text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Em hãy thuật lại chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 Tết đến ngày mồng năm tháng Giêng. Em hãy viết đoạn văn thuật lại chiến thắng Ngọc Hồi trong bài viết trên. Bài làm Nhà Tây Sơn gồm ba anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ. Mỗi người xưng vương một miền. Nguyễn Huệ được mọi người gọi là Bắc Bình Vương. Trong thời kỳ đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam những năm 30 cuối thế kỉ XVIII, Lê Chiêu Thống rất lo sợ cho cái ngai vàng mọt rỗng của mình nên đã cầu cứu quân thanh, mở đường cho quân Thanh và Tôn Sĩ Nghị kéo quân vào Thăng Long xâm lược nước ta. Ngày 24 tháng 11, Trần Văn Tuyết chạy vào thành Phú Xuân cấp báo cho Bắc Bình Vương về việc quân Thanh xâm lược; Lê Chiêu Thống nhận sắc phong cua vua nhà Thanh là Nam Quốc Vương; Ngô Văn Sở cho quân rút lui về Tam Điệp, nghĩa là nước ta mất hết đất từ cửa ải phía Bắc đến Thăng Long. Nghe được tin cấp báo, Bắc Bình Vương giận lắm. Biết là biến cố lớn, ông quyết định mở cuộc tấn công ra Bắc đại phá quân Thanh. Nguyễn Huệ quyết định lên làm vua, lấy niên hiệu là Quang Trung và mở cuộc tấn công ra bắc. Nguyên Huệ lên ngôi hoàng đế ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân 1788. Theo sử sách ghi lại trích trong "Các triều đại Việt Nam", Nguyễn Huệ là một vị tướng tài: "Đây là người có dung mạo đặc biệt, tóc xoăn da sần, tiếng nói sang sảng như chuông, đôi mắt sáng nhu chớp, có thể nhìn thấy mọi vật trong đêm tối. vẻ mặt của ông như toát lên một ý chí, một cái đẹp oai phong, lẫm liệt”. Bấy giờ ở Phú Xuân, vua Quang Trung cho kén lính, ở Nghệ An, cứ ba suất đinh thì lấy một người, chưa mấy lúc, đã được hơn một vạn quân tinh nhuệ. Rồi nhà vua cho mở cuộc duyệt binh lớn ở Vĩnh Doanh (Nghệ An). Đến Thanh Hoá ông vẫn tiếp tục tuyển thêm binh lính và làm lễ tuyên thệ. Trong lời dụ với các tướng sĩ, Quang Trung lẫm liệt và thể hiện rõ quyết tâm chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của đất nước. Với ý chí hiên ngang, bất khuất, với ánh mắt căm thù giặc, Quang Trung đã tuyên bố: Đánh cho để dai tóc, Đánh cho để đen răng, Đánh cho nó chích luân bát phán, Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, Đánh cho sử tư Nam quốc anh hùng chí hữu cha. Sau đó Quang Trung cũng động viên tướng sĩ của mình có lòng quyết tâm bằng giọng nói sang sảng, đầy hào khí, khẳng định niềm tin vào ý chí quyết thắng của đội quân chính nghĩa. Ra đến Tam Điệp, Quang Trung đã phân rõ công tội của Sở và Lân qua lời nói rất hào khí "Binh pháp dạy rằng: "Quân thua chém tướng" tội của các ngươi tuy đáng chết một vạn lần. Song ta nghĩ các người đều là hạng võ dũng, chỉ biết gặp giặc là đánh, nên việc tuỳ cơ ứng biến là không có tài" và ông khen ngợi kế sách tạm rút quân để bảo toàn lực lượng của Ngô Thì Nhậm và các tướng. Vua Quang Trung bèn sai mở tiệc để khao quân rồi bảo kín với các tướng sĩ: "Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng Tết trước đã. Đến tối 30 Tết lập tức lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long mớ tiệc ăn mừng. Sau đó ông chia ra làm 5 đạo quân. Đạo chủ lực do Quang Trung trực tiếp chỉ huy, thẳng hướng Thuỷ Long. Đạo thứ hai và thứ ba đánh vào tây nam Thăng Long và yếm trợ cho đạo chủ lực. Đạo thứ tư tiến ra phía Hải Dương. Đạo thứ năm tiến lên Lạng Giang – Bắc Giang, chặn đường rút lui của quân địch. Khi tiến thẳng đến thành Thăng Long, để giữ sức cho quân lính chiến đấu, ông sai dùng cáng làm võng. Hai người khiêng một người nằm ngủ và cứ thế luân phiên nhau đi suốt ngày đêm. Đến đêm 30 Tết âm lịch, quân ta vượt sông Gián Khẩu, tiêu diệt gọn toàn bộ quân địch ở đồn tiền tiêu, khí thế của quân ta càng lớn. Sau những ngày Quang Trung hành quân thần tốc, quân giặc tan vỡ tháo chạy nhưng không thoát, nên không báo được tin về. Việc tiến quân của quân ta rất bí mật. Nửa đêm ngày mồng 3 tháng Giêng, năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung tới làng Hà Hồi và lặng lẽ vây kín làng. Quân giặc bị bất ngờ, hoảng sợ, hạ khí giới xin đầu hàng, lương thực và khí giới đều bị quân ta lấy hết. Mờ sáng ngày mùng năm, quân ta tiến sát đồn Ngọc Hồi. Đây là đồn quan trọng nhất của địch. Đồn lũy được xây dựng kiên cố, xung quanh đều cắm chòng sắt và chôn địa lôi. Vua Quang Trung thấy thế, truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm thành một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính khoẻ mạnh, cứ mười người khênh một bức, lưng giắt đao ngắn, hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ "nhất". Khi tiến sát đến gần, Quang Trung truyền lệnh cho quân sĩ đồng loạt xông tới, quân Thanh nổ súng nhưng không trúng bèn phun khói lửa nhưng không ngờ gió đổi hướng, quân Thanh tự làm hại mình, thế gọi là "gậy ông đập lưng ông". Được lệnh, đội quân khiêng ván vừa che vừa xông lên, khi đã chạm nhau thì quãng ván xuống; dùng đao ngắn chém bừa, những quân si đằng sau cũng nhất tề xông lên. Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết, thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối. Quân Thanh đại bại. Cùng lúc đó, đạo quân thứ hai và thứ ba tấn công vào đồn Đống Đa, được nhân dân địa phương ủng hộ, quân ta giáp chiến, đốt lứa thiêu cháy doanh trại. Tướng giặc là Sầm Nghi Đống khiếp sợ, thắt cô tự tử. Quân Thanh tháo chạy về phía đông trông thấy đạo quân thứ tư càng khiếp sợ, bèn tìm lối tắt nhưng bị đạo quân thứ năm chặn đường. Hết hồn vía, quân Thanh bèn trốn xuống làng Quỳnh Đô, bị voi quân ta giày đạp, chết hàng loạt. Tôn Sĩ Nghị nghe tin cấp báo thì bàng hoàng mất vía, thật là "tướng từ trên trời rơi xuống, quân chui dưới đất lên". Sợ mất mật, Tôn Sĩ Nghị vội vã bỏ trốn. Quân sĩ nghe tin thì hoảng hốt tranh nhau qua cầu, xô đẩy nhau rơi xuống nước mà chết. Khi cầu gãy, quân lính rơi xuống sông làm nước sông Nhị Hà bị tắc nghẽn, về phần vua Lê, đang mải mê yến tiệc, nghe tin liền chạy trốn. Trời nhá nhem tối thì đến kịp chỗ của Tôn Sĩ Nghị. Trưa mùng năm Tết Kỉ Dậu, Quang Trung cùng đoàn quân tiến thẳng vào Thăng Long giữa muôn ngàn tiếng reo hò của nhân dân.
Thuật lại chiến thắng Ngọc Hồi
1,271
Đề bài: Thuật lại chuyện em phạm lỗi với cha mẹ và sự ăn năn hối hận của mình Bài làm Năm ngoái, nhà trường tổ chức tham quan bến Nhà Rồng và Thảo Cầm Viên. Mỗi học sinh phải đóng hai ngàn đồng cho chuyến tham quan đó. Nghe chuyện, mẹ em không ngần ngại đưa cho em tiền để sáng vào lớp đóng cho lớp trưởng. Tối hôm đó, tiếng loa vang lén từ bãi đất trống gần nhà làm em bồn chồn Người ta tổ chức hội chợ với nhiều trò vui. Tiếng ca, tiếng nhạc cứ mãi thúc giục khiến em vào xin phép cha mẹ. Em định bụng đến khu hội chợ một lát rồi về. Đến nơi, quả thật là vui, ở đây có các trò chơi, từ thảy vòng, chọi lon đến trò xổ số lô tô. Hấp dẫn nhất là trò quay vòng số. Một vòng quay, mười hai con số liên tiếp thi nhau chớp tắt. Dễ trúng quá, trò chơi này quyến rũ khiến em mua một con số hai trăm đồng. Trật rồi, em ngần ngừ và mua con số khác. Lại trật nữa. Em mua số hết nhẵn hai ngàn đồng mẹ vừa cho. Thuật lại chuyện em phạm lỗi với cha mẹ Thấy em về với về mặt buồn hiu, mẹ em hỏi: – Có việc gì vậy con? Trên đường về, em đã rắp tâm nói dối nên em giả đò mếu máo khóc. – Con đánh rơi hai ngàn đồng rồi. Thôi, vậy con không đi tham quan nữa đâu. Mẹ em thở dài, ngần ngừ một lúc rồi móc túi áo lấy ra những tờ giấy bạc nhàu nát. Mẹ nói: – Lâu lâu mới có dịp đi xa, con lấy tiền này mai đóng cho nhà trường. Tối hôm đó, ngồi học bài, em thấp thỏm chờ mẹ về. Thường lúc, giờ này mẹ đã về. Chắc bữa nay bán ế nên mẹ về trễ. Mãi đến mười giờ đêm, mẹ em mới về. Gánh chè còn lưng lưng phân nửa. Nhìn vẻ mặt buồn buồn của mẹ. Em không sao cầm được nước mắt. Lòng dấy lên nỗi hối hận, em chạy đến ôm chầm lấy mẹ và nức nở kể hết sự thật. Nghe xong, mẹ vuốt đầu em, mẹ nói: – Con biết hối lỗi như vậy là tốt rồi. Mẹ còn xoay xở được. Con cứ giữ lấy tiền này cho mẹ vui. Từ đó, mỗi lần nghe loa hội chợ là mỗi lần lòng em lại dây lên niềm hối hận. Em cương quyết từ nay không làm mẹ buồn và giấu mẹ bất cứ điều gì!
Thuật lại chuyện em phạm lỗi với cha mẹ và sự ăn năn hối hận của mình
432
Đề bài: Thuật lại cuộc tranh luận giữa hai học sinh về việc học tập môn Quốc sử Bài làm Sáng hôm thứ bảy vừa rồi, tôi đang rửa mặt bên hè nhà đế sửa soạn đi học. Bỗng nghe tiếng hỏi của em tôi, lại nghe có tiếng đáp. Tôi không ngoảnh mặt ra, nhưng cũng nhận biết đó là tiếng anh Quang, người bạn thân với tôi. Tôi vội lau tay, thay áo rồi chạy ra, cùng nhau chào hỏi mừng rỡ. Liền đó, tôi cũng sửa soạn sách vở cùng anh đi đến trường học. Ra đi được một đoạn đường, bạn tôi chợt hỏi, câu hỏi thường nghe trong đám học trò chúng tôi trước giờ vào lớp: – Hôm nay có bài Quốc sử anh đã thuộc chưa? – Câu hỏi đó, nếu ở một người khác hỏi thì tôi chỉ trả lời một tiếng cho qua là “thuộc” hay là “không” mà thôi, nhưng đối với anh Quang, tôi trả lời có khác. Vỗ vai bạn ra chiều yêu mến tôi nói: – Anh ơi! Sử là môn học rất cần cho học trò chúng ta thì không học là làm sao? Nếu ta không thuộc sử tức là chúng ta không biết đất nước mở mang thế nào, nòi giống ta sinh trưởng làm sao. Làm người dân một nước mà không biết lịch sử nước mình là người vong tổ, ai còn kể là giống gì nữa! Thuật lại cuộc tranh luận giữa hai học sinh về việc học tập môn Quốc sử Bạn tôi lại nói: – Tôi cũng biết thế và tôi có học lắm, nhưng sừ là môn học khó nhớ lắm; thường tôi học mãi mà không thuộc và nhớ bao nhiêu, là tại làm sao thế? – Ô hay! Đời nào lại có học mà không nhớ! Không thuộc! ở đời có việc gì là khó đâu. Nếu người ta định chí cho cứng mạnh, thì dẫu có việc khó mà cũng hoá ra dễ vậy. Bấy giờ gió mát buổi sớm mai thổi nhẹ, hai bên đường lác đác vài cái lá vàng rơi, bạn tôi vừa đi vừa cúi xuống ra dáng ngẫm nghĩ lắm. Một chốc rồi cười lớn ra vẻ đắc ý và nói với tôi rằng: “Lời anh vừa nói, tôi cho là phải và hay lắm, chứ từ trước mỗi khi tôi học thấy khó rồi thôi, thành thử không hiểu gì cả. Từ nay tôi sẽ nghe lời anh mà bền chí học kĩ cho thuộc cho nhớ mới thôi”. Rồi đó, tôi kể qua các sự tích hay trong lịch sử nước nhà cho bạn nghe. Trong khi nói, có đoạn thì tôi với bạn cùng vui có đoạn thì tôi với bạn cùng buồn… Được một lát đến cửa trường, hai người chúng tôi bèn dứt câu chuyện mà bước vào. Bây giờ có khi tôi ngồi nghĩ buổi hôm ấy thì lòng lấy làm vui thích lắm vi đã khuyên được một việc phải cho người bạn hiền.
Thuật lại cuộc tranh luận giữa hai học sinh về việc học tập môn Quốc sử
498
Đề bài: Thuật lại một buổi dạo chơi thú vị mà em nhớ nhất Bài làm Vào một buổi sáng thứ năm, khi ông mặt trời thức dậy, những hạt sương đêm còn đọng lại trên cành cây, ngọn cỏ, em đã cùng mẹ đi chợ để chuẩn bị bữa trưa cho gia đình. Trên đường đi, những cành cây xanh khẽ lay động như thì thầm trò chuyện cùng em. ông mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu khắp vạn vật. Trên cành cao, những chú chim hót véo von chào mừng một ngày mới. Em tung tăng cầm tay mẹ đi trên con đường quen thuộc. Em say sưa ngắm cảnh nên không biết mình đã đến chợ từ lúc nào. Vừa đến đầu chợ, quang cành ồn ào náo nhiệt đập vào mắt em. Các bà hàng rong ngồi dưới đất thính thoảng cất những tiếng rao mời dài giọng. Tả một buổi dạo chơi thú vị mà em nhớ nhất Đầu tiên, em đến các quầy sách báo. những quyển sách, những tờ báo được bày trí trông thật đẹp mắt. Các cô bán hàng đang tươi cười mời mọc khách. Kế đó là quầy dép. Những đôi dép đủ loại, đủ màu được treo thành một hàng dài. Đến tí nữa là những quầy bán vải, trăm nghìn thứ vải được phơi bày chung quanh sạp.Ánh nắng rọi vào những xấp vải kim tuyến khiến cho chúng thật lộng lẫy. Ánh nắng ban mai như những nàng tiên áo hồng nhảy múa trên vai áo những người đi chợ. Đến những tủ phô bày đồ trang sức, những chiếc kẹp có đính bông voan sặc sỡ đủ màu và những đôi bông tai trông thật đẹp mắt. Bên cạnh đó là hàng trái cây, những loại trái cây như: cam, nhãn, bom, nho được trưng bày trên sạp. Người qua kẻ lại tấp nập, người hỏi mua vật này, kẻ hỏi mua vật kia. Tiếng của họ tạo nên một âm thanh ồn ào, nhộn nhịp. Phía dưới là hàng cau rải, những bó cải xanh tươi cùng những quả ớt chín đỏ, mẹ em dừng lại ở hàng rau của một bà cụ già và hỏi mua một bó hành, vài trái ớt, ít trái dưa leo. Xong mẹ trả tiền và cảm ơn cụ. Sau đó, mẹ dẫn em đến hàng tôm cá và thịt. Mẹ đến mua một “gam” thịt và một con cá lóc. Mẹ đến một hàng khác để mua một trái bí về nấu canh vì cả nhà ai cũng thích canh bí nấu với cá lóc. Khi mua xong, mẹ và em đi về, sắp ra khỏi chợ, em thấy một hàng bán hoa đủ màu, đủ hương đang khoe sắc rực rỡ. Vài chú bướm tung tăng bay lượn trên những đoá hoa cẩm chướng làm em say mê ngắm mãi. Những người khách hàng đứng lựa hoa ai cũng tấm tắc khen hoa đẹp. Nào là những đoá huệ trắng muốt và cẩm chướng hồng hồng đến những bông hoa loa kèn đủ màu sắc. Ra khỏi chợ, nhưng em vẫn nghe văng vẳng bên tai tiếng rao hàng. Đã trưa, nắng vàng óng, em lại ra về trên con đường quen thuộc. Những ngọn gió lướt nhẹ làm em thật thoải mái. Em cầm tay mẹ tung tăng… Buổi dạo chợ thật lí thú. Nó giúp em thoải mái tinh thần sau những giờ học căng thẳng…
Thuật lại một buổi dạo chơi thú vị mà em nhớ nhất
577
Đề bài: Thuật lại một chuyến đi thăm quan mà em nhớ nhất Bài làm Hè vừa qua, trong chuyến ra thăm xứ Huế em đã được theo ba cùng đoàn tham quan đến khu lăng mộ triều Nguyễn. Lần đầu tiên trong đời, em tận mắt thấy cảnh núi non trùng điệp trải dài đẹp như tranh vẽ, đến tận những rặng Trường Sơn xa mờ tít tắp. Trước mặt em, lúc ấy, bóng dáng núi Ngự Bình hiện ra sừng sững. Ba em chỉ phía sau kia là cột cờ trước lầu Ngọ Môn. Ba bảo gọi tên là núi Ngự Bình vì núi như bức bình phong của kinh thành. Thuật lại một chuyến đi thăm quan mà em nhớ nhất Xe cứ từ từ lên dốc, lăn bánh giữa những rặng thông xanh mướt. Mọi người trố mắt nhìn. Khu lăng mộ triều Nguyễn đây rồi. Phong cảnh nơi này thật đẹp. Trên đỉnh dốc nhìn xuống, một nhánh nhỏ sông Hương xanh ngắt trôi lững lờ. Trước hết, đoàn ghé Khiêm Lăng với đồi lớn đồi con bao quanh làm thành một bức tường vây bọc đầy bóng thông xanh. Tiếng gió thông vi vu, bất tận tạo nên một không gian tĩnh lặng thâm nghiêm cho nơi an nghỉ của vua Tự Đức. Bước lên thềm cao, em cùng đoàn vào cổng lăng. Dọc hai bên sân rộng lót đá là hai hàng tượng trăm quan văn võ bằng đá bất chấp thời gian vẫn nín lặng đứng chầu. Qua sân là vào điện chính. Đó là một ngôi nhà nguy nga, dài rộng bên trong bày đủ các thứ bàn, giường, ghế sập gụ, tủ trà giát vàng khảm ngọc của vua dùng ngày trước. Sau đó là khu mộ nằm trong một vòng tường thành cao ngất có hai cánh cửa đóng nặng nề. Rẽ sang phải là một dòng suối chảy ra từ lòng đá. Đẹp và thơ mộng nhất là nhà thuỷ tạ nằm trên hồ sen đầy hoa nở. Người thuyết minh cho biết khu lăng mộ đã xây dựng mất rất nhiều năm, tốn biết bao công sức và tiền của của nhân dân. Chính chốn này là nguồn gốc phát khởi hai câu ca dao: Vạn niên là vạn niên nào Thành xây xương lính, hào đào máu dân. Đến đây, em mới thấy được khối óc và bàn tay tài hoa của những người lao động Việt Nam, thấy dược sự bóc lột tàn nhẫn của vua quan phong kiến và nỗi đau bất tận của dân lành thời ấy!
Thuật lại một chuyến đi thăm quan mà em nhớ nhất
422
Đề bài: Thuật lại một kỉ niệm cũ đã làm cho em hối hận Bài làm Hàng năm cứ đến dịp bãi trường em được về quê ông ngoại nghỉ mát. Em được ông ngoại em yêu lắm. Mỗi ngày em chỉ ôn lại bài vở vào buổi sáng, còn buổi chiều em được đi chơi ngắm cảnh và hưởng gió đồng quê. Thú giải trí em ưa nhất là cái thú đi bắn chim bằng ná cao su. Thật là vừa gián dị lại vừa rẻ tiền. Một buổi chiều em đang lang thang quanh bụi tre trong làng, bỗng có tiếng chim hót ríu rít trên cao làm em ngửng đầu lên. Em thấy một đàn chim chào mào đang chuyền từ cành nọ qua cành kia. Em đặt viên sỏi (sạn) vào ná cao su và sửa soạn để sẵn sàng bắn. Em tự nhiên hồi hộp lạ thường hi vọng sẽ bắn được chim. Em cúi lom khom, em len lỏi qua bụi rậm, cố tiến sát tới gần nơi chim đang đậu. Em chỉ muốn giương ná bắn ngay. Nhưng xa quá mà khốn nỗi nếu thấy động chúng sẽ bay xa hết. Em lại kiên nhẫn dò từng bước để đến gần chúng hơn. Không may em dẫm phải một cành khô kêu răng rắc. Thấy động, con thì bay xa, con thì chuyền lên cành cao nhớn nhác. Em tưởng chúng bay đi hết. Nhưng may quá còn một con đậu cành thấp vừa tầm, đang ngơ ngác nhìn tứ phía và kêu chiêm chiếp. Em đoán ngay là một con chim non lạc đàn. Thuật lại một kỉ niệm cũ đã làm cho em hối hận Ná cao su đã sẵn sảng, em chọn chỗ thuận tiện để được nhìn thấy ngực con chim đang phơi ra, không một lá cây nào che chở. Em nín thở dang tay kéo căng đôi dây cao su nhắm rất cẩn thận rồi một tiếng “phạch" ngắn phát ra. Đôi dày cao su co lại mạnh bổn về phía trước ném theo viên sỏi lẻn cao. Trong nháy mắt chim xoà hai cánh quay cuồng rơi xuống đất. Em cảm thấy kiêu hãnh như kẻ thắng trận, chiếm đoạt đươc một con vật đã từng bay nhảy khắp nơi. Nhưng sự kiêu hãnh của em khòng được bao lâu khi em ngắm kĩ con chim em vừa hạ được. Khốn nạn thay cho nó, nó đã chết đâu ; nó còn thở mạnh, nó bị thương ngất đi, nhưng chỉ một vài phút sau đã tỉnh. Thoạt tiên nó giẫy giụa, nhưng sau chắc vì biết số phận nó, hoặc vì vết thương làm cho nó quá đau đớn ; nó nằm im trong lòng bàn tay em. Em nhìn kĩ thấy mắt nó ướt. em tưởng chừng như nó đang khóc. Tự nhiên một tình thương đến tràn ngập lòng em. Lúc đó chim mẹ và mấy con chim con vẫn chuyền cành quanh đây kêu những tiếng thảm thiết. Em tường chừng như chúng cũng hết sức đau khổ, chúng cũng đang tìm đứa con lạc lõng. Em cảm thấy em ác nghiệt quá, chỉ vì để giải trí mà nỡ giết hại một con chim yếu đuối. Em hối hận vó cùng. Em thả con chim khốn nạn vào bụi tre. Nó bay chập choạng trông rất đáng thương. Vận dụng hết tàn lực nó cố hết sức bay chuyền tìm mẹ nó, không biết nó có còn gặp được mẹ nó hay không? Một lát sau, con chim đã khuất vào bụi tre, em mới trở về nghĩ thương xót cho con chim khốn nạn đêm nay sẽ lạc mẹ, hay sẽ chết vì vết thương do chính em gây ra. Em cảm thấy hối hận và từ hôm đó không bắn chim nữa.
Thuật lại một kỉ niệm cũ đã làm cho em hối hận
636
Đề bài: Thuật lại một lần theo mẹ đi chợ mua sắm áo quần và dụng cụ học tập Bài làm Còn không đầy một tuần lễ nữa là đến ngày khai trường. Sáng nay, má sửa soạn đi chợ, bảo em xách giỏ theo tập mua thức ăn, tiện thể mua sắm quần áo và dụng cụ học tập để chuẩn bị vào năm học mới. Em mừng thầm trong bụng, vôi đi thay quần áo theo má liền. Chì mới nghe tiếng “chợ” mà đã nghe bên tai muôn tiếng nói ồn ào. Chợ thị xã của em không lớn lắm. Mặt sau, nó tiếp giáp với sông. Mặt trước, nó tiếp giáp với con đường chính, xe cộ nhộn nhịp, người qua kẻ lại tấp nập. Thuật lại một lần theo mẹ đi chợ mua sắm áo quần và dụng cụ học tập Lúc bấy giờ, nắng đã lên cao. Người đi chợ ngày mỗi đông dần. Trông ra mặt đường là các quầy hàng bày biện đủ thứ, từ các đồ trang sức quý bằng vàng, bạc đến những chiếc áo đi mưa, những chiếc cặp sách các loại, những bộ quần áo may sẵn đủ các màu sắc. Nhiều món được treo lủng lẳng trên cao, đập thẳng vào mắt người mua. Cả các bà bán hàng rong cũng rao hàng inh ỏi dội thẳng tai người. Hai má con đi vào nhà lồng chợ. Mới nhìn vào đã thấy ngợp mắt, từng dãy quần áo may sẵn đã được trưng bày rực rỡ. Từng xấp hàng vải lụa đủ màu được xếp ngay ngắn cố thu hút kẻ lại người qua. Kẻ mua người bán chen chúc nhau. Tiếng khen chê, lời mặc cả lao xao. Hai má con len lỏi đến chỗ người quen mới dừng lại. Vừa thoáng thấy bà chủ quầy hàng đã mừng rỡ chào đón. Bà vừa cười vừa trả lời khách hàng, tay lại xếp xếp gói gói hàng trao cho khách. Hơn mười phút, má mới chọn xong cho em một chiếc áo sơ mi trắng, một chiếc quần xanh xinh xắn. Bộ đồ “vía” dành cho ngày khai trường của em đây! Sau đó, hai má con em đi tiếp xuống mua thức ăn rồi mới trở ra ghé vào một hiệu sách, ở đây người mua chen chúc. Thấy sách là em cứ sà ngay vào như lân thấy pháo vậy. Ôi chao! Đủ các loại sách, bìa nhiều màu sắc rực rỡ, hình ảnh sống động cứ đập vào mắt em. Cô bán hàng vui vẻ giúp má em chọn mua cho em một chiếc cặp sách đẹp và đủ các loại dụng cụ học tập cần thiết khác. Má em trả tiền xong, phải thúc giục mấy lần em mới chịu rời hiệu sách ra về. Thế là em đã có đủ các thứ “lễ bộ” cho ngày đầu năm học mới. Cứ nghĩ đến hồi trống trường vào ngày khai giảng vang vọng mà lòng em nôn nao, rộn ràng khôn tả.
Thuật lại một lần theo mẹ đi chợ mua sắm áo quần và dụng cụ học tập
503
Đề bài: Thuật lại một việc làm tốt mà em đã chứng kiến tại nơi em ở Bài làm Trong thành phố này, có nhiều việc tốt xảy ra hằng ngày. Một việc tốt em vừa được chứng kiến chỉ nhỏ bé thôi nhưng đối với em ý nghĩa lại rất to lớn. Việc tốt đó càng lớn khi người làm là một người tàn tật. Chủ nhật vừa qua, em cùng bà nội ra bến xe buýt, đi Phú Lâm. Xe dừng, người lên kẻ xuống chen lấn, xô đẩy nhau. Trong xe đông nghẹt người, hai bà cháu không tìm ra một ghế trống đành phải đứng. Trước mặt em, một số thanh nièn khoẻ mạnh, mặc quần áo kiểu này kiểu nọ, nói cười huyên thuyên. Em cảm thấy khó chịu. Bà nội em đã bảy mươi tám tuổi, họ có nhìn thấy không nhỉ? Xe bắt đầu chạy, em giữ lấy tay bà. Khi xe thắng lại, hai bà cháu,như muốn té ngửa. Bỗng có tiếng trong trẻo vang lèn phía sau: – Thưa cụ, cháu mời cụ ngồi xuống ghế của cháu. Thuật lại một việc làm tốt mà em đã chứng kiến tại nơi em ở Bà em và em cùng quay lại. Em reo lên. – A! Chị Hoa. Em định ấn bà em ngồi xuống ghế. Chợt em dừng tay. Em nhìn xuống chân chị. Như hiểu ý, chị nói: – Dù sao cháu cũng là thanh niên. Cụ cứ ngồi cho khoẻ kẻo lúc thắng xe lỡ bị té… Chị Hoa với một chân bị tàn tật đứng lên. Bà em cảm động ngồi xuống trong khi chị run run vịn tay vào hàng ghế… Những thanh niên đang cười đùa chợt đỏ mặt. Có người lén đứng lên, len ra gần phía cửa. Bà em kéo chị Hoa ngồi xuống. Với cử chỉ âu yếm, bà quạt cho chị. Luồng gió mát như lan rộng khắp lòng xe… Chị Nguyễn Kim Hoa, cô gái hiền lành tàn tật của khu phố em làm cho em mến phục. Chị khiêm tốn trong cách ăn mặc nhưng chị mới thật là người lịch sự, văn minh. Ôi! Đẹp làm sao những con người đáng quý.
Thuật lại một việc làm tốt mà em đã chứng kiến tại nơi em ở
362
Đề bài: Thuật lại một việc tốt mà em đã làm hay đã chứng kiến ở trường Bài làm Hôm qua. em đã làm được một việc thầy hiệu trưởng rất hài lòng. Vào giờ chơi, em và bạn Minh cặp kè nhau đi dạo trước hành lang các lớp. Chợt, chúng em thấy bốn năm em nhỏ lớp một đang tụm lại làm gì đó chẳng biết. Nhìn ra thì hai em đang chăm chú vẽ hình bông hoa lên tường phòng học. Các em đứng ngoài cũng phụ hoạ theo. Em lấy phấn xanh, em lấy phấn vàng tô thêm vào ra chiều thích thú lắm. Thấy các em vui vẻ như thế, em cũng hơi đắn đo, nhưng rồi, em phải đến vỗ vai một đứa mà nói rằng: – Tại sao các em vẽ lên tường? Làm dơ tường hết. Thuật lại một việc tốt mà em đã làm hay đã chứng kiến ở trường Bạn Minh khuyên: – Mấy em bôi đi, kẻo chút nữa cô rầy đấy! Các em nghe vậy, lật đật lấy bông phấn lau túi bụi mà có sạch đâu. Em mới lấy giẻ nhúng nước lau phụ. Đang lúc ấy thì thầy hiệu trưởng đủng đỉnh đi lại. Nghe em kể hết sự việc, thầy nói: “Các con thật xứng đáng là đàn anh của mấy em nhỏ”. Được khen, hai đứa em nhìn nhau mà lòng lâng lâng sung sướng.
Thuật lại một việc tốt mà em đã làm hay đã chứng kiến ở trường
230
Đề bài: Thuật lại những điều nghe thấy trong đêm không ngủ của em Bài làm Đồng hồ thong thả gõ chín tiếng, xếp vội quyển sách toán lại, tôi đứng dậy với tay tắt cày đèn để đi ngủ vì ngày mai còn phải đi học sớm. Đêm càng khuya, gió càng thổi mạnh, tôi kéo chăn đắp lên mình, nhắm mắt lại cố dỗ giấc ngủ. Vừa chợp mắt thì hình ảnh bài toán đố cứ hiện lên trước mắt tôi, khiến tôi không tài nào ngủ được. Nằm gác tay lên trán, tôi để ý lắng tai nghe những tiếng động trong nhà. Tiếng đồng hồ vẫn gõ tích tắc đều đều, tiếng muỗi kêu vo ve, xen lẫn tiếng tặc lưỡi cùa mấy chú thằn lằn đang ẩn mình dưới kẹt tủ. Tiếng mèo kêu ngao ngao trên nóc nhà, tiếng chuột rúc rích trong tủ quần áo. Chung quanh tôi toàn là bóng tối. Thuật lại những điều nghe thấy trong đêm không ngủ của em Ngoài đường, tiếng rao của chị bán chè ngân dài trong đêm vắng. Tiếng gõ mõ lốc cốc của các chú chệt, xen lẫn tiếng guốc kéo lốp bốp của những người đi đường làm cho tôi đỡ cảm thấy cô độc một phần trong đêm lạnh. Bên ngoài, tiếng côn trùng vẫn nỉ non như những tiếng kêu cùa các oan hồn đang chơi vơi ngoài sương gió. Tiếng ru con của bà mẹ hoà lẫn tiếng võng đưa kẽo kẹt làm cho tôi cảm thấy lòng rung động trong tình mẫu tứ thiêng liêng cao quý. Xa xa tiếng chó sủa vang lên rồi tắt hẳn trong đêm dài vô tận. Dù không ngủ được, nhưng tôi cũng được sống sung sướng đầy đủ trong nệm ấm chăn êm. Trong lúc ấy có bao nhiêu tâm hồn đau khổ của những kẻ nghèo khó phải làm một nghề tồi tàn trong thiên hạ, và còn có những người cô độc đói khổ lang thang trên vạn nẻo đường và tôi bồi hồi thương cảm cho kiếp người lẻ loi cô độc.
Thuật lại những điều nghe thấy trong đêm không ngủ của em
345
Thuật lại ý kiến của các bạn trong nhóm về bảo vệ môi trường Hướng dẫn Thuật lại ý kiến của các bạn trong nhóm về bảo vệ môi trường Bài làm 1 Sau khi thảo luận, cả nhóm nhất trí về những việc cần làm để bảo vệ môi trường như sau: hãy coi lớp học, nhà trường như chính ngôi nhà của mình; phải đôn đốc, nhắc nhở nhau làm nhiệm vụ trực nhật; có ý thức quét dọn phòng học, sân trường sạch sẽ, đổ rác đúng nơi quy định; đi đường không được vứt rác bừa bãi, bạ đâu vứt đó mà phải bỏ vào thùng rác công cộng; đến chơi ở công viên, vườn hoa không được ngắt lá bẻ cành, phải có ý thức bảo vệ cây xanh; không được xả nước bẩn xuống ao hồ, sông ngòi… Đó là những việc cần làm mà nhóm tôi đưa ra, tôi xin trình bày mấy ý ngắn gọn như vậy. Bài làm 2 Nhóm tôi, sau khi thảo luận những việc cần làm để bảo vệ môi trường đã đi đến thống nhất những nội dung sau: không vứt rác bừa bãi; không đổ nước bẩn xuống ao hồ, sông ngòi phải có ý thức bảo vệ cây xanh nơi vườn hoa công viên; thực hiện tốt nội quy nơi công cộng; nhà cửa đường sá luôn quét dọn sạch sẽ, ăn ở ngăn nắp gọn gàng; thực hiện tốt công việc trực nhật hàng ngày và luôn luôn xây dựng cho mình ý thức bảo vệ môi trường. Tổ chúng tôi sau khi đã thảo luận sôi nổi về những việc cần làm để bảo vệ môi trường đều thống nhất nội dung sau: bảo vệ nguồn nước, bảo vệ cây xanh và luôn làm sạch đẹp khu vực công cộng cũng như nhà cửa của mình cụ thể là: không xả nước bẩn xuống sông rạch ao hồ làm ô nhiễm nguồn nước; không ngắt hoa bẻ cành làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây xanh, không vứt rác bừa bãi nhất là ở các khu vực đường sá, lớp học, sân trường; luôn quét dọn vệ sinh sạch sẽ nhà cửa, đường làng… làm cho môi trường luôn xanh, sạch, đẹp.
Thuật lại ý kiến của các bạn trong nhóm về bảo vệ môi trường
374
Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ Hướng dẫn Người phụ nữ trong xã hội phong kiến co một số phận bất hạnh, vô cùng đáng thương Mở bài: Nguyễn Dữ là một hiền nho, sống vào thế kỉ 16. Ông sống cùng thời và là một trong những học trò xuất sắc của trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sống trong cảnh chế độ phong kiến mục nát, “giông bão nổ trăm miền”, xã hội là cái “vực thẳm đời nhân loại” chỉ thấy “bóng tối đùn ra trận gió đen”. Nên sau khi đỗ hương cống, Nguyễn Dữ chỉ làm quan một năm rồi lui về ở ẩn. Đó là hình thức bày tỏ thái độ chán nản trước thời cuộc của một trí thức tâm huyết nhưng sinh ra không gặp thời. Ông chuyển tải tất cả những suy tư và nỗi niềm trăn trở trước thời cuộc vào tác phẩm Truyền kì mạn lục. Đây là một kiệt tác văn chương, một “thiên cổ kì bút” trứ danh đến tận ngày nay. Chuyện người con gái Nam Xương là thiên truyện thứ 16, trích trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục. Đây cũng là tác phẩm xuất sắc nhất trong Truyền kì mạn lục. Thông qua cuộc đời và số phận bi thảm của nhân vật Vũ Nương, Chuyện người con gái Nam Xương đã phản ánh sâu sắc thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đó là một xã hội tàn bạo, bất nhân, đẩy người phụ nữ vào bước đường cùng không lối thoát. Thân bài: Chuyện người con gái Nam Xương kể về cuộc đời và số phận đầy oan khuất, bất hạnh của người thiếu phụ tên là Vũ Thị Thiết, thường gọi là Vũ Nương. Vũ Nương vốn là người con gái thùy mị, nết na, tư dung lại muôn phần xinh đẹp. Cảm vì những phẩm đức ấy, Trương Sinh – một chàng trai con nhà khá giả – đã xin mẹ trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ. Biết tính chồng hay nghi ngờ, Vũ Nương hết mực giữ gìn khuôn phép. Chưa bao giờ nàng để sảy ra điều tiếng hay vợ chồng dẫn đến thất hòa. Hạnh phúc chưa được bao lâu thì năm ấy giặc Chiêm quấy rối biên cương. Trương Sinh dù là con một nhưng cũng phải đầu quân đi lính. Trương Sinh đi chưa được bao lâu thì nàng hạ sinh con nhỏ và đặt tên là Đản. Nàng một mình ở nhà chăm con nhỏ, phụng dưỡng mẹ già. Với con, nàng hết mực chu đáo. Với mẹ chồng, nàng hết lòng phụng dưỡng, chăm lo. Đến khi mẹ mất, nàng cũng lo ma chay tươm tất như mẹ đẻ. Lòng hiếu thuận của nàng khiến cho ai cũng mến phục. Đêm đêm, cảnh nhà cô quạnh, đứa bé hay khóc. Để dỗ con, nàng thường chỉ lên cái bóng của mình trên vách và nói đùa đó là cha. Đứa bé nghe thế tưởng thật không khóc nữa. Hai năm sau, giặc dữ đầu hàng, Trương Sinh trở về. Biết tin mẹ đã mất, chàng vô cùng đau buồn. Bởi tin lời nói ngây thơ của con trẻ, Trương Sinh nghi ngờ vợ ở nhà có gian tình nên hết lời mắng nhiếc, sỉ nhục và đánh đập vợ tàn tệ. Vũ Nương dù hết lời phân trần, giải bày cũng không khiến Trương Sinh hết giận. Làng xóm cũng can ngăn nhưng trương Sinh không nghe. Quá tuyệt vọng, Vũ Nương đã trầm mình trên bến sông Hoàng Giang, linh hồn còn mang nhiều oan khuất. Phân tích: Câu chuyện có yếu tố hoang đường nhưng đã phản ánh chân thực bộ mặt xã hội phong kiến đương thời. Đồng thời, truyện còn đề cao phẩm hạnh của người phụ nữ. Đó là tiếng kêu oan thê thiết, đòi quyền sống của con người trong xã hội nam quyền bất công, thối nát. Ở nhân vật Vũ Nương, hội tụ khá đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Đó là một người phụ nữ không những đẹp người mà còn đẹp nết. Nàng vô cùng đảm đang, tháo vát, hiếu thuận, lại hết mực thủy chung, son sắt. Vũ Nương là một người vợ đảm đang, cần mẫn, biết giữ mình trong khuôn phép. Khi chồng đi lính, Vũ Nương một mình nuôi con thơ. Ngày đêm giữ gìn tiết hạnh hầu vun đắp, dưỡng nuôi cái nguồi hạnh phúc mà nàng mong đợi. Nàng còn là một người con dâu chu toàn, hiếu thảo. Nàng tận tình chăm sóc mẹ chồng, thuốc thang cho mẹ khi ốm đau. Tấm lòng hiếu nghĩa ấy khiến mẹ Trương Sinh muôn phần cảm động. Không những phụng dưỡng mẹ khi còn tại thế, khi mẹ mất, Vũ Nương sốt sắng lo ma chay tế lễ mẹ như mẹ ruột của mình. nghĩa cử của nàng khiến cho xóm giềng không ngớt lời ca ngợi. Sự đảm đang, hiếu nghĩa ấy cũng biểu hiện “tấm lòng son” của mình đối với Trương Sinh. Đạo làm con, làm vợ, làm mẹ, tất cả đều được Vũ Nương thực hiện trọn vẹn. Vũ Nương còn là một người vợ thủy chung, son sắt, đậm tình, đậm nghĩa. Trước sau nàng một lòng giữ vẹn tình nghĩa vợ chồng. Khi về làm vợ trương Sinh, biết chồng hay gen tuông, nàng luôn giữ cho quan hệ vợ chồng. Không để lúc nào gia đình phải thất hòa. Khi chồng đi lính, nàng lựa lời đưa tiễn, không ham gì công danh quyền quý. Nàng chỉ mong chồng được bình an trở về. Qua lời tiễn biêt chồng ra trận, ta thấy rõ tình yêu thương chồng và niềm mơ ước khao khát hạnh phúc: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ,chỉ xin ngay ve mang theo hai chữ bình yên là đủ rồi”. Khi Trương Sinh chinh chiến nơi biên ải, nàng luôn giữ sự thủy chung. “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”, nàng hết lòng trung trinh, thay chồng làm tròn bổn phận. Thế nhưng, cuộc đời vốn đầy oan nghiệt. Ông trời thường làm khó kẻ hiền lương. Khi Trương sinh trở về, bởi nghe lời nói ngây thơ của con trẻ đã nghi ngờ vợ không đoan chính và sỉ nhục, đánh đập nàng. Vũ Nương không hiểu chuyện gì đang sảy ra. Nàng cố gắng phân minh để hàn gắn hạnh phúc. Nhưng mọi cố gắng không thể nào giải được mối oan tình. Bàn luận: Vũ Nương là một người phụ nữ bất hạnh, chịu nhiều khổ đau, phải lấy cái chết để chứng minh mình trong sạch trước nỗi hoài nghi của chồng. Đó cũng là hành động của con người khi rơi vào tuyệt vọng. Nàng quyết giữ gìn nhân phẩm, không chịu bị sỉ nhục. Cái chết của Vũ Nương và câu cái bóng trên tường được giải bày khiến cho Trương Sinh ra hiểu ra sự tình; chàng hối lỗi đã nghi ngờ và đối sử thô bạo với nàng nhưng đã quá muộn. Cái chết của Vũ Nương là lời tố cáo mạnh mẽ xã hội phong kiến đối bất công, tàn bạo đối với người phụ nữ, đã đẩy họ vào bước đường cùng không lối thoát. Họ luôn luôn bị ràng buộc trong giáo điều phong kiến và tư tưởng trọng nam khinh nữ đầy nghiệt ngã. Vì thế họ không nói lên được tiếng nói đòi quyền sống, quyền lợi cho mình. Họ phải chịu bao cảnh bất công trong chế độ nam quyền. Vũ Nương vốn là người vợ hiền, dâu thảo đáng quý. Trong cuộc sống vợ chồng, Vũ Nương rất ý tứ khôn khéo để giữ gìn hạnh phúc. Khi chồng đi lính nàng khắc khoải nhớ mong, lo lắng cho chồng. Nàng một lòng vẹn tiết, một dạ thủy chung, thay chồng phụng dưỡng mẹ già, làm tròn đạo con dâu. Còn với con thì nàng hết dạ thương con, vì không muốn con thiếu tình cha nên thường chỉ bóng mình trên vách khi đêm xuống và bảo đó là cha Đản. Không ngờ nàng đã vô tình đẩy mình vào bi kịch thương tâm. Với những phẩm chất tốt đẹp ấy, đáng lý nàng phải được hưởng hạnh phúc. Nhưng vì chiến tranh chia cắt. Hơn nữa quan niệm khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến đối với thân phận người phụ nữ xã hội cũ nàng đã không thể nhận được hạnh phúc mà lẽ ra nàng xứng đáng có được. Vũ Nương rơi vào bi kịch gia đình. Nàng muốn phân trần để chồng hiểu hầu bảo vệ hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ. Thế nhưng, Trương Sinh vốn “con nhà hào phú” lại thất học, đa nghi thêm tính cả ghen nên đã bỏ ngoài tai mọi lời bày tỏ của vợ, mọi lời biện bà con hàng xóm, họ hàng. Vũ Nương đau đớn thất vọng cho số phận hẩm hiu chồng con ruồng rẫy, phải chịu điều tiếng nhuốc nhơ. Cái chết của Vũ Nương trên bến sông Hoàng Giang là tiếng kêu uất ức, là tiếng thét đời quyền sống của con người. Dù Vũ Nương không làm mồi cho tôm cá, nàng được các tiên cá cứu về cung nước nhưng hạnh phúc của nàng ở trần gian đã tan vỡ “trâm gãy bình tan”. Vũ Nương ở thủy cung với Linh Phi nhưng quyền làm mẹ làm vợ của nàng không còn nữa. Đó là nỗi đau lớn nhất của người phụ nữ. Tuy rơi vào cảnh bất hạnh thương tâm, người phụ nữ xưa kia vẫn luôn khao khát khẳng định phẩm chất của mình. Mặc dù chết oan uổng nhưng Vũ Nương vẫn luôn muốn mình được giải oan. Nguyễn Dữ đã hiểu và thông cảm cho thân phận họ nên tác giả đã tạo nên yếu tố hoang đường kỳ ảo ở cuối truyện. Như vậy Nguyễn Dữ đã tạo ra yếu tố thần kỳ để nâng thêm giá trị tư tưởng cho tác phẩm. Các yếu tố hoang đường này được tác giả đưa vào xen kẽ với đia danh thực tế về địa danh lịch sử từ sự kiện đến nhân vật làm cho thế giới huyền ảo mơ hồ trở nên gần gũi thực tế. Câu chuyên có thể khép lại khi Trương Sinh hiểu thấu được mọi việc. Nhưng tác giả thêm phần Vũ Nương dưới thủy cung nhầm làm tô đậm thêm tính cách và tâm hồn của nàng. Tuy khao khát hạnh phúc, thương yêu chồng con, thiết tha với cuộc sống trần thế nhưng khi chồng lập đàn giải oan thì nàng vẫn từ chối cuộc sống nơi trần gian vì xã hội đó thiếu cái ân đức không có chỗ cho người con gái lương thiện dung thân. Thế nên cho dù đã nghe tiếng chồng gọi – người chồng vẫn chưa cạn tình, nàng chỉ đa tạ và trở về cuộc sống ở thủy cung. Cùng với Vũ Nương, Thúy Kiều, Kiều Nguyệt Nga, người phụ nữ trong bài Bánh trôi nước luôn có số phận khổ đau, bất hạnh nhưng luôn toát lên phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Tác phẩm có sự kết hợp phương thức tự sự, trữ tình, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi và văn biển ngẫu, lời văn cô đọng xúc tích. Lời lẽ Vũ Nương nhiều lần nói trong tác phẩm: khi bi oán, khi thiết tha, tạo sự xúc đọng cho người đọc. Cách dẫn dăt tình tiết câu chuyện hợp lý, tăng cường tính bi kich làm câu chuyện hấp dẫn, sinh động. Cách thắt nút, mở nút bất ngờ gây được sức thu hút mãnh liệt, đầy thú vị cho người đọc. Yếu tố kỳ ảo là những yếu tố không thể thiếu của truyền kỳ làm câu chuyện thêm hấp dẫn. Đây là sự sáng tạo trong xây dựng cốt truyện độc đáo của Nguyễn Dữ. Cách thức đưa yếu tố thực (địa danh,thời điểm lịch sử, sự kiện lịch sử, tình cảnh của nhà Vũ Nương) đan xen yếu tố kỳ ảo đã làm thế giới kỳ ảo lung linh gần cuộc đời thực, tăng độ tin cậy, người đọc không thấy ngỡ ngàng. Kết bài: Tác phẩm không chỉ thành công về mặt nghệ thuật mà còn mang giá trị, ý nghĩa sâu sắc. Đó là một chiếc gương phản ánh chân thực hiện thực xã hội phong kiến đương thời với nhiều sự bất công (trọng nam khinh nữ, phân hóa giàu nghèo, chiến tranh phi nghĩa,…).; khắc họa rõ nét bức tranh về cuộc đời – số phận của người phụ nữ thời kì đó, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Tác phẩm thể hiện sự trân trọng của nhà văn đối với những ước mơ chính đáng, khát vọng cao đẹp như: khát vọng được hạnh phúc, ước mơ về sự công bằng trong xã hội,… và bày tỏ niềm xót thương, cảm thông sâu sắc của tác giả đối với số phận của người phụ nữ thông qua nhân vật Vũ Nương. Tác phẩm còn là bản cáo trạng lên án, phê phán, tố cáo xã hội phong kiến đã chà đạp lên quyền sống của con người và mạnh mẽ khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ thông qua nhân vật Vũ Nương.
Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
2,272
Thói học đòi kệch cỡm (Về trích đoạn Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục – trích Trưởng giả học làm sang của Mô-li-e) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Thói học đòi kệch cỡm Đây là trích đoạn trong vở hài kịch nổi tiếng của Mô-li-e, Trưởng giả học làm sang (lớp 5, hồi II). Nói đến kịch phải nói đến xung đội kịch. Nhưng đi vào hài kịch thì cái mà người xem chú ý nhất lại là nghệ thuật gây cười. Trong những tình huống nhất định, nhân vật chính của hài kịch xuất hiện đem đến cho người xem những nụ cười sảng khoái. Đạt đến mức ấy, vở kịch đã thành công. 1. Cảnh thứ nhất: ông Giuốc-đanh và bác phó may Đối thoại đầu tiên của hai nhân vật xung quanh chuyện bít tất với đôi giày. Ở đây, ông Giuốc-đanh là người có lí, bởi cả hai thứ ông ta đều đi chật. Còn vì sao ông tá phải “khổ sở vô cùng mới xỏ chân vào được” (đối với tất) hay nó “làm tôi đau chân ghê gớm” (đối với đôi giày) chẳng qua là ở thói láu cá ăn bớt tiền của bác phó may (số nhỏ thì thường ít tiền hơn số đo lớn hơn), cũng như ở đoạn sau: may một bộ lễ phục cho khách mà bác ta cố tình gạn đủ một cái áo cho mình. Biết tỏng những mẹo vặt ấy, ông Giuốc-đanh dồn bác ta vào thế chân tường. Ăn vụng bị bắt quả tang, bác phó may là người đuối lí. Người xem hoàn toàn đồng cảm với ông Giuốc-đanh vì lúc này trí óc ông còn tỉnh táo. Vì tỉnh táo nên lí luận sắc sảo. Chẳng hạn khi bác phó may chống chế về đôi tất không xỏ vừa chân “Rồi nó dãn ra thì lại rộng quá ấy chứ”, ông Giuốc-đanh đốp vào mặt bác ngay “Phải, nếu tôi cứ làm đứt mãi các mắt thì sẽ rộng thật”. Còn với đôi giày đi chật, bác phó may không chịu, cho đó chỉ là tưởng tượng (“Ngài cứ tưởng tượng ra thế”), ông Giuốc-đanh có lẽ phải của ông: “Tôi tưởng tượng ra thế vì tôi thấy thế. Bác này lí luận hay nhỉ!” Cái đúng ở ông Giuốc-đanh có được là nhờ vào thực tế, lấy thực tế (là đôi chân của mình) làm thước đo, vì vậy mà phân biệt được phải trái rạch ròi. Khi không còn chỗ dựa ấy, hoặc lấy tưởng tượng làm chỗ dựa cho mình, ví như hình mẫu một nhà quý tộc trong cách ăn mặc ra sao, ông ta khôns còn sáng suốt nữa. Bị mù quáng và mê hoặc, ông Giuốc-đanh chỉ còn là một thứ hình nộm, một thứ con rối do người khác điều khiển giật dây. Nghệ thuật gây cười bắt đầu từ đó. Câu giới thiệu về bộ lễ phục vừa may xong của bác phó may đối với ông Giuốc-đanh như một phép thử, thử xem ông ta đã mê muội đến đâu: “Thưa, đây là bộ lễ phục đẹp nhất triều đình và may vừa mắt nhất. Sáng chế ra được một bộ lễ phục trang nghiêm mà không phải màu đen thật là tuyệt tác…“. Nhưng, sự khoác lác của bác phó may không hoàn toàn làm cho ông Giuốc-đanh bị hoa mắt. Ông ta lại có lí luận của ông ta: “Thế này là thế nào? Bác may hoa ngược mất rồi!” Lần này, ông ta vẫn có lí vì người thợ may nào chẳng phân biệt được cái điều sơ đẳng ấy. Nhưng cái lí của ông ta (Giuốc-đanh) chỉ có đến như thế, rồi thôi. Câu chống chế của bác phó may làm cho lão nửa tin nửa ngờ: “Vâng, phải bảo chứ. Vì những người quý phái đều mặc như thế này cả”. Câu thứ nhất, lão chắc không tin, nhưng đến câu thứ hai thì lão đã có phần tin, vì tin mà lão chì cần hỏi lại bác phó may tinh khôn bằn? một giọng của kẻ đáng thương đuối lí: “Những người quý phái mặc áo hoa ngược ư?“. Với người xem, luận điệu của bác phó may rõ ràng là lừa bịp (lễ phục không may màu đen, lại còn may hoa ngược), còn với ông Giuốc-đanh, ông thay đổi rất nhanh như người vồ được của. Vồ được của rồi, ông hí hửng, ông ôm giữ khư khư. Lại một phép thử nữa xem cá cắn câu đến mức độ nào khi bác phó may nói rằng hoa ngược có thể đổi thành hoa xuôi (?) thì ông Giuốc-đanh chối đây đẩy: “Khôn?, không” và lảng sang chuyện khác: “Bác cho rằng tôi mặc áo này có vừa vặn không?”. Sự đắc ý của ông Giuốc-đanh đã lên đến tột độ khi có được bộ lễ phục đúng mốt quý tộc: Điều đó làm cho lão lờ đi những chuyện vặt vãnh, râu ria. Bộ tóc giả và lông đính mũ, lão chỉ hỏi lấy lệ, qua loa, cũng như biết bác phó may ăn bớt vải một cách tham lam, trắng trợn (dám mặc áo bằng vải của mình trước mặt mình), lão cũng chỉ phàn nàn đôi chút mà thôi (“Đành là đẹp, nhưng đáng lẽ đừng gạn vào áo của tôi mới phải“). Xung đột kịch, diễn biến kịch không căng thẳng (như bi kịch chẳng hạn) nhưng qua nhân vật hài (ông Giuốc-đanh), tác giả đã giúp ta hình dung: thói học đòi, bắt chước đã biến đổi con người sâu sắc biết chừng nào. Sự sáng suốt bỗng trở lên mù quáng. Đúng mà hoá thành sai và neược lại. Rối tinh lên và lộn tùng phèo không còn biết đâu là chân lí nữa. 2. Cảnh thứ hai: ông Giuốc-đanh và những tay thợ phụ Nếu ở cảnh thứ nhất, sự lừa bịp đã thành công vì cái sự học đòi biến con người (ông Giuốc-đanh) thành một thứ mồi ngon của nó thì ở cảnh thứ hai, sự tâng bốc đã tháng lợi vì những danh tiếng hão huyền mà con người thường ước mơ, khao khát. Đầu tiên, nghe chú thợ phụ xin tiền uống rượu, ông Giuốc-đanh giật mình, giật mình không phải vì sợ (sợ mất tiền, cái sợ cố hữu của những người giàu keo kiệt) mà vì sung sướng, mở mày mở mặt: lần đầu tiên, ông ta được gọi là ông lớn. Một cách gọi chưa quen nên chưa dám tin không biết mình có phải nghe nhầm hay không? Ông ta phải hỏi lại cho chắc chắn. Khi biết đích xác là như thế qua lời nhắc lại của chú thợ phụ, nhất là khi tin vào lập luận của chính ông ta (“Ấy đấy, ăn mặc theo lối quý phái thì thế đấy! Còn cứ bo bo giữ kiểu áo quần trưởng giả thì đời nào được gọi là ông lém”), sự trả giá của ông Giuốc-đanh thật là hào phóng (“Đây, ta thưởng về tiếng ông lán đây này!”). Thói láu cá ranh ma – thực chất là từ lòng tham của tay thợ phụ có cái mũi rất tinh. Nó đánh hơi được con mồi béo bở: kẻ thích tâng bốc có cả một túi tiền. Túi tiền ấy giúp cho chú thợ phụ tinh khôn leo thang từng nấc một, biết kiềm chế, cứ từ từ, không đi đâu mà vội. Hãy cứ để cho người có túi tiền kia có thời gian tận hưởng niềm vui. Vì cứ có niềm vui của lão là tiền sẽ được xì ra. Lão không tiếc tiền vì lão cần danh vọng hơn, dù sự tôn vinh ẩy có là giả tạo đi chăng nữa. Cứ thế, danh vọng hão nhưng tiền lại là có thật. Những chú thợ phụ chỉ cần có thế, cứ tha hồ đem đến cho lão những niềm vui. Song, nhân vật chính ở cảnh này không phải là các chú thợ phụ, dù họ có đến bốn năm người và dù họ có mưu ma chước’ quỷ đến đâu, Nhân vật ông Giuốc-đanh mới là đối tượng mồi chài của họ, là nạn nhân mà cứ tưởng mình là ông lớn, mới là nhân vật trung tâm. Nhân vật ấy hiện trên sân khấu như cứ bằng xương thịt hẳn hoi vì ông ta là một người có tính cách: lòng hám danh kể cả cái danh nếu chỉ cần tỉnh táo một chút thôi sẽ biết là giả dối. Lão Giuốc-đanh còn tỉnh táo làm sao được trước vòng hào quang đường mật? Hệ thống đại từ nhân xưng: ông lớn, cụ lớn, đức ông thường dùng với những nhà quý tộc đã được lạm phát ở đây, với người xem nó dùng để lừa người, lừa những Kẻ trưởng giả như ông Giuốc- đanh ngu dốt hám danh. Ấy là còn chưa kể đến trình tự từ thấp đến cao của nó. Dù có là quý tộc hẳn hoi đi nữa thì làm sao có sự thăng cấp liên tục và chỉ trong phút chốc thế kia? Thế mà ông Giuốc-đanh có lần nào không vui, lần nào cũng như mở cờ trong bụng, và không lần nào giống lần nào. Hai lần trước ông ta say, say trước những từ ngữ đại ngôn hoa mĩ. Niềm vui của nhân vật lớn bé tuy có khác nhau, nhưng là niềm vui trọn vẹn, ông ta thoả mãn và có thể ngủ yên trong vòng tay của giấc mơ hạnh phúc tràn đầy. Nhưng đến lần thứ ba, ông ta có phần hồi tỉnh. Tóm lại, tình huống kịch và diễn biến kịch dù chi qua hai cảnh diễn nhưng rất sinh động, luôn luôn phát triển. Từ đó mà nhân vật kịch được khắc hoạ tài tình. Nổi bật lên một tính cách rất đáng bị phê phán: thói học đòi làm sang của hạne người trưởne eiả. Tính cách ấy biến con người thành một thứ trò hể mà chính con ngựời – hề kia không tự biết. Dĩ nhiên, nhân vật của Mô-li-e chỉ là sản phẩm của một thời (thế kỉ XVII), của một nền văn chương (văn chương Pháp). Nhưng là một hình tượng nghệ thuật được xây dựng rất thành công như thế, cho đến ngày hôm nay, nó vẫn là một cảnh báo. Con người,sẽ không còn là con người nếu bị nhiễm độc về tinh thần. Sự biến chất, sự thoái hoá sệ diễn ra như một thứ nguy cơ không thể nào tránh được.
Thói học đòi kệch cỡm (Về trích đoạn Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục – trích Trưởng giả học làm sang của Mô-li-e) – Bình giảng Ngữ Văn 8
1,770
Thơ Đường – Những tiếng nói xa xưa, những tâm hồn cao đẹp – Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Thơ Đường là thành tựu rực rỡ nhất của văn học đời Đường (thế kỉ VII đến thế kỉ X), là một trong nhũng thành tựu tiêu biểu nhất của văn học Trung Quốc, đồng thời là một thành tựu đột xuất của thơ ca nhân loại. Cho đến nay, các nhà sưu tầm và nghiên cứu còn lưu lại được gần 50000 bài thơ của hơn 2000 nhà thơ Đường. Thơ Đường vừa độc đáo vừa có tính cổ điển nhưng lại thể hiện một cách đầy đủ, tập trung đặc điểm của thể loại thơ. Đối với lịch sử văn học, thơ Đường ra đời trước nền văn học trung đại Việt Nam gần ba thế kỉ. Đối với bạn đọc Việt Nam, nhất là học sinh trung học cơ sở, thơ Đường là những sản phẩm tinh thần vừa xa vừa xưa. Nhưng học thơ Đường không phải chỉ là chiêm ngưỡng nhũng “cổ vật” mà chúng ta vẫn hiểu được tiếng nói của người xưa và vẫn rung cảm, thấm thía được những tâm hồn cao đẹp. Bốn bài Đường thi Xa ngắm thác núi Lư, Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch, Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của Hạ Tri Chương và Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ chính là nhũng tiếng nói tuy xa xưa nhưng vẫn ánh lên nhũng tâm hồn cao đẹp, đem lại cho chúng ta nhiều hiểu biết và sự rung cảm quý giá; Bài thứ nhất: Vọng Lư sơn bộc bố (Xa ngấm thác núi Lư) của Lí Bạch Phiên âm chữ Hán: Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bốquải tiền xuyên. Phi lưu trực há tam thiên xích, Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên. Tương Như dịch thơ: Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác trước sông này. Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây. Đây là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt thuộc đề tài tả cảnh ngụ tình. Tuy là bốn câu theo thể Đường thi, nhưng bố cục bài thơ khá độc đáo. Không bố cục tùng câu, nêu từng ý kiểu 1/1/1/1, cũng không bố cục hai phần 2 ý kiểu 2/2 mà là 1/3. Câu thứ nhất “Nắng rọi Hương Lô khói tía bay”, phác ra cái phông nền của bức tranh toàn cảnh thác núi Lư. Nhà thơ Lí Bạch miêu tả thác nước vào lúc mặt trời chiếu rọi, nắng sáng. Thác nước đổ mạnh, tung bọt, bay như sương khói phản quang dưới nắng, hắt ra một màu tía rực rỡ, kì ảo. Ba câu tiếp sau đặc tả hình ảnh dòng thác đang tuôn chảy. Câu thứ hai tả nét tĩnh của dòng thác. Câu thơ nguyên tác phải hiểu là “Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước”. Động từ “quải” nghĩa là “treo” có vẻ như “tĩnh”, biến cảnh “động” thành nét “tĩnh”. Tiếp đó là câu thứ ba, từ nét “tĩnh” chuyển sang cảnh “động”. “Nước bay thẳng xuống”, nguyên tác chữ Hán “phi” nghĩa là bay, khiến bức tranh trở nên linh hoạt, sống động. Đến câu cuối thì cảnh thác Hương Lô mới thực là tuyệt vời: “Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây”. Nghệ thuật so sánh ở đây cũng như phép cường điệu, phóng đại ở hai câu trên có vẻ như vô lí. Song đặt trong văn cảnh, người đọc vẫn cảm thấy chân thực, tự nhiên. Vì ngọn núi Hương Lô có mây mù bao phủ nên nhìn từ xa có cảm giác dòng nước như một dải lụa treo lơ lửng vắt từ trong mây, từ trên đỉnh trời mà trải xuống, chảy xuống. Do đó thi sĩ lãng mạn Lí Bạch mới ngỡ rằng sông Ngân Hà – một dòng sông đầy sao sáng trong huyền thoại cổ xưa – đang tuột khỏi mảy, chảy xuống trần gian vậy. Nhiều người coi câu cuối bài thơ này là “danh cú” (câu thơ, câu văn nổi tiếng) bởi nó đã huyền thoại hoá một hình ảnh tạo vật ở trần gian và ngược lại nó trần gian hoá một hình ảnh của huyền thoại. Qua câu thơ, tác giả đã biểu hiện một cái nhìn đầy sáng tạo và một cảm xúc thật mạnh mẽ. Có thể nói, với những hình ảnh tráng lệ, huyền ảo, bài Xa ngắm thác núi Lư đã miêu tả một cách sinh động vẻ đẹp nhìn từ xa của thác nước chây từ đỉnh Hương Lồ, thuộc dãy núi Lư. Qua đó, Lí Bạch thể hiện tình yêu thiên nhiên, đất nước đằm thắm và phần nào bộc lộ tính cách mạnh mẽ, hào phóng của một hồn thơ lãng mạn mà người đời thường gọi ông là “Tiên Thi”. Chất “Tiên Thi” của Lí Bạch còn được thể hiện ở bài thơ thứ hai: Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh). Phiên âm chữ Hán: Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương. Cứ đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương. Tương Như dịch thơ: Đầu giường ti ăng sáng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương. Mới đọc, nhiều người ngỡ đây là bài thơ tứ tuyệt Đường thi. Nhưng thực ra khống phải thế. Bởi vì Lí Bạch đã không phối hợp các thanh điệu trong mỗi câu thơ và trong cặp câu thơ theo đúng luật bằng trắc của Đường thi mà viết phóng túng theo cảm xúc của mình. Các nhà nghiên cứu xếp bài Tĩnh dạ tứ này thuộc thơ “cổ thể”, tức thể thơ xuất hiện trước thơ Đường. Bài thơ bốn câu, đan xen vừa tả cảnh vừa biểu hiện tình cảm của nhà thơ, cảnh và tình quan hệ khăng khít trong tùng cặp câu, khó mà tách bạch. Chúng ta biết rằng, nhà thơ sáng tác bài thơ này khi đang phải sống nơi đất khách quê người với biết bao gian khổ và không nguôi nỗi nhớ quê hương. Hai câu đầu vừa tả trăng sáng vừa tự vẽ chân dung và tự bộc bạch tâm trạng của con người: Ngỡ mặt đất phủ sương. Thấy trăng sáng đầu giường, nghĩa là nhà thơ đang nằm trên giường, chứ không phải đang ngồi (đọc sách), hay đang đứng ở ngoài sân ngắm trăng. Nằm trên giường, thao thức mãi không ngủ được, thấy trăng chiếu xuống, tưởng trời đã sáng, mặt đất phủ sương đánh thức mình trở dậy. Câu thơ thể hiện rõ tâm trạng khắc khoải, dáng hình trăn trở, thao thức của kẻ li hương. Chỉ một chữ “ngỡ” (trong nguyên tác là “nghi” đủ nêu được hai trạng thái của cái tôi trữ tình Lí Bạch. “Ngỡ mặt đất phủ sương” trực tả tâm trạng bâng khuâng, bất định, vừa gián tiếp tả cử chỉ của người đang nằm trên giường “cúi đầu” xuống nhìn mặt đất, nhìn vào mông lung, nhớ đất, nhớ người. Đến hai câu cuối thì nỗi nhớ dâng trào, cử chỉ cũng thêm bối rối, trằn trọc: Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đấu nhớ cố hương. Nếu ở hai câu trên, nhà thơ tả ngoại cảnh trước, nội tâm sau, thì đến đây, cảnh và tình, cử chỉ và tâm trạng hài hoà đan xen không thể tách bạch. Đang “cúi đầu” nhìn đất, nhớ quê, rồi ngẩng đầu “nhìn trăng sáng” để cố xua đi, để vơi bớt nỗi nhớ, thì nỗi nhớ bỗng trở lại, ngập tràn con tim, nên đành lại “cúi đầu nhớ cố hương”. Nổi khác đi, trong cái đêm thanh tĩnh ấy, trăng rất sáng, rất đẹp nhung lòng người không thể vui với trăng được, mà trái lại, dù ngẩng đầu nhìn trăng, hay cúi đầu nhìn đất thì nỗi nhớ quê vẫn khắc khoải trong lòng. Các động từ cử, vọng, đê, tư – ngẩng, nhìn, củi, nhớ liên kết chặt chẽ với nhau vừa tả cử chỉ vừa biểu hiện tâm trạng nhà thơ thật hài hoà đậm nét. Có người nói Tĩnh dạ tứ là bài thơ “đối cảnh sinh tình”. Nói vậy có phần đúng, nhưng không đủ. Tình vừa là nhân vừa là quả. Nhớ quê, thao thức không ngủ, nhìn trăng. Cảnh vừa là quả vừa là nhân. Trăng sáng, càng nhìn trăng, càng nhớ quê. Nghệ thuật phối hợp thế giới khách quan và nội tâm con người của bậc “Tiên Thi” Lí Bạch thật đáng nể trọng. Rõ ràng, với những từ ngữ đơn giản mù chắt lọc, bài thơ cảm nghĩ trong đêm thanh tình đã thể hiện một cách nhẹ nhàng và thấm thía tình cảm quê hương của một kẻ sống xa nhà trong đêm trăng thanh tĩnh.Đọc đến bài thơ thứ hai của Lí Bạch ta mới thấy đó là những tiếng nói xa xưa nhưng chứa đựng những tâm hồn vô cùng cao đẹp, rất gần với chúng ta ngày.nay. Bài thứ ba: Hồi hương ngẫu thư (Ngưu nhiên viết nhân buổi mán về quê) của Hạ Tri Chương thì sự tiếp nhận và cảm xúc của chúng ta càng sáng tỏ, càng đậm đà hơn: Phiên âm: Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi, Hương ảm vô cải, mấn mao tồi, Nhi đồng tương kiến, bất tương thức, Tiểu vấn: Khách tòng hà xứ lai? Phạm Sĩ Vĩ dịch thơ: Khi đi trẻ, tức về già,, Giọng quê vun thế, tóc đà khác bao. Trẻ con nhìn lạ không chào, Hỏi rằng: Khách ở nơi nào lại chơi? Theo sử liệu, Hạ Tri Chương – tác giả bài Hồi hương ngẫu thứ – đỗ Tiến sĩ, làm quan trên 50 năm dưới triều vua Đường Huyền Tông, từ lúc trai trẻ đến năm 86 tuổi mới cáo quan, nghỉ hưu, trở về quê hương. Vừa đặt chân tới làng thì gặp một sự việc bất ngờ khiến ông xúc động. Thế là ông ngẫu hứng viết bài thơ này. Bài thơ có hai chữ “ngẫu thư” không có nghĩa đây là sự tình cờ bộc lộ một cách tự nhiên mà bắt nguồn từ một nỗi niềm day dứt, một tình yêu quê hương sâu nặng, thường trực bất cứ lúc nào cũng có thể bật ra thành tiếng nói, thiết tha, chân thành nhất. Do đó, bài thơ có kết cấu cũng như hình ảnh, ngôn ngữ không có gì cầu kì trau chuốt. Lời thơ cứ tự nhiên kể theo sự việc đã xảy ra, nhưng nội dung cảm xúc thì thật là sâu lắng, xúc động. Bài thơ thuộc thể Đường thi, thất ngôn tứ tuyệt – bản dịch chuyển thành lục bát – gồm hai phần: Hai câu đầu vừa kể vừa tả về bản thân mình: Thiếu tiểu li gia, lão đụi hồi, Hương âm vô cải, mấn mao tồi. (Khi đi trẻ, lúc về già, Giọng quê vẫn thế, tóc đù khác bao) Tiếp hai câu sau thì sự lạ ấy đã xảy ra: Nhi đồng tượng, kiến, bất tương thức, Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai? (Trẻ con nhìn lạ không chào Hỏi rằng: Khách ở nơi nào lại chơi?) Bản thân nhà thơ thay đổi đã đành. Song dường như đằng sau sự việc trẻ con gặp mặt không nhận ra người quen cũng phần nào nối lên sự thay đổi của quê hương. Điều độc đáo ở đây là nhà thơ tả hình ảnh và tiếng cười nói ríu rít hồn nhiên của trẻ con khi gặp nhà thơ. Các cháu không những không chào đón thân mật trong quan hệ họ hàng, làng xóm mà lại hỏi một câu nghe đến não ruột: “Ông là khách ở nơi nào, ở làng nào, thành phố nào đến chơi…?”. Rõ ràng, trong khi mình thay đổi, thì quê hương cũng đổi thay. Mình thì đi từ trẻ, già mới quay về, còn ở quê hương thì tuổi già, bạn bè cùng trang lứa đã vắng bóng, chỉ còn lại lũ trẻ ngây thơ. Ngẫm ra, trong hoàn cảnh cụ thể bấy giờ của nhà thơ, một ông lão 86 tuổi thì điều đó đúng và thật xót xa. Làng quê chỉ còn nhi đồng ra đón, chứng tỏ những người cùng tuổi với nhà thơ nay đã thưa vắng nhiều.Ở thế kỉ thứVIII (năm 744, Hạ Tri Chương về quê) xa xưa ấy “Nhân sinh thất thập cổ lai hi” (Người thọ bảy mươi xưa nay hiếm). Do đó, trở về nơi chôn nhau cắt rốn, mà bị xem như khách thì quả là chua xót. Các em nhỏ càng ngây thơ cười nói, hỏi han bao nhiêu, nỗi lòng nhà thơ càng tan nát bấy nhiêu. Tình huống và giọng điệu của hai câu cuối bài thơ vừa hài vừa bi như muốn cười ra nước mắt. Có thể nói, bài thơ Hồi hương ngẫu thư đã biểu hiện một cách chân thực, sâu sắc mà hóm hỉnh tình yên quê hương thắm thiết, tinh tế, đáng trán trọng của một viên quan lớn ở đời Đường trong khoảnh khắc vừa đặt chân trở về quê cũ. Cũng là tiếng nói của tình quê, nhưng nếu Lí Bạch từ nơi xa vọng về, nhớ quê, thì Hạ Tri Chương đứng ngay trên mảnh đất quê nhà mà giãi bày tấm lòng tha thiết đối với quê hương. Yêu quê hương, cũng chính là yêu Tổ quốc. Tâm hồn của hai thi sĩ ấy thật cao đẹp. Bài thơ thứ tư: Mao ốc vị thu phong sở phá ca(Bài ca nhà tranh bị gió thu phá) của Đỗ Phủ cũng biểu hiện một tâm hồn cao đẹp ở một hoàn cảnh khác. Tháng túm, thu cao, gió thét già, Cuộn mất ba lớp tranh nhà ta. ……. Than ôi,! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt, Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được! Đây là bài thơ tự do, câu dài, câu ngắn phóng túng phù hợp với đề tài miêu tả một trận gió to, nhà bị tốc mái, gọi là thơ “cổ thể” – thể thơ xuất hiện trước thơ Đường. Do trình độ hạn chế nên chúng ta chỉ đọc bản dịch thơ của nhà thơ Khương Hữu Dụng. Và cũng vì thế, chúng ta chủ yếu tìm hiểu bố cục, hình ảnh, chứ không đi sâu phân tích, đánh giá các từ ngữ cụ thể trong nguyên tác chữ Hán như đối với ba bài thơ trước. Bài thơ gồm bốn phần với những bút pháp khác nhau, khá linh hoạt: – Phần một: năm câu đầu miêu tả cảnh gió làm tốc mái nhà, nhũng tấm cỏ tranh dùng lợp nhà bay sang bờ sông bên kia, treo trên ngọn cây rừng, nhào xuống lòng mương nước. Cảnh tượng thật kinh hoàng. Thơ tả là chính, song vẫn toát ra nỗi khiếp sợ hốt hoảng của nhà thơ – miêu tả, biểu cảm. – Phần hai: năm câu tiếp vừa kể việc, vừa bộc lộ nỗi xót xa, đau đớn – tự sự kết hợp biểu cảm. Hai hình ảnh đối lập được kể ra, thật đáng thương tâm: trong khi lũ trẻ thôn nam đua nhau cướp những tấm tranh, chạy đi, thì một ông già, nhà thơ Đỗ Phủ tay chống gậy, miệng thét gào thảm thiết chẳng đòi lại được, cuối cùng đành mang “lòng ẩm ức” trở về nhà. Nỗi đau vì cơn gió dữ mùa thu mỗi lúc một tăng. Như vậy, qua ba phần trên của bài thơ gồm mười tám câu thơ, tác giả bài Mao ốc vị thu phong sở phú ca vừa tả, vừa kể về một trận gió mưa mùa thu tàn phá căn nhà của mình, vừa ẩn dụ cho bức tranh xã hội đầy li loạn thời kì Trung Đường bấy giờ. Từ đó, nhà thơ cất lên tiếng nói xót xa cho thân phận mình nói riêng, cho kiếp người nói chung trước thiên tai và những tai ương do con người gây ra. Mỗi dòng thơ như một dòng nước mắt cứ tuôn ra, tuôn ra mãi… – Đến phần bốn: kết bài thơ, bất ngờ thay, nhà thơ không tiếp tục thở than mà trái lại, ông bình tĩnh, suy ngẫm để rồi cất lên tiếng nói lạc quan, giãi bày niềm khát vọng lớn lao, cao đẹp. Đỗ Phủ “Ước được nhà rộng muôn ngàn gian” để che khắp thiên hạ, kẻ sĩ cũng như người nghèo đều được sống hạnh phúc. Hai câu kết đoạn, cũng là kết bài thật bất ngờ. Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt, Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được! Đoạn thơ thứ tư, nhất là hai câu kết này thể hiện tấm lòng vị tha (chỉ nghĩ đến người khác, không nghĩ riêng cho mình) và tinh thần nhân đạo (thương người, mong mọi người hạnh phúc) rất đáng quý của Đỗ Phủ. Ước mơ ấy, tuy mang màu sắc ảo tưởng, lãng mạn nhưng rất chân thực, bắt nguồn từ cuộc sống có thực và bản tính nhân hậu của một thi sĩ luôn luôn gắn bó với đời, luôn quan tâm và mong muốn nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Kết hợp nhiều phương thức biểu đạt, Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ đã thể hiện một cách sinh động nỗi khổ của bản thân do căn nhà bị gió thu phá nát. Điều đáng quý hơn là vượt lên trên bất hạnh cú nhân, nhà thơ đã thổ lộ khát vọng cao cá: ước sao có được ngôi nhà vững chắc ngàn vạn gian để che chở cho tất cả mọi ngưòi nghèo trong thiên hạ. Đặt tên cho bài thơ của mình là “bài ca”, phải chăng Đỗ Phủ muốn cất cao tiếng hát vì con người, khích lệ con người vượt trên mọi đau khổ của cuộc đời hiện tại để hướng tới một tương lai tươi sáng? Đỗ Phủ đích thực là nhà thơ hiện thực mang tâm hồn lãng mạn cao quý, xứng đáng được người đời tôn là bậc “Thánh Thi”. Trở lại với các bài thơ Xa ngắm thúc núi Lư của Lí Bạch ; cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh cũng của Lí Bạch ; Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của Hạ Tri Chương và Bài ca nhà tranh bi gió thu phá của Đỗ Phủ, cùng bài đọc thêm Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều của Trương Kế, chúng ta như được lắng nghe những tiếng nói của một lớp người rất xa, rất xưa, với những từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu, bố cục thật tài tình, điêu luyện. Tuy rất xa xưa, nhung qua tài năng và tâm hồn cao đẹp của các tác giả thời Đường, chúng ta vẫn hiểu và tiếp nhận được biết bao điều bổ ích: lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước, tình thương con người, những khát vọng thấm đẫm chất nhân đạo, nhân văn. Thơ Đường, những tiếng nói xa xưa thể hiện những tâm hồn cao đẹp, rất đáng đọc. Rất nhiều thi sĩ Việt Nam – nhất là các thi sĩ ở thời kì trung đại – đã học ở thơ Đường cả nghệ thuật lẫn nội dung. Do đó, đọc thơ Đường, hiểu thơ Đường, chúng ta sẽ rèn luyện được nhiều kĩ năng đọc, hiểu và suy ngẫm về thơ ca Việt Nam chúng ta… Xem lại bài bình giảng Tình người cao hơn của cải
Thơ Đường – Những tiếng nói xa xưa, những tâm hồn cao đẹp – Bình giảng văn 7
3,247
Đề bài: Thư điện gửi tới thầy cô giáo cũ nhân dịp năm mới Bài làm Người nhận: thầy Trần Thanh Sơn, xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, Hà Nội Nhân dịp năm mới Kỉ Sửu 2009, em kính chúc thầy và toàn thể gia đình dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc, và thành đạt! Người gửi: Học sinh cũ Ngô Thanh Tùng, đường Dương Quảng Hàm, cầu Giấy, Hà Nội.
Thư điện gửi tới thầy cô giáo cũ nhân dịp năm mới
68
Đề bài: Thư điện gửi đến bạn cũ khi nghe tin địa phương bạn gặp nhiều thiệt hại trong đợt lũ vừa qua Bài làm Người nhận: Bạn Nguyễn Việt Anh, xã Đức Long, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Mình vô cùng lo lắng khi biết tin quê hương và gia đình bạn đang chịu nhiều tổn thất do trận bão lớn vừa qua. Mình xin gửi đến bạn và toàn thể gia đình niềm cảm thông sâu sắc. Mong bạn và gia đình nhanh chóng vượt qua khó khăn và sớm ổn định cuộc sống. Nơi gửi: Nguyễn Hồng Nhung, đường Trần Phú, thành phố Hải Phòng.
Thư điện gửi đến bạn cũ khi nghe tin địa phương bạn gặp nhiều thiệt hại trong đợt lũ vừa qua
105
Đề bài: Thư điện gửi đến người bác vừa được phong hàm giáo sư Bài làm Người nhận: Bác Nguyễn Ngọc Thiên An, khu Trung tâm Thương mại Thanh Trì, Hà Nội Thưa bác kính yêu! Hôm nay, cháu nhận tin bác được phong hàm Giáo sư Sử học. Cháu rất vui mừng và tự hào. Cháu xin chúc mừng bác, kính chúc bác cùng gia đình mạnh khoẻ, hạnh phúc; riêng bác sẽ tiếp tục giành được những thành công mới trong công việc nghiên cứu. Người gửi: Nguyễn Văn Quyền, khu đô thị Trung Yên, cầu Giấy, Hà Nội.
Thư điện gửi đến người bác vừa được phong hàm giáo sư
97
Thất bại là mẹ của thành công Hướng dẫn Thành công đơn giản là dũng cảm vượt qua thất bại! Mở bài: Đôi khi ta suy nghĩ tại sao thất bại lại có thể là mẹ của thành công được. Điều này có vẻ nghịch lí quá. Nhưng cuộc sống là vậy. Nghịch lí của vấn đề chính là động lực để nó phát triển hơn. Hãy suy nghĩ, nếu không có bóng tối sao ta có thể nhận ra chúng ta đang đứng trong ánh sáng. Ví như nếu không có đàn sói rượt đuổi, bắt giết thì đàn hưu cũng sớm bị tiêu diệt bởi chính những hệ lụy phát sinh do sự thiếu vận động của nó. Hãy nhìn nhận vấn đề ở hai mặt của nó để từ đó tìm ra mục tiêu của hành động, hình thành nghị lực sống vươn đến thành công. Thân bài: Thất bại là gì? Thất bại là không được mục tiêu mong muốn hoặc dự định. Và có thể được xem là trái ngược với thành công. Các thất bại thường để lại các hậu quả không mong muốn, có thể gây thiệt hại về vật chất và tinh thần ở nhiều mức độ khác nhau. Tuy nhiên, thất bại được ví như là “mẹ” của thành công và được xem là một trong những bước tiền đề, đặt nền tảng tiến tới thành công. Thành công là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau về thành công trong cuộc sống. Điều này cũng dễ hiểu vì mỗi người có mục tiêu sống khác nhau và mức độ yêu cầu để có thể coi là thành công cũng không hề giống nhau. Về cơ bản, thành công có nghĩa là đạt được điều mình mong muốn trong công việc hoặc cuộc sống. Đó có thể là một giá trị về tinh thần hoặc vật chất. Vì sao thất bại là người “mẹ” vĩ đại của thành công? Trong cuộc đời ai cũng có lần thất bại, công việc càng khó khăn thì khả năng thất bại càng nhiều. Mỗi thất bại sẽ đem đến cho ta một bài học, một kinh nghiệm,.. giúp ta tiến gần tới thành công. Thành công sau những thất bại thường có giá trị chắc chắn, vững bền, mang lại cảm giác hạnh phúc thực sự. Không ai muốn mình bị thất bại trong cuộc sống này. Bởi sau một thất bại, con người sẽ phải trả giá nặng nề. Thế nhưng, sau khi mỗi lần thất bại, ta sẽ tích cực tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những sai sót của ta. Từ đó rút ra được những kinh nghiệm quý báu, giúp ta tránh phạm những sai lầm đó nữa và ngày càng tiến tới bước đường thành công hơn. Không ai mà không có thất bại trước khi đạt đến vinh quang. Những người thành công trở nên vĩ đại là những người đã từng nhiều lần thất bại trong sự nghiệp của mình. Thomat Edison đã hơn nghìn lần thất bại để sáng tạo ra bóng đèn. Bandac đã vò nát biết bao trang giấy để viết được những cuốn tiểu thuyết bất hủ. Bill Gate đã nhiều lần khánh kiệt trước khi trở thành tỉ phú. Staven Job đã thất nghiệp, bị đuổi việc trước khi sáng tạo ra Apple huyền thoại. Không có thất bại thì không có thành công. Thất bại có vai trò củng cố cho ta niềm tin chiến thắng và nhận ra giá trị đích thực của cuôc sống. Không đơn giản là sống thành công mà còn phải biết sống đẹp bằng tất cả niềm đau thương và hạnh phúc. Chính những lần thất bại chúng ta mới nhận ra rằng dám thất bại thì mới đạt đến thành công. Không phải thất bại nào cũng mang tới thành công. Yếu tố quan trọng vẫn là nghị lực và trí tuệ của con người. Trên thực tế có người thành công dễ dàng nhưng ko phải là số nhiều Phải làm gì để vượt qua thất bại vươn đến thành công trong cuộc sống: Thomas Edison khẳng định: “Thành công là do 1% cảm hứng, 99% mồ hôi”. Bất cứ một thành công nào cũng đều xuất phát từ sự lao động miệt mài. Nghĩa là phải sống có lí tưởng, có hoài bão, có ước mơ lớn lao hướng đến một tương lai tươi sáng. Luôn rèn luyện và nâng cao bản lĩnh sống. Phải xác định mục tiêu sống lành mạnh, tiến bộ và giàu tính nhân văn. Phải hành động mãnh liệt, kiên trì, đối mặt và chiến thắng nghịch cảnh để vươn lên. Thành quả tốt đẹp luôn nằm ở phía cuối cùng của sự cố gắng. Phải có tình yêu cuộc sống mãnh liệt, yêu thương con người và quyết tâm xây dựng một thế giới công bằng, tiến bộ, văn minh. Luôn ý thức kỉ luật bản thân. Rèn luyện nhân cách nhân phẩm tốt đẹp trở thành người mẫu mực trong xã hội. Sống có mục đích, có ước mơ, hoài bão giúp ta thêm kiên cường đối diện thử thách, hướng đến thành công. Luôn kiên trì học tập, kiên trì làm việc. Sẵn sàng vấp ngã và dũng cảm đứng dậy là bí quyết của người thành công. Tri thức là sức mạnh, ai có tri thức người đó có sức mạnh. Lê-nin đã từng khẳng định điều ấy như một chân lí. E.Hubbard cũng đã nói: “không biết bao nhiêu lần con người buông tay từ bỏ khi mà chỉ một chút nỗ lực, một chút kiên trì nữa thôi là nah ta đạt đến thành công”. Chúng ta cũng khó nhận ra sự thành công đích thực trong cuộc sống này. Có lúc nó được giấu kín trong sâu thẳm, hay trong vỏ bọc đơn sơ không giá trị gì. Và phải nhìn nhận rằng thành công không phải là tấy cả. Thất bại không có nghĩa là chấm hết. Quan trọng là còn có lòng quả cảm để tiếp tục đi hết con đường như U.Churchill chỉ dẫn. Cuộc sống luôn rất công bằng với những ai luôn biết phấn đấu. Điều bất công ta thường thấy trong xã hội hãy xem là những “tai nạn”, những “rủi ro” mà trên bước đường đời ta vấp phải. Dù có thất bại nặng nề, dù có bị phủ nhận hay lãng quên thì hãy can đảm đứng lên bằng tất cả nghị lực của mình. Bằng sức mạnh của trí tuệ và lòng quả cảm vươn lên thì nhất định bạn sẽ gặt hái thành công. Edison đã hơn 1000 lần thất bại khi sáng tạo ra bóng đèn. Bandac cũng đã thất bại trước khi trở thành nhà văn vĩ đại. Đầu hàng số phận chẳng khác nào một hành động tự sát. Hãy kiên trì, hãy tin tưởng, hãy dũng cảm tiến tới bởi kết quả ngọt ngào luôn nằm ở cuối con đường. “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng”. Câu nói của Lỗ Tấn tiếp cho ta thêm sức mạnh để vượt lên, để hành động, để thành công. Đừng bao giờ sợ thất bại. Bởi vì sai lầm chính là động lực thúc đẩy ta hướng đến chân lí, hướng đến chân thiện mỹ. Một người mà luôn sợ thất bại, lúc nào cũng muốn mình sống một cuộc đời mà không có một sai lầm nào cả thì bạn là một người ảo tưởng, hoặc là hèn nhát không bao giờ dám đối mặt với cuộc sống. Nếu lúc nào ta cũng lo âu là mình sẽ luôn gặp thất bại thì ta chẳng bao giờ tự lập được cả. Hãy dũng cảm đứng dạy khi vấp ngã: Hãy nhớ rằng trả giá cho những sai lầm là cách để mỗi chúng ta trưởng thành hơn. Một người mà không chịu được mất mát thì sẽ chẳng được gì to lớn. Hãy nhớ rằng con đường đời trong cuộc sống không phải lúc nào cũng phải trải đầy hoa hồng. Nếu trong những việc nhỏ nhặt như thế mà chúng ta còn làm không xong thì làm sao mà ta có thể đương đầu với những gian nan khi ta lớn lên. Đừng bao giờ bi quan, buông xuôi tất cả. Bởi vì chính trong những lúc nguy nan, những lúc khó khăn nguy nan nhất, nếu ta vẫn bình tĩnh và có ý chí, ta có thể lật ngược lại vấn đề. Ta cần phải tự tin, lạc quan, có nghị lực để vượt qua những trở ngại, khó khăn thử thách để đạt đến thành công. Một điều quan trọng nữa là ta phải dũng cảm, trung thực nhìn nhận ra thất bại và vượt qua nó. Hãy xem thất bại như một động lực lớn giúp ta thành công. Những người khôn ngoan sẽ là người biết rút ra được kinh nghiệm và biết tìm con đường để tiến lên. Rèn luyện ý chí, không nản lòng trước thất bại. Hãy xem thất bại là thử thách đối với giá trị con người. Thế nhưng, cũng không nên lấy câu này chỉ để tự an ủi trong mỗi thất bại. Phải biết biến thất bại thành mẹ của thành công Kết bài: Thất bại là mẹ của thành công – đó là một chân lí đúng đắn. Thế nhưng, nếu có quá nhiềuthất bại sẽ không thể dẫn đến thành công. Nhân gian có câu: “Đừng để đến chín lần đứt tay mới lành nghề” nhằm nhắc nhở chúng ta phải biết rút kinh nghiệm mà mau chóng vươn đến thành công vậy. Bạn đang tìm kiếm vấn đề này: Bàn luận về lý tưởng sống của thanh niên ngày nay
Thất bại là mẹ của thành công
1,612
Thấy túi rác giữa đường, em nhặt bỏ vào thủng. Hãy kể lại việc làm đó Gợi ý Trên đường từ trường về nhà em là một đoạn đường không dài lắm. Ngày hôm ấy không hiểu ở đâu một túi rác nằm hiên ngang giữa đường cái. Biết bao người đi qua, đi lại, tất cả đều làm ngơ trước sự hiện diện của “vị khách không mời” ấy. Em thấy thật lạ là mọi người đi qua ai cũng chỉ nói bâng quơ: Khiếp, rác bẩn quá, rồi vụt đi mất. Em liền đi tới và buộc gọn gàng túi rác lại rồi bỏ nó vào trong thùng rác gần đó.
Thấy túi rác giữa đường, em nhặt bỏ vào thủng. Hãy kể lại việc làm đó
111
Thầy giáo Ha – men (văn bản Buổi học cuối cùng An-phông-xơ Đô-đê) trong buổi học cuối cùng có gì khác. Hãy tả lại thầy giáo Ha men trong buổi học ấy Trong buổi học cuối cùng, hình ảnh thầy Ha-men (văn bản Buổi học cuối cùng của An-phông-xơ Đô-đê) hiện lên thật khác với những ngày thường. Thầy mặc chiếc áo rơ-đanh-gốt màu xanh lục điểm lá sen gấp nếp mịn và đội mũ tròn bằng lụa đen thêu. Đó là bộ lễ phục chỉ dùng vào những ngày đặc biệt khi có thanh tra hoặc phát thưởng. Mái tóc đã lốm đốm hoa râm của thầy được chải gọn gàng. Thầy đi đôi giày đen rất hợp với sự trang trọng của bộ lễ phục. Thầy chuẩn bị bài học rất chu đáo. Giáo án được viết bằng thứ mực đắt tiền; những dòng chữ nghiêng nghiêng, rõ ràng, nắn nót, kẻ tiêu đề cẩn thận nổi bật trên nền giấy trắng tinh. Thầy giảng bài bằng giọng nói dịu dàng; lời nhắc nhở của thầy cũng hết sức nhã nhặn, trong suốt buổi học người không giận dữ quát mắng học sinh một lời nào. Ngay cả với cậu bé đến muộn Phrăng, thầy cũng chỉ nhẹ nhàng mời vào lớp. Tất cả học sinh trong lớp đều thấy rằng: Chưa bao giờ thầy kiên nhẫn giảng bài như vậy. Trong bài giảng của mình, thầy luôn ca ngợi tiếng Pháp – tiếng nói dân tộc – và tự phe bình mình cũng như mọi người có lúc đã sao nhãng việc học tập và dạy tiếng Pháp. Mỗi lúc thầy nói đến những điều đó, giọng thầy như nghẹn lại, lạc đi và gương mặt hằn lên những nếp nhăn đau đớn. Thầy còn nhấn mạnh rằng, chính tiếng Pháp là vũ khí, là chìa khóa trong chốn lao tù, giúp mỗi người tù vượt tù “vượt ngục tinh thần”, nuôi dưỡng lòng yêu nước. Những thay đổi của thầy Ha-men trong buổi học cuối cùng đã khẳng định một điều chắc chắn: Thầy là người yêu nghề dạy học, yêu tiếng mẹ đẻ, và là người yêu nước sâu sắc.
Thầy giáo Ha – men (văn bản Buổi học cuối cùng An-phông-xơ Đô-đê) trong buổi học cuối cùng có gì khác. Hãy tả lại thầy giáo Ha men trong buổi học ấy
360
Thử thách của thế hệ chúng ta là tạo ra một thế giới, nơi mà mọi người đều có mục đích của mình (Mark Zuckerberg) Hướng dẫn Thử thách của thế hệ chúng ta là tạo ra một thế giới, nơi mà mọi người đều có mục đích của mình William Arthur Ward đã từng nói: “Sự kiên nhẫn của ngày hôm nay có thể biến những nản lòng của ngày hôm qua thành khám phá của ngày mai. Những mục đích của ngày hôm nay có thể biến những thất bại của ngày hôm qua thành quyết tâm của ngày mai”. Mục đích sống mạnh mẽ luôn là yếu tố chủ chốt giúp ta đạt lấy mọi giá trị ở tương lai. Bởi thế, Mark Zuckerberg, ông chủ trang mạng Facebook cũng cho rằng: “Thử thách của thế hệ chúng ta là tạo ra một thế giới, nơi mà mọi người đều có mục đích của mình”. Thật tồi tệ nếu chúng ta sống mà không hề có một mục đích nào. Chúng ta ẽ không biết mình sống vì ai, vì cái gì và sống để làm gì? Cuộc sống sẽ rất nhàm chán và sự tồn tại của chúng ta sẽ là vô nghĩa. Mục đích là cảm giác giúp chúng ta nhận thức rõ ràng về sự tồn tại của bản thân, là một phần của thứ gì đó lớn hơn bản thân, chúng ta được cần đến, chúng ta có thứ gì đó tốt đẹp hơn phía trước để làm. Mục đích là thứ tạo ra hạnh phúc thực sự của đời người. Trong phát biểu của Mark Zuckerberg đã vạch rõ cho chúng ta điều đó. Ông cho rằng “thử thách của thế hệ chúng ta là tạo ra một thế giới mới”. Đó phải là một thế giới của chúng ta, do chúng ta làm chủ. Thế giới ấy thực sự đưa lại cho chúng ta những mục đích sống mạnh mẽ và tạo ra cho chúng ta những nguồn sống dạt dào nhất. Mục đích là cái chủ đích nhắm tới ở tương lai cho một nỗ lực. Mục đích đề ra những gì ta muốn đạt tới và thường là dài hạn, và có thể không có giới hạn thời gian, có tác động lớn và lâu dài lên đời sống, sự phát triễn của một cá nhân hay tập thể. Mục đích thường không được đo lường, hoặc khó đo lường được vì nó mang tính trừu tượng. Mục đích chính là thành tựu mà con người hướng đến ở tương lai thông qua hệ thống các nguyên tắc trong hành động. Nó chính là điểm đến quy hướng tầm nhìn và hi vọng của con người. Xác định được mục đích, con người mới có thể lập kế hoạch, vạch rõ một con đường từ điểm xuất phát ở hiện tại, đi đến thành tựu ở tương lai.
Thử thách của thế hệ chúng ta là tạo ra một thế giới, nơi mà mọi người đều có mục đích của mình (Mark Zuckerberg)
482
Thử tưởng tượng em đang được ngồi trên thuyền giữa dòng sông La tấp nập đông vui. Hãy tả lại cảnh tượng đó Gợi ý Em hãy đọc đoạn thơ dưới đây, trích từ bài thơ Bè xuôi sông La: “… Bè ta xuôi sông La Dẻ cau cùng táu mật Muồng đen và trai đất Lát chun rồi lát hoa Sông La ơi sông La Trong veo như ánh mắt Bờ tre xanh im mát Mươn mướt đôi hàng mi Bè đi chiều thầm thì Gỗ lượn đàn thong thơ Như bầy trâu lim dim Đằm mình trong êm ả Sóng long lanh vẩy cá Chim hót trên bờ đê…” Thử tưởng tượng em đang được ngồi trên thuyền giữa dòng sông La tấp nập đông vui ấy. Hãy tả lại cảnh tượng đó. Bài làm “…Sông La ơi sông La Trong veo như ánh mắt Bờ tre xanh im mát Mươn mướt đôi hàng mi…” Những hình ảnh thơ “trong veo” trong bài thơ “Bè xuôi sông La” của nhà thơ Vũ Duy Thông cứ hiện lên một cách mê say trong tâm trí em. Thế rồi hôm ấy, em nằm mơ được ngồi “bè xuôi sông La”. Em đang ngồi trên một chiếc bè mảng trôi giữa dòng sông La lịch sử. Xung quanh em, tấp nập thuyền bè xuôi ngược. Những chiếc bè lớn được ghép từ nhiều phiến gỗ, trên đó chở biết bao loại gỗ quý: táu mật, muồng đen, trai đất, lát chun, lát hoa,… Bao nhiêu loài gỗ bấy lâu em chỉ đọc trong sách bâỵ giờ được nhìn tận mắt, thật thú vị. Các súc gỗ đều được pha từ các thân cây cô thụ nên khá lớn, thịt gỗ rất rắn, mỗi loài lại mang một màu đặc trưng: màu vàng ươm, màu trắng sữa, riêng gỗ lim thì đen bóng khiến ta ngỡ là đồng đen. Các thuyền lớn thì chở nhiều loại lâm sản khác của rừng: những buồng cau lớn, những loại thảo dược như thảo quả, đinh hương,… Điều thú vị nhất là giữa dòng chảy hơi dốc của sông La còn xuất hiện nhiều thân gỗ được thả trôi. Bác lái bè giải thích rằng đó là những thân gỗ được hạ từ mé thượng nguồn của dòng sông rồi được thả trôi về phía hạ nguồn. Mỗi thân gỗ lại có kí hiệu riêng của chủ nên không lo bị lạc. Quả thực, quan sát kĩ em thấy trên mỗi thân gỗ đều được khắc những tên riêng. Chiếc bè cứ êm đềm trôi đi, biết bao bè gỗ, thuyền cau đã trôi qua trước mắt em. Gương mặt những người lái bè, lái thuyền ai cũng hăm hở, tươi tắn; Họ đều tay đẩy mái chèo khua nước, thỉnh thoảng lại dừng tay lái khẽ lau những giọt mồ hôi lấm tấm trên mặt, Giữa dòng sông La này, muốn nói chuyện phải hét lên thật to để thắng được khoảng cách và tiếng rì rào của nước. Bởi thế, thỉnh thoảng lại bất chợt vang lên tiếng hú chào nhau của các bác lái. Tiếng cười giòn giã sau đó theo mặt nước mà lan ra khắp không gian. Càng đi, càng thấy trong không khí có một mùi hương gì ngọt mát, đó phải chăng là hương cây, hương nước sông La? Ngồi bè trôi trên sông La còn có một cảm giác thú vị nữa là được ngắm dòng nước trong veo cùng những hàng cây rợp bóng hai bên bờ. Nước sông La chẳng những mát lành mà còn vô cùng trong trẻo. Ngồi trên bè, khẽ nghiêng mình xuống, em có thể thấy gương mặt mình in rất rõ trên mặt nước. Trên bờ sông, hai rặng tre mươn mướt bốn mùa, có lẽ đã mấy chục năm nay tre nghiêng nghiêng soi bóng xuống dòng sông. Thỉnh thoảng, dưới khóm tre lại có chú trâu nằm nhởn nhơ nhai lại cỏ. Các chú binh thản nhìn thuyền bè qua lại trên sông như một cảnh tượng quen thuộc. Sông La như ánh mắt trẻ thơ trong vắt mà những hàng tre là những hàng mi cong vút đáng yêu…
Thử tưởng tượng em đang được ngồi trên thuyền giữa dòng sông La tấp nập đông vui. Hãy tả lại cảnh tượng đó
676
Thực trạng sử dụng rượu bia hiện nay – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Thực trạng sử dụng rượu bia hiện nay Đề bài “Người chết đuối trong li cốc đông hơn người chết đuối dưới sông”. (Ch. Cenhier) Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu quan điểm của bản thân về thực trạng sử dụng bia rượu ở Việt Nam hiện nay. Hướng dẫn làm bài Đề bài yêu cầu thí sinh giải thích câu nói của Ch. Cenhier, từ đó bàn luận, mở rộng vấn đề về thực trạng, tác hại của việc lạm dụng bia rượu, những hệ quả và biện pháp khắc phục tình trạng lạm dụng bia rượu ở Việt Nam. Cần trả lời được các câu hỏi sau: Câu “Người chết đuối trong li cốc đông hơn người chết đuối dưới sông” của Ch. Cenhier ý muốn nói gì? Tại sao người chết đuối trong li cốc đông hơn người chết đuối dưới sông? Sử dụng rượu bia quá độ có ảnh hưởng như thế nào đến sức khoẻ, ý chí, tư duy, sự nghiệp của con người? Thực trạng sử dụng bia rượu ở Việt Nam và hệ quả của nó? Làm thế nào để khắc phục tình trạng lạm dụng bia rượu hiện nay? Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Sử dụng rượu bia là một thói quen của nhiều người ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Sử dụng rượu bia với mức độ hợp lí có thể đem lại cho con người cảm giác khoan khoái, lưu thông huyết mạch, là phương thuốc kết hợp để chữa trị một số bệnh tật… Song rượu bia là chất kích thích, gây nghiện, người sử dụng rất dễ bị lệ thuộc dẫn đến tình trạng lạm dụng, nghiện ngập. Lạm dụng rượu bia có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, cộng đồng và xã hội. Câu nói “Người chết đuối trong li cốc đông hơn người chết đuối dưới sông” của Ch. Cenhier không chỉ là một cách nói ấn tượng về tác hại của bia rượu mà còn gợi ý cho chúng ta nhìn thẳng vào thực trạng lạm dụng bia rượu ở Việt Nam hiện nay. – Rượu bia là chất kích thích mạnh, được ví ngang hàng với hê-rô-in về mặt độc hại và lệ thuộc. Rượu bia là chất chứa cồn (etanol), khi vào cơ thể, etanol được thực quản, dạ dày, tá tràng hấp thu một phần nhỏ giúp cải thiện tình trạng tiêu hoá; phần lớn còn lại xuyên qua ruột non và lan toả đến tất cả bộ phận trong cơ thể. Rượu là nguyên nhân chính gây viêm gan, xơ gan và ung thư gan. Rượu gây ra các rối loạn chức năng liên quan đến hệ tiêu hoá, tim mạch, sinh dục và các bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, đái tháo đường. Rượu gây thiếu hụt dưỡng chất, trong đó có sự thiếu hụt vitamin B là nguyên nhân gây bệnh ở não, suy tim. Rượu gây nên hội chứng nhiễm độc bào thai, tăng nguy cơ dị tật và tác hại nhiều nhất đến não bộ thai nhi. Rượu bia là tác nhân gây ra các bệnh tâm thần như: tổn thương dây thần kinh ngoại biên, tâm thần phân liệt, tăng lo âu, sầu uất, trầm cảm dẫn đến gia tăng các ý tưởng tự sát,… – Đáng buồn thay, uống rượu bia dường như đã trở thành một phần “văn hoá” của người Việt, là “điểm nhấn” để thể hiện bản lĩnh đàn ông, là biểu hiện để chứng tỏ sự chân thành và hoà đồng, nhiệt tình, vẫn còn nhiều người quan niệm “nam vô tửu như kì vô phong”, tức đàn ông không uống bia rượu sẽ không thể hiện được phong độ nam nhi của mình. Ở Việt Nam hiện nay, hầu hết tại các đám cưới hỏi, ma chay, lễ tết, những cuộc họp mặt, liên hoan đều phải có bia rượu để “tăng không khí”. Thậm chí, bạn bè gặp nhau cũng phải ra quán bia làm vài chầu hoặc mở chai rượu thù tiếp nhau. Rượu bia vào tận cơ quan công sở, không thiếu những người đến nơi làm việc mặt đỏ phừng phừng, hơi men nồng nặc. Nhiều người đàn ông Việt Nam hết giờ làm chưa chịu về nhà ngay mà còn rẽ vào quán bia tụ tập, nhậu nhẹt, mặc cho gia đình mỏi cổ đợi cơm. Chính vì thế mà các quán rượu, quán bia mọc lên như nấm, người kéo nhau đến đông như hội. + Cần phải xây dựng một môi trường văn hoá, xã hội lành mạnh; phải nói không với tình trạng sử dụng bia rượu phổ biến tràn lan khắp mọi gia đình, cơ quan, đoàn thể, địa phương như hiện nay. + Cần tuyên truyền sâu rộng tác hại của việc lạm dụng rượu bia đối vói sức khoẻ, công việc và tương lai của con người, cộng đồng, dân tộc. + Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cần yêu cầu cán bộ, công nhân, viên chức, đoàn viên không uống rượu, bia trong giờ làm việc. + Cần ban hành quy định yêu cầu khi quảng cáo rượu bia phải gắn kèm nội dung cảnh báo tác hại của việc lạm dụng rượu bia. + Nhà trường, gia đình và xã hội cần quan tâm phòng ngừa, ngăn chặn việc sử dụng rượu bia đối vớ trẻ em dưới mười tám tuổi…
Thực trạng sử dụng rượu bia hiện nay – Ngữ Văn 12
928
Đề bài: Tinh Thần Lạc Quan Của Bác Trong Bài Tức Cảnh Pác Bó BÀI LÀM Nhắc đến Bác Hồ là nhắc đến người lãnh đạo thiên tài của Cách mạng Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới. Nhưng nhắc đến Bác, còn là nhắc đến một lối sống thanh bạch, khiêm nhường, suốt đời chỉ chăm lo đến sự nghiệp cách mạng của đất nước. Điều đó được thể hiện rất rõ qua bài thơ “Tức cảnh Pác Bó”: “Sáng ra bờ suối tối vào hang Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng Cuộc đời cách mạng thật là sang”. Sau bao nhiêu năm bôn ba tìm đường cứu nước, chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Là một nhân vật lịch sử lỗi lạc của dân tộc, là nhà thơ, nhà danh nhân văn hóa. Cuộc đời thơ ca của Bác luôn song hành với cuộc đời chính trị. Trong những năm gian khổ ở cuộc kháng chiến trống Pháp, làm việc trong hoàn cảnh hết sức thiếu thốn, ở hang Pác Pó, bàn làm việc chông chênh bên suối Lê – Nin. Bác đã viết những bài thơ ngấm vào máu thịt của người dân Việt Nam. Bài thơ Tức cảnh Pác Pó đã diễn tả được phong thái ung dung,tinh thần lạc quan yêu đời, “thú lâm tuyền” khoáng đạt, tươi sáng của Bác. Bài thơ đã đồng hành cùng thời gian, vượt qua hành trình hơn 70 mùa xuân. Giờ đây bài thơ như một chứng tích lịch sử của cách mạng Việt Nam. Qua đó, còn cho chúng ta thấy phong thái ung dung tự tại, tinh thần lạc quan cách mạng của người chiến sỹ cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh về những năm tháng hoạt động bí mật, đầy gian khổ vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Nơi thâm sơn cùng cốc ấy, Người ở – ăn – làm việc như thế nào? “Sáng ra bờ suối tối vào hang”, câu thơ cho biết không gian sống của Bác là không gian núi rừng hoang sơ, dân dã: suối, hang. Không phải là tòa biệt thự đồ sộ, không phải là giường ấm, đệm êm dù Bác đang là một yếu nhân của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt, gian lao của đất nước, Người sẵn sàng sẻ chia thiếu thốn. Câu thơ có sự đối xứng nhịp nhàng: “sáng” – “tối”, “suối” – “hang”, “ra” – “vào”. Không gian và thời gian khép lại câu thơ đầy bóng tối: “tối”, “vào”, “hang”. Điều đó đã nhấn mạnh những gian khổ trong điều kiện ở của Bác. Chẳng nhừng vậy, điều kiện ăn uống của Bác cũng rất hạn chế: “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”. “Cháo bẹ” là cháo ngô, loại thức ăn đạm bạc thường ngày của đồng bào dân tộc Việt Bắc. “Rau măng” cũng vậy. Nhà thơ Phạm Tiến Duật từng viết “Hết rau rồi em có lấy măng không?”, nghĩa là măng còn đạm bạc hơn cả rau rừng (vốn đã bị coi là đạm bạc rồi!). Nhưng dẫu thiếu thôn, gian khổ đến vậy, Người “vẫn sẵn sàng” cho công việc cách mạng, phục vụ cho lợi ích của nước, của dân. “Cuộc đời cách mạng thật là sang!” “Cuộc đời cách mạng” chính là cuộc sống với cái ở, cái ăn và sự làm việc như ba câu thơ trên. Bác dùng từ “thật là” mượn của khẩu ngữ rất tự nhiên, nó thể hiện sự cảm thán của người viết. Và chữ kết lại bài thơ thật bất ngờ: “thật là sang!”. Chữ “sang” mang ý nghĩa là sang trọng, đầy đủ. Chữ “sang” làm bật lên tiếng cười vui vẻ, niềm lạc quan trước cuộc sống gian khổ, thiếu thốn. Chính tinh thần ấy đã trở thành động lực để Bác cùng những người đồng chí vượt qua sự ngặt nghèo của đời sống và tình thế cách mạng để làm việc và chiến đấu. Chỉ một chữ mà khắc họa chân dung tinh thần của một con người. Chữ “sang” xứng đáng là “nhãn tự” của bài thơ tứ tuyệt “Tức cảnh Pắc Bó”. Cùng với “Vọng nguyệt”, “Nguyên tiêu”, “Cảnh khuya”…,“Tức cảnh Pác Bó” xứng đáng là một trong những bức chân dung tinh thần xinh xắn của con người vĩ đại Hồ Chí Minh.
Tinh Thần Lạc Quan Của Bác Trong Bài Tức Cảnh Pác Bó _ Văn Mẫu
741
Tinh thần phục hưng trong thơ Hồ Xuân Hương Hướng dẫn Tinh thần phục hưng trong thơ Hồ Xuân Hương Hồ Xuân Hương là cái tên được nhắc nhiều khi người ta nhắc tới người phụ nữ dám dùng văn chương của mình để viết về những câu chuyện những mảnh ghép của cuộc sống. Đăc biệt bà là người mà nhắc tới nhiều người phụ nữ bất hạnh và lên tướng đòi quyền bình đẳng cho những người phụ nữ đó. Nay ta lại thấy Xuân HƯơng xuất hiện với một đề tài vô cùng lí thú độc đáo nhưng cũng hết sức ý nghĩa thâm thúy: Tinh thần phục Hưng. Nhắc tới phục hung người ta nghĩ ngay tới phong trào phục hung ở phương tây vốn vô cùng nỏi tiếng và để lại nhiều thành quả cho tới nagyf nay. Nó không những được thể hiện những thay đổi độc đáo trong tư duy và tư tưởng của văn học mà còn là những nét mới đỉnh cao là góp phần trong sự thành công của hội họa. Chính nói tới sự đổi mới và có những nét khác biệt chấm phá đó mà chúng ta nhắc tới Hồ Xuân Hương vơi tính chất phục hung trong thơ văn của bà. Bà chúa thơ NÔm không ngần ngại là một người phụ nữ mà dám bày tỏ những nét trần tục trong thơ văn của mình. Nó vừa mang vẻ đẹp trần tục nhưng cũng khiến người ta mỗ khi đọc lên không kém phần bối rối. những vẫn thơ của bà viết ra mặc nhiên người ta có sức tưởng tượng vô cùng phong phú và ám chỉ những thứ không còn thanh cảnh nữa mà rất trần tục đời thường có khi lại còn rất gây bối rối cho những độc giả khắt khe. Những tư tưởng đề cao bản năng và tự nhiên của con người thường được nhắc tới nhiều nhất khi mà HỒ Xuân Hương viết về người phụ nữ: “lược trúc chải cài trên mái tóc Yếm đào trễ xuống dưới nương long Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm Một lạch đào nguyên suối chửa thông” Những câu thơ chỉ muốn tôn lên vẻ đẹp tự nhiên của người phụ nữ trong khi ngủ với hình ảnh bầu ngực và những hình ảnh vô cùng duyên dáng gợi cảm. Hay những hình ảnh và câu thơ táo bạo hơn như: “Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa ………… Chành ra ba góc da còn thiếu Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa” Tinh thần phục hung của Hồ Xuân Hương thể hiện trong bài thơ của mình cũng rất rõ rang, hình ảnh dù có khiến người đọc liên tưởng tới đâu thì bài thơ cũng với mục đích vẽ ra những hình ảnh đường nét của một người phụ nữ. “trai du gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng Hai hàng chân ngọc duỗi song song cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không” Nghệ thuật cũng môt phần nào nhắc tới thể hiện tinh thần phuc hung trong thơ Hồ Xuân HƯơng và cách nói lái nói lõm là một trong những điểm nhấn nhá về nghệ thuật của bà. Những nghệ thuật ấy khiến cho người đọc khi đọc lên lại có những liên tưởng độc lạ về bài thơ. Có thể nói về cả nội dung lẫn nghệ thuật Hồ Xuân Hương đã đem tới một cách nhìn mới lạ trong thơ văn cũng như trong nghệ thuật. Cho nên quả thực nhắc tới tinh thần phục hung trong thơ bà là không hề sai. Nguồn: Bài văn hay
Tinh thần phục hưng trong thơ Hồ Xuân Hương
595
Đề bài: Tinh Thần Yêu Nước Qua 3 Văn Bản Chiếu Dời Đô Hịch Tướng Sĩ Nước Đại Việt Ta BÀI LÀM Cảm hứng chủ đạo của văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV là cảm hứng yêu nước. Tình cảm đó đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử nước ta, chi phối và tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học để rồi kết tinh nên ba áng văn chương bất hủ: Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Chúng ta có thể khẳng định rằng ba văn bản này là những tác phẩm bất hủ thấm đãm tinh thần yêu nước. Trước hết, trong Chiếu dời đô, Lý Công Uẩn đã bày tỏ ý nguyện muốn dời đô từ Hoa Lư về Đại La để đóng đô ở nơi “trung tâm trời đất, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu”, để “trên vâng mệnh trời, dưới hợp lòng dân”. Như vậy, tư tưởng yêu nước đã được thể hiện ở việc gắn liền sự bền vững của một triều đại với ý nguyện của muôn dân. Khi nhìn lại các triều đại nhà Đinh và nhà Lê, ông đã rất đau xót cho số phận quá ngắn ngủi, để cho “trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”. Từ đó ta thấy lòng yêu nước của Lí Công Uẩn biểu hiện ở ước nguyện muốn xây dựng đất nước vững mạnh để đem lại hạnh phúc, thái bình cho muôn dân. Vì vậy, nhà vua Lí Thái Tổ mới chủ trương dời kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La. Với trí tuệ anh minh, với lòng nhân hậu tuyệt vời, Lý Công Uẩn đã chỉ ra lợi thế về lịch sử, địa lý, hình thế núi sông, về sự thuận tiện trong giao lưu văn hóa và phát triển mọi mặt của thành Đại La, nhưng ông cũng không quên chỉ ra những thuận tiện cho nhân dân. Đặc biệt, ông khẳng định “đây quả thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước,cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Những lời lẽ ấy tuy giản dị nhưng lại thấm đẫm niềm tự hào khi nói về đất nước, thể hiện một khao khát mãnh liệt đó là thống nhất giang sơn về một mối. Trong lời khẳng định ấy, ta còn đọc được khí phách của một dân tộc: Đại La sẽ là “kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Giá trị chủ yếu của bài là tư tưởng yêu nước. Tiếng nói của tác giả là tiếng nói của nhân dân, của thời đại và khát vọng về một đất nước độc lập thống nhất đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh. Bài chiếu còn thể hiện tinh thần dân tộc của Lí Công Uẩn khi ông là một vị vua nghiêm minh nhưng cũng đầy tinh thần dân chủ khi ông hỏi ý kiến của muôn dân trước một sự việc trọng đại liên quan đến vận mệnh của quốc gia – dân tộc. Lí Công Uẩn có thể tự mình quyết định được việc có hay không dời đô ra Đại La. Nhưng ông đã không làm như vậy. Bằng việc hỏi ý kiến của thần dân, Lí Thái Tổ thể hiện tinh thần dân tộc cao cả của mình. Lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn biểu hiện ở các mặt: lòng căm thù giặc đến tột cùng, đau xót khi nước mất nhà tan, tình yêu tha thiết dành cho các tướng sĩ dưới quyền, ước mong các binh sĩ tích cực học tập để quyét sạch quân thù,… Trước sự lâm nguy của đất nước, lòng yêu nước thiết tha của vị chủ soái Trần Quốc Tuấn được thể hiện ở lòng căm thù sục sôi quân cướp nước. Ta hãy nghe ông kể tội ác của giặc: “Ngó thấy sự giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thoả lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, vét của kho có hạn, thật khác nào đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai hoạ về sau!”. Tác giả gọi giặc là “cú diều, dê chó, hổ đói” không chỉ vạch trần sự tham lam, độc ác mà còn vạch rõ dã tâm xâm lược của giặc; thể hiện sự khinh bỉ, căm ghét tột độ. Trước cảnh nước mất nhà tan, Trần Quốc Tuấn còn bày tỏ nỗi đau xót trước nỗi nhục của quốc thể, nỗi đau đớn xót xa. Và ông còn sự sẵn sàng xả thân để rửa nhục cho nước, để bảo vệ nền độc lập của dân tộc, khát vọng xả thân cho đất nước: “Chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”. Ở đây, ông trở thành một tấm gương sáng về lòng yêu nước và tinh thần dân tộc cho các binh sĩ noi theo. Với lòng yêu nước, sự căm thù giặc đến tột cùng, Trần Quốc Tuấn thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng, quyết xả thân cho độc lập dân tộc. Có thể nói, trong lúc mà một số lực lượng trong triều đình đang có ý muốn giảng hòa với quân Mông – Nguyên thì tư tưởng của Trần Quốc Tuấn đã đập tan luận điệu ấy và thể hiện một cách rõ ràng, dứt khoát quan điểm của mình. Đó là một là thắng, hai là thua; một là giặc, hai là ta chứ không có con đường thứ ba là con đường giảng hòa. Tư tưởng và quan điểm của ông đã giúp định hướng suy nghĩ của thần dân lúc bấy giờ. Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc của Trần Quốc Tuấn còn biểu hiện ở tình yêu thương chân thành, tha thiết dành cho tướng sĩ của mình. Với quân sĩ dưới quyền, Trần Quốc Tuấn luôn đối xử như với con mình, với những người quen: “Các ngươi cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười”. Đó là mối ân tình giữa chủ và tướng nhằm khích lệ ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với lẽ vua tôi cũng như tình cốt nhục. Chính tình yêu thương tướng sĩ chân thành tha thiết mà Trần Quốc Tuấn đã phê phán những biểu hiện sai, đồng thời chỉ ra cho tướng sĩ những hành động đúng nên theo, nên làm. Những hành động này đều xuất phát từ ý chí quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược. Đó là sự băn khoăn trước tình trạng tướng sĩ không biết lo lắng cho đất nước: không thấy lo, thấy thẹn khi nhà vua và đất nước bị kẻ thù làm nhục; chỉ biết vui thú tiêu khiển, lo làm giàu, ham săn bắn, thích rượu ngon, mê tiếng hát,… Nguy cơ thất bại rất lớn khi có giặc Mông Nguyên tràn sang: “cựa gà trống không thể đâm thùng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm, vườn nhiều, tấm thân quí nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu; việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều không mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ không đuổi được quân thù, chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào!”. Chính lòng yêu nước mà Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra cho tướng sĩ những hành động nên làm: “Nay ta bảo thật các ngươi: nên nhớ câu “đặt mồi lửa vào giữa đông củi là nguy cơ, nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” “làm run sợ. Huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên”… hay là học tập Binh thư yếu lược do ông soạn ra để trở thành những tướng sĩ giỏi có ích cho đất nước. Yêu nước theo quan điểm của người anh hùng dân tộc nguyễn trãi là tư tưởng nhân nghĩa: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân diếu phạt trước lo trừ bạo”. Nhân nghĩa vốn là khái niệm đạo đức của của nho giáo trung hoa, được hiểu là lòng thương người, là việc cần làm. cũng dung khái niệm nhân nghĩa,nhưng nguyễn trãi không nói nhân nghĩa chung chung. ông xác định rõ ràng cốt lõi của nhân nghĩa la yên dân, trừ bạo. mục đích cuối cùng của nhân nghĩa là yên dân, là làm cho dân được yên ổn, được an hưởng thái bình, hạnh phúc. Muốn yên dân thì trước hết phải trừ bạo, phải trừ diệt mọi thế lực bạo tàn làm hại đến dân. Đặt vào hoàn cảnh lúc bấy giờ, giặc minh nhân danh là đạo quân nhân nghĩa của thiên triều sang giúp nước nam vì” họ hồ chính sự phiền hà- để trong nước long dân oán hận”, kì thực là sang xâm lược và gây ra bao tội ác khiến dân nam khốn khổ lầm than và người dân mà tác giả nói đến ở đây là dân tộc Đại Việt. Như vậy, chúng ta thấy với Ức Trai, nước và dân là hai nhưng lại là một, gắn liền với nhau. Yêu nước tức là thương dân, là chiến đấu trừ những bạo tàn để cho nhân dân được yên ổn, thái bình. Tư tưởng này về sau bác Hồ của chúng ta cũng kế thừa và đã mang lại độc lập cho dân tộc Việt Nam. “Như nước đại việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào liệt đời nào cũng có” Để khẳng định chủ quyền của dân tộc tác giả đã dựa vào các yếu tố: nền văn hiến lâu đời, lãnh thổ riêng, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ nhà nước riêng, bình đẳng ngang hàng với các triều đại Trung Quốc. Đặc biệt, Nguyễn Trãi nhấn mạnh yếu tố văn hiến càng có ý nghĩa khi trong 10 thế kỉ đô hộ, bọn phong kiến phương bắc luôn tìm cách phủ định văn hiến nước nam để từ đó phủ định cả tư cách độc lập của dân tộc đại việt. khi nói về lịch sử tồn tại của dân tộc, ng trãi đưa ra những dẫn chứng cụ thể: từ triều đại Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập, cùng Hán, Đường, Tống, ngườ mỗi bên xưng đế 1 phương, các triều đại xây dựng nền độc lập của đất nước được sánh ngang hàng với các triều dại phương bắc: mỗi bên xưng đế 1 phương. Cách viết vừa sánh đôi, vừa đề cao đại việt bằng những từ ngữ có tính chất hiển nhiên tạo nên 1 giọng văn sang sảng niềm tự hào dân tộc. Có thể xem đoạn văn là 1 bản tuyên ngôn độc lập.Sức mạnh của nguyên lý nhân nghĩa và chân lý về chủ quyền độc lập dan tộc tiếp tục được Nguyễn Trãi khẳng định bằng những dẫn chứng cụ thể trong thực tế lịch sử nước nam. Tóm lại, qua ba văn bản mà chúng ta đã phân tích, có thể khẳng định rằng ừ bao đời nay, lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc đã ngấm sâu vào huyết quản mỗi người con đất Việt, đã trở thành một tình cảm rât đỗi tự nhiên. Tôi hi vọng rằng, thế hệ trẻ chúng ta ngày nay, sẽ biết phát huy tinh thần yêu nước ấy, bằng những hành động cụ thể để cống hiến, xây dựng quê hương đất nước giàu mạnh.
Tinh Thần Yêu Nước Qua 3 Văn Bản Chiếu Dời Đô Hịch Tướng Sĩ Nước Đại Việt Ta
2,111
Tiêu chí và cấu trúc của văn bản văn học Hướng dẫn I. Tiêu chí của văn bản văn học Ngày nay, đa số nhận diện một văn bản văn học theo các tiêu chí sau: 1. Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tình cảm và tư tưởng, thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Khái niệm về văn bản văn học là một vấn đề phức tạp, tuỳ thuộc vào quan niệm của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử để xác định. 2. Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao( trau chuốt, biểu cảm, hàm sức và đa nghĩa) 3. Văn bản văn học được xây dựng theo một phương thức riêng (thuộc về một thể loại nhất định và theo những qui ước, cách thức của thể loại đó). – Kịch: có hồi, có cảnh, có lời đối thoại, độc thoại … – Thơ: có vần, có điệu, luật, có câu thơ, có khổ thơ … – Truyện: có nhân vật, có sự việc, sự kiện, chi tiết, kết cấu cốt truyện, các loại lời văn … Ranh giới giữa văn bản văn học và những văn bản phi văn học không phải lúc nào cũng rõ ràng, cố định Ví dụ: + Có văn bản không phân biệt giữa văn sử (Sử kí Tư Mã Thiên) hay giữa triết văn (Nam Hoa kinh của Trang Tử) + Có những văn bản văn học là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử xã hội (Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi) -Nội dung 2: Cấu trúc của văn bản văn học II. Cấu trúc của văn bản nghị luận 1. Tầng ngôn từ – từ ngữ âm đến ngữ nghĩa: – Đọc văn bản ta phải hiểu đúng (rõ) ngữ nghĩa và ngữ âm của các ngôn từ.(tức là hiểu các nghĩa: nghĩa tường minh→nghĩa hàm ẩn; từ nghĩa đen đến nghĩa bóng của từ ngữ, là hiểu các âm thanh gợi ra khi đọc, khi phát âm) Ví dụ 2: Từ ngôi sao nghĩa là “tỏa sáng”, chúng ta có ngôi sao điện ảnh, ngôi sao ca nhạc…với hàm nghĩa khen ngợi, ngưỡng mộ. Ví dụ 3: Mùa xuân: cây cối đâm chồi nảy lộc, tiết trời ấm áp ôn hòa, là mùa đẹp nhất trong năm => tuổi xuân: là tuổi đẹp nhất của con người, tràn đầy sức sống, nhiệt huyết,… – Tầng ngôn từ là bước thứ nhất cần phải vượt qua để đi vào chiều sâu của văn bản. 2. Tầng hình tượng: – Dùng ngôn từ nghệ thuật để xây dựng hình tượng – Hình tượng trong văn bản được sáng tạo nhờ các chi tiết, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng mà có sự khác nhau. Hình tượng văn học có thể là: hình ảnh thiên nhiên, sự vật, con người. – Ví dụ: SGK – VD: Hình ảnh thiên nhiên: sen, tùng, cúc, trúc, mai… + Sự vật: xe ô tô: Bài thơ về tiểu đội xe không kính… + Con người: anh thanh niên trong Lặng lẽ sa pa; cô gái thanh niên xung phong trong Những ngôi sao xa xôi; chị Dậu trong Tắt đèn… 3. Tầng hàm nghĩa: – Trong TPVH: Từ tầng ngôn từ đến tầng hình tượng, dần dần tìm ra tầng hàm nghĩa (ý nghĩa ẩn kín, ý nghĩa tiềm tàng) của văn bản. – Hàm nghĩa: + Điều nhà văn muốn tâm sự, những thể nghiệm về cuộc sống, những quan niệm về đạo đức xã hội, những hoài bão … + Để đi sâu vào hàm nghĩa của VBVH cần đi qua các lớp: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng chủ đạo … – Ví dụ: SGK – VD: “Sen” trong bài ca dao, “Tùng” của Nguyễn Trãi, ngoài ca ngợi vẻ đẹp của sen trong đầm, của cây Tùng chống lại mùa đông gió tuyết còn nhằm một mục đích kín đáo hơn: ca ngợi chí khí giữ vững sự trong sạch của con người trong mọi hoàn cảnh (Sen). Còn “Tùng”: ca ngợi bản chất cao quý của cây Tùng cũng chính là phẩm chất cao quý của nhà Nho quân tử→niềm tự hào, tự tin trước cuộc đời. Miễn là có tài cao, có ý chí nhất định sẽ được trọng dụng để góp sức cho đất nước, cho cuộc đời => tâm sự đau đáu ủa Ức Trai → tầng hàm nghĩa – VBVH chỉ là hệ thống kí hiệu chưa tác động đến con người và xã hội. – TPVH thể hiện mối quan hệ giữa độc giả với TP, giữa độc giả với nhà văn. Người đọc hiểu TP thì lúc đó mới tác động đến con người và xã hội * Ghi nhớ: SGK tr 121 IV. Luyện tập Bài tập 1 SGK: * Văn bản “Nơi dựa”: SGK * Tìm hiểu: a. Bài thơ văn xuôi (có ý thơ, ngôn từ có nhịp điệu). Bài có 2 đoạn có cấu trúc tương tự nhau, gần như đối xứng với nhau: – Câu đầu đoạn là câu hỏi của nhà thơ về 1 hiện tượng nhìn thấy trên đường – Các câu tiếp diễn tả 2 nh n vật: nét mặt, đôi mắt, cử chỉ, cái miệng… – Câu kết của mỗi đoạn vừa là câu hỏi vừa là nỗi băn khoăn, suy nghĩ về nơi dựa – Các nhân vật được trình bày cốt làm nổi bật tính tương phản. b. Hàm nghĩa những hình tượng: người đàn bà – em bé; người chiến sĩ – bà cụ già: – Thông thường người yếu đuối tìm “nơi dựa” ở người vững mạnh. Ở đây ngược lại. – Nơi dựa ở đây là tinh thần: nơi con người tìm thấy niềm vui và ý nghĩa của cuộc sống → phẩm giá nhân văn của con người, giúp con người vượt qua những trở ngại. Bài tập 2 SGK: * Văn bản “Thời gian”: SGK a. Hàm nghĩa của các câu: – Câu 3, 4: Thời gian qua đi, những kỉ niệm của đời người cũng rơi vào quên lãng, vô tăm tích. Như vậy cuộc đời và những kỉ niệm đều tàn tạ, đều bị thời gian xoá nhoà. – Câu 5,6: sức sống mãnh liệt, tồn tại với thời gian của VHNT. NT đạt đến độ tuyệt vời sẽ tươi xanh mãi mãi, bất chấp thời gian. – Câu kết: đôi mắt người yêu – kỉ niệm tình yêu như giếng nước không cạn, gợi lên những điều trong mát ngọt lành. b. Ý nghĩa của bài thơ: Thời gian xóa nhòa tất cả, thời gian tàn phá cuộc đời con người. Duy chỉ có VHNT và kỉ niệm về tình yêu là có sức sống lâu dài. Bài tập 3 SGK: * Văn bản “Mình và ta”: SGK * Tìm hiểu: a. Chế Lan Viên dùng thơ để nói lên quan niệm của mình về VHNT: – Câu thơ 1,2 nói mối quan hệ thân thiết giữa bạn đọc (mình) và người viết (ta). Chỗ sâu thẳm trong tâm hồn người đọc cũng là chỗ sâu thẳm tâm hồn mà người viết tìm đến để khai thác, diễn tả. – Vì mối quan hệ tương thông đó mà người viết mới có thể tiêu biểu cho tâm hồn dân tộc, có thể sáng tác những tráng ca về đất nước b. Câu 3,4: Chế Lan Viên nói lên quá trình từ văn bản của nhà văn đến TPVH trong tâm trí người đọc. Viết không phải là nói hết, cạn lời, cạn ý. Nhà văn cần dành cho người đọc cơ hội tái tạo lại, tưởng tượng thêm, suy nghĩ rộng hơn thế giới NT được nói đến trong văn bản.
Tiêu chí và cấu trúc của văn bản văn học
1,276
Tiếng báo động…nghĩ đến mà kinh! (Về bài Ôn dịch, thuốc lá của Nguyễn Khắc Viện) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Tiếng báo động…nghĩ đến mà kinh Qua bài Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000, các nhà khoa học đã cảnh báo chúng ta một nguy cơ ô nhiễm môi trường là nạn sử dụng bao bì ni lông một cách bừa bãi. Song còn biết bao nhiêu tệ nạn nữa cần cảnh báo, thậm chí cần báo động. Một trong những tệ nạn ấy là “nghiện thuốc lá”. Đọc bài Ôn dịch, thuốc lá của bác sĩ – nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện – chúng ta được cảnh báo thêm về một vấn đề thiết yếu với đời sống mỗi người. Đây là một văn bản thuyết minh, kết hợp những lập luận khoa học rất sáng tỏ và chặt chẽ. Từ nhan đề của văn bản đến bố cục, các dẫn chứng, các lời giải thích, lập luận, nhất là hai cụm từ (một ở phần mở đầu, một ở phần kết thúc), tác giả đã vừa chỉ rõ những nguy hại ghê gớm vừa bày tỏ sự kinh hãi, lời lên án gay gắt với tệ nghiện thuốc lá. Lấy ra hai cụm từ đặc sắc của bài văn, chúng ta có thể coi đây là những tiếng báo động khẩn thiết về nạn nghiện thuốc lá mà mỗi lần nghĩ đến ai cũng phải rùng mình, kinh sợ: Ôn dịch, thuốc lá, tiếng báo động… nghĩ đến mà kinh! Tiếng báo động đáng kinh sợ ấy thể hiện ngay từ cái tiêu đề của bài viết. Tác giả dùng từ “thuốc lá” là nói tắt của “tệ nghiện thuốc lá”. Đặt “thuốc lá” sau từ “ôn dịch” là muốn so sánh tệ nghiện thuốc lá như một thứ bệnh có đặc điểm là dễ lây lan như “dịch tả”, “dịch cúm”,… Nhưng không viết “dịch thuốc lá” mà viết “Ôn dịch.. “, một từ thường dùng làm tiếng chửi rủa, hơn nữa lại đặt dấu phẩy giữa “ôn dịch” và “thuốc lá” như một biện pháp tu từ, người viết đã biểu lộ tình cảm vừa căm tức vừa ghê rợn. Ta có thể hiểu thâm ý của người viết thế này chăng: “Thuốc lá! Mày là đồ ôn dịch, đáng ghét, cần tiêu diệt”. Và tiếp theo, ngay ở phần mở bài (từ câu đầu đến “… còn nặng hơn cả AIDS”), tiếng báo động đã trực tiếp vang lên. Từ tin mừng loài người hầu như đã diệt trừ được dịch hạch, dịch tả, người viết nói tới đại dịch AIDS, rồi gióng lên hồi còi dài bằng một câu văn trĩu nặng nỗi lo: “… nhiều nhà bác học sau mấy chục năm và hơn năm vạn công trình nghiên cứu đã lớn tiếng báo động: Ôn dịch, thuốc lá đang đe doạ sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS”. Đúng là một hồi còi báo động làm kinh sợ người đọc, người nghe. Bởi vì, tác giả đã đặt ôn dịch thuốc lá ngang tầm với AIDS, đã sử dụng con số hơn năm vạn công trình nghiên cứu sau mấy chục năm của các nhà bác học để nhấn mạnh tính xác đáng, tầm quan trọng của thông tin. Tuy là văn bản khoa học, văn thuyết minh, nhưng cách dùng từ, đặt câu của tác giả khá tinh tế, phần nào bộc lộ được cảm xúc người viết và truyền tới người đọc. 1. Trước hết, thuốc lá gặm nhấm cơ thể, sức lực người hút, người nghiện. Tác giả chỉ rõ: “Khói thuốc lá chứa nhiều chất độc, thấm vào cơ thể”. Bằng lời giảng của một nhà khoa học, một bác sĩ tài giỏi, tác giả giải thích, phân tích cụ thể tác hại của khói thuốc lá đối với các bộ phận trong cơ thể người hút, người nghiện. Sau mỗi lời giảng giải là một sơ kết, nhấn mạnh những hậu quả thuốc lá gieo vào con người. Nào là “gây ho hen và sau nhiều năm gây viêm phế quản”, nào là “sức khoẻ người nghiện thuốc ngày càng sút kém”. Lại nữa, hỏi bệnh viện K, bác sĩ viện trưởng thông báo: “trên 80% ung thư vòm họng và ung thư phổi là do thuốc lá”, đến Viện tim mạch, cũng được nghe Viện trưởng cho biết: “chất ni-cô-tin của thuốc lá làm các động mạch co thắt lại, gây những bệnh nghiêm trọng như huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim,… có thấy nhũng người 40 – 50 tuổi đã chết đột xuất vì nhồi máu cơ tim… có thấy những khối u ghê tởm mới nhận ra tác hại ghê gớm của thuốc lá…”. Trong một câu ngắn có tính khoa học lạnh lùng, tác giả đã dùng liền hai từ biểu cảm ghê tởm, ghê gớm khiến người đọc, đọc lên không khỏi rùng mình. Đấy là tiếng báo động cấp 1. 2. Tiếp sau là tiếng bấo động cấp 2: thuốc lá gặm nhấm cơ thể, sức khoẻ những người xung quanh. Để báo động điều này, tác giả sử dụng cách lập luận, tranh luận đơn giản mà thuyết phục. Dẫn lí sự của người nghiện: “Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi”, tác giả “đấu lại” luôn: “Hút thuốc là quyền của anh, nhưng anh không có quyền đầu độc những người ở gần anh… Hút thuốc thì người gần anh cũng hít phải luồng khói độc. Điều này hàng nghìn công trình nghiên cứu đã chứng minh…”. Như thế là rõ, người nghiện thuốc, hút thuốc không chỉ tự đầu độc mình mà còn đầu độc những người xung quanh. Những người xung quanh-đó là ai? Đó là vợ, con, những người làm việc cùng phòng, những người tiếp xúc với người nghiên. Họ hít phải khói thuốc, bị nhiễm độc, cũng đau tim mạch, viêm phế quản, cũng ung thư,… Và “Tội nghiệp thay những cái thai còn nằm trong bụng mẹ, chỉ vì có người hút thuốc ngồi cạnh mẹ mà thai bị nhiễm độc, rồi mẹ đẻ non, con sinh ra đã suy yếu. Hút thuốc cạnh một người đàn bà có thai quả là một tội ác”. Những từ ngữ đầu độc, tội nghiệp thay, một tội ác,… xen kẽ trong đoạn văn vừa nhấn mạnh mức độ nguy hại của thuốc lá vừa bày tỏ thái độ nghiêm khắc phê phán những người nghiện thuốc lá. Tri thức khoa.học, kết hợp phương pháp lập luận và ngôn ngữ biểu cảm khiến cho đoạn văn sinh động, có sức thuyết phục cao. 3. Cao thêm một bậc nữa là thuốc lá gặm nhấm tâm hồn và lối sống của con người, nhất là thế hộ trẻ. Bố và anh, chú và bác hút thuốc không chỉ đầu độc thể lực mà còn nêu gương xấu cho con cháu. Tác giả nói như thế, rồi dẫn chứng số tiền thanh thiếu niên Âu Mĩ, thanh thiếu niên Việt Nam mua bao thuốc và nhấn mạnh: “đã hút là phải hút thuốc sang. Chỉ có một cách là trộm cắp… Từ điếu thuốc sang cốc bia rồi đến ma tuý, con đường phạm pháp đã mở đầu với điếu thuốc. Người lớn hút thuốc… chính là đã đẩy con em vào con đường phạm pháp”, ở đây, tác giả tập trung phê phán người lớn để đệm thêm cho tiếng báo động về tệ nạn nghiện thuốc lá. Song thế hệ trẻ, những học sinh THCS và THPT chúng ta cũng cần lắng nghe để giữ mình, đừng nên đổ lỗi hoàn toàn cho người lớn. Bởi vì, những người lớn nghiện hút nêu gương xấu trước mặt trẻ em, nếu trẻ em ý thức được cái xấu ấy, không đua đòi học theo thì thuốc lá không dễ gì hoành hành, tác yêu tác quái. Có thể nói, tiếng còi báo động của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện về nạn nghiện thuốc lá, tác hại và cách gây hại của thuốc lá mõi lúc một gióng cao thêm, vang xa hơn và thấm sâu vào trong lòng tất cả mọi lớp người. Tóm lại, giống như ôn dịch, nạn nghiện thuốc lá rất dễ lây lan và gây những tổn thất to lớn cho sức khoẻ và tính mạng con người. Song nạn nghiện thuốc lá còn nguy hiểm hơn cả ôn dịch. Nó gặm nhấm sức khoẻ con người nên không dễ nhận biết, nó gây tác hại nhiều mặt đối với cuộc sống gia đình và xã hội, mọi người hãy tìm cách chống lại nó, ngăn chặn nó. Muốn thế, ta cần có quyết tâm lớn, tự giác cao và nhiều biện pháp triệt để hơn cả việc phòng chống ôn dịch.
Tiếng báo động…nghĩ đến mà kinh! (Về bài Ôn dịch, thuốc lá của Nguyễn Khắc Viện) – Bình giảng Ngữ Văn 8
1,477
Tiếng gà trưa – Tiếng gọi về tuổi thơ – Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là nhà thơ nữ xuất sắc nhất của nền thơ hiện đại Việt Nam. Thơ Xuân Quỳnh thường hướng về những hình ảnh, những sự việc bình dị, gần gũi trong đời sống thường nhật trong gia đình, tình yêu, tình mẹ con, bà cháu,… Bài thơ Tiếng gà trưa là một bài thơ như thế. Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh cả nước chống đế quốc Mĩ xâm lược. Như nhiều tác phẩm đương thời, thơ Xuân Quỳnh hướng vào chủ đề bao trùm của cả nền văn học bấy giờ là lòng yêu quê hương, đất nước và cổ vũ tinh thần chiến đấu của toàn dân, trước hết là của những người cầm súng. Do đó, tuy bài thơ có nhiều kỉ niệm riêng của bản thân nhà thơ, nhưng hình tượng nhân vật trữ tình lại là người chiến sĩ đang trên đường hành quân, ra tiền tuyến. Cái tôi riêng của người nghệ sĩ và cải ta chung của cả thế hệ, cả dân tộc hoà hợp tự nhiên, hồn nhiên, toả ra những cảm hứng vừa thân thương, gần gũi vừa cao cả thiêng liêng, lay động lòng người. Đây là tác phẩm viết theo thể thơ tự do, trừ cụm từ Tiếng gà trưa ba tiếng, còn lại, mỗi câu thơ gồm năm âm tiết, nối nhau, mở đầu và kết thúc theo ý tưởng và cảm xúc của nhà thơ. Ta có thể coi bài Tiếng gà trưa là thơ ngũ ngôn, một thể thơ gốc Việt Nam, bắt nguồn từ thể hát dặm Nghệ Tĩnh và vè dân gian. Bài thơ, vì thế, có giọng điệu kể chuyện tâm tình, nhẹ nhàng, thủ thỉ, tự sự, miêu tả và biểu cảm xen nhau. Trong bài thơ, cụm từ ba âm tiết Tiếng gà trưa điệp lại bốn lần ở đầu mỗi khổ thơ. Mỗi lần cất lên, câu thơ ấy gợi một hình ảnh, hoặc sự việc trong kỉ niệm tuổi thơ của chính tác giả và của nhân vật trữ tình – người chiến sĩ đang hành quân. Điệp ngũ Tiếng gà trưa như dòng nhạc chủ âm vừa kết nối các đoạn thơ vừa điểm nhịp cho từng cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình. Dựa vào mạch cảm xúc và điệp ngữ ấy, chúng ta có thể hiểu và suy ngẫm vê bài thơ theo ba đoạn: Tiếng gà cất lên trên đường hành quân – đoạn một (khổ một, bảy câu đầu) ; Tiếng gà gọi về tuổi thơ – đoạn hai (khổ hai, ba, bốn, năm, sáu – hai mươi sáu câu tiếp theo) ; Tiếng gà giục giã tinh thần chiến đấu – đoạn ba (hai khổ thơ cuối). Sau tiếng gà nhảy ổ ở hiện tại, sang đoạn hai, tiếng gà gọi về những kỉ niệm tuổi thơ. Ba khổ thơ, hai mươi sáu câu nối nhau cùng với Tiếng gà trưa điệp lại những ngày thơ bé với biết bao kỉ niệm đẹp đẽ, thân thương. Qua thơ, chúng ta được cùng người chiến sĩ ấy sống những ngày tháng thật là dịu êm trong tình yêu thương của người bà, và… câu chuyện về những con gà cũng rất đáng yêu. Nào là hình hài màu sắc của mấy chị “Gà mái mơ, khắp mình hoa đốm trắng”, “Gà mái vàng, lông óng như màu nắng”. Nào là chuyện nhìn gà đẻ, bị bà mắng yêu. Nào là hình ảnh bà soi trứng, theo dõi quá trình gà ấp với bàn tay khum khum, với tấm lòng chắt chiu, nâng đỡ từng sự sống nhỏ nhoi trong từng quả trứng. Rồi chuyện bà: Mong trời đừng sương muối Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới Ôi cái quần chéo go Ống rộng dài quét đất Cái áọ cánh trúc bâu Đi qua nghe sột soạt… Càng về cuối, kỉ niệm tuổi thơ càng da diết cảm động. Qua những dòng thơ êm nhẹ, thánh thót như những nốt nhạc trong veo, hình ảnh người bà Việt Nam hiện lên đẹp như một bà tiên vậy. Bà dành tất cả sức lực và tình thương yêu cho đứa cháu nhỏ. Bà đã tần tảo, chắt chiu chăm sóc, nâng đỡ từng quả trứng, từng chú gà con, như chắt chiu, nâng đỡ những ước mơ hạnh phúc đon sơ, nhỏ bé của đứa cháu yêu. Hình ảnh đứa cháu được mặc bộ quần áo mới do công lao nuôi gà của bà ban tặng, hồn nhiên, ngây thơ làm sao. Chỉ là “cái quần chéo go”, “cái áo cánh chúc bâu” (những loại vải rẻ tiền, mà ngày nay ít người dùng) nhưng đứa cháu – chắc là một cô gái – đã vô cùng cảm động, sung sướng. Đấy đâu chỉ là bộ quần áo dài rộng, cựa quậy một tí là bật ra tiếng sột soạt, mà là biết bao hạnh phúc, biết bao tấm lòng bà đã dành cho cháu. Hình ảnh và tâm trạng người thiếu niên – những chiến sĩ chống Mĩ thuở ấu thơ – được khắc hoạ chân thực, mang bản chất nông dàn, bản sắc Việt Nam, thật là đáng trân trọng. Đó là những con người giản dị, được lớn lên trong tình thương yêu, nâng đỡ của quê hương, của những người ruột thịt. Được hưởng hạnh phúc ấy, họ thực sự cảm động và mãi nhớ ơn quê hương, ông bà, cha mẹ. Riêng với nữ sĩ Xuân Quỳnh, có lẽ mối tình sâu nặng và ân nghĩa nhất là tình bà cháu. Nếu không nhớ thương, biết ơn bà, làm sao mà viết được những câu thơ, ghi lại được những kỉ niệm đẹp như thế. Thơ với đời, hiện tại và quá khứ cứ đan xen, gắn bó hài hoà, tự nhiên, hồn nhiên, trong veo như nắng trưa và gió mát ngày hè vậy. Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu TỔ quốc Vì xóm làng thân thụ ộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ. Từ những kỉ niệm tuổi thơ thấm đẫm tình bà cháu, cảm húng thơ mở rộng hướng tới tình yêụ đất nước, nhắc nhở, giục giã những chiến sĩ – trong đó có nhà thơ Xuân Quỳnh – hãy chắc tay súng tiến lên chống kẻ thù xâm lược bảo vệ gia đình, làng xóm quê hương và nền Độc lập, Tự do của Tổ quốc. Tóm lại, bài thơ Tiếng gà trưa viết về một loại âm thanh quen thuộc, bình dị trên quê hương, đất nước ta, nhưng đã thể hiện những suy nghĩ rất sâu sắc, những cảm xúc thật cao đẹp của nữ sĩ Xuân Quỳnh. “Tiếng gà trưa” đã gọi về những kỉ niệm của tuổi thơ thơ mộng và tình bà cháu đậm đà thắm thiết. Những tình cảm gia đình, quê hương đã làm sâu sắc thêm tình yêu nước và nhắc nhở chúng ta tinh thần, trách nhiệm đối với đất nước. Bài thơ viết theo thể thơ năm tiếng có cách diễn đạt chân thành, tự nhiên vừa miêu tả biểu cảm, vừa tự sự biểu cảm bằng nhiều hình ảnh, ngôn ngữ bình dị, lay động lòng người. Xem lại bài bình giảng Đêm rằm tháng riêng, niềm vui tỏa sáng
Tiếng gà trưa – Tiếng gọi về tuổi thơ – Bình giảng văn 7
1,232
Tiếng gọi của tự do (Về bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Tiếng gọi của tự do Tự do, vốn là khao khát của con người, từ xưa đến nay vốn thế. Nó tha thiết và thiêng liêng. Tuy nhiên, quan niệm về tự do thì mỗi thời một khác. Cái khác ấy ở bài thơ Khi con tu hú là khao khát của một thế hệ mới – thế hệ những chàng trai vừa bước chân vào con đường tranh đấu để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, của một thời đại mới – thời đại mở ra từ Cách mạng tháng Mười năm 1917 (“Liên Xô nở trước đời tôi ba tuổi” – Hi vọng). Tiếng gọi ấy lại vang vọng vào thơ, thơ của một thời Thơ mới (1932 – 1945) lại là cái khác thứ hai, lần này là về nghệ thuật. Khi con tu hú là điểm gặp gỡ giữa hai yếu tố nội dung và hình thức nói trên. Nó là đại diện cho nền thơ ca cách mạng những năm ba mươi của thế kỉ trước. Vậy nên hiểu bài thơ như thế nào? Trả lời câu hỏi: nếu viết một câu văn xuôi mở đầu bàng cụm từ “Khi con tu hú” để tóm tắt nội dung bài thơ, có thể có hai cách viết: – Khi chim tu hú gọi bầy là khi mùa hè đến, người tù cách mạng (nhân vật trữ tình) càng cảm thấy ngột ngạt trong phòng giam chật chội, càng thèm khát cháy bỏng một cuộc sống tự do tưng bừng ở bên ngoài. Tên bài thơ đã gợi mở mạch cảm xúc của bài thơ. – Khi chim tu hú gọi bầy, người tù cách mạng – chủ thể trữ tình, với một tâm hồn trẻ trung vốn gắn bó với phong trào, với đồng chí, bè bạn giữa cuộc đời đấu tranh cao rộng nay bị giam cầm cháy lên một nỗi nhớ không nguôi. Nỗi nhớ ấy hướng về tự do. Nó trở thành một niềm khao khát. Giữa hai cách diễn đạt này, nên chăng chọn cách thứ hai? Bởi nó trình bày đúng hơn, khách quan hơn mạch cảm xúc, nền cảm xúc của bài thơ, nghĩa là cơ sở tinh thần của những khao khát tự do ấy. Trên định hướng đúng này, ta đi vào phân tích bài thơ. Bài thơ có mười câu, đã dành sáu câu cho đoạn thứ nhất: Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần Vườn rậm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàn g hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không… Đây là cảnh mùa hè tiêu biểu ở các làng quê. Nhưng bức tranh hiện thực ấy được mở ra bằno hai lớp: lắng nghe và hồi tưởng, hiện tại và quá khứ, cái đang tới và cái đã qua. Cái hôm nay – cái bây giờ mà nhà thơ đang nghe là tiếng chim tu hú, một sự lắng nghe bất chợt sau một thời gian bị xiểng xích trong tù (“Khi con tu hú sọi bầy”). Cái cảm giác đột nhiên ấy – sở dĩ là đột nhiên, vì nó xuất hiện trong một khối cảnh không gian đặc biệt: hiếm khi có âm thanh cuộc sống vọng vào. Cảm giác này phải chăng giống với tâm trạng của tác giả Nhật kí trong tù khi. nghe tiếng sáo (“Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu“). Nó lạ lẫm và khơi gợi vô cùng. Tu hú gọi bầy là mùa hè đã đến. Nhưng nó đến như thế nào thì tác giả không nhìn thấy. Vốn sống, sự gắn bó với mọi làng quê đã được huy động để thay vào. Lấp đầy cái khoảng trống bị vây bọc bởi bốn bức tường xà lim lạnh lẽo là sự tưởng tượng của nhà thơ mà người đọc không cảm thấy có một chút gì khiên cưỡng, gò ép. Mạch thơ vẫn hết sức tự nhiên như không có một sự lắp ghép cố tình nào. Hãy đọc lại: Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần. Hai câu thơ, và rồi bốn câu tiếp như một tác động dây chuyền: cứ tiếng chim xuất hiện là mùa màng, cây trái đến theo. Sự hô – ứng ấy bao đời vẫn thế bởi đó là quy luật của tự nhiên. Tiếng chim gọi bầy mà cũng là tiếng chim gọi mùa chính là vì thế. Nó lập tức xôn xao. Nó va đụng vào lòng người nao nức lắm. Cần chú ý hai trạng thái chín của lúa và ngọt của cây: đang chín, ngọt dần. Nếu thay vào đã chín, ngọt rồi, câu thơ sẽ khác, sẽ ở vào thế tĩnh, đông cứng lại ngay. Còn ở đây tả chim mà như nó đang bay, tả hoa mà như nó chớm nở, nó mỉm cười thì ấy là cái động của thơ, của hoạ. Cái động ấy ở đây là do tài của nhà thơ, nhưng cũng là do tình của nhà thơ thân mến nó. Nghe một tiếng chim kêu mà thấy mạch sống của cây, của lúa sinh sôi, đang rạo rực thân cành thì chỉ có thể ở những con người yêu thương cuộc đời, yêu thương sự sống đến mức thắt lòng. Từ đó mà tưởng tượng nảy sinh. Ấy là chưa nói đến ưu thế uyển chuyển, nhịp nhàng, giàu khả năng diễn đạt tâm tình của thơ lục bát. Thơ lục bát vừa có hình thức cố định lại vô cùng biến hoá. Chẳng hạn trong bốn câu thơ đầu, nếu lấy tiêu chí giác quan mà nhìn vào kết cấu thì ta thấy mỗi cặp câu 6/8 có đủ cả thính giác và thị giác, từng đôi một, tạo cảm giác âm thanh giục giã mùa màng bước vào ngày hội: Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào. Nếu bốn câu thơ đầu là bốn câu thơ đẹp, nó nói được cái ríu rít của mùa hè, của cây trái xum xuê thì hai câu sau tưởng như không ăn nhập gì với không khí ấy bởi nó nói đến những con diều sáo, một sắc trời xanh. Nguyễn Trãi xưa vì mừng thấy dân khắp nơi “giàu đủ” mà nghĩ đến cây đàn của vua Thuấn. Cây đàn với bát cơm, tấm áo trên một phương diện nào đó là khá xa nhau, nhưng thực thì chúng lại rất gần nhau, ở cảnh thanh bình, hạnh phúc. Vậy thì hai câu “Trời xanh càng rộng càng cao – Đôi con diều sáo lộn nhào từng không” phải chăng là những âm thanh vút cao lên từ một giai điệu bè trầm là bốn câu trước đó. Bài thơ có thể chia làm hai đoạn. Đoạn một gần như tả cảnh (nói gần như vì đó là một bức tranh gián tiếp) còn đoạn hai bộc lộ tâm tình, ít ra là trên những dấu hiệu hình thức của lời thơ: Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu! Trong phần phân tích đoạn một, chúng ta có nêu một hiện tượng: quy luật dây chuyền, cảnh này gọi cảnh khác. Trên cấp độ lớn hơn, xét cả kết cấu bài thơ thì đoạn hai chính là do tác động dây chuyền của đoạn một. Dấu hiệu của tác động dây chuyền này là từ hè (“Ta nghe hè dậy bên lòng”). Không có cái mùa hè tốt tươi, bay lượn ấy thì có lẽ cái phòng giam vẫn cứ chỉ là phòng giam, một thứ phòng giam không tạo ra phản cảm. Bởi biết đâu người chiến sĩ sẽ phải chung sống với nó suốt đời? Ta mới hiểu tác động dây chuyền, sự đánh thức một tiềm năng cảm nghĩ ở nhà thơ mạnh mẽ đến chừng nào. Đạp tan phòng là mạnh mẽ, còn hè ôi như một tiếng kêu thương cảm xót xa. Cấu trúc của câu tám này về tiết tấu cũng khá đặc biệt. Thông thường nó được phổ vào hai vế tương đương 4/4. Còn ở đây là 6/2. Nhịp 6 ấy cứ như một uất hận xung thiên, còn nhịp 2, sau khi sức mạnh tưởng chừng lớn lao không gì ngăn cản được đụng phải bức tường hiện hữu khô khan và lạnh lẽo, nó trở nên một tiếng kêu thương, một tiếng thở dài cay đắng. Ấy là cuộc đụng đầu giữa ý chí chủ quan và hoàn cảnh khách quan của người thua cuộc. Nhưng thua cuộc chỉ là nhất thời, tạm thời. Cuộc vật lộn trong tâm trí của nhà thơ vẫn còn tiếp diễn. Không những dai dẳng, cường độ của nó không giảm đi mà còn tăng lên. Biết làm thế nào chiến thắng được hoàn cảnh, chiến thắng được bản thân khi lực lượng giao tranh không hề ngang sức. Nhịp thơ 3/3 ở câu “Ngột làm sao, chết uất thôi” diễn tả sự giằng co. Nhưng nó lại nghiêng về phía chủ thể người tù. Chính vì vậy ý thơ đã được nâng cấp nhưng vẫn bế tắc. Thế là, tiếng gọi của tự do thì vẫn tự do lên tiếng một cách vô tư, còn con người khao khát nó vẫn bị mất tự do, vẫn đang bị cầm tù. Cặp thơ lục bát song đôi cuối cùng mới như một niềm khắc khoải, bởi xung đột tinh thần ở nhà thơ đã đạt đến mức cao trào. Một cái gì đó sẽ phải xảy ra nhằm giải thoát một hoàn cảnh không thể dung hoà giữa nhà thơ với cảnh đời tù ngục. Tiếng chim tu hú, tiếng gọi của tự do âm áp làm sao, mà cũng nóng bỏng làm sao. Nó đang cháy lên một nỗi niềm khao khát. Từ tiếng gọi mùa đến tiếng kêu thúc giục con người hành động, bài thơ vận hành theo hướng đi từ bóng tối tù ngục đến ánh sáng của tự do.
Tiếng gọi của tự do (Về bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu) – Bình giảng Ngữ Văn 8
1,711
Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài Độc Tiểu Thanh Ký Hướng dẫn Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài Độc Tiểu Thanh Ký Bài làm Có thể nói Nguyễn Du là nhà thơ của những mảnh đời tài hoa nhưng bất hạnh, nhất là với những người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng phận hẩm duyên hiu. Một lần vô tình đọc được những tâm tư uất hận trong số ít những bài thơ còn xót lại của nàng Tiểu Thanh –cô gái Trung Quốc tài hoa nhưng bất hạnh – trái tim ông rung lên vì đồng cảm, vì xót xa. Tiểu Thanh ra đi khi tuổi đời chỉ mới mười tám. Trước đó, nàng sống trong cảnh lẻ loi, hiu quạnh vì phải làm vợ lẽ cho một nhà quyền quý và bị vợ cả ghen tuông bắt ra ở riêng bên Tây Hồ. Vì quá đau khổ mà nàng sin bệnh rồi chết. Những tháng ngày cô đơn, nàng chôn mình trong những vần thơ phẫn uất nhưng rồi chúng cũng bị đốt đi vì người vợ cả quá ích kỷ, hẹp hòi, cũng may còn xót lại một số bài. Cho đến khi Nguyễn Du bắt gặp những vần thơ ấy, nước mắt ông tuôn rơi, ông khóc cho nàng, và rồi khóc cho những người bất hạnh giống nàng. Cuối cùng, ông khóc cho chính bản thân mình – một đời thơ cũng lẻ loi và đơn côi bên những tập thơ buồn. Những tiếng khóc ấy, ông gửi gắm hết vào bài thơ “Độc tiểu Thanh Ký” với những từ ngữ ai oán, xót xa. Nguyễn Du đã khóc, khóc bằng những nước mắt chân thành chảy ra từ trái tim nhân hậu của ông, và từ đầu ngòi bút tuôn trào những vần thơ đầy não nề, đau đớn: “Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chi thư.” Dịch thơ: “Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang, Thổn thức bên song mảnh giấy tàn” Cảnh đẹp Tây Hồ lãng mạn là thế, tình tứ là thế, nhưng thật đáng buồn là càng đẹp bao nhiêu lại càng làm cho lòng người đớn đau bấy nhiêu. Bởi đó không phải là nơi cho người con gái đang độ xuân thì đuổi bướm bắt hoa mỗi ngày, mà lại là nơi giam cầm tuổi thanh xuân của nàng. Thời gian như đang gặm nhấm trái tim nàng. Ngoài kia, vườn hoa đang đua nhau khoe sắc, nhưng trong lòng nàng mọi thứ đang dần khép lại với cảnh sống cô liêu đơn chiếc một mình. Ở cái tuổi mười tám, lẽ ra trong cô đang trào dâng sức sống, đang tràn trề hi vọng và những lý tưởng sống tốt đẹp. Vì dù gì cô cũng là người có tài có sắc, lại thành thạo nghệ thuật thi ca. Nhưng sự thật phũ phàng và quá bẽ bàng khi người con gái ấy đã chết ở chính nơi đẹp nhất, lãng mạn nhất. Khiến cho Nguyễn Du giờ đây đang “Thổn thức bên song mảnh giấy tàn”. Người ta vẫn nói, đàn ông rất ít khi khóc. Nhưng nếu một khi đã khóc thì nỗi đau ấy phải đau đớn lắm, nghiệt ngã lắm. Hơn nữa, đây lại là Nguyễn Du, là một đại thi hào dân tộc, cay đắng cuộc đời đâu phải ông chưa từng trải qua. Vì thế, những giọt nước mắt của ông lại càng hiếm hoi hơn. Vậy mà, đứng trước “mảnh giấy tàn” lưu giữ chút tâm tư còn lại của nàng Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã khóc, khóc với những giọt nước mắt chân thành từ tận trái tim. “Chi phấn hữu thần liên từ hậu, Văn chương vô mệnh lụy phần dư” Dịch thơ: “Son phấn có thần chôn vẫn hận, Văn chương không mệnh đốt còn vương” Tiếng khóc của Nguyễn Du mỗi lúc một nỉ non hơn, xót xa hơn khi nỗi uất ức của nàng Tiểu Thanh sau khi chết rồi vẫn không được buông tha. Những tập thơ của nàng là tâm tư, là tình cảm của nàng, mực giấy có tội tình chi đâu mà người ta cũng lỡ đốt không tiếc thương. Cuộc sống của Tiểu Thanh ở nơi ấy chỉ có son phấn, có thơ làm bạn trong những tháng cô đơn, hiu quạnh. Vậy mà chết đi rồi cũng không thể nguôi ngoai. Niềm đồng cảm của Nguyễn Du càng ngày càng sâu sắc hơn, da diết hơn. Điều đó cho thấy, ông không những thương cảm số phận của người con gái bất hạnh, mà còn rất trân trọng những giá trị nghệ thuật của thơ ca, của văn học. Thế nên, tiếng khóc của đại thi hào dân tộc còn hướng đến những con người khác đồng cảnh ngộ như Tiểu Thanh. Đó là Đỗ Phủ, là Khuất Nguyên. Tuy họ không phải sống cảnh chung chồng, cảnh bị ghen tuông như Tiểu Thanh nhưng cũng đều chịu chung số phận cô quạnh, lẻ loi. Đến lúc chết cũng chỉ có một mình. Lặng lẽ dâng hiến cho đời, rồi lại lặng lẽ ra đi. “Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư” Dịch thơ: “Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi, Cái án phong lưu khách tự mang.” Nỗi hận ở đây không chỉ mình Tiểu Thanh có, mà có từ rất xa xưa rồi, từ thời “cổ kim”, nó như một quy luật tự nhiên dành cho những người tài vậy. Ông hỏi trời nhưng trời không thấu. Còn bản thân ông bất lực không thể làm gì thay đổi số phận được. Xót xa, ngậm ngùi, những giọt nước trên mắt ông lại nặng trĩu tuôn rơi. Khóc Tiểu Thanh, và rồi ông khóc cho chính bản thân mình: “Bất tri tam bách, dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?” Dịch thơ: “Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Người đời ai khóc Tố Như chăng?” Nguyễn Du bất chợt nhận thấy sự cô đơn của mình trong thực tại. Ông thấy mình cũng lẻ loi, hiu quạnh. Ông chỉ biết hướng lòng mình về quá khứ mà không thể nào chạm tay vào đó được. Ở nơi ấy có Tiểu Thanh, có Đỗ Phủ, có Khất Nguyên…, những con người cùng chung số phận hẩm hiu. Nhưng thưa Nguyễn Du, thưa đại thi hào dân tộc Việt Nam, các thế hệ học sinh hôm nay vẫn luôn nhớ đến ông, như một người thầy của thế hệ trước. Những bài thơ, những tư tưởng của ông vẫn còn lưu mãi trong sử sách cho hàng nghìn thế hệ sau noi theo. Vì vậy, tiếng khóc của ông sẽ không còn phải ai oán, não nề nữa. Vì mọi người vẫn luôn nhớ tới ông. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài Độc Tiểu Thanh Ký
1,120
Tiếng Việt giàu và đẹp – một phát hiện khoa học lí thú – Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Chúng ta là người Việt Nam, hằng ngày dùng tiếng mẹ đẻ, tiếng nói của toàn dàn – tiếng Việt – để suy nghĩ, nói năng, giao tiếp. Nhưng đã mấy ai biết tiếng nói Việt Nam có những đặc điểm, những giá trị gì và sức sống của nó ra sao. Trong thơ và âm nhạc đã có vài ba người ca ngợi vẻ đẹp, nét độc đáo của tiếng Việt. Song muốn hiểu sâu để cảm nhận một cách thích thú vẻ đẹp, sự độc đáo của tiếng nói dân tộc Việt Nam, ta hãy đi tìm các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn chương. Một trong những người ấy là Giáo sư Đặng Thai Mai, tác giả bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt. Bài nghị luận ấy ngắn gọn mà sâu sắc đã giải thích và chứng minh một cách thuyết phục nét đặc trưng cơ bản của tiếng nói Việt Nam chúng ta: “giàu và đẹp”. Bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt (tên bài do người soạn sách đặt) là đoạn trích ở phần đầu của bài nghiên cứu Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc, in lần đầu năm 1967, được bổ sung và đưa vào Tuyển tập Đặng Thai Mai. Tuy là đoạn trích, song văn bản mà chúng ta được đọc vẫn có cấu tạo khá trọn vẹn như một áng văn nghị luận thể văn chúng minh. Chúng ta có thể đọc văn bản ấy theo ba đoạn: Mở bài (từ “Người Việt Nam ngày nay…” đến “… các thời kì lịch sử”): Nhận định tiếng Việt là thứ tiếng nói đẹp và hay, giải thích ngắn gọn nhận định ấy. Đây là phần nêu vấn đề trong bài nghị luận. Thân bài (“Tiếng Việt, trong cấu tạo,..” đến ”…. kĩ thuật, văn nghệ, v.v.”): chứng minh cái đẹp và sự giàu có (cái hay) của tiếng Việt về các mặt ngữ âm, từ vựng, cú pháp. Kết bài (câu văn còn lại): Nhấn mạnh, khẳng định cái đẹp, cái hay của tiếng Việt chính là sức sống của tiếng Việt, cũng có ý nghĩa biểu hiện sức sống của dân tộc. Vì là bài nghị luận nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ, nên tác giả dùng lí lẽ và dẫn chứng thuộc phạm vi ngôn ngữ và thực tiễn, chứ không đưa ra nhũng ví dụ cụ thể về những ngữ liệu văn chương hay tiếng nói trong đời sống hằng ngày. Do đó, khi tìm hiểu áng văn này, chúng ta cần kết họp việc suy ngẫm về các lí lẽ, các dẫn chứng của tác giả với những liên tưởng vốn liếng văn chương, tiếng nói hằng ngày để chia sẻ và thấu hiểu tư tưởng, tình cảm tác giả. Nhưng xuống phần hai, tác giả lại trình bày luận điểm và minh hoạ bằng các dẫn chứng khá rành mạch, sáng tỏ và chặt chẽ. Luận điểm thứ nhất: tác giả khẳng định và chứng minh Tiếng Việt, trong cấu tạo của nó,… của một thứ tiếng khá đẹp. Nét đẹp ấỵ được minh hoạ bằng các dẫn chúng về giàu chất nhạc (trong ngữ âm, tiếng Việt có hai thanh bằng, bốn thanh trắc, thanh điệu phong phú. Trong cú pháp, tiếng Việt cân đối, nhịp nhàng, về từ vựng, tiếng Việt dồi dào vốn từ về cả ba mặt thơ, nhạc, hoạ). Do đó, nhà nghiên cứu khẳng định: “tác dụng của đặc tính này đối với văn học là rất quan trọng”. Để hỗ trợ cho các dẫn chứng về khoa học, tác giả bổ sung thêm dẫn, chúng thực tế. Ông kể: nhiều người ngoại quốc sang thăm nước ta nhận xét rằng tiếng Việt là thứ tiếng giàu chất nhạc. Rồi ông dẫn ý kiến một giáo sĩ nói: “tiếng Việt như là một thứ tiếng “đẹp” và “rất rành mạch trong lối nói, rất uyển chuyển trong câu kéo, rất ngon lành trong những câu tục ngữ””. Xen kẽ các dẫn chứng, tác giả dùng phép so sánh “ Chú bé loắt cho ắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh – Ca lô đội lệch Mồm huýt sáo vang Như con chim chích Nhảy trên đường vàng… Nhạc tính của tiếng Việt đã tấu lên những âm sắc, những thanh điệu, cú pháp đẹp đẽ, uyển chuyển, sinh động biết bao trong đoạn thơ ấy của nhà thơ Tố Hữu. Và chúng ta nhớ tới bao nhiêu câu tục ngữ, bài ca dao, cả những câu nói bình thường hằng ngày ta nghe từ tiếng nói của mẹ cha, ông bà, của thầy, cô và bè bạn. Làm sao minh hoạ cho hết được tính nhạc, cái đẹp của tiếng Việt Nam chúng ta. Hãy trở lại với bài văn của Đặng Thai Mai. Sau khi chứng minh chất nhạc – vẻ đẹp – nhà nghiên cứu khẳng định tiếp: tiếng Việt là thứ tiếng huy. Rồi ông minh hoạ bằng vài nét khái quát: tiếng Việt có khả năng dồi dào về cấu tạo từ ngữ, về hình thức diễn đạt, ngữ pháp đang dần dần uyển chuyển hơn, chính xác hơn, không ngừng đặt ra những từ mới, cách nói mới, đồng thời Việt hoá những từ và cách nói của các dân tộc anh em và các dân tộc láng giềng… Dồn dập những dẫn chứng, vừa mang tính khoa học vừa đẫm chất thực tế. Điều đó giúp chúng ta vừa nâng cao hiểu biết về lí thuyết vừa thúc đẩy chúng ta liên hệ thực tế, để cảm thông, chia sẻ với tác giả niềm say mê trong khám phá khoa học và tình yêu tiếng mẹ đẻ Việt Nam. Ngoài Tố Hữu, qua các câu tục ngữ, các bài ca dao, chúng ta còn được học biết bao tác phẩm văn chương của cha ông xưa từ Trần Quang Khải, đến Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến,… những tác phẩm của Bác Hồ, của các nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, các nhà thơ Minh Huệ, Xuân Quỳnh,… trong thời đại ngày nay. Nhờ sự giàu và đẹp của tiếng Việt mà các văn nghệ sĩ sáng tạo ra biết bao áng văn chương tuyệt tác và cũng nhờ sự sáng tạo và tình yêu tiếng nói Việt Nam của các tác giả mà tiếng Việt càng ngày càng giàu, càng đẹp hơn, sức sống càng ngày càng dồi dào hơn. Về nội dung, tác giả đã có một phát hiện khoa học lí thú về vẻ đẹp tiếng nói Việt Nam. Về nghệ thuật, bài văn cũng đạt tới trình độ đáng khâm phục, đáng học tập: kết hợp giải thích với chứng minh, bình luận nhẹ nhàng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng khá toàn diện, bao quát, viết câu linh hoạt, dùng câu rút gọn (ở phần đầu), phối hợp với câu mở rộng (ở phần hai)… Tóm lại, điều chúng ta cần ghi nhớ là: bằng những lí lẽ, chứng cứ chặt chẽ và toàn diện, bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt đã chứng minh tiêng nói Việt Nam giàu có vù dẹp đẽ ở nhiều phương diện: ngữ ủm, từ vựng, ngữ pháp. Tiếng Việt, với những phẩm chất bền vững và khả năng súng tạo trong quá trìnli phát triển lâu dùi của nó, lù một biểu tượng hùng hồn-của sức sống dân tộc… Xem lại bài bình giảng Áng văn tỏa sáng một chân lí
Tiếng Việt giàu và đẹp – một phát hiện khoa học lí thú – Bình giảng văn 7
1,260
Tiếng Việt lớp 3: Ôn tập thi cuối kì 1 Hướng dẫn Tuần 18: Ôn tập cuối kì 1 1. Viết giấy mời cô hoặc thầy Hiệu trưởng dự liên hoan của lớp chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11: (Gợi ý: – Yêu cầu điền đúng vào tờ giấy in sẵn giấy mời cô hoặc thầy Hiệu trưởng dự liên hoan của lớp chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Cấu tạo và cách thức điền có những điểm giống những loại đơn đã học nhưng cũng có những điểm khác biệt. Vì vậy, bài tập này giúp các em thực hành viết giấy mời đúng nghi thức. Em phải điền vào giấy mời những lời lẽ trân trọng và ngắn gọn để thể hiện sự trang trọng trong giao tiếp. – Nội dung gồm các mục: + Nơi hoặc người nhận. + Người mời, nơi mời và người hoặc nơi được mời. + Mời đến dự buổi lễ gì? + Thời gian dự: Ghi rõ từ mấy giờ đến mấy giờ, ngày tháng năm nào? + Địa điểm: Ghi rõ ràng, cụ thể ở đâu. + Mong muốn của người gửi giấy mời (Sự hiện diện của ……………………….. là niềm vinh dự của ……………………………….. Hoặc: Rất hân hạnh được đón tiếp…!) + Ngày, tháng, năm viết giấy mời. + Kí tên( cần ghi rõ chức vụ nếu có) ) 2. Tham khảo GIẤY MỜI Kính gửi: Thầy Hiệu trưởng Trường Tiểu học Thành Công. Lớp 3B trân trọng kính mời Thầy tới dự: BUỔI LIÊN HOAN CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 – 11. Vào hồi: 8 giờ, ngày 19 – 11 – 2012. Tại phòng học lớp 3B. Chúng em rất hân hạnh được đón tiếp Thầy! Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2012 Thay mặt lớp Lớp trưởng Thanh Hải Nguyễn Thanh Hải (Gợi ý: – Em vẫn phải dựa vào đơn xin cấp thẻ đọc sách lần đầu nhưng yêu cầu của bài là viết đơn xin cấp lại thẻ đọc sách do em làm mất thẻ. Vì vậy, em phải nêu được lí do xin cấp lại thẻ. Ngoài ra, cần ghi thêm nguyện vọng được mượn sách trong thời gian chưa được cấp thẻ và thông báo về số thẻ cũ của em để người khác không thể sử dụng.) 4. Tham khảo CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ……….., ngày …. tháng……….. năm 201…. ĐƠN XIN CẤP LẠI THẺ ĐỌC SÁCH Kính gửi: Thư viện Trường Tiểu học Thành Công Em tên là: Nguyễn Thanh Lâm Sinh ngày: 19 – 8 – 2005 Nam (nữ): Nam Nơi ở: Số 57, Giảng Võ, Hà Nội Học sinh lớp: 3B, Trường Tiểu học Thành Công Em làm đơn này xin đề nghị Thư viện cấp lại cho em thẻ đọc sách năm 2011 vì em đã trót làm mất thẻ. Em cũng xin thông báo số thẻ cũ của em là………………..để nếu có người dùng nó thì thư viện thu hồi giúp em. Trong thời gian chưa được cấp thẻ mới, em xin Thư viện tiếp tục cho em mượn sách. Được cấp lại thẻ đọc sách, em xin hứa sẽ giữ gìn cẩn thận và thực hiện đúng mọi quy định của Thư viện. Em xin trân trọng cảm ơn. Người làm đơn Thanh Lâm Nguyễn Thanh Lâm (Gợi ý: – Em đã được luyện tập cách viết một bức thư nên cần viết đúng hình thức một bức thư (đọc lại bài Thư gửi bà, Sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập một, trang 81). ở thư này không yêu cầu cụ thể phải viết thư làm gì mà chỉ là để thăm hỏi thông thường một người thân hoặc một người mà em quý mến. Em xác định xem em chọn viết thư cho ai? (Người thân có thể là bố, mẹ, ông, bà, cô, dì, chú, bác, anh, chị, em,… Người em quý mến có thể là thầy, cô giáo cũ hoặc bạn cũ,…). Em muốn hỏi thăm người đó về điều gì? (Nội dung chính của bức thư là hỏi thăm sức khỏe, công việc, cuộc sống, việc học hành,… của người thân.) – Em có thể viết thư cho một người bạn ở tỉnh khác để chia vui với bạn vì nghe tin bạn vừa đoạt giải thưởng nào đó.) 6. Bài tham khảo: Thái Bình, ngày 18 tháng 11 năm 2012 Bác Dung kính mến! Đã lâu cháu chưa được gặp bác, cháu nhớ bác lắm. Dạo này, bác có khoẻ không ạ? Bác có còn bị đau chân mỗi khi trở trời không bác? Sắp sang mùa lạnh rồi, bác cố giữ ấm để chân không lạnh, sẽ đỡ đau bác nhé. Cây mít nhà mình năm nay có sai quả không ạ? Anh Nam vẫn học giỏi chứ ạ? Cháu năm nay đã học đến lớp ba rồi. Từ đẩu năm học đến giờ cháu đã được mấy điểm mười rồi đấy bác ạ. Cháu sẽ cố gắng học giỏi hơn nữa để thi đua với anh Nam. Khi nào anh ấy rỗi, bác bảo anh viết thư cho cháu nhé. Cháu rất mong có dịp được về quê thăm bác và họ hàng. Cháu nhớ bác nhiều. Cháu của bác Phạm Việt Phương 7. Viết một đoạn văn ngắn (từ 7 đến 10 câu) kể về việc học tập của em trong học kì I: (Gợi ý: – Yêu cầu của bài là em viết một đoạn văn (chứ không phải viết thành bài văn) kể về việc học tập của em ỏ học kì I. Em có thể kể theo trình tự thời gian của học kì, cũng có thể kể về quá trình học một môn nào đó em học nổi trội hơn hoặc còn yếu hơn các môn khác,… Em cũng có thể kể về những ưu, nhược điểm của em trong học kì vừa qua. Điều cần lưu ý là em nên kể đúng sự thực để có hướng phấn đấu và quyết tâm cho thời gian tới,) 8. Bài tham khảo: Năm nay em học lớp ba. Từ đầu học kì, do yêu thích môn Toán nên em thường giành điểm 9, 10. Nhưng môn Tiếng Việt thì thật khó đối với em. Em cố gắng làm thật đầy đủ các bài tập chính tả, luyện từ và câu, luyện tập làm văn cô giao về nhà. ở nhà, có bài nào không hiểu, em thường nhờ mẹ giảng thêm. Cuối học kì, em đã đạt điểm khá trong kì thi. Em phấn đấu học kì II sẽ chăm chỉ hơn, sẽ luyện những bài khó hơn nữa để đạt điểm cao trong kì thi cuối năm.
Tiếng Việt lớp 3_ Ôn tập thi cuối kì 1
1,076
Tiếng Việt Ôn Tập Cuối Học Kì 1 Lớp 5 Hướng dẫn Câu 1: Ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng. Gợi ý:Ôn luyện lại các bài tập đọc, học thuộc lòng. Nắm tên bài, tác giả, thế loại, nội dung, cách đọc và học thuộc các bài học thuộc lòng. Câu 2: Lập bảng thống kê các bài tập đọc trong chủ điểm Giữ lấy màu xanh. Nội dung cần trình bày: tên bài, tác giả, thế loại, nội dung chính. Gợi ý: Lập bảng thống kê các bài tập đọc trong chủ điểm Giữ lấy màu xanh, như sau: Tên bài Tác giả Nội dung chính Thể loại Chuyện một khu vườn nhỏ Vân Long Miêu tả vẻ đẹp của khu vườn và tình yêu thiên nhiên của hai ông cháu. Văn Tiếng vọng Nguyễn Quang Thiều Diễn tả tâm trạng day dứt cua tác giả trước cái chết đáng thương của một con chim nhỏ. Thơ Mùa thảo quả Ma Văn Kháng Miêu tả vẻ đẹp của rừng tháo quả chín. Văn Hành trình của bầy ong Nguyễn Đức Mậu Kể, tả cuộc hành trình đi tìm mật ngọt của bầy ong. Thơ Người gác rừng tí hon Nguyễn Thị Cẩm Châu Bạn nhỏ là một người yêu rừng, thông minh, dũng cảm bảo vệ rừng. Văn Trồng rừng ngập mặn Phan Nguyên Hồng Biện pháp quan trọng để bảo vệ đê điều, cải tạo môi trường và góp phần tăng thu nhập là tăng cường trồng rừng ngập mặn. Văn Câu 3: Giả sử em là bạn của nhân vật bạn nhỏ (truyện Người gác rừng tí hon), em hãy nên nhận xét về bạn nhỏ và tìm dẫn chứng minh họa cho nhận xét của em. Gợi ý: Hãy nêu những nhận xét về bạn nhỏ và tìm dẫn chứng minh họa về những nhận xét của em qua bài Người gác rừng tí hon như sau: -Bạn nhỏ là một người có tình yêu đối với rừng. (“Tình yêu rừng của ba đã sớm truyền sang em.” “Thay ba đi tuần rừng”). -Có tinh thần cảnh giác. (“Phát hiện những dấu chân người lớn hằn trên đất, em thắc mắc: “..”. -Bạn nhỏ là một người rất thông minh, dũng cảm, nhanh nhẹn, linh hoạt bảo vệ rừng. Thấy lạ, em lần theo dấu chân. “Em chạy theo đường tắt về quán bà Hai, xin bà cho gọi điện thoại” báo cho công an. “Em chộp lấy dây thừng lao ra, buộc căng hai đầu dây vào hai chạc cây để chặn xe”. “Em dồn hết sức xô ngã gã”. TIẾT 2 Câu 1: Ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng. Gợi ý:Đọc lại các bài tập đọc học thuộc lòng trong chủ điểm Vì hạnh phúc con người nắm tên bài, tác giả, thể loại, nội dung chính làm cơ sở trả lời câu hỏi (2). Lập bảng thống kê các bài tập đọc trong chủ điểm Vì hạnh phúc con người như sau: Tên bài Tác giả Nội dung chính Thể loại Chuỗi ngọc lam Phun-tơn uốc-xlê Tình cảm của người em đối với chị mình và tấm lòng của con người coi tình cảm cao hơn giá trị tiền bạc. Văn Hạt gạo làng ta Trần Đăng Khoa Hạt gạo được làm ra từ mồ hôi nước mắt của người lao động. Hạt gạo là hạt vàng. Thơ Buôn Chư Lênh đón cô giáo Hà Đình Cẩn Tình cảm yêu thương, quý trọng của người dân Tây Nguyên đôi với cô giáo và cái chữ. Văn Về ngồi nhà đang xây Đồng Xuân Lan Hình ảnh đẹp đẽ, sống động của ngôi nhà đang xây, qua đó tác giả ca ngợi cuộc sống mới trên đất nước ta. Thơ Thầy thuốc như me hiền Trần Phương Hạnh Ca ngợi Hải Thượng Lãn Ông – một thầy thuốc nhân từ, đức độ, không màng danh lợi. Văn Thầy cúng đi bệnh viện Nguyễn Lăng Lên án những cách suy nghĩ cách làm lạc hậu mê tín dị đoan nhằm làm cho mọi người hiểu: cúng bái không phải là cách chữa lành bệnh cho con người. Văn Câu 3: Trong bài thơ em đã học ở chủ diêm Vì hạnh phúc con người, em thích những câu thơ nào nhất? Hãy trình bày cái hay của những câu thơ đó đề các bạn hiểu và tán thưởng sự lựa chọn của em. Gợi ý:Trong hai bài thơ em đã học ở chủ điểm Vì hạnh phúc con người, em thích những câu thơ sau: – Ví dụ các câu: Hạt gạo làng ta Có bão tháng bảy Có mưa tháng ba Giọt mồ hôi sa Những trưa tháng sáu Cua ngoi lên bờ Mẹ em xuống cấy (Hạt gạo làng ta) Ý nói: Hạt gạo chứa đựng bao khó khăn vất vả của con người. Cụ thể là hình ảnh của người mẹ. Mẹ phải chịu đựng biết bao gian khổ “một nắng hai sương” trên đồng ruộng mới làm ra hạt gạo. – Ví dụ những câu: Ngôi nhà như trẻ nhỏ Lớn lên với trời xanh… (Về ngôi nhà đang xây) Ý nói: Niềm vui hi vọng trước cuộc sống mới. TIẾT 3 Câu 1: Ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng. Gợi ý: Đọc lại những bài tập đọc đã học, nắm tên bài, tác giả, nội dung chính. Câu 2: Điền những từ ngữ em biết vào bảng sau: Sinh quyển (Môi trường động thực vật) Thủy quyển (Môi trường nước) Khí quyển (Môi trường không khí) Các sự vật trong môi trường con người, thú vật (trâu, bò, gà, vịt, hươu, nai,…); cây cối (cây trên rừng, cây trồng…) sông, suối, ao hồ, biển cả… bầu trời vũ trụ, mây không khí, ánh sáng… Những hành động bảo vệ môi trường Trồng rừng, phủ xanh đồi trọc, trồng rừng ngập mặn, chống săn bắn thú rừng, chim chóc. Giữ sạch nguồn nước, xây dựng các nhà máy nước sạch… Lọc khói công nghiệp xử lí rác thải, chống ô nhiễm bầu không khí… TIẾT 4 Câu 1: Ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng. Gợi ý:Đọc lại các bài tập đọc, học thuộc lòng. Nắm nội dung bài. Câu 2: Nghe – viết bài Chợ Ta-sken (SGK TV5 tập 1 trang 174). Gợi ý:Nhờ bạn hoặc người thân đọc bài Chợ Ta-sken, em viết. Sau đó tự kiểm tra sửa chữa những lỗi mắc phải, viết lại cho đúng. TIẾT 5 Tham khảo bài làm tại đây: Hãy viết thư gửi một người thân đang ở xa kể lại kếtquả học tập rèn luyện của em trong học kì I. TIẾT 6 Câu 1: Ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng. Gợi ý:Đọc lại các bài tập đọc, học thuộc lòng đã học. Nắm tên bài, tác giả, nội dung, thể loại. Câu 2: Đọc và trả lời câu hỏi bài Chiều biên giới. a)Tìm trong bài thơ một từ đồng nghĩa với từ biên cương. b)Trong khổ thơ 1, các từ đầu và ngọn được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyền? c)Có những đại từ xưng hô nào được dùng trong bài thơ? d)Viết một câu miêu tả hình ảnh mà câu thơ Lúa lượn bậc thang mây gợi ra cho em. Gợi ý: Đọc và trả lời các câu hỏi bài Chiều biên giới như sau: a)Từ đồng nghĩa với từ biên cương có trong bài là từ biên giới. b)Trong khổ thơ 1: từ đầu và từ ngọn được dùng với nghĩa chuyển. c)Những đại từ xưng hô được dùng trong bài thơ là: em và ta. d)Câu văn miêu tả hình ảnh mà câu thơ Lúa lượn bậc thang mây gợi ra cho em, như sau: “Những thửa ruộng bậc thang chạy từ chân đồi lên đến sườn đồi được lợp bỏi một màu xanh mướt thấp thoáng trong màn sương mỏng, trông mới đẹp làm sao! TIẾT 7: BÀI LUYỆN TẬP A- Đọc thầm văn bản đã cho (trang 177 SGK TV5 tập 1) B- Dựa vào nội dung bài đọc, chọn câu trả lời đúng như sau: 1-Chọn ý (c): Quê hương. (X) 2-Chọn ý (a): Nước sông đầy ắp. (X) 3-Chọn ý (e): Màu áo của những người thân trong gia đình. (X) 5-Chọn ý (b): Lá buồm căng phồng như ngực người khổng lồ. (X) 6-Chọn ý (b): Vì những cánh buồm gắn bó với con người từ bao đời nay. (X) 7-Chọn ý (a) Một từ. Đó là từ khổng lồ 8-Chọn ý (a) Một cặp từ. Đó là cặp: ngược >< xuôi 9-Chọn ý (c) Đó là hai từ đồng âm. 10-Chọn ý (c) Ba quan hệ từ. Đó là: còn, thì, cứ. TIỂT 8: BÀI LUYỆN TẬP Đề: Em hãy tả một người thân đang làm việc (đang nấu cơm, đọc bảo, khâu vá, làm vườn, xây nhà hay học bài..). (Tả một cô bán hàng) Sáng nay, em cùng Hoa đến cửa hàng văn phòng phẩm trên đường Nguyễn Tri Phương để mua một số dụng cụ học tập. Tại đây, chúng em gặp một cô mậu dịch viên thật dễ mến và dễ thương. Tên cô là Nguyễn Thị Phương. Cửa hàng nằm phía bên phải hướng ra bùng binh nơi giao nhau của nhiều con đường nên lúc nào cũng nhộn nhịp đông vui. Ở quầy hàng dụng cụ học sinh nào là bút, thước, com pa, cặp sách… không thiếu một thứ gì. Tất cả được sắp xếp gọn gàng ngăn nắp. Cô Phương còn rất trẻ, có lẽ cũng chỉ độ mười tám đôi mươi như chị Hai em. Cô có dáng người thon thả, cân đối. Chiếc áo dài màu hồng nhạt bó sát lấy cơ thể tạo cho cô một vẻ đẹp rực rỡ kiêu sa. Nói một cách công bằng, cô đẹp không kém gì những diễn viên điện ảnh Hàn Quốc. Mái tóc đen như gỗ mun xõa quá vai rất hợp với khuôn mặt trái xoan của cô. Đặc biệt cô có đôi môi đỏ thắm luôn tươi cười để lộ hàì-Ti răng nhỏ, đều trắng muốt. Tay cô thoăn thoắt lấy hàng đưa cho khách, miệng không quên nói những lời cám ơn dịu ngọt. Khách hàng mỗi lúc một đông. Người hỏi mua chiếc cặp, người hỏi mua tập vở, com pa, chì, thước… Có một ông khách mua một cây bút Hero cầm lên xem rồi xin đổi lại Hồng Hà. Thấy không vừa ý, ông lại xin đổi bút Kim tinh, cô vẫn vui vẻ chiều ý khách mà không hề tỏ thái độ bực bội gì. Em và Hoa mua hai cái hộp bút rất đẹp. Cô trả tiền thừa xong, không quên dặn dò chúng em đếm kĩ trước lúc cất vào cặp. Qua cách bán hàng và thái độ đốĩ xử với khách, em thấy mến và phục cô quá. Nếu như sau này làm mậu dịch viên, em sẽ cố gắng làm được như cô Phương.
Tiếng Việt Ôn Tập Cuối Học Kì 1 Lớp 5
1,680
Tiếng đàn hóa giải và niêu cơm nhân nghĩa – Truyện cổ tích Thạch Sanh Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Tiếng đàn hóa giải và niêu cơm nhân nghĩa Truyện cổ tích Thạch Sanh bắt nguồn từ một cốt truyện dân gian phổ biến trên thế giới ngợi ca người dũng sĩ diệt chằn tinh, diệt đại bàng, cứu người bị hại. Khi “nhập cư” vào mảnh đất trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, truyện cổ tích ấy nảy cành, thêm lá, nở hoa, kết trái, mở rộng thêm nội dung, ý nghĩa. Chàng dũng sĩ ấy có quê quán cụ thể: tỉnh miền núi Cao Bằng, mang tên cụ thể: Thạch Sanh với ý nghĩa “người con được sinh ra từ đá”. Chàng lại có nguồn gốc sâu xa: vốn là thái tử con Ngọc Hoàng Thượng đế… Do đó, câu chuyện về dũng sĩ Thạch Sanh, không chỉ ca ngợi công lao diệt loài vật ác trên núi, trên trời mà còn diệt cả ác quỷ dưới nước, đấu tranh vạch mặt kẻ vong ân bội nghĩa, chống ngoại xâm, bảo vệ non sông Tổ quốc, vẻ đẹp tài năng, đạo đức của Thạch Sanh đậm đà bản chất Việt Nam. Những chiến công của Thạch Sanh thể hiện ước mơ, niềm tin về đạo đức, công lí xã hội và lí tưởng nhân đạo, yêu hoà bình của nhân dân ta. Những giá trị nội dung ấy của tác phẩm được thể hiện bằng nhiều tình huống, chi tiết và hình ảnh thần kì độc đáo như: sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh, cung tên vàng, cày đàn thần và niêu cơm thần. Thêm nữa, cùng với văn bản kể miệng bằng văn xuôi, cổ tích Thạch Sanh còn được sáng tác bằng một truyện thơ Nôm, theo thể lục bát ra đời khoảng cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX. Tác phẩm toát ra bao nhiêu ý nghĩa nội dung, hiển hiện bao nhiêu hình ảnh nghệ thuật độc đáo. Nổi bật nhất trong truyện kể văn xuôi cũng như trong truyện thơ Nôm Thạch Sanh là hình ảnh cây đàn, tiếng đàn thần và niêu cơm thần. Có thể nói đó là “tiếng đàn hoá giải”, đó là “niêu cơm nhân nghĩa”. 1.Trước hết, chúng ta hãy lắng nghe và suy nghĩ về tiếng đàn của Thạch Sanh. Chẳng rõ, sau khi nhận cây đàn kỉ niệm của vua Thuỷ Tề, trở lại dương thế, tiếp tục sống cuộc đời lam lũ, Thạch Sanh đã luyện được phép màu kì diệu nào mà khi tiếng đàn cất lên ở trong ngục, nó nỉ non, thánh thót, nhiều cung, nhiều nghĩa đến thế. Truyện văn xuôi chỉ kể ngắn gọn: “Thạch Sanh ngồi trong ngục tối, đem đàn của vua Thuỷ Tề cho ra gảy”. Còn truyện thơ thì miêu tả tiếng đàn ấy rất cụ thể: Đàn kêu: Ai chém chằn tinh Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang? Đàn kêu: Ai chém xà vương Đem nàng công chúa triều đường vê đây? Đàn kêu: Hỡi Lí Thông mày Cớ sao phụ nghĩa lại rày vong ân? Đàn kêu: Sao ở bất nhân Biết ăn quả lại quên ân người trồng? Nhân danh công lí, tiếng đàn ấy đã thay lời nạn nhân oan uổng nói to lên, vang lên tất cả sự thật, bênh vực người có công, tố cáo kẻ gian xảo, cướp công, gây tội ác, bất nghĩa, bất nhân. Âm thanh, nhịp phách của tiếng đàn rắn rỏi, mạnh mẽ, dứt khoát,… như tiếng vị quan toà phân xử rạch ròi như lưỡi rìu, mũi tên chàng dũng sĩ nhằm giữa mặt kẻ quyển cao chức lớn, nhưng chúng là thủ phạm gieo đau khổ cho người dân lương thiện. Tiếng đàn của Thạch Sanh vang lên giữa thanh thiên bạch nhật, nói rõ tất cả mọi lẽ đời ân oán, nghĩa tình, vọng từ ngục tối, vọng khấp kinh thành, vọng tới cung vua. Nghe tiếng đàn, nàng công chúa bấy lâu im tiếng, nay “bỗng cười nói vui vẻ”. Thạch Sanh được gặp nhà vua. Tiếng đàn ấy đã hoá giải mọi bi kịch của cuộc đời chàng Thạch Sanh dũng sĩ – nghệ sĩ. Tên Lí Thông độc ác bị trừng phạt. Công lao, tài đức của Thạch Sanh được đền đáp. Tiếng đàn có phép thần thông kì diệu, hay đó chính là khát vọng công lí, khát vọng nhân nghĩa ngàn đời của dân tộc ta? Trong các truyện cổ tích khác, niềm khát vọng đó thường được biểu hiện bằng hình tượng Tiên, Bụt, hoặc những biến hoá huyền ảo, hoang đường. Ở truyện Thạch Sanh, tác giả dân gian sử dụng “tiếng đàn” biết nói, nói thấu tình, đạt lí để đấu tranh cho lẽ phải, giành lấy hạnh phúc. Hình tượng “tiếng đàn” vừa gần gũi vừa độc đáo và đậm chất nghệ sĩ. 2. Niêu cơm nhân nghĩa Chiến thắng của tiếng đàn Thạch Sanh mới chỉ ở chặng đầu. Quân chư hầu mười tám nước bằng lòng lui binh. Các hoàng tử cởi giáp xin hàng. Nhưng đội ngũ vẫn trùng trùng điệp điệp trước kinh thành. Làm thế nào đây? Phải cấp lương thực để cho chúng no bụng, vui vẻ về nước chứ. Lúc bấy giờ nhà vua lo lắng. Cả triều đình lo lắng, nghĩ kế, bày mưu. Thạch Sanh chẳng nghĩ nhiều, chàng sai dọn một bữa cơm thết đãi kẻ bại trận. Bữa cơm… chỉ vẻn vẹn có “một niêu cơm tí xíu” khiến lũ giặc “bĩu môi”, như chế giễu, như hỏi han, chất vấn. Thạch Sanh “đố họ ăn hết và hứa sẽ trọng thưởng”. Một câu đố – một bài toán, lại xuất hiện “bài toán” trong tác phẩm. Đơn giản quá, dễ dàng quá, cái “bài toán niêu cơm”. Vậy mà, hàng vạn quân của mười tám nước chư hầu không giải được bài toán ấy. Chúng đành phải “cúi đầu lạy tạ vợ chồng Thạch Sanh rồi kéo nhau về nước”. Chao ôi! Niêu cơm của Thạch Sanh, cái vật dụng đất nung nhỏ bé, bình thường mà sao có sức chứa lớn lao phi thường như vậy. Thật lạ lùng và thú vị! Tôi chợt nhớ thành ngữ xưa “nước lọ, cơm niêu” cha ông ta dùng để thở than về cuộc sống thiếu thốn, đói nghèo từng đày đoạ bao kiếp người lao động. Không biết, khi mời khách, nhất là khách nước ngoài, các nhà hàng có kể cho họ nghe về cái “niêu cơm” Thạch Sanh huyền thoại – sản phẩm thần kì của mảnh đất trí tuệ và tâm hồn dân tộc ta? Những hình tượng thẩm mĩ độc đáo một khi bắt nguồn từ cuộc sống, nhất là cuộc sống đẫm mồ hôi và nước mắt của người lao động, qua sự sáng tạo tài tình của người nghệ sĩ thì nó sẽ trẻ mãi không già, sẽ trường tồn và trở đi trở lại với chúng ta trong cuộc sống, cũng như trong lòng người. So với những truyện cổ tích quen thuộc trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam như Chử Đồng Tử, Tấm Cám, Cây khế, Trầu cau, Sợ Dừa,… cổ tích Thạch Sanh có nội dung, kết cấu, số phận, tính cách nhân vật phong phú, đa dạng hơn nhiều. Nhân vật Thạch Sanh trong truyện vừa mang những nét đặc trứng của các nhân vật dũng sĩ trong anh hùng ca thời thị tộc – bộ lạc, vừa có những nét tính cách và số phận tiêu biểu cho loại nhân vật trong cổ tích thần kì ra đời trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Vì thế, Thạch Sanh vừa là biểu tượng cho con người lương thiện, nêu cao điều thiện, để đấu tranh diệt trừ cái ác vừa là người anh hùng tài năng, trí dũng vẹn toàn chiến đấu chống ngoại xâm, giữ yên bờ cõi. Đỉnh cao của phẩm chất nhân nghĩa, anh hùng trong Thạch Sanh phải chăng là tiếng đàn và niêu cơm? Kéo tấm màn huyền thoại, hoang đường, sương khói kì ảo của trí tưởng tượng dân gian, chúng ta nhìn thấy được những chứng tích lịch sử, lắng nghe được những tiếng nói của cha ông về khát Vọng hoà bình, no ấm tự ngàn đời nay vọng lại. Tiếng đàn Thạch Sanh hay chính là văn hoá, văn học nghệ thuật Việt Nam có khả năng hoá giải mọi bi kịch? Niêu cơm Thạch Sanh, hay chính là hạt thóc, nồi cơm, của cải vật chất trên mảnh đất Việt Nam đã từng nuôi lớn dân tộc, đã từng chiến thắng ngoại xâm và sẽ mãi mãi đem lại ấm no, hạnh phúc cho mỗi gia đình, cho mọi người Việt Nam chúng ta? Ôi, tiếng đàn kì diệu, niêu cơm nhỏ bé mà có sức chứa vô hạn, vô biên, đáng yêu, đáng nhớ làm sao!
Tiếng đàn hóa giải và niêu cơm nhân nghĩa – Truyện cổ tích Thạch Sanh Ngữ Văn 6
1,493
Trong buổi học tuần trước. em thấy buổi học nào có kết quả hơn cả? Em hãy kể lại buổi học ấy. Bài làm Cô kiểm lại bài: “Qua Thậm Thinh", các bạn đều thuộc bài, nhất là bạn Khánh Ngân, thường ngày đọc“ ê a mà hôm nay cũng đạt điểm cao. Cô rất vui, ghi điểm vào sổ rồi gấp lại Cô ghi tựa bài mới: "Yết Kiêu". và giảng bài Giọng của cô khi trầm khi bổng nghe rất hấp dẫn. Chúng em nghe say sưa và có lúc tưởng mình đang ở vào thời đại của Yết Kiêu. Em cảm thấy khâm phục Yết Kiêu. Yết Kiêu như một con giao long vùng vẫy trên sóng nước. Đục thuyền làm cho giặc Nguyên sợ hãi không còn mộng xâm lăng. Giảng bài xong, cô đặt câu hỏi rồi gọi các bạn trả lời. Các bạn rất háo hức giơ tay. Những ánh mắt đảm dám nhìn cô như muốn cô gọi mình trả lời Cô gọi vài bạn đọc bài. Các bạn đọc rất hay, rất diễn cảm và trả lời các câu hởi đầy đủ. Cô bước lên bục giảng, viết một số bài toán cho chúng em làm. Cô gọi các bạn Thảo Nguyên, Hải Bằng, Kim Ngân và Thu Hằng lên bảng sửa bài về nhà. Các bạn này thường xuyên làm toán sai, hôm nay cũng đạt điểm mười. Chúng em mở tập ra sữa. Chà! Bài hôm nay khó quá! Toàn là số thập phân. Nhiều tiếng xì xào tỏ ra bối rối. Cô bảo chúng em yên lặng. Cô lại bước lên bục giảng, chúng em chăm chú lắng nghe. Dưới sự chỉ dẫn của cô, những con số thập phân kia không còn đáng ghét nữa. Tiếp đó, chúng em làm bài tập. Cơn gió mát rượi nghiêng mình qua cửa sổ nhìn chúng em làm bài. Bài gần xong thì giờ ra chơi cũng đã đến Hai chục phút thoải mái trôi qua rất mau, chúng em vào học tiết ba Cô phát vỡ toán cho chúng em, em sung sướng vô cùng khi có điểm mươi đỏ chói trong vở. Sang tiết thứ ba là môn khoa học với bài mới là "Nhiệt kê' Cô gọi ba bạn trả bài cũ, bạn nào cũng đạt điểm cao. Cô cho ví dụ mô tả nhiệt kế như: nhiệt kế đo thời gian, nhiệt kế đo thân nhiệt, mỗi loại đều rất công dụng Cô đặt câu hỏi khoa học, bạn nào cũng trả lời đúng, đầy đủ. Sang tiết thứ tư là môn đạo đức. Câu chuyện thật vui và ngộ nghĩnh. Cô dạy chúng em cách nói chuyện với người lớn tuổi. Em thấy mình nhiều lúc chưa tỏ lòng tôn kính đúng mức đối với người già. Em cần phải nhường bước đi, phải nói năng lễ phép với các cụ. Bởi vì chính những con người ấy đã đóng góp nhiều cho xã hội. Cuối buổi học, cô khen chúng em chuẩn bị tốt ở nhà nên học hành sôi nổi và nghiêm túc Khi tiếng trống báo hiệu giờ chào cờ, chúng em xếp hàng để tham dự buổi lễ chào cờ đầu tuần. Buổi học ngày thứ hai thật đáng nhớ. Em nghĩ rằng tất cả các buổi học trong tuần đầu như vậy thì không lo gì về kết quả ở kì thi sắp tới.
Trong buổi học tuần trước. em thấy buổi học nào có kết quả hơn cả_ Em hãy kể lại buổi học ấy.
567
Trong buổi học đầu xuân, các bạn kể những niềm vui ngày Tết và bỗng nhiên nghe Bảng Đen tâm sự. Em hãy kể lại câu chuyện đó Gợi ý DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG A. MỞ BÀI Hoàn cảnh xảy ra sự việc: + Thời gian: Sau Tết, buổi sớm mai lạnh. + Không gian: ở một ngôi trường vừa thức dậy. B. THÂN BÀI D. Mọi người trong lớp đang kể chuyện vui ngày tết. E. Bảng đen cũng lên tiếng ngỏ lời tâm sự. F. Bảng kể lại những công ích của mình cho các bạn học sinh và tủi thân thấy mình bị hành hạ. + Bảng bị rạch chằng chịt bởi những vết dao sắc. + Bảng không được treo chắc chắn nên bị rớt và bị gãy góc. + Bảng bị banh đá vào mặt nên bị mất một mảng sơn. G. Bảnh đen khuyên nhủ chân tình: + Yêu cầu treo mình chắc chắn. + Yêu cầu phải biết tôn trọng mình, phải bảo vệ mình để nó giúp ích cho các bạn học sinh. + Mong các bạn nhỏ học hành tốt để không phụ lòng thầy cô và của nó. + Nhắc nhở những học sinh còn quậy phá và ngủ gật. + Chúc tết đầu năm. C. KẾT BÀI + Trống đánh vào lớp. + Bạn Mai thay lớp cảm ơn Bảng Đen. + Cô giáo vào lớp, buổi học bắt đầu. BÀI LÀM Sau Tết, những buổi sớm mai thường se lạnh. Ngôi trường cấp một nhỏ nhắn còn ẩn hiện trong màn sương mỏng lửng lơ. Tuy mùa đông đã cởi chiếc áo xanh của mình để đón rước nàng xuân, thế mà ngôi trường vẫn còn như ngủ rất kỹ trong khí trời có gió heo may… Rồi ông mặt trời ló dạng. Nắng rải vàng sân trường, nắng như những lớp bụi óng len lỏi vào trong lớp học. Nắng rực rỡ và chiếu sáng các khuôn mặt đầy sức xuân của lớp tôi. Ngôi trường đã thức dậy. Tụ tập tại lớp là các bạn nhỏ lớp 1A chúng tôi. Ai cũng hăng hái kể chuyện ngày xuân trong dịp nghỉ Tết vừa qua. Bé Mai với bím tóc mềm hoe hoe vàng, ngúng nguẩy đôi bướm trên đầu trông thật dễ thương. Bạn ấy khoe: “Năm nay, mẹ tôi đưa tôi xuống thuyền, dắt tôi về với ngoại nè, ở quê ngoại lạ lắm nghe, có dừa nước, có cây bần mà quả của nó chắc là ăn ngon lắm!” Nam là một cậu bé lí lắc nhất lớp tôi cướp lời: “Tớ cũng về quê nội của tớ chứ bộ. Ở đó cũng có bần, tớ đã ăn nó rồi, chát ơi là chát, đâu ngon lành gì! Nghe nói ăn nhiều là chết vì ngộ độc đấy!…”. “Ai vậy kìa…” – Mai lúng túng. “Chẳng lẽ bảng lại nói được sao” – Nam im thin thít rồi nghi ngờ hỏi. “Đúng đấy, chính tôi là Bảng Đen đang nói với các bạn đấy! Các bạn có cho tôi được nói đôi lời đầu năm mới không?”. Mai chau mày: “Nhưng mà Bảng ơi, “tâm sự” là cái gì, tôi không hiểu!”. Ừ nhỉ, sao lại không nói chuyện như tụi mình mà lại “tâm sự”? “tâm sự” nghĩa là bạn định bày trò chơi cho chúng tôi phải không hở Bảng? – Nam cũng thắc mắc như Mai. Không đâu, tâm sự nghĩa là chúng mình trò chuyện thân mật với nhau đấy mà! À, vậy thì Bảng cứ nói chuyện với chúng tôi đi. Đầu năm nghe Bảng nói chuyện chắc cũng thú vị lắm đây! Nam lên tiếng. Bảng Đen chậm rãi tiếp lời: “Chắc có lẽ từ khi bước vào lớp học này, cho đến hôm nay, đã bao lần các bạn theo bàn tay cô giáo nhìn thấy những chữ viết và những con số. Nhưng đã có bạn nào nghĩ và chú ý đến tôi chưa? Tôi không tự khoe mình đâu nhưng cũng thật là tủi thân khi thấy mình làm việc có ích cho mọi người mà lại bị mọi người hất hủi và hành hạ. Bạn hãy nhìn lên mặt bên phải của tôi thì rõ. Bạn có thấy những vết dao rạch chằng chịt với việc khắc những chữ a, b, c xiêu xọ không thể xóa được trên mặt tôi đấy không? Và phía bên trái, bạn không thấy một mảng sơn của tôi đã bị bong ra do một quả banh các bạn đá trong lớp đập vào đó sao? Bạn hãy nhìn góc dưới của tôi đi, nó bị vênh ra và gãy mép, đó là do các bạn treo tôi trên hai sợi dây thép nhỏ xíu cho nên một lần các bạn níu lấy tôi để quét mạng nhện và tôi rớt xuống mới ra cơ sự đó… Bảng ơi, bạn trách chúng tôi nhiều quá đấy, đầu năm như vậy là chúng tôi không hên tí nào. Sao bạn không trách người nào đã kẻ trên mặt bạn cơ man là những ô vuông? Nam trách Bảng. Bảng giải thích: Ồ, vậy là bạn đã nghĩ sai cho người ta rồi. Nếu không có những ô vuông đó thì các bạn khó lòng mà tập viết cho đúng dòng, đúng ô ở trong tập. Nó cần thiết hơn là bạn tưởng… Đấy, có những đường rạch nó cần thiết và có những đường rạch nó nguy hại như thế đó. Nam cúi đầu xấu hổ. Hình như thủ phạm của những chữ cái được khắc vào Bảng là do chính bạn ấy thiếu suy nghĩ mà có. Bảng Đen bỗng chuyển lời nhỏ nhẹ: – Các bạn ơi, tôi nói để các bạn biết những sai lầm của mình mà sửa, chứ tôi đâu có trách móc nặng lời đâu. Tôi hy vọng là tôi sẽ được buộc chặt hơn, chứ cứ đứng thế này tôi e sợ một ngày nào mình lại bị đổ đánh rầm như dạo nọ… Các bạn ạ, lớp học này đón các bận từ trường mẫu giáo lên đây đầu tiên chính là tôi. Và cũng chính tôi giúp các bạn tròn miệng tập nói chữ wO” lần đầu tiên. Các bạn còn nhớ cái ngày cô giáo viết nắn nót trong ô vuông chữ “O” khá to và sau đó cả cô trò cùng đọc. Rồi cô bảo các bạn theo đúng mẫu trên mặt tôi mà viết vào trong tập. Từ đó đến nay, bao nhiêu bài học đã qua đi, bao nhiêu lần mặt tôi được viết và được bôi xóa. Tôi hy vọng các bạn sè không phụ lòng cô giáo và nếu bạn nào còn biết cảm ơn tôi thì ráng mà học hành cho giỏi. Tôi cũng khuyên các bạn đừng có nghịch phá, đừng nói chuyện riêng và đừng ngủ gục ở trong lớp. Ở trên tường này mỗi lúc nhìn thấy vậy, tôi buồn quá và hôm nay mới có dịp được tâm sự với các bạn đấy! Một năm mới nữa đã đến. Các bạn thêm một tuổi thì tôi chúc các bạn cũng thêm nhiều kiến thức và thêm nhiều việc tốt… Cô giáo đi vào lớp, chúng tôi nghiêm trang đứng dậy chào. Buổi học đầu năm bắt đầu…
Trong buổi học đầu xuân, các bạn kể những niềm vui ngày Tết và bỗng nhiên nghe Bảng Đen tâm sự. Em hãy kể lại câu chuyện đó
1,185
Trong bài Ngắm trăng có một thế giới trăng đầy lãng mạn – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Bài thơ Ngắm trăng nằm trước chùm thơ “Trung thu” của Hồ Chí Minh. Bài thơ được viết vào mùa thu năm 1942, đó là bài số 21 trong “Nhật kí trong tù” của Bác. Bài thơ viết về cảnh ngắm trăng nhưng không phải ngắm trăng một cách bình thường mà nhìn ánh trăng từ trong ngục. Từ tư thế ngắm trăng ấy đã toát lên một vẻ đẹp thanh cao trong tâm hồn Bác, một phong thái ung dung, tự tại của người chiến sĩ cách mạng trước cảnh đẹp thiên nhiên. Mở đầu bài thơ là cảnh ngộ của nhà thơ: Trong tù không rượu củng không hoa. Bị giam cầm trong nhà lao của bọn Tưởng Giới Thạch, sự thiếu thốn trăm bề là điều tất nhiên. Điều này không nói ra thì có lẽ chúng ta cũng hình dung được. Nhưng sự thiếu thốn ấy không ngăn nổi tâm hồn thơ của Bác, không làm cho Bác buồn lòng: Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ. Ánh trăng, rượu, hoa là những thứ đi liền với tâm hồn thi sĩ. Rất nhiều bài thơ lấy cảm hứng từ những thú vui này. Đối với Bác, chung quanh chỉ có ánh trăng soi từ bên ngoài qua song sắt. Trước cảnh đẹp nhưng lại thiếu rượu và hoa, điều này đã làm mất đi một phần thi hứng của nhà thơ. Hai câu thơ đầu chưa đề cập đến ánh trăng nhưng đọc lên như đã hiện hữu một ánh trăng. Ánh trăng đó chính là ánh sáng trong tâm hồn Bác, soi vào một đêm tối tăm của đất nước. Hai Câu thơ sau ánh trăng mới thật sự xuất hiện và bao trùm không gian chôn ngục thất, ánh trăng trở thành “nhân vật” chính của đêm nay. Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Điểm nhấn của bài thơ chính là ở hai câu thơ cuối. Không chỉ có một hình ảnh mà là hai hình ảnh hòa quyện vào nhau. Sự hòa quyện đến mức đồng điệu và tưởng chừng như chỉ có một. Trong các câu thơ chữ Hán thường có hai hình ảnh gắn liền với nhau, chẳng hạn như nhân – nguyệt hoặc nguyệt – thi gia. Trong bài thơ của Bác Hồ cũng thế. Câu thứ ba Bác vẫn còn xưng Người, nhưng câu cuối đã thành nhà thơ. Câu thơ mang ý nghĩa thẩm mĩ đặc sắc. Từ trong ngục tối, nơi chỉ có bốn bức tường giam, không có bất kì thú vui nào, người tù nhìn ánh trăng soi từ cửa sổ. Đó là hình ảnh rất bình thường nhưng đối với Bác nó trở thành một niềm vui, một dịp may hiếm có. Từ “ngắm” thể hiện vẻ say sưa và một sự thưởng thức, thưởng thức cái đẹp, cái tao nhã của thiên nhiên. Không chỉ diễn ra một chiều ngắm. Ánh trăng đã được nhân hóa để nhòm lại nhà thơ. Vầng trăng bây giờ không còn là một vật vô tri vô giác nữa mà đã có tâm hồn, một tâm hồn đồng điệu với tâm hồn Bác. Bác và trăng lặng lẽ nhìn nhau, cảm thông, chia sẻ với mối tình tri âm, tri kỉ. Hai câu thơ đối nhau, ngôn ngữ và hình ảnh cân xứng, hài hòa. Trăng và nhà thơ dù bị song sắt ngục tù chia cách nhưng vẫn rất gần gũi và ân tình. Đọc hai câu thơ chúng ta thấy ánh trăng như tràn ngập, như bừng sáng cả không gian bao la; khung cảnh không còn là ngục thất mà là một thế giới bao la với ánh trăng chiếu sáng và tâm hồn thi sĩ bay bổng. Có thể nói đây là hai câu thơ hay nhất và đẹp nhất về ánh trăng trong thơ Bác. Tư thế ngắm trăng của Hồ Chí Minh đã thể hiện tình yêu thiên nhiên yêu cái đẹp của Bác, đồng thời thể hiện tinh thần lạc quan của Người dù ở vào hoàn cảnh khó khăn nhất. Chúng ta còn bắt gặp nhiều bài thơ khác thể hiện được ý chí, nghị lực và tinh thần lạc quan của Bác nhưng đây là bài thơ để lại nhiều ấn tượng nhất. Bài thơ vừa thể hiện tình yêu thiên nhiên, vừa biểu lộ một tâm hồn thanh cao, một phong thái ung dung tự tại, vừa thể hiện khát vọng tự do. Nó là hình ảnh tượng trưng cho một tâm thế sẵn sàng. Như Bác đã nói: “Thân thể ở trong lao – Tinh thần ở ngoài lao”. Tags:Văn 8
Trong bài Ngắm trăng có một thế giới trăng đầy lãng mạn – Đề và văn mẫu 8
786
Trong bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh có một thế giới trăng đầy lãng mạn. Hãy làm rõ nhận định trên Hướng dẫn Bài thơ Ngắm trăng nằm trước chùm thơ “Trung thu” của Hồ Chí Minh. Bài thơ được viết vào mùa thu năm 1942, đó là bài số 21 trong “Nhật kí trong tù” của Bác. Bài thơ viết về cảnh ngấm trăng nhưng không phải ngắm trăng một cách bình thường mà nhìn ánh trăng từ trong ngục. Từ tư thế ngắm trăng ấy đã toát lên một vẻ đẹp thanh cao trong tâm hồn Bác, một phong thái ung dung, tự tại của người chiến sĩ cách mạng trước cảnh đẹp thiên nhiên. Mở đầu bài thơ là cảnh ngộ của nhà thơ: Trong tù không rượu củng không hoa. Bị giam cầm trong nhà lao của bọn Tưởng Giới Thạch, sự thiếu thốn trăm bề là điều tất nhiên. Điều này không nói ra thì có lẽ chúng ta cũng hình dung được. Nhưng sự thiếu thốn ấy không ngăn nổi tâm hồn thơ của Bác, không làm cho Bác buồn lòng: Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ. Ánh trăng, rượu, hoa là những thứ đi liền với tâm hồn thi sĩ. Rất nhiều bài thơ lấy cảm hứng từ những thú vui này. Đối với Bác, chung quanh chỉ có ánh trăng soi từ bên ngoài qua song sắt. Trướccảnh đẹp nhưng lại thiếu rượu và hoa, điều này đã làm mất đi một phần thi hứng của nhà thơ. Hai câu thơ đầu chưa đề cập đến ánh trăng nhưng đọc lên như đã hiện hữu một ánh trăng. Ánh trăng đó chính là ánh sáng trong tâm hồn Bác, soi vào một đêm tối tăm của đất nước. Hai câu thơ sau ánh trăng mới thật sự xuất hiện và bao trùm không gian chốn ngục thất, ánh trăng trở thành “nhân vật” chính của đêm nay: Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Điểm nhấn của bài thơ chính là ở hai câu thơ cuối. Không chỉ có một hình ảnh mà là hai hình ảnh hòa quyện vào nhau. Sự hòa quyện đến mức đồng điệu và tưởng chừng như chỉ có một. Trong các câu thơ chữ Hán thường có hai hình ảnh gắn liền với nhau, chẳng hạn như nhân – nguyệt hoặc nguyệt – thi gia. Trong bài thơ của Bác Hồ cũng thế. Câu thứ ba Bác vẫn còn xưng Người nhưng câu cuối đã thành nhà thơ. Câu thơ mang ý nghĩa thẩm mĩ đặc sắc. Từ trong ngục tối, nơi chỉ có bốn bức tường giam, không có bất kì thú vui nào, người tù nhìn ánh trăng soi từ cửa sổ. Đó là hình ảnh rất bình thường nhưng đối với Bác nó trở thành một niềm vui, một dịp may hiếm có. Từ “ngắm” thể hiện vẻ say sưa và một sự thưởng thức, thưởng thức cái đẹp, cái tao nhã của thiên nhiên. Không chỉ diễn ra một chiều ngắm. Ánh trăng đã được nhân hóa để nhòm lại nhà thơ. Vầng trăng bây giờ không còn là một vật vô tri vô giác nữa mà đã có tâm hồn, một tâm hồn đồng điệu với tâm hồn Bác. Bác và trăng lặng lẽ nhìn nhau, cảm thông, chia sẻ với mối tình tri âm, tri kỉ. Hai câu thơ đối nhau, ngôn ngữ và hình ảnh cân xứng, hài hòa. Trăng và nhà thơ dù bị song sắt ngục tù chia cách nhưng vẫn rất gần gũi và ân tình. Đọc hai câu thơ chúng ta thấy ánh trăng như tràn ngập, như bừng sáng cả không gian bao la; khung cảnh không còn là ngục thất mà là một thế giới bao la với ánh trăng chiếu sang và tâm hồn thi sĩ bay bổng. Có thể nói đây là hai câu thơ hay nhất và đẹp nhất vềánh trăng trong thơ Bác. Tư thế ngắm trăng của Hồ Chí Minh đã thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp của Bác, đồng thời thể hiện tinh thần lạc quan của Người dù ở vào hoàn cảnh khó khăn nhất. Chúng ta còn bắt gặp nhiều bài thơ khác thể hiện được ý chí, nghị lực và tinh thần lạc quan của Bácnhưng đây là bài thơ để lại nhiều ấn tượng nhất. Bài thơ vừa thể hiện tình yêu thiên nhiên, vừa biểu lộ một tâm hồn thanh cao, một phong thái ung dung tự tại, vừa thể hiện khát vọng tự do. Nó là hình ảnh tượng trưng cho một tâm thế sẵn sàng.Như Bác đã nói: “Thân thể ở trong lao – Tinh thần ở ngoài lao”. LUYỆN TẬP Đề 1. Giới thiệu về tập thơ Nhật kỷ trong tù của Hồ Chí Minh. Đề 2. Tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh thể hiện như thế nào quabài thơ Ngắm trăng? Đề 3. Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đề 4. Cảm nhận về bài thơ Ngắm trăng trong Nhật kí trong tù của Bác Hồ.
Trong bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh có một thế giới trăng đầy lãng mạn. Hãy làm rõ nhận định trên
847
Trong bài “Bàn về phép học”, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp rất chú ý đến phương pháp học “theo điều học mà làm” – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Bàn về phép học Đề bài: Trong bài “Bàn về phép học”, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp rất chú ý đến phương pháp học “theo điều học mà làm”. Hãy viết một bài văn nghị luận để giải đáp những điều trên. Bài làm Từ xưa tới nay, mối tương quan chặt chẽ giữa học và làm đã được nhiều người quan tâm, bình luận. Học quan trọng hơn làm, hay làm quan trọng hơn học? La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã nêu ra một phương pháp học “theo điều học mà làm” dựa trên cơ sở phép dạy học của Chu Tử. Vậy phương pháp học này có vai trò như thế nào trong xã hội? Vậy học là gì? Hành là gì? Học là hoạt động tiếp thu những tri thức của nhân loại đã được đúc kết qua mấy ngàn năm lịch sử. Chúng ta có thể học ở trường, qua sự truyền thụ của thầy cô, học ở bạn bè, tự học qua sách vở và trong thực tế đời sống. Học để làm giàu tri thức, nâng cao trình độ hiểu biết. Học không phải chỉ để bố mẹ vui lòng và thầy cô không quở trách. Học trước hết là để cho chính mình: học để hiểu biết, học để làm, học để hoà nhập với cộng đồng, học để có chất lượng sống cao; học cho mình và cho xã hội, góp phần hữu ích vào sự nghiệp chung của đất nước, của dân tộc. Tóm lại: học để lập thân và lập nghiệp. Còn hành là quá trình vận dụng những kiến thức đã học vào những công việc hằng ngày. Học sinh làm toán cần có một nền tảng kiến thức vững chãi về những công thức, phép tính để hoàn thành tốt bài làm. Kĩ sư được đào tạo chính quy đã biết áp dụng các phương pháp làm việc vào trong công việc, giúp ích cho đất nước, con người. Đó là hành. Mục đích cuối cùng của học sinh là phục vụ cho cuộc sống của mình, của gia đình và xã hội. Nếu không, học được lí thuyết dù nhiều đến đâu, khó đến đâu mà không đem ra vận dụng vào thực tế thì việc học đó chỉ tốn công sức, thời gian và tiền bạc. Ngược lại làm mà khống học thì làm không trôi chảy. Các công việc không cần nhiều đến trí tuệ là những công việc đơn giản, thường làm theo thói quen. Còn những công việc phức tạp thì bắt buộc người làm phải được đào tạo chính quy và trong suốt quá trình làm việc cần học tập không ngừng. Có như vậy, mới đáp ứng được nhu cầu xã hội. Vì vậy, phương pháp “theo điều học mà làm” giúp cho con người tiết kiệm được thời gian tìm tòi, học tập, giúp họ có kiểm chứng rõ ràng, phát triển được tư duy sáng tạo, việc học được nâng cao và sau khi làm có thể rút được kinh nghiệm. Trong thực tế hiện nay, mối quan hệ giữa học và làm cũng được nói tới nhiều. Hiện nay, đạo là vốn học vấn mà loài người đã tích lũy qua hàng ngàn năm trên mọi vấn đề nhằm đem tới văn minh, văn hoá. Trong thời đại kinh tế hội nhập, khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão, việc học và hành càng được đặt ra một cách nghiêm túc và có chiều sâu hơn. Những trí thức lớn không chỉ có lòng yêu nước mà còn có chuyên môn biết kết hợp với trái tim giàu nhiệt huyết để cống hiến cho đời. Kĩ sư Trần Đại Nghĩa đã chế tạo ra loại súng thần công có sức công phá lớn đối với quân địch. Bác sĩ Tôn Thất Tùng đã áp dụng vốn hiểu biết của mình để chữa bệnh cho quân dân ta trong các cuộc kháng chiến trường kì. Những hoạ sĩ như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Sáng; những nhà văn như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu ; nhạc sĩ như Văn Cao, Lưu Hữu Phước đều đã ghi danh mình vào lịch sử phát triển văn hoá của đất nước ta. Học và làm có ý nghĩa lớn để xác định cái giá trị thật hay giả của người trí thức. Những tên quan gian thần đã học theo lối học hình thức hòng cầu danh lợi, vì vậy nước mất, nhà tan. Những kẻ có bằng giả, có chứng chỉ giả nhằm thăng quan tiến chức, vơ vết công sức của nhân dân khiến hiện nay, đã có rất nhiều vụ tham nhũng của các quan chức trong bộ máy Nhà nước, làm thay đổi bộ mặt xã hội. Chúng ta còn nhớ vụ án Lã Thị Kim Oanh, những vụ việc chia chác hoa hồng của bác sĩ trên đơn thuốc của bệnh nhân,… Chúng ta cần phải coi lại cái thực của những kẻ trí thức ấy. Những người có tri thức chân chính thì không bao giờ làm như vậy đối với xã hội. Không xa xôi đâu cả, trong nhà trường cũng có lối học hình thức. Hiện nay, có những trường muốn được thành tích đã báo cáo sai với Bộ Giáo dục và Đào tạo về chất lượng học tập và rèn luyện của học sinh. Thật đáng buồn cho những học sinh chỉ lo quậy phá, đua đòi, không đủ trình độ học vấn đề thi thố với đời. Vậy chúng ta phải làm gì để phát huy bài học quý giá đó? Cái quan trọng là luôn luôn cần cù, chịu khó, chăm chỉ và có niềm tin. Chúng ta cần noi theo những tấm gương đi trước để tự xem lại mình mà cố gắng, quyết tâm hơn, luôn luôn tìm tòi, học hỏi người xung quanh để tích lũy hiểu biết của mình. Đó là một phương châm đúng đắn trong cuộc đời. Câu tục ngữ của dân gian quả đúng là một bài học quý giá, một phương châm đúng đắn, sâu sắc. Và chúng ta cần phải phát huy bài học đó, tự hào vì đó là một phẩm chất quý giá trong mỗi con người. Trần Thu Hà (Trường THCS Quan Hoa) >> Xem thêm Một vấn đề xã hội mà em quan tâm tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Bàn về phép học
Trong bài “Bàn về phép học”, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp rất chú ý đến phương pháp học “theo điều học mà làm” – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8
1,103
Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập đã tố cáo tội ác nào của Pháp Hướng dẫn Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập đã tố cáo tội ác nào của Pháp Bài Làm Trong bản” Tuyên ngôn độc lập” Bác đã vạch trần tội ác của Pháp đối với nhân dân Việt Nam trong 80 năm qua. Vạch trần bộ mặt xảo trá của thực dân Pháp, chúng kể công khai hóa nước ta bằng những dẫn chứng chính xác và xát thực về kinh tế và chính trị. Về mặt chính trị, chúng không cho nhân dân ta một chút tự do nào. Chúng thi hành đạo luật dã man, chúng đặt ba chế độ khác nhau ở ba vùng miền nước ta cản trở việc thống nhất đất nước. Chúng thẳng tay chém giết nhân dân ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong biển máu. Chúng ràng buộc dư luận. Chúng thi hành chính sách ngu dân. Về mặt kinh tế chúng bóc lột nhân dân ta đến xương tủy, khiến nhân dân ta nghèo khó. Chúng cướp ruộng đất của dân, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý làm cho nhân dân ta khổ cực, khó khăn. Cách lập luận của Hồ Chí Minh trong “ Tuyên ngôn độc lập” chặt chẽ, sát thực. Dẫn chứng tiêu biểu, thực tế. Từ đó vạch trần bộ mặt xảo trá của thực dân Pháp, kể công khai hóa nước ta.
Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập đã tố cáo tội ác nào của Pháp
244
Trong các bài thơ của Bác Hồ mà em đã học, em thích nhất bài thơ nào? Hãy phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc bài thơ đó. Hướng dẫn Hồ Chủ tịch không những là vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già của dân tộc Việt Nam mà còn là một thi sĩ nổi tiếng. Đọc bài thơ Cảnh khuya em càng thấy rõ hơn tâm hồn thi sĩ và tấm lòng của người chiến sĩ trong Bác. Em thấy say mê cảnh đẹp hùng vĩ, nên thơ của núi rừng Việt Bắc – cái nôi của cách mạng. Em cũng rất khâm phục, kính yêu lòng yêu nước vĩ đại của Bác. Tiếng suối trong như tiếng hát xa – Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Bức tranh thiên nhiên đẹp của rừng Việt Bắc thể hiện ở ngay hai câu thơ đầu: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Cảnh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc bỗng trở nên thơ mộng hơn; tươi đẹp hơn nhờ biện pháp so sánh tài tình và độc đáo: Tiếng suối trong như tiếng hát xa.. Âm thanh mới trong trẻo, du dương, ngân nga làm sao. Âm “a” ở câu cuối gợi nên cung bậc của tiếng suối, tiếng suối đều đặn, miên man, mang lại cho tâm hồn em một âm hưởng thiết tha, ngọt ngào mà sâu lắng. Nghệ thuật so sánh còn tạo ra một vẻ đẹp mới cho hình ảnh thơ: Bác biến dòng suối thành một con người có tâm hồn, có tình cảm, biến tiếng suối thành tiếng hát, một âm thanh rất trong trẻo, trẻ trung. Tiếng suối như có hồn của người nghệ sĩ. Bác đứng dưới rừng Việt Bắc thưởng thức tiếng, suối, thưởng thức cảnh thiên nhiên của núi rừng khi đã về khuya. Phải rất say mê, chan hòa với thiên nhiên, hòa hợp, thân thiết với thiên nhiên Bác mới nhìn thấy vẻ đẹp của thiên nhiên như thế. Thiên nhiên tạo ra vẻ đẹp trong tâm hồn Bác. Đọc đến đây, dẫu không phải là một người nghệ sĩ, không thân thiết với thiên nhiên như Bác, em cũng cảm thấy lòng mình rung động mãnh liệt. Em thấy vô cùng sung sướng, xúc động và em như thấy con suối hiện ra trước mắt mình thật lung linh, huyền ảo. Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Trăng tròn vành vạnh tỏa ánh sáng xuống trần gian. Những lùm cây rậm rạp được trăng chiếu xuống trông như những sợi kim tuyến lấp lánh trang điểm trên mái tóc bồng bềnh của nàng thiếu nữ. Trăng soi qua kẽ lá, chiếu xuống đất tạo thành muôn vàn những đốm trắng nhỏ li ti trên mặt đất lấm tấm như hoa gấm. Trăng, cây cổ thụ, bóng hoa tuy ở ba tầng bậc khác nhau nhưng chúng không cách biệt mà gắn bó, đan xen vào nhau, lồng vào nhau, tôn thêm vẻ đẹp cho nhau. Chúng cũng sống động lên nhờ từ “lồng”. Trước mắt em là một bức tranh tươi đẹp, các nét cảnh hòa quỵện, đan xen khiến cho bức tranh càng lung linh, huyền ảo hơn. Bức tranh đó làm em say mê, ngây ngất. Cảnh rừng Việt Bắc rất phong phú nhưng Bác chỉ khắc họa một vài nét: ánh trăng, tiếng suối. Tuy nhiên em vẫn hình dung thấy một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp trong tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của Người. Phải chăng Bác thao thức, chưa ngủ vì cảnh thiên nhiên quá đẹp? Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ. Nghệ thuật so sánh này gây được ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Cảnh rừng Việt Bắc như một bức tranh – “như vẽ”, một bức tranh tươi đẹp nhưng cũng hết sức hoàn hảo, có trăng, có suối, có bóng hoa, có cây cổ thụ. Hai lần tác giả dùng biện pháp so sánh trong bài nhưng mỗi lần so sánh mang đến một vẻ đẹp tươi khác nhau. Nhờ đó cảnh rừng Việt Bắc hiện ra cụ thể hơn. Bác muôn vàn kính yêu của chúng ta quả là một người có tâm hồn yêu thiên nhiên và yêu nước sâu sắc. Bác không những yêu thiên nhiên mà Bác còn lo lắng cho nước nhà, lo cho giang sơn tươi đẹp: Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Cảm xúc khâm phục Bác càng dâng lên trong em. Câu thơ đã lí giải toàn bộ nguyên do vì sao Bác không ngủ: vì lo cho nước nhà. Có lẽ đã bao đêm Bác thao thức không ngủ như thế này vì Bác lo cho dân, cho nước. Rồi đêm nay, giữa núi rừng Việt Bắc, bất chợt gặp khung cảnh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp, lòng Bác tràn trề cảm xúc và đã bật ra những vần thơ chứ không phải Bác ngắm cảnh để làm thơ. Điều ấy càng khiến em xúc động. Em càng kính yêu, khâm phục vô bờ đối với tâm hồn, trái tim vĩ đại của Bác. Đọc Cảnh khuya em vừa say mê với cảnh, vừa khâm phục phẩm chất và tâm hồn của Bác. Đọc bài thơ em bắt gặp tâm hồn của người thi sĩ và tấm lòng của người chiến sĩ. Tâm hồn ấy, tấm lòng ấy kết hợp hài hòa trong con người Bác làm nên cái vĩ đại của Bác. Bác không bao giờ xao nhãng việc nước, xao nhãng việc quân dù chỉ trong một chút thư giãn với thiên nhiên hay một thoáng mơ màng sau một ngày làm việc vất vả. Từ đó em càng thấy kính trọng, tôn kính Người. Bài làm của học sinh Lê Thị Thu Trang Viết một bài cảm nhận ngắn về bài thơ Cảnh khuya của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài làm Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa. Hai câu thơ như vẽ bức tranh thủy mặc: Có cây, có hoa, có trăng và xa xa có suối (Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa). Cảnh vật hiện ra trong vòm cây cổ thụ giữa đêm khuya, tỏa bóng xuống thảm hoa trong một đêm trăng đẹp. Hai câu thơ tuyệt tác, tạo cho người đọc một tâm hồn thơ đầy xúc cảm: Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Bài thơ được viết vào năm 1947, sau lời kêu gọi nhân dân tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Theo lời Bác, toàn dân rút vào nơi rừng núi, vùng sâu, vùng xa, tạo căn cứ, thành lập cơ sở cho cuộc kháng chiến lâu dài với một hậu phương vững chắc và an toàn cho cuộc cách mạng. Trong một đêm nào đó, Bác Hồ thong thả dạo chơi quanh vùng, thưởng thức cảnh đẹp của đêm trăng, Bác làm bài thơ tả cảnh với tâm tư lo lắng nỗi nước nhà đang bước vào cuộc kháng chiến chống xâm lược của toàn dân. Hai câu thứ ba và bốn nói lên xúc cảm thiêng liêng của hồn nước chỉ gói gọn trong câu thơ lặp lại “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Cả bài thơ bốn câu tả cảm xúc của Bác trước cảnh đẹp thiên nhiên dưới trăng khuya. Người chưa thể ngủ vì còn trăm thứ phải lo. Vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đâu có thể yên tâm mà ngắm cảnh. Cùng với hồn thơ lâng lâng còn xúc cảm. Với nỗi lo việc nước, việc dân. Bao nhiêu việc đã khiến Người chưa ngủ. Và hồn nước thiêng liêng giờ đây đã đến với Người khi tạm lắng hồn thơ để lo việc nước. LUYỆN TẬP Đề 1. Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đề 2. Vẻ đẹp nhân cách và tấm lòng vì dân, vì nước của Bác Hồ thể hiện như thế nào qua bài thơ Cảnh khuya. Đề 3. Thiên nhiên trong bài thơ Cảnh khuya của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong các bài thơ của Bác Hồ mà em đã học, em thích nhất bài thơ nào_ Hãy phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc bài thơ đó.
1,352
Trong các môn thể thao, em thích nhất môn nào? Hãy nêu lên lợi ích của môn thể thao đó và suy nghĩ của bạn thân em. Hướng dẫn Chơi thể thao là biện pháp vừa tốt cho sức khỏe lại vừa có tính giải trí cao. Trong các môn thể thao bổ ích, em thích nhất là môn bóng đá, một bộ môn giữ vị trí “vua” trong các môn thể thao. Bóng đá là niềm đam mê, là sự phấn khích của rất nhiều người cả nam và nữ. Nhắc đến bóng đá, mọi người cảm thấy hào hứng, sôi nổi hẳn lên. Bóng đá có nhiều điều lí thú, lôi cuốn mọi người. Đây là môn thể thao dạy ta nhiều bài học về rèn luyện thân thể lẫn rèn luyện nhân cách đạo đức. Về mặt thể lực thì bóng đá giúp cho cơ thể phát triển toàn diện. Khi chạy, đó là sự hoạt động không chỉ của đôi chân mà là của toàn bộ cơ thể, khiến cho những bắp thịt trở nên cứng cáp, dẻo dai, mà các cơ quan khác trong người cũng hoạt động nhiều hơn, tim khỏe ra vì vận chuyển nhiều máu, phối lớn thêm vì hít thở nhiều không khí, các cơ quan bài tiết, tiêu hóa, hệ thần kinh cũng nhờ đó mà hoạt đông. Những người chơi môn thể thao bóng đá không chỉ cần có thể lực tốt mà phải có trí tuệ hơn người. Mỗi một quả bóng được đá đi là kết quả của một suy tính hết sức linh hoạt đến mức đã thành phản xạ. Mỗi một bàn thắng trong trận đấu, đó là thắng lợi tổng hợp của chiến lược, chiến thuật, kĩ thuật, thủ thuật… hết sức khôn khéo tinh vi. Với một cầu thủ, khi quả bóng đến chân là lúc đòi hỏi sự phán đoán thông minh, kịp thời về đồng đội, về đối thủ, về không gian và cả mọi điều kiện của sân bãi, của trận đấu. Bóng đá là môn thể thao đang đi bỗng chạy, đang chạy bỗng đột ngột đứng lại, mắt nhìn bên phải nhưng tung chân bên trái, lách phía trước, luồn phía sau, chọc khe và đánh đầu… mỗi động tác đều diễn ra chỉ trong một nháy mắt. Bóng đã là sự phối hợp của sức khỏe, sự nhanh nhẹn, sức bền bỉ, lòng dũng cảm, trí thông minh, óc linh hoạt. Để trận bóng đá diễn ra tốt, những người chơi phải có tinh thần đồng đội gắn kết chặt chẽ. Không cầu thủ nào tài giỏi có thể một mình mang quả bóng từ sân nhà đưa vào lưới của đối phương. Trong trận đấu bóng, muốn thắng đối phương trước hết là phải đoàn kết, không một cầu thủ nào vì muốn được nổi tiếng mà giữ bóng mãi trong chân, không tạo điều kiện cho đồng đội mình tung bóng. Ai cũng hiểu rằng một đường bóng làm bàn hết sức đẹp là kết quả cuối cùng của bao nhiêu đường bóng phối hợp. Mỗi cầu thủ đều hiểu rằng chỉ có sự phối hợp ăn ý, thông minh giữa đồng đội với mình mới có thể tạo nên bàn thắng cho trận đấu. Trong bóng đá người chơi cần phải bình tĩnh, vừng vàng, dũng cảm, bóng đá quả là một môn thể thao đầy thú vị. Bóng đá có thể thu hút được số đông người hâm mộ. Xem những trận đấu bóng quốc tế, những cuộc tranh giải ở các nước với nhau, ta thấy không phải chỉ có cầu thủ trên sân cỏ mới quyết đấu mà cả dân tộc cùng ra sân đấu, lớp lớp cổ động viên hò hét- cùng vui, cùng khóc với chiến thắng hay thất bại cùng đội bóng yêu thích của mình. Em rất ham mê bóng đá, những trận đấu trong các cuộc tranh cúp lớn em có thể thức trắng đêm để xem. Hầu như em không bỏ sót trận đấu quan trọng nào. Xem hoài không chán, càng xem càng thú vị và bản thân em cũng rút ra được nhiều điều bổ ích. Trong lớp học em cũng là cầu thủ của đội bóng, tuy không phải là người đá giỏi nhưng cũng có lần ghi được bàn thắng và nhiều lần kiến tạo bàn thắng cho đồng đội mình. Quả thật không có giây phút nào sung sướng bằng lúc sút bóng vào khung thành đối phương được bạn bè hoan nghênh nhiệt liệt.
Trong các môn thể thao, em thích nhất môn nào_ Hãy nêu lên lợi ích của môn thể thao đó và suy nghĩ của bạn thân em.
758
Trong Cổng trường mở ra của Lí Lan, tại sao người mẹ nằm trằn trọc mãi không ngủ được? Hướng dẫn Đêm trước ngày khai trường, người mẹ nằm trằn trọc, thao thức, không ngủ được, suy nghĩ miên man. Tinh thần không tập trung được vào việc gì cả, lên giường và trằn trọc lo lắng. Còn đứa con thì thanh thản, nhẹ nhàng, vô tư đi vào giấc ngủ. Giấc ngủ dễ dàng đến với cậu trên gương mặt thanh thoát, đôi môi hé mở thỉnh thoảng chúm lại. Người mẹ lo lắng cho con nên đã không ngủ được vì đây là lần đầu tiên con đến trường để bước vào lớp Một. Đây là ngày rất quan trọng đối với cuộc đời của mỗi con người. “Mẹ không tập trung được vào việc gì cả; mẹ lên giường và trằn trọc; mẹ không lo lắng nhưng vẫn không ngủ được”. Trong đem, người mẹ nhớ về ngày khai trường đầu tiên năm xưa của mình: “Cái ấn tượng khắc sâu mãi trong lòng một con người; mẹ còn nhớ sự nôn nao, hồi hộp khi cùng bà ngoại đi tới gần ngôi trường và nỗi chơi vơi, hốt hoảng khi cổng trường đóng lại. Ấn tượng của mẹ về buổi tựu trường đầu tiên thật sâu đậm”. Người mẹ nghĩ đến ngày khai trường đầu tiên ở Nhật “Ngày khai … của toàn xã hội” với sự quan tâm của mọi người đến trường; đến việc giáo dục thế hệ trẻ cho tương lai.
Trong Cổng trường mở ra của Lí Lan, tại sao người mẹ nằm trằn trọc mãi không ngủ được_
253
Trong Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng viết: Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm. Hãy chứng tỏ điều đó qua các nhân vật trong đoạn trích. Hướng dẫn Trong Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng viết: Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm. Hãy chứng tỏ điều đó qua các nhân vật trong đoạn trích. Bài làm Một gia đình sống hạnh phúc là khi, ông bà cha mẹ, con cháu được đông đủ quây quần sum họp bên nhau. Nếu lỡ có vắng bóng đi thành viên nào thì cả nhà sẽ đau đớn, xót thương. Ấy vậy mà ở đời vẫn nhiều chuyện bất ngờ, sự ra đi của cụ tổ lại là niềm hạnh phúc, vui sướng, của con cháu cả dòng tộc. Đó là “tang gia” trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng lại “hạnh phúc” thật, lại“nhiều người sung sướng lắm”, lại “ai cũng vui vẻ cả”…! Trong tác phẩm cua mình Vũ Trọng Phụng đã làm rõ nét sự tàn nhẫn và sự dối trá của những con người vô nhân tính, mất đi hết bản chất của con người. Vũ Trọng Phụng được tôn vinh là “ông vua phóng sự đất bắc”. Số đỏ được đánh giá là kiệt tác văn chương có một không hai trong nền văn học hiên đại. Tác phẩm thể hiện tiếng cười căm hờn mãnh liệt cái xã hội thực dân phong kiến tư sản, cái xã hội mà Vũ Trọng Phụng gọi là khốn nạn”, “chó đểu”. Nghệ thuật trào phúng của tác phẩm đã diễn tả những cái bất thường, kỳ dị chứa đựng trong nó mâu thuẫn trào phúng, rồi cường điệu, phóng to những cái bất thường, kỳ dị ấy lên để gây cười. Thành ngữ dân gian thường nói “buồn như cha chết”, thế mà trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng cụ tổ chết mà con cháu lại vui như nhà có đám cưới. Thật chua xót, thật đắng cay và thật thối nát điều đó như thể hiện sự mục giũa về nhân cách con người khi sống trong chế độ cai quản của thực dân. Nếu chỉ đọc nhan đề của tác phẩm ta sẽ thấy nực cười làm gì có gia đình nào có tang gia mà lại hạnh phúc, nhưng khi đã bắt đầu đọc vào tác phẩm ta mới thấm không những họ hạnh phúc mà họ còn sung sướng. Tuy rằng cái chết của cụ tổ có gây mất mát “một chút” về người, nhưng đem lại nhiều lợi lộc về của cải, vật chất và danh tiếng lẫy lừng cho dòng tộc, không những thế còn cho cả xã hội. Từ đây ta cũng thấy được cái đạo đức của con người bị xuống cấp một cách trầm trọng, người ta dường như quên mất tình nghĩa, chỉ nhớ đến tiền bạc và danh vọng. Hạnh phúc đi liền với tang gia và tang gia tạo nên hạnh phúc. Đoạn trích đã làm nổi bật hai mặt trái ngược này bằng một trường phúng dụ gây cười rất tự nhiên, hợp lí. Cái hay ở chỗ không chỉ nguyên cụ cố Hồng vui sướng mà còn rất nhiều người khác chia vui cùng. Chúng ta không thể không nhắc đến ông Phan mọc sừng. Ông cảm thấy “tự hào” và “bất ngờ” vì cái sừng hươu của mình có giá trị to lớn đến như vậy. Ông cảm thấy nó có giá trị vì hai vợ chồng ông được chia thêm hẳn vài nghìn bạc, vài nghìn bạc ấy nó đáng giá hơn nhân cách của con người, cũng đáng giá hơn tính mạng của một con người. Dù gì thì cái chết của cụ tổ cũng đã mang lại lợi lộc và niềm hạnh phúc vô bồ bến cho ông Phán, và ông phải thầm cảm ơn Xuân vì đã ngoại tình với vợ mình, để giờ đây ông mới có giá trị như vậy. TRong không khí “vui nhộn” của đám ma thằng bồi tiềm đã đếm được một nghìn tám trăm bảy hai câu gắt “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!” của cụ cố Hồng. Trong cái đám tang của cụ tổ người ta không tính toán về tình cảm khi đã mất đi một người yêu thương, mà người ta lo tính toán về tiền bạc, người ta thấy ánh hào quang của đồng tiền càng ngày càng có giá trị to lớn hơn. Tiếng khóc ” Hứt, hứt, hứt” của ông Phán dường như càng làm cho cái đám ma ấy nó vui nhộn hơn. Đây chính là nét độc đáo của ngòi bút Vũ Trọng Phụng. Ông đã khéo léo sắp đặt tình tiết một cách logic chặt chẽ, khiến cho sợi dây liên tưởng như phán mọc sừng khóc chỉ là muốn cùng cụ Hồng thể hiện nỗi đau một cách thảm thiết nhất Sao mà cùng sống chúng với nhau dưới một mái nhà, mà họ có thể giả dối, xấu xa và đê hèn đến thế. Họ đến với đám ma là để trưng bày trang phục sáng tạo của mình cho mọi người “chiêm ngưỡng”. Cậu Tú Tân thì cứ điên người lên vì cậu đã sẵn sàng mấy cái máy ảnh mà cậu mãi không được dùng đến. Ông Văn Minh, ông cháu đích tôn “chí hiếu” của “người chết” thì chỉ nóng lòng “mời luật sư đến chứng kiến cái chết của ông nội mà thôi”. Ông sung sướng, vì nhờ cái “chết thật” của ông nội mình mà “cái chúc thư” chia của kia sẽ có hiệu lực thật sự “chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa”. Bà Văn Minh thì sốt ruột vì mãi không được mặc những đồ xô gai tân thời, cái mũ mấn trắng viền đen — là “những sáng tạo mốt mới nhất”. Dường như đây là một tuần lễ thời trang được mọi người chuẩn bị săn sàng từ rất lâu, công phu và cầu kì. Còn cô Tuyết trong trắng thì hạnh phúc phơi bày những bộ đồ tân thời hở nửa vú để thiên hạ nhìn vào thấy được sự ngây thơ trong trắng của mình. Niềm “hạnh phúc” ấy không chỉ lan tỏa trong nhà, mà còn được chia sẻ với mọi người trong đám tang. Ông cảnh sát Min Đơ, Min Toa cũng nhờ cái “chết thật” của cụ tổ mà được thơm lây: họ “sung sướng cực điểm”, “vì được có đám thuê”, “đã trông nom rất hết lòng”. Sư cụ Tăng Phú thì “sung sướng và vênh váo ngồi trên một chiếc xe, vì sư cụ chắc rằng trong số thiên hạ đứng xem ở các phố, thế nào cũng có người nhận ra rằng sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo…”. Các “giai thanh gái lịch” Hà thành, nhờ có đám tang mà được “chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau,…”; các quý ông “tai to mặt lớn” thì được dịp phô diễn râu ria đủ kiểu trên cằm trên mép, khoe huân chương, huy chương đủ hạng trên ngực, trên mình. Qủa thật là hiếm gặp cái đám ma nào lại đem nhiều hạnh phúc đến cho mọi người như vậy. Kè tây, kèn ta đủ cả, trang phục hợp mốt thời trang, thợ chúp ảnh đông đủ, dường như đây là một vở kịch hoàn hảo mà tất cả mọi người ai cũng làm rất tốt những vai diễn của mình. Câu chuyện là một mũi dao nhọn đâm thẳng vào sự thối nát mục rũa, vô nhân tính của con người trong xã hội. Đằng sau những câu chữ vui đùa, phóng đại, là sự vạch trần sự tàn nhẫn, dối trá vô nhân đạo, đám tang của cụ cố tổ là hành trình xuống mộ của toàn xã hội thực dân phong kiến. Bởi sự dối trá, tàn nhẫn của nó đã đến hồi bộc lộ trắng trợn, vui vẻ ầm ĩ thế kia thì ai để cho nó tồn tại, làm trò hề mãi được. Nguồn: Bài văn hay
Trong Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng viết_ Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm. Hãy chứng tỏ điều đó qua các nhân vật trong đoạn trích.
1,368
Trong một lần trả lời phỏng vấn, nghệ sĩ Thành Lộc phát biểu: “Mỗi người đều có quyền lựa chọn cách sống của mình miễn là hạnh phúc” Suy nghĩ của anh chị về phát biểu trên. Bài làm Oprah Winfey đã từng nói thế này: “Tôi đã luôn biết rằng mình là một ngôi sao lớn chờ thời”. Bạn biết không, khi đọc câu này, tim tôi đã đập chậm lại một nhịp vì tôi đã luôn nghĩ về mình như thế. Không hẳn là tôi cho mình là một ngôi sao lớn, nhưng tôi luôn tin rằng bản thân mình đặc biệt và mỗi chúng ta đều là những cá thể vô cùng đặc biệt theo những cách khác nhau. Điều quan trọng khiến chúng ta trở nên khác biệt, trở nên đặc biệt hơn bởi chúng ta lựa chọn những cách sống không giống nhau. Tôi đồng ý với phát biểu của nghệ sĩ Thành Lộc, khi ông cho rằng: “Mỗi người đều có quyền lựa chọn cách sống của mình miễn là hạnh phúc.” “Cách sống” chính là cách mà chúng ta nhìn cuộc sống, là thái độ của ta đối với cuộc đời, với mọi người và với chính bản thân ta. Còn “hạnh phúc” là một trạng thái thỏa mãn, sung sướng khi mình đạt được một điều gì đó. Hạnh phúc là một khái niệm trừu tượng không thể nắm bắt được, chỉ cảm nhận được thông qua trái tim. “Mỗi người đều có quyền lựa chọn cách sống của mình miễn là hạnh phúc”, phát biểu của nghệ sĩ Thành Lộc đã nêu lên một quan điểm tiến bộ: mỗi người trên thế giới này đều có quyền lựa chọn con đường đi riêng của bản thân mình, miễn là bản thân thấy đúng đắn, thấy hạnh phúc khi mình lựa chọn như vậy. Phát biểu của nghệ sĩ Thành Lộc là đúng đắn, sâu sắc và tiến bộ. Tiến bộ bởi lẽ, trong xã hội này vẫn nhiều người cho rằng nên đi những con đường bằng phằng bởi đã có những người đi trước rồi, như vậy chắc chắn sẽ tìm được thành công và hạnh phúc. Nhưng thế nào là hạnh phúc? Mỗi người sẽ có những định nghĩa khác nhau về hạnh phúc. Liệu có hạnh phúc chăng nếu mỗi ngày bạn thức dậy, nhìn thấy một đống công việc ngổn ngang, chán ngắt, không phù hợp với bản thân? Hạnh phúc chăng nểu mỗi ngày bạn đến công ty làm một công việc mà không với sự đam mê? Hạnh phúc chăng khi nhìn thấy ước mơ khi còn trẻ đang bị hủy hoại bởi nỗi lo về cơm, áo, gạo, tiền,… Tôi tin rằng, điều đó là không hạnh phúc. Những người trẻ thường muốn chọn con đường bản thân thấy thích. Họ muốn đi du lịch bụi, muốn khám phá thế giới nhưng cha mẹ lại muốn con mình ở nhà. Người trẻ muốn làm một công việc họ thích, làm theo đam mê nhưng cha mẹ lại muốn họ làm một công việc ổn định, đảm bảo cuộc sống. Muốn thay đổi bản thân nhưng lại sợ bạn bè chê cười. Cha mẹ lúc nào chẳng muốn con cái mình an toàn, ổn định. Nhưng cha mẹ chỉ là cha mẹ thôi, làm sao sống thay mình được. Bạn bè dù thân thiết mấy, sao hiểu ta bằng chính ta. Nên thực tế là hãy chọn điều mà bạn thấy thích. Bạn hối tiếc vì không nắm bắt lấy một cơ hội nào đó, chẳng ai phải mất ngủ. Bạn phải trải qua những ngày tháng nhạt nhẽo với công việc bạn căm ghét, người ta chẳng bận lòng. Bạn có chết mòn nơi xó tường với những ước mơ dang dở, đó không phải việc của họ. Suy cho cùng, quyết định là ở bạn. Muốn làm gì hay không là tùy bạn. Nên hãy làm những điều bạn thích, hãy đi theo tiếng nói trái tim. Hãy sống theo cách bạn cho là mình nên sống. Quyết định là ở bạn nên trách nhiệm cũng là của bạn. Nên thành công có được là của bạn. Thất bại cũng là do bạn vì không ai quyết định được cuộc đời bạn thay cho bạn nên cũng không ai gánh thay hậu quả. Lựa chọn điều mình muốn và chịu trách nhiệm cho điều mình làm. Hãy sống theo cách bạn muốn miễn là được hạnh phúc. Đáng lên án cho những kẻ chọn lối sống ích kỉ, không vì người khác. Ai cũng chọn sống buông thả, không quan trọng việc học thì đất nước sẽ không thể phát triển. Ai cũng chọn cách sống dửng dưng, vô cảm, thì thế giới sẽ đi về đâu. Đáng lên án cho những kẻ như vậy. Tác giả cuốn sách “Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu” đã viết: “Ai cũng mãn nguyện và hạnh phúc với chính mình thì thế giới này đã tốt hơn nhiều”. Là một học sinh, bản thân em cần lựa chọn cách sống đúng đắn để không chỉ bản thân thấy hạnh phúc mà có thể góp phần nhỏ bé giúp cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Vân Trang – CTV Văn học của
Trong một lần trả lời phỏng vấn, nghệ sĩ Thành Lộc phát biểu_ “Mỗi người đều có quyền lựa chọn cách sống của mình miễn là hạnh phúc” Suy nghĩ của anh chị về phát biểu trên.
878
Trong nhà em có ba phương tiện giao thông xe đạp, xe máy và ô tô. Chúng cãi nhau, so bì hơn thua kịch liệt Gợi ý Một đêm, đang mơ màng ngủ bỗng tôi nghe thấy tiếng động từ phía nhà xe. Tiếng động mỗi lúc một lớn dần. Tò mò không hiểu chuyện gì đang xảy ra, tôi lặng lẽ bước xuống giường. Đứng ngoài cửa, tôi ngạc nhiên khi thấy ba anh xe đạp, xe máy, ô tô đang cãi nhau, so bì hơn thua rất kịch liệt. Khu nhà nhỏ bé phía sau là nơi cư trú của mấy chiếc xe nhà tôi, xe máy cũ của bố, xe đạp đi học của tôi. Đã mấy năm nay chúng luôn sống với nhau rất hoà thuận. Niềm vui hay nỗi buồn đều chia sẻ và giúp đỡ nhau. Nhưng từ khi chiếc ô tô mới về ở chung thì giữa các xe xuất hiện mâu thuẫn. Chúng ngấm ngầm chê bai nhau, so bì thiệt hơn qua từng việc nhỏ. Tôi biết điều đó nhưng không nghĩ rằng chúng lại cãi nhau kịch liệt đến vậy. Dường như bao nhiêu khó chịu trong lòng được chúng bộc bạch hết. Đêm nay, tôi mới tận mắt chứng kiến chúng cãi nhau. Ba xe, xe nào cũng cho ý kiến của mình đúng, đang cố tranh luận phản bác ý kiến nhau. Đầu tiên là chiếc ô tô: “Các anh làm sao so bì được với tôi. Tôi hiện đại nhất, đẹp nhất và có nhiều tác dụng nhất. Tôi có đầy đủ tiện nghi trong người như một căn nhà di động, nào ti vi, đài phát thanh, máy điều hoà… Gia đình ông chủ lại có bốn người, đi đâu chơi mà dùng tôi thì tiện lợi quá rồi. Các anh liệu có làm được như thế không?”, ô tô nói với giọng đầy kiêu hãnh, tự hào. Nghe vậy, xe máy liền lên tiếng: Dù anh có hiện đại đến đâu thì cũng không thể tiện lợi bằng tôi được. Tôi tuy không sang trọng như anh nhưng tôi chạy rất nhanh, những chỗ đông người hay ùn tắc anh chịu chết nhưng tôi vẫn có thể vượt qua dễ dàng. Anh cồng kềnh đi đâu cũng chiếm nhiều diện tích. Còn tôi, khiêm tốn và giản dị nên được mọi người sử dụng nhiều hơn. Mà bây giờ họ hàng nhà tôi được sản xuất ngày càng đa dạng, chất lượng cũng tốt hơn với nhiều kiểu dáng, màu sắc, không thua kém gì anh đâu nhé. Quan trọng, tôi đã gắn bó với ông chủ nhà suốt bao năm nay. Trải qua bao vất vả của những ngày nắng gắt, mưa giông tôi đều tận tình phục vụ ông chủ. Từ ngày chưa có anh, gia đình nhà chủ đều rất quí tôi, coi tôi là số một. Đã nhiều năm rồi nên tôi mới cũ đi và xấu xí như thế này đây. Chắc ông chủ không còn yêu tôi nữa…”. Nói đến đây, xe máy bật khóc nức nở. Có lẽ nó đang xúc động lắm khi nhớ về một thời đã xa. Không biết lúc này ô tô suy nghĩ gì. Im lặng một lát, cuối cùng, chiếc xe đạp cũ của tôi mới nhỏ nhẹ lên tiếng: “Các anh ai cũng cho mình đúng, mình tiện lợi nhất, tốt nhất nhưng không ai biết rằng trong chúng ta xe đạp tôi là người có mặt sớm nhất. Từ lâu lắm rồi, tôi được con người sáng tạo ra thay thế cho nhiều phưong tiện khác. Lúc đó, ai có một chiếc xe đạp để đi thì thật hạnh phúc. Tôi gọn nhẹ nhất, đi lại dễ dàng, còn giúp con người tập thể dục khi sử dụng tôi nữa. Mà các anh ai cũng cần phải có “thức ăn” mới chịu chạy, nếu không thì đành đứng xó. Còn tôi, chẳng cần xăng dầu vẫn bon bon. Tôi cũng là người gắn bó lâu nhất với gia đình chủ, từ ngày họ còn khó khăn. Tôi cùng ông chủ đi làm, cùng ông đưa đón cậu chủ mỗi ngày, cùng bà chủ đi chợ hay đi đâu xa…. Cứ thế đã bao năm rồi…”. Mỗi xe, xe nào cũng đưa ra nhũng lí lẽ rất thuyết phục. Nhưng cả ba xe không ai chịu ai vẫn khăng khăng cho rằng mình tốt nhất, được gia đình chủ yêu nhất và xứng đáng là người được sử dụng nhều nhất. Chúng mải mê cãi cọ mà không biết tôi đứng nghe từ bao giờ. Tôi bước vào khi chúng vẫn còn tranh luận. Nhìn thấy tôi, chúng ngạc nhiên, sửng sốt. Nhìn một lượt nhũng chiếc xe trong gia đình, tôi thấy những điều chúng nói đều có lí. Những chiếc xe này đã giúp gia đình tôi thật nhiều. Không chỉ vậy, chúng còn gắn bó cùng gia đình tôi với bao kỉ niệm từ thuở còn khó khăn. Tôi lại gần từng chiếc xe, vỗ về và âu yếm chúng. Chúng nằm yên ngoan ngoãn dõi theo tôi. “Các bạn xe ạ. Tôi đã nghe hết những điều các bạn nói. Ai cũng có ý kiến của mình và đều đúng cả. Các anh đều có ích với gia đình tôi. Thử hỏi, nếu thiếu các bạn thì không chỉ gia đình tôi mà bao nhiêu gia đình khác sẽ thế nào. Vì thế, các anh hãy bình tĩnh lại và lắng nghe nhau nói xem sao. Các anh sẽ hiểu nhau và thông cảm với nhau hơn đây. Từ nay, gia đình tôi sẽ sử dụng đều tất cả các anh. Khi có dịp đi đâu xa, cả nhà tôi nhờ anh ô tô nhé. Còn anh xe máy, anh vẫn ngày ngày giúp bố đến cơ quan, anh xe đạp giúp tôi đến trường. Như thế ai cũng có việc riêng vậy vẫn phát huy được những chức năng của mình. Các anh hãy nhớ, không ai là người thừa cả và cũng không ai hơn thua ai vì mỗi người đều có sức mạnh riêng của mình… Những chiếc xe im lặng gật gù vẻ tán đồng. Chúng nhìn nhau thân thiện như để giảng hoà…
Trong nhà em có ba phương tiện giao thông xe đạp, xe máy và ô tô. Chúng cãi nhau, so bì hơn thua kịch liệt
1,044
Trong truyện Chuyện người con gái Nam xương, nhân vật Vũ Nương trong mỗi hoàn cảnh khác nhau đã thể hiện những đức tính khác nhau. Dựa vào câu chuyện, em hãy làm rõ nhận định trẽn? Hướng dẫn Trong truyện, nhân vật Vũ Nương được tác giả đặt vào những hoàn cảnh khác nhau, trong mỗi hoàn cảnh đó, Vũ Nương lại bộc lộ một đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. A. Nương lúc sinh thời là người con gái có tư dung tốt đẹp, thuỳ mị nết na; khi nên bề gia thất thì luôn giữ gìn khuôn phép, không để xảy ra cảnh vợ chồng bất hòa. B. Khi Trương Sinh đi lính, Vũ Nương tiễn chồng bằng chén rượu đầy. Nàng thể hiện niềm yêu thương, nhớ nhung người chồng cũng như sựlolắng cho những gian nan của chồng khi trên đường ra lính. Những lời lẽ của nàng khiến cho mọi người phải cảm động. C. Chồng đi đánh giặc phương xa, Vũ Nương một mực chung thuỷ để mong ngày chồng về. Đồng thời, nàng còn thể hiện mình là một người dâu thảo: tận tụy chăm sóc mẹ chồng, khi mẹ chồng mất thì nàng chôn cất hết sức chu đáo. D. Trước tình cảnh bị nghi oan khi chồng trở về, nàng tìm cách giải thích để chồng hiểu lòng mình: “Thiếp vốn con kẻ khó… chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Nàng đã làm mọi cách để có thể giữ vững hạnh phúc gia đình, giữ lại tình nghĩa vợ chồng. Nhưng Trương Sinh vẫn một mực không tin lời nàng. Nàng dùng những lời lẽ hết sức tha thiết: “Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng… đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa”. Khi bày tỏ hết nỗi lòng nhưng Trương Sinh vẫn một mực không hiểu, nàng quyết định quyên sinh để giữ trọn khí tiết. Lời khấn trước thần linh đã thể hiện được lòng chung thuỷ của nàng: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng… và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”. Cái chết của nàng đã được thần linh chứng giám và nàng sống tại thuỷ cung.
Trong truyện Chuyện người con gái Nam xương, nhân vật Vũ Nương trong mỗi hoàn cảnh khác nhau đã thể hiện những đức tính khác nhau. Dựa vào câu chuyện, em hãy làm rõ nhận định trẽn_
369
Trong truyện ngụ ngôn Treo biển em có suy nghĩ gì về lời góp ý của những người qua đường. Em rút ra bài học gì từ câu chuyện này Gợi ý Tiếng cười trong câu chuyện Treo hiển bất chợt vỡ òa khi người đọc đọc đến chi tiết người chủ cửa hàng cất nốt chữ “Cá”. Vậy thực chất những lời góp ý về nội dung tấm biển là gì? Trước hết, ta cần thấy rằng, nội dung tấm biển nhà hàng đã treo ban đầu “ở đây có bán cá tươi” bao gồm bốn yếu tố cơ bản: “Ở đây” – chỉ địa điểm bán hàng; “có bán” – chỉ hoạt động kinh doanh của nhà hàng; “cá” – chỉ mặt hàng đang kinh doanh; “tươi” – chỉ chất lượng, chủng loại mặt hàng, phân biệt với chủng loại khác (cá khô chẳng hạn). Như vậy, tuy nội dung tấm biển hơi dài nhưng khá đầy đủ và hoàn toàn có thể sử dụng được! Nhưng rồi cũng lần lượt có bốn người góp ý về tấm biển. Người thứ nhất bình phẩm chữ “tươi”. Nhà này xưa nav quen bán cá ươn. Ý kiến này không thỏa đáng bởi như trên đã phân tích, chữ tươi ở đây ngoài ý nghĩa chỉ phẩm chất (tươi) còn có ý nghĩa chỉ chủng loại (không phải cá khô). Hơn thế, chữ “tươi” còn nhằm khẳng định chất lượng của mặt hàng (không phải ươn) nên làm tăng sức hấp dẫn của mặt hàng là cá. Bởi thế, chữ tươi là cần thiết. Người thứ ba thì bàn về hai chữ “có bán”. Có ý kiến cho rằng ý kiến này đúng một nửa (để chữ bán, bỏ chữ có). Chữ bán đúng là rất cần thiết, nó chỉ tính chất kinh doanh (bán chứ không mua). Không có chữ bán, e rằng khách hàng không biết nơi này bán cá (mời khách hãy đến mua) hay là mua cá (mang cá đến để bán). Tuy nhiên, cũng như hai chữ “ở đây”, chữ có cũng không thừa. Nó có ý nghĩa khẳng định, nhấn mạnh hoạt động kinh doanh của nhà hàng. Nếu bỏ chữ có, tấm biển vẫn đủ ý nhưng sức tác động trong quảng cáo sẽ nhẹ đi rất nhiều. Ta hãy thử đọc lên và so sánh ở đây bán cá và ở đây có bán cá. Người cuối cùng bàn về chữ.“cá”. Ý kiến này vô lí nhất. Ai bán bất cứ mặt hàng gì, bằng cách này hay cách khác, cũng đều phải quảng cáo cho mặt hàng của mình. Không quảng cáo, ai biết nhà hàng có bán không mà đến mua, dù cá vẫn cứ bày ra đây. Rất có thể đây cũng là cách chơi khăm của người láng giếng. Thấy anh hàng xóm ai bảo cũng nghe, không cần suy xét phải trái, anh ta bèn đưa ra lời góp ý phi lí nhất trong số các lời góp ý của mọi người. Thế mà anh chủ cửa hàng vẫn cứ nghe theo. Treo hiển thuộc loại truyện cười nhằm phê phán những cái xấu, cái đáng cười ngay trong quần chúng nhân dân. Truyện cho ta bài học bổ ích: khi làm việc gì cũng phải suy nghĩ trước sau. Cũng có thể lắng nghe góp ý của người khác nhưng phải cẩn trọng suy xét đúng sai, phải có chủ kiến khi làm việc kẻo phí công vô ích mà lại mang tiếng “Đẽo cày giữa đường”, bị thiên hạ cười chê mà vẫn không mang lại kết quả việc làm như mong muốn.
Trong truyện ngụ ngôn Treo biển em có suy nghĩ gì về lời góp ý của những người qua đường. Em rút ra bài học gì từ câu chuyện này
600
Đề bài: Trong vai cô bé bán diêm kể lại truyện ngắn cùng tên của An-đéc-xen. Bài làm Đêm nay là đêm giao thừa. Vậy mà tôi – Một cô bé mồ côi mẹ, bà đã mất phải ở vời người cha vũ phu vẫn dò dẫm trong đêm đi bán diêm. Tôi không dám trở về nhà vì sợ cha đánh. Bởi trong túi tôi không có một đồng xu. Không ai bố thí cho tôi một đồng cũng không ai mua giúp một bao diêm. Trước kia khi bà và mẹ tôi còn sống tôi đã được ở trong căn nhà xinh xắn có dây thường xuân bao quanh, được đón tết nô-en và giao thừa. Nhưng từ khi bà và mẹ mất đi căn nhà xinh xắn đã bị bán đi tài sản tiêu tán. Cha con tôi phải chuyển đến căn gác áp mái. Dù đã nhét rẻ rách vào các lỗ thủng mà gió vẫn lùa vào như ngoài trời giá rét khủng khiếp lắm. Giờ đây mọi nhà trong phố đã đèn đuốc sáng choang mùi ngỗng quay sực nức. Còn bên ngoài trời tối đen như mực gió tuyết thét gào, vậy mà tôi đầu trần, chân đất quần áo phong phanh rách dưới dò dẫm tìm đến một xố tường ngồi thu lại cho đỡ rét bụng đói cồn cào. Ôi đói và rét quá! Tôi đánh liều quẹt một que diêm. Ánh lửa xanh lam cháy đến vui mắt. Tuyệt quá! Hơi nóng tỏa ra dịu dàng kì lạ thay từ ánh lửa một lò sưởi hiện ra với những hình nổi bằng đồng bóng loáng. Giá rét thế này được sưởi thì thích biết bao! Khi nhưng tôi tôi vừa duỗi chân ra que diêm vụt tắt lò sưởi biến mất. Trước mặt tôi chỉ có bức tường dày đen đặc gió tuyết. Tiếc thật! Tôi vội quẹt que diêm thứ hai. Chà! Một bàn ăn thịnh soạn hiện ra cùng với ánh lửa xanh lam đẹp mắt. Ngỗng quay còn nhảy ra khỏi đưa mang cả dao ăn Phuốc sét tiền về phía tôi. Con ngỗng này mới ngộ nghĩnh làm sao! Tôi chưa kịp với tay đến chú ngỗng thì diêm tắt ngỗng cũng biến mất. Bụng tôi lại réo lên ồ ồ. Không thể cầm lòng tôi vội quẹt que diêm thứ ba. Lần này thật tuyệt diệu khi cây thông nô-en hiện ra. Cây thông thật là to lớn trang trí lộng lẫy với hàng ngàn ngọn nến lấp lánh hơn hẳn cây thông ở hiệu buôn. Chắc là cây thông này có chứa những món quà quí giá lắm đây. Nhưng diêm tắt cây thông cũng biến mất. Những ngọn nến bay lên trời thành những vì sao xa. Những vì sao gợi cho tôi nhớ đến bà. Bởi khi bà còn sống bà thường nói có một vì sao đổi ngôi là một linh hồn về chầu thượng đế. Tôi liền quẹt que diêm thứ tư bà hiền hậu hiện ra. Nhưng tôi biết khi diêm tắt bà cũng sẽ biến mất như lò sưởi, ngỗng quay, cây thông. Vì thế tôi quẹt tất cả số diêm còn lại để nĩu giữ bà và hai bà cháu tôi cùng bay lên trời chầu thượng đế. Ôi! Thật hạnh phúc khi có bà ở bên. Tôi chẳng còn biết đến đói rét sự thờ ơ của mọi người xung quanh nửa. Và tôi cũng không phải lo sợ trước những trận đòn roi của cha. Nhưng tôi cũng luôn luôn khao khát mong mỏi xã hội của đất nước Đan Mạch nói riêng và cả nhân loại nói chung sẽ ngày càng tốt đẹp hơn. Mọi người chung tay xây dựng lối sống nhân ái yêu thương quan tâm đến những mảnh đời bất hạnh, đặc biệt đối với trẻ em lang thang cơ nhỡ.
Trong vai cô bé kể lại truyện Cô Bé Bán Diêm của An-đéc-xen
641
Đề bài: Trong vai Giôn xi hãy kể lại chuyện Chiếc lá cuối cùng của Ô-hen-ri Bài làm Mùa đông! Gã viêm phổi lang thang thọc bàn tay lạnh buốt vào các khu nhà tồi tàn và tôi – Giôn-xi, một họa sĩ nghèo đã trở thành một trong số nạn nhân đầu tiên của gã. Nghèo túng, bệnh nạn khiến tôi tuyệt vọng tâm thế dành hết cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của mình. Tôi xùng Xiu – một đồng nghiệp, thuê trọ trên một căn gác gần công viên Oa-sinh-tơn, tầng dưới cụ Bơ-men đã già 60 tuổi hay ngồi làm mẫu cho chúng tôi vẽ tranh ở tầng dưới. Giờ đây thời tiết mùa đông rất khắc nghiệt. Mưa phũ phàng và gió vùi dập kéo dài triền miên không dứt. Gió bấc ào ào động vào cửa sổ mưa bồm bộp quất nước. Cây thường xuân bám trên bức tường gạch nhà bên đối diện với cửa sổ căn phòng của tôi đang trút lá. Tôi đợi khi nào chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì tôi cũng hà đời. Chị Xiu thường xuyên động viên an ủi chăm sóc tôi. Nhưng tôi chẳng để ý. Lúc này tôi thấy tâm hồn mình thật cô đơn, mọi sợi dây giàng buộc với bạn bè với cuộc sống cứ lới rộng dần từng sợi một. Trời vừa hửng sáng tôi đã thều thào nhờ chị Xiu kéo tấm mành mảnh lên. Ôi kìa! Vẫn còn một chiếc lá duy nhất đơn độc dũng cảm treo bám vào tường cuống lá xanh sẫm nhưng hình như rìa răng cưa đã úa vàng trắc chắn nó sẽ rụng nhanh. Tôi bèn nhờ chị Xiu lấy cho chút rượu chút sữa kê lại chiếc gối để ngồi lên lấp gương coi gương mặt của mình. Tôi tâm sự với chị: ” Muốn chết là một tội! Một ngày nào đó em sẽ về vịnh Na-Plơ”. Sự sống dần hồi sinh trong tôi. Nhờ thuốc men của bác sĩ, sự tận tình chăm sóc của Xiu và nghị lực lòng ham sống của tôi, cuộc sống lại mỉm cười với tôi. Buổi chiều chị Xiu ôm lấy tôi và cả chiếc gối kể cho tôi nghe ” Cụ Bơ-men đã chết rồi em ạ, em có thấy chiếc lá chẳng bao giờ rung rinh bởi đó là kiệt tác của cụ bơ-men cụ đã vẽ nó vào các đêm chiếc lá cuối cùng rụng xuống”. Trời ơi! Cụ Bơ-men đã chết rồi sao. Chết vì sự ngốc nghếch ý nghĩa kì quặc của tôi ư. Tôi choáng váng ân hận day dứt. Một người sống cô độc như cụ Bơ men khao khát vẽ kiệt tác mà chưa bao giờ thực hiện được. Giờ đây chỉ vì muốn cứu tôi mà cụ đã hi sinh tính mạng của mình phải rồi đó chính là kiệt tác của cụ bởi nó được vẽ trong hoàn cảnh đặc biệt đêm tối mưa phủ phàng gió vùi dập nó giống thật đến mức tôi và chị Xiu không nhận ra đó là một bức vẽ. Nó cứu sống tính mạng của tôi nhưng lại cướp đi tính mạng người tạo ra nó. Nó là sản phẩm kết tinh của tài năng trái tim yêu thương vô hạn đức hi sinh và lòng vị tha. Nó còn khẳng định sức mạnh của nghệ thuật chân chính hướng tới phục vụ cuộc sống của con người.
Trong vai Giôn xi hãy kể lại câu chuyện Chiếc lá cuối cùng
576
Trong vai Lang Liêu em hãy kể lại truyện Bánh Chưng, bánh Giầy Gợi ý Ta tên là Liêu. Là con trai nhà vua nhưng ta không giống các anh em khác, quanh năm thức khuya dậy sớm trồng ngô khoai, cấy lúa. Trong nhà ta chỉ ngô lúa là nhiều. Một hôm, vua cha gọi chúng ta lại, phán rằng: – Cha biết mình gần đất xa trời. Cha muốn truyền ngôi cho một người trong số các con. Các con hãy làm cỗ để cúng tổ tiên. Ai làm được món ăn quý vừa ý ta thì sẽ được chọn. Nghe vua cha phán truyền như thế, các hoàng tử anh em của ta thi nhau cho người đi khắp nơi tìm kiếm thức ăn quý, nào là sơn hào hải vị, nem công, chả phượng để mong được làm vua. Ta không có điều kiện làm việc ấy mà cũng không muốn thế vì ta nghĩ món ăn dâng cúng Tiên vương phải do tay mình làm ra. Ta băn khoăn, lo lắng bao ngày. Ta nhiều lúa gạo, đậu đỗ, ngô khoai, nhưng những thức đó thì tầm thường quá, biết làm thế nào? Một đêm, ta mơ thấy thần tiên mách bảo: “Hãy lấy gạo làm bánh mà tế lễ”. Càng ngâm ta thấy lời thần thật đúng, các thứ của ngon vật lạ kia ăn mãi rồi cũng chán, còn lúa gạo thì dùng được mãi. Ta bèn chọn lấy thứ gạo nếp trắng ngon nhất, ngâm kĩ, làm bánh hình vuông gói trong lá dong. Nhân bánh bằng thịt lợn, đậu xanh. Ta lại làm thêm một thứ bánh hình tròn bằng cách giã mịn cơm nếp đã đổ thật dẻo. Những thứ bánh ấy thật thơm ngon, ta sung sướng dâng cúng Tiên vương. Ngày lễ Tiên vương, các anh em ta dâng lên bao nhiêu của ngon vật lạ nhưng vua cha chỉ lướt qua. Đến mâm cúng của ta, Người dừng lại rất lâu. Ta tâu bày những lời thần mách bảo. Sau khi cùng triều thần ăn thử, Người rất vừa lòng và phán rằng, bánh hình vuông tượng trưng cho đất, cỏ cây cỏ muông thú, đặt tên là bánh chưng, bánh hình tròn tượng trưng cho trời, đặt tên là bánh giầy. Vua cha trang trọng tuyên bố ta được giải nhất và được truyền ngôi. Ta vô cùng sung sướng và cảm động. Từ đó, ta luôn chăm lo cho việc trồng cấy, chăn nuôi của nhân dân để nhà nhà đều được no ấm.
Trong vai Lang Liêu em hãy kể lại truyện Bánh Chưng, bánh Giầy
422
Đề bài: Trong vai Lang Liêu, kể lại chuyện Bánh chưng, bánh giầy Bài làm Buổi tối hôm ấy, trăng sáng vằng vặc in rõ từng cành lá xuống sân gạch. Tôi ngồi lặng yên nghe mẹ đọc truyện Bánh chưng, bánh dày. Giọng của mẹ thật ngọt ngào, ấm áp. Hình ảnh chàng Lang Liêu hiền lành chân chất cứ hiện lên rõ nét trong trí tưởng tưởng của tôi. Trăng sáng quá! Gió lại hiu hiu thổi, tôi cảm thấy lòng mình thật nhẹ nhàng trong trẻo, bước chân tôi nhẹ tênh theo câu chuyện về chiếc bánh mẹ vừa kể. Bước chân tôi lang thang trên những cánh đồng ngạt ngào hương lúa, xa xa những triền khoai lang xanh rờn, bỗng tôi thấy một anh nông dân đang cặm cụi nhặt từng ngọn cỏ trên ruộng lúa. Nhìn gương mặt anh có nét gì đó quen quen, tôi bước lại gần hơn: – A! Chào anh Lang Liêu! Sao anh lại ở đây? Tôi reo lên thích thú khi nhận ra đó chính là Lang Liêu, chàng trai hiền lành trong câu chuyện Bánh chưng, bánh dày. Nghe thấy giọng nói lảnh lót của tôi anh nông dân ngừng tay làm, nhìn tôi mỉm cười, nói: – Chào em gái! Lẽ ra anh phải hỏi em điều đó chứ! Tôi chợt hiểu và giới thiệu: – Em quên mất, em là Lan, năm nay em học lớp 6, ngày mai lớp em có tiết văn học về Bánh chưng, bánh dày thế mà hôm nay em lại được gặp anh, thật là vui quá! Nghe nhắc đến chuyện bánh chưng, bánh dầy anh nông dân có vẻ trầm ngâm, tôi thì vô cùng sung sướng vì đây là một cơ hội hiếm có để được nghe chính chàng Lang Liêu kể cho nghe về cuộc đời của mình. Đoán được suy nghĩ của tôi anh mỉm cười và nói: – Em có muốn anh kể cho em nghe về cuộc thi tài kén vua của phụ vương anh không? Tôi thích thú: – Có ạ! Anh hãy kể cho em nghe đi. Lang Liêu đưa đôi mắt nhìn ra xa, anh bắt đầu kể, giọng như trầm xuống. – Ta sinh ra trong một hoàn cảnh khá đặc biệt, mẹ ta chẳng được vua yêu chiều như những vương phi khác nên khi sinh ra chỉ có mẹ con quấn quýt bên nhau, chẳng bao lâu bà mất sớm, để lại ta một mình côi cút. Thế là cũng từ đó ta chăm chỉ với ruộng đồng, khoai lúa. Cuộc sống cứ ngày tháng thoi đưa, chẳng mấy chốc ta đã thành chàng trai trưởng thành, mạnh khoẻ. Ngày ngày, ta vui với công việc đồng áng của mình, chẳng dám màng đến công danh, bổng lộc của triều đình. Một hôm, đang lúi húi vun mấy khóm khoai trước nhà bỗng ta nhận được lệnh vua vời vào trầu. – Thế anh có lo lắng không? Tôi sốt sắng hỏi. Lang Liêu chậm giãi trả lời: – Ta cũng cảm thấy hơi lo lắng vì lâu rồi không vào triều, biết đâu phụ vương giận hoặc đau yếu. Bởi vậy, sau khi nhận được lệnh, ta vội vã thay quần áo vào chầu phụ vương. Trên đường đến đấy, ta đã nghe nói vua cha nay cảm thấy già yếu nên muốn tìm một người nối ngôi, chỉ cần người đó có tài chứ không nhất thiết là con trưởng hay con thứ. Khi ta đến nơi, tất cả mọi người đã đến đông đủ và tất nhiên có cả các anh của ta. Trên ngai vàng, vua cha đã có vẻ già yếu hơn trước nhiều. Sau khi tuyên bố lí do của buổi triệu tập, Ngài nói: – Tới ngày lễ tiên Vương, ai làm vừa lòng ta thì ta sẽ truyền cho người ấy ngôi báu để tiếp tục trị vì đất nước. Nghe đến đây tôi lại buột miệng hỏi: – Chắc anh lo lắng lắm khi nhận được tin này bởi anh rất nghèo, đâu có những thứ quý giá dâng lên vua cha. Lang Liêu nhìn tôi gật đầu, chàng tiếp: – Sau khi nghe lời vua cha phán truyền, các anh của ta có vẻ rất vui mừng vì trong tay họ có biết bao ngọc ngà châu báu, họ muốn gì mà chẳng có, còn ta nhìn khắp nhà chỉ thấy toàn lúa, sắn, khoai, không có thứ gì là giá trị cả, biết lấy gì để dâng lên Tiên Vương. Thực ra ta cũng không có ý tranh giành ngôi báu nhưng ta cũng muốn làm đẹp lòng phụ vương. Suốt mấy ngày sau đó, ta mất ăn mất ngủ vì nghĩ đến món quà sẽ dâng lên phụ vương. Lòng ta ngổn ngang trăm mối, nếu đi mua đồ quý như các anh của ta thì ta không có tiền còn nếu dâng lên chỉ khoai và sắn thì chắc chắn phụ vương sẽ buồn lòng vì những thứ tầm thường đó. Một đêm, sau một hồi trằn trọc suy nghĩ ta liền ngủ thiếp, trong giấc ngủ, ta thấy một vị thần hiện lên mách rằng: hãy lấy chính những sản phẩm mà mình làm ra để dâng lên Tiên Vương. Ta sung sướng và chợt tỉnh giấc. Ngay sáng hôm đó, ta bắt tay vào làm bánh như lời thần báo mộng. Ta tìm một thứ gạo nếp ngon nhất đem vo thật sạch, lấy đậu xanh, thịt lợn làm nhân, dùng lá dong xanh gói thành hình vuông, nấu một ngày một đêm cho thật nhừ. Và loại bánh thứ hai ta nghĩ cần phải thay đổi nên ta đem gạo đồ lên, giã nhuyễn, nặn thành hình tròn. Bánh hình vuông biểu tượng cho trời, bánh hình vuông biểu tượng cho đất. Đến ngày lễ Tiên Vương, ta đem hai loại bánh đó vào cung. Nhìn chồng bánh bằng lúa gạo của ta, không ít người xem thường bởi nó vô cùng bình thường so với những món sơn hào hải vị, nem công chả phượng của các lang. Ta cũng chẳng hi vọng điều gì cả mà chỉ mong đẹp lòng tổ tiên bằng chính tấm lòng thành của mình. Tất cả các lễ vật được bày ra trước mặt đức vua, ai ai cũng hồi hộp hi vọng vua cha chọn lễ vật của mình. Đức vua đi đi lại lại trước món lễ vật của các lang. Gương mặt đăm chiêu có lẽ người đang băn khoăn giữa các món mà các lang dâng lên. Vua cha nhìn mọi thứ với thái độ điềm tĩnh, người xem xét từng món ăn, nhấp nháp sơ qua, gương mặt vẫn không biểu thị một thái độ gì, có lẽ người vẫn chưa ưng ý một món ăn nào cả. Các anh của ta, nhiều người đã tỏ ra thất vọng khi thấy vua cha lướt qua món ăn của mình rất nhanh. Hai loại bánh của ta được đặt ở sau cùng, khi đứng bên mâm bánh của ta, người dừng hẳn bước chân, đôi mắt chăm chú nhìn, có lẽ người thấy ngạc nhiên vì thực ra mâm bánh của ta trông khác hẳn các món sơn hào hải vị khác. Sau khi nhìn ngắm, người liền cầm từng chiếc bánh lên tỏ vẻ thích thú, bỗng người cất tiếng hỏi: – Chiếc bánh này làm bằng gì hả Lang Liêu? Ta bẩm: – Thưa phụ vương! Hai loại bánh này được làm bằng gạo, đây là những sản phẩm do chính bàn tay con làm nên. ánh mắt cha nhìn ta trìu mến, điều mà lâu nay ta ít thấy. Và sau khi nghe ta giới thiệu cách làm cũng như ý nghĩa của từng loại bánh, vua cha vô cùng kinh ngạc. Đức vua liền cắt ra cho tất cả mọi người cùng ăn, ai cũng tấm tắc khen ngon. Vua cha nói: – Trong tất cả các món lễ vật dâng lên Tiên Vương hôm nay, ta ưng ý nhất là món bánh của Lang Liêu, nó vừa mang ý nghĩa là biểu tượng của đất trời, của sự no đủ, đoàn kết vừa thể hiện được tấm lòng hiếu thảo của một người con có hiếu. Do vậy, ta quyết định chọn Lang Liêu là người thừa kế ngôi vị. Tôi thích thú nghe câu chuyện Lang Liêu vừa kể và cảm thấy vô cùng khâm phục, kính trọng anh. Nhưng tôi ngạc nhiên vì thấy vua Lang Liêu chẳng khác gì anh nông dân cả. Đọc được suy nghĩ của tôi Lang Liêu cười lớn và nói: – Hôm nay ta vi hành về nơi thôn quê để dạy dân cách cấy cày, chăm sóc lúa, khoai. Nói xong Lang Liêu liền tạm biệt tôi để đi ra phía ngoài xa kia, ở đó bà con nông dân đang đợi anh. Vừa nói anh vừa bước đi rất nhanh, tôi liền gọi với theo: – Anh Lang Liêu! Anh Lang Liêu! Cho em đi cùng với! Vừa lúc đó tôi tỉnh giấc thấy mẹ đang ngồi bên cạnh, mẹ hỏi: – Con vừa ngủ mơ đúng không? Mẹ thấy con ú ớ gọi ai đó. Tôi dụi mắt tỉnh giấc, hoá ra tất cả chỉ là một giấc mơ. Một giấc mơ thật đẹp. Thấy tôi vẫn ngồi mủm mỉm cười, mẹ liền bảo: – Con dậy vào nhà ngủ đi để mai còn kịp đi học. Vậy là giờ đây tôi hiểu vì sao cứ đến tết mẹ tôi lại gói bánh chưng. Chiếc bánh chưng thật có ý nghĩa.
Trong vai Lang Liêu, kể lại chuyện Bánh chưng, bánh giầy
1,575
Trong vai Lạc Long Quân kể lại truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên Gợi ý Ta là Lạc Long Quân, vốn thuộc nòi Rồng, con trai của Thần Long Nữ. Gia tộc ta định cư hàng ngàn năm nay tại vùng đất Lạc Việt phì nhiêu. Sinh ra, ta đã mang mình rồng, có sức khoẻ vô địch và biết rất nhiều phép lạ. Họ hàng nhà rồng của ta vốn quen sống dưới nước nên chỉ thỉnh thoảng mới lên trên mặt đất. Mỗi khi lên cạn, ta thường dùng phép thần thông của mình để diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh – những loài yêu quái bấy lâu làm hại dân lành. Thương đời sống của nhân dân còn cực khổ, ta bèn dạy họ trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở. Xong việc, ta lại về thuỷ cung báo hiếu với Thần Long Nữ – mẫu hậu của mình. Chỉ khi có việc cần ta mới hiện lên. Vào một ngày đẹp trời, trong khi đang đi thăm thú dân tình, ta gặp một người con gái xinh đẹp tuyệt trần đang dạo bước gần cung điện Long Trang. Hỏi ra mới biết nàng tên gọi Âu Cơ, thuộc dòng họ Thần Nông sinh sống ở vùng núi cao phương Bắc. Nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, nàng tìm đến thăm. Sau nhiều lần trò chuyện, ta và nàng đem lòng thương mến nhau rồi chúng ta kết duyên vợ chng, cùng nhau chung sống trên cạn ở cung điện Long Trang. Ta hạnh phúc vô cùng khi ít lâu sau Âu Cơ mang thai. Sau chín tháng mười ngày, thật kì lạ, nàng sinh ra một bọc trăm trứng. Kì lạ hơn nữa, trăm trứng nở ra một trăm chú bé con bụ bẫm, trắng trẻo, hồng hào. Trông chúng mới đáng yêu làm sao. Bởi ta là giống Rồng, vợ ta – nàng Âu Cơ lại là giống Tiên nên những đứa con của chúng ta sinh ra không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô và đứa con nào cũng có sức khỏe như ta. Từ khi có đàn con khoẻ mạnh, xinh đẹp, cuộc sống của vợ- chồng ta ngày càng hạnh phúc và vui vẻ. Cung điện lúc nào cũng rộn rã tiếng cười nói, nô đùa của bọn trẻ. Thế nhưng không hiểu sao trong lòng ta luôn cảm thấy một nỗi trống trải không yên. Đó là nỗi niềm nhớ sông, nhớ nước, nhớ quê hương…da diết. Nỗi nhớ cứ ngày một trào dâng trong lòng ta. Cuối cùng, không thể sống mãi trong nỗi nhớ nhung được nữa, ta đành từ biệt người vợ yêu và đàn con để trở về thủy cung. Thật tội nghiệp! Âu Cơ phải ở lại một mình nuôi con, tháng ngày chờ đợi mong ta quay về. Ta biết nàng buồn tủi cho phận mình lắm! Nhưng ta cũng không thể sống mãi trên cạn được. Ta vốn nòi Rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng Tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình tập quán khác nhau khó mà ăn ở cùng nhau lâu dài được. Cuối cùng, sau bao ngày trăn trở nghĩ suy, ta quyết định nói hết tâm ý của ta cho nàng. Hiểu được suy nghĩ và những khó khăn của ta, Âu Cơ đồng ý đưa năm mươi con lên núi. Năm mươi người con còn lại theo ta xuống biển. Tuy xa cách nhưng khi có việc vẫn giúp đỡ lẫn nhau, không bao giờ quên lời hẹn ước. Dù sống xa sông cách núi nhưng con cháu của ta luôn tự nhắc nhở nhau biết mình đều là con Rồng, cháu Tiên, phải thương yêu, giúp đỡ nhau khi khó khăn hoạn nạn, làm cho nước nhà ngày càng thêm phồn vinh, hùng cường.
Trong vai Lạc Long Quân kể lại truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên
654
Trong vai Mã Lương trong truyện Cây bút thần, hãy kể lại một việc làm có ích của mình Hướng dẫn Trong vai Mã Lương trong truyện Cây bút thần, hãy kể lại một việc làm có ích của mình lớp 6 Trong vai Mã Lương trong truyện Cây bút thần, hãy kể lại một việc làm có ích của mình được VnDoc sưu tầm, tổng hợp giúp các em học sinh có thêm nhiều ý tưởng hoàn thiện cách làm bài văn kể chuyện lớp 6. Mời các em cùng tham khảo chi tiết. Bài tham khảo 1 Tôi bắt đầu một cuộc sống phiêu du nay đây mai đó kể từ khi rời bỏ xóm làng, rời bỏ những kẻ tham lam, tàn ác. Ngày ngày tôi cùng chú ngựa thân yêu rong ruổi đến những vùng núi xa, bởi tôi biết rằng ở đó cuộc sống của họ còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn. Một hôm, trời đã bắt đầu về chiều, tôi quyết định dừng chân nghỉ ở một ngôi làng nhỏ nằm sát ven rừng. Khung cảnh làng mạc xung quanh có vẻ tiêu điều, xơ xác. Cây cối chẳng mấy xanh tốt, đồng ruộng khô cằn, có những mảnh ruộng đã chết cháy chỉ còn lơ thơ vài ngọn cỏ. Trên đường đi tôi gặp một cụ già nét mặt đăm chiêu lo lắng, đến gần cụ, tôi chào: – Cháu chào cụ ạ. Cụ ơi ở đây có ngôi nhà nào có thể ở trọ qua đêm được không ạ? Cụ già nhìn tôi, đáp: – Trước đây thì cũng có đấy nhưng mấy năm nay hạn hán kéo dài, cuộc sống đói khổ nhiều người chẳng còn làm ăn được nữa, và nhiều người đã bỏ làng đi tìm nơi khác. Nói xong cụ già giơ tay chỉ ra mấy cánh đồng trước mặt, nói tiếp: – Đấy cả nhà tôi trông vào ruộng lúa này mà nay chỉ còn trơ vài ngọn cỏ, chẳng biết từ nay nhà tôi lấy gì mà ăn nữa. Nói đoạn ông hỏi tôi: – Thế cậu từ đâu đến mà lại lạc vào xứ này, có lẽ đã lâu lắm rồi chẳng còn ai dám đến làng ta chơi nữa. Thôi cậu hãy vào nhà ta nghỉ tạm một đêm, mai hãy đi tiếp. Tôi theo lão nông về nhà, ngôi nhà nhỏ của lão nằm nép bên chân núi, nhìn từ xa chẳng khác gì mộ túp lều. Nhìn gia cảnh nghèo nàn của lão tôi vô cùng ái ngại, tôi nói với lão: – Cháu có thể giúp làng ông có nước để tưới cho cây khỏi chết khô. Tôi liền đưa bút vẽ mấy nét một con sông đã hiện ra trước mắt nước trong veo và muốn cho dân làng có cái ăn tôi lại chấm mấy cái thế là hàng đàn cá tung tăng bơi lội. Bà con vô cùng mừng rỡ, họ gọi nhau đi bắt cá và ai nấy còn thức gì có thể ăn được đều đem đến nấu chung để cả làng liên hoan một bữa no say. Đêm đó tôi tâm sự với ông lão về cuộc sống trước đây của tôi, ông lão tỏ ra vô cùng thương xót và cảm thông, lão nói: – Nhà ta cũng chẳng giàu có gì nhưng cháu hãy ở đây làm con nuôi của ta, hai cha con ta chịu khó làm lụng cũng có thể đủ sống. Dù rất quý ông lão nhưng tôi vẫn không thể ở lại, vì tôi hiểu rằng còn có rất nhiều hoàn cảnh khó khăn, họ sẽ cần đến cây bút thần của tôi. Sáng hôm sau, từ biệt ông lão tôi lại rong ruổi trên đường, mong cứu giúp được nhiều hơn những con người nghèo khổ. Bài tham khảo 2 Tôi là Mã Lương, khi tôi vừa lên mười thì bố mẹ tôi mất, để lại tôi một mình trong cuộc đời đầy cô quạnh này. Tôi ngày ngày đi kiếm củi để bán lấy tiền, lên núi gánh nước, tuy tuổi còn nhỏ nhưng những công việc nặng nhọc của người lớn tôi đều đã từng làm qua. Tuy khổ cực nhưng tôi luôn nhận được sự giúp đỡ từ bà con hàng xóm, điều đó làm tôi vô cùng hạnh phúc. Tôi tuy nghèo nhưng lại có một mong ước vô cùng da diết, đó là được đi học, được cầm bút vẽ lên những vật mà tôi nhìn thấy hàng ngày. Nhưng ngay cả miếng ăn còn thiếu thốn thì việc đi học là vô cùng xa xỉ. Nhưng trong một lần nằm mộng, tôi đã gặp một ông lão đầu tóc bạc phơ, ông cho tôi một cây bút. Tôi vui mừng tỉnh dậy thì phát hiện trong tay đang cầm cây bút ở trong mộng. Từ khi có cây bút thần, cuộc sống của tôi đã hoàn toàn thay đổi, tôi có thể rất hay giúp đỡ những người nghèo khó, đồng thời có thể thẳng tay mà trừng trị kẻ ác. Ngày nào tôi cũng lên núi kiếm củi, bán cho những gia đình địa chủ để lấy phí sinh hoạt cho cuộc sống hàng ngày. Đồng thời tôi ra bờ suối để lấy nước, đây cũng là khoảng thời gian tôi yêu thích nhất, vì đây là khoảng thời gian tôi rảnh rỗi nhất trong ngày. Tôi có thể thỏa sức nô đùa cùng bạn bè cùng trang lứa, cũng có khi tôi rón rén đến một lớp học gần đó để xem thầy giáo dạy học. Đây cũng là lúc tôi được sống hết mình với niềm đam mê của mình, đó chính là vẽ. Vì nhà nghèo, không có tiền mua bút nên tôi dùng những cành củi khô mà vạch từng đường lên phiến đá. Tôi mô phỏng lại hình dạng của những con vật, những khung cảnh xung quanh mà tôi từng nhìn thấy. Các bạn ai cũng tấm tắc khen ngợi những hình vẽ mà tôi vẽ ra, khen chúng rất giống thật. Còn người lớn mỗi khi đi ngang qua thì vỗ vai tôi khen “Mã Lương vẽ thật có hồn”. Nhận được những lời khen làm tôi vui lắm, tôi vẽ mọi nơi có thể, căn nhà nhỏ của tôi cũng tràn ngập những hình vẽ mà tôi dùng than củi để vẽ. Tôi vẽ nhiều đến mức bốn bức tường xung quanh chật kín những hình mà không thể vẽ tiếp được nữa. Đêm hôm ấy, khi đã chìm vào giấc ngủ, tôi mơ thấy mình đang ngồi trên phiến đá và vẽ vời những thứ mình thích thì bỗng ở đâu hiện lên một ông lão đầu tóc bạc phơ, khuôn mặt hiền từ. Ông lại gần xoa đầu tôi và sau đó tặng tôi một cây bút, tôi vui lắm, nhận bút rồi rối rít cảm ơn ông lão. Nhưng chỉ trong chốc lát, ông lão đã biến đâu mất không chút dấu vết. Đến đó, tôi chợt bừng tỉnh nhưng kì lạ thay tay tôi đang cầm một cây bút, cây bút này giống hệt với trong giấc mơ. Lúc này tôi mới biết người mình gặp trong mơ là Tiên ông. Lập tức tôi mang cây bút ra vẽ thử, nhưng kì lạ hơn nữa, tôi vẽ ra con cá thì con cá bỗng quẫy đuôi mà quẫy xuống nước, tôi vẽ chim thì chim vỗ cánh bay lên trời. Tôi vui mừng lắm vì như vậy tôi không chỉ thỏa sức vẽ mà còn có thể giúp đỡ cho bà con cô bác nghèo trong xóm. Hắn ta nảy ý định giết chết tôi để cướp bút thần, nhưng tôi không để hắn đạt được âm mưu của mình. Khi người của tên địa chủ nọ kéo đến thì tôi đã thoát khỏi nhà giam với một cây thang, sau đó tôi vẽ ra ngựa để chạy trốn. Nhưng thật không ngờ, lại có đám người khác chặn trước ngựa của tôi, thì ra lần này là người của nhà vua. Đây là ông vua chỉ biết ăn chơi xa đọa mà không chăm lo cho đời sống của người dân, vì vậy mà ông ta yêu cầu tôi vẽ rồng thì tôi vẽ ra rắn rết, côn trùng. Ông ta yêu cầu tôi vẽ một con thuyền tôi vẽ một con thuyền giữa biển khơi. Ông ta cùng hoàng hậu, công chúa và tham quan bước lên, tôi vẽ những gợn sóng nhỏ, gió nhẹ nhưng thích thú với điều kì lạ, vị hôn quân kia liên tục yêu cầu tôi cho gió thổi mạnh lên để gió thổi căng buồn, tôi vẽ thành cơn bão tố, lật đổ nhấn chìm cả đám người xấu xa. Đây là kết cục tất yếu dành cho những kẻ tham lam, độc ác. Sau khi chôn vùi lũ người ham vật chất mà bất chấp luân lí, tôi đã biến mất cùng cây bút thần, không có ai trong nhân gian có thể nhìn thấy tôi nữa.
Trong vai Mã Lương trong truyện Cây bút thần, hãy kể lại một việc làm có ích của mình
1,490
Trong vai mụ vợ hãy kể lại chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng Gợi ý Cứ nghĩ lại hồi ấy, tôi lại thấy hối hận biết bao nhiêu. Giá như lúc đó, tôi không quá tham lam, không có ảo tưởng điên rồ để bây giờ lại trở về con số không, làm mất lòng tin của chồng mình thì tốt biết bao! Và chắc hẳn bây giờ các cháu đã biết tôi là ai, tôi chính là mụ vợ thật đáng ghét trong truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng. Hồi ấy, vợ chồng sống rất an bình. Tôi ở nhà may vá lưới và làm những công việc nhà, tôi còn nuôi được một con lợn mập mạp. Ông lão nhà tôi thì đi đánh cá, hôm có, hôm không. Tuy hai vợ chồng tôi già lại sống cảnh nghèo túng trong một túp lều lụp xụp trên bờ biển nhưng cuộc sống của chúng lôi vẫn êm ấm. Cho đến một ngày… Tôi đang loay hoay trước cái máng lợn vừa bị mẻ một miếng lớn thì ông lão đi đánh cá về. Ông ấy vui vẻ kể cho tôi nghe về chuyện con cá vàng biết nói, nó hứa đáp ứng mọi yêu cầu nhưng ông lão không cần gì cả. Lúc đầu, tôi không tin, nghĩ ông ấy đùa, nhưng thấy thế, tôi tin là thật. Một cơn giận bùng lên, trong đầu tôi có ý nghĩ: “Nếu có con cá vàng ấy nói thật thì sao lão ngốc nghếch đến mức không xin gì cả? Tôi vội nói với lão chồng: – Ông thật quá ngu ngốc! Ông nhìn xem nhà cửa chúng ta thế nào, cả cái máng cho lợn ăn cũng tả tơi. Ông hãy ra biển xin ngay con cá vàng một cái máng lợn ăn mới đi! Rồi khi ánh sáng biết mất… Trời! Trước mắt tôi, cái máng lợn mới toanh chẳng sứt mẻ gì cả hiện ra. Chồng tôi chạy về đến túp lều và vô cùng thích thú khi thấy cái máng mới. Tôi nhìn quanh và tự hỏi: “Có con cá có phép thuật như vậy tại sao mình phải sống trong một túp lều tồi tàn rách nát này cơ chứ??’. Tôi nói với chồng: – Ừ! Thì đã có máng lợn mới rồi. Nhưng ông có thấy chúng ta đang sống trong một cái lều rách nát không? Hãy đi mau ra biển và xin con cá một ngôi nhà mới. Nhanh lên! Thế là chồng tôi lại chạy ra biển. Tôi trông theo cái bóng khuất dần của chồng và mong chờ. Quả nhiên, chỉ một lát sau, tôi bàng hoàng khi thấy mình không còn ngồi trong lúp lều tối tăm nữa mà là một ngôi nhà khang trang với đầy đủ tiện nghi và sáng sủa. Tôi sung sướng ngắm mái nhà sơn đỏ với ống khói nhô cao. Tôi quả thật chưa bao giờ dám nghĩ mình có được ngôi nhà đẹp vậy. Nhưng niềm vui chẳng kéo dài. Chỉ vài ngày là tôi cáu kỉnh vì ý nghĩ: “Thế khi đã có nhà mới rồi, mình vẫn phải làm những công việc nhà ư? Không! Không thể như thế! Tôi muốn có người hầu kẻ hạ”. Thế là tôi đanh mặt lại và nghiêm giọng nói với ông lão: – Tại sao tôi lại lấy ông cơ chứ? Ông chỉ là một gã đàn ông ngu ngốc. Tôi không muốn làm một mụ nông dân quèn nữa, tôi muốn trở thành nhất phẩm phu nhân. Ông hãy đi mau ra biển và xin con cá. Nhanh lên! Chồng tôi kêu lên: – Bà có điên không vậy? Đã có nhà mới rồi thế mà còn muốn là nhất phẩm phu nhân ư? Lúc đầu, ông ta lên giọng thế, nhưng tôi chỉ dọa nạt một hồi là ông phải đi. Trong chốc lát, tôi choáng váng khi thấy mình đang ở trong một tòa nhà tráng lệ. Trên người tôi, một bộ váy áo mềm mại, lấp lánh, nhìn quanh những cô gái đang quỳ dưới chân tôi. Một cô gần tôi nhất nói: “Thưa nhất phẩm phu nhân! Phu nhân còn cần gì nữa không ạ?” Thì ra điều tôi mong muốn đã thành hiện thực. Thế là từ bây giờ tôi có thể chơi bời thoải mái rồi! Tôi đứng trên thềm cao, sai phái gia nhân việc này việc nọ. Tôi thấy mình thật cao quý. Bỗng tôi nhìn thấy chồng tôi, cái vẻ mặt nhếch nhác, quần áo tồi tàn đen phát ghét. Tôi đuổi ông ta xuống chăm sóc cho ngựa. Vui vẻ được mấy hôm, rồi tôi lại nghĩ: “Dù làm nhất phẩm phu nhân đi nữa thì vẫn phải cúi mình trước những ông hoàng bà chúa! Mình phải làm nữ hoàng cho cả thiên hạ quỳ xuống dưới chân!”. Thế là tôi cho gọi ông chồng đến và bắt ông ta phải đi xin con cá vàng cho tôi làm nữ hoàng. Ông lão giãy lên nói: – Thôi tôi xin mụ. Mụ ăn chẳng biết đường ăn nói chẳng biết đường nói mà đòi làm nữ hoàng ư? – Mày dám cãi một bà nhất phẩm phu nhân à? Có đi không hay là ta sai người lôi đi? Nhìn ông lão lủi thủi đi, tôi hả hê lắm. Thế là chỉ trong giây phút tôi đã trở thành nữ hoàng, điều mà tôi nằm mơ cũng không được. Đầu đội vương miện, tôi uể oải nhấm nháp những món ăn của phương xa mà thị nữ dâng lên. Ông lão đã trở về, nhìn tôi cười: – Tâu nữ hoàng, bây giờ nữ hoàng đã vừa lòng rồi chứ ạ? Tôi không thèm trả lời, ra lệnh đuổi lão đi. Nhưng chỉ vài hôm, tôi chán làm nữ hoàng, liền sai người đi tìm ông chồng, bắt ông ta đòi con cá vàng cho tôi làm vua của biển cả. Ông ấy không dám nói một lời, lủi thủi đi. Tôi mơ màng nghĩ đến cảnh mình làm Long Vương ngự trên mặt biển, con cá vàng hầu hạ bên người tôi và làm theo mọi ý muốn của tôi. Chợt đầu óc tôi quay cuồng, lâu đài biến mất, kẻ hầu người hạ, vàng bạc cũng tan, tất cả trở về như cũ, tôi là một bà lão nghèo nàn, mặc cái váy vá ngồi trước cái máng..lợn sứt mẻ trước túp lều lụp xụp. Dù bây giờ, ông chồng tôi đã tha thứ cho tôi nhưng không bao giờ tôi lại tha thứ cho mình. Đây chính là một bài- học thật xứng đáng đối với tôi. Mong rằng đừng ai phạm sai lầm như tôi. Xin chào tạm biệt các bạn.
Trong vai mụ vợ hãy kể lại chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng
1,118
Trong vai người cháu kể lại câu chuyện Bếp lửa Hướng dẫn Trong vai người cháu kể lại câu chuyện Bếp lửa Bài làm ” Đôi mắt càng già càng thấm thía yêu thương Da dẻ dù khô đi tấm lòng không hẹp lại. Giàu kiên nhẫn bà còn hi vọng mãi Chỉ mỗi ngày rắn lại ít lời thêm” Đó là những vần thơ của tôi – Người cháu dành cho bà nội nội kính yêu của mình giờ đây đang du học ở ucraina xa xôi tôi vẫn không thể nguôi quên bếp lửa ấm áp tình bà. Là người Việt Nam không ai không biết đến bếp lửa được nhen lên bằng những nhiên liệu bình thường củi, rơm, rạ,… Bếp lửa tỏa sáng chờn vờn bốc cao bập bùng mỗi sớm mai gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam tảo tần giàu tình yêu thương giàu đức hi sinh. Bà tôi cũng vậy bà khéo léo chi chút kiên nhẫn nhóm lửa gửi vào đó bao tình yêu thương cháu con. Nhớ về bếp lửa tôi lại bồi hồi nhớ bà thương bà trải bao mưa nắng của bà. Bếp lửa không chỉ gợi nhắc tình bà mà còn gợi bao kỉ niệm tuổi thơ đó là kỉ niệm nạn đói 1945 ám ảnh day dứt cái đói hoành hành khủng khiếp gia đình tôi cũng như bao gia đình Việt Nam khác long đong mỏi mệt vì miếng ăn. Bố đi đánh xe ngựa gầy gò khô rạc mà cái đói vẫn bám riếc không tha nếu không có bếp lửa ấm áp của bà có lẽ tôi không qua được nạn đói thật khủng khiếp biết bao giờ đây nghĩ lại sống mũi vẫn cay khé quá khứ như đồng hiện ở hiện tại xóa nhòa hoàn cảnh mấy chục năm. Kỉ niệm thứ ba cũng có sức ám ảnh lớn trong tâm hồn tôi là nạn giặc càn tàn phá xóm làng ngọn lửa hung tàn bốc lên ngùn ngụt thiêu rụi nhà cửa tài sản trong mất mát đau thương bà cùng tôi và xóm làng lầm lụi trở về. Tôi cũng sớm trưởng thành lớn khôn biết đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh cảm động nhất là lời dặn của bà: ” Mày có viết thư cho bố kể này kể nọ cứ bảo nhà vẫn được bình yên để bố yên tâm công tác”. Bà tôi là thế đấy bà không chỉ lam lũ tảo tần giàu tình yêu thương mà còn giàu đức hi sinh bà gánh vác mọi lo toan gian khó về mình để con yên tâm công tác. Phải chăng bà tôi là hậu phương vững chắc giúp cho tiền tuyến đánh giặc. Đẩy nhanh cuộc kháng chiến đến ngày thắng lợi. Bà xứng đáng với tám chữ vàng bác Hồ trao tặng ” Anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang” Bà vừa mang nét đẹp truyền thống vừa mang nét đẹp hiện đại của người phụ nữ thời kì mới. Giờ đây tôi đã lớn khôn trưởng thành đến với những chân trời rộng mở nơi đây có bếp điện, bếp gas… Có ngọn khói trăm tàu, lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả nhưng trong tiềm thức câu hỏi luôn hiện hữu trong tôi sớm mai này bà nhóm lửa lên chưa. Có lẽ bếp lửa – Tình bà sẽ luôn tỏa sáng nâng đỡ nhiều con người xa xứ như tôi suốt hành trình dài rộng của cuộc đời phả chăng yêu bếp lửa yêu bà là tình cảm cội nguồn tình gia đình và rộng ra là tình yêu quê hương đất nước?
Trong vai người cháu kể lại câu chuyện Bếp lửa
604
Trong vai Người mẹ hãy kể lại câu chuyện Thánh Gióng Gợi ý Mấy đêm nay cu Bi không chịu đi ngủ sớm. Nó vẫn quen trước khi đi ngủ được bà kể cho nghe một câu chuyện. Vậy mà bà đi lên Bắc Giang mãi chưa về. Bố nó kể chuyện gì nó cũng không nín, đành dỗ rằng: “Cu Bi cứ ngủ đi, tí nữa bố nhờ bà tiên đến kể chuyện Thánh Gióng cho con nghe”. Cu Bi vẫn ấm ức nhưng rồi cũng ngủ thiếp đi. Quả nhiên trong mơ, nó thấy một bà cụ đến kể cho nó nghe câu chuyện ngày xưa… “Cháu ạ, bà chính là mẹ của Thánh Gióng đây. Bà sẽ kể cho cháu nghe chuyện Thánh Gióng đánh giặc Ân như thế nào nhé”. Ngày ấy ông và bà đều đã già mà chưa có nổi một mụn con. Ông bà buồn lắm nhưng không biết làm thế nào. Một hôm bà ra đồng, thấy một vết chân rất to giữa ruộng, liền ướm thử chân vào đấy. Không ngờ về nhà bà mang thai. Một năm sau, bà sinh được một cậu con trai bụ bẫm, kháu khỉnh. Bà mừng không để đâu cho hết, nghĩ chắc vì mình ăn ở hiền lành nên được Trời Phật thương. Em bé rất khoẻ mạnh, đẹp đẽ, chỉ có điều từ lúc lọt lòng cho đến năm lên ba tuổi, nó không hề nói cười hay nô đùa chạy nhảy, suốt ngày nằm quay mặt vào vách, mặc cho bà ra sức chuyện trò, dỗ dành. Bà đã khóc rất nhiều nhưng đứa trẻ vẫn cứ đặt đâu nằm đấy, không nói không cười. Một hôm bà đang thu dọn nhà cửa, chuẩn bị chạy giặc thì có tiếng sứ giả rao: – Bớ làng trên xóm dưới! Bớ nhân dân khắp chốn cùng quê! Giặc Ân đã sang xâm lược nước ta, gây ra bao tội ác. Đất nước lâm nguy. Ai có tài hãy ra giúp nước! Nghe sứ giả nói vậy, bà vừa thu dọn vừa lẩm bẩm than phiền: “Con người ta ai cũng hết lòng vì dân vì nước. Con nhà mình đã ba tuổi rồi mà vẫn cứ nằm một chỗ thế kia. Không biết lớn lên có đỡ đần được cha mẹ chút gì không chứ chẳng mong giúp nước.” Bất chợt có tiếng nói: – Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con! Bà giật mình, sửng sốt. Ai vừa nói câu ấy? Nhưng trong nhà có ai đâu? Không có lẽ… – Kìa mẹ! Mẹ ra gọi sứ giả vào đây đi! Nhanh lên, kẻo ông ấy đi mất bây giờ! Bà mừng cuống. Đúng là nó rồi. Không ngờ vừa nói câu đầu tiên, nó đã đòi đi đánh giặc. Không kịp hết ngạc nhiên, bà vội chạy ra mời sứ giả vào. Nó bảo ông ta: Sứ giả kinh ngạc quay về cung. Bà quay vào nấu cơm cho con. Bỗng dưng nó ăn rất khoẻ, bao nhiêu cơm cũng không đủ. Bà con làng xóm nghe tin, tới tấp mang cơm mang cà sang góp. Chẳng mấychốc đã có bảy nong cơm, ba nong cà bày ra. Thế mà nó cũng chỉ ăn loáng cái đã hết. Con bà lớn nhanh quá. Áo thì vừa may xong đã chật căng đứt chỉ. Sứ giả mang roi sắt, ngựa sắt, nón sắt đến. Con bà vươn vai hóa thành tráng sĩ, mình cao hơn trượng. Tráng sĩ đội nón sắt, cầm gậy sắt, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt tung bờm hí vang rồi cất vó phi như bay, bụi cuốn theo mù mịt. Dân làng nô nức cầm gậy gộc, dao cuốc chạy theo. Bà cũng đã già, lại là phụ nữ, đành ra ngõ ngóng tin con thắng trận trở về. Chẳng mấy chốc đã có tin vui. Quân giặc bị đánh tan tác, tháo chạy về nước. Đám đàn ông trai tráng trong làng cũng đã trở về, náo nức ca ngợi con trai bà giỏi giang như thần. Bà cứ chờ, chờ mãi mà vẫn không thấy nó trở về. Lòng người mẹ nóng như lửa đốt. Linh tính bảo bà rằng con bà sẽ không bao giờ trở về nữa. Mọi người đều gọi nó là Thánh Gióng. Nhà vua thấy nó được sinh ra ở làng Phù Đổng, phong cho nó làm Phù Đổng Thiên Vương. Nhưng đối với bà, đó mãi mãi vẫn đứa con bé bỏng…”. Sáng hôm sau cu Bi ngủ dậy thì đã thấy bà nó đang quét lá ngoài sân. Mà sao trông bà giống bà cụ trong câu chuyện hôm qua đến thế! Share Facebook Twitter Pinterest Đề bài: Trong vai người mẹ, hãy kể lại câu chuyện Thánh Gióng Bài làm Ta là mẹ của Thánh Gióng, năm nay đã già rồi, ấy vậy mà trong lòng vẫn không nguôi nhớ về đứa con trai yêu quý của ta. Chuyện về đứa con trai này mãi là kỉ niệm trong lòng ta. Thuở ấy, cách đây cũng ngót mấy chục năm trời, vợ chồng ta sống ở một vùng quê yên bình, cánh đồng xanh rì thẳng cánh cò bay, lợn gà đầy chuồng, nói chung cuộc sống thì đầy đủ và no ấm, hơn thế những người bà con xóm giềng cũng vô cùng tốt bụng. Hai vợ chồng ta ngày đêm mong mỏi có mụn con vui vầy tuổi già. Ngày ngày, ta ra đồng chăm sóc ruộng lúa, vườn khoai cho đỡ buồn. Một hôm ra đồng, ta nhìn thấy một vết chân rất to, to gấp mấy lần người thường, lúc đầu ta còn lo lo nhưng chợt nhớ xóm làng ta từ xưa đến nay vốn rất thanh bình thì có điều gì khiến ta phải lo lắng đâu chứ. Trí tò mò nổi lên, ta liền đặt ngay bàn chân của mình lên để ướm thử. Sau đó mải miết với công việc của mình. Về nhà ta cũng quên khuấy đi sự việc đó. Cho đến một thời gian sau, chợt một hôm ta thấy người khang khác và ta biết mình đã có mang. Ta sung sướng báo tin cho ông lão, ông lão cũng vô cùng mừng rỡ. Hai vợ chồng ta nâng niu chăm sóc đứa trẻ trong bụng cầu mong cháu khoẻ mạnh, lành lặn như bao đứa trẻ khác. Tháng thứ 9 trôi qua vẫn chưa thấy cháu chào đời vợ chồng ta vô cùng lo lắng, nhưng rồi cứ chờ đợi và cho đến tháng mười hai thì Gióng ra đời. Vợ chồng ta vui mừng khôn xiết. Gióng ra đời khoẻ mạnh, tuấn tú lạ thường, hai vợ chồng đặt biết bao hi vọng vào nó. ấy vậy mà đến năm lên ba tuổi Gióng vẫn chẳng biết nói, biết cười, biết đi, cứ đặt đâu là ngồi đó, trong khi bằng tuổi đó lũ trẻ hàng xóm đã biết chạy nhảy khắp nơi. Hai vợ chồng ta rất buồn, ngày đêm cầu khấn trời phật cho đứa con độc nhất của ta mau chóng được như những đứa trẻ khác. Thế rồi bỗng đâu quân giặc kéo sang xâm lược nước ta, chúng kéo đến đông nghìn nghịt, cuộc sống đang yên bình bỗng bị khuấy động, nhà nhà lo sợ, người người lo sợ, mọi người chuẩn bị đồ khô để chạy giặc. Trong tình cảnh đó nhà vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài đi đánh giặc cứu nước. Sứ giả về tận đến làng ta rao gọi người tài. Ta nhớ hôm đó, hai vợ chồng đang ngồi bàn tính xem nếu đi chạy giặc sẽ phải mang theo thứ gì thì Gióng đang nằm trên giường bỗng cất tiếng nói rất mạch lạc: – Mẹ ơi! Ra mời sứ giả vào đây, con có chuyện muốn nói. Hai vợ chồng giật mình ngơ ngác, rồi chợt sung sướng reo lên: – Con đã nói được rồi ư Gióng, cha mẹ mừng lắm, nhưng con còn bé thế này thì làm được gì mà mời sứ giả, không khéo mang tội khi quân. Nói vậy nhưng thấy ánh mắt cương quyết của Gióng, ta vẫn chạy ra mời sứ giả vào trong bụng vừa mừng lại vừa lo. Sứ giả bước vào căn nhà đơn sơ của ta đưa mắt nhìn xung quanh có ý muốn biết mặt người tài nhưng nhìn mãi mà chỉ thấy cậu bé ba tuổi đang nằm trên giường, sứ giả có vẻ nghi ngờ nhưng vừa lúc đó Gióng lên tiếng, giọng đầy quả quyết: – Ông hãy về bẩm báo với đức vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ ra tay tiêu diệt lũ giặc này. Mang đến đây càng nhanh càng tốt. Sứ giả vẫn tỏ ý nghi ngờ, thằng bé nhà ta bỗng vùng đứng dậy, khuôn mặt đầy nghiêm nghị: – Ông hãy tin ở ta, ta không phải là một đứa trẻ bình thường. Nghe Gióng nói vậy, sứ giả lập tức đi ngay. Lúc này, Gióng quay sang bảo ta: – Mẹ xuống nấu cho con một nồi cơm to để con ăn còn chuẩn bị đi đánh giặc. Đến lúc này, ta chợt hiểu dường như Gióng không phải là một người bình thường, có lẽ nó là con Ngọc Hoàng xuống cứu giúp dân làng. Nghĩ vậy, ta vội vàng xuống bếp nấu một nồi cơm to, bưng lên cho Gióng ăn, kì lạ thay Gióng ăn chỉ một loáng đã hết bay nồi cơm và mỗi lúc ta thấy Gióng lớn lên một ít. Chỉ trong vài ngày Gióng lớn gấp 10 lần hôm trước, quần áo may chẳng kịp bởi chỉ một loáng đã chật không mặc nổi. Chỉ trong một thời gian ngắn bao nhiêu lương thực ta dự trữ đã hết veo, bà con láng giềng biết tin Gióng nhận lời đi đánh giặc nên vui vẻ mang gạo, cà sang nhà và giúp ta thổi cơm cho Gióng ăn. Gióng ăn không biết no, người to lớn như một tráng sĩ. Một hôm cả nước nhận được tin quân giặc đã đến núi Trâu, tình hình đất nước rất nguy kịch. Tất cả mọi người từ già đến trẻ ai ai cũng hoảng hốt, lo sợ. Đúng lúc đó, sứ giả mang những thứ Gióng yêu cầu đến nhưng khổ một nỗi lúc này Gióng đã to lớn gấp mười lần hôm sứ giả gặp nên chẳng thứ gì còn vừa với nó cả. Những thứ đó chỉ như thứ đồ chơi đối với nó. Sau mấy lần làm đi làm lại Gióng mới chọn cho mình thứ phù hợp còn những cái khác Gióng khẽ bẻ đã vỡ vụn, và áo giáp sắt mặc vào khẽ cựa đã bung. Sau khi đã mặc áo giáp sắt, cầm roi, nhảy lên mình ngựa, lúc này Gióng thật oai phong lẫm liệt, nó chẳng còn giống đứa trẻ lên ba như trước. Nó chắp tay từ biệt hai vợ chồng ta: – Vì đất nước con ra đi đánh giặc và không biết đến khi nào trở lại. Cha mẹ ở quê nhà cố gắng giữ gìn sức khoẻ. Quay sang bà con láng giềng, lúc này cũng đến rất đông để chia tay, nó cũng chắp từ biệt mọi người và nó còn nói: – Nếu cháu không trở về nhờ bà con láng giềng chăm sóc cha mẹ cháu lúc tuổi già sức yếu. Chúc cha mẹ và bà con mạnh khoẻ bình yên! Nghe nó nói vậy, ta không cầm được nước mắt nhưng cũng vô cùng tự hào vì con ta đang làm một việc vô cùng lớn lao. Chào mọi người xong nó thúc ngựa phi thẳng ra ngoài trận đánh. Ngựa đi đâu phun lửa đỏ rực ra đến đó. Nó đón đầu lũ giặc đánh cho chúng tơi bời, và chỉ trong chốc lát quân giặc đã bị tiêu diệt gần hết. Đúng lúc đó chiếc roi sắt trong tay nó gẫy làm đôi, lũ giặc hí hửng định xông lên nhưng Gióng đã nhanh tay nhổ khóm tre bên cạnh. Quật túi bụi vào lũ giặc, lũ giặc không kịp chống trả. Một thời gian sau quân giặc đã bị Gióng tiêu diệt chẳng còn một bóng nào nữa. Ta nghe tin Gióng đã tiêu diệt được quân giặc trong lòng xiết bao vui mừng, và mong nó trở về nhưng chờ mãi không thấy con đâu, đến sau này ta mới biết nó chính là con trai Ngọc Hoàng xuống giúp dân làng nay hoàn thành nhiệm vụ đã bay về trời. Thấm thoát đã bao năm trôi qua nhưng trong lòng ta vẫn không nguôi nhớ về đứa con ấy, dẫu vậy ta rất vui vì con trai ta đã trở thành vị anh hùng dân tộc được mọi người ghi nhớ.
Trong vai Người mẹ hãy kể lại câu chuyện Thánh Gióng
2,128
Trong vai Sứ giả hãy kể lại câu chuyện Thánh Gióng Gợi ý Trong cuộc đời có những chuyện thật kì lạ. Ta may mắn được chứng kiến câu chuyện về Phù Đổng Thiên Vương. Hôm nay ta sẽ kể cho các cháu nghe chuyện ngày xưa chàng đã đánh đuổi giặc Ân như thế nào. Nghe tin giặc Ân sắp sang xâm lược, triều đình vô cùng lo lắng. Nhà vua cử ta đi khắp nơi kêu gọi người tài đánh đuổi quân thù. Khi ta đến kêu loa ở vùng làng Gióng thì có bà cụ ngập ngừng gọi ta vào nhà. Ta vô cùng ngạc nhiên khi thấy trong nhà chỉ có chú bé chừng ba tuổi, trông rất khôi ngô. Chú bé cất giọng nói: – Ngươi về bẩm với nhà vua, rèn cho ta một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt và một chiếc nón bằng sắt, ta sẽ đánh tan quân giặc này. Ta choáng váng trước những lời nói ấy. Cậu bé này thì đánh sao nổi giặc? Nhưng thấy thái độ nghiêm túc của cậu bé, ta ngạc nhiên vô cùng. Chào hai mẹ con bà cụ ra về, ta lân la hỏi thăm hàng xóm bà con kể rằng, và được họ cho biết. Hai ông bà vốn nghèo khó, lại hiếm muộn đường con cái nhưng sống rất lương thiện, phúc hậu. Một hôm, bà lão ra thăm đồng, thấy một vết chân rất to ben ướm thử chân vào. Thế rồi có mang. Hai ông bà mừng lắm. Nhưng một năm sau, bà cụ mới sinh, lúc đó ông lão đã mất. Kì lạ thay, đứa bé đẹp đẽ đáng yêu nhưng không nói không cười, đặt đâu nằm đấy. Năm nay nó đã ba tuổi mà mọi sự vẫn không thay đổi. Giặc đã đến chân núi Trâu, thế nước vô cùng nguy ngập. Ta tuân mệnh vua mang đến các thứ cậu bé yêu cầu. Ta vô cùng ngạc nhiên khi thấy trước mắt mình không phải là một cậu bé mà là chàng thanh niên khỏe mạnh. Chàng vươn vai hóa thành tráng sĩ, mình cao hơn trượng. Tráng sĩ đội nón sắt, cầm gậy sắt, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt vươn cổ hí lén một tiếng, lửa phun rừng rực đốt cháy trụi cả một bụi tre đầu ngõ. – Lạy mẹ, con đi! Chàng nói rồi ra roi, Ngựa tung bờm phi thẳng đến chỗ quân giặc. Khắp nơi nhân dân nô nức cầm dao, gậy theo sau. Ngựa phi đến đâu, tre hai bên đường vàng sém đến đấy (sau này được gọi là tre đằng ngà), vết chân ngựa in xuống đất thành một dãy ao hồ (bây giờ vẫn còn ở làng Phù Đổng). Trông thấy ta từ xa, quân giặc vội quay đầu, vứt giáo tháo chạy. Nhưng chúng chạy đâu cho thoát? Ngựa phun lửa đốt chúng cháy trụi từng mảng, roi sắt vung lên một lần thì đã có cả chục thằng bị hất tung lên trời. Giặc tan, tráng sĩ một mình một ngựa lên núi. Lên đến đỉnh, chàng cởi áo giáp vắt trên ngọn cây cao, rồi cùng ngựa sắt từ từ cất mình bay vào không trung. Nhà vua về thăm làng Gióng, được dân làng kể: từ sau khi gặp sứ giả, cậu bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn bao nhiêu cũng không no, áo vừa may xong đã chật, bà con phải góp cơm gạo nuôi cậu. Giặc đến, cậu vươn vai hóa thành tráng sĩ oai phong lẫm liệt, đánh tan giặc rồi về trời. Nhà vua phong chàng là Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ ngay tại quê nhà, hàng năm mở hội rất to. Năm nào ta cũng đến hội để tỏ lòng ngưỡng mộ chàng, người anh hùng của nhân dân.
Trong vai Sứ giả hãy kể lại câu chuyện Thánh Gióng
636
Đề bài: Trong vai Thánh Gióng, hãy kể lại câu chuyện Thánh Gióng Bài làm Các cháu có biết ta là ai không? Ta chính là Thánh Gióng, người năm xưa đã một mình đánh thắng lũ giặc Ân hung ác. Bây giờ ta sẽ kể cho các cháu nghe về cuộc đời của ta lúc bấy giờ nhé! Các cháu ạ! Ta vốn là sứ thần của Ngọc Hoàng sai xuống giúp đỡ dân làng đánh đuổi quân xâm lược đang nhăm nhe xâm chiếm nước ta. Muốn được sống cùng với nhân dân, Ngọc Hoàng ra lệnh cho ta đầu thai xuống một gia đình lão nông hiếm muộn đường con cái. Một ngày đẹp trời ta thấy bà lão phúc hậu vào rừng, ta liền hoá thành một vết chân to và bà lão đã tò mò ướm thử vậy là ta đầu thai vào bà cụ. Khỏi phải nói hai ông bà đã vô cùng mừng rỡ khi chờ mãi, sau mười hai tháng ta mới ra đời. Ông bà càng vui hơn khi thấy ta rất khôi ngô tuấn tú. Hai ông bà chăm sóc yêu thương ta hết lòng, ông bà ngày ngày mong ta khôn lớn như những đứa trẻ khác ấy vậy mà mãi đến tận năm ba tuổi ta vẫn chẳng biết cười, nói cũng chẳng biết đi. Các cụ rất buồn, thấy vậy ta rất thương nhưng vì sứ mệnh mà Ngọc Hoàng đã trao cho nên ta vẫn phải im lặng. Thế rồi giặc Ân đến xâm lược nước ta, chúng kéo đến đông và mạnh khiến ai ai cũng lo sợ. Nhìn khuôn mặt lo âu của dân làng và cha mẹ, ta biết rằng đã đến lúc ta phải ra tay giúp đỡ họ. Một hôm, đang nằm trên giường nghe thấy sứ giả đi qua rao tìm người giỏi cứu nước, thấy mẹ đang ngồi buồn rầu lo lắng, ta liền cất tiếng bảo mẹ: – Mẹ ơi! Mẹ đừng buồn nữa, mẹ hãy ra mời sứ giả vào đây cho con nói chuyện. Nghe ta cất tiếng nói mẹ vô cùng ngạc nhiên, mừng rỡ và mẹ ta càng ngạc nhiên hơn khi ta đòi gặp sứ giả vì đó không phải là chuyện đùa, đọc thấy nỗi lo của mẹ ta vội trấn an mẹ: – Mẹ đừng lo lắng gì cả cứ ra mời sứ giả vào đây! Nửa tin nửa ngờ nhưng mẹ ta vẫn vội vã ra mới sứ giả vào. Sứ giả bước vào căn nhà nhỏ tuềnh toàng của cha mẹ ta, ông ta vô cùng ngạc nhiên nhìn thấy ta lúc này vẫn chỉ là thằng bé nằm ở trên giường, sứ giả có vẻ không tin tưởng lắm nhưng khi nghe ta nói: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Nghe những lời nói đầy quả quyết của ta sứ giả hiểu rằng ta không phải là một đứa trẻ bình thường, sứ giả vội vã trở về tâu với vua và vua cũng vui mừng truyền thợ giỏi ở khắp nơi đến làm gấp những thứ ta cần. Ai ai cũng phấn khởi khi thấy vua đã tìm được người tài. Còn ta khi sứ giả đi rồi ta liền vùng dậy và vươn vai mấy cái đã thành người lớn. Ta bảo mẹ nấu cho ta nồi cơm ăn cho no để chuẩn bị đi đánh giặc. Mâm cơm vừa bưng lên ta ăn một loáng đã hết nhẵn mà chẳng thấy no gì cả, mẹ lại đi nấu nồi khác cho đến khi nhà không còn gì để ăn. Ta ăn vào bao nhiêu thì lớn như thổi bấy nhiêu, đến nỗi quần áo phải thay liên tục. Mẹ ta thấy ta ăn ba nhiêu cũng chưa no trong khi gạo thì đã hết, bà cụ liền chạy nhờ bà con hàng xóm. Bà con đều vui lòng giúp mẹ ta vì biết ta là người sẽ đi đánh giặc cứu dân làng. Mọi người đến nhà ta nườm nượp, người có gạo góp gạo, người có rau, cà góp rau cà, tóm lại ai có gì góp nấy. Mọi người còn đến giúp mẹ ta thổi cơm cho ta ăn, ta ăn bao nhiêu lại to lớn lừng lững bấy nhiêu. Những ngày đó làng ta ai cũng khấp khởi vui mừng vì mong đợi ta nhanh chóng đi giết giặc, cứu nước. Một ngày, dân làng nhận được tin giặc đã kéo đến chân núi Trâu. Làng ta lại được một phen khiếp sợ, trẻ con kêu khóc, người lớn thì lo âu, các cụ già thì trầm ngâm, ai ai cũng khiếp sợ. Mọi người nhìn ta như cầu cứu. Ta rất hiểu tâm trạng của họ và đúng lúc đó sứ giả đem những thứ ta cần đến. Lúc này, ta vùng đứng dậy, vươn vai một cái đã biến thành một tráng sĩ cao lớn phi thường, thế nên tất cả những thứ sứ giả vừa mang đến chẳng còn vừa với ta nữa. Thấy vậy, mọi người lại tức tốc đi tìm thợ về rèn ngựa sắt, áo giáp sắt cho ta, họ làm ra chiếc nào lại cho ta thử chiếc ấy và ta chỉ khẽ bẻ đã gẫy, mãi sau mới có những thứ vừa với sức ta. Mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng, ta liền mặc áo giáp sắt, tay cầm roi sắt, nhảy lên mình ngựa, oai phong lẫm liệt. Ta nhớ hôm đó bà con ra tiễn ta rất đông mọi người nhìn ta đầy tin tưởng, khắp nơi vang lên lời chúc chiến thắng và ta còn nhìn thấy cả những giọt nước mắt tự hào, yêu thương của cha mẹ ta. Từ biệt bà con xóm giềng, cha mẹ những người đã yêu thương, nuôi nấng, ta thầm hứa sẽ chiến đấu hết lòng để không phụ công của bà con dân làng, cha mẹ. Sau phút chia tay, một mình một ngựa ta lao thẳng vào trận đánh. Ngựa đi đến đâu phun lửa rừng rực đến đó, lũ giặc vô cùng khiếp sợ. Chúng đổ rạp và tan xác dưới roi sắt của ta và ngọn lửa của con chiến mã. Cả bãi chiến trường đầy thây quân giặc. Đúng lúc thế trận đang lên như vũ bão thì cây roi sắt trong tay ta gẫy gập, ta liền nhổ lấy những khóm tre quanh mình quật liên tiếp vào lũ giặc. Lũ giặc lại được một phen khiếp sợ, rơi vào thế hỗn loạn và chẳng mấy chốc bỏ chạy tan tác khắp nơi. Những tên may mắn sống sót vội vã thoát thân bỏ chạy vào hẻm núi sâu, tìm cách trở về nước. Làng quê sạch bóng quân thù. Tiếng reo vui của dân làng vang lên rộn rã. Nhìn trăm họ hạnh phúc ta vô cùng sung sướng, vậy là sứ mệnh Ngọc Hoàng giao cho ta đã hoàn thành, chợt nhớ đến cha mẹ già ta cũng muốn về thăm nhưng lời Ngọc Hoàng dặn dò khi hoàn thành sứ mệnh phải trở về trời khiến ta chẳng dám trái lệnh. Nhìn đất nước, dân làng một lần cuối ta thúc ngựa phi lên đỉnh núi, cởi bỏ áo giáp sắt, rồi cả người và ngựa lẳng lặng bay về trời. Ta ra đi nhưng trong lòng đầy tiếc nuối vì không được sống cùng những người dân hiền lành tốt bụng. Dẫu vậy, ta cũng hài lòng vì từ đây ai ai cũng được sống trong cảnh thanh bình, hạnh phúc. Sau đó, vua đã phong cho ta là Phù Đổng Thiên Vương. Ta cảm thấy rất vui khi được nhận danh hiệu đó, bởi ta đã đem đến sự bình yên và hạnh phúc cho mọi người. Đó chính là điều quý giá nhất đối với ta, nó còn quý hơn cả ngọc ngà châu báu mà nhà vua hứa ban tặng cho ta sau khi đánh thắng quân giặc.
Trong vai Thánh Gióng, hãy kể lại câu chuyện Thánh Gióng
1,348
Trong vai Thủy Tinh hãy kể lại chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh Gợi ý Chào các bạn trẻ! Ta là Thuỷ Tinh, một người đã không biết bao nhiêu lần đánh nhau với Sơn Tinh để cướp Mỵ Nương, nhưng không hiểu lại sao lần nào ta cũng thua. Nguyên do cũng vì hôm ấy, ta nghe bọn thuỷ binh bàn tán xôn xao rằng: Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mỵ Nương, người dẹp như hoa, tính nết hiền dịu, ngài thương yêu con gái hết mực, muốn kén cho con một người chổng xứng đáng. Không đợi chờ gì nữa, ta liền đến xin cầu hôn nàng. Nào ngờ khi vừa đến thì gặp một người cùng chung mục đích. Anh ta mặc bộ áo giáp, bước đi rất mạnh mẽ. Cúi xuống lạy vua Hùng rồi anh la bắt đầu trổ tài: vẫy tay về phía đông; bỗng dưng phía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Mọi người đồn rằng, anh ta tên là Sơn Tinh, là chúa tể của vùng non cao. Anh chàng giỏi giang đấy, nhưng so sao được với ta, chúa miền nước thẳm. Ta vuốt nhẹ bộ quần áo được tết bằng những chiếc vẩy cá to và cứng đang mặc rồi xin đựợc trổ tài. Ta vung tay, cất tiếng gọí oang oang. Bỗng đâu một luồng gió mạnh nổi lên, rồi mây đen ùn ùn kéo đến, mưa trút xuống ào ào. Nhìn xung quanh thấy nhà vua và triều thần, ai nấy đều khiếp sợ, ta vui lắm. Trổ lài xong, ta cũng lạy lạ vua Hùng. Ngài băn khoăn không biết chọn ai, từ chối ai, bèn phán: Chúng ta tâu hỏi đồ sính lễ cần sắm những gì, ngài nghĩ ngợi một lúc rồi bảo: – Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ phải đủ một đôi. Thật tức, những thứ đó sẵn có ở chỗ Sơn Tinh, ta tìm kiếm thì khó khăn lắm. Nhưng một người tài giỏi như ta, không có gì là không làm được. Nào ngờ hôm sau, mới lờ mờ sáng, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến rước Mỵ Nương về núi. Ta đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đánh Sơn Tinh. Vừa đuổi theo, ta vừa hét; “Sơn Tinh, trả Mỵ Nương cho ta!” Trận đánh giữa hai chúng ta diễn ra thật ác liệt. Ta hô mưa, gọi gió, làm thành giông bão rung chuyển cả đất trời. Nước ngập nhà cửa, ruộng đồng, tưởng như thành Phong Châu đang nổi lềnh bềnh trên biển nước. Ta đinh ninh chắc hẳn mình giành lại được Mỵ Nương nên rất đắc chí. Nhưng không, dù gió thét ào ào, mưa trút như thác, Sơn Tinh vẫn đứng vững vàng, nét mặt bình thản bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi ngăn chặn dòng nước lũ. Hắn và ta đánh nhau ròng rã mấy tháng trời. Cuối cùng, ta đuối sức, đành rút quân về.,
Trong vai Thủy Tinh hãy kể lại chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh
531
Trong vai Trương Sinh kể lại Chuyện người con gái Nam Xương Hướng dẫn Trong vai Trương Sinh kể lại Chuyện người con gái Nam Xương Bài làm Gia đình! hai tiếng thiêng liêng ấy chất chứa bao cảm xúc. Đó là tổ ấm đầu đời của mỗi người là nơi ta tìm thấy hạnh phúc niềm vui trong cuộc sống cũng là nơi ta nằm xuống trước khi trở về với đất mẹ. Thế mà Trương Sinh tôi đã không biết chân trọng gia đình tự tay hủy hoại nó khiến vợ tôi – Vũ Nương phải tìm đến cái chết. Ôi sự thật đắng cay vấp ngã không thể nào sửa chữa được.! Tôi vốn là con nhà khá giả trong làng còn Vũ Nương là con nhà nghèo khó. Nàng nổi tiếng vừa xinh đẹp vừa thùy mị nết na tôi liền xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về làm vợ nàng rất mực khéo léo giữ gìn tổ ấm nên vợ chồng không từng xảy ra chuyện thất hòa. Chao ôi hạnh phúc mới ngọt ngào làm sao! Nhưng hạnh phúc chưa trọn vẹn thì binh biến nổ ra giặc chiếm xâm lấn bờ cõi nước ta. Do ít học nên tôi bị bắt đi lính vào loại đầu khiến tôi phải xa mẹ già, vợ trẻ bụng đang mang thai. Chiến tranh thật tàn khốc! Buổi tiễn đưa mẹ tôi ân cần dặn dò bản thân tôi phải biết giữ mình làm trọng thấy khó nên lui lường sức mà tiến…Lòng mẹ khiến tôi cảm động ngậm ngùi xót xa. Vũ Nương cũng rót chén rượu đầy đằm thắm ân tình: Nàng thấy trước những khó khăn nơi biên ải những hiểm nguy tôi phải đối mặt bày tỏ nỗi nhớ nhung yêu thương gắn bó. Nàng cũng chỉ mong tôi bình yên trở về những lời nói chân thành của nàng khiến ai chứng kiến cũng ứa hai hàng lệ. Thời gian thấm thoắt thoi đưa ba năm cách biệt ở nơi chiến trường tôi đã nếm trải đủ mùi gian khổ hi sinh chết chóc. Song may thay bao mũi tên hòn đạn tôi đều tránh được. Cuối cùng giặc chiêm cũng chịu đầu hàng. Được trở về chốn cũ nhà xưa lòng tôi mừng mừng tủi tủi.Ở nhà Vũ Nương đến cứ đã sinh con trai – bé Đản. Nhưng vui buồn lẫn lộn được tin mẹ mất tôi đau khổ vô cùng chẳng thể làm tròn bổn phận người con. Hàng xóm kẻ rằng mẹ vì nhớ tôi mà ốm mất, Vũ Nương đã hết sức thuốc thang tận tình chăm sóc lễ bái thần phật lo ma, chay chu tất. Ôi người vợ đảm đang hiếu thảo đã thay tôi làm tròn bổn phận khiến tôi hết sức cảm phục! Ngậm ngùi buồn tủi tôi bế con ra thăm mộ mẹ nhưng bé Đản cứ quấy khóc không nhận tôi là cha tôi dỗ dành thì bé nói: ” Ô hay!… thin thít” Trời đất như quay cuồng sập đổ dưới chân tôi. Trời ơi! Vợ tôi lại hư hỏng đến thế sao? Bé Đản kể đêm nào người đàn ông ấy cũng đến mẹ Đản đi cũng đi mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả. À! Thì ra đôi gian phu dâm phụ hành động rất lén lút quấn quýt bên nhau nhưng lại không muốn sự có mặt của con tôi suốt thời gian tôi đi vắng vợ tôi đã phản bội tôi, không thể ghìm nổi sự giận dữ vừa về đến nhà tôi đã la um lên cho hả giận, vợ tôi phân trần cách biệt ba năm giữ gìn một tiết không hề biết đến ngõ liễu tường hoa nhưng chẳng lời nào có thể lọt tai tôi. Sự giận dữ, lừa ghen càng lúc càng bùng phát tôi đã mắc nhiếc không tiếc lời và đánh đuổi nàng ra khỏi nhà mặc cho hàng xóm bênh vực can ngăn. Từ ngày nàng mất cảnh nhà hiu quạnh, một đêm ngồi buồn bế con bên ngọn đèn, bỗng bé Đản bảo tôi ” Cha Đản lại đến kia kìa” và chỉ vào bóng trên vách. Trời ơi! Sự thật như thế này sao? Người đàn ông vẫn đến mỗi đêm với vợ tôi là cái bóng này ư thật cay đắng xót xa! Thì ra nàng đã dỗ con bằng cách chỏ bóng mà bảo là cha Đản tôi đã quá hồ đồ, đa nghi, hay ghen đẩy vợ vào chỗ chết, giá như tôi bình tĩnh suy xét noi cho nàng biết chuyện kia do ai nói ra thì nàng đã có cơ hội thanh minh. Tôi biết làm sao bây giờ? Tất cả chót đã qua rồi giờ chỉ còn lại sự ân hận muộn màng. Câu chuyện đau lòng của tôi là thế đấy cả giận mất khôn – Câu nói của người xưa sao mà chí lí. Kể lại câu chuyện này tôi mong người đời hãy cảnh tỉnh, hạnh phúc chỉ được xây dựng trên cơ sở tin tưởng tôn trọng lẫn nhau. Ghen bóng ghen gió sẽ bóp nghẹt hạnh phúc gia đình dẫn đến đổ vỡ. Thật buồn thay!
Trong vai Trương Sinh kể lại Chuyện người con gái Nam Xương
863
Đề bài: Trong vai Xiu kể lại chuyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” của Ô hen ri Bài làm Là một họa sĩ tôi – Xiu thường đi rất nhiều nơi để tìm cảm hứng sáng tác đang phác họa bức tranh bỗng một chiếc lá rơi vèo đậu trên giá vẽ khiến tôi bồi hồi xúc động nhớ lại chuyện Chiếc lá cuối cùng xảy ra cách đây mấy năm về trước. Ngày ấy tôi còn rất trẻ cùng người bạn Giôn xi…Tôi cùng cụ Bơ-men sang buồng bên sợ sệt nhìn cây thường xuân chẳng nói thành lời nhưng trong tâm trí tôi rối bời bao cảm xúc. Chiếc lá cuối cùng đêm nay sẽ dụng thooii. Giôn xi sẽ ra đi ư? Tôi sẽ mất đi một người bạn, một người em tri kỉ, đau lòng quá! Tôi phải làm gì đây để giành giật em từ tay thần chết? Nhuốt nước mắt vào trong tôi chỉ biết chăm sóc động viên an ủi Giôn xi để em nghĩ lại. Khi tôi vừa chợp mắt được một tiếng đồng hồ choàng tỉnh dậy đã thấy Giôn xi thức giấc tự bao giờ, em thẫn thờ nhìn về phía cửa sổ thều thào ra lệnh bắt tôi phải kéo mành lên khuôn mặt em hốc hác nước da xanh như tàu lá chẳng còn sức sống. Tôi nói gì dường như em cũng chẳng nghe thấy chẳng để ý đến tôi nữa. Miễn cưỡng tôi đành chậm chạp lê bước về phía cửa sổ vừa kéo mành vừa cầu chúa trời phù hộ ” Hãy thương xót cứu giúp chúng con đừng để chiếc lá cuối cùng rụng xuống. Đừng khiến con mất Giôn xi”. Ô kìa! Lạ chưa chiếc lá cuối cùng vẫn còn đã phải chăng lời cầu khuẩn của tôi đã thấu chúa trời. Thật là tuyệt! Chiếc lá dũng cảm treo bám vào cành chống chọi với thời tiết khắc nghiệt. Tôi quay lại nhìn Giôn xi em cũng đang trân trân nhìn chiếc lá có lẽ trong lòng em đang có nhiều chuyển biến về nhận thức tình cảm. Khuôn mặt Giôn Xi giần tươi tỉnh lại, em nói với tôi,…Tôi sung sướng quá ôm choàng lấy em hạnh phúc thật bất ngờ. Khi bác sĩ đến khám bệnh cho Giôn xi Tôi kiếm cỡ lẻn ra ngoài đôi bàn tay run lên vì sợ hãi, phải nghe những tin không lành khi bác sĩ cầm lấy tay tôi. Nhưng không ngờ tin đến thật vui, những kì vọng… Nhưng tôi choáng váng nghe tin cụ Bơ-men chết vì sưng phổi. Tôi ôm lấy Giôn xi và kể cho em bí mật về chiếc lá…Hai chị em tôi khóc nức lên, hằng ngày cụ sống âm thầm là thế mà ai biết được ẩn chứa bên trong lại là một trái tim lồng nàn yêu thương, 40 năm mơ uốc về kiệt tác mà cụ chưa thực hiện được giờ đây cụ có biết mình đã hoàn thành kiệt tác không . Giờ đây cụ Bơ men đã yên nghỉ ở một thế giới khác cả tôi và Giôn xi đã trưởng thành trong nghề để xứng đáng với sự hi sinh của cụ Bơ men. Chúng tôi quyết định đi nhiều nơi đem nghệ thuật chân chính phục vụ cuộc sống con người. Cảm ơn cụ! Cảm ơn tấm lòng vĩ đại, đức hi sinh cao cả của cụ! Đã cho chúng tôi bài học nhân văn sâu sắc.
Trong vai Xiu kể lại chuyện Chiếc lá cuối cùng
580
Trong vai Âu Cơ hãy kể lại truyện Con Rồng, cháu Tiên Gợi ý Ngày xửa ngày xưa… Cái “ngày xửa ngày xưa” ấy, cách nay khoảng bốn nghìn năm có lẻ. Thuở ấy Trái Đất còn hoang sơ lắm. Trên bờ muông thú chạy tung tăng, chim chóc líu lo ca hát. Dưới nước cá từng đàn bơi lội nhởn nhơ. Ta tên là Âu Cơ, con gái út Thần Nông – vị thần được giao đảm nhiệm công việc trồng cấy trên thiên đình và coi sóc việc nhà nông dưới trần gian. Được cha mẹ cưng chiều, ta thường cùng các chị em tiên nữ xuống trần gian du ngoạn ngắm cảnh đó đây. Một lần, đang tung tăng bên bờ suối mát, ta bất chợt trông thấy một trang tuấn kiệt. Trông chàng thật khôi ngô, tuấn tú với chiếc vòng ngọc trai lấp loá, răng trắng như ngà voi, thân hình dẻo dai như cá mập đang bơi lội. Giọng chàng âm vang như tiếng chuông, đôi mắt thăm thẳm như sóng nước biển khơi. Khỏi cần nói là đã bối rối như thế nào. Ta định trốn vào sau lưng mấy cô bạn nhưng chàng đã trông thấy, liền tiến đến bắt chuyện. Tên chàng là Lạc Long Quân, con trai Thần Long Nữ, chủ nhân của biển khơi. Hôm sau chàng lại đến, không quên mang theo rất nhiều trai ngọc để làm quà. Mấy nàng tiên thoáng cái đã biến đâu mất, để ta ở lại một mình. Muốn chạy trốn mà sao chân bước không nổi… Chẳng bao lâu ta có mang. Chàng mừng lắm. Chẳng ngờ khi sinh ra lại chỉ thấy một cái bọc, trong bọc có trăm trứng. Một hôm, chúng ta ra ngoài, khi về gần đến nhà bỗng nghe tiếng trẻ nô đùa, cười nói ầm ĩ. Đến nơi thì chao ôi cả một đàn đúng một trăm đứa trẻ đang chạy nhảy và cười đùa. Bọc trăm trứng của ta đã nở thành trăm con. Có một đứa đã vui, bây giờ niềm vui được nhân lên đúng một trăm lần. Những đứa trẻ lớn nhanh vùn vụt. Thoáng cái, chúng đã thành những chàng trai dũng mãnh. Cuộc sống tưởng như hạnh phúc trọn vẹn của ta bắt đầu có nỗi buồn, đó là chồng ta nhớ biển đến bần thần, rồi chàng về lại thủy cung; để ta ở lại với bầy con, ngày đên trông ngóng. Ta nhắn chàng đến hỏi: – Tại sao chàng không ở lại cùng thiếp nuôi dạy các con? Chàng nói hai chúng ta, kẻ giống Rồng, người dòng Tiên tập quán khác nhau, không thể chung sống lâu dài. Nay chàng đưa năm mươi con xuống biển, ta đưa năm mươi con lên rừng. Kẻ miền ngược, người miền xuôi nhưng khi có việc phải giúp đỡ nhau. Ta nghe cũng thấy phải. Cuộc chia tay đầy lưu luyến và bịn rịn. Ta nhìn theo cha con chàng đi tận phía xa, lòng tràn ngập yêu thương. Lại nói về những đứa em. Sau khi chia tay cha mẹ, chúng toả đi khắp nơi, lập thành các bộ tộc, dần dần nói những thứ tiếng khác nhau, phong tục, thói quen cũng khác. Dù không mấy khi gặp được nhau nhưng tất cả vẫn luôn nhớ đều là anh em một nhà. Mỗi khi quân giặc bên ngoài kéo đến xâm lược, chúng lại bảo nhau chung sức lại đánh đuổi kẻ thù. Bởi thế nên trên đất nước Việt Nam ngày nay có tới trên năm mươi dân tộc nhưng tất cả đều là anh em một nhà, đều là con cháu của ta.
Trong vai Âu Cơ hãy kể lại truyện Con Rồng, cháu Tiên
605
Trong vai ông Lão, cá vàng hoặc mụ vợ hãy kể lại chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng Hướng dẫn Trong vai ông Lão, cá vàng hoặc mụ vợ hãy kể lại chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng lớp 6 Trong vai ông Lão, cá vàng hoặc mụ vợ hãy kể lại chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các em học sinh tham khảo hiểu rõ về tấm lòng nhân hậu của ông lão đánh cá cũng như sự tàn ác lòng tham không đáy của bà vợ giúp học tốt môn Ngữ văn lớp 6 và chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Bài tham khảo 1: Trong vai mụ vợ, hãy kể lại chuyện ông lão đánh cá và con cá vàng Cứ nghĩ lại hồi ấy, tôi lại thấy hối hận biết bao nhiêu. Giá như lúc đó, tôi không quá tham lam, không có ảo tưởng điên rồ để bây giờ lại trở về con số không, làm mất lòng tin của chồng mình thì tốt biết bao! Và chắc hẳn bây giờ các cháu đã biết tôi là ai, tôi chính là mụ vợ thật đáng ghét trong truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng. Hồi ấy, vợ chồng sống rất an bình. Tôi ở nhà may vá lưới và làm những công việc nhà, tôi còn nuôi được một con lợn mập mạp. Ông lão nhà tôi thì đi đánh cá, hôm có, hôm không. Tuy hai vợ chồng tôi già lại sống cảnh nghèo túng trong một túp lều lụp xụp trên bờ biển nhưng cuộc sống của chúng tôi vẫn đầm ấm. Cho đến một ngày… Tôi đang loay hoay trước cái máng lợn vừa bị mẻ một miếng lớn thì ông lão đi đánh cá về. Ông ấy vui vẻ kể cho tôi nghe về chuyện con cá vàng biết nói, nó hứa đáp ứng mọi yêu cầu nhưng ông lão không cần gì cả. Lúc đầu, tôi không tin, nghĩ ông ấy đùa, nhưng thấy thế, tôi tin là thật. Một cơn giận bùng lên, trong đầu tôi có ý nghĩ: “Nếu có con cá vàng ấy nói thật thì sao lão ngốc nghếch đến mức không xin gì cả? Tôi vội nói với lão chồng: – Ông thật quá ngu ngốc! Ông nhìn xem nhà cửa chúng ta thế nào, cả cái máng cho lợn ăn cũng tả tơi. Ông hãy ra biển xin ngay con cá vàng một cái máng lợn ăn mới đi! Thế là chồng tôi đi ra biển. Tôi không biết ông ấy có xin con cá được không nhưng vẫn háo hức muốn nhìn thấy phép màu của con cá lạ. Tôi đợi một phút, hai phút rồi năm phút chẳng thấy gì. Bỗng, một luồng sáng bao quanh cái máng lợn. Rồi khi ánh sáng biết mất… Trời! Trước mắt tôi, cái máng lợn mới toanh chẳng sứt mẻ gì cả hiện ra. Chồng tôi chạy về đến túp lêu và vô cùng thích thú khi thấy cái máng mới. Tôi nhìn quanh và tự hỏi: “Có con cá có phép thuật như vậy tại sao mình phải sống trong một túp lều lồi tàn rách nát này cơ chứ?”. Tôi nói với chồng: – Thì đã có máng lợn mới rồi. Nhưng ông có thấy chúng ta đang sống trong một cái lều rách nát không? Hãy đi mau ra biển và xin con cá một ngôi nhà mới. Nhanh lên! Thế là chồng tôi lại chạy ra biển. Tôi trông theo cái bóng khuất dần của chồng và mong chờ. Quả nhiên, chỉ một lát sau, tôi bàng hoàng khi thấy mình không còn ngồi trong túp lều tối tăm nữa mà là một ngôi nhà khang trang với đầy đủ tiện nghi và sáng sủa. Tôi sung sướng ngắm mái nhà sơn đỏ với ống khói nhô cao. Tôi quả thật chưa bao giờ dám nghĩ mình có được ngôi nhà đẹp vậy. – Tại sao tôi lại lấy ông cơ chứ? Ông chỉ là một gã đàn ông ngu ngốc. Tôi không muốn làm một mụ nông dân quèn nữa, tôi muốn trở thành nhất phẩm phu nhân. Ông hãy đi mau ra biển và xin con cá. Nhanh lên! Chồng tôi kêu lên: – Bà có điên không vậy? Đã có nhà mới rồi thế mà còn muốn là nhất phẩm phu nhân ư? Lúc đầu, ông ta lên giọng thế, nhưng tôi chỉ dọa nạt một hồi là ông phải đi. Trong chốc lát, tôi choáng váng khi thấy mình đang ở trong một tòa nhà tráng lệ. Trên người tôi, một bộ váy áo mềm mại, lấp lánh, nhìn quanh những cô gái đang quỳ dưới chân tôi. Một cô gần tôi nhất nói: “Thưa nhất phẩm phu nhân! Phu nhân còn cần gì nữa không ạ?” Thì ra điều tôi mong muốn đã thành hiện thực. Thế là từ bây giờ tôi có thể chơi bời thoải mái rồi! Tôi đứng lên thềm cao, sai phái gia nhân việc này việc nọ. Tôi thấy mình thật cao quý. Bỗng tôi nhìn thấy chồng tôi, cái vẻ mặt nhếch nhác, quần áo tồi tàn đến phát ghét. Tôi đuổi ông ta xuống chăm sóc cho ngựa. Vui vẻ được mấy hôm, rồi tôi lại nghĩ: “Dù làm nhất phẩm phu nhân đi nữa thì vẫn phải cúi mình trước những ông hoàng bà chúa! Mình phải làm nữ hoàng cho cả thiên hạ quỳ xuống dưới chân!”. Thế là tôi cho gọi ông chồng đến và bắt ông ta phải đi xin con cá vàng cho tôi làm nữ hoàng. Ông lão giãy lên nói: – Thôi tôi xin mụ. Mụ ăn chẳng biết đường ăn nói chẳng biết đường nói mà đòi làm nữ hoàng ư? Tức điên người, tôi tát cho ông ta một cái trời giáng, đây là lần đầu tiên tôi đánh ông chồng. Tôi gào to: – Mày dám cãi một bà nhất phẩm phu nhân à? Có đi không hay là ta sai người lôi đi? Nhìn ông lão lủi thủi đi, tôi hả hê lắm. Thế là chỉ trong giây phút tôi đã trở thành nữ hoàng, điều mà tôi nằm mơ cũng không được. Đầu đội vương miện, tôi nhấm nháp những món ăn của phương xa mà thị nữ dâng lên. Ông lão đã trở về, nhìn tôi cười: – Tâu nữ hoàng, bây giờ nữ hoàng đã vừa lòng rồi chứ ạ? Tôi không thèm trả lời, ra lệnh đuổi lão đi. Nhưng chỉ vài hôm, tôi chán làm nữ hoàng, liền sai người đi tìm ông chồng, bắt ông ta đòi con cá vàng cho tôi làm vua của biển cả. Ông ấy không dám nói một lời, lủi thủi đi. Tôi mơ màng nghĩ đến cảnh mình làm Long Vương ngự trên mặt biển, con cá vàng hầu hạ bên người tôi và làm theo mọi ý muốn của tôi. Đầu óc tôi quay cuồng, lâu đài biến mất, kẻ hầu người hạ, vàng bạc cũng tan, tất cả trở về như cũ, tôi là một bà lão nghèo nàn, mặc cái váy vá ngồi trước cái máng lợn sứt mẻ trước túp lều lụp xụp. Bài tham khảo 2: Đóng vai cá vàng trong truyện ông lão đánh cá và con cá vàng kể lại câu chuyện ấy Tôi vô cùng tức giận trước lòng tham của mụ vợ ông lão đánh cá khi mụ ta muốn làm Long Vương ngự trị trên biển và bắt tôi hầu hạ. Không thể tha thứ cho kẻ vô ơn này, tôi đã để mụ ta trở lại với chiếc máng lợn cũ sứt mẻ… Sinh ra và lớn lên trên vùng biển rộng lớn mênh mông, tôi là chú cá vàng thần kì tự do và hạnh phúc. Tôi không nghĩ sẽ có một lúc nào đó mình bị mất tự do nên ngày nào cũng tung tăng bơi lội. Tôi thoả thích vừa bơi vừa ngắm đất trời và khám phá các ngõ ngách của vùng biển. Bỗng một hôm, mải rong chơi, tôi mắc vào lưới của một ông lão đánh cá hiền lành. Tôi van xin và được ông lão thả ra. Vô cùng cảm kích, tôi muốn trả ơn ông lão. Nhưng ông lão chẳng muốn gì, còn cầu mong trời phù hộ cho tôi mặc dù cả ngày nay ông chưa bắt được gì ngoài bùn và rong biển. Tôi tự nhủ, nếu ông lão có bất cứ điều ước nào tôi sẽ sẵn lòng giúp đỡ. Gặp được người nhân hậu như ông lão thật may mắn cho tôi. Nhưng không may cho ông lão, khi về nhà kể lại cho vợ nghe, ông đã bị mụ ta mắng ngay là đồ ngốc. Rồi bắt ông ra biển gặp tôi đòi một cái máng lợn mới. Thương ông lão hiền lành, tôi đáp ứng ngay yêu cầu của mụ vợ. Nhưng cứ mỗi lần như thế, mụ ta lại đòi hỏi những thứ lớn hơn. Lần thứ hai, mụ ta đòi một cái nhà rộng Ngay lập tức, túp lều của ông lão biến thành ngôi nhà đẹp, có cổng lớn bằng gỗ lim, trong ngoài sáng sủa, có lò sưởi, quét vôi trắng xóa… Khi điều mong muốn này được đáp ứng, vợ ông lão nghĩ ngay đến việc đòi một thứ khác. Đến lần thứ ba, mụ muốn thay đổi thân phận mình từ một nông dân quèn thành bà nhất phẩm phu nhân. Cũng như hai lần trước, tôi đồng ý. Vợ lão đã biến thành một người khác, đứng trên thêm cao, mình khoác áo lông, đầu đội mũ nhiễu hoa, cổ quấn ngọc trai, tay đeo nhẫn vàng, chân đi giày đỏ. Ông lão tưởng như thế đã làm thoả mãn yêu cầu của vợ mình. Còn tôi, tôi vẫn chờ đợi ông lão đến để xem yêu cầu thứ tư của mụ là gì, bởi một người có lòng tham không đáy sẽ không dừng lại khi chưa đạt đến đích cao nhất. Quả như thế. Lần thứ tư, mụ ta muốn mình làm nữ hoàng. Tôi vẫn chấp nhận. Thế là mụ ta biến thành một nữ hoàng thực sự ngồi bên bàn tiệc sang trọng. Lần này mụ ta đã quên hẳn người chồng tốt bụng của mình, ra lệnh đuổi ông đi. Bình yên được mấy tuần, ông lão lại lóc cóc đến tìm tôi. Tôi không ngạc nhiên mà thấy thương thay cho ông lão. Lần này yêu cầu của mụ vợ làm ông đau khổ và sợ hãi. Mụ ta muốn làm Long Vương ngự trên mặt biển và bắt tôi phải hầu hạ. Có lẽ mụ ta đã đi qúa giới hạn mà không biết. Tôi là một chú cá vàng thần kì tự do của biển cả, tôi mang niềm vui đến cho người khác nhưng lòng tốt của tôi đã không được trân trọng. Danh dự của tôi bị xúc phạm nặng nề. Vì vậy, dù ông lão là ân nhân nhưng tôi cũng không thể thoả mãn yêu cầu của mụ ta như những lần trước nữa. Tôi lặng im không nói gì, quẫy đuôi lặn sâu dưới đáy biển. Tôi quyết định lần này sẽ dành cho mụ vợ một sự bất ngờ. Và khi ông lão trở về nhà, hết cả cái máng lợn mới, mất cả ngôi nhà rộng, lâu đài và cung điện nguy nga, hết cả ngôi vị nhất phẩm phu nhân, nữ hoàng cao quí. Trước mặt ông lão chỉ còn túp lều nát ngày xưa và trên bậc cửa, mụ vợ đang ngồi bên cái máng lợn sứt mẻ. Bài tham khảo 3: Đóng vai ông lão kể lại truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng Tôi thật khốn khổ vì mụ vợ tham lam, độc ác. Sau bao lần đòi hỏi những của cải ngày càng nhiều như vàng bạc, châu báu, lâu đài… mụ còn muốn cá vàng cho mụ làm Nữ hoàng. Mặc dù đã đạt tới tột đỉnh cao sang nhưng giờ đây mụ lại muốn trở thành Long Vương để bắt cá vàng trực tiếp hầu hạ, nhằm thỏa lòng tham khôn cùng của mụ. Cũng như những lần trước, không dám trái lời mụ, tôi lại đi ra biển. Biển tung bọt sóng trắng xóa, dữ dội. Nghe tiếng gọi khẩn thiết của tôi, cá vàng hiện lên. Sau khi nghe tôi thuật lại ý muốn điên rồ của mụ vợ, cá vàng nói: – Hỡi ân nhân của tôi! Tôi thấu hiểu tình cảnh đáng thương của ông. Ông sống làm sao được với mụ vợ tai quái ấy. Trời sẽ trừng phạt thói tham lam và bội bạc của mụ. Những năm tháng còn lại của cuộc đời, ông hãy xuống Thủy cung vui vầy cùng tôi. Như thế, ông đỡ bị hành hạ mà tôi cũng thỏa mong ước được đền đáp ơn cứu mạng. Nghe cá vàng nói vậy, tôi băn khoăn do dự hồi lâu. Ra đi ư? Còn quê hương, làng xóm, bỏ đi sao đành! Vả lại, trần gian với thủy cung chắc cũng có nhiều điều khác biệt, không biết mình có hợp hay không? Trong cung điện nguy nga, mụ vợ tôi ngồi chờ phép lạ như những lần trước. Chờ mãi, chờ mãi mà chưa thấy quân lính áp giải tôi về, mụ sốt ruột nghiến răng nguyền rủa… Bỗng đâu mây đen kéo đến, giông tố nổi lên ầm ầm. Đây đó đã nghe tiếng tường đổ, ngói rơi. Mụ vợ nhận ra nguy hiểm đang tới gần. Bực tức, căm giận và tuyệt vọng, mụ quát đám cận thần cùng mụ xông ra biển bắt tôi cùng cá vàng về trị tội. Nhưng đã muộn. Cá vàng rẽ nước đưa tôi xuống thủy cung. Mụ tức tối giậm chân la hét. Một cơn sóng lớn xô tới, cuốn phăng rồi đưa mụ già về bên túp lều xiêu vẹo với cái máng lợn ăn sứt mẻ.
Trong vai ông Lão, cá vàng hoặc mụ vợ hãy kể lại chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng
2,346
Đề bài: Cảm nghĩ của em khi đọc truyện Con hổ có nghĩa Bài làm Truyện trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX là loại truyện văn xuôi chữ hán, có cách viết không giống với truyện hiện đại ngày nay. Truyện nhiều khi gần với kể, với sử và thường mang tính giáo huấn. Tuy vậy cũng có loại truyện hư câu, tưởng tượng nghệ thuật, các nhà văn mượn hình ảnh của loài vật để nói về con người, đạo đức nhân sinh… Truyện con hổ có nghĩa là một thí dụ điển hình. Ngay sau khi bà trần cứu được hổ cái qua cơn hoạn nạn mà tưởng chừng không thể vượt qua. Hổ cái được mẹ tròn con vuông, gia đình nhà hổ vô cùng hạnh phúc và sung sướng mừng rỡ đùa giỡn với con. Cảm động trước ơn cứu mạng của bà Trần, Hổ đực quỳ xuống bên cạnh một gốc cây, lấy tay đào lên một cục bạc, tặng ngay cho bà Trần giúp bà sống qua năm mất mùa đói kém. Hành động trả ơn của hổ đực để lại trong em bao ấn tượng sâu sắc. Việc trả ơn diễn ra tức thì, không đắn đo suy nghĩ, mà số bạc đâu có ít những “hơn mười lạng bạc”. Hình ảnh hổ đực được khắc họa sinh động, ấn tượng qua thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, nhờ đó chúng ta thấy rằng con hổ đực mang trong mình những hành động, suy nghĩ như một con người. Trong gia đình, nó hết lòng với vợ con lúc bụng mang dạ chửa, luôn biết quan tâm, chăm sóc yêu thương hổ cái lúc sắp sinh con…, hổ đực vui mừng, sung sướng đến tột độ khi được làm cha, lưu luyến cảm động nghẹn ngào khi chia tayân nhân cứu mạng vợ mình. Hổ đực nhận thức được rằng nó sẽ chẳng bao giờ thấy vợ và con trên cõi đời này nữa nếu như không có bà đỡ Trần. Nó hiểu rằng hạnh phúc hôm nay với gia đình nó là do bà đỡ Trần đem lại. Từ những suy nghĩ mang đậm chất nhân văn, chất Con người như vậy giúp hổ đực hành động thật cao đẹp và cảm động nhường nào – ân nghĩa vẹn tròn. Hành động trả ơn được diễn ra tự nhiên như một bản năng, một thói quen đã ăn sâu vào tiềm thức. Nó như hiểu vô đạo lí ở đời rằng ơn ai một chút chẳng quên, chịu ơn cứu mạng thì phải Khắc cốt ghi xương. Trong đôi mắt hổ đực, bàn tay của bà Trần như đôi bàn tay tiên tri, nhẹ nhàng cứu vợ nó qua cơn vật lộn với tử thần. Và trong tâm khảm hổ đực ơn cứu mạng này phải ghi lòng tạc dạ và đền đáp ân sinh. Khi tiễn bà Trần – vị ân nhân đáng kính ra về, hổ vẫn cúi dầu vẫy đuôi, khi bà Trần đã rời xa nó vẫn Gầm lên một tiếng rồi bỏ đi. Tiếng gầm của hổ đực phải chăng cảm phục đến nghẹn ngào mà không cất được nên lời? Hay chính là lời chào tiễn biệt vị ân nhân, mà cả đời mang ơn cứu mạng. Trong đôi mắt hổ đực hình ảnh bà Trần như một vị tiên, và chính trong đôi mắt ấy hiện lên lòng biết ơn vô hạn với người đã cứu sống vợ con mình. Và để rồi hổ đực, hổ cái ngày ngày bên con và cũng ngày ngày nhớ đến bà Trần, dẫu rằng đã hậu tạ chút bạc. Nó hiểu rằng chút bạc ấy không thể so sánh, mua bán ơn cứu mạng. Cả gia đình nó, cha truyền cho con ghi nhớ đời đời. Cũng là lối sông có nhân nghĩa nhưng cách báo đáp ân nghĩa của hổ trán trắng lại khác. Nó được cứu sống sau lần hóc xương. Và nó cũng hiểu rằng, nó sẽ chẳng bao giờ được nhìn thấy thiên nhiên cuộc sống, chốn rừng thiêng kia nếu như không có bác tiều. Vị ân nhân ấy như một vị thánh xuất hiện trước mặt nó, ân cần, hết lòng giúp nó trước khi nó từ giã cuộc sống. Nó cũng san xẻ miếng ngon cho ân nhân của mình. Nhưng cảm động hơn khi biết rằng vị ân nhân đã chết, nó đau xót vô chừng bởi nó không thế làm gì giúp bác được. Nén chặt đau thương, tình cảm dâng trào, hổ trán trắng đã đến đưa tang bác tiều. Khi chôn cất, hổ bỗng nhiên đến trước mộ nhẩy nhót… Từ xa, nhìn thấy hổ dụi dầu vào quan tài gầm lên, chạy quanh quan tài vài vòng rồi đi. Và đâu phải chỉ ngày bác mất, mà từ đó về sau, mỗi dịp ngày giỗ bác tiều hổ lại đưa Dê hoặc Lợn đến để ở ngoài cửa nhà bác tiều. Thật cảm động và đáng khâm phục biết bao trước hành động của hổ trán trắng. Nhớ ơn cứu mạng, trong tâm khảm hồ trán trắng, hình ảnh vị ân nhân đã cứu sống mình không bao giờ phai nhạt. Lúc sống hổ quan tâm, chăm sóc, có miếng ngon đều mang biếu bác tiều, và khi qua đời nó vẫn giữ trong lòng biết ơn như ngày nào, dân gian có câu Sông tết chết giỗ, tỏ lòng biết ơn, ngày giỗ lần nào hổ trán trắng đều có lễ vật cúng, tê ân nhân ân nghĩa ấy được kết tụ trong hai tiếng ngầm của nó; một tiếng ngầm Đền ơn khi đem nai đến cho ân nhân khi còn sống, mà một tiếng gầm đau thương khi ân nhân sang thế giới bên kia. Trong những tiếng gầm ấy hằn lên niềm tiếc thương vô hạn với người đã cứu mình. Đồng thời nó cũng khẳng định với cuộc đời và chính bản thân nó phải ghi lòng tạc dạ với lời hứa, với ân nhân cứu mạng cả khi sống cũng như đã khuất. Chúng ta thấy rằng trên thực tế có những con hổ có nghĩa nhưng hẳn không thế cao đẹp như con hổ trong truyện. Mục đích của các nhà nho phong kiến dựng lên câu chuyện này nhằm mục đích giáo huấn, răn dạy con người, hay nói theo cách khác là mượn chuyện hổ nói chuyện người. Quan niệm nho giáo phong kiến ngày xưa luôn đề cao lối sống nhân nghĩa, vì vậy các tác giả xây dựng hai con hổ trong câu chuyện là tiêu biểu cho suy nghĩ, hành động của người đền ơn đáp nghĩa. Nhưng từ xưa đến nay trong tiềm thức nhân dân ta hổ là loài hung tợn nhất vậy sao lại có nghĩa và ân tình đến thế. Con hổ đực và hổ trán trắng đã được tác giả thổi vào suy nghĩ và hành động của con người, và nó hành động như con người. Loài vật dữ tợn như vậy mà trong lòng ẩn chứa bao tình cảm con người, ân nghĩa vẹn tròn, có tình có nghĩa. Vậy con người thì sao. Câu chuyện mượn hình ảnh hai con hổ trả ơn đáp nghĩa để răn dạy con người phải sống có nghĩa. Khi người khác gặp hoạn nạn phải sẵn lòng giúp đỡ không nề hà, nguy hiểm. Bà đỡ Trần và bác tiều phu có sợ hổ ăn thịt không? Họ sợ chứ, nhưng nhờ lòng yêu thương của một con người, tình cảm con người họ vượt qua sợ hãi cứu hai con hổ thoát chết. Và khi mang ơn, chịu ơn phải biết nhớ ơn và tìm cách trả ơn. Sự trả ơn phải xuất phát từ sự ngưỡng mộ, khâm phục và lòng biết ơn chân thành, từ suy nghĩ và hành động, từ sự nhận thức về đạo lí, cuộc sống ở đời. Người làm ơn không so đo tính toán, giúp đỡ kẻ khác gặp hoạn nạn là bổn phận, trách nhiệm, đồng thời kẻ chịu ơn phải khắc cốt ghi xương, ở đây ta nhận thấy điều đáng quý, đáng khâm phục của hình ảnh hai người làm việc nghĩa là bác Tiều và bà Trần là: Họ không hề đòi hỏi gì sau khi cứu hổ mẹ và hổ trán trắng. Và dường như họ sinh ra là để làm việc thiện. Và cũng rất tự nhiên, hai con hổ trả ơn, đáp nghĩa như một thói quen, bản năng có sẵn. Câu chuyện hết sức sâu sắc, nó không chỉ dừng lại ở góc độ một con vật, một giai đoạn lịch sử mà nó mang yếu tố thời đại. Bất kì một xã hội nào mà con người sông với nhau nhân nghĩa, yêu thương đều phải ca ngợi, và có như vậy xã hội mới tốt đẹp. Từ xưa cho đến nay dân tộc ta luôn có truyền thống đẹp “sống có ân nghĩa”. Đặc biệt qua câu chuyện này chúng ta càng hiểu thêm rằng “ân nghĩa” là sợi dây nối kết con người gần nhau hơn, giúp họ vượt qua rào cản của tiền bạc, công danh, giúp họ quên đi sự sòng phẳng mua bán bằng tiền. Câu chuyện mang tính triết lí sâu sắc, mang một lối sống đáng khâm phục, cảm động xiết bao. Đã bao câu chuyện, đã bao lần con người nói đến “có nghĩa”. Cái nghĩa chính là cái gốc làm nên giá trị đích thực trong nhân cách sống của con người. Và hơn thế cái nghĩa trong mỗi người phải luôn tự tu dưỡng, hoàn chỉnh. Đó cũng chính là đạo đức sống. Câu chuyện khuyên dạy chúng ta hãy sống tốt đẹp hơn, yêu thương nhau hơn. Đồng thời câu chuyện đề cao lối sống ân nghĩa vẹn tròn sau trước. Các tác giả viết câu chuyện này cũng thầm gửi tới cho chúng ta một thông điệp: Mọi người hãy biết quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, sống nhân nghĩa với nhau sống đúng với đạo lý làm người để nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Câu chuyện có giá trị nhân văn sâu sắc, có giá trị thời đại to lớn. Khi học xong câu chuyện, em như lớn lên trước đạo lý trong cuộc sống, chịu ơn thì phải trả ơn, ơn nghĩa ấy trả đến bao giờ cũng không hết, và phải lấy đó làm phương châm sống, lẽ sống. Em thầm mơ ước xã hội này, thế giới này, ai ai cũng hiểu và làm được như vậy.
Truyện Con hổ có nghĩa là một truyện hay mang tính giáo huấn sâu sắc. Hãy cho biết cảm nghĩ của em khi đọc truyện
1,778
Truyện cổ dân gian gồm có những loại truyện nào mà em đã học, đã đọc và đã được nghe kể? Mỗi loại truyện hãy nêu tên một vài truyện mà em thích Hướng dẫn “Truyện cổ dân gian”gồm có 5 loại truyện mà em đã học, đã đọc và đã được nghe kể: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười. Thần thoại kể về các vị thần, những bậc siêu nhân thần kì như: Thần Sấm, Thần Sét, Thần Mưa, Thần Gió, Thần Chớp, Thần Biển, v.v… Có câu ca, bài hát đồng dao được lưu truyền: Ông Đếm Cát Ông Tát Bể Ông Kể Sao Ông Đào Sông Ông Trồng Cây Ông Xây Rú Ông Trụ Trời Truyền thuyế tkể lại sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử mang đậm yếu tố li kì, theo cách cảm, cách nghĩ của dân gian. Mẹ Â Cơ, Thánh Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh, Sự tích Hồ Gươm,… là những truyền thuyết rất hay, rất hấp dẫn. Truyện cổ tích kể về các tích cũ với bao yếu tố hoang đường. Đó là những dũng sĩ có tài năng kì lạ, những nhân vật thông minh, dị dạng, những con người ngốc nghếch, hoặc những sự tích về các con vật, hoa trái, v.v… Thạch Sanh, Sọ Dừa, Tấm Cám, Cái cân thủy ngân, Cô bé Lọ Lem, Con Thỏ mưu trí,… là những truyện cổ tích lí thú. Truyện ngụ ngôn thường mượn các loài vật, cây cỏ, hoa lá,… để nêu lên bài học luân lí, đạo đức nhằm khuyên răn người đời. Kiến giết Voi, Trí khôn của tao đây, Đeo nhạc cho mèo, Treo biển, v.v… là những truyện ngụ ngôn mà em đã được nghe cô giáo kể. Truyện cười mang yếu tố cười để phê phán, châm biếm. Đến chết vẫn hà tiện, Con rắn vuông, Lợn cưới áo mới, v.v… là những truyện cười mà chúng em rất thích thú. Nhập vai con trâu, em hãy kể một cách sáng tạo truyện cổ dân gian "Trí khôn của tao đây!" BÀI LÀM Tôi là một chú trâu hiền lành. Tôi đứng đầu hạng lục súc. Tôi là bạn nhà nông. Nhiều vị hỏi tôi là tại sao họ nhà trâu chúng tôi không có hàm răng trên mà chỉ có hàm răng dưới? Cái hàm răng ấy gắn liền với một kỉ niệm vui trong đời tôi: "… Buổi cày hôm ấy, tôi và người đang làm lụng trên một thửa ruộng ở mé rừng. Bỗng có một chú hổ dáng hộ hiền lành từ trong rừng đi ra. Hổ hỏi tôi với tất cả sựngạc nhiên: "Này anh trâu, anh to thế, khỏe thế. Sao anh lại để cho người đánh đập, hành hạ khổ sở vậy?". Tôi nhỏ nhẹ nói với hổ: "Anh chưa biết à? Người tuy nhỏ bé nhưng lại có trí khôn!". Hổ tò mò hỏi đi hỏi lại mãi. Lí luận ít, tôi nói với hổ là anh đi hỏi người ấy, người sẽ nói cho anh nghe. Lễ phép chào người rồi hổ thật thà hỏi: "Trí khôn của anh để đâu? Anh cho tôi xem một tí có được không?". Anh trai cày ngẫm nghĩ một lát rồi nói: "Nói thật với anh là tôi để trí khôn ở nhà. Tôi sẽ về nhà lấy cho anh xem nhé! Nếu anh thích, tôi sẽ cho anh một ít". Hổ mừng lắm, vẫy đuôi rối rít. Anh nông dân toan bước đi, chợt sực nhớ ra điều gì bèn nói với hổ: "Khó nói quá… Tôi đi về… nhỡ anh ăn mất trâu thì sao?". Hổ còn băn khoăn chưa biết xử sự ra thế nào thì anh nông dân khẽ nói: "Hay là như thế này, như thế này… anh chịu khó để tôi tạm trói anh vào gốc cây kia, cho tôi được yên tâm về nhà:.." Hổ vui vẻ ưng thuận. Anh trai cày lấy dây thừng trói hổ. Xong đâu đấy, anh ta bèn lấy roi cày quất túi bụi vào người hổ, vừa đánh vừa thét: "Trí khôn của tao đây! Trí khôn của tao đây!". Anh trai cày chất rơm rạ đốt hổ. Lửa cháy dùng đùng. Hổ quằn quại. Bỗng dày thừng cháy đứt. Hổ ba chân bốn cẳng chạy thục mạng vào rừng. Nhìn thấy cảnh tượng lạ kì ấy, tôi thích thú quá, cười rũ rượi, bò ra mà cười. Chẳng may hàm răng trên va vào tảng đá gãy không còn một chiếc nào. Từ đó, họ nhà trâu chúng tôi chỉ có một hàm răng dưới. Bộ da hổ vằn đen dài là do vết cháy còn để lại đến ngày nay. Hãy kể lại truyện cổ "Điều ước của vua Mi-dát" theo sự hiểu biết và bằng ngôn ngữ của em. BÀI LÀM Ngày xưa, vua Mi-đát là một con người cực kì tham lam. Một lần, nhà vua đến gặp Thần Đi-ô-ni-dốt xin thần ban cho phép lạ. Thần Đi-ô-ni-dốt hỏi: – Nhà ngươi muốn gì? – Xin Thần cho mọi vật tôi chạm đến đều hóa thành vàng. Thần Đi-ô-ni-dốt mỉm cười ưng thuận. Mi-đát sung sướng lắm. Vua liền bẻ một cành sồi, tức thì cành sồi biến thành một cành vàng lấp lánh. Chớp chớp đôi mắt, Mi- đát đưa tay run run ngắt một quả táo, quá táo cũng thành vàng nốt, óng a óng ánh. Mi-đát mặt mày rạng rỡ, tưởng trên đời không có ai sung sướng hơn thế nữa. Bữa cơm hôm ấy, nhà vua ngồi vào bàn. Bát,đĩa,cốc,chén… vua vừa chạm tới, biến ngay thành vàng. Các thứ cao lương mĩ vị… vua vừa chạm tay vào điều biến thành vàng. Lúc bấy giờ Mi-đát mới biết mình đã xin một điều ước khủng khiếp. Ngày đêm trôi qua. bụng đói cồn cào, ngủ không yên…, Mi-đát quỳ xuống chắp tay cầu khẩn: – Thần Đi-ô-ni-dốt muôn vàn kính mến! Xin Thần tha tội cho tôi. Kính mong người thu lại lời ước… để cho tôi được sống!… Tức thì Thần Đi-ô-ni-dốt hiện ra và phán truyền: – Nhà ngươi hãy chạy mau đến sông Pác-tôn, nhúng mình vào dòng nước. Phép mầu sẽ biến mất ngay lập tức và nhà ngươi sẽ rửa sạch được lòng tham! Mi-đát ba chân bốn cẳng vội vàng chạy đến sông Pác-tôn và nhảy ào xuống dòng nước. Quả nhiên nhà vua thoát khỏi quà tặng của Thần mà trước đây ông từng khát khao mong ước. Trên đường trở về hoàng cung, Mi-đát mới thấm thía. Ông vừa đi vừa lẩm bẩm: "Hóa ra hạnh phúc không thể xây dựng bằng ước muốn tham lam!". Nguyễn Quỳnh Phương kể Lớp 4A Trường Tiểu học Trần Quốc Toản Thành phố Nam Định Kể lại truyện cổ tích "Cây khế" BÀI LÀM Ngày xưa có hai anh em nhà nọ cha mẹ mất sớm để lại cho một ngôi nhà ngói và một số ruộng vườn. Mấy năm sau, hai anh em đều lấy vợ, không thể ở chung với nhau được nữa. Người anh bèn chia gia tài. Vốn tham lam, người anh giành hết ruộng vườn nhà cửa. chỉ chia cho người em một mái nhà gianh và một cày khế. Vợ chồng người em hiền lành và cần cù, cày thuê cuốc mướn kiếm sống. Cây khế được vun gốc, bón phàn, tưới nước, bắt sâu, ngày một tươi tốt, cành lá sum sê tỏa bóng mát một góc sân. Mùa hè năm ấy, cây khế ra hoa rồi kết quả. Ngày qua tháng lại, trái khế trĩu cành. Những quả khế to năm cánh bóng mượt, vàng óng dần lên. Vợ chồng người em khấp khởi mừng thầm: tiền bán khế sẽ mua được ít nhiều lúa gạo. Nhưng một buổi sáng tinh mơ, có con chim đại bàng ở đâu bay đến cây khế. Chim ăn hết quả chín này đến quả chín khác. Vợ chồng người em lo lắm, không biết làm thế nào. Cả hai vợ chồng cùng thốt lên lời than: – Cơ nghiệp vợ chồng tôi chỉ có ngần ấy. Chim ăn hết thì biết trông cậy vào đâu khi ngày ba, tháng tám… Kì lạ thay, con chim lạ cất tiếng nói: – Ăn một quả trả cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng. Biết là con chim thần, người vợ may cho chồng một cái túi ba gang. Họ thấp thỏm đợi chờ. Mấy ngày sau, đại bàng lại bay đến, xòe rộng đôi cánh, rồi đỗ xuống sân. Chim cất tiếng gọi rối rít. Người em mang theo cái túi ba gang, nhẹ nhàng leo lên mình chim, ôm lấy cổ chim. Đại bàng vỗ cánh bay lên cao. Chim chở người em bay qua những cánh đồng xanh bát ngát, vượt qua những ngọn đồi, dãy núi điệp trùng, bay dọc theo những dòng sông như dải thắt lưng xanh xa dài tít tắp. Lúc bay thấp, lúc bay cao lẩn vào những cồn mây trắng như bông. Rồi chim sải cánh vút qua biển rộng, nước xanh biếc một màu mênh mông. Đại bàng bay mải miết. Người em say sưa và xúc động trước cảnh đất trời mây nước bao la. Đến non trưa, chim lượn ba vòng rồi đậu xuống một hòn đảo lấp lánh giữa biển. Một cảnh tượng vô cùng kì lạ. Cả một kho báu rực rỡ lấp lánh sắc màu. Bạch ngọc, hồng ngọc, ngọc tị trân chân, ngọc lam…. đủ hình dáng to nhỏ. Còn vàng khối thì có không biết bao nhiêu mà kể. Như lạc vào cõi thần tiên, người em chỉ biết say sưa ngắm nhìn gần xa. Và khi nghe chim giục, người em chọn mỗi thứ một ít vàng ngọc bỏ vào cái túi ba gang. Lại trèo lên mình chim, người em một tay giữ lấy túi vàng ngọc, một tay ôm lấy cổ chim. Đại bàng vút bay qua biển rộng sông dài, băng qua những dãy núi đồi, vượt qua những cánh đồng lúa xanh rì… Trước mắt anh, làng cũ thân thuộc đã hiện ra. Đại bàng lượn ba vòng xung quanh cày khế, nhẹ đáp xuống sân. Khi người vợ trẻ chạy ra đón chồng, xách hộ cái túi ba gang đựng đầy châu báu đưa vào nhà, thì đại bàng cũng vút bay lén chín tầng mây xanh. Vợ chồng người em trở nên giàu có từ đó. Người anh biết chuyện, đòi đổi nhà cửa ruộng vườn của mình lấy cây khế và mái lều gianh. Mùa khế năm sau, đại bàng lại bay đến ăn quả. Vợ chồng người anh đã chực sẵn bao tháng ngày, vội vàng chạy ra kêu to lên. Đại bàng cất tiếng: – Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng. Vợ chồng người anh bàn bạc mãi. Cuối cùng may một cái túi rõ to, rõ dài, một cái túi 9 gang. Rồi đại bàng đúng hẹn bay đến chở người anh bay thẳng một mạch đến đảo vàng. Người anh lóa mắt lên trước núi vàng, núi ngọc. Anh ta nhặt và nhét đầy cái túi to. Anh ta còn nhặt nhiều thỏi vàng dắt vào xung quanh cạp quần. Chim giục mãi, anh ta mới chịu trèo lên lưng chim. Chim đập cánh ba, bốn lần mới bay lên được. Khi ra đến giữa biển, gió mạnh thổi lên, chim mỏi quá nghiêng cánh. Cả cái túi vàng nặng trĩu rơi xuống kéo theo kẻ tham lam xuống đáy biển. Trong bài thơ “Truyện cổ nước mình”, Lâm Thị Mỹ Dạ có viết: "Ở hiền thì lại gặp hiền, Người ngay thì gặp người tiên độ trì” Em hãy kể lại một truyện cổ tích trong đó có cảnh "Người ngay thì gặp người tiên độ trì". BÀI LÀM Cây tre trăm đốt Ngày xửa ngày xưa có phú ông sinh hạ được một người con gái xinh đẹp. Phú ông luôn luôn nói và hứa với anh trai cày: “Mày hãy chăm chỉ làm ăn thì tao sẽ gả cô mày cho” Anh trai cày mừng lắm, chẳng quản nắng mưa, ra sức cày sâu cuốc bẫm. Qua ba năm, phú ông ngày một giàu thêm. Cô con gái của phú ông ngày một thêm xinh đẹp. Anh trai cày phấp phỏng mừng thầm. Nhưng phú ông đã nuốt lời hứa đem cô gái gả cho con trai một gia đình giàu có nhất nhì trong làng. Đến hôm sắp cưới, phú ông còn lừa anh trai cày một mẻ nữa. Ông nói với chàng trai hiền lành chất phác: – Mọi việc đã sẵn sàng. Bây giờ mày hãy lên rừng đốn một cây tre trăm đốt đem về làm đũa ăn cưới thì ta cho mày lấy cô mày ngay. Đi nhanh lên! Tin là thật, anh trai cày vác dao đi vào rừng. Anh ta lặn lội từ rừng nọ qua rừng kia, từ lũng này qua lũng khác, bụng đói, miệng khát, chân mỏi mà vẫn không tìm được một cây tre trăm đốt nào! Thất vọng quá, anh ta ngồi, khóc hu hu. Bỗng có một cụ già râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào chống gậy trúc đi tới. – Làm sao mà cháu khóc? Hãy nói cho lão nghe. Anh trai cày lễ phép thưa rõ đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong, ông lão bảo anh đi chặt ngay một trăm đốt tre đem lại. Ông lão bảo anh đọc ba lần: “Khắc nhập! Khắc nhập! Khắc nhập!". Tức thì các đốt tre tự nhiên dính vào nhau thành một cây tre dài trăm đốt. Cụ già đã biến mất lúc nào. Anh trai cày hí hoáy mãi rồi lại ngồi khóc, vì anh ta không thể nào đưa cây tre dài ra khỏi rừng. Cụ già lại hiện lên, nhẹ nhàng bảo anh đọc ba lần: “Khác xuất! Khắc xuất! Khắc xuất!”. Cây tre lại rời ra từng đốt một. Anh chưa kịp nói lời cảm ơn thì ông lão đã biến mất. Anh vội vàng bó các đốt tre lại thành hai bó lớn rồi gánh chạy như bay về nhà phú ông. Anh ngạc nhiên thấy hai họ nhà trai, nhà gái đang ăn uống linh đình và sắp rước dâu. Anh giận lắm! Phú ông cười nói với anh: “Tôi cần cây tre trăm đốt, chứ khôg cần hai bó ống tre này” Anh trai cày liền xếp các ống tre lại, rồi khẽ đọc: “Khắc nhập!…”. Tức thì cây tre dài trăm đốt có ngay. Phú ông thấy lạ chạy đến, anh lại khẽ đọc câu thần chú, lão ta liền bị dính chặt vào cây tre, sợ quá, kêu toáng lên. Lão thông gia vội chạy đến cứu. Anh lại khẽ đọc: "Khắc nhập!…". thế là lão này cũng bị dính chặt vào cây tre, kêu trời lên ầm ĩ. Quan khách hai họ sợ quá! Người thì bỏ về, người thì chạy đến van lạy anh trai cày. Phú ông van lạy hết lời xin tha và hứa cho anh trai cày làm lễ cưới con gái mình. Lúc bấy giờ, anh trai cày mới khẽ đọc: '”Khắc xuất! Khắc xuất! Khắc xuất!”. Cây tre trăm đốt rời ra. Hai lão kia được giải thoát. Về truyện này mà trong dân gian đến nay vẫn lưu truyền câu ca: "Chê ta rồi lại lấy ta, Tuy là đứa ở nhưng mà có công" Em hãy kể lại truyện cổ tích "Sự tích hồ Ba Bể" BÀI LÀM Ngày xửa ngày xưa, thần Giao Long đã biến thành bà ião già nua bệnh tật để đi thứ lòng mọi người. Đến đâu bà lão cũng bị người ta xa lánh. Một hôm bà lão tìm đến một nơi đang diễn ra lễ hội đông vui. Mọi người đều ăn mặc đẹp, thắp hương khấn cầu Trời, Phật, thần linh ban cho nhiều phúc lộc. Ai cũng nói đến chuyện làm phúc, chuyện lễ nghĩa. Nhưng mọi người đều xa lánh, đều từ chối, đều xua đuổi bà lão đói khổ khi bà cất tiếng van xin. Trời sắp tối. Bà lão ăn mày lập cập bước vào một túp lều của hai mẹ con bà Góa nghèo khổ. Chỉ có một bát cơm nguội, hai mẹ con dành cho bà lão ăn mày. Chỉ có một manh chiếu rách, hai me con cũng nhường cho con người khốnkhổ. Bà lão ăn mày cảm động lắm cất tiếng cảm ơn và nói: "Hai mẹ con bà tuy nghèo mà phúc đức lắm, Trời sẽ phù hộ cho". Trước khi bước ra đi, bà lão đưa cho hai mẹ con bà Góa một gói tro, một chiếc vỏ trấu và dặn: “Nhớ giữ lấy để phòng thân. Lũ lụt, mưa to gió lớn thì rắc tro xung quanh nhà. Nước dâng lên thì thả vỏ trấu xuống…”Rồi bà lão ăn mày biến mất. Đêm ấy mưa to gió lớn Thần Giao Long còn hóa phép làm cho đất sụt xuống, nước phụt lên, dâng lên trắng cả trời đất như biển. Nhiều người bị chết đuối, bị lũ cuốn đi. Hai mẹ con bà Góa rắc tro xung quanh túp lều mình, nước không tràn vào được. Chiếc vỏ trấu, hai mẹ con vừa thả xuống nước, tức thì hóa thành một chiếc thuyền độc mộc rất to rất dài. Với chiếc thuyền độc mộc ấy, hai mẹ con bà Góa đã cứu được bao nhiêu người thoát chết. Họ không bao giờ quên công ơn của hai mẹ con bà. Nơi thần Giao Long làm sụt đất ấy biến thành một cái hố sâu, dài, rộng, bốn bề là vách núi, được người đời gọi là hồ Ba Bể. Giữa hồ mênh mông nổi lên một cái gò cao gọi là Gò Bà Góa. Đã bao đời nay, dân gian vẫn lưu truyền câu ca dao: "Bắc Cạn có suối đãi vàng, Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh". Em hãy kể lại truyện "Bốn anh tài", một truyện cổ dân tộc Tày mà em đã được học. BÀI LÀM Ngày xưa ở một bản nọ có một cậu bé kì lạ, mới lên mười tuổi mà sức khỏe đã bằng trai 18; 15 tuổi đã tinh thông võ nghệ và có chí khí hơn người. Đặc biệt là cậu ta ăn rất khỏe, mỗi bữa ăn hết 9 chõ xôi. Dân bản đặt tên là Cẩu Khây. Hồi ấy có một con yêu tinh xuất hiện chuyên bắt người và súc vật để ăn thịt. Nó hoành hành ngang dọc, tàn phá làng bản tan hoang, nhân dân vô cùng lo sợ. Cẩu Khây rất thương bà con, chàng vác vũ khí lên đường quyết trừ diệt yêu quái. Cẩu Khây qua một cánh đồng khô cạn, thấy một cậu bé dùng tay làm vồ đóng cọc. Một quả đấm cậu giáng xuống cái cọc tre thụt sâu vào lòng đất. Tên cậu ta là Nắm Tay Đóng Cọc. Nghe Cẩu Khây nói chuyện đi giết yêu tinh, cậu ta xin được lên đường. Hai người đi đến một vùng khác. Từ xa đã nghe tiếng ầm ầm. Đến gần mới thấy một cậu bé đang ngâm mình dưới hồ, lấy vành tai to tát nước lên thửa ruộng cao bằng mái nhà. Vừa nghe Cẩu Khây nói chuyện, Lấy Tai Tát Nước xin được nhập đoàn, cùng đi diệt trừ yêu quái. Ba người vượt qua bao núi cao rừng thẳm đến một nơi xa lạ. Họ ngạc nhiên thấy một chú bé ngồi dưới gốc cây cổ thụ, đang cặm cụi dùng móng tay đục gỗ thành máng dẫn nước vào ruộng. Móng Tay Đục Máng xin được làm em út đi theo để cùng 3 anh tiêu diệt yêu quái. Bốn anh tài đi suốt đêm ngày, trải qua nhiều mưa nắng và đói khát mới tìm đến được hang ổ của yêu tinh. Họ may mắn gặp được một bà già đang chănbò cho yêu tinh. Cụ nấu cơm cho 4 cậu bé ăn. Ăn no, cả 4 anh em cùng lăn ra ngủ. Đánh hơi thấy mùi thịt trẻ em, yêu tinh xuất hiện. Được bà cụ báo cho biết, 4 anh em quyết chí sẵn sàng chiến đấu. Yêu tinh trợn mắt xanh lè, thè lưỡi đỏ như máu, dài bằng quả núc nác, cái đầu bù xù lông lá. Một mùi tanh nồng nặc xông lên. Nhanh như cắt, Móng Tay Đục Máng túm chặt lấy lưỡi yêu tinh kéo ra. Nắm Tay Đóng Cọc liền vung tay đánh thẳng vào mõm quái vật, làm gãy gần hết hàm răng của nó. Quái vật rú lên, điên cuồng chống trả. Cẩu Khây nhổ cây làm gậy nện túi bụi. Yêu tinh đau quá hét lên, chạy trốn. Tức thì gió bão nổi lên, đất trời tối sầm lại. Bốn anh em bám sát đuổi theo đến một thung lũng. Yêu tinh phun nước ra như mưa, dâng nước ngập tràn băng băng. Bốn anh em vội trèo lên núi. Nắm Tay Đóng Cọc be bờ ngăn nước lũ. Lấy Tai Tát Nước ra sức tát nước ầm ầm. Móng Tay Đục Máng ngả cây khoét máng khơi dòng nước chảy đi. Chỉ một lát sau, mặt đất lại khô ráo. Yêu tinh sợ quá phải quy hàng anh em Cẩu Khây. Từ đấy, các bản làng được bình yên, bà con được yên ổn làm ăn. Họ mãi ghi nhớ công ơn bốn anh tài. Em hãy kể lại truyện "Phần thưởng" của Lep Tôn-xtôi. BÀI LÀM Ngày xưa, có một bác nông dân tìm được ngọc quý. Bác ta muốn đem dâng Nga hoàng. Tìm đến cung điện trong hoàng thành, bác nông dân gặp được một viên quan. Sau khi nghe bác nông dân nói muốn được gặp Đức Vua để dâng ngọc quý, viên quan hứa sẽ đưa đến gặp vua, nhưng với diều kiện "biếu ông ta một nửa phần thưởng". Bác nông dân vui vẻ ưng thuận. Thế là bác nông dân được dẫn vào cung điện gặp vua. Đặt viên ngọc quý lên lòng bàn tay, nhà vua say mê ngắm nghía. Một màu lam óng ánh tỏa ra. Vua xoay đi xoay lại viên ngọc. Các sắc màu lung linh biến đổi: sắc hồng lam, sắc tím biếc, sắc trắng hồng, với những vân màu lấp lánh. Nga hoàng mỉm cười hài lòng, nói với bác nông dân: – Trẫm rất thú vị khi nhận được viên ngọc này. Trẫm muốn tặng anh một phần thưởng cao quý và xứng đáng. Bác nông dân hiền lành kính cẩn thưa: – Muôn tâu Đức Vua, kẻ chân quê này chỉ xin được lĩnh một phần thưởng đặc biệt. Đức Vua hãy thưởng cho thần 50 roi. – Sao lại thế? – Nhà vua ngạc nhiên hỏi. – Tâu Đức Vua, vì trước khi vào đây, kẻ chân què đã thỏa thuận với vị cận thần này sẽ chia đôi phần thưởng của vua ban cho! Nga hoàng mỉm cười, rồi chỉ tay đuổi viên quan đi ra. Vua liền thưởng cho bác nông dân một nghìn rúp bỏ vào trong một cái túi gấm. Kể lại truyện cổ dân gian Khơ-me “Những hạt thóc giống” BÀI LÀM Ngày xưa có một ông vua tuổi đã cao mà không có con. Vua muốn tìm một người tài đức để truyền ngôi. Bữa nọ, vua ra lệnh mở kho thóc phát cho mỗi thần dân một đấu thóc giống và giao hẹn: "Ai nộp được nhiều thóc nhất sẽ được truyền ngôi báu; ai khônh có thóc nộp sẽ bị trừng phạt!". Vụ mùa năm ấy bội thu. Các thần dân trong Vương quốc nô nức chở thóc về Kinh thành. Chỉ có một chú bé tên là Chôm đến với hai bàn tay không. Quỳ xuống trước mặt vua, Chôm kính cẩn tâu: – Muôn tâu Đức Vua! Con xin chịu tội vì thóc giống Bệ hạ ban cho, con đã gieo nhưng không mọc mầm! Mọi người đều sững sờ. Nhưng nhà vua thì mỉm cười đỡ chú bé đứng dậy và nói: "Thóc phát ra đã bị luộc cả rồi, làm sao mà gieo thành mạ được. Những gánh thóc, xe thóc kia đâu phải thu được từ thóc giống của ta!…". Nhìn một lượt khắp các bá quan văn võ và ngàn vạn thần dân có mặt, nhà vua phán truyền: – Trung thực là đức tính quý báu nhất của con người. Chôm vừa trung thực vừa dũng cảm, rất xứng đáng được ta truyền ngôi báu. Chôm được làm vua và nổi tiếng là vị vua hiền minh của Vương quốc. Kể lại một truyện cổ tích em đã nghe kể hoặc đọc sách mà biết, mà nhớ. Xin chôn ở núi vàng Ngày xưa có hai vợ chồng anh nông dân nghèo, phát được miếng rẫy bên bìa rừng, tỉa được 5 tô bắp hạt giống. Năm ấy, mưa thuận gió hòa, bắp mọc tươi tốt lắm. Bắp trổ hoa, cây nào cũng có hai, ba bắp to và dài. Hai vợ chồng mừng thầm. Nhưng rồi có một đàn khỉ từ rừng sâu kéo đến ăn, phá. Hai vợ chồng đêm nào cũng phải thức để canh giữ. Mệt mỏi quá, hai vợ chồng bàn nhau đem bẻ ngô non nấu ăn kẻo đàn khỉ phá hết. Ngô bẻ về chòi. Thứ thì luộc. Thứ thì nướng. Hai vợ chồng ăn ngô nhiều quá, đêm đó bị đau bụng, tháo dạ, nằm mê man bất tỉnh. Bầy khỉ lại kéo đến trộm bắp. Chúng vào chòi ngửi thấy mùi thối, tưởng hai vợ chồng người canh rẫy đã chết, hè nhau khuân đem chôn. Chúng hỏi nhau: – Hà rầm hà rạc, đem chôn hầm bạc hay chôn hầm vàng? Con khỉ đầu đàn ra lệnh: – Hà rầm hà rạc, không chôn hầm bạc mà chôn hầm vàng. Nghe bầy khỉ nói thế, nhưng hai vợ chồng anh nông dân lúc ấy không sao cựa quậy, nói năng được gì. Sáng hôm sau, lúc mặt trời mọc độ con sào, hai vợ chồng mới hồi sức tỉnh dậy. Họ thấy đang nằm trong một hốc đá, hòn to hòn nhỏ lấp lánh vàng. Lượm hết các cục vàng, hai vợ chồng chờ trời tối mới đem về nhà. Và từ đó trở nên vô cùng giàu có. Gần đó có tên phú hộ thấy hai vợ chồng anh nông dân trở nên giàu có thì ngạc nhiên lắm. Hắn liền làm thân, lân la dò hỏi. Anh nông dân thật thà kể lại câu chuyện được vàng. Và hắn tìm đủ mọi cách gạ gầm xin mua lại miếng rẫy với giá thật đắt để trồng bắp. Chẳng mấy chốc, rẫy bắp đã trổ cờ ra trái. Đàn khỉ lại kéo tới phá. Hai vợ chồng tên phú hộ cũng bẻ bắp non luộc và nướng ăn. Ăn thật nhiều, uống nước suối. Họ giả vờ ngủ say khi đàn khi ùa vào lều. Lắng nghe đàn khi hỏi nhau: – Hù rầm hà rạc, đem chôn hầm bạc hay chôn hầm vàng? Chúng xúm vào khiêng, chạy như bay. Khỉ đầu đàn ra lệnh: – Hà rầm hà rạc, đem chôn hầm bạc. Hầm vàng dã chôn người rồi! Lão phú hộ giả chết nghe vậy, nghĩ rằng bạc không quý bằng vàng, liền hét lên: – Đừng chôn tao ở hầm bạc mà phải đem sang hầm vàng kia! Cả đàn khỉ giật mình hoảng hốt, ném ngay vợ chồng lão phú hộ xuống vực sâu, rồi ba chân bốn cẳng chạy vào rừng sâu… Kể lại truyện cổ dân gian Ả-rập “Bác đánh cá và gã hung thần”. BÀI LÀM Ngày xưa có một bác đánh cá nghèo đói mà nhân hậu, thông minh. Một lần ra biển quăng chài, nhưng mấy lần kéo lưới chẳng được một con cá nào. Mẻ lưới sau cùng, bác vớt được một chiếc bình bằng đồng khá to, miệng bịt chì. Ngạc nhiên lắm, bác thầm nghĩ: "Cái bình này đem ra chợ bán cũng kiếm được một món tiền đây!". Lắc cái bình thấy nặng. Bác đậy nắp bình xem trong đó có gì không. Tức thì một luồng khói xanh lè phụt ra bốc lên chín tầng mây và tỏa khắp mặt đất. Khi khói vừa tụ lại thì trên mệng bình hiện ra một con quỷ đầy lông lá, thật dữ tợn và xấu xí. Con quỷ trợn mắt nhe nanh quát bác đánh cá: – Tên kia! Ta báo cho biết là mi sắp chết bởi tay ta! Bác đánh cá liền mắng lại:. – Sao ngươi lại hại ta? Ta đã cứu ngươi thoát khỏi cái bình này mà? – Tên đánh cá kia, hãy nghe ta nói. Ta vốn là một vị hung thần vì phạm trọng tội mà bị Trời phạt bắt hóa kiếp thành quỷ, nhốt vào cái bình đồng kia rồivứt xuống đáy biển sâu. Đã mấy trăm năm nằm dưới đáy hiển, ta chờ mong ai sẽ cứu ta, ta sẽ làm phép cho kẻ ấy được giàu sang, sung sướng. Chờ mãi, không có cứu, ta tức giận nguyền: “Từ nay về sau, kẻ nào cứu ta, kẻ ấy sẽ bị ta giết! Vừa dứt lời nguyền thì ngươi đến cứu ta. Vậy ngươi phải chiết!” Trấn tĩnh lại, bác đánh cá nghĩ thầm: "Ta là người, nó là quỷ. Ta có trí khôn. Vậy ta phải dung mưutrí mới trị nó được."Bác bèn hỏi lại quỷ: – Ngươi nhất định bắt ta chết sao? – Ta đã nguyền rồi. Ngươi phải chết! – Trước khi ta chết, ta hỏi ngươi điều này. – Cứ hỏi đi. Mau lên! – To lớn như ngươi, làm sao mà lọt vào cái bình bé con này được? – Ngươi không tin ta à? – Làm sao mà tin được. Trừ phi ta tận mắt nhìn thấy nhà ngươi chui vào trong cái bình. Quỷ rũ mình một cái, biến thành một luồng khói bay tận trời xanh. Chỉ trong nháy mắt, khói tụ lại rồi chui hết vào miệng bình. Bác đánh cá vội lấy cái nắp bằng chì đậy miệng bình lại, vít đi vít lại thật chặt. Quỷ la hét rồi kêu la, van xin. Bác đánh cá ném cái bình đồng xuống biển sâu. Bác lẩm nhẩm nói: “Cho mày vĩnh viễn làm quỷ dữ dưới đáy biển!" Nguồn:
Truyện cổ dân gian gồm có những loại truyện nào mà em đã học, đã đọc và đã được nghe kể_ Mỗi loại truyện hãy nêu tên một vài truyện mà em thích
4,967
Đề bài: Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp, những khát vọng tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội Bài làm "Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp, những khát vọng tự do, hạnh phúc công bằng xã hội”. Nhận định này được soi sáng trong rất nhiều tác phẩm như. Chử Đồng Tử, Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Trầu cau, Sọ dừa, Thạch Sanh…. Đọc truyện cổ tích, ta bắt gặp những giấc mơ đẹp của người bình dân xưa. Song có khi nào ta tự hỏi tại sao họ phải mơ ước không? Con người ta mơ khi hiện thực không đáp ứng được sự mong mỏi, cho nên phải hướng về một thế giới khác, tươi đẹp hơn, đúng như mong muốn của mình. Người xưa cũng vậy, cuộc sống của họ là một bể khổ tưởng như khó lòng thoát ra khỏi được. Một cuộc sống luôn bị thiên tai, áp bức chiến tranh…Một cuộc sống bị đè nén bóc lột cả về vật chất lẫn tinh thần. Họ phải làm việc cực nhọc ngày qua ngày, năm qua năm nhưng luôn phải chịu đói khổ cực nhọc như anh nông dân nghèo Thạch Sanh… Họ luôn bị khinh thường, rẻ rúng, bị tước đoạt quyền được yêu thương, quyền làm người như cô Tấm, Sọ Dừa…Vì thế mà họ phải mơ. Mơ cũng là một cách phủ nhận, phản kháng thực tại để hướng về chân, thiện, mỹ, hướng về thế giới khác đẹp đẽ, ở họ có được sự bình đẳng trong cuộc sống, trong hôn nhân, được sống tự do, nhân nghĩa… Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp Khát vọng công bằng trong xã hội, một khát vọng thường trực mà ta luôn gặp trong truyện cổ tích. Dễ dàng thấy nhân vật chính nằm trong chuyện là những con người riêng, những người dị tạng xấu xí, những kẻ làm thuê, những người nghèo khó…Họ bị ngược đãi. Cô Tấm bị dì ghẻ hắt hủi, bắt làm việc tối ngày, anh nông dân bị phú ông lừa bóc lột sức lao động một cách thậm tệ. Sọ Dừa bị mọi người con thường, không được coi như con người…Họ bị đối xử bất công vậy đó! Nhưng họ có thể làm gì được nay khi chỉ là thân phận thấp cổ bé họng, thân phận con sâu cái kiến? Bởi thế họ luôn mong ước có những thế lực siêu nhiên như thần, Phật, bụt, tiên để giúp đỡ họ, làm cho họ đổi đời. Nhưng thế lực này tất nhiên không xuất hiện để thuyết minh cho một tôn giáo nào mà họ chính là đại diện cho cái thiện, cho lẽ phải, cho khát vọng của người dân về sự công bằng. Sự công bằng ở đây tức là sự chiến thắng của cái thiện trước những thế lực đen tối, độc ác. Chính vì thế, trong truyện ta mới bắt gặp những kết thúc có hậu. Thạch Sanh nghèo lấy được công chúa, cô Tấm đáng thương trở thành hoàng hậu, Chử Đồng Tử – chàng trai nghèo đánh cá – kết duyên với công chúa con vua. Rõ ràng ở đây là khát vọng phản kháng của họ. Cố nhiên chỉ là mơ ước. Không chỉ dừng lại ở đó, người xưa còn ao ước được tự do hôn nhân, tự mình quyết định lấy hạnh phúc của đời mình. Ước mơ này là chính đáng, bởi xã hội phong kiến đã trói buộc con người đặt biệt là người phụ nữ trong các luật lệ hà khắc như ” cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, nam nữ thụ thụ bất thân, tam tòng tứ đức. Vì thế mà tự do hôn nhân có thể coi như mơ ước rất thường trực quan trọng đối với người xưa. Đó là sự giải phóng về tinh thần với họ. Nói về vấn đề này. Chử Đồng Tử hay cụ thể hơn là cuộc hôn nhân Chử Đồng Tử – Tiên Dung là một minh chứng hùng hồn. Nếu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, người con gái lý tưởng phải là. Êm đềm nước rủ màn che. Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Con trai lý tưởng phải là: Phong thư tài mạo tót vời. Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa. Cuộc hôn nhân đẹp phải là giữa kẻ quốc sắc với kẻ thiên tài, gắn liền với đàn, thơ, lầu sách. Thì cách đó rất lâu, nhân dân đã có quan niệm tiến bộ: hôn nhân đẹp là giữa hai con người mang trong mình phẩm chất chứ không cần bất cứ điều kiện gì khác. Thế cho nên, Đồng Tử, Tiên Dung mới lấy nhau. Hai con người, một hiếu thảo, một tự do, phóng khoáng. Hai con người một chỉ là chàng trai đánh cá cực nghèo ở dưới đáy cùng của xã hội với một là công chúa lá ngọc cành vàng sống vương giả nơi đỉnh cao của giàu sang. Họ đã vượt qua bức tường giai cấp dày đặc ngăn cách, đã bỏ qua ràng buộc, mọi luật lệ hà khắc. Họ đã đến với nhau bằng sự cảm thông về cuộc đời nhau, bằng tiếng gọi trái tim, tiếng nói của tình yêu nguyên thủy sơ khai. Và hơn thế nữa. Tiên Dung lại là người đề nghị cưới Đồng Tử. Điều đó vừa cho thấy sự táo bạo ở nàng, vừa khẳng định vai trò của người phụ nữ trong hôn nhân. Tư tưởng này thật tiến bộ, nó vượt xa quan niệm đạo đức lạc hậu của phong kiến. Nếu như mãi đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, ta mới gặp một nàng Kiều ” xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” để đến với người yêu, thì cách đó bao nhiêu thế kỷ – cha ông ta đã tưởng tượng ra một Tiên Dung còn táo bạo hơn thế. Tại sao vậy? Theo em đây là một vấn đề rất con người. Một vấn đề mà từ ngày xưa, thậm chí là đến thế kỷ XX vẫn tồn tại nóng bỏng, khiến cho bao nhà thơ, nhà văn phải nhiều lần lên tiếng. Và như chúng ta đã biết, người Việt Nam xưa và nay đều sống rất đậm tình, nặng nghĩa, chung thủy sắt son. Bởi thế mà họ còn gửi gắm niềm tin mong mỏi của mình được chung sống hạnh phúc nhân nghĩa,vẹn toàn trước sau với mọi người trong truyện cổ tích. Trầu cau là một trong những câu chuyện rất tiêu biểu làm sáng rõ ước mơ này. Trầu cau kết thúc bằng cái chết vĩnh viễn của ba nhân vật chính. Người em, người anh và người vợ. Cái chết của họ là một bài học luôn nhắc nhở mọi người phải sống bằng chính mình, phải biết yêu thương, độ lượng, tránh sự nghi kị, ghen tuông vu vơ. Bởi tất cả đều có thể phải trả giá rất đất. Một gia đình đang sống yên vui, hòa thuận là thế mà chỉ vì một phút nhận nhầm của người vợ, ôm chầm lấy người em mà khiến người anh sinh ra ghét bỏ, hắt hủi em. Người vợ không có lỗi, chỉ vì quá nhớ thương, mong mỏi gặp chồng nên sinh ra nhầm lẫn. Người anh mới có lỗi, đã ghen tuông vu vơ, hiểm nhầm vợ và em… Cuối cùng, họ chết đi, hóa thành tảng đá, dây trầu, cây cau đứng bên nhau. Và khi ăn lá trầu với quả cau và một tí vôi thì làm môi đỏ miệng thơm. Điều đó nói lên rằng nếu vợ chồng yêu thương nhau thông cảm cho nhau. Anh em hòa thuận đoàn kết thì gia đình sẽ êm ấm. Không chỉ mong muốn được sống hết mình mà người xưa còn muốn được sống tự do, phóng khoáng, lánh đục tìm trong giữa thiên nhiên, đất trời. Việc Chử Đồng Tử và Tiên Dung sau khi lấy nhau đã ở lại trong nhân dân để tìm kế sinh nhai chứng tỏ rằng họ muốn sống gần gũi với mọi người, muốn tự lao động bằng sức mạnh để tạo lập cuộc sống. Họ sống thanh cao không ham tiền tài, không màng danh lợi. Vì thế khi Đồng Tử gặp nhà sư Phật Quang thì cũng không còn nghĩ gì đến chuyện buôn bán, đến làm giàu mà quyết chí học đạo tu tiên. Phải chăng họ muốn thoát tục, muốn tìm về, muốn hướng tới cái đẹp thanh cao như cõi tiên, cõi bồng lai. Đặc biệt, với chi tiết chỉ trong một đêm mà nơi Đồng Tử và Tiên Dung ở bay cả lên trời thì khát vọng của họ đã được đẩy lên đỉnh cao. Họ muốn sống với cả vũ trụ bao la, với cả đất trời vĩnh cửu, họ không hề có sự trốn đời, bế tắc vì họ hoàn toàn có thể chống lại quân triều đình với thành cao, hào sâu và hàng trăm quân lính…Quả thật, tâm hồn của người xưa đã vượt ra ngoài khuôn khổ của xã hội. Khép lại những câu truyện cổ tích thần kỳ, ta lại trở về hiện thực đương thời với biết bao chuyển động như nó vốn có. Song, âm hưởng của những câu chuyện xa xưa sẽ còn vang mãi trong ta, dấu ấn của nó sẽ đậm nét mãi trong tiềm thức và tâm tưởng của mọi người, Bởi đến với cổ tích là ta tìm đến với những giá trị nhân bản, với những triết lý sống lành mạnh chính đáng của người Việt Nam. Biết ơn những tác giả dân gian xưa đã tạo nên những câu chuyện cổ tích để giúp chúng ta hiểu hơn người xưa đã sống, muốn sống như thế nào và ngày nay còn học ở đó những gì.
Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp, những khát vọng tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội
1,656
Truyện ngắn Làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp? Hướng dẫn Bài làm 1: Truyện ngắn “làng” của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp? Dàn ý. I. Tìm hiểu đề. – Yêu cầu cách thức nghị luận: suy nghĩ – Yêu cầu về vấn đề nghị luận: Những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp mà tiêu biểu là nhân vật ông Hai. II. Dàn ý: A. Mở bài (SGK) – Kim Lân là nhà văn am hiểu cuộc sống nông thôn và người dân Miền Bắc. Ông có sở trường viết truyện ngắn và truyện của ông thường viết về đề tài nông dân. Truyện ngắn “Làng” được ông sáng tác trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang bùng nổ trên quy mô toàn quốc. Đây là một tác phẩm xuất sắc thể hiện thành công hình ảnh người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến mà tình yêu làng quê đã hoà nhập tròng lòng yêu nước và tinh thần của người dân kháng chiến. Nhân vật ông Hai trong truyện có những nét tình cảm cao đẹp và đáng quý đó. B.Thân bài: Tình yêu làng nói chung: – Ở mỗi người nông dân, quả thực tình yêu làng quê là bản chất có tính truyền thống. Yêu làng, gắn bó với làng, tự hào về làng của mình vốn là tâm lý rất quen thuộc có tính gốc rễ. Vậy người nông dân thường tự hào, hãnh diện về làng: Làng ta phong cảnh hữu tình Dân cư giang khúc như hình con long Luận điểm bao trùm bài nghị luận: Ở nhân vật ông Hai, tình yêu quê hương, yêu làng Dầu đã quyện chặt với lòng yêu nước. Đây là vẻ đẹp đáng quý của nhân vật, cũng là điều tâm huyết nhất mà nhà văn muốn nói với người đọc. Luận điểm 1: Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai khi đi tản cư. – Cũng như bao con người Việt Nam khác ông Hai cũng có một quê hương để yêu thương, gắn bó. Làng chợ Dầu luôn là niềm tự hào, kiêu hãnh của ông. Kháng chiến bùng nổ, người dân phải dời làng đi sơ tán, ông Hai cũng theo dòng người ấy sơ tán đến một miền quê xa xôi, hẻo lánh. Ông Hai thực sự buồn khi phải xa làng. Ở nơi tản cư, lòng ông đau đáu nhớ quê, cứ “ nghĩ về những ngày làm việc cùng anh em”, ông nhớ làng quá. – Ông Hai luôn khoe và tự hào về cái làng Dầu không chỉ vì nó đẹp mà còn bởi nó tham gia vào cuộc chiến đấu chung của dân tộc. – Ông luôn tìm cách nghe tin tức về kháng chiến “chẳng sót một câu nào”. Nghe được nhiều tin hay, những tin chiến thắng của quân ta, ruột gan ông cứ múa cả lên, náo nức, bao nhiêu ý nghĩ vui thích chen chúc trong đầu óc. Luận điểm 2: Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai khi nghe tin làng theo giặc: (Nhưng khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc thì bao nhiêu tình cảm tốt đẹp ấy trong ông Hai bỗng nhiên biến thành những nỗi lo âu, dằn vặt) – Khi nghe tin quá đột ngột, ông Hai sững sờ, xấu hổ và uất ức: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”. Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy”. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không thể không tin. Niềm tự hào về làng thế là sụp đổ tan tành trước cái tin sét đánh ấy. Cái mà ông yêu quý nhất nay cũng đã lại quay lưng lại với ông. Không chỉ xấu hổ trước bà con mà ông cũng tự thấy ông mất đi hạnh phúc của riêng ông, cuộc đời ông cũng như chết mất một nửa. – Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai chỉ còn có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh day dứt. Ông tìm cách lảng tránh những lời bàn tán và cúi gằm mặt xuống ra về. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt mà đi”, về đến nhà ông nằm vật ra giường, rồi tủi thân nhìn đàn con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra”. Bao nhiêu câu hỏi dồn về xoắn xuýt, bủa vây làm tâm trạng ông rối bời trong cơn đau đớn, hụt hẫng đến mê dại, dữ dằn và gay gắt.. Ông cảm thấy như chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy. – Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu. Ông quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ây”. Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam –nhông… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!” – Nhưng chính lúc này, tình cảm đẹp trong con người ông Hai lại càng được bộc lộ rõ hơn bao giờ hết. Những đau đớn, dằn vặt, sự hổ thẹn đến tột cùng đã đẩy ông Hai vào một tình huống phải lựa chọn. Quê hương và Tổ Quốc, bên nào nặng hơn? Quê hương đáng yêu, đang tự hào… Nhưng giờ đây…. dường như mới chỉ nghĩ tới đó, lòng ông Hai đã nghẹn đắng lại. Tình yêu quê hương và tình yêu tổ quốc xung đột dữ dội trong lòng ông. Một ý nghĩ tiêu cực thoáng qua trong đầu: Hay là quay về làng. Nhưng rồi ông cảm thấy “rợn cả người”. Ông đã từng nhớ làng da diết, từng ao ước được trở về làng. Nhưng “vừa chớm nghĩ, lập tức ông lão phản đối ngay” bởi vì “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”. Cuối cùng ông đã quyết định: “không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Như vậy,tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu, cũng không thể mạnh hơn tình yêu đất nước. – Chuẩn mực cho tình yêu và niềm tự hào về quê hương, đối với ông Hai lúc bấy giờ là cuộc kháng chiến. Tuy đau xót tưởng chừng bế tắc nhưng trong cõi thẳm sâu của tấm lòng, người nông dân ấy vẫn hướng về kháng chiến, vẫn tin ở những điều tốt đẹp, cố giữ cho tâm hồn không vẩn đục, để đón đợi một điều gì đỡ đau đớn, tuyệt vọng hơn. + Khi tâm sự với đứa con nhỏ còn rất ngây thơ, nghe con nói: “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh”, nước mắt ông Hai cứ giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má, giọng ông như nghẹn lại: “ừ đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ?”. Phải chăng, trong tâm hồn người nông dân chất phác ấy vẫn không phút nào nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương, yêu quê hương và nỗi đau đớn khi nghe tin quê hương rời xa công việc chiến đấu chung của đất nước bấy giờ? Tâm sự với đứa con, ông Hai muốn bảo con nhớ câu “nhà ta ở làng chợ Dầu”. Đồng thời ông nhắc con- cũng là tự nhắc mình “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh”. Tấm lòng thuỷ chung với kháng chiến, với cách mạng thật sâu nặng, bền vững và thiêng liêng: “Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ đám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ đám đơn sai”. Luận điểm 3: Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai khi nghe tin làng kháng chiến (Niềm vui của ông Hai khi tin đồn được cải chính. – Đến khi biết đích xác làng Dầu yêu quý của ông không phải là làng Việt gian, nỗi vui mừng của ông Hai thật là vô bờ bến: “Ông cứ múa tay lên mà khoe cái tin ấy với mọi người”, mặt ông “tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”. Đối với người nông dân, căn nhà là cơ nghiệp của cả một cuộc đời, vậy mà ông sung sướng hể hả loan báo cho mọi người biết cái tin “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ” một cách tự hào như một niềm hạnh phúc thực sự của mình. Đó là nỗi lòng sung sướng trào ra hồn nhiên như không thể kìm nén được của người dân quê khi được biết làng mình là làng yêu nước dẫu cho nhà mình bị giặc đốt. Tình yêu làng của ông Hai thật là sâu sắc và cảm động. – So với lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám, rõ ràng ta thấy ông Hai có những điểm tiến bộ vượt bậc trong nhận thức, tâm hồn, tình cảm và tính cách. Đó chính là nhờ vào đường lối giác ngộ cách mạng của Đảng, Bác Hồ mà học có được. Lão Hạc và ông Hai có những điểm tính cách khác nhau nhưng họ vẫn có những phẩm chất của những người nông dân giống nhau, đều hiền lành, chất phác, lương thiện. Khi cách mạng tháng Tám thành công đã đem đến sự đổi đời cho mỗi người nông dân. Từ một thân phận nô lệ phụ thuộc họ trở thành một người tự do làm chủ cuộc đời, làm chủ đất nước. Từ đó đã củng cố và làm nền tảng vững chắc cho tình yêu quê hương, đất nước, trở thành một tình cảm vững bền, thiêng liêng sâu nặng, nồng cháy. => Trong hoàn cảnh toàn dân đang hướng tới cuộc kháng chiến chống pháp, bảo vệ độc lập dân tộc, ông Hai đã biết đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu cá nhân của mình với làng chợ Dầu, ông dành tất cả cho cách mạng. Đó chính là nét đẹp trong con người ông Hai nói riêng và người nông dân Việt Nam nói chung. – Văn hào I li a, E ren bua có nói: …” Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu đồng quê trở nên lòng yêu tổ quốc. Ông Hai đúng là một con người như thế. Niềm vui, nỗi buồn của ông đều gắn bó với làng. Lòng yêu làng của ông chính là cội nguồn của lòng yêu nước. Luận điểm 4:. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ông Hai – Nhà văn Kim Lân đã khá thành công khi xây dựng nhân vật ông Hai, một lão nông cần cù, chất phác, yêu mến, gắn bó với làng quê như máu thịt. + Nhà văn đã chọn được một tình huống khá độc đáo là sự thử thách bên trong bộc lộ chiều sâu tâm trạng. + Tâm lý nhân vật được nhà văn miêu tả cụ thể, gợi cảm qua các diễn biến nội tâm, qua các ý nghĩ, cảm giác, hành vi, ngôn ngữ. Đặc biệt là nhà văn đã diễn tả đúng và gây được ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật. VD1 (tâm trạng): Khi nghe tin làng theo giặc thì bị dằn vặt, đau khổ: “Đã ba bốn hôm nay, ông Hai không bước chân ra đến ngoài, cả đến bên bác Thứ ông cũng không dám sang. Suốt ngày ông chỉ quanh quẩn trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng. …… thôi lại chuyện ấy rồi”. Khi tin đồn được cải chính thì “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”. VD2: Miêu tả đúng các “phản ứng” bằng hành động của một người nông dân hiền lành, chất phác và chưa đọc thông, viết thạo: Khi muốn biết tin tức thì: “ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm”. Khi nghe tin làng theo giặc thì “ông Hai cứ cúi gằm mặt xuống mà đi” rồi “nắm chặt hai bàn tay mà rít lên: “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. Khi tin đồn được cải chính thì “ông lão cứ múa tay lên mà khoe cái tin đồn ấy với mọi người. VD3: Ngoài ra còn phải kể đến các hành động, lời nói, suy nghĩ của nhân vật ông Hai trong mối quan hệ với các nhân vật khác như: Bà Hai, các con, mụ chủ nhà…. + Các hình thức trần thuật (đối thoại, độc thoại….) C. Kết bài (sgk) – Sức hấp dẫn của hình tượng nhân vật ông Hai. – Thành công của nhà văn khi xây dựng nhân vật ông Hai. VD: Qua truyện ngắn “Làng”, tác giả đã khắc hoạ thành công hình tượng một người nông dân yêu làng, yêu nước hồn nhiên chất phác nhưng xúc động. Hình tượng nhân vật ông Hai vừa phản ánh chân thực những nếp cảm, nếp nghĩ của người nông dân Việt Nam trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, vừa có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với nhiều thế hệ bạn đọc. Qua truyện ngắn này, ta có thể hiểu được một cách sâu sắc thêm về hình ảnh những người dân kháng chiến Việt Nam với tình yêu quê hương đất nước. Bài làm 2: Truyện ngắn Làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp? (Bài làm 2) 20:34 – 03/03/2014 iIi Love Is All You Need iIi Chưa có chủ đề Bài Làm Kim Lân là nhà văn rất am hiểu cuộc sống của người nông dân ở nông thôn miền Bắc. Tất cả các truyện của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân. Truyện Làng được Kim Lân sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp và đăng trên tạp chí văn nghệ năm 1948. Nhân vật chính của truyện là hình ảnh tiêu biểu và chân thực của người nông dân trong mới ngày đầu tiếp xúc với cách mạng, với lòng yêu làng, yêu nước sâu sắc, với sự hồ hởi say mê, tin yêu, chung thuỷ với kháng chiến, với Bác Hồ. Ông hai nhân vật chính trong truyện là một người yêu làng, yêu nước tình yêu làng của ông có những nét đặc sắc, riêng biệt được thể hiện thành một đức tính đáng quý. Là một nông dân suốt cuộc đời sống ở quê hương, gắn bó máu thịt với từngcon đường, từngnếp nhà, thửa ruộng, từngngọn cỏ, cành cây và biết bao người ruột thịt, xóm giềng, họ hàng gần xa, vậy mà giờ đây vì giặc ngoại xâm, ông 2 phải xa rời quê hương đi tản cư, sống nhờ nơi đất khách quê người. Do đó lòng ông đau đáu nhớ quê. Ban ngày lo bận việc sản xuất, ổn định cuộc sống, chiều rồi buổi tối ông hai lại sang haàg xóm giãi bày nỗi nhớ của mình. Trong câu chuyện, ông không ngớt lời khoe những cái đẹp, điều hay ở quê hương mình. Làng Chợ Dầu quê ông đẹp lắm, đường là phong quang sạch sẽ, cái cổng làng rộng như cổng thanh… Ông khoe cả cái “sinh phần”- lăng mộ- của viên tổng đốc người làng, mặc dầu đó là một chứng tích đau khổ của dân làng, trong đó có ông. Đặc biệt là ông hai khoái nhất khoe và kể nhiều nhất là những ngày đầu CMT8. Quê hương được giải phòng, thoát khỏi ách cươờghào phong kiến và lũ tay sai thực dân. Dân làng ông bắt đầu cuộc sống mới. Đêm đêm rậm rịch tiếng bước chân của đoàn du kích tập quân sự, sáng, chiều râm ran tiếng trẻ em học bài… lại cả những tiếng hát của thanh niên ngân vang trong những buổi cả làng bàn việc nước, việc dân… nghe những chuyện ấy, mọi người đều thông cảm với lòng nhớ quê da diết của ông. Không chỉ nhớ mà ông còn luôn tự hào, cho rằng làng chợ Dầu của ông đẹp nhất nhfi thiên hạ. Đó là một người yêu quê hương tha thiết bằng một tình cảm tự nhiên, hồn nhiên. Tình cảm đó bắt nguồn từ nững kỉ niệm trong cuộc sống hằng ngày,từ những sự vật, con người gắn bó hàng ngày … Tình cảm đó thuầnphác và trong sáng biết bao. Khi nghe tin làng chợ dầu theo Tây ông hai “cổ nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân”. Trước hết là sự xót xa của ông về làng mình, sự phản bội của nơi chôn rau cắt rốn của mình. Ông lão tủi hổ, bàng hoàng trước sự việc đó. Tình yêu làng vẫn thắm thiết trong ông, làng chợ Dầu vẫn là nới ông gửi gắm sinh mệnh, danh dự và niềm hãnh diện, tự hào. Vaỵa mà bây giờ… ông lão nghĩ tới việc trở về làng. Song ý nghĩ đó ông gạt phắt đi. Trong sự tuyệt vọng, đau khổ này, lối thoát về làng chợ Dầu loé lên như một tia hi vọng rồi lại tắt ngấm. Từ lau ông yêu làng ông, mong được trở về với làng ông song trong ông tình yêu nước mạnh hơn, thiêng liêng hơn: không vì làng mà bro nước, bỏ kháng chiến. Giưũa sự giằng co trong tâm hồn, ông hai đã thốt lên đầy đau đớn song đầy quyết tâm: “Làng thì yêu thật đấy, nhưng làng theo Tây thì phải thù.. Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông, cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì bao giờ dám đơn sai.” Khi ông tâm sự với con, ông Hai muốn bảo connhớ câu”nàh ta ở làng chợ dầu”. Đồng thời ông nhắc con- cũng là tự nhắc mình “Ủng hộ Hồ CHí MInh”. Tình quê và lòng yêu nước của những người nông dân ấy rất sâu nặng và thiêng liêng biết bao. Ông hai đã trải qua những buồn vui, đau khổ, những tự hào, chua chát, những nguyện vọng và hi vọng… hài hoà, gắn bó giưũa quê hương và tổ quốc. Trong cuộc kháng chiên gian khổ ấy thì cách mạng đã đổi đời cho những người nhân dân như ông, ông nguyện đi theo và trung thành với cách mạng. Gặt sangmột bên tình cảm riêng của mình mà đi theo kháng chiến, không chịu theo Tây, sống với Tây. Tình cảm gắn bó với cách mạng, với Bác Hồ của những người nông dân như ông nó chất phác, mộc mạc, sâu sắc, nó xuất phát từ đáy lòng, máu thịt. Thấy được tình yêu làng, yêu nước của ông hai, ta hiểu và cũng mừng cho sự hớn hở của ông hai khi ngeh tin làng mình theo Tây được cải chính. Tình yêu làng, tình yêu nước lại trở về gắn bó với nhau ngày càng sâu sắc, thắm thiết hơn trong lòng người nông dân chân chất này. Từ ngày ông hai không pảhi dằn vặt trong sự lựa chọn khắc nghiệt giữa làng và nước, cái vui của ông hai là cái vui của một con người yêu quê hương, đất nước sâu sắc. niềm vui khiến ông lão như trẻ con” lật đật,bô bô” kể về làng mình bị đốt nhẵn. Nhà của ông bị cháy rụi mà ông không để í, không đau buồn, ông chỉ biết rằng lúc này ông làm kháng chiến và ông lão bây giờ có thể tự hào, hãnh diện ngồi kể về cái làng chợ dầu kháng chiến của mình. Vốn là những con người chân thực, chất phác, những ngày đầu tiếp xúc với cách mạng họ vẫn có sự bỡ ngỡ và lạ lẫm ban đầu. Cảm giác ấy nhanh chóng tan đi, người ông dân đón nhận cách mạng với một tình cảm chân thành một lòng hăm hở. Cuộc đời nông dân Việt Nam rẽ sang một bước ngoặt mới tươi sáng hơn. Họ nô nức, háo hức hoà chung vào phong trào cách mạng cả nước, họ hăng hái cầm súng bảo vệ quê hương. Cách mạng trở thành một phần máu thịt của người nông dân, có những người như ông hai day dứt, tủi hổ, khổ sợ khi mình bị hiểu lầm là không trung thành với cách mạng song vẫn không bỏ cách mạng. Đó là lòng trung thành, là tình cảm sâu sắc, bền chặt mà người nông dândành cho cách mạng. Cách mạng Tháng Tám đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh trong lòng họ. người nông dân đứng lên kiên quyết giữ làng, giữ nước, đâu còn là hình ảnh con người khổ nhục,khiếp sợ từ tên đầy tớ nhà giàu. Họ- những người như ông hai đứng lên đào hào, đắp luỹ trực tiếp chống lại quân thù. Lòng yêu nước nồng nàn, sự trung thành với cách mạng tất cả trở thánh sức mạnh khiến họ đứng lên bảo vệ quê hương, bảo vệ chính mình. Cách mạng mang đến cho họ cuộc đời mới, họ phải bảo vệ lấy hạnh phúc đó của mình. Vẻ đẹp tâm hồn của ông hai làng Chợ Dầu tiêu biểu cho những người nông dân Việt Nam tuy trình độ văn hoá thấp nhưng đã có ý thức giác ngộ cao, tha thiết yêu quê hương, Tổ quốc. Nói cách khác, quê hương- Tổ quốc đối với mỗi người Việt Nam chúng ta luôn gắn bó trong niềm tự hào nồng thắm! Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trongtình yêu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà vănhọc thời kháng chiến chống pháp đã trú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý ấy! Bài làm 3: Truyện ngắn làng cho thấy những chuyễn biển trong tình cảm của người nông dân VN thời chống Pháp. Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921, quê ở Hà Bắc. Là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8. Là nhà văn am hiểu sâu sắc, gắn bó với nông dân và nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân. Truyện ngắn “Làng” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân được viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). Đây là một tác phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của ông Hai Tu, lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu quê hương, yêu làng sâu sắc của ông. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu chống Pháp. Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà, tha thiết, yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. Kể về làng chợ Dầu, ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát, sầm uất, đường trong làng lát toàn bằng đá xanh, trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng, không có lấy một hạt thóc đất. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông. Ông tự hào, vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo, có bề dày lịch sử. Nhưng khi cách mạng thành công, nó đã giúp ông hiểu dc sự sai lầm của mình. Và từ đó, mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. Ông còn khoe cả những hố, những ụ, những hào,… lắm công trình không để đâu hết. Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng, ông buộc phải xa làng. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. Vì vậy, nên lúc tản cư, ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. Quả thật, cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng. Tự hào và yêu nơi “ chôn rau cắt rốn” của mình trở thành một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ. Có thể tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản, nhỏ: cây đa, giếng nướ, sân đình… và nâng cao lên đó chính là: tình yêu đất nước. Tới đây, là chợt nhớ đến câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua: “lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu TQ “. Những ngày ở làng Thắng, ông Hai suốt ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng chợ Dầu và ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo tây. Cổ ông lão “ nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân” ông lão lặng đi, tưởng như không thể thở được. Ông cảm thấy đâu đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. Ông nguyền rủa bọn theo Tây: “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. Cũng chình từ lúc ấy, ông không dám đi đâu hết, suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa, ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông nảy ra ý định: “hay là quay về làng?” nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì: “ làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù.” Có thể nói với ông Hai, làng và nước bay giờ đã trở thành đối địch. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. Nhưng trong đó, tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên trên hết. Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người, nhất là tâm lí của người dân thì Kim Lân mới diễn tả đúng tâm trang nhân vật như vậy. trong những ngày này, nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện trong những lời trò chuyện của ông với đứa con út. Trò chuyện với con như là để thanh minh cho làng mình. Ông hỏi con: “con ủng hộ ai?” Thằng bá giơ tay mạnh bạo và rành rọt: “ Ùng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. Cái lòng của bố con ông là thế đấy “chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”. Thế rồi, một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc. Những nỗi lo âu, xấu hổ tan biến. Thay vào đó là nỗi vui mừng, sung sướng. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình không theo giặc, khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng, hả hê: “ bác Thứ đâu rồi! Bác Thứ làm gì đấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính, ông ấy cho biết… cái tin, cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! toàn là sai sự mục đích cả” Qua lời khoe củ ông Hai, điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn khi ngôi nhà của ông bị đốt. Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. Mọi đau khổ, buồn tủi đã được rũ sạch. Quả thật, Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai, một trong những người dân bấy giờ, đơn giản, chất phác, tiêu biểu cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng. Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây xựng truyện, nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. Lời nói của ông hai đúng là lời nói của những người nông dân thời bấy giờ, kể cả những từ dung sai: “bác Thứ đâu rồi… Láo! Láo hết! toàn là sai sự mục đích cả”. Bên cạnh đó Kim Lân còn thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Diễn biến tâm lý của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. Yêu làng đến nỗi đi đâu cũng khoe về làng. Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đau khổ, tủi nhục, và khi biết làng mình không theo giặc, ông sung sướng, thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng, hả hê. Xây dựng được những chi tiết ấy, miêu tả sự phát triển tâm lý nhân vật như vậy, Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình. Truyện “Làng” là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước, yêu làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm này. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân, mọi người một lòng theo Bác, theo Đảng khánh chiến đến cùng, có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ vang. Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài làm 4: Truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp? Truyện ngắn Làng được nhà văn Kim Lân sáng tác trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, in trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. Bối cảnh của truyện là những năm đầu kháng chiến. Theo lệnh của ủy ban xã, ông Hai cùng dân làng phải đi tản cư để tránh những trận càn lớn của giặc. Xa làng, ông nhớ cảnh, nhớ người, muốn về thăm nhà. Một hôm ra phố huyện, nghe đám người mới ở dưới xuôi lên bảo rằng dân làng Chợ Dầu theo giặc làm Việt gian, ông buồn lắm. Nhưng rồi ông băn khoăn ngẫm nghĩ, biết đâu chỉ là một sự nhầm lẫn nào đó? Kiểm điểm lại từng người trong óc, ông thấy ai cũng căm thù và quyết chiến với giặc. Trong lúc ông Hai đang day dứt, khổ sở thì bà chủ nhà lại muốn đuổi đi, không cho ở nhờ nữa vì gia đình ông là dân làng Chợ Dầu “phản động”. Ông Hai càng buồn tủi và xấu hổ. Bây giờ về làng là theo giặc, ở lại thì không được. Trong lúc ông Hai dường như tuyệt vọng thì chủ tịch làng Chợ Dầu lên tận nơi tản cư cải chính và thông báo tin chiến thắng của quân dân làng Chợ Dầu. Ông Hai vui lắm, đi đâu cũng kể về làng Chợ Dầu, tưởng như chính mình vừa cùng dân làng đánh giặc. Câu chuyện đã đề cập những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu kháng chiến chống Pháp. Khi đất nước đang bị xâm lược và cả dân tộc đang tiến hành cuộc kháng chiến gian khổ và hào hùng. Đó là tình yêu làng quê thống nhất với tình yêu nước và tinh thần kháng chiến. Hình ảnh người nông dân đã được tác giả thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động qua nhân vật ông Hai. Tình yêu của ông Hai đối với làng mình đã đến mức say mê, hãnh diện. Mọi niềm vui, nỗi khổ của ông gắn liền với vận mệnh của làng Chợ Dầu quê ông. Trong phần đầu truyện, tác giả thuật lại rằng, mỗi khi kể về cái làng Chợ Dầu nổi tiếng khắp vùng Kinh Bắc, ông Hai đều kể bằng giọng say mê náo nức lạ thường. Nào là làng mình nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh; nào là đường làng toàn lát đá xanh, trời mưa đi từ đầu Làng đến cuối làng không hề lấm gót, ngày mùa phơi thóc phơi rơm thì tốt thượng hạng… Yêu mến, hãnh diện về làng mình nên ông Hai mắc tật hay khoe. Theo ông thì cái gì của làng Chợ Dầu quê ông cũng hơn hẳn thiên hạ. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, cuộc sống của gia đình ông Hai có nhiều thay đổi, duy niềm tự hào về làng Chợ Dầu dường như vẫn y nguyên. Ở nơi tản cư, ông hay kể cho mọi người nghe về làng mình với những hố, những ụ chống càn, những giao thông hào chằng chịt như mạng nhện, những cụ phụ lão râu tóc bạc phơ vẫn tập đi một, hai, một, hai… Làng ông có chòi phát thanh cao nhất vùng, có nhà thông tin rộng rãi sáng sủa nhất vùng… Ông Hai rất kiêu hãnh về phong trào kháng chiến sôi nổi của làng Chợ Dầu. Ông đã tích cực cùng mọi người đào đường đắp lũy, rào làng kháng chiến, góp phần vào những thành tích đáng tự hào của quê hương. Tác giả đặt nhân vật vào một tình huống gay cấn để từ đó miêu tả những chuyển biến mới trong tình cảm của ông Hai. Tình huống ấy là cái tin làng Chợ Dầu theo giặc, mà chính ông nghe được từ miệng những người mới tản cư dưới xuôi lên. Khi nghe cái tin đột ngột ấy, ông Hai đau đớn, sững sờ: Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được… Lúc đã trấn tĩnh được phần nào, ông vẫn ngờ ngợ, nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt, lại khẳng định vừa ở dưới ấy lên, khiến ông không thể không tin. Ông cảm thấy đau đớn vì làng Chợ Dầu yêu quý của ông đã rời bỏ kháng chiến. Tủi nhục và xấu hổ, lúc nào ông Hai cũng nơm nớp lo sợ người ta để ý, bàn tán về dân làng Chợ Dầu theo giặc. Có lúc uất quá, ông nắm chặt tay, nghiến răng nguyền rủa: Chúng bay ăn miếng cơm hay ăn miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước đề nhục nhã thế này. Tác giả đã diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông Hai trước cái tin làng mình theo giặc. Ồng lão yêu làng tha thiết nhưng lại vô cùng căm uất khi nghe tin dân làng theo giặc. Hai tình cảm tưởng chừng mâu thuẫn ấy đã dẫn đến một sự xung đột nội tâm dữ dội. Ông Hai dứt khoát lựa chọn theo cách của ông: Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Đây là một nét mới trong tình cảm của người nông dân trong thời kì đánh Pháp. Tình cảm yêu nước rộng lớn hơn đã bao trùm lên tình cảm đối với làng quê. Dù đã xác định như thế, nhưng ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình yêu đối với quê hương; vì thế mà ông càng xót xa, cay đắng. Ông Hai càng bị đẩy vào tình thế bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà nơi tản cư muốn đuổi gia đình ông đi. Đi đâu bây giờ? Không ai muốn chứa chấp dân của cái làng Việt gian, cũng không thể quay về vì về làng tức là chịu quay về làm nô lệ cho Tây. Mâu thuẫn trong tình thế và trong nội tâm nhân vật dường như đã tới đỉnh điểm, đòi hỏi phải được giải quyết. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời, ông Hai oán giận làng mình. Không thể san sẻ với người ngoài, ông chỉ còn biết tâm sự với đứa con nhỏ cho vơi nỗi đau. Qua những lời tâm sự với đứa con nhỏ, thực chất là tự nhủ với mình, tự giãi bày nỗi lòng mình, ta thấy rõ ở ông Hai tình yêu sâu nặng với cái làng Chợ Dầu của ông. Ông muốn đứa con nhỏ ghi nhớ câu Nhà ta ở làng Chợ Dầu, thủy chung với kháng chiến, với cách mạng, với Cụ Hồ. Tình cảm ấy thật bền vững và thiêng liêng. Nhưng rồi nỗi đau khổ, nhục nhã đã được thay thế bằng niềm vui sướng, hân hoan. Ông Hai vội vã thông báo với mọi người cái tin làng ông bị giặc phá, nhà ông bị giặc đốt: Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. Ông chủ tịch làng em vừa lên cải chính… cải chính cái tin làng Chợ Dầu chúng em là Việt gian ấy mà. Ra láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là “sai sự mục đích” cả! Ông Hai mừng rỡ vì dân làng Chợ Dầu vẫn trung thành với kháng chiến. Làng Chợ Dầu vẫn xứng đáng với niềm tự hào của ông. Không nén nổi cảm xúc, ông Hai múa tay lên mà khoe. Nỗi khổ, niềm vui của ông Hai không bó hẹp trong phạm vi của bản thân và gia đình mà tất cả đều gắn liền với làng Chợ Dầu xứ Kinh Bắc. Càng yêu quê hương tha thiết bao nhiêu, ông Hai càng yêu nước nồng nàn bấy nhiêu. Ông hòa niềm vui thắng trận với làng quê khi đánh thắng giặc: Ông kể lại hôm Tây vào khủng bố. Chúng nó có bao thằng, bao nhiêu Tây, bao nhiêu Việt gian, đi những đường nào, đốt phá những đâu đâu và dân quân, tự vệ làng ông bố trí, cầm cự ra sao, rành rọt, tỉ mỉ, như chính ông lão vừa dự trận đánh giặc ấy xong thật… Qua truyện ngắn Làng của Kim Lân, chúng ta thấy tình cảm của người nông dân thể hiện qua hai khía cạnh: tình yêu và căm thù. Dù yêu hay ghét, tình cảm của người nông dân đều rõ ràng, dứt khoát. Mỗi người dân Việt Nam đều yêu thương, gắn bó với quê hương mình bởi đó là nơi tổ tiên, ông cha đã sinh cơ lập nghiệp bao đời; là nơi chôn nhau cắt rốn; nơi có những người thân yêu đang cần cù làm lụng một nắng hai sương. Vì vậy, lòng yêu mến làng quê đã trở thành tình cảm truyền thống của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là người nông dân Việt Nam. Yêu làng cũng là yêu nước. Ông Hai đã buồn vui, sướng khổ, đã kiêu hãnh, tự hào về làng Chợ Dầu quê hương ông. Đó chính là vẻ đẹp mới trong tâm hồn người nông dân thời kháng chiến chống Pháp đã được nhà văn Kim Lân khám phá và thể hiện rất thành công. Chúc các bạn học giỏi!
Truyện ngắn Làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp_
6,769
Đề: Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao giúp em hiểu gì về tình cảnh của người nông dân trước cách mạng? Gợi ý: Mở bài: Nói đến Nam Cao là phải nói đến Lão Hạc. Tác phẩm này được coi là một truyện ngắn hiện thực xuất sắc trong trào lưu hiện thực phê phán của thời kì 1930 – 1945. Truyện không những tố khổ người nông dân trước tai trời ách đất, trước xã hội suy tàn mà đáng chú ý hơn cả là đã nêu bật được hình ảnh một lão nông đáng kính với phẩm chất của một con người đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực yêu thương con, để lại trong lòng người đọc niềm xót xa, cảm thông và mến phục. Thân bài: I. Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao giúp ta hiểu về tình cảnh thống khổ của người nông dân trước cách mạng. 1. Lão Hạc. *Nỗi khổ về vật chất Cả đời thắt lưng buộc bụng lão cũng chỉ có nổi trong tay một mảnh vườn và một con chó. Sự sống lay lắt cầm chừng bằng số tiền ít ỏi do bòn vườn và làm thuê. Nhưng thiên tai, tật bệnh chẳng để lão yên ổn. Bao nhiêu tiền dành dụm được, sau một trận ốm đã hết sạch sành sanh, lão đã phải kiếm ăn như một con vật. Nam Cao đã dũng cảm nhìn thẳng vào nỗi khổ về vật chất của người nông dân mà phản ánh. * Nỗi khổ về tinh thần. Đó là nỗi đau của người chồng mất vợ, người cha mất con. Những ngày tháng xa con, lão sống trong nỗi lo âu, phiền muộn vì thương nhớ con vì chưa làm tròn bổn phận của người cha. Còn gì xót xa hơn khi tuổi già gần đất xa trời lão phải sống trong cô độc. Không người thân thích, lão phải kết bạn chia sẻ cùng cậu vàng 2. Con trai lão Hạc. Vì nghèo đói, không có được hạnh phúc bình dị như mình mong muốn khiến anh phẫn chí, bỏ làng đi đồn điền cao su với một giấc mộng viển vông có bạc trăm mới về. Nghèo đói đã đẩy anh vào tấn bi kịch không có lối thoát. Không chỉ giúp ta hiểu được nỗi đau trực tiếp của người nông dân, truyện còn giúp ta hiểu được căn nguyên sâu xa nỗi đau của họ. Đó chính là sự nghèo đói và những hủ tục phong kiến lạc hậu II. Truyện ngắn Lão Hạc giúp ta hiểu được vẻ đẹp tâm hồn cao quý của người nông dân. 1. Lòng nhân hậu. Con đi xa, bao tình cảm chất chứa trong lòng lão dành cả cho cậu vàng. Lão coi nó như con, cưu mang, chăm chút như một đứa cháu nội bé bỏng côi cút: lão bắt rận, tắm, cho nó ăn bằng bát như nhà giàu, âu yếm, trò chuyện gọi nó là cậu vàng, rồi lão mắng yêu, cưng nựng. Có thể nói tình cảm của lão dành cho nó như tình cảm của người cha đối với người con. Nhưng tình thế đường cùng, buộc lão phải bán cậu vàng. Bán chó là một chuyện thường tình thế mà với lão lại là cả một quá trình đắn đo do dự. Lão coi đó là một sự lừa gạt, một tội tình không thể tha thứ. Lão đã đau đớn, đã khóc, đã xưng tội với ông giáo mong được dịu bớt nỗi đau dằng xé trong tâm can. 2. Tình yêu thương sâu nặng. Vợ mất, lão ở vậy nuôi con, bao nhiêu tình thương lão đều dành cho con trai lão. Trước tình cảnh và nỗi đau của con, lão luôn là người thấu hiểu tìm cách chia sẻ, tìm lời lẽ an ủi giảng giải cho con hiểu dằn lòng tìm đám khác. Thương con lão càng đau đớn xót xa khi nhận ra sự thực phũ phàng: Sẽ mất con vĩnh viễn “Thẻ của nó …chứ đâu có còn là con tôi ”. Những ngày sống xa con, lão không nguôi nỗi nhớ thương, niềm mong mỏi tin con từ cuối phương trời. Mặc dù anh con trai đi biền biệt năm sáu năm trời, nhưng mọi kỷ niệm về con vẫn luôn thường trực ở trong lão. Trong câu chuyện với ông giáo, lão không quên nhắc tới đứa con trai của mình Lão sống vì con, chết cũng vì con: Bao nhiêu tiền bòn được lão đều dành dụm cho con. Đói khát, cơ cực song lão vẫn giữ mảnh vườn đến cùng cho con trai để lo cho tương lai của con. Hoàn cảnh cùng cực, buộc lão phải đứng trước sự lựa chọn nghiệt ngã: Nếu sống, lão sẽ lỗi đạo làm cha. Còn muốn trọn đạo làm cha thi phải chết. Và lão đã quyên sinh không phải lão không quý mạng sống, mà vì danh dự làm người, danh dự làm cha. Sự hy sinh của lão quá âm thầm, lớn lao. Đối với ông giáo người mà Lão Hạc tin tưởng quý trọng, cũng luôn giữ ý để khỏi bị coi thường. Dù đói khát cơ cực, nhưng lão dứt khoát từ chối sự giúp đỡ của ông giáo, rồi ông cố xa dần vì không muốn mang tiếng lợi dụng lòng tốt của người khác. Trước khi tìm đến cái chết, lão đã toan tính sắp đặt cho mình chu đáo. Lão chỉ có thể yên lòng nhắm mắt khi đã gửi ông giáo giữ trọn mảnh vườn, và tiền làm ma. Con người hiền hậu ấy, cũng là con người giàu lòng tự trọng. Họ thà chết chứ quyết không làm bậy. Trong xã hội đầy rẫy nhơ nhuốc thì tự ý thức cao về nhân phẩm như lão Hạc quả là điều đáng trọng. III. Truyện giúp ta hiểu sự tha hoá biến chất của một bộ phận tầng lớp nông dân trong xã hội đương thời: Binh Tư vì miếng ăn mà sinh ra làm liều bản chất lưu manh đã chiến thắng nhân cách trong sạch của con người. Vợ ông giáo vì nghèo đói cùng quấn mà sinh ra ích kỷ nhỏ nhen, tàn nhẫn, vô cảm trước nỗi đau của người khác. Kết bài: – Có thể nói Lão Hạc là điển hình về cuộc đời và số phận của người nông dân trong xã hội cũ. Lão là người nghèo khổ bị đẩy vào bước đường cùng, bị ức hiếp bị chà đạp vùi dập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp dưới bàn tay của XHPK. Hoàn cảnh của lão phải bán chó thâm chí phải tự kết liễu đời mình vì quá túng quẫn cơ cực. Dù trong hoàn cảnh nào lão vẫn ánh lên phẩm chất cao đẹp của người nông đân hiền lành lương thiện giàu tình yêu thương và giàu lòng tự trọng.
Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao giúp em hiểu gì về tình cảnh của người nông dân trước cách mạng_
1,143
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (bài phân tích đầy đủ) Hướng dẫn I. Tác giả, Tác phẩm: 1. Tác giả Kim Lân: Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, thế giới nghệ thuật của ông là khung cảnh nông thôn và những người nông dân thuần hậu, chất phác. 1944, tham gia hội văn hóa cứu quốc, hoạt động ăn nghệ phục vụ kháng chiến, CM. Ông viết văn, đóng phim (Ông từng tham gia đóng phim Lão Hạc trong Làng Vũ Đại ngày ấy, thống lí Pá Tra trong Vợ chồng A Phủ) Ông viết nhiều về cuộc sống làng quê. Trong tác phẩm của KL, lúc nào cũng thấp thoáng cuộc sống về con người của làng quê nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời. – Tác phẩm chính: (SGK) 2. Tác phẩm “Vợ nhặt”: a/ Hoàn cảnh sáng tác: – Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được viết ngay sau CMT8 thành công -> Đến 1954, ông dựa vào một phần cốt truyện cũ, viết truyện ngắn này. – Rút từ tập truyện “Con chó xấu xí” (1962) b/ Tóm tắt: Cái đói tràn đến xóm ngụ cư, cuộc sống tiêu điều, thê lương, ảm đạm. Tràng là một chàng trai nghèo khổ, xấu xí, ế vợ, lại là dân xóm ngụ cư bị người đời khinh rẻ. Chỉ một vài câu bông đùa và bốn bát bánh đúc mà Tràng lại nhặt được vợ trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Việc Tràng nhặt được vợ đã làm ngạc nhiên cho người dân xóm ngụ cư, bà cụ Tứ và cho chính bản thân Tràng. Trong “bữa cơm” đón nàng dâu mới, họ chỉ có rau chuối, muối hạt, niêu cháo loãng, nồi chè cám nhưng họ nói toàn chuyện vui. Tác phẩm kết thúc ở chi tiết vào buổi sáng hôm sau tiếng trống thúc thuế dồn dập, quạ đen bay vù như mây đen. Thị nói về chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật và Tràng nhớ lại hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới hôm nào. Ý nghĩa nhan đề: Chủ đề này được tác giả khéo léo gợi lên từ những chi tiết nghệ thuật, trước hết là nhan đề tác phẩm. Vợ: thiêng liêng trân trọng. Nhặt: nhặt nhạnh, lượm lặt một cách tình cờ vu vơ. “Vợ nhặt”: Nhặt được, lượm được vợ một cách tình cờ -> Kim Lân kết hợp hai khái niệm đối lập tạo nên nhan đề, thân phận con người như cọng rơm cọng rác bên đường. Cách đặt nhan đề gợi nỗi xót xa về sự rẻ rúng của thân phận con người, góp phần tạo nên sức hấp dẫn và thể hiện chủ đề chiều sâu tư tưởng của tác phẩm. Nhan đề Vợ nhặt còn tạo được ấn tượng, kích thích sự chú ý của người đọc. Không phải là cưới xin đàng hoàng theo phong tục truyền thống, mà là nhặt được vợ. Chuyện Tràng nhặt được vợ đã nói lên tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp 1945. Qua câu chuyện anh Tràng nhặt vợ giữa ngày đói, tác giả miêu tả cuộc sống khốn cùng của người nông dân trước CM; Đồng thời truyện còn ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn họ: dù “trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào, người dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm để mà vui mà hi vọng”. Bối cảnh xã hội: Hiện thực bi thảm của xã hội VN trong nạn đói năm 1945: nạn đói năm Ất Dậu 1945 – “hiểm họa” (chữ dùng của Kim Lân) Đầu năm 1940 phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân ta lâm vào tình thế một cổ hai tròng. Ở miền Bắc, Nhật bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, trong khi đó Pháp tăng thuế và ra sức vơ vét, bóc lột. Cái hoạ chết đói năm 1945 là quá khủng khiếp. Không chỉ đói xóm, đói làng mà đói nửa nước. Mùa xuân Ất Dậu 1945, từ Lạng Sơn đến Quảng Trị hơn 2 triệu người nằm xuống, cướp đi của nước Việt Nam ngót 1/10 dân số Trong “Hồ sơ nạn đói năm 1945” do phóng viên Quang Thiện thực hiện có đoạn viết “Hơn hai triệu người đã chết vì đói… Cả nhà đói, cả dòng họ đói, cả làng xóm cùng đói. Cái đói kinh hoàng năm 1945 ấy, người trẻ hôm nay sẽ không tưởng tượng nổi. Tình huống truyện: độc đáo, hấp dẫn. * Tình huống Tràng lấy vợ vừa kỳ quặc, vừa oái ăm, vừa vui mừng vừa bi thảm. – Tràng xấu xí, dân ngụ cư, nghèo khổ, ế vợ >< bỗng nhiên nhặt được vợ một cách dễ dàng. Tình huống truyện là hoàn cảnh mang tính nghịch lí đậm nét buộc nhân vật bộ lộ rõ tính cách, bản chất, tâm trạng, thân phận, góp phần thể hiện nổi bật tư tưởng của tác phẩm. Tình huống phải diễn ra đúng theo logic đời sống, người đọc không có cảm giác về sự bịa đặt. Ca dao có câu: Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà Trong ba việc ấy thật là khó thay Tục ngữ: Trăm năm tính cuộc vuông tròn Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông. Còn Tràng lại nhặt vợ dễ dàng, nhanh chóng, giữa chợ, chỉ nhờ mấy bát bánh đúc. Thông thường, lấy vợ trong lúc gia đình sung túc, ăn nên làm ra. Tràng lại có vợ trong hoàn cảnh đói khát. Cái đói tràn đến xóm ngụ cư bất ngờ và mạnh làm đảo lộn cuộc sống – Sự sống đang ngấp nghé bờ vực của cái chết. – Tràng đưa vợ về nhà trong hoàn cảnh không bình thường: đói khát, ngột ngạt, cái đói – cái chết vây phủ, đe dọa cuộc sống con người, nuôi thân chẳng xong. + Không khí +Anh sáng +Âm thanh +Thời gian + Con người -> Việc Tràng có vợ làm mọi người vừa ngạc nhiên, vui mừng, lo lắng. (dẫn chứng) -> Việc Tràng có vợ làm mọi người vừa ngạc nhiên, vui mừng, lo lắng. – Không gian năm đói: + một xóm ngụ cư tồi tàn “hai bên dãy phố úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa”, “bóng chiều nhá nhem” + Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người. + Âm thanh rợn người: “tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết”, tiếng hờ khóc tỉ tê của nhà có người chết đói. -> khung cảnh điêu tàn, rữa nát, tối sầm lại vì đói khát, cuộc sống người dân đi vào ngõ cụt. – Con người năm đói: +Người chết như ngả rạ, ngổn ngang khắp lều chợ + Người sống xanh xám, dật dờ như những bóng ma + Trẻ con ngồi ủ rũ không nhúc nhích. + Người lớn: Những khuôn mặt hốc hác u tối… -> cõi âm nhòa vào trong cõi dương, trần gian ngấp nghé miệng vực âm phủ, đời người, kiếp nhân sinh như một đống tro tàn lạnh ngắt. à Khung cảnh tiêu điều, xơ xác, gợi cảm giác thê lương. Cái đói hiện hình thành cái chết vây phủ, đe doạ cuộc sống con người Kim Lân so sánh con người lặng lẽ, dật dờ như những bóng ma. Cách so sánh này thể hiện cách nhìn đặc biệt của nhà văn Kim Lân về cái thời ghê rợn: cuộc sống được nhìn như một nghĩa địa khổng lồ, ranh giới giữa cái sống và cái chết chỉ mong manh như sợi tóc. Cách so sánh ấy tạo ra độ nhòe giữa cõi âm và cõi trần, phản ánh đúng cái thời sự sống mấp mé miệng vực của âm phủ. Ngay sau CMT8 thành công, Đảng ta xác định: cần phải diệt giặc đói! Tình huống gợi lên một nghịch cảnh: do đói khát, cùng quẫn người phụ nữ kia mới lấy Tràng. Cái trớ trêu trở thành một cơ hội may để Tràng có vợ một cách đáng thương. * Ý nghĩa: – Lên án tội ác tày trời của Pháp, Nhật đã đẩy nhân dân ta vào nạn đói khủng khiếp (năm 1945) làm cho giá trị của con người rẻ mạt (hiện thực) – Niềm tin vào bản chất của người lao động: dù trong đói khát, gần kề cái chết, họ vẫn luôn khát khao hạnh phúc, vẫn cưu mang đùm bọc nhau và tin tưởng vào tương lai tươi sáng.(Nhân đạo) – Tình huống truyện khiến diễn biến câu chuyện phát triển tự nhiên, làm nổi bật được những cảnh đời, những thân phận, chủ đề tư tưởng của tác phẩm.(Nghệ thuật). Tình huống truyện Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ, vừa hợp lí. Qua đó, tác phẩm thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật. Đây là tình huống độc nhất vô nhị trong cuộc đời và trong văn chương. Giữa cái chết chóc thê lương mà cuộc sống của họ lại nở hoa; Giữa cảnh đau thương mà niềm hoan hỉ của hôn nhân lại bừng sáng. Thì ra KL đã chạm đến đáy chiều sâu nhân bản của con người. Đó là khát vọng sống bất diệt cháy bùng lên giữa cảnh hấp hối, tàn hơi. Tình người giữa hoàn cảnh tối tăm a. Nhân vật Tràng – Là người xấu trai, kéo xe bò thuê, nghèo, ngô nghê. Một con người như thế thì khó có thể lấy vợ. Nhưng Tràng lại “nhặt vợ”, lại có vợ một cách đường hoàng, cứ y như anh chàng tốt số, đào hoa – Có tấm lòng nhân hậu + Trẻ con thích đùa với Tràng + Sẵn sàng cho người đàn bà xa lạ ăn vì đói. Chỉ bốn bát bánh đúc làm nên cỗ cưới, làm nên mối lương duyên. Ngòi bút KL đã đạt đến độ triết lí sâu sắc: Khi cái dạ dày chưa đủ thì thường tình cảm con người lại bị méo mó >< Tràng sẵn sàng giúp người đàn qua cơn đói khát, đưa về làm vợ trong hoàn cảnh cái chết, cái đói đang chờ -> Tình người cảm động, đáng trân trọng – Tràng nhặt được vợ hoàn toàn là một sự tình cờ: “chỉ tầm phơ tầm phào” vài bận gặp nhau, mấy lời bông đùa và bốn bát bánh đúc! – Diễn biến tâm trạng của Tràng: + Khi đưa vợ về nhà: bất ngờ, ngạc nhiên, vui sướng, hạnh phúc. + Về đến nhà: lo lắng, sợ sệt Tràng thô kệch nhưng không sỗ sàng, vụng về mà cũng biết ngượng nghịu, muốn thân mat nhưng không dám suồng sã. Tràng như quên hết cả đói khát để tận hưởng và cảm nhận được hết niềm vui sướng rất mới mẻ, rất lạ lẫm với Tràng. “Trong một lúc, Tràng hình như quên hết…. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm” + Sáng hôm sau: Tràng thấy người êm ái lửng lơ, nhận ra xung quanh đều thay đổi, thương yêu, gắn bó với ngôi nhà, thấy hắn nên người. Tràng ý thức được trách nhiệm, bổn phận và nghĩ đến tương lai. (tr.30) -> Hạnh phúc gia đình đã hoàn thiện nhân cách của Tràng => Cuộc đời Tràng tiêu biểu cho số phận của người nông dân nghèo trước CMT8 Những suy nghĩ chân thực, giản dị. Con người dù sống trong hoàn cảnh nào, dù là vực thẳm của sự đói khát vẫn luôn khao khát tình yêu hạnh phúc, mái ấm gia đình -> là nét sâu kín trong tâm hồn người lao động mà Kim Lân đã phát hiện và diễn tả một cách tinh tế. Nhà văn đã đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật để làm bật lên cái khát vọng hạnh phúc của con người nghèo khổ. b. Người vợ nhặt – Trước khi làm vợ Tràng: + Không tên, không gia đình. + Chỉ một thời gian ngắn giữa hai lần gặp, thị biến đổi thảm hại khiến Tràng không nhận ra Hôm nay thị rách quá…-> cái đói đã tàn phá hình hài. + Thị trơ trẽn, cong cớn, sưng sỉa, liều lĩnh, táo bạo, vì miếng ăn mà sẵn sàng theo không một người đàn ông -> cái đói hủy hoại nhân cách. – Sau khi làm vợ Tràng: + Đi bên cạnh Tràng: thị rón rén, e thẹn. + Về đến nhà: Khi thấy gia cảnh của Tràng -> nén tiếng thở dài… -> ngòi bút KL không nỡ xoáy sâu vào cảnh trớ trêu đó mà gieo vào lòng nhân vật một ngọn lửa tin yêu. Hạnh phúc không có chỗ cho kẻ thoái lui. Sự bế tắc về vật chất chưa phải là sự cùng quẫn về tinh thần! – khép nép, ngượng ngập, chỉ dám ngồi ở mép giường. + Gặp bà cụ Tứ: cúi đầu, vân vê tà áo, không dám ngồi + Sáng hôm sau: thị hoàn toàn thay đổi là người đàn bà hiền hậu,đúngmực… -> Tình thương yêu, sự đùm bọc, mái ấm gia đình đã cảm hóa và thay đổi tính cách con người. =>Điển hình cho thân phận của người phụ nữ Việt Nam khổ đau trước CMT8 c. Bà cụ Tứ – Lúc đầu bà ngạc nhiên, không hiểu, vì bà không dám nghĩ con trai mình lại có vợ, lại có vợ trong thời buổi đói khát này. – Khi hiểu ra, bà ai oán, xót thương, lo lắng. – Thương con, thương người dâu mới, bà nói toàn chuyện vui, gieo niềm hi vọng, niềm tin yêu cuộc đời cho hai con. Bà chăm chút cho bữa cơm tân hôn: cháo loãng và muối hột bày trên cái mẹt rách… và nồi chè cám mà bà luôn miệng khen: ngon đáo để -> thật thê thảm! Nhưng bữa cháo đã thành bữa tiệc. Cái món chè cám đắng chát và nghẹn bứ vẫn nuốt trôi đi như nuốt bao cay cực của cuộc đời. Vượt qua ranh giới của đói nghèo, chết chóc hướng tới sự sống bất diệt của tinh thần -> Điển hình cho bao người mẹ Việt Nam nghèo, giàu tình thương, bao dung, không nguôi khát vọng hạnh phúc. => Ba nhân vật của truyện là ba mảnh đời của một xã hội tối tăm, đói khát nhưng điều đáng quí là trong đe doạ của cái đói và sự chết chóc, con người vẫn khát khao hạnh phúc, tình yêu vẫn nảy nở và sự sống vẫn nhú mầm. Bà cụ Tứ đến giữa câu chuyện Bà cụ Tứ cả một đời không có lúc nào sung sướng nhưng bà vẫn tin vào tương lai. Điều đó chứng tỏ, dù trong nghèo đói, con người vẫn hướng đến ngày mai. – Viễn cảnh tương lai CM – Niềm tin của những người cùng khổ vào hạnh phúc của cuộc đời. Ba nhân vật của truyện là ba mảnh đời của một xã hội tối tăm, đói khát nhưng điều đáng quí là trong đe doạ của cái đói và sự chết chóc, con người vẫn khát khao hạnh phúc, tình yêu vẫn nảy nở và sự sống vẫn nhú mầm. Tắt Đèn, Bước Đường Cùng, Chí Phèo, … mới chỉ dừng lại ở lòng thương yêu, thông cảm với nỗi thỗng khổ của con người. – Vợ Nhặt không chỉ cảm thông mà còn hướng cho những con người đau khổ một hướng thoát, đó là con đường đến với cách mạng. Chi tiết người vợ nhặt nói về chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật và Tràng nhớ lại hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới hôm nào đã nói lên điều đó. Nghệ thuật: – Nghệ thuật kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn. – Xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn – Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế – Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị -Thời gian truyện vận động một cách tự nhiên, từ hoàng hôn ngày hôm tr­ước đến bình minh ngày hôm sau. Hé mở một sự vận động: tàn tạ đến niềm vui, từ bóng tối ra ánh sáng. – Truyện kết thúc theo lối mở: Nạn đói vẫn còn đó, tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập, như­ng xa xa thấp thoáng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng và hình ảnh từng đoàn ngư­ời đi phá kho thóc Nhật… Tất cả đang h­ướng về phía trước và một ngày mới dư­ờng nh­ư sắp sửa bắt đầu.. III. Tổng kết Truyện Kim Lân gợi triết lý nhân sinh với bao ngã rẽ cuộc đời phải chọn:giữa cái chết – sự sống, vật chất-tinh thần, đau khổ-hạnh phúc, tuyệt vọng-hy vọng… trong biển đời chìm nổi mênh mông. Câu hỏi luyện tập: Câu 1: Tình huống truyện trong tác phẩm “Vợ nhặt ”của nhà văn Kim Lân là gì? phân tích tình huống truyện đó? Câu 2: Phân tích và nêu ý nghĩa nhan đề của tác phẩm “Vợ nhặt ” Câu 3: Không gian của truyện được tác giả xây dựng như thế nào? Câu 4: Phân tích ngắn gọn diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng khi đưa người đàn bà xa lạ về nhà? Câu 5: Cụ Tứ là một hình tượng đẹp trong tác phẩm, chân dung của nhân vật này tác giả xây dựng như thế nào? Câu 6: Hình ảnh “người vợ nhặt” gợi cho anh chị những suy nghĩ gì? Câu 7: Truyện ngắn “Vợ nhặt ”có những đặc sắc gì về nghệ thuật?
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (bài phân tích đầy đủ)
2,865
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là bài ca ca ngợi tình người cao đẹp Hướng dẫn Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là bài ca ca ngợi tình người cao đẹp Bài làm Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân viết về cuộc sống ngột ngạt, bức bối, với nạn đói khủng khiếp năm 1945. Kim Lân không miêu tả kĩ cái hiện thực tàn khốc của nạn đói lúc bấy giờ mà tập trung thể hiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu sau cái bề ngoài xơ xác vì đói khát của những người nghèo khổ. Trong cảnh ấy, họ vẫn nhen nhúm niềm tin và hi vọng vào tương lai tươi đẹp. Trong “Vợ nhặt” xuất hiện ba nhân vật: Tràng, bà cụ Tứ và người vợ nhặt, thì bà cụ Tứ – mẹ anh Tràng đã gây được nhiều thiện cảm đối với người đọc hơn cả bởi tấm lòng nhân hậu, vị tha, đức hi sinh rất đáng trân trọng của bà. Cũng như nhân vật Tràng – hình tượng người nông dân hiền lành chất phác, giàu lòng yêu thương trong hoàn cảnh hết sức éo le ngang trái. Kim Lân đã để cho bà cụ Tứ xuất hiện ở giữa tác phẩm, thế nhưng bà cụ Tứ đã trở thành nhân vật trung tâm của tác phẩm. Khi miêu tả bà cụ Tứ, ngòi bút Kim Lân chân thực trong từng hình ảnh và từng chi tiết. Bà cụ Tứ hiện lên là một bà mẹ có số phận bất hạnh vì chồng bà chết sớm, đứa con gái út cũng mất sớm, bà chỉ còn lại một đứa con trai duy nhất làm nghề kéo xe bò và anh ta là người dở hơi. Chính vì vậy, hai mẹ con sống trong một căn nhà tồi tàn, rúm ró ở xóm ngụ cư và người con trai đang có nguy cơ ế vợ. Nỗi đau khổ, tủi nhục suốt đời đè nặng lên thân phận đã tạo nên tính cách của bà. Chân dung nhân vật bà cụ Tứ được tác giả giới thiệu dần dần. Bắt đầu là “tiếng người húng hắng ho”, rồi một bà lão với cái dáng “lọng khọng” từ đầu ngõ “vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng”. Tính từ “lọng khọng” rất dân dã và giàu chất tạo hình giúp người đọc hình dung ra cái dáng gầy gò, xiêu vẹo của bà mẹ già bởi gánh nặng cuộc đời, bởi cái đói nghèo. Và chính cái nghèo khó cũng làm trên khuôn mặt bà hiện lên một nét “bủng beo u ám”. Qua miêu tả ngoại hình bà cụ Tứ, mà chúng ta thấy được, đó là người mẹ có cuộc đời khổ cực, bất hạnh. Kim Lân rất khéo léo dẫn dắt để người đọc cùng suy nghĩ, cùng hòa vào những nét tâm trạng buồn vui của bà cụ Tứ. Tác giả đặt bà cụ Tứ vào một hoàn cảnh hoàn toàn bất ngờ. Giữa những ngày đói kém khủng khiếp năm 1945 “người chết như ngả rạ” và “không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”, rồi thứ tiếng “gào lên từng hồi thê thiết” của những con quạ đậu trên “mấy cây gạo ngoài bãi chợ”, thì đứa con trai của bà cụ bỗng dưng “nhặt” được vợ trong một lần kéo xe thóc bò của liên đoàn lên tỉnh và dẫn về nhà giới thiệu với mẹ mình. Chính những điều đó đã tác động rất mạnh khiến cho bà cụ Tứ xuất hiện nhiều nét tâm trạng đan xen. Những nét tâm trạng của bà thể hiện ở hai thời điểm chiều hôm trước và sáng hôm sau rất khác nhau, nhưng những tâm trạng của bà đều là sự nhìn nhận và suy ngẫm về chuyện lấy vợ của Tràng. Chiều hôm trước, bà cụ Tứ mang một tâm trạng ngạc nhiên khi từ ngoài ngõ đi vào, thấy thái độ khác thường của Tràng “reo lên như một đứa trẻ” và “lật đật chạy ra đón mình” thì bà lão theo con vào trong nhà với tâm trạng “phấp phỏng”. Đó là biểu hiện của sự lo lắng, của sự hồi hộp bởi bà không biết có sự gì sẽ đợi mình ở trong nhà. Khi đến giữa sân, nhìn thấy người đàn bà thì bà cụ ngạc nhiên “đứng sững lại” – một biểu hiện nữa của sự ngạc nhiên và đó là “sự ngạc nhiên hơn”. Điều đó chứng tỏ sự ngạc nhiên trong bà càng lúc càng nhiều, sự ngạc nhiên sau lớn hơn sự ngạc nhiên trước. Tác giả đã dùng ngôn ngữ độc thoại nội tâm để diễn tả tâm trạng băn khoăn, thắc mắc của bà cụ lúc này. Hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu óc già nua của bà: “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ?” Một loạt các câu hỏi ấy chính là sự lục tìm trong trí óc của mình để tìm câu trả lời cho thỏa đáng. Nhưng bà cụ vẫn chưa tìm thấy câu trả lời, vì thế mà bà đổ lỗi cho cặp mắt của mình, không tin vào mắt mình “bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải”. Bà lão “nhìn kĩ người đàn bà lần nữa, vẫn chưa nhận ra người nào” nên bà quay sang dò hỏi con trai với sự ngạc nhiên không hiểu của chính mình. Khi người đàn bà trông thấy bà cụ về, cất tiếng chào “U đã về ạ”, thì kể cả tiếng chào ấy – một lời chào thân mật cũng không làm bà hiểu ra. Bà vẫn băn khoăn, phân vân đoán định và một câu hỏi nữa đặt ra: “Ô hay, thế là thế nào nhỉ?” rồi bà lão “băn khoăn ngồi xuống giường”. Mãi đến khi Tràng vừa giới thiệu, vừa giải thích “đây là nhà tôi” rồi “chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau… Chẳng qua nó cũng là cái số cả” thì bà lão mới bắt đầu hiểu ra. Khi hiểu ra thì bà lão “cúi đầu nín lặng”. Cái tư thế “cúi đầu nín lặng” của bà cụ Tứ hàm chứa biết bao suy nghĩ, tâm sự, nỗi niềm và những tâm sự, nỗi niềm ấy khó có thể nói thành lời. Dường như qua tư thế đó, người đọc dần dần nhận ra nội tâm phong phú bên trong cái vẻ tưởng chừng như già nua, lẩm cẩm của bà. Trong bà cùng một lúc xuất hiện cả con người lí trí và con người tình cảm. Con người lí trí không chỉ giúp bà hiểu ra là con trai bà đã có vợ mà nó còn giúp cho bà hiểu ra những khó khăn, đói nghèo mà Tràng phải chịu đựng; rồi lại giúp bà hiểu ra chính số phận bất hạnh của đời bà khiến cho con bà sống trong hoàn cảnh trớ trêu như vậy. Còn con người tình cảm của bà tỏ ra rất “xót thương cho số kiếp đứa con mình”. Sự ai oán, sự xót thương đó vừa hướng tới chính mình, vừa hướng tới con bà, vừa thể hiện nỗi đau của bản thân, vừa mang tình thương tới người con trai. Bởi vậy cho nên bao cảm xúc của bà lão vừa tội nghiệp, lại vừa nhân hậu biết bao! Cảm xúc trong bà càng lúc càng cụ thể hữu hình: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái nở mặt sau này. Còn mình thì…”. Đọc câu văn này, chúng ta có cảm giác như trái tim người mẹ khốn khổ đang rung lên đau đớn, xót xa. Cảm xúc của người mẹ hàm chứa sự so sánh giữa người ta với con mình trong hoàn cảnh dựng vợ gả chồng cho con. Lối so sánh ấy làm nổi bật không phải chỉ sự thiếu thốn, khó khăn trong gia đình bà mà dường như còn hàm chứa sự trách móc của bà với chính bản thân. Một sự ai oán cho bản thân bà! Đó cũng chính là sự biểu hiện của sự day dứt trong lòng bà. Nhưng tất cả đều là biểu hiện của lòng nhân ái à lòng thương con rất tha thiết. Diễn biến câu chuyện đã lên tới đỉnh điểm. Cái sắc xảo, tinh tế trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Kim Lân được thể hiện khá đậm nét. Cả ba nhân vật đều có chung một tâm trạng căng thẳng. Tràng và người “vợ nhặt” chờ đợi người mẹ già nua lên tiếng. Bà cụ Tứ hiểu ra câu chuyện thì sự đau buồn của bà khiến cho bà lão “khẽ thở dài” vì bà muốn giấu đi nỗi buồn khổ và sự lo lắng của chính mình. Bà lão tạm thời bứt ra khỏi tâm trạng triền miên của cảm xúc suy tư để hướng về người vợ nhặt, để “đăm đăm nhìn người đàn bà” khi thị “cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt”. Bà lão không chỉ nhìn người con dâu bằng thị giác mà còn hướng tới con dâu bằng cả tấm lòng. Vì thế bà lão nghĩ: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…”. Trong suy nghĩ đó của người mẹ hướng tới hai đối tượng “người ta” và “con mình”. “Người ta” trở thành người mang ơn và “con mình” là người chịu ơn. Điều đó đã chứng tỏ người mẹ già không hề coi thường, khinh bỉ người vợ nhặt, mà còn cảm thông, trân trọng, mặc dù đó là người đàn bà rách rưới, nghèo đói và không gia đình. Từ tâm tình dành cho người vợ nhặt, bà lão lại nghĩ về bổn phận người làm mẹ, để tiếp tục day dứt “chẳng lo lắng được cho con…”. Bà đã phó thác, trông chờ số phận vào sự may rủi: “May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết làm thế nào mà lo cho hết được”. Hoàn cảnh thật bi đáp khốn cùng! Mặc dù lo lắng, mặc dù đau buồn nhưng dường như người mẹ đã chấp nhận “nàng dâu mới” tự lúc nào. Sau khi “khẽ dặng hắng một tiếng”, bà lão “nhẹ nhàng” nói với “nàng dâu mới”: “Ừ, thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…”. Một sự chấp nhận tự nguyện của người mẹ trong tâm trạng vui mừng. Hai tiếng “mừng lòng” mà bà lão nói với các con thật chất phác, chân tình biết bao! Lời nói mộc mạc ấy đã đem lại sự xúc động và yên tâm cho người vợ nhặt đáng thương kia. Sự chấp nhận của bà cụ Tứ khiến anh Tràng “thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi”. Bà mẹ nghèo khổ, nhân hậu đã thấu hiểu cảnh ngộ và tâm trạng của người phụ nữ xa lạ bỗng dưng trở thành “con dâu” của mình. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm ở đoạn này một lần nữa diễn tả tinh tế tâm trạng phức tạp của nhân vật bà cụ Tứ. Cảm xúc như những đợt sóng cứ cuộn lên trong lòng người mẹ, khiến người đọc xót xa. Chao ôi, người mẹ thật tội nghiệp!. Tình thương con, ý thức trách nhiệm của người mẹ khiến cho bà phải lo cưới vợ cho con bằng tất cả khả năng, dẫu chỉ là lời nói… Khi đã nhận “nàng dâu mới” thì bà cụ Tứ tiếp tục tâm sự, từ tốn dặn dò các con mình: “Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau”. Trong lời tâm sự của bà, có lời thú nhận rất chân thật là “nhà ta thì nghèo”. Từ cái lí do ấy thì bà mẹ đã nhắc nhở các con “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn”. Tuy nhắc nhở vậy, bà còn động viên các con mình bằng một câu nói rất quen thuộc trong dân gian: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời?”. Lời động viên đó thể hiện niềm lạc quan của người mẹ nghèo trong hoàn cảnh khốn cùng. Hơn nữa, bà lão còn gieo cho các con niềm tin vào tương lai. Quả là một lời động viên đáng quý, giúp cho các con bà có thể vượt qua giai đoạn khó khăn này. Tâm trạng của bà cụ Tứ lẫn lộn buồn vui, lo lắng. Trong lòng bà cụ vẫn luôn ám ảnh bởi cái nghèo, cái khổ khiến cho bà lão “đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài”. Trong lòng bà còn ám ảnh bởi cả sự bất hạnh về thân phận của bà. Bởi vậy, trong kí ức của bà lão “nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình”. Tất cả đã hiện về như một cuốn phim dài bất tận, như một tấn bi kịch của cuộc đời bà. Từ những cảm xúc đó, tâm trạng lo lắng lại một lần nữa hiện về trong bà, bà lo cho các con: “Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?…”. Mặc dù lo lắng nhưng bà vẫn cố gắng gần gũi với người con dâu bằng lời mời thân mật: “Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”. Lời mời ấy đã rút ngắn khoảng cách giữa người mẹ và “con dâu” và cũng đã an ủi người “vợ nhặt” ít nhiều. Lời mời của người mẹ thể hiện tình thương, sự chấp nhận “nàng dâu mới” của bà. Nổi bật hơn cả vẫn là tấm lòng thương xót của bà cụ Tứ với người con dâu mới: “Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ đã là con dâu trong nhà rồi”. Bà lão tiếp tục tâm sự với người vợ nhặt bằng những lời thân mật: “Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…”. Trong lời nói của bà cụ chứng tỏ bà là người rất hiểu đời và hiểu người. Bà hiểu rằng khi cưới xin cho con thì phải có vài ba mâm cỗ trước trình tổ tiên, ông bà, sau mời làng, mời xóm. Bà cũng hiểu được lòng người, hiểu được sự bao dung của mọi người, họ sẽ thông cảm cho cảnh nghèo của bà mà không chấp nhặt, tính toán. Bà cũng hiểu ra đạo lí tạo nên gắn kết vợ chồng chính là sự hòa thuận. Nói đến đây thì bà cụ “nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”. Những giọt nước mắt của bà cụ Tứ chất chứa bao tình thương hướng tới các con. Giọt nước mắt của bà là biểu hiện của tấm lòng bao dung, nhân hậu của người mẹ nghèo. Nó rất đáng quý hơn bao những vật chất tầm thường mà bà giành cho các con. Tâm trạng của bà cụ Tứ vào chiều hôm trước là sự đan xen cảm xúc lo lắng, vui mừng, xót xa, buồn tủi, thế nhưng vào buổi sáng của ngày hôm sau, thì tâm trạng bà luôn tràn ngập một niềm vui. Niềm vui ấy được thể hiện trên khuôn mặt của người mẹ: “bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cai mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”. Niềm vui còn được thể hiện qua hành động của bà: “xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa” với ý nghĩ “thu xếp của nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”. Bà không vui sao được khi con trai bà đã thành gia thất. Bà cũng vơi đi một mối lo âu bấy lâu cứ canh cánh bên lòng và trong bữa ăn đầu tiên của ba mẹ con, dẫu chỉ có “rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo” nhưng bà “toàn nói chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này”. Câu chuyện người mẹ già kể cho các con vào bữa cơm đầu tiên sau ngày cưới, mặc dù đó vẫn chỉ là chuyện làm ăn, chuyện gia cảnh nhưng trong câu chuyện của bà không còn có quá khứ mà chỉ có tương lai. Câu chuyện của bà thật giản dị! Đó là chuyện mua gà, nuôi gà, có đàn gà con mà người mẹ nói với Tràng: “Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà con mà xem…”. Chính câu chuyện vui của bà mẹ đã làm cho cuộc sống trở nên vui vẻ và đầm ấm hơn rất nhiều. Tuy vậy, trong bữa ăn càng lúc càng trở nên nghèo nàn khiến cho “câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng lại. Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn”. Thế nhưng, bà lão lại “lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút” và bà lão khen “chè khoán đây, ngon đáo để cơ”. Dường như bà lão cố xua đi cái không khí ảm đạm, cố gắng quên đi tình cảnh khốn khổ bằng thái độ tươi tỉnh. Bên trong cái vẻ tươi tỉnh ấy là tấm lòng người mẹ đang thổn thức lo âu. Bà lão “đãi” nàng dâu mới món ăn đặc biệt gọi là “cháo khoán”, nấu bằng cám, khen “ngon đáo để” và so sánh “xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”. Qua đó, bà động viên các con, để các con bà có thêm sức mạnh tinh thần để vượt qua “tao đoạn” ngặt nghèo, khó khăn này. Chi tiết này làm cho chúng ta cũng phải cảm động rơi lệ bởi tình thương, tấm chân tình đáng quý của bà. Kết lại đoạn văn là giọt nước mắt của người mẹ nhưng bà lão “ngoảnh vội ra ngoài. Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc”. Cái tài của Kim Lân là cứ nhẹ nhàng mà luồn lách ngòi bút động đến nơi sâu thẳm của tâm hồn. Ông đã diễn tả thật sâu sắc và tinh tế tâm lí của bà cụ Tứ, một người mẹ nghèo khổ mà hiểu biết, yêu thương con hết lòng và yêu thương cả những mảnh đời oái oăm, tội nghiệp bằng một tấm lòng nhân ái sâu xa. Bà đã cố gắng xua đi cái ám ảnh đen tối đáng sợ của thực tại và nhen núm niềm tin, niềm vui cho các con. Trong cái thân hình khẳng khiu, tàn tạ vì đói khát ấy vẫn nung nấu một ý chí sống mãnh liệt. Trong văn học Việt Nam, ngoài tình phụ tử như của Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao thì tình mẫu tử trong đoạn trích “Trong lòng mẹ” của nhà văn Nguyên Hồng thật đáng chân trọng. Người mẹ vì phải thoát khỏi cổ tục nghiệt ngã mà tha hương cầu thực nhưng vẫn yêu thương, hi sinh vì con mình. Hay người đàn bà hàng chài không tên trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu là người mẹ phải chịu sự hành hạ, đánh đập dã man của người chồng nhưng lại giàu tình thương, lòng bao dung, vị tha, giàu đức hi sinh, luôn sống vì con, hi sinh cho hạnh phúc của con. Và bà cụ Tứ cũng là một người mẹ nhân hậu, giàu đức hi sinh, hết lòng yêu thương con. Qua truyện ngắn “Vợ nhặt”, nhà văn Kim Lân đã dựng lên hình ảnh chân thực và cảm động về một người mẹ nghèo khổ hết lòng vì con. Ngòi bút tinh tế, sắc xảo của tác giả đi sâu phân tích diễn biến tâm lí phức tạp của bà cụ Tứ và thể hiện qua từng lời nói, ánh mắt, trong suy nghĩ, hành động và sự lo xa cho tương lai các con. Phải là người có vốn sống phong phú, thấu hiểu và thông cảm, yêu mến và chân trọng những người nghèo khổ thì Kim Lân mới có thể diễn tả một cách chân thực và tài tình đến vậy. Còn Tràng được Kim Lân xây dựng là một gã trai nghèo khổ, dân cư ngụ, làm nghề đẩy xe bò thuê, nuôi mẹ già. Dân cư ngụ là nhưng người vốn từ nơi khác đến. Vì thế, dân cư ngụ không có ruộng đất, những thứ vô cùng quan trọng đối với người nôn dân thời xưa. Đã vậy, họ còn bị phân biệt đối xử, thường phải ở nơi bìa làng, hoặc ở chỗ hẻo lánh. Nhà cửa của anh ta, cái được gọi là “nhà” thì luôn vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại. Hơn nữa, vì là dân ngụ cư, Tràng bị coi khinh, chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về. Tràng là người vô tư, nông cạn.Tràng là người hầu như không biết tính toán, không ý thức hết hoàn cảnh của mình. Anh ta thích chơi với trẻ con và chẳng khác chúng là mấy. Mỗi lần Tràng đi làm về, trẻ con trong xóm cứ thấy cái thân hình to lớn, vập vạp của hắn dốc chợ đi xuống là ùa ra vây lấy hắn, reo cười váng lên. Rồi chúng, đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Khi ấy, Tràng chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Anh với lũ trẻ con như anh em, bè bạn và cái xóm ngụ cư ấy mỗi chiều lại xôn xao lên được một chút. Ngay cả chuyện quan trong như lấy vợ, Tràng cũng chỉ quyết định trong chốc lát. Đó là lần gò lưng kéo cái xe thóc vào dốc tỉnh, Tràng hò một câu chơi cho đỡ nhọc. Chủ tâm của anh ta là vui đùa. Thế rồi, một người đàn bà đang đói bám lấy để được ăn bánh, Tràng cũng vui vẻ chấp nhận. Lần thứ hai, cô ta tới ăn vạ, Tràng chấp nhậ đưa về nhà để thành… vợ chồng! Thật, xưa nay chưa có ai quyết định việc lấy vợ nhanh chóng như Tràng! Tràng là người đàn ông nhân hậu phóng khoáng.Thật ra, ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ. Thấy người đàn bà đói, anh cho ăn. Khi thấy thị quyết theo mình thì Tràng vui vẻ chấp nhận. Tràng lấy vợ trước hết vì lòng thương đối với một con người đói khát hơn mình. Khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ, Tràng đã có ý thức chăm sóc: Hôm ấy hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê… Anh còn mua 2 hào dầu thắp để vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí. Lấy nhau chẳng phải vì tình, lại “nhặt vợ” một cách dễ dàng, nhưng không vì thế mà Tràng coi thường người vợ của mình. Anh muốn làm cho người ấy được vui (khoe mua dầu về thắp sáng), có lúc muốn thân mật nhưng không dám suồng sã. Tràng trân trọng, nâng niu hạnh phúc mà mình có được: Trong lúc Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe doạ, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghò khổ ấy, nó ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt ve nhẹ trên sống lưng. Sau khi lấy vợ, Tràng trở thành một người sống có trách nhiệm. Anh ngoan ngoãn với mẹ, tránh gợi niềm tủi hờn ở người khác. Đặc biệt, đối với Tràng, có vợ là bước sang một quãng đời khác: Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người êm ái lửng lơ như người vừa trong mơ đi ra. +Từ một anh phu xe cục mịch, chỉ biết việc trước mắt, sống vô tư, Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi, đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay. Trong ý nghĩ cua anh lại vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm keo nhau đi trên đê Sốp để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ to lắm. Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng ân hận, tiếc rẻ và trong óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới… Tràng đã mở đầu cho câu chuyện Vợ nhặt bằng những bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào buổi chiều chạng vạng mặt người và cũng chính anh đã kết thúc câu chuyện ấy vào buổi sớm mai với một hình ảnh mới lạ về đoàn người nghèo đói vùng lên dưới bóng lá cờ đỏ bay phất phới. Cuộc đời của Tràng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám. Khi chưa có nạn đói thì nghèo đến nỗi không lấy nổi vợ (con trai lão Hạc trong tác phẩm cùng tên Nam Cao cũng vì nghèo không lấy vợ, phẫn chí mà bỏ đi làm mộ phu), trong nạn đói lại lấy vợ, niềm hạnh phúc đan xen với bất hạnh. Cuộc đời của những người như Tràng nếu không có một sự thay đổi mang tính đột biến của cả xã hội sẽ sống mãi trong sự tăm tối, đói khát. Ở Tràng, tuy chưa có được sự thay đổi đó, nhưng cuộc sống đã bắt đầu hé mở cho anh một hướng đi. Đó là con đường đến với cách mạng một cách tự nhiên và tất yếu mà những người như Tràng sẽ đi và trong thực tế lịch sử, người nông dân Việt Nam đã đi. Tóm lại, truyện ngắn “Vợ nhặt” không đơn thuần là những trang văn mà là những trang đời thấm đẫm nước mắt tủi cực, xót xa, phấp phỏng nỗi lo cho hiện tại và le lói niềm tin vào tương lai của bà mẹ nghèo. Hình ảnh bà cụ Tứ khiến người đọc rung động sâu sắc trước tấm chân tình tha thiết của người mẹ già. Người mẹ già ấy chính là ánh sáng le lói trong bối cảnh bi thảm của những kiếp người nghèo khổ. Nhân vật bà cụ Tứ đã làm cho giá trị nhân đạo của tác phẩm trở nên thấm thía, cảm động hơn rất nhiều. Bà cụ Tứ đã đọng lại trong lòng người đọc bao suy nghĩ và rung động sâu xa. Qua nhận vật Tràng, không những nhà văn phản ánh một mặt trận đen tối trong hiện thực xã hội trước năm 1945 cùng số phận của người dân nghèo mà còn phát hiện vẻ đẹp tâm hồn cua họ. Kim Lân đã tiếp nối những trang viết giàu chất nhân bản về người lao động bình thường của những nhà văn trước đó như Ngô Tất Tố, Thạch Lam, Nam Cao… Một bức tranh thật đẹp về tình người, dù có rơi vào hoàn cảnh như thế nào thì nhân cách của họ vẫn đáng để chúng ta phải tôn trọng và nể phục. Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là bài ca ca ngợi tình người cao đẹp”qua việc xây dựng và khắc họa ngoại hình, hành động cũng như tính cách của nhân vật Tràng và cụ Tứ. Vo nhat – bai ca tinh nguoi
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là bài ca ca ngợi tình người cao đẹp
4,967
Truyện Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng Trong cuộc sống, ai cũng cần có một nghề để lao động, kiếm sống và để phục vụ, hỗ trợ cho mọi người. Làm nghề nào cũng phải có đạo đức. Nhưng có hai nghề đòi hỏi đạo đức cao nhất là nghề dạy học và làm thuốc. Đạo đức của người thầy thuốc gọi là y đức. Trong lịch sử nước ta từng sáng lên những danh y nổi tiếng nêu cao y đức. Đó là Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác,… Đọc truyện Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng của Hồ Nguyên Trừng (trong tập Nam ông mộng lục) chúng ta được biết thêm một danh y nữa: cụ Phạm Bân, mang chức Thái y lệnh dưới triều đại nhà Trần. Qua lời kể ngắn gọn theo cách ghi chép chuyện thật, việc thật, có lựa chọn những tình huống gay cấn, tác giả giới thiệu và tôn vinh một tấm gương thầy thuốc chân chính vừa giỏi nghề vừa giàu lòng nhân hậu, quyết tâm cứu người bệnh trọng mà không sợ quyền uy. Câu chuyện gồm ba đoạn, mỗi đoạn toát ra những vẻ đẹp của vị Thái y lệnh và một số người có liên quan. 1. Đoạn một: Từ đầu đến… “được người đương thời trọng vọng”: giới thiệu khái quát họ tên, chức vụ và y đức của vị Thái y lệnh. Điều khiến người đọc truyện có ấn tượng nhất là tấm lòng nhân đạo bao la, tình yêu nghề nghiệp, sống hết mình với nghề của người thầy thuốc. Ngài đã dốc hết của cải trong nhà mua thuốc và thóc gạo để vừa chữa bệnh vừa cứu đói cho bệnh nhân. Trước bệnh nhân, ngài không nề hà bất cứ việc gì. Máu mủ bẩn thỉu ư, bệnh dịch truyền nhiễm ư, người đói kém, kẻ khốn cùng ư,… ai đến với ngài, ngài đều “chữa tới khi khoẻ mạnh”. Ngài tự bỏ tiền dựng thêm nhà, ngày nay gọi là bệnh viện cho người bệnh. Hàng ngàn người gặp tai họa đã được ngài cứu sống… Tác giả chỉ nhẹ nhàng tóm tắt những việc làm, cách cư xử và kết quả công việc của đức Thái y lệnh mà hình ảnh một thầy thuốc chân chính, yêu nghề, thương yêu con người đã hiện lên rõ nét. Không một lời bình luận, nhận xét trực tiếp cất lên, nhưng người viết vẫn ngầm bày tỏ tấm lòng kính trọng, tôn vinh đối với vị Thái y lệnh họ Phạm. Còn chúng ta ngày nay, sau khi đọc câu cuối đoạn “Ngài được người đương thời trọng vọng” cũng muốn nghiêng mình bái phục vị danh y ấy. a)Sự việc thứ nhất: Có một người bệnh đang nguy kịch, một người đàn bà “máu chảy như xối, mặt mày xanh lét”, cần lương y đến cấp cứu. Nghe lời báo tin và lời mời của người nhà bệnh nhân, vị lương y vội đi ngay. Đó là một hành động đúng đắn của người thầy thuốc có trách nhiệm. b) Sự việc thứ hai: Vừa ra tới cửa, lương y gặp sứ giả nhà vua báo tin: Vua triệu vào cung khám bệnh cho một quý nhân – người quyền quý đang bị sốt. Thế là tình huống gay cấn xảy ra. Một bên là người đàn bà đang nguy kịch, bên kia là một quý nhân đang ốm. Cả hai đều cần tới thầy thuốc. Nhưng sự nặng nhẹ thì khác nhau, sự giàu nghèo khác nhau, chức tước, địa vị khác nhau và… bổng lộc cũng khác nhau. Dân gian có câu: “Nhà nghèo sổ ruột không bằng công chúa đứt tay”. Nếu là một thầy thuốc bình thường trước tình huống này chắc sẽ lưỡng lự. Nhưng vị Thái y lệnh không chút băn khoăn, quyết định cứu người đàn bà thường dân trước, sau đó mới đến vương phủ. Đối. với ngài, ai mắc bệnh nặng hơn thì cần cứu trước, còn mọi điều kiện khác đều không đáng quan tâm. Thái độ và sự lựa chọn ấy thật đúng đắn, nhiều thầy thuốc chân chính thường xử sự như thế. Song… c) Sự việc thứ ba: Vị quan Trung sứ – người của triều đình đến triệu Thái y vào cung lại tỏ ý trách ngài: “Phận làm tôi, sao được như vậy? Ông định cứu tính mạng người ta mà không cứu tính mạng mình chăng?”. Tình huống gay cấn tăng lên. Lời viên quan đặt trước vị lương y một sự lựa chọn mới. Nếu ngài đi chữa bệnh cho người dân trước thì sẽ phạm vào tội coi thường tính mệnh quý nhân, chống lại lệnh của vua, rất có thể bị trị tội, nhẹ thì bị phạt đòn, cầm tù, nặng có thể… rơi đầu. Hai mạng người đã được đặt lên bàn cân: mạng người dân và mạng người thầy thuốc. Hai công việc đòi hỏi vị lương y chọn một: cứu sự sống của người bệnh hay giữ lấy sự sống của bản thân mình? Viên Trung sứ không giảng giải, thuyết phục mà dùng hai câu hỏi liên tiếp như muốn dùng quyền uy ép buộc vị lương y theo mình về phủ, ép người thầy thuốc chân chính bỏ dân thường để chữa bệnh cho quý nhân, bỏ mạng sống đang mong manh của người bệnh để giữ lấy mạng sống của mình. Song ngài Thái y lệnh đã khảng khái đáp: “Người kia không được cứu, sẽ chết trong khoảnh khắc, chẳng biết trông vào đâu. Tính mệnh của tiểu thần còn trông cậy vào chúa thượng… Tội tôi xin chịu”. Thế là ngài đã dứt khoát chọn việc chữa bệnh, chứ không tìm cách bảo vệ chức tước, địa vị, tính mạng mình. Ngài quyết định cứu mạng cho bệnh nhân mà không sợ quyền uy, không quan tâm sự sống của mình. Lời ngài vừa cứng cỏi, hiên ngang “Tội tôi xin chịu” vừa khôn khéo, dịu dàng “Tính mệnh của tiểu thần còn trông cậy vào chúa thượng”. Ngài quả là người thầy thuốc chân chính thương dân nghèo, nêu cao y đức, cũng là một bề tôi biết kính trọng và tin tưởng ở nhà vua. 3. Đoạn ba: Kết thúc câu chuyện, tác giả tóm tắt danh vọng, bổng lộc mà con cháu ngài Thái y lệnh đã thừa kế và phát huy y đức của ngài. Cách viết tương tự đoạn một, tạo nên một kết cấu hài hoà, cân đối. Đồng thời, cái kết thúc ấy cũng toát ra một triết lí nhẹ nhàng, thấm thía. Cha mẹ gieo nhân nào, thì con cháu được gặt quả ấy. Ngài Thái y lệnh đã sống và làm nhiều việc nhân đức, xả thân cứu người mà không sợ quyền uy, được nhân dân yêu quý, nhớ ơn, được vua quan nể trọng. Con cháu ngài, nhờ đó mà noi gương y đức, gặt hái được nhiều phúc lộc ở đời. Tính giáo huấn của câu chuyện từ mở đầu, đến kết thúc như vậy là trọn vẹn, thể hiện rõ nét đặc điểm nổi bật của loại truyện trung đại. Với hình thức ghi chép chuyện thật, trong đó biết xoáy vào một vài tình huống gay cấn để tính cách nhân vật được bộc lộ rõ nét, truyện Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng ca ngợi phẩm chất cao quý của vị Thái y lệnh họ Phạm, đời Trần: không chỉ có tài chữa bệnh mà quan trọng hơn là có lòng thương yêu và quyết tâm cứu sống người bệnh tới mức không sợ quyền uy, không sợ mang vạ vào thân. Đọc truyện này, liên hệ với câu chuyện về danh y Tuệ Tĩnh, tham khảo thêm mấy câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu: Phương nào cứu đặng, mau mau tự lành. Đứa ăn mày cũng trời sinh, Bệnh còn cứu đặng, thuốc dành cho không. và lời thề của danh y Hi-pô-cơ-rát: “Tôi không lấy tiền thù lao quá đáng và sẽ chăm sóc miễn phí cho người nghèo”, chúng ta hiểu rằng trên đời này có rất nhiều thầy thuốc nêu cao y đức. Tổ tiên là như vậy. Con cháu ngày nay chắc chắn sẽ noi gương. Y đức của các bác sĩ, y tá, dược sĩ của chúng ta… đáng kính trọng, đáng tin tưởng xiết bao!
Truyện Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng Ngữ Văn 6
1,416
Truyện “Tôi đi học” của Thanh Tịnh là những trang văn xuôi đầy chất thơ. Nêu cảm nhận của em về chất thơ ấy? Hướng dẫn Truyện “Tôi đi học” của Thanh Tịnh là những trang văn xuôi đầy chất thơ. Nêu cảm nhận của em về chất thơ ấy? Bài làm Với nhà văn Thanh Tịnh, những tác phẩm của ông được xét là hay thì đều có chất thơ và những bài thơ hay thì dường như đều có cốt truyện. Tiêu biểu cho chất thơ của Thanh Tịnh là truyện ngắn “ Tôi đi học”. Đây là một tập truyện rất hay và đầy chất thơ ca. Có thể hiểu nôm na về chất thơ rằng, đó là một nét đẹp tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của truyện ngắn Tôi đi học. Chất thơ trong Tôi đi học được biểu hiện một cách rõ nét, đậm đà qua những cảnh vât, tâm trạng, tình tiết vô cùng dạt dào và tràn đầy cảm xúc. Chất thơ được thể hiện ở chỗ truyện ngắn không có cốt truyện mà chỉ là dòng chảy cảm xúc, là những tâm tư tình cảm của một tâm hồn trẻ dại trong buổi khai trường đầu tiên với những cảm xúc ngọt ngào, man mác buồn nhưng cũng rộn rã tưng bừng khi được sắp sách tới trường. Chất thơ toát lên từ những cảnh vật tưởng chừng như thân thuộc, giản đơn nhất. Đó là cảnh một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã đi quen, lại lắm lần nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. Chất thơ còn thể hiện ở cảnh mấy cậu học trò nhỏ quần áo tươm tất, nhí nhánh gọi tên nhau, trao sách vở cho nhau xem. Cảnh sắc của con đường tựu trường của tuổi thơ trở nên rất thơ mộng và trong trẻo. Đó là vào thời điểm cuối thu, là ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc. Chất thơ còn tỏa ra từ giọng nói ân cần, cắp mắt hiền lạ của ông đốc, rồi hình ảnh thầy giáo lớp Năm đón học trò với gương mặt tươi cười cũng trở nên đậm chất thơ. Trong truyện, Thanh Tịnh đã bốn lần nhắc đến bàn tay mẹ: “mẹ tôi ân cần nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng; bàn tay mẹ cầm thước bút cho con lúc đứng xếp hàng, đứa con cảm thấy có một bàn tay dịu dàng của mẹ đẩy con tới trước như khích lệ. Hơn thế nữa, khi đứa con bé bỏng ngơ ngác thì bỗng chốc “ một bàn tay quen nhẹ miết mái tóc” của con. Qua đó có thể thấy, hình ảnh bàn tay mẹ được tác giả miêu tả thật tinh tế, giàu cảm xúc, làm bật lên tình yêu, sự quan tâm vô bờ bến của mẹ dành cho con. Bằng giọng văn nhẹ nhàng, chất thơ của “ Tôi đi học” còn được thể hiện qua những hình ảnh so sánh đầy thi vị qua hai câu đầu của truyện. Không chỉ vậy, hình thức thể hiện, trình bày văn bản cũng thể hiện được chất thơ của “ Tôi đi học”. Không chỉ vậy, chất thơ của bài văn còn thể hiện ở chỗ, gợi cho người đọc sự đồng cảm. Chắc hẳn ai ai trong chúng ta, khi đọc bài văn sẽ thấy hình ảnh của mình ở trong đó, nhớ về những kỷ niệm đẹp đẽ của tuổi ấu thơ, của những ngày đầu tiên được cắp sách tới trường với bạn bè, thầy cô.
Truyện “Tôi đi học” của Thanh Tịnh là những trang văn xuôi đầy chất thơ. Nêu cảm nhận của em về chất thơ ấy _
623
Trách nhiệm của học sinh trong cộng đồng Hướng dẫn Trách nhiệm của học sinh trong cộng đồng I. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI Đề bài yêu cầu các em tự chọn nội dung cuộc họp (có thể là: vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ của công, tôn trọng luật đi đường v.v…).. Dựa vào cách thức tổ chức cuộc họp tổ mà em đã tiến hành làm bài ở tuần trước để giải quyết yêu cầu của đề bài này. Trình tự cuộc họp tổ tiến hành tương tự như đề bài trước đây, chỉ khác về mặt nội dung. Vì vậy, em chỉ cần tìm và suy nghĩ về những nội dung mà cả tổ quan tâm để cuộc họp diễn ra được sôi nổi. II. NHỮNG BÀI VĂN THAM KHẢO Bài làm 1 a) Lí do và mục đích cuộc họp: Thưa các bạn! Hôm nay, tổ ta họp về việc bảo vệ cây xanh ở khu vực trường và xung quanh lớp học của ta, góp phần cùng cả lớp và toàn trường thực hiện tốt phong trào “xanh trường đẹp lớp”. b) Tình hình bảo vệ cây xanh ở trường ta, lớp ta hiện nay: Qua cuộc họp lớp cuối tuần vừa qua, các bạn đã nghe cô chủ nhiệm nói rất nhiều về việc bảo vệ cây xanh ở khu vực trường hiện nay. Nhiều cây xanh đã bị xâm hại, nhất là những cây còn nhỏ luôn bị ai đó trảy lá, bẻ cành, làm cho chúng không lớn được. Nhà trường yêu cầu học sinh các lớp phải có ý thức bảo vệ cây xanh trong khung trường. Riêng cây xanh quanh khu vực lớp nào thì lớp đó phải chịu trách nhiệm bảo vệ. Vì vậy, theo ý kiến của cô chủ nhiệm, lớp ta có 12 cây xanh xung quanh lớp, chia đều cho 4 tổ. Mỗi tổ 3 cây. Tổ ta có 3 cây ở phía trước lớp. Tôi đề nghị các bạn thảo luận bàn biện pháp bảo vệ những cây đó. c) Biện pháp thực hiện: Sau khi thảo luận, các ý kiến đều thống nhất cách thức bảo vệ các cây xanh như saụ: – Các cây còn nhỏ cần phải có hàng rào che chắn. – Phải thường xuyên tưới nước cho cây. – Tổ có 12 người chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm chịu trách nhiệm chăm sóc bảo vệ 1 cây. – Tổ trưởng chịu trách nhiệm phân công cụ thể các cá nhân vào trong từng nhóm và định ra ngày cụ thể làm rào che chắn cho cả 3 cây. Bài làm 2 a) Lí do và mục đích cuộc họp: Thưa các bạn! Cuộc họp mặt của tổ ta hôm nay là bàn về việc ‘Thực hiện tốt luật đi đường” mà nhà trường đã phát động tuần qua, góp phần giảm bớt tình hình tai nạn giao thông trên đường bộ. b) Tình hình thực hiện luật giao thông ở trường ta, lớp ta hiện nay; Theo yêu cầu của cô chủ nhiệm trong buổi họp lớp cuối tuần vừa rồi, nhằm hưởng ứng phong trào “Thực hiện nghiêm chỉnh luật giao thông” mà nhà trường phát động. Trong thời gian vừa qua, theo thông tin của cô chủ nhiệm cho biết tin toàn trường ta xảy ra 3 vụ tai nạn giao thông, làm bị thương 3 bạn phải đưa đi cấp cứu. Vì vậy, cuộc họp này chúng ta trao đổi thảo luận, để mỗi cá nhân chúng ta khi đi đường luôn luôn có ý thức thực hiện tốt luật giao thông. c) Yêu cầu đối với mỗi cá nhân: – Học thuộc một số quy định về đi đường mà luật giao thông đã đề ra. – Học và nắm được những bảng hiệu thường gặp trên những con đường đi lại. – Không được đá bóng, chơi cầu lông, đùa giỡn… trên những con đường đi lại – Khi qua đường phải nhìn trước nhìn sau hoặc đi đến chỗ quy định cho phép người đi bộ băng qua đường mới được đi qua. – Luôn luôn phải có ý thức đi bên phải đường và phần đường dành cho người đi bộ. – Tuyệt đối không được quàng vai, bá cổ đi hàng hai, hàng ba trên đường.. d) Kết luận: Để thực hiện tốt luật đi đường, góp phần giảm bớt tai nạn giao thông đường bộ, rất mong các bạn thực hiện tốt những điều mà chúng ta đã thảo luận, trao đổi ở cuộc họp này.
Trách nhiệm của học sinh trong cộng đồng
756
Trách nhiệm của người làm trai qua Chí làm trai-Nguyễn Công Trứ Hướng dẫn Chí làm trai theo quan niệm của Nguyễn Công Trứ Mở bài: Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), quê huyện Nghi Xuân, tỉnh hà Tĩnh, là một nhà quân sự, một nhà kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc bậc nhất trong lịch sử Việt Nam trung cận đại. Ông là người có khí phách kiên cường, một người của hành động, trải qua nhiều thăng trầm, Nguyễn Công Trứ hiểu sâu sắc nhân tình thế thái đương thời. Đời ông đầy giai thoại, giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, bản lĩnh trí tuệ và mang tính bình dân sâu sắc. Có thể nói thơ ông sinh động, giàu triết lý nhân văn nhưng hóm hỉnh, đó là chất thơ có được từ đời sống, lấy đời sống làm cốt lõi. ngông cuồng, kiêu ngào nhưng luôn gắn mình với cuộc đời cùng những trách nhiệm cao cả. Bài thơ Chí làm trai thể hiện sâu sắc tinh thần ấy. Thân bài: Trước hết, có thể nói Nguyễn Công Trứ là người có tài, có chí, luôn khát khao với cuộc sống, với con đường công danh, hăm hở đem tài trí ra giúp nước, giúp đời: “Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông”. (Đi thi tự vịnh – Nguyễn Công Trứ) Trung hiếu đối với Nguyễn Công Trứ không những là nghĩa vụ mà còn là triết lí sống. Đó là một tinh thần sống mãnh liệt, hăng say, hăm hở đến cuồng nhiệt: “Có trung hiếu nên đứng trong trời đất Không công danh thà nát với cỏ cây. Chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây, Phải hăm hở ra tài kinh tế”. (Phận sự làm trai – Nguyễn Công Trứ) Bởi đối với ông trong cõi đời này người với người: “Hơn nhau hai chữ anh hùng” mà thôi. Tiền bạc, danh vọng có rồi cũng mất. Chỉ riêng tên tuổi, sự nghiệp vĩ đại mới lưu danh hậu thế, cùng núi sông trường tồn mãi mãi. Thế nhưng, chí khí là vậy, kiêu hùng đến thế, cuộc đời của ông cũng lắm lúc lao đao. Nhiều lúc trong trong cơn bĩ cực, trải qua nhiều thăng trầm giúp Nguyễn Công Trứ hiểu sâu sắc nhân tình thế thái đương thời. Ông khinh bỉ và ngán ngẩm nó: “Thế thái nhân tình gớm chết thay Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy”. Ông khinh bỉ tiền tài, phủ nhận lời nhân nghĩa của phường dối gian: “Tiền tài hai chữ son khuyên ngược Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi”. Ông coi danh lợi quan trường là mối hoạn rước nhục vào thân: “Ra trường danh lợi vinh liền nhục Vào cuộc trần ai khóc trước cười”. Trong xử thế ông cười nhạo sự thăng giáng, coi làm quan thì cũng như thằng leo dây và không giấu sự ngạo mạn: “Nào nào! Thằng nào sợ thằng nào Đã sa xuống thấp lại lên cao”. Chán chường với chốn quan trường nhưng ông không chán đời. Ông vốn yêu đời, là người chịu chơi, với ông cái gì cũng có thể đem chơi kể cả tài kinh bang tế thế: “Trời đất cho ta một cái tài Giắt lưng dành để tháng ngày chơi”. Ngay lúc chua chát nhìn lại đời mình, ông vẫn là người đầy khí phách: “Kiếp sau xin chớ làm người Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”. Thái độ sống ấy một lần nữa được bộc lộ khá rõ trong bài chí anh hùng. Bao trùm lấy thơ của Nguyễn Công Trứ về chí anh hùng của kẻ làm trai phải có tri anh hùng, đây không phải là quan niệm riêng gì Nguyễn Công Trứ mà là của tất cả các nhà nho chân chính đương thời. Có điều Nguyễn Công Trứ đã nâng nó lên thành một cảm hứng nồng nhiệt. Ông hát lên với tát cả sức trai, với tất cả lòng tin của một con người đầy hoài bão đầy tự tin phóng túng. Bốn câu đầu Nguyễn Công Trứ nêu lên một quan niệm về chí làm trai: “Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc Nơ tang bồng vay giả, giả vay Chí làm trai am bắc đông tây Cho phí sức vẫy vùng tỏng bốn bể”. Nhiều lần Nguyễn Công Trứ nói đến chí làm trai: “Chí tang bỗng hẹn với giang sơn Đường trung hiếu, chữ quan thân gánh vác”. Một lần ông viết: Nợ tang bồng quyết trả cho xong”. Điêu đó chứng tỏ trong tâm hồn, trong suy nghĩ của ông luôn luôn thường trực chí làm trai. Cái này chỉ có thể là động lực quan trọng giúp Nguyễn Công Trứ làm nên nghiệp lớn sau này. Điều hấp dẫn độc đáo là chí làm trai được nâng lên tầm vũ trụ, gắn với cảm hứng vũ trụ. Hình ảnh to lớn, kì vĩ, nhạc điệu thoải mái, giọng thơ đầy hứng khởi, tạo nên cảm giác say sưa, hào hứng hiếm có: “Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc. Nợ tang bồng vay trả, trả vay. Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây, Cho phỉ sức vẩy vùng trong bốn bể. Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. Đã chắc rằng ai nhục ai vinh, Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ. Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ, Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong. Chí những toan xẻ núi lấp sông, Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ. Đường mây rộng thênh thênh cử bộ, Nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo Thảnh thơi thơ túi rượu bầu”. Bài thơ cũng nêu lên một quan niệm về chữ “vinh”, chữ “nhục”, chữ “danh” của kẻ làm trai. Thật ra đây là ý thức bản ngã của nhà thơ. Phải biết vinh, biết nhục và đặc biệt là phải có danh. Với Nguyễn Công Trứ “danh” cũng trở thành một khát vọng cháy bỏng: “Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông”. (Đi thi tự vịnh – Nguyễn Công Trứ) Đây là một quan điểm đúng đắn, đáng trọng, vì ở đời không biết vinh nhục thì còn gì là nhân cách? Nguyễn Công Trứ ý thức đầy lòng tự tin vào mình thì không thể viết những câu thơ chắc chắn, đường hoàng như thế. Cái hay của Nguyễn Công Trứ là ông biết gắn chứ “danh”, chữ “nhục” với chữ “công”, tức là muốn lưu danh phải có công chữ “công”, tức là muốn lưu danh phải có địa vị, phải có công lao: “Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc. Nợ tang bồng vay trả, trả vay. Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây, Cho phỉ sức vẩy vùng trong bốn bể. Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”. Cái chí làm trai lẫy lừng giữa đất trời này luôn sôi sục trong tinh thần của ông trong suốt cuộc đời. Chí làm trai phải “dọc ngang, ngang dọc” trong trời đất, đủ sức “vẫy vùng nơi bốn bể” chứ không phải an phận thủ thường theo lối nữ nhi thường tình hoặc luồn mình bó gối trong chốn quan trường đầy ganh đua. Người làm trai tự nhận trọng trách lớn lao về mình, tự gánh trên đôi vai cái “nợ tang bồng”. Cái chí ấy không nằm trong lý lẽ viễn vong vô nghĩa mà từ lâu đã trở thành lý tưởng, là điều tâm niệm, trở thành lẽ sống, động lực sống, mục đích sống của biết bao thế hệ: “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”. Tính chất lãng mạng và hiện thực hòa quyện trong cái nhìn vừa thực tế vừa lí tưởng ở Nguyễn Công Trứ thêm vào bốn câu ở khổ giữa là để lại để láy lại, để kết lại chí làm trai của mình. Từ khát vọng công danh vươn tới chí khí anh hùng. Chí anh hùng và sự khát vọng kinh bang tế thế là điều Nguyễn Công Trứ muốn nói, muốn thổ lộ, muốn đạt tới: “Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ Quyết ra tay buồm lái trận cuồng phong Chí những toan xẻ núi lấp sông Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ”. Vẫn cái giọng phơi phơi phơi tự tin, vẫn cái cảm hứng nồng nàn đầy khát vọng của trí làm trai nhưng ý thơ có sự phát triển, có sự nâng lên cấp độ. Trước hết ông ý thức sau sắc để đặt được chữ “danh”, để làm trònđược chí nam nhi, con đường ấy đầy khát vọng có chí làm trai nhưng ý trí thơ có sự phát triển có sự nâng lên cấ độ. Rõ ràng, Nguyễn Công Trứ đã tự giải phóng những ràng buộc về mặt tinh thần thường ngự trị trong đời sống người xưa, tạo nên,một thái độ khác thường,t hái độ của một con người tự ti, tự khẳng định tài năng, ý thức rõ nét về bản ngã của mình. Ở đây có sự kết hợp hài hòa đẹp đẽ giữa con người và công dân và con người cá nhân, đồng thời bộc lộ lối sống con người phong túng và tâm hồn lãng mạng phong tình. Bài thơ kết lại trong niềm vui phơi phới của con người thành đạt đã trả xong món nợ tang bồng và tự cho mình cái quyền được hưởng thụ: “Đường mây rộng thênh thang cử bộ Nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo Thảnh thơi thơ túi rượu bầu” Nếu như khổ đau, khổ giữ có cái giọng thoải mái, ngang dọc đầy hăm hở, đầy chí khí thì khổ cuối cùng là một tiếng reo vui khoái trá, với một cảm giác ngây ngất, lâng lâng của con người thành đạt. Đây là một niềm vui rất trần thế, rất thanh cao chứ không phải sự hưởng thụ tầm thường: “Thảnh thơi thơ túi rượu bầu”. Thơ và rượu vốn là thú vui mà các bậc nho sĩ ngày xưa quen hưởng. Nhưng khác với mọi người, Nguyễn Công Trứ không hề che đậy lối sống hưởng thụ đó, không những không ngần ngại mà đã mạnh dạn nói trắng ra… Người đã đạt đến độ giác ngộ lẽ sống, thức nhận rõ đạo làm người giữa chốn trần gian đầy rẫy lo toan. Người tài tử thường cậy tài, muốn trổ tài, thường bất mãn với những cái có sẵn, muốn xáo trộn, muốn hành động, phong trào trật tự. Họ cũng tự cao, tự phụ, ngông nghênh, vòi vĩnh, không yên phận. Cho nên, chế độ phong kiến thường sợ người tài, tìm cách ức chế người tài. Đó cũng chính là lí do chính gây nên những điều bất đắc ý, những bước thăng trầm, những chở ngại trên con đường công danh của Nguyễn Công Trứ. Những ảo tưởng lạc quan ban đầu tan vỡ nhường cho sự thất vọng, chua chat và lối sống phong túng, kinh đời ngạo nghễ: “Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”. (Bài ca ngất ngưởng) Tác giả đã dùng “tay ngất ngưởng” khiến cho câu thơ nâng lên một tầm nữa của sự kinh đời, của sự kiêu bạc, kiêu hùng đến ngạo ngễ. Nó dường như trở thành một phong cách chứ không phải chỉ ngẫu nhiên, một hành vi nhất thời. Đây là con người vượt lên trên thế tục, sống giữa mọi người mà dường như không ai nhận ra ai, đi giữa dòng đời mà chỉ thấy có mình. “Nguyễn Công Trứ đã tạo điêu kiện hình thức tượng mới không hề có trong thơ ca chính thống đương thời – hình tượng con người thách thức, đối lập xung quanh”. Trong thơ ông, nhiều mặt đã nói: “Ông đã nâng tất cả mọi sinh hoạt đời thường của người quân tử của kẻ sĩ thành một thứ đạo, một phong cách sống” Quả thật ông sống thật với mình, với đời trêm con đường hoạn lộ cũng như trên con đường văn chương. Tính chất “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ đã biểu hiện qua cách cách sống: “Được mất dương dương người tái thượng Khen chê phơi phới ngọn đông phong”. Nhà thơ dám sống và dám hiểu thẳng thắn con người mình như vậy bời vì ông là người thực sự có tài năng và phẩm chất tốt đẹp. Tài năng và phẩm chất này đã được khẳng định bằng sự thành đạt trong quan trường, bằng những đóng góp của ông cho dân cho nước. Những năm tháng sau khi quan về, Nguyễn Công Trứ “sống gấp” theo lối hành lạc, hưởng nhàn, nhập tục theo chiều phóng khoáng cá nhân với bầu rượu, với túi thơ và với giai nhân. Ông như muốn quên đi tất cả, kể cả phận sự của mình. “Bốn mùa ví những xuân đi cả Góc núi ai hay sức lão tùng”. (Vịnh mùa đông) Tùng là lời loại cây có sức chịu gió rét, màu đông vẫn xanh tốt. Người xưa thường dung hình tượng này để chỉ người có khí phách anh hùng hào kiệt, tài cao, chí lớn, đứng vững trước mọi thử thách của cuộc đời. Nguyễn Công Trứ có bài Vịnh mùa đông rất hay. Trong không gian lạnh lẽo, rét mướt, đến ngoại vật cũng phải đổi thay: “ngòi bút rít”, “sợi tơ chùng” thì cây tùng vẫn sừng sững xanh tốt. Ở đây có sự giả định nhưng màu sắc thái hiện thực: “bốn mùa ví những xuân đi cả” nên không ai hay không ai có “sức lão tùng”. Xét về âm hưởng và tâm trạng trong thơ, đặc biệt là từ có “lão” thì cây tùng đích thực là hình ảnh Nguyễn Công Trứ. Cây tùng là hình ảnh ước lệ, cái đặc sắc là tâm trạng, ở nhiệt huyết của chủ thể sáng tạo. Trước những thói đời đen bạc, Nguyễn Công Trứ như cây Tùng hiên ngang đọ sức với gió sương, một lần nữa khẳng định bản lĩnh của mình trước cuộc đời. Một vấn đề đặt ra ở đây là cái tài bị coi rẻ, bị đửng dưng, không có điều kiện phát triển: “góc núi ai hay”. Thực tế là không có ai hay nhưng một khi tiếng nói ấy bật ra thì cũng vẫn không có ai hay nốt. Do vậy tâm tư đã nặng trĩu, chán chường thêm chán chường, nặng trĩu. Tuy là về ẩn nhưng ông vẫn trở trăn, vẫn nung nấu ý chí, muốn có điều kiện để đem tài ra giúp đời, giúp nước. Cho nên mùa đông ở đây chưa hẳn đã có thật mà như là một yếu tố cần phải có. Nhưng ảo vọng, hoài bão ban đầu của tuổi trẻ không hề mất đi mà một lúc nào đấy nó được gọi về sống dậy. Vẫn là hình ảnh lạc quan, yêu đời của chàng trai trẻ Nguyễn Công Trứ. Chí khí, thái độ sống của Nguyễn Công Trứ đọc qua ta thấy nó bó hẹp và mang màu sắc của Nguyễn Công Trứ. Đọc lần nữ ta thấy nó bó hẹp và mang màu sắc của chủ nghĩa cá nhân. Nhưng chí lớn tài cao, muốn trổ hái thì cách nói ấy ở ông là dĩ nhiên. Điều đáng nói là ở những người biết thấu hiểu và cảm thông. Tuy nhiên mỗi thời đời đại có một quan niệm sống của riêng mình. Cơ bản quan niệm sống của Nguyễn Công Trứ là tích cực. Có bổ sung ở chỗ người anh hùng hiện đại vừa làm những việc lớn như “xẻ núi lấp sông” nhưng có lúc âm thầm lặng lẽ mà vẫn làm nên “đấng anh hùng đâu đấy tỏ”. Kết bài: Nhà tơ Tố Hữu có lần tâm sự: “Thông qua văn học có thể giúp cho con người rất nhiều: một tầm nghĩ mới, một ước vọng mới, một tình cảm mới và tất cả những cái đó cần thiết cho con người lớn lên”. Trong ý nghĩa lớn lao và thiên chức cao cả đó của văn học, “chí anh hùng” của Nguyễn Công Trứ đã có tác dụng nâng đỡ tâm hồn người đọc, giúp ta vượt lên những toan tính ích kỉ, hạn hẹp mà gắn mình với những trách nhiệm lớn lao của tổ quốc, của thời đại. Qua Chí làm trai của Nguyễn Công Trứ nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm của thanh niên ngày nay đối với đất nước.
Trách nhiệm của người làm trai qua Chí làm trai-Nguyễn Công Trứ
2,700
Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng Hướng dẫn Bài tập làm văn suy nghĩ về câu nói trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng bao gồm dàn ý và các bài văn mẫu tuyển chọn. Hy vọng tày liệu này sẽ giúp các bạn viết bài văn suy nghĩ về câu nói trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng hay nhất. Dàn ý trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng 1. Mở bài – Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề – Trích dẫn câu nói: “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng” 2. Thân bài – Giải thích Thành công? Thành công là đạt được ước mơ, hoài bão, khát vọng, là sống đầy đủ về tinh thần và vật chất, là nhận được những gì mình muốn về công việc, cuộc sống; là được sống hạnh phúc, vui vẻ, mở lòng với thế giới, có ích với mọi người; là mục đích cao quý, đích đến cuối cùng của con người trong đời…. Lười biếng là thói quen xấu làm suy giảm khả năng suy nghĩ, tư duy, làm việc, là ỷ lại vào người khác, không tự thân vận động …. → Người lười biếng là người ngại suy nghĩ, không muốn học tập, không muốn lao động, ngại vận động. Ý nghĩa cả câu nói: Trên đường đến với những thành quả tốt đẹp, những niềm hạnh phúc, chạm đến ước mơ và khát khao không thể có dấu chân người lười biếng, dấu chân của những người không tự mình tìm tòi, học hỏi mà chỉ dựa dẫm, ỷ lại vào người khác….. Bàn luận: Câu nói trên là một cách nhìn nhận đúng đắn về cuộc sống, về bước đường đến thành công Con đường dẫn tới thành công là con đường đầy khó nhọc, thử thách, không phải con đường bằng nhung lụa. Không có một thành quả, thành công nào mà không phải đổ bằng mồ hôi và công sức, trong suốt quá trình đó con người phải cần cù, miệt mài, chịu khó và có ý chí quyết tâm cao mới thành. Chứng minh câu nói bằng dẫn chứng thực tế (Dẫn chứng: Người nông dân làm ra hạt gạo phải một nắng hai sương, một học sinh giỏi có ước mơ hoài bão cao đẹp không thể là một người lười nhác, thụ động, …) Tác hại của thói lười biếng: dần dần làm cho con người trở thành kẻ ăn bám, vô tích sự, trì trệ, … dẫn con người đến sự bần cùng, đói nghèo và là nguyên nhân của mọi thói xấu khác. – Câu nói của Lỗ Tấn đã phê phán thói lười biếng, đưa ra một cách nhìn nhận đúng đắn để con người đến với thành công. Không một thành quả nào lại không có sự nổ lực cố gắng, không một kết quả tốt đẹp nào lại chỉ có những bước chân lười biếng. Bất cứ sự thành công nào cũng cần có sự cần cù, chăm chỉ, kiên trì, chịu khó. Lười biếng, ỷ lại sẽ chẳng bao giờ làm được điều gì có ý nghĩa. – Trên bước đường thành công, đôi khi không chỉ cần sự cần cù, chăm chỉ… mà còn cần cả những ý tưởng sáng tạo, sự thách thức của cuộc sống để con người vượt qua bằng nghị lực và bản lĩnh, niềm đam mê và khát khao cháy bỏng giữa cuộc đời. Bài học về nhận thức và hành động: Cần phải cố gắng học hỏi, chăm chỉ, cần cù để vượt qua mọi thử thách của cuộc sống vươn đến sự thành công. Tránh những thói hư tật xấu làm đình đốn trì trệ con đường đến với sự thành công: lười biếng, ỷ lại, tự thỏa mãn với bản thân,… 3. Kết bài – Bài học cho mỗi cá nhân về nhận thức và hạnh động bằng suy nghĩ chân thực. – Mở rộng vấn đề bằng cách nghĩ của mỗi cá nhân về câu nói ấy trong cuộc đời. Bài văn mẫu trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng – bài 1 Câu nói Trên đường thành công không có bước chân của người lười biếng là một bài học, kinh nghiệm sống cho chúng ta: Cần cù, chăm chỉ, không lười biếng thì sẽ đạt tới thành công. Trong cuộc sống của chúng ta, mấy ai đạt được thành công mà không trải qua khó khăn gian khổ, cũng chẳng ai đạt được thành công mà không phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”. Sự cần cù chịu khó luôn là yếu tố chính dẫn đến thành công. Nhà văn lớn người Trung Quốc Lỗ Tấn từng nói: “Trên đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng”. Thành công là hành động đạt tới mục đích bản thân đặt ra và được cả xã hội công nhận. “Đường thành công” chỉ khoảng thời gian từ lúc bắt đầu thực hiện mục đích tới lúc đạt được mục đích. “Đường thành công” tuỳ ở mỗi người mà có thể dài hay ngắn. Còn “bước chân của kẻ lười biếng” chỉ sự có mặt của sự lười biếng trên “đường thành công” của mỗi người. Những con người lười biếng là những con người không chịu lao động cho bản thân, cho xã hội. Câu nói của Lỗ Tấn khẳng định rằng muốn có được thành công, mỗi người đều phải cần cù, chăm chỉ; những người lười biếng thì không bao giờ hái được thành công. Của cải vật chất trong xã hội đều do con người tạo ra. Để có được nó, con người phải lao động: người nông dân cuốc đất, trồng cây; người công nhân vận hành máy móc; nhà khoa học thực hiện các thí nghiệm,… Mỗi người đều phải chăm chỉ làm việc để gặt hái được thành công, ngoài sự chăm chỉ, họ còn phải vượt qua gian khó, có khi là cả sự thất bại. Sự cần cù ấy không phải tính bằng ngày, bằng giờ mà bằng năm tháng, có khi phải trả giá bằng cả cuộc đời mình. Nhưng họ đã đạt được những thành công trong cuộc sống của mình: người nông dân làm ra hạt gạo, cây rau để nuôi sống bản thân, gia đình và xã hội; người công nhân làm ra máy móc phục vụ nhu cầu thị trường; nhà khoa học có những phát minh làm thay đổi đời sống,.:. Trong số họ, còn có những người lưu danh trong sử sách. Đó là Mạc Đĩnh Chi xấu người mà tài giỏi. Nhờ chăm chỉ học tập, ông đã đỗ Trạng nguyên và đặc biệt, ông còn được vua nhà Nguyên phong làm “Lưỡng quốc Trạng nguyên” nhờ tài ứng đối khi đi sứ. Nói đến nghề thuốc phải kể đến Tuệ Tĩnh. Với ước muốn “Nam dược trị nam nhân”, ông đã chăm chỉ học tập nghề thuốc và còn đi tìm hiểu nhiều sách thuốc. Cuối cùng, ông đã trở thành thầy thuốc nổi tiếng và thực hiện được ước muốn của mình. Với tài năng của mình, ông còn nổi tiếng ở Trung Quốc khi chữa khỏi bệnh cho Vương phi của vua nhà Minh. Còn những người lười biếng chỉ muốn hưởng mà không phải làm thì chẳng mấy chốc sẽ trở nên đói nghèo. Những người như vậy thì tự lo cuộc sống của bản thân mình còn khó thì nói gì tới việc đạt tới thành công trong sự nghiệp. Một xã hội mà có nhiều những con người như vậy là một xã hội lạc hậu, chậm phát triển. Nếu mỗi người không phải là con người lười biếng mà là những con người chăm chỉ, cần cù thì việc mỗi người đi tới thành công của mình sẽ không phải là điều khó khăn. Một đất nước có những con người chăm chỉ đồng nghĩa đó là một đất nước phát triển, hiện đại. Để nêu lên một bài học, một kinh nghiệm trong cuộc sống, ông cha ta thường hay mượn hình ảnh của sự vật với nghĩa bóng có liên quan tới con người để thể hiện ý của mình. Một trong những bài học ấy được đúc kết trong câu tục ngữ hàm súc như: “Có công mài sắt, có ngày nên kim” Câu tục ngữ trên nêu một công việc tưởng chừng như khó khăn không thể làm nổi. Thế mà vẫn có người không quản ngại gian lao, không sá công phu, vẫn gắng sức làm cho kỳ được. Nghĩa đen của câu tục ngữ chỉ việc mài sắt thành kim, nhưng nếu suy ra nghĩa bóng thì đó lại là một lời khuyên, một bài học mà ông cha ta đã đúc kết từ ngàn đời truyền lại cho con cháu. Đó là lời răn dạy: Có sự cần cù, nhẫn nại và quyết tâm lớn thì việc gì cũng có thể thành công cho dù việc đó rất khó khăn tưởng như không thể hoàn thành được. Ngoài lời dạy từ ca dao tục ngữ, trong cuộc sống của chúng ta có biết bao tấm gương tiêu biểu. Tấm gương ấy không đâu xa lạ đó chính là Bác Hồ – người cha của dân tộc. Đất nước ta được hoà bình tự do như ngày nay chính là một phần nhờ vào lòng kiên trì, cần cù và chịu khó của Bác. Khi còn là chàng thanh niên trẻ tuổi, Bác đã từ biệt mọi người ra đi tìm đường cứu nước, ở nơi đất khách quê người, Bác đã làm mọi việc để kiếm sống; làm phụ bếp trên tàu, làm người cào tuyết giữa mùa đông giá lạnh ở châu Âu và phải đi ngủ với một viên gạch nung nóng… Bao nhiêu vất vả cực nhọc Bác chẳng sờn lòng, Bác kiên trì đi đến rất nhiều các nước, các dân tộc trên thế giới để tìm hiểu con đường giải phóng dân tộc của họ. Cuối cùng, sự kiên nhẫn, chịu khó của Bác đã được đền đáp xứng đáng. Người đã tìm thấy con đường đi cho dân tộc thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than: con đường cách mạng vô sản. Một tấm gương nữa rất gần gũi với chúng ta đó là anh Nguyễn Ngọc Ký. Anh bị liệt cả hai tay nhưng mong ước đến trường luôn thôi thúc anh. Thế là anh bắt đầu tập viết bằng chân. Những nét chữ đầu tiên thật khó nhưng anh không nản lòng, vẫn cần cù chịu khó và anh đã thành công. Bây giờ anh trở thành một nhà giáo ưu tú, được các em học sinh yêu quý, kính trọng. Trong lao động, nhà bác học Lương Đình Của là một tấm gương hùng hồn để chứng minh “trên đường thành công không có bước chân của kẻ lười biếng”. Để lai tạo ra một giống lúa có năng suất cao, ông phải làm việc vô cùng vất vả, khó nhọc. Hàng ngày, từ tờ mờ đất, ông đã ra ruộng lội bì bõm, nghiên cứu, thử nghiệm đến tối mịt mới về. Qua vài vụ lúa, một giống lúa mới được tạo thành. Chính sự kiên nhẫn, bền bỉ của ông đã đem no ấm đến cho đời. Bản thân Lỗ Tấn, nhà văn lớn của Trung Quốc, cả cuộc đời mình, ông luôn say mê với lao động nghệ thuật. Bằng tài năng, trí tuệ và sự cần cù, chăm chỉ, Lỗ Tấn được mọi người biết đến như lá cờ đầu của văn học Cách mạng Trung Quốc. Thành công ấy không dựa trên sự lười biếng mà chỉ, cần cù là nền tảng của mọi thành đạt trong cuộc sống con người. Những tác phẩm văn học được ra đời là cả một quá trình lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi của người nghệ sĩ, họ âm thầm sáng tác, để lại cho đời những dấu ấn riêng không thể xoá mờ. Tất cả chúng ta, những người bình thường không phải là một vĩ nhân đều có thể thành công trên con đường sự nghiệp nếu như biết cần cù, siêng năng. Hiểu được ý nghĩa sâu xa lời dạy, mỗi chúng ta cần có ý thức rèn luyện ngay từ khi còn nhỏ ta phải tập tính kiên trì, nhẫn nại. Một bài toán khó, một bài văn quá nan giải, một bài tiếng Anh quá nhiều từ… ta cũng sẽ làm xong, làm đúng nếu ta không lười biếng mà chịu khó học tập. Đây là một đức tính cần cù của người học sinh. Những câu chuyện ngụ ngôn Há miệng chờ sung hay Ôm cây đợi thỏ chính là kết cục của những con người lười biếng, cuộc sống của họ chỉ như những mảnh đời vô nghĩa trôi qua trên dòng chảy cuộn xiết của cuộc đời, không để lại một dư âm hay một tiếng nói. Nghèo đói và trộm cắp là hệ quả tất yếu của kẻ lười biếng, “sống nhàn rỗi quá còn mệt hơn là làm việc”. Chính vì vậy ta hãy sống và làm việc hết mình để đạt được mục đích trong cuộc đời. Để đạt được những thành công đích thực, là học sinh, mỗi chúng ta luôn phải phấn đấu, không ngừng học hỏi để trở thành con ngoan, trò giỏi, có ích cho xã hội, cho đất nước. Câu nói “Trên đường thành công không có bước chân của kẻ lười biếng” của nhà văn Lỗ Tấn là một bài học, kinh nghiệm sống cho chúng ta: Cần cù, chăm chỉ, không lười biếng thì sẽ đạt tới thành công. Đây là một đức tính không thể thiếu được ở mỗi người chúng ta từ lúc còn nhỏ đến lúc trưởng thành để vào đời. Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng – bài 2 Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng – bài 2 Trong cuộc sống, có lẽ ai trong chúng ta cũng đều mong muốn gặt hái được nhiều thành công. Thành công, đó có thể là lúc chúng ta tự mình nỗ lực đặt chân lên đỉnh núi cao vời vợi rồi lặng ngắm cả thế giới, là phút giây giật tung dải ruy băng và vỡ òa trong chiến thắng vì biết mình là người về đích trên đường đua sớm nhất,… Đó chính là kết quả của sự rèn luyện và phấn đấu không ngừng. Không ai trong chúng ta đạt được thành công mà không phải chăm chỉ, mệt mài, khổ luyện. Cũng giống như câu nói “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng” Thành công là khi bạn đạt được một mục tiêu, một điều gì đó trong cuộc sống và có lẽ thành công là ước muốn của rất nhiều người. Một con người thành công thường là người có đỉnh cao trên cuon đường công danh sự nghiệp, có địa vị nhất định. “Lười biếng” là không chịu làm việc, không chịu suy nghĩ, là thụ động, không cố gắng nỗ lực phấn đấu. Còn “dấu chân” là một cách nói hình tượng để chỉ những dấu ấn của con người trên bước đường thành công, những con người đó là những con người luôn lao động miệt mài, chăm chỉ học tập, sáng tạo không ngừng nghỉ. Và học xứng đáng được bước trên con đường đó. Nói “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng” tức là khẳng định hành trình đến thành công không bao giờ có sự góp mặt của những kẻ lười biếng. Và chúng ta không thể thành công nếu không chăm chỉ, miệt mài làm việc và cố gắng theo đuổi mục tiêu mà mình đã đặt ra. Cánh cửa thành công chỉ chào đón những ai nỗ lực không ngừng nghỉ. Có thể thấy, thành công không phải là đích đến mà là cả một hành trình dài dằng dặc. Liệu rằng những con người biếng liệu có đủ kiên nhẫn để bước đi trên con đường đó? Hơn nữa, con đường ấy không chỉ dài mà nó còn nhiều cạm bẫy, những chông gai, thử thách. Những kẻ lười biếng khi bước đi trên con đường đấy, chắc chắn sẽ vấp ngã và gặp phải những thất bại đau đớn. Đường thành công cũng không phải là con đường mòn mà nó là con đường mới, đòi hỏi sự đột phá, sáng tạo. Những người chỉ trông chờ, ỷ lại, thụ động không chịu suy nghĩ chắc chắn sẽ không thể thành công được. Kẻ lười biếng thụ động, dựa dẫm, thích hưởng thụ sẽ trờ thành con ngừoi ích kỉ, vô dụng cho người thân, gia đình, và xã hội. Trái lại, nếu chúng ta chăm chỉ, chịu khó, kiên nhẫn nỗ lực không ngừng trên con đường dài ấy, chắc chắn chúng ta sẽ gặt hái được nhiều quả ngọt, hoa thơm. Thành công cần có năng lực tốt, nhưng kể cả khi bạn có điểm xuất phát thấp, năng lực chưa tốt chỉ cần bạn chịu khó, kiên trì bề bỉ, chắc chắn bạn sẽ đạt được điều bạn muốn. Chịu khó suy nghĩ, lao động, sáng tạo không ngừng nghỉ sẽ giúp bạn có kinh nghiệm vững chắc, từ đó giúp bạn tự tin hơn trên con đường thành công của mình. Câu nói “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng” là một ý kiến vô cùng đúng đắn và xác đáng. Chìa khóa của cánh cửa thành công chỉ nằm trong tay những con người chăm chỉ, miệt mài, coi sáng tạo là yếu tố quan trọng của cuộc sống. Thật đáng tiếc là ngày nay, không phải ai cũng ý thức đầy đủ được điều này. Bên cạnh những con người chăm chỉ, luôn không ngừng học tập và làm việc thì lại có những con người ý lại, biếng lười. Căn bệnh lười biếng, chây ỳ này đã trở thành căn bệnh của biết bao người. Điều đáng buồn, trong số đó, giới trẻ lại chiếm một phần không nhỏ. Họ suốt ngày chỉ ăn chơi, chạy đua theo những thứ giá trị ảo mà quên mất sự thể hiện giá trị thật của bản thân mình. Thật đáng chê trách cho những con người làm mất niềm tin mà xã hội đã đặt vào. Dẫu biết rằng, chăm chỉ sẽ là chìa khóa giúp bạn mở ra cánh cửa thành công nhưng bên cạnh đó, bạn cũng phải luôn luôn sáng tạo, có lòng quyết tâm, ý chí và nghị lực. Nếu chỉ chăm chỉ, siêng năng mà dập khuôn máy móc cũng khó có thể chạm tay đến cánh cửa thành công được. Vì vậy, chúng ta cần phải năng động, sáng tạo đặc biệt là phải sáng tạo một cách có trách nhiệm. “Không ngừng tìm tòi, sáng tạo để hoàn thiện bởi mọi đích đến đều có lối đi của riêng mình”. Đồng thời, chúng ta cũng cần phải luôn thắp lên cho mình một ngọn lửa ý chí và nghị lực để có thể giúp ta vượt qua khó khăn, biết đứng dậy sau vấp ngã. Việc rèn luyện cho mình các kĩ năng sống là vô cùng quan trọng và cần thiết. Vậy làm thế nào để chúng ta có thể chăm chỉ, siêng năng? Đầu tiên chúng ta cần có lòng tự trọng. Khi tự trọng về danh dự của bản thân, chúng ta sẽ có thể đặt ra mục tiêu, từ đó phấn đấu, cố gắng. Tự trọng và trách nhiệm là thứ động cơ để giúp chúng ta thoát khỏi căn bệnh lười biếng. Tiếp đó, việc đặt ra cho mình một kế hoạch làm việc cụ thể, cố gắng bám sát kế hoạch và hoàn thành trọn vẹn mục tiêu đã đặt ra. Như vậy, mỗi chúng ta đều có thể tự chữa khỏi căn bệnh lười biếng này cho mình được. Tôi từng rất tâm đắc với câu nói của nhà bác học Albert Einstein: “Không phải là tôi quá thông minh, chỉ là tôi chịu bỏ nhiều thời gian hơn với rắc rối”. Chúng ta đều có thể thấy rằng, không ai đạt được thành công mà lại không phải trải qua sự rèn luyện khó khăn, vất vả. Để có được một tác phẩm hội họa được cả thế giới chiêm ngưỡng thì người họa sĩ cũng phải chăm chỉ, miệt mài, cố gắng. Để có được một giọng hát hay được nhiều người mến mộ người ca sĩ cùng phải ngày đêm cần cù, rèn luyện. Tất cả đều nhờ vào sự chăm chỉ, siêng năng thì họ mới có thể thành công. Vậy nên “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng”, gặp bài toán khó không suy nghĩ sao biết mình làm được hay không. Mỗi chúng ta hãy tự rèn luyện bản thân mình, chăm chỉ, miệt mài ắt sẽ thành tài, thành giỏi. Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng – bài 3 Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng – bài 3 Trong xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ, để đạt được thành công vẻ vang, chúng ta phải không ngừng nỗ lực vươn lên, phát huy hết khả năng để đạt được điều mà chúng ta muốn. Cũng như Lỗ Tấn đã từng nói: “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng”. Chúng ta đều biết, cuộc sống này không được trải bằng hoa hồng hay thứ nước trong veo, tinh khiết mà nó đón chào chúng ta với những thử thách, chông gai. Con đường đó sẽ là con đường “vinh quang” đối với ai biết vượt qua nỗ lực hết mình. Nhưng nó sẽ là “đầm lầy” với ai dễ dàng buông xuôi, từ bỏ. Chính vì thế, trên con đường dẫn đến thành công, vinh quang nhất định không có dấu chân của những kẻ lười biếng. Vậy ta đã bao giờ tự hỏi mình thành công là gì và thế nào là những kẻ lười biếng? Phải chăng thành công – cái đỉnh của vinh quang mà con người đạt được trong suốt quá trình học tập, làm việc? Là khi ta chạm tới mục đích đã đặt ra. Hay chỉ đơn thuần khi ta là chính mình, khi ta mang đến nụ cười trên môi ai đó hay xóa đi giọt nước mắt đau buồn. Lúc đó, những sự việc ấy cũng đáng để ta gọi là thành công lắm chứ! Và những kẻ lười biếng, khác nào những kẻ từ bỏ vinh quang, từ bỏ lao động. Vì ắt hẳn ta vẫn còn nhớ câu nói: “Lao động là vinh quang”. Những kẻ lười biếng đó đồng nghĩa với những con người chỉ nghĩ đến hưởng thụ mà không chịu làm việc. Như ông bà ta hay ví von với hình ảnh những kẻ “nằm chờ sung rụng”. Chẳng phải, trong học tập, những bạn lười biếng chỉ biết dựa dẫm vào người khác sẽ không bao giờ đạt được kết quả cao thật sự đó sao? Và trong cuộc sống bộn bề, lo toan, đôi khi ta bắt gặp những nụ cười làm ta ấm lòng. Đó là nụ cười của cậu học sinh đạt kết quả cao trong học tập sau một quá trình nỗ lực không ngừng. Thành công lắm khi không được đúc kết từ cả một quá trình dài, mà nó chỉ giản đơn từ những niềm vui bé nhỏ trong cuộc sống. Bạn đã từng đọc được câu chuyện “Chiếc cà-vạt” chưa? Trong truyện, cậu bé lên bảy tuổi vụng về làm tặng bố chiếc cà-vạt. Đó có thể nói là chiếc cà-vạt xấu xí nhất nhưng lại là món quà đẹp nhất của đứa con trai dành tặng bố mình. Đọc đến đó, bạn có nghĩ cậu bé đã thành công không? Có thể bạn cho đó chẳng có gì đáng tự hào, vẻ vang nhưng cậu bé đã thật-sự-thành-công. Cậu đã thành công khi gởi gắm cả niềm tin yêu về người bố trong chiếc cà-vạt – thành công vì mang đến nụ cười hạnh phúc từ bố. Thành công đôi lúc chỉ đơn giản vậy thôi. Tuy nhiên, thành công vẻ vang là những điều ta không thể phủ nhận. Bạn có biết anh Lê Bá Khánh Trình đã nỗ lực hết mình để nắm trong tay giải thưởng cao quý của cuộc thi toán quốc tế. Và Bác Hồ – người đã dành trọn cuộc đời với Cách mạng qua những năm tháng hiểm nguy ngoài chiến trường. Xã hội phát triển như ngày nay là minh chứng sống động, chân thật nhất cho thành công vĩ đại của Bác. Thế mới thấy, để đạt được thành công và mục đích mà ta đã đặt ra, mỗi con người cần phải nỗ lực học tập và làm việc hết mình. Và hơn hết, con đường dẫn đến thành công càng không rộng mở đối với những kẻ lười biếng. Nó chỉ mở rộng đối với những con người siêng năng, làm việc hết mình. Và những con người siêng năng không những sẽ đạt được thành công nhất định trong cuộc sống mà siêng năng còn là yếu tố tích cực, là cơ sở giúp con người ta dẽ dàng học hỏi, tìm tòi những kiến thức mới bổ ích và bổ ích. Hơn hết, siêng năng còn giúp ta rút ngắn thời gian để hoàn thành công việc một cách trọn vẹn. Thế nhưng, cuộc sống lại có những con người sống chỉ biết hưởng thụ, không lao động. Những kẻ như vậy đáng bị xã hội phê phán vì thái độ sống tiêu cực. Và họ sẽ dần bị mọi người xa lánh và không bao giờ nhận ra được sự vinh quang của lao động, không bao giờ cảm thấy hạnh phúc của thành công. Tóm lại, con đường thành công chỉ thật sự đón chào những ai biết trân trọng, biết nỗ lực phấn đấu. Và hơn hết, là học sinh, ta cần phải rèn luyện bản thân từ khi ngồi trên ghế nhà trường bằng vệic cố gắng học hỏi, tìm tòi và bằng ý thức của mỗi cá nhân. Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng – bài 4 Lười biếng là một trong các thói xấu của con người. Là gốc rễ của mọi thói hư tật xấu. Vì thế, nhà văn Lỗ Tấn đã đúc kết chân lý: “Trên đường thành công không có vết chân của người lười biếng”. Người lười biếng là người lười suy nghĩ, học tập, lười lao động và làm việc. Mà thành công là mục đích, là kết quả mà người ta phải đổ mồ hôi, công sức, thời gian, trí tuệ, gian nan, vất vả, thậm chí phải nếm trải những thất bại mới có được. Vì vậy, Lỗ Tấn đã rút ra chân lý của sự thành công ” Trên đường thành công không có vết chân của người lười biếng”. Con đường dẫn đến thành công là con đường chông gai, đầy khó khăn, thử thách chứ không trải bằng hoa hồng. Là cả quá trình học tập, lao động, nghiên cứu sáng tạo không ngừng, đòi hỏi con người phải cần cù, miệt mài và chịu khó và có ý chí quyết tâm cao mới thành. Không có một thành công nào mà không đổi bằng mồ hôi, công sức. Người nông dân làm ra hạt gạo phải một nắng hai sương: “Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” Một công trình khoa học, sáng chế ra đời là cả một quá trình nghiên cứu, lao động miệt mài của người kỹ sư. Để trở thành một giáo viên, nhà văn, bác sĩ giỏi được mọi người kính trọng, ngưỡng mộ phải đổi bằng tâm huyết cuộc đời…Vậy có thành công nào lại thuộc về người lười biếng? Có người lười biếng nào lại vươn được tới thành công? Lười biếng dẫn người ta đến sự bần cùng, đói nghèo và buồn chán và là nguyên nhân của mọi thói xấu xa khác, hơn nữa nó còn làm bào mòn trí tuệ, thân thể và nhân cách. Cần khẳng định: Bất cứ sự thành công nào cũng cần sự cần cù, chăm chỉ, kiên trì, chịu khó. Lười biếng, ỷ lại, ngại khó ngại khổ sẽ chẳng bao giờ làm được việc gì có ý nghĩa. Hãy xây dựng ước mơ, hoài bão và nhân cách của mình bằng sức lao động, sự cần cù chăm chỉ để trở thành người tài đức trong cuộc sống. “Trong xã hội ta, không có nghề nào là thấp kém, chỉ có những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ” (Hồ Chí Minh). Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng – bài 5 Trong cuộc sống, xã hội của chúng ta, mọi người có thể không có năng khiếu nhưng không thể lười biếng. Phải vượt qua vất vả, gian lao, phải cần cù chăm chỉ thì con người mới có thể đạt được những kết quả, thành công như mong muốn. Vì vậy, để khuyến nhủ thế hệ trẻ, nhà văn Lỗ Tấn đã từng nói: “Trên con đường thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng”. Để hiểu được ý nghĩa sâu sắc của câu nói đó, trước hết, chúng ta cần hiểu thành công là gì. Thành công chính là khi chúng ta đạt được những mục đích, ước mơ đã đặt sẵn trong đời sống. Thành công có thể là chúng ta học tập tốt, làm việc giỏi giang, lành nghề, rèn luyện, tu dưỡng được những đức tính, tư tưởng đúng đắn, cao đẹp của con người. Thành công là điều ai cũng mong muốn nhưng để làm được vậy, chúng ta không được lười biếng, ỷ nại, dựa dẫm vào người khác mà không tự mình học tập, làm việc. Trong câu nói ngắn gọn đó, nhà văn Lỗ Tấn đã để cho ta một bài học rất sâu sắc và có ý nghĩa. Nếu chúng ta lười biếng thì sẽ chẳng bao giờ đạt được những thành công vinh quang. Để vươn tới được những ước mơ, mục đích của bản thân thì con người phải chăm chỉ và siêng năng. Những ai thực hiện đúng lời dạy của Lỗ Tấn không những là người biết tiết kiệm thời gian quý báu mà còn đạt kết quả cao trong quá trình học tập và rèn luyện. Chúng ta hiểu như thế vì sao ư? Trước hết vì cái lý cái tình trong câu đều đúng. Khi ta lười biếng chỉ ỷ nại, dựa dẫm vào người khác mà không chịu suy nghĩ học tập, lao động, làm theo những đạo lý đúng thì chúng ta sẽ không có kiến thức, kỹ năng cần thiết, không phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai. Và lúc đó con đường thành công sẽ rất tối tăm, có thể sẽ không còn hiện ra trước mắt ta nữa. Cái lý trong lời nói bất hủ của Lỗ Tấn cũng được thể hiện rất rõ ràng trong cuộc sống hằng ngày. Bạn là một học sinh có năng khiếu về toán mà bạn lại trở nên tự cao. Trong lớp thì không chăm chú nghe thầy cô giáo giảng bài, lười suy nghĩ, lười phát biểu. Ở nhà thì lười tư duy, lười học bài, làm bài thì năng khiếu kia cũng sẽ bị mai một và điều tất yếu sẽ xảy ra là bạn bị rỗng kiến thức và sa sút nghiêm trọng. Bạn luôn nghĩ tuổi chúng mình chỉ việc học, ăn, chơi, nghỉ mà không chịu giúp đỡ bố mẹ thì bạn đã rất sai. Khi bạn thử nấu cơm, quét nhà thì sẽ không ít người nhìn vào và bảo rằng bạn vụng về, hậu đậu. Việc dễ mà không chăm thì sẽ chẳng làm được. Lười biếng sẽ khiến con người học tập, làm việc tốt sẽ trở thành kẻ ngu dốt, lười biếng, không nuôi sống được bản thân, không giúp đỡ được gia đình, có ích cho xã hội. Khi đã trưởng thành, nghĩ lại thời mê muội, lãng phí thời gian, công sức và tiền của, chúng ta sẽ cản thấy hối hận biết bao nhiêu. Nhưng thay thế tính lười biếng bằng sự chăm chỉ, cần cù thì bạn sẽ phát triển được năng khiếu. Đức tính đó cũng sẽ bù đắp lại việc mình không có năng khiếu, trở thành con người siêng năng và đảm đang. Rất có thể, một ngày không xa bạn sẽ đánh tan sự lười biếng còn lẩn quất quanh ta, thành những con người tài giỏi được xã hội tôn vinh. Và dù những công việc khó khăn, chỉ bằng sự chuyên cần, chịu khó của mình, bạn sẽ vượt qua tất cả. Chịu khó, chuyên cần, luôn mày mò, sáng tạo đã trở thành truyền thống của nhân dân ta từ xưa đến nay được ông cha dạy bảo, khuyên nhủ con cháu. Trong xã hội phong kiến có Mạc Đĩnh Chi là con nhà nghèo, không có tiền đi học, ông đã chịu khó nghe lỏm khi thầy giáo giảng bài. Ông đã vất vả đi bắt cá để đổi lấy chữ của bạn bè rồi cần cù học học, viết viết. Ban ngày ông lấy que củi viết lên đất, lấy ngón tay nhúng xuống nước để viết lên đá. Đêm đêm, ông phải bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng lấy ánh sáng để học. Nguyễn Hiền-cậu bé chăn trâu thuê cho phú ông đã chịu khó tìm tòi, học hỏi. Ở lớp, cậu làm hết những bài thầy giáo cho một cách cần cù và tập trung. Đã có lần cậu nói với mẹ: “Cành cây trên đầu con là bút, mặt đất dưới chân con là giấy”. Vậy mà cậu bé nhà nghèo đó cũng đỗ Trạng Nguyên khi mới mười hai tuổi. Chúng ta đều biết anh học trò Châu Chí cũng là một con trong gia đình nghèo khổ, phải vào chùa để quét lá đa, lấy ánh sáng học thâu đêm rồi sau này cũng đỗ Trạng. Thành công của các vị ấy là sự chăm chỉ, miệt mài đấy ư. Giả thử nếu những con người ấy không siêng năng, chịu khó, chuyên cần thì họ đâu có thành tài, để tiếng thơm muôn thuở và đất nước làm sao có được những nhân tài kiệt xuất như thế. Đã bao năm trôi qua nhưng nhân dân ta vẫn giữ gìn và phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong mưa bão của đạm bom, đã có những bạn nhỏ lặn lội tới trường học tập rất say mê, chuyên cần. Không ít những người trong họ đã trở thành những giáo sư, tiến sĩ góp phần xây dựng đất nước sau những năm tháng khốc liệt và bị thương. Nhiều em nhỏ hăng hái tham gia kháng chiến như Kim Đồng đã mưu trí, chịu khó đi liên lạc, gửi công văn, góp phần vào chiến thắng cuối cùng của Tổ quốc. Giờ đây, đời sống hoà bình, độc lập cũng xuất hiện những tấm gương về tinh thần chăm chỉ, chịu khó. Bao bạn nhỏ miền núi xa xôi phải trèo đèo, lội suối để tới lớp học. Vậy mà các bạn ấy đi học rất đều đặn, hứng thú, say mê với việc học tập. Và trong số họ vẫn xuất hiện những học sinh giỏi vượt khó. Không những học tập chăm chỉ mà nhiều bạn còn giúp đỡ bố mẹ rất chăm chỉ, có thể kiếm tiền thêm cho gia đình. Cuộc sống quanh ta còn có các anh chị học tập rất giỏi đã đỗ vào trường chuyên, đỗ vào đại học hay còn có người đi học lấy bằng tiến sĩ, giáo sư. Không những ở đất nước Việt Nam nghìn năm văn hiến này mà cả ở nước ngoài cũng có những gương mặt tiêu biểu cho sự miệt mài, vượt khó. Một trong số họ là nhà vật lý nổi tiếng thế giới Ê-đi-sơn. Ông là một nhà khoa học nhưng vô cùng giản dị và siêng năng. Ông đã cần cù, chịu khó cầm búa để làm việc vất vả trong nhiều ngày. Và thành công của ông là đã chế tạo ra chiếc xe điện đầu tiên trên thế giới và chất làm dây tóc bóng đèn điện. Nhà thiên văn học Cô-péc-ních đã miệt mài nghiên cứu và ông đã biết được rằng Trái Đất là một trong những hành tinh quay xung quanh Mặt Trời chứ không phải Mặt Trời chuyển động quanh Trái đất của chúng ta. Các bạn biết Ga-li-lê chứ: Bằng sự tò mò, siêng năng chịu khó của mình ông đã phát hiện ra không khí có sức cản. Sự chăm chỉ không những góp phần quan trọng trong học tập, lao động hiện giờ mà còn ảnh hưởng tới công việc, tương lai sau này nên ai trong chúng ta cũng phải trang bị đầy đủ mọi thứ và chăm chỉ, chuyên cần là những yếu tố đầu tiên. Bây giờ, nhiệm vụ và bổn phận của chúng ta là phải học tập tốt, lao động tốt và rèn luyện đạo đức thật tốt. Để làm được điều đó thì chúng ta-những người còn ngồi trên ghế nhà trường hãy lập một thời gian biểu hợp lý và cần cù, sáng tạo thực hiện tốt kế hoạch đã đề ra. Như câu danh ngôn đã nói: Mọi ước mơ, hi vọng của chúng ta có thể thực hiện được nhờ sự chăm chỉ. Và ngược lại, nếu ta lười nhác thì những mục đích kia có thực hiện được không. Nếu bạn muốn. Bạn là một người con trong gia đình khó khăn thì bạn cang không nên lười biếng, mà phải chuyên cần học tập thật giỏi để mai đây sẽ giúp cho gia đình bạn thoát nghèo khó. Nếu bạn muốn trờ thành một bác sĩ giỏi, có kiến thức chắc chắn thì bạn phải tập trung, cần cù để học, để có hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực y học. Ước mơ của bạn là một giáo viên thì cũng thế thôi, bạn phải học, học say mê. Hơn nữa là phải đọc, tìm tòi những kiến thức mới mẻ. Và trước hết, bạn nên có ý chí, quyết tâm nghị lực để không có thái độ lười biếng, ỷ nại vào người khác. Trong lớp, chúng ta hãy suy nghĩ, phát biểu tích cực, chăm chú nghe lời thầy cô giảng bài. ở nhà, ta hãy học bài và làm bài đầy đủ. Hơn nữa, hãy học tập và làm theo những tấm gương sáng còn để lại tiếng thơm muôn thuở. Tóm lại, chặng đường học tập, lao động dù vất vả, khó khắn đến đâu cũng không làm cho chúng ta gục ngã nếu ta chịu khó, chăm chỉ. Vậy hãy cố gắng làm theo câu nói đầy ý nghĩa “Trên con đường thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng”. Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng – bài 6 Vận động viên thể thao phải luyện tập chăm chỉ mới có thể đạt huy chương trong cuộc thi đấu. Nhà khoa học phải vùi đầu vào các thí nghiệm mới mong đưa ra những phát minh mới. Học sinh muốn đỗ đạt phải dày công đèn sách, dùi mài kinh sử. Nhìn chung, thành công chỉ đến với những ai chịu khó lao động chăm chỉ, miệt mài. Chân Phước Richard Rolle cho rằng: “Muốn lên thiên đàng, chúng ta phải vượt qua một chặng đường đầy cố gắng, phải tập tành các nhân đức, cầu nguyện liên lĩ, những tư tưởng tốt lành, những việc làm phúc đức…”. Cũng vậy, Lỗ Tấn có viết: “Trên đường thành công không có vết chân của người lười biếng”. Chúng ta cùng xem xét điều Lỗ Tấn nói có đúng không? Thành công là đạt được những điều mong ước. Mà để đạt được điều mong ước đó, người ta không có cách nào khác là bỏ công sức ra lao động miệt mài. Thomas Alva Edison bỏ ra mỗi ngày hai mươi giờ để làm việc, nên ông mới có hơn hai ngàn năm trăm bằng phát minh. Để đưa ra các định luật nổi tiếng đánh đổ nhiều quan niệm lâu đời, Newton hiếm khi đi ngủ trước hai giờ khuya. Ngoài ra, ông còn nhiều lần quên ăn quên ngủ. Còn ông bà Curie phải vất vả nấu hàng tấn quặng thô để tinh chiết ra chất radium trong bốn mươi lăm tháng trời. Chính Franklin đã nói: “Siêng năng cày cấy đúng thời – Tới mùa lúa chín của Trời đầy kho”. Do đó, thành công được đánh đổi bởi công lao khó nhọc làm việc vất vả, nên người lười biếng sẽ không thể có được thành công đích thực trong cuộc sống. Sống trên đời, con người ta phải lao động để có cái ăn cái mặc. Đó là một nghĩa vụ, như ca dao Việt Nam có câu: “Có làm thì mới có ăn – Không dưng ai dễ đem phần đến cho”. Tục ngữ Việt Nam thì nói: “Tay làm, hàm nhai”. Còn Franklin thì cho rằng: “cáo ngủ không bắt được gà”. Chính Thánh Phaolô cũng nói rất cương quyết: “Ai không làm thì đừng có ăn”. Khi ở giữa các giáo đoàn, Thánh Phaolô không muốn thành gánh nặng cho các tín hữu, ngài làm nghề dệt bao bố để sinh sống. Còn những kẻ lười biếng là những kẻ chỉ thích ở không, sợ vất vả khó nhọc, sợ làm việc thì thật đáng chê trách, đáng bị lên án. Như thế thì làm sao kẻ lười biếng có được thành công? Một anh nhân viên lười biếng, sợ công việc, nên đi muộn, về sớm, trốn tránh công việc nếu không bị đuổi việc sớm thì cũng chỉ là một nhân viên quèn mà thôi, chứ không mong chi được thăng chức, được tăng lương. Để đạt được thành công, người ta không chỉ chịu khó làm việc, mà còn phải ham thích công việc, phải làm việc một cách tích cực đến mức không muốn nghỉ ngơi. Thánh Tôma Aquinô cho rằng: “không làm việc, không có niềm vui”. Còn Thánh Don Bosco thì trả lời khi các con cái ngài khuyên ngài nghỉ ngơi rằng: “Thiên đàng mới là chốn nghỉ ngơi”. Một mẫu gương ham thích công việc là ông Heinrich Schlieman. Ông say mê công việc khảo cổ đến nỗi đã bỏ ra bốn chục năm đào bới khắp các hòn đảo mới tìm ra thành Troy và nhiều di thành quách khác đã được nhắc trong các truyện thần thoại cổ. Trong khi đó, người lười biếng còn là người trễ nãi, lừng khừng, không yêu thích, không tha thiết với công việc. Do đó, người lười biếng không thể có được thành công. Một anh sinh viên chẳng có một tí ham thích chuyện học hành, thường xuyên đi học muộn, trốn học, không mấy khi lên thư viện nghiên cứu, mãi la cà ở quán café, quán nhậu…đến cuối năm nếu thi cử nghiêm túc thì cơ may đậu của anh ta rất thấp. Nếu may mắn ra trường được, và tiếp tục thói lười biếng đó, cuộc đời của anh ta không có gì là sáng sủa. Công việc luôn đòi hỏi người ta làm việc tỉ mỉ, cẩn thận, làm đến nơi đến chốn được. Như thế mới hoàn thành tốt công việc và đạt được yêu cầu của công việc. Hay nói cách khác là thành công trong công việc. Người kế toán phải tính toán kĩ lưỡng, chi tiết từng con số trong sổ sách, thì mới có được sự chính xác. Để tổng kết nên những định luật đặt nền móng cho ngành di truyền học, ông tổ ngành di truyền là Menden đã phải trồng, theo dõi, kiểm tra và tính toán tổng kết về sự khác nhau giữa các hạt đậu Hà Lan mà ông làm thí nghiệm. Ông phải quan sát nhiều đến mức cuối đời ông bị mù cả hai mắt. Trong khi đó, những kẻ lười biếng là kẻ làm việc cẩu thả, làm cho có làm, làm cho xong công việc thì không thể đạt kết quả cao trong công việc được. Một bác sĩ lười biếng, làm việc thiếu cẩn thận tỉ mỉ, thì rất dễ dàng gây ra những điều đáng tiếc cho bệnh nhân và tai họa cho chính bản thân. Một anh thợ xây mà thiếu cẩn thận, công trình anh ta làm mau chóng xuống cấp, mau chóng hư hại, để rồi anh ta sớm muộn cũng bị truy cứu. Những kẻ lười biếng như thế nhanh chóng bị xã hội loại thải, chứ không mong chi thành công. Tóm lại, thành công luôn đòi hỏi con người ta nhiều sự cố gắng nổ lực hết mình. Do đó, không thể có thành công nếu cứ mãi sống một cách buông thả, lười biếng được. Những kẻ lười biếng chỉ có thể bước vào con đường của thất bại, hoặc may mắn là con đường tầm thường thôi. Hơn nữa, những kẻ lười biếng thường bị xã hội chê ghét, xem thường, khinh bỉ, như ca dao có câu: “giàu chi những kẻ ngủ trưa, sang chi những kẻ say sưa tối ngày”. Và ông bà thường khuyên con cháu: “Thói thường gần mực thì đen Anh em bạn hữu phải nên chọn người Những kẻ lêu lỏng chơi bời Cũng là lười biếng ta thời tránh xa”. Do vậy, bàn chân của những kẻ lười biếng sẽ không bao giờ có thể bước vào con đường thành công được. Trên đây là bài tập làm văn trình bày suy nghĩ của em về câu nói: trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng
7,786
Trên đường thành công không có vết chân của kẻ lười biếng Hướng dẫn Trên đường thành công không có vết chân của kẻ lười biếng Người lười biếng là người lười suy nghĩ, học tập, lười lao động và làm việc. Mà thành công là mục đích, là kết quả mà người ta phải đổ mồ hôi, công sức, thời gian, trí tuệ, gian nan, vất vả, thậm chí phải nếm trải những thất bại mới có được. Vì vậy, Lỗ Tấn đã rút ra chân lý của sự thành công ” Trên đường thành công không có vết chân của người lười biếng“. Con đường dẫn đến thành công là con đường chông gai, đầy khó khăn, thử thách chứ không trải bằng hoa hồng. Là cả quá trình học tập, lao động, nghiên cứu sáng tạo không ngừng, đòi hỏi con người phải cần cù, miệt mài và chịu khó và có ý chí quyết tâm cao mới thành. Không có một thành công nào mà không đổi bằng mồ hôi, công sức. Người nông dân làm ra hạt gạo phải một nắng hai sương “Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” Một công trình khoa học, sáng chế ra đời là cả một quá trình nghiên cứu, lao động miệt mài của người kỹ sư. Để trở thành một giáo viên, nhà văn, bác sĩ giỏi được mọi người kính trọng, ngưỡng mộ phải đổi bằng tâm huyết cuộc đời…Vậy có thành công nào lại thuộc về người lười biếng? Có người lười biếng nào lại vươn được tới thành công? Cần khẳng định: Bất cứ sự thành công nào cũng cần sự cần cù, chăm chỉ, kiên trì, chịu khó. Lười biếng, ỷ lại, ngại khó ngại khổ sẽ chẳng bao giờ làm được việc gì có ý nghĩa. Hãy xây dựng ước mơ, hoài bão và nhân cách của mình bằng sức lao động, sự cần cù chăm chỉ để trở thành người tài đức trong cuộc sống. “Trong xã hội ta, không có nghề nào là thấp kém, chỉ có những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ”(Hồ Chí MInh).
Trên đường thành công không có vết chân của kẻ lười biếng
356
Trình bày các đặc điểm của truyện ngắn qua truyện Chiếc lá cuối cùng của O. Hen-ri Hướng dẫn Đối với đề này, chúng ta có thể thực hiện theo ba phần sau: Phần mở đầu: giới thiệu về tác giả O. Hen-ri và truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của ông; những đặc sắc về nội dung, cốt truyện, nghệ thuật và nhất là ý nghĩa của truyện. Phần nội dung: trình bày nội dung các vấn đề về câu chuyện, nhân vật trong truyện, hình tượng chiếc lá do cụ Bơ-men vẽ, ý nghĩa của câu chuyện. Về câu chuyện: Câu chuyện được đặt trong bối cảnh của một khu phốtồi tàn với những căn phòng cho thuê giá rẻ ở phía tây công viên Oa-sinh-tơn, trong khu phố tồitàn đó có một ngôi nhà ba tầng, đó chính là căn nhà nơi nhân vật chính trong truyện trú ngụ. Thời điểm được xác định là tháng mười một, khi gió lạnh mùa đông bắt đầu tràn về. Hai nữ họa sĩ trẻ và nghèo là Giôn-xi và Xiu đến thuê chung một căn phòng ở tầng trên cùng của căn nhà. Cụ Bơ-men cũng là một họa sĩ nghèo sống ở tầng dưới cùng. Giôn-xi bị bệnh sưng phổi và cảm thấy không muốn sống nữa mặc cho Xiuhết lời động viên và nhiệt tình chăm sóc. Hàng ngày Giôn-xi nằm quay mặt ra cửa sổ, nhìn những chiếc lá trên cây thường xuân rụng dần và đếm những chiếc lá còn lại. Cô nghĩ rằng khi chiếc lá cuối cùng rời khỏi cành thì cũng là lúc cô phải lìa xa cõi đời. Tâm trạng bi quan của Giôn-xi cứ kéo dài và đến tai cụ Bơ-men. Vào một đêm mưa tuyết khủng khiếp, khi chiếc lá cuối cùng trên cây đã rụng, cụ Bơ-men đã vẽ một chiếc lá thường xuân thay cho chiếc lá cuốicùng. Tuyệt tác của cụ Bơ-men đã cứu sống Giôn-xi nhưng cụ lại ốm nặng và qua đời. Về nhân vật: Chiếm vị trí trung tâm của truyện chính là hình ảnh từng chiếc lá trên cây thường xuân già rụng dần. Đó là một hình tượng giàu tính nghệ thuật: một cây thường xuân già cỗi đã cạn nhựa sống chỉ còn lại bộ xương khẳng khiu với mấy chiếc lá và bám vào bức tường đổ nát. Đây chính là hình ảnh về cuộc đời cô đơn, mòn mỏi của ba người nghệ sĩ. Mỗi chiếc lá rụng lại gợi cảm giác rằng cuộc đời đang lụi tàn dần, mỗi phút trôi qua là một phút mất mát: nét tươi tốt dần tan biến nhường chỗ cho vẻ héo hắt, xơ xác. Mỗi nhân vật trong truyện là một tính cách, một sốphận. Xiu là một nữ họa sĩ nghèo phải nhận vẽ minh họa cho một tạp chí, bán tranh cho lão chủ bút để kiếm tiền chăm sóc Giôn-xi, mua rượu Boóc-đô cho đứa em ốm, mua sườn lợn để đáp ứng cho cái tính háu ăn của mình… Giôn-xi là một nữ họa sĩ trẻ khát khao được vẽ vịnh Na-plơ, bản thân chị bị viêm phổi nặng và sống nhờ vào sự chăm sóc hết lòng của Xiu; Giôn-xi chán chường và không chút hi vọng, cứ nhìn qua cửa sổ đêm từng chiếc lá thường xuân rơi rụng, mỏi mòn đợi chiếc lá cuối cùng lìa cành, xem đó là khoảnh khắc cuốicùng của đời cô. Bơ-men là một họa sĩ già, thường làm mẫu vẽ cho các nghệ sĩ cùng xóm. Về hình tượng “Chiếc lá cuối cùng”: Chiếc lá thường xuân vẽ trên tường vào một đêm mưa tuyết khủng khiếp là tuyệt tác của cụ Bơ-men. Nó đã giúp Giôn-xi lấy lại cuộc sống của mình. Với đức hi sinh cao cả và tài năng tuyệt vời với tâm hồn của một nghệ sĩ giàu lòng nhân ái, cụ Bơ-men đã vẽ chiếc lá thường xuân định mệnh. Chiếc lá được vẽ trong một đêm lạnh buốt khủng khiếp dưới ánh sáng của một chiếc đèn bão với vài chiếc bút lông rơi vung vãi và một bảng màu xanh vàng pha trộn lẫn lộn. Bơ-men vẽ chiếc lá với mục đích giành lại sự sống cho Giôn-xi. Và quả thật tuyệt tác đó đã có tác dụng mầu nhiệm đưa Giôn-xi trở về với cuộc sống, với niềm mơ ước sáng tạo của người nghệ sĩ trẻ. Về ý nghĩa của chủ đề: “Chiếc lá cuối cùng”mà cụ Bơ-men vẽ không những là một tác phẩm kiệt xuất về mặt nghệ thuật vì nó giống như thật, mà còn là biểu tượng của lòng nhân ái, đức hi sinh cao cả, sự quên mình để bảo tồn sự sống cho người khác. Như vậy truyện đã “Ca ngợi tình yêu thương con người, ca ngợi mục đích và ý nghĩa cao quý của nghệ thuật là hãy yêu thương và hi sinh sự sống vì con người”. Phần kết luận:cần tóm tắt các đặc điểm chính của truyện và làm nổi bật hình thức, nội dung tự sự của truyện. Phải thấy rằng truyện chỉ đề cập đến một sự việc nhỏ nhưng tầm ảnh hưởng của nó lại rất lớn lao, đó chính là giá trị của truyện ngắn “Chiếc lá cuốicùng”. Chứng minh truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O.Hen-ri là Bức thông điệp màu xanh. Bài làm “Chiếc lá cuối cùng”là tác phẩm của nhà văn bậc thầy ở Mĩ, nhà văn O. Hen-ri. Ông tên thật là Uy-liêm Xit-nây Po-tơ. Thời trẻ, để kiếm sông ông đã lang thang nhiều nơi, làm nhiều nghề khác nhau, có lần bị giam giữ trong ba năm. Ông lấy bút danh O. Hen-ri có lẽ để kỉ niệm một người bạn tốt đã giúp đỡ ông nhiều trong thời kì này. Sau khi ông mất, Hội Nghệ thuật và Khoa học ở Mĩ lập một giải thưởng mang tên O. Hen-ri để tặng cho các truyện ngắn hay hằng năm. “Chiếc lá cuối cùng”là“bức thông điệp màu xanh” tác giả gửi đến người đọc để cangợi tình bạn thủy chung cao quý, nhắn nhủ mọi người hãy yêu thương con người, hãy biết hi sinh vì sự sống con người. Xiu và Bơ-men là hai nhân vật bổ sung cho nhau nhằm làm nổi bật tình cảm cao đẹp trên. Hai họa sĩ nghèo này khác nhau về tuổi tác, nhưng lại có chung một mối lo lắng: làm sao cứu sống được Giôn-xi khỏi bàn tay lạnh giá của Thần Chết. Xiu đã phải làm việc rất nhiều, không tiếc sức mình để kiếm tiền mua thuốc, mời bác sĩ, mua thức ăn… và chăm sóc bạn từng li từng tí, từ việc nấu cháo xúp tới việc dỗ dành bạn ăn bằng được. Xiu đúng là một người bạn thủy chung, cùng chia sẻ gian nan, hoạn nạn với bạn. Nhưng chỉ như vậy cũng chưa thể cứu được Giôn-xi, cô bị viêm phổi nặng đồng thời lại mang tâm trạng tuyệt vọng, tin rằng mình không thể sống được khi chiếc lá thường xuân cuối cùng của cái cây bên kia cửa sổ rụng xuống. Chữa bệnh viêm phổi, y học có thể làm được, nhưng chữa tâm trạng tuyệt vọng, bác sĩ cũng bó tay. Bằng sự nhạy cảm của một người giàu lòng nhân ái, bác Bơ-men đã nhận ra chiếc chìa khóa mở cánh cửa đưa Giôn-xi trở lại cuộc sống. Bằng tài năng, bác đã vẽ nên bức kiệt tác của mình – cũng chính là bức tranh cuốicùng – để mang lại cho Giôn-xi niềm tin yêu vào cuộc sống. Cả hai con người ấy, Xiu và Bơ-men tượng trưng cho lòng nhân đạo cao cả, cho tình yêu thương giữa những con người. Nhưng thông qua bức vẽ cuối cùng gắn liền với sự hi sinh lặng thầm của Bơ-men, tác giả còn muốn nói tới một vấn đề nữa: mục đích của nghệ thuật, ý nghĩa cao quýcủa nghệ thuật. Suốt bốn mươi năm lao động, bác Bơ-men luôn thất bại, chưa bao giờ ngòi bút của tác giả chạm tới tà áo của Nàng Nghệ thuật, nhưng vì mục đích giành lại sự sống cho mọi người, bác đã hoàn thành kiệt tác của mình trong một hoàn cảnh khác thường: đêm đông, gió lạnh, tuyết rơi, một mình với chiếc đèn bão trên một chiếc thang chênh vênh. Tác phẩm của cụ Bơ-men trở nên bất tử vì nó hiện hình trong sự sống của một con người, sự sống của một tài năng. Cốt truyện của “Chiếc lá cuối cùng” thật đơn giản. Câu chuyện sống được không chỉ vì ý nghĩa nhân đạo sâu sắc của nó, mà còn vì ngòi bút dựng truyện, khắc họa nhân vật đầy tài năng của tác giả. Về mặt kết cấu, ông đã sử dụng thành công thủ pháp đảo lộn tình thế hai lần một cách đột ngột, bất ngờ để hấp dẫn người đọc. Trong truyện, lần thứ nhất là khi Giôn-xi đi đến trạng thái tuyệt vọng, buông thả mọi ý chí, phó mặc cho Thần Chết đưa lưỡi hái ra cắt đứt đời mình. Cô đã đoán chắc với Xiu: “Khi chiếc lá lìa cành thì chắc chắn em cũng lìa đời”. Cô diễn tả tâm trạng của mình trong sự tuyệt vọng “chờ đợi làm em chán lắm rồi, nghĩ ngợi cũng làm em chán lắm rồi. Em muốn buông tay ra khỏi tất cả những thứ em còn đang nắm và lướt xuống, hệt như một trong những chiếc lá mệt mỏi đáng thương đó”. Người đọc cảm thấy nghẹt thở tưởng như vô phương cứu chữa trước một con người không còn một tơ vương nào vào cuộc sống. Nhưng kì diệu thay, chiếc lá cuối cùng không rụng. Nó còn đó mãi mãi như sự bất tử của cuộc đời. Rồi Giôn-xi bắt đầu bình phục. Lần đảo lộn tình thế thứ hai tiếp liền sau khi Giôn-xi bình phục, ởđoạn trên, ông già Bơ-men xuất hiện thoáng qua rồi mất hút, người đọc bị hấp dẫn bởi cuộc đấu tranh giành sự sống trong Giôn-xi cũng đã quên mất ông. Chính lúc ấy, lời kể của Xiu làm cho cả Giôn-xi và người đọc sống lại một sự kiện bi tráng. Chiếc lá cuối cùng thật đã rụng. Còn lại mãi mãi trên tường là chiếc lá của tình thương yêu, là lòng yêu mến cuộc sống cháy bỏng của người họa sĩ già. Sự bất ngờ này đưa Bơ-men thành nhân vật quan trọng nhất thể hiện sâu đậm chủ đề của câu chuyện. “Chiếc lá cuối cùng” là truyện ngắn về những con người bình thường, những việc bình thường nhưng lại khó quên vì ánh sáng nhân đạo tỏa sáng mãi của tác phẩm. Mãi mãi người đọc sẽ nhớ tới bác Bơ-men có hình dáng như người thợ mỏ khắc khổ nhưng lại có tấm lòng và hành động của một vị thánh. Mãi mãi người đọc sẽ nhớ tới bức thông điệp màu xanh kêu gọi sự yêu thương giữa con người với con người, kêu gọi nghệ thuật hướng về con người. Tạ Đức Hiền Cảm nhận về đoạn trích Chiếc lá cuối cùng của O. Hen-ri. Bài làm Ai đã từng đọc những truyện ngắn của nhà văn người Mĩ O. Hen-ri (1862-1910) hẳn sẽ cảm nhận một điều: từ hiện thực cuộc sống đầy rẫy những bất công vô lí, đem đến bao bất hạnh cho những cuộc đời nghèo khổ, nhà văn luôn khơi dậy được vẻ đẹp tâm hồn những con người ấy qua những tình huống truyện bất ngờ, cảm động. Chiếc lá cuối cùng là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn ắp tràn tình thương yêu và niềm tin với con người, một bức thông điệp khẳng định sứ mạng và sức mạnh của nghệ thuật chân chính. Câu chuyện kể về cuộc sống chật vật của những người họa sĩ nghèo: hai nữ họa sĩ trẻ Xiu và Giôn-xi sống cùng căn hộ với người họa sĩ già Bơ-men. Những khó khăn về vật chất đã vắt kiệt sức sáng tạo, khiến họ lâm vào cảnh bi đát. Cụ Bơ-men suốt bốn chục năm mơ ước vẽ một bức kiệt tác mà không thực hiện được, đành phải ngồi làm mẫu cho các họa sĩ trẻ để kiếm chút tiền còm nuôi thân. Giôn-xi bị sưng phổi, bệnh tật và nghèo túng đã lấy nốt của cô niềm tin vào cuộc sống. Chỉ còn lại Xiu mòn mỏi với những bức vẽ và ám ảnh bởi suy nghĩ của Giôn-xi: cô gái bệnh tật ấy đang đếm từng chiếc lá rơi để chờ định mệnh phán quyết mạng sống của chính mình, với niềm tin khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cô sẽ ra đi… Không gian cuộc sống của những con người khốn khổ ấy lạnh lẽo u ám như mùa đông, nặng trĩu những buồn lo. Đáng sợ làm sao khi mỗi ngày trôi đi trong gió tuyết và những cơn mưa lạnh lẽo dai dẳng, những chiếc lá thường xuân tiếp tục rơi xuống, chỉ còn lại một chiếc lá cuối cùng để Giôn-xi như nhìn thấy cái chết của mình đang đến gần. Có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy rối lòng, bất lực trước một con người đã buông xuôi, chán sống. Bởi thế nhà văn đã tập trung miêu tả khoảnh khắc căng thẳng của Xiu và cụ Bơ-men lúc Giôn-xi đang ngủ: “Họ sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì”. Có lẽ trong giây phút đó, họ đã nhìn thấy nhánh thường xuân cuối cùng trụi lá rồi chăng? Dường như cùng với cái khắc nghiệt của trời đông, mưa gió, họ có thể đoán trước được điều gì khi Giôn-xi tỉnh dậy vào sáng hôm sau và thấy chiếc lá cuối cùng đã rụng. Trong hoàn cảnh này, người đau khổ nhất không phải là Giôn-xi mà chính là cô gái trẻ Xiu. Bởi lẽ, cô là người sẽ phải chứng kiến toàn bộ tấn bi kịch sắp diễn ra vào sáng hôm sau khi Giôn-xi lại nhìn ra cửa sổ. Nhà văn không mô tả cụ thể tâm trạng Xiu, chỉ cho biết cô “tỉnh dậy sau khi chợp mắt được một tiếng đồng hồ”, như vậy có nghĩa là cô đã phải trải qua một đêm trắng đầy âu lo thổn thức, trong sự bồn chồn và bất lực. Một đêm mưa gió ngoài trời dữ dội, một chiếc lá mong manh bám trên bức tường gạch chắc chắn sẽ bị vùi dập tơi tả, không chống chọi nọi sự tàn phá của tự nhiên. Điều đó có nghĩa là sau phút kéo mành lên, Giôn-xi sẽ nhìn thấy cái chết của chính mình. Nhưng Xiu cũng không thể chịu được khoảnh khắc nhìn thấy “Giôn-xi đang mở to cặp mắt thẫn thờ nhìn tấm mành màu xanh đã kéo xuống”. Không kéo mành lên cũng không được, vì như vậy Xiu sẽ mang mặc cảm chính mình mới là người gây ra cái chết của Giôn-xi. Ta hiểu tâm trạng của cô khi làm theo một cách chán nản, bản thân cô cũng không còn phương cách nào giúp cho người đồng nghiệp, người em gái kia từ bỏ suy nghĩ điên rồ đáng sợ kia. Chính vào lúc ấy, một hình ảnh bất ngờ đã làm đảo lộn mọi dự đoán, đảo ngược cả tình huống tưởng như chắc chắn trong dự định của Giôn-xi,trong nỗi lo của Xiu và trong sự thất vọng của mọi người. Tình huống ấy đã thắp lại niềm hi vọng như một phép mầu: vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch. Có lẽ người vui mừng nhất lúc này là Xiu, vì chiếc lá cô nhìn thấy không phải là một ảo ảnh: “Đó là chiếc lá cuối cùng trên cây. Ởgần cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng với rìa lá hình răng cưa đã nhuốm màu vàng úa, chiếc lá vẫn dũng cảm treo bám vào cành cách mặt đất chừng hai mươi bộ”. Còn Giôn-xi? Cô cũng nhận ra “Đó là chiếc lá cuối cùng”, thừa nhận sự thật một cách miễn cưỡng và tiếp tực suy nghĩ: “Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết”. Giôn-xi thật đáng thương nhưng cô cũng thật đáng trách khi vẫn đeo đuổi ý định từ bỏ cuộc sống. Cô chìm đắm trong ý nghĩ kì quặc của mình, mặc kệ những sợi dây ràng buộc cô với tình bạn và với thế gian cứ lơi lỏng dần từng sợi một. Cô đã phụ lòng của Xiu, bởi lẽ cô đã xem nỗi đau của mình lớn hơn tất cả mọi sự quan tâm lo lắng của mọi người. Trong thời điểm ấy, sẽ không ai có thể giúp đỡ cô, ngoại trừ chính bản thân cô. Thời gian một ngày kéo dài đằng đẵng để Giôn-xi chứng kiến chiếc lá thường xuân chống chọi với mùa đông khắc nghiệt. Chiếc lá bướng bỉnh ấy không chấp nhận sự buông xuôi của một cô gái còn quá trẻ. Thế nhưng, khi con người ấy đã chấp nhận đầu hàng số phận, thì sức mạnh của màn đêm buông xuống, gió bấc ào ào, mưa đập mạnh vào cửa sổ lại có một uy lực khiến cho Giôn-xi không còn một niềm tin nào vào sự sống của chính mình. Sự cố chấp ấy quả thật đáng chê trách. Nhà văn đã tạo ra một tình huống thử thách trước sốphận của Giôn-xi, để rồi, cuối cùng người đọc có thể thở phào nhẹ nhõm: “chiếc lá thường xuânvẫn còn đó”. Chiếc lá mong manh ấy đã chiến thắng được thời tiết khắc nghiệt, để tạo ra một bước ngoặt trong nhận thức của Giôn-xi. Cuốicùng, cô gái ấy đã nhận ra sự ích kỉ tồi tệ của bản thân mình. Chiếc lá cuối cùng đã cứu sống một sinh linh. Trước hết là thức tỉnh khát vọng sống tiềm ẩn trong tâm hồn Giôn- xi, để cô nhận ra: “Có một cái gì đây đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội”. Phép nhiệm mầu đã xảy ra, vượt qua tất cả những quy luật thường tình của thiên nhiên tạo hóa, khiến Giôn-xi không hiểu và không sao hiểu được. Phải chăng, Thượng đế chí công và nhân từ không nỡ để một cô gái trẻ phải sớm giã từ cuộc sống? Không những thế, sau thời khắc bừng tỉnh, cô gái Giôn-xi đã lại bắt đầu mơ ước về tương lai: “một ngày nào đó em sẽ vẽ được vịnh Na-plơ". Thượng đế thật công bằng, vị thượng đế ấy có tên là… Bơ-men. Người họa sĩ già khốn khổ ấỵ khôngcó quyền năng tối thượng của Thượng đế, nhưng ông có một trái tim giàu lòng thương cảm. Hóa ra, trong thời điểm làm mẫu cho Xiu, con người ấy đã đi đến một quyết định táo bạo, đoạt quyền của Đấng-Toàn-năng bằng chính khả năng của mình. Con người đã bốn mươi năm theo đuổi kiệt tác mà không thành công đã tạo nên một kiệt tác cuối cùng của đời mình: chiếc lá cuối cùng! Khi bắt tay vào công việc, người nghệ sĩ chân chính ấy đã âm thầm hành động với ước nguyện thật cao cả: trả lại niềm tin vào sự sống cho Giôn-xi. Không ai được biết có bao nhiêu tinh hoa đã phát tiết trong giờ phút vẽ nên chiếc lá trên tường của cụ Bơ-men. Tất cả đều diễn ra quá bất ngờ, đến nỗi cả Xiu là người đã chứng kiến giờ phút chiếc lá cuối cùng rụng xuống cùng cụ Bơ-men cũng phải bàng hoàng. Ta chợt hiểu những lời nói hối hả của cô với Giôn-xi: “Em thân yêu, thân yêu. Em hãy nghĩ đến chị, nếu như em không còn muốn nghĩ đến mình nữa. Chị sẽ làm gì đây?”. Cô đã hiểu tất cả, nhưng không dám nói rõ cho Giôn-xi, bởi lẽ cô chưa thể hình dung ra phản ứng của Giôn-xi trước một sự lừa dối bắt nguồn từ lòng tốt của người họa sĩ già. Lời nói ấy còn bộc lộ một niềm sung sướng vô biên của Xiu trước giải pháp tình thế mà cụ Bơ-men đã nghĩ ra trong đêm chiếc lá cuối cùng thực sự đã rụng xuống. Bởi thế, lần kéo mành vào hôm sau, ta không còn gặp tâm trạng chán nản đến cùng cực của Xiu nữa. Vì sự sống của một cô gái, cụ Bơ-men đã bất chấp thử thách của thời tiết khắc nghiệt, quên đi sự sống của bản thân mình. Có lẽ bản thân cụ cũng không ngờ đó là bức vẽ cuối cùng của cuộc đời mình, nhưng chắc chắn một điều khi người họa sĩ ấy vẽ chiếc lá, bức vẽ ấy không nhằm để lưu lại tên tuổi nghệ sĩ với đời. Điều đáng quan tâm lúc đó là sự sống đã tắt trong tâm hồn một cô gái trẻ, làm thế nào để cô thôi không bị ám ảnh bởi quy luật lạnh lùng của tạo hóa, để rồi vươn lên giữa cuộc đời bằng chính sức sống tiềm tàng trong tâm hồn cô. Đó là lúc người họa sĩ già ấy hiểu thấu sứ mạng vinh quang và cao cả của nghệ thuật: hướng về con người chứ không phải là nhằm tạo chút danhtiếng hãohuyền, nghệ thuật chỉ thật sự bắt đầu khi sáng tạo của người nghệ sĩ giúp ích cho đời. Cuối cùng thì Giôn-xi đã vượt qua cửa ải của chính mình, trở lại với niềm tin sự sống nhờ niềm tin vào sức sống mãnh liệt từ chiếc lá cuối cùng – tác phẩm của cụ Bơ-men. Nhưng người nghệ sĩ già ấy đã phải trả một cái giá quá đắt bằng chính mạng sống của mình. Giôn-xi chỉ được biết điều ấy khi đã thật sự bình phục bằng nghị lực của chính mình. Qua lời thuật lại của Xiu, ta hiểu được lòng biết ơn của Xiu đối với người họa sĩ cao cả ấy, và cô muốn nhắc nhở Giôn-xi không thể vô ơn trước sự hi sinh của một con người chân chính, vì sự sống của đồng loại đã không ngần ngại xả thân. Cụ Bơ-men đã nhiễm chính căn bệnh sưng phổi của Giôn-xi vào lúc tạo nên chiếc lá cuối cùng giữa một đêm đông mưa gió lạnh lẽo. Chi tiết xúc động này khiến ta tin rằng Giôn-xi dù biết rằng chiếc lá ấy là một sản phẩm nhân tạo, nhưng chắc chắn cô sẽ không bao giờ hối hận trước một sự lừa dối cao cả như thế.Người họa sĩ già Bơ-men là hiện thân của sự cao thượng, lòng vị tha, đức hi sinh của một con người chân chính. Câu chuyện kết thúc bằng một sự đảo ngược tình huống lần thứ hai. Chiếc lá cuối cùng là một sự lừa dối, nhưng lại là một sự lừa dối cao cả để đem lại niềm tin vào sự sống cho con người. Kiệt tác cuối cùng của người họa sĩ già đã được ra đời nằm ngoài tất cả mọi dự đoán của công chúng. Nhưng chiếc lá cuốicùng ấy mãi mãi là bằng chứng của tấm lòng yêu thương con người. Bởi thế, Chiếc lá cuối cùng sẽ mãi bất tử với thời gian. Cảm nhận về các nhân vật trong đoạn trích Chiếc lá cuối cùng của O. Hen-ri. Bài làm Đoạn trích Chiếc lá cuối cùng trong truyện ngắn cùng tên của tác giả O. Hen-ri thấm đượm tình người đã rung lên những sợi dây cảm xúc trong tâm hồn độc giả. Tình người cao đẹp được thể hiện trước hết ở nhân vật Bơ-men và bức kiệt tác của cụ. Ngay từ đầu đoạn trích, người họa sĩ già khắc khổ này chỉ xuất hiện qua một vài chi tiết: Xiu và cụ Bơ-men “sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì”; “cụ Bơ-men mặc chiếc áo sơ mi cũ màu xanh, ngồi đóng vai một tay thợ mỏ già trên cái ấm đun nước lật úp giả làm tảng đá” và cuối cùng chỉ thấp thoáng qua lời kể của Xiu. Nhưng có lẽ đôi hình ảnh hiếm hoi ấy mãi còn lại trong tâm trí bao người. Giây phút “nhìn cây thường xuân” đầy lo lắng là lúc cụ cảm nhận rõ nhất dáng ngủ yếu ớt cũng như mạng sống mong manh của Giôn-xi. Không ai biết trong ánh nhìn lặng lẽ chẳng nói năng và cái dáng ngồi làm mẫu bất động, cụ đang ấp ủ một điều gì. Đã từ lâu, ông cụ già “nhỏ nhắn dữ tợn” tự coi mình là một con chó xồm lớn chuyên canh gác và bảo vệ cuộc sống của hai nữ họa sĩ trẻ yếu đuối Xiu và Giôn-xi. Với cụ Bơ-men cô độc, có lẽ hai cô gái không khác gì những người ruột thịt, những người thân yêu nhất trong những năm tháng tuổi già hiu quạnh. Thường ngồi làm mẫu cho những bản vẽ của cô chị và hay tâm tình về tác phẩm kiệt xuất của mình, phải chăng đó là những tình, cảm ấm áp mà cụ dành cho họ? Cụ hiểu tâm trạng Giôn-xi và nỗi lòng Xiu. Và… O. Hen-ri không kể ông cụ làm gì sau khi về căn hộ cũ tồi tàn của mình. Cách cắt đoạn tạo một khoảng không gian riêng mà trong đó, chẳng ai có thể đoán được cụ Bơ-men sẽ có những hành động cụ thể nào. Nhưng rồi, qua lời kể của cô, chị Xiu, Giôn-xivà người đọc chợt ngỡ ngàng hiểu rõ công việc mà cụ đã âm thầm làm trong im lặng, trong những tiếng gào thét dữ dội của giông bão. Một mình cụ, với ngọn đèn bão, với bảng màu và chiếc thang mà có lẽ phải vất vả lắm cụ mới có thể lôi được nó ra khỏi chỗ cũ…. đã hoàn thành bức kiệt tác của cuộc đời mình. Thân già khổ sở trong đêm tối khủng khiếp đang nhăm nhe quật ngã mọi thứ, phải dũng cảm, chịu khó, bền bỉ như thế nào thì cụ Bơ-men nhỏ nhắn mới có thể gắng sức đương đầu với cơn mưa phũ phàng như vậy? Hơn nữa, vẽ – dẫu chỉ là vật nhỏ nhoi như một chiếc lá – trong hoàn cảnh khắc nghiệt, không ai giúp đỡ lại càng khó khăn gấp bội. Chiếc lá rất thật: “Tuy ở gần cuống lá vẫncòn giữ màu xanh sẫm, nhưng rìa lá hình răng cưa đã nhuốm màu vàng úa” được vẽ nên bằng tất cả tấm lòng, tâm huyết và tài năng của người họa sĩ già Bơ-men. Nhưng điều quan trọng nhất là mục đích cuối cùng của người họa sĩ “thất bại trong nghệ thuật” đã đạt được. Chiếc lá mỏng manh chông chọi, thách thức cùng gió rét đã tiếp thêm sức sống và niềm tin cho Giôn-xi, kéo cô từ vực sâu của chết chóc và bệnh tật lên đỉnh chiến thắng. Nhưng cụ Bơ-men đã vĩnh viễn ra đi. Hóa ra ông cụ già “hay chế nhạo cay độc sự mềm yếu của bất kì ai” lại là một người có thể hi sinh mạngsống của mình vì người khác. Chiếc lá là minh chứng cho tất cả tấm lòng thương yêu và sự quyết tâm cứu cô họa sĩ trẻ đầy tài năng với tương lai phía trước của cụ. Có thể cụ không nghĩ rằng đó là một kiệt tác. Dẫu bức tranh chẳng phải là tác phẩm có thể đưa cụ và hai cô gái trẻ ra khỏi nơi ẩm thấp rẻ tiền mà họ đang trú ngụ, nhưng cólẽ dưới suối vàng cụ vẫn sẽ mỉm cười mãn nguyện. Ngay hành dộng của cụ cũng đã là một kiệt tác, một kiệt tác vô giá dù không màu sắc, không đường nét, không âm thanh… nhưng chan chứa tình người. Tác giả không trực tiếp miêu tả mà tiết lộ cách “sáng tác” âm thầm, lặng lẽ ấy qua lời nói của Xiu tạo một sự bất ngờ cho người đọc, đồng thời tô đậm thêm tấm lòng cao cả và đức hi sinh như thánh thần của một họa sĩ già nghèokhổ. Cũng như cụ Bơ-men, khi nhìn cây thường xuân chỉ còn trơ trọi vài chiếc lá, Xiu đã không giấu được nỗi lo sợ của mình. Giôn-xi tuy không ruột rà máu mủ gì với cô, nhưng cô thương Giôn-xi như một người em gái. Khoảnh khắclặng nhìn cây thường xuân là khoảng lặng nặng nề đè trĩu tâm tư Xiu. Vì thế, sáng hôm sau, khi Giôn-xi yêu cầu kéo rèm cửa lên, cô “làm theo một cách chán nản”. Rõ ràng trong cô vẫn bị ám ảnh bởi tâm trạng bi quan của Giôn-xi. Cô không tin vào điều định mệnh về “chiếc lá cuối cùng” mà Giôn-xi nghĩ đến, nhưng cô sợ, với tình cảnh này, Giôn-xi sẽ thực sự rời xa cô mất. Cụ Bơ-men không nói gì với côvề việc làm của mình, về ý định thay thế chiếc lá thiên nhiên đã rơi rụng bằng một chiếc lá “nhân tạo” nên khi thấy trên cành chỉ còn duy nhất một chiếc lá lay lắt, mỏng manh, yếu ớt, Xiu không khỏi thắt lòng lo sợ. Tiếng thều thào đoán định của Giôn-xi: “Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết” như bóp nghẹt trái tim Xiu. Trước mặt Giôn-xi, Xiu tỏ ra mạnh mẽ là thế – một Xiu luôn cứng cỏi gạt bỏ những suy nghĩ tiêu cực của em-nhưng Giôn-xi có biết từ sâu thẳm tâm hồn Xiu cũng yếu đuối và đa cảm lắm? Cô thương Giôn-xi đến nỗi lo sợ không biết rồi mình sẽ ra sao nếu Giôn-xi chết đi “Em thân yêu, thân yêu! Em hãy nghĩ đến chị, nếu em không còn nghĩ đến mình nữa. Chị sẽ làm gì đây?” Lời động viên tràn đầy tình thương yêu để Giôn- xi hiểu rằng với Xiu, Giôn-xi như nửa cuộc đời cô. Giôn-xi mất đi rồi, liệu cuộc sống của cô có còn gì gọi là ý nghĩa? “Ngày hôm đó trôi qua, và ngay cả trong ánh hoàng hôn, họ vẫn có thể trông thấychiếc lá thường xuân đơn độc níu vào cái cuống của nó trên tường”, một câu kể ngỡ như bình thường mà chứa đựng bao nỗi niềm. Trong bóng tốiđang dần buông xuống, những đôi mắt vẫn không ngừng dõi theo chiếc lá cuối cùng như muốn chứng kiến cảnh chống chọi của nó với thiên thiên khắc nghiệt. Niềm hi vọng vẫn còn đó, nhưng có thể phụt tắt bất cứ lúc nào, khác gì ngọn đèn leo lét trước cơn gió dữ. Nhà văn không dùng một từ ngữ nào để miêu tả tâm trạng Xiu khi sang ngày sau nữa, chiếc lá vẫn dũng cảm bám chặt trên cành, nhưng vẫn có thể hình dung nét mặt tươi tắn của cô. Hẳn Xiu rất mừng khi Giôn-xi muốn ăn cháo. Những cử chỉ chăm sóc tận tình đã được đáp lại. Lời nói của vị thầy thuốc “Được năm phần mười rồi. Chăm sóc chu đáo thì chị sẽ thắng” càng khơi dậy niềm hi vọng vốn có lúc tưởng như tắt lụi. Cùng với sự cổ vũ của “chiếc lá dũng cảm” – kiệt tác của cụ Bơ-men – Xiu đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp Giôn-xi tìm lại được niềm tin và sự sống. Tình bạn và tấm lòng chân thật đã chiến thắng lão già viêm phổi quái ác. Lại một khoảng thời gian nữa trôi qua, khoảng thời gian thể hiện sự tinh tế và chín chắn trong vai trò làm chị của Xiu. Khi Giôn-xi đã lấy lại được sự vui vẻ, Xiu mới nhỏ nhẹ nói cho em sự thật mà có lẽ cô cũng chỉ mới biết không bao lâu. Nếu Xiu biết trước ý định của cụ Bơ-men thì truyện sẽ mất đi nhiều sức hấp dẫn, và chắc chắn cũng sẽ không có đoạn văn thể hiện tâm trạng lo lắng thấm đượm tình người của Xiu. Cô không phải là trung tâm tác phẩm nhưng lại đem đến cho người đọc một tình cảm êm dịu, hiền hòa, góp thêm một phần vào bức tranh với những gam màu sáng của tình người cao đẹp. Còn Giôn-xi, người biết sự thật cuối cùng? Cảnh ngộ của cô thật đáng thương. Cái nghèo túng cùng cơn bệnh hoành hành cướp đi của cô tất cả sức lực. Cô gần như tuyệt vọng. Mỗi tiếng đếm lùi khi từng chiếc lá rơi xuống là mỗi lúc cô cảm thấy gần kề với cái chết hơn. Lưỡi hái tử thần cứ chập chờn trước mặt Giôn-xi đầy đe dọa gắn với hình ảnh của những chiếc lá thường xuân nhỏ bé. Sự sống mong manh của cô khác nào những chiếc lá ấy, chỉ một cơn gió thoảng qua là có thể lìa cành? Người đọc chợt căng thẳng, hồi hộp mỗi khi Giôn-xi bảo Xiu kéo mành lên. Ngay ngày hôm trước, sự tuyệt vọng của Giôn-xi làm nên nỗi niềm lo sợ trong Xiu và cụ Bơ-men, để rồi nỗi lo sợ lại len lỏi vào lòng người đọc. Lần thứ nhất kéo mành chỉ còn lại một chiếc lá, khiến không ai có thể dứt mắt khỏi sự sống nhỏ nhoi ấy suốt một ngày một đêm. Lần kéo mành thứ hai, liệu chiếc lá có còn và tính mạng của Giôn-xi sẽ ra sao? Giôn-xi có tàn nhẫn quá không khi bóp nghẹt trái tim người thân yêu bằng cách ra lệnh kéo mành như thế? Thật khó mà hồn nhiên, vui vẻ khi nghĩ rằng mình sắp chết, nhất là lúc con người đang ở vào độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời! Nghe những lời thủ thỉ tâm tình của Xiu, Giôn-xi cũng cô đơn lắm chứ. “Cái cô đơn nhất trong khắp thế gian là một tâm hồn đang chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của mình”. Cô đơn “khi những mối dây ràng buộc cô với tình bạn và với thế giới xung quanh cứ lơi lỏng dần từng sợi một”. Và nỗi sợ hãi choán hết tâm trí cô. Nhưng khi đêm đã qua rồi mà chiếc lá cuối cùng vẫn chưa lìa cành, Giôn-xi “nằm nhìn chiếc lá hồi lâu”, cái nhìn như dần sưởi ấm trái tim yếu đuối giá lạnh của cô. Có lẽ cô đang nghĩ và so sánh mình với sự mạnh mẽ của chiếc lá: “Có một cái gì đấy đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy mình đã tệ như thế nào” và chợt nhận ra “muốn chết là cái tội”. Khoảng thời gian diễn ra sự hồi sinh diệu kì trong tâm hồn cô. Chiếc gương tay, ý muốn được ngồi dậy xem Xiu nấu nướng là những biểu hiện rõ rệt nhất của sự sống. Và niềm hi vọng được vẽ cảnh vịnh Na-plơ lại bùng cháy: Nhận được sự động viên, khích lệ âm thầm lặng lẽ của cụ Bơ-men, của Xiu, Giôn-xi đã tự mình biến cái không tưởng thành hiện thực. Tất cả sẽ trở nên vô nghĩa nếu như giờ phút này cô lại chấp nhận buông xuôi. Nhưng không, người đọc có thể thở phào nhẹ nhõm trước một sự sống mới đang hình thành. Cả ba nhân vật xuất hiện bổsung và hoàn chỉnh dần bức tranh thấm đượm tình người, dẫu là những con người không ruột thịt máu mủ. Và một nhân vật cứ im lìm, bất động, lặng lẽ chứng kiến sự đổi thay kì diệu. Chỉ vài trang kết truyện “Chiếc lá cuốicùng” với lối xây dựng theo kiểu có nhiều tình tiết hấp dẫn, sắp xếp chặt chẽ khéo léo, kết cấu đảo ngược tình huống hai lần, O. Hen-ri đã gây hứng thú và làm cho chúng ta rung cảm trước tình yêu thương cao cả giữa những con người nghèo khổ. Người nghệ sĩ trong truyện Chiếc lá cuối cùng của O. Hen-ri. Bài làm Trong nhịp sống tất bật, hối hả quay cuồng, nếu không có một khoảng lặng, một phút dừng lại ngắm nhìn cuộc đời, hẳn con người sẽ không bao giờ tìm được chút bình yên, thanh thản cho tâm hồn mình. Những lo toan thường nhật, cuộc mưu sinh bận rộn với bao toan tính, đắn đo đã cuốn con người vào vòng quay bất tận. Nhưng không, ở đâu đó, hơi ấm tình người vẫn lặng lẽ tỏa sáng. Ngay trong một khu phốnhỏ tồi tàn, vẫn cất lên bản nhạcdịu dàng giữa một xã hội phồn vinh, rộng lớn. Nơi ấy, nhà văn Mĩ O. Henri, bằng tấm chân tình của mình, đã giúp người đọc phát hiện bao vẻ đẹp của tình thương yêu giữa những người lao động nghèo khổ. Đoạn trích trong “Chiếc lá cuối cùng” diễn tả đầy đủ vẻ đẹp những trái tim nhân hậu cao cả. “Chiếc lá cuối cùng” là truyện ngắn kể về những người nghệ sĩ nghèo. Xiu và Giôn-xi là hai nữ họa sĩ trẻ sống trong một căn hộ thuê rẻ tiền ở khu quảng trường Gri-niz, gần công viên Oa-sinh-tơn. Bệnh viêm phổi và sự nghèo túng đã khiến Giôn- xi ngã gục trên con đường tìm về với sự sống. Cô nằm bất động trên giường bệnh, dõi theo những chiếc lá thường xuân qua ô cửa sổ và tin rằng mình sẽ ra đi khi chiếc lá cuốicùng rụng xuống, vẻ chán nản làm bệnh tình của cô ngày một trầm trọng. Xiu vô cùng lo lắng và bộc lộ nỗi niềm với cụ Bơ- men – người họa sĩ nghèo luôn ấp ủ ước mơ vẽ một kiệt tác nhưng chưa bao giờ thực hiện được, đành sống qua ngày bằng tiền vẽ tranh quảng cáo và ngồi làm mẫu cho các họa sĩ trẻ cùng xóm… Một buổi sáng, Giôn-xi lại thều thào ra lệnh cho Xiu kéo chiếc màn cửa sổ để cô nhìn ra ngoài. Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phũ phàng đêm trước, một chiếc lá vẫn bướng bỉnh bám trên cành thường xuân. Đó là chiếc lá cuối cùng của cây. Cả ngày hôm ấy, Giôn-xi chờ cho chiếc lá rụng xuống và cô sẽ chết. Nhưng sáng hôm sau, chiếc lá vẫn còn nguyên trên cây, tiếp thêm cho Giôn-xi sức sống và niềm hi vọng một ngày nào đó sẽ được vẽ vịnh Na-plơ. Khi Giôn-xi gần như chiến thắng được bệnh tật thì cụ Bơ-men qua đời, vì bệnh lao phổi. Chiếc lá thường xuân giúp Giôn-xi vượt qua cơn nguy hiểm là kiệt tác cụ Bơ-men đã vẽ trên tường trong đêm mưa gió dữ dội, tàn bạo, cái đêm mà chiếc lá cuối cùng không chịu nổi sức gió đã lìa cành… Đoạn trích thấm đượm tình người đã rung lên những sợi dây cảm xúc trong tâm hồn độc giả. Câu chuyện khép lại bằng lời kể của Xiu mà không để Giôn-xi có phản ứng gì thêm. Biết đâu mỗi lần ngắm chiếc lá là một lần Xiu và Giôn-xi được tiếp thêm sức lực và bản lĩnh để vượt qua những khó khăn, gian khổ trong cuộc sống? Truyện đã dừng lại, nhưng dư âm vẫn còn vang vọng trong lòng người đọc với bao suy nghĩ, dự đoán… Ngoài nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí và khắc họa tính cách ba nhân vật, nhà văn O. Hen-ri đã thành công trong việc xây dựng hai tình huống bấtngờ, thú vị. Ngay từ đầu, Giôn-xi đã đem đến bao lo lắng, thương cảm khi từng giờ phút chiến đấu và dần buông xuôi trước tử thần, nhưng theo thời gian, tình huống bỗng đảo ngược, Giôn-xi trở nên yêu đời, ham sống, tạo nên tiếng thở phào nhẹ nhõm. Ngược lại, cụ Bơ-men khỏe mạnh bỗng chết vì bệnh viêm phổi, một cái chết để lại những giọt nước mắt cảm động. Cả hai lần đảo ngược tình huống đều xoay quanh một trục: Bệnh viêm phổi, chiếc lá cuối cùng, có khác chăng là hành trình đi từ sự sống đến cái chết của một họa sĩ già để kéo cô gái trẻ từ cõi chết ngược về sự sống. Nghệ thuật đặc sắc ấy đã góp phần làm nên sức hấp dẫn của truyện. LUYỆN TẬP Đề 1. Giới thiệu ngắn gọn về nhà văn O. Hen-ri và tác phẩm Chiếc lá cuối cùng. Đề 2. Giá trị nhân đạo của truyện Chiếc lá cuối cùngthể hiện ở những chi tiết nào? Đề 3. Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật Bơ-men trong truyện Chiếc lá cuối cùng. Đề 4. Qua truyện Chiếc lá cuối cùng của O. Hen-ri, em có suy nghĩ gì về sự hy sinh của cụ Bơ-men. Theo em, sự hy sinh đó có ý nghĩa gì? Nguồn:
Trình bày các đặc điểm của truyện ngắn qua truyện Chiếc lá cuối cùng của O. Hen-ri
6,965
Trình bày cảm nghĩ về bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn Hướng dẫn “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng, kiếm nguồn tươi sáng, ta nguyện đồng lòng điểm tô non sông”. Cứ mỗi lần nghe bài hát này, lòng em chợt rạo rực lạ thường. Em thèm muốn được sống lại những ngày lịch sử rực rỡ cờ hoa, hòa mình vào nhịp điệu khẩn trương của cuộc tổng khởi nghĩa mùa thu. Và cứ mỗi lần được nghe bài hát, em lại nhớ đến khí thế hào hùng không kém trong bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn. Bên cạnh lời văn hùng hồn, bài hịch còn toát lên tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc của vị tướng tài ba đời Trần. Ngay từ đầu đoạn, ta đã cảm thấy có sự chẳng lành “Ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan”. Quả vậy, giặc Nguyên Mông xâm lược đất nước, ngang nhiên giày xéo mảnh đất thiêng liêng, gây ra nhiều tội ác ngất trời. Mảnh đất từ bao đời nay vẫn nuôi sống chở che cho người Việt Nam, nay rên xiết dưới gót sất của quân thù, thử hỏi mỗi người dân Việt, trong dạ ai lại không đau xót? Nhìn cảnh ấy, lòng tác giả dấy lên một nỗi căm hận đối với bọn ngoại bang, chúng là bọn “cú diều” mà lại “sỉ mắng triều đình”, chúng hèn hạ thấp kém như “thân dê chó” mà đòi “bắt nạt tể phụ”. Hình ảnh ẩn dụ được ông sử dụng như một cái tát vào mặt bọn xâm lăng, vạch trần bộ mặt dối trá của chúng. Thật hả hê khi dưới ngòi bút của mình, Trần Quốc Tuấn bộc lộ rõ ràng lòng căm ghét, khinh rẻ bọn giặc lang sói ấy. Từ nỗi xót xa trước cảnh đất nước li tan, lòng ông dâng lên cuồn cuộn sự căm thù, như muôn vỡ tung lồng ngực để hét to lên tiếng “đánh”, để “xả” thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Được như thế, thì “dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”. Một lần nữa, bằng cách dùng các điển tích, ông đã thể hiện lòng yêu nước, yêu quê hương của mình làm cho chắc chắn bất kì một ai khi đọc những lời lẽ ấy, hẳn không thể nào quay mặt làm ngơ. Bài hịch đã bộc lộ lòng yêu nước nồng nàn của Trần Quốc Tuấn. Say mê đọc những lời hịch lúc thì thiết tha lúc thì mạnh mẽ, em cảm thấy mình cũng có những trạng thái căm ghét, khinh khi bọn giặc và đau đớn, xót xa trước cảnh nước mất nhà tan. Rõ ràng bài hịch đã cuốn hút em, đưa em trở lại những ngày lịch sử oai hùng thuở trước. Từ thời Trần Quốc Tuấn đến nay, thời gian quả là rấtdài, song mỗi lần đọc bài hịch, em lại cảm thấy đâu đây không khí hào hùng, sôi động của các trận chiến oanh liệt khiến lòng em dấy lên niềm tự hào, vinh dự về trang sử vàng chói lọi: Ba lần đại thắng quân Nguyên mà em tin chắc rằng, bài “Hịch tướng sĩ” cũng đã góp phần không nhỏ. Bài hát vẫn vang vang thúc giục. Lòng rộn bao niềm vui, tự hào về Tổ quốc Việt Nam tươi đẹp, em thấy rõ hơn bao giờ hết nhiệm vụ của chính mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mai sau. Em sẽ cốgắng thực hiện bằng được những ước mơ của mình để khi lật lại những trang sử đẹp ấy, em sẽ không phải xấu hổ với những người anh hùng thuở trước.
Trình bày cảm nghĩ về bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn
642
Trình bày cảm nghĩ về bài Hịch tướng sĩ – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng, kiếm nguồn tươi sáng, ta nguyện đồng lòng điểm tô non sông”. Cứ mỗi lần nghe bài hát này, lòng em chợt rạo rực lạ thường. Em thèm muốn được sống lại những ngày lịch sử rực rỡ cờ hoa, hòa mình vào nhịp điệu khẩn trương của cuộc tổng khởi nghĩa mùa thu. Và cứ mỗi lần được nghe bài hát, em lại nhớ đến khí thế hào hùng không kém trong bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn. Bên cạnh lời văn hùng hồn, bài hịch còn toát lên tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc của vị tướng tài ba đời Trần. Ngay từ đầu đoạn, ta đã cảm thấy có sự chẳng lành “Ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan”. Quả vậy, giặc Nguyên Mông xâm lược đất nước, ngang nhiên giày xéo mảnh đất thiêng liêng, gây ra nhiều tội ác ngất trời. Mảnh đất từ bao đời nay vẫn nuôi sống chở che cho người Việt Nam, nay rên xiết dưới gót sắt của quân thù, thử hỏi mỗi người dân Việt, trong dạ ai lại không đau xót? Nhìn cảnh ấy, lòng tác giả dấy iên một nỗi căm hận đối với bọn ngoại bang, chúng là bọn “cú diều” mà lại “sỉ mắng triều đình”, chúng hèn hạ thấp kém như “thân dê chó” mà đòi “bắt nạt tể phụ”. Hình ảnh ẩn dụ được ông sử dụng như một cái tát vào mặt bọn xâm lăng, vạch trần bộ mặt dối trá của chúng. Thật hả hê khi dưới ngòi bút của mình, Trần Quốc Tuấn bộc lộ rõ ràng lòng căm ghét, khinh rẻ bọn giặc lang sói ấy. Từ nỗi xót xa trước cảnh đất nước li tan, lòng ông dâng lên cuồn cuộn sự căm thù, như muốn vỡ tung lồng ngực để hét to lên tiếng “đánh”, để “xả” thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Được như thế, thì “dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”. Một lần nữa, bằng cách dùng các điển tích, ông đã thể hiện lòng yêu nước, yêu quê hương của mình làm cho chắc chắn bất kì một ai khi đọc những lời lẽ ấy, hẳn không thể nào quay mặt làm ngơ. Bài hịch đã bộc lộ lòng yêu nước nồng nàn của Trần Quốc Tuấn. Say mê đọc những lời hịch lúc thì thiết tha lúc thì mạnh mẽ, em cảm thấy mình cũng có những trạng thái căm ghét, khinh khi bọn giặc và đau đớn, xót xa trước cảnh nước mất nhà tan. Rõ ràng bài hịch đã cuốn hút em, đưa em trở lại những ngày lịch sử oai hùng thuở trước. Từ thời Trần Quốc Tuấn đến nay, thời gian quả là rất dài, song mỗi lần đọc bài hịch, em lại cảm thấy đâu đây không khí hào hùng, sôi động của các trận chiến oanh liệt khiến lòng em dấy lên niềm tự hào, vinh dự về trang sử vàng chói lọi: Ba lần đại thắng quân Nguyên mà em tin chắc rằng, bài “Hịch tướng sĩ” cũng đã góp phần không nhỏ. Bài hát vẫn vang vang thúc giục. Lòng rộn bao niềm vui, tự hào về Tổ quốc Việt Nam tươi đẹp, em thấy rõ hơn bao giờ hết nhiệm vụ của chính mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mai sau. Em sẽ cố gắng thực hiện bằng được những ước mơ của mình để khi lật lại những trang sử đẹp ấy, em sẽ không phải xấu hổ với những người anh hùng thuở trước. Tags:Văn 8
Trình bày cảm nghĩ về bài Hịch tướng sĩ – Đề và văn mẫu 8
648
Trình bày cảm nhận của em về bài thơ Sang Thu Hướng dẫn Trình bày cảm nhận của em về bài thơ Sang Thu Bài làm Sang thu là bức thông điệp lúc giao mùa khi mùa thu sen lấn dần mùa hạ. Khoảnh khắc ấy được diễn tả bằng sự dung cảm, tinh tế sâu sắc về sự biến đổi không gian thiên nhiên lúc sang thu. Bài thơ Sang Thu được Hữu Thỉnh sáng tác vào cuối năm 1977 được diễn tả khoảnh khắc giao mùa đẹp đẽ nhất của tự nhiên, nó gieo vào lòng người những rung động một cách giao hòa và đồng điệu. Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Mùa thu đến với nhà thơ khá đột ngột bất ngờ, dường như không hẹn trước mà bỗng nhận hòa. Một buổi sáng chớm vào thu cảm nhận đầu tiên trong tâm hồn thi sĩ không phải bắt đầu từ trời xanh, mây trắng, hoa cúc vàng. Bắt đầu từ hương ổi, hương ổi thơm là cảm giác rất thực khi tác giả lần đầu thu hòa bình trong không gian yên tĩnh của súng bom, trận mạc. Hương ổi phả vào gió chứ không phải gió bay đưa hương ổi, bởi vì gió se, gió mùa thu rất nhẹ rất khé mới chớm thu mà đã thầy lành lạnh, những dấu hiệu mang đặc trưng mùa thu đã hiện diện cảm nhận rất tinh tế, chính xác rồi sao tác giả lại viết ” Hình như hương ổi đã về”. Phải chăng thu về đột ngột bất ngờ hay trong chữ hình như còn chứa nỗi niềm sang thu đời người. Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Cảm nhận thu sang từ một khu vườn không gian hẹp, thiên nhiên mở ra ở góc nhìn rộng lớn, nhiều tầng bậc, bức tranh thu từ những gì vô hình chuyển sang những hình ảnh cụ thể hữu hình Sông, chim, mây. Với những không gian rộng dài cao sa, một bức tranh thu cổ điển chỉ vài nét chấm phá mà bao quát cả bầu trời mặt đất. Xong bức tranh thu của Hữu Thỉnh lại rất hiện đại, cấu trúc cân đối, tự nhiên chặt chẽ tuyệt đẹp. Dòng sông không dồn dập dữ dội, mùa hạ mà êm ả dộn dàng, hững hờ trở ngược lại với dòng sông, chim lại bắt đầu vội vã có lẽ hỏi thu đã báo trước cho chúng một cuộc tránh rét. Phải là người tinh tế lắm mới nhận ra sự bắt đầu chứ không phải đang vội vã. Dù cánh chim vội vã thì không khí thu vẫn cứ bao trùm cái nắng đọng chậm rãi được diễn tả qua đám mây, thảnh thơi duyên dáng. Câu thơ đẹp mà sống động chữ vắt vừa gợi hình vừa gợi cảm. Khổ thơ mang đến vẻ đẹp mới làm trọn vẹn lên ý sang thu của cảnh vật hồn người. Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Cũng nắng, mưa, sấm như mùa hạ nhưng tất cả chỉ còn mức độ. Sấm cũng bớt bất ngờ âm ỉ trên hàng cây đứng tuổi, thiên nhiên vào thu và gần đi vào thế ổn định hay cũng là sự từng trải suy nghĩ đúng đắn khi bắt đầu sang thu chẳng còn bất ngờ, sợ hãi trao đùa trước nắng mưa, sấm xét bão bùng. Hình ảnh thơ rất đẹp, ngôn từ rất tinh tế, giọng thơ thì êm đềm và những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trong tiết trời giao mùa để tạo nên một dấu ấn vô cùng sâu đậm trong lòng độc giả. Có lẽ, chính vì vậy mà sau khi đọc bài ” Sang Thu ” của nhà thơ Hữu Thỉnh ta lại càng thấy yêu mùa thu tha thiết hơn, nồng hậu của quê nhà.
Trình bày cảm nhận của em về bài thơ Sang Thu
662
Trình bày cảm nhận của em vềhình tượng gươm thần trong truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm Hướng dẫn Đề bài: Gươm thần là một trong những “nhân vật” vô cùng quan trọng trong truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm. Hãy nêu những cảm nhận của em về “nhân vật” này. I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài Giới thiệu truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm” và “nhân vật” Gươm thần: trong truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm”, Gươm thần đã thể hiện được niềm tự hào của lòng yêu nước 2. Thân bài -Gươm thần là hiện thân của sự chính nghĩa, ủng hộ của nhân dân: trên Gươm thần còn khắc sâu hai chữ “Thuận Thiên” -Gươm thần mang ý nghĩa nhắc nhở về sự kiên trì, nhẫn nại: Lê Thận sau ba lần quăng lưới vất vả mới nhận được lưỡi gươm dưới nước -Gươm thần mang ý nghĩa về sự thống nhất và đoàn kết đại dân tộc: Lê Lợi sau khi phải chạy giặc vào trong rừng thì nhận được chuôi gươm -Gươm thần đã mang đến sức mạnh thần kì cho nghĩa quân: sức mạnh của gươm thần làm tăng thêm sức mạnh của nghĩa quân 3. Kết bài Ý nghĩa nhân vật Gươm thần: giúp cho chúng ta nhớ về một thời kì lịch sử oai hùng, tinh thần đoàn kết và quyết tâm chiến đấu chống giặc Minh. II. Bài tham khảo Gươm thần là một “nhân vật” đã có vai trò đặc biệt trong các truyền thuyết nổi tiếng của văn học nước nhà, Gươm thần mang những ý nghĩa tượng trưng sâu sắc và thấm thía. Trong mỗi câu truyện lại có vẻ đẹp và ý nghĩa riêng, trong truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm”, Gươm thần đã thể hiện được niềm tự hào của lòng yêu nước và yêu hòa bình của dân tộc ta. Gươm thần vốn là của Đức Long Quân, ngài đã cho nghĩa quân của Lê Lợi mượn để đánh giặc bởi ngài biết chúng ta đấu tranh vì chính nghĩa, vì bảo vệ nền độc lập và hòa bình của dân tộc, đấu tranh vì lòng yêu đất nước, trên Gươm thần còn khắc sâu hai chữ “Thuận Thiên”. Long Quân cũng chính là một nhân vật thần kì do nhân dân sáng tạo ra, khi đó Gươm thần đã trở thành hiện thân của sự đồng thuận và hết lòng ủng hộ của nhân dân đối với sự nghiệp dẹp giặc Minh của nghĩa quân Lam Sơn. Cách đưa Gươm thần đến với vị chỉ tướng Lê Lợi cũng rất đặc biệt, vị chủ tướng này không được trực tiếp nhận gươm mà lại là một anh chàng làm nghề đánh cá Lê Thận sau ba lần quăng lưới vất vả mới nhận được lưỡi gươm dưới nước. Chi tiết này ý muốn nhắc nhở chúng ta về cuộc chiến, muốn thắng lợi chắc chắn phải nhẫn nại và kiên trì chiến đấu, không được dễ dàng đầu hàng và bỏ cuộc. Rồi chi tiết Lê Lợi sau khi phải chạy giặc vào trong rừng thì nhận được chuôi gươm, đem tra với lưỡi gươm thì vừa như in, điều đó muốn chứng tỏ rằng, Gươm thần thể hiện và nhắc nhở chúng ta về tinh thần đoàn kết, sự thống nhất trong nguyện vọng và ý chí chống giặc ngoại xâm. Lưỡi gươm ở dưới nước, chuôi gươm ở trên rừng, giống như miền xuôi với miền ngược, đồng bằng với miền núi, phải hòa hợp và thống nhất đồng lòng với nhau trên toàn dân tộc. Gươm thần đến với Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đã phát huy sức mạnh và sự thần kì của mình. Từ có Gươm thần trong tay, nhuệ khí của nghĩa quân ngày càng tăng cao, sức mạnh của gươm thần làm tăng thêm sức mạnh của nghĩa quân, làm cho giặc Minh kinh hồn bạt vía. Gươm thần cùng với Lê Lợi tung hoành khắp các trận địa, giết không chừa một tên giặc nào. Từ thế trận bị động và nhiều lần thua phải tháo chạy, nghĩa quân Lam Sơn đã chuyển sang thế chủ động đi tìm giặc, chiến thắng giòn rã, đuổi sạch bóng quân thù trên đất nước. Khi đất nước đã được yên ổn, thanh bình Đức Long Quân đã cho Rùa Vàng lên lấy lại gươm thần. Khi ấy chủ tướng Lê Lợi đã lên làm vua, sau khi đã dẹp tan giặc minh, lấy lại hòa bình ấm no cho nhân dân. Trong một lần Lê Lợi đi dạo bằng thuyền rồng trên hồ Tả Vọng, Rùa Vàng đã nhô lên, gươm thần bên Lê Lợi cũng theo đó mà động đậy. Rùa Vàng nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”, Vua liền rút gươm nâng về phía Rùa Vàng, Rùa Vàng ngậm lấy và lặn xuống nước. Nhìn xuống mặt nước khi ấy vẫn thấy một vật gì đó sáng long lanh. Chi tiết này cũng khẳng định rằng Gươm thần vẫn ở đó, vẫn luôn sát cánh cùng nhân dân, đó là điềm cảnh báo và đe dọa đối với kẻ thù rằng chớ có sang xâm lược. Có thể thấy, chỉ bằng một “nhân vật” đặc biệt này, truyền thuyết đã trở nên có ý nghĩa sâu sắc và thấm thía hơn, giúp cho chúng ta nhớ về một thời kì lịch sử oai hùng, tinh thần đoàn kết và quyết tâm chiến đấu chống giặc Minh của dân tộc ta.
Trình bày cảm nhận của em vềhình tượng gươm thần trong truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm
913
Trình bày cảm nhận về bài thơ Khi con tu hú của tác giả Tố Hữu. Hướng dẫn Tố Hữu viết bài thơ “Khi con tu hú” vào tháng 7 năm 1939 sau gần 100 ngày bị giam trong nhà lao Thừa Phủ (Huế). Không gian, thời gian, tâm trạng của tác giả đã được thể hiện qua những câu thơ đặc sắc trong bài thơ. Bài thơ bắt đầu bằng tiếng chim tu hú gọi bầy vang vào ngục thất, nơi có một tù nhân đang bị giam cầm. Tiếng chim tu hú đã gợi lên trong tác giả nhiều điều về nỗi nhớ và hoài niệm. Tu hú thì gọi bầy; lúa chim thì đương chín, trái cây thì ngọt dần. Âm thanh và hương vị thể hiện một khung cảnh của làng quê thân yêu. Chữ “đương chín” và “ngọt dần” gợi tả sự trôi qua của thời gian một cách chậm chạp. Giọng thơ bồi hồi và da diết xuất phát từ không gian mênh mông: Khi con tu hú gọi bầy Lúa chim đương chín, trái cây ngọt dần. Giữa chốn ngục tù lòng sôi rạo rực, người chiến sĩ nhớ tiếng ve ngân, nhớ màu vàng của bắp, màu đào của nắng. Khung cảnh cánh đồng quê hiện lên một cách bình dị, thân thiết, yêu thương: Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào. Chỉ có những ai có khát vọng sông mới có được nỗi nhớ ấy. Vần thơ đầy màu sắc, ánh sáng và âm thanh. Tiếng ve ngân chứa đầy tâm trạng. Đó là tâm trạng ngột ngạt, tù túng nơi buồng giam; là tất cả những gì tác giả đã cảm nhận trong những ngày tháng tự do. Sau tiếng ve là màu sắc của thiên nhiên, của nắng và của bắp. Những thứ hết sức bình dị trong cuộc sống hàng ngày giờ trở thành những hình ảnh hết sức đẹp trong thơ Tô’ Hữu. Chữ “ngân” diễn tả thời gian kéo dài còn từ “đầy” diễn tả không gian có ánh nắng chan hòa và rực rỡ. Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không. Sáu câu thơ đầu làm hiện lên bức tranh đồng quê thân yêu, nó không dừng lại ở câu thơ mà đã nên nhạc, nên họa. Ngôn ngữ trong sáng, trau chuốt và giàu tính hình ảnh. Các câu thơ đã thể hiện sự trẻ trung và yêu đời, niềm khát khao và say mê cuộc sống. Có thể nói nhà thơ đang ở trong lao nhưng tâm hồn thì vẫn hướng về một không gian bao la nơi có bầu trời xanh, có nắng ấm, có tất cả những gì thuộc về cuộc sống tự do ở bên ngoài. Những câu thơ tiếp theo nhà thơ đã chuyển từ giọng điệu tha thiết sang giọng điệuuất hận sục sôi. Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Ngột làm sao chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu. Luyện tập Đề 1: Trình bày hoàn cảnh ra đời của bài thơ Khi con tu hú. Đề 2: Những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ TốH ữu. Đề 3: Phân tích tâm trạng của Tố Hữu qua bài thơ Khi con tu hú. Đề 4: Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu. Đề 5: Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu để chứng tỏ rằng dù đang ở trong tù nhưng lòng yêu cuộc sống và niềm khao khát tự do vẫn luôn cháy bỏng trong lòng người chiến sĩ cách mạng.
Trình bày cảm nhận về bài thơ Khi con tu hú của tác giả Tố Hữu.
601
Trình bày cảm nhận về bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt Bài làm Trong kho tàng văn học dân tộc Việt Nam đã có rất nhiều những tác phẩm hay và đặc sắc nói về lòng yêu nước của nhân dân ta. Trong số đó phải kể đến tác phẩm “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, đây là một trogn những bài thơ tiêu biểu về lòng yêu nước và ý thức tự tôn dân tộc. Bài thơ được xem như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Ngay ở những câu thơ đầu tiên, tác giả đã đưa ra một lời khẳng định hùng hồn và đanh thép về vấn đề chủ quyền ranh giới lãnh thổ với cách lập luận rất xác đáng, không thể phản biện, chối cãi: “Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời” Bằng giọng điệu hào sảng, tác giả đã khẳng định lãnh thổ chủ quyền của chính dân tộc mình, tuy nhiên Lý Thường Kiệt không dựa trên những suy nghĩ chủ quan của riêng mình để phán xét mà ông đã dựa trên lập trường của những con người bình thường. Cái nhìn chủ quan của họ sẽ khẳng định được những chân lí hiển hiện trước mắt, những cái mà ai cũng biết, ai cũng phải thừa nhận. “Sông núi nước Nam” ý chỉ phần lãnh thổ của nước Nam, sông và núi là biểu tượng cho ranh giới ấy. Điều đó khẳng định Việt Nam là một nước có chủ quyền, có người đứng đầu, làm chủ là “vua nước Nam”. Tiếp theo, để tiếp tục chứng minh cho lời khẳng định của mình, tác giả đã chỉ ra nguồn gốc, căn nguyên của lời khẳng định ấy. “Rành rành” là sự hiển hiện rõ ràng, chắc chắn và rõ nét, thêm vào đó “định phận” là đã được định đoạt từ trước, quy định tại “sách trời”. Câu thơ mang ý nghĩa rằng, chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đã được định đoạt ở sách trời, minh chứng được hành động đấu tranh của dân ta là chính nghĩa. Từ đây, Lý Thường Kiệt đã lên tiếng cảnh báo đầy hùng hồn về kết cục bi thảm của kẻ thù xâm lược nếu cố tình xâm phạm và chủ quyền của dân tộc này: “Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” Ở hai câu thơ này, tác giả đã bộc lộ một thái độ giận dữ đối với hành động ngang ngược, trái luân thường đạo lí và lẽ trời của lũ xâm lăng. “Cớ sao” là ý hỏi đầy giận dữ, chúng đã biết hành động xâm lăng là sai trái, xâm lược vào đất nước đã có chủ quyền là ngược đạo trời nhưng chúng vẫn tỏ ra ngạo mạn, bạo tàn với dân chúng. Bên cạnh đó, câu thơ còn thể hiện thái độ không hề nhún nhường, nhân nhượng trước những hành động xâm lăng bạo tàn của lũ giặc. Đó chính là chí khí anh hùng, bản lĩnh của một người dân yêu nước. Lý Thường Kiệt đã cảnh báo trước cho lũ giặc biết rằng hậu quả chúng phải nhận lấy khi xâm lược Việt Nam “đánh tơi bời”. Câu thơ một lần nữa thể hiện niềm tin bất diệt của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực bạo tàn. Như vậy có thể thấy, bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt đã trở thành một bản anh hùng ca của dân tộc, nó được vang lên đầy hào sảng, mạnh mẽ và không kém phần tự hào. Vượt ra khỏi giới hiện của những giá trị về nội dung và nghệ thuật thông thường, bài thơ đã trở thành một áng thơ văn bất hủ, một bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
Trình bày cảm nhận về bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt
658
Đề bài: Trình Bày Cảm Nhận Về Bài Thơ Đi Đường Của Hồ Chí Minh. BÀI LÀM Những sáng tác của Hồ Chí Minh trong tập thơ “Nhật kí trong tù” không chỉ nói lên hiện thực mà thường gửi gắm vào đó là những bài học, triết lý của cuộc sống. Là một trong tổng số 134 bài thơ trong tập thơ “Nhật kí trong tù”, bài thơ “Đi đường” (Tẩu lộ) nêu lên bài học cuộc sống: vượt qua gian lao chồng chất sẽ tới thắng lợi vẻ vang. Hai câu thơ đầu, tác giả gợi ra những khó khăn, thử thách của việc đi đường: “Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan, Trùng san chi ngoại hựu trùng san” (Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng) Nói về việc đi đường, nghĩa là con người phải bỏ ra cả thời gian và công sức. Nếu người ngoài nhìn vào có thể không biết được người trong cuộc đã gặp phải những khó khăn bất lợi gì. Nên phải người trong cuộc “mới biết”, mới thấu được những gì gập ghềnh trên đoạn đường ấy. Những khó khăn cứ thế nối tiếp nhau “Núi cao rồi lại núi cao trập trùng”. Cứ lớp nọ đến lớp kia, hình ảnh núi tượng trưng cho những thử thách mà con người gặp phải trong cuộc sống. Nó ngăn cản những bước tiến của con người, có thể làm nhụt chí, có thể làm thay đổi tất cả những lộ trình, kế hoạch mà ta lập ra từ trước. Nói từ việc đi đường, Hồ Chí Minh đã rất tinh tế để nói đến con đường đời. Đường đời của con người cũng giống như việc đi đường vậy, mỗi người có những lựa chọn con đường đi riêng, và chắc chắn trên đường đó sẽ gặp phải rất nhiều trở ngại, khó khăn. Mà không phải một trở ngại, tất yếu con người sẽ phải gặp những khó khăn chồng chất nhau. Đó thực sự mới là cuộc đời. “Trùng san đăng đáo cao phong hậu Vạn lí dư đồ cố miện gian” (Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non” Có ý chí và nghị lực, con người sẽ vượt qua được tất cả những khó khăn thử thách ấy. Trong đường đời gặp phải khó khăn là điều tất yếu. Nhưng lựa chọn của con người, đi tiếp hay dừng lại mới là quan trọng. Nó đòi hỏi con người có muốn cố hết sức mình để hướng đến mục tiêu ban đầu mình đã đặt ra hay không. Vượt qua tất cả, con người sẽ đạt được cái đích mà mình mong muốn. Muốn được như vậy, thì con người cần phải có bản lĩnh chiến thắng nghịch cảnh, chiến thắng bản thân. Và thành quả đạt được sẽ bù đắp lại tất cả những ý chí vượt khó mà ta đã trải qua “Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”. Thắng lợi vẻ vang chính là phần thưởng tốt nhất cho những ai biết cố gắng, biết chọn đường đi đúng đắn, biết vượt qua thử thách của đường đời. Khi đó, niềm sung sướng khi được đứng nhìn lại những thành quả mình đã cố gắng đạt được, dâng lên niềm tự hào về bản thân. Bài thơ “Đi đường” với việc sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật, ngắn gọn mà súc tích, gửi đến người đọc triết lý sống trên đường đời. Đặc biệt, ở câu thơ thứ 2 và thứ 3, tác giả đã sử dụng biện pháp điệp vòng “trùng san”, là hình ảnh cuối câu thơ 3 lại là mở đầu cho câu thơ 3, thể hiện sự nối tiếp chồng chất của “núi cao” nhưng thực ra chính là sự chồng chất của những khó khăn trong đường đời của mỗi con người. Bài thơ từ việc đi đường đã gợi ra bài học đường đời: vượt qua gian lao chồng chất sẽ tới thắng lợi vẻ vang. Trong hoàn cảnh sáng tác bài thơ, Hồ Chí Minh như cũng ngầm biểu đạt ý về chặng đường hoạt động cách mạng, sẽ còn phải gặp nhiều khó khăn, quan trọng là tâm thế của người chiến sĩ cách mạng cần phải kiên trì, giữ vững lý tưởng cách mạng, chắc chắn cách mạng sẽ đạt thành công.
Trình Bày Cảm Nhận Về Bài Thơ Đi Đường Của Hồ Chí Minh _ Văn Mẫu
731
Trình bày cảm nhận về những thử thách và chiến công của Thạch Sanh Hướng dẫn Đề bài: Em hãy trình bày những cảm nhận của mình về những thử thách và chiến công của Thạch Sanh trong truyện cổ tích Thạch Sanh. I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài Giới thiệu câu chuyện: Câu chuyện thể hiện giấc mơ của con người qua những hình ảnh li kì độc đáo đó là Thạch Sanh, câu chuyện đầy cảm xúc, thể hiện rõ ràng phẩm chất, tính cách con người Việt Nam 2. Thân bài – Cảm nhận về thử thách + Những thử thách mà Thạch Sanh trải qua đều do Lý Thông hãm hại đem lại. + Thứ nhất diệt chằn tinh bị cướp công, thứ hai diệt đại bàng cứu công chúa tiếp tục bị cướp công, bị hãm hại dồn vào chỗ chết, thứ ba bị báo thù từ hồn chằn tinh, đại bàng. + Thử thách cho thấy: bản chất con người dũng cảm đương đầu với khó khăn, không ngại gian nan, chân chất thật thà, tài năng, không toan tính, những thử thách sẽ đem lại chiến công nhất định – Cảm nhận về chiến công mà Thạch Sanh có được + To lớn, không phải ai cung làm được + Những chiến công đạt được: Diệt chằn tinh, diệt đại bàng, cứu công chúa, giúp công chúa vui vẻ trở lại, giải tỏa nỗi lo cho dân tộc, đánh đuổi quân xâm lược…Chiến công đạt được xuất phát từ khó khăn gặp phải + Chiến công xứng đáng với người đáng được nhận, lên án tố cáo một bộ phận trong xã hội đứng trên đôi chân người khác, ca ngợi những con người dũng cảm đối mặt với khó khăn, những người lao động thật thà, chăm chỉ 3. Kết bài Cảm nghĩ về những thử thách và chiến công của Thạch Sanh: Thấy được hai mặt của xã hội, cần ca ngợi, lên án tố cáo phù hợp những mặt sáng tối đó. II. Bài tham khảo Truyện cổ tích dân gian là những câu chuyện thể hiện ước mơ, khát vọng của con người mong muốn có được thông qua những tình tiết, hình ảnh được con người sáng tạo ra để tạo động lực trong cuộc sống, tạo ra tiếng cười đặc biệt là đem thông điệp gửi vào những câu chuyện đó. Một câu chuyện thể hiện giấc mơ của con người qua những hình ảnh li kì độc đáo đó là Thạch Sanh, câu chuyện đầy cảm xúc, thể hiện rõ ràng phẩm chất, tính cách con người Việt Nam. Theo mạch truyện những khó khăn thử thách mà Thạch Sanh trải qua đưa người đọc đi từ cảm xúc này tới cảm xúc khác, rồi những chiến công mà chàng trai đó đạt được cũng là khát vọng của con người trong hiện tại. Thử thách đầu tiên mà Thạch Sanh gặp phải đó là Lý Thông, một con người độc ác, thâm hiểm, người lấy cớ kết nghĩa anh em để đùn đẩy chính người anh em của mình vào chỗ hiểm nguy, lừa Thạch Sanh tới chỗ chằn tinh, không như dự tính của mình, bằng bàn lĩnh tài năng của mình Thạch Sanh đã tiêu diệt chằn tinh. Không chỉ dừng ở đây, sự xảo quyệt của Lý Thông còn thể hiện khi cướp đi công lao của người mang danh nghĩa anh em với mình, lập mưu để đem chằn tinh đi nộp lập công. Thạch Sanh vốn tính nhân hậu, thật thà, chất phác nên luôn tin theo những gì mà Lý Thông nói. Hai hình ảnh, hai tính cách con người đối lập hoàn toàn đã làm nổi bật lên bản chất con người đáng bị lên án tố cáo và người cần được vinh danh ca ngợi. Thử thách thứ hai mà chàng trai tiếp tục gặp phải đó là ra tay tiêu diệt đại bàng, cứu công chúa, khi đã lập được công lao thì vẫn Lý Thông, một con người luôn muốn hãm hại Thạch Sanh, lần này Lý Thông tranh giành công lao vừa muốn dồn Thạch Sanh tới chỗ chết, một con người tàn nhẫn, bất nhân. Thử thách cuối cùng đó là sự báo thú của hồn đại bàng và chằn tinh, qua những thử thách cho thấy được những con người dũng cảm biết cách đương đầu với khó khăn, không ngại gian nan khổ cực, chân chất thật thà dùng tài năng của mình cống hiến hết mình mà không toan tính, cho đi hết một cách tự nhiên mà chẳng màng đến những gì có thể nhận lại, và rồi trong cái rủi lại cái may, cũng chính vì điều đó đã dẫn tới những công lao mà Thạch Sanh lập được sau này. Chiến công mà Thạch Sanh đạt được là to lớn vô cùng, và không phải ai cũng có thể làm được, chiến công từ việc tiêu diệt cái ác, cứu công chúa khỏi tay ác thú, khiến công chúa vui tươi trở lại, chống lại quân xâm lược, giúp đất nước thoát khỏi cảnh lầm than, khiến kẻ địch nể phục con người đất Việt, tất cả những chiến công đó xuất phát từ hoàn cảnh éo le mà chàng Thạch Sanh gặp phải, bằng bản lĩnh của mình, xuất phát từ tận sâu đáy lòng của một người không ham vụ lợi, đặt lợi ích của con người, tình cảm của mình lên hàng đầu để hành động đã tạo ra những chiến công to lớn đó. Không chỉ vậy những chiến công đó xứng đáng với người được hưởng, chứ không phải ai cũng có thể dựa trên năng lực của người khác để đem đến lợi ích cho bản thân mình, lên an tố cáo một bộ phận trong xã hội không biết tự đứng trên đôi chân của mình, luôn có lòng ghen tị với tài năng của người khác, tìm cách hãm hại để cướp đi công lao, công muôn làm nhưng lại muốn hưởng, cùng với đó là hình tượng đại diện cho những con người không chịu khuất phục trước số phận vươn lên khó khăn trong mọi hoàn. Cuối cùng những chiến công mà Thạch Sanh đạt được là xứng đáng, mọi nỗ lực bỏ ra đều sẽ được bù đắp. Hình tượng nhân vật Thạch Sanh được xây dựng để đại diện cho tầng lớp lao động cần cù, những con người cần cù lao động, dũng cảm chiến đấu, dùng năng lực của bản thân để đối mặt với thử thách, bên cạnh đó là nhân vật phản diện trái lập hoàn toàn là Lý Thông, một bộ phận đáng lên án mạnh mẽ.
Trình bày cảm nhận về những thử thách và chiến công của Thạch Sanh
1,117
Trình bày cảm nhận về tác phẩm Ông lão đánh cá và con cá vàng Hướng dẫn Ông lão đánh cá và con cá vàng là tác phẩm đặc sắc của Puskin. Dựa vào những hiểu biết của bản thân sau khi học xong tác phẩm, em hãy trình bài cảm nhận về truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng. I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm và ý nghĩa tác phẩm: “Ông lão đánh cá và con cá vàng” là tác phẩm nổi tiếng và đặc sắc của nhà văn A. Pushkin, tác phẩm phản ánh những mặt sáng mặt tối của cuộc sống, là lời giải thích cho những gì mà người sống nhân hậu hiền lành nhận được và cái giá phải trả cho lòng tham lam 2. Thân bài – Hình ảnh ông lão + Nghèo khó, thật thà, lương thiện, chăm chỉ + Tất bật với công việc đánh cá mà ông yêu thích, bắt được cá vàng, thả đi khi con cá van xin, không nhận sự đền ơn + Lương thiện, chấp nhận không có thành quả sau một ngày đi câu – Hình ảnh mụ vợ + Tham lam, độc ác, lòng tham vô đấy, hay nổi cáu, quát mắng ông lão + Không biết thân phận của mình, không trọn nghĩa một người vợ, coi người chồng như một người hầu, người đầy tớ – Những thứ mà lòng tham nhận được, hình ảnh con cá vàng trong tác phẩm + Trở lại cuộc sống nghèo khó như cũ, túp lều tranh, máng lợn, đối với ông lão là điều tốt nhất + Đối với mụ vợ phải trải qua cảm giác đau khổ: Nghèo khó trở nên giàu có rồi lại trở lại cuộc sống ban đầu, – Hình ảnh con cá vàng: biểu tượng của sự biết ơn, đền đáp 3. Kết bài Cảm nghĩ về ý nghĩa tác phẩm: Câu chuyện được xây dựng với nhiều tình tiết li kì, là ước mơ, khát vọng, để lại nhiều ý nghĩa với người đọc. II. Bài tham khảo Truyện dân gian là một kho tàng văn học khổng lồ đã ăn sâu vào trong tuổi thơ của mỗi đứa trẻ, những câu chuyện luôn mang một ý nghĩa nhất định về cuộc sống, là lời dạy của thế hệ đi trước, là bài học rút ra từ những gì đã trải qua. Cũng giống như Việt Nam, những câu chuyện cổ tích nước ngoài cũng chứa đựng ý nghĩa sâu xa nhất định, trong đó có tác phẩm “Ông lão đánh cá và con cá vàng” là tác phẩm nổi tiếng và đặc sắc của nhà văn A. Pushkin, tác phẩm phản ánh những mặt sáng mặt tối của cuộc sống, là lời giải thích cho những gì mà người sống nhân hậu hiền lành nhận được và cái giá phải trả cho lòng tham lam. Qua tác phẩm đọng lại rõ nét nhất trong lòng người đọc là hình ảnh ông lão, một con người nghèo khổ, thật thà, một con người chăm chỉ với công việc của mình, ở cái tuổi của ông đáng ra phải được nghỉ ngơi, phải được sum họp cười nói vui vẻ bên gia đình, cùng con cháu quây quần bên những câu chuyện không mở đầu cũng chẳng có kết thúc. Nhưng không, ông lão vẫn cứ tất bất với công việc của mình, công việc đem tới niềm vui cho ông, đối với những người đi câu thì việc chinh phục thiên nhiên, bắt được cá là đích đến cuối cùng mà ai cũng ao ước có được, nhưng khi ông bắt được con cá vàng, trước lời van xin của nó ông đã thả đi, vậy là đối với ông ngày hôm đó chẳng có thu hoạch gì, chẳng đạt được kết quả gì, một con người nghèo khó về vật chất nhưng về mặt tình cảm thì vô cùng giàu có. Con người có tầm lòng bao dung rộng lớn đó lại chung sống với một mụ vợ tham lam độc ác, một con người có lòng tham vô đáy, trước câu chuyện ông kể về con cá vàng, trước lời từ chối của ông lão về sự đền ơn mà con cá đem lại mụ vợ đã nổi cáu, quát mắng và bắt ông hết lần này tới lần khác làm theo ý mụ để thỏa mãn lòng tham của mình. Với thận phận một người vợ điều đầu tiên cần làm là tôn trọng chính người chồng của mình, chăm sóc cho chồng và đặc biệt là có sự bình đẳng giữa hai người, nhưng người phụ nữ này không hề hiểu điều đó, sự hiền lành của ông lão chính là nguyên nhân khiến mụ vợ coi thường, luôn quát mắng, coi ông lão như một người đầy tớ, người hầu chứ không phải là một người chồng, còn về phía ông lão dù không đồng tình về những việc làm mà vợ mình đưa ra nhưng cũng không dám làm trái, không dám đứng lên, luôn nghe theo lời vợ, đơn giản bởi ông lão quá lương thiện. Rồi việc gì đến cũng đến, qua những thứ mà con cá đền ơn cho mụ vợ thì cuối cùng đâu lại vào đó, trước mắt người vợ hiện ra là một không gian cũ, một không gian với cái máng lợn, với túp lều. Cái kết đối với người đọc là sự thỏa mãn vô cùng, một con người tham lam, nghèo khó trải qua một quãng thời gian ngắn khi được sống trong giàu sang, vinh hoa phú quý, cuối cùng lại trở lại với cuộc sống nghèo khổ như ban đầu là sự trừng trị không có gì đau đớn hơn, về phía ông lão trở lại với cuộc sống hiện tại là điều tốt nhất đối với ông. Về phía con cá vàng hiện lên như một biểu tượng của sự biết ơn, là sự đền đáp xứng đáng đối với những người thành tâm giúp đỡ, không vụ lợi, không toan tính, cuối cùng ý nghĩa mà câu chuyện đem lại thật sâu sắc, những người sống ích kỉ, luôn muốn hưởng giàu sang mà không phải lao động, lòng tham không có điểm dừng sẽ không bao giờ có được những thứ mình mong muốn, những người sống lương thiện, thật thà sẽ luôn gặp may mắn. Câu chuyện được xây dựng với nhiều tình tiết li kì, hư cấu nhằm thể hiện khát vọng, ước mơ của nhân dân, là lời dạy mà những thế hệ đi trước để lại cho các thế hệ con cháu đời sau, là bài học quý giá về cuộc sống đối với con người.
Trình bày cảm nhận về tác phẩm Ông lão đánh cá và con cá vàng
1,115
Trình bày cảm nhận về đoạn trích Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc. Hướng dẫn “Thuế máu” là chương đầu trong 12 chương của tác phẩm “Bản án chế độ thực dân”. Chương này chia làm ba phần: Phần đầu: Chiến tranh và người bản xứ. Ởphần này tác giả đã bóc trần cái giọng lưỡi phản trắc, giả dối của bọn thực dân cáo già là “toàn quyền lớn”, “toàn quyền bé”. Để đẩy dân bản xứ vào cuộc chiến tranh, chúng vuốt ve đưa ra những lời đường mật! Từ là dân “An-nam-mít bẩn thỉu” chỉ đối xử bằng dùi cui, roi vọt nay bỗng nhiên được tôn là “những con yêu”, “những bạn hiền”! Kết quả là họ phải lìa xa gia đình và vợ con, bỏ xác trên bờ sông Mác-rơ trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ. Cuối phần này, tác giả tố cáo nỗi đau của nhân dân bản xứ bằng những hình tượng đầy ấn tượng. Đó là “kẻ cầm súng thì bỏ xác nơi chiến địa để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế”. Còn những “lính thợ” ở hậu phương thì nhiễm luồng khí độc “khạc ra từng miếng phổi! Cuối cùng trong số70 vạn người bản xứ thì có 8 vạn không bao giờ còn thấy mặt trời quê hương nữa! Phần hai: Tác giả lên án cái gọi là “chế độ tình nguyện”. Ởphần này tác giả đã phơi bày nỗi khổ của dân bản xứ bằng đủ mọi thứ thuế khóa, sưusai và bị cưỡng bức phải mua rượu và thuốc phiện, đến nay cóthêm cái nạn “mô hình” nữa. Đây thực chất là một thứ “thuế máu”. Dân bản xứ bị săn bắt như một thứ “vật liệu biết nói”! Sự thật thì cái chế độ “lính tình nguyện” ấy là “lùa” những người khỏe mạnh, nghèo khổ vào nơi giam giữ để khỏi bỏ trốn. Cuối cùng họ phải chọn lấy một trong hai con đường: “đi lính tình nguyện hoặc xì tiền ra”. Có người phải tìm cách hủy hoại cả thân thể để mong thoát nạn bắt lính như tự làm cho mình đau mắt toét chảy mủ, tìm cách xát vào mắt bằng vôi sống hay mủ của lệnh lậu. Trong khi đó thì bọn “chóp bu” là toàn quyền Đông Dương lại vuốt ve: “Các bạn đã tấp nập đầu quân… các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương”. Tác giả đã lật tẩy những chiêu bài mị dân của bọn thực dân bằng cách nêu lên cảnh biểu tình chống bắt lính ở Cao Miên, và những vụ bạo động ở Sài Gòn, Biên Hòa.. Phần ba: Tác giả lên tiếng tốcáo bọn thực dân đã lật lọng nuốt lời khi người “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do” trở về thì mặc nhiên trở lại giống người bẩn thỉu. Hơn thế nữa, Bác còn phơi bày con “tim đen” của chúng trong một việc mà chính quyền thuộc địa đã phạm tới hai tội ác: – Một mặt chúng vẫn chưa dừng tay lôi kéo thêm nạn nhân vào cuộc huynh đệ thương tàn. Chúng đối xử rất tàn tệ với những ai còn tấm thân tàn trở lại quê hương! Khi bước chân xuống tàu họ bị lột hết các thứ tự mình mua sắm được. Họ được xếp như “lợn” dưới hầm tàu thiếu ánh sáng và không khí. Tồi tệ hơn nữa chúng còn đón chào họ bằng lời diễn văn đầy lật lọng, bất nhân: “Các anh đã bảo vệ tổ quốc… Bây giờ chúng tôi không cần anh nữa, cút đi”. – Mặt khác nếu là thương binh Pháp mất một phần thân thể và vợ của người tử sĩ thì được cấp môn bài bán lẻ thuốc phiện để tiếp tục vung tay đầu độc gây thêm tệ nạn xã hội. Cuối cùng tác giả như nói với thương binh và quả phụ của chiến tranh rằng đó là món quà nhơ nhớp chỉ nên đá văng đi. Bằng một nghệ thuật tương phản và nhắc lại cái lưỡi của bọn thực dân, tác giả đã khái quát lên một thứ thuế nữa được đặt ra bên cạnh cái thuế thân là thuế máu. Thuế máu chỉ là một chương của Bản án chế độ thực dân Pháp nhưng vẫn đầy đủ tính chất là bài luận, vẫn có giá trị tốcáo và thức tỉnh đồng bào. Nguồn:
Trình bày cảm nhận về đoạn trích Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc.
747
Trình bày cảm nhận đoạn trích Thuế máu – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm “Thuế máu” là chương đầu trong 12 chương của tác phẩm “Bản án chế độ thực dân”. Chương này chia làm ba phần: Phần đầu: Chiến tranh và người bản xứ. Ở phần này tác giả đã bóc trần cái giọng lưỡi phản trắc, giả dối của bọn thực dân cáo già là “toàn quyền lớn”, “toàn quyền bé”. Để đẩy dân bản xứ vào cuộc chiến tranh, chúng vuốt ve đưa ra những lời đường mật! Từ là dân “An-nam-mít bẩn thỉu” chỉ đối xử bằng dùi cui, roi vọt nay bỗng nhiên được tôn là “những con yêu”, “những bạn hiền”! Kết quả là họ phải lìa xa gia đình và vợ con, bỏ xác trên bờ sông Mác-rơ trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ. Cuối phần này, tác giả tố cáo nỗi đau của nhân dân bản xứ bằng những hình tượng đầy ấn tượng. Đó là “kẻ cầm súng thì bỏ xác nơi chiến địa để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế”. Còn những “lính thợ” ở hậu phương thì nhiễm luồng khí độc “khạc ra từng miếng phổi! Cuối cùng trong số 70 vạn người bản xứ thì có 8 vạn không bao giờ còn thấy mặt trời quê hương nữa! Phần hai: Tác giả lên án cái gọi là “chế độ tình nguyện” Dân bản xứ bị săn bắt như một thứ “vật liệu biết nói”! Sự thật thì cái chế độ “lính tình nguyện” ấy là “lùa” những người khỏe mạnh, nghèo khổ vào nơi giam giữ để khỏi bỏ trốn. Cuối cùng họ phải chọn lấy một trong hai con đường: “đi lính tình nguyện hoặc xì tiền ra”. Có người phải tìm cách hủy hoại cả thân thể để mong thoát nạn bắt lính như tự làm cho mình đau mắt toét chảy mủ, tìm cách xát vào mắt bằng vôi sông hay mủ của lệnh lậu. Trong khi đó thì bọn “chóp bu” là toàn quyền Đông Dương lại vuốt ve: “Các bạn đã tấp nập đầu quân… các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương”. Tác giả đã lật tẩy những chiêu bài mị dân của bọn thực dân bằng cách nêu lên cảnh biểu tình chống bắt lính ở Cao Miên, và những vụ bạo động ở Sài Gòn, Biên Hòa.. Phần ba: Tác giả lên tiếng tố cáo bọn thực dân đã lật lọng nuốt lời khi người “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do” trở về thì mặc nhiên trở lại giống người bẩn thỉu. – Một mặt chúng vẫn chưa dừng tay lôi kéo thêm nạn nhân vào cuộc huynh đệ thương tàn. Chúng đối xử rất tàn tệ với những ai còn tấm thân tàn trở lại quê hương! Khi bước chân xuống tàu họ bị lột hết các thứ tự mình mua sắm được. Họ được xếp như “lợn” dưới hầm tàu thiếu ánh sáng và không khí. Tồi tệ hơn nữa chúng còn đón chào họ bằng lời diễn văn đầy lật lọng, bất nhân: “Các anh đã bảo vệ tổ quốc… Bây giờ chúng tôi không cần anh nữa, cút đi”. – Mặt khác nếu là thương binh Pháp mất một phần thân thể và vợ của người tử sĩ thì được cấp môn bài bán lẻ thuốc phiện để tiếp tục vung tay đầu độc gây thêm tệ nạn xã hội. Cuối cùng tác giả như nói với thương binh và quả phụ của chiến tranh rằng đó là món quà nhơ nhớp chỉ nên đá văng đi. Bằng một nghệ thuật tương phản và nhắc lại cái lưỡi của bọn thực dân, tác giả đã khái quát lên một thứ thuế nữa được đặt ra bên cạnh cái thuế thân là thuế máu. Thuế máu chỉ là một chương của Bản án chế độ thực dân Pháp nhưng vẫn đầy đủ tính chất là bài luận, vẫn có giá trị tố cáo và thức tỉnh đồng bào.
Trình bày cảm nhận đoạn trích Thuế máu – Đề và văn mẫu 8
683
Trình bày hoàn cảnh ra đời của bài thơ Tây Tiến Hướng dẫn Trình bày hoàn cảnh ra đời của bài thơ Tây Tiến Nhà thơ Quang Dũng là một nhà thơ tài hoa, ông tinh thông nhiều lĩnh vực nghệ thuật, trong đó nổi bật nhất là những tác phẩm về thơ ca. Đọc thơ ông ta sẽ thấy rõ một cái tôi hào hoa thanh lịch, mang đậm chất trữ tình và lãng mạn. Và trong số đó, ta sẽ không thể nào không nhắc đến tác phẩm thơ Tây Tiến là tác phẩm vô cùng độc đáo và nổi tiếng của Quang Dũng. Tác giả đã dựng lên một bức tượng đài bất tử về người lính yêu nước, sẵn sàng ngã xuống hi sinh vì sự nghiệp chống giặc xâm lược của dân tộc. Hình ảnh người lính như sống mãi với thời gian, với lịch sử. Quang Dũng đã viết lên bài thơ này như tưởng nhớ lại những năm tháng hoạt động trong đội quân Tây Tiến. Cùng điểm lại hoàn cảnh sáng tác ra tác phẩm này để thấy điểm đặc biệt của nó. Sau khi cuộc cách mạng tháng tám thành công vang dội, Quang Dũng gia nhập vào bộ đội. Vào thời gian cuối mùa xuân năm 1947, lúc đó ông là một nguyên phái viên phòng quân sự Bắc Bộ và cũng là một học viên lớp quân sự ở Tông (nay thuộc Sơn Tây). Ông trở về Phùng để thăm mẹ già,vợ con để lên đường tham gia vào đội quân, Tây Tiến và giữ chức vụ Đại đội trưởng. Đội quân này được thành lập vào đầu năm 1947, đội quân có nhiệm vụ là sẽ phối hợp với bộ đội Lào để cùng nhau bảo vệ biên giới Việt- Lào, (đây là vùng núi Tây Bắc gồm từ Châu Mai, Châu Mộc đến Sầm Nứa tới miền Tây Thanh Hóa) cùng nhau chống lại, đánh lại hạm quân của Pháp đang ở Thượng Lào, quân ta ra sức giúp hỗ trợ cho những vùng khác trên đất Lào. Nhìn những người người bộ đội Tây Tiến ta sẽ thấy họ vô cùng đáng trân trọng, họ bao gồm nhiều tầng lớp từ những người lao động bằng tay chân, tri thức và chủ yếu là những tri thức, những thanh niên chỉ mới là những học sinh bước ra từ những mái trường, từ phố phường ở Hà Nội. Vì đất nước, đồng bào họ không ngại khó khăn gian khổ, với điều kiện vô cùng thiếu thốn về vật chất, có thể chết vì sốt rét nhiều hơn là vì súng đạn, nhưng họ vẫn lạc quan, vui vẻ tiến sang biên giới chiến đấu cùng bảo vệ lãnh thổ. Với Đội quân Tây tiến sau khi trở về từ Lào, Tây tiến trở thành trung đoàn 52, và Quang Dũng- đại đội trưởng đã ở đó đến cuối năm 1948 sau đó ông được chuyển sang đơn vị khác. Dù xa rời đơn vị cũ, nhưng ông vẫn nhớ về những năm tháng hào hùng, anh em sát cánh bên nhau, ngồi tại Phù Lưu Chanh anh viết bài thơ Tây Tiến. Bài thơ ra đời, mang nhiều dấu ấn lịch sử, an hem trong và ngoài quân đội cứ truyền tay, truyền miệng cho nhau để đọc, để nhớ… Bài thơ Tây Tiến được hai lần đổi tên, lần đầu tiên có tên là “Nhớ Tây Tiến” khi được in tại nhà xuất bản Vệ quốc quân liên khu III, được phát hành vào năm 1949. Rồi đến năm 1957, Quang Dũng đưa Tây Tiến để vào tập thơ “Rừng biển quê hương”. Lúc đó ông đã bỏ chữ “Nhớ” chỉ giữ nguyên hai từ “Tây Tiến”. Chỉ với hai từ này thôi đã nói lên được chủ đạo của toàn bài thơ, luôn tiến về phía trước không. Đây chính là hoàn cảnh sáng tác của bài thơ, một bản trường ca của các anh hùng, của người lính, dù gian khổ, vất vả, có hi sinh nhưng vẫn yêu đời và lạc quan luôn đoàn kết chia sẻ bên nhau.
Trình bày hoàn cảnh ra đời của bài thơ Tây Tiến
691
Trình bày lập luận của Trần Quốc Tuấn khi phê phán thái độ và hành động sai trái của tướng sĩ trước cảnh Tổ quốc lâm nguy trong văn bản Hịch tướng sĩ Hướng dẫn Với âm điệu nhịp nhàng của thể văn biền ngẫu, với những biện pháp liệt kê, điệp từ, điệp ngữ trải suốt đoạn văn, với hình ảnh phong phú giàu sức biểu cảm, Trần Quốc Tuấn đã thể hiện một trình tự nội dung hết sức sâu sắc. Ngay từ đầu, bằng giọng điệu hết sức nghiêm khắc, người chủ soái đã chỉ trích hàng loạt thái độ thờ ơ vổ trách nhiệm của các tướng sĩ trước những hành vi ngỗ ngược của quân thù: Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thiệt…, phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường để đãi yến nguỵ sứ mà không biết căm. Sau đó, ông nêu ra cái tầm thường, thậm chí là thấp hèn của những thú ăn chơi hưởng lạc của tướng sĩ trước lúc Tổ quốc lâm nguy: chọi gà, đánh bạc, vui thú vườn ruộng, quyến luyến vợ con, lo làm giàu, ham săn bắn, thích rượu ngon, mê tiếng hát… Tiếp đó, Trần Quốc Tuấn phân tích những hậu quả trước mắt và lâu dài của thái độ và lối sông đáng chê trách đó. – Hậu quả trước mắt là tướng sĩ không còn sức chiến đấu. Bằng hàng loạt hình ảnh tương phản mang sắc thái mỉa mai châm biếm nhưng giàu sức thuyết phục, tác giả đã chỉ ra ràng những thú vui chơi đó không thể nào ngăn nổi sức mạnh của quân thù: Nếu có giặc Mông Thái tràn sang thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quý nghìn vàng khôn chuộc, vả lại vợ bìu con díu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều khôngmua được đầu giặc, chó săn tuy khỏe khôn đuổi được quân thù; chén rượu ngon không làm cho giặc say chết,tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Bằng những chuỗi lập luận vững chắc, tác giả cho thấy nếu đem những thú vui chơi tầm thường của tướng sĩ đối chọi với sức mạnh của quân địch thì tất yếu sẽ thất bại. Việc cần làm lúc này là hãy gạt những thú vui qua một bên, tạm quên đi những thứ tầm thường, chuyên tâm vào việc học tập binh thư, luyện tập binh pháp để sóng mái với quân thù. Tác giả không cấm tướng sĩ vui chơi nhưng vui chơi lúc này không phải lúc. Sau này khi thắng lợi, dẫu các ngươi không muốn vui vẻ, phỏng có được không? Lập luận của tác giả vừa có lí vừa có tình nên giàu sức thuyết phục.
Trình bày lập luận của Trần Quốc Tuấn khi phê phán thái độ và hành động sai trái của tướng sĩ trước cảnh Tổ quốc lâm nguy trong văn bản Hịch tướng sĩ
495
Trình bày lập luận Trần Quốc Tuấn khi phê phán thái độ và hành động sai trái của Tướng Sĩ trong Hịch tướng sĩ – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Gợi ý viết bài Với âm điệu nhịp nhàng của thể văn biền ngẫu, với những biện pháp liệt kê, điệp từ, điệp ngữ trải suốt đoạn văn, với hình ảnh phong phú giàu sức biểu cảm, Trần Quốc Tuấn đã thể hiện một trình tự nội dung hết sức sâu sắc. Ngay từ đầu, bằng giọng điệu hết sức nghiêm khắc, người chủ soái đã chỉ trích hàng loạt thái độ thờ ơ vô trách nhiệm của các tướng sĩ trước những hành vi ngỗ ngược của quân thù: Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn…, phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường để đãi yến nguỵ sứ mà kliông biết căm. Sau đó, ông nêu ra cái tầm thường, thậm chí là thấp hèn của những thú ăn chơi hưởng lạc của tướng sĩ trước lúc Tổ quốc lâm nguy: chọi gà, đánh bạc, vui thú vườn ruộng, quyến luyến vợ con, lo làm giàu, ham săn bắn, thích rượu ngon, mê tiếng hát… Tiếp đó, Trần Quốc Tuấn phân tích những hậu quả trước mắt và lâu dài của thái độ và lối sống đáng chê trách đó. – Hậu quả trước mắt là tướng sĩ không còn sức chiến đấu. Bằng hàng loạt hình ảnh tương phản mang sắc thái mỉa mai châm biếm nhưng giàu sức thuyết phục, tác giả đã chỉ ra rằng những thú vui chơi đó không thể nào ngăn nổi sức mạnh của quân thù: Nếu có giặc Mông Thái tràn sang thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quý nghìn vàng khôn chuộc, vả lại vợ bìu con díu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khỏe khôn đuổi được quân thù; chén rượu ngon không làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Bằng những chuỗi lập luận vững chắc, tác giả cho thấy nếu đem những thú vui chơi tầm thường của tướng sĩ đối chọi với sức mạnh của quân địch thì tất yếu sẽ thất bại. Việc cần làm lúc này là hãy gạt những thú vui qua một bên, tạm quên đi những thứ tầm thường, chuyên tâm vào việc học tập binh thư, luyện tập binh pháp để sống mái với quân thù. Tác giả không cấm tướng sĩ vui chơi nhưng vui chơi lúc này không phải lúc. Sau này khi thắng lợi, dẫu các ngươi không muốn vui vẻ,phỏng có được không? Lập luận của tác giả vừa có lí vừa có tình nên giàu sức thuyết phục. Tags:Văn 8
Trình bày lập luận Trần Quốc Tuấn khi phê phán thái độ và hành động sai trái của Tướng Sĩ trong Hịch tướng sĩ – Đề và văn mẫu 8
497
Trình bày một số nét về tác giả, dịch giả, về nội dung và giá trị tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc. Hướng dẫn Đặng Trần Côn quê ở làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, ngoại thành Thăng Long. Ông sống vào nửa đầu thế kỉ XVIII. Ông đỗ Hương công (Cử nhân) từng làm quan dưới thời Lê – Trịnh. Ông để lại một số thơ văn chữ Hán; tác phẩm tiêu biểu nhất là Chinh phụ ngâm khúc gồm có 478 câu thơ chữ Hán dài, ngắn xen nhau theo thể trường đoản cú. Hiện nay có nhiều bản dịch thơ của Chinh phụ ngâm khúc. Bản dịch gồm 408 câu thơ song thất lục bát rất được phổ biến, nhiều người cho là của bà Đoàn Thị Điểm, người cùng thời với ông Đặng Trần Côn. Đoàn Thị Điểm quê ở làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Bà là một phụ nữ nổi tiếng: “Đẹp người, đẹp nết, giỏi văn chương “, là vợ thứ của tiến sĩ Nguyễn Kiều, danh sĩ Bắc Hà thời Lê – Trịnh. Ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm khúc, nữ sĩ còn để lại tác phẩm Truyền kì tân phả bằng chữ Hán. Có người nói rằng dịch giả của Chinh phụ ngâm khúc là của Phan Huy Ích. Phan Huy Ích (1750 – 1822) tự là Dụ Am, người làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh), sau di cư ra làng Sài Sơn, phủ Quốc Oai (nay thuộc Hà Tây). Ông đỗ tiến sĩ năm 26 tuổi. Ông để lại một số tác phẩm như Dụ Am văn tập, Dụ Am ngâm lục. • Nội dung: Chinh phụ ngâm khúc thể hiện nỗi thương nhớ, trông mong, đợi chờ, nỗi buồn cô đơn, vất vả, dài dằng dặc của người vợ trẻ có chồng đi chinh chiến miền xa, đồng thời nói lên cảnh gian truân, nguy hiểm của người chồng trên chiến địa. • Giá trị: Bản dịch Chinh phụ ngâm khúc là một kiệt tác của nền văn thơ cổ điển Việt Nam. Nó có giá trị nhân đạo sâu sắc, nói lên tình thương đối với những chinh phụ, những khách chinh phụ trong thời loạn lạc: nguy hiểm, chết chóc, lo buồn cô đơn, cảm thông với nỗi khát khao về hạnh phúc lứa đôi, về ước mơ sum họp gia đình. Chinh phụ ngâm còn là tiếng nói lên án chiến tranh thời phong kiến. Về mặt nghệ thuật Chinh phụ ngâm khúc đạt được nhiều thành tựu rực rỡ về thể thơ song thất lục bát mà khó có tác phẩm nào sánh được. Nhạc điệu du dương, ngôn ngữ trong sáng gợi cảm, hình tượng mĩ lệ, cách diễn tả tâm trạng tinh tế, sâu sắc, các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng cực kì điêu luyện. Nhiều câu thơ, đoạn thơ đã in sâu trong tâm trí hàng triệu con người. Chẳng hạn: Ngàn dâu xanh ngắt một màu, Lòng chàng ý thiếp, ai sầu hơn ai? hay: Ôm yên, gối trống đã mòn, Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh. Bài làm Chinh phụ ngâm khúclà khúc ngâm tả nỗi buồn cô đơn, thương nhớ, chờ mong của người vợ trẻ có chồng đi chinh chiến miền xa. Tác giả khúc ngâm là Đặng Trần Côn, một danh sĩ tài ba, sống vào nửa đầu thế kỉ XVIII, khi đất nước ta đang đắm chìm trong cảnh loạn lạc, nội chiến lầm than và đau thương. Nguyên tác bằng chữ Hán, gồm có 478 câu thơ dài ngắn xen nhau theo thể trường đoản cú. Bản dịch thơ dài 408 câu thơ song thất lục bát, tương truyền là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, người cùng thời với tác giả. Tiếng Việt và thể thơ song thất dưới ngòi bút sáng tạo của dịch giả Chinh phụ ngâm khúc được nâng lên một tầm vóc mới, trở thành kiệt tác trong nền thi ca cổ điển Việt Nam. Nghệ thuật diễn tả tâm trạng, hình tượng thơ mĩ lệ, nhạc điệu du dương, thiết tha, ngôn ngữ thơ tinh luyện, biểu cảm… là vẻ đẹp của áng thơ này. Nỗi buồn cô đơn, niềm khao khát hạnh phúc của nàng chinh phụ giữa thời chiến tranh loạn lạc mang ý nghĩa thể hiện khát vọng hòa bình của nhân dân, lên án chiến tranh phi nghĩa. Tinh thần nhân đạo là giá trị to lớn và sâu sắc của Chinh phụ ngâm khúc. Đoạn thơ 12 câu thơ dưới đây trích từ câu 53 đến câu 64 của khúc ngâm đã thể hiện một cách cảm động tâm trạng cô đơn và nỗi sầu chia li – của nàng chinh phụ trong những ngày đầu, sau khi tiễn chồng ra trận: “Chàng thì đi cõi xa mưa gió, ………………………………….. Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?” Hai vế đôi xứng song hành: “Chàng thì đi / Thiếp thì về” làm hiện lên một cảnh ngộ chia li của lứa đôi đầy bi kịch giữa thời loạn lạc. Người vợ trẻ thương chồng phải dấn thân vào “cõi xa mưa gió”, phải nếm trải bao nguy hiểm, gian lao nơi chiến địa xa xôi. Rồi nàng lại tự thương mình phải sống lẻ loi, cô đơn, một mình trong bóng tối suốt năm canh nơi “buồng cũ chiếu chăn”. Hai hình ảnh tượng trưng là “cõi xa mưa gió” và “buồng cũ chiếu chăn” đã thể hiện một cách sâu sắc nỗi đau khổ của “đôi lứa yêu nhau ” khi đất nước “nổi cơn gió bụi”: “Chàng thì đi cõi xa mưa gió, Thiếp thì về buồng củ chiếu chăn Đoái trông theo đã cách ngăn Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh”. Ba chữ “đoái trông theo” gợi tả một cái nhìn đăm đắm về phía chân trời xa. Hình bóng người chồng thân yêu đâu còn nhìn thấy nữa, đã “cách ngăn”, bởi màu “biếc” của mây, cứ “tuôn” mãi ra, bởi “ngàn núi xanh” cứ trải dài trải rộng và che khuất ở phía chân trời. Chinh phụ một mình một bóng lẻ loi giữa trống vắng bao la. Nỗi buồn cô đơn như thấm vào mây núi. “Mây biếc”càng làm cho bầu trời cao hơn, mênh mông hơn. “Ngàn núi xanh” càng làm cho chân trời thêm xa xăm, cách trở. Câu thơ “tuôn màu,mày biếc, trải ngàn núi xanh” là một câu thơ có hình tượng mĩ lệ và rất hay. Tác giả đã lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm trạng thương nhớ và cô đơn của chinh phụ một cách đặc sắc. Nỗi buồn cô đơn của nàng chinh phụ được khắc sâu, được tô đậm qua cách nói ước lệ tượng trưng ở đoạn song thất tiếp theo: “Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại, Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang. Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương, Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng”. Hàm Dương và Tiêu Tương, hai địa danh trên đất nước Trung Hoa bao la, cách xa hàng nghìn dặm, được nhắc đi nhắc lại đến ba lần ám ảnh. Trên cõi xa trường tầm tã gió mưa sương tuyết, giữa rừng gươm giáo “chàng còn ngoảnh lại”..Ở chốn “buồng cũchiếu chăn”, sớm sớm chiều chiều “thiếp hãy trông sang”. Nhưng chỉ thấy “bến”, thấy “cây”, thấy “khói” mịt mù trong tâm tưởng. Không gian địa lí bao la đã trở thành không gian nghệ thuật trống vắng. Chữ “cách” được điệp lại hai lần, kết hợp với “mấy trùng” càng làm nổi bật bi kịch chia li của lứa đôi. Và đó cũng là tâm trạng nghệ thuật: nỗi buồn cô đơn, thương nhớ của nàng chinh phụ không thể nào kể xiết. Cách nói ước lệ tượng trưng là một thủ pháp nghệ thuật của thi pháp cổ mang giá trị thẩm mĩ đặc sắc: tạo nên tính hàm súc và liên tưởng phong phú, đầy ý vị. Chinh phụ ngâm khúc có nhiều đoạn thơ mang tính ước lệ rất hay. Lúc thì gợi lên nỗi gian truân của khách chinh phụ trên chiến địa: “Nay Hàn xuống Bạch Thành đóng lại, Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua Hình khe, thế núi gần xa, Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao”. Lúc thì tái hiện một cách rùng rợn chốn sa trường: “Non Kì quạnh quẽ trăng treo, Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò. Hồn tử sĩ gió ù ù thổi, Mặt chinh phụ trăng dõi dõi soi”. Bốn câu thơ cuối đoạn đã cực tả nỗi buồn của nàng chinh phụ trong sự trông ngóng, nhớ thương: “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu. Ngàn dâu xanh ngắt một màu, Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”. Càng ngóng trông càng vô vọng cô dơn; ở hai phía chân trời, chàng và thiếp đang buồn đau: “cùng trông lại mà cũng chẳng thấy”. Ngày và đêm, thực và mộng “chẳng thấy” hình bóng thân thương của chàng, mà thiếp chỉ “thấy” màu “xanh xanh” của ngàn dâu, càng về sau càng nhạt nhòa trên cái nền bao la “ngàn dâu xanh ngắt một màu”. Màu “xanh xanh”, màu “xanh ngắt” ấy của ngàn dâu cũng là màu xanh của tâm tưởng, màu xanh của li biệt. Thiếp đang sống trong nỗi buồn nhớ thiết tha. Chẳng có ngọn gió tây, chẳng có cánh chim nhạn để thiếp gửi tình thương nhớ tới chàng đang chinh chiến trên ải xa? Câu hỏi tu từ như một tiếng thở dài ngao ngán: “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?” Trong Chinh phụ ngâm khúc, biện pháp nghệ thuật liên hoàn – trùng điệp đã để lại dấu ấn tuyệt đẹp qua nhiều đoạn thơ tuyệt tác: “Hướng dương lòng thiếp như hoa, Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương, Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái Hoa để vàng bởi tại bóng dương Hoa vàng hoa rụng quanh tường, Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần”. Thơ là cái đẹp muôn đời của sự sống. Chinh phụ ngâm khúc là cái đẹp chứa chan tinh thần nhân đạo phản ánh một thời kì loạn lạc đau thương, để lại bao xúc động trong lòng người hơn 250 năm nay. Đoạn thơ 12 câu trên đây là một nét đẹp của khúc ngâm tuyệt tác này. Ngôn từ điêu luyện, biểu cảm, hình tượng mĩ lệ, nhạc điệu du dương, câu thơ song thất của khúc ngâm đã trở thành cổ điển. Cách nói ước lệ tượng trưng, cấu trúc song hành đối xứng, biện pháp liên hoàn -tượng trưng đã được nữ sĩ sử dụng rất tài tình. Chiến tranh loạn lạc đã để lại bao nỗi đau trong lòng người. Nỗi buồn li biệt, tình thương nhớ, cảnh ngộ cô đơn của người vợ trẻ sau khi tiễn chồng ra trận như thấm sâu vào cảnh vật từ mây trời, núi non đến cây cỏ, từ chốn phòng khuê đến ải xa nơi chiến địa. Đoạn thư thấm đượm tính nhân văn, thể hiện niềm khao khát của người chinh phụ muốn được sống trong tình yêu hạnh phúc, trong bình yên. LUYỆN TẬP Để 1. Có ý kiến cho rằng, tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc là khúc ca lên án tình trạng chiến tranh liên miên, đồng thời là tiếng nói của người phụ nữ có chồng ra trận. Qua đoạn trích Sau phút chia li, em hãy chứng minh ý kiến trên. Đề 2. Phân tích nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong đoạn trích Sau phút chia li.
Trình bày một số nét về tác giả, dịch giả, về nội dung và giá trị tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc.
1,908
Trình bày những cơ hội trong vấn đề chăm sóc, bảo vệ và phát triển của trẻ em Hướng dẫn Chăm sóc, bảo vệ và phát triển của trẻ em là trách nhiệm của toàn nhân loại Bài làm Trong các quyền về trẻ em trên thế giới, không thể thiếu được một quyền quan trọng đối với trẻ em là quyền bảo vệ trẻ em, tạo những cơ hội cho trẻ em học tập, phát triển và bảo vệ trẻ em trước những nguy cơ trong cuộc sống. Trước những thách thức to lớn khiến trẻ em bị kiềm hãm, khó phát triển và cũng là nạn nhân của các cuộc khủng hoảng kinh tế, đói nghèo, bệnh tật hay thậm chí là tệ nạn xã hội… Đối với những thách thức đó, thế giới đã tạo ra những thay đổi tạo cơ hội cho trẻ em phát triển. Bằng cách là các nước trên thế giới đã liên kết với nhau đặt ra các quyền lợi dành cho trẻ em hay nói cách khác là tạo nên những phúc lợi cho quyền trẻ em. Hay tạo ra những điều kiện để trẻ em tránh khỏi những cuộc chiến tranh hay các cuộc xuy đột chính trị, hạn chế sự bóc lột, hành hạ, bạo lực hay rơi vào đường của tệ nạn xã hội. Để làm những việc đó chúng ta phải vạch ra một kế hoạch, hành động cụ thể nhằm đảm bảo cho trẻ em. Như tạo cơ hội hổ trợ kinh tế cho trẻ em nghèo để trẻ em có thể cắp sách tới trường. Xây dựng trường học, cơ sở vật chất hay thiết bị dạy học ở những nơi trẻ em nghèo khổ, không có điều kiện đi học hoặc những nơi trẻ em không biết chữ. Kêu gọi mọi người hỗ trợ, đóng góp để giúp đỡ các em nghèo, khuyết tật, bị mù chữ…Chỉ cần ta mở rộng tấm lòng, mỗi người đóng góp một ít thì có thể giúp cho trể em có hoàn cảnh khó khăn được hạnh phúc. Như các em bị chất độc màu da cam, cần có một lớp học tình thương, các trung tâm cứu trợ trẻ em bị mồ côi, khuyết tật và không có nơi nương tựa… Trẻ em sẽ là những con người trong tương lai giúp đất nước phát triển và sánh vai với các nước hiện đại khác. Nên về vấn đề tạo cơ hội để bảo vệ, chăm sóc để trẻ em phát triển đã được cộng đồng quốc tế nói chung và nước Việt Nam nói riêng, ý thức đầy đủ cụ, cụ thể, thiết thực. Để xứng đáng với việc bảo vệ, quan tâm, chăm sóc ấy, chúng ta cần phải không ngừng nỗ lực trong học tập, rèn luyện để có thể gánh vác trọng trách tương lai đất nước sau này.
Trình bày những cơ hội trong vấn đề chăm sóc, bảo vệ và phát triển của trẻ em
479
Trình bày những cơ sở hình thành nên tình đồng chí ở bài thơ Đồng chí của Chính Hữu Hướng dẫn Chính Hữu viết bài thơ Đồng chí năm 1947. Lúc ấy, lực lượng kháng chiến của ta mới hình thành và chiến đấu trong thời gian ngắn. Không những các chiến sĩ giải phóng phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng thiếu thốn mà lực lượng cũng chưa lớn mạnh. Tư tưởng, mục tiêu chiến đấu và sự kiên định của nhiều chiến sĩ chưa thực sự rõ ràng. Bài thơ Đồng chí ra đời kịp thời, đúng lúc củng cố và khẳng định sự gắn kết bền chặt trong nhiệm vụ chiến đấu, chiến thắng kẻ thù của quân và dân ta thời kì đầu kháng chiến chống Pháp. Mở đầu bài thơ, tác giả đi vào giới thiệu cảnh ngộ xuất thân của những người chiến sĩ: Quê hương anh nước mặt đồng chua Làng tôi nghèo cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Thành ngữ “nước mặn đồng chua” và hình ảnh “đất cày lên sỏi đá” đã gợi lên hình ảnh làng quê lam lũ, cực nhọc của những miền quê nghèo khó. Họ xuất thân từ những người nông dân chân lấm tay bùn, tần tảo với đồng ruộng. Chính sự đồng cảm về giai cấp đã khiến cho họ từ mọi miền đất nước: từ đồng bằng tới miền núi trung du, từ những phương trời xa lạ đã nhanh chóng trở nên thân quen. Chính tình yêu nước, ý chí chiến đấu, tiêu diệt kẻ thù giải phóng đất nước là điều kiện để họ gặp gỡ nhau nơi chiến tuyến. Từ xa hóa gần, từ lạ thành quen. Đó là một sự vận động kì diệu. Không sức mạnh nào khác tạo nên sự kì diệu ấy ngoài tình yêu tổ quốc, lí tưởng cách mạng và nhiệm vụ chiến đấu chống kẻ thù. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí! Với cấu trúc sóng đôi của câu thơ, ta như hiểu được điều tác giả muốn nói: họ không chỉ cùng một mục đích chiến đấu “súng bên súng” mà còn sống chung lí tưởng “đầu sát bên đầu”. Những người chiến sĩ ấy còn biết san sẻ cho nhau hơi ấm đồng động. “Đêm rét chung chăn” gợi cho người đọc cảm giác ấm cúng của tình đồng đội, nghĩa đồng bào, chứ không đơn thuần kể lể cái nghèo cái rét. Cái tấm chăn mỏng ấm áp tình tri kỉ, tình đồng chí ấy mãi mãi là một kỉ niệm đẹp đối với người lính thời chinh chiến không bao giờ có thể quên được: Ôi núi thẳm rừng sâu Trung đội cũ về đâu Nơi đây chăn giá ngắt Nhớ cái rét ban đầu Thắm mối tình Việt Bắc. (Thâm Tâm – Chiều mưa đường số 5) Câu thơ “Đồng chí!” khép lại đoạn mở đầu thật lạ, thật ngắn gọn. Nó chỉ bao gồm một từ mà sấu chấm cảm gợi lên nhiều điều. Đó không chỉ là tiếng xưng hô thiêng liêng, trang nghiêm; đó còn là tiếng lòng của những người nông dân mặc áo lính vừa được gắn bó với nhau trong chiến tranh vệ quốc. Tình đồng chí là kết tinh độ cao của tình người, tình bạn…. Giọng điệu sâu lắng, trữ tình, lời thơ, hình ảnh giản dị, như không hề có sự trau chuốt về ngôn ngữ, không tìm thấy ở đây những từ ngữ sáo rỗng. Ta lại bắt gặp hình ảnh người vệ quốc năm nào qua nỗi “Nhớ” của người thi sĩ Hồng Nguyên. Lũ chúng tôi Bọn người bản xứ Gặp nhau hồi chưa biết chữ Quen nhau từ buổi “một – hai” Súng bắn chưa quen Quân sự mươi bài…
Trình bày những cơ sở hình thành nên tình đồng chí ở bài thơ Đồng chí của Chính Hữu
631
Trình bày những nét khái quát về tác giả của tiểu thuyết Ê-min hay Về giáo dục Hướng dẫn Bài làm J. J. Ru-xô là nhà văn, nhà triết học vĩ đại của nước Pháp trong thế kỉ XVIII. Ông sinh nám 1712 tại Thụy Sĩ và mất năm 1778 tại Pháp. Ông sinh ra trong một gia đình bố làm thợ sửa đồng hồ, mãi đến năm 10 tuổi mới bắt đầu đi học và cũng chỉ được hai năm. Thời kì tuổi thơ ngọt ngào nhanh chóng trôi qua, ông bắt đầu đi học nghề thợ khắc. Trong một thời gian dài 13 năm từ năm 1728, ông phải bôn ba để kiếm sống và trải qua nhiều cay đắng tủi nhục. Thời gian đó ông có lúc làm thợ khắc, lúc làm đầy tớ trong gia đình quý tộc, lúc phải nương nhờ Đơ Van-ren, lúc vào học ở Đại chủng viện… sau đó ông đi học nhạc rồi dạy nhạc để kiếm sống. Trong gần 5 năm ở nhà Đơ Van-ren, Ru-xô đọc sách suốt ngày đêm, từ sách lịch sử, triết học, văn học, địa lí đến thiên văn học, vật lí, hóa học… Cuổì năm 1740, Ru-xô đến Pa-ri và một giai đoạn mới trong cuộc đời ông đã mở ra. Ông bắt đầu dạy nhạc và làm thư kí. Năm 1746, Ru-xô lập gia đình. Vợ của ông là một cô gái nghèo làm nghề giặt thuê tên là Tê-re-dơ. Sau này, trong cuốn hồi kí của mình, Ru-xô kể lại: Tê-re-dơ là niềm an ủi duy nhất có thực trời ban cho tôi trong cảnh cùng khổ, và chỉ riêng niềm an ủi ấy đủ giúp cho tôi chịu đựng được cuộc đời. Năm 1750, Ru-xô giành giải thưởng của Viện hàn lâm khoa học Đi-gông với tác phẩm Luận về khoa học và nghệ thuật. Năm 1752, ông viết tác phẩm Thầy bói nông thôn và để lại dấu ấn nhờ tác phẩm này. Những năm sau đó, tài năng của Ru-xô được bộc lộ và hàng loạt tác phẩm đã được ông cho ra đời. Trong đó phải kể đến như Nàng Ê-lôi-dơ mới, Khế ước xã hội, Ê-min hay về giáo dục, Những bức thư từ trên núi, Những điều bộc lộ… Những năm tháng cuối đời, Ru-xô bị thế lực Nhà thờ và bọn phản động săn đuổi nhiều lần, có lúc ông phải thay đổi họ tên để trốn tránh. Cuộc đời của Ru-xô là cuộc đời của một con người nhiều cay đắng mà vinh quang. Bài học lớn nhất của ông là bài học về tự học và kiên cường vượt qua mọi thử thách, quyết tâm theo đuổi chí hướng của mình. Tags:Văn 8
Trình bày những nét khái quát về tác giả của tiểu thuyết Ê-min hay Về giáo dục
454
Trình bày những thách thức trong vấn đề chăm sóc, bảo vệ và phát triển của trẻ em ngày nay Hướng dẫn Quá hay
Trình bày những thách thức trong vấn đề chăm sóc, bảo vệ và phát triển của trẻ em ngày nay
22
Trình bày những tình cảm và suy nghĩ trước cái chết của Cô bé bán diêm – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn I.Tìm hiểu đề và cách làm bài – Nêu ra những suy nghĩ và tình cảm của bản thân đối với số phận của cô bé bán diêm; xúc động vì cảnh ngộ đáng thương, vì những ước mơ của cô bé, thấy thương cảm vì cái chết của cô, từ đó suy nghĩ đến cảnh ngộ những người nghèo khổ và việc làm của bản thân đối với những người đó. – Bài viết gắn liền được cảm xúc với cuộc đời nhân vật, từ những tình cảm cao đẹp do hình tượng nhân vật gợi ra việc làm của bản thân đối với những người nghèo khổ xung quanh. II. Một số điểm cần lưu ý 1. Truyện Cô bé bán diêm không nhiều tình tiết. Khi đọc truyện, cần chú ý đến: – Cảnh ngộ đáng thương của cô bé (cảnh ngộ gia đình, cảnh ngộ khi đi bán diêm). – Những cảnh tượng hiện ra trước mắt cô bé khi quẹt các que diêm. Cảnh tượng đó chính là ước mơ của em về một cuộc sống hạnh phúc. Ước mơ vừa có tính trẻ thơ (con ngỗng quay, cây thông Nô-en, hình ảnh bà nội…) vừa có ý nghĩa sâu sắc. – Cái chết của em bé giữa tuyết lạnh và giữa những bao diêm nhưng đôi môi vẫn đang mỉm cười. 2. Nên từ các suy nghĩ, cảm xúc xung quanh nhân vật của truyện nghĩ đến cuộc sống hôm nay, nghĩ đến việc làm đối với những người nghèo khổ hiện tại. DÀN BÀI A.Mở bài Giới thiệu truyện Cô bé bán diêm và cảm nghĩ chung của em về cảnh ngộ và cái chết của cô bé. Có thể nêu các cảm nghĩ: – Thương cảm, xót xa trước cảnh ngộ nghèo khổ, trước cái chết của cô bé. -Suy nghĩ về tình cảm giữa những lớp người, giữa những cá nhân với các số phận khác nhau trong xã hội: cần có sự thương cảm, có hành vi giúp đỡ, quan tâm đến nhau. B.Thân bài 1. Thương cảm, ái ngại trước cảnh ngộ nghèo khổ, cơ cực của cô bé và sự phẫn nộ trước thái độ thờ ơ của mọi người trong truyện. + Lược thuật ngắn gọn cái chết của em (chú ý các chi tiết quan trọng: em chết nhưng đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười, em chết giữa những bao diêm, ở xó tường, bên ngoài là tuyết phủ kín mặt đất…). + Nêu và phân tích tình cảm của em trước cái chết đó: xót xa, nghẹn ngào vì em bé đã chết. Xúc động, thương em bé có những ước mơ bình thường mà không đạt được. + Từ cái chết của em bé bán diêm nghĩ đến cuộc sống của biết bao em bé nghèo khổ, bao gia đình không đủ miếng ăn, không có quần áo mặc. Từ đó nghĩ đến trách nhiệm của mọi người đối với những người nghèo khổ khác. – Khẳng định một lần nữa tình cảm nhân hậu mà truyện gợi lên trong lòng người đọc. – Nêu rõ trách nhiệm và tình thương của mọi người đốì với số phận và cuộc đời những em bé bán diêm, bán báo, nhặt vỏ chai… thời nay. Tags:Văn 8
Trình bày những tình cảm và suy nghĩ trước cái chết của Cô bé bán diêm – Đề và văn mẫu 8
554
Trình bày nội dung và đặc sắc nghệ thuật trong truyện Chân Tay Tai Mắt Miệng Hướng dẫn Chân Tay Tai Mắt Miệng là truyện ngụ ngôn dân gian đặc sắc không chỉ chứa đựng nhiều bài học nhân sinh sâu sắc mà còn có nghệ thuật xây dựng cốt truyện ấn tượng. Em hãy trình bày nội dung và đặc sắc nghệ thuật trong truyện Chân, tay, Tai, Măt, Miệng. I. Dàn ý chi tiết cho đề trình bày nội dung và đặc sắc nghệ thuật trong truyện Chân Tay Tai Mắt Miệng 1. Mở bài Giới thiệu truyện: Truyện ngụ ngôn Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng đem đến cho con người bài học sâu sắc về sự đoàn kết, mối quan hệ giữa các cá nhân với cộng đồng. Truyện có nhiều đặc sắc trong nghệ thuật. 2. Thân bài – Nội dung: + Câu chuyện của Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng với những mâu thuẫn, xuất phát từ cái nhìn phiến diện cho rằng lão Miệng không làm gì cũng được ăn. + Chân, Tay, Tai, Mắt nghỉ việc dẫn đến nhiều hậu quả vì suy nghĩ quá nông nổi. + Sau một tuần, họ nhận ra suy nghĩ của mình là sai và đến nhà lão Miệng. Mọi người lại vui vẻ, không ai tị ai. – Nghệ thuật: + Nghệ thuật nhân hóa đặc sắc, mượn các bộ phận trên cơ thể con người để nói chuyện con người. + Kết cấu ngắn gọn, đủ các nhân vật, những mâu thuẫn cao trào. + Giọng kể hài hước, dí dỏm 3. Kết bài Ý nghĩa của truyện: Với nghệ thuật nhân hóa, lấy các bộ phận trên cơ thể để nói về chính con người. Câu chuyện là bài học triết lí sâu sắc về sự đoàn kết, gắn bó của con người trong cộng đồng. Qua những câu ca dao, tục ngữ, truyện cổ dân gian cha ông ta thường gửi gắm những bài học triết lí sâu sắc. “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” là một câu chuyện như thế. Truyện khuyên răn con người về sự đoàn kết, về mối quan hệ khăng khít giữa cá nhân với cộng đồng. Ngoài giá trị nội dung, truyện còn có nghệ thuật độc đáo và đặc sắc. Trước hết, về mặt nội dung, “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” là câu chuyện của năm bộ phận trên cơ thể người. Trước kia vốn sống rất hòa thuận, bỗng dung một ngày cô Mắt khởi xướng cuộc tấy chay vì cho rằng lão Miệng chẳng phải làm gì mà vẫn ăn ngon lành, còn họ phải làm việc vất vả mà chẳng được gì. Ý kiến của cô Mắt được cậu Chân, cậu Tay, bác tai ủng hộ, họ kéo nhau đến nhà lão Miệng để nói với lão từ nay phải tự lo lấy mà ăn, xưa nay họ vất vả mà chẳng được miếng ngon lành gì. Mặc kệ lời giải thích của lão Miệng, họ cũng không để tâm, sự rạn nứt giữa họ bắt đầu. Suy nghĩ nông nổi của Chân, Tay, Tai, Mắt đã phải trả giá. Chúng bảo nhau nghỉ việc không làm gì cả. Ngày một, ngày hai rồi ngày ba, tất cả đều mệt mỏi rã rời. Mắt thì “lờ đờ”, cậu Chân, cậu Tay cũng chẳng muốn cất mình lên đê chạy nhảy như trước nữa, bác Tai thì lúc nào cũng “ù ù như xay lúa”… Cho đến ngày thứ bảy, không thể chịu được nữa mọi người lại họp bàn. Nghe lời giải thích của bác tai, ai nấy cũng thấy hợp lí gượng dậy đi đến nhà lão Miệng. Trong suốt bảy ngày mọi người nghỉ việc, lão Miệng không có cái ăn cũng rơi vào tình trạng thê thảm “nhợt nhạt cả hai môi, hai hàm thì khô như rang, không buồn nhếch mép”. Tất cả vội vàng ai vào việc nấy như trước kia. Và cuối cùng mọi người đều vui vẻ, khoan khoái, không còn mệt nhọc. Kết thúc câu chuyện là cảnh Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng lại hòa thuận như trước, không ai tị ai cả. Thành công của truyện không chỉ là ở mặt nội dung mà còn bởi những yếu tố nghệ thuật độc đáo. Truyện đã mượn các bộ phận trên cơ thể người để nói về chuyện con người. Nghệ thuật nhân hóa được tác giả dân gian sử dụng tài tình. Năm bộ phận Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng trên cơ thể con người cũng giống như là con người trong một cộng đồng. Thông qua câu chuyện của năm bộ phận ấy, ông cha ta đã gửi gắm những bài học triết lí sâu sắc cho con người. Mỗi cá nhân là một phần riêng biệt nhưng không thể tách rời khỏi cộng đồng, có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó khăng khít với cộng đồng. Sống trong tập thể phải biết mình vì mọi người, mọi người vì mình, như thế cuộc sống mới hạnh phúc. Truyện còn thành công với kết cấu ngắn gọn, với đầy đủ tình tiết, mẫu thuẫn như một màn kịch nhỏ, giọng kể hài hước, dí dỏm tạo hấp dẫn cho người đọc. Như vậy, bằng nghệ thuật nhân hóa các bộ phận trên cơ thể con người để nói về chuyện con người, truyện ngụ ngôn Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng đã đưa đến cho con người những bài học sâu sắc, thấm thía. Mỗi con người là một thành phần không thể tách rời của xã hội, phải biết đoàn kết, nương tựa nhau để có một cuộc sống tốt đẹp.
Trình bày nội dung và đặc sắc nghệ thuật trong truyện Chân Tay Tai Mắt Miệng
925