text
stringlengths
1
148k
label
int64
0
2
__index_level_0__
int64
0
113k
Tarsipes rostratus là một loài động vật có vú trong họ Tarsipedidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Gervais & Verreaux mô tả năm 1842. Chúng có tuổi thọ điển hình từ một đến hai năm. Mặc dù bị hạn chế một phạm vi tương đối nhỏ ở phía tây nam của Tây Úc, loài này lại phổ biến tại địa phương và dường như không thể bị...
1
null
Dendrolagus bennettianus là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được De Vis mô tả năm 1886. Con đực có thể cân nặng từ 11,5 kg lên đến gần 14 kg, trong khi những con cái nặng khoảng 8-10,6 kg. Chúng rất nhanh nhẹn và có khả năng nhảy 9 mét xuống một nhánh cây khác và đã có trường hợ...
1
null
Dendrolagus goodfellowi là một loài thú có túi thuộc họ Macropodidae, một họ gồm kangaroo, wallaby và họ hàng, và chi "Dendrolagus", với mười một loài khác. Đây là loài bản địa của những khu rừng mưa Papua New Guinea, và vùng biên giới với Tây New Guinea của Indonesia. Theo phân loại của IUCN, loài này được liệt kê là ...
1
null
Dendrolagus inustus là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Müller mô tả năm 1840. Loài này được tìm thấy ở rừng chân núi ở bắc và tây New Guinea. Loài này cũng được biết đến ở đảo Yapen, còn việc hiện diện của nó ở Salawati và Waigeo không chắc chắn lắm. Loài này phát triển đến...
1
null
Dendrolagus mbaiso là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Flannery. Boeadi & Szalay miêu tả năm 1995. Loài chuột túi cây này là loài bản địa Tây New Guinea của Indonesia, nơi nó sinh sống ở rừng núi của dãy núi Sudirman ở độ cao 3250 đến 4200 m, ngay dưới hàng cây.
1
null
Dendrolagus ursinus là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Temminck mô tả năm 1836. Loài này có chiều dài đầu đến thân 50–82 cm với duôi dài 40–94 cm và cân nặng lên đến 8 kg. Trên lưng màu đen bóng trong khi phần dưới có màu nâu vàng. Lông ở cổ và họng màu hơi trắng, và khuôn ...
1
null
Dorcopsis atrata là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Van Deusen mô tả năm 1957. Đây là loài đặc hữu một hòn đảo ở phía đông của New Guinea, nơi môi trường sống tự nhiên của loài này là các khu rừng khô nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Loài này bị đe dọa do mất môi trường sống v...
1
null
Dorcopsis hageni là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Heller mô tả năm 1897. Loài này được tìm thấy ở phía bắc của Tây Papua, Indonesia và Papua New Guinea. Đây là một loài phổ biến trong sinh cảnh rừng nhiệt đới phù hợp và IUCN liệt kê tình trạng bảo tồn của là loài ít quan ...
1
null
Dorcopsis luctuosa là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được D'Albertis mô tả năm 1874. Loài này được tìm thấy ở Tây Papua, Indonesia và Papua New Guinea. Đây là loài đặc hữu của khu vực phía nam và phía đông nam của đảo New Guinea, nơi loài này hiện diện ở độ cao lên đến 400 mét ...
1
null
Notamacropus agilis là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Gould mô tả năm 1841. Con đực lớn hơn khá nhiều so với con cái, con đực có chiều dài đầu và thân lên đến 85 cm và cân nặng 16–27 kg còn con cái dài 72 cm và cân nặng 9–15 cm. Đuôi của cả con đực và con cái đều dài và uy...
1
null
Osphranter antilopinus, là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Gould mô tả năm 1841. Loài này phân bố ở bắc Australia: ở bán đảo Cape York trong Queensland, Top End của Northern Territory, và Kimberley của Western Australia. Loài này phổ biến tại các địa phương này, tập hợp thà...
1
null
Macropus eugenii là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, nó có nguồn gốc tại Nam và Tây Úc. Phạm vi phân bố của nó đã bị thu hẹp kể từ khi người châu Âu đến, nhưng nó vẫn phổ biến tại nơi nó sống và được xem là một loài ít quan tâm bởi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Nó đã được du nhập tới New Z...
1
null
Notamacropus rufogriseus (trước đây "Macropus rufogriseus") là một loài động vật có vú và chuột túi wallaby trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Desmarest mô tả năm 1817. Đây là loài phổ biến trong các khu vực ôn hoà hơn và màu mỡ của miền đông Úc, bao gồm Tasmania. Trước năm 2019, "rufogriseus" được x...
1
null
Onychogalea lunata là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Gould mô tả năm 1840. Loài này sinh sống ở các vùng cây gỗ và cây bụi ở tây và trung bộ Úc. Nó có bộ lông mượt và như các loài khác trong chi, nó có cựa sừng ở mũi đuôi. Kích cỡ loài này bằng loài thỏ rừng, thân cao 15 i...
1
null
Petrogale assimilis là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Ramsay mô tả năm 1877. Đây là loài đặc hữu của Queensland tại Australia. Phạm vi phân bố của loài này kéo dài từ Townsville đến sông Burdekin, sông Bowen, Croydon và Hughenden, và bao gồm các từ và quần đảo Palm. Chúng ...
1
null
Quokka (), tên khoa học Setonix brachyurus, là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Quoy & Gaimard mô tả năm 1830. Giống như loài thú có túi khác trong họ macropodidae (như con chuột túi và kanguru chân to), quokka là động vật ăn cỏ và chủ yếu sinh hoạt về đêm. Quokka có thể...
1
null
Wallabia bicolor là một loài động vật có vú trong họ Macropodidae, bộ Hai răng cửa. Loài này được Desmarest mô tả năm 1804. Chúng sống ở miền đông Úc và cũng là loài duy nhất của chi Wallabia. Phân bố. "W. bicolor" sống ở vùng cực bắc Cape York thuộc Queensland, toàn bộ bờ biển miền đông và quanh phía nam-tây Victoria....
1
null
Geogale aurita là một loài động vật có vú trong họ Tenrecidae, bộ Afrosoricida. Loài này được Milne-Edwards & A. Grandidier mô tả năm 1872. Đây là loài đặc hữu của Madagascar. Môi trường sống tự nhiên của chúng là các khu rừng khô nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới và các vùng đất cây bụi nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới.
1
null
Hemicentetes semispinosus là một loài động vật có vú trong họ Tenrecidae, bộ Afrosoricida. Loài này được G. Cuvier mô tả năm 1798. Loài này được tìm thấy trong rừng mưa nhiệt đới vùng thấp, ở phía bắc và phía đông của Madagascar. Chúng có thể được tìm thấy trên đất liền, lội trong vùng nước nông hoặc đào dưới lòng đất....
1
null
Eremitalpa granti là một loài động vật có vú trong họ Chrysochloridae, bộ Afrosoricida. Loài này được Broom mô tả năm 1907. Loài này có bộ lông dài mượt, có màu xám trên đàn con và màu cát trên những con già hơn. Với chiều dài từ 7,5 đến 9 cm và trọng lượng từ 15 đến 25 g. Phân bố địa lý và môi trường sống. Loài này si...
1
null
Galegeeska rufescens là một loài động vật có vú trong họ Macroscelididae, bộ Macroscelidea. Loài này được Peters mô tả năm 1878. Loài này được tìm thấy ở Ethiopia, Kenya, Somalia, Nam Sudan, Tanzania và Uganda. Môi trường sống tự nhiên của chúng là xavan khô và cây bụi khô nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới.
1
null
Chuột chù voi tai ngắn (tên khoa học Macroscelides proboscideus) là một loài chuột chù voi trong họ Macroscelididae. Nó được tìm thấy ở Botswana, Namibia và Nam Phi. Môi trường sống của nó là cận nhiệt đới hoặc vùng cây bụi khô cận nhiệt đới, nhiệt đới khô hoặc vùng đất thấp đồng cỏ cận nhiệt đới, và sa mạc. Chúng ăn c...
1
null
Lợn đất ("Orycteropus afer") (tiếng Anh: Aardvark) là một loài động vật có vú cỡ trung bình, đào hang, sống về đêm sinh sống ở Châu Phi. Đây là loài duy nhất của Họ Orycteropodidae trong Bộ Tubulidentata, mặc dù các loài cổ đại và các chi khác của Tubulidentata cũng được biết đến. Không giống như các loài ăn sâu bọ khá...
1
null
Dendrohyrax arboreus là một loài động vật có vú trong họ Procaviidae, bộ Hyracoidea. Loài này được A. Smith mô tả năm 1827. Loài này được tìm thấy chủ yếu ở phía đông nam trung bộ của châu Phi. Miêu tả. Loài này bề ngoài trông giống chuột lang nhà. Nó có bộ lông dài, mềm, lông màu nâu xám bao quanh cơ thể, trong khi ph...
1
null
Bò biển Steller (tên khoa học Hydrodamalis gigas) là một loài động vật có vú biển ăn thực vật lớn. Chúng được Zimmermann miêu tả cấp loài năm 1780 và Retzius miêu tả cấp chi năm 1794. Loài điển hình của chi này là "Hydrodamalis Stelleri" Retzius, 1794 (= "Manati gigas" Zimmermann, 1780). Nó là thành viên lớn nhất của b...
1
null
Lợn biển Amazon (tên khoa học "Trichechus inunguis") là một loài động vật có vú trong họ Trichechidae, bộ Sirenia. Nó được tìm thấy sống trong môi trường sống nước ngọt của lưu vực sông Amazon ở Brasil, Peru, Colombia, Ecuador, Guyana, và Venezuela. Mặc dù vậy, người ta ước tính nếu mức độ khai thác hiện nay ở Ecuador,...
1
null
Lợn biển Tây Ấn Độ (danh pháp hai phần: "Trichechus manatus") là một loài động vật có vú trong họ Trichechidae, bộ Sirenia. Lợn biển Tây Ấn là một loài riêng biệt với lợn biển Amazon (T. inunguis) và lợn biển Tây Phi (T. senegalensis). Dựa trên các nghiên cứu di truyền và hình thái học, Lợn biển Tây Ấn được chia thành ...
1
null
Lợn biển Tây Phi (danh pháp hai phần: "Trichechus senegalensis") là một loài động vật có vú trong họ Trichechidae, bộ Sirenia. Nó chủ yếu ăn thực vật. Lợn biển Tây Phi có thể được tìm thấy ở hầu hết các khu vực phía Tây của châu Phi, từ Senegal tới Angola. Chế độ ăn. Lợn biển Tây Phi là động vật ăn cỏ; tuy nhiên, chún...
1
null
Dasypus hybridus là một loài động vật có vú trong họ Dasypodidae, bộ Cingulata. Loài này được Desmarest mô tả năm 1804. Loài này có ở Argentina, Brasil, Paraguay và Uruguay. Chúng là động vật có vú nhỏ có màu xám, dài từ 25 đến 50 cm và nặng khoảng 1,5 kg. Họ thuộc về bộ Cingulata và có một vỏ áo giáp da có chín đai. P...
1
null
Dasypus kappleri là một loài động vật có vú trong họ Dasypodidae, bộ Cingulata. Loài này được Krauss mô tả năm 1862. Loài này được tìm thấy ở Colombia, Venezuela, Ecuador, Guyana, Suriname, Guiana thuộc Pháp, Peru, Bolivia và Brazil. Loài này là loài đơn độc, sống về đêm, động vật trên cạn, thường sống ở các vùng lân c...
1
null
Dasypus sabanicola là một loài động vật có vú trong họ Dasypodidae, bộ Cingulata. Loài này được Mondolfi mô tả năm 1968. Chúng là loài đặc hữu của Colombia và Venezuela, nơi mà môi trường sống của nó là những đồng cỏ liên tục bị ngập lụt của Llanos. Loài này có quan hệ gần gũi với tatu chín đai và armadillo mũi dài lớn...
1
null
Tatu lông Andes ("Chaetophractus nationi") là một loài tatu tại Bolivia, trong khu vực Puna, Oruro, La Paz, và Cochabamba (Gardner, 1993). Nowark (1991) mô tả nó như phân bố tại Bolivia và bắc Chile. Một ấn phẩm gần đây của Pacheco (1995) cũng đặt nó ở Peru, về cơ bản trong vùng Puno. Nó cũng được cho là có mặt ở miền ...
1
null
Chaetophractus villosus là một loài động vật có vú trong họ Dasypodidae, bộ Cingulata. Loài này được Desmarest mô tả năm 1804. Loài này sinh sống từ mực nước biển đến độ cao lên đến 1.300 mét trên phần phía nam của Nam Mỹ, và có thể được tìm thấy ở đồng cỏ, rừng, và thảo nguyên, và thậm chí đã bắt đầu tuyên bố khu vực ...
1
null
Euphractus sexcinctus là một loài động vật có vú trong họ Dasypodidae, bộ Cingulata. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Loài này thường có chiều dài thân và đầu 40–50 cm và cân nặng 3,2 đến 6,5 kg. Vỏ sừng có màu vàng nhạt đến nâu dỏ với các vảy cùng chiều dài. Chân trước có 5 ngón chân có vuốt phát triển vừa. Chún...
1
null
Tatu khổng lồ, tên khoa học Priodontes maximus, là một loài động vật có vú trong họ Dasypodidae, bộ Cingulata. Loài này được Kerr mô tả năm 1792. Loài này đã từng được tìm thấy rộng rãi trong các khu rừng nhiệt đới của miền đông Nam Mỹ nhưng phạm vi phân bố của chúng xa về phía nam như miền bắc Argentina. Loài này nay ...
1
null
Tatu ba đai Brazil (tên khoa học Tolypeutes tricinctus) là một loài tatu trong họ Dasypodidae đặt hữu của Brazil, nơi mà nó được biết đến như là "tatu-bola" (nghĩa là tatu trái bóng). Là một trong hai loài tatu (loài kia là tatu ba đai phía nam) có thể cuộn thành một quả bóng. Nó đã bị suy giảm 30% số lượng trong 10 nă...
1
null
Bradypus pygmaeus (tên thông thường tiếng Anh gồm pygmy three-toed sloth, monk sloth và dwarf sloth) là một loài lười đặc hữu Isla Escudo de Veraguas, một hòn đảo nhỏ ngoài khơi bờ biển Panama. Loài này được mô tả lần đầu tiên bởi Robert P. Anderson của Đại học Kansas và Charles O. Handley Jr. của viện Smithsonian của ...
1
null
Lười ba ngón Maned, Bradypus torquatus là một loài động vật có vú trong họ Bradypodidae, bộ Pilosa. Loài này được Illiger mô tả năm 1811.. Chúng chỉ sống ở Brasil. Giải phẫu và hình thái học. Con đực trưởng thành có tổng chiều dài đầu thân 55–72 cm (22–28 in), với một cái đuôi khoảng 5 cm (2,0 in) và trọng lượng 4,0-7,...
1
null
Lười họng nâu, Bradypus variegatus là một loài lười ba ngón tìm thấy tại Trung và Nam Mỹ. Đây là loài phổ biến nhất trong bốn loài lười ba ngón, và được tìm thấy trong các khu rừng Nam và Trung Mỹ. Mô tả. Lười họng nâu có kích thước tương tự và hình dạng cơ thể đối với hầu hết các loài khác của lười ba ngón, với cả con...
1
null
Lười hai ngón Linnaeus (Choloepus didactylus), còn được gọi là Lười hai ngón Nam Mỹ, là một loài lười từ Nam Mỹ, được tìm thấy ở Venezuela, Guyanas, Colombia, Ecuador, Peru và Brasil về phía bắc của sông Amazon. Nó là động vật sống đơn độc, ban đêm và trên cây, được tìm thấy trong rừng nhiệt đới. Nó có thể bơi, làm ch...
1
null
Choloepus hoffmanni (tên tiếng Anh: "Hoffmann's two-toed sloth" - "Lười hai ngón Hoffmann") là một loài lười từ Trung và Nam Mỹ. Nó là một loài sống đơn độc về đêm, và sống trên cây, được tìm thấy trong rừng nhiệt đới và rừng rụng lá. Tên gọi thông thường trong tiếng Anh là để vinh danh nhà tự nhiên học người Đức Karl ...
1
null
Thú ăn kiến khổng lồ còn được gọi là gấu kiến (danh pháp hai phần: "Myrmecophaga tridactyla") là một loài động vật có vú thuộc chi đơn loài "Myrmecophaga" trong họ Myrmecophagidae, bộ Pilosa. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Đặc điểm. Đây là một loài động vật có vú ăn côn trùng lớn có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ...
1
null
Tamandua mexicana là một loài động vật có vú trong họ Myrmecophagidae, bộ Pilosa. Loài này được Saussure mô tả năm 1860. Chúng sinh sống trong các khu rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ miền nam México, Trung Mỹ thông qua, và cạnh phía bắc dãy núi Andes. Đây là một thú ăn kiến ​​cỡ trung bình với đôi mắt và đôi tai nhỏ...
1
null
Tamandua tetradactyla là một loài động vật có vú trong họ Myrmecophagidae, bộ Pilosa. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Đó là một động vật cô độc, được tìm thấy trong nhiều môi trường sống từ trưởng thành rừng xáo trộn thứ cấp và thảo nguyên khô cằn. Nó ăn kiến, mối, và ong. Móng vuốt mũi rất mạnh của nó có thể đư...
1
null
Ptilocercus lowii là một loài động vật có vú trong họ Ptilocercidae, bộ Scandentia. Loài này được Gray mô tả năm 1848. Đây là loài bản địa của miền nam Thái Lan, Bán đảo Malay, Borneo và một số đảo của Indonesia. "Ptilocercus lowii" là loài thú hoang dã duy nhất có thể tiêu thụ rượu. Một nghiên cứu về loài này ở Malays...
1
null
Allocebus trichotis là một loài động vật có vú trong họ Cheirogaleidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Günther mô tả năm 1875. Loài này hoạt động về đêm, là loài bản địa Madagascar, là loài duy nhất trong chi. Đây là loài cực kỳ nguy cấp và tổng số lượng chỉ còn 100-1000 cá thể. Tất cả chúng sinh sống ở một địa điểm tại...
1
null
Eulemur macaco là một loài động vật có vú trong họ Lemuridae, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1766. Nó là loài đặc hữu của Madagascar. Ban đầu người ta cho rằng loài này có hai phân loài, "Eulemur macaco macaco" và "Eulemur macaco flavifrons", cả hai đã được nâng thành loài đầy đủ bởi Mittermeier năm 2...
1
null
Vượn cáo đỏ (danh pháp hai phần: Eulemur rufus) là một loài động vật có vú trong họ Lemuridae, bộ Linh trưởng. Loài này được Audebert mô tả năm 1799. Loài này sinh sống ở Madagascar. Cho đến năm 2001, nó được coi là một phân loài của vượn cáo nâu.
1
null
Cu li mảnh dẻ lông đỏ còn được gọi là cu li núi Ceylon ("Loris tardigradus") là một loài linh trưởng trong họ Lorisidae, bộ Linh trưởng. Đây là loài động vật ăn đêm nhỏ bé sống duy nhất ở Sri Lanka và Nam Ấn Độ (đối với phân loài cu li mảnh dẻ lông xám), có đôi mắt to gần nhau và chân mảnh khảnh như que củi. Chúng đã t...
1
null
Tarsius tarsier (Spectral Tarsier,hay còn gọi là Tarsius spectrum)là một loài động vật có vú trong họ Tarsiidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Erxleben mô tả năm 1777. Chúng được tìm thấy trên đảo Selayar,Indonesia và không có ngón chân dính giống loài Philippine Tarsier hay Horsfield’s Tarsier.Phạm vi của loài này từn...
1
null
Khỉ sóc Goeldi, danh pháp hai phần là "Callimico goeldii", là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Thomas mô tả năm 1904. Loài này sống ở vùng thượng lưu Amazon của Bolivia, Brazil, Colombia, Ecuador và Peru. Nó là loài duy nhất được phân loại trong chi Callimico, và những con khỉ đôi...
1
null
Mico acariensis là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được M. van Roosmalen, T. van Roosmalen, Mittermeier & Rylands mô tả năm 2000. Đây là loài đặc hữu của Brasil. Mô tả. Thân trước trắng với lưng trên màu xám, phần lớn lưng có màu xám sẫm và phần gồ lên có màu cam. Đùi và hông có m...
1
null
Khỉ sóc tai trắng, danh pháp hai phần là "Callithrix aurita", là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được É. Geoffroy mô tả năm 1812. Loài này sinh sống trong các khu rừng trên bờ biển Đại Tây Dương, phía đông nam Brazil. Trong số tất cả các loài khỉ sóc, loài này có phạm vi ở cực nam.
1
null
Callithrix jacchus là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Ban đầu loài này sinh sống ở bờ biển đông bắc Brazil, ở các bang Piaui, Paraiba, Ceará, Rio Grande do Norte, Pernambuco, Alagoas và Bahia. Thông qua việc thả (cả cố ý và không chủ ý) các cá thể bị nuôi...
1
null
Khỉ sư tử mặt đen Tamarin hay khỉ sư tử Tamarin Superagüi (danh pháp hai phần: "Leontopithecus caissara") là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Đây là loài đặc hữu cực kỳ nguy cấp của vùng rừng ven biển miền Đông nam Brazil. Một số dự án bảo tồn và đã ước tính số lượng của chúng chỉ còn không quá...
1
null
Leontopithecus rosalia là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1766. Đây là loài bản địa rừng ven biển Đại Tây Dương của Brasil, loài này là loài nguy cấp với số lượng khoảng 1500 con và trải ra trong ba địa điểm dọc theo đông nam Brasil, và số lượng nuôi nhốt khoản...
1
null
Khỉ sóc nhỏ, danh pháp hai phần là "Saguinus bicolor", là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Spix mô tả năm 1823. Loài này được tìm thấy trong một khu vực giới hạn trong các rừng mưa Amazon của Brasil. Loài khỉ Tân thế giới này được tìm thấy bên trong và phía Bắc của đường giới hạn ...
1
null
Saguinus imperator là một loài động vật có vú trong họ Callitrichidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Goeldi mô tả năm 1907. Loài này sinh sống ở tây nam lưu vực Amazon, ở phía đông Peru, phía bắc Bolivia và ở phía tây các bang Acre và Amazonas của Brazil. Lông của chúng chủ yếu là màu xám, với các đốm màu vàng trên ngự...
1
null
Saguinus midas là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Loài khỉ Tân thế giới này là loài bản địa khu vực rừng phía bắc của sông Amazon ở Brazil, Guyana, French Guiana, Suriname, và có thể là Venezuela. Một số cá thể phía nam của sông Amazon không có sự tương p...
1
null
Saguinus niger là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được É. Geoffroy mô tả năm 1803. Đây là loài đặc hữu của Pará, Brazil, được giới hạn bởi Rio Amazonas (sông Amazon) ở phía Bắc, Rio Tocantins (sông Tocantins) ở phía Đông, Rio Xingu (sông Xingu) ở phía Tây, và cho đến gần đây, Rio Grad...
1
null
Khỉ sóc đầu trắng, danh pháp hai phần là "Saguinus oedipus", là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Một trong những loài linh trưởng nhỏ nhất, loài này dễ dàng được nhận ra bởi các đỉnh dọc dài màu trắng kéo dài từ trán tới vai. Loài này được tìm thấy ở ven r...
1
null
Cebus albifrons là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Humboldt mô tả năm 1812. Loài này được tìm thấy trong bảy quốc gia khác nhau ở Nam Mỹ: Bolivia, Brazil, Colombia, Venezuela, Ecuador, Peru, và Trinidad và Tobago. Loài này được chia thành các phân loài khác nhau, dù sự phân chia ...
1
null
Cebus apella là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Đây là loài bản địa Nam Mỹ. Theo định nghĩa truyền thống, nó là một trong những loài linh trưởng phổ biến nhất trong Xứ Tân nhiệt đới, nhưng gần đây người ta đã đề nghị xem xét khỉ đuôi cong sọc đen, khỉ đuô...
1
null
Cebus capucinus hay còn gọi là khỉ mũ mặt trắng Colombia là một loài động vật có vú trong họ Cebidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Loài khỉ này là loài bản địa các khu rừng ở phần bắc cực tây của Nam Mỹ, loài khỉ đầu trắng này quan trọng với hệ sinh thái rừng mưa vì chúng có vai trò của nó tro...
1
null
Khỉ uakari mặt đỏ, tên khoa học Cacajao calvus, là một loài khỉ Tân thế giới đặc trưng bởi một cái đuôi rất ngắn, mặt đỏ, một cái đầu hói; và lông dài. Nó bị giới hạn ở rừng Várzea và môi trường sống có nhiều cây gần nước ở phía tây Amazon của Brasil và Peru. Phân loại. Nó có 4 phân loài được công nhận:
1
null
Pithecia monachus là một loài động vật có vú trong họ Pitheciidae, bộ Linh trưởng. Loài này được É. Geoffroy mô tả năm 1812. Loài khỉ này được tìm thấy ở các vùng rừng phía tây bắc và đông bắc Brazil Peru. Chúng có thể phát triển lên đến được dài 30–50 cm và cân nặng khoảng 1–2 kg. Đuôi dày và rậm lông có thể dài đến 2...
1
null
Pithecia pithecia là một loài động vật có vú trong họ Pitheciidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1766. Loài khỉ này được tìm thấy ở Brazil, Guiana thuộc Pháp, Guyana, Suriname và Venezuela. Loài này sống trong tán tầng dưới của rừng, thức ăn chủ yếu là trái cây, và cũng ăn các loại hạt, hạt, và côn t...
1
null
Khỉ nhện đầu đen ("Atele fusciceps") là một họ khỉ Tân Thế giới, sinh sống ở Trung và Nam Mỹ. Nó được tìm thấy ở Colombia, Ecuador và Panama. Mặc dù các nhà linh trưởng học như Colin Groves (1989), Kellogg và Goldman (1944) trong việc đánh giá "A. fusciceps" là một loài riêng biệt, và một số các nhà khoa học khác, bao ...
1
null
Cercocebus atys là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Audebert mô tả năm 1797. Môi trường sống và sinh thái. Mangabey sooty có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Tây Phi, được tìm thấy ở Guinea, Guinea-Bissau, Liberia, Senegal, Sierra Leone và Bờ biển Ngà. [2] Nó sống trong cả rừng...
1
null
Chlorocebus aethiops là một loài động vật có vú trong họ Khỉ Cựu thế giới, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Loài này giới hạn ở Ethiopia, Sudan, Djibouti và Eritrea. Ở phía nam phạm vi phân bố, nó tiếp xúc gần gũi với "Chlorocebus pygerythrus" và "Chlorocebus djamdjamensis". Việc lai giống giữa ch...
1
null
Chlorocebus djamdjamensis là một loài động vật có vú trong họ Khỉ Cựu thế giới, bộ Linh trưởng. Loài này được Neumann mô tả năm 1902. Đây là loài bản địa Ethiopia, được tìm thấy trong các rừng tre của dãy núi Bale. Ban đầu nó được mô tả như là một phân loài của grivet ("Chlorocebus aethiops"). Tất cả các loài trong "Ch...
1
null
Chlorocebus tantalus là một loài động vật có vú trong họ Khỉ Cựu thế giới, bộ Linh trưởng. Loài này được Ogilby mô tả năm 1841. Đây là loài đặc hữu của Ghana, Sudan, và Kenya. Ban đầu nó được xem là phân loài của "Chlorocebus aethiops". Tất cả các loài trong "Chlorocebus" trước đây được đặt trong chi "Cercopithecus". L...
1
null
Khỉ đá Đài Loan (danh pháp hai phần: Macaca cyclopis) hay khỉ di Đài Loan (臺灣獼猴), khỉ ô chi (烏肢猴), là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Swinhoe mô tả năm 1862. Đây là loài đặc hữu của đảo Đài Loan và đã được nhập nội vào Nhật Bản. Ngoài con người, khỉ đá Formosa là loài độn...
1
null
Khỉ đuôi lợn phương bắc (danh pháp hai phần: "Macaca leonina") là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Blyth mô tả năm 1863. Loài này được tìm thấy ở Bangladesh, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Thái Lan, và Việt Nam. Theo truyền thống, nó đã được coi là một phân lo...
1
null
Macaca nigra là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Desmarest mô tả năm 1822. Đây là một loài khỉ Cựu thế giới sinh sống trong khu bảo tồn Tangkoko, phía đông bắc của đảo Sulawesi của Indonesia (Celebes), cũng như trên các đảo lân cận nhỏ hơn. Miêu tả. Dân địa phương gọi là y...
1
null
Macaca pagensis là một loài khỉ Cựu thế giới đặc hữu quần đảo Mentawai ngoài khơi phía tây Sumatra. Đây được coi là loài cực kỳ nguy cấp do môi trường sống liên tục thu hẹp. "Macaca pagensis" từng được nhìn nhận là phân loài của "Macaca siberu", song cách phân loại này mang tính đa ngành, do vậy hai loài được tách riên...
1
null
Macaca radiata là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được É. Geoffroy mô tả năm 1812. Đây là đặc hữu của miền nam Ấn Độ. Sự phân bố của loài này bị giới hạn bởi Ấn Độ Dương ở ba phía và sông Godavari và Tapti cùng với một loài khỉ raveus cạnh tranh có liên quan ở phía bắc. Những ...
1
null
Macaca sylvanus là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Đây là loài Macaca duy nhất có phạm vi phân bố ngoài châu Á và với dấu vết đuôi của chúng. Loài này được tìm thấy tại dãy núi Atlas ở Algeria và Morocco cùng với một dân số nhỏ mà đã được du nhập ...
1
null
Macaca tonkeana là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Meyer mô tả năm 1899. Đây là loài đặc hữu của trung bộ Sulawesi và quần đảo Togian gần đó ở Indonesia. Loài này bị đe dọa bởi mất môi trường sống. Khai rừng quá mức ở trung tâm Sulawesi và tỉnh Gorontalo gần đó được cho l...
1
null
Khỉ mặt chó Tây Phi ("Mandrillus leucophaeus") là một loài linh trưởng trong họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae), có quan hệ gần gũi với "Mandrillus sphinx". Mô tả. Khỉ mặt chó Tây Phi là một loài khỉ đuôi ngắn, dài , có bề ngoài tương tự "Mandrillus sphinx" (khỉ mặt chó thường). Dị hình giới tính giữa con đực và con...
1
null
Khỉ mặt chó (Mandrillus sphinx) là một loài khỉ cựu thế giới (Cercopithecidae), có liên quan chặt chẽ với khỉ đầu chó và thậm chí chặt chẽ hơn với khỉ mặt chó Tây Phi. Nó được tìm thấy ở miền nam Cameroon, Gabon, Guinea Xích Đạo, và Congo. Khỉ mặt chó chủ yếu sống trong rừng mưa nhiệt đới và khảm rừng thảo nguyên. Chún...
1
null
Khỉ đầu chó Guinea, tên khoa học Papio papio, là một loài khỉ đầu chó trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Khỉ đầu chó Guinea sinh sống một khu vực nhỏ ở miền tây Châu Phi. Phạm vi của nó bao gồm Guinée, Sénégal, Gambia, miền nam Mauritanie và Tây Mali. Môi trường sống của nó bao gồm rừng khô, và tiếp giáp thảo ng...
1
null
Theropithecus gelada, còn gọi là khỉ Gelada hay khỉ tim chảy máu là một loài khỉ Cựu thế giới chỉ tìm thấy tại vùng cao nguyên Ethiopia, với một số lượng lớn sống tại dãy núi Semien. Loài khỉ Gelada không thực sự là khỉ đầu chó (Khỉ đầu chó bao gồm tất cả các thành viên của chi "Papio") mà là thành viên còn tồn tại duy...
1
null
Colobus angolensis là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được P. Sclater mô tả năm 1860. Giống như tất cả các loài khỉ Colobus đen trắng khác, loài này có bộ lông màu đen và khuôn mặt đen, được bao quanh bởi những lọn lông dài màu trắng. Nó cũng có một lớp lông trắng trên vai. Đu...
1
null
Colobus guereza là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng, là một Khỉ Colobus đen trắng. Loài này được Rüppell mô tả năm 1835. Đây là loài bản địa phần lớn Tây Trung và Đông Phi, bao gồm Cameroon, Guinea Xích đạo, Nigeria, Ethiopia, Kenya, Tanzania, Uganda và Chad. Loài này bao gồm một số phân...
1
null
Colobus polykomos là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Zimmermann mô tả năm 1780. Loài này sinh sống ở vùng đất thấp và rừng mưa núi ở một khu vực trải dài từ Senegal, qua Guinea-Bissau, Guinea, Sierra Leone và Liberia đến Bờ Biển Ngà. Loài này chủ yếu ăn lá, nhưng cũng có ...
1
null
Voọc mũi hếch đen, tên khoa học Rhinopithecus bieti, là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Milne-Edwards mô tả năm 1897. Phân bố. Loài này chỉ xuất hiện ở khu vực Tây Nam Trung Quốc (Tây Tạng và Vân Nam). Nó được tìm thấy trong các quần thể bị chia cắt ở dãy núi Vân Lĩnh ở t...
1
null
Semnopithecus ajax là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Pocock mô tả năm 1928. Đây là một con khỉ ăn lá. Loài này được ghi nhận từ Jammu và Kashmir và Himachal Pradesh ở tây bắc Ấn Độ nhưng bằng chứng cho thấy nó chỉ hiện diện ở Thung lũng Chamba ở Himachal Pradesh. Do phạm...
1
null
Semnopithecus dussumieri là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được I. Geoffroy mô tả năm 1843. Đây là loài bản địa tiểu lục địa Ấn Độ. Loài khỉ này sống trong các nhóm trong rừng và môi trường sống nông thôn khác, với một số nhóm được làm quen với sự tiếp xúc và kiếm ăn của con ...
1
null
Semnopithecus hector là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Pocock mô tả năm 1928. Loài này được liệt kê là loài sắp bị đe dọa, vì có lẽ không có nhiều hơn 10.000 cá thể trưởng thành và nó đang trải qua một sự suy giảm liên tục. Đây là một trong một số loài Semnopithecus được...
1
null
Voọc Đông Java ("Trachypithecus auratus"), còn được gọi là voọc Java, là một loài khỉ Cựu thế giới thuộc phân họ Colobinae. Chúng thường có màu đen bóng với một chút nâu ở chân, hai bên và "râu quai nón". Có thể tìm thấy chúng trên đảo Java, cũng như trên một số hòn đảo xung quanh của Indonesia. Từ tiếng Latinh "auratu...
1
null
Trachypithecus cristatus là một loài voọc thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới. Chúng là loài di chuyển trên cây, sống trong các khu rừng ven biển, rừng ngập mặn và ven sông ở Malaysia bán đảo, Sumatra và Borneo. Chúng là loài điển hình của nhóm loài của mình. Mô tả. "T. cristatus" là một loài khỉ có kích thước trung bình với một...
1
null
Vượn mào đen Hải Nam (danh pháp khoa học: Nomascus hainanus) là một loài động vật có vú trong họ Hylobatidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Thomas mô tả năm 1892. Đặc điểm. Loài này có một bộ lông vàng cùng với một cái mào đen. Kích thước, cân nặng của con đực và con cái thì không được rõ do các mẫu vật quá ít để nghiê...
1
null
Vượn đen Siki (danh pháp hai phần: Nomascus siki) là một loài vượn bản địa của Việt Nam và Lào. Nó có họ hàng gần với loài Vượn đen má trắng ("Nomascus leucogenys") và Vượn đen má vàng Nam ("Nomascus gabriellae"); Vượn đen Siki trước đây từng được coi là một phân loài của mỗi trong số hai loài trên. Mô tả và môi trường...
1
null
Khỉ đột phía đông (Gorilla beringei) là một loài khỉ đột thuộc họ Người và là loài linh trưởng lớn nhất còn sinh tồn. Hiện nay, khỉ đột phía đông được chi là hai phân loài, khỉ đột đất thấp phía Đông ("G. b. graueri") có số lượng 5,000 cá thể và khỉ đột núi ("G. b. beringei") chỉ có 700 cá thể. Thêm vào đó, các nhà kho...
1
null
Khỉ đột phía tây (Gorilla gorilla) là một loài khỉ lớn và là loài có số lượng lớn nhất chi Gorilla. Phân loại. Gần như tất cả các cá thể thuộc đơn vị phân loại này thuộc về phân loài G. g. gorilla có số lượng khoảng 95.000. Chỉ có 250 đến 300 cá thể phân loài "G. g. diehli" được cho là còn sinh tồn. Mô tả vật lý. Khỉ đ...
1
null
Sóc lớn nâu bạc, tên khoa học Ratufa affinis, là một loài sóc cây lớn trong chi Ratufa tìm thấy tại Brunei, Indonesia, Malaysia, và Thái Lan. Nó có lẽ là tuyệt chủng ở Singapore. Báo cáo nhìn thấy ở Việt Nam vào năm 1984 được coi là đáng ngờ. Môi trường sống. Loài này là loài sóc khổng lồ duy nhất ở Borneo (nơi khác ph...
1
null
Sóc lớn đen, tên khoa học Ratufa bicolor, là một loài sóc cây trong chi Ratufa. Nó được tìm thấy trong các khu rừng ở miền Bắc Bangladesh, phía đông bắc Ấn Độ, phía đông Nepal, Bhutan, miền nam Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Malaysia, Campuchia, Việt Nam và phía tây Indonesia. Hành vi. R. bicolor sống ban ngày và ...
1
null
Sóc lớn Ấn Độ, tên khoa học: Ratufa indica, là một loài sóc cây lớn trong chi Ratufa nguồn gốc Ấn Độ. Nó là một loài sóc ngày, sống trên cây, và ăn thực vật được tìm thấy trong khu vực Nam Á. Nó được gọi là 'Shekru' tại Marathi và là động vật bang Maharashtra. Mô tả. Sóc lớn Ấn Độ có đuôi dài với lông có hai màu (đôi k...
1
null
Sóc lớn xám ("Ratufa macroura") là một loài sóc cây lớn trong chi "Ratufa", sống ở vùng núi tỉnh Trung Tâm và Uva của Sri Lanka, trong những vệ rừng ngập nước dọc sông Kaveri và những cánh rừng sương mù của các bang Karnataka, Tamil Nadu và Kerala miền nam Ấn Độ. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) xem đây là ...
1
null