text
stringlengths
1
148k
label
int64
0
2
__index_level_0__
int64
0
113k
Rousettus aegyptiacus là một loài động vật có vú trong họ Dơi quạ, bộ Dơi. Loài này được E. Geoffroy mô tả năm 1810. Phân bố. Loài này được tìm thấy tại nhiều nơi ở châu Phi (trừ các vùng hoang mạc của Sahara) và tại Trung Đông, xa về phía đông tới Pakistan và miền đông Ấn Độ. Do phạm vi phân bố địa lý rộng và số lượng tương đối nhiều trong tự nhiên, "Rousettus aegyptiacus" được IUCN xem là loài ít quan tâm.
1
null
Syconycteris australis là một loài động vật có vú trong họ Dơi quạ, bộ Dơi. Loài này được Peters mô tả năm 1867. Loài dơi này chủ yếu vào mật hoa và phấn hoa chứ không phải trái cây. Đây là một trong tám loài thuộc họ Pterepadidae trên lục địa Úc. Đây là một trong những loài dơi quạ nhỏ nhất. Chúng chỉ nặng 17,5-21 g. Từ đầu đến đuôi, chúng dài 60 mm. Môi trường sống và phạm vi. Chúng được tìm thấy trong các đảo Maluku, Salawati, Biak, Yapen, New Guinea, các đảo Aru, bán đảo Bismarck, đảo Manus, các đảo D'Entrecasteaux, bán đảo Louisiade, New South Wales, Australia, và đông Queensland, Australia. Phạm vi phân bố từ trên mực nước biển. Chúng được tìm thấy ở vùng cao rừng mưa nhiệt đới và rừng mưa nhiệt đới Littoral ở New South Wales.
1
null
Dơi lá Pearson hay Dơi lá pecxôn (danh pháp hai phần: Rhinolophus pearsonii) là một loài động vật có vú trong họ Dơi lá mũi, bộ Dơi. Loài này được Horsfield mô tả năm 1851. Loài dơi này được tìm thấy ở Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Malaysia, Myanmar, Nepal, Thái Lan và Việt Nam. Loài này được đặt theo tên của John Thomas Pearson.
1
null
Rhinolophus sinicus là một loài động vật có vú trong họ Dơi lá mũi, bộ Dơi. Loài này được K. Andersen mô tả năm 1905. Loài dơi này được tìm thấy ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam. Loài này dễ bị nhầm lẫn nhất với "R. affinis". Loài này có 2 phân loài: Truyền bệnh. Những con dơi thuộc loài này tạo thành nguồn chứa tự nhiên của "Virus corona liên quan đến hội chứng hô hấp cấp tính nặng". Ví dụ về một chủng cụ thể hiện nay là coronavirus WIV1 giống SARS dơi.
1
null
Dơi nếp mũi hình khiên hay Dơi mũi khiên (danh pháp khoa học: Hipposideros lylei) là một loài động vật có vú trong họ Dơi nếp mũi, bộ Dơi. Loài này được Thomas mô tả năm 1913. Loài dơi này được tìm thấy ở Trung Quốc, Lào, Malaysia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam.
1
null
Yên Tiền Văn công (chữ Hán: 燕前文公; trị vì: 554 TCN-549 TCN), là vị vua thứ 24 của nước Yên - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Không rõ tên thật và thân thế của ông. Năm 555 TCN, vua thứ 23 của nước Yên là Yên Vũ công qua đời, ông lên nối ngôi, tức Yên Văn công, nhưng thường gọi là Yên Tiền Văn công để phân biệt với Yên Hậu Văn công, vị vua nước Yên từ 361 TCN-333 TCN. Dưới thời Văn công, Đông Hồ lại cường thịnh, uy hiếp nước Yên. Văn công sợ thế Đông Hồ, lại thiên đô về phía nam. Năm 549 TCN, Yên Tiền Văn công mất. Ông ở ngôi 6 năm. Yên Ý công lên nối ngôi.
1
null
Trận Đồng Hới là 1 trận đánh quan trọng giữa Hạm đội 7 Hải quân Hoa Kỳ và các đơn vị pháo bờ biển, Trung đoàn radar 291 và phân đội 2 máy bay chiến đấu Mikoyan-Gurevich MiG-17F của Không quân Nhân dân Việt Nam (KQNDVN) vào ngày 19 tháng 4 năm 1972 tại bờ biển Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Đây là lần đầu tiên MiG-17 của Không quân Nhân dân Việt Nam tấn công Hạm đội 7 của Mỹ. Sau trận đánh, Hoa Kỳ vẫn tuyên bố "chiến thắng" và đã đánh chìm 2 tàu phóng lôi của Hải quân Nhân dân Việt Nam và bắn rơi 1 chiếc MiG-17. Tuy nhiên, tài liệu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho thấy trong trận đánh này chỉ có 2 máy bay MiG-17 của Việt Nam xuất kích và cả hai chiếc đều trở về an toàn, không có chiếc nào bị bắn hạ. Hải quân Việt Nam cũng ghi nhận rằng vào năm 1972, Hải quân Nhân dân Việt Nam chỉ xuất trận 1 lần tại vùng biển Cát Bà ngày 27 tháng 8, việc Hoa Kỳ tuyên bố "đánh chìm 2 tàu phóng lôi" là không có thật. Tình hình và diễn biến. Năm 1972, Hải quân Hoa Kỳ tiến công Quảng Bình nhằm ngăn chặn con đường vận chuyển vũ khí Bắc - Nam trên cả tuyến Đường Trường Sơn và Đường Hồ Chí Minh trên biển. Khi đó chiến dịch xuân - hè 1972 đang diễn ra ác liệt. Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) chủ trương sử dụng không quân để tác chiến. Ba phi công Nguyễn Văn Lục, Lê Xuân Dị và Nguyễn Văn Bảy (B) được lựa chọn để thực hiện nhiệm vụ này. Để bảo vệ tuyến đường, Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN quyết định xây dựng sân bay Khe Gát (một sân bay dã chiến) nhằm đánh chặn, đẩy lùi máy bay, tàu chiến Mỹ, không cho đối phương có cơ hội chặt đứt tuyến đường Trường Sơn, tạo điều kiện cho các phương tiện cơ giới vận chuyển khí tài, vật lực vào chiến trường miền Nam. Sân bay được hoàn thành sau 7 tháng thi công và đây là 1 sân bay đất. Trước khi trận chiến xảy ra Lực lượng Phòng không-Không quân nhân dân Việt Nam đã tổ chức cuộc họp bàn phương án đánh Hải quân Mỹ trên biển, trong đó sử dụng Mikoyan-Gurevich MiG-17F làm phương tiện chiến đấu, Trung đoàn Không quân 923 là đơn vị trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Để phối hợp thực hiện phương án, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bố trí một tổ chỉ huy bổ trợ tại sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Hải quân, một đài quán sát tại Cửa Dinh và đặt Trạm ra-đa 403 đối hải ở cửa Nhật Lệ, thu thập tin tình báo trên biển cung cấp cho sở chỉ huy. Ngày 18 tháng 4 năm 1974, lúc 15 giờ 45 phút, Sở Chỉ huy Binh chủng Không quân QĐNDVN và Trung đoàn tiêm kích 923 tổ chức cho hai phi công Lê Hồng Điệp và Từ Để lái hai chiếc MiG-17F từ sân bay Kép về sân bay Gia Lâm sau đó bay vào sân bay Vinh. Từ Vinh, để bảo đảm bí mật, an toàn sở chỉ huy dẫn đường cho từng chiếc một bay vào Khe Gát. Chiếc thứ nhất hạ cánh, chiếc thứ hai mới được cất cánh. Chỉ một ngày sau, cả hai chiếc máy bay này được kĩ sư Trương Khánh Châu kiểm tra, cải tiến và ráp bom sẵn sàng xuất trận. Trước đó phi công Dị và Bảy đã vào xem xét sân bay Gát rồi quyết định cất cánh theo kiểu song song - so le thay vì cất cánh trước - sau theo phương án của cấp chỉ huy. Vì đây là sân bay bằng đất, chiếc bay trước sẽ tạo ra một vùng bụi không lồ, chiếc bay sau sẽ không thể nhìn thấy đường và không quân địch dễ phát hiện. Sáng 19 tháng 4 năm 1972, phía Việt Nam đã phát hiện thấy chiến hạm của Hạm đội 7 Hoa Kỳ nhưng ở xa bờ và thời tiết xấu. Đến 15 giờ 30 phút, máy bay Mỹ vào đánh phá sân bay Đồng Hới và tàu chiến Mỹ pháo kích cây đèn biển. Phân đội radar 403 Quảng Bình gồm đại đội trưởng Nguyễn Văn Nhàn, đài trưởng Phan Thanh Hài, trắc thủ số 1 Lương Anh Tiễn, trắc thủ số 2 Nguyễn Xuân Hoan được lệnh chiến đấu, tới 16 giờ 01 phút, trắc thủ số 1 phát hiện 6 chiếc tàu chiến Mỹ ở cự ly 15 km và 12 chiếc ở cự ly 25 km. Đài trưởng radar lệnh cho trắc thủ số 2 nâng ăng ten sục sạo địch trên không, chú ý hướng biển. Sở Chỉ huy tiền phương Quân chủng Phòng không - không quân QĐNDVN nhắc radar phải bám sát tàu địch liên tục. Đúng theo phương án đã định, trắc thủ số 2 liên tục thao tác ăng ten và thực hiện bám sát, còn trắc thủ số 1 thông báo phần tử, đài trưởng nhắc trắc thủ chú ý sục sạo và cảnh giới xung quanh biên đội máy bay. Biên đội MiG-17 do phi công Nguyễn Văn Bảy B (số 1) và Lê Xuân Dị (số 2) điều khiển cũng được lệnh cất cánh. Phân đội tàu của Hải quân Mỹ gồm tàu tuần dương USS Oklahoma City (CLG-5), tàu hộ vệ tên lửa USS Sterett (DLG-31) và 2 tàu khu trục USS Lloyd Thomas (DD-764) và USS Higbee (DD-806). Các tàu này đang thực hiện bắn phá bờ biển Quảng Bình - Vĩnh Yên. Các đơn vị pháo bờ biển chống trả quyết liệt. Các trắc thủ Việt Nam tập trung thao tác và thông báo liên tục phần tử tàu của phía Mỹ và máy bay của phía Việt Nam. Khi ra đến biển, độ cao máy bay MiG-17 là 50 m, được lệnh công kích, vài phút sau, phân đội MiG-17 chỉ bay cách mặt biển có 10 mét, đây là độ cao mà các máy bay MiG-17 rất dễ gặp tai nạn và các phi công Liên Xô cũng chưa bao giờ làm. Trên màn hiện sóng tín hiệu MiG trùng lên tín hiệu của các tàu chiến Mỹ. Chiếc MiG-17F do phi công Lê Xuân Dị điều khiển đã ném một quả bom 250 kg (551 lb) trúng tháp pháo 127 mm trên tàu khu trục USS "Higbee", còn phi công Nguyễn Văn Bảy (B) ném bom gần trúng tuần dương hạm USS "Oklahoma City", gây hư hại nhẹ cho con tàu. 17 phút sau, 2 chiếc MiG hạ cánh an toàn xuống sân bay Gát và được đưa vào điểm cất giấu. Theo lời của phi công Lê Xuân Dị, do giãn cách đội hình hơi xa nên Nguyễn Văn Bảy B không quan sát được phi công Lê Xuân Dị nên phi công Bảy tiếp tục bay vòng ra phía biển. Khi bay qua cửa Dinh, phi công Bảy phát hiện 2 tàu của Mỹ phía dưới, Nguyễn Văn Bảy B lập tức vòng lại công kích. Cách mục tiêu 750m, anh báo cáo về sở chỉ huy và cắt bom. Đúng vào lúc Bảy vừa cắt bom thì 2 phi công mới liên lạc được với nhau. Sau đó, biên đội được dẫn về hạ cánh xuống sân bay Gát lúc 16 giờ 22 phút. Ngay sau khi bị đánh bom, Hải quân Hoa Kỳ cho 1 phân đội máy bay cất cánh từ tàu sân bay tấn công vào bờ biển Đồng Hới. Đơn vị radar 403 phát hiện 2 tốp máy bay địch bay từ biển vào. Hai phút sau, 2 quả tên lửa bức xạ chống radar AGM-45 Shrike được phóng xuống gần trận địa radar. Các trắc thủ radar thao tác theo quy trình chống Shrike nên trận địa vẫn an toàn, 2 quả tên lửa nổ cách trận địa 1.500m. Ngày 20 tháng 4, Quân đội Mỹ cho máy bay đánh sân bay Vinh. Và phải tới ngày 22 tháng 4 Quân đội Mỹ phát hiện và tập trung đánh phá hủy diệt sân bay Gát khiến một chiếc Mig-17 bị đánh hỏng, chiếc còn lại bay được về sân bay Gia Lâm hạ cánh an toàn. Hệ quả. Sau cuộc tấn công, hải quân Mỹ đã cho dừng các chuyến tuần tra, bắn phá bờ biển miền Bắc Việt Nam trong mấy tháng. Đây là kết quả mà Việt Nam mong đợi sau chiến thắng của trận tấn công. Đây là lời hồi tưởng lại của K. Kilgore - thủy thủ kiểm soát hỏa lực của nòng pháo 127 mm bên phải trên chiếc USS "Higbee": ""Tôi là lính thủ súng pháo phải ở tháp pháo Mt 52" (127 mm) "trên chiếc Higbee. Chúng tôi đã được lệnh ra khỏi tháp pháo để chuẩn bị để làm mát súng trái, nó đang khá nóng. Bỗng tôi nhìn lên và thấy một chiếc MiG, mà tôi vẫn còn nhớ, bởi vì tôi chưa bao giờ nhìn thấy một chiếc máy bay nào màu như thế. Thuyền trường hét lên "có MiG" và trái ngược với hầu hết các sự việc tương tự, chúng tôi đã chạy lại vào trong tháp pháo nhằm trốn bởi vì chúng tôi nghĩ nó có 1 tháp pháo tốt. Ngay sau khi cái tháp pháo bị trúng bom (tôi vẫn còn nhớ những ký ức sống động của khói, lửa, và tiếng hét phát ra từ phía "Merry-Go-Round" ngay lúc đó), chúng tôi đã thoát cái tháp pháo. Tôi nhìn sang phía bên cạnh và thấy một tên lửa rời ống phóng trên chiếc" Sterett". Chiếc MiG biến mất trong làn khói đen. Tôi hồi tưởng lại điều này trong giấc mơ của tôi gần 40 năm nay."" Tuyên bố của Mỹ. Theo tuyên bố của phía Hoa Kỳ thì chiếc MiG-17F của phi công Lê Xuân Dị đã bị bắn rơi bởi một tên lửa RIM-2 Terrier phóng từ chiếc USS Sterett. Tuy nhiên thực ra chiếc MiG-17 của phi công Lê Xuân Dị đã hạ cánh an toàn và chỉ bị phá hủy ở sân bay Khe Gát do trúng bom. Ngoài ra, phía Hải quân Hoa Kỳ cũng tuyên bố bắn chìm 2 chiếc tàu phóng lôi trong biên đội tàu phóng lôi của Hải quân Việt Nam khi cố gắng tấn công chiếc Higbee. Tuy nhiên, tài liệu của Hải quân Việt Nam cho thấy không có tàu nào của lực lượng này xuất kích ngày ngày 19 tháng 4 năm 1972.
1
null
Yên Ý công (chữ Hán: 燕懿公; trị vì: 554 TCN-549 TCN), là vị vua thứ 25 của nước Yên - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Không rõ tên thật và thân thế của ông. Năm 549 TCN, vua thứ 24 của nước Yên là Yên Tiền Văn công qua đời, ông lên nối ngôi, tức Yên Ý công. Sử sách không ghi rõ những hành trạng của ông trong thời gian ở ngôi. Năm 545 TCN, Yên Ý công mất. Ông ở ngôi 5 năm. Con ông là Yên Huệ công lên nối ngôi.
1
null
Yên Huệ công (chữ Hán: 燕惠公; trị vì: 544 TCN-536 TCN), tên thật là Cơ Khoản, là vị vua thứ 26 của nước Yên - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Cuộc đời. Cơ Khoản con của Yên Ý công- vị vua thứ 25 của nước Yên. Năm 545 TCN, Yên Ý công qua đời, Cơ Khoản lên nối ngôi, tức Yên Huệ công. Năm 540 TCN, Yên Huệ công khinh ghét các họ quý tộc, lập mưu tiêu diệt, rồi trọng dụng các quan lại nguồn gốc thấp hèn như Cơ Tống (姬宋) làm "đại phu", gây ra sự bất bình và phản đối mãnh liệt của các quý tộc trong nước. Các họ quý tộc nổi lên chống Hụê công, Huệ công phải chạy sang nước Tề lánh nạn. Bốn năm sau, Tề Cảnh công sai Cao Yển đến xin Tấn Bình công cùng nhau giúp Yên Huệ công. Liên quân Tấn-Tề hợp sức đưa Yên Huệ công về nước. Nhưng đi được tới nửa đường thì Yên Huệ công qua đời. Người nước Yên lập Yên Điệu công lên nối ngôi. Sử ký không ghi rõ quan hệ giữa ông và Điệu công. Yên Huệ công làm vua được 9 năm.
1
null
Guibert hay Wibert Ravenna (1029 - 08 Tháng 9 năm 1100) là một Giám mục người Ý, Tổng Giám mục của Ravenna, người được bầu làm Giáo hoàng năm 1080 chống lại Giáo hoàng Gregory VII. Gregory VII được xem là người lãnh đạo phong trào tái lập vương quyền của giáo hội. Điều này đã dẫn đến cuộc tranh chấp về "quyền tấn phong". Gregory cho rằng chỉ có Giáo hoàng mới có quyền được phong chức cho các Giám mục chứ không phải vua chúa. Quan điểm này đã vấp phải sự phản đối của những người ủng hộ thuyết quân chủ của đế quốc La Mã thần thánh. Gregory bị phe đối lập cho rằng đã đi quá xa trong việc ra vạ tuyệt thông Hoàng đế La Mã Thần thánh Henry IV. Năm 1080, một thượng hội đồng được triệu tập lật đổ Gregory VII, coi ông như một "giáo hoàng đối lập" và bầu Guibert vào cương vị Giáo hoàng. Buổi lễ tấn phong Giáo hoàng cho Clement III diễn ra ở Rôma vào tháng 3 năm 1084. Ông có vai trò lãnh đạo đáng kể ở Rô-ma và một số vùng khác nhất là trong nửa đầu triều đại Giáo hoàng của mình. Ông cai trị đối lập với bốn đời Giáo hoàng "chống đế quốc" là: Gregory VII, Victor III, Urban II, and Paschal II. Sau khi chết và được chôn cất tại Civita Castellana vào năm 1100, ông được coi như một vị thánh hay làm phép lạ ở địa phương. Nhưng Paschal II và những người trong phe "chống đế quốc" đã ngay lập tức hạ bệ và lên tiếng nguyền rủa ông, bao gồm cả việc khai quật tử thi và ném hài cốt xuống sống Tiber. Ông được coi là một Giáo hoàng đối lập trong lịch sử của giáo hội công giáo . Giai đoạn đầu. Ông sinh ra trong một gia đình quý tộc ở Correggio khoảng giữa 1020 và 1030, có quan hệ gia đình với Margraves ở Canossa. Ông được bổ nhiệm giữ chức chưởng ấn của hoàng đế ở Ý bởi hoàng hậu Agnes Empress năm 1058, chức vụ mà ông nắm giữ cho đến năm 1063 . Năm 1058, ông tham gia vào cuộc bầu cử Giáo hoàng Nicholas II nhưng thời gian đương nhiệm của vị này quá ngắn ngủi và qua đời năm 1061. Lần bầu cử tiếp theo ông đứng về phe đế quốc bầu Cadalous Parma với danh hiệu Honorius II chống lại Giáo hoàng Alexander II. Tuy nhiên, do sự phản đối của Godfrey III, Công tước xứ Lower Lorraine, Tổng Giám mục Anno của Cologne, và Thánh Peter Damian, phần lớn các giáo hội đã từ chối Honorius II và thừa nhận Alexander II, có lẽ chính vì điều này mà hoàng hậu Agnes đã bãi nhiễm Guibert khỏi chức vụ chưởng ấn của Italy. Vị trí của Guibert đã bị hạ thấp trong chín năm tiếp theo nhưng dường như ông vẫn tiếp tục giữ mối quan hệ của mình với triều đình Đức. Năm 1072, Hoàng đế Henry IV đặt ông làm Tổng Giám mục của Ravenna. Mặc dù Giáo hoàng Alexander II đã phải miễn cưỡng xác nhận điều này do bị thuyết phục bởi Hildebrand để đổi lấy một thỏa hiệp hòa bình. Guibert sau đó đã thề trung thành với Giáo hoàng và những người kế tiếp và giữ chức ở Ravenna cho tới năm 1073. Đối đầu với giáo hoàng Gregory. Ngay sau khi Giáo hoàng Alexander II qua đời Hildebrand đã được bầu chọn làm Giáo hoàng mới vào ngày 29 tháng 4 năm 1073, người sau này được biết đến với danh hiệu là Giáo hoàng Gregory VII. Guibert khi đó với vai trò là Giám mục đã tới tham dự Công đồng đầu tiên do Giáo hoàng Gregory triệu tập vào Mùa chay tháng 3 năm 1074 tại Rôma, nơi đã thông qua một dự luật quan trọng nhằm chống lại tệ buôn thần bán thánh và tà dâm trong hàng giáo sĩ. Nhưng sau đó, Guibert đã nổi lên như người lãnh đạo của "phe đối lập" chống lại những cải cách của tân Giáo hoàng Gregory . Sau khi tham dự công đồng mùa chay đầu tiên của Gregory, Guiber đã từ chối tham dự công đồng Mùa chay tiếp theo vào năm 1075, mặc dù ông bị buộc phải tới theo giấy triệu tập và lời tuyên thệ trung thành với Giáo hoàng trước đây. Sự vắng mặt đã cho thấy sự chống đống của Guiber với Gregory VII, người sau đó đã ra lệnh cấm Guiber được tham dự Thượng hội đồng Giám mục. Nguyên nhân của cuộc xung đột giữa Guiber và Gregory là do vị Giáo hoàng đã ra một tuyên bố chấm dứt việc lấy vợ trong giới tăng lữ và tệ buôn thần bán thánh. Không những thế Gregory vốn nổi tiếng là "cứng rắn" còn kiên quyết loại bỏ các Giám mục chống đối và những linh mục còn giữ lại thê thiếp. Đây cũng là thời điểm diễn ra cuộc xung đột giữa vua của đế quốc La Mã thần thánh là Henry IV và Gregory . Dưới sự hậu thuẫn của Henry IV, một công đồng đã được triệu tập tại Worms vào tháng 1 năm 1076 nhằm phế truất Gregory với sự tham dự của các Giám mục Lombardo. Ngay sau đó, Gregory VII đã kiên quyết lên án các Giám mục Lombardo tại Công đồng mùa chay năm 1076. Ngay sau đó, các Giám mục và tu viện trưởng của Lombardo quy tụ tại Pavia dưới sự chủ trì của Guiber đã tuyên bố rút phép thông công đối với Gregory. Một bức thư cũng được sứ giả của Henry IV mang đến Pavia nhằm phản đối Giáo hoàng. Đáp lại một cách mạnh mẽ, Gregory quyết định cứng rắn với Guiber khi tuyến bố vạ tuyệt thông tại Công đồng mùa chay tháng 2 năm 1078, đồng thời cho rằng Guiber đã đồng lõa với Tổng Giám mục Tebaldo chống lại mình. Không những thế, để lên án việc việc Henry IV triệu tập công đồng Worms 1076, Gregory cũng tuyên bố vạ tuyệt thông đối với Henry IV. Giai đoạn làm giáo hoàng đối lập. Năm 1077 sau nhiều cuộc bại trận, Henry IV bị cô lập và bị đe dọa lật đổ nên phải đến xin Giáo hoàng giải vạ tại lâu đài Canossa ở Toscana. Cuộc xung đột được hòa giải. Sau khi được khôi phục ngôi vị, Henry IV liền triệu tập binh sĩ báo thù. Năm 1080, Rodolphus (Rudolph Swabia), người lãnh đạo các quý tộc nổi loạn, vị hoàng đế được khâm sai tòa thánh nhìn nhận chết trong trận Mersburg khiến cho phe Gregory thêm yếu thế và Henry IV có thể tập trung toàn bộ lực lượng chống lại Giáo hoàng and which Henry himself also signed, and then proceeded to elect Guibert, the excommunicated Archbishop of Ravenna, as pope in opposition to Pope Gregory, whom the Synod considered deposed; Guibert took the name Clement III. Henry recognized Guibert as pope, swearing that he would lead him to Rome, and there receive from his hands the imperial crown.. Henry IV vận động các Giám mục Đức và Lombardo họp Thượng hội đồng Giám mục tại Brixen vào tháng 6 năm 1080 tuyên bố hạ bệ "Giáo hoàng giả Hildebrand" và bầu Tổng Giám mục bị vạ tuyệt thông thành Ravenne lên ngôi Giáo hoàng đối lập với Gregory VII, người đã bị công đồng hạ bệ. Guiber lấy tước hiệu là Clêmente III. Henry IV thừa nhận Guiber là Giáo hoàng và thề nhất định sẽ đứa ông về Rôma để nhận vương miện hoàng đế từ chính tay Giáo hoàng. Năm 1081, Henry hành quân tiến vào Rôma nhưng bị thất bại. Ông chỉ đạt được điều này vào 4 năm sau, năm 1084. Gregory phải cố thủ trong Đồi Thiên Thần nhưng vẫn kiên quyết từ chối đàm phán với Henry, mặc dù Henry đồng ý giao Guiber như 1 tù nhân cho Giáo hoàng chỉ với 1 điều kiện Gregory sẽ trao vương miện hoàng đế cho ông. Gregory chỉ đồng ý chấp thuận yêu cầu nếu Henry chấp nhận xuất hiện trước một Thượng hội đồng và làm việc đền tội. Vị hoàng đế, trong khi vờ đồng ý với thỏa thuận này lại cố gắng tìm mọi cách để ngăn chặt cuộc họp của các Giám mục. Tuy nhiên, chỉ với một số lượng nhỏ tham dự, Gregory lại tuyên bố phạt vạ tuyệt thông Henry lần nữa. Khi Henry nhận được tin tức này đã quyết định hành quân tiến vào Rôma vào ngày 21 tháng 3 năm 1084 và đã thành công trong việc giành quyền quản lý phần lớn thành phố. Gregory bị bao vây trong đồi thiên thần và Guiber được đưa lên ngôi Giáo hoàng tại nhà thờ Thánh Gioan Lateran với tước hiệu Clement III, và ngày 31 tháng 3, Guiber đã trao cho Henry IV vương miện của Hoàng đế La Ma thần thánh. Tuy nhiên, đồng minh của Giáo hoàng là Robert Guiscard, công tước của xứ Apulia và Calabria đã đem 30.000 quân Norman đến giải vây. Henry IV phải trốn chạy khỏi Rôma cùng với Guiber trong niềm căm thù đối với đồng minh Matilda trung thành của Gregory và phe cải cách, tài sản của ông Tuscany cũng bị phá hoại. Gregory VII được giải phóng, nhưng những người dân đã tỏ ra tức giận về sự tàn phá của quân Norman khiến ông buộc phải rời khỏi Rôma. Thất vọng và buồn phiền, ông lui về ở Monte Cassino sau đó tới tòa lâu đài ở Salerno bằng đường biển, nơi ông qua đời vào ngày 25 tháng 5 năm 1085. Ba ngày trước khi qua đời, ông tuyên bố rút lại tất cả các lời chỉ trích và vạ tuyệt thông, ngoại trừ hai người cầm đầu là Henry IV và Guiber. Những lời cuối cùng của ông là: "Tôi yêu công lý và ghét bỏ sự bất công; do đó tôi chết trong cảnh lưu đày." Các Giám mục sau đó đã bị chia thành hai phe. Trong khi các Giám mục của Gregory VII tổ chức một Thượng hội đồng ở Quedlinburg lên án Guiber là tay sai của Henry IV, thì các Giám mục thuộc phe Henry lại tổ chức một hội đồng khác ở Mainz vào năm 1085, nơi họ tán thành hạ bệ Gregory và chấp thuận với Guiber. Cuộc xung đột này vẫn tiếp diễn ngay cả khi Gregory đã qua đời, những vị Giáo hoàng kế tiếp Victor III, Urban II, Paschal II tiếp tục coi Guiber là ngụy Giáo hoàng được dựng lên bởi Henry IV và phe của ông. Victor III đắc cử sau một thời gian dài trống ngôi Giáo hoàng bởi vai trò quan trọng của Giáo hội ở Rôma. Bị ép buộc bởi bè phái của Guiber, tám ngày sau khi đăng quang ở thánh đường Thánh Phêrô ngày 3 tháng 5 năm 1087, Victor III đã buộc phải rời khỏi Rôma. Sau đó, ông tiếp tục tấn công bởi quân đội của Countess Matilda nên phải cố thủ ở Pantheon. Vị Giáo hoàng tiếp theo, Urban II (1088-1099), đã dành hầu hết nửa đầu triều đại Giáo hoàng của mình sống lưu vong ở miền nam Italy và Pháp. Cuối năm 1093, ông mới giành được một chỗ đứng vững chắc ở Rôma nhờ sự giúp đỡ từ gia đình Frangipane, và dần dần mở rộng quyền lực của mình ở đó. Tháng Sáu năm 1089, một Thượng Hội đồng Giám mục được tổ chức tại Rôma, Clement III tuyên bố vô hiệu sắc lệnh vạ tuyệt thông chống lại Henry, và những sắc lệnh khác được đưa ra bởi những người ủng hộ Urban II, vị Giáo hoàng của phe chống đế quốc. Tuy nhiên, thời gian sau đó quyền lực của Urban II ngày càng tăng, trong khi quyền lực và ảnh hưởng của Henry IV ngày càng suy yếu dần . Phần lớn thành phố Rôma đã bị kiểm soát bởi quân đội của theo Count Hugh Vermandois, anh trai của Vua Pháp. Phe Guibert chỉ còn giữ lại Lâu đài Thiên thần nhưng cuối cùng nó cũng rơi vào tay của Vermandois vào năm 1098. Ảnh hưởng của Guibert, sau khi Henry IV rút khỏi Ý chỉ còn tập trung ở Ravenna và một vài vùng khác ở miền Bắc Italia, nhưng ông vẫn có những ảnh hưởng nhất định ở Rôma. Năm 1099, ông đến Albano sau Paschal II (1099-1118) được bầu chọn làm Giáo hoàng với hy vọng một lần nữa có thể "đứng đầu" Rôma nhưng thất bại. Ông buộc phải rút lui và đến Civita Castellana, nơi ông qua đời 08 Tháng Chín 1100. Người tiếp theo được bầu chọn làm Giáo hoàng đối lập kế nhiệm ông là Theodoric. Tuy nhiên quyền lực không nhiều và không còn là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với các Giáo hoàng thuộc phe chống đế quốc nữa. Cuộc bầu chọn Guiber làm Giáo hoàng đã diễn ra trong bối cảnh: có những sự chia rẽ giữa các Giám mục, cuộc đấu tranh chính trị bên trong đế quốc bao gồm cả quyền tấn phong Giám mục.
1
null
Thêôđoricô (La ngữ: Theodoricus) là một giáo hoàng đối lập trong khoảng thời gian từ năm 1100 tới 1101. Sau khi Giáo hoàng đối lập Clement III qua đời vào ngày 08 tháng 9 năm 1100. Những người theo ông tại Rôma đã gặp bí mật gặp gỡ nhau vào ban đêm tại Đền Thờ Thánh Phêrô, nơi họ bầu Hồng y Teodorico, Giám mục Albano, người sau đó đăng quang với tên Theodoric . Tuy nhiên ông đã buộc phải rời bỏ Rôma, Theodoric đã bị bắt giữ khoảng nửa tháng sau khi được bầu và bị đưa ra trước Giáo hoàng Paschal II, nơi ông bị kết án và tuyên bố là Giáo hoàng giả. Sau đó Theodoric đã bị gửi đến tu viện của La Cava, Salerno, nơi ông qua đời năm 1102, theo văn bia trong hầm mộ của tu viện . Tại La Cava có một tấm bảng tưởng niệm tưởng nhớ ông với tên hiệu là "Sylvester III", bởi vì Giáo hoàng Sylvester III, tại thời điểm đó, được coi là một Giáo hoàng đối lập. Người kế nhiệm ông là Giáo hoàng đối lập Albert (1101).
1
null
Adalbert hay Albert hoặc Aleric (tiếng Ý: Adalberto, Alberto hoặc Alerico) là một hồng y người Ý và là Giám mục của Santa Rufina. Người được bầu làm Giáo hoàng đối lập vào tháng 1 năm 1101 của phe "triều đình" ở Rôma sau khi giáo hoàng đối lập Theodoric bị bắt giữ và bỏ tù . Được sự hậu thuẫn bởi Hoàng đế Henry IV, những người theo phe Giáo hoàng đối lập Clement III, cũng là những người đã bầu Theodoric đã tụ tập tại Vương cung thánh đường SS. XII Apostoli bầu Albert làm Giáo hoàng đối lập với Giáo hoàng Paschal II.
1
null
Sylvester IV được xem là một giáo hoàng đối lập từ 1105 đến 1111. Các thành viên của tầng lớp quý tộc La Mã, với sự hỗ trợ của vua Henry V (1105-1125) đã hậu thuẫn để bầu một Giáo hoàng đối lập chống lại Giáo hoàng Paschal II (1099-1118). Trong khi Pascha II không có mặt ở Rôma, họ đã bầu Maginulfo . Sau cuộc bầu cử, Maginulfo lấy tên Giáo hoàng Sylvester IV được thánh hiến trong Thánh đường Maria Rotonda (Pantheon) và đăng quang ở điện Lateran vào ngày 18 Tháng 11 năm 1105. Nhưng khi Paschal II trở về Rôma vào ngày hôm sau, Sylvester IV đã vội vã quay trở lại Tivoli và cuối cùng định cư ở Osimo, tỉnh Ancona, dưới sự bảo vệ của bá tước Guarniero di Ancona. Ngày 11 tháng 4 năm 1111, Giáo hoàng Paschal II và vua Henry V đã đạt được một thỏa thuận về các quyền tấn phong các Giám mục Công giáo. Sau đó, Giáo hoàng đối lập Sylvester IV đã từ bỏ những quyền lợi của mình . Ông được phép sống phần còn lại của cuộc đời mình ở Ancona dưới sự bảo trợ của bá tước Guarniero.
1
null
DKB hay còn gọi là ĐKB là loại pháo phản lực theo ống được gỡ từ dàn pháo phản lực Katyusha BM-21 của Liên Xô theo sáng kiến của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm phù hợp cho địa hình rừng núi và chiến lược chiến tranh du kích ở miền nam Việt Nam trong thời kì Chiến tranh Việt Nam. Phía Nga-Liên Xô cũ gọi loại pháo này là 9P132 (ký hiệu NATO:Grad-P). Phát triển. Loại A-12 cỡ 140mm. Đầu những năm 1960, Liên Xô bắt đầu viện trợ cho Việt Nam pháo phản lực phóng loạt BM-14. Pháo dùng khung gầm cơ sở xe vận tải bánh lốp lắp giàn phóng 16-17 nòng cỡ đạn 140mm. Mỗi quả đạn rocket BM-14 nặng khoảng 40 kg, đạt tầm bắn khoảng 10 km. Tuy nhiên, các dàn pháo này được đặt trên các xe tải động cơ mạnh, trong khi địa hình đồi núi hiểm trở ở Việt Nam lại không cho phép các đơn vị pháo Cachiusa di chuyển một cách nhanh chóng và thuận tiện. Hơn nữa, do chiến thuật của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là chiến tranh du kích nên việc cất giấu những chiếc xe này trong rừng khỏi sự truy quét của không quân Quân đội Hoa Kỳ là rất khó khăn, và cũng khó kiếm được nhiên liệu để vận hành xe tải. Để tăng cường loại vũ khí có hỏa lực mạnh cho chiến trường, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã triển khai nghiên cứu cải tiến pháo phản lực BM-14 thành pháo phản lực kiểu mang vác A12. A-12 gồm một ống phóng làm bằng tôn thép mỏng cuộn lại lắp trên bệ gỗ với tổng trọng lượng chỉ 10,5 kg. Ống phóng làm bằng tôn thép mỏng cuộn lại, dài 1,14m, mặt trong có đánh 4 đường sống tiếp tuyến với mặt hình trụ của đạn. Bệ bằng gỗ dày 2 cm, rộng 25 cm, dài 120 cm. A-12 có tầm bắn khoảng 8.000 m (giảm so với nguyên bản) nhưng độ chính xác cao hơn, có thể phóng cùng lúc 12 quả đạn nhờ 1 hệ thống điện điểm hỏa dùng pin con thỏ. A12 được biên chế cho mỗi đơn vị 12 khẩu. Với trọng lượng nhẹ, bộ binh cũng có thể mang vác dễ dàng nên A12 rất tiện lợi cơ động để thực hiện những đòn tập kích hỏa lực bất ngờ, luồn sâu đánh hiểm vào căn cứ đối phương. Quân giải phóng có thể bố trí nhiều bệ phóng tấn công với mật độ hỏa lực lớn từ nhiều địa điểm cách xa nhau, khiến đối phương không thể phản kích hiệu quả, đó chính là một hình thái tác chiến tiêu biểu của quân đội Việt Nam - "“Hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung”". Loại ĐKB cỡ 122mm. Những năm giữa thập niên 1960, Quân đội Nhân dân Việt Nam được Liên Xô viện trợ một số dàn pháo phản lực BM-21 cỡ nòng 122 mm đời mới cùng các dàn pháo cũ BM-13, BM-14. Chúng rất hiệu quả trong việc bắn phá các mục tiêu trên diện rộng. Một tiểu đoàn pháo phản lực trang bị toàn BM-21 có thể đồng loạt bắn tới 720 quả đạn trong vòng 20 giây vào các mục tiêu trên một khu vực rộng, nên rất hữu hiệu để chống lại đội hình bộ binh và thiết giáp nhẹ, cũng như để phá hủy hệ thống hầm hào bán kiên cố. Tuy nhiên, các dàn pháo này được đặt trên các xe tải nên cũng không thích hợp cho chiến thuật du kích (giống như loại BM-14 ở trên). Do đó chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra đề nghị yêu cầu phía Liên Xô chế tạo cho Việt Nam các ống phóng BM-21 đơn lẻ, có thể bắn mà không cần xe phóng nhằm dễ mang vác, vận chuyển. Liên Xô đã ủng hộ yêu cầu của Việt Nam và giao nhiệm vụ cho Viện nghiên cứu NII-147(nay là NPO Splav) phát triển một phiên bản pháo phản lực hạng nhẹ, trên cơ sở sử dụng ống phóng và đạn của pháo phản lực phóng loạt 9K51 Grad (BM-21). Loại ống phóng này được gọi là 9P132, trên thực tế, đây là ống phóng của pháo phản lực BM-21 được cắt ngắn xuống còn 2,5 mét. Nòng pháo được cố định trên giá đỡ 3 chân, có máy tầm, hướng; 3 chân có thể gập được; xạ giới tầm của hệ thống từ +10° đến +40°; xạ giới hướng là 14°; ngoài ra có một lẫy chuyển hướng nhanh, đảm bảo cho việc chuyển hướng nhanh 360º. Pháo sử dụng kính ngắm RVO-2 có bội số 4x. Nòng khai hỏa bằng điện, được thực hiện từ xa bằng bảng điều khiển kết nối với pháo bằng dây điện dài 20 mét để đảm bảo an toàn cho pháo thủ. Trong tháng 7/1965, bệ phóng và đạn pháo đã được bắn thử nghiệm thành công. Việc sản xuất bắt đầu từ năm 1965, 20 hệ thống và đạn đã được hoàn thành vào đầu năm 1966. Năm 1966, các ống phóng tháo rời 9P132 được gửi đến Việt Nam nhằm thử nghiệm và chúng đạt kết quả tốt. Tại buổi bắn trình diễn, một tiểu đoàn với 12 bệ phóng, mỗi bệ kèm theo 12 rốc-két, chỉ trong vòng 15 phút đã bắn 144 quả rocket, tiêu diệt mục tiêu là căn cứ mô phỏng của địch ở cự ly 8 km. DKB cỡ 122mm sử dụng đạn 9M22M, được phát triển trên cơ sở đạn M-21OF của pháo BM-21; đạn 9M22M có chiều dài 1,95 m và khi vận chuyển được tháo rời thành 2 phần; đầu đạn sử dụng nguyên của đạn pháo M-21OF, khoang động cơ được rút ngắn; đạn 9M22M có trọng lượng toàn bộ nặng 46 kg, mang theo 6,4 kg chất nổ và có tầm bắn tối đa lên tới 10,8 km. Năm 1968, theo yêu cầu của phía Việt Nam, Viện NII-147 đã thực hiện nâng tầm bắn bằng đạn tăng tầm 9M22MD; về hình dạng đạn không có gì thay đổi, chỉ thay thế thuốc phóng và vòi phun của động cơ; tầm bắn của đạn 9M22MD được tăng lên đến 15 km (nhưng khi sử dụng loại đạn này thì cần dùng một vật nặng (thường là bao đất hoặc cát) có trọng lượng tối thiểu 50 kg để chèn vào chân trước của pháo, do lực giật của đạn mới lớn hơn). Trong trạng thái chiến đấu, toàn bệ phóng có trọng lượng 55 kg, khi hành quân chia làm 2 phần (nòng pháo nặng 25 kg và bệ 3 chân nặng 28 kg). Quả đạn nặng 46 kg. Thời gian chuyển trạng thái từ hành quân sang chiến đấu chỉ 2,5 phút và ngược lại là 2 phút. Toàn bệ phóng nhỏ gọn, dễ mang vác, cơ động trong địa hình rừng núi, phù hợp với chiến thuật đánh nhanh - rút gọn. Thậm chí có những trường hợp ĐKB bắn không cần ống phóng, không cần giá ba chân, chỉ cần đặt quả đạn lên những chân tạm bằng gỗ hướng về mục tiêu theo góc xác định là có thể khai hỏa. Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam 950 ống phóng và hàng chục nghìn quả đạn ĐKB; tùy thuộc vào nhiệm vụ, pháo binh Việt Nam đã sử dụng loại đạn cơ bản (9M22M) hoặc đạn tăng tầm 9M22MD. Sau khi thử nghiệm thành công, nó được sử dụng ngay tại chiến trường Việt Nam và đã thể hiện rõ ưu thế của mình. Ống phóng 9P132 nhỏ gọn, dễ mang vác, vận chuyển trong địa hình rừng núi, hỏa lực cao, độ cơ động lớn, rất thích hợp cho các chiến thuật du kích - bất ngờ tiến công rồi rút lui nhanh. Với tính năng có thể nhanh chóng tháo rời và khối lượng tương đối nhỏ, hệ thống có thể được chuyển đến vị trí trận địa bắn hoàn toàn bằng sức người, có thể bố trí tại những trận địa bí mật, dễ ngụy trang ống phóng để gây bất ngờ cho đối phương. Tuy các ống phóng này không có tầm bắn và sức công phá khủng khiếp như hệ thống BM-21, nhưng nếu được biên chế thành những đại đội gồm những phân đội từ 3-5 khẩu, phóng cùng lúc hàng chục quả đạn thì cũng đủ để phá hủy các mục tiêu, căn cứ của đối phương ở cách xa 11 – 15 km. Trang bị. DKB được trang bị cho một số trung đoàn pháo binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam như trung đoàn 115, trung đoàn 724 nhằm bổ sung cho các đơn vị súng cối, pháo phản lực. Một số trận đánh tiêu biểu của DKB như Trận sân bay Biên Hòa, 1967, Trung đoàn pháo binh 724 đã sử dụng 41 khẩu ĐKB cùng 6 khẩu cối 82mm và 6 khẩu ĐKZ 75mm phối thuộc đã tập kích bất ngờ vào sân bay Biên Hòa. Tiểu đoàn 174 thuộc trung đoàn đã bắn 202 quả đạn DKB vào sân bay, phá hủy 74 máy bay, đốt cháy các kho bom, kho xăng và tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đối với loại A12, ngày 28/2/1967, Tiểu đoàn 99 lần đầu sử dụng trên chiến trường. Tiểu đoàn đã bắn 15 loạt với 140 viên đạn vào các mục tiêu trong sân bay Đà Nẵng, đã phá hủy hoặc gây hư hỏng 94 máy bay, 200 xe quân sự các loại cùng hàng trăm tên địch. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các khẩu đội pháo phản lực của Trung đoàn 115 nhận nhiệm vụ đánh tê liệt sân bay Tân Sơn Nhất, và không chỉ bắn rồi rút mà phải luồn sâu vào sân bay, trụ lại để khống chế hoàn toàn sân bay, tạo chỗ "đứng chân" cho pháo lớn cỡ Pháo 130mm M46, nhằm tạo uy thế chính trị cho chiến dịch. Các quốc gia sử dụng. Do hiệu quả của loại pháo này, Liên Xô tiếp tục phát triển 1 biến thể nữa mang tên 9K510 và được trang bị cho nhiều quốc gia ở Trung Đông. Hồng quân Liên Xô và Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga đến nay vẫn còn sử dụng. Các tổ chức hồi giáo, tổ chức kháng chiến và du kích cũng tự lắp đặt các ống phóng DKB tương tự của Việt Nam vì họ đã thấy rõ hiệu quả của nó. Các phiên bản kiểu mới hiện nay của DKB được Hamas và Hezbollah sử dụng đã có tầm bắn lên tới 20 km.
1
null
Grêgôriô VIII hay Gregory VIII (chết 1137), tên khai sinh là Mauritius Burdinus (Maurice Bourdin), là Giáo hoàng đối lập từ ngày 10 tháng 3 năm 1118 đến ngày 22 tháng 4 1121. Ông sinh ra ở Limousin, một phần của Aquitaine, Occitania thuộc Pháp. Ông được đào tạo tại Cluny, Limoges và Castile, ông nhận chức phó tế tại Toledo. Năm 1098/1099 trưởng Cluny đề nghị ông làm Giám mục của Coimbra. Sau một cuộc hành hương bốn năm đến Đất Thánh, ông đã được chọn làm Tổng Giám mục của Braga vào năm 1111. Nơi mà ông trở thành người thân cận của Henry Burgundian, bá tước của Bồ Đào Nha và giữ vai trò chính yếu trong việc tổ chức lại các nhà thờ Bồ Đào Nha. Bồ Đào Nha sau đó trở thành một lãnh địa của León và Bá tước Henry đầy tham vọng theo đuổi một chương trình cải cách mạnh mẽ mong muốn giành quyền tự chủ giữa giáo hội và chính trị. Vào năm 1114, Mauritius bị lôi kéo vào một vụ tranh chấp với Tổng giám mục Tây Ban Nha và đặc sứ của Giáo hoàng ở Castile là Bernard của Toledo, đến mức ông bị gọi đến Rôma và bị đình chỉ bởi Giáo hoàng Paschal II (1099-1118). Tại đây, ông đã chiếm được cảm tình của Giáo hoàng. Và vào năm 1116, khi Hoàng đế Henry V (1105-1125) xâm chiếm Ý trong cuộc xung đột về quyền tấn phong giám mục, Paschal II đã cử Mauritius làm đại sứ đến gặp Henry V. Trong khi Giáo hoàng và Giáo Triều chạy về phía nam Benevento. Thì Mauritius đào thoát sang phía bên kia. Henry V tiến vào Rôma vào ngày Chủ nhật Phục Sinh 23 tháng 3, 1117 được Mauritius trao vương miện hoàng đế La Mã thần thánh. Đáp lại Paschal II đã phế truất và rút phép thông công Henry V, đồng thời loại bỏ Mauritius khỏi giáo triều. Sau khi Paschal II qua đời vào ngày 24 tháng 1 năm 1118, người kế nhiệm tiếp theo là Giáo hoàng Gelasius II (1118-1119). Vua Henry V đi đến Rôma nhưng Gelasius II đã tránh đến Gaeta và từ chối gặp Hoàng đế để thảo luận về vấn đề nước Đức. Một bộ phận các hồng y trong phe triều đình đã bãi bỏ cuộc bầu cử Gelasius II, và vào ngày 1 tháng 3 năm 1118, Mauritius đã được công bố là Giáo hoàng, lấy tên là Gregory VIII. Từ Capua, vào ngày 07 tháng tư 1118 Giáo hoàng Gelasius II tuyên bố trừng phạt cả hai người Gregory VIII và Henry V. Sau cái chết của Gelasius II, Calixtus II được bầu làm Giáo hoàng vào năm 1119, Henry V đã thay đổi thái độ xung đột bằng việc tỏ lòng trung thành với vị Giáo hoàng mới tại thoả ước của Worms của 1122. Calixtus II tiến vào Rôma và Gregory VIII buộc phải quay về Sutri. Nơi mà vào năm 1121, quân đội của Giáo hoàng Calixtus II đã vây hãm thành phố suốt tám ngày cho đến khi những thần dân của Gregory VIII phải đầu hàng. Ông bị đưa tới Rôma và bị giam cầm trong Septizonium. Sau đó được luân chuyển từ tu viện này sang tu viện khác, cuối cùng ông chết tại La Cava, Salerno vào tháng 8 năm 1137.
1
null
Blohm & Voss BV 238 là một loại tàu bay của Đức Quốc xã trong Chiến tranh thế giới II. Đây là loại máy bay nặng nhất từng bay vào năm 1944, và cũng là máy bay lớn nhất được sản xuất bởi một quốc gia thuộc phe Trục trong Chiến tranh thế giới II. Biến thể. "Dữ liệu từ \:"
1
null
Boeing XPBB-1 Sea Ranger (Boeing 344) là một mẫu thử tàu bay tuần tra ném bom, nó được chế tạo cho Hải quân Hoa Kỳ. Đơn đặt hàng cho loại máy bay này đã bị hủy để tập trung chế tạo loại máy bay ném bom Boeing B-29, do đó chỉ có duy nhất 1 mẫu thử được hoàn thành.
1
null
Kiến trúc Chicago ra đời ở Mỹ và nổi tiếng khắp thế giới, tạo thành phong cách kiến trúc được gọi là trường phái Chicago hay còn gọi là phong cách kiến trúc thương mại. Trong lịch sử kiến ​​trúc, các kiến ​​trúc sư làm việc tại Chicago vào đầu của thế kỷ 20 đã hình thành nên trường phái này. Họ là những người đầu tiên đề xướng những công nghệ mới chế tạo khung thép xây dựng trong các tòa nhà thương mại, và đồng thời phát triển một không gian thẩm mỹ, sau đó đã gây ảnh hưởng và phát triển song song với kiến trúc Hiện đại của Châu Âu. "Trường phái Chicago thứ hai" sau đó đã nổi lên trong những năm 1940 và 1970 với việc đi tiên phong trong công nghệ xây dựng mới và các hệ thống kết cấu như kết cấu khung ống.
1
null
Nguyễn Văn Thắng (20 tháng 6 năm 1947 – 21 tháng 12 năm 2012) là Trung tướng Công an nhân dân Việt Nam. Ông từng là Giám đốc Học viện An ninh nhân dân. Ông là Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân. Xuất thân. Ông quê ở xã Liên Thủy, huyện huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Giáo dục. Từ tháng 10 năm 1969 đến tháng 4 năm 1975, ông là sinh viên Trường Đại học An ninh nhân dân (nay là Học viện An ninh nhân dân), ông học khóa D1. Ông từng có 4 năm (1983–1987) làm nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Học viện An ninh Liên Xô. Sự nghiệp. Ông gia nhập lực lượng Công an vào tháng 5 năm 1965, ở tuổi 18. Ngay lúc vào ngành, ông công tác tại Phòng Cảnh sát 57 thuộc Ty Công an tỉnh Quảng Bình. Cho đến tháng 10 năm 1969 thì đi học đại học ở Trường Đại học An ninh nhân dân. Ngày 1 tháng 1 năm 1969, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông trở thành đảng viên chính thức vào ngày 1 tháng 1 năm 1970. Sau khi tốt nghiệp Đại học An ninh nhân dân, ông được giữ lại trường công tác và giữ chức vụ Tổ trưởng Tổ bộ môn, Chi ủy viên Khoa Nghiệp vụ I, Trường Đại học An ninh nhân dân từ năm 1977 cho đến năm 1979. Trong hai năm từ năm 1981 đến năm 1983 ông giữ chức vụ Phó trưởng Khoa Nghiệp vụ I, Trường Đại học An ninh. Sau đó ông được cử đi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô trong 4 năm (1983–1987). Sau khi làm xong Tiến sĩ ở Liên Xô trở về nước, ông giữ chức vụ Trưởng khoa Khoa Nghiệp vụ I, Trường Đại học An ninh nhân dân từ tháng 6 năm 1991 cho đến tháng 2 năm 1992. 7 năm tiếp đó, từ tháng 3 năm 1992 đến tháng 8 năm 1999, ông giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân. Và từ tháng 9/1999, ông được bầu làm Hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy Trường Đại học An ninh nhân dân. Cho đến tháng 12/2001, khi Trường Đại học An ninh nhân dân đổi tên thành Học viện An ninh nhân dân, thì ông giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện An ninh nhân dân. Tháng 2 năm 2002, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng Công an nhân dân Việt Nam. Ngày 25 tháng 4 năm 2007, ông được thăng quân hàm từ Thiếu tướng lên Trung tướng Công an nhân dân Việt Nam cùng 11 người khác là Trần Đại Quang, Trương Hòa Bình, Đặng Văn Hiếu, Trịnh Lương Hy, Hoàng Đức Chính, Sơn Cang, Lê Văn Thành, Phạm Văn Đức, Nguyễn Xuân Xinh, Vũ Hải Triều, Phạm Nam Tào. Ngày 22 tháng 8 năm 2007, ông nghỉ hưu theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Chức vụ cuối cùng của ông trước khi nghỉ hưu là Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện An ninh nhân dân. Ông qua đời ngày 21 tháng 12 năm 2012 tại Bệnh viện 19-8 Bộ Công an Việt Nam sau một thời gian lâm bệnh nặng.
1
null
"The Long and Winding Road" là bản ballad do Paul McCartney sáng tác (đề tên Lennon-McCartney). Đây là ca khúc thứ 10 trong album "Let It Be" của The Beatles. Bài hát trở thành ca khúc thứ 20 và cũng là ca khúc cuối cùng của nhóm nhạc này leo lên vị trí số 1 trên bảng xếp hạng của Hoa Kỳ vào ngày 13 tháng 6 năm 1970, và là đĩa đơn cuối cùng do nhóm phát hành khi cả bốn thành viên đều còn sống. "The Long and Winding Road" cùng với "For You Blue" trở thành những bản hit khi đĩa đơn 2-mặt này leo lên vị trí quán quân trên bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100 của Hoa Kỳ vào năm 1970. Tuy bản phát hành sau cùng của ca khúc này rất thành công, nhưng những thay đổi khi thực hiện hậu kỳ của nhà sản xuất Phil Spector khiến McCartney tức giận tới mức khi đưa vấn đề giải tán ban nhạc the Beatles ra toà, McCartney đã nêu việc xử lý ca khúc "The Long and Winding Road" là một trong 6 nguyên nhân dẫn đến quyết định đó. Các bản phối mới của ca khúc với ít nhạc cụ hơn sau đó đã được phát hành dưới tên của The Beatles và McCartney. Cảm hứng. Ban đầu McCartney viết ca khúc này tại trang trại của mình ở Scotland, lấy cảm hứng từ mối quan hệ ngày càng căng thẳng trong nội bộ nhóm The Beatles. McCartney sau này có nói rằng "Tôi chỉ đang ngồi bên cây đàn piano của mình ở Scotland, chơi vài nốt nhạc và thế là sáng tác ra bài hát đó, một việc tưởng chừng như chỉ có Ray Charles mới làm được. Tôi rất hay tìm thấy cảm hứng từ vẻ đẹp yên tĩnh của Scotland và một lần nữa ca khúc này đã chứng minh điều đó." McCartney thực hiện một bản thu thử của ca khúc này vào tháng 9 năm 1968, với sự hỗ trợ từ kỹ thuật viên Alan Brown của nhóm the Beatles, giữa các buổi thu âm "Album trắng". Ca khúc sáng tác dưới dạng một bản ballad dựa trên piano; các hợp âm thay đổi theo cách truyền thống. Gam chủ của bài hát là Mi giáng trưởng nhưng ngoài ra cũng có sử dụng gam Đô thứ. Về lời ca, đây là một ca khúc buồn và u sầu, gợi lên một tình yêu không được đáp lại, dù cho điều đó là không thể tránh khỏi. Con đường "dài quanh co" ("long and winding road") nhắc đến trong ca khúc được cho là lấy cảm hứng từ đường B842, một con đường nhiều khúc quanh dài ba mươi mốt dặm (50 km) ở Scotland, chạy dọc theo bờ biển về đông Kintyre hướng về phía Campbeltown, cách Lochgilphead tám mươi hai dặm (133 km). Trong một buổi phỏng vấn năm 1994, McCartney từng nói "Đây là một bài hát khá buồn. Tôi thích viết những ca khúc buồn, bởi bằng cách đó bạn có thể nhận ra những rung động thầm kín của bản thân và đưa chúng vào bài hát. Nó là một phương tiện tốt đấy, nó giúp bạn khỏi mất thời gian đến gặp bác sĩ tâm lý." Phần mở đầu được lặp đi lặp lại, không có đoạn điệp khúc theo kiểu truyền thống, giai điệu và lời ca mơ hồ rất khó xác định vị trí đoạn mở đầu của ca khúc; nếu nghe một đoạn bất kỳ của bài hát, rất khó đoán đó là đoạn bắt đầu, một phân đoạn bình thường hay đoạn cầu nối. Cuối bản phát hành chính thức của ca khúc có đoạn McCartney hát "yeah, yeah, yeah, yeah," gợi lại một câu hát từng xuất hiện trong nhiều ca khúc gắn liền với tên tuổi của nhóm như "She Loves You" và nhiều bài hát khác. Thu âm. The Beatles thu âm ca khúc "The Long and Winding Road" vào hai ngày 26 và 31 tháng 1 năm 1969, một ngày sau buổi biểu diễn huyền thoại cuối cùng của nhóm trên nóc trụ sở hãng thu âm Apple của họ. McCartney chơi piano, John Lennon chơi bass guitar, George Harrison chơi guitar, Ringo Starr chơi trống, và Billy Preston chơi piano điện. Buổi thu âm này nằm trong một chuỗi các buổi thu âm cho một dự án album sau này được biết đến với tên gọi "Get Back". Lennon, người vốn chỉ thỉnh thoảng mới chơi bass, mắc một vài lỗi trong khi thu. Một số nhà báo, chẳng hạn như Ian MacDonald, cho rằng màn trình diễn bass rời rạc của một Lennon đang chán nản là có chủ ý. Tháng 5 năm 1969, Glyn Johns, người được mời đến hòa âm cho album "Get Back" của the Beatles, chọn bản thu thực hiện ngày 26 tháng 1 là bản thu tốt nhất của ca khúc. The Beatles ngoài ra còn thu một bản master khác - một phần của chương trình 'Apple studio performance' - vào ngày 31 tháng 1. Bản thu này có cấu trúc lời ca và âm nhạc khác bản trên, nhưng sau đó không được chọn để phát hành. Các bản thu không chính thức của ngày hôm đó và cả bộ phim về the Beatles sau này cho thấy ban nhạc đã thử vài phương án khác nhau để tìm cách thu một bản master. Cả phiên bản năm 1969 và 1970 của album "Get Back "lẫn album "Anthology 3" năm 1996 sau này, Glyn Johns đều chọn bản phối ngày 26 tháng 1. Khi dự án được chuyển sang cho Phil Spector thực hiện ông cũng chọn bản thu ngày 26 tháng 1. Vào mùa xuân năm 1970, Lennon và người quản lý của the Beatles, Allen Klein, chuyển toàn bộ các bản thu cho Phil Spector với hy vọng thực hiện vớt vát được một album, sau này đặt tên là "Let It Be". Spector có chỉnh sửa nhiều ca khúc trong album, nhưng lần thay đổi nghiêm trọng nhất của ông là vào ngày 1 tháng 4 năm 1970, buổi thu âm cuối cùng của the Beatles, khi ông để mắt tới bài "The Long and Winding Road". Tại phòng thu Abbey Road Studios, ông thu thêm phần đệm của dàn nhạc và của dàn đồng ca cho ca khúc này. Thành viên duy nhất của the Beatles có mặt lúc ấy là Starr, nhưng ông bận thu âm phần trống cho các ca khúc "Across the Universe" và "I Me Mine". Sau đó Spector có gọi ông vào nhưng khi ấy đã thu âm xong cho "The Long and Winding Road" rồi. Spector hôm ấy có cũng có tâm trạng đặc biệt, theo lời kỹ thuật viên âm thanh Peter Brown kể lại: "Anh ta muốn áp tiếng vang lên mọi thứ, cứ nửa giờ anh ta lại phải uống thuốc và bắt vệ sĩ phải luôn ở bên cạnh mình. Anh ta luôn ở trong trạng thái sẵn sàng cáu giận và nói rằng 'Tôi muốn nghe thấy cái này, tôi muốn nghe thấy cái kia. Tôi phải có cái này, tôi phải có cái nọ.'" Brown và cả dàn nhạc khó chịu vì thái độ của Spector tới mức cả dàn nhạc không chịu chơi tiếp, và có một lúc, Brown bỏ về nhà, buộc Spector phải gọi điện thoại và thuyết phục ông quay lại sau khi Starr bảo Spector phải bình tĩnh. Cuối cùng, Spector cũng hoàn thành việc phối lại ca khúc "The Long and Winding Road", sử dụng 18 chiếc violin, bốn chiếc viola, bốn cellos, ba kèn trumpet, ba kèn trombone, hai guitars, và một dàn hợp xướng gồm 14 nữ ca sĩ. Dàn nhạc do Richard Hewson soạn và chỉ huy, ông này sau đó đã cộng tác với McCartney trong album "Thrillington" của anh. Giải pháp phối lại với một dàn nhạc lớn như vậy trái ngược hẳn với ý định trước đó của The Beatles là muốn có được một bản thu âm nghe "thật tai" khi bắt đầu sản xuất "Get Back". Tranh cãi xung quanh bản phối của Spector. Khi McCartney lần đầu nghe phiên bản của Spector, anh cảm thấy như bị xúc phạm. Chỉ 9 ngày sau khi Spector phối lại "The Long and Winding Road", McCartney chính thức tuyên bố giải tán ban nhạc. Ngày 14 tháng 4, anh viết một lá thư với ngôn từ mạnh mẽ gửi tới điều phối kinh doanh của hãng Apple Records là Allen Klein, yêu cầu không sử dụng đàn hạc và phải giảm bớt phần nhạc đệm trong bản thu. McCartney kết thúc lá thư bằng câu nói: "Đừng bao giờ làm như vậy nữa." Tuy nhiên những yêu cầu này không được chấp nhận, và phiên bản của Spector vẫn được đưa vào album. Trong một bài phỏng vấn dài hai kỳ in trên báo "Evening Standard" ngày 22 và 23 tháng 4 năm 1970, McCartney nói: "Album đã làm xong được một năm, nhưng mấy tháng trước nhà sản xuất đĩa người Mỹ Phil Spector được Lennon gọi tới để xử lý lại một số ca khúc. Tuy nhiên, mấy tuần trước, người ta gửi cho tôi một bản phối lại của ca khúc 'The Long and Winding Road' của tôi trong đó có sử dụng đàn hạc, kèn cor, một dàn nhạc và một dàn hợp xướng nữ. Không ai hỏi ý kiến tôi xem tôi nghĩ gì. Tôi không thể tin nổi." Nhà sản xuất lâu năm của The Beatles, George Martin, đồng tình với quan điểm này và cho rằng bản phối đó "thật không giống phong cách" của The Beatles. "Đó là một sự xúc phạm tới Paul," kỹ thuật viên âm thanh Geoff Emerick nhớ lại. "Đó là bản thu âm của anh ấy. Và ai đó đã lôi nó ra rồi phối lại đủ thứ mà không có sự cho phép của anh ấy." McCartney đề nghị Klein hãy giải tán The Beatles, nhưng bị từ chối. Tức giận, anh đưa vụ việc ra toà, kiện Klein và các thành viên khác của The Beatles. Một trong số 6 lý do McCartney đưa ra để giải tán The Beatles là rằng công ty của Klein, ABKCO, đã "can thiệp một cách không thể tha thứ" khi phối lại ca khúc "The Long and Winding Road" mà không hỏi ý kiến McCartney. Spector cho rằng ông bị buộc phải phối lại "The Long and Winding Road" bởi Lennon chơi bass quá tệ. Mặc dù việc Lennon chơi bass kém đã được nhiều tài liệu nhắc tới (trong cuốn sách "", một tác phẩm phân tích chi tiết từng bản thu âm một của The Beatles, Ian MacDonald miêu tả nó là "tồi tệ" với hàm ý đã làm hỏng bản thu), bản chất của việc Spector phối lại ca khúc một cách toàn diện vẫn đặt ra một dấu hỏi. McCartney cho rằng Spector có thể chỉ cần đơn giản loại bỏ các lỗi liên quan rồi thu âm lại, kỹ thuật này ông đã sử dụng ở một vài chỗ khác trong album này. Cụ thể hơn, vấn đề có thể giải quyết một cách đơn giản bằng cách yêu cầu McCartney thu âm lại phần bass cho phù hợp hơn để thay thế cho bản của Lennon, hoặc sử dụng một phiên bản trước đó đã bị Glyn Johns từ chối. Tuy nhiên tranh cãi xung quanh ca khúc này không ngăn được đĩa đơn đứng đầu các bảng xếp hạng này ra mắt vào ngày 11 tháng 5 năm 1970, cùng với "For You Blue" trên mặt B. 1,2 triệu bản đã được bán hết trong 2 ngày đầu tiên, và ca khúc xuất hiện trên các bảng xếp hạng trong mười tuần bắt đầu từ 23 tháng 5. Vào ngày 13 tháng 6, đây trở thành đĩa đơn thứ 20 và cũng là đĩa đơn cuối cùng của The Beatles đứng đầu bảng xếp hạng tại Mỹ, theo tạp chí "Billboard". "The Long and Winding Road" đã chấm dứt 6 năm thống trị của ban nhạc này tại Mỹ, bắt đầu với "I Want to Hold Your Hand" năm 1964. The Beatles đã có 20 đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng chỉ trong 74 tháng, với tỉ lệ trung bình cứ 3,7 tháng họ lại có một đĩa đơn quán quân. Các bản thu của The Beatles và phát hành. "Anthology 3". Bản phối gốc của Glyn Johns ngày 26 tháng 1 không có phần đệm của dàn nhạc và đoạn ghi đè của Spector được phát hành trong album "Anthology 3" năm 1996. Phiên bản này còn chứa một đoạn chuyển do McCartney đọc chứ không phải hát. "Let It Be... Naked". Năm 2003, các thành viên còn lại của The Beatles và Yoko Ono phát hành "Let It Be... Naked," được quảng cáo là album "Let It Be" của nhóm do các nhà sản xuất độc lập khác nhau phối lại. McCartney nói rằng sự bất mãn lâu dài với phiên bản được phát hành trước kia của "The Long and Winding Road" (và cả album "Let It Be") là một trong những động lực thúc đẩy anh làm phiên bản này. Album mới có chứa bản thu sau của "The Long and Winding Road" (thu ngày 31 tháng 1). Không có nhạc cụ dây hay phần đệm nào khác ngoài những nhạc cụ được chơi trong phòng thu hôm đó, phiên bản này gần với ý định ban đầu của The Beatles hơn phiên bản năm 1970. Phiên bản này cũng chính là phiên bản xuất hiện trong bộ phim "Let It Be". Ringo Starr bị ấn tượng với phiên bản "Naked" của ca khúc này: "Những chiếc đàn dây của Phil không có gì sai, đây chỉ là một thái độ khác khi nghe thôi. Nhưng cũng đã 30 năm lẻ kể từ khi tôi được nghe ca khúc mà không có những thứ đó và tôi đã thực sự bị ấn tượng." Chính Spector cũng cho rằng McCartney đã giả tạo khi chỉ trích ông: "Paul không gặp trở ngại nào để giành giải Oscar cho nhạc phim "Let It Be", hay bất cứ vấn đề gì khi sử dụng bản phối có đàn dây, kèn cor và dàn hợp xướng của tôi trong khi anh ấy đã biểu diễn suốt 25 năm sự nghiệp. Nếu Paul muốn lao vào một cuộc tranh cãi khốn nạn nào về chuyện đó, anh ta làm tôi lầm tưởng anh ta với một kẻ rác rưởi nào khác." Thành viên tham gia. Không được ghi danh – phần phối với dàn nhạc và hợp xướng của Phil Spector. Các buổi biểu diễn và bản thu âm của McCartney. Sau khi phát hành lần đầu, "The Long and Winding Road" trở thành tác phẩm chính trong danh sách biểu diễn hoà nhạc của McCartney thời hậu the Beatles. Trong tour diễn Wings Over the World Tour năm 1976, ca khúc là một trong những ca khúc hiếm hoi của the Beatles được biểu diễn và được biểu diễn trên piano với phần đệm rải rác của kèn cor. Trong tour diễn solo năm 1989 của McCartney và kể từ đó, ca khúc thường được biểu diễn trên piano với phần dàn dựng sử dụng đàn dây bắt chước theo kiểu của synthesiser, nhưng tiếng đàn dây này nghe chừng mực hơn bản thu của Spector. Bản thu live của buổi hoà nhạc ở Rio de Janeiro tháng 4 năm 1990 được đưa vào album Tripping the Live Fantastic. McCartney cũng hát ca khúc này để kết thúc Buổi hoà nhạc trực tiếp số 8 ở Luân Đôn. McCartney và nhà sản xuất George Martin đã thu âm lại "The Long and Winding Road" với phần nhạc đệm có sử dụng một kèn saxophone chính cho nhạc phim của bộ phim năm 1984 của McCartney, "Give My Regards to Broad Street" Một bản thu phòng thu mới thứ hai của ca khúc cũng được McCartney thực hiện giữa những buổi thu âm cho album "Flowers in the Dirt" năm 1989 và được phát hành cùng năm đó trên mặt B của đĩa đơn "This One".
1
null
Họ Cốc (danh pháp khoa học: Phalacrocoracidae) là một họ chim gồm khoảng 40 loài, bao gồm cốc ("cormorant") và cốc mào ("shag"). Có nhiều cách phân loại họ này đã được đề xuất gần đây, nhưng vào năm 2021, IOU (trước đây là IOC) đã đồng thuận thông qua cách phân loại gồm bảy chi. Cốc đế ("Phalacrocorax carbo") và "Gulosus aristotelis" là hai loài duy nhất trong họ này phân bố ở Anh và Ireland và các tên gọi "cormorant" và "shag" sau đó đã được gán cho các loài khác nhau trong họ một cách hơi tùy tiện. Đánh cá bằng chim cốc là một phương pháp đánh cá cổ truyền trong đó người đánh cá huấn luyện chim cốc để bắt cá ở các con sông. Đánh cá bằng chim cốc đã được thực hành ở Nhật Bản và Trung Quốc từ thế kỷ 3. Ở Âu châu thỉnh thoảng nó cũng là một môn thể thao cho giới quý tộc. Phân loại. Theo IOU, Sách đỏ IUCN và BirdLife International, họ Cốc bao gồm 7 chi:
1
null
Carice Anouk van Houten () sinh ngày 5 tháng 9 năm 1976) là một nữ diễn viên và ca sĩ người Hà Lan. Cô đóng vai Melisandre trong sê-ri truyền hình "Trò chơi vương quyền" từ năm 2012. Trên bình diện quốc tế, cô được biết đến với các vai diễn Anh ngữ trong những bộ phim như "Valkyrie" (2008), "Repo Men" cùng "Black Death" (2010) và "Black Book", bộ phim Hà Lan thành công thương mại nhất cho đến nay. Là một nữ diễn viên rất nổi tiếng ở Hà Lan, cô đã giành giải Bê vàng cho nữ chính xuất sắc nhất cho các vai diễn của cô trong "Suzy Q" (1999), "Undercover Kitty" (2001), "Black Book" (2006), "The Happy Housewife" (2010) và "Black Butterflies" (2011). Tại Mỹ cô cũng nhận hai đề cử giải Sao Thổ. Trong vai trò ca sĩ, Van Houten phát hành một album pop-rock mang tên "See You on the Ice" năm 2012. Cô là người chị sinh đôi của nữ diễn viên .
1
null
Euphorbia cyparissias là một loài thực vật có hoa trong chi Đại kích ("Euphorbia"), là loài bản địa của châu Âu và được du nhập vào Bắc Mỹ trong thập niên 1860 để làm cây cảnh. Nó sinh sản bằng hạt và rễ ngầm phát triển rất tốt. Nó thường có chiều cao 10–80 cm. Các bẹ hoa giống như cánh thường có màu vàng lục, khi trưởng thành chuyển sang màu tím hoặc đỏ từ tháng 5 đến tháng 8. "Euphorbia cyparissias" co trái, khi chính nó bung ra và phát tán hạt đi xa 4.9m. Tuy nhiên, lòa này cũng sinh sản thông qua các chồi mọc từ gốc cho phép nó phát triển lan rộng và dày đặc. Nó có thể được nhận dạng dễ dàng qua lá của nó có dạng thẳng và nhỏ với chiều dài 2–4 cm và rộng 1–2 mm.
1
null
Nguyễn Tăng Tuấn (sinh 28 tháng 6 năm 1986 tại Triệu Sơn, Thanh Hoá) là một cầu thủ bóng đá Việt Nam. Anh từng thi đấu cho câu lạc bộ Thanh Hóa. Sự nghiệp. Tăng Tuấn xuất thân từ lò đào tạo trẻ của Thanh Hoá. Đến năm 2003 thì anh chuyển sang thử việc tại đội trẻ của Hoàng Anh Gia Lai . Tăng Tuấn nổi tiếng từ giải trẻ U21 báo Thanh Niên năm 2006. Anh là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất ở giải đấu này, đoạt danh hiệu Vua phá lưới với 5 bàn thắng trong màu áo U21 Hoàng Anh Gia Lai và lọt vào đội hình tiêu biểu của giải . Danh hiệu Vua phá lưới U21 quốc gia giúp cầu thủ này có tên đội tuyển U21 Việt Nam, Olympic Việt Nam và được đôn lên thi đấu trong đội hình chính Hoàng Anh Gia Lai kể từ mùa bóng 2007 . Tuy nhiên anh đều lỡ hẹn với hai kỳ SEA Games 2009 và 2011 . Năm 2012 anh chuyển sang đầu quân cho Becamex Bình Dương, với giá trị chuyển nhượng được cho là 8 tỷ đồng. Chủ tịch câu lạc bộ Hoàng Anh Gia Lai đã nhận xét: "Cầu thủ Việt Nam càng ngày càng mất dạy" từ vụ chuyển nhượng này . Hiện nay anh là một trong những chân sút hàng đầu của Becamex Bình Dương với 8 bàn thắng ở giải vô địch quốc gia trong mùa đầu tiên thi đấu tại đây . Giai đoạn 2 mùa giải V.League 1-2016, anh trở về đầu quân cho đội bóng đá quê hương Thanh Hóa sau 13 năm phiêu bạt. Đời tư. Đầu năm 2013 Tăng Tuấn có người vợ là cựu sinh viên trường Đại học An ninh nhân dân .
1
null
Orenburg Airlines hay JSC Orenair () là một hãng hàng không có trụ sở ở sân bay Orenburg Tsentralny tại Orenburg, Nga. Hãng có các tuyến bay chuyên chở hành khác nội địa và bao gồm các chuyến bay thuê chuyến du lịch cũng như các chuyến bay đặc biệt. Cơ sở chính của hãng tại sân bay Orenburg Tsentralny, với các trung tâm tại Domodedovo và Orsk. Lịch sử. Hãng hàng không này đã được lập từ một bộ phận Orenburg Aeroflot, được lập năm 1932. Hãng bắt đầu hoạt động vào năm 1992 dưới tên hiện nay. Đó là hãng hàng không đầu tiên trong nước của Nga giới thiệu các hệ thống trung tâm kết nối các chuyến bay ở Orenburg, cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách hoàn toàn. In 2010, Orenair was acquired by Aeroflot and is likely to engage in a fleet modernization process as a result of the merger. Điểm đến. Hãng hành không Orenburg có các tuyến bay thường lệ sau (thời điểm tháng 11 năm 2012): châu Âu. Hãng có các tuyến bay thuê chuyến đến Kazan, Krasnodar, Nizhny Novgorod, Novosibirsk, Omsk, Rostov-na-Donu, Samara, Sharm el-Sheikh, Ufa, Volgograd, Goa, Poprad-Tatry và Camh Ranh. Đội tàu bay. Đội tàu bay cánh bằng. Hãng Orenair có các tàu bay sau (thời điểm tháng 11 năm 2012): Đến thời điểm tháng 12 năm 2012, tuổi trung bình đội tàu bay của Orenair là 13,5 năm. Tàu bay đã sử dụng. Đến thời điểm tháng 8 năm 2006, hãng này cũng vận hành:
1
null
Microcarbo là một chi chim ăn cá trong họ Cốc. Chi này trước đây được gộp vào chi "Phalacrocorax". "Microcarbo" được IOC’s World Bird List (Gill và Donsker 2010) công nhận là một chi riêng biệt dựa trên công trình nghiên cứu của Siegel-Causey (1988), Kennedy và cộng sự (2000), và Christidis và Boles (2008). Như tên gọi của nó, chi này bao gồm các loài Cốc nhỏ nhất trên thế giới, với 5 loài đã được xác nhận.
1
null
A Merry Little Christmas là một đĩa mở rộng mang chủ đề Giáng sinh của ban nhạc đồng quê người Mỹ Lady Antebellum. Được phát hành vào ngày 12 tháng 10 năm 2010, EP chỉ được phát hành ở cửa hàng Mỹ Target. Trong EP có một ca khúc của riêng Lady Antebellum là "On This Winter's Night", còn các ca khúc còn lại đều là các ca khúc Giáng sinh nổi tiếng được ban nhạc thu âm lại như "All I Want for Christmas Is You" của Mariah Carey. Cả sáu ca khúc trong EP đều được xuất hiện sau đó trong album Giáng sinh đầu tiên của ban nhạc, "On This Winter's Night", được phát hành vào cuối năm 2012.
1
null
Udo Fortune thường được biết đến với tên gọi Ekeocha Stanley (sinh ngày 2 tháng 2 năm 1988 tại Warri, Delta State, Nigeria) là một cầu thủ bóng đá người Nigeria, hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Đồng Tháp tại Việt Nam. Udo khởi đầu sự nghiệp cầu thủ trẻ ở câu lạc bộ Jos United tại Nigeria trong vài năm cho đến 2005. Năm 2006, anh rời Nigeria và đến Singapore bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp ở nước ngoài.
1
null
Vương quốc Hashemite Hejaz (, "Al-Mamlakah al-Ḥijāzyah Al-Hāshimīyah") là một nhà nước trong khu vực Hejaz được cai trị bởi gia tộc Hashemite. Giành được độc lập nhờ sự sụp đổ của Đế quốc Ottoman, cũng như là kết quả của Chiến tranh Thế giới I khi Sharif của Mecca thực hiện một cuộc thỏa thuận với người Anh rằng dân chúng Ả Rập sẽ tiến hành một cuộc nổi dậy chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ để đổi lấy một nhà nước Ả Rập thống nhất. Năm 1916, Sharif của Mecca tuyên bố mình là Vua của Hejaz và ra lệnh cho lực lượng quân đội Sharifian của mình tham chiến với các bộ lạc Ả rập khác cùng đế chế Anh trong việc đánh đuổi người Thổ Nhĩ Kỳ ra khỏi bán đảo Ả Rập. Khu vực Hejaz ngay từ lúc ấy đã có một số cơ sở hạ tầng mang tính chiến lược, đặc biệt là tuyến đường sắt Hejaz, được sử dụng để chuyên chở binh lính Thổ Nhĩ Kỳ đi qua sa mạc trong thời gian chiến tranh. Vương quốc cuối cùng đã bị sáp nhập vào năm 1925 bởi Vương quốc Hồi giáo Nejd láng giềng, vương quốc mới được trung hưng của Nhà Saud, rồi được sáp nhập vào Vương quốc Nejd và Hejaz, mà cuối cùng được biết đến như Ả Rập Xê Út vào năm 1932.
1
null
Pueblo Chieftain là một nhật báo của Mỹ được xuất bản tại Pueblo, Colorado. 2012 là năm đánh dấu mốc 144 năm kể từ lần xuất bản đầu tiên. "Chieftain" được thành lập vào năm 1868 bởi tiến sĩ Michael Beshoar, vị tiến sĩ đầu tiên ở Trinidad, Colorado cùng với Wilbur Fisk Stone George A. Hinsdale là hai biên tập viên đầu tiên của tờ nhật báo này. Được xuất bản bởi Star-Journal Publishing Corp., "Chieftain" đã báo cáo số lượng báo được xuất bản năm 2005 là 53,250. Nhà xuất bản của "Chieftain" hiện nay là Robert H. Rawlings. Giá thành của một số báo. Giá thành của một số Chieftain cụ thể là: $0.50 đối với nhật báo, $1.00 đối với số đặc biệt ra ngày chủ nhật.
1
null
Tổng công ty Phát sóng Munhwa (Tiếng Anh: Munhwa Broadcasting Corporation, MBC; Tiếng Hàn: 주식회사 문화방송; Hanja: 文化放送; "Jushikhoesa Munhwa Bangsong") (KRX: 052220) là một đài phát sóng Hàn Quốc và mạng lưới phát thanh – truyền hình có trụ sở tại Seoul, Hàn Quốc. "Munhwa" là một từ tiếng Triều Tiên có nghĩa là "văn hóa". Lịch sử. Ban đầu MBC là một dịch vụ phát thanh khu vực (1959-1961), sau đó nó trở thành một đơn vị phát thanh radio tại Seoul (1961-1968). Ngày 8 tháng 8 năm 1969, MBC phát sóng chương trình Tv đen trắng đầu tiên. Chương trình TV màu đầu tiên được phát sóng ngày 22 tháng 9 năm 1980. Giai đoạn 1980 đến 1990, MBC vươn mình phát triển mạnh. Giai đoạn 1991 đến 2000 là giai đoạn truyền hình đa phương tiện, MBC đã thành lập nhiều công ty chuyên biệt để phát triển các chuỗi giá trị (MBC Production, MBC Media Tech, MBC Broadcast Culture Center, MBC Arts Company, MBC Arts Center). Kỷ nguyên kỹ thuật số của MBC được đánh dấu vào năm 2001 khi đài này đã bắt đầu phát sóng các chương trình truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh.
1
null
Nathalie Marie Andrée Baye (sinh ngày 6 tháng 7 năm 1948) là một diễn viên người Pháp. Bà đã diễn xuất trong hơn 70 phim và bốn đoạt giải César với các phim: "Sauve qui peut (la vie)" (1980), "Une étrange affaire" (1981), "La Balance" (1982) và "Le Petit Lieutenant" (2005).
1
null
Sir George Cayley, đệ lục nam tước Brompton (ngày 27 tháng 12 năm 1773 - 15 tháng 12 năm 1857) là một kỹ sư tiếng người Anh, nhà khoa học, nhà phát minh, chính trị gia người Anh. Ông mất năm mất 1857. Ông là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử hàng không. Nhiều người cho rằng ông là người điều tra đầu tiên thực sự của khoa học trên không và là người đầu tiên để hiểu các nguyên tắc cơ bản và các lực đẩy bay. Năm 1799 ông đưa ra khái niệm của các máy bay hiện đại như là một máy bay cánh cố định với các hệ thống riêng biệt cho lực nâng, động cơ đẩy.
1
null
Beriev Be-12 Chayka (nghĩa là chim Mòng biển,ký hiệu NATO:Mail) là một loại máy bay thủy phi cơ sử dụng động cơ cánh quạt do Cục thiết kế Beriev (Liên Xô) phát triển từ cuối những năm 1950 nghiên cứu chế tạo nhằm thực hiện các nhiệm vụ tuần tra bờ biển và chống tàu ngầm. Thiết kế và phát triển. Beriev Be-12 được nghiên cứu và thiết kế dựa trên loại máy bay Beriev Be-6 của Liên Xô,đây cũng là một loại máy bay tuần tra biển kiêm ném bom chống tàu ngầm.Khác Be-6, Be-12 có cấu tạo cánh giống hình cánh chim hải âu và đuôi có dạng ba nhánh (phần đuôi kéo dài ra, có 2 cánh đuôi xếp thẳng đứng,đối xứng).Kết cấu trên giúp máy bay có thể bay lượn dễ dàng đặc biệt là trong điều kiện hoạt động trên biển tương tự như loài hải âu - một loài chim biển. Be-12 sử dụng 2 động cơ cánh quạt, có tốc độ và tầm hoạt động hơn hẳn chiếc Be-6.Be-12 cũng có bánh xe có thể thu vào hoặc thả ra,vì là một loại thủy phi cơ nên Be-12 có thể hạ cánh trên mặt nước và hạ cánh trên sân bay. Thân Be-12 chia làm 10 khoang với các vách ngăn kín nước, bên trong lắp khí tài điện tử. Nếu vài khoang bị thủng, máy bay vẫn nổi tốt trên mặt nước. Dưới 2 cánh có thêm 2 phao nổi để tạo sự ổn định. Chuyến bay đầu tiên của Be-12 được thực hiện vào ngày 18 tháng 10 năm 1960 tại sân bay Taganrog,Liên Xô cũ. Nó xuất hiện trước công chúng vào năm 1961 tại triển lãm hàng không Xô Viết ở sân bay Tushino. Có 150 máy bay đã được sản xuất, nhiều chiếc trong số đó vẫn còn hoạt động. Lịch sử hoạt động. Beriev Be-12 được Không quân Hải quân Liên Xô AV-MF ("Aviatcia Voenno-Morskogo Flota") vào đầu thập niên 1960 trong nhiệm vụ tuần tra biển và chống tàu ngầm,nó cũng là một trong những loại máy bay thủy phi cơ từ thế kỷ 20 còn hoạt động.Ban đầu nhiệm vụ của nó là tuần tra và chống tàu ngầm nhưng từ khi loại tên lửa đời mới cho phép tàu ngầm của Hải quân Hoa Kỳ phóng từ ngoài khơi vào đất liền với tầm bắn rất xa thì Be-12 chuyển sang thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu hộ (Be-12PS) vì Liên Xô cần các loại tên lửa đánh chặn đạn đạo và các tàu ngầm đời mới cũng trang bị tên lửa liên lục địa (như Tàu ngầm Đề án 941 Akula) để uy hiếp Hoa Kỳ,tuy vậy Be-12 vẫn là loại máy bay săn ngầm có tầm hoạt động tốt.Sau khi Liên Xô tan rã,các máy bay Be-12 được chia cho các quốc gia cộng hòa và thực hiện nhiệm vụ thả bom nước chữa cháy. Trong thời gian phát triển loại máy bay thủy phi cơ chữa cháy Beriev Be-200 thì một số thiết bị phục vụ hoạt động phòng cháy chữa cháy được lắp đặt trên Be-12P và nó có mật danh là "12 Yellow". Sau khi được trang bị hệ thống điện tử của Be-12P-200 thì Be-12P thành máy bay chữa cháy có công nghệ cao, nó được đăng ký theo mã RA-00046 rồi được chỉ định đặt tên theo kiểu biến thể của Be-12 là Be-12P-200.Be-12P-200 vẫn được sử dụng để chữa cháy ngay cả khi chiếc Be-200 đã được đưa vào chế tạo. Theo số liệu năm 1993, Hải quân Nga còn sử dụng 55 chiếc Be-12. Đến năm 2005 có 12 chiếc bị rơi và đến năm 2009 chỉ còn 9 chiếc hoạt động. Một vài chiếc được trưng bày trong viện bảo tàng như Bảo tàng Không quân Trung ương ở Monino,ngoại ô Moskva. 1 chiếc khác đang nằm ở Bảo tàng Hàng không Ukraina và Bảo tàng Hàng không Taganrog. Thông số kỹ thuật. Vũ trang. Be-12 mang được 3.000-4.000 kg ngư lôi tự dẫn và bom để tấn công tàu ngầm đối phương. Cụ thể, gồm: Ngoài ra, biến thể Be-12LL cải tiến mang được tên lửa hành trình chống tàu siêu âm 3M-80 Moskit. Nhưng Be-12LL không bao giờ đi vào phục vụ rộng rãi.
1
null
Craseonycteris thonglongyai (tên tiếng Anh: bumblebee bat) là một loài dơi xuất hiện tại miền tây Thái Lan và đông nam Myanmar, cư ngụ trong các hang đá vôi dọc những dòng sông. Đây cũng là thành viên duy nhất còn tồn tại của họ Craseonycteridae. Mô tả. "C. thonglongyai" dài chừng và có khối lượng khoảng . Nó là loài dơi nhỏ nhất và là một trong những động vật hữu nhũ nhỏ nhất thế giới. Chỉ có vài loài chuột chù nhỏ là có thể so sánh, "Suncus etruscus" nhẹ hơn với cân nặng nhưng lại dài hơn, từ đầu tới gốc đuôi.
1
null
Taphozous perforatus là một loài động vật có vú trong họ Dơi bao, bộ Dơi. Loài này được E. Geoffroy mô tả năm 1818. Loài dơi này được tìm thấy ở Bénin, Botswana, Burkina Faso, Cộng hòa Dân chủ Congo, Djibouti, Ai Cập, Ethiopia, Gambia, Ghana, Guinea-Bissau, Ấn Độ, Iran, Kenya, Mali, Mauritanie, Niger, Nigeria, Pakistan, Ả Rập Xê Út, Sénégal, Somalia, Sudan, Tanzania, Uganda, và Zimbabwe. Môi trường sinh sống tự nhiên của chúng là xa vẳn khô. Thể phân lập MERS-CoV từ bệnh nhân được xác định đầu tiên đã được tìm thấy trong một cá thể dơi loài này gần nhà của nạn nhân ở Ả Rập Xê Út. Người ta nhận thấy thể phân lập trong một viên phân loài dơi này phù hợp 100% với nạn nhân dịch MERS-CoV ở Luân Đôn.
1
null
Emballonura semicaudata là một loài dơi trong họ Dơi bao (Emballonuridae), bộ Dơi. Loài này được Peale mô tả năm 1848, và sống tại Samoa thuộc Mỹ, Fiji, Guam, Micronesia, Palau, Samoa (nơi nó được gọi là "pe'a vai, tagiti" hoặc "pe'ape'a vai"), Tonga, và Vanuatu. Môi trường sống tự nhiên là hang động. Nó bị đe dọa do mất môi trường sống.
1
null
Anoura geoffroyi là một loài động vật có vú trong họ Dơi mũi lá, bộ Dơi. Loài này được Gray mô tả năm 1838. Phân bố và môi trường sống. "Anoura geoffroyi" sống ở miền bắc Mexico, hầu hết Trung Mỹ, miền bắc Nam Mỹ, và qua Peru tới các phần của Bolivia và Brazil tới miền nam lưu vực Amazon. Nó cũng được báo cáo xuất hiện ở Trinidad và Grenada. Loài dơi này sống ở vùng rừng gỗ có độ cao từ , cả rừng thông và sồi, rừng xương mù, cerrado, và đất nông nghiệp. Ba phân loài hiện được công nhận:
1
null
Trachops cirrhosus là một loài động vật có vú trong họ Dơi mũi lá, bộ Dơi. Chúng được Gray mô tả cấp chi năm 1847 và Spix mô tả cấp loài năm 1823. Loài dơi này phân bố ở phía Nam Mexico tới Bolivia và phía nam Brazil. Loài này có ba phân loài và không có hóa thạch được biết đến. Đây lag loài đơn loài trong chi của nó. Loài dơi này có bướu trên môi và mõm. Chúng có màu sắc tổng thể gồm màu nâu đỏ với màu xám trên bụng. Lông dài và có nhiều lông mịn. Loài dơi này có kích thước trung bình, cân nặng khoảng 32 gram.
1
null
Dơi trắng Honduras ("Ectophylla alba") là một loài dơi có bộ lông trắng với mũi và đôi mắt vàng. Nó khá nhỏ, chỉ dài 3.7-4.7 cm. Là loài duy nhất trong chi "Ectophylla", nó được tìm thấy ở Honduras, Nicaragua, Costa Rica và miền tây Panama ở độ cao 700 m trên mặt nước biển.
1
null
Chaerephon bemmeleni là một loài động vật có vú trong họ Dơi thò đuôi, bộ Dơi. Loài này được Jentink mô tả năm 1879. Phân bố. Loài này phân bố ở một số quốc gia tại Tây và Trung Phi, bao gồm Cameroon, Cộng hòa Dân chủ Congo, Bờ Biển Ngà, Guinée, Kenya, Liberia, Rwanda, Sierra Leone, Nam Sudan, Sudan, Tanzania, và Uganda.
1
null
Eptesicus bottae là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Peters mô tả năm 1869. Loài này sinh sống ở Afghanistan, có thể ở Djibouti, Ai Cập, có thể ở Eritrea, Iran, Iraq, Jordan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Mông Cổ, Oman, Pakistan, Ả Rập Xê Út, có thể ở Somalia, có thể ở Sudan, Syria, Tajikistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Turkmenistan, Uzbekistan, và Yemen. Nó được tìm thấy ở các khu vực đá và sa mạc ôn đới.
1
null
Eptesicus gobiensis là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Bobrinskii mô tả năm 1926. Mô tả. Đây là một loài dơi muỗi khá nhỏ mà dao động có kích thước dài từ 57–65 cm với kích thước tay trước dài 38–42 cm. Các lông ở mặt sau là màu vàng cam, chân các sợi lông là màu nâu sẫm, trong khi các lông trên các phần dưới là màu nâu trắng. Các răng cửa bên trong của hàm trên là cao hơn hẳn so với những răng bên ngoài. Phân bố và môi trường sống. Loài dơi này là loài bản địa Trung Á. Phạm vi của chúng kéo dài từ Alborz ở miền bắc Iran, qua Kazakhstan, Afghanistan, miền bắc Ấn Độ, Mông Cổ và Tuva ở miền nam Siberia, miền đông Trung Quốc. Loài dơi này thường sống ở sa mạc, bán sa mạc và vùng núi. Chúng có thể đậu một mình hoặc theo nhóm nhỏ, chọn khu vực râm mát, đường nứt trong đá hoặc nội thất của tòa nhà cũ, và đôi khi các phần bên ngoài của hang động, nhưng không phải cây. Sinh thái. Loài dơi này đã được nghiên cứu rất ít. Cũng giống như những loài dơi muỗi khác, nó là một động vật ăn côn trùng, và người ta cho rằng chúng có thể ăn bướm trong chế độ ăn. Chúng bị các loài chim săn mồi hoạt động về đêm săn bắt
1
null
Scotophilus borbonicus là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được E. Geoffroy mô tả năm 1803. Loài dơi này chỉ tìm thấy trên Madagascar và Réunion. Trên Réunion, nó được coi là phổ biến vào đầu thế kỷ 19, nhưng được nhìn thấy lần cuối vào cuối thế kỷ 19. Chỉ có một mẫu vật duy nhất được quy cho loài này, được thu thập vào năm 1868, được biết đến từ Madagascar. Loài được liệt kê là một loài cực kỳ nguy cấp vào năm 1996 do mất môi trường sống, và có thể bị tuyệt chủng.
1
null
Scotophilus kuhlii là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Leach mô tả năm 1821. Loài này được tìm thấy ở Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Pakistan, Philippines, Sri Lanka và Đài Loan. Chiều dài đầu và thân là 7 cm. Cẳng tay dài 5 cm.
1
null
Scotophilus leucogaster là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Cretzschmar mô tả năm 1830. Loài dơi này có thể được tìm thấy ở Angola, Bénin, Botswana, Burkina Faso, Cameroon, Cộng hòa Trung Phi, Chad, Bờ Biển Ngà, Gambia, Ghana, Guinea, Guinea-Bissau, Kenya, Mali, Mauritania, Namibia, Nigeria, Nigeria, Senegal, Sierra Leone, Sudan, Togo, Uganda và Zambia. Loài dơi này được tìm thấy trong khô và ẩm savanna và rừng cây mở. Đây là một loài phổ biến với phạm vi phân bố rất rộng và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế đã đánh giá tình trạng bảo tồn của loài này là "loài ít quan tâm" Hành vi. Việc tìm kiếm thức ăn bắt đầu ngay sau khi hoàng hôn, những con dơi săn mồi cho côn trùng trong khoảng trống, giữa và xung quanh cây và trên đồng cỏ, ở độ cao lên đến khoảng 20 m (66 ft). Thông thường, một giờ kiếm ăn là đủ để chúng đủ no, sau thời gian đó chúng tạm dừng để tiêu hóa thức ăn trước khi tiếp tục săn mồi. Chúng ít hoạt động hơn vào những đêm trăng sáng, tránh những không gian mở, điều này có thể giúp tránh bị săn mồi bởi những con cú và có lẽ là diều hâu. Chúng sử dụng khả năng định vị bằng tiếng vọng để tìm con mồi và chế độ ăn chủ yếu là bọ cánh cứng, bướm đêm và bọ xít, cũng như bao gồm nhiều loại côn trùng khác. Chúng cũng là động vật ăn thịt và đã ăn tắc kè và dơi chết trong điều kiện nuôi nhốt
1
null
Scotophilus nigrita là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Schreber mô tả năm 1774. Loài dơi này được tìm thấy ở Bénin, Cộng hòa Dân chủ Congo, Bờ Biển Ngà, Ghana, Kenya, Malawi, Mozambique, Nigeria, Sénégal, Tanzania, Togo và Zimbabwe. [Môi trường sống] tự nhiên của nó là vùng đất thấp nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới rừng, khô savanna và xa vẳn ẩm. Đây là một loài không phổ biến và sinh học của nó rất ít được biết đến. Đó là mô tả lần đầu tiên vào năm 1774 bởi nhà tự nhiên học người Đức Johann Christian Daniel von Schreber, người đặt tên khoa học cho loài này là "Vespertilio nigrita". Sau đó, nó đã được chuyển đến chi "Scotophilus", biến loài này thành " Scotophilus nigrita "
1
null
Scotophilus nux là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Thomas mô tả năm 1904. Loài này có thể được tìm thấy ở Cameroon, Cộng hòa Dân chủ Congo, Bờ biển Ngà, Guinea Xích đạo, Ghana, Guinea, Kenya, Liberia, Nigeria, Rwanda, Sierra Leone và Uganda. Nó được tìm thấy trong các khu rừng ẩm ướt nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới.
1
null
Scotophilus viridis là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Peters mô tả năm 1852. Loài dơi này được tìm thấy trong Bénin, Botswana, Burkina Faso, Cameroon, Cộng hòa Trung Phi, Chad, Bờ Biển Ngà, Ethiopia, Gambia, Ghana, Kenya, Madagascar, Malawi, Mali, Mozambique, Namibia, Nigeria, Nigeria, Senegal, Nam Phi, Sudan, Tanzania, Togo, Zambia và Zimbabwe. Môi trường sống tự nhiên của chúng là xa vẳn là khô và ẩm.
1
null
Pipistrellus collinus là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Thomas mô tả năm 1920. Họ dơi muỗi là một nhóm các loài dơi thuộc họ Vespertilionidae, được biết đến với khả năng săn mồi chủ yếu là muỗi và các loại côn trùng nhỏ khác. Đây là một họ dơi phổ biến và đa dạng với hơn 400 loài đã được mô tả. Một số loài dơi muỗi phổ biến bao gồm dơi muỗi nâu (Myotis lucifugus), dơi muỗi đồng cỏ (Pipistrellus pipistrellus), và dơi muỗi đồng cỏ keo (Nyctalus noctula). Dơi muỗi có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát dân số muỗi và các loại côn trùng gây hại khác. Chúng có thể ăn hàng trăm đến hàng ngàn con muỗi mỗi đêm, giúp giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh do muỗi gây ra như sốt rét và vi rút Zika. Đồng thời, dơi muỗi cũng là một phần quan trọng của hệ sinh thái, đóng vai trò trong quá trình thụ tinh hoa cây và phân tán hạt giống của nhiều loại cây.
1
null
Corynorhinus rafinesquii là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Lesson mô tả năm 1827. Loài này, giống như tất cả các loài dơi ở miền đông nam Hoa Kỳ, là loài ăn côn trùng, sống về đêm và định vị thức ăn chủ yếu bằng cách định vị bằng tiếng vang. Chúng ăn nhiều loại côn trùng, bao gồm muỗi, bọ cánh cứng và ruồi, mặc dù bướm đêm chiếm tới 90% khẩu phần ăn.
1
null
Dơi tai lớn, tên khoa học Corynorhinus townsendii, là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Cooper mô tả năm 1837. Dơi tai lớn có thể được tìm thấy ở Canada, Mexico và Hoa Kỳ. Dơi tai to của Townsend là một loài dơi cỡ trung bình (7-12 g) với đôi tai cực kỳ dài, linh hoạt và những cục nhỏ nhưng đáng chú ý ở mỗi bên của mõm. Tổng chiều dài của nó là khoảng 10 cm (4 in.), Đuôi của nó khoảng 5 cm (2 in) Sải cánh của nó khoảng 28 cm (11 in). Công thức răng của dơi tai lớn là Loài dơi này là một chuyên gia ăn bướm đêm và có thể ăn hầu như hoàn toàn ăn loài trong chi "Lepidoptera". Tuy nhiên, chế độ ăn của loài này có thể bao gồm bướm đêm nhỏ, ruồi, cánh gân, bọ hung, bọ cánh cứng và côn trùng nhỏ khác. Loài này là một loài dơi thì thầm, có nghĩa là nó vang ở cường độ thấp hơn nhiều so với các loài dơi khác và có thể khó ghi lại bằng máy dò dơi. Điều này có thể là một phần vì loài này chuyên về bướm đêm và một số loài bướm đêm có khả năng nghe tiếng dơi và có thể tự tạo ra tiếng động để 'gây nhiễu' tiếng vang của dơi trong nỗ lực ngăn chặn sự săn mồi.
1
null
Glauconycteris variegata là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Tomes mô tả năm 1861. mô tả. Loài dơi này tương đối nhỏ, tổng chiều dài trung bình 10 cm, với đuôi dài 4,7 cm và cân nặng khoảng 11 g. Con cái lớn hơn con đực, với sải cánh trung bình 32 cm, so với sải cánh con đực dài trung bình 32 cm. Cơ thể được bao phủ bởi lông dài mượt, màu sắc rất khác nhau, mặc dù thường là màu hơi vàng hoặc xám nhạt và thiếu các kiểu màu nổi bật được tìm thấy trên một số loài dơi có quan hệ gần gũi. Lông ở dưới màu xám, màu trắng hoặc xám rất nhạt và lông trên mặt và tai có màu nâu. Màng cánh cũng có lớp lông thưa thớt. Các cánh có hình dạng dài và hẹp, cho thấy loài dơi là nhanh nhẹn trong không khí, nhưng không hiệu quả ở tốc độ bay cao. Tốc độ bay trong quá trình tìm kiếm thức ăn đã đo được được .
1
null
Antrozous pallidus là một loài động vật có vú trong họ Vespertilionidae, bộ Dơi. Loài này được Le Conte mô tả năm 1856. Phạm vi phân bố loài dơi này từ miền tây Canada tới trung tâm Mexico. Đây là loài duy nhất của chi và có liên quan mật thiết với loài dơi Van Gelder (Bauerus dubiaquercus), đôi khi được đưa vào trong Antrozous. Mặc dù nó đã từng được đặt trong phân họ (Antrozoinae) hoặc thậm chí cả gia đình (Antrozoidae), nhưng nay loài này được coi là một phần của phân họ Vespertilioninae và tông Antrozoini. Loài dơi này có thể ăn loài bọ cạp Arizona có nọc độc rất mạnh. Chúng có thể bị loài bọ cạp này đốt nhiều lần mà không hề cảm thấy đau đớn khi tiếp xúc với nọc độc của bò cạp, không những không bị thứ nọc độc nguy hiểm làm tổn thương.
1
null
Myotis alcathoe là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được von Helversen & Heller mô tả năm 2001. Chỉ được biết đến từ Hy Lạp và Hungary khi loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 2001, phạm vi phân bố của loài dơi này đã mở rộng sang Tây Ban Nha, Anh, Thụy Điển, và Azerbaijan, trong số các nước khác. Loài này tương tự như loài dơi râu (Myotis mystacinus) và các loài khác và rất khó để phân biệt chúng. Tuy nhiên, lông màu nâu cũng rất đặc biệt và nó rõ ràng là khác nhau trong các nhân vật của các chuỗi nhiễm sắc thể và DNA của nó. Mặc dù một số dữ liệu di truyền cho thấy rằng nó có liên quan tới loài dơi Geoffroy (Myotis emarginatus), phân tích khác không hỗ trợ một mối quan hệ chặt chẽ giữa M. alcathoe và bất kỳ loài khác.
1
null
Myotis lucifugus hay Dơi nâu nhỏ là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Le Conte mô tả năm 1831. Loài này được tìm thấy ở Bắc Mỹ. Nó có kích thước cơ thể nhỏ và bộ lông màu nâu bóng. Nó có ngoại hình tương tự như một số loài dơi tai chuột khác, bao gồm dơi Indiana, dơi tai dài phía bắc và "Arizona myotis", có liên quan chặt chẽ với nhau. Chúng là loài đa phu thê, và con cái sinh ra một con cái hàng năm. Con non nhanh chóng được cai sữa và đạt kích thước trưởng thành ở một số chiều trong ba tuần tuổi. Loài dơi nhỏ màu nâu có tuổi thọ trung bình là 6,5 năm, mặc dù một cá thể trong tự nhiên đạt 34 tuổi. Nó sống về đêm, tìm kiếm con mồi côn trùng vào ban đêm và cưỡi trên những thân cây hoặc tòa nhà rỗng vào ban ngày, trong số các loại gà trống ít phổ biến hơn. Nó điều hướng và định vị con mồi với tiếng vang. Nó có ít động vật săn mồi tự nhiên, nhưng có thể bị giết bởi những kẻ săn mồi như cú, cũng như những kẻ săn mồi trên cạn như gấu mèo. Các nguồn tử vong khác bao gồm các bệnh như bệnh dại và hội chứng mũi trắng. Hội chứng mũi trắng là nguyên nhân gây tử vong đáng kể kể từ năm 2006, giết chết hơn một triệu con dơi nâu vào năm 2011. Ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, mất dân số là cực kỳ nghiêm trọng, với hibernacula (hang động được sử dụng để ngủ đông) được điều tra trung bình 90%. Con người thường xuyên bắt gặp con dơi nhỏ màu nâu do thói quen ngủ trong các tòa nhà. Các quần thể trong các tòa nhà thường được coi là loài gây hại vì sản xuất chất thải hoặc mối quan tâm của việc truyền bệnh dại. Tuy nhiên, dơi nhỏ màu nâu hiếm khi xét nghiệm dương tính với bệnh dại. Một số người cố gắng thu hút những con dơi nhỏ màu nâu vào tài sản của họ, nhưng không phải nhà của họ, bằng cách cài đặt nhà dơi.
1
null
Myotis nattereri là một loài động vật có vú trong họ Dơi muỗi, bộ Dơi. Loài này được Kuhl mô tả năm 1817. Loài dơi này có bộ lông có xu hướng trắng xám ở mặt dưới. Chúng được tìm thấy trên hầu hết các lục địa châu Âu, các khu vực của vùng Cận Đông và Bắc Phi. Chúng ăn côn trùng và động vật không xương sống khác mà chúng bắt được trên cánh hoặc rượt đuổi trên mặt đất. Trong mùa hè chúng ở trong cây rụng lá và cây lá kim cây, các tòa nhà hoặc hộp dơi gần nơi kiếm ăn. Vào mùa đông, chúng ngủ đông trong các hang động, đường hầm, hầm mỏ, hầm rượu, thường trốn trong kẽ nứt. Loài dơi này đã được mô tả lần đầu tiên vào năm 1817 bởi Heinrich Kuhl, người đã đặt tên để vinh danh nhà tự nhiên học người Áo Johann Natterer.
1
null
Đây là danh sách các loài trong phân thứ bộ Cá voi. Phân thứ bộ Cá voi bao gồm cá voi, cá heo, cá heo chuột với 88 loài còn sinh tồn, được chia thành các phân bộ gồm Odontoceti (Cá voi có răng, gồm cá heo và cá voi đầu dưa) và Mysticeti (cá voi tấm sừng hàm). Ngoài ra, bộ này cũng có một số loài tuyệt chủng nhưng không được liệt kê trong danh sách này. Tiểu bộ Cá voi tấm sừng hàm (Mysticeti). Cá voi tấm sừng là một trong hai phân bộ của cá voi Cetacea. Cá voi tấm sừng được đặc trưng bởi có tấm sừng tấm lọc thức ăn từ nước, thay vì có răng. Điều này phân biệt chúng với phân bộ cá voi khác, cá voi có răng hoặc Odontoceti. Cá voi tấm sừng còn sống có răng chỉ trong quá giai đoạn phôi thai. Hóa thạch Mysticeti có răng trước khi tấm sừng tiến hóa. Phân bộ này có chứa 4 họ còn tồn tại và mười lăm loài. Họ Cá voi trơn (Balaenidae). Họ Balaenidae có 2 chi còn sinh tồn bao gồm 4 loài. Tất cả các loài trong họ này có đặc điểm bụng và cằm nhẵn, không có rãnh bụng; Về lịch sử phân loại, nó từng được xem là chỉ chứa duy nhất 1 loài cá voi đầu bò. Trong suốt thế kỷ 20, điều này đã gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học. Đặc điểm chính để nhận biết chúng là hàm trên có dạng vòm, hẹp. Hình dáng này cho phép hình thành các tấm hàm dài Loài này sử dụng tính năng này bằng cách nổi lên gần bề mặt nước, và thu thức ăn từ nước, sau đó dùng lưỡi để lấy thức ăn từ tấm sừng hàm - một cách lấy thức ăn ngược lại với cá voi xám và Balaenopteridae. Thức ăn của chúng là các loài giáp xác nhỏ, chủ yếu là copepod, mặc dù một số loài cũng ăn một lượng đáng kể krill. Họ Cá voi lưng gù (Balaenopteridae). Balaenopteridae là một nhóm lớn gồm 9 loài cá voi được xếp vào 2 chi. Chúng gồm các loài thú biển lớn nhất còn sinh tồn như cá voi xanh, loài này có trong lượng có thể lên đến 150 tấn, hai loài khác hơn 50 tấn, và thậm chí loài nhỏ nhất trong nhóm là Cá voi Minke phương bắc cũng đạt đến 9 tấn. Chúng được đặt tên theo tiếng Na Uy có nghĩa là "furrow whale": tất cả các loài trong họ này có một loạt các nếp gấp trên da chạy dọc cơ thể từ bên dưới miệng đến rốn (trừ loài Cá voi Sei, nó có các rãnh nhỏ hơn). Họ Cá voi xám (Eschrichtiidae). Cá voi xám được xếp vào trong chính họ của nó do nó có đủ sự khác biệt với right whales và cá voi rorqual. Cá voi xám là loài cá voi tấm sừng hàm duy nhất kiếm thức ăn ở đáy, chúng lọc các sinh vật nhỏ từ bùn đáy biển. Chúng cũng mang thai hơn 1 năm, đây là điều không bình thường của cá voi tấm sừng hàm. Họ Cá voi đầu bò lùn (Neobalaenidae). Cá voi đầu bò lùn là một loài cá voi tấm sừng hàm, thành viên duy nhất của họ Neobalaenidae. Đầu tiên mô tả bởi John Edward Gray vào năm 1846, nó là loài nhỏ nhất của cá voi tấm sừng hàm, dài từ 6 m-6,5 m và nặng từ 3.000 và 3.500 kg. Mặc dù tên của nó, cá voi lùn phải có thể có nhiều điểm chung với các con cá voi xám và cá voi Balaenopteridae hơn so với những con cá voi đầu cong và cá voi Eubalaena. Tiểu bộ Cá voi có răng (Odontoceti). Cá voi có răng là một phân bộ thuộc Bộ Cá voi ("Cetacea"). Phân bộ này bao gồm các loài cá nhà táng, cá voi mỏ, các loài cá heo, cá hổ kình v.v. Đặc điểm những loài thuộc phân bộ này có là có răng, khác với tấm sừng của phân bộ Cá voi tấm sừng ("Mysticeti"). Theo các nghiên cứu hóa thạch thì cá voi tấm sừng trước kia cũng có răng, sau này mới tiến hóa thành tấm sừng, vì vậy để phân loại 2 phân bộ này các nhà khoa học không thể chỉ dựa vào răng mà phải so sánh nhiều đặc điểm khác nữa. Họ Cá heo đại dương (Delphinidae). Họ Cá heo đại dương là các loài động vật có vú thủy sinh có họ hàng với cá voi và các loài cá heo thuộc các họ khác. Các loài cá heo này chủ yếu sinh sống ngoài biển cả, không giống như các loài cá heo sông, mặc dù một số loài như cá nược sinh sống ven bờ và hay đi vào các cửa sông. Sáu loài lớn trong họ Delphinidae là hổ kình, cá voi hoa tiêu, cá voi đầu bướu, hổ kình Pygmy và hổ kình giả, nói chung được coi là cá voi chứ không phải là cá heo. Họ Kỳ lân biển (Monodontidae). Kỳ lân biển là loài bản địa của các vùng ven biển và vùng đóng băng quan Bắc Băng Dương, và kéo dài đến phía bắc của Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Cả hai loài đều có kích thước trung bình dài từ 3 đến 5 m, với trán tròn, và có mõm ngắn hoặc không có mõm. Chúng không có vây lưng thật sự, nhưng có một dãi hẹp chạy dọc trên lưng, nó thể hiện rõ hơn ở kỳ lân biển. Chúng là loài động vật có âm vực cao, giao tiếp với nhau trong một dãi âm rộng. Giống như những loài cá voi khác, chúng cũng sử dụng sóng âm để định hướng. Họ Cá heo chuột (Phocoenidae). Cá heo chuột là một loài cetaceans nhỏ trong họ Phocoenidae. Chúng khác biệt so với cá heo. Sự khác biệt có thể nhìn thấy rõ ràng nhất giữa hai nhóm là cá heo chuột có mỏ ngắn hơn và dẹt, răng hình thuổng khác biệt với các răng hình nón của cá heo. Chúng sinh sống ở đại dương, và gần như sống gần bờ. Cũng có quần thể sinh sống ở nước ngọt như cá heo không vây. Họ Cá nhà táng (Physeteridae). Cá nhà táng là một loài động vật có vú sống trong môi trường nước ở biển, thuộc bộ Cá voi, phân bộ Cá voi có răng và là thành viên duy nhất của chi cùng tên. Cá nhà táng từng có tên khoa học là "Physeter catodon" nhưng nay tên đó đã thuộc dạng cỗ lỗ sĩ. Nó là một trong ba loài còn tồn tại của siêu họ Cá nhà táng cùng với cá nhà táng nhỏ ("Kogia breviceps") và cá nhà táng lùn. Họ Cá nhà táng nhỏ (Kogiidae). The dwarf and pygmy sperm whales resemble sperm whales, but are far smaller. They are dark grey, dorsally, while ventrally they are lighter. They have blunt, squarish heads with narrow, underslung jaws; the flippers are set far forward, close to the head and their dorsal fins are set far back down the body. Họ Cá voi mõm khoằm (Ziphiidae). A beaked whale is any of at least 21 species of small whale trong family Ziphiidae. They are one of the least-known families of large mammals: several species have only been described trong last two decades, and it is entirely possible that more remain as yet undiscovered. Six genera have been identified. They possess a unique feeding mechanism known as suction feeding. Instead of catching their prey with teeth, it is sucked into their oral cavity. Their tongue can move very freely, and when suddenly retracted at the same time as the gular floor is distended, the pressure immediately drops withtrongir mouth and the prey is sucked in with the water. The family members are characterized by having a lower jaw that extends at least to the tip of the upper jaw, a shallow or non-existent notch between the tail flukes, a dorsal fin set well back on the body, three of four fused cervical vertebrae, extensive skull asymmetry and two conspicuous throat grooves forming a 'V' pattern. Liên họ Platanistoidea: Cá heo sông. River dolphins are five species of dolphins which reside in freshwater rivers and estuaries. They are classed trong Platanistoidea superfamily of cetaceans. Four species live in fresh water rivers. The fifth species, the La Plata dolphin, lives in saltwater estuaries and the ocean. However, it is scientifically classed trong river dolphin family rather than the oceanic dolphin family. All species have adaptations to facilitate fish catching: a long, forceps-like beak with numerous small teeth in both jaws, broad flippers to allow tight turns, small eyes, and unfused neck vertebrae to allow the head to move in relation to the body. Họ Iniidae: Cá heo sông. The Iniidae family of river dolphins contains only one genus and one species. Họ Lipotidae: Cá heo sông Dương Tử. Cá heo sông Dương Tử là một loài cá heo sông đặc hữu, được phân bố tại khu vực hạ lưu sông Dương Tử, Trung Quốc. Chúng di cư từ ngoài khơi Thái Bình Dương vào sông Trường Giang vào khoảng 25-20 triệu năm trước Trong một cuộc thám hiện điều tra về chúng, người ta đã phát hiện còn rất ít cá thể loài này còn sống. Họ Platanistidae: Cá heo sông Nam Á. The Platanistidae were originally thought to hold only one species (the South Asian river dolphin), but based on differences in skull structure, vertebrae and lipid composition, scientists declared the two populations as separate species trong early 1970s. In 1998, the results of these studies were questioned and the classification reverted to the pre-1970 consensus. Thus, at present, two subspecies are recognized trong genus "Platanista", "P. gangetica minor" (the Indus dolphin) and "P. g. gangetica" (the Ganges river dolphin). Họ Pontoporiidae: Cá heo sông La Plata. Cá heo sông La Plata là một loài duy nhất thuộc họ Pontoporiidae và trong chi "Pontoporia".
1
null
Cephalorhynchus commersonii là một loài động vật có vú trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được Lacépède mô tả năm 1804. Phân bố. Loài này phân bố ở hai nơi. Một nhóm lớn hơn được tìm thấy ở nhiều vịnh nhỏ khác nhau ở Argentina, ở eo biển Magellan và gần quần đảo Falkland. Nhóm thứ hai (được phát hiện thập niên 1950) sống gần quần đảo Kerguelen, cách quần thể chính 8.000 km về phía đông. Chúng thích sống trong các môi trường nước nông. Số cá thể trên toàn không được biết rõ, nhưng loài này được xem là phổ biến địa phương. Một khảo sát năm 1984 với số cá thể khoảng 3.400 ở eo biển Magellan.
1
null
Delphinus capensis là một loài động vật có vú trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được Gray mô tả năm 1828. Loài cá heo này có phạm vi phân bố rời rạc ở các khu vực ven biển trong các đại dương ôn đới và ấm hơn. Phạm vi hân bố bao gồm các bộ phận của miền tây và miền nam châu Phi, phần lớn Tây Nam Mỹ, trung bộ California đến trung tâm Mexico, ven biển Peru, khu vực xung quanh Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, và có thể gần Oman. Một số cá thể lang thang đã được ghi nhận xa về phía bắc tận đảo Vancouver. Chúng sinh sống ở vùng nước cạn, nhiệt độ ấm hơn gần bờ biển. Chúng cũng sống ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
1
null
Cá heo Risso, tên khoa học là Grampus griseus, là một loài động vật có vú trong họ Cá heo đại dương, bộ Cá voi. Loài này được nhà động vật học Georges Cuvier mô tả vào năm 1812. Phân bố và môi trường sống. Chúng được tìm thấy trên toàn thế giới ở các vùng biển ôn đới và nhiệt đới, ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, cũng như Vịnh Ba Tư, Địa Trung Hải và Biển Đỏ, nhưng không phải Biển Đen (một vụ mắc cạn đã được ghi lại ở Biển Marmara năm 2012). Phạm vi phân bố trải dài về phía bắc như vịnh Alaska và phía nam Greenland và xa về phía nam tận Tierra del Fuego. Môi trường ưa thích của chúng nằm ngay ngoài thềm lục địa trên các bờ dốc, với độ sâu nước dao động 400–1000 m và nhiệt độ nước ít nhất 10 độ C và ưu thích nhiệt độ 15-20 độ C.
1
null
Cá heo Fraser hay Cá heo Sarawak ("Lagenodelphis Hosei") là một loài động vật có vú trong họ Cá heo mỏ (Delphinidae), bộ Cetacea. Loài này được tìm thấy ở vùng biển sâu ở Thái Bình Dương và các khu vực nông hơn ở Ấn Độ và Đại Tây Dương. Phân loại. Năm 1895, Charles E. Hose tìm thấy một hộp sọ trên một bãi biển ở Sarawak, đảo Borneo. Ông đã tặng mẫu vật trên cho Bảo tàng Anh. Hộp sọ vẫn được nghiên cứu cho đến năm 1956 khi Francis Fraser kiểm tra và kết luận rằng đó là mẫu vật tương tự như các loài ở cả hai chi "Lagenorhynchus" và "Delphinus" nhưng không giống như một trong hai loài trên. Vì vậy, một chi mới được tạo ra bằng cách sáp nhập hai tên này lại với nhau. Đó không phải là một loài riêng biệt cho đến năm 1971 khi Cá heo Fraser được phát hiện trên vùng biển thuộc đảo Cocos ở Đông Thái Bình Dương, Nam Úc và Nam Phi. Phân bố. Mặc dù chỉ chiếm số lượng tương đối, nhưng các báo cáo chỉ ra rằng chúng không phải là hiếm như người ta đã từng nghĩ vào năm 1980. Tuy nhiên, do nhầm lẫn với những loài cá heo anh em gần sống ở khu vực ve biển nên hiện nay vẫn không ước tính được số lượng toàn cầu của chúng. Môi trường sống của cá heo Fraser là ở vùng biển nhiệt đới, các khu vực nước sâu, từ 30 ° S tới 20 ° N. Những con cá heo bị chết tại Pháp và Uruguay được cho là có thể do những điều kiện hải dương học không bình thường, chẳng hạn như hiện tượng El Nino. Loài này cũng là tương đối phổ biến ở Vịnh Mexico, nhưng ở Đại Tây Dương thì ít hơn. Mô tả. Cá heo Fraser dài khoảng 1 mét (3 ft 3 in) và nặng khoảng 20 kg khi mới ra đời. Chúng dài 2,75 m (9 ft 0 in) và 200 kg ở tuổi trưởng thành. Chúng có một cơ thể chắc nịch, vây và chân chèo nhỏ. Phía trên cùng của phần lưng là một màu xám xanh và chuyển dần màu xám nâu. Chạy dọc theo hai bên sườn từ mỏ phía trên mắt tới hậu môn là hai dải màu kem xám và vạch đen ở phía dưới hai dải này. Bụng và vùng cổ có màu trắng, đôi khi là màu hồng. Đặc điểm nổi bật của chúng khác với các loài cá heo khác chính là chúng có cái mỏ rất ngắn, gần như là không có, vì vậy có thể phân biệt được chúng. Tuy nhiên nhìn từ xa, chúng có thể bị nhầm lẫn với loài cá heo sọc do màu sắc tương tự. Loài này bơi nhanh, với một đàn từ 100 đến 1000 con. Chúng thường hay lướt trên mặt nước, tạo ra cảnh "rất ấn tượng" khi chúng chạy trốn các tàu đánh cá. Cá heo Fraser là loài được ghi nhận là có bộ phận sinh dục nhỏ nhất trong số tất cả các loài thuộc họ cá heo đại dương. Thức ăn của loài này là các loài cá biển, mực và tôm ở những vùng nước nông từ 200 đến 500 mét (660 đến 1.600 ft). Bảo tồn. Các quần thể ở châu Á khu vực Đông Nam của cá heo Fraser được liệt kê vào Phụ lục II của Công ước về Bảo tồn các loài động vật hoang dã di trú (CMS), kể từ khi tình trạng bảo tồn tại đây đã không thuận lợi. Ngoài ra, cá heo Fraser được bao vệ bởi "Biên bản ghi nhớ về việc bảo tồn các loài động vật biển có vú và môi trường sống của chúng" ở các đảo thuộc khu vực Thái Bình Dương và Biên bản ghi nhớ về Bảo tồn các loài động vật biển có vú nhỏ của Tây Phi và Macaronesia.
1
null
Lagenorhynchus acutus là một loài động vật có vú trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được Gray mô tả năm 1828. Đây là loài duy nhất của chi đơn loài Leucopleurus. Bằng chứng phát sinh loài ủng hộ nó là thành viên cơ sở nhiều nhất của họ Delphinidae. Mô tả. Loài cá heo này lớn hơn một chút so với hầu hết các loài cá heo đại dương khác. Chúng chỉ có chiều dài hơn một mét khi mới sinh, phát triển đến khoảng 2,8 m (con đực) và 2,5 m (con cái) trưởng thành. cá thể trưởng thành cân nặng 180–230 kg. Con cái đạt độ tuổi trưởng thành về giới tính từ 6 đến 12 tuổi và nam giới từ 7 đến 11 tuổi.
1
null
Lissodelphis borealis là một loài động vật có vú trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được Peale mô tả năm 1848. Loài cá heo này được tìm thấy ở Bắc Thái Bình Dương. Chúng thường bơi thành đàn có khi lẻn tới 2000 con, đôi khi cùng các cetacea khác.
1
null
Sotalia fluviatilis (tên tiếng Anh: "Cá heo Tucuxi") là một loài động vật có vú trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được tìm thấy tại các con sông thuộc lưu vực sông Amazon và vùng ven biển Nam Mỹ thuộc Đại Tây Dương, kéo dài từ Panama tới Đông Nam Brasil. Từ "tucuxi" có nguồn gốc từ tiếng Tupi là "tuchuchi-ana" và là tên phổ biến của chúng. Mặc dù được tìm thấy ở cả khu vực sông nhưng chúng lại không liên quan gì tới loài cá heo sông Amazon. Thay vào đó, nó được phân loại trong họ cá heo đại dương chi Sotalia. Chúng có sự đa dạng giống như loài cá heo mũi chai, tuy nhiên, loài này là có những điểm khác so với cá heo mũi chai nên nó được xếp vào chi riêng, chi Sotalia. Một loài cá heo trước đây được coi là phân loài của cá heo Tucuxi nhưng đã được tách riêng ra, đó là loài Cá heo Costero ("Sotalia guianensis"). Phân bố. Cá heo Tucuxi sống dọc theo các nhánh sông Amazon ở Brazil, Peru, miền đông nam Colombia, và phía đông Ecuador. Nhiều con cá heo đã được nhìn thấy ở phía Bắc sông Orinoco, dù nhiều tài liệu không nói rõ đây là loài cá heo Tucuxi hay cá heo mũi chai. Mô tả. Loài này có kích thước tương tự cá heo mũi chai nhưng thường là nhỏ với khoảng 1,5 mét (4,9 ft). Chúng có màu xám sáng, hơi xanh ở phía trên và hai bên sườn. Bụng của chúng thường có màu hồng nhạt. Mỏ của chúng có độ dài vừa phải. Cá heo Tucuxi có từ 26 đến 36 cặp răng ở hàm trên và dưới. Cá heo Tucuxi sống thành nhóm nhỏ khoảng 10-15 con. Chúng có khả năng nhào lộn khi lao lên trên mặt nước và ít khi lướt theo các con thuyền như các loài cá heo khác. Các nghiên cứu cho thấy loài này có thể sống tới 35 năm. Chúng ăn nhiều loại cá khác nhau, trong đó có cả cá heo sông khác.
1
null
Cá heo lưng bướu Thái Bình Dương, "cá heo lưng gù" hay còn gọi là cá heo trắng Trung Quốc (danh pháp khoa học: "Sousa chinensis chinensis", tên Trung Quốc: 中华白海豚; bính âm: Zhonghua bái hǎitún) là một loài động vật có vú thuộc chi cá heo lưng bướu, họ Cá heo đại dương. Một con cá heo trưởng thành có màu trắng hoặc hồng (màu hồng của chúng được cho là do các mạch máu tạo nên sắc tố) Phân bố. Khu vực phân bố của chúng bao gồm các vùng biển thuộc khu vực Đông Nam Á, Nam Trung Quốc đến Úc và quanh đảo Papua. Có hai phân loài của loài này là "Sousa chinensis chinensis" và "Sousa chinensis plumbea". Trong khi loài "Sousa chinensis chinensis" phân bố từ Trung Quốc tới khu vực các đảo của Indonesia còn phân loài của chúng có nguồn gốc từ bờ biển Nam Phi đã di chuyển tới khu vực phía Nam Indonesia và quanh đại lục Úc. Hai phân loài này khác nhau về màu sắc và kích thước của vây lưng. Các phân loài được tìm thấy ở Đông Nam Á có màu trắng hồng và một vây lưng lớn hơn, nhưng lại không có cái bướu như phân loài ở Úc. Đặc điểm. Chiều dài cơ thể của cá heo trắng Trung Quốc có chiều dài từ 2 đến 3,5 mét (6 ft 7 đến 11 ft 6 in) đối với con trưởng thành và hơn 1 mét (3 ft 3 in) đối với những con non. Một con trưởng thành có trọng lượng trung bình khoảng 150 đến 230 kg (330 510 lb). Cá heo trắng Trung Quốc có thể sống đến 40 năm. Khi mới sinh ra, một con cá heo Trung Quốc có màu đen, sau đó chuyển dần sang màu xám rồi hồng nhạt có thêm những đốm nhỏ. Đến khi trưởng thành, chúng có màu hồng hoặc màu trắng. Cá heo trắng Trung Quốc ngoi lên mặt nước để thở 20 - 30 giây đối với những con trưởng thành và cần thời gian gấp đôi đối với những con nhỏ do phổi của chúng chưa phát triển hết. Cá heo trưởng thành có thể ở dưới nước khoảng 2-8 phút, nhưng một con non chỉ có thể ở dưới nước trong 1-3 phút. Chúng di chuyển theo chiều thẳng đứng lên mặt nước. Do có một cặp mắt lồi nên chúng có thể quan sát một cách rõ ràng ở cả hai môi trường nước và không khí. Sinh sản. Cá heo trắng Trung Quốc là những sinh vật hòa đồng, sống theo nhóm nhỏ khoảng 3 hoặc bốn con. Con cái trưởng thành khi đạt 10 năm tuổi, trong khi những con đực trưởng thành khi được 13 năm tuổi. Thời gian giao phối là vào cuối hè tới mùa thu. Cá heo con ra đời sau khoảng 11 tháng và được cha mẹ chúng chăm sóc cho đến khi chúng tự kiếm được thức ăn. Cá heo trắng Trung Quốc sinh sản 3 năm một lần, thường đẻ duy nhất một con. Bảo tồn. Do việc khai thác thủy sản, cùng với việc ô nhiễm trong quá trình khai thác cùng với việc quan sát xem cá heo khiến cá heo trắng nằm trong danh sách các loài gần bị đe dọa của IUCN. Vì vậy, một số nơi như ở Hồng Kông khi tổ chức các chuyến du lịch du thuyền quan sát cá heo thực hiện các nguyên tắc ứng xử khi xem cá heo như quan sát từ một khoảng cách, không ném các thức ăn và các chất độc hại xuống cho cá heo, Tàu thuyền di chuyển với tốc độ chậm (không quá 10 hải lý một giờ), song song với việc di chuyển của cá heo. Cá heo trắng Trung Quốc được liệt kê trong Phụ lục II của Công ước về bảo tồn các loài động vật hoang dã di cư (CMS) Chúng cũng được bảo tồn theo biên bản ghi nhớ về Bảo tồn động vật biển có vú và môi trường sống của chúng tại các đảo thuộc Thái Bình Dương. Tại Việt Nam. Ngày 21 tháng 8 năm 2021, hình ảnh và video ghi lại cảnh nhiều cá thể cá heo hồng bơi lội trên biển gần khu vực Hòn Dấu, quận Đồ Sơn, Hải Phòng. Đại diện hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, phó giáo sư Nguyễn Chu Hồi cho rằng, việc cá heo hồng xuất hiện trong thời gian này cho thấy sự cải thiện của môi trường biển Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành.
1
null
Stenella attenuata là một loài động vật có vú trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được Gray mô tả năm 1846. Loài này được mô tả lần đầu tiên bởi John Gray vào năm 1846. Phân tích ban đầu của Gray bao gồm cá heo đốm Đại Tây Dương trong loài này. Nay chúng được xem là các loài riêng biệt. Cả hai tên chi và cụ thể đến từ các từ tiếng Latin có nghĩa là mỏng hoặc làm mỏng. Có ba phân loài được công nhận trong cuộc khảo sát phân loài cá voi năm 1998 của Rice. Hai trong số này đã được chính thức đặt tên
1
null
Cá heo sọc ("Stenella coeruleoalba") là một loài cá heo thuộc chi Stenella, họ Delphinidae (Cá heo mỏ), phân bộ Cá voi có răng. Đây là loài cá heo phân bố rộng rãi khắp các vùng biển ôn đới và nhiệt đới của tất cả các đại dương trên thế giới. Phân loại. Cá heo sọc là một trong năm loài thuộc chi "Stenella", tuy nhiên, nghiên cứu di truyền gần đây của LeDuc "et al" (1999) cho thấy "Stenella" không phải là một nhóm cá heo tự nhiên. Theo nghiên cứu cho rằng, những loài gần gũi nhất của cá heo sọc, cá heo Clymene, cá heo mũi chai Ấn Độ-Thái Bình Dương, cá heo đốm Đại Tây Dương và cá heo chi Delphinus, mà trước đây được coi là một phân loài của họ cá heo đại dương. Cá heo sọc được mô tả bởi Franz Meyen vào năm 1833. "Coeruleoalba" (từ Latinh "caeruleus" có nghĩa là "màu xanh sẫm" và "trắng sọc") đề cập đến màu xanh và trắng sọc, một đặc trưng ở hai bên sườn của loài cá heo này. Phân bố. Cá heo sọc thích các vùng biển ngoài khơi thuộc ôn đới hoặc nhiệt đới. Nó được tìm thấy nhiều ở miền Bắc và Nam Đại Tây Dương, bao gồm cả ở Địa Trung Hải và vịnh Mexico, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Phạm vi chúng sống là từ 40 ° N tới 30 ° S. Nhiệt độ thích hợp của chúng là từ 10 đến 26 độ C, phạm vi tiêu chuẩn là 18 - 22 độ C. Trong khu vực Tây Thái Bình Dương, chúng xuất hiện phổ biến trong gần như là toàn bộ khu vực, mặc dù không liên tục và một số nơi vẫn tập trung số lượng ít. Ước tính hiện nay số lượng cá heo sọc khoảng trên 2 triệu cá thể. Mô tả. Chúng có kích thước tương tự với cá heo đốm xuyên nhiệt đới, cá heo Clymene, cá heo đốm Đại Tây Dương. Tuy nhiên, với màu sắc đặc biệt, cá heo sọc rất dễ nhận biết trên biển. Phía dưới của cá heo sọc có màu xanh, trắng hoặc hồng. Phía mắt có hai dải màu xanh đen và một dải chạy dọc theo lưng tới tận qua vây lưng, tới tận phần đầu của đuôi. Hai bên sườn là những dải xanh sáng hoặc xám. Khi sinh, cá heo sọc nặng khoảng 10 kg (22 pounds) và có chiều dài lên đến 1 mét (3 feet). Đến tuổi trưởng thành, chúng phát triển và đạt 2,4 mét (8 ft) đối với con cái và 2,6 mét (8,5 ft) đối với con đực. Con cái trưởng thành có thể nặng 150 kg (330 lb) và 160 kg (352 lb) đối với con đực. Nghiên cứu cho thấy tại Địa Trung Hải con cái sinh sản khi đạt 12 năm tuổi và tại Thái Bình Dương là từ 7 - 9 năm tuổi. Tuổi thọ của cá heo sọc đạt tới 55-60 năm. Khi sinh sản, con cái có thời gian mang thai khoảng 12 tháng trước khi đẻ, mỗi lứa cách nhau khoảng từ 3 - 4 năm. Cá heo sọc di chuyển và sống thành các nhóm lớn - có thể lên tới hàng ngàn con. Tại Địa Trung Hải và Đại Tây Dương thì các nhóm sẽ ít hơn. Chúng cũng được thấy khi di chuyển cùng với các loài cá heo khác như cá heo chi "Delphinus". Cá heo sọc cũng có khả năng như nhiều loài cá heo khác đó là khả năng nhào lộn - chúng thường xuyên nhào lộn và có khả năng nhảy rất cao và xa trên mặt nước. Đôi khi cá heo sọc cũng tiếp cận và bơi theo các tàu thuyền ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải nhưng tại các vùng biển khác lại ít phổ biến, đặc biệt là ở Thái Bình Dương nơi mà trong quá khứ cá heo sọc đã từng bị đánh bắt rất nhiều. Thức ăn phổ biến của cá heo sọc là các loại cá mặt nước, mực ống, bạch tuộc, nhuyễn thể, và các động vật giáp xác. Bảo tồn. Tại Nhật Bản, cá heo sọc đã bị săn bắt ở Tây Thái Bình Dương từ những năm 1940. Những năm đỉnh điểm có từ 8.000 đến 9.000 con cá heo sọc đã bị giết hại và có năm 21.000 con đã bị bắt. Từ những năm 1980, sau sự ra đời của hạn ngạch, con số này đã giảm xuống còn khoảng 1.000 con cá heo sọc bị giết chết mỗi năm. Các nhà bảo tồn lo ngại về số lượng của chúng ở Địa Trung Hải bị đe dọa bởi tình trạng ô nhiễm, bệnh tật cùng với việc khu vực là một tuyến đường biển tấp nập tàu thuyền qua lại cùng tình trạng đánh cá khiến chúng có thể bị mắc vào lưới. Những nỗ lực được thực hiện để giữ cá heo sọc trong điều kiện nuôi nhốt. Tuy nhiên, tất cả đều không thành công, bởi những con cá heo sọc đều chết trong vòng hai tuần sau đó. Phía Đông Thái Bình Dương và tại các quần đảo thuộc Địa Trung Hải, cá heo sọc được liệt kê trong Phụ lục II của Công ước về Bảo tồn các loài động vật hoang dã di cư (CMS). Ngoài ra, cá heo sọc được bảo vệ bởi Hiệp định về bảo tồn động vật biển có vú nhỏ tại Baltic, Đông Bắc Đại Tây Dương, Ireland và Biển Bắc (ASCOBANS), Hiệp định về Bảo tồn động vật biển có vú ở biển Đen, biển Địa Trung Hải và các vùng biển tiếp giáp Đại Tây Dương (ACCOBAMS), Biên bản ghi nhớ về Bảo tồn động vật biển có vú và môi trường sống của chúng tại quần đảo thuộc Thái Bình Dương và Biên bản ghi nhớ Liên quan đến việc bảo tồn các loài động vật biển có vú nhỏ ở Tây Phi và Macaronesia.
1
null
Stenella frontalis là một loài động vật có vú trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được G. Cuvier mô tả năm 1829. Loài này được tìm thấy trong các dòng hải lưu Gulf Stream của Bắc Đại Tây Dương. Thành viên cũ của các loài có màu đốm rất đặc biệt trên tất cả các cơ quan của chúng.
1
null
Stenella longirostris là một loài động vật có vú trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được Gray mô tả năm 1828. Phân loại học. Cá heo Spinner đôi khi được xem là cá heo mũi dài, đặc biệt là trong các tài liệu cũ, để phân biệt nó với loài cá heo tương tự cá heo Clymene có mũi ngắn. Loài này có 4 phân loài:
1
null
Cá heo răng nhám hay cá heo răng thô (danh pháp khoa học: "Steno bredanensis") là một loài động vật có vú trong họ Cá heo đại dương, bộ Cetacea và là thành viên duy nhất của chi Steno. Chúng được tìm thấy tại khắp các vùng biển nước sâu ấm áp trên thế giới. Loài này được Georges Cuvier mô tả trong "Cuvier in Lesson" vào năm 1828. Phân bố. Loài cá này phân bố chưa rõ ràng. Chúng được tìm thấy ở Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và biển Địa Trung Hải, nhưng là những vùng biển ôn đới ấm áp hay các vùng biển nhiệt đới. Ở vùng biển lạnh, chúng cư trú không thường xuyên và thường sống ở những vùng biển nước sâu, ngoài thềm lục địa, ở độ sâu ít nhất khoảng 1 km (0,62 dặm). Hầu hết các hoạt động nghiên cứu về loài cá heo này diễn ra ở bờ Đông Thái Bình Dương, nơi ước tính có khoảng 150.000 cá thể cá heo răng nhám cùng nhiều hóa thạch thuộc chi Steno Mô tả. Cá heo răng nhám có chiều dài khoảng từ 2,09 đến 2,83 mét (6,9 đến 9,3 ft), nặng khoảng 90 và 155 kg (200 và 340 lb), con đực thường nặng hơn con cái. Cá heo răng nhám có một cái đầu hình nón với cái mũi thanh mảnh dài hơn so với các loài cá heo khác. Răng của chúng cũng khác biệt so với các loài khác, chúng có những chiếc răng có bề mặt nhám, gồm rất nhiều những chiếc răng nhỏ và sắc với khoảng 19 đến 28 chiếc răng mỗi một phía bên của hàm. Khi di chuyển, chúng rất dễ bị nhầm lẫn với một số loài cá heo khác như cá heo xoay tròn, cá heo đốm xuyên nhiệt đới hay loài cá heo mũi chai. Cá heo răng nhám có vây lưng với chiều cao 18 đến 28 cm (7,1 đến 11), với phần lưng và vây lưng với màu xám sẫm, trong khi hai bên sườn của chúng có màu nhạt hơn. Khi trưởng thành, chúng có những mảng màu hồng nhạt, vàng, hoặc màu trắng xung quanh miệng và dọc theo mặt dưới của đầu. Cá heo răng nhám sống theo đàn, tuy nhiên đôi khi cũng gặp chúng sống đơn độc. Một nhóm trung bình có từ 10 - 12 con, cũng có những nhóm có tới 90 con nhưng chỉ mang tính chất tạm thời.. Các nhóm sống lâu dài thường là từ 2 - tám con, thi thoảng chúng mới tham gia cùng các nhóm khác.. Một số nơi, chúng cũng tham gia cùng với các đàn cá heo khác, cá voi sát thủ và cá voi lưng gù. Cá heo răng nhám ít khi lướt trên mặt nước như các loài cá heo khác. Tuy nhiên, khi lướt chúng thường thực hiện với việc đầu và cằm nằm phía trên mặt nước. Cá heo răng nhám có thể lặn tới độ sâu trên 50 mét (160 ft) và ở dưới nước được trên 15 phút. Chúng định vị bằng tiếng vang ngắn, kéo dài không quá 0,2 giây, với tần số tương đối thấp, dao động từ 2,7 đến 256 kHz. Thức ăn. Thức ăn của chúng được cho là giống với loài cá voi sát thủ và cá mập bao gồm rất nhiều các loài cá như cá vây tia, cá ngừ, cá thu.. cùng các loại mực và bạch tuộc. Sinh sản. Cá heo răng nhám đẻ duy nhất một con mỗi lần. Thời gian mang thai cũng như mùa sinh sản của chúng chưa rõ ràng. Cá heo con khi mới sinh có chiều dài khoảng 100 cm (39 in), và phát triển nhanh chóng trong 5 năm đầu. Con cái đạt độ tuổi giao phối từ 6 - 10 năm còn con đực là từ 5 - 10 năm.
1
null
Cá heo mũi chai Ấn Độ Dương (danh pháp hai phần: Tursiops aduncus) là một loài động vật có vú trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được Ehrenberg mô tả năm 1833. Loài cá heo này dài đến 2,6 m, và cân nặng tới 230 kg. Loài này sinh sống trong các vùng nước xung quanh Ấn Độ, Bắc Australia, Nam Trung Quốc, Biển Đỏ, và bờ biển phía đông của châu Phi. Lưng của chúng có màu xám đen và bụng có mày xám nhạt hơn hoặc gần như trắng với những đốm màu xám. Cho đến năm 1998, tất cả các cá heo mũi chai Ấn Độ Dương được coi là thành viên của loài "T. truncatus". Trong năm đó, cá heo mũi chai Ấn Độ Dương đã được công nhận là một loài riêng biệt. Loài cá heo mũi chai Ấn Độ Dương nhìn chung nhỏ hơn so với cá heo mũi chai, có mõ đài tương ứng, và có các đốm trên bụng của và phía thấp hơn. Chúng cũng có nhiều răng nhiều hơn cá heo mũi chai thông thường -23 đến 29 răng trên mỗi bên của mỗi hàm so với 21-24 của cá heo mũi chai thông thường. Có bằng chứng cho thấy cá heo mũi chai Ấn Độ Dương thực sự có thể liên quan chặt chẽ hơn đối với các loài cá heo nhất định trong chi "Stenella" và "Delphinus", đặc biệt là cá heo đốm Đại Tây Dương ("S. frontalis"), hơn là với cá heo mũi chai. Phần lớn các dữ liệu khoa học cũ trong lĩnh vực này kết hợp dữ liệu về cá heo mũi chai Ấn Độ Dương và cá heo mũi chai vào một nhóm duy nhất, làm khiến nó trở nên vô ích trên thực tế trong việc xác định cấu trúc khác biệt giữa hai loài. IUCN liệt kê loài cá heo mũi chai Ấn Độ Dương là "thiếu dữ liệu" trong Sách đỏ các loài bị đe dọa vì vấn đề này của chúng.
1
null
Tursiops truncatus, thường được biết đến như Cá heo mũi chai thông thường hay Cá heo mũi chai Đại Tây Dương (và trong tài liệu cũ chỉ đơn giản là Cá heo mũi chai) là một loài nổi tiếng trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được Montagu mô tả năm 1821.
1
null
Cá heo Dall (danh pháp hai phần: Phocoenoides dalli) là thành viên duy nhất của chi Phocoenoides và cũng là một loài của cá heo chỉ có ở Bắc Thái Bình Dương. Nó được biết đến trên toàn thế giới trong những năm 1970 khi các tàu đánh bắt cá hồi đã giết chết hàng ngàn con cá heo Dall và các loài động vật biển có vú khác mỗi năm. Nó được đặt theo tên sau của nhà tự nhiên học người Mỹ William Healey Dall. Phân bố và môi trường sống. Cá heo Dall thích sống ở vùng nước lạnh ở độ sâu trên 180 mét (590 ft). Nó được tìm thấy trên các thềm lục địa hoặc gần các sườn núi dưới biển. Trong khi đó, môi trường sống chủ yếu là ở vùng biển xa bờ Bắc Mỹ gần các hẻm núi và nước sâu. Phạm vi sống của cá heo Dall ở Bắc Thái Bình Dương và các vùng biển lân cận, bao gồm biển Bering, biển Okhotsk và biển Nhật Bản. Phạm vi phía phía Tây tới cực Nam là ở Nhật Bản và kéo dài sang phía Đông cực Nam tới California, trong khi cực Bắc là khu vực biển Bering. Chúng không được tìm thấy ở Baja California, kể cả là vào mùa lạnh và thi thoảng cũng thấy ở biển Chukchi, mặc dù là rất hiếm. Số lượng hiện nay của cá heo Dall vào khoảng 104.000 con ở ngoài khơi Nhật Bản, 554.000 con ở biển Okhotsk, 83.000 con ở ngoài khơi Alaska và 100.000 con ở gần lục địa Hoa Kỳ. Mô tả. Cá heo Dall có hình dạng cơ thể độc đáo làm cho nó dễ dàng phân biệt được với các loài khác. Màu sắc bên ngoài của chúng khá giống với cá voi sát thủ, nhưng sự phân bố là rõ ràng với mảng trắng trên sườn và bụng còn màu đen ở vùng đầu kéo dài dọc theo lưng tới đuôi. Vây lưng nằm thẳng đứng và ở chính giữa của lưng. Phần trên của vây lưng có màu trắng xám. Cơ thể của một con trưởng thành ở cá heo Dall là lớn hơn so với các loài cá heo khác, với chiều dài lên đến 2,3 mét (7,5 ft) và trọng lượng từ 130 – 220 kg (290 - 490 lb).. So với con cái thì con đực có kích thước lớn hơn, cuống đuôi dài hơn và một cái bướu phát âm thanh ở phía sau hậu môn.. Cá heo con có màu xám tối. Thức ăn chủ yếu của cá heo Dall là các loài cá nhỏ và mực. Các loài cá như cá trích, cá cơm, cá thu, cá tuyết và các loài cá biển mỏ dài và một số loại cá nhỏ khác là những con mồi ưa thích của chúng. Cá heo Dall cũng là những thợ lặn tốt, có thể lao xuống độ sâu khoảng 100 mét. Mối đe dọa của cá heo Dall ngoài con người thì còn có cá voi sát thủ và cá mập trắng. Cùng với đó, bệnh tật do các loài ký sinh trùng như sán lá, sán Nastitrema... và tình trạng mắc cạn cũng gây nên cái chết cho cá heo Dall. Cá heo Dall là loài động vật có tính linh hoạt cao. Chúng thường xuyên bơi ngoằn ngoèo xung quanh với tốc độ lớn hoặc ngay dưới bề mặt nước, tạo ra những sóng nước được gọi là "rooster tail" ("đuôi gà trống"). Chúng có thể xuất hiện và biến mất một cách đột ngột. Trong các loài động vật biển nhỏ có vú, cá heo Dall là loài di chuyển có tốc độ nhanh nhất, nó có thể bơi với vận tốc lên đến 55 km/h, ngang với loài cá voi sát thủ. Vì vậy, chúng rất thích bơi trước mũi các tàu thuyền di chuyển với tốc độ lớn. Loài cá heo này hiếm khi nhảy lên khỏi mặt nước như những loài cá heo khác. Cá heo Dall sống thành từng nhóm nhỏ từ 2 đến 12 con. Tuy nhiên, khi săn mồi nó có thể tập hợp lên tới hàng trăm cá thể. Sinh sản. Một con đực có thể giao phối với rất nhiều con cái khác nhau, và nó sẽ bảo vệ "đàn vợ" đông đúc của nó.. Thời gian sinh đẻ thường diễn ra vào mùa hè. Cá heo cái mang thai kéo dài từ 10 - 11 tháng, và thời kỳ cho con bú kéo dài ít nhất thêm 2 tháng nữa. Tùy thuộc vào tình trạng, con cái có thể sinh con mỗi năm một lần hay lâu hơn. Tuổi thọ của cá heo Dall có thể đạt tới 15 năm. Một nghiên cứu xác định thông xét nghiệm DNA từ một bào thai được tìm thấy ở vùng biển của British Columbia là một cá thể lai giữa cá heo Dall và cá heo Harbour. Cái này có thể là không phải hiếm gặp nhưng nó có thể là bằng chứng giải thích về những con cá heo Dall có màu sắc khác lạ được phát hiện ngoài khơi bờ biển của đảo Vancouver. Bảo tồn. Mỗi năm, có rất nhiều cá heo Dall bị săn bắt bởi lưới đánh cá. Số lượng cá heo bắt mỗi năm tăng lên đáng kể sau khi lệnh cấm săn bắn loài động vật biển có vú lớn được ban hành trong những năm giữa 1980. Nhiều nhất là vào năm 1988, khi hơn 40.000 con đã bị đánh bắt. Sự chú ý của thế giới đến loài cá heo này khi vào năm 1990 Ủy ban quốc tế Whaling (IWC) đã quy định các công ước để giảm thiểu số lượng đánh bắt. Tuy nhiên, vẫn có khoảng 15.000 con bị săn bắt mỗi năm, khiến nó trở thành loài bị săn bắt nhiều nhất trong bộ Cá voi. Việc săn bắt đã nhiều lần bị chỉ trích từ phía IWC và Ủy ban khoa học, gần đây nhất là vào năm 2008. Một hạn ngạch quy đinh mỗi năm không được săn bắt quá 16.000 con đã có hiệu lực. Mặc dù có rất nhiều những mối đe dọa, nhưng cá heo Dall vẫn là một loài khá phổ biến với những người đánh bắt thủy sản. Cá heo Dall được liệt kê trong Phụ lục II của Công ước về Bảo tồn các loài động vật hoang dã di cư (CMS).
1
null
Cá heo sông Ấn (danh pháp khoa học: "Platanista minor") là một loài cá voi có răng trong họ Platanistidae. Đây là loài đặc hữu lưu vực sông Ấn ở Pakistan, với một phần nhỏ dân số còn sót lại ở sông Beas ở Ấn Độ. Cá heo này là loài cá voi bơi bên đầu tiên được phát hiện. Loài này phân bố đều đặn trong năm quần thể nhỏ, phụ, được ngăn cách bởi các đập thủy lợi. Từ thập niên 1970 cho đến năm 1998, cá heo sông Hằng ("Platanista gangetica") và cá heo sông Ấns được coi là những loài riêng biệt; tuy nhiên, vào năm 1998, phân loại của chúng đã được thay đổi từ hai loài riêng biệt thành phân loài của một loài duy nhất. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy chúng là những loài khác biệt.
1
null
Cá heo La Plata, tên khoa học là Pontoporia blainvillei, là một loài động vật có vú trong họ Iniidae, bộ Cá voi. Chúng là loài duy nhất trong chi "Pontoporia", được Gray mô tả năm 1846.. Loài này được 2 nhà động vật học Paul Gervais và Alcide d'Orbigny mô tả vào năm 1844. Loài này là loài cá heo sông nhỏ nhất.
1
null
Cá voi mõm khoằm Gervais (Mesoplodon europaeus) là một loài động vật có vú trong họ Ziphiidae, bộ Cetacea. Loài này được Gervais mô tả năm 1855. Loài này là loài lớn nhất của các loài cá voi mesoplodon và có tầm vóc mảnh dẻ, thon dài và hẹp theo bề ngang so với những loài khác. Cá voi đực dài 4,5 m còn con cái dài ít nhất 5,2 mét và có thể nặng hơn 1200 kg. Cá voi con được cho là dài 2,1 m. Một mẫu vật cá voi ở bãi biển có thể đã được 48 tuổi. Kể từ khi phát hiện mẫu vật, nó đã được tìm thấy ngoài khơi bờ biển phía đông của Hoa Kỳ, Ireland, quần đảo Canary, Tây Phi, và Đảo Ascension. Tháng 8 năm 2001, một mẫu vật được tìm thấy ngoài khơi São Paulo, Brazil.
1
null
Cá voi mõm khoằm Nhật Bản hay Cá voi mõm khoằm răng bạch quả, tên khoa học Mesoplodon ginkgodens, là một loài động vật có vú trong họ Ziphiidae, bộ Cetacea. Loài này được Nishiwaki & Kamiya mô tả năm 1958. Người ta đã nhìn thấy loài cá voi này mắc lưới ít hơn 20 lần ngoài khơi bờ biển của Nhật Bản, California, quần đảo Galapagos, New South Wales, New Zealand, Sri Lanka, Maldives, và eo biển Malacca. Phạm vi của chúng chủ yếu là vùng biển nhiệt đới và ôn đới ở Ấn Độ và Thái Bình Dương. Không có cách nào để ước lượng dân số. Cá voi đực có thể không tham gia vào chiến đấu, và chúng có thể ăn mực và cá.
1
null
Cá voi mõm khoằm nhỏ, tên khoa học Mesoplodon peruvianus, là một loài động vật có vú trong họ Ziphiidae, bộ Cetacea. Loài này được Reyes, Mead, & Van Waerebeek mô tả năm 1991 dựa trên mười mẫu vật thu thập được từ Peru giữa 1976 và 1989, bao gồm một con đực lớn 3,72 m. Mẫu vật nhận được từ Paracas, Peru năm 1955 (ban đầu người ta cho là cá voi mõm khoằm Andrews. Từ năm 1987 đến nay đã có 40 lần người ta nhìn thấy loài này.
1
null
Ziphius cavirostris là một loài động vật có vú trong họ Ziphiidae, bộ Cetacea. Loài này được G. Cuvier mô tả năm 1823. Mặc dù là loài sinh sống gần mặt nước, loài cá này thích nước sâu hơn 1.000 m (3.300 ft) và tránh tàu, nó vẫn là một trong những loài cá voi có mỏ thường xuyên nhất được phát hiện. Cơ thể của cá voi mỏ khoằm Cuvier là mạnh mẽ và hình điếu xì gà, tương tự như những con cá voi mỏ khoằm khác và có thể khó phân biệt với nhiều loài trong số những con cá voi mesoplodon trên biển. Loài cá voi mỏ khoằm này phát triển chiều dài lên đến khoảng 5–7 m và trọng lượng 2.500 kg (5.500 lb). Không có sự khác biệt đáng kể kích thước giữa cá đực và cá cái. Loài cá voi này có phạm vi phân bố tòa cầu ở vùng nước biển sâu, vùng biển ngoài khơi từ nhiệt đới đến các vùng biển ôn đới mát mẻ. Ở miền Bắc Thái Bình Dương, hiện diện tận phía bắc quần đảo Aleutia và ở Bắc Đại Tây Dương xa về phía bắc Massachusetts ở phía tây đến Shetlands ở phía đông. Ở Nam bán cầu, chúng phân bố phía nam cũng như Tierra del Fuego, Nam Phi, miền nam Australia, New Zealand, và quần đảo Chatham. Nó cũng thường hay lui tới các cơ quan nội địa như các vùng biển như vịnh Mexico và nhiều khả năng vùng biển Caribbean và Địa Trung Hải. Chúng có thể là phổ biến nhất của Ziphius trong vùng Suruga Bay, Nhật Bản.
1
null
Yên Dịch vương (chữ Hán: 燕易王; trị vì: 332 TCN-321 TCN), hay Yên Dịch công, là vị vua thứ 37 hoặc 38 của nước Yên thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Ông là con trai của Yên Hậu Văn công, vị vua thứ 37 của nước Yên. Năm 333 TCN, Hậu Văn công mất, Yên Dịch công lên kế vị. Xưng vương và hợp tung. Ngay sau khi Dịch công mới lên ngôi, Tề Tuyên vương nhân nước Yên chưa ổn định, đem quân chiếm 10 thành. Sau nhờ có Tô Tần sang Tề thuyết phục, Tề Tuyên vương mới trả thành cho Yên. Từ khi lên ngôi đến trước năm 323 TCN, ông chỉ có tước công. Năm 323 TCN, theo kế sách liên hoành của Trương Nghi, Tần Huệ Văn vương liên minh với Tề Tuyên vương, Sở Hoài vương. Trước tình hình đó, tướng quốc nước Ngụy là Công Tôn Diễn kiến nghị Ngụy Huệ vương hội kiến với vua các nước Hàn, Triệu, Yên và Trung Sơn. Khi đó Hàn và Ngụy đã xưng vương, 3 nước Yên, Triệu và Trung Sơn chưa xưng vương. Tại cuộc hội kiến này, theo đề nghị của nước Ngụy, 3 nước Yên, Triệu và Trung Sơn chính thức xưng vương và được Hàn, Ngụy công nhận. Đó là sự kiện "5 nước cùng xưng vương" ("Ngũ quốc tương vương"), tiến hành hợp tung, thực hiện một mặt trận liên hợp để chống khối liên minh của Tần, Tề, Sở. Kể từ đó nước Yên cũng có tước vương như các chư hầu lớn. Theo Sử ký, trong thời Yên Dịch vương, biện sĩ Tô Tần được trọng dụng ở nước Yên. Thái hậu nước Yên tư thông với Tô Tần. Yên Dịch vương biết chuyện nhưng không trị tội mà càng trọng đãi Tô Tần. Tuy nhiên Tô Tần vẫn sợ tội, xin sang nước Tề. Các sử gia hiện đại xác định rằng hoạt động của Tô Tần muộn hơn trong Sử ký nêu khoảng 40 năm, là đầu thế kỷ 3 TCN, thời Yên Chiêu vương. Năm 321 TCN, Yên Dịch vương qua đời. Ông ở ngôi được 12 năm. Con ông là Cơ Khoái lên nối ngôi.
1
null
Euphoria là album studio thứ chín, và album song ngữ đầu tiên, bằng tiếng Tây Ban Nha của ca sĩ - nhạc sĩ Enrique Iglesias. Album này phát hành bởi Universal Republic và Universal Music Latin và được phát hành vào ngày 05 tháng 7 năm 2010 được quốc tế và tại Mỹ vào ngày 06 tháng 7 năm 2010. Album gồm những bài hát bằng tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Đây là album có sự hợp tác của nhiều ca sĩ nổi tiếng. Bài hát đầu tiên của album Cuando Me Enamoro đạt số một trên Hot Latin Songs, trong khi đĩa đơn thứ hai của album I Like It đạt vị trí thứ tư trên Billboard Hot 100. Khi phát hành, album đã ra mắt tại vị trí số 10 trên bảng xếp hạng Billboard 200, với doanh số là 27.000 bản trong tuần đầu tiên phát hành.
1
null
Yên Huệ vương (chữ Hán: 燕惠王; trị vì: 278 TCN-271 TCN), là vị vua thứ 41 hoặc 42 của nước Yên - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Ông là con trai của Yên Chiêu vương, vị vua thứ 40 hay 41 của nước Yên. Năm 279 TCN, Yên Chiêu vương qua đời, Yên Huệ vương lên nối ngôi. Để mất nước Tề. Từ thời vua cha Yên Chiêu vương, nước Yên dưới sự chỉ huy của Nhạc Nghị đã đem quân đánh nước Tề, chiếm được 70 thành, chỉ còn Cử và Tức Mặc chưa chiếm được. nhiều kẻ ghen ghét Nhạc Nghị, thường dèm pha rằng Nhạc Nghị muốn tự lập làm Tề vương, nhưng Yên Chiêu vương vẫn tin dùng Nhạc Nghị. Đến khi Huệ vương lên ngôi, chiến sự ở nước Tề bắt đầu bất lợi, tướng Tề là Điền Đan tung phản gián nói: Nước Tề chỉ còn hai thành không bị lấy nữa mà thôi. Sở dĩ những thành này không bị lấy là vì nghe nói Nhạc Nghị có hiềm khích với vị vua mới ở Yên, muốn giữ tất cả binh lưu lại ở Tề, quay mặt về hướng Nam mà làm vua nước Tề. Điều nước Tề lo ngại chỉ là sợ có viên tướng khác đến. Yên Huệ vương có ý nghi ngờ, bèn mời Nhạc Nghị về, sai Kị Kiếp ra thay. Nhạc Nghị sợ bị giết bèn chạy sang nước Triệu. Từ khi Kị Kiếp làm tướng, việc binh luôn trễ nải. Lợi dụng cơ hội đó, Điền Đan thu 1000 con trâu, lấy vải quyến mặc lên mình, vẽ vằn rồng ngũ sắc, buộc mũi nhọn ở đầu sừng, buộc lau vào đuôi đổ mỡ vào đấy rồi đốt những bó lau, lại sai đục mấy mươi hang ở thành, ban đêm tung trâu ra, năm ngàn tráng sĩ tiếp theo sau. Đuôi trâu nóng, trâu nổi giận, xông vào quân Yên, quân Yên đang đêm cả sợ. Đuôi trâu bốc lửa, ánh sáng chói lòa. Quân yên nhìn vào thì thấy toàn là vằn rồng, trâu húc vào ai thì người ấy đều bị thương và chết. Điền Đan nhân đó đem quân truy kích, quân Yên thất bại, Ki Kiếp tử chiến. 70 thành lại trở về nước Tề. Yên Huệ vương ân hận vì bỏ Nhạc Nghị, lại sợ nước Triệu dùng Nhạc Nghị để đánh Yên nhân lúc nước Yên gặp cảnh khó khăn, ông bèn sai người trách Nhạc Nghị và đồng thời xin lỗi. Nhạc Nghị viết thư trả lời cự tuyệt Yên Huệ vương, không trở về làm tướng. Yên Huệ vương không thuyết phục được Nhạc Nghị, vẫn cho con của Nhạc Nghị là Nhạc Gian làm Xương Quốc Quân. Sau đó Nhạc Nghị lại đi lại với nước Yên. Nước Yên và nước Triệu đều cho Nhạc Nghị làm khách khanh. Cái chết. Năm 273 TCN, Yên Huệ vương lập ra bốn quận Nghi Dương, Bắc Bình, Liêu Tây, Liêu Đông. Yên Huệ vương dùng Công Tôn Tháo làm tướng quốc, phong là Thành An quân, cai quản quốc chính. Theo Sử ký, thiên Triệu thế gia, năm 271 TCN, công tôn Tháo làm loạn, giết Huệ vương và lập Yên Vũ Thành vương lên kế vị. Còn Yên thế gia chỉ nhắc đến việc Yên Huệ vương mất năm 271 TCN, không rõ có bị giết hay không.
1
null
Celestine II (tên khai sinh là Teobaldo Boccapecci hoặc Boccapeconai, Latin: Thebaldus Buccapecuc) là một giáo hoàng đối lập trong thời gian một ngày, ngày 16 tháng 12 năm 1124. Ông được coi như là hợp pháp, nhưng dù sao vẫn là người chống lại giáo hoàng Honorius II . Ông đã được giáo hoàng Paschal II phong lên hàng hồng y phó tế. Và được chọn làm Giáo hoàng trong một cuộc bầu cử rối ren và hỗn loạn, trong đó ông được Theobald và hồng y Saxo hỗ trợ dưới sự hậu thuẫn của gia đình Pierleoni. Trong lúc cuộc bầu cử Celestine đang diễn ra, Robert Frangipani đưa quân đội của ông ta bao vây và đột nhập vào nhà thờ rồi công bố Hồng y Lamberto là Scannabecchi (một người có học vấn cao) trở thành Giáo hoàng. Sau khi Celestine từ chức, Scannabecchi đã trở thành Giáo hoàng với tước hiệu Honorius II.
1
null
Anacletus II (mất ngày 25 tháng 1 năm 1138) tên khai sinh: Pietro Pierleoni, là một giáo hoàng đối lập trị vì từ năm 1130 cho đến khi qua đời, trong sự ly giáo nhằm chống lại cuộc bầu cử gây tranh cãi của Giáo hoàng Innocent II. Pietro có nguồn gốc Do Thái nhưng được sinh ra trong gia đình Pierleoni, một dòng họ đầy thế lực ở Rôma, là con trai của quan chấp chính Leoni. Pietro là con trai thứ hai với tham vọng sẽ giành được một sự nghiệp trong giáo hội. Ông học tại Paris và vào dòng Benedictine ở tu viện Abbey Cluny. Sau đó, Pietro đến Rôma và giành được 1 vị trí quan trọng ở đây. Năm 1130, khi Giáo hoàng Honorius II đang hấp hối, các vị hồng y đã quyết định rằng họ sẽ ủy thác cuộc bầu cử cho một hội đồng gồm tám người dưới dự chủ trì của quan trưởng ấn Giáo hoàng là Haimeric, người đã vội vàng đưa ứng viên của mình là Hồng y Gregory Papareschi làm Giáo hoàng với tước hiệu Innocent II. Ông được thánh hiến vào ngày 14 tháng 2, một ngày sau cái chết của Honorius. Ngay ngày hôm đó, các vị hồng y khác tuyến bố rằng cuộc bầu cử Innocent không theo đúng giáo luật và đã chọn Hồng y Pietro Pierleoni, một trong số những gia đình ở Rôma. Phe ủng hộ Anacletus đã tập hợp tất cả mọi người chống lại quan chưởng ấn Haimeric khiến ông ta không còn đủ khả năng kiểm soát Rôma và "tân giáo hoàng" Innocent buộc phải chạy trốn về phía Bắc; Anacletus được tuyên bố là Giáo hoàng hợp pháp còn Innocent là Giáo hoàng giả . Từ phía bắc dãy núi Alps, Innocent đã nhận được sự ủng hộ quan trọng của Thánh Bernard thành Clairvaux, Peter Venerable và những người cải cách danh tiếng khác giúp ông ta đạt được sự công nhận từ các triều đỉnh ở châu Âu như Hoàng đế Lothar III, Anacletus chỉ còn lại một vài đồng mình. Tuy vậy Anacletus là một ứng cử Giáo hoàng được đa số chấp nhận được vì vậy những tin đồn nhằm hạ bệ ông tập trung vào việc ông xuất thân từ một tín đồ Do thái. Trong số những người ủng hộ Anacletus có công tước William X xứ Aquitaine và Roger II của Sicilia, người được mệnh danh là "vua của Sicilia". Từ năm 1135 vị trí của Anacletus ngày càng suy yếu dần, nhưng sự ly giáo chỉ thực sự kết thúc với cái chết của ông vào năm 1138. Mặc dù khi đó Gregorio Conti đã được bầu làm Giáo hoàng với tước hiệu Victor IV. Nhưng ông này đã nhanh chóng quy phục Innocent. Innocent trở về Rôma và cai trị mà không vấp phải sự phản đối nào. Innocent II nhanh chóng triệu tập công đồng Lateran thứ hai năm 1139 nhằm tăng cường giáo lý của Giáo hội trong vấn đề cho vay nặng lãi, hôn nhân trong giới tăng lữ và các vấn đề khác. Mặc dù gia đình Pierleoni vẫn chống lại Innocent và những người kế nhiệm ông, Anacletus anh trai của Giordano, sau đó trở thành người cầm quyền công xã Rômea đã tích cực chống đối những người kế nhiệm của Innocent trong thập niên tiếp theo.
1
null
Cưa máy Texas 3D (tựa tiếng Anh: Texas Chainsaw 3D) là bộ phim kinh dị năm 2013 của Mỹ, là bộ phim thứ 7 trong loạt phim The Texas Chainsaw Massacre của Leatherface. Phim sẽ được chiếu tại tất cả các rạp phim dưới dạng 3D vào ngày 4 tháng 1 năm 2013 và mác phim chính thức là Evil Wears Many Faces, có nghĩa là Quỷ dữ mang nhiều mặt. Nội dung. Một cô gái tên Heather Miller nhận được một tờ di chúc từ một người bà mà ngay cả cô cũng không biết là mình có, trong di chúc ghi là cô sẽ nhận được một căn biệt thự cô lập tại tiểu bang Texas. Thế là cô cùng nhiều người bạn của mình quyết định đến Texas để xem thử căn biệt thự, nhưng họ không biết rằng bên dưới tầng hầm của biệt thự này đang chứa một nỗi kinh hoàng, một tên sát nhân hàng loạt mang tên Leatherface, hắn chuyên giết người bằng máy cưa rồi lột da mặt họ sưu tập mặt nạ.
1
null
Victor IV (chết sau tháng 4 năm 1139), là một giáo hoàng đối lập trong một thời gian ngắn vào năm 1138. Ông sinh ra ở Ceccano với tên là Gregorio Conti. Giáo hoàng Paschal II đã đặt ông làm hồng y linh mục của SS. XII Apostoli vào khoảng năm 1102. Nhưng vào năm 1112, Paschal II đã phế truất và tước bỏ tước hiệu của ông. Bởi vì ông (cùng với Đức Hồng y Robert S. Eusebio, sau đó cũng bị lật đổ) đã chỉ trích nặng nề chính sách của giáo hoàng Paschal II với hoàng đế Henry V. Ông được khôi phục chức Hồng y vào năm 1122 hoặc 1123 bởi giáo hoàng Callistus II. Trong cuộc bầu cử Giáo hoàng năm 1130, ông tham gia và vâng phục Giáo hoàng đối lập Anacletus II (1130-1138). Sau khi Anacletus chết, ông đã được chọn làm người kế nhiệm vào tháng 3 năm 1138. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thánh Bernard thành Clairvaux mà hai tháng sau đó ông đã quy phục Giáo hoàng Innocent II (1130-1143). Innocent II ban đầu chấp nhận khôi phục lại chức vụ hồng y của SS. Apostoli, nhưng tại công đồng Lateran thứ hai vào tháng 4 năm 1139 tất cả thuộc phe của Anacletus II đã bị lên án và bị lật đổ. Do đó, ông đã lui ẩn dật ở tu viện S. Eusebio Fontanella. Ngày chết của ông không được ghi lại, người kế nhiệm ông trong cuốn sách SS. Apostoli đã đưa ra ngày chết của ông là 04 Tháng 1 năm 1157.
1
null
Victor IV (qua đời ngày 20 tháng 4 năm 1164), tên khai sinh là Octavian hoặc Octavianus: "Ottaviano dei Crescenzi Ottaviani di Monticelli", là hồng y linh mục của Santa Cecilia trước khi ông được bầu là giáo hoàng đối lập vào năm 1159 trong thời kỳ xung đột giữa Giáo hoàng và Hoàng đế La Mã Thần thánh. Sau cái chết của Giáo hoàng Adrian IV, Alexander III đã được chọn làm Giáo hoàng tiếp theo. Ngược lại phe "đế quốc" bầu Octavian làm Giáo hoàng với sự hậu thuẫn của hoàng đế Barbarossa. Ông đã lấy tên hiệu là Victor IV. Cái tên đã được dùng cho Giáo hoàng đối lập Victor IV (1138) nhưng không được thừa nhận vì nhiệm kỳ ngắn của người này quá ngắn ngủi. Ông được mô tả bởi John Salisbury là một người giỏi hùng biện và tinh tế, nhưng nhỏ mọn và bủn xỉn. Ông mất ngày 20 tháng 4 năm 1164.
1
null
đảo Hoành Sa () là một đảo phù sa ở vùng cửa sông của Trường Giang tại Thượng Hải, Trung Quốc. Đảo Hoành Sa giáp với biển Hoa Đông ở phía đông, đối mặt với đảo Trường Hưng ở phía tây, đối mặt với đảo Sùng Minh ở phía bắc và đối mặt với Phố Đông Thượng Hải ở tây nam. Toàn đảo Hoành Sa tạo thành hương Hoành Sa, trước đây thuộc huyện Xuyên Sa, năm 1958 quy thuộc huyện Bảo Sơn (nay là khu Bảo Sơn), đến năm 2005 thì cùng với đảo Trường Hưng được sáp nhập về huyện Sùng Minh. Những năm Hàm Phong (1851-1861) thời Thanh Văn Tông thì bắt đầu hình thành bãi cạn, đến năm Quang Tự thứ 22 (1886) thời Thanh Đức Tông thì đảo bắt đầu được khai khẩn. Năm 2005, đảo Hoành Sa có hình tam giác với diện tích 56 km² và dân số là 33.000 người.
1
null
đảo Trường Hưng () là một hòn đảo phù sa nằm ở nơi Trường Giang đổ ra biển Hoa Đông tại Trung Quốc. Đảo Trường Hưng có hiện tích khoảng 88 km² và 36.000 người vào năm 2005. Về mặt hành chính, đảo Trường Hưng thuộc quyền quản lý của huyện Sùng Minh, thành phố Thượng Hải, trong đó toàn đảo tạo thành trấn Trường Hưng. Lịch sử. Vào thời Dân Quốc, đảo Trường Hưng bắt đầu được khai phá, đại bộ phận nhân dân trên đảo là những người di cư đến vào thời Dân Quốc cùng hậu duệ của họ. Ban đầu, cư dân trên đảo chủ yếu là ngư dân và những người thu hái lau sậy mọc hoang. Về sau, các họ tộc trên đảo đắp đê, dần hình thành nông nghiệp. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, một bộ phận ngư dân ở Phố Đông di cư đến đảo, được phân đất canh tác, những người này được người dân bản địa gọi là "tân nông dân". Phong tục sinh hoạt, tập quán ngôn ngữ và thậm chí là cả huyết thống của cư dân trên đảo Trường Hưng về cơ bản có cùng nguồn gốc với cư dân đảo Sùng Minh và đảo Hoành Sa. Địa lý. Đảo Trường Hưng nổi lên trên mặt nước, thành hình sớm nhất từ năm Thuận Trị thứ 1 (1664) thời Thanh Thế Tổ. Năm Đạo Quang thứ 22 (1842) thời Thanh Tuyên Tông, trên vùng cửa sông của Trường Giang hình thành Thụy Phong Sa (nguyên danh là Sùng Bảo Sa), Phan Gia Sa, Áp Oa Sa. Đến năm Quang Tự thứ 6 (1880) thời Thanh Đức Tông, hình thành Thạch Đầu Sa và Viên Viên Sa. Năm 1927 thì hình thành Kim Đới Sa. Năm Đạo Quang thứ 24 (1844), Áp Oa Sa bắt đầu được cải tạo thành đồng ruộng. Đến những năm 1960-1970, sáu bãi này đã hợp thành một nhờ vào việc đắp đê, tạo nên đảo Trường Hưng ngày nay. Đảo Trường Hưng có kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Năm 2008, Tổng công ty Đóng tàu Nhà nước Trung Quốc (China State Shipbuilding Corporation) quyết định sẽ di dời bốn xí nghiệp ra đảo Trường Hưng, đảo Trường Hưng vì thế có hy vọng trở thành cơ sở đóng tàu lớn nhất Trung Quốc. Năm 2007, đảo Trường Hưng được các phương tiện truyền thông nhà nước tuyên truyền rằng sẽ là "đảo công nghiệp thiết bị hải dương". Giao thông. Đảo Trường Hưng có tuyến đường cao tốc Hỗ-Thiểm (沪陕高速公路) chạy qua. Cầu Trường Giang Thượng Hải kết nối đảo Sùng Minh với đảo Trường Hưng, còn hầm đường bộ Trường Giang Thượng Hải kết nối đảo Trường Hưng với Phố Đông, tổ hợp cầu-đường hầm này mở cửa từ năm 2009.
1
null
Đảo Sùng Minh () là một hòn đảo nằm ở cửa sông của Trường Giang. Đảo Sùng Minh là đảo phù sa cửa sông lớn nhất thế giới và là đảo lớn thứ ba của Trung Quốc sau đảo Đài Loan và đảo Hải Nam. Về mặt hành chính, đại bộ phận đảo Sùng Minh thuộc quyền quản lý của huyện Sùng Minh, thành phố Thượng Hải, huyện lị đặt tại trấn Thành Kiều trên đảo. Một bộ phận nhỏ với diện tích 28 km² của đảo Sùng Minh thuộc quyền quản lý của tỉnh Giang Tô, trong đó phân thuộc hương Hải Vĩnh của thành phố Hải Môn và hương Khải Long của thành phố Khải Đông. Tên gọi. "Sùng" nghĩa là cao, "minh" ý chỉ trời biển vô biên. "Sùng Minh" có nghĩa là cao hơn mặt nước song lại bằng phẳng rộng rãi tựa như một bình địa sáng sủa và sạch sẽ. Lịch sử. Đảo Sùng Minh bắt đầu lộ diện trên mặt nước của Trường Giang từ năm Vũ Đức thứ nhất (618), cũng là năm bắt đầu của triều Đường trong lịch sử Trung Quốc. Ban đầu, phù sa đã bồi tích để tạo nên hai bãi cạn trên sông, gọi là Đông Sa và Tây Sa. Từ đó, cư dân từ Đan Dương và Cú Dung của Giang Tô di cư đến, khởi đầu cho lịch sử trên 1300 của đảo Sùng Minh. Đến năm Thần Long thứ 1 (705) thời Đường Trung Tông, Sùng Minh trấn được thiết lập tại Tây Sa. Đến thời nhà Tống, phù sa lại bồi tích hình thành thêm các bãi cạn ở vùng cửa sông của Trường Giang là Lưu Sa, Mã Gia Banh, Bình Dương Sa. Cũng trong thời gian đó, nhiều đảo cát trên sông cũng lần lượt di chuyển dần về phía bắc hoặc biến mất. Đông Sa và Tây Sa dần bở ra, về sau lại xuất hiện Trường Sa, nguồn gốc của đảo Sùng Minh hiện nay. Do Trường Giang mang theo một lượng phù sa lớn, mỗi năm đảo Sùng Minh dài thêm 143 m hướng ra biển Hoa Đông, diện tích tăng thêm khoảng 487 ha. Địa lý. Đảo Sùng Minh là một công viên địa chất quốc gia của Trung Quốc, phạm vi của công viên bao gồm toàn bộ đảo Sùng Minh, chiều dài đông-tây ước khoảng 76 km, chiều rộng bắc-nam từ 13–18 km, diện tích khoảng trên 1.200 km². Đảo Sùng Minh được gọi là "Trường Giang môn hộ, Đông Hải doanh châu" (cửa Trường Giang, bãi cù lao biển Hoa Đông). Đảo Sùng Minh có ba mặt là sông, một mặt là biển; đông giáp biển Hoa Đông; đối diện qua Trường Giang ở mặt nam của đảo là Phố Đông và Bảo Sơn của Thượng Hải cũng như Thái Thương của tỉnh Giang Tô; mặt bắc của đảo tách biệt với Hải Môn và Khải Đông của tỉnh Giang Tô qua một dải nước hẹp hơn của Trường Giang. Đảo Sùng Minh có địa hình bằng phẳng, không có núi đồi, phía tây bắc và trung bộ cao hơn một ít, phía tây nam và phía đông thấp hơn một ít. Trên 90% diện tích của đảo cao từ 3,21 đến 4,2 mét so với Ngô Tùng (吳淞). Đảo trải dài từ 121°09′30〃 đến 121°54′00〃 kinh Đông và từ 31°27′00〃 đến 31°51′15〃 vĩ Bắc. Đảo Sùng Minh nằm trong vùng cận nghiệt đới Bắc Bán Cầu, khí hậu ôn hòa và ẩm ướt, nhiệt độ bình quân năm là 15,2 °C, ánh nắng mặt trời đầy đủ, bốn mùa rõ rệt. Giao thông. Có nhiều tuyến phà hoạt động nhằm kết nối đảo và Thượng Hải. Đảo có tuyến đường cao tốc Thượng Hải - Thiểm Tây (沪陕高速公路) chạy qua. Trên tuyến đường cao tốc này có cầu Sùng Khải (崇启大桥) nối giữa đảo Sùng Minh và thành phố Khải Đông của tỉnh Giang Tô, hoạt động từ năm 2011. Cầu Trường Giang Thượng Hải kết nối đảo Sùng Minh với đảo Trường Hưng, còn hầm Trường Giang Thượng Hải kết nối đảo Trường Hưng với Phố Đông, tổ hợp cầu-đường hầm này mở cửa từ năm 2009. Ngoài ra, còn có cầu Sùng Hải (崇海大橋) kết nối đảo Sùng Minh và Hải Môn.
1
null
Abagaitu (, , là một hòn đảo nằm trên sông Argun, thuộc khu vực biên giới giữa Trung Quốc và Nga. Đảo nằm cách thành phố Mãn Châu Lý vài chục km về phía đông. Đảo có diện tích khoảng 58 km², song sẽ nhỏ đi rất nhiều khi nước sông Argun lên cao. Abagaitu là một từ trong tiếng Mông Cổ nghĩa là "ngọn núi của người đàn bà", tên tiếng Nga của đảo có nghĩa là "đảo lớn". Abagaitu từng là nơi tranh chấp giữa Liên Xô và sau này là Nga với Trung Quốc. Sau hiệp ước biên giới Mãn Châu Lý năm 1911, ở bờ nam của vùng đất nay là đảo Abagaitu xuất hiện dòng chảy nhỏ của sông Argun, dần dần biến vùng đất này thành đảo. Đến năm 1929, Hồng quân Liên Xô chiếm giữ hòn đảo và bắt đầu cuộc tranh chấp biên giới với Trung Quốc. Sau năm 1950, do sông Hailar (海拉尔河) đổi dòng nên dòng chảy nhỏ trước kia lại trở thành dòng chính, đến năm 1960 thì dòng chảy ở phía bắc đảo bị ứ đọng. Năm 2008, căn cứ theo hiệp định bổ sung đoạn phía đông biên giới Trung-Nga, trong 57,56 km² diện tích của đảo Abagaitu, phía Trung Quốc được trao 34,55 km² phía đông đảo và phía Nga được 23,01 km² phía tây đảo.
1
null
Si Vưu (chữ Hán: ), cũng đọc là Xuy Vưu hay Si Vưu, là một anh hùng cổ xưa của người Miêu ở Trung Quốc. Si Vưu cùng với Hoàng Đế và Viêm Đế được coi là một trong ba quốc phụ vĩ đại của Trung Quốc. Là thủ lĩnh chi nhánh Cửu Lê (九黎) và được biết đến nhiều do đã chống lại quân du mục Hiên Viên Hoàng Đế trong trận Trác Lộc trong truyền thuyết Trung Quốc. Trong những truyền thuyết liên quan, Si Vưu đã thể hiện được uy lực trong chiến tranh, từ đó tên gọi Si Vưu cũng trở thành đồng nghĩa với từ "chiến tranh" trong tiếng Hán, những người tôn trọng thì xem ông như là chiến thần, còn những người bài xích thì xem ông như là một người gây họa. Đối với người Miêu và người Bách Việt "Txiv Yawg" (IPA: ) là một vị vua thần thoại có tính khôn ngoan. Người ta tin rằng ông là thủ lĩnh của chi nhánh Cửu Lê được hình thành từ cộng đồng người Bách Việt ở miền nam Trung Quốc khoảng 5000 năm trước. Về nguồn gốc của Si Vưu thì Lĩnh Nam chích quái nói Đế Du Võng và Si Vưu đánh nhau với Hoàng Đế. Điều này có nghĩa Đế Du Võng và Si Vưu là hậu duệ của Đế lai. Khái quát truyền thuyết. Trong lịch sử Trung Quốc, cổ tịch từ thời Xuân Thu đã có ghi chép tương đối phong phú về truyền thuyết Xi Vưu, song thường có mâu thuẫn. Theo các ghi chép này, Xi Vưu là lãnh tụ bộ lạc Cửu Lê thời thượng cổ. Có học giả chiếu theo Dật Chu thư (逸周书) Diêm Thiết luận (盐铁论) phỏng đoán rằng Xi Vưu thuộc tập đoàn thị tộc Thái Hạo, Thiếu Hạo. Xi Vưu có 81 người anh em (khả năng có ý chỉ 81 bộ lạc, có thuyết nói là 72) kiêu dũng thiện chiến, thế lực lớn mạnh. Trong một tình tiết thần thoại, sau khi Xi Vưu tuyên bố rằng mình không thể bị chế ngự, Nữ Oa đã ném một phiến đá từ Thái Sơn vào Xi Vưu. Xi Vưu không thể nghiền nát phiến đá, song vẫn có thể xoay xở để thoát ra. Từ đó về sau, các khối đá có hình năm ngón tay, được khắc chữ "Thái Sơn thạch cảm đương" (泰山石敢當, phiến đá Thái Sơn) trở thành một vũ khí tinh thần của người Hán trong việc xua đuổi cái ác và tai họa. Trong rất nhiều cổ tịch có đề cập đến việc Xi Vưu chiến đấu với Hoàng Đế-thủ lĩnh một liên minh bộ lạc, tình huống cụ thể thì có ba thuyết: Mặc dù các thuyết trên luôn có một vài điểm khác biệt, song hầu hết đều xuất hiện chi tiết Xi Vưu giao chiến với Hoàng Đế. Quá trình chiến tranh cũng phức tạp, và mang sắc thái thần thoại ở mức độ cao. Xi Vưu thiện chiến, "chế tạo năm loại binh khí, biến đổi mây mù", "làm ra sương mù dày đặc, trọn ba ngày", Hoàng Đế "chín lần chiến thì chín lần không thắng" "ba năm không hạ được thành". Sử ký dẫn từ Ngư Long hà đồ (魚龍河圖) chép rằng Hoàng Đế không địch nổi Xi Vưu, bèn "ngước lên trời mà than thở, ông trời sai Huyền Nữ xuống ban cho Hoàng Đế binh lính được thần thánh phù trợ". Sau cùng, nhờ có lực lượng của Huyền Nữ mà Hoàng Đế đã giành được chiến thắng. Một thuyết thì cho rằng Xi Vưu dùng yêu thuật tạo ra sương mù dày đặc làm quân của Hoàng Đế mất phương hướng, Hoàng Đế liền dùng Chỉ Nam xa dẫn đường để đuổi giết Xi Vưu, giành được thắng lợi. Cái chết. Về kết cục của Xi Vưu, các truyền thuyết đa phần nói rằng bại binh và bị giết, song cũng có thế đã bị Hiên Viên Hoàng Đế đồng hoá và trở thành tướng quân sự. Hiên Viên kéo nhóm dân du mục hung dữ, tàn bạo đánh úp Xuy Vưu tại Trác Lộc, một địa điểm trên bờ sông Hoàng Hà, phía bắc tỉnh Hà Nam. Dân Cửu Lê, một chi nhánh của đại tộc Bách Việt, là dân vốn sống bằng nghề nông nghiệp, hiền lành, ít có chiến tranh, không phòng bị gặp phải thứ dân du mục quen nghề chém giết nên bị thua. Xuy Vưu bị giết, dân bị tàn sát, bị bắt làm nô lệ, một số chạy trốn. Sau khi Xi Vưu bại trận, người trong bộ tộc Cửu Lê lưu tán, một bộ phận bị Hiên Viên Hoàng Đế đồng hoá, một bộ phận di cư đến nơi khác. Khảo chứng. Thời đại Thượng cổ. Xi Vưu cùng Viêm Đế. Là nhân vật chính trong cuộc chiến tranh với Hoàng Đế tại Trác Lộc năm 2698 TCN, nên có thể khẳng định, Si Vưu sống vào khoảng thời gian đó. Mốc thời gian này rất có ý nghĩa vì nó cho thấy, Thần Nông (3220 – 3080 TCN), Si Vưu sống sau đó 500 năm nên không thể là Thần Nông mà là miêu duệ của Thần Nông. Điều này cũng khẳng định, không có chuyện Si Vưu bị Nữ Oa ném đá. Càng không hề có chuyện Si Vưu chống lại Thần Nông. Do là hai kẻ thù sống mái nên cũng cũng không có chuyện Si Vưu hợp tác với Hoàng Đế. Việc Tần Thủy Hoàng đích thân tế Si Vưu có khả năng xảy ra. Không chỉ là tế vị thần chiến tranh để xin phù hộ mà còn là việc tế vị tổ của tộc Việt. Đây cũng là bằng chứng cho thấy bộ tộc Tần là người Lạc Việt. Xi Vưu với Hoàng Đế. Hoa tộc lúc đó dưới quyền của lãnh tụ Hiên Viên Hoàng Đế, còn dân Cửu Lê thì dưới quyền thống lãnh của Xuy Vưu mà sử Tàu gọi là “Xuy Vưu cổ thiên tử, Xuy Vưu bá thiên hạ”. Như thế, sử Tàu cũng công nhận là dân Cửu Lê sống ở đó đã lâu đời, tổ chức thành nước có vua, ông vua đó Tàu gọi là Xuy Vưu với nghĩa miệt thị. "(Trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp thì cho Xuy Vưu là quân thần của Đế Lai : “Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên hạ vô sự, sực nhớ đến truyện ông nội là Đế Minh nam tuần gặp được tiên nữ, Đế Lai bèn khiến Xuy Vưu tác chủ quốc sự mà nam tuần qua nước Xích Quỷ, thấy Long Quân dã về Thủy phủ, trong nước không vua, mới lưu ái thê là Âu Cơ cùng bộ chúng thị thiếp ở lại hành cung.” bản dịch của Lê Hữu Mục,xb, Huế 1960, tr.43 )." Hiên Viên kéo nhóm dân du mục hung dữ, tàn bạo đánh úp Xuy Vưu tại Trác Lộc, một địa điểm trên bờ sông Hoàng Hà, phía bắc tỉnh Hà Nam. Dân Cửu Lê, một chi nhánh của đại tộc Bách Việt, là dân vốn sống bằng nghề nông nghiệp, hiền lành, ít có chiến tranh, không phòng bị gặp phải thứ dân du mục quen nghề chém giết nên bị thua. Xuy Vưu bị giết, dân bị tàn sát, bị bắt làm nô lệ, một số chạy trốn. Xi Vưu với Cửu Lê và Tam Miêu. Điều chung nhất từ các tư liệu trên là sự khẳng định: Si Vưu thuộc về tất cả các tộc người có mặt trên đất Trung Hoa. Không chỉ Cửu Lê, Miêu, Dao mà ngay người Hán cũng thờ ông. Một sự khẳng định như vậy từ truyền thuyết và cổ thư gián tiếp xác nhận: các tộc người trên đất Trung Hoa có chung một gốc. Điều này đúng với khám phá của nhân học hiện đại: "dân cư trên đất Trung Hoa là người Lạc Việt". Các tộc người Lê, Miêu, Dao… là những chi khác nhau của chủng Lạc Việt, chủ nhân đầu tiên của Trung Hoa. Si Vưu là một trong những tộc trưởng, lãnh tụ tài năng nhất, can trường, có uy tín và ảnh hưởng nhất trong dân cư phương Đông. Không chỉ người Việt mà cả dân Hàn Quốc cũng nhận ông là tổ. Từ đó, có thể khẳng định Si Vưu là một trong những lãnh tụ người Lạc Việt thời cổ. Xi Vưu và Đông Di. Ở vùng sông Bộc có một nhóm khác cũng thuộc dòng Việt tộc, đó là nhóm Bách Bộc. Sông Bộc là con sông phát nguyên từ cao nguyên tỉnh Sơn Ðông chảy vào sông Hoàng Hà. Ðịa bàn của nhóm Bách Bộc không xa Trác Lộc, nơi Hiên Viên đánh Xuy Vưu là bao nhiêu. Nhóm Bách Bộc này sống bằng nghề canh nông và tầm tang (trồng dâu nuôi tằm dệt lụa). Họ có lối sống cổ sơ hồn nhiên trai gái giao du thân mật không bị cấm đoán “nam nữ thụ thụ bất tương thân” như Hoa tộc. Người Hoa thấy lối sống thân cận nam nữ của dân Bách Bộc thì chê bai chỉ trích là cảnh dâm loạn : “trên bộc trong dâu”. Nhóm Bách Bộc này rồi cũng bị người Hoa tấn công chiếm đất. Không biết có những trận chiến xẩy ra khốc liệt như với nhóm Cửu Lê hay không vì không thấy sử chép nhưng biết rằng nhóm này bị lấn đất mãi, bị dồn lên cao nguyên Sơn Ðông và cuối cùng cũng bị đồng hóa với Hoa tộc. Nhóm Bách Bộc bị dồn lên cao nguyên Sơn Ðông này, Tàu gọi họ là Đông Di. Những người Di Việt bị dồn lên Cao nguyên Sơn Ðông vẫn còn tồn tại và luôn luôn nổi lên chống đối Hoa tộc. Cho mãi đến đời Tam Quốc nhóm người Đông Di này vẫn còn dằng dai kháng cự. Cụ thể là nhóm người mà Tàu gọi là Hoàng cân (khăn vàng, người Di này dùng khăn bịt đầu vì họ cắt tóc ngắn, "phát tiễn", một dấu chỉ của người Việt, sử Tàu cũng cho biết người Di này "nhuộm răng đen và xăm mình") Dân tộc hậu thế. Căn cứ theo một số sử thi, ca dao, truyền thuyết của người Miêu, Xi Vưu là đại tổ thần của tộc người này, có địa vị hết sức cao quý. Một số học giả, đặc biệt là học giả người Miêu đề xuất rằng, tổ tiên của người Miêu là đại chủng Bách Việt vào thời thượng cổ ban đầu cư trú tại lưu vực Hoàng Hà, do bị tộc Hoa Hạ đánh bại, bị buộc phải thiên di đến khu vực Quý Châu, tây bộ tỉnh Hồ Nam và tây nam bộ tỉnh Hồ Bắc ngày nay,cũng có bộ phận chạy sang Việt Nam, Nhật Bản, Đài Loan, bán đảo Triều Tiên... Sau khi Xi Vưu bại trận, một bộ phận tộc nhân dung hợp vào tập đoàn Viêm Hoàng, do đó trở thành một bộ phận của tộc Hoa Hạ, cũng là tổ tiên của người Hán ngày nay. Một số họ của người Hán có khả năng có liên hệ với Xi Vưu, như Trâu, Đồ (屠), Lê (黎), Xi (蚩). Căn cứ theo "Hậu Hán thư-Tây Khương truyện", một bộ phận tộc nhân Tam Miêu đã di chuyển về hướng tây. Do vậy nếu thừa nhận Xi Vưu và Tam Miêu (三苗) có quan hệ thì Xi Vưu chính xác là tổ tiên của người Hmong. Phân chi Đông Bắc Di của Đông Di có thể có khả năng có quan hệ với Phù Dư và có thể là cả Cao Câu Ly. Năm 1979, tại Hàn Quốc xuất hiện một quyển sách lịch sử gây tranh cãi là Hoàn Đàn cổ ký (桓檀古記, 환단고기), trong đó Xi Vưu được xem là Từ Ô Chi Hoàn Hùng (慈烏支桓雄, 자오지 환웅), đại quân chủ thứ 14 của Bột Đạt Quốc (倍達國, 배달국) trên bán đảo Triều Tiên. Sùng bái Xi Vưu. Khu vực người Hán. Mặc dù Xi Vưu là nhân vật phản diện trong các điển tịch Nho giáo, song trong dân gian vẫn duy trì truyền thống thờ phụng Xi Vưu, khu vực các tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây ở Hoa Bắc có hoạt động thờ phụng tương quan. Như Nhâm Phưởng (任昉) thời Nam triều có ghi trong "Thuật dị chí" (述异志) rằng Ký châu (nay là Hà Bắc) có nhạc danh (Xi Vưu hí), người dân đầu đội sừng trâu và giữ thăng bằng. Tại một thôn ở Thái Nguyên có tế thần Xi Vưu. Tần Thủy Hoàng tự mình tế Xi Vưu, xem là một trong tám chiến thần. Các bậc đế vương và võ tướng sau này trước khi xuất chinh thường tế bái Xi Vưu để cầu xin sự phù hộ. Theo truyền thuyết, sau khi chiến bại, Xi Vưu bị chặt đầu, ngoài ra còn có nhiều mộ được cho là của Xi Vưu, tức "Xi Vưu chủng" (蚩尤冢), có người dân cúng tế. Ở huyện Cự Dã thuộc tỉnh Sơn Đông có "mộ Xi Vưu" và "quảng trường Xi Vưu". Căn cứ vào việc Xi Vưu là một trong lục tướng của Hoàng Đế, đứng đầu trong việc quản lý thời tiết, tên gọi này đã được đặt cho một loại hình nhất định trong chiêm tinh học, gọi là "Xi Vưu kỳ". Căn cứ theo Lã thị Xuân Thu, Sử ký, Tùy thư và các văn hiến khác miêu tả, Xi Vưu kỳ ứng chỉ một số loại sao chổi nhất định, là dấu hiệu của chiến tranh. Người Miêu. Trong khi người Hán tự nhận là con cháu của Viêm Hoàng, người Miêu tiếp tục xem Xi Vưu là tổ tiên của mình. Một bộ phận người Miêu lưu truyền truyền thuyết "Gid Chib Yeul Laol", trong đó "Gid Chib" ý chỉ ông hay người già, "Yeul Laol" ý chỉ anh hùng, vẫn còn có tranh luận về việc nó có phải ám chỉ đến Xi Vưu hay không. Ở các vùng người Miêu tại Kiềm Đông Nam thuộc tỉnh Quý Châu và huyện Dung Thủy thuộc Quảng Tây, cứ mỗi sáu năm hoặc mười năm lại cử hành một lần nghi thức tế tổ Chiguzang (吃鼓藏, "Cật Cổ Tang") với quy mô lớn, đầu tiên là tế thủy tổ "Khương Vưu" (姜尤). Ở Kiềm Nam thuộc tỉnh Quý Châu có sử thi "Bảng Xi Vưu" (榜蚩尤), kể về truyện cũ của vị tổ tiên đệ nhất Hương Vưu (香尤). Người Miêu ở Mã Quan, Vũ Định có phong tục "khiêu nguyệt" (跳月) (Hauv toj) hoặc "thải hoa sơn" (踩花山), truyền thuyết của phong tục này và Xi Vưu có quan hệ mật thiết. Đường thời, Xi Vưu lãnh đạo dân Miêu chống lại việc Hoàng Đế đông tiến, sau khi thất bại thì rút vào núi sâu. Nhằm triệu tập người Miêu ở tứ phương, Xi Vưu dựng cây gậy gỗ trên núi, cho treo dải lên, lệnh cho nam nữ ca múa xung quanh cây gậy hoa, thổi lô sanh (芦笙, một loài khèn của người Miêu). Khung cảnh náo nhiệt đã thu hút nhiều người Miêu tụ hội, tập hợp lại và nhập quân chiến đấu chống lại người Hán. Về sau, nó đã trở thành một hội hát múa lớn, trở thành tiết truyền thống của người Miêu. Người Miêu có phong tục thờ cúng cây phong, thậm chí lấy cây phong làm vật tổ. Điều này cũng có thể liên quan đến Xi Vưu Sử thi "Phong mộc ca" của người Miêu nói rằng tộc người Miêu và thậm chí là cả nhân loại đều được tạo ra từ cây phong. Trong văn học. Trong tiểu thuyết "Xi Vưu Thiên hoàng" (蚩尤天皇, 치우천왕기) xuất bản tại Hàn Quốc năm 2007, Xi Vưu được viết là tổ tiên của dân tộc Triều Tiên và đã đánh thắng Hoàng Đế. Cuốn tiểu thuyết này gây ra phản ứng tiêu cực từ phía Trung Quốc vì cho rằng nó bóp méo lịch sử.
1
null
Hương Hải (1628 - 1715), tục gọi là Tổ Cầu, là một thiền sư Việt Nam ở thời Hậu Lê. Sư và thiền sư Chân Nguyên là hai người đi đầu trong công cuộc phục hưng phái thiền Trúc Lâm đã có từ thời Nhà Trần. Thân thế. Tổ tiên thiền sư Hương Hải ở làng Áng Độ, huyện Chân Phúc (sau đổi là Nghi Lộc, nay thuộc tỉnh Nghệ An). Ông Tổ năm đời của sư làm quan Quản chu tượng coi thợ đóng thuyền cho triều đình. Ông có hai người con trai. Con cả (không rõ họ tên) trông coi Lãng Doanh, tước Hùng quận công, quản đốc ba trăm lính thợ. Con thứ (không rõ họ tên) làm chức Phó cai quan, tước Trung lộc hầu, là ông Tổ bốn đời của sư. Khoảng niên hiệu Chính trị (1558-1571) đời vua Lê Anh Tông, Trung lộc hầu theo Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn Quảng Nam. Ông được Nguyễn Hoàng tin dùng nên thăng chức Chánh cai, quản lãnh các lính thợ đóng thuyền. Sau, Nguyễn Hoàng lại dâng sớ về triều kể rõ công trạng, vua Lê phong cho ông hiệu Khởi Nghĩa Kiệt Tiết Công Thần, cấp cho ba mươi mẫu ruộng và con cháu được thế tập. Hương Hải (không rõ họ tên thật), sinh năm Mậu Thìn (1628), sống ở làng Bình An Thượng, thuộc phủ Thăng Hoa (nay thuộc tỉnh Quảng Nam). Vốn thông minh, hiếu học ngay từ thuở nhỏ, nên năm 18 tuổi, ông thi đỗ Cử nhân), được bổ vào làm Văn chức trong phủ chúa Nguyễn Phúc Lan (ở ngôi: 1635-1648). Năm 1652, ông được bổ làm Tri phủ Triệu Phong (nay thuộc tỉnh Quảng Trị). Khi ấy, vì hâm mộ Phật pháp, ông tìm đến học đạo với Viên Cảnh, là một thiền sư Trung Hoa đang hành đạo ở Quảng Trị . Đạo nghiệp. Từ quan, xuất gia tu ở Đàng Trong. Năm 1655, Hương Hải xin từ quan, rồi xin xuất gia với thiền sư Viên Cảnh, được đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải . Sau đó, sư tìm đến thiền sư Đại Thâm Viên Khoan (cũng là một vị tăng Trung Hoa) để tham học. Rồi sư cùng với một số đồ đệ dong thuyền ra Biển Đông, lập am tu trên ngọn núi Tiêm Bút La (hay Tiêm Bút, tức cù lao Chàm; nay thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam). Sư ở đây được mấy tháng, thì gặp chướng ngại ở địa phương nên trở về quê cũ là làng Bình An Thượng, định cất am tu ở đây. Nhưng vì lời thỉnh cầu của dân chúng ở đảo Tiêm Bút La, nên sư và các đồ đệ lại trở ra đảo, và trụ trì ở đấy được 8 năm, đạo hạnh được nghe biết khắp nơi. Theo một số tài liệu, thì trấn thủ dinh Quảng Nam khi ấy là Thuần quận công (không rõ họ tên) có vợ bị bệnh đã lâu. Nghe tiếng sư, Thuần quận công bèn sai người mời về để cầu an cho vợ, và để cho cả nhà được quy y với sư. Xong việc, sư lại trở ra đảo. Năm 1665, Tổng thái giám Hoa Lễ hầu (không rõ họ tên) lại cho thuyền ra đảo thỉnh ông về làm đàn tràng sám hối, cầu cho hết bệnh lao mà ông mắc phải trong ba năm. Chúa Nguyễn Phúc Tần nghe tiếng sư liền cho người đi mời về phủ. Sau khi hỏi thăm và úy lạo, Chúa Nguyễn truyền lập Thiền Tĩnh Viện trên núi Quy Kính (còn có tên là núi Quy Sơn; nay thuộc xã Hoài Ân, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế) để sư ở tu. Quốc Thái phu nhân và ba công tử là Phúc Mỹ, Hiệp Ðức và Phúc Tộ đều đến quy y học đạo với ông. Các quan, quân lính và dân chúng các tỉnh cũng đến xin quy y có đến hơn ngàn người. Thiền Tĩnh Viện trở nên một trung tâm Phật giáo nổi tiếng ở Ðàng Trong. Trong số những người đến quy y có Thị nội thái giám Gia quận công, là người làng Thụy Bái, thuộc huyện Gia Định (nay là Gia Bình), phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Trước đây, ông đầu quân Trịnh, rồi theo vào đánh Thuận Hóa bị quân của Chúa Nguyễn Phúc Tần bắt sống, nhưng được tha và cho vào dạy học trong phủ chúa. Nhân việc ông thường đến học Phật tại Thiền Tĩnh Viện, nên có người ganh ghét tâu với chúa rằng ông và thiền sư Hương Hải đang âm mưu trốn ra Bắc. Chúa Nguyễn Phúc Tần liền sai người bắt sư và Gia quận công đem tra khảo. Tuy không có bằng chứng gì để kết tội, nhưng vì nghi ngờ nên Chúa Nguyễn đưa sư vào Quảng Nam, cách xa Thuận Hóa. Vì sự đối đãi ấy, thiền sư Hương Hải mới quyết định ra bắc. Bị nghi ngờ, trở ra tu ở Đàng Ngoài. Năm 1682, sư chuẩn bị một chiếc thuyền cùng khoảng 50 đệ tử vượt bể ra Đàng Ngoài. Đến trấn Nghệ An, sư vào trình diện với quan trấn thủ. Viên quan ấy liền báo về triều. Chúa Trịnh (có lẽ là Trịnh Căn mới lên thay Trịnh Tạc) bèn cho Ðường quận công (không rõ họ tên) mang thuyền vào đón hết thầy trò về Thăng Long, tạm ngụ ở công quán. Ðiều tra lý lịch của thiền sư Hương Hải xong, Chúa Trịnh cho vời sư vào triều thăm hỏi và phong cho chức Vụ sứ, đồng thời ban cho 300 quan tiền. Ngoài ra, mỗi năm triều đình còn cấp cho sư: 24 bồ thóc, 36 quan tiền, 1 tấm vải trắng. Các đồ đệ cũng được cấp phát. Sau đó, Chúa Trịnh bảo sư vẽ bản đồ hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam. Sư vẽ rất rõ ràng, lại được chúa thưởng tiền. Tháng 8 năm ấy (1682), Chúa Trịnh sai người đưa thầy trò sư về ở công quán trấn Sơn Tây. Ở đó được 8 tháng, sang năm 1686, chúa Trịnh Căn đưa thầy trò sư về ngụ ở trấn Sơn Nam. Đến năm 1683, Chúa Trịnh ra lệnh cho trấn thủ trấn ấy là Lê Đình Kiên cất am tu và cấp ba mẫu đất công cho thầy trò sư. Lúc ấy, thiền sư Hương Hải đã được 56 tuổi. Đã có chỗ yên thân, nên suốt 17 năm sau đó, sư chuyên tu và sáng tác. Năm 1700, sư rời trấn Sơn Nam về mở đạo tràng ở chùa Nguyệt Ðường (thuộc tổng An Tảo, huyện Kim Ðộng, phủ Khoái Châu; nay thuộc tỉnh Hưng Yên), cốt để phục hưng phái thiền Trúc Lâm đã có từ thời Nhà Trần. Ðệ tử xuất gia đắc pháp với sư rất nhiều, và người ở các nơi đến cầu đạo cũng rất đông. Vua Lê Dụ Tông có lần đón sư về kinh, vời vào nội điện để lập đàn cầu tự và thuyết pháp. Vua rất tôn kính sư, thường hỏi sư về phương pháp tu. Năm Giáp Ngọ (1714), chúa Trịnh Cương nhân đi kinh lý có ghé thăm chùa Nguyệt Ðường, cúng dường tiền và đề thơ ở chùa. Viên tịch. Năm Ất Mùi (1715) đời vua Lê Dụ Tông, sáng ngày 13 tháng 5, sau khi tắm rửa, thiền sư Hương Hải khoác y, đội mũ, đeo tràng hạt, ngồi kiết già mà tịch, thọ 88 tuổi. Trước khi mất, sư đã phó chúc lại bài kệ: Tác phẩm. Theo "Kiến văn tiểu lục" của Lê Quý Đôn, thì thiền sư Hương Hải đã chú giải các kinh, dịch và sáng tác bằng chữ Nôm hơn ba mươi tác phẩm truyền lại cho đời. Nhiều tác phẩm của sư chưa tìm lại được. Trong số những tác phẩm của sư, có những đề mục sau đây: Nhìn chung tư tưởng thiền của thiền sư Hương Hải chủ yếu chịu ảnh hưởng tư tưởng thiền của Lục tổ Huệ Năng, tức tư tưởng của kinh Kim Cang Bát Nhã và kinh Pháp Bảo Đàn. Bên cạnh đó, sư còn chịu ảnh hưởng "tịnh" và "mật" của thiền Trúc Lâm. Và cũng vì trong sư vẫn tồn tại một nhà nho, nên sư còn mang tư tưởng "Phật và Nho vốn cùng một gốc"... Chú thích.
1
null
Ngày 25 tháng 12 năm 2012, chiếc máy bay Antonov An-72-100, số đăng ký UP-72859 và vận hành bởi Quân đội Kazakhstan, đã bị rơi khoảng 20 km (12 dặm) từ thành phố Shymkent trong khi hạ thấp độ cao để hạ cánh xuống. Tai nạn này khiến toàn bộ 27 người trên máy bay thiệt mạng. Trong số những người thiệt mạng có tư lệnh lực lượng biên phòng của Kazakhstan, tướng Turganek Stambekov, cùng nhiều sĩ quan cao cấp của lực lượng biên phòng miền nam Kazakhstan. Chiếc máy bay đã bay từ thủ đô Astana đến Shymkent, và chở mang 27 người-7 phi hành đoàn và 20 thành viên của các tuần tra biên giới Kazakhstan, bao gồm cả lãnh đạo, quyền giám đốc Cục tuần tra biên giới, đại tá Turganbek Stambekov. Chiếc máy bay Antonov An-72 mất dấu trên màn hình radar vào lúc 19h địa phương khi đang chuẩn bị hạ cánh gần thành phố Shymkent, thủ phủ tỉnh Nam Kazakhstan. Chiếc máy bay đã lao thẳng xuống đất từ độ cao 800m khi tìm cách hạ cánh trong lúc đang có bão tuyết dữ dội, tại một khu vực cách thành phố Shymkent 21 km.
1
null
Elymnias hypermnestra là một loài bướm ngày trong họ Satyrinae được tìm thấy ở nam châu Á. Loài này dị hình giới tính. Con đực có phía trên cánh trước màu đen với các mảng xanh lục nhỏ và màu nâu đỏ ở phía trên cánh trước còn con cái bắt chước các loài bướm trong chi "Danaus". Life history. Loài này ăn các loài "Cocos nucifera", "Calamus pseudo-tenuis", "Calamus rotang", "Calamus thwaitesii", "Phoenix lourerii" và "Licuala chinensis".
1
null
Cầu vượt Hàng Xanh là một cầu vượt cạn thuộc địa phận quận Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, nằm trên trục đường Điện Biên Phủ, giúp xe cộ chạy thông suốt qua ngã tư Hàng Xanh mà không phải chịu điều phối bởi đèn giao thông. Đây là cầu vượt nhẹ bằng thép thứ hai tại Thành phố Hồ Chí Minh, được hợp long sau cây cầu đầu tiên tại ngã tư Thủ Đức trên trục đường xa lộ Hà Nội nhằm mang lại giải pháp giảm kẹt xe ùn tắc tại ngay giao lộ. Cầu được Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh khởi công xây dựng vào ngày 10 tháng 10 năm 2012 với vốn đầu tư 183 tỷ đồng trích từ ngân sách Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 26 tháng 12 năm 2012, nhịp giữa của cầu vượt bằng thép tại ngã tư Hàng Xanh đã được lao lắp thành công, chính thức đánh dấu một bước quan trọng trong tiến độ thi công của công trình cầu vượt bằng thép tại ngã tư Hàng Xanh. Thông số kỹ thuật. Cầu vượt Hàng Xanh có tổng chiều dài 390m, mặt cầu rộng 16m cho 4 làn xe chạy hai chiều với vận tốc 40 km/giờ và chỉ dành cho xe buýt, xe con và xe máy. Tổng mức đầu tư dự án là 188,5 tỷ đồng, trong đó vốn xây lắp 159 tỷ đồng, phần còn lại chi phí giải tỏa công trình kỹ thuật, dự phòng phí…
1
null
Họ Choi choi là một họ chim trong bộ Choi choi, gồm khoảng 64 đến 66 loài. Phân bố và môi trường sống. Chúng phân bố trên khắp thế giới, chủ yếu gần các vực nước, mặc dù có một số ngoai lệ như chúng sống ở vùng đất liền của Dotterel, nơi có môi trường đất đá trong các sa mạc ở trung và tây Úc.
1
null
Anaxyrus americanus (tên tiếng Anh: "American toad", "cóc Mỹ"), danh pháp đồng nghĩa "Bufo americanus") là một loài cóc thường gặp sinh sống ở khắp miền đông Hoa Kỳ và Canada. Có ba phân loài "A. a. americanus", "A. a. charlesmithi", và "A. a. copei". Theo nghiên cứu phân loại, loài này thuộc về chi "Anaxyrus", chứ không phải "Bufo".
1
null
Vũ Đại (1927-1983), nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa V, Đại biểu Quốc hội khóa VII, Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Tên thật của ông Vũ Đại là Nguyễn Thúc Kha, sinh năm 1927. Quê quán tại thôn Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Quá trình hoạt động cách mạng. Ông tham gia cách mạng và là đảng viên Đảng CSVN từ tháng 3/1945. Từ 1945-46: Bí thư Huyện ủy huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Từ 1946-48: Thường vụ Tỉnh Ủy Bắc Ninh. Từ 1948-49: Thường vụ Khu bộ Việt Minh Liên khu I Việt Bắc. Từ 1949-56: công tác tại Trung ương Đoàn Thanh niên. Sau khi hòa bình lập lại, trong thời gian từ 1956-59: Bí thư Thành đoàn Hà Nội. Từ năm 1959-65: Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội. Từ 1965-1975: Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Bộ Công nghiệp nhẹ. Sau khi cả nước thống nhất, ông được Trung ương cử vào miền Nam. Từ 1975-79: Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh. Từ 1979-81: Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông được Trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại tỉnh An Giang và được bầu là Đại biểu Quốc hội khóa VII. Ngày 22/1/1981, ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cho đến ngày mất. Ông đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng nhiều huân chương cao quý. Do những cống hiến của ông cho đất nước, ngày 5/1/2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký quyết định số 13/QĐ-CTN truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh.
1
null