả lời đúng.
a)Vì tin là thóc trong tay kẻ gian sẽ nảy mầm.
b)Vì biết kẻ gian thường lo lắng nên sẽ lộ mặt.
c)Vì cần có thời gian để thu thập chứng cứ. | Soạn bài Phân xử tài tình | 437 | |
Soạn bài phép phân tích và tổng hợp
Hướng dẫn
I.Kiến thức cơ bản
Văn bản Trang phục nêu lên vấn đề văn hóa trang phục, vấn đề các quy tắc ngầm của văn hóa buộc mọi người phải tuân theo. Để đi đến nhận thức chung ấy tác giả bắt đầu từ việc phân tích nguyên tắc ăn mặc.
Trước hết tác giả nêu vấn đề ăn mặc chỉnh tề, đồng bộ (Không thể ăn mặc tử tế mà đi chân đất, hoặc đi giày, mang bít tất mà để hở hang). Sự thiếu chỉnh tề, không đồng bộ ấy trong chướng mắt, vì trái với nguyên tắc đồng bộ và chỉnh tề.
Thứ hai, tác giả nêu ra việc ăn mặc phải phù hợp với hoàn cảnh chung (công cộng) và riêng (tùy công việc, sinh hoạt).
Thứ ba, ăn mặc phù hợ đạo đức: giản dị, hòa mình và cộng đồng.
Từ các hiện tượng trên, tổng hợp lại: Trang phục hợp văn hóa, hơp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp.
Đáng chú ý ở đây là tác giả phân tích những tình huống giả định để cho thấy có một sự ràng buộc vô hình ở bên trong: “không ai mặc quần áo chỉnh tề mà đi chân đất”, hoặc “không ai đi giày, bít tất đầy đủ mà lại phanh hết cúc áo, lộ cả da thịt ra”. Vì sao mà không ai làm thế? Đó là do họ bị ràng buộc bởi một nguyên tắc trong trang phục! Chú ý ở đoạn tiếp theo tác giả cũng nêu tình huống với các từ “chắc không…” để nói tới quy tắc chung.
II.Luyện tập
Tìm hiểu kĩ năng phân tích trong văn bản Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm.
Câu 1. Phân tích ý: Đọc sách rốt cuộc là một con đường của học vấn (xem Gợi ý trong SGK).
Câu 2. Phân tích lí do phải chọn sách mà đọc.
-Do sách nhiều, chất lượng khác nhau cho nên phải đọc sách tốt mà đọc mới có ích.
-Do sức người có hạn, không chọn sách mà đọc thì lãng phí sức mình.
-Sách có loại chuyên môn, có loại thường thức, chúng liên quan nhau, nhà chuyên môn cũng cần đọc sách thường thức.
Câu 3. Phân tích tầm quan trọng của cách đọc sách.
-Không đọc thì không có điểm xuất phát cao.
-Đọc là con đường ngắn nhất để tiếp cận tri thức.
-Không chọn lọc sách thì đời người ngắn ngủi không đọc xuể, đọc không có hiệu quả.
-Đọc ít mà kĩ quan trọng hơn đọc nhiều mà qua loa, không ích lợi gì.
Câu 4. Phương pháp phân tích rất cần thiết trong lập luận, vì có qua sự phân tích lợi, hại, đúng, sai thì các kết luận rút ra mới có sức thuyết phục. | Soạn bài phép phân tích và tổng hợp | 463 | |
Soạn bài phương pháp thuyết minh lớp 8
Hướng dẫn
I.Tìm hiểu các phương pháp thuyết minh
1.Quan sát, học tập, tích lũy tri thức để làm bài văn thuyết minh.
a.Đọc lại các văn bản thuyết minh: Cây dừa Bình Định, Tại sao lá cây có màu xanh lục, Huế, Khởi nghĩa Nông Văn Vân, Con giun đất và cho biết các văn bản ấy đã sử dụng các loại tri thức gì?
Đọc lại các văn bản thuyết minh: Cây dừa Bình Định, Tại sao lá cây có màu xanh lục, Huế, Khởi nghĩa Nông Văn Vân, Con giun đất, ta thấy các văn bản trên đây sử dụng loại tri thức khoa học, thực dụng.
b.Làm thế nào để có các tri thức ấy? Vai trò của quan sát, học tập, tích lũy ở đây như thế nào?
-Muốn có tri thức, kiến thức khoa học phải biết quan sát.
-Quan sát không phải chỉ là nhìn, xem đơn giản mà còn phải phát hiện những đặt điểm tiêu biểu của sự vật (đặc điểm tiêu biểu có ý nghĩa phân biệt sự vật này với sự vât khác về hình thức và nội dung).
-Phải phân tích đối tượng qua những đặc điểm của nó.
Vai trò học tập và tích lũy kiến thức ở đây cũng rất quan trọng. Đó là cơ sở để miêu tả, suy luận khoa học với đối tượng cần trình bày, thuyết minh.
c.Bằng tưởng tượng, suy luận có thể có tri thức để làm bài văn thuyết minh được không?
Bằng tưởng tượng, suy luận thuần túy thì không thể có kiến thức làm bài văn thuyết minh.
Có 6 phương pháp thuyết minh:
a.Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích.
-Phương pháp này xác định đối tượng thuộc loại sự vật, hiện tượng gì và chỉ ra đặc điểm riêng, nổi bật của đối tượng.
+ Trong các câu văn trên ta thường gặp từ “là”. Sau từ này người ta cung cấp kiến thức về đối tượng đứng trước nó.
+ Câu văn định nghĩa, giải thích có vai trò làm người ta hiểu rõ Huế là gì, đặc điểm của Huế có khác gì với mọi nơi.
+ Nông Văn Vân là tù trưởng dân tộc Tày. Câu này giải thích Nông Văn Vân là ai.
b.Phương pháp liệt kê.
-Phương pháp liệt kê là nêu một loạt con số, sự việc có nét tương đồng để minh hoạt cho đối tượng về đặc điểm, tính chất nổi bật của nó.
+ Trong đoạn văn nói về cây dừa Bình Định, người ta liệt kê sự “cống hiến” của nó từ thân cây đến cọng lá, nước dừa trong đời sống như thế nào.
+ Đoạn văn nói về tác hại của bao bì ni lông, người ta liệt kê tác hại của nó “khi lẫn vào đất, khi bị vứt xuống cống rãnh…” làm muỗi phát sinh gây nên bệnh dịch làm chết các sinh vật khi nuốt phải.
c.Phương pháp nêu ví dụ.
-Nêu ví dụ là phương pháp thuyết minh được sử dụng rất phổ biến. Tất nhiên ví dụ được chọn phải khách quan, trình bày có thứ tự mới có sức thuyết phục mạnh mẽ.
-Bài Ôn dịch, thuốc lá nêu ví dụ ở một số nơi, một số nước đã nổi lên chiến dịch chống hút thuốc lá, nêu cách xử phạt những người hút thuốc lá ở nơi công cộng.
d.Phương pháp dùng số liệu (con số)
-Người ta áp dụng phương pháp dùng số liệu vào trường hợp các sự vật có đặc trưng biểu hiện ở số lượng.
-Đoạn văn trong sách giáo khoa đã cung cấp những số liệu về dưỡng khí và thán khí có trong không khí để làm nổi bật vai trò của cỏ và qua đó nói lên tầm quan trọng của việc trồng cây xanh trong thành phố (tạo khả năng hút thán khí, nhả ra dưỡng khí).
e.Phương pháp so sánh
-Phương pháp so sánh cũng là phương pháp được sử dụng phổ biến trong văn thuyết minh để làm nổi bật sự khác biệt về đặc điểm, tính chất của sự vật, sự việc.
-Đoạn văn trong SGK đã so sánh sự to lớn của biển Thái Bình Dương đối với các đại dương (to gấp 14 lần diện tích biển Bắc Băng Dương).
f.Phương pháp phân loại, phân tích.
-Người ta áp dụng phương pháp này đối vớ sự vật đa dạng, nhiều cá thể để phân loại, trình bày rõ ràng.
-Để trình bày các đặc điểm của thành phố Huế, người ta phải dùng phương pháp nhân loại, phân tích:
+ Trung tâm văn hóa, nghệ thuật.
+ Thiên nhiên Huế rất đẹp.
+ Các kiến trúc của Huế rất nổi tiếng.
+ Món ăn của Huế rất phong phú, đa dạng.
+ Huế đấu tranh kiên cường.
+ Huế đẹp và thơ đã đi vào lịch sử của những thành phố anh hùng.
1.Tác giả bài Ôn dịch, thuốc lá đã nghiên cứu, tìm hiểu rất kĩ về thuốc lá trên những phương diện có tính khoa học:
Khói thuốc vào phổi tác hại như thế nào? Hút thuốc lá còn gây hại cho cả người không hút mà ngửi phải khói thuốc, kể cả cái thai trong bụng mẹ. Hút thuốc lá ảnh hưởng đến cả bữa ăn của gia đình.
Tóm lại, bài viết thể hiện sự nghiên cứu nghiêm túc của một bác sĩ năng lực tìm hiểu vấn đề này.
2.Bài viết đã sử dụng rất nhiều phương pháp đê diễn tả, trình bày vấn đề như:
-So sánh.
-Đối chiếu
-Nêu số liệu
-Phân tích từng tác hại.
3.Đọc văn bản thuyết minh Ngã Ba Đồng Lộc ta thấy văn bản này đã sử dụng những phương pháp thuyết minh sau:
-Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích: Ngã Ba Đồng Lộc là giao điểm…
-Phương pháp liệt kê: Liệt kê số tuổi đời của 10 cô gái và liệt kê số lượng những trận bom hằng ngày, nhiệm vụ của 10 cô gái lấp bom, số lần bị vùi lấp.
4.Cách phân loại của bạn lớp trưởng đối với các bạn học yếu trong lớp rất hợp lí qua liệt kê:
-Nhiều bạn học chưa tốt.
-Nhiều bạn có điều kiện học tốt nhưng còn ham chơi.
-Có bạn có cảnh gia đình khó khăn, thường bỏ học.
-Có những bạn vốn kiến thức lớp dưới yếu, tiếp thu chậm.
Đối với những nhóm học sinh đó nên có những phương pháp giúp đỡ khác nhau là hợp lí. | Soạn bài phương pháp thuyết minh lớp 8 | 1,053 | |
Qua Đèo Ngang của bà huyện Thanh Quan là một bài thơ thấm đẫm được tâm trạng của cái “tôi” trữ tình độc đáo. Nằm trong chương trình Ngữ văn 7 tập 1 – Qua đèo Ngang thực sự là một trong những bài thơ đặc sắc thể hiện được tình yêu nước, tâm trạng của tác giả. Để giúp cho các em có kiến thức chung nhất, tiếp cận bài thơ dễ dàng nhất thì Giải Văn hôm nay cũng sẽ mang đến cho các em có được bài soạn đầy đủ, chi tiết nhất!
Soạn bài: Qua đèo ngang
Bài làm
Bố cục bài Qua Đèo Ngang bao gồm 4 phần: Đề – thực – luận – kết
– 2 câu đề: Thể hiện được một cái nhìn chung về cảnh vật
– 2 câu thực: Tác giả cũng đã tài tình khi miêu tả cuộc sống con người
– 2 câu luận: Thể hiện được tâm trạng tác giả được thể hiện
– 2 câu kết: Chính nỗi cô đơn lên cao
Câu 1 (Sách giao khoa trang 103, Ngữ Văn 7 Tập 1): Căn cứ vào lời giới thiệu về thể that ngôn bát cú Đường luật ở chú thích, em hãy nhận dạng thể thơ của bài Qua Đèo Ngang về số câu, số chữ trong câu, cách gieo vần, phép đối giữa câu 3, câu 4, câu 5 với câu 6
Bài thơ “Qua đèo Ngang” cũng được tác giả viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: Bài thơ cũng bao gồm 8 câu, mỗi câu 7 tiếng. Cách vần gieo cuối câu 1, 2, 4, 6, 8; tiếp đến là phép đối câu 3 – 4 (Hình ảnh “lom khom dưới núi – lác đác bên sông”; “tiều vài chú” – “chợ mấy nhà”. Chính câu 5-6 (“nhớ nước đau lòng” – “thương nhà mỏi miệng”, “con quốc quốc” – “cái gia gia”).
Chính cảnh tượng được miêu tả lúc chiều tà được xem chính là một thời điểm dễ gợi lên nỗi buồn, cô đơn nhất.
Câu 3 (Sách giao khoa trang 103, Ngữ Văn 7 Tập 1):Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết gì?
Cảnh Đèo Ngang cũng được bà huyện Thanh Quan miêu tả với không gian “xế tà”, hình ảnh cây cỏ, hoa lá, nhà cửa, con người vắng vẻ thế rồi cũng chính tiếng kêu các loài chim gợi ra sự khắc khoải đến khôn nguôi. Chúng ta thấy được việc sử dụng các từ láy, các từ tượng thanh càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu đến cô liêu.
Soạn bài Qua Đèo Ngang của bà huyện Thanh Quan
Câu 4 (Sách giáo khoa trang 103, Ngữ Văn 7 Tập 1): Hãy nhận xét về cảnh tượng đèo Ngang qua sự miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan
Cảnh Đèo Ngang hiện ra trước mắt người đọc thông qua các vần thơ tạo hình đó là một sự um tùm cây cỏ, hoang vắng, thưa thớt, con người, gợi buồn man mác khắc khoải.
Câu 5 (Sách giao khoa trang 103, Ngữ Văn 7 Tập 1): Hãy hình dung tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan khi qua Đèo Ngang. Tâm trạng đó được thể hiện qua hai hình thức: mượn cảnh nói tình và trực tiếp tả tình như thế nào?
Thể hiện được tâm trạng Bà Huyện Thanh Quan:
– Tác giả cũng trực tiếp tả tình: Hình ảnh “Một mảnh tình riêng, ta với ta” cũng đã gợi ra được một sự cô đơn, buồn khắc khoải.
Câu 6 (Sách giáo khoa trang 104, Ngữ Văn 7 Tập 1): Nói đến mảnh tình riêng giữa cảnh: trời, non, nước bao la ở Đèo Ngang thì có gì khác với cách nói một mảnh tình riêng trong một không gian chật hẹp.
Người đọc như nhận thấy được có một không gian càng rộng, sự cô đơn và cũng vô cùng trống trải càng đậm nét. Thêm vào đó cũng chính là hình ảnh con người càng nhỏ bé, nỗi cô đơn càng nhân lên gấp bội lần.
Luyện tập
Câu 1 (Sách giáo khoa trang 104 Ngữ Văn 7 Tập 1): Tìm hàm nghĩa của cụm từ ta với ta.
Chúng ta nhận thấy được cụm từ ta với ta: Chính hai chữ “ta” chính trong cụm từ đều chỉ chính nhà thơ, thêm vào đó là một nỗi cô đơn tìm người chia sẻ giữa trời đất mênh mông lại gặp chính nỗi cô đơn của mình và quan trọng hơn nỗi cô đơn này cũng không ai cùng chia sẻ nên nó càng cô đơn.
Chúc các em học thật tốt!
Minh Nguyệt
Các em có thể tham khảo một số bài soạn liên quan đến chương trình Ngữ văn 7 dưới đây:
Soạn bài Tục ngữ về con người và xã hội
Soạn bài Cảnh Khuya
Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Soạn bài Những câu hát than thân
Soạn bài Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người | Soạn bài Qua Đèo Ngang của bà huyện Thanh Quan Ngữ văn 7 | 822 | |
Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan cũng được xem chính là một phong bài thơ hay có trong chương trình học Ngữ văn lớp 7. Bài thơ thể hiện được vẻ đẹp thiên nhiên mà cụ thể là Đèo Ngang cùng với một tấm lòng yêu nước của bà huyện Thanh Quan. Các em cùng theo dõi bài soạn ngày hôm nay để có thể học bài học một cách tốt nhất nhé!
Soạn bài: Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan
Bài làm
Câu 1: Căn cứ vào lời giới thiệu về thể that ngôn bát cú Đường luật ở chú thích, em hãy nhận dạng thể thơ của bài Qua Đèo Ngang về số câu, số chữ trong câu, cách gieo vần, phép đối giữa câu 3, câu 4, câu 5 với câu 6
– Đường luật: Chính là về luật thơ có tự đời Đường (618 – 907) ở Trung Quốc.
– Số câu của thơ Đường luật cũng lại bao gồm 8 câu (bát cú)
– Số chữ được sử dụng chính là 7 chữ trong mỗi dòng thơ (thất ngôn)
– Hiệp vần của thể thơ này cũng được nằm ở chữ cuối của câu 1 – 2 – 4 – 6 – 8 và ta nhận thấy được tất cả đều vần bằng và một vần duy nhất, hay người ta cũng còn được gọi là độc vần đó là tà – hoa – nhà – gia – ta (vần được sử dụng là vần “a”).
– Phép đối được sử dụng trong bài đó chính là ở trong mỗi bài thơ có 2 cặp câu đối nhau ngay chính về cả nghĩa lần thanh điệu nữa. Ta nhận thấy được ở ngay câu 3 đối với câu 4, câu 5 lại đối với câu 6.
Tất cả mọi cảnh vật được miêu tả và lúc chiều tà. Có thể nói bà huyện Thanh Quan cũng chọn lựa tài tình thời điểm vì đây chính là thời điểm đó dễ gợi lên tâm trạng buồn, cô đơn nhất, buồn tủi nhất đối với người lữ thứ.
Câu 3: Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết gì?
Có thể nhận thấy được cảnh Đèo Ngang cũng được tác giả miêu tả vô cùng tài tình bao gồm những chi tiết đó chính là cỏ cây, hoa lá, dãy núi, con sông có cả cái chợ, mấy túp nhà và có cả tiếng chim như khắc khoải cứ kêu. Ta nhận thấy được tất cả các chi tiết này dường như cũng mang lại cho người đọc một cảnh đèo Ngang dường như cũng cứ um tùm và rậm rạp.
Có thể nhận thấy được các từ láy được sử dụng đó chính là lom khom, lác đác, các từ tượng thanh được bà huyện Thanh Quan dùng ở đây chính là quốc quốc, đa đa. Các từ cũng lại có tác dụng lớn trong việc gợi hình, gợi cảm hơn biết bao nhiêu và dường như càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu đến thê lương.
Câu 4: Hãy nhận xét về cảnh tượng đèo Ngang qua sự miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan.
Chúng ta có thể đưa ra được nhận xét cảnh Đèo Ngang là cảnh thiên nhiên, núi đèo bát ngát. Ở đây cũng lại thấp thoáng có sự sống của con người nhưng rất hoang sơ nữa. Có lẽ rằng đây cũng chính là cảnh được miêu tả vào lúc chiều tà đồng thời cũng lại được nhìn từ tâm trạng của kẻ xa quê hương cho nên cảnh gợi lên cảm giác buồn, hoang sơ, vắng lặng hơn bao giờ hết.
Soạn bài Qua Đèo Ngang
Câu 5: Hãy hình dung tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan khi qua Đèo Ngang. Tâm trạng đó được thể hiện qua hai hình thức: mượn cảnh nói tình và trực tiếp tả tình như thế nào?
Tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan được thể hiện qua hai hình thức:
– Người đọc không khó để có thể nhận thấy được bà huyện Thanh Quan cũng đã mượn cảnh nói tình chính là việc thông qua thời gian và không gian hình thức để nói lên tâm trạng.
+ Gia gia: Chính là một từ láy như vừa mô phỏng tiếng chim như đồng âm với nó còn có nghĩa là nhà. Thực sự chúng ta có thể nhận thấy được cái nỗi nhớ nhà đang trào dâng trong lòng người nữ sĩ xa quê hương khi bắt gặp được chính trong cảnh chiều hôm người ta tìm về mái ấm gia đình thê snhuwng người lữ khách lúc này đâu cũng đã lại dừng chân chống hoa sơ vô cùng đìu hiu.
+ Hình ảnh của con quốc quốc nó dường như cũng mang được một sự mô phỏng tiếng chim kêu. Hơn nữa nó lại đồng âm với nó quốc quốc là đất nước chính là Tổ quốc.
– Hồ Xuân Hương cũng thật tài tình khi bà cũng đã trực tiếp tả tình: Ta nhận thấy được chính sự thể hiện qua câu cuối của bài thơ đó chính là câu: Một mảnh tìn riêng ta với ta đã cho người đọc nhận thấy được chính cái mảnh tình riêng đó thật sâu sắc, thấm thía biết bao nhiêu.
Khi đứng chính giữa cảnh trời, non, nước và đó cũng là một mảnh tình riêng có quan hệ đối lập nhau. Ta nhìn thấy được khi cảnh thiên nhiên mà càng rộng lớn thì tình càng cô đơn hơn rất nhiều. Thông qua đây càng làm cho nỗi cô đơn của bà huyện Thanh Quan như lớn hơn, nặng nề hơn.
Bài thơ “Qua đèo Ngang” của bà huyện Thanh Quan là một bài thơ ngắn nhưng thấm đẫm được chất tình bên trong đó. Bài soạn đã trả lời tất cả những câu hỏi trong sách giáo khoa để cho các em tiện theo dõi. Hi vọng đây sẽ là tài liệu bổ ích cho các em học tập.
Chúc các em học tốt!
Minh Nguyệt
Các em có thể tham khảo một số bài soạn liên quan đến chương trình Ngữ văn 7 dưới đây:
Soạn bài tục ngữ về con người và xã hội
Soạn bài cảnh khuya
Soạn bài tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Soạn bài những câu hát than thân
Soạn bài những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người | Soạn bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan | 1,061 | |
Đề bài: Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Của Bà Huyện Thanh Quan
Bài Làm
Câu 1: Thể thơ của bài thơ Qua Đèo Ngang là thể thất ngôn bát cú Đường luật. Đặc điểm:
– Số câu: 8 câu (bát cú)
– Số chữ: 7 chữ trong mỗi dòng thơ (thất ngôn)
– Hiệp vần: ở chữ cuối của câu 1 – 2 – 4 – 6 -8 tất cả đều vần bằng và một vần duy nhất (còn gọi là độc vận): tà – hoa – nhà – gia – ta (vần a).
– Phép đối: trong mỗi bài thơ có 2 cặp câu đối nhau về cả nghĩa lần thanh điệu: câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6.
Lom khom / dưới núi / tiều vài chú
b b t t b b t
động từ danh từ dt số từ dt
vị ngữ trạng ngữ chủ ngữ
Lác đác / bên sông / chợ mấy nhà.
t t b b t t b
động từ danh từ dt số từ dt
vị ngữ trạng ngữ chủ ngữ
Câu 2: Cảnh tượng Đèo Ngang được miêu tả vào thời điểm Bóng xếtà,tức là lúc biểu chiều tà, lúc gần tối, ngày sắp tàn. Thời gian đó biểu hiện một trạng thái tịch dương, gợi suy ngẫm về những gì đã tàn phai, đi vào phế tích; gợi tâm trạng buồn, cô đơn của người lữ thứ.
Câu 3: Cảnh Đèo Ngang được miêu tả qua chi tiết:
– Không gian: Nơi heo hút, vắng vẻ, hoang sơ, cây cối um tùm rậm rạp ‘cỏ cây chen đá lá chen hoa’’. Núi non trùng trùng điệp điệp, biên cả mênh mông tiếp giáp dưới chân núi, khung cảnh hùng vĩ, rộng lớn.
– Cảnh vật: Cỏ, cây, đá, lá, hoa, dãy núi, con sông, cái chợ, mấy túp nhà.
– Âm thanh: Chim đa đa – > gợi nỗi nhớ nhà Chim quốc quốc – > nỗi niềm nhớ nước = > Âm thanh tăng thêm sự vắng lặng, hiu quạnh, não nùng.
– Cuộc sống con người:
+ tiều vài chú lom khom: nhỏ bé, ít ỏi.
+ chợ mấy nhà: thưa thớt, lèo tèo, xiêu vẹo.
Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Của Bà Huyện Thanh Quan | Văn Mẫu
Câu 4: Nhận xét về cảnh tượng Đèo Ngang qua sự miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan: Đó là cảnh thiên nhiên, núi đèo bát ngát, thấp thoáng có sự sống con người, nhưng còn hoang sơ. Cảnh được nhìn vào lúc chiều tà, gợi một tâm trạng cô đơn cho nên không gợi lên cảm giác vui mừng mà là buồn, vắng lặng.
Câu 5:
Tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan được thể hiện qua hai hình thức:
– Mượn cảnh nói tình: thông qua thời gian và không gian hình thức:
+ Gia gia – vừa mô phỏng tiếng chim như đồng âm với nó còn có nghĩa là nhà. Nỗi nhớ nhà đang trào dâng trong lòng người nữ sĩ xa quê, trong cảnh chiều hôm người ta tìm về mái ấm gia đình, còn bà lại đang dừng chân chống hoang sơ hiu quạnh, nhớ nhà là phải lắm.
– Trực tiếp tả tình: Thể hiện qua câu cuối của bài thơ “Một mảnh tìn riêng ta với ta”. Mảnh tình riêng đó thật sâu sắc, thấm thía.
Câu 6: Tương quan giữa cảnh trời, non, nước với một mảnh tình riêng là tương quan đối lập, ngược chiều. Trời, non, nước bát ngát, rộng mở bao nhiêu thì mảnh tình riêng càng nặng nề, khép kín bấy nhiêu. Cụm từ ta với ta là cụm từ bộc lộ cô đơn gần như tuyệt đối của tác giả. Nếu đặt một mảnh tình riêng trong một không gian chật hẹp thì sẽ không làm nổi bật được tâm trạng ấy của nhân vật trữ tình. | Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Của Bà Huyện Thanh Quan | 632 | |
Soạn bài Qua đèo Ngang
Hướng dẫn
Soạn bài Qua đèo Ngang
Soạn văn lớp 7 bài Qua đèo Ngang do Bà huyện Thanh Quan sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu tới các em học sinh tham khảo. Bài soạn văn mẫu Qua đèo Ngang nhằm giúp các em hiểu rõ về cảnh đẹp thiên nhiên của Đèo Ngang được thể hiện qua ngòi bút của tác giả để chuẩn bị tốt cho bài giảng của học kì mới sắp tới đây của mình.
QUA ĐÈO NGANG
Bà Huyện Thanh Quan
I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1. Tác giả
Bà Huyện Thanh Quan (? -?), tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Bình ngày nay), do đó có tên gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà là một nữ sĩ vào loại tài danh hiếm có thời phong kiến. Tác phẩm của bà hiện còn lại sáu bài thơ trong đó có bài Qua Đèo Ngang nổi tiếng.
2. Thể loại
Bài thơ này được viết theo thể thất ngôn bát cú. Đây là một trong hai dạng cơ bản, phổ biến nhất của thơ Đường luật, gồm thất ngôn bát cú (7 chữ, 8 câu) và thất ngôn tứ tuyệt (7 chữ, 4 câu). Thơ thất ngôn bát cú Đường luật có những quy định rất chặt chẽ về bố cục (tổ chức cơ bản về nội dung và hình thức), luật (quy định về vần, thanh trong cả bài, đối giữa các cặp câu 3 – 4, 5 – 6), niêm (sự liên kết giữa các câu 1 – 8, 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7).
1. Nhận dạng thể thơ của bài Qua Đèo Ngang về số câu, số chữ, về cách gieo vần và về phép đối.
Gợi ý: Dựa vào phần giới thuyết thể thơ ở trên, tự kiểm tra về số câu, số chữ, cách gieo vần và phép đối của bài thơ.
2. Cảnh vật được miêu tả và lúc chiều tà. Thời điểm đó dễ gợi lên tâm trạng buồn, cô đơn nhất là với người lữ thứ.
3. Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết: cỏ cây, hoa lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mấy túp nhà, tiếng chim quốc, chim đa đa, có vài chú tiều phu. Các chi tiết này cho thấy cảnh Đèo Ngang um tùm, rậm rạp. Con người thì ít ỏi, thưa thớt. Các từ láy: lom khom, lác đác, các từ tượng thanh: quốc quốc, đa đa có tác dụng lớn trong việc gợi hình, gợi cảm và càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu.
4. Cảnh Đèo Ngang là cảnh thiên nhiên, núi đèo bát ngát, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng rất hoang sơ. Cảnh được miêu tả vào lúc chiều tà, lại được nhìn từ tâm trạng của kẻ xa quê nên cảnh gợi lên cảm giác buồn, hoang sơ, vắng lặng.
5. Có thể thấy, ấn sâu kín trong bức tranh thiên nhiên là tâm trạng của người lữ thứ (Bà Huyện Thanh Quan). Đó là tâm trạng buồn, cô đơn, hoài cổ. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được tiếng kêu da diết của chim quốc, chim đa đa cũng chính là tiếng lòng tha thiết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước. Câu thơ cuối cùng chính là cao trào của nỗi buồn, nỗi cô đơn của người khách xa quê.
III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
1. Cách đọc
Đọc một bài thơ thất ngôn bát cú, trước hết phải chú ý đọc đúng nhịp (4/3), sau nữa là chú ý đến phép đối trong hai cặp 3 – 4, 5 – 6. Riêng với bài thơ này, cần chú ý đọc chậm, diễn cảm, thể hiện được nỗi buồn sâu lắng của tác giả.
2. Tìm hàm nghĩa của cụm từ ta với ta.
Gợi ý: nghĩa của từng từ và của cả cụm là:
Từ ta thứ nhất và từ ta thứ hai đều chỉ bản thân người nói.
Vì thế, ta với ta có nghĩa là không có ai khác (chỉ có một mình tác giả mà thôi).
Dưới đây là bài soạn Qua đèo ngang bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 7: Qua đèo ngang
Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 7 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 7 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Soạn bài Qua đèo Ngang | 796 | |
Quê Hương là một trong những đề tài muôn thuở của thơ ca nói chung, có rất nhiều tác giả đã thành công khi viết về mảng đề tài này và trong đó có Tế Hanh. Bài thơ “Quê hương” là một tác phẩm hay trong chương trình Ngữ văn 8, để học được tốt tác phẩm này các em cũng phải soạn bài ở nhà. Sau đây thì Giải Văn sẽ có nội dung bài soạn bài Quê hương để mang đến cho các em học sinh, chúng ta cũng tham khảo nhé!
Soạn bài Quê Hương của Tế Hanh Ngữ văn 8
Bài làm
Bố cục của bài Quê hương được chia làm 3 phần:
+ Phần 1 (Bao gồm hai câu thơ đầu): Tác giả cũng đã giới thiệu về làng chài – quê tác giả.
+ Phần 2 (khổ thơ 2): Nói về chính cảnh ra khơi của người dân làng chài tươi vui, lãng mạn biết bao nhiêu.
+ Phần 3 (Chính là khổ thơ 3): Tác giả cũng đã tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về.
+ Phần 4 (khổ thơ cuối): Nói lên được một nỗi nhớ quê hương của tác giả Tế Hanh
Hướng dẫn soạn bài
Câu 1 (Sách giáo khoa trang 18 sgk Ngữ văn 8 tập 2): Phân tích cảnh dán chài bơi thuyền ra khơi (từ câu 3 dến câu 8) và cảnh đón thuyền cá về bến (8 câu tiếp theo). Hình ảnh người dân chài và cuộc sông làng chài được thể hiện trong hai cảnh này có nét gì nổi bật đáng chú ý?
Tác giả Tế Hanh dường như cũng đã khắc họa sinh động cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi:
+ Hình ảnh đẹp như trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng → đã nói đến một cảnh buổi sớm mai đẹp trời, trong lành biết bao nhiêu.
+ Hình ảnh của người dân trai tráng bơi thuyền → Đây cũng chính là một hình ảnh trung tâm khỏe khoắn, luôn luôn tràn đầy sức sống.
+ Hình ảnh của đoàn thuyền như con tuấn mã (các động từ được dùng cũng vô cùng đặc sắc đó là hăng, phăng, vượt) → Thông qua đây thì Tế Hanh cũng đã diễn tả sức mạnh mang màu sắc huyền thoại, cổ tích.
+ Hình ảnh của cánh buồm (rướn thân trắng) trông như một mảnh hồn làng → Đây chính là một hình ảnh ẩn dụ biểu trưng cho hồn cốt, biểu hiện cho cái thần thái của người dân miền biển. Vẻ đẹp mang tầm vóc, ý nghĩa lớn lao.
→ Thông qua đây người ta nhận thấy được chính cái khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, đó cũng chính là một bức tranh lao động đầy sức sống và hứng khởi của người dân vùng biển.
+ Người đọc cũng nhận thấy được một không khí đón ghe về: tấp nập một sự ồn ào, đông vui.
+ Thực sự chính hình ảnh người dân chài: làn da ngăm dám nắng, thân hình nồng thở vị xa xăm → vẻ đẹp của những người dân lao động luôn rắn chắc, khỏe khoắn mang phong vị người dân miền biển nơi quê hương của tác giả
+ Hình ảnh “cá đầy ghe” vui mừng, biết ơn làm sao vì biển lặng cũng đã mang cho họ những thành quả ngọt ngào và bội thu nhất.
+ Có lẽ chính với hình ảnh con thuyền: im, mỏi trở về nằm và nghe thấy được một chất muối thấm dần thớ vỏ
>>> Người đọc cũng nhận thấy được hình ảnh ccon thuyền vô tri trở nên có hồn, trong sự mệt mỏi say sưa đó chính là hương vị của cuộc sống.
Tóm lại ta như nhận thấy được một cảnh tượng tươi vui, hào hứng của đoàn thuyền đánh cá cứ khi trở về được cảm nhận bằng hồn thơ dường như cũng thật là tinh tế biết bao nhiêu. Tất cả chứng minh được phải có được tình cảm sâu lắng thì mới có thể hiểu tường tận cuộc sống lao động vất vả đầy thi vị.
Câu 2 (Sách giáo khoa trang 18 Ngữ Văn 8 tập 2): Phân tích các câu thơ sau:
Cánh buồm giương to như mảnh hổn làng
Rướn thân trắng hao la thâu góp gió…
Dân chài lưới làn da ngâm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.
Lối nói ẩn dụ và biện pháp so sánh ở câu này có hiêu quả nghệ thuật như thế nào?
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió
+ Hình ảnh cánh buồm: Cách buồm dường như cũng giương to, rướn thân, góp gió – Đây cũng chính là một hình ảnh cánh buồm thân thuộc được tả thực trong sự quan sát tinh tế nhất của tác giả.
+ Nghệ thuật so sánh ẩn dụ: Có thể nhận thấy được chính cái vô hình được gọi tên, cụ thể hóa bằng hình ảnh của cánh buồm dường như cũng đã rõ ràng đường nét, hình khối, màu sắc thật đẹp.
+ Câu thơ: rướn thân trắng bao la thâu góp gió: Như cũng đã thể hiện được một sự khoáng đạt, một sự hiên ngang mạnh mẽ như chính tính cách của người dân miền biển vẫn đương đầu với ngọn sóng, ngọn gió vậy.
+ Hình ảnh của cánh buồm mang ý nghĩa tượng trưng cho hồn cốt cũng như cho thần thái và cả tình cảm của người dân chài sông nước nơi đây:
>>> Thông qua đây ta nhận thấy được chính biện pháp ẩn dụ, so sánh làm cho hình ảnh thực trở nên lãng mạn, đã vậy thì chính hình ảnh của cánh buồm là linh hồn của làng biển đồng thời cũng chính là một niềm tự hào.
Dân chài lưới làn da ngăm dám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
+ Nhận xét về hình ảnh tả thực đó là câu “làn da ngăm dám nắng” – Nói về những vẻ đẹp rắn rỏi, một vẻ đẹp vô cùng chắc khỏe nói lên sự từng trải trong cuộc sống lao động và cũng thật vất vả nắng gió của người đi biển.
+ Hình ảnh “thân hình nồng thở vị xa xăm” → Có thể nhận thấy được chính hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, từ thân hình nay cũng đã lại được cảm nhận bằng xúc giác – “mặn” vô cùng độc đáo.
+ Có thể nhận thấy được có một sự mặn mòi của biển cả ngấm vào từng hơi thở trong cuộc sống. Thế rồi cũng chính với một sự hòa quyện giữa con người với biển cả- nơi ngọn nguồn nuôi dưỡng.
→ Thông qua đây ta nhận thấy dược một biện pháp ẩn dụ không chỉ xây dựng hình tượng người dân miền biển khỏe khoắn, họ cũng đã từng trải mà còn làm nổi bật sự hòa quyện và bền chặt giữa con người và thiên nhiên nữa.
Soạn bài Quê Hương của Tế Hanh Ngữ văn 8
Câu 3 (Sách giáo khoa trang 18 Ngữ Văn 8 tập 2) Hãy nhận xét về tình cảm của tác giả đối với cảnh vật, cuộc sống và con người của quê hương ông.
Có thể nhận thấy được chính tình cảm sâu nặng của tác giả đối với cảnh vật, cuộc sống. Lúc này đây thì con người thấm đượm trong từng câu chữ, xuyên suốt chiều dài của tác phẩm.
+ Có thể nhận thấy được chính hình ảnh quê hương miền biển luôn in đậm trong tâm trí của tác giả Tế Hanh cũng đã tạo nên mạch cảm xúc dâng trào thể hiện qua những hình ảnh thân thương đó chính là các hình ảnh con thuyền, buồm vôi, biển, cá bạc…
+ Thế rồi cũng chính với nỗi nhớ quê tha thiết, thế rồi cũng chính với tình cảm luôn hướng về quê hương nên từ đầu đến cuối vị mặn của biển dường như cũng đã lại bị ám ảnh khôn nguôi trong tâm trí nhà thơ.
Câu 4 (Sách giáo khoa trang 18 ngữ văn tập 2) Bài thơ có những đặc sắc nghệ thuật gì nổi bật? Theo em, bài thơ được viết theo phương thức biểu cảm, tự sự hay trữ tình?
– Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Quê hương được thể hiện:
+ Tế Hanh cũng đã sử dụng hình ảnh đặc sắc khắc họa được hình ảnh, đường nét, màu sắc của sự vật, đồng thời cũng đã lại tạo giá trị biểu cảm cao.
+ Có thể nhận thấy được chính phần nghệ thuật so sánh khiến việc miêu tả cụ thể hơn, khơi gợi ra được một vẻ đẹp bay bổng, lãng mạn.
+ Tế Hanh cũng đã lại sử dụng biện pháp ẩn dụ làm tăng sức gợi hình, gợi cảm.
– Tiếp đến chính là một phương thức miêu tả xen lẫn biểu cảm được sử dụng chủ yếu trong văn bản này:
+ Tế Hanh cũng đã miêu tả để tái hiện, khắc họa hình ảnh thân thuộc, tươi đẹp của làng biển quê hương ông.
+ Có thể nhận thấy được chính cảm xúc hồi tưởng trào dâng, tình cảm yêu quê hương tha thiết, cháy bỏng.
Luyện tập
Bài 1 (Sách giáo khoa trang 18 sgk ngữ văn 8 tập 2) Học thuộc lòng và tập đọc diễn cảm bài thơ.
Học sinh tự học thuộc lòng và đọc diễn cảm bài thơ.
Bài 2 (Sách giáo khoa trang 18 sgk ngữ văn 8 tập 2) Sưu tầm, chép lại một số câu thơ, đoạn thơ vé tình cảm quê hương mà em ỹêu thích nhất.
Một số câu thơ về quê hương các em có thể tham khảo:
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay.
(Quê hương- Đỗ Trung Quân)
Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về.
Ca dao
Trên đây là toàn bộ nội dung bài soạn Quê Hương mà Giải Văn mang lại được cho độc giả. Hi vọng đây cũng chính là một trong những bài soạn bổ ích, giúp cho các em học sinh học thật tốt!
Minh Nguyệt
Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm:
Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8
Soạn bài Bàn về đọc sách | Soạn bài Quê Hương của Tế Hanh Ngữ văn 8 | 1,714 | |
Đề bài: Soạn Bài Quê Hương Ngữ Văn 8 Tập 2 Của Tế Hanh
Bài làm
Câu 1:
a. Cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi (Từ câu 3 đến câu 8)
– Thuyền chài ra khơi trong một không gian đẹp, trời yên biển lặng (trời trong ánh hồng, gió nhẹ) vào một buổi sáng sớm tuyệt đẹp (sớm mai hồng). Không và thời gian tươi đẹp đó báo hiệu chuyến ra khơi bình yên, tốt đẹp.
– Bằng lối so sánh (Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã) và một loạt các động từ mạnh (hăng, phăng, vượt) Tế Hanh đã vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh một con thuyền thật ấn tượng với khí thế dũng mãnh, hùng tráng; toát lên một sức sống mạnh mẽ; vẻ đẹp phi thường.
– Cảnh đoàn thuyền ra khơi trở nên đẹp hơn, lãng mạn hơn với hình ảnh cánh buồn được so sánh như mảnh hồn làng.
b. Cảnh đón thuyền cá về bến (8 câu tiếp theo)
– Người dân chài vui mừng chào đón đoàn thuyền ra khơi đánh cá trở về trong một không khí vui tươi, nhộn nhịp, trong sự chào đón nồng nhiệt của bà con lối xóm. Bốn câu thơ đầu là một bức tranh lao động náo nhiệt, đầy ắp niềm vui và sự sống, toát ra từ không khí ồn ào, tấp nập đông vui, từ những chiếc ghe đầy cá, từ những con cái tươi ngon thân bạc trắng thật là thích mắt.
“Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”
Bằng biện pháp nhân hóa, con thuyền vô tri, vô giác trở nên là một cá thể có hồn. Nó biết mệt mỏi, biết nghỉ ngơi và biết cảm nhận những dòng nước biển mặn mòi đang thấm dần vào da thịt nó. Con thuyền trở nên có hồn, một tâm hồn tinh tế.
c. Hình ảnh người dân chài và cuộc sống làng chài trong hai cảnh đoàn thuyền ra khơi và trở về:
– Hình ảnh người dân chài: dân trai tráng, làn da ngăm rám rắng, cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Tế Hanh miêu tả người dân chài vừa tả thực, vừa lãng mạn. Họ là những chàng thanh niên khỏe mạnh, cường tráng, yêu lao động, hăng say lao động và mang về những thành quả đáng quý. Thân hình nhuộm nắng, nhuộm gió biển khơi trở nên đẹp, khỏe khoắn, đầy sức sống và còn nhuốm vị mặn mòi của biển cả trở nên lãng mạn, phi thường. Hình ảnh người dân chài là bức tượng đài đẹp đẽ về người lao động chân chính.
– Cuộc sống làng chài: Đó là một bức tranh lao động náo nhiệt, đầy ắp niềm vui và sự sống.
Câu 2: Phân tích các câu thơ:
– Tế Hanh đã khắc họa được hình ảnh quê hương mình và ngừoi dân chài rất gợi cảm thông qua thủ pháp so sánh độc đáo:
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”
Cánh buồn giương được so sánh như mảnh hồn làng. Một sự vật cụ thể, hữu hình được so sánh với cái trừu tượng vô hình. Con thuyền ra khơi, mà cánh buồn chính là vật dẫn đường, chỉ lối. Nó thâu góp vào trong mình tất cả những gió giật, giông bão để con thuyền luôn được bình an trở về. Đó cũng chính là tình cảm của làng quê, của những người mẹ, người vợ, người con nơi quê nhà dành cho con thuyền. Cánh buồm trở thành biểu tượng, linh hồn của quê hương làng chài.
– Tác giả còn sử dụng lối nói ẩn dụ để tăng hiệu quả diễn đạt của bài thơ:
“Dân chài lưới làn da ngăm rám rắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm”
Biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Cảm nhận bằng xúc giác (vị) vốn được cảm nhận bằng thị giác (thân hình) làm cho hình ảnh người dân chài lưới trở nên đẹp, lãng mạn.
Câu 3:
Khi xa quê, Tế Hanh luôn nhớ về quê hương. Tác giả nhớ: màu nước xanh, cá bạc, buồm vôi, con thuyền, và đặc biệt nhất là mùi nồng mặn của biển khơi. Tình cảm của nhà thơ dành cho cảnh vật, cuộc sống và con người của quê hương ông thật chân thành, tha thiết, xúc động. Với tình cảm đặc biệt đó, ông đã cảm nhận được hương vị riêng đầy quyến rũ của quê hương, cảm nhận được chất thơ trong đời sống lao động hàng ngày của người dân. Quê hương vì vậy không buồn bã, hiu hắt mà trở nên tươi sáng, khỏe khoắn, mang hơi thở nồng ấm của lao động, của sự sống.
– Sáng tạo hình ảnh thơ: Có những hình ảnh miêu tả chân xác, không tô vẽ đến từng chi tiết (khổ 1, hai câu đầu khổ 2, khổ 3, hai câu giữa khổ cuối); nhưng lại có những hình ảnh bay bổng, lãng mạn, rất có hồn như hình ảnh cánh buồm, người dân chài,…
– Biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ
– Giọng thơ chân thành, da diết, ngôn ngữ giàu giá trị biểu cảm
– Hàng loạt động từ mạnh.
– Miêu tả kết hợp nhuần nhuyễn với biểu cảm, qua đó nhằm mục đích biểu cảm. Vì vậy phương thức biểu đạt của bài thơ là biểu cảm. | Soạn Bài Quê Hương Ngữ Văn 8 Tập 2 Của Tế Hanh | 895 | |
Soạn bài Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang
Hướng dẫn
Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. Bài văn có thể chia làm bốn phần.
Phần 1 (đoạn 1): mở đầu.
Phần 2 (đoạn 2, 3): trang phục của Rô-bin-xơn
Phần 3 (từ ‘’’Quanh người tôi…’’’ đến ‘’’bên khẩu súng của tôi’’): trang bị Rô-bin-xơn.
Phần 4 (còn lại): diện mạo của Rô-bin-xơn.
Câu 2. Trong bài văn, phần miêu tả diện mạo chỉ chiếm một dung lượng ít ỏi (hơn mười dòng). Điều này có nguyên nhân từ ngôi kể chuyện. Chuyện được kể từ ngôi thứ nhất. Rô-bin-xơn tự miêu tả về mình, do đó chàng chỉ có thể miêu tả những gì chàng trông thấy mà thôi, điển hình là bộ ria mép. Ngược lại, các chi tiết về trang bị vũ khí, trang phục lại được miêu tả khá kĩ.
Đây là một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Bằng cách kể theo ngôi thứ nhất, từ góc nhìn như vậy, tác giả có thể miêu tả một bộ dạng kì khôi, thu hút sự chú ý của bạn đọc.
Câu 3. Rô-bin-xơn đã sống một mình ngoài đảo hoang trên mười năm. Mọi trang phục của chàng hầu hết bằng da dê: ‘’’bộ quần áo’’ là những tấm da dê buộc túm lại, ủng cũng bằng da dê, thậm chí cả bao đựng dạn cũng bằng da dê. Bên cạnh đó là những vật dụng khác: dao kiến, cưa, rìu… Chỉ qua trang phuc và các vật dụng của chàng mang trên người cũng đủ thấy cuộc sống của Rô-bin-xơn khi đó vất vả, khó khăn như thế nào, đồng thời cũng cho ta thấy một nghị lực phi thường, một ý chí sắt đá. Một bản lĩnh sống không gì khuất phục nổi.
Câu 4. Mở đầu đoạn trích, nhân vật ‘’’tôi’’ đã tượng trượng: ‘’’Nếu có ai đó ở nước Anh gặp một kẻ như tôi lúc bấy giờ, chắc tôi sẽ làm cho họ hoảng sở hoặc phá lên cười sằng sặc ; và lắm khi tôi đứng lặng ngắm nghía bản thân mình, tôi cứ tưởng tượng tôi đang lang thang khắp miền Y-oóc-sai với trang bị và quần áo như vậy…’’. Có thể nhận thấy ngay rằng, không cần phải trở về nước Anh, ngay lúc đó nhân vật ‘’’tôi’’ cũng đang ‘’’phá lên cười sằng sặc’’ bởi cái bộ dạng kì quáy của mình. Từ cái mũ ‘’’to tướng, cao lêu đêu chẳng ra hình thù gì’’, chiếc áo có cà vạt ‘’’dài tới khoảng nửa lưng chừng bắp đùi’’ cho đến cái quần ‘’’loe đến đầu gối’’, lại thêm một đôi chẳng biết nên là bít tất hay là giày, tất cả đều làm bằng da dê. Điều đó trước hết cho thấy một sự thực Rô-bin-xơn đã không còn một mảnh vải mà may quần áo (làm gì có thứ vải nào còn lại qua hàng mấy chục năm trời?). Nhưng đằng sau đó lại là một sự thật đáng khâm phục: để có thể tồn tại được, Rô-bin-xơn đã làm tất cả những gì có thể (trong truyện kể anh ta còn thuần hóa và nuôi được cả dê, trồng lúa mạch để làm bánh…). Những thứ trang phục kì quái ấy (mũ, quần, áo, giày, đai lưng để đeo các vật dụng sinh hoạt, ô che nắng mưa…), đều được chế tạo phù hợp nhằm thay thế một cách tốt nhất cho quần áo thông thường. Chỉ qua trang phục thôi, chúng ta cũng đã thấy được ý chí và nghị lực của nhân vật ‘’’tôi’’ lớn đến mức nào. Thay vì vị hoàn cảnh éo le khuất phục, Rô-bin-xơn đã không ngừng lao động, cải tạo nó để phục vụ cho cuộc sống của mình.
Phần cuối đoạn trích là mấy dòng dành để tả diện mạo. Không nhiều và cung không thật cụ thể như khi tả trang phục nhưng mỗi chi tiết đều rất đặc sắc, khắc họa rất rõ chân dung của nhân vật lúc bấy giờ.
Đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang đã giúp chúng ta hình dung rất rõ những gian nan, vất vả mà nhân vật đã phải trải qua đồng thời ca ngợi tinh thần lạc quan, ý chí vươn lên mọi khó khăn gian khổ của con người. Dù sống trong hoàn cảnh dường như không thể sống được, con người có bản lĩnh vẫn tồn tại và sống bất chấp những hoàn cảnh khắc nghiệt của số phận. | Soạn bài Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang | 739 | |
Soạn bài Sang thu
Hướng dẫn
I.Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. Những hình ảnh, hiện tượng thể hiện sự biến đổi của đất trời lúc sang thu ở khổ đầu của bài thơ.
-Nhà thơ chợt nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió se (nhẹ, khô và hơi lạnh) mang theo hương ổi (ổi đang vào độ chín).
-Tâm trạng ngỡ ngàng, cảm xúc bâng khuâng qua các từ bỗng, hình như.
Câu 2. Biến chuyển trogn không gian lúc sang thu được Hữu Thỉnh cảm nhận qua nhiều yếu tố, bằng nhiều giác quan và sự rung động thật tinh tế.
-Hương ổi lan vào không gian, phả vào gió se.
-Sương đầu thu giăng mắc nhẹ nhàng gợi lên vẻ đẹp êm dịu của bức tranh thiên nhiên, những cánh chim bắt đầu vội vã ở buổi hoàng hôn.
-Cảm giác giao mùa được diễn tả thú vị qua đám mây mùa hạ “vắt nửa mình sang thu”.
-Nắng cuối hạ vẫn còn nồng, còn sáng nhưn nhạt dần. Những ngày giao mùa này đã ít những cơn mưa rào ào ạt, bất ngờ.
-Lúc này cũng bớt đi những tiếng sấm bất ngờ gắn cùng những cơn mưa rào mùa hạ thường có.
-Cần cảm nhận được sự tinh tế của nhà thơ thể hiện trong những từ ngữ diễn tra cảm giác, trạng thái: bỗng, phả vào, chùng chình, hình như, dềnh dàng, vắt nửa mình…
Câu 3. Về hai dòng thơ cuối bài, cần hiểu với hai tầng lớp ý nghĩa. Lúc sang thu, bớt đi những tiếng sấm bất ngờ. Cũng có thể hiểu: hàng cây không còn bị bất ngờ, bị giật mình vì tiếng sấm nữa. Chính nhà thơ Hữu Thỉnh tâm sự: Với hình ảnh có giá trị tả thực về hiện tượng thiên nhiên này, ông muốn gửi gắm suy ngẫm của mình – khi con người đã từng trải thì cũng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. | Soạn bài Sang thu | 330 | |
Soạn bài Sông, Suối, Biển, Hồ
Hướng dẫn
A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Nêu tên bộ phận được chỉ mũi tên của cái cào và chiếc thuyền dưới đây.
Gợi ý:
Mũi tên chỉ vào răng cào và mũi của chiếc thuyền.
2.Tìm hiểu từ nhiều nghĩa.
a)Quan sát các bức ảnh và đọc lời giải nghĩa bên dưới (SGK/107).
b)So sánh nghĩa của các từ răng, mũi trong câc trường hợp trên để hiểu thế nào là từ nhiều nghĩa.
(Các nghĩa của từ ở cột A và cột B có gì khác nhau? Có gì giống nhau?)
Gợi ý:
b) • Nghĩa của các từ ở cột A khác với các từ ở cột B:
-Răng (người) dùng để cắn, giữ, nhai.
-Răng (lược) không dùng để cắn, giữ, nhai.
-Mũi (người) dùng để thở và ngửi.
-Mũi (kéo) không dùng để thở và ngửi.
• Nghĩa của các từ ở cột A giống với các từ ở cột B:
-Răng (người) và răng (lược) đều nhọn, sắc, xếp đều thành hàng.
–Mũi (người) và mũi (kéo) có đầu nhọn, nhô ra phía trước.
B.HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Hãy nói những điều em biết về biển cả.
Gợi ý:
Biển cả mênh mông, bao la đến vô cùng. Tài nguyên của biển thật phong phú. Biển điều hoà khí hậu, cung cấp cho con người nhiều hải sản, khí đốt, dầu mỏ. Biển có những bãi cát dài trắng phau thật thơ mộng, là nơi nghỉ mát lí tưởng. Biển còn là đường giao thông quan trọng trong việc xuất nhập khẩu hàng hoá, thông thương giữa các nước trên thế giới.
a)Đoạn văn tả đặc điểm gì của biển?
b)Để tả đặc điểm đó, tác giả đã quan sát những gì và vào những thời gian nào?
c)Khi quan sát biển, tác giả đã có những liên tưởng thú vị như thế nào?
Gợi ý:
a) Đoạn văn tả sự thay đổi màu sắc của biển tuỳ theo sắc mây trời.
b)Để tả đặc điểm đó, tác giả đã quan sát bầu trời và mặt biển vào thời điểm trời xanh thẳm, trời rải mây trắng nhạt, trời âm u mây mưa, trời ầm ầm dông gió.
c)Khi quan sát biển, tác giả đã có những liên tưởng vô cùng thú vị. sắc màu của biển như tâm trạng của con người: biết buồn vui; khi tẻ nhạt, lạnh lùng; lúc sôi nổi, hả hê; lúc đăm chiêu, gắt gỏng.
4.Đọc đoạn văn dưới đây và trả lời câu hỏi (SGK/109).
a)Con kênh được quan sát vào những thời điểm nào trong ngày?
b)Tác giả đã nhận ra đặc điểm của con kênh chủ yếu bằng giác quan nào?
c)Nêu tác dụng của những liên tưởng khi quan sát và miêu tả con kênh.
Gợi ý:
a) Con kênh được quan sát suốt cả ngày từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Từ buổi sáng, khi giữa trưa, lúc trời chiều.
b)Tác giả nhận ra đặc điếm của con kênh chủ yếu bằng thị giác.
c)Những liên tưởng khi quan sát và miêu tả con kênh giúp người đọc hình dung, cảm nhận được cái nóng hừng hực của con kênh, khiến con kênh trở nên sinh động hơn, thật hơn và tạo ấn tượng với người đọc.
Gợi ý:
Dàn ý mặt hồ ở Công viên Văn hoá Đầm Sen.
I.Mở bài: Giới thiệu bao quát mặt hồ.
-Tham quan Công viên Văn hoá Đầm Sen, không thể bỏ nét đẹp rất riêng của hồ nước ở đây.
II.Thân bài: Tả từng cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo thứ tự thời gian.
-Hồ nước khá rộng, hình bầu dục, từ khu vực cho mướn thuyền ngắm nhìn mặt hồ thật là thích.
-Buổi sáng khi những đoàn khách tham quan còn thưa thớt, mặt hồ trong veo tựa như tấm gương lớn, từng đám mây lững lờ trôi trên mặt hồ, cây cối xung quanh cũng nghiêng mình soi bóng.
-Đến trưa, mặt hồ loang loáng phản chiếu ánh nắng gay gắt, từng cơn gió thổi qua mặt hồ đem theo hơi nước làm dịu bớt cái nóng oi bức, cành lá xào xạc gợi mời gió đến.
-Chiều đến, lượng khách vui chơi trên hồ đông nhất, thuyền không đủ cho khách thuê.
-Những thuyền dọc ngang trên hồ, bánh quạt nước khua tòm tõm tạo nên những vòng tròn sóng, vỗ nhẹ vào bờ; tiếng nói, tiếng cười đùa vui vẻ văng vẳng khắp hồ.
-Khi mặt trời sắp khuất sau các hàng cây, người chơi thuyền cũng vơi bớt, ánh hoàng hôn hắt lên mặt hồ, hồ lấp lánh như được dát lên một lớp vàng.
-Gió đùa, những gợn sóng lăn tăn nổi lên, mặt hồ lấp lánh ánh bạc.
III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ
-Ngắm nhìn hồ nước thật là thích.
-Hồ như một máy điều hoà không khí, đem lại sự mát mẻ dễ chịu cho cả công viên nói riêng và cho cả khu vực nói chung. | Soạn bài Sông, Suối, Biển, Hồ | 791 | |
Soạn bài Sắc màu Việt Nam
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1. Trò chơi: Thi tìm nhanh tên 7 sắc cầu vồng.
Hai nhóm chơi. Từng người của mỗi nhóm lần lượt lên bảng viết tên gọi một màu trong 7 sắc cầu vồng.
Gợi ý:
Tên các màu của 7 sắc cầu vồng từ ngoài vào trong: đỏ, cam, vàng, lục (lá cây), lam (da trời), chàm (lam sẫm), tím.
2.Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1)Bạn nhỏ trong bài thơ yêu những màu sắc nào?
2)Mỗi màu sắc gợi ra trong trí tưởng tượng của bạn nhỏ những hình ảnh gì?
Chọn một màu em thích và ghi lại. M:
Màu sắc
Hình ảnh
Màu đỏ
Máu trong tim
Lá cờ Tổ quốc
Khăn quàng đội viên
Gợi ý:
1) Bạn nhỏ yêu những màu sắc: màu đỏ, màu xanh lục, xanh lam, màu vàng, màu trắng, màu đen, màu tím, màu nâu.
2)Mỗi màu sắc gợi ra trong trí tưởng tượng của bạn nhỏ những hình ảnh:
-Màu đỏ: máu của con tim, lá cờ Tổ quốc, khăn quàng đỏ.
-Màu xanh: đồng bằng, rừng núi, biển, bầu trời.
-Màu vàng: lúa chín, hoa cúc mùa thu, nắng trời.
-Màu trắng: trang giấy tập, hoa hồng bạch, mái tóc bạc của bà.
-Màu đen: hòn than, đôi mắt bé ngoan, màn đêm.
-Màu tím: hoa cà, hoa sim, chiếc khăn của chị, màu mực em viết trong vở.
–Màu nâu: áo của mẹ đã sờn, đất đai, gỗ rừng.
3)Bạn nhỏ yêu tất cả sắc màu của Việt Nam. Bạn nhỏ rất yêu quê hương, đất nước.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Dựa vào dàn ý đã lập ở bài 1C, em hãy viết đoạn văn tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
a)Gợi ý:
-Câu mở đoạn: Giới thiệu cảnh vật vào buổi sáng (hoặc buổi trưa, buổi chiều). (VD: cảnh rừng vào buổi trưa, cảnh khu vườn vào lúc bình minh đang lên…).
-Các câu tiếp theo trong đoạn: Tả từng hình ảnh, chi tiết cụ thể của cảnh theo thời gian xác định, thể hiện sự quan sát cảnh vật bằng nhiều giác quan (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi,…); chú ý dùng nhiều từ ngữ gợi tả, dùng biện pháp so sánh, nhân hoá để làm cho đoạn văn sinh động, hấp dẫn.
b)Em có thể tham khảo những đoạn văn, bài văn sau:
-Đoạn văn tả buổi sáng trên cánh đồng (SGK/31).
-Đoạn văn tả buổi chiều trên cánh đồng (SGK/32).
-Bài văn tả chiều tối (SGK/32).
Gợi ý:
Tiếng gà gáy lanh lảnh, vang vọng giữa cánh đồng bát ngát.
Mặt trời đỏ hồng dần nhô lên phía chân trời đằng đông. Những khoảng mênh mông như chao động theo từng cơn gió nhẹ nhuốm hơi sương lạnh. Vô số thảm lúa xanh rì nhấp nhô những phiến lá ươn ướt.
Cánh đồng bớt vắng hơn với các cô chú nông dân vai vác dụng cụ làm nông, tay xách thức ăn, nước uống chuẩn bị cho bữa sáng sau khi xong công việc.
2.Kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc về một anh hùng hoặc danh nhân của nước ta.
Gợi ý
Tham khảo truyện đọc lớp 5. | Soạn bài Sắc màu Việt Nam | 518 | |
Soạn bài sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh
Hướng dẫn
A.YÊU CẦU
-Hiểu được một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh làm cho văn bản thuyết minh thêm sinh động, hấp dẫn.
-Biết sử dụng một số biện pháp nghệ thuật vào văn bản thuyết minh để góp phần làm nổi bật đặc điểm đang thuyết minh.
B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP
I – Phần bài học
TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH
1. Ôn tập văn bẵn thuyết minh
Văn bản thuyết minh có những tính chất gì? Nó được viết ra nhằm mục đích gì? Cho biết các phương pháp thuyết minh thường dùng.
Gợi ý
-Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp ưi thức khách quan về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,… của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.
-Mục đích của văn bản thuyết minh nhằm cung cấp tri thức khách quan về những sự vật, hiện tượng, vấn đề,… được chọn làm đối tượng để thuyết minh.
-Những phương pháp thuyết minh thường dùng: nêu định nghĩa, giải thích, phân loại, so sánh, nôu các số liệu, ví dụ, biểu đồ liên quan,…
-Để việc giao tiếp gắn vđi mục đích của ngôn ngữ đặc trưng, văn bản thuyết minh phải đảm bảo tính khoa học, chính xác, rõ ràng, chặt chẽ.
2. Viết văn bản thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật.
Đọc văn bản sau và cho biết: Văn bản này thuyết minh đặc điểm cỏa đối tượng nào? Văn bản có cung cấp được tri thức khách quan về đối tượng không? Văn bản đã vận dụng phương pháp thuyết minh nào là chủ yếu? Đồng thời, để cho sinh động, tác giả còn vận dụng biện pháp nghệ thuật nào? (Bài Hạ Long – Đá và Nước, xem trong SGK, tr. 12, 13).
Gợi ý
-Văn bản trên thuyết minh về vai trò của Đá và Nước trong việc tạo lập nên vẻ đẹp, sự kì lạ vô tận của vịnh Hạ Long.
-Văn bản cung cấp cho người đọc những hiểu biết về vẻ đẹp kì lạ của vịnh Hạ Long. Đổ chỉ ra được vẻ đẹp kì lạ vô tận của Hạ Long, người viết phải có sự cảm nhận, thưởng thức đối tượng một cách tinh tế và lịch lãm.
-Văn bản Hạ Long – Đá và Nước thuyết minh về sự kì lạ vô tận của vịnh Hạ Long. Để thuyết minh vẻ đẹp sinh động, kì thú, biến ảo của Hạ Long, truyền được cảm xúc và sự thích thú đến người đọc, người viết không thể chỉ sử dụng các biện pháp thuyết minh thông dụng. Cái "vô tận, có tri giác, có tâm hồn" của vịnh Hạ Long không thể chỉ thấy được qua cách đo đếm, liệt kê, định nghĩa, giải thích, nêu số liệu,… mà phải kết hợp với trí tưởng tượng, liên tưởng.
Tác giả đã sử dụng phương pháp giải thích, phân loại đổ chỉ ra mối quan hệ giữa Đá và Nước: "Chính Nước làm cho Đá sống dậy, làm cho Đá vốn bất động và vô tri bỗng trở nên linh hoạt, có thể động đến vô tận, và có tri giác, có tâm hồn.”. Có lúc, tác giả dùng miêu tả, dùng ẩn dụ, nhân hoá,…: "con thuyền của ta mỏng như lá tre tự nó bập bềnh lên xuống theo con tiiều", "Và cái thập loại chúng sinh Đá chen chúc khắp vịnh Hạ Long kia, già đi, trẻ lại, trang nghiêm hơn hay bồng nhiên nhí nhanh, tinh nghịch hơn, buồn hơn hay vui hơn", "tất củ bọn người đá ấy lại hối hả trở về vị trí của họ”,…
II – Phần luyện tập
Bài tập 1. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi (Bài Ngọc Hoàng xử tội Ruồi xanh, xem SGK, tr. 14, 15).
Câu hỏi:
a.Văn bản có tính chất thuyết minh không? Tính chít ấy thể hiện ở những điểm nào? Những phương pháp thuyết minh nào đã được sử dụng?
b.Văn bản thuyết minh này có nét gì đặc biệt? Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?
c. Các biện pháp nghệ thuật ở đây có tác dụng gây hứng thú và làm nổi bật nội dung cần thuyết minh hay không?
Gợi ý
-Văn bản trên thực chất là một bài thuyết minh, cung cấp tri thức về loài ruồi. Lời của Ruồi thuyết minh về đặc điểm phân loại, nơi sinh sông của ruồi xanh. Lời của Thiên Tào thuyết minh về tác hại, nguyên nhân gây ra tác hại của loài ruồi xanh. Lời của luật sư thuyết minh về cấu tạo bộ phận cơ thể của ruồi xanh. Thuyết minh bằng:
+ Định nghĩa: ruồi thuộc họ côn ưùng.
+ Phân loại: các loại ruồi.
+ Số liệu: số vi khuẩn, số lượng sinh sản.
+ Liệt kê: mắt, chân.
-Văn bản thuyết minh được trình bày như một văn bản tường thuật một phiên toà, như một câu chuyện kể, có tranh luận, biện hộ, tuyên án,:..; tác giả cổ sử dụng biện pháp nghệ thuật kể chuyện, miêu tả, ẩn dụ, nhân hoá… Tất cả những điều này đã tạo được hứng thú cho bạn đọc và không ảnh hưởng đến sự tiếp nhận tri thức khách quan mà văn bản trình bày.
Bài tập 2. Đọc đoạn văn sau và nêu nhận xét về biện pháp nghệ thuật được sử dụng để thuyết minh:
Bà tôi thường kể cho tôi nghe rằng chim cú kêu là có ma tđi. Tôi hỏi vì sao thì bà giải thích: "Thế cháu không nghe tiếng cú kêu thường vọng từ bãi tha ma đến hay sao?". Sau này học môn Sinh học tôi mđi biết là không phải như vậy. Chim cú là loài chim ăn thịt, thường ăn thịt lũ chuột đồng, kẻ phá hoại mùa màng. Chim cú là giống vật có lợi, là bạn của nhà nông. Sở dĩ chim cú thường lui tới bãi tha ma là vì ở đó có lũ chuột đồng đào hang. Bây giờ mỗi lần nghe tiếng chim cú, tôi chẳng những không sợ mà còn vui vì biết rằng người bạn của nhà nông đang hoạt động.
Gợi ý
Mở đầu đoạn văn là tập tính của chim cú dưới dạng ngộ nhận, nhưng sau đó đã nhận thức lại đúng đắn hơn, xoá bỏ định kiến về loài chim này từ thời thơ ấu của tác giả. Biện pháp nghệ thuật ở đây là lấy ngộ nhận thời thơ ấu làm đầu mối câu chuyện. | Soạn bài sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh | 1,123 | |
Soạn bài sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
Hướng dẫn
A. YÊU CẦU
– Củng cố kiến thức về văn bản thuyết minh và miêu tả.
– Kết hợp các yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh để bài văn hay hơn.
B. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP
I – Phần bài học
Bài tập: Đọc văn bản Cây chuối trong đời sống Việt Nam và trả lời câu hỏi (SGK tr. 24, 25)
Gợi ý
a) Văn bản này tuy đối tượng để thuyết minh là cây chuối, nhưng cây chuối được xem xét trong mối quan hệ với đời sống của người Việt chứ không phải là cây chuối thuần luý là một loại thực vật. Do vậy, nhan đề văn bản phải là Cây chuối trong đời sống Việt Nam mới thể hiện được nội dung chính của văn bản.
b) Những câu trong văn bản thuyết minh về đặc điểm tiêu biểu của cây chuối:
Hai câu cuối của đoạn văn đầu tiên: Cây chuối rất ưa nước […] Chuối phát triển rất nhanh […] và câu Quả chuối là một món ăn ngon ở đoạn văn thứ ba.
c) Câu văn có yếu tố miêu tả cây chuối, quả chuối:
– […] cây chuối thân mềm vươn lên như những trụ cột nhẵn bóng, tõa ra vòm tán lá xanh mướt che rợp từ vườn tược đến núi rừng.
– […] chuối mọc thành rừng bạt ngàn vô tận.
– Không thiếu những buồng chuối dàitừ ngọn cây uốn trĩu xuống tận gốc cây.
d) Theo yêu cầu chung của văn bản thuyết minh, văn bản này có thể bổ sung thêm lá chuối, thân cây chuối, nõn chuối, bắp chuối,… Thêm công dụng của thân cây chuối: thái nhỏ dùng làm thức ăn cho lợn; lá chuối tươi dùng gói nem gói giò, lá chuối khô dùng làm chất đốt; nõn chuối, bắp chuối thái nhỏ làm nộm, nấu ám,…
II – Phần luyện tập
Bài tập 1. Bổ sung yếu tố miêu tả vào các chi tiết thuyết minh (SGK, tr. 26).
Gợi ý
Bổ sung yếu tố miêu tả:
– Thân cây chuối có hình trụ, nhẵn bóng, gồm nhiều lớp bẹ xếp lên nhau theo thứ tự từ trong ra ngoài.
– Lá chuối tươi, to bản, xanh mướt, trông chẳng khác gì một con thuyền xanh úp ngược, che mát cho cả khóm.
– Lá chuối khô không còn màu xanh mà chuyến sang màu đất. Khi ấy lá không còn vươn lên trên mà rũ xuống, nằm ép mình như còn cố bao bọc, chở che cho thân cây.
– Nõn chuôi khi nhú lên có màu xanh non rất đặc trưng, gợi là màu nõn chuôi. Từ chỏ nõn chuối cuộn chặt, chẳng mây chốc nõn chuối lớn dần, lỏng ra và nở thành một tàu chuối.
– Quả chuối xếp thành từng nải. Khi mới xuất hiện, nải chuối giống như một bàn tay xinh xắn có những ngón trắng hồng. Cả khi lơn, nải chuối vẫn giống bàn tay. Chả thế mà người la ví von có người có bàn tay chuối nắn.
Bài tập 2. Chỉ ra yêu tố miêu tả trong đoạn văn {Theo Phạm Côn Sơn, Làng nghề truyền thống Việt Nam)
Gợi ý
Yêu tố miêu tả trong đoạn văn đã cho:
Tách là loại chén uống nước của Tây, nó có tai. Chén của ta không có tai. Khi mời ai uống trà thì bưng hai tay mà mời. Có uống cũng nâng hai tay xoa xoa rồi mới uống.
Bài tập 3. Đọc văn bản Trò chơi ngày xuân (SGK, tr. 26) và chỉ ra những câu miêu tả trong đó.
Gợi ý
Các câu miêu tả trong văn bản Trò chơi ngày xuân:
– Những nhóm quan họ nam và nữ trong trang phục dân tộc đi tìm nhau trong ngày hội, mời nhau xơi trầu và nhận lời hát kết nghĩa giữa các làng.
– Những con thuyền thúng nhỏ mang theo các làn điệu dân ca điểm thêm cho không khí ngày xuân nét thư mộng, trữ tinh.
– Bàn cờ là sân bãi rộng, mỗi phe có 16 người mặc đồng phục đỏ hoặc xanh, cầm trên tay hay đeo trước ngực biển kí hiệu quân cờ.
– Hai tướng (tướng ông tướng bà) của từng bên đều mặc trang phục thời xưa lộng lẫy có cờ đuôi nheo đeo chéo sau lưng và được che lọng. | Soạn bài sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh | 725 | |
Soạn bài sử dụng yếu tố mô tả trong văn bản thuyết minh
Hướng dẫn
I.Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi.
Đọc văn bản Cây chuối trong đời sống Việt Nam và trả lời câu hỏi.
1.Nhan đề văn bản: thể hiện phạm vi và nội dung bài văn đó là vị trí và vai trò của cây chuối trong đời sống Việt Nam.
2.Những câu văn miêu tả về đặc điểm cây chuối.
-Thân chuối mềm vươn lên như những cột trụ nhẵn bóng, tỏa ra vòm tán lá xanh mướt che rợp vườn tược đến núi rừng.
-Chuối mọc thành rừng bạn ngàn vô tận. Chuối phát triển rất nhanh, chuối mẻ đẻ chuối con, chuối con đẻ chuối cháu, cứ gọi là “con đàn cháu lũ”.
-Không thiếu những buồng chuối dài từ ngọn cây uốn trĩu đến gốc cây.
3.Tác dụng của yếu tố miêu tả.
Làm cho hình ảnh cây chuối trở nên sinh động, các đặc điểm của cây chuối càng được nổi bật gây ấn tượng.
4.Một số công dụng khác của cây chuối.
-Thân chuối còn non có thể xắt mỏng làm rau sống, đặc biệt là một trong những loài rau không thể thiếu dùng để làm rau sống ăn với cơm hến. Thân chuối già dùng để làm thức ăn cho lợn (heo).
-Lá chuối tươi dùng để gói bánh, lá chuối khô dùng để gói đồ cho các bà đi chợ.
-Bắp chuối có thể ăn sống hoặc luộc lên làm món nộm hoa chuối rất ngon.
II.Câu hỏi phần bài học.
Câu 1. Bổ sung yếu tố miêu tả vào các chi tiết thuyết minh sau.
-Thân chuối có hình tròn thắng đứng và nhẵn thin như những chiếc cột nhà bóng loáng.
-Lá chuối lúc mới ra: cuộn tròn như chiếc hoa loa kèn, lúc đã khôn lớn xanh mướt và rộng như một tấm phản.
-Lá chuối khô: khi lá chuối đã già chúng rũ xuống bám chặt lấy thân cây chứ không rơi rụng và lìa xa như những lá cây khác. Ban đầu còn vàng tươi sau đó khô dần khô dần thành màu nâu nhạt.
-Nõn chuối mới ra giống như một bức thư thủa xưa được viết trên giấy hoa tiên còn phong kín.
-Bắp chuối: màu đỏ tươi, hình dáng giống như một búp sen khổng lồ treo ngược.
-Quả chuối: cong cong như một vầng trăng lưỡi liềm đầu tháng.
Câu 2. Chỉ ra các yếu tố miêu tả trong đoạn văn.
-Chén của ta không có tai. Khi mời ai uống trà thì bưng hai tay mà mời. Bác vừa cười vừa làm động tác, có uống cũng nâng hait ay xoa xoa rồi mới uống.
-Những yếu tố miêu tra này làm nổi bật hình ảnh loại chén (đối tượng được thuyết minh) và hình ảnh của Bác Hồ.
Câu 3. Đọc văn bản sau đây và chỉ ra những câu miêu tả sau đó.
TRÒ CHƠI NGÀY XUÂN
Một vài câu miêu tả trong văn bản:
-Những nhóm quan họ nam và nữ trong trang phục dân tộc đi tìm nhau trong ngày hội, mời nhau xơi trầu và nhận kết nghĩa giữa các làng.
-Những con thuyền thúng nhỏ mang theo các làn điệu dân ca, điểm thêm cho không khí ngày xuân nét thơ mộng trầm tĩnh.
-Lân được trang trí công phu, râu ngũ sắc, lông mày bạc, mắt lộ to, thân hình có các họa tiết đẹp.
-Bàn cờ là sân rộng, mỗi phe có 16 người mặc trang phục đỏ hoặc xanh, cầm trên tay hay đeo trước ngực biển kí hiệu quân cờ.
-Hai ông tướng (tướng ông, tướng bà) của từng bên đều mặc trang phục xưa lộng lẫy, có cờ đuôi nheo đeo chéo sau lưng và được che lọng. | Soạn bài sử dụng yếu tố mô tả trong văn bản thuyết minh | 608 | |
Tiếng Việt mang trong mình những vẻ đẹp tự hào không chỉ về ý nghĩa mà còn là tiếng nói chung của dân tộc ta. Sự giàu đẹp của Tiếng Việt chính là một tác phẩm độc đáo, hấp dẫn nằm trong khung chương trình Ngữ văn lớp 7. Tác phẩm mang đến cho học sinh một cái nhìn toàn diện nhất về tiếng Việt để cho ta thêm yêu, thêm tự hào về quốc ngữ của chúng ta. Giải văn hôm nay sẽ giúp cho các em học tập “Sự giàu đẹp của Tiếng Việt” một cách tốt nhất thông qua việc soạn bài hôm nay nhé!
Soạn bài Sự giàu đẹp của Tiếng Việt
Bài làm
Bố cục của bài Sự giàu đẹp của Tiếng Việt
– Phần 1 (từ đầu đến “qua các thời kì lịch sử”): Thông qua đoạn 1 cũng đã khẳng định tiếng Việt còn được biết đến cũng chính là thứ tiếng hay và đẹp, là niềm tự hào của người Việt Nam.
– Phần 2 (đoạn còn lại): Đoạn văn cũng chính là những minh chứng chứng minh sự giàu đẹp của tiếng Việt.
Hướng dẫn soạn bài
Câu 1 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2) Tìm bố cục của bài vàn và nêu ý chính của mỗi đoạn.
Phần 1 (đoạn 1, 2): Tiếng Việt của chúng ta đẹp và hay (luận điểm chính, tổng quát lại đầy đủ)
Phần 2 (còn lại): Phần này đã đưa ra những lời lẽ chứng minh sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt.
Câu 2 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2) Hãy cho biết nhận định: “Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” đã được giải thích cụ thể trong đoạn đầu bài văn như thế nào?
Những nhận định Tiếng Việt có những đặc sắc, độc đáo của một thứ tiếng đẹp và hay được trình bày:
+ Vế thứ hai người đọc cũng nhận thấy được chúng ta nên giải thích ngắn gọn nhận định ấy.
Câu 3 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2) Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra những chứng cứ gì và sắp xếp các chứng cứ ấy như thế nào?
Để có thể chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt thì tác giả Đặng Thai Mai cũng đã trình bày những ý kiến theo 2 phương thức khéo léo đó chính là phương thức trực tiếp và phương thức gián tiếp.
+ Tiếng Việt được đánh giá chính là một thứ tiếng đẹp, cái đẹp ở mặt ngữ âm
+ Người đọc cũng có thể nhận thấy được ý kiến của một người nước ngoài. Chính những ấn tượng của họ khi mà nghe người Việt nói thì ta cũng nhận thấy được tác giả khi đưa ra cũng đã có biết bao nhận xét của những người am hiểu tiếng Việt như các giáo sĩ nước ngoài
+ Tiếp đến hệ thống nguyên âm, hệ thống phụ âm giàu thanh điệu, phong phú.
Soạn bài Sự giàu đẹp của Tiếng Việt
Câu 4 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2) Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt đã được thể hiện ở những phương diện nào? Em hãy tìm một số dẫn chứng cụ thể đế làm rõ các nhận định của tác giả.
Có thể khẳng định được chính sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt cũng lại được thể hiện qua: ngữ âm thể hiện qua được từ vựng và ngữ pháp
– Từ vựng: Luôn luôn dồi dào giá trị thơ ca, giá trị nhạc, họa nó dường như cũng đã lại gợi hình ảnh và chứa được cả nhạc điệu trong đó.
– Nói về phần ngữ pháp: tiếng Việt của chúng ta sở hữu một hệ thống ngữ pháp vô cùng uyển chuyển, nhịp nhàng.
Ví dụ: Khi nói đên một sự hài hòa về thanh điệu, sự phong phú về mặt ngôn từ trong Truyện Kiều hoặc trong Chinh phụ ngâm hay trong tác phẩm thơ của Tố Hữu…
⇒ Tác giả Đặng Thai Mai cũng đã tinh tế khi đã làm nổi bật sự giàu có của tiếng Việt bằng việc sáng tạo từ ngữ mới để có thể phù hợp hơn với sự phát triển của xã hội.
Câu 5 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2) Điểm nổi bật trong nghệ thuật nghị luận của bài là gì?
Đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn này chính ở ở việc:
– Tác giả thật tài tình khi biết kết hợp hài hòa giữa giải thích, chứng minh với bình luận vô cùng chặt chẽ
– Có thể nhận thấy được lập luận chặt chẽ thì cũng sẽ mang đến được một nhận định ngay phần mở bài, tiếp đó là dùng phương pháp chứng minh
– Tác giả còn tinh tế khi đã sử dụng một hệ thống vô cùng chặt chẽ bằng cách nêu được nhận định khái quát, giải thích bằng rất nhiều phương thức linh hoạt.
Không thể phủ nhận được Tiếng Việt của chúng ta rất giàu đẹp và nó được đúc kết từ chính kinh nghiệm, vốn sống cũng như phong tục tập quán của người dân. Tiếng nói mang điệu hồn của dân tộc. Với bài soạn đã được hệ thống hóa một cách khoa học, ngôn từ dễ hiểu thì giải văn cũng hi vọng đây sẽ là một trong những tài liệu bổ ích cho các em học sinh.
Chúc các em học tốt!
Minh Nguyệt
Các em có thể tham khảo một số bài soạn liên quan đến chương trình Ngữ văn 7 dưới đây:
Soạn bài tục ngữ về con người và xã hội
Soạn bài cảnh khuya
Soạn bài tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Soạn bài những câu hát than thân
Soạn bài những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người | Soạn bài Sự Giàu Đẹp Của Tiếng Việt | 982 | |
Soạn bài sự phát triển của từ vững tiếp theo
Hướng dẫn
Soạn bài sự phát triển của từ vững tiếp theo
I.Phần bài học
Câu 1. Trong thời gian gần đây trên cơ sở các từ điện thoại, kinh tế, di động, sở hữu, tri thức, đặc khu, trí tuệ, có những từ ngữ mới được cấu tạo.
–Điện thoại di động: điện thoại vô tuyến nhỏ mang theo người, được sử dụng trong vùng phủ sóng của cơ sở cho thuê bao.
–Sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu đối với sản phẩm do tự mình sản xuất ra, được pháp luật bảo hộ quyền tác giả, quyền phát minh và sáng chế.
–Điện thoại nóng là điện thoại dành riêng để giải quyết những vấn đề khẩn cấp và bất kì lúc nào đều có người giải đáp.
–Kinh tế thị trường là nền kinh tế dựa chủ yếu vào việc sản xuất lưu thông, phân phối các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao.
–Đặc khu kinh tế là những khu vực được dành riêng để thu hút những nguồn đầu tư và công nghệ từ nước ngoài, chính sách của những khu này có ưu đãi hơn đối với những khu khác.
Câu 2.Những từ ngữ mới xuất hiện cấu tạo thành mô hình + tặc như: không tặc, lâm tặc, hải tặc, tin tặc…
–Tin tặc là những kẻ xâm phạm vào máy tính của người khác để khai thác và phá hoại khi chưa có sự cho phép của người chủ máy tính.
II.Phần mượn từ ngữ của tiếng nước ngoài.
Câu 1. Những từ Hán việt trong đoạn trích.
a.Thanh minh, tiết, tào mộ, hội, đạp thanh, yên thanh, bộ hành, xuân, tài tử, giai nhân.
b.Bạc mệnh, duyên phận, thần, linh, chứng giám, thiếp, đoan trang, tiết, trinh bạch, ngọc.
Câu 2. Những từ mượn của tiếng nước ngoài, gốc Ân – Ân.
a.AIDS
b.Ma két ting.
III.Luyện tập
Câu 1. Những mô hình có khả năng tạo ra những từ ngữ mới như kiểu: x + tặc.
–X + trường: công trường, ngư trường, nông trường.
–X + hóa: lão hóa, cơ giới hóa, thương mại hóa, toàn cầu hóa, hàng hóa.
–X + điện tử: thư điện tử, thương mại điện tử…
Câu 2.
–Thương hiệu là nhãn hiệu hàng hóa được người tiêu dùng biết biết trên thị trường.
–Hiệp định khung: hiệp định có tính chất nguyên tắc chung về một vấn đề lớn, được kí kết thường là giữa hai chính phủ, có thể dựa vào đó triển khai và kí kết những vấn đề cụ thể.
–Cầu truyền hình là hình thức xem truyền hình tại chỗ, có thể đối thoại trực tiếp với nhau thông qua Camera tại các khoảng cách xa nhau.
–Đa dạng sinh học là phong phú về ren, về giống loài sinh vật trong tự nhiên.
–Đường cao tốc là xe được chạy trên đường với tốc độ cao mà không vị phạt và được thiết kế riêng cho những xe có tốc độ trên 100 km / giờ.
Câu 3.
–Từ mượn tiếng Hán: mãng xà, biên phòng, tham ô, tô thuế, phê bình, phê phán, ca sĩ, nô lệ.
–Từ mượn ngôn ngữ Châu Âu: xà phòng, ô tô, ôxi, rađiô, càphê, canô.
Câu 4. Các hình thức phát triển của từ vựng là:
–Phát triển về nghĩa của từ
–Phát triển về số lượng từ ngữ. Bằng cách cấu tạo từ ngữ mới và mượn từ ngữ tiếng nước ngoài.
–Từ vựng của một ngôn ngữ không thể thay đổi. Do tự nhiên, xã hội luôn vận động, phát triển không ngừng. Nhận thức của con người về thế giới cũng phát triển thay đổi theo. Nếu từ vựng của một ngôn ngữ không thay đổi thì ngôn ngữ đó không thể đáp ứng nhu cầu giao tiếp, nhận thức của con người bản ngữ. | Soạn bài sự phát triển của từ vững tiếp theo | 624 | |
Soạn bài Sự phát triển của từ vựng (tiếp theo)
Hướng dẫn
Soạn bài Sự phát triển của từ vựng (tiếp theo) lớp 9
Soạn bài Sự phát triển của từ vựng (tiếp theo) được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo để hiểu rõ hơn về ý nghĩa sự phát triển của từ vựng. Qua đó giúp các em học sinh chuẩn bị tốt kiến thức để học tốt môn Ngữ văn lớp 9 một cách dễ dàng nhất.
Soạn bài Sự phát triển của từ vựng (tiếp theo) trang 72 SGK Văn 9
I. TẠO TỪ NGỮ MỚI
1. Những từ ngữ mới được cấu tạo trong thời gian gần đây trên cơ sở các từ ngữ: Điện thoại, kinh tế, di động, sở hữu, tri thức, đặc khu, trí tuệ:
Có thể xác định những từ ngữ sau:
– Điện thoại di động: Điện thoại vô tuyến nhỏ mang theo người: Được sử dụng trong vùng phủ sóng của cơ sở cho thuê bao.
– Kinh tế tri thức: Nền kinh tế dựa chủ yếu vào việc sản xuất, lưu thông, phân phối các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao.
– Đặc khu kinh tế: Khu vực dành riêng để thu hút vốn và công nghệ nước ngoài, với những chính sách có ưu đãi.
– Sở hữu trí tuệ: Quyền sở hữu đối với sản phẩm do hoạt động trí tuệ mang lại, được pháp luật bảo hộ như quyền tác giả, quyền phát minh, sáng chế,…
– Lâm tặc: Kẻ cướp tài nguyên rừng.
– Tin tặc: Kẻ dùng kĩ thuật thâm nhập trái phép vào dữ liệu trên máy tính của người khác để khai thác hoặc phá hoại.
II. MƯỢN TỪ NGỮ CỦA TIẾNG NƯỚC NGOÀI
1. Tìm những từ Hán Việt trong hai đoạn trích:
Có những từ Hán Việt sau:
a) Thanh minh, tết, lễ, tảo mộ, hội, đạp thanh, yến anh, bộ hành, xuân, tài tử, giai nhân.
b) Bạc mệnh, duyên, phận, thần, linh, chứng giám, thiếp, đoan trang, tiết, trinh bạch, ngọc (không kể tên riêng trong đoạn trích).
2. Để chỉ những khái niệm như:
a) Bệnh mất khả năng miễn dịch, gây tử vong: Bệnh AIDS.
b) Nghiên cứu một cách có hệ thống những điều kiện để tiêu thụ hàng hóa, chẳng hạn nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng,..: Ma-két-ting.
AIDS (a) và Ma-két-ting (b) là những từ mượn của tiếng nước ngoài. Trong nhiều trường hợp, mượn từ của tiếng nước ngoài để biểu thị những khái niệm mới xuất hiện trong đời sống của người bản ngữ là cách thức tốt nhất.
Dưới đây là bài soạn Sự phát triển của từ vựng (tiếp theo) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Sự phát triển của từ vựng (tiếp theo) | Soạn bài Sự phát triển của từ vựng (tiếp theo) | 461 | |
Soạn bài sự phát triển của từ vựng
Hướng dẫn
Soạn bài sự phát triển của từ vựng
I.Phần bài học
Câu 1. Từ “kinh tế” trong bài thơ “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu là từ nói tắt của “Kinh bang tế thế”, có nghĩa là trị nước cứu đời. Ngày nay ta không còn dùng từ kinh tế theo nghĩa như vậy mà theo nghĩa chi toàn bộ hoạt động của người lao động sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng của cải, vật chất làm ra.
Như vậy, nghĩa của từ có thể biến đổi theo thời gian. Có những nghĩa cũ bị mất đi và có những nghĩa mới được hình thành.
Câu 2.
a.Từ xuân trong câu: “… chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân” chỉ mùa xuân, khoảng thời gian chuyển tiếp từ đông sang hè thời tiết ấm dần, mở đầu một năm: nghĩa gốc.
Từ xuân trong câu 2:… “Ngày xuân em hãy còn dài…” chỉ tuổi tác, ý nói tuổi trẻ: nghĩa chuyển.
b.Từ tay trong câu thứ nhất “… khăn hồng trao tay” chỉ một bộ phận của cơ thể từ vai tới các ngón tay, có khả năng cầm, nắm: nghĩa gốc.
Từ tay trong câu thứ 2 “… cũng phường bán thịt cũng tay buôn người” chỉ người chuyên hoạt động hay giỏi về một nghề, một môn nào đó (nghĩa chuyển) hoán dụ: Nghĩa chuyển.
II.Luyện tập
Câu 1. Tìm nghĩa của từ “chân” trong các câu:
Từ “chân” trong câu a được dùng với nghĩa chuyển theo phương thức hoán dụ.
Từ “chân” trong câu b được dùng với nghĩa chuyển theo phương thức hoán dụ.
Từ “chân” trong câu b được dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ.
Từ “chân” trong câu b được dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ.
Câu 2. Từ định nghĩa về từ “trà”, nhận xét về nghĩa của từ này trong các cách dùng: trà atisô, trà hà thủ ô, trà sâm, trà linh chi, trà tâm sen…
Trong những cách dùng như: trà atisô, trà hà thủ ô, trà sâm, trà linh chi, trà tâm sen… Từ “trà” được dùng với nghĩa chuyển, không phải với nghĩa gốc như trong Từ điển tiếng Việt. “Trà” trong những cách dùng này có nghĩa là sản phẩm từ thực vật, được chế biến thành dạng khô, dùng để pha nước uống.
Câu 3. Trong những cách dùng như: đồng hồ điện, đồng hồ nước… “đồng hồ” được dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ, chỉ những dụng cụ để đo có bề ngoài giống đồng hồ.
Câu 4. Tìm thí dụ để chứng minh các từ Hội chứng, Ngân hàng, Sốt, Vua là từ nhiều nghĩa.
a.Hội chứng:
–Nghĩa gốc: tập hợp nhiều triệu chứng cùng xuất hiện của bệnh tật.
VD: Hội chứng viêm đường hô hấp cấp rất phức tạp.
–Nghĩa chuyển: tập hợp nhiều hiện tượng, sự kiện biểu hiện một tình trạng, một vấn đề xã hội cùng xuất hiện ở nhiều nơi.
b.Ngân hàng.
–Nghĩa gốc: tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý các nghiệp vụ tiền tệ, tín dụng.
VD: Ngân hàng Ngoại thương.
–Nghĩa chuyển: Kho lưu trữ những thành phần, bô phận cơ thể để sử dụng khi cần thiết như “Ngân hàng máu”… Hay tập hợp các dữ liệu liên quan đến tới một lĩnh vực. được tổ chức để tiện tra cứu, sử dụng như trong: “Ngân hàng dữ liệu, ngân hàng đề thi… Trong trường hợp này, nét nghĩa “tiền bạc” bị mất, chỉ còn nét nghĩa “lưu giữ bảo quản”.
c.Sốt.
–Nghĩa gốc: tăng nhiệt độ cơ thể lên quá mức bình thường do bị bệnh. Ví dụ: Nó bị sốt đến 40 oC.
–Nghĩa chuyển: ở trạng thái tăng đột ngột về nhu cầu, khiến hàng trở nên khan hiếm, giá tăng nhanh.
VD: Cơn sốt đất, cơn sốt xe, cơn sốt điện thoại…
d.Vua
–Nghĩa gốc: Người đứng đầu nhà nước, đứng đầu toàn dân để cai trị trong thời phong kiến. Ví dụ: Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long.
–Nghĩa chuyển: người được coi là nhất trong một lĩnh vực nhất định, thường là sản xuất, kinh doanh, nghệ thuật, thể thao.
VD: Vua bóng đá, vua ôtô… Danh hiệu này thường dùng cho phái nam.
Câu 5. Trong hai câu thơ:
“Ngày ngày mặt trời đi qua bên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”
Từ “mặt trời” trong câu thơ thứ hai được sử dụng theo biện pháp tu từ ẩn dụ. Tác giả gọi Bác Hồ là “mặt trời” dựa trên mối quan hệ tương đồng giữa hai đối tượng được hình thành theo cảm nhận của nhà thơ. Đây không phải là hiện tượng một từ phát triển thành nhiều nghĩa. Bởi vì sự chuyển nghĩa ở đây chỉ có tính chất lâm thời. | Soạn bài sự phát triển của từ vựng | 801 | |
Soạn bài sự việc và nhân vật trong văn tự sự
Hướng dẫn
Bài tập làm văn soạn bài sự việc và nhân vật trong văn tự sự lớp 6 bao gồm các bài soạn ngắn gọn. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh làm tốt bài văn soạn bài sự việc và nhân vật trong văn tự sự.
Soạn bài sự việc và nhân vật trong văn tự sự
Câu 1 – Soạn bài sự việc và nhân vật trong văn tự sự
a. Sự việc khởi đầu: (1) Vua Hùng kén rể.
– Sự việc phát triển: (2), (3), (4).
– Sự việc cao trào: (5), (6).
– Sự việc kết thúc: (7)
* Môi quan hệ nhân quả giữa các sự việc trên: Sự việc trước là nguyên nhân của sự việc sau. Sự việc sau là kết quả của sự việc trước và lại là nguyên nhân của sự việc sau nữa.
Các sự việc móc nối với nhau trong mốì quan hệ rất chặt chẽ, không thể đảo lộn, không thể bỏ bớt một sự việc nào.
b. Sáu yếu tố cụ thể cần thiết của sự việc trong truyện là:
– Ai làm? (nhân vật): Hùng Vương, Sơn Tinh, Thủy Tinh.
– Xảy ra ở đâu?: Ớ Phong Châu, đất của vua Hùng.
– Xảy ra lúc nào?: Xảy ra thời Hùng Vương.
– Nguyên nhân: Sự ghen tuông dai dẳng của Thủy Tinh.
– Diễn biến: Những trận đánh nhau dai dẳng của hai thần hằng năm.
– Kết quả: Thủy Tinh thua nhưng không cam chịu. Hằng năm cuộc chiến giữa hai thần vẫn xảy ra.
Việc giới thiệu Sơn Tinh có tài là rất cần thiết vì như thế thì mới có thể chông chọi nổi với Thủy Tinh.
Nếu bỏ sự việc vua Hùng ra điều kiện kén rể cũng không được, vì không có lí do để hai thần thi tài.
Việc Thủy Tinh nối giận có lí, vì:
– Thần rất kiêu ngạo, cho rằng mình chẳng kém Sơn Tinh. Nay chỉ vì chậm chân mà mất vợ, nên thật tức.
– Tính ghen tuông ghê gớm của Thủy Tinh.
c. Sự việc thể hiện mối thiện cảm của người kể với Sơn Tinh và vua Hùng:
– Giọng kể trang trọng, thành kính khi nhắc đến vua Hùng và Sơn Tinh.
– Điều kiện kén rể có lợi cho Sơn Tinh, bất lợi cho Thủy Tinh. Đó là dụng ý của vua Hùng.
* Việc Sơn Tinh thắng Thủy Tinh nhiều lần có ý nghĩa con người khắc phục, vượt qua lũ lụt, đắp đê thắng lợi.
* Không thể đế cho Thủy Tinh thắng Sơn Tinh, vì như thế là con người thất bại, nhân dân ta phải chìm trong biển nước.
* Không thể xóa bỏ sự việc “Hằng năm, Thủy Tinh lại dâng nước… Vì đó là hiện tượng xảy ra hằng năm ở nước ta, là quy luật thiên nhiên.
a. Trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh nhân vật chính có vai trò quan trọng nhất là Sơn Tinh và Thủy Tinh.
– Nhân vật được nói tới nhiều nhất: Thủy Tinh.
– Nhân vật phụ: Hùng Vương, Mị Nương. Tuy là nhân vật phụ nhưng họ lại rất cần thiết không thể bỏ được, vì nếu bỏ thì câu chuyện có nguy cơ chệch hướng hoặc đổ vỡ.
b. Các nhân vật trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh được kể bằng cách:
– Gọi tên, đặt tên: Hùng Vương, Mị Nương, Sơn Tinh, Thủy Tinh
– Được giới thiệu lai lịch, tính tình, tài năng.
– Kể việc làm.
Nhân
vât
Tên gọi
Lai lịch
Chân
dung
Tài năng
Việc làm
Vua
Hùng
Vua
Hùng
thứ mười tám
không
không
kén rể
Sơn
Tinh
Sơn
Tinh
ở vùng núi Tản Viên
không
có nhiều tài lạ, đem sính lễ dến trước cầu hôn
bốc từng quả quả đồi, dời từng dãy núi, ngăn chặn dòng nước…
Thủy
Tinh
Thủy
Tinh
ở miền biển
không
tài năng không kém: gọi gió, gió đến, hô mưa mưa, ra về.
dâng nước đánh Sơn Tinh…
Mị
Nương
Mị
Nương
con vua Hùng thứ mười tám
người đẹp như hoa
không
theo Sơn Tinh về núi
Lạc hầu
Lạc hầu
đời vua Hùng thứ mười tám
không
không
bàn việc cùng vua
Trên đây là bài tập làm văn soạn bài sự việc và nhân vật trong văn tự sự, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình! | Soạn bài sự việc và nhân vật trong văn tự sự | 675 | |
Soạn bài thuyết minh kết hợp miêu tả
Hướng dẫn
I.Phần bài học.
Câu 1. Giải thích nhan đề bài văn: Cây chuối trong đời sống Việt Nam.
Nhan đề thể hiện chủ đề của bài: Nói về giá trị của cây chuối nói chung trong đời sống Việt Nam chứ không nhằm miêu tả một cây chuối cụ thể nào.
Câu 2. Tìm những câu thuyết minh về đặc điểm tiêu biểu của cây chuối:
VD: “Đi khắp Việt Nam, nơi đâu ta cũng gặp…”
“Quả chuối là món ăn ngon…”.
Câu 3. Tìm những câu văn có tính miêu tả.
-“Gốc chuối tròn như đầu người…”
-“Những buồn chuối dài từ ngọn cây xuống tận gốc cây”.
Tác dụng của những câu văn miêu tả: giúp cho việc thuyết minh về cây chuối thêm cụ thể, sinh động hấp dẫn, làm cho đối tượng thuyết minh được nổi bật, gây ấn tượng.
Câu 4. Văn bản thuyết minh này con có thể bổ sung thêm công dụng của thân cây chuối, lá chuối tươi, lá chuối khô, nõn chuối, bắp chuối…
Cho biết công dụng lá chuối: gói các loại bánh dân tộc như bánh chưng, bánh dày, bánh giò, bánh nếp, bánh dẻo… hoặc gói thức ăn nhằm bảo vệ thức ăn lâu hỏng, giữ nguyên mùi.
Lá chuối khô cũng có tác dụng tương tự, có thể dùng để lợp, che (như rơm rạ) hoặc dùng để đun nấu.
Thân cây chuối, bắp chuối có thể dùng để ăn thay rau hoặc làm các món đặc sản như trộn nộm, trộn gỏi… Ở các vùng cồn cát miền Trung, vào mùa hè, người ta còn dùng bẹ chuối tươi để đi trên cát.
II.Luyện tập
Câu 1. Bổ sung bài “Cây chuối…” kết hợp yếu tố miêu tả với các chi tiết thuyết minh.
VD:
-Thân cây chuối có dáng: tròn, nhẵn, thẳng ; thân cây gồm nhiều phiến rộng ôm lấy nhau, vỏ bên ngoài xanh bóng hoặc pha màu hồng nhạt.
-Lá chuối tươi: phiến to rộng, có dọc cứng ở giữa, màu lá xanh mượt…
-Lá chuối tươi phơi khô chuyển thành màu nâu…
-Quả chuối to bằng cổ tay, tròn đều, lúc chưa chín có màu xanh bóng, khi chín ngả dần sang màu vàng tươi…
-Bắp chuối màu nâu đỏ, do nhiều lớp bẹ bao bọc mà thành, trong mỗi bẹ là một nải quả chuối non…
-Nõn chuối là lớp lá non cuộn lại với nhau, mọc thẳng, màu xanh nhạt. Người xưa so sánh lá chuối non giống như một “bức thư tình” cuộn lại.
Câu 2. Đọc bài văn Trò chơi ngày xuân.
Những câu miêu tả trong bài văn:
-Liền anh, liền chị ở các làng đi lại thăm hỏi, tặng quà rồi hát với nhau đến tận nửa đêm…
-Lân được trang trí công phu, râu ngũ sắc, lông màu bạc, mắt to, thân mình có họa tiêt đẹp…
-Người tham gia kéo co chia thành hai phe, đứng thành một hàng đối nhau, cùng nắm sợi dây thừng, dây chão hay một cây sào tre, hoặc người sau ôm lưng người đứng trước… | Soạn bài thuyết minh kết hợp miêu tả | 499 | |
Đề bài:Soạn Bài Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh
Bài làm
I. Giới thiệu một danh lam thắng cảnh
Câu 1: Bài viết cung cấp những tri thức:
a. Hồ Hoàn Kiếm:
– Nguồn gốc đoạn cũ của Sông Hồng có vài nghìn tuổi.
– Tên: Lục Thuỷ – nước xanh
– Hoàn Kiếm – sự tích Lê Lợi trả gươm
– Thủy quân luyện tập.
>> XEM THÊM: Thuyết minh về núi Ngự Bình Huế
b. Đền Ngọc Sơn:
– Gò Điếu Đài nơi vua đã từng câu cá
– Đời Vĩnh Hựu: chúa Trịnh Giang lập cung Khánh Thuỵ ở Đảo Ngọc
– Thế kỉ XIX xây chùa Ngọc Sơn thờ Phật và Đức Thánh Trần.
– Năm 1864: Xây Tháp Bút, Đài Nghiên- cầu Thê Húc.
– Kiến trúc đền Ngọc Sơn gồm 3 nếp:
+ Bái đường
+ Giữa thờ Văn Xương
+ Sau thờ Trần Hưng Đạo
– Không gian trước bái đường Trấn Ba Đình
– Hướng Nam Tháp Rùa – tháp nổi
Câu 2: Muốn viết bài giới thiệu một danh lam thắng cảnh như vậy, cần có những kiến thức:
– Về lịch sử
– Về kiến trúc
– Về văn hóa
Câu 3: Để có kiến thức về một danh lam thắng cảnh, cần:
– Quan sát
– Đọc sách, tra cứu, tìm hiểu, hỏi han,…
Câu 4:
– Bài viết được sắp xếp theo bố cục, thự tự từ việc giới thiệu hồ Hoàn Kiếm (không gian rộng) đến việc giới thiệu đền Ngọc Sơn (không gian hẹp)
– Bố cục thiếu phần mở bài; phần thân bài thiếu miêu tả vị trí và độ rộng hẹp của hồ, Vị trí của Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, Cầu Thê Húc, Quang cảnh xung quanh cây cối, màu nước, thỉnh thoảng rùa nổi… Nội dung bài viết như vậy còn khô khan.
Câu 5: Bài văn sử dụng các phương pháp thuyết minh: Giải thích (tên hồ), liệt kê (kể các bộ phận), phân loại, phân tích, dùng số liệu,…
II. Luyện tập
Bài tập 1: Có thể lập lại bố cục của bài thuyết minh về Hồ Hoàn Kiếm và Đền Ngọc Sơn như sau:
– Mở bài: Giới thiệu chung về thắng cảnh hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn.
– Thân bài: Đoạn 1: giới thiệu hồ Hoàn Kiếm
Đoạn 2: giới thiệu đền Ngọc Sơn
Đoạn 3: Khu vực quanh hồ – Bờ Hồ
– Kết bài: Phát biểu cảm nghĩ về thắng cảnh hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn
Bài tập 2:
Muốn giới thiệu theo trình tự tham quan hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn từ xa đến gần, từ ngoài vào trong thì nên sắp xếp thứ tự giới thiệu như sau:
– Từ trên gác nhà bưu điện, nhìn bao quát toàn cảnh hồ – đền.
– Từ đường Đinh Tiên Hoàng nhìn Đài Nghiên, Tháp Bút, qua cầu Thê Húc, vào đền. Tả bên trong đền.
– Từ tầng 2 nhà phố Hàng Khay, nhìn bao quát cảnh hồ – đền để kết luận
Bài tập 4:
– Câu của nhà thơ nước ngoài gọi Hồ Gươm là “chiếc lẵng hoa xinh đẹp giữa lòng Hà Nội” Có thể được sử dụng vào phần mở bài hoặc kết bài. | Soạn Bài Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh | 506 | |
Soạn bài thuyết minh về một phương pháp cách làm
Hướng dẫn
I.Giới thiệu một phương pháp (cách làm)
-Khi cần thuyết minh cách làm một đồ vật (hay cách nấu món ăn, may quần áo…) người ta thường nêu những nội dung sau:
+ Nguyên vật liệu
+ Cách làm
+ Yêu cầu thành phẩm.
-Cách làm được trình bày cái nào làm trước, cái nào làm sau theo một thứ tự nhất định thì mới cho kết quả mong muốn.
II.Luyện tập.
1.Trò chơi ‘Thi thổi cơm’.
a.Số lượng người tham gia: từng cặp trai gái (khoảng 3 đến 5 cặp).
b.Vật dụng cần chuẩn bị cho từng cặp trai gái:
-Nồi đất
-Đôi đũa cái
-Củi, lửa
-Gạo đã vo
-Khăn bịt mắt và khăn buộc tay.
c.Cách chơi:
-Bịt mắt người con gái, buộc tay người con trai.
-Sau ba hồi trống, từng đôi trai gái phải nhanh chóng và khéo léo bổ sung cho nhau để nhen lửa, nấu cơm chín sớm nhất và ngon nhất.
-Sau một thời gian được quy định cụ thể, ba hồi trống báo hiệu thời gian nấu cơm đã kết thúc. Từng đôi trai gái phải ngừng tay lại, đợi ban giám khảo đến chấm điểm.
d.Yêu cầu
-Về phía người chơi, mắt của người con gái phải được bịt kín, tay của người con trai phải buộc chặt.
-Về phía sản phẩm: cơm phải chín đều, ngon và chín trong thời gian ngắn nhất.
2.– Cách đặt vấn đề đi từ rộng đến hẹp. Cụ thể bài giới thiệu ‘Phương pháp đọc nhanh’ trình bày lần lượt các ý sau:
+ Để gánh vác được vai trò đó, con người cần phải đọc.
+ Số lượng rất lớn về đầu sách, trang in của ngành in thế giới.
+ Cách đọc như thế nào trước núi tư liệu đó.
-Các cách đọc:
+ Đọc thành tiếng.
+ Đọc thầm (gồm đọc theo dòng và đọc ý).
-Nội dung và hiệu quả của phương pháp đọc nhanh được nêu trong bài:
+ Về nội dung, phương pháp đọc nhanh là cách đọc không theo từng câu mà thu nhận ý chung trong bài viết qua các từ ngữ chủ yếu.
+ Về hiệu quả, đây là cách đọc cho phép ta thu nhận thông tin cần thiết trong một đoạn văn, một trang sách, lược bỏ những thông tin không cần thiết, thu nhận thông tin nhiều mà tốn ít thời gian, đặc biệt là cơ mắt ít mỏi.
-Những số liệu trong bài có ý nghĩa chứng minh, tăng sức thuyết phục đối với việc giới thiệu phuong pháp đọc nhanh. | Soạn bài thuyết minh về một phương pháp cách làm | 409 | |
Soạn bài thuật ngữ
Hướng dẫn
I.Thuật ngữ là gì?
Câu 1.
a. Cách giải thích thứ nhất chỉ dừng lại ở những việc nên đặc tính bên ngoài của sự vật. Đó là cách giải thích hình thành trên cơ sở kinh nghiệm, có tính chất cảm tính.
b.Cách giải thích thứ hai thể hiện được đặc tính bên trong của sự vật. Những đặc tính này phải qua nghiên cứu bằng lí thuyết và phương pháp khoa học. Do đó, nếu không có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực có liên quan (hóa học) thì người tiếp nhận không thể hiểu được cách giải thích này.
Cách giải thích thứ nhất là cách giải thích nghĩa của từ ngữ thông thường, còn cách giải thích thứ hai là cách giải thích nghĩa của thuật ngữ.
Câu 2. Các định nghĩa này ở những bộ môn khoa học nào.
Định nghĩa về thạch nhũ, ba zơ dùng ở bộ môn hóa.
Định nghĩa về ẩn dụ dùng ở bộ môn văn học.
Định nghĩa về phân số thập phân dùng ở bộ môn toán.
Những từ ngữ được định nghĩa này thường được dùng ở những văn bản khoa học, công nghệ.
Câu 2. Đặc điểm của thuật ngữ.
a.Các thuật ngữ trên không có nghĩa nào khác.
b.
-Muối (a) là một thuật ngữ.
-Muối (b) từ thông thường, có sắc thái biểu cảm – chỉ những vất vả, gian truân mà con người nếm trải trong đời.
II.Luyện tập
Câu 1.
-Lực là tác dụng đẩy kéo của vật này lên vật khác (vật lý)
-Xâm thực là quá trình phá hủy lớp đất đá phủ trên mặt đất do các tác nhân như gió, sóng biển, băng hà, nước chảy… (địa lý)’
-Hiện tượng hóa học là hiện tượng sinh ra chất mới.
-Di chỉ là những dấu vết của người xưa đã cư trú và sinh sống (ịch sử).
-Thụ phấn là hiện tượng hạt phấn tiếp xúc với nhị hoa (sinh vật).
-Lưu lượng là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một điểm nào đó, trong một giây đồng hồ (địa lí).
-Trọng lực là lực hút của trái đất (địa lý)
-Khí áp là sức nén của khí quyển lên bề mặt trái đất (địa lý)
-Thị tộc phụ hệ là những dòng họ trong đó người đàn ông có quyền hơn người phụ nữ.
-Đường trung trực là đường thẳng vuông góc với một đoạn thẳng tại điểm giữa đoạn ấy (toán học).
Câu 2. “Điểm tựa” trong đoạn thơ không phải một thuật ngữ vật lý. Nó có nghĩa là làm chỗ dựa chính cho những hoạt động nào đó.
Câu 3.
a.Hỗn hợp – được dùng như một thuật ngữ.
b.Hỗn hợp – được dùng như một từ thông thường.
Câu 4.
Cá: là động vật sống ở dưới nước, bơi bằng vây, thở bằng mang và là động vật có xương sống.
Câu 5. Đó là hiện tượng đồng âm.
Hai thuật ngữ này được dùng trong hai lĩnh vưc khoa học riêng biệt, chứ không cùng một lĩnh vực. | Soạn bài thuật ngữ | 490 | |
Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc chính là một trong những tác phẩm hay và độc đáo nằm trong chương trình Ngữ văn lớp. Chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình học, thì các em cũng cần phải ý thức hơn trong việc học bài, đọc bài. Giải Văn hôm nay cũng sẽ mang đến cho các em bài soạn Thuế Máu hay và đặc sắc nhất để giúp cho các em học thật tốt nhé!
Soạn bài Thuế Máu trích Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc
Bài làm
Câu 1:Em suy nghĩ gì về cái tên Thuế máu? Hãy chỉ ra mối liên hệ giữa ba phần trong đoạn trích. Nhận xét về cách bố cục chương Thuế máu của tác giả.
– Có thể nhận thấy được chính cái tên “thuế máu” dường như cũng đã vạch trần tính chất dãn man cũng của một loại thuế đặc biệt mà thực dân Pháp khi cũng đánh vào dân thuộc địa và được gọi là Thuế máu. Với nhan đề “Thuế máu” nó dường như cũng đã lại gợi lên số phận thảm thương của người dân thuộc địa. Thông qua đó cũng đã bao hàm lòng căm phẫn, bao hàm được những thái độ mỉa mai đối với tội ác ghê tớm của chính quyền thực dân trong xã hội lúc bấy giờ.
– Tiếp đến là về phần trình tự và cách đặt tên các phần trong chương gợi lên quá trình lừa bịp hay một sự bóc lột đến cùng kiệt thuế máu của bọn thực dân cai trị. Có thể nhận thấy được từ tác phẩm “Chiến tranh và người bản xứ” cho đến “Chế độ lính tình nguyện” rồi Người cũng đã lại chỉ ra được những “Kết qua của sự hi sinh”. Người đọc cũng đã dễ dàng nhận thấy được cũng chính các phần nối tiếp như thế đã mang đến một tinh thần chiến đấu vô cùng mạnh mẽ, một sự phê phán khá triệt để của tác giả Nguyễn Ái Quốc.
Câu 2: Phân tích giá trị biểu cảm của hệ thống hình ảnh ở phần Chiến tranh và “người bản xứ”.
a) Xó thể nhận thấy được chính những thái độ của các quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa:
– Thế rồi ngay cả khi cuộc chiến tranh bùng bổ thì ngay lập tức họ được các quan cai trị tâng bốc vỗ về. Không những vậy cũng lại được phong cho những danh hiệu cao quý đó chính là trở thành những đứa con yêu hay trở thành những người bạn hiền.
>>> Tất cả những điều này dường như cũng mang lại cho chúng ta cảm thấy được đó cũng chính là một thủ đoạn lừa bịp và vô cùng bỉ ổi của chính quyền thực dân biến số phận của những con người thành vật hi sinh.
b) Nhận xét về những số phận thảm thương của người dân thuộc địa trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa:
– Chính những người dân thuộc địa họ dường như phải đột ngột xa gia đình, chối thây bỏ xác.
– Người dân cũng đã lấy máu mình tưới vòng nguyệt quế của chỉ huy.
– Chúng còn lấy xương chạm lên gậy của các ngài thống chế.
– Thực sự chính những người ở hậu phương phục vụ chiến tranh đến kiệt sức và chết một cách bi thảm
>>> Số của họ hiện lên như cũng thật thảm thương.
Câu 3: Nhận xét về giọng điệu của tác phẩm. Giọng điệu ấy cho em hiểu gì về thái độ, tình cảm của người viết?
a. Có thể nhận thấy được các thủ đoạn, mánh khóe bắt lính của bọn thực dân:
– Bọn thực dân cũng đã tiến hành lùng ráp, tiến hành để có thể vây bắt và cưỡng bức người ta phải đi lính.
– Bọn thực dân cũng đã lợi dụng chuyện bắt lính mà dọa nạt, xoay xở kiếm tiền đối với những nhà giàu có.
– Chúng luôn luôn sẵn sàng trói, xích và như cũng đã nhốt người ta như nhốt súc vật, sẵn sàng đàn áp dã man nếu như có chống đối lại chúng.
b. Có nhận xét gì về chiêu bài “tình nguyện” hay chính là những trò bịp bợm của bọn cầm quyền đề ra?
– Thế rồi cũng không hề có sự tình nguyện hiến dâng xương máu như lời lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền. Thông qua đó chính tác phẩm đã kể ra sự thực. Hình ảnh người dân thuộc địa hoặc trốn tránh nếu không thì phải xì tiền ra. Thậm chí, chính họ tìm cách tự làm cho bản thân của mình nhiễm phải những bệnh nặng nhất để khỏi phải đi lính.
Soạn bài Thuế Máu
Câu 4: Thông qua đây ta nhận thấy được chính kết quả của sự hi sinh của người dân thuộc địa trong các cuộc chiến tranh:
– Có thể nhận thấy được chính lời tuyên bố của thực dân im bặt.
– Tiếp theo đó chính là những người bản xứ trở lại “giống người hèn hạ”.
– Những người dân họ cũng như cũng lại bị tước đoạt hết của cải, bị đánh đập vô cớ, bị đối xử chẳng khác gì súc vật.
– Tất cả họ cũng đã lại trở về trị trí hèn hạ ban đầu.
– Càng bỉ ổi hơn nữa thì ta nhận thấy được các chính quyền thực dân còn đầu độc cả một dân tộc để vơ vét cho đầy túi. Chúng đã cấp môn bài bán lẻ thuốc phiện cho thương binh người Pháp cho cả vợ con của sĩ tử người Pháp.
Câu 5: Em có những nhận xét về trình tự bố cục các phần trong chương, về nghệ thuật châm biếm và nghệ thuật đả kích sắc sảo, tài tình của tác giả Nguyễn Ái Quốc?
a. Người đọc cũng có thể nhận thấy được trong 3 phần của chương Thuế máu được bố cục theo trình tự thời gian. Đó chính là các trình tự trước, trong và sau khi xảy ra cuộc chiến tranh thế giới 1914 – 1918. Thực sự cũng chính với cách sắp xếp này thì bộ mặt giả nhân giả nghĩa và vô cùng trơ trẽn, bản thuế máu được phơi bày toàn diện, triệt để nhất. Bên cạnh đó thì ta nhận thấy được cũng chính thân phận thảm thương của người dân nô lệ thuộc ở các xứ thuộc địa được miêu tả một cách cụ thể, sinh động và hấp dẫn hơn.
– Tác giả cũng đã xây dựng một hệ thống hình ảnh sinh động, một hệ thống sự vật, hiện tượng, tình huống giàu tình cảm và sức mạnh tố cáo.
– Thêm vào đó chính là sử dụng một giọng điệu trào phúng đặc sắc.
Câu 6: Em có nhận xét về yếu tố biểu cảm trong đoạn trích “Thuế máu”?
– Thông qua đoạn trích ta nhận thấy được các hình ảnh được xây dựng mang tính biểu cảm cao. Tất cả cũng đã làm toát lên số phận đáng thương của người dân thuộc địa và nói về những sự bỉ ổi của bọn thực dân.
– Người đọc cũng cảm nhận thấy được một giọng điệu của tác phẩm cũng là giọng của sự căm phẫn và niềm xót thương đến tái tê.
– Có thể nhận thấy được chính trong đoạn trích này thì ta thấy được có một yếu tố tự sự và yếu tố biểu cảm được kết hợp chặt chẽ và cũng vô cùng hài hoà.
Nội dung bài soạn “Thuế máu” khá dài cho nên Giải Văn cũng đã cố gắng hệ thống hóa bài soạn ngắn gọn để cho các em tiện theo dõi nhất. Hi vọng các em học được tốt hơn, dễ nhớ, dễ thuộc.
Chúc các em học tốt!
Minh Nguyệt
Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm:
Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8
Soạn bài Bàn về đọc sách | Soạn bài Thuế Máu trích Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc | 1,338 | |
Soạn bài Thái sư Trần Thủ Độ
Hướng dẫn
A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
-Giọng điệu chung của toàn bài là giọng điệu kể chuyện, cần phân biệt giọng điệu của từng nhân vật. Ngừng nghỉ đúng chỗ có các dấu câu.
-Các đoạn đối thoại cần biểu hiện sắc thái giọng đọc phù hợp với nội dung: Ở đoạn 1, câu nói của Trần Thủ Độ thể hiện sự lạnh lùng, nghiêm trang như một mệnh lệnh.
Đoạn 2: Lời nói của Linh Từ Quốc Mẫu mang sắc thái ấm ức, bực bội, còn lời của Trần Thủ Độ thì ôn tồn điềm đạm.
Đoạn 3: Lời tâu vủa viên quan thì giọng đọc phải nhẹ nhàng, tha thiết mang sắc thái lo âu. Lời của vua thì thân tình, cởi mở, tin cậy, thông báo trung thực sự việc. Còn lời của Trần Thủ Độ thì nhẹ nhàng, chân thành.
B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI
1 – Phân đoạn: Bài văn có thể chia làm 3 đoạn để luyện đọc.
-Đoạn 1: Từ đầu đến… “ông mới tha cho”.
-Đoạn 2: Tiếp đoạn 1 cho đến… “lấy vàng, lụa thưởng cho”.
-Đoạn 3: Phần còn lại của văn bản.
2- Nội dung bài:
Câu 1: Khi có người muốn xin chức câu đương, Trần Thủ Độ đã làm gì?
Trả lời: Khi có người muốn xin chức câu đương, Trần Thủ Độ đã đồng ý nhưng phán rằng: “Ngươi có phu nhân xin cho làm câu đương, không thể ví như những câu đương khác. Vì vậy, phải chặt một ngón chân để phân biệt”. Ý của Trần Thủ Độ là muôn răn đe những kẻ có ý định mua bán chức tước, làm rối loạn phép nước.
Trả lời: Trước việc làm của người quân hiệu, Trần Thủ Độ không những không trách móc, quở phạt, trái lại ông khen việc làm của người quân hiệu là đúng, giữ nghiêm phép nước và còn tặng thưởng cho vàng, lụa.
Câu 3: Khi biết có viên quan tâu với vua rằng mình chuyên quyền, Trần Thủ Độ nói thế nào?
Trả lời: Khi biết có viên quan tâu với vua cho rằng Trần Thủ Độ đã lộng hành, chuyên quyền, Trần Thủ Độ tự nhận lỗi với vua, yêu cầu vua quở trách mình và xin vua ban thưởng cho người nói thẳng, nói thật.
Câu 4: Những lời nói và việc làm của Trần Thii Độ cho thấy ông là người như thế nào?
Trả lời: Những lời nói và việc làm của Trần Thủ Độ cho thấy ông là một người thẳng thắn, trung thực, nghiêm minh, không vì tình riêng kể cả những vụ việc liên quan đến vợ mình cũng đều xử lí khách quan, công bằng, đúng phép nước và cũng rất nghiêm khắc với chính mình.
* Nội dung chính: Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của thái sư Trần Thủ Độ — một con người thẳng thắn, trung thực, nghiêm minh, gương mẫu trong thực hiện phép nước trên cương vị của một vị quan đầu triều. | Soạn bài Thái sư Trần Thủ Độ | 499 | |
Đề bài: Soạn Bài Thêm Trạng Ngữ Cho Câu Tiếp Theo
Bài làm
I. Công dụng của trạng ngữ
Câu 1: Thành phần trạng ngữ có trong các ví dụ là:
a.
– Thường thường, vào khoảng đó
– Sáng dậy
– Trên giàn hoa lí
– Chỉ độ tám chín giờ sáng, trên nền trời trong trong
>> XEM THÊM: Soạn bài Ôn luyện về dấu câu
b. Về mùa đông
Trạng ngữ là thành phần phụ của câu, tức là thành phần không bắt buộc. Nhưng trong hai ví dụ trên, chúng ta không nên hoặc không thể lược bỏ trạng ngữ. Vì trạng ngữ bổ sung cho câu những thông tin cần thiết, làm cho câu miêu tả đầy đủ, thực tế, khách quan hơn. Trong nhiều trường hợp, nếu không có phần thông tin bổ sung ở trạng ngữ nội dung của câu sẽ thiếu chính xác (vd b). Trạng ngữ còn nối kết các câu văn trong đoạn văn, bài văn, làm cho văn bản mạch lạc. Nhiều trường hợp không thể bỏ Trạng ngữ được (vd a: 2 câu cuối). Tất cả Trạng ngữ trên góp phần làm cho nội dung của câu được đầy đủ chính xác và có tác dụng liên kết câu làm đoạn văn mạch lạc.
Câu 2: Vai trò của trạng ngữ giúp cho việc sắp xếp các luận cứ trong văn bản nghị luận tuân theo những trình tự nhất định về thời gian, không gian hoặc các quan hệ nguyên nhân – kết quả, suy lí,… và nó có vai trò quan trọng trong việc nối kết các câu, các đoạn, góp phần làm cho liên kết của văn bản chặt chẽ, mạch lạc.
Câu 1: Câu in đậm là một trạng ngữ và được tách thành 1 câu riêng.
Câu 2: Việc tách như vậy để nhấn mạnh ý nghĩa của trạng ngữ, tạo nhịp điệu cho câu văn và có giá trị tu từ.
III. Luyện tập
Bài tập 1: Công dụng của trạng ngữ
a) Ở loại bài thứ nhất …Ở loại bài thứ hai… Trạng ngữ chỉ trình tự lập luận (nơi chốn)
b)Đã bao lần …Lần đầu tiên chập chững bước đi … Lần đầu tiên tập bơi … Lần đầu tiên chơi bóng bàn … Lúc còn học phổ thông … Về môn hoá … Trạng ngữ chỉ trình tự của các lập luận (thời gian)
Bài tập 2: Chỉ ra câu trạng ngữ được tách thành câu riêng. Nêu công dụng
a) Năm 72. -> nhấn mạnh đến thời điểm hy sinh của nhân vật được nói đến trong câu trước đó.
b) Trong lúc tiếng đờn vẫn khắc khoải vẳng lên những chữ đờn li biệt, bồn chồn. ->Trước hết có tác dụng làm nổi bật thông tin ở nồng cốt câu (Bốn người lính đều cúi đầu,tóc xoã gối.). Nếu không tách trạng ngữ ra thành câu riêng, thông tin ở nồng cốt có thể bị thông tin ở trạng ngữ lấn át (bởi vì ở vị trí cuối câu, trạng ngữ có ưu thế được nhấn mạnh về thông tin). Sau nữa, việc tách câu như vậy còn có tác dụng nhấn mạnh sự tương đồng của thông tin mà trạng ngữ biểu thị so với thông tin ở nồng cốt câu.
Tiếng Việt ta rất giàu và đẹp. Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Thứ nhất, tiếng Việt là một thứ tiếng hài hòa về mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Thứ hai, tiếng Việt rất giàu chất nhạc, rành mạch trong lối nói, du dương, trầm bổng rất vui tai. Thứ ba, đây là một thứ tiếng có hệ thống nguyên âm và phụ âm khá phong phú. Vì những lý do trên, chúng ta có thể khẳng định một điều chắc chắn rằng, tiếng Việt là một thứ tiếng giàu và đẹp như lời nhận xét của nhà nghiên cứu văn học Đặng Thai Mai.
Trạng ngữ: thứ nhất, thứ hai, thứ ba là trạng ngữ chỉ trình tự của các lập luận, làm cho đoạn văn mạch lạc.
Trạng ngữ: Vì những lí do trên là trạng ngữ chỉ lí do, có trạng ngữ này mới kết luận lại được vấn đề cần nhấn mạnh. | Soạn Bài Thêm Trạng Ngữ Cho Câu Tiếp Theo | 709 | |
Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000 là một trong những bài mà các em nên thao khảo, nằm trong chương trình Ngữ văn 8. Giải Văn hôm nay sẽ giúp cho các em có thể học được bài này tốt hơn nhé!
Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000
Bài làm
Hướng dẫn soạn bài
Câu 1 (trang 107 sgk Ngữ Văn 8 tập):Phân tích bố cục của văn bả
Bố cục chia làm 3 phần:
Chia làm 3 phần:
+ Ở phần 1 (từ đầu cho đến một ngày không sử dụng bao bì ni long) Tác giả cũng đã giới thiệu về Ngày Trái Đất
+ Phần 2 (tiếp đến chỗ: nghiêm trọng đối với môi trường): Chính những tác hại và giải pháp hạn chế, đồng thời cũng lại phải khắc phục sử dụng bao bì ni long.
+ Phần 3 (Phần còn lại): Là lời kêu gọi hành động bảo vệ trái đất
Câu 2 (Sách giáo khoa trang 107 Ngữ Văn 8 tập 1) Hãy chỉ ra nguyên nhân cơ bản khiến cho việc dùng bao bì ni lông có thể gây nguy hại đối với môi trường và sức khoẻ con người. Ngoài nguyên nhân cơ bản, còn có những nguyên nhân nào khác?
– Nguyên nhân cơ bản đó chính là:
+ Chính bởi những đặc tính không phân hủy của pla-xtic
+ Ta như nhận thấy được cũng chính mỗi ngày Việt Nam thải hàng triệu bao bì ni lông ở nơi công cộng, ao hồ, sông…
+ Điều này như cũng đã gây cản trở thực vật phát triển, tắc cống tắc các đường ống dẫn nước, không chỉ vậy mà cũng đã làm chết sinh vật khi chúng nuốt phải…
– Gây hại tới sức khỏe con người nghiêm trọng.
+ Chính vấn đề ô nhiễm thực phẩm, tạo ra khí độc gây ngộ độc hay cũng chị tắc thở khi đốt bao bì ni lông, đồng thời như cũng đã gây rối loạn trao đổi chất, gây dị tật bẩm sinh…
Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000
Câu 3 (Sách giáo khoa trang 107 Ngữ Văn 8 tập 1) Phân tích tính thuyết phục của những kiến nghị mà văn bản đã đề xuất. Hãy chi ra tác dụng của từ vì vậy trong việc liên kết các phần của văn bản.
– Có thể nhận thấy được chính băn bản có tính thuyết phục lớn vì:
+ Văn bản này cũng đã chỉ ra tác hại nghiêm trọng của việc sử dụng bao bì ni lông
+ Không chỉ vậy những lý lẽ đưa ra đều dựa trên việc khảo sát thực tế, nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn.
+ Thể hiện được những sự kiến nghị có sức thuyết phục bởi việc bảo vệ môi trường ai cũng có thể làm được nên hãy bắt tay vào để bảo vệ môi trường.
– Chúng ta cũng có thể sử dụng từ “vì vậy” để có thể tạo được một sự liên kết giữa hai phần đặc biệt quan trọng của văn bản:
+ Có thể thấy cũng không có từ liên kết cho nên bài văn được hay hấp dẫn hơn, chứ không phải bài văn sẽ lỏng lẻo, không chặt chẽ, thuyết phục.
Thông qua bài soạn Thông tin về ngày Trái đất năm 2000 cũng sẽ là một trong những tài liệu quan trọng để cho các em học sinh có thể học được thật tốt bài học.
Chúc các em học tốt!
Minh Minh
Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm:
Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8
Soạn bài Bàn về đọc sách
Sean bài Trong lòng mẹ | Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000 Ngữ Văn 8 | 615 | |
Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán
Hướng dẫn
Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán
I.Đọc – hiểu tác phẩm
Câu 1. Mười hai câu đầu đoạn trích tả cảnh Thúy Kiều báo ân.
Từ lời của Kiều nói với Thúc Sinh có thể thấy nàng rất tấm lòng và sự giúp đỡ mà Thúc Sinh đã dành cho nàng trong cơn hoạn nạn. Thúc Sinh đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát cảnh đời ô nhục, có những tháng ngày êm ấm trong cuộc sống gia đình. Nàng đã gọi đó là “nghĩa nặng nghìn non”. Nàng gọi Thúc Sinh là “Người cũ” mang sắc thái thân mật, gần gũi, rồi lại gọi là “cổ nhân” mang sắc thái trang trọng. Với nàng dù có “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” cũng chưa dễ xứng với ơn nghĩa nặng của Thúc Sinh.
Trong khi nói với Thúc Sinh. Kiều cũng nhắc về Hoạn Thư. Điều đó chứng tỏ vết thương lòng mà Hoạn Thư gây ra cho Kiều đang còn quá xót xa.
Có sự khác nhau trong ngôn ngữ của Kiều nói với Thúc Sinh, Kiều dùng nhiều từ điển cố “Sâm Thương” cách nói trang trọng này phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều. Còn lúc nói về Hoạn Thư, ngôn ngữ của Kiều lại hết sức bình dị. Nàng dùng những thành ngữ quen thuộc “Kẻ cắp bà già gặp nhau”, “Kiến bỏ miệng chén” với những từ Việt dễ hiểu: hàng động trừng phạt kẻ ác theo quan điểm của nhân dân phải được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.
Câu 2. Đoạn thơ còn lại miêu tả Thúy Kiều báo oán.
Những lời đầu tiên của Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu mỉa mai, đay nghiến. Giọng điệu ấy của Kiều cho thấy nàng quyết trừng trị Hoạn Thư trong quan niệm dân gian “mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”.
Câu 3. Trước thái độ của Kiều, lúc đầu Hoạn Thư có sợ hãi “hồn lạc, phách xiêu” nhưng vẫn kịp ứng phó thông minh “liệu điều kêu ca”.
Trước hết Hoạn Thư dựa vào tâm lý thường tình của phụ nữ để gỡ tội.
Rằng tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Tiếp đến Hoạn Thư kể công không hành hạ Kiều và đã cho Kiều ra viết kinh ở gác Quan Âm rồi cũng không đuổi theo bắt giữ nàng khi nàng bỏ trốn.
Cuối cùng, Hoạn Thư nhận tội, xin Kiều mở lòng khoan dung độ lượng.
Cách lý sự của Hoạn Thư khiến Kiều phải thừa nhận đây là con người khôn ngoan, giáo hoại. Nàng bị đưa tới chỗ khó xử, nàng có răn đe Hoạn Thư nhưng cuối cùng thì đã khoan dung độ lượng tha cho.
Câu 4. Việc Kiều tha bổng Hoạn Thư là hợp lý là đúng. Vì cách gỡ tội khôn khéo của Hoạn Thư song chủ yếu là vì lòng Kiều vốn vị tha nhân hậu. | Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán | 509 | |
Soạn bài thư điện chúc mừng và thăm hỏi
Hướng dẫn
I.NHỮNG TRƯỜNG HỢP CẦN VIẾT THƯ (ĐIỆN) CHÚC MỪNG VÀ THĂM HỎI
1.Dựa vào các tình huống đã nêu trong bốn ví dụ, HS kể thêm các tình huống cần gửi thư (điện) chúc mừng và thăm hỏi trong đời sống hằng ngày.
2.Suy nghĩ, thảo luận và trả lời.
-Gửi điện (điện) chúc mừng trong hoàn cảnh vào và để làm gì?
-Gửi thư (điện) thăm hỏi hoàn cảnh nào và để làm gì?
-Khi có điều kiện đến tận nơi để chúc mừng hoặc thăm hỏi thì có nên gửi thư hoặc điện không? Tại sao?
II.CÁCH VIẾT THƯ ĐIỆN, CHÚC MỪNG VÀ THĂM HỎI
1.Đọc ba bức điện trong SGK và lần lượt trả lời bốn câu hỏi tiếp theo đó.
2.Để công việc được tiến hành rất thuận lợi nên chọn và thống nhất với nhau hai tình huống: Một tình huống viết điện chúc mừng và một tình huống viết điện thăm hỏi. Sau đó, tìm hiểu cách diễn đạt khác nhau để biểu thị các nội dung:
-Lí do gửi thư (điện) chúc mừng thăm hỏi.
-Bộc lộ suy nghĩ cảm xúc đối với tn vui hoặc nỗi bất hạnh, điều không mong muốn của người nhận điện.
-Lời chúc mừng, mong muốn.
-Lời thăm hỏi, chia buồn.
III.LUYỆN TẬP
1.Kể lại mẫu bức điện và điền thông tin cần thiết vào mẫu.
2.Chọn các tình huống phù hợp
a.Điện chúc mừng
b.Điện chúc mừng
c.Điện thăm hỏi
d.Thư (điện) chúc mừng
e.Thư (điện) chúc mừng
3.Các em xác định tình huống và viết theo mẫu của bưu điện (xem SGK) | Soạn bài thư điện chúc mừng và thăm hỏi | 255 | |
Soạn bài Thầy bói xem voi
Hướng dẫn
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
Từ câu chuyện chê giễu cách xem và phán về voi của năm ông thầy bói, truyện Thầy bói xem voi khuyên người ta: muốn hiếu biết sự vật, sự việc phải xem xét chúng một cách toàn diện.
II. MỘT SỐ NỘI DUNG MỚI VÀ KHÓ
-Sự vật bao giờ cũng do nhiều bộ phận, chi tiết hợp thành, cấu tạo thành. Câu chuvện nêu lên môi tương quan giữa bộ phận và toàn thể trong một sự vật: bộ phận làm nên toàn thể nhưng bộ phận không phải là toàn thể. Qua đó, phê phán những kẻ chĩ đoán mò, nhìn nhận sự vật một cách phiến diện, thấy bộ phận mà không thấy toàn cục, thấy cây mà chẳng thấy rừng. Đó là cách nhìn nhận sự vật thiếu khoa học dẫn đến cách đánh giá sai lầm. Câu chuyện nêu bài học về cách nhìn nhận, suy nghĩ, đánh giá mọi vân đề của con người trong cuộc sống.
-Truyện này có mối quan hệ mật thiết với thành ngữ: “Thầy bói xem voi”. Giữa truyện và tục ngừ có mối tương đồng về ý nghĩa.
III. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
Câu 1. Hãy nêu cách các thầy bói xem voi và phán về voi. Thái độ của các thầy bói khi phán như thế nào?
Gợi ý:
-Năm thầy bói mù ê hàng nên nảy ra ý muốn xem voi.
-Cả 5 thầy phán đều sai, nhưng đều khẳng định mình là đúng. Điều đó thế hiện sự chủ quan sai lầm của mỗi thầy.
Câu 2.Năm thầy bói đều đã sờ được voi thật và mỗi thầv cũng đã nói được một bộ phận của voi, nhưng không thầv nào nói đúng về con vật này. Sai lầm của họ là ở chỗ nào?
Gợi ý:
-Sai lầm: Họ chỉ sờ một bộ phận của voi mà lại tưởng là con voi.
Câu 3.Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi cho ta bài học gì?
Gợi ý:
Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi cho ta bài học: Muốn kết luận đúng về sự vật, phải xem xét nó một cách toàn diện. Không nên nhìn vấn đề băng con mắt chủ quan. Muốn đánh giá sự việc phải xét trên tống thè khi đã tổng hợp các chi tiết. Trong truyện, các thầy bói mới chỉ ra cái bộ phận mà chưa chỉ ra cái tổng hợp. | Soạn bài Thầy bói xem voi | 402 | |
Soạn bài Thầy cúng đi bệnh viện
Hướng dẫn
A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Quan sát tranh, trả lời câu hỏi (SGK/107).
-Những người trong tranh là ai?
-Họ đang làm gì?
Gợi ý:
Những người trong tranh là bác sĩ, y tá bệnh viện, cụ Ún và con trai của cụ.
–Họ đưa cụ Ún đến bệnh viện để mổ sỏi thận.
2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Thầy cúng đi bệnh viện” (SGK/108).
5. Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1)Cụ Ún làm nghề gì? (Đọc đoạn 1)
2)Khi mắc bệnh, cụ đã tự chữa bằng cách nào?
Chọn ý đúng để trả lời:
a)Tự mình cúng đuổi tà ma.
b)Mời học trò đến cúng đuổi tà ma.
c)Mời bác sĩ đến khám chữa bệnh.
3)Vì sao bị sỏi thận mà cụ không chịu mổ, trôn bệnh viện về nhà? (Đọc đoạn 4).
4)Nhờ đâu cụ Ún khỏi bệnh? (Đọc đoạn 5)
5)Câu nói cuối bài giúp em hiểu cụ Ún đã thay đổi cách nghĩ như thế nào? Chọn ý đúng để trả lời:
a)Cụ đã chán nghề thầy cúng.
b)Cụ không tin thầy cúng chữa khỏi bệnh.
c)Cụ tin tưởng chỉ có thầy thuốc mới chữa khỏi bệnh.
Gợi ý:
1) Cụ Ún làm nghề thầy cúng đuổi tà ma cho người bệnh.
2)b.
3)Cụ Ún sợ mổ và không tin bác sĩ người Kinh bắt được con ma người Thái.
4)Cụ Ún khỏi bệnh nhờ bệnh viện mổ lấy sỏi thận ra.
5)c.
B.HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
Đề bài: Hãy kể chuyện về một buổi sum họp đầm ấm trong gia đình.
5. Kiểm tra viết bài văn tả người:
Đề bài: Chọn một trong các đề sau:
1.Tả một em bé đang ở tuổi tập đi, tập nói
2.Tả một người thân của em (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em,…).
3.Tả một bạn học của em.
4.Tả một người lao động đang làm việc (nông dân, công nhân, thợ thủ công, bác sĩ, ý tá, thầy giáo, cô giáo,…).
Tham khảo bài làm tại đây:
Tả một em bé đang ở tuổi tập đi, tập nói
Tả một người thân của em
Em hãy tả người bạn thân của em ở trường
Tả một người lao động đang làm việc | Soạn bài Thầy cúng đi bệnh viện | 336 | |
Soạn bài thứ tự kể trong văn tự sự
Hướng dẫn
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Tìm hiểu thứ tự kể trong văn tự sự
*Kể theo thứ tự truyện: Sự việc nào xảy ra trước thì kế trước, sự việc nào xảy ra sau thì kể sau, cho đến hết. Cụ thể:
-Ông lão bắt được con cá vàng, cá vàng hứa trả ơn.
-Năm lần ra biển gặp cá vàng và kết quả mồi lần.
-> Tác dụng: cho thấy sự gia tăng của lòng tham vô độ của mụ vợ ông lão đánh cá, và cuối cùng bị trả giá -> tố cáo, phê phán.
*Thứ tự thực tế của các sự việc trong bài văn:
-Ngỗ bỏ học lêu lổng.
-Ngỗ trêu chọc đánh lừa mọi người, làm họ mất lòng tin.
-Ngỗ bị chó dại cắn thật, kêu cứu thì không ai đến cứu.
-Ngỗ bị chó cắn phải băng bó, tiêm thuốc trừ bệnh dại.
-> Thứ tự kể: Bắt đầu từ hậu quả xấu rồi ngược lên kề nguyên nhân.
-> Tạo bất ngờ, gây chú ý cho người đọc, nổi bật ý nghĩa truyện.
*Tóm lại: Trong văn tự sự ta thường gặp thứ tự kể tự nhiên và thứ tự kể theo thực tế của sự việc.
Trong đó thứ tự kể tự nhiên có tầm quan trọng là:
-Ngay trong hồi tưởng người ta vần kể theo thứ tự tự nhiên.
-Tác dụng: Tạo nên sự hấp dần, tăng cường kịch tính.
Câu 1. Đọc câu chuyện và trả lời câu hỏi:
Tôi và Liên là bạn thân cùng lớp, nhưng hồi Liên mới từ quê đến khu tập thế ở với bố bên cạnh nhà tôi, thì không hiếu sao tôi lại rất ghét Liên. Có thế là vì Liên mới ở quê ra mà biết ăn mặc lịch sự, lại hay giặt giũ phơi phóng, ra điều ta đây chăm chỉ, ngoan ngoãn, làm cho tôi như bị kém cạnh!
Tôi nhớ như in lần va chạm đầu tiên với Liên. Lần ấy, ngày đầu tiên nắng to sau một tuần mưa dầm dề, mọi người ai cũng giặt giũ, phơi phóng đầy cả sân. Khi tôi giặt xong quần áo đem phơi, thì sợi dây phơi nhà tôi đã phơi đầy áo quần của Liên. Tôi bực mình lùa một cách thô bạo áo quần của Liên vào một đầu, rồi phơi áo quần của mình vào phần dây còn lại, xong việc tôi đi vào nhà. Liên nhìn thấy nhưng không nói gì. Cô đi tìm sợi dây khác buộc làm dây phơi rồi phơi áo quần của mình lên đó.
Hôm ấy, tôi cùng mẹ đi phố, nhân thế ghé thăm bà ngoại, đến chiều mới về. Không ngờ đến chiều thì trời đổ mưa to. Nhìn trời mưa tôi nghĩ, chắc áo quần của mình phơi đã ướt sạch rồi. Nhưng khi về nhà thì áo quần đã được ai thu dọn. Tôi đang đưa mắt nhìn quanh, thì Liên sang bảo, khi trời sắp mưa, cô đã kịp rút hộ vào và đem trả lại cho tôi. Nhìn xấp quần áo khô đã gấp gọn gàng, tôi thực sự ngạc nhiên và cảm động. Tôi cảm thấy mặt mình nóng bừng lên. Thì ra tôi đã nghĩ xâu cho Liên.
(Tự thuật của một học sinh)
Câu hỏi:
Chuyện được kế theo thứ tự nào? Chuyện kế theo ngôi nào? Yếu tố hồi tưởng đóng vai trò như thê nào trong câu chuyện?
Gợi ý:
-Kể theo ngôi thứ nhất.
-Yếu tố hồi tưởng đóng vai trò:
+ Hoàn tất một câu chuyện đã biết, đã xảy ra.
+ Giải thích vì sao hiện nay “tôi và Liên vui buồn có nhau”.
Câu 2: Hãy lập dàn ý cho đề văn sau: “Kể câu chuyện lần đầu tiên em được đi chơi xa”.
Gợi ý:
A. Mở bài:
– Lần đầu tiên em được đi xa trong trường hợp nào? đi đến đâu và đi cùng ai?
B. Thân bài:
– Nơi xa mà em đến đó là nơi nào? (nông thôn hay thành phố).
– Chuyến đi đó nhằm mục đích gì? (tham quan hay về nghỉ hè,…)
– Em đã trông thấy những gì trong chuyến đi xa ấy? (con người, phong cảnh ra sao? Nơi ấy có điểm gì đặc biệt?)
– Điều gì khiến em ghi nhớ và thích thú nhất trong chuyến đi xa ấy?
– Chuyến đi ấy đã giúp em học được điều gì?
C. Kết bài:
– Chuyến đi kết thúc ra sao?
– Em mong ước hoặc hi vọng có được một chuyến đi như thế nào? | Soạn bài thứ tự kể trong văn tự sự | 741 | |
Soạn bài thực hành làm thơ tám chữ
Hướng dẫn
Bài tập 1. Tìm những từ thích hợp (đúng thanh, đúng vần) để điền vào chỗ trống trong khổ thơ trong bài Trưa hè của Anh Thơ (SGK, tr. 151).
Gợi ý
Khổ thơ gieo vần gián cách: Tiếng “trắng” (câu 1) vần với tiếng “nắng” (câu 3). Vậy tiếng cuối cùng của câu 4 phải mang thanh bằng và chứa vần “a” để vần với “xa” ở câu 2. Tiếng thứ 6 câu 3 phải là thanh bằng để giữ nhịp (đổi thanh điệu so với câu 2). Khổ thơ đầy đủ sẽ là:
Trời trong biếc không qua mây gợn trắng
Gió nồm nam lộng thổi cánh diều xa
Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng,
Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua.
(Theo Anh Thơ, Trưa hè)
Bài tập 2. Khổ thơ sau còn thiếu một câu. Hãy làm them câu cuối sao cho đúng vần, hợp với nội dung cảm xúc từ ba câu trước (Xcm SGK, tr. 151).
Gợi ý
Với ba câu đã cho, ta thấy khổ thơ gieo vần chân, gián cách: Tiếng “lạ” ở câu 1 vần với tiếng “rã” ỏ câu 3. Như vậy, tiếng cuối cùng câu 4 phải vần với tiếng “trường” ở câu 2. Ngoài ra, còn phải tính đến sự phù hợp về nghĩa. Đến đây, em có thể tự sáng tác câu thơ thứ tưđưỢc rồi.
Chẳng hạn:
Mỗi độ thu về lòng xao xuyến lạ
Nhớ nôn nao tiêng trống buổi tựu trường
Con đường nhỏ tiếng nói cười rộn rã
Niềm vui ngập tràn giữa bè bạn mến thương
Bài tập 3. Mỗi nhóm, tổ cử đại diện dọc và bình trước lớp bài thơ đã chuẩn bị. Cả lớp, dưới sự hướng dẫn của thầy, cô giáo, tham gia nhận xét, đánh giá các bài thơ đã được đọc, bình.
-Bài thơ đó có đúng thể 8 chữ không?
-Bài thơ đã có vần chưa? Cách gieo vần, ngắt nhịp dúng, sai, đặc sắc như thế nào?
-Kết cấu bài thơ đó có hợp lí không? Nội dung cảm xúc có chân thành, sâu sắc không?
-Chủ đề bài thơ đó có ý nghĩa gì?
Gợi ý
Hãy làm theo bốn gựi ý trong bài tập (Tham khảo cuốn Dạy học Tập làm thơ ở Trung học cơ sở của TS. Phạm Minh Diệu, NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2008). | Soạn bài thực hành làm thơ tám chữ | 385 | |
Đề bài: Soạn Bài Tinh Thần Yêu Nước Của Nhân Dân Ta Tác Giả Hồ Chí Minh
Bài làm
Câu 1: Bài văn nghị luận về Tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Câu văn đầu tiên của phần mở đầu “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước” là câu chủ đề thâu tóm nội dung nghị luận trong bài.
Câu 2:
a. Bố cục:
– Đoạn 1: Nêu vấn đề nghị luận: Tinh thần yêu nước là một truyền thống quý báu của nhân dân ta, đó là sức mạnh to lớn trong các cuộc chiến đấu chống xâm lược.
– Đoạn 2-3: Chứng minh những biểu hiện của lòng yêu nước
– Đoạn 4: Nêu nhiệm vụ của chúng ta
b. Dàn ý:
* MB: (Đoạn 1) Giới thiệu truyền thống quý báu của nhân dân ta khi Tổ quốc bị xâm lăng.
– Lòng yâu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta.
– Khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại trở nên sôi nổi và mạnh mẽ to lớn.
* TB: (Đoạn 2-3) Những dẫn chứng minh hoạ cho tinh thần yêu nước của nhân dân ta từ trong lịch sử xa xưa cho đến thời đại hiện nay.
– Tinh thần yêu nước đã được chứng minh qua những trang sử vẻ vang của thời đại xa xưa với các anh hùng dân tộc tiêu biểu.(đ2)
– Các tầng lớp nhân dân ngày nay không phân biệt thành phần, lứa tuổi đã thực hiện lòng yêu nước của mình qua những việc làm cụ thể.(đ3)
– Tinh thần yêu nước có khi được trưng bày,có khi cất giấu kín đáo.
– Bổn phận của chúng ta là làm cho tinh thần yêu nước được thực hiện.
Câu 3: Để chứng minh cho nhận định “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta”, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng:
– Lòng yêu nước trong quá khứ lịch sử dân tộc:
+ Đó là những cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta: Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,…
+ Những dẫn chứng này được sắp xếp theo trình tự thời gian: từ quá khứ đến hiện tại.
– Lòng yêu nước ngày nay của đồng bào ta:
+ Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ; từ kiều bào nước ngoài, đến vùng bị tạm chiến, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi;… ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước.
+ Những dẫn chứng này được sắp xếp theo trình tự tuổi tác, không gian, nghề nghiệp, lĩnh vực,…
Câu 4: Trong bài văn tác giả đã sử dụng hai hình ảnh so sánh:
– Tinh thần yêu nước kết thành (như) một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, vì thế nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn; nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. So sánh tinh thần yêu nước với làn sóng mạnh mẽ và to lớn là cách so sánh cụ thể, độc đáo. Lối so sánh như vậy làm nổi bật sức mạnh cuồn cuộn, vô song của tinh thần yêu nước.
Câu 5:
a. Câu mở đoạn của đoạn văn này là: “Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước”.
Câu kết đoạn của đoạn văn này là: “Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước”.
b. Các dẫn chứng trong đoạn này được sắp xếp theo các trình tự: tuổi tác, địa phương; tầng lớp, giai cấp.
c. Các sự việc và con người được liên kết theo mô hình “ từ … đến …” làm cho đối tượng được đề cập đến mang tính tổng quát. Các vế trong mô hình liên kết “từ… đến” không phải được đặt một cách tùy tiện mà đều có mối quan hệ hợp lý, được sắp xếp theo cùng một bình diện như lứa tuổi, tầng lớp, giai cấp, nghệ nghiệp, địa bàn cư trú. Điều này có nghĩa là người dân Việt Nam dù làm gì, ở đâu, ở lứa tuổi nào,… thì cũng đều một lòng nồng nàn yêu nước.
– Bố cục chặt chẽ, lập luận mạch lạc, sáng sủa.
– Lí lẽ thống nhất với dẫn chứng, dẫn chứng phong phú, lí lẽ được diễn đạt dưới dạng hình ảnh so sánh nên sinh động và dễ hiểu.
– Giọng văn tha thiết giàu cảm xúc. | Soạn Bài Tinh Thần Yêu Nước Của Nhân Dân Ta Tác Giả Hồ Chí Minh | 748 | |
Soạn bài tiếng nói của văn nghệ
Hướng dẫn
Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. Bài viết có bố cục khá chặt chẽ, được thể hiện qua hệ thống luận điểm logic, mạch lạc. Giữa các luận điểm vùa có sự tiếp nối tự nhiên vừa bổ sung, giải thích cho nhau.
-Văn nghệ không chỉ phản ánh thực tại khách quan mà còn là nhận thức mới mẻ, là tư tưởng, tình cảm của cá nhân nghệ sĩ.
-Tiếng nói của văn nghệ rất cần thiết với cuộc sống của con người, nhất là trong hoàn cảnh những năm đầu kháng chiến.
-Văn nghệ có khả năng cảm hóa, có sức lôi cuốn thật kì diệu bởi đó là tiếng nói của tình cảm, tác động con người qua những rung cảm sâu xa.
Câu 2. Nội dung chủ yếu của văn nghệ là hiện thực mang tính cụ thể, sinh động, là đời sống tình cảm của con người qua cái nhìn và tình cảm của người nghệ sĩ. Khác với các bộ môn khoa học nhiều dân tộc, xã hội học, lịch sử học, triết học… thường khám phá, miêu tả và đúc kết các bộ mặt tự nhiên hay xã hội thành những quy luật khách quan văn nghệ tập trung vào khám phá, thể hiện chiều sâu cuộc sống trong các quan hệ, khám phá tính cấp bách, số phận con người. Nội dung của văn nghệ được thể hiện chủ yếu qua những đặc điểm sau:
-Tác phẩm nghệ thuật phản ánh đời sống khách quan nhưng đó không phải là sự sao chép giản đơn, “chụp ảnh” nguyên xi thực tại. Trong sự phản ánh của văn nghệ có cách nhìn, cách đánh giá cuộc sống, đồng thời đó cũng là tư tưởng, là tấm lòng của người nghệ sĩ gửi gắm trong đó.
-Tác phẩm văn nghệ có tính giáo dục, tác động mạnh mẽ đến người đọc nhưng đó không phải là những lí thuyết khô khan mà ngược lại, khả năng tác động của văn nghệ bắt nguồn từ những tình cảm sâu sắc, những say sưa, vui buồn, yêu ghét… của người nghệ sĩ. Nó khiến ta rung động trước những vẻ đẹp của cuộc sống, từ đó làm thay đổi tư tưởng, tình cảm, thậm chí cả quan niệm lối sống, từ đó làm thay đổi tư tưởng, tình cảm, thậm chí cả quan niệm sống, lối sống của ta.
-Nội dung của văn nghệ còn là những rung cảm, nhận thức của từng người tiếp nhận, được mở rộng, lan truyền từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Câu 3. Qua các dẫn chứng được lấy từ các tác phẩm, qua những câu chuyện cụ thể sinh động, Nguyễn Đình Thi đã phân tích một cách thấm thía sự cần thiết của văn nghệ đối với con người.
-Văn nghệ giúp chúng ta sống đầy đủ hơn, phong hú hơn trên phương diện tinh thần.
-Trong những trường hợp con người bị ngăn cách đối với đời sống văn nghệ là sợi dây liên hệ giữa người đó với thế giới bên ngoài.
-Văn nghệ góp phần làm cho đời sống của chúng ta ngày càng đẹp đẽ, đáng yêu hơn. Một tác phẩm văn nghệ hay giúp con người cảm thấy yêu tin cuộc sống, biết rung cảm và ước mơ trước cái đẹp.
Câu 4. Văn nghệ tác động đến con người qua nội dung của nó và đặc biệt là con đường mà nó đến với người đọc, người nghe:
– Tình cảm là một yếu tố then chốt của văn nghệ. Dù phản ánh cuộc sống nào thì một tác phẩm lớn luôn chan chứa những tình cảm sâu xa của người viết. Không có những tình cảm sâu sắc, mãnh liệt đối với đời sống, một tác phẩm dù đề cập đến những vấn đề rộng lớn đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa, ngay cả đối với bản thân người sáng tác.
-Sự tác động của văn nghệ đối với con người chủ yếu cũng qua con đường tình cảm. Những xúc cảm, tâm sự của tác giả đối với đời sống làm lay động cảm xúc của người đọc, người nghe. Bạn đọc được sống cuộc sống mà nhà văn miêu tả, được yêu, ghét, vui, buồn cùng các nhân vật trong đó, dần dần thay đổi suy nghĩ, quan niệm về đời sống, thậm chí thay đổi cả cách ứng xử đối với những người xung quanh. Văn nghệ khiến cho ta cảm thấy yêu cuộc sống hơn, đồng thời muốn đóng góp công sức của mình để làm cho cuộc sống ngày càng đẹp hơn.
Câu 5. Tiếng nói văn nghệ có thể coi là tác phẩm tiêu biểu cho các sáng tác thuộc Văn nghị luận của Nguyễn Đình Thi.
-Bố cục văn bản chặt chẽ, hợp lí, các vấn đề được dẫn dắt tự nhiên, lưu loát.
-Cách viết giàu hình ảnh với những dẫn chứng sinh động, hấp dẫn, cả trong văn chương cũng như trong đời sống.
-Giọng văn chân thành, say sưa, thể hiện những cảm xúc mạnh mẽ của người viết. | Soạn bài tiếng nói của văn nghệ | 857 | |
Soạn bài Tiếng rao đêm
Hướng dẫn
A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
Giọng đọc toàn bài là giọng đọc của một người đang kể chuyện – một câu chuyện đầy sự xúc động nên âm điệu kể nhẹ nhàng, trầm lắng. Tuy vậy, cũng tùy theo từng đoạn để có giọng đọc thích hợp lúc nhanh, lúc chậm. Ngừng nghỉ ở chỗ có các dấu câu. Lên giọng ở những từ mang thông báo gấp gáp. Hạ giọng ở những từ ngữ bộc lộ cảm xúc khi phát hiện ra con người thường ngày đi bán bánh giò lại là một thương binh dám leo vào ngọn lửa để cứu một em bé thoát khỏi cái chết.
B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI
1- Phân đoạn: Bài văn có thể chia làm 4 đoạn để luyện đọc:
-Đoạn 1: Từ đầu đến “nghe buồn đến não ruột”.
-Đoạn 2: Tiếp theo cho đến… “khói bụi mịt mù”.
-Đoạn 3: Tiếp theo cho đến… “cái chân gỗ”.
-Đoạn 4: Phần còn lại của văn bản.
2- Nội dung bài:
Câu 1: Đám cháy xảy ra vào lúc nào?
Trả lời: Đám cháy xảy ra vào ban đêm, khi mà mọi người đều đang ngon giấc ngủ.
Câu 2: Người đã dũng cảm cứu em bé là ai? Con người và hành động của anh có gì đặc biệt?
Trả lời: Người đã dũng cảm cứu em bé chính là anh bán bánh giò hàng đêm.
-Đó là một con người đặc biệt:
+ Anh là một người có hành động dũng cảm phi thường, dám xả thân mình để cứu một em bé thoát chết trong cơn hỏa hoạn.
Câu 3: Chi tiết nào trong câu chuyện gây bất ngờ cho người đọc.
Trả lời: Đó là chi tiết: “Ai đó thảng thốt kêu: “Ô… này!”, rồi cầm cái chân cứng ngắc của nạn nhân giơ lên: thì ra là một cái chân gỗ”. Người ta không ngờ người bán bánh giò là một thương binh và vô cùng cảm động trước hành động dũng cảm, phi thường ấy của anh.
Câu 4: Câu chuyện trên gợi cho em suy nghĩ gì về trách nhiệm công dân của mỗi người trong cuộc sống?
Trả lời: Câu chuyện trên gợi cho em suy nghĩ về trách nhiệm công dân của mỗi người là: Phải có trách nhiệm bảo vệ cuộc sống của cộng đồng; thấy người bị nạn thì phải tìm mọi cách cứu họ, không chần chừ do dự hay thờ ơ vô trách nhiệm, phải có tình thương và trách nhiệm với nhau. “Mình vì mọi người, mọi người vì mình” thì cuộc sống mới trở nên tốt đẹp.
* Nội dung chính: Ca ngợi hành động dũng cảm cứu người của anh thương binh, một con người, một hành động rất đáng để chúng ta trân trọng và noi theo. | Soạn bài Tiếng rao đêm | 459 | |
Soạn bài Tranh làng Hồ
Hướng dẫn
A- Kĩ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
Âm điệu chung của toàn bài là âm điệu kể, tả, bộc lộ cảm xúc trước những vật phẩm văn hóa đặc sắc của dân tộc – một nét đẹp trong bản sắc văn hóa dân gian truyền lại cho đến bây giờ. Khi đọc, em cần thể hiện được cảm xúc ấy. Biết ngừng nghỉ ở những dấu câu, giọng đọc rõ ràng, tình cảm. Nhấn giọng ở những từ ngữ ca ngợi vẻ đẹp của các bức tranh.
B- TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI
1- Phân đoạn: Bài văn chia làm 3 đoạn để luyện đọc.
-Đoạn 1: Từ đầu đến… “hóm hỉnh và vui tươi”.
-Đoạn 2: Tiếp đoạn 1 cho đến… “ca múa bền gà mái mẹ”.
-Đoạn 3: Phần còn lại của văn bản.
2- Nội dung bài:
Câu 1: Hãy kể tên một số bức tranh làng Hồ lấy đề tài trong cuộc sống hằng ngày của làng quê Việt Nam?
Trả lời: Đó là những bức tranh: Tranh lợn, gà, chuột, ếch, tranh cây dừa, tranh tố nữ.
Câu 2: Kĩ thuật tạo màu của tranh làng Hồ có gì đặc biệt?
Trả lời: Kĩ thuật tạo màu của tranh làng Hồ rất đặc biệt, đạt đến sự trang trí tinh tế: màu đen không pha bằng thuốc mà luyện bằng bột than của rơm bếp, cói chiếu, lá tre mùa thu. Màu trắng điệp làm bằng bột vỏ sò trộn với hồ nếp “nhấp nhánh muôn ngàn hạt phấn” càng ngắm càng ưa nhìn.
Trả lời: Đó là những từ ngừ:
-Khắc được những tranh lợn ráy có “những khoáng âm dương rất có duyên”.
-Vẽ được những đàn gà con “tưng bùng như ca múa”.
-Kĩ thuật đạt đến sự “trang trí tinh tế”.
-Màu đen được luyện từ những “chất liệu gợi nhắc thiết tha đền đồng quê đất nước”.
-Màu trắng điệp “là một sự sáng tạo góp phần vào kho tàng màu sắc của dân tộc trong hội họa”.
Câu 4: Vì sao tác giả biết ơn nhừng nghệ sĩ dân gian làng Hồ?
Trả lời: Vì tác giả cảm nhận những nghệ sĩ dân gian làng Hồ đã tạo được một nét đặc sắc trong hội họa, tạo nên cái bản sắc riêng của văn hóa Việt Nam, truyền lại cho con cháu muôn đời, cùng với những kĩ thuật pha chế màu đặc biệt và kĩ thuật trang trí đạt tới sự tinh tế mà ngày nay chúng ta đang tiếp thu, giữ gìn và phát triển lên một trình độ mới.
*Nội dung chính: Ca ngợi những nghệ sĩ dân gian đã tạo ra những vật phẩm văn hóa đặc sắc của dân tộc. | Soạn bài Tranh làng Hồ | 440 | |
Soạn bài trau dồi vốn từ
Hướng dẫn
Soạn bài trau dồi vốn từ
I.Phần bài học
Ý kiến của cố thủ tướng, nhà văn hóa Phạm Văn Đồng là:
–Tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu đẹp, có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu nhận thức và giao tiếp của người Việt.
–Muốn phát huy tốt khả năng câu tiếng Việt mỗi cá nhân phải không ngừng trau đổi vốn từ một cách nhuần nhuyễn.
II.Luyện tập
Câu 1. Nói “một chữ có thể dùng để diễn tả rất nhiều ý” là nói đến hiện tượng đa nghĩa. Ví dụ từ “ăn” có mười mấy nghĩa vi dụ: Tôi ăn cơm, xe ăn xăng, chụp ăn ảnh…
Câu 2. Nói một ý nhưng lại có bao nhiêu chữ để diễn tả là nói đến từ đồng nghĩa. Ví dụ để chỉ khái niệm “mất khả năng sống, không còn biểu hiện sự sống” có nhiều từ ngữ khác nhau như: chết mất, từ trần, qua đời, hi sinh, bỏ mạng….
Câu 3.
a.Hậu quả: kết quả xấu.
b.Đoạt: chiếm được phần thắng.
c.Tinh tú: sao trên trời.
Câu 4.
a.
Tuyệt 1: hết không còn gì (tuyệt chủng, tuyệt giao, tuyệt tự, tuyệt thực).
Tuyệt 2: cực kỳ, nhất (tuyệt đỉnh, tuyệt mật, tuyệt tác, tuyệt trần, tuyệt phẩm).
–Tuyệt chủng: không còn chủng loại, giống loài.
–Tuyệt giao: không còn quan hệ ngoại giao.
–Tuyệt tự: không còn người nối dõi.
–Tuyệt thực: nhịn ăn.
–Tuyệt đỉnh: đỉnh cao nhất.
–Tuyệt mật: rất bí mật.
–Tuyệt trần: nhất trên đời.
b.
Đồng 1: Cùng nhau, giống nhau( đồng âm, đồng bào, đồng bộ, đồng chí, đồng dạng, đồng khởi, đồng môn…)
Đồng 2: Trẻ em (đồng ấu, đồng giao).
Đồng 3: Chất đồng (đồng tiền).
–Đồng âm: cùng giống nhau về âm.
–Đồng bào: cùng môt bọc, dòng giống.
–Đồng bộ: các bộ phận khớp với nhau một cách nhịp nhàng.
–Đồng chí: cùng chung chí hướng.
–Đồng môn: cùng học với nhau.
–Đồng niên: cùng tuổi tác.
–Đồng thoại: Truyện dành cho trẻ em.
–Đồng giao: Câu hát DG cho trẻ em.
III. Rèn luyện
Đọc văn bản của nhà văn Tô Hoài.
–Nhà văn Tô Hoài đã nhận xét, phân tích quá trình trau đổi vốn từ của thi hào Nguyễn Du bằng cách học lời ăn tiếng nói của nhân dân.
Trong bài học trước, chúng ta đã biết nhiều việc trau đổi vốn từ thông qua quá trình rèn luyện để biết đầy đủ và chính xác và cách dùng của từ. Còn việc trao đổi vốn từ mà Tô Hoài đề cập đến lại là hình thức học hỏi để biết thêm những từ mà mình chưa biết.
IV.Luyện tập
Câu 1. Đọc phần viết của Hồ Chí Minh về cách lấy tài liệu để viết (nghe, hỏi, thấy, xem, ghi).
Cách thực hiện để làm tăng vốn từ về số lượng của cá nhân:
–Chú ý quan sát, lắng nghe tiếng nói hằng ngày của những người xung quanh.
–Đọc sách báo nhất là các tác phẩm văn học mẫu mực của những nhà văn nổi tiếng.
–Ghi chép lại những từ ngữ mới nghe được để vận dụng, tra cứu thêm…
–Tập sử dụng từ ngữ mới trong những hoàn cảnh thích hợp.
Câu 3. Lựa chọn từ ngữ để điền vào chỗ trống:
a.Đồng nghĩa với cứu cánh là mục đích cuối cùng.
b.Đồng nghĩa với nhược điểm là điểm yếu.
c.Trình bày nguyện vọng lên cấp trên là đề bạt.
d.Hoảng đến mức mất trí là hoảng loạn.
e.Nhanh nhảu mà thiếu chín chắn là láu táu.
Câu 3.
a.
–Nhuận bút là tiền trả cho người viết 1 tác phẩm.
–Thù lao là trả công cho người lao động đã làm việc.
b.Tiêu chí là tính chất dấu hiệu làm căn cứ để xếp loại, nhận biết.
–Tiêu chuẩn là điều quy định làm căn cứ để đánh giá.
c.Tay trắng: không có chút vốn liếng, của cải gì.
–Trắng tay là bị thua lỗ dẫn đến mất hết tiền bạc, của cải trong người.
d.Kiểm điểm là xem xét, đánh giá lại từng việc để có một nhận định chung.
–Kiểm kê là kiểm lại từng cái để xác định số lượng chất lượng.
b.Lượt khảo là nghiên cứu một cách khái quát về những cái chính, không đi vào chi tiết.
–Lượt thuật là kể, trình bày tóm tắt. | Soạn bài trau dồi vốn từ | 679 | |
Soạn bài Treo biển
Hướng dẫn
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
-Truyện cười là một loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống nhằm tạo ra tiếng cười mua vui hoặc phê phán những thói hư, tật xấu trong xà hội.
-Treo biển là một truyện cười mượn câu chuyện nhà hàng bán cá nghe ai “góp ý” về cái tên biển cũng làm theo.
-Truyện tạo nên tiếng cười vui vẻ, có ý nghĩa phê phán nhẹ nhàng những người thiếu chủ kiến khi làm việc, không suy xét kĩ khi nghe những ý kiến khác.
II. MỘT SỐ NỘI DUNG MỚI VÀ KHÓ
-Truyện cười đưa ra nhừng hiện tượng đáng cười, đó là những hiện tượng có tính châ’t trái tự nhiên, lố bịch, ngược đời. Hiện tượng đáng cười thường thể hiện qua hành vi, cử chi, lời nói của một người nào đó.
Tiếng cười chỉ được cất lên khi truyện có hiện tượng đáng cười và khi người nghe, người đọc phát hiện ra cái đáng cười.
Truyện cười thường rất ngắn. Ngắn nhưng vẫn có truyện. Kết cấu, nhân vật và ngôn ngữ kể chuyện đều phục vụ cho mục đích gây cười. Mấu chốt của nghệ thuật gây cười là làm sao cho cái cười tự nó bộc lộ một cách cụ thể, sinh động, để người đọc, người nghe tự mình phát hiện ra nó mà bật cười.
Truyện cười vừa có ý nghĩa mua vui, vừa có ý nghĩa phê phán. Khi tạo ra tiếng cười mua vui hoặc phê phán, truyện đồng thời cũng gián tiếp hướng người nghe, người đọc tới những điều tốt đẹp, đối lập với những hiện tượng đáng cười.
Truyện cười Treo biển thiên về loại truyện châm biếm (phê phán những thói hư tật xấu của người đời).
-Tiếng cười trong truyện cười Treo biển bật ra ở phía người góp ý. Người góp ý đã không hiếu mục đích của những từ ngữ được ghi đầy đủ ở biển quảng cáo của cửa hàng cá. Cả bốn người lần lượt đều đưa ra cái lí đáng cười: bỏ đi những chữ cần thiết trong biển quảng cáo đó (tươi – ở đây – có bán – cá), góp ý đến mức làm cho chủ nhà hàng không còn trưng biển nừa. Tiếng cười được bật ra khi ta nghĩ đến những kẻ chỉ thích can thiệp vào chuyện cua người khác.
Tiếng cười cũng được bật lên từ phía người tiếp thu ý kiến của người khác. Chủ cửa hàng đã tiếp thu góp ý một cách quá dễ dãi, không cần suy nghĩ, xem xét đúng sai.
III.CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
Câu 1.Nội dung tấm biển để treo ở cửa hàng có mấy yếu tố? Vai trò của từng yếu tố?
Nội dung tấm biển đề treo ở cửa hàng có bốn yếu tố:
Yếu tố 1: Ở đây. Chí địa điếm (bán cá) tức là cửa hàng này.
Yếu tố 2: Có bán. Chỉ chức năng, mục đích là bán, chứ không phải là để trưng bày.
Yếu tố 3: Cá. Chĩ sản phẩm bán là cá.
Yếu tố 4: Tươi. Chỉ chất lượng, chủng loại của sản phẩm.
Bốn yếu tố mà cửa hàng nêu trong tấm biển của mình là hoàn toàn đúng và đủ về nội dung. Mỗi một yếu tô” có vai trò thông tin nhất định và không thể thay thế.
Câu 2.Có mấy người góp y về cái biển đề ở cửa hàng bán cá? Em có nhận xét gì về từng ý kiến?
Gợi ý:
* Có 4 ý kiến góp ý:
-Ý kiến 1: Bỏ “Tươi”
-Ý kiến 2: Bỏ “Ở đây”
-Ý kiến 3: Bỏ “Có bán”
-Ý kiến 4: Bỏ “Cá”
-> Cả 4 ý kiến đều có lập luận đanh thép, tự tin, vững chắc, có vẻ am hiểu.
Câu 3.Đọc truyện này, những chi tiết nào làm em cười? Khi nào cái đáng cười bộc lộ rõ nhất? Vì sao?
Gợi ý:
Nhà hàng nghe theo, cắt bớt dần và cuô”i cùng cất cả cái biển đi – > gây cười. Vì tướng rằng làm vừa lòng khách
* Gây cười: Sự thống nhất giữa các ý kiến cùng chê bai sự dài dòng, dư thừa của nội dung biên, sự chiều lòng khách của chủ cửa hàng.
Gợi ý:
Cần lắng nghe nhiều ý kiến từ nhiều phía khác nhau góp ý cho mình nhưng phải tự tin, đắn đo, thận trọng trước khi quyết định và phải giữ được chú kiến của mình. | Soạn bài Treo biển | 737 | |
Trong Lòng Mẹ là một đoạn trích hay trích trong tác phẩm Những ngày thơ ấu của nhà văn Nguyên Hồng. Đoạn trích nằm trong khung chương trình học ngữ văn 8 vô cùng đặc sắc. Giải Văn hôm nay sẽ giúp cho các em có được một bài học thú vị, dễ hiểu nhất ngay sau đây thông qua bài soạn nhé!
Soạn bài Trong Lòng Mẹ
Bài làm
Bố cục của tác phẩm được chia làm 2 phần:
+ Đoạn 1 (Ngay từ phần mở đầu chó đến chỗ “người ta hỏi đến chứ”): Đoạn này cũng đã nói lên được một cuộc đối thoại giữa Hồng và bà cô cay nghiệt
+ Đoạn 2 ( chính là phần còn lại): Ở đây chính là một cuộc gặp gỡ cảm động, hạnh phúc của hai mẹ con cậu bé Hồng
Thể loại của tác phẩm: Tự sự xen lẫn biểu cảm
Hướng dẫn soạn bài
Câu 1 (Sách giáo khoa trang 20 Ngữ Văn 8 tập 1): Phân tích nhân vật người cô trong cuộc đối thoại giữa bà ta với chú bé Hồng
– Nhân vật người cô của chú bé Hồng:
+ Có thể nhận thấy được nhân vật bà cô gây ấn tượng vô cùng mạnh mẽ đối với người đọc chính bởi dã tâm, bởi lời nói cay nghiệt cũng như sự độc ác và bảo thủ trước những lề lối tàn nhẫn ở trong xã hội cũ.
+ Những lời nói dường như cũng đã xoáy sâu vào sự thiếu thốn tình mẫu tử của bé Hồng chính bằng câu hỏi nhẫn tâm của bà cô đó là: mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không?.
+ Tất cả những ý nghĩ cay độc trong giọng nói, thể hiện ngay ở nét mặt cười rất kịch
+ Bà cô dường như cũng đã cố gieo rắc vào đầu đứa cháu hoài nghi để chia rẽ tình mẹ con của cậu bé đáng thương.
+ Tất cả giọng nói, cử chỉ quan tâm của bà cô chính là một sự giả dối, sáo rỗng
+ Thế rồi khi mà ngay cả đứa cháu khóc bà cô vẫn cố tình khơi vào nỗi đau của cháu
Câu 2 (Sách giáo khoa trang 9 Ngữ Văn 8 tập 1): Tình yêu thương mãnh liệt của chú bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh được thể hiện như thế nào?
– Có thể nhận thấy được chính tình yêu thương của chú bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh được thể hiện rõ ràng:
+ Ngay cả khi hơn 1 năm không có tin tức của mẹ nhưng cậu bé Hồng vẫn không hề trách cứ, ghét bỏ mẹ chút nào cả.
+ Cậu bé dường như cũng đã tưởng tượng ra vẻ mặt rầu rầu, hiền từ của mẹ
+ Bé Hồng cũng nhận ra dã tâm chia rẽ tình mẫu tử của bà cô độc ác, đồng thời Hồng vẫn luôn yêu thương, kính trọng mẹ biết bao nhiêu.
+ Bé Hồng dường như cũng muốn nghiến nát những cổ tục đã đày đọa mẹ, cậu bé lúc đó thật thấu hiểu hoàn cảnh, nỗi đau mẹ đã phải trải qua bao đau khổ.
+ Khi được gặp lại mẹ Hồng sung sướng, và cũng cảm nhận thấy được một sự hạnh phúc. Cậu bé cũng đã quên hết những uất ức, quên hết biết bao nhiêu khổ cực khi phải sống trong gia đình giả dối, gia đình đầy nhẫn tâm.
+ Cậu bé Hồng dường như cũng muốn bé lại để được mẹ yêu thương, chăm sóc, vỗ về.
Soạn bài Trong Lòng Mẹ
Câu 3 (Sách giáo khoa trang 20 Ngữ Văn 8 tập 1): Qua đoạn trích Trong lòng mẹ, hãy chứng minh ràng văn Nguyên Hồng giàu chất trữ tình.
Có thể nhận thấy được chính chất trữ tình thể hiện trong văn Nguyên Hồng được thể hiện ở:
– Tình huống truyện được xây dựng lên có một nội dung đặc sắc:
+ Cậu bé Hồng lúc này đây cũng phải sống trong sự cay nghiệt ghẻ lạnh của họ hàng
+ Tiếp đến chính là hình ảnh người mẹ âm thầm chôn tuổi thanh xuân, chịu nhiều cay đắng luôn phải chịu những thành kiến của xã hội cũ
+ Thông qua đó còn cho thấy được một sự yêu thương, luôn luôn kính mến mẹ không hề lung chuyển hay bị thay đổi trước lời nói, rắp tâm tàn độc đến nhẫn tâm của người cô
– Thêm vào đó chính là dòng cảm xúc mãnh liệt của Hồng:
+ Bé Hồng như cũng xót xa, tủi nhục, căm hờn, uất nghẹn
+ Hồng dường như cũng quyết liệt bảo vệ tình mẫu tử
+ Thấu hiểu đồng thời lại còn cảm thông và yêu thương mẹ nhiều hơn
– Người đọc nhận thấy được hình ảnh so sánh gây ấn tượng mạnh, giàu sức biểu đạt, gợi cảm mà Nguyên Hồng thể hiện.
– Với lời văn say mê diễn đạt cảm xúc dạt dào và mang được một sự chân thật
– Tác giả cũng đã kết hợp tài tình, nhuần nhuyễn kể, tả để có thể biểu lộ cảm xúc.
Câu 4 (Sách giáo khoa trang 20 Ngữ Văn 8 tập 1): Qua văn bản trích giảng, em hiểu thế nào là hồi kí?
Hồi kí là một thể loại khác của thể kí. Nó cũng chính là truyện kể từ bằng chính ngôi kể tác giả Nguyên Hồng kể về những sự kiện có thật trong quá khứ mà tác giả cũng đã từng chứng kiến hoặc trải qua
Hồi kí cũng có thể coi giống nhật kí ở việc được giãi bày theo trình tự thời gian. Hồi ký cũng lại mang được một tính chủ quan nhưng sinh động chân thật bởi những dòng diễn đạt cảm tưởng một cách trực tiếp của tác giả.
– Tsc giả Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng:
+ Chúng ta nhận thấy được nhân vật trong các sáng tác chính của ông là phụ nữ và trẻ em như các tác phậm có thể kể ra: hồi kí Những ngày thơ ấu, tiểu thuyết nổi tiếng Bỉ vỏ, Khi đứa con ra đời,…
+Nguyên Hồng cũng đã thể hiện được một sự thấu hiểu, đồng cảm với những thân phận nhỏ bé bị o ép trong xã hội cũ trước đây.
+ Nguyên Hồng cũng đã nhìn nhận thấy được phẩm chất tốt đẹp cao quý của người phụ nữ, đó cũng chính sự ngây thơ trong sáng của trẻ nhỏ.
– Trong đoạn trích những ngày thơ ấu được thể hiện:
+ Ở nhân vật bà cô đại diện những hủ tục phong kiến dường như cũng lại còn tồn tại
+ Nhân vật mẹ của bé Hồng: Bà cũng chính là hiện sinh hình ảnh người phụ nữ tảo tần, luôn luôn phải chịu nhiều vất vả, điều tiếng tủi nhục
+ Nhân vật bé Hồng: Bé Hồng luôn phải sống trong cảnh thiếu thốn tình cảm, mất mát trong gia đình của chính mình.
Trong lòng mẹ là một tác phẩm thấm đẫm những cảm xúc yêu thương dạt dào của cậu bé Hồng dành cho người mẹ thân yêu của mình. Hi vọng bài soạn trên cũng đã trả lời bám sát câu hỏi trong sách giáo khoa giúp các em học sinh có thể học bài, tiện theo dõi hơn.
Chúc các em học tốt!
Minh Nguyệt
Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm:
Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8
Soạn bài Bàn về đọc sách | Soạn bài Trong Lòng Mẹ của Nguyên Hồng | 1,249 | |
Soạn bài Trong lòng mẹ
Hướng dẫn
I.Đọc – hiểu văn bản.
Câu 1.
Sự xuất hiện của nhân vật người cô: Tuy xuất hiện không nhiều, chủ yếu qua một đoạn đối thoại với chú bé, nhưng đây cũn là một nhân vật gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Đây rõ ràng là một nhân vật thâm độc, xảo quyệt, bênh vực và bảo vệ những lề thói tàn nhẫn trong xã hội đương thời. Qua một đoạn văn ngắn, bà cô đã hiện lên khá sống động nhờ nghệ thuật miêu tả hành động, ngôn ngữ và tâm lí nhân vật một cách chân thực của Nguyên Hồng.
-Đặc điểm nội bật của con người này là sự tàn nhẫn, độc ác.
+ là người trong gia đình chắc chắn cô không lạ gì nỗi khổ xa mẹ, tình cảm của đứa cháu mồ côi, chắc chắn bà thừa hiểu Hồng là một chú bé dễ xúc cảm, rất mau nước mắt.
+ Cô cũng biết rõ về tình cảm khốn khổ của chị dâu mình. Trong hoàn cảnh này, những người khác sẽ chăm sóc, an ủi đứa cháu, giúp nó dịu bớt nỗi đau mất cha và nhất là nỗi đau xa mẹ. Người cô ở đây đã xử sự hoàn toàn khác.
-Cô đã nói bé Hồng về chuyện mẹ bé không phải để động viên, chia sẻ, cảm thông, mà ngược lại, với một mục đích đen tối: cố ý gieo rắc vào đầu đứa trẻ ngây thơ, tội nghiệp này những hoài nghi để nó “khinh ghét, ruồng rẫy” mẹ.
-Nhằm thực hiện mục đích này, người cô cố tạo ra vẻ tươi cười vờ hỏi cháu: “Có muốn vòa Thanh Hóa chơi với mẹ không?” rồi bằng giọng ngọt ngào, người cô vừa trách cháu vừa đưa tin: “Mợ mày phát tài lắm, có như trước đâu”. Khi đứa cháu khốn khổ sắp phát khóc, bà ta vỗ vai nó và lại tiếp tục nói những nói ngọt ngào như cứa vào tim thằng bé.
+ Lời nói của người cô xảo quyệt, lươn lẹo trước sau mâu thuẫn. Bà ta vừa bảo bé Hồng “Mợ mày phát tài lắm”, nhưng ngay sau đó lại tươi cười kể rành rọt: Có người, một hôm đi qua chợ thấy mẹ Hồng ngồi cho con bú ở bên một rổ bóng đèn, ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng, người gây rạch đi, thấy thế bà tha thương tình toan gọi hỏi xem sao thì mẹ Hồng vội quay đi, lấy nón che…
-Bằng việc làm này, chứng tỏ bà cô tìm các hành hạ, giễu cợt nỗi đau xa mẹ của bé Hồng.
Bà ta rắp tâm chia lía tình cảm mẹ con, hủy diệt niềm yêu thương, kính trọng của bé Hồng đối với người mẹ khốn khổ.
-Đồng thời bà ta cũng lấy làm hả hê, thích thú trước tình cảnh khốn khổ của người chị dâu mình.
Câu 2. Tình yêu mãnh liệt của chú bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh được thể hiện qua:
-Mặc dù đã ngót một năm chú bé không nhận được tin tức gì của mẹ, đặc biệt mặc dầu bị bà cô xúc xiểm chia rẽ tình mẹ con, nhưng “tình thương và lòng kính mẹ” của bé Hồng vẫn nguyên vẹn.
-Bé Hồng không hề trách mẹn nếu quả là mẹ “đã chửa đẻ với người khác”. Tuy non nớt, nhưng bé hiểu “vì tội góa chồng, vì túng bần quá mà mẹ mình phải bỏ các con đi tha phương cầu thực”.
-Khi nghe những lời ngọt ngào, thâm độc của bà cô, bé Hồng chỉ thấy xiết thương mẹ, có trách chăng chỉ là ở chỗ mẹ không dám “chống lại” những thành kiến tàn ác “để đến nỗi phải xa lìa hai đứa con, sống trốn tránh như một kẻ giết người.”. Hồng căm ghét cực độ những hủ tục đã đày đọa mẹ mình.
-Lòng căm nghét của bé Hồng được tác giả diễn đạt bằng những câu văn có nhiều hình ảnh cụ thể, gợi cảm và có nhịp điệu dồn dập như sự uất ức của bé ngày một tăng tiến: “Cô tôi nói chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ không ra tiếng. Giá những cổ tục đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá, cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiền cho kì nát vụn mới thôi”.
Câu 3.
Lời chế giễu của bà cô khiến bé Hồng không những thương mẹ, Hồng còn hiểu nỗi lòng mẹ. (Nếu chính mình chưa phải trải qua nỗi đau xa mẹ, chưa có niềm sung sướng tột độ gặp mẹ, chắc Nguyên Hồng khó có được đoạn văn gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc đến thế).
-Có lẽ vì tình thương và niềm tin mãnh liệt ấy nên bé Hồng có sự linh cảm hết sức nhảy bén, chính xác.
-Chỉ cần thoáng qua, bé đã phát hiện ra chính xác mẹ mình. Gặp mẹ, Hồng vui sướng cao độ. Niềm vui sướng ấy như thấm vào da thịt.
-Nhà văn diễn tả trạng thái tình cảm nói trên của chú bé vô cùng thấm thía và cảm động. Đoạn văn kể về chuyện chú gặp mẹ có thể coi là một đoạn văn đặc biệt hấp dẫn.
-Để khắc họa niềm khao khát gặp mẹ, nhà văn có cách so sánh cụ thể gợi cảm. Bé Hồng khao khát được mẹ như người bộ hành giữa sa mạc khao khát dòng nước và bóng râm.
-Để tô đậm niềm sung sướng tột độ của đứa bé mất cha, xa mẹ lâu ngày nay được ngồi bên mẹ, lúc thì nhà văn miêu tả những cảm giác cụ thể (“tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp vào đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu nay mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt”), lúc thì lại chen vào những lời bình luận thấm đẫm chất trữ tình. “Phải bé lại và lăn vào lòng một người, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ (…) mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”), khi thì sử dụng nghệ thuật miêu tả tâm lí (gặp mẹ là một niềm vui bất ngờ quá lớn lao nên bé Hồng “không mảy may nghĩ ngợi gì nữa” đến câu nói độc ác của bà cô).
Câu 5.
Nguyên Hồng là cây bút “giàu chất trữ tình”, ông thường viết về những phụ nữ và trẻ em chịu nhiều đau khổ, bất hạnh (như trong các tác phẩm Những ngày ấu thơ, Bi vỏ, Cửa biển…)
Qua chương Trong lòng mẹ, ta cũng có thể thấy điều đó. Ở đây, Nguyên Hồng chẳng những đã thể hiện thái độ cảm thông, tôn trọng đối với mẹ Hồng và bé Hồng, mà còn luôn khẳng định những phẩm chất tốt đẹp, cao quý của họ ngay trong những tình huống khắc nghiệt của cuộc sống.
Trong lòng mẹ thực sự hấp dẫn, gây xúc động đối với người đọc có lẽ bởi trong từng câu chữ đều thấm đẫm tình cảm chân thành, tâm huyết của nhà văn.
Câu 6. Nghệ thuật.
Lối tự truyện chân thành, truyền cảm, thấm đượm chất trữ tình. Nghệ thuật miêu tả hành động, ngôn ngữ và tâm lí nhân vật một cách chân thực của Nguyên Hồng.
Câu 7. Ý nghĩa.
Đoạn trích Trong lòng mẹ thể hiện chủ nghĩa nhân đạo trong hồi kí Những ngày ấu thơ của Nguyên Hồng. Nhân vật chính trong đoạn trích này là bé Hồng.
Bé ở trong những tình huống hết sức tội nghiệp:
-Bố chết, mẹ phải đi bước nữa vì gia đình nhà chồng ruồng rẫy.
-Bé Hồng phải sống nhờ họ hàng và bị hắt hủi, soi mói, tàn nhẫn.
-Em thương mẹ, nhớ mẹ vô cùng mà phải xa mẹ. | Soạn bài Trong lòng mẹ | 1,316 | |
Soạn bài truyện Kiều lớp 9
Hướng dẫn
I. Kiến thức cơ bản
– Nguyễn Du là đại thi hào dân tôc, thiên bài văn học, danh nhân văn hóa, nhà nhân đạo chủ nghĩa, có đóng góp to lớn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam.
– "Truyện Kiều" là kiệt tác văn học, kết tinh giá trị hiện thực giá trị nhân đạo và thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của văn học dân tộc.
II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản
Câu 1: Nêu những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời của Nguyễn Du đã có ảnh hưởng đến việc sáng tác "Truyện Kiều".
– Thời đại và gia đình
+ Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
+ Ông sinh trường trong một gia đình đại quý tộc nhiều đời làm quan to và có truyền thống về văn học. Cha là tể tướng Nguyễn Nghiễm.
+ Nguyễn Du sống trong thời kỳ lịch sử đầy biến động, chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào khủng hoảng trầm trọng, các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh – Nguyễn tranh giành quyền lực, phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi đỉnh cao là phong trào Tây Sơn.
– Cuộc đời:
+ Nguyễn Du đã phải sống phiêu bạt nhiều năm ở đất Bắc (1786-1796) rồi sau đó về ở ẩn ở Hà Tĩnh (1796-1802).
+ Nguyễn Ánh lên ngôi mời ông ra làm quan, bất đắc dĩ ông phải nhận lời (1802). Ông từng được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, chuẩn bị đi lần thứ hai thì bị bệnh mất ở Huế.
– Sự nghiệp văn học:
+ Nguyễn Du sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm.
+ Thơ chữ Hán gồm 3 tập: Thanh Hiên thi tập, Bắc Hành tạp lục, Nam trung tạp ngâm 243 bài.
+ Sáng tác chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều).
Đánh giá: Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng vốn sống phong phú, am hiểu nền văn hóa dân tộc đặc biệt là niềm thương cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân, là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.
Câu 2: Trình bày giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện Kiều.
a. Giá trị nội dung:
– Giá trị hiện thực
+ Là bức tranh về xã hội bất công và tàn bạo
+ Là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người.
+ Là sự lên án những thế lực xấu xa
– Giá trị nhân đạo:
+ Khẳng định tài năng, đề cao nhân phẩm của con người.
+ Đề cao khát vọng chân chính của con người về quyền sống, tình yêu, tự do, hạnh phúc, công lý…
b. Giá trị nghệ thuật: Với truyện Kiều
– Ngôn ngữ văn học dân tộc đạt đến đỉnh cao rực rỡ
– Thể thơ lục bát đạt tới sự tinh luyện nhất.
– Nghệ thuật tự sự đã có sự phát triển vượt bật, từ nghệ thuật dẫn truyền đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người. | Soạn bài truyện Kiều lớp 9 | 530 | |
Soạn bài Trách nhiệm công dân
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Trao đổi, trả lời câu hỏi:
Mỗi công dân phải có trách nhiệm gì với đất nước?
Gợi ý:
Mỗi công nhân phải có trách nhiệm bảo vệ và xây dựng đất nước với tất cả tinh thần, trí lực và của cải vật chất.
3. Thi tìm nhanh từ ngữ ở cột A phù hợp với lời giải nghĩa ở cột B.
Gợi ý:
1 – c; 2 – a; 3 – e; 4 – b; 5 – h; 6 – d; 7 – g
5. Thảo luận, thực hiện các nhiệm vụ sau:
1) Chọn từng ô ở cột A thích hợp với mỗi ô ở cột B nói về những đóng góp to lớn của ông Thiện qua các thời kì:
2)Việc làm của ông Thiện thể hiện những phẩm chất gì?
3)Từ câu chuyện trên, em suy nghĩ như thế nào về trách nhiệm của công dân với đất nước? Viết câu trả lời của em vào vở.
Gợi ý:
1) a – 3; b – 1; c – 4; d – 2
2)Việc làm của ông Thiện thể hiện phẩm chât yêu nước của một công dân, sẵn sàng hiến tặng số tài sản to lớn của mình cho Cách mạng, cho đất nước.
3)Người công dân phải đóng góp công sức, tiền của vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Em hãy chọn và viết bài văn theo một trong các đề bài sau:
2.Chuẩn bị kể một câu chuyện em đã nghe, đã đọc về một người sống, làm việc theo pháp luật, theo nếp sống văn minh.
Tham khảo sách Truyện đọc lớp 5 | Soạn bài Trách nhiệm công dân | 272 | |
Soạn bài Trái đất này là của chúng mình
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1. Quan sát bức tranh sau và cho biết tranh vẽ cảnh gì (SGK/63). 3. Nối từ ngữ ở bên trái với lời giải nghĩa thích hợp ở bên phải:
Gợi ý:
Bức tranh vẽ cảnh các bạn nhỏ trên khắp thế giới, khác nhau về màu da cùng chung sống trên hành tinh xanh đều mong ước được sống trong hoà bình.
3. Nối những từ ngữ bên trái với lời giải nghĩa thích hợp ở bên phải:
Gợi ý:
a – 3; b – 1; c – 2; d – 5; e – 4.
5.Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1)Khổ thơ thứ nhất ý nói gì?
Em chọn ý đúng để trả lời:
a)Mọi người cần bay lên để nhìn rõ trái đất.
b)Trái đất rất tươi đẹp, rất đáng yêu.
c)Trái đất có hình dáng như một quả bóng.
2)Hai câu thơ cuối khổ thơ 2 nhằm nói điều gì?
Em chọn ý đúng để trả lời:
a)Tất cả các loài hoa đều đáng quý.
b)Mỗi dân tộc có một màu da khác nhau.
c)Mọi người trên trái đất đều đáng quý, đáng yêu.
3)Chúng ta phải làm gì để giữ bình yên cho trái đất?
Gợi ý:
1); b 2) c
3) Để giữ bình yên cho trái đất, chúng ta phải chống chiến tranh, chống bom nguyên tử, hạt nhân.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Lập dàn ý cho bài văn miêu tả trường em.
a)Quan sát trường em. Ghi vào vở những điều em quan sát được.
b)Lập dàn ý cho bài văn tả trường em.
Gợi ý:
a) Mở bài:
Giới thiệu: Trường em nằm ở vị trí nào? Đặc điểm gì nổi bật giúp mọi người dễ nhận ra ngôi trường đó?… (Hoặc: Lí do em muốn tả cảnh ngôi trường đang học).
b) Thân bài
-Cảnh bên ngoài trường: Lối đi vào có gì nổi bật? cổng trường thế nào? Biển ghi tên trường ra sao? Hoạt động trước cửa trường vào thời điểm miêu tả có điểm gì đáng nói?…
-Cảnh bên trong trường:
+ Sân trường rộng hay hẹp? Cây cối thế nào? Trên sân trường có những cảnh gì nổi bật (về âm thanh, màu sắc…)?
+ Khu vực lớp học (trước mặt em, bên phải, bên trái) được bố trí ra sao? Các phòng học có những điểm gì làm em chú ý (cửa ra vào, cửa sổ,…)?…
+ Các khu vực khác ở trường em (văn phòng, nhà hiệu bộ, thư viện, phòng thiết bị dạy học, vườn trường, bồn hoa cây cảnh,…) có gì nổi bật?
c) Kết bài
Cảnh trường (vào lúc miêu tả) gợi cho em những cảm nghĩ gì? (Hoặc: Em có suy nghĩ gi về ngôi trường thân yêu của mình?…).
Gợi ý:
Tả trường em.
Dàn ý
I.Mở bài: Giới thiệu trường em.
-Nổi bật dãy ngói đỏ, tường vàng.
II.Thân bài: Tả từng bộ phận của cảnh.
-Cổng trường rộng 4 mét, sơn màu nâu của gỗ.
-Tên trường bằng chữ in hoa màu trắng trên nền xanh dương.
-Đầu giờ, cổng trường khá đông đúc học sinh và phụ huynh.
-Sân trường rộng và được lát gạch sạch sẽ.
-Hai bên lối đi vào cột cờ có hai hàng cây bàng toả rợp bóng mát.
-Phía sau cột cờ là phòng của Ban giám hiệu.
-Dãy phòng bên trái là lớp học của khối Một, bên phải của khối Hai.
-Khối lớp Ba được bố trí ở dãy phòng sau.
-Riêng khôi Bốn và Năm thì các phòng học ở lầu I.
-Lớp em khá rộng rãi, có hai cửa ra vào và bốn cửa sổ.
-Riêng các phòng chức năng thì ở lầu trên của khối Ba.
III.Kết bài: Nêu cảm nghĩ về trường.
-Trường em rất đẹp và thoáng mát.
–Em yêu quý ngôi trường của em lắm.2.Cổng trường em to và đẹp. Cánh cổng được sơn màu nâu xỉn như màu của gỗ. Trên hai trụ cổng to cỡ vòng tay của em được lắp hai bóng đèn to. Phía trên là bảng tên trường được sơn trắng trên nền xanh dương. Phía trái cổng là phòng bảo vệ. Bên phải có trồng hai cây bàng to, rợp bóng mát. Giờ vào học hoặc giờ ra về tuy đông đúc thế mà phụ huynh vẫn có thể ra vào để đưa đón con dễ dàng. Từ xa đã thấy chiếc cổng trường nổi bật lên hẳn với hàng chữ dưới tên trường “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui:”
2.Chọn viết một đoạn văn theo dàn ý trên.
Gợi ý:
-Có thể chọn viết đoạn văn tả sân trường hoặc dãy lớp học / khu vực văn phòng…
-Nên có câu mở đầu đoạn văn nêu ý chung, tiếp theo là các câu miêu tả cụ thể cảnh vật. Chú ý lựa chọn những từ ngữ, hình ảnh gợi tả, chi tiết tiêu biểu, sinh động (thể hiện sự quan sát tinh tế, bằng nhiều giác quan).
M: Sân trường không rộng lắm nhưng là khu vực thoáng đãng nhất của trường tôi. Hàng cây xà cừ trồng quanh sân như những chiếc ô che nắng cho chúng tôi vui đùa lúc ra chơi. Bốn góc sân trường sừng sững bôn cây phượng vĩ trồng đã lâu năm. Mùa hè, hoa phượng nở đỏ như những chùm lửa lập loè trong vòm lá. Nếu chú ý lắng nghe, bạn sẽ thấy tiếng chim hót líu lo như dạo khúc nhạc vui.
Theo Vũ Hoàng Linh
3.Kể lại câu chuyện Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai.
b)Dựa vào lời kể của thầy cô và lời ghi dưới mỗi bức ảnh, em hãy giới thiệu thêm về mỗi hình ảnh dưới đây.
c)Mỗi nhóm cử đại diện kể lại câu chuyện Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai.
Gợi ý:
-Câu chuyện xảy ra vào thời gian nào?
-Truyện phim có những nhân vật nào?
-Sau ba mươi năm, Mai-cơ đã đến Việt Nam để làm gì?
-Quân đội Mĩ đã tàn sát mảnh đất Mỹ Lai như thế nào?
-Những việc làm nào thể hiện còn một số lính Mĩ vẫn có lương tri và ghê sợ hành động của quân đội Mĩ?
-Tiếng đàn của Mai-cơ có ý nghĩa gì?
Gợi ý:
Kể lại câu chuyện
a)Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai
Bên sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi, xuất hiện một người Mĩ mang theo một cây đàn vĩ cầm. Đó là Mai – cơ, một cựu chiến binh Mĩ tại Việt Nam. Sau 30 năm, ông muốn trở lại mảnh đất đã từng chịu nhiều đau thương này với mong ước chơi một bản nhạc cầu nguyện cho linh hồn người đã khuất ở Mỹ Lai.
Mỹ Lai là một vùng quê thuộc xã Sơn Mỹ huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Vào sáng ngày 16 tháng 3 năm 1968, chỉ trong vòng 4 tiếng đồng hồ, quân đội Mĩ đã huỷ diệt hoàn toàn mảnh đất này: thiêu cháy nhà cửa, ruộng vườn, giết hại gia súc, bắn chết 504 người, phần lớn là cụ già, trẻ em và phụ nữ mang thai. Có gia đình 11 người bị lính Mĩ ập tới, xả súng đồng loạt giết hại trong ít phút. Có những em bé bị bắn khi đang bú trên xác của mẹ…
Trong cuộc thảm sát tàn khốc ấy, chỉ có mười người may mắn sống sót nhờ được ba phi công Mĩ có lương tâm tiếp cứu. Ba phi công ấy là Tôm-xơn, Côn-bơn, và An-đrê-ốt-ta. Sáng hôm đó, đang bay trên cánh đồng Mỹ Lai, ba người lính kinh hoàng khi thấy quân đội của họ đang dồn phụ nữ và trẻ em vào một con mương cạn rồi xả súng bắn. Tôm-xơn phát hiện một bé gái bị thương nằm giữa cánh đồng, anh bắn pháo hiệu cấp cứư. Một đại uý Mĩ chạy ngay tới, nhưng thay vì cứu cô bé, hắn bắn chết cô. Thấy một tốp lính Mĩ khác đang rượt đuổi dân thường, Tôm-xơn bèn hạ trực thăng ngay trước mắt tốp lính, ra lệnh cho xạ thủ súng máy chĩa súng vào chúng, sẵn sàng nhả đạn nếu chúng tiến lại gần. Tiếp đó, anh lệnh cho hai trực thăng đỗ xuống, chở những người dân về nơi an toàn.
Khi bay dọc con mương, đội bay còn cứu thêm được một cậu bé vẫn còn sống từ trong đống xác chết.
Côn-bơn và An-đrê-ốt-ta, còn có anh lính da đen Hơ-bớt tự bắn vào chân mình để khỏi tham gia tội ác, có Rô-nan bền bỉ sưu tầm tài liệu, kiên quyết đưa vụ giết chóc man rợ ra ánh sáng. 40 bức ảnh đen trắng, 18 bức ảnh màu về vụ thảm sát do Rô-nan chụp và công bố là bằng chứng quan trọng, buộc toà án của nước Mĩ phải đem vụ Mỹ Lai ra xét xử.
Mai-cơ đã thực hiện được ý nguyện của mình. Tiếng đàn của anh đã vang lên ở Mỹ Lai. Tiếng đàn nói lên lời giã từ quá khứ, ước vọng hoà bình và cầu nguyện cho linh hồn những người đã khuất.
b)Từ trái sang phải, từ trên xuống dưới:
-Ảnh 1: Ông Mai-cơ là cựu chiến binh Mĩ. Ông trở lại Việt Nam, kéo một bản nhạc với mong ước cầu nguyện cho linh hồn những người đã khuất ở Mỹ Lai.
-Ảnh 2: Một tên lính Mĩ đang châm lửa đốt phá nhà cửa người dân
trong đợt huỷ diệt vùng quê Mỹ Lai năm 1968.
-Ảnh 3: Chiếc máy bay trực thăng của Tôm-xơn và đồng đội đã tiếp cứu được mười người dân.
-Ảnh 4: Hai người lính Mĩ đang dìu anh lính da đen Hơ-bớt bị thương do anh tự bắn vào chân của mình để khỏi tham gia cuộc càn quét.
-Ảnh 5: Tờ tạp chí Mĩ đăng tin phiên toà xử vụ Mỹ Lai ở Mĩ.
-Ảnh 6, 7: Những người lính Mĩ có lương tâm năm ấy xúc động gặp lại những người họ đã cứu sông.
c)- Câu chuyện xảy ra vào ngày 16 – 3 – 1968.
-Truyện phim có Mai-cơ, Tôm-xơn, Côn-bơn, An-đrê-ốt-ta, Hơ-bớt, Rô-nan.
-Mai-cơ đã đến Việt Nam với mong ước chơi một bản nhạc cầu nguyện cho linh hồn của những đã khuất ở Mỹ Lai.
-Quân đội Mĩ đã thiêu cháy nhà cửa, ruộng vườn, giết hại gia súc, bắn chết 504 người.
-Họ bắn pháo hiệu cấp cứu, chở những người dân về nơi an toàn. Họ kinh hoàng khi thấy quân đội Mĩ dồn phụ nữ và trẻ em vào một con mương cạn rồi xả súng bắn.
–Tiếng đàn của Mai-cơ nói lên lời giã từ quá khứ, ước vọng hoà bình và nguyện cầu cho linh hồn những người đã khuất.
4.Trao đổi với các bạn về ý nghĩa của câu chuyện.
Gợi ý:
Câu chuyện ca ngợi hành động dũng cảm của những người Mĩ có lương tâm đã ngăn chặn và tố cáo tội ác man rợ của quân đội Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. | Soạn bài Trái đất này là của chúng mình | 1,776 | |
Soạn bài Trí dũng song toàn (VNEN)
Hướng dẫn
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Kể tên những người vừa mưu trí vừa dũng cảm mà em biết.
Gợi ý:
-Các anh hùng dân tộc thời xưa và nay.
-Những nhân vật em đọc trong sách báo,…
Gợi ý:
– Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toan, Nguyền Iluệ, Võ Nguyên Giáp.
– Kim Đồng, Lê Văn Tám, Lý Tự Trọng
3. Chọn từ ngữ ở cột A phù hợp với lời giải nghĩa ở cột B:
Gợi ý:
1 – c; 2 – a; 3 – b; 4 – e; 5 – d
5.Thảo luận, trả lời câu hỏi:
1.Sứ thần Giang Văn Minh làm cách nào để vua nhà Minh bãi bỏ lệ “góp giỗ Liễu Thăng”?
2.Cuộc đối đáp giữa ông Giang Văn Minh với đại thần nhà Minh đã diễn ra như thế nào?
3.Hành động sai người ám hại ông Giang Văn Minh của vua nhà Minh đã nói lên điều gì?
4.Vì sao có thể nói ông Giang Văn Minh là người trí dũng song toàn? Viết câu trả lời của em vào vở.
Gợi ý:
1. Để vua nhà Minh bải bỏ lộ “góp giồ Liễu Thăng”, sứ thần Giang Văn Minh giả đò khóc lóc vì không được ở nhà để cúng giỗ cụ tố năm đời. Vua Minh cho việc đó là không phải lẽ và nhận ra việc góp giỗ Liễu Thăng là vô lí nên đã bãi bỏ, dù biết mình đã mắc mưu sứ thần.
3.Hành động sai người ám hại ông Giang Văn Minh đã nói lên sự hòn hạ, nhục nhã của vua nhà Minh trước tinh thần bất khuất, khí phách hào hùng của ông Giang Văn Minh qua nội dung câu đối.
4.Ông Giang Văn Minh đã dùng mưu để bỏ lệ góp giỗ hằng năm và dũng cảm dùng vế đối thể hiện lòng tự hào dân tộc.
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Trò chơi: Thi ghép nhanh các thẻ từ.
Mỗi nhóm có một bộ thẻ từ. Ghép thẻ từ “công dân” với từng the từ khác để tạo thành nhừng cụm từ có nghĩa. (SGK/45) – Viết các cụm từ đã ghép được vào vở.
Gợi ý:
– Nghĩa vụ công dân, quyền công dân, bốn phận công dân, trách nhiệm công dân, ý thức công dân, danh dự công dân, công dân gương mầu, công dân danh dự.
2. Chọn nghĩa ở cột A thích hợp với mỗi cụm từ ở cột B:
A
B
(a) Điều mà pháp luật xã hội công nhận cho người dân được hương, được làm, được đòi hỏi.
(1) Nghĩa vụ công dân
(b) Sự hiểu biết về nghĩa vụ và quyền lợi của người dân đối với đất nước.
(2) Quyền công dân
(c) Điều mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc người dân phải làm đối với đất nước, đối với người khác.
(3) Ý thức công dân
Gợi ý:
a – 2; b – 3; c – 1
3.Viết đoạn văn theo đề bài sau:
Viết 3, 4 câu nêu cảm nghĩ của em về câu nói của Bác Hồ khi đến thăm đền Hùng: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Gợi ý:
Dân tộc ta có truyền thống yêu nước. Truyền thống ấy được truyền từ đời này sang đời khác. Với truyền thông ấy, ta đã chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Để xứng đáng là con cháu vua Hùng, mỗi người dân đều nhận thức được nghĩa vụ của mình là phải giữ lấy nước. Lời dạy của Bác đã khẳng định trách nhiệm của người công dân Việt Nam.
5.Thi tìm và viết các từ (chọn bài a hoặc b):
a)Chứa tiếng bắt đầu hằng r, d hoặc gi, có nghĩa như sau:
-Giữ lại để dùng về sau
-Biết rõ, thành thạo
-Đồ dựng đan bằng tre nứa, đáy phẩng, thành cao (thường dùng đế đựng cua, cá).
b)Chứa tiếng có thanh hỏi hoặc thanh ngã, có nghĩa như sau:
-Dám đương đầu với khó khăn, nguy hiểm.
-Lớp mỏng bọc bên ngoài cua cày, quả.
-Đồng nghĩa với giữ gìn.
Gợi ý:
a) – dành dụm, để dành
-rành mạch, rành rẽ
-cái giành
b)- dũng cảm, quả cảm
-vỏ
-bảo vệ
6.Chọn bài a hoặc b:
a)Chọn để điền r, d hay gi vào mỗi chỗ trống trong bài thơ “Dáng hình ngọn gió”. Viết lại các từ có chứa tiếng vừa điền vào vở (SGK/47)
b)Chọn để đặt dấu hỏi hay dấu ngã trên các chữ in đậm trong mẫu chuyện vui “Sợ mèo không biết”. Viết lại các từ chứa tiếng vừa điền dấu thanh vào vở (SGK/47)
Gợi ý:
a) (1) rầm (2) rì, (3) dạo nhạc, (4) dịu, (5) rào, bao (6) giờ, Hình (7) dáng
b) (1) tướng, (2) mãi, (3) hãi, (4) giải, (5) cổng, (6) phải, (7) Nhỡ
C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
2.Trao đổi với người thân về ý nghĩa câu chuyện “Trí dũng song toàn”.
Gợi ý:
Câu chuyện Trí dũng song toàn ca ngợi sứ thần Giang Văn Minh với trí và dũng cua mình đã bảo vệ được quyền lợi và danh dự cua đất nước khi đi sứ nước ngoài. | Soạn bài Trí dũng song toàn (VNEN) | 822 | |
Soạn bài Trí dũng song toàn
Hướng dẫn
A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
Giọng điệu toàn bài là giọng điệu kể chuyện. Khi đọc, cần chú ý thay đổi ngữ điệu cho phù hợp với nội dung của các lời đối thoại, bộc lộ thái độ, tính cách của từng nhân vật. Nhấn giọng ở những từ ngữ biểu lộ hành động dũng cảm của thám hoa Giang Văn Minh trước thái độ trịch thượng của vua Minh.
B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI
1- Phân đoạn: Câu chuyện chia làm 4 đoạn để luyện đọc:
– Đoạn 1: Từ đầu đến… “hỏi cho ra lẽ”.
– Đoạn 2: Tiếp đoạn 1 cho đến… “mạng Liễu Thăng”.
– Đoạn 3: Tiếp đoạn 2 cho đến… “ám hại ông”.
– Đoạn 4: Phần còn lại của câu chuyện.
2- Nội dung bài:
Câu 1: Sứ thần Giang Văn Minh làm cách nào để vua nhà Minh bãi bỏ lệ “góp giỗ Liễu Thăng”?
Trả lời: Để nhà Minh bãi bỏ lệ góp giỗ Liễu Thăng, sứ thần Giang Văn Minh của ta đã giả vờ khóc thán vì chuyện không có mặt ở nhà đế cúng giỗ cụ tổ năm đời. Chính cái điều ấy mà ông đã đưa vua Minh vào cái bẫy đã giăng sẵn. Vua Minh bị hớ khi nói rằng: Không ai phải giỗ người đã chết từ năm đời. Từ câu nói đó của vua Minh, Giang Văn Minh đã dồn vua Minh vào thế bí, ông nói luồn: “Vậy Liễu Thăng đă chết mấy trăm năm nay, sao hàng năm nhà vua vẫn bắt nước tôi phải mang lễ vật sang cúng giỗ”. Vua Minh đuối lí, đành phải tuyên bố: “Từ nay trở đi, nước ngươi không phải góp giỗ Liễu Thăng nữa.”
Câu 2: Nhắc lại nội dung cuộc đối đáp giữa ông Giang Văn Minh và vị đại thần nhà Minh.
Trả lời: Nội dung cuộc đối đáp giữa ông Giang Văn Minh và vị đại thần nhà Minh, như sau:
Trong cuộc gặp gỡ với vị đại thần nhà Minh. Vị đại thần này thể hiện thái độ ngạo mạn của một nước lớn ra vế đối:
Đồng trụ đến giờ rêu vẫn mọc
Nhắc chuyện Mã Viện dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Ông Giang Văn Minh đối lại ngay:
Bạch Đằng từ trước máu còn loang
Nhắc lại sự thất bại thảm hại của quân đội cả ba triều đại phong kiến Trung Quốc: Nam Hán, Tống, Nguyên trên sông Bạch Đằng.
Câu 3: Vì sao vua nhà Minh sai người ám hại ông Giang Văn Minh?
Trả lời: Vì bị Giang Văn Minh buộc nhà Minh bỏ lệ cống nộp cúng giỗ Liễu Thăng, vua Minh đã căm ghét ông. Nay thấy Giang Văn Minh nhắc lại chuyện cả 3 triều đại phong kiến Trung Quốc thảm bại trên sông Bạch Đằng, vua Minh càng tức giận hơn nên cho người ám hại ông.
Câu 4: Vì sao nói ông Giang Văn Minh là người trí dũng song toàn?
Trả lời: Vì ông là một người thông minh đấu lí thắng cả vua Minh và đại thần nhà Minh. Một mình dũng cảm chiến đấu và chiến thắng cả vua quan nhà Minh. | Soạn bài Trí dũng song toàn | 525 | |
Soạn bài Trường từ vựng là một trong những bài về ngữ pháp Tiếng Việt trong khung chương trình học lớp 8. Với bài học này cũng sẽ giúp cho các em có thể phân loại được các từ ngữ có cùng trường từ vựng với nhau. Đồng thời giúp tăng khả năng ngôn ngữ phong phú cho các em. Hãy cùng Giải Văn đi soạn bài Trường từ vựng ngày hôm nay ngay nhé!
Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8
Bài làm
I. Thế nào là trường từ vựng
Câu 1 (Trang 21 sách giáo khoa Ngữ Văn 8 tập 1) Thế nào là trường từ vựng? Các từ in đậm trong đoạn trích sau có nét chung nào vé nghĩa?
– Có thể nhận thấy được các từ in đậm có thể được kể đến như mặt, mắt, đầu, gò má, đùi, đầu, cánh, tay dùng để chỉ bộ phận cơ thể con người
>>> Thông qua đây chúng ta hiểu được trường từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa.
Xét về đặc điểm của trường từ vựng
– Có một trường từ vựng cũng lại có thể bao gồm nhiều trường từ vựng nhỏ hơn.
– Tiếp một trường từ vựng có thể bao gồm chính những từ khác biệt nhau về từ loại
– Cũng chính do các hiện tượng từ nhiều nghĩa, đó cũng chính là một từ có thể thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau
II Luyện tập
Bài 1 (trang 23 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Đọc văn ban Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng, tìm các từ thuộc trường từ vựng “người ruột thịt”.
Xét về các văn bản “Trong lòng mẹ” của nhà văn Nguyên Hồng, đó cũng chính là các từ thuộc trường từ vựng người thân thiết như ruột thịt.
Bài 2 ( trang 23 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Hãy đặt tên trường từ vựng cho mỗi dãy từ dưới đây: a) lưới, nơm, câu, vó. b) tủ, rương, hòm, va ti, chai, lọ. c) đá, đạp, giẫm, xéo. d) buồn, vui, phấn khởi, sợ hãi. e) hiền lành, độc ác, cởi mà. g) bút máy, bút bi, phấn, bút chì.
a, Nói về các dụng cụ đánh bắt cá: lưới, nơm, vó, câu
b, Trường từ vựng về các vật chứa, đựng: tủ, rương, hòm, va li, chai, lọ
c, Hoạt động của chân đó là các hoạt động: đá, đạp, giẫm, xéo
d, Nói về tâm trạng con người đó là sự: buồn,vui, sợ hãi, phấn khởi
e, Nói đến tính cách con người: sự hiền lành, độc ác, cởi mở
g, Nói về bút để viết: bút máy, bút bi, phấn, bút chì.
Soạn bài Trường từ vựng
Bài 3 (trang 23 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Các từ in đậm trong đoạn văn sau đây thuộc trường từ vựng nào?
Chúng ta cũng có thể nhận thấy được các từ in đậm thuộc trường từ vựng:
– Tất cả những tình cảm, thái độ của con người được thể hiện thông qua các trường từ vựng như sự hoài nghi, khinh miệt, ruồng rẫy, thương yêu, kính mến, rắp tâm
Bài 4 (trang 32 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Xếp các từ mũi, nghe, tai, thính, điếc, thơm, rổ vào đúng trường từ vựng của nó theo bảng sau (một từ có thể xếp ở cả hai trường):
Chúng ta cũng có thể sắp xếp các từ đó vào hai trường từ vựng
– Từ ” lưới” chính là một từ thuộc trường từ vựng:
+ Trường từ vựng ở đây là: dụng cụ đánh bắt cá
+ Trường “phương án bao vây bắt người”: Như đang giăng lưới bắt tội phạm, lưới trời, lưới phục kích, lưới mật thám.
– Từ “lạnh” cũng là một từ thuộc trường từ vựng:
+ Trường ở đây là trường “nhiệt độ”
+ Trường tính cách, thái độ
+ Trường miêu tả được màu sắc
– Từ “tấn công” thuộc trường sau đây:
+ Trường “hành động bạo lực”
+ Trường từ vựng chính về những ” hoạt động thể thao”
Bài 6 (trang 23 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)
Chính với các từ như: Chiến trường, vũ khí, chiến sĩ dường như cũng đã vốn thuộc trường từ vựng “quân sự” để có thể huyển sang trường từ vựng về chính nông nghiệp.
>>> Nông nghiệp cũng là mặt trận bởi nó cũng lại thúc đẩy tinh thần hăng say lao động
Câu 7 (trang 24 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Viết một đoạn văn có ít nhất năm từ cùng trường từ vựng “trường học” hoặc trường từ vựng “môn bóng đá”
Em hãy viết một đoạn văn ngắn có 5 từ cùng trường từ vựng “trường học”
Thực sự có thể nhận thấy được tầm quan trọng của nhà trường, thầy cô có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển nhân cách cũng như về trí tuệ của một người học sinh. Mỗi một thầy cô cũng luôn phải để học sinh có thể nhìn nhận ra được một thế giới vô cùng diệu kỳ. Những cuốn sách cũng có thể làm giàu cho nhân cách của học sinh. Sách và những người thầy cũng đã dạy cho chúng biết cách sống thành thực với chính bản thân. Điều này cũng đã lại giúp cho trẻ biết cách tin vào chủ kiến của bản thân, biết để mà ứng nhân xử thế và đối xử hòa nhã với những người tốt và cương quyết với những người thô bạo. Thực sự trường học cũng luôn được đánh giá chính là một thế giới nhiệm màu mang lại cho chúng ta những giấc mơ thật đẹp.
Từ khóa từ Google:
soan bai van trong long me tim hieu ve truong tu vung | Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8 | 946 | |
Soạn bài Trẻ em sáng tạo tương lai
Hướng dẫn
A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN
1.Quan sát các bức tranh học sinh vẽ và những tấm ảnh chụp; nói điều em nghĩ về các bạn nhỏ (SGK/90)
M: Tranh các bạn nhỏ vẽ rất ấn tượng.
Gợi ý:
– Tranh các bạn vẽ thật dễ thương.
-Mỗi bức tranh đều có ý nghĩa cao đẹp.
–Các bạn nhỏ thật ngây thơ, hồn nhiên.
2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài thơ “Nếu trái đất thiếu trẻ con (trích)” (SGK/91)
5.Trao đổi, thực hiện các nhiệm vụ:
1)Trả lời câu hỏi:
a)Nhân vật “tôi” và nhân vật “Anh” trong bài thơ là ai?
b)Cảm giác thích thú của vị khách về phòng tranh được bộc lộ qua những chi tiết nào?
c)Tranh vẽ của các bạn nhỏ có gì ngộ nghĩnh?
2)Đánh dấu x vào ô trống thích hợp (SGK/93)
Gợi ý:
1)
a)Nhân vật “tôi” là tác giả (nhà thơ Đỗ Trung Lai) và nhân vật “Anh” là phi công vũ trụ Pô-pốp.
b)Cảm giác thích thú của vị khách về phòng tranh được bộc lộ qua những chi tiết:
-Lời mời nồng nhiệt, háo hức của vị khách: “Anh hãy nhìn xem!”
-Lời nói thế hiện thái độ ngạc nhiên, vui sướng: “Có ở đâu đầu tôi to được thế?; “ghê gớm” thật; đôi mắt chiếm nửa già khuôn mặt được các em tô một nửa số sao trời!”.
-Vẻ mặt rạng rỡ, sung sướng mỉm cười.
c)Tranh các bạn nhỏ vẽ đầu phi công vũ trụ Pô-pốp rất to, đôi mắt lớn chứa nhiều sao trời, ngựa xanh nằm trên cỏ, ngựa hồng phi trong lửa, cả thế giới quàng khăn quàng đỏ, các anh hùng là những đứa – trẻ – lớn – hơn.
2)
Đúng
Sai
a) Nét vẽ ngộ nghĩnh của các bạn nhỏ chứa đựng những điều sâu sắc:
x
– Vẽ Pô-pốp đầu rất to, các bạn có ý nói đầu phải to Pô-pốp mới đội được chiếc mũ nặng của nhà du hành.
x
– Vẽ đôi mắt to chứa nhiều sao trời, các bạn muốn nói mơ ước chinh phục các vì sao của Pô- pôp rất lớn.
x
– Vẽ cả thế giới quàng khăn quàng đỏ, các anh hùng chỉ là những đứa trẻ lớn hơn, các bạn thể hiện mong muốn người lớn cũng giống trẻ con, gần gũi và hiểu trẻ con, cùng vui chơi với trẻ con.
x
b) Ba dòng thơ cuối muốn nói: Mọi hoạt động của người lớn có ý nghĩa là vì có trẻ em.
x
c) Bài thơ ca ngợi trẻ em ngộ nghĩnh, sáng suốt, là tương lai của nhân loại. Có trẻ em, hoạt động của người lớn mới có ý nghĩa.
x
B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
1.Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia theo một trong hai đề sau:
a)Kể một câu chuyện mà em biết về việc gia đình, nhà trường hoặc xã hội chăm sóc, bảo vệ thiếu nhi.
b)Kể về việc em cùng các bạn trong lớp hoặc trong chi đội tham gia công tác xã hội.
Gợi ý:
Tham khảo Truyện đọc lớp 5. | Soạn bài Trẻ em sáng tạo tương lai | 487 | |
Bài Trợ Từ Thán Từ là một bài học khá thú vị nằm trong phần ngữ pháp của chương trình học Ngữ Văn 8. Thông qua bài học này giúp cho các em nắm rõ dược những khái niệm của bài học thế nào là trợ từ, thế nào là than từ và tác dụng của nó. Giải Văn sẽ mang đến cho các em có được một giờ học hấp dẫn thông qua bài soạn ngày hôm nay nhé!
Soạn bài Trợ Từ Thán Từ Ngữ văn lớp 8
Bài làm
I – Trợ từ
1. Nghĩa của các câu dưới đây có gì khác nhau? Vì sao có sự khác nhau đó? – Nó ăn hai hát cơm. – Nó ăn những hai hát cơm. – Nó ăn có hai hát cơm.
– Nó ăn hai bát cơm. >>> Muốn thông báo sự việc khách quan
– Nó ăn những hai bát cơm >>> Như muốn nhấn mạnh việc ăn hai bát cơm là nhiều hơn bình thường.
– Nó ăn có hai bát cơm >>> Đưa ra được đánh giá việc ăn hai bát cơm là ít hơn mức bình thường.
2. Các từ những và có trong các câu ở Câu hỏi 1 đi kèm từ ngữ nào trong câu và biểu thị thái dộ gì của ngưòi nói đối với sự việc?
– Nói về các từ “những” và “có” được xem là từ đều đi kèm cụm từ “hai bát cơm” để có thể nhằm biểu thị được mức độ đánh giá, đồng thời cũng đã lại nhấn mạnh biểu thị sự vật, sự việc được nói đến trong câu.
II- Thán từ
1. Ta nhận thấy được các từ “này”, “a” và “vâng” ngay chính trong những đoạn trích sau đây biểu thị:
+ Từ “này” dùng để gọi, mang được một sự thu hút sự chú ý của người đối diện.
+ Từ “vâng” cũng lại thể hiện sự lễ phép của người bề dưới với người bề trên.
2. Hãy nhận xét về cách dùng các từ “này”, “a” và “vâng” thông qua cách lựa chọn những câu trả lời đúng. Câu đúng sẽ là:
a, Các từ ấy cũng có thể làm thành một câu độc lập
d, Các từ ấy cũng có thể cùng những từ khác làm thành một câu và thường đứng đầu câu.
Soạn bài Trợ Từ Thán Từ Ngữ văn lớp 8
Luyện tập
Bài 1 (Sách giáo khoa trang 70 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Trong các câu dưới đây, từ nào (trong các từ in đậm) là trợ từ, từ nào khổng phải là trợ từ
Trong các câu dưới đây, trợ từ đó chính là:
a, Chính thầy hiệu trưởng đã tặng tôi cuốn sách này
c, Ngay tôi cũng không biết đến việc này.
e, Cô ấy đẹp ơi là đẹp
i, Tôi nhắc anh những ba bốn lần mà anh vẫn quên.
Bài 2 (Sách giáo khoa trang 70 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Giải thích nghĩa của các trợ từ in đậm trong những câu sau:
a, Trợ từ “lấy” thực sự cũng lại có tác dụng nhấn mạnh mức tối thiểu, tới việc đã rất lâu không nhận được bất cứ một lá thư, hay những lời hỏi thăm, sự quan tâm của mẹ.
b, Trợ từ “nguyên” cũng đã nhấn mạnh duy chỉ một thứ. Trợ từ “đến” cũng đã lại nhấn mạnh mức độ cao, làm ít nhiều ngạc nhiên.
d, Trợ từ “cứ” cũng đã biểu thị nhấn mạnh thêm về sắc thái khẳng định, không kể khách quan như thế nào.
Bài 3 (Sách giáo khoa trang 71 Ngữ Văn 8 tập 1) Chỉ ra thán từ trong các câu dưới đây (trích từ tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao):
a) Đột nhiên lão hảo tôi: – Này! Thằng cháu nhà tôi, đến một năm nay, chẳng có giấy má gì đấy, ông giáo ạ.
– À, Thì ra lão dang nghĩ đến thằng con lão.
b) – Con chó là của cháu nó mua dấy chứ!… Nó mua về nuôi, định để đến lúcc cưới vợ thì giết thịt… Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy. Người ta định rồi chẳng hao giờ người ta làm dược.
c) — Vâng! Ông giáo dạy phải! Đôi với chúng mình thì thế là sung sướng. d) Chao ôi!Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cô tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, hần tiện, xấu xa, hỉ ổi… toàn những cớ dể cho ta tàn nhẫn […] e) Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng cố thể làm liều như ai hết…
Bài 4 (Sách giáo khoa trang 72 Ngữ Văn 8 tập 1) Các thán từ in đậm trong những câu sau đây bộc lộ những cảm xúc gì?
Các thán từ bộc lộ cảm xúc ở đây đó là:
+ Ha ha: Nó cũng đã lại bộc lộ sự sảng khoái, sunng sướng trước những phát hiện thú vị
+ Than ôi: Cũng đã biểu thị sự đau buồn, tiếc nuối
Bài 5 (Sách giáo khoa trang 72 Ngữ Văn 8 tập 1) Đặt năm câu với năm thán từ khác nhau
+ Ôi! Chú chuồn chuồn ớt mới đẹp làm sao.
+ Vâng, chiều nay em sẽ nấu cơm giúp chị.
+ Trời ơi! Con làm gì mà bày đồ bừa ra nhà thế này hả?
+ Than ôi, thân phận bọt bèo này
+ Chao ôi, món ăn này quả là ngon tuyệt!
Bài 6 (Sách giáo khoa trang 72 Ngữ Văn 8 tập 1) Hãy giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ Gọi dạ bảo vâng.
Cám em hãy giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ Gọi dạ bảo vâng.
+ Gọi dạ bảo vâng: Câu này dường như cũng đã chỉ người biết lễ phép, có thái độ cung kính đối với người bề trên.
+ Câu tục ngữ này cũng đã khuyên chúng ta phải khiêm nhường, lễ phép, lễ độ thật lễ phép.
Hi vọng thông qua bài soạn các em đã có thể hiểu được bài một cách nhanh chóng khi tự học và chuẩn bị bài ở nhà. Xác định trợ từ, tình thái từ cũng không còn quá khó đối với các em đúng không nào?
Chúc các em học tốt!
Minh Nguyệt
Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm:
Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000
Soạn bài Ôn dịch thuốc lá
Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8
Soạn bài Bàn về đọc sách
Sean bài Trong lòng mẹ | Soạn bài Trợ Từ Thán Từ Ngữ văn lớp 8 | 1,079 | |
Soạn bài trợ từ – thán từ
Hướng dẫn
I.Kiến thức cơ bản
A.Trở từ
1.Nghĩa của các câu (trong sách giáo khoa) có chỗ khác nhau:
-Nó ăn hai bát cơm: nói lên sự việc khách quan.
-Nó ăn những hai bát cơm: ngoài ý nghĩa khách quan, còn có ý nhấn mạnh đánh giá việc nó ăn hai bát cơm là nhiều.
-Nó ăn có hai bát cơm: đánh giá nó ăn hai bát cơm là ít, không đạt mức bình thường.
2.Như vậy các từ “những” và “có” ở các câu trong mục 1 là dùng để đánh giá, nhấn mạnh sự vật, sự việc được nói đến trong câu.
B.Thán từ
1.Các từ a và vâng trong những đoạn trích trong SGK đã biểu thị như sau:
a.Hai từ này thường được thốt ra để gây sự chú ý của người đối thoại, hoặc biểu thị tức giận khi nhận ra điều gì đó không tốt, hoặc ngược lại biểu hiện sự vui mừng, sung sướng (tất nhiên là khác nhau về ngữ điệu).
b.Thán từ “này” có khả năng tạo thành câu như câu nói trong đoạn văn của Nam Cao. Thán từ này cũng làm thành phần phân biệt của câu như “này, vâng” trong đoạn văn của Ngô Tất Tố.
Từ “vâng” ở đây là tiếng dùng để đáp lại lời người khác một cách lễ phép, trân trọng và có ý đang nghe họ nói.
2.Nhận xét cách dùng các từ này, a và vâng.
-Này!
-Hở, cậu nói gì?
-Mai nhớ đi học sớm nhé!
…
-A!
-Gì vậy!
-Một cú sút đẹp quá.
…
-Trời ơi!
-Mất ví tiền rồi!
c.Các từ ấy có thể cùng những từ khác làm thành phần một câu và thường đứng đầu câu.
-Này, đi xem xiếc cũng thú vị đấy chứ.
-A, ngày mai được đi tham quan.
-Vâng, tôi xin nghe lời bác dặn.
II.Luyện tập.
1.Nhận diện các trợ từ trong các câu trong SGK.
a. Chính thầy hiệu trưởng đã tặng tôi quyển sách này.
c. Ngay tôi cũng không biết đến việc này.
f. Tôi nhắc anh những ba bốn lần mà anh vẫn quên.
2.Giải thích nghĩa của các từ in đậm trong câu trong SGK.
a.Lấy: Biểu thị ý nhấn mạnh mức tối thiểu, không yêu cầu hơn.
b.Nguyên: chỉ có thế, không có gì thêm hoặc khác.
Đến: Biểu thị ý nhấn mạnh mức độ cao của tính chất sự việc.
+ (Các em giải thích nghĩa của từ “cả” trong câu nói của lão Hạc – Nam Cao và “cứ” trong bài thơ “Muốn làm thằng cuội”.
3.Chỉ ra các thán từ trong các câu trích từ tác phẩm Lão Hạc.
a.Này, à.
b.Ấy.
c.Vâng.
d.Chao ôi.
e.Hỡi ơi….
4.Các thán từ in đậm trong những câu sau bộc lộ những cảm xúc gì?
a.Kìa chúng bay đâu… kìa là lời gọi, thúc giục.
-Ha ha! Cơm nguội… Ha ha là lời reo vui mừng vì đạt được ý muốn.
b.Than ôi! Thời oanh liệt… là lời than nuối tiếc quá khứ.
5.Tìm năm câu có năm thán từ khác nhau.
(Ôi chao, ôi, ối, ô hay, ái chà…)
-Đời! Ôi chao đời! (Nam Cao)
-Ôi! Bữa cơm hôm nay ngon tuyệt.
-Ối ai ơi của nặng hơn người.
-Ô hay! Tôi cứ tưởng anh nói đùa!
-Ái chà! Dân công chạy khỏe nhỉ. (Nguyễn Đình Thi)
6.Câu tục ngữ “Gọi dạ bảo vâng” khuyên ta cách dùng thán từ gọi đáp biểu hiện sự lễ phép lịch sự. | Soạn bài trợ từ – thán từ | 538 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.