text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Tâm trạng nhân vật “tôi” trong truyện “Tôi đi học” – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Tôi đi học của tác giả Thanh Tịnh là một truyện ngắn thể hiện một cách xúc động tâm trạng hồi hộp, cảm giác bỡ ngỡ của nhân vật tôi trong lần đầu tiên được đến trường.
Đó là “một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh”, chú bé mặc “chiếc áo vải dù đen dài”, chú cảm thấy trang trọng và đứng đắn. Lòng chú tưng bừng rộn rã khi được mẹ hiền âu yếm nắm tay dẫn đi trên con đường làng quen thuộc dài và hẹp. Chú xúc động vô cùng, cảm thấy bỡ ngỡ và lạ lùng như con đường ấy chú chưa từng đặt chân đến. Mọi cảnh vật xung quanh thay đổi theo tâm trạng chú bé vì chính lòng tôi có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.
Chú bâng khuâng tự hào khi thấy mình đã lớn khôn, không còn lêu lổng đi thả diều, ra đồng nô đùa như thằng Sơn, thằng Quý nữa. Chú thèm cảnh mấy cậu học trò bằng tuổi mình áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao cho nhau sách vở. Chỉ cầm hai quyển vở mới, dù tay ghì thật chặt mà chú vẫn cảm thấy nặng, một quyển vở rơi khỏi đôi tay bỡ ngỡ. Nhìn thấy mấy cậu ôm sách vở mới lại còn kèm cả bút thước nữa, chú ngây thơ nghĩ chắc chỉ có người thạo mới cầm nổi bút thước. Ý nghĩ ấy của cậu bé đã thoáng qua trong tâm trí một cách nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.
Chú bé cũng như nhiều cậu học trò khác, bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa và đi từng bước nhẹ. Tất cả đều như con chim non đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ.
Chú cảm thấy lòng mình vô cùng hồi hộp khi hồi trống trường vang lên, cảm thấy mình bơ vơ, vụng về, lúng túng. Các học trò khác cũng vì hồi hộp mà run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp. Lúc nghe ông Đốc học đọc tên từng người, chú bé xúc động, hồi hộp đến độ quả tim như ngừng đập, giật mình lúng túng, chú quên cả mẹ đứng sau mình. Nghe ông Đốc học dặn dò, không em nào dám trả lời; trước cái nhìn của mọi người, chú bé cũng như các học trò khác thêm lúng túng. Nhiều học trò mới ôm mặt khóc, chú bé cũng dúi đầu vào lòng mẹ mà nức nở theo. Mặc dù lúc ấy được bàn tay quen nhẹ của mẹ hiền vuốt mái tóc cho, nhưng chú vẫn cảm thấy cô đơn, lẻ loi hơn bao giờ hết khi xếp hàng đi vào lớp: “Trong thời thơ ấu, tôi chưa lần nào thấy xa mẹ tôi như lần này”.
Thanh Tịnh đã rất khéo léo khi diễn tả những kỉ niệm của buổi đầu tiên đến lớp của nhân vật tôi, qua đó diễn tả tâm trạng và cảm giác bỡ ngỡ khi lần đầu tiên được cắp sách đến trường. Cảm giác của nhân vật diễn biến theo trình tự thời gian và không gian, lúc đầu là buổi sớm mai mẹ dắt đi trên con đường làng, sau đó là lúc đứng giữa sân trường, một hồi trống vang lên, nghe ông Đốc học đọc tên và dặn dò, cuối cùng là khi thầy giáo trẻ đưa vào lớp.
Kỉ niệm của ngày tựu trường đầu tiên rất sâu sắc và đẹp đẽ, chính vì thế hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường đầu tiên. | Tâm trạng nhân vật “tôi” trong truyện “Tôi đi học” – Đề và văn mẫu 8 | 660 | |
Tê – lê – mác kể lại cảnh người cha của mình là Uy-lít – xơ trở về
Hướng dẫn
Tê – lê – mác kể lại cảnh người cha của mình là Uy-lít – xơ trở về
Bài làm
Tê-lê-mác là tên của tôi, tôi là con trai của vị anh hùng Uy-lít-xơ. Người cha vĩ đại của tôi,sau khi hạ được thành Tơ-roa đã phải trái qua hai mươi năm lênh đênh trên biển cả, không biết đương đầu với bao nhiêu thử thách mới trở được về quê hương I-tác. Chỉ có điều cha tôi giấu mình trong bộ dnajg của một kẻ ăn mày rách rưới. để thử xem người vợ hiền yêu dấu – chính là mẹ tôi có nhận ra cha không.
Thuyền của vua xứ Phê-a-ki đưa cha tôi về khi mẹ tôi phải đối phó với 108 gã đàn ông quyền quý trong vùng tranh nhau đến cầu hôn. Chúng xảo quyệt, hung hãn, quấy rối suốt ngày này qua tháng khác để rắp tâm ép buộc mẹ tôi và chiếm đoạt tài sản của gia đình tôi. Mẹ tôi phải tìm mọi cách chối từ, mẹ tôi đưa ra cách nếu ai giương cung, bắn xuyên qua mười hai cái vòng rìu thì bà sẽ lấy kẻ đó. Tất cả bọn cầu hôn đều thất bại chỉ trù cha tôi. Tôi dần nhận ra cha vì thân hình lực lưỡng cánh tay giương cung cơ bắp nổi cuồn cuộn, ánh mắt cháy rừng rực như ngọn lửa mặt trời. Tôi chạy đến bên cha kể cho cha nghe mọi chuyện và cùng cha trừng trị bọn cầu hôn cũng như những gia nhăn phản bội. Lúc rửa chân cho cha, nhũ mẫu ơ-ri-clê đã nhận ra người qua vết sẹo ở chân và mặc dù bị cha ngăn lại, nhũ mẫu vẫn đem chuyện kể cho mẹ tôi nghe. Thật khác với những gi tôi tưởng tượng, mẹ tôi không tin.
Mặc kệ cho tôi,đứa con yêu quý của bà trách mắng nhưng mẹ tôi vẫn nói những lòi yêu thương ngọt ngào. Người nói với tôi để bóng gió với cha rằng họ có những dấu hiệu riêng để nhận ra nhau. Cha tôi nhẫn nại mỉm cười và nói với tôi những lời có cánh. Tôi chỉ biết đáp lại: “Cha thân yêu, việc này xin để tùy cha định liệu, vì xưa nay cha vẫn là người nổi tiếng khôn ngoan, không một kẻ phàm trần nào sánh kịp”.
Sau đó, cha bảo mọi người đi tắm rồi mặc quần áo đẹp, nhảy múa ca hát để mọi người lầm tưởng rằng nhà có đám cưới và dặn tất cả hãy giữ kín mọi chuyện cho đến khi hai cha con tôi về đến trang trại của ông nội, sắp đặt xong cha cũng đi tắm. Ông bước ra đẹp như một vị thần. Người trở về chỗ cũ, đối diện với mẹ và nói: Khốn khổ! Hẳn là các thần tiên núi Ô-lem-pơ đã ban cho nàng một trái tim sắt đá hơn ai hết… vì một người khác chắc không có gan ngồi xa chồng như thế, khi chồng đi biền biệt hai mươi năm trời, trải qua bao nỗi gian truân, nay mới trở về xứ sở”. Người quay sang nói với nhũ mẫu Ơ-ric-lê: “Già hãy kê cho tôi một chiếc giường để tôi ngủ một mình”. Mẹ tôi vẫn rất thận trọng đáp lời cha tôi và nói với nhũ mẫu: “Ơ-ric-lê! Già hãy khiêng chiếc giường chắc chắn ra khỏi gian phòng vách tường kiên cố do chính tay Uy-lít-xơ xây nên, rồi lấy da cừu, chăn và vải đẹp trải lên giường”.
Gặp lại chồng mình sau hơn hai mươi năm mòn mỏi chờ đợi, mẹ tôi sung sướng vô cùng! Mẹ nhìn ngắm cha không chán mắt và hai cánh tay trắng muốt của mẹ cứ ôm cổ cha không muốn rời.Cảnh tượng ấy khiến trái tim tôi – đứa con trai duy nhất của hai người, cứ thổn thức mãi không nguôi vì xúc động vì hạnh phúc. Từ đây tôi sẽ luôn được sống trong sự thương yêu che chở của mẹ, của cha. | Tê – lê – mác kể lại cảnh người cha của mình là Uy-lít – xơ trở về | 698 | |
Đề bài: Tê-lê-mác kể lại cành người cha của mình là Uy-lít-xơ trở về
Bài làm
Sau hơn hai mươi năm trời ròng rã xa quê hương, phải chịu bao nhiêu gian nan, thử thách, giờ thì cha tôi đã trở về nhà. Chỉ có điều là cha giấu mình trong bộ dạng của một kẻ ăn mày rách rưới. Cha làm như vậy để thử xem người vợ hiền yêu dấu của mình có nhận ra mình hay không.
Trong thời gian dài, cha tôi vắng nhà, mẹ tôi phải thường xuyên đối phó với 108 gã đàn ông quyền quý trong vùng tranh nhau đến cầu hôn. Chúng xảo quyệt, hung hãn, quấy rối suốt ngày này qua tháng khác để rắp tâm ép buộc mẹ tôi và chiếm đoạt tài sản của gia đình tôi. Pê-nê-lốp – Người đàn bà thông minh xinh đẹp là mẹ cùa tôi, luôn phải nghĩ ra trăm phương ngàn kế để kéo dài thời gian, hy vọng cha tôi sẽ trở về.
Vì nói là có biết một số điều về Uy-lít-xơ nên gã hành khất – tức là cha tôi đã lọt vào trong ngôi nhà của mình. Ông được mẹ tôi cho phép ở lại để kể cho mẹ tôi nghe những điều về người chồng yêu quý mà mẹ đang mong mỏi đợi chờ. Hôm sau, mẹ tôi tổ chức một cuộc thi bắn cung và ra điều kiện nếu ai giương được cây cung của Uy-lít-xơ thì sẽ lấy làm chồng. Hàng trăm kẻ quý tộc không kẻ nào nâng nổi. Gã hành khuất xin tham dự và đã thắng. Tôi nhận ra cha. Với cây cung trong tay, cha tôi đã đánh đuổi tiêu diệt những kẻ cầu hôn quấy nhiễu và lũ đầy tớ phản chủ. Bà nhũ mẫu Ơ-ri-lê lên gác báo tin là Uy-lít-xư đã trở về nhưng mẹ tôi không tin và bảo rằng bà chớ vội vui mừng vì có lẽ ugười đánh tan lũ cầu hôn láo xược là một vị thần nào đó. Còn Uy-lít-xơ thì không còn hy vọng trở về vì chàng đã chết.
Nhũ mẫu vẫn một mực khẳng định là cha tôi đang ở dưới nhà và giục mẹ tôi hãy mau xuống đón mừng. Bà còn nói rõ dấu hiệu khó quên là cái sẹo ở chân cha tôi, dấu vết của một lần ông đi săn bị nanh trắng của con lợn nòi húc vào. Mẹ tôi vẫn chưa tin, quay sang bảo nhủ mẫu hãy cùng xuống nhà để xem xác chết của bọn cầu hôn và kẻ giết chúng.
Xuống đến nơi, mẹ tôi bước qua ngưỡng cửa bằng đá rồi đến ngồi trước mặt cha tôi, trong khi ông tựa lưng vào cái cột, mắt nhìn xuống đất, hồi hộp xem người vợ cao quý sẽ nói gì khi nhận ra mình. Mẹ tôi vẫn ngồi lặng thinh, vẻ mặt sửng sốt, lúc thì đăm đăm nhìn chồng, lúc lại như là không nhận ra người chồng yêu quý trong bộ quần áo rách mướp của kẻ ăn mày.
Không nén nổi tức giận, tôi buột miệng trách sao mẹ lại tàn nhẫn như thế. Mẹ không hỏi han, cũng chẳng đến bên cha vồn vã trò chuyện. Tôi thầm nghĩ chắc trên thế gian chẳng có người vợ nào sắt đá đến nỗi chồng đi xa biền biệt hai mươi năm, trải qua biết bao gian lao, bây giờ mới trở về xứ sở, mà lại có thể ngồi cách xa chồng đến vậy.
Mẹ tôi không giận mà dịu dàng đáp: Tê-lê-mác con ơi, lòng mẹ kinh ngạc quá chừng! Mẹ không sao nói được một lời, mẹ không thể hỏi han, không thể nhìn thẳng mặt người. Nếu quả thực đây chính là Uy-lít-xơ, bây giờ cũng đã trở về, thì con có thể tin chắc rằng thế nào cha con và mẹ củng sẽ nhận được ra nhau một cách dễ dàng, vì cha mẹ có những dấu hiệu riêng, chỉ hai người biết với nhau, còn người ngoài không ai biết hết.
Nghe mẹ tôi nói vậy, cha tôi nhẫn nại mỉm cười và nói với tôi: Tê-lê-mác con! Đừng la rầy mẹ, mẹ còn muốn thử thách cha ở tại nhà này. Thể nào rồi mẹ con cũng sẽ nhận ra, chắc chắn như vậy. Hiện giờ cha còn bẩn thỉu, áo quần rách rưới nên mẹ con khinh cha chưa nói: “Đích thị là chàng rồi. Nhưng về phần cha con ta, ta hãy bàn xém nên xử trí tình huống thế nào cho ổn thỏa nhất. Nếu có ai giết chết một người trong xứ sở, chỉ một người thôi và dù kẻ bị giết chẳng có ai báo thù cho nữa, thì người ấy củng phải rời bỏ cha mẹ, đất nước, trốn đi. Huống hồ chúng ta đây, chúng ta đã hạ cả thành lũy bảo vệ đô thị này, giết các chàng trai của những gia đinh quyền quý nhất. Tình huống ấy cha khuyên con nên suy nghĩ.
Tôi kính cẩn thưa rằng mọi việc xin cha cứ định liệu, vì xưa nay, cha vốn là người sáng sụốt. Tôi cũng hứa sẽ hết lòng phù tá cha tôi.
Sau đó, cha bảo mọi người đi tắm rồi mặc quần áo đẹp, nhảy múa ca hát để mọi người lầm tưởng rằng nhà có đám cưới và dặn tất cả hãy giữ kín mọi chuyện cho đến khi hai cha con tôi về đến trang trại của ông nội, sắp đặt xong cha cũng đi tắm.
Lát sau, từ trong phòng tắm bước ra, trông cha uy nghi, đẹp đẽ như một vị thần. Trở về chỗ cũ, cha nói với mẹ rằng: Khốn khổ! Hẳn là các thần trên núi Ô-lem-pơ đã ban cho nàng một trái tim sất đá hơn ai hết trong đám đàn bà yếu đuối, vì một người khác chắc không bao giờ có gan ngồi cách xa chồng như thế, khi chồng đi biền biệt hai mươi năm trời trải qua bao nỗi gian truân, nay mới trở về xứ sở! Rồi cha tôi bảo nhũ mẫu hãy kê cho ông một chiếc giường để ông ngủ một mình như bấy lâu nay vì trái tim trong ngực vợ ông được làm bằng sắt.
Mẹ tôi thận trọng đáp: Khốn khổ! Tôi không có ý coi thường, coi khinh ngài, cũng không ngạc nhiên đến rối trí đâu! Tôi biết rất rõ ngài như thế nào khi ngài từ giã I-tác ra đi trên chiếc thuyền có mái chèo dài. Vậy thì, ơ- ric-lê! Già hãy khiêng chiếc giường chắc chắn ra khỏi gian phòng vách tường kiên cố do chính tay Uy-lít-xơ xây nên, rồi lấy da cừu, chăn và vải đẹp trải lên giường.
Mẹ tôi nói vậy là để thử cha tôi. Quả nhiên cha tôi bỗng giật mình hỏi ngay, nàng ơi. Nàng vừa nói một điều làm cho tôi chột dạ, ai đã xê dich giường tôi đi chỗ khác vậy? Nếu không có thần linh giúp đỡ thì dù là người tài giỏi nhất cũng khó lòng làm được việc này. Rồi cha tôi kể chi tiết, tỉ mỉ về đặc điểm của chiếc giường. Bí mật này ngoài cha mẹ của tôi ra chỉ có một thị tì của mẹ tôi biết được.
Nghe vậy, mẹ tôi bủn rủn cả chân tay vì cha tôi đã tả đúng mười mươi sự thật. Mẹ liền chạy ngay lại, nước mắt chan hòa, ôm lấy cổ và hôn trán người chồng yêu quý mà nói rằng:
Uy-lit-xơ Xin chàng chớ giận thiếp, vì xưa nay chàng vẫn là người nổi tiếng khôn ngoan. Ôi! Thần linh đã dành cho hai ta một số phận xiết bao cay đắng vì người ghen ghét ta, không muốn cho ta dược sống vui vẻ bên nhau, cùng nhau hưởng hạnh phúc của tuổi thanh xuân và cùng nhau đi đến tuổi già đầu bạc. Vậy giờ đây, xin chàng chớ giận thiếp, cũng đừng trách thiếp về nỗi gặp chàng mà thiếp không âu yếm chàng ngay. Thiếp luôn luôn lo sợ có người đến đây, dùng lời đường mật đánh lừa, vì đời chẳng thiếu người xảo quyệt, chỉ làm điều tai ác… Giờ đây chàng đã đưa ra những chứng cớ rành rành, tả lại cái giường không ai biết rõ, ngoài chàng với thiếp và Ác-tô-rít, một người thị tì của cha thiếp cho khi thiếp về đây và sau đó giữ cửa gian phòng vách tường kiên cổ của chúng ta. Vì vậy, chàng đã thuyết phục được thiếp và thiếp phải tin chàng, tuy lòng thiếp rất đa nghi.
Giọng nói chân thành của mẹ tôi khiến cha tôi rất cảm động. Cha ôm lấy người vợ xiết bao yêu thương, người bạn đời chung thủy của mình mà khóc.
Gặp lại chồng mình sau hơn hai mươi năm mòn mỏi chờ đợi, mẹ tôi sung sướng vô cùng! Mẹ nhìn ngắm cha không chán mắt và hai cánh tay trắng muốt của mẹ cứ ôm cổ cha không muốn rời.Cảnh tượng ấy khiến trái tim tôi – đứa con trai duy nhất của hai người, cứ thổn thức mãi không nguôi vì xúc động vì hạnh phúc. Từ đây tôi sẽ luôn được sống trong sự thương yêu che chở của mẹ, của cha. | Tê-lê-mác kể lại cành người cha của mình là Uy-lít-xơ trở về | 1,562 | |
Tìm hiểu bài thơ Bánh trôi nước để nhận xét về ngôn ngữ và cá tính của Hồ Xuân Hương
Hướng dẫn
Trước hết, Bánh trôi nước của Hồ Xuân hương có thể coi là một bài ca về thân phận con người – cụ thể là người phụ nữ: Đẹp (cả về hình thức lẫn phẩm chất tâm hồn) nhưng cuộc đời lại nổi trôi, phiêu dạt “Bảy nổi ba chìm”. Chủ đề tác phẩm được tác giả giải quyết khá thấu đáo trong một hệ thống ngôn ngữ đầy cá tính:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Phân tích bài thơ này, chúng ta có thể bỏ qua việc phân tích nghĩa hiển ngôn để đi trực tiếp vào lớp nghĩa hàm ngôn, lớp nghĩa quan trọng hơn của tác phẩm (mặc dù nghĩa hàm ngôn chỉ có được trên cơ sở nghĩa hiển ngôn).
“Thân em”- nghe phảng phất như ca dao cổ “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”. Mở đầu bài thơ là chuyện thân phận, tác giả sử dụng lối xưng hô khá nền nã “em” nên câu thơ có cái thiết tha của tiếng hát than thân trong ca dao xưa. Nhưng Hồ Xuân Hương không sử dụng ca dao xưa để ví von so sánh – tức là vẫn phải qua một tầng hình tượng để diễn tả trực diện vẻ đẹp của người con gái. Bà tả trực tiếp, tả chính xác nét đẹp khỏe, nhờ thế sự vật được nói đến trong bài thơ khỏe và đẹp như chính người thiếu nữ vậy. Thành thử, mượn lời ca dao nhưng không phải là một lời than ủy mị mà chính là một lời khẳng định. Tức là qua ngôn ngữ, cá tính, phong cách Xuân Hương dần dần bộc lộ: một cái “tôi” vừa tha thiết vừa ngạo nghễ, vừa đằm thắm lại vừa kiêu bạc. Câu thơ tiếp theo là một lời kể khổ, nói đúng hơn là trình bày một hoàn cảnh:
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn.
Vâng, Xuân Hương lại mượn lời dân gian, sử dụng ngôn ngữ dân gian. “Bảy nổi ba chìm” – nhưng cũng như ở câu thơ trên, được biến thái đi, được thổi cái hồn Xuân Hương vào nên thành ngữ dân gian được Xuân Hươnghóa đã mang một nghĩa mới: mới về mặt phong cách: “Bảy nổi ba chìm với nước non” (nghe trong lời thơ có cái gì đó như là sự cao ngạo: “Với nước non”). Đành rằng đây là tả bánh trôi, và tả rất đúng, rất thật chiếc bánh trôi – nhưng sẽ thiếu nếu chúng ta chỉ tiếp cận bài thơ ở tầng nghĩa ấy. Đó chỉ là cái mã của bài thơ mà chìa khóa để giải mã chính là từ mở đầu “Thân em” và từ kết thúc “Tấm lòng son” trong bài. Quay trở lại lời bộc bạch về thân phận: người con gái kia không có quyền làm chủ thân phận mình “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”. Ca dao chỉ nói thế, Xuân Hương kết thúc bằng sự khẳng định nhân cách, khẳng định vẻ đẹp tâm hồn “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”. Chữ “mà” là bản lề khép mở hai thế đối lập: một bên là cuộc đời bạc bẽo,một bên là phẩm chất tuyệt vời. Đối lập trong một mạch nguồn thống nhất: cuộc đời bạc bẽo, thế nhưng không làm nhạt nhòa nổi tấm lòng son. Và một lần nữa, Xuân Hương lại đi ngược chu trình thông thường (chu trình thông thường: lời khẳng định cái đẹp – lời than cho sốphận như một loạt câu ca dao mở đầu bằng “Thân em”):vẻ đẹp thể xác bị va đập trong cuộc đời bạc bẽo đã không những không nhạt phai mà còn là nơi neo giữ vẻ đẹp tâm hồn. Hoàn cảnh bất bình đẳng trong xã hội cũ không những không bóp nghẹt nổi tâm hồn con người, xóa nhòa đi nhân cách con người. Trái lại, nó chỉ là yếu tố thử thách “Ngọc càng mài càng sáng”. Không như dân gian than thân trách phận – cái nổi bật trong bài thơ của Xuân Hương là lời khẳng định phẩm giá con người: “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”, còn hoàn cảnh kia chỉ là một thứ “thuốc thử”.
Phân tích ý nghĩa tượng trưng trong bài thơ Bánh trôi nước của nhà thơ Hồ Xuân Hương.
Gợi ý viết bài
Bài thơ Bánh trôi nước của nữ sĩ Hồ Xuân Hương vừa có tính chất tả thực, vừa có ý nghĩa tượng trưng. Bài thơ không dừng lại ở việc miêu tả chiếc bánh trôi nước, mà còn mang một ý nghĩa sâu xa khác. Đối tượng mà ý nghĩa tượng trưng nhắm đến chính là người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Hồ Xuân Hương muôn mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước để nói lên thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ.
Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng hai từ thân em. Đây là từ ngữ xuất hiện nhiều trong ca dao, dân ca nói về thân phận của người phụ nữ thời đó. Câu thơ trong bài thơ cho ta cảm giác như một câu ca dao:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Trắng và tròn là hình ảnh của chiếc bánh trôi nước, đồng thời là biểu trưng cho vẻ đẹp của người phụ nữ, đó là vẻ đẹp của hình thức bên ngoài.
Tuy nhiên người phụ nữ đẹp trong xã hội thường có số phận hẩm hiu, cuộc đời không được hạnh phúc như mong muốn:
Bảy nổi ha chìm với nước non
Cuộc đời của người phụ nữ cũng ba chìm bảy nổi như chiếc bánh kia khi đưa vào nước sôi. Thân phận lênh đênh của họ bắt nguồn từ quan niệm trọng nam khinh nữ, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó trong xã hội phong kiến. Họ không có quyền quyết định sốphận của mình mà phải trông chờ vào số phận đưa đẩy. Nếu may mắn gặp được người chồng biết lễ nghĩa, biết thương yêu thì họ sẽ bớt lênh đênh hơn và có được cuộc sống hạnh phúc; bằng ngược lại, thì cuộc đời của họ cũng như chiếc bánh kia cứ bềnh bồng trôi dạt theo cuộc đời trong nỗi đau khổ cùng cực. Số phận của họ phụ thuộc hoàn toàn vào kẻ khác cũng giống như chiếc bánh kia phụ thuộc hoàn toàn vào bàn tay người nặn bánh:
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Tuy bàn tay nhào nặn của xã hội, của cha mẹ có nặn người phụ nữ thành hình thế nào thì họ vẫn luôn luôn giữ được vẻ đẹp của mình. Đù bất cứ hoàn cảnh nào thì họ vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp, giữ được tấm lòng son của mình. Nếu như hai câu thơ đầu ca ngợi vẻ đẹp bề ngoài của người phụ nữ thì hai câu thơ sau làm toát lên phẩm chất cao quý bên trong của họ. Đó chính là giá trị của bài thơ Bánh trôi nước. Son sắt, thủy chung, yêu thương chồng con, đó chính là những phẩm chất cao quý của người phụ nữ không chỉ ngày xưa và ngày nay vẫn thế.
Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương.
Bài làm
HồXuân Hương là con một nhà nho ở Nghệ An. Bà sống nhiều năm ở Thăng Long. Có học, có tài thơ văn, có mối quan hệ với nhiều danh sĩ, trong đó có Nguyễn Du. Cuộc đời riêng của bà nhiều bi kịch. Bà là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc. Bà để lại khoảng 50 bài thơ chữ Nôm và tập thơ chữ Hán Lưu Hương kí. Thơ của bà sắc sảo, trào phúng thì sắc nhọn, trữ tình thì tê tái, xót đau, có giá trị nhân đạo sâu sắc. Bà được ca ngợi là “Bà Chúa thơ Nôm”.
Bánh trôi nướclà bài thơ nổi tiếng của bà:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Bài thơ Bánh trôi nước là bài thơ đa nghĩa.
Tác giả tả thực cái bánh trôi nước, làm bằng bột nếp, nhân bằng đường phèn (lòng son), dạng bánh “tròn”, sắc bánh “trắng”, được luộc trong nồi nước sôi “bảy nổi ba chìm”. Nữ sĩ viết về một món ăn dân tộc với tất cả lòng yêu mến, tự hào về bản sắc nềnvăn hóa Việt Nam. Bài thơ giàu tính nhân dân.
Bài thư còn mang hàm nghĩa độc đáo.
Câu 1 có 2 tiểu đối: “Thân em vừa trắng” // “lại vừa tròn”, gợi tả chất bánh ngon lành, tinh khiết, chiếc bánh xinh xắn, dân dã, bình dị, đáng yêu, hàm ẩn sự duyên dáng, trinh trắng, vẻ đẹp xinh xắn của người thiếu nữ Việt Nam. Hai tiếng “Thân em” không chỉ nhân hóa chiếc bánh trôi nước, thể hiện một cách nói đậm đà màu sắc dân gian (thân em như hạt mưa sa…, thân em như tấm lụa đào..) mà còn ngợi ca đức tính khiêm nhường, kín đáo, duyên dáng của người con gái làng quê.
Hai câu 2, 3, ngôn ngữ tương phản: “rắn” với “nát”, nghĩa đen là bánh ngon hay bánh không ngon; nghĩa bóng là hạnh phúc hay bất hạnh, đềutuỳ thuộc vào “tay kẻ nặn”, vào người cha, người chồng… vào lễ giáo phong kiến, vào số phận. Thành ngữ “bảy nổi ba chìm” được vận dụng tài tình nhằm gợi tả sốphận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ.
Hai câu 3, 4 cấu trúc: “mặc dù… mà… vẫn…” nhằm khẳng định một tấm lòng.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
“Vẫn giữ” biểu thị một thái độ kiên trinh, bền vững. “Tấm lòng son” tượng trưng cho phẩm chất sắt son, thuỷ chung, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc đời. Câu thơ thể hiện niềm tự hào và biểu lộ khá đậm tính cách Xuân Hương. Bài thơ nói về bánh trôi nước, một món ăn dân tộc bằng một thứ ngôn ngữ bình dị, dân gian. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đã được Việt hóa hoàn toàn. Thơ hàm súc đa nghĩa, giàu bản sắc Xuân Hương. Bài thơ biểu lộ niềm cảm thông và tự hào đối với số phận, thân phận và phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam, nó có giá trị nhân bản sâu sắc.
LUYỆN TẬP
Để 1. Nét đẹp trong nhân cách của người phụ nữ được Hồ Xuân Hương thể hiện như thế nào trong bài thơ Bánh trôi nước.
Để 2. Giới thiệu về tác giả Hồ Xuân Hương và bài thơ Bánh trôi nước.
Đề 3. ThơHồ Xuân Hươnglà tiếng nói của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Qua một số bài thơ của Hồ Xuân Hương, em hãy chứng minh nhận định trên.
Đề 4. Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương.
Nguồn: | Tìm hiểu bài thơ Bánh trôi nước để nhận xét về ngôn ngữ và cá tính của Hồ Xuân Hương | 1,920 | |
Tìm hiểu tâm hồn Tế Hanh qua bài Quê hương – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Trong dàn hợp xướng thời Thơ mới, có lẽ cây đàn Tế Hanh đã góp vào những đường thơ vừa khỏe khoắn, trong trẻo, vừa không kém phần nồng đượm, có một âm hưởng đằm thắm riêng. Bài “Quê hương” trong tập thơ ra mắt của Tế Hanh – tập thơ đã được giải thưởng Tự lực văn đoàn, hầu như đã đúc kết được khá đầy đủ những đặc điểm ấy. Nó rất trong, mà vẫn đượm. Nó cho ta biết được gì về tâm hồn chàng trai mười tám tuổi đối với quê hương hồi đó.
Trước hết, ta dễ dàng nhận ra ở Tế Hanh một bản chất chắc thực gắn bó với mặt đất cần lao của cuộc đời khác với những hồn thơ giàu chất mộng mơ của những Lưu Trọng Lư, Huy Cận, hay đầy những huyền ảo lung linh của Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên. Cái làng “vốn làm nghề chài lưới… cách biển nửa ngày sông” của ông được nhắc đến với đôi mắt xác định rõ ràng, không chút tô vẽ. Tuy nhiên, tác giả chỉ lưu ý đến những sắc tươi, sắc mạnh trong bức tranh quê hương. Bức tranh ấy được dựng lại trên nền cảnh “trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng”, với những chi tiết rắn rỏi, đầy yếu tố tích cực.
“Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang”.
Rắn rỏi, nhưng không quá cục mịch, thô sơ. Tác giả còn có một tâm hồn bay bổng, không thiếu những khát vọng cao xa, được tượng hình trong cánh buồm căng đón gió – một hình ảnh thực hòa với mộng, dây diều sát đất nhưng cánh diều đồng thời vẫn bay liệng vi vút tít trời cao, mang phong cách đặc trưng của Tế Hanh:
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”.
Cánh buồm – hồn quê này gợi ta nhớ đến toa tàu – số phận, một hình tượng xuất sắc khác của Tế Hanh, cùng quyện lẫn thực sự, hài hòa vật thể với tâm tư như vậy:
“Bánh nghiến lăn lãn quá nặng nề
Khói phì như nghẹn nỗi đau tê
Lâu lâu còi rúc nghe rền rĩ
Lòng của người đi réo kể về”.
Tâm hồn nhạy cảm ấy còn có chiều sâu ân tình, bề dày gắn bó của nó, mang đậm ý vị đằm thắm, sắc thái đôn hậu cũng rất Tế Hanh: từ thân thể người dân chài ngâm nước, ướp nắng biển khơi “nồng thở vị xa xăm” cho đến con thuyền mỏi mệt lặng nằm trên bến.
“Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”.
Câu thơ hàm chứa một ý vị đậm đà nhưng rất khó cảm nhận. Chất tình nghĩa đậm đà trong tâm hồn nhà thơ cứ ngấm mãi vào lòng ta, như chất muối mặn ăn mãi vào vỏ thuyền với bao kỉ niệm buồn vui, bao cung bậc bổng trầm dọc đường đời đã nhuyễn vào trong ta thành máu thịt…
Kết thúc bài thơ, Tế Hanh lại trở về với cái “mùi nồng nặn” rất thực. Nhưng đó là cái thực tinh túy, đã được nhân lên trong tâm tình, đã đọng lại thành kỉ niệm, đã bay cao thành ước mơ. Một lần nữa, ta nhận ra chiếc dây diều thơ ca của Tế Hanh bám chắc vào mặt đất của thực tại như thế nào. Một lần nữa, ta vui mừng được giao tiếp với một hồn thơ khỏe lành, trong sáng. Nó không hề làm nặng đầu ta với những bóng dáng siêu hình, những vô thức u minh, nhưng nó vẫn chắp cánh mộng mơ, bồi đắp khát vọng cho ta có đà “rướn thân” lên “thâu góp gió” đời, “phăng mái chèo … vượt trường giang” cuộc sống. | Tìm hiểu tâm hồn Tế Hanh qua bài Quê hương – Đề và văn mẫu 8 | 646 | |
Tìm hiểu và phân tích văn học Ngôn hoài của Lộ Không Thiền Sư
Hướng dẫn
Tìm hiểu và phân tích văn học Ngôn hoài của Lộ Không Thiền Sư
Nền văn học Việt Nam thế kỉ X đến thế kỉ XVIII phong trào văn học cũng như các tác phẩm chữ Hán giữ một trai trò quan trọng trong phát triển rực rỡ của nền văn học nước nhà. NHững tác phẩm văn học mà phần lớn là các vần thơ thiền cổ, kệ. Bên cạnh các bài thơ bài thơ như Hoa Mai và các tác phẩm khác của Trần Thánh Tông, Nguyễn Trãi Ngôn Hoài của nhà sư Lộ Không Thiền Sư là một trong số bài thơ nổi bật đó. Bài thơ là tiếng nói tâm hồn thể hiện tình yêu đời chan chứa hòa với tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương tạo vật của nhà thơ Thiền Sư.
“Trạch đắc long xà địa khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô dư”
(Kiểu đất long xà chọn được nơi
Tình quê nào chán suốt ngày vui)
Mở đầu bài thơ chính là niềm vui sướng khi được đứng trước cảnh núi rừng đồng ruộng là cảnh quê nhà chan chứa và chân chất mà giản dị.
Tình yêu thiên nhiên yêu cuộc sống hồn hậu được tác giả thể hiện qua cách ví von và cách chọn khung cảnh đó chính là kiểu đất long xà đẹp- thích hợp để xây nhà chính vì thế mà nhà thơ vui lắm. Nhắc tới long xà hai con vật là biểu tượng của thần linh mang tới những điềm tốt che chở che cho ngôi nhà. Nhà thơ đang cảm thấy rất vui ông chia sẻ niềm vui ấy cho mọi người biết được.
Hai từ dã tình ở đây chính là tình quê hương thân thiết đó là mối tình giản dị bình dị nhưng lại vui vẻ đáng yêu và hồn hậu nồng nhiệt. Tình yêu quê hương luôn là một thứ tình cảm thiêng liêng luôn luôn cháy bỏng trong trái tim mỗi người không thể khác đi. Nó như luôn thường trực khiến con người ta nhớ nhung mỗi khi nghĩ về.
“Hữu thì trực thướng cô phong đính,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư. ”
(Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời)
Có thể nói hai câu thơ tiếp thep là những gì tác giả muốn thể hiện một khí phách và sự chan hòa của nhà thơ giữa thiên nhiên cao rộng, trèo thẳng lên đỉnh núi cao rồi kêu lên một tiếng thật to và dài trấn động cả bầu trời, vũ trụ
Cách của tác giả thể hiện cảm xúc của mình đó chính là hét lên cho thỏa nỗi lòng cho trời đất nghe thấy niềm vui sướng và hạnh phúc của mình.Nhà thơ ngắm nhìn những ngôi nhà, những cảnh đẹp thiên nhiên và con người quê hương mình mà tháy trong lòng mình vui phơi phới. Tâm trạng của nhà thơ cũng mang cái cao vời vợi phơi phới như chính ngọn núi mà nhà thơ đang đứng. hạnh phúc của tác giả như dâng lên tột độ, tất cả cứ cuồn cuộn và hồ hởi.
Nguồn: Bài văn hay | Tìm hiểu và phân tích văn học Ngôn hoài của Lộ Không Thiền Sư | 536 | |
Tìm những nét giống nhau về nội dung và hình thức nghệ thuật của hai bài Ngắm trăng và Tức cảnh Pắc Bó (Hồ Chí Minh)
Hướng dẫn
-Hoàn cảnh sáng tác hai bài thơ: tuy là hai hoàn cảnh riêng nhưng đều có điểm giống nhau đó là những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, thử thách tinh thần con người.
+ Tức cảnh Pác Bó sáng tác khi Người sống và làm việc trong hang Pác Bó, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn, điều kiện sinh hoạt gian khổ, thiếu thốn.
+ Ngắm trăng (vọng nguyệt) được viết trong tù, gian khổ.
-Nội dung: hai bài thơ thể hiện tinh thần lạc quan, phong thái ung dung và tình cảm với thiên nhiên của người chiến sĩ – thi sĩ Hồ Chí Minh.
+ Tức cảnh Pác Bó thể hiện tinh thần lạc quan, phong thái ung dung của người chiến sĩ cách mạng. Bài thơ thể hiện ở niềm vui, sự thích thú trong cuộc sông đầy gian khổ ở núi rừng: ngủ trong hang tối, ăn cháo bẹ rau măng, bàn làm ưiệc là tảng đá chông chênh. Người chiến sĩ không những cảm thấy dồi dào, giàu có về mặt vật chất mà còn cảm thấy sự cao quý, đáng kính trọng bởi cuộc đời làm cách mạng lấy lí tưởng cứu nước làm lẽ sông, không hề bị khó khăn, gian khổ làm cho khuất phục. Người chiến sĩ trong bài thơ là một nhà thơ luôn tìm thấy sự hài hòa với tự nhiên, thư thái với thiên nhiên đặc biệt là luôn vững tinh thần lạc quan, tin tưởng ở sự nghiệp cách mạng gian khổ nhưng sẽ giành thắng lợi.
+ Ngắm trăng (vọng nguyệt): đằng sau những vần thơ là một tinh thần thép, sự tự do nội tại, phong thái ung dung vượt lên trên mọi hoàn cảnh. Bài thơ là một cuộc ngắm trăng rất đặc biệt của Bác Hồ: ngắm trăng trong tù. Trong hoàn cảnh đặc biệt đó, tình yêu thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh được bộc lộ rõ. Người ung dung thưởng thức trăng với một tâm hồn rất nghệ sĩ — sự giao hòa đặc biệt giữa người tù thi sĩ với vầng trăng. Bài thơ cho thấy một cuộc vượt ngục với một sức mạnh tinh thần to lớn của người tù — người chiến sĩ — người thi sĩ.
+ Hình thức nghệ thuật: hai bài thơ sử dụng thành công thể thơ tứ tuyệt, bút pháp giản dị, tự nhiên mà hàm súc.
+ Tức cảnh Pác Bó: bốn câu thơ tứ tuyệt của bài thơ tự nhiên, bình dị thể hiện một giọng điệu vui đùa, hóm hỉnh. Giọng điệu, từ ngữ, hình ảnh thơ và cách nói của Người toát lên một niềm vui thích, sảng khoái cao độ trong tinh thần của nhân vật trữ tình.
+ Ngắm trăng (vọng nguyệt): bài thơ tứ tuyệt giản dị thể hiện vẻ đẹp của một tâm hồn, nhân cách lớn. Bài thơ vừa có màu sắc cổ điển (đề tài: vọng nguyệt và những thi liệu cổ: rượu, hoa, trăng; cấu trúc đăng đối, hình ảnh chủ thể trữ tình: ung dung, giao cảm đặc biệt với thiên nhiên), vừa mang tinh thần thời đại (hồn thơ lạc quan, thể hiện tinh thần thép),… | Tìm những nét giống nhau về nội dung và hình thức nghệ thuật của hai bài Ngắm trăng và Tức cảnh Pắc Bó (Hồ Chí Minh) | 562 | |
Tình cảnh bi thảm, bế tắc của người phụ nữ thời xưa – Bình giảng văn 7
Hướng dẫn
Trong kho tàng văn hoá truyền thống Việt Nam, chèo là một loại hình quan trọng Và độc đáo. Chèo tổng hợp trong nó cả văn học, vũ đạo, hội hoạ, ca nhạc, diễn xướng,… dân gian. Trong kịch, mục sân khấu chèo, Quan Âm Thị Kính là vở diễn nổi tiếng, được phổ biến rộng rãi trên mọi miền Tổ quốc, được nhiều nước trên thế giới ca ngợi. Vở diễn này tiêu biểu cho sàn khấu chèo về: tích truyện, kịch tính, nhân vật, các làn điệu dân ca, các điệu dân vũ,… Trong Quan Âm Thị Kính, đoạn Nỗi oan hại chồng giúp chúng ta hiểu những nét đặc sắc của cả tác phẩm, nhất là về mặt kịch bản văn học. Nỗi oan hại chồng là bi kịch đầu tiên của cuộc đời Thị Kính – nhân vật chính của vở chèo. Đoạn trích diễn tả cụ thể, sinh động tình cảnh bi thảm, bế tắc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa.
Đoạn trích Nỗi oan hại chồng có năm nhân vật: Thiện Sĩ, Thị Kính, Sùng ông, Sùng bà, Mãng ông. Các nhân vật đều tham gia vào quá trình tạo nên xung đột kịch. Câu chuyện được kể theo ba tình huống (còn gọi là ba cảnh) chính:
1.Vợ chồng Thiện Sĩ và Thị Kính chung hưởng hạnh phúc gia đình. Chồng đọc sách, vợ khâu vá, chăm sóc chồng (Từ đầu đến chi tiết Thiện Sĩ choàng dậy, hốt hoảng nắm lấy dao kêu lên).
2.Sùng bà vu oan giáng hoạ cho Thị Kính, đánh đuổi nàng dâu. Thị Kính kêu oan, nhưng không được. Xung đột nổ ra, mỗi lúc một căng thẳng, không thể dung hoà (Từ chi tiết Thiện Sĩ kêu “Hỡi cha! Hỡi mẹ!…” đến chi tiết Sùng bà dúi tay đẩy Thị Kính ngã, có tiếng Sùng ông nói từ ngoài cửa).
3.Đoạn còn lại: Cha con Thị Kính than thở về nỗi oan. Cha dắt con về. Thị Kính không về nhà, mà quyết định xuống tóc đi tu để “cầu Phật chứng minh” cho oan tình của mình. Xung đột kịch lên đỉnh điểm và cách giải quyết xung đột.
Đoạn trích vừa mang tính kịch (biến diễn các xung đột) vừa tự sự, kể chuyện. Tất cả các chi tiết, tình huống xoay quanh mâu thuẫn giữa hai gia đình, tiêu biểu cho hai tầng lớp, hai giai cấp giàu và nghèo trong xã hội xưa. Trong đó nổi bật và tập trung vào xung đột giữa hai nhân vật: Sùng bà và Thị Kính. Do đó, tìm hiểu và suy nghĩ về đoạn trích Nỗi oan hại chồng chúng ta có thể kết hợp xung đột kịch và những đặc điểm số phận, tính cách của hai nhân vật chính ấy.
Sùng bà đại diện cho tầng lớp địa chủ phong kiến, là một con người tàn nhẫn, thô bạo trong hành động ; ngoa ngoắt, hợm hĩnh, vu khống trong lời nói, ý nghĩ. Vừa nghe con trai kêu “thấy dao kìa kề cổ”, không cần hỏi han, tra xét cụ thể, Sùng bà đã buộc tội cho Thị Kính là “mày định giết con bà à”, rồi tiếp sau, dồn dập bao nhiêu lời cáo buộc, vu khống trắng trợn. Nào là “Mày trót say hoa đắm nguyệt”, nào là “Gái say trai lập chí giết chồng”. Chao ôi, toàn là những tội tày đình mà người mẹ chồng ấy đã suy đoán hồ đồ, để cố tình buộc tội con dâu, gieo xuống số phận Thị Kính một cái án, một nỗi oan thê thảm. Từ những ý nghĩ lạnh lùng, vô căn cứ đó, Sùng bà đã đối xử với Thị Kính bằng những cử chỉ, hành động rất tàn nhẫn, thô bạo. Mụ “dúi đầu Thị Kính xuống”, rồi “bắt Thị Kính ngửa mặt lên”. Không cho Thị Kính phân bua, giải thích, mụ lấp liếm vừa nói vừa hát bằng một giọng điệu cay độc, khinh ghét. Cuối cùng, mụ “dúi tay, đẩy Thị Kính ngã khuỵu xuống”, rồi bỏ vào nhà. Người mẹ chồng ấy đã đuổi con dâu một cách tàn nhẫn. Trong lời nói, điệu hát, Sùng bà liên tục đay nghiến, nhiếc mắng Thị Kính. Dường như mỗi lần mụ cất lời, Thị Kính lại thêm một tội. Đặc biệt là khi nói, Sùng bà luôn cố ý so sánh, đối chiếu để phân biệt đẳng cấp giữa hai gia đình:
– Mày là con nhà cua ốc.
– Nhà bà đây cao môn lệnh tộc,
– Tuồng bay mèo mả, gà đồng.
– Trứng rồng lại nở ra vồng.
– Liu điu lại nở ra dòng liu điu.
Các tác giả dân gian ngày xưa đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ thật sinh động. Lời nói, bài ca của người mẹ chồng ấy đã dụng nên một loạt hình ảnh tạo vật trái ngược nhau, tô đậm thêm sự đối lập, tính xung đột của câu chuyện. Lời lẽ của mụ Sùng thật phong phú, da dạng, nhưng đều tập trung ở một tư tưởng: sự phân biệt “cao – thấp”, “giàu nghèo”. Trong lời lẽ ấy vừa chứa đụng thói kiêu căng của tầng lớp của chủ phong kiến vừa bộc lộ quan hệ đối lập mẹ chồng, nàng dâu vốn là quan hệ căng thẳng trong xã hội xưa, những kẻ giàu cố thuộc tầng lớp địa chủ phong kiến luôn luôn khinh rẻ những người thuộc tầng lớp lao động, nghèo khó. Thị Kính tuy có đủ đức hạnh như lễ giáo phong kiến quy định nhưng vẫn không được Sùng bà chấp nhận bởi vì nàng không thuộc nguồn gốc “con nhà giống phượng, giống công”. Mâu thuẫn giữa Sùng bà (và cả gia đình) với Thị Kính (kể cả Mãng ông) tuy chỉ là mâu thuẫn trong hôn nhân, gia đình nhưng có ý nghĩa phản ánh mâu thuẫn giai cấp trong xã hội phong kiến. Nhân vật Sùng bà chỉ ra trò, xuất hiện trong một lớp kịch, một tình huống truyện nhung rất tiêu biểu cho một loại vai trong chèo cổ: vai mụ ác. Ở nhân vật này tập trung cao độ tính cách của kẻ hợm của, khoe dòng giống, tàn nhẫn, độc đoán, cả vú lấp miệng em. Lúc nào mụ Sùng cũng lấy mình làm chuẩn để tỏ rõ phép nhà. Mụ là kẻ tạo ra “luật lệ” trong gia đình, chỉ huy tất cả, bắt tất cả từ chồng, đến con trai và con dâu phải theo ý mình, phải nể sợ, tôn trọng lời nói và hành động của mình. Trong đoạn chèo Nỗi oan hụi chồng, nhân vật Sùng bà hiện lên thật sống, động, gây cho người đọc, người xem cảm xúc ghê sợ, khinh ghét, cần phải phê phán.
Đối lập với nhân vật Sùng bà là nhân vật Thị Kính. Thị Kính thuộc loại nhân vật nữ chính trong chèo. Nàng đại diện cho người phụ nữ lao động, những người dân bình thường, lương thiện. Cảnh ngộ của nàng thật thảm thương.
Năm lần Thị Kính kêu oan. Trong năm lần ấy thì bốn lần tiếng kêu oan hướng về mẹ chồng và chồng: “Giời ơi! Mẹ ơi, oan con lắm mẹ ơi”, “Oan cho con lắm mẹ ơi”… “Oan thiếp lắm chàng ơi”… “Mẹ xét tình cho con, oan con lắm mẹ ơi!”. Thị Kính kêu oan với mẹ chồng, nhưng vô ích. Đối với Sùng bà, nhũng lời ấy như đổ thêm dầu vào lửa, càng làm bùng lên ngọn lửa khinh ghét, càng nối dài thêm nhũng lời đay nghiên vô lí, tức tối. Thị Kính càng kêu oan, nỗi oan càng dày thêm. Còn với Thiện Sĩ thì..: đó là một người chồng đớn hèn, bạc nhược. Thiện Sĩ hoàn toàn bỏ mặc người vợ đã từng yêu thương, chăm chút gắn bó với mình, bỏ mặc nàng cho mẹ hành hạ. Trong cảnh ngộ thê thảm của Thị Kính, Thiện Sĩ là một người… thừa. Khi Thị Kính cầu cứu chồng “Oan thiếp lắm chàng ơi”, Thiện Sĩ vẫn im lặng như vô cảm, thật đáng trách. Xem chèo hoặc đọc kịch bản đến tình huống này, không ai không xúc động. Xúc động vì tức giận mẹ con Thiện Sĩ và xúc động vì xót thương Thị Kính. Nàng là người vợ hiền thảo, chăm chỉ và thương yêu chồng đến như thế mà bị hàm oan, bị hắt hủi. Chỉ đến lần cuối cùng, lần thứ năm, kêu oan với cha (Mãng ông), người đàn bà bất hạnh ấy mới nhận được sự cảm thông. Nhưng đó là sự cảm thông đau khổ và bất lực. Càng đến cuối, xung đột của lớp kịch, cảnh ngộ của Thị Kính càng thê thảm. Nàng bị đuổi ra khỏi nhà chồng. Trước khi ra khỏi nhà, nàng còn cố níu lại chút kỉ niệm hạnh phúc ngắn ngủi với chồng. Đi theo cha được vài bước, nàng quay vào nhìn từ cái kỉ sách, thúng khâu, rồi cầm lấy chiếc áo đang khâu dở bóp chặt trong tay, thở than một mình:
Bỗng ai làm chăn gối lẻ loi.
Những từ chỉ thời gian “bấy lâu” và “bỗng”, những hình ảnh tạo vật “sắt cầm tịnh hảo”, “chăn gối lẻ loi” đối lập với nhau, xung đột nhau cùng cất lên tiếng than thống thiết về sự tan vỡ hạnh phúc lứa đôi, dự cảm về một ngày mai đơn độc. Từ lời than, Thị Kính hờn trách:
Trách lòng ai nỡ phụ lòng
Đang tay nỡ bẻ phím đồng làm đôi…
Tuy là lời “trách ai” đấy, nhưng chỉ là những lời “tự bạch”, tự giãi bày, than thở mà thôi. Nói khác đi, câu hát cuối cùng đó của Thị Kính – nạn nhân trong vụ “án oan” này – chỉ có ý nghĩa nhấn mạnh thêm cảnh ngộ đau khổ của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa.
Trước cảnh ngộ đau khổ ấy, Thị Kính đã làm gì? Nếu là người phụ nữ khác, hẳn sẽ có suy nghĩ khác và ứng xử khác. Nhưng, Thị Kính lại buông xuôi, chỉ đành ngửa mặt than với trời, mong “Nhật nguyệt rạng soi – Thấu tình chăng nhẽ”. Sau đó, nàng tạm biệt gia đình, cha mẹ, xuống tóc, giả trai vào chùa đi tu. Hành động này của Thị Kính có mặt tích cực là ước muốn được sống nơi trong sạch để tỏ rõ người đoan chính, nhưng mặt tiêu cực là nàng đổ tại số phận và tìm cách giải thoát bằng sự khổ hạnh, tu tâm, nhẫn nhục, chịu đựng. Cả sau này, khi bị hàm oan trong vụ án hoang thai của Thị Mầu,
Kính Tâm – cuộc đời thứ hai của người đàn bà bất hạnh, Thị Kính – vẫn buông xuôi, nhẫn nhục đợi chờ “Nhật nguyệt rạng soi”. So với một vài nhân vật phụ nữ khác trong truyện cổ tích như nàng Tiên Dung (truyện Chử Đồng Tử), cô Tấm (truyện Tấm Cám), hoặc trong các vở chèo như Thị Phương (chèo Trương Viên), Thị Kính chưa có đủ bản lĩnh vượt trên hoàn cảnh, chưa có nghị lực cứng cỏi đứng lên chống lại những oan trái bất công trong xã hội bấy giờ. Nàng là người phụ nữ nêu tấm gương đoan chính, lương thiện, nhẫn nhục để tu tâm tích đức.
Tóm lại, vở chèo Quan Âm Thị Kính nói chung, đoạn trích Nỗi oan hại chồng nói riêng là vở diễn và trích đoạn chèo tiêu biểu của sán khấu chèo truyền thống, một loại hình văn hoá, văn học dân gian đặc sắc của Việt Nam. Vở chèo và trích đoạn này thể hiện được những phẩm chất tốt đẹp cùng nổi oan bi thảm, bê tắc của người phụ nữ vù những đối lập giai cấp thông qua xung đột hôn nhân, gia đình trong xã hội phong kiến ngày xưa…
Xem lại bài bình giảng một nét đẹp văn hóa của xứ Huế | Tình cảnh bi thảm, bế tắc của người phụ nữ thời xưa – Bình giảng văn 7 | 2,026 | |
Đề bài: Tình Mẫu Tử Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Của Nguyên Hồng
Bài làm
Nhà văn Nguyên Hồng tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh ngày 5/11/1918 tại thành phố Nam Định. Ông sinh trưởng trong một gia đình nghèo, mồ côi cha từ nhỏ, rồi theo mẹ ra Hải Phòng kiếm sống trong các xóm thợ nghèo. Hơn 20 năm cuối đời ông đã về ở xóm Cầu Đen, xã Quang Tiến, Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Nguyên Hồng là nhà văn thành danh khá sớm và suốt đời ông chỉ kiên trì với một quan niệm văn chương là phải đứng về phía những người lao động bình thường, nhưng đầy rủi ro và bất hạnh, mà văn giới thường gọi đấy là những con người nhỏ bé, dưới đáy xã hội. Một trong những đối tượng xuất hiện nhiều trong văn ông đó là phụ nữ và trẻ em. Viết về tình cảm thiêng liêng này, văn bản Trong lòng mẹ, một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyên Hồng, được mệnh danh là “bài ca bất hủ về tình mẫu tử”.
Truyện viết về một người đàn bà dũng cảm đối mặt với xã hội phong kiến thối nát với những lời đàm tiếu, sỉ nhục chỉ để được gặp và ở bên con mình. Một đứa trẻ mồ côi cha, xa mẹ và luôn phải sống trong cái cảnh lẻ loi, cô đơn giữa gia đình nhà nội cay nghiệt, độc ác. Qua hai nhân vật này, nhà văn Nguyên Hồng đã thể hiện vô cùng xúc động tình mẫu tử.
Tình mẫu tử thiêng liêng trong tác phẩm Trong lòng mẹ được xuất phát từ hai phía, đó là tình cảm của con dành cho mẹ và ngược lại là những yêu thương, quan tâm, chăm sóc của mẹ dành cho con. Thế nhưng, với tác phẩm này, nhà văn đặc biệt muốn nhấn mạnh tình cảm chân thành, ấm áp của một đứa trẻ dành cho người mẹ tội nghiệp của nó.
Nhà văn Nguyên Hồng đã từng trải qua một tuổi thơ đầy cay đắng và tủi nhục nên điều đó đã ám ảnh vào nhân vật chính: chú bé Hồng trong đoạn trích Trong lòng mẹ. Xã hội phong kiến xưa đã đày đoạ hai mẹ cọn chú bé, đẩy hai người vào tình cảnh trớ trêu: mẹ phải bỏ con mà đi tha phương cầu thực, để rồi chú bẹ trở thành tiêu điểm của những lời dị nghị, chê trách, mỉa mai, đay nghiến của mọi người. Điều khiến chú bé tiếp tục sống và chịu đựng chính là hình ảnh người mẹ hiền từ, cái tình mẫu tử thiêng liêng mà chú khao khát có được. Chú bé Hồng muốn tiếp tục sống để bảo vệ mẹ khỏi những người đố kị và ghen ghét của cái xã hội phong kiến thối nát đầy hủ tục.
Trong đoạn đối thoại với bà cô, Hồng hiện lên là một chú bé dễ xúc động, mau nước mắt và giàu tình cảm. Trong lòng chú, hình ảnh người mẹ đáng thương và tình thương mẹ luôn thường trực. Khi bà cô hỏi “Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hoá chơi với mẹ mày không?”. Thoạt tiên, cậu toan trả lời có vì muốn được gặp lại mẹ, vì nghĩ đến tình cảnh đáng thương của mình. Nhưng chợt nhận ra những ý nghĩ cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười “rất kịch” của bà cô, nhận ra những ý nghĩ thâm độc, nham hiểm của “cô tôi”: “gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi…”. Thế nên cậu đã cười và từ chối vì “đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến”. Qua đây, chứng tỏ, dù bà cô hay họ hàng độc ác có gieo rắc vào đầu cậu bé ngây thơ, non nớt những ý nghĩ xấu về mẹ cậu đi chăng nữa, thì trong lòng Hồng, hình ảnh mẹ luôn luôn đẹp đẽ.
Tiếp tục câu chuyện đà đưa của mình, bà cô tiếp tục với một giọng ngọt ngào, cười cợt, xúc phạm mẹ Hồng: “Mợ mày phát tài lắm”, “Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa và thăm em bé chứ”. Thấy mẹ bị xúc phạm, Hồng không thể kìm nén nổi tủi cực đang dâng lên trong lòng và trào ra nơi khóe mắt. Nước mắt của chú “ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ”. Hồng rơi vào trạng thái vừa uất nghẹn vừa căm phẫn khiến chú phải “cười dài trong tiếng khóc”. Cậu biết rằng, khi ngân dài hai chữ em bé, là bà cô độc ác đang cố tình gieo rắc vào lòng cậu bé hình ảnh của một người phụ nữ góa chồng nhưng có con với người khác. Nỗi đau dường như càng cố nén thì lại càng dâng trào lên mãnh liệt, biến thành lòng căm ghét cao độ: “Giá những cổ tục đầy đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát”. Từ lòng căm tức, cậu đã muốn hành động, muốn đứng lên đập tan mọi cổ tục của cái xã hội phong kiến thối nát đang đầy đọa mẹ cô, khiến mẹ phải tha hương cầu thực, khiến mẹ con cậu phải xa nhau. Điều này, cho chúng ta thấy, Hồng rất muốn bảo vệ mẹ khỏi những thị phi của xã hội. Mặc dù là một đứa trẻ, nhưng quả thật, cậu là một cậu bé tinh tế, thông minh và rất hiểu chuyện.
Hồng đau đớn và tủi cực biết bao nhiêu trong cuộc đối thoại với bà cô thì lại sung sướng và hạnh phúc bấy nhiêu khi gặp lại người mẹ tội nghiệp của mình.
Một chiều tan học về, cậu thấy có bóng người ngồi trên xe kéo. Một cảm giác rất lạ rằng đó chính là mẹ, cậu chạy với theo và gọi: “Mợ ơi! Mợ ơi!”. Hình ảnh so sánh “khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc” làm ta nhận thấy được sự yêu thương mãnh liệt của chú bé sau những ngày tháng tủi cực vừa qua. cảnh hai mẹ con đoàn tụ thật xúc động. Đối với Hồng, chú thấy mẹ đẹp lạ thường, phải chăng do lâu ngày xa cách mà cảm giác vui mừng đoàn tụ khiến em nhìn mẹ mình yêu thương hơn, đẹp đẽ hơn. Hơi quần áo, hơi thở và đặc biệt là hơi ấm từ lòng mẹ làm Hồng thấy hạnh phúc và sung sướng biết bao, như quên hết tất cả rắp tâm bẩn thỉu của người cô.
Tình mẫu tử thì dường như ai cũng có nhưng trong hoàn cảnh của bé Hồng ở đoạn trích Trong lòng mẹ, ta mới thấy nó thật đáng trân trọng và quý giá biết bao. Sẽ là chưa muộn cho cả bạn và tôi ngay bây giờ sà vào lòng người mẹ yêu quý để cũng như bé Hồng, cảm thấy được tình yêu thương rạo rực khắp người và làm tất cả để bảo vệ tình cảm thiêng liêng đó. | Tình Mẫu Tử Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Của Nguyên Hồng | 1,258 | |
Tình người cao hơn của cải – Bình giảng văn 7
Hướng dẫn
Tình bạn là một trong số đề tài có truyền thống lâu đời trong lịch sử văn học Việt Nam. Bạn đến chơi nhà là một bài thơ thuộc loại hay nhất trong đề tài tình bạn và cũng thuộc loại hay nhất trong thơ Nguyễn Khuyến nói riêng, thơ Nôm Đường luật nói chung.
Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cá, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta.
Cũng giống như Bà Huyện Thanh Quan viết Qua Đèo Ngang, Nguyễn Khuyến sáng tác bài thơ Bạn đến chơi nhà theo thể thất ngôn bát cú Đường luật với sự phối hợp thanh điệu, vần điệu, bố cục, đối xứng, số tiếng, số câu rất hài hoà. Đây cũng là bài thơ viết bằng chữ Nôm, dùng từ ngũ thuần Việt giản dị, dân dã mà rất đỗi trong sáng, thanh cao. Trong và thanh hơn cả là một tấm lòng chân thành đối với bạn. Nhà thơ như muốn nói với bạn và với tất cả chúng ta rằng: Tình bạn, tình người cao hơn của cải.
Câu thơ mở đầu như một tiếng reo vui:
Đã bấy lảu nay, bác tới nhà
Cụm từ bấy lâu nay chứng tỏ người bạn của nhà thơ từ lâu rồi chưa đến thăm nhà thơ. Và cũng chứng tỏ việc hôm nay bác tới nhà thật là quý báu, rất đáng mừng, đáng vui, đáng… mở tiệc đãi bạn để thoả lòng mong nhớ, thoả tình nghĩa cố nhân. Lời thơ tự nhiên, như lời nói thường mà vẫn toát lên tình cảm mừng vui chân thành của một người bạn.
Do đó, đến câu kết của bài thơ, âm điệu và ngôn từ bỗng thay đổi, thân mật và ngọt ngào:
Bác đến chơi đây, ta với ta!
Bao nhiêu nghèo thiếu, bao nhiêu lúng túng, ngượng ngùng bỗng tan đi hết, để cho tình bạn, tình người thăng hoa. Mọi của cải vật chất đều không còn ý nghĩa gì nữa. “Bác đến chơi đây, ta với ta” là đủ, là điều mà tôi cần nhất, tôi khái khao, trông chờ nhất. Cụm từ ta với ta trong bài thơ này của Nguyễn Khuyến gợi nhớ đến cụm từ ta với ta trong bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, về ngôn ngữ, hai cụm từ đó hoàn toàn giống nhau. Nhưng về ý nghĩa thì chúng rất khác nhau. Đại từ ta trong thơ Thanh Quan dùng để nói chính nhà thơ, nói về một “cái tôi” riêng lẻ thầm kín buồn lặng, cô đơn. Hai chữ ta nhưng chỉ là một nghĩa. Còn ta trong thơ Nguyễn Khuyến là nói về hai người, nhà thơ và bạn. Nói về hai người bằng một âm của một đại từ nhân xưng như thế, cụ Yên Đổ đã ca ngợi một tình bạn gắn bó, thân mật tưởng không thể tách rời, chia đôi. Thêm nữa, cụm từ ta với ta gắn với mấy tiếng trước Bác đến chơi đây và đặt sau những dòng thơ kể sự thiếu thốn vật chất bỗng như một tiếng cười xoà bật lên, thật là vui vẻ. Rõ ràng, tình, bạn, tình người là quý nhất, cao hơn của cải, vật chất. Kết cấu thơ và cách dùng từ, chơi chữ của nhà thơ đất Hà Nam thật tài hoa.
Xem lại bình giảng bài Một vùng non nước hùng vĩ, hoang sơ | Tình người cao hơn của cải – Bình giảng văn 7 | 610 | |
Tình phụ tử cao đẹp trong bài thơ Nói Với Con
Hướng dẫn
Tình phụ tử cao đẹp trong bài thơ Nói Với Con
BÀI LÀM
Tình phụ tử là một tình cảm vô cùng thiêng liêng cao đẹp. Đó là đề tài lớn trong thi ca nhạc họa. Rất nhiều bài thơ ca dao tục ngữ nói về tình phụ tử góp vào đề tài ấy Y Phương có bài ” Nói với Con”. Bài thơ chứa đựng tình phụ tử thiêng liêng sâu sắc, muốn gửi gắm cho con những lời khuyên chân thành và bổ ích.
Bài thơ là lời Người cha miến núi nói với con. Lời đầu tiên cha nói với con là lời gợi nhắc về cõi nguồn sinh dưỡng thiêng liêng. Từng bước đi, tiếng nói, tiếng cười của con đều được cha mẹ, nâng niu chăm chút, mừng vui đón nhận. Hình ảnh thơ ở đây thật cụ thể gợi cảm mà giàu tính khái quát cụ thể.
“Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười””
Những câu thơ tiếp theo gởi về cội nguồn rộng lớn đã nuôi dưỡng con đó là quê hương
” Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng”
“Người đồng mình” cách nói thật ấm áp giản dị chỉ người vùng mình, miền mình những người sống chung miền đất quê hương cùng dân tộc. Những câu thơ mở đầu bằng “người đồng mình” rất đặc sắc chính những người đồng mình tạo nên chiều sâu văn hóa, lối sống. Con người nơi đây yêu lao động, yêu cái đẹp. Biết làm đẹp cho cuộc sống, còn rừng núi quê hương thì thật thơ mộng nghĩa tình, cả con đường cũng vậy. Thiên nhiên đã ban tặng cho con người cái đẹp, chở che, nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn lối sống. Cách nói giản dị mộc mạc mà gợi liên tưởng sâu xa.
“Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con”
Người cha đã truyền cho con niềm tự hào và vẻ đẹp và sức mạnh của truyền thống quê hương, phẩm chất con người của cha anh, dân tộc. Điều cha tâm tình với con vượt lên tình cảm gia đình trở lên thành lời trao gửi thiêng liêng giữa các thế hệ.
Nghệ thuật của bài thơ cũng vô cùng đặc sắc, thể thơ tự do gần với lời ru. Lời thơ chân thành mộc mạc giản dị. Tóm lại bài thơ đặc sắc cả về nội dung và nghệ thuật.
Bài thơ “Nói với Con” của Y Phương tràn đầy tình phụ tử nhất là tình cha dành cho đứa con bé bỏng của mình bằng cả tấm lòng cao cả, sâu lắng công ơn của người cha trong bài: ” Nói với Con” cũng giống như những câu ca dao xưa: “Công cha như núi ngất trời – Nghĩa mẹ như nước ở ngoài Biển Đông” | Tình phụ tử cao đẹp trong bài thơ Nói Với Con | 503 | |
Tình thương là hạnh phúc của con người. Hãy trình bày suy nghĩ về nhận định trên
Hướng dẫn
Hạnh phúc chỉ có thể được tạo ra bởi tình yêu thương lẫn nhau
Mở bài:
Đức Phật, bậc đạo sư vĩ đại, đã lấy tình thương làm nguyên lí của đạo. Chúa Giesu, vị thánh của người Do Thái, cũng lấy tình thương làm nguồn cội của mọi hành động. Kể cả Khổng Tử, bậc vạn thế sư biểu, cũng lấy tình thương làm tuyên chỉ trong thiên sách đức trị xã hội.
Các vị vì tình yêu thương con người mà đã không quản ngại gian khổ, hiểm nguy để tìm ra chân lí sống đẹp cho loài người. Bởi các vị biết rằng vượt lên trên tất cả, chỉ có tình thương yêu mới tạo nên hạnh phúc ở con người. Tình thương là hạnh phúc của con người.
Thân bài:
Tình yêu thương là gì? Hạnh phúc là gì?
Tình thương là lòng yêu thương, sự gắn bó, đoàn kết, chia sẻ của con người với con người hoặc với các đối tượng khác (thiên nhiên, cây cỏ, loài vật, quê hương, đất nước…). Tình thương đích thực chỉ xuất phát từ tâm hồn chân thật và không vụ lợi.
Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người. Nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí. Có thể hiểu hạnh phúc là trạng thái hoàn toàn mãn nguyện trong tâm hồn về mọi phương diện trong cuộc sống.
Vì sao tình thương là hạnh phúc của con người?
Sống biết yêu thương là lối sống đẹp, đúng đắn. Sống đẹp đem lại hạnh phúc cho con người. Tình thương làm cho mối quan hệ của con người tốt đẹp hơn. Cuôc sống sẽ trở nên thân thiện, ấm áp, vui vẻ, hạnh phúc hơn. Đó cũng là cơ sở đầu tiên khẳng định nhân cách con người.
Tình thương không phân biệt màu da, ngôn ngữ, khoảng cách giàu nghèo. Tình yêu thương cingx không có giới hạn nào. Nó làm cho mọi người xích lại gần nhau hơn. Nó kết nối con người lại với nhau.
Sống biết yêu thương và nên chia sẻ, đồng cảm với hoàn cảnh của người khác. Đây cũng là xu thế sống hòa nhập, hợp tác của thời đại. Những hoạt động vì tình thương luôn được đồng tình và ủng hộ như Chương trình vì người nghèo, Ngôi nhà mơ ước, Viết tiếp ước mơ của Thúy, Mái ấm tình thương, Xây dựng nhà tình nghĩa, Học bổng vì ngày mai…
Tại một khu phố diễn ra một phiên tòa xét xử đặc biệt. Bị cáo là một người phụ nữ gần 60 tuổi. Bà ấy bị kết tội vì đã ăn cắp một chiếc bánh mì nướng. Vị thẩm phán là ngài thị trưởng Fiorello Laguardia. Ngài thị trưởng bằng sự thấu hiểu và tấm lòng thương người đã xử bà lão vô tội. Sau phút sửng sốt vì cách xử kì lạ của vị thị trưởng, mọi người nhận rá ý nghĩa của nó. Họ đã rất đồng tình với cách ứng xử đầy bao dung và vị tha ấy.
Ông còn kêu gọi mọi người có mặt trong phiên tòa hôm ấy cùng góp tiền ủng hộ bà vượt qua nghịch cảnh đói khổ. Chính ông đã thức tỉnh sự lãnh đạm, vô tình của mọi người. Không chỉ những người có mặt tại phiên tòa mà là cả nhân dân nước Mỹ không. Những con người vì khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế mà đánh mất đi tình người.
Tình thương là động lực thúc đẩy ta hoàn thành công việc tốt hơn, có hiệu quả cao hơn. Nó cũng là cội nguồn của sức sáng tạo để con người làm nên sự nghiệp lớn. Nhờ tình thương, mọi người sẽ giúp nhau, đoàn kết tạo nên sức mạnh vật chất. Con người biết động viên nhau tạo nên sức mạnh tinh thần để vượt qua gian khố thử thách. Nhờ có tình thương, sự trợ giúp mà những tai họa do con người hay thiên nhiên gây ra mau được khắc phục. Những con người bất hạnh được sống vui hơn. Những con người có ước mơ, hoài bão lớn nhưng không có điều kiện đã được thực hiện.
Tình thương có thế xoa dịu được nỗi đau con người. Nó xóa tan lòng hận thù và cảm hóa được những con người lầm lỗi. Sống vì tình thương sẽ nhận được sự nể trọng của mọi người.
Sống vì tình thương ta cần phải làm gì?
Thương yêu vốn là thiên tính vốn có của con người. Nhưng ta phải luyện tập rất nhiều mới có thể có được. Bằng tấm lòng bao dung chuyển hóa sự ích kỷ hẹp hòi thì tình thương mới chân thật được. Bởi thế, ngay từ lúc mới sinh ra, con người luôn được quan tâm, bồi dưỡng và phát triển tình thương trong tâm thể mình.
Sống có tình thương trước hết là phải biết sống chân thật. Tấm lòng thành thật thể hiện mong muốn được gắn kết mình với mọi người, với thế giới xung quanh. Tất cả tình yêu thương cùng hướng về hạnh phúc đích thực. Chỉ có sự chân thật mới làm nảy sinh niềm tin tưởng lẫn nhau. Và chỉ có tình thương con người mới làm bùng phát khát vọng cống hiến sức mình của mỗi các nhân vì lợi ích của cộng đồng. Không có tấm lòng thì kẻ giàu có chỉ là một tên ăn mày đê tiện
Sống vì tình thương là phải biết hướng đến cộng đồng và lợi ích của người khác. Sống vì người khác chứ không phải bản thân mình. Bởi mỗi giá trị ta đem tới cho người khác phải hoàn toàn vì quyền lợi của họ. Không được xen ké quyền lợi của ta vào, dù chỉ cần họ thấy được tấm lòng của mình. Muốn người khác thấy được tấm lòng của ta, thì cũng không ngoài mục đích khiến họ thương yêu thêm hoặc đánh giá cao về ta mà thôi. Dù biết rằng trái tim ta chưa quảng đại để có thể thương họ mà không cần thương lại, nhưng cũng đừng vì thế mà ta cứ phải kèm theo điều kiện trong mỗi lần hiến tặng. Đó không còn là tình thương nữa.
Tự nhìn lại trong thời gian qua bản thân đã sống như thế nào trong quan hệ với mọi người khác để sống đẹp hơn nữa. Coi ý kiến trên là phương châm sống của bản thân. Biết nói những lời yêu thương, luôn nở nụ cười thân thiện với mọi người, sẵn sàng dang tay giúp đỡ người khác.
Phê phán lối sống thiếu tình thương:
Lối sống thiếu tình thương, ích kỉ, vô cảm trước đồng loại sẽ bị mọi người xem thường. Họ sẽ xa lánh, dẫn đến sống cô đơn, dễ bi quan, thiếu sức mạnh tinh thần để vươn lên trong cuộc sống. Nhiều người sống vô cảm, cuộc sống sẽ lạnh lùng, thiếu thân thiện. Chất lượng sống sẽ giảm sút. Truyền thống đạo đức của dân tộc sẽ bị bào mòn.
Phê phán những kẻ lợi dụng tình thương để thực hiện ý đồ đen tối, để tự đánh bóng bản thân mình. Tình yêu thương là tình cảm cao quý đáng được trân trọng. Những kẻ lợi dụng niềm tin, lòng yêu thương của con người thật đáng chê trách. Và những ai xúc phạm vài tình yêu thương con người sẽ không được nhận tình yêu thương từ người khác.
Kết bài:
Trong bất kì thời đại nào, hay xã hội nào lòng yêu thương luôn luôn cần thiết. Nó giúp con người được gắn kết với nhau một cách bền vững. Tình yêu thương giúp ta được hạnh phúc và tìm được giá trị sống đích thực trong cuộc sống này. Sống thiếu đi tình thương chẳng khác nào ta tự tách mình ra khỏi cuộc sống. Tự ta cô lập mình trong một thế giới khô cằn. Sẽ không bao giờ ta tìm thấy được hạnh phúc đích thực của riêng mình. Tình thườn là hạnh phúc của con người
Có thể bạn đang tìm kiếm điều này:
Văn học và tình thương: Cái cốt lõi của văn học là lòng nhân ái” (Rasul Gamzatop). | Tình thương là hạnh phúc của con người. Hãy trình bày suy nghĩ về nhận định trên | 1,421 | |
Tình yêu càng thuần túy càng hạnh phúc
Hướng dẫn
Tình yêu càng thuần túy càng hạnh phúc
Bài làm
Giống như hạt sương trong lành mát dịu, tình yêu cũng mỏng manh và đẹp tới lạ kì. Những người chưa bao giờ nếm trải mùi vị của tình yêu luôn cảm thấy muốn đắm mình vào đó, ngược lại cũng có những người vì tình yêu mà bản thân bị tổn thương một cách sâu sắc. COn người là thế luôn luôn có khiếm khuyết và sai lầm, cho dù yêu thương hay là gì đi chăng nữa, luôn nghĩ một cách máy móc phức tạp. Vậy tình yêu là gì, khiến cho con người ta nhạy cảm tới vậy, tình yêu thì hãy xin giữ trọn chữ yêu, thuần khiết không gợn đục của lòng ích kỉ suy tính, có như thế mới mang tới cho bản thân những xúc cảm không thể nào ngọt ngào hơn được nữa.
Trên đời này, thời gian là hữu hạn chỉ có tình yêu thương mới là vô hạn. COn người luôn nghĩ ngược lại tình yêu là hữu hạn nên cho cũng ít đi, cũng ích kỉ hơn buồn phiền hơn, làm cho con người yêu thương ta cũng nên du mộng mà chán chường với đày ải nhân gian. Thời gian là trăm năm, dài chỉ có đầu gang tấc, một chốc đã hết gần nửa cuộc đời, ấy vậy mà tơi cuối đời đôi khi con người ta lại rung động lần nữa. Chúng ta có quyền lựa chọn những người mang tới cho mình hạnh phúc, không muốn người mang đến cho mình sóng gió bất hạnh, vậy mà mỗi người một việc ta gặp lại giống như định mệnh. Nhưng đừng bao giờ đổ mặc và phó thác cho số phận.
Chúng ta, vẫn như may mắn gặp nhiều người giống như mặt trời mỗi sáng lại mọc và tối thì lặn, con người tìm với nhau theo một chữ duyên. Có những người đi ngang đơi ta, chỉ gặp được 1 phút,có người lại ở bên ta một giờ, có người lại một năm nhưng có người lại cả đời. Biết bao nhiêu sóng gió gian truân ta mới biết như thế nào là gặp đúng người là chọn đúng người. CHúng ta không có quyền bắt người khác phải phục tùng mình tới như thế nào chỉ có cách làm cho người đó yêu mình tới như thế nào.
Tình cảm là thứ nên thuần khiết, không chút vụ lợi hay vị kỉ mà suy đoán. Chưa có một cuộc tình hay một cuộc hôn nhân nào đẹp theo kiểu về nhà rồi bén duyên. Cảm giác hạnh phúc thực sự được mang đến khi con người rung động và thực sự mong muốn vui đắp cho cuộc đời của mình của cả hai người. Công lý không thuộc về kẻ mạnh mà công lý thuộc về những người biết nắm giữ chìa khóa cảm xúc của mình. Chính vì vậy người ta mới có câu tình yêu càng thuần túy con người mới càng cảm nhận được hạnh phúc.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến | Tình yêu càng thuần túy càng hạnh phúc | 523 | |
Tình yêu quê hương đất nước của Ông Hai trong truyện ngắn Làng
Hướng dẫn
Tình yêu quê hương đất nước của Ông Hai trong truyện ngắn Làng
Bài làm
Nhà văn Nam Cao, tác giả của cuốn” Đời Thừa” từng trăn trở” Văn chương không cần những người thơ khéo tay làm theo vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, tìm tòi, khỏi những nguồn chưa ai khỏi và nói những gì chưa ai có” Nếu lấy nhận định ấy làm thước đo thi tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân hoàn toàn xứng đáng là một tác phẩm văn chương chân chính với hình tượng nhân vật ông nông dân thời kỳ kháng chiến chống pháp hoàn toàn mới lạ. Đọc Làng, chúng ta ấn tượng bởi tình yêu quê hương, đất nước của nhân vật ông Hai.
Làng là truyện ngắn của Kim Lân, một cái tên không hề xa lạ trong làng văn học Việt Nam thời kỳ đầu. Trích đoạn nói riêng và tác phẩm nói chung được viết năm 1948 trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Đoạn trích ca ngợi tình yêu làng, yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân qua hai tình huống chính:khi ông hai nghe tin làng theo giặc và khi ông hai nghe tin cải chính. Tư tưởng chủ đề của tác phẩm được thể hiện rõ ràng qua hình tượng nhân vật ông Hai, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Qua đoạn trích, tình yêu quê hương, đất nước của nhân vật ông hai được bộc lộ rõ ràng, gây âm vang trong lòng người đọc.
Trước hết, tình yêu quê hương, đất nước của nhân vật ông hai được thể hiện trước khi ông nghe tin dữ. Ông Hai là người nông dân ở làng chợ dầu. Nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh nên phải tản cư đi nơi khác. Trong lòng ông rất muốn ở lại làng chiến đấu cùng anh em du kích nhưng vì hoàn cảnh neo người, lại được an ủi “ Tản cư cũng là kháng chiến nên ông đành lên vùng đất thắng để tản cư. Ở đó ông hai không lúc nào không nhớ về làng. Ông khoe về làng với bác thứ đến mức nhàn tai cốt chỉ để vơi đi nỗi nhớ làng. Ông khoe về kháng chiến của làng, buổi tập quân sự, sự sầm uất của làng… Trong lời kể hiện hữu tình yêu làng. Là nét tâm lý thường gặp ông hai không chỉ thế, ông còn hay ra phòng thông tin nghe ngóng tin tức, độc lỏm bao nhiêu tin thắng trận “ Lòng ông lão cứ múa cả lên, Vui quá!” Đây chính là nét mới của người nông dân sau cách mạng được phản ánh trong văn học, bày tỏ tình yêu nước yêu làng của ông.
Khi về đến nhà, tình cảm ấy được nổi bật. Ông khóc thương lũ con là người làng Việt gian. Những câu nói của mấy người tản cư vẫn vang vẳng trọng ông “ Cái giống việt gina bán nước phải cho mỗi đứa một nhất, ông chửi rửa:” Chúng may ăn miếng cơm, miếng cháo gì vào mồm mà để làm giống việt igna bán nước đã nhục nhã thế này. Ngơ ngơ, ông liền điểm từng người những vẫn kiên quyết. Không có lửa làm sao có khói “ Câu hỏi tu từ, độc thoại nọi tâm nhấn mạnh tâm trạng nặng nề, tủi khổ của ông Hai.
Khi nói chuyện với vợ tình cảm ấy tiếp tục hòa quyện, đấu tranh. Cuộc hội thoại đặb biệt chỉ có ba lượt trao và hai lượt trả. Ông hai trửa lời gì, gắt lên, biết rồi. nhấn mạnh tâm trạng nặng nề, không muốn nói chuyện của ông. Ông Hai sợ mụ chủ nhà nghe thấy. Tiếng gì thế? “ Tiếng mụ chủ” “ Mụ làm cái gì mà ồn ào thế? “ Bao câu hỏi tu từ nhán mạnh tâm lý hỗn loạn của ông Hai nghệ thuật độc thoại nội tâm được vận dụng triệt để.
Chính tình yêu nước chiến thắng và hòa quyện cùng tình yêu làng được thăng hoa, nở hoa nơi trang giấy khi bà chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi. Khi bà hai ra chợ gặp mụ chủ. Mụ có ý đuổi khéo gia đình ông đi vì người làng không chứa việt gian. Ông Hai từ lo lắng, tửi hổ chuyển sang sợ hãi, thoảng thốt. Ông lo cho gia đình mình rồi sẽ ở đâu, lấy gì làm kế sênh nhai, còn bao nhiêu người làng nữa.Câu hỏi tu từ như những cơn sóng lòng dồn tới tấp kết ngữ độc thoại nổi bật cuộc đời đấu tranh nội tâm. Rồi ông chợt nghĩ “ Hay là quay về làng” Bảo ý nghĩ đen tối chợi hiện ra. Ông gặt phắt đi” Làng thì yêu thật nhưng làng theo tây mất rồi thì phải thù” Đây chính là câu nói bầy tỏ rõ quan điểm của ông hai” Tình yêu nước chiến thắng, thiêng liêng bao trùm bao tình cảm khác. Bắt buộc tình yêu phải hi sinh cho nhỏ. Đây chính là câu nói của I Ri a E ren bua “ Tình yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên tình yêu tổ quốc” Câu nói chính là kết itnhf của hai tình cảm đó.
Hơn nữa, tình yêu làng, đất nước trong lúc trò chuyện với cụ Húc cũng thể hiện phần nào. Lời đối thoại như độc thoại, ông nói với ông như tự giặc bầy lòng mình vì cụ húc ngay thơ giãi bày làng con ở đâu, nhà con ở làng chợ dầu”… Chính những câu nói ngây thơ của cu út đã nắm chặt lấy trái tim của ông Hai. Ông muốn con ghi nhơ rõ nguồn gốc của mình: Làng chợ dầu nhưng hiện tại nó không xứng đáng với tình cảm của ông Hai.Khiến tim người đọc đau nhói. Những câu đối thoại, của nhân vật. Qua tình huống đó đã bộc lộ tình yêu làng, yêu nước của ông Hai.
Có thể nói, để làm nổi bật tình yêu quê hương đất nước của nhân vật ông hai. Kim Lâm đã đạt thành công trên phương diện nội dung và nghệ thuật. Về nghệ thuật, đoạn trích kết hợp nhiều nhiều phương thức biểu đạt, tự sự, miêu tả…. Và tình huống truyện bất ngờ, gay cấn thử thách nhân vật. Ngoài ra, ngôi kể thứ ba giúp cho mạnh văn linh hoạt, bao quát nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật đặc sắc qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm và ngôn ngữ đối thoại. Gấp lại trang truyện Làng tác phẩm neo đậu trong lòng ta những vang âm về tình yêu quê hương đất nước. ta thây được ngòi bút tiến bộ của nhà văn kim liên phát hiện ra những nét mới của người nông dân lấy cảm hứng đó mà từ ngữ nở hoa nơi trang giấy. | Tình yêu quê hương đất nước của Ông Hai trong truyện ngắn Làng | 1,186 | |
Đề bài: Tình Yêu Thiên Nhiên Của Bác Trong Bài Ngắm Trăng (Vọng Nguyệt)
Bài làm
Trăng vốn là người bạn tâm tình, là nguồn cảm hứng dạt dào, bất tận của thi sĩ muôn đời. Trong thơ đông tây kim cổ đã có biết bao nhiêu bài thơ hay viết về trăng và để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Một trong những tác giả viết nhiều về trăng là Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời cách mạng gian truân và vẻ vang của mình, Bác luôn coi trăng là người bạn tri ân, tri kỉ. Bài thơ Ngắm Trăng – Vọng nguyệt là một trong những bài thơ đặc sắc của Người được lấy nguồn cảm hứng từ trăng.
“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.”
Thật vậy, một trong những thú vui tao nhã của giới văn nhân, tài tử xưa là uống rượu, đánh cờ, xem hoa nở, ngắm trăng bên cạnh bạn hiền. Trăng chỉ xuất hiện ban đêm, khi mọi bận rộn mưu sinh thường nhật được tạm nghỉ ngơi, con người có chút phút giây thảnh thơi cho riêng mình. Con người thường ngắm trăng lúc nhàn nhã, thảnh thơi, tâm hồn không quá lo lắng và không quá đau khổ. Vậy mà, Hồ Chí Minh lại ngắm trăng trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, có một không hai: Tháng 8 – 1942, Bác từ Pác Bó bí mật sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam. Khi đến thị trấn Túc Vinh thì người bị chính quyền địa phương bắt giữ, rồi bị giải tới giải lui gần 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đày đọa cực khổ hơn một năm trời. Trong những ngày đó Người đã viết tập thơ Nhật kí trong tù bằng thơ chữ Hán, để ghi lại những ngày gian khổ đó. Bài thơ Ngắm Trăng – Vọng nguyệt nằm trong tập Nhật kí trong tù. Bài thơ cho chúng ta biết Bác Hồ ngắm trăng, thưởng trăng trong hoàn cảnh bị tù đày gian khổ trong nhà lao Tưởng Giới Thạch. Trong bốn bức tường của phòng giam với những xiềng xích đớn đau, Bác Hồ vẫn ung dung ngắm trăng:
Đối thử lương tiêu nại nhược hà? “
Trăng soi vào nhà tù làm cho khung cảnh trở nên đẹp đẽ, người tù trở nên bồi hồi, xao xuyến và phân vân vì cảnh đẹp thế, trăng đẹp thế thì “biết làm thế nào”. Lẽ dĩ nhiên, cuộc sống trong tù rất khổ cực và thiếu thốn, lấy đâu ra hoa, và rượu cho thi nhân thưởng trăng. Hai từ “vô” điệp lại khẳng định được sự thiếu thốn đó. Thế nhưng, trước cảnh đêm trăng sáng đang mời chào, thưởng thức người chiến sĩ cách mạng ao ước rằng một lần có rượu và có hoa để đối đãi với trăng thật đủ đầy. Đây chính là một nỗi băn khoăn, một ước ao đầy thơ mộng của thi nhân. Bởi đây là một người tù đặc biệt, một tâm hồn thanh cao, khát khao hòa hợp với thiên nhiên trời đất. Bởi chỉ có con người với tâm hồn nghệ sĩ và một tình yêu thiên nhiên bao la, bát ngát mới có được những niềm xúc động và khát khao hết sức lãng mạn ấy. Niềm băn khoăn, trăn trở của thi nhân cũng thể hiện một bản lĩnh vững vàng của con người bất chấp gian khổ của cuộc đời sống ngục tù để giữ nguyên vẹn một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, luôn biết yêu và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, của cuộc đời.
“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.”
Câu thơ tuyệt hay với nghệ thuật đăng đối. Hai đầu của hai câu là người và trăng (nhân – nguyệt, nguyệt – thi gia) và giữa hai câu, giữa người và trăng là các song sắt chắn giữa thật thô bạo. Người và trăng bị chắn bởi song sắt của nhà tù. Thế nhưng không hề bị cách biệt. Mà ngược lại, giao hòa, giao cảm với nhau. Tầm mắt con người vượt qua song sắt ghê tởm để thưởng thức vẻ đẹp của tự nhiên của đất trời, của tự do. Còn trăng, ánh trăng xuyên thấu nhà tù để nhìn lại, sẻ chia với người tù. Với biện pháp nhân hóa, nhà thơ đã khắc họa ánh trăng đâu còn là một vật vô tri, vô giác mà là như gương mặt của một con người, có tâm hồn, có niềm đồng cảm. Trăng trở thành người bạn tâm giao, tri ân, tri kỷ với thi nhân. Trăng nhìn người, người nhìn trăng. Phút giây đó thật đẹp biết bao. Dường như mọi đau thương, khổ đau, khó khăn của nhà tù Tưởng Giới Thạch đã không còn nữa. Thay vào đó là những giây phút lãng mạn, thăng hoa của người tù cách mạng, của trăng. Không còn tù ngục, không còn xiềng xích, chỉ còn “trăng sáng” và “nhà thơ”: tri kỉ. | Tình Yêu Thiên Nhiên Của Bác Trong Bài Ngắm Trăng (Vọng Nguyệt) | 876 | |
Tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan của Bác qua 2 bài thơ ” Ngắm trăng” và ” Đi đường”
Hướng dẫn
Tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan của Bác qua 2 bài thơ ” Ngắm trăng” và ” Đi đường”
Bài làm
Đọc Nhật kí trong tù nhà thơ Hoàng Trung Thông có viết:
Con đọc trăm bài trăm ý đẹp
Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh
Vần thơ của bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”
Chất thép chất tình hòa quyện trong thơ Bác tạo nên nét đẹp rất giêng của người thi sĩ – Chiến sĩ cách mạng. Đặc biệt hai bài thơ ” Ngắm Trăng”, “Đi đường” trong nhật kí của bác thể hiện sâu sắc tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan của bác.
Chất thép chất tình là nội dung chủ yếu của tập thơ và biểu hiện cụ thể trong hai bài thơ này là tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên của bác.
Trước hết tình yêu thiên nhiên của bác được thể hiện xuyên suốt trong hai bài thơ.
Dù trong ngục tối bị đọa đày nhưng bác giường như quên đi thực tại của mình mà khao khát có rượu có hoa mà thưởng trăng cho trọn vẹn, đây là tình yêu thiên nhiên mãnh liệt vượt lên trên hoàn cảnh.
Trước cảnh đẹp của đêm trăng bác bối rối xốn xang không biết làm thế nào cho xứng với vẻ đẹp của trăng. Câu hỏi tu từ đã phản ánh tâm trạng rất nghệ sĩ của Bác.
“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt
Nguyệt tòng song khích khán thi gia”
Trăng luôn luôn là người bạn tri kỉ của bác tìm đến chia sẻ bầu bạn động viên an ủi Bác. Bằng nghệ nhật đối, nhân hóa bác đã bộc lộ tình yêu thiên nhiên tha thiết của mình. Sự hoán đổi vị trí Nhân – Minh Nguyệt ở câu 3 thành Nguyệt – Thi gia câu 4. Bác khẳng định không chỉ vẻ đẹp thiên nhiên cuốn hút con người mà con người cũng được nâng lên thành vẻ đẹp để chiêm ngưỡng thiên nhiên.
Bị giải hết nhà lao này đến nhà lao khác, trèo đèo, vượt suối, chân tay xiềng xích. Vậy mà người vấn ung dung tận hưởng, được chiêm ngưỡng cảnh đẹp thiên nhiên khi lên đến đỉnh núi cao.
” Trùng giao…
… miên gian” đó là phần thưởng tuyệt vời nhất cho người đi đường chèo hết từ lớp núi này đến lớp núi khác cả một không gian bao la bát ngát mở ra trước mắt. Tình yêu thiên nhiên là nét đẹp trong tâm hồn bác.
Hai bài thơ không chỉ bộc lộ tình yêu thiên nhiên của bác mà còn thể hiện sâu sắc tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng.
Kẻ thù chỉ có thể giam cầm thể xác của người còn tinh thần thì hoàn toàn tự do ung dung thanh thản chấn song sắt chắn giữa người tù và vầng trăng tri kỉ là hiện hữu của sự khắc nghiệt tù đầy vậy mà chỉ bằn chữ ” kháng” bác đã phá tan sự hiện hữu của ánh trăng ấy, người và trăng hoàn toàn đến với nhau. Đó là sự vượt ngục tinh thần của bác.
“Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Muốn lên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao”
Đặc biệt hơn nữa ta thấy tinh thần này được bộc lộ sâu sắc trong bài ” Đi Đường “. Bài thơ có hai tầng đĩa từ việc đi đường Bác tin tưởng con đường ấy gian khó chồng chất:
“Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan
Trùng san chi ngoại trùng san”
Các điệp ngữ nhấn mạnh sự khó khăn mà người chiến sĩ phải đối đầu đó cũng là trải nghiệm của người đi đường. Người chiến sĩ hi sinh cuộc đời cho dân cho nước nhưng bác một mực tin tưởng rằng khó khăn rồi sẽ lùi lại kết thúc nhường bước cho người chiến sĩ chạm đỉnh vinh quang thắng lợi niềm tin đúng là động lực bác vượt mọi khó khăn thử thách trước mắt tiếp tục bền bỉ trên con đường tranh đấu dân tộc.
Hai bài thơ đều viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, cô đọng hàm xúc lời ít ý nhiều. Tình yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan kết hợp hài hòa trong thơ bác nói chung và trong hai bài thơ nói riêng. Đó là cảm hứng chủ đạo của tập Nhật kí trong tù thể hiện vẻ đẹp tâm hồn ý chí nghị lực của bác đó cũng là biểu hiện cụ thể của chất thép chất tình chất thi sĩ và chiến sĩ. | Tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan của Bác qua 2 bài thơ ” Ngắm trăng” và ” Đi đường” | 786 | |
Tình yêu thương mãnh liệt của chú bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh được thể hiện như thế nào
Hướng dẫn
Tình yêu thương mãnh liệt của bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh của mình được thể hiện từ hai góc độ.
-Thứ nhất là phản ứng tâm lí của bé Hồng trước những lời gièm pha, xúc xiểm của bà cô và một vài người họ hàng khác. Câu chuyện mở đầu vào một thời điểm đặc biệt: sắp tới ngày giỗ đầu của bố Hồng, mà cho tới lúc đó, người mẹ – người không thể vắng mặt — do khốn khó, đã phải tha hương cầu thực để kiếm sống, vẫn chưa trở về và cũng chẳng có tin tức gì. Những thông tin “nghe người khác nói” qua “người ta bắn tin” được thể hiện trong điều mà nhân vật bà cô thường nhắc đi nhắc lại, trở thành nỗi ám ảnh trong tâm hồn thơ dại của bé Hồng. Nhưng chú đã sớm nhận ra những thâm ý tàn nhẫn, thâm độc của bà cô “tốt bụng”. Sự tàn nhẫn đó lộ ra trên nét mặt, trong giọng điệu và cả cái cười rất kịch của bà ta. Phản ứng lại, bé Hồng chỉ “cười dài trong tiếng khóc”. Hình thức phản ứng đó, một mặt vừa cho thấy sự xót xa, tủi nhục của chú bé, mặt khác cũng cho thấy sự căm giận của Hồng trước sự tàn nhẫn của bà cô.
Bé Hồng nhận ra “những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch” của bà cô. Bà ta “cười hỏi” chú bé không phải vì thương yêu cháu, mà “cười hỏi” theo kiểu diễn kịch. Hồng “biết rõ, nhắc đến mẹ tôi, cô tôi chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi”. Cái cười hỏi theo kiểu đóng kịch ấy được gia trọng bằng “giọng vẫn ngọt”, rồi lại “vỗ vai tôi cười mà nói rằng” cũng không che giấu được cặp mắt “long lanh”, cái nhìn “chằm chặp” như muốn ăn tươi nuốt sống chú bé của bà cô tàn nhẫn. Đây là cái nhìn của “thành kiến”, của “cổ tục”, cái nhìn ác ý, xoi mói, cái nhìn miệt thị khinh bỉ cho dù bà cô của Hồng chỉ biết tình hình của mẹ Hồng qua những câu chuyện “nghe đâu”, những câu chuyện tầm phào, bâng quơ. Qua đó, sự độc ác và tàn nhẫn của bà cô được nhấn mạnh và khắc họa rõ nét: bà ta không những khinh bỉ người mẹ mà còn cô” tình châm chọc vào nỗi đau của chú bé để thỏa mãn thói quen hành hạ người khác. Cuộc đối thoại đạt tới đỉnh cao khi bà cô, qua câu chuyện được nghe từ cô Thông, đã dồn chú bé vào trạng thái đau khổ, uất ức: “cổ họng tôi đã nghẹn ứ, khóc không ra tiếng”. Nhưng bà cô vẫn không buông tha, tiếp tục bày mưu tính kế mà thực chất là ra lệnh cho bé Hồng: “Vậy mày hỏi cô Thông – tên người đàn bà họ nôi xa kia – chỗ ở của mợ mày, rồi đánh giấy cho mợ mày, bảo dù sao cũng phải về. Trước sau cũng một lần xấu, chả nhẽ bán xới mãi được sao?”. Đại từ “mày” mà bà cô dùng để nói với cháu mang trong nó sự khinh bỉ tột cùng, và mỗi lần đại từ ấy được phát ra từ cửa miệng bà ta thì kèm theo đó là một sự đay nghiến, chì chiết, như một nhát dao đâm vào trái tim đau đớn của chú bé. Đó là thành kiến của một thời gian, gắn với cách nhìn thủ cựu của những con người bị cột chặt trong vòng lễ giáo lạc hậu của xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Bà cô muốn sự hiện diện của mẹ bé Hồng sẽ minh chứng cho những gì bà ta nói, và nếu tất cả mọi điều xảy ra như vậy thì bà cô sẽ là người sung sướng nhất, bởi bà ta sẽ có được sự thỏa mãn trên nỗi đau của mẹ con bé Hồng. | Tình yêu thương mãnh liệt của chú bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh được thể hiện như thế nào | 720 | |
Tóm tắt bài Lão Hạc Ngữ Văn 8 ngắn hay
Hướng dẫn
Đề bài: Tóm tắt bài Lão Hạc.
Bài làm:
Truyện ngắn Lão Hạc do nhà văn Nam Cao viết, phản ánh hiện thực nước ta trong khoảng thời gian trước cách mạng tháng Tám. Câu truyện kể về cuộc đời đầy khó khăn và bế tắt của một người nông dân hiền lành chân chất, tốt bụng, tự trọng và thương con mà mọi người thường gọi là Lão Hạc. Vợ Lão mất sớm, con trai Lão vì gia cảnh không đủ cho thách cưới của nhà gái mà không lấy được vợ đã bỏ đi làm đồn điền cao su nhiều năm không về. Lão sống cùng cậu Vàng, con chó mà con trai Lão mua về. Lão xem cậu Vàng như người bầu bạn và yêu thương thế nhưng sau một trận ốm nặng Lão đành đi đến quyết định bán chó. Sau khi bán chó xong Lão gửi số tiền bán được cộng với tiền dành dụm trước đó cùng với mảnh vườn cho ông Giáo một người hàng xóm của Lão. Những ngày sau đó Lão chỉ ăn khoai, hết khoai thì chế được cái gì sẽ ăn cái đó. Cuộc sống khó khăn nhưng Lão vẫn không nhận sự giúp đỡ của ông Giáo. Một ngày Lão xin Binh Tư ít bả chó nói để bẫy con chó lạc sau vườn, Binh Tư kể với ông Giáo chuyện đó. Sau khi biết tin ông Giáo rất thất vọng và về nhà được một lúc lâu thì ông Giáo lại hay Lão chết, cái chết đột ngột và đau đớn, chẳng ai hiểu chuyện gì xảy ra có lẽ chỉ ông Giáo và Binh Tư mới hiểu được.
=> Cái chết của Lão chính là tiếng nói lên án chế độ phong kiến, một xã hội đầy bất công đã đẩy người nông dân thật thà, hiền lành chất phác vào bước đường cùng đến mức phải tự vẫn, để lại cho ông Giáo cũng như người đọc là những suy ngẫm về con người và xã hội lúc bấy giờ.
Hi vọng tóm tắt bài Lão Hạc bên trên sẽ giúp các em hiểu hơn về một trong những truyện ngắn hay này. | Tóm tắt bài Lão Hạc Ngữ Văn 8 ngắn hay | 374 | |
Tóm tắt bài Sông nước Cà Mau
Hướng dẫn
Tóm tắt bài Sông nước Cà Mau lớp 6
VnDoc xin giới thiệu cho các bạn Văn lớp 6: Tóm tắt bài Sông nước Cà Mau hay nhất nhằm giúp các bạn chuẩn bị tốt nhất cho các bài kiểm tra, thi giữa học kì, thi học kì hay những kì thi quan trọng khác. Chúc các bạn học tập tốt và có điểm cao trong các kì thi sắp tới.
Tóm tắt bài Sông nước Cà Mau – Ngữ văn lớp 6
Bài tham khảo 1
1. Tóm tắt
Bài văn miêu tả cảnh quan thiên nhiên, sông nước vùng Cà Mau, mảnh đất tận cùng phía nam của Tổ quốc. Cảnh thiên nhiên ở đây thật rộng lớn, hoang dã và hùng vĩ, đặt biệt là những dòng sông và rừng đước. Cảnh chợ Năm Căn là hình ảnh trù phú, độc đáo, tấp nập về sinh hoạt của con người ở vùng đất ấy.
2. Cách đọc
Đoạn văn được viết chủ yếu theo lối miêu tả (tả cảnh, tả người, tả cảnh sinh hoạt). Những đoạn tả cảnh vật cần đọc chậm rãi. Hãy hình dung mình đang ngồi trên con thuyền của tác giả, chầm chậm lướt qua các kênh, rạch, những cảnh vật ở hai bên bờ sông. Đoạn tả cảnh chợ Năm Căn tấp nập, đông vui có thể đọc nhanh hơn, diễn tả không khí sôi động với những âm thanh náo nức, những màu sắc sặc sỡ ở nơi này.
Dưới ngòi bút tài tình của nhà văn Đoàn Giỏi, cả vùng Cà Mau hiện lên thật là sinh động. Cảnh vật biến hoá, màu sắc biến hoá. Những dòng sông, kênh, rạch, rừng đước và cả khu chợ Năm Căn nữa hiện lên vừa hùng vĩ, hoang sơ, vừa dạt dào sức sống, cảnh xa lạ mà vẫn gợi bao yêu mến, nhớ thương. Thiên nhiên Cà Mau bao la, hào phóng; con người Cà Mau mộc mạc, hồn hậu, dễ thương. Đọc những trang văn của Đoàn Giỏi, ta có cảm giác như đang đi giữa sông nước Cà Mau, tận hưởng hương rừng Cà Mau, đến chơi chợ Năm Căn, dừng lại, bước lên những ngôi nhà bè xem và mua một vài món quà lưu niệm. Ôi! Cái cảm giác được chu du giữa cả một miền sông nước như thế mới thú vị biết bao.
4. Kể tên một vài con sông ở quê hương em hoặc địa phương mà em đang ở, giới thiệu vắn tắt về một trong những con sông ấy.
– Tuỳ từng miền địa lí, học sinh tự kể những con sông của quê mình.
– Khi viết đoạn giới thiệu về một con sông, cần chú ý chỉ ra những nét đặc trưng riêng của con sông quê mình (cảnh vật, những sinh hoạt thường nhật trên sông,…).
Bài văn miêu tả quanh cảnh thiên nhiên, sông nước của Cà Mau – mảnh đất tận cùng của Tổ Quốc rất hũng vĩ, hoang dã và rộng lợn. Tác giả Đoàn Giỏi tả chợ Năm Căn rất tấp nập, trù phú, hết sức độc đáo và đầy sức sống cùng với các hình ảnh sinh hoạt của con người rất gần gũi, cởi mở làm bài văn sinh động, hấp dẫn và đặc sắc.
Tả em bé đang tập đi tập nói
Tóm tắt truyện Bài học đường đời đầu tiên
Ngoài đề cương ôn tập môn Ngữ văn học kì 1 lớp 6, các bạn học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì 1 lớp 6 này giúp các bạn rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn, Chúc các bạn ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Tóm tắt bài Sông nước Cà Mau | 649 | |
Tóm tắt bài thơ Đêm nay bác không ngủ của Minh Huệ
Hướng dẫn
Tóm tắt bài thơ Đêm nay bác không ngủ của Minh Huệ – lớp 6
Tóm tắt bài thơ Đêm nay bác không ngủ của Minh Huệ cốt truyện đơn giản. Cùng tham khảo các bài văn mẫu lớp 6 sau để biết cách tóm tắt tác phẩm Đêm nay bác không ngủ, từ đó học tốt môn Ngữ văn 6, đạt kết quả cao trong các bài thi, bài kiểm tra. Mời các em tham khảo bài Văn mẫu dưới đây
Tóm tắt bài thơ Đêm nay bác không ngủ – Ngữ văn lớp 6
Bài tham khảo 1
Trong một đêm khuya, để chuẩn bị cho chiến dịch ngày mai, Bác Hồ ở cùng lán với bộ đội trong rừng. Bên bếp lửa, Bác không ngủ vì thương đoàn dân công giờ này còn phải chịu rét mướt khổ sở ngoài rừng sâu mưa đêm rả rích. Bác không ngủ nên Bác đi lại săn sóc giấc ngủ cho những người bộ độ để sáng hôm sau hành quân đi vào các trận đánh với quân thù.
Bài tham khảo 2
Bài thơ kể lại câu chuyện Bác Hồ và anh đội viên trong một đêm Bác không ngủ trên đường ra chiến dịch ở lán nhỏ giữa rừng khuya. Bác đi đốt lửa, dém chăn, canh giấc ngủ cho bộ đội ngủ. Anh đội viên thức dậy, thấy thế, mời Bác đi ngủ, nhưng Bác vẫn thức. Đến lần thứ ba thức dậy, anh lại nằng nặc mời Bác đi ngủ vì trời sắp sáng rồi. Bác nói cho anh đội viên biết những trăn trở của mình. Anh hiểu được tình thương mênh mông của Bác nên đã vui sướng thức luôn cùng Bác
Tóm tắt bài Sông nước Cà Mau
Tóm tắt truyện Bức tranh của em gái tôi
Tả em bé đang tập đi tập nói
Ngoài đề cương ôn tập môn Ngữ văn học kì 1 lớp 6, các em học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì 1 lớp 6 này giúp các em rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn, Chúc các em ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Tóm tắt bài thơ Đêm nay bác không ngủ của Minh Huệ | 401 | |
Tóm tắt bài Tôi đi học lớp 8 ngắn hay
Hướng dẫn
Tham khảo tóm tắt bài Tôi đi học của tác giả Thanh Tịnh trong ngữ văn 8, đây là tư liệu hay và hữu ích cho giáo viên cũng như các em học sinh hiểu rõ hơn về nội dung của văn bản này.
Tóm tắt văn bản Tôi đi học
Tóm tắt bài Tôi đi học lớp 8
Dòng hồi ức cũ về ngày tựu trường của tác giả Nguyễn Thanh Tịnh đã được tài hiện qua tác phẩm “Tôi đi học”. Những kỉ niệm đẹp với không gian nên thơ của ngày cuối thu khiến tác giả như quay trở về thời học sinh. Vào buổi sớm mai của mùa thu cậu bé được mẹ ân cần đưa đến trường. Dù rằng hàng ngày cậu vẫn đi trên đường làng quen thuộc nhưng sao hôm nay cảnh vật thay đổi nhưng khác lạ. Cậu không còn đùa nghịch với các trò chơi trẻ con nữa mà thay vào đó là bộ quần áo học sinh đứng đắn hơn.
Cậu thấy trên đường học sinh cầm sách vở, thước kẻ, cây bút tung tăng. Đến trước sân trường có nhiều người đã đến, cậu bỗng thấy xa lạ và lo sợ. Họ đều ăn mặc chỉnh tề và trên khuôn mặt họ hiện lên nét rạng ngời, vui vẻ. Trong sân trường, nhiều bạn bè đồng trang lứa đều có mặt và chung tâm trạng sợ sệt, chỉ dám núp sau lưng người thân. Tiếng trống vang lên thúc giục các bạn học sinh xếp hàng vào lớp. Ông đốc gọi tên từng người, cậu bé lúc này cảm thấy tim mình như ngừng đập và cậu dường như quên sự có mặt của mẹ ở đằng sau. Khi được gọi tên, cậu giật mình và cảm nhận được bàn tay mẹ khẽ đẩy nhẹ về phía trước. Ông đốc âu yếm dang tay đón những học sinh yêu quý. Cậu cảm thấy chỗ ngồi mới, bạn bè mới không hề cảm thấy xa lạ một chút nào.
Những dòng kỉ niệm về ngày tựu trường sẽ mãi in đậm trong tâm trí của tác giả giống như thước phim quay chậm và được tái hiện rõ nét mỗi khi tác giả bắt gặp lại những hình ảnh quen thuộc đó trong cuộc sống thường nhật. | Tóm tắt bài Tôi đi học lớp 8 ngắn hay | 392 | |
Tóm tắt Bản tuyên ngôn độc lập
Hướng dẫn
Tóm tắt Bản tuyên ngôn độc lập
Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.” Đó là những lý lẽ mà không ai chối cãi được, và cũng là cở sở để nói về quyền con người. Ở bất kỳ bản tuyên ngôn Độc lập nào cũng đều được ghi nhận các quyền cơ bản đó, từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ đến Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1791.
Trả qua 80 năm bị thực dân Pháp xâm lược, chúng lợi dụng lá cờ tự do, lợi dụng cái sự bình đẳng và bác án để đến cướp và biến nhân dân ta, đất nước ta thành thuộc địa, chúng muốn cướp nước, áp bức đồng bào. Đây là một hành động trái với nhân đạo, chính nghĩa, Chúng lập ba chế độ khác nhau ở ba miền khiến cho đất nước ta không được thống nhất, ngăn cản sự đàn kết. Xây dựng nhà tù thay vì trường học, không gê rợn mùi máu tanh, sẵn sàng chém giết hết những người yêu nước của ta. Thi hành các chính sách ngu dân, sử dụng thuốc phiện, rượu để thay đổi người dân biến dân ta thành lệ thuộc, bóc lột chúng ta đến tận xương tủy. Dân ta đã nghèo nay càng nghèo nàn, thiếu thốn hơn. Bọn chúng cướp không ruộng, cướp không đất, cướp hầm mỏ, độc quyền in giấy bạc, nhập cảnh, xuất cảnh, đặt ra cho ta trăm ngàn thứ thuế, làm dân ta bần cùng từ dân cày đến dân buôn, các nhà tư sản cũng bị vùi dập. Một chế độ bóc lột giới lao động, giới công nhân diễn ra ngày càng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1940, lại một lũ xâm lăng đến-phát xít Nhật được bọn thực dân pháp mở cửa nước ta để cung kính cho chúng vào, dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Nhật- Pháp. Từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, đồng bào ta bị chết đói hơn hai triệu người. Bọn Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật trong vòng 5 năm, đến ngày 9 tháng 3, Nhật hoàn toàn tước vũ khí của thực dân Pháp. Trước đó, Việt Minh đã kêu gọi thực dân Pháp liên mình chống Nhật nhưng chúng lại khủng bố Việt Minh, đến khi thua chạy, bọn Pháp nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị của ta từ Yên Bái và Cao Bằng.
Nhưng dân ta với tám lòng nhân nghĩa vẫn giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, cứu nhiều người thoát khỏi nhà giam Nhật, bảo vệ tính mạng và của cải của họ.Từ mùa thu năm 1940 nước ta thành thuộc địa của Nhật, nhân dân cả nước đã nổi dậy chống lại Nhật giành lại chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dân ta đánh đổ được các xiềng xích thực dân gần 100 năm, thành lập một chế độ mới chế độ Dân chủ Cộng hòa.
Chính Phủ lâm thời của nước Việt Nam mới, đại diện cho toàn dân Việt Nam tuyên bố thoát ly hoàn toàn với Pháp, xóa bỏ toàn bộ những hiệp định đã ký với Pháp | Tóm tắt Bản tuyên ngôn độc lập | 566 | |
Tóm tắt chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh
Hướng dẫn
Sau khi đã dẹp xong các bè đảng tranh giành quyền lực, Trịnh Sâm lao vào ăn chơi, chô xây dựng nhiều đền đài và thường xuyên ngự các li cung binh lính theo hầu đông đúc. Chúa còn bày ra nhiều trò quay gở và ra sức thu lấy tất cả những thứ quý hiếm trong dân gian. Bọn hoạn quan mượn gió bẻ măng, nhà nào có cây cảnh đẹp đều bị khuân đi hết hoặc bị vu cho tội giấu vật phụng cung. Các nhà giàu có cây cản và vật đẹp phải bỏ ra kêu van hoặc phá bỏ để tránh họa. | Tóm tắt chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh | 114 | |
Tóm tắt chuyện người con gái Nam Xương
Hướng dẫn
Vũ Nương nết na xinh đẹp. Trương Sinh cưới nàng về. Sau đó, Trương Sinh phải đi lính. Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ già con trẻ. Bà mẹ vì quá nhớ con buồn rầu mà chết. Nàng ma chay tế lễ chu đáo. Vũ Nương hàng đêm thường chỉ bóng mình trên vách bảo với con đấy là cha Đản. Khi giặc tan trương Sinh trở về đứa trẻ không nhận là cha mình. Nghe nó kể lại Trương Sinh nghi ngờ vợ mình thất tiết, đánh đuổi vợ ra khỏi nhà. Vũ Nương thanh minh không được đành phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Cùng làng có người tên là Phan Lan vì cứu Linh Phi lúc hóa rùa đã được Linh Phi cứu sống, tình cờ gặp Vũ Nương ở thủy cung. Phan Lang trở về trần gian Vũ Nương gửi theo chiếc hoa vàng cùng lời nhắn Trương Sinh. Biết vợ bị oan Trương Sinh đã lập đàn giải oan bên bến Hoàng Giang. Vũ Nương hiện ra giữa dòng ngồi trên chiếc kiệu hoa đạ tạ chàng rồi biến mất. | Tóm tắt chuyện người con gái Nam Xương | 196 | |
Đề bài: Tóm tắt chương IX Thời thơ ấu của Go- rơ- ki
Bài làm
… Ba đứa trẻ chiều nào cũng chơi trong sân đến tối mịt. Chúng có khuôn mặt tròn, mắt xám, cùng mặc áo cánh, quần dài màu xám, rất giống nhau, chỉ có thể phân biệt theo tẩm vóc mỗi đứa. Qua khe hở hàng rào, tôi thấy chúng chơi những trò chơi rất thú vị, vui vẻ. Hai đứa lớn săn sóc một thằng bé ngộ nghĩnh và lanh lợi. Mỗi lần trong lúc chơi, đứa em ngã, hai đứa anh lại cười vui rồi xúm vào lấy khăn tay hoặc lá ngưu bàng lau tay cho em. Thằng anh nói một cách hiền hậu: "Em lóng ngóng quá!"
Có một lần tôi “leo lên cây, huýt sáo gọi chúng”. Chúng túm lại, đưa mắt nhìn tôi và thì thầm bàn bạc gì với nhau. Chúng lại mải mê chơi, cho đến lúc có người gọi về. Chúng đi thong thả và ngoan ngoãn như những chú ngỗng.
Nhiều lần tôi trèo lên cây, hy vọng chúng nó gọi tôi xuống chơi với chúng. Ba anh em vẫn chơi với nhau. Một lần chúng chơi trò ú tim, thằng em ngồi vào gầu không, rơi xuống giếng biến mất. Tôi sững sờ nhìn thấy, vội kêu to: “Ngã xuống giếng rồi!" Tôi cùng hai thằng anh đã kéo được thằng em lên. Nó bị ướt, bàn tay rớm máu. má bị sây sát, mặt tái xanh nhưng vẫn mỉm cười. Thằng anh lớn gật đầu, chìa tay cho tôi và nói: “Cậu chạy đến nhanh lắm!” Chúng bàn với nhau là nói đứa em bị ngã vào vũng nước rồi kéo nhau vào nhà. Gần một tuần sau chúng mới xuất hiện trên sân. Chợt nhìn thấy tôi trên cây, thằng anh lớn thân mật gọi: “Xuống đây chơi với chúng tớ." Chúng tôi leo lên cái xe trượt tuyết cũ để dưới mái hiên nhà kho rồi vừa ngắm nghía nhìn nhau, vừa nói chuyên rất lâu. Tôi hỏi chúng có bị đánh không. Thằng bé nhất hỏi tôi sao lại bắt chim. Nó hỏi chim gì hót vui. Chúng cũng muốn nuôi chim nhưng lại sợ bị mèo bắt mất, nghĩ là bố chúng chẳng cho nuôi. Tôi hỏi ba anh em về mẹ chúng, biết là mẹ chúng đã chết, đang ở với dì ghẻ. Tôi nhớ lại những chuyện kể của bà tôi về mụ dì ghẻ phù thuỷ và kể lại cho chúng nghe.
Trời bắt đầu tối, bỗng một lão già với bộ ria trắng, đội chiếc mũ xù lông, vận chiếc áo nâu dài lùng thùng như một giáo sĩ xuất hiện chỉ vào tôi và hỏi: "Đứa nào đây?" Nghe thằng anh lớn trả lời, lão nắm chặt lấy vai tôi, dẫn tôi qua sân ra cổng, giơ ngón tay dọa tôi và nói: “Cấm không được đến chỗ tao!" Tôi cáu tiết: Tôi có thèm đến với lão đâu, đồ quỷ già!. Vì chuyện đó mà tôi bị ông tôi cho một trận đòn. Tôi bị ném ra sân. Vào trong chiếc xe của bác Pi-ốt: qua bác mà tôi biết tên lão già đại tá quý tộc.
Tôi với bác Pi-ốt xẩy ra bất hòa, bác đặt điều nói với bà tôi, may mà bà tôi bênh che cho tôi. Từ hồi đó. một cuộc chiến tranh âm thầm và gay gắt giữa bác Piôt và tôi. Bác ta tìm mọi cách giả như vô tình để xô đầy tôi, lấy dây cương quật tôi, thả chim của tôi ra, đem chim của tôi cho mèo vồ. Còn tôi thì tháo giày gai của bác ra, bí mật gỡ và cứa đứt những sợi gai… hoặc đổ hạt tiêu vào mũi bác, làm cho bác ta hắt hơi hàng giờ. Mỗi lần bắt gặp tôi nói chuyện với mấy đứa con lão đại tá, bác Piốt lại đi tố cáo với ông tôi.
Tôi vẫn tiếp tục chơi với ba đứa bé, mỗi ngày một trở nên thích thú. Tôi bí mật khoét một lỗ nhỏ hình bán nguyệt ở hàng rào. Tôi vẫn kể chuyện cho chúng nghe, có chỗ nào quên lại chạy về hỏi lại bà, điều đó làm cho bà tôi rất hài lòng. Có một lần tháng lớn thở dài nói: “Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà mình trước cũng rất tốt". Cả ba anh em đều rất đáng yêu. Đặc biệt thằng lớn có đôi bàn tay nhỏ, những ngón tay thon thon, người mảnh dẻ, cặp mất rất sáng, nhưng dịu dàng như ánh sáng của những ngọn đèn trong nhà thờ. Tôi rất ưa thằng lớn và luôn luôn muốn làm cho chúng vui thích. | Tóm tắt chương IX Thời thơ ấu của Go- rơ- ki | 796 | |
Đề bài: Tóm tắt cảnh 3 trong vở kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ
Bài làm
Sau một năm về làm quyền giám đốc xí nghiệp Thắng Lợi, Hoàng Việt đã nhận ra xí nghiệp đang đứng bên bờ vực thẳm, mọi người tự đánh lừa mình, lừa cấp trên bằng việc hoàn thành các kế hoạch một cách giả tạo. Thực ra trong xí nghiệp cũng có những nhân tố tích cực như là kỹ sư Lê Sơn, kíp trưởng Thanh. Họ cũng thấy được sự bất hợp lí trong cung cách quản lí của xí nghiệp bấy lâu, nhưng họ không dám, hoặc không có điều kiện thực hiện những ý tưởng mới mẻ của mình. Nay với tư cách là quyền giám đốc, nhận thấy những bất hợp lí đó, Hoàng Việt quyết định củng cố lại xí nghiệp và thực thi phương án làm ăn mới, dứt khoát không tuân thủ theo những lối mòn các nguyên tắc lạc hậu đã kìm hãm sự phát triển của xí nghiệp với ý kiến của Hoàng Việt về kế hoạch mở rộng sản xuất và phương án làm ăn mới không được sự đồng thuận và chia sẻ của những người bảo thủ đang là cộng sự của mình. Muốn mở rộng quy mô sản xuất thì cần phải thêm nhiều công nhân.
Trưởng phòng Lao động cho rằng: biên chế trên cho ta có thế. Trưởng phòng Tài vụ nói không có quỹ lương cho hợp đồng, không chịu chi tiền để sửa chữa vật tư máy móc, dù đã có lệnh chi của giám dốc. Việc giảm biên chế của quản đốc phân xưởng đã gây phản ứng mạnh mẽ đến quản đốc Trương. Hoàng Việt cho đó là thừa, Trương cho đó một chức quan trọng không thể thiếu. Nhất là Phó Giám đốc Nguyền Chính, người chỉ luôn miệng dựa vào cấp trên để không tán thành kế hoạch đối mới của Hoàng Việt. Những mâu thuẫn đó đã tạo nên xung đột kịch, những mâu thuẫn dồn dập giữa hai tuyến nhân vật tiên tiến và bảo thủ đã làm cho cảnh diễn trở nên hấp dẫn. | Tóm tắt cảnh 3 trong vở kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ | 364 | |
Tóm tắt giản lược Truyện Kiều-Nguyễn Du
Hướng dẫn
Trình tự cốt truyện trong Truyện Kiều – Nguyễn Du
Truyện Kiều vốn thuộc thể laoij truyện thơ Nôm. Toàn bộ Truyện Kiều diễn tiến theo một cốt truyện hết sức chặt chẽ và cân đối. Bởi thế, việc tóm tắt giản lược Truyện Kiều theo trình tự diễn ra các sự kiện là việc làm không khó. Nguyễn Du cũng đã hết sức chú ý đến việc xây dựng một cốt truyện hài hòa, cân đối, không bỏ rơi nhân vật và sự kiện. Mọi sự lí giải đều có tính liên kết liền mạch và rõ ràng. Chính vì điều này mà Truyện Kiều đã dễ dàng đi vào đời sóng dân tộc từ lúc mới ra đời.
Mở đầu Truyện Kiều là luận đề của Nguyễn Du về thuyết tài mệnh tương đố. Đây cũng là thủ pháp căn bản để ông triển khai các tuyến nhân vật và khắc họa cuộc đời, số phận của họ.
Tả hai chị em: vẻ đẹp Thúy Kiều, Thúy Vân được khắc họa tinh tế, ngắn gọn mà đầy đủ. Đó là những vẻ đẹp tuyệt sắc, hiếm có trên đời. Trong đó, Thúy Kiều có một vẻ đẹp vượt trội hơn hẳn, đạt đến mức độ ngoại hạng, không gì sánh bằng. Điều đó dự báo về một cuộc đời đầy sống gió và khổ đau của nàng.
Kiều thăm mộ Đạm Tiên: Trong một lần đi tảo mộ vào tiết Thanh minh, khi đi qua mộ Đạm Tiên, nhìn thấy một “nấm đất bên đàng”, Kiều đã khóc thương và không khỏi cảm thấy ái ngại cho một “kiếp hồng nhan” “nổi danh tài sắc một thì” mà giờ đây “hương khói vắng tanh”. Vốn là một con người giàu tình cảm và tinh tế nên Kiều cũng đã liên cảm tới thân phận của mình và của những người phụ nữ nói chung. Sự đồng cảm, tương tri, tương thức chứng tỏ nàng là một cô gái đa cảm, giàu lòng trắc ẩn.
Kiều gặp Kim Trọng: Cũng trong ngày hôm đó, Kiều đã gặp Kim Trọng, là một người đồng môn với Vương Quan, từ lâu đã “trộm nhớ thầm yêu” nàng. Tuy chưa kịp nói với nhau một lời nhưng sau cuộc gặp gỡ này, hai người đã thầm cảm mến nhau sâu sắc. Kim Trọng vì tương tư Kiều nên đã quên hết cả thú vui hàng ngày, tìm cách chuyển đến ở gần nhà Kiều.
Kiều bán mình chuộc cha: Tai họa đã đột ngột ập đến Vương gia trong lúc người thiếu nữ còn đang thổn thức với mối tình đầu. Trong hoàn cảnh bi đát như vậy, Kiều đành phải đi đến quyết định bán mình để chuộc cha, nhưng nàng không quên lời hẹn ước năm xưa với Kim Trọng trước khi chàng về Liêu Dương để chịu tang chú. Thuý Kiều đã nhờ cậy Thuý Vân thay mình trả lời hẹn ước với Kim Trọng. Nàng đã vô cùng đau đớn khi làm điều đó nhưng tình thế bắt buộc nàng không thể làm gì khác hơn. Sự hi sinh lần thứ nhất trong cuộc đời dâu bể của Thúy Kiều.
Kiều rơi vào tay Mã giám sinh và Tú bà: lấy tiếng là cưới Kiều làm vợ lẽ nhưng thực chất Mã giám sinh âm mưa mua nàng bán cho Tú Bà-một chủ lầu xanh. Khi biết mình bị lừa, Kiều toan rút dao tự vẫn nhưng không thành. Sợ mất đi “báu vật” hiếm có, Tú bà vội xuống nước nhượng bộ, khuyên nàng ra ở lầu Ngưng Bích để tĩnh dưỡng và hứa sẽ tìm một tấm chồng đàng hoàng cho nàng. Kiều miễn cưỡng nhận lời.
Kiều mắc lừa Sở Khanh: để bắt buộc Thúy Kiều tự nguyện ra tiếp khách, Tú Bà đã cấu kết cùng Sở Khanh-một gã đàn ông lưu manh cài bẫy lừa nàng. Quá cô đơn khi ở một mình tại lầu Ngưng Bích, khi gặp sở khanh tỏ ra thấu hiểu, nàng đã vội tin lời và cùng Sở Khanh lên kế hoạch bỏ trốn. Nào ngờ, đó chỉ là một cái bẫy. Chưa kịp cao chạy xa bay thì nàng bị Tú Bà cùng đoàn gia nhân bắt lại. Lúc này nàng mới thực nhận ra bản chất của gã lưu manh lừa tình Sở Khanh. Vì sự việc đó, Kiều phải đau đón chấp nhận tiếp khách làng chơi. Nỗi ô nhục đầu đời không sao kể xiết.
Kiều gặp Thúc sinh: nghe tiếng Thúy Kiều tài sắc, Thúc Sinh-một gã thư sinh làng chơi, tìm đến với nàng. Hai người tâm đầu ý hợp, sống như vợ chồng, tình cảm mặn nồng thắm thiết. Kiều cũng đã không ngại giải bày tâm sự cùng Thúc Sinh.
Kiều bị Hoạn Thư bắt và hành hạ: Kiều khuyên Thúc sinh về thăm vợ cả Hoạn thư, họ vẫn chưa có con chung sau nhiều năm sống cùng nhau. Sau chuyến đi thăm và quay trở lại gặp Kiều, Thúc sinh không ngờ rằng Hoạn thư đã sai gia nhân đi tắt đường biển để bắt Thuý Kiều về tra hỏi. Hoạn Thư với lòng ghen tuông đã hành hạ, đánh đập Thúy Kiều vô cùng thô bạo và bắt nàng làm gia nô. Càng đau đớn hơn khi Thúc Sinh trở về gặp nàng mà không dám làm gì hơn. Sau Hoạn Thư cho Kiều vào quan âm các chép kinh.
Kiều trốn khỏi Quan Âm các và đã gặp ni cô Giác Duyên. Bà đã cho Kiều sang ở tạm nhà Bạc bà, một Phật tử thường hay lui tới chùa. Nài ngờ Bạc Bà chính là đồng môn với Tú Bà. Bạc Bà đã khuyên Kiều lấy cháu mình là Bạc Hạnh. Qua tay Bạc Hạnh, một lần nữa Kiều lại bị bán vào lầu xanh lần 2.
Kiều gặp Từ Hải: Ở lầu xanh, Kiều “ngậm đắng nuốt cay” sống cuộc sống ô nhục. Danh tiếng của nàng đã khiến cho Từ Hải, một người anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất tìm đến. Chính Từ Hải đã chuộc nàng ra khỏi lầu xanh, cưới nàng làm vợ và giúp nàng báo ân báo oán.
Kiều báo ân trả oán: Lúc vui mừng cũng là lúc Thúy Kiều nghĩ đến những ngày “hàn vi”, nàng kể hết mọi chuyện cho Từ Hải và muốn có sự “ân đền oán trả”. Với uy thế lẫy lừng, Từ Hải giúp nàng thực hiện điều nguyện cầu.
Thúy Kiều mắc mưu Hồ Tôn Hiến: Hồ Tôn Hiến bấy giờ là một quan tổng đốc của triều đình, mang nhiệm vụ đến khuyên giải Từ Hải đầu hàng và quy phục triều đình. Lợi dụng tính cả tin, muốn có được một cuộc sống yên bình sau bao năm tháng khổ ải, Kiều khuyên Từ Hải quy hàng. Nào ngờ, Hồ Tôn Hiến lật lọng, Từ Hải uất ức chết đứng giữa trận tiền. Tiếp đén, Thúy Kiều bị Hồ Tôn Hiến bắt hầu rượu sau ép gã cho mmotj thổ quan để tránh lời đàm tiếu.
Kim Trọng đi tìm Kiều: Về phần Kim Trọng, sau khi hộ tang chú xong, quay trở lại thì biết tin gia đình Kiều gặp nạn, Kiều đã bán mình chuộc cha. Kim Trọng đau xót. Mọi người trong nhà khuyên can hết lẽ, chàng nghe theo lời dặn của Kiều và đón cha mẹ Kiều cùng Thuý Vân sang nhà chăm lo phụng dưỡng, đồng thời vẫn đưa tin tìm kiếm nàng khắp nơi.
Kim trọng đỗ đạt ra làm quan tiếp tục tìm kiếm Kiều không ngừng nghỉ. Sau nhiều ngày tháng tìm kiếm thì hai người mới dò la được thông tin của Thuý Kiều là đã trầm mình dưới sông Tiền Đường. Ra đến sông, mọi người gặp sư Giác Duyên ở đó, được biết là Thuý Kiều đã được bà cứu mạng về cưu mang. Sau đó, mọi người được dẫn về gặp lại nàng Kiều, “mừng mừng tủi tủi”.
Đoàn tụ sau mười lăm năm lưu lạc: Thuý Kiều đã trở về đoàn viên với gia đình. Kim Trọng và Thúy Vân hi vọng hai người sẽ gắn kết lại tình xưa. Nàng ghi nhận tấm lòng của Kim Trọng nhưng tự thấy mình không còn xứng đáng với chàng nữa. Tuy từ chối việc kết hôn với Kim Trọng, song Kiều nguyện rằng hai người sẽ trở thành bạn tri kỷ.
Kết thúc: Nguyễn Du đã gửi gắm toàn bộ thế giới quan của mình về xã hội phong kiến lúc đó qua các câu thơ nhận xét về cuộc đời lưu lạc của Thuý Kiều.
Thuyết minh về Nguyễn Du và Truyện Kiều | Tóm tắt giản lược Truyện Kiều-Nguyễn Du | 1,448 | |
Tóm tắt Hoàng Lê nhất thống chí hồi thứ 14
Hướng dẫn
Lê Chiêu Thống sợ uy danh của quân Tây Sơn, sang cầu cứu nhà Thanh. Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu kéo quân vào Thăng Long. Ngô Văn Sở, tướng của Tây Sơn cho quân lui về núi Tam Điệp để bảo tồn lực lượng và cho quân cấp báo với Nguyễn Huệ. Thuận theo lòng tướng sĩ Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung sau đó tiến quân ra Nghệ An. Ở Nghệ An nhà vua lấy thêm quân mở cuộc duyệt binh lớn, huấn dụ quân sĩ ai nấy đều đồng sức đồng lòng rồi tiến quân ra Bắc. Đến núi Tam Điệp gặp hai tướng Lân, Sở, Ngô Thời Nhiệm bàn kết hoạch sau khi đánh xong quân Thanh, mở tiệc khao quân.
Hẹn với tướng sĩ tối 30 lên đường, ngày 7 Tết tới Thăng Long. Giặc trấn thủ ở đó chưa đánh đã tan vỡ. Toán quân do thám bị bắt sống hết. Nửa đêm ngày mồng 3 Kỉ Dậu bắt đầu tấn công đồn Hạ Hồi quân giặc sợ hãi xin hàng. Sau đó tiếp tục dang thành chữ nhất tiến công đồn Ngọc Hồi, quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, rơi vào kế nghi binh của Tây Sơn, bị dồn xuống đầm vực, bị vui giày đạp chết hàng vạn người. Giữa trưa hôm ấy quân Tây Sơn kéo vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghĩ nghe tin sỡ hại không kịp mặc áo giáp chạy trốn. Vua Lê Chiêu Thống đem hoàn thân quốc thích rời bỏ kinh thành chạy theo quân Thanh đại bại. | Tóm tắt Hoàng Lê nhất thống chí hồi thứ 14 | 281 | |
Tóm tắt hài kịch Trưởng giả học làm sang – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Gợi ý viết bài
Vở hài kịch “Trưởng giả học làm sang” của Mô-li-e gồm 5 hồi, được sáng tác vào năm 1670, ba năm trước khi Mô-li-e qua đời.
Vở hài kịch của ông nói về ông Giuốc-đanh cục mịch, xấu xí, dốt nát, ngờ nghệch. Nhờ buôn bán mà ông trở nên giàu có. Sau khi giàu có ông muốn trở thành nhà quý tộc. Ông mời thầy triết học về nhà để dạy cho ông tiếng La- tinh, lô-gíc học, Ịuân lí, vật lí, chính tả, phát âm, viết thư tình… Sau khi muốn trở thành nhà bác học, ông Giuốc-đanh lại muốn có một bộ lễ phục đẹp nhất triều đình. Sau khi hoàn thành bộ lễ phục, phó may và thợ phụ kéo đến nhà để mặc thử lễ phục cho ông. Những ngốc ngếch của ông đã được thể hiện trong các lời đối thoại giữa ông và bác phó may. Lợi dụng tính cách khoa trương và đầu óc u muội của Giuốc-đanh, phó may và thợ phụ đã tâng bốc ông bằng những từ ông lớn, cụ lớn, đức ông để moi tiền. Ông Giuốc-đanh mặt dù rất tiếc tiền nhưng trước những lời đưa lên tận mây xanh, ông vẫn móc tiền đưa cho những kẻ xu nịnh. Đoạn trích trên đã để lại nhiều tiếng cười sảng khoái, đồng thời phê phán nhiều thói xấu trong cuộc sống.
Ông Giuốc-đanh có một cô con gái xinh đẹp tên là Luy-xin. Nàng yêu anh Clê-ông, nhưng Giuôc-đanh không tán thành do Clê-ông không phải là người quý tộc. Cô-vi-en, một người đầy tớ khôn ngoan đã hiến kế cho Clê-ông. Anh cải trang thành Hoàng tử Thổ Nhĩ Kì để đến hỏi Luy-xin làm vợ. Giuốc-đanh không nhận ra trò bịp này và đồng ý gả con gái cho Hoàng tử Thổ Nhĩ Kì mà thực chất là Clê-ông.
Tags:Văn 8 | Tóm tắt hài kịch Trưởng giả học làm sang – Đề và văn mẫu 8 | 331 | |
Đề bài: Tóm tắt hồi thứ mười bốn trích trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí
Bài làm
Tôn Sĩ Nghị mang đại quân kéo thẳng một mạch đến Thăng Long "không mất một mũi tên, như vào chỗ không người". Y rất "'kiêu căng, buông tuồng” quan quân chỉ lo ăn chơi. Hễ ai nhắc đến tình hình giặc giã thì y nói: “Ngày mùng 6 tháng giêng, nhân dịp đầu xuân sẽ xuất quân kéo thẳng đến sào huyệt của quân Tây Sơn. Bọn giặc ấy nhất định sẽ lần lượt bị bắt sống, không một tên nào lọt lưới. Người Nam Hà sẽ đều mà xem!" Bọn Việt gian bán nước cầu vinh thì "vui mừng" vì được "thấy lại bóng mặt trời ", dựa vào Tổng đốc họ Tôn, sống trong tình trạng '"võ lắng, văn im, thảy đều bê trễ".
Vừa lúc ấy, có người cung nhân cũ từ phủ Trường Yên tới, nói với Thái hậu về tình hình trong nước, về mối lo: “Nguyễn Huệ là tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân… ra Bắc vào Nam ẩn hiện như quỷ thần…" Tổng đốc họ Tôn đem thứ quân '"nhớ nhà" mà chống chọi thì “địch sao nổi?" Lê Chiêu Thống và Lê Quýnh đến gặp Tôn Sĩ Nghị để tâu bày, “tha thiết xin xuất quân” liền bị y quở trách.
Phần tiếp theo nói về quân Tây Sơn. Ngô Văn Sở lui binh về án ngữ Tam Điệp, sai Nguyễn Văn Tuyết chạy trạm vào Nam cáo cấp; ra đi từ ngày 20 thì ngày 24 đến Phú Xuân
Nguyễn Huệ họp tướng sĩ, đắp đàn ở núi Bân tế trời đất, thần sông thần núi, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung rồi đốc xuất đại binh ra Bắc. Ngày 29 tháng chạp Mậu Thân (1788) tới Nghệ An, tuyển thêm một vạn tinh binh, gặp cống sĩ Nguyễn Thiếp, tổ chức duyệt binh, truyền hịch đánh quân Thanh, rồi kéo đại binh ra Tam Điệp hội ngộ với Ngô Văn Sở. Vua Quang Trung cho quân ăn Tết trước, hẹn với tướng sĩ đến ngày mùng 7 Kỉ Dậu thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng.
Nguyễn Huệ chia quân thành 5 đạo tiến đánh quân Thanh vào tối 30 Tết. Quân Thanh và lũ tay chân bị bắt sống toàn bộ tại sông Gián và sông Thanh Quyết, đêm mùng 2 rạng ngày mùng 3 tiêu diệt đồn Hà Hồi, rồi tiến đánh Ngọc Hồi, giặc Thanh bị thảm hại “thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối”, bạt vía kinh hồn vội trốn xuống đầm Mực, làng Quỳnh Đô, bị voi quân ta '"giày đạp, chết đến hàng vạn người”. Cùng lúc đó, đô đốc Long tiến đánh đồn Khương Thượng, quân Thanh bị tan vỡ, quân ta tiến vào giải phóng kinh thành. Trưa mùng 5 tháng Giêng năm Kỉ Dậu, vua Quang Trung cùng đại quân tiến vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị và quan tướng hốt hoảng tháo chạy. Cầu phao bị đứt, hàng vạn giặc rơi xuống sông chết làm tắc nghẽn sông Nhị Hà. Lê Chiêu Thống và bè lũ hoang sợ chạy đến Nghi Tàm, cướp đò ngang vội chèo sang bờ bắc. Đến biên giới, Lê Chiêu Thống theo kịp Tôn Sĩ Nghị, đứa thì "oán giận chảy nước mắt", đứa thì "lấy làm xấu hổ”. Tên Việt gian bán nước kính chúc tướng giặc về triều được hai chữ “vạn phúc". Còn Tôn Sĩ Nghị vẫn khoác lác: "Nguyễn Quang Trung chưa diệt, việc này còn chưa xong… không đầy một tháng, đại binh sẽ lại tới…". Vua tôi, lũ bán nước lôi thôi, lếch thếch cùng đưa Thái hậu theo Nghị sang Trung Quốc. | Tóm tắt hồi thứ mười bốn trích trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí | 631 | |
Tóm tắt Hồn Trương Ba, Da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Hướng dẫn
Tóm tắt Hồn Trương Ba, Da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Hồn Trương Ba da hàng thịt là truyện kể về Trương Ba, một người làm vườn sáu mươi tuổi tốt bụng và đặc biệt ông chơi cờ rất giỏi. Trương Ba bị chết oan do sự tắc trách của Nam Tào, vì muốn sửa sai, Nam Tào đã để Trương Ba nhập vào xác của một anh hàng thịt vừa mới chết ở làng bên.
Sau khi sống lại trong thân xác của hàng thịt, Trương Ba gặp không ít phiền toái như lí trưởng sách nhiễu anh, vợ của anh hàng thịt thì ra sức đòi chồng khiến gia đình Trương Ba gặp nhiều cảnh khốn đốn. Sống ở thân xác cảu hàng thịt, Trương Ba không giữ được nét thanh tao ngày xưa, ông bị tiêm nhiễm nhiều thói hư tật xấu, cùng với nhu cầu vốn trước kia rất xa lạ đối với ông. Khó khăn như ập đến với ông, phiền toái nhất có thể là việc vợ của da hàng thịt đòi hỏi ông phải là người đàn ông thật sự, con trai của Trương Ba ngày càng coi thường bố, gia đình ông thì ngày càng xa cách. Trương Ba đau khổ vô cùng trước nghịch cảnh sống nhờ thể xác này.
Cuối cùng,không thể chịu nổi nữa,không muốn tâm hồn vốn cao khiết của ông bị thay đổi nữa, Trương Ba yêu cầu trả thân xác lại cho hàng thịt cũng không chịu sống trong thân xác cu Ti. Ông chết để bảo vệ lấy linh hồn thanh cao giản dị của mình. | Tóm tắt Hồn Trương Ba, Da hàng thịt của Lưu Quang Vũ | 281 | |
Tóm tắt lại truyền thuyết Bánh chưng bánh dày theo trí nhớ của em
Hướng dẫn
Tóm tắt lại truyền thuyết Bánh chưng bánh dày theo trí nhớ của em
Vua Hùng thứ sáu có hai mươi người con trai, cả hai mươi người con, ai cũng đều giỏi giang nên vua không thể lựa chọn được người sẽ nối nghiệp mình. Nhà vua luôn nói với những người con trai của mình rằng, người được lựa chọn không nhất thiết phải là con trưởng, người con nào làm vừa ý nhà vua trong lễ Tiên vương của mình thì sẽ được đức vua truyền ngôi cho.
Các lang đều đua nhau sắm những lễ vật thật hâu, thật ngon và độc nhất vô nhị, đây đều là những sản vật được các lang cho người đi khắp nơi tìm kiếm chỉ với mong muốn lấy được lòng của nhà vua. Nhưng chỉ duy nhất có người con trai thứ mười tám của đức vua là Lang Liêu, chàng vẫn rất buồn vì chàng rất nghèo, chàng không có đủ tiền để tìm kiếm sản vật như các anh trai của mình được. Do ngày bán mặt cho đất, bán lung cho trời mà chàng không có của để, thứ duy nhất chàng có là lúa. Vì suy nghĩ quá nhiều mà chàng đã thiếp đi, trong giấc mơ, một vị thần đã bảo với chàng cách làm lễ vật. Tỉnh dậy, chàng lấy gạo nếp, đậu xanh và thịt lợn làm thành hai thứ bánh, một loại bánh tròn tượng trưng cho trời, một loại bánh vuông, tượng trưng cho đất. Bánh tròn chàng đặt tên là bánh giầy, bánh hình vuông là bánh chưng. Nhà vua rất hài lòng về lễ vật co Lang Liêu dâng lên nên ngài đã quyết định nhường ngôi cho chàng.
Nguồn: Bài văn hay | Tóm tắt lại truyền thuyết Bánh chưng bánh dày theo trí nhớ của em | 307 | |
Tóm tắt phần trích giảng truyện ngắn Số phận con người
Hướng dẫn
Tóm tắt phần trích giảng truyện ngắn Số phận con người
Truyện Số phận con người là một tác phẩm xuất sắc của M.SôlôKhốp, kể về những năm tháng sau chiến tranh. Câu chuyện bắt đầu
Chiến tranh bùng nổ, Xô-cô- lốp theo Hồng Quân chống phát xít, nhưng bị bắt giam, vợ và con gái bị chết do bom đạn phát xít. Ngày thoát khỏi nhà tù, anh vui mừng vì chiến thắng vì sắp được gặp con trai đang là đại úy pháo binh, nhưng đây lại là lần cuối anh nhìn thấy mặt con.
Xô-cô-lốp trở về với cuộc sống hàng ngày, anh không muốn trở lại quê nhà. Anh đi khắp nơi và cuối cùng đến chỗ một đồng đội cũ và ở đó anh nhận làm lái xe cho đội vận tải lương thực. Một dịp tình cờ, anh gặp cậu bé tên là Va-ni-a bị lạc mất bố mẹ, nhìn cảnh chú bé mồ côi, không nơi nương tượng, Xô-cô-lốp đã nhận nuôi chú bé. Va-ni-ca sống với anh và họ yêu thương, chăm sóc nhau, trở thành niềm vui, niềm an ủi lớn cho nhau. Nhưng điều đó vẫn không đủ để Xô-cô-lốp quên đi những mất mát của mình, hằng đêm anh vẫn mơ thấy vợ và các con anh, nước mắt vẫn ướt đẫm trên gối.
Một điều không may xảy đến với anh, vì đâm vào một con bò nên Xô-cô-lốp bị tước mất bằng lái, anh đành cùng bé Va-ni-a chuyển đến Ka-sa-rư theo lời mời của một người bạn, anh hi vọng nửa năm sau sẽ được cấp lại bằng lái mới. Hai cha con bắt đầu cuộc sống mới, tại một vùng đất mới. Xô-cô-lốp luôn cố gắng sống thật vui vẻ để Va-ni-a không biết được tâm trạng đau thương của mình. | Tóm tắt phần trích giảng truyện ngắn Số phận con người | 313 | |
Tóm tắt sử thi “Đẻ đất đẻ nước ” văn 10
Hướng dẫn
Đề bài: Tóm tắt sử thi “Đẻ đất đẻ nước ” văn 10
… Thuở ấy, khi đất còn pạc lạc (xơ xác, rời rạc), nước còn pời lời (bùng nhùng), trời còn puổng luổng (mung lung), bỗng “mưa dầm mưa dãi”, nước ngập bao la núi đồi, 50 ngày nước mới rút, tự nhiên mọc lên một cây xanh có 90 cành, có một cành chọc trời, biến thành ông Thu Tha, bà Thu Thiên.
Hai thần truyền lệnh làm ra đất, trời và muôn vật. Nhưng sau đó, trời nắng dữ đội 12 năm liền làm cho xơ xác. Thần Pổng Pêu ao ước có một trận mưa lớn. Tức thì mưa to gió lớn chín mười ngày đêm, nước ngập bao la. Bảy tháng sau, nước rút. Một cây si khổng lồ mọc lên có 1919 cành. Trời sai con sâu gang khoét rỗng ruột cây si. Cây đổ, mỗi cành hóa ra một bản mường:
“… Một cành đổ về đất Sạp
Nên mường Sạp,
Một cành đổ về đất Giạp
Nên mường Giạp,
Một cành ngã về đất Bi, đất Lỗ
Nên mường Bi, mường Lỗ
Một cành đổ về đất Ông, đất Sà,
Nên mường Ông, mường Sà…”
Có một cành si hóa ra mụ Dạ Dần, mụ đẻ ra 2 cái trứng vô cùng kì dị nở ra cun Bướm Bạc và cun Bướm Bờ. Cun Bướm Bạc vừa mới nở đã ăn hết 9 chõ cơm, cun Bướm Bờ mới sinh đã ăn hết 5 chõ xôi:
“… Cun Bướm Bạc, cun Bướm Bờ
Lớn cao hơn đụn chín, đụn mười
Tiếng cười như tiếng trống cái
Tiếng nói như tiếng sấm vang
Xương vai dài tám mươi lóng
Xương sống dài bảy trăm gang…”
Rồi một thiên diễm tình đã xảy ra. Vua Trời cho 10 nàng tiên xuống trần gian du ngoạn. Cun Bướm Bạc và cun Bướm Bờ cưỡi ngựa bạc, vác ná đi săn lợn rừng, gặp các nàng tiên “lưng ong, tóc mượt”. Tự tình và say mê. Hai nàng tiên quên đường về trời. Họ nên vợ nên chồng. Sau 12 năm, 9 tháng, 2 nàng tiên sinh ra một bầy con, mà “Trống chim Tùng, mái chim Tót là con út, con yêu”. Đôi chim thần sau “9 ngày, 9 đêm, 9 tháng” đẻ ra 1919 chiếc trứng, nở ra Thần Chớp, Thần Mây, nở ra chuột, lợn, voi, cá, thú dữ… Đôi chim lại đẻ lứa thứ hai “Được một trứng đen đen bốn khúc, Trứng bầu dục bốn khuông, Mặt vuông, mặt tròn, chín cạnh, Rành rành mười hai quai…” Mụ Dạ Dần phải nhờ chim chiền chiện ấp. Trứng nở ra một bầy con, mỗi đứa nói một thứ tiếng: tiếng Lào, tiếng Kinh, tiếng Mọn, tiếng Siên quan (Mường), tiếng Thái, Mán, Mẹo, v.v… Có trứng nở ra anh em nhà lang: ông Dit Dáng, ông Lang Tà Cái, ông Lang Cun Cần, bố Bướm Khang, ông Sang Si, nàng Vạ Hai Chiếng… Loài người có từ đấy. Bộ tộc Mường có từ đấy.
Người Mường chưa có thủ lĩnh. Mường nước mời ông Dịt Dáng, rồi mời ông Lang Tà Cái ra “cẩm binh cầm mường”. Nhưng cả hai đều bất tài nên đã bị ma đón đường, bị thuồng luồng xanh, rồng vàng ngăn ngõ. Mường nước men Lang Cun Cần ra tiễu trừ ma quỷ, thú dữ:
“.. Ma chạy từng bầy trốn vào trong núi
Ma rồng sợ Láng Cun Cần trói
Thuồng luồng sợ Lang Cun Cần chật
Ma Trời, ma Đất cùng chạy nhanh nhanh… ”
Lang Cun Cần trở thành thủ lĩnh từ đó. Rùa thần giúp Lang dựng nhà cửa to đẹp. Tà Gắm Cọt (thần Lửa) cho Cun Cần lửa. Nàng Tiến Tiên Mái Lúa (thần trồng trót) giúp Lang nhiều hạt giống để cấy trồng. Lang Khấm Dậm bày cho cách làm men ủ rượu cần. Mụ La, mụ Hung (thần chăn nuôi) dạy cho mường nước nuôi gia súc, gia cầm. Mường nước có trâu bò cày ruộng làm nương.
Hai chương 17, 18 với 1263 câu thơ kể chuyện Lang Cun Cần lấy vợ. Lần thứ nhất, lạng lấy nàng Vạ Hai Chiếng là em gái của mình, bị làng bản coi khinh, bị vua Trời sai cun Sấm nàng Sét xuống trừng phạt may mà thoát chết. Sau đó Lang Cun Cần phải đưa nàng Vạ Hai Chiếng bỏ vào rừng. Lần thứ hai, Lang sai người đi khắp mọi nơi, mang theo lễ vật để đi tìm gái đẹp con dòng. Lang lấy được nhiều vợ: có vợ là còn gái vua Trời, có vợ là con gái thần tiên, có vợ là con gái mường nước. Lang Cun Cần có một bầy con:
Đẻ được Cun Tồi, cái sang
Nàng Vậm Đầu Nước
Đẻ ra Cun Tàng, cái lớn
Nàng Ả Sao, Ả Sáng
Ả Rạng nhà ông vua Trời
Đẻ được Lang Cun Khương
Ả gái nuôi trong mường
Đẻ ra chàng Toong-ín… ”
Con cái trưởng thành, lang chia đất cho các con. Anh em sinh ra bất hoà. Toóng-ín vu cho Lang Cun Khương làm giặc để cướp đất của anh. Lang Cun Khương phải chạy trốn lên Trời, nhờ ông ngoại che chỏ. Trời giáng hoạ, làm ra lụt lôi, ép anh em nhà lang phải giết Toóng-ín. Từ đó Lang Cun Khương trở nên một thủ Ba giàu có, đầy uy quyền.
Tôi tớ của Lang là Tậm Tạch tìm được cây Chu đồng (cây thần), lấy được “bông thau – quả thiếc” mà trở nên giàu có. Anh em Lang Cun Khương lập mưu chuốc rượu cho Tâm Tạch, lừa lấy được “bông thau – quả thiếc”. Rồi Lang đưa cả mường nước đi chặt cây chu kéo vẻ làm nhà chu. Tậm Tạch bị Lang giết. Rùa thần lại giúp Lang làm nhà chu “Sáng cả mường, kinh kì ké chợ…” “rạng trời rạng đất…” Lang giết 10 voi ngà, 30 trâu mộng, 9 bò, 700 gà sao, nấu 1000 vò rượu, để ăn mừng. Lang Cun Cần ban thưởng cho các con nhiều vằng bạc quý giá.
Con của Tậm Tạch lập mưu đốt cháy nhà chu để báo thù. Chúng bị Lang giết, máu hoá thành côn Moong dữ phá quấy bản mường, gây ra tai họa khủng khiếp. Mường nước phải theo Lang đi săn Moong-Lồ trải qua bao gian khổ n hiểm mới giết được. Moong được giết thịt, người Lào, người Thái, người Tày nguời Mường nhanh chân lấy được da Moong vằn vộn mà học được cách thêu thùa dêt vải rất đẹp. Người Kinh đến sau, lấy được thịt và mỡ Moong từ đấy biết nấu nhiều món ăn ngon. Người “Mường-ngoài” (Hòa Bình) đến quá muộn, chẳng lấy được thứ gì, chỉ nhìn thấy đống tro thú Moong. Chẳng may, gió táp tro bay dính vào môi nên môi người Mường ngoài đen từ đó.
Nhưng rồi hồn Toóng-ín lại biến thành Ma Ruộng, đưa bầy rắn “mỏ vàng, mỏ đỏ” lên đánh 3 anh em Lang Cun Khương. Quân hai bên kịch chiến suốt ngày. Đánh nhau giữa ruộng, quần nhau trên đồi gianh, đuổi nhau trong rừng sến, hôn chiến bên sông Rồng… Toóng-ín thất thế chạy xuống Thủy phủ Long Vương ân náu và xin cầu viện. Long vương cho hồn Toóng-ín làm Ma-May, Ma-Lang. Hắn đưa binh mã gồm thuồng luồng, ba ba, cá ngao… dâng nước làm lũ lụt, dìm chết được Lang Cun Tàng. Lang Cun Khương cùng mường nước nổi chiêng cổng, đem giáo mác, cung nỏ, lưới… vây các ngả sông đón đánh. Giặc Ma May, Ma Lang đại bại, bỏ lại trên bãi chiến trường bao xác rồng vằn vện, làm thối cả bản mường…
Từ đó mường nước được sống trong hòa bình, yên vui, thịnh vượng. Trẻ già, trai gái nô nức lo xống áo, lo kiệu lo ngai, rước vua về “Đồng chì tam quan kẻ chợ”. | Tóm tắt sử thi “Đẻ đất đẻ nước ” văn 10 | 1,311 | |
Tóm tắt sự nghiệp văn học của nhà văn Nam Cao
Hướng dẫn
Tóm tắt sự nghiệp văn học của nhà văn Nam Cao
Nam Cao được nhắc đến với tài năng viết truyện và tái hiện những câu chuyện rất chân thực. Sinh năm 1917 mất năm 1951 tên thật là Trần Hữu Tri – là nhà văn có vị trí hàng đầu trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX. Dẫu ông ra đi từ độ văn chương đang độ chín nhưng những tác phẩm ông để lại như những vật báu của thế hệ sau. Ông là một trong những đại diện xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực phê phán trước 1945, và cũng là một trong những cây bút tiêu biểu nhất của chặng đầu nền văn học mới sau Cách mạng.Những tác phẩm ông để lại thực sự để lại dấu ấn trong độc giả.
Trước cách mạng, Nam Cao tập trung vào hai đề tài lớn,đó là cuộc sống của tri thức nghèo và cuộc sống của người nông dân. Quả thật những sáng tác của ông là những món ăn tinh thần mà ai cũng muốn chạm vào. Dù ngân ngấn nước mắt khi đọc nhưng người ta cũng không thể dừng lại được.
Với đề tài viết về trí thức tiểu tư sản nghèo, đáng chú ý nhất là các truyện ngắn: Những truyện không muốn viết, Trăng sáng, Đời thừa, Cười, Nước mắt, Mua nhà… và tiểu thuyết sống mòn. Những tác phẩm này là những thiên truyện để đời. Trong khi miêu tả hết sức chân thực tình cảnh nghèo khổ, bế tắc của những nhà văn nghèo, những ông “giáo khổ trường tư”, học sinh thất nghiệp… Đặc biệt là trong tác phẩm đời thừa,Nam Cao đã làm nổi bật tấn bi kịch tinh thần của họ. Và những con người có ý thức sâu sắc về sự sống, sống có hoài bão, phát triển nhân cách nhưng cứ bị gánh nặng cơm áo làm cho “chết mòn” về tâm hồn.
Bên cạnh đó đề tài nông dân là một trong những đề tài tiêu biểu, đáng chú ý nhất là các truyện: Chí Phèo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Mua danh, Tư cách mõ, Điếu văn, Một bữa no, Lão Hạc, Một đám cưới, Dì Hảo, Nửa đêm… Người nông dân ở những truyện này soi vào tình cảnh lưu manh hóa, nhà văn kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo đã hủy diệt cả nhân tính của những con người vốn có bản tính lương thiện đó.
Đặc biệt, Nam Cao sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao sáng tác để phục vụ công cuộc kháng chiến.có những tác phẩm tiêu biểu như Truyện ngắn Đôi mắt (1948), Nhật kí ở rừng (1948) và tập bút kí Chuyện biên giới (1950) của ông thuộc vào những sáng tác đặc sắc nhất của nền văn học mới sau Cách mạng còn rất non trẻ khi đó. Độ chín của những tác phẩm này vượt ra ngòi bút của một chiến sĩ trẻ.
Qua những tác phẩm mà Nam Cao để lại cho ta thấy ông là cây bút có cái gốc nhân đạo rất sâu,ông chính là một tài năng độc đáo bậc thầy, Nam Cao xứng đáng được coi là một nhà văn lớn. Các tác phẩmChí Phèo và nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết của ông thuộc vào những sáng tác đặc sắc nhất của văn xuôi Việt Nam. Nhiều truyện được dựng thành phim sau này.
Nguồn: Bài văn hay | Tóm tắt sự nghiệp văn học của nhà văn Nam Cao | 594 | |
Đề bài: Tóm tắt tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê của Xéc-văn-téc
Bài làm
Tại đất nước Tây Ban Nha, xứ Mantra có một nhà quý tộc sa sút tên là Ki-ha-da. Lão đã chừng năm mươi tuổi, gầy gò và cao lênh khênh. Suốt ngày lão say mê đọc tiểu thuyết kiếm hiệp nên nỗi đầu óc mụ mẫm, lú lẫn. Ki-ha-đa mơ ước trở thành hiệp sĩ giang hồ để phò nguy cứu khổ, diệt trừ cái ác, lập lại công bằng cho thiên hạ.
Để thực hiện ước mơ của mình, Ki-ha-đa lục lọi tìm tòi bằng được bộ trang phục kị sĩ cũ kỹ, han ri của cụ tổ để lại rồi đem sửa chữa, lau chùi cẩn thận, chuẩn bị lên đường. Để cho đúng với tư cách một nhà quý tộc, Ki-ha- đa tự phong cho mình là hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê xứ Mantra; phong cho con ngựa gầy còm của mình là kị mã Rôxinantê. Học theo các hiệp sĩ trong truyện tranh, Ki-ha-đa cũng tự tìm cho mình một tình nương trong mộng tường, gã nhớ tới cô gái làng Tôbôxô và đạt cho nàng một cái tên thật kêu: Công nương Đuynxinêa làng Tôbôxô.
Một buổi sớm, Đôn Ki-hô-tê nai nịt chỉnh tề, ngồi ngất ngưởng trên lưng con ngựa Rôxinantê ra đi, bắt đầu cuộc đời hiệp sĩ giang hồ. Tới một quán trọ bên đường, gã tưởng tượng đó là một tòa lâu đài, chủ quán là lãnh chúa và trịnh trọng xin ông làm lễ tấn phong cho gã.
Sung sướng vì đã trở thành một hiệp sĩ, gã háo hức rong ruổi khắp nẻo đường để diệt trừ cái ác, làm sáng danh hiệp sĩ xứ Mantra. Gặp một mục đồng bị trói và bị đánh đòn, gã thúc ngựa tới. Được biết em bị chủ đánh vì để lạc mất một con cừu, gã dương oai ra lệnh cho người chủ cởi trói ngay cho em và hứa không bao giờ đánh đập em nữa. Nhưng Đôn Ki-hô-tê đi chưa được bao xa, người trở lại tiếp tục hành hạ đứa trẻ dã man hơn. Một lần khác, gã phải ra tay với lòng căm giận khôn nguôi vì bọn lái buôn không chịu thừa nhận nàng Đuynxinêa đuy Tôbòxô của gã là người đẹp nhất trần gian. Song Đôn Ki-hô-tê bị một trận đòn nhừ tử, may có bác nông dân nhận ra gã và đưa gã trở về làng.
Không bao lâu, Đôn Ki-hô-tê lại lên đường. Đi trước là hiệp sĩ Đôn Ki- hô-tê ngật ngưỡng trên lưng C011 Rôxinantê, theo sau là bác giám mã Xantrô Panxa – một nông dân cùng làng, với túi thức ăn và bình rượu lớn, cưỡi con lừa thấp tịt. Thấy những chiếc cối xay gió, tưởng đó là bọn khổng lồ độc ác, Đôn Ki-hô-tê hăm hở thúc ngựa xông tới, tay cầm khiên, tay lăm lăm ngọn giáo quyết tiêu diệt bọn khổng lồẵ Cánh quạt cối xay gió quật cả người và ngựa ngà chổng kềnh ra đất.
Tiếp đó, thầy trò Đôn Ki-hô-tê gặp các tu sĩ và đoàn kỵ binh hộ tống xe ngựa chở một phu nhân, tưởng bọn này bắt cóc nàng công chúa xinh đẹp, Đôn Ki-hô-tê ra lệnh họ phải tha công chúa rồi thúc ngựa tấn công các tu sĩ. Mấy ngày sau, nhìn đàn cừu, Đôn Ki-hô-tê nghĩ đó là một đội quân, gã la hét, thúc ngựa xông thảng vào đàn cừu. Ngay sau đó, gã bị những người chăn cừu đánh cho một trận nên thân.
Không nản lòng, thầy trò Đôn Ki-hô-tê tiếp tục cuộc hành trình. Bỗng nhiên họ gặp đám tang một nhà quý phái. Đôn Ki-hô-tê cho rằng một hiệp sĩ nào đó bị tử thương và chàng – một hiệp sĩ xứ Mantra phải có trách nhiệm trả thù cho bạn. Gã hùng hổ xông vào tấn công đám tang.
Vào một đêm nọ, tại quán trọ, Đôn Ki-hô-tê thấy mình bước vào cuộc đấu rất vinh quang của đời hiệp sĩ. Gã đâm chém bao tên khổng lồ, máu chảy chan hòa. Chủ quán vô cùng giận dữ vì ông khách trọ mê ngủ này đã chọc thủng những túi rượu nho làm rượu chảy lênh láng khắp nhà…
Một hôm, cha xứ và người thợ cạo láng giềng phải lập mưu để đưa Đôn Ki-hô-tê về nhà. Nhưng rồi gã lại cùng giám mã của mình tiếp tục lên đường. Lần này, Xantrô được cai trị một hòn đảo. Song đó chỉ là trò mà vợ chồng quận công bày ra để tiêu khiển. Đôn Ki-hô-tê còn gây nên bao chuyện buồn cười, ngớ ngẩn khác. Cuối cùng gia đình và bạn bè tìm cách buộc Đôn Ki-hô-tê phải rời bỏ con đường hiệp sĩ giang hồ. Gã vô cùng buồn khổ và ngày càng trở nên ốm yếu. Trên giường bệnh, gã mới nhận ra những việc làm rồ dại của mình. Đôn Ki-hô-tê viết chúc thư chia tài sản rồi qua đời. | Tóm tắt tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê của Xéc-văn-téc | 836 | |
Tóm tắt truyên ngắn Rừng Xà Nu
Hướng dẫn
Tóm tắt truyên ngắn Rừng Xà Nu
Rừng Xà Nu kể về làng Man, một làng ở Tây Nguyên, làng nằm giữa những cánh rừng Xà nu bạt ngàn, đang ngày đêm gánh chịu mưa bom, bão đạn. Và tại đó, có chàng T nú là người dân tộc S trá. T nú tham gia cách mạng.
Quân. giặc biết được, bắt vợ con anh, hành hạ đánh đạp giã man để dụ anh ra. Chứng kiến cảnh vợ con cùng khổ, anh không chịu được xông ra giữa vòng vây địch để cứu Mai và con. Nhưng anh không cứu được, mẹ con Mai chết, còn anh thì bị giặc bắt đốt trụi mười đầu ngón tay. T nú được dân làng cứu thoát.
T nú tìm đến quân giải phóng, tham gia chiến đấu chống lại bọn giặc. Sau ba năm, anh trở lại lành Man thăm làng vào mọi người. Đêm hôm đó, cả làng ngồi nghe cụ Mết kể lại những chiến công của T nú, chuyện anh bị địch bắt bị tra tấn nhưng vẫn kiên quyết không khai báo, chuyện anh bị đốt 10 đầu ngón tay, chuyện anh cùng làng Man nhất tề thắng bọn giặc…..nhằm giúp dân làng nâng cao tinh thần truyền thống anh hùng bất khuất.
Sáng hôm sau, T nú được cụ Mết, bé Heng, Dít, tiễn anh lên đường tiếp tục đánh đuổi giặc ngoại xâm. Họ chia tay nhau ở đồi Xà nu. | Tóm tắt truyên ngắn Rừng Xà Nu | 249 | |
Đề bài: Tóm Tắt Truyền Thuyết Bánh Chưng Bánh Dày Theo Trí Nhớ Của Em
Bài Làm
Vua Hùng thứ sáu có hai mươi người con trai, cả hai mươi người con, ai cũng đều giỏi giang nên vua không thể lựa chọn được người sẽ nối nghiệp mình. Nhà vua luôn nói với những người con trai của mình rằng, người được lựa chọn không nhất thiết phải là con trưởng, người con nào làm vừa ý nhà vua trong lễ Tiên vương của mình thì sẽ được đức vua truyền ngôi cho.
Các lang đều đua nhau sắm những lễ vật thật hâu, thật ngon và độc nhất vô nhị, đây đều là những sản vật được các lang cho người đi khắp nơi tìm kiếm chỉ với mong muốn lấy được lòng của nhà vua. Nhưng chỉ duy nhất có người con trai thứ mười tám của đức vua là Lang Liêu, chàng vẫn rất buồn vì chàng rất nghèo, chàng không có đủ tiền để tìm kiếm sản vật như các anh trai của mình được. Do ngày bán mặt cho đất, bán lung cho trời mà chàng không có của để, thứ duy nhất chàng có là lúa. Vì suy nghĩ quá nhiều mà chàng đã thiếp đi, trong giấc mơ, một vị thần đã bảo với chàng cách làm lễ vật. Tỉnh dậy, chàng lấy gạo nếp, đậu xanh và thịt lợn làm thành hai thứ bánh, một loại bánh tròn tượng trưng cho trời, một loại bánh vuông, tượng trưng cho đất. Bánh tròn chàng đặt tên là bánh giầy, bánh hình vuông là bánh chưng. Nhà vua rất hài lòng về lễ vật co Lang Liêu dâng lên nên ngài đã quyết định nhường ngôi cho chàng. | Tóm Tắt Truyền Thuyết Bánh Chưng Bánh Dày _ Bài Văn Hay | 292 | |
Tóm tắt truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo lời nhân vật Trọng Thủy ngắn gọn
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo lời nhân vật Trọng Thủy ngắn gọn
Tôi là Trọng Thủy, con của Triệu Đà. Đất nước chúng tôi vốn là láng giềng với nước Âu Lạc. Khi xây dựng đất nước Âu Lạc, vua An Dương Vương xây thành nhưng cứ đắp tới đâu thì nở tới đó, phải nhờ đến sự giúp đỡ của rùa vàng mới xây xong. Trước khi từ biệt, rùa còn tặng cho vua một cái móng vuốt để làm nỏ thần, có thể bắn trăm phát trăm trúng. Vì thế mà mấy lần cha tôi đem quân xâm lược đều thất bại. Một thời gian sau, cha sai tôi sang cầu hôn con gái An Dương Vương là Mị Châu. Tôi bảo Mị Châu lấy nỏ thần cho mình xem rồi đánh tráo đem về nước. Khi cha tôi đem quân xâm lược, mất nỏ thần, lại chủ quan nên An Dương Vương thất bại, cùng Mị Châu chạy về biển Đông. Nhà vua cầu cứu Rùa Vàng, Rùa Vàng bảo: “Giặc sau lưng nhà vua đó”. An Dương Vương hiểu ra, tuốt kiếm chém đầu Mị Châu rồi cùng rùa vàng rẽ nước xuống biển Đông. | Tóm tắt truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo lời nhân vật Trọng Thủy ngắn gọn | 226 | |
Tóm tắt truyện Bánh chưng bánh giầy
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Bánh chưng bánh giầy lớp 6
Tóm tắt truyện Bánh chưng bánh giầy khái quát lại các nội dung chính của Truyện Bánh chưng bánh giầy một cách ngắn gọn, giúp học sinh nắm được những nội dung cơ bản của bài học. Hi vọng bài tóm tắt truyện Bánh chưng bánh giầy này sẽ hữu ích với quý thầy cô và các em học sinh trong việc soạn bài Bánh chưng bánh giầy.
Tóm tắt truyện Bánh chưng bánh giầy – Ngữ văn lớp 6
Bánh chưng bành giầy là câu chuyện cổ tích kể về vua Hùng Vương thứ sáu về già muốn truyền ngôi lại cho người con vừa có đức vừa có tài, mà ông có đến 20 người con. Nhân lễ Tiêu Vương, vua Hùng truyền rằng ai tìm được thức ngon vật lạ vừa ý vua để đặt lên bàn thờ tổ tiên thì ông sẽ truyền ngôi cho.
Các lang ai cũng háo hức thi nhau sắm cỗ lễ thật hậu thật ngon lạ để dâng lên tổ tiên, nhằm được vua Hùng truyền ngôi. Trong các con vua có Lang liêu là con thứ 18 là buồn nhất vì từ nhỏ mẹ mất nên chỉ làm việc đồng áng, không biết phải làm thế nào.
Một đêm nằm mộng, Lang Liêu được vị thần mách bảo, chàng làm một loại bánh từ gạo nếp, đậu xanh và thịt heo nặn hai thứ bánh, hình tròn tượng trưng cho trời, hình vuông tượng trưng cho đất.
Đến ngày lễ, sau khi các anh đã dâng lễ vật đều không vừa ý vua, đến lượt Lang Liêu, vua cha vừa thấy bánh ngon lại ý nghĩa nên đã truyền ngôi cho chàng. Từ đó, việc gói bánh chưng, bánh giầy trở thành tục lễ của người Việt Nam mỗi khi Tết đến xuân về nhằm thể hiện thành kính đối với Tổ Tiên.
Vua Hùng thứ sáu có hai mươi người con trai, cả hai mươi người con, ai cũng đều giỏi giang nên vua không thể lựa chọn được người sẽ nối nghiệp mình. Nhà vua luôn nói với những người con trai của mình rằng, người được lựa chọn không nhất thiết phải là con trưởng, người con nào làm vừa ý nhà vua trong lễ Tiên vương của mình thì sẽ được đức vua truyền ngôi cho.
Các lang đều đua nhau sắm những lễ vật thật hâu, thật ngon và độc nhất vô nhị, đây đều là những sản vật được các lang cho người đi khắp nơi tìm kiếm chỉ với mong muốn lấy được lòng của nhà vua. Nhưng chỉ duy nhất có người con trai thứ mười tám của đức vua là Lang Liêu, chàng vẫn rất buồn vì chàng rất nghèo, chàng không có đủ tiền để tìm kiếm sản vật như các anh trai của mình được. Do ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời mà chàng không có của để, thứ duy nhất chàng có là lúa. Vì suy nghĩ quá nhiều mà chàng đã thiếp đi, trong giấc mơ, một vị thần đã bảo với chàng cách làm lễ vật. Tỉnh dậy, chàng lấy gạo nếp, đậu xanh và thịt lợn làm thành hai thứ bánh, một loại bánh tròn tượng trưng cho trời, một loại bánh vuông, tượng trưng cho đất. Bánh tròn chàng đặt tên là bánh giầy, bánh hình vuông là bánh chưng. Nhà vua rất hài lòng về lễ vật của Lang Liêu dâng lên nên ngài đã quyết định nhường ngôi cho chàng.
Cũng bởi vậy mà trong ngày tết cổ truyền của Việt Nam không thể nào thiếu 2 món bánh đơn giản nhưng đầy ý nghĩa trên bàn thờ tổ tiên.
Tóm tắt truyện Bánh chưng bánh giầy mẫu 3
Truyện cổ tích bánh chưng bánh giầy kể về câu chuyện vua Hùng vương thứ sáu sau khi đánh dẹp bọn giặc xâm lược, bèn gọi các con đến họp đông đủ và truyền rằng nếu ai tìm được thức ngon vật lạ để đặt lên bàn thờ tổ tiên thì sẽ truyền ngôi cho.
Các con của vua Hùng ai cũng háo hức lên rừng xuống biển tìm thức ngon vật lạ chỉ mong được dâng lên bàn thờ tổ tiên và được vua hùng truyền ngôi cho. Lang liêu là hoàng tử thứ 18, mẹ mất sớm nên rất lo lắng chưa biết phải làm như thế nào, chọn gì để dâng lên vua cha.
Một hôm, đang nằm ngủ thì được một vị thần mách nước, bảo cho làm một loại bánh sau này được gọi là bánh chưng bánh giầy. Lang liêu bắt tay vào làm, đi tìm gạo nếp, lá gói ngoài tượng trưng cho sự che chở của cha mẹ và gói thành bánh vuông. Xôi sau khi được giã nhuyễn được làm thành một chiếc bánh hình tròn. Hai chiếc bánh này một vuông một tròn tượng trưng cho trời đất.
Sau khi các anh của chàng dâng lên vua cha bao nhiêu của ngon vật lạ, tới lượt Lang Liêu, chàng dâng lên vua cha. Thấy lạ, vua cha hỏi lại và chàng kể lại sự tình, sau đó vì thấy bánh vừa ngon vừa ý nghĩa bèn truyền lại ngôi cho Lang Liêu. Sự tích bánh chưng bánh giầy ra đời từ đây.
+ Vua Hùng về già muốn truyền ngôi nhưng có 20 con bèn gọi phán bảo nhân lễ Tiêu Vương ai làm vừa ý sẽ truyền ngôi cho.
+ Các lang thi nhau làm cỗ thật hậu, thật ngon.
+ Lang Liêu buồn nhất vì từ bé chỉ biết mỗi việc đồng áng.
+ Một đêm chàng được thần báo mộng cách làm bánh, sáng ra chàng theo lời thần làm bánh.
+ Ngày lễ bánh của Lang Liêu được chọn dâng Tiên Vương, chàng được nối ngôi.
+ Nước ta có tục làm bánh chưng bánh giầy.
Mời các em tham khảo tài liệu liên quan: Tóm tắt truyện Con Rồng cháu Tiên
Để chuẩn bị cho kì thi học kì 1 sắp tới đây thì ngoài đề cương ôn tập học kì 1 lớp 6, các em học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì 1 lớp 6 này giúp các em rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn, Chúc các em ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Tóm tắt truyện Bánh chưng bánh giầy | 1,097 | |
Đề bài: Tóm tắt truyện Bến quê của Nguyễn Minh Châu
Bài làm
Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, nhưng anh chưa bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa nhà mình.
Thế mà giờ đây, Nhĩ ốm nằm liệt giường. Phiến lưng đã có nhiều mảng da thịt vừa chai cứng vừa lở loét. Đầu thu hoa bằng lăng đã thưa thớt và nhạt màu, bờ bãi sông Hồng phô ra một màu vàng thau xen với màu xanh non trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ. Anh đang nằm trên tấm phản cho Liên, vợ anh bón thức ăn, và cho Tuấn, đứa con trai thứ hai cầm chiếc khăn bông tẩm nước ấm khẽ lau miệng…. Liên mặc áo vá, anh ngắm nhìn rồi khẽ thốt lên: "'Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm…mà em vẫn nín nhịn. Câu chuyện tâm tình mơ ước, Liên rót thuốc vào bát chiết yêu, dặn dò con vài điều, rồi rón rén buớc xuống cầu thang. Thằng Tuấn gần một năm nay đi học tận trong một thành phố phía Nam mới về thăm nhà tối hôm qua đang ngồi vừa nhặt rau vừa đọc sách vội chạy lên khi nghe Nhĩ gọi. Anh ngắm đứa con, thấy nó càng lớn càng có nhiều nét giống anh. Người cha sắp từ giã cõi đời đang giấu một điều tâm sự bí mật gì đó trong cái vẻ lúng túng, chợt hỏi con: "Đã bao giờ Tuấn… bên kia chưa”. Theo lời yêu cầu khẩn khoản của Nhĩ, đứa con trai mặc quần áo, đội chiếc mũ nan rộng vành, giắt vào người mấy đồng bạc ra đi sang bên sông.
Nhĩ mệt lử đau nhức…, anh cất tiếng gọi yếu ớt, "Huệ ơi! Một cô bé rất xinh đẹp chạy sang. Cô bé lễ phép hỏi Nhĩ, rồi cất tiếng gọi. Cả một lũ trẻ ở tầng dưới lần lượt chạy lên. Chúng xúm vào và rất nương nhẹ giúp Nhĩ từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản độ năm chục phân mà anh tưởng đi một nửa vòng trái đất. Anh càng yêu lũ trẻ trong ngôi nhà mình.
Ngồi cạnh bậu cửa, sau lưng chống gối kè cao, Nhĩ được nhìn thấy cánh buồm. Con đò, khách qua lại bến sông. Nhĩ nghĩ về vợ anh, đứa con trai của anh. Anh đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày đau ốm.
Ông giáo Khuyến, cụ già hàng xóm lại sang thăm Nhĩ. Cụ hốt hoàng chợt thấy mặt mũi Nhĩ đỏ rựng lên một cách khác thường. Ngay lúc ấy con đò ngang cũng vừa cập bến. | Tóm tắt truyện Bến quê của Nguyễn Minh Châu | 459 | |
Tóm tắt truyện Bức tranh của em gái tôi
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Bức tranh của em gái tôi lớp 6
VnDoc xin giới thiệu cho các bạn Văn lớp 6: Tóm tắt truyện Bức tranh của em gái tôi hay nhất nhằm giúp các bạn chuẩn bị tốt nhất cho các bài kiểm tra, thi giữa học kì, thi học kì hay những kì thi quan trọng khác. Chúc các bạn học tập tốt và có điểm cao trong các kì thi sắp tới.
Tóm tắt truyện Bức tranh của em gái tôi – Ngữ văn lớp 6
Bài tham khảo 1
Nhà có hai anh em, Kiều Phương là em gái. Hai anh em vốn quý mến nhau, anh đặt cho em biệt danh là “Mèo” và được em rất thích. Biết em lấy nhọ nồi và phẩm màu tự chế thuốc vẽ nhưng anh cũng không mách mẹ. Em tinh nghịch, có trêu anh thì anh cũng vui vẻ cho qua.
Thế rồi, một hôm, chú Tiến Lê, bạn của bố, phát hiện Kiều Phương có năng khiếu đặc biệt về hội họa. Từ hôm đó, mọi người cố gắng tạo điều kiện cho Kiều Phương rèn luyện, phát triển khả năng. Thấy vậy, anh rất buồn vì cảm thấy mình bị coi thường, vì mình bất tài. Tâm trạng ấy khiến anh không thân thiện với em nữa, anh hay bắt bẻ em. Còn em vẫn hồn nhiên như trước kia.
Kiều Phương được đi dự trại thi vẽ thiếu nhi quốc tế. Trước khi đi, Kiều Phương có vẻ xét nét anh hơn. Trong cuộc thi ấy, Kiều Phương đã được giải nhất. Kiều Phương mời cả anh đi nhận giải cùng mình. Trong phòng trưng bày tranh, người anh đã “ngỡ ngàng, rồi đến hãnh diện, sau đó là xấu hổ” trước bức tranh em gái vẽ mình là người anh hoàn hảo. Anh hiểu ra rằng bức tranh ấy là tâm hồn và lòng nhân hậu của em gái.
Câu truyện kể về hai anh em Kiều Phương (còn gọi là mèo) qua lời kể của người anh. Mèo là một cô bé hay nghịch ngợm nhưng lại có năng khiếu vẽ đặc biệt. Sau một thời gian theo dõi, nhất là khi nghe chú Tiến Lê khen tranh của em gái, người anh rơi vào trạng thái mặc cảm. Trạng thái tâm lý này khiến người anh thường gắt gỏng với Mèo mặc dù cô bé chẳng có tội tình gì. Nhưng thật bất ngờ, bức tranh đạt giải của Kiều Phương lại là bức tranh vẽ về người anh thân yêu của mình. Trước bức tranh, người anh nhận ra tấm lòng nhân hậu của em gái và hối hận vì đã có lúc mình đã đối xử không đúng với em.
Bài tham khảo 3
Câu truyện kể về hai anh em Kiều Phương với biệt danh là “Mèo”. Mèo là một cô bé hay nghịch ngợm nên hay bôi bẩn ra mặt nhưng lại có năng khiếu vẽ đặc biệt.
Một lần tình cờ chú Tiến Lê- một người bạn thân của bố phát hiện ra tài năng của Mèo, khen tranh của Mèo. Điều đó khiến người anh ghen tị với cô. Trạng thái tâm lý này khiến người anh thường gắt gỏng với Mèo mặc dù cô bé chẳng có tội tình gì.
Kiều Phương được đi dự trại thi vẽ tranh quốc tế, điều đó làm anh trai thấy đố kị. Nhưng thật bất ngờ, bức tranh đoạt giải của cô em gái lại là bức tranh vẽ về người anh thân yêu của mình. Bức tranh vẽ về người anh trai đẹp lung linh và rất hoàn hảo khiến người anh từ hãnh diện đến xấu hổ. Trước bức tranh, người anh nhận ra tấm lòng nhân hậu của em gái và hối hận vì đã có lúc mình đã đối xử không đúng với em.
Câu chuyện kể về người anh và cô em gái có tài hội hoạ tên là Kiều Phương – thường gọi là Mèo. Khi tài năng hội họa của em gái được phát hiện, người anh thấy buồn, thất vọng vì mình không có tài năng và cảm thấy mình bị cả nhà lãng quên. Từ đó, cậu nảy sinh thái độ khó chịu, hay gắt gỏng với em gái và không thể thân với em như trước. Đứng trước bức tranh đạt giải nhất của em gái, cậu bất ngờ vì hình ảnh mình qua cái nhìn của em. Người anh nhận ra những yếu kém của mình và hiểu được tâm hồn và tấm lòng nhân hậu của cô em gái.
Bài tham khảo 5
Người anh coi thương cô em gái Kiều Phương nên đặt tên là Mèo vì mặt cô bé hay bị bôi bẩn lem luốc. Một hôm, người anh thấy em gái tự chế ra màu vẽ. Khi tài năng hội hoạ được phát hiện và khẳng định, Kiều Phương được cả nhà yêu mến và quan tâm. Người anh cảm thấy mình bất tài và ruồng bỏ. Lén xem những bức tranh em gái vẽ, cậu ta phải công nhận là đẹp. Được sự giới thiệu của hoạ sĩ Tiến Lê, cô bé được tham gia cuộc thi vẽ quốc tế thiếu nhi và được giải nhất với bức tranh anh trai tôi.
Đứng trước bức tranh, cảm giác của người anh chuyển từ ngỡ ngàng sang hãnh diện, sau đó là sấu hổ. Cậu nhận ra những điều đáng trê trách của mình cùng với tâm hồn trong sáng và lòng nhân hậu đáng quý cả em gái.
Tóm tắt bài Sông nước Cà Mau
Ngoài đề cương ôn tập môn Ngữ văn học kì 1 lớp 6, các bạn học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì 1 lớp 6 này giúp các bạn rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn, Chúc các bạn ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Tóm tắt truyện Bức tranh của em gái tôi | 1,023 | |
Đề bài: Tóm tắt truyện Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng
Bài làm
Tác giả ghi lại câu chuyện do một đồng chí già kể lại tại một trạm giao liên giữa rừng tràm:
Lần đó, đoàn chúng tôi từ trạm M.G đến trạm L.A đi trên chiếc xuồng máy đuôi tôm do một cô gái người mảnh khảnh, vai mang cây “cúc-bin" báng xếp của Mĩ, đầu chịt khăn, dáng điệu gọn gàng điều khiển và dẫn đường. Chặng đường phải vượt qua rất dễ bị trực thăng, dễ gặp biệt kích. Trước đó người ta đồn ở trạm này có một cô giao liên rất thông minh, mưu trí có cái mũi rất thính, có thể phân biệt được mùi địch, mùi nào là Mĩ, mùi nào là ngụy… Lúc lên đường, tôi mới gặp cô giao liên độ mười tám hai mươi là cùng, và biết thêm ở trạm này chỉ có một chị nuôi và một nữ giao liên chính là cô gái ấy nên tôi rất mừng. Trước khi xuồng nổ máỵ cô căn dặn mỗi người có gì quan trọng nên để trong túi áo, hoặc để trong cái gói riêng. Tôi chợt nhớ ra, mở bồng, lấy cây lược cho vào túi nhái đựng giấy tờ bỏ vào túi ngực, rồi cài kim tây lại thật cẩn thận.
Trong những ngày đầu hòa bình vừa lập lại, tôi và ông Sáu đôi bạn cùng về thăm quê, nhà chúng tôi ở cạnh nhau gần vàm kinh nhỏ đổ ra sông Cửu Long. Đầu năm 1946, hai chúng tôi cùng đi bộ đội, khi đó bạn tôi đã có một đứa con gái lên một tuổi. Khi về thăm quê, xuồng vừa cập bến bạn lôi thấy một đứa con gái độ 8 tuổi, tóc cắt ngang tai, mặc quần đen… đang chơi trước sân nhà… Biết là con mình, anh Sáu vội bước tới kêu to: “Thu! Con". Nhưng đứa bé ngơ ngác, lạ lùng, tròn mắt nhìn. Bạn tôi bị xúc động, vết thẹo dài trên má phải đỏ ửng lên. Anh run run gọi: “Ba đây con!" nhưng con bé tái mặt đi, vụt bỏ chạy và kêu thét lên! Mấy ngày phép ngắn ngủi ở nhà, con bé không kịp nhận ra ông Sáu là ba nó. Nó gọi trống không. Chắt nước cơm, nhắc nồi cơm,… nó cũng đáo để chẳng thèm nhờ ông Sáu. Lúc ăn cơm, ông Sáu gắp cho nó cái trứng cá to vàng thì nó bất thần hất cái trứng cá ra, cơm văng tung tóc cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, bạn tôi vung tay đánh vào mông nó và hét lên: "Sao mày cứng đầu quá vậy. hả?". Đứa con gái bỏ sang nhà ngoại và khóc ở bên ấy.
Sáng hôm sau, hai anh em chúng tôi chuẩn bị lên đường trở về đơn vị. Bà con đến rất đông để đưa tiễn ông Sáu. Con bé Thu cũng từ nhà ngoại trở về, và mặt nó có cái gì hơi khác. Lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay mọi người bạn tôi đưa mắt tìm con, rồi khẽ nói: "Thôi! Ba đi nghen con!". Bỗng con bé kêu thét lên: “Ba… tí… a…ba!" Nó chạy xô đến, dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó hôn tóc, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên mặt ba nó làm nó không nhận ra được ba nó. Nằm nghe hà giảng giải, nó nằm im thở dài… Lúc nó vừa nhận ra thì ba nó đã đến lúc đi rồi… Nó ôm chặt lấy ba nó rồi dang hai chân câu chặt lấy ba nó, không cho ha nổ đi. Mẹ nó vỗ về mãi. Anh Sáu hứa với nó thống nhất ba sẽ về… Ngoại dỗ nó: để ba cháu đi, ba sẽ mua cho cháu một cây lược. Con bé mếu máo: "Ra về! Bu mua cho con một cây lược nghe ba!
Lần ấy, hai anh em tôi không đi lập kết mà trở lại miền Đông hoạt động bí mật. Sống và hoạt động ở rừng ở cứ, có đêm bị biệt kích vây bắt đến ba lần, thiếu gạo ăn, toàn ăn bắp. Bạn tôi nằm võng, nhớ con và ân hận sao mình lại đánh con. Nỗi khổ tâm dày vò anh mãi. Rồi sau đó, anh lấy vỏ đạn hai mươi li của Mĩ cắt thành một cây cưa nhỏ. Anh tìm được một khúc ngà voi rồi thận trọng, tỉ mỉ làm thành một chiếc lược ngà dài hơn một tấc, bẻ ngang độ ba phân rưỡi, trên sống lưng lược có khắc dòng chữ: “ Yêu nhớ tặng Thu con của ba". Một ngày cuối năm năm mươi tám, trong một trận càn lớn, anh Sáu bị đạn máy bay Mĩ bắn trúng vào ngực, trước lúc nhắm mắt, anh đưa tay móc túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Mộ anh được chôn bằng giữa rừng. Gia đình chị Sáu cũng không còn ở làng nữa, nghe đâu chị chạy lên Sài Gòn, có lần lại nu he chị Sáu quay về miền Đông…
Ngồi trên xuồng, trong ánh sao đêm, nhìn gương mặt cô giao liên, tôi cảm thấy quen lắm, cố nhớ mà không nhớ ra. Chuyến đi ấy đụng giặc cô giao liên ở lại chặn biệt kích. Sáng hôm sau, tôi mới gặp lại cô, vừa ra khỏi chỗ nguy hiểm mà mặt cô cứ phơi phới. Cặp mắt sáng ngây thơ, tai đeo bông tòn teng. Làm quen, tôi ướm hỏi mới biết cô tên Thu, ở Cù Lao Giêng quận Chợ Mới, tỉnh Long Châu Sa. Đoàn khách chúng tôi lại sắp lên đường, tôi hỏi lại: “Có phải ba cháu là Sáu, má cháu là Bình phải không? Trao lại chiếc lược ngà cho cô giao liên. Cô gái chớp mắt, lệ sắp rơi bỗng tràn ra đôi mắt. Lên đường, lúc chia tay tôi buột miệng nói: “Thôi, ba đi nghen con!" Đôi môi tái nhợt của cô gái mấp máy. Đi một quãng xa, tôi nhìn lại, thấy cháu đứng trên bờ mẫu, sóng lúa rập rờn chạy đến như vỗ về cháu. Sau lưng cháu, trong đám lá dừa bị chất độc hóa học cọng khô lủng lẳng…, những đọt non vừa đâm lên, xa trông như một rừng gươm… | Tóm tắt truyện Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng | 1,082 | |
Tóm tắt truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng lớp 6
Tóm tắt truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng được VnDoc sưu tầm và đăng tải không chỉ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh mà còn là tài liệu hữu ích dành cho quý phụ huynh cũng như giáo viên sử dụng để kèm các em học thêm. Mời các em cùng quý thầy cô và quý giáo viên tham khảo
Bài tham khảo 1
Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay và bác Tai vì ghen tị với lão Miệng chỉ ăn mà không làm gì cả nên bàn nhau để mặc lão Miệng, không cho lão ăn gì nữa. Mặc lão Miệng tha hồ ngạc nhiên, sửng sốt, sau khi thông báo cho lão Miệng biết, cả bọn kéo nhau ra về.
Một ngày, hai ngày, ba ngày… cả bọn đã thấy mệt mỏi rã rời. Không ai làm nổi việc gì nữa. Đến ngày thứ bảy thì không ai còn chịu nổi. Bác Tai là người nhận ra sai lầm đầu tiên, bèn nói rõ phải trái, rủ cả bọn đến xin lỗi lão Miệng và lại cho lão ăn như xưa. Ăn xong ai nấy đều khoẻ trở lại. Chúng hiểu rằng lão Miệng tuy thế nhưng cũng có công việc của lão, một công việc rất quan trọng, liên quan đến tính mạng của cả bọn.
Từ đó lão Miệng, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay và bác Tai lại sống hoà thuận, ai làm việc nấy, không ai còn ghen tị với ai nữa.
Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng vốn sống hòa thuận với nhau vui vẻ, chan hòa. Bỗng một hôm cô Mắt nói với cậu Tai rằng chúng mình làm nhiều việc vất vả, còn lão Miệng chẳng làm gì mà ngày nào cũng được ăn ngon sung sướng. Cậu Chân cũng nói với cậu tai như thế. Rồi cả bốn người đều nói với cậu Miệng rằng từ nay không làm cho ăn nữa. Lão miệng nói thế nào cũng không được. Từ đó miệng bị bỏ đói, Miệng đói thì cô mắt bị mờ, cậu Tai nghễnh ngãng, cậu Chân và cậu tay bải hoải, không nhấc lên được. Cả bốn người dắt nhau đến xem lão Miệng ra sao, thì thấy lão ta cũng nhợt nhạt, mệt mỏi không buồn nhếch mép. Lúc ấy cậu tay lấy cái ăn cho lão Miệng ăn. Lão ăn xong một lúc thì cả bốn người khỏe lại, Mắt sáng ra, Tai tinh, Chân và Tay hăng hái muốn làm việc.
Bài học: Trong một tập thể, các thành viên không thể tách rời nhau, phải nương tựa nhau để cùng tồn tại. Phải biết hợp tác, tôn trọng nhau.
Bài tham khảo 3
Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai bỗng một hôm ghen tị với lão Miệng vì bọn họ cảm thấy ai cũng làm việc mệt nhọc quanh năm chỉ riêng lão Miệng không làm gì cả chỉ ăn không ngồi rồi. Họ quyết định để cho lão Miệng tự đi tìm lấy thức ăn.
Tóm tắt truyện Ếch ngồi đáy giếng
Ngoài đề cương ôn tập môn Ngữ văn học kì 1 lớp 6, các em học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì 1 lớp 6 này giúp các em rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn, Chúc các em ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Tóm tắt truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng | 612 | |
Tóm tắt truyện chữ người tử tù
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện chữ người tử tù
Bài làm
Truyện ngắn chữ người tử tù kể về Huấn Cao, ông là một người tử tù do chống lại triều đình nên bị bắt. Tuy nhiên Huân Cao lại là một nhà nho tài hoa uyên bác, nhất là tài viết chữ.
Trước khi ông bị xử tử, ông được giải đến nhà ngục nơi có viên quan ngục và thầy thơ. Đây là hai người rất yêu mộ cái tài viết chữ như rồng bay phượng múa của Huấn Cao. Vì thế, những gày Huấn Cao ở trong ngục đã đực hai người này đối đãi rất tốt,họ còn hầu hạ Huấn Cao như kẻ dưới nhưng ông không màng tới. Khi viết quan ngục biết được ngày Huân Cao bị xử tử, ông và thầy nho quyết xin được được chữ của Huân Cao. Trước sự chân thành, và sự yêu cái đẹp của hai người, Huấn Cao đã thấu hiểu tấm lòng và vô cùng cảm mến họ và ông đã quyết định cho chữ.
Một chuyện trước đây chưa hề có đã diễn ra vào buổi tối trước ngày Huấn Cao bị xử tử, tại nhà lao tỉnh Sơn đó là cảnh ba con người chụm đầu, một người là tử tù đang mang trong mình đầy xiềng xích, nhưng lại đang vẽ ra, phóng ra từng nét chữ trên tấm lụa trắng, bên cạnh là hai cái đầu đang dõi theo, run rẩy, khúm núm chờ đợi của viên quản ngục và thầy thơ.
Nguồn: Bài văn hay | Tóm tắt truyện chữ người tử tù | 264 | |
Tóm tắt truyện Con hổ có nghĩa
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Con hổ có nghĩa lớp 6
Tóm tắt truyện Con hổ có nghĩa được VnDoc sưu tầm và đăng tải không chỉ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh mà còn là tài liệu hữu ích dành cho quý phụ huynh cũng như giáo viên sử dụng để kèm các em học thêm. Mời các em cùng quý thầy cô và quý giáo viên tham khảo
Đề bài: Em hãy kể tóm tắt truyện Con hổ có nghĩa – Ngữ văn lớp 6
Bài tham khảo 1
Truyện Con hổ có nghĩa gồm hai câu chuyện về loài hổ.
Truyện thứ nhất: Một bà đỡ họ Trần người huyện Đông Triều một đêm nọ được hổ cõng vào rừng. Đến nơi bà thấy một con hổ cái đang sinh nở rất khó khăn bèn giúp hổ cái sinh con trót lọt. Hổ đực mừng rỡ đào lên một cục bạc biếu bà. Nhờ có cục bạc của hổ mà bà sống qua được năm mất mùa đói kém.
Truyện thứ hai: Bác tiều ở huyện Lạng Giang đang bổ củi ở sườn núi thấy một con hổ bị hóc xương bèn giúp hổ lấy xương ra. Để tạ ơn, hổ biếu bác một con nai. Khi bác tiều mất, hổ đến viếng. Từ đó, mỗi lần giỗ bác, hổ lại đưa dê hoặc lợn về biếu gia đình bác.
Bài tham khảo 2
Truyện kể về hai có hổ có nghĩa: Con đực đền ơn bà đỡ Trần mười lạng bạc vì bà đã cứu hổ cái qua một cơn đẻ khó. Hổ trán trắng được bác tiều phu gỡ giúp khúc xương mắc ngang họng. Sau đó, nó tha một con nai đến trước nhà để tạ ơn. Hơn mười năm sau, bác tiều phu qua đời, nó đến tận mộ để đưa tiễn ân nhân. Hằng năm, cứ đến ngày giỗ bác tiều phu. Hổ trán trắng lại đưa dê hoặc lợn đến trước nhà bác
Trong truyện thứ nhất, bà đỡ Trần đỡ đẻ cho hổ nên được hổ biếu cục bạc, lại còn đưa ra tận cửa rừng. Trong truyện thứ hai, bác tiều gỡ xương cho hổ, hổ không những biếu bác nai mà khi bác mất còn về viếng, mỗi ngày giỗ còn đem thú rừng đến biếu gia đình bác.
Bà đỡ Trần nửa đêm bị hổ cõng đi, tưởng bị hổ ăn thịt, té ra là hổ nhờ bà giúp hổ cái sinh con. Hổ biếu bà cục bạc, tiễn bà ra tận cửa rừng. Bác tiều phu sau khi gỡ xương cho hổ, chỉ nói chơi rằng: “Hễ được miếng gì lạ thì nhớ nhau nhé”, không ngờ hổ mang nai đến thật, lại còn đến viếng và nhớ đến bác mỗi khi đến ngày giỗ. Đó là những chi tiết hay, thú vị, có tính chất gợi mở cho câu chuyện.
Con hổ thứ nhất chỉ trả ơn bà đỡ Trần có một lần, con hổ thứ hai mang ơn nghĩa và trả nghĩa suốt đời, ngay cả khi bác tiều đã mất.
Bài tham khảo 4
Có bà đỡ người họ Trần huyện Đông Triều được một con hổ cõng vào rừng trong một đêm. Ban đầu, bà sợ lắm. Nhưng khi thấy hổ đực nhỏ nước mắt vào tay mình thì bà nhận ra hổ cái đang đau bụng, cần phải sinh ra con ngay. Sẵn có thuốc, bà liền hòa với nước sông và cho hổ cái uống. Hổ cái đẻ được con. Hổ đực mừng rữ, hổ cái thì nằm bẹp xuống. Hổ đực liền đào từ đất lên một cục bạc, tặng bà đỡ Trần và tiễn bà về. Khi bà về đến làng, hổ liền gầm một tiếng. Năm đó là năm mất mùa, nhưng nhờ có cục bạc mà bà qua khỏi năm đó
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 14: Con Hổ có nghĩa
Ngữ văn lớp 6: Kể lại truyện Con hổ có nghĩa
Kể tóm tắt truyện: Lợn cưới, áo mới – Treo biển
Ngoài đề cương ôn tập môn Ngữ văn học kì 1 lớp 6, các em học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì 1 lớp 6 này giúp các em rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn, Chúc các em ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Tóm tắt truyện Con hổ có nghĩa | 762 | |
Tóm tắt truyện Con Rồng cháu Tiên
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Con Rồng cháu Tiên lớp 6
Tóm tắt truyện Con Rồng cháu Tiên khái quát lại các nội dung chính của Truyện Con Rồng cháu Tiên một cách ngắn gọn, giúp học sinh nắm được những nội dung cơ bản của bài học. Hi vọng bài tóm tắt truyện Con Rồng cháu Tiên này sẽ hữu ích với quý thầy cô và các em học sinh.
Tóm tắt truyện con Rồng cháu Tiên – Ngữ văn lớp 6
Đề bài: Em hãy kể tóm tắt truyện con Rồng cháu Tiên.
Ngày xưa ở Lạc Việt có một vị thần nòi rồng gọi là Lạc Long Quân, sống ở dưới nước, thỉnh thoảng lên cạn trừ bọn yêu quái và dạy dân trồng trọt. Ở vùng núi cao bấy giờ có nàng Âu Cơ tuyệt trần nghe tiếng miền đất Lạc thần đã tìm đến thăm. Âu Cơ, Lạc Long Quân gặp nhau và trở thành vợ chồng.
Âu Cơ có mang, sinh ra cái bọc trăm trứng nở ra 100 người con khôi ngô khỏe mạnh. Vì không quen sống ở cạn nên Lạc Long Quân đem 50 con xuống biển – Âu Cơ đem 50 con lên núi, dặn nhau không bao giờ quên lời hẹn. Người con trưởng theo Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, mười mấy đời truyền nối không thay đổi.
Bởi sự tích này mà người Việt Nam khi nhắc đến nguồn gốc của mình thường xưng là con Rồng cháu Tiên.
Xưa, ở miền đất Lạc Việt có một vị thần thuộc nòi Rồng, tên là Lạc Long Quân. Trong một lần lên cạn giúp dân diệt trừ yêu quái, Lạc Long Quân đã gặp và kết duyên cùng nàng Âu Cơ vốn thuộc dòng họ Thần Nông, sống ở vùng núi cao phương Bắc. Sau đó Âu Cơ có mang và đẻ ra cái bọc một trăm trứng. Sau đó, bọc trứng nở ra một trăm người con. Vì Lạc Long Quân không quen sống trên cạn nên hai người đã chia nhau người lên rừng, kẻ xuống biển, mỗi người mang năm mươi người con.
Người con trưởng theo Âu Cơ, được lên lên làm vua, xưng là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Khi vua cha chết thì truyền ngôi cho con trưởng, từ đó về sau, cứ cha truyền con nối đến mười tám đời, đều lấy hiệu là Hùng Vương.
Tóm tắt truyện con Rồng cháu Tiên mẫu 3
Ngày xửa, ngày xưa, có chàng Lạc Long Quân tài giỏi, tinh thông võ nghệ, là con của vua dưới biển, chàng lên bờ dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi, giúp dân có cuộc sống tốt hơn. Chàng giúp dân diệt trừ yêu tinh, cáo chín đuôi (hình như chỗ này con gì nữa mình ko nhớ). Rồi chàng gặp và yêu nàng Âu Cơ. Âu Cơ sinh ra 1 bọc trứng nở 100 người con. Cuộc sống hạnh phúc trôi qua, nhưng một ngày họ nhận ra rằng ko thể sống mãi bên nhau vì 1 người là tiên trên núi, 1 người là rồng dưới biển. Lạc Long Quân dẫn 50 con xuống biển, Âu Cơ đưa 50 con lên non. Con trưởng đi theo mẹ, lập ra nước Văn Lang, là nhà Nước đầu tiên của Việt Nam.
Thưở xa xưa ở miền Lạc Việt có một vị thần, nòi rồng, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, là con trai của nữ thần Lạc Long Nữ nơi thuỷ cung tráng lệ.
Lạc Long Quân có sức khoẻ phi thường, lắm phép lạ, đã vì dân mà ra tay diệt Hồ Tinh, Ngư Tinh, Mộc Tinh và nhiều yêu quái khác. Thần còn dạy dân biết cách trồng trọt, chăn nuôi, săn bắn, chài lưới, cách làm nhà để ở,…
Cũng thuở ấy, ở vùng núi phương Bắc có nàng Âu Cơ, thuộc dòng dõi Thần Nông, tuyệt trần xinh đẹp. Nghe tin vùng đất Lạc Việt phương Nam là một xứ sở nhiều hoa thơm cỏ lạ, Âu Cơ bèn du ngoạn tới thăm.
Âu Cơ gặp Lạc Long Quân yêu nhau rồi nên vợ nên chồng. Sau mối kỳ duyên hạnh ngộ, Âu Cơ đẻ ra một cái bọc trăm trứng, nở ra một trăm đứa con trai khôi ngô, tuấn tú tuyệt trần. Cuộc sống đang diễn ra vô cùng hạnh phúc, thì một hôm Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: Ta vốn nòi rồng sống ở nước, nàng là dòng tiên ở non cao. Khó ở với nhau một nơi lâu dài được. Ta sẽ đưa năm mươi con xuống biển; nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau trấn giữ các phương khi cớ sự nhớ giúp nhau, chớ sai lời hẹn….
Mời các em tham khảo tài liệu liên quan
Nhằm đáp ứng các em học sinh học tập và rèn luyện để chuẩn bị ôn tập và thi học kì 1 lớp 6, các em theo dõi và tham khảo thêm các dạng đề thi các môn Toán, Lý,…Ngữ văn lớp 6. Ngoài ra các em tham khảo thêm về các bài Văn miêu tả Những bài văn mẫu tả cảnh lớp 6 hay nhất để củng cố kiến thức lớp 6. Mời các em cùng tham khảo | Tóm tắt truyện Con Rồng cháu Tiên | 894 | |
Tóm tắt truyện Cây bút thần
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Cây bút thần – Ngữ văn lớp 6
Tóm tắt truyện Cây bút thần có cốt truyện đơn giản. Cùng tham khảo các bài văn mẫu lớp 6 sau để biết cách tóm tắt tác phẩm Cây bút thần, từ đó học tốt môn Ngữ văn 6, đạt kết quả cao trong các bài thi, bài kiểm tra. Mời các em tham khảo bài Văn mẫu dưới đây
Tóm tắt truyện Cây bút thần – Văn lớp 6
Bài tham khảo 1
Mã Lương là cậu bé mồ côi thông minh và say mê học vẽ từ nhỏ. Em vẽ khắp nơi trốn núi, ven sông, dưới nước, trên tường… nhưng vì nghèo, cậu ước ao được vẽ tranh nhưng vẫn không mua được bút vẽ.
Một hôm em nằm mơ được cụ già râu tóc bạc phơ cho chiếc bút thần bằng vàng. Mã Lương cảm ơn và vô cùng vui sướng.
Mã Lương vẽ chim, chim bay lên trời, vẽ cá, cá trườn xuống sông. Em vẽ cuốc, vẽ cày, vẽ đèn, vẽ thùng múc nước cho người nghèo trong làng.
Tên địa chủ biết chuyện bèn sai đầy tớ bắt Mã Lương về vẽ cho hắn. Bị từ chối, hắn tức giận, đem giam Mã Lương vào chuồng ngựa và bỏ đói.
Mã Lương vẽ bánh để ăn, vẽ lò để sưởi. Địa chủ tức giận sai đầy tớ giết Mã Lương để cướp bút thần. Mã Lương vẽ thang trốn ra ngoài, vẽ ngựa để chạy trốn, vẽ cung tên bắn chết tên địa chủ đang cầm dao đuổi theo.
Thấy không ăn thua, vua bèn xuống nước dỗ dành và hứa gả công chúa cho Mã Lương. Mã Lương vờ đồng ý rồi vẽ biển xanh, vẽ thuyền rồng cho vua cùng cả triều thần đi chơi ngắm cá. Cuối cùng, Mã Lương vẽ cuồng phong dữ dội nhấn chìm thuyền rồng, chôn vùi tên vua tham lam, độc ác.
Sau đó không ai biết Mã Lương đi đâu. Có người nói em đã trở về quê cũ nhưng cũng có người nói em đi khắp nơi, dùng cây bút thần để giúp đỡ những người nghèo.
Bài tham khảo 2
Mã Lương là một em bé thông minh, mồ côi nghèo khổ say mê học vẽ, vẽ giỏi, ao ước có một cây bút vẽ. Được thần thưởng cho cây bút thần.
Có bút thần trong tay em vẽ các sự vật trở thành vật thật. Em vẽ cho người nghèo công cụ lao động. Việc đến tai tên địa chủ, em bị hắn bắt vẽ theo ý hắn. Mã Lương kiên quyết không vẽ, trừng trị hắn rồi bỏ đi vùng khác. Em vẽ tranh để kiếm sống, sơ ý để lộ tài năng. Vua đã bắt em về vẽ theo ý muốn. Mã Lương chống lại nên bị bắt giam vào ngục. Vua cướp bút thần để vẽ nhưng không thành. Mã Lương được thả, em vờ đồng ý, rồi vẽ biển, vẽ sóng to gió lớn trừng trị tên vua tham lam, độc ác. Mã Lương trở về với nhân dân đem tài năng vẽ cho người nghèo khổ.
Mã Lương mồ côi cha mẹ, tự học vẽ rất giỏi nhưng không có cây bút nào trong tay. Thần linh đã cho em cây bút thần. Em vẽ để giúp cho người nghèo khổ lương thiện. Tên địa chủ trong vùng không thuyết phục được Mã Lương vẽ để thỏa lòng tham lam, hắn nhốt em và định giết, Mã Lương trốn thoát và ngồi trên yên ngựa em vẽ tên, cung để bắn chết tên địa chủ độc ác ấy. Tên vua tham lam bắt Mã Lương thỏa mãn dục vọng của nó. Cuối cùng Mã Lương đã vẽ biển, vẽ thuyền cho vua đi, sau đó vẽ bão tố để chôn vùi tên vua khốn kiếp đó.
Mời các em tham khảo tài liệu liên quan
Phân tích nhân vật Mã Lương trong truyện cây bút thần
Ngoài đề cương ôn tập môn Ngữ văn học kì 1 lớp 6, các em học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì 1 lớp 6 này giúp các em rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn, Chúc các em ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Tóm tắt truyện Cây bút thần | 747 | |
Tóm tắt truyện Em bé thông minh
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Em bé thông minh – Ngữ văn lớp 6
Tóm tắt truyện Em bé thông minh khái quát lại các nội dung chính của Truyện Em bé thông minh một cách ngắn gọn, giúp học sinh nắm được những nội dung cơ bản của bài học. Hi vọng bài Tóm tắt truyện Em bé thông minh này sẽ hữu ích với quý thầy cô và các em học sinh.
Tóm tắt truyện Em bé thông minh – Văn lớp 6
Bài tham khảo 1
Có ông vua nọ, vì muốn tìm người hiền tài nên đã cho một viên quan đi dò la khắp cả nước. Viên quan ấy đến đâu cũng ra những câu đố oái oăm, hóc búa để thử tài mọi người hy vọng tìm ra người hiền tài giúp nước.
Một hôm, viên quan thấy hai cha con đang làm ruộng bèn hỏi một câu rất khó về số đường cày con trâu cày được trong một ngày. Ông bố không trả lời được, cậu con trai nhanh trí hỏi vặn lại khiến viên quan thua cuộc. Biết đã gặp được người tài, viên quan nọ về bẩm báo với vua. Vua tiếp tục thử tài cậu bé, bắt dân làng đó phải làm sao cho trâu đực đẻ ra trâu con. Bằng cách để cho nhà vua tự nói ra sự vô lí trong yêu cầu của mình, cậu bé đã cứu dân làng thoát tội. Cậu tiếp tục chứng tỏ tài năng bằng cách giải các câu đố tiếp theo và được nhà vua ban thưởng rất hậu.
Bài tham khảo 2
Ngày xưa, có một ông vua sai viên quan đi dò la khắp nơi để tìm người tài giỏi. Một hôm, viên quan phát hiện ra dấu hiệu nhân tài ở một em bé con nhà thường dân qua lời đối đáp nhanh nhạy, thông minh.
Vua hay tin đã trực tiếp tạo ra những tình huống oái oăm để thử tài em. Lần thử thách cuối cùng, em bé đã đem trí thông minh của mình thắng điều kiện thách đố của sứ thần. Sau đó, em được phong làm Trạng nguyên và giúp Vua trong việc triều chính.
Bài tham khảo 3
Có ông vua nọ sai viên quan tìm người tài giỏi. Viên quan đi khắp nơi để tìm. Khi qua một cánh đồng thấy hai cha con đang làm ruộng. Viên quan đã ra câu đố trâu một ngày cày được mấy đường. Đứa bé hỏi ngược lại: Ngựa một ngày đi được mấy bước ông ta cứng miệng cho đấy là người có tài viên quan về tâu với Vua.
Mời các em tham khảo tài liệu liên quan
Ngoài đề cương ôn tập môn Ngữ văn học kì 1 lớp 6, các em học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì 1 lớp 6 này giúp các em rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn, Chúc các em ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Tóm tắt truyện Em bé thông minh | 537 | |
Đề bài: Tóm Tắt Truyện Hai Cây Phong Tác Giả Ai Ma Tốp | Văn Mẫu Hay
Bài làm
Truyện ngắn “Hai cây phong” là phần đầu tiên trong tập truyện “Người thầy đầu tiên” của nhà văn Ai – Ma – Tốp. Câu chuyện tái hiện lại toàn cảnh vùng quê nghèo Cư – rô – giơ – xtan ở những năm giữa thế kỉ 20 qua hình tượng sống động nhân cách hóa “ hai cây phong” được miêu tả bằng trí tưởng tượng và một tâm hồn nghệ sĩ của nhân vật “tôi” – một đứa con của quê hương.
Câu chuyện bắt đầu bằng việc kể đến ngôi làng Ku – ku – rêu được nằm trong thung lung Vàng ven chân núi. Ở giữa một ngọn đồi bao quanh làng có hai cây phong to lớn, hùng vĩ, ít ai biết được hai cây phong đó được trồng từ bao giờ chỉ biết nó gắn liền với kỉ niệm tuổi thơ của biết bao đứa trẻ – và “tôi”. Đối với dân làng, hai cây phong giống như ngọn hải đăng trên núi thể hiện cho tiếng nói, cho tâm hồn của cả dân làng. Chính vì vậy, khi đi xa trở về, việc đầu tiên “tôi” làm là đưa mắt nhìn về phía ngọn đời, nơi hai cây phong thân thuộc đang đứng, nơi chứa đựng biết bao niềm vui, nổi buồn ngày nhỏ của “tôi”.
Hai cây phong được lớn lên, phát triển với tuổi thơ của các đứa trẻ hết “lớp này qua lớp khác”. Cứ mỗi lần bắt đầu được nghỉ hè, bọn trẻ lại chạy ào đến đây để phá tổ chim, chơi đùa, chạy nhảy giữa núi đồi, trong những bóng râm mát rượi của hai cây phong. Các cậu bé cứ cố gắng leo lên cao, tận ngọn hai cây phong cao vút để phóng tằm mắt đi xa để có thể nhìn được cả một thế giới bao la, những vùng đất chưa từng được biết, những con sông mà mình chưa được nghe tên. | Tóm Tắt Truyện Hai Cây Phong Tác Giả Ai Ma Tốp | 344 | |
Tóm tắt Truyện Kiều của Nguyễn Du (ngắn gọn)
Hướng dẫn
Thúy Kiều, nhân vật chính trong Truyện Kiều, một cô gái tài sắc vẹn toàn, có tâm hồn cao thượng. Nhận dịp du xuân, nàng gặp Kim Trọng, một thanh niên hào hoa phong nhã. Hai người yêu nhau và cùng nhau thề nguyền thủy chung. Nhưng tai họa bất ngờ ập đến với Kiều. Gia đình bị nạn. Kiều tự nguyện bán mình chuộc cha. Bị bọn Mã Giám Sinh và Tú Bà đưa vào lầu xanh. Kiều định tự tử để thoát khỏi cảnh ô nhục nhưng không được. Sau lần mắc mưu Sở Khanh đi trốn bị bắt lại, bị đánh đập tàn nhẫn, nàng đành chịu tiếp khách. Ít lâu sau, Kiều được Thúc Sinh – một kẻ giàu có say mê nàng, chuộc nàng về làm vợ lẽ. Nhưng chưa được một năm Kiều lại bị Hoạn Thư, vợ cả của Thúc Sinh, bày mưu bắt về hành hạ. Nàng bị bắt làm con ở hầu rượu gãy đàn mua vui cho vợ chồng ả. Khổ nhục quá, Kiều bỏ trốn khỏi nhà Hoạn Thư nhưng lại lọt vào một lầu xanh khác. Ở đây, nàng gặp Từ Hải và trở thành vợ người anh hùng này. Phất cờ khởi nghĩa, hùng cứ một phương, Từ Hải giúp Kiều báo ân báo oán. Nhưng cũng chẳng bao lâu, Kiều bị mắc lừa Hồ Tôn Hiến, nàng khuyên Từ Hải ra hàng phục triều đình, Từ Hải bị phản bội và chết đứng.
Kiều bị làm nhục và bị ép gả cho một viên thổ quan. Đau xót và tủi nhục, nàng đã tự tử ở sông Tiền Đường nhưng lại được sư Giác Duyên cứu sống.
Kim Trọng và gia đình Thúy Kiều đi tìm. Sau mười lăm năm trời lưu lạc, Kiều trở lại sum họp với gia đình. Nàng từ chối không chắp nối mối duyên xưa cùng Kim Trọng mà họ trở thành bạn bè để giữ tình cảm cho được trong sáng và đẹp đẽ. | Tóm tắt Truyện Kiều của Nguyễn Du (ngắn gọn) | 341 | |
Đề bài: Tóm tắt truyện Làng của Kim Lân
Bài làm
Làng Dầu là quê hương bản quán của ông Hai. Là một nông dân nghèo khổ, dưới thời Pháp thuộc, ông Hai đã từng bị bọn hương lí trong làng truất ngồi trừ ngoại, phải xiêu dạt lang thang kiếm sống, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn, mười mấy năm trước mới lần hồi trở về quê quán.
Ông Hai hay làm, không mấy lúc chịu ngơi tay, không đi cày, đi cuốc, gánh phân tát nước thì ông đan rổ rá hay chữa lại cái chuồng gà, cạp lại tấm liếp.
Ông Hai lại có tính hay khoe cái làng Dầu của ông. Nào là nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Nào là đường trong làng toàn lát đá xanh… Nào là làng ông có cái sinh phần của viên tổng đốc, cái dinh cơ ấy “lắm lắm là của; vườn hoa, cây cảnh nom như động ấy".
Nhưng từ ngày khởi nghĩa, ông Hai không bao giờ đả động đến cái làng ấy nữa, ông thù nó. Xây cái lăng ấy, cả làng phải phục dịch, còn ông thì bị một chồng gạch đổ làm bại một bên hông, đến nay cái chân vẫn còn đi khấp khểnh. Bây giờ khoe làng, ông Hai lại khoe khác. Khoe những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có các cụ phụ lão râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập một hai. Khoe làng Dầu có nhiều hố, ụ, những giao thông hào. Những công trình ở xóm Khu, ở Ngõ Mái… không để đâu hết. Ông khoe cái làng Dầu có phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre.
Kháng chiến bùng nổ, bà con làng Dầu đi tản cư. Nhưng ông Hai vẫn ở lại làng cùng anh em đào dường, đắp ụ… Trong lúc hữu sự, ông không nỡ bỏ làng ra đi. Nhưng rồi gia cảnh gieo neo, ba đứa con dại, một mình bà Hai xoay xỏa nơi tản cư, vốn liếng lại không có, ông Hai bất đắc đĩ phải nghe theo lời khấn khoản của vợ để ra đi. Ông buồn khổ lắm, chỉ biết tự an ủi: “Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được, thì tản cư âu cũng là kháng chiến”.
Đến nơi tản cư, ông Hai buồn khổ, bực bội vô cùng. Ông trở nên ít nói, ít cười, hay cáu gắt; ông sợ mụ chủ nhà, một người đàn bà lành chanh lành chói, đã lấy đến ba đời chồng, rất tham lam, tinh quái. Ông Hai nhớ làng, ông chỉ còn biết khoe làng với bác Thứ; ông chỉ còn có niềm vui đi đến phòng thông tin nghe đọc báo. Ông giả vờ đứng xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Tin chiến sự đánh Tây, giết Tây làm cho “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!"
Nhưng rồi cái tin dữ "cá cái làng Dầu Việt gian theo Tây” từ miệng những người đàn bà tản cư nói ra làm cho ông Hai “nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân, Việt gian từ thằng chủ tịch…. cả làng vác cờ thần ra hoan hô giặc,… thằng chánh Bệu khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, đưa vợ con lên vị trí với giặc ở ngoài tỉnh… Ông Hai cay đắng nguyền rủa cái giống Việt gian bán nước. Có lúc ông lại băn khoăn, ngờ ngợ: chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế… họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Nhưng thằng chánh Bệu thì đích là người làng không sai rồi.
Chiều hôm ấy, bà Hai đi chợ về cũng uể oái, bần thần. Cả gian nhà lặng di, hiu hắt. Suốt đêm ông Hai thao thức, nằm thở dài, chân tay nhũn ra. Ba, bốn hôm sau, ông Hai không dám bước chân ra đến ngoài. Ông sợ mụ chủ nhà, nhất là khi nghe mụ đưa tin về cái làng Dầu “đi Việt gian theo Tây", có lệnh “đuổi hết những người làng chợ Dầu khỏi vùng này không cho ở nữa. Vợ con khóc, ông Hai ngồi lặng ở một góc giường. Ông lo lắng biết đem nhau đi đâu bây giờ? Ông nghĩ ngợi. Có lúc ông nghĩ "hay là quay về làng?" Có lúc, ông lại phản đối: về làng tức là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hổ, Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Ông chỉ còn biết ôm con thơ vào lòng mà tâm sự. Khi nghe thằng cu Húc nói: “ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!" thì nước mắt ông giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má.
Cái tin dữ được cải chính. Ông Hai đi từ chiều mãi đến sẩm tối mới về, ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy. Ông mua bánh rán đường cho các con. Gặp ai ông cũng nói về cái tin làng Dầu Việt gian theo Tây "toàn là sai sự mục đích cả!" Tối hôm ấy, ông lại sang bên gian nhà bác Thứ, ngồi trên chiếc chõng tre, vén quần lên tận bẹn mà nói chuyện về cái làng Dầu, chuyện Tây khủng bố, chuyện dân quân, tự vệ làng ông bố trí, cầm cự ra sao, chuyên nhà ông bị Tây đốt…. rành rọt, tỉ mỉ như chính ông vừa dự trận đánh giặc ấy xong thật. | Tóm tắt truyện Làng của Kim Lân | 938 | |
Tóm tắt truyện Mẹ hiền dạy con
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Mẹ hiền dạy con lớp 6
Tóm tắt truyện Mẹ hiền dạy con được VnDoc sưu tầm và đăng tải không chỉ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh mà còn là tài liệu hữu ích dành cho quý phụ huynh cũng như giáo viên sử dụng để kèm các em học thêm. Mời các em cùng quý thầy cô và quý giáo viên tham khảo
Tóm tắt truyện Mẹ hiền dạy con – Ngữ văn lớp 6
Đề bài: Em hãy kể tóm tắt truyện Mẹ hiền dạy con
Bài tham khảo 1
Thầy Mạnh Tử lúc nhỏ hay bắt chước, nên người mẹ đã phải chuyển nhà tới ba lần (từ vị trí gần nghĩa địa chuyển đến gần chợ, rồi đến gần trường học) để có chỗ ở phù hợp với việc học tập của con. Mạnh mẫu giữ lời, tránh cho con hiểu lầm nhưng cũng rất cương quyết trong dạy con.
Bài tham khảo 2:
Truyện Mẹ hiền dạy con (trích Liệt nữ truyện) của Trung Quốc thuộc thể loại truyện trung đại.
Thầy Mạnh Tử thuở nhỏ hay bắt chước nên người mẹ đã phải chuyển nhà tới ba lần (lúc đầu ở gần nghĩa địa chuyển đến gần chợ, rồi đến gần trường học) chuyển vị trí sinh sống để thầy Mạnh Tử có chỗ phù hợp với việc học tập. Mẹ thầy Mạnh Tử là người rất biết giữ lời, không nuông chiều con cái và sau này thầy thành người tài giỏi, nổi tiếng chính là một phần công sức của bà.
Ý nghĩa truyện:
Người mẹ sinh thành nuôi dưỡng và có ảnh hướng rất lớn đến con cái, mẹ Mạnh Tử là một người mẹ hiền đại diện cho những người mẹ biết cách dạy con. Bà thay đổi chỗ ở nhiều lần cho đến khi phù hợp với người còn đây là cách dạy con hiệu quả và nhanh tiến bộ.
Mẹ thầy Mạnh Tử dạy con tính trung thực, thật thà. Mẹ phải làm gương cho con trong nói năng, ứng xử với mọi người. Truyện Mẹ hiền dạy con còn nói lên vị trí của môi trường sống xung quanh sẽ ảnh hướng rất lớn đối với sự phát triển nhân cách trẻ em, đồng thời còn nêu bật vai trò người mẹ trong việc dạy bảo con cái thành người.
mời các em tham khảo tài liệu liên quan
Tóm tắt truyện Con hổ có nghĩa
Kể tóm tắt truyện: Lợn cưới, áo mới – Treo biển
Ngoài đề cương ôn tập môn Ngữ văn học kì 1 lớp 6, các em học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì 1 lớp 6 này giúp các em rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn, Chúc các em ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Tóm tắt truyện Mẹ hiền dạy con | 510 | |
Đề bài: Tóm tắt truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O.Henri
Bài làm
Xiu và Giôn-xi là hai nữ hoạ sĩ trẻ sống trong một khu nhà trọ. Cụ Bơ- men, một hoạ sĩ già cũng sống ở đó với họ, cả đời cụ khao khát vẽ một kiệt tác nhưng chưa thoả ý. Chẳng may, mùa đông năm ấy, Giôn-xi bị bệnh sưng phổi rất nặng. Bệnh tật khiến cô tuyệt vọng và nghĩ rằng khi chiếc lá thường xuân cuối cùng rụng xuống là sẽ là lúc mình lìa đời. Xiu vô cùng lo lắng và hết lòng chạy chữa cho bạn nhưng vô Ích, Giôn-xi vẫn bi quan như vậy. Cô gái tội nghiệp âm thầm đếm từng chiếc lá.
Biết được ý nghĩ điên rồ đó của Giôn-xi, cụ Bơ-men ban đau mắng um lên nhưng sau đó lại âm thầm thức suốt đêm mưa gió bão bùng để vẽ chiếc lá thường xuân. Chiếc lá cuối cùng giống như thật. Nó đã không rụng trong đêm bão lớn khiến Giôn-xi suy nghĩ lại, cô hi vọng và muốn được sống, được sáng tạo. Giôn-xi từ cõi chết trở về nhưng cụ Bơ-men lại chết vì bệnh sưng phổi sau đêm sáng tạo kiệt tác chiếc lá cuối cùng để cứu Giôn-xi. Xiu lặng lẽ đến bên Giôn-xi báo cho bạn về cái chết của cụ Bơ-men và bí mật của chiếc lá cuối cùng. | Tóm tắt truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O.Henri | 237 | |
Tóm tắt truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng
Hướng dẫn làm bài
Ở một khu phố tồi tàn tại Oa-sinh-tơn, có một xưởng vẽ chung của hai người bạn là Xiu và Giôn-xi có cùng sở thích về nghệ thuật và hợp nhau về nhiều mặt.
Giôn-xi bị chứng viêm phổi và cuộc sống chỉ còn được tính từng ngày. Bác sĩ chỉ còn bó tay và Xiu cũng vô cùng thương xót, cố động viên cô ăn uống và vui vẻ.
Tóm tắt truyện ngắn chiếc lá cuối cùng
Giôn-xi nhìn ra cửa sổ- khi ấy là mùa đông- đếm từng chiếc lá rơi. Cô tin rằng có khi chiếc lá cuối cùng trên cây leo già cỗi rụng xuống là cô sẽ vĩnh biệt cuộc đời.
Chỉ còn một chiếc lá cuối cùng, Giôn-xi muốn nhìn thấy nó lìa cành trước khi trời tối và cô cũng sẽ đi xa.
Thầm hiểu, thương bạn, Xiu đến nhờ bác họa sĩ già ở tầng dưới, ông họa sĩ đã hai mươi lăm năm cầm bút vẽ nhưng chưa có tác phẩm nào ưng ý – Kiệt tác mà ông mơ ước. Ông tự coi mình là con chó loại đặc biệt luôn sẵn sàng bảo vệ cho hai nữ nghệ sĩ trẻ ở xưởng vẽ tầng trên. Biết được Giôn-xi sắp sửa đang tuyệt vọng, ông buồn bã vô cùng.
Trong một đêm mưa gió bão bùng, người nghệ sĩ già tuổi ngoài năm mươi lại bị lao ấy, đã vẽ nên Chiếc lá cuối cùng trên bức tường – kiệt tác của mình. Ông mất hai ngày sau đó nhưng Giôn-xi đã khỏe mạnh lại và đã sống với con người mà trước đó chưa có. | Tóm tắt truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng | 280 | |
Tóm tắt truyện ngắn Chiếc lược ngà-Nguyễn Quang Sáng
Hướng dẫn
Tóm tắt ngắn gọn truyện ngắn Chiếc lược ngà
Truyện kể về gia đình anh Sáu – một cán bộ kháng chiến. Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến lúc bé Thu, con gái anh, chưa đầy một tuổi. Tám năm sau, anh mới có dịp trở về thăm nhà, thăm con. Nỗi vui mừng, niềm phấn khởi sắp được gặp lại con gái yêu khiến anh sung sướng vô cùng. Nhưng trớ trêu thay, bé Thu không chịu nhận anh là cha, một mực cự tuyệt dù mọi người đã hết lời giải thích. Nguyên nhân là do vết sẹo trên mặt anh Sáu khiến anh không giống với bức hình mà bé Thu đã giữ từ lâu.
Nhờ bé Thu tâm sự với ngoại điều ấy mà mọi việc mới vỡ lẽ ra. Cha con nhận ra nhau cũng là lúc anh Sáu phải trở về chiến khu. Buổi sáng chia tay trên bến sông thật cảm động. Bé Thu ôm chặt anh Sáu không muốn rời. Dù rất yêu con nhưng vì nhiệm vụ chiến đấu, anh Sáu phải lên đường. Anh Sáu hứa sẽ trở về và tặng con một chiếc lược.
Trên chiến khu, anh Sáu ngày đêm mong nhớ con. Anh dành hết tình yêu con vào việc làm chiếc lược ngà. Mỗi chiếc răng lược chất chứa muôn vạn nỗi nhớ và tình yêu mến con. Thật không may, trong một trận càn ác liệt của địch, anh Sáu đã hi sinh. Trước lúc ra di, anh kịp gửi lại chiếc lược cho người đồng đội và nhờ trao lại cho con bé.
Câu chuyện còn tiếp tục khi mười mấy năm sau, trong một chuyến đi công tác, người đồng đội của anh Sáu năm xưa bất ngờ gặp được bé Thu. Ông đã trao lại cây lược và kể về anh Sáu cho bé Thu nghe khiến bé Thu vô cùng xúc động. Tình cha con được gắn kết trong niềm hạnh phúc lẫn đau thương vô tận.
Truyện “Chiếc lược ngà” đã thể hiện một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng và cao đẹp của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Truyện còn gợi cho người đọc nghĩ đến và thấm thía những mất mát đau thương, éo le mà chiến tranh gây ra cho bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình. Nhà văn đã rất thành công khi xây dựng tình huống truyện bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí; cốt truyện khá chặt chẽ, lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp; miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế và sâu sắc, nhất là đối với nhân vật bé Thu. Ngôn ngữ truyện mang đậm chất địa phương Nam Bộ.
Có thể bạn đang tìm kiếm:
Cảm nhận về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng | Tóm tắt truyện ngắn Chiếc lược ngà-Nguyễn Quang Sáng | 493 | |
Đề bài: Tóm tắt truyện ngắn Cô bé bán diêm An-déc-xen
Bài làm
Trong đêm giao thừa, trời rét mướt, có một cô bé đầu trần, chân đi đất, bụng đói đang rầu rĩ đi bán diêm trong bóng tối. Cô bé bán diêm ấy đã mồ côi mẹ và cũng đã mất đi người thương yêu em nhất là bà nội. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh em. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồj nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm.
Que diêm thứ nhất cho em có cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Em vội quẹt que diêm thứ hai, em được thấy một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Rồi em quẹt que diêm thứ ba và được thấy cây thông Nô-en. Quẹt que diêm thứ tư: bà nội hiền từ của em hiện lên đẹp đẽ, gần gũi và phúc hậu biết mấy. Nhưng ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Cô bé bán diêm đã chết trong giá rét khi mơ cùng bà bay lên cao mãi. | Tóm tắt truyện ngắn Cô bé bán diêm An-déc-xen | 205 | |
Tóm tắt truyện ngắn Làng của Kim Lân
Hướng dẫn
Đề bài: Tóm tắt truyện ngắn Làng của Kim Lân (trong khoảng 10 – 12 dòng)
Bài làm 1
Ông Hai là một người nông dân rất yêu làng và tự hào về làng Chợ Dầu của mình nhưng vì chiến tranh và hoàn cảnh gia đình nên ông phải rời làng đi tản cư. Sống trong hoàn cảnh bó buộc ở nơi tản cư, ông Hai luôn bứt rứt nhớ về cái làng Chợ Dầu. Một hôm ra phòng thông tin nghe ngóng tin tức như mọi khi ông bỗng nghe được từ một người đàn bà tản cư tin làng Dầu “Việt gian theo Tây”. Tin dữ đến bất ngờ khiến da mặt ông “tê rân rân”, cổ họng ông lão nghẹn ắng hẳn lại”, ông “lặng đi tưởng như đến không thở được” rồi chỉ biết cúi gằm mặt xuống mà đy về. Về nhà, ông nằm vật ra giường mấy ngày không dám đy đâu, hoang mang lo lắng, ai nói gì cũng tưởng họ bàn tán về làng mình. Khi mụ chỉ nhà có ý đuổi gia đình ông đy nơi khác, ông chớm có ý định quay về làng nhưng rồi ông lại xác định “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Không biết tâm sự cùng ai nỗi đau khổ trong lòng, ông trò chuyện với đứa con nhỏ một lòng ủng hộ cụ Hồ. Khi chủ tịch xã lên cải chính làng Dầu không theo Tây, ông sung sướng đy khoe với tất cả mọi người, khoe cả tin làng ông bị Tây đốt nhẵn
Truyện ngắn Làng của Kim Lân viết năm 1948, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Truyện kể về ông Hai rất yêu làng, yêu nước. Ông Hai phải đi tản cư nên ông rất nhớ làng và yêu làng, ông thường tự hào và khoe về làng Chợ Dầu giàu đẹp của mình, nhất là tinh thần kháng chiến và chính ông là một công dân tích cực.
Ở nơi tản cư, đang vui với tin chiến thắng của ta, bất chợt ông Hai nghe tin dữ về làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Ông cụt hứng, đau khổ, xấu hổ. Ông buồn chán và lo sợ suốt mấy ngày chẳng dám đi đâu, càng bế tắc hơn khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi không cho ở nhờ vì là người của làng Việt gian. Ông chỉ biết trút bầu tâm sự cùng đứa con trai bé nhỏ như nói với chính lòng mình: theo kháng chiến, theo Cụ Hồ chứ không theo giặc, còn làng theo giặc thì phải thù làng.
Nhưng đột ngột, nghe được tin cải chính làng Dầu không theo Tây, lòng ông phơi phới trở lại. Ông khoe với mọi người nhà ông bị Tây đốt sạch, làng Dầu bị đốt sạch, đốt nhẵn. Ông lại khoe và tự hào về làng Dầu kháng chiến như chính ông vừa tham gia trận đánh vậy.
Bài làm 3
– Ông Hai là người một người nông dân yêu tha thiết yêu làng Chợ Dầu của mình.
– Trong những ngày xa quê, ông luôn nhớ đến làng Chợ Dầu và muốn trở về.
– Một hôm, ông nghe tin làng Chợ Dầu của ông làm Việt gian theo Tây. Ông Hai vừa căm uất vừa tủi hổ, chỉ biết tâm sự cùng đứa con thơ.
– Khi cùng đường, ông Hai nhất định không quay về làng vì theo ông “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù.”
– Sau đó, ông được nghe tin cải chính về làng mình rằng làng chợ Dầu vẫn kiên cường đánh Pháp. ông hồ hởi khoe với mọi người tin này dù nhà ông bị Tây đốt cháy. | Tóm tắt truyện ngắn Làng của Kim Lân | 638 | |
Đề bài: Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao
Bài làm
Lão Hạc có một hoàn cảnh gia đình bất hạnh: vợ lão mất sớm, còn một người con trai thì anh ta vì phẫn chí mà bỏ đi cao su. Lão Hạc còn lại một mình với một mảnh vườn và một con chó vàng. Con chó ấy là của anh con trai để lại, lão cưng chiều nó như con, luôn miệng gọi “cậu Vàng”.
Nhưng cuộc sống khốn khó, lão bán chó để dành mảnh vườn cho con dù vô cùng đau khổ, dằn vặt. Lão mang tiền dành dụm được gửi ông giáo và nhờ ông trông coi mảnh vườn. Không muốn phiền đến mọi người, lão từ chối hết thảy sự giúp đỡ của ông giáo. Một hôm, lão xin Binh Tư một ít bả chó nói là muốn bẫy một con chó lạc. Ông giáo rất thất vọng khi nghe chuyện ấy. Nhưng rồi lão Hạc bỗng nhiên chết – cái chết thật dữ dội, đau đớn. Ông giáo hiểu ra tất cả, vô cùng đau đớn nghĩ về cái chết của lão Hạc và chiêm nghiệm về cuộc đời. | Tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao | 195 | |
Đề bài: Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8 Của Nhà Văn Nam Cao
Bài làm
“Lão Hạc” một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nam Cao được viết vào năm 1943. Tác phẩm khai thác đề tài người nông dân, phản ánh những thực trạng thối nát của hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam trong giai đoạn trước cách mạng tháng Tám. Câu chuyện xoay quanh cuộc đời khổ cực, éo le của Lão Hạc, một lão nông dân chỉ quanh quẩn bên mảnh vườn, con chó Vàng và rồi lão tử tự bằng “bã chó” một cái chết đau đớn, cô độc. Nhà văn Nam Cao dường như đã thâm nhập vào những mảnh đời bất hạnh, những than phận đau thương để viết ra những câu chuyện chạm đến trái tim người đọc, như muốn cất lên tiếng nói yêu thương, trân trọng nhất.Câu chuyện Lão Hạc được bắt đầu với lời kể của nhân vật tôi – ông Giáo….
Lão Hạc – một lão nôgn dân nghèo, hiền lành, chất phác nhưng lão có hoàn cảnh gia đình vô cùng bất hạnh: Vợ lão mất từ sớm,có một cậu con trai thì vì nhà quá nghèo không thể nào lấy được vợ cho con trai khiến anh ta phẫn chí rời bỏ quê hương để đến làm phu cho đồn điền cao su kiếm tiền. Lão thương con trai mình luôn trăn trở suy nghĩ về tương lai cho đứa con của mình. Lão cố gắng chăm sóc mảnh vườn mà vợ chồng lão đã mất bao nhiêu công sức để mua về nhằm để lại cho con trai. Nhưng tuổi già, sức yếu lại vừa có trận bão đi qua khiến mãnh vườn lão mất trắng, mà giờ lão cũng không đủ khoẻ để tranh việc với người khác nữa.
Sống với lão còn có một con chó tên là Vàng do con trai lão đã để lại. Chính vì vậy mà lão coi nó vừa là đứa con, vừa là người bạn tri kỉ, người than trong gia đình. Tuy vậy, lão cũng phải cắn răng bán con chó đi vì gia cảnh nghèo khó quá không thể nào nuôi nổi nó. Sau khi bán cậu vàng, bản than lão đã rất dằn vặt như mang một tội lớn là nỡ tâm đi lừa một con chó. Lão khóc và tâm sự với ông giáo – người hàng xóm, người bạn của lão. Cũng kể từ đó lão sống khép kín hơn, chỉ lủi thủi một mình. Và một hôm, lão quyết định giải thoát mình khỏi những tháng ngày cùng cực đau khổ, lão tìm đến cái chết sau khi đã trao gửi hết tài sản và nhờ vả chuyện ma chay với ông giáo.
Cái chết của lão Hạc rất đau đớn, dữ dội, lão đi xin Binh Tư một liều bả chó để đi bẫy con chó lạc nhưng lại dùng nó để kết thúc cuộc đời mình. Lão đã giải thoát mình, bảo toàn được lòng tự trọng để không bị cái đói, cái nghèo dồn mình vào con đường tha hoá của xã hội.
Cái chết của lão khiến người đọc cảm thấy xót xa, xúc động vô cùng. | Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Lớp 8 Của Nhà Văn Nam Cao | 538 | |
Tóm tắt truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải
Truyện ngắn Mùa lạc kể về những ngày đầu xây dựng nông trường Điện Biên. Truyện kể về chị Đào một người phụ nữ bất hạnh trong cuôc sống. chị có ngoại hình không đẹp, nhà nghèo phải làm nghề đậu phụ buôn bán để kiếm sống nuôi thân qua ngày. Chị Đào lấy chồng từ rất sớm khi mới 17 tuổi, chị gặp người chồng cờ bạc, rượu chè, nợ nần chồng chất phải bỏ vào Nam để lại nợ nần cho chị, mãi đến năm 1950 mới trở về quê hương. Nhưng có lẽ quá bất hạnh nên chồng chị chết và con cũng mất. Chị Đào còn một thân một mình buôn bán nay đây mai đó để kiếm sống. là phụ nữ có ngoại hình không đẹp, chị cũng là một phụ nữ gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống
Chị lên nông trường Điện Biên với tâm lý tìm một chốn dừng chân để quên đi những tháng ngày đã qua. Mang một tâm trạng chán chường đến nơi này nên ban đầu chị sống rất táo bạo, liều lĩnh. Và tại đây, chị gặp Huân- một người thanh niên xung kích, rất giỏi lao động cần cù chịu khó lại đẹp trai. Bằng sự chân thành và thật lòng của Huân vùng với Đội 6 nông trường Điện Biên, chị đã vui vẻ hơn và chuyển biến dần trong nhận thức của mình về cuộc sống. Chị tìm thấy được sức sống và niềm vui trong lao động xây dựng văn nghệ, khi chị nhận được thư tỏ tình của Dịu- viên trung đội trưởng phụ trách, chị cảm động và thấy thật sung sướng. Chị Đào quyết định ở lại Điện Biên, ở lại nông trường để xây dựng lại cuộc đời, tạo dựng cuộc sống với những người bạn thân thiết của mình. | Tóm tắt truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải | 327 | |
Tóm tắt truyện ngắn Người trong bao của Sê Khốp
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện ngắn Người trong bao của Sê Khốp
Bê- li- cốp là một giáo viên dạy tiếng Hi Lạp ở thành phố nhỏ nước Nga, ông nổi tiếng với phong cách ăn mặc hết sức đặc biệt. Quanh năm ông đều đi giày cao su, cầm ô và luôn luôn phải mặc them áo bành tô ấm cốt bông. Ông luôn để những dụng cụ cá nhân của mình vào một cái bao.
Bê-li- cốp khát khao thu mình vào trong một cái vỏ, tạo cho mình một vỏ bọc để ngăn cách bảo vệ bản thân không phải chịu những ảnh hương, tác động từ bên ngoài. Vì nó là cuộc sống khiến Bê-li-cốp cảm thấy khó chịu và sợ hãi vì vậy, ông luôn có ý nghĩ không thực, luôn ngợi ca quá khứ, mơ tưởng về những thứ không tồn tại. Ngay cả ý nghĩ ông cũng sợ có người biết được, ông luôn cố giữ như cất giấu vào “bao”.
Bê-li-cốp có thói quen rất kì quặc đó là đi hết nhà các giáo viên cùng dạy. Đến bất kỳ nhà nào, ông cũng kéo ghế ngồi rồi chẳng nói bất kỳ điều gì, chỉ nhìn xung quanh như đang tìm kiếm thứ gì đó, khoảng một giờ sau thì ông ra về. Ai cũng sợ ông, từ giáo viên đến hiệu trưởng, hiệu phó. Tuy sống cô đơn, một mình, nhưng ông cũng nghĩ đến việc sẽ cưới vợ. Và người đó là Va-ren-cô, là chị gái của Cô-va-len-cô, giáo viên trẻ mới ra trường. | Tóm tắt truyện ngắn Người trong bao của Sê Khốp | 269 | |
Tóm tắt truyện ngắn Rô bin xơn ngoài đảo hoang
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện ngắn Rô bin xơn ngoài đảo hoang
Bài làm
Nhìn vào Rô-bin-xơn ta sẽ thấy đó là một thanh niên cường tráng, vô cùng dũng cảm, chàng rất ưa thích mạo hiểm và luôn khát khao được đi tới những miền đất lạ, vượt qua được vùng đại dương xanh. Một hôm, Rô-bin-xơn đi xuống tàu ở tại thương cảng Hơn để theo bạn đi đến đất nước Luân Đôn. Tàu của Rô-bin-xơn bị đắm tại Yac-mao. Nhưng chàng ta không bao giờ cảm thấy sợ hãi hay nhụt chí trước tại họa, cũng chẳng mềm lòng trước sự kêu khóc, lo lắng của cha mẹ. Rô-bin-xơn nhanh chóng làm quen với một thuyền trưởng tàu buôn đang trên đường đi sang vùng đất nước Chi-lê. Rồi anh theo tàu, chuyến đầu tiên vô cùng tốt đẹp, nhưng đến chuyến buôn thứ hai thì tàu gặp phải bọn cướp biển, nên tất cả bị bắt trở thành nô lệ ở vùng Xa-lê. Rô-bin-xơn trong thời gian làm nô lê luôn tìm mọi cách để trốn thoát, và hai năm sau chàng trốn thoát và lưu lạc sang đất nước Bra-xin, ở đây chàng lập đồn điền cho mình. Khi có trong tay một ít vốn, Rô-bin-xơn lai cùng bạn đi tàu buôn sang Ghi lê sau bốn năm trời. Nhưng tàu lại gặp bão lớn và bị đắm. Mọi người trên tàu hầu hết đều bị chết chỉ còn duy mình chàng là may mắn còn sống sót. Con tàu bị đắm kéo dạt cả Rô-bin-xơn vào một nơi gần đảo hoang. Chàng tìm mọi cách để lên đạo và hành trình sống sót tại đây. Chàng làm lán trai, rồi chở mọi thứ còn lại trên tàu từ những khẩu súng, đạn đến nước, lương thực để lên đảo. Rồi chàng cố gắng săn bắn để kiếm thức ăn, trồng trọt trên đảo, nuôi dê và làm đủ mọi nghề có thể như đan lát, nặn gốm,….để có thể duy trì cuộc sống trên đảo hoang, một cuộc sống đơn độc.
Năm thứ 25, một lần tình cờ Rô-bin-xơn đã cứu được một tù binh da đen, người đó bị thổ dân đưa lên đảo hoang để hành hình. Chàng cứu và đặt tên cho người tù binh là Thứ Sáu. Không lâu sau đó, chàng lại cứu được hai tù binh, trong đó có một người là người Tây Ban Nha và một người không ai khác chính là cha của Thứ Sáu.Bốn con người ở trên đảo hoang, cuộc sống trên đảo bổng trở nên đỡ cô đơn rất nhiều.
Vào một ngày nọ, một chiếc tàu đã ghé đến đậu ở cái vịnh nhỏ ở gần đảo hoang. Bọn thủy thủ trên tàu nổi loạn nên đã trói vị thuyền trường cùng thuyền phó đưa lên đảo hoang định cho chết trên đó. Và Rô-bin-xơn đã giải thoát cho thuyền trưởng và cùng ông thu hồi lại được con tàu. Nhờ thế, Rô-bin-xơn đã được trở về Tổ Quốc của mình, đi cùng chàng có cả Thứ Sáu. Đã 28 năm 2 tháng 19 ngày, Rô-bin-xơn lạc và tồn tại trên đảo hoang | Tóm tắt truyện ngắn Rô bin xơn ngoài đảo hoang | 536 | |
Đề bài: Tóm tắt truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành
Bài làm
Truyện kể về một làng ở Tây Nguyên- làng Xô Man- nằm giữa cánh rừng xà nu bạt ngàn, đang từng ngày hứng chịu những trận những trận đại bác của đồn giặc.
Chuyện chính thức bắt đầu bằng việc Tnú trở về thăm làng sau ba năm tham gia lực lượng Giải phóng quân. Thằng bé Heng dẫn đường cho Tnú vì đường vào làng nay đã bố phòng nghiêm ngặt: hầm chông, hố chông, dàn thò chằng chịt….
Đêm đó, Tnú ăn cơm và ở lại nhà cụ Mết. Cả làng tụ họp, Dít kiểm tra giấy phép xong, cụ Mết tự hào kể lại cho mọi người nghe trang sử đấu tranh đồng khởi của làng, gắn bó sâu sắc với cuộc đời Tnú.
Tóm tắt truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành
Hồi ấy, Mỹ- Diệm khủng bố dữ dội, nhưng làng vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ (anh Quyết). Tuy còn nhỏ tuổi, Tnú và Mai được giao làm liên lạc cho anh Quyết, rồi được anh Quyết dạy chữ.
Một lần, trong chuyến đưa thư của anh Quyết lên huyện, Tnú bị địch phục bắt, bị tra tấn nhưng anh nhất quyết không khai báo. Ở tù ba năm, Tnú vượt ngục trở về làng thay anh Quyết lãnh đạo buôn làng tích cực chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa và kết hôn cùng Mai.
Tin làng Xô Man chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ nổi dậy đến tai giặc. Thằng Dục đưa lính đến lùng sục vây ráp. Cụ Mết, Tnú, cùng thanh niên lánh vào rừng. Không bắt được Tnú, bọn giặc bắt Mai với đứa con nhỏ chưa đầy tháng của hai người đánh đập dã man.
Từ vị trí ẩn nấp, Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị giặc hành hạ, Tnú nhảy xổ vào cứu vợ con, rồi bị chúng bắt, Mai và đứa con chết. Bọn giặc tẩm nhựa Xà nu đốt mười đầu ngón tay anh để khủng bố tinh thần dân làng.
Tnú kiên cường chịu đựng quyết không kêu la. Có tiếng động chung quanh, Tnú thét lên một tiếng, dân làng đồng thanh, nhất tề nổi dậy, thằng Dục và tiểu đội ác ôn đã bị cụ Mết và thanh niên diệt gọn. Làng Xô Man đồng khởi thắng lợi. Tnú gia nhập Giải phóng quân. Anh dũng cảm lập chiến công, được cấp chỉ huy cho về phép thăm làng một đêm.
Sáng hôm sau, Cụ Mết, Dít tiến anh lên đường. Họ chia tay nhau ở đồi xà nu, cạnh con nước lớn. | Tóm tắt truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành | 443 | |
Đề bài: Tóm Tắt Truyện Ngắn Tôi Đi Học
Bài làm
Truyện ngắn “Tôi đi học” là những dòng hồi ức của tác giả Thanh Tịnh kể về ngày đầu tiên đi học với biết bao cảm xúc mới lạ từ thiên nhiên, cảnh vật đến thầy cô giáo cùng những người bạn mới trong ngôi trường mới này. Truyện của ông mang đậm chất trữ tình, lời văn nhẹ nhàng, êm dịu, trong trẻo. Để hiểu hơn về truyện ngắn này, chúng ta cần nắm được bố cục và nội dung tóm tắt của tác phẩm
Về bố cục truyện “Tôi đi học” nên chia thành bốn đoạn
Đoạn 1: Từ đầu cho đến “rộn rã”: Miêu tả lại những biến chuyển của đất trời về cảnh cuối thu và các hình ảnh của mấy em nhỏ đang rụt rè nấp dưới nón mẹ khi lần đầu tiên tới trường…Từ đó gợi nhớ cho “Tôi” lại kỉ niệm trong sáng của chính mình khi “Tôi đi học”
Đoạn 2: Tiếp theo cho đến “trên ngọn núi”: Diễn tả cảm nhận của “Tôi” khi cùng mẹ đi trên con đường dẫn đến trường mới
Đoạn 3: Tiếp theo cho đến “được nghỉ cả ngày”: Nêu tâm trạng, cảm nhận của “Tôi” lúc ở sân trường
Đoạn 4: Đoạn còn lại: Những dòng cảm xúc, tâm trạng của “Tôi” khi bước vào lớp học và bắt đầu tiết học đầu tiên
Nội dung tóm tắt của truyện ngắn Tôi đi học
Truyện ngắn “Tôi đi học” được bắt đầu bằng tâm trạng xôn xao và dòng hồi tưởng của nhân vật “Tôi” về ngày đầu tiên mình đến trường. Đó là vào một buổi sáng mùa thu, lúc này tiết trời đã bắt đầu se lạnh, lá vàng rụng nhiều dưới gốc cây. Tôi được mẹ đưa đến trường để khai giảng năm học mới, con đường này vốn rất thân thuộc nhưng nay lại lạ lẫm khác thường. Khoảnh khắc đó khiến Tôi cảm giác rất vui sướng những cũng vô cùng hồi hộp. Những ý nghĩ non nớt, ngay thơ cứ xuất hiện trong đầu: “Chắc chỉ có người thạo thì mới cầm lại nổi bút thước”. Mặc trên người bộ quần áo mới “Tôi” cảm giác như mình đứng đắn, trang trọng hơn hẳn. Và khi đứng trước trường, thì ngôi trường trông thật đẹp và khang trang lắm…
Bổng tiếng trống trường vang lên ba hồi cùng những lời nói của ông đốc ấm áp vang lên khuyến khích những chú chim non hãy vào lớp thôi nào. Nhưng “Tôi” trong phút chốc ấy đã òa khóc, mẹ đã nhẹ nhàng giúp con vào lớp. Đứng trước cửa lớp, một cô giáo trẻ niềm nở chào đón chúng tôi, nhìn xung quanh từ bàn ghế, bức tranh bản đồ treo trên tường và người bạn nhỏ ngồi kế bên cạnh, thấy thật thân thương dẫu chưa từng gặp gỡ.
Tôi ngồi vào ghế, quàng tay lên bàn, sẵn sàng để bắt đầu bài học đầu tiên, cả lớp đánh vần theo dòng chữ cô giáo viết: “Tôi đi học…” | Tóm Tắt Truyện Ngắn Tôi Đi Học | 511 | |
Tóm tắt truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao
Bài làm
Lão Hạc sống trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn khi vợ mất sớm, một mình nuôi con trai. Tuy nhiên con trai phẫn chí mà bỏ đi cao su biền biệt chưa về thăm lại nhà. Lão sống một mình với mảnh vườn và con chó vàng, nó là người bạn thân thiết nhất trong cuộc sống này của lão. Lão cưng chiều nó như con, luôn miệng gọi là “cậu Vàng”, bởi đó là con chó của cậu con trai để lại. Lão giữ con chó cho con trai để chờ ngày con lão trở về. Song cuộc sống ngày càng khốn khó, lão băn khoăn, day dứt rồi quyết định bán chó để lại mảnh vườn cho con. Thấy cảnh con chó Vàng bị người ta kéo đi mất, lão thấy mình thật tệ bạc, tự trách bản thân mình.
Lão mang tiền bán chó và dành dụm được bao lâu nay gửi cho ông giáo, là hàng xóm bao lâu năm nay của lão.Lão không muốn nhờ cậy ông giáo, không muốn làm phiền đến mọi người nên lão đã tìm đến cái chết. Lão xin Binh tư một ít bả chó mà muốn bẫy một con chó bạc, nhưng thực ra là để tự tử. Ông giáo đã chua xót và thất vọng khi nghe được chuyện ấy. Nhưng cái chết của lão Hạc đã khiến ông giáo thấu hiểu và nhận ra tất cả. | Tóm tắt truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao | 257 | |
Đề bài: Tóm tắt truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê
Bài làm
Tổ trinh sát mặt đường gồm có ba cô gái: Thao, Nho và Phương Định. Họ ở trong một cái hang dưới chân cao điểm. Con đường qua trước cửa hang bị bom đạn đánh lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn. Không có lá xanh, thân cây bị tước khô cháy. Những tảng đá to, một vài thùng xăng hoặc thành ô tô méo mó, han gỉ nằm trong đất.
Việc làm của họ chẳng đơn giản. Khi có bom nổ thì chạy lên cao điểm, đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ nếu cần thì phá bom. Bị bom vùi luôn, cả ngày chạy và bò trên cao điểm lúc về hang chỉ thấy hai con mắt lấp lánh, hàm răng loá lên khuôn mặt nhem nhuốc. Những lúc đó, các cô gọi nhau là “những con quỷ mắt đen".
Trời nóng trên 30 độ.Thần chết là một tay không thích đùa. Hắn ta lẩn trong ruột những quả bom. Thần kinh căng như chão. Đất bốc khói. Tiếng máy bay ầm ì. Chung quanh có những quả bom chưa nổ. Khát nước. Cứ chạy về hang là tu nước suối pha đường, nằm dài trên nền ẩm nheo mắt nghe ca nhạc từ cái đài bán dẫn nhỏ chạy pin.
Phương Định là một cô gái Hà Nội, mới bị một vết thương ở đùi chưa lành miệng. Cô mê hát từ nhỏ, bím tóc dài và mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Các anh lái xe bảo cô có cái nhìn sao mà xa xăm. Nhiều anh pháo thủ, lái xe hay hỏi thăm cô, hoặc viết những bức thư gửi đường dây.
Thao hay tỉa đôi lông mày, áo lót nào cũng thêm chỉ màu, hễ thấy máu, thấy vắt thì nhắm mắt lại, mặt tái mét, nhưng trong công việc thì cương quyết, táo bạo ai cũng phải gờm.
Nho người bé nhỏ, có cái cổ tròn, trông cô "mát mẻ như một que kem trắng", lúc nào cũng đòi ăn kẹo.
Mỗi ngày, tổ trinh sát mặt đường phá bom đến năm lần, ngày nào ít ba lần. Một buổi trưa im ắng, Phương Định đang hát thì thấy máy bay trinh sát rè rè, phản lực gầm gào lao theo sau. Máy bay rít, bom nổ. Thao cầm thước, Nho chụp mũ sắt đội lên đầu lao lên cao điểm, Phương Định phải ở lại hang trực điện thoại. Bom gào thét chung quanh. Giờ xạ bắn; tiếng 12 li 7 của tiểu đoàn công binh vang lên. Phương Định cảm thấy bên mình có một sự che chở đồng tình. Nửa giờ sau, Thao trở về. Bình thản, mệt lả và cáu kỉnh, vừa lu nước trong bi đông đầy vừa nói: Hơn nghìn khối! Phương Định quay điện thoại về đơn vị báo cáo tình hình. Nho tắm ở khúc suối hay có bom nổ chậm…
Tình hình rất khẩn trương. Đơn vị đang làm đường cho một trung đoàn tên lửa qua rừng. Đêm đến, tổ trinh sát lại ra đường, bám cao điểm, đi phá bom. Định, một quả bom trên đồi. Nho, hai quả bom lòng đường. Thao một quả dưới chân cái hầm ba-ri-e cũ, vắng lặng đến phát sợ. Đất nóng, khói đen vật vờ. Phương Định dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom. Cô rùng mình khi lưỡi xẻng chạm vào quả bom, vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành. Hại mươi phút trôi qua, Thao thổi còi, Phương Định cận thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, châm ngòi khoả đất, rồi chạy về chỗ ẩn nấp. Hồi còi thứ hai của Thao cất lên, bốn quả bom nổ liên tiếp. Váng óc mắt cay, mùi thuốc bom buồn nôn.
Nho bị thương, máu túa ra từ cánh tay, da xanh đi, mắt nhắm nghiền, quần áo đầy bụi. Thao và Phương Định phải moi đất, bế Nho lên. Vết thương đựơc rửa bằng nước nóng, bông băng trắng. Phương Định tiêm thuốc cho Nho và pha sữa cho Nho uống.
Máy bay trinh sát vẫn nạo vét sự yên lặng của núi rừng. Thao giục Phương Định hát đi rồi Thao hát: Đây Thăng Long, đây Đông Đô… Hà Nội,..
Một trận mưa đá ào tới. Phương Đinh nhặt mấy viên nước mưa đá nhỏ to vào bàn tay Nho đang xoè ra, rồi vui thích chạy ra cuống cuồng. Tâm trí cô xao động bao nỗi nhớ… | Tóm tắt truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê | 768 | |
Tóm tắt truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Đình Thi
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Đình Thi
Chuyện kể về hai chị em Chiến và Việt, những đứa con trong một gia đình ở Nam Bộ có nhiều đau thương mất mát: cha đã bị bọn Pháp chặt đầu hồi chín năm, mẹ thì vừa bị đại bác của Mĩ bắn chết. Khi hai chị em Việt và Chiến đã trưởng thành thì cả hai đều giành nhau đi tòng quên. Nhờ vào sự đồng tình của chú Năm, nên cả hai đều được đi nhập ngũ và cùng nhau ra trận.
Trong một trận đánh ác liệt tại khu rừng cao su, Việt đã tiêu diệt được một chiếc xe bọc thép của bọn Mĩ và sáu tên Mĩ lẻ nhưng anh cũng bị thương nặng, bị lạc đồng đội, một mình nằm lại chiến trường khi đang còn ngổn ngang dấu vết của bom đạn và chết chóc. Việt ngất đi rồi tỉnh lại rất nhiều lần. Cứ mỗi lần như thế là Việt lại hồi tưởng về gia đình,những người thân yêu như mẹ, chú Năm, chị chiến…
Đoạn trích thể hiện lần tỉnh dậy thứ tư của Việt ở đêm thứ hai. Tuy mắt không nhìn thấy gì, tay chân thì ê buốt, tê cứng nhưng Việt vẫn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và cố gắng từng tí một lê về phía có tiếng súng của quân ta bởi đó là sự sống.
Việt đã hồi tưởng lại những sự việc xảy ra từ sau ngày má mất. Cả hai chị em đều háo hức đi tòng quân nhưng chị Chiến thì nhất định giành đi trước bởi cho rằng việc chưa đủ 18. Cho đến một đêm họp, Việt nhanh nhảu ghi tên mình trước nhưng chị chiến nói với mọi người rằng Việt chưa đủ 18. Nhờ chú Năm đứng ra xin giúp thì Việt mới được đi tòng quân. Đêm hôm đó, chị chiến bàn với Việt về mọi việc trong nhà. Việt đã răm rắp chấp nhận mọi sự sắp đặt của chị Chiến vì Việt thấy chị Chiến nói quá giống má nên nghĩ đó là lời dặn dò của má trước khi mất.
Sáng hôm sau, hai chị em khiêng bàn thờ má sang gửi nhờ bên nhà chú Năm. Việt tự dưng cảm thấy lòng mình “thương chị lạ”.
Sau ba ngày đêm, đơn vị đã tìm thấy được Việt. Ngay sau đó, anh được đưa về điều trị ở tại một bệnh viện dã chiến, sức khỏe đã dần phục hồi. Anh Tánh giục Việt viết thư cho chị để kể lại chiến công của mình. Việt rất nhớ chị và còn muốn viết thư kể thật nhiều chi chị nghe về chiến công của mình nhưng anh vẫn không biết viết và bắt đầu như thế nào vì Việt cảm thấy chiến công đó so với thành tích của đơn vị thì chưa thấm gì và cũng chưa thấm với mong ước của má. | Tóm tắt truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Đình Thi | 512 | |
Tóm tắt truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh lớp 6
Tóm tắt truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh khái quát lại các nội dung chính của Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh một cách ngắn gọn, giúp học sinh nắm được những nội dung cơ bản của bài học. Hi vọng bài tóm tắt truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh này sẽ hữu ích với quý thầy cô và các em học sinh.
Tóm tắt truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh – Ngữ văn lớp 6
Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Vua Hùng muốn kén cho nàng một người chồng xứngđáng. Đến cầu hôn có hai vị thần tài giỏi ngang nhau, đều xứng làm rể Vua Hùng.
Một người là Sơn Tinh – chúa vùng non cao. Một người là Thuỷ Tinh – chúa vùng nước thẳm. Để lựa chọn được chàng rể xứng đáng, Vua Hùng bèn đặt ra điều kiện: “Ngày mai ai mang lễ vật gồm: Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi đến trước thi ta sẽ gả con gái cho”. Hôm sau, Sơn Tinh mang lễ vật đến truớc, cưới được Mị Nương. Thuỷ Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Thần hô mưa gọi gió, dâng nước sông lên cuồn cuộn làm cho thành Phong Châu ngập chìm trong nuớc. Sơn Tinh không hề nao núng. Thần dùng phép bốc từng quả đồi, dời tùng dãy núi, đắp thành dựng luỹ, ngăn chặn dòng lũ. Hai bên đánh nhau kịch liệt. Cuối cùng Thuỷ Tinh đuối sức phải chịu thua.
Từ đó, oán nặng thù sâu, hàng năm Thủy Tinh vẫn làm mưa gió, bão lụt, dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng năm nào cũng mang thất bại trở về.
Tóm tắt truyện Sơn Tinh Thủy Tinh ngắn nhất
Vua Hùng Vương thứ 18 có một nàng công chúa tên là Mị Nương, nàng đẹp như hoa như phấn, tính tình thì hiền dịu nết na. Khi Mị Nương đến tuổi lấy chồng, vua Hùng muốn kén một chàng rể thật tài giỏi, nhưng mãi chưa có một ai xứng đáng với con gái của mình.
Sáng hôm sau, mới tinh mơ, Sơn Tinh đã mang lễ vật đến và cưới được Mị Nương, thần đưa nàng về núi cao. Còn Thủy Tinh đến sau, nên không cưới được công chúa, tức giận bèn hô mưa, gọi gió, tạo ra giông bão, dâng nước lên cao để nhấn chìm Sơn Tinh, cướp lại Mị Nương. Lúc đó, cả một vùng Phong Châu như chìm trong biển nước. Nhưng Sơn Tinh không hề sợ sệt, thần dung phép dời núi, bốc đồi, đắp thành lũy để ngăn chặn dòng lũ đang đang cao. Hai bên đánh nhau suốt ngày đêm. Vùng núi Tản Viên, Sông Đà lúc đó như trở thành một chiến trường khóc liệt, cấy cối đất đá đổ vỡ khắp nơi, xác các sinh vật biển chết thả đầy sông. Cuối cùng Thủy Tinh không đánh lại được đành chịu thua.
Nhưng oán hận thù sâu trong lòng Thủy Tinh vẫn không khôn nguôi, hang năm cứ đến tháng 7 tháng 8, Thủy Tinh lại đánh Sơn Tinh, vẫn làm mưa, làm gió, gây bão để rửa hận.
Tóm tắt truyện Sơn Tinh Thủy Tinh mẫu 3
Vua Hùng thứ mười tám có một người con gái xinh đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Vua rất thương con và muốn tìm cho Mị Nương một người chồng xứng đáng.
Sáng hôm sau, khi tia nắng đầu tiên của ngày mới chưa xuất hiện, khi bầu trời còn đang đắm chìm trong màn sương đêm thì Sơn Tinh cùng đoàn tuỳ tùng đã đến rước Mị Nương về núi Tản. Thuỷ Tinh đến sau, không lấy được vợ liền đùng đùng nổi giận, sai đoàn thuỷ quái đánh đuổi Sơn Tinh. Sơn Tinh gọi một đoàn quân hùng dũng gồm hùm beo gấu rắn.., lên đánh lại Thuỷ Tinh. Trời đất tối sầm, những tia sét ngang dọc lượn trên bầu trời như những con rắn khổng lồ đang uốn lượn như muốn xé tan bầu trời. Sơn Tinh cùng quân lính liên tục ném đá vào lũ thuỷ quái. Sau một hồi giao chiến, Thuỷ Tinh bèn dâng nước lên cao, nhấn chìm mọi nhà cửa ruộng đồng cây cối,… chẳng bao lâu, cả thành Phong Châu ngập chìm trong biển nước. Nhân dân cùng muông thú vội chạy lên núi cao trú ẩn. Sơn Tinh hoá phép cho đồi núi luôn cao hơn nước của Thuỷ Tinh. Thuỷ Tinh dâng nước cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại dâng núi cao bấy nhiêu. Trận chiến diễn ra hết ngày này sang ngày khác. Thuỷ Tinh dần kiệt sức, đành phải rút quân về. Mọi người xuống núi dựng lại nhà cửa, vỡ ruộng khai hoang.
Thế mới biết, nếu đồng sức đồng lòng, không có việc gì chúng ta không làm được.
Mời các em tham khảo tài liệu cùng chủ đề:
Tóm tắt truyện Bánh chưng bánh giầy
Tóm tắt truyện Con Rồng cháu Tiên
Để chuẩn bị cho kì thi học kì 1 sắp tới đây thì ngoài đề cương ôn tập học kì 1 lớp 6, các em học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì 1 lớp 6 này giúp các em rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn, Chúc các em ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Tóm tắt truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh | 974 | |
Tóm tắt truyện Tam đại con gà ngắn gọn
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Tam đại con gà ngắn gọn
Xưa có anh học trò học hành dốt nát nhưng lại hay khoe chữ. Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ. Một hôm, dạy đến chữ “kê”, học trò hỏi mà không biết, đánh nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Thầy sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ, dặn học trò đọc khẽ và đến bàn thờ thổ công xin ba đài âm dương. Xin ba đài được cả ba, thầy lấy làm đắc chí, hôm sau bảo trẻ đọc to lên. Người bố nghe được, phát hiện ra, thầy liền chống chế bằng cách lí sự cùn: dạy thế là để biết đến tam đại con gà. | Tóm tắt truyện Tam đại con gà ngắn gọn | 135 | |
Đề bài: Tóm tắt truyện Thạch Sanh
Bài làm
Ngày xưa, ở quận Cao Bình có vợ chồng Lục ông làm nghề đốn củi hiền lành, giàu lòng thương người. Ngọc Hoàng thương tình vợ chồng Lục ông hiếm hoi bèn cho Thế tử xuống trần đầu thai. Lục bà mang thai, nhưng đã nhiều năm vẫn chưa sinh nở. Rồi Lục ông qua đời… Mãi mấy năm sau, người mẹ già mới sinh được đứa con trai rất khôi ngô, đặt tên là Thạch Sanh. Chẳng bao lâu sau, mẹ hiền cũng qua đời. Thạch Sanh bơ vơ, lấy gốc đa làm nhà, kiếm củi độ thân. Ngọc Hoàng rất thương, bèn sai Thiên thần xuống trần dạy Thạch Sanh võ nghệ, các phép thần thông biến hoá, và cho búa thần làm vũ khí.
Gần vùng có Lý Thông làm nghề bán rượu. Hắn đã đón Thạch Sanh về nhà kết nghĩa làm anh em. Năm ấy, đến lượt Lý Thông phải nộp mình cho Trăn tinh, hắn bèn lập mưu để Thạch Sanh đi giết quái vật thay mình, cắt đầu và xả xác quái vật, Thạch Sanh được bộ cung tên thần bằng vàng. Xách đầu Trăn tinh về, Thạch Sanh đập cửa gọi. Hai mẹ con họ Lý hoảng hồn… Nhưng khi mở cửa, Lý Thông nhìn thấy cái đầu khổng lồ của Trăn tinh, hắn bèn doạ Thạch Sanh giết chết báu vật của vua nuôi, phải mau mau trốn đi. Thạch Sanh lại trở về gốc đa chốn cũ. Lý Thông đem đầu trăn tinh dâng nộp triều đình và hắn được vua phong tước Quận công.
Trong lễ hội kén chọn phò mã, công chúa đã bị Đại bàng khổng lồ quắp đi. Thạch Sanh đang nằm nghĩ dưới gốc đa chợt thấy con chim lạ bay về hang ở. Nhà vua hứa gả công chúa cho người tài nào cứu được nàng. Lý Thông tìm gặp "đứa em kết nghĩa". Thạch Sanh theo dấu máu tìm đến hang ổ đại bàng, ác điểu chống trả quyết liệt chàng dũng sĩ, nhưng nó đã bị chàng dùng cung tên vàng bắn mù cả hai mắt, dùng búa thần chém đứt vuốt sắc, bổ làm đôi đầu quái vật. Dòng dây đưa nàng công chúa thoát khỏi hang sâu, Lý Thông lại sai quân lính vần đá lấp cửa hang hãm hại Thạch Sanh. Chàng đã đi khắp hang lạnh, khám phá. Thạch Sanh lại dùng cung tên thần bắn tan cũi sắt, cứu thoát Thái tử con vua Thuỷ tề đang bị Đại bàng giam hãm. Thạch Sanh được Thái tử mời xuống chơi thuỷ phủ. Nhà vua hậu đãi chàng dũng sĩ cõi trần. Để đền ơn ân nhân, vua Thuỷ tề tặng Thạch Sanh nhiều vàng ngọc, nhưng chàng khước từ, chỉ xin nhận một cây đàn thần làm. kỉ vật. Thạch Sanh lại trở về gốc đa. Hồn của đại bàng và trăn tinh căm thù hâm hãi Thạch Sanh nên đã cùng bàn mưu bị hạ ngục!
Công chúa sau khi được cứu thoát, đã bị câm. Các quan ngự y đều bó tay. Lý Thông vô cùng nóng ruột… Nằm trong ngục, Thạch Sanh lấy đàn thần ra gáy. Tiếng đàn lúc thì ai oán não nùng, lúc, thì hờn căm uất hận. Nghe tiếng đàn thần, công chúa tự nhiên nói được, nàng xin vua cha được gặp người đánh đàn.
Gặp ân nhân, công chúa vui mừng khôn xiết kể lại câu chuyện dưới hang sâu. Nhà vua tức giận bắt giam Lý Thông và giao cho Thạch Sanh xét xử. Chàng đã tha tội cho cả hai mẹ con về quê. Nhưng đên giữa đường cả hai mẹ con Lý Thông đều bị sét đánh chết, hoá kiếp thành bọ hung.
Vua cho Thạch Sanh làm phò mã. Mười tám nước chư hầu bất bình kéo quân vây đánh kinh đô. Thạch Sanh lại dùng đàn thần lui giặc. Hàng vạn tướng sĩ chư hầu được Thạch Sanh đãi một niêu cơm thần bé xíu mà ăn mãi chẳng hết.
Mấy năm sau, vua già yếu, nhường ngôi báu cho Thạch Sanh. | Tóm tắt truyện Thạch Sanh | 690 | |
Tóm tắt truyện Tấm cám ngắn gọn
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Tấm cám ngắn gọn
Truyện kể về nhân vật chính là cô Tấm và Cám. Tấm hiền lành, tốt ụng, chăm chỉ nhưng bố mất sớm nên phải ở với dì ghẻ và con của bà ta tên là Cám. Tấm luôn bị mẹ con Cám đối xử tàn nhẫn, bất công, phải làm hết mọi công việc. Một lần Tấm và Cám đi bắt tép, ai được nhiều sẽ thưởng, Tấm chăm chỉ bắt nên được giỏ được đầy còn Cám dong chơi nên giỏ trống không, sau đấy thấy vậy Cám lừa Tấm và trút hết giỏ tôm tép vào giỏ của mình. Tấm chỉ còn mỗi con cá bống và ngồi khóc nức nở, sau đó được bụt hiện lên giúp đỡ. Nhờ sự giúp đỡ của Bụt mà Tấm có người bạn để tâm sự là cá bống, có quần áo mặc đi chơi hội, được bầy chim sẽ giúp đỡ. Ít lâu sau, nhà vua mở hội, xem ai đi vừa chiếc dầy tìm thấy ở khúc sông hôm hội làng sẽ được làm hoàn hậu, và Tấm đi vừa vì đó chính là đôi dày nàng đánh rơi. Thấy vậy, mẹ con Cám ghen tị, nên nhân một lần Tấm về giỗ cha đã chặt cây cau khi Tấm đang trèo lên hái và hại chết Tấm. Sau lần ấy, Cám vào cung tiến vua thay Tấm, còn cô Tấm bị biến thành con chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, và cuối cùng là trong quả thị để trở thành con gái của bà cụ. Đến cuối cùng, sau bao nhiêu khó khăn cô Tấm được trở lại làm người và quay trở về sống hạnh phúc bên vua. Mẹ con Cám chết. Đó là kết thúc có hậu mà nhân dân ta mơ ước. | Tóm tắt truyện Tấm cám ngắn gọn | 312 | |
Tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật Cám
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật Cám
Bài Làm
Tôi là cám. Tôi có và chị Tấm sống cùng với mẹ của tôi tức là gì của chị Tấm. Chị Tấm là con gái của ba tôi và mẹ chị. Ở nhà chị tấm rất chăm chỉ hiền lành, còn tôi thì rất lười biếng và ham chơi. Tôi và chị Tấm luôn ganh ghét đố kị nhau và tất nhiên là người luôn thắng là tôi vì tôi có mẹ bảo vệ yêu thương và bênh vực, còn chị không được mẹ tôi bênh vực và che chở. Được sự giúp đỡ của ông bụt chị được trở thành Hoàng Hậu. Tôi và mẹ năm lần bảy lượt hãm hại chị Tấm nhưng chị vẫn trở thành người và trở về sống với Vua. Tôi thấy chị tấm trở thành người xinh đẹp hơn cả ngày trước liền bảo chị bày cho cách làm sao lại trở lên xinh đẹp như vậy. Tôi nghe chị gội nước sôi lên người để muốn trở lên xinh đẹp và tôi đã bị chết. | Tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật Cám | 191 | |
Tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật Tấm ngắn gọn
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật Tấm ngắn gọn
Tôi là Tấm, vì mẹ mất sớm, cha lấy thêm vợ, tôi có một người dì và một cô em gái khác mẹ là Cám. Một ngày nọ, dì tôi bảo hai chị em đi mò cua bắt ốc và trong lúc tôi sơ ý, Cám đã gạt mấy mở tôm tép đầy của tôi, khiến tôi không được phần thưởng là giải yếm đào. Nhưng cũng nhờ vậy mà tôi được Bụt cho một con cá bống, tôi nuôi nó trong chiếc giếng sau nhà như một người bạn để trò chuyện, tâm tình, nhưng một ngày kia, tôi chăn trâu vắng nhà, dì và em tôi nỡ lòng làm thịt cá bống. Tôi buồn vô cùng nhưng lại được Bụt hiện lên an ủi và chỉ cách chôn xương cá bống. Đến ngày hội làng, dì muốn tôi ở nhà nhặt đỗ, Bụt lại cho một đàn chim đến giúp tôi, đòng thời, những chiếc xương cá bống đã biến ra áo váy cho tôi đi dự hội. Tên đường đi, tôi vô tình làm rơi một chiếc hài xuống sông, không ngờ, nhà vua nhặt được nó và lấy đó làm đồ vật kén vợ, vậy là tôi được làm hoàng hậu. Nhưng ngày tôi về dỗ cha, dì hại tôi ngã từ cây cau xuống mà chết, tôi không cam lòng, hóa thành chim vàng anh bay về cung điện, bay vào tay áo vua. Thấy vậy, Cám liền giết tôi thêm lần nữa, những lần tiếp, tôi tiếp tục biến thành cây xoan, khung cửi để đòi lại hạnh phúc nhưng đều bất thành. Tôi hóa thành một cây thị với duy nhất một quả thị thơm ngát và theo một bà cụ về nhà, giúp bà trông nom nhà cửa, coi bà như mẹ chăm sóc. Cuối cùng trời không phụ lòng người, nhờ trầu têm cánh phượng, nhà vua một ngày đi ngang quán nước bà lão đã nhận ra tôi và tôi lại được trở về với hạnh phúc của mình. Còn hai mẹ con Cám bị trừng trị xứng đáng. | Tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật Tấm ngắn gọn | 370 | |
Đề bài: Tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài
Bài làm
Vợ chồng A phủ kể về đôi vợ chồng người H’ Mông ở vùng Tây Bắc. Mỵ là một cô gái xinh đẹp có tài thổi sáo. Trai bản nhiều người mê và Mỵ đã có người yêu. Dù cha Mị nợ thống lí Pá Tra một món tiền lớn, chưa trả nổi, hằng năm phải trả lãi cả một nương ngô nhưng Mị kiên quyết không lấy A Sử -con trai thống lý Pá Tra- để xoá nợ.
Nhưng một đêm xuân, Mị bị A Sử lừa, bắt về trình ma nhà nó. Tiếng gọi là làm vợ A Sử nhưng Mị bị đối xử thậm tệ. Ban đầu, Mị định tự tử nhưng vì thương cha đành cam chịu sống trong đau khổ, câm lặng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”.
Phân tích tác phẩm vợ chồng A Phủ
Ngày Tết lại về, Mị lén uống rượu một mình. Không khí vui nhộn, nhất là tiếng sáo gọi bạn tình đã giúp Mị nhớ lại những ngày trước, khơi dậy ở Mị khát vọng tình yêu hạnh phúc. Mị vào buồng, định thay váy áo đi chơi thì bị A Sử bắt trói đứng vào cột nhà, bằng cả thúng dây đay, cả tóc Mị. Trong cơn chập chờn mê tỉnh, Mị vẫn thả hồn theo các cuộc chơi. Đến lúc thích chí vùng bước đi mới biết toàn thân bị trói chặt, đau buốt.
Cũng đêm đó, A Phủ, một thanh niên mồ côi nhưng khoẻ mạnh, can trường, đã đánh A Sử, vì bất bình trước trò xấc xược của hắn ta. A Phủ bị làng bắt về xử tội và trở thành người ở trong nhà Pá Tra để trừ nợ.
*
Một mùa đông giá rét, rừng đói, hổ báo từng đàn ra phá nương, bắt bò ngựa. A Phủ vì mải mê bẫy nhím nên đã để hổ bắt mất một con bò. A Phủ bị thống lí Pá Tra bắt trói đứng vào một cây cột, suốt mấy ngày đêm- chờ khi nào A Sử bắn được hổ mới tha.
Lúc ấy, tuy Mị đã trở thành một con người đờ đẫn, vô cảm nhưng khi nhìn thấy hai dòng nước mắt của A Phủ lặng lẽ rơi trên hai hóm má xám đen vì kiệt sức, tuyệt vọng, Mị động lòng thương người cùng cảnh ngộ. Sau một hồi suy nghĩ, Mỵ đã cắt dây trói cho A Phủ. Rồi, Mị vụt chạy theo anh ta.
*
Cả hai băng rừng sang Phiềng Sa, trở thành vợ chồng. Quân Pháp tràn tới, dân làng hoang mang lo sợ. A Châu, cán bộ Đảng đã tìm đến xây dựng phong trào và kết nghĩa anh em với A Phủ. A Phủ đã trở thành tiểu đội trưởng du kích, cùng với Mị và đồng đội tích cực tham gia chống Pháp và tay sai bảo vệ quê hương. | Tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài | 494 | |
Tóm tắt truyện Ông già và biển cả, nhận định của công chúng về tác phẩm này
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Ông già và biển cả, nhận định của công chúng về tác phẩm này
Bài làm
Tóm tắt truyện.
Ông lão đánh cá tên là Xanchiagô đã tám mươi tư ngày liền không kiếm được con cá nào, được chú bé Manôlin phụ giúp, hai ông cháu “biết rằng mình sẽ đi rất xa”, rồi một con cá cắn câu. Đó là con cá kiếm rất to, rất khỏe. Vật lộn ba ngày đêm lão mới bắt được con cá kiếm đó.
Trên đường đem con cá về đất liền, hết đàn cá mập này đến đàn cá mập khác đã rỉa sạch con cá kiếm, chỉ còn trơ lại bộ xương.
Sản phẩm lao động bỗng chốc bị cướp sạch, ông lão Xanchiagô rất tiếc nuối, nhưng, trong giấc ngủ ông lão lại “mơ về những con sư tử”, như thế nghĩa là ý chí của con người là bất tử. Và hàm nghĩa của tác phẩm được rút ra từ hành trình săn đuổi con cá lớn mà ông lão hằng mơ ước là một ẩn dụ về hình tượng con người theo đuổi một khát vọng lớn lao.
Nhận định của công chúng về tác phẩm Ông già và biển cả:
Hêminguê có nhiều tác phẩm nổi tiếng và một trong số đó là Ông già và biển cả Tác phẩm này được các nhà nghiên cứu và công chúng văn học đánh giá rất cao. về vị trí của nó trong toàn bộ sáng tác của Hêminguê, đã có một số người coi đây là “khúc hát của con thiên nga” — ý nói: tác phẩm cuối cùng viết trước khi chết là tác phẩm hay nhất. | Tóm tắt truyện Ông già và biển cả, nhận định của công chúng về tác phẩm này | 294 | |
Tóm tắt truyện Đeo nhạc cho mèo và phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật trong văn bản
Hướng dẫn
Vận dụng những hiểu biết về truyện ngụ ngôn Đeo nhạc cho mèo, em hãy tóm tắt truyện “Đeo nhạc cho mèo”, phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật trong văn bản.
*Tóm tắt văn bản
Loài chuột xưa nay vốn sợ loài mèo, bởi vậy mà chúng luôn tìm cách để tránh sự nguy hiểm ấy. Một ngày, làng chuột họp mặt và chuột Cống – bậc trưởng, có quyền rất to đưa ra ý kiến “đeo nhạc cho mèo”. Cả làng đều cho đây là ý kiến hay nhưng đến khi phân công người làm thì không ai muốn nhận cả. Anh chuột Chù đã đứng ra nhận lấy trách nhiệm ấy vì nghĩ rằng mình là phận đầy tớ, thấp cổ bé họng nên phải chấp nhận nó. Nhưng khi đến gần con mèo, nó nhe nanh, giơ vuốt lên thì anh chuột Chù vội bỏ chạy, vứt cả chuông. Từ đấy, không ai còn nói về chuyện “đeo nhạc cho mèo” nữa, và cũng từ đó, chuột vẫn luôn luôn sợ mèo.
*Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản:
Truyện ngụ ngôn “Đeo nhạc cho mèo” đã cho ta thấy một cách thật sinh động về cuộc họp mặt của “hội đồng chuột” khi bày mưu tính kế để tránh sự nguy hiểm từ loài mèo nhưng không thành công. đồng thời thấy rõ tính cách, đặc điểm của từng loài qua cách miêu tả của tác giả: chuột Cống thì là kẻ mạnh, ỷ lại quyền hành, đùn đẩy trách nhiệm, còn chuột Chù, thấp cổ bé họng, phận tôi tớ nên không có tiếng nói, đành phải chấp nhận làm việc nguy hiểm kia dù đã cố chối đi, nhưng việc lại không thành công và đâu lại vào đấy, chuột vẫn sợ mèo.
Ta thấy câu chuyện dường như khuyên ta phải biết tự lượng sức mình, phải biết cân nhắc kĩ trước khi hành động, làm việc gì, phải lường trước hậu quả của nó. Bên cạnh đó là phê phán những kẻ hám lợi, chỉ biết nói mà không biết làm giống như chuột Cống kia, đẩy lại việc khó cho người khác và lên án xã hội không có tiếng nói của những người thấp cổ bé họng. Với những người như chuột Cống kia thì cần bài trừ và lên án trong xã hội. Và thành công của tác giả là nghệ thuật nhân hóa đã cho thấy được tính cách, đặc điểm của từng loại chuột cũng giống như con người ta vậy. | Tóm tắt truyện Đeo nhạc cho mèo và phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật trong văn bản | 445 | |
Tóm tắt truyện Đeo nhạc cho mèo
Hướng dẫn
Tóm tắt truyện Đeo nhạc cho mèo lớp 6
Tóm tắt truyện Đeo nhạc cho mèo cốt truyện đơn giản. Cùng tham khảo các bài văn mẫu lớp 6 sau để biết cách tóm tắt tác phẩm Đeo nhạc cho mèo, từ đó học tốt môn Ngữ văn 6, đạt kết quả cao trong các bài thi, bài kiểm tra. Mời các em tham khảo bài Văn mẫu dưới đây
Tóm tắt truyện Đeo nhạc cho mèo – Ngữ văn 6
Bài tham khảo 1
Cả làng chuột họp nhau lại. Ông Cống có sáng kiến đeo nhạc vào cổ mèo để mèo đi đâu cũng phát ra tiếng kêu, chuột nghe thấy biết đường mà chạy. Cả làng chuột đều cho cách đó rất hay nhưng khi cử người làm thì ai cũng chối đây đẩy. Rốt cuộc anh chuột Chù không biết chối vào đâu được đành phải nhận lời. Khi thấy chuột Chù rón rén đến, mèo nhe nanh, giơ vuốt khiến Chù vội vứt nhạc chạy về báo làng. Không ai dám bàn đến cái nhạc nữa. Bởi thế nên đến tận bây giờ, mèo vẫn cứ ăn thịt chuột.
Bài tham khảo 2
Từ xưa, mèo luôn ăn chuột, nên làng chuột họp tìm cách chống mèo. Chuột Cống đưa ra sáng kiến đeo nhạc cho mèo và được cả làng tán thành, nhưng khi tìm người thực hiện ai cũng từ chối. Chuột Cống, chuột Nhắt đều thoái thác, cuối cùng chuột Chù phải đi. Chuột Chù đến gần mèo, bị mèo dọa sợ, vội vứt cái nhạc bỏ chạy về báo cho cả làng, cả làng sợ và bỏ chạy, không ai hỏi đến cái nhạc nữa.
Bài tham khảo 3
Lý do: Xưa nay, chuột bị mèo hại nhiều. Họ hàng nhà chuột họp nhau để bàn cách giữ mình.
Cảnh họp: Khi làng chuột đã đông đủ, chuột cống đưa ra sáng kiến là đeo nhạc cho mèo (để khi mèo đến gần, chuột biết đường mà chạy). Cả làng đồng thanh ưng thuận với sáng kiến ấy.
Cử người: Khi dã tìm được nhạc, cần có một người đeo nhạc vào cổ mèo thì cả làng đùn đẩy nhau, ai cũng có lý do chính đáng để thoái thác công việc nguy hiểm này.
Kết quả: Cuối cùng chuột Chù – đầy tớ của làng – đành phải nhận. Vốn nhút nhát, vừa trông thấy mèo, Chù đã cắm đầu chạy. Làng chuột thấy thế cũng mạnh ai nấy chạy, tán loạn. Thành ra, loài chuột trước sau vẫn sợ và vẫn bị mèo ăn thịt.
Mời các em tham khảo tài liệu liên quan
Kể tóm tắt câu chuyện ông lão đánh cá và con cá vàng
Ngoài đề cương ôn tập môn Ngữ văn học kì 1 lớp 6, các em học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề thi học kì 1 lớp 6 này giúp các em rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn, Chúc các em ôn thi tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới | Tóm tắt truyện Đeo nhạc cho mèo | 538 | |
Tóm tắt truyện ‘Gió lạnh đầu mùa’ của Thạch Lam và nêu lên chủ đề của tác phẩm
Hướng dẫn
… Sơn mặc áo dạ chỉ đỏ lẫn áo vệ sinh, ngoài lại mặc phủ cái áo vải thâm. Em đứng trên giường, quay đi quay lại để mẹ ngắm áo. Hai chị em Lan và Sơn ra chợ chơi với lũ bạn. Thằng Cúc, thằng Xuân, con Tí, con Túc sán lại gần, giương mắt ngắm và trầm trồ quần áo mới của Sơn. Lũ bạn của Sơn ăn mặc rách ruới, da thịt thâm tím, run lên, hai hàm răng đập vào nhau khi mỗi cơn gió lùa đến. Còn cái Hiên, đứa con gái bên hàng xóm bạn chơi với Lan và Duyên, nó chỉ mặc một manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay, đứng co ro bên cột quản. Khi nghe cái Hiên bịu xịu nói ‘hết áo rồi, chỉ còn cái áo này’, Sơn mới chợt nhớ ra mẹ cái Hiên rất nghèo, mò cua bắt ốc. Sơn động lòng thương, lại gần chị Lan thì thầm. Rồi chị Lan hăm hở chạy về nhà lấy cái áo bông em Duyên đem cho cái Hiên…
Vú già biết chuyện. Hai chị em Sơn và Lan lo mẹ đánh đòn, mãi đến chập tối mới dắt tay nhau khép nép về nhà. Mẹ cái Hiên đem áo đến trả. Mẹ Sơn cho mẹ cái Hiên vay năm hào về may áo cho con. Bà nhẹ nhàng, âu yếm ôm hai con vào lòng mà bảo: ‘Hai con tôi quỷ quá, dám tự do lẩy áo đem cho người ta, không sợ mẹ mắng ư?’. | Tóm tắt truyện ‘Gió lạnh đầu mùa’ của Thạch Lam và nêu lên chủ đề của tác phẩm | 278 | |
Tóm tắt tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đã đi về một vùng biển miền Trung nơi mà ngày xưa anh từng chiến đấu để có thể chụp được một tấm ảnh nghệ thuật về thuyền và biển cho bộ lịch cho năm mới theo yêu cầu của Trưởng phòng. Anh như cắm trại trên biển nhiều ngày, nhiếp ảnh Phùng đã có được một cảnh đắt giá, đó là cảnh một chiếc thuyền ở ngoài xa đang ẩn hiện trong màn sương biển mờ ảo. Đó là một cảnh đẹp như một bức tranh mực tàu. Tưởng chừng như đang trọn vẹn niềm vui, nhưng khi con thuyền cập bờ thì trước mặt Phùng lại hiện ra cảnh người chồng vũ phu đang đánh đạp vợ một cách dã man, đứa con muốn bảo vệ mẹ nó, nên đã đánh lại cha nó
Phong ngạc nhiên và sững sờ, anh không chịu được cảnh đó, anh tiến đến và ngăn cản người đàn ông thì bị người đó đánh bị thương. Người vợ được chánh án Đẩu ( Đẩu là bạn cũ của Phùng) mời đến tại tòa án Huyện. Tại đây, Phùng khuyên người đàn bà nên bỏ người chồng vũ phu đi nhưng lại bị từ chối. Chị bắt đầu kể cho họ nghe về cuộc đời của mình và giải thích lý do vì sao không thể bỏ người chồng vũ phu đó. Phùng và Đẩu hiểu ra được nhiều điều từ cuộc đời của chị. | Tóm tắt tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu | 269 | |
Đề bài: Tóm tắt tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
Bài làm
Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương xinh đẹp, nết na. Trương Sinh cùng làng, mến vì dung hạnh, xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Biết tính chồng đa nghi, nàng giữ gìn khuôn phép không để xẩy ra thất hòa.
Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải tòng quân đi đánh giặc Chiêm. Trong buổi tiễn đưa, Vũ Nương rót chén rượu đầy đưa cho chồng và nói chỉ mong ngày chồng trở về mang theo hai chữ bình yên.
Chồng ra lính được một tuần thì Vũ Nương sinh được đứa con trai đặt lên là Đản. Nửa năm đã trôi qua, bà mẹ chồng già yếu, buồn lo rồi đau ốm. Nàng hết lòng săn sóc cơm cháo thuốc thang, ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn. Bệnh mỗi ngày một nặng, mẹ chồng qua đời, nàng vô cùng thương xót, mọi việc ma chay tế lễ, nàng lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.
Qua năm sau giặc tan, Trương Sinh được trở lại nhà, con vừa học nói. Chàng bế con đi thăm mồ mẹ, đứa trẻ không chịu và quấy khóc. Nghe Sinh dỗ dành, con ngây thơ nói: “Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ im thin thít". Nghe Sinh gạn hỏi, đứa bé lại nói: “Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đàn ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả".
Vốn có tính ghen, nghe con nói, Trương Sinh đinh ninh là vợ hư. Chàng la um lên cho hả giận, Vợ khóc lóc, chàng càng mắng nhiếc đánh đuổi đi. Trước cảnh bình rơi trâm gãy, Vũ Nương tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang, ngửa mặt lên trời mà than, mong thần sông linh thiêng chứng giám. Nàng nguyền, nếu đoan trang, trinh bạch xin được ngọc Mị Nương, làm cỏ Ngu Mỹ; nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con,thì xin làm mồi cho tôm cá, làm cơm cho diều quạ…
Vũ Nương nhảy xuống sông tự tử. Chẳng bao lâu sau, một đêm vắng vẻ, ngôi dưới đèn khuya, bỗng đứa con chỉ chiếc bóng in lên vách mà nói rằng: "Cha Đản lại đến kia kìa!" Lúc bấy giờ Trương Sinh mới thấu nỗi oan của vợ.
Lại nói chuyện Phan Lang người cùng làng, làm đầu mục ở bến đò Hoàng Giang. Một đêm chiêm bao thấy người con gái áo xanh đến kêu xin tha mạng. Sáng dậy, có người phường chài đem biếu một con rùa mai xanh; Phan chợt nghĩ đến chuyện mộng bèn đem thả con rùa ấy. Chẳng bao lâu sau, dưới thời Khai Đại nhà Hồ, giặc Minh sang cướp nước ta. Nhiều người sợ hãi chạy trốn, thuyền bè bị đắm, chết đuối đầy sông, trong đó có Phan Lang, xác dạt vào động Rùa ở hải đảo. Linh Phi là vợ vua Nam Hải chợt nhìn thấy, bèn nói: "Đây là vị ân nhân cứu sống ta thuở xưa". Linh Phi lấy khăn đấu mà lau, thuốc thần mà đổ, một chốc sau Phan Lang hồi sinh.
Linh Phi rước Phan Lang vào cung nước, mở tiệc lớn ớ gác Triêu Dương để đãi ân nhân. Trong bữa tiệc có nhiều mĩ nhân, áo quần thướt tha, tóc búi xế, trong đó có một phụ nữ chỉ điểm qua son phấn rất giống Vũ Nương. Tiệc xong, người đàn bà ấy đến gặp Phan Lang. Vũ Nương nói lại tình cảnh mình được các nàng tiên trong cung nước thương tình mà cứu sống. Nghe Phan nhắc lại cố hương, mổ mả tiền nhân,… Vũ Nương khóc…
Hôm sau, Linh Phi lấy một cái túi bằng lụa tía, đựng 10 hạt minh châu, sai sứ Xích Hỗn đưa Phan ra khỏi nước. Vũ Nương cũng gửi Phan chiếc hoa vàng đưa về cho Trương Sinh và dặn lập đàn giải oan, đốt cày đèn thần trên bến Hoàng Giang thì nàng sẽ trở về.
Nhận được chiếc hoa vàng. Trương Sinh thốt lên: "Đây quả là vật dùng mà vợ tôi mang lúc ra đi…". Sinh làm đàn tràng, đốt cây đèn thần ba ngày đêm trên bến Hoàng Giang. Vũ Nương đã hiện về, ngồi trên một chiếc kiệu hoa, theo sau có 50 chiếc xe cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông. "Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng trở về nhân gian được nữa… ". Tiếng Vũ Nương vọng vào, bóng nàng loang loáng mờ tan rồi biến mất. | Tóm tắt tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ | 787 | |
Tóm tắt tác phẩm Chí Phèo.
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm Chí Phèo.
Tác phẩm Chí Phèo kể về nhân vật Chí Phèo, hắn vốn là một đứa trẻ bị bỏ hoang trong một lò gạch cũ và được nhặt về nuôi. Khi lớn lên Chí Phèo đi ở hết nhà này nhà khác để nuôi thân. Đến năm Phèo 20 tuổi, hắn là canh điền cho nhà Bá Kiến, và tấm bi kịch cuộc đời hắn từ diễn ra từ đây. Vì bị Bá Kiến ghen nên hắn bị giải lên huyện và bị bắt bỏ tù.
Hắn ở tù bày tám năm, sau khi trở về, hắn xuất hiện với bộ dạng khắc hẳn ngày xưa, với nhiều hình xăm trên mình. Hắn lúc nào cũng say và cứ say là hắn lại đến nhà Lí Kiến để chửi bới, rạch mặt ăn vạ. Và Bá Kiến đã biến Chí Phèo thành kẻ tay sai chuyên đâm thuê chém mướn cho Bá Kiến. Trong tình trạng luôn say mèm,ai cho tiền sai gì hắn cũng làm, hắn trở thành một con quỷ dữ của làng Vụ đại luôn làm những trò tác quái phá làng, phá xóm, khiến người dân ai ai cũng khiếp sợ.
Cuộc đời hắn không lúc nào tỉnh và một đêm trăng, Phèo say nằm ngủ thì gặp Thị Nở. Đêm đó, họ ăn nằm với nhau. Phèo nửa đêm đau bụng, nôn mửa, sáng hôm sau, Thị cho hắn một bát cháo hành. Cũng từ đó hắn khao khát trở về cuộc sống lương thiện và được sống cùng Thị Nở. Nhưng một lần nữa hắn bị đạp xuống vực vì bà cô của Thị không đồng ý. | Tóm tắt tác phẩm Chí Phèo. | 281 | |
Tóm tắt tác phẩm Làng của Kim Lân
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm Làng của Kim Lân
Tác phẩm Làng kể về một người nông dân yêu nước mọi người thường gọi là ông Hai yêu làng.
Ông yêu quê hương mình, yêu làng Dầu của mình vô cùng, dù hoàn cảnh chiến tranh buộc ông và gia đình phải tản cư đi nơi khác nhưng ông luôn nhớ về làng của mình. Đi bất cứ đâu, ông đều kể về làng của mình, ông khoe làng Dầu, kể cho mọi người nghe những câu chuyện về làng Dầu mà cũng chẳng cần ai nghe, ông kể chỉ để cho sướng miệng, cho vơi nỗi nhớ. Trước khi cách mạng ông thường hay khoe đến ông viên tổng đốc của làng, nhưng khi có cách mạng, ông không còn nhắc đến nữa vì nó làm khổ ông và khổ bao nhiêu người khác nữa. Ông chỉ khoe làng chợ Dầu của mình mà thôi. Nhưng đau đớn thay, cái tin bất ngờ, làng chợ Dầu theo Tây như khiến ông ngã quỵ, đau đớn tột độ, ông không dám đi đâu suốt mấy ngày liền, cảm thấy xấu hộ, sợ sệt và cảm thấy ghét làng. Trước đây, ông chỉ muốn được trở về với làng, nhưng nay ông thù làng theo Tây, yêu nhiều là thế giờ ông cảm thấy bế tắc. Ông không dám trò chuyện cùng ai, giờ chỉ ngồi giãi bày tâm sự cùng thằng con trai của mình. Và khi nghe thấy, tin làng bị giặc đốt, làng bị cháy, và tin đồn trước kia là thất thiệt nay được cải chính. Thì ông lại đi khoe làng, nổi đau bấy lâu giờ như biến mất hoàng toàn. Ông chạy đi khắp nơi, vừa đi vừa khoe làng, vừa múa tay thể hiện lên niềm vui sướng qua lớn đã đến với ông. Ông khoe làng mình, nhà mình bị đốt,…mà không thấy xót xa chỉ thấy tình yêu làng, yêu nước đang mãnh liệt trong ông khiến ai cũng cảm nhận được. | Tóm tắt tác phẩm Làng của Kim Lân | 345 | |
Tóm tắt tác phẩm Mảnh Trăng Cuối Rừng
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm Mảnh Trăng Cuối Rừng
Mảnh trăng cuối rừng được bắt đầu kể về thời kỳ chống Mỹ diễn ra, Lãm người lái xe quân sự vận chuyển chuyến hàng đêm nay đưa hàng ra tiền phương. Sau khi trả hàng xong, Lãm rẽ đến thăm chị gái và người yêu đang ở trong đơn vị thanh niên xung phong.
Trên đường đi, Lãm cho cô công nhân giao thông tên Nguyệt đi nhờ đến cầu Đá Xanh để gặp người yêu. Cô gái đó cùng tên với người yêu anh- Nguyệt, cô gái ấy tình nguyện dẫn đường để Lãm lái xe vượt qua đoạn đường ngầm vất vả. Ngay lúc đó, máy bay địch ào ạt ném bom thả pháo sáng, bắn khoảng 20 li đỏ lừ, dữ dội xuống khu vực ngầm. Nhưng tưởng bất ngờ như thế, Nguyệt bị hơi bom xô ngã nhưng cô lại dũng cảm đẩy Lãm vào chỗ nấp, còn bản thân thì che chắn phía ngoài. Chiếc xe lúc đó bén lửa, hai người vừa cố gắng dập lửa, vừa cho xe tiến lên vượt qua nguy hiểm. Nguyệt dò đường, để giúp xe vượt khỏi trọng điểm. Đến lúc này, Lãm mới tháy Nguyệt bị thương ở cánh tay. Dù mới trải qua nguy hiểm nhưng nụ cười vẫn tươi rói trên đôi môi của Nguyệt, trong lòng Lãm lúc đó vừa cảm phục Nguyệt vừa có một tình yêu gần như mê hoặc. Nguyệt và Lãm chia tay trong niềm lưu luyến, Nguyệt đi ngược về lại phía ngầm. | Tóm tắt tác phẩm Mảnh Trăng Cuối Rừng | 269 | |
Tóm tắt tác phẩm Một người Hà Nội
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm Một người Hà Nội
Cô Hiền là một người Hà Nội rất bình thường. Cô đã cùng với Hà Nội trải qua nhiều biến động và thăng trầm của đất nước, nhưng không vì thế mà cô làm mất đi vẻ đẹp, văn hóa của con người Hà Nội. Cô Hiền luôn sống thẳng thắn, sống chân thành, luôn thể hiện rõ quan điểm, thái độ chững mực của mình với mọi hiện tượng xung quanh.
Nhớ đến thời trẻ, cô Hiền luôn được mệnh danh là một người tài hoa, yêu thích những tác phẩm văn chương, cô giao thiệp rộng, đủ các loại thanh niên từ con nhà giàu, đến nghệ sĩ văn nhân, nhưng cô chọn một người không hề lãng mạn, một anh giáo dạy cấp Tiểu học hiền lành, chăm chỉ để làm chồng. Cô luôn quản lí gia đình và dạy dỗ con cái rất cẩn thận, chu đáo từ cách ăn nói, đi đứng… để có thể giữ gìn văn hóa Hà Nội.
Hoà bình lập lại ở miền Bắc, cô Hiền vui vẻ nói về những vấn xung quanh, về niềm vui chiến thắng. nhưng bên cạnh đó cô cũng nói về những cái cực đoan, tồn động của cuộc sống xung quanh theo cô thấy, chính phủ đã quá can thiệp vào nhiều việc của dân …. Cô là người tính toán chu đáo, khôn khéo và đã tính là làm, không bao giờ để ý đến những đàm tiếu của thiên hạ…
Vào mùa xuân 1975, đất nước toàn thắng, bước vào thời kỳ đổi mới, một thời đại kinh tế thị trường mở ra, nhưng cô Hiền vẫn vậy vẫn là “một người Hà nội của hôm nay, thuần tuý Hà Nội, không pha trộn”. Cô Hiền lại nói về chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn, với niềm tin vào cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. | Tóm tắt tác phẩm Một người Hà Nội | 329 | |
Tóm tắt tác phẩm Những đứa con trong gia đình
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm Những đứa con trong gia đình
Những đứa con trong gia đình là câu chuyện kể về hai chị em Chiền và Việt, họ sống trong một gia đình chứa đựng nhiều mất mát và đau thương: cha thì bị Pháp chặt đầu hồi chín tuổi, mẹ thì vừa bị đại bác Mỹ bắn chết. Hai chị em trở thành mồ côi, cả hai đùm bọc nhau mà sống. Họ trưởng thành và cả Chiến- Việt đều tong quân dưới sự ủng hộ của Chú Năm, cả hai đều được nhập ngũ trở thành những chiến sĩ sẵn sàng ra trận chống giặc
Tham gia trận đánh tại một khu rừng cao su, Việt đã không sợ hi sinh, không ngại sự ác liệt, anh dũng chiến đấu dù đã lạc mất đồng đội và đã diệt được một xe bọc thép và sáu tên lính Mỹ, nhưng anh đã bị thương nặng, một mình tại chiến trường đầy bom đạn và chết chóc. Anh lúc đó nữa tỉnh, nữa mê, nhiều lần ngất đi. Trong đầu Việt hồi tưởng lại về gia đình, về mẹ, chú Năm, chị Chiến,…những người thân yêu của anh.
Lần tỉnh lại thứ tư của Việt, tuy mắt anh không thấy gì, chân tay tê cứng, đau buốt vì vết thương, nhưng niềm tin và vì phải sống,vì phải chiến đấu, Việt cố gắng lê từng tí từng tí một về phía tiếng súng của quân ta.
Anh cứ chầm chậm như thế, trong đầu anh lại nhớ về ngày má mất, nhớ lại ngày cả hai chị em đăng kí tòng quân, lúc đó chị Chiến giành đi trước vì cho rằng Việt chưa tròn 18 tuổi. Nhưng đến hôm đăng kí, Việt đã nhanh nhảu ghi tên mình trước, nhưng chị Chiến cố tình bật mí chuyện Việt chưa tròn 18 tuổi. Và phải nhờ đến chú Năm đứng ra xin giúp, Việt mới được đi. Đêm trước ngày nhập ngũ, hai chị em ngồi bạn bạc mọi chuyện trong nhà, Việt nghe theo mọi sự sắp đặt của chị và thấy hình ảnh chị Chiến và lời nói sao giống má quá. Sáng hôm sau, cả hai chị em khiêng bàn thơ má sang gửi nhà chú Nam. Trong lòng Việt lúc đó cảm thấy thương chị thấy lạ.
Sau ba ngày đêm sống cùng vết thương, Việt đã được đồng đội tìm thấy, được điều trị tại bệnh viện dã chiến, sức khỏe Việt ngày càng phục hồi và tốt hơn. Lúc đó, anh Tánh giục Việt viết thư kể cho chị nghe. Dù rất nhớ chị nhưng Việt không biết viết như thế nào, bắt đầu từ đâu. Và thật sự Việt cảm thấy chiến công của mình không đáng gì so với những thành tích của đơn vị và chưa thấm gì so với mong ước của má. | Tóm tắt tác phẩm Những đứa con trong gia đình | 489 | |
Đề bài: Tóm tắt tác phẩm Rô-bin-xơn Cru-xô của nhà văn Anh quốc Đi-phô
Bài làm
Rô-bin-xơn là một thanh niên cường tráng, dũng cảm ưa mạo hiểm, khao khát đi tới những miền đất lạ, thích vượt trùng dương. Chàng đi xuống tàu tại thương cảng Hơn, theo bạn đi Luân Đôn. Tàu bị đắm tại Yác-mao. Chẳng nhụt chí trước tai họa, chẳng mềm lòng trước lời kêu khóc của mẹ cha, Rô-bin-xơn làm quen với một thuyền trưởng tàu buôn đi sang Ghi-nê. Chuyến đầu tốt đẹp, chuyến thứ hai gặp cướp biển, bị bắt làm nô lộ ở Xa-lê. Hai năm sau trốn thoát, lưu lạc sang Bra-xin lập đồn điền. Có một tí vốn, 4 năm sau lại dùng bạn xuống tàu buôn đi Ghi-nê. Tầu gặp bão, bị đắm. Hầu hết đều chết, chỉ còn Rô-bin-xơn may mắn sống sót. Tàu đắm dạt vào một nơi gần đảo hoang. Chàng tìm cách lên đảo, làm lán trại, chuyên chở mọi thứ còn lại trên tàu đắm, từ khẩu súng, viên đạn đến lương thực lên đảo. Chàng săn bắn, kiếm ăn, trồng trọt, nuôi dê, làm đủ nghề như đan lát, nặn gốm v.v… để duy trì cuộc sống đơn độc trên đảo hoang.
Đến năm thứ 25, Rô-bin-xơn do tình cờ cứu được một tù binh da đen bị thổ dân đưa lên đảo loan hành hình. Chàng đặt tên cho nạn nhân là Thứ Sáu. Ít lâu sau, chàng lại cứu được 2 tù binh, một người Tây Ban Nha và một da đen chính là người cha của Thứ Sáu, khi bọn thổ dân sắp hành hình. Hoang đảo đã có 4 người, cuộc sống đỡ cô đơn.
Một hôm có một chiếc tàu ghé đến đậu ở cái vịnh nhỏ gần đảo hoang. Bọn thủy thủ nổi loạn trói thuyền trưởng thuyền phó giải lên bờ định cho chết trên đảo. Chàng cứu giúp vị thuyền trưởng thu hồi được tàu. Chàng trở về Tổ quốc có Thứ Sáu cùng đi. Tính ra đã 28 năm, hai tháng, 19 ngày Rô-bin-xơn đã sống trên hoang đảo. | Tóm tắt tác phẩm Rô-bin-xơn Cru-xô của nhà văn Anh quốc Đi-phô | 352 | |
Tóm tắt tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
Số đỏ là câu chuyện kể về Xuân, thường được mọi người gọi là Xuân tóc đỏ. Xuân là một cậu bé, một đứa trẻ lang thang đầu đường xó chợ, sống bằng nghề trèo me, trèo sấu kiếm tiền sống lay lắt qua ngày…
Vì từ nhỏ mồ côi, không ai nuôi dạy, nên bản chất của Xuân bị tha hóa, hắn có những hành động vô giáo dục nên bị cớm bắt giam. Nhưng cơ may đến, Xuân được cứu thoát bới bà Phó Đoan- là một mụ me Tây vô cùng dâm đãng. Từ đó, Xuân làm phục vụ cho một cửa hàng Âu hóa của vợ chồng Văn Minh do mụ Phó Đoan giới thiệu cho, đây là một cửa hàng chuyên phục vụ phái đẹp, nơi luyện quần vợt của bà Phó Đoan và vợ Văn Minh. Xuân tóc đỏ được nhận danh hiệu “sinh viên trường thuốc” rồi danh hiệu “đốc tờ Xuân”, hắn học thuộc lòng những bài quảng cáo thuốc lậu, gia nhập với xã hội thuộc lưu, mở rộng các mối quan hệ với những nhân vật có thế lực, và được cô Tuyết em của Văn Minh con cụ cố Hồng yêu say đắm. Càng ngày hắn càng được nhiều người kính trọng và sợ hãi. Vô tình hắn gây ra cái chết của cụ cố tổ, và được gia đình nhà cụ cố vô cùng biết ơn vì điều này. Vợ chồng Văn Minh ra sức yêu chiều và tô vẽ cho Xuân, đồng thời cũng có ý định gã em gái là Tuyết cho Xuân dù biết quá khứ của hắn, nhưng vì Tuyết cũng đã mang cho mình cái danh hư hỏng nên đối với gia đình họ lại là niềm vui.
Xuân đăng kí đi tranh giải quần vợt nhân dịp vua Xiêm tới Bắc Kinh, hắn xử dụng rất nhiều thủ đoạn đê tiện để được thi đấu với đối thủ chính. Bằng cách hãm hại hai cầu thủ nổi tiếng trước khi trận đấu diễn ra, và cuối cùng hắn là người duy nhất để đấu với quán quân Xiêm. Vì để giữ mối giao hòa với nước Xiêm, nên đã yêu cầu Xuân thua. Kết thúc trận đấu, Xuân diễn thuyết giữa đám đông để mọi người hiểu hắn thua vì tổ quốc, hi sinh vì tổ quốc mình. Thế là hắn được tung hô, trở thành một anh hùng, một vĩ nhân. Được thưởng được tham gia nhiều hội, và hắn trở thành con rễ của cụ cố Hồng. | Tóm tắt tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng | 444 | |
Tóm tắt tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn
Vợ chồng Hoa Thuyên là chủ một quán trà có con trai là thằng bé Thuyên bị bệnh lao đã lâu, không có cách gì chữa khỏi. Được lão cả Khang mách nước rằng, ăn bánh bao tẩm máu người chết thì sẽ hết bệnh lao. Lão Hoa Thuyên bèn tìm đến cai ngục rồi lấy bánh bao chấm vào máu của tử tù vừa bị chém đầu, để về cứu con. Khi đứa con đang ăn bánh thì những người khách vào quán trà bàn tán về người bị chém sáng nay, thì ra đó là Hạ Du người chiến sĩ cách mạng dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng hi sinh bản thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và đất nước
Thằng bé Thuyên sau đó vẫn chết, mộ của thằng bé và Hạ Du được chôn gần nhau. Vào tiết thanh minh, hai người mẹ gặp nhau khi đi viếng con. Hai người buồn bả, xót xa cho con mình. Họ đồng cảm cho nhau vì cùng cảnh ngộ. Và họ bất ngời vì trên mộ Hạ DU có vòng hoa hồng và trắng xen kẽ nhau, hai bà mẹ tự hỏi “ thế là thế nào”. | Tóm tắt tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn | 215 | |
Đề bài: Tóm tắt tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
Bài làm
Truyện thơ Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu có nhiều dị bản, bản ngắn nhất có 2082 câu thơ lục bát, bản dài nhất có 2246 câu thơ. Tình tiết nhà vua nhường ngai vàng cho Lục Vân Tiên rồi đi tu là sự khác biệt, tạo nên sự dài, ngắn về văn bản ấy.
Truyện có thể tóm tắt như sau:
Ở quận Đông Thành, vợ chồng họ Lục sinh được đứa con trai rất tuấn tú, đặt tên là Lục Vân Tiên. Sau khi lên núi tầm sư học đạo, Vân Tiên trở thành một con người xuất chúng: văn võ kiêm toàn.
Trên đường xuống núi về kinh ứng thí, Vân Tiên đã đánh tan bọn cướp Phong Lai, cứu được Kiều Nguyệt Nga, một thiếu nữ vóc ngọc mình vàng. Cảm công đức chàng hiệp sĩ, nàng vẽ bức hình Lục Vân Tiên luôn luôn mang theo mình.Vân Tiên ghé thăm gia đình Võ Công – người đã hứa gả con gái cho chàng. Vân Tiên gặp Hớn Minh, Vương Tử Trực (hai người bạn tốt) và Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, 2 kẻ xấu xa. Ông Quán đã nói với 4 sĩ tử về lẽ ghét thương ở đời.
Sắp vào trường thi, Vân Tiên nhận được tin nhà. Chàng vội trở về quê chịu tang mẹ. Quá đau khổ mà lâm bệnh, hai mắt bị mù, Vân Tiên bị bọn lang băm, phù thủy, thầy bói lừa gạt lấy hết tiền; Trịnh Hâm đẩy xuống sông hãm hại. Vân Tiên được con giao long và ngư ông cứu thoát. Vân Tiên trở lại nhà Võ Công, bị hắt hủi và bị bỏ vào hang sâu cho chết. Vân Tiên được thần núi và ông Tiều cứu ra, gặp lại Hớn Minh, người bạn nghĩa hiệp. Vương Tử Trực đỗ thủ khoa, tìm đến nhà Võ Công hỏi thăm tin tức Vân Tiên. Võ Công ngỏ ý gả con gái cho Vương Tử Trực, nhưng đã bị chàng mắng nhiếc, y quá nhục mà chết.
Kiều Nguyệt Nga nghe tin Vân Tiên gặp nạn đã qua đời, nàng vô cùng thương tiếc, nguyền sẽ thủ tiết. Tên thái sư trong triều hiến kế cho nhà vua bắt đem Kiều Nguyệt Nga cống cho giặc Ô Qua. Nàng đã ôm theo bức hình Lục Vân Tiên nhảy xuống sông tự tử. Phật Bà Quan Âm đã cứu sống Kiều Nguyệt Nga; sau đó nàng lại dạt vào vườn hoa nhà họ Bùi. Bùi Công muốn nhận Kiều Nguyệt Nga làm con nuôi, nhưng Bùi Kiệm lại nằng nặc đòi lấy nàng làm vợ. Kiều Nguyệt Nga bỏ trốn, nương nhờ lão bà ở giữa rừng sâu.
Lục Vân Tiên nhờ thuốc tiên mà đôi mắt sáng lại. Chàng vội trở lại quê nhà: thăm cha, viếng mộ mẹ, thăm Kiều Công. Chàng lại đi thi, đậu Trạng nguyên; vua sai đi dẹp giặc Ô Qua. Trên đường chiến thắng trở về, Lục Vân Tiên bất ngờ gặp lại Kiều Nguyệt Nga, hai người mừng mừng tủi tủi.
Lục Vân Tiên trở lại triều đình, tậu hết sự tình đầu đuôi. Tên thái sư và bọn gian ác bị trừng phạt, những người nhân nghĩa được đền đáp. Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga nên vợ nên chồng, sống cuộc đời hạnh phúc, vinh hiển. | Tóm tắt tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu | 567 | |
Tóm tắt tác phẩm Vợ Nhặt lớp 12
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm Vợ Nhặt lớp 12
Vợ nhặt là tác phẩm kể về nhân vật Tràng sống trong nạn đói năm 1945, một thời kì khủng khiếp, người chết chất đống còn người sống thì như những bóng ma. Tràng, một người nông dân nghèo, xấu xí, ế vợ lại dở hơi, làm nghề kéo xe bò thuê và nuôi một người mẹ già. Một hôm, Tràng dẫn về nhà một người phụ nữ đang lâm vào hoàn cảnh đói rách cùng đường.
Tràng có vợ vô cùng đột ngột và bất ngời, chỉ từ một câu nói đùa, và bữa ăn là bốn bán bánh đúc, người phụ nữ đó đã ưng thuận theo Tràng về mà không cần bất kì cái gì. Mẹ Tràng- bà cụ Tứ và cả cái xóm ngu cư vô cùng ngặc nhiên. Bà cú Tứ đón nhận người con dâu với một tâm trạng buồn có, lo có nhưng cũng vừa vui, vừa hi vọng, chấp nhận mà không một lời trách hay tỏ thái độ chê bai người phụ nữ đó.
Buổi sáng đầu tiên đón con dâu, bà cụ Tứ chuẩn bị một bữa cháo kèm theo là nồi chè cám nhưng trong đó là cả một tấm lòng của người mẹ già. Nhìn cảnh người phụ và mẹ dọn dẹp, quét tước và bữa cơm gia đình, Tràng như trở thành một người đàn ông có trách nhiệm hơn và thấy gắn bó với gia đình hơn. Tiếng trống thúc thuế vang lên, cùng lời kể về Việt Minh của vợ, trong đầu Tràng hiện lên hình ảnh người người cùng nhau, kéo nhau đi phá kho thóc Nhật, và lá cờ đỏ bay phất phới khắp nơi. | Tóm tắt tác phẩm Vợ Nhặt lớp 12 | 295 | |
Tóm tắt tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao lớp 12
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao lớp 12
Độ và Hoàng quen nhau và trở thành bạn từ trước năm 1945. Pháp xâm lược nước ta, Độ trở thành một chiến sĩ, tham gia vào công cuộc kháng chiến chống Pháp. Còn Hoàng thì trở về sống ở nông thôn.
Độ muốn vận động Hoàng tham gia vào văn hoá cứu quốc, nên nhân cơ hội đi công tác, Độ đã ghé thăm vợ chồng Hoàng. Độ được vợ chồng Hoàng đón tiếp rất chu đáo. Họ trò chuyện với nhau, nhưng vợ chồng Hoàng ca ngợi chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng họ không tin vào khả năng lãnh đạo cách mạng của tầng lớp nông dân. Độ giải thích cho họ rằng trước đây cũng nghĩ như vợ chồng Hoàng, nhưng khi tham gia và tiếp xúc, Độ thấy được sự gan dạ lòng yêu nước và sẵn sàng hi sinh của những người nông dân…làm anh rất thán phục và trân trọng.
Nhưng dù vậy, Hoàng vẫn không thay đổi suy nghĩ của mình, Hoàng chỉ giao tiếp và đến chơi với những người thuộc tầng lớp tri thức cũ mặc dù anh cũng không ưa gì họ. Hoàng chú trọng vào những trang tam quốc còn Độ cũng từ bỏ ý định mời Hoàng tham gia văn hoá cứu nước. | Tóm tắt tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao lớp 12 | 235 | |
Tóm tắt tác phẩm “ Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng.
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm “ Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng.
Bài làm
Tác phẩm “ Những ngày thơ ấu” là cuốn hồi ký của Nguyên Hồng. Cuốn hồi ký chỉ dài chưa đầy một trăm trang, được chia làm chín chương. Trong hồi ký, cảnh sa sút, tan nát của gia đình Nguyên Hồng trong khoảng những năm hai mươi, ba mươi của thế kỷ hai mươi được ghi lại rất rõ nét. Đó là sự buồn đau của một người phụ nữ khi phải sống trong một cuộc hôn nhân miễn cưỡng với một người chồng nghiện ngập. Rồi những tủi cực, sự cô đơn và con đường dẫn đến sự hư hỏng, sa ngã của một em bé mồ côi, tất cả đều được tác giả miêu tả rất chân thực.
Bé Hồng sinh ra trong gia đình có bà nội theo đạo. Bà sinh nở tất thảy mười tám lần, nhưng chỉ nuôi sống được ba người con gồm hai gái và một trai. Cha của bé Hồng là người con thứ hai của bà. Ông làm nghề cai ngục. Vậy nên khi bé Hồng được sinh ra, có không biết bao nhiêu người nhà phạm nhân mang bàng bạc lụa là, gạo thơm gà béo, trứng mới, cá biển tươi đến để chúc mừng. Ngay đến bà vú nuôi cũng cảm thấy bô cùng hả hê vì thấy mình thật tốt số, được hầu hạ một nhà quyền quý. Mãi sau này, khi bà nội của Hồng nhắc lại chuyện ấy với mọi người, ai cũng thấy “ có nhiều sự cảm động lắm”.
Khi gia đình sa sút, cha Hồng xin thôi nghề cai ngục. Ông chán nản, lôi bàn đèn thuốc phiện về nhà, sống lay lắt trong buồng tối bên bàn đèn. Tất cả tài sản có giá trị, quý giá đều bán sạch. Mẹ của Hồng buôn bán thua lỗ. Đến cả ngôi nhà gạch trên phố Hàng Cau, Nam Định cũng phải bán đi để có tiền trả nợ. Gia đình suy sụp hẳn, bố thì trụy lạc bên bàn đèn, con thì lêu lổng đánh đáo để có tiền ăn quà, giao du với những đứa trẻ bụi đời.
Anh em Hồng sống trong cô đơn, tủi cực. Có đêm nô en, Hồng lang thang lếch thếch giữa đám đông để cố nhìn thấy bàn thờ chúa, nhưng lại bị người ta đẩy xuống hoặc cốc lỗ đầu. Chưa kể đến những đêm đông mưa phùn, gió vi vu lạnh buốt, khi phải nằm trên cái phản trong xó nhà tăm tối của bà cô, Hồng co rúm lại, trằn trọc, nước mắt cứ ứa ra…
Hồng lang thang khắp nơi, các cổng chợ, bến tàu, vườn hoa.. để đánh đáo. Cậu còn được lũ bạn bụi đời đặt cho cái biệt hiệu “ bật câu cơm”, một danh hiệu mỉa mai nhưng Hồng không vì thế mà hổ thẹn. | Tóm tắt tác phẩm “ Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng. | 498 | |
Tóm tắt tác phẩm “Chữ người tử tù” văn lớp 11
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm “Chữ người tử tù” văn lớp 11
Chữ người tử tù kể về nhân vật Huấn Cao, ông là một tử tù do chống lại triều đình nên bị bắt. Huấn Cao là một nhà nho tài hoa nhất là tài viết chữ.
Trước khi ông bị xử bắn, ông được giải đến nhà ngục nơi có viên quan ngục và thầy thơ, hai người này rất yêu và mến mộ cái đẹp và hâm mộ tài viết chữ tuyệt vời của Huấn Cao. Vì thế, trong những ngày Huấn Cao ở ngục, hai người này đối đãi với ông rất tốt, còn trịnh trọng hầu hạ như kẻ dưới nhưng Huấn Cao không hề màng tới. Khi viên quản ngục có được tin ngày xử tử Huấn Cao, ông và thầy thơ quyết hoàn thành tâm nguyện là xin chữ của Huấn Cao. Trước thái độ chân thành và tình yêu với cái đẹp, Huấn Cao vô cùng cảm mến những tấm lòng đó nên đã quyết định cho chữ.
Một chuyện trước đây chưa hề có đã diễn ra vào buổi tối trước ngày Huấn Cao bị sử tử, tại nhà lao tỉnh Sơn đó là cảnh ba con người chụm đầu, một người là tử tù đang mang trong mình đầy xiềng xích, nhưng lại đang vẽ ra, phóng ra từng nét chữ trên tấm lụa trắng, bên cạnh là hai cai đầu đang dõi theo, run rẩy, khúm núm chờ đợi của Viên quản ngục và thầy thơ. | Tóm tắt tác phẩm “Chữ người tử tù” văn lớp 11 | 264 | |
Tóm tắt tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố.
Hướng dẫn
Tóm tắt tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố.
Bài làm
Bối cảnh truyện Tắt đèn diễn ra trong một cuộc đốc sưu, đốc thuế ở làng quê Việt Nam, cụ thể ở đây là làng Đông Xá dưới thời Pháp thuộc. Cổng làng bị đóng chặt. Tiếng trống, tiếng tù và thổi liên tiếp suốt đêm ngày. Tiếng bọn cường hào và tay chân đi lại ngoài đường nghênh ngang, tay lăm lăm roi song, dây thừng, tay thước thét trói kẻ thiếu sưu.
Vợ chồng chị Dậu sau hai cái tang liên tiếp của mẹ chồng và chú Hợi, tuy cả hai cùng đầu tắt mặt tối quanh năm mà cơm vẫn không đủ ăn, áo vẫn không đủ mặc. Giờ đã là hạng cùng đinh bậc nhì, bậc nhất trong lòng. Anh Dậu chồng chị bị trận ốm thập tử nhất sinh, kéo dài mấy tháng trời, không có sức lao động. Vì không có tiền nộp sưu, anh Dậu bị bọn cường hào bắt trói như trói chó để giết thịt. Chị Dậu chạy tất tả khắp nơi, ngược xuôi vay mượn, cực chẳng đã phải bán đứt cả đứa con gái đầu lòng và ổ chó mới sinh cho vợ chồng Nghị Quế để trang trải món nợ cho nhà nước. Ấy vậy mà vẫn không xong, lý trưởng làng Đông Xá bắt vợ chồng chị Dậu phải nộp cả suất sưu của chú Hợi đã chết từ năm ngoái, vì có chết cũng không trốn được nợ nhà nước.
Anh Dậu vốn đã ốm đau thập tử nhất sinh, vậy mà còn bị trói, bị đánh, tra tấn đến mức ngất đi,rũ rượi như xác chết. Bọn cường hào thấy thế liền khiêng trả về nhà.
Đến hôm sau, khi chị Dậu đang động viên anh Dậu cố húp ít cháo loãng cho lại gười thì tay chân bọn cường hào xông đến. Chúng lồng lên xông vào chửi mắng vợ chồng chị, chúng bịch vào ngực và tát đánh bốp vào mặt chị Dậu. Chị cố hết sức van lạy, cầu xin chúng tha cho chồng mình. Nhưng lũ cường hào không để yên, tên cai lệ gầm lên, nhảy vào trói thốc anh Dậu khi anh đã lăn ra chết ngất. Trong tình thế nước sôi lửa bỏng, lo cho anh Dậu đang thập tử nhất sinh, chị Dậy nghiến hai hàm răng thách thức, xông đến đánh ngã nhào hai tên cai lệ và tên hầu cận lý trưởng. Những kẻ hút nhiều xái cũ đó sao có thể đánh lại được người phụ nữ vất vả quanh năm.
Chúng bắt trói giải chị Dậu lên huyện để xử lý. Tri phủ Tư Ân thấy chị đằm thắm, nước da đen giòn, đôi mắt hau háu sắc bén của hắn đã giở trò bỉ ổi. Chị Dậu thấy vậy ném tọt cả nắm giấy bạc vào mặt con quỷ dâm ô rồi vùng chạy.
Về nhà, nghĩ đến món nợ nhà nước vẫn còn đó, chị Dậu quyết định lên tỉnh đi ở vú. Trong một đêm tối trời, cụ cố Thượng tuổi đã ngoài tám mươi nổi hứng mò vào buồng chị, định giở trò xằng bậy. Chị Dậu tủi nhục, vùng chạy ra ngoài trong khi trời tối đen như mực… | Tóm tắt tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố. | 556 | |
Tóm tắt và cảm nhận văn bản Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Gợi ý viết bài
Văn bản “Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000” cho chúng ta những hiểu biết cần thiết về môi trường, về tác hại và phương cách sử dụng hiệu quả bao ni lông.
Về tổ chức và mục đích
Ngày Trái Đất là ngày 22/4 hàng năm; lúc đầu do một tổ chức bảo vệ môi trường của Mĩ khởi xướng từ năm 1970, đến nay đã có hơn 140 nước trên thế giới tham gia với mục đích bảo vệ môi trường, chủ đề của Ngày Trái Đất hàng năm là những vấn đề nóng bỏng nhất của từng nước hoặc từng khu vực.
Năm 2000, Việt Nam tham gia vào tổ chức Ngày Trái Đất. Chủ đề “Một ngày không sử dụng bao ni lông” là do nước ta đề xuất.
Những tác hại của bao ni lông
Tác giả đã phân tích và giải thích một cách chi tiết về những tác hại của việc sử dụng bao ni lông. Đa số chúng ta đều chưa biết về những tác hại của một loại vật dụng tưởng chừng như vô hại này. Năm tác hại được tác giả nêu ra trong văn bản là:
– Bao bì ni lông có chứa chất plastic, một chất không phân huỷ và sẽ gây nguy hại cho môi trường trên khắp mọi miền đất nước. Mỗi ngày chúng ta thải ra hàng triệu bao ni lông, phần lớn trong số đó được vứt bừa bãi ở khắp nơi.
-Bao ni lông vứt bừa bãi sẽ làm tắc nghẽn cống rãnh, kênh mương, gây nên cảnh ứ đọng, ngập lụt; từ đó ruồi muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi nuốt phải.
-Bao bì ni lông màu vốn chứa các chất như chì, ca-đi-mi sẽ làm nhiễm độc thực phẩm khi dùng để đựng, điều này sẽ tác động xấu đến não và là nguyên nhân gây bệnh ung thư phổi.
– Khi đốt các loại bao ni lông sẽ phát sinh ra khói có chứa khí độc đi-ô-xin. Khi hít phải sẽ gây ngộ độc, khó thở, nôn ra máu, gây rối loạn chức năng, gây ung thư và các dị tật bẩm sinh cho trẻ sơ sinh.
Tóm lại, sử dụng vô tội vạ bao ni lông sẽ đầu độc môi trường chúng ta và cũng là đầu độc chính chúng ta. Đó là lời cảnh báo của tác giả dành cho mọi người.
Những giải pháp
Ngày Trái Đất năm 2000 có chủ đề “một ngày không sử dụng bao ni lông” là rất thiết thực. Nếu mọi người ai ai cũng tự giác thực hiện thì môi trường của chúng ta sẽ phải khỏi gánh chịu hàng triệu bao ni lông thải ra mỗi ngày. Những giải pháp cho việc sử dụng bao ni lông hiệu quả đã được tác giả đưa ra. Cụ thể là:
-Không sử dụng bao ni lông khi không cần thiết.
-Dùng giấy và lá gói thực phẩm thay cho bao ni lông.
-Nói cho mọi người trong nhà và bạn bè biết những tác hai ghê gớm của bao ni lông và những biện pháp sử dụng bao ni lông hiệu quả.
Vì Trái Đất, vì ngôi nhà chung của chúng ta, ai ai cũng cần quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường. Một trong những việc làm đầu tiên là hưởng ứng khẩu hiệu “một ngày không dùng bao ni lông”.
“Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000” là một văn bản thuyết minh. Những kiến thức khoa học về độc tố, về tác hại của bao ni lông đã được tác giả trình bày hết sức ngắn gọn nhưng đầy đủ, thuyết phục mọi người. Những kiến nghị mà tác giả nêu ra rất thiết thực và không khó để thực hiện. Mọi người cần quan tâm hơn nữa đến công tác bảo vệ môi trường để chúng ta thật sự có một môi trường trong lành nhằm bảo vệ chính cuộc sống chúng ta.
Tags:Văn 8 | Tóm tắt và cảm nhận văn bản Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 – Đề và văn mẫu 8 | 690 | |
Đề bài: Tóm tắt và phân tích ý nghĩa của truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh
Bài làm
Vua Hùng thứ XVIII có nàng công chúa tên là Mị Nương, mình ngọc, mặt hoa, đẹp tuyệt trần. Vua cha muốn kén được một chàng rể tài giỏi, nhưng chưa có một chàng trai nào thật xứng đáng.
Một hôm, cùng một lúc, bỗng có hai vị thần cùng xuất hiện tại cung điện và xin cầu hôn. Một người tự xưng là Sơn Tinh có tài dời non lấp bể, dựng núi xây đồi. Một người tự xưng là Thuỷ Tinh có phép lạ như dâng nước, hô mây, gọi gió, nổi sóng, gây mưa… Vua Hùng băn khoăn ngẫm nghĩ, rồi phán: Cả hai thẩn rất tài giỏi, thật vừa ý ta. Nhưng… ta chỉ có một ái nữ, biết gả cho thần nào? Thôi thì ngày mai, hễ ai đem sính lễ đến trước, ta khắc cho làm rể và cưới con gái ta….
Mờ sáng hôm sau, Sơn Tinh đến trước mang theo voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi, kèm theo một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng… Vua
Hùng vui vẻ nhận lời, rồi cho phép Sơn Tinh làm lễ cưới, rước Mị Nương về núi.
Thuỷ Tinh chậm chân đến sau, không lấy được Mị Nương, đùng đùng nổi giận. Thần lập tức hô mưa, gọi gió, giông bão mịt mù, dâng nước lên đánh Sơn Tinh, quyết dành lại người đẹp. Cả một vùng Phong Châu rộng lớn chìm trong biển nước. Thuỷ Tinh dâng nước lên cao hao nhiêu thì Sơn Tinh lại hoá phép nâng núi lên cao bấy nhiêu. Hai bên kịch chiến suốt ngày đêm. Núi Tản Viên, sông Đà trở thành bãi chiến trường ác liệt, cây đổ, đất đá ngổn ngang, xác ba ba, thuồng luồng, rắn rết bị giết chết nổi đầy sông. Đánh mãi không được, Thuỷ Tinh hậm hực rút quân về.
Từ đó, Thuỷ Tinh ôm mối hận thù khôn nguôi. Năm nào cũng vậy, cứ đến tháng 7 tháng 8 ta, Thuỷ Tinh lại đem quân đánh Sơn Tinh để rửa hận, gây ra cảnh mưa gió, bão lụt khắp nơi…
Truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh mượn chuyện hai thần tranh giành người đẹp để giải thích hiện tượng giông bão, lũ lụt hàng năm xảy ra trên vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc nước ta.
Sơn Tinh đã đánh thắng Thuỷ Tinh. Điều đó nói lên ước mơ và khát vọng của người Việt cổ xưa muôn có sức mạnh thần kì, vô địch đế đẩy lùi và chế ngự thiên tai lũ lụt, để bảo vệ và phát triển nghề trồng lúa nước lâu đời.
Hình tượng Sơn Tinh hoá phép nâng núi lên cao, lên cao mãi để chiến thắng Thuỷ Tinh là một trong những hình ảnh thần kì tráng lệ trong truyện cổ dân gian Việt Nam. | Tóm tắt và phân tích ý nghĩa của truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh | 491 | |
Tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng
Hướng dẫn
Bài tập làm văn tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng lớp 8 ngắn gọn ( khoảng 10 dòng ) bao gồm các văn bản tóm tắt chọn lọc. Hy vọng tài liệu tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng này sẽ giúp các bạn học sinh nắm được nội dung cơ bản của truyện. Mời các bạn cùng tham khảo.
Tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng
Tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng – bài 1
Xiu và Giôn-xi là hai nữ hoạ sĩ trẻ sống trong một khu nhà trọ. Cụ Bơ-men, một hoạ sĩ già cũng sống ở đó với họ, cả đời cụ khao khát vẽ một kiệt tác nhưng chưa thoả ý. Chẳng may, mùa đông năm ấy, Giôn-xi bị bệnh sưng phổi rất nặng. Bệnh tật khiến cô tuyệt vọng và nghĩ rằng khi chiếc lá thường xuân cuối cùng rụng xuống là sẽ là lúc mình lìa đời. Xiu vô cùng lo lắng và hết lòng chạy chữa cho bạn nhưng vô ích, Giôn-xi vẫn bi quan như vậy. Cô gái tội nghiệp âm thầm đếm từng chiếc lá.
Biết được ý nghĩ điên rồ đó của Giôn-xi, cụ Bơ-men ban đầu mắng um lên nhưng sau đó lại âm thầm thức suốt đêm mưa gió bão bùng để vẽ chiếc lá thường xuân. Chiếc lá cuối cùng giống như thật. Nó đã không rụng trong đêm bão lớn khiến Giôn-xi suy nghĩ lại, cô hi vọng và muốn được sống, được sáng tạo. Giôn-xi từ cõi chết trở về nhưng cụ Bơ-men lại chết vì bệnh sưng phổi sau đêm sáng tạo kiệt tác chiếc lá cuối cùng để cứu Giôn-xi. Xiu lặng lẽ đến bên Giôn-xi báo cho bạn về cái chết của cụ Bơ-men và bí mật của chiếc lá cuối cùng.
Tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng – bài 2
Câu chuyện kể về cuộc sống chật vật của những người hoạ sĩ nghèo: Hai nữ họa sĩ trẻ Xiu và Giôn-xi sống cùng căn hộ với người họa sĩ già Bơ-men. Những khó khăn về vật chất đã vắt kiệt sức sáng tạo, khiến họ lâm vào cảnh bi đát. Cụ Bơ-men suốt bốn chục năm mơ ước vẽ một bức kiệt tác mà không thực hiện được, đành phải ngồi làm mẫu cho các họa sĩ trẻ để kiếm chút tiền còm nuôi thân. Giôn-xi bị sưng phổi, bệnh tật và nghèo túng đã lấy nốt của cô niềm tin vào cuộc sống. Chỉ còn lại Xiu mòn mỏi với những bức vẽ và ám ảnh bởi suy nghĩ của Giôn-xi: Cô gái bệnh tật ấy đang đếm từng chiếc lá rơi để chờ định mệnh phán quyết mạng sống của chính mình, với niềm tin khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cô sẽ ra đi… Không gian cuộc sống của những con người khốn khổ ấy lạnh lẽo u ám như mùa đông, nặng trĩu những buồn lo.
Đáng sợ làm sao khi mỗi ngày trôi đi trong gió tuyết và những cơn mưa lạnh lẽo dai dẳng, những chiếc lá thường xuân tiếp tục rơi xuống, chỉ còn lại một chiếc lá cuối cùng để Giôn-xi như nhìn thấy cái chết của mình đang đến gần.
Câu chuyện kết thúc bằng một sự đảo ngược tình huống. Chiếc lá cuối cùng là một sự lừa dối, nhưng lại là một sự lừa dối cao cả để đem lại niềm tin vào sự sống cho con người. Kiệt tác cuối cùng của người họa sĩ già đã được ra đời nằm ngoài tất cả mọi dự đoán của công chúng. Nhưng chiếc lá cuối cùng ấy mãi mãi là bằng chứng của tấm lòng yêu thương con người. Bởi thế, Chiếc lá cuối cùng sẽ mãi bất tử với thời gian.
Tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng – bài 3
Câu chuyện về những người hoạ sĩ nghèo nơi khu trọ đã làm bao trái tim nhói lên.
Hai nữ hoạ sĩ nghèo Xiu và Giôn-xi sống trong căn gác của nhà trọ nhỏ bé phía dưới là căn nhà của cụ Bơ-men một người hoạ sĩ lớn tuổi. Nhưng cuộc sống cho họ tài năng nhưng lại lấy của Giôn-xi sức khoẻ. Cô bị sưng phổi nặng. Mằm trên giường bệnh cô đếm từng ngày sống sót của mình. Cô tự nhắn nhủ với mình rằng khi nào chiếc lá thường xuân cuối cùng rụng xuống thì cô sẽ xa rời cuộc sống này mãi mãi. Và trong đêm bão tuyết gầm rú đó ai cũng nghĩ chiếc lá thường xuân mỏng manh kia sẽ rơi xuống nền tuyết trắng. Nhưng nào ngờ đâu chiếc lá đó vẫn ở đó khi mọi người nhìn qua. Không đó là một bức vẽ mà cụ Bơ-men để lại trong đêm tuyết đó trước khi vào viện. Cụ đã hi sinh sự sống của mình để cứu tâm trí như rơi vào vực thẳm của con người trẻ tuổi kia. Và đúng như cụ nghĩ; Giôn-xi đã lấy lại chính bản thân mình để hy vọng về những tác phẩm mới sẽ ra đời. Chiếc lá đó sẽ mãi ở đó như lời nhắn nhủ của chính người hoạ sĩ đã vẽ lên kiệt tác đó.
Tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng – bài 4
Xiu, Giôn-xi và cụ Bơ Men là những họa sĩ cùng sống trong một căn hộ 2 tầng ở gần thành phố Oa-Sinh-Tơn
Mùa đông năm ấy, Giôn-xi bị chứng xưng phổi, cô tuyệt vọng tự nhủ rằng bao giờ chiếc thường xuân cuối cùng ở gần đó rụng thì cô cũng lìa đời. Biết được ý nghĩ ngu ngốc của Giôn-xi, cụ Bơ Men vô cùng tức giận và lo lắng.
Sau đêm mưa bão đầu tiên, chiếc là vẫn còn đó…Rồi đêm thứ hai chiếc lá vẫn còn. Giôn-xi nhận thấy mình đã sai, dần hồi phục.
Tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng – bài 5
Xiu và Giôn-xi là 2 nữ họa sĩ trẻ sống trong một khu nhà trọ. Cụ Bơ-men là một họa sĩ già cũng sống ở đó; cả đời cụ khao khát vẽ được một kiệt tác nhưng chưa thực hiện được. Mùa đông năm ấy, Giôn-xi bị bệnh sưng phổi rất nặng. Bệnh tật khiến cô tuyệt vọng và nghĩ rằng khi chiếc lá thường xuân cuối cùng rụng xung sẽ là lúc mình lìa đời. Xiu vô cùng lo lắng và hết lòng chạy chữa cho bạn nhưng vô ích. Biết được ý nghĩ điên rồ đó của Giôn-xi, cụ Bơ-men âm thầm thức suốt đêm mưa gió để vẽ chiếc lá thường xuân. Chiếc lá cuối cùng đã không rụng trong đêm bão lớn khiến Giôn-xi nghĩ lại, cô hy vọng và muốn được sống. Tuy nhiên, cụ Bơ-men lại chết vì bệnh sưng phổi sau một đêm đội mưa đội gió để vẽ hình chiếc lá cuối cùng lên tường nhằm cứu Giôn-xi. Xiu lặng lẽ đến bên bạn báo cho bạn về cái chết của cụ Bơ-men và bí mật của chiếc lá cuối cùng.
Tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng – bài 6
Tại một khu nhỏ phía tây công viên Oa – Sinh – Tơn là cái làng Greenwich cổ kính. Các nghệ sĩ nghèo thường lui tới tìm thuê những căn phòng có cửa sổ hướng bắc, những buồng xép sát nóc kiểu Hà Lan với giá tiền rẻ.
Phòng họa của hai nữ sĩ trẻ đặt tại tầng thượng ngôi nhà cổ gạch 3 tầng thấp lè tè, tầng cuối cùng là của cụ Bơ-Men đã ngoài 60 tuổi. Cụ nghiệu rựu, đã hơn 40 năm mà ngòi bút màu của cụ chưa với tới được gấu áo của vị thần nghệ thuật. Cụ luôn luôn có ý định vẽ một bức tranh kiệt tác nhưng chưa bao giờ cụ bắt đầu cả. Hai nữ họa sĩ trẻ, một người tên Giôn-Xi, một người tên là xiu. Một cô đến từ Ban-men, cô kia đến từ Ca-li-pho-ni-a. Họ kết nghĩa, gắn bó trong tình chị em tha thiết.
Mùa đông năm ấy, chứng viêm phổi hoành hành đã đánh ngã hàng chục nạn nhân bên khu phía đông…Thế rồi Giôn-Xi bị cảm lạnh nằm bất động trên chiếc giường sắt. Viên bác sĩ cho Xiu biết, bệnh tình của Giôn-Xi mười phần chỉ hy vọng được một thôi. Xiu tranh thủ vẽ để kiếm tiền mua rượu bocđa, pha sữa, mua thuốc để săn sóc, chạy chữa cho đứa em tội nghiệp. Ngày đêm trôi qua Giôn-Xi nằm yên bất động và trắng bệt như pho tượng đổ. Cô chỉ biết nhìn ra cửa sổ nhẩm đếm từng chiếc lá trên cây thường xuân, mệt mỏi buông xuôi nghĩ sẽ ra đi khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống.
Cụ Bơ-Men đã chết vì sưng phổi sau 2 ngày nằm viện. Giày và áo quần cụ ướt sũng vẫn còn để lại trong phòng. Chiếc thang, chiếc đèn bão và chiếc bút rơi vung vãi…ở ngoài cửa sổ. Xiu khẽ nhắc em hãy nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn chiếc lá cuối cùng trên cây, rồi bảo: “Ồ em thân yêu, đó chính là tác phẩm kiệt xuất của cụ Bơ-Men đấy. Cụ đã vẽ nó vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng…”
Tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng – bài 7
Tại một ngôi nhà ba tầng tồi tàn với những căn phòng cho thuê giá rẻ trong một khu phố nhỏ ở phía tây công viên Oa- sin- tơn, vào khoảng tháng 11, khi gió lạnh mùa Đông tràn về, Xiu và Giôn-xi đến thuê chung một căn phòng trên tầng thượng ngôi nhà. Cụ Bơ-men cũng là một hoạ sĩ nghèo sống ở tầng dưới cùng…
Giôn –xi bị bệnh sưng phổi nặng, mặc cho Xiu chăm sóc, động viên, Giôn -xi cứ nằm quay ra cửa sổ nhìn những chiếc lá thường xuân trên dây leo bám vào tường gạch phía cửa sổ trước mặt rụng dần từng chiếc. Mỗi lần có một chiếc lá rơi, cô lại đếm ngược số lá còn lại và chờ chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cô cũng buông xuôi lìa đời…
Cụ Bơ- men nghe Xiu kể, rất bực mình vì ý nghĩ ngớ ngẩn của Giôn-xi. Cụ lên gác, gặp Xiu, hai người sợ sệt nhìn cây thường xuân. Sáng hôm sau khi tỉnh dậy, Xiu chán nản kéo tấm mành che cửa lên theo lệnh của Giôn-xi thì ngạc nhiên, thấy chiếc lá thường xuân cuối cùng vẫn còn bám trên cây…
Một đêm mưa gió nữa lại qua, chiếc lá thường xuân vẫn dai dẳng bám trên cây. Giôn-xi nhìn ngắm chiếc lá, rồi cô thấy rằng “muốn chết là một tội”. Cô ngồi dậy ăn cháo, uống thuốc, và cùng với sự chăm sóc của Xiu, Giôn-xi đã chiến thắng căn bệnh hiểm nghèo. Nhưng cũng thời điểm đó thì cụ Bơ-men đã qua đời vì cụ đã mắc phải bệnh viêm phổi sau cái đêm thức vẽ chiếc lá cuối cùng trong mưa gió.
Trên đây là bài tập làm văn tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình! | Tóm tắt văn bản chiếc lá cuối cùng | 1,880 | |
TÓM TẮT VĂN BẢN CÔ BÉ BÁN DIÊM LỚP 8 NGẮN GỌN
Truyện kể về một cô bé mồ côi mẹ, sống với một ông bố khắc nghiệt và phải đi bán diêm để kiếm sống. Vào ngày cuối năm, đã nửa đêm em vẫn không bán được que diêm nào và không dám về nhà. Vì quá lạnh nên em đã đốt những que diêm của mình lên để sưởi ấm, mỗi một que đốt lên là một ước mơ của em hiện ra và khi que cuối cùng cháy hết là lúc em lìa đời. Ngày đầu năm, mọi người tìm thấy một cô bé đã lạnh cóng với nụ cười nở trên môi.
TÓM TẮT VĂN BẢN CÔ BÉ BÁN DIÊM LỚP 8 DÀI
Truyện kể về một cô bé nghèo khổ mồ côi mẹ, sống với một người cha hà khắc hay uống rượu và hay đánh đập con. Cô bé phải đi bán diêm đem tiền về cho cha nếu không sẽ bị đánh. Đêm cuối năm, ngoài trời lạnh cóng, cô bé đi chân đất vì một chiếc giày đã bị xe ngựa cán qua và chiếc còn lại bị một thằng bé xấu tính ném mất nhưng lại không dám về nhà vì chưa bán đươc que diêm nào. Cô bé ngồi nép vào một góc tường giữa hai căn nhà để mong giữ chút hơi ấm rồi đánh liều quẹt diêm để sưởi ấm. Que thứ nhất quẹt lên, lò sưởi hiện ra. Que thứ hai quẹt lên, bàn ăn và con ngỗng quay trước mắt. Que thứ ba quẹt lên, cây thông noel hiện ra. Và que diêm thứ tư mang hình ảnh của người bà hiền từ hiện về. Nhưng mọi thứ tan biến khi que diêm tắt và cô bé đã chết cóng. Ngày đầu năm đường phố hiện lên hình ảnh một thiên thần với nụ cười trên môi nằm trên tuyết trắng. Cô bé đã lên thiên đàng cùng với bà của mình. | Tóm tắt văn bản Cô bé bán diêm văn lớp 8 | 333 | |
TÓM TẮT VĂN BẢN LÃO HẠC NGỮ VĂN 8 NGẮN
Lão Hạc kể cho ông giáo nghe về ý định bán con chó của mình và nói chuyện về người con trai đi đồn điền cao su. Ông giáo nghe vậy nhưng không nghĩ Lão Hạc sẽ bán. Mấy hôm sau, lão bán thật, bán xong, lão sang nhà ông giáo gửi ba sào vườn của thằng con lão nhờ ông giáo bao giờ anh con trai về thì đưa cho anh vì lão sợ mình ăn vào vườn của con. Ít lâu sau, lão Hạc quyết định tự tử bằng bả chó và chết một cái chết vô cùng thương tâm.
TÓM TẮT VĂN BẢN LÃO HẠC NGỮ VĂN 8 DÀI
Lão Hạc có một con chó đặt tên là Cậu Vàng, là con chó mà anh con trai đi đồn điền cao su trước đây mua về. Sau khi con trai đi, cậu Vàng là bạn của Lão Hạc, nhưng một hôm lão quyết định bán con chó, phải bán nó đi là một niềm đau xót với Lão. Sau khi bán chó, lão Hạc sang báo cho ông giáo và đau khổ khóc như trẻ con. Vì mấy năm mất mùa, lão Hạc sợ mình bòn hết vườn để lại cho con nên viết giấy nhượng, nhờ ông giáo trông coi mảnh vườn cùng ba mươi đồng bạc còn mình thì kiếm được gì ăn nấy sống qua ngày. Một hôm, ông giáo nói chuyện về lão Hạc với Binh Tư, một người làm nghề ăn trộm thì Binh Tư cho biết lão Hạc mới vừa sang xin hắn bả chó. Ông giáo nghĩ rằng chẳng lẽ lão Hạc cũng trở nên giống Binh Tư nhưng cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác. Lão Hạc không trở nên xấu đi, lão vẫn lương thiện như vậy, chỉ có điều lão phải tự tử bằng bả chó để giữ được lương thiện ấy. | Tóm tắt văn bản lão Hạc văn lớp 8 | 334 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.