text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Trình bày quan niệm về nội dung của câu ngạn ngữ phương Tây: Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi Hướng dẫn Trình bày quan niệm về nội dung của câu ngạn ngữ phương Tây: Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi Bài làm Trong cuộc sống của chúng ta, mấy ai đạt được thành công mà không trải qua khó khăn gian khổ, cũng chẳng ai đạt được thành công mà không phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”. Sự cần cù chịu khó luôn là yếu tố chính dẫn đến thành công. Sống trong cảnh gia đình đầy đủ, xa hoa hẳn mọi điều lo lắng khổ cực, chúng ta dễ khinh thường những người lao động, hàng ngày phải lam lũ với nghề nghiệp, chúng ta lại thường sẵn có thành kiến sai lầm, phân biệt nghề cao quý với nghề ti tiện, trọng nghề trí thức, khinh nghề chân tay. Để cảnh báo thái độ đó, phương Tây có câu ngạn ngữ: “Không có nghề nào là hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi” Khi sinh ra, bản năng sinh tồn là cái mà mỗi con vật có được.Chúng có thể đứng lên bằng chính đôi chân mình có thể chạy nhảy.Tạo hoá đã ưu ái ban cho chúng những khả năng kì diệu đó. Nhưng con người thì khác khi sinh ra tiếng khóc chào đời là tất cả những gì họ có được. Tiếng oa oa cất lên chỉ đơn giản cho mọi người biết một mầm sống mới đã ra đời. Nhưng mầm sống đó sẽ ra sao? và tương lai của nó sẽ như thế nào. Cuộc sống phía trước là của chính nó và do nó quyết định.Giống như một nhà triết học đã nói: “mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có.Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả.Nó làm thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy,và nó phải làm bằng tự do của chình nó Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra”. Thật ra có nghề nào là nghề hèn kém không? Để trả lời chúng ta đưa vài thí dụ. Đây là bác phu xe, mặt mũi đen đủi, áo quần lôi thôi, lấy chiếc xe ba bánh làm kế sinh nhai. Ta liệt bác vào hạng tầm thường và nghề bác làm vệ sinh thành phố, đến cửa từng nhà, hốt để lên xe những đống rác thối tha, đầy ruồi nhặng… có người nhìn bác bằng cặp mắt khinh rẻ. Thanh niên ngày nay không chỉ vùi đầu vào sách vở như đàn anh lớp trước. Cuộc sống hiện đại khoa học kĩ thuật tiến bộ thói quen hằng ngày không gói gọn trong bốn bức tường chỉ có học học và học. Thời gian hằng ngày dường như được mở rộng hơn với rất nhiều những hoạt động thú vị. như chiến dịch mùa hè xanh. Thanh niên được tự do vô tư đến những vùng khó khăn giúp đỡ nhân dân nghèo vùng sâu vùng xa hay những chuyến đi ngắn ngày chỉ đơn giản là chia sẻ quà bánh cho những trẻ em ở những làng trẻ mồ côi, tất cả đều xuất phát từ lòng tình nguyện và sự yêu thương giống nòi.Thanh niên ngày nay không chỉ học tập tốt lao động tốt mà còn có cả lòng nhân ái khoan dung. Những điều kiện đó chính là nền tảng cho sự thành công sau này. Sự thành công đó họ đạt được là do chính đôi tay và khối óc của họ không dựa dẫm vào bất cứ ai……”Khát vọng chính là nguồn động lực có sức mạnh vô biên, tiềm tàng bên trong mỗi con người. Động lực này được thể hiện qua những hành động liên tục và bền bỉ, để con người không bao giờ từ bỏ ước mơ, không bao giờ khuất phục hoàn cảnh.” Quả thật như cau danh ngôn con người có thề đạt được tât cả khi có khát vọng bạn chi thật sự thất bại khi ban từ bỏ khi ước mơ và cố gắng. Qua câu nói vô cùng đáng giá của nhà triết học, có lẽ đã làm thức tỉnh chúng ta, cho nên ngay từ bây giờ phải biết rèn luyện bản thân, học tập thật tốt, khắc phục chỗ hạn chế còn phải trông chờ vào người khác,để bản thân ta phát triển hơn, và hơn hết phải làm nên một con người hợp thời đại thì xã hội mới phát triển, đất nước mới giàu mạnh.Nhưng các bạn cũng hãy nhớ rằng chúng ta không hề cô độc chiến đấu với số phận mà bên cạnh đó còn có gia đình, xã hội nữa.Chính những tác động đócũng có thể tạo nên tôi của ngày mai. Câu nói của nhà triết học thật thú vị phải không các bạn? Biết bao điều ý nghĩa, vô giá được ẩn chứa trong câu nói này. Hãy tự khẳng định cái tôi của chính mình và làm nên cái tôi thật sự, thật giá trị cho xã hội này nha các bạn!!!! “Tôi chỉ có thể là kẻ do chính tôi làm ra”
Trình bày quan niệm về nội dung của câu ngạn ngữ phương Tây_ Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi
891
Trình bày suy nghĩ của em khi đọc bài ca dao – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Ca dao là khúc hát tâm tình của người dân quê Việt Nam lưu truyền qua năm tháng thời gian, lan tỏa theo hương lúa đồng nội quê hương. Ngọt ngào biết bao những vần thơ dân dã ấy đã thấm sâu vào tâm hồn thơ bé mỗi chúng ta qua điệu ru của mẹ, tiếng hát của bà. Chúng ta yêu vô cùng những bài ca dao nói về công việc nhà nông “hai sương một nắng”, ca ngợi đức tính cần cù, lòng kiên nhẫn của người dân cày quê ta. Hình ảnh người trai cày sao mà đáng yêu thế: Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Ai ơi, bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần. Hai câu đầu miêu tả cảnh cày đồng. Câu ca dao gợi lên trước mắt chúng ta hình ảnh người nông dân đang lội bùn, tay cầm cày, theo sau con trâu, dưới ánh nắng “ban trưa” chang chang mùa hạ. Người và con trâu phải làm việc vô cùng vất vả. Mồ hôi tuôn ra như mưa. Từ tượng thanh “thánh thót” gợi tả mồ hôi rơi xuống từng giọt… từng giọt liên tiếp, gieo vào không gian âm thanh “thánh thót”. “Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” là hình ảnh so sánh thậm xưng gợi tả công việc cày đồng vất vả, cực nhọc không thể nói hết. “Mưa” : làm cho lúa xanh tươi, cũng như “mồ hôi” đổ xuống luống cày làm cho đất đai thêm màu mỡ. Nghệ thuật so sánh “mồ hôi” với “mưa” thật là sáng tạo, làm cho người đọc, người nghe thấm thía, cảm thông với bao cực nhọc của nhà nông. Thật vậy, bà con dân cày đã đổ biết bao mồ hôi, công sức vào luống cày, sá bừa, ngàỵ này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, để làm ra bông lúa, củ khoai nuôi sống xã hội. vần ca dao đã vẽ lên một hình ảnh tuyệt đẹp về người nông dân trên cánh đồng quê hương. Đó là một con người khỏe mạnh dẻo dai, cần mẫn và chịu khó: Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Hai tiếng cảm thán “ai ơi!” vang lên một cách tha thiết, đã tạo nên âm điệu êm ái, ngọt ngào. Nhà thơ dân gian nhắn gửi mọi người gần xa một ý nghĩ với bao tình cảm đẹp. Mỗi khi “bưng” bát cơm đầy chúng ta ghi nhớ công ơn khó nhọc của người nông dân đã cuốc bẫm cày sâu, sản xuất ra lúa gạo cho nhân dân no ấm. Câu ca sâu lắng, thấm thìa: Ai ơi, bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần. Câu cuối bài ca dao được tạo nên bằng nghệ thuật tương phản đặc sắc. Câu tám chữ chia làm hai vế tiểu đối cân xứng: “Dẻo thơm một hạt // đắng cay muôn phần”. Tính từ “dẻo thơm” đối chọi với tính từ “đắng cay”, “một hạt” đối lập với “muôn phần”, làm nổi bật sức lao động sáng tạo của nhà nông. Câu ca dao đã nâng nhận thức và cảm xúc cho mọi người về giá trị của bông lúa, hạt gạo, bát cơm dẻo thơm mà ta được hưởng thụ hàng ngày thật đáng quý vô ngần. Cho nên, nhân dân ta mới gọi hạt gạo là “hạt vàng”, “hạt ngọc” với tất cả lòng tự hào, trân trọng. “Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no” (Nguyễn Duy). Cũng như phần lớn ca dao, dân ca, bài “Cày đồng đang buổi ban trưa..” được viết bằng thể thơ lục bát quen thuộc. Giọng thơ nhẹ nhàng thấm thía. Ngôn từ chọn lựa tinh tế, vừa giàu sức biểu hiện vừa đậm đà sắc thái biểu cảm: thánh thót, dẻo thơm, đắng cay, bát cơm đầy,… Các biện pháp tu từ: ví von so sánh, tương phản đối lập được vận dụng sáng tạo, để viết nên những vần thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu. Với đức tính cần mẫn, dẻo dai và sáng tạo, nhà nông đã làm nên những mùa vàng bát ngát, đem đến sự ấm no cho xã hội. Mọi gia đình có bát cơm dẻo thơm, đất nước có nhiều lương thực xuất khẩu là nhờ vào công sức nhà nông. Thời điểm chiến tranh, hạt gạo mang nặng tình hậu phương, ai mà quên được: “Hạt gạo làng ta – Gửi ra tiền tuyến – Gửi về phương xa – Em vui em hát – Hạt vàng làng ta” (Trần Đăng Khoa). Yêu kính và biết ơn nhà nông, mỗi một chúng ta khắc vào tâm hồn lời nhắn gọi thiết tha đã mấy ngàn năm vang lên sau luỹ tre xanh: Ai ơi, bưng bát cơm đầy Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng! Tags:Văn 8
Trình bày suy nghĩ của em khi đọc bài ca dao – Đề và văn mẫu 8
829
Trình bày suy nghĩ của em sau khi học xong truyện Ếch ngồi đáy giếng Hướng dẫn Đề bài: Ếch ngồi đáy giếng là câu chuyện chứa đựng nhiều bài học, thông điệp về cách ứng xử cũng như thái độ sống. Em hãy trình bày suy nghĩ của em sau khi học xong truyện Ếch ngồi đáy giếng. I. Dàn ý chi tiết cho đề suy nghĩ về truyện Ếch ngồi đáy giếng 1. Mở bài Giới thiệu về câu chuyện: Tác phẩm “Ếch ngồi đáy giếng” mượn hình ảnh chú ếch, phản ảnh lối sống của chính con người trong xã hội hiện nay 2. Thân bài – Nội dung của tác phẩm qua sự đối lập giữa hình ảnh dưới đáy giếng và khi thoát khỏi đáy giếng + Khi sống dưới đáy giếng: Coi trời bằng vung, tự cho bản thân là chú tể, không sợ ai, coi thường mọi thứ xung quanh + Khi ra khỏi miệng giếng: Bất ngờ, giật mình với những điều mới lạ, tính cách không thay đổi, vẫn huênh hoan, không coi ai ra gì. –> Kết cục: Chết thảm khi bị trâu dẫm bẹp – Ý nghĩa câu chuyện đối với con người trong xã hội + Là lời cảnh tỉnh cho những ai đang có lối sống bảo thủ, lối sống thu hẹp bản thân và sửa đổi lối sống đó + Trong cuộc sống không nên coi thường người, không đánh giá qua vẻ bề ngoài, đặc biệt cần nhìn nhận vấn đề theo nhiều chiều, học cách hòa nhập vào bộ máy cuộc sống + Lời cảnh tình, báo trước kết thúc với những người không chịu thay đổi. 3. Kết bài Cảm nghĩ về câu chuyện: “Ếch ngồi đáy giếng” là câu chuyện vô cùng ý nghĩa dành cho mọi lứa tuổi, mọi thế hệ, là lời nhắn nhủ cần học tập hơn nữa trong cuộc sống của chính mình. II. Bài tham khảo cho đề suy nghĩ về truyện Ếch ngồi đáy giếng Truyện ngụ ngôn trong dân gian thường mang một ý nghĩa riêng biệt về cuộc sống, con người và xã hội, những tác phẩm đó được nhân dân đúc kết lại từ kinh nghiệm của mình thành những bài học quý giá cho những thế hệ sau qua các tình tiết hài hước, châm biếm, nói bóng nói gió trong mỗi câu chuyện. Tiêu biết là tác phẩm “Ếch ngồi đáy giếng” mượn hình ảnh chú ếch với cái nhìn chỉ bằng cái miệng giếng giữa một không gian bao la rộng lớn khuất tầm nhìn, tác phẩm đã phản ảnh lối sống của chính con người trong xã hội hiện nay. Câu chuyện được thể hiện xoay quanh những điều mà chú ếch nhìn thấy được khi sống dưới đáy giếng và khi được theo dòng nước trôi ra ngoài, phóng rộng tầm mắt bao quát sự vật xung quanh. Khi sống dưới đáy giếng, trong suy nghĩ của chú ếch thì cái mà người ta gọi là trời ở ngoài kia cũng chỉ tầm thường, chỉ nhỏ bé vẻn vẹn bằng cái vung, và trong không gian nhỏ bé đó thì chẳng có gì khiến chú ta phải lo sợ, phải rè chứng, từ đó mà ếch tự cho mình là chúa tể, có thể tự do ra oai, nghênh ngang và coi thường tất cả mọi thứ xung quanh. Để rồi một ngày, khi mưa to gió lớn, nước trong giếng tràn ra thì cũng là lúc chú ếch được tận mắt chứng kiến khung cảnh xung quanh, nó thật khác xa so với những gì ngày thường mà chú ta thấy, tất cả đều thật mới lạ, thật rộng lớn. Nhưng những điều đó không làm cho lối sống, sự suy nghĩ trong chú ếch thay đổi, vì đã sống trong một không gian chật hẹp đã làm cho suy nghĩ thiển cận ăn sâu vào bên trong chú nên tính cách huênh hoang không coi ai ra gì, tự cho mình là nhất vẫn không hề thay đổi, để rồi cuối cùng là phải nhận cái kết bi thảm. Qua một tình huống truyện ngắn gọn đã đúc rút ra rất nhiều bài học quý giá trong cuộc sống của mỗi người, là lời cảnh tỉnh cho những ai đang có lối sống bảo thủ, lối sống thu hẹp bản thân, sống chỉ biết mình không quan tâm tới những người xung quanh, cần có cái nhìn chân thực hơn về cách sống, học hỏi những điều hay lẽ phải, biết cách nhận ra lỗi lầm của bản thân để sửa đổi, để hoàn thiện hình, tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm kiến thức trong sách vở cũng như trong cuộc sống bởi những điều mà ta biết chỉ là giọt nước nhỏ bé giữa đại dương mênh mông rộng lớn. Khi ta ở một mình thì bản thân mỗi người đều là thứ hai và không ai là thứ nhất, nhưng khi ra ngoài xã hội còn có rất nhiều người giỏi hơn mình vì thế mà không nên coi thường hay đánh giá bất cứ điều gì qua vẻ bề ngoài, cần nhìn nhận vấn đề theo nhiều chiều hướng khác nhau để có cái nhìn bao quát nhất. Cuộc sống đặt ra nhiều yêu cầu đối với mỗi người, cuộc sống là một bộ máy hoạt động theo quy luật nhất định, chính vì vậy để tồn tại cần biết cách hòa nhập cuộc sống nhỏ bé của bản thân với cuộc sống to lớn mà xã hội đang vận hành. Cuối cùng qua câu chuyện là sự lên án phê phán những người đang coi thường người khác, tự cho bản thân mình giỏi hơn tất cả sẽ có một kết cục không mấy tốt đẹp, và câu chuyện cũng là một bài học cho những ai nhìn thấy bản thân mình ở trong chính chú ếch để biết đường sửa đối cách sống, cách tư duy và nhìn nhận vấn đề. “Ếch ngồi đáy giếng” là câu chuyện vô cùng ý nghĩa dành cho mọi lứa tuổi, mọi thế hệ, qua câu chuyện truyền tải đến người nghe cách sống phù hợp với những chuẩn mực của cuộc sống, đồng thời nhắn nhủ đến mọi người cần học tập nhiều hơn nữa từ những người xung quanh, trau dồi thêm nhiều kinh nghiệm, vốn sống hơn nữa cho bản thân mỗi người.
Trình bày suy nghĩ của em sau khi học xong truyện Ếch ngồi đáy giếng
1,057
Trình bày suy nghĩ của em về câu nói của Bác Hồ: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Hướng dẫn Trong khi đế quốc Mĩ dùng mọi cách thống trị nhân dân miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới và leo thang bắn phá miền Bắc, vào ngày 17­7-1966,trong lời kêu gọi chống Mĩ, cứu nước, Hồ Chủ tịch viết: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Lời kêu gọi của Bác đã động viên quân và dân ta đánh đuổi dế quốc Mĩ ra khỏi nước Việt Nam, đem lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc. “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, câu nói ngắn gần như một chân lí, khẳng định giá trị to lớn của độc lập, tự do của một nước, của một dân tộc. Thực tế, trong sự tồn tại và phát triển của một quốc gia, một dân tộc, nếu không có độc lập thì sẽ không có tự do. Người dân sẽ không có quyền làm chủ đất nước mình. Tuy nhiên, “độc lập, tự do” cần phải hiểu đúng với tinh thần Hồ Chủ tịch đã dạy. Độc lập, tự do phải gắn liền với con đường chủ nghĩa xã hội. Mất định hướng xã hội chủ nghĩa thì độc lập,tự do sẽ mất ý nghĩa chân chính của nó. Ta còn nhớ độc lập ở miền Nam thời Mĩ – ngụy thống trị chỉ là độc lập giả hiệu và nhân dân miền Nam thời đó làm gì có tự do. “Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu”. Điều đó cho chúng ta thấy mất độc lập, tự do là mất tất cả. Mất nước là mất nhà, là đau thương, tang tóc đối với mỗi người dân. Cho nên câu nói của Bác thực là chí tình, chí lí. Chính vì tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của độc lập, tự do mà dân tộc ta đã đứng lên làm Cách mạng tháng Tám thành công, giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, nhân dân ta đã giương cao ngọn cờ “không có gì quý hơn độc lập, tự do” để chiến đấu với quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chỉ có độc lập, tự do mới có tất cả. Lời kêu gọi của Bác như một hồi kèn xung trận, thúc giục mọi người tiến lên “đánh cho Mĩ cút, đánh cho ngụy nhào”, đem lại đại thắng mùa xuân 1975. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là chân lí sáng ngời mà vị lãnh tụ kính yêu đã đúc kết được từ thực tế lịch sử đấu tranh của dân tộc. Chính Bác cũng hiểu hơn ai hết giá trị của độc lập, tự do, nên Bác bôn ba hải ngoại, tìm đường cứu nước, đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Trình bày suy nghĩ của em về câu nói của Bác Hồ_ Không có gì quý hơn độc lập tự do.
501
Trình bày suy nghĩ của em về lợi ích của việc đọc sách Dàn ý tham khảo a. Mở bài: Vai trò và tác dụng to lớn của sách trong đời sống của con người. Trình bày suy nghĩ của em về lợi ích của việc đọc sách b. Thân bài: + Giải thích: Sách là sản phẩm tinh thần kì diệu, lớn lao mà con người sáng tạo ra để phổ biến và lưu truyền lại những hiểu biết và kinh nghiệm về mọi lĩnh vực của cuộc sống. Sách đưa ta vào thế giới phong phú, vô tận của thiên nhiên và xã hội. Sách cung cấp cho con người những tri thức cần thiết để tồn tại và phát triển (Dẫn chứng) Sách là phương tiện giao lưu quan trọng giữa các cộng đồng dân tộc trên thế giới, giúp con người hiểu biết và sống thân ái với nhau hơn. Sách là chiếc cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của từng dân tộc và của cả nhân loại. + Bình luận: Lợi ích to lớn của sách là thật sự hiển nhiên (Cần lưu ý loại trừ sách xấu độc hại đối với con người và xã hội). Không thể có một cuộc sống tốt đẹp mà không có sách vì sách khích lệ con người, nuôi dưỡng những khát vọng cao đẹp. Đọc sách là một việc làm cần thiết và bổ ích đối với mỗi người trong suốt cuộc đời. Cần phải biết lựa chọn sách tốt để đọc nhằm nâng cao tri thức và bồi dưỡng tâm hồn. c. Kết bài: Khẳng định vai trò và tác dụng của sách đối với cuộc sống con người. Sách là người bạn tốt của mỗi chúng ta.
Trình bày suy nghĩ của em về lợi ích của việc đọc sách
280
Trình bày suy nghĩ của em về mùa xuân và tuổi trẻ qua câu nói của Bác Hồ – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Mùa đông giá rét, cây cối trơ cành sẽ qua đi, nhường bước cho mùa xuân với sức sống mãnh liệt, làm biến đổi cả đất trời. Và đến lúc mùa xuân cũng trôi qua, mùa hạ nồng nàn kéo đến… Cũng như quy luật của thiên nhiên, con người sinh ra, lớn lên và già đi, rồi một ngày kia trở về với cõi vĩnh hằng. Xuân của thiên nhiên qua đi rồi trở lại, nhưng tuổi trẻ của mỗi người chỉ có một lần. Tuổi trẻ là tuổi đẹp nhất, khỏe nhất và tươi sáng nhất của mỗi con người, vì thế tuổi trẻ thật quý giá. Hơn nữa, tuổi trẻ còn là mùa xuân, niềm tin và hi vọng của đất nước. Chính vì vậy, trong thư gửi thanh niên và nhi đồng cả nước nhân mùa xuân năm 1946, Tết mở đầu cho một nước Việt Nam độc lập, Bác Hồ viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời bắt đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Câu nói ngắn gọn nhưng đẹp như một lời thơ, ca ngợi tuổi trẻ của xã hội, đất nước. Một sớm kia thức dậy, nghe tiếng chim hót trong veo, cành mận ngoài vườn lung linh hoa trắng dưới làn mưa bụi đang bay, ta chợt thốt lên: “Ôi mùa xuân!” Mùa xuân xét theo thời gian là mùa mở đầu cho một năm. Xuân về trăm hoa đua nở, khí hậu ấm áp, cây cối đâm chồi… Vì vậy mùa xuân gợi lên trong ta ý niệm về sức sống, hi vọng, niềm vui và hạnh phúc. Riêng đối với dân tộc Việt Nam, xuân còn gợi lại những chiến công oanh liệt của cha ông, khơi dậy trong lòng niềm tự hào sâu sắc. Làm sao quên được mùa xuân năm 1077, Lí Thường Kiệt đánh tan bốn vạn quân Tống xâm lược; mùa xuân năm 1428, đưa đất nước thoát khỏi sự đô hộ của giặc Minh. Chúng ta cùng hòa mình vào không khí hào hùng, tưng bừng của mùa xuân năm 1789; khi đó người anh hùng áo vải Quang Trung đại phá hơn hai mươi vạn quân Thanh. Ta hãy cùng sống lại mùa xuân năm 1975 với niềm tự hào, sung sướng; mùa xuân của độc lập tự do, mùa xuân của thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà. Hai mươi tuổi tim đang dào dạt máu Hai mươi tuổi hồn quay trong gió bão Gân đang săn và thớ thịt căng da Đời mặn nồng hứa hẹn biết bao hoa. Tuổi trẻ là tuổi phát triển rực rỡ nhất về thể chất, tài năng, trí tuệ… bao giờ cũng muốn vươn lên cái đẹp nhất, hay nhất, tiên tiến nhất, cao thượng nhất (Lê Duẩn). Tuổi trẻ là tuổi hăng hái, sôi nổi, giàu nhiệt tình, giàu chí tiến thủ, có thể vượt qua khó khăn gian khổ để đạt được mục đích và ước mơ. Bác kính yêu của chúng ta, từ ngày còn rất trẻ đã ôm ấp trong lòng một hoài bão và ước vọng lớn lao: tìm đường cứu nước. Chàng trai Nguyễn Tất Thành đã vượt qua biển cả, gió rét thành Pari, Luân Đôn để cuối cùng tìm được con đường cách mạng và giải phóng dân tộc Việt Nam. Học tập gương Bác, hiện nay nhiều thanh niên đang cố gắng vươn lên, bằng lòng quyết tâm và nghị lực mãnh liệt, vượt qua những khó khăn thực tại của đất nước, tự tạo cho mình một tương lai tươi sáng và góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Tuổi trẻ của mỗi người cùng góp lại sẽ tạo thành mùa xuân của xã hội. Thế hệ trẻ là sức sống, niềm hi vọng và tương lai của đất nước. Ngược dòng thời gian, ta nhớ đến tuổi trẻ quật khởi của cậu bé Thánh Gióng đã đánh tan giặc Ân từ thời vua Hùng dựng nước. Tuổi trẻ Đinh Bộ Lĩnh với cờ lau dẹp tan mười hai sứ quân, đem lại sự thống nhất đất nước. Tuổi trẻ trung dũng của Trần Quốc Toản với lá cờ thêu sáu chữ vàng làm cho giặc Nguyên Mông kinh hồn bạt vía. Tuổi trẻ của “Anh Nhỏ” Kim Đồng, của ngọn đuốc sáng Lê Văn Tám, của người con gái đất đỏ Võ Thị Sáu đã làm cho giặc phải cúi đầu kính phục. Tuổi trẻ của bao anh hùng liệt sĩ đổ xương máu để tô thắm lá cờ Việt Nam… Sức mạnh thanh niên là sức mạnh của dân tộc, chính sức mạnh đó góp phần tạo nên cuộc sống mới, xã hội mới và tương lai mới cho đất nước. Ngày nay, tuổi trẻ có sự đóng góp rất lớn là lực lượng đi đầu trong công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội văn minh. Thanh niên hôm nay là những người rất xứng đáng với cha anh đi trước. Những người lính trẻ nơi hải đảo xa xôi đang ngày đêm canh giữ biển trời đất mẹ Việt Nam, trái tim họ vẫn ngân vang bản tình ca, dệt nên những bản nhạc tuyệt vời và chính cuộc đời họ là những bài ca mùa xuân đất nước. Chúng ta tự hào biết bao tuổi trẻ Việt Nam! Đất nước, xã hội đặt niềm tin vào thanh niên; vậy thanh niên phải làm gì để xứng đáng với niềm tin ấy? Bạn nghĩ cần phải làm gì thật to lớn ư? Không đâu, bạn hãy làm tốt những công việc bình thường, hãy cố gắng học tập và tu dưỡng đạo đức của chính mình. Trong học tập và lao động cần không ngừng sáng tạo để cống hiến nhiều nhất cho xã hội, cho đất nước. Chúng ta buồn biết bao khi tuổi trẻ đang góp sức tạo thành mùa xuân của xã hội thì có một số thanh niên tự hủy diệt mùa xuân của mình. Chúng ta cần phải nghiêm khắc phê phán những con người đã để tuổi trẻ của mình bên góc phố, lề đường, trong các quán cà phê, bữa tiệc ồn ào hay trong các thú vui vô bổ, tầm thường. Và thật tiếc, còn rất nhiều thanh niên chưa có niềm tin vào bản thân mình, chưa biết vươn lên trong cuộc sống, chưa chọn cho mình một lí tưởng để theo đuổi, phấn đấu. Chính họ đã để ngày xuân của mình khô héo, tàn lụi hay để nó trôi đi và cứ mòn mỏi dần. Tuổi xuân của họ lãng phí có nghĩa là mùa xuân của xã hội đã bớt tươi thắm, rực rỡ. Thật đáng thất vọng biết bao! Nửa thế kỉ đã trôi qua, hôm nay đọc lại, ta vẫn thấy lời Bác chân thành, sâu sắc. Bác nhắc nhở chúng ta phải biết tự rèn luyện, phấn đấu, vươn lên trong cuộc sống để có tương lai tươi sáng. Bằng tài năng, ý chí, nghị lực của bản thân, chúng ta phải biết sống có mục đích và lí tưởng cao đẹp, để tuổi trẻ của chúng ta thực sự là mùa xuân của xã hội. Tags:Văn 8
Trình bày suy nghĩ của em về mùa xuân và tuổi trẻ qua câu nói của Bác Hồ – Đề và văn mẫu 8
1,226
Trình bày suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Ngô Tất Tố là nhà văn của nông dân và là một trong những tác giả tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán. Ông có vị trí khá quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam trước Cách mạng. Tắt đèn là tác phấm có giá trị hiện thực và sức mạnh tố cáo sâu sắc. Viết về nạn thuế thân, tập trung vào mấy ngày thu thuế, Ngô Tất Tố đã phản ảnh hiện thực nông thôn đương thời một cách tập trung và điển hình. Qua mấy ngày “sưu thuế giới kì” này, tình cảnh thảm thương của người nông dân cũng như bản chất tham lam tàn ác của bọn thống trị phơi bày ra rõ nét hơn lúc nào hết. Với số trang hạn chế, nhưng Tắt đèn đã mô tả khá đầy đủ mọi mặt của những lực lượng thông trị ở nông thôn trước Cách mạng. Đấy là bọn cường hào tàn nhẫn đè nén ức hiếp nông dân, chỉ nhờ có dịp “đục nước” để được “béo cò”. Chúng nịnh bợ quan trên, bòn rút của người nghèo. Đây là bọn địa chủ “đầu trâu mặt ngựa ăn thịt người không biết tanh”, vừa dốt nát, vừa keo kiệt ti tiện, mà điển hình là Nghị Quế. Hắn làm giàu một cách rất “cổ điển” là cho vay nặng lãi và chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Luôn luôn tỏ ra “am hiểu thời thế”, “cái gì củng nhắc đến Tây”. Là nghị viện hẳn hoi, nhưng hắn có đức “không thèm biết chữ”. Đó là bọn quan lại bỉ ổi dùng vợ làm một phương tiện thăng quan tiến chức như tri phủ Tư Ân. Đằng sau chúng, Ngô Tất Tố bằng ngòi bút thâm thúy của mình vẫn cho người đọc hình dung ra ít nhiều hình ảnh đen tối của bọn thực dân – tác giả của những tấm thẻ sưu. Bằng ngòi bút hiện thực sắc sảo, chỉ cần một vài nét, nhà văn đã vạch trần bản chất xấu xa của chúng, mặc dù mỗi đứa lại có một dáng vẻ riêng. Chị Dậu có thể tiêu biểu cho hàng triệu phụ nữ Việt Nam trước Cách mạng. Hai vợ chồng chị “đầu tắt mặt tối không dám chơi ngày nào” mà vẫn “cơm không đủ no, áo không đủ mặc”, gia đình “lên đến bậc nhì, bậc nhất trong hạng cùng đinh”. Thế rồi, anh Dậu đau ốm, vụ thuế đến cùng với biết bao tai họa… Viết về số phận của phụ nữ nông thôn, Ngô Tất Tố đã đặt ra được một vấn đề bức thiết nhất: cơm áo, quyền sống của con người. Hình tượng chị Dậu có sức khái quát cao chính ở điểm này. Giống như nhiều nhân vật phụ nữ trong văn chương truyền thông, chị Dậu vốn là một phụ nữ xinh đẹp, nết na.. Gặp hoàn cảnh hoạn nạn, nhân vật này trở thành “đốm sáng đặc biệt” (Nguyễn Tuân) khiến người đọc cảm thương, trân trọng. Chị Dậu – một phụ nữ có tấm lòng vị tha, yêu chồng, thương con tha thiết. Việc chị tìm mọi cách để cứu chồng ra khỏi cảnh cùm kẹp, chị ân cần săn sóc anh Dậu, đặc biệt hành động dũng cảm lấy thân mình che chở cho người chồng đau ốm trước thái độ hung hãn của hai tay sai… cũng làm cho người đọc yêu mến và khâm phục. Chính tình yêu thương chồng đã tạo nên ở chị một sức mạnh quyết liệt bất ngờ. Cũng như nhiều bà mẹ Việt Nam khác, chị Dậu rất mực thương con, chiều con. Cùng quẫn, buộc phải bán đứa con đầu, chị như cắt đứt từng khúc ruột, lúc nào cũng nghĩ “còn có ngày nào đem được nó về nữa không”. Ngay đến khi bị giải lên huyện, nhịn đói với “sợi dây thừng gò ở hai cánh tay”, chị vẫn nghĩ đến cái Tửu, thằng Dần, cái Tí. Chị Dậu là một phụ nữ thông minh, sắc sảo. Chị không biết chữ, chẳng khỏi bỡ ngỡ trước bao mưu ma chước quỷ của bọn thống trị, nhưng chị không phải là người ngu đần. Chị không lạ gì bụng dạ của vợ chồng Nghị Quế, nhìn bọn tai to mặt lớn ở đình làng chị hiểu ra nhiều điều… Quả thật, ta thấy chị bị ức hiếp nhiều hơn là chị bị lường gạt… Đứng trước khó khăn bất ngờ, tưởng chừng không thể vượt qua – phải nộp một lúc hai suất sưu, anh Dậu thì đau ốm, đàn con thì bé dại… tất cả trông chờ vào sự chèo chống của chị. Trên thực tế, chị thành chỗ dựa của cả gia đình. Đây cũng là một phụ nữ có ý thức sâu sắc về nhân phẩm. Chị đã từng phải điêu đứng vì số tiền nộp SƯU, nhưng chị vẫn đủ can đảm ném thẳng nắm giấy bạc vào mặt tên tri phủ Tư Ân. Hai lần bị cưỡng hiếp, chị đều thoát ra được. Đây chính là những biểu hiện đẹp đẽ của nhân phẩm, của tinh thần tự trọng. Thông minh sắc sảo, có tinh thần quật khởi, ý thức sâu sắc về nhân phẩm… nhân vật chị Dậu còn toát lên vẻ đẹp mộc mạc của người phụ nữ nông thôn. Chị sống ở nơi tăm tối bị ức hiếp đè nén, nhưng tâm hồn vẫn sáng trong như đóa hoa sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Về mặt nghệ thuật, tác phẩm Tắt đèn ghi nhận một thành tựu xuất sắc của tiểu thuyết truyền thống. Tắt đèn có cốt truyện rõ ràng, tình tiết mạch lạc, chặt chẽ, lời văn gọn gàng. Giống như các tiểu thuyết truyền thống, nhân vật được chia thành hai tuyến hoàn toàn đối lập nhau: chính diện và phản diện. Nhân vật chính diện thường có ngoại hình đẹp với tư tưởng tình cảm trong sáng. Ngược lại nhân vật phản diện thường có ngoại hình xấu, hành vi tàn ác với tư tưởng tình cảm xấu xa. Trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã khắc họa được một số tính cách gần như những thuộc tính chung cho một giai cấp, một tầng lớp. Chị Dậu là nhân vật chính diện đẹp người, đẹp nết… tiêu biểu cho những người nông dân lao động. Nghị Quế là nhân vật phản diện ngu dốt, thô lỗ, tham lam, tàn nhẫn… tiêu biểu cho tầng lớp bóc lột. Nhân vật trong Tắt đèn ít khi có sự xung đột nội tâm và hầu như không biến đổi qua hoàn cảnh (chị Dậu trước sau vẫn là một người vị tha, đảm đang, chung thủy, thông minh…). Nhân vật trong Tắt đèn phần nhiều có sức khái quát cao, tuy vậy, các nhân vật này cũng khó tránh khỏi tình trạng công thức, lược đồ. Tags:Văn 8
Trình bày suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu – Đề và văn mẫu 8
1,172
Trình bày suy nghĩ của em về nội dung câu truyện ” Chiếc bình nứt” Hướng dẫn Trình bày suy nghĩ của em về nội dung câu truyện ” Chiếc bình nứt” Bài làm Trong cuộc sống của mỗi con người chúng ta, mỗi người đều có những khuyết điểm nhưng biết nhận ra khuyết điểm của mình và những người xung quanh hãy mở rộng thêm tấm lòng nhân ái biết trân trọng, cảm thông, giúp đỡ những khuyết điểm của người khác như trong truyện ” Chiếc bình nứt”. Câu truyện chiếc bình nứt có hình ảnh chiếc bình nứt – Là ẩn dụ nói về những con người khiếm khuyết kém may mắn nhưng vẫn mong muốn làm tốt công việc như một chuyện bình thường như hình ảnh con người luôn buồn bã xấu hổ vì những khiếm khuyết của mình và đã bộc lộ với người chủ khi không làm tròn công việc. Người chủ đã trả lời bằng sự cảm thông: ” Ta đã biết khiếm khuyết của người vì vậy ta đã gieo những hạt hoa bên đường và mỗi ngày người đã tưới nước cho chúng. 2 năm qua ta đã hái hoa cho mọi người và làm đẹp cho ngôi nhà” câu truyện giản dị nhưng có ý nghĩa sâu sắc về những cách ứng xử cao đẹp, 1 người luôn chăn chở với những khuyết điểm của mình chưa làm tốt công việc khiến người khác vất vả hơn, cảm thông và tạo điều kiện cho người khác sống tốt hơn có ý nghĩa hơn. Người khiếm khuyết đã có những suy nghĩ thật đẹp. Khi biết được hạn chế của mình nhưng không bất lực, mặc cảm, buông xuôi mà người lại rất thương người khác. Đã vất cả cực nhọc vì mình đó là một tấm gương bình nước vì những hạn chế làm ông vất vả hơn mà còn có thái độ yêu thương chân trọng. Vì con người đã nghĩ những người trong hoàn cảnh như thế chắc họ cũng buồn khổ lắm và cũng cần giúp đỡ để họ vượt qua sự kém may mắn ấy để họ sống tốt và có ý nghĩa hơn. Người gánh nước trong câu truyện cũng là một tấm gương đẹp cao thượng trong cách ứng xử thể hiện lòng nhân ái. Mỗi người cần phải nỗ lực vươn lên nhất là những người có những hạn chế, cố gắng vượt qua hạn chế chính mình là điều đáng trân trọng, ngợi ca. Những người may mắn hơn cần có thái độ ứng xử tốt với họ, vì đó là người động viên là chỗ dựa tinh thần để họ có thêm sức mạnh vượt qua khó khăn, ngược lại nếu dửng dưng với người khác là ích kỉ. Vậy mỗi chúng ta cần rèn luyện và có thái độ sống tốt hơn có ý nghĩa hơn trong cuộc sống và trong thực tế cũng có rất nhiều tấm gương khuyết tật nhưng đã làm lên kì tích: Nick vujicic, Nguyễn Ngọc Kí… Và trong thực tế cũng có những tổ chức cá nhân có tấm lòng cao cả giúp đỡ hỗ trợ người khác.
Trình bày suy nghĩ của em về nội dung câu truyện ” Chiếc bình nứt”
529
Trình bày suy nghĩ “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Trong cuộc sống hàng ngày cũng có lúc ta đã lầm lẫn khi đánh giá một sự vật, một con người, khi thì dựa vào cái hình thức hào nhoáng bên ngoài mà quên đi cái nội dung, bản chất bên trong của con người họ khi thì ngược lại. Lúc ấy ta lại nhớ đến câu tục ngữ: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Chúng ta hiểu gì về câu tục ngữ này? Phải chăng đây là kinh nghiệm sống quý báu mà ông cha ta để lại cho chúng ta suy ngẫm, học hỏi? Câu tục ngữ đã cho xuất hiện hai sự vật “gỗ” và “nước sơn”. Gỗ là chất liệu để tạo nên một vật dụng như là tủ, bàn, ghế… còn nước sơn là chất liệu để quét lên làm cho cái tủ, cái bàn thêm đẹp thêm bền. Nghĩa đen là như vậy nhưng ý nghĩa sâu xa của câu tục ngữ bao hàm một lời khuyên về cách nhìn chín chắn: hãy coi trọng cái giá trị đích thực, cái nội dung bên trong của một con người. Đừng bao giờ để cái hình thức xa hoa, hào nhoáng bên ngoài lừa dối, quyến rũ ta. Bất kì câu tục ngữ nào cũng là sự đúc kết những kinh nghiệm sông quý báu của biết bao thế hệ con người. Tổ tiên ta cũng đã trải qua bao thất vọng, vấp váp mới rút ra được chân lí “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Khi đánh giá một sự vật, ta phải coi trọng chất lượng của nó. Có khi người ta chỉ trọng đến cái lớp sơn bóng nhoáng bên ngoài của một cái tủ mà mua về rồi không dùng được vì chất gỗ bên trong là một thứ gỗ mục rữa, sâu mọt. Một sản phẩm có mẫu mã tốt, có trang trí đẹp đến bao nhiêu mà chất lượng không tốt, không bền thì cũng không hữu dụng. Chỉ có một chất gỗ tốt mới tạo nên một đồ dùng có giá trị và lâu bền. Một sản phẩm có chất lượng tốt càng được nhiều người ưa thích, càng bán đắt giá. Đó là cách đánh giá, cách nhìn chung về giá trị của một đồ vật. Trong cuộc sống, mỗi sự vật, mỗi con người không phải lúc nào cũng thống nhất trọn vẹn cả mặt nội dung lẫn hình thức. Có người bản chất xấu xa nhưng khéo lừa bịp bằng cái vỏ hào nhoáng, bảnh bao bên ngoài. Một kẻ bất tài thường đội lốt người hiểu biết. Một người độc ác thường nói lời đạo đức. Một khuôn mặt xinh đẹp nhưng chưa hẳn là đẹp hoàn toàn vì có lúc ẩn hiện dưới khuôn mặt ấy là một tâm hồn trống rỗng. Chúng ta phải thật sự tỉnh táo, thận trọng đối với những con người đó. Khi cần chọn lựa, ta hãy chọn lấy cái bản chất làm căn bản, hãy vứt bỏ cái vẻ bề ngoài đẹp đẽ, lành lặn mà bên trong mục rỗng, vô vị. Một con người có đạo đức, tài năng dẫu ăn mặc tầm thường nhưng thật sự được kính trọng nể nang. Quan hệ với con người chúng ta phải dựa trên phẩm chất đạo đức, năng lực của người đó. Chúng ta phải hiểu rằng cái chân giá trị của con người chính là đạo đức, tài năng, trí tuệ. Nhưng trong thực tế cuộc sống, chẳng lẽ chỉ xem trong cái nội dung bản chất bên trong mà lãng quên mặt hình thức? Một món hàng tốt, chất lượng tốt nếu có bao bì xinh xắn, trang trí đẹp lại càng có giá trị. Hình thức bên ngoài làm tăng thêm giá trị bên trong của món hàng. Cái tủ được làm bằng chất gỗ tốt mà lại có nước sơn bóng loáng hẳn làm ta vừa lòng và sẵn sàng mua. Một con người có học vấn, đạo đức lại ăn nói lịch sự, thanh nhã, ăn mặc gọn gàng đẹp đẽ càng làm cho ta thêm quý trọng hơn là con người tuy có đạo đức nhưng ăn nói cục cằn, thô lỗ, ăn mặc xộc xệch. Ta thực sự hiểu được cái đẹp lí tưởng của con người vốn là cả nội dung lẫn hình thức. Vậy để nhận xét, đánh giá một sự vật, một con người, ta phải dựa trên cơ sở nội dung lẫn hình thức. Nội dung và hình thức phải trọn vẹn bổ sung cho nhau để đánh giá được chính xác, đầy đủ. Chúng ta hãy coi trọng nội dung vì trước hết nó là cốt lõi tạo nên giá trị bên trong, còn hình thức góp phần tạo nên cái đẹp, cái bền cho vật dụng. Khi đánh giá ta phải coi trọng cái chất lượng của vật cũng như khi nhận xét về một con người ta phải chú ý đến thành quả công việc của họ, xem xét mối quan hệ tình cảm của họ đối với gia đình, xã hội. Đó là cách hiệu quả, cách áp dụng đúng đắn nhất phương châm xử thế mà câu tục ngữ đã khuyên dạy chúng ta. Tags:Văn 8
Trình bày suy nghĩ “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn – Đề và văn mẫu 8
886
Đề bài:Trình bày sự ảnh hưởng của gia đình đối với mỗi cá nhân. Có anh A và anh B sinh ra trong hai gia đình khác nhau. Cả hai đều có một người bố nghiện ngập. Sau này anh A trở thành một chàng trai luôn đi đầu trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội và bạo lực. Bài làm Trong cuộc sống của mỗi chúng ta, gia đình đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Đặc biệt môi trường gia đình bao giờ cũng có tác động hai mặt tới sự hình thành nhân cách. Có người sinh ra trong môi trường gia đình không mấy tốt đẹp rồi anh ta cũng trở thành bản sao của sự không tốt đẹp ấy. Nhưng cũng có người vượt qua được hoàn cảnh để trở thành con người có ích cho xã hội. Câu chuyện kể về hai nhân vật A và B đã phần nào cho chúng ta thấy rõ điều đó. Trình bày sự ảnh hưởng của gia đình đối với mỗi cá nhân Câu chuyện về hai nhân vật A và B có chung một hoàn cảnh: cả hai đều có một người cha nghiện ngập. Tuy nhiên sau này anh A lại trở thành con người có ích cho xã hội là người tiên phong trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội và bạo lực gia đình. Còn anh B lại trở thành bản sao của người cha nghiện ngập. Vấn đề được đặt ra trong câu hỏi của nhà xã hội học là “Điều gì khiến anh lại trở nên như thế?”. Và câu trả lời của cả hai là “Có một người cha như thế nên tôi phải như thế”. Như vậy vấn đề được đặt ra ở đây là sự ảnh hưởng của gia đình đối với mỗi cá nhân con người. Gia đình là gì? Gia đình là nơi ta sinh ra, lớn lên là cái nôi nuôi dưỡng, chở che cho ta khôn lớn. Gia đình là cái nôi hạnh phúc của con người từ bao thế hệ: đùm bọc, yêu thương, giúp con người vượt qua được những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống. Vì thế gia đình có giá trị bền vững và vô cùng to lớn không bất cứ thứ gì trên cõi đời này sánh được, cũng như không có bất cứ vật chất cũng như tinh thần nào thay thế nổi. Mỗi con người sinh ra và lớn lên, trưởng thành đều có sự ảnh hưởng, giáo dục to lớn từ truyền thống gia đình. Và người làm cha làm mẹ trong gia đình là tấm gương mẫu mực của con cái. Nói đúng hơn là mỗi thành viên phải là tấm gương sáng cho nhau. Nếu như gia đình có người cha người mẹ luôn yêu thương, chở che và giáo dục tốt cho con cái thì đứa con lớn lên sẽ trở thành người có ích cho xã hội. Ví như nhà thơ Tố Hữu sinh trưởng trong gia đình Nho giáo, sau này Tố Hữu trở thành nhà Cách mạng, nhà thơ lớn của dân tộc. Mạnh Tử người Trung Quốc tuy mất cha từ nhỏ nhưng thường xuyên được mẹ nghiêm khắc chỉ bảo, dạy nhiều điều hay lẽ phải. Sau này Mạnh Tử trở thành triết gia lỗi lạc của Trung Hoa. Nhiều học sinh ở nông thôn, nhà nghèo khó nhưng nhìn vào sự vất vả của mẹ của cha mà họ đã cố gắng học tập thật tốt trở thành thủ khoa của các trường Đại Học. Tuy nhiên, cũng có những con người sinh ra trong gia đình có truyền thống giáo dục tốt nhưng bản thân họ lại là những kẻ tội đồ của xã hội. Ví dụ như Nguyễn Đức Nghĩa ở Hải Phòng có bố là sỹ quan quân đội, mẹ là giáo viên. Nhưng bản thân anh ta lại là kẻ giết người tàn độc (Vụ án xác chết không đầu năm 2010 tại Hà Nội). Nhiều học trò ỷ vào việc gia đình giàu có nên ăn chơi lêu lổng để rồi đánh mất cả tương lai ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Bên cạnh những gia đình hạnh phúc thì còn có những gia đình chưa thật sự hoàn hảo, đây đó vẫn còn có những thành viên trong gia đình còn có những khuyết điểm nặng nề. Quả đúng như vậy, nếu gia đình có người cha người mẹ có nhiều thói xấu thì những đứa con trong gia đình chắc chắn sẽ ảnh hưởng những thói xấu của cha mẹ. Ví như câu chuyện của nhân vật B trong câu chuyện kể ở trên hoặc câu chuyện của thằng Phác trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Do sống trong hoàn cảnh có người cha luôn bạo hành mẹ nên nó cũng trở thành kẻ máu lạnh ngay từ lúc còn nhỏ. Phác dùng thắt lưng và cả dao nhọn để đánh lại cha mình. Đa số tội phạm vị thành niên đều có nguồn gốc xuất thân từ những gia đình có bố mẹ ly hôn hoặc bố mẹ làm nghề lao động tự do. Nhưng cũng cần nhận thức được điều này: gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách nhưng không phải lúc nào con người cũng phụ thuộc vào hoàn cảnh. Ở trường hợp của nhân vật A là điển hình nhất. Tuy có người cha nghiện ngập nhưng anh A vẫn vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của gia đình để trở thành con người có ích cho xã hội. Như vậy, gia đình chỉ tác động một phần đến sự hình thành nhân cách của con người chứ không phải là tất cả. Cuộc đời của mỗi con người, nhân cách của mỗi con người là phụ thuộc vào chính bản thân họ. Qua câu chuyện trên ta thấy được vai trò của gia đình trong việc hình thành nhân cách con người là rất quan trọng. Và bao giờ gia đình cũng có tác động hai mặt đến mỗi thành viên. Mỗi con người chúng ta cần tích cực thay đổi bản thân mình để phù hợp với hoàn cảnh. Và dù trong mọi hoàn cảnh chúng ta cũng cần phải chọn cho mình một lối đi phù hợp chứ không phải gió chiều nào ngả theo chiều ấy. Cũng cần bảo vệ gia đình, lên án thói bạo hành gia đình. Vì một xã hội tốt đẹp hãy cùng nhau xây dựng gia đình lành mạnh, văn hóa.
Trình bày sự ảnh hưởng của gia đình đối với mỗi cá nhân
1,110
Trình bày thái độ của người bố đối với En-ri-cô trong truyện ngắn Mẹ tôi của nhà văn Ét-môn-đô đơ A-mi-xi. Hướng dẫn Sự vô lễ của En-ri-cô với mẹ trước mặt cô giáo làm người bốrất đau lòng, ông cảm thấy như một nhát dao đâm vào tim: “En-ri-cô của bố ạ! Sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bốvậy!”. Từ đau lòng, người bốchuyển sang tức giận người con vô lễ, sự tức giận của bốdường như là không thể kìm nén được khi bốnhớ lại những gì mẹ đã làm cho con khi con còn nhỏ: “bố không thể nén được cơn tức giận đối với con”. Điều này trở thành lí do người bốphải phê phán nghiêm khắc con bằng một bức thư chứa chan tình cảm. Để cho conthấy được lỗi lầm của mình, người bốđã chỉ cho En-ri-cô thấy được tình yêu thương vô bờ bến và sự hi sinh cao cả của người mẹ đối với En-ri-cô: “Bốnhớ, cách đây mấy năm, mẹ đã phải thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con!”, và “Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con!”. Nêu ra những việc làm nhỏ nhất đến những sự hi sinh cao cả, người bố đã cho thấy được giá trị của người mẹ đối với đời sống của người con: “Hãy nghĩ kĩ điềunày, En-ri-cô ạ: Trong đời con có thể trải qua những ngày buồn thảm, nhưng ngày buồn thảm nhất sẽ là ngày mà con mất mẹ”. Không chỉ hôm nay và mai sau vẫn thế: “Dù có lớn khôn, khỏe mạnh thế nào đi chăng nữa, con sẽ vẫn tự thấy mình chỉ là một đứa trẻ tội nghiệp, yếu đuối và không được chở che”. Nêura những điều này, người bố mong muốn En-ri-cô thấy được giá trị của người mẹ trong cuộc sống, những điều đó là tài sản vô giá mà nếu đánh mất đi, con sẽ không bao giờ tìm lại dược. Những gì hôm nay con làm mẹ buồn thì mai sau khi nhớ lại con “sẽ không thể sống thanh thản”. Khi đó “Dù có hối hận, có cầu xin linh hồn mẹ tha thứ… tất cả cũng chỉ vô ích, Lương tâm con sẽ không một phút nào yên tĩnh. Hình ảnh dịu dàng và hiền hậu của mẹ sẽ làm tâm hồn con như bị khổ hình. En-ri-cô này! Con hãy nhớ rằng, tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình thương yêu đó”. Những lời nói của bố không phải để ghét bỏ con, đe dọa con mà thể hiện một tình thương yêu thật sự đối với con, muốn làm cho con hiểu đượcnhững giá trị đích thực của cuộc sống. Một lời yêu cầu mà bốđặt ra với con thật đẹp, thật ý nghĩa, giúp thắt chặt tình cảm mẹ con, tình cảm gia đình: “Từ nay, không bao giờ con được thốt ra một lời nói nặng với mẹ. Con phải xin lỗi mẹ, không phải vì sợ bố, mà do sự thành khẩn trong lòng. Con hãy cầu xin mẹ hôn con, để cho chiếc hôn ấy xóa đi cái dấu vết vong ân bội nghĩa trên trán con”. Lời nói của người bố thật giản dị và thắm thiết, thể hiện tình, thương con của ông. Bố thương con nhưng bốkhông hề chiều con mà trái lại bố rất nghiêm khắc, một sự nghiêm khắc tích cực. Lời phê phán của bố vừa có lí, vừa có tình, vừa thể hiện tình yêu thương chân thành và trọn đạo lí: “Bố rất yêu con, En ri-cô ạ, con là niềm hi vọng thiết tha nhất của đời bố, nhưng thà rằng bố không có con, còn hơn là thấy con bội bạc với mẹ”. Những lời nghiêm khắc nhưng chân thành của người bố đã giúp En-ri-cô nhanh chóng nhận ra lỗi lầm của mình đối với mẹ. En-ri-cô không những không giận bốmà trái lại, càng yêu thương bốhơn và nhận ra được những giá trị đích thực của tình mẹ con, tình chá con và tình cảm gia đình. Đề 1. Trình bày cảm nghĩ của em vềngười bốtrong văn bản Mẹ tôi (trích Những tấm lòng cao cả) của Ét-môn-đó đơ A-mi-xi. Đề 2. Em hiểu thế nào về câu nói của người bố: “Con hãy nhớ rằng, tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình thương yêu đó”.
Trình bày thái độ của người bố đối với En-ri-cô trong truyện ngắn Mẹ tôi của nhà văn Ét-môn-đô đơ A-mi-xi.
831
Trình bày ý kiến của anh chị về quan niệm chọn nghề nghiệp trong tương lai Hướng dẫn Trình bày ý kiến của anh chị về quan niệm chọn nghề nghiệp trong tương lai Bài làm Khoảng thời gian cuối cấp ba cũng là lúc rất nhiều phụ huynh, học sinh băn khoăn về việc chọn nghề nghiệp trong tương lai. Có rất nhiều người cho rằng nên nghe theo lời bố mẹ và những người đi trước. Cũng có người cho rằng nên chọn theo ý thích của bản thân. Vậy, ý kiến nào là đúng? Việc chọn nghề nghiệp trong tương lai là một việc rất quan trọng. Nó quyết định rất nhiều trong cuộc sống của bạn sau này. Vì thế, rất nhiều người cho rằng cần phải nghe theo bố mẹ và những người đi trước. Quan niệm này cũng có ưu điểm. Đó là, bố mẹ và những người đi trước là những người từng trải, có kinh nghiệm, họ sẽ có những định hướng tốt cho con em mình. Tuy nhiên, nếu như định hướng của gia đình phù hợp với nguyện vọng và khả năng của các bạn thì việc định hướng mới có tác dụng tốt nhất. Hiện nay, bố mẹ và gia đình nhiều người luôn cho rằng, học đại học mới có thể thành công. Và vào đại học, thì việc lựa chọn các ngành đều phải là ngành “hot”, điểm cao chứ không dựa vào ý thích, khả năng của các con em mình. Rất nhiều bạn phụ thuộc quá nhiều vào ý kiến của mọi người, mà không chọn theo ý thích của mình. Hay có những gia đình cố gắng tìm đủ mọi cách cho con đi học đại học, dù các bạn ấy không hề thích hoặc không có khả năng. Có lẽ đa số các gia đình và thậm chí là các bạn học sinh cũng có một suy nghĩ rằng “Phải đi học đại học”. Có lẽ chính điều này đã dẫn đến tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” ở Việt Nam hiện nay. Quá nhiều trường đại học được mở ra tràn lan, và người đi học cũng tràn lan. Kết quả là tình trạng thất nghiệp của sinh viên mới ra trường ngày càng đáng báo động. Một số người thì cho rằng, nên chọn nghề nghiệp tương lai dựa vào ý thích của mình. Quan niệm này cũng có ý đúng, vì nếu dựa vào ý thích, các bạn sẽ có động lực học, có động lực cố gắng, có động lực tìm tòi và sáng tạo. Tuy nhiên, quan trọng nhất là phải biết dựa vào khả năng của mình để chọn, chứ không chỉ dựa vào ý thích. Có thể bạn rất thích ca hát, nhưng bạn thi vào các trường năng khiếu không đỗ, hay thi qua các cuộc thi không bao giờ được giải, thì bạn chỉ nên coi ca hát là niềm đam mê bên cạnh công việc chính, chứ đừng nên cố chấp theo đuổi, chọn ca hát là nghề nghiệp trong tương lai. Nhiều tấm gương bỏ học đại học mà vẫn thành công như Bill Gates,…, nhưng bạn nên nhớ, họ phải trả giá nhiều hơn ở “trường đời”, họ học thông qua trải nghiệm, qua cố gắng. Vì vậy, điều quan trọng nhất là bạn phải biết cố gắng, phải biết phấn đấu, phải biết mình muốn gì, biết con đường đi của mình trong tương lai. Đừng để tương lai của mình bị quyết định bởi người khác, cũng đừng quá mù quáng mà lao theo những thứ viển vông. Hãy sáng suốt để chọn một tương lai tốt nhất cho mình.
Trình bày ý kiến của anh chị về quan niệm chọn nghề nghiệp trong tương lai
613
Trình bày ý kiến của em nhằm thuyết phục mọi người thấy rõ sự cần thiết của cả trăng và đèn trong bài ca dao sau Hướng dẫn – Em cần nắm được ích lợi của trăng và đèn (khi không có điện) để đưa ra ý kiến lập luận. – Ý kiến lập luận cần thể hiện quan điếm cả trăng và đèn đều có ích. Bài tham khảo Mỗi chúng ta đều không ngừng học tập và làm việc. Sẽ ra sao nếu mỗi đêm không có ánh sáng của đèn để đọc sách, làm bài? Ánh sáng của đèn rất cần thiết đôi với mỗi con người. Nhưng không vì thế mà không quí ánh trăng. Trăng đem đến vẻ thơ mộng cho cảnh vật. Trăng làm cho đất trời thêm khoáng đãng, trăng làm cho tâm hồn con người thêm phong phú. Ớ những nơi không có ánh đèn, trăng giúp con người sinh hoạt, di lại thuận tiện hơn. Nhưng nếu vì thế mà coi thường đèn thì thật sai lầm. Trăng cũng có lúc bị mờ bởi những áng mây che. Trăng rất tuyệt vời nhưng không thể thiếu đèn. Chính vì vậy, trăng và đèn đều có ích cho cuộc sống con người.
Trình bày ý kiến của em nhằm thuyết phục mọi người thấy rõ sự cần thiết của cả trăng và đèn trong bài ca dao sau
205
Trình bày ý kiến hai tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên” và “Học thầy không tày học bạn – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Tôn sư trọng đạo là một truyền thống lâu đời của dân tộc ta. Để tỏ lòng tôn trọng, biết ơn thầy giáo và ghi nhận vai trò to lớn của thầy giáo đối với sự thành đạt của mỗi cá nhân, tục ngữ ta có câu: Không thầy đố mày làm nên. Nhưng cũng lại có truyền thống hiếu học. Không chỉ học thầy, chúng ta còn học bạn: Học thầy không tày học bạn. Hai câu tục ngữ đều nói lên tinh thần hiếu học, nhưng thể hiện hai quan niệm dường như mâu thuẫn. Vậy chúng ta nên hiểu việc học thầy học bạn như thế nào cho đúng? Và bản thân chúng có mâu thuẫn hay không? Xét cho cùng thì hai câu tục ngữ trên không hề mâu thuẫn vì cả hai câu đều nói về vai trò và tác dụng của người dạy đối với người học. Nhưng hai câu tục ngữ lại có chỗ khác nhau do sự tách biệt người dạy là thầy giáo và người dạy là bạn bè ở hai câu. Do sự tách biệt trong so sánh ở hai câu mà hai câu tục ngữ bị đẩy về hai thái cực. “Không thầy đố” mày làm nên” thì tuyệt đối hóa vai trò của người thầy. “Học thầy không tày học bạn” lại tuyệt đối hóa vai trò của người bạn. Câu tục ngữ “Học thầy không tày học bạn” chưa thỏa đáng vì quá hạ thấp vai trò của người thầy, quá đề cao tác dụng của bạn bè trong việc học. Trong học tập, thầy giáo là người chủ đạo, học trò là người chủ động, bạn bè là người hỗ trợ, giúp đỡ, “xúc tác”. Vì vậy nói “học thầy không tày học bạn” là thái quá, hạ thấp người thầy, quá đề cao vai trò, tác dụng của việc học hỏi bạn bè, xem học bạn hơn học thầy. “Học thầy không tày học bạn” là sai. Thoáng nhìn, hai câu “Không thầy đố” mày làm nên” và “Học thầy không tày học bạn” dường như là mâu thuẫn. Nhưng khi sóng đôi, chúng sẽ cho ta bài học bổ ích, hoàn chỉnh: vừa kính trọng thầy, vừa coi trọng bạn. Kính trọng thầy để tỏ lòng tôn sư trọng đạo đối với người đã dìu dắt ta “làm nên”. Tôn trọng bạn để học hỏi, nâng đỡ nhau cùng tiến bộ.
Trình bày ý kiến hai tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên” và “Học thầy không tày học bạn – Đề và văn mẫu 8
427
Trình bày ý kiến thế nào là một người bạn tốt. Hướng dẫn Trình bày ý kiến thế nào là một người bạn tốt. Trong cuộc sống chúng ta không chỉ cần có người thân trong gia đình, mà còn rất cần những người bạn tốt. Vậy một người bạn tốt là người như thế nào? Theo em, người bạn tốt trước hết là người dễ gần gui, có thể hòa nhập với các bạn cùng lớp. Nếu biết hòa nhập với các bạn khác thì riêng bản thân bạn đó đã có nhiều bạn, và chúng ta dễ dàng tìm thấy ở đây một người bạn tốt. Người bạn tốt phải là người có lòng tốt, biết yêu thương bạn bè. Đối với bạn, phải thật lòng, không dối trá, thì mới có thể là bạn tốt được. Nếu thấy bạn bè gặp phải chuyện buồn thì người bạn phải biết cách an ủi, yêu thương bạn bè là biết cảm thông với bạn, tìm cách giúp đỡ bạn sao cho bạn vui lên, hết buồn, nhưng về việc học tập thì chỉ giúp đỡ khi bạn thực sự cần mình để bạn và mình đều có kết quả tốt nhất trong việc học hành. Không nên vì yêu quý bạn mà làm hộ bài cho bạn, làm cho bạn ỷ lại. Thêm nữa một người bạn tốt phải là người cần cù, chăm chỉ. Bất kì một người nào cũng cần có đức tính đó, một người bạn mà có đức tính đó thì người chơi với người ấy chắc chắn cũng sẽ học tập được một phần nào ở bạn mình, cần cù, chăm chỉ không chỉ giúp chính bản thân mình, tạo điều kiện cho mình được hoàn thiện hơn mà còn làm cho người bạn cố gắng để được như mình. Cuối cùng, người bạn tốt nào cũng cần có tính thẳng thắn, đứng đắn. Trong mọi trường hợp bạn ấy phải tỏ rõ đức tính đó của mình. Đó là không bao che khuyết điểm của bạn, cho dù đó là bạn thân hay bạn nào khác mà mọi người ngại “đụng tới”. Thẳng thắn nhìn nhận, đánh giá những thói hư tật xấu. Nếu mình có lỗi hay khuyết điểm thì phải sẵn sàng nhận. Càng không được tham gia vào những hoạt động không lành mạnh. Mạt khác người bạn tốt ấy cũng phải có tính bao dung, rộng lượng. Nếu bạn nào có lỗi với mình mà đã hối hận, xin lỗi mình thì mình nên tha lỗi cho bạn, mà không nên chấp nê, để bụng v.v… có như vậy mới là người tốt bụng và do đó, chúng ta sẽ có được nhiều bạn bè hơn. Em chắc chắn rằng một người tốt có đầy đủ phẩm chất như thế thì ở gia đình bạn ấy cũng sẽ là một người con ngoan của cha mẹ, được mọi người yêu mên, kính trọng.
Trình bày ý kiến thế nào là một người bạn tốt.
485
Trình bày ý kiến tục ngữ Lá lành đùm lá rách – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Dân tộc ta lớn lên trên dải đất hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương sóng gió. Người Việt Nam chịu đựng không biết bao nhiêu tai trời ách nước: giặc ngoại xâm, bão lụt, hỏa hoạn, mất mùa, đói kém… Cứ mỗi lần vượt qua một khó khăn, nhân dân ta lại nhắc nhở nhau một cách sống. Lá lành đùm lá rách. Ta cần hiểu ý nghĩa và giá trị của câu tục ngữ này như thế nào để thấm nhuần lời nhắn gửi của ông cha ta để lại? Câu tục ngữ gợi lên một bài học về đạo lí làm người, về quan hệ giữa con người với nhau. Người ta ở đời, có lúc gặp phải khó khăn, thiếu thốn, hoạn nạn. Lúc ấy nếu tự một mình xoay xở lấy thì thật khó mà vượt qua. Trong hoàn cảnh đó, sự giúp đỡ của người khác, sự chia sẻ của người khác là rất quan trọng. Sự đùm bọc lẫn nhau, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong cơn hoạn nạn là một cách sống cần thiết, đầy nhân ái. Xét về giá trị của câu tục ngữ, ta thấy có một giá trị thiết thực. Nói “Lá lành đùm lá rách” là nói đến thái độ nhường cơm sẻ áo giữa những người cùng chung cảnh ngộ, trong cùng một cộng đồng trên cùng một đất nước. Tuy có “lành”, có “rách” nhưng cùng là “lá”. Đây là chia sẻ, là thông cảm. Khi một người bị hoạn nạn, thì những người không bị hoạn nạn cùng nhau giúp đỡ, đó là “lá lành đùm lá rách”, sự giúp đỡ có thể là không nhiều, nhưng sẽ rất có ý nghĩa, có thể giúp cho người hoạn nạn vượt qua cơn hoạn nạn. Khi một phường, một vùng gặp hoạn nạn, thì những vùng bên cạnh cùng hợp lại, mỗi người một ít, mỗi nhà một ít, mỗi phường, mỗi huyện, mỗi tỉnh một ít, kết quả tạo ra một sự góp sức rất to lớn. Trải qua hơn ba mươi năm chiến tranh, rồi gần hai chục năm trở lại đây, truyền thông “Lá lành đùm lá rách” đã được nhân dân ta phát huy một cách mạnh mẽ. Chỉ nói riêng mấy năm gần đây, trên đất nước ta đã bao nhiêu lần thiên nhiên gây ra tai họa ghê gớm. Những trận bão ở miền Trung, rồi lũ lụt ở đồng bằng Nam Bộ…, làm cho nhiều đồng ruộng bị tàn phá. Lúa, hoa màu bị mất sạch, bao nhiêu nhà cửa, bệnh viện, trường học… bị phá huỷ. Những khi miền Trung, miền Nam gặp hoạn nạn, khó khăn, cả nước quan tâm theo dõi, kịp thời chia buồn và cứu trợ. Nhờ sự giúp đỡ kịp thời của cả nước, dần dần nỗi đau mất mát được xoa dịu, người dân trở lại với cuộc sống có cơm ăn áo mặc. Những tin tức về trận bão đã được loan báo, những lời kêu gọi đã được phát đi thì những hành động hưởng ứng đã đáp lại ngay. Có người góp vào quỹ cứu trợ hàng triệu đồng, cũng có bạn nhỏ tự mình mang đến một hai nghìn bạc vốn dành dụm từ món tiền ăn sáng của mình để góp phần giúp đỡ những người khó khăn. Một khía cạnh nào đó, hành động “Lá lành đùm lá rách” không phải chỉ có ý nghĩa giúp đỡ người khác, mà còn chính là giúp đỡ mình. Thường khi gói bánh, lá lành nằm bên ngoài, lá rách nằm bên trong để gói. Gói như vậy thì chiếc bánh mđi kín, mới cứng. Giúp người khác, chia sẻ với người khác cũng chính là giúp mình, làm cho cuộc sống của mình tốt đẹp hơn. Mỗi người khi vượt lên khó khăn, đứng vững hơn, chính là góp phần cho đất nước đứng vững, vượt lên. Cuối cùng, cái thành quả tốt đẹp ấy, mỗi người đều được hưởng. Bởi vậy, “Lá lành đùm lá rách” không còn là phương châm cho những hành động nhất thời, đặc biệt mà đã trở nên một cách sống tốt đẹp trong cuộc sống chúng ta. Hằng ngày, vẫn có người lặng lẽ quyên góp chút ít tiền bạc, quần áo cho một trại phong, một trại nuôi dưỡng người già neo đơn, một trại trẻ mồ côi, một gia đình khó khăn, một người tàn tật… Nhân những dịp tết, những người trong phường lại chạnh nhớ để chia sẻ với những bà con nghèo còn thiếu thốn. “Lá lành đùm lá rách”, câu nói ngày xưa chỉ mang một ý nghĩa hẹp, nhằm kêu gọi sự đùm bọc lẫn nhau trong một nhà, một họ hay rộng lắm là một làng. Càng ngày, cùng với sự phát triển của đời sống, sự hiểu biết của con người, ý nghĩa của câu nói càng mang một nội dung nhân đạo sâu sắc và rộng rãi. Đây là một câu nói của tình thương đầy tính nhân đạo. Trong một xã hội, không có sức mạnh nào lớn hơn sức mạnh của tình thương. Tình thương phát triển thành tình cảm chung của mọi người, thành nếp sống phổ biến của xã hội thì tội ác cũng sẽ thu hẹp lại, xã hội sẽ ổn định hơn, tốt đẹp hơn. Cái thiện sẽ đẩy lùi cái ác. “Lá lành đùm lá rách” thật là một cách nói đầy sáng tạo và sâu sắc của người xưa. Tục ngữ không chỉ là văn chương mà còn là triết lí, sống là phải quan tâm đến người khác, phải chia sẻ khó khăn cùng người khác. Đạo lí ấy thật là tốt đẹp mà ngày nay ta cần nuôi dưỡng phát huy. Tags:văn · Văn 8
Trình bày ý kiến tục ngữ Lá lành đùm lá rách – Đề và văn mẫu 8
986
Trình bày ý kiến tục ngữ “Lời nói chẳng mất tiền mua – Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Trong xã hội, con người luôn luôn phải dùng những ngôn ngữ để giao tiếp với nhau. Vậy muốn việc giao tiếp, ứng xử đạt kết quả tốt, lời nói phải khéo léo, tế nhị. Từ xa xưa, ông cha ta đã khuyên: Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Lời nói là một phương tiện mà ai ai cũng có thể sử dụng trong giao tiếp, từ một đứa bé lên năm tới một người cao tuổi, từ một người giàu có danh giá đến những người nghèo khổ, cơ cực. Trong cuộc sống, đó là một công cụ tốt nhất để thể hiện mình và để đạt được mục đích mình mong muốn. Xã hội loài người là một xã hội có tổ chức, có văn hóa, mỗi người đều phải lựa lời, phải chọn lời hay, ý đẹp để giao tiếp và ứng xử. Khi ta sử dụng những lời hay, ý đẹp, lại lựa lời, chọn những lời nói khéo léo, tế nhị thì người nghe vừa lòng, dễ dàng tiếp thu ý kiến của ta, ta thể hiện được mình là một con người văn minh lịch sự, làm cho người khác phải cảm phục và kính trọng. Nếu ai ai cũng lựa lời mà nói thì quan hệ giữa người với người trong xã hội sẽ trở nên thật tốt đẹp. Vì vậy, câu ca dao là một lời khuyên tốt, rất đúng đắn và có ý nghĩa hết sức tích cực. Thực hiện tốt lời khuyên này, ta sẽ luôn thành công trong cuộc đời, trong sự nghiệp. Tuy rằng Lời nói chẳng mất tiền mua, nhưng thực ra là nó vô giá. Không có gì có thể rút lại được lời ta vừa nói, nên trước khi nói phải uốn lưỡi bảy lần, phải đắn đo lựa lời mình định nói. Một lời nói có thể làm hại người khác nhưng cũng có thể làm cho người khác sung sướng. Lời nói không phải bỏ tiền ra mua, vì ai ai cũng có thể có được, nhưng phải nói thế nào để lời nói trở nên đắt giá mới là việc khó, bắt buộc ta phải bỏ nhiều công sức suy nghĩ, trau chuốt. Một lời nói quan tiền thúng thóc Một lời nói dùi đục cẳng tay. Lại có những người ăn nói không đúng chỗ, nói năng với người trên như nói với bạn bè mình. Những người như thế sẽ không bao giờ có thể đạt được mục đích của mình, vì người nghe sẽ khó tiếp thu, để lại những ấn tượng không đẹp cho người nghe. Lời nói không đắt nhưng chính thành quả của lời nói tạo ra mới đáng giá. Mặc dù không tốn kém, không mất tiền mua nhưng nếu biết sử dụng lời nói hợp lí, bất cứ điều gì cũng có thể diễn ra như mong muốn. Tuy nhiên, lựa lời mà nói không có nghĩa là xuê xoa, bỏ hết những lời phê phán, góp ý của mình khi thấy người khác sai trái. Ông cha ta đã dạy: Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng. Cho dù có làm mất lòng bạn bằng những lời góp ý thì đến một lúc nào đó, bạn sẽ hiểu và yêu quý ta bởi những lời góp ý đó chỉ để cho bạn tốt hơn. Đọc và hiểu câu ca dao này, ta phải có được thái độ chân thành, thẳng thắn. Lời nói đẹp là sợi dây vô hình giúp cho con người xích lại gần nhau. Người nào càng biết lựa lời mà nói thì người ấy sẽ càng có nhiều bạn tốt. Cũng khuyên người ta trong việc ăn nói, ứng xử, ca dao có câu: Thổi quyển phải biết chuyển hơi Khuyên người nói phải lựa lời khôn ngoan. Đọc lại những bài ca dao về ứng xử trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam, ta thấy dù ca dao thể hiện bằng nhiều hình thức nhưng đều có chung một nội dung, là phải biết lựa lời mà nói. Lời nói rẻ mà không hề rẻ chút nào. Câu ca dao là một lời khuyên bổ ích, giúp con người hoàn thiện và giúp xã hội văn minh hơn. Do vậy, mỗi chúng ta đều phải luôn ghi nhớ và thực hiện tốt lời khuyên này. Làm như vậy là ta đã tự học tập, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, tự tôn trọng mình và tôn trọng người khác. Tags:Văn 8
Trình bày ý kiến tục ngữ “Lời nói chẳng mất tiền mua – Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” – Đề và văn mẫu 8
777
Trình bày ý kiến về Người bạn tốt – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Trình bày ý kiến về Người bạn tốt Đề bài: Trong một buổi sinh hoạt lớp, các bạn sôi nổi thảo luận về người bạn tốt. Em hãy trình bày ý kiến của mình về vấn đề đó. Bài làm Trong cuộc sống, chúng ta không chỉ cần có những người thân trong gia đình, mà còn rất cần những người bạn tốt. Vậy một người bạn tốt là người như thế nào? Theo em, người bạn tốt là người dễ gần gũi, có thể hoà nhập với các bạn cùng lớp. Nếu biết hoà nhập với các bạn khác thì riêng bản thân bạn đó đã có nhiều bạn, và chúng ta dễ dàng tìm thấy ở đó một người bạn tốt. Người bạn tốt, đó phải là người có lòng tốt, biết yêu thương bạn bè. Đối với bạn, phải thực lòng, không dối trá, nếu thấy bạn bè gặp chuyện buồn thì phải biết cách giúp đỡ, an ủi, cảm thông, chia sẻ. Tuy nhiên, tuỳ từng trường hợp mà giúp đỡ bạn, sao cho bạn vui lên, hết buồn. Nhưng trong việc học tập, chỉ giúp đỡ khi bạn thực sự cần mình để bạn và mình đều có kết quả tốt nhất trong học tập. Không nên vì quá yêu bạn mà làm hộ bài cho bạn, để bạn ỷ lại vào mình. Thêm nữa, một người bạn tốt phải là người cần cù, chăm chỉ. Bất kì một người nào cũng cần có đức tính đó. Một người bạn mà có đức tính đó thì người chơi với người ấy chắc chắn cũng sẽ học tập được một phần nào ở bạn mình. Cần cù, chăm chỉ không chỉ giúp chính bản thân mình, tạo điều kiện cho mình được hoàn thiện hơn mà còn làm người bạn cảm thấy họ có được người bạn như vậy thật là may mắn và họ sẽ phải cố gắng để được như mình. Tất nhiên, ý kiến của những người bạn xấu đối với bạn đó thì chẳng nói làm gì. Cuối cùng, người bạn tốt nào cũng cần có tính thẳng thắn, đứng đắn. Trong mọi trường hợp người bạn phải tỏ rõ đức tính đó của mình. Đó là không bao che khuyết điểm của bạn, cho dù đó là bạn thân hay bạn nào khác mà mọi người ngại đụng tới. Thẳng thắn nhìn nhận, đánh giá những thói hư tật xấu. Nếu mình có lỗi hay khuyết điểm thì phải sẵn sàng nhận. Càng không được tham gia vào những hoạt động không lành mạnh. Mặt khác, người bạn tốt ấy cũng phải có tính bao dung, rộng lượng. Nếu bạn nào có lỗi với mình mà đã hối hận, xin lỗi mình thì mình nên tha thứ, không nên chấp nê, để bụng,… Có như vậy mọi người mới cảm thấy ở ta một con người tốt bụng và do đó, chúng ta sẽ có được nhiều bạn bè hơn. Theo em nghĩ, người bạn tốt cần có các đức tính: đoàn kết, hoà nhập, yêu thương bạn bè, thẳng thắn, đứng đắn và biết bao dung, rộng lượng. Nhưng trong thực tế có lẽ rất ít ai có được đầy đủ các phẩm chất như thế. Ai cũng có mặt tốt, mặt chưa tốt, nên các đức tính nêu trên cũng chỉ là lí tưởng mà mỗi người mơ ước đối với người bạn của mình. Muốn có bạn tốt, chúng ta phải góp phần xây dựng cho bạn đó, giúp bạn tránh xa cái xấu, và trở thành tốt hơn. Nếu chúng ta có được nhiều bạn tốt thì cuộc sống chúng ta cũng sẽ được nhiều hạnh phúc. Riêng em, em mong mình có nhiều bạn tốt và mình cũng là một người bạn tốt của các bạn. Lê Thu Thuỷ (Trường THCS Lê Ngọc Hân) >> Xem thêm Trong bài “Bàn về phép học”, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp rất chú ý đến phương pháp học “theo điều học mà làm” tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Người bạn tốt
Trình bày ý kiến về Người bạn tốt – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8
690
Đề bài: Trình bày ý nghĩa tư tưỏng của văn bản Ôn dịch, thuốc lá của Nguyễn Khắc Viện Bài làm "Hút thuốc lá là có hại cho sức khoẻ". Thông điệp ấy được ghi trên hầu hết các vỏ bao thuốc lá, những người hút thuốc lá đều biết nhưng không phải ai cũng ý thức được tác hại nhiều mặt của thuốc lá đối với cộng đổng. Ngay từ đầu, nhan đề của văn bản: Ôn dịch, thuốc lá đã cho ta thấy tính chất nghiêm trọng và bức xúc của vấn đề. Thuốc lá ở đây là nói đến tệ nghiện thuốc lá. Nó được ví một cách rất thoả đáng với Ôn dịch, xem như một thứ bệnh nguy hiểm đến tính mạng của con người và rất dễ lây lan. Hơn nữa, từ Ôn dịch còn mang sắc thái biểu cảm. Nghiện thuốc lá được nói đến trong một cảnh báo gay gắt, đến mức nó đáng trở thành một đối tượng để nguyền rủa. Trong văn bản này, tác giả bắt đầu phần thứ hai bằng cách dẫn lời Trần Hưng Đạo bàn về cách đánh giặc (từ "Ngày trước"… cho đến “tổn hao sức khoẻ"). So sánh việc chống hút thuốc lá với đánh giặc ngoại xâm, tác giả đã tạo ra một ấn tượng mạnh trước khi tiến hành phân tích y học về tác hại của thuốc lá. Những kết quả nghiên cứu của y học trở thành hệ thống luận cứ rõ ràng, thuyết phục tuyệt đối. Thuốc lá gặm nhấm sức khoẻ của con người tựa như tằm ăn dâu. Nguy hiểm, đáng sợ hơn, sự gặm nhấm của thuốc lá lại vô hình, không nhìn thấy ngay được. Chỉ có hậu quả của nó, những căn bệnh hiểm nghèo là sờ sờ trước mắt chúng ta. Và, không chỉ có thế, tác giả tiến hành phân tích cả những ảnh hường thiệt hại của thuốc lá đến đời sống kinh tế của con người, dù chỉ là bệnh viêm phế quản… Bằng giả định: "Có người bảo: Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi”, tác giả tiến tới lập luận về tác hại của thuốc lá đối với cả những người không hề hút thuốc lá. Phủ nhận nhận định trong giả định, chứng cứ khoa học cho thấy hút thuốc lá chủ động và hút thuốc lá bị động đều dẫn đến nguy hại cho sức khoẻ. Chống hút thuốc lá không còn là vấn đề chỉ của riêng cá nhân mà, vì nó trực tiếp làm hại cả cộng đồng, cho nên, chống thuốc lá là việc của toàn xã hội. Tác giả đã so sánh tình hình hút thuốc lá ở Việt Nam với các nước Âu – Mĩ để đưa ra kiến nghị: Đã đến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này, bởi: Thứ nhất, ta nghèo hơn các nước Âu – Mĩ rất nhiều nhưng tỉ lệ thanh thiếu niên ở các thành phố lớn của ta hút thuốc lá lại tương đương với họ. Nó không chỉ gây khó khăn về kinh tế, mà còn là con đường dẫn đến sự phạm pháp. Thứ hai, để chống tệ hút thuốc lá, người ta có những biện pháp mạnh hơn ta rất nhiều. Sự so sánh này đã góp phần khẳng định sự đúng đắn của những điều đã nói ở trên, đồng thời tạo tiền đề để đưa ra lời phán xét cuối cùng.
Trình bày ý nghĩa tư tưỏng của văn bản Ôn dịch, thuốc lá của Nguyễn Khắc Viện
583
Trình bày đặc điểm truyện Chiếc lá cuối cùng – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Gợi ý viết bài Đối với đề này, chúng ta có thể thực hiện theo ba phần sau: Phần mở đầu: giới thiệu về tác giả O. Hen-ri và truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của ông; những đặc sắc về nội dung, cốt truyện, nghệ thuật và nhất là ý nghĩa của truyện. Phần nội dung: trình bày nội dung các vấn đề về câu chuyện, nhân vật trong truyện, hình tượng chiếc lá do cụ Bơ-men vẽ, ý nghĩa của câu chuyện. Về câu chuyện: Câu chuyện được đặt trong bối cảnh của một khu phố tồi tàn với những căn phòng cho thuê giá rẻ ở phía tây công viên Oa-sinh-tơn, trong khu phố tồi tàn đó có một ngôi nhà ba tầng, đó chính là căn nhà nơi nhân vật chính trong truyện trú ngụ. Thời điểm được xác định là tháng mười một, khi gió lạnh mùa đông bắt đầu tràn về. Hai nữ họa sĩ trẻ và nghèo là Giôn-xi và Xiu đến thuê chung một căn phòng ở tầng trên cùng của căn nhà. Cụ Bơ-men cũng là một họa sĩ nghèo sống ở tầng dưới cùng. Giôn-xi bị bệnh sưng phổi và cảm thấy không muốn sống nữa mặc cho Xiu hết lời động viên và nhiệt tình chăm sóc. Hàng ngày Giôn-xi nằm quay mặt ra cửa sổ, nhìn những chiếc lá trên cây thường xuân rụng dần và đếm những chiếc lá còn lại. Cô nghĩ rằng khi chiếc lá cuối cùng rời khỏi cành thì cũng là lúc cô phải lìa xa cõi đời. Tâm trạng bi quan của Giôn-xi cứ kéo dài và đến tai cụ Bơ-men. Vào một đêm mưa tuyết khủng khiếp, khi chiếc lá cuối cùng trên cây đã rụng, cụ Bơ-men đã vẽ một chiếc lá thường xuân thay cho chiếc lá cuối cùng. Tuyệt tác của cụ Bơ-men đã cứu sống Giôn-xi nhưng cụ lại ốm nặng và qua đời. Chiếm vị trí trung tâm của truyện chính là hình ảnh từng chiếc lá trên cây thường xuân già rụng dần. Đó là một hình tượng giàu tính nghệ thuật: một cây thường xuân già cỗi đã cạn nhựa sống chỉ còn lại bộ xương khẳng khiu với mấy chiếc lá và bám vào bức tường đổ nát. Đây chính là hình ảnh về cuộc đời cô đơn, mòn mỏi của ba người nghệ sĩ. Mỗi chiếc lá rụng lại gợi cảm giác rằng cuộc đời đang lụi tàn dần, mỗi phút trôi qua là một phút mất mát: nét tươi tốt dần tan biến nhường chỗ cho vẻ héo hắt, xơ xác. Mỗi nhân vật trong truyện là một tính cách, một số phận. Xiu là một nữ họa sĩ nghèo phải nhận vẽ minh họa cho một tạp chí, bán tranh cho lão chủ bút để kiếm tiền chăm sóc Giôn-xi, mua rượu Boóc-đô cho đứa em ốm, mua sườn lợn để đáp ứng cho cái tính háu ăn của mình… Giôn-xi là một nữ họa sĩ trẻ khát khao được vẽ vịnh Na-plơ, bản thân chị bị viêm phổi nặng và sống nhờ vào sự chăm sóc hết lòng của Xiu; Giôn-xi chán chường và không chút hi vọng, cứ nhìn qua cửa sổ đếm từng chiếc lá thường xuân rơi rụng, mỏi mòn đợi chiếc lá cuối cùng lìa cành, xem đó là khoảnh khắc cuối cùng của đời cô. Bơ-men là một họa sĩ già, thường làm mẫu vẽ cho các nghệ sĩ cùng xóm. Chiếc lá thường xuân vẽ trên tường vào một đêm mưa tuyết khủng khiếp là tuyệt tác của cụ Bơ-men. Nó đã giúp Giôn-xi lấy lại cuộc sống của mình. Với đức hi sinh cao cả và tài năng tuyệt vời với tâm hồn của một nghệ sĩ giàu lòng nhân ái, cụ Bơ-men đã vẽ chiếc lá thường xuân định mệnh. Chiếc lá được vẽ trong một đêm lạnh buốt khủng khiếp dưới ánh sáng của một chiếc đèn bão với vài chiếc bút lông rơi vung vãi và một bảng màu xanh vàng pha trộn lẫn lộn. Bơ-men vẽ chiếc lá với mục đích giành lại sự sống cho Giôn-xi. Và quả thật tuyệt tác đó đã có tác dụng mầu nhiệm đưa Giôn-xi trở về với cuộc sống, với niềm mơ ước sáng tạo của người nghệ sĩ trẻ. Về ý nghĩa của chủ đề: “Chiếc lá cuối cùng” mà cụ Bơ-men vẽ không những là một tác phẩm kiệt xuất về mặt nghệ thuật vì nó giống như thật, mà còn là biểu tượng của lòng nhân ái, đức hi sinh cao cả, sự quên mình để bảo tồn sự sống cho người khác. Như vậy truyện đã “Ca ngợi tình yêu thương con người, ca ngợi mục đích và ý nghĩa cao quý của nghệ thuật là hãy yêu thương và hi sinh sự sông vì con người”. Phần kết luận: cần tóm tắt các đặc điểm chính của truyện và làm nổi bật hình thức, nội dung tự sự của truyện. Phải thấy rằng truyện chỉ đề cập đến một sự việc nhỏ nhưng tầm ảnh hưởng của nó lại rất lớn lao, đó chính là giá trị của truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng”.
Trình bày đặc điểm truyện Chiếc lá cuối cùng – Đề và văn mẫu 8
879
Trí khôn một em nhỏ cứu nguy cho ngàn người – Truyện cổ tích Em bé thông minh Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Truyện cổ tích Em bé thông minh Cùng với loại cổ tích thần kì như truyện Sọ Dừa, truyện Tấm Cám, Thạch Sanh,… kho tàng truyện dân gian nước ta còn có loại cổ tích sinh hoạt, cổ tích sinh hoạt gần như không có yếu tố thần kì, được cấu tạo theo cách “xâu chuỗi” các mẩu chuyện từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, vô cùng hấp dẫn. Truyện Em bé thông minh là một áng cổ tích như thế. Có thể coi tác phẩm thuộc loại truyện “Trạng”. “Trạng” là người thông minh, tài trí hơn người, có khả năng ứng đáp linh hoạt, hoá giải được mọi bài toán, câu đố hiểm hóc. Truyện “Trạng” đề cao trí khôn dân gian, kinh nghiệm sống được vận dụng sáng tạo, đem lại tiếng cười vui vẻ, hồn nhiên mà thâm thuý. Điều thú vị là nhân vật “Trạng” trong các truyện này nhiều người chẳng được học hành, theo đòi sách vở như các ông Tiến sĩ, Trạng nguyên mà chỉ là một anh nông dân nghèo rớt mồng tơi hoặc một em bé còn ăn bám bố mẹ. Chính em bé đó, bằng trí thông minh, tài ứng đối đã khiến mọi người sửng sốt thán phục. Em bé đó là nhân vật trung tâm của truyện Em bé thông minh. Trí khôn của em không chỉ khiến nhiều người khâm phục mà đã nhiều lần cứu nguy cho cả làng, cả nước, cho ngàn vạn người. 1. Trí khôn, mưu kế của em bé được thử thách như thế nào? a) Em bé đã phải bốn lần đối mặt với câu đố, bốn bài toán trí tuệ hóc búa. Lần thứ nhất, em phải đáp lại câu đố của quan: “Trâu của lão cày một ngày được mấy đường?”. Lần thứ hai, em phải tìm ra thâm ý của nhà vua: nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con, hẹn năm sau phải đem nộp đủ. Lần thứ ba cũng là thâm ý, thử thách của vua: từ con chim sẻ “phải dọn thành ba cỗ thức ăn ” Và lần thứ tư, vừa là lời thách đố vừa trêu tức, “chơi xỏ” của sứ thần nước ngoài đối với triềụ đình, với toàn dân tộc ta là xâu một sợi chỉ qua ruột con ốc vặn rất dài. b) Lời thách đố mỗi lần một tăng lên, lần sau khó hơn lần trước. Lần thứ nhất, viên quan đố, lần thứ hai và thứ ba là lời thách đố của nhà vua. Cả hai đều chỉ nhằm tìm người tài giỏi, thông minh. Riêng lần thứ tư thì người đố là “sứ thần” của nước khác. Nhân vật ra đố khác rồi, ý nghĩa cuộc đố cũng khác. Đây không chỉ là tìm người thông minh mà còn hàm ý thử thách trí khôn của cả triều đình, của toàn dân tộc. Xét về tính chất thì sự oái oăm, độ hóc búa của các câu đố, những dữ kiện mà người đố đưa ra mỗi lúc thêm kì quặc. Hoặc là một việc làm “lẩn thẩn”: đếm đường cày mỗi ngày, hoặc là một hiện tượng vô lí, trái lẽ đời: trâu đực đẻ con, một con sẻ bé tẹo làm.thành ba mâm cỗ. Có khi là một việc không chỉ “lẩn thẩn” mà còn kì quặc, éo le đến độ… chỉ có thánh thần mới làm được. Thêm nữa, tính oái oăm, căng thẳng còn được thể hiện ở sự lựa chọn người giải đố. Lần thứ nhất, viên quan yêu cầu em bé giải đố. Lần thứ hai, nhà vua thử thách hai bố con. Con số gấp đôi. Lần thứ ba, nhà vua thách đố cả dân làng. Số người bị lôi vào trận đấu trí tuệ tăng gấp mười, gấp trăm lần rồi! Đến lần thứ tư thì… đáng sợ quá. Sứ thần nước khác thách đố cả triều đình, gồm toàn những ngứời quyền cao, trí sáng. Cứ mỗi lần như thế, hầu nhự mọi người, già trẻ, lớn bé, dân thường, vua chúa đều… bị đẩy vào thế… bí. Dân làng thì “lo lắng, không hiểu thế là thế nào, coi đó là tai hoạ”. Vua quan thì “vò đầu suy nghĩ”, “lắc đầu bó tay”. Trong khi đó, em bé – nhân vật chính của câu chuyện – vốn bị mọi người thờ ơ, coi thường, thì vẫn bình thản như không, thậm chí “còn đùa nghịch ở sau nhà”. Dường như đối với em, mọi sự trên đời, mọi lời thách đố chẳng có gì ghê gớm, khó khăn. Nó là cuộc đời diễn biến hằng ngày mà em từng thấy, từng chơi đùa vui vẻ, hồn nhiên như tâm hồn, trí tuệ của tuổi thơ trong sáng. Mỗi lần kể về một câu đố, tác giả truyện cổ tích này không chỉ đặt ra tình huống đơn giản là sự đối đầu giữa người đố và em bé, một người đối với một người, người lớn đối với trẻ em. Không! Tinh huống đố và yêu cầu giải đố mỗi lúc một tăng cao, cả về số lượng lẫn chất lượng. Từ đó, ngầm một sự so sánh thú vị: Lần thứ nhất so sánh em bé với người cha, lần thứ hai so sánh em với dân làng, lần thứ ba khi em bé đố lại thì là so sánh chính em với nhà vua và đến lần thứ tư, rõ ràng người kể chuyện muốn so sánh một mình em bé với cả triều đình gồm vua, quan, các ông trạng, các đại thần. Cả bốn lần, nhờ sự so sánh ấy, vị trí em bé được đề cao, trí tuệ em bé toả sáng dần. Em bé, em là… thần đồng đấy ư? 2. Vị thần đồng ấy có trí thông minh như thế nào khi giải các câu đố? a) Ta hãy lần lượt quan sát cách giải và lắng nghe lời giải của chú bé: Lần thứ nhất, em bé đố lại viên quan: “ngựa của ông đi một ngày được mấy bước”. Lần thứ hai, em bé vặn lí với nhà vua: “Giống đực thì làm sao mà đẻ được ạ!”. Lần thứ ba, em cũng đố lại vua, xin vua rèn cái kim thành con dao để xẻ thịt một con chim sẻ làm ba mâm cỗ. Và lần thứ tư, em bé dùng kinh nghiệm sống của nhân dân: kiến thấy mùi mỡ ắt phải tìm đến! Điều thú vị là mỗi lần giải đố, em bé lại dùng một “chiêu” khác nhau. Lần thì lấy “gậy ông đập lưng ông” để đẩy đối phương vào thế bí mà chịu thua cuộc. Lần thì chỉ ra cái “chiêu” của đối phương vô lí, phi lí, trên đời không thể xảy ra khiến đối phương bị “tóm gáy”, mà đầu hàng, hoặc cười xoà vui vẻ,… Điểu thú vị hơn nữa là tất cả những lời giải đố, những chiêu võ trí tuệ của em bé đều không chép từ sách vở nào cả mà bắt nguồn từ kiến thức đời sống. Nó tươi tắn, hồn nhiên mà bất ngờ, đầy sức thuyết phục. Đó chính là sự tươi tắn, thuần hậu, chất phác trong tâm hồn và trí tuệ của nhân dân. Chính nhân dân – những tác giả của câu chuyện cổ tích này – đã gửi trí khôn vào nhân vật em bé, nhờ nhân vật nói hộ mình những suy nghĩ, tính toán, những kinh nghiệm sống để giúp nhau gỡ rối, hoá giải các thử thách, khó khăn của các bài toán, câu đố trong cuộc sống hằng ngày.
Trí khôn một em nhỏ cứu nguy cho ngàn người – Truyện cổ tích Em bé thông minh Ngữ Văn 6
1,309
Trường em có một độỉ bảo vệ cây xanh. Hãy kể lại việc làm của các bạn trong độỉ đó Gợi ý Đường vào trường em được trồng hai hàng cây rất đẹp. Nhà trường có ghi biển cấm bẻ cành, hái lá, nhưng hình như tấm biển ấy không có ỷ nghĩa gì với nhiều cậu học trò tinh quái. Giờ ra chơi, giờ tan trường, không một ngày nào lại không có những chiệc lá, hoặc ngọn cây bị bẻ vứt xuống đất. Nhìn hàng cây có vẻ trơ trụi đi vì bàn tay học trò, em cảm thấy rất buồn vì hành động đó của các bạn. Em xin với cô phụ trách Đội cho chúng em thành lập một đội bảo vệ cây xanh của nhà trường. Ý kiến ấy được nhà trường rất hoan nghênh và ủng hộ. Từ hôm đó, đội chúng em chia nhau mỗi người một nhiệm vụ, giờ ra chơi và giờ tan trường là chúng em vào vị trí của mình. Mỗi khi có bạn học sinh nào đi tới định đưa tay hái lá, bẻ cành là chúng em lại nói: Xin bạn đừng hái lá, bẻ cành cây của nhà trường. Hãy giữ cho cây xanh của nhà trường luôn được tươi tốt để bảo vệ ngôi trường xanh – sạch – đẹp. Việc làm đó giờ đây chúng em không còn phải vất vả như ngày đầu nữa, bởi ý thức của các bạn nay được nâng lên. Hàng cây hai bên đường vào trường ngày ngày vươn mình đón ánh nắng mặt trời đem lại cho chúng em những ngọn gió mát lành.
Trường em có một độỉ bảo vệ cây xanh. Hãy kể lại việc làm của các bạn trong độỉ đó
275
Trường em có phong trào Làm quen qua thư, em hãy viết một bức thư cho bạn ở tỉnh khác để làm quen và hẹn bạn cùng thỉ đua học tốt Gợi ý Tiền Hải, ngày 5 / 5 / 2009 Nhật Linh thân mến! Đầu tiên mình xin tự giới thiệu về bản thân nhé. Mình là Trang học lớp 3C2 Trường Tiểu học Phúc Thắng. Tuần trước cô giáo mình có cho bọn mình xem ảnh của một số học sinh trường bạn trong phong trào Làm quen qua thư. Mình thấy bạn trong ảnh và có cả địa chỉ của bạn nữa trong danh sách. Mình biết bạn cũng như mình rất muôn có nhiều bạn đúng không? Hôm nay mình viết thư để làm quen và mong được kết bạn cùng bạn, bạn có đồng ý không? Chúng mình sẽ cùng nhau nói chuyện, trao đổi về những vấn đề trong cuộc sống và đặc biệt mình muôn hai đứa mình sẽ cùng nhau thi đua học tập để xem ai đạt được kết quả học tập cao hơn nhé. Mình hi vọng bạn sẽ không từ chối làm đề nghị của mình. Hãy hồi âm ngay cho mình nhé, mình chờ thư của bạn. Thôi chào bạn. Địa chỉ của mình là: Nguyễn Hà Trang học sinh lớp 3C2 Trường Tiểu học Phúc Thắng, Tiền Hải, Thái Bình.s Thân ái chào tạm biệt! Chúc bạn và gia đình luôn mạnh khoẻ và đừng quên viết thư cho mình đấy. Trang Nguyễn Hà Trang
Trường em có phong trào Làm quen qua thư, em hãy viết một bức thư cho bạn ở tỉnh khác để làm quen và hẹn bạn cùng thỉ đua học tốt
248
Trường em đã tổ chức ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Em hãy kể lại buổi lễ ấy Gợi ý DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG A. MỞ BÀI Giới thiệu quang cảnh trước buổi lễ. Nói lên cảm xúc của bản thân. B. THÂN BÀI Kể theo thứ tự diễn biến của buổi lễ. Có thể nêu những suy nghĩ cảm xúc. Sự thể hiện cụ thể đáng chú ý ở một số người tham gia (các bạn, thầy cô giáo, các vị đại biểu). C. KẾT BÀI Nêu cảm tưởng cá nhân. BÀI LÀM Hôm nay là ngày 20-11, em cùng các bạn bước trên con đường thân quen tràn ngập ánh nắng rực rỡ, lòng vui phơi phới. Những chú chim sâu lao xao trên cành cây như chia vui cùng chúng em. Em bước vào cổng sân trường đã tràn ngập cờ và hoa. Khắp nơi vang lên tiếng cười nói của các bạn học sinh. Ai cũng mặc áo trắng, quần xanh thật đẹp. Trông xa màu xanh và trắng đan xen vào nhau như những, cánh bướm rập rờn. Phía trên cột cờ là dòng chữ “Lễ kỉ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam”, nổi bật trên nền phông xanh thẳm. Dưới khán đài là dãy ghế nơi các thầy cô giáo ngồi. Những bông hoa tươi đẹp nhất được cắm vào bình để trên bàn đại biểu. Trong không khí náo nhiệt ấy, bỗng tiếng trống trường vang lên “Tùng!… Tùng!… Tùng…”. Thầy hiệu trưởng, người cha già của cả trường với mái tóc đã điểm bạc vì năm tháng, dáng người xương xương bước lên lễ đài, giọng nói đầm ấm của thầy cất lên: “Các em ạ! Các em biết không? Để được một bài học hay cho các em, các thầy cô đã phải bỏ ra bao nhiêu công sức, nhiều khi phải thức thâu đêm để có một giáo án tốt. Những ngày mưa giông, gió rét, đường sá lầy lội, có thầy cô ở rất xa nhưng vẫn đến trường đúng giờ. Các thầy cô làm thế là vì các em. Ai cũng muốn các em học thật giỏi, chăm ngoan để trở thành người có ích cho Tổ quốc. Vì vậy các em phải chăm học, ngoan ngoãn”. Lời nói của thầy hiệu trưởng vừa dứt, một tràng pháo tay nổi lên. Chúng em ai cũng tự nhủ lòng cố gắng chăm ngoan để khỏi phụ lòng mong mỏi của các thầy cô. Cuối cùng thầy Dũng đọc danh sách những bạn đạt thành tích tốt trong đợt thi đua lập thành tích chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam. Em rất sung sướng vì trong danh sách ấy có tên em. Một bạn ngồi bên cạnh em reo to: – Khánh ơi! Có tên bạn đấy, sướng nhé! Tim em đập rộn lên. Sân trường tràn ngập tiếng cười. Em như thấy các thầy cô nhìn mình trìu mến hơn. Hình như hàng cây xanh ở sân trường cũng như chia niềm vui lớn đó với em và các bạn. Kết thúc buổi lễ là chương trình biểu diễn văn nghệ của các lớp. Những lời ca tiếng hát âm vang trong sáng. Các bạn em như muốn gửi vào lời ca tiếng hát lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với thầy cô. Những điệu múa của các bạn thể hiện rất điêu luyện. Lúc thì như một vườn hoa rực rỡ, lúc thì như những cánh bướm rập rờn đem đến cho người xem một cảm giác thú vị. Đặc sắc nhất là tiết mục lắc vòng của lớp 8 Văn. Những chiếc vòng dưới sự điều khiển khéo léo của các anh, các chị ngoan ngoãn xoay quanh từng người. Tài tình hơn nữa là các chị đứng chồng lên nhau và chuyền cho nhau những chiếc vòng trông như là những diễn viên xiếc thực thụ. Xem tiết mục này ai cũng tấm tắc.
Trường em đã tổ chức ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Em hãy kể lại buổi lễ ấy
644
Trần thuật sáng tạo truyền thuyết Thánh Gióng Hướng dẫn Những bài văn mẫu hay lớp 6 Văn mẫu lớp 6: Trần thuật sáng tạo truyền thuyết Thánh Gióng gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo. Đề bài: Trần thuật sáng tạo truyền thuyết Thánh Gióng Đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng bên tả ngạn sông Cái (sông Hồng ngày nay) có một người đàn bà nghèo khổ, cô đơn. Sau một đêm mưa to gió lớn, bà ra đồng hái cà. Bà vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy trên luống cà cỏ một lốt chân người rất to, bà bèn đưa chân ướm thử. Kì lạ thay, bà thụ thai, sau đúng một năm trời, bà sinh ra một đứa con trai kháu khỉnh. Nhưng bà rất buồn vì đứa con đã lên ba mà chẳng biết nói, biết cười. Bấy giờ nước ta bị giặc Ân từ phương Bắc kéo sang xâm lược. Lũ giặc tham lam tàn bạo, ra sức hoành hành. Chúng giết người, cướp của, đốt phá tan hoang. Khói lửa mịt mù sông núi. Thế giặc mạnh lắm. Vua Hùng vô cùng lo sợ, sai sứ giả đi khắp mọi nơi tìm người hiền tài ra đánh giặc để cứu dân, cứu nước. Sáng tinh mơ, chú bé làng Gióng lắng tai nghe tiếng rao của sứ giả. Lần đầu chú cất tiếng gọi mẹ. Mẹ hiền cảm động, tay run run ôm con vào lòng, nước mắt ứa ra khi nghe con nói: “Mẹ ơi! Xin mẹ cho con được gặp người của nhà vua”. Sứ giả vào nhà, em bé bảo: “Nhà ngươi hãy về tâu với Đức vua đúc cho ta một con ngựa sắt, rèn cho ta một chiếc roi sắt, một áo giáp sắt, ta sẽ đánh tan lũ giặc này”. Từ đó Gióng lớn nhanh như thổi. Cơm ăn bao nhiêu cũng chẳng no. Áo vừa may, mặc đã chật. Dân làng nô nức đem cơm gạo và vải vóc để nuôi chú. Gióng càng lớn càng tuấn tú, đôi mắt sáng như sao, tiếng nói vang như sấm. Gióng là người Trời: ”Ăn bảy nong cơm, ba nong cà. Uống một hớp nước cạn đà khúc sông”. Giặc đã tràn tới chân núi Trâu Sơn. Cả một vùng quê náo động. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé làng Gióng vô cùng mừng rỡ, vươn vai một cái bỗng trở thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt. Gióng mặc áo giáp, tay cầm roi sắt, cúi đầu lạy tạ mẹ hiền và dân làng rồi nhảy lên mình ngựa sắt. Ngựa hí vang trời, phun lửa phóng lên như bay. Gióng phingựa xông thẳng vào lũ giặc, vung roi sắt giết giặc. Xác giặc ngổn ngang trên bãi chiến trường. Gióng xông đến đâu, giặc tan đến đấy. Cuộc chiến đang diễn ra dữ dội và ác liệt thì bỗng roi sắt bị gãy. Gióng bình tĩnh nhổ tre làm vũ khí quật vào lũ giặc. Giặc chết như ngả rạ. Tướng giặc bạt vía kinh hồn, gục ngã: “Đứa thì sứt mũi, sứt tai, Đứa thì chết nhóc bởi gai tre ngà”. Giặc Ân thảm bại. Thánh Gióng phi ngựa truy kích giặc Ân đến tận chân núi Sóc Sơn. Giặc tan,ThánhGióng cởi áo giáp sắt mắc lên cành cây, ngoái nhìn lại quê mẹ lần cuối, rồi cùng ngựa sắt bay lên trời biến mất. Vua Hùng sai lập đền thờ và phong người anh hùng làng Gióng là Phù Đổng Thiên Vương để đời đời ghi nhớ công ơn. Hiện nay, tre đằng ngà, làng Cháy, những ao đầm – dấu chân ngựa sắt… ở huyện Gia Bình thuộc tỉnh Bắc Ninh là những dấu tích thiêng liêng trong chiến trận mà Thánh Gióng còn để lại. Đã hàng ngàn năm nay, hội Gióng là một lễ hội tưng bừng ở nước ta.
Trần thuật sáng tạo truyền thuyết Thánh Gióng
678
Trận mưa lụt vừa qua làm vỡ đê thật là khủng khiếp. Em hãy kể lại sự việc đó. Đài vừa báo bão xong thì cơn bão số sáu cũng ập đến. Bầu trời mưa gió quay cuồng, gào rít. Bà con trong xóm nháo nhác chuẩn bị đủ thứ chống bão. Nào gậy gộc, tre nứa, nào cuốc xẻng loãng xoảng va vào nhau. Từng cơn gió lốc kéo đến, sấm chớp ầm ầm rung chuyển cả bầu trời. Cây cối nghiêng ngả. Gió thổi rất mạnh rồi mưa ập đến nhanh như chớp. Mưa ào ào như thác. Trận này chưa qua trận khác đã kéo đến, xối xả ngày càng mạnh. Tương chừng bao nhiêu nước ở sông biến, ông trời đầu hút lên rồi đỗ cả xuống đây. Cây cối vặn mình răng rắc trong mưa. Nhìn ra xa chỉ một màn trắng xóa. Mưa to quá, nước lênh láng ngập hết đồng ruộng, con đường làng cũng nhòa đi trong mưa. Suốt mấy ngày, mưa sẫm sập, hết trận này đến trận khác. Nước sông dâng lên nhanh đỏ ngầu, sôi sục, nước xiết quá khiến con đê trở nên mong manh như sắp vỡ ra thành từng mảnh vụn Thanh niện trai tráng trong làng được huy đọng ra để giữ đê Tiếng gọi, tiếng loa ồn ã cả một khúc sông. Hàng trăm, hàng nghìn người vác bao đất, tre, cọc ra chắn bờ đê lại. Nhưng mưa mỗi ngày một to hơn, làm sự cố gắng của bà con cũng vô ích. Đê vỡ. Nước tràn ngập vào vườn, vào sân rất nhiều nhà. Mọi người vội đưa trâu bò lợn gà lên trên nóc. Nước ngập khắp xóm làng. Cả làng tôi bị chìm ngập trong nước. Đứng trên nóc nhà nhìn ra, cả một vùng mênh mỏng như biển vậy. Khủng khiêp quả! Những thân cây chuối, cây phi lao bị bật gốc trôi lênh bềnh. Mãi bốn năm ngày sau, máy bay tiếp tế mới tới, nước cũng rút dân. Cơn bão qua đi, bà con tập trung sửa chữa lại đê điều Cả làng xóm tiêu điều, xơ xác hẳn. Nước cuốn đi vô số của cải của mọi người. Thủy thần cũng chăng trừ nhà tôi, cây chuối, cây na gây tan tành, các cây hoa màu khác cũng bị thổi hết. Quả thật chưa có trận mưa bão nào tai hại đến thế trong vòng năm mươi năm qua. Các cụ bảo thế
Trận mưa lụt vừa qua làm vỡ đê thật là khủng khiếp. Em hãy kể lại sự việc đó.
415
Trận mưa lụt vừa qua làm vỡ đê thật là khủng khiếp. Em hãy kể lại sự việc đó Bài làm Đài vừa báo bão xong thì cơn bão số sáu cũng ập đến. Bầu trời mưa gió quay cuồng, gào rít. Bà con trong xóm nháo nhác chuẩn bị đủ thứ chống bão. Nào gậy gộc, tre nứa, nào cuốc xẻng loãng xoảng va vào nhau. Từng cơn gió lốc kéo đến, sấm chớp ầm ầm rung chuyển cả bầu trời. Cây cối nghiêng ngả. Gió thổi rất mạnh rồi mưa ập đến nhanh như chớp. Mưa ào ào như thác. Trận này chưa qua trận khác đã kéo đến, xối xả ngày càng mạnh. Tương chừng bao nhiêu nước ở sông biến, ông trời đầu hút lên rồi đỗ cả xuống đây. Cây cối vặn mình răng rắc trong mưa. Nhìn ra xa chỉ một màn trắng xóa. Mưa to quá, nước lênh láng ngập hết đồng ruộng, con đường làng cũng nhòa đi trong mưa. Suốt mấy ngày, mưa sẫm sập, hết trận này đến trận khác. Nước sông dâng lên nhanh đỏ ngầu, sôi sục, nước xiết quá khiến con đê trở nên mong manh như sắp vỡ ra thành từng mảnh vụn Thanh niện trai tráng trong làng được huy đọng ra để giữ đê Tiếng gọi, tiếng loa ồn ã cả một khúc sông. Hàng trăm, hàng nghìn người vác bao đất, tre, cọc ra chắn bờ đê lại. Nhưng mưa mỗi ngày một to hơn, làm sự cố gắng của bà con cũng vô ích. Đê vỡ. Nước tràn ngập vào vườn, vào sân rất nhiều nhà. Mọi người vội đưa trâu bò lợn gà lên trên nóc. Nước ngập khắp xóm làng. Cả làng tôi bị chìm ngập trong nước. Đứng trên nóc nhà nhìn ra, cả một vùng mênh mỏng như biển vậy. Khủng khiêp quả! Những thân cây chuối, cây phi lao bị bật gốc trôi lênh bềnh. Mãi bốn năm ngày sau, máy bay tiếp tế mới tới, nước cũng rút dân. Cơn bão qua đi, bà con tập trung sửa chữa lại đê điều Cả làng xóm tiêu điều, xơ xác hẳn. Nước cuốn đi vô số của cải của mọi người. Thủy thần cũng chăng trừ nhà tôi, cây chuối, cây na gây tan tành, các cây hoa màu khác cũng bị thổi hết. Quả thật chưa có trận mưa bão nào tai hại đến thế trong vòng năm mươi năm qua. Các cụ bảo thế Cơn bão khủng khiếp đã qua đi hơn sáu tháng nhưng cho đến bây giờ tác hại của nó vẫn còn ảnh hưởng đến mùa màng và cuộc sống của người dân quê tôi.
Trận mưa lụt vừa qua làm vỡ đê thật là khủng khiếp. Em hãy kể lại sự việc đó
449
Trời trao gươm báu – việc lớn thành công, Truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Trời trao gươm báu – việc lớn thành công Tìm hiểu, suy ngẫm về chùm truyền thuyết cổ xưa xuất hiện trong thời đại các vua Hùng dựng nước như Con Rồng cháu Tiên ; Thánh Gióng ; Sơn Tinh, Thuỷ Tinh,… chúng ta thấy các nhân vật và sự kiên lịch sử đã được nhào nặn, kì ảo hoá, lí tưởng hoá khiến cho chất thực mờ đi, chất mộng mơ, lãng mạn, tưởng tượng hiện rõ. Tiếp sau các truyền thuyết đẫm chất mộng, chất thơ ấy, tổ tiên chúng ta sáng tác nhiều truyền thuyết tiêu biểu mang nhiều yếu tố sự thật lịch sử hơn. Một trong những tác phẩm tiêu biểu có cốt lõi lịch sử nổi bật là truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm. Đây là loại truyền thuyết vừa giải thích nguồn gốc một địa danh vừa tôn vinh những danh nhân, những anh hùng nổi bật trong lịch sử có công với dân, với nước. Sự tích Hồ Gươm là một trong hàng trăm sáng tác dân gian vể Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn, thế kỷ XV. Tuy tác phẩm mang cốt lõi lịch sử nổi bật, nhưng vẫn có những chi tiết kì ảo, tưởng tượng đặc sắc, toát ra nhiều ý nghĩa. Đọng lại trong suy ngẫm và cảm xúc của người kể, người nghe truyền thuyết này là hình ảnh thanh kiếm “Thuận Thiên”. Nói khác đi, đây là câu chuyện “Trời trao gươm báu, việc lớn ắt thành công”. 1. Vì sao đức Long Quân cho mượn gươm? Qua truyền thuyết, chúng ta hiểu rằng: Lúc bấy giờ giặc Minh đô hộ nước ta, làm nhiều điều bạo ngược, nhân dân ta: trời đất và lòng người – căm giận chúng đến tận xương tuỷ. Ở vùng Lam Sơn, Lê Lợi đã tập hợp những người dân có nghĩa khí nổi dậy chống giặc. Những ngày đầu, nghĩa quân lực yếu, lương thảo ít, thanh thế chưa cao, nhiều lần bị thua trận. Đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần để giết giặc. Như vậy, trời đã thấu hiểu việc đời, lòng dân. Việc làm của nghĩa quân Lam Sơn hợp ý trời, được tổ tiên, thần linh ủng hộ, giúp đỡ. Nhưng cách ủng hộ, giúp đỡ ấy không đơn giản, dễ dàng mà nhiều thử thách, đòi hỏi con người phải thông minh, phải giàu bản lĩnh và có quyết tâm cao. 2. Cách Long Quân cho mượn gươm, Lê Lợi nhận gươm và tổ chức chiến đấu như thế nào? a) Từ trong lòng nước, lưỡi gươm đến tay người dân. Chàng Lê Thận đánh cá, ba lần quăng chài thả lưới, kéo lưới vẫn chỉ thấy thanh sắt lạ “chui vào lưới mình”. Đưa thanh sắt cạnh mồi lửa, chàng nhận ra một lưỡi gươm. Vậy là, người dân bình thường ấy đã được sông nước tặng vũ khí, thôi thúc chàng lên đường tham gia nghĩa quân. Nhưng “lưỡi gươm” kia vẫn ngủ im. Kể cả lúc chủ tướng Lê Lợi cầm lên xem, thấy hai chữ “Thuận Thiên” khắc sâu vào lưỡi gươm, mọi người vẫn không biết đó là báu vật. “Thuận Thiên” nghĩa là “hợp lòng trời, thuận với ý trời”. Có thể Lê Lợi hiểu nghĩa của hai chữ đó, nhưng chưa thấu tỏ được ý thiêng, thâm thuý của thần linh. Đây cũng là một câu đố, một thử thách, đòi hỏi trí thông minh, sự sáng tạo của con người. Trong các truyền thuyết trước, đã xuất hiện những “bài toán”, câu đố. Đến truyện này, câu đố hiện lên ở một vật thiêng bằng chữ thánh hiền khiến cho cả nhân vật trong truyện và người đọc chúng ta băn khoăn, hồi hộp. Câu đố tiếp tục xuất hiện, thần linh tiếp tục thử thách. Lần này sự thử thách không đến với dân mà hiện ra trước mắt. người chủ tướng. Trên đường lui quân, Lê Lợi bỗng thấy “có ánh sáng lạ trên ngọn cây đa… trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ đến lưỡi gươm ở nhà Lê Thận…”. ít ngày sau “khi đem tra gươm vào chuôi thì vừa như in”. Như vậy là trải qua một quá trình thử thách, thần linh đã phát hiện được người đủ tài đủ đức, có trí sáng, lòng thành để trao gươm báu. Ta thử ví dụ, sau khi vớt được thanh sắt – lưỡi gươm, chàng ngư dân Lê Thận không gia nhập nghĩa quân, không chiến đấu dũng cảm để được Lê Lợi quý mến, gần gũi và chủ tướng Lê Lợi khi nhìn thấy cái chuôi gươm nạm ngọc không nhớ tới lưỡi gươm nhà Lê Thận… thì sự việc sẽ ra sao? Có thể nói, từ trong lòng nước, lưỡi gươm vào tay người dân rồi từ trên rừng sâu, núi cao, chuôi gươm thôi thúc chủ tướng để hoàn thiện một thanh gươm, để hoà hợp ý trời và lòng dân, dũng khí của quân và trí sáng của tướng, hoà hợp lực lượng miền xuôi, sông nước và lực lượng người dân miền núi, rừng già. Điều này gợi nhớ lời dặn xưa của bố Rồng, mẹ Tiên “kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ nhau, đừng quên lời hẹn…”. Trời thử lòng trao cho mệnh lớn Ta gắng chí khắc phục gian nan Sau này, trong bản hùng văn Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã thâu tóm sự việc trời trao gươm, dân gửi niềm tin và ý chí, quyết tâm đánh giặc của Lê Lợi bằng hai câu văn đặc sắc như thế. Không rõ truyền thuyết Long Quân cho Lê Lợi mượn gươm có trước, hay bài hùng văn của Nguyễn Trãi có trước? Điều chắc chắn rằng, đối với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nói chung, cá nhân Lê Lợi nói riêng, nhân dân ta đã tôn vinh bằng những hình ảnh, chi tiết, sự việc, lời văn đẹp nhất. Đánh một trận sạch không kình ngạc Đánh hai trận tan tác chim muông Cơn gió to trút sạch lá khô Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ… (Bình Ngô đại cáo) Đúng là “Trời trao gươm báu, việc lớn ắt thành công”! 3. Việc lớn thành công rồi, gươm thần trả lại Long Quân như thế nào? Việc ấy có ý nghĩa gì? Hoàn cảnh diễn ra việc trả gươm khá đặc biệt. Đất nước thanh bình, nhân dân sống yên vui, vua và quần thần được tạm nghỉ ngơi, dạo mát, ngắm cảnh trên mặt hồ, cái lẵng hoa xanh mát, con mắt ngọc long lanh giữa kinh thành. Hồ có tên là Tả Vọng, có lẽ vì hổ nằm ở phía trái cung vua, nhìn về cung điện. Một cái tên bình thường không có gì đặc sắc. Điều đặc sắc là “Khi thuyền rồng tiến ra giữa hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi mặt nước”. Trong khi đó lưỡi gươm thần đeo bên người, đức vua “tự nhiên động đậy…”. Và Rùa nói được tiếng người: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân! Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng… Rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước…”. Việc trả gươm diễn ra mau chóng, toàn là những chi tiết kì ảo, vừa như có thật, lại vừa như không thật, vừa là chuyện con người lại vừa là chuyện của thần thánh. Nghe chuyện và tưởng tượng, chúng ta không khỏi bàng hoàng, suy ngẫm. Vậy việc trả gươm trên hồ Tả Vọng, sau được đổi thành Hồ Gươm, hồ Hoàn Kiếm có ý nghĩa gì? Trước hết việc ấy phản ánh tư tưởng, tình cảm yêu hoà bình của dân tộc ta. Khi có giặc ngoại xâm, cả thần lẫn người, tổ tiên và con cháu hợp sức vung gươm đánh giặc, khi đất nước thanh bình, chúng ta “treo gươm”, “cất gươm”, “trả gươm” về chốn cũ. Việc ấy cũng có nghĩa là: chúng ta “trả gươm” cho thần thánh, nhờ giữ hộ để “gươm” tạm nghỉ ngơi hoá thân vào khí thiêng non nước. Bọn giặc hãy coi chừng! Hồ Tả Vọng, bên cạnh hoàng cung, nay có tên Ịà “Hoàn Kiếm” sẽ lưu giữ thanh gươm “Thuận Thiên” giữa lòng Tổ quốc, mãi mãi lưu giữ chiến công của nghĩa quân Lam Sơn, thường xuyên nhắc nhở nhân dân nhớ ơn người xưa và cảnh giác trước kẻ thù xâm lược. Tên hồ và “ánh sáng le lói dưới mặt hồ xanh” như trong truyền thuyết kể muôn đời toả sáng các ý nghĩa đó.
Trời trao gươm báu – việc lớn thành công , Truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm Ngữ Văn 6
1,465
Trời đang nắng bỗng đổ trận mưa rào. Em hãy tả cảnh đó ở nơi em ở Gợi ý Cả tuần nay, trời trở nên nóng bức khác thường. Mọi người đều đổ xô ra ngoài hiên nhà trên tay cầm chiếc quạt phe phẩy. Người nào người nấy đều uể oải, mồ hôi nhễ nhại. Cây cối đứng im thẫn thờ ủ rũ… Ai cũng than vắn thở dài mong chờ một trận mưa thật lớn. Bỗng mây đen từ đâu ùn ùn kéo đến bao phủ cả bầu trời. Không mấy chôc trời đang sáng giờ đây tốì hẳn lại và sức nóng cũng dịu bớt. Rồi gió bắt đầu nổi dậy, lúc đầu còn nhẹ sau mạnh dần mang theo khí mát lạnh. Sức gió làm các cành cây chao đảo, bụi đường tung bay mù mịt. Các mái nhà lợp tôn lâu năm bị bung đinh vít đập vào nhau ầm ầm. Khách đi đường tăng tốc độ xe hi vọng về đến nhà sớm hơn. Người bộ hành cũng rảo bước nhanh. Nhà nhà đều khép cửa lại để tránh gió. Ai cũng dự đoán sẽ có một trận mưa thật to. Đường phố cũng dần dần vắng khách, lác đác một vài chiếc xe chở hàng về muộn đang ì ạch chống lại với sức gió. Rồi từ mái nhà vang lên những tiếng “lộp độp” thật mạnh. Những hạt mưa đầu mùa nặng và thưa bắt đầu rơi xuống. Chỉ vài giây sau, một trận mưa rào ào ào ập tới thật nhanh khiến cho mọi người chuẩn bị dọn dẹp chưa kịp phải hối hả chạy tất bật. Nước từ lưng chừng trời tuôn xối xả như trút cơn giận dữ xuống mặt đường. Các giọt nước đan vào nhau tạo thành một bức màn trắng xóa. Trước kia nóng bức khô khan bao nhiêu thì giờ đây mát mẻ và nơi nào cũng đầy ắp nước. Khách đi đường lỡ bước vội nép vào mái hiên nhà ở hai bên phố để trú mưa. Thỉnh thoảng vài chiếc xe hơi lao nhanh làm tung tóe nước. Nước cuồn cuộn chảy về phía có cống rãnh đục ngầu mang theo rác rêu. Từ trong nhà, các em nhỏ chạy ùa ra sân để tắm mưa. Chúng đùa giỡn la hét, đuổi bắt nhau dưới cơn mưa lấy làm thích lắm. Trên bầu trời một lằn chớp ngoằn ngoèo chợt sáng lóe lên tiếp theo là một tiếng sấm vang rền cả không gian. Mưa vẫn sầm sập trút nước xuống mái nhà, trên đường phố… Được một lúc lâu, mưa dần dần ngớt hạt… Bầu trời cũng sáng ra. Mưa bắt đầu tạnh. Xe cộ lưu thông trở lại, nhà nhà mở cửa. Trời trong sáng mát rượi. Bụi bậm trên các cành lá như được tắm gội sạch sẽ nên giờ đây cây nào cũng sáng đẹp hẳn ra. Mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Cơn mưa đầu mùa thật to mang lại cho mọi người một niềm vui khoan khoái. Sau những ngày nóng bức khó chịu gần như ngạt thở, giờ đây không khí trở nên mát mẻ, vạn vật như được hồi sinh. Nước mưa sẽ tiếp sức cho ruộng đồng, cho cây lúa được xanh tươi… Vài cánh chim bay ngang trời và vừng thái dương cũng bắt đầu lộ diện ló ra những tia sáng chói lọi len qua những cành cây kẽ lá còn đọng đầy nước. Tất cả những hòa chung niềm vui với mọi người.
Trời đang nắng bỗng đổ trận mưa rào. Em hãy tả cảnh đó ở nơi em ở
586
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 10 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 10) A. ĐỀ THI Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: Xin cảm ơn buổi sớm mai thức dậy Ta có thêm một ngày mới để yêu thương Xin mang ơn những buổi hoàng hôn vương Ta có được bữa cơm gia đình hạnh phúc Xin biết ơn giấc mộng đầy cảm xúc Ta có thể rèn tâm thức được bình yên Nếu một mai ra đi trong an nhiên Ta sẽ mỉm cười với lòng cảm kích. (Lòng biết ơn, Tú Yên) Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên. (0,5 điểm) Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên. (0,5 điểm) Câu 3. Chỉ ra hiệu quả nghệ thuật của phép điệp cấu trúc câu trong những câu thơ sau: “Xin cảm ơn buổi sớm mai thức dậy… Xin mang ơn những buổi hoàng hôn vương… Xin biết ơn giấc mộng đầy cảm xúc”. (1 điểm) Câu 4. Tại sao nhà thơ lại viết: Xin cảm ơn buổi sớm mai thức dậy Ta có thêm một ngày mới để yêu thương. (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Hãy viết một đoạn văn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về thông điệp được nêu trong văn bản ở phần đọc hiểu: Lòng biết ơn. Câu 2. (5 điểm) Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh thể hiện một tình yêu vừa có nét truyền thống như tình yêu muôn đời lại vừa in đậm nét hiện đại. Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua đoạn thơ sau: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh – một phương Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI I. ĐOC HIỂU (3 ĐIỂM) Câu 1. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. (0,5 điểm) Câu 2. Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm. (0,5 điểm) Câu 4. Câu thơ: Xin cảm ơn buổi sớm mai thức dậy Ta có thêm một ngày môi để yêu thương. thể hiện lẽ sống của tác giả: sống là để yêu thương, mỗi ngày mới thức dậy ta đều thấy biết ơn cuộc đời bởi mình vẫn sống bình yên, khoẻ mạnh để có thể đón nhận và chia sẻ yêu thương với mọi người. Đó là lẽ sống cao đẹp đáng trân trọng và học tập. (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIẾM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Lòng biết ơn là gì? Vai trò của lòng biết ơn? – Biểu hiện của lòng biết ơn. – Phê phán những kẻ vô ơn, bạc nghĩa. Đoạn văn mẫu: Lòng biết ơn là thái độ sống quan trọng và cần thiết đối với mỗi người. Biết ơn là ghi nhớ công lao của những người đã giúp đỡ mình hay đơn giản hơn là đem lại cho mình cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Làm sao ta có thể quên ơn cha mẹ đã ban cho ta cuộc sống, thầy cô đã dạy dỗ ta khôn lớn trưởng thành. Làm sao ta có thể quên công lao các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống để cho ta có cuộc sống hoà bình như ngày hôm nay. Làm sao ta có thể không ghi nhớ vẻ đẹp của một tia nắng ấm áp, một giọt sương trong lành… Bởi tất cả đã mang đến cho ta một buổi bình minh tươi đẹp… Lòng biết ơn là biểu hiện của đạo lí truyền thống uống nước nhớ nguồn cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện nay, có không ít người sống vô ơn bạc nghĩa. Thái độ vô ơn ấy thật đáng phê phán. Là thế hệ tương lai của đất nước, chúng ta cần giữ gìn và phát huy lòng biết ơn – một trong những truyền thống đạo lí tốt đẹp của con người Việt Nam. Câu 2. (5 điểm) – Viết đúng kết cấu bài văn ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung: Bài viết cần đảm bảo các ý sau: a) Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn thơ cấn phân tích, nếu ý kiến trích dẫn. Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca. Trong vườn thơ tình mênh mông không biên giới ấy, mỗi nhà thơ có một tiếng nói riêng, khi nồng nàn mãnh liệt như Xuân Diệu; khi sâu lắng đầy triết lí như Chế Lan Viên; khi “đau thương” đến tuyệt vọng như Hàn Mặc Tử… Giữa muôn sắc hương ấy, người đọc vẫn không thể nào quên Sóng của Xuân Quỳnh, một bông hoa xinh xắn “nở dọc chiến hào”. Bài thơ là tiếng lòng của người phụ nữ trong tình yêu, vừa hồn nhiên trong sáng lại vừa sâu sắc ý nhị; vừa có nét truyền thống như tình yêu muôn đời lại vừa in đậm nét hiện đại, tiêu biểu là đoạn thơ sau: “Con sóng dưới lòng sâu… Dù muôn vời cách trở.” b) Thân bài 1. Giải thích Tình yêu có nét truyền thống là tình yêu mang tâm lí của người phụ nữ Việt Nam xưa, dịu dàng, nữ tính, thuỷ chung trong tình yêu. Tình yêu có nét hiện đại là tình yêu mang tâm lí của người phụ nữ Việt Nam hôm nay, dám biểu lộ cảm xúc cá nhân một cách mạnh mẽ, sôi nổi. 2. Chứng minh – Tình yêu mang nét hiện đại Xuân Quỳnh không giấu giếm lòng mình, không ngần ngại bày tỏ tình cảm của mình một cách chân thành, thẳng thắn: “Con sóng dưới lòng sâu… Cả trong mơ còn thức”. Sóng nổi hay chìm, sóng ngày hay đêm, sóng cồn cào khuấy động lòng đại dương là bởi sóng nhớ bờ khôn nguôi. Nỗi nhớ của sóng tưởng đã mãnh liệt nhưng nỗi nhớ của em còn mãnh liệt hơn sóng. Sóng chỉ nhớ bờ trong cõi thực còn em nhớ anh cả trong cõi mơ. Giấc mơ là chiều sâu khôn cùng của nỗi nhớ, chỉ có những ai yêu say đắm mới có thể chia sẻ cùng nữ sĩ nỗi nhớ cồn cào cháy bỏng đến thế. Nếu ca dao xưa mượn hình ảnh ngọn lửa “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa, như ngồi đống than” để diễn tả nỗi nhớ thì Xuân Quỳnh lại mượn hình ảnh sóng nước để diễn tả một nỗi nhớ vừa có chiều sâu, lại vừa có độ dài rộng mênh mông, bao trùm cả cõi thực lẫn cõi mộng, ý thức lẫn vô thức. Nếu người con gái trong ca dao xưa phải mượn hình ảnh khăn, đèn, mắt để diễn tả lòng mình: “Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất… Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt… Mắt thương nhớ ai/ Mắt ngủ không yên” thì Xuân Quỳnh đã trực tiếp bày tỏ tình yêu của mình: “Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức”. Đó là biểu hiện của một tình yêu mang nét hiện đại. Một trong những phẩm chất truyền thống cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam là lòng thuỷ chung, son sắt. Mượn hình ảnh trăm ngàn con sóng, dù trải qua bao cách trở vẫn hướng về bờ, Xuân Quỳnh đã khẳng định tấm lòng thuỷ chung, son sắt đến tuyệt đối của người con gái trong tình yêu. Dù đất trời có thay đổi biến thiên, xuôi thành ngược, Bắc thành Nam thì trái tim người con gái đang yêu như một chiếc la bàn đặc biệt vẫn chỉ hướng vể một phương duy nhất: phương anh. 3. Về nghệ thuật: Thể thơ năm chữ, ngôn ngữ thơ trong sáng, tự nhiên, các phép điệp từ, điệp ngữ hô ứng đăng đối, nhịp nhàng… c) Kết bài Khái quát nội dung nghệ thuật chung, đoạn thơ thể hiện một tình yêu vừa có nét truyền thống lại vừa có nét hiện đại, tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 10
1,397
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 11 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 11) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: RỄ Rễ lầm lũi trong đất Không phải để biết đất mấy tầng sâu Rễ lam lũ cực nhọc và đen đúa Vì tầm cao trên đầu Khi cây chưa chạm tới mây biếc chưa là nơi ca hát của những loài chim thì dẫu phải xuyên qua bao tầng đất đá Rễ vẫn xuyên tìm Có thể ai đó đã nghe lá hát Đã nghe từ hoa, từ quả mùi hương Nhưng với cây, bài ca đích thực Là từ rễ cất lên. (Rễ, Nguyễn Minh Khiêm) Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên. (0,5 điểm) Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên. (0,5 điểm) Câu 3. Trong văn bản trên có sử dụng nhiều hình ảnh tương phản giữa rễ và những bộ phận còn lại của cây như hoa, quả, lá. Hãy chỉ ra và phân tích hiệu quả của sự tương phản ấy. (1 điểm) Câu 4. Vì sao tác giả lại viết: Khi cây chưa chạm tới mây biếc chưa là nơi ca hát của những loài chim thì dẫu phải xuyên qua bao tầng đất đá Rễ vẫn xuyên tìm… (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Hãy viết một đoạn văn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về thông điệp được nêu trong văn bản ở phần Đọc hiểu: Có thể ai đó đã nghe lá hát Đã nghe từ hoa, từ quả mùi hương Nhưng với cấy, bài ca đích thực Là từ rễ cất lên. Câu 2. (5 điểm) Phân tích hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỀM) Câu 1. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. (0,5 điểm) Câu 2. Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm. (0,5 điểm) Câu 3. Trong văn bản trên, tác giả đã sử dụng những hình ảnh tương phản giữa rễ và những bộ phận của cây như hoa, lá: Rễ “lâm lũi trong đất, rễ lam lũ cực nhọc và đen đúa” đối lập với “lá hát, hoa, quả, mùi hương”. (0,25 điểm) Tác dụng của phép tương phản: nhấn mạnh sự vất vả lam lũ, cực nhọc của rễ để làm nên những mùa màng cây trái bội thu; thể hiện thái độ trân trọng biết ơn đối với công lao của rễ, làm tăng tính gợi hình biểu cảm của bài thơ. (0,75 điểm) Câu 4. Khi cây chưa chạm tới mây biếc chưa là nơi ca hát của những loài chim thì dẫu phải xuyên qua bao tầng đất đá Rễ vẫn xuyên tìm… Đoạn thơ thể hiện khát vọng mãnh liệt của rễ muốn đưa cây vươn tới những tâm cao, cho dù có phải trải qua bao vất vả gian truân. Với khát vọng lớn lao ấy nên dầu phải trải qua bao tầng đất đá rắn chắc, rễ vẫn xuyên tìm. Qua đó, tác giả đã gửi gắm thông điệp về lòng biết ơn với công lao của rễ, rễ đã lam lũ, cực nhọc để chắt chiu màu mỡ cho cây trổ lá đâm cành, ra hoa kết trái, vươn tới tận mây biếc, là nơi ca hát của các loài chim. (1 điểm) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Lá hát, hoa quả, mùi hương là những thành quả ngọt ngào, còn rễ là biểu tượng của quá trình gian lao vất vả để làm nên thành quả đó; cũng có thể hiểu hoa, quả, lá là ẩn dụ cho người đạt được thành công trong cuộc sống, còn rễ là hình ảnh ẩn dụ cho những người âm thầm đứng đằng sau để làm nên thành công cho người khác. – Đoạn thơ thể hiện niềm trân trọng biết ơn đối với những con người bé nhỏ thẩm lặng, đã trải qua bao gian lao để làm nên thành công cho người khác. – Phê phán những người chỉ chú trọng đến thành quả đẹp đẽ ở bề ngoài mà không biết trân trọng quá trình vất vả làm nên thành quả ấy. Đoạn văn mẫu Mỗi chúng ta khi ngắm nhìn một cái cây, đều chỉ chú ý đến vẻ đẹp của lá, màu sắc rực rỡ của hoa và mùi hương ngọt ngào của quả chín. Nhưng với cây bài ca đích thực, vẻ đẹp chủ yếu của cây lại là từ rễ cất lên. Hình ảnh lá, hoa, quả là ẩn dụ cho những thành quả ngọt ngào, còn rễ là biểu tượng cho quá trình vất vả gian lao để làm nên thành quả đó. Hãy biết tự hào và trân trọng những thành quả mình đạt được, nhưng cần biết trân trọng hơn quá trình khó nhọc để làm nên thành quả ấy. Hãy ngắm nhìn đường phố sạch sẽ vào buổi sớm bình minh nhưng đừng quên công lao của những người lao công đã âm thầm quét rác hàng đêm. Nhưng thực tế trong cuộc sống hôm nay, không ít kẻ chỉ biết đến thành công của bản thân còn không để ý đến những người âm thầm đứng sau hỗ trợ. Đó là thái độ sống vô ơn, ích kỉ. Chúng ta cẩn luôn trân trọng và biết ơn những người đứng phía sau mỗi thành công, âm thầm làm nên vòng hào quang chiến thắng cho người khác. Câu 2. (5 điểm) – Viết đúng kết cấu bài văn gồm ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Bài viết cần đảm bảo các ý sau: a) Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca. Thơ ca là tiếng nói của trái tim, của tình cảm, cảm xúc mãnh liệt. Không có tình cảm, cảm xúc thì không thể làm thơ và càng không có thơ hay. Có lẽ vì thế mà chi trong một giây phút xuất thần, nhà thơ Thanh Thảo đã viết nên bài thơ Đàn ghi ta của Lorca như một nén tâm hương dành cho người nghệ sĩ tài năng có số phận oan khuất mà ông vộ cùng ngưỡng mộ – Garcia Lorca. Một trong những hình tượng chủ đạo xuyên suốt bài thơ là hình tượng đàn ghi ta – ẩn dụ cho cuộc đời, số phận và nghệ thuật Lorca: “Những tiếng đàn bọt nước… li la li la li la”. b) Thân bài 1. Giới thiệu chung về hình tượng tiếng đàn Hình tượng quen thuộc trong văn học từ tiếng đàn tì bà trong Tì bà hành của Bạch Cư Dị, cho đến tiếng đàn “trong như tiếng hạc bay qua, đục như nước suối mới sa nửa vời” của nàng Kiều trong Truyện Kiều (Nguyễn Du)… Trong bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca, tiếng đàn là một hình tượng chủ đạo xuyên suốt bài thơ, là ẩn dụ cho cuộc đời, số phận và nghệ thuật của Lorca. 2. Phân tích – Tiếng đàn ẩn dụ cho nghệ thuật Lorca “Những tiếng đàn bọt nước/ li la li la…” Hình ảnh tiếng đàn bọt nước tượng trưng cho nghệ thuật Lorca đẹp đẽ, trong sáng, mong manh dễ bị huỷ diệt nhưng lại có sức sống thật mãnh liệt, giống như bọt nước kia tan rồi lại hiện, mất rồi lại tái sinh. Điệp khúc “li la” vừa mô phỏng âm thanh tiếng đàn, vừa là tên của loài hoa li la (hay còn có tên gọi khác là hoa tử đinh hương) mênh mang sắc tím. – Tiếng đàn ẩn dụ cho cuộc đời, số phận Lorca “tiếng ghi ta nâu… tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy”. Tiếng ghi ta nâu, màu nâu của đất, của làn da cô gái Digan rám nắng, tiếng ghi ta lá xanh, màu xanh của bầu trời, của cỏ cây hoa lá vùng Địa Trung Hải… Tiếng đàn gieo sự sống, gieo tình yêu hạnh phúc, gieo khát vọng tự do bỗng đột ngột bị đứt ngang dây “tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan/tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy”. Khi Lorca bị bọn phát xít giết hại thì tiếng đàn đang thánh thót vang ngân, đang trong trẻo, vẹn tròn, cũng “vỡ tan”, thậm chí “ròng ròng máu chảy”. Tiếng đàn rỏ máu hay chính Lorca đang quằn quại đau đớn dưới những đòn roi tra tấn tàn bạo. Từ láy “ròng ròng” gợi tả những giọt máu đang rơi, gợi nhớ đến câu thơ Nguyễn Du khi xưa tả tiếng đàn Thuý Kiều trong tiệc rượu hầu Hồ Tôn Hiến: Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay. Thanh Thảo thể hiện sự sáng tạo hơn ở từ láy “ròng ròng”, ở cách ngắt đôi câu thơ làm hai vế: “tiếng ghi-ta/ ròng ròng máu chảy” khiến người đọc hình dung thật sâu sắc nỗi đau đớn khôn xiết của Lorca, khi đột ngột bị sát hại giữa tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất trong đời người. – Tiếng đàn bất tử như sự vĩnh hằng của cuộc đời và nghệ thuật Lorca “không ai chôn cất tiếng đàn/tiếng đàn như cỏ mọc hoang”; “Lorca bơi sang ngang/ trên chiếc ghi ta màu bạc” “li la li la”. Không ai có thể chôn cất nổi tiếng đàn Lorca, nghệ thuật Lorca. Lorca dù đã ra đi nhưng tên tuổi và nghệ thuật sẽ mãi mãi bất tử như cỏ mọc hoang có sức sống vĩnh hằng. Cùng với chiếc ghi-ta bạc – biến ảnh của ghi-ta nâu, ghi-ta lá xanh khi đi sang thế giới bên kia, Lorca sẽ sống mãi trong lòng nhân loại tiến bộ trên thế giới. 3. Về nghệ thuật Bài thơ có cấu tứ như một bản nhạc giao hưởng với khúc nhạc dạo đầu – cao trào – khúc buông – vĩ thanh. Điệp khúc “li la li la” mô phỏng cú vê ghi-ta lặp đi lặp lại. Điệp từ tiếng ghi-ta gợi những nốt nhạc trở đi trở lại trong một bản đàn, thể thơ tự do viết liền mạch không viết hoa, không dấu chấm câu gợi liên tưởng bài thơ như một suối nhạc miên man trải dài không có điểm dùng… Tất cả đã khiến hình tượng tiếng đàn được biểu hiện thật trọn vẹn cả nội dung và hình thức. c) Kết bài Hình tượng tiếng đàn ghi-ta là một hình ảnh chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ bài thơ. Tiếng đàn được biểu hiện trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Tiếng đàn là ẩn dụ cho cuộc đời, số phận và nghệ thuật Lorca. Đây cũng là một sáng tạo nghệ thuật tiêu biểu cho trường phái thơ tượng trưng siêu thực của Thanh Thảo.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 11
1,818
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 12 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 12) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới GIÀU HAY NGHÈO Một ngày nọ, người cha giàu có dẫn con trai đến một vùng quê nghèo để thằng bé thấy những người nghèo ở đầỵ sống như thế nào. Họ tìm đến nông trại của một gia đình nghèo nhất nhì trong vùng. “Đây là một cách để dạy con biết quý trọng những người có cuộc sống cơ cực hơn mình”, người cha nghĩ đó là bài học thực tế tốt cho đứa con trai bé bỏng của mình. Sau khi ở lại và tìm hiểu đời sống ở đây, họ trở về nhà. Trên đường vê, người cha nhìn con trai mỉm cười: – Chuyến đi như thế nào hả con? – Thật tuyệt vời, bố ạ! – Người con vui vẻ trả lời. – Con đã thấy người nghèo sống như thế nào rồi đấy. Thế con rút ra được điểu gì từ chuyến đi này? Đứa bé không ngần ngại: – Con thấy chúng ta có một con chó, họ có bốn. Nhà mình có một hồ bơi dài đến giữa sàn, họ lại có một con sông dài bất tận. Chúng ta phải treo những chiếc đèn lồng vào vườn, họ lại có những ngôi sao lấp lảnh vào đêm. Chúng ta có một miếng đất để sinh sống và họ có cả những cảnh đồng trải dài. Chúng ta phải có người phục vụ, còn họ phục vụ người khác. Chúng ta phải mua thực phẩm còn họ lại trồng ra những thứ ấy. Chúng ta có những bức tường bảo vệ xung quanh còn họ lại có những người bạn láng giềng che chở cho nhau. Rất nhiều khi chúng ta đã quên mất những gì mình đãng có và chỉ luôn đòi hỏi những gì không có. Cũng có những thứ không giá trị với người này nhưng lại là mong mỏi với người khác. Xin đừng quả lo lắng chờ đợi vào những gì bạn chưa có mà bỏ quên điều bạn đang có, dù chúng rất nhỏ nhoi. Sự vật hiện tượng được đánh giá ra sao còn phụ thuộc vào góc nhìn của mỗi chúng ta. Và hãy luôn nhớ rằng: “Người thành công là người đạt được những thứ mình muốn. Còn người hạnh phúc là người muốn những gì mình đạt được”. ( Theo Hạt giống tâm hồn) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. (0,5 điểm) Câu 2. Mục đích của người cha giàu có khi dẫn con trai mình đến nhà người nông dân nghèo khổ trong vùng là gì? Ông có đạt được mục đích ấy không? (0,5 điểm) Câu 3. Câu trả lời của người con cho thấy ai mới thật sự là người nghèo khó? Vì sao người con và người cha lại có quan niệm khác nhau về giàu nghèo? (1 điểm) Câu 4. Thông điệp nào có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Hãy viết một đoạn văn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về thông điệp được nêu trong văn bản ở phần đọc hiểu: “Người thành công là người đạt được những thứ mình muốn. Còn người hạnh phúc là người muốn những gì mình đạt được”. Câu 2. (5 điểm) Nhận xét về nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình, có ý kiến cho rằng: Việt là người anh hùng tiêu biểu cho thế hệ trẻ miền Nam Việt Nam. Ý kiến khác khẳng định: Việt vẫn còn là một cậu bé rất hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch. Hãy bình luận hai ý kiến trên. I. ĐỌC HIẾU (3 ĐIỂM) Câu 1. Phương thức biểu đạt chính trong văn bản là nghị luận. (0,5 điểm) Câu 2. Mục đích của người cha giàụ có là “để dạy con biết quý trọng những người có cuộc sống cơ cực hơn mình”. Tuy nhiên, mục đích đó không đạt được. (0,5 điểm) Câu 3. Câu trả lời của người con cho thấy, trong quan niệm của cậu, gia đình cậu mới thật sự là người nghèo khó; còn gia đình người nông dân là những người giàu có. Nguyên nhân sự khác nhau giữa người cha và người con là do cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng khác nhau. Theo cách nhìn của người cha, ở trong một toà nhà tráng lệ có người hầu hạ xung quanh là cuộc sống giàu sang; còn theo cách nhìn của người con, cuộc sống giàu có là sống hoà hợp với thiên nhiên bao la, gần gũi, gắn bó với hàng xóm láng giềng xung quanh. (1 điểm) Câu 4. Thí sinh có thể lựa chọn nêu một trong các thông điệp sau: – Rất nhiều khi chúng ta đã quên mất những gì mình đang có và chỉ luôn đòi hỏi những gì không có. – Sự vật hiện tượng được đánh giá ra sao còn phụ thuộc vào góc nhìn của mỗi chúng ta… Thí sinh chọn thông điệp nào thì cũng cẩn có sự phân tích lí giải hợp lí. (1 điểm II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Vì sao người thành công là người đạt được những thứ mình muốn, còn người hạnh phúc là người muốn những gì mình đạt được? – Biểu hiện của người thành công và người hạnh phúc. – Có người thành công nhưng vẫn không hạnh phúc và ngược lại, có người không thành công nhưng vẫn hạnh phúc. Hai khái niệm thành công và hạnh phúc không hẳn lúc nào cũng đi liền với nhau. – Cần có cái nhìn khách quan toàn diện và đúng đắn để nhận thức đúng về thành công và hạnh phúc. Đoạn văn mẫu Trong cuộc sống, chúng ta thường nghĩ rằng thành công luôn đi liền với hạnh phúc. Nhưng thực chất “người thành công là người đạt được những gì mình muốn, còn người hạnh phúc là người muốn những gì mình đạt được”. Một người thành công khi kiếm được một công việc tốt, lấy được một người vợ xinh đẹp; nhưng chưa hẳn anh ta đã là người hạnh phúc nếu như công việc đó anh ta không hề thích thú và người vợ xinh đẹp không hề yêu anh ta. Ngược lại, một người có thể chỉ có một nghề nghiệp bình thường, không kiếm được nhiều tiền, nhưng anh ta vẫn thấy hạnh phúc, hài lòng với cuộc sống hiện tại. Cần có cái nhìn khách quan toàn diện và đúng đắn để nhận thức đúng về thành công và hạnh phúc. Hai khái niệm thành công và hạnh phúc không hẳn lúc nào cũng đi liền với nhau. Hãy biết trân trọng những gì mình đang có: một cơ thể khoẻ mạnh, một mái nhà che mưa nắng, cơm ăn áo mặc đầy đủ hằng ngày; hãy ngừng than vãn bởi những gì ta đang có là niềm mơ ước của biết bao người. Hãy luôn nhớ hạnh phúc không ở đâu xa, hạnh phúc ở quanh ta, chỉ cần ta biết mở lòng đón nhận! Câu 2. (5 điểm) – Viết đúng kết cấu bài văn gồm ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Bài cần đảm bảo các ý sau: a) Mở bài(0.5 điểm) – Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật Việt: Nguyễn Thi là một cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam những năm chống Mĩ. Tác phẩm Những đứa con trong gia đình là một trong những sáng tác xuất sắc của Nguyễn Thi. Tác phẩm ngợi ca lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc cũng như lòng trung thành với cách mạng của nhân dân Nam Bộ thời kì chống Mĩ lúc bấy giờ. Nổi trội hơn cả trong số các nhân vật là Việt, một nhân vật được tác giả ưu ái, dành nhiều tình cảm. – Giới thiệu hai ý kiến: Ý kiến thứ nhất cho rằng Việt là người anh hùng tiêu biểu cho thế hệ trẻ miền Nam Việt Nam. Ý kiến thứ hai khẳng định Việt vẫn còn là một cậu bé rất hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch. b) Thân bài (4 điểm) – Giải thích Ý kiến thứ nhất rất đúng đắn bởi Việt mang những phẩm chất anh hùng dũng cảm, kiên cường khi đối mặt với kẻ thù; giàu tình yêu thương tha thiết với quê hương gia đình. Ý kiến thứ hai cũng đúng bởi Việt có cá tính riêng hồn nhiên, ngây thơ trong sáng của một cậu bé nông thôn mới lớn, lần đẩu xa nhà đi bộ đội. – Chứng minh + Ý kiến thứ nhất cho rằng Việt là người anh hùng tiêu biểu cho thế hệ trẻ miền Nam. Phẩm chất đầu tiên ở Việt là sự gan góc, dũng cảm kiên cường. Đúng như lời chú Năm nói “Việt là thằng nhỏ gan”. Sinh ra trong gia đình có món nợ truyền kiếp với thực dân đế quốc, ngay từ nhỏ Việt đã gan góc đi đời đầu ba cùng với má và chị Hai. Bất chấp đạn giặc bắn đùng đùng, Việt dám lấy chân đá cái thằng giặc ném đầu ba xuống đất. Việt còn cùng chị Chiến bắn chết giặc Mĩ trên sông Định Thuỷ – chiến công ấy được chú Năm ghi vào trong cuốn sổ gia đình. Khi trưởng thành, dù chưa đủ tuổi, Việt vẫn xung phong đi tòng quân để đền nợ nước trả thù nhà. Trong trận đánh giáp lá cà tại rừng cao su, Việt đã chiến đấu rất dũng cảm, dùng thủ pháo tiêu diệt một xe bọc thép của địch. Mặc dù bị thương rất nặng, lạc đơn vị, nằm lại một mình giữa rừng cao su, Việt vẫn quyết tâm bò đi tìm đồng đội. Việt anh hùng không chỉ trong hành động mà anh hùng ngay trong từng suy nghĩ. Khi bị thương nặng, hai mắt không nhìn thấy gì, Việt vẫn không hể run sợ “Trên trời có mày, dưới đất có mày. Cả khu rừng này chỉ còn có mình tao. Mày có bắn được tao thì tao cũng bắn được mày. Mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn với tao mày là thằng chạy”. Lập được chiến cống lớn là thế nhưng Việt vẫn thấy chưa xứng đáng với kì vọng của gia đình, truyền thống của dòng họ. Phẩm chất thứ hai ở Việt là tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương, gia đình. Lúc bị thương nơi chiến trường, nhiều lần ngất đi tỉnh lại, Việt đều nhớ về ba má, chú Năm, chị Chiến. Tình cảm với quê hương gia đình, sự gắn bó sâu nặng với truyền thống gia đình, chính là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để Việt chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù. Hai phẩm chất cao đẹp ấy của Việt rất tiêu biểu cho yẻ đẹp của thế hệ trẻ miền Nam Việt Nam trong những năm chống Mĩ ác liệt “ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng”. Đó là cái thời kì “ra ngõ gặp anh hùng”, là thời mà như trong thơ Chế Lan Viên đã viết: Mỗi dòng sông đều muốn hoá Bạch Đằng. + Ý kiến thứ hai khẳng định Việt vẫn còn là một cậu bé rất hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch. Giống như bao chú bé nông dân vùng đất Nam Bộ, Việt lúc nào mình mẩy cũng tèm lem sình đất, lội hết đồng này sang bưng khác. Chú thích đi câu cá, bắn chim chích choè, hoành hoạch, cò ma,… không lỏi một con. Đi bộ đội, bên cạnh cây súng Việt vẫn còn mang theo bên mình cái ná thun – người bạn thân thiết thuở ấu thơ. Tính trẻ con nên Việt hay tranh giành với chị Chiến từ việc nhỏ như ái bắt được nhiều ếch hơn đến việc lớn như xung phong đi bộ đội. Tính cách hồn nhiên của Việt thể hiện rõ nhất trong cái đêm hai chị em bàn tính việc nhà trước ngày lên đường tòng quân. Trong khi chị Chiến tỏ ra người lớn, đảm đang tháo vát lo liệu mọi việc đâu vào đấy thì Việt phó mặc mọi chuyện cho chị, bảo gì chú cũng ừ, “lăn kềnh ra ván cười khì khi”, “úp một con đom đóm chụp trong lòng bàn tay rồi ngủ quên lúc nào không biết”. Đọc truyện, chưa lúc nào ta thấy Việt hết hồn nhiên ngây thơ, từ lúc còn ở nhà đến khi đi bộ đội, Việt vẫn mãi là cậu bé mới lớn vô tư, trong sáng đến từng suy nghĩ. Bị thương nặng, Việt không sợ chết mà sợ ma, chú nghĩ về cái chết rất ngộ nghĩnh: “Chết là người giả nằm đó mà người thật thì biến lên cây”. Gặp lại đồng đội, Việt vừa khóc lại vừa cười, hệt như một đứa trẻ con… Chính nét cá tính riêng ấy đã khiến cho hình ảnh người anh hùng Việt trở nên đáng yêu gần gũi hơn với người đọc; tiêu biểu cho kiểu anh hùng của Nguyễn Thi: người anh hùng là “con đẻ của đất cày sông nước”, anh hùng ngay trong sự bình dị chân chất, trong nét hồn nhiên ngây thơ. + Về nghệ thuật: Ngôn ngữ mộc mạc đậm màu sắc Nam Bộ, nghệ thuật trần thuật theo dòng tâm lí nhân yật, xây dựng tình huống truyện đặc sắc. c) Kết bài (0,5 điểm) Cả hai ý kiến đểu đúng, kết hợp cả hai ý kiến ta có được vẻ đẹp hoàn chỉnh của nhân vật Việt: vừa là người anh hùng tiêu biểu cho vẻ đẹp của thế hệ trẻ miền Nam Việt Nam; vừa mang nét hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng của một chú bé mới lớn. Đây là kiểu anh hùng tiêu biểu của Nguyễn Thi – nhà văn của nông thôn, nông dân Nam Bộ.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 12
2,400
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 13 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 13) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU(3 ĐIỂM) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là giới trẻ Việt Nam rất dễ hùa và a dua theo những ngày lễ của phương Tây như Valentine, Halloween, Noel hay thậm chí là Thanksgiving ( Lễ tạ ơn của người Mĩ)… nhưng với những ngày lễ của dân tộc, đặc biệt là Tết nguyên đán thì họ lại cho rằng nhiều hủ tục, lắm phiền nhiễu làm giảm năng suất lao động và tốn kém. Thực ra, những ngày lễ tết là cơ hội để thúc đẩỵ tiêu thụ và phát triển kinh tế. Riêng ngày lễ Tình nhân năm 2016, người Mĩ đã tiêu thụ hết 19,7 tỉ USD cho quà tặng của các cặp tình nhàn. Với các dịp lễ đoàn viên gia đình như Lễ tạ ơn và năm mới, con số tiêu thụ gấp khoảng chục lần. Người Mĩ rất chịu khó… nghỉ lễ và những dịp nghỉ lễ là cơ hội thúc đẩy họ kinh doanh, mua bán. Riêng trong mảng điện ảnh, mỗi nám Mĩ có khoảng hơn chục dịp nghỉ lễ khác nhau và mỗi dịp nghỉ lễ, Holywood đều có những bộ phim phù hợp để thu hút khản giả tàng hiệu suất phòng vé. Việt Nam là một đất nước xuất phát từ nông nghiệp lúa nước, lễ hội cũng khá nhiều và nhiều lễ hội trong đó biến thành hủ tục cân bài trừ. Nhưng với Tết Nguyên đán, với tôi, việc gộp nó vào Tết Tây là một ý kiến phản văn hoá, phản truyền thống và thậm chí là vô cảm nếu xét theo ý nghĩa nhân văn. Trong cơn lốc của phát triển kinh tế và chạy theo các giá trị văn hoá phương Tây, chúng ta càng ngày càng dễ dàng xem thường và từ bỏ các giá trị vẫn hoắ truyền thống, bởi nó cũ kĩ, lạc hậu và quê mùa. (Nỡ nào đòi bỏ Tết cổ truyền, Tết của quê hương?, Tuổi trẻ Online) Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên. (0,5 điểm) Câu 2. Phân tích thao tác lập luận của văn bản trên. (1 điểm) Câu 3. Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng nào để chứng tỏ rằng “những ngày lễ tết là cơ hội để thúc đẩy tiêu thụ và phát triển kinh tế’? (0,5 điểm) Câu 4. Theo em, tác giả có quan điểm như thế nào về việc gộp Tết Tây và Tết Nguyên đán? Quan điểm của em về vấn đề này như thế nào? (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỀM) Câu 1. (2 điểm) Từ văn bản ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn khoảng 200 từ, trình bày suy nghĩ của anh/chị về việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Câu 2. (5 điểm) Phân tích hình tượng rừng xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. I. ĐOC HIỂU (3 ĐIỂM) Câu 1. Phong cách ngôn ngữ báo chí/ phong cách ngôn ngữ chính luận. (0,5 điểm) Câu 2. Thao tác lập luận chính là bác bỏ: Bác bỏ quan điểm muốn xóa bỏ Tết truyền thống của dân tộc vì cho rằng nghỉ lễ tết nhiều gây tốn kém, lãng phí và làm giảm năng suất lao động. Để bác bỏ quan điểm đó, tác giả đưa ra hai lí lẽ chính: lí lẽ thứ nhất cho rằng nghỉ lễ tết là cơ hội để thúc đẩy tiêu thụ và phát triển kinh tế; lí lẽ thứ hai cho rằng quan điểm muốn xóa bỏ Tết Nguyên đán là phản văn hoá, phản truyền thống và thậm chí là vô cảm, thể hiện tâm lí mải chạy theo các giá trị văn hoá phương Tây, càng ngày càng dễ dàng xem thường và từ bỏ các giá trị văn hoá truyền thống. (1 điểm) Câu 3. Tác giả đã đưa ra các dẫn chứng cụ thể để chứng tỏ rằng “những ngày lễ tết là cơ hội để thúc đẩy tiêu thụ và phát triển kinh tế’ (0,5 điểm) – Riêng ngày lễ Tình nhân năm 2016, người Mĩ đã tiêu thụ hết 19,7 tỉ USD cho quà tặng của các cặp tình nhân. – Với các dịp lễ đoàn viên gia đình như Lễ tạ ơn và năm mới, con số tiêu thụ gấp khoảng chục lần. – Riêng trong mảng điện ảnh, mỗi năm Mĩ có khoảng hơn chục dịp nghĩ lễ khác nhau và mỗi dịp nghỉ lễ, Holywood đều có những bộ phim phù hợp để thu hút khán giả tăng hiệu suất phòng vé. Câu 4. Tác giả có quan điểm không đổng tình/ phản đối ý kiến gộp Tết Tầy và Tết Nguyên đán. Thí sinh có thể đồng tình hoặc phản đối ý kiến gộp Tết Tây và Tết Nguyên đán nhưng cần có lí lẽ thuyết phục; không lặp lại ý của tác giả. (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1.(2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần có các ý sau: – Bản sắc văn hoá dân tộc là gì? Vì sao cần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc? – Biểu hiện của việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. – Phê phán những hiện tượng đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc, rút ra bài học cho bản thân. Đoạn văn mẫu Bản sắc văn hoá dân tộc là những nét riêng trong phong tục tập quán, lối sống, cách sinh hoạt, lời ăn tiếng nói của mỗi dân tộc. Trong thế giới phẳng hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hoá là rất quan trọng bởi nó khẳng định tiếng nói riêng của dân tộc trên trường quốc tế. Với dân tộc Việt Nam, một dân tộc có bề dày văn hoá hơn bốn nghìn năm lịch sử, chúng ta có rất nhiễu nét đẹp cần lưu giữ. Thế nhưng hiện nay, có không ít bạn trẻ đã và đang đánh mất bản sắc của dân tộc, họ đua đòi học theo những lễ hội của phương Tây như Halloween, Noel mà lên tiếng chê bai những ngày lễ truyền thống của dân tộc, đặc biệt cho rằng Tết Nguyên đán là phiền nhiễu, lắm hủ tục. Là thế hệ tương lai của đất nước chúng ta cần trân trọng những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, chắt lọc những tinh hoa, loại bỏ những gì đã lạc hậu lỗi thời, học tập những nét đẹp văn hoá nhân loại, hoà nhập nhưng không hoà tan. Câu 2. (5 điểm) – Viết đúng kết cấu bài văn gồm ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Bài viết cẩn đảm bảo các ý sau: a) Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hình tượng rừng xà nu. (0,5 điểm) – Mỗi nhà văn hình như đều có duyên nợ với một vùng đất nào đó để thai nghén ra những tác phẩm để đời. Với Nguyễn Trung Thành, tuy quê gốc nhà văn ở miền biển nhưng những tác phẩm hay nhất của ông lại là những sáng tác viết về Tây Nguyên – vùng đất đỏ badan hùng vĩ, nơi có những con người nồng hậu, thuỷ chung, một lòng đi theo Cách mạng. – Rừng xà nu là truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành, tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam thời kì 1945-1975 viết về cuộc đấu tranh của dân làng Xô Man bên cánh rừng xà nu. Đi suốt chiều dài tác phẩm, xà nu là hình tượng bao trùm là mạch sống, mạch hồn của tác phẩm. b) Thân bài (4 điểm) 1. Hình tượng rừng xà nu mang ý nghĩa tả thực – Đó là loài cây của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ. Thân cây cao vút, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi, một cây hàng ngàn hàng vạn cây, không khí ở đây thơm lừng. Xà nu mọc thành đồi thành rừng, đứng trên đồi xà nu trông xa đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp đến tận chân trời. Hình ảnh rừng xà nu đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Nguyên Ngọc đến nỗi, khi viết về núi rừng Tây Nguyên, hình tượng đầu tiên ông nghĩ đến chính là rừng xà nu. – Đó là người bạn thân thiết của dân làng Xô Man. Họ sinh ra, lớn lên và ngã xuống dưới bóng cây xà nu. Thân cành xà nu cháy hồng trong mỗi bếp nhà sàn, khói xà nu xông bảng nứa đen kịt cho Tnú và Mai học chữ, nhựa xà nu cháy rất đượm, thơm nồng nàn, đuốc xà nu soi sáng cho Dít gằn gạo, soi xác mười tên giặc, cái đêm làng Xô Man nổi dậy cả rừng xà nu ào ào rung động… Cây xà nu trở thành chứng nhân lịch sử, gắn bó với cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu của dân làng Xô Man. – Nỗi đau của cây biểu tượng cho nỗi đau của dân làng: Cả rừng xà nu hàng ngàn hàng vạn cây không cây nào không bị thương, xà nu ứa máu, nhựa xà nu tím bầm đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn. Giống như dân làng Xô Man không nhà nào không chịu đau thương mất mát bởi tội ác của giặc, tiếng kêu khóc vang dậy cả làng. – Đặc tính của cây biểu tượng cho phẩm chất của dân làng: Xà nu có sức sống mãnh liệt, cây mẹ ngã xuống cây con mọc lên: “Đố chúng nó giết hết rừng xà nu” giống như dân làng Xô Man hết thế hệ này đến thế hệ khác đứng lên đánh Mĩ, anh Quyết hi sinh đã có Tnú, Mai ngã xuống đã có Dít, bé Heng. Xà nu mọc thành đổi, thành rừng như dân làng Xồ Man luôn đoàn kết bên nhau chống giặc ngoại xâm. Xà nu ham ánh sáng và khí trời, luôn phóng lên rất nhanh để đón lấy ánh sáng giống như dân làng Xô Man yẽu cuộc sống tự do, luôn hướng về mặt trời Cách mạng. – Các thế hệ xà nu biểu tượng cho các thế hệ dân làng Xô Man: Cây xà nu cổ thụ chính là cụ Mết điểm tựa sức mạnh tinh thần cho cả buôn làng. Cây xà nu trưởng thành dẫu trên mình ngang dọc bao yết đạn, đạn đại bác không giết được chúng chính là biểu tượng cho Tnú, Dít. Cây xà nu còn non đã chết bởi bom đạn hay chính là hình ảnh đứa con trai của Tnú và Mai đã mất. 3. Về nghệ thuật Kết hợp giữa tả thực và biểu tượng, giữa miêu tả khái quát cả đồi cả rừng xà nu với tả cận cảnh cụ thể từng cây; kết hợp phép so sánh đối chiếu giữa cây và người, tả người thì ví với cây, tả cây lại so sánh với người… Tất cả đã khiến hình tượng rừng xà nu hiện lên thật chân thực sinh động, góp phần tạo nên màu sắc Tây Nguyên, chất sử thi hào hùng cho tác phẩm. c) Kết bài (0,5 điểm) Hình tượng cây xà nu là hình tượng xuyên suốt tác phẩm, tượng trưng cho vẻ đẹp hào hùng đấy sức sống của thiên nhiên và con người Tây Nguyên. Qua đó, chất thơ và chất sử thi hoà làm một, thể hiện rõ phong cách văn xuôi Nguyễn Trung Thành.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 13
1,975
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 14 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 14) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: Anh bạn thân yêu! Giờ đây tôi đang ở trên thiên đàng – một thế giới diệu kì mà lung linh biết mấy. Nơi này chẳng có ngày hay đêm. Mặt trời, vầng trăng và cả những vì sao lấp lánh cùng nhau tỏa sáng, không gian lúc nào cũng trong veo như pha lê. Mẹ và anh trai tôi đang mỉm cười cùng những linh hồn khác. Chúng tôi không có quốc gia, không phải di cự, không phán biệt tôn giáo, không có khủng bố hay bạo lực… Tất cả đều như nhau – những linh hồn bay nhẹ nhõm thanh thản và yên bình. Giờ đang là giao thừa. Từ trên đây, chúng tôi có thể ngắm nhìn cả trái đất. Ngắm nhìn những chùm pháo hoa lộng lẫy bung nở trong màn đêm và lắng nghe tiếng chuông ngân vang. Dưới đó là những mảng màu tương phản. Có những nơi rực rỡ trong ánh sáng, lại có những mảng tối im lìm đâu đó. Tiếng chuông lẫn trong tiếng súng, hạnh phúc ở cùng với bất hạnh, thù hận đi liền với tình yêu… Chao ôi, cuộc sống nơi trần thế! Giờ thì tất cả đã xa vời. (Trích bức thư đoạt giải Nhất, Cuộc thi viết thư Quốc tế UPU lần thứ 45) Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên. (0,5 điểm) Câu 2. Phân tích hiệu quả của biện pháp nghệ thuật trong đoạn văn sau:“Có những nơi rực rỡ trong ánh sáng, lại có những mảng tối im lìm đâu đó. Tiếng chuông lẫn trong tiếng súng, hạnh phúc ở cùng với bất hạnh, thù hận đi liền với tình yêu… ”(1 điểm) Câu 3. Xác định phường thức biểu đạt chính. (0,5 điểm) Câu 4. Qua việc dựng lên hai thế giới đối lập giữa trần gian và thiên đàng, tác giả bức thư muốn gửi gắm ước mơ gì? (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Từ văn bản ở phân Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn khoảng 200 từ với nhan đề: Đấu tranh vì một thế giới hoà bình. Câu 2. (5 điểm) Cảm nhận của anh/chị về những nét tương đồng và khác biệt của hình tượng người chiến sĩ trong hai đoạn văn sau: Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút. Tiếng mảy bay vẫn gầm rú hỗn loạn trên cao, nhưng mặc xác chúng. Kèn xung phong của chúng ta đã nổ lên. Lựu đạn ta đang nổ rộ… Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không biết rằng mình bò đi nữa, chính trận đánh đang vẫy gọi Việt đến. Phía đó là sự sống. Tiếng súng đã đem lại sự sống cho đêm vắng lặng. Ở đó các anh đang chờ Việt, đạn ta đang đổ lên đẩu giặc Mĩ những đảm lửa dữ dội và những mũi lê nhọn hoắt đang bắt đâu xung phong… (Trích Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi) Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, trừng trừng. Trời ơi, cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa ở mười đẩu ngón tay nữa. Anh nghe lửa chảy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rổi. Anh không kêu lên. Anh Quỵết nói: “Người cộng sản không thèm kêu van”. Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Chảy, cháy cả ruột đầy rồi! Anh Quyết ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”. (Trích Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành) B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM ) Câu 1. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. (0,5 điểm) Câu 2. “Có những nơi rực rỡ trong ánh sáng, lại có những mảng tối im lìm đâu đó. Tiếng chuông lẫn trong tiếng súng, hạnh phúc ở cùng với bất hạnh, thù hận đi liền với tình yêu..Đoạn văn trên sử dụng nghệ thuật đối lập giữa ánh sáng với mảng tối, tiếng chuông với tiếng súng, hạnh phúc với bất hạnh. Tác dụng của phép đối lập nhằm nhấn mạnh cuộc sống nơi trần gian thật phức tạp, đan xen tốt – xấu, thiện – ác, hạnh phúc và khổ đau, chiến tranh và hoà bình. Đồng thời làm tăng sức gợi hình biểu cảm gây ấn tượng cho người đọc. (1 điểm) Câu 3. Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm. (0,5 điểm) Câu 4. Qua việc dựng nên hai thế giới đối lập giữa thiên đường và trần thế, tác giả đã gửi gắm ước mơ về một thế giới hoà bình không có chiến tranh, không phân biệt tôn giáo hay khủng bố bạo lực. Ở thế giới đó, con người sẽ được sống yên bình tại nơi mình sinh ra, không phải di cư vì chiến tranh bạo loạn hay xung đột sắc tộc. Thiên đường theo mơ ước của tác giả – chú bé Syria ba tuổi chết trên đường tị nạn – đơn giản là nơi hoà bình, không có chiến tranh. (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần có các ý sau: – Hoà bình là ước mơ của toàn nhân loại, có hoà bình sẽ có tất cả mọi điều tốt đẹp khác như giáo dục, vui chơi giải trí, tình yêu, lòng vị tha… – Phê phán những hành động gây chiến tranh bạo loạn, đi ngược lại khát vọng hoà bình chung của loài người. Đoạn văn mẫu: Trong lời một bài hát có đoạn “Em mong sớm đến năm 2000 và mong ước chiến tranh sẽ tàn, để trái đất chỉ còn tiếng hát”. Năm 2000 đã qua và nhân loại đang sống trong thế kỉ mới – thế kỉ 21, nhưng vẫn luôn phải tiếp tục đấu tranh vì một thế giới hoà bình, đấu tranh để ước mơ của mọi người thành hiện thực. Hoà bình – nghĩa là không còn chiến tranh – hai tiếng đơn giản mà thật khó thực hiện biết bao. Vậy mà hiện nay, trên thế giới vẫn còn hàng ngàn người đang phải sống trong cảnh chiến tranh, li tán. vẫn có những đứa trẻ ở Syria chết trên đường tị nạn. Những thường dân ở các nước Châu Phi vẫn ngày ngày phải hứng chịu bom đạn, đối mặt với thẩn Chết. Tại sao nhân loại không ngừng mơ ước khát khao vể một thế giới hoà bình, nhưng mặt khác chính con người lại sản xuất ra các yũ khí huỷ diệt hàng loạt để giết hại chính đồng loại của mình? Mỗi chúng ta hãy chung tay đấu tranh vì một thế giới hoà bình, không chỉ cho riêng ai mà cho toàn nhân loại, không chỉ cho hôm nay mà cả mai sau. Câu 2. (5 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng kết cấu bài văn gồm ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Bài cần đảm bảo các ý sau: a) Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hình tượng người chiến sĩ trong hai đoạn văn. (0,5 điểm) – Giới thiệu Nguyễn Trung Thành, tác phẩm Rừng xà nu và hình tượng Tnú. – Giới thiệu Nguyễn Thi, tác phẩm Những đứa con trong gia đình và hình tượng Việt. b) Thân bài (4 điểm) 1. Phân tích đoạn văn thứ nhất: Cảnh Việt bị thương nằm lại nơi chiến trường – Việt là một chiến sĩ giải phóng quân sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống cách mạng, mang mối thù sâu nặng với giặc Mĩ, anh xung phong tòng quân dù chưa đủ tuổi. Ở Việt luôn sôi nổi một tinh thần chiến đấu “trả thù cho ba má”. Trong trận đánh ở rừng cao su, Việt lập công lớn tiêu diệt được một xe bọc thép của địch nhưng cũng bị thương nặng và lạc đồng đội.. – Khi bị thương, Việt nhiều lần ngất đi tỉnh lại. Mỗi lần tỉnh lại, những hồi ức về ba má, chú Năm, chị Chiến, đồng đội lại hiện về trong tâm trí Việt. Qua đó, ta thấy Việt có một tâm hồn giàu tình cảm gắn bó với quê hương gia đình. – Đoạn văn thể hiện phẩm chất nổi bật ở Việt là tinh thần ý chí quyết tâm chiến đấu kiên cường dũng cảm. Dù bị thương lạc đơn vị một mình nằm lại chiến trường, Việt vẫn không hề run sợ, vẫn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Việt vẫn cố gắng bò về phía tiếng súng, phía đồng đội đang chiến đấu. Hình ảnh Việt gợi ta nhớ đến hình ảnh anh giải phóng quân trong bài thơ Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, dù bị trúng đạn nhưng vẫn gượng đứng lên nhằm thẳng quân thù mà bắn: Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng anh gượng đứng lên Tì tay trên báng súng Và anh ngắm bắn ……… Từ dáng đứng của anh Tổ Quốc bay lên bát ngát mùa xuân. 2. Phân tích đoạn văn thứ hai: Cảnh Tnú bị giặc đốt cháy mười đầu ngón tay. – Ấn tượng sâu sắc nhất trong tâm trí người đọc là đôi bàn tay Tnú bị đốt cháy bởi nhựa xà nu, mười ngón tay bùng bùng như mười ngọn đuốc. Hình ảnh ấy vừa có ý nghĩa tố cáo tội ác của giặc, vừa thể hiện lòng dũng cảm, khí phách kiên cường của Tnú. Đây là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc giàu tính tạo hình – Giặc đốt mười đầu ngón tay Tnú nhằm khủng bố tinh thần đấu tranh của dân làng Xô Man, nhưng ngược lại, chính sự kiên cường của Tnú đã khiến mưu đồ ấy thất bại. Tnú nhắm mắt lại rồi mở mắt ra trừng trừng. Nỗi đau lên đến tột cùng khiến anh cắn nát cả môi nhưng anh vẫn kiên quyết không kêu. Nỗi đau nén lại trong lồng ngực rồi òa vỡ thành một lời hiệu triệu mạnh mẽ: Giết. Tiếng thét căm hờn ấy đã khiến dân làng bừng tỉnh, vùng lên cầm giáo mác giết sạch quân thù. Mười ngọn đuốc trên mười đầu ngón tay Tnú đã tiếp thêm sức mạnh và niềm tin cho dân làng Xô Man, đã cháy lên thành ngọn lửa của tinh thần đồng khởi. 3. Chỉ ra sự tương đồng và khác biệt – Sự tương đồng: Hai nhân vật đều phải chịu đựng đau đớn về thể xác, đơn độc khi chiến đấu; đều là hình mẫu của người chiến sĩ dũng cảm kiên cường, tuyệt đối trung thành với Cách mạng; là biểu tượng của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ. – Việt: Chiến đấu với tinh thần quả cảm mà hồn nhiên, lạc quan yêu đời, tin tưởng vào Cách mạng, vào đồng đội. Ở Việt chủ yếu là nỗi đau thể xác. – Tnú: Chiến đấu bằng ý chí quyết tâm, lòng căm thù giặc sâu sắc, do vừa trải qua nỗi đau cá nhân khi vợ và con bị giết hại ngay trước mắt. Ở Tnú có sự cộng hưởng cả nỗi đau tinh thần và thể xác. c) Kết bài Nêu khái quát vẻ đẹp của hai nhân vật trong những hoàn cảnh đấu tranh gian khổ khác nhau; sự thành công trong nghệ thuật miêu tả, phân tích diễn biến tâm lí nhân vật. (0,5 điểm)
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 14
1,982
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 16 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 16) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: CÂU CHUYỆN CÂY BÚT CHÌ Khi ra đời, một cây bút chì luôn thắc mắc rằng cuộc sống bên ngoài xưởng làm bút chì sẽ ra sao bởi thỉnh thoảng nó nghe những người thợ nói chuyện với nhau. Bút chì băn khoăn mãi, anh em của nó cũng không biết gì hơn. Cuối cùng, trước hôm được mang đến các cửa hàng, bút chì hỏi người thợ làm bút rằng nó và anh em nó sẽ ra sao ở bên ngoài cuộc sống rộng lớn kia. Người thợ làm bút mỉm cười. Ông nói: – Có năm điều cháu và các anh em của cháu nên nhớ khi bắt đầu cuộc sống. Nếu cháu nhớ và làm được thì cháu sẽ trở thành cày bút chì tốt nhất. Thứ nhất: cháu có thể làm được những điều kì diệu nhất nếu cháu nằm trong bàn tay một người nào đó và giúp họ làm việc. Thứ hai: cháu sẽ cảm thấỵ đau đớn mỗi khi bị gọt, nhưng phải như thế cháu mới tốt hơn và có thể tiếp tục cuộc sống của mình. Thứ ba: nếu cháu viết sai một lỗi, cháu hãy nhớ để sửa lại là được. Thứ tư: điều quan trọng nhất đối với cháu và những người dùng cháu không phải là nước sơn bên ngoài cháu, mà là những gì bên trong cháu đấy. Và cuối cùng: trong bất cứ trường hợp nào, cháu cũng vẫn phải tiếp tục viết Đó là cuộc sống của cháu, cho dù cháu gặp tình huống khó khăn như thế nào cũng vẫn phải viết thật rõ ràng, để lại những dấu ấn của mình. (Truyện Ngụ ngôn, Theo Internet) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên. (0,5 điểm) Câu 2. Anh/Chị hiểu thế nào về câu nói của người thợ làm bút chì: “Cháu sẽ cảm thấy đau đớn mỗi khi bị gọt, nhưng phải như thế cháu mới tốt hơn và có thể tiếp tục cuộc sống của mình”? (0,5 điểm) Câu 3. Theo anh/chị, vì sao người thợ làm bút chì lại dặn dò những cây bút chì: “Trong bất cứ trường hợp nào, cháu cũng vẫn phải tiếp tục viết. Đó là cuộc sống của cháu, cho dù cháu gặp tình huống khó khăn như thế nào cũng vẫn phải viết thật rõ ràng, để lại những dấu ấn của mình.”? (1 điểm) Câu 4. Thông điệp nào của câu chuyện trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về lời dặn dò của người thợ dành cho những cây bút chì trong câu chuyện ở phẩn Đọc hiểu: “Điều quan trọng nhất đối với cháu và những người dùng cháu không phải là nước sơn bên ngoài cháu, mà là những gì bên trong cháu đấy”. Câu 2. (5 điểm) Anh (chị) hãy làm rõ hình tượng thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ và thơ mộng qua khổ thơ thứ nhất bài thơ Tây Tiến của tác giả Quang Dũng. B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Câu 1. Phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên là phương thức tự sự. (0,5 điểm) – “Gọt”: Quá trình mài giũa, rèn luyện. – “Đau đớn”: Trong quá trình rèn luyện để trở thành cây bút chì có ích, chính bút chì cũng phải chịu đau, chịu hi sinh thân mình – “Tốt hơn và tiếp tục cuộc sống của mình”: Cuộc sống của cây bút chì có giá trị khi nó viết lên những nét chữ cho đời. Vạ nó chỉ có thể viết, có thể sống đúng nghĩa một cây bút chì khi trải qua gọt giũa. -> Như vậy, câu chuyện cây bút chì cũng chính là câu chuyện về con người, về cuộc đời. Con người muốn sống có ích, sống một cuộc sống đúng nghĩa, phát huy được những giá trị bản thân phải biết chấp nhận quá trình tôi luyện, rèn giũa. Như thép cứng bởi chịu tôi qua lửa đỏ, như cây bút chì sắc nét vì chịu gọt mài bởi lưỡi dao. Câu 3. Cây bút chì, viết mãi viết mãi rồi sẽ mòn, sẽ hết. Tất cả những dấu ấn còn lại của nó là những nét vẽ, nét viết mà nó để lại cho đời. Cũng như cuộc đời con người, không ai tránh khỏi quy luật sinh lão bệnh tử, cuối cùng rồi sẽ hoà vào cát bụi. Cách duy nhất con người có thể để lại dấu ấn cho đời là sống hết mình, cống hiến cho đời, làm đẹp cho đời. Như cây bút chì, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải tiếp tục viết. Con người sống chân thành, sống hết mình sẽ không phải tiếc nuối, để khi mình ra đời, mình khóc – mọi người cười, và khi mình lìa đời, mình cười – mọi người khóc. Câu 4. Thí sinh trình bày suy nghĩ cá nhân, nêu rõ vì sao thông điệp đó có ý nghĩa với em. Có thể lựa chọn thông điệp về sai lầm và sửa chữa sai lấm, thông điệp về việc cống hiến cho đời mà không hề đòi hỏi nhận lại… II. LÀM VĂN (7 ĐIẾM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: 1. Giải thích – “Nước sơn bên ngoài”: hình thức, cái bể nổi bên ngoài. – “Những gì bên trong”: tâm hồn, tính cách, tri thức, thái độ sống. – “Với bản thân cháu và người dùng cháu”: với mỗi cá nhân và với những người xung quanh, những người nhìn nhận, đánh giá cá nhân ấy. Ý nghĩa câu nói: Đề cao giá trị bên trong của mỗi con người. Cái bề ngoài màu mè, rực rỡ chỉ thu hút được ở phút ban đầu và sẽ nhanh chóng tan biến. Chính một tâm hồn đẹp, một lối sống đẹp, một tri thức phong phú sẽ mang lại cho mỗi người sức hút và giá trị bền lâu. 2. Phân tích – Vì sao cái giá trị bên ngoài lại không quan trọng bằng cái cốt lõi bên trong? + Vẻ bên ngoài gây chú ý trong phút chốc, nhưng cái bên trong mới tạo ấn tượng lâu dài. – Vì sao giá trị bên trong ấy không chỉ quan trọng với những người xung quanh, mà còn quan trọng với mỗi người? + Giá trị bên trong sẽ là thước đo những người xung quanh dùng để đánh giá bạn. + Nhưng với mỗi cá nhân, giá trị bên trong quan trọng, vì nó là thứ làm nên chính bạn, một bản thể đặc biệt không trùng lặp. 3. Bàn luận, mở rộng Để xây dựng, giữ gìn và phát huy giá trị bên trong của mình, chúng ta cần: – Tích luỹ cho mình tri thức. – Nuôi dưỡng cho mình tấm lòng nhân ái, tâm hồn biết rung động trước cuộc sống, rèn luyện cho mình lối sống đẹp. Tuy vậy, chúng ta cũng không thể bỏ qua yếu tố bên ngoài; không thể ỷ vào việc chăm chút thế giới bên trong mà tạo cho mình vẻ bên ngoài xộc xệch. 4. Bài học và liên hệ bản thân – Câu nói định hướng cho chúng ta thái độ sống đúng đắn. – Liên hệ bản thân. Đoạn văn mẫu Khi bạn chọn mua một cây bút chì, bạn sẽ quan tâm nhất đến chất lượng bên trong hay nước sơn bề ngoài? Với tôi, khi mua một cây bút, điểu quan trọng nhất không phải là nước sơn bên ngoài, mà là những gì bên trong. “Nước sơn bên ngoài” chỉ là hình thức, cái bê’ nổi bên ngoài, còn “những gì bẻn trong” là tâm hồn, tính cách, tri thức, thái độ sống. Vẻ bên ngoài gây chú ý trong phút chốc, nhưng cái bên trong mới tạo ấn tượng lâu dài. Với con người, một yẻ ngoài hào nhoáng, đẹp đẽ chưa chắc đã khiến bạn được mọi người yêu quý. Nhưng nếu bạn có tri thức, bạn sống đẹp, có lòng nhân ái, bạri có trái tim biết lắng nghe và chia sẻ với cuộc đời, bạn chắc chắn sẽ được mọi người yêu quý. vẻ bên ngoài chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng cái giá trị tâm hổn sẽ tồn tại vĩnh cửu với thời gian. Một sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành sẽ làm người ta nhớ lâu. Nhưng một tài hoa xuất chúng sẽ lưu danh muôn đời. Trong mọi cuộc thi sắc đẹp, không bao giờ thiếu phần thi ứng xử. Giá trị bên trong sẽ là thước đo những người xung quanh dùng để đánh giá bạn. Không những thế, giá trị bên trong còn là thứ làm nên chính bạn, một bản thể đặc biệt không trùng lặp. Người có thể giống người, xã hội hiện đại, con người có thể trang điểm, có thể phẫu thuật để giống nhau, nhưng tâm hồn thì không ai giống ai cả. Vì vậy, giá trị bên trong sẽ làm nên nét riêng biệt, để bạn không bị hoà tan vào cuộc đời. Nhưng cũng khống thể bỏ qua yếu tố bên ngoài, không thể ỷ vào việc chăm chút thế giới bên trong mà tạo cho mình vẻ bên ngoài nhếch nhác. Mỗi chúng ta cần luôn phấn đấu hoàn thiện đẹp cả tâm hồn bên trong lẫn hình thức bể ngoài, bạn nhé! Câu 2. (5 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng kết cấu bài văn gồm ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Bài viết cần đảm bảo các ý sau: a) Mở bài Giới thiệu vê tác giả, tác phẩm và hình tượng thiển nhiên Tây Bắc hùng vĩ và thơ mộng trong khổ thơ thứ nhất (0,5 điểm) – Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, ông có thể làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc. Trong đó tiêu biểu nhất là thơ ca. Ông có một hồn thơ tài hoa, lãng mạn phóng khoáng luôn bay bổng một tình yêu tha thiết với quê hương đất nước, con người Việt Nam. – Tây Tiến là bài thơ đặc sắc của Quang Dũng. Bài thơ thành công một phần là nhờ cách xây dựng hình tượng núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, diễm lệ. b) Thân bài (4 điểm) 1. Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ (2 điểm) – Điệp từ “dốc” kết hợp với những từ láy tạo hình “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” gợi lên những con dốc trùng điệp, những chặng đường hành quân đầy gian khổ, hiểm nguy. – Điệp ngữ “ngàn thước” kết hợp với nghệ thuật đối “lên – xuống” và cách ngắt nhịp khiến câu thơ như bẻ làm đôi. Chiều đi lên thì cao chót vót, chiểu đi xuống thì sâu thăm thẳm. Hình ảnh những vách núi cheo leo, những vực sâu thăm thẳm như bào mòn sức lực, thách thức ý chí quyết tâm của người lính. – Liệt kê những địa danh xa xôi, lạ lẫm “Sài Khao”, “Mường Lát”, “Mường Hịch”, “Mai Châu” kết hợp với nhân hóa “thác gẩm thét”, “cọp trêu người” gợi lên sự hoang sơ, huyền bí của mảnh đất nổi tiếng là chốn “rừng thiêng, nước độc”. 2. Thiên nhiên Tây Bắc thơ mộng (1,5 điểm) – Từ láy, tính từ “heo hút” đảo lên trước danh từ “cồn mầy” nhấn mạnh vẻ đẹp hoang sơ, huyền ảo của núi rừng hòa lẫn vào mây trời Tây Bắc. – Phép nhân hóa “súng ngửi trời” khiến cho thiên nhiên, cảnh vật, con người trở nên gần gũi. Đó còn là thước đo độ cao của đỉnh núi, thước đo bản lĩnh, ý chí và vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn của người lính Tây Tiến. – Câu thơ bảy tiếng “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” toàn thanh bằng mở ra không gian mênh mông, rộng lớn. Đó như là tiếng thở phào đẩy nhẹ nhõm của người lính sau những chặng đường hành quân đầy gian khổ, hiểm nguy. – Sự xuất hiện của “sương”, “hơi”, “hoa”, “mây”, “mưa xa khơi” làm cho bức tranh trở nên thơ mộng, huyền ảo. – Hình ảnh “nhà ai” gợi lên cuộc sống thanh bình nơi bản làng Tây Bắc, làm bức tranh trở nên ấm áp, có hồn, sức sống. 3. Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên (0,5 điểm) – Bút pháp nghệ thuật lãng mạn kết hợp với những sáng tạo độc đáo. – Chất liệu hiện thực được phản chiếu qua lăng kính tâm hồn lạc quan, yêu đời… c) Kết bài Kết lại vấn đề và nêu cảm nghĩ chung. (0,5 điểm) Bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng đã khắc hoạ thành công một thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hiểm nguy nhưng cũng đầy lãng mạn. Hình ảnh ấy sẽ mãi mãi đi vào lòng độc giả trong tình cảm yêu mến, gắn bó thiết tha.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 16
2,209
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 17 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 17) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIẾU (3 ĐIẾM) Đọc các đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: – Nước là yếu tố thứ hai quyết định sự sống chỉ sau không khí, vì vậy con người không thể sống thiếu nước. Nước chiếm khoảng 58 – 67% trọng lượng cơ thể người lớn và đối với trẻ em lên tới 70 – 75%, đồng thời, nước quỵết định tới toàn bộ quả trình sinh học diễn ra trong cơ thể con người. (Trích Vai trò của nước sạch với sự sống của con – Trong khi cả nước quyết liệt phòng chống dịch cúm gia cầm, thì nhiều người dân ở tỉnh Hậu Giang thiếu ý thức, vô tư vứt tràn lan xác gia câm chết xuống sông, kênh rạch, gây ô nhiễm môi trường, tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh… (Theo Tịnmoitruong.vn, ngày 27/02/2014) – Con kênh thuỷ lợi chảy qua xóm 4 (xã Tràng An, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) đang bị ô nhiễm kinh hoàng vì rác thải thượng nguồn đổ về, người dân sống ở hạ nguồn con kênh không thể dùng nước sinh hoạt. Rác không được quỵ tập, xử lí đúng chỗ lấn chiếm cả đất nông nghiệp của người dân. (Theo Tinmoitruong.vn, ngày 11/04/2014) Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của các đoạn văn bản trên. (1 điểm) Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt của các đoạn văn bản trên. (1 điểm) Câu 3. Tìm câu chủ đề của đoạn văn bản số 1 và chuyển câu đó thành câu văn có sử dụng biện pháp tu từ. (1điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Từ những đoạn văn bản trên, anh/chị suy nghĩ gì về trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn nguổn nước sạch? Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị. Câu 2. (5 điểm) Người ta từng đặt cho Nguyễn Tuân danh hiệu “Người suốt đời đi tìm cái đẹp”. Hãy viết bài văn nêu cảm nhận của anh/chị về một “cái đẹp” được Nguyễn Tuân tìm kiếm, khám phá và thể hiện trong đoạn trích Người lái đò Sông Đà. B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của các đoạn văn bản. (1 điểm) – Đoạn 1: Phong cách ngôn ngữ khoa học. – Đoạn 2 và 3: Phong cách ngôn ngữ báo chí. Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt của các đoạn văn bản. (1 điểm) – Đoạn 1: Phương thức thuyết minh. – Đoạn 2 và 3: Phương thức tự sự. Câu 3. – Câu chủ đề của đoạn văn bản số 1 là: “Nước là yếu tố thứ hai quyết định sự sống chỉ sau không khí, vì vậy, con người không thể sống thiếu nước”. – Chuyển nó thành câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh: Nước như một người bạn, nhưng cũng giống như một vị thần nắm giữ sự sống của chúng ta chi sau không khí, vì vậy, con người không thể sống thiếu nước. (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIẾM) Câu 1.(2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Đoạn văn cán làm rõ được trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn nguồn nước sạch. Đoạn văn mẫu: Mỗi chúng ta — thế hệ trẻ — phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước và có những việc làm cụ thể để góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm hiện nay ngay từ bây giờ. Chúng ta không làm ô nhiễm nguồn nước sông, suối qua việc vứt rác, xác động vật chết xuống nguồn nước, không dùng phân tươi làm phân bón; sử dụng thuốc trừ sâu đúng hướng dẫn. Cần hạn chế tối đa việc sử dụng các hoá chất gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước. Trong sinh hoạt, chúng ta sử dụng tiết kiệm nước, giảm lãng phí khi sử dụng nước vào các sinh hoạt như nước giội vào nhà vệ sinh, tắt vòi nước khi đánh răng; kiểm tra, bảo trì cải tạo lại đường ống, bể chứa nước để chống thất thoát nước; đùng lại nước bể bơi, nước mưa vào những việc thích hợp như cọ rửa sân, tưới cây… Ngoài ra, trong phạm vi có thể, chúng ta nên tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các biện pháp giữ nước sạch trong cộng đồng dân cư để mọi người cùng nhận thức tầm quan trọng của nước sạch và cùng nhau hành động, sử dụng tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước. Hãy chung tay bảo vệ và giữ gìn nguồn tài nguyên vô cùng quý giá này cho hôm nay và cho thế hệ mai sau! Câu 2 (5 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng bài văn với bố cục gồm ba phần – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đây là dạng bài mở. Học sinh có thể tự chọn một “cái đẹp” được Nguyễn Tuân tìm kiếm, khám phá và thể hiện trong đoạn trích Người lái đò Sông Đà; như: hình tượng con sông Đà, hình tượng người lái đò sông Đà,… Dưới đây là hướng dẫn viết về hình tượng người lái đò sông Đà. Bài văn cần làm rõ được các ý sau: a) Mở bài Giới thiệu về Nguyễn Tuân, tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” và hình tượng người lái đò sông Đà. (0,5 điểm) Nguyễn Tuân là câỵ bút tài hoa, uyên bác, cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút Người lái đò Sông Đà. Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp đa dạng vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và ca ngợi người lái đò giản dị mà kì vĩ trên dòng sông. b) Thân bài (4 điểm) – Lai lịch và ngoại hình người lái đò sông Đà (0,5 điểm) – Người lái đò đã bảy mươi tuổi, làm nghề đò dọc mười năm liền và đã nghỉ làm nghề đôi chục năm. – Người lái đò gây ấn tượng rất rõ nét ở ngoại hình: Tay ông lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù. 1. Tính cách người lái đò sông Đà (3 điểm) – Những nét tả ngoại hình của nhà văn cho thấy người lái đò thực sự là người từng trải, thành thạo nghề. – Người lái đò còn là một linh hổn muôn thuở của sông nước này; ông làm nghề đò đã mười năm liền, trên sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lẩn rồi, chính taỵ ông giữ lái độ sáu chục lẩn… Sự từng trải của người lái đò còn thể hiện, dòng sông Đà với bảy mười ba con thác nhưng ông đã lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đinh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả các con thác hiểm trở. Hơn thế nữa, sông Đà đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông thuộc lòng đến cả những cái chấm than chấm câu và cả những đoạn xuống dòng. Lòng dũng cảm Nguyễn Tuân đưa nhân yật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Cuộc chiến đấu của người lái đò có thể chia thành ba chặng vượt vòng vây của thác nước, đá sông. – Ở trùng vi thứ nhất: Vừa vào trận, sóng nước, đá sông hò la vang dậy, ùa vào bẻ gãy cán chèo võ khí, đá trái, thúc gối vào bụng, vào hông thuyền. Nước như đô vật túm thắt lưng ông đò rồi đánh miếng đòn độc, đánh vào chỗ hiểm. Nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt cuống lái, mặt méo bệch đi. Trên con thuyền sáu bơi chèo vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn và tỉnh táo của người cẩm lái, ông đò thực là một chiến sĩ dũng cảm, rất bình tĩnh nén mọi đau đớn để chiến thắng kẻ thù. – Ở trùng vi thứ hai: Kẻ địch thay chiến thuật, chúng tăng thêm nhiều cửa tử. Cửa sinh bố trí lệch sang phía tả ngạn, lập lờ, bí hiểm hơn ở trùng vi trước, hòng đánh lừa con thuyền. Nhưng ông đò đã nắm chắc binh pháp của thán sông, thần đá thuộc quy luật phục kích của lũ đá. Ông “cưỡi lên thác Sông Đà phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. Nắm chặt được cái bờm sóng đúng rồi ông đò “ghì cương lái phóng nhanh vào cửa sinh, lái miết một đường chéo” con thuyên lướt nhanh, bất ngờ khiến cả bọn đá thuỷ quân không kịp trở tay, khiến “Cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng”. Ông đò — người chỉ huy ấy quả là thông minh, tài giỏi. – Trùng vi thứ ba ít cửa hơn, bên phải, bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở ngay giữa con thác. Ông đò như một người chỉ huy dày dạn cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó “Vút vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng thuyên như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được”. Bản hùng ca vượt thác lên đến cao trào. Con thuyền lướt nhanh trên đầu sóng, sóng nước của sông Đà. Trên con thuyền vun vút đó, chúng ta nhìn rõ hình ảnh người lái đò anh hùng vừa dũng cảm, thông minh vừa thật là tài hoa. Vậy là thác dữ đã không chặn bắt được con thuyền. Cuối cùng, vẫn là con người chiến thắng sức mạnh thần thánh của tự nhiên, vẫn là con người cưỡi lên thác ghểnh, xé toang hết lớp này đến lớp kia của trùng vi thạch trận, để những thằng đá tướng phải lộ sự tiu nghỉu, thất vọng, qua bộ mặt xanh lè. Người lái đò đã đè sấn được sóng gió, nắm chặt cái bờm sóng mà thuần phục sự hung hãn của dòng sông. Ở phần vĩ thanh của khúc ca vượt thác, nhà văn chuyển gam với mấy câu tả êm nhẹ câu kể thủ thỉ, tâm tình: “Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác, xèo xèo tan trong trí nhớ. Đêm ấy, nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh. Chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua”. Ở đây ta lại thấy thêm một vẻ đẹp nữa của những người lái đò, chèo đò. Họ anh hùng xiết bao, cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội để giành lấy sự sống từ tay những con thác, nên cũng “Không có gì là hồi hộp đáng nhớ”. Cái phi thường đã trở thành bình thường. Phẩm chất chiến sĩ đã hoà quyện với phong thái tài tử, nghệ sĩ. 2. Phong cách của Nguyễn Tuân khi xây dựng hình ảnh người lái đò sông Đà (1 điểm) – Tài hoa, uyên bác: Khi tái hiện lại hình ảnh người lái đò, Nguyễn Tuân đã kết hợp nhiều phương tiện của nhiều ngành nghệ thuật: hội hoạ, điêu khắc, điện ảnh, âm nhạc, quân sự, võ học,… Khả năng diễn đạt và vốn ngôn ngữ của Nguyễn Tuân rất phong phú. Mỗi từ ngữ khi đưa vào câu văn dường như đã được chắt lọc, gọt giũa cẩn thận. Ông đã sáng tạo nên nhiều từ ngữ mới lạ, độc đáo. – Quan điểm “suốt đời đi tìm cái đẹp”: Trong Người lái đò Sông Đà, con người được ví với khối vàng mười quý báu lại chỉ là những ông lái, nhà đò nghèo khổ, những người trên hình hài còn in hằn những dấu vết khắc nghiệt của công việc chở thuyền quá đỗi gian nan, cực nhọc, hiểm nguy. Và tất cả những người lái đò trong thiên tuỳ bút, không trừ một ai, đều làm lụng âm thầm, giản dị, tuyệt đối vô danh, vì tác giả nhất định không chịu nêu tên tuổi của người nào trong họ. Song Nguyễn Tuân cũng cho thấy những con người vô danh đó đã nhờ lao động, nhờ cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên mà trở nên lớn lao, kì vĩ. c) Kết bài Kết luận lại về người lái đò sông Đà và nêu cảm nghĩ. (0,5 điểm) Tác phẩm không chỉ ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ, thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc mà còn ca ngợi vẻ đẹp bình dị, anh hùng mà tài hoa của người dân lao động nơi đây. Qua đó, nhà văn Nguyễn Tuân bộc lộ tình yêu đất nước, niềm tự hào hứng khởi, gắn bó tha thiết với non sông Việt Nam.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 17
2,268
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 18 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 18) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu bên dưới: LẮNG NGHE MÀU DÂN TỘC Tháng 6 – 2012, dự án truyền thông mang tên “Tôi xê dịch” của nhóm bạn trẻ Hà Nội ra mắt. Người sáng lập là Nguyễn Thu Hà, cô gái Hà Nội sinh năm 1991. Đó là một dự án phi lợi nhuận với mục đích tìm hiểu sâu về văn hoá dân tộc. “Tôi xê dịch” đã tổ chức nhiều chuyên đề thông qua một số chương trình tiêu biểu như: “Tham quan Hoàng thành Thăng Long và tìm hiểu văn hóa Hà Nội”, “Trò chơi dân gian Việt Nam”, “Cầu Long Biên”, “Màu dân tộc” (Tìm hiểu làng tranh Đông Hồ – Bắc Ninh),… Dự án tổ chức những tour tìm hiểu về vẫn hoá dán tộc, nghệ thuật dân gian Việt Nam để không chỉ thấy cái tối nhỏ bé của mình trong đời sống, mà còn phải tìm thấy màu dằn tộc trong nếp sống của giới trẻ… (Theo báo Tuổi trẻ, ngày 23/5/2014) Câu 1. Đoạn trích được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? (0,5 điểm) Câu 2. Hãy xác định câu chủ đề của đoạn văn bản. (0,5 điểm) Câu 3. Trọng đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm) Câu 4. Tiêu đề “Lắng nghe màu dân tộc” và cái tên “Tôi xê dịch” được sử dụng biện pháp tu từ chủ yếu nào? Hãy viết khoảng 5-7 dòng nêu tác dụng của biện pháp tu từ này. (1,5 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỀM) Câu 1.(2 điểm) Từ đoạn văn trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (không quá 200 từ) trình bày suy nghĩ của mình về dự án “Tôi xê dịch” và trách nhiệm của giới trẻ trong việc bảo tồn văn hoá dân tộc. Câu 2. (5 điểm) Trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân có đoạn: Bà lão cúi đẩu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không. Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mối có vợ được… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con và cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được? Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói vội “nàng dâu mới”: – Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng… Tràng thở đánh phào một cái (…) Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời: – Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau. (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013) B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỂ THI I. ĐỌC HIẾU (3 ĐIẾM) Câu 1. Đoạn trích được viết theo phong cách ngôn ngữ báo chí. (0,5 điểm) Câu 2. Câu chủ đề của đoạn văn bản: “Tháng 6 – 2012, dự án truyền thông mang tên “Tôi xê dịch” của nhóm bạn trẻ Hà Nội ra mắt”. (0,5 điểm) Câu 3. Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng phương thức biều đạt tự sự. (0,5 điểm) Câu 4. Thí sinh cần nêu được các ý: biện pháp tu từ nổi bật là ẩn dụ ở hình ảnh “lắng nghe màu dân tộc” và “xê dịch”. Tác dụng: nhằm nói lên yẻ đẹp của văn hoá dân tộc và sự tiếp cận, tìm tòi của chúng ta với văn hoá dân tộc. (1,5 điểm) Đoạn văn mẫu: Biện pháp tu từ nổi bật trong tiêu đề văn bản và tên của dự án là ẩn dụ nhằm nói lên vẻ đẹp của văn hoá dân tộc và sự tiếp cận, tìm tòi của chúng ta với văn hoá dân tộc. Trong tiêu đê’ “lắng nghe màu dân tộc”, cụm từ “màu dân tộc” là cách nói giàu hình ảnh nhằm cụ thể hoá vẻ đẹp của văn hoá dân tộc. Vốn văn hoá ấy như những dải màu sắc rực rỡ và đa dạng đang làm đẹp cho bản sắc dân tộc ta. Để hấp thu được vốn văn hoá ấy, chúng ta phải “lắng nghe”. Có nghĩa là ta không chỉ tiếp nhận bằng mắt mà còn bằng nhiều giác quan khác, bằng sự đón nhận trong thế tĩnh. Và để đón nhận được, ta không chỉ ngồi yên mà phải “xê dịch”, phải có những hoạt động tìm tòi cụ thể. Đồng thời những hoạt động ấy còn để cho mọi người xung quanh hiểu vể văn hoá dân tộc. II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Suy nghĩ về dự án “Tôi xê dịch”: Đoạn văn đã ca ngợi một hoạt động của giới trẻ. Hoạt động này có ý nghĩa và sáng tạo trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Đoạn văn mẫu Dự án truyền thông mang tên “Tôi xê dịch” là một hoạt động của giới trẻ có ý nghĩa và sáng tạo. Dự án đã gửi tới các bạn trẻ thông điệp vê’ việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Đất nước đang trong quá trình hội nhập quốc tế, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề quan trọng, ý thức của thanh thiếu niên Việt Nam trong vấn đề này là điều rất đáng quan tâm suy nghĩ. Bản sắc vân hoá là yếu tố quan trọng để khẳng định vị thế của dân tộc đó ở giữa cộng đồng thế giới. Thế hệ trẻ là những người nắm giữ tương lai của đất nước, bởi vậy, nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là một điều vô cùng cần thiết. Thanh thiếu niên Việt Nam cần làm sao để chất văn hoá Việt không mất đi, từ: cách sống, quan niệm, suy nghĩ, ở hoạt động, nói năng, ăn mặc, ứng xử… Tuy nhiên, hiện nay, trong một số bộ phận giới trẻ, dấu ấn của bản sắc ván hoá Việt Nam bị mờ nhạt, mà đậm nét lại là một thứ văn hoá ngoại lai hỗn tạp. Vì vậy, mỗi thanh niên, thiếu niên phải thực sự thấy được giá trị của ván hoá dân tộc. Gia đình, xã hội cũng phải chung sức, chung lòng để tô đậm thêm nữa những giá trị văn hoá dân tộc. Câu 2. (5 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng bài văn với bố cục ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung a) Mở bài Giới thiệu về Kim Lân, tác phẩm Vợ nhặt và tâm trạng bà cụ Tứ khi nghe Tràng giới thiệu vợ (0,5 điểm) Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không mô tả kĩ hiện thực tàn khốc của nạn đói lúc bấy giờ mà tập trung thể hiện vẻ đẹp tinh thẩn ẩn giấu sau cái bề ngoài xác xơ vì đói khát của những người nghèo khổ. Trong ba nhân vật của truyện, bà cụ Tứ – mẹ anh Tràng gây được nhiều thiện cảm đối với người đọc hơn cả bởi tấm lòng nhân hậu rất đáng trân trọng. b) Thân bài (4 điểm) – Hoàn cảnh nảy sinh tâm trạng: Giữa những ngày đói, bà cụ Tứ cũng giống mọi người, lần hồi kiếm miếng ăn và lo lắng vì sự ám ảnh của cái đói thì anh Tràng – con trai bà bỗng nhiên nhặt được vợ. (0,25 điểm) – Tâm trạng bà cụ Tứ: (3,25 điểm) + Sau đó: Khi sự tình đã rồi, trước mắt bà là người con dâu, “mặt cúi xuống”, “tay vân vê tà áo đã rách bợt”. Và rồi bà cụ Tứ cũng chuyển cách nghĩ về việc có vợ là một cơ may: “Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con.. câu văn nghe thật cảm động nhưng có chút gì nhoi nhói, một chút tủi hờn, ai oán số phận, nén cái cảm giác bất đắc dĩ trước việc đã bày ra trước mắt, hoà với chút rưng rưng, xao xuyến một niềm vui. Qua đó, ta lại càng thấy quý trọng người mẹ chồng này hơn khi bà nói nhẹ nhàng với nàng dâu mới: “Thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. + Đánh giá chung: Bà cụ Tứ là hiện thân của nỗi khổ con người. Người mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân éo le của con thông qua toàn bộ nỗi đau khổ của cuộc đời bà. Bà lo lắng trước thực tế quá nghiệt ngã. Bà mừng một nỗi mừng sâu xa. Từ ngạc nhiên đến xót thương nhưng trên hết vẫn là tình yêu thương. – Nghệ thuật miêu tả tâm tí của Kim Lân: Diễn tả tâm lí nhân vật thông qua hành động, cử chỉ, nét mặt, ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, phù hợp với nhân vật… Nhờ diễn tả thật xúc động tâm trạng nhân vật, nhà văn giúp người đọc hình dung rõ hơn nghịch cảnh éo le của người lao động trong nạn đói. (1 điểm) c) Kết bài Kết lại về tâm trạng bà cụ Tứ và nêu cảm nghĩ của bản thân (0,5 điểm) Hình ảnh bà cụ Tứ xứng đáng là ánh sáng le lói trong bóng tối bi thảm của truyện. Hình ảnh bà khiến người đọc rung cảm sâu sắc và làm cho giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt trở nên thấm thía hơn, cảm động hơn.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 18
1,843
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 19 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 19) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: Có mặt tại một số trường THPT trên địa bàn Hà nội trong giờ ra chơi, chứng kiến không ít gương mặt nữ sinh trang điểm lòe lẹt, tóc uốn lọn xoăn, chuốt mi, vẽ mắt. Không để ý đến bạn bè xung quanh, có em còn thản nhiên lôi gương, son môi ra tô như thể đong trong phòng riêng. Cũng có những bạn chỉ chỏ, bàn tản, nhưng dường như các bạn khác cũng đã quá quen với những hành động này. (Trích bài chép của học sinh) Câu 1. Có bạn chép bài báo “Nữ sinh đến trường trang điểm như đi dự tiệc” (Đặng Chung, báo Lao động, 18/2/2014) nhưng bị sai về chính tả và diễn đạt. Anh/chị hãy sửa lỗi chính tả và diễn đạt trong văn bản trên. (1 điểm) Câu 2. Văn bản trên được trình bày theo phong cách ngôn ngữ và phương thức biểu đạt chủ yếu nào? (1 điểm) Câu 3. Văn bản trên nói về hiện trạng gì? Đặt một tiêu để cho văn bản đó. (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Anh/Chị nghĩ sao về việc hiện giờ có nhiều học sinh nữ trang điểm khi tới trường? Hãy viết một đoạn văn khoảng 200 từ để bày tỏ ý kiến của anh/chị. Câu 2. (5 điểm) Ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc thường gắn với tình yêu sâu sắc đối với thiên nhiên đất nước và với truyền thống văn hoá, lịch sử của dân tộc. Qua Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Đoạn trích trong sách Ngữ văn 12), anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận xét trên. B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIẾM) Câu 1. (1 điểm) – Sửa lỗi chính tả: Hà Nội, loè loẹt, chỉ trỏ. – Sửa lỗi diễn đạt: Có mặt tại một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội trong giờ ra chơi, chúng tôi chứng kiến không ít gương mặt nữ sinh trang điểm lòe loẹt, tóc uốn lọn xoăn, chuốt mi, vẽ mắt. Câu 2. Văn bản trên được trình bày theo phong cách ngôn ngữ báo chí và phương thức biểu đạt tự sự. (1 điểm) Câu 3. – Văn bản trên nói vê’ hiện trạng nhiều học sinh trang điểm lòe loẹt khi tới trường. – Tiêu để: Học sinh sành điệu, Sàn diễn trường học, Trang điểm lòe loẹt khi tới trường,… II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1.(2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Hiện trạng: Có nhiều nữ sinh mất nhiều thời gian chuẩn bị trang điểm trước khi tới lớp. – Bình luận: + Mặt được: Các em đẹp hơn, năng động tự tin hơn, dám khẳng định mình hơn. + Mặt chưa được: Mất thời gian học, đi học muộn, tốn tiền,… – Biện pháp: Học sinh chỉ nên trang điểm trong những dịp đặc biệt cần thiết như: khai giảng, liên hoan hay sinh hoạt, văn nghệ. Đoạn văn mẫu Với nhiều nữ sinh, họ không muốn đến trường với vẻ bể ngoài quá đơn giản mà ít nhất phải có chút phấn son hay quần áo hoặc phụ kiện đi kèm nổi bật để tự tin hơn trước bạn bè. Điều đó có nên không? Có người ủng hộ vì cho rằng việc các em trang điểm là dấu hiệu tốt. Các em đẹp hơn, năng động tự tin hơn, dám khẳng định mình hơn. Song đại đa số ý kiến thể hiện sự phản đối. Mọi người cho rằng việc trang điểm làm mất thời gian học, đi học muộn, tốn tiền mĩ phẩm. Hơn nữa, việc trang điểm cầu kì sẽ khiến các em dễ mất vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng. Đó là chưa kể đến, nhiều loại mĩ phẩm không đảm bảo chất lượng bày bán tràn lan trên thị trường sẽ khiến da mặt mỏng manh, nhạy cảm của các em bị dị ứng, nứt nẻ… Việc học sinh trang điểm khi đi học không phải là hành động xấu nhưng chúng ta cũng nên biết chọn phong cách đơn giản, tự nhiên phù hợp với lứa tuổi của mình. Do đó, học sinh chỉ nên trang điểm trong những dịp đặc biệt cần thiết như: khai giảng, liên hoan hay sinh hoạt, văn nghệ. Còn những ngày bình thường nên sử dụng những loại mỹ phẩm dưỡng da nhẹ nhàng hoặc thoa son dưỡng môi chống nẻ, tránh những kiểu trang điểm loè loẹt không phù hợp. Câu 2 (5 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng bài văn với bố cục gồm ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung a) Mở bài Giới thiệu về tác giả, tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? và ý kiến trong bài: Ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc thường gắn với tình yêu sâu sắc đối với thiên nhiên đất nước và với truyền thống văn hoá, lịch sử của dân tộc. (0,5 điểm) b) Thân bài (4 điểm) 1. Giải thích, bình luận ý kiến Đây là một ý kiến nhận xét chính xác về phong cách của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tình yêu nước của Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện trong tình yêu với thiên nhiên và con người quê hương ông, với xứ Huế thân thương. Tác phẩm thể hiện tình yêu sông Hương và xứ Huế với bút pháp đậm chất trữ tình. Qua đó, ta thấy được lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của tác giả. Dòng sông xinh đẹp và đa cảm – Sông Hương vùng thượng lưu: + Sông Hương nhìn từ thượng nguồn tựa như bản trường ca của rừng già (rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt…, cuộn xoáy như những cơn lốc…, dịu dàng và say đắm…). + Sông Hương hiện ra tựa như “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Nhưng cũng chính rừng già nơi đây cũng đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng già nó trở thành người mẹ phù sa của vùng văn hoá xứ sở. – Sông Hương ở phần ngoại vi thành phố: + Lúc này, sông Hương được ví “như người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng” được “người tình mong đợi” đến đánh thức. Đoạn văn thể hiện năng lực quan sát tinh tế và sự phong phú về ngôn ngữ hình tượng giúp nhà văn viết được những câu văn đẩy màu sắc tạo hình và ấn tượng: “Sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẳm”, “nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”, “dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi”. + Rồi “giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm đổ sộ toả lan khắp cả một vùng thượng lưu”, vẻ đẹp ấy được tác giả chọn tả bằng một câu văn dài như ngân lên trong hồn người đọc, tạo một dư âm, một ấn tượng không thể phai mờ trong tâm trí người đọc. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương như triết lý, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga từ bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà. – Sông Hương khi chảy vào thành phố: + Qua thành phố, sông Hương trôi thật chậm, thực chậm, “cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”. Tác giả so sánh với dòng chảy tốc hành của sông Nê-va để thấy quý hơn điệu chảy lặng lờ của sông Hương khi ngang qua thành phố, nhìn nó như là sự “vấn vương của một nỗi lòng”. Điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế ấy thật hợp cảnh hợp tình với những ngôi chùa cổ, những lăng tẩm uy nghi của chốn kinh thành xưa. Niềm tự hào của văn hoá dân tộc. + Dường như sông Hương không muốn xa thành phổ: “Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh… khúc quanh này thật bất ngờ… Đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Sông Hương trở lại “để nói một lời thề trước khi về biển cả”. Cái khúc quanh bất ngờ ấy, trong cảm nhận đấy lãng mạn của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở thành nỗi vương vấn, thành chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu, là hành động chí tình của người con gái để gặp lại người tình. Dòng sông đằm thắm, lắng sâu; kiên cường mạnh mẽ – Vẻ đẹp sông Hương gắn với lịch sử dân tộc. Sông Hương không chỉ in dấu lịch sử, song hành cùng lịch sử mà còn chứa đựng lịch sử của riêng nó – một lịch sử hào hùng và dữ dội, bất khuất và đớn đau. – Vẻ đẹp sông Hương với cuộc đời và thơ ca, nghệ thuật. Sông Hương tạo cảm hứng để ta sáng tạo ra tà áo dài Huế. Không chỉ vậy, sông Hương còn là cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm thơ ca, âm nhạc. Toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông. Ai đã đặt tên cho dòng sông? Bài kí kết thúc bằng cách lí giải về cái tên của dòng sông, nhấn mạnh bằng một huyền thoại mĩ lệ, mang đến cho tác phẩm sắc màu lãng mạn. Đó là chuyện về cư dân hai bên bờ sông nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi. Huyền thoại về tên dòng sông đã nói lên khát vọng của con người nơi đây muốn đem cái đẹp và tiếng thơm để xây đắp văn hoá, lịch sử, địa lí quê hương mình.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 19
1,754
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 20 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 20) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIẾU (3 ĐIẾM) Đọc đoạn văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: Sau hai năm thực hiện và gây được tiếng vang lớn trong xã hội, Gala “Việc tử tế 2017” tiếp tục là chương trình được Trung làm tin túc VTV24 chú trọng đầu tư sản xuất. Năm nay, bối cảnh ghi hình của Gala “Việc tử tế” đã được thay đổi từ trường quay S14, Đài Truyền hình Việt Nam sang một không gian mở đầy ý nghĩa, đó là tại Bệnh viện Tim Hà Nội cơ sở 2 và Bệnh viện K Tần Triều. Nếu như sân khấu tại Bệnh viện Tim Hà Nội cơ sở 2 mở ra không gian của âm nhạc thì những hình ảnh tại Bệnh viện K Tân Triều lại mang đến cho khản giả những câu chuyện đẹp về sự tử tế. Với ý tưởng “Khi trái tim còn đập”, Galã “Việc tử tế’ muốn kể lại những cầu chuyện về lòng tốt, về sự tử tế diễn ra thường nhật trong các bệnh viện. Đó là câu chuyện của các bác sĩ chăm sóc cho bệnh nhân bằng tất cả tấm lòng của mình, là câu chuyện của cộng đồng các nhóm thiện nguyện động viên, giúp đỡ bệnh nhân cả vê vật chất lẫn tinh thần và đặc biệt, đó là cầu chuyện về nghị lực sống bền bỉ, về tinh thần lạc quan, yêu đời của các bệnh nhân – những người đang từng ngày, từng giờ chiến đấu với bệnh tật. Tất cả những câu chuyện có thật này sẽ cho khán giả thấy được bệnh viện không phải là nơi lạnh lẽo như nhiều người tưởng. Đó còn là nơi vô cùng ấm áp bởi hơi ấm tình người, sự sẻ chia, cảm thông với nỗi đau của các bệnh nhân. (Trích bài báo Gala Việc tử tế 2017: Khi trái tim còn đập, sự tử tế còn cần được lan truyền, vtv.vn) Câu 1. Nêu phong cách ngôn ngữ và phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn số 2. (1 điểm) Câu 2. Xác định chủ đề của đoạn văn bản trên. Để triển khai ý tưởng trong đoạn văn, người viết đã sử dụng kiểu kết cấu nào? (diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp…) (1 điểm) Câu 3. Theo anh/chị, tại sao chương trình “Việc tử tế” lại gây được tiếng vang lớn? (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIẾM) Câu 1. (2 điểm) Có ý kiến cho rằng: Tử tế là mạch sống tình người, đừng làm nó chết. Một ý kiến khác lại nêu vấn để: Xã hội ngày nay, sống tử tế là quá khó khăn. Vậy anh/chị hiểu như thế nào là sống tử tế? Hãy trình bày quan điểm của bản thân về sống tử tế trong cuộc sống hiện nay với một đoạn văn (khoảng 200 từ). Câu 2. (5 điểm) Một trong những nét nổi bật của phong cách thơ Tố Hữu là tính dân tộc đậm đà. Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc để làm sáng tỏ nhận định trên: …Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung… ( Việt Bắc, Tố Hữu, Ngữ vân 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2008) I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Câu 1. – Phong cách ngôn ngữ trong đoạn 2 là báo chí. – Phương thức biểu đạt chính trong đoạn 2 là tự sự. (1 điểm) Câu 2. – Chủ đề của đoạn văn bản trên: Sự thay đổi và nội dung của chương trình Gala “Việc tử tế 2017” với ý tưởng “Khi trái tim còn đập”. – Để triển khai ý tưởng trong đoạn văn, người viết đã sử dụng kiểu kết cấu diễn dịch. (1 điểm) Câu 3. Chương trình “Việc tử tế” gây được tiếng vang lớn vì đây là chương trình khơi dậy lòng tốt, sự trắc ẩn trong xã hội khi kể lại những việc làm tốt đẹp của mọi người xung quanh ta. Không chỉ vậy, bằng những câu chuyện cảm động có sức thức tỉnh và lan truyền cảm hứng, chương trình còn truyền thêm tinh thần lạc quan, nghị lực sống và ngọn lửa đam mê cháy bỏng. (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Giải thích: + “Sống tử tế: Sống tốt với mọi người xung quanh, sẵn sàng chia sẻ giúp đỡ mọi người, không chỉ biết đến cá nhân mình. + Ý kiến thứ nhất: Tử tế là mạch sống tình người, đừng làm nó chết: Sống tử tế thể hiện qua những việc tử tế, từ những việc tưởng như nhỏ nhất. + Ý kiến thứ hai: Xã hội ngày nay, sống tử tế là quá khó khăn: Đây là thực trạng xã hội khi mọi vấn đê’ thật giả, tốt xấu bị lẫn lộn. -Bàn luận: + Khẳng định: Sống tử tế là điều rất cần thiết đối với cuộc sống mỗi người. + Ai cũng có cơ hội làm được những việc tử tế nếu thường xuyên nghĩ đến nó, đến môi trường sống xung quanh chúng ta… + Cần phê phán một thực tế: Trong xã hội vẫn còn rất nhiều những việc không tử tế. – Bài học: Tất cả chúng ta cần hướng tới lối sống tử tế. Đoạn văn mẫu Có ý kiến cho rằng: Tử tế là mạch sống tình người, đừng làm nó chết. Một ý kiến khác lại nêu vấn đề: Xã hội ngày nay, sống tử tế là quá khó khăn. Sống tử tế là sống tốt với mọi người xung quanh, sẵn sàng chia sẻ giúp đỡ mọi người, không chỉ biết đến cá nhân mình. Ý kiến thứ nhất đã khẳng định: Sống tử tế làm phục hồi những giá trị đạo đức chân chính, hướng tới xây dựng một cộng đồng xã hội tốt đẹp. Tuy nhiên, ý kiến thứ hai lại chỉ ra: Muốn làm người tử tế trong xã hội ngày nay cũng không phải dễ. Đây là thực trạng xã hội khi mọi vấn để thật giả, tốt xấu bị lẫn lộn. Tuy hai ý kiến đối lập nhau song chúng ta vẫn phải khẳng định: Sống tử tế là rất cần thiết đối với cuộc sống mỗi người. Sống tử tế là một ý thức sống cao đẹp thể hiện nét đẹp truyền thống văn hoá từ ngàn đời của dân tộc ta. Ví dụ: Khi đồng bào các tỉnh miền Trung bị lũ lụt, nhân dân các vùng khác cùng chung tay quyên góp ủng hộ. Thực tế, ai cũng có cơ hội làm được những việc tử tế nếu thường xuyên nghĩ đến nó, đến môi trường sống xung quanh chúng ta… Tuy nhiên, thực tế, có nhiều người quen lối sống chộp giật, ích kỉ. Chúng ta cần phê phán hiện tượng này để không ai còn phải nói câu: sống tử tế là quá khó khăn. Để làm được điầu đó, giáo dục trong nhà trường, tuyên truyền ngoài xã hội là một biện pháp vô cùng cẩn thiết và phải tiến hành thường xuyên. Mong sao với những việc làm đó, tất cả xã hội chúng ta đều hướng tới lối sống tử tế. Câu 2. (5 điểm) – Viết đúng bài văn với bố cục ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung a) Mở bài Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, ý kiến trong bài và trích đoạn thơ (0,5 điểm) Một trong những nét nổi bật của phong cách thơ Tố Hữu là tính dân tộc đậm đà. Việt Bắc là bài thơ thể hiện rõ nét đẹp đó. b) Thân bài (4 điểm) 1. Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu (0,5 điểm) – Về nội dung: Thơ Tố Hữu phản ánh đậm nét hình ảnh con người Việt Nam và tình cảm Việt Nam trong thời đại mới, tiếp nối với truyền thống tinh thần, tình cảm, đạo lí của dân tộc. – Về nghệ thuật: Tố Hữu sử dụng thành công các thể thơ thuần dân tộc (thơ lục bát, thơ bảy chữ), ngôn ngữ thơ gần với lối nói quen thuộc của dân tộc, thơ giàu nhạc điệu. 2. Tính dân tộc thể hiện qua trích đoạn thơ của bài “Việt Bắc” (3,5 điểm) – Hai câu mở đầu đoạn thơ: Người cán bộ kháng chiến hỏi Việt Bắc có nhớ “ta” không và diễn tả nỗi nhớ của mình với Việt Bắc một cách khái quát: Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Điệp từ “Ta về” và “nhớ” tăng cường nhạc điệu êm ái hợp với tình cảm thương nhớ và nhấn mạnh tình cảm tha thiết giữa người đi kẻ ở. – Hai câu 3, 4 + Cảnh: Đây là mùa đông với màu xanh tha thiết lại đột ngột bùng lên màu “hoa chuối đỏ tươi” như ngọn lửa của rừng, ấm áp tình yêu: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”, vẻ đẹp của màu sắc, của hoa lá, của ánh sáng, của hương hoa hoà quyện với vẻ đẹp của con người. + Người: Giữa “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” nổi bật lên hình ảnh người lao động miền núi: “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Chỉ một câu thơ mà giúp ta cảm nhận được tư thế mạnh mẽ, khoẻ khoắn của những con người làm chủ thiên nhiên. + Cảnh: Bức tranh mùa xuân lại được chuyển sang gam màu lạnh. Ngày xuân rừng núi phủ một màu trắng tinh khiết của hoa mơ. Động từ “nở” khiến cho màu sắc như đang vận động, màu trắng càng có sức ám ảnh đối với người đọc. + Người: Dưới ánh sáng của rừng mơ mùa xuân, hình ảnh cô gái lao động Việt Bắc hiện lên thanh mảnh, dịu dàng. – Hai câu 7, 8 + Cảnh: Mùa hè, âm thanh của tiếng ve là đặc trưng của rừng núi Việt Bắc. Tác giả đã sử dụng bút pháp ấn tượng. Tưởng chừng như tiếng “ve kêu” đậm đặc, rung chuyển cả cây rừng khiến cho lá “phách đổ vàng. + Người: Giữa cảnh rừng hè, bất chợt gặp một cô gái “hái măng một mình”, phong cảnh thật là hữu tình. Cô gái tuy một mình mà chẳng hề cô đơn, ngược lại khung cảnh càng tôn thêm sự trẻ trung của cô. Con người như đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời. – Hai câu cuối + Cảnh: Cảnh thu Việt Bắc lại được miêu tả về đêm với bầu trời cao rộng và mảnh trăng thu thanh bình: “Rừng thu trăng rọi hoà bình”. Chữ “hoà bình” làm không gian trở nên êm đềm, đồng thời cũng là niềm ao ước của tất cả người dân bấy giờ. + Người: Những đêm trăng thu nổi lên “tiếng hát ân tình thuỷ chung” như tạc vào trong dạ của người ra đi. Trong trí nhớ của họ, phong cảnh Việt Bắc đẩy màu sắc như một cái nền để làm nổi bật hình ảnh người Việt Bắc đảm đang, tình nghĩa, thuỷ chung. – Tiểu kết: Đây là đoạn thơ đặc sắc, thể hiện rõ tính dáñ tộc trong thơ Tố Hữu: 2. Về nội dung: Qua vẻ đẹp bốn mùa của Việt Bắc, đoạn thơ đã diễn tả được một khía cạnh sâu sắc của chủ đề bài thơ Việt Bắc là tình cảm thuỷ chung giữa người Việt Bắc với những chiến sĩ cách mạng. Từ đó, đoạn thơ đề cao truyền thống, đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc. 3. Về nghệ thuật: + Tính dân tộc thể hiện ở thể thơ lục bát (thể thơ truyền thống của dân tộc). Giọng thơ mềm mại, uyển chuyển, giàu tính nhạc, dễ đi vào lòng người. + Tính dân tộc thể hiện ở cách xưng hô “ta – mình” mộc mạc, dân dã, thấm đượm nghĩa tình quân dân. Việt Bắc và người cán bộ giống như một đôi bạn tình. + Tính dân tộc thể hiện qua ngôn ngữ thuần Việt, giản dị, dễ thuộc, dễ nhớ. Hình ảnh thơ gần gũi đời thường, nhiều sức gợi. c) Kết bài Kết luận chung về đoạn thơ, ý kiến trong đề bài và nêu cảm nghĩ (0,5 điểm) Với đoạn thơ, thiên nhiên và con người Việt Bắc được gợi tả sắc nét, tràn đầy sức sống và đậm hồn dân tộc. Bức tranh tứ bình này càng khiến cho ta thêm khâm phục tài năng thơ của tác giả.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 20
2,170
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 21 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 21) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Đọc đoạn văn sau đây và trả lời các câu hỏi bên dưới: Cách nghĩ khác đầu tiên làm thay đổi cuộc đời Đặng Lê Nguyên Vũ có lẽ là quyết định rời bỏ đại học ỵ danh tiếng và chuỵêh sang thu mua cà phê về rang xay, chế biến theo ý mình. Mẹ ông đã khóc ròng vì quyết định này. Nhưng không, Đặng Lê Nguyên Vũ đã quyết bỏ 6 năm học ngành y thay vì biến cuộc đời mình trở nên vô dụng. Trên chiếc xe đạp cà tàng của mình, ông đến từng đại lý mua mua cà phê để bắt đầu sự nghiệp. Những ý tưởng lớn dần theo những vòng quay đây nhiệt huyết của bánh xe. Nung nấu trong đầu một chàng trai Tây Nguyên này là câu hỏi: “Tại sao Việt Nam, mà chủ yếu là Buôn Ma Thuột – nơi có hạt cà phê vào loại ngon nhất thế giới, xuất khẩu cà phê cũng vào hàng đâu thế giới, nhưng nông dàn vẫn nghèo, nhưng giá trị về vẫn thấp? Cách nghĩ khắc tiếp theo làm thay đổi sự nghiệp của anh chàng kinh do­anh cà phê rang xay đó là chỉ có chế biến mới tạo nên giả trị đích thực. Tư duy này hiện giờ là phổ biến, tuy nhiên cách đáy 18 năm; khi Hãng cà phê Trung Nguyên ra đời; xuất khẩu cà phê thô vẫn là mục tiêu chính. Khi đó, ý tưởng chế biến cà phê của Vũ bị kêu là khùng, chứ chưa nói đến tham vọng chế biến cà phê ngon để xuất khẩu. … Tuy nhiên trải ngược với những lời bàn tán, ít lâu sau thương hiệu cà phê Trung Nguỵên vượt ra khỏi ranh người Đắk Lắk. Vào năm 1998, với sức công phá mạnh và cuộc đổ bộ rầm rộ đã giúp cà phê Trung Nguyên phủ khắp cắc ngõ ngách của Sài Gòn, tới từng dân nghiền cà phê. Đặng Lê Nguyên Vũ đã tạo ra cách thức để khách hàng tự mình trở thành người sành điệu về cà phê, tự tạo hình ảnh cá nhàn qua sự lựa chọn khác nhau trong từng hương vị của cà phê. … Năm 2012, Đặng Lê Nguyên Vũ lần đầu tiên được vinh danh là “Vua cà phê” một cách chính thức trên tờ tạp chí uỵ tín National Geographic Traveller và vào tháng 8/2012, Tạp chí Forbes nhắc lại danh hiệu này với lời ca ngợi “zero to hero” – nhân vật từ vô danh thành anh hùng. (Theo Con đường thành công của “Vua cà phê” Đặng Lê Nguyên Vũ, báo điện tử Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản. (0,5 điểm) Câu 2. Đoạn (3) giới thiệu cách nghĩ mới lạ nào của ông Đặng Lê Nguyên Vũ? (0,5 điểm) Câu 4. Từ bài viết trên, anh/chị hãy nhận xét ngắn gọn (trong khoảng 5-7 dòng) về ông Đặng Lê Nguyên Vũ và việc kinh doanh cà phê của ông. (1,5 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Ngạn ngữ có câu: “Cuộc đời ngắn ngủi không cho phép ta ước vọng quá nhiều”. Nhà văn Nga M. Pris-vin lại cho rằng: Phải ước mơ nhiều hơn nữa, phải thiết tha hơn nữa để biến tương lai thành hiện tại. Từ câu chuyện của Đặng Lê Nguyên Vũ và hai câu nói ở trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ước mơ và thành công. Câu 2. (5 điểm) “Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường”. (Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011) Qua bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên? B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Câu 1. Phong cách ngôn ngữ báo chí. (0,5 điểm) Câu 2. Đoạn (3) giới thiệu cách nghĩ mới lạ. Đó là chỉ có chế biến mới tạo nên giá trị đích thực. Tư duy này hiện giờ là phổ biến, tuy nhiên, cách đây 18 năm, khi hãng cà phê Trung Nguyên ra đời, xuất khẩu cà phê thô vẫn là mục tiêu chính. (0,5 điểm) Câu 3. Việc Đặng Lê Nguyên Vũ lần đầu tiên được vinh danh là “Vua cà phê” một cách chính thức trên tờ tạp chí uy tín National Geographic Traveller cho thấy cà phê của Việt Nam xứng đáng có một vị thế vững chắc trên thị trường quốc tế. (0,5 điểm) Câu 4. Học sinh có thể trình bày ý kiến của bản thân theo nhiều hướng khác nhau. Cần nêu được ý: Ông Đặng Lê Nguyên Vũ và hoạt động kinh doanh cà phê sáng tạo đã góp phần làm phát triển, vinh danh việc sản xuất cà phê trong nước nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung. (1,5 điểm) Đoạn văn mẫu Ông Đặng Lê Nguyên Vũ và hoạt động kinh doanh cà phê đầy sáng tạo của ông đã góp phần làm phát triển, vinh danh việc sản xuất cà phê trong nước nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung. Ông thực sự là một người có tâm huyết với việc sản xuất cà phê trong nước. Những ước mơ, suy nghĩ táo bạo của ông làm thay đổi tư duy của nhiều bạn trẻ, động viên họ khởi nghiệp và dấn bước. Thành công của ông cũng giúp thế giới nhận thức đúng hơn về các sản phẩm cà phê Việt Nạm nói riêng và nông nghiệp Việt Nam nói chung. II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: 1. Giải thích: + Ước mơ: Là những điều ta muốn đạt được trong tương lai. + Thành công: Là điều ta đạt được theo đúng những gì mình mong ước. + Đặng Lê Nguyên Vũ: Là tấm gương thành công với ước mơ kinh doanh cà phê. 2. Hai câu nói (0,5 điểm): Cuộc đời ngắn ngủi không cho phép ta ước vọng quá nhiều. Phải ước mơ nhiều hơn nữa, phải thiết tha hơn nữa để biến tương lai thành hiện tại. 3. Bình luận câu nói (1 điểm): + Tấm gương và bài học thành công từ ông Đặng Lê Nguyên Vũ. + Hai câu danh ngôn đúng hay sai? + Lí do đúng (hoặc sai). 4. Bài học rút ra. (0,5 điểm) Đoạn văn mẫu Ngạn ngữ có câu: “Cuộc đời ngắn ngủi không cho phép ta ước vọng quá nhiều”. Câu nói chỉ ra: Vì cuộc đời con người ngắn ngủi nên mỗi người không đủ thời gian thực hiện nhiểu mơ ước, mong muốn, nhất là những mơ ước, mong muốn xa rời thực tế. Song nhà văn Nga M. Pris-yin lại cho rằng: “Phải ước mơ nhiều hơn nữa, phải thiết tha hơn nữa để biến tương lai thành hiện tại”. Câu nói của nhà văn Nga khuyến khích con người cần mơ ước nhiều hơn, khao khát mãnh liệt hơn để biến những điều mơ ước thành hiện thực. Hai ý kiến tuy trái ngược nhau song đều đưa ra những lời khuyên bổ ích, giúp con người có những định hướng đúng đắn trong cuộc sống vốn dĩ nhiều khó khăn và phức tạp. Nếu không biết mơ ước, không có những ước mơ cao xa, con người không thể vượt lên thực tại để thực hiện những điều tốt đẹp, kì diệu. Tuy nhiên, không phải cứ ước mơ thật nhiều, khát khạo mãnh liệt thì tất cả đều trở thành hiện thực, vì có những ước mơ viển vông, lãng mạn, xa rời thực tế khiến con người dễ bị rơi vào ảo tưởng, thất vọng. Bài học rút ra là cẩn phải có những hành động tích cực để biến ước mơ thành hiện thực, phải nỗ lực hết mình để thành công. Đồng thời, luôn tự tin vào năng lực của bản thân để tránh những biểu hiện của tư tưởng an phận và mơ ước viển vông, xa rời thực tế. Câu 2. (5 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng bài văn với bố cục ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… a) Mở bài Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, ý kiến trong bài (0,5 điểm) Qua Sóng, Xuân Quỳnh đã mượn hình tượng sóng để thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường. b) Thân bài (4 điểm) 1. Giải thích, bình luận ý kiến (0,5 điểm) – Ý kiến nêu trên có ý nghĩa khái quát về thơ và con người nữ sĩ Xuân Quỳnh. Những vần thơ đó thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ: Tình yêu là cái đẹp, cái cao cả; tình yêu là sự hoàn thiện con người. – Ý kiến còn có ý nghĩa khái quát, thơ Xuân Quỳnh tiêu biểu cho tiếng nói tâm tư, tình cảm của giới mình. – Đánh giá: Ý kiến trên hoàn toàn xác đáng. Từ ý kiến trên và qua bài thơ Sóng giúp ta nhìn lại tâm hồn mình để sống đẹp trong tình yêu và trong cuộc đời. 2. Phân tích bài thơ để chứng minh ý kiến (3,5 điểm) – Về nội dung: Bài thơ thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, nhiều lo âu và luôn da diết trong hạnh phúc đời thường. + Tâm hồn phụ nữ có những rung động mãnh liệt, luôn rạo rực đầy khao khát, luôn tìm cách lí giải tâm hồn mình và đi tìm cội nguồn của tình yêu. + Tâm hồn phụ nữ hồn hậu, chân thành với tình yêu đắm say, trong sáng và chung thuỷ. + Hi vọng vào tình yêu cao cả trước thử thách nghiệt ngã của thời gian và cuộc đời sẽ hoàn thiện mình. + Tình yêu không vị kỉ mà đầy trách nhiệm, muốn hoà nhập vào cái chung để dâng hiến trọn vẹn. – Về nghệ thuật + Sử dụng thể thơ năm chữ, âm điệu bằng trắc của những câu thơ thay đổi đan xen nhau, nhịp điệu phù hợp với nhịp điệu vận động của sóng và phù hợp với cảm xúc của nhân vật trữ tình. + Sử dụng từ ngữ gợi hình, gợi cảm, diễn tả những trạng thái đối lập mà thống nhất của sóng và của tình cảm con người. + Hình tượng sóng trong bài thơ thể hiện sinh động và chính xác những cảm xúc và khát vọng trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu. c) Kết bài Kết luận chung vẽ bài thơ Sóng, ý kiến trong đề bài và nêu cảm nghĩ (0,5 điểm) Ý kiến trong đề bài đã nói được đặc sắc của bài Sóng nói riêng và tư tưởng và phong cách thơ Xuân Quỳnh ở giai đoạn đầu nói chung. Bài thơ vừa xinh xắn, duyên dáng; vừa mãnh liệt, sôi nổi; vừa hồn nhiên, trong sáng; vừa ý nhị, sâu xa.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 21
1,892
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 22 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 22) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Đọc câu truyện sau đây và trả lời câu hỏi bên dưới: HAI HẠT GIỐNG Có hai hạt thóc nọ được giữ lại để làm hạt giống cho vụ sau vì cả hai đểu là những hạt giống tốt, đểu to khoẻ và chắc mẩy. Một hôm, người chủ định đem chúng gieo trên cánh đồng gần đó. Hạt thứ nhất nhủ thầm “Dại gì ta phải theo ông chủ ra đồng. Ta không muốn cả thân mình phải nát tan trong đất. Tốt nhất ta hãy giữ lại tất cả chất dinh dưỡng trong lớp vỏ này và tìm một nơi lý tưởng để trú ngụ”. Thế là nó chọn một góc khuất trong kho lúa để lăn vào đó. Còn hạt thóc thứ hai thi ngày đêm mong được ông chủ mang gieo xuống đất. Nó thật sự sung sướng khi được bắt đầu một cuộc đời mới. Thời gian trôi qua, hạt thóc thứ nhất bị héo khô nơi góc nhà vì nó chẳng được nhận nước và ánh sáng. Lúc này, chất dinh dưỡng chẳng giúp ích gì được cho nó cả. Nó chết dần chết mòn. Trong khi đó hạt thóc thử hai dù nát tan trong đất nhưng […] (Theo Hành trang vào đời, NXB Lao động – Xã hội) Câu 1. Chỉ ra phong cách ngôn ngữ và phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên. (1 điểm) Câu 2. Nêu rõ hai phép tu từ được sử dụng trong những câu văn sau: “Còn hạt thóc thứ hai thì ngày đêm mong được ông chủ mang gieo xuống đất. Nó thật sự sung sướng khi được bắt đầu một cuộc đời mới.” (1 điểm) Câu 3. Đặt một tiêu đề khác cho câu chuyện này. (0,5 điểm) Câu 4. Anh/Chị hãy viết tiếp câu cuối, vào dấu [… ] ở cuối đoạn văn để kết thúc câu chuyện. (0,5 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị sau khi đọc xong câu chuyện trên. Câu 2. (5 điểm) Nêu cảm nhận của anh/chị vể ý thức phản kháng đối với số phận của nhân yật Mị trong đoạn trích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. (Ngữ văn 12, Tập hai) B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI Câu 1.(1 điểm) – Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. – Phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ trên là tự sự. Câu 2. (1 điểm) – Phép tu từ ẩn dụ: Hạt thóc giống chỉ những con người sống trên đời. Thái độ vui mừng của hạt thóc khi được gieo xuống đất biểu tượng cho hạnh phúc được cống hiến của con người. – Phép tu từ nhân hoá: Nhân hoá hạt thóc tạo sự thú vị cho câu chuyện và từ hạt thóc mà nói tới suy nghĩ của con người. Câu 3. (0,5 điểm) Các tiêu đề khác: Thái độ sống của con người, Hai thái độ sống, ích kỉ và cống hiến,… Câu 4. (0,5 điểm) Những từ phù hợp để viết tiếp vào đoạn kết: “Trong khi đó, hạt thóc thứ hai dù nát tan trong đất nhưng từ thân nó lại mọc lên cây lúa vàng óng, trìu hạt.” II. LÀM VĂN (7 ĐIẾM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Giải thích câu chuyện: (0,5 điểm) + Hai hạt lúa đại diện cho hai quan niệm, hai lối sống trái chiều nhau. + Nội dung câu chuyện thể hiện quy luật cho và nhận trong cuộc sống. – Bình luận tư tưởng trong câu chuyện (1 điểm): + Tư tưởng trong câu chuyện đúng hay sai? + Lí do đúng (hoặc sai). – Bài học rút ra. (0,5 điểm) Đoạn văn mẫu Hai hạt lúa đại diện cho hai quan niệm, hai lối sống trái chiều nhau: một bên luôn sẵn sàng cho đi, một bên ích kỉ chỉ biết giữ lại những điểu tốt đẹp cho bản thân mình. Hạt giống thứ nhất chỉ khư khư tìm một nơi trú ngụ là đại diện cho lối sống ích kỉ. Còn hạt giống thứ hai thì ngày đêm mong được ông chủ mang gieo xuống đất là đại diện cho lối sống sẵn sàng cho đi. Hạt lúa thứ nhất muốn giữ lại chất dinh dưỡng cho riêng mình trong một hình hài nguyên vẹn tuy không nát tan trong đất nhưng lại tự huỷ hoại và bị tuyệt diệt. Hạt giống thứ hai tưởng rằng đã tan nát trong đất nhưng lại được hồi sinh thành những bông lúa vàng trĩu hạt. Sự tan biến và nảy nở của hai hạt giống là kết quả của việc cho và nhận. Cho đi không có nghĩa là mất, giữ lại không có nghĩa là được. Hãy sẵn sàng dâng hiến cho cuộc đời những gì tốt đẹp mà ta có. Hãy can đảm bước ra đi, âm thâm chịu nát tan để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ. Câu 2. (5 điểm) – Viết đúng bài văn với bố cục gồm ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung a) Mở bài Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, ý thức phản kháng đối với số phận của nhân vật Mị (0,5 điểm) Tô Hoài là nhà văn lớn của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam với số lượng tác phẩm đồ sộ. Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn thành công nhất trong ba truyện ngắn viết về đề tài Tây Bắc của ông. Truyện đã xây dựng thành công nhân vật Mị, qua đó ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng và khả năng đến với cách mạng của nhân dân Tây Bắc. b) Thân bài (4 điểm) 1. Ý thức phản kháng đối với số phận: Mị không chấp nhận sự an bài, những khó khăn của cuộc đời, tìm một hướng đi khác tốt đẹp hơn cho bản thân mình, hiểu và phê phán thế lực chà đạp cuộc đời của mình,… (0,5 điểm) 2. Ý thức phản kháng đối với số phận của nhân vật Mị (3 điểm) – Thời chưa làm dâu nhà thống lí Tuy phải gánh món nợ cho cha mẹ song Mị không chịu lấy con trai thống lí để trả nợ mà vẫn xin cha cho tự lao động kiếm tiền trả nợ cho bố mẹ. – Khi phải làm dâu nhà thống lí + Bị bắt về nhà Thống lí, Mị định tự tử. Việc Mị tìm đến cái diết thể hiện tinh thần phản kháng duy nhất của một con người có sức sống tiềm tàng mà không thể làm khác trong hoàn cảnh ấy. + Sự trỗi dậy của lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc trong đêm tình mùa xuân. +) Dấu hiệu đấu tiên của việc sống lại đó là Mị nhớ lại quá khứ, nhớ về hạnh phúc ngắn ngủi trong cuộc đời tuổi trẻ của mình và niềm ham sống trở lại: “Mị thấy phơi phới trở lại, lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước”. “Mị còn trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ lắm. Mị muốn đi chơi”. +) Những sôi sục trong tâm tư đã dẫn Mị tới hành động “lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa dầu”. +) Hành động này đẩy tới hành động tiếp: Mị “quấn tóc lại, với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách”. +) Khi bị A Sử trói vào cột, Mị vẫn trong trạng thái mộng du đang chìm đắm với những giấc mơ về một thời xuân trẻ, đang bổng bềnh trong cảm giác du xuân. – Đêm đông cởi trói cho A Phủ + Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. + Cuối cùng, sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi. 3. Giá trị nhân đạo của tác phẩm qua ý thức phản kháng đối với số phận của nhân vật Mị (0,5 điểm) – Ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khả năng cách mạng của nhân dân Tây Bắc. – Giải phóng con người khỏi sự chà đạp, cho họ một cuộc sống mới tốt đẹp hơn. Nhà văn đã tin tưởng vào sức mạnh quật khởi, tinh thần đấu tranh để tự giải phóng của họ. c) Kết bài Kết luận chung về ý thức phản kháng đối với số phận của nhân vật Mị và nêu cảm nghĩ (0,5 điểm) Vợ chồng A Phủ đã khắc hoạ sâu sắc cuộc đời, số phận, tính cách Mị. Từ đó, tác phẩm tố cáo những thế lực phong kiến, thực dân tàn bạo áp bức, bóc lột, đoạ đày người dân nghèo miền núi. Đồng thời, tác phẩm cũng khẳng định khát vọng tự do hạnh phúc, sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của những người lao động.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 22
1,539
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 23 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 23) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIẾU (3 ĐIỂM) Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: Chưa bao giờ cô Tơ thấy rõ cái đau khổ ngậm ngùi của tiếng đàn đáy buổi này. Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kiết (kết tụ lại) cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cải tâm sự không tiết ra được. Nó là nỗi ủ kín bực dọc bưng bít. Nó giống như cái trạng huống thở than của một cảnh ngộ tri ấm… Nó là niềm vang dội quằn quại của những tiếng chung tình. Nó Là cái dư ba của bể chiều đứt chán sóng. Nó là cơn gió chẳng lọt kẽ mành thưa. Nó là sự tái phát chứng tật phong thấp vào cỡ cuối thu dầm dề mưa ẩm và nhức nhối xương tuỷ. Nó là cải lả lay nhào lìa của lá bỏ cành… Nó là cái oan uổng nghìn đời của cuộc sống thanh âm. Nó là sự khổn nạn khốn đốn của chỉ tơ con phím. (Trích Chùa đàn – Nguyễn Tuân) Câu 1. Đoạn văn được trần thuật theo ngôi thứ mấy? (0,5 điểm) Câu 2. Trong đoạn, tác giả sử dụng nhiều câu văn dài hay ngắn? Vi sao tác giả sử dụng như vậy? (0,5 điểm) Câu 3. Nêu biện pháp tu từ chủ yếu được tác giả sử dụng trong đoạn văn dưới đây và nêu tác dụng của biện pháp tu từ ấy. (1,5 điểm) Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào khống gian. Nó nghẹn ngào, liễm kiết (kết tụ lại) cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết ra được. Câu 4. Nêu câu văn thâu tóm chủ đề của đoạn trích. (0,5 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Từ đoạn trích trên, anh/chị hãy viết thành một đoạn văn khoảng 200 từ nói lên vai trò của nghệ thuật với cuộc sống con người. Câu 2. (5 điểm) Vẽ hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca (Thanh Thảo), có ý kiến cho rằng: Tiếng đàn là thân phận Lorca, cũng là thân phận của nghệ thuật nói chung trong một thực tại mà cái ác ngự trị. Ý kiến khác lại nhấn mạnh: Tiếng đàn là vẻ đẹp tâm hổn, là sức sống bất diệt của nghệ thuật Lorca. Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh/chị hãy bình luận về hai ý kiến trên. B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Câu 1. Đoạn văn được viết theo ngôi thứ ba kết hợp với ngôi thứ nhất (tác giả và nhân vật cùng kể). Lí do: Miêu tả những cung bậc khác nhau dồn dập vang tới của tiếng đàn và những cảm xúc say mê của người nghe. Câu 3. – Biện pháp tu từ chủ yếu được tác giả sử dụng trong việc miêu tả tiếng đàn: + Nhân hoá: “Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không gian”. + Điệp từ, điệp cấu trúc: “Nó nghẹn ngào, liễm kiết (kết tụ lại) cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết ra được.”. – Tác dụng: Nhằm thể hiện âm thanh tiếng đàn như tiếng lòng của một cá thể có tâm trạng, nỗi niềm đau khổ… Đồng thời, giúp cho đoạn văn giàu hình ảnh, nhạc điệu, sinh động, hấp dẫn hơn trong việc đặc tả các cung bậc tiếng đàn. Câu 4. Câu văn thâu tóm chủ đề của đoạn trích: “Chưa bao giờ cô Tơ thấy rõ cái đau khổ ngậm ngùi của tiếng đàn đáy buổi này.” II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Giải thích nghệ thụật là gì? (0,5 điểm) – Bình luận vể vai trò của nghệ thuật với cuộc sống con người. (1 điểm) Đoạn văn mẫu Nghệ thuật gồm những hoạt động, bộ môn tạo ra cái đẹp cho cuộc sống. Nó bao gồm: âm nhạc, hội hoạ, sân khấu, văn học, điện ảnh… Nghệ thuật có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhân loại. Nghệ thuật vốn là bộ môn của cái đẹp, do vậy, nó bảo lưu, gìn giữ, phát triển cái đẹp cho mọi người cùng chiêm ngưỡng. Chúng đem lại sự thoải mái, vui vẻ, hoá giải được những phiền não, căng thẳng. Thứ ba, vai trò của nghệ thuật thể hiện ở phương diện giáo dục. Nghệ thuật khiến mọi người sống nhân đạo hơn. Nó bồi dưỡng các cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mĩ và lí tưởng thẩm mĩ. Xây dựng những tình cảm lành mạnh, trong sáng, mạnh mẽ để con người có thể phân biệt rạch ròi giữa cái cũ – cái mới, giữa cái xấu – cái đẹp, là công việc trọng tâm của giáo dục thẩm mĩ. Nó làm phong phú thêm thế giới nội tâm của chúng ta, khiến ta thấy yêu đời và muốn sống tốt hơn. Nghệ thuật thật tuyệt vời, do vậy, chúng ta cần trân trọng những tác phẩm nghệ thuật và những người tạo ra nó. Câu 2. (5 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng bài văn với bố cục gồm ba phần. Yêu cầu vê nội dung a) Mở bài Giới thiệu vê tác giả, tác phẩm, nêu ý kiến trong bài (0,5 điểm) – Giới thiệu về tác giả, tác phẩm: Thanh Thảo luôn tìm tòi khám phá sáng tạo tìm cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, đem đến một mĩ cảm hiện đại cho thơ bằng thi ảnh và ngôn từ mới mẻ. Đàn ghi-ta của Lorca là bài thơ tiêu biểu cho kiểu tư duy sáng tạo ấy. – Giới thiệu ý kiến: Tiếng đàn là thân phận Lorca, cũng là thân phận của nghệ thuật nói chung trong một thực tại mà cái ác ngự trị. Ý kiến khác lại nhấn mạnh: Tiếng đàn là vẻ đẹp tâm hồn, là sức sống bất diệt của nghệ thuật Lorca. b) Thân bài (4 điểm) 1. Giải thích, bình luận ý kiến (1 điểm) – Ý kiến thứ nhất: Tiếng đàn là thân phận Lorca, cũng là thân phận của nghệ thuật nói chung trong một thực tại mà cái ác ngự trị. Ý kiến nói về việc tiếng đàn thành biểu trưng cho số phận đầy bi kịch của Lorca, đồng thời nói lên thực trạng xã hội Tây Ban Nha rên xiết dưới ách phát xít. – Ý kiến thứ hai: Tiếng đàn là vẻ đẹp tâm hổn, là sức sống bất diệt của nghệ thuật Lorca. Ý kiến thứ hai khẳng định tiếng đàn là biểu trưng cho tài năng nghệ thuật, ước mong tranh đấu và khát vọng cách tân nghệ thuật của Lorca. Tuy Lorca mất, song di sản nghệ thuật của Lorca vẫn còn mãi. – Cả hai ý kiến đều đúng. Nó đã nêu được ý nghĩa biểu trưng của tiếng đàn trong bài. 2. Chứng minh qua bài Đàn ghi-ta của Lorca (3 điểm) – Tiếng đàn là thân phận Lor-ca, cũng là thần phận của nghệ thuật nói chung trong một thực tại mà cái ác ngự trị (1 điểm) + Tiếng ghi-ta “bọt nước”: Đây là liên tưởng đầu tiên về tiếng đàn của Lorca và cũng là một liên tưởng lạ lùng, độc đáo, gợi nhiều ám ảnh. Đặc biệt là khi đặt nó trong mối quan hệ với cuộc đời của Lorca: rất ngắn ngủi (chết khi mới 38 tuổi) và rất đau thương (khi chưa hoàn thành khát vọng đấu tranh và chưa đi hết con đường sáng tạo nghệ thuật, bị bắt, bắn chết rồi bị ném xác xuống giếng để phi tang). Trong liên tưởng của Thanh Thảo, hình ảnh Lorca và tiếng đàn Lorca đã nhập vào bọt nước, hiện diện thành bọt nước, mong manh và ám ảnh như bọt nước. + “Tiếng ghi-ta ròng ròng mảu chảy”- là sự sống ở dạng tồn tại đau thương và bi tráng nhất. Âm thanh tiếng ghi-ta là giai điệu, là sự sống của tâm hồn. Máu chảy ròng ròng lại gợi sự tàn bạo và vết thương đau đớn, gợi sự sống đang bị huỷ diệt tàn bạo nhất. + “tiếng ghi-ta nâu/bầu trời cô gái ấy”: “nâu” có thể là màu của vỏ đàn, màu của đất đai quê hương hay màu da cô gái Lorca yêu. Song khi gắn với “bầu trời cô gái ấy” thì “tiếng ghi-ta nâu” đã là âm vang và màu sắc của tình yêu, tiếng ghi-ta đã chứa đựng trong nó thế giới của những rung động tình yêu say mê đắm đuối. Lạ là ở chỗ âm thanh tiếng ghi-ta lại mở ra một khoảng trời, một phần đời sống riêng tư với tình yêu dành cho “cô gái ấy” nghĩa là nó chứa đựng cái phần cuộc sống riêng tư mà cũng rạo rực say mê. + “tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy”: “lá xanh” là thiên nhiên tươi tắn, là cỏ cây với cuộc sống tự nhiên; “lá xanh biết mấy” đã là sắc xanh làm xao xuyến cả tâm hồn. “Tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy” là tỉếng ghi-ta mang màu xanh của sự sống và niềm thiết tha khắc khoải với sự sống. + “không ai chôn cất tiếng đàn/tiếng đàn như cỏ mọc hoang”: tiếng đàn không chết, tinh thần G. Lorca không mất đi, mà đã làm một cuộc hoá thân vĩ đại vào thiên nhiên. “Cỏ mọc hoang” vừa gợi sức sống mãnh liệt, hoang dại, sức lan tỏa không gì ngăn cản được, vừa là chứng nhân, vừa là một tri âm với người lãng tử trong khúc du ca. + chuỗi điệp âm “li-la li-la li-la” như một chuỗi âm buông do người đệm đàn lướt qua hàng dây – những âm thanh ngẫu hứng mà đầy xao xuyến. Ở vị trí mở đẩu và kết thúc bài thơ, chuỗi âm thanh này góp phần hoàn tất hình tượng tiếng đàn như một sự sống mãnh liệt mà mơ hồ, kiêu bạc và lãng đãng, ngân vang da diết mà lặng lẽ để gợi mở những cảm nhận, hình dung, thậm chí là những ám ảnh về một hình tượng khác – hoàn chỉnh yà trọn vẹn hơn – hình tượng Lorca. c) Kết bài Kết luận chung về tiếng đàn, về các ý kiến và nêu cảm nhận chung (0,5 điểm) Hình tượng tiếng đàn trong tác phẩm Đàn ghi-ta của Lorca là một biểu tượng cho nghệ thuật, biểu tượng tinh thần bất khuất của Lorca được nổi bật lên trong tác phẩm. Qua tiếng đàn, nhà thơ đã mang đến cho người đọc một tình yêu vô bờ bến đối với nhà thơ nhân dân chống phát-xít bạo tàn.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 23
1,862
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 24 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 24) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi: Cuộc đời ai cũng có những tấm bằng Để làm giấy chứng minh Để cầu mong thành đạt Những tấm bằng như những bảng chỉ đường qua những đường phố hẹp Để đến đại lộ cuộc đời ngày càng mở rộng thêm Có những vĩ nhân được nhân loại khắc tên Bởi các tấm bằng xứng danh trong lịch sử Và có những tấm bằng chứng nhận những việc làm tuy nhỏ Nhưng cố gắng hết mình, vẫn quý trọng biết bao! (Trích Tấm bằng, Hoàng Ngọc Quý) Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. (0,5 điểm) Câu 2. Câu thơ số 4 sử dụng biện pháp tu từ gì? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ ấy. (0,5 điểm) Câu 3. Từ bốn câu thơ cuối, anh/chị hãy lí giải ý nghĩa nhan đề bài thơ. (1 điểm) Câu 4. Bài thơ gửi đến cho anh/chị thông điệp gì? (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIẾM) Câu 1. (2 điểm) Anh/Chị hãy viết một đoạn văn ngắn, khoảng 200 từ, trình bày suy nghĩ của mình về việc học chỉ vì điểm trong một số bộ phận học sinh hiện nay. Câu 2. (5 điểm) Đặt bên cạnh những truyện ngắn viết trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ như Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi thì Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu có sự đổi mới gì về đề tài, nhân vật, điểm nhìn trần thuật? B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI I. ĐỌC HIẾU (3 ĐIỀM) Câu 1. Thể thơ tự do. (0,5 điểm) Câu 2. Câu thơ số 4 sử dụng biện pháp so sánh: so sánh những tấm bằng với những bảng chỉ đường qua những đường phố hẹp – Tác dụng: Biện pháp so sánh làm rõ tác dụng của những tấm bằng. Tấm bằng sẽ mở ra những cơ hội của cuộc đời, giúp chúng ta sống và làm việc dễ dàng hơn. (0,5 điểm) Câu 3. Ý nghĩa nhan đề bài thơ: Hiểu theo nghĩa đen, tấm bằng chỉ là một tờ giấy chứng nhận công sức của bản thân chúng ta trong việc vượt qua, đạt được một mục tiêu học tập, lao động nào đó. Nó thường được một tổ chức chứng nhận. Nhưng theo nghĩa bóng, tấm bằng chỉ sự thành công của chúng ta trong việc hoàn thành các mục tiêu, vượt qua các khó khăn. Do vậy, có thể có những bằng cấp cao, vinh dự do các tổ chức chứng nhận; song cũng có những tấm bằng chứng nhận những việc làm tuy nhỏ: lòng nhân ái của ta với người khác, sự nỗ lực vượt khó của bản thân… Nó có thể không được in ra thành giấy để trao tặng nhưng trong mắt mọi người xung quanh, nó xứng đáng là tấm bằng và vẫn là một thứ đáng quý trọng. (1 điểm) Những tấm bằng rất đáng quý, vì nó là sự chứng nhận cho công sức học tập, lao động của chúng ta và được cả xã hội vinh danh. Tuy nhiên, cũng có những việc làm nhỏ bé xứng đáng được “trao bằng” vì nó cao cả, xứng đáng được trân trọng. Những tấm bằng ấy là sự công nhận của mọi người xung quanh với những việc làm tốt đẹp của chúng ta. Từ đó, là động lực để ta nỗ lực phấn đấu đạt những danh hiệu cao quý. Song đó không phải tất cả. Không phải mọi thứ đều được tính bằng điểm số, bằng cấp; cũng như không phải mọi hành động của chúng ta đều vì bằng cấp. (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1.(2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Nêu hiện trạng: Có một số học sinh chỉ chăm chăm vào điểm, không chú ý tới chất lượng học tập. (0,5 điểm) – Bình luận (1 điểm): + Tác hại: Việc này dẫn tới học đối phó, học tủ, quay cóp, thậm chí làm nảy sinh tính đố kị trong học tập. + Nguyên nhân: Học sinh chưa hiểu được mục đích của việc học, chịu áp lực phải đạt được điểm số quá cao. – Biện pháp: Giải thích cho học sinh hiểu ý nghĩa đích thực của việc học, giáo viên và nhà trường không gây áp lực về điểm số,… (0,5 điểm) Đoạn văn mẫu: Hiện nay, có không ít học sinh chỉ chú tâm vào điểm số, không chú ý tới chất lượng học tập. Thực tế, để đánh giá hiệu quả học tập, chúng ta phải căn cứ vào nhiều phương diện: nỗ lực phấn đấu, cách thức học, kết quả. Điểm chỉ là một phần. Do vậy, cách học chỉ vì điểm cao là sai lầm. Cách học này sẽ khiến học sinh không chú trọng bồi dưỡng kiến thức mà chỉ nhằm mục đích học đối phó, học tủ. Có học sinh còn dùng nhiều thủ đoạn để đạt điểm cao, như: quay cóp, xin xỏ,… Thậm chí, có em còn vì điểm mà sinh ra tính đố kị trong học tập. Nguyên nhân chính là do học sinh chưa hiểu được mục đích của việc học. Các em cho rằng học để lấy bảng thành tích cao. Điều này cũng một phần do có những thầy cô và bố mẹ đánh giá học lực của học sinh qua điểm số. Hệ thống giáo dục cũng đặt nặng áp lực điểm số lên vai học sinh. Biện pháp để xử lí tình trạng này là phải giải thích cho học sinh hiểu ý nghĩa đích thực của việc học. Hơn thế, giáo viên, phụ huynh, nhà trường và xã hội nên đánh giá toàn diện học sinh, không nên gây áp lực về điểm số cho các em. Trong thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên tiếp tục đề ra một sô biện pháp mới để làm giảm tình trạng học vì điểm trong học sinh hiện nay. Câu 2. (5 điểm) – Viết đúng bài văn với bố cục gồm ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung a) Mở bài Giới thiệu vê tác giả, tác phẩm, ý kiến được nêu trong để bài. (0,5 điểm) b) Thân bài (4 điểm) 1. Sự đổi mới về đề tài (1,5 điểm) Không chỉ tiếp nối đề tài chiến tranh với một góc nhìn khác, Nguyễn Minh Châu còn là người tiên phong trong việc khám phá vùng đất mới. Đó là đời sống con người trong thời bình với những góc khuất, những chỗ ẩn mờ. Chiếc thuỵền ngoài xa chính là tác phẩm tiêu biểu cho cái nhìn mới này. Dự cảm lo âu của nhà văn về thân phận con người đã thối thúc ông hướng đến thông điệp: sự ngu dốt tối tăm cùng với cuộc sống lao động cực nhọc có thể dẫn đến số phận bi đát của người nông dân. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, gia đình người đàn bà hàng chài chính là một bức tranh thu nhỏ của cuộc sống ấy. 2. Sự đổi mới vê nhân vật (1,5 điểm) Tuy vẫn giữ quan điểm về việc đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn mỗi con người, nhưng trong các tác phẩm thời kì đổi mới, Nguyễn Minh Châu chú ý hơn tới các nhân vật lao động, có số phận vất vả, đau khổ. Nhân vật của ồng hiện lên trong cuộc sống cực nhọc mưu sinh, phải chịu những nỗi khổ đói nghèo không thể giải tỏa. Ở đây, con người hiện lên chân thực đến trần trụi trong một cuộc sống đói nghèo tăm tối – một kiểu nhân vật chưa hề có trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước nám 1975. Hình ảnh tiêu biểu chính là người đàn bà cam chịu, không một tiếng kêu rên khi hứng chịu những trận đòn roi ấy, vẫn cương quyết bảo vệ gia đình và các con, từ chối con đường giải thoát cho chính mình bằng li hôn. Nguyễn Minh Châu đã tìm tòi và sáng tạo ra các hình thức tổ chức điểm nhìn, tạo ra hiệu quả tối ưu cho tác phẩm: điểm nhìn gắn với ngôi kể, sự dịch chuyển, gia tăng điểm nhìn. Cả ba bình diện này đều được thể hiện rõ nét trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Nguyễn Minh Châu đã chọn hình thức kể theo ngôi thứ nhất – nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Nhờ hình thức kể chuyện này, câu chuyện trở nên gần gũi hơn, kết quả chân thực hơn và cũng có sức thuyết phục hơn. Ta còn thấy có sự dịch chuyển liên tục từ điểm nhìn trong diễn biến câu chuyện. Nguyễn Minh Châu đã đa dạng hoá, di chuyển điểm nhìn từ tác giả đến người kể chuyện, đến các nhân vật như nhiếp ảnh Phùng, rồi chánh án Đẩu và đặc biệt, có lúc nhà văn trao cho nhân vật chức năng trần thuật để cho người đàn bà hàng chài tự kể lại cuộc đời mình. c) Kết bài Kết luận chung về sự đổi mới trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa và nêu cảm nghĩ của bản thân. (0,5 điểm) Với những tác phẩm mang chủ nghĩa hiện thực, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện sự đổi mới trong cách nhìn hiện thực. Đồng thời, ông còn thể hiện khát vọng của mình về khả năng tác động kì diệu của văn học đối với đời sống và con người, đặt vấn đề về mối quan hệ giữa văn học và đời sống.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 24
1,667
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 25 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 25) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIẾU (3 ĐIẾM) Đọc đoạn văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: Có một nhà xã hội học, trong khi đi tìm hiểu thực tế cho để tài của mình sắp viết thi gặp một trường hợp khả thú vị: Anh A và anh B đều có một người cha nghiện ngập và vũ phu. Sau này, anh A trở thành một chàng trai luôn đi đầu trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội và bạo lực gia đình. Còn anh B thì lại là một phiên bản của cha anh. Nhà xã hội học đã đặt cùng một câu hỏi cho cả hai người: “Điều gì khiến anh trở nên như thế?”. Và nhà xã hội học đã nhận được cùng một câu trả lời: “Có một người cha như thế, nên tôi phải như thế”. (Sưu tầm) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên. (0,5 điểm) Câu 2. Hãy giải thích ý nghĩa của cụm từ “như thế” trong lời nói của anh A và anh B. (1,5 điểm) Câu 3. Đặt nhan đề cho đoạn văn bản trên. (0,5 điểm) Câu 4. Đoạn văn bản gợi cho anh/chị nhớ tới văn bản nào đã học trong chương trình? (0,5 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1.(2 điểm) Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về câu chuyện trên bằng đoạn vân khoảng 200 từ. Câu 2. (5 điểm) Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn trích sau: Phải uống thêm chai nữa. Và hắn uống. Nhưng tức quả, càng uống lại càng tỉnh ra. Tình ra, chao ôi, buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn chỉ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức. (Chí Phèo, Nam Cao, Ngữ vân 11, Tập một, NXB Giáo dục, 2008) Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cú uống ừng ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng MỊ thì đang sống về ngày trước. Tai Mị vàng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. (Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, 2008) B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI I. ĐỌC HIẾU (3 ĐIỂM) Câu 1. Phương thức biểu đạt của văn bản là tự sự. (0,5 điểm) Câu 2. (1,5 điểm) – Cụm từ “như thế” trong lời nói của anh B: + “như thế” 2: chỉ việc anh ta cũng nghiện ngập và bạo lực như bố – Cụm từ “như thế” trong lời nói của anh A: + “như thế” 1: chỉ người bố nghiện ngập và bạo lực. + “như thế” 2: chỉ việc anh ta phấn đấu vươn lên, đi đầu trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội và bạo lực gia đình. Câu 3. Đặt nhan đề: Anh A và anh B, Một hoàn cảnh – hai con người,… (0,5 điểm) Câu 4. Đoạn văn bản gợi nhớ tới văn bản: Chiếc thuyền ngoài xa… (0,5 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Phân tích câu chuyện: (0,5 điểm) + Câu chuyện về nạn bạo lực gia đình và sự ảnh hưởng tới con cái. Có đứa con bị nhiễm tính bạo lực của cha. Có người lại vươn lên, chống lại nó. + Đây là câu chuyện ngụ ý về môi trường xấu và sự tác động của hoàn cảnh với con người cũng như ý chí vượt lên của con người trước hoàn cảnh. + Ý nghĩa cả câu. – Bình luận câu chuyện (1 điểm): + Câu danh ngôn đúng hay sai? + Lí do đúng (hoặc sai). – Bài học rút ra (0,5 điểm) Đoạn văn mẫu: Đây là câu chuyện về hai người cùng ở hoàn cảnh cha nghiện ngập và bạo lực nhưng họ lại có phản ứng, thay đổi khác nhau trước hoàn cảnh. Anh B thì lại là một phiên bản của cha anh – cũng nghiện ngập và bạo lực. Điều này chứng tỏ, anh B không có nghị lực, bản lĩnh để giữ vững được tính cách tốt của mình. Còn anh A trở thành một chàng trai luôn đi đầu trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội và bạo lực gia đình. Ta có thể thấy, anh đã không bị những năm tháng tuổi thơ kinh hoàng làm ảnh hưởng tới tương lai của mình. Bên cạnh đó, anh không chịu đựng mà còn có tinh thần phản kháng, chống lại bạo lực và lối sống tệ nạn như của người cha. Câu chuyện còn giúp chúng ta xác lập một thế đứng vững chắc trước những tác động tiêu cực ngoài xã hội và nếu bị rơi vào một hoàn cảnh không thuận lợi, đầy rẫy những tiêu cực thì chúng ta nên có quyết tâm vượt qua. Nó giúp chúng ta có tinh thần cảnh giác trước những tác động tiêu cực của môi trường xung quanh để luôn luôn “gần mực mà vẫn không đen” và chúng ta nên có ý chí quyết tâm trở thành một ngọn đèn luôn luôn tỏa sáng. Câu 2. (5 điểm) – Viết đúng bài văn với bố cục gồm ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung a) Mở bài Giới thiệu vê tác giả, tác phẩm, hai trích đoạn trong đề (0,5 điểm) – Nam Cao sáng tác từ trước năm 1940, nhưng chỉ sau khi truyện ngắn Chí Phèo ra đời, ông mới được biết đến như một cây bút hiện thực xuất sắc. Chí Phèo đã để lại dấu ấn khó quên và nỗi day dứt, ám ảnh không nguôi trong lòng người đọc, nhất là đoạn Chí uống say, sau khi bị Thị Nở cự tuyệt. – Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Tô Hoài trong giai đoạn sáng tác sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong đó, đoạn văn được coi là hay nhất chính là đoạn kể về Mị trong đêm tình mùa xuân. Đoạn văn đã thể hiện sức sống mãnh liệt cùng khao khát tình yêu cháy bỏng của Mị – người con gái xinh đẹp mà bất hạnh. b) Thân bài (4 điểm) 1. Cảm nhận về đoạn trích 1 (1,5 điểm) Sau khi bị Thị Nở từ chối chung sống và cũng không còn cách nào níu giữ được Thị, Chí Phèo rơi vào tình thế bế tắc, tuyệt vọng, mọi hi vọng cho một tương lai “làm người” bỗng chốc tan thành mây khói. Trong cơn tuyệt vọng ấy, Chí Phèo như tỉnh hẳn và chua xót nhận ra bi kịch tinh thần của cuộc đời mình – vốn sinh ra là người nhưng lại không được làm “người”. Hắn vật vã, đau đớn. Càng tuyệt vọng, hắn càng uống rượu; nhưng càng uống rượu, hắn càng tỉnh ra. Trong tận sâu thẳm tâm hồn, hắn ý thức được nỗi đau thân phận của mình. 2. Cảm nhận về đoạn trích 2 (1,5 điểm) Đoạn văn miêu tả Mị trong đêm tình mùa xuân với sự trỗi dậy của tâm hồn. Chế độ phong kiến nghiệt ngã cùng với tư tưởng thẩn quyền có thể giết chết mọi ước mơ, khát vọng, làm tê liệt cả ý thức lẫn cảm xúc con người, nhưng từ trong sâu thẳm, cái bản chất người vẫn luôn tiềm ẩn và chắc chắn nếu có cơ hội sẽ thức dậy, bùng lên. Rượu là chất xúc tác trực tiếp để tâm hồn yêu đời, khát vọng sống của Mị trỗi dậy. Mị vừa như uống cho hả giận, vừa như uống hận, nuốt hận. Hơi men đã dìu tâm hồn Mị theo tiếng sáo. Tô Hoài đã miêu tả tiếng sáo như một dụng ý nghệ thuật để lay tỉnh tâm hồn Mị. Tiếng sáo là biểu tượng của khát vọng tình yêu tự do, đã theo sát diễn biến tâm trạng Mị, là ngọn gió thổi bùng lên đốm lửa tưởng đã nguội tắt. – Giống nhau + Cùng nói về cảnh uống rượu với nỗi uất ức khó vơi của hai con người ở dưới đáy của đau khổ. + Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật đạt tới bậc thầy. – Khác nhau * Về nội dung: + Đoạn trích 1: Thể hiện nỗi đau khổ vì bị tan vỡ khát vọng họàn lương. Việc uống rượu là một phản ứng tất yếu trong chuỗi bi kịch này. Vì thế nó đau đớn hơn. + Đoạn trích 2: Thể hiện sự hồi sinh tâm hồn của Mị. Việc uống rượu như một nguyên nhân tạo nên sự hồi sinh ấy. Nó thực tế là tín hiệu đáng mừng trong tâm hồn tưởng như đã nguội tắt của Mị. * Về nghệ thuật: + Đoạn trích 1: Dùng câu cảm, câu văn ngắn, nhịp nhanh, đan xen lời tác giả và ý nghĩ của nhân vật. + Đoạn trích 2: Dùng nhiều câu kể, phối hợp câu văn dài ngắn khác nhau. c) Kết bài Kết luận chung vẽ hai đoạn trích, nêu cảm nghĩ (0,5 điểm) Ở hai đoạn văn này, tác giả đã miêu tả hành động của các nhân vật trong những giây phút bộc lộ tâm trạng thật nhất của cuộc đời. Qua đó, các đoạn văn góp phần thể hiện tinh thần nhân văn, tồ đậm tính cách nhân vật và thể hiện một cách chân thật, cảm động giá trị hiện thực và tinh thần nhân đạo của các truyện ngắn.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề số 25
1,618
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 1 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 1) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Đọc trích đoạn sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới: Bất cứ ai cũng đã từng thất bại, đã từng vấp ngã ít nhất một lần trong đời như một quy luật bất biến của tự nhiên. Có nhiều người có khả năng vực dậy, đứng lên rồi nhẹ nhàng bước tiếp như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, nhưng cũng có nhiều người chỉ có thể ngồi một chỗ và vẫn luôn tự hỏi lí do vì sao bản thân lại có thể dễ dàng “mắc bẫy” đến như thế… Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống cũng đều mang lại cho ta một bài học đáng giá: về một bài toán đã áp dụng cách giải sai, về lòng tốt đã gửi nhầm chủ nhân hay vẽ một tình yêu lâu dài bỗng phát hiện đã trao nhầm đối tượng,… Đừng để khỉ tia nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng để khi cơn mưa kia đã tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi. Thời gian làm tuổi trẻ đi qua nhanh lắm, không gì là mãi mãi, nên hãy sống hết mình để không nuối tiếc những gì chỉ còn lại trong quá khứ mà thôi… (Trích Hãy học cách đứng lên sau vấp ngã, theo 4/6/2015) Câu 1. Hãy chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. (0,5 điểm) Câu 2. Đoạn văn trên để cập đến nội dung gì? (0,5 điểm) Câu 3. Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng “Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống cũng đểu mang lại cho ta một bài học đáng giá”. (1 điểm) Câu 4. Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì trong hai câu văn sau: “Đừng để khi tia nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng để khi cơn mưa kia đã tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi”? Hãy phân tích hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ đó. (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Có ý kiến cho rằng: “Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất”. Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của mình vể ý kiến trên. Câu 2. (5 điểm) Nêu cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau: Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình. Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. (Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam) I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Câu 1. Phương thức biểu đạt chính trong trích đoạn trên là nghị luận. (0,5 điểm) Câu 2. Nội dung đoạn trích (0,5 điểm) – Hãy đứng lên sau vấp ngã vì mỗi lẩn vấp ngã là một lần ta rút ra được những bài học cho bản thân. – Hãy biết yêu thương, sẻ chia, đồng cảm để không phải nuối tiếc khi nhìn lại quá khứ. Câu 3. Những bài học rút ra: (1 điểm) – Bài học vể kinh nghiệm sống. – Bài học về ý chí, nghị lực vươn lên. – Bài học về giá trị đáng quý của cuộc sống. Câu 4. Đoạn văn sử dụng ba biện pháp tu từ (Học sinh chỉ cần nêu được 1 trong 3 biện pháp tu từ): (1 điểm) + Điệp ngữ (Đừng để khi) + Điệp cấu trúc ngữ pháp (lặp cấu trúc ngữ pháp). + Đối lập (tia nắng… đã lên >< giọt lệ… rơi). – Tác dụng: + Biện pháp điệp ngữ; điệp cấu trúc ngữ pháp: Tạo âm hưởng nhịp nhàng, cân đối; nhấn mạnh, khuyến khích mọi người hãy từ bỏ những ưu phiền để sống vui vẻ, hòa nhịp với thế giới xung quanh… + Biện pháp đối lập: Làm nổi bật sự trái ngược giữa ngoại cảnh với tâm trạng con người, nhằm khích lệ con người từ bỏ những ưu phiền, hướng đến cuộc sống vui tươi, ý nghĩa. II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về kĩ năng – Biết cách làm kiểu bài nghị luận xã hội với bố cục rõ ràng, mạch lạc. – Hành văn trôi chảy, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, độ dài không quá 200 từ. – Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận,… dẫn chứng tiêu biểu. Yêu cầu về kiến thức Bài viết có thể trình bày theo nhiểu cách khác nhau nhưng cần làm rõ những yêu cẩu cơ bản sau: – Giải thích: Thế nào là chiến thắng và chiến thắng bản thân mình? – Sống là đấu tranh, con người phải đấu tranh và phải chiến thắng. – Đấu tranh với bản thân, với chính mình là cuộc chiến vô cùng khó khăn: – Nêu bài học: Đấu tranh với chính mình là điều cần thiết. Đó cũng là cách để con người hoàn thiện nhân cách. Đoạn văn mẫu Chiến thắng là kết quả tốt đẹp mà chúng ta đạt được sau một thời gian đấu tranh. Có một câu nói đã thể hiện rất sâu sắc về ý nghĩa của chiến thắng là “Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất”. Chiến thắng bản thân là tự đấu tranh vượt lên cái xấu, cái thấp hèn trong chính con người mình. Cuộc sống vốn dĩ luôn cần sự đấu tranh để sinh tồn, ví dụ đấu tranh chống thiên tai, chống đói nghèo,… Nhưng cuộc đấu tranh với những yếu tố khách quan không khó khăn bằng đấu tranh với chính bản thân mình. Bởi lẽ, điều không tốt ở chính ta không phải lúc nào cũng dễ nhận ra – nhất là khi ta đứng trước những cám dỗ. Tuy nhiên, nếu nhận ra hạn chế của bản thân để vươn lên lại là sự tự khẳng định mình. Có rất nhiều tấm gương như thế, chẳng hạn Socrates nói ngọng bẩm sinh nhưng ông đã chiến thắng trong cuộc chiến đấu với phần khiếm khuyết của bản thân bằng cách tập nói, luyện diễn thuyết trước sóng biển để trở thành nhà hùng biện. Như vậy, câu nói chứa đựng một quan niệm sống đúng đắn – hướng con người vươn tới những giá trị đích thực của bản thân để hoàn thiện nhân cách. Câu 2. (5 điểm) – Biết cách làm bài văn nghị luận văn học, bố cục rõ ràng, vận dụng tốt các thao tác lập luận. – Biết cách chọn và phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đê’ nghị luận. – Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. Yêu cầu về kiến thức Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo được các ý cơ bản sau: a) Mở bài (0,5 điểm) – Tố Hữu được coi là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. – Bài thơ Việt Bắc được viết vào tháng 10 năm 1954 – thời điểm diễn ra cuộc chia tay giữa cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc. Tác phẩm là khúc ca trữ tình nồng nàn, đắm say về những lẽ sống lớn, ân tình lớn của con người cách mạng. – Nỗi nhớ hướng về cảnh và người ở quê hương Việt Bắc, là một nội dung nổi bật của bài thơ, được thể hiện xuất sắc trong đoạn thơ. b) Thân bài (4 điểm) – Hai dòng đầu: Khái quát nội dung của đoạn với nỗi nhớ cả hoa và người Việt Bắc. Cảnh vật lẫn con người Việt Bắc hoà quyện với nhau thành một thể thống nhất. – Tám dòng thơ tiếp theo: Nỗi nhớ về Việt Bắc qua bốn mùa xuân – hạ – thu – đông. Câu lục nói cảnh, còn câu bát “vẽ” về người. +) Mùa đông: Màu hoa chuối đỏ tươi nổi bật giữa màu xanh trầm tịch của rừng già, khiến cho bức tranh thêm rực rỡ, ấm nóng. Mùa đông, người đi làm nương rẫy với con dao đi rừng lấp loá gài thắt lưng. Trên đèo cao đầy nắng, tẩm vóc con người như lớn lao, mạnh mẽ, rắn rỏi hơn giữa núi rừng hùng vĩ. +) Mùa xuân: Trong sáng, tinh khôi và đẩy sức sống với “mơ nở trắng rừng”. Động từ “nở” làm sức sống mùa xuân như lan toả và tràn trề nhựa sống. Nghệ thuật đảo “trắng rừng” gợi cảm giác cả cánh rừng như bừng sáng trong sắc trắng mơ màng, bâng khuâng, dịu mát của hoa mơ. Con người cần mẫn trong công việc đan nón. Động từ “chuốt” và hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay của con người lao động: cần cù, khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, đó cũng chính là phẩm chất tần tảo của con người Việt Bắc. +) Mùa thu: Yên ả, thanh bình, lãng mạn với hình ảnh “trăng rọi hoà bình”. Ánh trăng của tự do, của hoà bình rọi sáng niềm vui lên từng núi rừng, từng bản làng Việt Bắc. Mùa thu là tiếng hát trong trẻo của đồng bào dân tộc, là tiếng hát nhắc nhở thuỷ chung ân tình. Đây cũng chính là tiếng hát của Việt Bắc, của núi rừng, của tình cảm mười lăm năm gắn bó thiết tha, mặn nồng. Như vậy, với bốn cặp thơ lục bát ngắn gọn, bốn mùa của thiên nhiên Việt Bắc được gợi tả sắc nét, tràn đầy sức sống với đủ hình ảnh, âm thanh, màu sắc, có sự kết hợp hài hoà giữa thiên nhiên và con người. Tất cả để lại cho người đi một nỗi nhớ khôn nguôi. – Nghệ thuật Thể thơ lục bát quen thuộc vừa dân dã, vừa cổ điển, vừa hiện đại. Giọng thơ nhịp nhàng uyển chuyển, ý nọ gợi ý kia cứ trào lên dào dạt trong lòng người đi, kẻ ở. Nhịp điệu cân đối, cô đúc, ngân nga, dìu dặt, vừa thắt buộc lại, vừa mới mẻ lạ lùng. Cách sử dụng các đại từ “mình – ta” vừa truyền thống, vừa hiện đại. Đặc biệt là điệp từ “nhớ” được nhắc lại nhiều lần, mỗi lần mang một sắc thái khác nhau theo cấp độ tăng tiến, thể hiện những rung động chân thành, mặn mà thắm thiết của nhà thơ với thiên nhiên và con người Việt Bắc. c) Kết bài (0,5 điểm) Với những nét chấm phá đơn sơ, giản dị, vừa cổ điển, vừa hiện đại, đoạn thơ trên của Tố Hữu đã làm nổi bật được bức tranh thiên nhiên và con người qua bốn mùa của chiến khu Việt Bắc. Tất cả đều tươi đẹp và tràn đầy sức sống. Đoạn thơ như một khúc tình ca về tấm lòng thuỷ chung của người cách mạng với quê hương Việt Bắc.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 1
1,866
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 3 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 3) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Cần lưu ý là dưới những danh từ truyền thống như chí, công danh, phận sự,… Nguyễn Công Trứ đã lồng vào đó những nội dung của ý thức cá nhân, ngược với thánh hiền. Khổng Tử nói: “Kẻ sĩ chí ở đạo, nếu xấu hổ về nỗi áo xấu cơm thô thì không thể cùng bàn bạc về đạo” (Lý nhân). Khổng Tử lại nói: “Người quân tử làm việc đời, không có gì là thích hay không thích, hợp với nghĩa thì làm” (Lý nhân). Nguyễn Công Trứ đề cao hai chữ “thích chí”, và chí của ông là chí được thi thố tài năng cá nhân, “Làm nên đấng anh hùng đấu đấy tỏ”, lấy việc nghèo khổ làm điều xấu xa, nhục nhã (Hàn nho phong vị phú). Khổng Tử đối lập quân tử và tiểu nhân ở chỗ người quân tử chỉ chăm lo đạo đức cao thượng còn tiểu nhân chỉ chăm lo ăn sung mặc sướng. Nguyễn Công Trứ coi trọng cả hai: “Thú vui thú ném ngang vành tráng sĩ”, “Càng tài tử càng nhiêu tình ái”,… Khổng Tử chủ trương sống khổ hạnh, xử thế nghiêm trang. Nguyễn Công Trứ xem đời là một cuộc chơi: “Đem ngàn vàng mua lấy tiếng cười – Phong lưu cho bõ kiếp người”. Có thể nói, dưới hình thức ngôn ngữ nhà nho, Nguyễn Công Trứ đã diễn đạt một ý thức cá nhân mới – thích chí, hành lạc.” (Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỉ XIX – Trần Đình Sử) Câu 1. Đoạn văn trên được viết theo phong cách ngỏn ngữ nào? (0,5 điểm) Câu 2. Xác định thao tác lập luận chủ yếu của đoạn trích trên. (0,75 điểm) Câu 3. Anh/Chị hiểu thế nào về ý thức cá nhân thích chí, hành lạc của Nguyễn Công Trứ? (1 điểm) Câu 4. Thông điệp nào của đoạn trích trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? (0,75 điểm) II. LÀM VÀN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề “công danh” trong cuộc sống hiện nay. Câu 2. (5 điểm) Cảm nhận về phong vị dân gian trong đoạn thơ sau: Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu… Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đẩu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. (Việt Bắc, Tố Hữu) I. ĐỌC HIỂU Câu 1. Phong cách ngôn ngữ khoa học Câu 2. Thao tác lập luận chủ yếu: Thao tác so sánh Câu 3. Ý thức cá nhân thích chí, hành lạc của Nguyễn Công Trứ rất độc đáo và gây được ấn tượng với hậu thế. Theo Nguyễn Công Trứ, thích chí, hành lạc trước hết phải có khát vọng lập công danh, khẳng định được vị trí của mình ở trong cõi đời. Thứ hai, đó là yêu cầu về sự cân bằng giữa đạo đức và việc tận hưởng cuộc sống. Quan niệm của Khổng Tử là quan niệm quá cứng nhắc, gò bó con người trong những khuôn khổ tù túng. Nguyễn Công Trứ đã hướng đến sự giải phóng cá nhân cả về phương diện đạo đức lẫn phương diện đời sống thường nhật. Đây là một quan niệm rất tiến bộ, mới mẻ, cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Câu 4. Thí sinh trả lời theo cảm nhận của bản thân, không cần theo một đáp án có sẵn nào. Chỉ cần thí sinh đưa ra được thông điệp, giải thích một cách hợp lí lí do chọn thông điệp đó thì có thể đạt điểm tuyệt đối. II. LÀM VĂN Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Giải thích khái niệm công danh, khái quát quan niệm công danh trong xã hội cũ. – Nêu quan niệm của giới trẻ về công danh hiện nay. – Rút ra bài học hành động. Đoạn văn mẫu Công danh là địa vị xã hội và tiếng tăm, là lí tưởng sống của trang nam nhi thời phong kiến: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/Phải có danh gì với núi sông”. Hiện nay, một bộ phận lớn thanh niên vẫn giữ được khát vọng đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình với mong muốn xã hội tốt đẹp hơn. Họ có khả năng tự chủ về kinh tế, họ có lòng nhiệt thành để giúp đỡ những số phận bất hạnh,… Phần lớn các bạn trẻ ngày nay đặt mục tiêu là phải thật thành công trong cuộc sống, khẳng định được vị trí của mình trong xã hội. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ thanh niên lại không suy nghĩ được như thế. Họ sống hờ hững với những gì diễn ra xung quanh, sống theo quan niệm: “Được đến đâu thì hay đến đó”, “Nước đến chân mới nhảy”, chỉ biết nghĩ cho riêng mình, không nỗ lực, không cố gắng. Từ việc hiểu về khái niệm công danh, thanh niên chúng ta cán phải biết và tạo cho mình một lý tựởng sống cao đẹp, vì mọi người, vì quê hương đất nước. Câu 2. (5 điểm) – Viết đúng kết cấu bài văn ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Bài cần đảm bảo các ý sau: a) Mở bài – Tố Hữu được coi là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. – Bài thơ Việt Bắc được viết vào tháng 10 năm 1954, thời điểm diễn ra cuộc chia tay giữa cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc. Tác phẩm là khúc ca trữ tình nồng nàn, đắm say về những lẽ sống lớn, ân tình lớn của con người cách mạng. – Phong vị dân gian là một đặc điểm nổi bật của bài thơ, được thể hiện xuất sắc trong đoạn thơ sau: “Ta với mình, mình với ta …… Sớm khuya bếp lửa người thương đi về” b) Thân bài *Phân tích khái quát đoạn thơ – Khẳng định tình nghĩa Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu. Câu thơ “Ta với mình/mình với ta” ngắt nhịp 3/3, cặp đại từ mình – ta lặp lại, xoắn xuýt để thể hiện sự quấn quýt, gắn bó, không thể chia cắt. Câu thơ tiếp theo với nhịp ngắt 2/2/2/2 chắc khoẻ là lời khẳng định chắc chắn “lòng ta – sau trước – mặn mà – đinh ninh”. Tiếp đó, “Mình đi mình lại nhớ mình” là sự láy lại, là câu trả lời cho sự băn khoăn của người ở lại trong khổ thơ trên, “Mình đi mình có nhớ mình”. Và để cụ thể cho nỗi nhớ ấy, tác giả mượn cách so sánh, cách đo đếm đậm màu sắc dân gian: “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”. *Tái hiện hình ảnh Việt Bắc trong hồi tưởng – Nhớ cảnh Việt Bắc thanh bình: Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. + Hình ảnh so sánh “như nhớ người yêu” thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm. * Phân tích phong vị dân gian trong đoạn thơ – Khái niệm phong vị dân gian: Được hiểu là chất dân gian, là màu sắc, hương vị dân gian. – Phong vị dân gian trong bài thơ Việt Bắc được tạo nên từ cách vận dụng nhuần nhuyễn những yếu tố nghệ thuật quen thuộc của văn học dân gian. Đoạn trích nêu trên thể hiện rất rõ phong vị dân gian đó. + Biểu hiện 1: Kết cấu đối đáp trong khung cảnh chia tay đầy lưu luyến – đây là một mô-típ quen thuộc trong ca dao, dân ca. + Biểu hiện 2: Những từ “mình” “ta” và cấu trúc lời hỏi, lời đáp đối ứng, gợi nhớ đến những câu ca dao về tình cảm lứa đôi. + Biểu hiện 3: Nhiều hình ảnh ước lệ quen thuộc của ca dao, dân ca được Tố Hữu sử dụng rất thích hợp với khung cảnh và tâm trạng trong bài thơ như “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”, “nhớ gì như nhớ người yêu”… + Biểu hiện 4: Phong vị ấy còn thể hiện ở âm điệu thiết tha, quyến luyến như những lời ru trong ca dao, dân ca. + Biểu hiện 5: Không chỉ dừng ở những yếu tố hình thức, phong vị ca dao, dân ca của bài Việt Bắc nói chung, đoạn trích nói riêng còn thấm sâu trong nội dung tư tưởng – cảm xúc. Đó là sự trân trọng, thiết tha với mọi nghĩa tình, ân tình, đề cao đạo lí thuỷ chung, son sắt vốn là những quan niệm đạo lí và cách sống đã thành truyền thống của dân tộc và được thể hiện sâu đậm trong ca dao, dân ca. c) Kết bài Nhờ thấm đượm phong vị ca dao dân ca mà bài thơ nói chung, đoạn trích nói riêng đã có được sự hoà quyện, thống nhất giữa nội dung mang tính cách mạng với truyền thống tinh thần và thẩm mĩ của dân tộc, làm cho tư tưởng, tình cảm, hiện thực của thời đại nhập vào nguồn mạch dân tộc một cách tự nhiên.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 3
1,644
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 4 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 4) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIẾU (3 ĐIẾM) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: NGỤ NGÔN CỦA MỖI NGÀY Ngồi cùng trang giấy nhỏ Tôi đi học mỗi ngày Tôi học cây xương rồng Trời xanh cùng nắng, bão Tôi học trong nụ hồng Màu hoa chừng rỏ máu Tôi học lời ngọn gió Chẳng bao giờ vu vơ Tôi học lời của biển Đừng hạn hẹp bến bờ Tôi học lời con trẻ Về thế giới sạch trong Tôi học lời già cả Về cuộc sống vô cùng Tôi học lời chim chóc Đang nói về bình minh Và trong bia mộ đá Lời răn dạy đời mình. (Đỗ Trung Quân) Câu 1. Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? Phương thức biểu đạt chính là gì? (0,5 điểm) Câu 2. Chỉ ra biện pháp tu từ nổi bật được sử dụng trong văn bản. (0,5 điểm) Câu 3. Theo anh/chị, tác giả đã học được những bài học gì trong các câu thơ sau: (1 điểm) Tôi học cây xương rồng Trời xanh cùng nắng, bão Tôi học trong nụ hồng Màu hoa chừng rỏ máu. Câu 4. Đọc văn bản, anh/chị hiểu như thế nào vê’ ý nghĩa của nhan đề: “Ngụ ngôn của mỗi ngày”? (1 điểm) II. LÀM VĂN ( 7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị vể quan niệm học của nhà thơ Đỗ Trung Quân trong phẩn Đọc hiểu. Câu 2. (5 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới: Hỡi đồng bào cả nước, Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy ở trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự đo. Bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được… (Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh) B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Câu 1. Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật; Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm. (0,5 điểm) Câu 2. Biện pháp tu từ nổi bật: Điệp cấu trúc: Tôi học.., tôi học lời… (0,5 điểm) Câu 3. TÁc giả học được những bài học quý từ thiên nhiên: Cây xương rồng cho bài học yề nghị lực sống trong môi trường rộng lớn (trời xanh) và khắc nghiệt (nắng bão); nụ hồng cho bài học về những gì đẹp đẽ (màu hoa) có khi phải trả giá bằng cả nỗi đau (rỏ máu). (1 điểm) Câu 4. Ý nghĩa nhan đề: Mỗi ngày, cuộc sống quanh ta đểu mang đến cho ta những bài học quý báu như những câu chuyện ngụ ngôn vậy. (1 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1.(2 điểm) Yêu cầu về kĩ năng – Viết đúng một đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. Yêu cầu về kiến thức Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau: – Quan niệm về việc học của Đỗ Trung Quân: + Là quan niệm đúng đắn về việc học. (0,5 điểm) + Việc học không chỉ là học tập trên trường lớp, trong sách vở mà còn là hành trình mỗi người tự trải nghiệm và khám phá từ cuộc sống. (1 điểm) – Bài học: Học là quá trình chúng ta trau dồi thường xuyên, mỗi ngày. (0,5 điểm) Đoạn văn mẫu: Sự học giống như một quyển sách không có trang cuối. Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã nêu lên những quan niệm đúng đắn về học thông qua bài thơ Ngụ ngôn của mỗi ngày. Đó là học trong sách vở và học ở cuộc sống xung quanh. Thiên nhiên, con người quanh ta luôn là người thầy vĩ đại, dạy cho ta những bài học vô giá. Bởi học không phải chỉ là tiếp thu trì thức mà còn là quá trình làm giàu cho tâm hổn bằng lòng yêu thương rộng lớn như biển cả, bằng nghị lực ý chí vượt chông gai, bằng sự biết ơn,… Chỉ có cuộc sống mới dạy ta đẩy đủ và ý nghĩa nhất tất cả những điều đó. Cuộc sống là trường đại học của mỗi người. Hãy mở lòng mình với cuộc sống và con người quanh ta để thấy yêu hơn cuộc sống này và nhận những bài học ý nghĩa mà cuộc sống dạy ta. Như thế, sự học là quá trình trau dồi thường xuyên hằng ngày để mở rộng hiểu biết và để hoàn thiện nhân cách sống. Câu 2. (5 điểm) – Biết cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề văn học, bố cục rõ ràng, vận dụng tốt các thao tác lập luận. – Biết cách chọn và phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. – Bài viết mạch lạc, trong sáng, cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. Yêu cầu về kiến thức Thí sinh có thể trình bày theo nhiểu cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau: a) Mở bài Giới thiệu tác phẩm, đoạn trích. b) Thân bài 1. Khái quát hoàn cảnh, mục đích sáng tác, đối tượng tiếp nhận của tác phẩm 2. Vị trí và vai trò của đoạn trích: Là đoạn mở đầu, có vai trò đặt vấn đề cho bản Tuyên ngôn Độc lập. 3. Nhiệm vụ của phấn mở đầu bản Tuyên ngôn là nêu nguyên lí làm cơ sở tư tưởng cho toàn bài. Nguyên lí của Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc. Nhưng ở đây Bác không nêu trực tiếp nguyên lí ấy mà dẫn lời bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791 để khẳng định “Quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” của tất cả các dân tộc. 4. Ý nghĩa sâu sắc – Dẫn dắt hai bản tuyên ngôn nổi tiếng đã thành những chân lí tiến bộ được cả thế giới thừa nhận, Hồ Chí Minh đã tạo sức thuyết phục cho phần đặt vấn đề gián tiếp, thể hiện tầm hiểu biết sâu rộng của Bác. – Bác đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽ của tổ tiên người Mĩ, người Pháp đã ghi lại trong hai bản Tuyên ngôn từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hoá của những dân tộc ấy. Cách viết như thế là vừa khéo léo vừa kiên quyết: + Khéo léo vì tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ để “khoá miệng” bọn thực dân Pháp, đế quốc Mĩ đang âm mưu xâm lược nước ta. – Đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam mà nhắc đến hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử của nhân loại, của hai nước lớn, như thế cũng có nghĩa là đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nền độc lập ngang hàng nhau, ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau (và thực sự, cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 đã giải quyết đúng nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của Mĩ (1776) và của Pháp (1791). Đằng sau nghệ thuật viết văn nghị luận là một niềm tự hào dân tộc chan chứa của Hồ Chí Minh. – Sau khi nhắc đến quyền tự do, bình đẳng của mỗi người trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ, Bác viết: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dần tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyển sung sướng và quyển tự do”. Ý kiến “suy rộng ra” ấy là một đóng góp đầy ý nghĩa của Bác đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, nó như phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỉ XX. 5. Nghệ thuật: Mở đầu bằng lời hô gọi thu hút: “Hỡi đồng bào cả nước” và kết thúc phần đặt vấn đề bằng một câu khẳng định chắc nịch: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Với lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng tiêu biểu, giọng văn hùng hồn, đoạn văn mở đầu đã nhấn mạnh cơ sở pháp lí vững chắc cho lời tuyên bố độc lập ở phần sau. c) Kết bài Khẳng định lại đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh chứa đựng một tư tưởng lớn với nhiều ý nghĩa sâu sắc, lại được viết bằng một nghệ thuật đặc sắc, mang sức thuyết phục mạnh mẽ. Đó là đoạn mở đầu mẫu mực trong một bản Tuyên ngôn bất hủ.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 4
1,587
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 5 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 5) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: (1) Một lần tình cờ tôi đọc được bài viết “Hạnh phúc là gì?” trên blog của một người bạn. (2) Bạn ấy viết rằng: “Hạnh phúc là được nằm trong chăn ấm xem ti-vi cùng với gia đình. (3) Hạnh phúc là được trùm chăn kín và được mẹ pha cho cốc sữa nóng. (4) Hạnh phúc là được cùng đứa bạn thân nhong nhong trên khắp phố. (5) Hạnh phúc là ngồi co ro hàng giờ trong quán cà phê, nhấm nháp li ca-cao nóng và bàn chuyện chiến sự… thế giới cùng anh em chiến hữu…”. (6) Bất chợt giật mình, hạnh phúc đơn giản vậy sao? (7) ừ nhỉ! (8) Dường như lâu nay chúng ta chỉ quen với việc than phiền mình bất hạnh chứ ít khi biết được rằng mình đang hạnh phúc. (9) Hãy một lần thử nghĩ xem: Khi chúng ta than phiền vì bố mẹ quá quan tầm đến chuyện của mình thì ngoài kia biết bao nhiêu người thèm hơi ấm của mẹ, thèm tiếng cười của bố, thèm được vẽ nhà để được mắng; khi chúng ta cảm thấy thiệt thòi khỉ không được ngồi xe hơi chỉ vì phải chạy xe máy giữa trời nắng thì ngoài kia biết bao nhiêu bạn của chúng ta mồ hôi nhễ nhại, gò mình đạp xe lên những con dốc vắng; khi chúng ta bất mãn với chuyện học hành quá căng thẳng thì ngoài kia biết bao người đang khao khát một lần được đến trường, một lần được cầm cây bút để viết lên những ước mơ; khi chúng ta… (Dẫn theo Bài tập Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2007) Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích. (0,5 điểm) Câu 2. Tại sao tác giả lại “Bất chợt giật mình, hạnh phúc đơn giản vậy sao?”? (1 điểm) Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu (9). (1 điểm) Câu 4. Anh/Chị hãy rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất trong đoạn trích trên? (0,5 điểm) II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. Qua đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) bày tỏ suy nghĩ của mình về: Hạnh phúc của giới trẻ trong thời đại ngày nay. (2 điểm) Anh/Chị hãy phân tích đoạn thơ sau để làm rõ nét đặc sắc trong cảm nhận của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về đất nước: Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời… (Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2009) B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ I. ĐỌC HIỂU(3 ĐIỂM) Câu 1. Phong cách ngôn ngữ chính luận. (0,5 điểm) Câu 2. (1 điểm) Tác giả “Bất chợt giật mình, hạnh phúc đơn giản vậy sao?” bởi vì: – Khi nghĩ đến hạnh phúc thì con người thường nghĩ đến những gì cao xa, to lớn nhưng thực ra hạnh phúc là những gì rất giản dị, gần gũi quanh ta. (0,5 điểm) – Con người thường không nhận ra giá trị của những gì mình đang có, vì vậy thường “than phiền mình bất hạnh chứ ít khi biết được rằng mình đang hạnh phúc”. (0,5 điểm) Câu 3. (1 điểm) Những biện pháp tu từ được sử dụng trong câu (9): liệt kê, điệp ngữ, tương phản-đối lập. (0,5 điểm) – Tác dụng: + Tạo giọng điệu thiết tha, hùng hồn, mạnh mẽ để tăng tính thuyết phục. (0,25 điểm) + Nhấn mạnh sự tương phản về hoàn cảnh của chúng ta và biết bao nhiêu người để từ đó gợi ra quan niệm về một hạnh phúc giản đơn. (0,25 điểm) Câu 4. (0,5 điểm) Thông điệp có ý nghĩa nhất trong đoạn trích: Chúng ta cần biết trân trọng những hạnh phúc bình dị, giản đơn nhưng thiết thực trong cuộc sống. II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về kĩ năng – Biết cách viết đoạn văn nghị luận xã hội, vận dụng tốt các thao tác lập luận để giải quyết vấn đề một cách thuyết phục. – Đoạn văn mạch lạc, rõ ràng; hành văn trong sáng, giàu cảm xúc; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. Yêu cầu về kiến thức Có thể có những quan điểm khác nhau nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức, lẽ phải. Dưới đây chỉ là những định hướng cơ bản: Hạnh phúc là một trạng thái tâm lí của con người khi ta cảm thấy vui vẻ, thoả mãn. Bàn luận (1 điểm) – Quan niệm của giới trẻ về hạnh phúc: (0,5 điểm) + Hạnh phúc là hưởng thụ. + Hạnh phúc là trải nghiệm. + Hạnh phúc là sống vì người khác. + Hạnh phúc là hài hoà giữa lợi ích của cá nhân và cộng đổng… – Vì sao giới trẻ hiện nay lại có những quan niệm khác nhau vể hạnh phúc? (0,5 điểm) + Trong thời đại kinh tế xã hội ngày càng phát triển, con người dễ coi trọng lối sống yật chất, dễ nảy sinh quan niệm hạnh phúc là hưởng thụ. + Thời đại ngày nay cũng đặt ra nhiều thách thức, cơ hội, vì vậy giới trẻ cũng năng động hơn, dám sống dám trải nghiệm, dám hi sinh vì người khác… – Bài học nhận thức và hành động (0,5 điểm) + Cần có những quan niệm đúng đắn về hạnh phúc. + Luôn hoàn thiện mình để hướng tới một hạnh phúc chân chính. Lưu ý: Nếu viết không đúng hình thức đoạn văn sẽ trừ 0,5 điểm. Câu 2. (5 điểm) Yêu cầu về kĩ năng Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn để. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết có cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả. Yêu cầu về kiến thức: Cần đáp ứng được những ý cơ bản sau: 1. Giới thiệu chung: (0,5 điểm) Giới thiệu về Nguyễn Khoa Điềm, chương thơ Đất Nước và đoạn trích. 2. Phân tích (4 điểm) 1. Tổng quát (0,5 điểm) a) Vị trí đoạn thơ (0,25 điểm) Đất Nước thuộc phẩn đầu chương V trong trường ca Mặt đường khát vọng, được chia làm hai phần. Phần một là những cảm nhận mới mẻ về đất nước. Phần hai là tư tưởng: “Đất Nước của Nhân dân”. Đoạn thơ nằm ở phần một của đoạn trích Đất Nước. b) Khái quát giá trị nổi bật của đoạn thơ (0,25 điểm) Đoạn thơ là cảm nhận về đất nước gắn với những gì bình dị, thân thiết đối với mỗi con người, từ ngữ giản dị, trong sáng mà vẫn giàu sức gợi. 2. Nét đặc sắc trong cảm nhận của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về đất nước (3,5 điểm) a) Quan niệm về đất nước là những gì gần gũi, thân thuộc nhất – Đất hước là sự thống nhất của các mối quan hệ: cá nhân với cá nhân (Khi hai đứa cầm tay), cá nhân với cộng đồng (Khi chúng ta cầm tay mọi người), thế hệ này với thế hệ khác (Mai này con ta lớn lên/ Con sẽ mang Đất Nước đi xa..(1 điểm) b) Trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước – Từ cảm nhận sâu sắc, mới mẻ về đất nước, tác giả nhắn nhủ với thế hệ trẻ Đất Nước là máu xương- nghĩa là máu thịt, là một- phần sự sống của mình. Vì thế, thế hệ trẻ phải biết gắn bó, san sẻ, phải có trách nhiệm với đất nước. Đồng thời, phải biết hoá thân bằng hành động sẵn sàng hi sinh cho đất nước. Có như thế, đất nước mới bền vững muôn đời. (1 điểm) – Đoạn thơ có những câu mang sắc thái mệnh lệnh với sự lặp lại cụm từ “phải biết”, nhưng đây là mệnh lệnh của trái tim, của tình cảm gắn bó thiết tha với đất nước. Từ “Đất Nước” được viết hoa, lặp lại sáu lần là bản thông điệp về trách nhiệm và lòng tự hào của tuổi trẻ đối với đất nước. (0,75 điểm) 3. Đánh giá chung (0,5 điểm) – Đất nước không ở đâu xa mà kết tinh, hoá thân trong những gì bình dị, gần gũi, thân thiết đối với mỗi con người. – Đất nước là sự hài hoà trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Sự sống mỗi cá nhân không phải chỉ là riêng của cá nhân mà còn là của đất nước, bởi mỗi cuộc đời đều được thừa hưởng những di sản văn hoá tinh thần và vật chất của dân tộc, của nhân dân. – Đánh thức được ở thế hệ trẻ ý thức trách nhiệm với đất nước. Tuy là đoạn thơ chính luận nhưng người đọc không cảm thấy đó là những lời “giáo huấn” mà chỉ như một lời tự nhủ, tự dặn mình, chân thành, tha thiết. – Sử dụng những từ ngữ, hình ảnh giản dị, trong sáng mà vẫn giàu sức gợi; thể thơ tự do, biến đổi linh hoạt về nhịp điệu; có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận và trữ tình.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 5
1,625
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 6 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 6) A. ĐỀ THI Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: TRÁI TIM HOÀN HẢO Tác giả: Khuyết danh Có một chàng thanh niên đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chằng hề có một tì vết hay rạn nứt nào. Đám đông đểu đồng ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ từng thấy. Bỗng một cụ già xuất hiện và nói: “Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi!”. Chàng trai cùng đám đông ngắm nhìn trái tim của cụ. Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đầy những vết sẹo. Có những phần của tim đã bị lẫy ra và những mảnh tim khác được đắp vào nhưng không vừa khít nên tạo một bề ngoài sần sùi, lởm chởm; có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám thay thế. Chàng trai cười nói: – Chắc là cụ nói đùa! Trái tim của tôi hoàn hảo, còn của cụ chỉ là những mảnh chắp vá đây sẹo và vết cắt. – Mỗi vết cắt trong trái tim tôi tượng trưng cho một người mà tôi yêu, không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè… Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thỉ họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra. Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tôi trao lại họ, ngược lại với mẩu tim của tôi và con cái tôi. Không bằng nhau nên chúng tạo ra những nếp sần sùi mà tôi luôn yêu mến vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà tôi đã chia sẻ. Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề được nhận lại gì, chúng tạo nên những vết khuyết. Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự đền đáp qua lại. Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hi vọng một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, lấp đầy khoảng trống mà tôi luôn chờ đợi. Chàng trai đứng ỵên với giọt nước mắt lẳn trên má. Anh bước tới, xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già. Cụ già cũng xé một mẩu từ trải tim đầy vết tích của cụ trao cho chàng trai. Çhúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng trai. Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong tim anh… Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên. Câu 3. Theo anh/chị, vì sao tác giả cho rằng: “Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự đền đáp qua lại.”? Câu 4. Thông điệp nào của đoạn trích trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu: “Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong tim anh…” Câu 2. (5 điểm) Nhận xét về đoạn trích Đất Nước, có ý kiến cho rằng: Cái đặc sắc, độc đáo của đoạn thơ là sự cảm nhận về đất nước trong một cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp, nhiều bình diện và làm nổi bật tư tưởng: “Đất Nước của Nhân dân”. Anh/Chị hãy phân tích đoạn thơ sau trong đoạn trích “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm để làm sáng tỏ nhận định trên: “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu …………. Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi.” (Trích trường ca Mặt đường khát vọng, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015) B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIẾM) Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: tự sự. (0,5 điểm) Câu 2. Trao yêu thương sẽ nhận được yêu thương. (0,5 điểm) Câu 3. Tác giả quan niệm như vậy bởi vì tình yêu bản chất là sự cho đi không tính toán. Với họ, trao yêu thương đã là hạnh phúc rồi. (1 điểm) Câu 4. Thí sinh có thể chọn một thông điệp phù hợp (Ví dụ: Thông điệp về cho – nhận, thông điệp về đức hi sinh…) và lý giải vì sao đó là thông điệp ý nghĩa. (1 điểm). II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cần làm rõ được các ý sau: – Giải thích câu nói (0,5 điểm) + Nghĩa đen + Nghĩa bóng – Bình luận ý nghĩa rút ra từ câu nói. (1 điểm) – Bài học rút ra. (0,5 điểm) Đoạn văn mẫu Câu chuyện kết thúc với câu nói đầy ý nghĩa: “Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong tim anh..Sau khi hiểu được vẻ đẹp của lối sống biết cho và nhận, anh thanh niên đã xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già. Cụ già cũng xé một mẩu từ trái tim đầỵ vết tích của cụ trao cho chàng trai. Hành động đó là biểu tượng đẹp về sự san sẻ tình yêu thương cho nhau giữa chàng trai với cụ già nói riêng và con người nói chung. Một lối sống đẹp không phải là lối sống ích kỉ mà là lối sống dám cho và dám nhận. Dám cho đi tình thương mà không hề tính toán, dám chia sẻ những gì mình có cho người còn thiếu thốn. Chẳng hạn như chia sẻ với đồng bào miền Trung mỗi mùa bão lụt. Đồng thời, chúng ta cũng nên mở rộng tâm hồn, đón nhận tình cảm của người khác. Chỉ vậy, tâm hồn ta mới phong phú, tươi đẹp. Đó mới là cách ứng xử hài hoà giữa cho và nhận trong cuộc sống. Yêu cầu về kĩ năng – Biết cách làm bài văn nghị luận về một vấn để văn học, bố cục rõ ràng, vận dụng tốt các thao tác lập luận. – Biết cách chọn và phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. – Bài viết mạch lạc, trong sáng, cảm xúc, khống mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. Yêu cầu về kiến thức Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau: a) Mở bài (0,5 điểm) Giới thiệu tác giả, đoạn trích và ý kiến trong đề bài. (0,5 điểm) b) Thân bài (4 điểm) 1. Giải thích, bình luận ý kiến (0,5 điểm) – Ý kiến đã chỉ ra được đúng đặc sắc về mặt nội dung của đoạn trích. Đó là tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”. – Tư tưởng này để cao vai trò của người dân trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” thật ra đã có manh nha từ trong lịch sử xa xưa. Những nhà tư tưởng lớn, những nhà vân lớn của dân tộc đã từng nói lên nhận thức về vai trò của nhân dân trong lịch sử (Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu) hoặc cảm thông sâu sắc với số phận của nhân dân, của mọi lớp người trong nhân dân (Nguyễn Du với Văn Chiêu hồn, Truyện Kiều). Đến giai đoạn chống Mĩ, tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” một lần nữa được nhận, thức sâu sắc thêm bởi vai trò và những đóng góp to lớn, những hi sinh vô vàn của nhân dân trong cuộc chiến tranh dài lâu và cực kì ác liệt này. a) Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” thể hiện ở hình thức nghệ thuật (1 điểm) – Nhà thơ trước hết đã lựa chọn thể loại trường ca – một thể thơ có dung lượng lớn, quy mô đồ sộ để khắc hoạ tẩm vóc kì vĩ của đất nước trong những thời khắc thiêng liêng nhất của lịch sử. – Tác giả cũng lựa chọn hình thức trữ tình là lời tâm tình đằm thắm của một người con trai với một người con gái… – Trong đoạn trích, chất liệu văn hoá, văn học dân gian đã trở thành chất liệu cơ bản để xây dựng hình tượng, thể hiện tư tưởng. b) Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” thể hiện ở nội dung (2,5 điểm) Khái niệm đất nước thường được hiểu trên các phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá trong mối quan hệ với con người. Mang tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”, Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định rõ trong đoạn trích này: địa lí là hoá thân cuộc đời nhân dân, lịch sử do nhân dân tạo thành và văn hoá cũng do nhân dân xây dựng trong quá trình sinh sống. – Địa lí của nhân dân: Nguyễn Khoa Điểm đã gợi niềm tự hào về địa lí quê hương bằng cách gợi ra những danh lam, thắng cảnh, những di tích lịch sử, văn hoá của đất nước. Mỗi địa danh ấy đều gắn với một truyền thuyết, một huyền thoại do nhân dân lao động sáng tạo ra để giải thích nguồn gốc sự hình thành của nó… – Lịch sử của nhân dân: Lịch sử của dân tộc là lịch sử của hai công cuộc: lao động dựng xây và chiến đấu giữ gìn, cả hai công cuộc đó đều do nhân dân làm nên… – Văn hoá của nhân dân: Nhà thơ đã gợi ra một cuộc chạy tiếp sức, không ngừng nghỉ của mọi thế hệ nhân dân để nuôi dưỡng, bồi đắp, lưu truyền dòng chảy văn hoá để kết nối các thế hệ. “Hạt lúa”, “ngọn lửa” là biểu tượng văn hoá vật chất của nền văn minh lúa nước ở Việt Nam; “giọng nói”, “tên xã, tên làng” là biểu tượng thiêng liêng của văn hoá tinh thẩn… c) Kết bài (0,5 điểm) Kết luận lại về đoạn trích, ý kiến trong đề bài.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 6
1,762
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 7 Hướng dẫn Tuyển chọn đề thi THPT Ngữ Văn (Đề 7) A. ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: Trí tuệ cảm xúc là khả năng nhận dạng cảm xúc, hiểu được ý nghĩa của chúng và nhận ra tác động của chúng đối với những người xung quanh. Trí tuệ cảm xúc bao hàm cả việc nhận thức người khác: khi bạn hiểu cảm xúc của mọi người, bạn sẽ kiểm soát các mối quan hệ hiệu quả hơn. Những người giàu trí tuệ cảm xúc hiểu rõ cảm xúc của mình nên không bao giờ để chúng chế ngự. Đồng thời họ cũng rất nghiêm khắc khi đánh giá bản thân. Họ biết đâu là điểm mạnh và điểm yếu của mình để từ đó phát huy hoặc khắc phục, nhở vậy họ có thể làm việc hiệu quả hơn. Nhiều người tin rằng sự hiểu rõ bản thân chính là thành tố quan trọng nhất của trí tuệ cảm xúc… Biết cảm thông có lẽ là thành tố quan trọng thú hai của trí tuệ cảm xúc. Cảm thông là việc bạn đồng cảm và hiểu được ước muốn, nhu cầu và quan điểm của những người sống quanh bạn. Những người biết cảm thông thường rất giỏi trong việc nắm bắt cảm xúc của người khác, kể cả những cảm xúc tinh tế nhất. Nhờ vậy, họ luôn biết cách lắng nghe người khác và thiết lập quan hệ với mọi người. Họ không bao giờ nhìn nhận vấn đề một cách rập khuôn hay phán đoán tình huống quá vội vàng. Họ luôn sống chân thành và cởi mở… Như vậy, trí tuệ cảm xúc là một yếu tố quan trọng giúp bạn đạt đến thành công trong cuộc sống, đặc biệt là trong sự nghiệp. Quản lí con người và các mối quan hệ là kĩ năng quan trọng của mọi nhà lãnh đạo, vì thế nâng cao và vận dụng trí tuệ cảm xúc trong công việc là một cách thể hiện khả năng lãnh đạo của bạn. (Theo Trí tuệ cảm xúc – yếu tố quan trọng để thành công) Câu 1. Chỉ ra vấn đề chính được đề cập đến trong đoạn trích. Câu 2. Theo bài viết, người có trí tuệ cảm xúc là người như thế nào? Câu 3. Chỉ ra tính hiệu quả trong xây dựng kết cấu của đoạn trích trên. Câu 4. Trong khoảng 5 đến 7 dòng, anh/chị hãy chỉ ra bài học mà đoạn trích mang đến cho bản thân. II. LÀM VĂN (7 ĐIỂM) Câu 1. (2 điểm) Anh/Chị hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ, bày tỏ suy nghĩ của mình về quan điểm sau: “Như vậy, trí tuệ cảm xúc là một yếu tố quan trọng giúp bạn đạt đến thành công trong cuộc sống, đặc biệt là trong sự nghiệp”. Câu 2. (5 điểm) Nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp vừa hùng vĩ, hoang sơ lại vừa thơ mộng lãng mạn của thiên nhiên Tây Bắc qua bài thơ Tây Tiến. B. HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI I. ĐỌC HIỂU Câu 1. Vấn đề chính được đề cập đến trong đoạn trích là những kiến thức căn bản về trí tuệ cảm xúc. (0,5 điểm) Câu 2. Các yếu tố thể hiện rõ con người có trí tuệ cảm xúc: (1 điểm) – Là người có sự hiểu biết rõ về cảm xúc của bản thân, không để cảm xúc điều khiển mình mà trái lại biết chế ngự nó. – Biết cảm thông đối với người khác, từ đó biết lắng nghe và thiết lập mối quan hệ tốt với mọi người. Câu 3. Đoạn trích xây dựng một kết cấu hiệu quả như sau: (1 điểm) – Đoạn trích dẫn dắt vấn đề một cách khoa học, logic. Đầu tiên là nêu khái niệm trí tuệ cảm xúc; sau đó kết thúc bằng việc chỉ ra vai trò ý nghĩa của trí tuệ cảm xúc đối với mỗi con người. Câu 4. Thí sinh có thể rút ra nhiều bài học khác nhau: Bài học về việc rèn trí tuệ cảm xúc, chế ngự cảm xúc nhất thời của bản thân, tránh nóng giận gây hậu quả nghiêm trọng; bài học về việc cần đặt mình vào vị trí người khác, từ đó biết cư xử thấu tình đạt lí,… (0,5 điểm) II. LÀM VĂN Câu1.(2điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng đoạn văn khoảng 200 từ. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Đoạn văn cẩn làm rõ được các ý sau: – Giải thích: Trí tuệ cảm xúc là khả năng nhận dạng cảm xúc, hiểu được ý nghĩa và tác động của nó với những người xung quanh. – Phân tích, chứng minh: Vì sao trí tuệ cảm xúc là yếu tố giúp con người đạt thành công trong sự nghiệp? + Để thành công trong sự nghiệp mỗi người phải trải qua rất nhiều khó khăn. Nếu chỉ có trí thông minh thôi chưa đủ mà cần phải có ý chí nghị lực, sự kiên trì, lòng quyết tâm theo đuổi mục tiêu. Đó là những yếu tố thuộc về trí tuệ cảm xúc (EQ). + Người có trí tuệ cảm xúc tốt dễ thành công hơn người không có hoặc ít có trí tuệ cảm xúc, bởi vì họ biết nắm bắt cảm xúc của người xung quanh, biết thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp,… Nhờ đó, họ nhận được nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ từ mọi người. – Bàn luận, mở rộng: Để đạt được thành công, mỗi người không phải chỉ cân trí tuệ cảm xúc, vẫn cấn học tập nâng cao trình độ năng lực chuyên môn. Đoạn văn mẫu: Một trong những yếu tố quan trọng giúp ta đạt được thành công chính là nhờ trí tuệ cảm xúc. Trí tuệ cảm xúc là khả năng nhận dạng cảm xúc, hiểu được ý nghĩa và tác động của nó với những người xung quanh. Con đường đến với thành công luôn đầy chông gai thử thách, đòi hỏi mỗi người phải có ý chí nghị lực, hơn thế còn cần sự giúp đỡ của rất nhiểu người xung quanh. Người có trí tuệ cảm xúc tốt dễ thành công hơn người khác vì họ biết nắm bắt cảm xúc của người khác, biết thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp với mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại thành công trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc không chỉ bởi Người có trí tuệ sáng suốt mà còn nhờ vào ý chí nghị lực phi thường và sự giúp đỡ của bạn bè năm châu. Tuy nhiên, hiện nay nhiều người quá coi trọng việc học tập rèn luyện trí thông minh (IQ) mà không quan tâm đến việc trau dổi trí tuệ cảm xúc. Họ có thể rất tài giỏi nhưng kiêu ngạo và cô độc. Để trở thành người hạnh phúc và thành đạt, mỗi chứng ta bên cạnh việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cẩn bồi dưỡng thêm cho mình trí tuệ cảm xúc. Câu 2. (5 điểm) Yêu cầu về hình thức – Viết đúng kết cấu bài văn gồm ba phần. – Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt,… Yêu cầu về nội dung Bài viết cần đảm bảo các ý sau: a) Mở bài (0,25 điểm) Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, nhân vật và trích dẫn ý kiến. – Tâỵ Tiến của Quang Dũng là một trong số ít những bài thơ có sức sống mãnh liệt, trường tồn cùng thời gian. Bài thơ ra đời năm 1948, khi tác giả rời xa binh đoàn Tây Tiến, tại Phù Lưu Chanh – một ngôi làng nhỏ bên dòng sông Đáy hiền hoà, nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng đã thôi thúc Quang Dũng viết lên những vần thơ tuyệt bút, trở thành những “sợi nhớ sợi thương” gửi về những năm tháng hào hùng không thể nào quên của dân tộc. – Bên cạnh hình tượng người lính Tây Tiến hào hùng hào hoa, bài thơ đã khắc hoạ thành công bức tranh thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, hoang sơ, lại vừa thơ mộng lãng mạn, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. b) Thân bài (4 điểm) 1. Vẻ đẹp hùng vĩ, hoang sơ của thiên nhiên Tây Bắc (2 điểm) – Trước hết, Quang Dũng đã dùng những nét vẽ mạnh mẽ gân guốc để dựng lên bức tranh núi rừng miền Tây thật hùng vĩ: Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm. Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống. Đó là những dốc núi dựng đứng, cao chất ngất; dốc tiếp dốc, núi tiếp núi, trùng trùng điệp điệp. Một loạt các từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” gợi ra sự hiểm trở, khó khăn của con đường hành quân vượt dốc. Cách ngắt nhịp 4/3 trong câu thơ “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” bày ra hai thế núi, khi lên thì cao vút như chạm đến tận mây trời, khi xuống thì sâu thăm thẳm như chạm đến tận đáy vực. Lại có những đỉnh núi cao chót vót, quanh năm chìm trong mây mờ bao phủ, mây chồng chất, cuộn thành “cồn mây”. Nơi đây heo hút, vắng lặng, là nơi gặp gỡ giữa trời và đất. – Đó cũng là một thiên nhiên hoang sơ với cảnh: Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Những trạng từ “chiều chiểu”, “đêm đêm” gợi ra thời gian lặp đi lặp lại, hết chiều này sang chiều khác, hết đêm này sang đêm khác, xung quanh người lính Tây Tiến chỉ là bản hoà âm kì dị của núi rừng, tiếng thác đổ, tiếng cọp gầm. Hai chữ “Mường Hịch” đi liền với “cọp trêu người”, hai thanh trắc “Hịch – cọp” đọc lên nghe nặng nể như có tiếng bước chân cọp đang lặng lẽ rình mồi trong đêm. Sau này, trong hồi kí của Quang Dũng và đồng đội cũng kể lại cảnh sau một đêm ngủ dậy, người lính Tây Tiến bước ra khỏi lán trại, trông thấy những dấu chân của “ông Ba mươi” in rành rành trên đất mà không khỏi rùng mình sợ hãi. Thiên nhiên ấy là một thử thách không nhỏ với những người lính trẻ vốn xuất thân là học sinh, sinh viên, trí thức Hà Nội. 2. Vẻ đẹp thơ mộng, lãng mạn của thiên nhiên Tây Bắc (2 điểm) – Hùng vĩ, dữ dội là thế nhưng thiên nhiên miền Tâỵ Bắc cũng không kém phẩn thơ mộng với những nếp nhà sàn bồng bềnh như trôi trong màn mưa xa khơi “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, với những vẻ đẹp hư ảo, như thực lại như mơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Những câu thơ chủ yếu là thanh bằng đọc lên nghe êm ả, nhẹ nhàng như một sợi khói lam chiểu mỏng manh bay lên trong sương khói mơ màng lãng đãng lúc hoàng hôn. Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ, hoa đong đưa. Một chiều sương khói mênh mang bao phủ khắp cao nguyên Mộc Châu, một người đi vô định trong một chiều sương vô hình. Một loạt đại từ phiếm chỉ “người đi” “chiều sương ấy” như đẩy không gian và thời gian trôi về một nơi nào xa vắng, nhường lại nơi đây một khung cảnh đẹp đến nao lòng. Những câu hỏi tu từ “có thấy, có nhớ” vang lên thật khắc khoải, da diết như neo đậu vào lòng người bao nhiêu nỗi nhớ cháy bỏng khôn nguôi. Làm sao có thể nào quên “hổn lau nẻo bến bờ”? Không phải cây lau, bông lau hay dáng lau, ngàn lau như trong thơ Chế Lan Viên: Ai lên biên giới cho lòng ta theo với Có thấy ngàn lau trắng một màu. Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng đã neo đậu vào hai chữ tinh tế nhất “hồn lau”. Dường như trong mỗi dáng lau thanh nhã kia đều ẩn chứa linh hồn của đất và người miền Tây Bắc. Hai chữ “hồn lau” vương trên một “nẻo bến bờ” vừa gần gũi, lại vừa xa xăm. Và cũng làm sao có thể quên một dáng người uyển chuyển mềm mại trên con thuyền độc mộc đang dần trôi xa, chỉ còn lại cảnh “trồi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Lũ mạnh mẽ, dữ dội; hoa yếu ớt mảnh mai. Hai sự vật tưởng như đối lập nhưng ở đây lại nâng đỡ nhau trong một chuyển động thật tình tứ. Hoa “đong đưa” như đang làm duyên làm dáng, đang gửi gắm bao tình cảm với dòng nước lũ. Cảnh vừa thơ mộng như một bức tranh thuỷ mặc với những nét chấm phá đơn sơ, tinh tế gợi hơn tả; lại vừa sinh động có linh hồn, làm say đắm lòng người đến ngất ngây. 3. Về nghệ thuật (0,5 điểm) Thể thơ thất ngôn với giọng điệu trang trọng, phù hợp với mạch cảm xúc. Ngôn ngữ thơ trong sáng, tinh tế, tràn đẩy cảm hứng lãng mạn. Cách dùng từ chính xác, độc đáo. Bút pháp vừa hiện đại lại vừa cổ điển, vừa tả thực, vừa kết hợp chấm phá gợi hơn tả… Tất cả đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội, lại vừa thơ mộng, lãng mạn, trữ tình. Điều đáng nói là thiên nhiên được lọc qua nỗi nhớ, qua hoài niệm, qua tâm hồn hào hoa, đa cảm của những người lính trẻ vốn xuất thân là học sinh, sinh viên trí thức Hà Thành nên càng đẹp hơn, thơ mộng hơn. c) Kết bài (0,25 điểm) Tây Tiến – “đứa con đầu lòng hào hoa, tráng kiện” là một trong những bài thơ hay nhất của Quang Dũng và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc nhất của văn học cách mạng Việt Nam. Khép lại những vần thơ lãng mạn và bi tráng đến tận cùng, người đọc sẽ mãi mãi không thể nào quên vẻ đẹp của người lính Tây Tiến hào hùng và hào hoa, của thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ lại vừa thơ mộng.
Tuyển chọn đề thi Ngữ Văn kì thi THPT – Đề thi số 7
2,417
TUẦN 11: Tập làm văn miêu tả lớp 3: Miêu tả về quê hương của em Hướng dẫn TUẦN 11: Tập làm văn miêu tả lớp 3 1. Hãy viết về quê hương em hoặc nơi em đang ở: (Gợi ý: + Quê hương là nơi em sinh ra, lớn lên, nơi ông bà, cha mẹ, họ hàng của em sinh sống,… + Quê em có thể ở làng quê, nông thôn, cũng có thể ỏ các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh,… Nếu em ít biết vể quê hương, có thể kể vể nơi em đang ở cùng cha mẹ. + Em yêu nhất cảnh vật gì ở quê hương? (Sông, suối, hổ, núi, rừng cây, đồng ruộng, cây đa, bến đò, nhà của, phố xá,… đẹp như thế nào?) + Cảnh vật đó có gì đáng nhớ? + Tinh cảm của em với quê hương như thế nào? Nó có gắn liền với tuổi thơ của em không? Có gắn với cuộc sống của những người thân không? * Khi kể em cần sử dụng những từ gợi tả hoặc những hình ảnh so sánh để bài văn thêm sinh động.) Bài tham khảo 1 Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng núi tỉnh Hoà Bình. Từ lúc rời quê lên Hà Nội học, lúc nào tôi cũng nhớ da diết về quê hương với những dãy núi cao, những dải đồi xanh ngát, những thửa ruộng bậc thang do thiên nhiên tự tạo càng tô thêm vẻ đẹp của núi rừng. Đó đây, những cụm nhà sàn khiêm nhường ẩn mình giữa những lùm cây. Dốc Cun ngày xưa một thời hiển hách, nay đã được san bằng và mở rộng cho những đoàn xe nối đuôi nhau lên Thuỷ điện Hoà Bình và đưa du khách về Khu du lịch sinh thái Kim Bôi. Mảnh đất quê hương tôi đang từng ngày, từng giờ thay da, đổi thịt. Nếu có dịp, xin mời các bạn một lần ghé qua quê hương tôi, chắc chắn các bạn sẽ hài lòng về con người và cảnh vật nơi đây. Quê hương là gì hả mẹ? Mà thầy cô dạy phải yêu nhiều Quê hương là gì hả mẹ? Mà ai đi xa cũng nhớ nhiều Những câu thơ trên chứa đựng một tình cảm lớn lao đối với quê hương của mỗi người. Đó chính là nơi ta được sinh ra và lớn lên. Nó chở che ta những ngày ta còn thơ bé và luôn là chỗ dừng chân cho những người con xa quê đi làm ăn trở về sau những năm tháng bôn ba khắp mọi nơi. Như một lẽ tất nhiên, các bạn ai cũng có quê hương và em cũng vậy. Trong trái tim em, quê em thật đẹp và em luôn tự hào về hai tiếng thiêng liêng ấy. Quê em cũng như bao làng quê khác, có gốc đa, giếng nước, sân đình, có con sông quê hương chảy dài mang nước đến cho xóm làng, có cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay, có những đàn trâu tung tăng gặm cỏ và đặc biệt nơi đây có những con người chất phác, sống với nhau bằng tình cảm rất chân thành. Em yêu quê hương không phải vì nó giàu sang, trù phú mà chính vì nó gắn bó với cuộc sống của dân làng và với tuổi thơ của những đứa trẻ như em. Nhớ đến mùa thu hoạch lúa, trời nắng gay gắt, các bác nông dân trên người lấm tấm mồ hôi vì mệt nhọc nhưng trên mặt vẫn hiện lên nụ cười rạng rỡ mừng vì một vụ lúa bội thu, em lại nhớ đến câu ca dao: Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” Nhớ cả những quán nước chè dưới những gốc cây cổ thụ phục vụ những cô bác nông dân đi làm đồng về, nhớ hình ảnh quen thuộc của những đứa trẻ đi mò cua, bắt ốc. Quê hương còn gắn với tuổi thơ của chúng em bằng những buổi chiều chạy theo những anh chị lớn hơn đi thả diều trên cánh đồng lúa đã được thu hoạch xong chỉ còn trơ gốc rạ, rồi đến món khoai nướng, ngô nướng quen thuộc của bọn trẻ chăn trâu. Yêu quê hương là yêu luôn cả những điều bình dị, mộc mạc, đơn sơ đó bởi vì chính những hình ảnh này làm nên quê hương của mỗi người. Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người Quê hương luôn là niềm tự hào trong tâm trí em, sau này dù có đi đến nơi đâu đi chăng nữa, thì hình ảnh quê hương luôn khắc sâu trong trái tim em vì ở nơi đó có những người thân và kỉ niệm gắn với một thời thơ ấu không thể nào quên. Bài tham khảo 3: “Quê hương” là hai tiếng gọi thân thương nhất đối với mỗi một con người. Bởi đó là nơi chúng kiến ta sinh ra, lớn lên và trưởng thành. Đối với em cũng vậy, quê hương em thật đẹp và mỗi lần nhắc gọi quê hương em thấy trong lòng trào dâng bao cảm xúc khó tả. Quê hương em là một làng quê rất trù phú. Những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay, những bãi ngô, nương dâu xanh tít tắp đến tận chân trời. Con đường làng ngoằn ngoèo, quanh co nhưng vô cùng sạch sẽ vì được làm bằng bê tông. Từ ngày có đường bê tông sạch sẽ, chúng em đi học không còn phải chịu cảnh lầy lội bùn đất như trước kia nữa. Tuy rằng cuộc sống đã khấm khá hơn nhưng ở quê em, mọi người vẫn sống với nhau rất chan hòa, tình cảm. Khi bắt đầu một ngày mới, các bác nông dân thường rủ nhau ra đồng. Các chị hàng xén đẩy xe đi chợ, nói chuyện về giá cả hôm nay. Còn chúng em thì í ới gọi nhau đi học, cười đùa và nói chuyện làm cho làng xóm nhỏ trở nên xôn xao và tràn đầy sức sống hơn. Những buổi tối liên hoan văn nghệ, các cụ ông cụ bà cũng hào hứng đi xem rồi tham gia đọc thơ, kể chuyện nữa. Những cánh diều đủ màu sắc, đủ hình dáng bay lên cao, cao mãi trên triền đê lộng gió có lẽ là hình ảnh mà em thích thú nhất. Hy vọng những ước mơ của chúng em sau này cũng sẽ bay cao, bay xa như thế. Diện mạo quê hương em đang thay đổi từng ngày và ngày một giàu đẹp hơn. Em rất yêu quê hương của mình. Chính vì thế sau này, dù có đi đâu xa đi nữa thì em vẫn luôn nhớ về quê hương.
TUẦN 11_ Tập làm văn miêu tả lớp 3_ Miêu tả về quê hương của em
1,140
Tuần 12: Luyện từ và câu (Bảo vệ môi trường) Hướng dẫn TUẦN 12: LUYỆN TỪ VÀ CÂU TIẾT 1: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Câu 1: Đọc đoạn văn đã cho (SGK TV5 tập 1 trang 115). a) Phân biệt nghĩa của các cụm từ: khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên. Gợi ý: Phân biệt nghĩa của các cụm từ: –Khu dân cư: Là khu vực dành cho nhân dân ăn ở, sinh hoạt. –Khu sản xuất: Khu làm việc của các nhà máy, xí nghiệp… –Khu bảo tồn thiên nhiên: Là khu vực trong đó các loài động thực vật, cảnh quan thiên nhiên được con người bảo vệ. b) Mỗi từ ở cột A ứng với nghĩa nào của nó ở cột B. Câu 2: Thay từ bảo vệ trong câu sau bằng một từ đồng nghĩa với nó. – Chúng em bảo vệ môi trường sạch đẹp. Gợi ý: Thay từ bảo vệ bằng một từ đồng nghĩa trong câu đã cho, như sau: –Chúng em giữ gìn (gìn giữ) môi trường sạch đẹp. TIẾT 2: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Câu 1: Tìm quan hệ từ trong đoạn trích SGK TV5 tập 1 trang 121 và cho biết mối quan hệ từ nối những từ ngữ nào trong câu? Gợi ý: Tìm quan hệ từ và cho biết mối quan hệ từ nối những từ ngữ nào trong đoạn văn đã cho, như sau: –Của: nối “cái cày” với “người H’möng”. –Bằng: nối “bắp cày” với “gỗ tốt màu đen”. –Như (2): nối “hùng dũng” với “một chàng hiệp sĩ đeo cung ra trận”. Câu 2: Các từ in đậm được dùng trong mỗi câu dưới đây biểu thị những quan hệ gì? a)Quân sĩ cùng nhân dân trong vùng tìm điTmọi cách đế cứu voi khỏi bãi lầy nhưng vô hiệu. b)Thuyền chúng tôi tiếp tục chèo, đi tới ba nghìn thước rồi mà vẫn thấy chim đậu trắng xóa trên những cành cây gie sát ra sông. c) Nếu hoa có ở trời cao Thì bầy ong cũng mang vào mật thơm. Gợi ý:Các từ in đậm trong các câu đã cho biểu thị những quan hệ: –Từ nhưng trong câu (a) biểu thị quan hệ đối lập. –Từ mà trong câu (b) biểu thị quan hệ đối lập. –Cặp từ nếu…. thì trong câu (c) biểu thị quan hệ giả thiết – kết quả. Câu 3: Tìm quan hệ từ (và, nhưng, trên, thì, ở, của) thích hợp với mỗi ô trống dưới đây: a)Trời bây giờ trong vắt, thăm thẳm….. cao b)Một vầng trâng tròn, to….. đỏ hồng hiện lên…… chân trời sau rặng tre đen….. một ngôi làng xa. c)Trăng quầng……hạn, trăng tán….. mưa d)Tôi đã đi nhiều nơi, đóng quân ở nhiều chỗ đẹp hơn đây nhiều, nhân dân coi tôi như người làng….. thương yêu tôi hết mực,…… sao sức quyến rũ, nhớ thương vẫn không mãnh liệt, day dứt bằng mảnh đất cọc cằn này. –Câu (a) điền từ: và –Câu (b) điền từ: và, ở, của –Câu (c) điền từ: thì, thì –Câu (d) điền từ: và, nhưng Câu 4: Đặt một câu với mỗi quan hệ từ: mà, thì, bằng. Gợi ý: Đặt câu với mỗi quan hệ từ đã cho, như sau: –Mà: Ngày Chủ nhật lao động làm sạch đẹp môi trường mệt thật mà vui, phải không bạn? –Thì: Cậu không chịu khó học bài thì không thể giỏi được đâu! –Bằng: Chúng ta phải nỗ lực phấn đấu đạt bằng được danh hiệu học sinh giỏi bằng chính khả năng của mình.
Tuần 12_ Luyện từ và câu (Bảo vệ môi trường)
562
Tuần 13: Chính tả Hành trình của bầy Ong Hướng dẫn Câu 1: Nhớ – viết bài: Hành trình của bầy ong (10 dòng đầu) SGK TV5 tập 1 trang 117. Gợi ý: Viết lại bài Hành trình của bầy ong 10 dòng đầu bằng trí nhớ của mình. Viết xong, em đối chiếu lại với văn bản đế sửa chữa lại những chữ viết sai. Câu 2: a) Gợi ý: Tìm các từ ngữ chứa các tiếng cho trước như sau: -Sâm: củ sâm, trời sâm sẫm tối. -Xâm: xâm lăng, xâm nhập, xâm lược, xâm xi… -Sương: màn sương, sương sớm, sươrig mù, sương muối… -Xương: xương hàm, xương đùi, xương xẩu… -Sưa: say sưa -Xưa: ngày xưa, xưa lắm rồi, xa xưa. -Siêu: siêu sắc thuốc, siêu sao, siêu nước uống, siêu âm. –Xiêu: xiêu vẹo, xiêu xiêu, xiêu lòng. b) Gợi ý: Các tiếng chứa các vần đã cho, như sau: -Buốt, nuốt, tuốt, chuốt, suốt, tuột, chuột.. -Cuốc, cuộc, buộc, luộc, đuốc, thuộc… -Lướt, mướt, mượt, vượt, rượt đuổi -Lược, cá cược, được, xước, tước đoạt, dược phẩm, bắt chước, thước thợ… -Hiểu biết, mải miết, tiết kiệm, kiệt xuất… –Điếc tai, liếc mắt, đơn chiếc, vụ việc, xanh biếc, thiếc… Câu 3: Điền vào chỗ trống. a)s hay X? Đàn bò vàng trên đồng cỏ…anh…anh Gặm cả hoàng hôn, gặm buổi chiều…ót lại. Gợi ý: s hay x: Đàn bò vàng trên đồng cỏ xanh xanh Gặm cả hoàng hôn, gặm buổi chiều sót lại. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm târn vàng Sột soạ… gió trêu tà áo biế…. Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang. Gợi ý: t hay c: ………. Sột soạt gió trêu tá áo biếc ……….
Tuần 13_ Chính tả Hành trình của bầy Ong
258
Tuần 13: Luyện từ và câu (Bảo vệ môi trường) Hướng dẫn Câu 1: Qua đoạn văn đã cho (SGK TV5 tập 1 trang 126), em hiểu Khu bảo tồn da dạng sinh học là gì? Gợi ý: Đọc đoạn văn đã cho để nắm được nội dung cơ bản. Từ đó em có thế hiếu được Khu bảo tồn đa dạng sinh học là như thế nào. -Khu bảo tồn: là nơi lưu giữ. -Đa dạng sinh học: là nhiều loài động thực vật. –Khu bảo tồn đa dạng sinh học: là nơi lưu giữ nhiều loài động thực vật. Câu 2: Xếp các hành động nêu trong ngoặc đơn và nhóm thích hợp: a)Hành động bảo vệ môi trường. b)Hành động phá hoại môi trường. (Phá rừng, trồng cây, đánh cá bằng mìn, trồng rừng, xả rác bừa bãi, đốt nương, săn bắn thú rừng, phủ xanh đồi trọc, đánh cá bằng điện, buôn bán động vật hoang dã). Gợi ý:Xếp các hành động đã cho vào các nhóm thích hợp, như sau: a)Hành động bảo vệ môi trường: trồng cây, trồng rừng, phủ xanh đồi trọc. b)Hành động phá hoại môi trường: phá rừng, đánh cá bằng mìn, xả rác bừa bãi, đốt nương, săn bắn thú rừng, đánh cá bằng điện, buôn bán động vật hoang dã. Câu 3: Chọn một trong các cụm từ ở bài tập 2 làm đề tài, em hãy viết một đoạn văn khoảng năm câu về đề tài đó. Gợi ý:Viết đoạn văn về đề tài: Hành động bảo vệ môi trường. TIẾT 2: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Câu 1: Tìm các cặp quan hệ từ trong những câu sau: a)Nhờ phục hồi rừng ngập mặn mà ở nhiều địa phương, môi trường đã có những thay đổi rất nhanh chóng. b)Lượng cua con trong vùng rừng ngập mặn phát triển, cung cấp đủ giống không những cho hàng nghìn đầm cua ở địa phương mà còn cho hàng trăm đầm cua ở các vùng lân cận. Gợi ý:Những cặp quan hệ từ trong các câu đã cho là: -Câu (a): Nhờ….. mà –Câu (b):……….Không những……… mà…………… Câu 2: Hãy chuyển mỗi cặp câu trong đoạn (a) hoặc đoạn (b) dưới đây thành một câu sử dụng các cặp quan hệ từ Vì……... nên hoặc Chẳng những……. mà còn. a)Mấy năm qua, chúng ta đã làm tốt công tác thông tin tuyên truyền để người dân thấy rõ vai trò của rừng ngập mặn đối với việc bảo vệ đê diều. Vì thê ở ven biển các tỉnh như Cà Mau, Bạc Liêu, Nghệ An, Thái Bình, Quảng Ninh… đều có phong trào trồng rừng ngập mặn. Gợi ý: Chuyển mỗi cặp câu ở trong hai đoạn văn a, b, mỗi đoạn thành một câu có sử dụng các cặp quan hệ từ Vì…….. nênhoặc Chẳng những……….. mà còn, như sau: a)Vì mấy năm qua, chúng ta…….. nên ở ven biển các tỉnh b)Chẳng những ở ven biển các tỉnh……….. mà rừng ngập mặn cònđược trồng………… Câu 3: Hai đoạn văn đã cho có gì khác nhau? Đoạn nào hay hơn? Vì sao? (SGK TV5 tập 1 trang 131-132) Gợi ý:Hai đoạn văn đã cho, ta thấy: -Giống nhau về nội dung. -Khác nhau ở hình thức diễn đạt (đoạn b có sử dụng nhiều quan hệ từ). Theo em, đoạn (a) hay hơn đoạn (b). Vì ở đoạn (b) việc sử dụng thêm quan hệ từ không phù hợp lắm, hành văn đọc lên ta cảm thấy nặng nề, lủng củng, không phản ánh đúng tâm trạng của nhân vật mà lời văn cần phải diễn đạt. Đoạn (a) nhẹ nhàng trôi chảy phản ánh đúng tâm trạng, hành động nhân vật.
Tuần 13_ Luyện từ và câu (Bảo vệ môi trường)
591
Tuần 14: Chính tả Chuỗi Ngọc Lam Hướng dẫn Câu 1: Nghe – viết bài Chuỗi ngọc lam (từ “Pi-e ngạc ngiên”đến “Cô bé mỉm cười rạng rỡ, chạy vụt đi”.) SGK TV5 tập 1 trang 134 – 135. Gợi ý: Em nhờ bạn hay người thân đọc phần văn bản quy định trong bài Chuỗi ngọc lam, em viết. Viết xong đối chiếu với văn bản, sai chữ nào sửa lại cho đúng. Câu 2: a) Tìm những từ ngữ chứa các tiếng trong bảng sau: Tranh Trưng Trúng Trèo Tranh giành Trưng bày Trúng đích Leo trèo Tranh đấu Trưng tráo Trúng thầu Trèo lên cao Chiến tranh Đặc trưng Trúng tuyển Trèo đèo Sang trưng Chanh Chưng Chúng Chèo Chanh chua Bánh chưng Quần chúng Mái chèo Quả chanh Chưng diện Chúng nó Chèo thuyền Lanh chanh Chưng hửng Chúng ta Chèo chống Chúng sinh b) Tìm những từ ngữ chứa các tiếng trong bảng sau: Báo Cao Lao Mào Báo cáo Trên cao Bệnh lao Bông mào gà Sách báo Chiều cao Ném lao Mào đầu Nhà báo Cao tay Cây lao Chim chào mào Cao kiến Lao tâm Cao nguyên Báu Cau Lau Màu Kho báu Cau có Lau chùi Bột màu Kho báu Quả cau Dẻ lau Tô màu Của báu Mặt cau lại Lau nhau Màu hồng Màu mỡ Câu 3: Tìm tiếng thích hợp với mỗi ô trống để hoàn chỉnh mẫu tin đã cho (SGK TV5 tập 1 trang 137). Biết rằng: Chữ ở các ô số 1 có vần ao hoặc au, chữ ở ô số 2 bắt đầu bằng tr hoặc ch. Gợi ý: Tìm tiếng thích hợp với mỗi ô trông đế hoàn chinh mẫu tin đã cho, như sau: Nhà môi trường 18 tuổi Người dân hòn đảo Ha-oai rất tự hào về bãi biển Cu-a-loa vì vẻ đẹp mê hồn của thiên nhiên ở đây. Nhưng đã có một dạo, môi trường ven biển bị đe dọa trầm trọng do nguồn rác từ các tàu đánh cá, nhừng vỉa san hô chết, cá, rùa bị mắc bẫy… tấp vào bờ. Trước tình hình đó, một cô gái có tên là Na-ka-mu-ra, 18 tuối đã thành lập nhóm Hành động vì môi trường gồm 60 thành viên. Họ đã giăng những tấm lưới khổng lồ ngăn rác tấp vào bờ. Tháng 3 năm 2000, chỉ trong 8 ngày nghỉ cuối tuần, 7 xe rác khống lồ đã được chở đi, trả lại vẻ đẹp cho bãi biển.
Tuần 14_ Chính tả Chuỗi Ngọc Lam
340
Tuần 15: Luyện từ và câu (Tổng kết vốn từ) Hướng dẫn Câu 1: Chọn ý thích hợp nhất để giải nghĩa từ hạnh phúc. a)Cảm giác dễ chịu vì được ăn ngon ngủ yên. b)Trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện. c)Hồ hơi háo hức sẩn sàng làm mọi việc. Gợi ý:Chọn ý thích hợp để giải nghĩa từ hạnh phúc, như sau: -Chọn ý (b): Trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện. (X) Câu 2: Tìm những từ đồng nghĩa và trái nghĩa với từ hạnh phúc. Gợi ý: Tìm những từ đồng nghĩa và trái nghĩa với từ hạnh phúc, như sau: -Nhừng từ đồng nghĩa: sung sướng, may mắn, mãn nguyện… –Những từ trái nghĩa: bất hạnh, đau khổ, cực khổ… Câu 3: Mỗi người có thế có một cách hiếu khác nhau về hạnh phúc. Theo em, trong các yếu tố dưới đây, yếu tố nào là quan trọng nhất để tạo nên một gia đình hạnh phúc? a)Giàu có c) Mọi người sống hòa thuận b)Con cái học giỏi d) Bố mẹ có chức vụ cao Gợi ý:Điều quan trọng nhất để tạo nên hạnh phúc là: -Chọn ý (c) Mọi người sống hòa thuận. Điều này đã được cha ông tống kết để dạy cho con cháu “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”. TIẾT 2: TỔNG KẾT VỐN TỪ Câu 1: Liệt kê các từ ngữ: b)Chỉ những người gần gũi em trong trường học. c)Chỉ các nghề nghiệp khác nhau. d)Chĩ các dân tộc anh em trên đất nước ta. Gợi ý: Liệt kê các từ ngữ theo từng nội dung đã cho, như sau: a)Chỉ những người thân trong gia đình: -Cha, mẹ, ông, bà, cô, cô, bác, chú, thím, cậu, mợ, anh, chị, em, con, cháu… b)Chỉ những người gần gũi em trong trường học: -Thầy, cô, bạn bè trong lớp, bạn bè trong trường, bạn lớp trưởng, bạn lớp phó, bạn Chi đội trưởng, tống phụ trách đội, bác bảo vệ, chị lao công… c)Chỉ các nghề nghiệp khác nhau: -Giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư, họa sĩ, nhạc sĩ, công nhân, nông dân, thợ thủ công, bộ đội, công an, doanh nhân, phi công… d)Chỉ các dân tộc anh em trên đất nước ta: –Kinh, Tày, Nùng, Mường, Mèo, Ê-đê, Vân Kiều, Ba-na, Thái, Xơ-đăng… Câu 2: Tìm các câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao nói về quan hệ gia đình, thầy trò, bè bạn. Gợi ý:Tìm các câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao nói về quan hệ gia đình, thầy trò, bạn bè, như sau: -Quan hệ gia đình: Anh em như thể chân tay Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần. Chị ngã em nâng; chim có tô người có tông; Con hơn cha là nhà có phúc; Con có cha. ihư nhà có nóc v.v… Không thầy đô mày làm nên; Tôn sư trọng đạo; Kính thầy yêu bạn; Trọng thầy mới được làm thầy v.v… -Quan hệ bạn bè: Học thầy không tày học bạn; Chọn bạn mà chơi; Bạn nối khố; Buôn có bạn, bán có phường… Câu 3: Tìm các từ ngữ miêu tả hình dáng của người. a)Miêu tả mái tóc. b)Miêu tả đôi mắt. c)Miêu tả khuôn mặt. d)Miêu tả làn da. e)Miêu tả vóc người. Gợi ý: Các từ ngữ miêu tả hình dáng của người: a)Miêu tả mái tóc: tóc mây, tóc huyền, tóc tơ, tóc rễ tre, đen mượt, đen nhánh, óng ả, óng mượt, hoa râm, bạc phơ, muối tiêu… b)Miêu tả đôi mắt: mắt bồ câu, mắt lươn, mắt lá răm, mắt ốc nhồi, mắt phượng, mắt ti hí, mắt trong xanh… c)Miêu tả khuôn mặt: mặt chữ điền, mặt trái xoan, mặt lưỡi cày, mặt xương, mặt thịt, mặt bầu bầu, mặt ngựa, mặt bánh đúc… d)Miêu tả làn da: da dâu, da trắng, da nâu, da đồng hun, đen như cột nhà cháy, hồng hào, xanh xao, trắng như trứng gà bóc, trắng mịn, ngăm ngăm… e)Miêu tả vóc người: cao, gầy, lùn, cao lêu nghêu, gầy như cò ma, to như voi, mập mạp, còm nhom, dáng thư sinh, dáng tiểu thư, mình dây, dáng bè bè, liễu yếu dào tơ, công tử bột, thanh tú, gầy đét, tầm thước.. Câu 4: Dùng một sô từ vừa tìm được (ở bài tập 3), viêt một đoạn văn khoảng năm câu tả hình dáng của một người thân hoặc một người em quen biết. “Mọi người đều khen chị gái tôi đẹp. Chị đang ở tuổi mười tám đôi mươi lại là sinh viên ăn mặc hợp thời trang nữa nên trông chị lúc nào cũng duyên dáng thu hút mọi người. Chị có một thân hình dong dỏng, đẹp như một cô người mẫu. Làn da của chị vừa trắng vừa hồng. Chị ít khi trang điểm mà vẫn xinh như diễn viên diện ảnh”.
Tuần 15_ Luyện từ và câu (Tổng kết vốn từ)
779
Tuần 16: Chính tả Về ngôi nhà đang xây Hướng dẫn Câu 1: Nghe – viết bài về ngôi nhà đang xây (hai khổ đầu). Gợi ý: Em nhờ bạn hay người thân đọc hai khổ thơ đầu bài về ngôi nhà đang xây, em viết. Sau đó đối chiếu lại với văn bản, sai chữ nào sửa lại chữ ấy. Viết đúng mẫu chữ, tốc độ viết theo quy định. Câu 2: a) Hãy tìm những từ ngữ chứa các tiếng dưới đây: rẻ – rẻ rúng, rẻ quạt rây – cái rây bột dẻ – hạt dẻ, mảnh dẻ dây – sợi dây, dây dưa, dây dọi, dây leo, nhảy dây giẻ – mảnh giẻ, giẻ lau, chim giẻ cùi, giẻ rách giây – kim giây – giây lát – giây phút… b)Tìm những từ ngữ chứa các tiếng chỉ khác nhau ở âm đầu v hay d: vàng màu vàng, vàng hoa mướp, vàng bạc vào ra vào, đi vào, vào bài vỗ vồ về, sóng vỗ dàng dễ dàng dào dào dạt, dồi dào… dỗ dỗ dành, dạy dỗ… c) Tìm những từ ngữ: – Chứa các tiếng chỉ khác nhau ở vần iêm hay im: chiếm lúa chiêm, vụ chiêm, chiêm chiếp liêm liêm khiết, câu liêm, thanh liêm chim con chim, bầy chim, trứng chim lim gỗ lim, lim dim diếp – rau diếp kiếp – kiếp người, số kiếp – kiếp trâu ngựa… díp dao díp, díp mắt kíp – kíp nổ, cần kíp – làm theo ca kíp – (1) chứa tiếng bắt đầu bằng r hay gi. – (2) chứa tiếng bắt đầu bằng v hay d. Gợi ý: Tìm tiếng thích hợp điền vào chỗ trống để hoàn chỉnh mẩu chuyện Thầy quên mặt nhà con hay sao? như sau: – Thứ tự điền như sau: Thầy quên mặt nhà con (rồi) hay sao? Có anh……… than thở bảo: -Cậu hãy vẽ……… rồi…….. treo. Thiên hạ……….lo gì…………. khá. Nghe lời………. rồi lại………….ngồi bên. Vẽ xong………. đắc ý lắm. Một hôm………….., hỏi: -Anh vẽ………….đó? Anh Trả lời: – Chết nỗi………….rồi hay sao? Ông bố…………..tiếp: –Thì ra…………. kì dị làm vậy?
Tuần 16_ Chính tả Về ngôi nhà đang xây
293
Tuần 16: Luyện từ và câu (Tổng kết vốn từ) Hướng dẫn Câu 1: Tìm những từ đồng nghĩa và trái nghĩa với các từ sau: a)Nhân dân c) Dũng cảm b)Trung thực d) Cần cù Gợi ý: Tìm những từ đồng nghĩa, trái nghĩa với những từ cho trước, như sau: a)Nhân hậu + Đồng nghĩa: nhân nghĩa, nhân ái, nhân từ, phúc hậu, phúc đức… + Trái nghĩa: bất nhân, bất nghĩa, ác độc, tàn bạo, tàn nhẫn, vô đạo, bạo tàn… b)Trung thực + Đồng nghĩa: thẳng thắn, thật thà, ngay thẳng, thành thật… + Trái nghĩa: dối trá, lừa lọc, mánh khóe, gian giảo, giả dối, gian manh, lừa đảo, lừa lọc… c)Dũng cảm + Đồng nghĩa: gan dạ, anh dũng, bạo gan + Trái nghĩa: nhát gan, hèn nhát, nhát như cáy…. d)Cần cù + Đồng nghĩa: siêng năng, chịu khó, nhẫn nại, chuyên cần, chăm chỉ… + Trái nghĩa: biếng nhác, làm biếng, lười nhác… Câu 2: Đọc bài văn Cô Chấm (SGK TV5 tập 1 trang 156). Cho biết Cô Chấm là người có tính cách như thế nào? Nêu những chi tiết và từ ngữ minh họa cho nhận xét của em. Gợi ý:Đọc bài văn Cô Chấm cô Chấm có tính cách sau đây: -Tính trung thực, thẳng thắn. -Chăm chỉ, siêng năng. -Nặng tình cảm, dễ xúc động. * Những chi tiết và từ ngữ thế hiện tính cách của cô Chấm: -Tính trung thực, thẳng thắn: + “Đôi mắt Chấm định nhìn ai thì dám nhìn thẳng.” + “Bình điểm ở tổ, ai làm hơn, làm kém, Chấm nói ngay, nói thẳng băng. Với mình, Châm có hôm dám nhận hơn người khác bốn năm điểm. Chấm thẳng như thế nhưng không bị ai giận, vì người ta biết trong bụng Châm không có gì độc địa. -Chăm chỉ siêng năng + Chấm cần cơm và lao động để sống. + Chấm hay làm, đó là một nhu cầu của sự sông, không làm chân tay nó bứt rứt. + Tết, Chấm ra đồng từ sớm mồng hai, có bắt ở nhà cũng không được. Chấm mộc mạc như hòn đất. Hòn đất ấy bầu bạn với nắng mưa để cho cây lúa mọc lên… -Nặng tình cảm, dễ xúc động + Chấm hay nghĩ ngợi, dễ cảm thương… khóc gần suổt buổi. Đêm ấy ngủ trong giấc mơ, Chấm lại khóc mất bao nhiêu nước mắt (vì những cảnh ngộ trong phim). TIẾT 2: TỔNG KẾT VỐN TỪ Câu 1: Tự kiểm tra vốn từ của mình. a)Xếp các tiếng sau đây thành những nhóm đồng nghĩa: đỏ, trắng, xanh, hồng, điều, bạch, biếc, đào, lục, son. b)Tìm các tiếng cho trước trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống thích hợp: (đen, thâm, mun, huyền, ô, mực) -Bảng màu đen gọi là bảng………. -Mắt màu đen gọi là mắt……… -Ngựa màu đen gọi là ngựa…… -Mèo màu đen gọi là mèo…….. -Chó màu đen gọi là chó……… -Quần màu đen gọi là quần………. a)Xếp các tiếng sau đây thành những nhóm đồng nghĩa: -đỏ, son, điều -xanh, biếc, lục -trắng, bạch -hồng, đào b)Điền các tiếng cho trước thích hợp vào chỗ trống, như sau: -Bảng màu đen gọi là bảng đen. -Mắt màu đen gọi là mắt huyền. -Ngựa màu đen gọi là ngựa ô. -Mèo màu đen gọi là mèo mun. -Chó màu đen gọi là chó mực. –Quần màu đen gọi là quần thâm. Câu 2-3: Đọc bài văn “Chữ nghĩa trong văn miêu tả” (SGK TV5 tập 1 trang 160), em hãy đặt câu theo một trong những yêu cầu sau: a)Miêu tả một dòng sông, dòng suối hoặc dòng kênh đang chảy. b)Miêu tả đôi mắt của em bé. c)Miêu tả dáng đi của một người. Gợi ý: Đặt câu theo những yêu cầu sau: a)Miêu tả một dòng sông, dòng suối hoặc dòng kênh đang chảy. -Con sông Kiên Giang vốn trong xanh hiền hòa là thế, vậy mà khi mùa mưa xuống, nước bạc ầm ầm đổ về trông nó hung tợn như một kẻ ham chơi bạt mạng. b)Miêu tả đôi mắt của em bé. -Đôi mắt của bé Hà sáng trong như trời mùa thu. c)Miêu tả dáng đi của một người. –Cái tính cách trầm tĩnh của bác ấy dường như cũng được biểu hiện trong cả dáng đi, điệu đứng của mình: chậm và chắc từng bước một.
Tuần 16_ Luyện từ và câu (Tổng kết vốn từ)
673
Tuần 17: Luyện từ và câu (Ôn tập về câu) Hướng dẫn Câu 1: Lập bảng phân loại các từ trong khổ thơ sau đây theo cấu tạo của chúng. Biết rằng các từ đã được phân cách với nhau bằng dấu gạch chéo. Hai/ cha con/ bước/ đi/ trên/ cát/ Ánh/ mặt trời/ rực rỡ/ biển xanh/ Bóng/ cha/ dài/ lênh khênh/ Bóng/ con/ tròn/ chắc nịch/ Tìm thêm ví dụ minh họa cho các kiểu cấu tạo từ trong bảng phân loại em vừa lập (mỗi kiểu ba ví dụ). Gợi ý: Lập bảng phân loại các từ trong đoạn thơ đã cho theo cấu tạo của chúng, như sau: Từ đơn Từ phức Từ láy hai, bước, đi, trên, cát, ánh, biển, xanh, bóng, cha, dài, bóng, con, tròn cha con, mặt trời chắc nịch rực rỡ, lênh khênh -Một số ví dụ minh họa thêm: + Từ đơn: nhà, đi, học,… + Từ phức: nhà cửa, đường sá, sòng ngòi… + Từ láy: biêng biếc, rung rinh, long lanh… Câu 2: Các từ trong mỗi nhóm dưới đây có quan hệ với nhau như thế nào? -Đó là những từ đồng nghĩa. -Đó là những từ đồng âm. -Đó là một từ nhiều nghĩa. a)đánh cờ, đánh giặc, đánh trông b)trong veo, trong vắt, trong xanh c)thi đậu, xôi đậu, chim đậu trên cành Gợi ý:Các từ trong mỗi nhóm đã cho, chúng có quan hệ với nhau, như sau: a)đánh cờ, đánh giặc, đánh trống (đánh là từ nhiều nghĩa). c)thi đậu, xôi đậu, chim đậu trên cành (đậu là những từ đồng âm). Câu 3: Đọc đoạn văn Cây rơm (SGK TV5 tập 1 trang 167). Tìm các từ đồng nghĩa với những từ in đậm trong bài văn. Theo em, vì sao nhà văn chọn từ in đậm mà không chọn những từ đồng nghĩa với nó. Gợi ý:Đọc đoạn văn Cây rơm (SGK TV5 tập 1 trang 167): a)Những từ đồng nghĩa với những từ in đậm là: -tinh ranh: khôn khéo, tinh khôn, láu lỉnh… -dâng: cho, tặng, biếu -êm đềm: êm ấm, êm dịu, êm êm b)Nhà văn chọn những từ tinh ranh, dâng, êm đềm mà không chọn những từ đồng nghĩa với các từ ấy là vì không có một từ đồng nghĩa nào có sắc thái biểu đạt cũng như sắc thái biểu cảm phù hợp với văn cảnh của đoạn văn. Câu 4: Tìm từ trái nghĩa thích hợp với mỗi chỗ trông trong các thành ngữ, tục ngữ sau: a)có mới nới b)Xâu gỗ,nước sơn c)Mạnh dùng sức,dùng mưu Gợi ý:Điền thêm từ ngữ đế hoàn thành các quán ngữ, thành ngữ, như sau: a)Có mới nới cũ b)Xấu gỗ, tốt nước sơn c)Mạnh dùng sức, yếu dùng mưu TIẾT 2: ÔN TẬP VỀ CÂU Câu 1: Đọc mẩu chuyện Nghĩa của từ củng (SGK TV5 tập 1 trang 171) và thực hiện nhiệm vụ sau: a)Tìm trong mẩu chuyện ấy: -Một câu kể; -Một câu cảm; -Một câu khiến. b)Nêu những dấu hiệu của mỗi câu nói trên. Gợi ý: Đọc mẩu chuyện Nghĩa của từ củng và thực hiện các nhiệm vụ đã nêu, như sau: a)Trong mẩu chuyện có: -Một câu hỏi: Đó là câu Nhưng vì sao cô biết cháu đã cóp bài của bạn? -Một câu kê: Đó là câu Cháu nhà chị hôm nay cóp bài kiểm tra của bạn. -Một câu cảm: Đó là câu Thế thì đáng buồn quá! -Một câu khiến: Đó là câu Không đâu! b)Những dấu hiệu của mỗi câu nói trên là: -Câu hỏi: Có nội dung nghi vân (hỏi) buộc (yêu cầu) người khác phải trả lời. Cuối câu có dấu chấm hỏi. -Câu kể: Có nội dung kề, tả hoặc thuật lại một sự việc nào đó. Cuối câu có dấu chấm. -Câu cảm: Có nội dung bộc lộ cảm xúc. Cuối câu có dấu châm cảm (dấu chấm than). –Cáu khiến: Có nội dung yêu cầu (ra mệnh lệnh…) buộc người khác thực hiện. Cuối câu có dấu châm cảm (chấm than). Câu 2: Phân loại các kiểu câu kể trong mẩu chuyện Quyết định độc đáo (SGK TV5 tập 1 trang 171). Xác định thành phần của từng câu (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ) Gợi ý:Phân loại các kiểu câu kể trong mẩu chuyện: Quyết định độc đáo và xác định các thành phần của câu như sau: -Câu 1: Cách đây không lâu, lãnh đao Hội đồng thành phố ở nước Anhđã quyết định phat tiền các công chức nói hoăc viết tiếng Anh không đúng chuẩn. (P, C-V) VN -Câu 2: Theo quyết định này, mỗi lần mắc lỗi, công chứcbi phạt 1 bảng. (P1, P2, C-V) TN1 TN2 CN VN -Câu 3: Ông chủ tịch Hôi đồng thành phố tuyên bố CN sẽ không kí bất cứ văn bản nào có lỗi ngữ pháo và chính tả. (C-V) VN -Câu 4: Đâylà môt biện pháp mạnh nhằm giữ gìn sư trong sáng của tiếng Anh CN VN(C-V)
Tuần 17_ Luyện từ và câu (Ôn tập về câu)
767
Tuần 19: Tiếng Việt lớp 3: Nghe và kể lại câu chuyện Chàng trai làng Phù Ủng. Hướng dẫn HỌC KÌ 2 TUẦN 19: Tập kể chuyện lớp 3 1. Nghe và kể lại câu chuyện Chàng trai làng Phù ủng: (Gợi ý: Muốn nắm vững nội dung câu chuyện, em cần trả lời được các câu hỏi sau: – Chuyện xảy ra ở đâu? Vào thời gian nào? – Truyện có những nhân vật nào? Sau đó đọc 3 câu hỏi gợi ý, quan sát tranh minh hoạ trong Sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập hai, trang 12 để nhớ lại câu chuyện. + Khi kể chuyện, phần đầu em kể giọng chậm rãi, thong thả. Đoạn Hưng Đạo Vương xuất hiện giọng dồn dập hơn. Phần cuối nhịp kể lại thong thả. Lời đối thoại của Hưng Đạo Vương: ngạc nhiên, của chàng trai: lễ phép, từ tốn.) Tham khảo: Tiếng Việt lớp 3: Ôn tập thi cuối kì 1 2. Bài tham khảo: Sáng hôm ấy, bên vệ đường làng Phù ủng có một chàng trai đội nắng ngồi đan sọt. vẻ mặt chàng đăm chiêu suy nghĩ. Những giọt mồ hôi lấm tấm trên gương mặt trẻ trung. Giữa lúc ấy, đoàn quân đưa Trần Hưng Đạo đi qua làng. Đường hẹp, quân đông, loa thét đinh tai, vậy mà chàng trai vẫn ngồi điềm nhiên, mải mê đan sọt. Quân mở đường giận dữ lấy giáo đâm vào đùi, máu chảy, chàng trai vẫn không ngẩng mặt. Kiệu Hưng Đạo Vương đến. Như sực tỉnh, chàng trai vội đứng dậy vái chào. Hưng Đạo Vương hỏi: -Đùi bị đâm chảy máu mà nhà ngươi không biết sao? Chàng trai đáp: – Tôi đang mải nghĩ mấy câu trong sách Binh thư nên không để ý, xin Đại vương đại xá cho. Trần Hưng Đạo hỏi tên, chàng trai xưng là Phạm Ngũ Lão. Hỏi đến phép dùng binh, chàng trai trả lời rất trôi chảy. Hưng Đạo Vương tỏ lòng mến trọng, đưa chàng trai theo về kinh đô. Về sau, Phạm Ngũ Lão cầm quân đánh giặc, lập được nhiều chiến công lớn, trở thành một vị tướng tài ba. 3. Viết tiếp vào chỗ trống để hoàn chỉnh câu trả lời cho câu hỏi b và c trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập hai, trang 12: – Câu a: Quân lính đâm giáo vào đùi chàng trai vì kiệu của Trần Hưng Đạo qua làng, người đông, đường hẹp, loa thét đinh tai mà………………… – Câu b: Trần Hưng Đạo đưa chàng trai về kinh đô vì thấy chàng là một người
Tuần 19_ Tiếng Việt lớp 3_ Nghe và kể lại câu chuyện Chàng trai làng Phù Ủng.
420
Tuần 1: Cấu tạo của bài văn tả cảnh (tập làm văn 5) Hướng dẫn Câu 1:Đọc và phân đoạn bài văn Hoàng hôn trên sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Xác định nội dung từng đoạn. Gợi ý: Bài Hoàng hôn trên sông Hương được chia làm ba phần: a.Mở bài: Từ đầu đến “thành phố vốn hằng ngày đã rất yên tĩnh này”. -Nội dung: Nêu đặc điểm của Huế vào lúc hoàng hôn. b.Thân bài: Từ “Mùa thu” đến “khoảnh khắc yên tĩnh của buổi chiều cũng chấm dứt”. -Nội dung: Sự chuyển đổi màu sắc của sông Hương cùng với những hoạt động của con người ở hai bên bờ và trên dòng sông Hương vào thời điểm hoàng hôn. (Phần thân bài gồm hai đoạn: đoạn 1 từ “Mùa thu” cho đến “hàng cây”, nói về sự thay đổi sắc màu của sông Hương từ lúc bắt đầu hoàng hôn đến lúc trời tối hẳn. Đoạn 2: từ “Phía bên sông” cho đến “cũng chấm dứt”, nói về hoạt động của con người ở hai bờ sông và trên mặt sông từ lúc hoàng hôn đến lúc thành phô’ lên đèn). c.Kết bài: Phần còn lại của văn bản. – Nội dung: Huế thức dậy sau buổi hoàng hôn với nhịp sống mới. Câu 2:Thứ tự miêu tả trong bài văn trên có gì giông và khác với bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa Gợi ý:Thứ tự miêu tả trong hai bài văn: Hoàng hôn trên sông Hương và Quang cảnh làng mạc ngày mùa *Khác: – Bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa tả từng bộ phận của cảnh. -Bài Hoàng hôn trên sông Hương tả cảnh vật theo sự biên đổi của thời gian. Cụ thể là: Quang cảnh làng mạc ngày mùa, tác giả đã giới thiệu màu sắc bao trùm lên làng quê vào ngày mùa. Đó là màu vàng, sau đó tác giả di sâu hơn tả chi tiết cảnh vật với sắc độ màu vàng khác nhau, rồi thời tiết và con người cần cù say mê với công việc trong ngày mùa. -Bài Hoàng hôn trên sông Hương, tác giả khái quát đặc điểm chung của Huế vào lúc hoàng hôn. Đó là sự yên tĩnh. Tiếp đó, tác giả tả về sự thay đổi sắc màu của sông Hương theo sự biến chuyển của thời gian từ lúc bắt đầu hoàng hôn cho đến lúc trời tối hẳn. Cuối cùng là sự thức dậy của Huế sau thời diếm hoàng hôn. Câu 3: Từ hai bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa và Hoàng hôn trên sông Hương, hãy rút ra nhận xét về cấu tạo của bài văn tả cảnh. Gợi ý: Cấu tạo của bài văn tả cảnh: Gồm có ba phần: a.Mở bài: Giới thiệu bao quát về cảnh sẽ tả. c.Kết luận: Kết thúc việc miêu tả một cách tự nhiên hoặc nêu lên cảm nghĩ của người viết. LUYỆN TẬP Câu 1:Nhận xét cấu tạo của bài văn Nắng trưa, Gợi ý: Cấu tạo của bài văn Nắng trưa: Bài văn Nắng trưa gồm ba phần: -Phần 1: Mở bài: Là câu đầu tiên của văn bản. Nội dung: Nhận xét khái quát về cái nắng vào ban trưa. -Phần 2: Thân bài: Phần này gồm có bốn đoạn, mỗi đoạn được giới hạn bởi câu mỏ đầu và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng. Cụ thể là: + Đoạn 1: “Buổi trưa., bốc lên mãi” *Nội dung: Đặc tả về cái nắng ban trưa thật dữ dội. + Đoạn 2: từ “Tiếng gì xa vắng… mí mắt khép lại” *Nội dung: Không khí nặng nề, oi bức, tĩnh lặng do cái nắng chói chang khó chịu của ban trưa đem lại. + Đoạn 3: từ “Con gà nào… cũng lặng im” *Nội dung: Hoạt động và trạng thái của muôn vật giữa cái nắng trưa oi ả. Không gian như đi vào sự tĩnh lặng. + Đoạn 4: từ “Ây thế… thửa ruộng chưa xong” *Nội dung: Sự vất vả của người mẹ dưới cái nắng trưa dữ dội. — Phần 3: Kết bài: Câu cuối của văn bản. *Nội dung: Tình cảm của người con đối với mẹ. Gợi ý: Em có thể chọn bất kì cảnh nào gần gũi với em nhất và quan sát chúng vào một buổi nhất định (sáng, trưa, chiều). Chú ý: huy động tất cả các giác quan của mình vào quan sát cảnh ấy: thị giác, cảm giác, thính giác… Trong quá trình quan sát, em cần thực hiện theo một trình tự nhâ’t định. (Từ gần đến xa, hay từ xa đến gần; từ trên xuông dưới hay từ dưới lên trên). Quan sát được gì, ghi vào vỏ, sau đó liên kết chúng lại thành một dàn ý chi tiết rồi viết thành một bài văn hoàn chỉnh.
Tuần 1_ Cấu tạo của bài văn tả cảnh (tập làm văn 5)
782
Tuần 1: Luyện từ và câu (Từ đồng nghĩa) Hướng dẫn TIẾT 1: LUYỆN TỪ VÀ CÂU Câu 1: Xếp những từ in đậm thành từng nhóm đồng nghĩa trong đoạn văn đã cho (SGK TV5 tập 1 trang 8). Gợi ý:Những nhóm từ đồng nghĩa trong đoạn văn đã cho là. + hoàn cầu – năm châu + non sông – nước nhà Câu 2: Tìm những từ đồng nghĩa với mỗi từ sau đây: “đẹp, to lớn, học tập” Gợi ý: Những từ đồng nghĩa với các từ đã cho là. -đẹp: xinh, xinh đẹp, kiều diễm, đẹp đẽ, mĩ lệ… -to lớn: khổng lồ, vĩ đại, to tướng, to đùng… -học tập: học hành, học hỏi, học việc… Câu 3: Đặt câu với một cặp từ đồng nghĩa em vừa tìm được ở bài tập 2. Gợi ý:Đặt câu với một cặp từ đồng nghĩa vừa tìm được như sau. -Cháu Hương con chị Ba xinh đáo để. –Tiết mục múa của lớp em trông đẹp mắt lắm. TIẾT 2: LUYỆN TỪ VÀ CÂU Câu 1: Tìm các từ đồng nghĩa: a) Chỉ màu xanhc) Chỉ màu trắng b) Chỉ màu đỏ d) Chỉ màu đen Gợi ý: Tìm các từ đồng nghĩa. a)Chỉ màu xanh: xanh, xanh xanh, xanh lơ, xanh lam, xanh biếc, xanh da trời, xanh nước biển, xanh ngát, xanh ngắt, xanh rờn, xanh mướt. b)Chỉ màu đỏ: đo đỏ, đỏ cờ, đỏ au, đỏ chói, đỏ chóe, đỏ chót, đỏ hoe, đỏ hỏn, đỏ lòm, đỏ ối, đỏ quạch, đỏ rực, đỏ ửng… d)Chỉ màu đen: đen đen, đen kịt, đen đúa, đen thui, đen ngòm, đen nhánh, đen đủi… Câu 2: Đặt câu với một từ em vừa tìm được ở bài tập 1. Gợi ý: Đặt câu với một từ em vừa tìm được. -Bầu trời xanh ngắt một màu. -Trái ớt chín đỏ chót nhìn thật thích mắt. -Con bé nhà ai mà trắng trẻo thế. –Những cục than đá đen nhánh trông thật đẹp. Câu 3: Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn để hoàn chỉnh bài văn sau: Cá hồi vượt thác (SGK TV5 tập 1 trang 13). Gợi ý:Em chọn từ đúng để hoàn chỉnh đoạn văn bài Cá hồi vượt thác như sau. -Đàn cá hồi gặp thác phải nghỉ lại lấy sức để sáng mai vượt sóng. Suốt đêm thác réo điên cuồng. Nước tung lên thành những búi trắng như tơ. Suốt đêm đàn cá rậm rịch. Mặt trời vừa nhô lên. Dòng thác óng ánh sáng rực dưới nắng. Tiếng nước xối gầm vang. Những con cá hồi lấy đà lao vút lên như chim. Chúng chọc thủng màn mưa thác trắng. Những đôi vây xòe ra như đôi cánh. Đàn cá hồi lần lượt vượt thác an toàn. Đậu “chân” bên kia ngọn thác, chúng chưa kịp chờ cho cơn choáng di qua, lại hối hả lên đường.
Tuần 1_ Luyện từ và câu (Từ đồng nghĩa)
452
Tuần 2: Chính tả Lương Ngọc Quyến Hướng dẫn Câu 1: Nghe – viết bài Lương Ngọc Quyến (SGK TV5 tập 1 trang 17). Gợi ý: Em nhờ bạn hoặc người thân đọc, em viết bài Lương Ngọc Quyến. Sau đó đối chiếu với SGK, sai chữ nào sửa lại chữ đó. Viết đúng mẫu chữ và tốc độ viết theo yêu cầu chương trình của lớp 5. Câu 2: Chép vần của từng tiếng vừa tìm được vào mô hình cấu tạo vần dưới đây: Tiếng Vần Âm điệu Âm chính Âm cuối Trạng nguyên ….. u …. a yê …. ng n …. Gợi ý: Tiếng Vần Âm điệu Âm chính Âm cuối Trạng nguyên Nguyễn Hiền khoa thi làng Mộ Trạch huyện Cẩm Bình u u o u a yê yê iê a i a ô a yê â i ng n n n ng ch n m nh
Tuần 2_ Chính tả Lương Ngọc Quyến
89
Tuần 2: Luyện từ và câu (Luyện tập về Từ đồng nghĩa) Hướng dẫn TIẾT 1: LUYỆN TẬP VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA Câu 1: Tìm trong bài Thư gửi các học sinh hoặc Việt Nam thân yêu những từ đồng nghĩa với từ Tổ quốc. Gợi ý: Trong bài Thư gửi các học sinh và bài Việt Nam thân yêu có những từ đồng nghĩa với từ Tổ quốc là: nước nhà, non sông, đất nước. Câu 2: Tìm thêm những từ đồng nghĩa với từ Tổ quốc. Gợi ý: Những từ đồng nghĩa với Tổ quốc, đó là những từ: giang sơn, quốc gia, quê hương, đất mẹ… Câu 3: Trong từ Tổ quốc tiếng quốc có nghĩa là nước. Em hãy tìm thêm những từ chứa tiếng quốc. Gợi ý:Tìm thêm những từ chứa tiếng quốc (quốc nghĩa là nước). Đó là những từ: –quốc dân, quốc sự, quốc nạn, quốc ca, ái quôc, vệ quốc, quốc hiệu, quốc học, quốc hội, quốc huy, quốc khánh, quốc kì, quốc ngữ, quôc phòng, quốc giáo, quốc doanh, quốc lập… Câu 4: Đặt câu với những từ dưới đây: a)Quê hương b) Quê mẹ a)Quê cha đất tổ d) Nơi chôn rau cắt rốn Gợi ý:Đặt câu với những từ cho trước, như sau: a)Quê hương: Quê hương em ở tận ngoài Bắc. b)Quê mẹ: Xa xứ, người ta thường nhớ về quê mẹ. c)Quê cha đất tổ: Những người sống xa Tổ quốc, họ luôn hướng về quê cha đất tổ. d)Nơi chôn rau cắt rốn: Bố em nói: “Tết này bố sẽ đưa cả nhà về thăm nơi chôn rau cắt rốn của mình.” TIẾT 2: LUYỆN TẬP VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA Câu 1: Tìm những từ đồng nghĩa trong đoạn văn đã cho (SGK TV5 tập 1 trang 22). Gợi ý: Những từ đồng nghĩa là: mẹ, má, u, bu, bầm, bủ, mạ. Câu 2: Xếp các từ cho dưới đây thành những nhóm từ đồng nghĩa: bao la, lung linh, vắng vẻ, hiu quạnh, long lanh, lóng lánh, mênh mông, vắng teo, vắng ngắt, bát ngát, lấp loáng, lấp lánh, hiu hắt, thênh thang. Gợi ý: Xếp các từ đã cho thành những nhóm từ đồng nghĩa, như sau: -bao la, mênh mông, bát ngát, thênh thang. -lung linh, long lanh, lóng lánh, lấp loáng, lấp lánh. -vắng vẻ, hiu quạnh, vắng teo, vắng ngắt, hiu hắt. Câu 3: Viết một đoạn văn miêu tả khoảng năm câu, trong đó có dùng một số từ đã nêu ở bài tập 2. Gợi ý: Viết một đoạn văn miêu tả có dùng một số từ nêu ở trên như sau. -Cánh đồng lúa quê em mênh mông bát ngát. Vụ nối vụ, mùa nối mùa. Hết màu xanh bao la lại đến màu vàng của biển lúa. Cánh đồng ấy nổi tiếng là vựa thóc của miền Nam. -Hồ Trúc Giang ở ngay trung tâm thị xã. Hồ có một vẻ đẹp thật thi vị. Ban đêm, mặt hồ lung linh ánh điện. Thỉnh thoảng những làn gió thổi qua, mặt hồ gợn sóng lăn tăn, lấp lánh ánh sáng bạc.
Tuần 2_ Luyện từ và câu (Luyện tập về Từ đồng nghĩa)
495
Tuần 3: Chính tả Thư gửi các học sinh Hướng dẫn Câu 1: Nhớ – viết bài Thư gửi các học sinh (từ “Sau 80 năm giời nô lệ”., đến “nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”) SGK TV5 tập 1 trang 4. Gợi ý:Viết lại bài Thư gửi các học sinh (đoạn văn đã cho) bằng trí nhớ. Viết xong đối chiếu với văn bản. Sai chữ nào sửa lại chữ ấy. Câu 2: Ghép vần của từng tiếng trong hai dòng thơ sau vào mô hình cấu tạo vần dưới đây: Em yêu màu xanh Đồng bằng rừng núi Tiếng Vần Âm đệm Âm chính Âm cuối ……… Xanh ……… ……… c ……… nh Gợi ý: Tiếng Vần Âm đệm Âm chính Âm cuối Em yêu màu xanh Đồng bằng rừng núi e yê a a ô ă ư u m u u nh ng ng ng i Câu 3: Từ bài tập trên, em hãy cho biết khi viết một tiếng, dấu thanh cần đặt ở đâu. Gợi ý: Khi viết một tiếng dấu thanh đặt ở âm chính.
Tuần 3_ Chính tả Thư gửi các học sinh
136
Tuần 3: Luyện từ và câu (Luyện tập về Từ đồng nghĩa) Hướng dẫn TIẾT 1: LUYỆN TẬP VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA Câu 1: Xếp các từ ngữ trong ngoặc đơn vào nhóm thích hợp nêu dưới đây: a)công nhân b) nông dân c)doanh nhân d) quân nhân a)trí thức g) học sinh (Giáo viên, đại úy, trung sĩ, thợ điện, thợ cơ khí, thợ cấy, thợ cày, học sinh tiểu học, học sinh trung học, bác sĩ, kĩ sư, tiểu thương, nhà tư sản). Gợi ý: Xếp các từ ngữ cho trước vào nhóm thích hợp như sau: a)Công nhân: thợ điện, thợ cơ khí. b)Nông dân: thợ cấy, thợ cày. c)Doanh nhân: tiểu thương, nhà tư sản. d)Quân nhân: đại úy, trung sĩ. e)Trí thức: giáo viên, bác sĩ, kĩ sư. g) Học sinh: học sinh tiểu học, học sinh trung học. Câu 2: Đọc truyện Con Rồng cháu Tiên và trả lời câu hỏi (SGK TV5 tập 1 trang 27). a)Vì sao người Việt Nam ta gọi nhau là đồng bào? b)Tìm từ bắt đầu bằng tiếng đồng (có nghĩa là “cùng”). c)Đặt câu với một trong những từ vừa tìm được. Gợi ý: Đọc truyện “Con Rồng cháu Tiên” và trả lời câu hỏi, như sau: a)Người Việt Nam ta gọi nhau là đồng bào là vì đều sinh ra từ bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ (dồng nghĩa là cùng, bào nghĩa là cái rau – cái rau nuôi dưỡng thai nhi trong bụng mẹ). -đồng bào, đồng chí, đồng lòng, đồng hương, đồng thời, đồng bọn, đồng ca, đồng cảm, đồng điệu, đồng dạng, đồng hành, đồng đội, đồng hao, đồng tình, đồng nghĩa, đồng môn, đồng loạt, đồng nghiệp, đồng tâm, đồng khởi, đồng loại, đồng diễn v.v… c)Đặt câu với một trong những từ vừa tìm được. –Tiết mục đồng ca của lớp em thật là tuyệt! TIẾT 2: LUYỆN TẬP VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA Câu 1: Điền vào các từ xách, đeo, khiêng, kẹp, vác vào những ô trống thích hợp trong đoạn văn đã cho (SGK TV5 tập 1 trang 32-33) Gợi ý: Điền các từ cho trước thích hợp vào các ô trống trong đoạn văn theo trình tự sau: -đeo – xách – vác – khiêng – kẹp Câu 2: Chọn ý thích hợp trong ngoặc để giải thích ý nghĩa chung của các câu tục ngữ sau: a)Cáo chết ba năm quay đầu về núi. b)Lá rụng về cội. c)Trâu bảy năm còn nhớ chuồng. (Làm người phải thủy chung; gắn bó với quê hương là tình cảm tự nhiên; loài vật thường nhớ nơi ở cũ). Gợi ý:Chọn ý thích hợp trong ngoặc đơn để giải thích ý nghĩa chung của các câu tục ngữ đã cho, như sau: -Chọn ý: Gắn bó với quê hương là tình cảm tự nhiên. Nội dung này có thể giải thích nghĩa chung cho cả ba câu tục ngữ. Câu 3: Dựa theo ý một khổ thơ trong bài sắc màu em yêu, hãy viết một đoạn văn miêu tả màu sắc đẹp của những sự vật mà em yêu thích. Chú ý sử dụng những từ đồng nghĩa trong đoạn văn -Xanh, đỏ, vàng, lam, chàm, tím… mỗi màu đều có những vẻ đẹp riêng của nó. Với em, màu xanh vẫn là màu em thích nhất. Đó là màu xanh của đồng bằng, rừng núi, màu của biển cả mênh mang và cũng là màu của bầu trời trong xanh vời vợi trên kia. Màu của ước mơ hi vọng.
Tuần 3_ Luyện từ và câu (Luyện tập về Từ đồng nghĩa)
555
Tuần 4: Chính tả Anh Bộ Đội cụ Hồ gốc Bỉ Hướng dẫn Câu 1: Nghe – viết Anh bộ đội cụ Hồ gốc Bỉ (SGK TV5 tập 1 trang 38). Gợi ý:Em nhờ bạn hay người thân đọc, em viết lại bài đã cho. Viết xong đối chiếu với văn bản. Sai chữ nào sửa lại chữ ấy. Chú ý mẫu chữ, tốc độ viết cho đúng. Câu 2: Chép vần của các tiếng in đậm trong câu sau vào mô hình cấu tạo vần. Cho biết giữa các tiếng ấy có gì giống nhau và khác nhau. “Nhận rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, năm 1949, ông chạy sang hàng ngũ quân đội ta, lấy tên Việt là Phan Lăng”. Gợi ý:Chép vần của các tiếng in đậm đã cho như sau: -Nghĩa: Phần vần là ia. -Chiến: Phần vần là iên. •Giống nhau: Âm chính của mỗi tiếng đều là nguyên âm ia, iê (i + a; i + ê). •Khác nhau: Tiếng nghĩa không có âm cuối. Tiếng chiến có âm cuối. Câu 3: Nêu quy tắc ghi dấu thanh ở các tiếng trên. Gợi ý: Quy tắc ghi dấu thanh của các tiếng, như sau. -Tiếng nghĩa không có âm cuối nên dấu thanh đặt ở âm i (âm đầu của nguyên âm đôi ia, iê). -Tiếng chiến có âm cuối vần nên dấu thanh đặt trên âm thứ hai (âm ê của nguyên âm đôi iê). Đây là quy tắc được sử dụng chung cho Tiếng Việt đối với những tiếng có nguyên âm đôi.
Tuần 4_ Chính tả Anh Bộ Đội cụ Hồ gốc Bỉ
251
Tuần 5: Chính tả Một chuyên gia máy xúc Hướng dẫn Câu 1: Nghe – viết bài Một chuyên gia máy xúc (từ “Qua khung cửa”.._..đến “những nét giản dị thân mật”) SGK TV5 tập 1 trang 45. Gợi ý:Em nhờ bạn hay người thân đọc, em viết bài đã cho. Viết xong, đối chiếu với văn bản. Sai chữ nào sửa chữ ấy. Chú ý viết đúng mẫu chữ và tốc độ theo quy định. Câu 2: Tìm các tiếng có chứa uô, ua trong bài văn Anh hùng Núp tại Cu-ba (SGK TV5 tập 1 trang 47). Giải thích quy tắc ghi dấu thanh áp dụng trong mỗi tiếng em vừa tìm được. Gợi ý: Tìm các tiếng có chứa uô, ua trong đoạn văn. Đó là những tiếng: “của, múa, cuốn, buôn, cuộc”. -Các tiếng của, múa không có âm cuối, dấu thanh ghi trên âm đầu của nguyên âm đôi ua (trên âm u). –Các tiếng cuốn, cuộc có âm cuối Hên dâu thanh ghi ở âm thứ hai của nguyên âm đôi uô (trên hoặc dưới âm ô). Tóm lại: Trong tiếng Việt những tiếng nào có nguyên âm đôi như hai trường hợp trên đều ghi dấu thanh như thế cả. Câu 3: Tìm tiếng có chứa uô hoặc ua thích hợp với mỗi chỗ trống trong các thành ngữ dưới đây: -….. người như một. -Chậm như….. -Ngang như….. -Cày sâu….. bẫm. Gợi ý: Tìm tiếng có chứa uô hay ua thích hợp với mỗi chỗ trống trong các thành ngữ đã cho, như sau: -Chậm như rùa. -Ngang như cua. –Cày sâu cuốc bẫm.
Tuần 5_ Chính tả Một chuyên gia máy xúc
255
Tuần 5: Luyện từ và câu (Từ đồng âm) Hướng dẫn TIẾT 1: TỪ ĐỒNG ÂM Câu 1: Dòng nào dưới đây nêu đúng nghĩa của từ hòa bình: a)Trạng thái bình thản. b)Trạng thái không có chiến tranh. c)Trạng thái hiền hòa, yên ả. Gợi ý: Chọn câu trả lời đúng nghĩa từ hòa bình, như sau: –Chọn (b) trạng thái không có chiến tranh. Câu 2: Những từ nào dưới đây đồng nghĩa với từ hòa bình: — bình yên- bình thản —lặng yên- thái bình —hiền hòa— thanh thản —thanh bình- yên tĩnh Gợi ý: Những từ đồng nghĩa với từ hòa bình là: bình yên, thanh bình, thái bình. Câu 3: Em hãy viết một đoạn văn từ 5 – 7 câu miêu tả cảnh thanh bình của một miền quê hoặc thành phố mà em biết. Gợi ý: Đoạn văn miêu ta cánh thanh bình của một miền quê: Quê tôi thuộc một vùng đồng bằng chiêm trũng miền Trung. Mảnh đất ấy tuy còn nghèo nhưng họ sống với nhau thật tình cảm, thật đầm ấm. Từ khi tôi biết, tôi hiểu thì ở đây họ sống với nhau bằng cái tình. Nghĩa là bằng sự chia sẻ “bát cơm manh áo” cho nhau. Chưa bao giờ tôi thấy cảnh đôi co, cãi lộn hay giằng xé nhau một cái gì đó. Và cũng chưa bao giờ thấy cảnh trộm cắp, trấn lột xảy ra ở đây. Có thể nói là một miền quê yên ả thanh bình. Tôi yêu quê mình lắm. Câu 1: Phân biệt nghĩa của những từ đồng âm trong các cụm từ sau đây: a)Cánh đồng – tượng đồng – một nghìn đồng b)Hòn đá – đá bóng c)Ba và má – ba tuổi Gợi ý: Phân biệt nghĩa của những từ đồng âm, như sau: -Đồng (trong cánh đồng): là một khoảng đất rộng, bằng phẳng dùng để cày cấy trồng trọt. -Đồng (trong tượng đồng): kim loại có màu đỏ thường dùng để kéo dây điện, dát mỏng, đúc tượng… để ví một cái gì bền vững theo quan niệm của người xưa. -Đồng (trong một nghìn đồng): dùng để chỉ đơn vị tiền tệ. -Đá (trong hòn đá): chất rắn cấu tạo nên vỏ trái đất, kết thành từng tảng, từng hòn. -Đá (trong đá bóng): một động tác dùng chân đưa bóng đi một nơi nào đó của con người. -Ba, má (trong ba và má): dùng để chỉ những người đã sinh và nuôi dưỡng mình. –Ba (trong ba tuổi): từ chỉ số lượng 1, 2, 3, 4… Câu 2: Đặt câu để phân biệt từ đồng âm bàn, cờ, nước. Gợi ý:Đặt câu để phân biệt từ đồng âm: *Bàn: -Tôi muốn bàn với anh một việc. -Cái bàn này tôi vừa mới mua. *Cờ: -Cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh ở giữa là Quốc kì của ta. -Bố em đang chơi cờ với bác hàng xóm. *Nước: -Rót hộ mình một li nước! Câu 3: Đọc truyện Tiền tiêu (SGK TV5 tập 1 trang 52) và cho biết vì sao Nam tưởng ba mình đã chuyên sang làm việc tại ngân hàng. Gợi ý:Đọc truyện Tiển tiêu và cho biết vì sao Nam tưởng ba mình đã chuyển sang làm việc tại ngân hàng? –Là vì Nam nhầm lẫn hai từ “tiển tiêu” (vị trí quan trọng, nơi có bô” trí canh gác ở phía trước khu vực đóng quân hướng về phía địch) với “tiền tiêu” (tiền dùng để xài, mua bán thứ gì đó phục vụ cho cuộc sống). Câu 4: Đố vui: a)Trùng trục như con chó thui Chín mắt, chín mũi, chín đuôi, chín đầu (Là con gì) b)Hai cây cùng có một tên Cây xòe mặt nước, cây trên chiến trường Cây này bảo vệ quê hương Cây kia hoa nở soi gương mặt hồ. Gợi ý: -Câu a: Là con chó thui đã được nướng chín (chứ không phải là số 9). -Câu b: Là cây hoa súng và khẩu súng.
Tuần 5_ Luyện từ và câu (Từ đồng âm)
624
Tuần 6: Chính tả Ê-mi-li,con Hướng dẫn Câu 1: Nhớ – viết bài Ê-mi-li,con… (từ “Ê-mi-li-con ôi”đến hết). Gợi ý:Viết bài Ê-mi-li,con theo quy định số dòng, câu đã cho bằng trí nhớ. Viết xong đối chiếu với văn bản để sửa chữa những chữ viết sai. Câu 2: Tìm những tiếng có chứa ưa hoặc ươ trong hai khổ thơ dưới đây. Nêu nhận xét về cách ghi dấu thanh ở các tiếng ấy. Thuyền đậu, thuyền đi hạ kín mui Lưa thưa mưa biển ấm chân trời Chiếc tàu chở cá về bến cảng Khói lẫn màu mây tưởng đảo khơi. Em bé thuyền ai ra giỡn nước Mưa xuân tươi tót cả cây buồm Biến bằng không có dòng xuôi ngược Cơm giữa ngày mưa gạo trắng thơm. Gợi ý: Tìm những tiếng có ưa hoặc ươ trong hai khổ thơ đã cho. Nêu nhận xét cách ghi dấu thanh, như sau: -Đó là những tiếng lưa, thưa, mưa, nước, tưởng, ngược, giữa, mưa -Những tiếng lưa, thưa, mưa, giữa không có âm cuối, dấu thanh ghi trên âm đầu âm thứ nhất của nguyên âm đôi ưa (trên âm u). -Những tiêng tưởng, nước, ngược có âm cuối, dấu thanh ghi ở trên hoặc dưới âm thứ hai của nguyên âm đôi ươ (trên hoặc dưới âm ơ). Câu 3: Tìm tiếng có chứa ưa hoặc ươ thích hợp với mỗi chỗ trống trong các thành ngữ dưới đây: -chảy đá mòn. -thử vàng, gian nan thử sức. -Cầu được ước thấy. -Năm nắng mười mưa. –Nước chảy đá mòn. –Lửa thử vàng, gian nan thử sức.
Tuần 6_ Chính tả Ê-mi-li,con
255
TUẦN 6: Kể về ngày đầu đi học Hướng dẫn TUẦN 6: Kể về ngày đầu đi học 1. Kể về buổi đầu em đi học: ( Gợi ý: Để lời kể chân thật, có cái riêng, em cần nhớ lại một số điều như sau: -Lúc ở nhà, em đã sửa soạn những gì?( Quần áo. đầu tóc, giày dép, sách vở,… như thế nào?) Tâm trạng của em lúc đó ra sao? -Đó là buổi sáng hay buổi chiều? Thời tiết hôm đó thế nào? -Ai dẫn em đến trường? Đường từ nhà tới trường như thế nào? Cảnh vật hoặc tâm trạng của em trên đường có gì khác lạ không? -Lúc đến trường em thấy những hình ảnh gì? Ngôi trường như thế nào? Có những ai ở đó? Em bỡ ngỡ ra sao? Cảm giác của em lúc đó thế nào? Hình ảnh gây nhiều ấn tượng với em? Buổi học đã kết thúc như nào? Cảm xúc của em về buổi học đó?) 2. Viết những điều em kể ở trên thành một đoạn văn ngắn( khoảng 7 câu): Tham khảo bài viết dưới đây Số 1 Không hiểu sao, cái buổi sáng ấy, em dậy sớm thế không biết! Sau hồi chuông báo thức của cái đồng hồ đặt trên đầu giường, em bật dậy chạy ra sân tập thể dục, rồi nhanh nhẹn đánh răng rửa mặt như có ai đang hối thúc mình vậy. Ăn sáng xong, vội vàng mặc bộ áo quần đồng phục mà chị Hoài đã chuẩn bị cho em từ tối hôm qua, đeo thử chiếc cặp sách mới vào vai, đi đi lại lại trong phòng, sẵn sàng như một người lính chờ lệnh lên đường. Giá như sáng nay có mẹ ở nhà thì vui biết chừng nào! Đã mấy tháng nay, mẹ đi học ở mãi ngoài Hà Nội, ở nhà chỉ có ba bố con. Vì vậy, ngày đến trường đầu tiên của em đều do bố và chị Hoài chuẩn bị cả. Vừa mới hơn 6 giờ một tí, chị Hoài đã đẩy xe ra sân, rồi hai chị em chào bố để đến trường. Bố tiễn hai chị em ra cổng, dặn dò chị Hoài mấy câu rồi xoa đầu em nói nhỏ: “Chị thay bố và mẹ đưa con đến trường, con vui lên nhé! Phải ra dáng là một thằng con trai cứng cỏi, bạo dạn đừng khóc nhè, nhõng nhẽo chị mà bạn bè nó cười cho, nghe con! Thôi, hai chị em đi cho sớm”. Chị Hoài cho xe ra cổng rồi nhấn ga theo đường Lê Đại Hành hướng tới Trường Tiểu học Lương Thế Vinh. Khoảng mười phút sau hai chị em đã đến cổng trường. Chị Hoài khóa xe lại dẫn em vào lớp. Thoáng thấy bóng cô giáo, em vội níu chặt lấy chị Hoài. Cô giáo từ trên bục giáo viên bước xuống, nhìn em mỉm cười. “Nào lại đây với cô, đừng ngại! Cô trò mình làm quen với nhau đi! Em tên gì?”. “Dạ, em tên Hùng ạ! Trương Thế Hùng”. “Ồ, tên đẹp lắm, lại có dáng vẻ của một lực sĩ thể hình nữa!”. Chưa gặp cô lần nào mà nghe giọng nói của cô, nét mặt tươi vui của cộ, tự nhiên em thấy gần gũi thân thiết như người nhà của mình vậy. Cảm giác sợ hãi, lo lắng lúc đầu tan biến tự lúc nào, em không biết nữa. Em còn giục chị Hoài: “Chị đi học đi, kẻo muộn!”. Ngày đi học đầu tiên của em là thế đó. Số 2 Tôi xin kể về ngày đi học đầu tiên của mình cho các bạn nghe nhé! “Đó là vào một buổi sáng thứ hai đầu tuần cách đây đã gần ba năm. Mẹ tôi dậy từ lúc nào không biết nữa. Khi anh Hai vào đánh thức tôi dậy, đánh răng rửa mặt thì tôi đã thấy bữa ăn sáng của gia đình đã được dọn sẵn lên chiếc bàn tròn ở phòng ăn. Tôi có tật ngủ muộn và hay nằm nướng. Mẹ và anh Hai gọi hai, ba lần, tôi mới dậy được. Nhưng sáng nay, không hiểu sao, anh Hai chỉ vào lay nhẹ “Hương ơi, dậy đi em!”, thế mà tôi đã tung mền ngồi dậy được ngay, không còn ì à như trước nữa. Tôi nhanh nhẹn vào phòng tắm đánh răng rửa mặt, làm vệ sinh cá nhân, rồi vui vẻ ngồi vào bàn ăn. Thường ngày, tô mì Kim Chi hay tô hủ tiếu tôi phải ăn đến ngoài ba mươi phút mới xong, thể mà sáng ấy, khoảng năm bảy phút gì đó, tô hủ tiếu đã hết sạch, anh Hai phải thốt lên “Bé Hương tiến bộ thật! Ăn nhanh bằng anh rồi đấy. Phải vậy chứ! Sinh viên năm nhất rồi, có khác!”. Mẹ tôi nhìn anh Hai rồi nhìn tôi mỉm cười. Tôi thấy lòng mình vui vui một niềm vui mới lạ. Phải rồi, mới hôm qua tôi đang còn là một đứa trẻ mẫu giáo. Thế mà sáng nay, tôi đã trở thành một học sinh lớp Một, được mặc bộ đồ đồng phục, được khoác chiếc cặp sách trên vai như chị Phượng, chị Diễm nhà kế bên, thích ơi là thích! Tâm trạng tôi lúc ấy cứ bồn chồn, háo hức như người sắp đi dự hội vậy. Bỗng, anh Hai giục: “Em chuẩn bị nhanh lên, anh đưa em đến trường!”. “Em xong đây rồi, anh đưa xe ra trước đi. Em nhờ mẹ buộc tóc, rồi em ra ngay!”. Câu chuyện “Ngày đi học đầu tiên của tôi” là vậy đó. Số 3: Mới có 6 giờ sáng mà tôi đã chuẩn bị cho buổi đi học đầu tiên của mình đâu ra đó. Tôi vốn là một đứa trẻ có tính tự lập ngay từ lớp “Chồi” lớp “Lá”. Không giấu gì các bạn, bố tôi mất sớm khi tôi mới tròn một tuổi. Ba năm sau, ông bà nội “bắt” mẹ tôi phải đi bước nữa. Và từ đó, tôi về ở với ông bà nội và cô út. Cô út lúc đó đang học lớp 12. Ông bà nội và cô út rất thương tôi, nhưng vì hoàn cảnh, ông bà nội thì đã già, cô út lại đi học suốt sáng chiều, nên mọi sinh hoạt của bản thân, tôi thường tự làm lấy, dần dần thành thói quen. Năm tôi vào lớp 1 thì cô út cũng ước vào Đại học năm thứ hai. Nhà chỉ còn ông bà nội và tôi. Sáng đó, ông bà nội có ý định đưa tôi đến lớp. Nhưng tôi nói với ông bà nội rằng. “Cháu đi đến trường một mình được, nội cứ ở nhà”. Từ nhà đến trường chỉ gần một cây số. Sau khi chào ông bà nội, tôi khoác chiếc cặp sách mới mà cô út đã mua cho tôi hồi hè vừa rồi. Vừa mới ra khỏi ngõ thì gặp một chiếc Honda trở tới. Tôi không ngờ là bố dượng tôi. Bố dừng xe lại, bế tôi lên xe và nói: “Bố đi từ lúc 5 giờ kia, nhưng chờ phà lâu quá nên giờ mới tới. Con đừng buồn bố mẹ nhé! Bố dẫn tôi đến trường, rồi dẫn tôi vào lớp. Bố trao đổi với cô giáo chuyện gì đó khá lâu, rồi quay lại nói với tôi: “Con ở lại với cô giáo và các bạn, bố phải trở lại cơ quan. Trưa, con về một mình nhé! Thứ bảy này, bố sẽ đưa mẹ và em sang thăm ông bà và con!” Nói xong, bố chào tạm biệt cô giáo, rồi lên xe trở về. Tôi nhìn theo bố dượng cho đến lúc chiếc xe khuất hẳn sau dãy xà cừ ven đường mới quay về chỗ ngồi của mình ở cuối lớp học. Ngày đầu tiên vào lớp Một của tôi như thế đó, các bạn ạ! Mỗi người đều có một kỉ niệm riêng của mình về ngày đi học đầu tiên, phải thế không các bạn? Tôi kể lại cái ngày đầu vào lớp Một ấy cho các bạn cùng nghe nhé! Khác với mọi lần, bố tôi gọi vài ba lần, tôi mới dậy nổi. Thế mà không hiểu sao, chiếc đồng hồ điện tử mà dì Út tặng tôi dịp sinh nhật lần thứ năm của tôi vừa mới kêu “tít, tít, tít…” là tôi đã tung chăn ngồi dậy. Tối hôm qua, lúc ăn cơm, bố tôi dặn: “Sáng nay, con ráng dậy sớm chuẩn bị mọi thứ cho gọn gàng để bố đưa đi học, bố còn đến cơ quan nữa. Đừng ngủ trễ như mọi hôm, vì từ nay, cả hai bố con mình phải dậy sớm”. Có lẽ lời bố dặn và tâm trạng bồn chồn của ngày đi học đầu tiên đã giúp tôi bật dậy một cách nhanh chóng như thế. Tôi xếp chăn màn lại gọn gàng, bỏ vào tủ, rồi nhanh nhẹn vào phòng tắm làm vệ sinh cá nhân. Bữa ăn sáng đã được bố chuẩn bị từ lúc nào rồi. Mùi ngò rí thơm phức bay lên từ hai tô mì hải sản có sức hấp dẫn đến kì lạ. Vừa ăn, bố vừa dặn dò những điều cần thiết khi đến trường. Hai bố con ăn xong thì đồng hồ treo tường cũng vừa điểm chuông báo hiệu đã đến 6 giờ. Tôi mặc vội bộ đồng phục mà bố đã chuẩn bị sẵn từ tối qua, chải lại tóc và buộc gọn lên đỉnh đầu, khoác chiếc cặp sách vào vai. Ngoài sân, bố tôi đã nổ máy chờ tôi ra. Bố tôi là một người rất chu đáo, tôi không biết lí do vì sao bố mẹ tôi chia tay nhau mỗi người mỗi ngả. Tôi chỉ còn nhớ mờ mờ ngày mẹ tôi ra đi rời xa bố con tôi là lúc tôi học lớp Chồi. Rồi từ đó đến bây giờ, tôi không gặp lại được mẹ. Nghe bố nói “Mẹ lấy chồng mãi tận bên kia đại dương”, sau đó không hề thấy bố nhắc lại nữa. Có lẽ, thấy tôi vắng mẹ, nên bố tôi càng thương tôi hơn, chăm lo cho tôi đầy đủ không kém gì các bạn đồng lứa. Khi xe hai bố con tôi đến cổng trường thì các bậc phụ huynh khác cũng đã đưa con mình đến. Người nào tay cũng xách cặp, tay dẫn con đi đi, lại lại tìm lớp học cho con mình. Dường như bố tôi biết trước lớp học của tôi rồi, nên bố dẫn tôi đi một mạch đến cuối dãy phòng học thì dừng lại. Bố nói: “Lớp của con đây rồi!”. Vừa nghe bố nói xong thì cô giáo từ trong cửa lớp đi ra, mỉm cười với bố con tôi: “Anh cho cháu vào đây, rồi về đi làm, kẻo trễ. Chút nữa bạn bè cháu vào, cháu sẽ vui thôi mà!”. Bố tôi cảm ơn cô giáo và cúi xuống dặn dò tôi: “Trưa tan học, con đứng chờ ở cổng rồi bố sẽ đến rước nhé. Đừng chạy đi đâu nghe con!” Tự nhiên, tôi cảm thấy buồn và hụt hẫng. Tôi ôm ghì lấy bố, cố ghìm để khỏi bật ra tiếng khóc. Tôi nói trong sự xúc động: “Bố đừng quên và nhớ rước con sớm, nghe bố!” Đã hơn hai năm rồi mà hình ảnh của buổi đi học đầu tiên không phai mờ trong kí ức của em. Sáng đó, em dậy sớm lắm. Sau khi tập thế dục và vệ sinh cá nhân xong, em liền vội vã ngồi vào bàn ăn sáng. Bố mẹ và chị đều khen em nhanh nhẹn, hoạt bát hơn mọi lần. Dường như em cũng cảm thấy như thế. Trong em, một cảm giác bồn chồn, vui vui xen lẫn sự lo lắng, sợ hãi… Lần đầu tiên mặc bộ đồ đồng phục, em cảm thấy mình lớn hẳn lên. Đúng 6 giờ 30 phút, bố đưa em đến trường. Cổng trường Tiểu học Đinh Bộ Lĩnh mở rộng. Những lá cờ đuôi nheo đủ màu sắp thành một hàng từ cổng trường nối dài theo đường Lí Thường Kiệt tung bay trước gió, hân hoan chào đón ngày tựu trường. Bố dẫn em đi dọc hành lang tầng trệt, rồi dừng lại trước cửa phòng lớp. Cô giáo từ trong lớp bước ra mỉm cười chào hai bố con em. Sau lời chào hỏi, bố nói lời gửi gắm em cho cô giáo rồi cúi xuống vỗ về em: “Con ở lại với cô giáo và các bạn. Bố đến cơ quan đây! Tan trường bố hoặc mẹ sẽ đến rước con!”. Em níu lấy áo bố như không muốn rời: “Trưa, bố rước con sớm nghe bố” Và tự nhiên những giọt nước mắt ứa ra, lăn dài trên má. Một cảm giác buồn vui lẫn lộn dâng lên trong lòng em. Buổi học đầu tiên của em là vậy đó. ( Gợi ý: Em có thể tham khảo thêm bài tập đọc Nhớ lại buổi đầu đi học) Tham khảo: Tập làm văn lớp 3: Tuần 4 3. Có một bạn viết ra những cảm xúc của mình về buổi đầu đi học nhưng không theo một trình tự nào. Em hãy giúp bạn sắp xếp lại để thành một đoạn văn: -Trong sân trường, người đông dần. Các bạn nam tỏ ra mạnh dạn hơn. Các bạn nữ ngại ngùng bên chân mẹ chẳng nỡ rời. -Nhìn ngôi trường rộng lớn, em thấy mình nhỏ bé làm sao! Em hồi hộp vô cùng vì cô giáo và các bạn đều xa lạ. Em bịn rịn chia tay mẹ. Một nỗi xúc động khó tả dâng lên trong lòng. Em rơm rớm nước mắt. -Cô giáo mỉm cười và xoa đầu em: ” Em tên là gì?”. Rồi cô dẫn em vào lớp, chỉ cho em chỗ ngồi. -Hôm đó là một buổi sáng mùa thu, bầu trời thật trong xanh, những đám mây trắng xốp, trôi bồng bềnh. -Tiếng chim líu lo chào đón bình minh trong vòm lá lóng lánh sương thu. -Sáng hôm ấy, mẹ đèo em đến trường. -Em và các bạn làm quen, trò chuyện với nhau, xua dần đi nỗi lo lắng lúc đầu. Buổi học qua nhanh thật vui vẻ và nhẹ nhõm. Em sẽ nhớ mãi những kỉ niệm êm đềm về buổi học đầu tiê trong đời.
TUẦN 6_ Kể về ngày đầu đi học
2,415
Tuần 6: Luyện từ và câu (Hữu nghị – Hợp tác) Hướng dẫn TIẾT 1: DÙNG TỪ ĐỒNG ÂM ĐỂ CHƠI CHỮ Câu 1: Xếp những từ có tiếng “hữu” cho dưới đây thành hai nhóm a và b. a)Hữu có nghĩa là “bạn bè”. b)Hữu có nghĩa là “có”. (hữu nghị, hữu hiệu, chiến hữu, hữu tình, thân hữu, hữu ích, hữu hảo, bằng hữu, bạn hữu, hữu dụng) Gợi ý:Xếp những từ có nghĩa hữu đã cho thành hai nhóm a, b như sau: *Nhóm a: Hữu có nghĩa là bạn bè, gồm các từ: hữu nghị, chiến hữu, thân hữu, hữu hảo, bằng hữu, bạn hữu. *Nhóm b: Hữu có nghĩa là có, gồm các từ: hữu hiệu, hữu tình, hữu ích, hữu dụng. Câu 2: Xếp các từ có tiếng “hợp” cho dưới đây thành hai nhóm a và b. a)Hợp có nghĩa là “gộp lại”. b)Hợp có nghĩa là “đúng với yêu cầu”. (hợp tình, hợp tác, phù hợp, hợp thời, hợp lệ, hợp nhất, hợp pháp, hợp lực, hợp lí, thích hợp) Gợi ý: Xếp các từ có tiếng hợp cho trước thành hai nhóm a, b như sau: *Nhóm a: Hợp có nghĩa là gộp lại, gồm: hợp tác, hợp nhất, hợp lực. *Nhóm b: Hợp có nghĩa là đúng với yêu cầu: hợp tình, phù hợp, hợp thời, hợp lệ, hợp pháp, hợp lí, thích hợp. Câu 3: Đặt một câu với một từ ở bài tập 1 và một câu với một từ ở bài tập 2. *Hữu: -Chúng ta đều là bạn hữu của nhau. -Cái nón của mình tuy cũ nhưng còn hữu dụng lắm. * Hợp: -Chúng mình phải hợp lực lại mới khiêng được hòn đá này. -Lời đề nghị của bạn lớp trưởng vào lúc này là rất thích hợp.
Tuần 6_ Luyện từ và câu (Hữu nghị – Hợp tác)
281
Tuần 7: Chính tả Dòng kinh quê hương Hướng dẫn Câu 1: Nghe – viết bài Dòng kinh quê hương (SGK TV5 tập 1 trang 65). Gợi ý:Em nhờ bạn hoặc người thân đọc bài Dòng kinh quê hương. Viết xong tự kiểm tra và sửa chữa những chữ viết sai. Câu 2: Tìm một vần có thể điền vào cả ba chỗ trống sau: Chăn trâu đốt lửa trên đồng Rạ rơm thì ít, gió đông thì nh….`…. Mải mê đuổi một con d…`… Củ khoai nướng để cả ch….’……. thành tro. Gợi ý:Tìm một vần có thể điền vào ba chỗ trống đã cho, như sau: vần iêu Chăn trâu đốt lửa trên đồng Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều Phải mê đuổi một con diều Củ khoai nướng để cả chiều thành tro. Câu 3: Tìm tiếng có chứa ia hoặc iê thích hợp với mỗi chỗ trống trong các thành ngữ dưới đây: a)Đông như……….. b) Gan như……….. a)Ngọt như……… lùi. Gợi ý: Tìm tiếng có chứa ia hay iê điền vào chỗ trống trong các thành ngữ đã cho, như sau: a)Đông như kiến. b) Gan như cóc tía. a)Ngọt như mía lùi.
Tuần 7_ Chính tả Dòng kinh quê hương
179
Tuần 7: Luyện tập tả cảnh sông nước (Vịnh Hạ Long) Hướng dẫn Câu 1.Đọc bài văn Vịnh Hạ Long, SGK Tiếng Việt, tập 1, trang 70. a)Xác định phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. b)Phần thân bài gồm có mấy đoạn? Mỗi đoạn miêu tả những gì? c)Những câu văn in đậm có vai trò gì trong mỗi đoạn văn và trong cả bài. Gợi ý: a.Bài văn gồm có ba phần: -Mở bài: Câu đầu của văn bản vịnh Hạ Long là một thắng cảnh có một không hai của đất nước Việt Nam. -Thân bài: Gồm ba đoạn. Mỗi đoạn được giới hạn bằng câu mở đầu in đậm và kết thúc bằng một dấu chấm xuông dòng. -Kết bài: Câu cuôi cùng của văn bản. b.Phần thân bài có ba đoạn: -Đoạn 1: Giới thiệu về vẻ đẹp của vịnh Hạ Long. -Đoạn 2: Nét duyên dáng của thiên nhiên vịnh Hạ Long. -Đoạn 3: Những nét riêng biệt hấp dẫn về mỗi mùa của vịnh Hạ Long. c.Những câu văn in đậm có vai trò quan trọng trong mỗi đoạn và cả bài. Đó là câu nêu lên ý chính của mỗi đoạn làm cơ sở cho người đọc hiếu được nội dung chính của cả bài. Câu 2.Đọc nội dung của các đoạn và các câu đã cho dưới mỗi đoạn (SGK Tiếng Việt 5, tập 1, trang 72). Em hãy lựa chọn câu mở đoạn thích hợp làm câu mơ đầu cho mồi đoạn. -Đoạn 1: Em có thể chọn câu (a) “Tây Nguyên là miền đất núi non điệp trùng”. -Đoạn 2: Em có thề chọn câu (c) “Nhưng Tây Nguyên đâu chỉ có núi cao và rừng rậm. Tây Nguyên còn có những thảo nguyên rực rỡ trong nắng dịu mùa xuân, như những tấm lụa muôn màu, muôn sắc”. Câu 3.Hãy viết câu mở đoạn cho hai đoạn văn ở bài tập 2 theo ý của riêng em. Gợi ý: – Em có thể viết như sau: *Đoạn 1: Đến với Tây Nguyên, bạn sẽ thấy một vùng đồi núi bạt ngàn với những cánh rừng hoang sơ, nguyên thủy. *Đoạn 2: Tây Nguyên không chỉ có núi cao rừng rậm mà còn là miền đất rực rỡ với những sắc màu tuyệt đẹp.
Tuần 7_ Luyện tập tả cảnh sông nước (Vịnh Hạ Long)
362
Tuần 7: Luyện từ và câu (Từ nhiều nghĩa) Hướng dẫn TIẾT 1: TỪ NHIỀU NGHĨA Câu 1: Trong những câu nào, các từ mắt, chân, đầu mang nghĩa gốc và trong những câu nào, chúng mang nghĩa chuyển? a)Mắt: – Đôi mắt của bé mở to. -Quả na mở mắt. b)Chân: – Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân. -Bé đau chân. c)Đầu: – Khi viết, em đừng ngoẹo đầu. -Nước suối đầu nguồn rất trong. Gợi ý: Trong những câu cho trước có những từ mang nghĩa gốc hoặc nghĩa chuyển là: a)- Đôi mắt của bé mở to. (mang nghĩa gốc) -Quả na mỏ mắt. (mang nghĩa chuyển) b)- Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân, (mang nghĩa chuyển) -Bé đau chân, (mang nghĩa gốc) c)- Khi viết, em đừng ngoẹo đầu. (mang nghĩa gốc) –Nước suối đầu nguồn rất trong, (mang nghĩa chuyển) Câu 2: Các từ chỉ bộ phận cơ thể người và động vật thường là từ nhiều nghĩa. Hãy tìm một sô từ ví dụ về chuyển nghĩa của những từ sau: lưỡi, miệng, cổ, tay, lưng. Gợi ý: Tìm một số từ chuyển nghĩa từ những từ chỉ bộ phận cơ thể người như sau: *Lưỡi: lưỡi cày, lưỡi liềm, trăng lưỡi liềm… *Miệng: miệng hố, miệng giếng, mồm miệng thế gian, độc miệng độc mồm, vết thương đã kín miệng… *Cổ: cổ chai, cổ lọ, cổ bình, cổ tay, cổ áo… *Tay: tay áo, tay quay, tay vợt, tay súng… TIẾT 2: TỪ NHIỀU NGHĨA Câu 1: Tìm ở cột B lời giải nghĩa thích hợp cho từ chạy trong mỗi câu ở cột A. Gợi ý: Tìm ở cột B lời giải nghĩa thích hợp cho từ chạy trong mỗi câu ởcột A, như sau: Câu 2: Dòng nào dưới đây nêu đúng nét nghĩa chung của từ chạy có tất cả các câu trên. a)Sự di chuyển b)Sự vận động nhanh c)Di chuyển bằng chân Gợi ý: Nét nghĩa chung của từ chạy có trong tất cả câu trên là: –Chọn (a) Sự vận động nhanh. Câu 3: Từ ăn trong câu nào dưới đây được dùng với nghĩa gốc? a)Bác Lê lội ruộng nhiều nên bị nước ăn chân. b)Cứ chiều chiều, Vũ lại nghe tiếng còi tàu vào cổng ăn than. c)Hôm nào cũng vậy, cả gia đình tôi cùng ăn với nhau bữa cơm tối rất vui vẻ. Gợi ý: Từ ăn trong các câu đã cho được dùng với nghĩa gốc là: –Câu (c): Hôm nào cũng vậy, cả gia đình tôi cùng ăn với nhau bữa cơm tốì rất vui vẻ. Câu 4: Chọn một trong hai từ dưới đây và đặt câu để phân biệt các nghĩa của từ ấy. a)Đi: -Nghĩa 1: Tự di chuyển bằng chân. -Nghĩa 2: Mang (xỏ) vào chân hoặc tay để che, giữ. b)Đứng: -Nghĩa 1: Ở tư thế thân thẳng, chân đặt trên mặt nền. Gợi ý: Đặt câu hỏi để phân biệt các nghĩa của mỗi từ đã cho, như sau: a)Đi -Nghĩa 1: Tự di chuyển bằng chân. *Chúng tôi đi dạo mát dọc bờ sông. -Nghĩa 2: Mang (xỏ) vào tay hoặc chân để che, giữ. *Trời lạnh, con đi đôi tất vào cho ấm. b)Đứng -Nghĩa 1: Ở tư thế thân thằng chân đặt trên mặt nền. *Chúng tôi đứng nghiêm, mắt hướng về lá Quốc kì. -Nghĩa 2: Ngừng chuyển động. *Tôi đứng nhìn những con thuyền xuôi ngược trên sông.
Tuần 7_ Luyện từ và câu (Từ nhiều nghĩa)
525
Tuần 7: Văn minh nơi công cộng Hướng dẫn TUẦN 7: Văn minh nơi công cộng 1. Hãy viết vào chỗ trống những chi tiết còn thiếu trong câu chuyện” Không nỡ nhìn”: Trên một chuyến xe bus…………………….., có anh thanh niên đang ngồi cứ lấy hai tay………. ………………… Một bà cụ ngồi bên thấy thế bèn hỏi: – Cháu…………………….? Có cần dầu xoa không? Anh thanh niên nói nhỏ: – Không ạ. Cháu không nỡ………………………………………………………………………………………… Tham khảo: Kể về ngày đầu đi học 2. Viết nhận xét của em về anh thanh niên trong câu chuyện trên: 3. Em rút ra bài học gì qua câu chuyện trên 4. Dựa vào nội dung câu chuyện trên, em hãy viết đoạn văn ngắn ( từ 5-7 câu) kể về một hành vi văn minh nơi công cộng: Các em có thể tham khảo bài viết dưới đây Cái sự nắng nóng cực độ của mùa hè cứ thi nhau chen lấn xô đẩy xuống mặt đường. Ông mặt trời luôn tay ném ánh nắng xuống đất. Nóng bức đã tồi tệ nay lại thêm phần khắc nghiệt hơn vì những tiếng còi inh tai nhức óc của xe cộ trên đường. Không thể chịu được nữa em đã cố vào chiếc xe buýt số 28 kia để về nhà. Ở đó, đã có một câu chuyện hết sức thú vị xảy ra Chiếc xe đã mau chóng rời khỏi bến. Trên xe chật ních người và chỉ có những người may mắn lắm mới tìm được ghế ngồi. Chẳng ai thèm nói một câu nào cả vì học đã quá mệt mỏi rồi. Bồng từ phía dưới có một bà cụ cất tiếng nói với anh trai trẻ: Bà cũng khoảng 80 tuổi. Mái tóc bạc phơ và vài sợi lấm tấm mồ hôi. Những nếp nhăn bây giờ càng hằng rõ hơn trên khuôn mặt đã trải nhiều sương gió. Anh thanh niên dáng chừng không thích và bảo: “Dại gì mà nhường ghế cho bà, đã già rồi còn lởn vởn ở đây, về nhà mà chăm con cháu đi”. Câu nói của anh ta như chiếc búa giáng vào tai mọi người. Ai cũng quay xuống nhìn bà cụ một cách ái ngại, rồi nhìn anh thanh niên như để trách móc. Bà cụ chưa khỏi bàng hoàng trước lời nói đó thì đã có một cô bé dìu bà cụ về chỗ. Cô bé thật phúc hậu với hai mắt sáng ngời nhìn bà cụ rồi nói. “Bà mệt thì cứ ngồi đây cho lại sức, cháu đứng cũng không mỏi”. Bà cụ vừa vui mừng, vừa xúc động rồi rối rít cảm ơn cô bé. Chính cô bé đã làm cho mọi người thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Anh thanh nhiên kia cúi mặt xuống vì anh biết rằng mình đã không bằng một em nhỏ bé bỏng. Chiếc xe đã dừng lại ở bến. Ôi! Bây giờ em mới thấy mỏi chân vì bị đứng nhiều đây. Nhưng em vẫn vui vẻ vì biết rằng trên đời này còn rất nhiều người tốt bụng.
Tuần 7_ Văn minh nơi công cộng
499
Tuần 8: Luyện từ và câu (Thiên nhiên – Từ nhiều nghĩa) Hướng dẫn Câu 1: Dòng nào dưới đây giải thích đúng nghĩa từ “thiên nhiên”? a)Tất cả những gì do con người tạo ra. b)Tất cả những gì không do con người tạo ra. c)Tất cả mọi thứ tồn tại xung quanh con người. Gợi ý: Giải thích đúng nghĩa từ thiên nhiên là dòng (b). –Tất cả những sự vật hiện tượng không do con người tạo ra. Câu 2: Tìm trong các thành ngữ, tục ngữ sau đây những từ chỉ các sự vật, hiện tượng thiên nhiên. a)Lên thác xuống ghềnh. b)Góp gió thành bão. c)Qua sông phải lụy đò. d)Khoai đất lạ, mạ đất quen. Gợi ý: Những từ chỉ các sự vật, hiện tượng thiên nhiên có trong các thành ngữ, tục ngữ đã cho là: a)thác, ghềnh b) gió, bão a)sông d) khoai, đất, mạ, đất Câu 3: Tìm những từ ngữ miêu tả không gian. Đặt câu với một trong các từ ngữ vừa tìm được. a)Tả chiều rộng b) Tả chiều dài (xa) a)Tả chiều cao d) Tả chiều sâu Gợi ý: Tìm những từ ngữ miêu tả không gian và đặt câu với một trong các từ ngữ ấy. a)Tả chiều rộng: bao la, bát ngát, mênh mông, vô tận, bất tận. -Đặt câu: Ruộng đồng quê em rộng bao la thẳng cánh cò bay. b)Tả chiều dài, xa: tít táp, mù khơi, ngút ngàn, tít chân trời, vô tận, bất tận… -Tả chiều cao: cao ngất nghểu, cao vút, cao chất ngất, cao chót vót. -Đặt câu: ở Thành phố Hồ Chí Minh mới xuất hiện những khu nhà lầu ba mươi, bốn mươi tầng lầu cao chất ngất. b)Tả chiều sâu: sâu hun hút, sâu hoắm, sâu thảm thẳm, sâu không đáy… -Đặt câu: Những cái hang đá ở động Phong Nha sâu hun hút. Câu 4: Tìm những từ ngũ’ miêu tả sóng nước. Đặt câu với một trong các từ ngữ vừa tìm được, a)Tả tiếng sóng b) Tả làn sóng nhẹ c)Tả đợt sóng mạnh Gợi ý: Tìm những từ ngữ miêu tả sóng nước và đặt câu với các từ ngữ ấy như sau: a)Tả tiếng sóng: oàm oạp, ầm ầm, rì rào, lao xao… -Đặt câu: Sóng vỗ vào mạn thuyền oàm oạp. b)Tả làn sóng nhẹ: lăn tăn, nhấp nhô… -Đặt câu: Mặt hồ lăn tăn gợn sóng. c)Tả đợt sóng mạnh: cuồn cuộn, ào ạt, trào dâng… -Đặt câu: Những đợt sóng ào ạt xô vào bờ tung bọt trắng xóa. TIẾT 2: TỪ NHIỀU NGHĨA Câu 1: Trong các từ in đậm sau đây, những từ nào là từ đồng âm, những từ nào là từ nhiều nghĩa? a)Chín -Lúa ngoài đồng đã chín vàng. -Tổ em có chín học sinh. -Nghĩ cho chín rồi hãy nói. b)Đường -Bát chè này nhiều đường nên rất ngọt. -Các chú công nhân đang chữa đường dây điện thoại. c)Vạt -Những vạt nương màu mật Lúa chín ngập lòng thung. -Chú Tư lấy dao vạt nhọn đầu chiếc gậy tre. -Những người Giáy, người Dao Đi tìm măng hái nấm Vạt áo chàm thấp thoáng Nhuộm xanh cả nắng chiều. Gợi ý: Tìm các từ in đậm đã cho, xác định từ nào là từ đồng âm, từ nào là từ nhiều nghĩa, như sau: a)Chín -Từ chín trong câu (1) là từ nhiều nghĩa. -Từ chín trong câu 2 là từ đồng âm với từ chín ở câu (1) và (3). -Từ chín trong câu 3 là từ nhiều nghĩa. b)Đường -Từ đường trong câu (1) là từ đồng âm. -Từ đường trong hai câu (2, 3) là hai cách dùng của một từ nhiều nghĩa. c) Vạt -Từ vạt ở câu (1) và (3) là hai cách dùng của một từ nhiều nghĩa. -Từ vạt trong câu (2) là từ đồng âm với từ vạt ở câu (1) và (3). Câu 2: Dưới đây là một số tính từ và những nghĩa phổ biến của chúng. a)Cao -Có chiều cao lớn hơn mức bình thường. -Có số lượng hoặc chất lượng hơn hẳn mức bình thường. b)Nặng -Có trọng lượng hơn mức bình thường. -Ở mức độ cao hơn, trầm trọng hơn mức bình thường. c)Ngọt -Có vị như vị của đường, mật -(Lời nói) nhẹ nhàng, dễ nghe. -(Âm thanh) nghe êm tai. Với mỗi từ nói trên, em hãy đặt một số câu để phân biệt các nghĩa của chúng. a)Cao -Anh ấy cao lều khều. -Vụ lúa vừa rồi, tính quân bình một sào, nhà em thu hoạch cao nhất xã. b)Nặng -Trong lớp, em là người nặng kí (cân) nhất 55 kg. -Con đường sát bờ sông càng lúc càng hư hỏng nặng. c)Ngọt -Quả cam này ngọt nhỉ! -Đừng cáu với em, con phải nói ngọt với nó. –Giọng hát của chị ấy nghe sao mà ngọt quá!
Tuần 8_ Luyện từ và câu (Thiên nhiên – Từ nhiều nghĩa)
736
Tuần 8: Viết về một người hàng xóm Hướng dẫn Tuần 8: Kể về người hàng xóm mà em yêu quý 1.Viết về một người hàng xóm mà em yêu quý( từ 5-7 câu): ( Gợi ý: Kể về người hàng xóm à giới thiệu, miêu tả, phát biểu cảm nghĩ về người đó. Người hàng xóm được em quý mến có phải là một người tốt, có thể là một người lớn tuổi, hoặc một anh, chị hay một người bạn. Người đó tên là gì? Bao nhiêu tuổi? Làm nghề gì? Tình cảm của gia đình em đối với người đó như thế nào? Tình cảm của người hàng xóm đối với gia đình em ra sao? Cần nêu được những đức tính tốt, những hành động tốt của người này. Đó phải là một con người cụ thể chứ không phải là một người chung chung do em tưởng tượng ra. Có như vậy lời kể của em mới chân thực, có sức sống, và cuốn hút người nghe, người đọc.) Em có thể tham khảo bài viết dưới đây Bài làm 1 Phía bên kia khu vườn nhà tôi là nhà bà Hợi. Bà là “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Bà có năm người con: bốn trai, một gái. Hai anh con trai và ông cụ đã hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Hai người còn còn lại của cụ đều đã có gia đình và đều ở trên tỉnh. Mấy lần anh con trai về rước bà lên ở chung, nhưng bà không đi. Bà nói ở dưới quê quen rồi, bà không đi đâu cả. Năm nay, bà đã ngoài sáu mươi rồi nhưng vẫn còn khỏe mạnh, hoạt bát. Trong xóm, ai cũng quý mến, kính trọng bà. Bà thường hay sang nhà chơi với nội tôi. Hai bà rất quý nhau. Lần nào gặp tôi, bà cũng ôm tôi vào lòng, vuốt mái tóc dài quá vai của tôi mà nói: “Tối nay, sang ngủ với bà cho vui. Bà sẽ kể chuyện cổ tích cho cháu nghe và cả chuyện đánh Mĩ nữa. Cháu thích chuyện gì, bà kể chuyện đó!” Bà rất thương tôi. Có quà gì ngon mà chú Hòa, cô Hạnh gửi biếu bà, bà đều dành phần cho nội tôi và tôi. Trong xóm tôi, hễ có chuyện khúc mắc gì giữa xóm giềng với nhau, người ta thường nhờ bà đến hòa giải. Nội tôi thường nói: “Ở xóm này, bà Hợi là trung tâm của sự đoàn kết, là chất kết dính mọi người lại với nhau trong tình làng nghĩa xóm”. Bà Hợi của tôi là thế đó. Không chỉ riêng tôi, kính trọng quý mến mà xóm làng ai cũng nể trọng bà. Nhà chị Phượng chỉ cách nhà em một con hẻm nhỏ. Hàng ngày, em thường sang chơi với chị và được chị cưng chiều lắm. Mồ côi mẹ từ tấm bé, chị thiếu đi tình thương bao la của một người mẹ. Bố chị ở vậy, nuôi chị cho đến bây giờ. Năm nay, chị học lớp 12 trường chuyên của tỉnh. Cả xóm em, ai cũng khen chị, quý chị. Bởi chị vừa đẹp người vừa đẹp cả nết. Đặc biệt ở chị có một điểm mà em rất quý mến, kính phục. Đó là tình thương của chị đối với người già. Bà cụ Tứ ở cách nhà em một khoảnh vườn. Bà sống đơn độc một thân một mình trong căn nhà nhỏ, không con cái, cháu chắt. Nghe đâu trước đây cụ cũng có gia đình, nhưng chiến tranh đã cướp mất ông lão và anh con trai duy nhất của bà. Từ đó cho đến giờ, bà vẫn sống thui thủi một mình. Cảm thông với số phận đơn chiếc của bà cụ, chị Phượng không ngày nào không đến thăm. Mỗi lần đến với bà cụ, chị thường rủ em cùng đi. Chị giúp bà quét dọn nhà cửa, giặt giũ quần áo, cơm cháo cho bà mỗi khi bà bệnh. Không ruột rà máu mủ, không họ hàng thân thích, vậy mà chị Phượng chăm bà, thương yêu bà như bà nội, bà ngoại của mình. Điều đó thật đáng quý. Còn với em, chị coi em như đứa em ruột. Có cái gì ngon, cái gì đẹp, chị cũng chia phần cho em, và còn hướng dẫn thêm cho em học nữa. Bố mẹ em rất quý chị, coi chị như con gái của mình. Cách nhà tôi không xa là nhà anh Hoàng. Anh Hoàng học lớp 12 với anh trai tôi. Tối nào, hai anh cũng học chung, khi thi ở nhà tôi, khi thì ở nhà anh. Ba mẹ anh chỉ có mỗi mình anh là con trai độc nhất. Nhiều người cho rằng những đứa con độc nhất thường nghịch ngợm khó bảo. Không biết lời nói đó đúng hay sai, riêng tôi thì tôi thấy không đúng. Anh Hoàng là một người mà tôi rất quý trọng. Cả mẹ tôi và ba tôi đều khen anh Hoàng ngoan, hiền, dễ thương. Nhiều lúc ba tôi thường nói với anh Trung tôi rằng: “Con làm bạn với Hoàng là ba yên tâm rồi. Gia đình nó cũng là một gia đình khá giả, vậy mà nó sống rất bình thường, không đua đòi lêu lổng, lại chăm học nữa. Con nên học ở Hoàng những đức tính ấy!”. Những gì ba tôi nói về anh Hoàng, tôi đều khẳng định được cả. Chưa bao giờ tôi thấy anh cầm một điếu thuốc hay uống một li rượu. Anh đến nhà tôi thường là cầm những cuốn sách, tập vở để học, thinh thoảng mới rủ anh tôi đi dạo mát quanh vườn một lát, rồi cả hai anh lại ngồi vào bàn, cắm cúi học bài. Tuần nào, anh cũng mua cho tôi một cuốn “Khăn quàng đỏ” và dặn tôi đọc những mẩu chuyện trong đó để kể cho anh nghe. Tôi quý mến anh Hoàng như anh Trung của tôi vậy. Bài làm 4 Trong xóm, em quý mến nhất là bác Hà, tổ trưởng của khu phố em. Bác Hà năm nay đã ngoài 50 tuổi rồi, bác mở tiệm tạp hóa gần nhà em. Bác ấy có dáng cao gầy, mắt sáng, tính tình lại vui vẻ Bác rất hài hòa, quan tâm đến mọi người, nhất là đối với gia đình của em. Khi rảnh rỗi, bác lại sang nhà em hỏi han chuyện trò và còn kể cho em nghe chuyện cổ tích hay thật là hay. Cả xóm em ai cũng yêu mến bác Hà vì bác ấy hiền lành và tốt bụng. Mùa hè năm nay gia đình em chuyển đến nơi ở mới. Người hàng xóm đầu tiên mà em quen là chị Diệp. Chị có dáng người cao cao. Mái tóc của chị dài và luôn được tết gọn gàng. Chị rất vui tính. Mỗi khi chị cười để lộ chiếc răng khểnh trông thật duyên. Buổi chiều nào chị cũng sang nhà em chơi. Lúc đầu em còn rất bỡ ngỡ nhưng nhờ có chị nên em đã làm quen được với rất nhiều bạn mới. Rồi chị dẫn em ra nhà văn hóa, sân chơi, vườn hoa. Em rất vui được làm bạn với chị Diệp. Em mong chị Diệp mãi mãi ở gần nhà em. Bài làm 6 Bà Long ở gần là hàng xóm của nhà em bà tầm khoảng hơn 70 tuổi. Bà Long thường sang nhà em và cho em quà. Bà ở một mình nên rất cô đơn vì vậy những lúc rảnh rỗi gia đình em lại đến thăm bà, em rất thích chơi với bà. Bà thường kể cho em nghe những câu chuyện cổ tích. Bà còn nhắc em đi học sớm và ngoan ngoãn nghe cô giảng bài. Bà Long như người thân trong gia đình em. Mỗi khi, trung thu ngôi nhà của bà Long lại đầy tiếng cười. Em rất yêu bà Long. Bài làm 7 Cô Thanh là người hàng xóm thân thiết của nhà em. Cô hai mươi bảy tuổi. Cô là giáo viên dạy lớp một trường Tiểu học Kim Đồng. Vì cô nổi tiếng là một giáo viên dạy giỏi cấp thành phố nên rất nhiều bố mẹ học sinh tin tưởng và gửi con mình vào học lớp cô. Cô Thanh rất hiền và dịu dàng, cô thường sang dạy em Ngọc học bài và cho hai chị em bánh kẹo, đôi lúc cô cũng giúp mẹ em nấu ăn và các việc khác. Gia đình em coi cô như một thành viên trong gia đình mình.
Tuần 8_ Viết về một người hàng xóm
1,443
Tuần 9: Chính tả Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà Hướng dẫn Câu 1: Nhớ – viết bài Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà (SGK TV5 tập 1 trang 69). Gợi ý: Viết bài Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên sông Đà bằng nhớ. Viết xong đối chiếu với văn bản để sửa chữa những chữ viết sai. Câu 2: a) Mỗi cột trong bảng dưới đây ghi một cặp tiếng chỉ khác nhau ở âm đầu l hay n. Hãy tìm những từ ngữ có các tiếng đó: la lẻ lo lở na nẻ no nở Gợi ý: Tìm những từ ngữ có các tiếng đã cho chỉ khác âm đầu l và n, như sau: –la mắng, rầy la, la hét, la bàn…. – tiền lẻ, lẻ bạn, lẻ loi…. -nết na, quả na… –nứt nẻ, nẻ toác…. -đất lở, lở lói, lở loét… –lo lắng, nỗi lo, lo nghĩ, lo sợ -hoa nở, nở rộ…. -ăn no, cánh buồm no gió, no nê…. b)Mỗi cột trong bảng dưới đây ghi một cặp tiếng chỉ khác nhau ở âm cuối n hay ng. Hãy tìm những từ ngữ có tác dụng đó. man vần buôn vươn mang vầng buông vương Gợi ý:Tìm những từ ngữ có các tiếng đã cho chỉ khác âm cuối n hay ng, -man mác, man dại, lan man… –âm vần, đánh vần, vần thơ… -mang vác, mang tiếng… –vầng trăng, vầng hào quang, vầng trán… -buôn bán, buôn lậu, buôn làng… –vươn tới, vươn vai, vươn lên… Câu 3: Thi tìm nhanh. a)Các từ láy âm đầu l. Gợi ý:Các từ láy âm đầu l: -là lạ, lạ lùng, lai láng, lạnh lẽo, lung lay, lỏng lẻo, lam lũ, lung linh, lành lạnh, lạnh lùng, lay lắt, lặng lẽ, lập lòe… b)Các từ láy vần có âm cuối ng. Gợi ý: Các từ láy vần có âm cuối ng: –lóng ngóng, lúng túng, lung tung, bùng nhùng, bắng nhắng, lẳng lặng, đăng đắng, trăng trắng, văng vẳng, lẳng nhăng, lang thang…
Tuần 9_ Chính tả Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà
298
Tuần 9: Luyện tập thuyết trình tranh luận (tiếp theo) Hướng dẫn Câu 1: Dựa vào ý kiến của một nhân vật trong mẩu chuyện (SGK Tiếng Việt 5 tập 1 trang 93), em hãy mở rộng lí lẽ và dẫn chứng để thuyết trình, tranh luận cùng các bạn trong nhóm. Hướng dẫn *Đất nói: – Tôi có chất màu mỡ để nuôi cây lớn. Không có tôi cây không thể sống được. Cây phải bám chặt vào tôi mới sinh sôi nảy nở được. Các bạn không thấy sao? Hễ cây nào bị nhổ lên khỏi mặt đất đều chết hết cả. Tôi giúp cho cây đứng vững không bị gió xô đổ, không bị lũ cuốn trôi. Nhờ có tôi mà cây cối tồn tại và phát triến xanh tươi. Tôi chính là người cần nhất cho cây xanh. *Nước kể công: Nếu chất màu không có nước vận chuyển thì cây có lớn lên được không? Làm sao cây có thế sống mà không có nước được? Chẳng những cây rất cần mà vạn vật trên trái đất đều có mặt tôi cả. Vì vậy tôi là người cần nhât cho cây xanh. *Không khí chẳng chịu thua, nói: Cây xanh rất cần khí trời. Không có khí trời thì tất cả cây cối đều chết rũ. Các cậu thử đưa cây xanh vào trong một cái bình không có không khí, thử hỏi cây sẽ tồn tại được bao lâu? Vì vậy, tôi mới đích thực là người mà cây xanh rất cần, cần hơn ai hết. *Ánh sáng nhẹ nhàng nói: Cây cối dù có đủ đất, nước, không khí nhưng thiếu ánh sáng thì sẽ không thể có màu xanh. Không có màu xanh thì còn gọi cây xanh sao được! Thử hỏi trên trái đất này vắng tôi đi, mọi vật sẽ sông ra sao? Tâ’t cả đều ở trong tăm tôi, trong băng giá và tất nhiên sẽ không một ai tồn tại, sự sống cũng không có. Bởi vậy, tôi mới là người cây xanh cần hơn cả. Câu 2:Trình bày ý kiến của em nhằm thuyết phục mọi người thấy rõ sự cần thiết của cả trăng và đèn trong bài ca dao đã cho (SGK Tiếng Việt 5, tập 1, trang 94). Hướng dẫn Theo em trăng và đèn đều rất cần cho cuộc sống chúng ta. Ban đêm nếu bầu trời không có trăng, màn đêm sẽ buông xuôntg bao trùm lấy vũ trụ. Con người sè mất đi những buổi nghỉ ngơi dạo mát sau một ngày làm việc mệt nhọc. Trẻ con sẽ không có những cuộc chơi vui vầy dưới ánh trăng, nhất là ở nông thôn, cuộc sống sẽ trơ nên tẻ nhạt vô cùng. Và nếu không có đèn thì đêm đến, cuộc sông cũng chìm trong đêm tối và yên lặng. Do đó trăng và đèn đều cần cho cuộc sống về đêm của con người.
Tuần 9_ Luyện tập thuyết trình tranh luận (tiếp theo)
484
Tuần 9: Luyện tập thuyết trình tranh luận (tập làm văn 5) Hướng dẫn Câu 1. Đọc bài Cái gì quý nhất (SGK Tiếng Việt 5, tập 1, trang 85) nêu nhận xét: a)Các bạn Hùng, Quý, Nam tranh luận về vấn đề gì? b)Ý kiến của mỗi bạn như thê nào? Lí lẽ đưa ra đế bảo vệ ý kiến đó ra sao? c)Thầy giáo muốn thuyết phục Hùng, Quý, Nam công nhận điều gì? Thầy đã lập luận như thế nào? Cách nói của thầy thể hiện thái độ tranh luận như thê nào? Hướng dẫn a)Các bạn Hùng, Quý, Nam tranh luận về vân đề: “Trên đời này cái gì quý nhất”. b)Mỗi bạn đều có những ý kiến riêng của mình. -Hùng thì cho là lúa gạo là cái quý nhât. -Quý thì cho là vàng là cái quý nhâ’t. -Nam thì cho là thì giờ là cái quý nhât. * Lí lẽ đưa ra để bảo vệ ý kiến của mình thì ai cũng đúng và đều có sức thuyết phục người nghe. Tuy vậy lí lẽ của mỗi bạn chỉ đúng ở một khía cạnh, chưa toàn diện. c)Thầy giáo muôn thuyết phục cả ba bạn về cái quý nhất trên đời là người lao động thì thầy phải đưa ra lí lẽ có sức thuyết phục hơn cả. Lí lẽ đó phải toàn diện nhìn ở mọi phía đều đúng cả, buộc người nghe phải thừa nhận. Cách tranh luận của thầy rất thoải mái, tự do, không áp đặt ý kiến của mình cho người khác. Hướng dẫn -Hùng: Theo mình cái quý nhất trên đời là lúa gạo. Ông cha mình thường nói: “non lương thì rũ gối” đó sao! Các cậu thử không ăn một vài bữa xem nào? Cái đói sẽ hành hạ cậu đến chết. -Quý: Hùng nói cũng có lí nhưng theo mình vàng mới là quý nhất. Có vàng tức là có tiền, có tiền thì mua tiên cũng được. Chắc các cậu cũng đã từng nghe cha ông mình nói: “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền” đó sao! Có tiền sẽ có tất cả. Đúng không nào? – Nam: Theo tớ, quý nhất là thì giờ. Nếu chăm chỉ cày cấy trên thửa ruộng của mình thì sẽ có lúa gạo. Hôm nay không có vàng, làm việc hăng say, biết buôn bán giỏi sẽ có tiền. Có tiền sẽ có vàng. Chứ bỏ phí thì giờ, để cho nó trôi qua thì không tài nào lấy lại được. Hôm nay các cậu ham chơi không học bài, bị điểm kém, ở lại lớp, sinh ra chán nản, bỏ học. Càng lớn càng khó học. Như vậy thì giờ chẳng phải là cái quý nhất trên đời này sao!
Tuần 9_ Luyện tập thuyết trình tranh luận (tập làm văn 5)
447
Tuần 9: Luyện từ và câu (Thiên nhiên) Hướng dẫn Câu 1; 2: Đọc mẩu chuyện: Bầu trời mùa thu (SGK TV5 tập 1 trang 87). Tìm những từ ngữ tả bầu trời trong mẩu chuyện ấy. Những từ ngữ nào thể hiện sự so sánh, nhân hóa bầu trời? Gợi ý:Trong mẩu chuyện Bầu trời mùa thu, những từ ngữ tả bầu trời thể hiện sự so sánh, nhân hóa là: a)Tả bầu trời thể hiện sự so sánh: Bầu trời xanh như mặt nước mệt mỏi trong ao. b)Tả bầu trời thể hiện sự nhân hóa: Bầu trời được rửa mặt sau cơn mưa – Bầu trời dịu dàng – Bầu trời buồn bã – Bầu trời trầm ngâm – Bầu trời nhớ tiếng hót của bầy chim sơn ca – Bầu trời ghé sát mặt đất – Bầu trời cúi xuống lắng nghe để tìm xem chim én đang ở trong bụi cây hay ở nơi nào. Câu 3: Dựa theo cách dùng từ ngữ ở mẩu chuyện trên, viết một đoạn văn khoảng năm câu tả một cảnh đẹp ở quê em hoặc nơi em sinh sống. -Học……..cày …….. – ……..……..đố mày làm nên -Cô giáo như ……..…….. -Trọng thầy mới được……..…….. -Họckhông tày học ……..…….. -Không biết thì …….., muốn giỏi phải…….. -Chọn ban mà…….. Gợi ý:Viết đoạn văn miêu tả cảnh đẹp ở quê em. “Quê em là một vùng đồng bằng nổi tiếng trù phú, “gạo trắng nước trong”. Đầu làng có một cây đa cổ thụ trên trăm tuổi, cành lá xum xuê. Nó đứng đó từ bao đời nay như một người vệ sĩ, đứng canh ở cổng làng. Cách chỗ cây đa chừng trăm mét là con sông Cẩm Lí nước trong xanh như mắt mèo. Không biết nó bắt nguồn từ đâu nhưng khi chảy qua địa phận làng em thì nó giông như cánh tay của người mẹ dịu dàng ôm ấp đứa con thân yêu của mình. Cuối làng là một bãi phu sa bạt ngàn dâu xanh. Những chiều tà, lũ trẻ chúng tôi thường hay vui chơi ở bãi dâu này với những trò nghịch ngợm của trẻ thơ: trôn tìm, đánh vật, đánh trận giả, đá bóng, diễn kịch v.v… vui hết chỗ nói.” TIẾT 2: Câu 1: Các từ in đậm trong đoạn thơ đã cho (SGK TV5 tập 1 trang 92) dùng để chỉ ai? Những từ đó được viết hoa nhằm biểu lộ điều gì? Gợi ý:Các từ in đậm trong đoạn thơ đã cho dùng để chỉ: Bác Hồ. – Những từ đó được viết hoa nhằm biểu lộ tình cảm và sự kính trọng của toàn dân đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Câu 2: Tìm những đại từ được dùng trong bài ca dao đã cho (SGK TV5 tập 1 trang 93). Gợi ý: Những đại từ được dùng trong bài ca dao: Cái cò, cái vạc, cái nông, Sao mày giẫm lúa nhà ông, hỡi cò? Không không, tôi đứng tren bờ Me con cai diệc do ngờ cho tôi Chẳng tin ông đến mà coi Me con nhà nó còn ngồi ở đây. Câu 3: Dùng đại từ thích hợp thay thế cho danh từ bị lặp lại nhiều lần trong câu chuyện Con chuột tham lam (SGK TV5 tập 1 trang 93). Gợi ý: Dùng đại từ thich hợp để thay thế cho danh từ bị lặp lại nhiều lần trong câu chuyện Con chuột tham lam, như sau: “Chuột ta gặm vách nhà. Một cái khe hở hiện ra. Chuột chui qua khe và tìm được rất nhiều thức ăn. Là một con chuột tham lam nên nó ăn nhiều quá, nhiều đến mức bụng nó phình ra to. Đến sang, chuột tòm đường trở về ổ, nhưng bụng to quá, nó không sao lách được qua khe hở được”.
Tuần 9_ Luyện từ và câu (Thiên nhiên)
620
Tuổi thơ không muốn chia ly – Bình giảng văn lớp 7 Hướng dẫn Tác phẩm mang tên là Cuộc chia tay của những con búp bê, nhưng mạch chính của truyện kể về hai bạn nhỏ – hai anh em ruột trong một gia đình khá giả – phải chia tay nhau vì hạnh phúc gia đình đổ vỡ, bố mẹ li hôn. Truyện được kể theo ngôi thứ nhất. Người xưng “tôi” trong truyện (Thành) là người chứng kiến các việc xảy ra, cũng là người cùng chịu nỗi đau như em gái (Thuỷ) của mình. Cách chọn ngôi kể này giúp tác giả thể hiện được sâu sắc tình cảm, tâm trạng của nhân vật, nhất là nỗi lòng người kể chuyện, Thêm nữa, kể chuyện theo cách này, tác phẩm mang tính chân thực cao và do vậy, sức thuyết phục cũng cao hơn. Đọc truyện ngắn này, người đọc – nhất là lớp trẻ chúng ta. – hiểu ra và suy ngẫm được nhiều điều về nỗi đắng cay trong cuộc đời và những tình người đằm thắm, nhân hậu, nhất là tình anh em ruột thịt. Bố cục của truyện gồm ba phần, mạch lạc và chặt chẽ: 1.Mẹ bắt hai anh em Thành – Thuỷ chia đồ chơi. Đây là cuộc chia tay thứ nhất, trong đó có câu chuyện về hai con búp bê, con Vệ Sĩ và con Em Nhỏ. 2.Thành đưa em đến lớp chào, rồi chia tay cô giáo và các bạn. Đây là cuộc chia tay thứ hai, cuộc chia li đẫm nước mắt. 3.Thành và Thuỷ thực sự phải chia tay nhau. Thành ở lại, Thuỷ theo mẹ về quê. Búp bê Vệ Sĩ ở lại. Búp bê Em Nhỏ về quê. Nhưng việc bất ngờ đã xảy ra. Thuỷ quay lại đưa cho Thành con búp bê Em Nhỏ để nó mãi mãi ở bên con Vệ Sĩ, “con Em Nhỏ quàng tay vào con Vệ Sĩ”… Như vậy là những con búp bê bé nhỏ, hồn nhiên kia không bao giờ phải chia li, cũng như tuổi thơ của Thành và Thuỷ không bao giờ muốn chia li. Nghệ thuật bố cục của nhà văn Khánh Hoài thật tài hoa, đáng học tập. Cách bố cục ấy hài hoà với những chi tiết, những hình ảnh và ngôn ngữ kể chuyện đã thể hiện biết bao nội dung, ý nghĩa của tác phẩm. Trước hết, chúng ta thấy tình anh em ruột thịt của Thành và Thuỷ thật đằm thắm, trong trẻo. Hai anh em họ rất mực gần gũi, thương yêu, chia sẻ cho nhau mọi buồn vui, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong mọi công việc. Thấy áo anh rách, Thuỷ mang kim chỉ ra tận sân vận động vá áo cho anh. Thương anh đêm hay ngủ mê gặp ma, Thuỷ đã “võ trang” cho con Vệ Sĩ đặt đầu giường, gác cho Thành ngủ ngon. Rồi Thuỷ nhường tất cả búp bê cho anh,.. Còn Thành thì, đáp lại tấm lòng hiền thảo, vị tha của em, cũng đã làm nhiều việc tốt, vì em. Thành giúp em học tập. Chiều nào Thành cũng đón em đi học về, dắt tay nhau vừa đi vừa trò chuyện vui vẻ. Khi mẹ bắt phải chia đồ chơi, Thành đã nhường hết cho em. Sau đó Thành lại cùng em đến trường để em được chào và chia tay cô giáo, chia tay bạn bè,… Trong quan hệ anh, em giữa Thành và Thuỷ xảy ra một việc thật cảm động. Đó là việc chia đồ chơi, chia hai búp bê Vệ Sĩ và Em Nhỏ. Thấy anh lấy hai con búp bê đặt sang hai phía, Thuỷ bỗng “tru tréo lên giận dữ”, nói: “Sao anh ác thế!”. Thành nói: “Anh cho em tất cả”, rồi đặt con Vệ Sĩ vào cạnh con Em Nhỏ giữa đống đồ chơi của Thuỷ. Cặp mắt Thuỷ dịu lại, như có vẻ bằng lòng. Nhưng chợt nghĩ ra điều gì, em lại kêu lên: “Nhưng… lấy ai gác đêm cho anh?”… Như vậy, lời nói và hành động của Thuỷ trước việc này dường như đầy những mâu thuẫn. Lúc đầu, em không muốn hai con búp bê chia tay nhau. Em “tru tréo lên”, nghĩa là em kêu to lên, gắt gỏng, tỏ ý tức giận, trách Thành “ác thế”. Nhưng sau, khi thấy anh trai để hai búp bê ở bên nhau theo ý muốn của mình thì… Thủy lại cũng “kêu lên”, nghĩa là cũng không đồng ý cách giải quyết của anh, vì như thế thì “lấy ai gác đêm cho anh”. Rõ ràng, ở đây có diều éo le, trái ngược, đối lập nhau giữa sự thật – búp bê phải chia tay, hai anh em phải chia tay, niềm vui tuổi trẻ bị chia cắt – và tình anh em gắn bó, tấm lòng vị tha của đứa em nhỏ với người anh thân yêu. Sự thật cuộc đời thật cay đắng mâu thuẫn với tình người ngọt ngào, êm dịu. Đưa ra tình huống này, tác giả thiên truyện muốn gợi lên trong lòng bạn dọc những suy nghĩ lắng sâu và đợi chờ câu trả lời của bạn đọc. Vậy, muốn giải quyết mâu thuẫn này thì làm thế nào? Có lẽ cách tốt nhất là gia đình Thành – Thuỷ phải đoàn tụ, hai anh em không phải chia tay nhau, búp bê Vệ Sĩ và Em Nhỏ cũng không phải chia tay nhau. Cuối truyện, nhà văn kể một chi tiết thật thoả đáng: Thuỷ quay trở lại đặt con Em Nhỏ bên cạnh con Vệ Sĩ để chúng không bao giờ xa nhau. Hành động này của Thuỷ gợi cho người đọc lòng mến trọng đối với Thuỷ, mến trọng một em bé gái giàu lòng vị tha, rất thương anh, thương những con búp bê, thà mình chịu chia lìa chứ không để búp bê phải chia tay, thà mình chịu thiệt thòi để anh luôn có con Vệ Sĩ gác cho giấc ngủ được ngon lành. Xây dựng chi tiết kết thúc truyện như thế, nhà văn muốn nhắn gửi tới mọi người rằng: cuộc chia tay của các em nhỏ là rất vô lí, là không nên có, không nên để nó xảy ra. Ý tưởng ấy nhắc nhở những người cha, người mẹ. Ý tưởng ấy cũng chia sẻ nỗi khao khát cháy bỏng của tuổi thơ chúng ta: tuổi thơ phải được hạnh phúc, tuổi thơ không muốn chia tay,… Tiếp sau những chi tiết, tình huống biểu hiện tấm lòng và hành động cao đẹp của tình anh em Thành – Thuỷ, nhà văn kể về tình thầy trò, tình bạn, cũng bằng những chi tiết, tình huống truyện thật cảm động. Khi biết Thuỷ đến chào để chia tay, cô giáo Tâm đã “ôm chặt lấy em”, như không muốn chia tay. Còn bạn bè của Thuỷ thì “cả lớp sững sờ… khóc thút thít”, rồi mấy đứa bạn thân bỏ chỗ ngồi, nắm chặt lấy tay Thuỷ như chẳng muôn rời,… Nhưng điều khiến mọi người sửng sốt nhất là lúc nghe Thuỷ nói: “Nhà bà ngoại em ở xa trường lắm. Mẹ em bảo sẽ sắm cho em một thúng hoa quả để ra chợ ngồi bán”. Điều đó nghĩa là sau cuộc chia tay thầy và bạn này, cô bé đáng thương sẽ không được đi học nữa, sẽ bị ném ra cuộc đời kiếm sống, sẽ vĩnh viễn mất niềm vui của tuổi học trò… “Trời ơi!”, cô giáo đã kêu lên, tái mặt và nước mắt giàn giụa. Lũ bạn nhỏ của Thuỷ cũng khóc, mỗi lúc một to hon. Đọc đến chi tiết này, sống mũi ai mà không cay cay, nước mắt ai mà không rơm rớm… Chúng ta vừa cảm động trước tình cảm thầy trò, bè bạn của cô giáo và các em học sinh lớp của Thuỷ, vừa thêm xót thương cảnh ngộ éo le của anh em, gia đình Thành – Thuỷ. Kể lại cuộc chia tay đẫm nước mắt ấy, Thành đã tâm sự: “Ra khỏi trường, tôi kinh ngạc thấy mọi người vẫn đi lại bình thường và nắng vẫn vàng ươm trùm lên cảnh vật”. Tại sao lại như thế? Phải chăng, Thành thấy “kinh ngạc” vì: trong khi mọi việc đều diễn ra bình thường, cảnh vật vẫn êm đẹp, cuộc đời vẫn bình yên, thì… hai anh em và gia đình Thành phải chịu sự mất mát, đổ vỡ quá lớn? Nói cách khác, Thành ngạc nhiên vì: trong tâm hồn mình đang nổi dông bão vì sắp phải chia lìa đứa em thân thương, thế mà bên ngoài, mọi người và trời đất vẫn không có gì thay đổi. Đây là một tình huống trớ trêu, đối chọi giữa nội tâm và ngoại cảnh. Cũng là một diễn biến tâm lí được tác giả miêu tả rất hài hoà, tương tự như một đoạn ở phần đầu truyện: Trong khi hai anh em Qua câu chuyện này, tác giả Khánh Hoài muốn nhắn gửi đến mọi người điều gì? Rõ ràng tên truyện là Cuộc chia tay của những con búp bê, nhưng đây lại là chuyện về con người, của con người. Cuộc chia tay đau đớn và đầy cảm động của hai em bé trong truyện khiến người đọc thấm thìa rằng: tình cảm gia đình, hạnh phúc gia đình vô cùng quý giá và quan trọng. Mọi người hãy cố gắng bảo vệ vù giữ gìn, không nên vì bất kì lí do gì để làm tổn hại đến những tình cảm tự nhiên, trong sáng ấy, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Và một mạch ngầm nữa của văn bản phải chăng là: Tuổi thơ không biết và không bao giờ mong muốn chia li? Xem lại bài bình giảng Một lát thư ngắn chất chứa bao nỗi niềm
Tuổi thơ không muốn chia ly – Bình giảng văn lớp 7
1,665
Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông Hướng dẫn Đề bài: Phát biểu ý kiến về vấn đề tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông. Hướng dẫn làm bài a.Mở bài Giới thiệu vấn đề: Tai nạn giao thông hiện nay đang là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. b.Thân bài -Mỗi một ngày đi qua, bản tin an toàn giao thông trên các phương tiện thông tin đại chúng lại thông báo số vụ tai nạn, số người chết và bị thương. Không ngày nào lại không có. Tai nạn giao thông đang cướp đi sinh mạng và cuộc sống của biết bao người, để lại đau thương và những gánh nặng cho biết bao gia đình và cho xã hội. Tai nạn giao thông là thường xuyên, dai dẳng và ghê ghớm hơn bất cứ tai họa nào – ngay cả chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh… cũng không”giết người” nhiều bằng… -Nhà nước đã ban hành Luật Giao thông và những nghị định về an toàn giao thông, xây dựng và cải tạo nhiều công trình giao thông, nhằm mục đích cải thiện các phương tiện giao thông trên nhiều trục đường quốc lộ, tỉnh lộ và nội thành… -Tai nạn giao thông trong vài nưm qua có giảm đi, nhưng khôn đáng kể. Và đó cũng không phải là kết quả chắc chắn. Vẫn có người chết, người bị thương… Thỉnh thoảng lại có những vụ tai nạn xe cổ thảm khóc, kinh hoàng. + Đời sống ngày một cao hơn, các phương tiện giao thông ngày càng nhiều và tốc độ cũng lớn hơn… + Dân số tăng, người tham gia giao thông cũng đông hơn + Trong khi đó, sự phát triển hạ tầng phục vụ giao thông dù được quan tâm nhưng cũng không đáp ứng kịp. Đường sá trở nên chật hẹp và mau chóng xuống cấp, hư hỏng… + Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất vẫn là sự thiếu ý thức của con người khi tham gia giao thông. Những kẻ thiếu hiểu biết về luật giao thông, thiếu văn hóa, tính tình nóng nảy, thô lỗ… dễ trở thành “những hung thần trên đường phố”… Người đi đường dù cận thận đến mấy, gặp chúng thì cũng khó tránh khỏi tai họa. -Đề xuất giải pháp: Giảm thiểu tai nạn giao thông đòi hỏi sự đồng bộ của nhiều giải pháp. + Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho giao thông, quản lí chặt chẽ chất lượng xây dựng công trình giao thông. + Các lực lượng chức năng cần kiểm tra thường xuyên và chặt chẽ hơn. + Việc giáo dục tuyên truyền an toàn giao thông cần đa dạng và phổ biến hơn nữa. + Giải pháp hữu hiệu và chắc chắn nhất là nâng cao nhận thức của người tham gia giao thông. Đây là thử thách khó khăn nhất, bởi thay đổi ý thức cho những người thiếu ý thức không bao giờ là điều dễ dàng. c.Kết bài + Tuổi trẻ học đường là một lực lượng tuyên truyền đông đảo và tích cực. Mỗi một học sinh chung tay góp sức vào việc tuyên truyền an toàn giao thông và bảo vệ công trình giao thông thì phạm vi và hiệu quả giáo dục sẽ rất lớn. + Học sinh cũng là một lực lượng tham gia giao thông đông đảo. Tình trạng giao thông có phức tạp hơn hay không, một phần lớn là bởi ý thức chấp hành luật lệ giao thông của lực lượng này.
Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông
599
Bài làm 1: Nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước. Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng biết rằng tuổi trẻ là một thành phần, yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến tương lai đất nước, vì thế mà Bác đã căn dặn: “ Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt nam có bước đến đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần ở công học tập của các em”. Chúng ta cùng tìm hiểu vai trò của tuổi trẻ với tương lai đất nước. Tuổi trẻ là những công dân ở lứa thành niên, thanh niên là thế hệ măng đã sắp thành tre, là người đã đủ điều kiện, đủ ý thức để nhận biết vai trò của mình đối với bản thân, xã hội. Tuổi trẻ của mỗi thời đại là niềm tự hào dân tộc, là lớp người tiên phong trong công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước. Tương lai đất nước là vận mệnh, là số phận của đất nước mà mỗi công dân sẽ góp phần xây dựng, phát triển, trong đó quan trọng nhất là thế hệ trẻ. Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá kinh tế, đất nước. Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nước lớn mạnh thì đòi hỏi sự chung sức đồng lòng của tất cả mọi người mà lực lượng chủ yếu là tuổi trẻ. Bởi đó là lực lượng nồng cốt, là chủ nhân tương lai, là nhân vật chính góp phần tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho non sông Tổ quốc. Tuổi trẻ hôm nay là tôi, là bạn, là những anh chị đang có mặt trên giảng đường đại học,đang hoạt động bằng cả tâm huyết để cống hiến sức trẻ với những đam mê cùng lòng nhiệt tình bốc lửa. Tuổi trẻ tốt thì xã hội tốt, còn xã hội tốt sẽ tạo điều kiện cho tầng lớp trẻ phát triển toàn diện, sinh ra những người con có ích cho đất nước, đó là điều tất yếu, hiển nhiên mà ai cũng biết. Tuổi trẻ và tương lai đất nước (bài hay) Bài làm 2: Tuổi trẻ và tương lai đất nước ( văn nghị luận ) 2 Người Việt nam thường nói: “tre già măng mọc”, “con hơn cha là nhà có phúc”. Vấn đề truyền thống là mạch ngầm trong lòng dân tộc, là sức sống diệu kì trong hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước. Cha ông ta trao cho con cháu ngọn lửa thiêng liêng của nền văn hóa, văn hiến và hơn ai hết tuổi trẻ của thế hệ hôm nay phải có sứ mệnh thắp sáng hơn, đưa ngọn lửa thiêng liêng ấy đến đài vinh quang trong tương lai. Thời kì nào cũng vậy, dân tộc nào cũng vậy, tuổi trẻ là nguồn tài nguyên vô giá và là nhân vật chính tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho Tổ quốc, cho dân tộc. Tuổi trẻ là thế hệ măng đã sắp thành tre, là những con người đủ điều kiện, đủ ý thức để nhận thức vị trí của mình trong cuộc đời đối với chính mình và xã hội. Nhiệm vụ của tuổi trẻ thời nào cũng có những mục đích rất cụ thể. Thời kì chống Pháp, chống Mĩ, hàng triệu thanh niên đã ngã xuống, đem lại độc lập, tự do cho đất nước. Giờ đây, hàng triệu Thanh niên Việt Nam cần phải thấm nhuần lời dạy của Bác là phải: “Học tập tốt, lao động tốt”. Hơn bao giờ hết chúng ta cần suy ngẫm tới những lời nói vàng ngọc xuất phát tự đáy lòng của Bác trong “Thư gửi học sinh Việt Nam” nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm Châu được hay không, chính là nhờ một phần vào công học tập của các cháu”. Ngay những ngày đầu mở nước, Bác đã quan tâm diệt giặc ***. Bác coi loại giặc này còn nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm. Với kinh nghiệm từng trãi, với việc chứng kiến nhiều nền văn minh khác nhau trên thế giới Bác đã hiểu rằng: “Một dân tộc dốt nát, dân trí thấp thì trước sau cũng chỉ là nô lệ cho thế lực bên ngoài”. Nói đến tuổi trẻ hôm nay là nói tới việc học hành. Tuy nhiên, có người coi chuyện học hành như một việc khổ sai. Việc học là sự thúc ép của cha mẹ, của thầy cô. Việc học không tự giác đã dẫn tới lười biếng, cẩu thả. Chính mình tự đầu độc mình bằng…học. Người ta coi học tập là ngày hội, thì một số người coi học tập là nỗi nhọc nhằn phải chịu đựng. Kiến thức các bộ môn cứ y như cỏ rơm mà con người phải nhai lại vậy. Có người coi chuyện học tập, chuyện thi cử chỉ là hình thức. Bởi họ cần bằng cấp không cần kiến thức. Có bằng cấp họ lại được “sắp”, “xếp” vào những vị trí như mong muốn của bản thân, thậm chí theo như ý của các ông bố, bà mẹ. Vị trí của họ sớm đã được xác định nên dẫn tới một bộ phận thanh niên không đem hết tài sức để phấn đấu. Thật nguy hại cho lối học cơ hội này bởi lối học đó sẽ tạo nên những nhân cách cơ hội, phương cách làm giàu “kiểu chụp dật may rủi” chúng chẳng những không đưa nước ta sánh vai với các cường quốc mà ngược lại chúng làm dân tộc ta tụt hậu, lụn bại… Thời đại của tri thức, của khoa học công nghệ. Ai nắm được tri thức công nghệ, người ấy sẽ nắm chiếc đũa thần để tạo bước đi thần diệu cho đất nước. Nhiệm vụ của tuổi trẻ phải có chiếc đũa thần ấy. Bất cứ ai ở tuổi ăn học, phải tạo mọi điều kiện, tiếp cận với tri thức. Chỉ có tri thức dồi dào, đạo đức nhân tâm trong sáng, khát vọng sống, lao động cống hiến mãnh liệt trong tầng lớp tuổi trẻ thì tương lai của dân tộc mới sáng lạn, lấp lánh hào quang. Tuổi trẻ Việt Nam không phải không có nhân tài. Nhưng tất cả tuổi trẻ Việt Nam phải biết hóa thân cho “dáng hình xứ sở”. Mọi người phải là anh vệ quốc quân, anh giải phóng quân ngày nào. “Đoàn vệ quốc quân một ngày ra đi Nào có sá chi đâu ngày trở về Ra đi ra đi bảo tồn sông núi…” Chúng ta phải học tập với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Phải coi chuyện học tập hằng ngày của chúng ta là những chiến công. Nói như Đại tướng Võ Nguyên Giáp là thanh niên ta hiện nay cần phải lập những Điện Biên Phủ mới để đưa đất nước bước vào kỉ nguyên huy hoàng, ấm no, hạnh phúc… “Thành công là do 99% tài năng và 1% may mắn”. Tôi, bạn và những người lắng nghe dòng tâm sự này hãy cố gắng nỗ lực hết mình để Việt Nam mãi trường tồn với thời thời gian,vĩnh cửu trên thế giới. Bài làm 3: Nghị luận Tuổi trẻ và tương lai đất nước Trong thư gởi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác Hồ đã thiết tha căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Lời nhắn nhủ của Bác một lần nữa càng giúp ta thấm thía hơn vai trò, trách nhiệm của thế hệ với tương lai đất nước. “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Cuộc đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Vâng, tuổi trẻ là chặng đời con người có thể có những đóng góp lớn lao nhất cho xã hội. Vì sao vậy? Bởi lẽ, tuổi trẻ là tuổi sung sức nhất trong cuộc đời mỗi con người. Tuổi trẻ là tuổi ôm ấp bao ước mơ, hoài bão. Tuổi trẻ là tuổi năng động và sáng tạo. Tuổi trẻ cũng là tuổi có sức bật mạnh hơn hết thảy. Với tất cả những phẩm chất tinh tuý ấy, không bàn cãi gì nữa, thế hệ trẻ sẽ là những chủ nhân của đất nước, sẽ là nguồn động lực hàng đầu trong công cuộc xây dựng một đất nước phát triển và giàu mạnh. Song, để có thể sống và đóng góp một cách trọn vẹn, viên mãn nhất cho đất nước, tuổi trẻ cũng cần chuẩn bị cho mình những hành trang cần thiết để tiến vào tương lai, đảm đương vai trò, sứ mệnh thiêng liêng của mình. Tuổi trẻ ấy không ai khác chính là chúng ta, thế hệ học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường. Vậy, chúng ta phải chuẩn bị những gì cho hàng trang đi vào tương lai? Thiết nghĩ, trước hết chúng ta phải là những con người có đọc dức tốt, có nhân cách cao đẹp. Đồng thời, phải không ngừng nỗ lực để nâng cao tri thức, hiểu biết, trí tuệ nhằm đem tài năng của mình phục vụ cho Tổ quốc. Nghĩa là, mỗi người phải phần đấu để trở thành con người toàn diện, vừa có đức, vừa có tài. Lời Bác dạy vẫn còn đó: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Tương lai đất nước phụ thuộc vào việc học của chúng ta. Lời nhắn nhủ của Bác đặt trong hoàn cảnh hiện nay càng sâu sắc hơn bao giờ hết. Sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, của hoa học tự nhiên, khoa học xã hội sẽ không chấp nhận những ai bằng lòng với những gì mình đang có.Điều đó cũng có nghĩ làm không chịu học, không ham học thì chúng ta sẽ bị tụt hậu. Chắc chắn, sứ mệnh của những chủ nhân tương lai sẽ không phải là chúng ta. Điều này quả là ngoài ý muốn của những ai biết yêu Tổ quốc, giống nòi, biết tự hào với truyền thống cao đẹp của “con Hồng cháu Lạc”. Vậy chúng ta phải học tập như thế nà để có thể đáp ứng được yêu cầu lớn lao đó? Thiết nghĩ, mỗi người phải ý thức rõ vai trò chủ nhân tương lai đất nước. Không ngừng học tập và học hỏi, học với tất cả sự nhiệt tình và niềm say mê khám phá không ngừng để tiếp cận chân lí của tri thức nhân loại. Xác định rõ mục tiêu học tập vinh quang ấy, mỗi học sinh phải xem những tấm gương hiếu học, những gương mặt tài năng trẻ không chỉ là niềm tự hào của tuổi trẻ chúng ta mà còn là cái đích vươn lên của mỗi con người. Trau dồi kiến thức, học đến đâu chắc đến đó; kết hợp học với hành, lí thuyết gắn với thực nghiệm để có kích thích sáng tạp; tìm tòi cái mới. Và tất nhiên, không bao giờ quên ý thức trau dồi trở thành con người toàn diện cả tài và đức. Bởi chỉ thực sự có tài và có đức thì mới mong đóng góp được nhiều cho đất nước, cho dân tộc. Bác mong các cháu ma khôn lớn Nối gót ông cha bước kịp mình. (Tố Hữu) Lời Bác dạy và mong ước tha thiết của Người sẽ mãi là lẽ sống đẹp của mỗi chúng ta, hôm nay và mai sau. Bạn, tôi và tất cả chúng ta chắc chắn sẽ là những chủ nhân xứng đáng của đất nước. Và, tất nhiên phải bắt đầu ngay từ bây giờ, những gì cần thiết nhất để hoàn thành sứ mệnh của tương lai. Chúc các bạn học giỏi!
Tuổi trẻ và tương lai đất nước (bài hay)
2,072
Tác giả Nguyễn Khuyến Nguyễn Khuyến (1835-1909) là nhà thơ Nôm kiệt xuất của dân tộc. Ông để lại nhiều bài thơ nói về tình bạn: bạn cùng quê, bạn đồng học, bạn đồng khoa… “Ai lên thăm hỏi bác Châu Cầu Lụt lội năm nay bác ở đâu…” (Lụt hỏi thăm bạn) “Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…” (Khóc Dương Khuê) Châu cầu, Dương Khuê là hai bạn đồng khoa của Nguyễn Khuyến. Bài “Bạn đến chơi nhà” là một trong những bài thơ Nôm đặc sắc của ông, nói lên một tình bạn đẹp. Câu nhập đề rất tự nhiên, như một lời nói mộc mạc của nhà thơ sau bao tháng ngày mới gặp lại bạn. Lời chao vồn vã, biểu lộ niềm vui mừng không xiết: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà”. Chữ “bác” gợi lên thái độ niềm nở, thân mật và kính trọng, một cách xưng hô thân tình. Đằng sau câu thơ – lời chào hỏi – có thể là những giọt lệ ứa ra ở khoé mắt đôi bạn già. “Đã bấy lâu nay” là bao năm tháng? Tính thời gian không được xác định cụ thể, nhưng chắc chắn là đã khá lâu, vì sức yếu, tuổi già… nên xiết bao đợi chờ, mong nhớ. Bộ phận trạng ngữ chỉ thời gian được đặt lên đầu câu thơ diễn tả sự xac cáhc nhớ mong, làm nổi bật ý thơ: niềm xúc động và niềm vui sướng vô hạn khi gặp lại bạn. Trong bài thơ “Khóc Dương Khuê”, có một chi tiết giúp ta cảm nhận được một phần nào cái hay, cái tình ẩn chứa trong câu nhập đề: “Muốn đi lại tuổi già thêm nhác, Trước ba năm gặp bác một lần, Cầm tay hỏi hết xa gần Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can”. Chữ “bác” được nói đến trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà” là bạn chí thân, ở xa, lâu ngày mới gặp nên Nguyễn Khuyến rất mừng và cảm động. Sáu câu thơ tiếp theo toát lên một nụ cười hóm hỉnh. Một ý thơ bao trùm: Đã lâu ngày bạn mới đến chơi, biết lấy gì đãi bạn đây? Một tình thế khá éo le: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa”. Chữ “thời” (thì) là một hư từ, rất ít khi xuất hiện trong thơ vì dễ rơi vào sự tầm thường nhạt nhẽo. Nhưng dưới ngòi bút Tam nguyên Yên Đổ, nó trở nên thanh thoát tự nhiên vô cùng, chứng tỏ ông có một bản lĩnh nghệ thuật già dặn, điêu luyện. “Chín sào tư thổ là nơi ở, Một bó tàn thư ấy nghiệp nhà”. (Ngày xuân dạy các con – 1) Phần thực và luận, tính hệ thống của ngôn ngữ thơ rất chặt chẽ, nhất quán ở một cách nói, một lối biểu cảm: Có tất cả mà cũng chẳng có gì để đãi bạn thân! Có ao và cá, có vườn và gà, có cà và cải, có mướp và bầu… Bức tranh vườn Bùi thân thuộc hiện lên sống động, vui tươi. Một nếp sống thong dã chất phác, cần cù, bình dị đáng yêu. Một cuộc đời thanh bạch, ấm áp cây đời và tình người rất đáng tự hào. Chúng ta như cảm thấy Nguyễn Khuyến đang dắt tay bạn ra thăm vườn cây ao cá, tận hưởng thú vui dân dã của một ông quan về quê ở ẩn. Phép đối hợp cách, chặt chẽ; cảnh với cảnh, thượng hạ, trắc – bằng phân minh, tạo nên một giọng thơ nhẹ nhàng, vui tươi lời thơ cân xứng, hoà hợp như cảnh vườn tược xinh xắn, hữu tình: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà”. Dân gian có câu: “Khách đến chơi nhà khong gà cũng vịt”. Qua các câu thơ trên, ta thấy Nguyễn Khuyến đang giãi bày với bạn: trong nhà ngoài vườn có bao nhiêu thứ, nhưng thực ra chẳng có gì để thiết bạn, đãi bạn vì tất cả mọi thứ, mọi thức chưa đến lúc, đến thời! Câu thơ thứ bảy tiếp nối và mở rộng ý thơ trên, khẳng định luôn cái “không có”: Phải chăng cái nghèo của cụ Tam nguyên Yên Đổ đã đến mức ấy ư? “Vẻ chi một mớ trầu cay” (ca dao). Nhà thơ đã thậm xưng hoá cái nghèo, thi vị hoá cái nghèo. Một ông quan to triều Nguyễn về quê ở ẩn, với một cơ ngơi “chín sào tư thổ là nơi ở” thì không thể “miếng trầu là đầu câu chuyện” để tiếp bạn cũng “không có”. Đây là một lời thơ hóm hỉnh, pha chút tự trào vui vui, để bày tỏ một cuộc sống thanh bạch, một tâm hồn thanh cao của một nhà nho khước từ lương bổng của thực đan Pháp, lui về sống bình dị giữa xóm làng quê hương. Câu kết là một sự “bùng nổ” về ý và tình. Tiếp bạn chẳng cần có mâm cao, cỗ đầy, cao lương mĩ vị, cơm gà cá gỏi, mà chỉ có một tấm lòng, một tình bạn chân thành, thắm thiết: “Bác đến chơi đây, ta với ta”. Lần thứ hai, chữ “bác” đã xuất hiện trong bài thơ, thể hiện mọt sự trìu mến, kính trọng. Bác đã không quản tuổi già sức yếu, không quản đường sá xa xôi đến thăm tôi, còn gì quý hoá bằng! Tình bạn là trên hết. Không một thứ vật chất nào có thể thay thế được tình bạn tri âm, tri kỉ. Mọi cái đều “không có” nhưng lại “có”; tình bằng hữu thân thiết. Chữ “ta” là đại từ nhẵnng, trong bài thơ này là “tôi”, là “bác”, là “hai chúng ta”, không có gì cách bức nữa. Cụm từ “ta với ta” biểu lộ một niềm vui trọn vẹn, tràn đầy và lắng đọng trong tâm hồn, toả rộng trong không gian và thời gian. Với cụm từ “ta với ta” trong câu thơ “Một mảnh tình riêng ta với ta” của Bà Huyện Thanh Quan là nỗi buồn cô đơn của khách ly hương khi đứng trên đỉnh đèo Ngang lúc hoàng hôn, còn ở đây, trong câu thơ của Nguyễn Khuyến lại ấm áp tình đời và sau nặng tình bạn. Qua đó, ta cảm nhận được phần nào tính cá thể hoá cua ngôn ngữ và sắc điệu trữ tình tạo nên giá trị văn chương trong những bài thơ cổ. “Từ trước bảng vàng nhà sẵn có, Chẳng qua trong bác với ngoài tôi” (“Gửi bác Châu Cầu”) “Đến thăm bác, bác đang đau ốm, vừa thấy tôi, bác nhổm dậy ngay. Bác bệnh tật, tôi yếu gầy. Giao du rồi biết sau này ra sao?” (“Gửi thăm quan Thượng thư họ Dương”) Bài thơ viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, niêm luật, đối chặt chẽ, hợp cách. Ngôn ngữ thuần nôm, không có một từ Hán – Việt nào, đọc lên nghe thanh thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên. Ta có cảm giác như Nguyễn Khuyến xuất thân thành chương. Đặc biệt bố cục bài thơ không theo qui cách; đề, thực, luận, kết – mà lại cấu trúc theo: (1+6+1) câu đầu nói lên niềm vui khi bạn đến; 6 câu giữa hóm hỉnh, cười vui không có gì để tiếp bạn; câu cuối chỉ có tình bạn đẹp mà thôi! Bài thơ nôm khó quên này cho thấy một hồn thơ đẹp, một tình bằng hữu thâm giao, chân tình, một tấm lòng hồn hậu, đẹp đẽ. Tình bạn của Nguyễn Khuyến trong sáng, thanh bạch, đối lập với nhan tình thế thái “còn bạc, còn tiền, còn đệ tử – Hết cơm hết rượu hết ông tôi” mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kịch liệt lên án. Hai nhà thơ sống cách nhau mấy trăm năm mà có chung một tâm hồn lớn: nhân hậu, thuỷ chung, thanh bạch. Tâm hồn đó, tấm lòng đó của tiền nhân đối với ngày nay vẫn xứng đáng là tấm gương sáng để mọi người soi chung. Nguyễn Khuyến không những là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam mà còn là nhà thơ của tình bạn trong sáng, thuỷ chung và cao đẹp rất đáng yêu, đáng kính.
Tác giả Nguyễn Khuyến
1,362
Tác giả, tác phẩm, Phân tích bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương Tác giả, tác phẩm Trần Tế Xương (1870 – 1907), là một nhân tài để lại sự nghiệp thơ ca bất tử nhưng cuộc đời lại bất hạnh, ngắn ngủi. Hai mảng thơ trào phúng , trữ tình viết về quê hương, đất nước, con người đặc biệt có những sáng tạo khi khắc họa chân dung người phụ nữ. Bài thơ viết về bà Tú, người vợ chịu thương chịu khó của ông. Phân tích tác phẩm a. Hai câu đề “quanh năm buôn bán ở mom sông/ nuôi đủ năm con với một chồng” là lời kể về công việc làm ăn lo toan cho gia đình của bà Tú. “Quanh năm” chỉ thời gian suốt cả năm không kể ngày mưa hay nắng, quanh năm còn là vòng xoay liên tục của thời gian, từ năm này qua năm khác. Địa điểm mà công việc: + Mom sông: phần đất nhô ra ở phía lòng sông, nơi chênh vênh nguy hiểm. + buôn bán: công việc đầy bon chen, mặc cả giữ chốn đông người. Sự tri ân của ông dành cho bà: “nuôi đủ năm con với một chồng” + Nuôi đủ: không thừa, không thiếu thốn +Cách đếm: năm con một chồng cho thấy bà Tú phải một mình gánh vác cả gia đình 6 người chưa kể bản thân mình. Qua câu thơ hình ảnh bà Tú tảo tần hiện lên rõ nét, bà nuôi đủ ở đây không chỉ là đủ ăn đủ mặc cho các con mà còn đủ để ông tiêu pha chuyện đèn sách cả những thú ăn chơi của những kẻ sĩ ngày xưa. Trong cái thời buổi khó khăn, một mình buôn bán lo thân đã vất vả, đằng này lại nuôi đủ thêm 6 miệng ăn. Nỗi chua chát ấy được nhà thơ thể hiện khôi hài thông qua hình ảnh “năm con với một chồng”. Ông đánh đồng bản thân mình là một thứ con đặc biệt, đứa con này lại đặt ngang hàng với 5 đứa còn lại. Tú Xương vẽ nên hình ảnh đôi gánh hàng mà bà Tú gành hằng ngày, một bên là 5 con một bên là chồng. Tự trách bản thân là gánh nặng cho vợ, ông cũng gửi niềm tri ân của mình đến bà Tú một cách kín đáo. “Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ eo sèo mặt nước buổi đò đông” cảnh làm ăn vất vả mưu sinh của bà Tú. “Lặn lội thân cò” hình ảnh thân cò, cái cò trong ca dao xuất hiện rất nhiều để chỉ người nông dân nói chúng và người phụ nữ nói riêng vất vả, gian truân…Qua bàn tay sáng tạo của Tú Xương, nó trở thành thân cò chỉ bà Tú, không còn là một cánh cò nào đấy mơ hồ về số kiếp con người, thân cò chỉ thân phận cụ thể, nỗi đau cụ thể. So với ca dao hình ảnh thân cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của thời gian mà còn cái rợn ngợp vô cùng của không gian “khi quãng vắng” chỉ thời điểm vắng vẻ, nguy hiểm ở một nơi hẻo lánh. Biện pháp đảo ngữ “lặn lội” lên trước “thân cò” nhấn mạnh sự vất vả nhọc nhằn của công việc buôn bán. “Eo èo mặt nước” từ láy eo sèo chỉ âm thanh nhốn nhào, ồn ào của buổi chợ trong đó có lời qua tiếng lại, mặc cả bán mua. “Buổi đò đông” Ca dao có câu” Con ơi nhớ lấy câu này, sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua” để nhắc nhở chuyến đò đông ẩn chứa nhiều nguy hiểm. Vậy mà, bà phải buôn bán chốn đò đông. Hai câu thơ sử dụng biệp pháp đối lập “lặn lội thân cò ó eo sèo mặt nước” “buổi đò đông ó nơi quãng vắng” để làm nổi bật tính chất công việc của bà Tú. “Một duyên hai nợ, âu đành phận/ năm nắng mười mưa dám quản công” cảnh đời éo le oái oăm bà Tú phải chịu. Hai câu thơ Tú Xương sử dụng hai thành ngữ “một duyên hai nợ, năm nắng mười mưa” + “Một duyên hai nợ” theo triết trí nhà phật, con người gặp được nhau, đến với nhau là duyên nhưng sống với nhau thì do nợ. Bà Tú đến với ông Tú duyên chỉ có một mà nợ có đến hai, chứng tỏ bà Tú phải chịu nhiều thiệt thòi, éo le để trả nợ ân tình. + “năm nắng mười mưa” số đếm năm mười tăng theo cấp số nhân như muốn nói bà Tú sống với ông Tú phải chịu nhiều vất vả, nỗi vất vả ấy ngày một tăng dần. + “Âu đành phận, dám quản công” chỉ thái độ cam chịu, chấp nhận số phận của bà Tú, cực khổ thế, gian nan là thế mà bà nào dám quản công. Ông Tú lên tiếng nói hộ vợ mình nỗi cực nhọc, đắng cay của cuộc đời, ấy cũng là nỗi dằn vặt bấy lâu nay của ông, một kẻ sĩ chí lớn nhưng phải ngửa tay xin tiền vợ tiêu xài. Lời thơ như một tiếng thở dài chua xót, nặng nề. Qua đó, ta thấy được nỗi lòng của ông Tú, hơn ai hết ông là người thấu hiểu, cảm thông và yêu thương vợ mình. d. Hai câu kết “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc/ có chồng hờ hững cũng như không” là tiếng chủi mình, chửi đời. “Thói đời” tác giả đang nhắc đến là những định kiến và tư tưởng khắc khe về người phụ nữ, phụ nữ phải tam tòng, tứ đức, công dung ngôn hạnh. Họ đặt ra cho người phụ nữ quá nhiều đòi hỏi nhưng lại cướp mất đi của họ nhiều quyền lợi. “Cha mẹ” tác giả vận dụng lời ăn tiếng nói của dân gian vào thơ tạo nên một giọng điệu thơ gân gũi, dung dị rất đời thường nhưng cũng chứa đựng nhiều suy ngẫm. “Ăn ở bạc” tác giả oán trách thói đời bạc bẽo, bà Tú vì nợ mà phải gánh vác trách nhiệm nặng nề, nhưng không phải vì thế ông đổ hết cho duyên số. Tú Xương chửi chính bản thân mình làm chồng mà “hờ hững” để vợ gánh vác một mình. Tú Xương sòng phẳng với cuộc đời và cũng sòng phẳng nhìn nhận bản thân, ông không tiếc lời mạt sát, chửi chính mình. Qua đó ta thấy một Tú Xương không hề hờ hững như ông đã nói mà là một ông Tú nặng tình đời, tình người, có nhân cách cao đẹp, đáng quý hơn là tấm lòng chân thành với vợ. Nghệ thuật Vận dụng nhiều ca dao, thành ngữ, khẩu ngữ dân gian và sáng tạo rất thành công. Ý nghĩa tác phẩm Khắc họa chân dung người phụ nữ trong xã hội phong kiến tảo tần, đảm đang thương yêu hi sinh mình vì gia đình, qua đó thấy được tấm lòng trân quý của người chồng dành cho vợ.
Tác giả, tác phẩm, Phân tích bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương
1,175
Tác giả, tác phẩm, phân tích bài thơ “Câu cá mùa thu” Nguyễn Khuyến Tác giả, tác phẩm Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là nhà nho yêu nước, có cốt cách thanh cao nhưng bất lực trước thế sự. Được mệnh danh là nhà thơ của dân tình làng cảnh Việt Nam. Bài thơ nằm trong chùm thơ Thu – Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh Đề tài viết về mùa thu, đề tài quen thuộc trong thơ ca Trung đại. Phân tích tác phẩm a. Bức tranh mùa thu Bức tranh thu rất điển hình cho mùa thu của làng quê Bắc bộ. + Ao thu, gió thu và cả trời thu đều rất độc đáo vì được lựa chọn rất khéo léo qua cách dùng từ của Nguyễn Khuyến. + Nhà thơ đã hòa mình vào cuộc sống vùng nông thôn Bắc bộ nên hơn ai hết ông cảm nhận những thay đổi của cảnh sắc rất tinh tế, ông bắt được những khoảnh khắc rất đắc của thiên nhiên. Cảnh vật hiện lên sinh động quan nhiều giác quan như thị giác, thính giác, xúc giác.. + Màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, lá vàng, trời xanh ngắt. + Chuyển động: lá khẽ đưa vèo, sóng hơi gợn tí, mây lơ lửng + Cảnh vật hài hòa: ao nhỏ – thuyền bé; gió nhẹ – sóng gợn, trời xanh – nước trong, khách vắng teo – chủ thể trầm lặng. + sự phối màu có chủ ý: xanh trời, xanh nước, xanh tre, xanh bèo, xanh sóng và chỉ duy màu vàng của lá. Cảnh vật được tả rất tĩnh: không gian yên ắng, ít người, vắng khách, những chuyển động rất nhẹ nhàng không làm cho cảnh vật động mà còn tĩnh hơn cả tiếng cá đớp mồi cũng hư hư thực thực. Toát lên sự tĩnh lặng, yêm ái của làng cảnh vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ. Đó là nơi nhà thơ ở ẩn, thoát tục, tránh những bon chen của cuộc đời, xa lìa danh vọng. b.Tình thu Trong cả bài thơ chỉ thấy bóng dáng con người ở cuối “tựa gối buông cần lâu chẳng được/ cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Chúng ta thấy cảnh vật hiện lên qua đôi mắt của chủ thể đang ngồi câu cá. Thế nhưng dường như người câu cá lại không tha thiết với chiếc cần câu của mình bởi trong lòng nặng nỗi niềm, đó là tình thu. Chỉ có thể là một cõi lòng tĩnh lặng, yên ắng mới cảm nhận được sự tĩnh lặng của cảnh vật và tinh tế phát hiện những cử động rất khẽ của không gian. Có thể nói cảnh vật của Thu điếu là cõi lòng của thi nhân, cõi lòng của thi nhân cũng chính là hơi thở của làng quê vùng chiêm trũng. Không gian yên ắng, tĩnh lặng chứa đựng nỗi niềm tâm sự, đó là nỗi ưu hoài, phiền muộn, cô quạnh chứa đựng trong cái máu xanh ngắt lạnh lẽo của cảnh vật. Dù ở ẩn để lánh xa thói đời, nhưng thực sự người ẩn sĩ Nguyễn Khuyến lại không thể ung dung câu cá, ngắm mây trời. Trong lòng ông còn u hoài những nỗi buồn về thời cuộc, sự nuối tiếc, niềm mong chời và nỗi hoài nghi. Tất cả xuất phát từ tấm lòng yêu nước thương dân và nỗi khoắc khoải khôn nguôi của một kẻ sĩ bất lực trước thời cuộc. Nghệ thuật Bút pháp thơ Đường tả cảnh ngụ tình, thi trung hữu họa Sử dụng biện pháp đối lập tài tình. Ý nghĩa văn bản Vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên làng quê Bắc bộ vào mùa thu đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương của nhà thơ và nỗi u hoài trước thế sự.
Tác giả, tác phẩm, phân tích bài thơ “Câu cá mùa thu” Nguyễn Khuyến
620
Tác giả, tác phẩm, ý nghĩa nhan đề bài thơ Tự Tình Hồ Xuân Hương Tác giả Hồ Xuân Hương (chưa rõ năm sinh năm mất) là một thiên tài kì nữ trong làng thơ trung đại Việt Nam nhưng cuộc đời lại éo le, bất hạnh. Bà là người phụ nữ mạnh mẽ, thông minh, có học thức lại có nhan sắc đồng thời chúng ta tìm thấy ở bà tâm hồn của người phụ nữ hiện đại thích tự do, phóng khoáng. Bi kịch cuộc đời của bà lớn nhất là khao khát hạnh phúc lứa đôi, khao khát tình yêu tự do nhưng lại hai lần làm lẽ. Chủ đề thơ của bà chủ yếu viết về người phụ nữ bằng cái nhìn của người phụ nữ vừa trào phúng lại vừa trữ tình, vừa ngông nghênh ngạo mạng lại vừa thiết tha chua xót. Tác phẩm Bài thơ nằm trong chùm thơ Tự Tình gồm 3 bài: Tự tình I, Tự tình II, Tự tình III Ý nghĩa nhan đề Tự tình có nghĩa là bộc lộ tâm tình, tâm tình ở đây không phải che đậy hay vay mượn bất cứ cảnh vật nào để bộc lộ. Xuân Hương nói về chính mình, về nỗi cô đơn của kiếp người, nỗi bất hạnh của kiếp má hồng. Bài thơ là nỗi tự tình của riêng Xuân Hương nhưng cũng là nỗi đau đáu, bẽ bàng của một lớp phụ nữ bị chèn ép, bị chế độ phong kiến làm cho dang dở, lẻ lo Tác phẩm làm hiện lên một hình tượng phụ nữ trong xã hội phong kiến vừa bi thương, phẫn uất lại vừa mạnh mẽ, cố chấp vừa bất hạnh trước tình duyên hẩm hiu nhưng lại tràn đầy nỗi khao khát cháy bỏng hạnh phúc lứa đôi. 5. Nghệ thuật: – Sử dụng từ ngữ độc đáo, sắc nhọn: đâm, xiên – Từ tả âm thanh: văng vẳng – Từ tả cảm giác: trơ trọi, ngán.. – Tả thời gian: xuân đi xuân lại lại – Sự bé mọn, tầm thường: mảnh tình, san sẻ, tí, con con..
Tác giả, tác phẩm, ý nghĩa nhan đề bài thơ Tự Tình Hồ Xuân Hương
340
Tác hại của ma túy đối với con người Hướng dẫn Tác hại của ma túy đối với con người Loài người đang từng bước chân vào thế kỉ mới của những thời đại côn gngheej phát triển, gioa thoa văn hóa thì ngày càng có những điểm lợi và hại khiến cho con người phải thực sự thông minh và bản lĩnh mới kiểm soát được. Sự gioa thoa vă hóa, sự thay đổi của cái cũ với cái mới khiến cho ma túy xâm nhập vào đời sống con người. Nó không những khiến cho con người trở nên phụ thuộc sống ảo mà con khiến bao gia đình rơi vào cuộc sống sống không bằng chết Vây ma túy có nghĩa là gì mà nó lại khiến cho con người lao đầu vào như vậy? Ma túy chính là chất kích thích khi dùng một lần có thể gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo. ma túy khi đưa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi trạng thái nhận thức và sinh lý. Tên gọi khác của ma túy đôi khi được người ta gọi với cái tên Heeroin. ma túy có chứa các chất tư nhiên tổng hợp có tác dụng lên thần kinh trung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn. một khi đã sử dụng có thể khiến con người rất dễ bị nghiện Trong ma túy thì người ta chia ra làm nhiều loại khác nhau mức độ và tính mạnh yếu của chúng gây ra cho con người cũng khác nhay như ma túy cần sa, thuốc phiện, heroin, ma túy đá. Dấu hiệu của những người nghiện thuốc hoặc lên cơn thèm thuốc đó chính là họ nghiện rồi thì sẽ làm mọi cách để có thuốc nữa, đôi khi có thể vì thèm thuốc mà họ bất chấp tất cả để có thuốc và hít. Chính ma túy là cái lí do gián tiếp khiến đạo đức con người đi đến suy thoái và khác hẳn với chúng ta những con người bình thường, những người nghiện thuốc họ có thể bát chấp tất cả. Nhiều vụ cướp giật, giết người cướp của cũng từ đây mà ra. Khi trong gia đình có một người nghiện không những họ cố bán tất cả những thứ có giá trị trong gia đình để có thuốc, mà bên cạnh đó mọi người còn xa lánh. Ma túy là hiểm họa của toàn nhân loại. nó đã trở thành chất cấm trong mọi hình thức vận chuyển và tàng trữ. Ma túy đã gây ra biết bao nhiêu hiểm họa cũng như tác hại cho đời sống con người và suy thoái đạo đưucs. Chính vì thế chúng ta, mỗi con người nên nâng cao ý thức của bản thân để chính mình và những người thân yêu không trở thành nạn nhân của ma túy. Nguồn: Bài văn hay
Tác hại của ma túy đối với con người
485
Tác hại của nói chuyện trong giờ học Hướng dẫn Đề: Nghị luận xã hội về Tác hại của nói chuyện trong giờ học Đất nước ta đang trên đường phát triển, phát triển về kinh tế – xã hội và song song với đó là phát triển về nền văn hóa, nền văn minh nước nhà. Lối sống văn hóa, văn minh đã phát triển và lan tỏa rộng khắp xã hội ta. Thế nhưng đâu đó, vẫn còn những hành vi không phù hợp với nền văn hóa tiên tiến nước ta tồn tại. Đặc biệt, trong một môi trường đầy tri thức như trường học thì những hành vị đó lại tồn tại một cách khá phổ biến, đó là quay cóp, chửi tục,…nhưng hành động thường gặp nhất vẫn là nói chuyện riêng trong giờ học. Nói chuyện riêng trong giờ học, tức là họ – những người học sinh – nói, bàn bạc và thảo luận về những vấn đề rất “trọng đại, lớn lao” ko hề liên quan đến những gì mà người giáo viên đang giảng dạy trên lớp, chẳng hạn như “bộ phim hôm qua như thế nào”, “kiểu tóc mới của mình ra sao”,… Và cái việc bàn luận những sự việc như thế trong giờ học dường như đã trở thành “chuyện thường ngày” ở hầu hết các trường học, lớp học ở nước ta. Để rồi những người học sinh đấy sẽ phải bỏ lỡ một phần hoăc tất cả những kiến thức, thông tin về bài học mà người giáo viên đang giảng dạy. Và mọi thứ nào chỉ có “họ làm họ chịu” mà ngay cả những người bạn ngồi xung quanh họ cũng phải bị ảnh hưởng một phần từ những tiếng ồn do họ gây ra. Trên tất cả, hành vi nói chuyện riêng trong giờ học có thể nói là một hành vi vô cùng vô văn hóa, thật khó có thể chấp nhận dc khi nó được thực hiện bởi những người đã và đang học văn hóa trong trường lớp. Hành vi này vô văn hóa ở chỗ những người thực hiện nó, tức là đã không dành sự tôn trọng cho người đang truyền giảng kiến thức cho mình, cho những người xung quanh mình và cho cả chính bản thân mình. Hành vi này là kết quả của sự kết hợp giữa những người học sinh đã đánh mất đi lòng tự trọng, đã đánh mất đi tinh thần hiếu học với những người cầm phấn có một phương pháp giảng dạy rất ư là “hấp dẫn”, “hấp dẫn” đến nỗi khiến người học khó có thể mà tập trung vào bài học được. Một tiết học mà người dạy vô cùng nhàm chán, khô khan thì làm sao có thể khiến học sinh chú ý và một học sinh lười biếng, không có lòng tự trọng thì dù tiết học có hay, sinh động đến thế nào đi chăng nữa thì cũng ko thể khiến người học sinh đó chú ý được. Để hành vi vô văn hóa này được loại bỏ hoàn toàn ra khỏi môi trường tri thức trường lớp thì trước hết, mỗi người học sinh cần phải biết đến lòng tự trọng và phải xác định được mục đích học tập là gì để từ đó xác định được học tập như thế nào ở trong lớp học. Ngoài ra, những người đứng lớp cũng phải tự xem xét lại phương pháp giảng dạy của mình tại sao lại không thể thu hút được sự chú ý của học sinh để từ đó sữa chữa, rút kinh nghiệm. Và cuối cùng thì sự phản đối, thái độ đấu tranh của các bạn khi hặp những hành vi này cũng khiến nó trở nên dần dần biến mất.
Tác hại của nói chuyện trong giờ học
633
Tác hại của rượu và thuốc lá Hướng dẫn Đề bài: Tác hại của rượu và thuốc lá Bài làm Hút thuốc là và uống rươu nhiều là hai kẻ thù lớn nhất của sức khỏe và tuổi thọ con người. trong những năm gần đây, việc hút thuốc lá và lạm dụng rượu bia là hai mối quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực y tế vầ bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong một năm, số ngày nghi làm việc tăng lên, các bệnh viên ngày càng tăng những bệnh tim phổi, mạch máu…đều có liên quan tới việc hút thuốc và uống rượu. Người ta đã khuyến cáo và chứng minh bằng những chứng cớ khóa học rất cụ thể về mối đe dọa của thuốc lá với đời sống, tuổi thọ của con người. Đặc biệt là tác động mạnh và gần như tức thì trên các bệnh tim mạhc, lao phổi, ung thư. Những người phụ nữ hút thuốc lá và uống rượu lúc mang thai có nguy cơ sinh non, dị tật và khả năng sẩy thai cao. cả rượu và chất nicotin đều là chết gây nghiện khó kiểm soát. Nhiều người lúc đầu chỉ hút thuốc và uống rượu như là một thói quen nhưng sau đó họ không tự kiểm soát được và trở nên nghiện ngập từ lúc nào. Tác hại của thuốc lá Thuốc lá hủy hoại cơ thể do ba chất chính có trong thuốc và khói thuốc lá là nicotin, carbon monoxide, và chất khói thuốc Carbon monoxide có trong máu làm giảm lưu lượng tuần hoàn máy tới các mô và trong thời gian dài sẽ bị xơ vữa động mạch Khói thuốc lá là nguyên nhân gây những bệnh phổi mạn tính, ung thư phổi Thuốc lá và bệnh ung thư Mối liên quan giữa việc hút thuốc lá và ung thư phổi đã được biết từ rất lâu, 90% người ung thư phổi bị chết đều có hút thuốc lá. Những cơ quan khác cũng bị ung thư do thuốc lá là miệng, hầu, họng, thanh quản, môi, bàng quang… Hút thuốc lá bằng ống hút xì gà có khả năng giảm lượng khói thuốc hít vào phổi nhưng cũng khó tránh khỏi ung thư miệng và họng Những nguy cơ khác của việc hút thuốc lá Rất nhiều người không ý thức được tác hại của việc hút thuốc lá trầm trọng đến mức độ nào Trước tiên phải kể tới những bệnh mạn tính của đường hô hấp. Nhiều người bị ho thường xuyên đến mức mà người ta gọi là “ho thuốc lá”. Rất nhiều người chết do tâm phế mạn và khỉ thủng phổi Người hút thuốc lá chắc chắn sẽ chết sớm hơn do các bệnh mạch vành. Họ thường xuyên đau thắt ngực do những cơn thiếu máu cơ tim, nghĩa là những lúc giảm thời lượng máu đến nuôi cơ tim. Nguy cơ ngồi máu cơ tim xảy ra nhiều hơn ở người hút thuốc. Họ cũng dễ bị đột quỵ hơn người bình thường. ngoài ra người hút thuốc lá nhiều cũng dễ bị lóet dạ dày và hành tá tràng. đơn giản là không hút thuốc. Nếu bạn không chế ngự được bản thân và không bỏ được thói quan rất xấu nay thì chắc chắc sẽ có nguy cơ bị bệnh cao hơn hẳn những người khác. Nếu cần có thể nhờ đến sự trợ giúp của người thân, bạn bèvà ngay cả các loại kẹo hay chewing gum thay thế thuốc lá. Nhưng, chính bạn sẽ phải là người quyết định bỏ thuốc như khi bạn quyết định hút thuốc. Rượu và bệnh tật Uống nhiều rượu và uống thường xuyên rất có hại cho sức khỏe, trước mắt là mắc các chứng bênh vầ gan nặg như gan thoái hóa mỡ, viên gan do rượu, xơ gan, ung thư gan. khi đó, mô gan không còn mịn như bình thường mà gồm toàn những mô xơ và không có chức năng thải ra các chất độc ra khỏi cơ thể. Uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ bệnh huyết áp cao, nhồi máu cơ tim và khả năng đột quỵ cao. Rượu cũng làm rối loạn tiêu hóa và tăng các bệnh thuộc hệ tiêu hóa như viêm dạ dày, viêm tụy, loét dạ dày, ung thư miệng, lưỡi, hầu, thực quản, ruột. Người uống rượu thường không ăn uống điều độ và rối loạn tiêu hóa nặng. Uống nhiều rượu lâu dài làm tổn thương não, rối loạn tri thức và ý thức, rối loạn hành vi và cử cỉ, không kiểm soát được bản thân. Vấn đề xã hội tệ nạn uống rượu và mối quan tâm chung của toàn xã hội. Rượu là nguyên nhân làm giảm năng suất lao động, gây ra các tệ nạn xã hội, bao lực, gia đình tan vỡ, con cái hư hỏng.Rượu gây tai nạn giao thông và rất nhiều tệ nạn xã hội khác xuất phát từ rượu Phải coi rượu cũng là một loại thuốc độc hại gây nghiện. Cần giáo dục thanh thiếu niên và nguy hại của rượu. Trước tiên bạn hãy tự tránh cho mình và người thân, bạn bè để bảo vệ và giữ gìn sức khỏe.
Tác hại của rượu và thuốc lá
864
Có ý kiến cho rằng: “Hồ Xuân Hương là một phụ nữ nổi loạn, phá phách vì thơ bà cười cợt những định kiến của xã hội phong kiến, những kẻ mũ cao áo rộng mà đạo đức giả, bà cười từ nho sĩ đến tăng lữ và cả vua chúa”. Nhưng có một Hồ Xuân Hương ban ngày phá phách, cười cợt nhưng ban đêm khóc thầm, ngậm ngùi, chua xót. Bài thơ Tự tình II là tâm sự thống thiết của nữ sĩ về cảnh ngộ, số phận của bản thân mình. Tên gọi bài thơ Tự tình là tự bộc lộ nỗi lòng. Hồ Xuân Hương đã khắc hoạ hiện thực tâm hồn của một người phụ nữ bất hạnh. Mở đầu bài thơ, Hồ Xuân Hương giãi bày tình cảnh cô đơn của mình: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non” Có một nhân vật trong đêm khuya đang thao thức, trằn trọc. Thao thức thì mới nghe được trống cầm canh từ xa vọng lại “văng vẳng”. Tiếng trống giữ nhịp thời gian bình thường, đêm nào chẳng vậy! Nhưng với Hồ Xuân Hương lại thành dồn dập. Câu thơ không còn tả không gian, thời gian khách quan nữa mà chứa đầy cảm xúc. Tâm hồn Hồ Xuân Hương muốn yên tĩnh nhưng chẳng yên tĩnh được; muốn tan chảy khi âm thanh trống canh lại ngăn cản. Câu thơ gợi được tâm trạng buồn bực, khó chịu, u uất, bứt rứt. “trống canh dồn” là cảm nhận được thời gian đang hối thúc, đêm tàn, ngày lên người soi mình vào cái lặng im, trống rỗng đã cô đơn lại thắm nỗi trơ trọi. Câu thơ thừa đề xoáy sâu nỗi cô đơn “trơ cái hồng nhan với nước non”. “Hồng nhan” chỉ người phụ nữ đẹp, vậy mà thiếu vắng người tri kỉ trở nên vô duyên, vô phận, Hồ Xuân Hương nói “cái hồng nhan” là đã tiếc thân mình ghê gớm. Ghép chữ “cái” vào “hồng nhan”, lại đảo ngữ đưa từ “trơ” ra phía trước để nhấn mạnh một thiếu phụ cô độc, bẽ bàng. Hồng nhan đáng lẽ phải được quân tử yêu thương, đằng này lại trơ ra với nước non. Nghệ thuật đối khắc hoạ cái tôi bé nhỏ, đối lập với cả vũ trụ, cả thế giới, cả đời. Một cái tôi mơn mởn xuân sắ, rạo rực xuân tình bị bỏ rơi, bị lãng quên thì những đau khổ, bực bội bị đẩy lên đỉnh điểm. Cách ngắt nhịp 1/3/3 như nghẹn tức. “Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” Nỗi cô đơn của Hồ Xuân Hương đâu phải chỉ một đêm một ngày mà đã biết bao đêm, bao tháng, bao năm. Để nguôi quên tình cảnh xót xa, người cô phụ tìm đến men rượu. Nhưng cứ say rồi lại tỉnh. Đó là vòng luẩn quẩn, chứa đầy nỗi chán chường, vô vọng vì sự cô đơn đã thấm vào tận máu. Muốn quên mà không quên được, đó mới thực sự là nỗi khổ. Một nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao đã triết lý: “ Người ta khổ mà không biết mình khổ thì không khổ”. Còn người cứ nhận thức được nỗi khổ của mình thì dù cố dằn hắt, vùi nén thì càng thắm thiết, nhọc lòng. Ta lại như nhìn thấy người đàn bà uống rượu suông trong đêm vắng, đem chính cái hồng nhan của mình ra làm thức nhắm, để rồi rợn lên, rùng mình, gợi lại về tuổi xuân sắp trôi qua “vầng trăng bóng xế”. Vầng trăng vừa có thật vừa tượng trưng, vầng trăng bóng xế gợi đêm đã gần tàn, Hồ Xuân Hương thức trắng đêm. Vầng trăng gợi ý nghĩa hạnh phúc, Hồ Xuân Hương cảm xúc về hạnh phúc vẫn chưa tròn đầy. Bà đã chờ đợi, mong mỏi; khát khao nhưng vẫn trăng đã xế lại còn khuyết mà chẳng biết khi nào tròn. Có lẽ Hồ Cuân Hương đã nếm trải đầy đủ những vị chua chát, đắng cay cuộc đời mà sự ngọt ngào hạnh phúc vẫn xa vời, Hai câu thơ là tâm trạng buồn chán, ảm đạm kéo dài; lại như một lời giễu cợt, mình sắp già rồi mà hạnh phúc vẫn thiếu hụt, xa vời; tình duyên vẫn cọc cạch, lẻ loi. Hai câu luận của bài thơ ta thực đêm trăng nhưng ngụ tình: “Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn” Nhìn ra không gian đất trời mênh mông, không cùng, Hồ Xuân Hương phát hiện những cảnh vật bé mọn, là rêu, là đá. Từng đám rêu yếu ớt lại cựa quậy, xiên ngang mặt đất để trồi lên, mấy hòn đá vô tri đang nhô lên xé rách cả bầu trời. Dường như đất cũng hẹp mà trời cũng chất khiến các vật vô tri, vô giác muốn phá phách, tung hoành. Nghệ thuật đảo ngữ và dùng động từ mạnh” “xiên”, “đâm” để tạo cảm giác mạnh mẽ, tung hoành. Hình tượng thiên nhiên phản ánh hình ảnh của con người. Với cá tính mạnh mẽ, táo bạo, quyết không cam chịu số phận bi thảm; Hồ Xuân Hương muốn phản kháng để tìm hạnh phúc cho bản thân. Hoàn cảnh đáng buồn không thể làm tê liệt tình yêu cuộc sống của bà. Cái chồi mầm sự sống ấy vẫn cựa quậy muốn thoát khỏi bóng đêm dưới mặt đất để vươn ra không gian đất trời mênh mông. Đến hai câu kết, dù đã có sự nổ lực, dù phản kháng nhưng khát vọng Hồ Xuân Hương như ngọn cỏ bị hòn đá tảng ngàn năm của lễ giáo phong kiến đè bẹp đến héo úa. Vì thế, tâm trạng Hồ Xuân Hương kết lại thành khối ngao ngán, buồn chán: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại / Mảnh tình san sẻ tí con con”. Bà nhận ra mùa xuân của đất trời tuần hoàn “đi” “lại lại” mà tuổi xuân của con người trôi qua không bao giờ quay về. Sự tương phản khắc nghiệt giữa thiên nhiên và cuộc đời con người làm bà hiểu rõ hạnh phcus là cơ hội và buồn thay, cơ hội đó dường như không đến với Hồ Xuân Hương. Với người khác, hạnh phúc là khối tình, là tâm tình, thì với Hồ Xuân Hương tội nghiệp chỉ là mảnh tình san sẻ tí con con. Mảnh tình của Xuân Hương bé như mảnh vỡ. Lại có người hiểu câu cuối là sự gắng gượng đấu tranh, dẫu số phận không mỉm cười, dẫu cơ hội hạnh phúc chưa đến được nhưng Hồ Xuân Hương vẫn khát khao, vẫn đợi chờ một mảnh tình ai đó san sẻ với bà dù là “bé con con”. Hồ Xuân Hương đã sử dụng nhuần nhuyễn các từ thuần Việt để Việt hoá thể thơ Đường luật, xoá nhoà tính ước lệ tượng trưng, mang lại hình ảnh màu sắc, đường nét của cảnh, của tâm trạng. Những từ chỉ tình thái “dồn, trơ, xế, xiên ngang, đâm toạc”; các tính từ chỉ trạng thái “say, tỉnh, khuyết, tròn” đã diễn tả những cảm nhận sâu sắc về sự đời và số phận. “Thân em như hạt mưa rào” “Thân em như giếng giữa đàng” “Thân em như trái bần trôi” Rồi có tiếng thở than, oán trách, uất hận của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến biền biệt phương xa, của người cung nữ bị vua chúa ruồng bỏ. Hay như Đại thi hào Nguyễn Du đã khái quát: “Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. Hồ Xuân Hương có một điểm riêng là viết về chính bi kịch của đời mình. Chế độ phong kiến đề cao nam quyền “trọng nam khinh nữ”; “phu xướng phụ tuỳ” đã cắt xén không thương tiếc những tình cảm riêng tư, tình yêu con người. Có những gọng kiềm đã xiết chặt cuộc đời người phụ nữ. Hồ Xuân Hương mạnh mẽ nêu lên những đòi hỏi chính đáng về quyền sống và quyền hạnh phúc. Thơ Hồ Xuân Hương mang một quan niệm nhân sinh mới mẻ, táo bạo, rất tiến bộ về con người và cuộc sống của con người. Hồ Xuân Hương xem xét con người tồn tại trên mặt đất này với tất cả những nhu cầu trần thế, hiện thực. Đọc thơ Hồ Xuân Hương ta thấy trong đó vừa có tiếng cười, vừa có tiếng khóc. Nhưng đối với bà, cười hay khóc đều thể hiện tình cảm yêu đời thiết tha. Tự tình II như tiếng khóc dài phơi trải nỗi lòng của người phụ nữ khát khao duyên phận, ấm ức duyên tình. Nói như giáo sư Trần Đình Sử “là sự thương thân của một ý thức cá nhân đã thức tỉnh”.
Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài thơ Tự tình II
1,489
Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II) Hướng dẫn Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II) Nếu như người thường mượn rượu giải sầu thì các nhà thơ lại thường mượn cảnh tả tình. Nhưng cũng giống như mượn rượu giải sầu, sầu càng sâu, mượn cảnh tả tình, tình càng đau. Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương – bà “Chúa Thơ Nôm” đã bao lần đắm chìm trong những nỗi buồn, nỗi tuyệt vọng về thân phận bọt bèo, hẩm hiu của người con gái tràn trề hi vọng nhưng thực tế cuộc sống lại không cho bà được thỏa mãn những ước mong. Bài thơ “Tự tình” (bài II) là những vần thơ chất chứa nhiều cảm xúc của Xuân Hương nhất. Dường như bao nhiêu tâm sự của cuộc đời cay đắng, bà đều dồn hết vào từng con chữ, từng âm điệu. Buồn thương cho phận gái nổi trôi, muốn yêu mà chẳng được vẹn tròn. Tình người cứ thế qua đi, mặc cho người con gái giữa những tủi hổ và đớn đau. Xuân Hương không khóc như những cô gái khác khi thất tình nhưng trong lòng đầy rẫy những suy tư: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” Không biết vô tình hay cố ý mà Xuân Hương lại tự đưa mình đến một nơi thanh vắng trong đêm khuya tĩnh lặng. Bóng đêm và những tiếng trống văng vẳng từ xa vọng lại càng làm cho lòng người thêm quạnh hiu. Nhất là đối với một cô gái đang mang trong mình những nỗi ưu tư buồn phiền về tình duyên trắc trở. Làm sao không buồn không đau khi “yêu rất nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu, người ta phụ hoặc thờ ơ chẳng biết” (Xuân Diệu). Xuân Hương tự nhận thấy sự bẽ bàng và phũ phàng cho thân phận “hồng nhan” của mình. Thế nên bà đã dùng từ “trơ” chứ không phải một từ nào khác. “Trơ” là trần trụi, là bi thương, là oán hờn, tủi nhục. Chẳng biết tình yêu mà nhà thơ nhận được bao nhiêu mà giờ đây hương tình lẫn men rượu hòa quyện vào nhau, khiến người con gái lúc tỉnh lúc say. Là say tình hay say rượu? Là tỉnh hay là mê?. Nỗi buồn thấm thía, lại được thêm ánh trăng khuyết mờ ảo làm lòng người ngao ngán: Nếu như các nhà thơ khác lấy ánh trăng để tả về một tình yêu trọn vẹn, nồng nàn và tha thiết, thì ở đây, vầng trăng của Xuân Hương lại chỉ là một vầng trăng khuyết, “khuyết chưa tròn”, cũng giống như mảnh tình dang dở mà Xuân Hương đang ôm ấp. Cho đến bao giờ người con gái ấy mới có được tình yêu trọn vẹn của cuộc đời mình? Trăng đêm nay khuyết, nhưng vẫn có những ngày tròn, còn tình yêu của Xuân Hương, đến lúc nào mới được tròn như trăng? Đau buồn và phẫn uất, nhưng Xuân Hương vẫn gắng gượng vươn lên, dù niềm hi vọng rất nhỏ bé mong manh: “Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn” Đến ngay cả những đám rêu yếu mềm còn có sức sống mãnh liệt “xiên ngang mặt đất” để vươn lên, và những hòn đá tuy nhỏ bé nhưng vẫn đủ nhọn để “đâm toạc chân mây”. Vậy cớ gì mà con người lại không thể vượt lên trên số phận của mình? Biết rằng, không gì là không thể làm được nhưng mặt khác, cái gì cũng có giới hạn của nó. Nhất là với thời gian, thời gian đâu có chờ đợi ai bao giờ. Thế nên, lại một lần nữa, Xuân Hương ôm mối tình dở dang lâm vào bi kịch đau thương: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con” Giá như đám rêu kia và những hòn đá kia có thể thấu hiểu nỗi niềm tương tư của Xuân Hương thì hay biết mấy. Nhưng đá và rêu chỉ là vật vô tri vô giác. Ngàn năm đá vẫn vậy, nhưng chỉ một năm với đời người cũng đã là cả một sự thay đổi lớn. Ngoảnh đi ngoảnh lại, xuân đến xuân đi, nghĩa là đời người đã già thêm một tuổi. Xuân cứ trẻ mãi, nhưng mỗi một cuộc đời chỉ có duy nhất một mùa xuân mà thôi. Xuân đến mang sự tươi tốt cho đất trời cho thiên nhiên, nhưng lại lấy đi của đời người một mùa xuân. Đó là quy luật của tạo hóa, nhưng nếu tình duyên trọn vẹn, có lẽ Xuân Hương cũng chẳng hờn giận mùa xuân đến thế. Nhưng cứ mỗi một xuân đi qua mà Xuân Hương vẫn chưa có được một mối tình trọn vẹn, trong khi đó, cuộc đời cứ trôi dần trôi khiến “mảnh tình san sẻ tí con con”. Tình duyên đã chẳng vẹn tròn, lại bị san sẻ bởi mỗi năm qua đi, Xuân Hương đâu còn nhiều mùa xuân để mà tận hưởng tình yêu nữa. E rằng, hết cả tuổi xuân mà vẫn chưa trọn khối tình. Thế nên, mùa xuân không có gì đáng vui với Xuân Hương, ngược lại đó là dấu hiệu đáng buồn cho một mảnh tình lại bị phôi pha, nhạt nhòa. Không ai hiểu lí do vì sao tình duyên của bà lại dở dang và trắc trở nhưng chắc chắn một điều rằng, Xuân Hương đang rất buồn, rất đau khổ. Càng buồn bao nhiêu, bà càng khát khao hạnh phúc bấy nhiêu. Nhưng càng khát khao lại càng tuyệt vọng bởi không ai có thể chạy đua với thời gian. Xuân Hương cũng vậy, cuộc đời cứ thế trôi đi theo những mùa xuân nối tiếp nhau. Nhà thơ chẳng hào hứng gì với mùa xuân như Xuân Diệu đã từng thốt lên: (Vội vàng – Xuân Diệu) Cả Xuân Diệu và Xuân Hương đều khát khao một tình yêu trọn vẹn nhưng tình yêu của Xuân Hương là tình yêu đôi lứa, là thứ tình cảm đòi hỏi phải có sự đáp trả của đối phương mới trở thành trọn vẹn. Còn Xuân Diệu, tình yêu của ông là tình yêu thiên nhiên, yêu sự sống, ông muốn hưởng thụ tình yêu của mình bất kỳ lúc nào cũng được, ông không bị phụ thuộc vào đối phương như Xuân Hương. Bởi thế, Xuân Hương đã liên tục rơi vào tâm trạng buồn tủi, bẽ bàng khi không đạt được những điều mình muốn. Như vậy, bài thơ đã thể hiện tâm trạng, thái độ của Xuân Hương: vừa đau buồn vừa phẫn uất trước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch. Bài thơ cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và tài năng độc đáo của “Bà Chúa Thơ Nôm” trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ và xây dựng hình tượng.
Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II)
1,180
Tâm sự của quyển sách giáo khoa Toán 6 khi chủ nhân của nó rấtyêu môn Văn nhưng rất ngại học Toán Gợi ý Thế là mình có đủ bộ sách giáo khoa. Tôi sung sướng reo lên khi được chị Hiền Anh con ông bác tôi đưa cho quyển Toán 6 vừa rách bìa vừa quăn mép. Chị đã học lớp 8 rồi nên bộ sách lớp 6 không cần nữa. Ba hôm trước đây, chị đưa cho tôi đủ cả ba bộ sách còn khá đẹp, chỉ thiếu sách Toán 6. Tôi hỏi sách Toán 6 đâu, chị đỏ mặt rồi thú nhận: Không biết chị quẳng nó ở đâu, cái môn toán ngán ngẩm ấy. Chị hứa sẽ tìm cho tôi sau. Tôi cầm sách Toán 6, vuốt cho những trang sách phăng phiu, đóng lại bìa, và dùng giấy báo bọc lại cẩn thận. Bây giờ sách Toán 6 cũng “oách” như những cuốn sách khác. Buổi tối ấy tôi học xong, xếp sách vở đi ngủ. Trước khi ngủ, tôi còn cầm cuốn sách Toán xem thử lại đề của một bài toán nào đó để tìm ra lời giải. Tôi vốn là học sinh khá của lớp và rất mê môn Toán… – Chào cậu, Mình rất mừng được gặp lại cầu. Trước đây, chị Hiền Anh của cậu chỉ yêu môn Văn thôi nên mình bị lạnh nhạt và vẫn bị bỏ rơi. Mình ra đời trong một nhà máy in rất lớn. Mình vẫn thường tự hào về bộ cánh tuyệt đẹp của mình. Quả thật bìa cứng cứ y như mình diện quần áo bò. Mặt mũi mình sáng sủa, ngời lên sự thông minh. Bên trong mình chứa đầy những kiến thức quan trọng của Toán học. Những định lí cứ y như là những câu thần chú. Ai học thuộc, nắm vững thì dễ dàng mở cửa bí mật đi vào lâu đài. Thế nhưng ngay buổi học đầu tiên chị Hiền Anh đã bí rì. Vốn kém Toán nên chị ấy ngồi cắn bút. Mồ hôi vã ra. Mình thương nhưng không có cách nào giúp, một hồi sau chị ra gấp mình lại và giận dỗi ném đánh “phạch” xuống bàn: Mình kêu lên: – Phải kiên trì chứ! Muốn giải được được bài này thì phải ôn lại kiến thức cũ đã. Kiến thức cũ không nắm được làm gì chả thấy khó. Chẳng biết vì quá tức giận hay vì mình nói nhỏ mà chị ấy chẳng nghe thấy. Từ đấy là mối quan hệ cứ xấu đi mãi. Mỗi khi không làm được bài, mỗi khi điểm kém là mình bị chị ấy đay nghiến, nguyền rủa. Những lúc ấy mình thật tủi thân. Chẳng bao giờ mình được chị ấy nâng niu, chiều chuộng. Hễ giở mình ra là mặt chị ấy khó đăm đăm. Khi thì ném xuống bàn, khi thì quăng trong ngăn tủ, khi bị đẩy xuống gầm giường. Mỗi khi cô chủ và các bạn của cô ăn quà là mình lại biến thành cái mũ tạm thời che đầu. Công việc chính của mình là giúp cô chủ học thì cô ấy lại lãng quên, chểnh mảng. Mình biết rằng cô chủ thích học Văn và không thích Toán một tí nào. Nhưng mình quan trọng đâu có kém môn Văn. Không thích học thì cũng phải yêu quý mình một tí chứ, phải học đều các môn mới hy vọng giỏi được. Kết quả sự ngược đãi mình là cuối năm cô ta phải thi lại môn Toán và suýt tí nữa phải ở lại lớp 6. Tuy rằng cô chủ không yêu thương gì mình, nhưng mình cũng không oán hận hay căm ghét cô ấy. Cô ấy chỉ đáng trách vì đã không học Toán ở lớp dưới cho cẩn thận, lại không có quyết tâm cao, nên mới ra nông nỗi phải thi lại. May mà sau lần thi ấy, cô chủ đã hiểu ra thì phải, cho nên lớp 7 cô ta học Toán khá hơn. – Vì mình biết cậu là người tốt, người yêu thích môn Toán và ngay từ đầu, cậu đã tỏ ra yêu quý mình. Mình sẽ hết sức giúp đỡ cậu học môn Toán, nhưng cũng muốn nhắc cậu là trong khi yêu quý mình thì đừng quên các môn khác. Hình như cậu chỉ say mê Toán và đối xử với các môn khác chưa thật nhiệt tình, đúng không? Tôi gật đầu thừa nhận. Quả tình tôi không thích môn Sử, môn Văn. Nói chung là tôi “cưng” các môn tự nhiên hơn. Tôi ôm sách Toán vào lòng mà không biết nói gì thêm. Tôi thầm hứa sẽ làm theo lời khuyên của sách Toán 6 để không một quyển sách nào phải tâm sự những lời buồn như thế nữa.
Tâm sự của quyển sách giáo khoa Toán 6 khi chủ nhân của nó rấtyêu môn Văn nhưng rất ngại học Toán
806
Tâm sự một con chó bị lạc chủ Tiếng người hú, tiếng tù và thúc giục, tiếng sủa ăng ắng của lũ bạn tôi làm náo động cả góc rừng. Không lẫn vào đầu được là tiếng sủa “gầu gân” dư âm và vang dội của tôi, một con chó săn lão luyện. Một tiếng súng chút chùa đã kết thúc cuộc đời một chủ dê núi. Không, chú tạ chỉ khuỵu xuống một lát rồi ngồi dậy, lấy hết sức bình sinh chạy bán sống bán chết. Như bị xúc phạm, tôi lao lên như một mũi tên, xông thẳng đến phía con mồi. Ngang qua suối cạn, con mồi vấp ngã gục xuống, tôi lao đến hồi tiếp hai cú vào gáy. Dê núi tắt thở. Mọi người lục tục chạy đến, vui mừng khiêng chiến lợi phẩm về. Ông chủ vỗ nhẹ vào hai má của tôi, khen rối rít: Tốt lắm, Giỏi lắm! Cuộc đi săn tiếp tục. Tôi lại chạy trước, mũi khịt khịt đánh hơi liên tục, hi vọng lập thêm chiến công. Đây rồi! Có mùi gì hàng hắc cùng tiếng Sột Soẹt khe khẽ Một bóng đen vụt qua. Tôi mê mải lao theo… Bỗng một quả rừng rơi xuống trúng lưng làm tôi giật mình. Con mồi chạy đâu mất. Mà tiếng người cũng chỉ thoảng trong gió. Tôi dừng lại nhìn quanh.. Sao mà im ắng quá vậy? Trời bắt đầu tối sẫm lại. Tôi vội vàng chạy theo lối cũ trở về. Nhưng dường như càng chạy càng không thấy lối ra. Mỗi gốc cây ngọn Cỏ quanh tôi xa lạ như chưa gặp bao giờ. Cây cối rậm rịt, bóng tối như bưng lấy mất, như bịt chặt tai. Tôi mệt mỏi rã rời tìm một hốc cây có nhiều lá khô năm cho đỡ mệt. Chỉ mong sao ngủ quên đi cho đến khi trời sáng. Nhưng bóng tối, cảnh lạ làm tôi không sao chợp mắt được. Cơn đói cồn cào làm tôi nhớ bát cơm cùng tí xương và chút nước canh mà ông chủ thường đem đến cho tôi sau bữa cơm chiều của cả nhà. Họ nhà chó chúng tôi vốn dũng cảm nhưng xung quanh yên ắng quá khiến tôi thèm hơi ẩm từ bàn tay người. Ông chủ tôi quý tôi lắm. Ông rất ít nói. Khi nào vui vẻ, hài lòng, ông thường vuốt vuốt bộ lông mượt của tôi, vỗ vỗ vào má tôi và khen: Giỏi lăm! Tốt lắm. Còn tôi ngước nhìn ông, mắt sáng long lanh như thầm cảm ơn và đuôi thì ngoáy tít mừng rỡ. Chạy suốt ngày, giờ đây tôi thấy mệt. Nhớ có lần mải chạy theo mồi, bàn chân trước của tôi vấp vào đá tóe máu. Ông chủ đã kiếm và bịt vào vết thương rồi băng bó cho tôi. Suốt những ngày tôi đau chân, ông chủ xích tôi nằm yên bên bậc Cầu thang, không cho chạy nhảy. Sáng sáng, ông tháo xích dắt tôi đi một Vòng quanh xóm. Nhờ thế mà chân tôi mau lành.
Tâm sự một con chó bị lạc chủ
512
Tâm trạng của em sau khi để xảy ra một chuyện có lỗi với bạn Hướng dẫn Hướng dẫn làm bài a.Mở đầu: -Chuyện đã xảy ra từ lâu nhưng mỗi lần nghĩ lại mình thấy rất xấu hổ. -Muốn kể lại cho các bạn nghe để lòng nhẹ nhõm. b.Phần nội dung: -Giờ kiểm tra Sinh mình không làm được bài, nhìn sang thấy bạn đang chăm chú viết liền hỏi. Bạn không trả lời. -Mình loay hoay định giơ vở thì cô giáo nhắc nên không làm được. -Cuối giờ, thu bài vì ngồi ở đầu bàn nên khi thu bài của bạn lại giả vờ để quên không nộp cho cô. -Giờ ra chơi mình tuồn bài đó vào ngăn bàn của bạn. -Vào tiết học mới, bạn thấy bài của mình chưa nộp để dưới ngăn bàn thì hoảng sợ tưởng là quên. -Bạn đi tìm gặp cô xin nộp, có không tin là bạn quên mà cho là bạn có tình nộp sau để bổ sung cho đầy đủ. -Cô, phê bình bạn. -Mãi về sau, bạn vẫn không biết vì sao bài kiểm tra của mình lại ở ngăn bàn. Bạn vẫn rất tốt, không hề nghi ngờ gì mình cả. c.Kết luận -Bạn đã chuyển trường theo gia đình. -Khi chia tay mình không dám nói. Mình nghĩ nhiều về điều đó và cảm thấy xấu hổ, ân hận. Tham khảo bài viết hay của bạn Lê Mỹ Ái 9ATrường THCS Phan Châu Trinh- Quảng Nam Năm học lớp 6, lớp 7, tôi thi học sinh giỏi môn Toán toàn huyện, đều giành đuợc giải khuyến khích. Nhiều bạn chế giễu tôi là đạt được “giải khúc khích!". Lên lớp 8, bố mẹ tôi chuyển nhà lên thị xã. Hai chị em tôi đều chuyển đến trường mới: trường Trung học cơ sở Phạm Ngũ Lão. So với các bạn học trong lớp thì tôi chỉ vào loại học khá môn toán, còn môn Ngữ văn, môn Tiếng Anh, tôi gồng mình lên mà chỉ được điểm trung bình. Tôi sinh ra tự ti, thậm chí có lúc tỏ ra hèn nhát. Giờ học Tiếng Việt, cô giáo lên giảng bài rất hay, nhưng tôi không dám giơ tay phát biểu. Sinh hoạt tổ học tập, sinh hoạt lớp, tôi ngồi im như thóc trong bồ. Các bài kiểm tra toán, tôi chỉ được 7, 8 điểm; cô Thanh vẫn phê là “trình bày rối” chưa khoa học. Thậm chí, có lần tôi còn làm trò cười cho cả lớp. Tôi gọi cây đàn ghi ta (Lục huyền cầm) là cây đàn “cai – nha" khi làm bài văn thuyết minh. Giờ ra chơi, tôi ít ra sân đá cầu, nhảy dây cùng các bạn, v.v… Tôi trở nên vụng về khi bước vào phòng chức năng học vẽ, học đàn, học hát. Buổi học hôm ấy, khi các bạn kéo ra sân chơi, tôi ở lại một mình trong phòng chức năng. Không biết tôi hí hoáy thế nào đó mà làm đứt dây đàn vĩ cầm. Sự cố xảy ra, tôi vô cùng lo sợ. Tôi dặn mình: “Chẳng ai biết mình gây ra. Cứ im lặng và tỉnh bơ…". Buổi tập hát tiếp tục. Cái Diệu kêu lên: ''Đàn đứt dây rồi!” Cô Liên và cô Chi hỏi: “ Ai làm đứt dây đàn?" Nhưng tất cả đều nhìn nhau im lặng! Cô Liên và cô Chi đều tỏ ý không vui. Sau sự cố ấy, thầy chủ nhiệm lớp 8A, hạ mức hạnh kiểm của cái Diệu (nhóm trưởng) cái Hoàn (nhóm phó) trong đội ca vũ xuống một bậc, từ loại tốt xuống loại khá. Năm học sắp kết thúc rồi. Diệu và Hoàn đều học giỏi, đàn ngọt, hát hay, được các thầy cô giáo và bạn học quý mến. Chuyện ấy làm tôi day dứt trong lòng mãi. Nhiều đêm tôi trằn trọc và tự trách mình sao hèn nhát thế? Tại sao không dũng cảm tự nhận lỗi để Diệu và Hoàn mắc oan? Nhưng có lúc tôi lại nghĩ: "Mọi chuyện rồi sẽ trôi qua. Nhắc lại làm chi cho mệt…" Lòng tự trọng đã nâng đỡ tâm hồn tôi. Tôi viết một bức thư dài gửi thầy chủ nhiệm nói rõ sự việc, xin nhận kỉ luật: đề nghị thầy không hạ mức hạnh kiểm của hai bạn Diệu, Hoàn… Thầy Cảnh gặp riêng tôi. Thầy nói về lòng tự trọng, sự hèn nhát và lòng dũng cảm. Thầy an ủi, động viên tôi. Lúc đầu, tôi cứ ngỡ các bạn sẽ khinh ghét tôi, xa lánh tôi. Nhưng thật không ngờ, các bạn lại yêu mến, quý trọng tôi hơn trước. Tôi thấy tâm hồn mình thanh thản. Cuối năm học lớp 8, thi kiểm tra, tôi được 5 điểm 10, xếp loại giỏi văn hoá, loại tốt hạnh kiểm. Nhớ lại kỉ niệm thời non dại ấy, bài học ngụ ngôn về chuyện “Đóng đinh lên cột và nhổ đinh” mỗi lần mắc một khuyết điểm và mỗi lần sửa chữa được một lỗi lầm… làm tôi cứ nao nao lòng.
Tâm trạng của em sau khi để xảy ra một chuyện có lỗi với bạn
835
Tâm trạng của em sau khi để xảy ra một chuyện có lỗi đối với bạn Hướng dẫn Đề: Tâm trạng của em sau khi để xảy ra một chuyện có lỗi đối với bạn. Dàn ý chung: MB: Giới thiệu về câu chuyện sắp kể (diễn ra ở đâu? bao giờ? với ai?), nói vài dòng ngắn gọn về chủ đề (nằm ở trong đề bài) TB: Đơn giản là kể chuyện: +Lỗi như thế nào? có nhiều dạng như nói dối bạn bè, không giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn(ko phải trong lúc làm bài kiểm tra nhé), cái nhau và gây tổn thương cho bạn,… +Tâm trạng khi phạm lỗi: nên chuyển biến tâm trạng VD ở lỗi cãi nhau và gây tổn thương: tức giận -> khó chịu -> muốn phá vỡ tình bạn vĩnh viễn,… +Tác nhân khiến bạn suy nghĩ: những yếu tố bất chợt đến khiến cho mình cảm thấy hối hận +Tâm trạng hối hận như thế nào (miêu tả): ray rứt,… +Quyết định của bạn -> thành công, thất bại,…(kết quả)? +Kết chuyện KB: Bài học rút ra cho chính bản thân Bài làm 1 Tôi vẫn còn nhớ, ngày đầu tiên đến trường, tôi đã được thầy cô dạy rằng: “Nhà trường, lớp học là mái nhà thứ hai, và tất cả những thành viên trong một lớp đều là người trong một gia đình”. Câu nói đó đã ghi sâu vào tiềm thức của tôi, cho đến tận bây giờ, khi tôi đang học năm cuối cấp 2. Năm học này của tôi có điều gì đó mới mẻ, khi có một cậu học sinh mới chuyển đến. Cậu tạo cho tôi một cảm giác thật khó hiểu, bởi lẽ trong lớp học, cậu là một người ít nói, gương mặt lúc nào cũng mang vẻ lạnh lùng thoáng pha lẫn một ít buồn bã, cậu có rất ít bạn bè, và tôi lại may mắn là một trong số ít đó, cậu ngồi cùng một bàn với tôi. Tôi luôn cố gắng tạo nên một mối quan hệ như những người trong gia đình với cậu, nhưng có vẻ mọi cố gắng của tôi đều bị cậu ấy hòa vào những cơn gió và thổi bay về một nơi nào đó. Điều đó khiến tôi cảm thấy chán cậu ta, và dần dần, những thiện cảm về cậu cũng biến mất trong tôi, mà thay vào đó là những suy nghĩ không mấy hay ho về cậu.Và rồi một ngày nọ, thầy đã trao cho chúng tôi một nhiệm vụ, đó là làm một bài thuyết trình về môn Hóa, một môn mà tôi dở nhất, còn cậu ta thì đứng trong top đầu của trường. Tôi đành phải đến nhà cậu ta để cùng làm bài thuyết trình, và việc này đã vô tình giúp tôi và cậu ta trở thành những người bạn thân thiết, hoặc hơn cả thế.Tôi đến nhà cậu, trong một buổi chiều thu, khi những chiếc lá mang sắc vàng đang dần dần rơi xuống và che phủ lấy con đường đi. Theo sự hướng dẫn của cậu, tôi đã tìm ra địa điểm mà mình cần đến, nó nằm trên một con phố nhỏ hẹp, vắng vẻ và thật yên tĩnh. Nhà của cậu ta khá to, mang nét cổ kính. Xung quanh nhà cậu là những hàng cây kiểng, với đủ loại, được tạo dáng rất đẹp, tôi chắc là nó phải do một bàn tay tài hoa làm nên. Tôi bước đến bậc thềm và gõ nhẹ vài tiếng lên cánh cửa bằng gỗ, cậu bước ra, vẫn với một vẻ mặt vẫn lạnh lùng như mọi khi. Cậu lịch sự mời tôi bước vào nhà. Tôi lặng lẽ bước theo. Tôi nhận ra căn nhà hoàn toàn không có người thứ ba, nhưng điều đó không làm tôi bận tâm bằng cách bày trí trong nhà cậu. Nó được bày trí hoàn toàn theo phong cách của quý tộc phương Tây, tôi thầm nghĩ có lẽ cha mẹ cậu ta phải là những người rất tinh tế và lãng mạn. Vào phòng cậu, tôi lại càng bất ngờ hơn khi căn phòng rất bình thường, không hề có gì khác biệt mấy so với những cậu bạn mà tôi từng biết đến. Và chúng tôi bắt đầu làm bài, với sự hướng dẫn của cậu, tôi nhận ra cậu thật sự thông minh, ít ra là hơn tôi rất nhiều trong môn học này. Khi chúng tôi hoàn thành được khoảng 1/3 bài viết, thì có tiếng chuông điện thoại reo, cậu tất tả chạy xuống nhà, và nhanh chóng quay lại. Cậu ta bảo rằng, cậu ta có chuyện gấp cần phải ra ngoài, nếu muốn, tôi có thể ở lại, khi ra về hãy nhớ khóa cửa lại giùm cậu, và tôi đã ở lại, một mình trong phòng cậu.Trong phòng cậu, không có quá nhiều thứ khiến tôi để tâm đến, chỉ trừ một thứ, đó là một cuốn sổ nhỏ, màu đen, được xếp cẩn thận ở trên bàn, tôi đoán nó là một cuốn nhật ký. Tôi tự nhủ là không xem, vì điều đó là xâm phạm đến sự riêng tư của cậu ta. Nhưng sự đời mấy ai có thể cưỡng lại trí tò mò của chính bản thân, tôi đã lật ra những trang giấy đầu tiên của cuốn nhật ký, và những gì được ghi trong đó đã khiến tôi hết sức kinh ngạc về người bạn học lạnh lùng, ít nói và giỏi giang của mình.Những trang nhật ký đầu tiên cùng với những hàng chữ nhỏ nhắn, ngay hàng hiện lên trước mắt tôi. Ngày…tháng…năm…Hôm nay, lần đầu tiên mình viết nhật ký, và cũng có lẽ, cuốn nhật ký này sẽ là người bạn tâm tình với mình trong quãng thời gian dài còn lại, bởi vì người duy nhất quan tâm đến mình đã không còn nữa, đó là mẹ mình, mẹ đã ra đi mãi mãi trong một tai nạn giao thông mà mẹ không phải là người có lỗi. Mất đi mẹ, mình cảm thấy như mất đi một phần cuộc sống, rồi đây, sẽ còn ai đánh thức mình dậy vào những buổi sớm mai, sẽ còn ai làm những bữa ăn ngon dành riêng cho mình, và còn ai cho mình ôm vào lòng mỗi khi cảm thấy yếu đuối…Mất mẹ, mình như mất tất cả, bởi vì người cha chưa từng một lần bế đứa con, cũng như chưa từng một lần ôm hôn đứa con này, ông chỉ biết làm một việc duy nhất, đó là gửi tiền về cho mẹ con mình. Có lẽ đối với ông như thế là đã hoàn thành trách nhiệm một người cha.…Đọc đến đây, bất giác đôi hàng mi của tôi lại hơi ươn ướt, bởi tôi là một đứa con gái đa cảm nên dễ bị rung động vì những chuyện như thế này. Tôi lại tiếp tục lật sang những trang nhật ký khác, những dòng chữ tâm sự chân thật của cậu ta ghi sâu vào tâm trí tôi.”Hôm nay buồn thật, những việc xảy ra trong cuộc sống tại sao lại cứ ngoài ý muốn của mình? Giờ đây, mình chỉ ước ao có một người có thể ngồi bên cạnh và nghe mình tâm sự, có một bàn tay để mình nắm lấy để có mình thêm chỗ dựa…Nhưng có lẽ tất cả sẽ không bao giờ trở thành hiện thực”.Tôi vẫn tiếp tục, trong sự tò mò và thương hại người bạn của mình.”Thật đáng sợ, mình dần nhận ra mình không còn là chính mình, không biết từ bao giờ, mình đã trở nên xa lánh với bạn bè, trở nên là một kẻ ít nói, vô cảm với mọi thứ xung quanh, nụ cười và nước mắt đã bắt đầu rời xa khỏi gương mặt mình… Có những lúc, mình chỉ muốn được khóc thật to nhưng lại không thể, liệu trên đời có gì đau khổ hơn thế không?”Và đến những trang cuối cùng của cuốn nhật ký, tôi như òa khóc, vì đã hiểu nhầm người bạn của mình.”Ngôi trường mới, lớp học mới, bạn bè mới,… tất cả dường như đều muốn trở nên thân thiện với mình, nhưng chẳng hiểu sao mình không thể cười đùa và hòa đồng với tất cả, có lẽ bởi vì từ lâu mình đã quên cười như thế nào rồi. Đặc biệt là đối với cô bạn cùng bàn, đôi khi, mình cảm thấy thật không phải khi đã vô hình từ chối mọi cô gắng của cô ta, nhưng chẳng biết làm thế nào nữa đây…”Những dòng nhật ký này, như những lời tâm tình của một người bạn thân, nó thật tha thiết, chân thành và đầy những suy nghĩ của cậu ta, hình ảnh về cậu ta trong tâm trí tôi dần thay đổi theo từng trang nhật ký. Đọc xong, tôi lặng lẽ khóa cửa lại, và bước về nhà trong một tâm trạng khó tả. Kể từ lúc đó, tôi đã nỗ lực hơn rất nhiều để có thể trở thành người chia sẻ với cậu ta mọi điều, và dường như cậu ta cũng nhận ra điều đó, thế là một tình bạn ra đời, và có thể còn hơn thế nữa. Giờ thì còn ai bảo đọc trộm nhật ký người khác là xấu nào, bất cứ việc gì cũng có hai mặt của nó mà thôi. Mấy năm trước, khi tôi vừa rời khỏi tiệm game cùng với lũ thằng Giang, thằng Trí, bọn tôi bước ra đường thì gặp thằng Quy-đứa bạn cùng trường với chúng tôi. Nó đang ngồi đếm tiền với một vẻ say mê, đôi mắt nó ánh lên niềm vui khó tả. Tôi chợt reo lên: “A! Chắc thằng này vừa chôm tiền của bố mẹ đây”. Rồi bọn tôi khích nhau xem đứa nào lấy được tiền của nó. Tất nhiên là tôi rồi, vì tôi “mạnh mẽ, dũng cảm” nhất mà. Thế là tôi chạy lại giật xấp tiền của nó rồi cả bọn cùng nhau chạy trốn và chia nhau. Rồi cho đến một hôm, tôi gặp lại nó, từ đằng xa thôi. Tôi không dám tin vào mắt mình, thằng Quy đang đứng trước cửa hàng đồ chơi, nó chỉ dám đứng nhìn qua cửa kính, ngập ngừng, trên lưng còn cõng thằng anh bị bệnh tật ngớ ngẫn, lưng nó oằn xuống, dường như không chịu nổi sức nặng quá lớn. Tôi bước nhẹ nhàng lại gần nấp vào bức tường bên cạnh và lắng nghe: “Tiếc quá anh nhỉ? Giá như còn số tiền đó, em sẽ mua cho anh chiếc xe tăng đằng kia, nhưng không sao, chỉ một tuần rữa chén thuê, em sẽ có tiền mua cho anh thôi mà”. Thằng anh cười hì hì, một cách hồn nhiên rồi nhắc lại “xe tăng, xe tăng”. Còn tôi đứng nép vào góc tường, tự dưng tôi thấy mình có tội. Tôi bỏ chạy về nhà mà rơm rớm nước mắt. Lúc này, sao tôi cảm thấy xấu hổ quá! Chao ôi! Giá mà tôi đừng lấy tiền của nó thì bây giờ nó có thể… hic… tôi muốn gặp mặt thằng Quy quá, tôi muốn nhìn thấy nó chăm sóc người anh bệnh tật, chia sẽ với nó những nặng nề, thiếu thốn trong cuộc sống. Và tôi sẽ cố gắng dành dụm một số tiền trả cho nó để bù đắp phần nào lỗi lầm mà tôi đã gây ra. Nguyễn Hữu Đức-Lớp 9A2 Trường THCSTT Càng Long-Trà Vinh Bài làm 3: Trời đầu đông.Không khí se se lạnh,đủ làm cho tui vừa học vừa học vừa chùm trong cái áo rét.Những cơn gió luồn qua khe cửa sổ rùi luồn vào cổ,làm tui ho sù sụ cả.Tui đã học xong rùi nhưng vẫn cứ ngồi ở bàn, không làm gì cả.Tui đang nghe đài, hôm nay có bài hát mà tôi thích.Nưng kì lạ chưa,tôi chẳng còn chút tâm trí nào để ý tới những nốt nhạc ấy nữa.Có lẽ cái cảm giác tội lỗi từ sáng nay vẫn đang gặm nhấm tim gan tui. Sáng nay, tôi vừa làm một điều có lỗi với người bạn thân nhất của tôi.Tôi đăm đăm nhìn ra cửa sổ,cái khung cảnh lúc sáng như hiện ra trước mắt: – Ê! Bài này làm thế nào đấy?Khó quá trời! Cho tớ chép đi! – Dễ thui mà! Tự động não chút đi! – Không cho chép thì thôi kiết thế! Nghỉ chơi với nhau luôn đi đồ kiêu ngạo! Tôi tuôn liền một tràng dài nhũng từ khó nghe về phía bạn ấy mà chẳng mảy may nghĩ ngợi gì.Thế nhưng, nhanh thôi,cái cảm giác kia đã xuất hiện cắn xé trái tim tui. Len lén nhìn sang, một cảm giác buồn vô tận xuất hiện lên trên nét mặt cậu ấy. Trời ơi! Chính tôi là người gây ra việc ấy ư? Không,chắc không phải đâu …Thế nhưng,càng ngĩ, tôi càng cảm thấy mình tội lỗi. Cái cảm giác ấy cứ lẽo đẽo theo tôi từ trường cho đến khi về đén nhà. Đi ngủ thui..Tôi nghĩ thế có thể quên đi cái cảm giác kia. Nhưng không, càng cố ngủ thì tôi càng thấy xấu hổ hơn. Tôi suy nghĩ, suy nghĩ…À! cuối cùng thì tôi cũng nghĩ ra việc mình phải làm rùi. Đó chính là xin lỗi. Nhưng xin lỗi thế nào nhỉ? Làm thế nào để cậu ấy chấp nhận nhỉ? Làm thế nào đây? ….Thật nhiều, thật nhiều những câu hỏi hiện lên trong đầu tui làm tôi thiếp đi lúc nào không hay- giấc ngủ trong sự bình thản và hạnh phúc.Cuối cùng tì tôi cũng tự mình tìm được một lời giải cho một bài toán khó, bài toán về tình bạn Bài làm 4: Ngày hôm ấy, là sinh nhật bạn. Bữa tiệc ấy có lẽ sẽ rất vui nếu như không có chuyện đó xảy ra. Trước khi buổi tiệc bắt đầu, tôi là người đến sớm nhất để giúp bạn trang hoàng tiệc. Sau khi trang trí xong, tôi lên phòng Trân nghỉ xả hơi và bật nhạc nghe. Khi nằm lên giường, cảm thấy có gì cồm cộm dưới gối, tôi liền lấy ra xem thì ra đó là nhật kí của Tran tranh thủ lúc Trân còn đang ở dưới lầu tôi đọc lướt qua cuốn sổ. Tôi giở ra từng trang thích thú đọc những dòng chữ hiện ra trước mắt. Quá chăm chú đọc nên tôi không biết rằng Trân đã đứng đó từ lúc nào, gói bánh trên tay bạn rơi xuống. Nụ cười trên môi vụt tắt,đôi môi bạn mím chặt lại, mắt mở to. Khuôn mặt hồng hào của bạn giờ đây trắng bệch.Trân hét thất thanh: -Cậu thật quá đáng! Tiếng hét của Trân làm tôi chợt tỉnh, tôi vô cùng sợ hãi và bất ngờ, tay tổiun lên, quyển nhật kí rơi xuống đất. Mọi thứ diễn ra quá nhanh làm tôi không thể tưởng tượng được. Đôi mắt Trân nhìn tôi trở nên đầy lạnh lẽo và xa cách.Tôi im lặng không noi lời nào khi thấy trên khuôn mặt bạn là hai hàng nước mắt. -Thôi! Cậu xuống lầu nhập tiệc đi! Vừa nói Trân vừa nhặt cuốn nhật kí lên và chạy vội vào phòng, tôi sững sờ chưa kịp nói lời xin lỗi. Bữa tiệc hôm ấy đã diễn ra nhưng không ai thấy sự xa cách của tôi và Trân. Về nhà tôi suy nghĩ về hành động của mình, tôi tự trách mình ” tại sao mày lại to mò đến vậy? Mày có biết là đã đánh mất đi niêm tin của người bạn thân iu không”Trong tôi luôn muốn nói lời xin lỗi nhưng sao khó quá! Cũng chính sự ngang bướng của tôi đã làm mất đi tình bạn của mình Tôi giận mình quá lòng ray rứt vì đã xúc phạm bạn. Tôi thật sự không muốn mất bạn. Trân ơi minh ân hận quá, hãy tha lỗi cho mih. Ngày mai deén lớp tôi sẽ mua cho bạn 1 gói o mai và nói lời xin lỗi với bạn, Tôi mong bạn tha thú cho mình và thạt sự tôi dã là được tôi đã laýy hết can đảm để noi lời xin lỗi với Trân. Ngoài sự mong đợi Trân mỉm cười và chấp nhận tha thứ cho tôi. Bạn nói: -Trong cuộc sống không ai không mắc lỗi lầm nhưng người biết sữa chũa và nói lời xin lỗi là người tôt và cậu đã làm được đấy thôi! Vì thé mình sẽ tha thứ cho cậu. Tính hiếu kì đôi lúc làm con người khám phá ra những điều mới lạ nhưng cũng co lúc làm cho con người trở nên xấu xa hơn khi nó biến thành sự tò mò tọc mạch. Mỗi con người đều có 1 góc riêng tư không thể bày tỏ cùng ai và điều đó cần được tôn trọng. Vì vậy lén xem trộm nhật kí của bạn là một hành vi không đúng. Tôi đã xúc phạm bạn và nếu như không được tha thứ thì có lẽ tôi sẽ dánh mất tình bạn thiêng liêng nay và hạ thấp con người của mình. Xin mọi người hãy tôn trọng những riêng tư của nhau, đừng bao giờ to mò như tôi Bài làm 5: Giờ đây, sau nhiều năm trôi qua, tôi mới có đủ dũng khí để nhớ về trường Marie Curie, nhớ về những năm tháng êm đềm của tuổi học trò qua kỷ niệm về một lần mắc lỗi – lần đầu tiên và cũng là duy nhất nhưng đủ để khiến tôi phải hổ thẹn đến tận bây giờ.[Chu Dương Minh]. Ngày đó, tôi chỉ là một con nhóc lớp 8 ngốc nghếch, dại dột. Hằng ngày tôi đạp xe tới trường và nhận từ tay chú Thành bảo vệ một tấm vé xe. Tôi rất sợ bị mất vé vì nếu làm mất vé sẽ bị ghi tên vào sổ “đen”. Bây giờ nghĩ lại tôi không khỏi bật cười vì sự ngớ ngẩn của mình. Cuốn sổ bìa da màu đen đó chẳng qua chỉ là sổ ghi công tác của chú bảo vệ nhưng tôi cứ ngỡ đó là sổ đen ghi tên học sinh cá biệt và nếu bị ghi tên nhiều lần thì sẽ bị phạt nặng, thậm chí bị đuổi khỏi trường. Một buổi chiều, giờ tan học, tôi lục khắp túi áo, túi quần, đổ tung mọi thứ trong cặp sách ra nhưng vẫn không tìm thấy vé xe của ngày hôm ấy. Tôi hoảng hốt thực sự vì đây là lần thứ hai tôi làm mất vé xe mà lại cùng trong một tuần nữa chứ. Tôi lục lại cặp sách một lần nữa nhưng thay vì tìm thấy tấm vé xe hôm đó, tôi lại tìm thấy tấm vé mà tôi ngỡ đã đánh mất buổi trước. Một ý nghĩ vụt lóe lên trong đầu… tôi có thể dùng tấm vé này để thay thế cho tấm vé hôm nay, chỉ cần sửa ngày tháng là xong. – Cháu này đứng lại – tiếng chú Thành làm tôi giật nảy mình, mặt cắt không còn hạt máu. – Cháu đem xe lại kia, lát nữa nói chuyện. Dựng xe trong một góc lán, tôi thấy từng phút trôi qua dài như hàng thế kỷ với bao nỗi sợ hãi, hối hận mỗi lúc một tăng. Người cuối cùng lấy xe ra là tôi. Tôi lếch thếch dắt chiếc xe đạp lại phía chú, không dám ngẩng đầu như mọi ngày nữa. Cô Thơ – Phó trưởng ban quản lý học sinh đi lại hỏi: – Có chuyện gì thế? – Học sinh này dùng vé giả! – Chú Thành đáp, giọng không giấu nổi bực mình rồi đưa tấm vé cho cô Thơ xem. Tôi muốn khóc nhưng không phải vì sợ nữa mà vì thẹn. Cô Thơ nhìn tôi, tôi không dám ngẩng mặt nhìn cô nhưng tôi biết thế vì tôi cảm thấy ánh mắt cô đốt trên da thịt nóng ran. – Đây là em Phương Thu, lớp 8I của cô Liên – Cô bảo chú Thành, giọng buồn buồn. – Tôi bảo lãnh cho em ấy. Rồi cô bảo tôi: – Em về làm bản tường trình gửi cô chủ nhiệm và đừng bao giờ tái phạm nữa. Dối trá là xấu lắm. – Cô nói nhẹ nhàng nhưng từng từ, từng chữ như cứa sâu vào lòng tôi. Tôi lí nhí: – Vâng ạ. Chiều hôm đó, tôi không đi chơi như mọi khi mà chui vào phòng trùm chăn kín mít. Tôi nhắm mắt nhưng không thể ngủ được, nỗi sợ hãi lấn át tâm hồn tôi. Chỉ nay mai thôi, chuyện này sẽ được nêu ra trước toàn trường, ai ai cũng sẽ biết tôi là một kẻ dối trá. Bố mẹ tôi sẽ ra sao khi biết mình sinh ra một đứa con dối trá? Và còn lớp tôi nữa, tôi có làm cô chủ nhiệm và bạn bè phải xấu hổ vì “dây dưa” với một đứa hư hỏng như tôi? “Phải cứu vãn cái gì còn có thể cứu vãn! Mình là người bỏ đi rồi nhưng không được làm ảnh hưởng thêm tới ai nữa!”. Tôi vùng dậy, bắt đầu viết ba bản kiểm điểm, một gửi cô Thơ, một gửi cô chủ nhiệm và một gửi chú Thành, trong đó tôi tường trình lại toàn bộ sự việc. Tôi nhận lỗi nhưng không xin tha thứ vì trong thâm tâm tôi hiểu tội tôi to lắm… Tôi chỉ xin đừng nêu việc này trước toàn trường để cô giáo chủ nhiệm và bạn bè không phải xấu hổ vì tôi, để danh dự của một tập thể lớp đứng đầu khối không bị bôi bẩn. Còn về phần mình, tôi sẵn sàng nhận án kỷ luật cao nhất: buộc thôi học. Những ngày tiếp theo sau đó tôi sống trong sự thấp thỏm chờ đợi cái án kỷ luật nhưng mãi không thấy. Dường như mọi người đã quên hẳn lỗi lầm của tôi. Một ngày cuối năm, khi chia tay với chúng tôi, cô Thơ nói: – Tập thể lớp của các em tuy rất hiếu động, nghịch ngợm nhưng cô nhận thấy sự đoàn kết yêu thương nhau và sự hết lòng với tập thể lớp của mỗi cá nhân. Cô ngừng lời ở đó và mỉm cười với tôi. Nụ cười kín đáo chứa đựng thông điệp: các thầy cô và chú Thành đã tha thứ cho tôi rồi. Đã ba năm trôi qua, mỗi khi nghĩ lại tôi vẫn tự hỏi nếu ngày đó không có sự bao dung, rộng lượng của cô Thơ, cô chủ nhiệm và cả chú Thành nữa thì tôi sẽ ra sao? Có thể tôi chỉ phải chịu một án kỷ luật nhẹ, có thể là nêu tên trước toàn trường… chỉ thế thôi cũng quá đủ cho một dấu chấm hết đối với một học sinh ngoan ngoãn. Một ai đó đã nói: “Đình chỉ học, buộc thôi học… án kỷ luật nặng nhẹ khác nhau nhưng đều làm một học sinh tuột dốc nhanh hơn mà thôi”. Sự bao dung của các cô và chú đã ngăn không cho tôi tự coi mình là người bỏ đi để mà tự do tuột dốc, để giờ đây tôi luôn cố gắng phấn đấu trở thành con người trung thực và để câu chuyện này mãi là lần mắc lỗi đầu tiên và duy nhất của tôi. Bài làm 6: Hôm ấy, đất dát vàng ánh nắng, trời mát dịu, gió khẽ hôn lên má những người đi đường. Nhưng nó sẽ là ngày tuyệt đẹp, nếu tôi không có bài kiểm tra khoa học tệ hại đến như vậy, hậu quả của việc không chịu ôn bài. Về nhà, tôi bước nhẹ lên cầu thang mà chân nặng trĩu lại. Tôi buồn và lo vô cùng, nhất là khi gặp mẹ, người tôi nói rất chắc chắn vào tối qua: “Con học bài kỹ lắm rồi”. Mẹ đâu biết khi mẹ lên nhà ông bà, ba đi công tác, tôi chỉ ngồi vào bàn máy tính chứ nào có ngồi vào bàn học, bởi tôi đinh ninh rằng cô sẽ không kiểm tra, vì tôi được mười điểm bài trước, nào ngờ cô cho làm bài kiểm tra mười lăm phút. Chả lẽ bây giờ lại nói với mẹ: “Con chưa học bài hôm qua” sao? Không, nhất định không. Đứng trước cửa, tôi bỗng nảy ra một ý “Mình thử nói dối mẹ xem sao”. Nghĩ như vậy, tôi mở cửa bước vào nhà. Mẹ tôi từ trong bếp chạy ra. Nhìn mẹ, tôi chào lí nhí “Con chào mẹ”. Như đoán biết được phần nào, mẹ tôi hỏi: “Có việc gì thế con”? Tôi đưa mẹ bài kiểm tra, nói ra vẻ ấm ức: Con bị đau tay, không tập trung làm bài được nên viết không kịp”… Mẹ tôi nhìn, tôi cố tránh hướng khác. Bỗng mẹ thở dài! “Con thay quần áo rồi tắm rửa đi!”. Tôi “dạ” khẽ rồi đi nhanh vào phòng tắm và nghĩ thầm: “Ổn rồi, mọi việc thế là xong”. Tôi tưởng chuyện như thế là kết thúc, nhưng tôi đã lầm. Sau ngày hôm đó, mẹ tôi cứ như người mất hồn, có lúc mẹ rửa bát chưa sạch, lại còn quên cắm nồi cơm điện. Thậm chí mẹ còn quên tắt đèn điện, điều mà lúc nào mẹ cũng nhắc tôi. Mẹ tôi ít cười và nói chuyện hơn. Đêm đêm, mẹ cứ trở mình không ngủ được. Bỗng dưng, tôi cảm thấy như mẹ đã biết tôi nói dối. Tôi hối hận khi nói dối mẹ. Nhưng tôi vẫn chưa đủ can đảm để xin lỗi mẹ. Hay nói cách khác, tôi vẫn chưa thừa nhận lỗi lầm của mình. Sáng một hôm, tôi dậy rất sớm, sớm đến nỗi ở ngoài cửa sổ sương đêm vẫn đang chảy “róc rách” trên kẽ lá. Nhìn mẹ, mẹ vẫn đang ngủ say. Nhưng tôi đoán là mẹ mới chỉ ngủ được mà thôi. Tôi nghĩ: Quyển “Truyện về con người” chưa đọc, mình đọc thử xem”. Nghĩ vậy, tôi lấy cuốn sách đó và giở trang đầu ra đọc. Phải chăng ông trời đã giúp tôi lấy cuốn sách đó để đọc câu chuyện “lỗi lầm” chăng! “… Khi Thượng đế tạo ra con người, Ngài đã gắn cho họ hai cái túi vô hình, một túi chứa lỗi lầm của mọi người đeo trước ngực, còn cái túi kia đeo ở sau lưng chứa lỗi lầm của mình, nên con người thường không nhìn thấy lỗi của mình”. Tôi suy ngẫm: “Mình không thấy lỗi lầm của mình sao?”. Tôi nghĩ rất lâu, bất chợt mẹ tôi mở mắt, đi xuống giường. Nhìn mẹ, tự nhiên tôi đi đến một quyết định: Đợi mẹ vào phòng tắm, rồi lấy một mảnh giấy nắn nót đề vài chữ. Mẹ tôi bước ra, tôi để mảnh giấy trên bàn rồi chạy ù vào phòng tắm. Tôi đánh răng rửa mặt xong, đi ra và… chuẩn bị ăn bữa sáng ngon lành do mẹ làm. Và thật lạ, mảnh giấy ghi chữ: “Con xin lỗi mẹ” đã biến đâu mất, thay vào đó là một chiếc khăn thơm tình mẹ và cốc nước cam. Tôi cười, nụ cười mãn nguyện vì mẹ đã chấp nhận lời xin lỗi của tôi. Đến bây giờ đã ba năm trôi qua, mảnh giấy đó vẫn nằm yên trong tủ đồ của mẹ. Tôi yêu mẹ vô cùng, và tự nhủ sẽ không bao giờ để mẹ buồn nữa. Tôi cũng rút ra được bài học quý báu: Khi bạn biết xin lỗi bố mẹ, bạn sẽ có nhiều hơn một thứ bạn vẫn đang có, đó là tình thương. “Từ thuở sinh ra tình mẫu tử trao con ấm áp tựa nắng chiều”. Bài làm 7: Em và Quân cùng ngồi chung một bàn, Quân học rất giỏi được các bạn trong lớp yêu mến. Không hiểu sao em lại rất bực bội về điều đó, bởi cảm giác cái gì mình cũng thua cậu ta. Trong một lần ra chơi, trời vừa mưa xong, sân trường còn mấy vũng nước. Một ý nghĩa lóe lên trong đầu em, cho Quân ngã một bữa. Em rủ Quân chơi đuổi bắt, hai đứa chạy vòng vèo quanh sân trường. Em chạy nhanh hơn Quân rồi đột ngột dừng lại. Em nghĩ rằng Quân sẽ té xuống đất, ai dè cả người Quân đâm sầm vào tường bên cạnh, máu chảy lênh láng. Em hốt hoảng la toáng lên, mọi người đến giúp và cùng đưa Quân vào phòng y tế của trường. Nhìn Quân đau đớn mà lòng em xót xa quá chừng. Em tự mắng mình thật là đồ tồi tệ, “Tại sao mình lại có ý nghĩ độc ác như thế? Bạn ấy học giỏi hơn mình thì phải cố gắng hơn mới đúng chứ. Kẻ đáng bị đau là mình chứ không phải Quân”. Lúc ấy em chỉ có một mong ước duy nhất, mong sao mọi việc chưa xảy ra. Cô y tá băng lại vết thương cho Quân. Em đến bên Quân, cầm tay Quân nghẹn ngào thú nhận với Quân tất cả: “Hãy tha lỗi cho mình Quân nhé!”. Từ đấy trở đi không bao giờ em có y định chơi xấu với bạn bè nữa. Bài làm 8: Tôi trở nên vụng về khi bước vào phòng chức năng học vẽ, học đàn, học hát. Buổi học hôm ấy, khi các bạn kéo ra sân chơi, tôi ở lại một mình trong phòng chức năng. Không biết tôi hí hoáy thế nào đó mà làm đứt dây đàn vĩ cầm. Sự cố xảy ra, tôi vô cùng lo sợ. Tôi dặn mình: “Chẳng ai biết mình gây ra. Cứ im lặng và tỉnh bơ…”. Buổi tập hát tiếp tục. Cái Diệu kêu lên: ”Đàn đứt dây rồi!” Cô Liên và cô Chi hỏi: “ Ai làm đứt dây đàn?” Nhưng tất cả đều nhìn nhau im lặng! Cô Liên và cô Chi đều tỏ ý không vui. Sau sự cố ấy, thầy chủ nhiệm lớp 8A, hạ mức hạnh kiểm của cái Diệu (nhóm trưởng) cái Hoàn (nhóm phó) trong đội ca vũ xuống một bậc, từ loại tốt xuống loại khá. Năm học sắp kết thúc rồi. Diệu và Hoàn đều học giỏi, đàn ngọt, hát hay, được các thầy cô giáo và bạn học quý mến. Lòng tự trọng đã nâng đỡ tâm hồn tôi. Tôi viết một bức thư dài gửi thầy chủ nhiệm nói rõ sự việc, xin nhận kỉ luật: đề nghị thầy không hạ mức hạnh kiểm của hai bạn Diệu, Hoàn… Thầy Cảnh gặp riêng tôi. Thầy nói về lòng tự trọng, sự hèn nhát và lòng dũng cảm. Thầy an ủi, động viên tôi. Lúc đầu, tôi cứ ngỡ các bạn sẽ khinh ghét tôi, xa lánh tôi. Nhưng thật không ngờ, các bạn lại yêu mến, quý trọng tôi hơn trước. Tôi thấy tâm hồn mình thanh thản. Cuối năm học lớp 8, thi kiểm tra, tôi được 5 điểm 10, xếp loại giỏi văn hoá, loại tốt hạnh kiểm. Nhớ lại kỉ niệm thời non dại ấy, bài học ngụ ngôn về chuyện “Đóng đinh lên cột và nhổ đinh” mỗi lần mắc một khuyết điểm và mỗi lần sửa chữa được một lỗi lầm… làm tôi cứ nao nao lòng. Lê Mỹ Ái – 8B Trường THCS Phan Châu Trinh- Quảng Nam
Tâm trạng của em sau khi để xảy ra một chuyện có lỗi đối với bạn
5,281
Tâm trạng của nhân vật Liên trong buổi chiểu tàn nơi phố huyện Hướng dẫn Những chuyển biến trong tâm trạng của nhân vật Liên trong buổi chiểu tàn Mở bài: Trong nền văn học Việt Nam thế kỉ 20, Thạch Lam thực sự đã thực hiện một cuộc hành trình đơn độc trong thế giới văn chương. Khác với các nhà văn trong nhóm Tự lục văn đoàn, nồng nhiệt và mạnh mẽ đổi mới, Thạch Lam âm thầm trở về với tâm hồn hồn hậu của làng quê và những xức cảm tinh vi, nhỏ bé. Ông trân trọng từng cảm xúc nảy nở và cố gắng diễn đạt nó bằng tất cả sức mạnh của ngôn ngữ. Bởi thế, cái thế giới vốn không ai để ý đến đã được Thạch Lam khám phá một cách trọn vẹn, tinh tế và tài hoa. Truyện ngắn Hai đứa trẻ là một thành công đặc sắc của lối văn chương ấy. Thân bài: Thạch Lam đã rất chú tâm khi miêu tả tâm trạng của chị em Liên trước bức tranh chân thực về đời sống phố huyện nghèo lúc chiều tối. Ngoài việc mở ra bức tranh thiên nhiên, còn đi sâu vào tái hiện bức tranh chân thực về đời sống phố huyện nghèo. Qua bức tranh đó, ngòi bút nhân đạo, cái nhìn tinh tế, nhạy cảm của Thạch Lam mới có dịp phát huy đầy đủ nhất. Khác với các nhà văn khác, Thạch Lam không hướng ngòi bút vào cái hiện thực khắc nghirtj đương thời. Có lẽ, ông đã cảm thấy nó quá đủ làm con người đau khổ. Ông cũng không lảng tránh hiện thực ấy mà phản ánh mặt bề sâu của nó: tìm kiếm những rung động tinh tế còn sót lại trong tâm hồn đầy khổ nhục của con người. Hiện thực cuộc sống trong tác phẩm của Thạch Lam không phải là sự cày xới ngổn ngang những mảnh đời đau thương, bi đát, quằn quại như cuộc đời nhân vật của Nam Cao, Ngô Tất Tố… Hiện thực trong tác phẩm của Thạch Lam được thể hiện qua những chi tiết bình thường, giản dị như trên nhưng lại có sức ám ảnh đặc biệt cho tâm hồn người đọc. Chính số phận quẩn quanh, bế tắc của những kiếp người tàn, bức tranh của ngày tàn đã như thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của Liên, gây cho Liên một nỗi buồn man mác. Thạch Lam đi sâu vào khai thác bức tranh tâm trạng nhân vật trước hoàn cảnh. Nhìn bề ngoài, nó tĩnh lặng như không có gì nhưng kì thực đang vận động mạnh mẽ ở bên trong. Và bước cuối cùng đạt đến sự chuyển hóa và thăng hoa mãnh liệt. Mở đầu tác phẩm là bức tranh bầu trời chiều muôn thuở của làng quê Việt Nam. Buổi chiều trôi như những tiếng chuông đồng hồ điểm từng tiếng chuông thảng thốt: “Chiều, chiều rồi. Một buổi chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran từ ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Liên như cảm nhận được sự trôi hảy của thời gian và ánh sáng chiều tàn buông trên không gian phố huyện. Bởi cô đã sống với nơi đây bằng tất cả trái tim mình. Cái cảm giác buồn man mác: “Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi của cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi của đất, của quê hương này” thực sự được thăng hoa từ một tâm hồn đầy tinh tế. Đi liền với hình ảnh chiều tàn, chợ tàn là hình ảnh những kiếp người tàn như là linh hồn, là đỉnh cao cảnh quan bức tranh chân thực về đời sống ở phố huyện nghèo. Trong khung cảnh chiều tàn, phố huyện tiêu điều sau phiên chợ vãn người, cuộc sống sinh hoạt vất vả, đơn điệu của những người dân nghèo khổ lam lũ hiện lên đáng thương biết bao. Chợ vãn, chiều buông là một thời gian buồn thảm của một ngày. Nhưng với Liên không thế. Cô bé ấy không nghĩ nhiều về sự tàn lụi. Liên chỉ lặng lẽ sống với buổi chiều phố huyện bằng cả tâm hồn mình; lặng lẽ ngắm nhìn cuộc mưu sinh của lũ trẻ con nhà nghèo bằng cả trái tim trắc ẩn. Đó là mấy đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi “chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ thứ gì có thể dùng được của người bán hàng để lại”. Dường như gánh nặng cuộc đời cũng đang đè nặng lên đôi vai chúng. Cái vô tư, hồn nhiên, tinh nghịch vốn có ở những đứa trẻ đã sớm mất đi bởi đời sống khốn khổ, tàn tạ nơi phố huyện. Những kiếp đời hắt hiu, nhỏ bé và cô độc đến đáng thương không khỏi khiến Liên thấy chạnh lòng lo lắng vẩn vơ. Rồi đến gia đình chị Tý, một gia đình nhỏ bé lẩn chìm trong cuộc đơi. Những chén trà bán được bồi đắp cho niềm vui. Sự chắt chiu vụn vặt làm nên cuộc sống mẹ con chị. Tuy khó khăn vất vả nhưng cũng có nơi để đi về và làm những công việc đều đặn và quen thuộc. Cùng với số phận của chị Tý là số phận của bác phở Siêu với gánh hàng phở leo lét ánh lửa. Đó là thứ hàng dù ngon nhưng “là một thứ quà xa xỉ” với người dân phố huyện nhưng vẫn không mấy được hào hứng đón nhận. Cả phố huyện giờ chỉ thu nhỏ vào cái ngọn đèn con leo lắt ấy, còn xung quanh, bóng tối làm chủ tất cả “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”. Tất cả mấy đốm sáng, hột sáng thưa thớt tù mù. Những hột sáng nhỏ nhoi ấy chẳng thể làm cho đêm sáng ra, mà trái lại càng khiến cho đêm tối thêm mịt mùng dày đặc. Đi vào những số phận nhỏ bé, những cuộc đời thường của người dân trên phố huyện, Thạch Lam đã nhóm lên ở đó chất thơ của đời thường, chất thơ của lòng trắc ẩn, của sự đồng cảm, chia sẻ nhân đạo. Tất cả những nghịch cảnh ấy trải dài trước mắt Liên bao ngày. Nó cứ lặp đi lặp lại một cách quen thuộc và buồn chán. Và mỗi ngày một buồn hơn. Thế nhưng, Liên đã kịp thanh lọc tất cả qua tầm hồn đầy rung cảm và mơ mộng của mình. Phố huyện dẫu nghèo nhưng dưới mắt Liên vẫn rất đẹp, vẫn nên thơ. Bởi cô đã dành cho nó một tình yêu máu thịt. Cái mùi âm ẩm của đất đai, của cát bụi vãn gieo lại ở Liên ấn tượng sâu đậm về mùi riêng của đất, của quê hương. Bởi nó là tình yêu thương, sự gắn bó, là chốn đi về của tâm hồn cô. Khi màn đêm dần buông trên phố huyện, ánh mắt của Liên vẫn âm thầm dõi theo cuộc mưu sinh của những con người nhỏ bé trong đêm tối đầy cảm thông và chia sẻ. Nỗi thương ấy vừa dáng quý, đáng thương và thật đáng trân trọng. Bởi cô cũng chẳng khác gì họ, đang vật lộn với cuộc đời đầy vất vả, cơ cực, mỏi mòn, tù động và trống vắng những niềm vui. Liên bâng khuâng nhớ về “Hà Nội nhiều đèn quá, tạo nên một vùng sáng rực và lấp lánh”. Nhưng giờ đây, ánh sáng ấy chỉ là bóng mờ kí ức trong đêm. Cô lặng lẽ lắng tâm hồn mình quay ngược thời gian trở về với phố thị phồn hoa, rực rỡ để cố tìm lại những kỉ niệm xa xam vời vợi. Hà Nội có đầy đủ âm thanh, sắc màu. Hà Nội có cuộc sống vui vẻ, nhộn nhịp. Hà Nội có những thứ sa sỉ mà ở cái phố huyện nghèo này không có. Liên và An ngửi thấy mùi phở thơm và nhớ lại khi ở Hà Nội “chị được hưởng những thứ quà ngon lạ như thế… được đi chơi Bờ Hồ, uống những cốc nước lạnh xanh đỏ”. Liên cùng những người bán hàng rong xung quang gắng đợi đoàn tàu qua phố huyện. Một sự chờ đợi đầy chán chường bởi họ biết sẽ không có gì mới khi đoàn tàu chạy qua. Bóng tối sẽ trở về với bóng tối. Cuộc đời vẫn lầm lụi, hiu hắt và buồn thương. Thế nhưng, trong khoảnh khắc bừng sáng hiếm hoi ấy, họ đã kịp gửi tâm hồn mình theo những ước mơ xa xôi về một cuộc sống nhiều cung bậc, nhiều thanh âm và ánh sáng. Liên khát khao khắc khoải, háo hức chờ mong một sự đổi thay, khao khát một cái gì khác thường khuấy động cái không khí đơn điệu, buồn tẻ, quẩn quanh, tù túng, lụi tắt dần trong đêm tối. Con tàu như đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn chị Tý và ánh lửa bác Siêu leo lắt giữa cái đêm tối mênh mông của đất trời phố huyện. Liên hân hoan, ngây ngất ngắm nhìn chuyến tàu đó. Chuyến tàu đi qua. Miền quê lặng lẽ lại đi vào cái tĩnh mịch vốn có. Nó lại trầm tư như chưa từng có gì xảy đến. “Sao trên trời vẫn lấp lánh, cả phố huyện bây giờ mới thật là hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn ma”. Có lẽ, bây giờ chỉ còn mình Liên thao thức với một tâm hồn mang nặng nỗi niềm u uẩn. Tâm hồn cô nán lại lay lắt cùng ánh đèn dầu của chị Tý. ánh đèn nhỏ nhoi, mông lung, vô định trong tâm hồn thơ dại của Liên. Ánh sáng cùng tâm hồn cô bây vụt vào bóng tối khi đoàn tàu vội qua, để chìm vào giấc ngủ yên tĩnh. một giấc ngủ yên tĩnh như đêm phố huyện tịch mịch và đầy bóng tối. Nó làm động lại trong ta biết bao suy nghĩ về thân phận con người trong một thời kì buồn thảm của lịch sử dân tộc. Nỗi bận bụi vô hạn mà nhà văn Nguyễn Tuân cảm nhận khi đọc hai đứa trẻ có lẽ cũng bắt nguồn từ chính những suy nghĩ về thân phận con người ấy chăng. Kết bài: Người ta vẫn sẽ tìm đọc Hai đứa trẻ để sống trọn vẹn một mảnh hồn của làng quê đất Việt. Quan trọng hơn, ta vẫn đọc Hai đứa trẻ để thêm trân quý cuộc sống xung quanh; để biết rằng cuộc sống có thế nào đi chăng nữa thì nó vẫn tươi đẹp, vẫn nên thơ, vẫn mãi là một miền thương nhớ trong tâm tưởng. Bởi đơn giàn, đó chính là tình quê hương chan chứa không bao giờ nguôi cạn.
Tâm trạng của nhân vật Liên trong buổi chiểu tàn nơi phố huyện
1,902
Đề bài: Tâm trạng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Khi con tu hú của nhà thơ Tố Hữu Bài làm Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản, thơ ông ngập tràn những hình ảnh làng mạn cách mạng. Tâm trạng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Khi con tu hú của ông tiêu biểu cho phong cách ấy. Nhan đề của bài chỉ là một cụm từ chỉ thời gian (vẫn chưa đầy đủ). Nhan đề của bài thơ là một ẩn ý vừa chỉ một thời điếm bừng lên của thiên nhiên, tạo vật, vừa chỉ sự khát khao hoạt động của con người. Có thể tóm tắt nội dung bài thơ như sau: Khỉ con tu hú gọi bầy (cũng là khi mùa hè đang đến), người tù cách mạng càng thấy ngột ngạt, cô đơn trong phòng giam chật hẹp, càng khát khao được sống cuộc sống tự do bay bổng ở ngoài kia. Sở dĩ, tiếng tu hú kêu lại có tác động mạnh đến tâm hồn của nhà thơ bởi nó là tín hiệu báo những ngày hè rực rỡ đến gần. Nó cũng là biểu tượng của sự bay nhảy tự do. Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần. Không phải tiếng chim đơn độc mà là tiếng chim "gọi bầy", tiếng chim báo tin vui. Nghe chim tu hú gọi nhau biết rằng "lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần". Nhưng không phải chỉ có thế. Tiếng chim gợi lên một thế giới tràn ngập âm thanh, màu sắc, hình ảnh: Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đẩy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không… Đó là những sắc màu, âm thanh của cuộc sống hằng ngày. Màu vàng của ngô, màu hồng của nắng nổi bật trên cái nền xanh của đất trời, quyện với tiếng ve ngân và còn được điểm xuyết thêm bằng hình ảnh "Đôi con diều sáo lộn nhào từng không". Không gian tràn trề nhựa sống, đang vận động, sinh sôi nảy nở từng ngày. Đọc kĩ lại những câu thơ, ta bỗng phát hiện thêm nhiều điều kì lạ khác nữa. Các sự việc không được miêu tả trong trạng thái bình thường, chúng được tô đậm, được đẩy lên mức cao nhất có thể. Không phải "hạt bắp vàng mà là "bắp rây vàng hạt" nắng là "nắng đào" màu sắc lộng lẫy nhất, trời xanh thì "càng rộng càng cao" tầm mắt cứ được mở rộng ra thêm mãi. Tiếng ve không chỉ "ngân" mà còn "dậy" lên, hai tính từ miêu tả âm thanh kết hợp với nhau khiến cho tiếng ve rộn rã khác thường. Chừng như để hoà điệu với những âm thanh và hình ảnh đó, cánh diều sáo cũng không chịu lững lờ" hay "vi vu" mà "lộn nhào từng không”. Cánh diều như cũng nô nức, vui lây trong không gian lộng lẫy màu sắc và rộn rã âm thanh đó. Sở dĩ có hiện tượng đó là bởi tác giả đã không trực tiếp quan sát và miêu tả cảnh vật. Nhà thơ đang bị giam trong tù. Những bức tường kín mít vây xung quanh làm sao cho phép nhà thơ nhìn ngắm hay lắng nghe… Tất cả đều được tái hiện từ trí tưởng tượng, trí nhớ và hơn thế nữa là tình yêu, lòng khát khao mãnh liệt được tháo cũi sổ lồng. Trong cảnh tù đày, màu ngô lúa hay màu nắng, màu của trời xanh bỗng trở nên quý giá vô ngần, bởi thế nên những màu sắc, âm thanh hết sức bình thường bỗng trở nên lung linh, huyền ảo, rực rỡ hẳn lên. Đoạn thơ này thể hiện tình yêu sâu sắc của nhà thơ đối với cuộc sống, đôi với quê hương. Mộng tưởng càng tươi đẹp bao nhiêu thì hiện thực lại càng cay đắng, nghiệt ngã bấy nhiêu. Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu! Tưởng như sự liên kết giữa hai đoạn thơ này không thật chặt chẽ và tứ thơ không liên tục. Khi hướng ra bên ngoài, nhà thơ tả cảnh nhưng khi hướng vào trong lại tả tâm trạng. Kì thực đây chính là sự liên kết vô cùng khéo léo và tinh tế. Mối dây liên kết ấy chính là tiếng chim tu hú. Tiếng chim gọi bầy tha thiết gợi mở một thế giơi bao la và vô cùng sinh động. Nhưng thế giới đó càng rộng rãi, rực rỡ bao nhiêu thì lại càng khiến cho người tù (đã bị tách biệt khỏi thế giới ấy) cảm thấy ngột ngạt và khao khát bấy nhiêu. Tiếng chim tu hú ở đầu và cuối của bài thơ tuy đều biểu trưng cho tiếng gọi tha thiết của tự do, của cuộc sống ngoài kia đầy quyến rũ đối với người tù nhưng tâm trạng của người tù khi nghe tiếng tu hú lại rất khác nhau, ở câu thơ đầu, tiếng tu hú gợi hình ảnh cuộc sống đầy hương sắc, từ đó gợi ra cái khát khao về cuộc sống tự do. Thế nhưng, đến câu kết, tiếng chim ấy lại khiến cho người tù cố cảm giác bực bội, đau khổ vì chưa thể thoát ra khỏi cảnh tù dầy. Bài thơ hay ở những hình ảnh thơ gần gũi, giản dị mà giàu sức gợi cảm, ở nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát uyển chuyển, tự nhiên và cả ở những cảm xúc thiết tha, sàu lắng, thể hiện được nguồn sống sục sôi của người cộng sản.
Tâm trạng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Khi con tu hú của nhà thơ Tố Hữu
960