id stringlengths 1 4 | title stringlengths 1 62 | ns stringclasses 18 values | redirect stringclasses 813 values | restrictions null | revision_id stringlengths 5 8 | parentid stringlengths 3 8 ⌀ | timestamp timestamp[s]date 2003-11-13 02:53:14 2025-09-20 08:40:01 | minor bool 2 classes | comment stringlengths 0 500 ⌀ | model stringclasses 3 values | format stringclasses 3 values | sha1 stringlengths 31 31 | contributor dict | text stringlengths 0 426k | text_bytes stringlengths 1 6 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
1253 | Lập trình viên | 0 | null | null | 74117340 | 73593773 | 2025-09-13T16:22:37 | true | Thêm liên kết tới [[Ngày của Lập trình viên]], một bài mồ côi. | wikitext | text/x-wiki | a59j8prvcwrcydyc9qhq99y8roc7oq1 | {
"username": "Danh3003",
"id": "985057",
"ip": null
} | '''Lập trình viên''' ('''người lập trình''' hay '''thảo chương viên điện toán''') là người viết ra các [[phần mềm|chương trình máy tính]]. "Thảo chương viên điện toán" là một từ cũ, được dùng trước năm [[1975]], và đang trở nên ít phổ thông hơn. Theo thuật ngữ [[máy tính]], lập trình viên có thể là một [[chuyên gia]] trong một lĩnh vực của chương trình [[máy tính]] hoặc là một người không chuyên, viết mã cho các loại [[phần mềm]]. Người đã thực hiện và đưa ra cách tiếp cận chính thức để lập trình được gọi là người phân tích [[phần mềm]].<ref>{{Chú thích web| url = http://www.ericsink.com/No_Programmers.html | tiêu đề = Small ISVs: You need Developers, not Programmers | ngày =09/05/2003 | ngày truy cập = | nơi xuất bản= | ngôn ngữ = }}</ref><ref>{{Chú thích web | url =http://codebetter.com/raymondlewallen/2005/02/22/developer-versus-programmer/ | tiêu đề =22/02/2005Developer versus Programmer | ngày = | ngày truy cập = | nơi xuất bản = | ngôn ngữ =tiếng Anh | archive-date =2018-09-18 | archive-url =https://web.archive.org/web/20180918193646/http://codebetter.com/raymondlewallen/2005/02/22/developer-versus-programmer/ | url-status =dead }}</ref><ref>{{chú thích báo |title=Programmer vs. Developer vs. Software Engineer |url=http://discuss.joelonsoftware.com/default.asp?joel.3.112837.37 |access-date = ngày 1 tháng 4 năm 2012 |archive-date = ngày 10 tháng 7 năm 2018 |archive-url=https://web.archive.org/web/20180710101939/http://discuss.joelonsoftware.com/default.asp?joel.3.112837.37 |url-status=dead }}</ref><ref>{{chú thích báo|title=Programmer vs. Developer vs. Software Engineer |url=http://www.xtremevbtalk.com/archive/index.php/t-233780.html}}</ref>
Những người thành thạo các kỹ năng [[lập trình máy tính|lập trình]] [[máy tính]] có thể trở nên nổi tiếng, tuy nhiên sự đánh giá này lại bị giới hạn bởi những phạm vi trong lĩnh vực [[công nghệ phần mềm]]. Nhiều trong số những lập trình viên danh tiếng lại được dán mác là [[hacker|tin tặc]]. Những lập trình viên thường gắn với hình ảnh những chuyên gia [[tin học]] "cá biệt", họ chống lại cái gọi là "những bộ com lê" (thường gắn liền với những bộ đồng phục trong các [[doanh nghiệp]], theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng - chỉ dành cho giới quyền uy), sự điều khiền, tuân theo luật lệ. Có nhiều người trẻ tuổi vẫn có khả năng [[lập trình máy tính|lập trình]] tốt, họ được xem là các hạt giống cho ngành [[lập trình máy tính|lập trình]] trong tương lai. Trong lịch sử, [[Bá tước|Nữ bá tước]] [[Ada Lovelace]] được xem như là lập trình viên đầu tiên trên thế giới.<ref>J. Fuegi and J. Francis, "Lovelace & Babbage and the creation of the 1843 'notes'." Annals of the History of Computing 25 #4 (October–December 2003): 19, 25. [http://dx.doi.org/10.1109/MAHC.2003.1253887 Digital Object Identifier]</ref>
Một số ngôn ngữ mà lập trình viên sử dụng phổ biến là [[Ngôn ngữ C|C]], [[C++]], [[C Sharp (ngôn ngữ lập trình)|C#]], [[Java (ngôn ngữ lập trình)|Java]], [[.NET Framework|.NET]], [[Python (ngôn ngữ lập trình)|Python]], [[Visual Basic]], [[ABAP]], [[Lisp]], [[PHP]] và [[Perl]].<ref>{{Chú thích web| url = http://www.eweek.com/c/a/IT-Management/10-Programming-Languages-You-Should-Learn-Right-Now/ | tiêu đề =10 Programming Languages You Should Learn Right Now | ngày =15/09/2006 | ngày truy cập = | nơi xuất bản=EWeek | ngôn ngữ =tiếng Anh }}</ref>
== Vị trí trong ngành phần mềm ==
* [[kỹ sư phần mềm]]
(''Software Engineer'').
* [[Nhà phát triển phần mềm]]
(''Software Developer'').
* [[Lập trình|Lập trình viên máy tính]]
(''Computer Programer'').
* [[Nhà hoạt định phần mềm|Kiến trúc sư về giải pháp phần mềm]]
(''Software Solution Architect'').
== Kỹ năng cần thiết của Lập trình viên ==
Những thách thức cơ bản cho các Lập trình viên là phải chịu áp lực lớn và phải tìm tòi, học hỏi. Vì thế nó đòi hỏi phải có niềm [[đam mê]] và ưa thích sự [[thử thách]] thì mới đủ khả năng trở thành một nhà phát triển.
Các kỹ năng mềm có thể cần thiết ở một Lập trình viên:
* [[Kỹ năng phân tích]]: Khả năng nắm bắt, phân tích vấn đề một cách rõ ràng và chính xác.
* [[Logic|Tư duy logic]]: Có khả năng tư duy trong chuyên môn một cách khoa học và hiệu quả.
* [[Khả năng tập trung]]: khi làm việc với code, các nhà phát triển cần sự tập trung cao độ để tránh gặp phải những sai sót.
* [[Kỹ năng tự học]]: lập trình đòi hỏi bạn phải tự học và bổ sung các kiến thức tiếp theo chẳng hạn như các thuật toán hay cấu trúc nền tảng mới.
== Lập trình viên ở Việt Nam ==
{{chính|Lập trình viên ở Việt Nam }}
Theo các báo cáo thị trường, [[Việt Nam]] dự kiến sẽ thiếu hụt từ 150.000 đến 200.000 lập trình viên/kỹ sư mỗi năm trong giai đoạn 2023-2025<ref>{{Chú thích web|url=https://vneconomy.vn/techconnect//viet-nam-co-the-thieu-tu-150-000-200-000-nhan-su-cong-nghe-thong-tin-moi-nam.htm|tiêu đề=Việt Nam có thể thiếu từ 150.000 - 200.000 nhân sự công nghệ thông tin mỗi năm|họ=Minh -|tên=Phúc|ngày=2023-09-15|website=Nhịp sống kinh tế Việt Nam & Thế giới|ngôn ngữ=vi|ngày truy cập=2025-03-28}}</ref>. Mặc dù mức lương và đãi ngộ trong ngành này khá hấp dẫn, với mức lương trung bình dao động từ 1.100 đến 3.000 USD mỗi tháng<ref>{{Chú thích web|url=https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/nhan-luc-it-dat-gia-muc-luong-binh-quan-hon-70-trieu-dongthang-20240923134135253.htm|tiêu đề=Nhân lực IT đắt giá, mức lương bình quân hơn 70 triệu đồng/tháng|họ=Trí|tên=Dân|ngày=2024-09-24|website=Báo điện tử Dân Trí|ngôn ngữ=vi|ngày truy cập=2025-03-28}}</ref>, nhưng số lượng nhân sự có trình độ chuyên môn cao vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các doanh nghiệp.<ref>{{Chú thích web|url=https://vnbusiness.vn/viec-lam/nganh-it-dang-mo-rong-canh-cua-nghe-nghiep-cho-gioi-tre-1102649.html|tiêu đề=Ngành IT đang mở rộng cánh cửa nghề nghiệp cho giới trẻ|website=Vnbusiness|ngày truy cập=2025-03-28}}</ref> Cụ thể, số lượng lập trình viên hiện tại chỉ đạt khoảng 530.000 người, và mỗi năm chỉ có khoảng 30% trong số hơn 57.000 kỹ sư công nghệ thông tin mới ra trường đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp.<ref>{{Chú thích web|url=https://vnexpress.net/viet-nam-kha-nang-thieu-150-000-den-200-000-nhan-su-it-moi-nam-4653126.html|tiêu đề=Việt Nam khả năng thiếu 150.000 đến 200.000 nhân sự IT mỗi năm|website=|ngôn ngữ=en|url-status=live|ngày truy cập=2025-03-28}}</ref>
Mức lương của lập trình viên tại Việt Nam có sự phân hóa rõ rệt, tùy thuộc vào kinh nghiệm, kỹ năng và vị trí công việc.{{Cần dẫn chứng|ngày=tháng 6 năm 2025}} Những người có kinh nghiệm lâu năm và kỹ năng chuyên môn cao thường nhận được mức lương đáng kể. Cụ thể, mức lương của nhân sự mới ra trường trung bình từ 435-514 USD, và tăng lên khi có kinh nghiệm.<ref>{{Chú thích web|url=https://thanhnien.vn/nganh-it-thieu-hut-tu-150000-200000-nhan-su-nam-185230916084935415.htm|tiêu đề=Ngành IT thiếu hụt từ 150.000 - 200.000 nhân sự/năm|họ=thanhnien.vn|ngày=2023-09-16|website=thanhnien.vn|ngôn ngữ=vi|ngày truy cập=2025-03-28}}</ref> [[Thành phố Hồ Chí Minh]] vẫn là trung tâm công nghệ lớn nhất cả nước, tập trung hơn 55% lực lượng lập trình viên, mang đến nhiều cơ hội việc làm cho các lập trình viên. Tuy nhiên, các thành phố khác như [[Hà Nội]] và [[Đà Nẵng]] cũng đang trở thành những điểm đến hấp dẫn cho những người làm trong ngành này.
== Xem thêm ==
* [[Ngày của Lập trình viên]].
==Nghiên cứu thêm==
* [[Gerald Weinberg|Weinberg, Gerald M.]], ''The Psychology of Computer Programming'', New York: Van Nostrand Reinhold, 1971
* An experiential study of the nature of programming work: Lucas, Rob. [http://www.newleftreview.org/?view=2836 "Dreaming in Code"] ''New Left Review'' 62, March-April 2010, pp. 125–132.
==Liên kết ngoài==
* [http://www.ideosphere.com/fx-bin/Claim?claim=ITJOBS "The Future of IT Jobs in America" article]
* [http://samizdat.mines.edu/howto/HowToBeAProgrammer.html How to be a programmer] {{Webarchive|url=http://arquivo.pt/wayback/20100810030737/http://samizdat.mines.edu/howto/HowToBeAProgrammer.html |date=2010-08-10 }} - An overview of the challenges of being a programmer
* The US Department of Labor's description of [http://www.bls.gov/oco/ocos110.htm "Computer Programmer"] and [http://www.bls.gov/oco/ocos267.htm "Computer Software Engineer"] and statistics for employed [http://www.bls.gov/oes/current/oes151021.htm "Computer Programmers"]
==Tham khảo==
{{tham khảo|30em}}
[[Thể loại:Nghề nghiệp]]
[[Thể loại:Lập trình máy tính]]
[[Thể loại:Công nghệ thông tin]]
[[Thể loại:Lập trình viên]]
[[de:Programmierer]]
[[hi:प्रोग्रामर]]
[[he:מתכנת]]
[[ka:პროგრამისტი]]
[[arz:مبرمج]]
[[my:ကွန်ပျူတာ ပရိုဂရမ်မာ]] | 10009 |
1254 | OOo | 0 | OpenOffice.org | null | 29842 | null | 2004-07-25T10:47:08 | true | #REDIRECT [[OpenOffice.org]] | wikitext | text/x-wiki | muxj8ifsols8ghqez3w8fxjfucow3d6 | {
"username": "Baffclan",
"id": "92",
"ip": null
} | #REDIRECT [[OpenOffice.org]] | 28 |
1259 | Thành viên:Thuphuong | 2 | null | null | 29847 | null | 2004-07-28T10:56:17 | false | null | wikitext | text/x-wiki | 17d91ertodiqdxkdfu8mg9gbj30ogsi | {
"username": "Thuphuong",
"id": "93",
"ip": null
} | Phân tích chữ Nôm theo Hình-Âm-Nghĩa
LÊ ANH MINH
HÁN – NÔM – QUỐC NGỮ LATIN HÓA
Việt ngữ thuộc ngữ tộc nào? Dường như cho đến nay chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Trước đây người ta cho rằng Việt ngữ thuộc hệ Mon-Khmer, gần đây có thuyết nói nó thuộc hệ Nam-Á, lại có thuyết nói nó thuộc hệ Austro-Asiatic (Úc-Á).
Về quá trình phát triển của Việt ngữ, Henri Maspero phân biệt 5 thời kỳ:
●Thời kỳ tối cổ của Việt ngữ: Việt ngữ được sử dụng trước và trong thời Bắc thuộc.
●Thời kỳ tiền cổ Việt ngữ: Việt ngữ được tăng thêm phần từ Hán Việt mới tạo vào thế kỷ X, tức thời tự chủ.
●Thời kỳ cổ Việt ngữ: Việt ngữ lưu hành ở thế kỷ XV và VI mà ta có thể tìm dấu vết trong quyển Hoa Di Dịch Ngữ, một quyển tự điển đối chiếu Việt ngữ với Hán ngữ viết vào đời Minh.
●Thời kỳ trung đại Việt ngữ: Việt ngữ lưu hành ở thế kỷ XVII mà ta có thể tìm dấu vết trong quyển Tự vị Việt-Bồ-La của giáo sĩ Alexandre de Rhodes (in tại Rome, 1651).
●Thời kỳ cận đại Việt ngữ: Việt ngữ hiện lưu hành.
Đơn giản hơn, ta có thể sơ kết rằng:
* Người Việt Nam suốt 1000 năm Bắc thuộc đã sử dụng chữ Hán. Việt ngữ có lẽ là văn nói trong dân gian mà thôi.(1)
* Khoảng thế kỷ XIII – XIV (?), người Việt Nam đã vay mượn chữ Hán mà chế tác ra hệ thống chữ Nôm (văn viết).
* Khoảng thế kỷ XVII, chữ Quốc ngữ (tức Việt ngữ Latin hóa) hình thành. Trong thời gian này các giáo sĩ Thiên Chúa giáo đến các nước châu Á truyền đạo, họ cố gắng học nói tiếng bản xứ để việc truyền giáo được hữu hiệu hơn. Họ đã Latin hóa (romanize) ngôn ngữ bản địa trước tiên là giúp học tập nhanh chóng tiếng bản địa, sau đó nếu có thể thì thay thế tiếng bản địa. Ngoài Trung Quốc, các nước Nhật, Hàn, Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho giáo nặng nề mà Hán ngữ là công cụ truyền đạt. Nếu Latin hóa được các ngôn ngữ ở các nước này, sự thay đổi một tín ngưỡng cũ bằng một tôn giáo mới sẽ thuận lợi hơn nhiều. Tại Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, sự Latin hóa cho đến bây giờ chỉ dừng lại ở chức năng ghi âm cho người ngoại quốc dễ học ngôn ngữ bản địa thôi. Nhưng ở Việt Nam, nhiều giáo sĩ (nhất là giáo sĩ dòng Tên) cùng với các giáo sĩ người Việt đã hợp tác mà sáng chế ra Việt ngữ Latin hóa mà ta gọi đơn giản là Quốc ngữ, và nó đã thay thế thành công chữ Nôm. Giai đoạn hình thành chữ Quốc ngữ, theo Đỗ Quang Chính, trong khoảng 1620-1659.(2)
CẤU TRÚC CHỮ NÔM
Những công trình phân tích cấu trúc chữ Nôm từ trước đến nay, nếu không dựa vào Lục Thư của chữ Hán thì cũng phân chia rất chi ly, rườm rà, khó hiểu, khó nhớ. Để đơn giản hơn, Lê Anh Minh đã phân tích cấu trúc chữ Nôm thành 5 loại, dựa vào ba yếu tố: Hình-Âm-Nghĩa của tam giác ngữ nghĩa (semantic triangle). Cách phân loại này có thể chưa hoàn chỉnh về mặt ngữ học, nhưng nó có thể giúp việc học chữ Nôm dễ dàng hơn.
Trước tiên là vài ký hiệu quy ước:
H : Hình (tự dạng) của chữ thuần Hán.
h : Hình (tự dạng) của chữ thuần Nôm.
A : Âm (Hán Việt) của chữ Hán.
a : Âm của chữ Nôm.
N : Nghĩa của chữ Hán.
n : Nghĩa của chữ Nôm.
< : bắt nguồn từ chữ Hán
Thí dụ: HAN nghĩa là chữ thuần Hán; han nghĩa là chữ thuần Nôm.
● Loại 1 (HAN):
Vay mượn 100% chữ Hán về hình, âm, nghĩa. Thí dụ: Hán 漢, Việt 越, dân 民, tỉnh 省, thành 城, học 學, sinh 生, v.v...
● Loại 2 (HaN):
Giữ nguyên hình và nghĩa của chữ Hán, nhưng đọc theo âm Nôm. Thí dụ:
車 xe (< 車 xa) 孤 côi (< 孤 cô)
局 cuộc (< 局 cục) 餅 bánh (< 餅 bính)
家 nhà (< 家 gia) 卷 cuốn (< 卷 quyển)
刀 dao (< 刀 đao) 巾 khăn (< 巾 cân)
瓦 ngói (< 瓦 ngõa) 心 tim (< 心 tâm)
● Loại 3 (HAn):
Giữ nguyên hình và âm của chữ Hán, nhưng đổi nghĩa.
Thí dụ:
沒 một (n=số 1; N=mất đi)
卒 tốt (n=tốt [≠ xấu]; N=lính, xong [tốt nghiệp])
債 trái (n=trái [≠ phải]; N=món nợ)
司 tư (n=lo nghĩ; N=lo việc [cũng đọc là ty : công ty])
戈 qua (n=đi qua; N=vũ khí dài)
賒 xa (n=xa [≠ gần]; N=mua trả góp)
昌 xương (n=cục xương; N=đẹp, hưng thịnh)
泊 bạc (n=màu trắng; N=bến đậu thuyền)
● Loại 4 (Han):
Giữ nguyên hình của chữ Hán, nhưng đổi hẳn âm và nghĩa.
Thí dụ:
帝 đấy (< A: đế; N: vua)
固 có [≠ không] (< A: cố; N: vững chắc)
羅 (罗) là (< A: la; N: võng, lưới, lụa)
略 trước [≠ sau] (< A: lược; N: sơ lược, tính toán)
別 biết [=hiểu biết] (< A: biệt; N: cách biệt, khác)
及 gặp [=gặp gỡ] (< A: cập; N: đến, kịp tới)
弄 sống (< A: lộng; N: đùa giỡn)
工 trong (< A: công; N: công việc)
每 mũi (< A: mỗi; N: mỗi một)
林 trăm [=100] (< A: lâm; N: rừng)
滝 sông (< 瀧 A: lung; N: nước chảy xiết) (竜 là chữ cổ của 龍 )
● Loại 5 (han±):
Chữ thuần Nôm. Dấu ± nghĩa là thêm (+) hoặc bớt (-) nét của chữ Hán mà thành chữ Nôm. Như vậy loại này có hai tiểu loại:
1. han+ (thêm nét):
a/- Thêm nét ㄑ个 « . Thí dụ:
女< nỡ, nợ, nữa (< 女 nữ)
支< chê (< 支 chi)
馬< mỡ, mựa (< 馬 mã)
mới (< 買 mãi)
“支 cho (< 支 chu)
“貝 buổi (< 貝 bối)
“青 “台 thảnh thơi (< 青台 thanh thai)
b/- Thêm một chữ Hán (tức là ghép Hán+Hán). Thí dụ:
trời (thiên 天 + thượng 上)
Các chữ thường thêm vào: 口, 巨, 巴, 車, 亠, 阿...
c/- Thêm nét và thêm chữ Hán. Thí dụ:
bố (vương 王+ bố 布 + nét giản lược của 司 [tức là 司 bỏ 一 và 口])
d/- Thêm bộ thủ chữ Hán. Thí dụ:
渃 nước (thủy 氵+ nhược 若 )
扜 vo [vo tròn] (thủ 扌+ vu 于)
Các bộ thủ thường được dùng là: 亠, 刂, イ, 厂, 广, 氵, 忄, 辶, 土, 寸, 口, 巾, 山, 犭, 子, 小, 女, 礻, 灬, 木, 艹, 日, 月, 牛, 毛, 片, 牙, 疒, 瓦, 石, 衤, 白, 目, 皮, 田, 米, 耳, 竹, 舟, 羽, 雨, 色, 耒, 糸, 貝, 走, 足, 車, 角, 酉, 金, 風, 食, 髟, 馬, 魚, 赤, ...
2. han– (bớt nét):
Bớt nét của chữ Hán, đổi luôn âm và nghĩa. Thí dụ:
khệnh khạng (< 共 cộng [bỏ một trong hai nét ở chân])
khề khà (< 其 kỳ [bỏ một trong hai nét ở chân])
CHÚ Ý: Còn một số chữ viết tắt chữ Hán gốc (tương tự chữ giản thể Trung Quốc hoặc viết tắt khác đi), tức là không đổi âm và nghĩa. Ta không cần liệt kê riêng thành một loại. Thí dụ:
风 phong (< 風 phong)
náo (< 鬧 náo)
万 vạn (< 萬 vạn)
乙 vũ (< 雨 vũ) (không phải là ất)
り tiền (< 錢 tiền)
CHÚ THÍCH
(1) Có giả thuyết cho rằng thời cổ đại người Việt đã có chữ viết ngoằn ngoèo như giun bò. Có thuyết nói rằng thời Đào Đường (khoảng năm 2000 tcn) người Việt đã có chữ viết như nòng nọc (khoa đẩu văn). Tuy nhiên đó cũng chỉ là giả thuyết chưa kiểm chứng.
(2) Xem: Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ Quốc ngữ, Saigon, 1972. Trong lời kết (tr.130) Đỗ Quang Chính nói tổng quát là nhiều giáo sĩ dòng Tên sáng chế chữ Quốc ngữ với sự cộng tác hữu hiệu của các giáo sĩ bản địa. Ông không khẳng định cá nhân nào có công nhất trong việc sáng chế này. Nhưng theo một thuyết phổ thông, Alexandre de Rhodes là giáo sĩ dòng Tên đã hệ thống lại chữ Quốc ngữ, rồi theo thời gian do qua tay nhiều người mà chữ Quốc ngữ mới có diện mạo như ngày nay.
---------------------------------------------------------------------
Hanosoft R & D - Nghiên cứu & phát triển phần mềm Hán Nôm | 8819 |
1260 | Thảo luận:Lạng Sơn | 1 | null | null | 72233027 | 63844995 | 2025-03-12T09:27:12 | false | /* Tên hành chính chỉ có 1 */ gỡ {{Thống kê truy cập}} | wikitext | text/x-wiki | 0ufypnvquo7b25oo1tvm836d5wx0m1s | {
"username": "TheSecondFunnyYellowBot",
"id": "977823",
"ip": null
} | {{Dự án Hành chính Việt Nam|chất lượng= B|độ quan trọng=cao}}
==Untitled==
this infomation may be like the langson.gov.vn, but it's common reference data about Lang Son. [[Thành viên:Tuanndh|Tuanndh]] 14:52, ngày 2 tháng 8 năm 2004
==Thông tin không có căn cứ==
Có bạn đã viết "cắt một số đất đai thuộc Việt Nam trong đó có ải Nam Quan, dâng cho Trung Quốc." xin cho biết lời phát biểu trên dựa theo dữ kiện nào ? nếu có thể đồng thời cho biết nguồn gốc của dữ kiện đó!!
Đây là trang thông tin về một Tỉnh lỵ của Việt Nam. Do vậy, chỉ đăng thông tin chung về Tỉnh lỵ đó, đề nghị các thành viên, người quản lý lưu ý cho vấn đề nội dung thông tin, tránh việc đăng tải các thông tin nhậy cảm, những nhận định cá nhân thiếu căn cứ như:
"Đất đai của tổ tiên để lại, tổ tiên dân Việt đã khổ cực ngàn năm xây dựng và bảo vệ từng tất đất với bao nhiêu xương máu. Nay bỗng không nhà nước Việt nam dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam cắt đất dâng cho Trung Quốc. Người dân Việt nào thương nước, nghe đến chuyện đảng và nhà nước dâng đất cho Trung Quốc mà không khỏi đau lòng."
PS: xin cho hỏi người viết những dòng trên đã từng tới Lạng Son bao giờ chưa ? có thể chỉ rõ các thông tin xác thực về những nhận định trên không ?
<small>— ''[[Wikipedia:Trang thảo luận|thảo luận]] quên [[Wikipedia:Chữ ký|ký tên]] này là của'' [[Thành viên:81.66.24.69 |81.66.24.69 ]] ([[Thảo luận Thành viên:81.66.24.69 |thảo luận]] • [[Đặc biệt:Contributions/81.66.24.69 |đóng góp]]).</small><!-- {{vô danh|81.66.24.69 }} -->
:Tôi vừa viết lại đoạn về Trấn Nam Quan như sau: "Cửa khẩu Hữu Nghị Quan của Trung Quốc, xưa gọi là Trấn Nam Quan nằm ở bên kia biên giới Việt - Trung thuộc tỉnh Lạng Sơn, là nơi phân định ranh giới Việt Nam và Trung Quốc từ thời phong kiến."
:Nguyên do của những sửa đổi: 1. "Ải Nam Quan" là một tên gọi không chính xác, phải gọi là "Trấn Nam Quan" (ải Trấn Nam) mới đúng. 2. Cửa ải này do nhà Minh xây dựng trên lãnh thổ Trung Quốc, và chưa bao giờ thuộc về Việt Nam. 3. Tôi đổi "từ ngàn xưa" thành "từ thời phong kiến" vì sự thật là mãi đến thời Lý - Tống, hai nước mới bành trướng cương vực đến vùng này, còn trước đó đây là lãnh thổ của các dân tộc thiểu số. Thật ra đoạn này bỏ đi cũng được.
:[[Thành viên:Nguyễn Đỗ|Nguyễn Đỗ]] 17:16, ngày 20 tháng 1 năm 2007 (UTC)
Như vậy Hữu Nghị Quan là cửa khẩu thuộc phía Trung Quốc. Vậy sao còn có mấy chứ rằng Lạng Sơn có cửa khẩu đường bộ là Hữu Nghị.--[[Thành viên:203.160.1.42|203.160.1.42]] 04:05, ngày 21 tháng 1 năm 2007 (UTC)
:Phải chăng cả hai cửa khẩu đối diện nhau đều có chữ Hữu Nghị trong tên gọi.--[[Thành viên:Tò Mò|Tò Mò]] 04:16, ngày 21 tháng 1 năm 2007 (UTC)
Bán đất đai nước nhà rồi còn bao biện nữa hả ? sự thật vẫn là sự thật. <small>— ''[[Wikipedia:Trang thảo luận|thảo luận]] quên [[Wikipedia:Chữ ký|ký tên]] này là của'' [[Thành viên:125.234.162.152|125.234.162.152]] ([[Thảo luận Thành viên:125.234.162.152|thảo luận]] • [[Đặc biệt:Contributions/125.234.162.152|đóng góp]]).</small><!-- {{vô danh|125.234.162.152}} -->
Tôi thì không rành lắm về lịch sử tuy nhiên từ nhỏ tôi đã được biết là "Đất nước Việt Nam trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau". Nếu vậy thì hiện nay đất nước Việt Nam trải dài từ đâu đến đâu?.
== Tên hành chính chỉ có 1 ==
Đã là một tỉnh thì tên chính thức chỉ duy nhất là Lạng Sơn, còn xứ Lạng thì không phải tên hành chính mà chỉ là cách nói văn vẻ thôi. [[Thành viên:Avia|Avia]]
Đã là tên một dia danh duoc hanh chinh hoa thanh cap tỉnh thì tên chính thức chỉ duy nhất là Lạng Sơn, còn xứ Lạng thì không phải tên hành chính mà chỉ là cách nói truyen mieng dan gian am chi ve mot vung dat, nguoi va nhung net van hoa dac trung cua no. cung nhu van goi xu Thanh, xu Quang, xu Hue vay thôi. [[Thành viên:203.160.1.47|203.160.1.47]]
Thực sự Ải Nam Quan thực sự là của Việt Nam. Ải Nam Quan là vùng hiểm thế của VN cạnh cửa khẩu Nam quan của Trung hoa. Chúng ta phải phân định rõ Ải với Quan (cửa khẩu). Các bạn có thể kham khảo trong các "Bắc Thành Dư Địa Chí, Quảng Châu Ký, Tần Thư Địa Lý Chí, Lĩnh Biểu Lục Dị...Tôi xin xác nhận lại Địa Danh Ải Nam Quan thuộc về Việt Nam và tái khẳng định == Đất nước Việt Nam hình chữ S trải dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau == Ải: nơi chật hẹp, vùng đất hiểm thế, không thể hiểu lầm thành cổng, cửa khẩu, đồn hay thành quách Quan: cửa Nam giao, Trấn Nam Quan tên gọi sau cùng là Nam Quan thuộc địa phận TQ nằm tại châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây TQ. Xin các bạn đừng nhầm lẫn! | 5582 |
1262 | Wikipedia:Thông tin | 4 | Wikipedia:Tin tức | null | 29849 | null | 2004-09-04T19:29:29 | false | Wikipedia:Thông tin đã được di chuyển đến Wikipedia:Tin tức | wikitext | text/x-wiki | pphhbglbiqpvvrve0bblygdwptf66gf | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #redirect [[Wikipedia:Tin tức]]
| 33 |
1263 | Thể loại:Đa giác | 14 | null | null | 25300436 | 21354524 | 2016-10-03T07:38:09 | true | /* top */thêm thể loại, replaced: [[Thể loại:Hình học phẳng]] → [[Thể loại:Hình học phẳng Euclid]] using [[Project:AWB|AWB]] | wikitext | text/x-wiki | drzlm9i7e9h4hh16vs8xz0dw1vlh21f | {
"username": "TuanminhBot",
"id": "390197",
"ip": null
} | '''[[Đa giác]]''' là đường [[Phẳng (toán học)|phẳng]] [[Cong đóng|đóng]] bằng một số [[đoạn đường]] theo dãy. Những đoạn đường của đa giác được gọi là ''cạnh'' hay ''bên'' của nó, còn những nơi có hai bên gặp nhau là ''đỉnh'' của nó. Nếu [[đa giác đơn giản]] thì các bên và đỉnh thành [[biên giới]] của '''miền đa giác''', và cũng có lúc khi thuật ngữ ''đa giác'' nói đến ''phía trong'' của miền đa giác (diện tích mở ở giữa hình này) hay cả miền trung và biên giới.
{{Bài chính thể loại}}
{{thể loại Commons|Polygons}}
[[Thể loại:Polytope]]
[[Thể loại:Hình thể hình học]]
[[Thể loại:Hình học phẳng Euclid]] | 780 |
1264 | Thể loại:Tam giác | 14 | null | null | 21354525 | 11016178 | 2015-08-13T00:10:30 | true | clean up, replaced: {{Commonscat → {{thể loại Commons using [[Project:AWB|AWB]] | wikitext | text/x-wiki | o1a8oh2kdqlrkzu1yhgj1flhizgmyy2 | {
"username": "Cheers!-bot",
"id": "209744",
"ip": null
} | {{thể loại Commons|Triangles}}
[[Thể loại:Đa giác]]
[[Thể loại:Hình học tam giác]] | 101 |
1265 | Hạt nhân Linux | 0 | null | null | 73663201 | 73487607 | 2025-07-06T19:19:55 | false | Add 2 books for [[Wikipedia:Thông tin kiểm chứng được]] (20250705)) #IABot (v2.0.9.5) ([[User:GreenC bot|GreenC bot]] | wikitext | text/x-wiki | s7g2483cu09zsfjjwl4tkofoae9bjyp | {
"username": "InternetArchiveBot",
"id": "686003",
"ip": null
} | {{Infobox OS
| title = Nhân Linux
| logo = [[Tập tin:Tux.svg|120px|Tux]]
| logo caption = Chú chim cánh cụt [[Tux]] biểu tượng của Linux<ref>{{chú thích web|date=2008 |title=Linux Logos and Mascots |publisher=Linux Online |url=http://www.linux.org/info/logos.html |access-date =ngày 11 tháng 8 năm 2009 |archiveurl=https://web.archive.org/web/20100815085106/http://www.linux.org/info/logos.html |archive-date=ngày 15 tháng 8 năm 2010 |url-status=dead |df= }}</ref>
| screenshot = Linux 3.0.0 boot.png
| caption = Linux kernel 3.0.0 đang khởi động
| developer = [[Linus Torvalds]] và hàng ngàn cộng tác viên<!--see git-log-->
| programmed in = [[C (ngôn ngữ lập trình)|C]] và [[assembly]]<ref>{{chú thích web|last=Balsa |first=Andrew D. |title=The linux-kernel mailing list FAQ |publisher=Tux.Org |url=http://www.tux.org/lkml/ |url-status=bot: unknown |archiveurl=https://web.archive.org/web/20160701221623/http://www.tux.org/lkml/ |archive-date= ngày 1 tháng 7 năm 2016 |df= }}</ref>
| family = [[Tương tự Unix]]
| released = 0.01 <small>({{Start date and age|1991|9|17|df=yes}})</small>
| language = Đa ngôn ngữ
| kernel type = [[Monolithic kernel|Monolithic]]
| license = [[GNU General Public License]], v2<ref>{{chú thích web |last=Martens |first=China |date=ngày 28 tháng 7 năm 2006 |title=Linux creator Torvalds still no fan of GPLv3 |work=[[InfoWorld]] |publisher=[[International Data Group|IDG]] |url=http://www.infoworld.com/article/2655630 |access-date =ngày 15 tháng 2 năm 2015}}</ref><ref name="COPYING">{{chú thích web |title=Linux Kernel Copying<!-- this updates with the kernel, at citation was;h=ca442d313d86dc67e0a2e5d584b465bd382cbf5c;hb=f3b8436ad9a8ad36b3c9fa1fe030c7f38e5d3d0b --> |url=https://git.kernel.org/?p=linux/kernel/git/torvalds/linux-2.6.git;a=blob;f=COPYING |access-date =ngày 25 tháng 9 năm 2013 |quote=''Also note that the only valid version of the GPL as far as the kernel is concerned is _this_ particular version of the license (ie v2, not v2.2 or v3.x or whatever), unless explicitly otherwise stated.'' |archive-date = ngày 21 tháng 12 năm 2012 |archive-url=https://archive.today/20121221041715/http://git.kernel.org/?p=linux/kernel/git/torvalds/linux-2.6.git;a=blob;f=COPYING |url-status=dead }}</ref> cộng với nhiều tùy chọn tự do phân phối các gói nhị phân<ref name="Blobs">{{chú thích web |url=https://www.gnu.org/philosophy/linux-gnu-freedom.html |title=Linux, GNU, and freedom |first=Richard |last=Stallman |authorlink=Richard Stallman |date=2002 |publisher=[[Free Software Foundation]]|access-date =ngày 21 tháng 2 năm 2007}}</ref><ref name="firmware">{{chú thích web |date=ngày 16 tháng 10 năm 2002 |title=kernel/git/stable/linux-stable.git |quote=path: root/firmware/WHENCE |publisher=git.kernel.org |url=https://git.kernel.org/?p=linux/kernel/git/stable/linux-stable.git;a=blob;f=firmware/WHENCE;hb=HEAD |archive-url=https://archive.today/20130113003817/http://git.kernel.org/?p=linux/kernel/git/stable/linux-stable.git;a=blob;f=firmware/WHENCE;hb=HEAD |url-status=dead |archive-date=ngày 13 tháng 1 năm 2013 |access-date =ngày 21 tháng 8 năm 2012 }}</ref>
| author = [[Linus Torvalds]]
| trang web = {{URL|https://www.kernel.org/}}
| name =
}}
'''Nhân Linux''' hay '''''Linux kernel''''' là một [[Nhân hệ điều hành|hạt nhân]] [[monolithic]] cho các [[hệ điều hành]] [[tương tự Unix]]. Họ hệ điều hành [[Linux]] dựa trên hạt nhân này và được triển khai trên cả hai hệ thống máy tính truyền thống là [[máy tính cá nhân]] và [[máy chủ]], thường dưới dạng [[bản phân phối Linux]],<ref>{{Chú thích web|url=https://git.kernel.org/pub/scm/linux/kernel/git/torvalds/linux.git/tree/README?id=f3b8436ad9a8ad36b3c9fa1fe030c7f38e5d3d0b|tiêu đề=Linux Readme|website=git.kernel.org}}</ref> và trên các thiết bị nhúng khác nhau như [[router]], [[điểm truy cập không dây]], PBX, [[set-top box]], máy thu FTA, [[smart TV]], PVR và thiết bị NAS. Hệ điều hành [[Android (hệ điều hành)|Android]] cho [[máy tính bảng]], [[điện thoại thông minh]] và [[đồng hồ thông minh]] sử dụng các dịch vụ do hạt nhân Linux cung cấp để thực hiện chức năng của nó. Trong khi thị phần trên desktop thấp, các hệ điều hành dựa trên Linux chiếm ưu thế gần như mọi phân đoạn máy tính khác, từ thiết bị di động đến máy tính lớn. Tính đến tháng 11/ 2017, tất cả 500 siêu máy tính mạnh nhất thế giới đều chạy Linux.<ref name=":2">{{Chú thích web|url=http://www.top500.org/statistics/details/osfam/1|tiêu đề=TOP500 Supercomputer Sites: Operating system Family / Linux|website=Top500.org}}</ref>
Nhân Linux được viết bởi [[Linus Torvalds]] vào năm 1991 cho [[máy tính cá nhân]] của mình<ref>{{chú thích web|url=http://www.linuxjournal.com/article/3655|title=Interview: Linus Torvalds|last=Richardson|first=Marjorie|date=ngày 1 tháng 11 năm 1999|publisher=Linux Journal|access-date =ngày 20 tháng 8 năm 2009}}</ref> và không có ý định [[đa nền tảng]], nhưng sau đó nó đã mở rộng hỗ trợ số lượng nền tảng [[kiến trúc máy tính]] khổng lồ. Linux nhanh chóng thu hút các [[Nhà phát triển phần mềm|nhà phát triển]] và người dùng sử dụng nó làm hạt nhân cho các dự án [[phần mềm tự do]] khác, đáng chú ý là [[GNU|Hệ điều hành GNU]]<ref>{{Chú thích web|url=http://www.oreilly.com/openbook/freedom/ch09.html|tiêu đề=Free as in Freedom: Richard Stallman's Crusade for Free Software|website=O'Reilly Media|nhà xuất bản=O'Reilly Media|isbn=0-596-00287-4}}</ref> được tạo ra như một hệ điều hành tự do, không độc quyền và dựa trên UNIX như một sản phẩm phụ của sự sụp đổ của các cuộc chiến Unix.<ref name="832 F.Supp. 790">{{cite court|litigants=Unix System Laboratories v. Berkeley Software|vol=832|reporter=F. Supp.|opinion=790|pinpoint=|court=[[United States District Court for the District of New Jersey|D.N.J.]]|date=1993|url=https://www.leagle.com/decision/19931622832fsupp79011506|access-date =}}</ref> Nhân Linux đã nhận được sự đóng góp của gần 12.000 lập trình viên từ hơn 1.200 công ty, bao gồm một số nhà cung cấp phần mềm và phần cứng lớn nhất.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.linuxfoundation.org/news-media/announcements/2015/02/linux-foundation-releases-linux-development-report|tiêu đề=The Linux Foundation Releases Linux Development Report.|website=The Linux Foundation|ngày truy cập=2018-11-15|archive-date=2016-07-19|archive-url=https://web.archive.org/web/20160719042639/https://www.linuxfoundation.org/news-media/announcements/2015/02/linux-foundation-releases-linux-development-report|url-status=bot: unknown}}</ref>
[[Linux kernel API]], một [[Giao diện lập trình ứng dụng|API]] thông qua đó các chương trình người dùng tương tác với hạt nhân, nó có ý nghĩa làm ổn định và không phá vỡ các chương trình không gian người dùng (một số chương trình có [[giao diện đồ họa người dùng]] [[Giao diện đồ họa người dùng|GUI]], số khác cũng dựa vào các API khác). Là một phần của chức năng của kernel, [[Chương trình điều khiển|trình điều khiển thiết bị]] điều khiển phần cứng; Trình điều khiển "mainlined" (bên trong kernel) cũng có nghĩa là rất ổn định. Tuy nhiên, giao diện giữa các mô-đun hạt nhân và hạt nhân có thể tải (LKMs), không giống như trong nhiều hạt nhân và hệ điều hành khác, không có nghĩa là rất ổn định theo thiết kế.<ref>{{chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/Documentation/stable_api_nonsense.txt|title=The Linux Kernel Driver Interface|last=Kroah-Hartman|first=Greg|website=Linux Kernel Documentation|archiveurl=https://web.archive.org/web/20161221071118/https://www.kernel.org/doc/Documentation/stable_api_nonsense.txt|archive-date=ngày 21 tháng 12 năm 2016|access-date =ngày 20 tháng 1 năm 2016|url-status=dead}}</ref>
Hạt nhân Linux được phát triển bởi những người đóng góp trên toàn thế giới, là một ví dụ nổi bật về [[phần mềm tự do nguồn mở]],<ref>{{cite mailing list|last=Torvalds|first=Linus|author-link=Linus Torvalds|date=ngày 25 tháng 9 năm 2016|title=Re: GPLv3 Position Statement|mailing-list=[[LKML]]|url=https://lkml.org/lkml/2006/9/25/161}}</ref> và nó được hỗ trợ lên đến sáu năm tùy theo phiên bản. Các cuộc thảo luận phát triển hàng ngày diễn ra trên [[Linux kernel mailing list]] (LKML). Hạt nhân Linux được phát hành theo [[Giấy phép Công cộng GNU phiên bản 2]] (GPLv2)<ref name=":0">{{chú thích web|title=Linux Kernel Copying<!-- this updates with the kernel, at citation was;h=ca442d313d86dc67e0a2e5d584b465bd382cbf5c;hb=f3b8436ad9a8ad36b3c9fa1fe030c7f38e5d3d0b -->|url=https://git.kernel.org/?p=linux/kernel/git/torvalds/linux-2.6.git;a=blob;f=COPYING|access-date =ngày 25 tháng 9 năm 2013|quote=''Also note that the only valid version of the GPL as far as the kernel is concerned is _this_ particular version of the license (ie v2, not v2.2 or v3.x or whatever), unless explicitly otherwise stated.''|archive-date = ngày 21 tháng 12 năm 2012 |archive-url=https://archive.today/20121221041715/http://git.kernel.org/?p=linux/kernel/git/torvalds/linux-2.6.git;a=blob;f=COPYING|url-status=dead}}</ref><ref>{{cite mailing list|mailing-list=[[LKML]]|url=http://lkml.iu.edu/hypermail/linux/kernel/0009.1/0096.html|title=Linux-2.4.0-test8|last1=Torvalds|first1=Linus|author-link1=Linus Torvalds|date=ngày 8 tháng 9 năm 2000|access-date =ngày 21 tháng 11 năm 2015|publisher=lkml.iu.edu|quote=''The only one of any note that I'd like to point out directly is the clarification in the COPYING file, making it clear that it's only _that_particular version of the GPL that is valid for the kernel. This should not come as any surprise, as that's the same license that has been there since 0.12 or so, but I thought I'd make that explicit''}}</ref> với một số [[firmware]] được phát hành theo nhiều giấy phép không miễn phí.<ref name=":0" />
== Lịch sử ==
''Xem thêm: [[Lịch sử Linux]]''
Tháng 4/1991, Linus Torvalds, tại thời điểm đó là một sinh viên [[khoa học máy tính]] 21 tuổi tại [[Đại học Helsinki]], [[Phần Lan]], bắt đầu nghiên cứu một số ý tưởng đơn giản cho một hệ điều hành. Ông bắt đầu với một tác vụ switcher trong [[Hợp ngữ|assembly]] [[Intel 80386]] và một trình điều khiển thiết bị đầu cuối. Ngày 25/8/1991, Torvalds đã đăng thông tin sau lên [[Usenet]] comp.os.minix,<ref name="Torvlads25Aug91">{{chú thích báo|last=Torvalds|first=Linus Benedict|authorlink=Linus Torvalds|date=ngày 26 tháng 8 năm 1991|title=What would you like to see most in minix?|newsgroup=comp.os.minix|message-id=1991Aug25.205708.9541@klaava.Helsinki.FI|url=https://groups.google.com/group/comp.os.minix/msg/b813d52cbc5a044b}}</ref> trong đó có đoạn viết:
{{quote|Tôi đang làm một hệ điều hành (miễn phí) (chỉ là một sở thích, sẽ không lớn và chuyên nghiệp như [[GNU|gnu]]) cho một bản sao của chip [[Máy tính cá nhân IBM|AT]] 386 (486). Việc này đã bắt đầu từ tháng 4 và đang bắt đầu sẵn sàng. Tôi muốn bất kỳ thông tin phản hồi về việc mọi người thích, hoặc không thích trong [[MINIX|Minix]] như hệ điều hành của tôi tương tự nó (giống về cấu trúc vật lý của file system (vì nhiều lý do về áp dụng trong thực tế) và nhiều thứ khác. Hiện tôi đang [[Port (máy tính)|port]] [[Bash (phần mềm)|bash]](1.08) và GCC(1.40) và mọi thứ dường như đang hoạt động ổn''. ''Điều này ngụ ý rằng tôi sẽ tạo ra được thứ gì đó có thể chạy được trong vòng một vài tháng tới'' [...] P/s: Vâng ''- bất kì mã Minix đều miễn phí hết, và nó có một hệ thống fs đa luồng. Nó không protable {{sic}} (sử dụng chuyển đổi tác vụ 386 vân vân), và nó có lẽ sẽ không bao giờ hỗ trợ bất cứ hệ thống nào ngoài ổ cứng AT, vì đó là tất cả những gì tôi hiện có:-(.
[...] nó chủ yếu viết bằng [[C (ngôn ngữ lập trình)|C]], nhưng hầu hết mọi người sẽ không nói rằng những gì tôi viết (là C). Nó sử dụng tất cả các tính năng có thể có của 386 mà tôi có thể tìm thấy vì nó cũng là một dự án để dạy tôi về 386. Như đã đề cập, nó sử dụng MMU cho cả phân trang (chưa có khả năng ghi được vào đĩa) và phân đoạn. Khả năng phân đoạn làm cho nó thực sự phụ thuộc vào 386 (mỗi tác vụ có một phân đoạn 64Mb cho mã và dữ liệu - tối đa 64 tác vụ trong 4Gb. Ai sẽ cần hơn 64Mb/tác vụ cơ chứ - chỉ có thể là một tác vụ khó nhằn).}}
Sau đó, nhiều người đã đóng góp mã cho dự án. Ban đầu, cộng đồng [[MINIX]] đã đóng góp mã và ý tưởng cho nhân Linux. Vào thời điểm đó, [[Dự án GNU]] đã tạo ra nhiều thành phần cần thiết cho một hệ điều hành tự do, nhưng hạt nhân riêng của nó, [[GNU Hurd]], không đầy đủ và không có sẵn. Hệ điều hành BSD vẫn chưa tự giải thoát khỏi các vụ kiện pháp lý. Mặc dù có các chức năng giới hạn của các phiên bản đầu, Linux nhanh chóng thu hút các nhà phát triển và người dùng.
Vào thời điểm này, dự án [[Dự án GNU|GNU]] đã hoàn thành nhiều cấu thành thiết yếu cho một hệ điều hành tự do, tuy nhiên phần hạt nhân (lõi - Linux Kernel) [[GNU Hurd]] của hệ điều hành này vẫn chưa được hoàn thành. Ngoài ra hệ điều hành [[BSD]] vẫn chưa được tự do hóa do các trở ngại về mặt pháp lý. Những điều này đã tạo ra một chỗ đứng thuận lợi cho hạt nhân Linux, nó nhanh chóng giành được sự quan tâm của các nhà phát triển cũng như người dùng.
Tháng 9/1991, hạt nhân Linux phiên bản 0.01 được phát hành trên máy chủ [[FTP]] (ftp.funet.fi) của Đại học Phần Lan và Mạng Nghiên cứu (FUNET). Nó có 10,239 dòng mã. Ngày 10/5/1991, phiên bản 0.02 của hạt nhân Linux đã được phát hành.<ref>{{chú thích báo|last=Torvalds|first=Linus Benedict|authorlink=Linus Torvalds|date=ngày 5 tháng 10 năm 1991|title=Free minix-like kernel sources for 386-AT|newsgroup=comp.os.minix|message-id=1991Oct5.054106.4647@klaava.Helsinki.FI|url=https://groups.google.com/group/comp.os.minix/msg/2194d253268b0a1b}}</ref>
[[Tập tin:Linux kernel ubiquity.svg|nhỏ|300px|'''Nhân Linux''' được tìm thấy phổ biến trên nhiều phần cứng khác nhau và được hỗ trợ bởi sự phong phú của cả phần mềm tự do nguồn mở và phần mềm sở hữu độc quyền|thế=]]
Tháng 12/1991, hạt nhân Linux 0.11 đã được phát hành. Phiên bản này là phiên bản đầu tiên được tự lưu trữ vì hạt nhân Linux 0.11 có thể được biên dịch bởi một máy tính chạy cùng phiên bản hạt nhân. Khi Torvald phát hành phiên bản 0.12 vào tháng 2/1992, ông đã thông qua [[Giấy phép Công cộng GNU|Giấy phép Công cộng GNU (GPL)]] so với giấy phép tự soạn thảo trước đó của mình, điều này đã không cho phép phân phối lại thương mại.<ref name="kernel.org">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/pub/linux/kernel/Historic/old-versions/RELNOTES-0.12|tiêu đề=Release Notes for Linux v0.12|website=|nhà xuất bản=The Linux Kernel Archives|họ=Torvalds|tên=Linus|lk tác giả=Linus Torvalds}}</ref>
Ngày 19/1/1992, bài đăng đầu tiên tới nhóm tin tức mới ''alt.os.linux'' đã được đăng tải.<ref name=":1">{{chú thích báo|last=Summers|first=David W.|date=ngày 19 tháng 1 năm 1992|title=Troubles with Partitions|newsgroup=alt.os.linux|message-id=1992Jan19.085628.18752@cseg01.uark.edu|url=https://groups.google.com/group/alt.os.linux/msg/c638df159fa15159|access-date =ngày 7 tháng 1 năm 2007}}</ref> Ngày 31/3/1992, nhóm tin được đổi tên thành ''comp.os.linux.''<ref name=":1" /><ref>{{chú thích báo|last=Clegg|first=Alan B.|date=ngày 31 tháng 3 năm 1992|title=It's here!|newsgroup=comp.os.linux|message-id=1992Mar31.131811.19832@rock.concert.net|url=https://groups.google.com/group/comp.os.linux/msg/81fe3618c4803d1e|access-date =ngày 7 tháng 1 năm 2007}}</ref> Việc Linux là một [[Monolithic|hạt nhân nguyên khối]] chứ không phải là một [[microkernel]] là chủ đề của cuộc tranh luận giữa [[Andrew S. Tanenbaum]], người đã tạo ra [[MINIX]], và Torvalds.<ref>{{chú thích sách|url=https://archive.org/details/isbn_9781565925823|title=Open Sources: Voices from the Open Source Revolution|date=1999|publisher=[[O'Reilly Media|O'Reilly]]|isbn=1-56592-582-3|chapter=Appendix A: The Tanenbaum-Torvalds Debate|access-date =ngày 22 tháng 11 năm 2006|chapter-url=https://archive.org/details/isbn_9781565925823}}</ref> Cuộc thảo luận này được gọi là cuộc [[tranh luận Tanenbaum–Torvalds]] và bắt đầu vào năm 1992 trên nhóm thảo luận [[Usenet]] comp.os.minix như một cuộc tranh luận chung về Linux và kiến trúc hạt nhân.<ref>{{chú thích báo|title=LINUX is obsolete|last=Tanenbaum|first=Andy|authorlink=Andrew S. Tanenbaum|date=ngày 29 tháng 1 năm 1992|newsgroup=comp.os.minix|message-id=12595@star.cs.vu.nl|url=https://groups.google.com/group/comp.os.minix/msg/f447530d082cd95d|access-date =ngày 10 tháng 5 năm 2006}}</ref> Tanenbaum lập luận rằng [[microkernel]] vượt trội hơn so với [[Monolithic|hạt nhân nguyên khối]] và do đó Linux đã lỗi thời. Không giống như các hạt nhân nguyên khối truyền thống, trình điều khiển thiết bị trong Linux có thể dễ dàng được cấu hình dưới dạng các mô-đun hạt nhân có thể tải và được tải hoặc không tải trong khi chạy hệ thống. Chủ đề này đã được xem lại vào ngày 9 tháng 5 năm 2006,<ref>{{chú thích web|url=http://www.realworldtech.com/forums/index.cfm?action=detail&id=66630&threadid=66595&roomid=11|title=Hybrid kernel, not NT|last=Torvalds|first=Linus|authorlink=Linus Torvalds|date=ngày 9 tháng 5 năm 2006|access-date =ngày 6 tháng 1 năm 2007}}</ref> và vào ngày 12 tháng 5 năm 2006 Tanenbaum đã viết một tuyên bố về quan điểm.<ref>{{chú thích web|url=http://www.cs.vu.nl/~ast/reliable-os/|title=Tanenbaum-Torvalds Debate: Part II|last=Tanenbaum|first=Andy|authorlink=Andrew S. Tanenbaum|date=ngày 12 tháng 5 năm 2006|publisher=[[VU University Amsterdam]]|access-date =ngày 6 tháng 1 năm 2007}}</ref>
Tháng 3 năm 1992, phiên bản 0.xx cuối cùng của Linux kernel được phát hành. Linux version 0.95 là phiên bản đầu tiên có khả năng chạy X, vì [[Hệ thống X Window]] đã được [[Porting|port]] sang Linux. Bước nhảy lớn này được thể hiện trong số hiệu phiên bản, từ 0.1x đến 0.9x, do kỳ vọng phiên bản 1.0, mà không có những phần thiếu sót lớn, sắp xảy ra. Tuy nhiên, điều này đã được chứng minh là sai và từ năm 1993 đến đầu năm 1994, 15 phiên bản phát triển của phiên bản 0.99 đã ra mắt. Ngày 14 tháng 3 năm 1994, phiên bản chính thức đầu tiên của Linux kernel được phát hành.<ref name="Christine Bresnahan & Richard Blum 2016 107">{{chú thích sách|title=LPIC-2: Linux Professional Institute Certification Study Guide: Exam 201 and Exam 202|url=https://archive.org/details/lpic2linuxprofes0000chri|author=Christine Bresnahan & Richard Blum|publisher=John Wiley & Sons|year=2016|isbn=9781119150794|page=[https://archive.org/details/lpic2linuxprofes0000chri/page/n162 107]}}</ref> Linux kernel 1.0.0 có 176,250 dòng lệnh. Linux kernel 1.0.0 đã khởi động một hệ thống đánh số phiên bản ''v.x.y'' tiêu chuẩn cho kernel,trong đó x đại diện cho một phiên bản chính. Các bản phát hành số lẻ là để thử nghiệm và phát triển. Vào thời điểm đó, chỉ có các phiên bản được đánh số chẵn là phát hành sản xuất. Chữ y được tăng lên khi các bản vá nhỏ được phát hành trong phiên bản chính.<ref name="Christine Bresnahan & Richard Blum 2016 107" /> Vào tháng 3 năm 1995, Linux kernel 1.2.0 đã được phát hành, với 310.950 dòng mã.
Sau phiên bản kernel v1.3, Torvalds đã quyết định rằng đã có đủ các thay đổi đối với nhân Linux để đảm bảo việc phát hành phiên bản mới. Phiên bản 2.0.0 của Linux kernel được phát hành ngày 9 tháng 6 năm 1996.<ref name="Christine Bresnahan & Richard Blum 2016 1083">{{chú thích sách|title=LPIC-2: Linux Professional Institute Certification Study Guide: Exam 201 and Exam 202|url=https://archive.org/details/lpic2linuxprofes0000chri|author=Christine Bresnahan & Richard Blum|publisher=John Wiley & Sons|year=2016|isbn=9781119150794|page=[https://archive.org/details/lpic2linuxprofes0000chri/page/n163 108]}}</ref> Trái ngược với [[Unix]], tất cả [[mã nguồn]] của Linux kernel có sẵn miễn phí, bao gồm [[Chương trình điều khiển|trình điều khiển]], [[Thư viện Runtime|thư viện runtime]] và các công cụ phát triển.<ref>{{chú thích sách|title=LINUX Start-up Guide: A self-contained introduction|author=Fred Hantelmann|publisher=Springer Science & Business Media|year=2016|isbn=9783642607493|page=1}}</ref> Thành công ban đầu của nhân Linux được thúc đẩy bởi sự hỗ trợ của các lập trình viên và người thử nghiệm trên toàn thế giới. Bằng cách cấu trúc nhân Linux theo các tiêu chuẩn [[POSIX]], nó tương thích với một loạt các phần mềm và ứng dụng miễn phí đã được phát triển cho các trường đại học.
Các nhà phát triển đóng góp cho nhân Linux đã nghĩ rằng điều quan trọng là hạt nhân mà Torvald đã viết cho các PC của Intel hỗ trợ các kiến trúc phần cứng khác nhau. Hiện nay hạt nhân Linux có thể chạy trên các CPU từ [[Intel]] (80386, 80486, 80686), [[Digital Equipment Corporation]] (Alpha), [[Motorola]] (MC680x0 and PowerPC), [[Silicon Graphics]] (MIPS) và [[Sun Microsystems]] ([[SPARC]]). Thông qua một trình giả lập FPU tích hợp, nhân Linux thậm chí có thể chạy trên các kiến trúc phần cứng thiếu bộ đồng xử lý toán học [[dấu phẩy động]].<ref name="Fred Hantelmann 2016 1–2">{{chú thích sách|title=LINUX Start-up Guide: A self-contained introduction|author=Fred Hantelmann|publisher=Springer Science & Business Media|year=2016|isbn=9783642607493|pages=1–2}}</ref> Các nhóm nhà phát triển được thành lập cho các kiến trúc khác nhau và với việc phát hành Linux kernel phiên bản 2.0, các nguồn của kernel bao gồm tất cả các thành phần để cấu hình kernel cho các kiến trúc khác nhau trước khi biên dịch nó.<ref name="Fred Hantelmann 2016 162">{{chú thích sách|title=LINUX Start-up Guide: A self-contained introduction|author=Fred Hantelmann|publisher=Springer Science & Business Media|year=2016|isbn=9783642607493|page=16}}</ref> Làm cho nhân Linux tương thích với các [[Hệ thống tập tin|hệ thống file]] khác nhau cũng được ưu tiên. Nhân Linux có thể vận hành các [[hệ thống tập tin]] đã được định dạng cho Minix, [[Xenix]] hoặc [[UNIX System V|System V]], trong khi định dạng ''umsdos'' thậm chí cho phép Linux được cài đặt trong phân vùng [[MS-DOS]].<ref name="Fred Hantelmann 2016 1–2" /> Vào tháng 12 năm 1999, các bản vá máy tính lớn của IBM cho 2.2.13 đã được xuất bản, cho phép nhân Linux được sử dụng trên các máy cấp doanh nghiệp.
Tháng 12 năm 2003, với việc phát hành phiên bản kernel 2.6.0, 2.6.0, đã coi các hạt nhân Linux ổn định đến mức ông bắt đầu chu trình phát hành 2.6.x.y. Mỗi bản phát hành 2.6 là một hạt nhân để sản xuất, các bản phát hành phát triển được chỉ định bằng ''-rc'' ("release candidate") được gắn vào số hiệu phiên bản. Các bản phát hành kernel ổn định 2.6 bắt đầu được phát hành theo lịch trình đều đặn cứ sau 2 tháng 3, cho đến 2.6.39 tháng 5 năm 2011.<ref name="Christine Bresnahan & Richard Blum 2016 1083"/> Chu kỳ phát hành ngắn hơn là kết quả của các cuộc thảo luận giữa các nhà phát triển kernel về sơ đồ phát hành và phiên bản năm 2004.<ref>{{chú thích web|url=http://kerneltrap.org/Linux/Kernel_Release_Numbering_Redux|title=Kernel Release Numbering Redux|last=Offline|first=Jeremy|date=ngày 13 tháng 10 năm 2001|publisher=KernelTrap|archiveurl=https://web.archive.org/web/20101124183405/http://kerneltrap.org/Linux/Kernel_Release_Numbering_Redux|archive-date=ngày 24 tháng 11 năm 2010|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2010}}</ref><ref>{{cite mailing list|mailing-list=[[LKML]]|url=https://lkml.org/lkml/2005/3/2/247|last=Torvalds|first=Linus|title=RFD: Kernel release numbering|publisher=LKML|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2010}}</ref>
Để đáp lại việc thiếu một nhánh ổn định, nơi mọi người có thể điều phối bộ sưu tập sửa lỗi như vậy, vào tháng 12 năm 2005 [[Adrian Bunk]] tuyên bố rằng anh ta sẽ tiếp tục phát hành hạt nhân 2.6.16.y khi nhóm ổn định chuyển sang 2.6.17.<ref>{{chú thích web|url=http://kerneltrap.org/node/6930|title=Linux: 2.6.16.y Lives On|author=Jeremy|date=ngày 4 tháng 8 năm 2006|publisher=KernelTrap|archive-url=https://web.archive.org/web/20100914234714/http://kerneltrap.org/node/6930|archive-date=ngày 14 tháng 9 năm 2010|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2010|url-status=dead}}</ref><ref name="2.6.16-longterm">{{cite mailing list|url=http://lkml.iu.edu/hypermail/linux/kernel/0608.0/1111.html|title=Adrian Bunk is now taking over the 2.6.16-stable branch|last=Kroah-Hartman|first=Greg|author-link=Greg Kroah-Hartman|date=ngày 3 tháng 8 năm 2006|mailing-list=[[LKML]]|access-date =ngày 21 tháng 2 năm 2015}}</ref> Ông cũng bao gồm một số cập nhật trình điều khiển, làm cho việc bảo trì loạt 2.6.16 rất giống với các quy tắc cũ để bảo trì một loạt ổn định như 2.4.<ref>{{chú thích web|url=http://kerneltrap.org/node/6386|title=Linux: Maintaining A 2.6.16.y Tree|author=Jeremy|date=ngày 23 tháng 3 năm 2006|publisher=KernelTrap|archive-url=https://web.archive.org/web/20100620015441/http://kerneltrap.org/node/6386|archive-date=ngày 20 tháng 6 năm 2010|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2010|url-status=dead}}</ref> Kể từ đó, "nhóm ổn định" đã được thành lập và nó sẽ tiếp tục cập nhật các phiên bản kernel với các sửa lỗi. Vào tháng 10 năm 2008, Adrian Bunk tuyên bố rằng ông sẽ duy trì 2.6.27 trong một vài năm để thay thế 2.6.16.<ref>{{cite mailing list|url=http://marc.info/?l=linux-kernel&m=122375909403298&w=2|title=Linux 2.6.27 will be a longtime supported kernel|last=Bunk|first=Adrian|date=ngày 11 tháng 10 năm 2008|mailing-list=[[LKML]]|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2010}}</ref> Đội ngũ ổn định đã lên ý tưởng và tính toán năm 2010, họ tiếp tục duy trì phiên bản đó và phát hành các bản sửa lỗi cho nó, ngoài ra còn có các bản sửa lỗi khác.<ref>{{cite mailing list|url=http://marc.info/?l=linux-kernel&m=125245118518458|title=Re: 2.6.27 maintenance plans after 2.6.32 is released|last=Kroah-Hartman|first=Greg|date=ngày 8 tháng 9 năm 2009|mailing-list=[[LKML]]}}</ref> [[Andrew Morton]] quyết định tái sử dụng cây[[Cây Mm|-mm]] của mình từ quản lý bộ nhớ để làm đích cho tất cả các mã mới và thử nghiệm. Vào tháng 9 năm 2007, Morton quyết định ngừng duy trì cây này.<ref>{{chú thích web|url=http://kerneltrap.org/Linux/2.6.23-rc6-mm1_This_Just_Isnt_Working_Any_More|title=This Just Isn't Working Any More|date=ngày 18 tháng 9 năm 2007|website=kerneltrap.org|archiveurl=https://web.archive.org/web/20080127062120/http://kerneltrap.org/Linux/2.6.23-rc6-mm1_This_Just_Isnt_Working_Any_More|archive-date=ngày 27 tháng 1 năm 2008|url-status=dead}}</ref> Vào tháng 2 năm 2008, Stephen Rothwell đã tạo ra cây ''linux-next'' để phục vụ như là một nơi mà các bản vá nhằm mục đích được hợp nhất trong chu kỳ phát triển tiếp theo được tập hợp lại.<ref>{{cite mailing list|url=https://lkml.org/lkml/2008/2/11/512|title=Announce: Linux-next (Or Andrew's dream:-))|last=Rothwell|first=Stephen|date=ngày 12 tháng 2 năm 2008|mailing-list=[[LKML]]|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2010}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/269120/|title=linux-next and patch management process|last=Corbet|first=Jonathan|date=ngày 21 tháng 10 năm 2010|work=[[LWN.net]]|publisher=Eklektix, Inc|access-date =ngày 30 tháng 10 năm 2010}}</ref> Một số nhà bảo trì hệ thống con cũng sử dụng hậu tố ''-next'' cho các cây có chứa mã được gửi để đưa vào chu kỳ phát hành tiếp theo. {{As of|2014|January}}, phiên bản đang phát triển của nhân Linux được giữ trong một nhánh không ổn định có tên ''linux-next''.<ref>{{chú thích web|url=http://www.kernel.org|title=The Linux Kernel Archives|publisher=Kernel.org|access-date =ngày 22 tháng 1 năm 2014}}</ref>
Mã nguồn nhân Linux được bảo trì mà không cần sự trợ giúp của hệ thống quản lý mã nguồn tự động (SCM), chủ yếu là do Torvalds không thích các hệ thống SCM tập trung. Năm 2002, phát triển nhân Linux đã chuyển sang [[BitKeeper]], một hệ thống SCM đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của Torvalds. BitKeeper đã được cung cấp miễn phí cho Torvalds và một số người khác miễn phí nhưng không phải là [[Phần mềm tự do nguồn mở|phần mềm tự do]], đây là một nguồn gây tranh cãi. Hệ thống này đã cung cấp một số khả năng tương tác với các hệ thống SCM miễn phí như [[Concurrent Versions System|CVS]] và [[Subversion (phần mềm)|Subversion]]. Tháng 4 năm 2005, Vào tháng 4 năm 2005, những nỗ lực [[Kỹ nghệ đảo ngược|dò ngược]] hệ thống BitKeeper của [[Andrew Tridgell]] đã khiến BitMover, công ty duy trì BitKeeper, ngừng hỗ trợ cộng đồng phát triển Linux. Đáp lại, Torvalds và những người khác đã viết một hệ thống kiểm soát mã nguồn mới cho mục đích này, được gọi là [[Git (phần mềm)|Git]]. Hệ thống mới được viết trong vòng vài tuần và trong hai tháng, bản phát hành hạt nhân chính thức đầu tiên được thực hiện bằng Git.<ref>{{cite mailing list|mailing-list=git-commits-head|author=Linux Kernel Mailing List|url=http://marc.info/?l=git-commits-head&m=111904216911731|title=Linux 2.6.12|date=ngày 17 tháng 6 năm 2005}}</ref>
Năm 2008, [[Greg Kroah-Hartman]] nói rằng từ năm 2005 hơn 3.700 nhà phát triển các nhân từ hơn 200 công ty khác nhau đã có đóng góp vào kernel.<ref>{{chú thích web|url=http://go.linuxfoundation.org/who-writes-linux-2012|title=Linux Kernel Development: How Fast it is Going, Who is Doing It, What They are Doing, and Who is Sponsoring It|last=Kroah-Hartman|first=Greg|authorlink=Greg Kroah-Hartman|date=April 2008|ngày truy cập=2019-12-24|archive-date = ngày 12 tháng 9 năm 2019 |archive-url=https://web.archive.org/web/20190912023947/https://storage.pardot.com/6342/48856/lf_kernel_development_2012.pdf|url-status=dead}}</ref> Kỷ niệm 20 năm nhân Linux được Torvalds tổ chức vào tháng 7 năm 2011 với việc phát hành phiên bản kernel 3.0.0.<ref name="Christine Bresnahan & Richard Blum 2016 1083"/><ref>{{Chú thích web|url=http://lkml.indiana.edu/hypermail/linux/kernel/1107.2/01843.html|tiêu đề=Linux 3.0 release|họ=Torvalds|tên=Linus|lk tác giả=Linus Torvalds|website=|nhà xuất bản=[[Linux kernel mailing list]]}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.pcmag.com/article2/0,2817,2388926,00.asp|tiêu đề=Linux 3.0 Released; Linus Torvalds Explains Why You Shouldn't Care|họ=Hachman|tên=Mark|ngày tháng=ngày 22 tháng 7 năm 2011|website=[[PC Magazine]]|nhà xuất bản=[[Ziff Davis]]}}</ref> Mặc dù nó không có thay đổi công nghệ lớn khi so sánh với Linux 2.6.39<ref>{{Chú thích web|url=http://www.h-online.com/open/features/What-s-new-in-Linux-2-6-39-1242910.html?page=4|tiêu đề=Linux Kernel Data|họ=Leemhuis|tên=Thorsten|ngày tháng=2011-05-19|website=The H|nhà xuất bản=[[Heinz Heise]]}}</ref> [[Linux Foundation]] đã kỷ niệm 20 năm hạt nhân trong phiên bản 2011 của nghiên cứu phát triển hạt nhân của họ. Kernel 3.0 có 15 triệu dòng lệnh và hơn 1.300 nhà phát triển các nhân có đóng góp cho phiên bản này của nhân Linux. Các nhà phát triển tình nguyện đóng góp 16% tất cả thay đổi của nhân Linux vào năm 2011. Những thay đổi khác đến từ những nhà phát triển phần mềm chuyên nghiệp, những người được các công ty thuê để gửi mã cho kernel. Năm 2011, các nhà phát triển [[RedHat|Red Hat]] đã đóng góp 10% các thay đổi được thực hiện cho kernel, doanh nghiệp đóng góp lớn thứ hai là [[Intel]], tiếp theo là [[IBM]] và [[Novell]]. Mặc dù lúc đó Nokia đã từ bỏ hệ điều hành cho [[điện thoại thông minh]] dựa trên nhân Linux của mình là [[MeeGo]], nhưng năm 2011, các nhà phát triển Nokia vẫn đóng góp nhiều mã cho nhân Linux hơn so với các nhà phát triển được [[Google]] thuê, đã phát hành [[Android (hệ điều hành)|Android]] vào năm 2007 và [[Chrome OS]] vào năm 2009. Đến năm 2011, [[Microsoft]] dao động như là doanh nghiệp đóng góp nhiều thứ 17 cho hạt nhân. Các nhà phát triển của nó đã lần đầu tiên bắt đầu đóng góp cho kernel vào năm 2009 để cải thiện hiệu năng của các [[máy ảo]] Linux chạy trên trình ảo hóa Windows [[Hyper-V]].<ref>{{chú thích web|url=https://arstechnica.com/information-technology/2012/04/linux-kernel-in-2011-15-million-total-lines-of-code-and-microsoft-is-a-top-contributor/|title=Linux kernel in 2011: 15 million total lines of code and Microsoft is a top contributor|author=Ryan Paul|date=ngày 4 tháng 3 năm 2012|publisher=[[arsTechnica]]|access-date =ngày 30 tháng 3 năm 2019}}</ref>
Các hạt nhân ổn định 3.x.y đã được phát hành cho đến 3.19 trong tháng 2 năm 2015, với các phiên bản phát triển mang ký hiệu ''-rc''. Để giải thích cho bản phát hành bản vá đặc biệt thường xuyên, series v3 của kernel đã thêm một chữ số thứ tư vào đánh số phiên bản. tháng 4 năm 2015, Torvalds đã phát hành phiên bản kernel 4.0.<ref name="Christine Bresnahan & Richard Blum 2016 1083" /> Vào tháng 2 năm 2015, nhân Linux đã nhận được sự đóng góp của gần 12.000 lập trình viên từ hơn 1.200 công ty, bao gồm một số nhà cung cấp phần mềm và phần cứng lớn nhất thế giới.<ref>{{chú thích web|url=http://www.linuxfoundation.org/news-media/announcements/2015/02/linux-foundation-releases-linux-development-report|title=The Linux Foundation Releases Linux Development Report|date=ngày 18 tháng 2 năm 2015|publisher=[[Linux Foundation]]|archiveurl=https://web.archive.org/web/20160719042639/https://www.linuxfoundation.org/news-media/announcements/2015/02/linux-foundation-releases-linux-development-report|archive-date=ngày 19 tháng 7 năm 2016|access-date =ngày 20 tháng 2 năm 2015|url-status=dead|df=dmy-all}}</ref> Phiên bản 4.1 của nhân Linux, được phát hành vào tháng 6 năm 2015, chứa hơn 19,5 triệu dòng mã được đóng góp bởi gần 14.000 lập trình viên.<ref>{{chú thích web|url=https://www.phoronix.com/scan.php?page=news_item&px=Linux-19.5M-Stats|title=Linux Kernel At 19.5 Million Lines Of Code, Continues Rising|author=Michael Larabel|date=ngày 23 tháng 6 năm 2014|publisher=[[Phoronix]]|access-date =ngày 23 tháng 6 năm 2015}}</ref>
=== Phổ biến ===
[[Bản phân phối Linux|Các bản phân phối Linux]] đóng gói nhân Linux với các ứng dụng, chương trình và gói ứng dụng Unix chịu trách nhiệm cho sự phổ biến ngày càng tăng của hệ điều hành Linux với người dùng.<ref name="Fred Hantelmann 2016 162"/> Sự phổ biến của hệ điều hành [[Android (hệ điều hành)|Android]], bao gồm nhân Linux, đã khiến hạt nhân này trở thành lựa chọn phổ biến nhất cho các thiết bị di động, cạnh tranh với cơ sở được cài đặt của tất cả các hệ điều hành khác.<ref>{{cite press release|title=Gartner Says Sales of Tablets Will Represent Less Than 10 Percent of All Devices in 2014|url=http://www.gartner.com/newsroom/id/2875017|location=[[Egham|Egham, UK]]|publisher=[[Gartner]]|date=ngày 15 tháng 10 năm 2014|access-date =ngày 19 tháng 10 năm 2014}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://techcrunch.com/2014/10/15/tablet-sales-growth-plummets-in-2014-as-android-smartphones-continue-to-soar-gartner|title=Tablet Sales Growth Plummets In 2014 As Android Smartphones Continue To Soar: Gartner|last=Lunden|first=Ingrid|date=ngày 15 tháng 10 năm 2014|work=[[TechCrunch]]|publisher=[[AOL]]|access-date =ngày 23 tháng 10 năm 2014}}</ref><ref>{{cite press release|title=Global PC Shipments Exceed Forecast with Mild Improvement in Consumer Demand, While Apple Moves to #5 Spot, According to IDC|url=http://www.idc.com/getdoc.jsp?containerId=prUS25187214|location=[[Framingham, Massachusetts|Framingham, MA]]|publisher=[[International Data Corporation|IDC]]|date=ngày 8 tháng 10 năm 2014|access-date=ngày 19 tháng 10 năm 2014|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20141011215307/http://www.idc.com/getdoc.jsp?containerId=prUS25187214|archive-date=ngày 11 tháng 10 năm 2014|df=dmy-all|archive-date=2014-10-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20141011215307/http://www.idc.com/getdoc.jsp?containerId=prUS25187214|url-status=dead}}</ref>
Nhiều [[Router|bộ định tuyến]] cũng sử dụng nhân Linux,<ref>{{chú thích web|url=http://www.extremetech.com/computing/190959-shellshock-a-deadly-new-vulnerability-that-could-lay-waste-to-the-internet|title=Shellshock: A deadly new vulnerability that could lay waste to the internet (updated)|last=Anthony|first=Sebastian|date=ngày 29 tháng 9 năm 2014|work=[[ExtremeTech]]|publisher=[[Ziff Davis]]|access-date =ngày 23 tháng 10 năm 2014|quote=most consumer routers run an embedded version of Linux <!--", and a CGI-capable web server" hate to including Shellshock article to support this as most use busybox and not bash; anyone know a better source for most or dominant or billions of Linux routers?-->}}</ref> cũng như nhiều loại [[Hệ thống nhúng|thiết bị nhúng]] khác, chẳng hạn như [[TV thông minh|smart TVs]], [[set-top box]]es, và [[webcam]]s. Nhiều bản phân phối Linux trên máy tính để bàn bao gồm cả nhân Linux tồn tại, nhưng tỷ lệ sử dụng của các bản phân phối Linux thấp so với các hệ điều hành khác.
Tính đến tháng 11/ 2017, tất cả 500 siêu máy tính mạnh nhất thế giới đều chạy Linux.<ref name=":2" />
== Kiến trúc ==
{{See also|vmlinux}}
[[Tập tin:Linux_kernel_map.png|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Linux_kernel_map.png|phải|nhỏ|300x300px|Bản đồ của Linux kernel]]
Nhân Linux là một thiết kế nguyên khối và mô đun hóa (có thể nạp vào hay gỡ bỏ các kernel mô đun trong lúc đang chạy),<ref name="Love 2010 p.338">{{Chú thích sách|title=Linux kernel development|url=https://archive.org/details/linuxkerneldevel00love_448|last=Love|first=Robert|publisher=Addison-Wesley|year=2010|isbn=978-0-672-32946-3|page=[https://archive.org/details/linuxkerneldevel00love_448/page/n364 338]|language=en|oclc=268788260}}</ref><ref name="hS5tR2">{{Chú thích web|url=https://git.kernel.org/?p=linux/kernel/git/torvalds/linux-2.6.git;a=blob;f=README;h=90a07658ede14840346eee6610648bcf4ec79997;hb=f3b8436ad9a8ad36b3c9fa1fe030c7f38e5d3d0b|title=README|publisher=git.kernel.org|archive-url=https://archive.today/20120724163945/http://git.kernel.org/?p=linux/kernel/git/torvalds/linux-2.6.git;a=blob;f=README;h=90a07658ede14840346eee6610648bcf4ec79997;hb=f3b8436ad9a8ad36b3c9fa1fe030c7f38e5d3d0b|archive-date=24 July 2012|url-status=dead|access-date=24 March 2021}}</ref> hỗ trợ hầu hết các tính năng chỉ có trên nhân mã nguồn đóng của các hệ điều hành không tự do. Từ giờ trở đi, bài viết này sử dụng các thuật ngữ của các hệ điều hành Unix và tương tự, được đề cập trong các Man page (cẩm nang) chính thức. Các số đằng sau câu lệnh, giao diện hay các tính năng khác chỉ định nó thuộc thành phần nào của nhân (ví dụ {{mono|execve(2)}} là một lời gọi hệ thống, còn {{mono|exec(3)}} là một wrapper trong userspace). Danh sách sau đây và các phần tiếp theo mô tả tổng quan không đầy đủ về thiết kế kiến trúc Linux và một số tính năng đáng chú ý của nó.
* [[Tương tranh (khoa học máy tính)|Tính toán tương tranh]] và thậm chí thực thi các tiến trình song song trên các hệ thống SMP và NUMA (nếu có đủ số nhân CPU cho các tác vụ đã sẵn sàng)
* Cho phép lựa chọn và cấu hình hàng trăm tính năng và trình điều khiển trong nhân (bằng cách sử dụng một trong các lệnh {{Mono|make *config}} trước khi biên dịch kernel),<ref name=":12">{{Chú thích web|url=https://kernelnewbies.org/KernelBuild|title=KernelBuild - Linux Kernel Newbies|website=kernelnewbies.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20201019124650/https://kernelnewbies.org/KernelBuild|archive-date=19 October 2020|url-status=live|access-date=2020-09-13}}</ref><ref name=":11" /><ref name=":10" /> thay đổi các tham số trong kernel trước khi khởi động (thông qua GRUB menu) và tinh chỉnh cách vận hành của kernel trong lúc chạy (sử dụng giao diện {{mono|sysctl(8)}} tới {{Mono|/proc/sys/}}).<ref name=":13">{{Chú thích web|url=https://www.linux.it/~rubini/docs/sysctl/sysctl.html|title=The Sysctl Interface|website=Linux.it|archive-url=https://web.archive.org/web/20200217004812/http://www.linux.it/~rubini/docs/sysctl/sysctl.html|archive-date=17 February 2020|url-status=live|access-date=2020-09-13}}</ref><ref name=":14">{{Chú thích web|url=https://man7.org/linux/man-pages/man8/sysctl.8.html|title=sysctl(8) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200930200903/https://man7.org/linux/man-pages/man8/sysctl.8.html|archive-date=30 September 2020|url-status=live|access-date=2020-09-13}}</ref><ref name=":15">{{Chú thích web|url=https://man7.org/linux/man-pages/man5/procfs.5.html|title=procfs(5) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200924010905/https://man7.org/linux/man-pages/man5/procfs.5.html|archive-date=24 September 2020|url-status=live|access-date=2020-09-13}}</ref>
* Cho phép cấu hình và thay đối các chính sách của trình lập lịch tác vụ,<ref name="erfu2">{{Chú thích web|url=https://man7.org/linux/man-pages/man7/sched.7.html|title=sched(7) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200717155549/https://man7.org/linux/man-pages/man7/sched.7.html|archive-date=17 July 2020|url-status=live|access-date=2020-07-27}}</ref> thông qua {{Mono|nice(2)}}, {{Mono|setpriority(2)}}, và các lời gọi hệ thống {{Mono|sched_*(2)}}, cho phép đa nhiệm ưu tiên (trong chế độ người dùng và trong kernel từ phiên bản 2.6 trở đi)<ref name="TaqW6">{{Chú thích web|url=http://kernelnewbies.org/FAQ/Preemption|title=FAQ: Preemption|date=22 August 2009|website=kernelnewbies.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200807081640/https://kernelnewbies.org/FAQ/Preemption|archive-date=7 August 2020|url-status=live|access-date=7 May 2015}}</ref><ref name="lwn-229122">{{Chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/22912/|title=Driver porting: the preemptible kernel|author=Jonathan Corbet|date=24 February 2003|publisher=[[LWN.net]]|archive-url=https://web.archive.org/web/20200810170137/https://lwn.net/Articles/22912/|archive-date=10 August 2020|url-status=live|access-date=7 May 2015}}</ref>; Completely Fair Scheduler (CFS) là trình lập lịch mặc định kể từ 2007, sử dụng một [[Cây đỏ đen|cây đỏ-đen]] để tìm kiếm, thêm vào và xóa thông tin tiến trình với [[Độ phức tạp thuật toán|độ phức tạp của thời gian chạy thuật toán]] là [[Ký hiệu O lớn|O(log n)]], với n là số tác vụ có thể chạy.<ref name=":5" /><ref name="URgZz">{{Chú thích web|url=https://www.linuxjournal.com/node/10267|title=Completely Fair Scheduler {{!}} Linux Journal|website=Linuxjournal.com|archive-url=https://web.archive.org/web/20200803104512/https://www.linuxjournal.com/node/10267|archive-date=3 August 2020|url-status=live|access-date=2020-03-30}}</ref>
* [[Quản lý bộ nhớ]] nâng cao với [[bộ nhớ ảo]] phân trang.
* [[Giao tiếp liên tiến trình]] và [[đồng bộ hóa]].
* Một [[hệ thống file ảo]] trên vài hệ thống file thực ([[ext4]], [[Btrfs]], [[XFS]], [[JFS]], [[FAT32]] v.v.).
*Trình lập lịch I/O cấu hình được, lời gọi hệ thống {{Mono|ioctl(2)}}<ref name="9FO10">{{Chú thích web|url=https://man7.org/linux/man-pages/man2/ioctl.2.html|title=ioctl(2) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200720073257/https://man7.org/linux/man-pages/man2/ioctl.2.html|archive-date=20 July 2020|url-status=live|access-date=2020-08-11}}</ref> để thay đổi tham số của thiết bị trong các file đặc biệt (tuy nhiên nó không phải lời gọi chuẩn bởi có nhiều thiết bị khác nhau), I/O không đồng bộ của POSIX<ref name="qp47b">{{Chú thích web|url=https://man7.org/linux/man-pages/man7/aio.7.html|title=aio(7) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200412005208/http://man7.org/linux/man-pages/man7/aio.7.html|archive-date=12 April 2020|url-status=live|access-date=2020-08-11}}</ref> (tuy nhiên do khả năng mở rộng quy mô kém trong đa luồng, người ta phải tạo ra các lời gọi hệ thống của riêng Linux ({{Mono|io_*(2)}}<ref name="Y4P9J">{{Chú thích web|url=https://man7.org/linux/man-pages/man2/io_setup.2.html|title=io_setup(2) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200820190947/https://man7.org/linux/man-pages/man2/io_setup.2.html|archive-date=20 August 2020|url-status=live|access-date=2020-08-11}}</ref>) ).
* Ảo hóa cấp độ hệ điều hành với Linux-VServer, paravirtualization và ảo hóa với trợ giúp phần cứng (với KVM hoặc Xen, và sử dụng QEMU để giả lập phần cứng);<ref name="bn0PK">{{Chú thích web|url=https://www.linux-kvm.org/page/Main_Page|title=KVM|website=Linux-kvm.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200328192644/https://www.linux-kvm.org/page/Main_Page|archive-date=28 March 2020|url-status=live|access-date=2020-03-29}}</ref><ref name="XJFnS">{{Chú thích web|url=https://virt.kernelnewbies.org/TechComparison|title=TechComparison - Linux Virtualization Wiki|website=Virt.kernelnewbies.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200803081859/https://virt.kernelnewbies.org/TechComparison|archive-date=3 August 2020|url-status=live|access-date=2020-03-29}}</ref><ref name="XTTHB">{{Chú thích web|url=https://kernelnewbies.org/Linux_2_6_20#Virtualization_support_through_KVM|title=Virtualization_support_through_KVM in Linux_2_6_20 - Linux Kernel Newbies|website=Kernelnewbies.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20191129072053/https://kernelnewbies.org/Linux_2_6_20#Virtualization_support_through_KVM|archive-date=29 November 2019|url-status=live|access-date=2020-03-29}}</ref><ref name="nE2IA">{{Chú thích web|url=https://blogs.oracle.com/wim/linux-mainline-contains-all-the-xen-code-bits-for-dom0-and-domu-support|title=Linux mainline contains all the Xen code bits for Dom0 and DomU support|last=Coekaerts|first=Wim|website=blogs.oracle.com|archive-url=https://web.archive.org/web/20200803103832/https://blogs.oracle.com/wim/linux-mainline-contains-all-the-xen-code-bits-for-dom0-and-domu-support|archive-date=3 August 2020|url-status=live|access-date=2020-03-29}}</ref><ref name="RUx2A">{{Chú thích web|url=http://blog.xen.org/index.php/2011/06/02/xen-celebrates-full-dom0-and-domu-support-in-linux-3-0/|title=Xen celebrates full Dom0 and DomU support in Linux 3.0 – blog.xen.org|date=2011-06-07|archive-url=https://web.archive.org/web/20110607003740/http://blog.xen.org/index.php/2011/06/02/xen-celebrates-full-dom0-and-domu-support-in-linux-3-0/|archive-date=2011-06-07|url-status=dead|access-date=2020-03-29}}</ref><ref name="sPn6b">{{Chú thích web|url=https://xenproject.org/2014/01/31/linux-3-14-and-pvh/|title=Linux 3.14 and PVH|last=Wilk|first=Konrad Rzeszutek|date=2014-01-31|website=Xen Project|language=en-US|archive-url=https://web.archive.org/web/20200329115320/https://xenproject.org/2014/01/31/linux-3-14-and-pvh/|archive-date=29 March 2020|url-status=live|access-date=2020-03-29}}</ref> Trên hypervisor Xen, Linux kernel hỗ trợ biên dịch các bản phân phối Linux (như OpenSuSE Leap v.v) gọi là ''Dom0'', các server máy ảo chủ cung cấp môi trường quản lý cho các máy ảo khách của người dùng (''DomU'').<ref name="W3Q0w">{{Chú thích web|url=https://doc.opensuse.org/documentation/leap/virtualization/html/book.virt/cha-xen-basics.html|title=Introduction to Xen Virtualization {{!}} Virtualization Guide {{!}} openSUSE Leap 15.2|website=doc.opensuse.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200928214033/https://doc.opensuse.org/documentation/leap/virtualization/html/book.virt/cha-xen-basics.html|archive-date=28 September 2020|url-status=live|access-date=2020-09-29}}</ref>
* Ảo hóa I/O với VFIO và SR-IOV. Virtual function I/O (VFIO) cung cấp truy cập trực tiếp vào thiết bị từ userspace trong một môi trường bảo vệ bộ nhớ nghiêm ngặt (IOMMU). Với VFIO, một máy ảo khách có thể truy cập trực tiếp vào phần cứng trên server máy ảo chủ. Kỹ thuật này cải thiện hiệu năng so với Ảo hóa toàn phần và Paravirtualization. Tuy nhiên với VFIO các thiết bị không thể được chia sẻ giữa các máy ảo khách. Single Root I/O Virtualization (SR-IOV) kết hợp hiệu năng của VFIO với khả năng chia sẻ thiết bị giữa các máy ảo khách (nhưng nó đòi hỏi phần cứng phải có khả năng hiển thị trong các máy ảo dưới dạng các thiết bị khác nhau).<ref>{{Chú thích web|url=https://doc.opensuse.org/documentation/leap/virtualization/html/book-virtualization/chap-virtualization-introduction.html#sec-vt-io|title=Virtualization technology {{!}} Virtualization Guide {{!}} openSUSE Leap 15.3|website=doc.opensuse.org|access-date=2021-09-30}}</ref>
* Các cơ chế bảo mật để [[Điều khiển truy cập tùy quyền|kiểm soát truy cập tùy quyền]] và [[Điều khiển truy cập bắt buộc|bắt buộc]] (SELinux, AppArmor, POSIX ACLs, v.v.).<ref name=":32" /><ref name=":4" />
* Một số loại [[giao thức truyền thông]] phân tầng (bao gồm cả [[Internet protocol suite]])
* Đa xử lý không đối xứng, thông qua hệ thống RPMsg.
[[Chương trình điều khiển|Trình điều khiển thiết bị]] và phần mở rộng kernel chạy trong không gian kernel (ring 0 trong nhiều [[Kiến trúc máy tính|kiến trúc]] [[CPU]]), với toàn quyền truy cập vào phần cứng, mặc dù một số ngoại lệ chạy trong không gian người dùng, ví dụ: [[Hệ thống tập tin|hệ thống file]] dựa trên [[Filesystem in Userspace|FUSE]]/CUSE, và các phần của UIO.<ref>{{chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/308445/|title=Character devices in user space|author=Jake Edge|date=ngày 25 tháng 11 năm 2008|publisher=[[LWN.net]]|access-date =ngày 7 tháng 5 năm 2015}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/232575/|title=UIO: user-space drivers|author=Jonathan Corbet|date=ngày 2 tháng 5 năm 2007|publisher=[[LWN.net]]|access-date =ngày 7 tháng 5 năm 2015}}</ref> Hơn nữa, X Window và Wayland, các hệ thống cửa sổ và các giao thức máy chủ hiển thị mà hầu hết mọi người sử dụng với Linux không chạy trong kernel.
Không giống như các hạt nhân nguyên khối tiêu chuẩn, trình điều khiển thiết bị dễ dàng được cấu hình dưới dạng các mô-đun và được tải hoặc không tải trong khi hệ thống đang chạy. Ngoài ra driver có thể bị ngắt quãng trong một số điều kiện nhất định; tính năng này đã được thêm vào để xử lý các ngắt phần cứng một cách chính xác và để hỗ trợ tốt hơn cho đa xử lý đối xứng.<ref name="lwn-22912">{{chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/22912/|title=Driver porting: the preemptible kernel|author=Jonathan Corbet|date=ngày 24 tháng 2 năm 2003|publisher=[[LWN.net]]|access-date=ngày 7 tháng 5 năm 2015}}</ref> Theo lựa chọn, nhân Linux không có [[giao diện nhị phân ứng dụng]] ổn định cho các driver.<ref>{{chú thích web|url=https://git.kernel.org/cgit/linux/kernel/git/torvalds/linux.git/tree/Documentation/stable_api_nonsense.txt|title=The Linux Kernel Driver Interface|last=Kroah-Hartman|first=Greg|authorlink=Greg Kroah-Hartman|archiveurl=https://archive.today/20131104101751/https://git.kernel.org/cgit/linux/kernel/git/torvalds/linux.git/tree/Documentation/stable_api_nonsense.txt|archive-date=ngày 4 tháng 11 năm 2013|url-status=dead}}</ref>
Phần cứng cũng được thể hiện trong hệ thống phân cấp file. Giao diện trình điều khiển thiết bị với các ứng dụng người dùng thông qua một mục trong thư mục {{Mono|[[Devfs|/dev]]}} hoặc {{Mono|[[/sys]]}}.<ref name="tldp file">{{chú thích web|url=http://tldp.org/LDP/Linux-Filesystem-Hierarchy/html/index.html|title=Linux Filesystem Hierarchy: Chapter 1. Linux Filesystem Hierarchy|last=Nguyen|first=Binh|date=ngày 30 tháng 7 năm 2004|publisher=The Linux Documentation Project|access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2012}}</ref> Thông tin tiến trình cũng được ánh xạ tới hệ thống file thông qua thư mục {{Mono|[[procfs|/proc]]}}.<ref name="tldp file" />
{{Linux layers}}
=== Giao diện ===
{{Main|Giao diện nhân Linux}}{{Xem thêm|0=Lời gọi hệ thống|POSIX|Single UNIX Specification}}[[Tập tin:Linux_kernel_interfaces.svg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Linux_kernel_interfaces.svg|nhỏ|300x300px|Bốn giao diện được phân biệt: hai bên trong kernel và hai ở giữa kernel và không gian người dùng.]]Linux là một hệ điều hành giống UNIX, và nhắm tới việc tương thích với [[POSIX]] và [[Single UNIX Specification]].<ref name="tXF6O">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/admin-guide/README.html|title=Linux kernel release 5.x — The Linux Kernel documentation|website=Kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200307065108/https://www.kernel.org/doc/html/latest/admin-guide/README.html|archive-date=7 March 2020|url-status=live|access-date=2020-01-04}}</ref> Ngoài ra nó còn cung cấp các lời gọi hệ thống và giao diện khác của riêng mình. Một đoạn mã muốn được thêm vào kernel chính thức phải tuân theo một số quy tắc về việc cấp phép.<ref name="COPYING_File">{{Chú thích web|url=https://git.kernel.org/pub/scm/linux/kernel/git/torvalds/linux.git/tree/COPYING|title=COPYING|website=git.kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20210902152553/https://git.kernel.org/pub/scm/linux/kernel/git/torvalds/linux.git/tree/COPYING|archive-date=2 September 2021|url-status=live|access-date=2021-09-02}}</ref><ref name="Linux_Licensing" />
[[Giao diện nhị phân ứng dụng]] (ABI) của Linux nằm giữa kernel và không gian người dùng (user space) có bốn mức độ ổn định (ổn định, testing, lỗi thời và bị xóa bỏ),<ref name="4Rtud">{{Chú thích web|url=https://git.kernel.org/pub/scm/linux/kernel/git/torvalds/linux.git/tree/Documentation/ABI/README|title=README\ABI\Documentation - kernel/git/torvalds/linux.git - Linux kernel source tree|website=git.kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20201001172809/https://git.kernel.org/pub/scm/linux/kernel/git/torvalds/linux.git/tree/Documentation/ABI/README|archive-date=1 October 2020|url-status=live|access-date=2020-04-18}}</ref> tuy nhiên các lời gọi hệ thống không bao giờ được phép thay đổi vì điều đó có thể làm hỏng các chương trình user space sử dụng chúng.<ref name="BNYzD">{{Chú thích web|url=https://git.kernel.org/pub/scm/linux/kernel/git/torvalds/linux.git/tree/Documentation/ABI/stable/syscalls|title=syscalls\stable\ABI\Documentation - kernel/git/torvalds/linux.git - Linux kernel source tree|website=git.kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20201002061451/https://git.kernel.org/pub/scm/linux/kernel/git/torvalds/linux.git/tree/Documentation/ABI/stable/syscalls|archive-date=2 October 2020|url-status=live|access-date=2020-04-18}}</ref>
Các Loadable kernel module (LKM) được thiết kế không thể phụ thuộc vào một ABI ổn định.<ref name="stable-api-nonsense23" /> Do đo chúng phải luôn được biên dịch lại mỗi khi có một kernel mới được cài đặt vào hệ thống, nếu không sẽ không tải được chúng. Các driver đã có sẵn như là một phần trọng yếu trong [[tập tin]] thực thi của kernel (gọi là [[vmlinux]]) được liên kết tĩnh trong quá trình biên dịch.
Ngoài ra không có sự đảm bảo nào về tính ổn định của các API trong kernel,<ref name="stable-api-nonsense22" /> vì vậy mã nguồn của driver cũng như các hệ thống trong kernel phải được cập nhật thường xuyên. Bất kỳ lập trình viên nào thay đổi một API cũng được yêu cầu phải sửa tất cả các code bị ảnh hưởng.<ref name=":9">{{Chú thích web|url=https://elixir.bootlin.com/linux/latest/source/Documentation/process/1.Intro.rst|title=1.Intro.rst - Documentation/process/1.Intro.rst - Linux source code (v5.8) - Bootlin|website=elixir.bootlin.com|access-date=2020-08-08}}</ref>
==== API giữa kernel và người dùng ====
Tập hợp API của kernel liên quan đến giao diện viết cho ứng dụng người dùng, về cơ bản, bao gồm các [[lời gọi hệ thống]] của UNIX và các lời gọi của riêng Linux.<ref name=":17">{{Chú thích web|url=http://man7.org/linux/man-pages/man2/syscalls.2.html|title=syscalls|website=man7|archive-url=https://web.archive.org/web/20200115033131/http://man7.org/linux/man-pages/man2/syscalls.2.html|archive-date=15 January 2020|url-status=live|access-date=28 January 2020}}</ref> Một lời gọi hệ thống là một điểm vào bên trong kernel.<ref name="IeXpN">{{Chú thích web|url=https://man7.org/linux/man-pages/man2/intro.2.html|title=intro(2) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200717161934/https://man7.org/linux/man-pages/man2/intro.2.html|archive-date=17 July 2020|url-status=live|access-date=2020-07-16}}</ref> Ví dụ, trong các lời gọi riêng của Linux có một họ các lời gọi là {{Mono|system(2)}}.<ref name="IHsye">{{Chú thích web|url=http://man7.org/linux/man-pages/man2/clone.2.html|title=clone|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200118015900/http://man7.org/linux/man-pages/man2/clone.2.html|archive-date=18 January 2020|url-status=live|access-date=2020-01-28}}</ref> Hầu hết các mở rộng phải được bật thông qua macro <code>_GNU_SOURCE</code> trong một header file hoặc trong lúc biên dịch chương trình ứng dụng.<ref name="si1va">{{Chú thích web|url=http://man7.org/linux/man-pages/man7/feature_test_macros.7.html|title=feature_test_macros|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200119174511/http://man7.org/linux/man-pages/man7/feature_test_macros.7.html|archive-date=19 January 2020|url-status=live|access-date=2020-01-28}}</ref>
Lời gọi hệ thống chỉ được thực hiện bằng cách sử dụng các lệnh bằng hợp ngữ cho phép chuyển từ chế độ người dùng không đặc quyền lên chế độ kernel đặc quyền trong ring 0. Vì vậy, [[Thư viện chuẩn C|thư viện C chuẩn]] (libC) có tác dụng như một wrapper của các lời gọi hệ thống, trong đó các hàm C chỉ khi cần thiết<ref name="c0kGr">{{Chú thích web|url=http://man7.org/linux/man-pages/man7/vdso.7.html|title=vdso(7) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200202123949/http://man7.org/linux/man-pages/man7/vdso.7.html|archive-date=2 February 2020|url-status=live|access-date=2020-02-02}}</ref> mới vào bên trong kernel để thực hiện lời gọi thay cho chương trình gọi nó.<ref name=":16" /> Đối với các lời gọi không có trong libC, ví dụ như fast user mutex (futex),<ref name=":03">{{Chú thích web|url=http://man7.org/linux/man-pages/man2/futex.2.html|title=futex(2) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200131144454/http://man7.org/linux/man-pages/man2/futex.2.html|archive-date=31 January 2020|url-status=live|access-date=2020-02-02}}</ref> thư viện cung cấp hàm {{Mono|syscall(2)}} cho phép thực hiện thẳng lời gọi đó.<ref name="Of0EM">{{Chú thích web|url=http://man7.org/linux/man-pages/man2/syscall.2.html|title=syscall(2) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200121174524/http://man7.org/linux/man-pages/man2/syscall.2.html|archive-date=21 January 2020|url-status=live|access-date=2020-02-02}}</ref>
Các hệ thống file giả (ví dụ như [[sysfs]] hay [[procfs]]) và các file đặc biệt như <code>/dev/random</code>, <code>/dev/sda/</code> hay <code>/dev/tty</code>, v.v là một cách trừu tượng hóa các thiểt bị phần cứng vật lý hoặc thiết bị phần mềm.<ref name="Xk0xu">{{Chú thích web|url=http://man7.org/linux/man-pages/man5/sysfs.5.html|title=sysfs(5) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200118044323/http://man7.org/linux/man-pages/man5/sysfs.5.html|archive-date=18 January 2020|url-status=live|access-date=2020-01-06}}</ref><ref name="ZQvvs">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/admin-guide/sysfs-rules.html|title=Rules on how to access information in sysfs — The Linux Kernel documentation|website=Kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200307065123/https://www.kernel.org/doc/html/latest/admin-guide/sysfs-rules.html|archive-date=7 March 2020|url-status=live|access-date=2020-01-06}}</ref>
==== ABI giữa kernel và người dùng ====
{{Main|Linux Standard Base}}Có sự khác biệt giữa hàng trăm hệ điều hành Linux khác nhau, do đó các tập thực thi nhị phân được biên dịch, hợp dịch (assembly) hay liên kết để chạy trên một kiến trúc máy tính ([[Instruction Set Architecture|ISA]]) cụ thể thường không thể chạy được trên các bản phân phối Linux khác nhau. Lý do chủ yếu là cấu hình riêng của bản phân phối hay các bản vá của kernel, hoặc khác biệt trong thư viện của hệ thống, dịch vụ (daemon), hệ thống file hay [[biến môi trường]].
Tiêu chuẩn chính liên quan đến vấn đề tương thích của các tập tin nhị phân và ứng dụng trong các bản phân phối là Linux Standard Base (LSB).<ref name="K8v7f">{{Chú thích web|url=https://refspecs.linuxbase.org/|title=Linux Foundation Referenced Specifications|website=refspecs.linuxbase.org|access-date=2020-02-03}}</ref><ref name="xXTn9">{{Chú thích web|url=https://refspecs.linuxbase.org/lsb.shtml|title=LSB Specifications|website=refspecs.linuxbase.org|access-date=2020-02-03}}</ref> Tuy nhiên LSB không chỉ đề cập đến kernel mà cả các [[môi trường desktop]] như thư viện X và [[Qt]], những thứ không liên quan lắm đến kernel.<ref name="b18aw">{{Chú thích web|url=https://refspecs.linuxbase.org/LSB_5.0.0/LSB-Desktop-generic/LSB-Desktop-generic/book1.html|title=Linux Standard Base Desktop Specification, Generic Part|website=refspecs.linuxbase.org|access-date=2020-02-03}}</ref> LSB phiên bản 5 dựa trên vài tiêu chuẩn và bản dự thảo như POSIX, SUS, X/Open, File System Hierarchy (FHS), v.v.<ref name="OXb0O">{{Chú thích web|url=https://refspecs.linuxfoundation.org/LSB_5.0.0/LSB-Core-generic/LSB-Core-generic/normativerefs.html|title=Normative References|website=refspecs.linuxfoundation.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200812044159/https://refspecs.linuxfoundation.org/LSB_5.0.0/LSB-Core-generic/LSB-Core-generic/normativerefs.html|archive-date=12 August 2020|url-status=live|access-date=2020-02-03}}</ref>
Các thành phần phần lớn liên quan đến kernel của LSB gọi là ''General ABI'' (gABI),<ref name="BvU35">{{Chú thích web|url=https://refspecs.linuxfoundation.org/LSB_5.0.0/LSB-Core-generic/LSB-Core-generic/book1.html|title=Linux Standard Base Core Specification, Generic Part|website=refspecs.linuxfoundation.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20191129194815/https://refspecs.linuxfoundation.org/LSB_5.0.0/LSB-Core-generic/LSB-Core-generic/book1.html|archive-date=29 November 2019|url-status=live|access-date=2020-02-03}}</ref> đặc biệt là System V ABI<ref name="LhnpZ">{{Chú thích web|url=https://www.sco.com/developers/devspecs/gabi41.pdf|title=System V Application Binary Interface - Edition 4.1|website=Sco.com|archive-url=https://web.archive.org/web/20191213124815/http://www.sco.com/developers/devspecs/gabi41.pdf|archive-date=13 December 2019|url-status=live|access-date=3 February 2020}}</ref><ref name="vftgf">{{Chú thích web|url=http://www.sco.com/developers/gabi/2003-12-17/contents.html|title=Xinuos Inc. {{!}} Developers {{!}} Gabi {{!}} 2003-12-17 {{!}} System V Application Binary Interface - DRAFT|website=Sco.com|archive-url=https://web.archive.org/web/20200203124116/http://www.sco.com/developers/gabi/2003-12-17/contents.html|archive-date=3 February 2020|url-status=live|access-date=2020-02-03}}</ref> và [[Executable and Linking Format]] (ELF)<ref name="qXIDV">{{Chú thích web|url=https://refspecs.linuxbase.org/LSB_5.0.0/LSB-Core-generic/LSB-Core-generic/elf-generic.html|title=Executable And Linking Format (ELF)|website=Refspecs.linuxbase.org|access-date=2020-02-03}}</ref><ref name="ypxud">{{Chú thích web|url=https://man7.org/linux/man-pages/man5/elf.5.html|title=elf(5) - Linux manual page|website=man7.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20201130114725/https://man7.org/linux/man-pages/man5/elf.5.html|archive-date=30 November 2020|url-status=live|access-date=2020-11-18}}</ref> và ''Processor Specific ABI'' (psABI), ví dụ như ''Core Specification for X86-64.''<ref name="Ar6xD">{{Chú thích web|url=https://refspecs.linuxbase.org/LSB_5.0.0/LSB-Core-AMD64/LSB-Core-AMD64/book1.html|title=Linux Standard Base Core Specification for X86-64|website=Refspecs.linuxbase.org|access-date=2020-02-03}}</ref><ref name="eNx2d">{{Chú thích web|url=https://refspecs.linuxbase.org/elf/gabi4+/contents.html|title=System V Application Binary Interface - DRAFT|website=Refspecs.linuxbase.org|access-date=2020-02-03}}</ref>
Tiêu chuẩn ABI để các chương trình x86_64 thực hiện lời gọi hệ thống là nạp mã số lời gọi vào thanh ghi ''rax'' và các tham số vào các thanh ghi ''rdi'', ''rsi'', ''rdx'', ''r10'', ''r8'' và ''r9'', sau đó thực thi lệnh (hợp ngữ) ''syscall''.<ref name="VSMQS">{{Chú thích sách|title=Introduction to 64 Bit Intel Assembly Language Programming for Linux|url=https://archive.org/details/introductionto640000benj|last=Seyfarth|first=Ray|year=2012|isbn=9781478119203|page=[https://archive.org/details/introductionto640000benj/page/n187 170]}}</ref><ref name="eIbJy">{{Chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/604287/|title=Anatomy of a system call, part 1 [LWN.net]|website=lwn.net|archive-url=https://web.archive.org/web/20200818051836/https://lwn.net/Articles/604287/|archive-date=18 August 2020|url-status=live|access-date=2020-07-16}}</ref><ref name="Fa3aZ">{{Chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/604515/|title=Anatomy of a system call, part 2 [LWN.net]|website=lwn.net|archive-url=https://web.archive.org/web/20200806081538/https://lwn.net/Articles/604515/|archive-date=6 August 2020|url-status=live|access-date=2020-07-16}}</ref>
==== API nội bộ kernel ====
[[Tập tin:Linux_AMD_graphics_stack.svg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Linux_AMD_graphics_stack.svg|nhỏ|300x300px|Tại XDC2014, Alex Deucher đến từ AMD công bố một driver hợp nhất trong kernel.<ref>{{chú thích web|url=http://wiki.x.org/wiki/Events/XDC2014/XDC2014DeucherAMD/|title=AMD's New Unified Open Source Driver|last=Deucher|first=Alex|date=ngày 7 tháng 10 năm 2014|publisher=[[X.Org Foundation]]|access-date =ngày 21 tháng 1 năm 2015}}</ref> Thư viện đồ họa độc quyền {{Mono|[[AMD Catalyst|libGL-fglrx-glx]]}} sẽ sử dụng [[Direct Rendering Manager|DRM]] cùng với [[Mesa 3D]]. Vì không có [[Application binary interface|ABI]] nội bộ ổn định, AMD phải liên tục chuyển đổi từ [[binary blob]] cũ được sử dụng bởi Catalyst.]]Có vài API nội bộ được sử dụng giữa các hệ thống trong kernel. Một số chỉ truy cập được bên trong hệ thống con, ngoài ra có một tập hợp khá ít ỏi các symbol (bao gồm các biến, hàm và cấu trúc) được xuất ra cho các module có thể tải động (ví dụ, các driver được tải khi yêu cầu) bằng cách thêm vào các macro {{Mono|EXPORT_SYMBOL()}} hoặc {{Mono|EXPORT_SYMBOL_GPL()}} (được dùng riêng cho các module có giấy phép GPL).<ref name=":6">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/kernel-hacking/hacking.html?highlight=export_symbol#symbols|title=Symbols - Unreliable Guide To Hacking The Linux Kernel — The Linux Kernel documentation|website=Kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200803074501/https://www.kernel.org/doc/html/latest/kernel-hacking/hacking.html?highlight=export_symbol#symbols|archive-date=3 August 2020|url-status=live|access-date=2020-02-08}}</ref><ref name=":7">{{Chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/249246/|title=Exported symbols and the internal API [LWN.net]|website=Lwn.net|archive-url=https://web.archive.org/web/20200331211446/https://lwn.net/Articles/249246/|archive-date=31 March 2020|url-status=live|access-date=2020-03-15}}</ref><ref name=":8">{{Chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/813350/|title=Unexporting kallsyms_lookup_name() [LWN.net]|website=Lwn.net|archive-url=https://web.archive.org/web/20200401062303/https://lwn.net/Articles/813350/|archive-date=1 April 2020|url-status=live|access-date=2020-03-15}}</ref>
Linux còn cung cấp các API nội bộ cho phép tương tác với các [[cấu trúc dữ liệu]] (như [[danh sách liên kết]], [[cây radix]],<ref name="kHdQ8">{{Chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/175432/|title=Trees I: Radix trees [LWN.net]|website=lwn.net|archive-url=https://web.archive.org/web/20201108131647/https://lwn.net/Articles/175432/|archive-date=8 November 2020|url-status=live|access-date=2020-11-13}}</ref> [[cây đỏ-đen]]<ref name="F2Fpg">{{Chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/184495/|title=Trees II: red-black trees [LWN.net]|website=lwn.net|archive-url=https://web.archive.org/web/20201113130357/https://lwn.net/Articles/184495/|archive-date=13 November 2020|url-status=live|access-date=2020-11-13}}</ref> và [[hàng đợi]]) hay thực hiện các hành động thông thường như sao chép dữ liệu trong user space, cấp phát bộ nhớ, in ra lịch trình hệ thống, v.v. được ổn định kể từ phiên bản 2.6.<ref name="yA682">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/htmldocs/kernel-hacking/index.html|title=Unreliable Guide To Hacking The Linux Kernel|year=2005|website=Kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200216191225/https://www.kernel.org/doc/htmldocs/kernel-hacking/index.html|archive-date=16 February 2020|url-status=live|access-date=2020-03-15|edition=1st}}</ref><ref name="HWCYl">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/kernel-hacking/hacking.html|title=Unreliable Guide To Hacking The Linux Kernel — The Linux Kernel documentation|website=Kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200307065323/https://www.kernel.org/doc/html/latest/kernel-hacking/hacking.html|archive-date=7 March 2020|url-status=live|access-date=2020-03-15}}</ref><ref name="Hjefj">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/kernel-hacking/locking.html|title=Unreliable Guide To Locking — The Linux Kernel documentation|website=Kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200307065319/https://www.kernel.org/doc/html/latest/kernel-hacking/locking.html|archive-date=7 March 2020|url-status=live|access-date=2020-03-15}}</ref>
Các API nội bộ bao gồm các thư viện cung cấp các dịch vụ cấp thấp cho các trình điều khiển thiết bị phải kể đến:
* Giao diện [[SCSI]]: một giao thức peer-to-peer cho các thiết bị lưu trữ sử dụng USB, SATA, SAS, Fibre Channel, FireWire, ATAPI<ref name="6WQLB">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/driver-api/scsi.html|title=SCSI Interfaces Guide — The Linux Kernel documentation|website=Kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200602154450/https://www.kernel.org/doc/html/latest/driver-api/scsi.html|archive-date=2 June 2020|url-status=live|access-date=2020-06-11}}</ref> và libATA: thư viện hỗ trợ các thiết bị và máy chủ sử dụng SATA.<ref name="qlKWp">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/driver-api/libata.html|title=libATA Developer's Guide — The Linux Kernel documentation|website=Kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200530101401/https://www.kernel.org/doc/html/latest/driver-api/libata.html|archive-date=30 May 2020|url-status=live|access-date=2020-06-11}}</ref>
* [[Direct Rendering Manager]] (DRM) và [[Kernel Mode Setting]] (KMS): giao diện tới [[GPU]] và hỗ trợ nhu cầu sử dụng phần cứng 3D hiện đại,<ref name="Zd5bj">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/gpu/drm-internals.html|title=DRM Internals — The Linux Kernel documentation|website=Kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200601202717/https://www.kernel.org/doc/html/latest/gpu/drm-internals.html|archive-date=1 June 2020|url-status=live|access-date=2020-06-11}}</ref> và để chọn độ phân giải, màu và tốc độ refresh hiển thị.<ref name="RkbFE">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/gpu/drm-kms.html#overview|title=Kernel Mode Setting (KMS) — The Linux Kernel documentation|website=Kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200611233817/https://www.kernel.org/doc/html/latest/gpu/drm-kms.html#overview|archive-date=11 June 2020|url-status=live|access-date=2020-06-11}}</ref>
* Bộ đệm [[Direct memory access|DMA]] (DMA-BUF): để chia sẻ bộ đệm [[Direct memory access|DMA]] giữa các driver và các hệ thống khác.<ref name="Ux72p2">{{Chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/473668/|title=Introduce DMA buffer sharing mechanism [LWN.net]|website=lwn.net|archive-url=https://web.archive.org/web/20200611235759/https://lwn.net/Articles/473668/|archive-date=11 June 2020|url-status=live|access-date=2020-06-11}}</ref><ref name="H845T2">{{Chú thích web|url=https://01.org/blogs/2016/sharing-cpu-and-gpu-buffers-linux|title=Sharing CPU and GPU buffers on Linux*|date=2016-05-12|website=01.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200611231858/https://01.org/blogs/2016/sharing-cpu-and-gpu-buffers-linux|archive-date=11 June 2020|url-status=live|access-date=2020-06-11}}</ref><ref name="w1T102">{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/driver-api/dma-buf.html|title=Buffer Sharing and Synchronization — The Linux Kernel documentation|website=Kernel.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20200601205610/https://www.kernel.org/doc/html/latest/driver-api/dma-buf.html|archive-date=1 June 2020|url-status=live|access-date=2020-06-11}}</ref>
* Video4Linux dành cho việc thu lại video.
* [[Advanced Linux Sound Architecture]] (ALSA) dành cho card âm thanh.
* New API cho [[Card mạng|NIC]].
* mac80211 và cfg80211 cho các NIC không giây.<ref name="za5ZK">{{Chú thích web|url=https://wireless.wiki.kernel.org/en/developers/Documentation/mac80211|title=About mac80211|publisher=Linux Kernel Organization, Inc.|archive-url=https://web.archive.org/web/20210201114135/https://wireless.wiki.kernel.org/en/developers/documentation/mac80211|archive-date=1 February 2021|url-status=live|access-date=8 June 2014}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/driver-api/80211/index.html|title=Linux 802.11 Driver Developer's Guide — The Linux Kernel documentation|website=Kernel.org|access-date=2021-11-19}}</ref>
==== ABI nội bộ kernel ====
Các nhà phát triển Linux chọn cách không bảo trì các ABI ổn định bên trong kernel.<ref name="f7gEh">{{Chú thích web|url=http://abi-laboratory.pro/tracker/timeline/linux/|title=Report on ABI changes in the Linux kernel|date=17 March 2016|publisher=Andrey Ponomarenko's ABI laboratory|archive-url=https://web.archive.org/web/20160312025113/http://abi-laboratory.pro/tracker/timeline/linux/|archive-date=12 March 2016|url-status=live|access-date=16 March 2016}}</ref> Các module được biên dịch cho một phiên bản nhất định không thể nạp được vào phiên bản khác nếu không được biên dịch lại , cho dù mã nguồn của API nội bộ kernel không thay đổi. Nếu chúng bị thay đổi thì mã nguồn module phải được viết lại.<ref name="stable-api-nonsense2" />
== Phát triển ==
=== Cộng đồng nhà phát triển ===
Tính đến năm 2007, sự phát triển của hạt nhân đã chuyển từ top 20 nhà phát triển tích cực nhất, viết 80% mã thành top 30 viết 30% mã, với các nhà phát triển hàng đầu dành nhiều thời gian xem xét thay đổi hơn.<ref name=":02">{{chú thích báo|url=http://www.computerworlduk.com/applications/are-top-linux-developers-losing-the-will-to-code-604/|title=Are top Linux developers losing the will to code?|last=Marti|first=Don|newspaper=ComputerworldUK|language=en-GB|access-date = ngày 24 tháng 10 năm 2016}}</ref> Các nhà phát triển cũng có thể được phân loại theo liên kết; trong năm 2007, các nhóm hàng đầu là không rõ trong khi đứng đầu nhóm doanh nghiệp là Red Hat với 12% đóng góp, và những người nghiệp dư được biết ở mức 3.9%.<ref name=":02" /> Những thay đổi về hạt nhân được thực hiện trong năm 2007 đã được gửi bởi hơn 1900 nhà phát triển, có thể là một đánh giá thấp đáng kể bởi vì các nhà phát triển làm việc theo nhóm thường được tính là một.{{Citation needed|date=October 2016}} Nó thường được giả định rằng cộng đồng các nhà phát triển hạt nhân Linux bao gồm 5000 hoặc 6000 thành viên.
Cập nhật từ 2016 Linux Kernel Development Report, do [[Linux Foundation]] phát hành,bao gồm giai đoạn từ 3,18 (tháng 12 năm 2014) đến 4,7 (tháng 7 năm 2016): Khoảng 1500 nhà phát triển đã đóng góp cho mỗi bản phát hành từ khoảng 200-250 công ty trên mỗi bản phát hành. 30 nhà phát triển hàng đầu đã đóng góp hơn 16% mã. Trong khối doanh nghiệp, những công ty đóng góp nhiều nhất là [[Intel]] (12,9%) và [[RedHat|Red Hat]] (8,0%), vị trí thứ ba và thứ tư được tổ chức bởi danh mục 'không' (7,7%) và 'không xác định' (6,8%)<ref>{{Chú thích web|url=http://go.linuxfoundation.org/linux-kernel-development-report-2016|title=Linux Kernel Development Report 2016|last=|first=|date=|website=|archive-url=https://web.archive.org/web/20160822224924/http://go.linuxfoundation.org/linux-kernel-development-report-2016|archive-date = ngày 22 tháng 8 năm 2016 |url-status=dead|access-date =}}</ref>.
=== Quá trình phát triển ===
Một nhà phát triển muốn thay đổi hạt nhân Linux bắt đầu bằng việc phát triển và thử nghiệm sự thay đổi đó. Tùy thuộc vào mức độ thay đổi đáng kể và số lượng hệ thống con mà nó thay đổi mà thay đổi sẽ bao gồm một bản vá hoặc nhiều bản vá. Trong trường hợp của một hệ thống con duy nhất được duy trì bởi một người bảo trì duy nhất, các bản vá này được gửi dưới dạng e-mail đến người duy trì hệ thống con với danh sách gửi thư thích hợp trong Cc. Người duy trì và độc giả của danh sách gửi thư sẽ xem xét các bản vá và cung cấp phản hồi. Khi quá trình xem xét kết thúc, người duy trì chấp nhận các bản vá lỗi trong cây hạt nhân của mình. Nếu những thay đổi này là sửa lỗi được coi là đủ quan trọng, yêu cầu kéo bao gồm các bản vá sẽ được gửi đến [[Linus Torvalds]] trong vòng vài ngày. Nếu không, yêu cầu kéo sẽ được gửi đến [[Linus Torvalds]] trong cửa sổ hợp nhất tiếp theo. Cửa sổ hợp nhất thường kéo dài hai tuần và bắt đầu ngay sau khi phát hành phiên bản hạt nhân trước đó.<ref>{{chú thích web|title=How the development process works|url=https://www.kernel.org/doc/html/latest/process/2.Process.html|access-date =ngày 4 tháng 2 năm 2018}}</ref>
[[Linus Torvalds]] là nhân tố cuối cùng không chỉ qua những thay đổi được chấp nhận vào nhân Linux mà còn hơn những người có thể trở thành một người bảo trì. Các nhà bảo trì hạt nhân giữ vai trò của họ trừ khi họ tự nguyện đóng vai trò của họ. Không có ví dụ nào được biết về các nhà bảo trì hạt nhân đã được yêu cầu từ bỏ. Ngoài ra, không có ví dụ nào được biết đến về trình bảo trì hạt nhân đã bị chỉ trích vì kiểu tương tác của cô ấy với các nhà phát triển của Linus. Điều này mang đến cho người bảo trì một lượng năng lượng đáng kể. Mặc dù văn hóa trong cộng đồng phát triển hạt nhân đã được cải thiện qua nhiều năm, cộng đồng phát triển hạt nhân có tiếng tăm đôi khi rất thô lỗ.<ref>{{chú thích web|first=Simon|last=Sharwood|title=Linux kernel dev who asked Linus Torvalds to stop verbal abuse quits over verbal abuse|url=https://www.theregister.co.uk/2015/10/06/linix_kernel_dev_who_asked_linus_torvalds_to_stop_swearing_quits_over_swearing/|website=The Register|date=ngày 6 tháng 10 năm 2015}}</ref><ref>{{chú thích web|first=Jonathan|last=Corbet|title=Bash the kernel maintainers|url=https://lwn.net/Articles/738222/|website=LWN.net|date=ngày 6 tháng 11 năm 2017|access-date =ngày 4 tháng 2 năm 2018}}</ref> Các nhà phát triển cảm thấy bị đối xử không công bằng có thể báo cáo điều này với Linux Foundation's Technical Advisory Board.<ref>{{chú thích web|title=Code of Conflict|url=https://git.kernel.org/pub/scm/linux/kernel/git/torvalds/linux.git/tree/Documentation/process/code-of-conflict.rst|access-date =ngày 4 tháng 2 năm 2018}}{{Liên kết hỏng|date = ngày 13 tháng 3 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }}</ref> Một số thành viên cộng đồng hạt nhân không đồng ý với văn hóa thảo luận hiện tại.<ref>{{chú thích web|first=Jake|last=Edge|title=Too many lords, not enough stewards|url=https://lwn.net/Articles/745817/|website=LWN.net|date=ngày 31 tháng 1 năm 2018|access-date =ngày 4 tháng 2 năm 2018}}</ref>
=== Ngôn ngữ lập trình ===
Linux được viết bằng một phiên bản của [[c (ngôn ngữ lập trình)|ngôn ngữ lập trình C]] hỗ trợ bởi [[Bộ trình dịch GNU|GCC]] (đã giới thiệu một số phần mở rộng và thay đổi cho tiêu chuẩn C), cùng với một số phần ngắn viết bằng [[hợp ngữ]] (trong cú pháp "AT&T-style" của GCC) cho kiến trúc đích. Bởi vì sự hỗ trợ mở rộng của C mà nó được viết, GCC trong một thời gian dài là trình biên dịch có thể dịch được đúng hạt nhân Linux.<br />
Nhiều ngôn ngữ khác được sử dụng trong nhiều cách, chủ yếu liên quan đến quá trình biên dịch. Bao gồm [[Perl]], [[Python (ngôn ngữ lập trình)|Python]] và nhiều loại shell scripting.
=== Sự tương thích với các trình biên dịch ===
[[Bộ trình dịch GNU|GCC]] là [[trình biên dịch]] mặc định cho nguồn nhân Linux. Năm 2014, [[Intel]] ttuyên bố đã sửa đổi kernel để [[Intel C++ Compiler|trình biên dịch C của họ]] cũng có khả năng biên dịch hạt nhân.<ref>{{chú thích web|url=http://www.pyrillion.org/index.html?showframe=linuxkernelpatch.html|title=Linux kernel patch for Intel Compiler|last=Kubbilun|first=Ingo A.|date=ngày 2 tháng 6 năm 2004|publisher=Pyrillion.org|language=de|archiveurl=https://web.archive.org/web/20110722090031/http://www.pyrillion.org/index.html?showframe=linuxkernelpatch.html|archive-date=ngày 22 tháng 7 năm 2011|access-date=ngày 12 tháng 11 năm 2010|url-status=dead}}</ref> Có một báo cáo thành công như vậy trong năm 2009, với phiên bản kernel đã được sửa đổi 2.6,22.<ref>{{chú thích web|url=http://linux.slashdot.org/article.pl?sid=09/02/26/2216241|title=High Performance Linux Kernel Project — LinuxDNA|author=timothy|date=ngày 26 tháng 2 năm 2009|work=[[Slashdot|Slashdot Linux]]|publisher=[[Dice Holdings]]|access-date=ngày 30 tháng 10 năm 2010}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.linuxjournal.com/content/linuxdna-supercharges-linux-intel-cc-compiler|title=LinuxDNA Supercharges Linux with the Intel C/C++ Compiler|last=Ryan|first=Justin|date=ngày 25 tháng 2 năm 2009|work=[[Linux Journal]]|publisher=Belltown Media, Inc.|access-date=ngày 30 tháng 10 năm 2010}}</ref>
Từ năm 2010, nỗ lực đã được tiến hành để xây dựng nhân Linux với [[Clang]], một trình biên dịch thay thế cho [[C (ngôn ngữ lập trình)|ngôn ngữ C]];<ref>{{cite mailing list|url=http://lists.cs.uiuc.edu/pipermail/cfe-dev/2010-October/011711.html|title=Clang builds a working Linux Kernel (Boots to RL5 with SMP, networking and X, self hosts)|last=Lelbach|first=Bryce|mailing-list=cfe-dev|date=ngày 25 tháng 10 năm 2010|archive-url=https://web.archive.org/web/20150907044958/http://lists.cs.uiuc.edu/pipermail/cfe-dev/2010-October/011711.html|archive-date=ngày 7 tháng 9 năm 2015}}</ref> kể từ ngày 12 tháng 4 năm 2014, kernel chính thức gần như có thể được biên dịch bằng Clang.<ref>{{chú thích web|url=https://www.phoronix.com/scan.php?page=news_item&px=MTY2MjY|title=Linux 3.15 Can Almost Be Compiled Under LLVM's Clang|last=Larabel|first=Michael|authorlink=Michael Larabel|date=ngày 12 tháng 4 năm 2014|publisher=[[Phoronix]]|access-date=ngày 10 tháng 6 năm 2014}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://www.phoronix.com/scan.php?page=news_item&px=MTY2MjY|title=Patch By Patch, LLVM Clang Gets Better At Building The Linux Kernel|last=Larabel|first=Michael|authorlink=Michael Larabel|publisher=[[Phoronix]]|access-date=ngày 20 tháng 11 năm 2014}}</ref> Dự án dành riêng cho nỗ lực này được đặt tên là ''LLVMLinux'' theo cơ sở hạ tầng trình biên dịch [[LLVM]] mà Clang được xây dựng.<ref>{{chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/549203/|title=LFCS: The LLVMLinux project|last=Edge|first=Jake|date=ngày 7 tháng 5 năm 2013|publisher=[[LWN.net]]|access-date=ngày 3 tháng 3 năm 2015}}</ref> LLVMLinux không nhằm mục đích phân nhánh hạt nhân Linux hoặc LLVM, do đó, đây là một siêu dự án bao gồm các bản vá cuối cùng được gửi cho các dự án ngược dòng. Bằng cách cho phép nhân Linux được Clang biên dịch, trong số các ưu điểm khác, được biết đến với khả năng biên dịch nhanh hơn so với GCC, các nhà phát triển nhân có thể được hưởng lợi từ quy trình làm việc nhanh hơn do thời gian biên dịch ngắn hơn.<ref>{{chú thích web|url=http://llvm.org/devmtg/2014-02/slides/moller-llvmlinux.pdf|title=LLVMLinux: The Linux Kernel with Dragon Wings|last=Möller|first=Jan-Simon|date=ngày 2 tháng 2 năm 2014|publisher=[[LLVM|LLVM Project]]|access-date=ngày 3 tháng 3 năm 2015}}</ref>
=== Xung đột cộng đồng phát triển ===
Đã có một số xung đột đáng chú ý giữa các nhà phát triển nhân Linux. Ví dụ về những xung đột đó là:
* Ngày 10 tháng 7 năm 2007 [[Con Kolivas]] tuyên bố rằng ông sẽ ngừng phát triển cho nhân Linux. Thảo luận về lý do của mình trong một cuộc phỏng vấn, ông bày tỏ sự thất vọng với các khía cạnh của quy trình phát triển nhân chính, mà ông cảm thấy không ưu tiên đủ cho tương tác máy tính để bàn, ngoài việc hack gây tổn hại cho sức khỏe, công việc và gia đình.<ref name="ConKolivas">{{chú thích web|title=Why I quit: kernel developer Con Kolivas|url=http://apcmag.com/node/6735/|access-date =ngày 15 tháng 8 năm 2011|date=ngày 24 tháng 7 năm 2007|work=APC Magazine|publisher=ACP Magazines|archiveurl=https://web.archive.org/web/20110707151924/http://apcmag.com/why_i_quit_kernel_developer_con_kolivas.htm|archive-date = ngày 7 tháng 7 năm 2011}}</ref><ref>{{chú thích web|first=Jonathan|last=Corbet|title=Re: -mm merge plans for 2.6.23|publisher=LWN.net|date=ngày 25 tháng 7 năm 2007|url=https://lwn.net/Articles/242768/|access-date =ngày 10 tháng 2 năm 2018}}</ref>
* Ngày 28 tháng 7 năm 2009, [[Alan Cox]] đã từ bỏ vai trò là người duy trì lớp [[TTY]] sau khi không đồng ý với Torvalds về phạm vi công việc cần thiết để sửa lỗi trong hệ thống con đó.<ref>{{chú thích web|first=Alan|last=Cox|title=Re: [PATCH] kdesu broken|url=https://lkml.org/lkml/2009/7/28/375|date=ngày 28 tháng 7 năm 2009|access-date =ngày 10 tháng 2 năm 2018}}</ref>
* Tháng 12 năm 2010, đã có một cuộc thảo luận giữa nhà bảo trì SCSI James bottomley và nhà duy trì SCST Vladislav Bolkhovitin về việc ngăn xếp mục tiêu SCSI nào sẽ được đưa vào nhân Linux - SCST hoặc LIO. Mặc dù tại thời điểm đó SCST được coi là vượt trội về mặt kỹ thuật, LIO đã được sáp nhập ngược dòng.<ref>{{chú thích web|first=Goldwyn|last=Rodrigues|title=A tale of two SCSI targets|url=https://lwn.net/Articles/424004/|date=ngày 22 tháng 1 năm 2011|access-date =ngày 14 tháng 2 năm 2018}}</ref> Điều này làm cho một số người dùng Linux buồn bã.<ref>{{chú thích web|first=Andreas|last=Steinmetz|title=LIO - the broken iSCSI target implementation|url=https://lkml.org/lkml/2013/1/16/803|date=ngày 17 tháng 1 năm 2013|access-date =ngày 14 tháng 2 năm 2018}}</ref>
* Vào ngày 14 tháng 6 năm 2012 [[Linus Torvalds]] đã nói rất rõ rằng ông không đồng ý với việc [[NVIDIA]] phát hành [[Chương trình điều khiển|trình điều khiển]] của mình dưới dạng trình điều khiển nguồn đóng.<ref>{{chú thích web|first=Ryan|last=Paul|title=Linus Torvalds says “f–k you” to NVIDIA|url=https://arstechnica.com/information-technology/2012/06/linus-torvalds-says-f-k-you-to-nvidia/|date=ngày 19 tháng 6 năm 2012|access-date =ngày 14 tháng 2 năm 2018}}</ref>
* Ngày 6 tháng 10 năm 2014, [[Lennart Poettering]] đã cáo buộc Linus Torvalds dung túng kiểu thảo luận thô lỗ trong danh sách gửi thư liên quan đến nhân Linux và là một mô hình vai trò xấu.<ref>{{chú thích web|first=Lennart|last=Poettering|title=On the sickness of the Linux Kernel Community|url=https://plus.google.com/+LennartPoetteringTheOneAndOnly/posts/J2TZrTvu7vd|website=Google+|date=ngày 6 tháng 10 năm 2014|access-date =ngày 10 tháng 2 năm 2018}}</ref>
* Ngày 5 tháng 3 năm 2015, Christoph Hellwig đã đệ đơn kiện [[VMware]] vì vi phạm bản quyền trên nhân Linux.<ref>{{chú thích web|first=Jon|last=Brodkin|title=VMware alleged to have violated Linux’s open source license for years|url=https://arstechnica.com/tech-policy/2015/03/vmware-alleged-to-have-violated-linuxs-open-source-license-for-years/|website=Ars Technica|date=ngày 6 tháng 3 năm 2015|access-date =ngày 14 tháng 2 năm 2018}}</ref> Linus Torvalds nói rõ rằng ông không đồng ý với việc này và các ý định tương tự bằng cách gọi luật sư là một bệnh hoạn.<ref>{{chú thích web|first=Kieren|last=McCarthy|title=Having offended everyone else in the world, Linus Torvalds calls own lawyers a 'nasty festering disease'|url=https://www.theregister.co.uk/2016/08/26/linus_torvalds_calls_own_lawyers_nasty_festering_disease/|website=The Register|date=ngày 26 tháng 8 năm 2016|access-date =ngày 14 tháng 2 năm 2018}}</ref>
Các nhà phát triển nhân Linux nổi bật đã nhận thức được tầm quan trọng của việc tránh xung đột giữa các nhà phát triển.<ref>{{chú thích web|first=Jonathan|last=Corbet|title=KS2007: Developer relations and development process|url=https://lwn.net/Articles/249104/|website=LWN.net|date=ngày 10 tháng 9 năm 2007|access-date =ngày 11 tháng 2 năm 2018}}</ref> Trong một thời gian dài, không có quy tắc ứng xử nào cho các nhà phát triển nhân do sự phản đối của [[Linus Torvalds]].<ref>{{chú thích web|first=Jon|last=Brodkin|title=Linus Torvalds defends his right to shame Linux kernel developers|url=https://arstechnica.com/information-technology/2013/07/linus-torvalds-defends-his-right-to-shame-linux-kernel-developers/|website=ARS Technica|date=ngày 16 tháng 7 năm 2013|access-date =ngày 11 tháng 2 năm 2018}}</ref> Tuy nhiên, một Linux Kernel ''Code of Conflict'' đã được giới thiệu vào ngày 8 tháng 3 năm 2015.<ref>{{chú thích web|first=Jonathan|last=Corbet|title=The kernel's code of conflict|url=https://lwn.net/Articles/635999/|website=LWN.net|date=ngày 9 tháng 3 năm 2015|access-date =ngày 11 tháng 2 năm 2018}}</ref> Nó đã được thay thế vào ngày 16 tháng 9 năm 2018 bởi ''Code of Conduct'' dựa trên ''Giao ước cộng tác viên'' (Contributor Covenant). Điều này trùng hợp với một lời xin lỗi công khai của Linus và một thông báo rằng ông đang tạm nghỉ phát triển nhân.<ref>{{chú thích web|url=https://lwn.net/SubscriberLink/765108/f1a80a6d6a6ff0f4/|title=Code, conflict, and conduct|first=Jonathan|last=Corbet|publisher=[[LWN.net]]|date = ngày 18 tháng 9 năm 2018}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://www.newyorker.com/science/elements/after-years-of-abusive-e-mails-the-creator-of-linux-steps-aside|title=After Years of Abusive E-mails, the Creator of Linux Steps Aside|first=Noam|last=Cohen|publisher=[[The New Yorker]]|date = ngày 19 tháng 9 năm 2018}}</ref>
=== Codebase ===
== Phương diện luật pháp ==
=== Điều khoản cấp phép ===
Ban đầu, Torvalds phát hành Linux theo một giấy phép cấm sử dụng thương mại<ref name=":3">{{Chú thích web|url=http://hotwired.goo.ne.jp/matrix/9709/5_linus.html|tiêu đề=The Pragmatist of Free Software|họ=Yamagata|tên=Hiroo|ngày tháng=ngày 3 tháng 8 năm 1997|website=|nhà xuất bản=[[HotWired]]|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070210224351/http://hotwired.goo.ne.jp/matrix/9709/5_linus.html|ngày lưu trữ=ngày 10 tháng 2 năm 2007|ngày truy cập=ngày 21 tháng 2 năm 2007}}</ref>. Điều này đã được thay đổi trong phiên bản 0.12 bằng cách chuyển sang [[Giấy phép Công cộng GNU|Giấy phép Công cộng GNU (GPL).]]<ref name="kernel.org" /> Giấy phép này cho phép phân phối và bán các phiên bản có thể sửa đổi và chưa sửa đổi của Linux nhưng yêu cầu tất cả các bản sao đó phải được phát hành theo cùng một giấy phép và được kèm theo mã nguồn tương ứng hoàn chỉnh.
Torvalds đã mô tả việc cấp phép Linux theo GPL là "điều tốt nhất tôi từng làm".<ref name=":3" />
==== GPL v3 ====
Linux kernel chỉ được cấp phép rõ ràng theo phiên bản 2 của GPL,<ref name="COPYING">{{chú thích web|title=Linux Kernel Copying<!-- this updates with the kernel, at citation was;h=ca442d313d86dc67e0a2e5d584b465bd382cbf5c;hb=f3b8436ad9a8ad36b3c9fa1fe030c7f38e5d3d0b -->|url=https://git.kernel.org/?p=linux/kernel/git/torvalds/linux-2.6.git;a=blob;f=COPYING|access-date =ngày 25 tháng 9 năm 2013|quote=''Also note that the only valid version of the GPL as far as the kernel is concerned is _this_ particular version of the license (ie v2, not v2.2 or v3.x or whatever), unless explicitly otherwise stated.''}}{{dead link|date=February 2018|bot=Darkmorpher|fix-attempted=yes}}</ref> mà không cung cấp cho người được cấp phép tùy chọn "bất kỳ phiên bản mới hơn", đây là một phần mở rộng GPL phổ biến. Đã có cuộc tranh luận đáng kể về việc giấy phép có thể được thay đổi dễ dàng để sử dụng các phiên bản GPL sau này (bao gồm cả phiên bản 3) và liệu sự thay đổi này có đáng mong muốn hay không.<ref>{{chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/169797/|title=GPLv3 and the kernel|last=Corbet|first=Jonathan|date=ngày 31 tháng 1 năm 2006|publisher=[[LWN.net]]|access-date=ngày 21 tháng 2 năm 2007}}</ref> Bản thân Torvalds đã chỉ định cụ thể khi phát hành phiên bản 2.4.0 rằng mã riêng của ông chỉ được phát hành trong phiên bản 2.<ref>{{cite mailing list|url=http://lkml.iu.edu/hypermail/linux/kernel/0009.1/0096.html|title=Linux-2.4.0-test8|last=Torvalds|first=Linus|author-link=Linus Torvalds|date=ngày 8 tháng 9 năm 2000|mailing-list=[[LKML]]|access-date=ngày 21 tháng 2 năm 2007}}</ref> Tuy nhiên, các điều khoản của trạng thái GPL rằng nếu không có phiên bản nào được chỉ định thì có thể sử dụng bất kỳ phiên bản nào,<ref>{{chú thích web|url=https://www.gnu.org/licenses/old-licenses/gpl-2.0.en.html#section9|title=gnu.org|website=www.gnu.org|language=en|access-date=ngày 18 tháng 10 năm 2017}}</ref> và Alan Cox chỉ ra rằng rất ít người đóng góp Linux khác đã chỉ định một phiên bản cụ thể của GPL.<ref>{{cite mailing list|url=https://lwn.net/Articles/169831/|title=Re: GPL V3 and Linux|last=Cox|first=Alan|author-link=Alan Cox|date=ngày 20 tháng 1 năm 2006|mailing-list=[[LKML]]|access-date=ngày 21 tháng 2 năm 2007}}</ref>
Tháng 9/2006, một cuộc khảo sát với 29 lập trình viên hạt nhân chính đã chỉ ra rằng 28 người thích GPLv2 hơn dự thảo hiện tại của [[GNU GPLv3|GPLv3]]. Torvalds nhận xét: "Tôi nghĩ rằng một số người ngoài cuộc... tin rằng cá nhân tôi chỉ là người kỳ quặc vì tôi đã công khai không phải là một fan hâm mộ lớn của GPLv3."<ref>{{chú thích web|url=http://news.com/Top+Linux+programmers+pan+GPL+3/2100-7344_3-6119372.html|title=Top Linux programmers pan GPL 3|last=Shankland|first=Stephen|date=ngày 25 tháng 9 năm 2006|work=[[News.com]]|publisher=[[CNET]]|access-date=ngày 21 tháng 2 năm 2007}}{{Liên kết hỏng|date=2023-01-13 |bot=InternetArchiveBot }}</ref> Nhóm các nhà phát triển hạt nhân cao cấp này, bao gồm Linus Torvalds, Greg Kroah-Hartman và Andrew Morton, đã bình luận trên các phương tiện truyền thông đại chúng về sự phản đối của họ đối với GPLv3.<ref name="kerneldevelopers2006">{{chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/200422/|title=Kernel developers' position on GPLv3: <!--quote= better here (or: for subtitle)?-->The Dangers and Problems with GPLv3|authors=James E.J. Bottomley, Mauro Carvalho Chehab, Thomas Gleixner, Christoph Hellwig, Dave Jones, Greg Kroah-Hartman, Tony Luck, Andrew Morton, Trond Myklebust, David Woodhouse|date=ngày 15 tháng 9 năm 2006|publisher=[[LWN.net]]|access-date=ngày 11 tháng 3 năm 2015|quote="The current version (Discussion Draft 2) of GPLv3 on first reading fails the necessity test of section 1 on the grounds that there's no substantial and identified problem with GPLv2 that it is trying to solve. However, a deeper reading reveals several other problems with the current FSF draft: 5.1 DRM Clauses [...] 5.2 Additional Restrictions Clause [...] 5.3 Patents Provisions [...] since the FSF is proposing to shift all of its projects to GPLv3 and apply pressure to every other GPL licensed project to move, we foresee the release of GPLv3 portends the [[Balkanisation]] of the entire Open Source Universe upon which we rely."}}</ref> Họ đã đề cập đến các điều khoản liên quan đến DRM/[[tivoization]], bằng sáng chế, "các hạn chế bổ sung" và cảnh báo Balkanisation của "Open Source Universe" của GPLv3.<ref name="kerneldevelopers2006" /><ref>{{chú thích web|url=http://www.linuxjournal.com/node/1000100|title=A fight against evil or a fight for attention?|last=Petreley|first=Nicholas|date=ngày 27 tháng 9 năm 2006|publisher=linuxjournal.com|access-date=ngày 11 tháng 3 năm 2015|quote=Second, the war between Linus Torvalds and other Kernel developers and the Free Software Foundation over GPLv3 is continuing, with Torvalds saying he's fed up with the FSF.}}</ref> Linus Torvalds, người quyết định không áp dụng GPLv3 cho nhân Linux, đã nhắc lại những lời chỉ trích của mình thậm chí nhiều năm sau đó.<ref>[https://www.youtube.com/watch?v=PaKIZ7gJlRU Linus Torvalds says GPL v3 violates everything that GPLv2 stood for] [[Debconf]] 2014, [[Portland, Oregon]] (accessed ngày 11 tháng 3 năm 2015)</ref>
=== {{Anchor|DMA-BUF}}Loadable kernel modules ===
Cuộc tranh luận liệu các [[loadable kernel module]]s (LKMs) có được coi là tác phẩm phái sinh theo luật bản quyền hay không, và do đó nằm trong các điều khoản của GPL.
Torvalds đã tuyên bố niềm tin của mình rằng các LKM chỉ sử dụng một tập hợp con giới hạn, "công khai" của các giao diện kernel đôi khi có thể là các tác phẩm không có nguồn gốc, do đó cho phép một số trình điều khiển chỉ nhị phân và các LKM khác không được cấp phép theo GPL.{{Citation needed|date=July 2013}} Một ví dụ điển hình cho việc này là việc sử dụng dma_buf bởi các trình điều khiển đồ họa Nvidia độc quyền. dma_buf là một tính năng kernel gần đây giống như phần còn lại của kernel, nó được cấp phép theo GPL), cho phép nhiều GPU nhanh chóng sao chép dữ liệu vào bộ đệm khung của nhau.<ref>{{chú thích web|url=http://elinux.org/images/a/a8/DMA_Buffer_Sharing-_An_Introduction.pdf|title=DMA Buffer Sharing Framework: An Introduction|last1=Clark|first1=Rob|last2=Semwal|first2=Sumit|date=ngày 1 tháng 11 năm 2012|publisher=Embedded Linux Conference|access-date=ngày 2 tháng 8 năm 2014}}</ref> Một trường hợp sử dụng có thể là Nvidia Optimus kết hợp GPU nhanh với GPU tích hợp Intel, trong đó GPU Nvidia ghi vào bộ đệm khung [[Intel]] khi nó hoạt động. Nhưng, Nvidia không thể sử dụng cơ sở hạ tầng này vì nó sử dụng một phương tiện kỹ thuật để thực thi quy tắc rằng nó chỉ có thể được sử dụng bởi các LKM cũng là GPL. đã trả lời trên LKML, từ chối yêu cầu từ một trong các kỹ sư của họ để loại bỏ thực thi kỹ thuật này khỏi API. Tuy nhiên, không phải tất cả những người đóng góp nhân Linux đều đồng ý với cách giải thích này, và ngay cả Torvald cũng đồng ý rằng nhiều LKM là các tác phẩm có nguồn gốc rõ ràng, và thực sự ông viết rằng "các mô-đun hạt nhân là dẫn xuất 'theo mặc định'".<ref>{{cite mailing list|url=https://lkml.org/lkml/2003/12/10/123|title=RE: Linux GPL and binary module exception clause?|last=Torvalds|first=Linus|author-link=Linus Torvalds|date=ngày 10 tháng 12 năm 2003|mailing-list=[[LKML]]|access-date=ngày 31 tháng 12 năm 2010}}</ref>
Mặt khác, Torvalds cũng đã nói rằng "''một vùng màu xám nói riêng giống như một trình điều khiển ban đầu được viết cho một hệ điều hành khác (nghĩa là rõ ràng không phải là một tác phẩm có nguồn gốc từ Linux). [...] ĐÓ là một khu vực màu xám, and _that_ is khu vực mà cá nhân tôi tin rằng một số mô-đun có thể được coi là không có nguồn gốc hoạt động đơn giản vì chúng không được thiết kế cho Linux và không phụ thuộc vào bất kỳ hành vi đặc biệt nào của Linux''".<ref>{{cite mailing list|url=http://lkml.iu.edu/hypermail/linux/kernel/0312.0/0670.html|title=Re: Linux GPL and binary module exception clause?|last=Torvalds|first=Linus|author-link=Linus Torvalds|date=ngày 3 tháng 12 năm 2003|mailing-list=[[LKML]]|access-date=ngày 12 tháng 11 năm 2010}}</ref> [[Chương trình điều khiển|Trình điều khiển]] đồ họa [[Phần mềm sở hữu độc quyền|độc quyền]], đặc biệt, được thảo luận rất nhiều. Cuối cùng, có khả năng những câu hỏi như vậy chỉ có thể được giải quyết bởi một tòa án.
=== Firmware binary blobs ===
Một điểm gây tranh cãi về cấp phép là việc sử dụng [[firmware]] "[[binary blob]]s" trong Linux kernel để hỗ trợ một số thiết bị phần cứng. Các tập tin này thuộc nhiều loại giấy phép, trong đó nhiều tập tin bị hạn chế và mã nguồn cơ bản chính xác của chúng thường không được biết.
Năm 2002, [[Richard Stallman]] đã tuyên bố tại sao, theo quan điểm của mình, những đốm màu đó làm cho nhân Linux không phải là một phần mềm miễn phí và việc phân phối nhân Linux "vi phạm GPL", đòi hỏi phải có "mã nguồn tương ứng hoàn chỉnh".<ref name="Blobs">{{chú thích web|url=https://www.gnu.org/philosophy/linux-gnu-freedom.html|title=Linux, GNU, and freedom|first=Richard|last=Stallman|authorlink=Richard Stallman|date=2002|publisher=[[Free Software Foundation]]|access-date =ngày 21 tháng 2 năm 2007}}</ref> Năm 2008, Tổ chức Phần mềm Tự do Mỹ Latinh đã khởi động ''Linux-libre'' như một dự án tạo ra một biến thể hoàn toàn miễn phí của nhân Linux mà không có đối tượng độc quyền; nó được sử dụng bởi một số [[bản phân phối Linux]] hoàn toàn tự do, chẳng hạn như những bản phân phối được chứng nhận bởi Free Software Foundation, trong khi nó cũng có thể được sử dụng trên hầu hết các bản phân phối.<ref>{{chú thích web|url=http://www.fsfla.org/ikiwiki/selibre/linux-libre/|title=::[FSFLA]:: GNU Linux-libre project|work=fsfla.org}}</ref>
Vào ngày 15 tháng 12 năm 2010, [[Dự án Debian]] đã thông báo rằng phiên bản ổn định tiếp theo của Debian "6.0 Squeeze" sẽ đi kèm với một hạt nhân "loại bỏ tất cả các bit phần mềm không tự do".<ref>{{chú thích web|url=http://debian.org/News/2010/20101215|title=Debian 6.0 "Squeeze" to be released with completely free Linux Kernel|date=ngày 15 tháng 12 năm 2010|publisher=[[Debian]]|access-date=ngày 8 tháng 1 năm 2011|ngày lưu trữ=2011-08-28|archive-url=https://web.archive.org/web/20110828065342/http://www.debian.org/News/2010/20101215|url-status=dead}}</ref> Chính sách này tiếp tục được áp dụng trong các bản phát hành Debian ổn định sau này.
=== Thương hiệu ===
Linux là [[thương hiệu]] đã đăng ký của [[Linus Torvalds]] tại Mỹ và một số quốc gia khác. Đây là kết quả của một sự cố trong đó William Della Croce, Jr., người không tham gia vào dự án Linux, đã đăng ký nhãn hiệu tên và sau đó yêu cầu tiền bản quyền để sử dụng nó<ref>{{Chú thích web|url=http://www.linuxjournal.com/article/2425/|tiêu đề=Linux Trademark Dispute|họ=Hughes|tên=Phil|ngày tháng=ngày 1 tháng 8 năm 1997|website=[[Linux Journal]]|nhà xuất bản=Belltown Media, Inc.}}</ref>. Một số người ủng hộ Linux đã yêu cầu tư vấn pháp lý và nộp đơn kiện chống lại Della Croce. Vấn đề đã được giải quyết vào tháng 8 năm 1997 khi nhãn hiệu được giao cho Linus Torvalds<ref>{{Chú thích web|url=http://www.linuxjournal.com/article/2098|tiêu đề=Action Taken on Linux Trademark|họ=Hughes|tên=Phil|ngày tháng=ngày 1 tháng 3 năm 1997|website=[[Linux Journal]]|nhà xuất bản=Belltown Media, Inc.}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.gisselberglawfirm.com/downloads/linux.pdf|tiêu đề=The Trademark History of Linux, the Operating System|họ=Gisselberg|tên=Tonya|ngày tháng=2010|website=|nhà xuất bản=Gisselberg Law Firm, Inc.|archive-url=https://web.archive.org/web/20110711095344/http://www.gisselberglawfirm.com/downloads/linux.pdf|archive-date=ngày 11 tháng 7 năm 2011|url-status=dead|ngày truy cập=2018-11-17}}</ref>.
=== Tranh chấp SCO ===
Đầu năm 2007, SCO đã đệ trình các chi tiết cụ thể về vi phạm bản quyền có mục đích. Mặc dù các tuyên bố trước đó rằng SCO là chủ sở hữu hợp pháp của 1 triệu dòng mã, họ chỉ xác định 326 dòng mã, hầu hết trong số đó là không bản quyền<ref>{{Chú thích web|url=http://www.groklaw.net/articlebasic.php?story=20070308014847709|tiêu đề=Report from the Courthouse March 7 - Part 1 (IBM's Motion for DJ on 10th CC)|họ=Jones|tên=Pamela|lk tác giả=Pamela Jones|ngày tháng=ngày 8 tháng 3 năm 2007|website=|nhà xuất bản=[[Groklaw]]|archive-url=https://web.archive.org/web/20110807034144/http://www.groklaw.net/articlebasic.php?story=20070308014847709|archive-date=7 Tháng 8 2011|url-status=dead|ngày truy cập=17 Tháng 11 2018}}</ref>. Vào tháng 8 năm 2007, tòa án trong vụ Novell đã phán quyết rằng SCO đã không thực sự sở hữu bản quyền của [[Unix]]<ref>{{Chú thích web|url=http://www.groklaw.net/article.php?story=20070810165237718|tiêu đề=Court Rules: Novell owns the UNIX and UnixWare copyrights! Novell has right to waive!|họ=Jones|tên=Pamela|ngày tháng=ngày 10 tháng 8 năm 2007|website=|nhà xuất bản=[[Groklaw]]|ngày lưu trữ=2008-09-06|ngày truy cập=2018-11-17|archive-url=https://web.archive.org/web/20080906194258/http://www.groklaw.net/article.php?story=20070810165237718|url-status=dead}}</ref>, mặc dù [[Tòa án phúc thẩm thứ mười|Tòa án phúc thẩm thứ mườ]]<nowiki/>i phán quyết vào tháng 8 năm 2009 rằng câu hỏi về người sở hữu bản quyền vẫn còn đúng cho bồi thẩm đoàn câu trả lời. Tòa án đã ra phán quyết ngày 30 tháng 3 năm 2010 có lợi cho Novell.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.sltrib.com/news/ci_14786202|tiêu đề=Jury says Novell owns Unix copyrights|họ=Harvey|tên=Tom|ngày tháng=ngày 30 tháng 3 năm 2010|website=[[The Salt Lake Tribune]]|nhà xuất bản=[[MediaNews Group]]}}</ref>
== Xem thêm ==
* [[Hệ điều hành]]
* [[Nhân hệ điều hành]]
* [[Linux]]
* [[MINIX|Minix]]
* [[macOS]]
* [[Microsoft Windows]]
== Tham khảo ==
{{tham khảo|30em}}
== Đọc thêm ==
{{Refbegin|40em}}
<!-- The following are to be merged into the article. Please use <ref> tags as appropriate and then remove from this list. If the link doesn't contain anything referenced from the article, just remove it. -->
* {{Chú thích sách|title=Just for Fun: The Story of an Accidental Revolutionary|title-link=Just for Fun (book)|last1=Torvalds|first1=Linus|last2=Diamond|first2=David|publisher=[[HarperBusiness]]|year=2001|isbn=978-0066620732}}
* {{Chú thích sách|title=Portraits of Open Source Pioneers|last=Bezroukov|first=Nikolai|publisher=Softpanorama|chapter=Ch 4: A benevolent dictator|type=e-book|access-date=3 October 2005|chapter-url=http://www.softpanorama.org/People/Torvalds/index.shtml|archive-url=https://web.archive.org/web/20051013082354/http://www.softpanorama.org/People/Torvalds/index.shtml|archive-date=13 October 2005|url-status=live}}
* {{Chú thích web|url=https://lwn.net/Articles/53780/|title=LinkSys and binary modules|date=16 October 2003|publisher=LWN.net Weekly Edition|archive-url=https://web.archive.org/web/20160801080742/http://lwn.net/Articles/53780/|archive-date=1 August 2016|url-status=live|access-date=21 July 2016}}
* {{Chú thích web|url=http://www.nd.edu/~ljordan/linux/tuxhistory.html|title=Everyone's Favorite Linux Mascot|archive-url=https://web.archive.org/web/20050816235544/http://www.nd.edu/~ljordan/linux/tuxhistory.html|archive-date=16 August 2005|url-status=live|access-date=16 June 2005}}
* {{Chú thích web|url=http://kniggit.net/wwol26.html|title=The Wonderful World of Linux 2.6|last=Pranevich|first=Joseph|date=December 2003|archive-url=https://web.archive.org/web/20030716054145/http://www.kniggit.net/wwol26.html|archive-date=2003-07-16|url-status=dead}}
* {{Chú thích web|url=http://wiki.kernelnewbies.org/LinuxChanges|title=LinuxChanges|archive-url=https://web.archive.org/web/20051031211753/http://wiki.kernelnewbies.org/LinuxChanges|archive-date=31 October 2005|url-status=live|access-date=31 October 2005}}
* {{Chú thích web|url=http://engineeringproject.net/seminars/linux.htm|title=Seminar Paper on Linux Kernel 2.6|archive-url=https://web.archive.org/web/20070202002917/http://www.engineeringproject.net/seminars/linux.htm|archive-date=2 February 2007|url-status=dead|df=dmy-all}}
* {{Chú thích web|url=https://lwn.net/Kernel/LDD3/|title=Linux Device Drivers|archive-url=https://web.archive.org/web/20160727085953/http://lwn.net/Kernel/LDD3/|archive-date=27 July 2016|url-status=live|access-date=21 July 2016|edition=3rd}}
* {{Chú thích web|url=http://www.oreilly.com/catalog/understandlk/|title=Understanding the Linux Kernel|type=Book|archive-url=https://web.archive.org/web/20051217094234/http://www.oreilly.com/catalog/understandlk/|archive-date=17 December 2005|url-status=live|access-date=22 December 2005|edition=3rd}}
* {{Chú thích sách|url=http://www.apress.com/9781430261964|title=Linux Kernel Networking, by Rami Rosen, 2014|type=Book|access-date=14 June 2015|archive-url=https://web.archive.org/web/20150512052750/http://www.apress.com/9781430261964|archive-date=12 May 2015|url-status=live}}
* {{Chú thích web|url=http://kerneltrap.org/node/1735|title=Linux: The GPL And Binary Modules|archive-url=https://web.archive.org/web/20050723031159/http://kerneltrap.org/node/1735|archive-date=23 July 2005|url-status=dead}}
* {{Chú thích web|url=http://www.ibm.com/developerworks/linux/library/l-linux-kernel/|title=Anatomy of the Linux kernel|archive-url=https://web.archive.org/web/20070627093507/http://www.ibm.com/developerworks/linux/library/l-linux-kernel/|archive-date=27 June 2007|url-status=live|access-date=9 June 2007}}
* {{Chú thích sách|title=Modern Operating Systems|url=https://archive.org/details/modernoperatings0000tane|last1=Tanenbaum|first1=Andrew|last2=Bos|first2=Herbert|publisher=Pearson|year=2015|isbn=9781292061429|location=United States of America|page=[https://archive.org/details/modernoperatings0000tane/page/722 722]|oclc=892574803}}
{{Refend}}
== Liên kết ngoài ==
{{Commons}}{{Wikibooks}}
* {{Official website|https://kernel.org}}
** [//kernel.org/doc/ Linux kernel documentation index]
** [//kernel.org/doc/man-pages/ Linux kernel man pages]
** [https://bugzilla.kernel.org/ Kernel bugzilla], and [https://bugzilla.kernel.org/show_bug.cgi?id=15790 regressions] for each recent kernel version
* [http://kernelnewbies.org/ Kernel Newbies], a source of various kernel-related information
* [https://lwn.net/Kernel/ Kernel coverage at LWN.net], an authoritative source of kernel-related information
* [https://elixir.bootlin.com/linux/latest/source Bootlin's Elixir Cross Referencer], a Linux kernel source code cross-reference
* {{YouTube|L2SED6sewRw|Greg Kroah Hartman on the Linux kernel}}
{{Nhân Linux}}
{{Linux}}
[[Thể loại:Linux]]
[[Thể loại:Hạt nhân hệ điều hành]]
[[Thể loại:Hệ điều hành]]
[[Thể loại:Lịch sử Internet]]
[[Thể loại:Phần mềm hệ thống tự do]]
[[Thể loại:Phát minh của Phần Lan]] | 120599 |
1266 | UniKey | 0 | null | null | 73467816 | 73214042 | 2025-05-01T05:05:41 | true | clean up, thay thế/xoá tham số url hỏng | wikitext | text/x-wiki | ktf5ibilv3shpaadaxke5yfus8oo6q1 | {
"username": "TheSecondFunnyYellowBot",
"id": "977823",
"ip": null
} | {{Infobox Software
| name = UniKey
| logo caption = Biểu tượng chính thức của UniKey
| logo = UniKeyNT 4 Icon.png
| screenshot = UniKey 4.6 RC2 Viet. interface.png
| caption = Unikey 4.6 RC2 trên [[Windows 11]]
| genre = [[Bộ gõ tiếng Việt]]
| developer = [[Phạm Kim Long (nhà phát triển)|Phạm Kim Long]]
| released = {{Start date and age|2000|df=yes}}
| operating_system = [[Windows]]
| platform = [[IA-32]], [[x86-64]]
| latest_release_version = 4.6 RC2
| latest_release_date = {{Start date and age|2023|9|19|df=yes}}<ref>{{chú thích web|url=https://www.unikey.org/en/download.html|title=UniKey 4.6 RC2 Release|date=ngày 19 tháng 9 năm 2023}}</ref>
| language = [[Tiếng Việt]] và [[Tiếng Anh]]
| license = {{Plainlist|
*'''[[Mã nguồn]]''': [[GNU GPL]] (bản 3.6).
*'''Bản chính thức''':
** [[GNU GPL]] (đến bản 4.0)
** [[Phần mềm miễn phí]] (từ bản 4.2).
}}
| website = [https://www.unikey.org unikey.org]
}}
'''UniKey''' là [[Bộ gõ tiếng Việt|chương trình gõ tiếng Việt]] [[Phần mềm miễn phí|miễn phí]] trên [[Microsoft Windows|Windows]] được phát triển bởi Phạm Kim Long. Tính năng chính là hỗ trợ gõ tiếng Việt trên Windows.
Kể từ khi ra đời, phần mềm này đã trở thành bộ gõ tiếng Việt được sử dụng phổ biến nhất trên Windows. Phần mã nguồn của phần xử lý tiếng Việt của UniKey được phát hành nguồn mở theo GNU GPL đã được sử dụng và tích hợp vào các bộ gõ tiếng Việt phổ biến trên nhiều hệ điều hành phổ biến khác.<ref>{{chú thích web|title=UniKey - Bàn phím tiếng Việt|url=https://www.unikey.org/|website=UniKey|language=vi}}</ref>
== Lịch sử ==
[[Phạm Kim Long (nhà phát triển)|Phạm Kim Long]] – cha đẻ của Unikey – bắt đầu viết một [[bộ gõ tiếng Việt]] với tên gọi ''TVNBK'' năm 1994 khi đang là sinh viên của trường [[Trường Đại học Bách khoa Hà Nội|Đại học Bách khoa Hà Nội]].<ref name=":0">{{Chú thích web|url=http://vneconomy.vn/cuoc-song-so/bo-go-tieng-viet-pho-bien-nhat-da-ra-doi-the-nao-20140325111629153.htm|title=Bộ gõ tiếng Việt phổ biến nhất đã ra đời thế nào?}}</ref> Ban đầu TVNBK được viết bằng [[hợp ngữ]] cho [[MS-DOS|DOS]]. Đến giữa những năm 1990, Phạm Kim Long đã chuyển nó lên [[Microsoft Windows|Windows]] và đổi tên nó thành ''LittleVnKey.'' Đến năm 2000, ông phát hành bộ gõ với tên gọi mới ''Unikey,'' hỗ trợ nhập liệu Unicode và phát hành miễn phí theo giấy phép [[Giấy phép Công cộng GNU|GNU GPL]].
Từ năm 2001, mã nguồn của phần xử lý tiếng Việt của UniKey dưới tên UniKey Vietnamese Input Method đã được phát hành theo giấy phép [[mã nguồn mở]] GNU General Public License, Từ đó phần xử lý tiếng Việt đã được sử dụng trong các bộ gõ tiếng Việt khác trên nhiều nền tảng khác nhau, trong đó có phiên bản Linux của UniKey được gọi là X-UniKey.<ref>{{chú thích web|title=UniKey Source Code|url=https://www.unikey.org/source.html|website=UniKey|language=vi}}</ref>
Phiên bản UniKey 3.62 là phiên bản UniKey trên Windows chính thức cuối cùng được phát hành có mã nguồn đi kèm.<ref>{{chú thích web|title=Mã nguồn UniKey. Trang chính thức|url=http://unikey.org/source.php?lang=vie|website=web.archive.org|date=2015-02-08|ngày truy cập=2023-11-23|archive-date=2015-02-08|archive-url=https://web.archive.org/web/20150208051644/http://unikey.org/source.php?lang=vie|url-status=bot: unknown}}</ref> Bản chính thức được phát hành trên Windows trước đây được phát hành theo giấy phép [[phần mềm nguồn mở|nguồn mở]] [[Giấy phép Công cộng GNU]], bắt đầu từ phiên bản 4.2 được phát hành vào ngày 18 tháng 1 năm 2014, bản chính thức đã thay đổi sang phát hành dưới dạng giấy phép [[Phần mềm miễn phí|miễn phí]].<ref>Được ghi trong hộp thoại giới thiệu của UniKey</ref> Toàn bộ các phiên bản và mã nguồn đã phát hành được lưu trữ tại [[SourceForge]].<ref name=":0" /><ref>{{Chú thích web|url=https://sourceforge.net/projects/unikey/|title=Dự án Unikey trên sourceforge.net}}</ref>
== Tính năng ==
Giống như các chương trình gõ tiếng Việt khác, UniKey hỗ trợ nhập liệu [[tiếng Việt]] trên [[máy tính]] chạy [[hệ điều hành]] [[Microsoft Windows]] với nhiều bảng mã phổ biến như Unicode, TCVN (ABC), [[VNI]]... và nhiều kiểu gõ tiếng Việt thông dụng khác nhau, bao gồm 2 kiểu gõ phổ biến là [[Telex (kiểu gõ)|TELEX]], [[VNI]]. Ngoài ra UniKey còn hỗ trợ chuyển mã văn bản và gõ tắt.
Từ phiên bản 4, UniKey đã hỗ trợ gõ thông minh, bao gồm cho phép tự động hoàn nguyên các từ đã gõ bằng cách nhấn phím {{keypress|Space}} hoặc gõ lập phím 2 lần để khôi phục từ đã gõ. UniKey hỗ trợ các phím tắt cho nhiều tính năng bao gồm {{keypress|Ctrl}}+{{keypress|Shift}}+{{keypress|F9}} cho chuyển mã nhanh, {{keypress|Ctrl}}+{{keypress|Shift}}+{{keypress|F5}} để mở bảng điều khiển và {{keypress|Ctrl}}+{{keypress|Shift}}+{{keypress|F6}} để mở hộp công cụ chuyển mã.
Theo website chính thức, ngoài các tính năng hiện có của một chương trình gõ tiếng Việt thông thường, UniKey còn có kích thước nhỏ gọn, chỉ có duy nhất một tệp EXE và và không cần thêm thư viện nào khác, có thể chạy mà không cần cài đặt.<ref name=":1">{{Chú thích web|url=https://www.unikey.org/support/ukmanual.html|tiêu đề=Hướng dẫn sử dụng UniKey}}</ref>
=== Hệ điều hành hỗ trợ ===
Phiên bản Unikey mới nhất hiện chỉ hỗ trợ từ [[Windows 7]]<ref name=":4">{{Chú thích web|url=http://www.unikey.org/bdownload.php|title=Trang tải về UniKey|last=|first=|date=|website=The Wayback Machine|archive-url=https://web.archive.org/web/20170521025126/http://www.unikey.org/bdownload.php|archive-date = ngày 21 tháng 5 năm 2017 |url-status=bot: unknown|accessdate =}}</ref> trở lên. Các phiên bản cũ hơn chỉ hỗ trợ [[Windows Vista]]<ref name=":5">{{Chú thích web|url=http://unikey.org/bdownload.php|title=Trang tải về Unikey|last=|first=|date=25 tháng 1 năm 2014|website=Wayback Machine|archive-url=https://web.archive.org/web/20140625110707/http://unikey.org/bdownload.php|archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2014 |url-status=bot: unknown|accessdate =}}</ref> trở xuống hiện đã được lưu trữ tại trang dự án [[SourceForge|Sourceforge]]<ref name=":0" /> của Unikey:
* UniKey 3.63 là phiên bản cuối cùng hỗ trợ [[Windows NT 4.0]] và các Windows cũ hơn.<ref name=":5" />
* UniKey 4.0 RC2 là phiên bản cuối cùng hỗ trợ [[Windows 2000]], [[Windows XP]], [[Windows Vista]].<ref name=":5" />
* Từ UniKey 4.2 RC1 trở đi chỉ hỗ trợ từ [[Windows 7]] trở lên.<ref name=":4" />
== Dư luận ==
Do mức độ phổ biến của phần mềm, UniKey và website của phần mềm từng là mục tiêu của nhiều vụ [[tấn công mạng]] và phát tán mã độc thông qua phần mềm và website. Kể từ phiên bản Unikey 4.3 RC1, tác giả đã cài chứng thực chữ kí số vào tệp tin chạy của Unikey để đảm bảo an toàn.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.unikey.org/certificate.html|title=Chứng thực UniKey- Trang chủ Unikey|last=|first=|date=ngày 30 tháng 5 năm 2018|website=Trang chủ Unikey|archive-url=|archive-date=|url-status=|accessdate =}}</ref> Ngoài ra để đảm bảo việc tải về an toàn không bị Virus, tác giả đã khuyến cáo người dùng chỉ nên tải về từ [https://www.unikey.org/ trang chủ Unikey] hoặc từ [[sourceforge:projects/unikey|trang dự án của Unikey trên SourceForge]]
=== Website bị hack ===
Ngày 1 tháng 2 năm 2012, quản trị viên diễn đàn CMC InfoSec phát hiện và thông báo trên một số diễn đàn về bảo mật website [https://unikey.org unikey.org] của tác giả Phạm Kim Long đã bị kiểm soát bởi hacker đã trỏ các đường dẫn tải phần mềm Unikey ở trang web phần mềm SourceForge. Các tệp của phần mềm Unikey được lưu giữ ở website này cho đến sáng ngày 1 tháng 3 năm 2012 đều chứa phần mềm độc hại [[Trojan]].<ref>{{Chú thích web|url=https://m.dantri.com.vn/suc-manh-so/bo-go-tieng-viet-unikey-bi-chen-ma-doc-hai-1331035074.htm|tiêu đề=Bộ gõ tiếng Việt Unikey bị chèn mã độc hại|website=}}</ref>
===Lợi dụng để tấn công===
Ngày 4 tháng 12 năm 2019, CMC Cyber Security Lab phát hiện chiến dịch tấn công APT mới vào người dùng Việt Nam bằng cách chèn tập tin độc hại vào thư mục của UniKey. Khi khởi động Unikey, thay vì chạy tập tin Windows để phục vụ hoạt động của chương trình, kẻ tấn công đã hiệu chỉnh chương trình để đưa chương trình độc hại chạy lên trước thay vì chạy tập tin Windows. Khiến máy tính bị nhiễm mã độc, có thể bị thu thập dữ liệu và nguy cơ bị tấn công bởi các hành vi nguy hiểm. CMC cảnh báo người dùng kiểm tra lại thư mục chứa tập tin UniKey và chỉ nên tải phần mềm từ trang web chính thức của phần mềm.<ref>{{Chú thích web|url=https://ictnews.vn/cntt/bao-mat/cmc-canh-bao-chien-dich-apt-moi-loi-dung-bo-go-unikey-tan-cong-nguoi-dung-viet-nam-192923.ict|tựa đề=CMC cảnh báo chiến dịch APT mới lợi dụng bộ gõ Unikey tấn công người dùng Việt Nam|tác giả=|họ=|tên=|ngày=3 tháng 12 năm 2019|website=ICT News|url lưu trữ=|ngày lưu trữ=|ngày truy cập=4 tháng 12 năm 2019}}</ref>
== Xem thêm ==
* [[Ibus]]
* [[EVKey]]
* [[Vietkey]]
* [[VPSKeys]]
* [[xvnkb]]
* [[Laban Key]]
==Tham khảo==
{{tham khảo}}
== Liên kết ngoài ==
* [http://www.unikey.org/ Website chính thức]
* [[sourceforge:projects/unikey/|UniKey]] trên Sourceforge
{{Bộ gõ Tiếng Việt}}
[[Thể loại:Phần mềm tiếng Việt tự do]]
[[Thể loại:Bộ gõ tiếng Việt]]
[[Thể loại:Kiểu gõ chữ Việt]]
[[Thể loại:Viết dấu]]
[[Thể loại:Viết chính tả]] | 10721 |
1267 | Mã nguồn mở | 0 | Phần mềm nguồn mở | null | 117578 | 29854 | 2005-12-23T11:00:26 | true | null | wikitext | text/x-wiki | o5n70qzz2xgz5ndlo0twlisbb89krk5 | {
"username": "Tttrung",
"id": "272",
"ip": null
} | #redirect [[Phần mềm nguồn mở]] | 39 |
1268 | Thảo luận:Mã nguồn mở | 1 | null | null | 29855 | null | 2004-08-23T00:51:48 | false | /* Wikisource */ | wikitext | text/x-wiki | pkbd13zplswov98ond5its1lexpy0ja | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | ==Wikisource==
The definition of open source (''Định nghĩa Mã Nguồn Mở'') belongs in [[Wikisource:Main Page:Tiếng Việt|Wikisource]], not here. The rest of the article can stay. – [[User:Mxn|[[User:Mxn|Minh Nguyễn]] <small>([[User talk:Mxn|thảo luận]], [http://mxn.f2o.org/ blog])</small>]] 00:51, 23 Aug 2004 (UTC) | 348 |
1269 | Wikipedia:Tin tức/2004/08 | 4 | null | null | 29856 | null | 2004-08-23T01:13:19 | false | Added news about having 175 articles | wikitext | text/x-wiki | gkv3e2ae9ebuo2sicylkf1lz8tpi7lf | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | [[Wikipedia:Thông tin|Tin tức về Wikipedia]] cho [[tháng 5]] năm [[2004]]:
==Chủ nhật, ngày [[22 tháng 8]] năm 2004==
*Hiện có [[Special:Allpages|175 trang]] rồi. [[Mã nguồn mở]], bởi [[User:Pcdinh|Phạm Công Định]], là trang thứ 175. | 269 |
1271 | Văn Tiến Dũng | 0 | null | null | 74103661 | 74103654 | 2025-09-09T09:58:14 | false | null | wikitext | text/x-wiki | sms9zztbf59qttlkjhxn9hr4f704r24 | {
"username": "Noeruchan",
"id": "772946",
"ip": null
} | {{Viên chức
| honorific_prefix = [[Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng]]
| tên = Văn Tiến Dũng
| ngày sinh = 2 tháng 5, 1917
| ngày mất = {{ngày mất và tuổi|2002|3|17|1917|5|2}}
| hình = Van Tien Dung 1954.jpg
| cỡ hình = 220px
| quốc tịch = [[Tập tin:Flag of Vietnam.svg|25px]] [[Việt Nam]]
| biệt danh = '''Lê Hoài'''
| nơi sinh = Xã Cổ Nhuế, huyện [[Từ Liêm (huyện)|Từ Liêm]] (nay là phường [[Nghĩa Đô]]), thành phố [[Hà Nội]]
| nơi mất = [[Bệnh viện Trung ương Quân đội 108]], [[Hà Nội]]
| tôn giáo = [[Phật giáo]]
| vợ = Cái Thị Tám (Nguyễn Thị Kỳ)
| con = Văn Tiến Trình, Văn Tiến Huấn, Văn Tuyết Mai, Văn Việt Hoa
| miêu tả = Hình ảnh Văn Tiến Dũng lúc trẻ
| chức vụ = [[Bí thư Quân ủy Trung ương (Việt Nam)|Bí thư Quân ủy Trung ương]] thứ 3
| bắt đầu = [[1984]]
| kết thúc = [[1986]]
| tiền nhiệm = [[Lê Duẩn]]
| kế nhiệm = [[Trường Chinh]]
| địa hạt =
| phó chức vụ =
| phó viên chức =
| chức vụ 2 = [[Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam|Bộ trưởng Quốc phòng]] thứ 5
| bắt đầu 2 = [[7 tháng 2]] năm [[1980]]
| kết thúc 2 = [[16 tháng 2]] năm [[1987]]<br>{{số năm theo năm và ngày|1980|2|7|1987|2|16|}}
| tiền nhiệm 2 = [[Võ Nguyên Giáp]]
| kế nhiệm 2 = [[Lê Đức Anh]]
| địa hạt 2 =
| phó chức vụ 2 =
| phó viên chức 2 =
| chức vụ 3 = Ủy viên [[Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Bộ Chính trị]]
| bắt đầu 3 = [[1972]]
| kết thúc 3 = [[1986]]
| địa hạt 3 =
| trưởng chức vụ 3 = Tổng bí thư
| trưởng viên chức 3 = [[Lê Duẩn]]
| phó chức vụ 3 =
| phó viên chức 3 =
| chức vụ 4 = Ủy viên dự khuyết [[Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Bộ Chính trị]]
| bắt đầu 4 = [[1960]]
| kết thúc 4 = [[1972]]
| địa hạt 4 =
| trưởng chức vụ 4 = Tổng bí thư
| trưởng viên chức 4 = [[Lê Duẩn]]
| phó chức vụ 4 =
| phó viên chức 4 =
| chức vụ 5 = [[Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam|Tổng Tham mưu trưởng]] thứ 2
| bắt đầu 5 = [[tháng 11]] năm [[1953]]
| kết thúc 5 = [[tháng 5]] năm [[1978]]
| tiền nhiệm 5 = [[Hoàng Văn Thái]]
| kế nhiệm 5 = [[Lê Trọng Tấn]]
| địa hạt 5 =
| phó chức vụ 5 = [[Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam|Phó Tổng Tham mưu trưởng]]
| phó viên chức 5 = [[Trần Quý Hai]] (13/6/1963-)<br>[[Lê Đức Anh]] (13/6/1963-)
| chức vụ 6 = Cục trưởng Cục Chính trị
| bắt đầu 6 = [[12 tháng 2]] năm [[1947]]
| kết thúc 6 =
| tiền nhiệm 6 =
| kế nhiệm 6 =
| địa hạt 6 =
| phó chức vụ 6 = Phó Cục trưởng
| phó viên chức 6 = [[Khuất Duy Tiến (trung tướng)|Khuất Duy Tiến]]
| chức vụ 7 = Phó Cục trưởng Cục Chính trị
| bắt đầu 7 = [[20 tháng 11]] năm [[1946]]
| kết thúc 7 =
| tiền nhiệm 7 =
| kế nhiệm 7 = [[Khuất Duy Tiến (trung tướng)|Khuất Duy Tiến]]
| địa hạt 7 =
| phó chức vụ 7 =
| phó viên chức 7 =
| thuộc = [[Tập tin:Flag of the People's Army of Vietnam.svg|25px]] [[Quân đội nhân dân Việt Nam]]
| năm phục vụ = [[1945]] - [[1986]]
| cấp bậc = {{QH|đại tướng}}
| chỉ huy = *[[Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam|Cục Chính trị]]
* [[Sư đoàn 320, Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại đoàn 320]] (kiêm Chính ủy)
* [[Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam|Bộ Tổng Tham mưu]]
| tham chiến = {{tree list}}
*[[Chiến tranh Việt Nam]]
**[[Chiến dịch Lam Sơn 719]] (1971)
**[[Điện Biên Phủ trên không]] (1972)
**[[Chiến dịch Trị Thiên]] (1972)
**[[Chiến dịch Tây Nguyên]] (1975)
**[[Chiến dịch Hồ Chí Minh]] ([[1975]]).{{tree list/end}}
| khen thưởng = [[Huân chương Sao vàng (Việt Nam)|• Huân chương Sao Vàng]]<br>[[Huân chương Hồ Chí Minh|• Huân chương Hồ Chí Minh]]
| công việc khác = *Chính ủy chiến khu II
*Ủy viên [[Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Bộ Chính trị]] [[Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Ban Chấp hành Trung ương]]
*Bộ trưởng [[Bộ Quốc phòng (Việt Nam)|Bộ Quốc phòng]]
*[[Quân ủy Trung ương (Việt Nam)|Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương]]
}}
'''Văn Tiến Dũng''' ([[2 tháng 5]] năm [[1917]] – [[17 tháng 3]] năm [[2002]]), bí danh''' Lê Hoài''', là một vị [[Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam]]. Ông từng là Ủy viên [[Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Bộ Chính trị]], [[Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam]] ([[1953]] – [[1978]]), [[Bộ trưởng]] [[Bộ Quốc phòng (Việt Nam)|Bộ Quốc phòng]] ([[1980]] – [[1986]]), [[Bí thư Quân ủy Trung ương (Việt Nam)|Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương]] ([[1984]] – [[1986]]), một trong những tướng lĩnh danh tiếng của Việt Nam. Trong [[chiến tranh Việt Nam]], ông trực tiếp tham gia chỉ đạo các [[Chiến dịch Lam Sơn 719|chiến dịch Đường 9 – Nam Lào]] ([[1971|năm 1971]]), [[Chiến dịch Trị Thiên|chiến dịch Trị – Thiên]] ( [[1972|năm 1972]]), [[Chiến dịch Tây Nguyên]] ([[1975|năm 1975]]). Tháng 4 năm 1975, ông giữ chức Tư lệnh [[Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định]] (sau đổi tên thành [[Chiến dịch Hồ Chí Minh]]).
== Tiểu sử ==
Đại tướng Văn Tiến Dũng sinh ngày [[2 tháng 5]] năm [[1917]] tại xã Cổ Nhuế, huyện [[Từ Liêm]] (nay là phường [[Nghĩa Đô (phường)|Nghĩa Đô]]), thành phố [[Hà Nội]]. Nhà nghèo, không ruộng đất, mẹ mất sớm, cậu bé họ Văn theo cha ra [[Hà Nội]]. Sau khi cha đột ngột qua đời vào năm cậu được 15 tuổi, Văn Tiến Dũng đành phải bỏ học, ở nhà trợ giúp cho anh làm nghề thợ may. 17 tuổi, Văn Tiến Dũng lại ra Hà Nội làm công cho các xưởng dệt Thanh Văn ([[Hàng Đào]]), sau chuyển sang xưởng Đức Xương Long, Cự Chung ([[Hàng Bông]]).
Ông gia nhập [[Đảng Cộng sản Đông Dương]] tháng 11 năm [[1937]]. Từ [[1939]] đến [[1944]], ông bị thực dân [[Pháp]] bắt giam 3 lần, vượt ngục 2 lần. Tháng 11 năm [[1939]], ông bị Pháp đày đi [[nhà tù Sơn La]]. Hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ [[Sơn La]] về Hà Nội, ông đã trốn thoát.
Từ tháng 12 năm [[1942]] đến tháng 3 năm [[1943]], ông đã hoạt động dưới danh nghĩa nhà sư tại Chùa Bột Xuyên (nay thuộc huyện [[Mỹ Đức]], [[Hà Nội]]). Ông từng đảm nhiệm chức vụ Bí thư Đảng bộ tỉnh [[Bắc Ninh]], Bí thư Xứ ủy [[Bắc Kỳ]] năm [[1944]].
Chính trong thời kỳ này, ông đã làm quen với ''Nguyễn Thị Kỳ'' (tên khai sinh là ''Cái Thị Tám'') cùng hoạt động cách mạng và sau đó họ đã trở thành vợ chồng.
Tháng 1 năm [[1945]], ông bị chính quyền thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt.
Tháng 4 năm 1945, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ Ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ (Bộ Tư lệnh Quân sự miền Bắc Đông Dương), được phân công phụ trách tổ chức Chiến khu Quang Trung, kiêm Bí thư Khu uỷ Chiến khu Quang Trung. Tháng 8 năm 1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh [[Hòa Bình|Hoà Bình]], [[Ninh Bình]] và [[Thanh Hóa|Thanh Hoá]].
Sau [[Cách mạng tháng Tám]] năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập chiến khu II (gồm 8 tỉnh phía tây bắc và tây nam [[Bắc Bộ Việt Nam|Bắc Bộ]]), làm Chính uỷ Chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương. Ngày 20/11/1946 ông làm Phó Cục trưởng Cục Chính trị.<ref>[https://m.thuvienphapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/Sac-lenh-214-cu-can-bo-giu-chuc-vu-Bo-quoc-phong-36142.aspx Sắc lệnh 214]</ref> Tháng 12 năm 1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam (nay là [[Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam]]), Phó bí thư [[Quân ủy Trung ương (Việt Nam)|Quân uỷ Trung ương]]. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông từng là Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ [[Sư đoàn 320, Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại đoàn 320]].
Từ tháng 11 năm [[1953]] đến tháng 5 năm [[1978]], ông giữ chức Tổng Tham mưu trưởng [[Quân đội nhân dân Việt Nam]], chỉ gián đoạn một thời gian ngắn vào năm 1954, khi ông làm Trưởng đoàn đại biểu của [[Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam]] trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi hành [[Hiệp định Genève, 1954|Hiệp định Genève về Đông Dương]].
Ông được giao trọng trách chỉ đạo trực tiếp nhiều chiến dịch lớn: từ chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (1971), Trị – Thiên (1972), [[Chiến dịch Tây Nguyên]] (1975). Tháng 4 năm [[1975]], ông giữ chức Tư lệnh [[Chiến dịch Hồ Chí Minh|Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định]] (sau đổi tên thành Chiến dịch Hồ Chí Minh).
Từ tháng 5 năm 1978 đến năm 1986, ông được giao nhiệm vụ làm Phó Bí thư thứ nhất, rồi Bí thư Quân ủy Trung ương. Từ tháng 2 năm [[1980]] đến [[1986]], ông giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng.
Năm 1986, do không được bầu vào Bộ Chính trị nên phải rời cương vị Bộ trưởng Quốc phòng.
Ông lâm bệnh nặng và từ trần hồi 17h30' ngày 17/3/2002 tại [[Bệnh viện Trung ương Quân đội 108]] ở [[Hà Nội]], hưởng thọ 85 tuổi, an táng tại [[Nghĩa trang Mai Dịch]].
== Khen thưởng ==
Ông đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam trao tặng nhiều phần thưởng cao quý<ref>{{Chú thích web|url=https://www.qdnd.vn/tuong-linh-viet-nam/dai-tuong-van-tien-dung-nha-chi-huy-tham-muu-chien-luoc-xuat-sac-668991|tựa đề=Đại tướng Văn Tiến Dũng - nhà chỉ huy tham mưu chiến lược xuất sắc|url-status=live}}</ref>:
* [[Tập_tin:Vietnam_Gold_Star_ribbon.png|50x50px]] [[Huân chương Sao vàng (Việt Nam)|Huân chương Sao vàng]] (1995).
* [[Tập_tin:Vietnam_Hochiminh_Order_ribbon.png|50x50px]] [[Huân chương Hồ Chí Minh]] (1979).
* [[Tập_tin:Vietnam_Military_Exploit_Order_ribbon.png|50x50px]] [[Huân chương Quân công]] hạng Nhất, Nhì.
* [[Tập_tin:Resolution_for_Victory_Order_ribbon.png|50x50px]] [[Huân chương Chiến thắng]] hạng Nhất.
* [[Tập_tin:Resistance_Order_ribbon.png|50x50px]] [[Huân chương Kháng chiến]] chống Mỹ hạng Nhất.
* Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất – Nhì – Ba.
* Huy chương Quân kỳ quyết thắng.
* Huân chương Tự do hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
* Huân chương Angkor của Nhà nước Campuchia.
* Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
== Lịch sử thụ phong quân hàm ==
{| style="border:1px solid #8888aa; background-color:#f7f8ff; padding:5px; font-size:95%; margin: 0px 12px 12px 0px;"
|- align=center
|- bgcolor="#CCCCCC"
! Năm thụ phong!! 1948!! 1959!! 1974
|- align=center
| '''Cấp bậc''' || Thiếu tướng || Thượng tướng<br />(thăng vượt cấp<ref>[http://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=924 SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH PHỦ SỐ 036/SL NGÀY 31 THÁNG 8 NĂM 1959]</ref>) || Đại tướng
|-
|colspan="12"|
|}
== Tưởng nhớ ==
Hà Nội có đường mang tên ông đoạn nối quốc lộ 32 và Liên Xã. Ngoài ra, tên ông còn được đặt cho một con đường ở [[Đà Nẵng]] (trên địa bàn phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ), ở [[Sơn La (thành phố)|thành phố Sơn La]]<ref>{{Chú thích web
|url=http://www.baodientusonla.com.vn/Giadat/B7.asp
|tiêu đề=Giá đất tỉnh Sơn La - 2009
|nhà xuất bản=Báo điện tử Sơn La
|ngày tháng=2009
|ngày truy cập=ngày 21 tháng 12 năm 2010
|archive-date=2009-09-01
|archive-url=https://web.archive.org/web/20090901114514/http://www.baodientusonla.com.vn/Giadat/B7.asp
|url-status=bot: unknown
}}</ref>, ở thị trấn Thắng (huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang), ở [[Huế]] và ở [[Thành phố Hồ Chí Minh]]<ref>{{chú thích báo
|url=http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/201046/20101109154304.aspx
|title=TP.HCM thêm 70 tên đường mới - TP.HCM sẽ có đường mang tên Đại tướng Văn Tiến Dũng
|author=Minh Nam
|publisher=Báo Thanh niên Online
|date=ngày 9 tháng 11 năm 2010
|accessdate=ngày 21 tháng 12 năm 2010
|access-date=2013-10-17
|archive-date=2011-01-13
|archive-url=https://web.archive.org/web/20110113205337/http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/201046/20101109154304.aspx
|url-status=bot: unknown
}}</ref>.
== Tác phẩm ==
* ''Đại thắng mùa xuân'' ([[1976]]).
* ''Tuyển tập Đại tướng Văn Tiến Dũng'' (4 phần, [[2007]]).
*'' Đường 9, Khe Sanh, Nam Lào, thất bại thảm hại của Mỹ - ngụy'', Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, tác giả [[Văn Tiến Dũng]] - [[Chu Văn Tấn]] - [[Hoàng Sâm]]..., 1971.
*'' Mười năm chiến thắng vẻ vang của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam'', Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, tác giả [[Văn Tiến Dũng]] - [[Chu Văn Tấn]] - [[Hoàng Sâm]]..., 1971.
*'' Cả nước một lòng quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược'', Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, tác giả [[Văn Tiến Dũng]] - [[Chu Văn Tấn]] - [[Hoàng Sâm]]..., 1971.
== Gia đình ==
* Phu nhân là bà Nguyễn Thị Kỳ.
* Con trai là Văn Tiến Trình, sinh năm 1948 được Nhà nước cử sang Liên Xô học ngành tên lửa, tham gia chiến đấu bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng, là tham mưu trưởng trung đoàn, quân hàm thượng tá, năm 1990 nghỉ hưu.
== Chú thích ==
{{Tham khảo}}
== Liên kết ngoài ==
{{Thể loại Commons|Văn Tiến Dũng}}
* [http://openvault.wgbh.org/catalog/vietnam-e78a5e-interview-with-van-tien-dung-1981 Phỏng vấn Văn Tiến Dũng, 1981]
{{Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam}}
{{Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam}}
{{Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam}}
{{Ủy viên Bộ Chính trị khóa III}}
{{Ủy viên Bộ Chính trị khóa IV}}
{{Ủy viên Bộ Chính trị khóa V}}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
{{Thời gian sống|sinh=1917|mất=2002}}
[[Thể loại:Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam]]
[[Thể loại:Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam]]
[[Thể loại:Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam]]
[[Thể loại:Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam]]
[[Thể loại:Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh]]
[[Thể loại:Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ]]
[[Thể loại:Người Hà Nội]]
[[Thể loại:Huân chương Sao Vàng]]
[[Thể loại:Quân nhân trong Chiến tranh Việt Nam]]
[[Thể loại:Tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam thụ phong thập niên 1970]]
[[Thể loại:Người họ Văn tại Việt Nam]] | 16044 |
1273 | Thành viên:MuDavid | 2 | null | null | 24095220 | 23522957 | 2016-08-09T02:37:18 | false | /* Đóng góp của tôi trong Wikipedia tiếng Việt */ | wikitext | text/x-wiki | 6rmib0y7v8uh7rufxf81bujxubuw9vt | {
"username": "MuDavid",
"id": "101",
"ip": null
} | == Giới thiệu ==
[[image:Da Vit in Chu Nôm.jpg|frame|"Đa Vịt" bằng ''[[Chữ Nôm]]'']]
Tôi sinh ra tại [[Brasschaat]] (nước [[Bỉ]]), rồi sau đó tôi sống ở [[Nga]], [[Burundi|Burǔndi]], [[Tây Ban Nha]], [[Brasil]], và bây giờ tôi đang sống ở [[Việt Nam]]. Tên thật của tôi là David (đôi khi bạn Việt Nam của tôi viết như Đa Vít), nhưng vì trong Wikipedia bằng tiếng Anh đã có một thành viên dùng tên này rồi nên tôi thêm tiền tố ''mu-'' dành cho con người trong [[tiếng Burundi|tiếng Burǔndi]].
Tôi làm nghiên cứu [[vật lý]] tại [[Đà Nẵng]], [[Việt Nam]].
== Đóng góp của tôi trong Wikipedia tiếng Việt ==
{{Babel|nl|fr|en-5|es-3|vi-2|pt-2|ca-1}}
Ngày xửa ngày xưa, lúc Wikipedia tiếng Việt vừa mới tồn tại và tôi vừa mới bắt đầu học tiếng Việt, tôi đến Wikipedia tiếng Việt để có bài mà đọc, để học tập đọc tiếng Việt và học nhiều từ vựng hơn. Nhưng lúc ấy Wikipedia tiếng Việt chưa có nhiều bài viết, nên thay vì học tiếng Việt bằng đọc, tôi học bằng viết bài. Sau đó nhiều người Việt Nam khám phá Wikipedia và bắt đầu viết nhiều bài hơn, nên sau đó tôi không viết gì nữa, chỉ đọc thôi.
Bây giờ tiếng Việt của tôi tốt hơn một chút rồi, nên tôi có định dịch một vài bài sang tiếng Việt. Tất nhiên tôi sẽ làm lỗi, nên tôi mời mọi người sửa bài mà tôi đã viết. Bài mà có thể sửa rồi là: [[âm đôi môi]], [[mô hình chuẩn]], [[tương tác điện yếu]], [[thế hệ (vật lý hạt)]], [[Robert Brout]], [[âm môi răng]], [[tiếng Catalunya]], [[âm vòm mềm]], [[âm chân răng]], [[tiếng Swahili]], [[âm vòm]], [[âm họng]], [[tiếng Latinh]].
[[de:Benutzer:MuDavid]]
[[en:User:MuDavid]]
[[eo:Vikipediisto:MuDavid]]
[[es:Usuario:MuDavid]]
[[nl:Gebruiker:MuDavid]]
[[fr:Utilisateur:MuDavid]]
[[ru:Участник:MuDavid]] | 2094 |
1275 | Đồng Nai | 0 | null | null | 74133543 | 74132255 | 2025-09-18T14:30:36 | true | clean up, replaced: → (6), [[Long Sơn, Vũng Tàu| → [[Long Sơn| | wikitext | text/x-wiki | ldxyv39lv9m0fgw25jjjpq71x89owsl | {
"username": "ThitxongkhoiAWB",
"id": "345883",
"ip": null
} | {{Nhiều vấn đề|
{{Chú thích trong bài|date=tháng 9/2024}}
{{Toàn URL|date=tháng 9/2024}}
}}
{{bài cùng tên|Đồng Nai (định hướng)}}
{{Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam | Tỉnh
| biệt danh = Thủ phủ [[chôm chôm]]<br>Xứ sở [[cao su tự nhiên|cao su]]<br>Thủ phủ ngành [[Chăn nuôi ở Việt Nam|chăn nuôi]]
| tên = Đồng Nai
| logo = Logo Dong Nai.svg
| vĩ độ = 11.05443
| kinh độ = 107.146912
| bản đồ 1 =
| diện tích = 12.737,18 km²<ref name="202/2025/QH15"/>
| dân số = 4.491.408 người<ref name="202/2025/QH15"/>
| thời điểm dân số = 31/12/2024
| dân số thành thị =
| dân số nông thôn =
| mật độ dân số = {{formatnum:{{#expr:floor({{formatnum:4.491.408|R}}/{{formatnum:12.737,18|R}})}} }} người/km²
| vùng = [[Đông Nam Bộ]] <small>(địa lí)</small><br>[[Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh]] <small>(đô thị)</small>
| dân tộc = [[Người Kinh|Kinh]], [[Người Hoa (Việt Nam)|Hoa]], [[Người Khmer|Khmer]], [[Người Xtiêng|Xtiêng]], [[Người Chơ Ro|Chơ-ro]], [[Người Chăm|Chăm]], [[Người Mường|Mường]], [[Người Dao|Dao]], [[Người Thái (Việt Nam)|Thái]], [[Người Ơ Đu|Ơ Đu]], [[Người Si La|Si La]], [[Người Nùng|Nùng]], [[Người Tày|Tày]]
| tỉnh lỵ = Phường [[Trấn Biên]]
| thành lập = 1975
| chủ tịch UBND = [[Võ Tấn Đức]]
| hội đồng nhân dân = 81 đại biểu
| chủ tịch HĐND = [[Thái Bảo]]
| chánh án TAND = [[Võ Văn Phước]]
| chủ tịch UBMTTQ = [[Cao Văn Quang]]
| viện trưởng VKSND = [[Huỳnh Văn Lưu]]
|bí thư = [[Vũ Hồng Văn]]
| trụ sở UBND = Số 2, đường Nguyễn Văn Trị, phường [[Trấn Biên]]
| đại biểu quốc hội = 11
| phân chia hành chính = 23 phường, 72 xã
| mã địa lý = [[ISO 3166-2:VN|VN-39]]
| mã hành chính = 75<ref>[https://danhmuchanhchinh.gso.gov.vn/ Tổng cục Thống kê]</ref>
| mã bưu chính = [[Mã bưu chính Việt Nam|81xxxx]]
| mã điện thoại = [[Mã điện thoại Việt Nam|251]]
| biển số xe = [[Biển xe cơ giới Việt Nam|39, 60, 93]]
| web = {{url|www.dongnai.gov.vn}}
| thời điểm kinh tế = 2022 | GRDP = 434.990 tỉ đồng (18,54 tỉ USD) | GRDP đầu người = 133,6 triệu đồng (5.741 USD)|ghi chú logo=Biểu trưng|tên khác=Xứ Trấn Biên|nhiều hình={{multiple image
| border = infobox
| total_width = 280
| image_style = border:1;
| caption_align = center
| perrow = 1/2/2
| image1 = Nhà_thờ_chính_Văn_miếu_Trấn_Biên.jpg
| caption1 = [[Văn miếu Trấn Biên]]
| image2 = Giang Điền, Trảng Bom, Đồng Nai, Vietnam - panoramio.jpg
| caption2 = [[Thác Giang Điền]]
| image3 = Chua Chan mount..JPG
| caption3 = [[Núi Chứa Chan]]
| image4 = Hồ Thuỷ Điện Thác Mơ.jpg
| caption4 = Hồ [[thủy điện Thác Mơ]]
| image5 = Một góc nhìn đẹp về núi Bà Rá.jpg
| caption5 = [[Núi Bà Rá]]
}}}}
'''Đồng Nai''' là một [[Tỉnh (Việt Nam)|tỉnh]] thuộc vùng [[Đông Nam Bộ Việt Nam|Đông Nam Bộ]], [[Việt Nam]].
Theo dữ liệu [[Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025]], Đồng Nai có diện tích: 12.737 km², xếp thứ 9; dân số: 4.491.408 người, xếp thứ 5; GRDP 2024: 609.176.602 triệu VNĐ, xếp thứ 4; thu ngân sách 2024: 73.458.454 triệu VNĐ, xếp thứ 4; thu nhập bình quân: 78,04 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 4.<ref>{{Chú thích web |tiêu đề=Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính |url=https://vtv.vn/chinh-tri/danh-sach-du-kien-ten-goi-cua-34-tinh-thanh-pho-va-trung-tam-chinh-tri-hanh-chinh-20250413230809506.htm |ngày truy cập=14 tháng 4 năm 2025 |website=vtv.vn |ngôn ngữ=vi}}</ref>
==Địa lý==
===Vị trí địa lý===
Tỉnh Đồng Nai nằm trong [[vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ]]. Đồng Nai có tọa độ từ 10<sup>o</sup>30'03B đến 11<sup>o</sup>34'57''B và từ 106<sup>o</sup>45'30Đ đến 107<sup>o</sup>35'00"Đ, có vị trí địa lý:
*Phía đông giáp tỉnh [[Lâm Đồng]]
*Phía tây giáp [[Thành phố Hồ Chí Minh]] và tỉnh [[Tây Ninh]]
*Phía nam giáp [[Thành phố Hồ Chí Minh]]
*Phía bắc giáp các tỉnh [[Tbong Khmum]], [[Kratié]] và [[Mondulkiri]] của [[Campuchia]].
Tỉnh được xem là một cửa ngõ đi vào [[vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ]] - vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước. Đồng thời, Đồng Nai là một trong 4 góc nhọn của [[Tứ giác]] phát triển [[Thành phố Hồ Chí Minh]] nay gồm ([[Bình Dương (tỉnh)|Bình Dương]] - [[Bà Rịa – Vũng Tàu]]) - Đồng Nai. Dân cư tập trung phần lớn ở [[Biên Hòa]] với hơn 1 triệu dân và ở 2 huyện [[Trảng Bom]], [[Long Thành]].
Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố [[Biên Hòa]], cách trung tâm [[Thành phố Hồ Chí Minh]] khoảng 30 km, cách trung tâm thủ đô [[Hà Nội]] khoảng 1684 km theo đường [[Quốc lộ 1]]. Đây là thành phố trực thuộc tỉnh có dân số đông nhất cả nước, với quy mô dân số tương đương với 2 thành phố trực thuộc trung ương là [[Đà Nẵng]] và [[Cần Thơ]].
===Điều kiện thiên nhiên===
[[Hình: BenCu forest structure 23Dec08.jpg|nhỏ|phải|220px|<center>Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên]]
[[Hình: Chua Chan mount..JPG|nhỏ|phải|220px|<center>|<center>Núi Chứa Chan ở huyện Xuân Lộc]]
Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và trung du với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam, với địa hình tương đối bằng phẳng. Địa hình có thể chia làm các dạng là địa hình đồng bằng, địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển, địa đồi lượn sóng, dạng địa hình núi thấp, đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng ngập nước quanh năm. Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc nhỏ hơn 8<sup><small>o</small></sup>, đất đỏ hầu hết nhỏ hơn 15<sup><small>o</small></sup>. Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao. Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính, tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung gồm: các loại đất hình thành trên đá bazan, các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét, các loại đất hình thành trên phù sa mới. Trong tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm 49,1%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 30,4%, diện tích đất chuyên dùng chiếm 13%, diện tích đất khu dân cư chiếm 2,1%, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 5,4%<ref name="thoitiet"/>.
Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phản nhau là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11. Khoảng kết thúc mùa mưa dao động từ đầu tháng 10 đến tháng 12. Nhiệt độ trung bình năm 25 – 27 °C, nhiệt độ cao cực trị khoảng 40 °C và thấp cực trị 12,5 °C và số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình luôn cao 80 – 82%<ref name="thoitiet">[http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/cactinhvathanhpho/tinhdongnai/thongtintinhthanh?view=introduction&provinceId=1357 Nhiệt độ trung bình năm 25 – 270C, nhiệt độ cao nhất khoảng 20,50C, số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82%.], Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.</ref>.
Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động, thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn quốc gia Nam Cát Tiên. Tài nguyên khoáng sản khá phong phú về chủng loại như kim loại quý, kim loại màu, đá quý, nguyên liệu gốm sứ, vật liệu xây dựng, phụ gia xi măng, than bùn, nước khoáng và nước nóng<ref name="thoitiet"/>,...
==Lịch sử==
{{main|Lịch sử hành chính Đồng Nai}}
=== Những cư dân sớm nhất ===
Loài người đã cư trú trên vùng đất Đồng Nai từ khoảng 600 nghìn đến 700 nghìn năm trước Công nguyên,<ref>{{Chú thích sách |last=Lê |first=Xuân Diệm |title=Khảo cổ Đồng Nai - thời tiền sử |last2=Phạm |first2=Quang Sơn |last3=Bùi |first3=Chí Hoàng |publisher=Nhà xuất bản Đồng Nai |year=1991 |pages=13 |language=vi}}</ref> với những di tích sớm nhất là các công cụ ghè đẽo hai mặt giống rìu tay thuộc [[Thời đại đồ đá cũ|thời]] [[Thời đại đồ đá cũ|kỳ đồ đá cũ]]. Trên địa bàn tỉnh [[Bình Phước (tỉnh)|Bình Phước]] trước đây, các nhà khảo cổ đã phát hiện được một số di tích có niên đại từ 100 nghìn đến 150 nghìn năm về trước.<ref>{{Chú thích sách |last=Đào |first=Linh Côn |title=Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1978 |publisher=Nxb. Khoa học Xã hội |year=1980 |pages=123-126 |language=vi}}</ref> Vào thời kỳ này, những cư dân sống dựa vào việc săn bắt và hái lượm.
Đến [[Thời đại đồ đá mới|thời kỳ đồ đá mới]], cư dân nơi đây đã mở rộng địa bàn cư trú và bắt đầu định cư lâu dài ở một khu vực nhất định. Các cư dân bắt đầu trồng lúa, nhiều loại cây ăn quả, cây lấy củ và chăn nuôi nhiều loài động vật. Nghề thủ công phát triển, nhất là nghề chế tác đá và làm gốm.
Khoảng hơn 4000 năm trước, nền [[văn hóa Đồng Nai]] xuất hiện.
=== Nam tiến ===
Lịch sử của Đồng Nai gắn liền với lịch sử của vùng đất Nam Bộ. Nước Đại Việt lúc bấy giờ chỉ từ ải [[Nam Quan]] đến vùng Bắc [[Đèo Ngang]] ([[Hà Tĩnh]] ngày nay). Việc mở rộng được bắt đầu khi có những giao tranh giữa [[Đại Việt]] và vương quốc [[Chăm Pa]] láng giềng lúc bấy giờ.
Để mở rộng bờ cõi về phía Nam, nước [[Đại Việt]] lúc bấy giờ đã biết tổ chức một quân đội tốt, hùng hậu và có chiến lược nhu lẫn cương để thực hiện mưu đồ Nam tiến của mình.
Nước [[Việt Nam]] lúc bấy giờ xảy ra giao tranh giữa vua [[Nhà Hậu Lê|Lê]] - [[Chúa Trịnh]] và [[Chúa Nguyễn]], lịch sử vẫn gọi là thời kỳ [[Trịnh - Nguyễn phân tranh]], đây là cuộc phân tranh tạo ra tình trạng cát cứ trong lịch sử [[Việt Nam]]. Cuộc sống của người dân đói khổ và lâm vào lầm than. Điều này tạo ra một làn sóng di dân ồ ạt đầu tiên từ Bắc vào Nam, trong đó có làn sóng di dân của miền '''Thuận Quảng''' vào Đồng Nai tìm đất sinh sống và tái lập nghiệp.
Năm 1621, [[Nguyễn Phúc Nguyên|Chúa Sãi]] (Nguyễn Phúc Nguyên) sai sứ sang gặp vua [[Chân Lạp]] [[Chey Chettha II|Chey Chetta II]], yêu cầu cho người Việt vào sinh sống, buôn bán ở Đồng Nai<ref>{{Chú thích web|url=https://www.danang.gov.vn/gioi-thieu/chi-tiet?id=1726&_c=44|tựa đề=Niên biểu Quảng Nam- Đà Nẵng thế kỷ 17, từ năm 1600 đến năm 1698|tác giả=Cổng TTĐT thành phố|họ=|tên=|ngày=|website=|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20210115231559/https://www.danang.gov.vn/gioi-thieu/chi-tiet?id=1726&_c=44|ngày lưu trữ=2021-01-15|ngày truy cập=2020-01-18|url-status=dead}}</ref>. Người Việt di cư đến đâu thì khai khẩn và phá hoang lấy đất canh tác đến đó tạo nên vùng đất trù phú. Ruộng lúa, hoa màu xanh tốt.
Năm 1679, [[nhà Minh]] ở [[Trung Quốc]] sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục [[nhà Thanh]] đã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục [[chúa Nguyễn]] ở [[Thuận Hóa]]. Lúc bấy giờ, đứng đầu nhà Nguyễn là Chúa [[Nguyễn Phúc Tần]] đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất '''Đông Phố ''' ([[Cù lao Phố]] ngày nay). Họ biến [[Cù Lao Phố]] trên sông Đồng Nai trở thành một thương cảng sầm uất và phát triển.
Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu [[Nguyễn Hữu Cảnh]] vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (lúc này, từ Đồng Nai hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùng [[Nam Bộ]] rộng lớn của bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ [[Gia Định]], chia làm 2 huyện: huyện [[Phước Long]] (Đồng Nai) dựng dinh '''Trấn Biên''', huyện [[Tân Bình (phủ cũ Gia Định)|Tân Bình]] (Sài Gòn) dựng dinh '''Phiên Trấn'''. Ngoài ra, [[Nguyễn Hữu Cảnh]] còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế.
Năm 1802, dinh Trấn Biên được [[vua Gia Long]] đổi thành trấn [[Biên Hòa]], nhưng vẫn thuộc phủ [[Gia Định]]. Năm 1808, trấn Biên Hòa thuộc thành [[Gia Định]], đặt [[Phước Long]] thành phủ, đặt ra các tổng [[Phước Chính]], [[Phước An]], [[Bình An]], [[Long Thành]] làm huyện. Năm 1836, trấn Biên Hòa được [[vua Minh Mạng]] đổi thành tỉnh [[Biên Hòa (tỉnh)|Biên Hoà]]. Năm 1837, lập thêm hai phủ [[Phước Tuy (tỉnh)|Phước Tuy]] và các huyện [[Nghĩa An]], [[Long Khánh]], [[Phước Bình]].
=== Thời kỳ Pháp thuộc ===
Vào năm 1840, đặt thêm bốn phủ là Tân Định, Tân Bình, Tân Lợi và Tân Thuận. Năm 1851, [[Vua Tự Đức]] nhập hai huyện [[Phước Bình]] và [[Long Khánh]] vào các phủ Phước Long và Phước Tuy. Năm 1882, sau khi Hòa ước [[Nhâm Tuất]] được ký, lúc này triều đình [[Nhà Nguyễn]] cắt đất giao 3 tỉnh [[Gia Định]], [[Định Tường]] và [[Biên Hoà]] cho [[Pháp]]. Sau đó, Pháp chia [[Biên Hòa]] thành ba tỉnh là [[Biên Hòa (tỉnh)|Biên Hòa]], [[Thủ Dầu Một]] và [[Bà Rịa]]. Đến thời [[Việt Nam Cộng hòa]], đất Đồng Nai được chia làm 3 tỉnh là [[Biên Hòa]], [[Long Khánh]], [[Phước Tuy (tỉnh)|Phước Tuy]].
Đầu năm 1975, hợp nhất 3 tỉnh này thành lập [[tỉnh Đồng Nai]], tỉnh lỵ đặt tại thị xã Biên Hòa.
=== Sau thống nhất ===
Năm [[1976]], chuyển thị xã Biên Hòa thành [[thành phố Biên Hòa]] - đô thị loại 3, trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Ban đầu, tỉnh Đồng Nai có tỉnh lị là [[Biên Hòa|thành phố Biên Hòa]], [[Vũng Tàu|thị xã Vũng Tàu]] và 9 huyện: [[Châu Thành (huyện cũ Đồng Nai)|Châu Thành]], [[Cần Giờ|Duyên Hải]], [[Long Đất]], [[Long Thành]], [[Tân Phú (huyện)|Tân Phú]], [[Thống Nhất]], [[Vĩnh Cửu]], [[Xuân Lộc]], [[Xuyên Mộc]].
Ngày [[23 tháng 12]] năm [[1978]], sáp nhập xã Hố Nai 1 và xã Hố Nai 2 của huyện Thống Nhất vào thành phố Biên Hòa<ref>[http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh/Quyet-dinh-272-CP-sap-nhap-xa-Ho-Nai-1-Ho-Nai-2-huyen-Thong-Nhat-tinh-Dong-Nai-vao-thanh-pho-Bien-Hoa-cung-tinh-vb57839t17.aspx Quyết định 272-CP năm 1978 về việc sáp nhập xã Hố Nai 1 và xã Hố Nai 2 của huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai vào thành phố Biên Hòa]</ref>.
Ngày [[29 tháng 12]] năm [[1978]], chuyển huyện [[Cần Giờ|Duyên Hải]] về [[Thành phố Hồ Chí Minh]] quản lý theo nghị quyết của kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI<ref>[http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet/Nghi-quyet-phe-chuan-viec-phan-vach-lai-dia-gioi-thanh-pho-Ha-Noi-TPHCM-cac-tinh-Ha-Son-Binh-Vinh-Phu-Cao-Lang-Bac-Thai-Quang-Ninh-va-Dong-Nai-vb42744t13.aspx Nghị quyết về việc phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú, Cao Lạng, Bắc Thái, Quảng Ninh và Đồng Nai do Quốc hội ban hành]</ref>.
Ngày [[30 tháng 5]] năm [[1979]], điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Vũng Tàu và xã [[Long Sơn]] thuộc huyện Châu Thành để thành lập đặc khu [[Vũng Tàu - Côn Đảo (đặc khu)|Vũng Tàu - Côn Đảo]]<ref>[http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghị-quyết/Nghị-quyết-thành-lập-đặc-khu-Vũng-Tàu-Côn-Đảo-trực-thuộc-Trung-ương-vb42745t13.aspx Nghị quyết về việc thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành]</ref> trực thuộc Trung Ương.
Ngày [[23 tháng 12]] năm [[1985]], chuyển huyện [[Vĩnh Cửu]] thành thị xã Vĩnh An<ref>[http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh/Quyet-dinh-284-HDBT-thanh-lap-thi-xa-Vinh-An-tinh-Dong-Nai-vb43638t17.aspx Quyết định 284-HĐBT năm 1985 về việc thành lập thị xã Vĩnh An thuộc tỉnh Đồng Nai]</ref>.
Ngày [[10 tháng 4]] năm [[1991]], điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện[[Xuân Lộc]] để thành lập huyện [[Long Khánh]]; điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Tân Phú để thành lập huyện [[Định Quán]]<ref>Quyết định 107-HĐBT ngày 10 tháng 4 năm 1991 chia các huyện Xuân Lộc và Tân Phú thành 4 huyện lấy tên là huyện Xuân Lộc, huyện Long Khánh, huyện Tân Phú và huyện Định Quán</ref>.
Đến năm [[1991]], tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính gồm: [[Biên Hòa|thành phố Biên Hòa]] (tỉnh lỵ), [[Vĩnh Cửu|thị xã Vĩnh An]] và 9 huyện: [[Châu Thành (huyện cũ Đồng Nai)|Châu Thành]], [[Định Quán]], [[Long Đất]], [[Long Khánh]], [[Long Thành]], [[Tân Phú (huyện)|Tân Phú]], [[Thống Nhất]], [[Xuân Lộc]], [[Xuyên Mộc]].
Ngày [[12 tháng 8]] năm [[1991]], kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết tách 3 huyện: [[Châu Thành (huyện cũ Đồng Nai)|Châu Thành]], [[Long Đất]], [[Xuyên Mộc]] để sáp nhập với đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo thành tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu<ref>[http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet/Nghi-quyet-dieu-chinh-dia-gioi-hanh-chinh-mot-so-tinh-thanh-pho-truc-thuoc-Trung-uong-vb42808t13.aspx Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành]</ref>. Tỉnh Đồng Nai còn lại 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện.
Năm [[1993]], [[Biên Hòa|thành phố Biên Hòa]] được công nhận là [[Đô thị loại II (Việt Nam)|đô thị loại II]], trực thuộc [[tỉnh Đồng Nai]].
Ngày [[23 tháng 6]] năm [[1994]], điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Long Thành để thành lập huyện [[Nhơn Trạch]]<ref>[http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi-dinh-51-CP-dieu-chinh-dia-gioi-huyen-xa-thuoc-tinh-Dong-Nai-vb38809t11.aspx Nghị định 51-CP năm 1994 về việc điều chỉnh địa giới huyện, xã thuộc tỉnh Đồng Nai]</ref>.
Ngày [[29 tháng 8]] năm [[1994]], giải thể thị xã Vĩnh An để tái lập huyện [[Vĩnh Cửu]]<ref>Nghị định 109-CP ngày 29 tháng 8 năm 1994 tái lập huyện Vĩnh Cửu; điều chỉnh địa giới một số xã phường thuộc thành phố Biên Hòa và các huyện Long Khánh, Long Thành, Nhơn Trạch, Tân Phú, Thống Nhất, Xuân Lộc</ref>.
Ngày [[21 tháng 8]] năm [[2003]], Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2003/NĐ-CP, giải thể huyện Long Khánh để thành lập [[Long Khánh|thị xã Long Khánh]] và huyện [[Cẩm Mỹ]], điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Thống Nhất để thành lập huyện [[Trảng Bom]]<ref name="nd97">[http://www2.vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=373&mode=detail&document_id=12180 Nghị định số 97/2003/NĐ-CP của Chính phủ: Nghị định thành lập thị xã Long Khánh và các phường, xã trực thuộc; thành lập các huyện Cẩm Mỹ, Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai]{{Liên kết hỏng|date = ngày 2 tháng 6 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }}, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.</ref>. Đến thời điểm này, tỉnh Đồng Nai có 1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện.
Ngày [[30 tháng 12]] năm [[2015]], Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2488/QĐ-TTg công nhận thành phố Biên Hòa là [[Đô thị loại I (Việt Nam)|đô thị loại I]] trực thuộc [[tỉnh Đồng Nai]]<ref>{{Chú thích web|url=https://thuvienphapluat.vn/van-ban/xay-dung-do-thi/quyet-dinh-2488-qd-ttg-2015-cong-nhan-thanh-pho-bien-hoa-la-do-thi-loai-i-thuoc-tinh-dong-nai-394181.aspx|title=Quyết định số 2488/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc công nhận thành phố Biên Hòa là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đồng Nai|tác giả=|họ=|tên=|ngày=|website=|url lưu trữ=|ngày lưu trữ=|ngày truy cập=}}</ref>.
Ngày [[1 tháng 6]] năm [[2019]], chuyển thị xã Long Khánh thành thành phố [[Long Khánh]].<ref>{{Chú thích web|url=https://thuvienphapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-673-NQ-UBTVQH14-2019-giai-the-dieu-chinh-dia-gioi-don-vi-hanh-chinh-cap-xa-Dong-Nai-412485.aspx|title=Nghị quyết 673/NQ-UBTVQH14 năm 2019 về việc thành lập, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính một số đơn vị hành chính cấp xã và thành lập thành phố Long Khánh thuộc tỉnh Đồng Nai|last=|first=|date=|website=|archive-url=|archive-date=|url-status=|access-date =}}</ref> Tỉnh Đồng Nai có 2 thành phố và 9 huyện.
Ngày [[12 tháng 6]] năm [[2025]], Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15<ref name="202/2025/QH15">{{Chú thích web|url=https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=94532|tựa đề= Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh |ngày= 2025-06-12 |website= Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20250612150244/https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=94532|ngày lưu trữ= 2025-06-12 |ngày truy cập= 2025-06-12 |url-status=live}}</ref> về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh [[Bình Phước]] vào tỉnh Đồng Nai. Đến thời điểm [[12 tháng 6]] năm [[2025]], tỉnh Đồng Nai có 3 thành phố, 3 thị xã và 16 huyện tồn tại đến ngày 01 tháng 7 năm 2025 khi chính quyền cấp huyện chính thức kết thúc hoạt động
Sau khi sáp nhập, tỉnh Đồng Nai có 12.737,18 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 4.491.408 người.
==Hành chính==
[[Tập tin:Administrative Divisions of Dong Nai Province after 1 July 2025.svg]]
Tỉnh Đồng Nai được chia thành 95 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 23 [[Phường (Việt Nam)|phường]] và 72 [[Xã (Việt Nam)|xã]].<ref>{{Chú thích web |date=2025-06-16 |title=NGHỊ QUYẾT Về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Đồng Nai năm 2025 |url=https://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=94602 |access-date=2025-06-17 |website=quochoi.vn}}</ref>
{| class="wikitable sortable" cellpadding="0" cellspacing="6" width="100%" align="center" style="background: #f9f9f9; border: 1px #aaa solid; margin-top: 16px"
! colspan="4" style="background: #E6E6FA; font-size: 95%;" |Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Đồng Nai
|-
| valign="top" width="25%" style="background: #f9f9f9;" |
{| cellpadding="1" cellspacing="1" width="100%" style="background: #f9f9f9; font-size: 90%; text-align: right;"
! align="left" style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF; padding-left: 10px; white-space:nowrap" |Tên
! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" |Diện tích
(km²)
! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" |Dân số
(người)
|-
| colspan="3" style="text-align:left; background:beige; padding-left:30px;" |'''Phường (23)'''
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[An Lộc, Đồng Nai|An Lộc]]
|88,74
|35.531
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Bảo Vinh]]
|50,85
|36.989
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Biên Hòa (phường)|Biên Hòa]]
|21,46
|74.919
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Bình Long (phường)|Bình Long]]
|49,14
|41.048
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Bình Lộc, Đồng Nai|Bình Lộc]]
|77,21
|36.195
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Bình Phước (phường)|Bình Phước]]
|86,38
|111.440
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Chơn Thành (phường)|Chơn Thành]]
|124,41
|41.500
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Đồng Xoài (phường)|Đồng Xoài]]
|81,33
|35.887
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Hàng Gòn]]
|45,60
|24.931
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Hố Nai, Đồng Nai|Hố Nai]]
|22,85
|78.902
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Long Bình, Đồng Nai|Long Bình]]
|44,91
|168.614
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Long Hưng, Đồng Nai|Long Hưng]]
|32,40
|74.184
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Long Khánh (phường)|Long Khánh]]
|21,32
|77.070
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Minh Hưng (phường)|Minh Hưng]]
|99,67
|34.123
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Phước Bình, Đồng Nai|Phước Bình]]
|72,57
|44.771
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Phước Long, Đồng Nai|Phước Long]]
|71,87
|33.145
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Phước Tân (phường)|Phước Tân]]
|42,82
|64.181
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Tam Hiệp (phường)|Tam Hiệp]]
|10,81
|139.441
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Tam Phước (phường)|Tam Phước]]
|45,09
|48.313
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Tân Triều, Đồng Nai|Tân Triều]]
|63,29
|101.608
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Trảng Dài]]
|37,29
|104.972
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Trấn Biên]]
|31,03
|197.060
|-
| style="text-align:left; padding-left:6px; white-space:nowrap;" |[[Xuân Lập (phường)|Xuân Lập]]
|29,19
|18.947
|}
| valign="top" width="25%" style="background: #f9f9f9;" |
{| cellpadding="1" cellspacing="1" width="100%" style="background: #f9f9f9; font-size: 90%; text-align: right;"
! align="left" style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF; padding-left: 10px; white-space:nowrap" |Tên
! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" |Diện tích
(km²)
! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" |Dân số
(người)
|-
| colspan="3" style="text-align:left; background:beige; padding-left:30px;" |'''Xã (72)'''
|-
| style="text-align:left" |[[An Phước, Đồng Nai|An Phước]]
|58,32
|59.666
|-
| style="text-align:left" |[[An Viễn]]
|47,74
|24.150
|-
| style="text-align:left" |[[Bàu Hàm]]
|97,50
|55.559
|-
| style="text-align:left" |[[Bình An, Đồng Nai|Bình An]]
|59,41
|25.506
|-
| style="text-align:left" |[[Bình Minh, Đồng Nai|Bình Minh]]
|36,68
|83.354
|-
| style="text-align:left" |[[Bình Tân (xã)|Bình Tân]]
|190,89
|28.642
|-
| style="text-align:left" |[[Bom Bo]]
|245,87
|27.064
|-
| style="text-align:left" |[[Bù Đăng (xã)|Bù Đăng]]
|156,14
|32.145
|-
| style="text-align:left" |[[Bù Gia Mập (xã)|Bù Gia Mập]]
|342,51
|8.274
|-
| style="text-align:left" |[[Cẩm Mỹ (xã), Đồng Nai|Cẩm Mỹ]]
|113,14
|45.728
|-
| style="text-align:left" |[[Dầu Giây]]
|98,87
|71.921
|-
| style="text-align:left" |[[Đa Kia]]
|196,25
|31.752
|-
| style="text-align:left" |[[Đại Phước, Nhơn Trạch|Đại Phước]]
|98,02
|55.364
|-
| style="text-align:left" |[[Đắc Lua|Đak Lua]]
|415,13
|8.234
|-
| style="text-align:left" |[[Đak Nhau]]
|182,47
|23.685
|-
| style="text-align:left" |[[Đak Ơ|Đăk Ơ]]
|246,49
|19.369
|-
| style="text-align:left" |[[Định Quán (thị trấn)|Định Quán]]
|295,82
|85.523
|-
| style="text-align:left" |[[Đồng Phú (xã)|Đồng Phú]]
|138,66
|45.557
|-
| style="text-align:left" |[[Đồng Tâm, Đồng Nai|Đồng Tâm]]
|248,72
|35.573
|-
| style="text-align:left" |[[Gia Kiệm]]
|82,72
|79.274
|-
| style="text-align:left" |[[Hưng Phước]]
|187,19
|12.427
|-
| style="text-align:left" |[[Hưng Thịnh, Trảng Bom|Hưng Thịnh]]
|57,64
|57.825
|-
| style="text-align:left" |[[La Ngà]]
|133,45
|33.311
|}
| valign="top" width="25%" style="background: #f9f9f9;" |
{| cellpadding="1" cellspacing="1" width="100%" style="background: #f9f9f9; font-size: 90%; text-align: right;"
! align="left" style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF; padding-left: 10px; white-space:nowrap" |Tên
! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" |Diện tích
(km²)
! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" |Dân số
(người)
|-
| style="text-align:left" |[[Long Hà]]
|168,38
|27.614
|-
| style="text-align:left" |[[Long Phước (xã)|Long Phước]]
|81,83
|42.453
|-
| style="text-align:left" |[[Long Thành (thị trấn), Long Thành|Long Thành]]
|130,12
|93.006
|-
| style="text-align:left" |[[Lộc Hưng (xã)|Lộc Hưng]]
|99,02
|26.600
|-
| style="text-align:left" |[[Lộc Ninh (thị trấn)|Lộc Ninh]]
|67,42
|32.213
|-
| style="text-align:left" |[[Lộc Quang]]
|104,95
|26.314
|-
| style="text-align:left" |[[Lộc Tấn]]
|183,36
|23.697
|-
| style="text-align:left" |[[Lộc Thành, Lộc Ninh|Lộc Thành]]
|206,10
|15.338
|-
| style="text-align:left" |[[Lộc Thạnh]]
|125,49
|10.339
|-
| style="text-align:left" |[[Minh Đức, Hớn Quản|Minh Đức]]
|167,11
|16.944
|-
| style="text-align:left" |[[Nam Cát Tiên (xã)|Nam Cát Tiên]]
|82,93
|15.922
|-
| style="text-align:left" |[[Nghĩa Trung, Bù Đăng|Nghĩa Trung]]
|222,04
|32.897
|-
| style="text-align:left" |[[Nha Bích]]
|137,06
|22.278
|-
| style="text-align:left" |[[Nhơn Trạch (xã)|Nhơn Trạch]]
|108,04
|78.589
|-
| style="text-align:left" |[[Phú Hòa, Định Quán|Phú Hòa]]
|61,53
|36.781
|-
| style="text-align:left" |[[Phú Lâm, Đồng Nai|Phú Lâm]]
|67,35
|62.355
|-
| style="text-align:left" |[[Phú Lý]]
|279,00
|15.992
|-
| style="text-align:left" |[[Phú Nghĩa, Bù Gia Mập|Phú Nghĩa]]
|279,40
|33.920
|-
| style="text-align:left" |[[Phú Riềng (xã)|Phú Riềng]]
|117,37
|36.232
|-
| style="text-align:left" |[[Phú Trung (xã)|Phú Trung]]
|172,03
|13.585
|-
| style="text-align:left" |[[Phú Vinh, Định Quán|Phú Vinh]]
|69,45
|31.328
|-
| style="text-align:left" |[[Phước An, Nhơn Trạch|Phước An]]
|170,72
|51.088
|-
| style="text-align:left" |[[Phước Sơn, Bù Đăng|Phước Sơn]]
|386,56
|31.005
|-
| style="text-align:left" |[[Phước Thái, Long Thành|Phước Thái]]
|85,86
|55.914
|}
| valign="top" width="25%" style="background: #f9f9f9;" |
{| cellpadding="1" cellspacing="1" width="100%" style="background: #f9f9f9; font-size: 90%; text-align: right;"
! align="left" style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF; padding-left: 10px; white-space:nowrap" |Tên
! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" |Diện tích
(km²)
! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" |Dân số
(người)
|-
| style="text-align:left" |[[Sông Ray (xã)|Sông Ray]]
|65,60
|31.346
|-
| style="text-align:left" |[[Tà Lài]]
|83,34
|34.158
|-
| style="text-align:left" |[[Tân An, Vĩnh Cửu|Tân An]]
|80,24
|39.291
|-
| style="text-align:left" |[[Tân Hưng, Đồng Nai|Tân Hưng]]
|204,66
|35.498
|-
| style="text-align:left" |[[Tân Khai]]
|161,79
|36.140
|-
| style="text-align:left" |[[Tân Lợi, Đồng Phú|Tân Lợi]]
|379,78
|22.774
|-
| style="text-align:left" |[[Tân Phú (xã)|Tân Phú]]
|105,81
|76.765
|-
| style="text-align:left" |[[Tân Quan]]
|148,31
|30.385
|-
| style="text-align:left" |[[Tân Tiến, Đồng Nai|Tân Tiến]]
|147,47
|38.550
|-
| style="text-align:left" |[[Thanh Sơn, Định Quán|Thanh Sơn]]
|315,40
|33.342
|-
| style="text-align:left" |[[Thiện Hưng]]
|110,97
|35.041
|-
| style="text-align:left" |[[Thọ Sơn, Bù Đăng|Thọ Sơn]]
|307,69
|21.457
|-
| style="text-align:left" |[[Thống Nhất (xã)|Thống Nhất]]
|120,07
|71.665
|-
| style="text-align:left" |[[Thuận Lợi]]
|167,23
|23.655
|-
| style="text-align:left" |[[Trảng Bom (thị trấn)|Trảng Bom]]
|68,77
|92.712
|-
| style="text-align:left" |[[Trị An (xã)|Trị An]]
|660,46
|51.028
|-
| style="text-align:left" |[[Xuân Bắc, Xuân Lộc|Xuân Bắc]]
|96,44
|44.866
|-
| style="text-align:left" |[[Xuân Định]]
|52,29
|36.870
|-
| style="text-align:left" |[[Xuân Đông, Cẩm Mỹ|Xuân Đông]]
|107,97
|47.623
|-
| style="text-align:left" |[[Xuân Đường]]
|82,11
|26.565
|-
| style="text-align:left" |[[Xuân Hòa, Xuân Lộc|Xuân Hòa]]
|305,96
|78.491
|-
| style="text-align:left" |[[Xuân Lộc, Đồng Nai|Xuân Lộc]]
|140,50
|104.304
|-
| style="text-align:left" |[[Xuân Phú, Xuân Lộc|Xuân Phú]]
|55,63
|29.608
|-
| style="text-align:left" |[[Xuân Quế]]
|92,91
|21.189
|-
| style="text-align:left" |[[Xuân Thành, Xuân Lộc|Xuân Thành]]
|122,71
|22.007
|}
|}
==Kinh tế - xã hội==
{{Chính|Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP}}{{Chính|Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP bình quân đầu người}}
===Kinh tế===
Năm 2020, Đồng Nai là đơn vị hành chính [[Việt Nam]] đông thứ năm về số dân, [[Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP|xếp thứ ba]] về [[Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)]], [[Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP bình quân đầu người|xếp thứ sáu]] về [[Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)|GRDP]] bình quân đầu người, [[Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP|đứng thứ 19]] về tốc độ tăng trưởng [[Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)|GRDP]]. Với 3.097.107 người dân<ref>{{Chú thích web|url=https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=714|title=Dân số các tỉnh Việt Nam năm 2018|last=|first=|date=|website=Tổng cục Thống kê Việt Nam|archive-url=|archive-date=|url-status=|access-date =Ngày 30 tháng 9 năm 2019}}</ref>, GRDP đạt gần 400.000 tỉ [[Đồng (đơn vị tiền tệ)|Đồng]] (tương ứng 17.2 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 124 triệu đồng (tương ứng với 5.300 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP dự kiến đạt trên 9,0%.<ref name=":048">{{Chú thích web|url=http://www.baodongnai.com.vn/tintuc/201901/hop-bao-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-nam-2018-2927496/|title=Tình hình kinh tế, xã hội Đồng Nai năm 2018|last=|first=|date=|website=Báo Đồng Nai, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai|archive-url=|archive-date=|url-status=|access-date =Ngày 12 tháng 10 năm 2019}}</ref>
Đồng Nai là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ – vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước. Trong đó, Đồng Nai là một trong ba góc nhọn của [[tam giác]] phát triển Thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương – Đồng Nai. Đồng Nai có nhiều cụm công nghiệp nghề truyền thống và hơn 32 khu công nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đi vào hoạt động như Long Thành, An Phước, Nhơn Trạch II, Biên Hòa II, Amata,...<ref>{{Chú thích web|url=http://diza.dongnai.gov.vn/Pages/kcn.aspx|tiêu đề=Ban Quản lý các khu công nghiệp Đồng Nai}}</ref>
Năm 2011, mặc dù kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn thách thức, tuy nhiên tổng sản phẩm nội địa ([[GDP]]) trên địa bàn [[tỉnh Đồng Nai]] tăng vẫn 13,32% so với năm 2010, trong đó, dịch vụ tăng 14,9%, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,9% công nghiệp - xây dựng tăng 14,2%<ref name="kt2011cafef" />.
Quy mô [[GDP]] năm 2011 toàn tỉnh đạt 96.820 tỷ đồng<ref>Ông Nguyễn Thành Trí, Phó Chủ tịch UBND [[tỉnh Đồng Nai]] cho biết</ref>, GDP thu nhập bình quân đầu người|bình quân đầu người đạt 36,6 triệu đồng, các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh hầu hết đều đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực, công nghiệp - xây dựng chiếm 57,3%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 7,5%, dịch vụ chiếm 35,2%. Kim ngạch [[xuất khẩu]] đạt 9,8 tỷ [[USD]], tăng 30,3% so với cùng kỳ, thu ngân sách trên địa bàn đạt 22.641,2 tỷ đồng. đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 900 triệu [[USD]], vốn đầu tư trong nước đạt 15.000 tỷ đồng... Cũng trong năm 2011, toàn tỉnh có 5.200 lượt hộ nghèo được vay vốn với số tiền 67 tỷ đồng. Số hộ nghèo năm 2011 giảm 7.800 hộ, hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5%<ref name="kt2011cafef">[http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/nam-2012-dong-nai-phan-dau-tang-truong-1213-20120101074529729ca33.chn Năm 2012, Đồng Nai phấn đấu tăng trưởng 12-13%] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20121217064610/http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/nam-2012-dong-nai-phan-dau-tang-truong-1213-20120101074529729ca33.chn |date=2012-12-17 }}, Theo trang CaeF.</ref>.
Trong 9 tháng đầu năm 2012, theo đánh giá, hầu hết các lĩnh vực đều tăng chậm hơn so với cùng kỳ các năm trước do ảnh hưởng từ những khó khăn chung của nền kinh tế trong và ngoài nước, ngoại trừ lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài vẫn tăng mạnh<ref name="kt9thang2012"/>. Sản xuất công nghiệp trong 9 tháng tăng hơn 7% với 12 ngành công nghiệp tăng và 4 ngành giảm. Tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 11,87% so với cùng kỳ năm 2012, đạt trên 70% kế hoạch, trong đó lĩnh vực dịch vụ tăng cao nhất với 14,51% so với cùng kỳ. Ngoài ra, tổng mức bán lẻ tăng 20% so với 9 tháng đầu năm 2011, chỉ số giá tiêu dùng tăng 6.14% so với cuối năm 2011. Xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2012 đạt trên 7,9 tỷ [[USD]], nhập khẩu đạt hơn 7,5 tỷ [[USD]]. Đến 2019, GDP Đồng Nai là 3.720 USD/người tương đương khoảng 60,4 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo năm 2019 còn 9.200, chiếm khoảng 1,8% trong tổng số hộ.<ref name="kt9thang2012">[http://www.baodongnai.com.vn/kinhte/201210/Tang-truong-GdP-9-thang-dat-1187-2190779/ Tăng trưởng GDP 9 tháng đạt 11,87%] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20130127075506/http://baodongnai.com.vn/kinhte/201210/Tang-truong-GdP-9-thang-dat-1187-2190779/ |date=2013-01-27 }}, Theo Báo Đồng Nai.</ref>
Về nông nghiệp, Đồng Nai là thủ phủ sản xuất chè, cà phê, ca cao, cam, bưởi, quýt, sầu riêng, chôm chôm, măng cụt,... Đồng Nai là tỉnh có đàn lợn lớn nhất cả nước với gần 1 triệu con, và có đàn trâu bò lớn thứ 2 với 185.000 con. Đồng Nai là tỉnh đầu tiên của cả nước mà 100% xã, huyện, thành phố đều đạt chuẩn nông thôn mới. Vì vậy nông nghiệp Đồng Nai phát triển mạnh mẽ, là nguồn cung hàng hoá cho các khu vực lân cận và xuất khẩu. Đây là tỉnh có sản lượng nông nghiệp lớn nhất Đông Nam Bộ và là một trong những tỉnh sản xuất ra khối lượng nông sản lớn nhất Việt Nam.
Năm 2018, Giá trị sản xuất của thủy sản so với Tổng giá trị sản xuất của Nông nghiệp – Lâm nghiệp – Thủy sản là 8,8%. Năm 2019, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,7%, giá trị sản xuất nông lâm thủy sản tăng 2,7%. Thu ngân sách đạt 54.431 tỉ đồng, đạt 100% so với dự toán được giao, chi ngân sách đạt 22.509 tỉ đồng, đạt 109% so với dự toán. Tổng mức bán lẻ, doanh thu dịch vụ đạt 173,6 ngàn tỉ đồng, tăng 11,7% so với cùng kì và đạt kế hoạch năm. Kim ngạch xuất khẩu đạt 19,7 tỉ USD, tăng 7,1% so với cùng kì; kim ngạch nhập khẩu đạt 16,5 tỉ USD, tăng 2,1% so với cùng kì. Năm 2019, Đồng Nai xuất siêu khoảng 3,2 tỉ USD. Huy động vốn đầu tư phát triển đạt 91.335 tỉ đồng. Thu hút đầu tư trong nước đạt 34 nghìn tỉ đồng, đạt 340% kế hoạch năm, tăng 23,6% so với cùng kì. Lũy kế đến nay, trên địa bàn tỉnh có 917 dự án với tổng vốn khoảng 325.000 tỉ đồng. Tổng vốn đầu tư nước ngoài dự ước đạt 1.450 triệu USD, đạt 145% so với kế hoạch, bằng 75,7% so với cùng kì. Lũy kế đến nay, trên địa bàn tỉnh có 1.457 dự án còn hiệu lực với số vốn đăng kí khoảng 30 tỉ USD.
Công tác đăng kí doanh nghiệp: Năm 2019 ước đạt 3.850 doanh nghiệp đăng kí thành lập mới, tăng 9,4% so với cùng kì, tổng vốn đăng kí ước đạt 34.000 tỉ đồng. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 38000 doanh nghiệp với tổng vốn đăng kí trên 264.000 tỉ đồng.
===Xã hội===
===Giáo dục===
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2018 trên địa bàn toàn tỉnh Đồng Nai có 745 trường học, trong đó có Trung học phổ thông có 84 trường, Trung học cơ sở có 273 trường, Tiểu học có 362 trường, trung học có 23 trường, có 4 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 327 trường mẫu giáo<ref name="gdvn2011"/>. Với hệ thống trường học như thế, nền [[giáo dục]] trong địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh<ref name="gdvn2011">[http://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=15355 Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011], Theo tổng cục thống kê [[Việt Nam]]</ref>. Trên địa bàn còn có cơ sở 2 của Trường Đại học Mở Tp Hồ Chí Minh ở phường Long Bình Tân, Tp Biên Hòa.
===Y tế===
Đồng Nai là một trong những tỉnh có vị trí gần [[Thành phố Hồ Chí Minh]] nên có nhiều thuận lợi trong các lĩnh vực công nghệ khoa học, trong đó, mạng lưới y tế cũng rất phát triển. Cho đến nay, Đồng Nai đã thành lập được 11 bệnh viện tuyến huyện trên 11 huyện, thị xã và thành phố [[Biên Hòa]].
====Danh sách bệnh viện tại Đồng Nai====
{{Multicol}}
*Bệnh viện Đa Khoa Đồng Nai
*Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất<br>(Bệnh viện Thánh Tâm)
*Bệnh viện Tâm thần Trung ương II<br>(còn gọi là bệnh viện [[Biên Hòa]])
*Bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai
*Bệnh viện Phổi tỉnh
*Bệnh viện [[Y học cổ truyền]]
*Bệnh viện 7B
*Bệnh viện Da liễu Tỉnh
{{Multicol-break}}
*Bệnh viện Đại học Y Dược Shing Mark
*Bệnh viện Đa khoa Cao su Đồng Nai
*Bệnh viện Đa Khoa Tp. Biên Hòa
*Bệnh viện Đa Khoa KV. Long Khánh
*Bệnh viện Phụ sản Âu Cơ
*Bệnh viện Răng-Hàm-Mặt Việt Anh Đức
*Bệnh viện đa khoa Tâm Hồng Phước
*Bệnh viện Quốc tế Hoàn Mỹ Đồng Nai
*Bệnh viện Hoàn Mỹ ITO Đồng Nai
{{Multicol-end}}
Bên cạnh đó còn có Hệ thống phòng khám và chăm sóc sức khỏe Quốc tế Sỹ Mỹ đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của người dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận khám chữa bệnh mà các bệnh viện, phòng khám khác không đáp ứng được nhu cầu.
==Dân cư==
===Lịch sử phát triển dân số===
{|class= "wikitable"
|-
!width= "3%" |Năm
!width= "8%" |Số dân<br>(người)
!width= "3%" |Năm
!width= "8%" |Số dân<br>(người)
!width= "3%" |Năm
!width= "8%" |Số dân<br>(người)
!width= "3%" |Năm
!width= "8%" |Số dân<br>(người)
!width= "3%" |Năm
!width= "8%" |Số dân<br>
(người)
!width= "3%" |Năm
!width= "8%" |Số dân<br>
(người)
|-
|<center> 1995
|<center> 1.884.800
|<center> 2000
|<center> 2.054.100
|<center> 2005
|<center> 2.263.800
|<center> 2010
|<center> 2.575.100
|<center> 2015
|<center> 2.890.000
|<center> 2020
|<center> 3.177.400
|-
|<center> 1996
|<center> 1.882.200
|<center> 2001
|<center> 2.093.700
|<center> 2006
|<center> 2.314.900
|<center> 2011
|<center> 2.665.100
|<center> 2016
|<center> 2.963.800
|<center> 2021
|<center> 3.169.100
|-
|<center> 1997
|<center> 1.920.000
|<center> 2002
|<center> 2.132.200
|<center> 2007
|<center> 2.372.600
|<center> 2012
|<center> 2.720.800
|<center> 2017
|<center> 3.010.790
|<center> 2022
|<center> 3.255.810
|-
|<center> 1998
|<center> 1.959.300
|<center> 2003
|<center> 2.176.100
|<center> 2008
|<center> 2.432.700
|<center> 2013
|<center> 2.771.420
|<center> 2018
|<center> 3.086.100
|<center> 2023
|<center>
|-
|<center> 1999
|<center> 1.999.500
|<center> 2004
|<center> 2.220.500
|<center> 2009
|<center> 2.499.700
|<center> 2014
|<center> 2.768.700
|<center> 2019
|<center> 3.097.107
|-
|}
Tính đến năm 2019, dân số toàn [[tỉnh Đồng Nai]] đạt 3.097.107 người, mật độ dân số đạt 516,3 người/km², dân số thành thị chiếm 48.4%, dân số nông thôn chiếm 51.6%. Đây cũng là tỉnh đông dân nhất vùng [[Đông Nam Bộ]] với hơn 3 triệu dân (nếu không tính [[Thành phố Hồ Chí Minh]]). Đây là tỉnh có dân số đông thứ nhì ở miền Nam (sau [[Sài Gòn|Thành phố Hồ Chí Minh]]), đông thứ 5 cả nước (sau [[Thành phố Hồ Chí Minh]], [[Hà Nội]], [[Thanh Hóa]], [[Nghệ An]]) và có dân số đô thị đứng thứ 4 cả nước (sau [[Sài Gòn|Thành phố Hồ Chí Minh]], [[Hà Nội]] và [[Bình Dương]]). Tỉnh có diện tích lớn thứ nhì ở Đông Nam Bộ (sau [[Bình Phước]]) và thứ ba ở miền Nam (sau [[Bình Phước]] và [[Kiên Giang]]).
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê [[Việt Nam]], tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn [[tỉnh Đồng Nai]] có 51 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó người [[Người Kinh|Kinh]] có 2.311.315 người, người [[Người Hoa (Việt Nam)|Hoa]] có 95.162 người, người [[Người Nùng|Nùng]] có 19.076 người, người [[Người Tày|Tày]] có 15.906 người, người [[Người Khmer (Việt Nam)|Khmer]] có 7.059 người, còn lại là những dân tộc khác như [[Người Mường|Mường]], [[Người Dao|Dao]], [[Người Chăm|Chăm]], [[Người Thái (Việt Nam)|Thái]]... Ít nhất là người [[Người Si La|Si La]] và [[Người Ơ Đu|Ơ Đu]] chỉ có một người<ref name="dstcdtvn"/>...Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2022 là hơn 45%.
===Tôn giáo===
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh Đồng Nai có 13 Tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là [[Công giáo]] có 1.015.315 người, [[Phật giáo]] có 440.556 người, [[Đạo Cao Đài]] có 34.670 người, các tôn giáo khác như [[Tin Lành tại Việt Nam|Tin Lành]] có 43.690 người, [[Hồi giáo]] 6.220 người, [[Phật giáo Hòa Hảo|Phật giáo hòa hảo]] có 5.220 người, [[Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam]] có 530 người, [[Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa]] có 36 người, [[Minh Sư Đạo]] có 39 người, [[Bahá'í]] có 63 người, [[Bà-la-môn]] có 15 người, [[Minh Lý Đạo]] có 12 người, còn lại là đạo [[Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương|Bửu Sơn Kỳ Hương]] có hai người<ref name="dstcdtvn">[http://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=12724 Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009], Tổng cục Thống kê Việt Nam.</ref>.
Tỉnh Đồng Nai là tỉnh có sự đa dạng về các đặc trưng tôn giáo, tín ngưỡng. Phần lớn dân cư theo sau Công cuộc Mở mang bờ cõi của Chúa Nguyễn và đánh dấu là sự khai hoang lập ấp của [[Nguyễn Hữu Cảnh]]. Cư dân ban đầu mang theo tín ngưỡng thờ cúng ông bà mà phần lớn người dân Việt Nam hiện nay đều có. Song song đó là sự có mặt của Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo,... dần dần đến các cuộc chiến tranh Việt Nam chống ngoại ban xâm lược thì sự du nhập các tôn giáo, tín ngưỡng theo sự di dân do chiến tranh và hoàn cảnh bắt đầu xuất hiện.
Công giáo ra đời và phát triển mạnh mẽ đến ngày nay trên đất Đồng Nai là sau cuộc di dân năm 1954. Rồi dần, Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài, v.v.. dần xuất hiện theo sự di cư của người dân. Các nơi có đông giáo dân ở Đồng Nai là tp. Biên Hoà, huyện Trảng Bom, trải dài tới Xuân Lộc, Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú, với hơn 900.000 giáo dân, Đồng Nai là nơi có số lượng người theo Công giáo rất lớn.
Hiện nay Đồng Nai là một địa bàn đa tôn giáo: Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, Cao đài, Hòa Hảo, Hồi giáo... Trong đó, Công giáo và Phật giáo là hai tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất. Công giáo tập trung đông đúc ở TP. Biên Hòa và huyện Trảng Bom. Hiện tại (2019), Đồng Nai là địa phương có số người theo đạo Công giáo đông nhất cả nước với 1.015.315 giáo dân, chiếm 1/3 dân số trong toàn tỉnh (32,8%). Phật giáo phát triển mạnh sau sự kiện [[Thích Quảng Đức]] vị quốc thiêu thân năm 1963, làm phát khởi tinh thần Từ Bi - Trí tuệ của người Phật tử, hiện nay hàng loạt các ngôi chùa, tự viện, thiền viện được ra đời đáp ứng nhu cầu tu học của người dân, đăc biệt là Hệ thống Thiền viện thuộc [[Thiền phái Trúc Lâm|Thiền Phái Trúc Lâm Việt Nam]].
==Văn hóa - Du lịch==
===Văn hóa===
[[Câu lạc bộ bóng đá Đồng Nai]]
Đồng Nai và Bình Dương là hai tỉnh miền [[Đông Nam Bộ]] có nghề nghiệp truyền thống nổi tiếng là gốm sứ<ref>{{Chú thích web |url=http://baodongnai.com.vn/default.aspx?tabid=583&ItemID=55729 |tiêu đề=Gốm sứ truyền thống Bình Dương và Đồng Nai |nhà xuất bản=Baodongnai.com.vn |ngày= |ngày truy cập=ngày 26 tháng 9 năm 2010 }}{{Liên kết hỏng|date = ngày 2 tháng 6 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }}</ref>. Sản phẩm gốm sứ của Đồng Nai có nhiều loại và không giống như các sản phẩm gốm sứ truyền thống khác ở miền Bắc và miền Trung. Phương pháp nghệ thuật tạo hoa văn cho sản phẩm của gốm sứ Đồng Nai là kết hợp giữa khắc nét chìm và trổ thủng sản phẩm gốm rồi quét men nhưng không có sự phân biết nước men và màu ve.
Ngoài ra, Đồng Nai còn có nhiều nghề nghiệp thủ công nghiệp truyền thống như đan lát, mây tre lá nhờ nguồn tài nguyên là các rừng lá buông của địa phương, các làng nghề khác như bánh đa, hủ tíu, gò thùng thiếc làng Kim Bích.
Gia công đồ mỹ nghệ, làm các sản phẩm từ gỗ công nghệ, chế biến nông sản, sản xuất gạch ngói, đúc đồng, đúc gang... là những ngành nghề truyền thống nổi tiếng của Đồng Nai. Nắm bắt được thế mạnh này, Đồng Nai ra sức bảo vệ nghề truyền thống và thành lập các cụm công nghiệp nghề truyền thống, mở các lớp đào tạo nghề truyền thống là giải pháp then chốt và mới mẻ nhưng có tính cách lâu dài và là bước đi đúng đắn bảo vệ ngành nghề truyền thống trước sức ép phát triển của quá trình [[đô thị hóa]], hội nhập kinh tế và đầu tư nước ngoài cho các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại <ref>{{Chú thích web |url=http://www.dongnai.gov.vn/doanh-nghiep/cackhu_congnghiep/copy_of_kcn_tinh_quy_hoach/trang_dan/view |tiêu đề=Cụm công nghiệp nghề truyền thống của Đồng Nai |nhà xuất bản=Dongnai.gov.vn |ngày=ngày 28 tháng 7 năm 2005 |ngày truy cập=ngày 26 tháng 9 năm 2010 |archive-date = ngày 26 tháng 11 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20101126130534/http://www.dongnai.gov.vn/doanh-nghiep/cackhu_congnghiep/copy_of_kcn_tinh_quy_hoach/trang_dan/view }}</ref>
===Du lịch===
[[Hình: Giang Dien Waterfall.JPG|nhỏ|trái|<center>Thác Giang Điền ở<br> huyện Trảng Bom|185x185px]]
[[Tập tin:Hồ Long Ẩn - 10398247865.jpg|nhỏ|220x220px|'''Khu du lịch Bửu Long''' nằm ở phường [[Bửu Long]], cách trung tâm thành phố [[Biên Hòa]] 6km.]]
Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: [[Văn miếu Trấn Biên]] (Biên Hòa), đền thờ [[Nguyễn Hữu Cảnh]], khu du lịch [[Bửu Long]], khu du lịch ven sông Đồng Nai, [[Vườn quốc gia Nam Cát Tiên]], làng bưởi [[Tân Triều]], khu du lịch sinh thái Thác Mai - hồ nước nóng, Đảo Ó, [[chiến khu Đ]], mộ cổ [[Hàng Gòn]], đàn đá Bình Đa, khu du lịch [[thác Giang Điền]], khu du lịch Long Châu Viên (Xuân Tân, [[Long Khánh]]), khu du lịch [[Vườn Xoài]], khu di tích cấp quốc gia núi Chứa Chan (núi Gia Lào), Hồ Núi Le (Xuân Lộc), trung tâm hành hương Đức Mẹ núi Cúi (Gia Kiệm), khu du lịch Suối Mơ, làng du lịch Tre Việt, khu du lịch Bò Cạp Vàng, khu du lịch sinh thái Thủy Châu.
==Công trình kiến trúc==
=== Mốc thời gian của tòa nhà cao nhất ===
{| class="wikitable sortable"
!Số năm
cao nhất
!Tòa nhà
!Hình ảnh
!Chiều cao<br>(m)
!Vị trí
|-
| align="center" |2018 - Nay
|The Mira Central Park
| align="center" |[[Tập tin:The Mira Central Park.jpg|không khung|166x166px]]
| align="center" |96
| align="center" |[[Biên Hòa]]<br><small>Phường [[Tân Tiến, Biên Hòa|Tân Tiến]]</small>
|-
| align="center" |2012 - 2018
|Tòa nhà Sonadezi
| align="center" | [[Tập_tin:Toà_nhà_Sonadezi,_an_bình,_biên_hoà,_đồng_nai.jpg|207x207px|Toà_nhà_Sonadezi,_an_bình,_biên_hoà,_đồng_nai]]
| align="center" |91
| align="center" |[[Biên Hòa]]<br><small>Phường [[An Bình, Biên Hòa|An Bình]]</small>
|-
|2013-nay
|Tòa nhà Pegasus Plaza
|
|86
|Biên Hòa
Phường Quyết Thắng
|-
| align="center" |2011 - 2012
|Long Thành Plaza
| align="center" |
| align="center" |74
| align="center" |Huyện [[Long Thành]]<br><small>Thị trấn [[Long Thành (thị trấn thuộc huyện Long Thành)|Long Thành]]</small>
|-
| align="center" |2009 - 2011
|Aurora Hotel Plaza
| align="center" |
| align="center" |47
| align="center" |[[Biên Hòa]]<br><small>Phường [[Tân Mai, Biên Hòa|Tân Mai]]</small>
|-
| align="center" |1989 - 2009
|Tháp chuông nhà thờ Bùi Chu
| align="center" |
| align="center" | 25
| align="center" |Huyện [[Trảng Bom]]<br><small>Xã [[Bắc Sơn, Trảng Bom|Bắc Sơn]]</small>
|-
| align="center" |1967 - 1989
|Tháp nước Biên Hòa
| align="center" |
| align="center" | 20
| align="center" |[[Biên Hòa]]<br><small>Phường [[Thống Nhất, Biên Hòa|Thống Nhất]]</small>
|-
| align="center" |1837 - 1967
|[[Thành cổ Biên Hòa|Thành Biên Hòa]]
| align="center" |[[Tập tin:Bien Hoa et citadelle 5327.jpg|thế=|130x130px]]
| align="center" | 3,6
| align="center" |[[Biên Hòa]]<br><small>Phường [[Quang Vinh, Biên Hòa|Quang Vinh]]</small>
|}
==Kết nghĩa==
*{{flagicon|Vietnam}} [[Tỉnh]] [[Hà Nam]], [[Việt Nam]]
*{{flagicon|Laos}} [[Tỉnh]] [[Champasak]], [[Lào]]
*{{flagicon|Hàn Quốc}} [[Tỉnh]] [[Gyeongsangnam-do]], [[Hàn Quốc]].
==Giao thông==
===Cơ sở hạ tầng giao thông===
Đồng Nai là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như Quốc lộ 1, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng [[Đông Nam Bộ]] với [[Tây Nguyên]]. Các dự án [[đường sắt cao tốc Bắc Nam]], [[đường cao tốc Bắc Nam]], [[đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu]] và [[đường vành đai 3 (Thành phố Hồ Chí Minh)|đường vành đai 3 vùng đô thị TP.HCM]] đều đi qua Đồng Nai <ref>{{Chú thích web |url=http://www.dongnai.gov.vn/cong-dan/tin_xaydung/20100616.590 |tiêu đề=Dự án đường Cao tốc Dầu Giây - Long Thành - Thành phố Hồ Chí Minh |nhà xuất bản=Dongnai.gov.vn |ngày= |ngày truy cập=ngày 26 tháng 9 năm 2010 |archive-date = ngày 19 tháng 6 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20100619130315/http://www.dongnai.gov.vn/cong-dan/tin_xaydung/20100616.590 }}</ref>.
[[Đường sắt Bắc Nam|Tuyến đường sắt Bắc Nam]] đi qua dài 87,5 km với 8 ga: [[Ga Biên Hòa|Biên Hoà]], [[Ga Hố Nai|Hố Nai]], [[Ga Trảng Bom|Trảng Bom]], [[Ga Dầu Giây|Dầu Giây]], [[Ga Long Khánh|Long Khánh]], [[Ga Bảo Chánh|Bảo Chánh]], [[Ga Gia Ray|Gia Ray]] và [[Ga Trảng Táo|Trảng Táo]]. Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối liền các tỉnh phía Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh<ref>{{Chú thích web |url=http://www.dongnai.gov.vn/dong-nai/tiemnang_phattrien/mldocument.2004-12-23.6249214847 |tiêu đề=Dự án và đường sắt Đồng Nai trên trang web sở GTVT Đồng Nai |nhà xuất bản=Dongnai.gov.vn |ngày=ngày 28 tháng 7 năm 2005 |ngày truy cập=ngày 26 tháng 9 năm 2010 |archive-date = ngày 18 tháng 10 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20101018195923/http://www.dongnai.gov.vn/dong-nai/tiemnang_phattrien/mldocument.2004-12-23.6249214847 }}</ref>. [[Sân bay quốc tế Long Thành|Cảng hàng không quốc tế Long Thành]] là cửa ngõ đường hàng không vào [[Việt Nam]] cho khu vực [[Đông Nam Á]] và thế giới.<ref name="SBLT">{{Chú thích web |url=http://www.dongnai.gov.vn/dong-nai/tiemnang_phattrien/mldocument.2004-12-23.6897180948 |tiêu đề=Dự án Sân bay Long Thành trên trang web Sở GTVT Đồng Nai |nhà xuất bản=Dongnai.gov.vn |ngày=ngày 28 tháng 7 năm 2005 |ngày truy cập=ngày 26 tháng 9 năm 2010 |archive-date = ngày 18 tháng 10 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20101018200245/http://www.dongnai.gov.vn/dong-nai/tiemnang_phattrien/mldocument.2004-12-23.6897180948 }}</ref> Về giao thông đường thủy thì trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 3 khu cảng gồm có Khu cảng trên sông Đồng Nai,Khu cảng trên sông Nhà Bè – Lòng Tàu, và Khu cảng trên sông Thị Vải. Trong đó Khu cảng trên sông Đồng Nai gồm có các cảng là Cảng Đồng Nai, cảng SCTGAS-VN và cảng VTGAS (sử dụng bốc xếp hàng lỏng quy mô cho tàu 1000 [[DWT]]), Cảng tổng hợp Phú Hữu II, Cảng tại khu vực [[Tam Phước]], [[Tam An, Long Thành|Tam An]]. Các cảng tại Khu cảng trên sông [[Nhà Bè]] – Lòng Tàu gồm có cảng gỗ mảnh Phú Đông, cảng xăng dầu [[Phước Khánh]], cảng nhà máy đóng tàu 76, cảng tổng hợp Phú Hữu 1, cảng cụm Công nghiệp Vật liệu xây dựng [[Nhơn Trạch]], cảng nhà máy dầu nhờn Trâm Anh, cảng VIKOWOCHIMEX, cảng Sun Steel – China Himent, và các cảng chuyên dùng khác. Các cảng Khu cảng trên sông Thị Vải gồm có cảng Phước An, cảng [[Phước Thái, Long Thành|Phước Thái]], cảng [[Gò Dầu]] A, cảng [[Gò Dầu]] B, cảng Super Phosphat [[Long Thành]], cảng nhà máy Unique Gas.
===Các tuyến đường quốc lộ===
Tỉnh Đồng Nai có 4 tuyến quốc lộ chính là [[Quốc lộ 1|Quốc lộ 13 , Quốc lộ 1]], [[Quốc lộ 51]], [[Quốc lộ 20]], [[Quốc lộ 56]].
*Chiều dài Quốc lộ 13 trên địa bàn tỉnh Đồng nai (tính theo số Km là từ Km 0 - Km 140 + 500 ) dài 149,5 km, là [[Quốc lộ (Việt Nam)|quốc lộ]] theo hướng Nam – Bắc, bắt đầu từ ngã 5 Đài Liệt sĩ [[Thành phố Hồ Chí Minh]] và đi qua các, Thành Phố và Huyện của ([[Cửa khẩu Hoa Lư|Tỉnh Bình Dương]] cũ), sau đó lại đi qua các Huyện, Xã của ([[Cửa khẩu Hoa Lư|Tỉnh Bình Phước]] cũ) kết thúc tại [[cửa khẩu Hoa Lư]], (biên giới Việt Nam – Campuchia), quốc lộ 13 nối với [[Quốc lộ 7 (Campuchia)|quốc lộ 7 của Campuchia]] và quốc lộ này lại nối với [[Quốc lộ 13 (Lào)|quốc lộ 13 của Lào]].
*Chiều dài [[Quốc lộ 1]] trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (tính theo số Km là từ Km 1770 - Km 1802) dài 102 km, chạy qua [[thành phố Biên Hòa]] (chiều dài đi qua là 13 km), 2 huyện: [[Trảng Bom]] (chiều dài đi qua là 19 km), [[Thống Nhất]] (chiều dài đi qua là 8 km), [[thành phố Long Khánh]] (chiều dài đi qua là 15 km), huyện [[Xuân Lộc]] (chiều dài đi qua là 47 km).
*Chiều dài [[Quốc lộ 51]] trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (tính theo số Km là từ Km0 - Km 38), dài 38 km, chạy qua thành phố [[Biên Hòa]], (chiều dài đi qua là 15 km) huyện [[Long Thành]] (chiều dài đi qua là 23 km)
*Chiều dài [[Quốc lộ 20]] trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (tính theo số Km là từ Km0 - Km 75) dài 75 km, chạy qua 3 huyện: [[Thống Nhất]] (chiều dài đi qua là 20 km), [[Định Quán]] (chiều dài đi qua là 26 km, [[Tân Phú (huyện)|Tân Phú]] (chiều dài đi qua là 29 km)
*Chiều dài [[Quốc lộ 56]] trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (tính theo số Km là từ Km0 - Km 18]], dài 18 km, chạy qua thành phố [[Long Khánh]] (chiều dài đi qua là 4 km), huyện [[Cẩm Mỹ]] (chiều dài đi qua là 14 km).
Như vậy, các tuyến quốc lộ đều đi qua tất cả các địa phương của tỉnh trừ 2 huyện [[Vĩnh Cửu]] và [[Nhơn Trạch]]. Huyện [[Nhơn Trạch]] đang phát triển đô thị thành nên giao thông đang được hoàn thiện. Riêng huyện Vĩnh Cửu có khu bảo tồn thiên nhiên với các cánh rừng bạt ngàn được xem là lá phổi xanh của tỉnh, chính vì vậy mà hạn chế mở quốc lộ qua đây giúp góp phần bảo vệ sự trong lành của môi trường.
==Biển số xe==
{{Multicol}}1. Đồng Xoài: 93-P1
2. Bình Long: 93-E1
3. Phước Long: 93-K1
4. Bù Đăng: 93-L1
5. Bù Đốp: 93-G1
6. Bù Gia Mập: 93-H1
7. Chơn Thành: 93-B1
8. Đồng Phú: 93-M1
9. Hớn Quản: 93-C1
10. Lộc Ninh: 93-N1 & 93-F1
11. Phú Riềng: 93-Y1
12. Biên Hòa: <br>60-AA • 60-B1-F1-F2-F3-F4<br>39-F1-F2-F3-F4-F5-F6-T1
13. Long Khánh: 60-AB; 60-B2
14. Tân Phú: 60-AC; 60-B3
15. Định Quán: 60-AD; 60-B4 60-H6
16. Xuân Lộc: 60-AE; 60-B5-H5
{{Multicol-break}}
17. Cẩm Mỹ: 60-AF; 60-B6
18. Thống Nhất: 60-AH; 60-B7
19. Trảng Bom: 60-AK; 60-B8-H1
20. Vĩnh Cửu: 60-AL; 60-B9
21. Long Thành: 60-AM; 60-C1-G1
22. Nhơn Trạch: 60-AN; 60-C2
Lưu ý: Các biển số xe dưới đây chỉ để tham khảo vì sau ngày 01/07/2025 đã bãi bỏ Quận (Huyện), Thành Phố thuộc Tỉnh.{{Multicol-end}}
Bênh cạnh Biên Hòa, Trảng Bom và Long Thành cũng là hai địa phương có lượng xe cơ giới lớn do sự phát triển của các địa phương và nhu cầu của người sử dụng. Huyện Trảng Bom và huyện Long Thành là 2 địa phương cấp huyện đầu tiên vượt qua mã biển số lần thứ 2 cụ thể là 60-H1 và 60-G1 của Đồng Nai nói riêng và khu vực phía Nam nói chung. Xuân Lộc cũng đã bước sang biển số mã 60-H5. Như vậy, Đồng Nai được xem là đơn vị cấp tỉnh có lượng xe cơ giới đông nhất cả nước và thứ 4 trên 63 tỉnh thành.
==Hình ảnh==
<center><gallery>
Tập tin:Một góc TX.Long Khánh.JPG|<center>Trung tâm thành phố Long Khánh</center>
Tập tin:Thị trấn Trảng Bom, Đồng Nai.JPG|<center>Thị trấn Trảng Bom, H.Trảng Bom</center>
Tập tin:Một góc thị trấn Gia Ray, Xuân Lộc, Đồng Nai.JPG|<center>Thị trấn Gia Ray, H.Xuân Lộc</center>
Tập tin:Bình Sơn, Long Thành, Đồng Nai, Việt Nam.jpg|<center>Rừng cây cao su ở H.Long Thành</center>
Tập tin:Văn Miếu Môn.jpg|<center>Cổng chính Văn Miếu<br />Trấn Biên</center>
Tập tin:TranBienKhueVanCac.jpg|<center>Khuê Văn Các ở<br />Văn Miếu Trấn Biên</center>
Tập tin:Chùa Đại Giác (Biên Hòa).jpg|<center>Chùa Đại Giác ở<br />Tp Biên Hòa</center>
Tập tin:Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh tại Cù lao Phố.jpg|<center>Đền Nguyễn Hữu Cảnh<br />Cù lao Phố, B.Hòa</center>
Tập tin:Đình Tân Lân.jpg|<center>Đình Tân Lân ở<br />Chợ Biên Hoà</center>
Tập tin:Nhà thờ Chính tòa Giáo phận Xuân Lộc.jpg|<center>[[Nhà thờ chính tòa Xuân Lộc]], phường Long Khánh</center>
Tập tin:Đá ba chồng Định Quán - panoramio.jpg|<center>[[Đá Ba Chồng]] tại<br />xã Định Quán</center>
Tập tin:Cầu Long Thành, Đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây.JPG|<center>Cầu Long Thành trên<br />Cao tốc Tp HCM -<br />Long Thành - Dầu Giây</center>
Tập tin:Ấp Bến Sắn, Phước Thiền, Nhơn Trạch, Đồng Nai, Vietnam - panoramio (5).jpg|Di tích cấp tỉnh Đình Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch
</gallery></center>
==Tham khảo==
{{Tham khảo|30em}}
==Liên kết ngoài==
*[https://www.dongnai.gov.vn Thông tin Xã hội Kinh tế] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060426025647/http://www.dost-dongnai.gov.vn/dongnai.asp |date = ngày 26 tháng 4 năm 2006}}
*[https://www.dongnai.gov.vn Phát triển công nghiệp Đồng Nai] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090422055552/http://www.dongnai.gov.vn/dong-nai/dinhhuong_phattrien/cong_nghiep |date = ngày 22 tháng 4 năm 2009}}
*[https://baodongnai.vn Báo Đồng Nai] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20191128141526/http://baodongnai.vn/ |date = ngày 28 tháng 11 năm 2019}}
{{Đơn vị hành chính cấp tỉnh Việt Nam}}
{{Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh}}
{{Huyện thị Đồng Nai}}
{{Đơn vị hành chính thuộc tỉnh Đồng Nai}}
[[Thể loại:Đông Nam Bộ]]
[[Thể loại:Đồng Nai| ]] | 69362 |
1277 | Tiếng Nga | 0 | null | null | 73486895 | 72191708 | 2025-05-04T01:01:51 | false | null | wikitext | text/x-wiki | 1dwqb21g3hxj86s85pt5csnhfcgjamk | {
"username": "Yuzuhasenkki",
"id": "981634",
"ip": null
} | {{1000 bài cơ bản}}
{{Thông tin ngôn ngữ
|name = Tiếng Nga
|nativename = {{lang|ru|русский язык}}<ref>On the history of using "русский" ("''russkiy''") and "российский" ("''rossiysky''") as the Russian adjectives denoting "Russian", see: [[Oleg Trubachyov]]. 2005. Русский – Российский. История, динамика, идеология двух атрибутов нации (pp 216–227). В поисках единства. Взгляд филолога на проблему истоков Руси. М.: Наука, 2005. http://krotov.info/libr_min/19_t/ru/bachev.htm. On the 1830s change in the Russian name of the Russian language and its causes, see: [[Tomasz Kamusella]]. 2012. The Change of the Name of the Russian Language in Russian from Rossiiskii to Russkii: Did Politics Have Anything to Do with It?(pp 73–96). ''Acta Slavica Iaponica''. Vol 32, http://src-h.slav.hokudai.ac.jp/publictn/acta/32/04Kamusella.pdf</ref> (''{{transl|ru|russkiy yazyk}}'')
|pronunciation = {{IPA|ru|ˈruskʲɪj jɪˈzɨk|Ru-russkiy jizyk.ogg}}
|states = [[Nga]] và một số nước từng thuộc [[Liên bang Xô viết]] khác
|speakers = {{sigfig|154|2}} triệu
|date = 2010
|ref = ne2010
|speakers2 = 260 triệu (Người nói [[Ngôn ngữ thứ nhất|L1]] cộng thêm người nói [[Ngôn ngữ thứ hai|L2]]) (2012)<ref>[http://www2.le.ac.uk/departments/modern-languages/lal/Languages/russian Russian language.] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20150510191322/http://www2.le.ac.uk/departments/modern-languages/lal/Languages/russian |date=2015-05-10 }} University of Leicester. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014.</ref>
|familycolor = Indo-European
|fam2 = [[Nhóm Balto-Slavic|Balto-Slavic]]
|fam3 = [[Ngữ tộc Slav|Slav]]
|fam4 = [[Nhóm ngôn ngữ Đông Slav|Đông Slav]]
|ancestor = [[Ngôn ngữ Đông Slav cổ]]
|script = [[Bảng chữ cái Kirin|Cyrillic]] ([[Bảng chữ cái tiếng Nga]])<br>[[Chữ viết Nga]]
|nation = {{collapsible list
|[[Nga]] <small>(bang)</small><ref name=RusConst>{{chú thích web|url=http://www.constitution.ru/en/10003000-01.htm |title=Article 68. Constitution of the Russian Federation |publisher=Constitution.ru |access-date = ngày 18 tháng 6 năm 2013}}</ref><br>
[[Ukraina]] <small>(bang)
[[Belarus]] <small>(bang)</small><ref name=Belarus>{{chú thích web|url=http://president.gov.by/en/press19329.html|archive-url=https://web.archive.org/web/20070502115338/http://president.gov.by/en/press19329.html|archive-date = ngày 2 tháng 5 năm 2007 |title=Article 17. Constitution of the Republic of Belarus |publisher=President.gov.by |date = ngày 11 tháng 5 năm 1998 |access-date = ngày 18 tháng 6 năm 2013}}</ref><br>
[[Kazakhstan]] <small>(chính thức)</small><ref name=Kazakhstan>{{chú thích web|author=N. Nazarbaev |url=http://www.constcouncil.kz/eng/norpb/constrk/ |archive-url=https://web.archive.org/web/20071020060732/http://www.constcouncil.kz/eng/norpb/constrk/ |archive-date = ngày 20 tháng 10 năm 2007 |title=Article 7. Constitution of the Republic of Kazakhstan |publisher=Constcouncil.kz |date = ngày 4 tháng 12 năm 2005 |access-date = ngày 18 tháng 6 năm 2013}}</ref><br>
[[Kyrgyzstan]] <small>(chính thức)</small><ref name=Kyrgyzstan>{{ru icon}} [http://www.gov.kg/?page_id=263 Статья 10. Конституция Кыргызской Республики]</ref><br>
[[Tajikistan]] <small>(cộng đồng cá sắc tộc)</small><ref name=Tajikistan>{{chú thích web |url=http://unpan1.un.org/intradoc/groups/public/documents/untc/unpan003670.htm |title=Article 2. Constitution of Tajikistan |publisher=Unpan1.un.org |access-date =ngày 18 tháng 6 năm 2013 |archive-date = ngày 25 tháng 5 năm 2017 |archive-url=https://web.archive.org/web/20170525141516/http://unpan1.un.org/intradoc/groups/public/documents/untc/unpan003670.htm |url-status=dead }}</ref><br>
[[Moldova]]:
* [[Gagauzia]] <small>(chính thức)</small><ref name=Gagauzia>{{chú thích web |author=http://www.gagauzia.md/ |url=http://www.gagauzia.md/pageview.php?l=en&idc=389&id=240 |title=Article 16. Legal code of Gagauzia (Gagauz-Yeri) |publisher=Gagauzia.md |date=ngày 5 tháng 8 năm 2008 |access-date =ngày 18 tháng 6 năm 2013 |archive-date = ngày 13 tháng 5 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20130513170728/http://www.gagauzia.md/pageview.php?l=en&idc=389&id=240 }}</ref>
''Partially recognized states:''<br>
[[Gruzia]]:
*[[Abkhazia]]<ref name="partialrecognition">Abkhazia and South Ossetia are only [[international recognition of Abkhazia and South Ossetia|partially recognized countries]]</ref><small>(chính thức)</small><ref name=Abkhazia>{{ru icon}} [https://web.archive.org/web/20090118213155/http://www.abkhaziagov.org/ru/state/sovereignty Статья 6. Конституция Республики Абхазия]</ref>
*[[Nam Ossetia]]<ref name="partialrecognition"/><small>(bang)</small><ref name=Ossetia>{{ru icon}} [https://web.archive.org/web/20090811021536/http://cominf.org/node/1127818105 Статья 4. Конституция Республики Южная Осетия]</ref>
''Quốc gia không được công nhận:''<br>
[[Moldova]]:
*[[Transnistria]] <small>(chính thức)</small><ref name=Transnistria>{{chú thích web|url=http://mfa-pmr.org/index.php?newsid=644|archive-url=https://web.archive.org/web/20110727083252/http://mfa-pmr.org/index.php?newsid=644|archive-date = ngày 27 tháng 7 năm 2011 |title=Article 12. Constitution of the Pridnestrovskaia Moldavskaia Respublica |publisher=Mfa-pmr.org |access-date = ngày 18 tháng 6 năm 2013}}</ref>
'''Tổ chức:'''<br>
{{UNO}}
* [[Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế|IAEA]]
* [[Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế|ICAO]]
*[[UNESCO]]
*[[World Health Organization|WHO]]
[[Cộng đồng các quốc gia độc lập|CIS]]<br>
[[Cộng đồng kinh tế Á-Âu|EAEC]]<br>
[[Tổ chức Hiệp ước An ninh tập thể|CSTO]]<br>
[[Tổ chức Hợp tác Thượng Hải|SCO]]<br>
[[Tập tin:OSCE logo.svg|22px]] [[Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu|OSCE]]<br>
[[Thư ký Hiệp ước Nam Cực|ATS]]<br>
[[Tập tin:ISO english logo.svg|22px]] [[ISO]]}}
|minority = {{collapsible list
|[[Romania]]<small> (Mang tính khu vực, thiêu số)</small>
* Một số thành phố ở [[Tulcea County]] và [[Constanţa County]]
[[Phần Lan]]<br>
[[Israel]]<br>
[[Litva]]<br>
[[Estonia]]<br>
[[Hoa Kỳ]]
* [[New York]] <small>(Tài liệu bầu cử<ref name="annews">{{chú thích web|url=http://public.leginfo.state.ny.us/LAWSSEAF.cgi?QUERYTYPE=LAWS+&QUERYDATA=$$ELN3-506$$@TXELN03-506+&LIST=SEA2+&BROWSER=EXPLORER+&TOKEN=54506818+&TARGET=VIEW|title=New York State Legislature}}</ref>)</small>
}}
|agency = [[Viện Ngôn ngữ Nga]]<ref>{{chú thích web |url=http://www.ruslang.ru/agens.php?id=aims |title=Russian Language Institute |publisher=Ruslang.ru |access-date =ngày 16 tháng 5 năm 2010 |archive-date = ngày 19 tháng 7 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20100719234135/http://www.ruslang.ru/agens.php?id=aims |url-status=dead }}</ref> thuộc [[Viện Khoa học Nga]]
|iso1=ru
|iso2=rus
|iso3=rus
|glotto=russ1263
|glottorefname=Russian
|lingua=53-AAA-ea < [[East Slavic languages|53-AAA-e]]<br>(varieties: 53-AAA-eaa to 53-AAA-eat)
|map = Russian language status and proficiency in the World.svg
|mapcaption = Số người nói tiếng Nga trên thế giới
|notice=IPA
}}
{{Văn hóa Nga}}
'''Tiếng Nga''' ({{langx|ru|Русский язык|Russkiy yazyk|label=none}}, {{IPA|ru|ˈruskʲɪj jɪˈzɨk|pron|Ru-russkiy jizyk.ogg}}) là một [[Nhóm ngôn ngữ Đông Slav|ngôn ngữ Đông Slav]] bản địa của [[người Nga]] ở [[Đông Âu]]. Nó là một [[ngôn ngữ chính thức]] ở [[Nga]], [[Belarus]], [[Kazakhstan]], [[Kyrgyzstan]], cũng như được sử dụng rộng rãi ở khắp các [[Các nước Baltic|quốc gia Baltic]], [[Kavkaz]] và [[Trung Á]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.gallup.com/poll/109228/russian-language-enjoying-boost-postsoviet-states.aspx|tựa đề=Russian Language Enjoying a Boost in Post-Soviet States|ngày=ngày 1 tháng 8 năm 2008|nhà xuất bản=Gallup.com|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20100518073110/http://www.gallup.com/poll/109228/Russian-Language-Enjoying-Boost-PostSoviet-States.aspx|ngày lưu trữ=ngày 18 tháng 5 năm 2010|ngày truy cập=ngày 16 tháng 5 năm 2010}}</ref><ref name="demoscope">{{Chú thích tạp chí|last=Арефьев|first=Александр|year=2006|script-title=ru:Падение статуса русского языка на постсоветском пространстве|url=http://www.demoscope.ru/weekly/2006/0251/tema01.php|journal=Демоскоп Weekly|language=ru|issue=251|archive-url=https://web.archive.org/web/20130308114703/http://www.demoscope.ru/weekly/2006/0251/tema01.php|archive-date=ngày 8 tháng 3 năm 2013}}</ref> Tiếng Nga thuộc họ [[Ngữ hệ Ấn-Âu|ngôn ngữ Ấn-Âu]], là một trong bốn thành viên còn sống của các ngôn ngữ Đông Slav, và là một phần của nhánh [[Nhóm ngôn ngữ Balt-Slav|Balto-Slavic]] lớn hơn. Tiếng Nga có những từ tương tự với [[tiếng Serbia]], [[Tiếng Bulgaria|tiếng Bungary]], [[tiếng Belarus]], [[tiếng Slovak]], [[tiếng Ba Lan]] và các ngôn ngữ khác có nguồn gốc từ nhánh Slav của ngữ hệ Ấn-Âu.
Tiếng Nga là ngôn ngữ ''thực tế'' của [[Liên Xô]] cho đến khi nó [[Liên Xô tan rã|giải thể]] vào ngày 26 tháng 12 năm 1991.<ref name="USSR">[[1977 Soviet Constitution|Constitution and Fundamental Law of the Union of Soviet Socialist Republics]], 1977: Section II, Chapter 6, Article 36</ref> Tiếng Nga được sử dụng chính thức hoặc trong đời sống công cộng ở tất cả các quốc gia hậu Xô Viết. Một số lượng lớn người nói tiếng [[Nga]] cũng có thể được tìm thấy ở các quốc gia khác, chẳng hạn như [[Israel]] và [[Mông Cổ]].
Tiếng Nga là [[Ngôn ngữ đầu tiên|ngôn ngữ mẹ đẻ]] lớn nhất ở [[Châu Âu]] và là ngôn ngữ địa lý phổ biến nhất ở [[Lục địa Á-Âu|Âu-Á]].<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.daytranslations.com/blog/2014/08/russian-eurasias-most-geographically-widespread-language-5377/|title=Russian: Eurasia's Most Geographically Widespread Language|date=ngày 4 tháng 8 năm 2014|work=Day Translations Blog}}</ref> Đây là [[Ngữ tộc Slav|ngôn ngữ Slav]] được sử dụng rộng rãi nhất, với tổng số hơn 258 triệu người nói trên toàn thế giới.<ref name=ethn>{{Chú thích web|url=https://www.ethnologue.com/language/rus|tựa đề=Russian|nhà xuất bản=Ethnologue|ngày truy cập=ngày 10 tháng 8 năm 2020}}</ref> Tiếng Nga là [[Danh sách ngôn ngữ theo tổng số người sử dụng|ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ bảy trên thế giới]] theo số người bản ngữ và là [[Danh sách ngôn ngữ theo tổng số người nói|ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ tám trên thế giới theo tổng số người nói]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www2.ignatius.edu/faculty/turner/languages.htm|tựa đề=The World's Most Widely Spoken Languages|website=Saint Ignatius High School|location=Cleveland, Ohio|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20110927062910/http://www2.ignatius.edu/faculty/turner/languages.htm|ngày lưu trữ=ngày 27 tháng 9 năm 2011|ngày truy cập=ngày 17 tháng 2 năm 2012}}</ref> Ngôn ngữ này là một trong [[Ngôn ngữ chính thức của Liên Hợp Quốc|sáu ngôn ngữ chính thức]] của [[Liên hợp quốc]]. Tiếng Nga cũng là ngôn ngữ phổ biến thứ hai trên [[Các ngôn ngữ được sử dụng trên Internet|Internet]], sau [[tiếng Anh]].<ref>{{Chú thích web|url=https://w3techs.com/technologies/overview/content_language|tựa đề=Usage Statistics and Market Share of Content Languages for Websites, February 2020|website=w3techs.com|ngày truy cập=ngày 16 tháng 2 năm 2020}}</ref>
Tiếng Nga phân biệt giữa [[Phụ âm|âm]] [[Âm vị|vị]] [[Phụ âm|phụ]] [[Âm vị|âm]] có phát [[Palatalization (ngữ âm)|âm]] [[Khớp nối thứ cấp|phụ âm]] và những [[Phụ âm|âm]] [[Âm vị|vị]] không có, được gọi là ''âm mềm'' và âm ''cứng''. Hầu hết mọi phụ âm đều có đối âm cứng hoặc mềm, và sự phân biệt là đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ. Một khía cạnh quan trọng khác là [[Giảm nguyên âm|giảm]] các [[nguyên âm]] [[Căng thẳng (ngôn ngữ học)|không nhấn]]. [[dấu sắc|Trọng âm]], không thể đoán trước, thường không được biểu thị [[Chính tả|chính xác]] {{Sfn|Timberlake|2004|p=17}} mặc dù [[dấu sắc|trọng âm cấp tính]] tùy chọn có thể được sử dụng để đánh dấu [[Căng thẳng (ngôn ngữ học)|trọng âm]], chẳng hạn như để phân biệt giữa các từ [[từ cùng chữ|đồng âm]], ví dụ замо́к (''zamók'' - ổ khóa) và за́мок (''zámok'' - lâu đài), hoặc để chỉ ra cách phát âm thích hợp của các từ hoặc tên không phổ biến.
== Phân loại ==
Tiếng Nga là một [[Nhóm ngôn ngữ Đông Slav|ngôn ngữ Đông Slav]] thuộc hệ [[Ngữ hệ Ấn-Âu|Ấn-Âu]]. Nó là hậu duệ của ngôn ngữ được sử dụng trong [[Rus' Kiev|Kievan Rus ']], một tập đoàn lỏng lẻo của [[Đông Slav|các]] bộ lạc [[Đông Slav]] từ cuối thế kỷ 9 đến giữa thế kỷ 13. Theo quan điểm của [[ngôn ngữ nói]], họ hàng gần nhất của nó là [[tiếng Ukraina]], [[tiếng Belarus]] và tiếng [[Tiếng Rusyn|Rusyn]],<ref>{{Chú thích web|url=http://www.ezglot.com/most-similar-languages.php?l=rus|tựa đề=Most similar languages to Russian|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20170525141518/http://www.ezglot.com/most-similar-languages.php?l=rus|ngày lưu trữ=ngày 25 tháng 5 năm 2017}}</ref> ba ngôn ngữ khác trong nhánh Đông Slav. Ở nhiều nơi ở miền đông và miền nam [[Ukraina|Ukraine]] và khắp [[Belarus]], những ngôn ngữ này được sử dụng thay thế cho nhau, và ở một số khu vực nhất định, song ngữ truyền thống đã dẫn đến sự hỗn hợp ngôn ngữ như tiếng [[Surzhyk]] ở miền đông Ukraine và [[Trasianka]] ở [[Belarus]]. Một [[phương ngữ Novgorod cổ]] Đông Slavic, mặc dù nó đã biến mất trong thế kỷ 15 hoặc 16, đôi khi được coi là đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành tiếng Nga hiện đại. Ngoài ra, tiếng Nga cũng có những điểm tương đồng từ vựng đáng chú ý với tiếng Bungari do ảnh hưởng chung về [[Nhà thờ Slavonic|tiếng Slav của Nhà thờ]] đối với cả hai ngôn ngữ, cũng như do sự tương tác muộn hơn vào thế kỷ 19 và 20, ngữ pháp tiếng Bungari khác hẳn với tiếng Nga.{{sfn|Sussex|Cubberley|2006|pp=477–478, 480}} Vào thế kỷ 19 (ở Nga cho đến năm 1917), ngôn ngữ này thường được gọi là " [[Tiếng Nga tuyệt vời|Tiếng Nga vĩ đại]] " để phân biệt với tiếng Belarus, sau đó được gọi là "Tiếng Nga trắng" và tiếng Ukraina, sau đó được gọi là "Tiếng Nga nhỏ".
[[Từ vựng]] (chủ yếu là các từ trừu tượng và văn học), các nguyên tắc hình thành từ, và, ở một mức độ nào đó, cách hiểu và phong cách văn học của tiếng Nga cũng bị ảnh hưởng bởi [[Ngôn ngữ Slav của nhà thờ|Church Slavonic]], một dạng ngôn ngữ [[Tiếng Slav Giáo hội cổ|Slavonic Nhà thờ cổ]] [[Nhóm ngôn ngữ Slav Nam|Nam Slav]] được sử dụng một phần. của [[Giáo hội Chính thống giáo Nga|Nhà thờ Chính thống Nga]]. Tuy nhiên, các hình thức Đông Slav có xu hướng chỉ được sử dụng trong các phương ngữ khác nhau đang bị suy giảm nhanh chóng. Trong một số trường hợp, cả hai dạng [[Nhà thờ Slavonic|Slavonic]] Đông và [[Giáo hội Slavonic]] đều được sử dụng, với nhiều ý nghĩa khác nhau. ''Để biết chi tiết, xem [[Âm vị học Nga|Âm vị học tiếng Nga]] và [[Lịch sử của ngôn ngữ Nga|Lịch sử ngôn ngữ Nga]].''
Qua nhiều thế kỷ, từ vựng và phong cách văn học của tiếng Nga cũng bị ảnh hưởng bởi các ngôn ngữ Tây Âu và Trung Âu như [[Tiếng Hy Lạp|Hy Lạp]], [[Tiếng Latinh|Latinh]], [[Tiếng Ba Lan|Ba Lan]], [[Tiếng Hà Lan|Hà Lan]], [[Tiếng Đức|Đức]], [[Tiếng Pháp|Pháp]], [[Tiếng Ý|Ý]] và [[Tiếng Anh|Anh]], và ở một mức độ thấp hơn các ngôn ngữ ở phía nam và phía đông: tiếng [[Ngữ hệ Ural|Uralic]], [[Ngữ hệ Turk|tiếng Turkic]],<ref>{{Chú thích tạp chí|last=Waterson|first=Natalie|year=1955|title=The Turkic Languages of Central Asia: Problems of Planned Culture Contact by Stefan Wurm|journal=Bulletin of the School of Oriental and African Studies, University of London|volume=17|issue=2|pages=392–394|doi=10.1017/S0041977X00111954|jstor=610442| issn=0041-977X }}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://roa.rutgers.edu/files/491-0102/491-0102-GOUSKOVA-0-0.PDF|tựa đề=Falling Sonoroty Onsets, Loanwords, and Syllable contact|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20150505092913/http://roa.rutgers.edu/files/491-0102/491-0102-GOUSKOVA-0-0.PDF|ngày lưu trữ=ngày 5 tháng 5 năm 2015|ngày truy cập=ngày 4 tháng 5 năm 2015}}</ref> [[tiếng Ba Tư]],<ref>{{Chú thích web|url=http://roa.rutgers.edu/content/article/files/1317_hashemi_1.pdf|tựa đề=Russian Loanword Adoptation in Persian; Optimal Approach|tác giả=Aliyeh Kord Zafaranlu Kambuziya|tác giả 2=Eftekhar Sadat Hashemi|năm=2010|website=roa.rutgers.edu|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20150505092721/http://roa.rutgers.edu/content/article/files/1317_hashemi_1.pdf|ngày lưu trữ=ngày 5 tháng 5 năm 2015|ngày truy cập=ngày 4 tháng 5 năm 2015}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí|last=Iraj Bashiri|year=1990|title=Russian Loanwords in Persian and Tajiki Language|url=https://www.academia.edu/10442551|archive-url=https://web.archive.org/web/20160530193133/http://www.academia.edu/10442551/Russian_Loanwords_in_Persian_and_Tajiki_Languages|archive-date=ngày 30 tháng 5 năm 2016|access-date =ngày 4 tháng 5 năm 2015}}</ref> và [[tiếng Ả Rập]], cũng như [[Tiếng Hebrew|tiếng Do Thái]].<ref>Colin Baker, Sylvia Prys Jones [https://books.google.com/books?id=YgtSqB9oqDIC&pg=PA219&dq=russian+loanwords+in+hebrew&hl=nl&sa=X&ei=Y75GVbmtKomuUe25gbAJ&ved=0CEEQ6AEwAw#v=onepage&q=russian%20loanwords%20in%20hebrew&f=false ''Encyclopedia of Bilingualism and Bilingual Education''] pp 219 Multilingual Matters, 1998 {{ISBN|1-85359-362-1}}</ref>
Theo [[Học viện Ngôn ngữ Quốc phòng]] ở [[Monterey|Monterey, California]], tiếng Nga được phân loại là ngôn ngữ cấp III về mức độ khó học đối với người nói [[tiếng Anh]] bản ngữ, cần khoảng 1.100 giờ giảng dạy để đạt được độ trôi chảy trung bình.<ref>{{Chú thích web|url=http://aboutworldlanguages.com/language-difficulty|tựa đề=Language Learning Difficulty|tác giả=Thompson|tên=Irene|url lưu trữ=http://archive.wikiwix.com/cache/20140527094808/http://aboutworldlanguages.com/language-difficulty|ngày lưu trữ=ngày 27 tháng 5 năm 2014|ngày truy cập=ngày 25 tháng 5 năm 2014}}</ref> Nó cũng được [[Cộng đồng Tình báo Hoa Kỳ]] coi là ngôn ngữ "mục tiêu khó", do cả những người nói tiếng Anh khó thành thạo và vai trò quan trọng của nó trong [[Chính sách đối ngoại của Mỹ|chính sách thế giới của Hoa Kỳ]].
== Tiếng Nga tiêu chuẩn ==
Những chia rẽ và xung đột phong kiến cũng như những trở ngại khác đối với việc trao đổi hàng hóa và tư tưởng mà các chính thể Nga cổ đại đã phải gánh chịu trước đây và đặc biệt là dưới ách thống trị của người Mông Cổ đã củng cố sự khác biệt biện chứng và trong một thời gian đã ngăn cản sự xuất hiện của ngôn ngữ quốc gia được chuẩn hóa. Sự hình thành của nhà nước Nga thống nhất và tập trung vào thế kỷ XV và XVI và sự xuất hiện dần dần của một không gian chính trị, kinh tế và văn hóa chung đã tạo ra nhu cầu về một ngôn ngữ chuẩn chung. Sự thúc đẩy ban đầu cho việc tiêu chuẩn hóa đến từ bộ máy hành chính của chính phủ vì việc thiếu một công cụ giao tiếp đáng tin cậy trong các vấn đề hành chính, pháp lý và tư pháp đã trở thành một vấn đề thực tế rõ ràng. Những nỗ lực sớm nhất trong việc chuẩn hóa tiếng Nga được thực hiện dựa trên cái gọi là ngôn ngữ chính thức hoặc thủ tướng Moscow. Kể từ đó, logic cơ bản của cải cách ngôn ngữ ở Nga chủ yếu phản ánh những cân nhắc về việc tiêu chuẩn hóa và hợp lý hóa các quy tắc và chuẩn mực ngôn ngữ để đảm bảo vai trò của tiếng Nga như một công cụ giao tiếp và hành chính thực tế.<ref>{{Chú thích sách|url=https://www.palgrave.com/us/book/9781137325044|title=Languages, Regional Conflicts and Economic Development: Russia. In: Ginsburgh, V., Weber, S. (Eds.). The Palgrave Handbook of Economics and Language.|last=Kadochnikov|first=Denis|publisher=Palgrave Macmillan.|year=2016|isbn=|location=London|pages=538–580}}</ref>
Hình thức chuẩn hiện tại của tiếng Nga thường được coi là ''ngôn ngữ văn học Nga hiện đại'' ({{Lang|ru|современный русский литературный язык}} - "sovremenny russky literaturny yazyk"). Nó xuất hiện vào đầu thế kỷ XVIII với những cải cách hiện đại hóa của nhà nước Nga dưới sự cai trị của [[Pyotr I của Nga|Peter Đại đế]], và được phát triển từ phương ngữ Moscow ([[Phương ngữ Trung Nga|Trung hoặc Trung Nga]]) dưới ảnh hưởng của một số ngôn ngữ thủ tướng Nga của thế kỷ trước.
[[Mikhail Vasilyevich Lomonosov|Mikhail Lomonosov]] lần đầu tiên biên soạn một cuốn sách chuẩn hóa ngữ pháp vào năm 1755; năm 1783, từ điển tiếng Nga giải thích đầu tiên của [[Học viện Nga|Viện Hàn lâm]] Nga xuất hiện. Vào cuối thế kỷ XVIII và XIX, thời kỳ được gọi là "Thời kỳ hoàng kim", ngữ pháp, từ vựng và cách phát âm của tiếng Nga đã được ổn định và chuẩn hóa, và nó trở thành ngôn ngữ văn học toàn quốc; trong khi đó, nền văn học nổi tiếng thế giới của Nga lại phát triển mạnh mẽ.
Cho đến thế kỷ XX, hình thức nói của ngôn ngữ này là ngôn ngữ chỉ của tầng lớp quý tộc thượng lưu và dân cư thành thị, vì nông dân Nga từ nông thôn tiếp tục nói tiếng địa phương của họ. Vào giữa thế kỷ XX, những phương ngữ như vậy đã bị loại bỏ với sự ra đời của hệ thống giáo dục bắt buộc do [[chính phủ Liên Xô]] thiết lập. Mặc dù đã chính thức hóa tiếng Nga chuẩn, một số đặc điểm phương ngữ không chuẩn (chẳng hạn như tiếng {{IPA|[ɣ]}} fricative trong [[phương ngữ miền Nam Nga]]) vẫn được quan sát thấy trong ngôn ngữ nói thông tục.
== Phân bố địa lý ==
[[Tập tin:Russian_ex-USSR_2004.PNG|nhỏ|Năng lực tiếng Nga ở các nước thuộc Liên Xô cũ (trừ Nga), 2004]]
Năm 2010, có 259,8 triệu người nói tiếng Nga trên thế giới: ở Nga - 137,5 triệu, ở các [[Cộng đồng các Quốc gia Độc lập|nước SNG]] và Baltic - 93,7 triệu, ở Đông Âu - 12,9 triệu, Tây Âu - 7,3 triệu, châu Á - 2,7 triệu, Trung Đông và Bắc Phi - 1,3 triệu, Châu Phi cận Sahara - 0,1 triệu, Mỹ Latinh - 0,2 triệu, Mỹ, Canada, Úc và New Zealand - 4,1 triệu người nói. Do đó, tiếng Nga [[Lists of languages by number of speakers|đứng thứ bảy trên thế giới về số lượng người nói]], sau tiếng Anh, tiếng Quan Thoại, tiếng Hindi-Urdu, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Ả Rập và tiếng Bồ Đào Nha.<ref name="demoscope.ru">{{Chú thích web|url=http://demoscope.ru/weekly/2013/0571/tema02.php|tựa đề=Демографические изменения - не на пользу русскому языку|nhà xuất bản=Demoscope.ru|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20140805090035/http://demoscope.ru/weekly/2013/0571/tema02.php|ngày lưu trữ=ngày 5 tháng 8 năm 2014|ngày truy cập=ngày 23 tháng 4 năm 2014}}</ref><ref name="Ethnologue-rating-2018">{{Chú thích web|url=http://www.ethnologue.com/statistics/size|tựa đề=Statistical Summaries. Summary by language size. Language size|ngày=ngày 21 tháng 2 năm 2018|editor=Lewis, M. Paul|họ biên tập 2=Gary F. Simons|website=[[Ethnologue|Ethnologue: Languages of the World]]|nhà xuất bản=[[SIL International]]|location=Dallas|ngôn ngữ=en|họ biên tập 3=Charles D. Fennig|ấn bản=21st}}</ref><ref name="Арефьев А. Л. Сжимающееся русскоязычие">{{Chú thích web|url=http://demoscope.ru/weekly/2013/0571/tema02.php|tựa đề=Сжимающееся русскоязычие. Демографические изменения — не на пользу русскому языку|tác giả=Арефьев А. Л.|ngày=ngày 31 tháng 10 năm 2013|website=[[Демоскоп Weekly]]}}</ref>
Tiếng Nga là một trong [[Ngôn ngữ chính thức của Liên Hợp Quốc|sáu ngôn ngữ chính thức]] của [[Liên hợp quốc]]. Giáo dục bằng tiếng Nga vẫn là một lựa chọn phổ biến đối với cả người Nga là ngôn ngữ thứ hai (RSL) và người bản ngữ ở [[Nga]] cũng như nhiều nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ. Tiếng Nga vẫn được coi là một ngôn ngữ quan trọng cho trẻ em học ở hầu hết các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ.<ref name="gallup2008">[http://www.gallup.com/poll/112270/Russias-Language-Could-Ticket-Migrants.aspx Russia's Language Could Be Ticket in for Migrants] [[Tổ chức Gallup|Gallup]] Retrieved on ngày 26 tháng 5 năm 2010</ref>
=== Châu Âu ===
[[Tập tin:Ukraine_census_2001_Russian.svg|phải|nhỏ|240x240px|Tỷ lệ phần trăm người dân [[Ukraina]] sử dụng tiếng Nga là ngôn ngữ mẹ đẻ của họ theo điều tra dân số năm 2001 (ở các vùng).]]
Ở [[Belarus]], tiếng Nga là ngôn ngữ nhà nước thứ hai cùng với tiếng Belarus theo [[Hiến pháp Belarus]].<ref name="fundeh1">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> 77% dân số thông thạo tiếng Nga vào năm 2006 và 67% sử dụng nó làm ngôn ngữ chính trong gia đình, bạn bè hoặc tại nơi làm việc.<ref name="demoscope3293">{{Chú thích web|url=http://demoscope.ru/weekly/2008/0329/tema03.php|tựa đề=Русскоязычие распространено не только там, где живут русские|website=demoscope.ru|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20161023011719/http://www.demoscope.ru/weekly/2008/0329/tema03.php|ngày lưu trữ=ngày 23 tháng 10 năm 2016}}</ref>
Ở [[Estonia]], 29,6% dân số nói tiếng Nga theo ước tính năm 2011 từ World Factbook.<ref name="bookoffact4">{{Chú thích web|url=https://www.cia.gov/Library/publications/the-world-factbook/fields/2098.html|tựa đề=Languages|nhà xuất bản=The World Factbook|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20090513125710/https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/fields/2098.html|ngày lưu trữ=ngày 13 tháng 5 năm 2009|ngày truy cập=ngày 26 tháng 4 năm 2015}}</ref> và chính thức được coi là ngoại ngữ.<ref name="fundeh12">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> Giáo dục trường học bằng tiếng Nga là một điểm rất bị coi thường trong chính trị Estonia nhưng đã có những hứa hẹn vào năm 2019 rằng những trường học như vậy sẽ vẫn mở trong tương lai gần.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.err.ee/978833/mailis-reps-haridusest-venekeelsed-koolid-ei-kao|tựa đề=Mailis Reps haridusest: venekeelsed koolid ei kao|tác giả=ERR|ngày=2019-09-10|website=ERR|ngôn ngữ=et|ngày truy cập=2020-08-19}}</ref>
Ở [[Latvia]], tiếng Nga chính thức được coi là một ngoại ngữ.<ref name="fundeh13">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> 55% dân số thông thạo tiếng Nga vào năm 2006 và 26% sử dụng nó làm ngôn ngữ chính trong gia đình, bạn bè hoặc tại nơi làm việc.<ref name="demoscope3293"/> Vào ngày 18 tháng 2 năm 2012, Latvia đã tổ chức một [[Cuộc trưng cầu dân ý về hiến pháp năm 2012 của Latvia|cuộc trưng cầu dân ý]] về [[Cuộc trưng cầu dân ý về hiến pháp năm 2012 của Latvia|hiến pháp]] về việc có chấp nhận tiếng Nga là ngôn ngữ chính thức thứ hai hay không.<ref>{{Chú thích web|url=http://web.cvk.lv/pub/public/28361.html/|tựa đề=Referendum on the Draft Law 'Amendments to the Constitution of the Republic of Latvia'|năm=2012|nhà xuất bản=Central Election Commission of Latvia|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20120502013728/http://web.cvk.lv/pub/public/28361.html|ngày lưu trữ=ngày 2 tháng 5 năm 2012|ngày truy cập=ngày 2 tháng 5 năm 2012}}</ref> Theo Ủy ban Bầu cử Trung ương, 74,8% bỏ phiếu chống, 24,9% bỏ phiếu tán thành và tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu là 71,1%.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.tn2012.cvk.lv/|tựa đề=Results of the referendum on the Draft Law 'Amendments to the Constitution of the Republic of Latvia'|năm=2012|nhà xuất bản=Central Election Commission of Latvia|ngôn ngữ=Latvian|ngày truy cập=ngày 2 tháng 5 năm 2012}}</ref> Bắt đầu từ năm 2019, việc giảng dạy bằng [[Tiếng Nga ở Latvia|tiếng Nga]] sẽ dần dần bị ngừng trong các trường cao đẳng và đại học tư nhân ở [[Latvia]], cũng như chương trình giảng dạy chung trong các trường trung học công lập của Latvia.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.dw.com/en/latvia-pushes-majority-language-in-schools-leaving-parents-miffed/a-45385830|title=Latvia pushes majority language in schools, leaving parents miffed|date=ngày 8 tháng 9 năm 2018|agency=Deutsche Welle}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=https://www.telegraph.co.uk/news/2018/04/03/moscow-threatens-sanctions-against-latvia-removal-russian-secondary/|title=Moscow threatens sanctions against Latvia over removal of Russian from secondary schools|date=ngày 3 tháng 4 năm 2018|work=The Daily Telegraph}}</ref>
Ở [[Litva]], tiếng Nga là không chính thức, nhưng nó vẫn giữ chức năng của một ''[[lingua franca]]''.<ref name="fundeh14">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> Trái ngược với hai quốc gia Baltic khác, Litva có một nhóm thiểu số nói tiếng Nga tương đối nhỏ (5,0% tính đến năm 2008).<ref name="andrlik">{{Chú thích web|url=http://alppi.eu/wp-content/uploads/2009/11/Andrlik_2009.pdf|tựa đề=''Ethnic and Language Policy of the Republic of Lithuania: Basis and Practice'', Jan Andrlík|nhà xuất bản=|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160403213425/http://alppi.eu/wp-content/uploads/2009/11/Andrlik_2009.pdf|ngày lưu trữ=ngày 3 tháng 4 năm 2016}}</ref>
Ở [[Moldova]], tiếng Nga được coi là ngôn ngữ giao tiếp giữa các sắc tộc theo luật từ thời Liên Xô.<ref name="fundeh15">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> 50% dân số thông thạo tiếng Nga vào năm 2006 và 19% sử dụng nó làm ngôn ngữ chính trong gia đình, bạn bè hoặc tại nơi làm việc.<ref name="demoscope3293"/>
Theo [[Điều tra dân số Nga (2010)|điều tra dân số năm 2010 ở Nga]], 138 triệu người (99,4% số người được hỏi) chỉ ra kỹ năng tiếng Nga, trong khi theo [[Điều tra dân số Nga (2002)|điều tra dân số năm 2002 là]] 142,6 triệu người (99,2% số người được hỏi).<ref>{{Chú thích web|url=http://demoscope.ru/weekly/2011/0491/perep01.php|tựa đề=Демоскоп Weekly. Об итогах Всероссийской переписи населения 2010 года. Сообщение Росстата|ngày=ngày 8 tháng 11 năm 2011|nhà xuất bản=Demoscope.ru|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20141018055149/http://www.demoscope.ru/weekly/2011/0491/perep01.php|ngày lưu trữ=ngày 18 tháng 10 năm 2014|ngày truy cập=ngày 23 tháng 4 năm 2014}}</ref>
Ở [[Ukraina|Ukraine]], tiếng Nga được coi là ngôn ngữ giao tiếp giữa các sắc tộc và là ngôn ngữ thiểu số, theo [[Hiến pháp Ukraina]] năm 1996.<ref name="fundeh16">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> Theo ước tính từ Demoskop Weekly, trong năm 2004, có 14.400.000 người bản ngữ nói tiếng Nga trong cả nước và 29 triệu người nói năng động.<ref name="demoscope251">{{Chú thích web|url=http://demoscope.ru/weekly/2006/0251/tema01.php|tựa đề=Падение статуса русского языка на постсоветском пространстве|website=demoscope.ru|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20161025204352/http://demoscope.ru/weekly/2006/0251/tema01.php|ngày lưu trữ=ngày 25 tháng 10 năm 2016}}</ref> 65% dân số thông thạo tiếng Nga vào năm 2006 và 38% sử dụng nó làm ngôn ngữ chính trong gia đình, bạn bè hoặc tại nơi làm việc.<ref name="demoscope3293"/> Vào ngày 5 tháng 9 năm 2017, Quốc hội Ukraine đã thông qua [[Ukraina hóa|luật giáo dục mới]] cấm giáo dục tiểu học đối với tất cả học sinh bằng bất kỳ ngôn ngữ nào trừ [[Tiếng Ukraina|tiếng Ukraine]].<ref>{{Chú thích báo|url=https://calrev.org/2019/03/28/upcoming-elections-and-ukrainian-ultra-nationalism/?v=7516fd43adaa|title=Upcoming Elections and Ukrainian "Ultra-nationalism"|last=Genin|first=Aaron|date=ngày 28 tháng 3 năm 2019|work=The California Review|access-date =ngày 16 tháng 7 năm 2019|archive-date = ngày 23 tháng 7 năm 2020 |archive-url=https://web.archive.org/web/20200723044753/https://calrev.org/2019/03/28/upcoming-elections-and-ukrainian-ultra-nationalism/?v=7516fd43adaa}}</ref> Đạo luật này vấp phải sự chỉ trích từ các quan chức ở Nga.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.irishtimes.com/news/world/europe/ukraine-defends-education-reform-as-hungary-promises-pain-1.3235916|title=Ukraine defends education reform as Hungary promises 'pain'|date=ngày 27 tháng 9 năm 2017|work=The Irish Times}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=https://www.rferl.org/a/ukraine-language-legislation-minority-languages-russia-hungary-romania/28753925.html|title=Ukrainian Language Bill Facing Barrage Of Criticism From Minorities, Foreign Capitals|date=ngày 24 tháng 9 năm 2017|work=[[Radio Free Europe/Radio Liberty]]}}</ref>
Vào thế kỷ 20, tiếng Nga là ngôn ngữ bắt buộc được dạy trong trường học của các thành viên của [[Khối Warszawa|Khối Hiệp ước Warsaw]] cũ và ở các [[Nhà nước cộng sản|quốc gia khác]] từng là vệ tinh của Liên Xô. Theo khảo sát của Eurobarometer năm 2005,<ref>{{Chú thích web|url=http://ec.europa.eu/education/languages/pdf/doc631_en.pdf|tựa đề=Europeans and their Languages|năm=2006|website=europa.eu|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20090521033643/http://ec.europa.eu/education/languages/pdf/doc631_en.pdf|ngày lưu trữ=ngày 21 tháng 5 năm 2009}}</ref> khả năng thông thạo tiếng Nga vẫn khá cao (20–40%) ở một số quốc gia, đặc biệt là những quốc gia mà người dân nói tiếng [[Ngữ tộc Slav|Slav]] và do đó có lợi thế trong việc học tiếng Nga. (cụ thể là Ba Lan, Cộng hòa Séc, Slovakia và Bulgaria).
Các nhóm nói tiếng Nga đáng kể cũng tồn tại ở [[Tây Âu]]. Những điều này đã được nuôi dưỡng bởi một số làn sóng người nhập cư kể từ đầu thế kỷ 20, mỗi nơi đều có hương vị ngôn ngữ riêng. [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Vương quốc Anh]], [[Đức]], [[Phần Lan]], [[Tây Ban Nha]], [[Bồ Đào Nha]], [[Pháp]], [[Ý]], [[Bỉ]], [[Hy Lạp]], [[Na Uy]] và [[Áo]] có cộng đồng nói tiếng Nga đáng kể.
=== Châu Á ===
Ở [[Armenia]], tiếng Nga không có địa vị chính thức, nhưng nó được công nhận là ngôn ngữ thiểu số theo [[Công ước khung về bảo vệ người thiểu số quốc gia]].<ref name="fundeh17">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> 30% dân số thông thạo tiếng Nga vào năm 2006 và 2% sử dụng nó làm ngôn ngữ chính trong gia đình, bạn bè hoặc tại nơi làm việc.<ref name="demoscope3293"/>
Ở [[Azerbaijan]], tiếng Nga không có địa vị chính thức, nhưng là một ''lingua franca'' của đất nước này.<ref name="fundeh18">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> 26% dân số thông thạo tiếng Nga vào năm 2006 và 5% sử dụng nó làm ngôn ngữ chính trong gia đình, bạn bè hoặc tại nơi làm việc.<ref name="demoscope3293"/>
Ở [[Trung Quốc]], tiếng Nga không có địa vị chính thức, nhưng nó được sử dụng bởi các [[Người Nga (Trung Quốc)|cộng đồng nhỏ người Nga]] ở tỉnh [[Hắc Long Giang]], đông bắc nước này.
Ở [[Gruzia]], tiếng Nga không có địa vị chính thức, nhưng nó được công nhận là ngôn ngữ thiểu số theo [[Công ước Khung về Bảo vệ Người thiểu số Quốc gia]].<ref name="fundeh19">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> Theo World Factbook, tiếng Nga là ngôn ngữ của 9% dân số.<ref>{{CIA World Factbook link|gg|Georgia}}</ref> Ethnologue coi tiếng Nga là ngôn ngữ làm việc trên thực tế của đất nước này.<ref name=ethn/>
Ở [[Kazakhstan]], tiếng Nga không phải là ngôn ngữ nhà nước, nhưng theo Điều 7 của [[Hiến pháp của Kazakhstan|Hiến pháp Kazakhstan,]] cách sử dụng của nó được hưởng địa vị bình đẳng như [[Tiếng Kazakh|ngôn ngữ Kazakhstan]] trong hành chính nhà nước và địa phương.<ref name="fundeh110">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> Điều tra dân số năm 2009 báo cáo rằng 10.309.500 người, chiếm 84,8% dân số từ 15 tuổi trở lên, có thể đọc và viết tốt tiếng Nga, cũng như hiểu ngôn ngữ nói.<ref name="kazcensus">{{Chú thích web|url=http://liportal.giz.de/fileadmin/user_upload/oeffentlich/Kasachstan/40_gesellschaft/Kaz2009_Analytical_report.pdf|tựa đề=Results Of The 2009 National Population Census Of The Republic Of Kazakhstan|nhà xuất bản=Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit|ngày truy cập=ngày 31 tháng 10 năm 2015|archive-date=2021-06-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210615010100/https://liportal.giz.de/fileadmin/user_upload/oeffentlich/Kasachstan/40_gesellschaft/Kaz2009_Analytical_report.pdf|url-status=dead}}</ref>
Ở [[Kyrgyzstan]], tiếng Nga là ngôn ngữ đồng chính thức theo điều 5 của [[Hiến pháp của Kyrgyzstan|Hiến pháp Kyrgyzstan]].<ref name="fundeh111">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> Điều tra dân số năm 2009 cho biết 482.200 người nói tiếng Nga như ngôn ngữ mẹ đẻ, chiếm 8,99% dân số.<ref name="kyrcen">{{Chú thích web|url=http://unstats.un.org/unsd/demographic/sources/census/2010_phc/Kyrgyzstan/A5-2PopulationAndHousingCensusOfTheKyrgyzRepublicOf2009.pdf|tựa đề=Population And Housing Census Of The Kyrgyz Republic Of 2009|nhà xuất bản=UN Stats|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20120710092216/http://unstats.un.org/unsd/demographic/sources/census/2010_PHC/Kyrgyzstan/A5-2PopulationAndHousingCensusOfTheKyrgyzRepublicOf2009.pdf|ngày lưu trữ=ngày 10 tháng 7 năm 2012|ngày truy cập=ngày 1 tháng 11 năm 2015}}</ref> Ngoài ra, 1.854.700 cư dân Kyrgyzstan từ 15 tuổi trở lên nói thành thạo tiếng Nga như ngôn ngữ thứ hai, chiếm 49,6% dân số trong độ tuổi.<ref name="kyrcen" />
Ở [[Tajikistan]], tiếng Nga là ngôn ngữ giao tiếp giữa các sắc tộc theo [[Hiến pháp Tajikistan]] và được phép sử dụng trong các tài liệu chính thức.<ref name="fundeh112">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> 28% dân số thông thạo tiếng Nga vào năm 2006 và 7% sử dụng nó làm ngôn ngữ chính trong gia đình, bạn bè hoặc tại nơi làm việc.<ref name="demoscope3293"/> World Factbook lưu ý rằng tiếng Nga được sử dụng rộng rãi trong chính phủ và doanh nghiệp.<ref name="bookoffact4"/>
Tại [[Turkmenistan]], tiếng Nga mất vị trí là ''lingua franca'' chính thức vào năm 1996.<ref name="fundeh113">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref> Tiếng Nga được 12% dân số nói theo một ước tính chưa xác định từ World Factbook.<ref name="bookoffact4"/> Tuy nhiên, báo chí và trang web của nhà nước Turkmen thường xuyên đăng tải tài liệu bằng tiếng Nga và có tờ báo tiếng Nga [[Neytralny Turkmenistan]], kênh truyền hình [[Turkmenistan (kênh truyền hình)|TV4]], và có những trường học như [[Trường trung học liên cấp Turkmen-Nga|Trường Trung học Liên cấp Turkmen-Russian]]
Ở [[Uzbekistan]], tiếng Nga là ngôn ngữ giao tiếp giữa các sắc tộc trong quốc gia. Nó có một số vai trò chính thức, được cho phép trong tài liệu chính thức và là '''lingua franca''' của đất nước và ngôn ngữ của giới thượng lưu.<ref name="fundeh114">{{Chú thích web|url=http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|tựa đề=Archived copy|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160304122143/http://www.fundeh.org/files/publications/90/vedenie_obshchee_sostoyanie_russkogo_yazyka.pdf|ngày lưu trữ=ngày 4 tháng 3 năm 2016|ngày truy cập=ngày 16 tháng 10 năm 2015}}</ref><ref name="UZB">{{Chú thích web|url=https://www.justice.gov/sites/default/files/eoir/legacy/2013/11/08/Law_on_official_language.pdf|tựa đề=Law on Official Language|nhà xuất bản=Government of Uzbekistan|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20170129231323/https://www.justice.gov/sites/default/files/eoir/legacy/2013/11/08/Law_on_official_language.pdf|ngày lưu trữ=ngày 29 tháng 1 năm 2017|ngày truy cập=ngày 2 tháng 12 năm 2016}}</ref> Tiếng Nga được 14,2% dân số nói theo một ước tính không xác định từ World Factbook.<ref name="bookoffact4"/>
Năm 2005, tiếng Nga là ngoại ngữ được giảng dạy rộng rãi nhất ở [[Mông Cổ]],<ref>{{Chú thích báo|url=https://nytimes.com/2005/02/15/international/asia/15mongolia.html?_r=2&pagewanted=all|title=For Mongolians, E Is for English, F Is for Future|last=Brooke|first=James|date=ngày 15 tháng 2 năm 2005|work=[[The New York Times]]|access-date =ngày 16 tháng 5 năm 2009|archive-url=https://web.archive.org/web/20110614225411/http://www.nytimes.com/2005/02/15/international/asia/15mongolia.html?_r=2&pagewanted=all|archive-date=ngày 14 tháng 6 năm 2011}}</ref> và bắt buộc từ lớp 7 trở đi như một ngoại ngữ thứ hai vào năm 2006.<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.nr2.ru/83966.html|date=ngày 21 tháng 9 năm 2006|access-date =ngày 16 tháng 5 năm 2009|archive-url=https://web.archive.org/web/20081009170315/http://www.nr2.ru/83966.html|archive-date=ngày 9 tháng 10 năm 2008|agency=New Region|language=ru|script-title=ru:Русский язык в Монголии стал обязательным|trans-title=Russian language has become compulsory in Mongolia}}</ref>
Tiếng Nga cũng được nói ở [[Israel]]. Số lượng người Israel nói tiếng Nga bản địa chiếm khoảng 1,5 triệu người Israel,<ref>[http://www.forbes.ru/finansy-i-investicii/340519-rossiysko-izrailskie-ekonomicheskie-svyazi-ne-tolko-neft-na К визиту Нетаньяху: что Россия может получить от экономики Израиля] Алексей Голубович, Forbes Russia, ngày 9 tháng 3 năm 2017</ref> 15% dân số.<ref>{{Chú thích web|url=http://windowoneurasia2.blogspot.com/2019/06/percentage-of-native-speakers-of.html|tựa đề=Window on Eurasia -- New Series: Percentage of Native Speakers of Russian Higher in Israel than in Most Former Soviet Republics|tác giả=Goble|tên=Paul|ngày=ngày 12 tháng 6 năm 2019|website=Window on Eurasia -- New Series|ngày truy cập=ngày 12 tháng 6 năm 2019}}</ref> Báo [[Truyền thông đại chúng|chí]] và [[Website|các trang web]] của Israel thường xuyên xuất bản các tài liệu bằng tiếng Nga và có các tờ báo, đài truyền hình, trường học và các phương tiện truyền thông xã hội của Nga có trụ sở tại nước này.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.myjewishlearning.com/article/russians-in-israel/|tựa đề=Russians in Israel}}</ref> Có một kênh truyền hình của Israel chủ yếu phát sóng bằng tiếng Nga với [[Israel Plus]]. Xem thêm [[tiếng Nga ở Israel]].
Tiếng Nga cũng được một số ít người ở [[Afghanistan]] sử dụng như ngôn ngữ thứ hai.<ref>Awde and Sarwan, 2003</ref>
Ở [[Việt Nam]], tiếng Nga đã được đưa vào chương trình tiểu học cùng với tiếng Trung và tiếng Nhật và được mệnh danh là "ngoại ngữ đầu tiên" để học sinh Việt Nam học, ngang hàng với tiếng Anh.<ref>{{Chú thích web|url=https://e.vnexpress.net/news/news/vietnam-to-add-chinese-russian-to-elementary-school-curriculum-3470743.html|tựa đề=Vietnam to add Chinese, Russian to elementary school curriculum|ngày=ngày 20 tháng 9 năm 2016}}</ref>
=== Bắc Mỹ ===
Ngôn ngữ này lần đầu tiên được giới thiệu ở [[Bắc Mỹ]] khi [[Nhà thám hiểm Nga|các nhà thám hiểm người Nga]] hành trình đến [[Alaska]] và tuyên bố nó thuộc về Nga trong thế kỷ 18. Mặc dù hầu hết những người thực dân Nga đã rời đi sau khi Hoa Kỳ mua đất vào năm 1867, một số ít vẫn ở lại và bảo tồn tiếng Nga ở khu vực này cho đến ngày nay, mặc dù chỉ còn lại một số người già nói được phương ngữ độc đáo này.<ref>{{Chú thích web|url=http://languagehat.com/ninilchik/|tựa đề=Ninilchik|tác giả=|ngày=ngày 1 tháng 1 năm 2009|nhà xuất bản=languagehat.com|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20140107112220/http://languagehat.com/ninilchik/|ngày lưu trữ=ngày 7 tháng 1 năm 2014|ngày truy cập=ngày 18 tháng 6 năm 2013}}</ref> Ở [[Nikolaevsk, Alaska]] tiếng Nga được nói nhiều hơn tiếng Anh. Các cộng đồng nói tiếng Nga khá lớn cũng tồn tại ở [[Bắc Mỹ]], đặc biệt là ở các trung tâm đô thị lớn của [[Hoa Kỳ|Mỹ]] và [[Canada]], chẳng hạn như [[Người Mỹ gốc Nga ở Thành phố New York|Thành phố New York]], [[Philadelphia]], [[Boston]], [[Los Angeles]], [[Nashville, Tennessee|Nashville]], [[San Francisco]], [[Seattle]], [[Spokane, Washington|Spokane]], [[Toronto]], [[Lịch sử của người Nga ở Baltimore|Baltimore]], [[Miami]], [[Chicago]], [[Denver]] và [[Cleveland]]. Ở một số địa điểm, họ phát hành báo riêng và sống trong [[Vùng dân tộc|các vùng dân tộc thiểu số]] (đặc biệt là thế hệ người nhập cư bắt đầu đến vào đầu những năm 1960). Tuy nhiên, chỉ có khoảng 25% trong số họ là người dân tộc Nga. Trước khi [[Liên Xô tan rã]], phần lớn những người [[Russophone]] ở [[Bãi biển Brighton, Brooklyn|Brighton Beach, Brooklyn]] ở Thành phố New York là [[người Do Thái]] nói tiếng Nga. Sau đó, dòng chảy từ các nước thuộc [[Liên Xô]] cũ đã thay đổi số liệu thống kê phần nào, với những người gốc Nga và Ukraina nhập cư cùng với một số người Nga gốc Do Thái và Trung Á. Theo [[Thống kê Dân số Hoa Kỳ|Điều tra Dân số Hoa Kỳ]], vào năm 2007, tiếng Nga là ngôn ngữ chính được sử dụng trong nhà của hơn 850.000 cá nhân sống ở Hoa Kỳ.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.census.gov/hhes/socdemo/language/data/acs/ACS-12.pdf|tựa đề=Language Use in the United States: 2007, census.gov|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20130614060228/http://www.census.gov/hhes/socdemo/language/data/acs/ACS-12.pdf|ngày lưu trữ=ngày 14 tháng 6 năm 2013|ngày truy cập=ngày 18 tháng 6 năm 2013}}</ref>
Trong nửa sau của thế kỷ 20, tiếng Nga là ngoại ngữ phổ biến nhất ở [[Cuba]]. Ngoài việc được giảng dạy tại các trường đại học và trường học, cũng có các chương trình giáo dục trên đài phát thanh và TV. Tuy nhiên, bắt đầu từ tháng 1 năm 2019, truyền hình Cuba sẽ mở một chương trình giáo dục dành cho tiếng Nga. Dự án này hoàn toàn có quyền được gọi là dự kiến, bởi vì sự hợp tác Nga - Cuba là một định hướng chiến lược được phát triển tích cực khi ngày càng có nhiều người trẻ quan tâm đến tiếng Nga, người dẫn chương trình Giáo dục cho biết. Đại học Bang Havana đã bắt đầu đào tạo chuyên ngành cử nhân được gọi là Ngôn ngữ Nga và Ngoại ngữ thứ hai. Ngoài ra còn có khoa tiếng Nga, nơi sinh viên có thể xem kỹ sách điện tử mà không cần kết nối internet. Các khóa học bổ sung về tiếng Nga được mở tại hai trường học ở thủ đô Cuba.<ref>{{Chú thích web|url=https://russkiymir.ru/en/news/244089/|tựa đề=RUSSIAN LANGUAGE RETURNS TO CUBA|ngày truy cập=2020-08-30|archive-date = ngày 6 tháng 8 năm 2020 |archive-url=https://web.archive.org/web/20200806171529/https://russkiymir.ru/en/news/244089/|url-status=dead}}</ref> Ước tính có khoảng 200.000 người nói tiếng Nga ở Cuba, trong đó hơn 23.000 người Cuba học cao hơn ở Liên Xô cũ và sau đó ở Nga, và một nhóm quan trọng khác từng học tại các trường quân sự và kỹ thuật viên, cộng với gần 2.000 người Nga đang cư trú tại Cuba và con cháu của họ.<ref>{{Chú thích web|url=https://mundo.sputniknews.com/america-latina/201812131084097574-inauguran-olimpiada-de-ruso-en-cuba/|tựa đề=Inauguran la Olimpíada de idioma ruso en La Habana}}</ref>
== Bảng chữ cái ==
{| cellpadding="4" style="margin:auto; text-align:center;"
|-
|[[А]]<br />{{IPA|/a/}}||[[Б]]<br />{{IPA|/b/}}||[[В]]<br />{{IPA|/v/}}||[[Г]]<br />{{IPA|/g/}}||[[Д]]<br />{{IPA|/d/}}||[[Е]]<br />{{IPA|/je/}}||[[Ё]]<br />{{IPA|/jo/}}||[[Ж]]<br />{{IPA|/ʐ/}}||[[З]]<br />{{IPA|/z/}}||[[И]]<br />{{IPA|/i/}}||[[Й]]<br />{{IPA|/j/}}
|-
|[[К]]<br />{{IPA|/k/}}||[[Л]]<br />{{IPA|/l/}}||[[М]]<br />{{IPA|/m/}}||[[Н]]<br />{{IPA|/n/}}||[[О]]<br />{{IPA|/o/}}||[[П]]<br />{{IPA|/p/}}||[[Р]]<br />{{IPA|/r/}}||[[С]]<br />{{IPA|/s/}}||[[Т]]<br />{{IPA|/t/}}||[[У]]<br />{{IPA|/u/}}||[[Ф]]<br />{{IPA|/f/}}
|-
|[[Х]]<br />{{IPA|/x/}}
||[[Ц]]<br />{{IPA|/ts/}}
||[[Ч]]<br />{{IPA|/tɕ/}}
||[[Ш]]<br />{{IPA|/ʂ/}}
||[[Щ]]<br />{{IPA|ɕɕ}}
||[[Ъ]]<br />{{IPA|/-/}}
||[[Ы]]<br /> {{IPA|/ɨ/}}
||[[Ь]]<br />{{IPA|/-/}}
||[[Э]]<br />{{IPA|/e/}}
||[[Ю]]<br />{{IPA|/ju/}}
||[[Я]]<br />{{IPA|/ja/}}
|}
== Phụ âm ==
{| border="2" cellpadding="5" style="margin: 1em 1em 1em 0; line-height: 1.2em; border-collapse: collapse; text-align: center; font-family: Lucida Sans Unicode, Lucida Grande; font-size: 100%; background: #f9f9f9; border: 1px #aaa solid;"
|- style="font-size: 90%;"
| colspan=2|
! Môi-môi
! Môi-răng
! Răng và lợi
! Sau lợi
! Ngạc cứng
! Ngạc mềm
|-
! rowspan=2 style="font-size: 90%; text-align: left;"|Mũi
|style="font-size: 80%;" |nặng
| {{IPA|/m/}}
|
| {{IPA|/n/}}
|
|
|
|-
|style="font-size: 80%;" |nhẹ
|{{IPA|/mʲ/}}
|
| {{IPA|/nʲ/}}
|
|
|
|-
! rowspan=2 style="font-size: 90%; text-align: left;" | Tắc
|style="font-size: 80%;" |nặng
| {{IPA|/p/}} {{IPA|/b/}}
|
| {{IPA|/t/}} {{IPA|/d/}}
|
|
| {{IPA|/k/}} {{IPA|/ɡ/}}
|-
|style="font-size: 80%;" | nhẹ
| {{IPA|/pʲ/}} {{IPA|/bʲ/}}
|
| {{IPA|/tʲ/}} {{IPA|/dʲ/}}
|
|
| {{IPA|/kʲ/*}} {{IPA|[ɡʲ]}}
|-
! rowspan=2 style="font-size: 90%; text-align: left;" | Phụ âm kép
|style="font-size: 80%;" |nặng
|
|
|{{IPA|/ts/}}
|
|
|
|-
|style="font-size: 80%;" |nhẹ
|
|
|
|{{IPA|/tɕ/}}
|
|
|-
! rowspan=2 style="font-size: 90%; text-align: left;" | Xát
|style="font-size: 80%;" |nặng
|
| {{IPA|/f/}} {{IPA|/v/}}
| {{IPA|/s/}} {{IPA|/z/}}
| {{IPA|/ʂ/}} {{IPA|/ʐ/}}
|
| {{IPA|/x/}} {{IPA|[ɣ]}}
|-
|style="font-size: 80%;" |nhẹ
|
| {{IPA|/fʲ/}} {{IPA|/vʲ/}}
| {{IPA|/sʲ/}} {{IPA|/zʲ/}}
| {{IPA|/ɕː/}}* {{IPA|/ʑː/}}*
|
| {{IPA|[xʲ]}} {{IPA|[ɣʲ]}}
|-
! rowspan=2 style="font-size: 90%; text-align: left;" | Rung
|style="font-size: 80%;" |nặng
|
|
| {{IPA|/r/}}
|
|
|
|-
|style="font-size: 80%;" |nhẹ
|
|
| {{IPA|/rʲ/}}
|
|
|
|-
! rowspan=2 style="font-size: 90%; text-align: left;" | Tiếp cận
|style="font-size: 80%;" |nặng
|
|
| {{IPA|/l/}}
|
|
|
|-
|style="font-size: 80%;" | nhẹ
|
|
| {{IPA|/lʲ/}}
|
| {{IPA|/j/}}
|
|}
== Ví dụ ==
'''Зи́мний ве́чер''' {{IPA|ru|ˈzʲimnʲɪj ˈvʲetɕɪr|IPA}}
Бу́ря мгло́ю не́бо кро́ет, {{IPA|[ˈburʲɐ ˈmɡloju ˈnʲɛbɐ ˈkroɪt]}}
Ви́хри сне́жные крутя́; {{IPA|[ˈvʲixrʲɪ ˈsʲnʲɛʐnɨɪ kruˈtʲa]}}
То, как зверь, она́ заво́ет, {{IPA|[to kak zvʲerʲ ɐˈna zɐˈvoɪt]}}
То запла́чет, как дитя́, {{IPA|[to zɐˈplatɕɪt, kak dʲɪˈtʲa]}}
То по кро́вле обветша́лой {{IPA|[to po ˈkrovlʲɪ ɐbvʲɪˈtʂaləj]}}
Вдруг соло́мой зашуми́т, {{IPA|[vdruk sɐˈloməj zəʂuˈmʲit]}}
То, как пу́тник запозда́лый, {{IPA|[to kak ˈputnʲɪk zəpɐˈzdalɨj]}}
К нам в око́шко застучи́т. {{IPA|[knam vɐˈkoʂkə zəstuˈtɕit]}}.
== Thống kê ==
{| class="wikitable" style="width:620px; margin:auto; margin:auto;"
|+Thống kê gần đây là tổng số người nói tiếng Nga
!Nguồn||Bản ngữ||Xếp hạng bản ngữ||Tổng số người nói||Xếp hạng tổng cộng
|-
|G. Weber, "Top Languages",<br />''Language Monthly'',<br />3: 12–18, 1997, ISSN 1369-9733||160,000,000||8||285,000,000||5
|-
|World Almanac (1999)||145,000,000||8 (2005)||275,000,000||5
|-
|SIL (2000 WCD)||145,000,000||8||255,000,000||5–6 (tied with [[Arabic language|Arabic]])
|-
|CIA World Factbook (2005)||160,000,000||8||
|}
==Số người nói tại các quốc gia==
{| class="wikitable sortable"
! Quốc gia!! Số người nói!! Tỉ lệ!! Năm!! Chú thích
|-
| {{flag|Armenia}} || 23,484||0.8%||2011||<ref name=undata>{{Chú thích web|tiêu đề=Population by language, sex and urban/rural residence|url=http://data.un.org/Data.aspx?d=POP&f=tableCode%3a27%3bareaCode%3a0%3bsexCode%3a0&c=2,3,5,7,9,11,13,14,15&s=_vcvv2:asc,_countryEnglishNameOrderBy:asc,refYear:desc&v=1|nhà xuất bản=UNdata|ngày truy cập=ngày 13 tháng 10 năm 2015}}</ref>
|-
| {{flag|Úc}} || 44,058||0.2%||2011||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Áo}} || 8,446||0.1%||2001||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Azerbaijan}} || 122,449||1.4%||2009||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Belarus}} || 6,672,964||70.2%||2009||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Canada}} || 112,150||0.3%||2011||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Croatia}} || 1,592||0.04%||2011||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Cộng hòa Síp}}|| 20,984||2.5%||2011||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Cộng hòa Séc}} || 31,622||0.3%||2011||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Estonia}} || 383,118||29.6%||2011||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Phần Lan}}|| 54,559||1.0%||2010||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Gruzia}}|| 16,355||0.4%||2002||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Israel}}<ref group="note">Based on a 2011 population of 7,706,400 ([http://www1.cbs.gov.il/ts/ID6032c5229b0e92/ Central Bureau of Statistics of Israel]{{Liên kết hỏng|date = ngày 31 tháng 3 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }})</ref> || 1,155,960 || 15% || 2011 || <ref>{{chú thích báo |url=http://www1.cbs.gov.il/reader/newhodaot/hodaa_template.html?hodaa=201319017 |title=Selected Data from the 2011 Social Survey on Mastery of the Hebrew Language and Usage of Languages (Hebrew Only) |author=[[Israel Central Bureau of Statistics]] |access-date =ngày 12 tháng 10 năm 2013 |archive-date = ngày 13 tháng 10 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20131013135223/http://www1.cbs.gov.il/reader/newhodaot/hodaa_template.html?hodaa=201319017 }}</ref>
|-
| {{flag|Kyrgyzstan}} || 602,806||12.9%||1999||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Latvia}} || 698,757||33.8%||2011||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Litva}}|| 218,383||7.2%||2011||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Moldova}} || 380,796||11.3%||2004||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|New Zealand}} || 7,896||0.2%||2006||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Ba Lan}} || 21,916||0.1%||2011||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|România}}|| 29,246||0.1%||2002||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Nga}} || 137,494,893||96.2%||2010||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Serbia}} || 3,179||0.04%||2011||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Slovakia}} || 1,866||0.03%||2001||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Tajikistan}} || 40,598||0.5%||2010||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Ukraina}} || 14,273,670||29.6%||2001||<ref name=undata/>
|-
| {{flag|Hoa Kỳ}} || 706,242||0.3%||2000||<ref name=undata/>
|}
== Xem thêm ==
* [[Bảng chữ cái tiếng Nga]]
* [[Văn học Nga]]
== Chú thích ==
{{tham khảo|group=note}}
== Tham khảo ==
{{tham khảo|30em}}
==Nguồn dẫn==
=== Tiếng Anh ===
* {{Chú thích sách|author=[[Comrie, Bernard]], Gerald Stone, Maria Polinsky|title=The Russian Language in the Twentieth Century|edition=2 |location=Oxford|publisher=[[Oxford University Press]]|year=1996|id=019824066X}}
* {{Cite document
|last=Timberlake
|first=Alan
|title=A Reference Grammar of Russian
|location=Cambridge, UK
|publisher=[[Cambridge University Press]]
|year=2004
|id=0521772923
|postscript=<!--None-->
}}
* {{Chú thích sách|title= Introduction to the Phonological History of the Slavic Languages|author=Carleton, T.R.|year=1991|publisher=Slavica Press|location= Columbus, Ohio}}
* {{Chú thích sách|author=Cubberley, P.|title=Russian: A Linguistic Introduction|edition=1 |location=Cambridge|publisher=Cambridge University Press|year=2002}}
* {{Chú thích sách|title= Sound Pattern of Russian|author= [[Morris Halle|Halle, Morris]]|year=1959|
publisher= MIT Press}}
* {{Chú thích sách|title= The Sounds of the World's Languages|author= [[Peter Ladefoged|Ladefoged, Peter]] và [[Ian Maddieson|Maddieson, Ian]]|year=1996|publisher= Blackwell Publishers}}
* {{Chú thích sách|author=Matthews, W.K.|title=Russian Historical Grammar|location=London|publisher=University of London, Athlone Press|year=1960}}
* {{Chú thích sách|author=Stender-Petersen, A.|title=Anthology of old Russian literature|location=New York|publisher=Columbia University Press|year=1954}}
* {{Chú thích sách|author=Wade, Terrence|title=A Comprehensive Russian Grammar|edition=2 |location=Oxford|publisher=[[Blackwell Publishing]]|year=2000|isbn=0631207570}}
=== Tiếng Nga ===
* Востриков О.В., Финно-угорский субстрат в русском языке: Учебное пособие по спецкурсу.- Свердловск, 1990. – 99c. – В надзаг.: Уральский гос. ун-т им. А. М. Горького.
* Жуковская Л.П., отв. ред. Древнерусский литературный язык и его отношение к старославянскому. М., «Наука», 1987.
* Иванов В.В. Историческая грамматика русского языка. М., «Просвещение», 1990.
* Михельсон Т.Н. Рассказы русских летописей XV–XVII веков. М., 1978.?
* Новиков Л.А. Современный русский язык: для высшей школы.- Москва: Лань, 2003.
* Филин Ф. П., [http://www.philology.ru/linguistics2/filin-82.htm О словарном составе языка Великорусского народа]; Вопросы языкознания. – М., 1982, № 5. – С. 18–28
* Цыганенко Г.П. Этимологический словарь русского языка, Киев, 1970.
* Шанский Н.М., Иванов В.В., Шанская Т.В. Краткий этимологический словарь русского языка. М. 1961.
* Шицгал А., Русский гражданский шрифт, М., «Исскуство», 1958, 2-e изд. 1983.
== Liên kết ngoài ==
{{wikipedia ngoại ngữ|ru}}
{{Wikiquote}}
{{Wiktionary|Thể loại:Mục từ tiếng Nga}}
* {{commonscat-inline}}
* {{TĐBKVN|7644}}
* {{Britannica|513764|Russian language}}
* {{dmoz|Science/Social_Sciences/Linguistics/Languages/Natural/Indo-European/Slavic/Russian|Russian Language}}
* [http://www.freelanguagecourses.com/language/russian/princeton-russian-course-51/ Free Princeton Russian Course Download]
* [http://translit.cc/ Chuyển tự trực tuyến ký tự tiếng Nga sang ký tự Latin]
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
{{Navboxes|title = Bài viết liên quan
|list1 =
{{Ngôn ngữ tại Nga}}
{{Ngôn ngữ tại Armenia}}
{{Ngôn ngữ tại Azerbaijan}}
{{Ngôn ngữ tại Ba Lan}}
{{Ngôn ngữ tại Belarus}}
{{Ngôn ngữ tại Canada}}
{{Ngôn ngữ tại Gruzia}}
{{Ngôn ngữ tại Hoa Kỳ}}
{{Ngôn ngữ tại Moldova}}
{{Ngôn ngữ tại Mông Cổ}}
{{Ngôn ngữ tại Síp}}
{{Chủ đề Liên bang Nga}}
{{Chủ đề Liên Xô}}
}}
{{Thanh chủ đề|Nga|Ngôn ngữ}}
{{DEFAULTSORT:Nga}}
[[Thể loại:Tiếng Nga| ]]
[[Thể loại:Bài cơ bản dài trung bình]]
[[Thể loại:Nhóm ngôn ngữ Slav Đông]]
[[Thể loại:Văn hóa Liên Xô]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Nga]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Estonia]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Latvia]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Litva]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Ba Lan]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Hungary]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Belarus]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Moldova]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại România]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Bulgaria]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Armenia]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Azerbaijan]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Kazakhstan]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Kyrgyzstan]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Uzbekistan]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Turkmenistan]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Tajikistan]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Mông Cổ]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Trung Quốc]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Bắc Triều Tiên]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Nhật Bản]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Hoa Kỳ]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Canada]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Israel]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Phần Lan]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Na Uy]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Abkhazia]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Gruzia]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Kavkaz]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Transnistria]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Thổ Nhĩ Kỳ]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Ukraina]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Cuba]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Séc]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Slovakia]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Đức]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ tại Việt Nam]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ chủ-động-tân]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ có trọng âm]]
[[Thể loại:Lingua franca]]
[[Thể loại:Ngôn ngữ viết bằng chữ Kirin]] | 70655 |
1278 | Quân đội nhân dân Việt Nam | 0 | null | null | 73786769 | 73758154 | 2025-08-21T04:47:42 | false | /* Tổ chức */ | wikitext | text/x-wiki | 3ycab7mz4ov0t60rywx2yajcx20xn2z | {
"username": "Arest128",
"id": "552486",
"ip": null
} | {{pp-protected|small=yes}}
{{Đổi hướng đến đây|Quân đội Việt Nam}}
{{Infobox national military
|country = {{flag|Việt Nam}}
|name = Quân đội Nhân dân Việt Nam
|image = [[Tập tin:Flag of the People's Army of Vietnam.svg|giữa|200px|border]] [[Quốc kỳ Việt Nam|Quân kỳ]]<br/>[[Tập tin:Emblem VPA.svg|giữa|180px]] [[Quân hiệu Quân đội Nhân dân Việt Nam|Quân hiệu]]
|founded=22 tháng 12 năm 1944<br/>{{số năm theo năm và ngày|1944|12|22}}
|branches = {{flagicon image|Vietnam People's Army Ground Force insignia.png}} [[Lục quân Nhân dân Việt Nam|Lục quân]]<br/>{{flagicon image|Vietnam People Air Force insignia.png}} [[Quân chủng Phòng không – Không quân, Quân đội nhân dân Việt Nam|Phòng không-Không quân]]<br/>{{flagicon image|Logo Hải quân Việt Nam.svg}} [[Hải quân Nhân dân Việt Nam|Hải quân]]<br/>{{flagicon image|Phù hiệu Bộ đội Biên phòng Việt Nam.webp}} [[Bộ đội Biên phòng Việt Nam|Biên phòng]]<br/>{{flagicon image|Vietnam People's Cyber Operations insignia.svg}} [[Bộ tư lệnh Tác chiến không gian mạng|Không gian mạng]]<br/>{{flagicon image|Vietnam Coast Guard insignia.svg}} [[Cảnh sát biển Việt Nam|Cảnh sát biển]]
|headquarters=[[Bộ Quốc phòng (Việt Nam)|Bộ Quốc phòng]], [[Ba Đình]], [[Hà Nội]]
|anniversaries= 22 tháng 12
|motto= Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.<ref>Trích phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lễ kỉ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (1964). Chú ý không nhầm với câu "Trung với nước, hiếu với dân" trên lá cờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cho trường võ bị Trần Quốc Tuấn năm 1946.</ref><ref name="ReferenceA">Lời Hồ Chủ tịch trong tiệc chiêu đãi trọng thể do Bộ Quốc phòng tổ chức, trang 1, Báo Quân đội Nhân dân số 1456, ngày 23/12/1964</ref><ref name="tapchicongsan.org.vn">{{chú thích web | url = http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2012/16162/Mai-mai-lam-theo-loi-Bac-xung-danh-Bo-doi-Cu-Ho.aspx | tiêu đề = Tạp chí Cộng sản | author = | ngày = | ngày truy cập = 25 tháng 12 năm 2014 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = | archive-date = 2013-12-12 | archive-url = https://web.archive.org/web/20131212042044/http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2012/16162/Mai-mai-lam-theo-loi-Bac-xung-danh-Bo-doi-Cu-Ho.aspx | url-status = dead }}</ref><ref name="archive.is">[https://archive.today/20130421223948/www.qdnd.vn/qkqd/vi-vn/118/337/trung-voi-dang-hieu-voi-dan-truyen-thong-cuc-ky-quy-bau-cua-quan-doi-nhan-dan-viet-nam/221758.html Trung với Đảng, hiếu với dân: Truyền thống cực kỳ quý báu của Quân đội Nhân dân Việt Nam], Trương Nguyên Tuệ, 25/12/2012, Báo điện tử Quân đội Nhân dân</ref>
|age = 18-25 tuổi (18-27 tuổi đối với công dân theo học tại các trường Cao đẳng, Đại học)
|conscription = Nghĩa vụ quân sự bắt buộc 24 tháng đối với nam công dân khỏe mạnh
|active = 600,000<ref name=IISSSRV08>{{chú thích sách| title=The Military Balance 2014| author1=International Institute for Strategic Studies| author-link1=International Institute for Strategic Studies| date=3 February 2014| publisher=[[Routledge]]| location=[[London]]| isbn=9781857437225| pages=287–289}}</ref>
|reserve = 5,000,000<ref name=IISSSRV08/>
|amount = [[US$]] 7,8 tỷ (2023)<ref name="National Assembly's 2023 state budget projection">{{chú thích web |title=Resolution no. 70/2022/QH15 of the National Assembly on the Distribution of Central Budget of 2023 |url=https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=71086 |publisher=[[National Assembly of Vietnam]] |access-date=16 April 2023 |date=30 November 2022 }}{{Dead link|date=May 2024 |bot=InternetArchiveBot |fix-attempted=yes }}</ref>
|domestic_suppliers =
*[[Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng (Việt Nam)|TCCNQP]]
*[[Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội|Viettel]]
|foreign_suppliers = '''Gần đây:'''{{ubl|{{flag|Cộng hòa Séc}}<ref>{{Chú thích web|url=https://m.anninhthudo.vn/viet-nam-nhan-may-bay-huan-luyen-l-39ng-dau-tien-post570648.antd|tựa đề=Việt Nam nhận máy bay huấn luyện L-39NG đầu tiên|tác giả=Việt Dũng|ngày=2024-03-21|website=Báo An ninh Thủ đô|url-status=live}}</ref>|{{flag|Hoa Kỳ}}<ref>{{Chú thích web|url=https://vtcnews.vn/den-nam-2027-my-se-chuyen-giao-12-may-bay-t-6-cho-viet-nam-ar719621.html|tựa đề=Đến năm 2027, Mỹ sẽ chuyển giao 12 máy bay T-6 cho Việt Nam|tác giả=Phương Anh - Hoàng Linh|ngày=2022-12-09|website=Báo Điện Tử VTC News|url-status=live}}</ref>}}
|history = [[Lịch sử quân sự Việt Nam]]<br/>[[Các cuộc chiến tranh Việt Nam tham gia]]<br/>[[Danh sách trận đánh trong lịch sử Việt Nam]]
|ranks = [[Quân hàm Quân đội nhân dân Việt Nam]]
|website= {{Official website|https://mod.gov.vn/home}}
|commander-in-chief = [[Tập tin: Communist_Party_of_Vietnam_flag_logo.svg|22px]] [[Tô Lâm]]
|commander-in-chief_title = [[Bí thư Quân ủy Trung ương Việt Nam|Bí thư<br>Quân ủy Trung ương]]
|chief minister = [[Tập tin:Emblem of Vietnam.svg|22px]] [[Lương Cường]]
|chief minister_title = [[Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam|Chủ tịch nước]]
|minister = [[Tập tin:Vietnam People's Army General.png|22px]] [[Phan Văn Giang]]
|minister_title = [[Bộ Quốc phòng Việt Nam|Bộ trưởng Quốc phòng]]
|commander = [[Tập tin:Vietnam People's Army General.png|22px]] [[Trịnh Văn Quyết (quân nhân)|Trịnh Văn Quyết]]
|commander_title = [[Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam|Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị]]
|chief_of_staff = [[Tập tin:Vietnam People's Army General.png|22px]] [[Nguyễn Tân Cương]]
|chief_of_staff_title = [[Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam|Tổng Tham mưu trưởng]]
}}
'''Quân đội Nhân dân Việt Nam''' ('''QĐNDVN'''; [[tiếng Anh]]: '''Vietnam People's Army''', viết tắt: '''VPA''') là [[Quân đội|lực lượng quân sự]] của [[Việt Nam]] đồng thời là lực lượng nòng cốt của [[Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam|Lực lượng vũ trang Nhân dân Việt Nam]]. Theo [[Bộ Quốc phòng (Việt Nam)|Bộ Quốc phòng Việt Nam]], sứ mệnh là: "vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân".<ref>[http://mod.gov.vn/wps/portal/!ut/p/b1/04_Sj9CPykssy0xPLMnMz0vMAfGjzOLdHP2CLJwMHQ38zT0sDDyNnZ1NjcOMDQ2cDIAKIoEKDHAARwNC-sP1o8BKnN0dPUzMfQwMLHzcTQ08HT1CgywDjY0NHI2hCvBY4eeRn5uqX5AbYZBl4qgIAMIPlg0!/dl4/d5/L2dBISEvZ0FBIS9nQSEh/ Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng Việt Nam<!-- Bot generated title -->]</ref> Ngày truyền thống là ngày 22 tháng 12 hàng năm. [[Quân kỳ Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân kỳ]] là [[quốc kỳ Việt Nam]] có thêm dòng chữ "Quyết thắng" màu vàng ở góc phía trên bên trái (hay phía cột cờ). [[Mười lời thề danh dự của quân nhân Quân đội Nhân dân Việt Nam|Mười lời thề danh dự]] nói rằng có nhiệm vụ: "Không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và [[chủ nghĩa xã hội]]".<ref>{{chú thích web|url=https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/muoi-loi-the-danh-du-cua-quan-nhan-412982|title=Mười Lời thề danh dự của quân nhân|website=Quân đội nhân dân}}</ref>
== Danh xưng ==
Quân đội Nhân dân Việt Nam thường được viết tắt là "Quân đội Nhân dân"'','' được đặt bởi Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] vì ông cho rằng đây là quân đội "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ". Sau này, [[Đảng Cộng sản Việt Nam]] mở rộng thêm: "có nguồn gốc nhân dân, bảo vệ tính mạng, tài sản và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ nền độc lập thống nhất và bản sắc dân tộc".<ref>{{chú thích web|url=https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/bai-1-danh-xung-mang-tinh-bieu-tuong-van-hoa-quan-su-413925|title=Bài 1: Danh xưng mang tính biểu tượng văn hóa quân sự|website=Báo Quân đội Nhân dân.}}</ref>
Tên gọi qua các thời kỳ:<ref>{{Chú thích web|url=http://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/y-nghia-ten-goi-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-qua-cac-thoi-ky-lich-su-440815|tiêu đề=Ý nghĩa tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử}}</ref><ref>{{chú thích web | url = https://tuyenquang.dcs.vn/DetailView/65469/2/Quan-doi-Nhan-dan-Viet-Nam-la-Quan-doi-cua-Nhan-dan-do-Nhan-dan-vi-Nhan-dan.html | tiêu đề = Quân đội Nhân dân Việt Nam là Quân đội của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân | author = | ngày = | ngày truy cập = 6 tháng 4 năm 2025 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref>
* Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22/12/1944 – 15/5/1945), thành lập tại [[Cao Bằng]]
** Cứu quốc quân (23/2/1941 – 15/5/1945), tại [[Lạng Sơn]]
* Việt Nam Giải phóng quân (15/5/1945 – 11/1945), tại [[Thái Nguyên]]
* Vệ quốc đoàn hoặc Vệ quốc quân (11/1945 – 22/5/1946), tại [[Hà Nội]]
* Quân đội Quốc gia Việt Nam (22/5/1946 – 23/9/1954)<ref>Tên gọi này không liên quan đến [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]] của chính phủ [[Quốc gia Việt Nam]].</ref>
* Quân đội Nhân dân Việt Nam (từ 23/9/1954 đến nay)<ref>https://laodong.vn/thoi-su/gioi-thieu-tu-lieu-quy-ve-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-1430780.ldo</ref>
== Khẩu hiệu ==
Khẩu hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam là:
{{cquote|''Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.<ref>Trích phát biểu của [[Hồ Chí Minh|Chủ tịch Hồ Chí Minh]] tại lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (1964). Chú ý không nhầm với câu "Trung với nước, hiếu với dân" trên lá cờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cho trường võ bị Trần Quốc Tuấn vào năm 1946''.</ref>}}
Khẩu hiệu được trích từ bài phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam vào năm 1964.<ref>{{chú thích web|url=https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/loi-cua-bac-mai-vang-vong-424678|title=Lời của Bác mãi vang vọng|website=Quân đội nhân }}</ref> vào tối ngày 29 tháng 12 năm 1964 tại Nhà khách Bộ Quốc phòng (Hà Nội).<ref>{{chú thích web|url=http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=19329&print=true|title=Tạp chí Cộng sản - Bộ đội Cụ Hồ<!-- Bot generated title -->|publisher=|ngày truy cập=2017-07-10|archive-date=2017-11-13|archive-url=https://web.archive.org/web/20171113112808/http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=19329&print=true|url-status=dead}}</ref>
Ngoài ra còn có khẩu hiệu khác là ''"Trung với nước, hiếu với dân"''. Nhiều người thường bị nhầm lẫn câu nói này với câu nói bên trên. Đây thực ra là một câu nói khác, được thêu trên lá cờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cho [[Trường Đại học Trần Quốc Tuấn|Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn]] vào năm 1946. Ở đây, ''"Trung là trung với Tổ quốc, Hiếu là hiếu với nhân dân"''.<ref>Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6, Nhà xuất bản CTQG. H. 2011, tr. 126</ref>
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: ''"Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ hết lòng của nhân dân, quân đội ta hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ trao cho, đã có truyền thống vẻ vang là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, chiến đấu anh dũng, công tác và lao động tích cực, tiết kiệm, cần cù, khiêm tốn giản dị, đoàn kết nội bộ, đồng cam cộng khổ với nhân dân, luôn luôn sẵn sàng khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ. Bộ đội ta là bộ đội nhân dân, bộ đội cách mạng có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần cù, chất phác, việc khó khăn nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn được giữ vững và phát triển"''.<ref>{{chú thích web|url=https://www.bqllang.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1961:d-o-d-c-trung-v-i-d-ng-hi-u-v-i-dan-c-a-quan-d-i-theo-tu-tu-ng-c-a-ch-t-ch-h-chi-minh&catid=106&Itemid=771&lang=vi|title=Đạo đức trung với Đảng, hiếu với dân của quân đội theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh|first=Tâm|last=Trang|date=6 December 2013|website=Trang tin điện tử Ban quản lý lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://tennguoidepnhat.net/2012/07/24/trung-voi-dang-hieu-voi-dan/|title="Trung với Đảng, hiếu với dân..."!|date=24 July 2012|publisher=}}</ref> Nhà nước Việt Nam nói: ''"ngoài mục tiêu, lý tưởng vì nhân dân phục vụ, chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam không có mục tiêu, lý tưởng nào khác"''.<ref>{{chú thích web|url=https://giaoduc.net.vn/post-164271.gd|title=Quân đội ta mãi tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân|date=21 December 2015|website=giaoduc.net.vn}}</ref>
== Quá trình phát triển ==
{{chính|Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam}}
[[Tập tin:Vo Nguyen Giap, Vietminh forces, 1944.jpg|thumb|trái|192x192px|Buổi lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân]]
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, [[Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân|Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân]] được thành lập với 34 người theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.<ref name=":0">{{Chú thích web|url=https://www.bqllang.gov.vn/danh-sach-khach-vieng.html?id=3003:quan-do-i-nhan-dan-vie-t-nam-70-nam-xay-du-ng-chie-n-da-u-va-truo-ng-tha-nh|title=Khái quát quá trình phát triển QĐNDVN|last=|first=|date=|website=|archive-url=|archive-date=|url-status=|access-date =}}</ref>
Bên cạnh đó còn một lực lượng quân sự của [[Xứ ủy Bắc Kỳ]] tại [[Bắc Sơn]] là [[Cứu quốc quân]], được thành lập ngày 23 tháng 2 năm 1941<ref>https://dangcongsan.vn/tu-lieu-tham-khao-cuoc-thi-trac-nghiem-tim-hieu-90-nam-lich-su-ve-vang-cua-dang-cong-san-viet-nam/tu-lieu-90-nam-lich-su-dang/thanh-lap-viet-nam-cuu-quoc-quan-535737.html</ref>, tại rừng Khuổi Nọi (xã [[Vũ Lễ, Bắc Sơn|Vũ Lễ]], [[Bắc Sơn]]). Cứu quốc quân do [[Chu Văn Tấn]] chỉ huy<ref>{{chú thích web | url = https://thanhnien.vn/chu-van-tan-nguoi-anh-ca-cua-du-kich-viet-nam-1851022575.htm | tiêu đề = Chu Văn Tấn | author = | ngày = 23 tháng 12 năm 2020 | ngày truy cập = 6 tháng 4 năm 2025 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref> và là lực lượng tham gia [[Khởi nghĩa Bắc Sơn]].
Ngày 15 tháng 5 năm 1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sáp nhập với lực lượng [[Cứu quốc quân|Cứu Quốc quân]] và đổi tên thành [[Việt Nam Giải phóng quân]], trở thành lực lượng quân sự chủ yếu của Mặt trận [[Việt Minh]] thực hiện thành công cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong [[Cách mạng Tháng Tám]] năm 1945.<ref name=":0" /> Sau khi nước [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] được thành lập, ngày tháng 11 năm 1945 Giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn<ref>https://mod.gov.vn/vn/noi-dung/sa-qdndvn/sa-qdndvn-lstt/sa-qdndvn-lstt-qctk/d6d54dff-6208-4531-a3e4-7dd51ebbd45c</ref>.
Từ năm 1945 đến năm 1949, Vệ quốc đoàn phải chiến đấu với đối thủ mạnh hơn hẳn là quân đội [[Đế quốc thực dân Pháp|Thực dân Pháp]], tuy nhiên bằng sách lược chiến tranh hợp lý, Giải phóng quân ngày càng phát triển bất chấp việc quân Pháp liên tục càn quét, khiến quân Pháp sa lầy vào một cuộc chiến tiêu hao tốn kém và ngày càng kiệt sức. Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Giải phóng quân đã phát triển từ một đội quân nhỏ gồm vài nghìn người trở thành Quân đội Quốc gia Việt Nam (khác với định nghĩa [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]]) với quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành 40 chi đội. Đến cuối năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam giành chiến thắng lớn trong [[Chiến dịch Biên giới]] đồng thời chuyển đổi vị thế từ phòng thủ sang phản công.
Sau Chiến dịch Biên giới, biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc được khai thông, Việt Nam bắt đầu nhận được sự viện trợ vũ khí của khối Xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc và một số nước Đông Âu), Giải phóng quân phát triển vượt bậc cả về số lượng và khả năng chiến đấu. Ngày 23 tháng 9 năm 1954, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam<ref>https://www.qdnd.vn/ky-niem-75-nam-ngay-thanh-lap-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-22-12-1944-22-12-2019-va-30-nam-ngay-hoi-quoc-phong-toan-dan-22-12-1989-22-12-2019/danh-gia-phan-tich/bai-1-tu-tu-ve-do-den-quan-doi-nhan-dan-605425</ref>. Sau đó, thành lập các đại đoàn quân chủ lực 308, 304, 312, 320, 316, 325, 351, binh chủng pháo binh cũng được thành lập. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Quân đội nhân dân Việt Nam lập nên [[Chiến dịch Điện Biên Phủ|Chiến thắng Điện Biên Phủ]] trước thực dân Pháp.<ref name=":0" />
Cho đến kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương năm 1954, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có tổng quân số khoảng 25 vạn quân chủ lực và vài chục vạn dân quân địa phương. Sau hiệp định Geneva, bộ phận quân đội nhân dân ở miền Nam tập kết ra Bắc. Quân đội Việt Nam bắt đầu xây dựng quân đội theo hệ chính quy thống nhất. Bộ Chính trị quyết định cắt giảm 8 vạn quân chủ lực, đưa 3 vạn quân sang làm kinh tế, chỉ giữ lại 17 vạn quân chủ lực, đồng thời thành lập thêm các quân chủng Hải quân, Phòng không Không quân, binh chủng xe tăng, lực lượng biên phòng...
Ngày 15 tháng 2 năm 1961, [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] được thành lập, là một bộ phận của Quân đội nhân dân chiến đấu ở miền Nam. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiến hành chiến tranh chống Mỹ với chiến lược được gọi là ''"toàn dân, toàn diện, lâu dài"'', tiêu biểu là chống [[Kế hoạch Staley–Taylor|chiến tranh đặc biệt]], [[Chiến tranh cục bộ (Chiến tranh Việt Nam)|chiến tranh cục bộ]] của Mỹ ở miền Nam; chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc mà nổi bật là [[Chiến dịch Linebacker II|chiến dịch Điện Biên Phủ trên không]] tháng 12 năm 1972; [[Chiến dịch Mùa Xuân 1975|Cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975]] với kết thúc là [[chiến dịch Hồ Chí Minh]] vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Trong thời kỳ 1961-1975, tài liệu Mỹ thường phân biệt 2 lực lượng: Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (Mỹ gọi là "Việt Cộng") với Quân đội nhân dân Việt Nam (Mỹ gọi là "quân Bắc Việt Nam"). Nhưng thực ra, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được hình thành từ một bộ phận du kích của Quân đội nhân dân Việt Nam.<ref>[http://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/y-nghia-ten-goi-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-qua-cac-thoi-ky-lich-su-440815 Ý nghĩa tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử], Báo Quân đội nhân dân, 20/12/2014</ref> Sự phân biệt này của Mỹ xuất phát từ việc Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam về pháp lý có sự độc lập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng vẫn chịu sự lãnh đạo về Đảng của Đảng Lao động Việt Nam (do [[Hiệp định Genève 1954|Hiệp định Genève]] không cấm), nhằm có vị thế hợp lý trên bàn đàm phán tại [[Paris]]. Sau năm 1975, khi đã "công khai" sự lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với Mặt trận Giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời và Quân Giải phóng trong suốt cuộc chiến, thì Quân giải phóng được xem là một phần Quân đội nhân dân Việt Nam như bản chất khi thành lập nó.
Cho đến năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có 1,24 triệu quân chủ lực và hàng triệu dân quân địa phương, đứng thứ 4 về tổng quân số trên thế giới, chỉ sau [[Liên Xô]], [[Hoa Kỳ]] và [[Trung Quốc]] <ref>{{chú thích web|url=https://books.google.com/books?id=ehG6AAAAIAAJ&newbks=0&hl=en|title=The Vietnam People's Army: Regularization of Command, 1975-1988|first=Daniel Myles|last=FitzGerald|date=17 August 1989|publisher=Strategic and Defence Studies Centre, Research School of Pacific Studies, the Australian National University|via=Google Books}}</ref>. Năm 1977, Việt Nam chủ trương giảm số quân chủ lực xuống còn 85 vạn người (60 vạn quân thường trực chiến đấu, 25 vạn quân tham gia sản xuất kinh tế). Tuy nhiên, khi tình hình biên giới Tây Nam phức tạp, Việt Nam buộc phải chuyển các đơn vị kinh tế sang chiến đấu và tăng quân số lên trên 1 triệu người. Đồng thời hơn 5 vạn bộ đội được đưa sang Lào để đảm bảo sự ổn định tại Lào.
Ngày 23 tháng 12 năm 1978, Quân đội Việt Nam huy động 25 vạn quân chủ lực mở cuộc phản công trước cuộc tiến công của Quân đội [[Campuchia Dân chủ]] (Khmer Đỏ). Sau đó đã phối hợp với các lực lượng vũ trang Campuchia, đánh tan 21 sư đoàn quân Campuchia Dân chủ, xoá bỏ chế độ diệt chủng.<ref name=":0" /> Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đem 60 vạn quân đánh vào biên giới phía Bắc Việt Nam, cuộc chiến tranh chỉ kéo dài trong 30 ngày, nhưng sau đó 2 bên căng thẳng suốt 10 năm. Trong năm 1979-1980, Việt Nam phải duy trì quân số chủ lực đến trên 2 triệu người, đến năm 1983 giảm xuống còn 1,6 triệu người. Năm 1989, sau khi bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và rút quân khỏi [[Lào]] và Campuchia, quân đội Việt Nam giảm xuống còn khoảng 60 vạn người.
Năm 2010, theo Việt Nam công bố, lực lượng thường trực Việt Nam gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương có tổng quân số khoảng gần nửa triệu người, và lực lượng quân dự bị khoảng 5 triệu người.<ref name=":0" />
== Tham chiến ==
Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiến đấu với nhiều quốc gia, chính thể, tổ chức... như: [[Đế quốc thực dân Pháp|Pháp]], [[Đế quốc Anh|Anh]], [[Hoa Kỳ]], [[Đế quốc Nhật Bản|Nhật Bản]], [[Trung Quốc]], [[Quốc gia Việt Nam]]/[[Việt Nam Cộng hòa]], [[Đệ Tam Đại Hàn Dân Quốc|Hàn Quốc]], [[Thái Lan]], [[Philippines]], [[Úc]], [[New Zealand]], [[Vương quốc Lào]], [[Vương quốc Campuchia (1953-70)|Vương quốc Campuchia]] – [[Cộng hòa Khmer]], [[Campuchia Dân chủ]] ([[Khmer Đỏ]]), [[FULRO]], tổ chức du kích của [[H'Mông|người H'Mông]] tại [[Lào]] (trong [[chiến tranh Việt Nam]] nói riêng và [[Chiến tranh Đông Dương (định hướng)|các cuộc xung đột, chiến tranh khác tại Đông Dương nói chung]]).
Những cuộc chiến / chiến dịch tiêu biểu bao gồm:
* [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] – [[Chiến tranh Thái Bình Dương]] (Chống lại sự chiếm đóng của Đế quốc thực dân Pháp và Đế quốc Nhật Bản tại Việt Nam và [[bán đảo Đông Dương]])
* [[Nam Bộ kháng chiến]] (Chống lại lực lượng liên minh các quân đội Anh-[[Raj thuộc Anh|Ấn Độ]], Pháp, Nhật đóng quân tại Nam Bộ)
* [[Chiến tranh Đông Dương]] (Chống lại [[Đệ tứ Cộng hoà Pháp]] và các đồng minh tại 3 nước Đông Dương)
* [[Chiến tranh Việt Nam]] (Chống lại Hoa Kỳ và [[Quân lực Thế giới Tự do (Chiến tranh Việt Nam)|các lực lượng đồng minh]] tại 3 nước Đông Dương)
* [[Nội chiến Campuchia]] (Hỗ trợ lực lượng Khmer Đỏ chống lại chính phủ Cộng hòa Khmer được hậu thuẫn bởi Hoa Kỳ)
* [[Nội chiến Lào]] (Hỗ trợ lực lượng [[Pathet Lào]] chống lại chính phủ Vương quốc Lào được hậu thuẫn bởi Pháp và Hoa Kỳ)
* [[Chiến tranh biên giới Việt Nam – Campuchia|Chiến dịch phản công biên giới Tây – Nam Việt Nam]] (Chống lại lực lượng [[Diệt chủng Campuchia|diệt chủng]] Khmer Đỏ được sự hậu thuẫn, ủng hộ và viện trợ bởi Trung Quốc, Hoa Kỳ, Thái Lan cùng Anh Quốc)
* [[Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung, 1979]] (Chống lại hành động xâm lược của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa)
* [[Xung đột Việt–Trung 1979–1991|Xung đột biên giới Việt Nam – Trung Quốc 1979-1990]] (Chống lại sự xâm lấn biên giới của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa)
* [[Xung đột Thái Lan – Việt Nam (1979–1989)|Xung đột Thái Lan – Việt Nam 1982-1988]] (Chống lại Vương quốc Thái Lan và Khmer Đỏ)
* [[Chiến tranh biên giới Lào – Thái Lan]] (Chống lại Vương quốc Thái Lan và bảo vệ đồng minh Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào)
* [[Xung đột Campuchia 1997]] (Chống lại Khmer Đỏ và bảo vệ đồng minh Campuchia)
* [[Nổi dậy tại Lào]], xung đột tại Lào từ năm 1975 (Chống lại các nhóm người H'mông nổi dậy và bảo vệ đồng minh Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào)
Theo thống kê của Việt Nam thì đến năm 2012, Việt Nam có 1.146.250 liệt sĩ và khoảng 600.000 thương binh, trong đó có 191.605 liệt sĩ hy sinh trong Chiến tranh Đông Dương, 849.018 liệt sĩ hy sinh trong Chiến tranh Việt Nam, số còn lại hy sinh trong các cuộc chiến tranh khác, hoặc hy sinh khi thực hiện nhiệm vụ trong thời bình.<ref>{{Chú thích web|url=http://datafile.chinhsachquandoi.gov.vn/Qu%E1%BA%A3n%20l%C3%BD%20ch%E1%BB%89%20%C4%91%E1%BA%A1o/Chuy%C3%AAn%20%C4%91%E1%BB%81%204.doc|tiêu đề=Chuyên đề 4 CÔNG TÁC TÌM KIẾM, QUY TẬP HÀI CỐT LIỆT SĨ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO, datafile.chinhsachquandoi.gov.vn/Quản%20lý%20chỉ%20đạo/Chuyên%20đề%204.doc|ngày truy cập=2020-02-22|archive-date=2023-04-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20230404230151/http://datafile.chinhsachquandoi.gov.vn/Qu%E1%BA%A3n%20l%C3%BD%20ch%E1%BB%89%20%C4%91%E1%BA%A1o/Chuy%C3%AAn%20%C4%91%E1%BB%81%204.doc|url-status=dead}}</ref>
Nhiều liệt sĩ cũng đồng thời là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thì: ''"Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đã có gần 160.000 đảng viên hy sinh..."''<ref>{{chú thích web|url=https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2015/02/150203_vn_war_party_people_killed|title=TBT Trọng: '160 nghìn Đảng viên hy sinh'|date=3 February 2015|website=BBC News Tiếng Việt}}</ref>
[[Hoàng Văn Nhủng]] là liệt sỹ đầu tiên, hy sinh ngày 5 tháng 2 năm 1945 khi đánh diệt đồn [[Đồng Mu]] ([[Bảo Lạc]], [[Cao Bằng]]), trong trận đánh thứ ba của Quân đội nhân dân Việt Nam (khi đó mang tên là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân).
Tính tới năm 2012, cả nước có 9.637 công trình ghi công liệt sĩ trên cả nước (nghĩa trang, đài tưởng niệm, đền thờ). Tỉnh có nhiều liệt sĩ nhất cả nước là [[Quảng Nam]] với 65.000 liệt sĩ (ngoài ra tỉnh Quảng Nam còn có hơn 30.000 thương binh). [[Huyện (Việt Nam)|Huyện]] có nhiều liệt sĩ nhất cả nước là huyện [[Điện Bàn]] (cũng thuộc tỉnh Quảng Nam) với hơn 19.800 liệt sĩ.<ref>{{Chú thích web | url = http://www.qdnd.vn/phong-su-dieu-tra/phong-su/chuyen-o-nghia-trang-liet-si-dien-ban-508171 | tiêu đề = Chuyện ở Nghĩa trang liệt sĩ Điện Bàn | tác giả = | ngày = 24 tháng 5 năm 2017 | ngày truy cập = 5 tháng 2 năm 2018 | nơi xuất bản = Quân đội Nhân dân | ngôn ngữ = }}</ref><ref>{{Chú thích web | url = http://dantri.com.vn/chinh-tri/quang-nam-khanh-thanh-nghia-trang-liet-si-20150727151215946.htm | tiêu đề = Quảng Nam khánh thành nghĩa trang liệt sĩ | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 5 tháng 2 năm 2018 | nơi xuất bản = [[Dân trí (báo)|Báo điện tử Dân Trí]] | ngôn ngữ = }}</ref>
=== Các trận đánh/chiến dịch lớn ===
* [[Cách mạng tháng Tám]]
* [[Trận Hà Nội 1946]]
* [[Chiến dịch Việt Bắc]] (1947)
* [[Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng]] (1949)
* [[Chiến dịch Biên giới]] (1950)
* [[Chiến dịch Hoàng Hoa Thám]] (hay Chiến dịch Đường 18) (1951)
* [[Chiến dịch Hòa Bình]] (1952)
* [[Chiến dịch Tây Bắc]] (1952)
* [[Chiến dịch Điện Biên Phủ]] (chiến thắng quyết định trong Chiến tranh Đông Dương)
* [[Trận Ấp Bắc]] (1963)
* [[Trận Bình Giã]] (cuối 1964 đầu 1965)
* [[Chiến dịch An Lão]]
* [[Chiến dịch Ba Gia]]
* [[Trận Đồng Xoài]]
* [[Chiến dịch Sấm Rền]] (1964–1968)
* [[Chiến dịch Junction City]] (1967)
* [[Sự kiện Tết Mậu Thân]] (1968)
* [[Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh|Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh]] (1968)
* [[Chiến dịch Campuchia]] (1970)
* [[Chiến dịch Lam Sơn 719]] (1971)
* [[Chiến dịch Xuân - Hè 1972|Chiến dịch Xuân – Hè 1972]]
* [[Trận cầu Hàm Rồng]]
* [[Chiến dịch Linebacker II]] (hay [[Trận Điện Biên Phủ trên không]]) (1972)
* [[Chiến dịch Tây Nguyên]] (1975)
* [[Chiến dịch Huế-Đà Nẵng]] (1975)
* [[Chiến dịch Hồ Chí Minh]] (1975)
* [[Chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam Việt Nam]]
* [[Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979]]
* [[Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990]]
* [[Xung đột Thái Lan-Việt Nam 1982-1988]]
* [[Hải chiến Trường Sa 1988]]
* [[Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan]]
== Tặng thưởng ==
Trong suốt các cuộc chiến đã có tổng cộng:
* 20 tướng lĩnh được tặng, truy tặng [[Huân chương Sao Vàng]] – phần thưởng cao quý nhất của nhà nước Việt Nam.
* 113 đơn vị và 34 tướng lĩnh được trao [[Huân chương Hồ Chí Minh]],
* 807 đơn vị hoặc quân nhân được trao [[Huân chương Độc Lập]],
* 822.924 đơn vị hoặc quân nhân được tặng thưởng [[Huân chương Quân công]]/[[Huân chương Chiến công]]; 139.335 quân nhân được tặng [[Huân chương Kháng chiến]];
* 1.682.649 quân nhân được tặng thưởng [[Huân chương Chiến sĩ giải phóng]];
* 198.680 quân nhân được tặng thưởng [[Huân chương Chiến thắng]];
* 141.321 quân nhân được tặng thưởng [[Huân chương Chống Mỹ cứu nước]];
* 2.593.641 quân nhân được tặng thưởng [[Huy chương Chiến sĩ vẻ vang]];
* 3.738 đơn vị được tuyên dương [[Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân]]; 36 đơn vị được tuyên dương danh hiệu này 2 lần, 4 đơn vị được tuyên dương 3 lần;
* 1.286 quân nhân được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân: 148 trong chiến tranh Đông Dương, 859 trong chiến tranh Việt Nam, 279 trong các cuộc chiến khác. Trong số đó, 160 anh hùng là nữ và 163 anh hùng là người dân tộc thiểu số. Có 1 anh hùng là người nước ngoài (ông [[Nguyễn Văn Lập]], tên khai sinh là Kostas Sarantidis, người [[Hy Lạp]]).
* Người có nhiều huân huy chương nhất là [[Trịnh Tố Tâm]]: Từ năm 1967 đến 1970, ông chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên, chỉ huy đơn vị đánh 58 trận, diệt 1.500 địch, phá hủy 61 xe quân sự, lật đổ 19 đoàn tàu hỏa. Riêng ông đã tiêu diệt được 272 tên địch, trong đó có 185 lính Mỹ (chủ yếu bằng chiến thuật đặt mìn), phá hủy 3 máy bay lên thẳng. Ngày 20/9/1971, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân khi mới 26 tuổi. Ông được tặng thưởng 1 Huân chương Độc lập hạng Ba; 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; 13 Huân chương chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba; 3 Huân chương giải phóng hạng Nhất; 53 lần được phong tặng danh hiệu [[Dũng sĩ diệt Mỹ]]. Sau chiến tranh, ông đã từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và mất năm 1996 khi 51 tuổi.<ref>{{chú thích web|url=https://tienphong.vn/post-1272015.tpo|title=Người Anh hùng truyền cảm hứng cho giới trẻ|date=5 September 2020|website=Báo điện tử Tiền Phong}}</ref><ref>{{chú thích web|url=https://www.qdnd.vn/xa-hoi/chinh-sach/khanh-thanh-tuong-anh-hung-trinh-to-tam-633921|title=Khánh thành tượng Anh hùng Trịnh Tố Tâm|website=Quân đội nhân }}</ref>
Sáng ngày 21 tháng 12 năm 2019, Quân đội nhân dân Việt Nam được trao tặng [[Huân chương Quân công]] hạng nhất từ thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thay mặt Nhà nước Việt Nam trao.<ref>{{chú thích web|author1=Lê Hiệp|title=Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: 'Tuyệt đối không để Tổ quốc bị động, bất ngờ'|url=https://thanhnien.vn/thoi-su/thu-tuong-nguyen-xuan-phuc-tuyet-doi-khong-de-to-quoc-bi-dong-bat-ngo-1162108.html|website=Báo Thanh niên|publisher=ngày 21 tháng 12 năm 2019|access-date = ngày 21 tháng 12 năm 2019}}</ref>
Từ tháng 12/1994 đến hết năm 2001, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý "[[Bà mẹ Việt Nam anh hùng]]" cho 44.253 bà mẹ có chồng hoặc con cái là binh sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh, trong đó:<ref>{{Chú thích web |url=http://www.phunu.hochiminhcity.gov.vn/web/tintuc/default.aspx?cat_id=521&news_id=285 |ngày truy cập=ngày 15 tháng 4 năm 2012 |tựa đề=Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh |archive-date = ngày 29 tháng 9 năm 2006 |archive-url=https://web.archive.org/web/20060929162915/http://www.phunu.hochiminhcity.gov.vn/web/tintuc/default.aspx?cat_id=521&news_id=285 }}</ref>
*Miền Bắc (từ [[Quảng Bình]] trở lên): 15.033 mẹ.
*Miền Nam (từ [[Quảng Trị]] trở xuống): 29.220 mẹ.
*Tỉnh [[Quảng Nam]] là tỉnh có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.658 mẹ.
Tính đến tháng 7/2020, Nhà nước Việt Nam đã phong tặng hoặc truy tặng 139.275 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, trong đó tỉnh Quảng Nam có số lượng Bà mẹ Việt Nam anh hùng được phong tặng và truy tặng cao nhất (15.261 mẹ), tiếp theo là [[Bến Tre]] với 6.905 mẹ, [[Quảng Ngãi]] có 6.802 mẹ, Hà Nội có 6.723 mẹ.
== Tướng lĩnh tiêu biểu ==
{{chính|Tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam}}
# [[Đại tướng]] [[Võ Nguyên Giáp]], [[Tổng tư lệnh|Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam]], Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam
# [[Đại tướng]] [[Nguyễn Chí Thanh]], Chủ nhiệm [[Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam|Tổng cục Chính trị]] đầu tiên
# [[Đại tướng]] [[Hoàng Văn Thái]], Tổng Tham mưu Trưởng đầu tiên
# [[Đại tướng]] [[Lê Trọng Tấn]], Tổng Tham mưu trưởng (1978-1986)
# [[Đại tướng]] [[Văn Tiến Dũng]], Tổng tham mưu trưởng lâu nhất (1953-1978)
#[[Đại tướng]] [[Lê Đức Anh]], Chủ tịch nước
#[[Đại tướng]] [[Chu Huy Mân]], Phó Chủ tịch nước
#[[Đại tướng]] [[Nguyễn Quyết]], Phó Chủ tịch nước
# [[Thượng tướng]] [[Chu Văn Tấn]], chỉ huy Cứu quốc quân
# [[Thượng tướng]] [[Trần Văn Trà]], Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
# [[Thượng tướng]] [[Lê Khả Phiêu]], nguyên [[Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam]]
# [[Trung tướng]] [[Nguyễn Bình]], [[Tư lệnh]] [[Nam Bộ Việt Nam|Nam Bộ]] – [[Trung tướng]] đầu tiên
# [[Trung tướng]] [[Đồng Sĩ Nguyên]], tư lệnh Binh đoàn 559, Phó Thủ tướng.
# [[Thiếu tướng]] [[Dương Văn Dương]], Tư lệnh Liên khu [[Bình Xuyên]]
# [[Thiếu tướng]] [[Hoàng Sâm]], đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
# [[Thiếu tướng]] [[Phùng Chí Kiên]], vị tướng quân đầu tiên
# [[Thiếu tướng]] [[Lê Thiết Hùng]], vị tướng được phong quân hàm đầu tiên
# [[Thiếu tướng]] [[Nguyễn Sơn]], Lưỡng quốc tướng quân
# [[Thiếu tướng]] [[Nguyễn Thị Định]], nữ tướng đầu tiên, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
== Nhiệm vụ ==
Quân đội nhân dân Việt Nam có 02 nhiệm vụ, bao gồm: ''chiến đấu, công tác phục vụ nhân dân'' và ''sản xuất'' để hoàn thành mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị của Tổ quốc, bảo vệ bản sắc dân tộc.<ref name="vnp">[http://www.vietnamplus.vn/ba-chuc-nang-co-ban-cua-quan-doi-nhan-dan-trong-thoi-binh/293226.vnp Ba chức năng cơ bản của Quân đội nhân dân trong thời bình], 26/11/2014, Vietnam+</ref>
=== Chiến đấu ===
Đây là nhiệm vụ then chốt của Quân đội nhân dân Việt Nam. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Quân đội được tổ chức có hai thành phần: Quân đội thường trực làm nòng cốt cùng lực lượng rộng rãi quần chúng vũ trang. Ba thứ quân: [[Bộ đội chủ lực]], [[Bộ đội địa phương]] và [[Dân quân tự vệ (Việt Nam)|Dân quân tự vệ]].<ref name="nvqd">{{chú thích web|url=https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/bai-2-doi-quan-chien-dau-cong-tac-va-san-xuat-413933|title=Bài 2: Đội quân chiến đấu, công tác và sản xuất|website=Quân đội nhân }}</ref>
Hướng tổ chức là tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài phù hợp, thường xuyên thực hành huấn luyện, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, vững vàng bản chất chính trị, nắm chắc tình hình đất nước, khu vực và quốc tế để có các biện pháp tác chiến phù hợp, đẩy mạnh hợp tác quốc tế.<ref name="vnp" />
=== Công tác phục vụ nhân dân ===
Quân đội nhân dân luôn gắn bó mật thiết, đồng cam cộng khổ với nhân dân, thực sự là cầu nối vững chắc và tin cậy của chính quyền với nhân dân. Quân đội còn có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của chính quyền, phản bác lại các luận điểm bóp méo, bôi nhọ, không đúng sự thật. Bên cạnh đó, quân đội là một trong các lực lượng nòng cốt trong công tác cứu hộ, cứu nạn, giúp dân phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, xả thân trong hiểm nguy để cứu tính mạng và tài sản của nhân dân.<ref name="nvqd" /> Giải quyết hậu quả chiến tranh bao gồm rà, phá bom mìn, tẩy độc môi trường và các chính sách hậu chiến. Tại những khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa, quân đội chịu cả trách nhiệm phổ cập giáo dục và chăm sóc y tế với người dân.<ref name="vnp" />
=== Sản xuất ===
Các đơn vị quân đội đã tận dụng mọi tiềm năng, nguồn lực lao động, đất đai, kỹ thuật... Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tạo nguồn thực phẩm bổ sung tại chỗ, góp phần giữ ổn định và cải thiện đáng kể đời sống vật chất cho bộ đội. Các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp quốc phòng đã sản xuất được một số loại vũ khí, trang bị khí tài phù hợp, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại, yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Nhiều đơn vị làm kinh tế của quân đội đã sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, trở thành các tổ chức, tập đoàn kinh tế lớn của đất nước, đi đầu trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước... Hoạt động sản xuất kinh tế của lực lượng quân đội còn hướng tới giúp dân khai hoang, cải tạo đồng ruộng, xây dựng ruộng lúa nước, trồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc; hỗ trợ vốn làm nhà và cây con giống, giúp đỡ về kỹ thuật sản xuất, chống di dân và đón nhận dân ở tuyến sau đến định cư, giúp dân ổn định cuộc sống lâu dài.<ref>[http://baotintuc.vn/xa-hoi/quan-doi-thuc-hien-tot-ba-chuc-nang-trong-thoi-binh-20141203223102501.htm Quân đội thực hiện tốt ba chức năng trong thời bình], 04/12/2014, Báo Tin tức</ref> Đến nay, Quân đội đã xây dựng được 23 khu kinh tế quốc phòng đây là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế – xã hội gắn với tăng cường quốc phòng – an ninh của đất nước. Doanh nghiệp quân đội ngoài phục vụ các mục tiêu quân sự còn phục vụ nhu cầu dân sự, tiến hành đầu tư trong và ngoài nước.<ref>{{chú thích web|url=http://www.mod.gov.vn/wps/portal/!ut/p/b1/vZXJjqNIFEW_JT_AIsxoL5nneWaTYjJmxhiDzdcX7k611FUqe1OVxApxr068y4sXUAQFUNTFc1nEU9l3cfN8j_BPjtSsA7Ungb4XOCAipom4NoABwDdBuAlonhRQQgHgoPAYEEnBtY4mggAS-ckPxM1PUQA-CizQDRjyocAJlztzFReGZE7LxFjpWblSzK5BfJFw7cmS-b6Z6wNHH41MCVPHmUN0ag0-NasRoPnirYW0Q2SQEOsNq4hP-bTGg6OtREavskdLrG1ylBWf8evebsSqO40Gl2aWad8ivZaHtLD6QeZudMe0Y9zIbanP0-lUkxcaZQLy4-OrRvCbhwTvavzX_0LwJmMfil4iGPhL8Oo3_CN4UUO4CYjfbxKBHCioQvjI9OLCsfHpngp3eLr6cCXTIC0LlvEs3z0rJSaLlsF2h7zhAuoRzbfDFcNoNdKMqTuvvM9kmwXmkws_ERdcwIl2Oc4WgqaZu6uVi9urg0KeDPpe9iZ7KdaiH-02ZxVQdfNoYdKsYTfuMpZiHIbMKujixaTCaySVnZEdtaabiPQK93kSX4yk0Y9Iaq1ktnULxfiqQdeqTB1EwHqdFNNq6oK6MLgEZ4M7BbQV8aPCbPj46o1HcxAEQASL2X-8CQeDn-EA9NOuHoO41qtVrSasVTIgKRnn6raVxr4t80S61c3wsGOcOketHdZDtH2K6pjfja1e9j3J0skZe7bcG-D-u4HINwMV8MeBEhQVTZ9sQ81zwoF69jH7nDgtb9hEzsa3QQHcnCiuRPfZoJXjMTjk0hANklUQgy7ONU1x1pj4-QkeyaZnwBQvgryiMAWLreOhGBl612a8SLfz7lFSFwYE4cgwhKCy_RFVRA7bNcZBy2aL1zVeYD-pEPn0-XYvCD28n3M11Ft4798w7bCEmYYvANKEvs1_ier_A4JHf4kKLA-VSREVgBU4njwxjq-59d7OJE2tN0vlrurqKXbdP-xK3KuZY2Se5VIkOVI3oL4DYt8NxP82kNefQMmRMFs3YQAj310h8ceB_nbpvJzn_ph3WT5CQ-vOsoJbwhr8t3J-br_WSm6H5wdDLU2r/dl4/d5/L3dHQSEvUUtRZy9nQSEh/|title=Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng Việt Nam<!-- Bot generated title -->|publisher=}}</ref> Quân đội sản xuất xây dựng kinh tế nhằm góp phần gìn giữ năng lực sản xuất quốc phòng, nâng cao năng lực chiến đấu cho Quân đội và góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách quốc phòng.
== Tổ chức ==
{{xem thêm|Tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân ủy Trung ương Việt Nam}}
Theo Luật Quốc phòng năm 2005 (luật số 39/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005), Quân đội nhân dân là một bộ phận và là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm Lực lượng Thường trực và Lực lượng Dự bị Động viên. Lực lượng Thường trực của Quân đội nhân dân có Bộ đội Chủ lực và Bộ đội Địa phương. Cấp tổ chức của Quân đội nhân dân Việt Nam từ thấp đến cao là [[tiểu đội]], [[trung đội]], [[đại đội]], [[tiểu đoàn]], [[trung đoàn]], [[lữ đoàn]], [[sư đoàn]] (trước đây gọi là đại đoàn). Cấp cao nhất là [[quân đoàn]], hiện nay có hai quân đoàn là các quân đoàn 12 và 34. Đây chính là quân chủ lực cơ động.
Từ cấp tiểu đoàn trở lên có ban chỉ huy gồm cấp trưởng, cấp phó, tham mưu trưởng và cấp phó phụ trách công tác chính trị, theo chế độ một thủ trưởng. Trước đây, khi thực hiện chế độ "hai thủ trưởng", thì ngoài thủ trưởng quân sự (đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng...), từ cấp đại đội trở lên còn có thủ trưởng chính trị, được gọi là chính trị viên (ở cấp đại đội và tiểu đoàn) hoặc [[chính ủy]] (ở cấp trung đoàn trở lên). Cấp thủ trưởng chính trị này từ sau Chiến tranh Việt Nam đã chuyển thành cấp phó phụ trách công tác chính trị. Theo nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ X, chế độ chính ủy-chính trị viên lại được khôi phục trong toàn quân từ năm 2006.
Quân đội nhân dân Việt Nam bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương; các quân khu, quân chủng, bộ đội biên phòng, quân đoàn, binh chủng; hệ thống các đơn vị bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu và các đơn vị kinh tế-quốc phòng.
{| table border="1" cellpadding="2" cellspacing="0" width=100%; style="background:#efefef;" table
|-
|- align=center
|- bgcolor="#CCCCCC"
! width="50" |Lực lượng
! width="200" align="center" style="color:red; background-color:yellow;"|Lục quân
! width="200" align="center" style="color:#33CCFF; background-color:yellow;" |Không quân
! width="200" align="center" style="color:#000000; background-color:yellow;" |Hải quân
! width="200" align="center" style="color:red; background-color:#006400;" |Biên phòng
! width="200" align="center" style="color:yellow; background-color:#000099;" |Cảnh sát biển
! width="200" align="center" style="color:red; background-color:yellow;" |Không gian Mạng
|-
|''' Biểu trưng'''
|[[Tập tin:Vietnam People's Army Ground Force insignia.png|giữa|không_khung|100x100px]]
|[[Tập tin:Vietnam People Air Force insignia.png|giữa|100x100px]]
|[[Tập tin:Logo Hải quân Việt Nam.svg|giữa|không_khung|100x100px]]
|[[Tập tin:Phù hiệu Bộ đội Biên phòng Việt Nam.webp|giữa|không_khung|100x100px]]
|[[Tập tin:Vietnam Coast Guard insignia.svg|giữa|100x100px]]
|
|-
|'''Tên gọi'''
|[[Lục quân Quân đội nhân dân Việt Nam|Lục quân]]
|[[Quân chủng Phòng không - Không quân, Quân đội nhân dân Việt Nam|Phòng không-Không quân]]
|[[Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam|Hải quân]]
|[[Bộ đội Biên phòng Việt Nam|Bộ đội biên phòng]]
|[[Cảnh sát biển Việt Nam|Cảnh sát biển]]
|[[Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, Quân đội nhân dân Việt Nam|Tác chiến không gian mạng]]
|-
|'''Đặc điểm'''
|Không biên chế Quân chủng mà trực tiếp trực thuộc [[Bộ Quốc phòng (Việt Nam)|Bộ Quốc phòng]] quản lý
|Thành lập Quân chủng bao gồm cả lực lượng Phòng không và Không quân
|Thành lập Quân chủng bao gồm cả Hải quân và Hải quân đánh bộ
|Thành lập Bộ Tư lệnh, bảo đảm tuần biên trên đất liền, biên giới
|Thành lập Bộ Tư lệnh, bảo đảm tuần duyên trên biển
|Thành lập Bộ Tư lệnh, bảo đảm tác chiến điện từ và công nghệ cao
|-
|'''Quân số'''
|Khoảng 800.000
|Khoảng 60.000
|Khoảng 70.000
|Khoảng 50.000
|Khoảng 30.000
|Khoảng 7.000
|-
|'''Biên chế'''
|7 Quân khu và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; 3 Quân đoàn, 6 Binh chủng
|9 Sư đoàn, 3 Lữ đoàn
|5 Bộ Tư lệnh Vùng Hải quân, 3 Lữ đoàn
|5 Lữ đoàn và Bộ đội Biên phòng các tỉnh
|4 Bộ Tư lệnh Vùng cảnh sát biển
|3 Lữ đoàn
|}
== Lãnh đạo ==
{{xem thêm|Danh sách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam}}
[[Tập tin:Mr. Vo Nguyen Giap.jpg|thumb|154x154px|[[Đại tướng]] [[Võ Nguyên Giáp]] năm 1957]]
[[Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam|Chủ tịch nước]] có vai trò là Thống lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam và giữ vai trò là [[Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh Việt Nam|Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh]] thông qua [[Hội đồng quốc phòng và an ninh Việt Nam|Hội đồng Quốc phòng và An ninh]]. [[Quân ủy Trung ương (Việt Nam)|Quân ủy Trung ương]] là cơ quan lãnh đạo của [[Đảng Cộng sản Việt Nam]] trong Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập vào tháng 1 năm 1946 do [[Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam]] trực tiếp làm [[Bí thư Quân ủy Trung ương (Việt Nam)|Bí thư Quân ủy Trung ương]]. Do Việt Nam là nước đơn đảng, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lãnh đạo Quân đội trực tiếp, tuyệt đối nên [[Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Tổng Bí thư]] (kiêm nhiệm [[Bí thư Quân ủy Trung ương (Việt Nam)|Bí thư Quân ủy Trung ương]]) là chức danh lãnh đạo cao nhất đối với quân đội.
Các chức vụ cao nhất trong Quân đội nhân dân Việt Nam gồm [[Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (Việt Nam)|Bộ trưởng Bộ quốc phòng]], [[Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam|Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị]], [[Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam|Tổng Tham mưu trưởng]], có cấp bậc quân hàm cao nhất là [[Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng]]. Ngoài ra, trước đây từng có chức vụ [[Tổng tư lệnh|Tổng Tư lệnh]] các lực lượng vũ trang do [[Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng]] [[Võ Nguyên Giáp]] nắm giữ.
== Cấp bậc quân hàm ==
{{chính|Quân hàm Quân đội nhân dân Việt Nam}}
Theo Lệnh số 32/2014/L-CTN ngày 09/12/2014 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc công bố ''Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam'' đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 27/11/2014, các cấp bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam được quy định như sau:
Màu viền của quân hàm thể hiện các quân chủng: [[Lục quân Quân đội nhân dân Việt Nam|Lục quân]]: màu đỏ tươi; [[Quân chủng Phòng không - Không quân, Quân đội nhân dân Việt Nam|Phòng không – Không quân]]: màu xanh da trời; [[Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam|Hải quân]]: màu tím than.
Màu nền là màu vàng. Quân hàm [[Bộ đội Biên phòng Việt Nam|Bộ đội biên phòng]] có màu viền là màu đỏ tươi tương tự như Lục quân, nhưng có màu nền xanh lá cây. Quân hàm [[Cảnh sát biển Việt Nam|Cảnh sát biển]] có màu viền vàng nhưng có màu nền là màu xanh nước biển.
* Cấp bậc cao nhất: [[Tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam|Sĩ quan cấp tướng]].
{| class="wikitable"
|-
! width="100" rowspan="2" |Bậc
! width="150" rowspan="2" |Cấp
! width="100" style="color: yellow; background-color:red;" |Lục quân
! width="100" style="color: yellow; background-color:#000000;" |Hải quân
! width="100" style="color: yellow; background-color:#33CCFF;" |Phòng không-Không quân
! width="100" style="color: yellow; background-color:green;" |Bộ đội<br>Biên phòng
! width="100" style="color:yellow; background-color:#000099;" |Cảnh sát biển
! width="100" style="color: yellow; background-color:red;" |Tác chiến Không gian Mạng
! width="100" style="color: yellow; background-color:red;" |Bảo vệ Lăng Hồ Chí Minh
|-
|style="background-color:red;"|[[File:Vietnam People's Army Ground Force insignia.png|giữa|100x100px]]
|style="background-color:black;"|[[Tập tin:Logo Hải quân Việt Nam.svg|giữa|100x100px]]
|style="background-color:#33CCFF;"|[[Tập tin:Vietnam People Air Force insignia.png|giữa|100x100px]]
|style="background-color:green;"|[[Tập tin:Phù hiệu Bộ đội Biên phòng Việt Nam.webp|giữa|100x100px]]
|style="background-color:#000099;"|[[Tập tin:Vietnam Coast Guard insignia.svg|giữa|100x100px]]
|
|
|-
| rowspan="12" |'''Sĩ quan'''
| '''[[Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng]]'''
| [[Tập tin:Vietnam People's Army General.png|giữa|50px]]
|
|
|
|
|
|
|-
| '''[[Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Thượng tướng]]/[[Đô đốc|Đô đốc hải quân]]'''
| [[Tập tin:Vietnam People's Army Colonel General.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam People's Navy Admiral.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam People's Air Force Colonel General.png|giữa|50px]]
|
|
|
|
|-
| '''[[Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Trung tướng]]/[[Phó Đô đốc|Phó Đô đốc hải quân]]'''
| [[Tập tin:Vietnam People's Army Lieutenant General.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam People's Navy Vice Admiral.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam People's Air Force Lieutenant General.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam Border Defense Force Colonel General.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam Marine Police Lieutenant General.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam People's Army Lieutenant General.png|giữa|50px]]
|
|-
| '''[[Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Thiếu tướng]]/[[Chuẩn Đô đốc|Chuẩn Đô đốc hải quân]]'''
| [[Tập tin:Vietnam People's Army Major General.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam People's Navy Rear Admiral.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam People's Air Force Major General.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam Border Defense Force Major General.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam Marine Police Major General.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam People's Army Major General.png|giữa|50px]]
| [[Tập tin:Vietnam People's Army Major General.png|giữa|50px]]
|}
== Phù hiệu ==
{{chính|Phù hiệu Quân đội nhân dân Việt Nam}}
== Quân phục ==
{{chính|Quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam}}
Ngày 26 tháng 8 năm 2009, [[Thủ tướng Việt Nam]] ra Quyết định số 109/2009/QĐ-TTg quy định về quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Từ ngày 22 tháng 12 năm 2009, các sĩ quan Việt Nam cũng sử dụng quân phục mới kiểu K-08.<ref>{{Chú thích web |url=http://www.chinhphu.vn/vanbanpq/lawdocs/QD109TTG.DOC?id=93892 |ngày truy cập=ngày 18 tháng 12 năm 2009 |tựa đề=Quyết định số 109/2009/QĐ-TTg |archive-date = ngày 8 tháng 9 năm 2011 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110908174940/http://www.chinhphu.vn/vanbanpq/lawdocs/QD109TTG.DOC?id=93892 |url-status=dead }}</ref>
== Trang bị và viện trợ ==
{{chính|Trang bị Quân đội nhân dân Việt Nam|Danh sách tàu có vũ trang nước ngoài chuyển giao cho Việt Nam}}
{{xem thêm|Hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam}}
Quân đội nhân dân Việt Nam không công khai các thông tin về vũ khí, khí tài của mình nên việc biết chi tiết số lượng hay chính xác toàn bộ chủng loại là rất khó. Hiện nay, quân đội nhân dân Việt Nam đang sở hữu một lượng vũ khí lớn từ thời Chiến tranh Việt Nam được sản xuất ở Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ (do sau năm 1975 đã tịch thu được một số lượng vũ khí tương đối lớn do Hoa Kỳ viện trợ cho [[quân lực Việt Nam Cộng hòa|quân đội Sài Gòn]] trước đó). Số vũ khí này hiện nay ngày càng lạc hậu làm giảm sức mạnh tương quan với quân đội các nước khác là vấn đề lớn đối với quân đội Việt Nam. Từ năm 1990 trở đi, các bạn hàng vũ khí của Việt Nam được mở rộng với Ấn Độ, Israel, [[Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên|Bắc Triều Tiên]], Nga...<ref>{{Chú thích web |url=http://www.atimes.com/atimes/Central_Asia/EI05Ag02.html |ngày truy cập=ngày 20 tháng 4 năm 2008 |tựa đề=Asia Times - Russian missiles to guard skies over Vietnam<!-- Bot generated title --> |archive-date=ngày 24 tháng 1 năm 2012 |archive-url=https://www.webcitation.org/64wFBCjCs?url=http://www.atimes.com/atimes/Central_Asia/EI05Ag02.html }}</ref> Ngoài ra hiện nay, Việt Nam còn nhận được viện trợ khí tài từ Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản.<ref>[https://vov.vn/bien-dao/nhat-ban-vien-tro-6-tau-tuan-tra-tren-bien-cho-viet-nam-420491.vov Nhật Bản viện trợ 6 tàu tuần tra trên biển cho Việt Nam], VOV, 06/08/2015</ref><ref>[https://datviet.trithuccuocsong.vn/quoc-phong/hai-quan-viet-nam-suc-manh-quan-su-viet-nam/han-quoc-tiep-tuc-vien-tro-tau-tuan-tra-cho-viet-nam-3342766/ Hàn Quốc tiếp tục viện trợ tàu tuần tra cho Việt Nam] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20210417140951/https://datviet.trithuccuocsong.vn/quoc-phong/hai-quan-viet-nam-suc-manh-quan-su-viet-nam/han-quoc-tiep-tuc-vien-tro-tau-tuan-tra-cho-viet-nam-3342766/ |date=2021-04-17 }}, Báo Đất Việt, 10/09/2017</ref><ref>[https://thanhnien.vn/the-gioi/my-ho-tro-58-trieu-usd-chuyen-giao-2-tau-tuan-tra-co-lon-cho-viet-nam-1258050.html Mỹ hỗ trợ 58 triệu USD chuyển giao 2 tàu tuần tra cỡ lớn cho Việt Nam], Báo Thanh niên, 29/07/2020</ref>
Trong suốt chiến tranh Việt Nam (1954-1975) và chiến tranh biên giới Tây Nam (1979-1989), Việt Nam hầu như dựa hoàn toàn vào các hệ thống vũ khí trang bị có nguồn gốc từ Liên Xô. Liên Xô sụp đổ năm 1991 đã kết thúc giai đoạn viện trợ và Việt Nam bắt đầu phải thanh toán tiền mua vũ khí, trang bị bằng ngoại tệ hoặc bằng hàng đổi hàng.
Việt Nam đặt việc phát triển kinh tế lên hàng đầu và chỉ duy trì mức tăng chi tiêu quốc phòng một cách nhỏ giọt. Việt Nam không tiến hành các đợt mua sắm hay nâng cấp vũ khí lớn. Phải tới tận cuối những năm 1990, chính phủ Việt Nam công bố một loạt các chương trình mua sắm các hệ thống vũ khí trang bị hiện đại. Theo đó, Việt Nam chậm rãi phát triển hải quân và không quân để kiểm soát các vùng nước nông và [[vùng đặc quyền kinh tế]].
Hầu hết các chương trình mua sắm quốc phòng chủ yếu được thực hiện để đảm bảo ưu tiên này. Việt Nam đã mua một số máy bay chiến đấu và tàu chiến có khả năng tác chiến cao. Việt Nam cũng lên kế hoạch phát triển nền công nghiệp quốc phòng với ưu tiên cho hải quân, có sự kết hợp với các đồng minh cũ (Nga, Đông Âu, Ấn Độ).
== Hành khúc ==
* ''[[Quốc tế ca]]'', nhạc [[Pierre Degeyter]], lời [[Eugène Pottier|Eugène Potier]];
* ''[[Tiến quân ca]]'', nhạc và lời: [[Văn Cao]];
* ''[[Ca ngợi Hồ Chủ tịch]]'', nhạc: [[Lưu Hữu Phước]], lời Lưu Hữu Phước – [[Nguyễn Đình Thi]];
* ''[[Chào mừng Đảng Cộng sản Việt Nam]]'', nhạc và lời: Đỗ Minh;
* ''[[Vì nhân dân quên mình]]'', nhạc và lời: Doãn Quang Khải;
* ''[[Giải phóng Điện Biên]]'', nhạc và lời: [[Đỗ Nhuận]];
* ''[[Tiến bước dưới quân kỳ]]'', nhạc và lời: [[Doãn Nho]];
* ''[[Bác đang cùng chúng cháu hành quân]]'', nhạc và lời: [[Huy Thục]];<ref>Trang chưa được tạo</ref>
* ''[[Hát mãi khúc quân hành]]'', nhạc và lời [[Diệp Minh Tuyền]];
* ''[[Như có Bác trong ngày vui đại thắng]]'', nhạc và lời: [[Phạm Tuyên]];
* ''[[Trái tim chiến sĩ]]'', nhạc và lời: Trần Viết Được;
* ''[[Cuộc đời vẫn đẹp sao]]'', nhạc: [[Phan Huỳnh Điểu]], thơ: [[Bùi Minh Quốc]];
* ''[[Ước mơ chiến sĩ]]'', nhạc và lời: Lưu Hà An;
* ''[[Tổ quốc trong tim]]'', nhạc và lời: Trần Quốc Đạt.
=== Bài hát duyệt binh ===
Những bài hát được sử dụng khi làm lễ duyệt binh lớn:
*''[[Tiến bước dưới quân kỳ]]'', nhạc và lời: Doãn Nho;
*''[[Cùng nhau đi Hồng binh]]'', nhạc và lời: [[Đinh Nhu]];
*''[[Vì nhân dân quên mình]]'', nhạc và lời: Doãn Quang Khải;
*''[[Hát mãi khúc quân hành]]'', nhạc và lời: Diệp Minh Tuyền;
*''[[Bác đang cùng chúng cháu hành quân]]'', nhạc và lời: Huy Thục;
*''[[Chúng ta là chiến sĩ Công an]]'', nhạc và lời: Trọng Bằng.
== Đánh giá ==
Trung tá Pháp [[Marcel Bigeard]] (sau này là [[Bộ trưởng Quốc phòng Pháp]]), đã có kinh nghiệm 9 năm chiến đấu ở Đông Dương, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ từ lúc xây dựng cứ điểm cho đến khi đầu hàng, đã bày tỏ sự kính trọng của mình đối với Quân đội nhân dân Việt Nam: ''"Tôi đã thấy họ khởi sự từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta [quân đội Pháp]"''.<ref>Phim tài liệu: Việt Nam, cuộc chiến tranh mười ngàn ngày. Michael McLair. Tập 1</ref>
Thiếu tá đặc nhiệm Mỹ [[Charles Alvin Beckwith|Charles A. Beckwith]], từng tham gia [[Chiến tranh Triều Tiên]] rồi sau đó tiếp tục sang Việt Nam tham chiến, đã ca ngợi Quân đội nhân dân Việt Nam: ''"Tôi sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để có được 200 người lính như họ. Họ là những người lính giỏi nhất mà tôi từng thấy. Họ tận tâm và thuộc loại cừ khôi. Tôi chưa từng thấy lính nào giỏi như họ"''.<ref name="nongnghiep.vn">{{chú thích web|url=https://nongnghiep.vn/bo-phim-the-vietnam-war--cam-nhan-cua-mot-nguoi-trong-cuoc-d206916.html|title=Bộ phim 'The VietNam War' & cảm nhận của một người trong cuộc|date=18 November 2017|website=nongnghiep.vn}}</ref>
Tướng [[Merrill McPeak]], Tham mưu trưởng [[Không quân Hoa Kỳ]], từng là phi công chiến đấu ở Việt Nam. Trong phim ''"The Vietnam War"'', ông kể lại: ''"bằng phương tiện quan sát hiện đại gắn trên máy bay, ông ta có thể săn lùng những chiếc xe vận tải của Việt Nam như săn thỏ. Nhưng bắn nhiều rocket, thả nhiều bom đến như vậy, nhưng không lực Mỹ vẫn không tài nào ngăn nổi sự vận chuyển trên [[đường Trường Sơn]]"''. Cho đến nay, Merrill McPeek nói rằng ông vẫn ''"ức tới nghẹn cổ"'' và kết luận: ''"Ông đã ủng hộ nhầm phe, nếu có thể được thì ngày ấy ông nên chiến đấu cùng đội ngũ với các chiến sĩ can trường, quả cảm ở bên phía Việt Nam"''.<ref name="nongnghiep.vn" />
Trong một cuộc khảo sát sau cuộc chiến với các sĩ quan Hoa Kỳ từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, 44% đánh giá Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là "thiện chiến và gan góc". Một sĩ quan nhận xét: ''"Có một khuynh hướng đánh giá thấp đối thủ. Trong thực tế, họ là địch thủ giỏi nhất mà chúng ta (quân đội Mỹ) từng phải đối mặt trong lịch sử"''.<ref>Kinnard, Douglas, The War Managers. Wayne NJ: Avery Publishing Group, 1988. tr. 67</ref>
== Xem thêm ==
* [[Bí thư Quân ủy Trung ương (Việt Nam)|Bí thư Quân ủy Trung ương]]
* [[Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam|Bộ trưởng Bộ Quốc phòng]]
* [[Mười lời thề danh dự của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam]]
* [[Quân ủy Trung ương Việt Nam|Quân ủy Trung ương]]
== Tham khảo ==
{{Tham khảo|30em}}
== Thư mục ==
{{Màu chữ|#808080|
* Bộ Sách Lịch sử Quân sự Việt Nam, 14 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, HN, 1996, 2013, 2014.
* Bách khoa Toàn thư Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015 gồm 6 tập ''(Lịch sử Quân sự; Địa lý Quân sự; Hậu cần-Kỹ thuật Quân sự; Chính trị-Nhân vật-Tổ chức Lực lượng vũ trang; Nghệ thuật Quân sự; Tổng dẫn)''.
* Lịch sử Tư tưởng Quân sự Việt Nam, 5 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, HN, 2014.
* Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
* 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam - Biên niên sự kiện, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2004.
* Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1 và Tập 2, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 1994.
* Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam Tập 1, Tập 2, Tập 3, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN 2009, 2010, 2011.
* Lịch sử Công tác Đảng, công tác chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2002.
* Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2014.
* Lịch sử Tổng cục Chính trị (1944-2014), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2014.
* Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2015.
* Bộ Tổng Tham mưu những năm chiến đấu trong vòng vây, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, HN, 2011.
* Lịch sử Quân giới Việt Nam (1954-1975), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 1995.
* Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2007.
* Lịch sử Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 1999.
* Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, HN, 1996.
* Những vị tướng lừng danh trong Lịch sử dân tộc, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2014.
* Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước-Thắng lợi và bài học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, HN, 1995.
* Lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2002.
* Biên niên sự kiện lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam 1954-1975, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 1992.
* Việt Nam những sự kiện 1945-1986, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, HN, 1990.
}}
== Liên kết ngoài ==
{{Thể loại commons|Vietnam People's Army}}
* [http://www.qdnd.vn Báo Quân đội nhân dân – Tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam]
* [http://laws.dongnai.gov.vn/1991_to_2000/1999/199912/199912210006 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060720161514/http://laws.dongnai.gov.vn/1991_to_2000/1999/199912/199912210006 |date = ngày 20 tháng 7 năm 2006}}
* [http://www.acig.org/artman/publish/article_245.shtml Thống kê về các trận không chiến phần 1] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20130209163433/http://www.acig.org/artman/publish/article_245.shtml |date=2013-02-09 }}
* [http://www.quandoinhandan.org.vn/60nam/So3/310.htm Hải quân nhân dân Việt Nam Những ngày đầu xây dựng] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20051222180224/http://www.quandoinhandan.org.vn/60nam/So3/310.htm |date = ngày 22 tháng 12 năm 2005}} trên Báo Quân đội nhân dân điện tử
* [https://web.archive.org/web/20050415035859/http://www.vnn.vn/dulieu/2005/04/409835/ Số viện trợ quân sự cho Quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến tranh]
{{Bộ Quốc phòng Việt Nam}}
{{Quân đội châu Á}}
{{Tầng lớp xã hội}}
{{Lịch sử quân đội Việt Nam}}
{{Tổ chức Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam}}
[[Thể loại:Quân đội nhân dân Việt Nam| ]]
[[Thể loại:Khởi đầu năm 1944 ở Việt Nam]]
[[Thể loại:Cộng sản ở Việt Nam]]
[[Thể loại:Hồ Chí Minh]]
[[Thể loại:Nội chiến Lào]]
[[Thể loại:Quân sự Việt Nam]]
[[Thể loại:Đơn vị quân sự thành lập năm 1944]]
[[Thể loại:Lực lượng giải phóng dân tộc]]
[[Thể loại:Việt Minh]]
[[Thể loại:Võ Nguyên Giáp]] | 73294 |
1280 | Wikipedia:Thông tin/2003/11 | 4 | Wikipedia:Tin tức/2003/11 | null | 29864 | null | 2004-09-04T19:30:06 | false | Wikipedia:Thông tin/2003/11 đã được di chuyển đến Wikipedia:Tin tức/2003/11 | wikitext | text/x-wiki | f6qzvz6v9bai5px8r1yz0nawj5gb44o | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #REDIRECT [[Wikipedia:Tin tức/2003/11]]
| 42 |
1281 | Wikipedia:Thông tin/2003/12 | 4 | Wikipedia:Tin tức/2003/12 | null | 29865 | null | 2004-09-04T19:30:34 | false | Wikipedia:Thông tin/2003/12 đã được di chuyển đến Wikipedia:Tin tức/2003/12 | wikitext | text/x-wiki | px6e4w0m7t77dlqv517ha76clcisahn | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #REDIRECT [[Wikipedia:Tin tức/2003/12]]
| 42 |
1282 | Wikipedia:Thông tin/2004/01 | 4 | Wikipedia:Tin tức/2004/01 | null | 29866 | null | 2004-09-04T19:30:57 | false | Wikipedia:Thông tin/2004/01 đã được di chuyển đến Wikipedia:Tin tức/2004/01 | wikitext | text/x-wiki | o0cfd5xxtzlt7o0skitqec8tvgaqr4p | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #REDIRECT [[Wikipedia:Tin tức/2004/01]]
| 42 |
1283 | Wikipedia:Thông tin/2004/03 | 4 | Wikipedia:Tin tức/2004/03 | null | 29867 | null | 2004-09-04T19:31:21 | false | Wikipedia:Thông tin/2004/03 đã được di chuyển đến Wikipedia:Tin tức/2004/03 | wikitext | text/x-wiki | tltakkvi6pud0d3vqcuai7x045i4o1k | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #REDIRECT [[Wikipedia:Tin tức/2004/03]]
| 42 |
1285 | Wikipedia:Thông tin/2004/05 | 4 | Wikipedia:Tin tức/2004/05 | null | 29868 | null | 2004-09-04T19:31:44 | false | Wikipedia:Thông tin/2004/05 đã được di chuyển đến Wikipedia:Tin tức/2004/05 | wikitext | text/x-wiki | hw8bb7y7b2qktb9i40vtdgwbnk0guai | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #REDIRECT [[Wikipedia:Tin tức/2004/05]]
| 42 |
1286 | Wikipedia:Thông tin/2004/08 | 4 | Wikipedia:Tin tức/2004/08 | null | 29869 | null | 2004-09-04T19:32:21 | false | Wikipedia:Thông tin/2004/08 đã được di chuyển đến Wikipedia:Tin tức/2004/08 | wikitext | text/x-wiki | gvv3dvypkr53hi4kpekm6lc786iqd47 | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #REDIRECT [[Wikipedia:Tin tức/2004/08]]
| 42 |
1287 | Chiến tranh Đông Dương | 0 | null | null | 73779306 | 73488085 | 2025-08-18T10:42:21 | false | Đã cứu 2 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5 | wikitext | text/x-wiki | 7xauczxprdw7y1sa9510uugoae494zh | {
"username": "InternetArchiveBot",
"id": "686003",
"ip": null
} | {{quá dài|rps=346|date=tháng 3/2021}}
{{pp-protected|small=yes}}
{{Về|Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất}}
{{Pp-move-indef}}
{{Thông tin chiến tranh
|conflict=Chiến tranh Đông Dương
|partof=[[Chiến tranh Lạnh]], [[Chiến tranh Đông Dương (định hướng)|Chiến tranh tại Đông Dương]] và [[Phi thực dân hóa châu Á]]
|image= First Indochina War COLLAGE.jpg
|image_size = 300px
|caption='''Theo chiều kim đồng hồ từ trên xuống''': Quân Lào vượt [[sông Mê Kông]] trở về nước sau [[Chiến dịch Điện Biên Phủ|trận Điện Biên Phủ]]; Biệt kích [[Thủy quân lục chiến Pháp]] đổ bộ lên bờ biển Việt Nam vào tháng 7 năm 1950; Xe tăng hạng nhẹ [[M24 Chaffee]] của Mỹ được Pháp sử dụng tại Việt Nam; [[Hiệp định Genève (1954)|Hội nghị Genève]] ngày 21 tháng 7 năm 1954; Một chiếc máy bay chiến đấu [[Grumman F6F-5 Hellcat]] chuẩn bị hạ cánh trên [[HMS Colossus (R15)|tàu sân bay ''Arromanches'']] của Pháp đang hoạt động tại [[Vịnh Bắc Bộ]].
|date=19 tháng 12 năm 1946 – 1 tháng 8 năm 1954<br>({{Age in years, months, weeks and days|month1=12|day1=19|year1=1946|month2=08|day2=01|year2=1954}})
|place=[[Liên bang Đông Dương|Đông Dương thuộc Pháp]], chiến trường chính tại [[Bắc Kỳ]]
|result= Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chiến thắng.<br />Việt Nam, Lào, Campuchia tách khỏi Liên hiệp Pháp, hoàn toàn độc lập.<br>Pháp và Quốc gia Việt Nam tập kết về miền Nam. Việt Nam bị phân chia tạm thời tại [[Vĩ tuyến 17 Bắc|Vĩ tuyến 17]]. Sau 2 năm Pháp rút khỏi Việt Nam.<br> Hoa Kỳ đẩy mạnh việc can thiệp sâu hơn vào Đông Dương.<ref>{{Chú thích web |url=http://militera.lib.ru/h/davidson/12.html |ngày lưu trữ=2013-10-25 |ngày truy cập=2013-06-26 |tiêu đề=Дэвидсон, Филипп Б. Война во Вьетнаме. — М.:Изографус, Эксмо, 2002. ''Bản gốc: Davidson Ph.B.Vietnam At War. The History 1946-1975. — Oxford University Press, 1991.'' (Phillip B. Davidson. Chiến tranh Việt Nam. Izografus, Penguin Books. Moskva. 2002. Chương 12: Interbella) |archive-url=https://web.archive.org/web/20131025024651/http://militera.lib.ru/h/davidson/12.html |url-status=dead }}</ref><ref>Howard R.Simpson. Điện Biên Phủ cuộc đối đầu lịch sử mà nước Mỹ muốn quên đi. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hà Nội. 2004. trang 189. ''(bản dịch của Kim Oanh).''</ref><br />
|combatant1 = {{flagcountry|Đệ Tứ Cộng hòa Pháp}} <br>
* {{flagcountry|Liên bang Đông Dương}}
** {{flagdeco|Đệ Tứ Cộng hòa Pháp}} [[Bắc Kỳ]]
** {{flagdeco|Liên bang Đông Dương}} [[Trung Kỳ]]
** {{flagicon image|Flag of Republic of Cochinchina.svg}} [[Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ]]
** {{flagdeco|Việt Nam Cộng hòa}} [[Quốc gia Việt Nam]]
** {{flagcountry|Vương quốc Lào}}
** {{flagicon image|Flag of Cambodia (1948–1970).svg}} [[Vương quốc Campuchia (1946-53)|Campuchia]]
{{Collapsible list
| titlestyle=background-color:transparent; text-align:left;
| title='''Ủng hộ bởi''':
|bullets = yes
|{{flagcountry|Hoa Kỳ|1912}}<ref>{{Chú thích web|url=http://www.cnn.com/2005/US/02/28/cia.pilots/index.html|title=CNN.com – France honors CIA pilots – Feb 28, 2005|access-date=August 19, 2015}}</ref>
|{{flag|Trung Hoa Dân Quốc}}
}}
|combatant2 = {{Biểu tượng lá cờ|North Vietnam|1945}} '''[[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]]'''
* [[Tập tin:Flag of North Vietnam (1945-1955).svg|22px|border]] [[Việt Minh]]
[[Tập tin:Flag of Laos.svg|22px|border]] [[Lào Issara]]
* [[Tập tin:Flag of Laos.svg|22px|border]] [[Pathet Lào]] (từ 1949)
[[Tập tin:Flag of the People's Republic of Kampuchea.svg|22px|border]] [[Khmer Issarak]]
* [[Tập tin:Flag of the People's Republic of Kampuchea.svg|22px|border]] [[Mặt trận Issarak Thống nhất]]
{{Collapsible list
| titlestyle=background-color:transparent; text-align:left;
| title='''Ủng hộ bởi''':
|bullets = yes
| {{flag|Liên Xô}}
| {{flagdeco|China|1949}} [[Trung Quốc]]
| {{flag|Đông Đức|1949}} (từ 1950)<ref>http://geb.uni-giessen.de/geb/volltexte/2013/9311/pdf/DaoDucThuan_2013_02_05.pdf</ref>
}}
|commander1= {{flagdeco|French Fourth Republic}} [[Charles de Gaulle]] <br> {{flagdeco|French Fourth Republic}} [[Vincent Auriol]] <br> {{flagdeco|French Fourth Republic}} [[Léon Blum]] <br> {{flagdeco|French Fourth Republic}} [[Pierre Mendès France]] <br> {{flagdeco|French Fourth Republic}} {{flagdeco|French Fourth Republic}} [[Philippe Leclerc de Hauteclocque]] (1945–46)<br />{{flagdeco|French Fourth Republic}} [[Jean Étienne Valluy|Jean-Étienne Valluy]] (1946–48)<br />{{flagdeco|French Fourth Republic}} [[Roger Blaizot]] (1948–49)<br />{{flagdeco|French Fourth Republic}} [[Marcel Maurice Carpentier|Marcel-Maurice Carpentier]] (1949–50)<br />{{flagdeco|French Fourth Republic}} [[Jean de Lattre de Tassigny]] (1950–51)<br />{{flagdeco|French Fourth Republic}} [[Raoul Salan]] (1952–53)<br />{{flagdeco|French Fourth Republic}} [[Henri Navarre]] (1953–54)<br />[[Tập tin:Flag of South Vietnam.svg|22px|border]] [[Bảo Đại]]<br />[[Tập tin:Flag of South Vietnam.svg|22px|border]] [[Ngô Đình Diệm]]<br />[[Tập tin:Flag of South Vietnam.svg|22px|border]] [[Nguyễn Văn Tâm (Thủ tướng)|Nguyễn Văn Tâm]]<br>[[Tập tin:Flag of South Vietnam.svg|22px|border]] [[Nguyễn Văn Hinh]]<br>{{Biểu tượng lá cờ|Hoa Kỳ|1912}} [[Harry S. Truman]] <br>{{Biểu tượng lá cờ|Hoa Kỳ|1912}} [[Dwight D. Eisenhower]]
|commander2={{Biểu tượng lá cờ|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|1945}} [[Hồ Chí Minh]]<br />{{Biểu tượng lá cờ|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|1945}} [[Võ Nguyên Giáp]]<br />{{Biểu tượng lá cờ|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|1945}} [[Nguyễn Chí Thanh]]<br />{{Biểu tượng lá cờ|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|1945}} [[Hoàng Văn Thái]]<br />{{Biểu tượng lá cờ|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|1945}} [[Văn Tiến Dũng]]<br />{{Biểu tượng lá cờ|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|1945}} [[Phạm Văn Đồng]]<br />{{Biểu tượng lá cờ|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|1945}} [[Trường Chinh]]<br />{{Biểu tượng lá cờ|Lào}} [[Souphanouvong]]<br />{{Biểu tượng lá cờ|Lào}} [[Kaysone Phomvihane]]<br />[[Tập tin:Flag of the People's Republic of Kampuchea.svg|22px|border]] [[Sơn Ngọc Minh]]<br />[[Tập tin:Flag of the People's Republic of Kampuchea.svg|22px|border]] [[Tou Samouth]] <br />{{Cờ 2|Trung Quốc}} [[Trần Canh]] (cố vấn)
|strength1=Theo phương Tây:<br />Quân Pháp và các nước châu Phi: 190.000<br />Các đồng minh ở thuộc địa Đông Dương: 55.000<br />Quốc gia Việt Nam: 150.000<ref name="windrow">{{chú thích sách
| last =Windrow
| first =Martin
| title =The French Indochina War 1946-1954 (Men-At-Arms, 322)
| url =https://archive.org/details/frenchindochinaw00mart
| publisher =Osprey Publishing
| date =1998
| location =London
| pages= [https://archive.org/details/frenchindochinaw00mart/page/n26 11]
| id = ISBN 1-85532-789-9 }}</ref><br />
Theo Việt Nam: 100.000 '''(1946)'''<ref>Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam-Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Hà Nội 2008 trang 144</ref><br />239.000 '''(1950)'''<br>445.000 (gồm 146.000 quân Âu Phi và 299.000 quân các nước Đông Dương) '''(1954)'''<ref>Võ Nguyên Giáp-Đường tới Điện Biên Phủ chương 1 - Cuộc họp ở Tín Keo</ref>
|strength2=Theo phương Tây:<br />125.000 lính chính quy<br />75.000 ở các quân khu<br />250.000 dân quân<ref>Windrow p. 23</ref><br />Theo Việt Nam:<br />80.000 quân chính quy<br />-1.000.000 du kích '''(1946)'''<ref>Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam-Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Hà Nội 2008 trang 136</ref><br />120.000 quân chính quy<br />1.000.000 du kích '''(1947)'''<ref>Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam-Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Hà Nội 2008 trang 149</ref><br />230.000 quân chính quy<br />-3.000.000 du kích '''(1950)'''<ref>Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam-Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Hà Nội 2008 trang 156</ref><br />
166.000 quân chính quy<br />2.000.000+ du kích '''(1953)'''<ref>Đường tới DBP-Điểm hẹn Lịch sử</ref>
|casualties1= {{flagdeco|French Fourth Republic}} Quân Pháp và lê dương: 75.581 chết, 64.127 bị thương<br />40.000 bị bắt<br />
[[Tập tin:Flag of South Vietnam.svg|22px|border]] Quân bản xứ ở Đông Dương: 419.000 chết, bị thương, bị bắt hoặc đầu hàng<ref name=autogenerated3>Báo Thế giới của Pháp, ngày [[15 tháng 7]] năm [[1954]]</ref><br>
Theo Việt Minh: Nửa triệu chết và bị thương.<br>Phá huỷ 435 [[máy bay]], bắn chìm 603 [[tàu chiến]] và [[ca nô]], phá huỷ 9.283 [[xe quân sự]], thu 255 [[pháo]], 504 [[xe quân sự]] và 130.000 súng các loại.<ref>Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam-[[Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Hà Nội]] 2008 trang 184</ref><ref name="Clodfelter, Michael 1995">Clodfelter, Michael, Vietnam in Military Statistics (1995)</ref>
|
|casualties2=191.605 chết<ref>{{Chú thích web|url=http://datafile.chinhsachquandoi.gov.vn/Qu%E1%BA%A3n%20l%C3%BD%20ch%E1%BB%89%20%C4%91%E1%BA%A1o/Chuy%C3%AAn%20%C4%91%E1%BB%81%204.doc|title=CÔNG TÁC TÌM KIẾM, QUY TẬP HÀI CỐT LIỆT SĨ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO, Bộ Quốc phòng Việt Nam}}</ref><br />~200.000 bị thương<br />100.000 bị bắt
| casualties3=125,000–400,000 dân thường thiệt mạng<ref name="Clodfelter, Michael 1995"/><ref name="Smedberg, M 2008 p. 88">Smedberg, M (2008), ''Vietnamkrigen: 1880–1980''. Historiska Media, p. 88</ref><ref name="Eckhardt, William 1987">Eckhardt, William, in World Military and Social Expenditures 1987–88 (12th ed., 1987) by [[Ruth Leger Sivard]].</ref><ref name="Ref-1">Dommen, Arthur J. (2001), ''The Indochinese Experience of the French and the Americans'', Indiana University Press, pg. 252.</ref>
}}
{{Chiến tranh Việt-Pháp (1945-1954)}}
{{Kháng chiến của Việt Nam}}
{{Chiến tranh trên bán đảo Đông Dương}}
'''Chiến tranh Đông Dương''', còn được gọi là '''Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất''' là một cuộc xung đột diễn ra tại ba nước [[Đông Dương thuộc Pháp|Đông Dương]] bao gồm [[Việt Nam]], [[Lào]] và [[Campuchia]], giữa một bên là [[Binh đoàn Lê dương Pháp|Quân đội Viễn chinh Pháp]] cùng các lực lượng đồng minh bản xứ bao gồm lực lượng của [[Quốc gia Việt Nam]], [[Vương quốc Lào]], [[Vương quốc Campuchia (1953-70)|Vương quốc Campuchia]] thuộc [[Liên hiệp Pháp]], bên kia là lực lượng [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ([[Việt Minh]]) cùng các lực lượng kháng chiến khác của [[Lào]] ([[Pathet Lào]]) và [[Campuchia]] ([[Khmer Issarak]]). Cuộc chiến bắt đầu từ ngày [[19 tháng 12]] năm [[1946]] khi [[Hồ Chí Minh]] ra lệnh [[Toàn quốc kháng chiến]] và kết thúc ngày [[20 tháng 7]] năm [[1954]] khi [[Hiệp định Geneva|Hiệp định Genéve]] được ký kết. Tuy nhiên xung đột thật sự đã nổ ra từ ngày [[23 tháng 9]] năm [[1945]] khi quân Pháp theo chân quân Anh tiến vào [[miền Nam Việt Nam]] để giải giáp quân Nhật.
Đối với [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]], đây là giai đoạn đầu tiên trong "'''Cuộc kháng chiến 30 năm'''" của họ với mục tiêu giành độc lập cho Việt Nam (giai đoạn 2 là [[Chiến tranh Việt Nam|cuộc chiến với Hoa Kỳ]]). Cuộc chiến diễn ra trên khắp Việt Nam và lan ra cả các nước láng giềng Lào và Campuchia, nhưng chiến sự chính diễn ra chủ yếu tại [[miền Bắc (Việt Nam)|miền Bắc Việt Nam]]. Sau 9 năm sa lầy và với thất bại tại [[Chiến dịch Điện Biên Phủ|Trận Điện Biên Phủ]], Pháp buộc phải chấp nhận ký kết [[Hiệp định Genève, 1954|Hiệp định Genève]] công nhận nền [[độc lập]] và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Cuộc [[chiến tranh]] này ở Việt Nam còn được gọi là '''Kháng chiến chống Pháp''', '''Kháng chiến 9 năm''', '''9 năm kháng chiến trường kỳ''', '''Thời 9 năm''', '''Hồi 9 năm'''. Các tài liệu nghiên cứu, sách báo ở nước ngoài phần lớn gọi là '''Chiến tranh Việt-Pháp''' hoặc '''Chiến tranh Đông Dương'''.
Sau khi [[người Nhật]] đã bại trận và mất quyền kiểm soát lãnh thổ [[Liên bang Đông Dương]] (ngày nay là Việt Nam, Lào và Campuchia), Pháp đưa quân trở lại nhằm tái chiếm vùng này. Pháp tham gia cuộc chiến này nhằm buộc lãnh thổ Đông Dương phải tiếp tục nằm trong [[Liên hiệp Pháp]] mới được thành lập - theo tuyên bố ngày [[24 tháng 3]] năm [[1945]] của [[Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp]] [[Charles de Gaulle]] và được quy định trong Hiến pháp Pháp năm [[1946]]. Động cơ thúc đẩy [[Pháp]] tham chiến mang tính chính trị và tâm lý hơn là kinh tế. Những người [[Pháp]] ủng hộ cuộc chiến cho rằng nếu [[Pháp]] để [[Liên bang Đông Dương|Đông Dương]] giành độc lập, các quyền lợi và tài sản của [[thực dân Pháp]] tại các thuộc địa hải ngoại sẽ nhanh chóng bị mất theo.<ref name="Spencer.Encyc.188">Spencer C.Tucker, ''Encyclopedia of the Vietnam War'', ABC-CLIO, 2000, tr. 188.</ref>
Đa số lãnh đạo [[Pháp]] cho rằng cuộc chiến này sẽ chỉ có quy mô lớn hơn một chút so với một cuộc tái chiếm thuộc địa cổ điển, theo đó quân Pháp chiếm giữ các trung tâm dân cư và mở rộng dần theo kiểu "vết dầu loang" mà họ đã thực hiện rất thành công ở [[Maroc]] và [[Algérie]]. Nhưng trái với dự tính này, mặc dù [[Pháp]] chiếm ưu thế quân sự trong thời gian đầu, lực lượng [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] đã phát triển ngày càng mạnh và kiểm soát được nhiều vùng lãnh thổ ngày càng rộng. Đến cuối cuộc chiến, Pháp đã sa lầy vào một cuộc chiến hao người tốn của mà không tìm ra phương cách nào để chiến thắng, trong khi [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] đã kiểm soát trên 75% lãnh thổ.<ref name="Spencer.Encyc.188"/>
Trong khi đó, mục tiêu của chính phủ [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] là giành độc lập cho dân tộc mình. Cuộc chiến giữa 1 cường quốc trên thế giới và 1 đất nước nghèo nàn lạc hậu đã diễn ra gần như lời [[Hồ Chí Minh]] đã nói:
:"''Nó sẽ là một cuộc chiến giữa voi và hổ. Nếu hổ đứng yên thì sẽ bị voi dẫm chết. Nhưng hổ không đứng yên. Ban ngày nó ẩn nấp trong rừng và ra ngoài vào ban đêm. Nó sẽ nhảy lên lưng voi, xé những mảnh da lớn, và rồi nó sẽ chạy trở lại vào rừng tối. Và dần dần, con voi sẽ chảy máu đến chết. Cuộc chiến tranh ở Đông Dương sẽ như vậy.''" <ref>Trả lời phóng viên David Schoenbrun của báo New York Times trong cuộc phỏng vấn ngày 11 tháng 9 năm 1946 tại Paris.<br />Duiker, William, ''Ho Chi Minh: A Life'', Hyperion, 2000, tr. 379</ref>
Sau [[Chiến tranh thế giới thứ hai]], trên lãnh thổ của [[Đế quốc Pháp]] đã bùng nổ nhiều phong trào đòi độc lập, nhưng thất bại mở màn gây hiệu ứng dây chuyền và thiệt hại lớn nhất cho [[Pháp]] là cuộc kháng chiến chống [[Pháp]] của nhân dân 3 nước [[Liên bang Đông Dương]]. Thất bại của [[Pháp]] đánh dấu việc [[chủ nghĩa thực dân]] kiểu cổ điển của các nước thực dân [[Châu Âu]] bị sụp đổ tại hàng loạt các [[thuộc địa]] trên toàn thế giới.
== Hoàn cảnh ==
=== Thời Pháp thuộc ===
{{chính|Pháp thuộc}}
Năm [[1858]], [[Hải quân Pháp]] đổ bộ vào [[Cảng Đà Nẵng]] trong [[Trận Đà Nẵng (1858-1859)]] và [[Trận Đà Nẵng (1859-1860)]] và sau đó xâm chiếm [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]]. Năm [[1862]], vua [[Tự Đức]] ký hiệp ước nhượng Sài Gòn và 3 tỉnh lân cận cho [[Pháp]]. Năm [[1869]], [[Pháp]] chiếm nốt 3 tỉnh kế tiếp để tạo thành thuộc địa [[Nam Kỳ|Cochinchine]] ([[Nam Kỳ]]). Đến năm [[1885]], [[Pháp]] xâm chiếm xong những phần còn lại của [[Việt Nam]] qua những cuộc chiến phức tạp ở miền Bắc. Bằng các hiệp ước khác nhau, Pháp chia Việt Nam thành 3 phần [[Bắc Kỳ]] - [[Trung Kỳ]] - [[Nam Kỳ]] với chế độ chính trị, hệ thống luật pháp và bộ máy hành chính khác nhau. Pháp trực tiếp cai trị Nam Kỳ, trong khi "bảo hộ" [[Bắc Kỳ|Bắc kỳ]] và [[Miền Trung (Việt Nam)|Trung kỳ]] (nơi triều đình [[nhà Nguyễn]] vẫn tiếp tục "cai trị").<ref>{{Chú thích web |url=http://www.hcmup.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=2275%3Atip-cn-mt-cach-nhin-v-triu-nguyn&catid=1512%3Avit-nam-cn-i&Itemid=2933&lang=vi&site=71 |ngày lưu trữ=2020-08-07 |ngày truy cập=2013-06-11 |tiêu đề=Tiếp cận một cách nhìn về triều Nguyễn |archive-url=https://web.archive.org/web/20200807045839/http://www.hcmup.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=2275%3Atip-cn-mt-cach-nhin-v-triu-nguyn&catid=1512%3Avit-nam-cn-i&Itemid=2933&lang=vi&site=71 |url-status=dead }}</ref>
[[Tập tin:CaptureOfLang-Son.jpg|nhỏ|phải|250px|Quân Pháp tấn công quân Thanh ở [[Lạng Sơn]]]]
Việt Nam không còn là 1 quốc gia độc lập, trở thành [[chế độ quân chủ nửa thuộc địa]], phải phụ thuộc vào Pháp. Bằng các hiệp ước ký với triều Nguyễn, Việt Nam bị người Pháp chia thành 3 Kỳ (Nam Kì, Trung Kì, Bắc Kì) với các chế độ chính trị, bộ máy hành chính và hệ thống luật pháp khác nhau. Do các ràng buộc trong những Hiệp ước đã ký với nhà Nguyễn, Pháp không xây dựng 1 hình thức nhà nước dân chủ tại Việt Nam mà nhà Nguyễn vẫn tồn tại với các thành viên hoàng gia, quý tộc, quan lại... Người Pháp kiểm soát hoạt động của triều đình nhà Nguyễn thậm chí còn can thiệp vào việc bổ nhiệm nhân sự của nhà nước này. Nhà Nguyễn mất uy tín chính trị, vương quyền không còn là yếu tố đoàn kết quốc gia như các nước quân chủ khác trên thế giới<ref>THÊM MỘT VÀI Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CÔNG CUỘC KHÁNG PHÁP DO TRIỀU NGUYỄN LÃNH ĐẠO NỬA SAU THẾ KỈ XIX, NGUYỄN THANH TIẾN, TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM Số 10(76) năm 2015</ref>. Người Pháp độc chiếm mọi quyền lực [[kinh tế]] - [[chính trị]] - [[quân sự]] tại Việt Nam. Họ chỉ chấp nhận cho người bản xứ tham gia vào [[bộ máy hành chính]] và nền chính trị ở mức độ tối thiểu và ban cho các chính quyền bản xứ 1 ít quyền lực hạn chế.<ref>Paris - Saigon - Hanoi, trang 41, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003</ref> Chế độ bảo hộ của Pháp đã biến người Việt thành những nhân viên hành chính cấp thấp chỉ biết thừa hành một cách thụ động, thiếu sáng tạo còn quyền lãnh đạo nằm trong tay người Pháp<ref name="chinhde2">Chính đề Việt Nam, Phần II, VỊ TRÍ CỦA VIỆT NAM TRONG KHUNG CẢNH THẾ GIỚI VỪA TRÌNH BÀY, Tùng Phong, Nhà xuất bản Đồng Nai, 1964</ref><ref name="Devillers12">Paris - Saigon - Hanoi, trang 44-47, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003</ref>. Trong các cơ quan hành chính và các công ty tư nhân người châu Âu luôn được trả lương cao hơn người bản xứ.<ref name="Devillers12"/> Họ hạn chế các [[quyền tự do chính trị]] của dân bản xứ như [[tự do ngôn luận]], [[tự do báo chí]], [[Tự do hội họp và lập hội|tự do lập hội]]. Họ duy trì 1 hệ thống cảnh sát chính trị để kiểm soát dân chúng, lập ra nhiều nhà tù để giam cầm những người chống Pháp. Người Pháp làm ngơ trước mọi yêu cầu cải cách của người bản xứ.<ref name="Devillers"/> Những phong trào văn hóa, xã hội có mục tiêu nâng cao dân trí, cải cách xã hội của người Việt đều bị theo dõi và đàn áp.
[[Tập tin:Honor ceremony at Vietnam 1935.jpg|nhỏ|trái|300px|Lễ phát huân chương cho quan lại Việt Nam thời Pháp thuộc.]]
Trong chính quyền thuộc địa, tri thức, tài năng, đạo đức không được xem trọng bằng sự trung thành và phục tùng đối với người Pháp. Thuật lãnh đạo không được truyền lại, khả năng lãnh đạo quốc gia của người Việt bị thui chột, đạo đức và năng lực của giới công chức nhà nước người Việt suy đồi. Người Pháp không có ý định trao trả độc lập cho người Việt nên họ không đào tạo một tầng lớp tinh hoa người Việt đủ sức lãnh đạo, quản trị quốc gia.<ref name="chinhde2"/> Đa số người Việt thiếu trưởng thành về mặt chính trị do bị loại ra khỏi đời sống chính trị quốc gia cùng chính sách ngu dân của người Pháp<ref>Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 2, trang 96-100</ref>. Nhà vua mất vai trò là người quyết định và giám sát tối cao mọi hoạt động nhà nước còn người Pháp không có những biện pháp hữu hiệu chống tệ quan liêu, tham nhũng, cường hào ác bá<ref>Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 2, trang 67-73</ref>.
Người dân thuộc địa mất liên kết với nhà nước, bất mãn với cách cai trị của người Pháp và triều đình nhà Nguyễn. Chỉ 1 nhóm nhỏ quan chức tham nhũng trục lợi bằng cách phục vụ cho Pháp cảm thấy thỏa mãn còn đa số dân chúng thuộc mọi tầng lớp cả viên chức nhà nước cũng như người bản xứ đều bất mãn. Người Việt không thể hy vọng vào những cải cách của người Pháp cũng như không thể giành quyền tự trị bằng các biện pháp hợp pháp. Người Việt nhận thức rằng chế độ thuộc địa không thể cải cách mà chỉ có thể dùng bạo lực lật đổ. Họ không thấy một tương lai nào cho bản thân và đất nước ngoài việc làm cách mạng giành độc lập để mở ra con đường phát triển quốc gia.<ref>Paris - Saigon - Hanoi, trang 48-49, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003</ref> Chủ nghĩa dân tộc và tinh thần chống Pháp phát triển mạnh.<ref>Phong trào cách mạng ở Đông Dương, Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 2, trang 227-233</ref> Trong bối cảnh đó, những tư tưởng cách mạng du nhập từ phương Tây, được phổ biến rộng rãi thông qua sự truyền bá của chủ nghĩa cộng sản cũng như qua hệ thống giáo dục của người Pháp<ref>[http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=6945&rb= Nhìn lại quá trình du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20210918052910/http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=6945&rb= |date=2021-09-18 }}, Nguyễn Kiến Giang, talawas</ref>.
Trong suốt thời kỳ từ khi [[Pháp]] bắt đầu xâm chiếm [[Việt Nam]], đã có nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào chống [[Pháp]] do vua, quan, sỹ phu hoặc nông dân tổ chức, nhưng tất cả đều bị thất bại. Năm [[1927]], những người Việt cấp tiến đã thành lập [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] (giống [[Trung Quốc Quốc Dân Đảng|Trung Hoa Quốc dân Đảng]]). Đến năm [[1930]], sau khi cuộc [[khởi nghĩa Yên Bái]] thất bại, Việt Nam Quốc dân Đảng bị suy yếu nghiêm trọng. Cùng năm, những người Việt theo [[chủ nghĩa Marx-Lenin]] thành lập [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Cộng sản Đông Dương]], nhưng cũng mau chóng trở thành mục tiêu tiêu diệt của [[Pháp]] khi bùng nổ cao trào cách mạng năm [[1930]]-[[1931]] mặc dù tổ chức của họ thân thiện với [[Mặt trận Bình dân (Pháp)|Mặt trận Bình dân]] trong chính quyền [[Pháp]] (khi [[Mặt trận Bình dân (Pháp)|Mặt trận Bình dân]] nắm quyền tại [[Pháp]] đã ân xá các tù nhân chính trị).
Bên cạnh đó, một số nhóm theo chủ nghĩa quốc gia ủng hộ việc hợp tác với chế độ bảo hộ của Pháp tại Đông Dương, ủng hộ chủ nghĩa quốc gia ở Pháp (chỉ các nhóm chính trị cánh hữu hay cực hữu ở Pháp). Có nhóm năm [[1939]] khi cánh hữu thắng cử ở Pháp, đã kêu gọi "''từ giã hết [[chủ nghĩa xã hội]], quốc tế, cộng sản xét ra không có lợi gì cho tiền đồ Tổ quốc đi, để quay đầu về phụng sự [[chủ nghĩa quốc gia]]''", họ cho là các lý tưởng kia "''không lấy thực nghiệm ra mà suy xét, chỉ chạy theo lý tưởng suông''" và xem một số nước "''đem ra thực hành đều thất bại cả''", họ kêu gọi "''trông cậy vào sự chỉ đạo của nước Pháp bảo hộ,... yêu cầu nước Pháp gây dựng cho nước ta một quốc gia, có chính phủ chịu trách nhiệm các việc nội trị trước một Dân viện có quyền lập pháp''". Tức đòi quyền tự trị chứ không phải độc lập. Họ bác bỏ quan điểm của "''bọn thanh niên... cứ nhứt định theo đòi [[văn minh Âu - Mỹ]] mà thôi''", và kêu gọi "''khôi phục [[quốc quyền]], chấn hưng [[quốc thể]]''", bác bỏ "''tư tưởng và óc đảng phái đã làm cho [[quốc dân Việt Nam]] tam phân ngũ liệt''", và "''đòi tự trị''", "''[[quân chủ lập hiến]]''". Họ bác bỏ "''thuyết xã hội, thuyết quốc tế cùng đảng viên tả phái đi cổ động tự do''", cho đó là "''trái với tinh thần "trung quân ái quốc" của dân chúng, trái với luân lý [[Phật|Phật đà]], [[Khổng Tử]], khác với chủ nghĩa quốc gia cái rễ từ đời [[Hai Bà Trưng|Trưng Nữ vương]] đuổi [[Tô Định]], [[Bà Triệu|Triệu Ấu]] đuổi [[Đông Ngô|quân Ngô]]''", kêu gọi "''chỉ có ai là thức thời, có lòng yêu nước trung vua vốn sẵn, chỉ dựa vào cái chủ nghĩa "Pháp Nam hợp tác", "Pháp Việt đề huề", học đòi người quý quốc, làm cho nước được mạnh, dân được giàu lên đã''".
[[Tập tin:Peasant in Vietnam.jpg|thumb|[[Nông dân]] Việt Nam thời Pháp thuộc]]
Trong những [[biến đổi xã hội]] vì sự xâm nhập của [[người Pháp]] là nhiều [[Hàng hóa|mặt hàng]] mới, trong đó có nhiều [[thực vật]] được đưa vào [[Việt Nam]] từ [[châu Âu]], [[châu Mỹ]], [[châu Phi]] và cả những nước [[châu Á]] lân cận góp nguồn. [[Đồn điền]] trồng [[cây cà phê]] (xuất phát từ [[châu Phi]]), [[cao su (cây)|cây cao su]] (từ [[Nam Mỹ]]) được quy hoạch và [[phát triển]], biến đổi hẳn bộ mặt đất nước, đưa dân lên miền núi khai thác và định cư. Ở miền xuôi thì [[trái cây nhiệt đới]] như [[chôm chôm]], [[măng cụt]] cũng được trồng, lấy giống từ [[Mã Lai]], [[Nam Dương]]. Ngoài ra nhiều loại rau như [[khoai tây]], [[súp lơ]], [[su hào|xu hào]], [[cà rốt]], [[tỏi tây]] nhập cảng từ [[Pháp]] được trồng quy mô kể từ năm [[1900]].<ref>{{Chú thích web |url=http://www.vanhoanghean.com.vn/tap-chi/nhung-goc-nhin-van-hoa/997-bep-viet-n-truyen-thong-va-hien-dai-.html |ngày truy cập=2019-04-09 |tựa đề=Bếp Việt truyền thống và hiện đại |archive-date = ngày 29 tháng 9 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20100929021852/http://www.vanhoanghean.com.vn/tap-chi/nhung-goc-nhin-van-hoa/997-bep-viet-n-truyen-thong-va-hien-dai-.html |url-status=dead }}</ref> Nhiều [[Thức ăn đường phố|món ăn]] mới cũng theo chân [[người Pháp]] ra mắt ở [[Việt Nam]] như [[bánh mì]], [[bơ]], [[pho mát]], [[cà phê]] rồi trở thành quen thuộc. [[Người Pháp]] không xây dựng nền tảng [[công nghiệp]] tại [[Việt Nam]], trong khi [[Nhật Bản]] đã xây dựng khá nhiều cơ sở công nghiệp tại các [[thuộc địa]] của họ như [[Triều Tiên]], [[Mãn Châu]]. Nền [[kinh tế Việt Nam]] vẫn chủ yếu dựa vào [[nông nghiệp]] với [[phương thức sản xuất]] không thay đổi trong hàng ngàn năm. [[Quan hệ sản xuất]] tại [[Đồng quê|nông thôn]] vẫn là quan hệ địa chủ – tá điền như [[Trung Cổ|thời Trung cổ]], còn tại [[Đô thị|thành thị]], [[chủ nghĩa tư bản]] chỉ mới manh nha xuất hiện. Người Việt có mức sống rất thấp, nghèo đói phổ biến trên toàn đất nước, đặc biệt ở miền Bắc và miền Trung. Ở nông thôn tồn tại mâu thuẫn giữa địa chủ và tá điền còn ở thành thị có sự tương phản giữa tầng lớp tư sản, quan chức cao cấp và thị dân lớp dưới. Người Pháp xây dựng một số cơ sở hạ tầng cơ bản tại An Nam. Hệ thống kinh tế mà Pháp đầu tư tại An Nam như các đồn điền cao su, mỏ than, các thành phố lớn, đường sắt, cảng biển là để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của họ chứ không phải để phục vụ lợi ích của dân bản xứ.<ref name="Devillers12"/> Nhìn tổng thể nền [[kinh tế Việt Nam]] vẫn đang trong tình trạng tiền tư bản, bán Trung cổ.
Ngôn ngữ người Việt cũng bị tác động, quan trọng nhất là việc tiếp nhận [[chữ Quốc ngữ]] làm văn tự chính thức của người Việt. Quyết định của triều Nguyễn hủy bỏ toàn phần phép [[khoa cử]] có từ thời [[nhà Lý]] khiến [[chữ Hán|chữ Nho]] không còn là [[ngôn ngữ học]] thuật [[chính thống]]. Việc sử dụng chữ Quốc ngữ làm văn tự chính thức bên cạnh chữ Hán tạo điều kiện cho [[văn học]], [[báo chí]] viết bằng [[chữ Quốc ngữ]] phát triển, việc truyền bá tri thức, văn hóa trở nên dễ dàng hơn. Chữ Quốc ngữ dễ học hơn [[chữ Hán]] nên có thể dùng chữ Quốc ngữ xóa mù chữ nhanh chóng. Tuy nhiên, việc chữ Hán từ địa vị là ngôn ngữ học thuật chính thống trở thành 1 ngoại ngữ không quan trọng khiến đa số người Việt không còn khả năng đọc hiểu các tài liệu chữ Hán của tiền nhân. Hậu quả là người Việt bị tách ra khỏi di sản [[văn học]], [[Lịch sử|sử học]], [[khoa học]], tư tưởng của dân tộc viết bằng chữ Hán tích lũy được trong 10 thế kỷ<ref>[http://baotangnhanhoc.org/vi/bai-nghien-cu-lch-s/1231-tng-quan-tai-liu-nho-giao-va-nho-hc--vin-han-nom-.html TỔNG QUAN TÀI LIỆU NHO GIÁO VÀ NHO HỌC Ở VIỆN HÁN NÔM] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20150626165932/http://baotangnhanhoc.org/vi/bai-nghien-cu-lch-s/1231-tng-quan-tai-liu-nho-giao-va-nho-hc--vin-han-nom-.html |date=2015-06-26 }}, Nguyễn Xuân Diện, Bài tham luận Hội thảo về Nho giáo Việt Nam. Đã in trên Tạp chí Hán Nôm số 1 (68), 2005</ref><ref name="Giang"/>. Việc thay đổi nội dung giáo dục, bãi bỏ phép khoa cử truyền thống lấy [[Nho giáo]] làm trọng tâm khiến Nho giáo mất dần ảnh hưởng lên đời sống xã hội và chìm vào quên lãng. Điều này khiến xã hội tan rã do không được định hướng bởi 1 hệ thống giá trị chung, không còn tín hiệu tập hợp; [[đạo đức]] xã hội suy đồi và các giá trị văn hóa truyền thống bị thui chột. Pháp ngữ trở thành ngôn ngữ chính thức trong hệ thống giáo dục và trong hoạt động hành chính. Các tư tưởng phương Tây như tự do, dân chủ, nhân quyền, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản... thông qua sách báo và hệ thống giáo dục thuộc địa được phổ biến.
Hệ thống giáo dục phát triển không tương xứng với những hứa hẹn của người Pháp "khai hóa văn minh" dân [[thuộc địa]]. Chính vì thế, cái mà người Việt thừa hưởng từ người Pháp sau khi Việt Nam giành được độc lập chỉ là những mảnh vụn văn hóa và lịch sử; tỷ lệ mù chữ lên đến 95% dân số<ref name="xoamuchu">[http://www.archives.gov.vn/Pages/Tin%20chi%20ti%E1%BA%BFt.aspx?itemid=99&listId=c2d480fb-e285-4961-b9cd-b018b58b22d0&ws=content/ Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào Bình dân học vụ] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20180103193452/http://www.archives.gov.vn/Pages/Tin%20chi%20ti%E1%BA%BFt.aspx?itemid=99&listId=c2d480fb-e285-4961-b9cd-b018b58b22d0&ws=content%2F |date = ngày 3 tháng 1 năm 2018}}, Phạm Hải Yến, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III</ref>, hệ thống kiến thức Tây học kém cỏi, thiếu chiều sâu theo như [[Ngô Đức Kế]] đã nói "''Âu học vẫn chưa vin được ngọn ngành mà Hán học đã đứt cả cội rễ''"<ref name="Giang">[http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/323980/tai-sao-nen-dua-chu-han-quay-tro-lai-truong-pho-thong.html Tại sao nên đưa chữ Hán quay trở lại trường phổ thông?], PGS.TS Đoàn Lê Giang, Vietnamnet, 30/08/2016</ref> cùng với nền tảng đạo đức xã hội suy đồi. Ngày [[3 tháng 9]] năm [[1945]], trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] đã nêu ra nhiệm vụ cấp bách nhất, thiết thực nhất phải giải quyết là “nạn dốt” và chỉ rõ<ref name="xoamuchu"/>: ''“Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn [[thực dân]] dùng để cai trị chúng ta… Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”''.
Trong tác phẩm ''[[Chính đề Việt Nam]]'', [[Ngô Đình Nhu]] nhận xét về thời kỳ Pháp thuộc:
{{cquote|''... tám mươi năm thống trị của người Pháp đã để lại cho chúng ta một di sản mà ngày nay chúng ta còn phải mang những hậu quả rất là tai hại. Chỉ cần nhắc lại ba gánh nặng nhất mà thời kỳ Pháp thuộc đã lưu lại cho chúng ta.''
''Trước hết là một công cuộc Tây phương hóa bắt buộc đối với chúng ta. Bắt buộc, bới vì chúng ta đã không có ý Tây phương hóa, nhưng vì sinh lực mạnh bạo của một nền văn minh đã chiến thắng văn minh chúng ta, làm cho chúng ta mất tin tưởng vào các giá trị tiêu chuẩn cũ, và miễn cưỡng thâu thập nền văn minh mới. Kẻ thống trị không có quyền lợi gì để biết đến sự Tây phương hóa của lớp người bị trị.''
''Vận mạng của chúng ta lại không phải do chúng ta nắm. Vì vậy mà công cuộc Tây phương hóa, mà chúng ta đã phải chịu nhận từ một thế kỷ nay, là một công cuộc Tây phương hóa bắt buộc, không mục đích, không được hướng dẫn. Dân chúng bị lôi cuốn vào một phong trào Tây phương hóa, mà không hiểu Tây phương hóa để làm gì, Tây phương hóa đến mức nào là đủ, và Tây phương hóa làm sao là đúng.''
''Tình trạng đó đã dẫn dắt đến sự tan rã của xã hội chúng ta. Các giá trị tiêu chuẩn cũ đã mất hết hiệu lực đối với tập thể mà giá trị tiêu chuẩn mới thì không có. Do đó, tín hiệu tập hợp các phần tử trong xã hội đã mất. Đó là một điều vô cùng bất hạnh cho dân tộc trong giai đoạn này, vì chính lúc này là lúc mà chúng ta cần phải thực hiện công cuộc phát triển dân tộc bằng cách Tây phương hóa. Một công cuộc như vậy đòi hỏi, như chúng ta đã biết, nhiều nỗ lực liên tục của toàn dân và nhiều hy sinh lớn lao của mọi người. Vì vậy cho nên, sự có một tín hiệu tập hợp vô cùng cần thiết, để toàn dân trông vào và tin tưởng, mới có đủ nghị lực mà cung cấp cố gắng trong một hoàn cảnh khổ hạnh. Và chính vào một thời kỳ như vậy chúng ta lại mất các tín hiệu tập hợp...''
''Gánh nặng thứ ba, mà thời kỳ thống trị của đế quốc đã để lại cho chúng ta, là sự gián đoạn trong vấn đề lãnh đạo quốc gia. Chúng ta đã thấy rằng chúng ta lâm vào một sự gián đoạn đến một trình độ trầm trọng nhất. Sự chuyển quyền không thể thực hiện được giữa lớp người trước và lớp người sau. Bí mật quốc gia và bí mật lãnh đạo đều bị mất. Thuật lãnh đạo không truyền lại được. Người lãnh đạo không có đủ di sản, dĩ vãng không bảo tồn được, văn khố thất lạc và bị cướp bóc...''
''Thêm vào các gánh nặng trên đây, mà đế quốc đã lưu lại cho chúng ta, sự thiếu người lãnh đạo trong các ngành, như chúng ta đã biết, là một trở lực to tát cho công cuộc phát triển đang đợi chờ chúng ta.''<ref name="tungphong3">Chính đề Việt Nam, Phần III, Cơ sở hạ tầng vô tổ chức, Tùng Phong, Nhà xuất bản Đồng Nai, 1964.</ref>}}
=== Trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai]]===
==== Quan điểm của các nước Đồng Minh về tương lai Đông Dương ====
Chính phủ [[Pháp]] lưu vong do [[Charles de Gaulle]] đứng đầu không tỏ ra muốn trao trả độc lập hoàn toàn cho các thuộc địa của [[Pháp]]. [[Tháng mười|Tháng 10]] năm [[1943]], chính phủ [[Charles de Gaulle]] đệ trình [[Đại bản doanh Đồng Minh]] những yêu cầu của mình về việc trang bị cho quân đội viễn chinh [[Đông Dương]] của [[Pháp]] để sẵn sàng hành động vào mùa thu [[1944]]. [[Pháp]] cũng yêu cầu có đại diện trong Hội đồng [[Chiến tranh Thái Bình Dương]]. [[Pháp]] mong muốn có 1 vị trí trong [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Khối Đồng Minh]] khi thế chiến thứ hai kết thúc. Tuy nhiên [[Tổng thống Hoa Kỳ]] Roosevelt lại muốn [[Liên bang Đông Dương]] không bị trao trả lại cho Pháp mà sẽ được cai quản bởi 1 [[chế độ quản trị quốc tế]]. [[Hoa Kỳ|Mỹ]] không có tuyên bố chính thức nào về chính sách của [[Hoa Kỳ]] đối với [[Liên bang Đông Dương]]. Ngược lại một số viên chức ngoại giao [[Hoa Kỳ|Mỹ]] lại khẳng định với [[Pháp]] nước [[Hoa Kỳ|Mỹ]] sẽ ủng hộ [[Pháp]] phục hồi chủ quyền càng sớm càng tốt trên toàn bộ lãnh thổ chính quốc lẫn thuộc địa.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 62,63</ref> Yêu cầu trang bị cho quân đội viễn chinh [[Liên bang Đông Dương|Đông Dương]] của Pháp bị Đồng Minh phớt lờ vì chiến lược Viễn Đông của Anh - Mỹ vẫn tiến triển tốt mà không cần có [[Pháp]] tham gia. Hơn nữa ý đồ tái chiếm thuộc địa của Pháp quá rõ ràng và đi ngược lại chính sách của Roosevelt đối với các dân tộc thuộc địa. Tổng thống Mỹ Roosevelt báo cho Bộ Ngoại giao [[Hoa Kỳ|Mỹ]] biết [[Hoa Kỳ|Mỹ]] không được tán thành việc đặt bất cứ một phái đoàn quân sự nào của [[Pháp]] ở Bộ tư lệnh [[Đông Nam Á]]. Anh ủng hộ ý định của [[Pháp]] nhưng vì sự phản đối của Mỹ nên Đồng Minh không đưa ra được quyết định nào đối với mong muốn của Pháp tham gia các hoạt động quân sự của [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Khối Đồng Minh]] tại [[Đông Nam Á]].<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 64,65,67,68</ref>
[[Tập tin:Signing Declaration by United Nations.jpg|thumb|Ngày 1 tháng 1 năm 1942, đại biểu 26 nước Đồng Minh gặp nhau tại Washington ký Tuyên bố Liên Hợp Quốc cam kết ủng hộ Hiến chương Đại Tây Dương]]
Ngày [[8 tháng 12]] năm [[1943]], chính phủ [[Pháp]] lưu vong công bố thông cáo về Đông Dương trong đó ghi rõ "''Đồng thời với việc luôn luôn ghi nhớ thái độ cao thượng và trung thực của các vị Quốc vương đương trị của Đông Dương, nước Pháp cũng sẽ ghi tạc mãi mãi thái độ kiên cường và thẳng thắng của các dân tộc Đông Dương, cuộc kháng chiến mà họ đã tiến hành bên cạnh chúng ta chống [[Nhật Bản]] và [[Thái Lan]], cũng như tấm lòng thủy chung gắn bó của họ đối với cộng đồng Pháp. Với các dân tộc đã biết cùng một lúc biểu hiện tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm chính trị của mình, nước Pháp thỏa thuận ban hành trong nội bộ khối cộng đồng Pháp một quy chế chính trị mới theo đó, trong khuôn khổ của tổ chức liên bang, những quyền tự do của các nước trong Liên bang sẽ được nới rộng và khẳng định; tính chất tự do rộng rãi của các tổ chức sẽ được nổi bật mà không hề mất đi dấu hiệu của nền văn minh và truyền thống Đông Dương; những người Đông Dương có thể nhận bất cứ công việc nào và chức vụ nào của nhà nước. Phù hợp với sự cải cách quy chế chính trị ấy, sẽ có một cuộc cải cách quy chế kinh tế của cả Liên bang - cuộc cải cách này đặt trên cơ sở chế độ hải quan và thuế khóa tự trị, đảm bảo sự phồn vinh và góp phần vào sự phồn vinh của các nước láng giềng.''"<ref>Paris - Saigon - Hanoi, trang 39, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003</ref> Thông cáo này cho thấy Pháp chỉ hứa hẹn về những cải cách nhưng không hề có ý định trao trả độc lập cho các nước Đông Dương, các nước này sẽ phải chấp nhận các quy chế chính trị do Pháp đề ra cho khối cộng đồng Pháp trong khi xu hướng phi thực dân hóa đang nổi lên và được Anh, Mỹ ủng hộ bằng việc ký kết [[Hiến chương Đại Tây Dương]].
Ngày [[28 tháng 11]] năm [[1943]], tại [[Hội nghị Tehran]] [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống Mỹ]] [[Franklin D. Roosevelt]] đã nêu ý kiến đặt [[Liên bang Đông Dương|Đông Dương]] dưới sự quản thác quốc tế với [[Iosif Vissarionovich Stalin]], [[Winston Churchill]] và [[Tưởng Giới Thạch]]. [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống Mỹ]] [[Franklin D. Roosevelt]] bày tỏ một cách minh bạch rằng ông chỉ mong muốn chấm dứt chủ nghĩa thực dân ở [[Liên bang Đông Dương|Đông Dương]] ngay cả khi cần trả giá bằng bất hòa với Anh và làm gián đoạn mối quan hệ với [[Pháp]]. [[Iosif Vissarionovich Stalin]] và [[Tưởng Giới Thạch]] ủng hộ [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống Mỹ]] [[Franklin D. Roosevelt]] trong vấn đề Đông Dương, nhưng [[Winston Churchill]] thì lẩn tránh. Stalin đồng ý với Roosevelt còn nói thêm rằng ông không hề đề nghị để quân Đồng Minh phải đổ máu nhằm phục hồi Đông Dương cho chế độ thực dân Pháp và người Pháp không được phép giành lại Đông Dương mà phải trả giá cho sự hợp tác với Đức. Roosevelt nói ông đồng ý hoàn toàn với Stalin và cho rằng sau 100 năm Pháp chiếm Đông Dương, người dân ở đó có cuộc sống tệ hơn trước.<ref name="bbc1234">[https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-49527190 Năm 1945: Liên Xô không ưa Pháp nhưng để Pháp quay lại VN], BBC Tiếng Việt, 2 tháng 9 năm 2019</ref> Không có 1 tuyên bố chính thức nào về chính sách của [[Hoa Kỳ|Mỹ]] hay 1 sự thoả thuận nào của Đồng minh được chính phủ Mỹ hoặc Bộ Tổng tư lệnh Đồng minh công bố.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 395 - 396</ref> Tại [[Hội nghị Yalta]] quan điểm của [[Hoa Kỳ|Mỹ]] về [[Liên bang Đông Dương|Đông Dương]] là phải đưa ra cho các dân tộc tại đây 1 hình thức Chính phủ liên bang tự trị phù hợp với hoàn cảnh và khả năng của họ thay thế cho việc thiết lập quyền ủy trị ở [[Liên bang Đông Dương|Đông Dương]], chỉ thiết lập quyền ủy trị khi Pháp đồng ý<ref name="patti233">Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 232-233</ref>
Sau khi Roosevelt qua đời ([[12 tháng 4]] năm [[1945]]), Phó Tổng thống Truman lên thay. Chính phủ Pháp tự do của tướng Charles de Gaulle đã vận động ráo riết để Hoa Kỳ hỗ trợ nhằm giành lại các thuộc địa. Dù không được dự hội nghị Potsdam, Pháp vẫn đề nghị để quân của họ giải giáp quân Nhật ở Đông Dương nhưng bị từ chối. Hoa Kỳ đề nghị để lập chế độ ủy trị (trusteeship) với Việt Nam nhưng bị Pháp kịch liệt phản đối.<ref name="bbc1234"/> Có tài liệu khẳng định lập trường của Mỹ về tương lai Đông Dương thay đổi, nước Mỹ giữ thái độ im lặng, khi được hỏi về vấn đề Đông Dương, Truman cũng thận trọng trả lời là nước Mỹ chưa có quyết định gì cả<ref name=khoalichsu/>. Mỹ có thái độ không hoàn toàn rõ ràng và để Anh giúp Pháp quay lại Đông Dương. Anh đã chuyển quân trang quân dụng trên đường từ Ấn Độ về châu Âu cho Pháp để tướng Leclerc chuẩn bị quay lại Sài Gòn.<ref name="bbc1234"/> Trong điện tín do Bộ Ngoại giao Mỹ ngày [[29 tháng 5]] năm [[1945]] gửi đại sứ Mỹ tại Trung Quốc [[Patrick J. Hurley]] để trả lời báo cáo của ông này về việc Pháp đang sử dụng viện trợ quân sự của Mỹ để xâm chiếm Đông Dương và việc có dư luận cho rằng Mỹ hình như đang ủng hộ việc đặt các thuộc địa dưới sự kiểm soát của các nước đế quốc chứ không phải dưới sự ủy trị của Liên Hợp Quốc, Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định Tổng thống Truman nói rằng không có thay đổi cơ bản nào trong chính sách của Mỹ đối với thuộc địa <ref name="patti233"/>. Đến năm [[1947]], theo [[điện tín số 1737]] ngày [[13 tháng 5]] năm [[1947]] của ngoại trưởng Mỹ [[George Marshall]] gửi đại sứ quán Mỹ tại Paris thì lập trường của Mỹ là phải "cùng hội cùng thuyền" với Pháp cũng như Anh và Hà Lan ở Đông Nam Á vì lo sợ cùng với việc nền cai trị của các nước phương Tây tại Đông Nam Á được nới ra thì các nước này sẽ theo xu hướng Liên Á chống phương Tây hoặc người cộng sản sẽ giành lấy chính quyền, do đó cần duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa các dân tộc mới được tự trị với các cường quốc (chỉ [[Anh]], [[Pháp]], [[Hà Lan]]) "từ lâu chịu trách nhiệm về sự thịnh vượng của họ". Đặc biệt người Việt Nam trong một thời gian nhất định "vẫn cần tới sự giúp đỡ kinh tế của Pháp cùng 1 sự chỉ dẫn về chính trị của 1 nước có nền dân chủ lâu đời và biết tôn trọng nhân quyền như Pháp".<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 630 - 631</ref> Năm [[1947]], Hoa Kỳ ký bản thoả thuận với nước Pháp về việc cấp cho Pháp 160 triệu USD để mua xe cộ và trang thiết bị cho quân Pháp ở Đông Dương<ref name="ReferenceB">Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 642</ref>. Theo giáo sư sử học [[Vũ Dương Ninh]] điều đó hầu như biểu lộ sự tán thành của nước Mỹ đối với việc tái chiếm Đông Dương của Pháp.<ref name=khoalichsu>[http://khoalichsu.edu.vn/bai-nghien-cu/505-bi-cnh-quc-t-ca-ba-bn-hip-nh-trong-hai-cuc-khang-chin-cu-nsc-1945-1975-gs-v-dng-ninh.html BỐI CẢNH QUỐC TẾ CỦA BA BẢN HIỆP ĐỊNH TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CỨU NƯỚC (1945 - 1975)] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20140628211550/http://www.khoalichsu.edu.vn/bai-nghien-cu/505-bi-cnh-quc-t-ca-ba-bn-hip-nh-trong-hai-cuc-khang-chin-cu-nsc-1945-1975-gs-v-dng-ninh.html |date = ngày 28 tháng 6 năm 2014}}, GS. Vũ Dương Ninh, Khoa lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội</ref> Liên Xô muốn giữ quan hệ trung dung, tốt đẹp với tất cả các bên ở Đông Dương gồm Trung Quốc, Việt Nam và Pháp nên không ủng hộ Hồ Chí Minh. Stephane Solovieff, đại diện của Liên Xô ở Hà Nội nói với thiếu tá OSS của Hoa Kỳ Archimedes Patti rằng Liên Xô "''cần thời gian để phục hồi, tái thiết trước khi xác định vị thế ở Đông Nam Á''".<ref name="bbc1234"/>
[[Tưởng Giới Thạch]] phát biểu rằng người Việt không phải là người Trung Quốc, không dễ bị Trung Quốc đồng hóa và Trung Quốc không có quyền lợi về đất đai ở Đông Dương.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 400-401</ref> Trung Quốc nhiều lần tuyên bố mặc dầu Trung Quốc mong muốn thấy Đông Dương được trả lại cho Pháp nhưng không muốn điều đó được thực hiện mà không có một số bảo đảm nhằm ngăn chặn Pháp dùng Đông Dương vào những hoạt động có hại cho lợi ích của Trung Quốc sau này. Tương lai Đông Dương sẽ không được định đoạt nếu không có sự thỏa thuận của Trung Quốc trên bàn Hội nghị Hòa bình.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 118</ref>
==== Nhật Bản đảo chính Pháp và chiếm đóng Đông Dương ====
{{chính|Chiến dịch Đông Dương (1940)}}
[[Tập tin:Kienthuc-linh-nhat-01 oxwk.jpg|thumb|Binh lính Nhật Bản hành quân trên đường phố Sài Gòn]]
Năm [[1940]], [[Đế quốc Nhật Bản]] tấn công [[Bán đảo Đông Dương|Đông Dương]] và nhanh chóng thỏa thuận được với [[chính phủ Vichy|chính quyền Vichy]] ở Pháp để Nhật Toàn quyền cai trị Đông Dương. [[Tháng tám|Tháng 8]] năm [[1944]], Decoux công bố và thực thi 1 đạo luật bí mật ban cho ông những quyền hạn đặc biệt trong trường hợp mất liên lạc với chính phủ Vichy tại Pháp. Ngày [[30 tháng 8]] năm [[1944]], Decoux gửi 1 bức điện cho chính phủ Vichy với nội dung "''Trái với ý nghĩ được phổ biến rộng ra quá nhiều lần, chủ quyền của nước Pháp trên xứ thuộc địa này vẫn được giữ gìn trọn vẹn... Chính phủ Pháp vẫn tuyệt đối tự do... Nhờ có bốn năm cố gắng không ngừng và hiệp thương giữa [[Hà Nội]], [[Bắc Kinh]] và [[Tokyo]], cái cơ bản của lập trường chúng ta, của chủ quyền chúng ta, của uy tín chúng ta và của sự nghiệp văn minh khai hóa của chúng ta đã được bảo vệ... điều kiện cần thiết và đầy đủ để cho chủ quyền của Pháp ở Đông Dương và những lợi ích của Pháp tại Viễn Đông được vẹn toàn cho đến ngày kết thúc chiến tranh dường như là thế này; Chính phủ mới của Pháp hãy khuyến cáo Đồng minh đừng mở bất cứ một cuộc tấn công quân sự nào vào Đông Dương và bản thân nó hãy tránh mọi sáng kiến ngoại giao hoặc quân sự có thể xô đẩy Nhật Bản vào tâm trạng nghi kỵ đối với nước Pháp''"<ref>Paris - Saigon - Hanoi, trang 63-64, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003</ref>.
Ngày [[29 tháng 4]] năm [[1944]], đại diện [[Mặt trận Độc lập Đông Dương]] do [[Việt Minh]] lãnh đạo gặp lãnh sự Pháp của [[Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp]] tại [[Côn Minh]], Trung Quốc để thảo luận về việc khôi phục nền độc lập và [[dân chủ hóa]] Đông Dương. Mặt trận hy vọng [[Ủy ban Giải phóng Dân tộc Pháp]] sẽ nghiên cứu 1 chương trình dân chủ hóa Đông Dương sau khi lãnh thổ này được giải phóng khỏi ách chiếm đóng của Nhật. Đối với vấn đề độc lập của Đông Dương, Mặt trận sẵn sàng thảo luận và chấp nhận tạm thời tất cả mọi công thức chính trị rộng rãi lấy nguyện vọng của các dân tộc ở Đông Dương làm căn cứ.<ref>Paris - Saigon - Hanoi, trang 56-57, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003</ref> Đến [[Tháng sáu|tháng 6]] năm [[1944]], Việt Minh lại tuyên bố "''Ủy ban Giải phóng Dân tộc Pháp đã nhầm khi nghĩ rằng các dân tộc Đông Dương tự bằng lòng với những lời nịnh nọt tâng bốc, cam kết, hứa hẹn. Tương lai đất nước chúng tôi là do bàn tay chúng tôi sắp đặt chuẩn bị. Tự do của chúng tôi, chúng tôi muốn nó phải hoàn toàn''"<ref>Paris - Saigon - Hanoi, trang 61, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003</ref>.
Thực dân Pháp chỉ tồn tại đến ngày [[9 tháng 3]] năm [[1945]] khi Nhật lật đổ Pháp trên toàn bộ Đông Dương vì nhận thấy quân đội Đông Dương thuộc Pháp đang hoạch định việc chuẩn bị tác chiến chống lại Nhật sau khi Đồng Minh đổ bộ vào Đông Dương, bắt đầu tuyển mộ dân bản xứ (các dân tộc thiểu số người Việt và Lào) vào quân đội Đông Dương thuộc Pháp.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 99, 100, 101</ref> Ngày [[9 tháng 3]] năm [[1945]], tại Sài Gòn, đại sứ Nhật Matsumoto trao cho Đô đốc Decoux 1 tối hậu thư đòi các lực lượng vũ trang Pháp phải được đặt dưới quyền chỉ huy của Nhật. Sau 2 giờ, khi nhận được câu trả lời của Decoux, người Nhật cho rằng ông này đã bác bỏ tối hậu thư của họ. Trong vòng 48 giờ, từ Đô đốc Decoux đến những viên chức Pháp thấp nhất đều bị tước quyền hành và bỏ tù hoặc bị tập trung lại.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 102</ref>
==== Chính phủ Đế quốc Việt Nam thành lập ====
[[Hình:Đế-quốc Việt-Nam tuyên-bố độc-lập, 1945.jpg|nhỏ|phải|222px|Nhật báo ''[[Điện tín]]'' loan tin [[Việt Nam]] độc lập.]]
Theo chính sách [[Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á]], Đế quốc Nhật Bản bảo trợ thành lập chính phủ [[Đế quốc Việt Nam]] dưới quyền [[Bảo Đại|Hoàng đế Bảo Đại]], đứng đầu bởi Thủ tướng [[Trần Trọng Kim]]. Cũng như các chính phủ khác ở những vùng bị Nhật chiếm đóng ([[Mãn Châu quốc]], [[Triều Tiên]], [[Chính quyền Uông Tinh Vệ|Chính phủ Uông Tinh Vệ]]...), chính phủ này không có thực quyền khi tài chính và nhân lực đều do quân Nhật nắm giữ.
Vua [[Bảo Đại]] tuyên bố thành lập Đế quốc Việt Nam ngày [[11 tháng 3]] năm [[1945]], tuyên bố chính phủ này có chủ quyền trên danh nghĩa ở 3 kỳ, tiếp sau đó là [[Campuchia thuộc Nhật|Campuchia]] ngày [[13 tháng 3]] và [[Lào thuộc Nhật|Lào]] ngày [[8 tháng 4]]. Trong tuyên bố của Bảo Đại, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ và mất độc lập với Pháp trước đây, độc lập theo tuyên ngôn Đại đông Á của Đế quốc Nhật Bản, và "ông cũng như Chính phủ Việt Nam tin tưởng lòng trung thực của Nhật Bản và nó được xác định làm việc với các nước để đạt được mục đích".<ref>theo Par Francis AGOSTINI</ref>.
Để đáp trả, ngày [[24 tháng 3]] năm [[1945]], chính phủ [[Charles de Gaulle]] tuyên bố chủ quyền của Pháp ở Đông Dương và không công nhận sự cai trị của Nhật Bản ở khu vực này. Pháp dự định thành lập Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp, bao gồm 5 quốc gia có đại diện riêng trong Liên bang, có lợi ích bên ngoài do Pháp đại diện; và dự kiến cơ cấu của chính phủ Liên bang Đông Dương sẽ theo mô hình chính phủ do Thống đốc đứng đầu, với các bộ trưởng người Đông Dương và người dân Pháp ở Đông Dương, và 1 Quốc hội được bầu theo phương thức phổ thông đầu phiếu tại mỗi quốc gia của Liên bang, trong đó có đại diện lợi ích của người Pháp. Thống đốc, Hội đồng Nhà nước chịu trách nhiệm chuẩn bị các luật và quy định, còn Quốc hội giữ vai trò biểu quyết mọi loại thuế, ngân sách, các dự luật và các điều ước quốc tế về thương mại và hợp tác với các nước khác. Liên bang sẽ có lực lượng vũ trang riêng được trang bị kỹ năng tương đương với của Liên hiệp Pháp và phát triển quan hệ thương mại với tất cả các nước khác, đặc biệt là với Trung Quốc.<ref>Sockeel-Richarte: La Problème de la Souveraineté Française sur l'Indochine, in Le Général de Gaulle et l'Indochine 1940–1946, tr.26</ref> Cũng trong tuyên bố này, Pháp cam kết đảm bảo bình đẳng giữa công dân Đông Dương với các công dân Liên hiệp Pháp về quyền tham gia các vị trí của Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp, cũng như mọi quyền tự do dân chủ nói chung (tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tự do báo chí, tự do lập hội, hội họp...). Đồng thời Liên hiệp Pháp có nghĩa vụ giúp đỡ thành lập lực lượng vũ trang Liên bang Đông Dương, cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội, văn hóa, giáo dục, chính trị và hành chính ở Đông Dương.<ref>Martin Shipway, The Road to War: France and Vietnam 1944-1947, tr. 125, Berghahn Books, 2003</ref>
Ngày [[7 tháng 4]] năm [[1945]], Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần [[Nội các Trần Trọng Kim (tháng 4 năm 1945)|nội các Trần Trọng Kim]] và ngày [[12 tháng 5]] giải thể [[Viện Dân biểu Trung Kỳ]]. [[Tháng sáu|Tháng 6]] năm [[1945]], chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là [[Đế quốc Việt Nam]]. Bảo Đại cũng xúc tiến [[trưng cầu dân ý]] về chính thể Việt Nam, theo đạo Dụ số 1 có nội dung "1.Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu "Dân vi quí". 2. Trong chính giới sẽ chiêu lập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại Nhật Bản trong công cuộc tái thiết Đại Đông Á. 3.Trẫm sẽ tái định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của quốc dân".
Bản thân khẩu hiệu "Đại Đông Á" vốn do Nhật tạo ra, và 5 nguyên tắc của nó cho thấy rõ mục đích: Nhật Bản muốn lôi kéo các nước châu Á mà họ đã thôn tính được, bắt các nước này đóng góp nhận lực, của cải để Nhật tiến hành chiến tranh chống Anh, Mỹ, cũng như triệt tiêu ý định chống Nhật tại các nước này<ref>Nguyễn Kỳ Nam. Hồi ký 1925-1964. Tập 2, trang 180</ref> Các bộ trưởng của Đế quốc Việt Nam tuyên bố bất lực, bởi không thể làm được việc gì nếu không được cố vấn tối cao Nhật đồng ý, trong khi vua Bảo Đại chỉ lo vui chơi, săn bắn mà không quan tâm đến chính trị.<ref name="thanhnien.com.vn">[http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/nhung-ngay-lam-vua-cuoi-cung-cua-hoang-de-bao-dai-ky-2-thong-diep-gui-tuong-de-gaulle-604356.html Những ngày làm vua cuối cùng của hoàng đế Bảo Đại - Kỳ 2: Thông điệp gửi tướng De Gaulle], Báo Thanh niên, 04/09/2015</ref>.
Ngày [[15 tháng 8]] năm [[1945]], Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh. Ngày [[18 tháng 8]], vua Bảo Đại tuyên bố sẽ duy trì chính phủ Đế quốc Việt Nam sau khi Nhật đầu hàng, và đồng thời gửi 1 thông điệp đến [[Thống chế Pháp]] De Gaulle đề nghị công nhận chính phủ Đế quốc Việt Nam. Thông điệp này có đoạn "''Ông sẽ hiểu tốt hơn nếu ông có thể chứng kiến những gì đang diễn ra ở đây, nếu ông có thể cảm nhận được khát khao độc lập đến tận tâm can của mỗi người mà không một thế lực nào có thể ngăn cản nổi. Thậm chí nếu ông muốn tái lập chế độ cai trị của người Pháp ở đây thì nó sẽ không tiếp tục được tuân phục; mỗi làng mạc sẽ trở thành một ổ kháng chiến, mỗi người cộng tác cũ thành một kẻ thù và những quan chức, những tên thực dân của ông chính họ sẽ yêu cầu rời khỏi không khí ngạt thở này... Chúng ta có thể dễ dàng hiểu nhau và trở thành bạn bè nếu ông hủy bỏ tuyên bố trở thành ông chủ của chúng tôi một lần nữa''"<ref>The U.S. Government and the Vietnam War: Executive and Legislative Roles and Relationships, Part I, [https://books.google.com.vn/books?id=8O7_AwAAQBAJ&pg=PA2&lpg=PA2&dq=Bao+Dai+message+to+De+Gaulle&source=bl&ots=Buv3CE9l6m&sig=ACfU3U2pZmN1utZ62CQowo-uuYnVvn9XAg&hl=vi&sa=X&ved=2ahUKEwjZ4_qi3rvhAhWLF6YKHQ71DhoQ6AEwA3oECAcQAQ#v=onepage&q=Bao%20Dai%20message%20to%20De%20Gaulle&f=false page 2], William Conrad Gibbons, Series: Princeton Legacy Library, Princeton University Press, 1995</ref>. Tuy nhiên De Gaulle không hồi âm, ông ta dự kiến sẽ hậu thuẫn cho 1 chế độ quân chủ mà người đứng đầu không phải là Bảo Đại, người đã thỏa hiệp với Nhật Bản để được "độc lập", mà là Vĩnh San, được xem như là 1 "Gaullist" (người ủng hộ de Gaulle).<ref name="ReferenceA">Paul-Marie de La GORCE:De Gaulle-Leclerc: de Londres à l'Indochine Espoir n°132, 2002</ref>
Ngày [[16 tháng 8]] năm [[1945]], Trần Trọng Kim tuyên bố sẽ bảo vệ chính phủ Đế quốc Việt Nam, và ngày [[18 tháng 8]] thành lập [[Ủy ban Giải phóng Dân tộc]], tập hợp tất cả các đảng phái chính trị để lãnh đạo công cuộc này. Theo lời khuyên của ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bảo Đại cũng gửi thông điệp cho Tổng thống Mỹ Truman, vua nước Anh, [[Thống chế Trung Hoa]] [[Tưởng Giới Thạch]] đề nghị công nhận Đế quốc Việt Nam là chính phủ đại diện của Việt Nam. Tuy nhiên tất cả các bức thư đều không được hồi âm, bởi theo [[Tuyên bố Cairo]], không chỉ Pháp mà tất cả các nước khối Đồng Minh sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Nhật Bản thành lập tại các lãnh thổ chiếm đóng. Đến [[24 tháng 8]], trong cao trào của [[Cách mạng Tháng Tám]], Bảo Đại đã thực hiện đề nghị của Hội đồng Cơ mật: quyết định thoái vị ''"để không phải là một trở ngại cho sự giải phóng của đất nước"''. Chính phủ [[Đế quốc Việt Nam]] đến đây tan rã<ref name="Stéphane Just 1979">Stéphane Just: A propos d'une possibilité théorique et de la lutte pour la dictature du prolétariat trên La Vérité" n°588 (Septembre 1979)</ref>.
==== Tình hình Việt Nam ====
Cuộc đảo chính của Nhật Bản ngày [[10 tháng 3]] đã làm suy yếu bộ máy hành chính và quân sự của Pháp và mở ra một khoảng trống rất lớn vì "Chính phủ Hoàng gia" không thể điều hành nổi. Khi Nhật Bản đầu hàng vào ngày 14, quân đội Nhật Bản có trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi sự xuất hiện của quân đội Trung Quốc về phía bắc 16° vĩ độ, và quân Anh về phía Nam. Nhưng cuộc cách mạng đang càn quét, "không phải do chính sách Việt Minh", đã bất chấp điều đó.<ref name="Stéphane Just 1979"/>
[[Tập tin:Ho Chi Minh (third from left standing) and the OSS in 1945.jpg|thumb|right|300px|Lãnh đạo Việt Minh và các thành viên của [[Đội Tình báo O.S.S "Con Nai"|Đội Con Nai]]ơở Bắc Bộ phủ, tháng 9 năm [[1945]]. Từ trái qua phải (đang đứng):[[1945|Đinh Hu]]ủ [[1945|Phan]]<nowiki/>y ([[1945|ù]]ồng Việt), René Defourneaux, [[Hồ Chí Minh]], Allison K. Thomas, [[Võ Nguyên Giáp]], Henry Prunier, [[Đàm Quang Trung]], Nguyễn Quý, và Paul Hoagland. Hàng trước (đang quỳ): Lawrence Vogt, Aaron Squires, Thái Bạch (Thái Bá Chi)]]
[[Việt Minh]] (viết tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) do [[Hồ Chí Minh]] thành lập năm [[1941]] với vai trò 1 mặt trận thống nhất dân tộc để giành độc lập. Tổ chức này do [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Cộng sản Đông Dương]] lãnh đạo, thu hút được sự tham gia và ủng hộ của nhiều người Việt Nam và ngày càng lớn mạnh. [[Tháng mười hai|Tháng 12]] năm [[1944]], đội [[Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân|Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân]], lực lượng vũ trang của Việt Minh và tiền thân của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]], được thành lập tại [[Cao Bằng]]. Khẩu hiệu ban đầu của Việt Minh là "Phản Pháp - kháng Nhật - liên Hoa - độc lập". Ban đầu lực lượng Việt Minh nhận được sự ủng hộ của phe Đồng minh, bao gồm cả Mỹ và Trung Hoa dân quốc, theo [[Philippe Devillers]] "bây giờ nó sẽ nhận được 100.000 đô la mỗi tháng phân bổ đến Nguyen Kai Thau". Hồ Chí Minh nhận thấy Mỹ đang muốn đóng vai trò lớn hơn ở khu vực [[Thái Bình Dương]], ông đã làm tất cả để thiết lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản. Đổi lại, [[Cơ quan Tình báo chiến lược|Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa Kỳ]] (Office of Strategic Services - OSS) sẽ gửi [[Đội Tình báo O.S.S "Con Nai"|một nhóm chuyên gia]] ([[Đội Tình báo O.S.S "Con Nai"|Đội Con Nai]]) đến giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh, về sau này sẽ trở thành [[Quân đội nhân dân Việt Nam]].<ref name="Maurice Isserman 2003">Maurice Isserman, John Stewart Bowman (2003, 1992), ''Vietnam War'', trang 4-5, ISBN 0-8160-4937-8.</ref> [[Tháng bảy|Tháng 7]] năm [[1945]], lực lượng này gửi đến OSS 1 tuyên bố: "Chúng tôi, Việt Minh, công bố yêu cầu sau đây về chính sách tương lai ở Đông Dương thuộc Pháp đến người Pháp và các quan sát viên:
# Một quốc hội bầu theo phổ thông đầu phiếu. Nó lập pháp cho đất nước. Một thống đốc Pháp quyền Chủ tịch cho đến khi tính chất độc lập chúng tôi được đảm bảo. Thống đốc sẽ chọn một nội các hoặc một nhóm các cố vấn chấp nhận bởi quốc hội. Các quyền hạn cụ thể của các cơ quan này có thể được phát triển trong tương lai.
# Độc lập sẽ được trao cho đất nước này trong một tối thiểu 5 năm và tối đa là 10 năm.
# Tài nguyên thiên nhiên của đất nước sẽ trở lại cư dân của nó sau khi bồi thường công bằng cho các chủ sở hữu hiện tại. Pháp sẽ nhận được những lợi ích kinh tế.
# Tất cả quyền tự do được [[Liên Hợp Quốc]] công bố sẽ được đảm bảo ở Đông Dương.
# Bán [[thuốc phiện]] bị cấm.
Chúng tôi hy vọng rằng những điều kiện này sẽ nhận được sự chấp nhận của chính phủ Pháp".<ref name="Stéphane Just 1979"/>
Từ [[Tháng ba|tháng 3]] năm [[1945]], Việt Nam rơi vào 1 tình trạng hỗn loạn do khoảng trống về quyền lực chính trị quá lớn<ref>[http://baoquocte.vn/cuoc-cach-mang-dua-dat-nuoc-tien-vao-ky-nguyen-moi-34634.html Cuộc cách mạng đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới], 19/08/2016, Thế giới & Việt Nam</ref>. Người Nhật đang lo chống đỡ các đòn tấn công của quân đội đồng minh Anh-Mỹ. Cả chính phủ của Trần Trọng Kim lẫn triều đình của Bảo Đại đều không đủ lực lượng quân sự và uy tín chính trị để kiểm soát tình hình. Theo [[Peter A. Pull]], chỉ có Việt Minh là lực lượng có tổ chức duy nhất ở nước này có khả năng nắm được quyền chính trị.<ref>Peter A. Pull. Nước Mỹ và Đông Dương-Từ Roosevelt đến Nixon. Nhà xuất bản Thông tin lý luận. Hà Nội. 1986. trang 23.</ref> Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế, nước Nhật cạn kiệt nguyên liệu nên quân Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồng đay để phục vụ [[chiến tranh thế giới thứ hai|chiến tranh]], cộng thêm thiên tai, nạn đói ([[Nạn đói năm Ất Dậu, 1944-1945|Nạn đói Ất Dậu]]) đã xảy ra tại [[Bắc Kỳ|Bắc kỳ]] và [[Miền Trung (Việt Nam)|Trung kỳ]]. Người ta ước tính rằng đã có khoảng 2 triệu người chết vì nạn đói này.
Khâm sai [[Phan Kế Toại]] đã gặp [[Nguyễn Khang]], người do Xứ Ủy Bắc Kỳ cử đến. Ông đề nghị Việt Minh tham gia Chính phủ [[Đế quốc Việt Nam]] và ngừng các hoạt động chống Nhật nhưng Nguyễn Khang bác bỏ.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 301, 302</ref> Chính quyền thân Nhật [[Đế quốc Việt Nam]] cũng thành lập Uỷ ban Chính trị để đàm phán với Việt Minh. Ủy ban này đề nghị Việt Minh: "''Đằng nào các ông cũng thắng, nhưng để điều đình với Đồng Minh sẽ vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, đề nghị vùng nông thôn cách thành phố 15km là thuộc quyền các ông, còn thành phố cần có nhân sĩ, trí thức đứng ra giao dịch với Đồng Minh''". Đại biểu Việt Minh đã trả lời dứt khoát: "''giao dịch với Đồng Minh lúc này, ngoài Việt Minh không ai có thể có lực lượng và danh nghĩa cả''".<ref>[http://baoangiang.com.vn/cach-mang-thang-tam-tong-khoi-nghia-gianh-chinh-quyen-a67930.html Cách mạng tháng Tám, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20180519211203/http://baoangiang.com.vn/cach-mang-thang-tam-tong-khoi-nghia-gianh-chinh-quyen-a67930.html |date=2018-05-19 }}, Báo An Giang, 19/08/2014</ref>
=== Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ===
{{chính|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa}}
[[Tập tin:Viet Minh during August Revolution.jpg|nhỏ|trái|220px|[[Võ Nguyên Giáp]] duyệt đội hình danh dự của quân đội Việt Minh trong Cách mạng tháng Tám]]
Ngay sau khi [[Nhật Bản]] đầu hàng quân [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]], lực lượng Việt Minh đã tổ chức thành công cuộc [[Cách mạng tháng Tám]]. Chính phủ Pháp không kịp phản ứng vì quân đội Pháp vẫn chưa kịp hoàn thành việc tái xây dựng lực lượng và vẫn còn ở châu Âu do chưa được khối Đồng Minh cho phép hoạt động tại chiến trường Đông Nam Á. Quân đội Nhật không can thiệp vào tình hình chính trị tại Việt Nam vì họ đã đầu hàng và đang chờ Đồng Minh đến giải giáp.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 310</ref>
Sau Cách mạng tháng Tám, Việt Minh thành lập [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] trên cơ sở cải tổ [[Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam|Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam]] được thành lập tại Đại hội Quốc dân ngày 16-17 tháng 8 năm [[1945]] tại [[Tân Trào, Sơn Dương|Tân Trào]], [[Sơn Dương]]. Thời điểm đó Hồ Chí Minh ít được biết đến còn Chính phủ của ông chưa được nước nào công nhận. Ông cảm thấy phải tìm cách làm cho Đồng Minh chú ý đến Chính phủ của ông trước khi quân đội của họ vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật. Cùng thời điểm đó, Bảo Đại cũng gửi cho lãnh đạo các nước Đồng Minh lời kêu gọi công nhận nền độc lập của Việt Nam. Điều đó làm Hồ Chí Minh lo ngại vì lời kêu gọi này đã tăng cường địa vị hợp pháp của Bảo Đại. Theo Hồ Chí Minh, Bảo Đại không còn cầm quyền từ lâu nên Chính phủ Lâm thời là Chính phủ duy nhất hợp pháp.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 351</ref> Đối với Mỹ, Hồ Chí Minh cố gắng thuyết phục Mỹ tiếp tục chính sách chống thực dân của Mỹ đối với Đông Dương. Ông tìm cách làm Mỹ tin rằng ông không phải là 1 phái viên của [[Quốc tế Cộng sản]] mà là 1 người Quốc gia - Xã hội mong muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại bang.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 352</ref>
Thông qua OSS, Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] gửi 9 bức điện cho Chính phủ Mỹ, bao gồm cả bốn bức thư tay gửi trực tiếp cho Tổng thống Mỹ [[Harry S. Truman]] đề nghị Mỹ đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Lâm thời, đồng thời Mỹ và Chính phủ Lâm thời sẽ có đại diện trong Ủy ban Liên tịch các nước Đồng Minh giải quyết các vấn đề liên quan đến Việt Nam. Việt Minh hy vọng tranh thủ được sự có mặt của Mỹ trong cuộc thương lượng giữa Trung Quốc và Pháp về Đông Dương vì 2 nước này có thể làm nguy hại đến nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời khuyến khích các nước Đồng Minh công nhận Chính phủ Lâm thời là đại diện duy nhất và hợp pháp của Việt Nam trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền của Việt Nam. Việt Minh lo ngại việc không được các nước Đồng Minh công nhận sẽ làm suy yếu địa vị lãnh đạo của họ và có lợi cho [[Việt Cách]], [[Việt Quốc]] trong việc thành lập chính phủ của các lực lượng này.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 392 - 393</ref> Hồ Chí Minh nói với Trưởng Cụm tình báo Đông Dương, [[Archimedes Patti|Archimedes L.A Patti]], rằng ông theo chủ nghĩa Lenin, tham gia thành lập [[Đảng Cộng sản Pháp]] và xin gia nhập [[Đệ Tam Quốc tế]] vì đây là những cá nhân và tổ chức duy nhất quan tâm đến vấn đề [[thuộc địa]]. Ông không thấy có sự lựa chọn nào khác. Nhưng trong nhiều năm sau đó những tổ chức này cũng không có hành động gì vì nền độc lập của các dân tộc thuộc địa. Trước mắt, ông đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ trước khi có thể hy vọng vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Hồ Chí Minh giải thích rằng: Người Mỹ xem ông là 1 người quốc tế cộng sản, "bù nhìn của Moscow" vì ông đã ở [[Moskva|Moscow]] nhiều năm, nhưng ông khẳng định mình không phải là người cộng sản theo cách mà Mỹ hiểu, mà ông là nhà cách mạng hoạt động vì độc lập dân tộc.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 608 - 609</ref> Tuy nhiên chính phủ Mỹ không đáp lại nguyện vọng của Hồ Chí Minh. Cuối [[Tháng chín|tháng 9]] năm [[1946]], Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước, chấm dứt liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A.Patti, trang 595, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008</ref> Hồ Chí Minh cũng gửi thư cho [[Iosif Vissarionovich Stalin|Stalin]] đề nghị Liên Xô giúp đỡ cách mạng Việt Nam và công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa<ref>Архив внешней политики Российской Федерации (АВП РФ), ф. 0136, оп. 29, п.197, д. 31, л.187.</ref><ref>АВП РФ, ф. 0136, оп. 29, п.197, д. 31, л.188-189.</ref> nhưng không được hồi đáp<ref>Christopher E. Goscha: “Courting Diplomatic Disaster? The Difficult Integration of Vietnam into the Internationalist Communist Movement (1945–1950)”, Ibid.</ref><ref>И.В. Бухаркин: “Кремль и Хо Ши Мин 1945-1969”, Указ. Соч, C. 126.</ref>. Vào thời điểm này trọng tâm của Liên Xô là Đông Âu và khôi phục Liên Xô sau chiến tranh, chứ không phải là Việt Nam. Hơn nữa Mỹ đang lôi kéo các nước Châu Âu thành lập [[NATO|khối phòng thủ Châu Âu]] chống lại sự mở rộng của chủ nghĩa cộng sản nên Liên Xô không muốn làm mất lòng Pháp. Mặt khác Stalin cũng chưa biết gì nhiều về Hồ Chí Minh và cho rằng ông là “Tito phương Đông’’, tức là 1 người cộng sản theo chủ nghĩa dân tộc, chứ không phải là người cộng sản quốc tế theo chủ nghĩa Stalin.<ref>[http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/cau-tra-loi-sac-ben-cua-bac-ho-truoc-cau-hoi-cua-stalin-451861.html Câu trả lời sắc bén của Bác Hồ trước câu hỏi của Stalin], Vietnamnet, 19/05/2018</ref>
Tại miền Nam, sau khi đảo chính Pháp, ngày [[14 tháng 8]] năm [[1945]], Nhật cho phép Bảo Đại cử 1 [[Khâm sai đại thần]] nắm quyền cai trị tại Nam Kỳ đồng thời bổ nhiệm những người Việt thuộc [[Mặt trận Quốc gia Thống nhất]] vào các vị trí trong bộ máy chính quyền do các viên chức dân sự Pháp đã bị Nhật tống giam. Ngày [[16 tháng 8]] năm [[1945]], người Việt tiếp quản Sài Gòn. Điều này được chào đón như một cuộc cách mạng. Ngày [[19 tháng 8]] năm [[1945]], Khâm sai [[Nguyễn Văn Sâm]] đến Sài Gòn. Nhật chuyển giao vũ khí cho lực lượng Cách mạng và các đảng phái thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất. Trong cuộc họp ngày [[22 tháng 8]] năm [[1945]] của Mặt trận Quốc gia Thống nhất, [[Trần Văn Giàu]] thuyết phục các đảng phái trong Mặt trận chuyển giao quyền lực cho Việt Minh vì Mặt trận có thể bị Đồng Minh xem là 1 tổ chức thân Nhật còn Việt Minh lại đang thuộc phe Đồng minh (trước đó đã hợp tác với tình báo quân sự Mỹ OSS) chống Nhật. Ngày [[23 tháng 8]] năm [[1945]], Mặt trận Quốc gia Thống nhất quyết định rút lui, nhường quyền lãnh đạo cho Việt Minh thành lập [[Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ]] do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Ngày [[25 tháng 8]] năm [[1945]], tại Sài Gòn, Việt Minh tuyên bố thành lập Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ gồm 9 người đều là thành viên Việt Minh<ref name="ubhc">[http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30198&cn_id=78904 Sống mãi hào khí Sài Gòn ngày khởi nghĩa 25-8-2004] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20150705004743/http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30198&cn_id=78904 |date=2015-07-05 }}, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 28/08/2004</ref>. Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra tuyên bố họ là bộ phận hành chính ở phía Nam của [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]].<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 330 - 334</ref> Sau đó, theo lệnh của Chính phủ lâm thời Trung ương, Ủy ban hành chính Nam Bộ hợp tác với Kỳ bộ Việt Minh gồm đại biểu các đảng phái: [[Đông Dương Cộng sản Đảng|Đông Dương cộng sản]], [[Tân Dân chủ]], [[Tổng công đoàn]], [[Thanh niên Tiền phong]], [[Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng|Việt Nam quốc gia]], [[Cao Đài hợp nhất]], [[Việt Nam Cứu quốc đoàn]] (Kỳ bộ cũ của Việt Minh), [[Quốc gia độc lập]], Công giáo, [[Thanh niên nghĩa dũng đoàn]] họp bàn thành lập [[Ủy ban nhân dân Nam Bộ]].<ref>Báo Cứu quốc, ngày 10 tháng 9 năm 1945, tr.2</ref>
Ở Hà Nội, các sinh viên cánh tả tổ chức biểu tình với danh nghĩa [[Tổng hội sinh viên Việt Nam|Tổng hội sinh viên]] kêu gọi Bảo Đại thoái vị, thành lập nền cộng hòa dưới sự bảo trợ của Việt Minh, yêu cầu Việt Minh thảo luận với tất cả các đảng phái để thành lập chính phủ lâm thời, đồng thời kêu gọi nhân dân và các đảng phái ủng hộ chính phủ Lâm thời bảo vệ nền độc lập của đất nước. Việt Minh phát động công nhân, người dân cướp chính quyền trên toàn quốc. Trước áp lực đó, Bảo Đại mời Việt Minh thành lập một chính phủ mới dưới quyền ông thay thế chính phủ Trần Trọng Kim.<ref name="Patti331">Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 331</ref>
[[Tháng năm|Tháng 5]] năm [[1945]], các thành viên của các đảng [[Đại Việt Quốc dân Đảng]], [[Đại Việt Dân chính Đảng]] thân Nhật và [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] (Việt Quốc) gặp nhau tại Trung Quốc để thành lập 1 liên minh đặc biệt nhằm phối hợp hoạt động giữa các nhóm trong nước và nhóm lưu vong trong trường hợp Trung Quốc đưa quân vào Đông Dương. Đại Việt Dân chính Đảng sáp nhập vào Việt Nam Quốc dân Đảng. Khi Nhật tuyên bố đầu hàng vào [[Tháng tám|tháng 8]] năm [[1945]], ở Việt Nam chỉ có lực lượng vũ trang của Đại Việt còn lực lượng vũ trang của Việt Nam Quốc dân Đảng vẫn còn ở Trung Quốc. Ngày [[17 tháng 8]] năm [[1945]], [[Trương Tử Anh]], Đảng trưởng Đại Việt Quốc dân Đảng, dẫn đầu 1 đơn vị 250 người hành quân vào Hà Nội. Tuy nhiên ngày [[19 tháng 8]] năm [[1945]], lực lượng này đã không ngăn cản Việt Minh cướp chính quyền của phát xít Nhật tại Hà Nội. Tối hôm đó, các đảng viên Đại Việt và Việt Quốc tổ chức họp nhưng không thống nhất được kế hoạch chống Việt Minh giành chính quyền. Các đơn vị khác của Đại Việt ở các tỉnh không thể tiến về Hà Nội do lũ sông Hồng. Quân đội của Đại Việt rút về phía Đông và phía Tây Hà Nội chờ diễn biến tình hình.<ref>David G. Marr, [http://books.google.com.vn/books?id=Y0TBgbhSYuEC&pg=PA406&lpg=PA406&dq=It+was+the+competition+for+recruits,+donations,+and+Chinese+patronage&source=bl&ots=YdNcmFcmBE&sig=UwF4_R_ZfosPP3tgVTx3SGKLJIY&hl=vi&sa=X&ei=lvtBVOShNobOmwXrn4G4Bg&ved=0CCIQ6AEwAA#v=onepage&q=It%20was%20the%20competition%20for%20recruits%2C%20donations%2C%20and%20Chinese%20patronage&f=false Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946)], page 406 - 407, California: University of California Press, 2013</ref>
Tại Huế, Chính phủ Đế quốc Việt Nam đồng loạt từ chức và chuyển giao quyền lực cho phong trào Việt Minh. Theo lời thuật của [[Phan Anh]], Bộ trưởng Bộ Thanh niên thì ''"với tư cách bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]. Tất cả, kể cả Thủ tướng Trần Trọng Kim, đã có sự nhất trí toàn vẹn, sâu sắc về sự chuyển tiếp ấy."''<ref name="PhanAnh">Phan Anh trả lời sử gia Na Uy Stein Tonnesson. Dẫn lại bởi Phạm Cao Dương trong bài viết trên [http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11249&rb=0302 Tạp chí Khởi Hành số 129, tháng 7.2007, tr. 26-28] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20140515180203/http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11249&rb=0302 |date=2014-05-15 }}</ref>
Sáng ngày [[23 tháng 8]] năm [[1945]], 2 phái viên của Việt Minh là [[Trần Huy Liệu]] và [[Huy Cận|Cù Huy Cận]] đến cung điện Huế. Theo lời yêu cầu của hai ông này, chiều ngày [[25 tháng 8]] năm [[1945]], Bảo Đại đã đọc [[Tuyên ngôn Thoái vị của Bảo Đại|Tuyên ngôn Thoái vị]] trước hàng ngàn người tụ họp trước [[cửa Ngọ Môn]] và sau đó trao ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho ông [[Trần Huy Liệu]]. Ông thoái vị với lý do "''Hạnh phúc của dân Việt Nam, độc lập của nước Việt Nam, muốn đạt mục đích ấy, Trẫm đã sẵn sàng hy sinh hết tất cả mọi phương diện, và cũng vì mục đích ấy nên Trẫm muốn sự hy sinh của Trẫm phải có lợi cho Tổ quốc. Xét thấy điều bổ ích nhất cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết toàn thể quốc dân, Trẫm đã tuyên bố ngày 22 tháng 8 vừa rồi rằng trong giờ nghiêm trọng này rằng đoàn kết là sống mà chia rẽ là chết. Nay thấy nhiệt vọng dân chủ của quốc dân Bắc bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi Quốc hội thì không thể nào tránh khỏi nạn Nam Bắc phân tranh, đã thống khổ cho quốc dân lại thuận tiện cho người ngoài lợi dụng, cho nên mặc dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ tới công lao Liệt Thánh vào sinh ra tử trong gần bốn trăm năm để mở mang giang sơn đất nước từ Thuận Hóa đến Hà Tiên, mặc dầu Trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong hai mươi năm mới gần gũi quốc dân được mấy tháng chưa làm được gì ích lợi cho quốc dân như lòng Trẫm muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một Chính phủ dân chủ Cộng hòa...''". Ông cũng yêu cầu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: "''Đối với các đảng phái đã từng phấn đấu cho nền độc lập quốc gia, nhưng không đi sát theo phong trào dân chúng, Trẫm mong chính phủ mới sẽ lấy sự ôn hòa xử trí để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng Chính phủ dân chủ cộng hòa nước ta đã xây đắp ở trên sự đoàn kết của toàn thể nhân dân.''". Ông trở thành "công dân Vĩnh Thụy". Trong bản [[Tuyên ngôn Thoái vị của Bảo Đại|Tuyên ngôn Thoái vị]], ông có câu nói "''Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị''".<ref>Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam, Nguyễn Phước Tộc Xuất Bản, 1990, trang 186-188</ref> Ngày [[28 tháng 8]] năm [[1945]] thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuyên cáo cho biết "''Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) như có người đã lầm tưởng. Cũng không phải là một Chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của các chính đảng. Thật là một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn quốc, đợi ngày triệu tập được quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ cộng hòa chính thức''".
[[Hình:Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập.jpg|nhỏ|300px|Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] đọc tuyên ngôn độc lập trên quảng trường Ba Đình.]]
Ngày [[2 tháng 9]] năm [[1945]], Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam thống nhất và độc lập với tên gọi nước [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]]. Không có dấu hiệu của cuộc [[cách mạng vô sản]] tại Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyền sở hữu tư nhân phương tiện sản xuất, chỉ quyết định loại bỏ các quan lại và hệ thống phân cấp hành chính và chính trị cũ của Đế quốc Việt Nam, giải tán các [[Hội đồng Nhân sĩ (Việt Nam Cộng hòa)|Hội đồng Nhân sĩ]] và thay bằng các Ủy ban Nhân dân do dân địa phương bầu ra. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện một số cải cách nhưng thận trọng để không tạo ra sự chống đối của giai cấp trung lưu và đại địa chủ. Việc chia lại ruộng đất chỉ giới hạn trong công điền, đất bỏ hoang, đất tịch thu của người Pháp và những người bị xem là hợp tác với phát xít. Từ ngày [[22 tháng 9]] năm [[1945]], các chủ đất nhỏ từ 5 mẫu trở xuống đều được miễn thuế ruộng đất. Việc hạn chế buôn bán lương thực của Nhật bị bãi bỏ, việc nhà nước độc quyền bán [[rượu]] và [[Muối ăn|muối]] chấm dứt. Thuế công thương nghiệp và môn bài bị bãi bỏ. [[Thuốc phiện]], [[Đánh bạc|cờ bạc]], [[mại dâm]] và các hình thức [[lao động khổ sai]] bị cấm. Công nhân được hưởng chế độ làm 8 giờ một ngày.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 486 - 487</ref> Cùng với đó là giải tán các nghiệp đoàn<ref>[http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?docid=40&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText= SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 36 NGÀY 22 THÁNG 9 NĂM 1945]</ref> để kiểm soát nền kinh tế<ref>Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên), ''Lịch sử 12 nâng cao'', Nhà xuất bản Giáo dục, Thanh Hóa, 2008. Trang 169.</ref>, thống nhất các tổ chức thanh niên (vào [[Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh|Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam]]). Tuy nhiên ở cấp địa phương vẫn có sự thanh trừng chính trị hay loại bỏ "chủ nghĩa tư bản phát xít", chia đất cho nông dân, tịch thu tài sản của những người giàu, ngoài mong muốn của những lãnh đạo trung ương Việt Minh (chỉ có 1 nhóm nhỏ, vài chục người đứng đầu tại Hà Nội, cũng như trong tất cả các tỉnh) như Hồ Chí Minh khi thành lập đảng đã nói "Việt Nam sẽ được di chuyển từ từ về phía chủ nghĩa xã hội thông qua việc giảng dạy và thực hành dân chủ".<ref name="Stéphane Just 1979"/>
Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức lễ phát động phong trào cứu đói tại [[Nhà hát Lớn Hà Nội|Nhà hát lớn Hà Nội]]. Chính phủ còn phái 1 ủy ban vào Nam bộ tổ chức vận chuyển gạo ra Bắc. Chính phủ cũng kêu gọi các hội buôn và người dân tham gia vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc. Việc vận chuyển gạo từ Nam ra Bắc chỉ thực hiện được trong [[Tháng chín|tháng 9]] n năm [[1945]] với số lượng không quá 30.000 tấn do chiến tranh bùng nổ khi Pháp đưa quân đội vào Nam Kỳ. Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu Quốc ngày [[28 tháng 9]] năm [[1945]], Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "''Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn 1 bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bơ) để cứu dân nghèo''". Chính phủ cũng chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới. Cho đến đầu năm [[1946]], hệ thống đê tại miền Bắc đã sửa xong.<ref name="dangphong">[http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/69250/chong-giac-doi.html#ad-image-0 Chống giặc đói], GS ĐẶNG PHONG, Báo Tuổi Trẻ, 07/03/2005</ref>
Để giải quyết tận gốc nạn đói, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kêu gọi nhân dân tăng gia sản xuất. Chính phủ còn vận động tư nhân cho mượn các vườn trống quanh nhà để tăng gia sản xuất. Mỗi địa phương lập ra 1 tiểu ban để huy động nhân lực và tổ chức sản xuất, lương thực làm ra được dùng để cứu tế. Cuối [[1945]] đến đầu [[1946]] không còn kịp thời vụ để trồng lúa nữa, nên chính phủ phát động dành phần lớn đất đai để tranh thủ trồng liên tiếp 2 vụ màu (khoai lang, đậu, bắp...) bù cho phần lúa thiếu hụt. Kết quả sản lượng màu đã tăng gấp 4 lần so với thời kỳ trước năm [[1945]]. Chỉ trong 5 tháng từ [[Tháng mười một|tháng 11]] năm [[1945]] - [[Tháng năm|tháng 5]] năm [[1946]] đã đạt 614.000 tấn, tương đương 506.000 tấn lúa, đủ đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm [[1945]].<ref name="dangphong"/>
Trong năm [[1946]], nạn đói cơ bản đã được giải quyết. Ngày [[2 tháng 9]] năm [[1946]], [[Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam|Bộ trưởng Bộ Nội vụ]] Võ Nguyên Giáp tuyên bố: "''Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công của chế độ dân chủ''". Giáo sư kinh tế [[Đặng Phong]] đánh giá việc giải quyết được nạn đói là lý do giải thích tại sao tuyệt đại đa số dân chúng đã tin và đi theo Việt Minh.<ref name="dangphong"/>
1 thành tựu khác của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ là xóa mù chữ. Năm [[1945]], có 95% dân số Việt Nam mù chữ. Trước thực trạng đó, để xóa mù chữ, từ ngày [[8 tháng 9]] năm [[1945]] Chủ tịch Hồ Chí Minh ra các sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 đặt ra 1 bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam, Sắc lệnh số 19 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối, Sắc lệnh số 20 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền. Để phục vụ chiến dịch xoá mù chữ, Nha Bình dân học vụ được thành lập ngày [[18 tháng 9]] năm [[1945]]. Ngày [[4 tháng 10]] năm [[1945]], Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi ''[[Chống nạn thất học]]'' gửi tới toàn dân: "''...Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức, mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ…Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi.''" Các lớp học Bình dân học vụ được mở khắp nơi ở cả ba miền thu hút sự tham gia của mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp nhân dân. Người biết chữ dạy cho người không biết chữ. Đến [[Tháng chín|tháng 9]] năm [[1946]], phong trào Bình dân học vụ đã tổ chức được 75.000 lớp học với trên 95.000 giáo viên, trên 2.500.000 người được phong trào dạy biết đọc, biết viết.<ref name="xoamuchu"/>
Theo Quyết nghị của Chính phủ, ngày [[4 tháng 9]] năm [[1945]], Bộ trưởng Bộ Nội vụ [[Võ Nguyên Giáp]] thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ký ban hành Sắc lệnh số 4 lập "Quỹ độc lập" với mục đích "để thu nhận các món tiền và đồ vật của nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ để ủng hộ nền độc lập của Quốc gia". Tiếp sau đó, cũng trong khuôn khổ Quỹ độc lập, Chính phủ đã đề ra biện pháp tổ chức "Tuần lễ Vàng" từ ngày [[17 tháng 9|17]] đến [[24 tháng 9]] năm [[1945]].<ref>[http://baobariavungtau.com.vn/chinh-tri/200509/TuaN-Le-VaNG-1945-MoT-Ky-TiCH-Cua-CaCH-MaNG-60-NaM-Ve-TRuoC-184842/ TUẦN LỄ VÀNG 1945 - MỘT KỲ TÍCH CỦA CÁCH MẠNG 60 NĂM VỀ TRƯỚC]</ref> Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào toàn quốc nhân dịp "Tuần lễ Vàng", nêu rõ mục đích của việc lập quỹ là "thu góp số vàng trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu có để dùng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng". Chính phủ đã huy động được tổng cộng 20 triệu đồng và 370 kg vàng.<ref>{{Chú thích web |url=http://congly.com.vn/thoi-su/thoi-cuoc/tuan-le-vang-suc-manh-long-dan-29245.html |ngày lưu trữ=2014-12-16 |ngày truy cập=2014-12-16 |tiêu đề=Tuần lễ Vàng - sức mạnh lòng dân |archive-url=https://web.archive.org/web/20141216100415/http://congly.com.vn/thoi-su/thoi-cuoc/tuan-le-vang-suc-manh-long-dan-29245.html |url-status=dead }}</ref> Ngân quỹ quốc gia đã có hàng trăm triệu đồng. Riêng tại Hà Nội, trong "Tuần lễ vàng" nhân dân đã góp được 2.201 lạng vàng, 920 tạ thóc cùng tiền bạc và các hiện vật khác, tổng trị giá lên 7 triệu [[Đồng bạc Đông Dương|đồng Đông Dương]].<ref>{{Chú thích web |url=http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=463&leader_topic=981&id=BT27121257105 |ngày truy cập=2014-12-16 |tựa đề=Năm 1945 - Chính phủ lâm thời đề ra những biện pháp giải quyết khó khăn về tài chính |archive-date = ngày 21 tháng 2 năm 2014 |archive-url=https://web.archive.org/web/20140221090840/http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=463&leader_topic=981&id=BT27121257105 |url-status=dead }}</ref> Số tiền này được dùng để mua vũ khí của quân đội Nhật bị quân đội Trung hoa Dân quốc tịch thu và để hối lộ cho các tướng lĩnh Trung Hoa đang đóng quân tại miền Bắc Việt Nam.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 551 - 552</ref>
Cùng các hình thức tổ chức "Quỹ độc lập", tuần lễ vàng chính quyền cách mạng còn tổ chức nhiều hình thức khuyến khích để nhân dân có điều kiện tham gia đóng góp cho tài chính đất nước với hình thức tự nguyện như lập "Quỹ kháng chiến", "Quỹ bình dân học vụ", "Quỹ giải phóng quân", "Ngày Nam Bộ"... Sự đóng góp, ủng hộ nhiệt tình của nhân dân đã góp phần giải quyết khó khăn về tài chính của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Theo [[Archimedes Patti|Archimedes L.A Patti]], Hồ Chí Minh và các lãnh đạo khác của Việt Minh nhiều lần bày tỏ với ông sự nghi ngại xung quanh vấn đề chủ nghĩa cộng sản có phải là hình thức chính trị phù hợp với Việt Nam hay không. Hồ Chí Minh không tin người Việt đủ trưởng thành về mặt chính trị để có thể chấp nhận chủ nghĩa cộng sản nhưng 1 hình thức dân chủ xã hội chủ nghĩa có cải biên có thể phù hợp hơn.<ref name="ReferenceB"/> Hồ Chí Minh chủ trương Việt Nam sẽ tự do giao thương với tất cả các nước trên thế giới chứ không chỉ hạn chế vào Pháp hoặc Trung Quốc để tạo ra 1 nền kinh tế thịnh vượng. Ông cũng nghĩ tới vấn đề xây dựng 1 cộng đồng Liên Á bao gồm các nước châu Á độc lập góp phần xây dựng nền hòa bình thế giới và phát triển các chương trình kinh tế, chính trị vì lợi ích chung.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 599</ref>
Khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, đa phần dân chúng chỉ biết Hồ Chí Minh mới từ nước ngoài về và là người đứng đầu nhà nước chứ không biết rõ thân thế của ông cũng như khuynh hướng cộng sản của Việt Minh. Họ cũng không có hiểu biết về chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, người dân cảm thấy tự hào và vui sướng vì Việt Nam đã giành được độc lập. Đa số dân chúng đều muốn thay đổi. Họ cảm thấy dễ chịu khi được người Việt cai trị hơn là người Pháp.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 407 - 409</ref>
Trong các tài liệu của Việt Minh những ngày đầu sau độc lập chỉ nhắc đến Việt Minh, tuy nhiên những ngày sau khẳng định Việt Minh bao gồm Đảng Cộng sản và các tổ chức khác, và nhấn mạnh các cuộc khởi nghĩa trước đó như Bắc Sơn, Nam Kỳ. Ngày [[11 tháng 11]] năm [[1945]] Đảng Cộng sản tuyên bố "tự giải tán" (trong khi chiến sự tại Nam Bộ rất ác liệt) đăng tải trên báo Cứu Quốc của Việt Minh ngày 12, kèm tổ chức kỷ niệm ngày sinh [[Tôn Trung Sơn]]. Tờ báo đăng tiểu sử nhà đại cách mạng Trung Hoa, cho biết Hồ chủ tịch tham dự chủ tọa buổi lễ do Hội Văn hóa cứu quốc tổ chức, đề nghị nhân dân treo cờ 2 nước. Báo cũng cho biết Hiến pháp "''ngăn ngừa sự lũng đoạn chính quyền của một giai cấp, một đảng phái, một cá nhân nào''"<ref name=autogenerated5>Báo Cứu Quốc ngày 12 Tháng Mười Một 1945 tr1, 2</ref>. Ngày [[13 tháng 11]] năm [[1945]] báo Cứu quốc đã tường trình ''"Vì những kẻ phản bội quyền lợi dân tộc, cố ý không hiểu chính sách của Việt Minh, phao tin trong dân chúng và dèm pha với các nước Đồng minh rằng Việt Minh là cộng sản sẽ thực hành chính sách cộng sản, mục đích chúng gây sự chia rẽ mặt trận dân tộc, và gieo mối hoài nghi trước thế giới"''<ref name=autogenerated5 />. Trước đó, báo Cứu quốc ngày [[21 tháng 9]] năm [[1945]] đã bác bỏ thành lập Mặt trận công nông thay cho Mặt trận dân tộc thống nhất với lý do ''"Đã bao năm dưới ách phát xít Nhật - Pháp chẳng những công nhân bị thất nghiệp, nông dân bị phá sản, cả địa chủ cũng bị cướp thóc, cướp đất, tư sản cũng bị đình đốn kỹ nghệ và thương nghiệp; ngoài ra biết bao các từng lớp nhân dân khác đều chung một tai nạn chết đói chết rét. Việt Minh đã liên kết các giai cấp các từng lớp nhân dân đó đánh đuổi kẻ thù chung, giành quyền độc lập tự do cho dân tộc... Quyền lợi của giai cấp công nhân và tư sản, nông dân và địa chủ lúc nào cũng mâu thuẫn nhau, nhưng lúc này phải nhân nhượng nhau, phải đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết"''<ref>Báo Cứu Quốc 21 Tháng Chín 1945, tr.1</ref>.
=== Quân đội Đồng Minh vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật===
{{chính|Hoa quân nhập Việt}}
Theo [[Hội nghị Potsdam]], lực lượng Đồng Minh gồm quân Anh và quân Trung Quốc vào Việt Nam để giải giáp vũ khí Nhật. Mỹ nhường quân đội [[Tưởng Giới Thạch]] vào miền Bắc giải giáp quân đội Nhật. Pháp không tin tưởng ở Anh và [[khối Anglo-Saxon]], nhưng được nhượng quyền lợi ở [[Trung Đông]] nên Anh ủng hộ Pháp. Theo thỏa thuận, Anh và Trung Hoa Dân Quốc không được có chủ quyền tại Đông Dương.<ref>[http://www.civil-taiwan.org/japansurr.htm The Japanese Act of Surrender]</ref> Giải pháp của Mỹ phù hợp với tham vọng của giới cầm quyền [[Trùng Khánh]], bởi Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đã từ lâu nằm trong tầm nhìn của các nhà nước Trung Hoa.<ref name=khoalichsu/> Theo Việt Minh, Trung Hoa Dân Quốc muốn hạ bệ chính phủ của [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và ủng hộ đồng minh của họ là [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] lên nắm quyền<ref name=qdnd>[http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/chinh-tri/bac-ho-truoc-hoa-diet-cong-cam-ho/170245.html Bác Hồ trước họa "diệt cộng, cầm Hồ"] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20141020073758/http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/chinh-tri/bac-ho-truoc-hoa-diet-cong-cam-ho/170245.html |date = ngày 20 tháng 10 năm 2014}}, 18/12/2011, Báo điện tử Quân đội nhân dân</ref>. Việt Minh cũng xem quyền lợi của Anh trùng hợp với các mục tiêu của Pháp nhằm khôi phục các thuộc địa của họ trước chiến tranh ở Đông Nam Á. [[Hồ Chí Minh]] tin rằng hoạt động của các cường quốc Pháp, Anh, Trung Quốc sẽ gây nguy hại cho [[Phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam (1885-1945)|phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam]].<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 349, 350</ref> Hồ Chí Minh rất khó chịu về việc phải tiếp đón quân đội Trung Hoa Dân quốc. Ông lo ngại việc 1 lượng lớn người Trung Quốc tràn vào Việt Nam cùng quân đội Nhật đang hiện diện tại Việt Nam sẽ làm cho [[tài nguyên]] đất nước cạn kiệt.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 350</ref> Vấn đề nghiêm trọng hơn nữa là nếu quân đội Trung Hoa Dân quốc tiếp tế bằng lương thực tại chỗ thì sẽ xảy ra nạn đói. Ông mong muốn Mỹ tiến hành kiểm tra quân đội Trung Hoa Dân quốc và yêu cầu lực lượng này mua bán chứ không trưng thu lương thực và các vật phẩm khác trong thời gian đóng quân tại Việt Nam để tránh xung đột giữa người Việt và quân Trung Hoa Dân quốc.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 417 - 418</ref>
Ở miền Bắc, ngày [[20 tháng 8|20/8]] năm [[1945]], hơn 20 vạn quân [[Tưởng Giới Thạch]] theo sự phân công của phe Đồng Minh tiến vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân [[Nhật Bản|Nhật]]. Theo Việt Minh, đội quân này mang theo ''[[kế hoạch Diệt Cộng Cầm Hồ]]''<ref name=qdnd/>. Đội quân [[Trung Quốc Quốc dân Đảng|Quốc dân Đảng Trung Quốc]] "chạy trốn" [[Đảng Cộng sản Trung Quốc]] đã tiến hành các hoạt động cướp bóc trên đường xuống phía Nam đến [[Hà Nội]].<ref>{{Chú thích web |url=http://www.lonelyplanet.com/vietnam/history#72289 |ngày truy cập=2011-01-11 |tựa đề=Vietnam's History, Lonely Planet Travel |archive-date=2014-11-15 |archive-url=https://web.archive.org/web/20141115121306/http://www.lonelyplanet.com/vietnam/history#72289 |url-status=dead }}</ref>. Trong hồi ký ''[[Những năm tháng không thể nào quên]]'' Võ Nguyên Giáp mô tả: quân đoàn 62 của [[Vũ Kim Thành]] (đi cùng là [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội|Việt Cách]]) tàn phá suốt dọc miền Đông Bắc Bắc Kỳ; lực lượng của [[Vũ Hồng Khanh]] ([[Việt Nam Quốc dân Đảng]]) và của [[Nguyễn Tường Tam]] ([[Đại Việt Quốc dân Đảng|Đại Việt]]) đi theo quân đoàn 93 Vân Nam, cũng tiến hành những bài bản cướp bóc tương tự, dọc theo hành lang Tây Bắc từ [[Lào Cai]] - [[Yên Bái]], [[Phú Thọ]].<ref>[http://bqllang.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/1662-nh-ng-nam-thang-khong-th-nao-quen-vo-nguyen-giap-ph-n-4.html Những năm tháng không thể nào quên, Phần 4], Võ Nguyên Giáp</ref> Tuy nhiên, quân đội Trung Hoa Dân quốc vẫn để Chính phủ Hồ Chí Minh đóng tại [[Bắc Bộ Phủ]] và cộng tác với họ suốt thời gian đóng quân tại Việt Nam nhưng Trung Hoa Dân quốc không công nhận tính hợp pháp và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Chính phủ này.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 532</ref>
Trong lễ chào mừng quân Đồng Minh vào Việt Nam giải giáp Nhật do Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tại Hà Nội ngày [[10 tháng 9]] năm [[1945]], tướng [[Tiêu Văn]] tuyên bố đối với vấn đề lương thực và nơi đóng quân, Bộ Chỉ huy Trung Quốc sẽ tiếp tế những thứ cần thiết từ nền kinh tế địa phương theo 1 chế độ trưng thu lương thực và dịch vụ nhưng chủ nhân và người bán hàng sẽ được trả tiền theo giá thị trường thỏa thuận và hợp lý.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 475</ref> Tướng Tiêu Văn cũng "gợi ý" rằng ở mỗi Bộ trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên đặt 1 sĩ quan chuyên môn người Trung Quốc để tiện liên lạc. Khi gợi ý này được dịch ra, các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở nên căng thẳng, Hồ Chí Minh tin rằng tình hình sẽ rất khó khăn và có chiều hướng hoàn toàn xấu.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 475-477</ref> Quân đội Trung Hoa Dân quốc tại Việt Nam đã lấy ngay những gì họ muốn bất kể đó là của [[người Pháp]], [[người Việt]], [[Người Hoa tại Việt Nam|người Trung Quốc địa phương]], không kể giàu hay nghèo. Tướng [[Lư Hán]] tự tiện ấn định tỷ giá hối đoái là 14 [[Đồng quan kim|quan kim]] ăn 1 đồng bạc Đông Dương bất chấp sự phản đối của Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong khi [[đồng quan kim]] đã bị mất giá trầm trọng ở Trung Quốc.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 479 - 480</ref>
Người Pháp cho rằng quân đội Tưởng cản trở sự trở lại của họ. Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, Trung Hoa Quốc Dân Đảng muốn làm thất bại ý đồ của Pháp định khôi phục lại địa vị tại Đông Dương và muốn ngăn chặn sự liên minh của người Việt Nam với các lực lượng cộng sản Trung Quốc trong phạm vi quyền lợi của Trung Quốc (Quốc dân Đảng đã chọn [[Lư Hán]] và [[Tiêu Văn]] làm đại diện, Hồ Chí Minh coi cả hai như là những tên tướng cướp, đã bỏ tù và giết hại nhiều người Việt Nam vô tội để che đậy cho việc [[buôn bán bất chính]] của họ ở biên giới Đông Dương).<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 378 - 379</ref> Hồ Chí Minh tin rằng Trung Quốc có kế hoạch lật đổ chính quyền do ông lãnh đạo để thay thế bằng 1 chính quyền thân Trung Quốc<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 378, 400</ref>, [[Võ Nguyên Giáp]] thì mô tả lãnh đạo các đảng phái quốc gia như những người đã bỏ xứ sở mà đi, tự cho mình là những người yêu nước phụng sự cho Chủ nghĩa Quốc gia nhưng thực tế chỉ là ''"một nhóm phản động đang ra sức thu vén làm giàu cho bản thân"'' nhờ vào sự giúp đỡ của Trung Quốc, và rằng [[Trung Hoa Quốc dân Đảng]] đã tô vẽ cho nhiều ''"tên phản bội người Việt"''.
[[Tưởng Giới Thạch]] nhận thức rằng vai trò cường quốc của Trung Quốc trong việc đưa quân vào Đông Dương sẽ giúp ông ép Pháp phải chấp nhận các điều kiện do ông đưa ra để giải quyết những xung đột lợi ích giữa Trung Quốc và Pháp nếu Pháp muốn quay lại thuộc địa cũ của mình<ref>Why Vietnam ?, Archimedes L.A.Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2008, trang 370</ref>. Ông không có ý định dính líu vào cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Ông không muốn làm mất lòng Pháp vì Pháp là 1 cường quốc trong khối Đồng Minh. Ông chủ trương rút hết quân về nước ngay sau khi giải giáp Nhật.<ref name="patti548"/> Trong Tuyên bố của Tưởng đăng trên tờ [[Trung ương Nhật]] báo ngày [[25 tháng 8]] năm [[1945]] ở [[Côn Minh]] có đoạn: "''... Tuân theo các điều khoản trong bản hiệp định của Đồng Minh mới đây, ngoài việc phái các lực lượng tới để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật trong vùng bắc [[vĩ tuyến 16]], chúng tôi không có tham vọng đất đai ở [[Liên bang Đông Dương|Đông Dương thuộc Pháp]]. Chúng tôi mong rằng người Việt Nam sẽ từng bước thực hiện được nền độc lập của họ qua con đường tự trị, và qua đó thực hiện được những điều khoản của [[Hiến chương Đại Tây Dương]]...''"<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 396</ref>
[[Báo Cứu quốc]] ngày [[17 tháng 9]] năm [[1945]] cũng đăng ý kiến của Tưởng Giới Thạch "Quân đội Trung Hoa kéo vào Việt Nam không có dã tâm gì về đất đai và chủ quyền của người Việt Nam" và Lư Hán "Nước Việt Nam căn bản là của người Việt Nam"<ref>báo Cứu Quốc, 17 Tháng Chín 1945, tr.2</ref>
Tuy nhiên trong 1 tuyên bố khác, Tưởng Giới Thạch lại công nhận chủ quyền của Pháp đối với Đông Dương và Trung Quốc sẽ cộng tác với Pháp để giải quyết vấn đề quyền lợi Trung - Pháp tại Đông Dương. Tuyên bố không đề cập đến phong trào độc lập của người Việt Nam và việc thành lập Chính phủ Lâm thời do Việt Minh lãnh đạo.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 401</ref>
[[Tập tin:Kienthuc-linh-nhat-09 tflq.jpg|nhỏ|phải|200px|Đại tá Thomas Ian Scott-Bell của [[Hải quân Hoàng gia Anh]] đối thoại với Đô đốc Kondo của Nhật Bản sau khi quân Đồng minh tái chiếm Sài Gòn]]
Tướng [[Lư Hán]] xem lập trường của Tưởng là thiển cận vì đi ngược lại các nguyên tắc của [[Hiến chương Đại Tây Dương]] đã được Trung Hoa Dân Quốc cam kết ủng hộ. Lư Hán chủ trương đóng quân tại miền Bắc Việt Nam lâu dài, đặt Việt Nam dưới sự bảo trợ của Trung Hoa Dân Quốc để Việt Nam có thể độc lập mà không cần đến sự ủng hộ của Pháp. Trong suốt thời gian đóng quân tại miền Bắc Việt Nam, Lư Hán dùng mọi khả năng của mình để làm thất bại mọi kế hoạch của Pháp giành lại quyền kiểm soát miền Bắc Việt Nam.<ref name="patti548">Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 548, 549, 554</ref> Người Pháp được đối xử như những người ngoại quốc khác, Pháp không được cử đại diện tham gia vào lễ đầu hàng của Nhật với tư cách 1 nước trong khối Đồng Minh, các chỉ huy Pháp tại Hà Nội cũng không được Lư Hán công nhận là đại diện của [[Charles de Gaulle|chính phủ De Gaulle]]. Bộ phận OSS của Mỹ tại miền Bắc Việt Nam cũng từ chối giúp các chỉ huy Pháp thiết lập 1 hành dinh tại Việt Nam.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 563 - 564</ref> Trước đó OSS đã được lệnh của Tổng thống Mỹ [[Franklin D. Roosevelt]] không để cho Pháp tái chiếm Đông Dương, không được cung cấp vũ khí hay tiếp tế cho Pháp ngoại trừ để thực hiện những mục tiêu chống Nhật đã được Đồng Minh tán thành.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 78</ref>
[[Tạ Quang Bửu]] cho rằng: mặc dù Tưởng thừa nhận là đứng [[Trung lập (quan hệ quốc tế)|trung lập]], nhưng ở Trung Quốc vẫn có 2 lực lượng đấu tranh với nhau. Quốc dân Đảng Trung Quốc cho việc chiếm đóng là 1 cơ hội để ép Paris phải nhân nhượng. Các tướng địa phương, đặc biệt là [[Lư Hán]], lại coi việc chiếm đóng là 1 dịp để cướp đoạt, gây dựng 1 nguồn cung cấp hàng hóa và thị trường lâu dài để [[buôn lậu]], đồng thời mở rộng [[quyền sở hữu]] của họ ra vùng ngoài biên giới Trung Quốc. Trong [[chính sách 14 điểm]] của quân Trung Hoa Dân quốc, có 4 điểm thường gây ra sự bực bội cho tướng Lư Hán và Pháp.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 545 - 546</ref> Hồ Chí Minh cho rằng mục tiêu trước mắt của Quốc dân Đảng Trung Quốc là giữ người Pháp đứng ngoài Đông Dương và ủng hộ phong trào Quốc gia tại Việt Nam cho đến khi đàm phán xong với Pháp. Theo ông, khi nào 1 chế độ thân Trung Quốc còn nắm quyền thì Pháp không thể lật đổ chính quyền Việt Nam tại miền Bắc.<ref name=autogenerated2>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 542</ref>
Tại miền Nam, lực lượng Anh do [[Thiếu tướng]] [[Douglas D. Gracey]] chỉ huy đổ bộ vào Sài Gòn để thực hiện nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Lực lượng Anh có nhiệm vụ chiếm giữ các bộ chỉ huy thuộc [[Hành dinh Tập đoàn quân Nam]] của Nhật Bản và vùng Sài Gòn Chợ Lớn, giúp đỡ tù binh và tù dân sự, giải giáp và tập trung quân Nhật, duy trì luật pháp và trật tự, chỉ huy các quân nhân Pháp tại miền Nam. Tuy nhiên, lực lượng này không có trách nhiệm giữ trật tự ngoài các khu vực được phân công căn cứ vào nhu cầu giải giáp và hồi hương quân Nhật nếu nhà chức trách Pháp không yêu cầu và phải được sự đồng ý của [[Tổng Tư lệnh Tối cao quân đội Đồng Minh]]. Việc giữ trật tự tại các khu vực ngoài tầm kiểm soát của quân Anh sẽ do quân đội Nhật phụ trách. Tuy nhiên, Thiếu tướng Gracey xem những rối loạn tại Nam Kỳ là tình trạng vô chính phủ cần chấn chỉnh. Ông ra lệnh cho quân đội Nhật tước vũ khí của người Việt Nam, đuổi [[Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ]] ra khỏi [[Dinh Norodom|Dinh Toàn quyền]] ở Sài Gòn.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 504 - 506</ref>
[[Tập tin:Kienthuc-linh-nhat-10 bhsp.jpg|nhỏ|trái|250px|Lễ đầu hàng của quân Nhật tại [[Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất|sân bay Tân Sơn Nhất]]]]
Trước việc quân Đồng Minh vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đề kháng thụ động đối với quân đội các nước Đồng Minh. Chính phủ của ông công khai ủng hộ nhiệm vụ giải giáp quân Nhật của họ và sẵn sàng giúp đỡ họ về mọi mặt. Ông cố gắng tránh những xung đột giữa người Việt và quân đội Trung Hoa Dân quốc tại miền Bắc, nếu cần thì sẽ chấm dứt cộng tác với quân đội này, tổ chức [[Đình công|bãi công]], [[bãi thị]] và sơ tán dân thành thị về nông thôn. Tại miền Nam không để xảy ra những rối loạn khiến [[người Anh]] can thiệp vào tình hình [[chính trị Việt Nam]], cản trở hoạt động của Việt Minh. Ông cũng ra lệnh cho [[Trần Văn Giàu]] không được xâm phạm đến thân thể và tài sản của [[thường dân Pháp]], không để xảy ra xung đột với các [[Quân đội Pháp|quân nhân Pháp]] tại miền Nam, cộng tác với quân đội Anh trong việc duy trì trật tự công cộng và hoạt động hành chính nếu như Anh không can thiệp vào công tác điều hành của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. Ngày [[8 tháng 9]] năm [[1945]], [[Trần Văn Giàu]] ra lời kêu gọi nhân dân Nam Kỳ cộng tác với quân đội Đồng Minh theo chủ trương của Hồ Chí Minh.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 488 - 489</ref>
Lễ đầu hàng của Nhật được Trung Hoa Dân Quốc tổ chức ngày [[28 tháng 9]] năm [[1945]]. Khách mời bao gồm các nhà chức trách quân sự và dân sự Trung Quốc, các chỉ huy quân đội Đồng Minh, các sĩ quan OSS, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nội các của ông, các sĩ quan Pháp. Người Pháp và người Việt Nam cố tình vắng mặt không tham dự. Tại buổi lễ có treo [[Quốc kỳ Hoa Kỳ|cờ Mỹ]], [[Quốc kỳ Liên Xô|Liên Xô]], [[Quốc kỳ Trung Quốc|Trung Quốc]], [[Quốc kỳ Anh|Anh]] nhưng không treo [[Quốc kỳ Pháp|cờ Pháp]] và [[Quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Việt Nam]]. Phía Pháp đã yêu cầu tướng Lư Hán treo cờ Pháp nhưng ông này từ chối với lý do ở miền Bắc Việt Nam đang có phong trào chống Pháp. Sau khi tướng Nhật Tsuchihashi ký vào Bản tuyên bố đầu hàng Đồng Minh, văn kiện này được dịch ra tiếng Pháp và tiếng Việt sau đó được đọc trước buổi lễ dù cả người Pháp và người Việt đều không tham dự.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 588 - 590</ref>
===Pháp quay trở lại Đông Dương===
Nước Pháp chưa bao giờ tỏ ra một chút gì muốn "giải thoát" cho thuộc địa cũ của nó. Mục tiêu của Pháp được các viên chức Mỹ 3 lần chính thức cam kết ủng hộ. Quyền [[Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ|Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ]] Welles đã viết ngày [[13 tháng 4]] năm [[1943]], trong 1 lá thư gửi cho [[Henri Haye]], [[đại sứ Pháp ở Washington]]: ''"Chính phủ Mỹ thừa nhận chủ quyền của người Pháp đối với lãnh thổ nước Pháp và đối với những thuộc địa của Pháp ở Hải ngoại... (và) nồng nhiệt hy vọng nước Pháp sẽ có thể khôi phục được nền độc lập của nước Pháp và sự toàn vẹn lãnh thổ của Pháp"''; và đến [[Tháng mười một|tháng 11]], 1 viên chức cao cấp thuộc [[Bộ Ngoại giao ở Bắc Phi thuộc Pháp|Bộ Ngoại giao ở Bắc Phi]], [[Robert Murphy]], đã viết cho Giraud rằng ''"Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ quyền nước Pháp sẽ được phục hồi càng sớm càng tốt trên toàn bộ lãnh thổ, chính quốc và thuộc địa, trên đó cờ nước Pháp đã tung bay vào năm [[1939]]. [[Hiệp định Clark - Darlan]] về cuộc tấn công của chúng ta vào [[Bắc Phi]] cũng đã ghi nhận sự đồng ý giữa hai bên rằng các lực lượng của Pháp sẽ "giúp đỡ và ủng hộ" Đồng minh trong việc phục hồi toàn bộ Đế quốc Pháp"''.
1 năm sau, chính phủ Pháp lưu vong ("nước Pháp tự do") của tướng [[Charles de Gaulle]] quyết định đến lúc phải bảo đảm cho nước Pháp sau chiến tranh 1 vị trí trong các nước Đồng minh khi ký hoà ước kết thúc chiến tranh. Để đạt được mục đích của mình, [[Tháng mười|tháng 10]] năm [[1943]], Pháp đệ trình [[Đại bản doanh Đồng minh]] (AFHQ), những yêu cầu về việc trang bị cho [[quân đội viễn chinh Đông Dương của Pháp]] (CEFEO) để sẵn sàng hành động vào [[mùa thu]] [[1944]].<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 64</ref>
Ngày [[2 tháng 5]] năm [[1945]], tại [[Hội nghị San Francisco]], [[Bộ trưởng Ngoại giao Pháp]] G. Bidault tuyên bố chỉ có Pháp mới có quyền quyết định tương lai Đông Dương. Ông này khẳng định rằng quyền ủy trị có thể áp dụng trên các thuộc địa khác chứ không thể áp dụng cho Đông Dương.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 228-229</ref> Nhưng Pháp không được tham gia vào cuộc thương lượng giữa Trung Quốc và Nhật về việc Nhật đầu hàng Đồng Minh vì Pháp không tham gia vào chiến tranh Thái Bình Dương chống Nhật.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 554-555</ref>
Thống chế [[De Gaulle]] của Pháp là một người Pháp yêu nước, nhưng ông ta lại không hiểu được các dân tộc thuộc địa cũng có lòng yêu nước của họ. Trong một văn bản ghi ngày 4/9/1945, Thống chế [[De Gaulle]] viết cho Đô đốc Argenlieu về việc chuẩn bị tái chiếm thuộc địa Pháp ở Đông Dương<ref>http://truyenthongvanhoaviet.vn/2014/05/60-nam-chien-thang-dien-bien-phu-tieng-set-trong-the-gioi-thuoc-dia.html</ref>:
:''“Đô đốc thân mến, chúng ta còn một miếng bánh lớn cần giành lại, một phần lớn cần tham gia. Dành cho ngài đó! Hãy tiến lên”''
[[Tháng chín|Tháng 9]] năm [[1945]], [[Duy Tân|cựu hoàng Nguyễn Phúc Vĩnh San]] sau khi được De Gaulle đồng ý trở lại Việt Nam trên cương vị Hoàng đế, đưa ra đề xuất thẳng thừng đòi hỏi sự thống nhất của 3 kỳ ([[Bắc Kỳ]], [[Trung Kỳ]] và [[Nam Kỳ]]), nền [[độc lập]] của đất nước thông qua thời gian, liên kết cần thiết và hữu cơ giữa Việt Nam, Campuchia và Lào. De Gaulle đã không đưa ra lời phản đối. Ngày [[4 tháng 12]] năm [[1945]], với mong muốn đất nước thống nhất và độc lập trong một thời gian ngắn, cựu hoàng Duy Tân đã có cuộc đàm phán với De Gaulle, mong muốn lá cờ Pháp và [[cờ 3 màu và 3 thanh]] đại diện 3 kỳ sẽ bay ở Việt Nam. Ngày [[24 tháng 12]], máy bay chở Duy Tân gặp nạn tại [[Trung Phi]], những người đi trên máy bay đều [[Chết|thiệt mạng]]. Ngay sau vụ tai nạn, De Gaulle nói với Palewski: "''Đó là sự thật, nó cho thấy Pháp không có cơ hội''.". Sự kiện này làm nhiều người trong chính giới Pháp cho rằng cần đối thoại với các lực lượng chính trị bản xứ, bao gồm cả Việt Minh. Trước đó ngày [[10 tháng 8]], Pháp đã gửi thông điệp đề xuất giải pháp 1 [[Cao ủy Pháp]] bổ nhiệm Bộ trưởng được chấp nhận bởi [[quốc hội Việt Nam]] và độc lập "được trao cho đất nước này trong tối thiểu 5 năm và tối đa là 10 năm" và ngày [[15 tháng 8]] Pháp tuyên bố đàm phán với Việt Minh sẽ chỉ khúc dạo đầu "để tham khảo ý kiến rộng rãi của tất cả các bên Đông Dương" và rằng nó sẽ tiến tới 1 bản Hiến pháp mới sẽ làm rõ "nhiều khả năng để đáp ứng nguyện vọng của các dân tộc Đông Dương trong sự độc lập trong Liên hiệp Pháp".<ref name="ReferenceA"/>
Ở miền Nam Việt Nam, chỉ 4 ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn, theo sau là liên quân Anh-Pháp. Quân [[Anh]] theo lệnh [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]] vào giám sát quân [[Nhật Bản|Nhật]] đầu hàng nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho quân Pháp vào Nam Bộ. Chính phủ lâm thời của Cộng hòa Pháp muốn khôi phục lãnh thổ Đông Dương với cơ chế tự trị. Ngày [[19 tháng 9]], Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền tại miền Nam. Ngày [[23 tháng 9]], với sự giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]] (ngày này sau được Việt Nam gọi là ngày [[Nam Bộ kháng chiến|Nam Bộ Kháng chiến]]). Nước Việt Nam vừa giành được độc lập đã phải đối đầu với quân đội nước ngoài.
Ngày [[25 tháng 9]], ở [[khu Hérault]] tại [[Tân Định (định hướng)|Tân Định]] ngoại ô Sài Gòn, khoảng 300 người Pháp bao gồm [[Nam giới|đàn ông]], [[phụ nữ]] và [[trẻ em]] bị lực lượng [[Bộ đội Bình Xuyên|Bình Xuyên]] bắt cóc và 1/2 trong số họ bị giết, số còn lại được thả sau khi đã bị đánh đập, [[tra tấn]].<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 520</ref>
Từ cuối [[Tháng chín|tháng 9]] năm [[1945]], các đoàn quân "Nam tiến" của [[Vệ binh quốc gia|Vệ quốc đoàn]] ([[Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]]) bắt đầu lên đường vào Nam tiếp viện. Các tướng lĩnh quan trọng như [[Nguyễn Bình]], [[Nguyễn Sơn]]... được cấp tốc cử vào Nam.
Ngày [[9 tháng 10]], Anh chấp thuận [[Cục Dân sự Pháp]] là cơ quan duy nhất ở Đông Dương về phía Nam [[vĩ tuyến 16]].<ref>[http://www.vietnamgear.com/Indochina1945.aspx Indochina War Timeline: 1945]</ref> Ngày [[7 tháng 1]] năm [[1946]], Pháp và [[Vương quốc Campuchia (1946-53)|Vương quốc Campuchia]] ký hiệp ước chấp thuận Vương quốc Campuchia là [[quốc gia tự trị]], thành viên [[Liên hiệp Pháp]]. 1 hiệp ước tương tự được ký với [[Vương quốc Lào]] ngày [[27 tháng 8]].<ref name="vietnamgear1946">[http://www.vietnamgear.com/Indochina1946.aspx Indochina War Timeline: 1946]</ref>.
Ngày [[9 tháng 10]], tướng Pháp [[Philippe Leclerc de Hauteclocque|Leclerc]] đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia. Từ cuối [[Tháng mười|tháng 10]], quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ.
Ngày 23/10 quân Pháp nổ súng tấn công thị xã nha Trang. Binh lực của Pháp tại khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên được điều động khoảng 15.000 người, đa phần dồn hỏa lực tấn công vào tỉnh Khánh Hòa, hòng đè bẹp phòng tuyến 4000 quân Việt Minh ở đây (Sau 3 tháng phòng tuyến Nha Trang tan vỡ, Pháp chiếm thành công nơi này).
Trong các tháng [[Tháng mười một|11]]-[[Tháng mười hai|12]] năm [[1945]] và [[Tháng một|tháng 1]] năm [[1946]], lực lượng Việt Minh tại các tỉnh Nam Bộ đã chiến đấu ngăn chặn làm chậm bước tiến của quân Pháp. Tuy nhiên, do lực lượng chênh lệch, sau một thời gian, các lực lượng này đều phải rút ra những căn cứ đầm lầy và rừng núi, xây dựng chiến khu để bảo tồn lực lượng cho kháng chiến lâu dài.
Tại Lào, 1 [[chính phủ nhân dân phi cộng sản]] thành lập [[Tháng mười|tháng 10]] năm [[1945]]. Tuy nhiên vua [[Sisavang Vong]] chấp thuận nền quân chủ lập hiến trong Liên hiệp Pháp và từ ngày [[13 tháng 5]] năm [[1946]], tất cả các văn bản từ khi Nhật chiếm đóng Lào vô hiệu.
===Sự chia rẽ giữa các đảng phái===
Trước năm [[1945]], Đảng Cộng sản Việt Nam và các đảng phái Quốc gia khác tuy có ý thức hệ khác nhau nhưng vẫn có chung nền tảng [[giáo dục]], thường xuyên có sự hợp tác và đôi khi có cùng quan hệ [[huyết thống]] hoặc [[hôn nhân]]. Trong giai đoạn [[1924]]-[[1927]], ở [[miền Nam Trung Quốc]], các nhóm người Việt chống thực dân Pháp đa dạng tương tác với nhau, với cả [[người Trung Quốc]], [[Người Triều Tiên|Triều Tiên]] và các dân tộc khác. Từ [[1941]]-[[1944]] ở miền nam Trung Quốc, [[Đảng Cộng sản Đông Dương]], [[Việt Nam Quốc dân Đảng|Việt Nam Quốc Dân Đảng]] (Việt Quốc) và [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội]] (Việt Cách) cùng tham gia vào mặt trận chống Nhật, đôi khi tố giác nhau với chính quyền Trung Quốc, nhưng không bắt cóc hoặc ám sát lẫn nhau. Chính sự cạnh tranh để kết nạp thành viên, thu nhận viện trợ cũng như sự bảo trợ của người Trung Quốc, hơn là sự khác biệt về ý thức hệ, mới là nguyên nhân khiến căng thẳng giữa các tổ chức lưu vong gia tăng. Trong nước, Đảng Cộng sản Đông Dương cũng từng hợp tác với những [[người Trotskyist]] tại Nam Kỳ trong giai đoạn [[1933]]-[[1937]].<ref name="David G. Marr">David G. Marr, [http://books.google.com.vn/books?id=CVMA0mk6_6kC&printsec=frontcover&dq=Vietnam:+State,+War,+Revolution,+1945-1946&hl=vi&sa=X&ei=hdg4VLb5Bcvp8AXxtIGwAw&ved=0CBwQ6AEwAA#v=onepage&q=Vietnam%3A%20State%2C%20War%2C%20Revolution%2C%201945-1946&f=false Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946)], page 405 - 406, California: University of California Press, 2013</ref> Các bên sau đó chỉ trích nhau chẳng hạn thành viên của [[Đệ Tam Quốc tế|Quốc tế thứ ba]] (Đảng Cộng sản Đông Dương) và [[Quốc tế thứ tư]] (những người Trotskyist) cáo buộc lẫn nhau là phục vụ lợi ích đế quốc. Ban đầu cuộc tranh đấu chỉ trong phạm vi báo chí, truyền thông. Đến năm [[1945]] thì các phe phái đã dùng vũ lực để tấn công lẫn nhau. [[Quốc dân Đại hội Tân Trào]] do Việt Minh tổ chức ngày [[16 tháng 8]] năm [[1945]], trước khi Việt Minh nắm chính quyền, xác định 10 chính sách lớn trong đó chính sách đầu tiên là "''Phản đối xâm lược; Tiêu trừ Việt gian. Lập nên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoàn toàn độc lập''". Trong thời điểm đặc biệt khó khăn cần sự đoàn kết giữa các lực lượng chính trị tại Việt Nam thì Việt Minh và các đảng phái, tôn giáo khác như [[Việt Nam Quốc dân Đảng]], [[Đại Việt Quốc dân đảng]], [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội]], những người [[Đệ tứ Quốc tế tại Việt Nam|Trotskyist]], [[Bộ đội Bình Xuyên|Bình Xuyên]], [[Phật giáo Hòa Hảo|Hòa Hảo]], [[Cao Đài]]... bị chia rẽ nghiêm trọng, xoay quanh các tranh cãi về đường lối ứng phó trước quân đội Trung Hoa và quân Pháp.
====Miền Nam====
Tại miền Nam, sự lãnh đạo của Việt Minh không vững như tại miền Bắc. Những người [[Đệ tứ Quốc tế tại Việt Nam|Trotskyist]] đang kiểm soát ngành cảnh sát và các tôn giáo [[Hòa Hảo]], [[Cao Đài]] có ác cảm với Việt Minh. Các giáo phái được Nhật hỗ trợ phát triển [[phong trào chính trị]] của họ mạnh mẽ. [[Cao Đài]] đông hàng triệu người, tỉnh nào cũng có, họ tập trung ở Sài Gòn đến mấy vạn làm công nhân và làm binh lính. Lực lượng Cao Đài có [[Đảng Phục Quốc]] của [[Trần Quang Vinh]]. [[Hòa Hảo]] đông hàng chục vạn người, nhiều nhất là ở [[Hậu Giang]], tập trung tại Sài Gòn đến vài ngàn. Hòa Hảo có chính đảng là [[Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng|Dân Xã Đảng]]. Giáo phái [[Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam|Tịnh độ cư sĩ]] có hàng vạn quần chúng, họ không tập trung lên Sài Gòn, nhưng làm cơ sở quần chúng cho [[Quốc gia Đảng]]. Phe [[Đệ tứ Quốc tế tại Việt Nam|Trotskyist]] không có đông quần chúng nhưng 1 cánh Trotskyist là cánh [[Hồ Vĩnh Ký]], [[Huỳnh Văn Phương]] cầm đầu [[Sở mật thám Đông Dương|Sở Mật thám]] và [[Sở Cảnh sát Nam Kỳ]] tạo thế cho các cánh khác hoạt động. Nhiều tổ chức khác có năm bảy trăm, vài ba ngàn người hợp tác với [[Sở Sen đầm Kempeitai]] của Nhật. Đảng viên bí mật [[Đảng cộng sản Đông Dương]] [[Phạm Ngọc Thạch]] được Thống đốc [[Nam Kỳ]] [[Minoda Fujio]] và [[Tổng lãnh sự Nhật]] Ida mời tổ chức [[Thanh niên Tiền phong]]. Lực lượng này chỉ riêng tại Sài Gòn đã có hơn 20 vạn người và phát triển hơn 1 triệu đoàn viên trong toàn cõi Nam Kỳ.<ref name="hoikygiau">[http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2014/09/140902_thanh_nien_tien_phong_1945 Nam Kỳ 1945 và Thanh niên Tiền phong], Trích hồi ký Trần Văn Giàu, BBC, 2 tháng 9 năm 2014</ref>
[[Tháng ba|Tháng 3]] năm [[1945]], nhóm Trotskyist ra tuyên bố lên án [[Đảng Cộng sản Đông Dương]], nhóm [[Stalinist]] của [[Đệ Tam Quốc tế|Quốc tế thứ ba]], đã từ bỏ [[giai cấp công nhân]] để nhóm mình thảm hại dưới các đế quốc "dân chủ", phản bội những người nông dân và không còn nói về vấn đề ruộng đất; đồng thời tuyên bố "cuộc đấu tranh độc lập dưới lá cờ của Quốc tế thứ tư", "ủng hộ [[cách mạng thế giới]]". Ý nghĩa chính của họ là làm suy nhược Đảng Cộng sản Đông Dương tại Nam Kỳ và để làm giảm hiệu quả của Việt Minh ở đó.<ref>Declassified per Executive Order 13526, Section 3.3 NND Project Number: NND 63316</ref> Người Trotskyist cũng đấu tranh vì độc lập dân tộc nhưng lại chủ trương vũ trang quần chúng, xóa bỏ tàn dư của chế độ thực dân Pháp, chống lại nỗ lực của các nước Đồng Minh khôi phục chủ quyền của Pháp và thi hành ngay các cải cách xã hội còn Việt Minh vẫn chấp nhận cơ cấu chính quyền cũ, sẵn sàng thương lượng với Đồng Minh và cải cách xã hội từng bước để tránh sự thay đổi đột ngột về kinh tế xã hội và cuộc [[đấu tranh giai cấp]] gắn liền với nó.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 430 - 431</ref> Theo [[Trần Huy Liệu]], tại hội nghị [[Quốc dân Đại hội Tân Trào]] [[Tháng tám|tháng 8]] năm [[1945]] ở [[Tân Trào, Sơn Dương|Tân Trào]], [[Sơn Dương]], tất cả đại biểu của các đảng phái tham dự đã thống nhất cuộc cách mạng giải phóng dân tộc sẽ theo khuynh hướng dân chủ, không dùng bạo lực và lập ra 1 mặt trận thống nhất có kỷ luật của tất cả các đảng phái để ra mắt Đồng Minh. Tuy nhiên một số đảng phái ở miền Nam đã không thấy hết sự quan trọng của việc duy trì trật tự xã hội trong giai đoạn chuyển tiếp này.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 429 - 430</ref>
Ngày [[14 tháng 8]] năm [[1945]], [[Mặt trận Quốc gia Thống nhất]] được thành lập quy tụ nhiều tổ chức cách mạng tại miền Nam Việt Nam như [[Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng]], [[Thanh niên Tiền phong]], Tịnh độ cư sĩ Phật giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, Liên đoàn công chức, nhóm Tranh đấu của những người Trotskyist... Ngày [[21 tháng 8]] năm [[1945]], Mặt trận Quốc gia Thống nhất tổ chức biểu tình biểu dương lực lượng tại Sài Gòn. Ngày [[22 tháng 8]] năm [[1945]], Thanh niên Tiền phong rời khỏi Mặt trận Quốc gia Thống nhất để gia nhập [[Việt Minh]]. Ngay sau đó, Việt Minh treo biểu ngữ "''Chánh quyền về Việt Minh''" khắp Sài Gòn, rải truyền đơn tuyên bố Việt Minh được phe Đồng Minh ủng hộ và kêu gọi nhân dân ủng hộ chính quyền do Việt Minh thành lập. Lãnh tụ các đảng phái quốc gia tại miền Nam Việt Nam hoàn toàn bất ngờ trước ý định [[đơn phương]] thành lập chính quyền của Việt Minh.<ref>Hồi Ký 1925 - 1964, tập I, Nguyễn Kỳ Nam, trang 49-51, Nhựt Báo Dân Chủ Mới, 1964</ref>
Tại Sài Gòn, xảy ra các xung đột giữa người Việt và người Pháp khiến một số người của cả hai bên chết. [[Báo Dân chúng]] của Việt Minh kêu gọi nhân dân bình tĩnh, tái lập trật tự và biểu thị sự trưởng thành chính trị đồng thời lên án những đảng phái quốc gia đã gây rối loạn và phá hoại sự nghiệp độc lập dân tộc bằng cách tấn công "những người Việt Nam yêu chuộng hòa bình". [[Dương Bạch Mai]], Ủy viên trưởng [[Quốc gia Tự vệ Cuộc]], ra lệnh tước vũ khí của 2 giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo nhưng không đạt kết quả. Các báo chí [[Chủ nghĩa chống cộng|chống cộng]] được những người Trotskyist hỗ trợ đáp trả bằng cách kết tội [[Trần Văn Giàu]] và đồng sự thân Pháp, có mưu đồ khôi phục nền cai trị của Pháp, phản bội sự nghiệp giải phóng dân tộc.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 437 - 438</ref> [[Jean Sainteny|Sainteny]] nhận định Việt Minh đã mất khả năng kiểm soát tình hình, việc Việt Nam trở nên hỗn loạn chỉ là vấn đề thời gian không phải vì xung đột với Pháp mà vì người Việt tự đánh lẫn nhau. Người Pháp sẽ bị kẹt giữa cuộc chiến đó của người Việt. Tình hình chỉ có thể được cứu vãn nếu người Anh hoặc Trung Quốc đến kịp thời.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 438</ref>
Đêm [[22 tháng 8]] năm [[1945]], [[Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Kỳ]] (thuộc chính phủ De Gaulle) [[Jean Cédile]] nhảy dù xuống gần [[Biên Hòa (tỉnh)|Biên Hòa]] và bị nông dân bắt giữ giao cho quân đội Nhật. Sau đó ông được thả ra.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 434 - 435</ref> Ngày [[27 tháng 8]] năm [[1945]], Cédile gặp Trần Văn Giàu để bàn về tương lai của Việt Nam. Cédile đề nghị tương lai chính trị của Việt Nam chỉ được bàn sau khi người Pháp đã khôi phục quyền hành và phải được đặt trong khuôn khổ Tuyên bố ngày [[24 tháng 3]] năm [[1945]] của Pháp (theo đó Pháp có chủ quyền trên toàn Đông Dương), còn Giàu giữ quan điểm Pháp trước hết phải công nhận nền độc lập của Việt Nam rồi mới bàn tới [[Quan hệ Pháp – Việt Nam|quan hệ giữa Việt Nam và Pháp]]. 2 bên không đi đến thống nhất về vấn đề này. Khi biết được điều này, những người Trotskyist tố cáo Việt Minh là bán mình cho Pháp và [[phản cách mạng]].<ref name=autogenerated1>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 458</ref>
Trong [[Tháng tám|tháng 8]] năm [[1945]], những người Trotskyist đưa ra 1 chương trình cách mạng xã hội. Họ cùng với các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên khuyến khích nông dân tước đoạt tài sản và chia nhau ruộng đất của địa chủ. Nhiều địa chủ bị nông dân giết. Việt Minh phản đối việc xúi giục nông dân chiếm ruộng đất của địa chủ và tuyên bố: "''chúng tôi chưa làm cách mạng cộng sản chủ nghĩa nhằm giải quyết vấn đề ruộng đất. Chính phủ hiện nay chỉ là chính phủ dân chủ vì thế không có nhiệm vụ nói trên. Tất cả những người nào xúi giục nông dân chiếm tài sản của địa chủ sẽ bị trừng trị nghiêm khắc''".<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 459</ref>
Ngày [[2 tháng 9]] năm [[1945]], tại Sài Gòn, những người lãnh đạo Việt Minh ở Sài Gòn, theo chỉ thị của Hà Nội hoặc muốn biểu thị 1 sự đoàn kết với Hà Nội, đã tổ chức một cuộc biểu tình khổng lồ nhân [[Ngày Độc lập]]. Nhưng các lãnh tụ Việt Minh kinh ngạc khi thấy trong đám quần chúng khoảng 20 vạn người đi diễu hành dọc [[phố Catinat]], các đảng phái chính trị hợp thành liên minh miền Nam, trương lên những biểu ngữ, bích trương đầy tính chất tranh giành chia rẽ đảng phái. Khi người biểu tình đến trước cửa [[Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn]] thì có tiếng súng nổ từ phía [[Câu lạc bộ Pháp]]. Cuộc biểu tình biến thành 1 sự hỗn loạn. Không điều tra thủ phạm vụ nổ súng, cảnh sát Việt Nam đã bắt ngay hàng trăm người Pháp và thân Pháp. Bọn lưu manh thừa cơ hội cướp bóc một số nhà hàng người Hoa và Pháp. Các đảng phái nghi ngờ nhau đem đến 1 tương lai chính trị bấp bênh cho đất nước.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 424 - 425</ref> Vụ nổ súng làm thiệt mạng 4 người Pháp và 14 người Việt. Cảnh sát không tìm ra được thủ phạm vụ nổ súng.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 426</ref>
Ngày [[7 tháng 9]] năm [[1945]], tờ [[Báo Tranh đấu]], cơ quan ngôn luận của những người Trotskyist đăng 1 bài xã luận chỉ trích [[Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ]] không có những biện pháp bảo đảm an toàn cho cuộc biểu tình vào ngày [[2 tháng 9]] năm [[1945]] tại Sài Gòn khiến một số người chết. Sau đó, ngày [[8 tháng 9]] năm [[1945]], Trần Văn Giàu thay mặt Ủy ban Hành chính Lâm thời ra thông cáo tố cáo những kẻ khiêu khích (ám chỉ những người Trotskyist và các giáo phái) đã phá hoại trật tự và gây đổ máu vào ngày [[2 tháng 9]] năm [[1945]], đồng thời chỉ trích việc họ đã tổ chức một cuộc biểu tình đòi vũ trang cho quần chúng. Bản thông cáo nhắc nhở rằng quân đội Nhật mặc dù đã bại trận nhưng theo thỏa thuận với Đồng Minh vẫn có trách nhiệm duy trì trật tự cho đến khi Đồng Minh tới. [[Tổng Hành dinh Nhật]] có thể tước vũ khí bộ đội quốc gia, cấm các phong trào chính trị gây rối loạn trị an, cấm các cuộc biểu tình không được phép trước Tổng Hành dinh Nhật, tước vũ khí dân chúng. Thông cáo kêu gọi người dân vì lợi ích quốc gia hãy tin cậy Ủy ban Hành chính Lâm thời, đừng để bọn phản bội tổ quốc lôi kéo. Chỉ như vậy việc đàm phán giữa phong trào độc lập của Việt Nam với Đồng Minh mới thuận lợi.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 459 - 460</ref>
Ngay sau đó, những người Trotskyist và các giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài công khai thách thức Ủy ban Hành chính Lâm thời. Họ tổ chức biểu tình yêu cầu cấp vũ khí cho dân chúng và kêu gọi mọi người chống lại quân đội Anh. Các Ủy ban Nhân dân địa phương ủng hộ yêu sách của các tổ chức này. Tại các tỉnh đã xảy ra xung đột vũ trang giữa bộ đội Việt Minh và các đơn vị quân sự của Cao Đài và Hòa Hảo. Phe đối lập kết tội Việt Minh phản bội, từ chối không giao nộp vũ khí và đòi Giàu từ chức.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 460, 461, 490</ref>
Ngày [[9 tháng 9]] năm [[1945]], Việt Minh cải tổ Ủy ban Hành chính Lâm thời. Trần Văn Giàu từ chức nhường chỗ cho [[Phạm Văn Bạch]]. Số thành viên thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương rút từ 6 (trong số 9 người) xuống còn 4 (trong số 13 người). Trong Ủy ban Hành chính Lâm thời mới có 1 thuộc Cao Đài, 1 người Trotskyist, 2 thuộc Hòa Hảo, 3 người không đảng phái, 2 người thuộc các đảng phái quốc gia khác. Tuy nhiên sự cải tổ này không đem lại ổn định cho miền Nam. Ủy ban mới nhanh chóng sụp đổ chưa đầy 2 tuần lễ sau do các cuộc tranh cãi đảng phái và nỗi lo sợ các đội vũ trang của Việt Minh.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 490</ref>
====Miền Bắc====
Tại miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem những đảng phái quốc gia thân [[Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)|Trung Hoa Dân Quốc]] như [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội|Việt Cách]], [[Việt Nam Quốc dân Đảng|Việt Quốc]] là bọn quốc gia giả hiệu, đầy tớ [[Trung Quốc Quốc dân Đảng|Quốc dân Đảng]], không có liên hệ gì với nhân dân Việt Nam. Ông miêu tả họ là những người không có tổ chức, 1 nhóm cơ hội tranh giành nhau, tàn dư của các đảng phái quốc gia cũ không có chương trình hành động cơ bản nhưng lại có quá nhiều lãnh tụ.<ref name="patti378">Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 378</ref> Theo sử gia [[Trần Trọng Kim]] thì Việt Quốc, Việt Cách có thế lực nhờ quân đội Trung Hoa Dân Quốc hỗ trợ, nhưng không thống nhất và không có kỷ luật chặt chẽ<ref>{{Chú thích web |url=http://vanhoanghean.vn/thu-vien-lich-su-van-hoa/mot-con-gio-bui-hoi-ky-cua-le-than-tran-trong-kim |ngày truy cập=2014-10-12 |tựa đề=Một Cơn Gió Bụi, Chương 6: Chính phủ Việt Nam và tình thế trong nước, Trần Trọng Kim |archive-date = ngày 19 tháng 10 năm 2014 |archive-url=https://web.archive.org/web/20141019071358/http://vanhoanghean.vn/thu-vien-lich-su-van-hoa/mot-con-gio-bui-hoi-ky-cua-le-than-tran-trong-kim |url-status=dead }}</ref>, tuyên truyền nhiều mà không làm được việc gì đáng kể<ref>[http://vanhoanghean.vn/thu-vien-lich-su-van-hoa/mot-con-gio-bui-hoi-ky-cua-le-than-tran-trong-kim Một Cơn Gió Bụi, Chương 9: Đi sang Tàu, Trần Trọng Kim] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20141019071358/http://vanhoanghean.vn/thu-vien-lich-su-van-hoa/mot-con-gio-bui-hoi-ky-cua-le-than-tran-trong-kim |date = ngày 19 tháng 10 năm 2014}}, Tạp chí Văn hóa Nghệ An</ref>. Sĩ quan OSS ([[Cơ quan tình báo Mỹ]]) [[Archimedes L.A Patti]] mô tả: "''họ mang theo cao vọng là sẽ nắm trọn quyền lãnh đạo đất nước nhưng lại quá kém về tổ chức và không có được một chương trình hành động ra hồn. Họ đã sống tập trung nhiều năm ở [[Quảng Tây]] dưới sự che chở của [[Trương Phát Khuê]] và ngẫu nhiên trở nên chống Pháp. Liên minh Đồng minh Hội đầy tham vọng và rạn nứt, đã bị lạc lõng. Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt cũng tách khỏi liên minh và tìm cách giành cho mình quyền lãnh đạo... Sự chia rẽ đã làm lợi cho Việt Nam suốt trong 6 tháng sau và những người Quốc gia thân Trung Quốc đã tự mình cô lập khỏi đông đảo quần chúng, đúng như Hồ Chí Minh đã dự đoán.''"<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 537 - 538</ref>
Trong suốt thời gian [[Chiến tranh thế giới thứ hai]], nhờ có [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội]] (Việt Cách) mà các đảng phái chống thực dân Pháp lưu vong tại [[miền Nam Trung Quốc]] nhận được sự công nhận và hỗ trợ của tướng [[Trương Phát Khuê]], tư lệnh [[Quân khu IV (Trung Quốc)|quân khu IV]] ([[Quảng Đông]] - [[Quảng Tây]]). Tuy nhiên, từ [[Tháng năm|tháng 5]] năm [[1945]], Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh hoạt động tại các tỉnh [[biên giới Việt Nam - Trung Quốc]] mà không lấy danh nghĩa Việt Cách khiến tướng Tiêu Văn (cấp dưới của Trương Phát Khuê phụ trách vấn đề Đông Dương) khó chịu. Tiêu Văn ủng hộ lãnh đạo Việt Cách là [[Nguyễn Hải Thần]] (người được kính trọng vì từng là đồng chí của [[Phan Bội Châu]]) tập hợp hàng trăm người Việt lưu vong để cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc vượt biên giới tấn công quân Nhật. Tuy nhiên, khi Nhật bất ngờ đầu hàng Đồng Minh, [[Tưởng Giới Thạch]] giao cho Lư Hán nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Lư Hán không có quan hệ với Việt Cách cũng như các đảng phái lưu vong khác của người Việt nhưng chấp nhận cho Tiêu Văn tham gia quân đội của ông.<ref>David G. Marr, [http://books.google.com.vn/books?id=CVMA0mk6_6kC&pg=PA410&hl=vi&source=gbs_toc_r&cad=3#v=onepage&q&f=false Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946)], page 410 - 412, California: University of California Press, 2013</ref>
Ngày [[1 tháng 9]] năm [[1945]], tại [[Móng Cái]], Việt Cách thành lập [[Chính phủ Quốc gia lâm thời Việt Nam]] do [[Nguyễn Hải Thần]] đứng đầu. Sau đó Việt Cách thông báo với Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng Trung Hoa Dân quốc và phe Đồng Minh đã công nhận hiệu kỳ của Việt Cách là lá cờ của tất cả các đảng cách mạng Việt Nam. Trên đường tiến vào [[Hà Nội]] và [[Hải Phòng]], Việt Cách để cán bộ lại tại các tỉnh họ đi qua khiến Nguyễn Hải Thần khi về đến Hà Nội chỉ có 1 nhóm cận vệ bên cạnh.<ref name="books.google.com.vn">David G. Marr, [http://books.google.com.vn/books?id=CVMA0mk6_6kC&pg=PA410&hl=vi&source=gbs_toc_r&cad=3#v=onepage&q&f=false Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946)], page 411, California: University of California Press, 2013</ref>
Trong 2 ngày [[18 tháng 9|18]]-[[19 tháng 9]] năm [[1945]], Việt Minh họp bí mật với [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội|Việt Cách]] ([[18 tháng 9]] năm [[1945]]) và [[Việt Nam Quốc dân Đảng|Việt Quốc]] (ngày [[19 tháng 9]] năm [[1945]]). Trong 2 cuộc họp này, [[Nguyễn Hải Thần]] đại diện [[Việt Cách]] và [[Nguyễn Tường Tam]] đại diện [[Việt Quốc]] đề nghị Hồ Chí Minh đồng ý hợp nhất Việt Minh với Việt Cách và Việt Quốc. Qua đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo sẽ nhận được sự ủng hộ về [[tài chính]] và [[chính trị]] của Trung Hoa Dân quốc. [[Võ Nguyên Giáp]] dứt khoát không đồng ý. Theo ông, những đề nghị đó không có giá trị và không thật thà, nó chẳng khác gì thay thế chủ nghĩa thực dân Pháp bằng ách thống trị của Trung Quốc, nhân dân sẽ ''"chẳng bao giờ chịu bán rẻ sự nghiệp chính nghĩa của họ để đổi lấy đô la Trung Quốc"''.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 544 - 545</ref>
Lực lượng [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] (Việt Quốc) bao gồm những đơn vị vượt biên giới Trung Quốc tiến vào Việt Nam cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc, các chi bộ đảng tại [[Công ty Đường sắt Đông Dương]], Sở Bưu điện và [[Viện Đại học Đông Dương]], các đảng viên Việt Quốc mới ra tù và các thành viên Đại Việt đang muốn liên kết với Việt Quốc. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương đánh giá Việt Quốc còn cao hơn Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskyist hay các đảng phái khác.<ref name="David G. Marr 1946 page 415"/>
Đầu [[Tháng chín|tháng 9]] năm [[1945]], [[Vũ Hồng Khanh]], người đứng đầu Việt Quốc, sau nhiều lần bị Trung Quốc cản trở từ [[Vân Nam]], Trung Quốc về đến Hà Nội ngày [[20 tháng 10]] năm [[1945]]. Trong khi ông vắng mặt, 1 nhóm đảng viên Việt Quốc sẵn sàng hợp tác với Việt Minh đã thành lập 1 ủy ban nhằm tái cơ cấu lại Việt Quốc. Vũ Hồng Khanh làm ngơ việc này. Nguyễn Tường Tam ở lại Trung Quốc trong suốt năm [[1945]] để vận động Trung Quốc và [[Hoa Kỳ|Mỹ]] ủng hộ nền độc lập của Việt Nam nhưng không thành công. Vì vậy tài năng báo chí của Tam không được sử dụng.<ref>David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 415-416, California: University of California Press, 2013</ref>
Việt Quốc xuất bản [[Báo Việt Nam]] ra số đầu tiên ngày [[15 tháng 11]] năm [[1945]], trên trang nhất của số đầu tiên tuyên bố Việt Quốc kế thừa sự nghiệp cách mạng của [[Nguyễn Thái Học]] và các đồng chí của ông hy sinh năm [[1930]] đồng thời cáo buộc [[Hồ Chí Minh]] quay lưng với Mặt trận thống nhất ([[1942]]-[[1945]]) bằng cách đơn phương giành chính quyền vào [[Tháng tám|tháng 8]] năm [[1945]]. Bài báo cho rằng Việt Quốc hoàn toàn có thể lật đổ Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng vì lợi ích quốc gia nên họ không làm. Việt Quốc cũng tuyên bố Việt Minh đang "''theo đuổi 1 chính sách sai lầm, thiếu hiệu quả, vì theo [[chủ nghĩa cực đoan]] nên đánh mất bạn bè quốc tế, khủng bố các đảng phái cách mạng khác, không xử lý nổi các vấn đề kinh tế và hoàn toàn thụ động trước việc Pháp đổ bộ vào miền Nam''". Việt Quốc kêu gọi các đảng phái gạt bỏ bất đồng để thành lập Chính phủ liên hiệp lãnh đạo nhân dân giành độc lập, kêu gọi các thành viên Việt Minh hãy nhận thức rằng lãnh đạo của họ đang đưa đất nước đến thảm họa và sử dụng họ vào các mục tiêu quyền lực tham lam, ích kỷ. Trong 6 tuần sau, Báo Việt Nam hiếm khi sử dụng cụm từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nếu có dùng thì cũng để trong ngoặc kép đồng thời không thừa nhận [[Quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|quốc kỳ]] và [[Quốc ca Việt Nam|quốc ca]] của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Họ buộc tội Hồ Chí Minh là [[độc tài]], Việt Minh là băng đảng [[Chủ nghĩa phát xít|phát xít]] và vẽ một số tranh biếm họa chỉ trích Hồ Chí Minh. Họ cũng tố cáo Tổng bộ Việt Minh lừa bịp, tống tiền, bắt cóc đối thủ và tổ chức các cuộc tấn công vũ trang vào văn phòng Việt Quốc. Họ cũng chỉ trích [[Báo Cứu quốc]] của Việt Minh. Báo Việt Nam rất ít nói về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngoại trừ thường xuyên lên án lực lượng an ninh và Bộ Tuyên truyền. Báo Việt Nam lưu hành rộng rãi tại các tỉnh với sự giúp đỡ của các đảng viên Việt Quốc và các cảm tình viên ở Sở Bưu điện và [[Công ty Đường sắt Đông Dương]]. Các chính quyền địa phương thường xuyên tịch thu Báo Việt Nam và bắt giữ những người đọc báo này.<ref>David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 416-417, California: University of California Press, 2013</ref>
Ngày [[20 tháng 1]] năm [[1946]], Nguyễn Tường Tam và [[Nghiêm Kế Tổ]] từ [[Trùng Khánh]] về Việt Nam thông báo về cuộc đàm phán [[Quan hệ Trung Quốc - Pháp|Hoa - Pháp]] khiến nội bộ Việt Quốc tranh luận căng thẳng về hành động tiếp theo khi Trung Quốc rút quân khỏi miền Bắc Việt Nam. Ngày [[10 tháng 2]] năm [[1946]], tại Hà Nội và Hải Phòng, Việt Quốc tổ chức lễ tưởng niệm cuộc nổi dậy năm 1930 ở Yên Bái. Tại Hải Phòng, cuộc tưởng niệm bị một số người phản đối vì không treo [[Quốc kỳ Việt Nam|cờ đỏ sao vàng]].<ref name="David G. Marr 1946 page 418-419">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 418-419, California: University of California Press, 2013</ref>
Từ giữa [[Tháng hai|tháng 2]] năm [[1946]], việc Pháp và Trung Quốc đàm phán với nhau, Pháp có thể đổ quân vào miền Bắc và Hồ Chí Minh đàm phán với Pháp khiến các đảng phái lo lắng và bắt đầu chỉ trích lẫn nhau. 1 tờ báo phi đảng phái chỉ trích cả hai tờ Việt Nam và Cứu Quốc vì đã liên tục dùng từ "phản động" mạt sát nhau khiến công chúng hoang mang, ảnh hưởng đến sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trong khi người nước ngoài (trong đó có Pháp) cũng đang đọc báo của họ.<ref name="Marr419">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 419, California: University of California Press, 2013</ref>
Ngày [[20 tháng 2|20/2]] năm [[1946]], 1 đám đông tập hợp trước [[dinh Bảo Đại]] mang theo cờ vàng của nhà vua và các biểu ngữ ủng hộ Bảo Đại, phản đối chính sách thân Pháp và cảnh báo tổ quốc đang lâm nguy. 3 người cao tuổi đến gặp Bảo Đại để yêu cầu ông đứng ra thành lập chính phủ mới thay thế Hồ Chí Minh. [[Quân cảnh Trung Hoa Dân Quốc]] ngăn cản lực lượng an ninh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng giải tán đám đông. Việt Minh cáo buộc Việt Quốc tổ chức cuộc biểu tình này.<ref name="Marr419"/>
Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân đảng đã tổ chức các đội vũ trang như ''"Thần lôi đoàn", "Thiết huyết đoàn", "Hùm xám"''... Các đội này đã tổ chức nhiều vụ cướp có vũ trang, bắt cóc, tống tiền, tổ chức ám sát những người theo Việt Minh và cả những người trung lập như ông Ba Viên (Ba Viên bị Quốc dân Đảng nghi ngờ là gián điệp của Pháp, sau khi gặp Hồ Chí Minh, Ba Viên quay về [[Hà Giang]], bắt giữ và hành quyết một số đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng<ref name="David G. Marr 1946 page 415">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 415, California: University of California Press, 2013</ref>), rồi tuyên truyền đổ lỗi cho Việt Minh đã không đảm bảo được an ninh trật tự ở Hà Nội và một số đô thị ở Bắc Bộ.<ref name="60nam">Phạm Văn Quyền (chủ biên). 60 năm Công an nhân dân Việt Nam. Nhà xuất bản Công an nhân dân. 2006. trang 104.</ref> Khi Pháp chiếm lại Nam Kỳ, báo chí của các đảng phái này chỉ trích Việt Minh là bất lực, có khi là phản bội<ref name=autogenerated2 />. Khi Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của [[AFP]] và [[AP]] rằng Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng chấp nhận các cố vấn Pháp nếu họ tới Việt Nam với tư cách bạn bè chứ không phải kẻ xâm lược thì [[Việt Cách]] rải truyền đơn kết tội Việt Minh cấu kết với Pháp và kêu gọi người Việt Nam nếu muốn thật sự có độc lập thì "phải từ bỏ Hồ Chí Minh và bè lũ giết người" của ông. Họ ca ngợi lập trường của [[Tưởng Giới Thạch]] là "tuân theo các nguyên tắc của [[Hiến chương Đại Tây Dương]] và giúp đỡ cho sự nghiệp độc lập của Việt Nam", trong khi Việt Minh tại miền Nam lại thương lượng với Pháp và Hồ Chí Minh ở Hà Nội tỏ ra thân thiện với Pháp. Hồ Chí Minh nhận xét: "''Việt Minh sẽ còn phải đấu tranh lâu dài cả với người Trung Quốc và người Việt Nam''".<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 492 - 494</ref>
===Nam Bộ kháng chiến===
{{chính|Nam Bộ kháng chiến}}
[[Jean Cédile]] đến Việt Nam theo mệnh lệnh nhằm lập lại quyền thống trị của thực dân Pháp tại Việt Nam<ref name=autogenerated4>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 510</ref>. Cédile có cảm tình với nguyện vọng độc lập của người Việt nhưng ông chủ trương trao trả độc lập từng bước cho Việt Nam. Ngay sau khi đến Việt Nam, Cédile đã tiếp xúc với các lãnh đạo [[Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ]] và cố gắng để đi đến 1 sự thông cảm nhưng quan điểm của ông là chỉ bàn đến độc lập của Việt Nam sau khi người Pháp đã khôi phục quyền hành và phải được đặt trong khuôn khổ Tuyên bố ngày [[24 tháng 3]] năm [[1945]]<ref name=autogenerated1 />. Cédile đồng ý thương lượng với Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ nhằm tránh xung đột vũ trang Pháp Việt nhưng khá nhiều chủ [[nhà băng]], chủ [[đồn điền]], chủ [[Mỏ khoáng sản|mỏ]], [[quan chức]], [[chính trị gia]] Nam Kỳ người Pháp, Việt, Hoa phản đối ông với lý do Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ do những đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 507 - 508</ref> Giữa [[Tháng chín|tháng 9]] năm [[1945]] và [[Tháng mười|tháng 10]] năm [[1946]] khi rời Nam Kỳ, Cédile ủng hộ chính sách của [[D'Argenlieu-Pignon]] chấp thuận cho các chính khách tại Nam Kỳ thành lập [[Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ]] và hậu thuẫn những đảng phái thân Pháp như [[Đảng Nam Kỳ]] của Béziat. [[Jean Cédile]] cho lập [[Hội đồng tư vấn Nam Kỳ]] (''Conseil consultatif de Cochinchine'') với 12 ủy viên. Thành phần Hội đồng gồm 4 [[người Pháp]] và 8 [[người Việt]] nhưng tất cả đều có [[quốc tịch]] Pháp.<ref>Goodman, Allan E, Politics in War: The Bases of Political Community in South Vietnam, page 20, Harvard University Press, 1973</ref> Kết quả quan trọng là cú đảo chính ngày [[22 tháng 9|22]] đến [[23 tháng 9]] năm [[1945]] ở Sài Gòn và việc ông ký Hiệp định ngày [[3 tháng 6]] năm [[1946]] thành lập [[Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ]] với bác sĩ [[Nguyễn Văn Thinh]] thân Pháp làm Thủ tướng. Mục đích của Pháp là tách Nam Kì ra khỏi Việt Nam thống nhất.<ref>Lê Mậu Hãn chủ biên, Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, trang 47</ref>
Người Việt cũng bị chia rẽ. Việt Minh sẵn sàng đối thoại và thỏa thuận với phía Pháp để Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy đó làm điểm xuất phát cho quá trình Pháp dần trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngược lại, phe đối lập muốn hủy bỏ thương lượng với Jean Cédile và phát động cuộc chiến chống Pháp.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 508</ref>
Đến ngày [[16 tháng 9]] năm [[1945]], cuộc đàm phán [[Jean Cédile]] - [[Phạm Văn Bạch]] không đạt kết quả cụ thể. Theo phía Việt Nam, người Pháp tham gia đối thoại chỉ nhằm có thêm thời gian để củng cố vị trí và chờ quân đội của tướng [[Philippe Leclerc de Hauteclocque|Leclerc]] đổ bộ vào Việt Nam. Phạm Văn Bạch do chịu áp lực của phe đối lập đã công khai lên án Anh không chịu công nhận Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ là chính phủ hợp pháp duy nhất ở Nam Kỳ và gạt bỏ đề nghị hợp tác của Ủy ban. Sau khi không nhận được hồi đáp, Ủy ban tổ chức một cuộc tổng bãi công vào ngày [[17 tháng 9]] năm [[1945]] để phản đối điều mà họ gọi là âm mưu Pháp - Anh nhằm lật đổ Chính phủ Việt Nam.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 508 - 509</ref>
Ngay sau khi tướng [[Douglas D. Gracey]], chỉ huy quân đội Anh, đến Sài Gòn ông ra lệnh cho quân đội Nhật tước vũ khí của người Việt Nam, đuổi Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra khỏi Dinh Toàn quyền ở Sài Gòn. Chỉ huy quân đội Nhật, Thống chế Terauchi, điều 7 [[tiểu đoàn]] vào Sài Gòn để tước vũ khí người Việt. Nhật đòi Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ phải tước vũ khí và giải tán lực lượng vũ trang của Việt Nam. Trên thực tế, chỉ có Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên có lực lượng vũ trang có tổ chức còn Việt Minh và những người Trotskyist chỉ có lực lượng tượng trưng do đó lệnh tước vũ khí áp dụng chủ yếu cho các giáo phái này. Người Pháp ngay lập tức treo cờ Pháp lên tất cả các công sở và xe quân sự. Phạm Văn Bạch gửi phái đoàn OSS 1 bức điện thông báo tình hình và yêu cầu phái đoàn thay mặt Đồng Minh chứng minh quyền được độc lập của nhân dân Việt Nam và tuyên bố Việt Nam đã hoàn toàn độc lập, người Việt có quyền tự quyết định số phận của mình.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 489, 509, 510</ref>
Tình hình Sài Gòn ngày càng hỗn loạn. Quân đội Nhật bắt được nhiều nhóm khiêu khích thuộc lực lượng Bình Xuyên đã đánh bị thương một số quân nhân Pháp và đốt 2 nhà của người Pháp. Đến đêm các cuộc tấn công vào người Pháp và người Việt tăng lên. Người Pháp bắt đầu lo sợ còn người Việt chuẩn bị sơ tán về nông thôn. Cédile gặp chỉ huy quân đội Anh, Douglas D. Gracey, để yêu cầu ông này cấp vũ khí cho tù bình Pháp nhằm bảo vệ tài sản và tính mạng của người Pháp.<ref name=autogenerated4 />
Thiếu tướng Douglas D. Gracey, chỉ huy quân đội Anh không được lệnh cung cấp vũ khí cho người Pháp. Ông cũng muốn tránh một cuộc xung đột giữa quân đội của ông và người Việt. Ông đã được tướng Mounbatten nhắc nhở về việc quân đội Anh chỉ có trách nhiệm giải giáp quân đội Nhật chứ không được tham gia vào việc duy trì trị an vốn là trách nhiệm của [[Quân đội Nhật Bản|quân đội Nhật]] cũng như tránh xa các diễn biến chính trị Pháp-Việt. Tuy nhiên quân đội Nhật tỏ ra không muốn cộng tác với người Anh trong việc tước vũ khí người Việt.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 511 - 512</ref> Gracey triệu tập chỉ huy quân đội Nhật đến và chỉ thị cho ông này phải có những biện pháp cấp bách và hiệu quả để khôi phục trật tự công cộng, thậm chí có thể dùng vũ lực. Nhật phải thực hiện mệnh lệnh ngày [[6 tháng 9]] năm [[1945]] của phía Anh về việc tước vũ khí của [[bộ đội]], [[Dân quân tự vệ|dân quân]], [[công an]] và [[dân thường]] Việt Nam.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 511-512</ref>
Trước tình hình mâu thuẫn Pháp Việt ngày càng leo thang, Cédile nhờ Thiếu tá [[A. Peter Dewey]], chỉ huy OSS tại Sài Gòn, gặp các lãnh đạo Việt Minh để thuyết phục họ khôi phục lại trật tự. Đêm [[18 tháng 9]] năm [[1945]], [[A. Peter Dewey]] bí mật gặp [[Trần Văn Giàu]], [[Phạm Văn Bạch]], [[Dương Bạch Mai]], [[Phạm Ngọc Thạch]] và [[Nguyễn Văn Tạo]]. Tất cả đều cho rằng quá muộn để thương lượng và hợp tác. Dân chúng bị xúc phạm và kích động vì thái độ kiêu căng của Pháp đã ở tư thế sẵn sàng làm mọi việc để giữ vững nền độc lập. Trần Văn Giàu phát biểu: "''Hiện nay, việc cực kỳ khó khăn là kiểm soát được các bè phái chính trị khác nhau vì không phải tất cả thân Việt Minh mà tất cả đều chống Pháp''".<ref name="patti513">Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 513</ref>
Sáng ngày [[19 tháng 9]] năm [[1945]], Cédile tổ chức họp báo và tuyên bố Việt Minh không đại diện cho nguyện vọng của người Đông Dương và không đủ khả năng duy trì trật tự công cộng. Các cuộc [[thương lượng]] với người Việt sẽ dừng lại cho đến khi trật tự được lập lại và sẽ chỉ được tiếp tục dựa trên cơ sở Bản Tuyên bố ngày [[24 tháng 3]] năm [[1945]] của Pháp.<ref name="patti513"/>
[[Tập tin:Kienthuc-linh-nhat-06 upmw.jpg|thumb|Lính Nhật dán bản Thông cáo số 1 về việc duy trì pháp luật và trật tự ở Đông Dương vào [[Tháng chín|tháng 9]] năm [[1945]]]]
Ngày [[21 tháng 9]] năm [[1945]], Thiếu tướng Anh Gracey ra bản [[Thông cáo số 1]] tuyên bố sẽ duy trì pháp luật và trật tự ở Đông Dương phía Nam vĩ tuyến 16. Ông cấm tất cả các loại báo vì họ đưa tin sắp xảy ra nổi loạn và nội chiến trừ [[đài Sài Gòn]] và các báo của người Pháp. Trong 24 giờ sau, tình hình trở nên cực kỳ tồi tệ. Các vụ phá hoại, cướp bóc, hành hung, bắt cóc,... do cả hai phía Pháp Việt gây ra bùng nổ đáng sợ. Để đối phó với tình hình, ngay sau đó, tướng Gracey ra lệnh thiết quân luật. Quân đội Anh sẽ thực hiện giới nghiêm; cấm tụ tập, hội họp, biểu tình công khai; hạn chế đi lại ở một số khu vực; cấm mang vũ khí; thiết lập [[Tòa án|toà án]] binh để xử các vụ vi phạm trật tự, xử tử hình đối với tội cướp bóc và phá hoại. Gracey cũng cho sáp nhập cảnh sát Việt Nam vào quân đội Anh coi như 1 đơn vị dưới quyền chỉ huy của ông.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 514 - 515</ref>
Đêm [[21 tháng 9]] năm [[1945]], tình báo Pháp [[SLFEO]] báo cho Cédile biết người Việt đang củng cố lực lượng vũ trang của họ dưới sự chỉ đạo của Việt Minh. Cédile lại gặp Gracey để yêu cầu ông này trang bị vũ trí cho 14.000 tù binh Pháp (thuộc [[Chính phủ Vichy]]) để hỗ trợ quân Anh giữ trật tự. Gracey đồng ý. Ngay sau khi được thả ra, để chứng tỏ lòng trung thành với chính phủ De Gaulle, số lính này ra đường bắt bất cứ người Việt nào họ gặp được. Cédile muốn tái lập trật tự sau đó nối lại các cuộc thương lượng với người Việt. Ngày [[22 tháng 9]] năm [[1945]], Cédile cho lính Pháp thay thế người Nhật chiếm giữ các đồn cảnh sát ở Sài Gòn, Kho bạc, Sở Mật thám, Bưu điện. Việt Minh phản ứng bằng cách thông báo với phái đoàn OSS rằng họ sẽ tổ chức một cuộc biểu tình vì nền độc lập của Việt Nam dù lệnh thiết quân luật của Anh cấm biểu tình. [[Phạm Ngọc Thạch]] nói rằng Việt Minh muốn khích cho Anh Pháp tiến hành đàn áp, gây nhiều thương vong để thế giới chú ý đến tình cảnh của Việt Nam.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 515 - 516</ref>
Rạng sáng ngày [[23 tháng 9]] năm [[1945]], quân Pháp tấn công [[Toà Thị chính Sài Gòn]], nơi làm việc của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, bắt toàn bộ ban lãnh đạo của cơ quan này. Pháp đã chiếm lại Sài Gòn. Dân thường Pháp xem đây là dịp để trả thù. Từng toán đàn ông và đàn bà Pháp xông ra đường bắt và đánh đập bất cứ người Việt nào họ gặp được. Số nạn nhân có thể lên tới hàng ngàn người. Lính Pháp và Anh chỉ đứng nhìn chứ không can thiệp. Chỉ huy OSS, A. Peter Dewey, xin gặp Gracey để phản đối Anh, Pháp để tình trạng này xảy ra. Ngày hôm sau, Dewey bị Gracey trục xuất khỏi Sài Gòn.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 517 - 518</ref>
Cédile muốn chấm dứt tình trạng này. Ông ra lệnh ngừng việc bắt bớ nhưng không ai tuân thủ. Ông giải thích hành động của mình để tái lập trật tự chứ không phải để trả thù và muốn nhanh chóng nối lại điều đình trong khuôn khổ Bản Tuyên bố ngày [[24 tháng 3]] năm [[1945]] của Pháp. Ông cho thả tất cả người Việt Nam vừa bị bắt. Báo chí quốc tế phản ứng mạnh trước tình hình. [[Người Anh]] bị chỉ trích gay gắt. Gracey ra lệnh cho Cédile tước vũ khí tù binh Pháp, đưa họ trở về trại và giao cho người Nhật trách nhiệm khôi phục lại trật tự.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 518 - 519</ref>
[[Hình:Ben Thanh market 1945.png|nhỏ|trái|250px|Biểu tình tại [[Chợ Bến Thành]] năm [[1945]]]]
Sau khi được thả khỏi nhà giam, người Việt tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của Việt Minh để tiến hành chiến tranh. Ngày [[24 tháng 9]] năm [[1945]], một số người Pháp bị giết, [[nhà máy]] và [[kho tàng]] bị đập phá, điện nước bị cắt hoàn toàn. Các đơn vị dân quân Việt Nam và các đội công nhân vũ trang tấn công [[Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất|phi trường Tân Sơn Nhất]], đốt 1 tàu Pháp ở cảng, phá nhà giam, thả hàng ngàn người Việt vừa bị bắt. Đến trưa [[chợ Bến Thành]] bị đốt cháy. Chướng ngại vật được dựng lên khắp đường phố. Sài Gòn chìm trong tình trạng [[vô chính phủ]]. Người Pháp trốn vào [[khách sạn Continental]], nơi ở của các sĩ quan Đồng Minh được bảo vệ cẩn thận. Cả người Anh và người Nhật đều không muốn can thiệp vào tình hình. Khi bị Anh khiển trách vì không thể duy trì trật tự, người Nhật giải thích rằng lính Nhật sợ bị người Việt trả thù nếu họ can thiệp. Đêm [[24 tháng 9]] năm [[1945]], [[Bộ đội Bình Xuyên|lực lượng Bình Xuyên]] tấn công khu Hérault tại Tân Định, Sài Gòn bắt cóc 300 dân thường Pháp. Khoảng 1/2 bị giết, số còn lại được trả về sau khi đã bị đánh đập. Để đối phó, Gracey 1 lần nữa chấp nhận yêu cầu của Cédile cấp vũ khí cho tù binh Pháp nhưng tình hình đã quá muộn.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 519 - 521</ref>
Những rối loạn tại Sài Gòn lan rộng ra toàn miền Nam. Trần Văn Giàu ra lệnh tổng [[Đình công|bãi công]]; sơ tán người Việt khỏi Sài Gòn; cấm bán lương thực, thực phẩm cho Pháp; đặt Sài Gòn trong tình trạng cô lập. Giàu đe dọa sẽ phá hủy Sài Gòn nếu Pháp không bỏ vũ khí, rút lui và công nhận độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các đơn vị Việt Nam dựng các chướng ngại trên đường vào Sài Gòn, ngăn chặn mọi người ra vào trừ người Anh và Mỹ. Họ bắn bất cứ quân nhân Pháp nào xuất hiện. Ngoài phạm vi Sài Gòn, trong vùng do Nhật kiểm soát, tình hình hoàn toàn hỗn loạn.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 521 - 522</ref>
Ngày [[26 tháng 9]] năm [[1945]], Thiếu tá chỉ huy OSS tại Sài Gòn [[A. Peter Dewey]] bị lực lượng Việt Nam bắn chết vì tưởng ông là người Pháp. Tin này lan khắp thế giới làm xấu đi hình ảnh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thiếu tá OSS [[Archimedes L.A Patti]] đang công tác tại miền Bắc Việt Nam nhận xét: "''Họ đã giết hại người bạn độc nhất của họ ở Nam Kỳ và chắc chắn những tin này sẽ chẳng đề cao được lý tưởng của họ trước nhân dân Mỹ.''".<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 522 - 524</ref> Sau đó Gracey ra lệnh bắt chỉ huy quân đội Nhật Thống chế Bá tước Térauchi vì ông này bất lực trong việc giữ trật tự<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 525</ref>.
Ngày [[28 tháng 9]] năm [[1945]], tướng Mounbatten triệu tập Gracey và Cédile đến [[Singapore]] để nhắc nhở 2 người về việc [[quân đội Anh]] không được can thiệp vào tình hình chính trị Đông Dương và nhất là không được giao chiến với người Việt. Mounbatten đề nghị nên nối lại thương lượng với các lãnh đạo Việt Nam<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 527</ref>.
Ngày [[1 tháng 10]] năm [[1945]], Gracey nối lại đàm phán với Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. 2 bên tạm thời ngừng bắn. Phía Anh nhấn mạnh chính sách trung lập của mình nhưng theo sự thỏa thuận giữa các nước Đồng Minh, Anh sẽ không công nhận bất kỳ sự thay đổi chủ quyền trên bất kỳ lãnh thổ nào đã phải chiếm lại bằng vũ lực trong thời kỳ chiến tranh. Người Pháp yêu cầu trả lại các con tin bị bắt và xác của Thiếu tá Dewey trước khi tiếp tục thương lượng. Phía Việt Nam yêu cầu trước hết Pháp phải công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nước tự do và độc lập. Người Việt chỉ ngừng bắn với điều kiện Pháp trao trả quyền hành chính tại Sài Gòn cho Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, lực lượng cảnh sát phải được trao lại cho Việt Nam, quân đội Pháp phải giải giáp và không được đưa quân mới vào, người Pháp phải tập trung vào những khu vực nhất định.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 527 - 528</ref>
[[Tập tin:Danquannambo.JPG|nhỏ|300px|phải|Dân quân Nam Bộ năm [[1945]]]]
Trong khi thương lượng, Việt Nam đã triển khai quân đội xung quanh Sài Gòn tại các vị trí chiến lược phía Bắc và phía Nam thành phố. [[Hoàng Quốc Việt]] vẫn liên lạc chặt chẽ với [[Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương]] tại Hà Nội và chỉ thị cho Giàu và Bạch phải chống lại mọi mưu đồ của Đồng Minh nhằm giúp Pháp nắm quyền kiểm soát Sài Gòn. Nếu cần, chỉ sau 24 tiếng Hà Nội sẽ gửi quân tăng viện cho miền Nam. Do lo ngại bị Việt Nam tấn công, phía Pháp yêu cầu Anh can thiệp. Tướng Mounbatten gặp Thạch và Bạch để yêu cầu kéo dài cuộc ngừng bắn thêm 48 giờ. Phạm Ngọc Thạch cho rằng Việt Nam đã độc lập và tất cả những gì còn phải bàn cãi chỉ là quy chế cho nước Việt Nam tương lai. Người Anh trả lời vẫn tiếp tục chấp nhận đối thoại cho đến khi nào có thể đạt được thỏa thuận. Người Việt đồng ý kéo dài cuộc ngưng bắn.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 528 - 530</ref>
Ngày [[3 tháng 10]] năm [[1945]], 10.000 quân Pháp do Leclerc chủ huy đổ bộ xuống Sài Gòn. Ngày [[9 tháng 10]] năm [[1945]], Pháp Anh ký thỏa hiệp tại [[Luân Đôn]] xác định Anh hoàn toàn ủng hộ Pháp trong việc cai trị toàn Đông Dương dưới vĩ tuyến 16. Đêm [[10 tháng 10]] năm [[1945]], bộ đội Việt Nam tấn công [[Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất|sân bay Tân Sơn Nhấ]]<nowiki/>t. Lực lượng Việt Nam giao chiến với quân Anh, Pháp tại tất cả các cửa ngõ vào Sài Gòn. Người Anh yêu cầu Nhật hỗ trợ. Nhật đồng ý tham chiến. Lực lượng Anh, Pháp, Nhật đã phá vỡ cuộc phong tỏa Sài Gòn của Việt Nam sau 2 tuần chiến đấu liên tục. Ngày [[16 tháng 10]] năm [[1945]], phía Việt Nam ngừng bao vây Sài Gòn và rút quân về vùng nông thôn do lực lượng Anh, Pháp, Nhật quá mạnh. [[Không quân Hoàng gia Anh]] và [[không quân Nhật]] tiếp tục ném bom vào các địa điểm đóng quân của Việt Nam.<ref name=autogenerated8>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 530 - 531</ref>
Phản ứng trước việc Anh dùng quân đội Nhật tấn công lực lượng Việt Nam, tướng [[Douglas MacArthur]] phát biểu: "''Nếu có gì đó làm máu tôi sôi lên thì đó là việc tôi thấy các nước Đồng Minh của chúng ta ở Đông Dương và [[Java]] sử dụng quân Nhật để đàn áp các dân tộc nhỏ bé này mà chúng ta đã hứa giải phóng. Đó là 1 sự phản bội kinh tởm nhất.''".<ref name=autogenerated8 />
Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ kêu gọi dân chúng sơ tán về nông thôn và thi hành chiến lược dùng nông thôn bao vây thành thị bằng cách cắt đứt mọi hoạt động thương mại giữa nông thôn và thành thị. Dân chúng trong đó có nhiều nhân sĩ yêu nước theo lời kêu gọi của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ rời bỏ Sài Gòn và các thành phố khác về nông thôn. Lực lượng kháng chiến và cơ quan [[Quốc gia Tự vệ Cuộc]] bắt giam và thủ tiêu nhiều nhân sĩ, trí thức và lãnh tụ các đảng phái bị kết tội làm [[Việt gian]] hợp tác với Pháp hoặc bị tình nghi là Việt gian. Thậm chí một số nhân viên thừa hành của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ và một số nhóm kháng chiến còn lợi dụng công vụ để cướp bóc, trấn lột; nếu ai chống đối sẽ bị kết tội là Việt gian rồi thủ tiêu. Tinh thần kháng chiến đi xuống, lực lượng kháng chiến bị chia rẽ, các đảng phái quốc gia xa lánh Việt Minh và thành lập [[Mặt trận Quốc gia Liên hiệp]]<ref>Hồi ký 1925 - 1964, tập 2, trang 261-264, Nguyễn Kỳ Nam, Nhật báo Dân Chủ Mới, 1964</ref>. [[Tháng mười hai|Tháng 12]] năm [[1945]], [[Nguyễn Bình]] được cử vào Nam lãnh đạo phong trào kháng chiến tại Nam Bộ. Ông lập lại trật tự bằng cách lập tòa án quân sự xét xử tất cả các chỉ huy quân sự lợi dụng danh nghĩa kháng chiến để cướp bóc, quấy nhiễu dân chúng, tổ chức lại lực lượng kháng chiến thành các chi đội [[Vệ quốc đoàn]].<ref>Hồi ký 1925 - 1964, tập 2, trang 294- 302, Nguyễn Kỳ Nam, Nhật báo Dân Chủ Mới, 1964</ref>
===Thành lập Chính phủ Liên hiệp===
{{chính|Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa}}
{{chính|Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa}}
[[Tập tin:Chinh phu lam thoi.jpg|nhỏ|phải|294x294px|Nội các Chính phủ Liên hiệp Lâm thời]]
Ngày [[20 tháng 8|20/8]] năm [[1945]], Việt Cách cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc tiến vào Việt Nam. Ngày [[30 tháng 9|30/9]] năm [[1945]], [[Nguyễn Hải Thần]] dẫn đầu 1 phái đoàn tới gặp [[Tiêu Văn]] để thảo luận về việc loại bỏ Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đàn áp Đảng Cộng sản Đông Dương. Tiêu Văn tỏ ra không ủng hộ ý định của Nguyễn Hải Thần. Cuối [[Tháng mười|tháng 10]] năm [[1945]], 7 đảng viên Việt Cách dưới quyền Nguyễn Hải Thần ký bản "Đoàn kết tinh thần" với Việt Minh theo đó Việt Cách sẽ liên kết với Việt Minh chống lại sự xâm lược của Pháp, bảo vệ nền độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên sau đó nhiều người chối bỏ họ đã ký bản "Đoàn kết tinh thần". Nguyễn Hải Thần công khai bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Việt Nam. Hàng loạt vụ đụng độ giữa Việt Minh và Việt Cách xảy ra khiến công chúng bị sốc và làm các chỉ huy quân đội Trung Hoa Dân quốc tại [[Miền Bắc (Việt Nam)|miền Bắc Việt Nam]] khó chịu. Tiêu Văn gây sức ép lên tất cả các bên để buộc họ thành lập chính phủ liên hiệp.<ref name="books.google.com.vn"/>
Tuy nghi ngờ, thậm chí thù địch nhau nhưng các thành viên Việt Minh và Việt Quốc vẫn gặp nhau thậm chí còn ký kết các thỏa thuận. Ngày [[29 tháng 9]] năm [[1945]], [[Nguyễn Lương Bằng]] (Việt Minh) và [[Chu Bá Phượng]] (Việt Quốc) gặp nhau và đồng ý chấm dứt xung đột, thả tù nhân và ngừng lên án nhau công khai. Ngày [[19 tháng 11]] năm [[1945]], [[Hồ Chí Minh]], [[Vũ Hồng Khanh]] và [[Nguyễn Hải Thần]] thỏa thuận về các nguyên tắc chung nhằm định hướng đàm phán thành lập chính phủ liên hiệp, quân đội thống nhất và kết thúc cuộc đấu tranh đảng phái để cùng nhau chống Pháp. Ngày [[24 tháng 11]] năm [[1945]], sau buổi lễ trước trụ sở Việt Quốc, lãnh tụ 3 tổ chức [[Việt Minh]], [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội|Việt Cách]], [[Việt Nam Quốc dân Đảng|Việt Quốc]] ký bản ghi nhớ cam kết các bên sẽ không tấn công lẫn nhau, đi đến thống nhất và hỗ trợ Nam Bộ kháng chiến.<ref name="Marr417">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 417, California: University of California Press, 2013</ref>
Sau đó vài ngày, Báo Cứu quốc coi bản ghi nhớ ngày [[24 tháng 11]] năm [[1945]] là sự xác nhận 1 chính phủ liên hiệp đã tồn tại. Việt Quốc lên án việc này. Hồ Chí Minh thông báo cho Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh rằng các đảng phái đã thống nhất ý kiến, không cần phải thay đổi chính phủ làm cho nhân dân hoang mang, quốc tế hoài nghi mà sẽ tổ chức bầu cử quốc hội trong 3 tuần nữa; ông cũng mời Việt Quốc và Việt Cách ứng cử và chấm dứt công kích nhau bằng lời nói và hành động cho đến ngày Quốc hội khai mạc. Báo Việt Nam của Việt Quốc chỉ trích Hồ không quân tử và sử dụng các biện pháp "khủng bố và độc tài".<ref name="Marr418">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 418, California: University of California Press, 2013</ref><ref name=autogenerated7>Thư gửi Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Báo Việt Nam, số 19, 6 tháng 12 năm 1945</ref>
Ngày [[23 tháng 12]] năm [[1945]], Tướng Tiêu Văn tổ chức một cuộc họp hòa giải các bên để thành lập chính phủ liên hiệp. Tại cuộc họp này, [[Nguyễn Hải Thần]] đề nghị Hồ Chí Minh hợp tác với Việt Quốc, Việt Cách thành lập 1 chính phủ bao gồm thành viên của Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh và các đảng phái nhỏ khác. Nguyễn Hải Thần sẽ đảm nhận chức [[Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam|Chủ tịch]] nước, Hồ Chí Minh làm [[Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam|Phó Chủ tịch]]. Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh, mỗi đảng nắm giữ 1/4 số ghế Bộ trưởng trong Chính phủ; 1/4 còn lại do các đảng phái nhỏ nắm. Như vậy Việt Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nhận được sự ủng hộ của Trung Hoa Dân quốc chống lại cố gắng của Pháp tái chiếm Việt Nam. Điều làm Quốc dân Đảng Trung Hoa lo sợ nhất là Hồ Chí Minh từng là nhân viên của [[Quốc tế Cộng sản]] và Việt Minh có khuynh hướng cộng sản. Trước đó, Pháp cũng đã họp với Nguyễn Hải Thần và cho biết Pháp sẽ thực hiện Bản Tuyên bố ngày [[24 tháng 3]] năm [[1945]] và công nhận 1 chính phủ của người Việt Nam nằm trong [[Liên bang Đông Dương]] thuộc Liên hiệp Pháp với điều kiện chính phủ đó không do người cộng sản lãnh đạo.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 603 - 604</ref> Cuối cùng các bên đạt được 1 thỏa thuận được tuyên bố là mang tính pháp lý (viết bằng [[chữ Hán]]) theo đó các ghế bộ trưởng trong chính phủ sẽ phân chia như sau: [[Việt Minh]] 2 bộ trưởng, [[Đảng Dân chủ Việt Nam]] (cũng tham gia Việt Minh) 2 bộ trưởng, [[Việt Nam Quốc dân Đảng|Việt Quốc]] 2 bộ trưởng, [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội|Việt Cách]] 2 bộ trưởng, [[phi đảng phái]] 2 bộ trưởng. Thỏa thuận này không sử dụng tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vì Việt Quốc không đồng ý với tên này. Cuộc bầu cử quốc hội được hoãn 2 tuần. Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần chấp nhận để Hồ Chí Minh tiếp tục làm chủ tịch nước lâm thời. Quốc hội sẽ quyết định quốc kỳ và quốc huy. 2 đảng này cũng không được tham gia vào cơ quan chỉ huy và tham mưu của quân đội. Việt Quốc sẽ được 50 ghế còn Việt Cách 20 ghế trong Quốc hội mà không phải tranh cử. Điều này khẳng định với nhiều người rằng 2 đảng phái này không có khả năng giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại địa phương.<ref name="Marr418"/>
Sau khi đạt được thỏa thuận, các bên ra lệnh cho cấp dưới ngừng xung đột vũ trang và chỉ trích nhau. Điều này khiến nhiều người thấy khó hiểu như việc các lãnh đạo [[người Mường]] đã giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàn áp Việt Quốc nghi ngờ về chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những người khác ủng hộ chấm dứt cảnh huynh đệ tương tàn. Tuy vậy các bên vẫn không sẵn sàng thảo luận về việc sáp nhập hoặc phối hợp hoạt động với nhau. Tại một số nơi các chỉ huy Trung Quốc phải đứng ra làm trung gian giữa Việt Minh và Việt Quốc, Việt Cách để đi đến thành lập chính quyền liên hiệp. Tại [[Phú Thọ]], tướng Vương của Trung Hoa Dân quốc làm trung gian để Việt Minh và Việt Quốc thảo luận việc thành lập chính quyền liên hiệp nhưng 2 bên ngừng thảo luận và đấu súng với nhau tại chợ khiến dân chúng bị thiệt hại nên họ đã gửi kiến nghị lên Hồ Chí Minh phàn nàn cả hai bên bắt cóc nhiều con tin, khiến giao thương đình trệ và không bên nào lắng nghe những bậc cao niên ở địa phương. Tướng Vương phải ép 2 bên ngừng bắn, cuộc ngừng bắn kéo dài được 4 tháng.<ref name="Marr419"/>
Do các đảng phái đối lập phản đối nên Hồ Chí Minh đồng ý loại [[Võ Nguyên Giáp]] và [[Trần Huy Liệu]] ra khỏi nội các. Các bên tổ chức Hội nghị và họp nhiều lần để thảo luận ai sẽ nắm giữ chức [[Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam|Bộ trưởng Quốc phòng]] và Bộ trưởng Nội vụ đồng thời làm thế nào chia sẻ quyền lực trong Vệ quốc quân. Phan Anh được chọn làm Bộ trưởng Quốc phòng tuy anh trai ông ta là thành viên Việt Minh. Các đảng phái đối lập hy vọng [[Phan Anh]] sẽ chống lại việc Việt Minh cố gắng nắm toàn bộ Bộ chỉ huy và Bộ tổng tham mưu Vệ quốc quân nhưng họ sẽ thất vọng. Hội nghị cũng xem xét các nhân sĩ [[Huỳnh Thúc Kháng]], [[Ngô Đình Diệm]], [[Bùi Bằng Đoàn]] và [[Trần Đình Nam]] xem ai thích hợp cho vị trí Bộ trưởng Bộ nội vụ. Ngô Đình Diệm bị loại vì quá [[Chủ nghĩa chống cộng|chống cộng]] còn Bùi Bằng Đoàn quá thân Việt Minh. Trong 2 người còn lại, Hồ Chí Minh đã chọn Huỳnh Thúc Kháng. Ông gửi điện cho Kháng và cử sứ giả đến gặp ông này. Huỳnh Thúc Kháng [[miễn cưỡng]] chấp thuận. Không ai phản đối Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng Nội vụ vì ông có uy tín khắp cả nước. Hội nghị cũng thành lập Ủy ban Kháng chiến gồm 9 người với Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch và Vũ Hồng Khanh làm Phó chủ tịch.<ref>David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 419-420, California: University of California Press, 2013</ref>
Ngày [[1 tháng 1]] năm [[1946]], [[Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Chính phủ Liên hiệp Lâm thời]] được thành lập thay thế [[Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Chính phủ Cách mạng Lâm thời]] với sự tham gia của 2 đảng phái đối lập [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội|Việt Cách]] và [[Việt Nam Quốc dân Đảng|Việt Quốc]].<ref>Võ Nguyên Giáp, ''Những năm tháng không thể nào quên'', Nhà xuất bản Trẻ, 2009. Trang 33.</ref> Trái với thỏa thuận ngày [[23 tháng 12]] năm [[1945]], nội các chính thức có đến 14 [[bộ trưởng]] và 2 [[thứ trưởng]]<ref name="Marr418"/>. Tuy nhiên chức trách các Bộ cũng thay đổi. Bộ trưởng Quốc phòng trở thành người lo về tài chính mà không được xem xét danh sách nhân sự, quân số, súng đạn còn các Bộ trưởng khác của các đảng phái Quốc gia chẳng có chức trách cụ thể gì, không bao giờ được tham dự bất cứ buổi họp nào của nội các.<ref>Cecil B. Currey. Chiến thắng bằng mọi giá. trang 177, Nhà xuất bản Thế giới, 2013</ref> Hồ Chí Minh cho rằng nếu không có sự lãnh đạo của Việt Minh thì sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc sẽ thất bại. Việt Quốc và Việt Cách chỉ có thể duy trì 1 nền độc lập hình thức cho Việt Nam dưới quyền kiểm soát của người Pháp với sự hỗ trợ của Trung Hoa Dân Quốc phù hợp với kế hoạch bóc lột kinh tế Việt Nam của Trung Quốc. Sau khi Trung Hoa Dân quốc đạt được những thỏa thuận với Pháp có lợi cho họ, Việt Quốc, Việt Cách sẽ bị bỏ rơi và bất lực trong việc đối đầu với quân Pháp đổ bộ vào Việt Nam khiến Việt Nam quay lại làm thuộc địa Pháp.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 604 - 605</ref> Hồ Chí Minh cũng không vội vàng triệu tập nội các<ref name="Marr418"/>.
Ngày [[6 tháng 1]] năm [[1946]], Chính phủ Liên hiệp Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên toàn quốc, lần đầu tiên đã bầu [[Quốc hội Việt Nam khóa I|Quốc hội]] và thông qua [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp]]. Nhiều đảng phái không có quyền tham gia Tổng tuyển cử đã tìm cách phá hoại<ref>Võ Nguyên Giáp, ''Những năm tháng không thể nào quên'', Nhà xuất bản Trẻ, 2009. Trang 113.</ref>. Các đảng này cho là "trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản", "chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được"<ref>[http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1427&Chitiet=30238&Style=1 Mãi mãi ghi nhớ Quốc hội khoá I (17 tháng 5 năm 2011)] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20131019135045/http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1427&Chitiet=30238&Style=1 |date = ngày 19 tháng 10 năm 2013}}, Thái Duy, Báo Đại Đoàn Kết, số ra ngày 17 tháng 5 năm 2011, trích "Bọn phản động tưởng trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản, chúng cho là chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được."</ref>. 2 đảng ''đối lập'' trong Chính phủ là [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] (Việt Quốc) và [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội|Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội]] (Việt Cách) không tham gia bầu cử dù trước đó Hồ Chí Minh đã gửi thư cho [[Nguyễn Hải Thần]] (lãnh tụ Việt Cách) và [[Vũ Hồng Khanh]] (lãnh tụ Việt Quốc) mời Việt Quốc và Việt Cách tham gia Tổng tuyển cử và đề nghị 2 bên không công kích nhau bằng lời nói hoặc hành động cho đến ngày Quốc hội khai mạc<ref name=autogenerated7 />. Có tài liệu ghi nhận lá phiếu không bí mật<ref>Nohlen, D, Grotz, F & Hartmann, C (2001) ''Elections in Asia: A data handbook, Volume II'', p. 324 ISBN 0-19-924959-8</ref> và theo quan sát của sử gia [[Trần Trọng Kim]]<ref>Cựu Thủ tướng [[Đế quốc Việt Nam|chính quyền]] được bảo quân đội Nhật Bản bảo hộ.</ref> thì có nơi người dân bị cưỡng bách bầu cho Việt Minh.<ref>{{Chú thích web |url=http://vi.wikisource.org/wiki/M%E1%BB%99t_c%C6%A1n_gi%C3%B3_b%E1%BB%A5i/Ch%C6%B0%C6%A1ng_VI |ngày truy cập=2013-11-02 |tựa đề=Một cơn gió bụi, Chương VI: Chính phủ Việt Nam và tình thế trong nước |archive-date=2014-12-21 |archive-url=https://web.archive.org/web/20141221063034/http://vi.wikisource.org/wiki/M%E1%BB%99t_c%C6%A1n_gi%C3%B3_b%E1%BB%A5i/Ch%C6%B0%C6%A1ng_VI |url-status=dead }}</ref> Nhưng theo Việt Minh, cuộc bầu cử diễn ra công bằng<ref name="DDK"/>. Mặc dù bị nhiều đảng phái tuyên truyền vận động dân chúng tẩy chay cuộc bầu cử và ngăn cản việc tổ chức bầu cử ở một số nơi (ở khu Ngũ Xá, có 1 nhóm vũ trang cả [[súng liên thanh]] đến ngăn cản dân phố đi bầu cử, cấm treo cờ đỏ sao vàng, cấm đặt hòm phiếu; ở [[Hải Phòng]] xảy ra cướp hòm phiếu và hành hung cán bộ an ninh, ở [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]] máy bay Pháp bắn vào dân đi bầu cử), nhưng tại các địa phương, ở đâu cũng có người tự ứng cử, các cuộc tiếp xúc tranh cử công khai, tự do diễn ra ở khắp mọi nơi. Đa số đại biểu trúng cử không phải là thành viên Việt Minh<ref name="DDK">[http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1427&Chitiet=30238&Style=1 Mãi mãi ghi nhớ Quốc hội khoá I (17/05/2011)] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20131019135045/http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1427&Chitiet=30238&Style=1 |date = ngày 19 tháng 10 năm 2013}}, Thái Duy, Báo Đại Đoàn Kết, số ra ngày 17/05/2011</ref><ref>{{Chú thích web |url=http://www.na.gov.vn/LSQH1/giai_doan_46-54/gd1b.htm |ngày truy cập=2014-06-19 |tựa đề=Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (6-1-1946) |archive-date = ngày 3 tháng 10 năm 2014 |archive-url=https://web.archive.org/web/20141003095307/http://www.na.gov.vn/LSQH1/giai_doan_46-54/gd1b.htm |url-status=dead }}</ref> Trong hồi ký ''"Những năm tháng không thể nào quên"'', đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định các đảng phái này lo sợ thất bại trước sức ủng hộ lớn của cử tri với mặt trận Việt Minh nên tìm cách chỉ trích và không tham gia bầu cử.<ref>Võ Nguyên Giáp, ''Những năm tháng không thể nào quên'', Nhà xuất bản Trẻ, 2009. Trang 99.</ref>
Sau khi Quốc hội được bầu, ngày [[2 tháng 3]] năm [[1946]], [[Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến]] được thành lập để thay thế [[Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Chính phủ Liên hiệp Lâm thời]]. Ở các địa phương, các cấp chính quyền liên hiệp được thành lập trong năm [[1946]]. Theo thỏa thuận với [[Việt Minh]], phe đối lập bao gồm một số tổ chức như [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội|Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội]] và [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] được Trung Hoa Dân quốc ủng hộ, không tham gia Tổng tuyển cử nhưng vẫn được nắm 70 ghế Quốc hội (Việt Quốc 50 ghế, Việt Cách 20 ghế) cùng một số vị trí trong chính quyền trung ương do chính sách hòa hợp các đảng phái của Chính phủ. 20 thành viên Việt Cách trở thành đại biểu quốc hội bằng 1 sắc lệnh hành pháp. [[Hồ Đắc Thành]] và [[Bồ Xuân Luật]] ứng cử và cũng trở thành đại biểu quốc hội.<ref name="marr412"/> Cùng ngày, quốc hội họp phiên đầu tiên nhưng Nguyễn Hải Thần vắng mặt. Hồ Chí Minh đề cử Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch nước, Nguyễn Đình Tri của Việt Cách làm Bộ trưởng xã hội.<ref name="marr412">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 412-413, California: University of California Press, 2013</ref> Theo [[David G. Marr]], Hồ Chí Minh đồng ý để Nguyễn Hải Thần thay vì 1 lãnh đạo nào đó của Việt Quốc làm Phó Chủ tịch nước vì Thần từng là đồng chí của [[Phan Bội Châu]], được các lãnh đạo Trung Hoa Dân quốc kính trọng và nhất là Thần không có khả năng tự gây dựng cơ sở quyền lực trong nước. Việc Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước cũng gây ra sự chia rẽ bên trong nội bộ Việt Cách có lợi cho Việt Minh.<ref name="David G. Marr 1946 page 412">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 412, California: University of California Press, 2013</ref>
[[Tháng tư|Tháng 4]] năm [[1946]], [[Ủy ban Hành chính Bắc bộ]] ký thỏa thuận với đại diện Việt Quốc tại 4 thị xã nhằm thành lập Ủy ban Hành chính liên hiệp giữa 2 bên. Đầu [[Tháng năm|tháng 5]], Ủy ban Hành chính Bắc bộ cảnh báo với [[Ủy ban tỉnh Bắc Giang]] cần linh hoạt với các thành viên Việt Quốc để duy trì sự đoàn kết đồng thời phải chuẩn bị kế hoạch dự phòng nhằm tránh các tình huống bất thường xảy ra.<ref>David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 422 - 423, California: University of California Press, 2013</ref>
Trong thời gian hoạt động, Chính phủ đã tiếp tục thực hiện các biện pháp, chính sách để giữ vững nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ non trẻ. Về đối nội đã kêu gọi các đảng phái đoàn kết phụng sự quốc gia, thực hiện các chính sách [[kinh tế]], [[quốc phòng]], [[văn hóa]], [[giáo dục]]...<ref>Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tập Hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 315</ref> Hồ Chí Minh giao cho [[Võ Nguyên Giáp]] và [[Trần Quốc Hoàn]], sau này trở thành [[Bộ trưởng Công an Việt Nam|Bộ trưởng Công an]], nhiệm vụ vô hiệu hóa các cuộc biểu tình do [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] và [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội]] tổ chức nhằm chấm dứt hoạt động tuyên truyền của các đảng này trong dân chúng. Võ Nguyên Giáp kể lại: ''"Chúng tôi phải trừng trị bọn phá hoại... Nhưng bằng mọi giá phải tránh khiêu khích và đảm bảo không xảy ra xung đột lớn"''. Võ Nguyên Giáp dùng lực lượng tự vệ và các hội viên [[Hội Cứu Quốc]] phá các cuộc biểu tình này. Khi có lộn xộn, lính Trung Quốc bắn chỉ thiên, xông vào giải tán đám biểu tình để vãn hồi trị an. [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] hoảng hốt khi người Trung Hoa không giúp được gì nhiều trong việc chống lại Việt Minh như họ mong đợi. Ông [[Nguyễn Duy Thanh]], 1 người theo [[chủ nghĩa quốc gia]] buồn rầu nhớ lại: ''"Không có Trung Hoa ủng hộ, những đảng phái theo chủ nghĩa quốc gia chẳng thể đối phó được với những người Cộng sản"''<ref>Cecil B. Currey. CHiến thắng bằng mọi giá. Nhà xuất bản Thế giới. Trang 177 -178</ref>
[[Trường Chinh]], trên [[Báo Sự Thật|báo Sự thật]] ngày [[30 tháng 6|30/6]] đưa ra chủ trương [[đoàn kết dân tộc]]: kẻ thù trước mắt của dân tộc ta là thực dân phản động Pháp. Chúng đang uy hiếp chủ quyền của ta tiến công ta, dùng chiến thuật chính trị: chia rẽ. Chia rẽ dân tộc: đem [[người thiểu số]] chống người Kinh. Chia rẽ Nam Bắc: phỉnh đồng bào Nam Bộ chống đồng bào Bắc Bộ. Chia rẽ giai cấp: làm cho giàu nghèo chống chọi nhau, hằn ghét nhau. Chia rẽ tôn giáo: xui giáo chống lương, xui lương chống giáo; gây nghi ngờ giữa lương và giáo. Chia rẽ đảng phái: lập đảng [[Việt gian]] chống phe yêu nước, khuyến khích đảng nọ chống đảng kia. Thống nhất quốc gia. Đoàn kết dân tộc. Chúng ta đề ra khẩu hiệu "Trung, Nam, Bắc một nhà". Chúng ta lập mặt trận toàn dân đoàn kết, không phân biệt chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị. Chúng ta tham gia Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam.<ref>Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản. Chính trị quốc gia Hà Nội, 2000, t.8, tr. 434-443</ref>. Ý nghĩa của "đoàn kết dân tộc", theo Hồ Chí Minh là liên minh công nhân và nông dân với giai cấp tư sản và địa chủ.
Ngày [[15 tháng 6]] năm [[1946]], người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam<ref name="Currey"/>. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh Hội mất chỗ dựa hậu thuẫn chính là quân đội [[Tưởng Giới Thạch]] và do bất đồng về việc ký [[Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946|Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt]] ngày [[6 tháng 3]] cũng như không muốn sáp nhập quân đội vào biên chế Vệ quốc đoàn dưới sự chỉ huy của Bộ Quốc phòng do Việt Minh kiểm soát do lo sợ bị khống chế rồi bị giải tán dần đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp.<ref name="NTB"/> Lãnh tụ Việt Cách là [[Nguyễn Hải Thần]], lãnh tụ Việt Quốc [[Vũ Hồng Khanh]] trong chính phủ và cánh thân Tưởng do [[Vũ Hồng Khanh]] lãnh đạo lưu vong sang Trung Quốc. Các đảng viên Đại Việt phần lớn vẫn ở lại Việt Nam chờ thời cơ<ref name="vonguyengiap2">Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tập Hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 290</ref>. Mặc dù Hồ Chí Minh giữ độc quyền liên lạc với Pháp với sự trợ giúp của [[Hoàng Minh Giám]] nhưng Nguyễn Tường Tam vẫn thực hiện trách nhiệm của mình một cách nghiêm túc<ref name="Marr422"/>. [[Nguyễn Tường Tam]] với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao dẫn đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia [[Hội nghị Đà Lạt 1946|Hội nghị trù bị tại Đà Lạt]] mặc dù trên thực tế Võ Nguyên Giáp là người lãnh đạo phái đoàn<ref name="Marr422"/>. Theo đại tướng Võ Nguyên Giáp, do bất đồng Tam đã không tham gia hầu hết các phiên họp còn theo [[David G. Marr]] Tam là người phát ngôn có năng lực và giúp giải quyết một số tranh cãi về chiến thuật đàm phán trong đoàn.<ref name="Marr422">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 422, California: University of California Press, 2013</ref><ref>Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi Ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 274</ref>. Sau đó Tam cũng không tham gia [[Hội nghị Fontainebleau 1946|Hội nghị Fontainebleau]], cuối cùng rời bỏ chính phủ<ref name="NTB">[http://lmvn.com/truyen/index.php?func=viewpost&id=c6j6GAnIk1u39gHBrZ4ou5OJb8b4i3nB&ssid=3300 Việt Nam, một thế kỷ qua, Chương 30], Nguyễn Tường Bách, Nhà xuất bản Thạch Ngữ, California, 1998</ref> (tài liệu nhà nước nêu Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường bấp bênh, biển thủ công quỹ, tiền chi phí cho phái đoàn sang Pháp đàm phán, rồi đào nhiệm ra nước ngoài<ref name="Marr422"/><ref>[http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/bng_vietnam/nr050225105543/nr050225105648/nr050302090431/ns050302091503/view Bộ trưởng Nguyễn Tường Tam, Trang web Bộ Ngoại giao]</ref> nhưng theo sử gia David G. Marr việc này khó xảy ra vì Tam khó lòng được giao trách nhiệm giữ tiền của phái đoàn<ref name="Marr422"/>).
Việc các thành viên chủ chốt của Việt Quốc, Việt Cách như [[Nguyễn Hải Thần]], [[Nguyễn Tường Tam]], [[Vũ Hồng Khanh]] rời bỏ chính phủ, lưu vong sang Trung Quốc đã đánh dấu chấm hết cho thời kỳ hợp tác giữa Việt Minh và các đảng phái đối lập tại miền Bắc, trong công cuộc "kháng chiến kiến quốc" mà [[Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến]] là biểu tượng.
===Những hoạt động ngoại giao===
====Ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)====
{{chính|Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)}}
Trong suốt năm [[1946]], mặc dù 2 bên cùng chuẩn bị lực lượng cho chiến tranh, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng hết mức thương lượng với Pháp để cứu vãn hòa bình và đẩy lui thời điểm nổ ra cuộc chiến tranh. [[Tháng hai|Tháng 2]] năm [[1946]], tại [[Lai Châu]], lực lượng vũ trang của Việt Quốc và Vệ quốc quân lần lượt giao tranh nhỏ với Pháp. Việt Quốc rút về [[Lào Cai]] còn Vệ quốc quân rút về [[Sơn La]].<ref name="David G. Marr 1946 page 418-419"/> Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Pháp [[Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)]] cho phép Pháp đưa quân vào miền Bắc đổi lại Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là trong [[Liên bang Đông Dương]] thuộc khối [[Liên hiệp Pháp]].
Trong khi đó Pháp ký [[Hiệp ước Hoa-Pháp]] thỏa thuận với Trung Hoa ngày [[28 tháng 2]] năm [[1946]] để [[Quân đội Trung Hoa Dân Quốc|Quân đội Trung Hoa]] rút khỏi phía bắc vĩ tuyến 16 nhường chỗ cho Pháp đại diện phe Đồng Minh giải giới [[Quân đội Nhật Bản|Quân đội Đế quốc Nhật Bản]]. Trước đó, ngày 26 tháng Giêng đại diện Pháp và Trung Hoa dân quốc thảo luận, Trung Hoa dân quốc tuyên bố muốn loại bỏ chính phủ cộng sản, ủng hộ chính quyền thân Trung Quốc được thành lập ở Hà Nội và đàm phán với Pháp, cùng chống Việt Minh. Nhưng phía Pháp đã bác bỏ, chủ trương đàm phán với Việt Minh.
Đảng Cộng sản Đông Dương (khi đó lui vào hoạt động bí mật), Thường vụ Trung ương ngày [[3 tháng 3]] năm [[1946]] tuyên bố thì nếu Pháp cho Đông Dương tự trị thì kiên quyết đánh, nhưng nếu cho Đông Dương tự chủ thì hòa để phá tan âm mưu của "bọn Tàu trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít Pháp còn lại". Ngày [[24 tháng 3]] (sau khi Hiệp định được ký) chỉ thị của Đảng Cộng sản cho thấy mục đích ký Hiệp định này để tránh tình thế bất lợi "phải cô lập chiến đấu cùng 1 lúc với nhiều lực lượng phản động (thực dân Pháp, Tàu trắng, bọn phản cách mạng trong nước)"<ref name="vankien">Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng: Hoà để tiến, ngày 9-3-1946, Văn kiện Đảng toàn tập, [http://www.daihocluathn.edu.vn/images/stories/Hoc%20lieu/Duong%20loi%20cach%20mang%20cua%20DCS%20VN/9._vkien_dcs_tt_t8-_chi_thi_cua_ban_thuong_vu_tw_hoa_de_tien_9.3.1946.doc online]{{Liên kết hỏng|date = ngày 28 tháng 1 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }}</ref>, tập trung đối phó với người Pháp và "các đảng phái phản động"<ref name="vankien" />. Để tránh mũi nhọn của 2 kẻ thù có thể đồng thời tấn công, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp tiến ra Bắc để nhanh chóng loại bỏ nguy cơ của 20 vạn quân Tưởng.
Ngày [[16 tháng 2]], [[Jean Sainteny]] gặp Hồ chí Minh và thỏa thuận cụm từ "tự trị" sau đó được chấp nhận bởi chính phủ Pháp. Tuy nhiên đến Hiệp định sơ bộ [[6 tháng 3]], sử dụng cụm từ "[[tự do]]" thay cho cụm từ "[[độc lập]]" hay "tự trị". Việt Minh muốn Pháp phải thừa nhận Việt Nam đã có 1 [[chính phủ]], [[quốc hội]], [[quân đội]] để đi đến 1 nền độc lập thực sự, trong khi phía Pháp có sự chia rẽ. Đối với những người tin tìm thấy những lợi ích của Pháp là sự độc lập của Việt Nam sẽ được giới hạn bởi các liên kết của nó với các nước Đông Dương khác. Lúc này khởi đầu [[Chiến tranh Lạnh]], [[Marius Moute]] muốn Nam Kỳ tách ra khỏi ảnh hưởng của Việt Nam thống nhất dưới sự điều khiển của Việt Minh, lập 1 chế độ ở Sài Gòn và sau đó, sẽ 1cuộc họp sơ bộ của các quốc gia ở Đông Dương được tổ chức mà không có sự hiện diện của chính phủ Việt Nam tại Hà Nội.
Từ ngày [[3 tháng 3|3]] đến [[6 tháng 3]] năm [[1946]], Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Pháp, Trung Quốc đàm phán 3 bên. Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh không tham gia cuộc đàm phán này dù Nguyễn Tường Tam là Bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tam cũng không có mặt trong cuộc họp nội các khi Hồ công bố thỏa thuận với Sainteny.<ref name="Marr420">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 420-421, California: University of California Press, 2013</ref>
Ngày [[6 tháng 3]] năm [[1946]], '''[[Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)|Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946]]''' được ký kết giữa [[Jean Sainteny]], đại diện chính phủ [[Pháp|Cộng hòa Pháp]], và [[Hồ Chí Minh]] cùng [[Vũ Hồng Khanh]] (giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến), đại diện chính phủ [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]]. Nguyễn Hải Thần đã rời Hà Nội nên chỉ có Hồ Chí Minh ký kết hiệp định này.<ref name="marr412"/> Tuy tham dự lễ ký kết Hiệp định nhưng Nguyễn Tường Tam từ chối ký Hiệp định này còn Vũ Hồng Khanh miễn cưỡng ký Hiệp định<ref name="Marr420"/>. Nội dung của Hiệp định bao gồm các điểm chính sau đây:
* Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là 1 quốc gia tự do trong [[Liên bang Đông Dương]] thuộc khối [[Liên hiệp Pháp]], có chính phủ, [[nghị viện]], quân đội và tài chính riêng.
* Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân [[Trung Quốc Quốc dân Đảng|Trung Hoa Quốc dân đảng]] để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Pháp hứa sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 3.000 quân.
* Pháp đồng ý thực hiện [[trưng cầu dân ý]] tại [[Nam Kỳ]] về việc thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
* 2 bên thực hiện [[ngưng bắn]], giữ nguyên quân đội tại vị trí hiện thời để đàm phán về chế độ tương lai của Đông Dương, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và nước ngoài và những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
Về phía người Pháp, Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt giúp họ danh chính ngôn thuận khi đưa quân đội ra miền Bắc Việt Nam để chuẩn bị tái chiếm Đông Dương như họ đã làm ở Nam Việt Nam,<ref>Philippe Devillers. Paris - Saigon - Hanoi, Tài liệu lưu trữ về cuộc chiến tranh 1944-1947. Nhà xuất bản Tổng hợp. Thành phố Hồ Chí Minh. 2003. trang 218 ''(bản dịch của Hoàng Hữu Đản)''</ref> đồng thời Hiệp ước Hoa-Pháp giúp họ tránh khỏi sự ngăn cản của các tướng lĩnh Trung Hoa Quốc dân đảng; đổi lại Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là 1 quốc gia tự do trong [[Liên bang Đông Dương]] thuộc khối [[Liên hiệp Pháp]], có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Đó là những điều kiện mà quân đội Pháp đồng ý để lấy lại 1 chỗ đứng tại Bắc Kỳ. Sainteny không đồng ý ký 1 tài liệu sử dụng từ "độc lập", ông chỉ đồng ý sử dụng từ "Nhà nước tự do". Ngược lại, Hồ Chí Minh cho rằng "Nhà nước tự do" của ông chịu 2 tầng "xiềng xích" của Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp.<ref name="Stéphane Just 1979"/>
Nhiều thành viên Việt Quốc tức giận khi Vũ Hồng Khanh ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946). Học viên và hiệu trưởng trường đảng Nguyễn Thái Học của Việt Quốc kéo đến trụ sở đảng chất vấn Khanh. Tại cuộc họp khẩn cấp [[Ban chấp hành Trung ương Việt Quốc]], nhiều đảng viên chỉ trích Khanh là kẻ độc tài vì ra quyết định quan trọng như vậy mà không thảo luận trước. một số chi bộ Việt Quốc cách xa Hà Nội cắt đứt quan hệ với lãnh đạo trung ương và phản đối chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hợp tác với Pháp. Ban chấp hành Trung ương Việt Quốc cử [[Lê Khang]] tới các địa phương để giải thích hoàn cảnh chính trị và lập lại kỷ luật đảng.<ref name="Marr421">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 421, California: University of California Press, 2013</ref>
Thời điểm đó, nhiều người Việt hoang mang về việc Hiệp định sơ bộ đã mở đường cho quân Pháp quay trở lại miền Bắc. Trong 1 buổi họp Quốc hội, Hồ Chí Minh đã giải thích mục đích của bản hiệp định này là để nhanh chóng loại bỏ nguy cơ lớn và lâu dài hơn từ 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc của [[Tưởng Giới Thạch]]<ref>[http://tuanbaovannghetphcm.vn/chuyen-nguoi-chuyen-ta/ Chuyện người chuyện ta] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20171205094540/http://tuanbaovannghetphcm.vn/chuyen-nguoi-chuyen-ta/ |date=2017-12-05 }}, Nguyễn Văn Thịnh, Tuần báo Văn Nghệ TP.HCM, số 456</ref>:''“Các vị quên lịch sử đất nước ta rồi sao? Nếu quân Tưởng ở lại thì chúng nó sẽ ở lại luôn hàng ngàn năm!”''
Trước đó, ngày [[28 tháng 2]] năm [[1946]], chính phủ Pháp và chính phủ Tưởng Giới Thạch đã ký kết 1 Hiệp định tại [[Trùng Khánh]] (Trung Quốc), theo đó quân Pháp sẽ được thay thế quân Trung Hoa ở miền Bắc Việt Nam (từ ngày [[1 tháng 3|1]] đến [[31 tháng 3]] năm [[1946]]), bù lại Pháp sẽ trả lại một số [[tô giới]] ở Trung Quốc. Dù không có Hiệp định sơ bộ thì quân Pháp vẫn sẽ tiến ra miền Bắc thay thế quân Trung Hoa. Do vậy, việc ký Hiệp định sơ bộ theo Hồ Chí Minh nhận định thì sẽ chẳng gây tổn hại gì, mà còn ''“mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta, sẽ dẫn ta đến một vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế”''<ref>[https://vov.vn/the-gioi/ho-so/hiep-dinh-so-bo-631946-nuoc-co-sac-sao-cua-ho-chu-tich-va-dang-ta-486107.vov Hiệp định sơ bộ 6/3 năm 1946 nước cờ sắc sảo của Hồ chủ tịch và đảng ta], VOV</ref>.
Sau khi ký Hiệp định sơ bộ, trong cuộc mít tinh ngày [[7 tháng 3]] năm [[1945|1946]], Hồ Chí Minh giải thích về việc ký kết hiệp định "''Chúng ta trên thực tế đã độc lập từ [[Tháng tám|tháng 8]] năm [[1945]], nhưng cho đến nay chưa có [[cường quốc]] nào công nhận độc lập của chúng ta. Bản hiệp định ký với nước Pháp này mở đường cho sự công nhận của quốc tế. Bản hiệp định sẽ dẫn chúng ta đến 1 vị trí quốc tế ngày càng vững vàng và đó là 1 thắng lợi chính trị lớn lao. Quân đội Pháp sẽ đến theo lệnh của các nước Đồng Minh. Họ chỉ có 15.000 người và chỉ ở lại trong 5 năm nữa, sau đó họ sẽ rút khỏi nước ta. Chọn thương lượng thay vì đánh nhau chính là bằng chứng hiểu biết về chính trị. Thực vậy, vì sao lại đi hy sinh 50 hoặc 100 ngàn người trong khi chúng ta có khả năng bằng con đường thương lượng mà đi đến độc lập có thể trong 5 năm''". Còn Võ Nguyên Giáp phân tích "''Những người không thỏa mãn chỉ hiểu độc lập hoàn toàn như 1 khẩu hiệu, 1 nhật lệnh, trên giấy tờ hoặc ngoài cửa miệng. Họ không thấy rằng độc lập của đất nước là kết quả của những điều kiện khách quan và trong cuộc chiến đấu giành độc lập của chúng ta, phải biết cương nhu tùy lúc... Chúng ta đã chọn con đường thương lượng nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh giành độc lập hoàn toàn, nhằm có thể đợi chờ cơ hội đi đến 1 nền độc lập nguyên vẹn''".<ref name="Devillers1">Paris - Saigon - Hanoi, trang 180-182, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh</ref> Ngày [[12 tháng 3]] năm [[1946]], bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Tường Tam tuyên bố "''Trung Quốc và Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ cho hòa bình ở [[Viễn Đông]]... Trong lúc chờ đợi nước Pháp và nước Việt Nam lập lại được 1 nền hòa bình vững chắc, nước Mỹ phải giúp đỡ chúng ta về mọi phương diện hoàn toàn như Trung Quốc''"<ref name="Devillers184">Philippe Devillers. Paris - Saigon - Hanoi, Tài liệu lưu trữ về cuộc chiến tranh 1944-1947. Nhà xuất bản Tổng hợp. Thành phố Hồ Chí Minh. 2003. trang 184</ref>.
Sau khi Sainteny ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt với chính phủ Hồ Chí Minh, tại Nam Kỳ Cédille liên hệ [[Nguyễn Bình]] đề nghị ký hiệp ước hòa bình giữa Pháp và lực lượng kháng chiến Nam Bộ. Ngày [[20 tháng 3|20/3]] năm [[1946]], 2 bên gặp nhau tại [[miếu Bà Cố]] cách Biên Hòa 10 km. Cédille đề nghị phía Việt Nam phải giải tán dân quân, nạp khí giới cho Pháp thì quân Pháp sẽ đồng ý hợp tác. Phái đoàn Việt Nam không đồng ý và trở về căn cứ kháng chiến.<ref>Hồi ký 1925 - 1964, tập 2, trang 305, Nguyễn Kỳ Nam, Nhật báo Dân Chủ Mới, 1964</ref>
====Hội nghị Fontainebleau và Tạm ước Việt - Pháp====
{{Bài chi tiết|Hội nghị Fontainebleau 1946}}
{{Bài chi tiết|Tạm ước Việt - Pháp}}
[[Tập tin:Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng tại Paris.jpg|nhỏ|trái|282x282px|Hồ Chí Minh và [[Phạm Văn Đồng]] tại [[Paris]], [[1946]]]]
Ngày [[31 tháng 5]] năm [[1946]], phái đoàn chính phủ do [[Phạm Văn Đồng]] dẫn đầu khởi hành sang Pháp tham dự [[Hội nghị Fontainebleau 1946|Hội nghị Fontainebleau]] tiếp tục đàm phán về các điều khoản đề ra theo Hiệp định sơ bộ [[6 tháng 3]]. Cùng ngày, [[Chủ tịch]] [[Hồ Chí Minh]] cũng lên đường sang Pháp tiếp xúc với chính giới Pháp và cộng đồng [[người Việt tại Pháp]]. Nội dung chương trình nghị sự được 2 đoàn thoả thuận là sẽ thảo luận về các vấn đề như (đã nêu tại Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3):<ref>Phạm Văn Đồng tiểu sử, Chương 4: [http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/cac-ban-dang-trung-uong/books-010520158520846/index-2105201584444467.html CÙNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 - 1954)] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20171205143538/http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/cac-ban-dang-trung-uong/books-010520158520846/index-2105201584444467.html |date=2017-12-05 }}, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2007</ref>
*Địa vị của Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, về quan hệ ngoại giao của Việt Nam.
*Quan niệm tổng quát về Liên bang Đông Dương.
*Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và việc trưng cầu dân ý.
*Chi tiết về Liên bang Đông Dương và vấn đề quyền lợi kinh tế của Pháp ở Đông Dương.
*Dự thảo Hiệp ước.
[[Hội nghị Fontainebleau 1946|Hội nghị Fontainebleau]] sau đó diễn ra kéo dài hơn 2 tháng, từ [[6 tháng 7]] đến [[10 tháng 9]] năm [[1946]] nhưng không đem lại kết quả cụ thể nào vì 2 bên đã bế tắc ở 2 điểm bất đồng then chốt:<ref name="How">Tønnesson, Stein. ''Vietnam 1946: How the War Began''. Berkeley, CA: California University Press, 2010. tr 83-85</ref>
*Việc thống nhất [[Nam Kỳ]] vào nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bao gồm [[Bắc Kỳ]] và [[Trung Kỳ]]).
*Độc lập chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Quan điểm của Pháp bác bỏ độc lập mà chỉ xét tự trị hay độc lập trong khuôn khổ [[Liên hiệp Pháp]]. Hơn nữa họ đòi là phải tái lập trật tự trước tiên rồi sau đó sẽ mở cuộc [[trưng cầu dân ý]] ở [[Nam Kỳ]] về vấn đề thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điểm gây nhiều khó khăn nhất là việc chính phủ Pháp đã đơn phương cho phép thành lập [[Cộng hòa tự trị Nam Kỳ|Nam Kỳ quốc]] theo tinh thần [[Tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945]] của tướng De Gaulle, tách rời khu vực này khỏi những phong trào độc lập ở 2 miền [[Miền Bắc (Việt Nam)|Bắc]] và [[Miền Trung (Việt Nam)|Trung]]. Ngày [[27 tháng 5]], [[Toàn quyền Đông Dương|Cao ủy Đông Dương]] [[Georges Thierry d'Argenlieu|Georges D'Argenlieu]] tiếp tục thông qua việc thành lập [[Xứ Thượng Nam Đông Dương]], chia cắt Việt Nam thành nhiều mảnh.<ref name="Chương3">Lê Đình Chi. ''Người Thượng Miền Nam Việt Nam''. Gardena, CA: Văn Mới, 2006. tr 569-612</ref><ref name="Anarchy">Duncanson, Dennis. ''Government and Revolution in Vietnam''. New York: Oxford University Press, 1968. tr 165</ref>
Việt Nam nhượng bộ về mọi mặt: [[kinh tế]], [[tài chính]] và [[quân sự]] nhưng phái đoàn Việt Nam đòi Pháp ấn định thời hạn để thực hiện cuộc [[trưng cầu dân ý]] ở Nam Kỳ. Thấy Pháp chần chừ không trả lời dứt khoát, phái đoàn [[Việt Nam]] bỏ bàn hội nghị ra về ngày [[13 tháng 9]]. [[Hội nghị Fontainebleau 1946|Hội nghị Fontainebleau]] vì vậy tan vỡ.
Tuy nhiên Hồ Chí Minh và Bộ trưởng [[Bộ Thuộc địa Pháp]] [[Marius Moutet]] không chấp nhận thất bại. Trong khi Phạm Văn Đồng bỏ về nước, Hồ Chí Minh, [[Hoàng Minh Giám]] và [[Dương Bạch Mai]] nán lại [[Paris]]. Nhằm cứu vớt hòa bình lần cuối Hồ Chí Minh thảo 1 bản nghị ước vào chiều ngày [[11 tháng 9]] và trao cho [[Marius Moutet]].<ref>Pierre Quatrpoint. Sự mù quáng của tướng De Gaulle đối với cuộc chiến ở Đông Dương. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008. trang 77 ''(bản tiếng Việt do Đặng Văn Việt dịch)''</ref> 3 ngày sau, [[14 tháng 9]] năm [[1946]], Marius Moutet hồi đáp với 1 bản nghị ước khác. Đạt được đồng thuận, Hồ Chí Minh đã đến tư dinh của Marius Moutet lúc nửa đêm ngày [[14 tháng 9]] năm [[1946]] để ký văn bản này, tức [[Tạm ước Việt - Pháp]] (''Modus vivendi'').<ref name="How"/>
[[Tập tin:Vietnam France modus vivendi.JPG|nhỏ|262x262px|Hồ Chí Minh và Marius Moutet bắt tay sau khi ký Tạm ước Việt - Pháp]]
Trong bản Tạm ước này, 2 bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp cùng bảo đảm với nhau về quyền tự do của [[kiều dân]], chế độ tài sản của 2 bên; thống nhất về các vấn đề như: hoạt động của các trường học Pháp, sử dụng đồng bạc Đông Dương làm tiền tệ, thống nhất thuế quan và tái lập cải thiện giao thông liên lạc của Liên bang Đông Dương, cũng như việc thành lập ủy ban tạm thời giải quyết vấn đề ngoại giao của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cam kết ưu tiên dùng người Pháp làm cố vấn hoặc chuyên môn, và 2 bên đã đồng ý chấm dứt mọi hành động xung đột, vũ lực cũng như tuyên truyền chống đối nhau, phóng thích tù nhân chính trị, bảo đảm không truy bức người của bên kia, và hợp tác để những kiều dân 2 bên không làm hại nhau. Tạm ước cam kết sẽ có 1 nhân vật do Việt Nam chỉ định và Chính phủ Pháp công nhận được uỷ nhiệm cạnh thượng sứ để xếp đặt cộng tác thi hành những điều thoả thuận này. Cuối cùng, Chính phủ 2 bên sẽ sớm tiếp tục đàm phán (chậm nhất là vào [[Tháng một|tháng 1]] năm [[1947]]) để tìm cách ký kết những bản thoả thuận riêng nhằm dọn đường cho 1 hiệp ước chung dứt khoát.<ref>Ban nghiên cứu lịch sử Đảng. Văn kiện Đảng (1945-1954). Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội. 1978, trang 256-260</ref><ref>Hồ Chí Minh. Toàn tập - Tập 4. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2000. trang 328-330</ref> Tạm ước này sẽ được thi hành bắt đầu từ ngày [[30 tháng 10|30/10]] năm [[1946]].<ref name="How"/>
Sau khi ký Tạm ước Việt Pháp, Hồ Chí Minh bị Việt Quốc và Việt Cách chỉ trích phản bội và hợp tác với Pháp đồng thời yêu cầu ông từ chức. Tại kỳ họp thứ 2 [[Quốc hội Việt Nam khóa I|Quốc hội khóa I]], [[Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I|Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] đã phê chuẩn Tạm ước Việt Pháp, biểu quyết tín nhiệm Hồ Chí Minh và yêu cầu ông thành lập nội các mới<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 623</ref>. Tại miền Nam, ngày [[28 tháng 10]] năm [[1946]], Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ theo chỉ thị của Chính phủ Trung ương ra tuyên bố sẵn sàng thành thực thi hành Tạm ước Việt Pháp và chống lại mọi hành động phá hoại Tạm ước đồng thời kêu gọi dân chúng giữ kỷ luật, thi hành đúng những mệnh lệnh của Chính phủ và tránh mọi hành động khiêu khích<ref>[http://baochi.nlv.gov.vn/baochi?a=d&d=WNyf19461106.2.4# Thi hành Tạm ước], Báo Cứu Quốc, Số 397, 6 Tháng Mười Một 1946</ref>.
Trong khi đó, ngày [[6 tháng 8]], Cao ủy Pháp đã tổ chức 1 hội nghị tại [[Đà Lạt]] để nghiên cứu tình hình Liên bang Đông Dương trong Liên hiệp Pháp với đại diện của [[Campuchia thuộc Pháp|Campuchia]], [[Lào thuộc Pháp|Lào]], [[Nam Kỳ]] và [[Duyên hải Nam Trung Bộ|Nam Trung Bộ]]. Ngày [[14 tháng 8]], các bên tham gia Hội nghị khuyến nghị thành lập 1 Quốc hội liên bang của các nhà nước.<ref name="vietnamgear1946" /> Nhân dân Sài Gòn tổ chức bãi công để phản đối.<ref>Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Mmh: Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh (1930-1954), sơ thảo, Nhà xuất bản. Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, t.1</ref>
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua Hiến pháp đầu tiên khẳng định nền độc lập ngày [[8 tháng 11]] năm [[1946]] (lúc này Quốc hội được chia thành các nhóm: [[Marxist]], [[Việt Minh]], [[Dân chủ]], [[Xã hội]], [[Việt Nam Quốc dân Đảng|Việt Quốc]], [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội|Việt Cách]], [[Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam|Tổng liên đoàn lao động]], không đảng phái). Trước đó, 1 Chính phủ mới được thành lập được báo Cứu quốc mô tả "''Các đảng phái từ tả sang hữu đều ủng hộ Chính phủ mới''". [[Ủy ban Quân sự Việt - Pháp]] vẫn làm việc, tuy nhiên phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa liên tục tố cáo Pháp vi phạm Thỏa ước. Mặc dù vậy, ngày [[20 tháng 2]] năm [[1947]], khi chiến tranh đã nổ ra, Hồ Chí Minh vẫn gửi thư - thông qua [[Lãnh sự Anh]] - đến Tổng thống Pháp kêu gọi hòa bình. Ông viết "''...chúng tôi muốn được thống nhất và độc lập trong Liên hiệp Pháp; chúng tôi muốn, một nền hòa bình đích thực sẽ làm vinh danh cho cả Pháp và Việt Nam''".<ref name="vietnamgear1947" />
====Kêu gọi sự công nhận và ủng hộ của các cường quốc====
[[Tập tin:HoChiMinhTelegramToTruman1946.png|nhỏ|phải|Bức điện Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] gửi Tổng thống Mỹ [[Harry S. Truman]] kêu gọi sự ủng hộ của Mỹ nhưng không được đáp lại|296x296px]]
Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư cho nhiều nguyên thủ quốc gia trên thế giới kêu gọi công nhận nhà nước Việt Nam mới được thành lập cũng như tranh thủ sự ủng hộ nhưng không nhận được hồi âm ([[Tổng thống Hoa Kỳ]] [[Harry S. Truman]]<ref>[http://rationalrevolution.net/war/collection_of_letters_by_ho_chi_.htm Collection of Letters by Ho Chi Minh]. Bức thư này không được trả lời cũng như không được công bố trước công chúng tới tận năm 1972</ref>, [[Lãnh tụ Liên Xô]] [[Iosif Vissarionovich Stalin|Stalin]], [[Tổng thống Pháp]] [[Léon Blum]], [[Bộ trưởng Thuộc địa Pháp]] [[Marius Moutet]] và [[Nghị viện Pháp]],…). Từ giữa [[Tháng mười|tháng 10]] năm [[1945]]-[[Tháng ba|3]] năm [[1946]], Hồ Chí Minh đã gửi nhiều điện tín cho [[Tổng thống]], [[Bộ trưởng Ngoại giao]], [[Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại]] [[Thượng viện Hoa Kỳ|Thượng viện Mỹ]] và [[Liên Hợp Quốc]] kêu gọi [[Hoa Kỳ|Mỹ]] và Liên Hợp Quốc can thiệp vào Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc của [[Hiến chương Đại Tây Dương]] và vì lý do nhân đạo nhưng không đến được tay những người có thẩm quyền do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được Mỹ công nhận nên không được hồi đáp<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 619</ref>. Hồ Chí Minh cũng viết thư cho Stalin thông báo về sự ra đời của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đề nghị Liên Xô đưa vấn đề độc lập của Việt Nam vào chương trình nghị sự của Liên hiệp quốc nhưng cũng không được hồi đáp. Vào thời điểm này, Liên Xô quan tâm đến châu Âu hơn Đông Dương.<ref name="Goscha">Courting Diplomatic Disaster? The Difficult Integration of Vietnam into the Internationalist Communist Movement (1945–1950), Christopher E. Goscha, Journal of Vietnamese Studies, Vol. 1, No. 1-2 (February/August 2006), [http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9208&rb=0102 bản dịch tiếng Việt]</ref> Trong lúc đó, những người Việt Nam theo [[chủ nghĩa Quốc gia]] và những người Pháp ủng hộ [[chủ nghĩa thực dân]] qua những mối quan hệ với giới chính trị Trung Quốc và Pháp đã tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh là tay sai trung thành của Liên Xô. Ngày [[5 tháng 12]] năm [[1946]], khi A.B. Moffat, [[Vụ trưởng Vụ Đông Nam Á]] thuộc [[Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ|Bộ ngoại giao Mỹ]], đến thăm Đông Dương, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Acheson có điện tín chỉ dẫn trong trường hợp gặp Hồ Chí Minh "''phải luôn nhớ rằng ông Hồ đã được xác định là một tay sai của Quốc tế Cộng sản''", hàm ý rằng Mỹ sẽ không công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 622-623</ref> Thậm chí Hồ Chí Minh còn không nhận được sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp đang tham gia liên minh cầm quyền trong việc giúp ông giành độc lập dân tộc<ref name="bbc1234"/>.
Ngay sau khi ký Hiệp định sơ bộ ngày [[6 tháng 3]] năm [[1946]], Hồ Chí Minh được nội các đồng ý đã gửi 1 phái đoàn ngoại giao đến Trùng Khánh để tái khẳng định tình hữu nghị Việt - Trung và để thăm dò việc Tưởng Giới Thạch muốn 2 nước sẽ có quan hệ thế nào sau khi ký Hiệp ước Hoa-Pháp. Thứ trưởng Ngoại giao [[Nghiêm Kế Tổ]], 1 thành viên Việt Quốc có nhiều mối quan hệ ở Trung Quốc, làm trưởng đoàn, 2 người còn lại là thành viên Việt Minh. Đêm trước khi 3 người khởi hành, Hồ Chí Minh cử Cố vấn [[Bảo Đại|Vĩnh Thụy]] (Bảo Đại) đi cùng. Ban đầu cả Nghiêm Kế Tổ và Bảo Đại đều phản đối ý tưởng này nhưng sau khi họp với Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh họ thay đổi ý kiến. Theo David G. Marr, Hồ Chí Minh muốn ngăn cản tướng [[Philippe Leclerc de Hauteclocque|Leclerc]] lôi kéo Bảo Đại trong khi các nhà lãnh đạo Việt Quốc lại thấy Bảo Đại có thể trở thành lãnh tụ của 1 chính phủ mới của phe Quốc gia được Trung Quốc và Hoa Kỳ ủng hộ. Ngày [[13 tháng 4]] năm [[1946]], đoàn công tác về đến Hà Nội còn Bảo Đại vẫn ở lại Trùng Khánh rồi sang [[Hồng Kông]] sống lưu vong cho đến khi những người Việt Quốc gia lưu vong khác đến gặp ông năm [[1947]].<ref>David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 421-422, California: University of California Press, 2013</ref>
=== Trấn áp các đảng phái đối lập===
Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945, các tổ chức chính trị thân Pháp ngừng hoạt động, lãnh đạo các tổ chức này tránh lộ diện công khai. Các đảng phái khác tăng cường hoạt động nhờ sự tê liệt của [[Sở Liêm phóng Đông Dương]] do các viên chức Pháp bị cầm tù. Các đảng phái thân Nhật hoạt động công khai, xuất bản báo chí, hội họp, thăm dò mức độ ủng hộ của Nhật. Các đảng phái đứng về phe Đồng Minh tích cực hoạt động để chuẩn bị cho cuộc đổ bộ của Đồng Minh vào Đông Dương đồng thời lên án các đảng phái thân Nhật. Từ tháng 7 năm 1945, bạo lực chính trị bắt đầu gia tăng nhưng lãnh đạo các đảng phái và các trí thức thuộc các khuynh hướng khác nhau vẫn gặp gỡ trao đổi thông tin và thảo luận về việc thành lập các liên minh chống thực dân Pháp.<ref name="David G. Marr1">David G. Marr, [http://books.google.com.vn/books?id=Y0TBgbhSYuEC&pg=PA406&lpg=PA406&dq=It+was+the+competition+for+recruits,+donations,+and+Chinese+patronage&source=bl&ots=YdNcmFcmBE&sig=UwF4_R_ZfosPP3tgVTx3SGKLJIY&hl=vi&sa=X&ei=lvtBVOShNobOmwXrn4G4Bg&ved=0CCIQ6AEwAA#v=onepage&q=It%20was%20the%20competition%20for%20recruits%2C%20donations%2C%20and%20Chinese%20patronage&f=false Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946)], page 406, California: University of California Press, 2013</ref>
[[Tập tin:Viet Minh poster 1945.jpg|thumb|Truyền đơn của Việt Minh kêu gọi tiêu trừ [[Việt gian]]]]
Từ cuối năm 1945, sau khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Lãnh đạo các đảng phái quốc gia đối lập với Việt Minh rất phẫn nộ vì thấy Việt Minh đơn phương thành lập chính quyền và mong muốn giành lại chính quyền từ tay Việt Minh<ref name="Devillers">Paris - Saigon - Hanoi, trang 127, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh</ref>. Các đảng phái đối lập đẩy mạnh các biện pháp chống lại chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các biện pháp của những đảng phái đối lập này rất đa dạng, bao gồm: tuyên truyền, kích động biểu tình có vũ trang<ref name="marr1" />, kêu gọi [[Trung Hoa Dân quốc]] can thiệp, ám sát các cán bộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thậm chí âm mưu [[đảo chính]] lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa<ref name=daiviet />
Theo Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay sau khi giành được độc lập, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối mặt với các thế lực đế quốc và tay sai trong nước đã cấu kết, bao vây, chống phá hòng thủ tiêu mọi thành quả của cuộc [[Cách mạng tháng 8]], nhằm khôi phục lại sự thống trị đối với Việt Nam, xoá bỏ nền độc lập mà dân tộc Việt Nam vừa giành được. Các đảng phái dựa vào quân Tưởng, quân Anh và Pháp liên tục tuyên truyền, gây rối chống phá chính phủ, buộc chính phủ phải ban hành các sắc lệnh giải tán đồng thời trấn áp mạnh tay với các phần tử, đảng phái muốn tiêu diệt, lật đổ chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.<ref>[http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30061&cn_id=210416 Giữ vững chính quyền cách mạng trong những năm 1945 - 1946 ] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20140315185539/http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30061&cn_id=210416 |date=2014-03-15 }}, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam</ref>
Ngay sau khi thành lập, [[Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Chính phủ Cách mạng Lâm thời]] ban hành các sắc lệnh giải tán một số đảng phái<ref name="saclenh8">{{Chú thích web |url=http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?docid=7&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText= |title=SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 8 NGÀY 5 THÁNG 9 NĂM 1945 |access-date=2013-11-02 |archive-date=2021-02-11 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210211101945/http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?docid=7&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText= |url-status=dead }}</ref><ref name="saclenh30">[http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?docid=30&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText= SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 30 NGÀY 12 THÁNG 9 NĂM 1945]</ref>, với lý do các đảng này "tư thông với ngoại quốc", làm "phương hại đến nền độc lập Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam" (như [[Việt Nam Quốc xã]], [[Đại Việt Quốc dân đảng]]...) nhằm kịp thời "trừng trị bọn phản cách mạng, bảo vệ chính quyền non trẻ" đồng thời giáo dục ý thức về tinh thần cảnh giác cho nhân dân.<ref name="BuiLam">{{Chú thích web |url=http://tapchikiemsat.org.vn/viewtopic/phap-luat-78/Nho-bac-Bui-Lam-630.html |ngày truy cập=2012-01-11 |tựa đề=Nhớ mãi về bác Bùi Lâm, Tạp chí Kiểm sát |archive-date = ngày 11 tháng 1 năm 2012 |archive-url=https://web.archive.org/web/20120111184416/http://tapchikiemsat.org.vn/viewtopic/phap-luat-78/Nho-bac-Bui-Lam-630.html |url-status=dead }}</ref> Ngày 6 tháng 9, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt giam [[Võ Văn Cầm]], thủ lĩnh [[Đảng Việt Nam Thanh niên ái quốc]] với tội danh dẫn quân Nhật tìm đánh Việt Minh<ref>báo Cứu Quốc, 9 Tháng Chín 1945, tr.1</ref>. Báo Cứu Quốc, số ra ngày 7 tháng 9 năm 1945 đăng tin của Bộ tuyên truyền và cổ động "''Dưới thời đô hộ của Nhật, nhiều người đã quá nông nổi, hoặc đã bị hướng dẫn sai lầm, nên vô tình gia nhập vào những đảng có tính cách phản quốc. Chính phủ hiểu rõ chỗ lầm lẫn đáng tiếc đó và sẵn sàng tha thứ cho những người con của Tổ quốc đã lầm đường, trừ những lãnh tụ đã có những hành vi phản quốc rõ rệt...''".<ref>báo Cứu Quốc, 7 Tháng Chín 1945, tr.2</ref>
Sự có mặt của quân đội Trung Hoa ([[Tưởng Giới Thạch]]) là chỗ dựa đảm bảo sự tồn tại của các nhóm đối lập thân [[Trung Hoa]] như Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội. Hai đảng này không có một chương trình gắn kết với nhau để tranh thủ dân chúng như Việt Minh. Những người lãnh đạo Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội thì còn xa mới có được những phẩm chất có thể so sánh với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và những người có trách nhiệm khác của [[Việt Minh]]. Sự chống đối của các đảng phái khiến [[Võ Nguyên Giáp]] rất tức giận vì nó làm cản trở các nỗ lực của Chính phủ để đối phó với Pháp, cũng như khiến chính phủ phải liên tục đề phòng quân đội Trung Hoa. Có những lần các đơn vị tự vệ thu nhặt những tờ truyền đơn do các đảng đối lập thân [[Trung Hoa]] rải trên phố phường, lập tức [[Hồ Chí Minh]] bị quân đội Trung Hoa gọi đến trụ sở và bị răn đe. Võ Nguyên Giáp đề nghị dẹp bỏ những đảng phái chống đối để Chính phủ có thể loại trừ nguy cơ [[đảo chính]] và yên tâm đối phó với Pháp, nhưng Hồ Chí Minh khuyên ông kiên nhẫn vì ''"ném chuột phải tránh vỡ bình quý"'', chẳng có gì phải sợ các đảng phái đối lập vì họ quá yếu kém, ''"nhưng họ có những kẻ chống lưng"'' (hàm ý là phải nín nhịn để tránh xung đột với quân đội [[Tưởng Giới Thạch]])<ref>Ho Chi Minh. A life. P 315</ref>.
Sau khi Hiệp định sơ bộ được ký với Pháp vào tháng 3 năm 1946, quân Pháp sẽ ra miền Bắc thay thế quân Trung Hoa. Các nhóm đối lập thân [[Trung Hoa]] sợ bị mất chỗ dựa. Các nhóm này đã cài người vào đám đông để kích động nhân dân gây bạo loạn nhằm tìm cách phá bỏ hiệp định<ref name="Ho Chi Minh. A life. P 345">Ho Chi Minh. A life. P 345</ref>. Tại ngoại ô Hà Nội dân chúng biểu tình phản đối vì cho rằng Hồ Chí Minh thỏa hiệp với Pháp<ref name="kynam359"/>. Ngày 7 tháng 3 năm 1946, khi hàng vạn người dân tập trung tại quảng trường Nhà hát lớn để nghe Hồ Chí Minh phát biểu thì một quả lựu đạn từ trong đám đông ném lên nhưng không nổ. Thủ phạm sau đó bị bắt, đó là trùm ám sát Giáo Mười và kẻ trực tiếp ném lựu đạn là Văn. Chỗ ở bí mật của Hồ Chí Minh cũng bị Việt Nam Quốc dân Đảng lần ra, nhóm này kéo đến phá phách tan tành ngôi nhà và lấy đi hết đồ đạc<ref>[http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/articledetail.aspx?articleid=53&sitepageid=423#sthash.Yq4qyeqZ.dpbs Hoa quân nhập Việt và mưu đồ "Diệt cộng cầm Hồ"] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20150103181229/http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/articledetail.aspx?articleid=53&sitepageid=423#sthash.Yq4qyeqZ.dpbs |date=2015-01-03 }}, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, 07 Tháng Tư 2014</ref>.
Khi quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam ngày 15 tháng 6 năm 1946, [[Võ Nguyên Giáp]] thấy thời cơ đã tới. Không còn phải e ngại quân Trung Quốc, ông quyết định phải dẹp bỏ mọi sự chống đối trong nội bộ đất nước để Chính phủ có thể tập trung các nỗ lực đối phó với Pháp. Võ Nguyên Giáp hành động ngay với mục tiêu rải khắp: Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội được [[Trung Hoa Quốc dân Đảng]] ủng hộ, Việt Nam Quốc dân Đảng <!--(theo Cecil B. Currey thì tổ chức này chỉ mượn danh cách mạng của Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1930 do [[Nguyễn Thái Học]] sáng lập<ref name="Currey"/> còn theo David G. Marr Đảng Cộng sản Đông Dương đã ra sức tuyên truyền Việt Nam Quốc dân Đảng phản bội lại sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Thái Học năm 1930 nhưng đến cuối năm 1945 nhiều người dân vẫn không tin vào điều đó<ref name="David G. Marr 1946 page 415"/>)-->, nhóm quốc gia thân Nhật Đại Việt, những người Trotskyist, những người quốc gia chống Pháp, nhóm Công giáo mang tên "chiến sĩ Công giáo". Võ Nguyên Giáp đã từng bước tìm cách loại bỏ dần các đảng phái này.<ref name="David G. Marr 1946 page 415"/> Phe quốc gia cho rằng khi sang Pháp đàm phán Hồ Chí Minh đã lên kế hoạch để Võ Nguyên Giáp ở lại Hà Nội tiêu diệt các đảng phái đối lập để dẹp yên sự chống đối trong nội bộ đất nước, và qua đó chính phủ cũng dễ đàm phán với Pháp<ref name="kynam359">Hồi ký 1925 - 1964, tập 2, trang 359, Nguyễn Kỳ Nam, Nhật báo Dân Chủ Mới, 1964</ref>.
Ngày 19 tháng 6 năm 1946, [[Báo Cứu Quốc]] của Tổng bộ [[Việt Minh]] đăng xã luận kịch liệt chỉ trích "''bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3''". Ngay sau đó Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập bằng lực lượng công an và quân đội do Việt Minh kiểm soát với sự giúp đỡ của nhà cầm quyền Pháp. Ông cũng sử dụng các binh lính, sĩ quan Nhật Bản tình nguyện ở lại Việt Nam và một số vũ khí do Pháp cung cấp (ở Hòn Gai quân Pháp cung cấp cho Việt Minh những khẩu pháo để diệt một số vị trí do quân Đại Việt chiếm giữ) trong chiến dịch này.<ref name="Currey">Chiến thắng bằng mọi giá, trang 196-197, Cecil B. Currey, Nhà xuất bản Thế giới, 2013</ref> Theo [[David G. Marr]], đó là một thời kỳ đầy thù hận, phản bội, tranh đấu và chết chóc. Cho tới tháng 8 năm 1946, các đảng phái đối lập, ngoại trừ [[Công giáo tại Việt Nam|Giáo hội Công giáo]], đều bị phá vỡ, vô hiệu hóa, hoặc buộc phải lưu vong<ref name="David G. Marr"/>. [[Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến]] được thành lập nhằm tạo khối đại đoàn kết giữa các đảng phái, sau các vụ bắt giữ đã mất đi ý nghĩa của nó. Đến tháng 11 năm 1946, chính phủ này được thay thế bởi [[Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Chính phủ Liên hiệp Quốc dân]] nhằm đáp ứng tình hình mới.
====Trấn áp Đại Việt====
Từ tháng 9 năm 1945, rải rác khắp ba miền, [[Đại Việt Quốc dân Đảng]] đã cho thành lập chiến khu ở [[Kép]] ([[Bắc Giang]]), Lạc Triệu ([[Bắc Giang]]), [[Yên Bái]], Di Linh (huyện Nông Cống, Thanh Hóa), An Điền (huyện Thủ Đức, [[tỉnh Gia Định]]), An Thành ([[Vĩnh Long]]), và Ba Rài ([[Mỹ Tho]]) để xây dựng các căn cứ và xây dựng lực lượng quân sự mạnh chống Pháp và chính phủ [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] do [[Việt Minh]] lãnh đạo. Riêng ở Lạc Triệu và Yên Bái còn có trường huấn luyện sĩ quan. Chiến khu ở [[Kép]] ([[Bắc Giang]]) được Đại Việt Quốc dân Đảng đánh giá là một áp lực mạnh mẽ đối với Việt Minh, có thể ''"sẵn sàng chuyển quân nhanh chóng về Hà Nội, "dọn dẹp" sạch sẽ Bắc Bộ Phủ (trụ sở của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)"''<ref name=daiviet>{{Chú thích web |url=http://www.daivietquocdandang.com/lichsudang.htm |ngày truy cập=2015-07-12 |tựa đề=Lược sử Đại Việt Quốc dân Đảng 1939-63 |archive-date=2011-10-16 |archive-url=https://web.archive.org/web/20111016032653/http://www.daivietquocdandang.com/lichsudang.htm |url-status=dead }}</ref>.
Ngày [[5 tháng 9]] năm [[1945]], Bộ trưởng Nội vụ [[Võ Nguyên Giáp]] đã ký Sắc lệnh số 8 giải thể [[Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng]] và Đại Việt Quốc dân Đảng với lý do ''"Đại Việt quốc gia xã hội Đảng đã tư thông với ngoại quốc để mưu những việc có hại cho sự độc lập Việt Nam và Đại Việt Quốc dân Đảng đã âm mưu những việc hại cho sự độc lập quốc gia và nền kinh tế Việt Nam"''<ref>{{Chú thích web |url=http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?docid=7&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText= |title=Sắc lệnh số 8 ngày 5 tháng 9 năm 1945 |access-date=2013-11-02 |archive-date=2021-02-11 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210211101945/http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?docid=7&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText= |url-status=dead }}</ref><ref>Ý chỉ việc cộng tác với người Nhật.</ref>
Trong tháng 9 và tháng 10 năm 1945, các tổ chức khác nhau của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Minh có thể đã thủ tiêu hoặc bắt giữ hàng trăm đảng viên và những người có liên quan đến [[Đại Việt Quốc dân Đảng]], [[Đại Việt Duy dân Cách mệnh Đảng]] tại các tỉnh Ninh Bình, Tuyên Quang, Thái Bình, Phú Thọ, Hưng Yên... [[Trương Tử Anh]] lẩn trốn sự truy nã của công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng thời liên tục cảnh báo Việt Nam Quốc dân Đảng không được liên minh với Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong suốt năm 1946, công an tiếp tục truy lùng thành viên các đảng Đại Việt. Theo David G. Marr, nhờ tuyên truyền có hiệu quả nên Việt Minh làm dân chúng tin rằng đảng viên Đại Việt là những tên tay sai cho phát xít Nhật dù trên thực tế trước ngày 9 tháng 3 năm 1945 khi Nhật đảo chính Pháp chỉ có một số ít người Việt có quan hệ với người Nhật, sau ngày 9 tháng 3 năm 1945 tất cả các đảng phái ở Việt Nam kể cả Việt Minh đều tiếp xúc với quân đội và nhân viên dân sự Nhật.<ref>David G. Marr, [http://books.google.com.vn/books?id=Y0TBgbhSYuEC&pg=PA406&lpg=PA406&dq=It+was+the+competition+for+recruits,+donations,+and+Chinese+patronage&source=bl&ots=YdNcmFcmBE&sig=UwF4_R_ZfosPP3tgVTx3SGKLJIY&hl=vi&sa=X&ei=lvtBVOShNobOmwXrn4G4Bg&ved=0CCIQ6AEwAA#v=onepage&q=It%20was%20the%20competition%20for%20recruits%2C%20donations%2C%20and%20Chinese%20patronage&f=false Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946)], page 407 - 408, California: University of California Press, 2013</ref> Sau khi Pháp tái chiếm [[Bán đảo Đông Dương|Đông Dương]], ngày [[19 tháng 12]] năm [[1946]] thì Trương Tử Anh đột ngột mất tích, có người nghi là ông bị Việt Minh thủ tiêu.<ref>Penniman, Howard R. ''Elections in South Vietnam''. Stanford, CA: Hoover Institution on War, Revolution and Peace, 1972. tr 166.</ref>
Năm 1949, khi chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh đến hồi quyết liệt, các đảng viên Đại Việt thỏa hiệp với Pháp và tham gia thành lập chính phủ [[Quốc gia Việt Nam]] trực thuộc Liên hiệp Pháp. Năm đảng viên Đại Việt chiếm 5 trong số 19 ghế Nội các trong chính phủ đầu tiên của Quốc gia Việt Nam.
====Trấn áp nhóm Trotskyist====
Ngay sau khi cấm Đại Việt Quốc dân Đảng hoạt động, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tố cáo những người Trotskyist (nhóm La Lutte và nhóm Liên minh Cộng sản Quốc tế) đã có hành vi phá hoại. [[Đảng cộng sản Đông Dương]] và những người Trotskyist từ lâu đã chỉ trích nhau là tay sai đế quốc. Tuy nhiên xung đột của hai nhóm này trước năm 1945 chỉ thể hiện bằng báo chí, diễn thuyết, truyền đơn. Sau năm 1945, hai nhóm bất đồng quan điểm về việc thực hiện cách mạng xã hội và cách đối phó với việc Đồng Minh đổ bộ vào Nam Kỳ. Những người Trotskyist muốn thực hiện ngay lập tức một cuộc cách mạng xã hội và vũ trang quần chúng chống lại lực lượng Đồng Minh, gồm cả Anh và Pháp. còn Đảng cộng sản Đông Dương muốn thi hành chính sách thận trọng: giải phóng dân tộc trước rồi làm cách mạng xã hội, đồng thời thỏa hiệp với Đồng Minh để giành độc lập từng bước.<ref name="marr1">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 408 - 409, California: University of California Press, 2013</ref>
Ngày 7 và 8 tháng 9 năm 1945, một số thành viên Trotskyist cùng tín đồ [[Phật giáo Hòa Hảo]] tham gia một cuộc tấn công đẫm máu nhưng bất thành nhằm vào các thành viên Việt Minh ở Cần Thơ. Họ tổ chức một cuộc biểu tình của khoảng 20.000 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo với các khẩu hiệu "''Võ trang quần chúng chống thực dân Pháp. Tẩy uế các phần tử thúi nát trong ủy ban Hành chánh Nam bộ''". Việt Minh huy động [[Thanh niên Tiền phong]] chống lại, xung đột với đoàn biểu tình khiến nhiều người chết và bị thương.<ref name="marr1"/>
Ngay sau đó, [[Dương Bạch Mai]] bắt giam những người Trotskyist tại Sài Gòn. Binh lính Anh tìm thấy họ đêm 22 tháng 9 năm 1945 và giao nộp cho người Pháp.<ref name="marr1"/> Sau khi được thả, những người Trotskyist tổ chức tấn công quân Anh, Pháp theo lời kêu gọi Nam Bộ kháng chiến của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ do Trần Văn Giàu đứng đầu. Trong một đợt tổng rút quân của lực lượng kháng chiến Nam Bộ giữa tháng 10 năm 1945, Đảng cộng sản Đông Dương đã truy lùng, bắt giữ hoặc xử bắn khoảng 20 lãnh đạo quan trọng của phe Trotskyist<ref name="marr1"/>. Nguyễn Long Thành Nam (tín đồ Hòa Hảo, cựu quan chức Việt Nam Cộng hòa) cho rằng tại Sài Gòn, lực lượng công an do Việt Minh kiểm soát đã bắt và xử bắn 68 cán bộ chủ chốt của phe Trotskyist trong đó có Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Nguyễn Văn Sổ, Hồ Vĩnh Ký, Huỳnh Văn Phương khi họ đang họp ở Thủ Đức vì phe Trotskyist không chấp hành lệnh rút lui về nông thôn, lấy nông thôn bao vây thành thị của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ<ref>Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong dòng lịch sử dân tộc, Phần IV: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Mục 8: Việt Minh Cộng sản Sát Hại Các Lãnh Tụ Quốc gia, Tập san Đuốc Từ Bi, 1991</ref>. Tuy nhiên, một số nguồn khác thì cho rằng một số nhân vật Trotskyist bị các nhóm vũ trang tự phát đang cát cứ tại địa phương ám sát (ví dụ như Phan Văn Hùm bị "tư lệnh miền Đông" tự xưng là Kiều Đắc Thắng giết)<ref>Theo sách ''Người Bình Xuyên'' và ''Nguyễn Bình: huyền thoại và sự thật'' của nhà văn Nguyên Hùng, thì: Phan Văn Hùm bị Kiều Đắc Thắng giết. Kiều Đắc Thắng là công nhân quê miền Trung, trước năm 1945 vô Sài Gòn sinh sống đủ nghề từ phu đồn điền, khuân vác, thợ hớt tóc. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Kiều Đắc Thắng tự xưng là chỉ huy trưởng Trung đoàn kháng chiến miền Đông đóng quân ở Bưng Cầu (tài liệu khác nói Thắng tự xưng tư lệnh miền Đông). Kiều Đắc Thắng đã xung công nhiều nhà máy, và gán cho nhiều người là Việt gian, trong đó có Phan Văn Hùm. Các hành động quân phiệt của Kiều Đắc Thắng chấm dứt khi đặc phái viên Trung ương là tướng [[Nguyễn Bình]] vào Nam thống nhất lại các tổ chức vũ trang. Nhà văn [[Thiếu Sơn]] cũng cho rằng ông Hùm bị Kiều Đắc Thắng giết chết (''Bài học Phan Văn Hùm'', Nhà xuất bản. Thông tin, Hà Nội, 2000).</ref>. Những thành viên Trotskyist khác phải nương tựa Hòa Hảo và các đảng phái quốc gia ở [[Đồng bằng sông Cửu Long]].<ref>{{Chú thích web |url=http://dongthap.gov.vn/wps/wcm/connect/Web%20Content/dongthap/timhieudongthap/nhanvatlichsu/sitanhanvatlichsu_t/20100110+ta+thu+thau |ngày truy cập=2017-07-06 |tựa đề=Tạ Thu Thâu |archive-date = ngày 10 tháng 4 năm 2017 |archive-url=https://web.archive.org/web/20170410215028/http://dongthap.gov.vn/wps/wcm/connect/Web%20Content/dongthap/timhieudongthap/nhanvatlichsu/sitanhanvatlichsu_t/20100110+ta+thu+thau |url-status=dead }}</ref><ref>Daniel Bensaïd. ''Trotskismos''. Editorial El Viejo Topo, 2007. ISBN 849683106X. Trang 149.</ref><ref>Van Ngo. ''Revolutionaries They Could Not Break: The Fight for the Fourth International in Indochina 1930-1945''. Index Books, 1995. ISBN 1871518075. Trang 92</ref><ref name=Alexander>{{chú thích sách|author=Robert J. Alexander|title=''International Trotskyism 1929-1985: A Documented Analysis of the Movement''|url=https://archive.org/details/internationaltro0000alex|year=1991|publisher=Duke University Press|page=[https://archive.org/details/internationaltro0000alex/page/971 971]}}</ref>
Tại miền Bắc, các chính quyền địa phương được lệnh phát hiện, bắt giữ và bắt giam những người Trotskyist tuy Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không ra văn bản nào cấm lực lượng này hoạt động. Đến năm 1946, những người Trotskyist tại miền Bắc không còn là mối lo ngại đối với chính quyền hoặc không còn người Trotskyist nào bị phát hiện. Trên báo chí, từ Trotskyist vẫn tiếp tục xuất hiện là để cảnh cáo những nhân viên nhà nước công khai phàn nàn đồng lương không đủ sống hay những người dám đấu tranh để người lao động kiểm soát nhà máy, xí nghiệp.<ref>David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 409-410, California: University of California Press, 2013</ref>
====Trấn áp Việt Cách====
Sau khi Việt Minh lập chính quyền mới, Nguyễn Hải Thần yêu cầu Hồ Chí Minh nhường chỗ cho ông ta trong chính phủ nhưng ông Hồ làm ngơ nên Việt Cách tổ chức một chiến dịch chống Việt Minh hết sức quyết liệt. Hồ Chí Minh nhượng bộ bằng cách ký với Việt Cách một thỏa hiệp hợp tác vào ngày 23 tháng 10 năm 1945.<ref name="Devillers"/> Trong khi lãnh đạo các phe phái Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách tranh cãi về các định nghĩa pháp lý, về việc bổ nhiệm các bộ trưởng và việc đưa ra các tuyên bố chung để đi đến thành lập Chính phủ liên hiệp thì các chủ bút, cán bộ chính trị, lực lượng vũ trang của các bên vẫn đấu tranh với nhau gay gắt. Trên báo Cứu Quốc, 7 Tháng Chín 1945 Việt Minh tố cáo Việt Cách ''"Hội ấy cũng nêu lên cái khẩu hiệu đánh đuổi Pháp - Nhật. Nhưng họ đã tranh đấu những gì? Trong cuộc võ trang khởi nghĩa đánh vào hai kẻ thù, giữa lúc chủ quyền của chúng còn bền vững cũng như khi đã tan rã, người ta chỉ thấy có đoàn thể Việt Minh... Suốt trong thời kỳ ấy, không ai nghe nói đến hành động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Vừa đây, trước cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Minh ít ngày, hội ấy mới mộ một bọn thổ phỉ kéo vào Móng Cái để đánh Pháp Nhật (ở đó Pháp không còn một người và Nhật đã rút lui)"''.<ref>Cứu Quốc, 7 Tháng Chín 1945, tr.2</ref> Bộ Tuyên truyền của Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi đến ban biên tập các tờ báo một bức thư hư cấu chỉ trích Nguyễn Hải Thần không cử người tham gia [[đoàn quân Nam tiến]] chi viện cho miền Nam đồng thời buộc tội ông thỏa thuận với quân Pháp. Báo chí thường xuyên cáo buộc Việt Cách và Việt Quốc tống tiền dân chúng. Công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thường xuyên bắt giữ các thành viên Việt Cách vì tội tống tiền, đặc biệt là đối với Hoa kiều. Các thành viên Việt Minh và Việt Cách xé áp phích của nhau, đe dọa tính mạng và phá các cuộc họp của đối thủ. [[Bồ Xuân Luật]], nguyên là đảng viên Việt Cách, đã rời bỏ đảng này và lập ra tờ báo Đồng Minh xuất bản cho đến tháng 11 năm 1946. Mười ngày sau đó, tại Hà Nội, Bồ Xuân Luật bị Việt Cách phục kích bắn trọng thương, nhưng may mắn thoát chết.<ref name="David G. Marr 1946 page 412"/>
Các lãnh đạo Việt Cách không gặp khó khăn gì trong việc kiểm soát các thị xã từ biên giới Trung Quốc đến đồng bằng sông Hồng cho đến khi quân đội Trung Quốc rút về nước vào tháng 4 năm 1946. Các viên chức nhà nước tại những nơi đó phải đối mặt với việc trung thành với Việt Cách, trung lập hay di tản khỏi thị xã. Việt Cách đôi khi phải xin phép chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thực hiện một số hoạt động của họ.<ref name="marr412"/>
Bị Việt Quốc làm lu mờ và ngày càng mất đoàn kết, tháng 3 năm 1946, Việt Cách bị chia rẽ. Một số thành viên tập trung bảo vệ các thị xã phía Bắc Hà Nội, những người khác gia nhập Việt Quốc, số còn lại gia nhập Việt Minh. Việt Cách có thể đã tổ chức một số cuộc tấn công vào lính Pháp tại Hải Phòng vào tháng 4 năm 1946. Cuối tháng 4 năm 1946, Pháp khai quật được 12 thi hài tại tầng hầm trụ sở cũ của Việt Cách tại Hà Nội trong đó có 2 công dân Pháp mất tích ngày 24 tháng 12 năm 1945. Cuối tháng 5 năm 1946, thành viên Việt Cách [[Hồ Đắc Thành]] tham gia [[Mặt trận Liên Việt]]. Các thành viên Việt Cách ở Quảng Yên và Móng Cái đã rút qua Trung Quốc vào giữa tháng 6 năm 1946. Cuối tháng 10 năm 1946, báo Đồng Minh của Bồ Xuân Luật đưa tin về cuộc họp của một số chi bộ còn lại của Việt Cách và việc một số thành viên Việt Cách tham gia kỳ họp thứ hai của quốc hội. Công an thu được một số tài liệu của Việt Cách và triệu tập các thành viên Việt Cách tới thẩm vấn. Một số thành viên Việt Cách bị bắt giam hoặc phải lưu vong, một số thành viên khác thì hợp tác với Việt Minh để xây dựng một hình ảnh mặt trận quốc gia liên hiệp kháng chiến giữa các đảng phái.<ref>David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), tr. 413-414, California: University of California Press, 2013</ref>, ví dụ như [[Bồ Xuân Luật]] (nguyên là đảng viên của Việt Cách) được giữ chức Quốc vụ khanh trong chính phủ mới.
====Trấn áp Việt Quốc====
Ngay sau khi Việt Minh giành chính quyền ngày 19 tháng 8 năm 1945, [[Lê Khang]] dẫn đầu một nhóm Việt Quốc rời Hà Nội đến Vĩnh Yên nằm trên tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội. Tại đây họ tổ chức một cuộc biểu tình của dân chúng để thuyết phục lực lượng [[Bảo an binh]] địa phương tham gia. Ngày 29 tháng 8 năm 1945, hàng ngàn người ủng hộ Việt Minh thuộc 3 huyện lân cận tiếp cận căn cứ của Việt Quốc tại Vĩnh Yên kêu gọi Việt Quốc tham gia một cuộc diễu hành xuyên qua thị trấn. Khi bị từ chối, họ bắn thành viên Việt Quốc. Việt Quốc bắn trả khiến một số người chết đồng thời bắt giữ khoảng 150 người. Những người bị bắt được thả sau khi đã được tuyên truyền về Việt Quốc và thừa nhận mình bị lừa khi tham gia biểu tình. Sau đó, Việt Minh và Việt Quốc tiếp tục thảo luận về việc phóng thích những người còn bị Việt Quốc giam giữ, về việc tổ chức đàm phán và những đề xuất liên quan đến việc thành lập chính quyền liên hiệp ở địa phương. Trong khi hai bên thảo luận, Việt Minh cắt đứt nguồn cung cấp lương thực cho thị xã Vĩnh Yên khiến cuộc sống ngày càng khó khăn.<ref>David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 414, California: University of California Press, 2013</ref>
Ngày 18 tháng 9 năm 1945, [[Hoàng Văn Đức]], một thành viên quan trọng của [[Đảng Dân chủ Việt Nam]] cùng đại diện chính phủ [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] từ Hà Nội đến Vĩnh Yên thương lượng. Cuộc thương lượng không thành công, Lê Khang tấn công Phúc Yên nhưng thất bại. Các đơn vị quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tấn công Vĩnh Yên nhưng không giành được thị xã này. Sau đó hai bên ngừng bắn trong vài tháng. Việt Quốc không tranh giành ảnh hưởng với Việt Minh ở vùng nông thôn ngoài việc chiếm giữ nông trại Tam Lộng tại Vĩnh Yên. Đầu tháng 12 năm 1945, Việt Minh tấn công Tam Lộng nhưng bị đẩy lùi.<ref>David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 414-415, California: University of California Press, 2013</ref>
Tháng 9 năm 1945, Việt Quốc thỏa thuận bí mật với đại úy Nguyễn Duy Viên theo đó đại đội lính khố đỏ của ông sẽ theo Việt Quốc. Tuy nhiên Việt Quốc nghi ngờ đại úy Viên là điệp viên hai mang của Pháp và sẽ điều động đơn vị của mình thủ tiêu đảng viên Việt Quốc ngay sau khi vượt biên giới về Việt Nam. Đầu tháng 11, Viên đến Hà Giang gặp các thành viên Việt Quốc tại đây. Những binh sĩ đào ngũ từ các đơn vị lính thuộc địa cũng đổ về Hà Giang giúp Viên có được một đội quân khoảng 400 người. Việt Quốc và Việt Minh tại Hà Giang mâu thuẫn nhau khiến Viên đến Hà Nội yêu cầu chính phủ cử đại diện đến thuyết phục mọi người cùng chống Pháp. Sau khi gặp Hồ Chí Minh, Viên trở về Hà Giang, cho quân bắt giữ các đảng viên Việt Quốc tại đây và xử bắn một số người trên một ngọn đồi gần thị xã. Tháng 4 năm 1946, Việt Quốc cho người ám sát ông tại Hà Nội.<ref name="David G. Marr 1946 page 415"/>
Việt quốc đã mua chuộc thư ký của [[Đàm Quang Trung]] để nhận nhiệm vụ ám sát [[Hồ Chí Minh]], nhưng kế hoạch này đã bị phá vỡ. Cuối tháng 10 năm 1945, ban ám sát của Việt Quốc là "Hùm xám" đã giao cho [[Nghiêm Xuân Chi]] nhiệm vụ ám sát [[Hồ Chí Minh]], [[Võ Nguyên Giáp]], [[Nguyễn Lương Bằng]] tại số 8 phố Lý Thái Tổ, nhưng Chi bị bắt tại nhà hàng Thủy Tạ khi đang phục kích để hành động. Sau đó Hồ Chí Minh ít trở về số 8 Vua Lê nữa mà chuyển về ở tại một ngôi nhà nhỏ sát đê Bưởi, cách dốc Cống Vị khoảng 300 mét để tránh bị ám sát<ref>[http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/articledetail.aspx?articleid=53&sitepageid=423#sthash.Yq4qyeqZ.dpbs Hoa quân nhập Việt và mưu đồ "Diệt cộng cầm Hồ"] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20150103181229/http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/articledetail.aspx?articleid=53&sitepageid=423#sthash.Yq4qyeqZ.dpbs |date=2015-01-03 }}, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch</ref>.
Báo Sự thật của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác ở Đông Dương, ngày 5 tháng 12 năm 1945 đăng tải bức thư ngỏ của Hội gửi các anh em trong Việt Nam Quốc dân Đảng:'' "...Chúng tôi không bảo những người theo Đại Việt quốc xã, Cao đài, Phật thầy là [[Việt gian]] cả. Trong số những người ấy có nhiều phần tử trung thực chỉ vì thiếu sự nhận xét sáng suốt về chính trị, nên đã nhầm theo bọn lãnh tụ Việt gian. Nhưng còn những phần tử 100 phần 100 phản quốc, lẩn sau những chiêu bài Việt Nam Cách mạng đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân đảng để tránh sự trừng phạt của quốc dân và Chính phủ. Các anh dung túng họ và hơn nữa nhận họ trong hàng ngũ; thế là các anh tự chia rẽ với dân, chứ không phải ai chia rẽ với các anh đâu...Không kể chi những chuyện xa xôi, hãy nói những cuộc khởi nghĩa hay đấu tranh cách mạng từ chiến tranh đến giờ: Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, kháng Nhật cứu nước, mồng 9 tháng ba, khởi nghĩa 19 Tháng Tám. Trong những giờ phút thiêng liêng ấy, các anh ở đâu?... Chúng tôi xin đề ra ba nguyên tắc hợp tác giữa các đảng phái yêu nước như dưới đây:1. Đoàn kết hợp tác giữa tất cả các đoàn thể chân chính yêu nước, nhưng không đoàn kết vô nguyên tắc với bọn phản quốc. 2. Sự đoàn kết thành thực giữa các đảng phái cách mạng chỉ có thể đặt lên trên nền tảng hành động chung. 3. Cấm chỉ mọi hành động có hại cho nước, có lợi cho địch, nhất là việc gièm pha cuộc kháng chiến và mạt sát Chính phủ kháng chiến."''<ref>Báo Sự thật 5 Tháng Mười Hai 1945, tr.1</ref>
Tháng 5 năm 1946, [[Trần Đăng Ninh]], phụ trách an ninh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến [[Vĩnh Yên]] với lý do thảo luận về công tác sửa chữa đê điều và bị Vũ Hồng Khanh bắt. Ninh và 2 người khác trốn thoát. Việc bắt giữ này trở thành lý do để đàn áp Việt Quốc. Vệ quốc quân bắt đầu tuần tra quanh nơi hoạt động của Việt Quốc. Ngày 20/5 năm 1946, trong một cuộc đụng độ gần Phú Thọ, Việt Quốc bắt giữ và hành quyết một nhóm người ủng hộ Việt Minh, thả vài xác chết xuống sông Hồng để cảnh cáo.<ref name="Marr423">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 423, California: University of California Press, 2013</ref>
Giữa tháng 5 năm 1946, Bộ Nội vụ ra lệnh cho tất cả các cán bộ công chức đang làm việc tại 7 thị xã ở các tỉnh phía Tây và Tây Bắc Hà Nội sơ tán và tham gia vào các Ủy ban thay thế được thành lập ở các địa điểm mới. Những người không thực hiện lệnh này không còn là người của chính phủ.<ref name="Marr423"/>
Tháng 6 năm 1946, khi quân đội Trung Quốc rút về Vân Nam, dân quân của Việt Minh cô lập các thị xã do Việt Quốc kiểm soát. Ngày 18 tháng 6 năm 1946, Vệ quốc quân tấn công Phú Thọ và Việt Trì. [[Quốc dân quân]] của Việt Quốc ở Phú Thọ hết đạn sau 4 ngày và phải rút lui. Vũ Hồng Khanh chỉ huy 350 lính phòng thủ Việt Trì trong 9 ngày rồi rút lui về Yên Bái. Việt Quốc ở Vĩnh Yên do Đỗ Đình Đạo chỉ huy đàm phán với Việt Minh và đạt được thỏa thuận ngừng bắn trong 2 tháng. Đỗ Đình Đạo đồng ý sáp nhập lực lượng của ông vào [[Quân đội Nhân dân Việt Nam|Vệ quốc quân]] và thành lập Ủy ban Hành chính liên hiệp tại Vĩnh Yên. Lực lượng này được chia nhỏ đưa về các tiểu đoàn Vệ quốc quân tại nhiều nơi. Đỗ Đình Đạo được thuyên chuyển về Hà Nội. Trong suốt tháng 5 và tháng 6 năm 1946, Báo Việt Nam của Việt Quốc tại Hà Nội khẩn thiết kêu gọi Việt Minh ngừng tấn công Việt Quốc.<ref name="Marr423"/>
Cuối tháng 6 tại Hà Nội, các thành viên Việt Quốc họp để thảo luận về việc có nên thừa nhận sự lãnh đạo của Việt Minh, rút lui về biên giới hay tổ chức [[đảo chính]] lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong khi đó, [[Trương Tử Anh]], đảng trưởng [[Đại Việt Quốc dân Đảng]] là đồng minh của Việt Quốc, đang lên kế hoạch cho một cuộc đảo chính có thể bắt đầu bằng việc tấn công lính Pháp để gây rối loạn. Người Pháp lại có ý định diễu binh quanh hồ Hoàn Kiếm để kỷ niệm Quốc khánh Pháp (14 tháng 7 năm 1789) khiến lực lượng an ninh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lo ngại sự kiện này có thể trở thành mục tiêu của các đảng phái đối lập với Việt Minh. Võ Nguyên Giáp hỏi ý kiến của chỉ huy quân Pháp tại Bắc Kỳ, đại tá Jean Crépin về thái độ của Pháp nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng cường trấn áp Việt Quốc và Việt Cách thì được ông này trả lời Pháp sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.<ref name="Marr424">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 424-425, California: University of California Press, 2013</ref> [[Trường Chinh]] (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, khi đó rút vào hoạt động bí mật, chức danh công khai là [[Hội trưởng]] [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương]]) được Nha Công an Trung ương báo cáo phát hiện được âm mưu của thực dân Pháp câu kết với Việt Nam Quốc dân Đảng đang chuẩn bị đảo chính Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chỉ đạo phải tập trung trấn áp Việt Nam Quốc dân Đảng, nhưng phải có đủ chứng cứ.
Sáng sớm ngày 12 tháng 7 năm 1946, một tiểu đội công an do [[Lê Hữu Qua]] chỉ huy<ref name="lehuuqua">Vụ án phố Ôn Như Hầu, thiếu tướng Lê Hữu Qua, Báo Nhân dân, ngày 19 tháng 8 năm 2005</ref> bao vây khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do nghi ngờ Đại Việt cấu kết với Pháp âm mưu tiến hành đảo chính lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đúng vào ngày quốc khánh Pháp 14 tháng 7 năm 1946 khiến lính canh và các đảng viên Đại Việt không kịp phản ứng.<ref name="phaply">[http://phaply.net.vn/ben-khung-cua-tu-phap/ho-so-vu-an/con-trai-ong-tien-thuoc-nam-pha-vu-an-on-nhu-hau.html Con trai "ông tiên thuốc nam" phá vụ án Ôn Như Hầu] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20141129015555/http://phaply.net.vn/ben-khung-cua-tu-phap/ho-so-vu-an/con-trai-ong-tien-thuoc-nam-pha-vu-an-on-nhu-hau.html |date = ngày 29 tháng 11 năm 2014}}, Thanh Sơn – Kiến Quốc, Pháp lý online, 3/3/2011</ref> Khi thực hiện cuộc bao vây khám xét này, lực lượng công an chưa có chứng cứ cụ thể và chưa có lệnh của cấp trên nhưng vẫn tiến hành để các thành viên Đại Việt không có thời gian rút vào bí mật và tẩu tán truyền đơn, hiệu triệu lật đổ chính quyền. Tại trụ sở của Đại Việt, lực lượng công an đã tìm thấy nhiều truyền đơn, hiệu triệu chưa kịp tẩu tán cùng nhiều súng ống, lựu đạn.<ref name="lehuuqua" /> Công an cũng được cho là đã phát hiện một bản kế hoạch có chữ ký của Trương Tử Anh, theo đó Đại Việt sẽ quăng lựu đạn vào lính Pháp gốc Phi trong ngày diễu binh của quân đội Pháp, tiếp đó quân đội Đại Việt hoặc quân đội Pháp sẽ bắt giữ những lãnh đạo [[Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cuối cùng Trương Tử Anh sẽ công bố thành lập chính phủ mới<ref name="Marr424"/>. [[Lê Giản]], Giám đốc Nha Công an Bắc bộ, đưa tài liệu này cho Quyền chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng. Ông này đọc rồi nói giận dữ: "''Tiêu diệt chúng! Quét sạch toàn bộ! Lũ phản bội! Đồ chó má!''". Tuy nhiên, tài liệu này là một bản dự thảo do Trương Tử Anh viết tay chỉ để sử dụng trong nội bộ Đại Việt Quốc dân Đảng chứ không gửi cho Pháp, Lê Giản không cung cấp được bằng chứng về sự thông đồng của Pháp với Đại Việt Quốc dân Đảng trong kế hoạch đảo chính hụt ngày 14 tháng 7 năm 1946 ngoài việc Sainteny tiếp tục muốn tổ chức diễu binh vào ngày đó. Lê Giản tìm Võ Nguyên Giáp và được Giáp chỉ thị tấn công tất cả các văn phòng của Việt Quốc ở Hà Nội và các tỉnh.<ref name="Marr424"/>
Sau đó, lúc 7 giờ sáng ngày 12 tháng 7 năm 1946, [[Việt Nam Công an vụ]] thực hiện phá [[vụ án phố Ôn Như Hầu]]<ref name="trantannghia">Vụ án Ôn Như Hầu qua lời kể của Đại tá Trần Tấn Nghĩa, Báo Công an Nhân dân, 28/08/2005, Trích: "''Theo ông kể, cuối tháng 6 năm 1946, Nha Công an Trung ương nhận được nguồn tin của cơ sở phát hiện được âm mưu của thực dân Pháp câu kết với bọn phản động Quốc dân Đảng đang chuẩn bị thực hiện âm mưu đảo chính chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi xin ý kiến trung ương về âm mưu thâm độc này, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư đảng ta lúc bấy giờ đã cho ý kiến chỉ đạo phải tập trung trấn áp bọn phản cách mạng, nhưng phải có đủ chứng cứ.''"</ref>. Chỉ đạo trực tiếp lực lượng công an phá vụ án này là các ông [[Lê Giản]] (Giám đốc Nha Công an Bắc bộ), [[Nguyễn Tuấn Thức]] (Giám đốc Công an Hà Nội) và [[Nguyễn Tạo]] (Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương).<ref name="phaply"/> Lực lượng công an xung phong đã thực hiện khám xét các trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng (7 căn nhà) tại Hà Nội, bắt tại chỗ nhiều thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng cùng nhiều tang vật như truyền đơn, vũ khí, dụng cụ tra tấn, đồng thời phát hiện nhiều xác chết tại đó... Hơn 100 người bị bắt và một số người biến mất không dấu vết. Trong số các thành viên của Quốc dân Đảng bị bắt có một đại biểu [[Quốc hội Việt Nam khóa I]] là [[Phan Kích Nam]]. Theo điều tra của [[Nha công an]], Việt Nam Quốc dân Đảng đang chuẩn bị những hành động khiêu khích rất nghiêm trọng. Dự định các thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng sẽ phục sẵn dọc đường quân Pháp diễu qua nhân ngày quốc khánh Pháp, bắn súng, ném lựu đạn để tạo ra những chuyện rắc rối giữa Pháp và Chính phủ, gây sự phá hoại hòa bình rồi tung truyền đơn hô hào lật đổ chính quyền và sau đó đứng ra bắt tay với Pháp.<ref name="vonguyengiap2"/><ref name="Marr424"/>
Nhà nước sau đó thông báo sự việc với báo chí. Các cuộc tấn công được gọi tắt là "Vụ án phố Ôn Như Hầu". Các báo của Việt Minh và các đảng phái thân Việt Minh đều tường thuật vụ án này. Các báo đưa tin công an đã phá tan âm mưu chống chính phủ, đã bắt những kẻ tiến hành những vụ bắt cóc tống tiền, ám sát, bán nước, in truyền đơn chống chính phủ, làm bạc giả... Tuy nhiên Việt Quốc đã không bị kể tên trong một số bài báo.<ref name="Marr424"/>
Theo David G. Marr, nếu thật sự Pháp muốn đảo chính (họ đã cân nhắc và hoãn nhiều lần) thì không cần phải dựa vào Trương Tử Anh khơi ngòi, càng không cho Anh thành lập chính phủ. Công an cố tình lập lờ giữa Đại Việt Quốc Dân Đảng do Trương Tử Anh lãnh đạo và Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh lãnh đạo khi nhắm vào tòa soạn Báo Việt Nam và các trụ sở khác của Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau cuộc tấn công, có người trong chính quyền đã cố gắng hạn chế những lời lên án công khai Việt Quốc để tuyên truyền về Mặt trận Thống nhất. Việt Quốc trên danh nghĩa vẫn nằm trong mặt trận. Ngoại trừ một vài đảng viên Việt Quốc hợp tác với Việt Minh, mọi công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ đó trở đi đều sợ hãi khi bị cho là đảng viên Việt Quốc vì nó đồng nghĩa với tội phản quốc.<!--<ref name="Marr424"/>
Ngày 20/7 năm 1946, Ủy ban Hành chính Bắc Bộ dù không nhắc đến Việt Quốc đã thông báo đến các tỉnh rằng gần đây công an đã phát hiện được việc tống tiền, bắt cóc và làm tiền giả. Tất cả đều phải bị điều tra và truy tố. Ủy ban hướng dẫn các địa phương không để việc bắt bớ và giam giữ các phần tử phản động biến thành khủng bố. Các Ủy ban Hành chính địa phương giờ đã được chấp thuận cho việc bắt giữ các đảng viên Việt Quốc đã bị phát hiện hay còn tình nghi, tuy nhiên họ không truy bắt ngay lập tức. Trong những tháng sau đó, hàng ngàn người bị bắt, bị thẩm vấn. Hàng trăm người bị bắt giam, bị đưa đến các trại cải tạo; hàng trăm người khác bị cách chức. Cán bộ phòng chính trị thuộc Sở Công an các tỉnh bắt những kẻ tình nghi, thẩm vấn, bắt ký vào lời khai, sau đó báo cáo lên chính quyền tỉnh là thả, xét xử hay bắt giam những người này.<ref name="Marr424"/> Từ cuối tháng 7 năm 1946 cho đến cuối năm 1946, phần lớn những người bị công an giam giữ vì lý do chính trị đều bị xem là Việt Quốc. Công an tiếp tục thẩm vấn các đảng viên Việt Quốc về vụ bắt cóc một số đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương xảy ra vào cuối năm 1945.<ref name="Marr1947">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 427, California: University of California Press, 2013</ref>
Cuối tháng 7 năm 1946, Báo Việt Nam bị đình bản nhưng [[Tuần báo Chính Nghĩa]] vẫn tiếp tục xuất bản suốt 3 tháng sau. Báo chính Nghĩa đăng một loạt bài xã luận lên án chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa đế quốc Xô Viết đồng thời chỉ trích hệ thống Ủy ban Hành chính của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và việc chính phủ không thể thành lập hệ thống tư pháp độc lập, chính sách ngoại giao của Hồ Chí Minh cũng bị hoài nghi. Cuối tháng 10 năm 1946, các bài xã luận và tin tức trong nước bị loại bỏ. Tới đầu tháng 12, Tuần báo Chính Nghĩa hoàn toàn bị vô hiệu hóa, không còn một tin tức hay bài viết nào đáng phải kiểm duyệt nữa.<ref name="Marr426">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 426, California: University of California Press, 2013</ref>
Từ tháng 7 năm 1946 đến tháng 11 năm 1946, nhiều đại biểu quốc hội là đảng viên Việt Quốc bị bắt. Đại biểu [[Phan Kích Nam]], đảng viên Việt Quốc, bị bắt trong vụ án phố Ôn Như Hầu, bị buộc tội bắt cóc, tống tiền và bị bắt giam ngay lập tức. Đại biểu [[Nguyễn Đổng Lâm]] bị công an Hải Dương bắt và bị kiến nghị gửi đến trại biệt giam trong 2 năm với lý do "chính quyền địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn nếu ông Lâm còn tự do ngoài vòng pháp luật". Trường hợp của Lâm được báo cáo lên Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội [[Nguyễn Văn Tố]]. Ông Tố cùng Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra lệnh thả Lâm. Ngày 21/8 năm 1946, Nguyễn Đổng Lâm được thả. Tại các địa phương khác, các đại biểu quốc hội là đảng viên Việt Quốc cũng bị điều tra hoặc bắt giữ. Đại biểu [[Trình Như Tấu]] gửi kháng nghị đến 5 cơ quan chính phủ khác nhau sau khi ông bị dân quân bao vây nhà riêng để yêu cầu bồi thường một máy đánh chữ không có thật và đe dọa dùng vũ lực nếu ông không tuân thủ. Trình Như Tấu yêu cầu được bảo vệ với tư cách nghị sĩ nhưng không được hồi đáp. Tại kỳ họp lần thứ hai của Quốc hội vào cuối tháng 10 năm 1946, chưa tới 12 người trong số 50 đại biểu Quốc hội thuộc Quốc dân Đảng tham dự.<ref name="Marr427">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 426-427, California: University of California Press, 2013</ref>-->
Sau khi rút lui về Yên Bái, Vũ Hồng Khanh nhận ra rằng nguồn cung cấp lương thực tại địa phương chỉ đủ nuôi sống lực lượng quân đội Việt Quốc chứ không đủ cung cấp cho những người ủng hộ Việt Quốc từ đồng bằng sông Hồng đến. Việc tiếp tế từ Lào Cai gặp nhiều khó khăn vì Việt Minh đã phá hủy đường sắt. Tới tháng 11, Lào Cai bị Vệ Quốc quân bao vây và lương thực sắp hết. Vũ Hồng Khanh quyết định sơ tán sang Vân Nam và ra lệnh hành quyết 2 giảng viên học viện quân sự vì cố gắng dẫn học viên của họ quay trở lại đồng bằng. Tháng 10 năm 1947, khi quân Pháp nhảy dù xuống Phú Thọ, công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị Pháp cáo buộc xử bắn hơn 100 tù nhân Việt Quốc.<ref name="Marr19471">David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 427, California: University of California Press, 2013</ref>
Theo [[William Duiker]], các tình tiết xung quanh vụ xung đột với Việt Quốc là vấn đề phải bàn cãi. Tuy nhiên, đáng chú ý, các nhà ngoại giao Mỹ và Pháp cũng đều đổ lỗi cho những phần tử Việt Quốc đã xúi giục gây rối trong các bản báo cáo gửi về nước.<ref name="Ho Chi Minh. A life. P 345"/>
Về sau, Việt Quốc lại phân hóa thành nhiều nhóm khác nhau. Một nhóm đồng ý hợp tác với Việt Minh để cùng tham gia chính phủ kháng chiến chống Pháp, ví dụ như [[Chu Bá Phượng]] (nguyên là đảng viên Việt Quốc) được giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế trong chính phủ kháng chiến. Nhóm kia thì vẫn chống Việt Minh, đến năm 1949 thì nhóm này lại phân hóa thành 2 khuynh hướng: một số chống Bảo Đại vì quyết giữ lập trường chống Pháp, nhưng số khác lại quay sang hợp tác với Pháp, ủng hộ việc thành lập Quốc gia Việt Nam để cùng Pháp chống Việt Minh. Nhóm hợp tác với Pháp có nhiều người giữ nhiều chức vụ cao trong chính phủ [[Quốc gia Việt Nam]] như [[Nghiêm Xuân Thiện]] được làm tổng trấn Bắc Kỳ vào năm 1949.
=== Căng thẳng dẫn đến bùng nổ ===
{{chính|Trận Hải Phòng (1946-1947)|Trận Hà Nội 1946}}
Xung đột quân sự đầu tiên nổ ra tại [[Hải Phòng]]. Đầu tháng 11 năm 1946, quân Pháp chiếm trụ sở [[hải quan]] tại cảng Hải Phòng. Quốc hội Việt Nam phản đối hành động này và khẳng định chủ quyền của Việt Nam trong việc kiểm soát tất cả các vấn đề liên quan đến xuất nhập khẩu.
Ngày 20 tháng 11 năm 1946, quân Pháp tấn công và đánh chìm ở cảng [[Hải Phòng]] một [[thuyền buồm]] [[Trung Quốc]] chở [[xăng]] được cho là để giao cho Việt Minh. Vệ quốc quân Việt Nam đánh trả lại quân Pháp. Sau cuộc ngừng bắn ngày 21 tháng 11 năm 1946, Pháp gửi tối hậu thư cho chính quyền Việt Nam ở Hải Phòng, đòi quân đội Việt Minh phải rút khỏi Hải Phòng và trao thành phố lại cho Pháp. Ngày 23 tháng 11 năm 1946, chính quyền Việt Nam từ chối yêu sách của Pháp, và quân Pháp bắt đầu bắn phá Hải Phòng với xe tăng, pháo binh và trọng pháo từ tuần dương hạm Suffren, để ''"dạy Việt Minh một bài học"'', như lời của Tổng chỉ huy quân Pháp, tướng [[Jean Étienne Valluy|Jean-Étienne Valluy]] nói với các viên chỉ huy địa phương qua [[radio]].<ref>Davidson, trang 44</ref>
[[Tập tin:Hanoi guards in 1946.jpg|nhỏ|phải|270px|Tổ tự vệ chợ Đồng Xuân mùa đông năm 1946.]]
Ngày 23 tháng 11, Đại tá [[Pierre Louis Dèbes]] gửi tối hậu thư yêu cầu người Việt ra khỏi khu phố Tàu của Hải Phòng và hạ vũ khí. Khi không có phản hồi, Dèbes lệnh cho tàu chiến Pháp bắn phá thành phố, trong một buổi chiều đã giết chết hơn 6.000 người dân<ref name="inerventionandrevolution">{{chú thích sách
| last =Barnet
| first =Richard J.
| title =Intervention and Revolution: The United States in the Third World
| publisher =World Publishing
| date =1968
| pages =185
| url =http://www.thirdworldtraveler.com/Insurgency_Revolution/America_Vietnam_IAR.html
| id = ISBN 0-529-02014-9 }}</ref> hoặc hơn 2.000 người theo một nguồn khác.<ref name="thesmallerdragonstrikes">{{chú thích sách
| last =Prados
| first =John
| title =The Smaller Dragon Strikes
| publisher =MHQ: The Quarterly Journal of Military History
| date =August 2007, Volume 20, Number 1
| pages =50
| url =http://HistoryNet.com
| id = ISSN 1040-5992 }}</ref>. Sau đó, khoảng 2.000 lính Pháp tràn vào thành phố trong khi pháo tiếp tục bắn phá vùng ngoại ô. [[Máy bay ném bom]] và oanh tạc cơ Pháp trên không phận yểm trợ cho các đoàn [[thiết giáp]] và bộ binh tiến chiếm các khu phố, tấn công các trụ sở chính quyền Việt Nam.
Quân Pháp gặp phải hỏa lực mạnh của lực lượng Việt Minh bảo vệ thành phố. Quân Tự vệ Việt Nam chỉ có những thứ vũ khí cũ kỹ như [[súng trường Mousqueton]], [[mã tấu]] và [[lựu đạn]] nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu bảo vệ Hải Phòng. Chiến sự kéo dài cho đến khi người lính Việt Minh cuối cùng rút khỏi chiến trường vào ngày 28 tháng 11.
Tin chiến sự lan ra toàn quốc. [[Hồ Chí Minh]] kêu gọi nhân dân hãy bình tĩnh để cố cứu vãn hòa bình. Trong khi đó thì [[Võ Nguyên Giáp]] yêu cầu được gặp Tướng Molière (Tư lệnh Pháp tại Bắc Việt Nam) vào ngày 27 tháng 11 năm 1946 để đàm phán. Mãi tới ngày 29 tháng 11, Tướng Molière mới chịu gặp Giáp. Khi nói chuyện, Tướng Molière nói thẳng lập trường của Pháp là quân Pháp phải kiểm soát Hải Phòng cùng các vùng phụ cận và quốc lộ số 5 (nối liền Hà Nội với Hải Phòng) cũng như tất cả các thông lộ nối liền với các đồn trú quân của Pháp. Nếu chính phủ Việt Nam không chấp nhận những điều kiện này thì không có đàm phán gì hết. Đòi hỏi của Pháp khiến cho chính quyền Việt Nam không còn hy vọng gì thương thuyết được với người Pháp và phải chuẩn bị chiến tranh. Tất các cơ quan chính quyền Việt Nam chuẩn bị rút lui ra khỏi thủ đô Hà Nội để chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
Sau sự kiện Hải Phòng, kế hoạch phòng thủ Hà Nội bắt đầu được chuẩn bị để chính phủ Việt Nam có thời gian sơ tán về các vùng núi lân cận. Một số ít lực lượng chính phủ đóng tại [[Bắc Bộ phủ]] và một doanh trại gần đó. Còn phần lớn lực lượng quân sự của Việt Nam trong vùng đóng tại ngoại ô của thủ đô. Bù lại, trong nội thành có gần 10.000 du kích và tự vệ, bao gồm những thanh niên đầy nhiệt tình ủng hộ cách mạng, nhưng các lực lượng này chỉ được trang bị chủ yếu bằng vũ khí thô sơ tự tạo. Đối thủ của họ là vài nghìn lính [[Lê dương Pháp]] được trang bị hiện đại, chủ yếu đóng trong [[Hoàng thành Thăng Long|Thành Hà Nội]], phần còn lại đóng xen kẽ tại 45 điểm trong thành phố như [[Phủ Toàn quyền]], [[ga Hà Nội]], [[nhà băng Đông Dương]], [[nhà thương Đồn Thủy]], [[cầu Long Biên]], và [[sân bay Gia Lâm]].
Các cơ quan của chính phủ Việt Nam bí mật chuyển dần ra các địa điểm đã được chuẩn bị trước ở bên ngoài thành phố. Trong thành phố, quân dân Hà Nội bắt đầu xây dựng các chiến lũy phòng thủ trên đường phố, quân Pháp cũng củng cố các vị trí phòng thủ của mình. Ngày [[6 tháng 12]], Hồ Chí Minh kêu gọi Pháp rút về các vị trí họ đã giữ từ trước ngày 20 tháng 11, nhưng ông không nhận được phản hồi. Trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp vào hôm sau, Hồ Chủ tịch khẳng định rằng Chính phủ Việt Nam hy vọng tránh được chiến tranh - cái sẽ gây đau khổ lớn cho cả hai nước. ''"Nhưng nếu chúng tôi phải đối mặt với chiến tranh"'', ông nói, ''"chúng tôi sẽ chiến đấu chứ không từ bỏ quyền tự do của mình"''.
Ngày [[12 tháng 12]], [[Léon Blum]], [[thủ tướng Pháp|thủ tướng]] mới của Pháp tuyên bố ý định giải quyết xung đột ở Đông Dương theo cách sẽ trao lại độc lập cho Việt Nam. Ba ngày sau, Hồ Chí Minh đưa [[Sainteny]] một bức thông điệp gửi Blum với các gợi ý cụ thể về cách giải quyết xung đột. Sainteny đánh điện bức thông điệp vào Sài Gòn, yêu cầu chuyển tiếp tới [[Paris]].
Trong khi chính phủ Pháp đang do dự về yêu cầu của [[Toàn quyền Đông Dương|Cao ủy Đông Dương]] [[Georges Thierry d'Argenlieu|Georges D'Argenlieu]] về việc tăng quân và lập tức hành động quân sự chống lại người Việt, Valluy, người có chung quyết tâm với d'Argenlieu về việc giữ sự hiện diện của Pháp tại Đông Dương, đã quyết định rằng cần phải khiêu khích Hà Nội nhằm tạo xung đột và đưa Paris vào sự đã rồi. Ngày [[16 tháng 12]], ông lệnh cho tướng [[Morlière]] phá các chướng ngại vật mà Việt Minh dựng trong thành phố. Khi bức điện của Hồ Chí Minh gửi Blum vào đến [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]], Vallue viết thêm bình luận của mình, cảnh báo rằng sẽ nguy hiểm nếu trì hoãn các hành động quân sự cho đến năm sau. Đến ngày 19, bức điện mới đến Paris, khi đó thì chiến tranh đã nổ ra rồi.
Ngày [[17 tháng 12]], quân Pháp với [[xe tăng]] yểm trợ vào các đường phố Hà Nội để phá các công sự mà Việt Minh dựng trong những ngày trước đó, gây ra vụ thảm sát ở [[phố Hàng Bún]] (Hà Nội), rồi dàn quân ra chốt giữ từ cổng thành Hà Nội đến tận cầu Long Biên và bao vây gây sức ép đồn Công an quận 2 của Hà Nội. Người Việt không phản ứng. Hôm sau, Pháp ra một tối hậu thư đòi chấm dứt dựng chướng ngại vật trên phố. Chiều hôm đó, Pháp ra tối hậu thư thứ hai tuyên bố rằng từ ngày 20, quân Pháp sẽ tự mình đảm nhiệm việc trị an ở Hà Nội. Đáp lại, tối hôm đó, các lực lượng Việt Minh bắt đầu chặn mọi ngả đường từ ngoại ô vào thành phố. Sáng hôm sau (ngày [[19 tháng 12]]), Pháp ra tối hậu thư thứ ba, đòi chính phủ Việt Nam phải đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của quân Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố.
Leclerc, người tham gia Hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba, cũng đã điều tra sự cố dẫn đến xung đột tại miền Bắc Việt Nam và việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố kháng chiến khiến các giải pháp chính trị thất bại. Ngày 27 tháng 1 năm 1947, tuyên bố của chính phủ Pháp về "''Chi tiết các mục tiêu theo đuổi của Pháp ở Đông Dương" có nêu "để đạt được càng sớm càng tốt với các đại diện đủ điều kiện của người An Nam một thỏa thuận phù hợp với nguyện vọng chính đáng trong Liên hiệp Pháp (...) trên cơ sở độc lập của đất nước cùng với việc duy trì lợi ích của Pháp và sự hiện diện của (các) căn cứ chiến lược của lực lượng Pháp. Một hỗ trợ lớn và ngay lập tức phải nhằm củng cố chính quyền của Nam Kỳ, nhưng "phần nào đủ điều kiện" để không đóng cánh cửa đàm phán với Việt Minh.''" <ref>Paul-Marie de La GORCE:De Gaulle-Leclerc: de Londres à l'Indochine Espoir n°132, 2002.</ref>
Đối với người Việt, tình hình không khác với sự kiện Hải Phòng hồi tháng trước, khi Đại tá Dèbes cũng đã ra các lệnh tương tự trước khi bắn phá thành phố. Sáng ngày [[18 tháng 12]], Hồ Chủ tịch ra lệnh chuẩn bị cho các cuộc tấn công quân Pháp vào hôm sau. Đồng thời, sợ rằng bức điện gửi Thủ tướng Blum có thể chưa đến nơi, ông gửi một bức điện thẳng tới Paris. Sáng 19, để thể hiện thiện chí và cố gắng cứu vãn hòa bình, Hồ Chủ tịch viết một bức thư ngắn và cử cố vấn ngoại giao [[Hoàng Minh Giám]] tới gặp [[Jean Sainteny|Sainteny]] để đàm phán "''tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại''". Sau khi được tin Sainteny từ chối gặp Hoàng Minh Giám, Hồ Chủ tịch triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng tại làng Vạn Phúc, [[Hà Nội]], và tuyên bố rằng trong tình hình hiện tại, không thể nhân nhượng thêm được nữa. Hội nghị duyệt lại ''[[Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến]]'' mà Hồ Chủ tịch đã viết, thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do Tổng Bí thư [[Trường Chinh]] dự thảo. Thời điểm bắt đầu nổ súng được quyết định là 8 giờ tối cùng ngày. Kháng chiến chống Pháp bắt đầu.
[[Tập tin:Nambokhangchien.jpg|nhỏ|phải|270px|Vệ quốc đoàn với vũ khí tầm vông vạt nhọn]]
Ngay trong đêm 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] đọc ''[[Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến]]'' trên hệ thống loa phát thanh Hà Nội. Sáng ngày 20/12, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi khắp đất nước<ref>Lịch sử Lớp 12 - Tập 2. Bộ Giáo dục và Đào Tạo, 2005, tr. 81.</ref>:
{{cquote|''Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.''
''Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm [[nô lệ]]...''
''Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp để cứu nước.''
''Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước. Dù phải gian khổ kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!''|}}
== Thế trận==
===Chiến lược===
Chiến lược của cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo được tóm lược trong tài liệu ''Kháng chiến nhất định thắng lợi'', một tài liệu tuyên truyền của [[Trường Chinh]], phát hành những ngày đầu kháng chiến. Tài liệu chia kháng chiến ra 3 giai đoạn: cầm cự, phòng ngự, phản công. Diễn biến chiến tranh về sau đúng như vậy.
* '''Cầm cự''': bao gồm gian đoạn vừa đánh vừa đàm trước 19 tháng 12 năm 1946 đến hết [[Chiến dịch Việt Bắc]]. Thời này có cuộc [[Nam Bộ kháng chiến|Nam Bộ Kháng chiến]], cầm cự miền Nam, miền Trung, [[Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)|Hiệp định Sơ bộ]] và [[Tạm ước Việt - Pháp]], [[Toàn quốc kháng chiến]] ở các tỉnh, [[Trận Hà Nội 1946|Hà Nội 1946]], nỗ lực vãn hồi hòa bình, công cuộc di tản lên chiến khu. Cuối cùng là đánh bại [[Pháp]] trong [[Chiến dịch Việt Bắc]].
* '''Phòng ngự''': sau [[chiến dịch Việt Bắc]] đến hết [[Chiến dịch Biên giới]]. Có các chiến dịch lớn: [[Chiến dịch Đông Bắc (định hướng)|Chiến dịch Đông Bắc]], [[Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng]], [[Chiến dịch Biên giới]].
* '''Phản công''': [[Chiến dịch Trần Hưng Đạo|Chiến dịch Trung Du]], [[Chiến dịch Hà Nam Ninh|Chiến dịch Đồng Bằng]], [[Chiến dịch Hoàng Hoa Thám]], [[Chiến dịch Tây Bắc]], [[Chiến dịch Hòa Bình]], [[Chiến dịch Thượng Lào]], [[Kế hoạch Navarre]], [[Chiến cục đông-xuân 1953-1954]], [[Chiến dịch Điện Biên Phủ]], [[Hiệp định Genève, 1954|Hiệp định Giơnevơ]], chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở [[Bán đảo Đông Dương|Đông Dương]] (21 tháng 7 năm 1954).
Ngay từ tháng 1/1944, [[Hồ Chí Minh]] đã chỉ đạo, hướng dẫn biên soạn bài giảng để đào tạo cán bộ, về sau in thành tác phẩm "[[Con đường giải phóng]]". Tác phẩm chỉ rõ ''"du kích là một cách chiến tranh của dân chúng dùng khí giới ít và kém chống với đế quốc có khí giới tốt và nhiều"''. Đặt vấn đề "lý do nào đã sinh ra chiến tranh du kích", Hồ Chí Minh trả lời:
:''"Trước hết là do chủ nghĩa yêu nước, tình cảm đối với Tổ quốc. Sau đó là lòng căm thù mạnh mẽ đối với bọn xâm lược dã man... Nhìn thấy cảnh nhà bị đốt cháy, ruộng vườn bị phá hoại, vợ bị hãm hiếp, cha mẹ bị giết chết, các con bị thiêu sống... Cảnh tượng đó không phải đã dồn nông dân Việt Nam tới một nỗi thất vọng tiêu cực, mà một ham muốn trả thù cho những người thân, tới lòng can đảm lẫm liệt trong chiến đấu"''
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: ''"Du kích tổ chức khéo thì toàn dân gái trai già trẻ, sĩ nông công thương, ai cũng có thể tham gia. Người thì lo đánh giặc, người thì lo tiếp tế, tình báo, liên lạc, tuyên truyền mọi người đều có dịp phụng sự Tổ quốc"''. Trong bài ''"Chiến lược của quân ta và của quân Pháp"'' (13-12- 1946), Hồ Chí Minh viết:
:''"Về phương pháp tác chiến, chúng ta áp dụng vận động chiến song song với [[chiến tranh du kích|du kích chiến]]. Vận động chiến có mục đích trừ diệt một số lớn địch quân. Còn du kích chiến là huy động dân quân ở địa phương vừa quấy rối, vừa làm hao mòn lực lượng của chúng... Để thực hiện du kích chiến, chúng ta tổ chức ra đội cảm tử, đội phá hoại, đội đánh úp, đội đánh mai phục, đội cướp lương thực, súng đạn, đội trinh sát. Kế hoạch tiêu thổ [[vườn không nhà trống]], kế hoạch bất hợp tác phải được đem áp dụng một cách triệt để. Trong thành phố, ngoài những hầm hố, những chướng ngại vật, chúng ta phải biến mỗi nhà thành một ổ kháng chiến, phải đo đường hầm thông từ phố nọ sang phố kia. Trên các ngả đường quan lộ đã đành đắp nhiều ụ đất làm chướng ngại vật, nhưng trên mặt đường còn phải đặt nhiều địa lôi, nhất là ở những chỗ có cầu cống... Chúng ta phải dùng đủ mọi phương pháp để cản trở quân địch, địch đến một chỗ nào cũng không thể tiến quân được. Để kháng chiến lâu dài, mỗi làng ngay từ bây giờ phải biến ra một thành luỹ kháng chiến"''<ref>Hồ Chí Minh. Toàn tập, T4, Nhà xuất bản CTQG, HN, 1995: tr. 475</ref>
Trong thư gửi đồng bào toàn quốc (5-3-1947), Hồ Chí Minh viết: ''"Địch càng rải ra nhiều nơi thì lực lượng địch càng mỏng manh. Ta càng sẵn cơ hội mà đánh du kích để tiêu diệt nó dần dần, để đi đến thắng lợi cuối cùng... Được tổ chức tốt, chiến tranh du kích là một sức mạnh không thể đánh bại chống bọn xâm lược nước ngoài... Cùng lúc bị tấn công ở sau lưng bởi chiến tranh du kích và ở ngoài mặt trận bởi quân đội nhân dân, thế là bọn xâm lược Pháp sẽ bị đánh bại"''<ref>Tạp chí Lịch sử Quân sự, Số 3, 1997, tr. 7, 13 và 8</ref>
Phương pháp tiến hành [[chiến tranh]] của quân đội nước [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (lấy tên chính thức là [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] năm 1950) chỉ đơn giản là ''"Toàn dân-toàn diện-trường kỳ kháng chiến"'', gồm hai điều: dùng [[chiến tranh du kích]] đánh tiêu hao, phân tán lực lượng địch và từng bước xây dựng lực lượng, giành thế chủ động để đẩy địch vào tình thế bị động đối phó. Khi có đủ lực lượng sẽ tung đòn đánh lớn vào những vùng mà địa thế, tương quan binh lực có lợi để giành những [[thắng lợi chiến lược]]. Phương pháp này đã đi suốt lịch sử lớn mạnh của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]], và vẫn phát huy hiệu quả trong [[chiến tranh Việt Nam|kháng chiến chống Mỹ]] sau đó. Tuy "đơn giản" nhưng cả Pháp và Mỹ đều không thể chống lại chiến lược [[chiến tranh nhân dân]] này, bởi như tướng De Castries đã trả lời trước Ủy ban Điều tra của Bộ Quốc phòng Pháp rằng: ''"Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc"''<ref>{{Chú thích web |url=http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Dien-Bien-Phu-Nho-lai-de-suy-ngam/20105/30662.vgp |ngày truy cập=2012-01-28 |tựa đề=Điện Biên Phủ: Nhớ lại để suy ngẫm, Trần Thái Bình, BÁO ĐIỆN TỬ CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Việt Nam |archive-date=2011-08-29 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110829033005/http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Dien-Bien-Phu-Nho-lai-de-suy-ngam/20105/30662.vgp |url-status=dead }}</ref>.
===Vũ khí===
[[Tập tin:Lunge AT Mine.jpg|nhỏ|trái|240px|Tượng chiến sĩ cầm [[Bom ba càng]], vũ khí chống tăng cảm tử của Việt Nam]]
Thoạt tiên, từ 1945, quân kháng chiến Việt Nam chỉ được võ trang bằng gậy tầm vông, [[mã tấu]], [[dao găm]], cây phạng, [[lựu đạn]] nội hóa và một số rất ít [[súng trường]] cũ thu được của Nhật hay thậm chí súng của Pháp từ thời [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]] sót lại ([[súng Mousqueton]]), cùng [[súng ngắn ổ xoay|súng lục]] Rouleau do hãng St. Etienne bên Pháp chế tạo. Ngay cả với các đơn vị chủ lực, trang bị đều thiếu thốn và không thống nhất, có gì dùng nấy. Vũ khí chống tăng chuyên dụng rất ít, phần lớn là [[bom ba càng]], một loại mìn chống tăng cảm tử gắn trên cán gậy thu được của Nhật. Một [[tiểu đoàn]] thường chỉ được trang bị tương đương với 1 [[đại đội]] của Pháp, với 2 đại liên, 1-2 súng cối 60mm, tám trung liên, 140 đến 160 súng trường đủ các kiểu (Nhật, Nga, Pháp, Đức), một nửa số bộ đội không có súng mà phải dùng những vũ khí thô sơ như cung nỏ, giáo mác và dao kiếm...
Theo "Báo cáo tổng kết vũ khí toàn quốc năm 1947" ngày 9-3-1947 của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam, trang bị của toàn quân lúc này có 26.018 khẩu súng trường và 1.522 khẩu súng máy các loại. Nghĩa là trên tổng số gần 90.000 người, tỷ lệ trang bị súng chưa đạt nổi 1/3. Hiệu suất sử dụng thực tế còn kém hơn nhiều do tình trạng kỹ thuật, thiếu đạn cũng như quá nhiều chủng loại hỗn tạp. Giai đoạn này, cây mác gần như trở thành vũ khí cá nhân cơ bản trong các đơn vị bộ đội ở Bắc Bộ.
Vì nhu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến nên ngay từ 1946, tại các mật khu, quân kháng chiến Việt Nam đã cho thiết lập những xưởng vũ khí thô sơ, sửa chữa hoặc chế tạo một ít bộ phận nhỏ của [[súng ngắn ổ xoay|súng lục]] và súng trường, có khi cả loại trung - [[đại liên]], đồng thời chế tạo lựu đạn nội hóa. Ngành quân khí Việt Nam trong giai đoạn này có sự đóng góp rất lớn của [[Trần Đại Nghĩa]], một kỹ sư đang ở Pháp đã bỏ việc về nước để tham gia kháng chiến. Nhờ những tài liệu mà ông mang về nước, quân kháng chiến Việt Nam đã có thể tự chế tạo [[pháo không giật]] chống tăng từ năm 1947.
Cho tới năm 1950, quân kháng chiến Việt Nam vẫn trong tình trạng thô sơ, họ áp dụng chiến thuật [[tiêu thổ|tiêu thổ kháng chiến]], phá hết nhà cửa, phố xá ở thành thị; còn tại thôn quê thì tre vót nhọn được cắm tua tủa khắp các bãi đất trống để ngăn cản Pháp nhảy dù. Ủy ban Hành chính Kháng chiến các xã, quận góp tiền mua ít nhất là một khẩu súng để tự vệ. Với thông cáo này, xã nào cũng đua nhau quyên góp tiền trong dân chúng để gửi đi. Nhưng nguồn cung hầu như không có, nên du kích mỗi xã chỉ có được một khẩu [[súng Mousqueton]] đã rỉ sét với 5 viên đạn, mà có khi cả năm viên đều bắn không nổ vì đạn đã để quá lâu.
Ở ngoài mặt trận, gậy tầm vông vót nhọn và dao găm là vũ khí chính, mãi đến năm 1951 - 1952, [[gậy tầm vông]] vẫn là một thứ vũ khí lợi hại trong tay Việt Minh, không một cuộc phục kích ban đêm nào thành công mà không có một số binh sĩ Pháp chết vì bị gậy tầm vông đâm xuyên, còn lựu đạn dùng để tấn kích đồn, ném qua lỗ châu mai, hoặc vứt xuống hầm quân Pháp trú ẩn. Nhờ thu được chiến lợi phẩm nên các cấp chỉ huy từ Đại đội trưởng trở lên mới có [[súng ngắn ổ xoay|súng lục]] mang bên hông, còn ở hậu phương, những cán bộ được mang súng lục phải là cao cấp, cấp tỉnh hoặc cấp khu. Chiến tranh khi đó mang một hình thức thô sơ, vừa du kích, vừa cổ điển đối với phía Việt Minh.
[[Tập tin:Arromanches (R95) deck view off Indochina 1954.jpg|nhỏ|phải|160px|Tàu sân bay Arromanches của Pháp tại Vịnh Bắc bộ]]
Sau [[Chiến dịch biên giới]] năm 1950, biên giới Việt Nam - Trung Quốc được khai thông. Việt Nam bắt đầu nhận được viện trợ vũ khí, quân trang, quân dụng từ Trung Quốc, Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa khác. Từ 1953-1954, một phần được Trung Quốc, Liên Xô viện trợ, phần khác nhờ tịch thu được vũ khí của Pháp nên gậy tầm vông vót nhọn biến mất, mã tấu dao găm chỉ để dân quân du kích địa phương dùng, còn bộ đội chính quy được võ trang đầy đủ. Đến năm 1954, Việt Minh đã bắt đầu có đội xe vận tải dù số lượng còn ít (chiến dịch Điện Biên Phủ đã huy động được 628 xe vận tải, còn lại phải dùng dân công và xe đạp thồ).<ref>{{Chú thích web |url=http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/187261/print/Default.aspx |ngày truy cập=2012-05-18 |tựa đề=Chuẩn bị chu đáo - một trong những yếu tố quyết định thắng lợi, QĐND - Thứ Sáu, 04/05/2012 |archive-date = ngày 22 tháng 9 năm 2012 |archive-url=https://web.archive.org/web/20120922021505/http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/187261/print/Default.aspx |url-status=dead }}</ref> Tuy vậy cho đến hết chiến tranh thì Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn đơn thuần là bộ binh mang vác bằng đôi chân, chưa có các phương tiện cơ giới hiện đại như [[xe tăng]], [[phương tiện chiến đấu bọc thép|xe thiết giáp]] hoặc [[không quân]], đạn dược cho pháo binh cũng khá thiếu thốn (trong trận Điện Biên Phủ, phải có Tổng tư lệnh phê duyệt thì một đơn vị pháo binh mới được bắn từ 5 viên đạn pháo 105mm trở lên).
Về phía Pháp, quân đội Pháp được trang bị hiện đại theo tiêu chuẩn thời bấy giờ, có đầy đủ cơ giới: có [[tàu sân bay|hàng không mẫu hạm]], tàu chiến, [[máy bay ném bom]], có [[xe tăng]] - [[xe thiết giáp]], [[pháo|đại bác]] 105-155 ly do Hoa Kỳ viện trợ. Bộ binh trang bị đầy đủ các loại vũ khí như súng trường M-36, súng FM, súng [[trung liên]] Bar, [[tiểu liên Thompson]], [[súng cối]] 60-120 ly, súng đại liên 12,7 ly, pháo liên thanh 20mm v.v... Ngoài 3.600 tỷ Frăng chiến phí tự chi trả, Pháp còn được Hoa Kỳ viện trợ khoảng 3 tỷ [[USD]] vũ khí các loại (tương đương khoảng 40 tỷ USD theo thời giá năm 2020). Ví dụ như trong trận Điện Biên Phủ, không quân Pháp có thể thả dù 4.500 lính trong vòng 2 ngày, bắn 110 ngàn viên đạn pháo 105mm trở lên và ném trên 5.000 tấn bom. Nhờ cơ giới và vũ khí tối tân, dồi dào hơn, nên trong giai đoạn 1946-1950, trên khắp các chiến trường từ Nam chí Bắc, Pháp nắm thế chủ động, còn Việt Minh vẫn áp dụng [[chiến thuật quân sự|chiến thuật]] [[đánh du kích]], chưa thể tiến tới chỗ ''"dùng nông thôn bao vây thành thị"''.
Nhiều nhà chính trị Pháp ban đầu đã tỏ ra coi thường lực lượng Việt Nam vì trang bị 2 bên quá chênh lệch, họ tin rằng quân Việt Nam sẽ không thể chống đỡ được quá vài tuần. Tại [[Fontainebleau]], người đứng đầu phái đoàn Pháp [[Max André]] đã nói với [[Phạm Văn Đồng]], người lãnh đạo phái đoàn Việt Nam:
:''“Ngài thấy đó, hãy nên biết điều, ngài biết rằng trong trường hợp đàm phán thất bại, ngài sẽ thấy chiến tranh và quân đội chúng tôi sẽ đè bẹp các du kích quân của các ngài trong vài tuần”''<ref>https://thanhnien.vn/van-hoa/60-nam-chien-thang-dien-bien-phu-tieng-set-trong-the-gioi-thuoc-dia-80795.html</ref>
== Diễn biến ==
===Giai đoạn 1946-1949===
==== Cuộc chiến tại các đô thị phía Bắc ====
{{Chính|Toàn quốc kháng chiến|Trận Hà Nội 1946}}
[[Tập tin:Tượng Trận Hà Nội 1946.jpg|nhỏ|phải|150px|Tượng đài kỷ niệm Trận Hà Nội mùa đông 1946-1947]]
Tại Hà Nội, đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, công nhân [[Nhà máy điện Yên Phụ]] phá máy, 20 giờ 3 phút, đèn điện trong thành phố vụt tắt, ít phút sau, pháo binh Việt Nam từ [[pháo đài Láng]] bắn dồn dập vào Thành. Sau đó, [[Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến|Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến]] của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát trên [[Đài Tiếng nói Việt Nam]], đăng trên báo Cứu quốc và các báo Hà Nội, với lời thề quyết tử: ''"Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!"''.
Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, các lực lượng vũ trang của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nổ súng chống Pháp tại nhiều khu vực thành thị trên cả nước: [[Hà Nội]], [[Nam Định]], [[quốc lộ 5A|đường số 5]], [[Vinh]], [[Huế]], Đà Nẵng... hoàn thành nhiệm vụ bao vây kìm chân và tiêu diệt quân Pháp, tạo thời gian cần thiết để quân chủ lực tản về các căn cứ ở nông thôn và để các cơ quan, công xưởng di chuyển lên vùng chiến khu.
Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại [[Trận Hà Nội 1946|Hà Nội]]. Tại đây, quân Pháp phải chiến đấu giành giật từng con phố và phải chịu thương vong lớn, khoảng 100 lính Pháp được coi là bị giết, 45 công dân châu Âu thiệt mạng, 200 người mất tích<ref>Duiker, William, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, 2000, tr. 400</ref> Trong một hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khó khăn và chênh lệch về vũ khí, sau 57 ngày đêm chiến đấu ngoan cường trong lòng thành phố, đến đêm [[17 tháng 2]] năm [[1947]] [[Trung đoàn Thủ Đô]] mới rút ra khỏi nội thành.<ref>Lãnh sự Mỹ tại Hà Nội, O'Sullivan báo về Washington rằng người Việt đã chiến đấu với ''"một sự ngoan cường và dũng cảm không ngờ"'' giống như người Nhật trong thế chiến lần thứ hai. Ông ước tính thương vong của người Việt lên đến hàng trăm.<br />Duiker, William, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, 2000, tr. 400</ref> Theo lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, đa số nhân dân Hà Nội và vùng ven cũng như các vùng chiến sự cũng đã bỏ thành phố vượt [[sông Hồng]] tản cư về vùng do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát, tạo thế vườn không nhà trống, đồng thời [[tiêu thổ|tiêu thổ kháng chiến]] phá hủy cơ sở hạ tầng không cho Pháp sử dụng<ref>Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập, trang 900-901, Nhà xuất bản Giáo dục, 2008</ref>.
==== Các nỗ lực ngoại giao ====
{{chính|Thông điệp từ Paul Mus}}
Hồ Chí Minh vẫn chưa bỏ cuộc trong việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình. Ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rải truyền đơn trên đường phố Hà Nội thông báo với "nhân dân Pháp" rằng chính phủ Việt Nam sẵn lòng tồn tại hòa bình trong [[Liên hiệp Pháp]], rằng chiến tranh nổ ra là do ''"bọn thực dân phản cách mạng tìm cách chia rẽ và gây chiến"'', rằng chỉ cần Pháp công nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam thì thái độ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc sẽ được lập tức khôi phục. Ngày hôm sau, đài Việt Minh bắt đầu định kì phát các lời kêu gọi tái đàm phán. Ngày 23 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho [[Marius Moutet]], Bộ trưởng Bộ các lãnh thổ thuộc địa, và tướng [[Philippe Leclerc de Hauteclocque]], đề nghị một cuộc họp giữa đại diện cả hai bên. Một vài ngày sau, ông chính thức đề nghị ngừng bắn và tổ chức một cuộc hội nghị hòa bình mới tại Paris trong khuôn khổ [[Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)|Hiệp định sơ bộ]] hồi tháng 3.
Nhà Xã hội chủ nghĩa Marius Moutet đã được gửi đến tìm hiểu về triển vọng chính trị, và trở về với kết luận rằng chỉ có một giải pháp quân sự đã được hứa hẹn. Như Đô đốc d'Argenlieu, Moutet tin rằng có thể sẽ không có cuộc đàm phán với Hồ Chí Minh. Ông đã viết về "''vỡ mộng tàn nhẫn của thỏa thuận mà không thể được đưa vào hiệu lực''...", và tuyên bố rằng: "''Chúng tôi không còn có thể nói về một thỏa thuận tự do giữa Pháp và Việt Nam... Trước bất kỳ cuộc đàm phán ngày hôm nay, cần thiết phải có một quyết định quân sự''". Trước áp lực của các đảng phái cánh tả Pháp như Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Xã hội Pháp, Thủ tướng Ramadier - một đại biểu xã hội chủ nghĩa, thông báo rằng chính phủ của ông ủng hộ nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam: "''Độc lập trong Liên hiệp Pháp [và] liên minh của ba nước An Nam, nếu người dân An Nam mong muốn nó''" và Pháp sẵn sàng đàm phán một cuộc hòa giải với những đại diện chân chính ở Việt Nam<ref name="ReferenceC">Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 644</ref>.
Trả lời phỏng vấn với Tướng [[Georges Catroux]] vào tháng 1 năm 1947 ở Moscow, bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô [[Vyacheslav Mikhailovich Molotov]] nói rằng “ông hy vọng rằng Pháp và Việt Nam có thể đạt được một thoả thuận khiến cho cả đôi bên đều hài lòng,” và không dẫn đến việc tái thiết “một chế độ cai trị thực dân”. Stalin không trợ giúp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cũng không đưa vấn đề Việt Nam ra Liên hiệp quốc.<ref name="Goscha"/> Cũng trong năm 1947, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị Liên Xô hỗ trợ cuộc kháng chiến của họ bao gồm viện trợ quân sự và kinh tế, cung cấp chuyên gia quân sự, tuyên truyền quốc tế có lợi cho Việt Nam và giúp Việt Nam tham gia Liên Hợp Quốc nhưng lại bị chính quyền Stalin của Liên Xô phớt lờ đi những yêu cầu này<ref name="Goscha"/>.
Trong tháng hai, năm 1947, người Pháp đưa các điều kiện để Hồ Chí Minh đầu hàng vô điều kiện. Hồ thẳng thừng bác bỏ những, yêu cầu người đại diện Pháp, "''Nếu bạn ở vị trí của tôi, bạn sẽ chấp nhận họ chăng?... Trong Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn nhát''". Tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh kêu gọi chính phủ Pháp và người Pháp: "''Một lần nữa, chúng tôi tuyên bố long trọng rằng nhân dân Việt Nam mong muốn chỉ thống nhất và độc lập trong Liên hiệp Pháp, và chúng tôi cam kết bảo đảm quyền lợi kinh tế và văn hóa Pháp..''".
Ngày 19 tháng 4 năm 1947, Hồ Chí Minh gửi thông điệp đến Chính phủ Pháp, đề nghị nối lại đàm phán trên cơ sở "''hai nước anh em trong Liên hiệp Pháp, một liên hiệp của những người tự do, hiểu biết và yêu thương nhau''". Trong khi đó, Thủ tướng Ramadier tuyên bố trong tháng 3 năm 1947, rằng: "''Chúng ta phải bảo vệ cuộc sống và tài sản của người Pháp, của người nước ngoài, bạn bè ở Đông Dương của chúng ta có niềm tin vào tự do Pháp''".<ref>Executive Order 13526, Section 3.3
NND Project Number: NND 63316. By: NWD Date: 2011</ref>
Nhưng tất cả đều không đem lại kết quả gì, người Pháp muốn có phản ứng quân sự mạnh trước khi tính đến chuyện đàm phán. [[Emile Bollaert]], Cao ủy Pháp mới được bổ nhiệm từ tháng 3 năm 1947, được tướng [[Philippe Leclerc de Hauteclocque|Leclerc]] khuyên "đàm phán bằng mọi giá". Những người thân cận ông như [[Pierre Messmer]] và [[Paul Mus]] cũng thiên về chiều hướng đối thoại. Nhưng đã có hơn 1.000 binh sĩ Pháp chết hoặc mất tích, và cộng đồng người Pháp ở Đông Dương phản đối kịch liệt việc thương lượng với [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] - Nhà nước mà họ chỉ gọi bằng cái tên [[Việt Minh]], tổ chức nắm đa số trong chính phủ.
Ngày 23 tháng 4, qua Bộ trưởng [[Bộ Ngoại giao (Việt Nam)|Bộ ngoại giao Việt Nam]] [[Hoàng Minh Giám]], Hồ Chủ tịch lại gửi thông điệp tới Bollaert đề nghị ngừng bắn lập tức và đàm phán. Tự tin vào ưu thế quân sự, Bollaert đáp lại bằng một loạt các điều kiện đòi quân đội Việt Nam hạ vũ khí trước khi khôi phục hòa bình. Hồ Chí Minh từ chối thẳng các yêu cầu này khi [[Paul Mus]] đến chiến khu [[Việt Bắc]] gặp ông để truyền đạt [[Thông điệp từ Paul Mus|thông điệp]] trên.
Theo tài liệu của Mỹ, rất sớm trong chiến tranh, Pháp đã tăng nỗi ám ảnh về "âm mưu của Cộng sản Việt Nam". Đô đốc D'Argenlieu ở Sài Gòn kêu gọi một chính sách quốc tế phối hợp để các cường quốc phương Tây chống lại sự mở rộng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, bắt đầu với Việt Nam. Trong Quốc hội thảo luận vào tháng 3 năm 1947, một đại biểu cánh hữu cáo buộc rằng cuộc chiến tại Việt Nam đã được chỉ đạo từ Moskva: "''Chủ nghĩa dân tộc ở Đông Dương là một phương tiện, cuối cùng là chủ nghĩa đế quốc Liên Xô''." Cả chính phủ lẫn người dân Pháp chú ý tuyên bố tháng 1 năm 1947 của tướng Leclerc: "''Chống chủ nghĩa cộng sản sẽ là một công cụ vô dụng chừng nào vấn đề của chủ nghĩa dân tộc còn chưa được giải quyết''." Về phần mình, Hồ Chí Minh đã lặp đi lặp lại những lời kêu gọi Pháp ngưng chiến và công nhận nền độc lập của Việt Nam, thậm chí đề xuất rằng chính phủ của ông sẽ từ chức nếu Pháp trao cho Việt Nam độc lập. Ông nói: "''Khi Pháp công nhận sự độc lập và thống nhất của Việt Nam, chúng tôi sẽ lui về làng của chúng tôi, vì chúng tôi không tham vọng quyền lực, danh dự''".<ref>"Executive Order 13526, Section 3.3 NND Project Number: NND 63316. By: NWD Date: 2011</ref>
==== Diễn biến tại Lào và Campuchia ====
Tại Lào, sau khi thất thủ năm 1946, [[Lào Issara]] tan vỡ năm 1949. Các lực lượng kháng chiến [[Lào]] thân Việt Nam thành lập [[Mặt trận Lào Issara]]. Tháng 1 năm 1949, lực lượng kháng chiến lập các chiến khu ở [[Thượng Lào]], [[Đông Bắc Lào]] và [[Tây Lào]]. [[Đại hội toàn quốc kháng chiến Lào]] nhóm họp tháng 8 năm 1950 thành lập [[Chính phủ kháng chiến Lào|chính phủ]] do Hoàng thân [[Souphanouvong]] đứng đầu. [[Chính phủ kháng chiến Lào|Chính phủ Souphanouvong]] tiếp tục trở thành Đồng minh của [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] kế tục [[Chính phủ Lâm thời Lào tự do]].
==== Thế trận những năm 1947-1949 ====
{{chính|Chiến dịch Việt Bắc 1947}}
[[Tập tin:HD-SN-99-02042.JPEG|nhỏ|phải|200px|Quân Pháp bắt giữ một người tình nghi là đối phương]]
Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương. Vũ khí thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp. Yếu về hỏa lực nhưng cơ động và có hỗ trợ lớn của nhân dân, các tiểu đoàn Việt Nam ngày càng có khả năng tránh các trận càn của Pháp và tấn công đối phương lại những nơi mình lựa chọn. Quân [[chủ lực]] [[chính quy]] của Việt Nam tổ chức như quân đội phương Tây, nhưng thừa kế nhiều kinh nghiệm chiến tranh cổ truyền của Việt Nam. Việt Nam áp dụng chiến lược [[chiến tranh du kích]] của [[Mao Trạch Đông]]<ref>[https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2013/10/131005_general_giap_western_newspapers 'Tướng Giáp học Mao về quân sự'?], BBC Tiếng Việt, 6 tháng 10 năm 2013</ref> với phương châm [[Trường kỳ kháng chiến]]<ref>[http://www.bienphong.com.vn/truong-ky-khang-chien-chung-ta-nhat-dinh-se-danh-tan-giac-phap/ Trường kỳ kháng chiến, chúng ta nhất định sẽ đánh tan giặc Pháp] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20191227065235/http://www.bienphong.com.vn/truong-ky-khang-chien-chung-ta-nhat-dinh-se-danh-tan-giac-phap/ |date=2019-12-27 }}, Báo Biên phòng, 05/05/2018</ref>. Quân đội và Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức lực lượng dân quân du kích là những chiến sĩ bán quân sự, nửa bí mật nửa công khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch.
Hoàn thành việc đánh rộng ra vùng đồng bằng, [[Pháp]] quyết định tiến công lên [[Việt Bắc]] để sớm kết thúc chiến tranh. Ngày [[7 tháng 10]] năm 1947, [[Chiến dịch Việt Bắc|cuộc hành quân Léa]] tấn công vào chiến khu Việt Bắc bắt đầu. Quân Pháp tiến nhanh nhưng đã không định vị được những nơi đóng các cơ quan đầu não của đối phương. [[Quân đội Nhân dân Việt Nam|Lực lượng vũ trang của Việt Nam Dân chủ Cộng]] hòa nhanh chóng được [[Phân tán lực lượng|phân tán]], sử dụng du kích vận động chiến, bất thần phục kích, đánh tiêu hao quân Pháp ở những khu vực hiểm yếu. Pháp không đạt được mục đích tiêu diệt căn cứ Việt Bắc, nhưng cũng đã cắt được [[quốc lộ 4|đường số 4]] và kiểm soát [[biên giới Việt Trung]], cô lập [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] với thế giới bên ngoài.
Cuộc [[chiến tranh du kích]] tại đồng bằng gây khó khăn lớn cho Pháp. Ở mọi nơi, [[Quân đội Nhân dân Việt Nam|bộ đội Việt Nam]] vẫn tự do đi lại, tuyển quân, thu thuế. Có những ''hội tề'' (chính quyền làng xã trong vùng Pháp kiểm soát) được lập ra để che mắt [[Pháp]] nhưng hành động theo [[Việt Minh]]. Dân chúng gánh thóc gạo từ vùng do Pháp chiếm đóng đi đóng thuế cho [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]]. Các đội du kích được thành lập khắp các vùng bị chiếm quấy rối quân Pháp, Pháp phải để phần lớn quân chủ lực giữ [[đồng bằng sông Hồng|đồng bằng Bắc Bộ]]. Mặc dù là vùng do Pháp kiểm soát, nhưng thực chất đồng bằng màu mỡ đông dân đó vẫn là nguồn cung cấp nhân lực, hàng hóa và lương thực lớn nhất cho Việt Minh.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng biến chiến tranh du kích thành chiến tranh chính quy bằng cách mở hàng chục chiến dịch và đợt hoạt động quy mô nhỏ trên toàn quốc. Họ thực hiện rất nhiều cuộc tấn công vào quân đội Pháp ở quy mô đại đội đến vài trung đoàn. Họ còn đưa quân sang giúp phong trào cách mạng ở các nước lân cận như Lào, Campuchia, Trung Quốc. Tại các đô thị, phong trào đấu tranh chính trị chống Pháp cũng phát triển mạnh. Đến cuối năm 1949, lực lượng kháng chiến đã trưởng thành về mọi mặt, đủ sức thực hiện những chiến dịch quân sự lớn.<ref>Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập, trang 906-908, Nhà xuất bản Giáo dục, 2008</ref>
Thắng lợi duy nhất của Pháp trong mùa hè này là về chính trị, khi tướng [[Nguyễn Bình]] - Tổng chỉ huy quân đội Việt Nam tại Nam Bộ ra sách lược: Tổ chức lại lực lượng vũ trang các giáo phái để biên chế chính quy thành [[Quân đội Nhân dân Việt Nam|Vệ quốc đoàn]]. Trong năm 1947, sau những xung đột quân sự với Việt Minh và nhất là sau khi giáo chủ Hòa Hảo [[Huỳnh Phú Sổ]] mất tích (Hòa Hảo cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ) cả hai giáo phái [[Cao Đài]] và [[Phật giáo Hòa Hảo|Hòa Hảo]] đều chấm dứt hợp tác với Việt Minh để tạm thời hợp tác với Pháp chống Việt Minh. Năm 1948, một phần lực lượng [[Bình Xuyên]] cũng hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh.
==== Pháp sa lầy ====
[[Tập tin:National Guard March.jpg|thumb|Vệ quốc đoàn hành quân]]
Sau [[chiến dịch Việt Bắc|chiến dịch Léa]], xung đột lặng xuống. Thiếu phương tiện để tiếp tục các chiến dịch tấn công, quân Pháp chỉ giới hạn trong các hoạt động vừa phải ở đồng bằng. Nhưng cũng tại đồng bằng, [[Quân đội Nhân dân Việt Nam|lực lượng vũ trang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] được phân tán thành các ''đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung'', tổ chức thêm các đội du kích hoạt động bán công khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu, thực hiện các hoạt động quấy rối quân Pháp.<ref>[https://archive.today/20130421191603/www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/124/124/124/34611/Default.aspx Du kích vận động chiến - bước phát triển của chiến thuật, Cao Xuân Lịch, Báo điện tử Quân đội Nhân dân]</ref> Các cán bộ của chính quyền và mặt trận [[Việt Minh]] vẫn đi lại tuyển quân, thu thuế trong vùng Pháp kiểm soát. Những vùng này vẫn tiếp tục là nơi cung cấp một số loại nhu yếu phẩm như thuốc men, lương thực, vải vóc... cho Việt Nam. Tại các chiến khu, chính quyền Việt Nam củng cố căn cứ, tổ chức tự sản xuất lương thực và vũ khí để có thể kháng chiến lâu dài.
Lực lượng vũ trang và du kích [[đồng bằng sông Hồng]] tổ chức các trận chiến quấy rối quân [[Pháp]]. Cuối chiến tranh, quân địa phương và du kích cầm giữ phần lớn quân Pháp trong vùng đồng bằng. Mỗi chuyến hàng của Pháp từ [[Hải Phòng]] về [[Hà Nội]] phải tụ thành đoàn lớn, nhiều [[xe tăng]] và lính bảo vệ mới đi thoát. Các [[đường giao thông|đường bộ]] bị đào bới ngăn cản xe cơ giới, [[đường ray|đường sắt]] bóc hết gang thép làm vũ khí.
Tại miền Trung Việt Nam, [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] kiểm soát từ [[Hội An]] đến [[Mũi Đại Lãnh]], gần như ngăn đôi đất nước. Ở miền Nam, quân Pháp ở tình thế tốt hơn do lực lượng chính trị và quân sự ở đây ở xa và liên lạc rất khó khăn với chủ lực ở miền Bắc. Lực lượng của tướng [[Nguyễn Bình]] bị đẩy về các chiến khu trong vùng ngập mặn và rừng núi, họ còn gặp sự chống đối của các giáo phái người Việt như [[Cao Đài]], [[Phật giáo Hòa Hảo|Hòa Hảo]], [[Bình Xuyên]]. Năm 1948, quân Pháp tổ chức [[cuộc hành quân Véga]] nhằm phá hủy cơ quan đầu não kháng chiến ở [[Nam Bộ Việt Nam|Nam Bộ]] và nhiều cuộc hành quân khác vào [[Đồng Tháp Mười]] nhưng đều thất bại. Cuối năm 1949, quân đội Pháp tại Đông Dương dưới quyền tướng M. Carpentier mất quyền chủ động<ref name=autogenerated6>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 670</ref>.
Pháp cũng liên minh với các nhóm Thiên Chúa giáo bản xứ. Ngày 1-7-1949, Thánh tộc đức của Tòa thánh [[Vatican]] tuyên bố: ''“Tất cả những ai hợp tác với Đảng Cộng sản, hoặc bỏ phiếu cho Cộng sản, hoặc đọc, xuất bản, phân phối báo chí Cộng sản, hoặc giúp đỡ bất kỳ cách nào cho Đảng Cộng sản đều bị khai trừ khỏi các bí tích”''. Các giám mục lãnh đạo Giáo hội Công giáo Việt Nam ra thư chung mục vụ ngày 9/11/1951 ''“chẳng những cấm anh chị em (giáo dân Việt Nam) không được vào Đảng Cộng sản mà anh chị em cũng không được hợp tác với họ, hay làm bất cứ việc gì có thể góp phần cho Đảng Cộng sản lên nắm chính quyền”''<ref>Trần Trọng Trung (1987), Một cuộc chiến tranh sáu đời tổng thống, Tập 2, Nhà xuất bản Văn Nghệ TP HCM, tr. 85, 93</ref>
Giáo dân Việt Nam bị phân hóa. Những người Công giáo ủng hộ kháng chiến tiếp tục chiến đấu chống Pháp, chấp nhận bị vạ tuyệt thông. Những người khác rời bỏ kháng chiến, hoặc liên kết với thực dân Pháp để chống lại Việt Minh. Các giáo sĩ Công giáo chống Cộng như [[Lê Hữu Từ]], [[Phạm Ngọc Chi]], linh mục [[Hoàng Quỳnh]] lập ra các giáo khu (thực chất là các chiến khu) Phát Diệm và Bùi Chu, lập ra lực lượng vũ trang "tự vệ Công giáo" đông hàng chục nghìn quân được Pháp trang bị súng đạn và trả lương. Một linh mục cho biết quân Công giáo ''“tổ chức ruồng bố liên tục các làng lương chung quanh, bắt giam hoặc giết chết, khỏi cần toà án, tất cả những chiến sĩ du kích và những ai bị tình nghi là Việt Minh. Theo gương lính Pháp, họ cướp bóc các làng, lấy trộm, tàn sát, thiêu rụi tất cả những gì bị coi là ổ kháng chiến”''<ref>Trần Trọng Trung (1987), Một cuộc chiến tranh sáu đời tổng thống, Tập 2, Nhà xuất bản Văn Nghệ TP HCM, trang 94</ref> Các lực lượng này đã hỗ trợ cho quân Pháp trong việc trấn giữ các địa phương, gây nhiều khó khăn cho Quân đội Nhân dân Việt Nam khi tác chiến ở vùng phía nam đồng bằng sông Hồng.
Cho đến thời điểm này, [[Hồ Chí Minh]] vẫn cố gắng kêu gọi Pháp hãy ngừng bắn và tôn trọng nền độc lập của Việt Nam. Ông viết<ref>Báo Cứu quốc, số 1222, ngày 20-4-1949</ref>:
::''Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp. Những người Pháp tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như anh em bầu bạn. Song nhân dân Việt Nam kiên quyết cự tuyệt những người Pháp quân phiệt. Nói cho rõ hơn là: Cũng như những nước độc lập khác cự tuyệt quân đội ngoại quốc đóng trên đất nước mình, nhân dân Việt Nam kiên quyết cự tuyệt quân đội Pháp đóng ở Việt Nam.''
==== Mỹ can thiệp vào chiến tranh====
Trong 3 năm đầu của cuộc chiến tranh, Mỹ đã giữ một thái độ "trung lập" nhưng ủng hộ Pháp rất rõ ràng. Mỹ chẳng muốn tự đặt bản thân vào một vị thế khó xử là công khai ủng hộ [[chủ nghĩa thực dân]], nhưng cũng không muốn làm mất lòng Pháp - một đồng minh quan trọng ở châu Âu. Do vậy, chính quyền Truman đã bí mật trao cho Pháp nhiều khoản viện trợ về tài chính và quân sự.<ref name="George C. Herring 1975">George C. Herring, Cuộc chiến dài ngày giữa nước Mỹ và Việt Nam 1950 - 1975, nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2004</ref><ref name="George McT 1986">George McT. Kahin, Quyền lực và Sự thực: Sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. New York, năm 1986, Chương I.</ref>
Đầu năm 1950, Hoa Kỳ bắt đầu chính thức gửi viện trợ quân sự cho Pháp ở Đông Dương. Tháng 1 năm 1951 người Pháp nhận được 20 xe tăng [[M24]], 40 khẩu lựu pháo M101 cỡ nòng 105 mm và 250 quả bom các loại, trong đó có cả [[napan|bom napalm]] cùng hàng tấn đạn dược và vũ khí tự động các loại. Tới tháng 1 năm 1953, Pháp đã nhận được 900 [[phương tiện chiến đấu bọc thép|xe thiết giáp]] cùng với 15.000 [[xe tải|xe vận tải]] các loại, gần 2.500 khẩu [[pháo]] và [[súng cối]] các loại, 10.000 khẩu [[Browning M1919]] và 14.000 khẩu [[Browning M2]] từ thời Thế chiến 2, 75.000 vũ khí cá nhân (súng ngắn, súng trường, tiểu liên, trung liên) và gần 9.000 máy radio. Ngoài ra, [[Không quân Pháp]] đã nhận được 160 máy bay [[Grumman F6F Hellcat|F6F Hellcat]] và [[Grumman F8F Bearcat|F8F Bearcat]], 41 máy bay ném bom [[Douglas A-26 Invader|B-26 Invader]], 28 máy bay vận tải [[Douglas C-47 Skytrain|C-47]] cùng với 155 động cơ máy bay và 93.000 quả bom. Cho tới khi Pháp thất bại hoàn toàn thì phía Mỹ đã viện trợ trên 1 tỷ USD mỗi năm (tương đương khoảng 5,8 tỷ USD theo thời giá năm 2004) và chi trả 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương.<ref name="us-foreign-policy-perspective.org">[http://www.us-foreign-policy-perspective.org/index.php?id=301 France (location: Indochina) 1950-54, US Foreign Policy in Perspective, 2009]</ref>
Trả lời nhà báo Mỹ [[Harold Issacs]] (tháng 3 năm 1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn đối thoại sau<ref>Hồ Chí Minh toàn tập. Trả lời nhà báo Mỹ Harôn Ixắc (3 năm 1949)</ref>:
{{cquote|''Hỏi: Các báo chí Mỹ thường nói rằng: Việt Nam có thể trở nên một nước chư hầu của Nga. Họ lại nói: Việt Nam là cộng sản hoặc là do cộng sản chi phối. Theo ý Cụ thì thế nào?''
''Trả lời: Đó là tuyên truyền láo của [[thực dân]]. Chính phủ Việt Nam gồm có đại biểu các đảng phái, như tôn giáo, dân chủ, xã hội, mác xít. Có nhiều Bộ trưởng không vào đảng phái nào. Lại có một vị hoàng tộc. Sao gọi được là cộng sản chi phối.''<br>
''Hỏi: Cụ có sợ Việt Nam trở thành một nước chư hầu của nước nào không?''<br>
''Trả lời: Không, tôi không sợ.''<br>
''Hỏi: Chính sách của Mỹ ở Á Châu là thế nào?''<br>
''Trả lời: Chỉ đứng về phía Việt Nam mà nói, thì chúng tôi tiếc rằng Mỹ đã tiếp tế khí giới cho Pháp giết hại người chúng tôi, phá phách xứ sở chúng tôi.''|cquote}}
Trả lời nhà báo Mỹ A. Steele của tờ [[New York Herald Tribune]] (tháng 10 năm 1949), Hồ Chí Minh nói: ''"Người ta lẫn lộn Việt Minh, một tổ chức yêu nước của dân tộc với Việt Nam, vốn là một quốc gia. Sự tuyên truyền giả dối của Pháp, và quan niệm sai lầm cho mọi phong trào giải phóng dân tộc và mọi sự cải cách xã hội đều là cộng sản... Tôi muốn hỏi nhân dân Mỹ một câu này, và mong ông cho tôi biết những câu trả lời của nhân dân Mỹ: Nếu Pháp hoặc một ai khác xâm phạm nước Mỹ, giết người đốt phá thành phố và làng mạc Mỹ, với mục đích là để bắt người Mỹ làm nô lệ, thì nhân dân Mỹ sẽ đối phó như thế nào?"''<ref>Báo Cứu quốc, số 1370, ngày 13-10-1949</ref>
Trên báo ''Cứu quốc'', Hồ Chí Minh kêu gọi:
{{cquote|''"Lâu nay [[đế quốc Mỹ]] đã công khai can thiệp vào Đông Dương. Lâu nay thực dân Pháp làm chiến tranh ở Việt Nam, [[Cao Miên]] và [[Ai Lao]] là nhờ tiền bạc, súng đạn Mỹ, và theo chỉ thị của Mỹ... Muốn độc lập thì các dân tộc Đông Dương quyết phải đánh tan thực dân Pháp là kẻ thù số một. Đồng thời phải chống bọn can thiệp Mỹ. Chúng can thiệp càng mạnh, ta càng đoàn kết và chiến đấu mạnh hơn, chống cự mạnh hơn. Ta phải vạch rõ âm mưu của chúng cho nhân dân đều thấy, nhất là nhân dân ở vùng bị tạm chiếm. Ta phải lột mặt nạ và phá tan bọn người cam tâm làm [[chó sǎn]] cho [[đế quốc Mỹ]] để dụ dỗ lừa bịp, chia rẽ nhân dân ta. Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với dân tộc anh em Miên, Lào thì sức mạnh đó đủ đánh tan thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Đế quốc Mỹ đã thất bại ở Trung Quốc, đế quốc Mỹ sẽ thất bại ở Đông Dương. Chúng ta gặp nhiều khó khǎn. Nhưng chúng ta nhất định thắng lợi."''<ref>Báo Cứu quốc, số 1608, ngày 25-7-1950.</ref>|cquote}}
==== Giải pháp Bảo Đại====
{{Xem thêm|Da vàng hóa chiến tranh|Quốc gia Việt Nam}}
Đầu năm 1947, D'Argenlieu bị triệu hồi về nước do bị người Việt Nam và các đảng phái cánh tả Pháp căm ghét. Trước áp lực của các đảng phái cánh tả Pháp như Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Xã hội Pháp, Thủ tướng Ramadier - một đại biểu xã hội chủ nghĩa, thông báo rằng chính phủ của ông ủng hộ nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam: "''Độc lập trong Liên hiệp Pháp [và] liên minh của ba nước An Nam, nếu người dân An Nam mong muốn nó''" và Pháp sẵn sàng đàm phán hòa giải "với những đại diện chân chính của Việt Nam"<ref name="ReferenceC"/>.
Ngay sau đó, [[Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp]] quyết định sẽ ủng hộ Bảo Đại đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam. Tháng 5 năm 1947, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp cử phái đoàn đến Hồng Kông gặp Bảo Đại để thuyết phục ông này thành lập một Chính phủ Trung ương và đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam.<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 646 - 647</ref> Sau đó, Pháp cử đại diện gặp [[Bảo Đại]] đề xuất về việc đàm phán về nền độc lập của Việt Nam và việc thành lập một chính phủ Việt Nam độc lập. Bảo Đại được [[Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp]] bao gồm các lực lượng chính trị [[Cao Đài]], [[Phật giáo Hòa Hảo|Hoà Hảo]], [[Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội]], [[Đại Việt Quốc dân đảng]] và [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] hậu thuẫn.<ref name="pent52">{{Chú thích web |url=http://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon/pent5.htm |ngày truy cập=2007-06-01 |tựa đề=The Pentagon Papers, Chapter 2, "U.S. Involvement in the Franco-Viet Minh War, 1950-1954", U.S. POLICY AND THE BAO DAI REGIME |archive-date=2011-08-06 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110806004651/http://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon/pent5.htm |url-status=dead }}</ref> Đây là những tổ chức chính trị hoặc tôn giáo từng tham gia chính phủ [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] hay hợp tác với Việt Minh chống Pháp nhưng do xung đột với Việt Minh nên chuyển sang ủng hộ Bảo Đại thành lập Quốc gia Việt Nam.
Theo sử gia [[William Duiker]], đây là việc né tránh vấn đề điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh. Thực chất mục đích của Pháp là tìm cách xây dựng một chính quyền bản xứ người Việt để làm đối trọng với [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]], và để thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương<ref>William Duiker, ''Ho Chi Minh: A Life'', Hyperion, 2000, tr.412-413</ref>, bởi trong hiệp ước không có quy định rõ ràng nào về nghĩa của chữ "độc lập" cũng như quyền hạn của Quốc gia Việt Nam, cũng không nói rõ việc thành lập Quốc gia này có thể ảnh hưởng gì đến cuộc chiến Việt – Pháp hiện vẫn tiếp diễn.<ref>William Duiker, ''Ho Chi Minh: A Life'', Hyperion, 2000, tr.411</ref>
Ngày 7 tháng 12 năm 1947, Bảo Đại và Pháp ký Hiệp định vịnh Hạ Long, trong đó Pháp cam kết mập mờ về nền độc lập dân tộc của Việt Nam. Những chính trị gia trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp và Ngô Đình Diệm đã chỉ trích hiệp định này là kém quá xa so với một nền độc lập thực sự. Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại và Bollaert ký Hiệp định Vịnh Hạ Long thứ hai, Pháp "long trọng công nhận độc lập" của Việt Nam. Tuy nhiên, chính phủ Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát quan hệ ngoại giao và quốc phòng, đồng thời trì hoãn việc chuyển các giao chức năng khác của chính quyền sang những cuộc đàm phán trong tương lai.<ref name="vietnamgear1947">[http://www.vietnamgear.com/Indochina1947.aspx Indochina War Timeline: 1947 - 1949]</ref>
Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại và Bollaert ký kết Hiệp định tại Vịnh Hạ Long trong đó Pháp tuyên bố "trịnh trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam", nhưng đặc biệt Pháp chỉ giữ lại quyền kiểm soát công tác đối ngoại và quân đội, việc chuyển giao các chức năng khác của chính phủ sẽ được giải quyết ở các cuộc thương lượng sau. Thực tế người Việt Nam (Quốc gia Việt Nam) chẳng được trao cho quyền hành gì. Việt Minh chỉ trích Bảo Đại là xấu xa{{ai nói}}, tội lỗi vì đã giành được hai chữ độc lập trong thỏa thuận với Pháp, điều mà Hồ Chí Minh đã cố gắng giành giật ở Hội nghị Fontainebleu nhưng không được. Sau khi ký Hiệp định này, Bảo Đại sang châu Âu. Ngày 25 tháng 8 năm 1948, Bảo Đại báo cho phía Pháp biết ông sẽ không về nước nếu chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ không bị hủy bỏ. Ngày hôm sau, các bộ trưởng ở Paris phát biểu: "thật sự hắn đã bắt đầu bất chấp cả chúng ta". Có khá nhiều điều cho thấy Bảo Đại không phải chỉ là một tên bù nhìn và "vua hộp đêm" như mọi người vẫn tưởng. Bảo Đại đã ký Hiệp định Elysée để nhằm một khi nắm chính quyền, ông có thể chơi ván bài quốc tế theo kiểu của ông. Ông đã đặt lòng tin vào sự ủng hộ của Mỹ mà ông hy vọng sẽ kiềm chế được Pháp và cung cấp cho Việt Nam viện trợ kinh tế cần thiết. L.A Patti nhận xét Bảo Đại vừa là một nhà chính trị vừa là một người dân tộc chủ nghĩa.<ref name="Why Vietnam 2008">Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 649-650</ref>
Ngày [[8 tháng 3]] năm [[1949]], [[Tổng thống Pháp]] [[Vincent Auriol]] và Cựu hoàng [[Bảo Đại]] đã ký [[Hiệp ước Élysée (1949)|Hiệp ước Elysée]], thành lập [[Quốc gia Việt Nam]] là quốc gia độc lập hội viên trong khối [[Liên hiệp Pháp]]<ref name="vietnamgear1947" />, đứng đầu là Quốc trưởng [[Bảo Đại]]. Tuy nhiên, chính quyền Quốc gia Việt Nam rất yếu ớt do các quyền quan trọng về quân sự, tài chính và ngoại giao đều do người Pháp nắm giữ và quyền hành cao nhất ở Đông Dương trên thực tế là [[Cao ủy Đông Dương của Liên hiệp Pháp]]<ref name="vietnamgear1947" />.
Tướng [[Georges Revers]], Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp, được phái sang Việt Nam để nghiên cứu tình hình (tháng 5, 6 năm 1949) và sau đó đã viết:
::''"Hồ Chí Minh đã có khả năng chống cự lại với sự can thiệp của Pháp lâu đến như thế, chính là vì nhà lãnh đạo Việt Minh đã biết tập hợp chung quanh mình một nhóm những người thực sự có năng lực… Ngược lại, Bảo Đại đã có một chính phủ gồm độ 20 đại biểu của toàn các đảng phái ma, trong số đó đảng mạnh nhất cũng khó mà đếm được 25 đảng viên"''<ref>Why Viet Nam?: Prelude to America's Albatross, Archimedes L.A Patti, University of California Press, 1982, trang 399</ref>.
Người Pháp trì hoãn một cách có tính toán việc thi hành Hiệp ước Élysée với Quốc gia Việt Nam. Quân đội của họ tiếp tục tham chiến tại Việt Nam, nhân viên hành chính tiếp tục làm việc ở các cấp chính quyền; Quốc gia Việt Nam chẳng được trao cho một chút quyền hành thực sự nào, như bấy giờ người ta nói, Quốc gia Việt Nam chỉ là một sự nguỵ trang cho nền cai trị của Pháp.<ref>Why Viet Nam?: Prelude to America's Albatross, Archimedes L.A Patti, University of California Press, 1982, trang 398</ref>.
Theo hiệp ước giữa Quốc gia Việt Nam và Pháp, một số đơn vị của Pháp được chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam. Ban đầu các đơn vị này vẫn do các sĩ quan Pháp chỉ huy nhưng sẽ được thay thế dần bằng các sĩ quan người Việt tốt nghiệp các cơ sở đào tạo sĩ quan do Quốc gia Việt Nam thành lập với sự trợ giúp về mọi mặt huấn luyện đào tạo quân sự của Pháp và Mỹ<ref name="Đại cương 85">Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư..., ''Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập III (1945-2005). Nhà xuất bản Giáo dục. Hà Nội. 2007. Trang 85.</ref><ref name="rvnaf">{{Chú thích web |url=http://www.buttondepress.com/secretstuff/ttu2006/rvnaf.htm |ngày truy cập=2011-11-03 |tựa đề=A Brief Overview of the Vietnam National Army and the Republic of Vietnam Armed Forces (1952-1975), PERSPECTIVES ON RVNAF FROM FRUS, Stephen Sherman and Bill Laurie |archive-date = ngày 12 tháng 6 năm 2018 |archive-url=https://web.archive.org/web/20180612143217/http://www.buttondepress.com/secretstuff/ttu2006/rvnaf.htm |url-status=dead }}</ref>. Ngoài ra các trung tâm và các trường huấn luyện của Mỹ bắt đầu chọn, đưa người từ Việt Nam sang học ở Mỹ.<ref name="Đại cương 85"/> [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]] là quân đội riêng, độc lập với quân đội Liên hiệp Pháp, nhưng toàn thể quân đội Việt Nam và Liên hiệp Pháp tại Đông Dương được đặt chung dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh sẽ là một sĩ quan Pháp. Quân đội quốc gia Việt Nam được thành lập nhưng được huấn luyện kém và không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt<ref>Spencer C.Tucker, ''Encyclopedia of the Vietnam War'', ABC-CLIO, 2000, tr. 474.</ref>.
Ngày 19 tháng 7 năm 1949, Vương quốc Lào được Pháp công nhận độc lập (nhưng hạn chế) trong Liên hiệp Pháp<ref>[http://www.royalark.net/Laos/laos2.htm The Khun Lo Dynasty]</ref>, Hiến pháp năm 1947 được sửa đổi. Hiệp ước tiếp theo ký ngày 22 tháng 10 năm 1953 công nhận nền độc lập toàn diện của Lào. Ngày 8 tháng 11 năm 1949, Vương quốc Campuchia giành độc lập (hạn chế) trong [[Liên hiệp Pháp]]<ref name="vietnamgear1947" /><ref>[http://uca.edu/politicalscience/dadm-project/asiapacific-region/french-indochinacambodia-1945-1954/ French Indochina/Cambodia (1945-1954), University of Central Arkansas]</ref>. Đến ngày 9 tháng 11 năm 1953, Campuchia mới được Pháp công nhận độc lập toàn diện<ref name="Henri Locard">[http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2012/10/121015_sihanouk_profile.shtml Sihanouk - vị nguyên thủ 'tình cờ', Henri Locard, BBC Vietnamese]</ref>.
Sau đó, chịu sức ép của Mỹ và để xoa dịu mâu thuẫn<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 689 - 690</ref>, Pháp dần ký những hiệp ước trao cho Quốc gia Việt Nam các quyền tự trị về quân sự, tài chính, thuế quan, xuất nhập cảnh...<ref name="pent52"/> Các cơ quan chức năng do Pháp nắm giữ được chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam trong những năm sau đó.<ref name="pent52"/> Tuy nhiên Quốc gia Việt Nam vẫn phụ thuộc vào nguồn cung tài chính từ Pháp và các hoạt động quân sự của [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]] vẫn nằm dưới sự chỉ đạo của một Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh là một sĩ quan Pháp.
[[Hình:French officer and State of Vietnam soldiers.jpg|250px|nhỏ|phải|Sĩ quan Pháp trao huân chương cho binh lính quân đội Quốc gia Việt Nam.]]
Kỳ thực Pháp coi giải pháp Bảo Đại chỉ là do tình thế thúc ép, họ không tin tưởng và tôn trọng chính phủ này. Năm 1949, Tổng tham mưu trưởng [[lục quân Pháp]], đại tướng Revers sau chuyến khảo sát tình hình Đông Dương đã có bản tường trình mật trong đó viết: ''"Vấn đề điều đình với Việt Nam thì tìm những người quốc gia chống cộng để điều đình. Giải pháp Bảo đại chỉ là một giải pháp thí nghiệm, nhưng chế độ Bảo Đại là một chế độ ung thối với sự tham nhũng, buôn lậu đồng bạc, buôn lậu giấy phép nhập cảng, những khu chứa cờ bạc đĩ điếm..."'' (Trung tâm du hí Đại thế Giới ở [[Chợ Lớn]] được chính phủ Bảo Đại cho phép công khai [[sòng bạc]] và chứa [[mại dâm]] để kiếm chác). Bản tường trình sau đó bị lộ khiến chính phủ Pháp "muối mặt", và Revers bị cho về hưu non sau khi ra khai trình tại Hội đồng tối cao quân lực. bản thân Bảo Đại cũng nhận xét rằng: ''"Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại hóa ra là giải pháp của người Pháp."''<ref name="H. R. McMaster 1998">{{chú thích sách| title=Dereliction of Duty: Johnson, McNamara, the Joint Chiefs of Staff, and the Lies That Led to Vietnam| url=https://archive.org/details/derelictionofdut00mcma|author=H. R. McMaster|year=1998|location=New York, New York|publisher=HarperCollins Publishers, Inc.}}</ref>
Tháng 10 năm 1951, nghị sĩ [[John F. Kennedy]] - về sau trở thành [[Tổng thống Mỹ]] - đã đến Việt Nam để khảo sát. Lúc đó, Mỹ đã tài trợ một cách hào phóng cho chiến tranh của thực dân Pháp ở Đông Dương, nhưng Kennedy tự hỏi: tại sao viện trợ Mỹ vẫn không thể giúp Pháp chiến thắng? Ông đã hỏi tướng De Lattre, Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương rằng: ''“Tại sao ông có thể trông mong người Việt Nam (Quốc gia Việt Nam) chiến đấu (chống lại [[Việt Minh]]) để duy trì nước họ như một bộ phận của Pháp?"''. Về lại Mỹ, Kennedy phát biểu ngày 15 tháng 11 năm 1951 trên đài phát thanh<ref>Arthur M. Schlesinger. Jr., A Thousand Days, Nhà xuất bản Fawcett, New York, 1967, tr. 300</ref>:
::''“Các xứ Đông Dương là những [[chính phủ bù nhìn]], những lãnh địa của các ông hoàng (chỉ cựu hoàng [[Bảo Đại]] và các quốc vương Lào và Campuchia) thuộc Pháp với tài nguyên to lớn nhưng là những ví dụ điển hình của đế quốc và thực dân mà người ta có thể thấy bất kỳ nơi đâu… Ở Đông Dương, chúng ta [Mỹ] đang liên kết với nỗ lực tuyệt vọng của một [[đế chế Pháp]] muốn bám lấy những mảnh còn lại của đế quốc”. Kết quả là (chúng ta) không có sự ủng hộ sâu rộng của nhân dân Việt Nam đối với chính phủ bản xứ (tức chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại)”''
Trả lời điện báo của một nhà báo quốc tế tháng 3 năm 1948 khi thông báo tin [[Bảo Đại]] chịu nhận điều kiện quân đội người Việt Nam sẽ nằm dưới quyền chỉ huy của Pháp, [[chủ tịch Hồ Chí Minh]] trả lời: ''"Ông Vĩnh Thuỵ (tên thật của Bảo Đại) là Cố vấn của Chính phủ Việt Nam. Ông ấy không thể đàm phán hoặc hành động gì trước khi Chính phủ Việt Nam đồng ý. Vả chǎng, nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp tức là Việt Nam chưa được độc lập hẳn và vẫn là [[thuộc địa]] của Pháp. Điều kiện như thế thì ngoài bọn [[phản quốc]] ra, không có một người Việt Nam nào chịu nhận, Cố vấn Vĩnh Thuỵ cũng vậy. Hơn 80 nǎm dưới quyền thống trị của Pháp, nhân dân Việt Nam đã nếm đủ sỉ nhục và đau khổ. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu làm nô lệ lần nữa."''<ref>Hồ Chí Minh toàn tập. Trả lời điện của một nhà báo nước ngoài (3-1948)</ref>
Khi trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo (Trung Hoa Dân Quốc) ngày 3 tháng 4 năm 1949, [[chủ tịch Hồ Chí Minh]] đã trả lời câu hỏi về hiệp định Elysée như sau:
::"''Đối với dân Việt Nam, đó chỉ là một tờ giấy lộn. Thứ [[Chính phủ bù nhìn|thống nhất và độc lập giả hiệu]] ấy chẳng lừa bịp được ai. Ngay nhân dân Pháp và dư luận thế giới cũng đã hiểu rõ và tố cáo điều đó. Lúc nào quân đội thực dân Pháp hoàn toàn rút khỏi đất nước Việt Nam, thì mới có thống nhất và độc lập... Vĩnh Thụy trở về với 10.000 viễn binh Pháp, để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm [[bán nước]], đó là sự thực... Pháp luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết cải tà quy chính nhưng sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân. Quân và dân Việt Nam quyết tâm đánh tan tất cả âm mưu của thực dân, quyết kháng chiến để tranh cho kỳ được độc lập và thống nhất thật sự.''"<ref>[http://www.hcmm.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1388:nh-ng-cu-c-tr-l-i-ph-ng-v-n-bao-chi-c-a-bac-h-ph-n-4&catid=99&Itemid=743&lang=vi Những cuộc trả lời phỏng vấn báo chí của Bác Hồ (Phần 4)], Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh</ref><ref>[http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=0&cn_id=29641 Trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc nhật báo (1949)(1), Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5 (1947 - 1949)] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20151208113318/http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=0&cn_id=29641 |date=2015-12-08 }}, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1985, trang 211, 212</ref>.
Còn Đại tướng [[Võ Nguyên Giáp]] nhận xét: ''"Với việc mở đường cho [[chủ nghĩa thực dân mới]] vào Việt Nam, De Lattre đã mang đến cho ta một hiểm hoạ lâu dài"''<ref>Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi kí; Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 2006 (Hữu Mai thể hiện). Trang 806</ref>.
===Giai đoạn 1950-1954===
==== Chiến dịch Biên giới 1950 ====
{{chính|Chiến dịch Biên giới}}
Trong năm [[1950]], cuộc chiến có sự thay đổi quan trọng, chuyển sang một giai đoạn mới. Nhờ sự viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa đồng minh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định chuyển từ giai đoạn phòng ngự sang giai đoạn tổng phản công. Ngày 2 tháng 2 năm 1950, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 20/SL tổng động viên nhân lực, tài lực của nhân dân để thực hiện tổng phản công<ref>Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập, trang 907, Nhà xuất bản Giáo dục, 2008</ref>. Họ kêu gọi nhân dân tiến hành chiến tranh du kích trên tất cả những địa bàn mà họ xâm nhập được. Từ du kích, họ lại tiếp tục chọn lọc để xây dựng bộ đội chính quy, cộng thêm thế hệ tân binh chiêu mộ được từ các tỉnh đông dân. Quy mô quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phụ thuộc vào cơ số vũ khí mà họ có khả năng trang bị.
Sau chiến dịch Việt Bắc, Việt Minh dần dần tổ chức lại bộ máy và lực lượng, bắt đầu tổ chức những trận đánh quy mô chống lại Pháp. Tháng 1 năm 1950, Việt Minh mở một loạt các chiến dịch quân sự uy hiếp trực tiếp đồng bằng sông Hồng. Từ tháng 2 năm 1950 đến tháng 4 năm 1950, Việt Minh thực hiện những chiến dịch quy mô lớn nhằm kiểm soát Đông Bắc Bắc Bộ.<ref name=autogenerated6 /> Trong năm 1950, các lực lượng vũ trang của [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] được hoàn chỉnh về biên chế, thống nhất với tên gọi [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]].
Về phía Pháp, chiến tranh đã vào thế sa lầy tuy họ đã dùng đến 40-45% ngân sách quân sự và 10% ngân sách nhà nước. Với sự nổ ra của [[Chiến tranh Triều Tiên]] vào tháng 6 năm 1950, Mỹ thay đổi thái độ về cuộc xâm lược của Pháp tại Đông Dương, coi Triều Tiên và Việt Nam là hai chiến trường phụ thuộc lẫn nhau trong cuộc chiến của phương Tây chống lại [[chủ nghĩa cộng sản]]. Tổng thống Mỹ [[Harry S. Truman]] tuyên bố sẽ viện trợ quân sự trực tiếp cho các nỗ lực của quân Pháp tại Đông Dương<ref name="Spencer.Encyc.189">Spencer C.Tucker, ''Encyclopedia of the Vietnam War'', ABC-CLIO, 2000, tr. 189.</ref>.
Trước năm 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn giữ đường lối cân bằng trong quan hệ quốc tế. Năm 1948, Đảng Cộng sản Đông Dương lúc này đang hoạt động bí mật dưới danh nghĩa Việt Minh nhắc nhở các cấp uỷ không viết bài công kích Hoa Kỳ trong các tài liệu tuyên truyền và duy trì đường lối trung lập. Ngày 18 tháng 1 năm 1950, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các lãnh đạo Trung Quốc như [[Mao Trạch Đông]], [[Lưu Thiếu Kỳ]], [[Chu Ân Lai]],... đã thuyết phục thành công Stalin công nhận sự tồn tại của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xua tan những hoài ngi, nghi ngờ của Stalin trước đây về tính chất hai mặt của Hồ Chí Minh khi Stalin cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hợp tác với tình báo Mỹ và giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 30/1/1950, Stalin và Đảng Cộng sản Liên Xô chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đồng ý viện trợ vũ khí cho chính phủ này thông qua Trung Quốc để họ có thêm vũ khí chống Pháp. Cùng ngày, Đảng Cộng sản Đông Dương ban hành một chỉ thị bí mật cho phép thể hiện xu hướng chống Mỹ trên các tài liệu tuyên truyền chính thức. Tháng 4 năm 1950, tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, [[Trường Chinh]], khẳng định Việt Nam, cũng giống như Trung Quốc, đã lựa chọn phong trào cộng sản chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Stalin đồng thời loại bỏ tư tưởng trung lập theo kiểu [[Josip Broz Tito|Tito]]. Ngày 20/7 năm 1950, khi trả lời cuộc phỏng vấn với đại diện Đảng Cộng sản Pháp, Hồ Chí Minh phát biểu công khai lên án [[chủ nghĩa đế quốc]] của Mỹ và sự can thiệp của Mỹ vào vấn đề nội bộ Việt Nam. Hồ Chí Minh tuyên bố hành động viện trợ vũ khí cho Pháp mà Mỹ đang thực hiện là sự phản dân chủ và tương tự như một cuộc xâm lăng. Trong chuyến đi tới Moscow, Hồ Chí Minh hết lời ca ngợi Stalin và chủ nghĩa Stalin, thậm chí ông còn sáng tác một bài thơ ca ngợi Stalin.<ref name="Goscha"/>
Để lấy lại thế chủ động, Pháp thực hiện tăng cường hệ thống phòng ngự đường số 4, khoá biên giới Việt-Trung: cô lập căn cứ địa Việt Minh với bên ngoài, thiết lập hành lang Đông-Tây, cô lập Việt Bắc với đồng bằng Bắc bộ, chuẩn bị lực lượng để tấn công Việt Bắc lần 2 để tiêu diệt đầu não Việt Minh.
Về phía Việt Minh, Bộ chỉ huy Việt Minh nhận định đúng ý đồ của Pháp nên nhanh chóng vạch kế hoạch chủ động tấn công để mở cửa biên giới, khai thông bàn đạp để nhận viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô và khối [[hệ thống xã hội chủ nghĩa|xã hội chủ nghĩa]]. Theo chủ trương này, đầu tháng 7 năm 1950, Bộ Tổng tư lệnh Việt Minh quyết định chọn hướng chiến dịch là Cao Bằng – Lạng Sơn.
[[Chiến dịch Biên giới]] bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, diễn ra trong ba đợt. Đợt 1, ngày 16 tháng 9, [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] tiến hành đánh công kiên quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng tấn công cứ điểm Đông Khê nhằm cô lập Cao Bằng, và đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ dù quân Pháp đã huy động cả không quân yểm trợ. Sự kiện này làm mất một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4 của Pháp. Sang đợt hai, quân Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng, đồng thời thực hiện cuộc "hành quân kép", gửi tiếp viện từ Lạng Sơn qua Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bố trí thế trận phục kích, bao vây sau đó lần lượt tiêu diệt cả hai cánh quân Pháp từ Thất Khê lên lẫn từ Cao Bằng rút về. Qua đợt ba, quân Việt Nam tiến hành truy kích quân Pháp rút chạy đồng thời liên tục quấy rối, không cho họ chuyển quân tiếp viện cho mặt trận Cao-Bắc-Lạng.
Dưới sự uy hiếp của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] và sự hoang mang của bộ chỉ huy Pháp, đến ngày 22 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơn... Đến ngày 17 tháng 10, sau khi đã đạt được toàn bộ các mục tiêu đề ra, Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ động kết thúc chiến dịch.
Thắng lợi của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến dịch này đã làm phá sản [[chiến lược]] quân sự chính trị của Pháp, phá được thế bị cô lập của căn cứ địa Việt Bắc, khai thông một đoạn biên giới dài, nối Việt Bắc với các đồng minh lớn thành một dải liên tục đến tận châu Âu, mở đầu cầu tiếp nhận viện trợ. Vành đai đồn bốt bao vây Việt Bắc đã bị phá hủy hoàn toàn. Đồng thời chiến dịch này đã gây nên không khí chủ bại và hoảng sợ tại Hà Nội. Bộ chỉ huy Pháp được cải tổ, nhiều sỹ quan bị cách chức và tướng [[Jean de Lattre de Tassigny]] lên nắm quyền chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương.
Chiến dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng, là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Kể từ đây [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] bắt đầu chuyển sang thế chủ động tấn công. Cũng từ năm 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu nhận được viện trợ từ các nước Xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh Pháp được Mỹ giúp sức muốn nhanh chóng giành thắng lợi, kết thúc chiến tranh còn thế và lực của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa thực sự lớn mạnh, viện trợ này có ý nghĩa hết sức quan trọng.
==== Chiến tranh phát triển ====
{{chính|Ba chiến dịch tiến công 1950-1951|Chiến dịch Hòa Bình|Chiến dịch Tây Bắc|Chiến dịch Thượng Lào}}
Không còn hy vọng tiến công hay bao vây chiến khu [[Việt Bắc]], Pháp tổ chức [[Phòng tuyến Tassigny]] để bảo vệ vùng đồng bằng. Từ khi chuyển sang chủ động tiến công, các chiến dịch liên tiếp của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] - [[Chiến dịch Trần Hưng Đạo|Chiến dịch Trung Du]], [[Chiến dịch Hoàng Hoa Thám|Chiến dịch đường 18]], [[Chiến dịch Hà Nam Ninh]] - đã bóc vỏ [[Phòng tuyến Tassigny]] khỏi đồng bằng, buộc Pháp duy trì một lực lượng lớn bên trong để bảo vệ vùng [[đồng bằng sông Hồng|đồng bằng Bắc Bộ]].
[[Tập tin:HD-SN-99-02043.JPEG|nhỏ|200px|Bác sĩ [[Pháp]] chăm sóc cho một tù binh [[Việt Minh]] bị thương.]]
Từ cuối năm [[1950]], [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] bắt đầu thực hiện các trận chiến quy mô lớn theo kiểu kinh điển. Nhưng họ đã phải chịu thiệt hại lớn, các [[chiến dịch Trần Hưng Đạo|chiến dịch Trung du]], [[chiến dịch Hoàng Hoa Thám|Đường 18]] và [[chiến dịch Hà Nam Ninh|Hà Nam Ninh]] bị thất bại trước quân Pháp do tướng [[Jean de Lattre de Tassigny]] chỉ huy. [[Chiến dịch Hòa Bình]] mà de Lattre mở vào tháng 11 năm 1951 đã trở thành "cối xay thịt" đối với cả hai bên. Khi trận đánh kết thúc vào tháng 2 năm [[1952]], [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] chịu thương vong không nhỏ, nhưng họ đã học được cách đối phó với chiến thuật và vũ khí của Pháp, và họ đã thâm nhập được sâu hơn vào trong vòng cung phòng thủ của Pháp.
Đầu năm 1951, Pháp xây dựng phòng tuyến quân sự tại đồng bằng Bắc Bộ nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của Việt Minh từ miền núi và trung du vào đồng bằng Bắc Bộ. Họ xây dựng khoảng 800 lô cốt. Xung quanh các lô cốt là vành đai trắng có bán kính 5–10 km. Tại các vành đai trắng Pháp tăng cường kiểm soát dân chúng để họ không thể tiếp tế cho Việt Minh. Pháp còn mở nhiều cuộc càn quét tại các vùng tranh chấp để tìm diệt Việt Minh. Trong các cuộc càn quét này quân đội Pháp và quân đội Quốc gia Việt Nam đã đốt phá, cướp bóc, hãm hiếp, giết hại nhiều người dân vô tội bị nghi ngờ ủng hộ Việt Minh.<ref>Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập, trang 912, Nhà xuất bản Giáo dục, 2008</ref>
Cuối năm 1952, [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] mở [[Chiến dịch Tây Bắc|Chiến dịch tiến công Tây Bắc]] giải phóng thị xã và hầu hết Sơn La cùng các khu vực Nghĩa Lộ, Yên Bái (2 huyện), Lai Châu (4 huyện). Cuộc tấn công vào Phú Thọ để cứu vãn tình thế của Salan thất bại. Salan liền cho củng cố Nà Sản, xây dựng vị trí này như một "con nhím" xù lông để chặn bước tiến của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]].
Ở miền Trung, [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] đã đạt được những thành công quan trọng. Vùng kiểm soát của Pháp ở Tây Nguyên đã bị thu hẹp lại chỉ còn vài vùng ven biển hẹp ở quanh Huế, Đà Nẵng, và [[Nha Trang]]. Những khu vực duy nhất mà Pháp còn có thể thành công là Nam Kỳ và Campuchia.
[[Mùa xuân]] năm 1953, [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] tổ chức một lực lượng lớn tiến công quân Pháp ở Lào, với sự hỗ trợ của Quân đội [[Chính phủ kháng chiến Lào|Chính phủ Souphanouvong]]. Do hậu cần quá xa nên [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] không tiến công quân Pháp ở [[Cánh đồng Chum]]. Đây được coi là thành công lớn của Pháp.
Ở các vùng khác, [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] tấn công phối hợp đồng bộ từ [[Nam Bộ Việt Nam|Nam Bộ]], [[Khu 5]], [[Tây Nguyên]], [[Trung Lào]], [[Nam Lào|Hạ Lào]], [[Bắc Bộ Việt Nam|Bắc Bộ]], buộc [[Pháp]] phân tán xé lẻ khối quân cơ động. [[Việt Minh]] tiến đánh [[Hướng Tây Bắc|Tây Bắc]], Pháp không còn lực lượng cơ động để ứng cứu, hình thành [[Chiến cục đông-xuân 1953-1954]].
====Kế hoạch Navarre====
{{chính|Kế hoạch Navarre|Cuộc hành quân Atlante|Chiến cục đông-xuân 1953-1954}}
Tháng 7 năm [[1953]], chỉ huy mới của [[Pháp]], tướng [[Henri Navarre]], đến [[Bán đảo Đông Dương|Đông Dương]]. Được sự hứa hẹn về việc [[Hoa Kỳ|Mỹ]] tăng viện trợ quân sự, Navarre chuẩn bị cho một cuộc tổng phản công mà báo chí Pháp và Mỹ gọi là "[[Kế hoạch Navarre]]".
[[Tập tin:Indochina,1954.jpg|nhỏ|Bản đồ Đông Dương tháng 7 năm 1954, Nguồn: The Pentagon Papers Gravel Edition, Volume 1, Chapter 3, "The Geneva Conference, May-July, 1954", page 123 (Boston: Beacon Press, 1971)]]
Ngày 18 tháng 7 năm 1953, Navarre mở [[cuộc hành quân Hirondelle]] ("Con én") vào [[Lạng Sơn]] và cuộc hành binh "Camargue" vào [[Quảng Trị]] nhằm phá hủy được một số dụng cụ và máy móc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở [[Lạng Sơn]], quân Pháp lùng sục các kho tàng rồi vội vã rút chạy. Sau đó truyền thông Pháp loan tin quân đội đã diệt được hai tiểu đoàn, một số căn cứ trong khu [[tam giác]] là mối đe dọa trên [[quốc lộ số 1|Quốc lộ 1]].
Liên tiếp với hai cuộc hành quân này, ngày 9 tháng 8 năm 1953 Pháp rút quân ra khỏi Nà Sản bằng không vận. Trước đây, năm 1952, Pháp đặt cứ điểm [[Na Sản]] để ngăn [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] tiến công quân Pháp ở Lào.<ref>p 497 Việt Sử Toàn Thư</ref>
Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre mở [[Chiến dịch Ninh Bình|Cuộc hành quân Moutte]] vào Ninh Bình và Thanh Hóa hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. Mục đích chính lại là phá các căn cứ hậu cần tiền duyên của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] trong cuộc tiến công 1953-1954 được cho là sẽ diễn ra ở đồng bằng. Nhưng thực sự trong kế hoạch [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] được đề ra hồi tháng 9, [[đồng bằng sông Hồng|đồng bằng Bắc Bộ]] chỉ là chiến trường phối hợp. [[Chiến dịch Ninh Bình|Cuộc hành quân Moutte]] diễn ra là sự suy đoán sai của Navarre cùng sự xuất sắc của bộ đội mật mã Việt Nam.
Ngày 12 tháng 4 năm 1953 Quân đội nhân dân Việt Nam tiến quân sang Lào. Chính phủ Vương quốc Lào lên án "Việt Minh xâm lược".<ref name="vietnamgear1953">[http://www.vietnamgear.com/Indochina1953.aspx Indochina War Timeline: 1953]</ref>
Tháng 11 năm 1953, Navarre mở [[cuộc hành quân Castor]] đánh chiếm [[Điện Biên Phủ]] - Khu vực mà ông cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] sang Lào. Navarre xem căn cứ này vừa là một vị trí khóa chặn, vừa là một cái bẫy để nhử đối phương vào một trận đánh lớn theo kiểu kinh điển và có tính chất quyết định mà tại đó Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ bị tiêu diệt bởi pháo binh và hỏa lực không quân vượt trội của Pháp. Navarre đã chọn [[Điện Biên Phủ]] - vùng đất nằm trong một thung lũng lớn, cách Hà Nội 200 [[dặm Anh|dặm]] đường không, với sự chi viện của khoảng 400 máy bay. Quân Pháp sau những trận đánh nống thất bại đã nhường các điểm cao xung quanh cho [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]], Navarre cho rằng khi đó [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] không đủ khả năng đưa pháo lên Điện Biên Phủ nên sẽ không có nguy hiểm gì từ các điểm cao. [[Điện Biên Phủ]] được Navarre xem như là một ''"cái nhọt tụ độc"'', hút hết phần lớn chủ lực của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] và đảm bảo an toàn cho [[đồng bằng sông Hồng|đồng bằng Bắc Bộ]].
Khi đó, Đại tướng [[Võ Nguyên Giáp]] đang nghĩ tới một cuộc tấn công, hy vọng sẽ mở được một con đường xuyên Lào thọc qua Campuchia. Sau đó đưa lực lượng [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] tại miền Bắc vào chi viện bổ sung cho lực lượng sẵn có ở [[Nam Bộ Việt Nam|Nam Bộ]]. Trong cuộc họp tháng 11 năm 1953 của [[Bộ Quốc phòng (Việt Nam)|Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]], các chỉ huy quân sự quyết định mở [[Chiến cục đông-xuân 1953-1954]] để xé lẻ khối quân chủ lực của Pháp đang co cụm đồng bằng Bắc Bộ. Các vị trí tiến công được xác định ở Lai Châu, Trung-Hạ Lào và Tây Nguyên. Ý tưởng tuyến đường chiến lược xuyên Lào sẽ được thực hiện một phần trong tương lai thông qua con [[đường Trường Sơn|đường mòn Hồ Chí Minh]].
====Trận Điện Biên Phủ====
{{chính|Chiến dịch Điện Biên Phủ}}
[[Chiến dịch Lai Châu]] và [[Chiến dịch Trung Lào]] tháng 12 năm 1953 đến tháng 1 năm 1954 đã giúp [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] nắm giữ mảng lớn còn lại của vùng Tây Bắc (Điện Biên Phủ chỉ là một thung lũng nhỏ) và phần lớn vùng Trung và Nam Lào.<ref name="Spencer.Encyc.190">Spencer C.Tucker, ''Encyclopedia of the Vietnam War'', ABC-CLIO, 2000, tr. 190.</ref>
Để đối phó, Navarre tăng cường cho Điện Biên Phủ khiến nó trở thành một ''"pháo đài bất khả xâm phạm"'' trong con mắt phương Tây. Nhưng Navarre không hề biết rằng bản thân đã rơi vào một cái "bẫy" của [[Võ Nguyên Giáp]] khi "đặt bẫy" đối thủ của mình. Việc xây dựng một tập đoàn cứ điểm ở vùng núi Tây Bắc hiểm trở đã hút đi của Pháp những đơn vị thiện chiến nhất. Điều đó tạo nên khoảng trống không thể bù vào ở [[đồng bằng sông Hồng|đồng bằng Bắc Bộ]].
Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định vào "bẫy", và đưa vào Điện Biên Phủ 4 [[sư đoàn]] với một số lượng lớn [[pháo]] xấp xỉ quân Pháp ở Điện Biên Phủ, dù dự trữ đạn pháo khá hạn chế (chủ yếu là thu được của Pháp; phần Trung Quốc viện trợ rất hạn chế do nước này đang [[Chiến tranh Triều Tiên|tham chiến tại Triều Tiên]]). Những cuộc tiến công trên toàn Đông Dương không cho [[Pháp]] tập hợp một đội quân cơ động để ứng cứu Điện Biên Phủ. Những đơn vị phòng không đầu tiên của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] được huấn luyện ở [[Liên Xô]] đã về nước tham chiến. Một lực lượng khổng lồ dân công làm công tác vận tải. Các đơn vị mạnh nhất của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] tiến hành bao vây quân [[Pháp]] ở [[Điện Biên Phủ]].
Cuộc [[Chiến dịch Điện Biên Phủ|vây hãm Điện Biên Phủ]] diễn ra từ ngày [[13 tháng 3]] đến ngày [[7 tháng 5]] thì quân Pháp đầu hàng. Trong thời gian chiến dịch, Pháp không có khả năng xoay chuyển tình thế nên đã đề nghị Mỹ cứu viện. Tại [[Washington, D.C.|Washington]] đã có cuộc tranh luận về việc Mỹ có nên trực tiếp can thiệp bằng quân sự để cứu viện cho Pháp, có tướng lĩnh còn đề nghị thả [[bom nguyên tử]] xuống Điện Biên Phủ. Nhưng tổng thống [[Dwight D. Eisenhower|Eisenhower]] đã quyết định loại bỏ khả năng đó do chính quyền [[Anh]] sẽ không ủng hộ. Không quân Mỹ sẽ thả vũ khí tiếp viện cho quân Pháp, nhưng quân Mỹ sẽ không đổ bộ vào Việt Nam.
[[Tập tin:Victory in Battle of Dien Bien Phu.jpg|nhỏ|250px|phải|[[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] phất cờ chiến thắng trên nóc hầm chỉ huy của Pháp tại Điện Biên Phủ]]
Cục diện chiến trường [[Bán đảo Đông Dương|Đông Dương]], tại thời điểm trong và sau [[Chiến dịch Điện Biên Phủ]], [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] kiểm soát khoảng 2/3 [[lãnh thổ]] [[Việt Nam]], nhưng chủ yếu là các vùng nông thôn và rừng núi, một số thị xã nhỏ, chưa kiểm soát được các thành phố lớn. [[Pháp]] kiểm soát một số tỉnh [[đồng bằng]] và các [[thành phố]] lớn đông dân cư, một số tỉnh đồng bằng nằm trong vùng tranh chấp. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát gần như toàn bộ miền Bắc Việt Nam (trừ một số thành phố, thị xã như Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Yên, Móng Cái...), hầu hết Bắc Trung Bộ (trừ duyên hải nhỏ Quảng Bình đến Quảng Nam), hầu hết Trung Trung Bộ (gồm cả Quảng Ngãi, Quy Nhơn...), vùng Bắc Tây Nguyên, một phần nhỏ Nam Tây Nguyên, một phần cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Một phần lớn lãnh thổ Lào (vùng núi phía đông), một phần lãnh thổ Campuchia (đông bắc, nhỏ hơn là vùng rừng núi tây và tây nam, một phần đông nam) cũng thuộc kiểm soát của bộ đội Lào (đồng minh của Việt Minh). Tại Đông Nam Bộ, quân đội Pháp và quân đội Quốc gia Việt Nam chiếm ưu thế, quân đội riêng của các giáo phái tự trị cũng khá mạnh nên Việt Minh chỉ kiểm soát được các vùng nông thôn. Việt Minh hạn chế đánh lớn vì họ nhận thức được bản thân bộ đội không đủ hỏa lực đọ với Pháp - Quốc gia Việt Nam (họ rút kinh nghiệm từ những trận chiến đẫm máu vào cuối thập niên 40 đầu 50). Thay vào đó, Việt Minh tích cực xây dựng thế trận đồng bộ y hệt với các miền Bắc bộ, Trung Bộ sao cho phù hợp với địa hình Nam Bộ: Xây dựng quân du kích và lực lượng nằm vùng để dễ bề tranh chấp. Việt Minh không đánh với tổ chức cấp sư đoàn, mà chỉ cơ động ở các quy mô tiểu đoàn. Cuối chiến tranh, riêng tại Nam Bộ quân số tương đương 2-3 đại đoàn Việt Minh được tập kết ra Bắc; một số tiểu đoàn nổi tiếng: 303, 307.
Sau 56 ngày đêm, cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ 16.200 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] trong toàn bộ Kháng chiến chống Pháp. Trên phương diện quốc tế trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một quốc gia thuộc địa [[châu Á]] đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một [[cường quốc]] [[châu Âu]]. Trận thua lớn ở Điện Biên Phủ đã gây chấn động dư luận Pháp, đánh bại ý chí duy trì chế độ thực dân tại [[Bán đảo Đông Dương|Đông Dương]] của Pháp và buộc nước này phải rút khỏi Đông Dương. Ngày [[8 tháng 5]], [[hiệp định Genève, 1954|hội nghị Geneva]] bắt đầu họp bàn về vấn đề khôi phục hòa bình ở Đông Dương.
== Sự tham gia của các nước khác ==
Từ năm 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu nhận được viện trợ quân sự từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội chủ nghĩa khác còn Pháp bắt nhận đầu được viện trợ quân sự từ Mỹ. Kháng chiến chống Pháp của nhân dân ba nước Đông Dương vì thế chuyển sang giai đoạn mới.
=== Về phía Việt Minh ===
Sau nhiều lần tìm sự ủng hộ về mặt ngoại giao từ phương Tây và Mỹ không thành, kèm theo đó là quan hệ các nước trong khu vực không có sự tiến triển, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu tìm kiếm sự ủng hộ từ hệ thống xã hội chủ nghĩa<ref name="Đại cương 69">Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư..., ''Đại cương Lịch sử Việt Nam - Tập 3''. Nhà xuất bản Giáo dục. Hà Nội. 2007. Trang 69-70</ref>. Năm 1949, Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vượt qua biên giới Việt-Trung, tiến công quân Trung Hoa Dân quốc tỉnh Quảng Tây, bàn giao lại cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.<ref name="Đại cương 80">Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư..., ''Đại cương Lịch sử Việt Nam - Tập 3''. Nhà xuất bản Giáo dục. Hà Nội. 2007. Trang 80</ref> Ngày 14 tháng 1 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới và khẳng định ''Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam''.<ref name="Đại cương 69"/>
Năm 1949 ở Trung Quốc, [[Đảng Cộng sản Trung Quốc|Đảng Cộng sản]] đã giành được quyền lực trên toàn đại lục. Ngay sau tuyên bố trên, ngày 18 tháng 1 năm 1950, Trung Quốc trở thành nước đầu tiên trên thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, [[Liên Xô]], [[Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên|CHDCND Triều Tiên]], [[Nam Tư]] và các nước [[Đông Âu]] cũng lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao. Sau khi công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trung Quốc bắt đầu viện trợ quân sự cho nước này.
Trong Kháng chiến chống Pháp ngoài ô tô vận tải, pháo cao xạ [[61-K 37 mm|37 mm]], đại liên 12,7mm [[DShK]], hỏa tiễn sáu nòng H6 Katyusha, tiểu liên [[PPSh-41|K-50]], súng ngắn [[K-54]], súng trường [[K-44]], súng cối 82mm, súng cối 120mm,... là của Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa [[Đông Âu]] viện trợ còn các vũ khí bộ binh khác như lựu pháo 105 ly, sơn pháo 75 ly, DKZ 57, DKZ 75 và lương thực là do Trung Quốc giúp đỡ. Số viện trợ nói trên chiếm khoảng 20% tổng số vật chất quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng trên chiến trường Bắc Bộ trong thời gian này.<ref name="vientro" />
Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tính chung, từ tháng 6-1950 đến tháng 6-1954, Việt Nam nhận được từ Liên Xô, Trung Quốc tổng cộng 21.517 tấn hàng các loại, trị giá 34 triệu [[rúp Nga]] (~34 triệu [[Đô la Mỹ|USD]] theo thời giá bấy giờ). Còn theo thống kê của Trung Quốc thì chưa tính phần của Liên Xô, riêng lượng [[thực phẩm|lương thực]] và [[thực phẩm phụ]] Trung Quốc đã viện trợ Việt Nam hơn 140.000 tấn và hơn 26.000 tấn [[dầu]], ngoài ra còn 155.000 khẩu [[súng]] các loại, 57,85 triệu viên đạn, 3.692 khẩu pháo và súng cối, hơn 1,08 triệu quả đạn pháo và đạn cối, hơn 840.000 quả [[lựu đạn]], 1.231 [[ô tô]], hơn 1,4 triệu bộ [[quân phục]] nữa. Như vậy là có sự khác biệt khá lớn giữa số liệu thống kê của Trung Quốc và của Việt Nam.<ref name="vientro" />
==== Trung Quốc ====
Trong thời kỳ này, Trung Quốc thực hiện chính sách ngoại giao "nhất biên đảo", ngã về phe Xã hội chủ nghĩa do [[Liên Xô]] đứng đầu, trực tiếp đối đầu với Mỹ, coi Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất. Vì vậy, Trung Quốc đã tích cực ủng hộ và đưa quân tình nguyện tham chiến ở Triều Tiên chống quân [[Liên Hợp Quốc]] và giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống Pháp. Tuy nhiên khác với Triều Tiên, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi Mao Trạch Đông về khả năng Trung Quốc đưa quân sang Việt Nam trực tiếp tham chiến, Mao từ chối yêu cầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về quân đội Trung Quốc, nhưng ông đồng ý gửi cố vấn quân sự sang Việt Nam<ref name="bbc1812">[https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-50812398 Ngày Hồ Chí Minh nhờ Mao Trạch Đông giúp xây dựng quân đội], BBC Tiếng Việt, 18 tháng 12 năm 2019</ref>. Trung Quốc là nước viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tích cực nhất, nhiều nhất lúc đó.
Cuối tháng 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật sang [[Bắc Kinh]] để bàn về vấn đề viện trợ, sau đó đi Moskva gặp gỡ [[Iosif Vissarionovich Stalin|Stalin]] và [[Mao Trạch Đông]], [[Chu Ân Lai]] đang ở thăm Liên Xô. Stalin đề nghị Mao Trạch Đông giúp đỡ phong trào cộng sản ở Á châu như Việt Nam. Mao đồng ý với Stalin rằng Trung Quốc sẽ giúp Hồ Chí Minh.<ref name="bbc1812"/> Stalin và Mao Trạch Đông đã khẳng định: ''Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt hãy trang bị cho 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam''. Từ đó, viện trợ của Trung Quốc đã một góp phần không nhỏ trong việc làm thay đổi cục diện chiến tranh ở Đông Dương. [[Archimedes Patti]], một nhân viên tình báo quân sự Mỹ từng hợp tác với Việt Minh [[chống phát xít]] Nhật, trong hồi ký viết: ''Đến năm 1950, Mao Trạch Đông đã ở trong thế có thể giúp đỡ Hồ Chí Minh qua đường biên giới phía Bắc Việt Nam. Hồ Chí Minh không còn bị cô lập như trước, ông đã có rất nhiều đồng minh, trước hết là Trung Quốc và sau đó là Liên Xô, một sân bóng mới đã bắt đầu''.
Ngay tháng 4 năm 1950, hai Trung đoàn của [[Sư đoàn 308, Quân đội Nhân dân Việt Nam|Đại đoàn 308]] sang [[Mông Tự]], [[Vân Nam]], tiếp đó một Trung đoàn của [[Sư đoàn 312, Quân đội Nhân dân Việt Nam|Đại đoàn 312]] sang [[Hoa Đồng]], [[Quảng Tây]] nhận vũ khí. Để giải quyết đảm bảo hậu cần của bộ đội Việt Nam, ngày 6-8-1950, [[Tổng cục Hậu cần Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc]] đã thành lập văn phòng ở [[Nam Ninh]]. Ngoài ra, còn có hai Tiểu đoàn công binh và trường sĩ quan lục quân sang học tập, huấn luyện tại Trung Quốc. Những đơn vị sang Trung Quốc ngoài việc trang bị lại vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá, được bắn đạn thật nên tiến bộ rất nhanh.
Theo thống kê sơ bộ của Trung Quốc, từ tháng 4 đến tháng 9, Trung Quốc đã viện trợ 14.000 súng trường và súng lục, 1.700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu pháo, 300 [[bazooka]], cùng đạn dược, thuốc, quần áo và 2.800 tấn lương thực. Riêng chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam tổng cộng hơn 200 ô tô, hơn 10.000 thùng dầu, hơn 3.000 khẩu súng các loại, 2.400.000 viên đạn, hơn 100 khẩu pháo các loại, hơn 60.000 viên đạn pháo các loại và đạn hỏa tiễn, 1.700 tấn lương thực, ngoài ra còn một lượng lớn thuốc men, khí tài, thuốc nổ.<ref name="vientro">[https://archive.today/20130114053147/www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/3/3/32/75212/Default.aspx Viện trợ của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, THS. NGUYỄN PHƯƠNG HOA, Viện Nghiên cứu Trung Quốc]</ref>.
Nhờ có sự giúp đỡ của Trung Quốc, trang bị vũ khí của quân đội được cải thiện đáng kể. ''Những năm qua, mỗi chiến sĩ chỉ mơ ước có một khẩu súng trong tay. Bây giờ không chỉ có súng mà đạn được cũng khá dồi dào. Sức mạnh hỏa lực của trung đoàn bộ binh ta đã hoàn toàn thay đổi so với trước''. Tính đến tháng 6-1950, số cán bộ sang Trung Quốc học tập là 3.100 người (trong đó 650 cán bộ học bổ túc trung và sơ cấp, 1.200 học đào tạo, chỉ huy bộ binh sơ cấp, còn lại học về binh chủng như [[pháo binh]], [[công binh]]...
Trong hai năm 1951-1952, viện trợ của các nước Xã hội chủ nghĩa, trong đó có Trung Quốc được duy trì thường xuyên và tương đối đều đặn. Từ tháng 7-1952 đến tháng 1-1953, Trung đoàn 45, Trung đoàn pháo binh hạng nặng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được huấn luyện ở Mông Tự (Vân Nam, Trung Quốc); Trung đoàn pháo cao xạ 367 thành lập ngày 1-4-1953, sau 6 tháng huấn luyện ở Tân Dương (Quảng Tây, Trung Quốc), cuối năm 1953 được điều tham gia [[chiến dịch Điện Biên Phủ]]. Liên Xô giúp trang bị vũ khí, Trung Quốc đảm nhiệm về đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật, huấn luyện cho hai trung đoàn này.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã chi viện cho 3.600 viên đạn pháo 105 ly, đó là số đạn đi theo 24 khẩu pháo viện trợ đưa về Việt Nam từ cuối năm 1953, chiếm 18% tổng số đạn pháo sử dụng trong chiến dịch, sau đó còn chuyển thêm cho 7.400 viên đạn 105mm nhưng số đạn này không kịp đưa vào phục vụ chiến dịch. Trong những ngày cuối chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc còn giúp thêm một tiểu đoàn DKZ 75mm và 12 pháo hỏa tiễn H6, kịp thời tham gia đợt tổng công kích cuối cùng diễn ra chiều ngày 6 tháng 5 năm 1954, phát huy tác dụng rất lớn.
Trong những năm 1949, 1950, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã viện trợ 2.634 tấn [[gạo]]. Tuy nhiên, từ năm 1951 trở đi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cố gắng huy động lương thực trong nước để giảm dần lượng gạo viện trợ. Vì vậy, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lương thực chủ yếu được huy động từ trong nước, gạo Trung Quốc chỉ có 1.700 tấn gạo, chiếm 6,52% tổng nhu cầu.
[[Hình:Weiguoqing.jpg|nhỏ|150px|Tướng Vi Quốc Thanh, trưởng đoàn cố vấn quân sự sang Việt Nam.]]
Ngoài trang bị vũ khí, giúp đỡ huấn luyện, viện trợ lương thực, Trung Quốc còn cử [[Đoàn công tác Hoa Nam]] gồm 79 người do [[Vi Quốc Thanh]] làm trưởng đoàn. Ngày 9-8-1950 đoàn khởi hành từ [[Nam Ninh]], ngày 12-8 đến Quảng Uyên, Cao Bằng. Đây là lần đầu tiên Đảng Cộng sản Trung Quốc cử một đoàn cố vấn quân sự ra nước ngoài, với chỉ thị là phải phát huy tinh thần chủ nghĩa quốc tế, phải đoàn kết với các đồng chí Việt Nam, phải giúp Việt Nam theo con đường tự lực cánh sinh, phát huy tính thần gian khổ phấn đấu. Đảng Cộng sản Trung Quốc giao cho đoàn 2 nhiệm vụ: Một là, giúp đỡ Việt Nam đánh thắng trận, đuổi thực dân Pháp xâm lược; hai là, giúp đỡ Việt Nam xây dựng quân đội chính quy. Ngoài đoàn cố vấn quân sự, Trung Quốc còn cử [[Trần Canh]] (nguyên Phó Tư lệnh cánh quân Tây Nam, Tư lệnh quân khu Vân Nam) cùng một số cán bộ quân sự, trực tiếp làm cố vấn trong chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950.
Bà Hứa Kỳ Sảnh, phu nhân của tướng Vi Quốc Thanh trong buổi gặp gỡ [[Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam]] [[Phùng Quang Thanh]] đã cho biết: ''Tôi còn nhớ rất rõ, theo yêu cầu của Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ đầu thập niên 50 của thế kỷ trước, khi nước Trung Hoa mới vừa thành lập, đồng chí Vi Quốc Thanh, đồng chí Trần Canh và đồng chí [[La Quý Ba]] và rất nhiều đồng chí trong đoàn cố vấn Trung Quốc sang giúp Việt Nam chống Pháp, trước khi đi, Chủ tịch Mao Trạch Đông căn dặn: "Các đồng chí phải phải coi sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam là sự nghiệp của chính mình.''<ref>[http://vietnamese.cri.cn/761/2010/05/05/1s140155_1.htm Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh tiếp người thân của đồng chí Trần Canh, Vi Quốc Thanh và lưỡng quốc Tướng quân Hồng Thủy]</ref>
Ngày 2 tháng 9 năm 1953, Hồ Chủ tịch dẫn đầu đoàn lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước đến nơi ở của đoàn cố vấn Trung Quốc để trao [[Huân chương Hồ Chí Minh]] cho các thành viên của đoàn cố vấn như Vi Quốc Thanh, La Quý Ba, biểu dương tinh thần quốc tế vô sản trong đoàn cố vấn, cảm ơn sự giúp đỡ mà Đảng Cộng sản, Chính phủ Trung Quốc đã dành cho Việt Nam.<ref name="vientro" />
==== Liên Xô ====
Trong giai đoạn đầu, Liên Xô đã hình thành quan hệ chính trị toàn diện với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ủng hộ chủ trương và đường lối khôi phục và xây dựng miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, quan hệ này lại không đậm đà bằng quan hệ với các nước khác. Ngày 3 tháng 2 năm 1950, Liên Xô mới đặt quan hệ ngoại giao với [[Indonesia]] (sau Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 3 ngày), song tháng 1 năm 1953 Liên Xô đã cử đại sứ đi [[Jakarta]], trong khi đó mãi đến gần 2 năm sau tức là ngày 4 tháng 11 năm 1954, Liên Xô mới cử Lavraschev - đại sứ đầu tiên của Liên Xô đến [[Hà Nội]].<ref>{{Chú thích web |url=http://www.hcmup.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=2191%3Aquan-h-vit-nam-lien-xo-trong-giai-on-khang-chin-chng-m-1954-1975&catid=1513%3Avit-nam-hin-i&Itemid=2938&lang=vi&site=71 |ngày lưu trữ=2020-08-07 |ngày truy cập=2012-05-15 |tiêu đề=Quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), Phạm Quang Minh |archive-url=https://web.archive.org/web/20200807032228/http://www.hcmup.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=2191%3Aquan-h-vit-nam-lien-xo-trong-giai-on-khang-chin-chng-m-1954-1975&catid=1513%3Avit-nam-hin-i&Itemid=2938&lang=vi&site=71 |url-status=dead }}</ref>
Trả lời phóng viên báo [[France Tireur]] (tháng 6 năm 1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn đối thoại.khẳng định rằng dù nhận viện trợ song Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ kiên quyết duy trì sự độc lập của mình<ref>Hồ Chí Minh toàn tập. Trả lời phóng viên báo France Tireur (tháng 6 năm 1949)</ref>:
{{cquote|''Hỏi: Cụ có trông đợi ở sự giúp đỡ của quân đội [[Mao Trạch Đông]] không? Nếu có sự giúp đỡ đó, Cụ có sợ Trung Hoa và Liên Xô sẽ thống trị Việt Nam không?''
''Trả lời: Thắng lợi của Việt Nam sẽ là độc lập và thống nhất thực sự. Chúng tôi bao giờ cũng trông ở sức mình.<br>Chúng tôi không sợ ai cả. Không nước nào có thể thống trị được chúng tôi.''|cquote}}
=== Về phía Pháp ===
==== Hoa Kỳ ====
===== Chính sách chống cộng của Mỹ =====
Theo chính phủ Mỹ, một mặt Mỹ ủng hộ khái niệm quyền dân tộc tự quyết, mặt khác nước này cũng có quan hệ chặt chẽ với các đồng minh châu Âu của mình, những nước đã có những tuyên bố [[đế quốc]] đối với những thuộc địa cũ của họ. Chiến tranh Lạnh chỉ làm phức tạp thêm vị trí của Mỹ, việc Mỹ ủng hộ quá trình phi thực dân hóa gặp xung đột với mối quan tâm của Mỹ đối với sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản và những tham vọng chiến lược của Liên Xô tại châu Âu. Một số đồng minh [[NATO]] khẳng định rằng thuộc địa cung cấp cho họ sức mạnh kinh tế và quân sự mà nếu không có nó thì liên minh phương Tây sẽ tan rã. Gần như tất cả các đồng minh châu Âu của Mỹ đều tin rằng thuộc địa sẽ cung cấp sự kết hợp giữa nguyên liệu và thị trường được bảo vệ đối với hàng hóa thành phẩm, từ đó sẽ gắn kết các thuộc địa với châu Âu.<ref>[http://history.state.gov/milestones/1945-1952/AsiaandAfrica Decolonization of Asia and Africa, 1945-1960, Office of the Historian, Bureau of Public Affairs, United States Department of State] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20130524022108/http://history.state.gov/milestones/1945-1952/AsiaandAfrica |date=2013-05-24 }}, trích:"While the United States generally supported the concept of national self-determination, it also had strong ties to its European allies, who had imperial claims on their former colonies. The Cold War only served to complicate the U.S. position, as U.S. support for decolonization was offset by American concern over communist expansion and Soviet strategic ambitions in Europe. Several of the NATO allies asserted that their colonial possessions provided them with economic and military strength that would otherwise be lost to the alliance. Nearly all of the United States' European allies believed that after their recovery from World War II their colonies would finally provide the combination of raw materials and protected markets for finished goods that would cement the colonies to Europe."</ref>.
Hoa Kỳ cần có quan hệ đồng minh với Pháp để thiết lập sự cân bằng với sức mạnh của Xô Viết ở [[châu Âu]] sau chiến tranh thế giới thứ hai. Từ tháng 9 năm 1945, Washington đã có một số hành động ở [[Đông Nam Á]]. Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn đóng vai trò lớn hơn ở khu vực [[Thái Bình Dương]], ông đã làm tất cả để thiếp lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ [[OSS]] (U.S Office of Strategic Services), tiền thân của CIA, giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh.<ref name="Maurice Isserman 2003"/>
Tại [[Hoa Kỳ|Mỹ]], các thế lực chống cộng cực đoan nắm quyền, McCarthy và Hoover thực hiện các chiến dịch [[chủ nghĩa chống cộng|chống cộng]] theo dõi, phân biệt đối xử, sa thải, khởi tố và bắt giam nhiều người bị xem là cộng sản hoặc ủng hộ chủ nghĩa cộng sản<ref>Schrecker, Ellen (2002). The Age of McCarthyism: A Brief History with Documents (2d ed.). Palgrave Macmillan. ISBN 0-312-29425-5. p. 63–64</ref><ref>Ellen Schrecker, THE AGE OF MCCARTHYISM: A BRIEF HISTORY WITH DOCUMENTS, [http://www.english.illinois.edu/maps/mccarthy/schrecker3.htm The State Steps In: Setting the Anti-Communist Agenda] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20151228234147/http://www.english.illinois.edu/maps/mccarthy/schrecker3.htm |date=2015-12-28 }}, trích "''These actions--most important the inauguration of an anti-Communist loyalty-security program for government employees in March 1947 and the initiation of criminal prosecutions against individual Communists--not only provided specific models for the rest of the nation but also enabled the government to disseminate its version of the Communist threat.''", Boston: St. Martin's Press, 1994</ref><ref>Ellen Schrecker, THE AGE OF MCCARTHYISM: A BRIEF HISTORY WITH DOCUMENTS, [http://www.english.illinois.edu/maps/mccarthy/schrecker3.htm The State Steps In: Setting the Anti-Communist Agenda] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20151228234147/http://www.english.illinois.edu/maps/mccarthy/schrecker3.htm |date=2015-12-28 }}, trích "''Communist defendants were arrested, handcuffed, fingerprinted, and often brought to their trials under guard if they were being held in jail for contempt or deportation.''", Boston: St. Martin's Press, 1994</ref>. Một bộ phận trong số những nạn nhân bị mất việc, bị bắt giam hoặc bị điều tra quả thật có quan hệ trong hiện tại hoặc trong quá khứ với [[Đảng Cộng sản Hoa Kỳ]]. Nhưng đại bộ phận còn lại có rất ít khả năng gây nguy hại cho nhà nước và sự liên quan của họ với người cộng sản là rất mờ nhạt<ref>Schrecker, Ellen (1998). Many Are the Crimes: McCarthyism in America. Little, Brown. ISBN 0-316-77470-7. p. 4</ref>. Những điều này khiến công chúng nghĩ rằng những người cộng sản là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.<ref>Ellen Schrecker, THE AGE OF MCCARTHYISM: A BRIEF HISTORY WITH DOCUMENTS, [http://www.english.illinois.edu/maps/mccarthy/schrecker3.htm The State Steps In: Setting the Anti-Communist Agenda] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20151228234147/http://www.english.illinois.edu/maps/mccarthy/schrecker3.htm |date=2015-12-28 }}, trích "''The major trials of the period got enormous publicity and gave credibility to the notion that Communists threatened the nation's security.''", Boston: St. Martin's Press, 1994</ref>
Sự cạnh tranh chiến tranh lạnh với Liên Xô là mối quan tâm lớn nhất về chính sách đối ngoại của Mỹ trong những năm 1940 và 1950, chính phủ Truman và Eisenhower ngày càng trở nên lo ngại rằng khi các cường quốc châu Âu bị mất các thuộc địa của họ, các đảng cộng sản được Liên Xô ủng hộ sẽ đạt được quyền lực trong quốc gia mới. Điều này có thể làm thay đổi cán cân quyền lực quốc tế theo hướng có lợi cho Liên Xô và loại bỏ quyền truy cập vào nguồn lực kinh tế từ đồng minh của Mỹ. Các sự kiện như cuộc đấu tranh giành độc lập của [[Indonesia]] (1945-1950), cuộc chiến tranh của Việt Nam chống Pháp (1945-1954), và chủ nghĩa xã hội dân tộc công khai của [[Ai Cập]] (1952) và [[Iran]] (1951) đã khiến Hoa Kỳ lo lắng rằng các nước mới giành độc lập sẽ ủng hộ Liên Xô, ngay cả khi chính phủ mới không trực tiếp liên hệ với Liên Xô. Do vậy, Hoa Kỳ đã sử dụng các gói cứu trợ, hỗ trợ kỹ thuật và can thiệp đôi khi bằng quân sự để hỗ trợ các chính phủ thân phương Tây tại các quốc gia mới giành độc lập.<ref>[http://history.state.gov/milestones năm 1945-1952/AsiaandAfrica Decolonization of Asia and Africa, 1945-1960, Office of the Historian, Bureau of Public Affairs, United States Department of State]</ref>
Từ năm 1949, sau khi [[Nội chiến Trung Quốc]] kết thúc, tiếp đó là [[chiến tranh Triều Tiên]] bùng nổ, khuynh hướng thân Liên Xô tại nhiều nước [[Ả Rập]], giới chính khách Mỹ cảm thấy lo sợ về làn sóng đi theo chủ nghĩa Cộng sản tại các nước [[thế giới thứ ba]]. Trong điện tín số 831 ngày 3 tháng 2 năm 1947 gửi cho Đại sứ quán Mỹ tại Paris, bộ trưởng Ngoại giao Mỹ George Marshall nhận định "''chúng ta không thấy có lợi ích gì trong việc nền cai trị đế quốc thực dân lại được thay thế bởi nền triết lý và các tổ chức chính trị bắt nguồn từ Kremlin và do Kremlin kiểm soát.''"<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 630</ref> Chính phủ Mỹ đưa ra [[Thuyết domino]], theo đó Mỹ tin rằng nếu một quốc gia đi theo Chủ nghĩa cộng sản, các quốc gia thân phương Tây lân cận sẽ bị đe dọa. Bởi vậy, Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến chống lại [[Việt Minh]] (chỉ nước [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]]), một tổ chức/chính quyền họ cho là có liên hệ với Liên Xô và Trung Quốc. Tháng 5-1949, Ngoại trưởng Mỹ [[Dean Acheson]], dù chẳng có chứng cớ nào về các mối liên lạc giữa Hồ Chí Minh với Kremlin, đã chỉ thị cho đại diện Mỹ tại Hà Nội cảnh báo những người quốc gia Việt Nam có ý định liên minh với Việt Minh, bằng những lời lẽ sau đây: ''"Qua hiểu biết về quá trình đào tạo của ông Hồ, không thể có nhận định nào khác hơn ông Hồ là một tên Cộng sản quốc tế thực thụ vì rõ ràng ông Hồ đã không thể chối cãi được các mối liên hệ với Moscow và chủ nghĩa cộng sản quốc tế và là một người châu Á được đề cao trong báo chí quốc tế cộng sản và được họ ủng hộ. Hơn nữa Mỹ đã không hề bị xúc động bởi tính chất dân tộc chủ nghĩa của lá cờ đỏ với ngôi sao vàng.''"<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 640 - 641</ref>
Mỹ tuyên bố "''ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á''" trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện "''lãnh đạo của những nhà nước mới không phải là người cộng sản''", họ đặc biệt ủng hộ việc thành lập các "''[[chủ nghĩa chống cộng|nhà nước phi cộng sản]]''" ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo [[thuyết domino|thuyết Domino]], Mỹ hỗ trợ các đồng minh tại Đông Nam Á để chống lại các phong trào mà họ cho là "''lực lượng cộng sản muốn thống trị châu Á dưới chiêu bài dân tộc''".<ref name="pent51">[http://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon/pent5.htm The Pentagon Papers, Chapter 2, "U.S. Involvement in the Franco-Viet Minh War, 1950-1955", MEMORANDUM FOR THE PRESIDENT - Harry S. Truman President] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20110806004651/http://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon/pent5.htm |date=2011-08-06 }}, trích "Recognition by the United States of the three legally constituted governments of Vietnam, Laos' and Cambodia appears desirable and in accordance with United States foreign policy for several reasons. ''Among them are: encouragement to national aspirations under non-Communist leadership for peoples of colonial areas in Southeast Asia; the establishment of stable non-Communist governments in areas adjacent to Communist China''; ''support to a friendly country which is also a signatory to the North Atlantic Treaty; and as a demonstration of displeasure with Communist tactics which are obviously aimed at eventual domination of Asia, working under the guise of indigenous nationalism''."</ref> Mỹ thúc giục Pháp nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam, nhưng mặt khác họ không thể cắt viện trợ cho Pháp vì sẽ mất đi đồng minh trước những mối đe dọa lo lớn hơn tại châu Âu. Tóm lại, chính sách của Mỹ gồm 2 mặt không tương thích: một mặt hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Minh - tốt nhất là dưới sự chỉ đạo của Mỹ, mặt khác Mỹ dự kiến, người Pháp sau khi chiến thắng sẽ - ''"một cách cao cả"'' - rút khỏi Đông Dương<ref>[http://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon/pent5.htm The Pentagon Papers, Chapter 2, "U.S. Involvement in the Franco-Viet Minh War, 1950-1954"] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20110806004651/http://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon/pent5.htm |date=2011-08-06 }}, Trích "''The U.S.-French ties in Europe (NATO, Marshall Plan, Mutual Defense Assistance Program) only marginally strengthened U.S. urgings that France make concessions to Vietnamese nationalism.'' Any leverage from these sources was severely limited by the broader considerations of U.S. policy for the containment of communism in Europe and Asia. NATO and the Marshall Plan were of themselves judged to be essential to our European interests. To threaten France with economic and military sanctions in Europe in order to have it alter its policy in Indochina was, therefore, not plausible. Similarly, to reduce the level of military assistance to the French effort in Indochina would have been counter-productive, since it would have led to a further deterioration in the French military position there. ''In other words, there was a basic incompatibility in the two strands of U.S. policy: (1) Washington wanted France to fight the anti-communist war and win, preferably with U.S. guidance and advice; and (2) Washington expected the French, when battlefield victory was assured, to magnanimously withdraw from Indochina.''"</ref>
Theo [[Félix Green]], mục tiêu của Mỹ không phải chỉ có Việt Nam và Đông Dương, mà là toàn bộ vùng [[Đông Nam Á]]. Vì đây là ''"một trong những khu vực giàu có nhất thế giới, đã mở ra cho kẻ nào thắng trận ở Đông Dương. Đó là lý do giải thích vì sao Mỹ ngày càng quan tâm đến vấn đề Việt Nam... Đối với Mỹ đó là một khu vực phải nắm lấy bằng bất kỳ giá nào"''<ref>Félix Green, The Enemy: What Every American Should Know About Imperialism. Vintage Books, New York, 1971.</ref> Một số khác cho rằng mục tiêu cơ bản và lâu dài của Mỹ là muốn bảo vệ sự tồn tại của các chính phủ thân Mỹ tại Đông Nam Á, không chỉ nhằm làm "tiền đồn chống Chủ nghĩa Cộng sản", mà qua đó còn duy trì ảnh hưởng lâu dài của ''"[[Chủ nghĩa thực dân mới|Quyền lực tư bản]]"'' Mỹ lên thị trường vùng [[Đông Nam Á]]<ref>These states of capitalist countries were a thread not so much because they called themselves "socialist", but because they were competing capitalist powers and their market were largely closed to American business." - Sử gia Jonathan Neale.</ref><ref>Phỏng vấn Daniel Ellsberg trên CNN: [http://www.youtube.com/watch?v=5LctoUV-tag Chi tiết bài phỏng vấn trên Youtube]</ref> (xem thêm ''[[Chủ nghĩa thực dân mới]]'').
===== Mỹ hỗ trợ Pháp =====
{{chính|Quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam (1948-1975)}}
Năm 1947, Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ, thuộc địa lớn nhất của Anh, mở đầu cho xu hướng phi thực dân hoá sau thế chiến thứ hai. Hơn nữa chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của Pháp đã thất bại. [[Pháp]] đã mệt mỏi vì chiến tranh đã hao tổn quá lớn, theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa người Pháp mong muốn ''"Lấy [[chiến tranh]] nuôi [[chiến tranh]], dùng [[người Việt]] đánh [[người Việt]]"'', hy vọng giảm bớt hao tổn người và tiền bạc<ref>[http://www.na.gov.vn/sach_qh/vkqhtoantap_1/nam1951 năm 1951_8.html LỜI HIỆU TRIỆU CỦA BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI NGÀY 19-12-1951 NHÂN KỶ NIỆM NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN]{{Liên kết hỏng|date = ngày 11 tháng 2 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }}, trích "''Không đủ sức chống kháng chiến, đế quốc Mỹ và thực dân Pháp lợi dụng bọn bù nhìn vong bản thi hành chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", dùng độc lập giả hiệu để mê muội, đốt làng cướp của làm cho dân ta bần cùng trụy lạc để dễ áp bức lừa phỉnh, bắt thanh niên đi lính ngụy để đánh lại đồng bào.''"</ref><ref>Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký - Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử trang 871, 872</ref>.
Trong 3 năm đầu của cuộc chiến tranh, Mỹ đã giữ một thái độ "trung lập" nhưng ủng hộ Pháp rất rõ ràng. Mỹ chẳng muốn tự đặt bản thân vào một vị thế khó xử là công khai ủng hộ [[chủ nghĩa thực dân]], nhưng cũng không muốn làm mất lòng Pháp - một đồng minh quan trọng ở châu Âu. Do vậy, chính quyền Truman đã bí mật trao cho Pháp nhiều khoản viện trợ về tài chính và quân sự.<ref name="George C. Herring 1975"/><ref name="George McT 1986"/>
Để đối phó với các áp lực chính trị, quân sự và thích ứng với xu hướng phi thực dân hoá một mặt [[Pháp]] đàm phán với [[Bảo Đại]] thành lập [[Quốc gia Việt Nam]] năm 1949, phát triển quân đội người bản xứ. Một mặt, [[Pháp]] thuyết phục [[Hoa Kỳ|Mỹ]] rằng [[Pháp]] đang "''chống cộng''" chứ không phải mục đích chính là tái chiếm thuộc địa. Ngày 16 tháng 2 năm 1950, Bộ Ngoại giao Pháp gặp đại sứ Mỹ tại Paris để thông báo rằng "''do kết quả của tình hình phát triển mới đây và triển vọng ít ra thì Cộng sản Trung Quốc cũng sẽ tăng cường viện trợ quân sự cho Hồ Chí Minh... cố gắng của Pháp ở Đông Dương giống như một dòng nước cuốn ở Pháp, đòi hỏi cần phải có một chương trình giúp đỡ dài hạn mà Mỹ mới cung cấp được. Nếu không... rất có khả năng Pháp có thể bị buộc phải chấm dứt các tổn thất của mình và rút lui khỏi Đông Dương.''"<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 636 - 637</ref>
Vấn đề được Mỹ đưa ra trước Hội đồng An ninh Quốc gia. Ngày 27 tháng 2 năm 1950, Hội đồng An ninh Quốc gia quyết định "''phải thi hành mọi biện pháp có thể được để ngăn chặn sự phát triển sau này của cộng sản ở Đông Nam Á... Thái Lan và Miến Điện có thể rơi vào ách thống trị của cộng sản nếu như Đông Dương bị một Chính phủ do cộng sản khống chế cai trị. Lúc đó sự cân bằng lực lượng ở Đông Nam Á sẽ ở trong một tình thế cực kỳ nguy hiểm.''"<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 637</ref>
Đầu năm 1950, Hoa Kỳ bắt đầu gửi viện trợ quân sự cho người Pháp ở Đông Dương. Do [[chiến tranh Triều Tiên]] bùng nổ đã buộc Mỹ phải đẩy nhanh việc cung cấp viện trợ cho Pháp. Tháng 1 năm 1951 người Pháp nhận được 20 xe tăng [[M24]], 40 khẩu pháo 105-mm và 250 quả bom thông thường và cả [[napan|bom napalm]] cùng đạn dược và vũ khí tự động. Tới tháng 1 năm 1953, Pháp đã nhận được 900 [[phương tiện chiến đấu bọc thép|xe thiết giáp]] cùng với 15.000 [[xe tải|xe vận tải]] các loại, gần 2.500 khẩu [[pháo]], 24.000 [[vũ khí tự động]], 75.000 vũ khí cá nhân và gần 9.000 máy radio. Ngoài ra, [[Không quân Pháp]] đã nhận được 160 máy bay [[Grumman F6F Hellcat|F6F Hellcat]] và [[Grumman F8F Bearcat|F8F Bearcat]], 41 máy bay ném bom [[Douglas A-26 Invader|B-26 Invader]], 28 máy bay vận tải [[Douglas C-47 Skytrain|C-47]] cùng với 155 động cơ máy bay và 93.000 quả bom. Cho tới khi Pháp thất bại hoàn toàn thì phía Mỹ đã viện trợ trên 1 tỷ USD mỗi năm (tương đương khoảng 5,8 tỷ USD theo thời giá năm 2004) và chi trả 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương.<ref name="us-foreign-policy-perspective.org"/>
Tuy nhiên, viện trợ Mỹ vẫn không thể giúp Pháp đạt được những thắng lợi quân sự mà Mỹ mong muốn. Robert Blum, người phụ trách chương trình viện trợ kinh tế của Mỹ cho Pháp, nhận định "''Thật khó mà đánh giá được kết quả của gần 2 năm (1950 - 1952). Mỹ tích cực tham gia vào công việc ở Đông Dương. Mặc dầu chúng ta đã lao vào một cuộc hợp tác không dễ dàng, một mặt, với người Pháp sặc mùi "thực dân" nhưng không thể tránh khỏi, và mặt khác, với những người Việt Nam yếu đuối và chia rẽ, nhưng chúng ta cũng đã không có đầy đủ khả năng hòa giải hai bạn đồng minh đó trong một cuộc đấu tranh có xu hướng đặc biệt chống cộng... Tình hình ở Đông Dương không làm cho chúng ta hài lòng và thể hiện không có triển vọng tiến bộ cụ thể, không thể giành được một chiến thắng quân sự quyết định, Chính phủ Bảo Đại có rất ít hứa hẹn phát triển được tài năng và giành được sự trung thành của dân chúng, và việc đạt tới được mục tiêu của Mỹ thật xa xôi''".<ref>Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 677 - 678</ref>
Đến cuối chiến tranh, gần 80% chiến phí chủ yếu của Pháp do [[Hoa Kỳ|Mỹ]] cung cấp, lên đến 1,5 tỷ [[Đô la Mỹ|USD]]. Cuối [[chiến tranh]], người [[Hoa Kỳ|Mỹ]] trực tiếp chở khoảng 16 ngàn [[quân đội Pháp|quân Pháp]] vào [[Điện Biên Phủ]] và hỗ trợ không quân cho quân Pháp. Tính đến tháng 1-1954, riêng về vũ khí và phương tiện chiến tranh, Mỹ đã viện trợ cho quân Pháp ở Đông Dương 360 [[máy bay]], 1.400 [[xe tăng]] và [[phương tiện chiến đấu bọc thép|xe bọc thép]], 390 tàu chiến và tàu quân sự, 16.000 xe quân sự các loại, 175.000 [[súng trường]] và [[súng máy]].<ref>Thời điểm của những sự thật (2004), Nhà xuất bản CAND, (nguyên gốc: "Le Temps des Vérites" xuất bản tại Paris năm 1979), tr. 51</ref><ref>Paul Ély, Đông Dương trong cơn lốc, Paris, 1964, tr. 51</ref><ref>Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật</ref> Nhờ số lượng vũ khí viện trợ này mà người [[Pháp]] mới có thể duy trì được cuộc chiến.
Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ nơi nào kiểm tra tình hình không cần sự chấp thuận của tổng chỉ huy Pháp. Sự phụ thuộc quá nhiều của Pháp vào Mỹ khiến tướng Navarre than phiền trong hồi ký: ''"Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ."''<ref>Điện Biên Phủ Điểm hẹn lịch sử - Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chương 1: Cuộc họp ở Tín Keo</ref>
Đến nay nhiều người [[Hoa Kỳ|Mỹ]] vẫn không biết vì sao họ bị lôi kéo vào cuộc xâm lược của thực dân Pháp, dù nhiều người Mỹ còn chưa biết Việt Nam nằm ở góc nào trên bản đồ thế giới. Ít người nói đến việc nước [[Hoa Kỳ|Mỹ]] đã bị [[Pháp]] kéo vào cuộc, cũng như những thương vong đầu tiên của Mỹ ở Đông Dương đã xảy ra ngay từ [[chiến dịch Điện Biên Phủ|trận Điện Biên Phủ]]. Thực sự thông qua việc tài trợ cho Pháp, nước Mỹ đã dính líu đến cuộc chiến ở Đông Dương từ rất lâu trước khi các lực lượng quân sự Mỹ đầu tiên đến Việt Nam.<ref>[http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/truyenthong-hientai/2013/21290/That-bai-cua-My-trong-cuoc-chien-tranh-o-Viet-Nam-qua.aspx Thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam qua con mắt của người Mỹ]</ref>
Nhà hoạt động dân quyền nổi tiếng người Mỹ gốc Phi [[Martin Luther King]], trong bài phát biểu phản đối Chiến tranh Việt Nam với tiêu đề ''“Hơn cả Việt Nam” (Beyond Vietnam)'' vào tháng 4 năm 1967, đã phê phán sự giúp sức của chính phủ Mỹ cho thực dân Pháp<ref>[https://baoquocte.vn/tai-sao-toi-chong-chien-tranh-viet-nam-70213.html Tại sao tôi chống Chiến tranh Việt Nam?]</ref>:
:''Năm 1945, nhân dân Việt Nam tuyên bố nền độc lập của mình... Họ được Hồ Chí Minh lãnh đạo. Dù Hồ Chí Minh đã trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ vào bản Tuyên ngôn độc lập của họ, chúng ta vẫn từ chối công nhận họ. Thay vào đó, chúng ta quyết định ủng hộ Pháp trong việc tái chiếm thuộc địa cũ... Trong 9 năm sau đó, chúng ta khước từ quyền độc lập của nhân dân Việt Nam. Trong suốt 9 năm, chúng ta ủng hộ mạnh mẽ Pháp trong nỗ lực đặt lại ách thực dân lên đất nước Việt Nam. Trước khi chiến tranh kết thúc, chúng ta trang trải 80% chi phí chiến tranh cho Pháp. Ngay trước khi thua ở [[Điện Biên Phủ]], Pháp bắt đầu tuyệt vọng về hành động liều lĩnh của họ, nhưng chúng ta thì không. Chúng ta khuyến khích họ bằng cách viện trợ một khối lượng khổng lồ tài chính và tiếp sức quân sự để Pháp tiếp tục cuộc chiến ngay cả khi họ đã mất hết ý chí.''
== Hiệp định Genève ==
{{chính|Hiệp định Genève, 1954}}
[[Tập tin:Hanoingayve02.jpg|nhỏ|210px|phải|Những lính Pháp cuối cùng qua cầu Long Biên rút khỏi Hà Nội năm 1954]]
Hội nghị Genève khai mạc ngày [[26 tháng 4]] năm 1954 để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại [[Triều Tiên]] và Đông Dương. Do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả nên từ ngày 8 tháng 5 vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận.
Do sức ép của Trung Quốc và Liên Xô, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý với một bản hiệp định mang lại cho họ ít hơn những gì họ đã giành được trên chiến trường<ref name="Spencer.Encyc.190"/>. Tuy ba nước Lào, Campuchia và Việt Nam được tuyên bố độc lập, và điều quan trọng là sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam được công nhận, nhưng Việt Nam bị tạm thời chia đôi thành hai khu vực quân sự để hai bên quân đội, Việt Minh và Pháp, tập kết. Quân Pháp sẽ rút dần khỏi Việt Nam. Cuộc tổng tuyển cử đi đến thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện trong vòng 2 năm.
Ngày 22-7-1954, Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] ra lời kêu gọi: ''"Đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ"'' và khẳng định: ''"Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của nước ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng".'' Cũng trong ngày này Thủ tướng [[Quốc gia Việt Nam]] Ngô Đình Diệm ra lệnh treo [[cờ rủ]] toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để bày tỏ quan điểm phản đối sự chia đôi đất nước.<ref>Nguyễn Văn Lục. ''Lịch sử còn đó''. Garden Grove, CA: Tân Văn, 2008. Trang 125.</ref> Tuy nhiên, trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã lên tiếng: ''"Những ai yêu nước Việt Nam, những ai yêu sự thống nhất Việt Nam thì không cần phải khóc hôm nay. Hãy thực hiện tốt những gì đã ký kết hôm nay, thì 2 năm nữa sẽ có một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, hoà bình và giàu mạnh. Những gì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm trong những năm qua chính là vì mục đích đó. Nước mắt của chúng tôi đổ ra trong cuộc đấu tranh cho sự nghiệp đó nhiều hơn rất nhiều so với những giọt lệ mà quý vị (Quốc gia Việt Nam) nhỏ ra ở đây"''<ref>[http://laodong.com.vn/lao-dong-cuoi-tuan/thong-nhat-la-dinh-cao-thang-loi-cua-dan-toc-viet-nam-113665.bld Thống nhất là đỉnh cao thắng lợi của dân tộc Việt Nam], Dương Trung Quốc, Báo Lao động, 05/05/2013</ref>.
== Kết quả ==
{{chính|Giải phóng Thủ đô}}
Trong cuộc xâm lược của thực dân Pháp này, thương vong của Pháp là 140.992, trong đó có 75.867 chết và mất tích, 65.125 bị thương. Quân đồng minh bản xứ của Pháp ở Đông Dương ([[Quốc gia Việt Nam]]) có 419.000 chết, bị thương, tan rã hoặc bị bắt<ref name=autogenerated3 />. Về vũ khí, Pháp mất 435 máy bay, 603 tàu chiến và ca nô, 9.283 xe quân sự, 255 pháo, 504 xe tăng - thiết giáp và 130 nghìn súng các loại. Số thương vong của Việt Minh là 191.605 người chết<ref>{{Chú thích web|url=http://datafile.chinhsachquandoi.gov.vn/Qu%E1%BA%A3n%20l%C3%BD%20ch%E1%BB%89%20%C4%91%E1%BA%A1o/Chuy%C3%AAn%20%C4%91%E1%BB%81%204.doc|tiêu đề=Chuyên đề 4 CÔNG TÁC TÌM KIẾM, QUY TẬP HÀI CỐT LIỆT SĨ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO, datafile.chinhsachquandoi.gov.vn/Quản%20lý%20chỉ%20đạo/Chuyên%20đề%204.doc}}</ref> Khoảng 125.000–400.000 dân thường thiệt mạng.<ref name="Smedberg, M 2008 p. 88" /><ref name="Eckhardt, William 1987" /><ref name="Ref-1" />
Cuộc chiến đã góp phần làm nước Pháp suy sụp và phân hóa. Càng về cuối cuộc chiến, sự phản đối chiến tranh trong lòng nước Pháp ngày càng dữ dội hơn. Đại tướng Pháp Henry Navare viết:
{{Cquote|''Các đảng viên Cộng sản (Pháp) ngay từ lúc này đã tích cực bênh vực Việt Minh. Cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp, đối với họ là một "cuộc chiến tranh bẩn thỉu". Còn đối với những người khác, đây là một "cuộc chiến tranh nhục nhã", "cuộc chiến tranh không dám xưng tên"''|||Henry Navare<ref>Henry Navare. Đông dương hấp hối. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hà nội. 2004. trang 15. ''(bản dịch của Phan Thanh Toàn)''</ref>}}
[[Tập tin:1stIndochinaWar005.jpg|nhỏ|220px|trái|Quân đội Nhân dân Việt Nam về tiếp quản thủ đô ngày 9 tháng 10 năm 1954]]
Chi phí cho cuộc xâm lược của Pháp tăng hàng năm theo cấp số nhân. Năm 1945: 3 tỷ Franc; năm 1946: 27 tỷ Franc; năm 1947: 53 tỷ Franc; năm 1948: 89 tỷ Franc; năm 1949: 130 tỷ Franc; năm 1950: 201 tỷ Franc; năm 1951: 308 tỷ Franc; năm 1952: 535 tỷ Franc. Tổng cộng trong toàn bộ cuộc chiến, nước [[Pháp]] đã chi phí 3.370 tỷ [[Franc]] (vượt dự kiến 2.385 tỷ Franc), tương đương gần 60 tỷ USD theo thời giá 2008, (trung bình là 1 tỉ Franc/ngày), bằng 28% giá trị [[Tổng sản phẩm nội địa|GDP]] của Pháp năm 1953.<ref>Pierre Quatrpoint. Sự mù quáng của tướng De Gaulle đối với cuộc chiến ở Đông Dương. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008. trang 63 (bản tiếng Việt do Đặng Văn Việt dịch)</ref> (từ năm 1950 trở đi, ngân sách Pháp đã không thể gánh được chiến phí và phải dựa phần lớn vào viện trợ của Mỹ). Chính phủ [[Pháp]] thay đổi 20 lần, trung bình mỗi chính phủ chỉ tồn tại 7 tháng (có chính phủ chỉ tồn tại trong 7 ngày). 7 lần [[cao uỷ Pháp]] bị triệu hồi, 8 tổng chỉ huy quân đội [[Pháp]] kế tiếp nhau bị thua trận. Đất nước Việt Nam, Lào, Campuchia cũng bị tàn phá bởi chiến tranh.
Theo kết quả của hiệp định Geneva, Việt Nam được chia làm 2 nửa với giới tuyến tạm thời là vỹ tuyến 17. [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]], lực lượng vừa giành được thắng lợi quan trọng trên chiến trường, rút khỏi các chiến trường tại Đông Dương để tập kết về miền Bắc Việt Nam. Quân đội của [[Liên hiệp Pháp|Liên Hiệp Pháp]] và [[Quốc gia Việt Nam]] tập kết về miền Nam. Quân đội pháp cũng rút khỏi Lào và Campuchia. Trên 1 triệu người dân từ miền Bắc đã [[Cuộc di cư Việt Nam, 1954|di cư vào Nam]] (trong đó có khoảng 800.000 người [[Công giáo]], chiếm khoảng 2/3 số người Công giáo ở miền Bắc), và 140.000 người (đa số là cán bộ kháng chiến của Việt Minh) từ miền Nam tập kết ra Bắc.<ref name="UNHCR">[[Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn]], [http://www.unhcr.org/cgi-bin/texis/vtx/publ/opendoc.pdf?id=3ebf9bad0&tbl=PUBL ''Flight from Indochina''], tr. 80-81</ref>
Ngày [[10 tháng 10]] năm 1954, quân Pháp chính thức rút khỏi Hà Nội, Quân đội Nhân dân Việt Nam vào tiếp quản thủ đô. Thời kỳ hòa bình tại miền Bắc Việt Nam bắt đầu. Ở miền Nam, quân đội Pháp dần dần rút đi và trao quyền lực cho chính quyền [[Quốc gia Việt Nam]], trong khi Hoa Kỳ tăng cường các hoạt động tình báo, tuyên truyền, viện trợ và cố vấn cho [[Quốc gia Việt Nam]] để chính phủ này có thể đương đầu với [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và tiêu diệt lực lượng Việt Minh còn lại ở miền Nam.
[[Tập tin:HD-SN-99-02045.JPEG|nhỏ|phải|160px|Người di cư vào Nam theo chương trình [[Passage to Freedom]] (Con đường đến Tự Do) do Cục tình báo Mỹ ([[CIA]]) tổ chức (8.1954)]]
Hội nghị tuyên bố chấm dứt chiến tranh ở Lào và Campuchia, bảo đảm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của hai nước này, và hai nước sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do theo các nguyên tắc Hiến pháp mỗi nước, bảo đảm tôn trọng các quyền tự do cơ bản. Hai nước sẽ không tham gia vào bất kỳ một liên minh quân sự nào<ref>{{Chú thích web |url=http://vietnam.vassar.edu/overview/doc2.html |ngày truy cập=2013-06-05 |tựa đề=The Final Declarations of the Geneva Conference ngày 21 tháng 7 năm 1954 |archive-date = ngày 7 tháng 8 năm 2011 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110807062726/http://vietnam.vassar.edu/overview/doc2.html |url-status=dead }}</ref>. Ngày 23 và 24 tháng 7 năm 1954 Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ Kháng chiến Pathet Lào [[Kaysone Phomvihane]] và Tư lệnh Bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Pathet Lào [[Tạ Xuân Thu]], Tổng tư lệnh giải phóng quân [[Mặt trận Issarak Thống nhất|Khmer Issarak]] [[Sieu Heng]], đại diện Bộ Tư lệnh Bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Khmer [[Nguyễn Thanh Sơn]] ra lệnh ngừng bắn từ 6 và 7 tháng 8 để thi hành Hiệp định.<ref>Nhân dân ngày 28 Tháng Bảy 1954</ref> Năm 1955 Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc, tuyên bố chính sách đối ngoại hòa bình trung lập.<ref>{{Chú thích web |url=http://baogiaoduc.edu.vn/chi-tiet/91-1810-tim-hieu-dat-nuoc-lao.html |ngày truy cập=2013-06-05 |tựa đề=Tìm hiểu đất nước Lào, Trang tin tổng hợp thời sự Giáo dục Việt Nam |archive-date=2013-05-22 |archive-url=https://web.archive.org/web/20130522081304/http://baogiaoduc.edu.vn/chi-tiet/91-1810-tim-hieu-dat-nuoc-lao.html |url-status=dead }}</ref><ref>{{Chú thích web |url=http://www.vietnamembassy-cambodia.org/vi/nr070521165843/nr070521170351/news_object_view?newsPath=%2Fvnemb.vn%2Ftin_hddn%2Fns130205155832 |ngày truy cập=2021-02-24 |tựa đề=Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự Lễ hỏa táng Thái Thượng hoàng Norodom Sihanouk, Nguyễn Hoàng - Nhật Bắc, The Embassy of Socialist Republic of Vietnam in Cambodia |archive-date = ngày 19 tháng 3 năm 2015 |archive-url=https://web.archive.org/web/20150319175546/http://www.vietnamembassy-cambodia.org/vi/nr070521165843/nr070521170351/news_object_view?newsPath=%2Fvnemb.vn%2Ftin_hddn%2Fns130205155832 |url-status=dead }}</ref>
[[Hiệp định Genève, 1954|Hiệp định Geneva]] quy định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (bao gồm cả trên đất liền và trên biển). Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nằm ở phía Nam [[Vĩ tuyến 17 Bắc|vĩ tuyến 17]], được giao cho chính quyền [[Liên Hiệp Pháp]] quản lý. Năm 1956, sau khi Pháp hoàn tất rút quân khỏi Việt Nam, [[Quốc gia Việt Nam]] (do [[Bảo Đại]] đứng đầu) đứng ra tiếp quản. Tranh chấp tại 2 quần đảo này nhanh chóng xảy ra với [[Trung Quốc]], [[Đài Loan]], [[Malaysia]] và [[Phillipines]].
Sau 2 năm, hiệp định Geneva đã không đem lại được hòa bình cho Đông Dương. Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam không được chính quyền [[Quốc gia Việt Nam]] thực hiện (với lý do "''nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc''"<ref name="insurgency1">The Reunification of Vietnam, PRESIDENT NGO DINH DIEM'S BROADCAST DECLARATION ON THE GENEVA AGREEMENTS AND FREE ELECTIONS (ngày 16 tháng 7 năm 1955), page 24, Vietnam bulletin - a weekly publication of the Embassy of Vietnam in United States, Special issue No.16, Available [http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/1653/16530101012.pdf online] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20170501111116/https://www.vietnam.ttu.edu/star/images/1653/16530101012.pdf |date = ngày 1 tháng 5 năm 2017}} Trích: "Our policy is a policy for peace. But nothing will lead us astray of our goal, the unity of our country, a unity in freedom and not in slavery. Serving the cause of our nation, more than ever we will struggle for the reunification of our homeland. We do not reject the principle of free elections as peaceful and democratic means to achieve that unity. However, if elections constitute one of the bases of true democracy, they will be meaningful only on the condition that they be absolutely free. Now, faced with a regime of oppression as practiced by the Viet Minh, we remain skeptical concerning the possibility of fulfilling the conditions of free elections in the North." dịch là "''Chính sách của chúng tôi là chính sách hoà bình. Nhưng không có gì có thể khiến chúng tôi đi chệch khỏi mục tiêu của chúng tôi là sự thống nhất đất nước, thống nhất trong tự do chứ không phải trong nô lệ. Vì dân tộc, chúng tôi sẽ đấu tranh hết sức mình cho sự thống nhất đất nước. Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ. Tuy nhiên nếu những cuộc bầu cử tạo thành một trong những nền tảng cơ bản của nền dân chủ thật sự thì chúng chỉ có ý nghĩa với điều kiện chúng hoàn toàn tự do. Hiện nay, thực tế phải đối mặt với chế độ áp bức của Việt Minh, chúng tôi nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc.''"</ref>). Việt Nam bị chia cắt thêm 20 năm nữa, chiến tranh tiếp tục nổ ra trên toàn Đông Dương. Lần này người Mỹ thay thế cho người Pháp. [[chiến tranh Việt Nam|Cuộc chiến mới]] kéo dài hơn, có quy mô và sức tàn phá lớn hơn nhiều với tổn thất cũng nặng nề hơn.
Trong thư của tổng thống Pháp [[Charles de Gaulle]] gửi chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8 tháng 2 năm 1966, ông viết: "''Giá có một sự hiểu biết tốt hơn giữa người Việt Nam và người Pháp ngay sau đại chiến thế giới thì đã có thể tránh được những sự biến tai ác đang giằng xé đất nước ngài hôm nay''"<ref>Paris - Saigon - Hanoi, trang 25, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003</ref>.
Sách giáo khoa lịch sử của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa (Quốc sử lớp nhất - Phạm Văn Trọng & Phạm Thị Ngọc Dung) xuất bản năm 1966 có viết về cuộc chiến này, tuy nhiên do Việt Nam Cộng hòa coi [[Việt Minh]] là kẻ thù nên không nhắc tới sự lãnh đạo kháng chiến của [[Việt Minh]] mà chỉ nói chung chung là "kháng chiến của toàn dân", cũng không nhắc đến sự hợp tác với Pháp của [[Quốc gia Việt Nam]] (tiền thân của Việt Nam Cộng hòa) mà chỉ nói chung chung là "Pháp mời vua Bảo Đại thành lập chính quyền để lôi kéo chiến sĩ quốc gia":<ref>Quốc sử lớp nhất, Phạm Văn Trọng & Phạm Thị Ngọc Dung, Sài Gòn, 1966</ref>
{{Cquote|''Cuối năm 1946, chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ. Pháp mời vua Bảo Đại thành lập chính quyền để lôi kéo chiến sĩ quốc gia nhưng vô hiệu quả. Cuộc kháng chiến của toàn dân ngày càng mãnh liệt và sau cùng đại thắng ở Điện Biên Phủ. Việt Minh và Pháp ký hiệp định Genève (20-7-54) chia hai Việt Nam.''
''Ngô Đình Diệm nắm quyền ở miền Nam đặt ra chế độ độc tài tàn bạo.''|}}
==Ảnh hưởng trên phạm vi thế giới==
Trên phạm vi thế giới, sự thắng lợi của người Việt Nam trong [[Chiến tranh]] [[Bán đảo Đông Dương|Đông Dương]] cũng thúc đẩy sự sụp đổ của [[chủ nghĩa thực dân|chủ nghĩa thực dân cổ điển]] và [[hệ thống thuộc địa]] trên toàn thế giới. Nhân dân các nước thuộc địa khác thấy rằng quân đội các cường quốc châu Âu thực tế không phải là ''"bất khả chiến bại"'', nếu người Việt Nam đã có thể đánh bại được thì dân tộc họ cũng có thể.
Được chiến thắng của người [[Việt Nam]] cổ vũ, các khu vực thuộc địa ở [[châu Phi]] đã đồng loạt nổi dậy. Nhiều người đã ăn mừng tại các vùng thuộc địa Pháp, từ [[Algiers]] (Algeria), qua [[Dakar]] (Senegal) đến [[Tananarive]] (Madagascar). 4 ngày sau thất bại của Pháp, nghị sỹ Pháp [[Christian Fouchet]] bày tỏ lo ngại: ''“Khắp nơi tại Liên hiệp Pháp, những tiếng xì xào âm ỉ làm trái tim của một số người lo sợ và làm kích động một số khác”''. Tại Ma-rốc, ở [[Casablanca]] xuất hiện những tấm bưu thiếp có ghi: ''“Casablanca, Điện Biên Phủ của người Pháp”''. Còn tại [[Tuynidi]], khi ăn mừng tại các khu phố bình dân, nơi người ta phục vụ một món ăn đặc biệt mang tên ''“Tagine Điện Biên Phủ”''. Chỉ 3 tháng sau [[trận Điện Biên Phủ]], lực lượng [http://en.wikipedia.org/wiki/National_Liberation_Front_%28Algeria%29 Mặt trận Giải phóng Dân tộc] tại [[Algérie]] (thuộc địa có diện tích lớn nhất của Pháp) được thành lập, phát động đấu tranh vũ trang để giành độc lập cho đất nước mình. Pháp tiếp tục đưa quân đến nhằm dập tắt phong trào độc lập của người Algérie, nhưng quân Pháp sa lầy tại đây. Một năm sau đó, các phong trào tương tự nổ ra ở [[Cameroon]], [[Tunisia]], [[Maroc]], hàng chục nước thuộc địa khác cũng nổi dậy trong vài năm sau đó. Sự nổi dậy đồng loạt tại các thuộc địa khiến việc duy trì Liên hiệp Pháp trở nên rất khó khăn bởi Pháp không thể có đủ tài chính và lực lượng quân sự để dập tắt các phong trào đòi độc lập tại nhiều nơi cùng lúc.
Năm 1958, [[Cộng đồng Pháp]] khai sinh và [[Liên hiệp Pháp]] chấm dứt tồn tại. Điều 86 Hiến pháp Pháp (năm 1958) quy định mỗi quốc gia hội viên thuộc [[Cộng đồng Pháp]] có thể độc lập sau khi ký kết các hiệp ước với Pháp và có quyền lựa chọn vẫn là hội viên của Cộng đồng Pháp hoặc ra khỏi khối. Đến năm [[1967]], Pháp đã buộc phải trao trả quyền độc lập cho tất cả các nước thuộc địa. Qua đó, thất bại của Pháp ở Việt Nam là một thảm họa đánh dấu cho thất bại hoàn toàn của Pháp trong việc tái xây dựng thuộc địa [[Đông Dương]] nói riêng và đế quốc thực dân của mình nói chung sau thời [[Chiến tranh thế giới thứ hai]].
Cũng trong xu thế chống [[chủ nghĩa thực dân]] trên quy mô toàn cầu, chỉ trong năm [[1960]], 17 nước thuộc địa [[châu Phi]] đã tuyên bố [[độc lập]], và đây được coi là [[1960|Năm châu Phi]]. Hiện nay, chỉ còn một số vùng hải đảo nhỏ, dân số ít như [[Réunion]], [[Nouvelle-Calédonie]]... vẫn còn là các vùng thuộc địa hải ngoại của Pháp.
Tổng thống lâm thời nước Cộng hòa Algeria [[Ben Youcef Ben Khedda]] sau này nhận định: ''“Ngày 8/5/1954, quân đội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã buộc đạo quân viễn chinh Pháp tại Việt Nam phải chịu thảm họa Điện Biên Phủ nhục nhã. Thất bại này của Pháp xảy ra như một khối thuốc nổ mạnh tác động tới những người tin rằng lựa chọn nổi dậy trong thời gian ngắn từ nay là giải pháp duy nhất, chiến lược khả dĩ duy nhất"''. Năm 1962, trong lời đề tựa cuốn "Đêm thực dân" (La Nuit Coloniale), nhà lãnh đạo giải phóng dân tộc [[Ferhat Abbas]], sau này trở thành tổng thống đầu tiên của Algerie, đã viết: ''“Điện Biên Phủ không chỉ là một chiến thắng quân sự. Đó là khẳng định của người dân châu Á và châu Phi trước người châu Âu. Đó là xác nhận về nhân quyền quy mô toàn cầu. Tại Điện Biên Phủ, nước Pháp đã đánh mất sự hiện diện hợp lý duy nhất, đó là lý lẽ của kẻ mạnh”''. Năm 2013, Tổng thống [[Algérie]] - [[Abdelaziz Bouteflika]] - đã gọi Võ Nguyên Giáp là người anh hùng quân đội của nền độc lập Việt Nam, là nhà chiến lược vĩ đại đã khiến cho thực dân Pháp phải kinh hoàng ở Điện Biên Phủ, và tên tuổi ông ''"sẽ vẫn mãi khắc sâu trong ký ức của nhân dân Algeria."''
== Chiến tranh Đông Dương trong văn hóa ==
=== Phim ===
{{Div col|colwidth=30em}}
* ''Chi bộ bí mật''
* ''[[Đất phương Nam]]''
* ''[[Đường lên Điện Biên]]''
* ''[[Hà Nội mùa Đông năm 46]]''
* ''[[Hoa ban đỏ]]''
* ''[[Ký ức Điện Biên]]''
* ''Lá cờ chuẩn''
* ''Pha Đin mây phủ''
* ''[[Sống cùng lịch sử (phim)|Sống cùng lịch sử]]''
* ''[[Vợ chồng A Phủ (phim)|Vợ chồng A Phủ]]''
{{Div col end}}
==== Phim tài liệu ====
{{Div col|colwidth=30em}}
* ''Điện Biên Phủ - Cuộc chiến giữa hổ và voi''
* ''Việt Nam trên đường thắng lợi'' (Liên Xô làm)
* ''Battlefeld Vietnam'' (''Cuộc chiến Việt Nam'' - Mỹ sản xuất)
* ''Việt Nam'' (Liên Xô thực hiện, đạo diễn bởi Roman Carmen)
{{Div col end}}
=== Kịch ===
{{Div col|colwidth=30em}}
* ''Anh Sơ đầu quân'' (Tác giả: [[Nguyễn Huy Tưởng]])
* ''Bắc Sơn'' (Tác giả: [[Nguyễn Huy Tưởng]])
* ''Lòng dân'' (Tác giả: [[Nguyễn Văn Xe]])
* ''Lớp học vùng Tề'' (Sáng tác: Trúc Lâm)
* ''Sáng trong như ngọc một con người'' (Sáng tác: Nguyễn Quang Vinh)
* ''Sống trong lòng địch'' (Sáng tác: Thanh Huyền – Đức Hiền)
{{Div col end}}
=== Chèo ===
{{Div col|colwidth=30em}}
* ''Mối tình Điện Biên'' (Tác giả: [[Lưu Quang Thuận]])
{{Div col end}}
=== Bài hát ===
{{Div col|colwidth=30em}}
* ''Bài ca trên núi'' (Tác giả: [[Tô Hoài]] – [[Nguyễn Văn Thương]])
* ''Bộ đội về làng'' (Sáng tác: [[Lê Yên]] – [[Hoàng Trung Thông]])
* ''Chiến thắng Him Lam'' (Sáng tác: [[Hoàng Văn Thái]])
* ''Giải phóng Điện Biên'' (Sáng tác: [[Đỗ Nhuận]])
* ''Hò kéo pháo'' (Sáng tác: [[Hoàng Vân]])
* ''Qua mìền Tây Bắc'' (Tác giả: [[Nguyễn Thành]])
* ''Tình ca Tây Bắc'' (Tác giả: [[Cẩm Giang]] – [[Bùi Đức Hạnh]])
{{Div col end}}
=== Trò chơi điện tử ===
* ''[[7554]]''
=== Truyện ===
{{Div col|colwidth=30em}}
* ''Đất rừng phương Nam'' (Tác giả: [[Đoàn Giỏi]])
* ''[[Vợ chồng A Phủ]]'' (Tác giả: [[Tô Hoài]])
{{Div col end}}
== Xem thêm ==
* [[Nhà Nguyễn]]
* [[Chiến tranh Pháp-Đại Nam]]
* [[Chiến tranh Pháp-Thanh]]
* [[Pháp thuộc]]
* [[Đế quốc thực dân Pháp|Thực dân Pháp]]
* [[Quân đội Pháp]]
* [[Cao trào kháng Nhật cứu nước|Cao trào kháng Nhật]]
* [[Cách mạng tháng Tám|Cách mạng tháng tám]]
* [[Tuyên ngôn độc lập Việt Nam]]
* [[Việt Minh]]
* [[Chiến dịch Điện Biên Phủ]]
* [[Bảo Đại]]
* [[Quốc gia Việt Nam]]
* [[Chiến tranh Việt Nam]]
* [[Da vàng hóa chiến tranh]]
== Tham khảo ==
{{tham khảo|30em}}
== Thư mục ==
{{Refbegin|30em}}
* Spencer C.Tucker, ''Encyclopedia of the Vietnam War'', ABC-CLIO, 2000
* William Duiker, ''Ho Chi Minh: A Life'', Hyperion, 2000
* Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008
* Howard R.Simpson. Điện Biên Phủ cuộc đối đầu lịch sử mà nước Mỹ muốn quên đi, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2004
* Windrow, Martin (1998). The French Indochina War 1946-1954 (Men-At-Arms, 322). London: Osprey Publishing
* Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1999
* Where the Domino Fell: America and Vietnam 1945-1995. James S. Olson,Randy W. Roberts.
* Sockeel-Richarte: La Problème de la Souveraineté Française sur l'Indochine, in Le Général de Gaulle et l'Indochine 1940–1946
* Martin Shipway, The Road to War: France and Vietnam 1944-1947, Berghahn Books, 2003
* Maurice Isserman, John Stewart Bowman (2003, 1992), Vietnam War
* Peter A. Pull. Nước Mỹ và Đông Dương-Từ Roosevelt đến Nixon. Nhà xuất bản Thông tin lý luận. Hà Nội. 1986
* Stéphane Just: A propos d'une possibilité théorique et de la lutte pour la dictature du prolétariat trên La Vérité" n°588 (Septembre 1979)
* Paul-Marie de La GORCE:De Gaulle-Leclerc: de Londres à l'Indochine Espoir n°132, 2002
* Declassified per Executive Order 13526, Section 3.3 NND Project Number: NND 63316
* Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam, Nguyễn Phước Tộc Xuất Bản, 1990
* Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên), Lịch sử 12 nâng cao, Nhà xuất bản Giáo dục, Thanh Hóa, 2008
* Cecil B. Currey. Chiến thắng bằng mọi giá, Nhà xuất bản Thế giới, 2013
* Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, Nhà xuất bản Trẻ, 2009
* Nohlen, D, Grotz, F & Hartmann, C (2001) Elections in Asia: A data handbook, Volume II, ISBN 0-19-924959-8
* {{chú thích sách |last=Devillers |first=Philippe |date=1988 |title=Paris–Saigon–Hanoi: Les archives de la guerre (1944–1947) |url=https://www.gallimard.fr/Catalogue/GALLIMARD/Archives/Paris-Saigon-Hanoi |publisher=Gallimard |isbn=9782070712168 }}
* Lê Đình Chi. Người Thượng Miền Nam Việt Nam. Gardena, CA: Văn Mới, 2006
* Duncanson, Dennis. Government and Revolution in Vietnam. New York: Oxford University Press, 1968
* Pierre Quatrpoint. Sự mù quáng của tướng De Gaulle đối với cuộc chiến ở Đông Dương. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008
* Ban nghiên cứu lịch sử Đảng. Văn kiện Đảng (1945-1954). Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội. 1978
* Hồ Chí Minh. Toàn tập. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2000
* Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh (1930-1954), sơ thảo, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1995
* Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tập Hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2010
* Việt Nam, một thế kỷ qua, Nguyễn Tường Bách, Nhà xuất bản Thạch Ngữ, California, 1998
* Barnet, Richard J. (1968). Intervention and Revolution: The United States in the Third World. World Publishing. ISBN 0-529-02014-9
* Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư, 1960
* Prados, John (August 2007, Volume 20, Number 1). The Smaller Dragon Strikes. MHQ: The Quarterly Journal of Military History. ISSN 1040-5992
* Paul-Marie de La GORCE:De Gaulle-Leclerc: de Londres à l'Indochine Espoir n°132, 2002
* Executive Order 13526, Section 3.3 NND Project Number: NND 63316. By: NWD Date: 2011
* The Pentagon Papers, Gravel Edition, Chapter 2, "U.S. Involvement in the Franco-Viet Minh War, 1950-1954", (Boston: Beacon Press, 1971)
* Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư..., Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập III (1945-2005). Nhà xuất bản Giáo dục. Hà Nội. 2007
* H. R. McMaster (1998). Dereliction of Duty: Johnson, McNamara, the Joint Chiefs of Staff, and the Lies That Led to Vietnam. New York, New York: HarperCollins Publishers, Inc
* Schrecker, Ellen (2002). The Age of McCarthyism: A Brief History with Documents (2d ed.). Palgrave Macmillan. ISBN 0-312-29425-5
* Schrecker, Ellen (1998). Many Are the Crimes: McCarthyism in America. Little, Brown. ISBN 0-316-77470-7
* Decolonization of Asia and Africa, 1945-1960, Office of the Historian, Bureau of Public Affairs, United States Department of State
* Félix Green, The Enemy: What Every American Should Know About Imperialism. Vintage Books, New York, 1971
* Thời điểm của những sự thật (2004), Nhà xuất bản Công an Nhân dân
* Paul Ély, Đông Dương trong cơn lốc, Paris, 1964
* Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật
* Nguyễn Văn Lục. Lịch sử còn đó. Garden Grove, CA: Tân Văn, 2008
* Henry Navare. Đông dương hấp hối. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hà nội. 2004
* Nguyễn Quang Ngọc 2006, Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Nhà xuất bản Giáo dục
* Penniman, Howard R. Elections in South Vietnam. Stanford, CA: Hoover Institution on War, Revolution and Peace, 1972
* {{chú thích sách |last=Marr |first=David G. |date=2013 |title=Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946) |publisher=University of California Press |url=https://www.ucpress.edu/book/9780520274150/vietnam |isbn=9780520274150 }}
* {{chú thích sách |last=Tønnesson |first=Stein |date=2009 |title=Vietnam 1946: How the War Began |url=https://www.ucpress.edu/book/9780520256026/vietnam-1946 |publisher=University of California Press |isbn=9780520256026 }}
* {{Chú thích bách khoa toàn thư |last=Goscha |first=Christopher E. |date=2011 |title=Historical Dictionary of the Indochina War (1945–1954): An International and Interdisciplinary Approach |url=https://www.niaspress.dk/book/historical-dictionary-of-the-indochina-war-1945-1954/ |publisher=NIAS Press / University of Hawaiʻi Press |isbn=9788776940638 |access-date=2022-12-08 |archive-date=2022-12-08 |archive-url=https://web.archive.org/web/20221208005911/https://www.niaspress.dk/book/historical-dictionary-of-the-indochina-war-1945-1954/ |url-status=dead }} [https://indochine.uqam.ca/en/historical-dictionary.html Online search tool] at UQÀM website.
{{refend}}
== Đọc thêm ==
{{Refbegin|2}}
* {{chú thích tạp chí |last=Goscha |first=Christopher |date=2012 |title=A ‘Total War’ of Decolonization? Social Mobilization and State-Building in Communist Vietnam (1949–54) |journal=War & Society |volume=31 |issue=2 |pages=136–162 |doi=10.1179/0729247312Z.0000000007 }}
* {{chú thích tạp chí |last=Guillemot |first=François |date=2012 |title=‘Be men!’: Fighting and Dying for the State of Vietnam (1951–54) |journal=War & Society |volume=31 |issue=2 |pages=184–210 |doi=10.1179/0729247312Z.0000000009 }}
* {{chú thích tạp chí |last1=Reilly |first1=Brett |title=The Sovereign States of Vietnam, 1945–1955 |journal=[[Journal of Vietnamese Studies]] |date=2016 |volume=11 |issue=3–4 |pages=103–139 |doi=10.1525/jvs.2016.11.3-4.103}}
* {{chú thích sách |editor-last1=Lawrence |editor-first1=Mark Atwood |editor-last2=Logevall |editor-first2=Fredrik |title=The First Vietnam War: Colonial Conflict and Cold War Crisis |date=2007 |publisher=Harvard University Press |url=https://www.hup.harvard.edu/catalog.php?isbn=9780674023925 |isbn=9780674023925}}
* {{chú thích sách |last1=McHale |first1=Shawn F. |title=The First Vietnam War: Violence, Sovereignty, and the Fracture of the South, 1945–1956 |date=2021 |publisher=Cambridge University Press |url=https://www.cambridge.org/core/books/first-vietnam-war/DCA5AE26932900D327E977BFCC5374BA |isbn=9781108936002}}
* {{chú thích sách |last1=Goscha |first1=Christopher |title=The Road to Dien Bien Phu: A History of the First War for Vietnam |date=2022 |publisher=Princeton University Press |url=https://press.princeton.edu/books/ebook/9780691228655/the-road-to-dien-bien-phu |isbn=9780691228655}}
{{Refend}}
== Liên kết ngoài ==
{{thể loại Commons|First Indochina War}}
* {{TĐBKVN|11535|Kháng chiến chống Pháp 1945 - 54}}
* {{Britannica|208194|First Indochina War (1946–1954)}}
{{Việt Nam thế kỷ XX}}
{{Chiến tranh Lạnh}}
{{Chiến tranh Đông Dương}}
{{Phong trào độc lập Việt Nam}}
{{Tổng quan về Việt Nam}}
{{Thanh chủ đề|Việt Nam|Lịch sử Việt Nam |Chiến tranh Việt Nam}}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
[[Thể loại:Chiến tranh Đông Dương| ]]
[[Thể loại:Phi thực dân hóa]]
[[Thể loại:Chiến tranh Lạnh]]
[[Thể loại:Xung đột thập niên 1940]]
[[Thể loại:Xung đột thập niên 1950]]
[[Thể loại:Liên bang Đông Dương]]
[[Thể loại:Phong trào độc lập Việt Nam]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Việt Nam|Đ]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Pháp|Đ]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Trung Quốc|Đ]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Hoa Kỳ|Đ]]
[[Thể loại:Việt Nam thập niên 1940]]
[[Thể loại:Việt Nam thập niên 1950]]
[[Thể loại:Quan hệ Pháp – Việt Nam]]
[[Thể loại:Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc]]
[[Thể loại:Quan hệ Liên Xô-Việt Nam]]
[[Thể loại:Chiến tranh bán đảo Đông Dương|Đông Dương]] | 489380 |
1290 | Chiến tranh Vùng Vịnh | 0 | null | null | 73779184 | 73509252 | 2025-08-18T10:04:04 | false | Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5 | wikitext | text/x-wiki | 5ez9orm9qt3com5nk8y2tw9z1k4cffh | {
"username": "InternetArchiveBot",
"id": "686003",
"ip": null
} | {{bài cùng tên}}
{{Thông tin chiến tranh
| rộng = 23%
|conflict=Chiến tranh Vùng Vịnh
|partof= [[Chiến tranh Lạnh]]
|campaign=
|image=[[Tập tin:WarGulf photobox.jpg|300px]]
|caption=
|date=2 tháng 8 năm 1990 – 28 tháng 2 năm 1991
|place=[[Vịnh Ba Tư]], [[Iraq]], [[Kuwait]], [[Israel]], [[Ả Rập Xê Út]]
|casus=Iraq [[xâm lược Kuwait]]
|result=Giai đoạn đầu: Iraq chiến thắng, chiếm đóng Kuwait<br>Giai đoạn sau: Chiến thắng quyết định của Liên quân; [[Kuwait]] được giải phóng
|combatant1 = {{flagicon|UN|size=30px}} '''[[Liên Hợp Quốc]]''' <br> {{flagcountry|Kuwait}}<br> (Chính phủ lưu vong)<br>{{flagcountry|Hoa Kỳ|1960}}<br>{{Flagcountry|United Kingdom}}<br>{{Flagcountry|Saudi Arabia}}<br>{{Flagcountry|Egypt}}<br>{{Flagcountry|Pháp}}<!-- COUNTRIES THAT DID NOT DEPLOY ANY MILITARY UNITS SHOULD NOT BE INCLUDED --><!-- DO NOT ADD ISRAEL --><!-- DESCENDING SORTED BY THE NUMBER OF MILITARY PERSONNEL OF EACH COUNTRY -->
{{Collapsible list
| title = '''[[Coalition of the Gulf War|Lực lượng liên minh]]'''
| bullets = true
| {{Flagcountry|Egypt}}
| {{Flagcountry|Syria}}<ref name=nyt-syria-double />
| {{Flagcountry|Morocco}}
| {{Flagcountry|Oman|1970}}
| {{Flagcountry|Pakistan}}
| {{Flagcountry|Canada}}
| {{Flagcountry|United Arab Emirates}}
| {{Flagcountry|Qatar}}
| {{Flagcountry|Bangladesh}}
| {{Flagcountry|Italy|1946}}
| {{Flagcountry|Australia}}
| {{Flagcountry|Hà Lan}}
| {{Flagcountry|Niger}}
| {{Flagcountry|Thụy Điển}}
| {{Flagcountry|Argentina}}
| {{Flagcountry|Senegal}}
| {{Flagcountry|Tây Ban Nha}}
| {{Flagcountry|Bahrain}}
| {{Flagcountry|Bỉ}}
| {{Flagcountry|Poland}}
| {{Flagcountry|South Korea|1984}}
| {{Flagcountry|Singapore}}
| {{Flagcountry|Norway}}
| {{Flagdeco|Czechoslovakia}} [[Cộng hòa Liên bang Séc và Slovakia|Tiệp Khắc]]
| {{Flagcountry|Greece}}
| {{Flagcountry|Denmark}}<ref>{{chú thích web|url=http://www.forsvaret.dk/SOK/Internationalt/Tidligere/Golf1/Pages/default.aspx |title=Den 1. Golfkrig |publisher=Forsvaret.dk |date=ngày 24 tháng 9 năm 2010 |access-date =ngày 1 tháng 2 năm 2011 |url-status=dead |archiveurl=https://web.archive.org/web/20110112215511/http://forsvaret.dk/SOK/Internationalt/Tidligere/Golf1/Pages/default.aspx |archive-date=ngày 12 tháng 1 năm 2011}}</ref>
| {{Flagcountry|New Zealand}}
| {{Flagcountry|Hungary}}
}}
|combatant2= {{flagdeco|Iraq|1963}}<!-- Iraq had this flag in 1990, see [[flag of Iraq]] (historical section), a newer flag was introduced in 1991, by which time the Persian Gulf War had already started --> [[Iraq dưới thời Ba'athist|Cộng hòa Iraq]]<br>{{flagdeco|Kuwait}} [[Cộng hòa Kuwait]] (1990)
<!-- COUNTRIES THAT DID NOT DEPLOY ANY MILITARY UNITS SHOULD NOT BE INCLUDED -->
|commander1= {{plainlist|
* {{flagicon|Kuwait}} [[Jaber al-Ahmad al-Jaber al-Sabah|Sheikh Jaber Al Ahmad]]
* {{flagicon|Kuwait}} [[Saad Al-Salim Al-Sabah|Sheikh Saad Al Abdullah]]
* {{flagicon|United States|1960}} [[George H. W. Bush]]
* {{flagicon|United States|1960}} [[Dick Cheney]]
* {{flagicon|United States|1960}} [[Colin Powell]]
* {{flagicon|United States|1960}} [[Norman Schwarzkopf Jr.|Norman Schwarzkopf]]
* {{flagicon|United States|1960}} [[John J. Yeosock]]
* {{flagicon|United States|1960}} [[Walter E. Boomer]]
* {{flagicon|United States|1960}} [[Chuck Horner|Charles Horner]]
* {{flagicon|United States|1960}} [[Stanley R. Arthur|Stanley Arthur]]
* {{flagicon|United States|1960}} [[J. William Kime]]
* {{flagicon|United States|1960}} [[Robert B. Johnston]]
* {{flagicon|Saudi Arabia}} [[Fahd of Saudi Arabia|King Fahd]]
* {{flagicon|Saudi Arabia}} [[Saleh Al-Muhaya]]
* {{flagicon|Saudi Arabia}} [[Khalid bin Sultan]]<ref>''Persian Gulf War, the Sandhurst-trained Prince<br />Khaled bin Sultan al-Saud was co-commander with General Norman Schwarzkopf'' [http://www.casi.org.uk/discuss/2002/msg01184.html www.casi.org.uk/discuss] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20160303195039/http://www.casi.org.uk/discuss/2002/msg01184.html |date=2016-03-03 }}</ref><ref>''General Khaled was Co-Commander, with US General Norman Schwarzkopf, of the allied coalition that liberated Kuwait'' [http://www.thefreelibrary.com/FEATURE+Gulf+War+commander+signs+publishing+agreement+with...-a016226901 www.thefreelibrary.com] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20110430043714/http://www.thefreelibrary.com/FEATURE+Gulf+War+commander+signs+publishing+agreement+with...-a016226901 |date=2011-04-30 }}</ref>
* {{flagicon|United Kingdom}} [[Margaret Thatcher]]
* {{flagicon|United Kingdom}} [[John Major]]
* {{flagicon|United Kingdom}} [[Peter de la Billière]]
* {{flagicon|Canada}} [[Brian Mulroney]]
* {{flagicon|Bangladesh}} [[Hussain Muhammad Ershad]]
* {{flagicon|Bangladesh}} [[Shahabuddin Ahmed]]
* {{flagicon|Pháp}} [[François Mitterrand]]
* {{flagicon|Pháp}} [[Michel Roquejeoffre]]}}
|commander2={{plainlist|
* {{flagicon|Iraq|1963}} [[Saddam Hussein]]
* {{flagicon|Iraq|1963}} [[Tariq Aziz]]
* {{nowrap|{{flagicon|Iraq|1963}} [[Ali Hassan al-Majid]]}}
* {{nowrap|{{flagicon|Iraq|1963}} [[Izzat Ibrahim al-Douri]]}}
* {{nowrap|{{flagicon|Iraq|1963}} [[Salah Aboud Mahmoud]]}}
* {{nowrap|{{flagicon|Iraq|1963}} [[Hussein Kamel al-Majid]]}}
* {{nowrap|{{flagicon|Iraq|1963}} [[Abid Hamid Mahmud]]}}}}
|strength1=956.600, bao gồm 700.000 quân Mỹ<ref>Gulf War coalition forces (latest available) by country {{chú thích web|url=http://www.nationmaster.com/graph/mil_gul_war_coa_for-military-gulf-war-coalition-forces |title=www.nationmaster.com |access-date = ngày 13 tháng 9 năm 2007 |url-status=bot: unknown |archiveurl=https://web.archive.org/web/20131105011128/http://www.nationmaster.com/graph/mil_gul_war_coa_for-military-gulf-war-coalition-forces |archive-date=ngày 5 tháng 11 năm 2013 }}</ref><ref>{{chú thích sách |last=Hersh |first=Seymour |title=Chain of Command |url=https://archive.org/details/chainofcommand0000hers |year=2005 |publisher=Penguin Books |page=[https://archive.org/details/chainofcommand0000hers/page/181 181]}}</ref>
|strength2=650.000
|casualties1= '''Liên quân phương Tây:'''<br />292 chết<br />776 bị thương<ref name="ca.encarta.msn.com">{{chú thích web|title=Persian Gulf War |publisher=MSN Encarta |url=http://ca.encarta.msn.com/encyclopedia_761551555_2/Arabian_Gulf_War.html |archiveurl=https://www.webcitation.org/5kwqMXGNZ?url=http://ca.encarta.msn.com/encyclopedia_761551555_2/Persian_Gulf_War.html |archive-date=ngày 1 tháng 11 năm 2009 |url-status=dead }}</ref><br />31 xe tăng bị phá hủy<ref>18 M1 Abrams, 11 M60, 2 AMX-30</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.checkpoint-online.ch/CheckPoint/Histoire/His0010-CombatTawakalna.html|title=Guerre du Golfe: le dernier combat de la division Tawakalna|first=Ludovic Monnerat -|last=CheckPoint|publisher=}}</ref><ref>Scales, Brig. Gen. Robert H.: ''Certain Victory''. Brassey's, 1994, p. 279.</ref><ref>Halberstadt 1991. p. 35</ref><ref>Atkinson, Rick. ''Crusade, The untold story of the Persian Gulf War''. Houghton Mifflin Company, 1993. pp. 332–3</ref><ref>Captain Todd A. Buchs, B. Co. Commander, ''Knights In the Desert''. Publisher/Editor Unknown. p. 111.</ref>
<ref>{{chú thích web|url=http://www.tanks.net/tank-history/tanks-during-the-first-gulf-war.html|title=Tanks During the First Gulf War{{snd}}Tank History|first=Marcia|last=Malory|publisher=|access-date =ngày 5 tháng 7 năm 2016|archive-date = ngày 3 tháng 3 năm 2016 |archive-url=https://web.archive.org/web/20160303220002/http://www.tanks.net/tank-history/tanks-during-the-first-gulf-war.html|url-status=dead}}</ref><ref>M60 vs T-62 Cold War Combatants 1956–92 by Lon Nordeen & David Isby</ref><br />28 xe thiết giáp Bradley bị phá hủy/hư hại nặng<br /><ref>{{chú thích web|url=http://www.gulflink.osd.mil/du_ii/du_ii_tabh.htm|title=TAB H{{snd}}Friendly-fire Incidents|publisher=|access-date=ngày 5 tháng 7 năm 2016|archive-date=2013-06-01|archive-url=https://web.archive.org/web/20130601053948/http://www.gulflink.osd.mil/du_ii/du_ii_tabh.htm|url-status=dead}}</ref><ref>[http://www.gao.gov/products/NSIAD-92-94 NSIAD-92-94, "Operation Desert Storm: Early Performance Assessment of Bradley and Abrams".] US General Accounting Office, ngày 10 tháng 1 năm 1992. Quote: "According to information provided by the Army's Office of the Deputy Chief of Staff for Operations and Plans, 20 Bradleys were destroyed during the Gulf war. Another 12 Bradleys were damaged, but four of these were quickly repaired. Friendly fire accounted for 17 of the destroyed Bradleys and three of the damaged ones</ref><br />1 xe thiết giáp M113, 2 xe thiết giáp Warrior bị phá hủy<br />1 pháo bị phá hủy<br />75 máy bay bị phá hủy<ref name="Desert Storm stats">{{chú thích web|url=http://www.globalsecurity.org/military/ops/desert_storm-stats.htm|title=Operation Desert Storm|first=John|last=Pike|publisher=|access-date =ngày 5 tháng 7 năm 2016}}</ref><br />'''Kuwait''':<br />4.200 chết<br />
12.000 bị bắt<br />
≈250 xe tăng bị phá hủy/tịch thu<br />
850+ xe thiết giáp bị phá hủy/tịch thu<br />
57 máy bay bị phá hủy<br />
8 máy bay bị tịch thu<br />
17 tàu chiến chìm, 6 bị bắt<ref name="airCombatInformationGroup">[http://www.acig.org/artman/publish/article_213.shtml Iraqi Invasion of Kuwait; 1990 (Air War)] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20141006231817/http://www.acig.org/artman/publish/article_213.shtml |date=ngày 6 tháng 10 năm 2014 }}. Acig.org. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011</ref>
|casualties2=25.000–50.000 chết<ref name="auto">Bourque P.455</ref><br />50.000 - 75.000+ bị thương<ref name="ca.encarta.msn.com"/> <!-- The source means "casualties" as killed, comparing these new estimates with the old ones of 10,000–100,000 killed; for all losses it uses "losses". --><br />80.000 bị bắt<ref name="auto"/><br />3.300 xe tăng bị phá hủy/tịch thu<ref name="auto"/><br />2.100 xe thiết giáp bị phá hủy/tịch thu<ref name="auto"/><br />2.200 pháo bị phá hủy/tịch thu<ref name="auto"/><br />110 máy bay bị phá hủy<ref name="Desert Storm stats" /><br />137 máy bay chạy sang Iran<ref name="Desert Storm stats" /><br />19 tàu chiến chìm, 6 hư hại<ref name="Desert Storm stats" />
}}
'''Chiến tranh Vùng Vịnh''' năm 1991 (cũng gọi là '''Chiến tranh vịnh Ba Tư''' hay '''Chiến dịch Bão táp Sa mạc''') là một cuộc xung đột giữa [[Iraq]] và liên minh gần 38 [[quốc gia]]<ref name="Tread">{{chú thích sách|last=Crocker III|first=H. W.|title=Don't Tread on Me|publisher=Crown Forum|year=2006|location=New York|page=[https://archive.org/details/donttreadonme40000croc/page/384 384]|isbn=978-1-4000-5363-6|url=https://archive.org/details/donttreadonme40000croc/page/384}}</ref> do [[Hoa Kỳ]] lãnh đạo và được [[Liên Hợp Quốc]] phê chuẩn để giải phóng [[Kuwait]].
Sự kiện dẫn tới [[chiến tranh]] là việc Iraq xâm chiếm [[Kuwait]] ngày 2 tháng 8 năm 1990, sau khi Iraq cho rằng (nhưng không chứng minh được) Kuwait đã "[[khoan nghiêng]]" giếng [[Dầu mỏ|dầu]] của họ vào [[biên giới]] Iraq. Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq ngay lập tức bị Liên Hợp Quốc áp đặt [[cấm vận|trừng phạt kinh tế]]. Những hành động quân sự bắt đầu từ tháng 1 năm 1991, dẫn tới 1 thắng lợi hoàn toàn của các lực lượng đồng minh, buộc quân đội Iraq phải rút khỏi Kuwait với tổn thất nhân mạng ở mức tối thiểu cho lực lượng đồng minh. Những trận đánh chính là những trận đánh trên không và trên bộ bên trong Iraq, Kuwait và những vùng giáp biên giới [[Ả Rập Xê Út]]. Cuộc chiến không mở rộng ra ngoài vùng biên giới Iraq/Kuwait/Ả Rập Xê Út, dù Iraq đã bắn [[tên lửa]] vào các thành phố của [[Israel]]. Cuộc chiến có thể coi là
chiến tranh vệ quốc hoặc phản kích tự vệ của Kuwait khi nước này đã bị xâm lược trước.
== Tên gọi ==
{{chính|Tên gọi cuộc chiến Vùng Vịnh}}
"Chiến tranh Vùng Vịnh" và "Chiến tranh [[vịnh Ba Tư]]" là những thuật ngữ thường được dùng nhất để chỉ cuộc xung đột này ở các nước phương Tây. Những cái tên đó đã được đa số các nhà sử học và nhà báo sử dụng tại Hoa Kỳ. Từ "Chiến dịch Iraq tự do" ngày 22 tháng 3 năm 2003 và tiếp theo là việc [[Hoa Kỳ]] [[Chiến tranh Iraq|chiếm đóng]] [[Iraq]], cuộc xung đột năm 1991 hiện nay thường được gọi là "Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất". Tại Hoa Kỳ cuộc xung đột thường được gọi là Chiến dịch "Lá chắn sa mạc" (''Desert Shield'') và "Bão táp sa mạc" (''Desert Storm'') và ở Anh là [[Chiến dịch Granby]]. Tại Kuwait và đa số các nước [[Ả Rập]] cuộc xung đột thường được gọi là ''Harb Tahrir al-Kuwait'' hay "Chiến tranh giải phóng Kuwait". Tại Iraq, cuộc chiến thường được gọi là ''Um M'aārak'' - "Cuộc chiến của mọi cuộc chiến".
== Các nguyên nhân ==
Trước [[chiến tranh thế giới thứ nhất]], theo [[Hiệp định Anh-Ottoman năm 1913]], Kuwait bị coi là một "caza tự trị" bên trong [[Iraq]] của [[Đế quốc Ottoman|Đế chế Ottoman]]. Sau cuộc chiến, Kuwait thuộc quyền cai trị của [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Anh]] và nước này coi Kuwait và Iraq là hai quốc gia riêng biệt, được gọi là [[Các Tiểu Vương quốc Ả Rập]]. Tuy nhiên, những quan chức Iraq không chấp nhận tính hợp pháp của nền độc lập của Kuwait hay chính quyền [[Emir tại Kuwait]]. Iraq không bao giờ chấp nhận chủ quyền của Kuwait và vào năm [[1961]], [[Anh]] đã phải triển khai quân đội để bảo vệ Kuwait khỏi ý định [[sáp nhập]] của Iraq, việc bảo vệ kéo dài đến năm 1971.
[[Tập tin:Saddam Hussein at trial, July 2004.JPEG|nhỏ|phải|150px|Cố Tổng thống Iraq [[Saddam Hussein]]]]
Trong [[Chiến tranh Iran-Iraq]] ở thập niên [[1980]], [[Kuwait]] là đồng minh của [[Iraq]], phần lớn là để được Iraq bảo vệ khỏi những người [[Hồi giáo Shia|Shi'ite]] ở [[Iran]]. Sau cuộc chiến, [[Iraq]] nợ các nước [[Liên đoàn Ả Rập|Ả Rập]] nhiều khoản tiền lớn, trong đó có 14 tỷ dollar nợ Kuwait. Iraq hy vọng sẽ trả được những khoản nợ đó khi làm tăng giá dầu mỏ thông qua việc cắt giảm sản lượng khai thác của [[Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa|OPEC]], nhưng thay vào đó, Kuwait lại tăng lượng khai thác của mình khiến giá dầu giảm sút, trong một nỗ lực nhằm kích thích có được một giải pháp giải quyết tốt hơn cho việc tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước. Ngoài ra, Iraq bắt đầu buộc tội Kuwait đã [[khoan nghiêng]] vào các giếng dầu của họ ở vùng biên giới và cho rằng vì Iraq là nước đệm chống lại Iran bảo vệ cho toàn bộ các nước Ả Rập nên Kuwait và Ả Rập Xê Út phải đàm phán hay hủy bỏ những khoản nợ cho chiến tranh của Iraq. Hai lý do ban đầu Tổng thống Iraq [[Saddam Hussein]] đưa ra để biện hộ cho cuộc chiến là để xác nhận việc Kuwait từng là một phần của lãnh thổ Iraq và đã bị chủ nghĩa thực dân tách ra một cách không công bằng, và Iraq sáp nhập Kuwait để bù "phí tổn kinh tế" khi họ phải bảo vệ Kuwait trước Iran cũng như việc Kuwait đã khoan nghiêng vào các giếng dầu của họ.
Cuộc chiến với Iran đã khiến hầu hết tất cả các cơ sở cảng biển của Iraq ở [[Vịnh Ba Tư]] bị hủy hoại, khiến cho con đường giao thương chính của nước này với bên ngoài bị cản trở. Nhiều người Iraq, cho rằng cuộc chiến với Iran sẽ lại tái diễn trong tương lai, cảm thấy rằng an ninh của Iraq chỉ được đảm bảo khi họ kiểm soát thêm được vùng vịnh Ba Tư, gồm cả những cảng biển quan trọng. Chính vì thế Kuwait chính là một mục tiêu.
Về ý thức hệ, cuộc xâm chiếm Kuwait được biện hộ bởi những lời kêu gọi của [[chủ nghĩa quốc gia Ả Rập]]. Kuwait từng được coi là một phần lãnh thổ tự nhiên của Iraq và đã bị chủ nghĩa thực dân Anh tách ra. Việc sáp nhập Kuwait được miêu tả như là một bước trên con đường tiến tới một Liên hiệp Ả Rập rộng lớn hơn. Các lý do khác cũng được đưa ra. Hussein coi đó là một cách để khôi phục [[Đế chế Babylon]] theo cách khoa trương của những người Ả Rập theo chủ nghĩa quốc gia. Cuộc xâm chiếm cũng có quan hệ chặt chẽ với các sự kiện ở vùng [[Trung Đông]]. Phong trào [[Intifada lần thứ nhất]] của người [[Chính quyền Quốc gia Palestine|Palestine]] đang ở cao trào, và hầu hết các nước Ả Rập, gồm cả Kuwait, Ả Rập Xê Út và [[Ai Cập]], đang phải phụ thuộc vào [[các nước đồng minh]] [[phương Tây]]. Vì thế Saddam xuất hiện với vai trò là một chính khách Ả Rập đứng lên chống lại [[Israel]] và [[Hoa Kỳ]].
== Các quan hệ Iraq-Hoa Kỳ trước cuộc chiến ==
Đối với Hoa Kỳ, Iran-Iraq có các mối quan hệ ổn định và Iraq từng là nước đứng đầu một liên minh với [[Liên Xô|Liên bang Xô viết]]. Hoa Kỳ lo ngại tình trạng thù địch của Iraq với Israel và sự không tán thành những hành động hướng tới một nền hòa bình với các nước Ả Rập khác. Họ cũng buộc tội Iraq hỗ trợ cho nhiều nhóm chiến binh Ả Rập và Palestine như [[Abu Nidal]], dẫn tới việc họ đưa nước này vào [[danh sách các quốc gia ủng hộ khủng bố]] ngày 29 tháng 12 năm 1979. Hoa Kỳ vẫn chính thức giữ thái độ trung lập khi [[Chiến tranh Iran-Iraq]] xảy ra, và trước đó họ từng bị bẽ mặt bởi [[cuộc khủng hoảng con tin Iran]] dài 444 ngày và hy vọng rằng Iran sẽ không thể thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 1982, Iran bắt đầu một cuộc phản công thắng lợi ("Chiến dịch thắng lợi không thể phủ nhận"). Trong một nỗ lực nhằm mở ra khả năng về những quan hệ có thể có với Iraq, Hoa Kỳ đã đưa nước này ra khỏi danh sách ủng hộ khủng bố. Bề ngoài việc này nhờ ở sự cải thiện các chính sách của Iraq, mặc dù cựu [[Trợ lý bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ]] Noel Koch sau này đã cho rằng "Không ai có nghi ngờ về việc [người Iraq] tiếp tục dính dáng tới chủ nghĩa khủng bố... Lý do thực sự là để giúp họ giành thắng lợi trong cuộc chiến với Iran."{{ref|www.army.mil.25}}
Với thắng lợi mới đạt được của Iran trong cuộc chiến và việc họ từ chối một đề xuất hòa bình vào tháng 7, việc [[mua bán vũ khí]] từ các nước khác (nhiều nhất là [[Liên Xô]], [[Pháp]], [[Ai Cập]], và bắt đầu từ năm đó là [[Trung Quốc]]) đã đạt tới đỉnh điểm năm 1982, nhưng một trở ngại vẫn còn chưa được giải quyết để có được bất kỳ một mối quan hệ tiềm năng nào giữa Mỹ-Iraq - Abu Nidal tiếp tục hoạt động với sự hỗ trợ chính thức của Baghdad. Khi nhóm này bị trục xuất sang [[Syria]] vào tháng 11 năm 1983, [[chính quyền Reagan]] đã cử [[Donald Rumsfeld]] làm phái viên đặc biệt sang Iraq nhằm thiết lập các mối quan hệ.
Vì sợ rằng nước Iran cách mạng sẽ đánh bại Iraq và xuất khẩu Cách mạng Hồi giáo của mình sang các nước Trung Đông khác, Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ cho Iraq. Từ 1983 đến 1990, Chính phủ Hoa Kỳ đã phê chuẩn việc bán khoảng 200 triệu đô la Mỹ [[bán vũ khí cho Iraq|vũ khí cho Iraq]], theo [[Viện hòa bình quốc tế Stockholm]] (SIPRI){{ref|web.sipri.org.26}}. Giá trị trên đạt chưa tới 1% tổng giá trị vũ khí được bán cho Iraq ở giai đoạn này, dù Hoa Kỳ cũng bán [[máy bay trực thăng]], chỉ được thiết kế cho mục đích dân sự, và chúng nhanh chóng được quân đội Iraq đem ra sử dụng trong chiến tranh với Iran{{ref|www.army.mil.27}}.
Một cuộc điều tra của [[Ủy ban tài chính Thượng nghị viện]] năm 1994 xác định rằng [[Bộ Thương mại Hoa Kỳ]] đã phê chuẩn, cho mục đích [[nghiên cứu]], việc bán các tác nhân sinh học [[đa tác dụng]] cho Iraq hồi giữa thập niên 1980, gồm cả [[bệnh than|khuẩn bệnh than]] (''anthrax''), sau này bị [[Lầu Năm Góc]] coi là một nhân tố quan trọng trong chương trình [[vũ khí sinh học]] của Iraq, cũng như ''[[Clostridium botulinum]]'', ''[[Histoplasmosis|Histoplasma capsulatum]]'', ''[[Brucella melitensis]]'' và ''[[Clostridium perfringens]]''. Báo cáo của Ủy ban cho rằng mỗi tác nhân trên đều đã bị "nhiều nước coi là có mục đích sử dụng trong chiến tranh"{{ref|www.gulfweb.org.28}}. Các tài liệu được giải mật của chính phủ Mỹ cho thấy chính phủ đã xác nhận rằng Iraq đã sử dụng các [[vũ khí hoá học]] "hầu như hàng ngày" trong cuộc xung đột Iran-Iraq ngay từ năm 1983{{ref|www.gwu.edu.29}}. Chủ tịch Ủy ban thượng nghị viện, Don Riegle, đã nói: "Nhánh hành pháp của chính phủ chúng ta đã phê chuẩn 771 giấy phép xuất khẩu khác nhau cho việc bán các kỹ thuật đa ứng dụng cho Iraq. Tôi cho rằng đó là một kỷ lục kinh khủng"[http://www.sundayherald.com/42647] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080516051250/http://www.sundayherald.com/42647 |date = ngày 16 tháng 5 năm 2008}}. Có rất ít bằng chứng cho thấy Iraq từng sử dụng các loại vũ khí sinh học trong chiến tranh và không một tác nhân sinh học nào trong bản báo cáo trên có liên quan tới các vũ khí hoá học.
Chủ yếu chính phủ Hoa Kỳ cung cấp viện trợ kinh tế cho Iraq. Cuộc chiến của Iraq với Iran và sự suy sụp trong sản xuất và buôn bán dầu mỏ của họ - hậu quả của cuộc chiến đó, đã khiến Iraq rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất. [[Viện trợ kinh tế]] của chính phủ Mỹ cho phép Hussein tiếp tục sử dụng các nguồn tài nguyên khác của đất nước cho chiến tranh. Từ giữa năm 1983 và 1990, Iraq đã nhận được 5 tỷ dollar tín dụng từ chương trình của Commodity Credit Corporation một tổ chức thuộc [[Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ]], bắt đầu ở mức 400 triệu đô la một năm năm 1983 và tăng tới hơn 1 tỷ một năm năm 1988 và 1989, cuối cùng kết thúc với khoản tiền 500 triệu năm 1990{{ref|archive.gao.gov.30}}. Bên cạnh các khoản tín dụng nông nghiệp, Hoa Kỳ cũng cung cấp cho Hussein các khoản vay khác. Năm 1985 [[Ngân hàng xuất nhập khẩu]] Hoa Kỳ cấp hơn 684 triệu dollar tín dụng cho Iraq để xây dựng đường ống dẫn dầu qua [[Jordan]] và việc xây dựng được thực hiện bởi [[Bechtel Corporation]] có trụ sở tại [[California]]{{ref|www.army.mil.31}} {{ref|refbot.32}}.
Tuy nhiên, sau chiến tranh đã có nhiều hành động bên trong [[Hạ viện Hoa Kỳ|Hạ nghị viện Hoa Kỳ]] nhằm cô lập Iraq về [[ngoại giao]] và [[kinh tế]] do những lo ngại về những sự vi phạm [[nhân quyền]], sự tăng cường quân sự và sự thù địch của Iraq đối với Israel. Đặc biệt, năm 1988 Thượng nghị viện thống nhất thông qua "[[Điều luật ngăn chặn diệt chủng năm 1988]]", áp đặt trừng phạt lên Iraq{{ref|thomas.loc.gov.33}}.
Những hành động đó bị nhiều thành viên Hạ viện phản đối dù một số quan chức Hoa Kỳ như chủ tịch uỷ ban thành lập chính sách của Bộ ngoại giao và trợ lý bộ trưởng về các vấn đề Đông Á [[Paul Wolfowitz]] không nhất trí với việc ngừng cung cấp viện trợ cho chính quyền Iraq.
Quan hệ giữa Iraq và Hoa Kỳ tiếp tục không bị cản trở gì cho tới khi Iraq tấn công xâm chiến Kuwait. Ngày 2 tháng 10 năm 1989, Tổng thống [[George H. W. Bush]] ký một chỉ thị mật số 26 về an ninh quốc gia, bắt đầu bằng, "Việc tiếp cận tới nguồn dầu mỏ ở Vịnh Péc xích và an ninh của các quốc gia đồng minh chủ chốt trong vùng là vấn đề sống còn đối với an ninh Hoa Kỳ."{{ref|www.fas.org.34}} Đối với Iraq, chỉ thị này cho rằng "Những quan hệ bình thường giữa Hoa Kỳ và Iraq sẽ phục vụ cho những lợi ích lâu dài và thúc đẩy sự ổn định ở cả Vịnh Péc xích và Trung Đông."
Cuối tháng 7 năm 1990, khi những cuộc thương lượng giữa Iraq và Kuwait sa lầy, Quân đội Iraq tập trung tới vùng [[biên giới]] với Kuwait và triệu tập Đại sứ Hoa Kỳ [[April Glaspie]] tới một cuộc gặp bất ngờ với Tổng thống Iraq Saddam Hussein. Hai văn bản về cuộc gặp đó đã được thảo ra, cả hai rất trái ngược nhau. Theo những văn bản đó, Saddam phác ra những bất bình của mình đối với Kuwait, trong khi hứa hẹn rằng ông sẽ không xâm chiếm Kuwait trước khi tiếp diễn những cuộc đàm phán thẳng thắn khác. Ở văn bản do báo ''[[The New York Times]]'' đưa ra ngày 23 tháng 9 năm 1990, Glaspie bày tỏ lo ngại về việc tăng cường quân sự, nhưng nói:
:''Chúng tôi không có ý kiến về những cuộc xung đột Ả Rập-Ả Rập, như việc tranh chấp biên giới giữa Iraq và Kuwait. Tôi đã làm việc tại Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Kuwait vào cuối những năm 1960. Lúc ấy chúng tôi được chỉ thị rằng chúng tôi không được bày tỏ ý kiến về vấn đề đó và rằng vấn đề đó không liên quan tới nước Mỹ. [[James Baker]] đã chỉ thị cho người phát ngôn chính thức của chúng tôi phải nhấn mạnh điều đó. Chúng tôi hy vọng rằng Iraq có thể giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng mọi biện pháp thích hợp thông qua [Chadli] Klibi khi ấy là Tổng thư ký [[Liên đoàn Ả Rập]] hay qua [[Hosni Mubarak|Tổng thống Mubarak]]. Tất cả những điều chúng tôi hy vọng là những vấn đề này sẽ được giải quyết nhanh chóng.''
Một số người đã cho rằng những lời bình luận trên theo ngôn ngữ ngoại giao thực tế là sự "bật đèn xanh" của Mỹ cho cuộc xâm chiếm. Dù bộ ngoại giao không xác nhận (hay phủ nhận) tính xác thực của những văn bản đó, những nguồn tin tại Hoa Kỳ cho rằng Glaspie đã giải quyết mọi vấn đề "theo chỉ đạo" (phù hợp với tính trung lập chính thức của Hoa Kỳ về vấn đề Iraq-Kuwait) và không bật đèn xanh cho Tổng thống Iraq Saddam Hussein về việc bất chấp thái độ của Liên đoàn Ả Rập, khi ấy đã tổ chức các cuộc thương lượng. Nhiều người tin rằng những trù tính của Saddam đã bị ảnh hưởng bởi việc nhận thức được rằng Hoa Kỳ không quan tâm tới vấn đề, vì thế bản ghi chép của Glaspie chỉ đơn giản là một thứ làm ví dụ và rằng có thể ông ta (Saddam) cũng cảm thấy thế một phần vì Hoa Kỳ ủng hộ sự thống nhất nước [[Đức]], một hành động khác mà ông cho rằng chẳng mang ý nghĩa gì hơn sự hủy bỏ một biên giới nhân tạo ở bên trong. Những người khác, như [[Kenneth Pollack]], tin rằng Sadddam không hề có ảo tưởng đó, hay rằng ông đơn giản đã đánh giá thấp khả năng sử dụng quân sự của Hoa Kỳ.
[[Tập tin:TIME magazine cover, January 28, 1991.jpg|nhỏ|300px|Bìa tạp chí [[TIME]] ngày 28 tháng 1 năm 1991]]
Tháng 11 năm 1989, giám đốc CIA [[William Webster]] gặp gỡ lãnh đạo cơ quan an ninh Kuwait, Thiếu tướng Fahd Ahmed Al-Fahd. Sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Iraq tuyên bố đã tìm thấy một bản ghi nhớ liên quan tới cuộc trao đổi giữa họ. Tờ ''[[The Washington Post]]'' đã thông báo rằng Bộ trưởng Ngoại giao Kuwait đã ngất xỉu khi trông thấy tài liệu này trong một cuộc họp thượng đỉnh Ả Rập vào tháng 8. Sau này, Iraq cho rằng bản ghi nhớ này là bằng chứng về một âm mưu của [[Cơ quan Tình báo Trung ương (Hoa Kỳ)|CIA]] và Kuwait nhằm làm mất ổn định kinh tế và chính trị Iraq. CIA và Kuwait đã miêu tả cuộc gặp gỡ này là một cuộc gặp thông thường và bản ghi nhớ chỉ là một sự giả mạo. Một phần của văn bản đó như sau:
:''Chúng tôi đồng ý với phía Mỹ rằng điều quan trọng là cần phải làm cho tình trạng kinh tế ở Iraq xấu đi nữa nhằm tạo áp lực lên chính phủ nước này để vạch ra biên giới chung của chúng tôi. CIA đã trao cho chúng tôi quan điểm của họ về các biện pháp gây áp lực, cho rằng cần phải có một sự hợp tác rộng rãi giữa chúng ta về điều kiện theo đó các hành động như vậy sẽ được phối hợp ở một mức cao hơn.''
== Tóm tắt sự kiện ==
* Ngày 2 tháng 8 năm 1990: Quân đội [[Iraq]] tiến vào [[Kuwait]]. Hội đồng Bảo an LHQ lên án cuộc xâm lược của Iraq và đòi rút ngay lập tức và không điều kiện các lực lượng của Iraq ra khỏi Kuwait.
* Ngày 6 tháng 8 năm 1990: Hội đồng bảo an LHQ kêu gọi các nước thành viên LHQ ngừng buôn bán với Iraq để buộc Iraq phải rút quân khỏi Kuwait.
* Ngày 8 tháng 8 năm 1990: Iraq tuyên bố sáp nhập Kuwait vào Iraq. Tổng thống Mỹ Bush nói các lực lượng chiến đấu đang được triển khai như một bộ phận của các lực lượng đa quốc gia để bảo vệ [[Ả Rập Xê Út]].
* Ngày 12 tháng 8 năm 1990: Tổng thống Iraq [[Saddam Hussein]] công bố đề nghị hòa bình gắn việc rút quân đội Iraq với việc rút các lực lượng [[Israel]] ra khỏi bờ tây [[sông Jordan]] và [[Dải Gaza]] và vấn đề [[Chính quyền Quốc gia Palestine|Palestine]].
* Ngày 18 tháng 8 năm 1990: Iraq tuyên bố bắt giữ tất cả người nước ngoài. Hội đồng bảo an LHQ kêu gọi trả tự do không điều kiện cho những người nước ngoài.
* Ngày 9 tháng 9 năm 1990: Tổng thống Mỹ [[George H. W. Bush|Bush]] và tổng thống [[Liên Xô]] [[Mikhail Sergeyevich Gorbachyov|Gorbachyov]] kêu gọi rút hoàn toàn và không điều kiện các lực lượng của Iraq ra khỏi Kuwait.
* Ngày 8 tháng 11 năm 1990: Mỹ quyết định gửi thêm 200.000 quân sang [[Ả Rập Xê Út]].
* Ngày 29 tháng 11 năm 1990: Hội đồng bảo an LHQ cho phép sử dụng tất cả những biện pháp can thiệp nếu Iraq không chịu rút quân ra khỏi Kuwait vào ngày 15 tháng 1 năm 1991.
* Ngày 6 tháng 12 năm 1990: Iraq tuyên bố trả lại tự do cho các con tin người nước ngoài.
* Ngày 9 tháng 1 năm 1991: Ngoại trưởng Mỹ J Baker và ngoại trưởng Iraq [[Tareq Aziz]] gặp nhau tại [[Genève]], Thụy Sĩ nhưng không phá vỡ được bế tắc.
* Ngày 13 tháng 1 năm 1991: Tổng thư ký LHQ [[Javier Pérez de Cuéllar]] gặp Hussein ở [[Bagdad]] nhưng không đạt được tiến bộ cho một giải pháp hòa bình.
* Ngày 15 tháng 1 năm 1991: Nghị quyết của hội đồng bảo an LHQ đề ra thời hạn cuối cùng cho việc Iraq rút khỏi Kuwait.
* Ngày 17 tháng 1 năm 1991: Các lực lượng đa quốc gia bắt đầu mở các cuộc tiến công chống quân đội Iraq chiếm đóng Kuwait.
* Ngày 18 tháng 1 năm 1991: Iraq bắt đầu các cuộc tiến công bằng tên lửa Scud vào Israel và [[Ả Rập Xê Út]].
*Ngày 23 tháng 1 năm 1991: Liên quân Anh-Mỹ bắt đầu tiến hành các cuộc tuần tra tầm xa vào lãnh thổ Iraq nhằm phá hủy các hệ thống [[Tên lửa đạn đạo chiến thuật R-11|tên lửa Scud]] của Iraq. Một trong số đó là cuộc tuần tra [[Bravo Two Zero]].
* Ngày 25 tháng 1 năm 1991: Hoa Kỳ nói Iraq đang xả dầu thô vào Vùng Vịnh.
* Ngày 30 tháng 1 năm 1991: Lực lượng Iraq và đa quốc gia tiến hành cuộc chiến đấu trên bộ ở thành phố Kháp-gi biên giới Ả Rập Xê Út
* Ngày 13 tháng 2 năm 1991: Nhiều dân thường chết trong cuộc oanh kích của không quân [[Hoa Kỳ]] vào một hầm trú ẩn ở [[Basra]]
* Ngày 15 tháng 2 năm 1991: Iraq thông báo sẵn sàng rút khỏi Kuwait nhưng lại gắn với việc đòi [[Israel]] cũng phải rút khỏi những vùng lãnh thổ đã chiếm đóng của các nước Ả Rập.
* Ngày 21 tháng 2 năm 1991: Tổng thống [[Saddam Hussein]] kêu gọi các lực lượng vũ trang và quân đội Iraq chiến đấu tới cùng chống các lực lượng liên minh.
* Ngày 22 tháng 2 năm 1991: [[Liên Xô]] và Iraq thỏa thuận về đề nghị hòa bình do Liên Xô đưa ra nhưng Hoa Kỳ bác bỏ đề nghị đó và đòi Iraq phải rút quân vào trưa ngày 23 tháng 2 năm 1991.
* Ngày 24 tháng 2 năm 1991: Liên minh do Hoa Kỳ đứng đầu mở cuộc tiến công trên bộ.
* Ngày 25 tháng 2 năm 1991: Iraq bắn tên lửa vào các doanh trại Quân đội Hoa Kỳ làm chết 28 lính và bị thương nhiều binh sĩ khác.
* Ngày 26 tháng 2 năm 1991: Iraq tuyên bố quân đội sẽ rút khỏi [[Kuwait]] vào cuối ngày 26 tháng 2 năm 1991.
* Ngày 27 tháng 2 năm 1991: [[Hoa Kỳ]] tuyên bố [[Kuwait]] được giải phóng sau gần 7 tháng bị Iraq chiếm đóng và tuyên bố ngừng các cuộc tiến công của đồng minh, bắt đầu có hiệu lực từ 5 giờ [[GMT]] ngày 28 tháng 2 năm 1991. Iraq chấp nhận toàn bộ 12 nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ.
* Ngày 28 tháng 2 năm 1991: Chiến tranh chấm dứt sau khi tổng thống [[Saddam Hussein]] ra lệnh ngừng chiến đấu.
== Xâm chiếm Kuwait ==
Rạng sáng ngày 2 tháng 8 năm 1990, quân đội Iraq vượt biên giới Kuwait với [[bộ binh]] và [[xe bọc thép chở quân|xe bọc thép]], chiếm các vị trí chiến lược trên toàn bộ Kuwait, gồm cả cung điện Emir. Quân đội Kuwait nhanh chóng bị áp đảo, dù họ cũng kìm chân địch đủ thời gian cho Không quân Kuwait bay sang trốn ở Ả Rập Xê Út. Trận đánh dữ dội nhất diễn ra tại Cung Emir, nơi các lực lượng bảo vệ hoàng gia chiến đấu bọc hậu cho gia đình hoàng gia tẩu thoát. Anh (Em) của Emir, là người chỉ huy đội quân đó, nằm trong số người thiệt mạng. Quân đội Iraq cướp bóc các kho thực phẩm và thuốc men dự trữ, giam giữ hàng nghìn dân thường và chiếm quyền kiểm soát đài phát thanh. Đã có nhiều báo cáo về các vụ sát hại, những hành động tàn bạo và những vụ hãm hiếp của quân đội Iraq với thường dân Kuwait. Tuy nhiên, Iraq đã giam giữ hàng nghìn người phương Tây làm con tin và sau đó tìm cách đem họ ra làm vật trao đổi. Sau một khi lập nên chính phủ bù nhìn do [[Alaa Hussein Ali]] lãnh đạo một thời gian ngắn, Iraq sáp nhập Kuwait. Sau đó Hussein lập ra một thống đốc tỉnh mới này của Iraq, gọi đó là "sự giải phóng" khỏi chế độ Emir của Kuwait, đây chỉ là một biện pháp [[tuyên truyền]] trong chiến tranh.
== Ngoại giao ==
Chỉ vài giờ sau cuộc tấn công đầu tiên, các phái đoàn [[Kuwait]] và Hoa Kỳ đã yêu cầu [[Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc]] nhóm họp, thông qua [[Nghị quyết 660]], lên án cuộc xâm lược và yêu cầu Iraq rút quân. Ngày 3 tháng 8, [[Liên đoàn Ả Rập]] thông qua nghị quyết của riêng mình lên án cuộc xâm lược và đòi Iraq rút quân. Nghị quyết của Liên đoàn Ả Rập cũng kêu gọi tìm ra một giải pháp cho cuộc xung đột từ bên trong Liên đoàn Ả Rập, và cảnh báo chống lại sự can thiệp từ bên ngoài. Ngày 6 tháng 8, Hội đồng Bảo an thông qua [[Nghị quyết 661]], áp đặt [[cấm vận|trừng phạt kinh tế]] lên Iraq.
Quyết định của phương Tây nhằm đẩy lùi cuộc xâm lược của Iraq thực chất có mục đích chính là để ngăn Iraq xâm lược Ả Rập Xê Út, một nước có tầm quan trọng hơn rất nhiều so với Kuwait, như việc Iraq đã làm với Kuwait. Thắng lợi nhanh chóng của quân đội Iraq trước Kuwait khiến quân đội Iraq đã tiến đến rất gần các giếng dầu ở [[Hama]], là nguồn tài nguyên giá trị nhất của Ả Rập Xê Út. Việc Iraq kiểm soát được các giếng dầu đó cũng như những nguồn tài nguyên dầu lửa của Iraq và Kuwait sẽ làm cho họ nắm được một phần quan trọng tài nguyên dầu lửa thế giới, chỉ đứng sau chính Ả Rập Xê Út. Đặc biệt, Hoa Kỳ, [[châu Âu]] và [[Nhật Bản]] coi một sự [[độc quyền (kinh tế)|độc quyền]] tiềm tàng như vậy là rất nguy hiểm. Về mặt địa lý, Ả Rập Xê Út là một nước lớn với các khu vực dân cư nằm phân tán và sẽ rất khó khăn để động viên binh lính nhằm chống lại các đội quân Iraq đang được triển khai ở phía nam Kuwait. Rất có khả năng là Iraq sẽ chiếm quyền kiểm soát các giếng dầu ở phía đông nhưng lại khó đoán được khi nào họ sẽ tấn công vào [[Riyadh]], thủ đô của Ả Rập Xê Út. Các sư đoàn thiết giáp Iraq cũng sẽ phải đối mặt với những khó khăn tương tự như khó khăn mà các lực lượng Ả Rập Xê Út được triển khai tới bảo vệ các giếng dầu gặp phải, vì họ cùng phải vượt qua một sa mạc rộng lớn với điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Việc này, nếu đã xảy ra, sẽ phải xảy ra dưới bom của không lực Ả Rập Xê Út, phần hiện đại hóa nhất của quân đội Ả Rập Xê Út.
Iraq có một số bất mãn với Ả Rập Xê Út. Mối lo về những khoản nợ nảy sinh từ thời Chiến tranh Iran - Iraq là rất lớn vì Iraq nợ Ả Rập Xê Út tới khoảng 26 tỷ đô la Mỹ. Biên giới sa mạc dài giữa hai nước cũng chưa được phân chia rõ ràng. Ngay sau khi có được chiến thắng ở Kuwait, Xát-đam bắt đầu dùng những lời phát biểu để công kích vương triều Ả Rập Xê Út. Ông cho rằng vương triều do Mỹ hậu thuẫn đó là kẻ trông coi bất hợp pháp của những thành phố linh thiêng như [[Mecca]] và [[Medina]]. Xát-đam gộp cả ngôn ngữ của những nhóm Hồi giáo đang chiến đấu ở [[Afghanistan]] thời đó với kiểu phát biểu khoa trương mà Iran từ lâu đã sử dụng để tấn công Ả Rập Xê Út. Việc đưa thêm dòng chữ ''[[Allahu Akbar]]'' (Thánh Ala vĩ đại) vào lá cờ Iraq và những hình ảnh Xát-đam đang cầu nguyện ở Kuwait được coi là một phần của kế hoạch lôi kéo sự ủng hộ từ [[Nhóm huynh đệ Hồi giáo]] và chia rẽ nhóm Hồi giáo [[Mu-gia-hít-đin]] với Ả Rập Xê Út. Khi quân đội phương tây bắt đầu kéo đến nước này, những cuộc tấn công tuyên truyền đó còn leo thang lên mức cao hơn nữa.
[[Tập tin:USS Wisconsin (BB-64) preps.JPG|nhỏ|phải|250px|[[Thiết giáp hạm]] [[USS Wisconsin (BB-64)|USS ''Wisconsin'']], một trong nhiều chiến hạm được triển khai trong chiến dịch Lá chắn sa mạc]]
Tổng thống [[George H. W. Bush]] nhanh chóng thông báo rằng Hoa Kỳ sẽ tung ra một chiến dịch "bảo vệ toàn diện" nhằm ngăn chặn Iraq tấn công Ả Rập Xê Út – "Chiến dịch Lá chắn sa mạc" – và quân đội Hoa Kỳ được chuyển tới Ả Rập Xê Út ngày 7 tháng 8. Ngày 8 tháng 8, Iraq tuyên bố một số phần lãnh thổ Kuwait sẽ bị sáp nhập vào quận [[Basra]] và phần còn lại trở thành tỉnh thứ 19 của Iraq.
[[Hải quân Hoa Kỳ]] huy động hai nhóm tàu chiến, {{USS|Dwight D. Eisenhower|CVN-69|6}} và {{USS|Independence|CVA-62|6}} tới khu vực, và họ đã ở tình trạng sẵn sàng vào ngày 8 tháng 8. Cũng trong ngày hôm đó, 48 chiếc F-15 thuộc [[Không quân Hoa Kỳ|Không lực Hoa Kỳ]] từ 1st Fighter Wing tại Căn cứ không quân Langley, [[Virginia]], đã hạ cánh xuống Ả Rập Xê Út và ngay lập tức bắt đầu tiến hành tuần tra trên những vùng không phận biên giới Ả Rập Xê Út và Iraq nhằm ngăn chặn đà tiến của quân đội Iraq. Hoa Kỳ cũng gửi những [[thiết giáp hạm]] {{USS|Missouri|BB-63|6}} và {{USS|Wisconsin|BB-64|6}} vào trong vùng, sau này chúng sẽ là những tàu chiến cuối cùng tham gia tích cực vào cuộc chiến. Việc huy động quân sự tiếp tục diễn ra, cuối cùng đã lên tới 500.000 quân. Những nhà phân tích quân sự nhất trí rằng tới tháng 10, quân đội Mỹ trong vùng chưa đủ sức để ngăn chặn cuộc tấn công (nếu có) của Iraq vào Ả Rập Xê Út.
Cùng lúc ấy hàng loạt những nghị quyết của Hội đồng bảo an và Liên đoàn Ả Rập được đưa ra về cuộc xung đột. Một trong những nghị quyết quan trọng nhất là [[Nghị quyết 678]] của Liên Hợp Quốc, thông qua ngày 29 tháng 11, trao cho Iraq hạn chót để rút quân là ngày 15 tháng 1 năm 1991, và cho phép sử dụng "mọi biện pháp cần thiết để duy trì và thực hiện Nghị quyết 660", một công thức ngoại giao có nghĩa là cho phép sử dụng vũ lực.
Hoa Kỳ, đặc biệt là [[Ngoại trưởng]] [[James Baker]], tập hợp các lực lượng đồng minh chống lại Iraq, gồm lực lượng từ 34 nước: [[Afghanistan]], [[Argentina]], [[Úc]], [[Bahrain]], [[Bangladesh]], [[Canada]], [[Tiệp Khắc]], [[Đan Mạch]], [[Ai Cập]], [[Pháp]], [[Đức]], [[Hy Lạp]], [[Hungary]], [[Honduras]], [[Ý]], [[Kuwait]], [[Maroc]], [[Hà Lan]], [[New Zealand]], [[Niger]], [[Na Uy]], [[Oman]], [[Pakistan]], [[Ba Lan]], [[Bồ Đào Nha]], [[Qatar]], [[Ả Rập Xê Út]], [[Sénégal]], [[Hàn Quốc]], [[Tây Ban Nha]], [[Syria]], [[Thổ Nhĩ Kỳ]], [[Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất]], [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Anh]] và chính [[Hoa Kỳ]]. Quân đội Mỹ chiếm 74% trong số 660.000 lính trước chiến tranh. Nhiều lực lượng đồng minh bất đắc dĩ phải tham gia; một số cảm thấy rằng cuộc chiến là công việc nội bộ của Ả Rập, hay lo ngại sự tăng cường ảnh hưởng của Mỹ ở Kuwait. Cuối cùng, nhiều nước đã bị thuyết phục khi chứng khiến sự hiếu chiến của Iraq đối với các nước Ả Rập khác, và khi được hứa hẹn viện trợ kinh tế cũng như giảm nợ.
[[Tập tin:President Bush rides in a HUMVEE with General H. Norman Schwarzkopf during his visit with troops in Saudi Arabia on... - NARA - 186424.jpg|nhỏ|250px|trái|[[H. Norman Schwarzkopf, Jr.]] và Tổng thống George H. W. Bush thăm quân đội Hoa Kỳ tại Ả Rập Xê Út trong ngày lễ Tạ ơn năm 1990]]
Hoa Kỳ đưa ra nhiều lý do biện minh cho việc dính líu vào cuộc xung đột. Lý lẽ đầu tiên là tầm quan trọng của mối quan hệ liên minh lâu dài với Ả Rập Xê Út. Tuy nhiên, một số người Mỹ không bằng lòng với cách giải thích đó và khẩu hiệu "Không đổi máu lấy dầu" đã trở thành tiếng kêu thường thấy nhất trong các cuộc biểu tình phản đối từ bên trong nước Mỹ, dù chúng không bao giờ đạt tới tầm cao như phong trào phản chiến trong [[chiến tranh Việt Nam]]. Lý do tiếp sau cho cuộc chiến là lịch sử vi phạm nhân quyền của Iraq dưới chế độ Tổng thống Saddam Hussein, nguy cơ Iraq có thể phát triển [[vũ khí hạt nhân]] hay [[vũ khí hủy diệt hàng loạt]] và rằng "sự gây hấn lộ liễu sẽ không có chỗ đứng" (''naked aggression will not stand'').
Dù những vụ vi phạm nhân quyền của chính quyền Iraq trước và sau khi xâm chiếm Kuwait được ghi chép rất nhiều, chính phủ Kuwait đã bị ảnh hưởng từ quan điểm của Hoa Kỳ trong một số vấn đề. Ngay sau khi Iraq chiếm Kuwait, tổ chức [[các công dân cho một nước Kuwait tự do]] đã được thành lập ở Mỹ. Nó thuê công ty quan hệ công chúng Hill and Knowlton với giá 11 triệu dollar do chính phủ Kuwait cung cấp. Công ty này bắt đầu tạo ra một chiến dịch miêu tả các binh sĩ Iraq là đã lôi những đứa trẻ ra khỏi lồng ấp trong các bệnh viện Kuwait và để chúng chết dưới sàn. Tuy nhiên, một năm sau luận điệu này đã bị khám phá ra là giả dối. Người đã làm chứng cho việc đó hoá ra là một thành viên của Gia đình hoàng gia Kuwait sống tại [[Paris]] khi xảy ra chiến tranh, và vì thế không thể có mặt ở Iraq vào thời điểm xảy ra cái gọi là tội ác. (Xem ''[[Nurse Nayirah]]''.)
Nhiều sáng kiến hòa bình đã được đưa ra nhưng không được chấp nhận. Hoa Kỳ nhấn mạnh rằng những giải pháp duy nhất có thể chấp nhận được để có hòa bình toàn diện với Iraq, là việc rút quân không điều kiện ra khỏi Kuwait. Iraq nhấn mạnh rằng việc rút quân khỏi Kuwait phải được "gắn liền với" sự rút quân đồng thời của quân đội Syria ra khỏi [[Liban]] và quân đội Israel ra khỏi [[Bờ Tây]], [[Dải Gaza]], [[Cao nguyên Golan]], và Nam Liban. [[Maroc]] và [[Jordan]] đã bị thuyết phục bởi đề xuất này, nhưng [[Syria]], [[Israel]] và liên minh chống Iraq phản đối rằng không hề có một mối liên hệ nào giữa những việc trên với vấn đề Kuwait. Syria đã tham gia vào liên quân chống lại Saddam nhưng Israel vẫn chính thức giữ thái độ trung lập dù đã có những cuộc tấn công [[tên lửa]] vào thường dân Israel. Chính quyền Bush đã thuyết phục Israel đứng ngoài cuộc chiến với những hứa hẹn về việc tăng cường viện trợ, trong khi [[Tổ chức Giải phóng Palestine]] dưới quyền lãnh đạo của [[Yasser Arafat]] hoàn toàn ủng hộ Saddam Hussein, sau này dẫn tới một sự tuyệt giao trong quan hệ giữa Palestine-Kuwait, dẫn tới sự trục xuất nhiều người Palestine ra khỏi Kuwait.
Ngày 12 tháng 1 năm 1991 [[Hạ viện Hoa Kỳ]] cho phép sử dụng sức mạnh quân sự để trục xuất quân Iraq ra khỏi Kuwait. Ngay sau đó, các nước đồng minh khác cũng làm điều tương tự.
== Chiến dịch không quân ==
[[Tập tin:USAF F-16A F-15C F-15E Desert Storm pic.jpg|nhỏ|phải|250px|Máy bay chiến đấu [[USAF]] [[General Dynamics F-16 Fighting Falcon|F-16A]], [[McDonnell Douglas F-15 Eagle|F-15C]], [[McDonnell Douglas F-15E Strike Eagle|F-15E]] bay trên các [[giếng dầu]] đang cháy (do các lực lượng Iraq đốt) trong chiến dịch Bão táp sa mạc]]
Một ngày sau thời hạn chót do Nghị quyết của Liên Hợp Quốc đặt ra, liên minh tung ra một cuộc tấn công không quân ồ ạt với mật danh "Chiến dịch bão táp sa mạc" với hơn 1.000 lần xuất kích một ngày, bắt đầu từ sáng sớm ngày 17 tháng 1 năm 1991. Năm tiếng đồng hồ sau những cuộc tấn công đầu tiên, đài phát thanh quốc gia [[Bagdad]] phát đi một giọng nói được xác định là của Saddam Hussein tuyên bố rằng "Cuộc chiến vĩ đại, cuộc chiến của mọi cuộc chiến đã bắt đầu. Bình minh thắng lợi đã rất gần khi cuộc thử thách cuối cùng đã đến."
Những vũ khí được sử dụng trong chiến dịch này gồm các [[vũ khí dẫn đường chính xác]] (hay "bom thông minh"), [[bom bầy]], [[BLU-82]] "daisy cutters" và [[tên lửa hành trình]]. Iraq trả lời bằng cách phóng 8 tên lửa [[Tên lửa đạn đạo chiến thuật R-11|Scud]] vào [[Israel]] ngày hôm sau. Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của liên minh là phá hủy các cơ sở không quân và phòng không của Iraq. Nhiệm vụ này được nhanh chóng hoàn thành và trong suốt thời gian xảy ra cuộc chiến, không quân liên minh hầu như không gặp phải trở ngại nào khi hoạt động. Dù khả năng phòng không của Iraq tốt hơn so với dự đoán, liên minh chỉ thiệt hại một máy bay trong ngày mở màn chiến tranh. [[Máy bay tàng hình]] đã được sử dụng nhiều trong giai đoạn đầu tiên này nhằm tránh các hệ thống tên lửa đất đối không [[tên lửa đất đối không|SAM]] dày đặc của Iraq; khi đã phá hủy xong những hệ thống đó, các kiểu máy bay khác có thể được đem ra sử dụng với độ an toàn cao hơn. Đa số các phi vụ tấn công xuất phát từ [[Ả Rập Xê Út]] và sáu nhóm [[tàu sân bay]] của liên minh ở Vịnh Péc-xích.
[[Tập tin:A-10A Thunderbolt II Desert Storm.jpg|nhỏ|trái|180px|Máy bay [[A-10 Thunderbolt II|A-10A Thunderbolt II]] tấn công mục tiêu mặt đất thuộc Không lực Hoa Kỳ bay trên vùng mục tiêu trong chiến dịch Bão táp sa mạc]]
Các mục tiêu tiếp theo của liên quân là các sở chỉ huy và thông tin. Những nhà lập kế hoạch bên phía liên quân hy vọng sự kháng cự của Iraq sẽ nhanh chóng sụp đổ nếu hệ thống chỉ huy và liên lạc của họ bị phá hủy. Trong tuần đầu tiên của chiến dịch không quân Iraq ít khi xuất kích và cũng không gây thiệt hại gì đáng kể, 38 máy bay [[Mikoyan|MiG]] của Iraq đã bị không quân liên quân bắn hạ. Ngay sau đó, không quân Iraq bắt đầu chạy trốn sang Iran, với khoảng 115 tới 140 chiếc{{ref|www.globalsecurity.org}}. Cuộc bỏ chạy ồ ạt của không quân Iraq sang Iran khiến các lực lượng liên quân rất kinh ngạc và không kịp phản ứng gì trước khi các máy bay Iraq đã "an toàn" tại các sân bay Iran. Iran không bao giờ trả lại các máy bay đó cho Iraq và chỉ cho phép các phi công trở về nước vào năm sau. Ngày 23 tháng 1, Iraq bắt đầu đổ gần 1 triệu tấn dầu thô xuống vịnh, gây ra vụ [[tràn dầu]] lớn nhất trong lịch sử.
Giai đoạn thứ ba và là lớn nhất của chiến dịch không quân nhắm tới các mục tiêu quân sự trên khắp Iraq và Kuwait: các bệ phóng tên lửa Scud, các địa điểm [[vũ khí hủy diệt hàng loạt]], những cơ sở nghiên cứu vũ khí và các lực lượng hải quân. Khoảng một phần ba không lực liên quân được dành riêng để tấn công các bệ phóng tên lửa Scud, nằm trên các xe tải và do đó rất khó tìm kiếm để tiêu diệt. Ngoài ra, họ cũng nhắm vào các mục tiêu có thể sử dụng được cho cả mục đích dân sự và quân sự: các nhà máy điện, các lò phản ứng hạt nhân, các thiết bị thông tin liên lạc, các cảng biển, các nhà máy lọc và phân phối xăng dầu, các đường sắt và các cây cầu. Các nhà máy điện trên toàn quốc bị phá hủy. Tới cuối cuộc chiến, việc sản xuất điện chỉ còn đạt mức 4% so với trước chiến tranh. Bom đã phá hủy tất cả các đập chính, đa số những trạm bơm chính và nhiều nhà máy xử lý nước thải. Một số đội thuộc [[các lực lượng đặc biệt]] của Mỹ và Anh được đưa thâm nhập vào phía tây Iraq để tìm kiếm và phá hủy các tên lửa Scud. Tuy nhiên, vì thiếu những điều kiện địa lý thích hợp để ẩn náu khiến các hoạt động của họ gặp nhiều khó khăn và nhiều người đã bị giết hoặc bị bắt giữ.
[[Tập tin:BdeAtk.jpg|nhỏ|230px|trái|Tranh vẽ trực thăng [[AH-64 Apache]] của Mỹ tiêu diệt xe tăng địch trong Chiến tranh Vùng Vịnh]]
[[Tập tin:Gulf war target cam.jpg|nhỏ|phải|130px|Camera ngắm mục tiêu cho thấy sự tấn công của tên lửa Hoa Kỳ trong chiến dịch Bão táp sa mạc - những hình ảnh như vậy đã trở nên quen thuộc với khán giả các kênh truyền hình phương Tây, và được so sánh với các [[trò chơi máy tính]]]]
Trong đa số các trường hợp, liên quân tránh gây thiệt hại tới những cơ sở dân sự thuần tuý. Tuy nhiên, ngày 13 tháng 2 năm 1991, hai quả bom thông minh điều khiển bằng tia [[laser]] đã phá hủy [[lô cốt]] [[Amiriyah]] mà người Iraq cho là nơi tránh bom của thường dân. Các quan chức Mỹ cho rằng lô cốt đó là một trung tâm thông tin quân đội, nhưng các nhà báo phương tây đã không tìm được bằng chứng về việc đó. Trong một báo cáo với nhan đề "Bộ máy nói dối: Thảm kịch của sự lừa đảo", [[Nhà Trắng]] đã tuyên bố rằng các nguồn tin tình báo của họ cho thấy lô cốt này đang được sử dụng cho mục đích chỉ huy quân sự{{ref|www.whitehouse.gov.35}}. Trong cuốn sách của mình, ''Kẻ chế tạo bom của Saddam'', cựu giám đốc chương trình vũ khí hạt nhân của Iraq, người đã đào thoát sang phương tây, ủng hộ giả thuyết rằng lô cốt này được sử dụng cho cả hai mục đích.
<blockquote>
Chúng tôi đã tìm người trú ẩn nhiều lần tại lô cốt.... Nhưng nó luôn bị bịt kín.... Lô cốt có vô tuyến, vòi nước uống, máy phát điện riêng, và trông đủ vững chắc để chống lại các loại vũ khí thông thường. Nhưng tôi đã thôi tìm cách vào trong, bởi một đêm tôi đã nhận ra vài chiếc limousine đen chạy ra chạy vào qua cánh cổng ngầm ở phía sau. Tôi hỏi những người ở xung quanh và được trả lời rằng đó là một trung tâm chỉ huy. Sau khi xem xét nó kỹ càng hơn, tôi đã cho rằng có thể nó là căn cứ điều hành riêng của Xát-đam.
</blockquote>
Iraq đã tung ra các cuộc tấn công tên lửa vào các căn cứ của liên quân tại [[Ả Rập Xê Út]] và [[Israel]], với hy vọng buộc Israel tham gia cuộc chiến và các nước Ả Rập khác rút lui khỏi nó. Chiến thuật này tỏ ra không hiệu quả. Israel không tham gia vào liên quân, và tất cả các nước Ả Rập ở lại với liên quân trừ [[Jordan]], về mặt chính thức vẫn giữ thái độ trung lập. Các tên lửa Scud nói chung là gây ra rất ít thiệt hại, dù nó cũng đã một lần chứng minh được sức mạnh vào ngày 25 tháng 2 với 28 người Mỹ đã thiệt mạng khi một tên lửa Scud phá hủy doanh trại của họ tại [[Dhahran]]. Những tên lửa Scud nhắm vào Israel không có hiệu quả bởi vì khi tăng tầm bắn, tên lửa Scud bị giảm đi rất nhiều về độ chính xác và khả năng sát thương. Ngày 29 tháng 1, Iraq dùng xe tăng, bộ binh tấn công và chiếm thành phố [[Khafji]] của Ả Rập Xê Út lúc ấy dang được bảo vệ bởi một số lính thủy đánh bộ trang bị vũ khí hạng nhẹ. Tuy nhiên, [[Trận Khafji]] đã kết thúc khi quân Iraq phải lùi bước trước các lực lượng Ả Rập Xê Út được các lính thủy đánh bộ và không quân Mỹ yểm trợ hai ngày sau đó. Ngay sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Khafji đã trở thành một thành phố có vị trí chiến lược. Sự chậm chạp của Iraq khi đưa các sư đoàn thiết giáp vào Khafji và sau đó dùng nơi này làm bàn đạp để tiến vào phần phía đông được bảo vệ kém cỏi của Ả Rập Xê Út là một sai lầm lớn về chiến lược. Nếu làm được như vậy, Iraq không chỉ kiểm soát được phần lớn những nguồn cung cấp dầu ở Trung Đông mà sau đó còn đe dọa được lực lượng quân Mỹ triển khai dọc theo các đường chiến tuyến.
Hiệu quả của chiến dịch không quân là đã làm thiệt hại mười phần trăm toàn bộ lực lượng quân sự Iraq được triển khai trên sa mạc. Chiến dịch này cũng ngăn chặn một cách có hiệu quả việc tiếp tế của Iraq cho những đơn vị đồn trú chiến đấu phía trước, và khiến số quân đông đảo (450.000) người không thể tập trung lại được và là nhân tố căn bản dẫn đến thắng lợi.
Chiến dịch không quân có một tác động rõ nét trên các mưu mẹo mà các bên xung đột về sau này sử dụng. Họ không tập trung quân đội để đối mặt với quân Mỹ mà phân tán các sư đoàn ra, ví dụ [[Chiến tranh Kosovo|Các lực lượng Serbia tại Kosovo]]. Các bên tham chiến cũng giảm bớt khoảng cách tiếp tế hậu cần và diện tích vùng bảo vệ. Điều này đã được thấy trong [[Chiến tranh Afghanistan]] khi quân [[Taliban]] rút lui khỏi những vùng đất rộng lớn về giữ những cứ điểm mạnh của họ. Điều này giúp tăng cường tập trung quân đội và giảm bớt khoảng cách tiếp tế. Chiến thuật này cũng được sử dụng trong cuộc tấn công của Iraq khi các lực lượng Iraq rút lui khỏi miền bắc [[Kurdistan thuộc Iraq]] vào trong các thành phố.
== Chiến dịch trên bộ ==
[[Tập tin:Operation Desert Storm.jpg|phải|200px|nhỏ|Chiến dịch Bão táp sa mạc]]
[[Tập tin:IrakDesertStorm1991.jpg|200px|nhỏ|phải|"Xa lộ chết"]]
Ngày 22 tháng 2 năm 1991, Iraq đồng ý với một thỏa thuận [[ngừng bắn]] do [[Liên Xô]] đề xuất. Thỏa thuận kêu gọi Iraq rút quân khỏi những vị trí mà họ đã chiếm trong ba tuần sau khi ngừng bắn hoàn toàn, và đề xuất việc theo dõi ngừng bắn và rút quân sẽ do [[Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc]] giám sát. Hoa Kỳ phản đối đề nghị này nhưng nói rằng việc rút quân của Iraq sẽ không bị tấn công, và trao cho Iraq hai mươi bốn giờ để rút các lực lượng quân đội.
Ngày 24 tháng 2, các lực lượng do Mỹ cầm đầu bắt đầu "Chiến dịch Bão cát sa mạc" (''Desert Storm''), phần trên mặt đất của chiến dịch của họ. Ngay sau đó, lính thủy đánh bộ Mỹ và các đồng minh Ả Rập của họ thâm nhập sâu vào Kuwait, thu thập hàng nghìn quân Iraq đang tan rã, đã suy yếu và mất tinh thần sau chiến dịch ném bom ồ ạt của liên quân. Vài ngày sau chiến dịch, [[Thành phố Kuwait]] được giải phóng bởi các đơn vị thuộc quân đội Kuwait.
Cùng lúc ấy, Quân đoàn VII Hoa Kỳ tung ra cuộc tấn công ồ ạt bằng xe bọc thép vào Iraq, từ phía tây Kuwait, khiến quân Iraq hoàn toàn bất ngờ. Sườn trái của đội quân này được Sư đoàn bọc thép hạng nhẹ số 6 của [[Pháp]] bảo vệ (gồm cả các đơn vị của [[Tiểu đoàn Lê dương Pháp]]), và sườn phải bởi [[Sư đoàn thiết giáp số 1 Hoàng gia Anh]]. Khi liên quân đã thâm nhập sâu vào lãnh thổ Iraq, họ quay sang phía đông, tung ra những cuộc tấn công vào lực lượng [[Vệ binh cộng hoà Iraq]]. Những trận chiến xe tăng nổ ra khi Vệ binh cộng hòa tìm cách rút lui, khiến cho liên quân chiến thắng mà chỉ bị thương vong ở mức thấp nhất.
[[Tập tin:Gulfwarroom.jpg|nhỏ|200px|trái|Tướng [[Colin Powell]] tóm tắt tình hình tấn công trên bộ cho Tổng thống [[George H. W. Bush]] và các cố vấn]]
Khi Iraq đã quyết định rằng họ sẽ không tiến về phía các giếng dầu phía đông của Ả Rập Xê Út, thì không có lý do gì để các lực lượng Iraq triển khai xa hơn nữa về phía nam Thành phố Kuwait với số lượng lớn. Quyết định triển khai một lực lượng khá đông đảo quân dọc theo biên giới Kuwait càng làm tăng khoảng cách tiếp tế của quân Iraq một cách không cần thiết. Thứ hai, khi đã quyết định triển khai quân dọc biên giới, việc mở rộng nó ra càng khiến nguy cơ bị tấn công ồ ạt vào sườn. Quả thực người Iraq không có đủ lực lượng để giữ một mặt trận đủ dài dọc theo biên giới Kuwait và tây nam Iraq. Vì thế việc cấp thiết là việc triển khai quân và thu hẹp mặt trận chỉ ở phía nam Thành phố Kuwait và mở rộng tới vùng ngoại ô [[Basra]]. Iraq chỉ có một lợi thế tuyệt đối trước lực lượng liên quân ở số lượng và chất lượng pháo binh. Đa số các đơn vị pháp binh Iraq được kéo bằng xe và vì thế không thích ứng tốt với việc phát triển mở rộng. Điều này cũng có nghĩa là Iraq muốn làm chậm sự di chuyển của quân địch và giao chiến dọc theo các giới tuyến không dễ dàng bị chọc thủng hay đánh ngang sườn.
[[Tập tin:Dstorm.jpg|nhỏ|250px|Xe tăng M1A1 tiêu diệt các xe tăng Iraq trên đường rút lui]]
Đà tiến của liên quân mau lẹ hơn những tướng lĩnh Hoa Kỳ trông đợi. Ngày 26 tháng 2, quân đội Iraq bắt đầu rút khỏi Kuwait, đốt cháy các giếng dầu mà họ bỏ lại. Một đoàn quân Iraq dài dằng dặc rút lui dọc theo đường cao tốc Iraq-Kuwait. Đoàn quân này bị liên quân tấn công liên tục tới mức nó được gọi là "Xa lộ chết". Một trăm giờ sau khi chiến dịch trên bộ bắt đầu diễn ra, Tổng thống Bush tuyên bố một sự ngừng bắn và ngày 27 tháng 2 tuyên bố rằng Kuwait đã được giải phóng.
Cả hai phía có số quân gần tương đương nhau - xấp xỉ 540.000 bên liên quân và xấp xỉ 650.000 bên Iraq. Một đội quân [[Thổ Nhĩ Kỳ]] gồm 100.000 người đang được triển khai dọc biên giới chung Thổ Nhĩ Kỳ và Iraq. Điều này khiến quân đội Iraq bị phân tán thêm vì buộc phải triển khai quân dọc theo biên giới với tất cả các nước (trớ trêu thay, chỉ trừ phía biên giới với đối thủ cũ là Iran). Điều này cho phép cuộc tấn công mạnh mẽ của Hoa Kỳ không chỉ có được một sự vượt trội về kỹ thuật mà cả về số lượng.
Điều ngạc nhiên nhất của chiến dịch trên bộ là tỷ lệ thương vong thấp của liên quân. Điều này vì quân Iraq không thể tìm ra một biện pháp đối phó thích hợp đối với những ống nhòm hồng ngoại và loại [[đạn xuyên giáp động năng]] APFSDS từ các xe [[M1 Abrams]]. Phương tiện này cho phép những chiếc xe tăng liên quân chiến đấu và tiêu diệt một cách hiệu quả các xe tăng Iraq từ khoảng cách xa gấp 2 lần khoảng cách có thể tác chiến của xe tăng Iraq. Các lực lượng Iraq cũng không thể lợi dụng ưu thế có thể có từ việc sử dụng chiến thuật [[chiến tranh đô thị]] - chiến đấu bên trong [[Thành phố Kuwait]], có thể gây ra những thương vong đáng kể đối với các lực lượng tấn công. Chiến tranh trong thành phố làm giảm tầm chiến đấu và vì thế giảm bớt ưu thế công nghệ của liên quân. Điều này đã được chứng minh gần đây trong những trận đánh giữa các lực lượng Mỹ và những kẻ nổi dậy Iraq trong môi trường đô thị sau [[Cuộc tấn công Iraq 2003|Cuộc xâm lược Iraq năm 2003]]. Các ranh giới của địa lý đô thị, và sự hiểu biết mà những kẻ tấn công không thể có được, sẽ làm giảm lợi thế của liên quân và khả năng tiêu diệt ở tầm xa của họ.
== Kết thúc các hoạt động chiến tranh ==
Một hội nghị hòa bình đã được Liên quân tổ chức trên vùng lãnh thổ Iraq bị chiếm đóng. Tại hội nghị, Iraq được phép sử dụng các máy bay trực thăng vũ trang trong phía biên giới lãnh thổ nước mình, bề ngoài là để vận chuyển các quan chức chính phủ do những thiệt hại đã phải hứng chịu của hệ thống vận chuyển công cộng. Một thời gian ngắn sau, những chiếc trực thăng đó - và đa số các lực lượng vũ trang Iraq - lại quay sang phục vụ mục tiêu chiến đấu chống lại cuộc nổi dậy của người [[Shiite]] ở phía nam. Tại phía bắc, các lãnh đạo [[người Kurd]] tin tưởng vào những lời tuyên bố của Hoa Kỳ rằng họ sẽ ủng hộ một cuộc nổi dậy và bắt đầu chiến đấu, với hy vọng thực hiện được một cuộc đảo chính. Tuy nhiên, khi những giúp đỡ của Mỹ còn chưa tới nơi, các tướng lĩnh Iraq còn trung thành đã đàn áp dã man quân đội người Kurd. Hàng triệu người Kurd đã phải chạy qua các vùng núi để đến những vùng người Kurd tại [[Thổ Nhĩ Kỳ]] và [[Iran]]. Những vụ xung đột đó sau này đã dẫn tới việc thành lập những [[vùng cấm bay]] ở cả phía bắc và phía nam Iraq. Tại Kuwait, gia đình Emir được tái lập và những kẻ bị cho là cộng tác với Iraq bị đàn áp. Cuối cùng, hơn 400.000 người đã bị trục xuất khỏi đất nước, gồm một số lượng lớn người Palestine (vì sự ủng hộ và hợp tác của họ với Saddam Hussein).
Có một số chỉ trích chính quyền Bush về quyết định của họ cho phép Saddam Hussein tiếp tục giữ quyền lực, chứ không tiếp tục tấn công chiếm Baghdad và sau đó lật đổ chính phủ của ông ta. Trong một cuốn sách viết chung năm 1998 tựa đề, "Một thế giới đã thay đổi" (''A World Transformed''), Bush và [[Brent Scowcroft]] đã đưa ra lý lẽ rằng một sự tấn công như vậy sẽ làm tan vỡ lực lượng Liên quân và sẽ gây ra nhiều tổn thất chính trị và nhân mạng không cần thiết đi cùng với nó.
Năm 1992, [[Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ|Ngoại trưởng Hoa Kỳ]] trong thời gian chiến tranh, [[Dick Cheney]], cũng đưa ra quan điểm tương tự{{ref|Pope}}:
{{cquote|Tôi tự hỏi nếu chúng ta đã tiến vào đó, thì hôm nay các lực lượng của chúng ta vẫn đang ở Baghdad. Chúng ta sẽ điều hành đất nước. Chúng ta sẽ không thể rút bớt quân ra và không thể đưa bất kỳ ai về nước.
Và điểm cuối cùng mà tôi nghĩ là cần phải đưa ra vấn đề về thương vong. Tôi không nghĩ rằng bạn có thể thực hiện điều đó mà không có thêm tổn thất khá lớn của phía Hoa Kỳ. Và trong khi tất cả mọi người đều rất ấn tượng trước mức độ tổn thất nhỏ của cuộc xung đột (1991), đối với 146 người Mỹ thiệt mạng trong khi thi hành nhiệm vụ và đối với gia đình họ, đó không phải là một cuộc chiến ít tổn thất.
Và câu hỏi trong đầu tôi là bao nhiêu thương vong thêm nữa của Hoa Kỳ sẽ tương xứng với giá trị của Saddam (Hussein)? Và câu trả lời là nó chẳng đáng gì lắm. Vì thế, tôi nghĩ chúng ta đã làm đúng, cả khi chúng ta quyết định trục xuất ông ta khỏi Kuwait, và khi tổng thống đưa ra quyết định rằng chúng ta đã hoàn thành các mục tiêu của mình và chúng ta sẽ không sa lầy vào đó khi tìm cách chiếm và cai quản Iraq.}}
Thay vì tiếp tục can thiệp sâu thêm với lực lượng quân sự của mình, Hoa Kỳ đã hy vọng rằng Saddam sẽ bị lật đổ bởi một cuộc [[đảo chính]] từ bên trong. [[Cơ quan Tình báo Trung ương (Hoa Kỳ)|CIA]] đã sử dụng các mạng lưới của mình tại Iraq để tổ chức một cuộc nổi dậy, nhưng chính phủ Iraq đã đánh bại âm mưu đó.
Ngày 10 tháng 3 năm 1991, [[Chiến dịch bão táp sa mạc]] bắt đầu dời 540.000 quân Mỹ ra khỏi [[Vịnh Ba Tư|Vịnh Péc xích]].
[[Tập tin:British gulf war.jpg|phải|250px|nhỏ|Đại đội C, Tiểu đoàn số 1, Trung đoàn Staffordshire, Sư đoàn thiết giáp số 1 Hoàng gia Anh]]
== Thương vong ==
=== Thương vong của liên minh ===
Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ báo cáo là các lực lượng Hoa Kỳ có 148 binh sĩ tử trận, cộng một [[phi công]] được ghi nhận là mất tích (hài cốt đại úy phi công Michael Scott Speicher người được coi là mất tích đã được tìm thấy vào tháng 7 năm 2009 tại vùng núi hẻo lánh ở miền tây Iraq) (145 người Mỹ chết vì tai nạn). Vương quốc Anh có 24 binh sĩ tử trận, Pháp 2, và các quốc gia Ả Rập có tổng cộng 39 thương vọng.<ref>[http://www.cnn.com/SPECIALS/2001/gulf.war/facts/gulfwar/ Gulf War Facts], CNN. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2007.</ref>
Thiệt hại nặng nhất trong một vụ đối với lực lượng liên quân xảy ra ngày 25 tháng 2 năm 1991 khi một hoả tiễn Al-Hussein của Iraq đánh trúng trại lính Mỹ tại [[Dhahran]], [[Ả Rập Xê Út]] giết chết 28 quân dự bị Hoa Kỳ đến từ tiểu bang [[Pennsylvania]].
Con số bị thương trên chiến trường dường như là khoảng 776, gồm có 467 người Mỹ.<ref>[http://encarta.msn.com/encyclopedia_761551555_2/Persian_Gulf_War.html Persian Gulf War] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20070821213917/http://encarta.msn.com/encyclopedia_761551555_2/Persian_Gulf_War.html |date = ngày 21 tháng 8 năm 2007}}, MSN Encarta. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2007.</ref>
Khoảng 30% trong số 700.000 nam và nữ phục vụ trong lực lượng Hoa Kỳ tại Chiến tranh Vùng Vịnh vẫn chịu nhiều [[Hội chứng chiến tranh Vùng Vịnh|hội chứng]] trầm trọng mà nguyên nhân vẫn chưa được hiểu rõ.<ref>[http://www.commondreams.org/headlines06/0812-06.htm Is an Armament Sickening U.S. Soldiers?] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20140703032800/http://www.commondreams.org/headlines06/0812-06.htm |date = ngày 3 tháng 7 năm 2014}}, Associated Press. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2007.</ref>
==== Phỏng đoán trước chiến tranh ====
Trước chiến tranh, các giới chức của [[Lầu Năm Góc]] đã phỏng đoán con số thương vong của liên quân sẽ là vào khoảng 30.000-40.000 người.
[[Viện Dupuy]] trước Quốc hội Hoa Kỳ đã tiên đoán rằng con số thương vong sẽ dưới 6.000. Họ đã dùng mô hình TNDM mà tận dụng các dữ liệu lịch sử từ các cuộc chiến trước để tiên đoán con số thương vong (mô hình đã tận dụng các yếu tố về con người thí dụ như tinh thần và họ tiên đoán rằng sẽ có rất ít các sư đoàn của Iraq chịu kháng cự).
=== Thương vong của Iraq ===
Ước đoán ngay vào lúc đó cho rằng có đến 100.000 người Iraq bị thiệt mạng. Hiện tại ước đoán rằng Iraq bị thiệt hại nhân mạng là khoảng từ 20.000 đến 35.000. Tuy nhiên, các con số khác thì vẫn cứ cho rằng con số người thiệt mạng có thể cao đến 200.000.<ref>Robert Fisk, ''The Great War For Civilisation; The Conquest of the Middle East'' (Fourth Estate, năm 2005), tr.853.</ref>
Một báo cáo do Không quân Hoa Kỳ uỷ nhiệm đã ước tính là có khoảng từ 10.000-12.000 binh sĩ Iraq tử trận trong chiến dịch của không quân và khoảng 10.000 thương vong trong cuộc chiến trên bộ.<ref>{{chú thích sách | authorlink = |authors=Thomas Keaney & Eliot A. Cohen| title = Gulf War Air Power Survey | publisher = United States Dept. of the Air Force |year=1993 | location = | pages = | url = | doi = | id = | isbn = 0-16-041950-6 }}</ref> Sự phân tích này dựa vào các báo cáo về tù binh chiến tranh Iraq.
Chính phủ Iraq tuyên bố có khoảng 2.300 thường dân thiệt mạng trong chiến dịch của không quân, đa số người chết là do một cuộc không kích bằng máy bay tàng hình [[Lockheed F-117 Nighthawk|F-117]] vào một nơi mà được tin là trung tâm thông tin liên lạc của Iraq tại Baghdad nhưng cũng là nơi phục vụ như một nơi trú ẩn máy bay.
Theo [http://www.comw.org/pda/0310rm8ap2.html Dự án nghiên cứu sự chọn lựa khác cho quốc phòng] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20160104222225/http://www.comw.org/pda/0310rm8ap2.html |date=2016-01-04 }} thì có đến 3.664 thường dân Iraq và khoảng 20.000 đến 26.000 binh sĩ bị giết chết trong cuộc xung đột này.
== Chi phí ==
[[Tập tin:Oil well firess.gif|nhỏ|phải|250px|Những giếng dầu ở Kuwait đang bốc cháy|liên_kết=Special:FilePath/Oil_well_firess.gif]]
Chi phí chiến tranh của Hoa Kỳ do [[Hạ viện Hoa Kỳ|Hạ viện]] tính toán là $61,1 tỷ. Các nguồn khác ước tính lên tới $71 tỷ. Khoảng $53 tỷ trong số đó do các nước khác chi trả: $36 tỷ do [[Kuwait]], [[Ả Rập Xê Út]] và các nước Vùng Vịnh khác; $16 tỷ bởi [[Đức]] và [[Nhật Bản]] (hai nước này không gửi lực lượng chiến đấu vì các điều khoản trong [[hiệp ước|các hiệp ước]] chấm dứt [[Chiến tranh thế giới thứ hai]]). Khoảng 25% số đóng góp của Ả Rập Xê Út được thanh toán dưới hình thức các dịch vụ cung cấp cho lực lượng liên quân như [[thực phẩm]] và [[vận tải|vận chuyển]]. Nhiều lý lẽ cho rằng, Ả Rập Xê Út còn cung cấp cả [[mại dâm|gái mại dâm]], nhưng sau này đã được chứng minh là không chính xác.
Quân đội Mỹ chiếm 74% tổng lực lượng liên quân, và vì thế tổng chi phí của họ cũng cao hơn. Anh, ví dụ, chi $4,1 tỷ trong cuộc chiến này.
== Truyền thông ==
Chiến tranh Vùng Vịnh là cuộc chiến được [[truyền hình]] ở mức độ rất cao. Lần đầu tiên tất cả mọi người trên thế giới đều có thể theo dõi trực tiếp hình ảnh các [[tên lửa]] lao vào các mục tiêu và các máy bay chiến đấu cất cánh từ các [[tàu sân bay]]. Các lực lượng liên quân rất nhiệt tình thể hiện mức độ chính xác các vũ khí của họ.
Tại [[Hoa Kỳ]], nhóm "bộ ba lớn" điều hành [[mạng lưới tin tức]] đưa tin về cuộc chiến: [[Peter Jennings]] của [[American Broadcasting Company|ABC]], [[Dan Rather]] của [[CBS]] và [[Tom Brokaw]] của [[NBC]] dẫn các chương trình thông tin buổi tối của họ khi các cuộc tấn công đã bắt đầu ngày 16 tháng 1 năm 1991. Phóng viên của [[American Broadcasting Company News|ABC News]] [[Gary Shepard]], bình luận trực tiếp từ [[Bagdad|Baghdad]], nói với Jennings về sự tĩnh lặng của thành phố. Nhưng nhiều tháng sau, Shepard đã tái xuất hiện với những ánh chớp có thể được nhìn thấy ở chân trời và những vạch lửa đạn xung quanh trên mặt đất. Trên kênh CBS, khán giả có thể theo dõi bản tin của phóng viên [[Allen Pizzey]], cũng đưa tin từ Baghdad, khi cuộc chiến bắt đầu. Sau khi bản tin kết thúc lại có tin rằng có những tin tức chưa được kiểm chứng về những vụ nổ tại Baghdad hoạt động không quân mạnh tại các căn cứ ở Ả Rập Xê Út. Trong bản tin "NBC Nightly News", phóng viên [[Mike Boettcher]] thông báo về những hoạt động không quân không thường xuyên ở [[Dhahran]]. Vài phút sau, Brokaw nói với khán giả rằng cuộc tấn công không quân đã bắt đầu. Nhưng chính kênh [[CNN]] được nhiều người theo dõi nhất. Các phóng viên CNN, John Holliman và [[Peter Arnett]] cùng CNN phóng viên thường trú [[Bernard Shaw]] đã thông báo qua điện thoại từ [[Khách sạn Al-Rashid]] khi những cuộc không kích bắt đầu. Báo chí khắp thế giới đều đưa tin về cuộc chiến và ''[[Time (tạp chí)|Tạp chí TIME]]'' đã xuất bản một số đặc biệt ngày 28 tháng 1 năm 1991, dòng tít "CHIẾN TRANH VÙNG VỊNH" nổi bật ngoài trang bìa với bức ảnh chụp Baghdad khi cuộc chiến bắt đầu.
Chính sách của Hoa Kỳ về tự do báo chí có hạn chế hơn so với ở [[Chiến tranh Việt Nam]]. Chính sách này đã được giải thích rõ trong một tài liệu của Lầu Năm Góc tên là ''[[Annex Foxtrot]]''. Đa số những thông tin báo chí có được đều từ những cuộc họp báo ngắn của quân đội. Chỉ những nhà báo được lựa chọn mới được phép tới mặt trận hay tiến hành các cuộc phỏng vấn binh sĩ. Những cuộc viếng thăm đó luôn được tiến hành với sự hiện diện của các sĩ quan, và sau đó đều phải được sự cho phép của quân đội và bộ phận [[kiểm duyệt]]. Điều này bề ngoài là để bảo vệ các thông tin nhạy cảm khỏi bị tiết lộ cho Iraq nhưng trên thực tế là để ngăn chặn tiết lộ các thông tin gây rắc rối về chính trị. Chính sách này bị ảnh hưởng nhiều từ những kinh nghiệm sau Chiến tranh Việt Nam, được cho rằng đã gây ra nhiều rò rỉ dẫn tới sự chống đối từ bên trong nước Mỹ.
Cùng lúc ấy, việc đưa tin nhanh nhạy về cuộc chiến là rất mới mẻ. Nhiều nhà báo Mỹ vẫn ở lại thủ đô Baghdad của Iraq trong suốt cuộc chiến, và cảnh tên lửa bay đến được chiếu ngay lập tức trên những bản tin [[vô tuyến]] buổi tối và trên các kênh tin tức qua [[truyền hình cáp]] như CNN. Một đoàn phóng viên của kênh [[CBS News]] (David Green và Andy Thompson), được trang bị thiết bị truyền thông tin vệ tinh đã tới mặt trận và truyền trực tiếp những hình ảnh cuộc chiến đang diễn ra. Họ tới [[Thành phố Kuwait]] một ngày trước khi các lực lượng liên quân tiến vào và truyền trực tiếp những hình ảnh các lực lượng Ả Rập (và các nhà báo khác!) tiến vào đó trong ngày hôm sau.
== Hậu quả ==
[[Tập tin:NightAtk.jpg|nhỏ|trái|250px|Xe tăng Hoa Kỳ tiêu diệt 1 nhóm xe tăng [[T-72]] và [[BMP-1|BMP 1]] của [[Saddam Hussein]] trong đêm]]
Theo sau những cuộc nổi dậy ở miền Nam và miền Bắc, các [[vùng cấm bay]] đã được thiết lập để bảo vệ người [[Hồi giáo Shia|Shi'ite]] ở miền Nam và [[người Kurd]] ở miền Bắc. Những vùng cấm bay này (bắt đầu từ vĩ tuyến 36 Bắc và vĩ tuyến 32 Nam) chủ yếu do Mỹ và Anh kiểm soát, mặc dù [[Pháp]] cũng có tham gia ít nhiều. Cấu kết với nhau, họ đã thực hiện những chuyến bay thanh sát trong vòng 11 năm sau khi kết thúc chiến sự còn nhiều hơn cả trong thời kỳ chiến tranh. Những chuyến thanh sát này đã dội bom gần như mỗi ngày vào tên lửa đất đối không và súng cao xạ được dùng để bắn hạ máy bay. Tuy nhiên, lượng bom lớn nhất đã được sử dụng trong hai chiến dịch kéo dài: [[Chiến dịch Tấn công sa mạc]], kéo dài trong nhiều tuần từ tháng 9 năm 1996, và [[Chiến dịch Con cáo sa mạc]], tháng 12 năm 1998. [[Chiến dịch Kiểm soát miền Bắc]], vùng cấm bay trong khu vực người Kurd, đã cho phép người dân tập trung vào tăng cường an ninh và phát triển cơ sở hạ tầng, điều này đã được phản ánh sau sự sụp đổ của chế độ Saddam Hussein năm 2003, khu vực này đã phát triển và ổn định hơn (khi so sánh với các vùng khác của Iraq trong [[Chiến dịch Giải phóng Iraq]]). Trái lại, [[Chiến dịch Kiểm soát miền Nam]], đã không thành công trong việc tạo cho người Shi'ite cơ hội xây dựng và kiến thiết như vậy.
Cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề trên diện rộng trong suốt thời kỳ chiến sự đã gây mất mát cho người dân Iraq. Nhiều năm sau chiến tranh lượng điện sản xuất ra vẫn chỉ đạt một phần tư mức trước cuộc chiến. Việc phá hủy các nhà máy xử lý nước khiến nước thải bị đổ trực tiếp xuống [[tigris|sông Tigris]], và dân cư lại lấy nước ở đây để sinh hoạt dẫn tới sự phát sinh dịch bệnh trên diện rộng. Những khoản vốn tài trợ từ phía các nước phương Tây nhằm giải quyết vấn đề này bị chính quyền Saddam sử dụng để duy trì quyền kiểm soát quân sự của mình.
[[Trừng phạt Iraq|Trừng phạt kinh tế]] vẫn được duy trì nhiều năm sau chiến tranh vì lý do từ những cuộc thanh sát vũ khí mà Iraq chưa bao giờ hợp tác đầy đủ. Sau này Iraq được Liên Hợp Quốc cho phép nhập khẩu một số hàng hóa theo [[chương trình Đổi dầu lấy lương thực]]. A 1998 bản báo cáo của [[Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc|UNICEF]] cho thấy những biện pháp trừng phạt khiến con số tử vong ở nước này tăng thêm 90.000 người mỗi năm. Nhiều người cho rằng các biện pháp trừng phạt Iraq và sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Ả Rập Xê Út góp phần làm xấu đi hình ảnh của Mỹ trong thế giới Ả Rập.
Một [[Cao ủy Đặc Biệt Liên Hợp Quốc]] (UNSCOM) về vũ khí đã được lập ra để giám sát việc tuân thủ của Iraq với các quy định về vũ khí hủy diệt hàng loạt và tên lửa đạn đạo. Iraq chỉ chấp nhận một số yêu cầu và từ chối các cuộc thanh sát vũ khí khác. Đội thanh tra đã tìm ra một số bằng chứng về các chương trình vũ khí sinh học tại một địa điểm và một số vi phạm tại nhiều địa điểm khác.
Năm 1997, Iraq trục xuất toàn bộ các thành viên người Mỹ bên trong phái đoàn thanh sát vũ khí, cáo buộc rằng Hoa Kỳ đã lợi dụng họ làm gián điệp; các thành viên của UNSCOM thường có những cuộc tiếp xúc với các cơ quan tình báo để cung cấp các thông tin về các địa điểm tàng trữ vũ khí. Đội thanh sát vũ khí tiếp tục quay lại Iraq trong giai đoạn 1997 và 1999 và còn gặp nhiều rắc rối hơn nữa; một thành viên trong đội thanh sát, [[Scott Ritter]] thuộc Hải quân Hoa Kỳ đã từ chức năm 1998, cho rằng chính quyền [[Bill Clinton|Clinton]] đang cản trở các cuộc thanh sát vì họ không muốn đối đầu thực sự với Iraq. Năm 1999, đội thanh sát được thay thế bởi [[Cao ủy Liên Hợp Quốc về giám sát và thanh sát|UNMOVIC]], cơ quan này bắt đầu tiến hành công việc từ năm 2002. Năm 2002, Iraq - và đặc biệt là Saddam Hussein - trở thành mục tiêu trong [[Chiến tranh chống khủng bố|Cuộc chiến chống khủng bố]] của Hoa Kỳ, dẫn tới cuộc [[Cuộc tấn công Iraq 2003|chiến tranh Vùng Vịnh lần hai năm 2003]], do Hoa Kỳ và, ở tầm vóc thấp hơn, Anh lãnh đạo.
[[Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (quân đội nước này có nhiều mặt tương đồng với quân đội Iraq) rất ngạc nhiên trước khả năng kỹ thuật Hoa Kỳ trên trận địa. Thắng lợi mau chóng của liên quân khiến quân đội Trung Quốc phải thay đổi toàn diện tư tưởng quân sự của mình và bắt đầu một phong trào hiện đại hóa bên trong [[Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc]].
Một hậu quả chủ chốt của Chiến tranh Vùng Vịnh, theo [[Gilles Kepel]], là sự hồi sinh rõ rệt của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan. Việc chế độ Saddam bị lật đổ không khiến các nhóm Hồi giáo ủng hộ nhiều. Tuy nhiên, việc này, cùng với liên minh giữa Ả Rập Xê Út và Hoa Kỳ, bị coi là cùng phía với Israel càng làm chính phủ Ả Rập Xê Út mất uy tín trong nước. Hoạt động của các nhóm Hồi giáo chống lại chính quyền Ả Rập Xê Út tăng lên dữ dội. Trong một nỗ lực nhằm lấy lại hình ảnh của mình, Ả Rập Xê Út đã chi thêm tiền cho những nhóm ủng hộ chính phủ. Chính phủ Ả Rập Xê Út đã chi tiền phát hàng triệu cuốn [[Qur’an|Qur'an]] cho dân các nước mới độc lập ở vùng [[Trung Á]] và xây dựng hàng trăm [[thánh đường Hồi giáo]] cho những nhóm cực đoan. Tại [[Afghanistan]], chính quyền Ả Rập Xê Út trở thành người bảo trợ hàng đầu cho [[Taliban]] trong cuộc nội chiến ở nước này, và là một trong những quốc gia duy nhất chính thức công nhận chính phủ đó.
=== Hội chứng Vùng Vịnh ===
{{Chính|Hội chứng chiến tranh Vùng Vịnh}}
Nhiều binh sĩ liên quân quay trở về từ chiến trường thông báo về các loại bệnh gặp phải sau khi tham chiến, một hiện tượng được gọi là [[Hội chứng chiến tranh Vùng Vịnh|Hội chứng Vùng Vịnh]]. Có nhiều nghiên cứu và bất đồng về các nguyên nhân gây ra hội chứng đó cũng như những ảnh hưởng của nó đối với trẻ sơ sinh (số lượng trẻ sinh ra trong các gia đình binh lính với các khiếm khuyết tương tự nhau hay những bệnh tật nghiêm trọng lên tới 67%, theo một cuộc nghiên cứu do [[Sở Cựu chiến binh Hoa Kỳ]] tiến hành{{ref|www.projectcensored.org.41}}). Một báo cáo xuất bản năm 1994 của [[Văn phòng Giải trình Chính phủ]] cho rằng quân đội Mỹ đã đối diện với 21 loại "chất độc liên quan tới sinh sản" tiềm tàng. Một số nguyên nhân bị chỉ ra là tiếp xúc với các vật liệu phóng xạ, khói dầu, và các loại vắc xin [[bệnh than]] sản xuất quá nhanh dùng cho binh sĩ (các loại vắc xin thường cần phải trải qua quá trình sản xuất vài tháng).
=== Hậu quả của chất urani đối với sức khoẻ ===
Năm 1998, các bác sĩ của chính phủ Iraq đã báo cáo rằng việc liên quân sử dụng [[urani nghèo]] đã gây ra hàng loạt vụ khuyết tật ở trẻ sơ sinh và [[ung thư]] trong dân chúng Iraq, đặc biệt là [[bệnh bạch cầu]]. Các bác sĩ của chính phủ cho rằng họ không có đủ bằng chứng cho thấy có mối quan hệ giữa [[urani]] nghèo với những vụ khuyết tận trẻ sơ sinh bởi vì những biện pháp trừng phạt đã khiến họ không thể có được các thiết bị thử nghiệm cần thiết. Vì thế, một đội bác sĩ của [[Tổ chức Y tế Thế giới|Tổ chức sức khỏe thế giới]] đã tới Basra và đề xuất một cuộc nghiên cứu để điều tra lý do gây ra tỷ lệ ung thư cao ở miền nam Iraq, nhưng Saddam đã từ chối.
Tuy nhiên, Tổ chức y tế thế giới đã có thể tiếp cận với những nguy cơ đối với sức khỏe của urani nghèo tại những địa điểm đã xảy ra chiến tranh nhờ một phái đoàn năm 2001 tới [[Kosovo]]. Một báo cáo năm 2001 của WHO về urani nghèo đã kết luận: "bởi vì urani nghèo chỉ là phóng xạ yếu, cần phải hít vào những khối lượng rất lớn bụi (ở mức độ gam) để có thể tăng nguy cơ ung thư phổi ở mức độ có thể nhận thấy trong một nhóm nguy cơ. Những nguy cơ về ung thư phóng xạ khác gồm bệnh bạch cầu, được coi là thấp hơn rất nhiều so với ung thư phổi." Hơn nữa, "không có những tác động liên tục hay tiến triển đã được báo cáo ở người" vì lý do chịu tác động của urani nghèo{{ref|www.who.int.37}}.
[[Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ]] cũng đã xuất bản một cuốn sách về urani nghèo. Nó tuyên bố: "Tổ chức y tế thế giới và các nghiên cứu khoa học khác đã cho thấy urani nghèo không gây ra những nguy cơ nghiêm trọng đối với sức khoẻ" và "urani nghèo không gây ra khuyết tật ở trẻ sơ sinh. Quân đội Iraq sử dụng các vũ khí hóa học và thần kinh trong thập kỷ 1980 và 1990 có thể là nguyên nhân gây ra cái gọi là khuyết tật ở trẻ em Iraq." Về những buộc tội gây ra ung thư, cuốn sách của Hoa Kỳ cho rằng "theo những chuyên gia về sức khỏe môi trường, về mặt y tế không thể coi việc nhiễm bệnh bạch cầu như là kết quả của việc chịu tác động của urani hay urani nghèo", và "tỷ lệ ung thư trong số 19.000 công nhân công nghiệp tiếp xúc với urani nghèo ở mức độ cao tại các dự án ở [[Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge]] trong giai đoạn 1943 và 1947 đã được xem xét, và việc tăng tỷ lệ ung thư không hề được quan sát thấy cho tới tận năm 1974. Các nghiên cứu dịch tễ học khác về ung thư phổi tại các công nhân làm việc tại nhà máy urani và nhà máy gia công thép không cho thấy tỷ lệ tăng bất thường hay sự liên quan tới những [[chất sinh ung thư]] khác đã được biết ngoài urani, như [[radon]]."{{ref|www.au.af.mil.38}}
Tuy nhiên, một số lời buộc tội về tác động đó rất nghiêm trọng bởi vì vũ khí chứa urani nghèo có thể vỡ ra thành những hạt nhỏ khi nó chạm mục tiêu.{{ref|www.ccnr.org.39}} Trên thực tế, những nghiên cứu tổng quát nhất gần đây bởi [[The Royal Society]], một [[nhóm ái hữu]] với hơn 1400 [[nhà khoa học]], [[nhà nghiên cứu]] và [[giáo sư]] đã tìm thấy rằng urani nghèo đưa lại những nguy cơ cao về sức khỏe cho dân thường cũng như binh lính{{ref|www.royalsoc.ac.uk.40}}.
== Kỹ thuật ==
Các loại [[vũ khí dẫn đường chính xác]] (PGMs, cũng được gọi là "bom thông minh"), như tên lửa AGM-130 của [[Không quân Hoa Kỳ|Không lực Hoa Kỳ]] được dự đoán sẽ trở thành các vũ khí chính cho phép các cuộc tấn công quân sự diễn ra với những tổn thất dân sự nhỏ nhất so với các cuộc chiến trước đó. Những căn nhà cụ thể ở các khu đông dân tại [[Bagdad|Baghdad]] có thể bị tấn công trong khi các nhà báo quan sát các tên lửa hành trình lao tới mục tiêu đó từ khách sạn của họ. Các vũ khí dẫn đường chính xác chiếm gần 7.4% toàn thể số bom liên minh sử dụng. Các loại bom khác gồm [[đạn dược thứ cấp|bom chùm]] có thể vỡ ra thành nhiều quả bom nhỏ, và những quả bom [[BLU-82]] nặng 15.000 pound có thể phá hủy mọi vật trong bán kính hàng trăm yard.
Tên lửa [[Tên lửa đạn đạo chiến thuật R-11|Scud]] là tên lửa đạn đạo chiến thuật do Liên bang xô viết phát triển và từng triển khai cho những sư đoàn Hồng Quân tại Đông Đức. Vai trò của các tên lửa Scud được trang bị đầu đạn hạt nhân và đầu đạn hoá học là tiêu diệt các cơ sở thông tin, trung tâm chỉ huy và làm trì hoãn quá trình động viên quân đội của Tây Đức cũng như các lực lượng Đồng Minh tại Đức. Nó cũng được sử dụng để tiêu diệt trực tiếp các lực lượng mặt đất. Các tên lửa Scud sử dụng hệ thống dẫn đường quán tính, còn hoạt động khi động cơ còn hoạt động. Iraq đã sử dụng các tên lửa Scud, phóng chúng tới cả Ả rập Xê út và Israel. Một số quả gây ra nhiều thương vong, số còn lại không gây hậu quả nặng nề. Đã có lo ngại việc Iraq có thể lắp các đầu đạn hoá học hay sinh học lên các tên lửa đó, nhưng nếu các đầu đạn đó có tồn tại, chúng cũng chưa từng được sử dụng. Mọi người tin rằng các tên lửa Scud không hữu dụng khi mang các đầu đạn hoá học bởi nhiệt độ cao trong quá trình bay ở tốc độ gần Mach 5 làm biến tính đa số các chất hoá học mang theo. Các vũ khí hoá học vốn thích hợp hơn khi được vận chuyển bằng máy bay ném bom hoặc các tên lửa hành trình. Tên lửa Scud thích hợp để mang các đầu đạn hạt nhân, một vai trò nó vẫn còn đảm nhận tới tận ngày nay, như mục tiêu thiết kế ban đầu.
[[MIM-104 Patriot|Hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot]] của Hoa Kỳ lần đầu tiên được sử dụng trong chiến đấu. Thời điểm ấy, quân đội Hoa Kỳ tuyên bố hệ thống phòng thủ tên lửa này có hiệu suất thành công rất cao chống lại tên lửa Scud, đảm bảo an toàn cho liên quân. Nhưng những ước tính sau này về tính hiệu quả của Patriot rất khác biệt, thấp nhất có thể ở mức 0%. Hơn nữa, ít nhất đã xảy ra một vụ lỗi phần mềm gây tổn thất nhân mạng. [http://www.ima.umn.edu/~arnold/disasters/patriot.html] Những bằng chứng giải mật về hiệu quả ngăn chặn tên lửa Scud còn thiếu nhiều. Các con số ước tính hiệu quả cao dựa trên phần trăm số đầu đạn tên lửa Scud được biết đã tới mục tiêu hoặc đã nổ so với số lượng tên lửa Scud được bắn đi, nhưng các yếu tố khác như đầu đạn không nổ, bắn trượt vân vân không được tính vào đó. Một số phiên bản tên lửa Scud được sửa đổi động cơ vượt trên mức chịu đựng thiết kế thường bị cho là trượt mục tiêu hoặc nổ tung khi đang bay. Những ước tính thấp nhất thường dựa trên số lượng những lần bắn chặn và có bằng chứng cho thấy đầu đạn đã bị ít nhất một tên lửa bắn trúng, nhưng vì cách thức các tên lửa Al-Hussein (gốc từ Scud) nổ khi đang bay đến mục tiêu rất khó giải thích vì khó có thể biết đâu là mảnh đầu đạn và có ít dữ liệu ghi lại những lần dò tìm radar còn được lưu trữ cho phép phân tích về sau này. Thực tế hiệu lực thật sự của hệ thống còn là một bí mật trong nhiều năm nữa. Quân đội Hoa Kỳ và các nhà sản xuất vẫn cho rằng hệ thống Patriot đã "hoạt động tuyệt diệu" trong Chiến tranh Vùng Vịnh. {{ref|www.ceip.org.42}}
Các đơn vị [[Hệ thống định vị toàn cầu]] đóng vai trò chủ chốt trong việc hoa tiêu dẫn đường cho quân đội vượt sa mạc. [[Hệ thống cảnh báo và kiểm soát trên không]] (AWACS) cũng như các hệ thống thông tin vệ tinh cũng có vai trò quan trọng.
== Xem thêm ==
* [[Các giải thưởng quân sự trong Chiến tranh Vùng Vịnh]]
* [[Chiến tranh Iraq]]
* [[Cuộc tấn công Iraq 2003|Cuộc xâm lược Iraq năm 2003]]
* [[Những vũ khí được bán cho Iraq giai đoạn 1973-1990]]
* [[Trận 73 hướng đông]]
* [[Trận Al Busayyah]]
* [[Trận Medina Ridge]]
* [[Trận Norfolk]]
* [[Chiến tranh Vùng Vịnh đã không xảy ra]]
* [[Hội chứng Chiến tranh Vùng Vịnh]]
* [[Thời gian biểu khủng hoảng giải giáp Iraq 1990-1996]], [[Thời gian biểu khủng hoảng giải giáp Iraq 1997-2000|1997-2000]], [[Thời gian biểu khủng hoảng giải giáp Iraq 2001-2003|2001-2003]]
* [[Xung đột Trung Đông]]
* [[Lịch sử quân sự]]
* [[Lịch sử quân sự Hoa Kỳ]]
* [[Xa lộ chết]]
== Những bộ phim về Chiến tranh Vùng Vịnh ==
* ''[[Three Kings (phim)|Three Kings]] ''(Ba vua)''
* ''[[Live From Baghdad (phim)|Live From Baghdad]] ''(Trực tiếp từ Baghdad)''
* ''[[Courage Under Fire]]''
* ''[[Bravo Two Zero (phim)|Bravo Two Zero]]''
* ''[[Jarhead (phim)|Jarhead]]''
== Đọc thêm ==
* Felicity Arbuthnot. ''Allies Deliberately Poisoned Iraq Public Water Supply In Gulf War''{{ref|www.commondreams.org.43}} ngày 17 tháng 9 năm 2000. Sunday Herald (Scotland)
* Rick Atkinson and Ann Devroy. ''U.S. Claims Iraqi Nuclear Reactors Hit Hard''{{ref|www.washingtonpost.com.44}} ngày 12 tháng 1 năm 1991. Washington Post.
* Mitchell Bard. ''The Gulf War.''{{ref|refbot.45}} Jewish virtual library.
* BBC News. ''Timeline: War in the Gulf''{{ref|news.bbc.co.uk.46}} tháng 8 năm 2000.
* William Blum. ''Killing Hope: U.S. Military and CIA Interventions Since World War II''{{ref|members.aol.com.47}} năm 1995. Common Courage Press. ISBN 1-56751-052-3
* Christoper Bolkom and Jonathan Pike. ''Attack Aircraft Proliferation: Areas for Concern''{{ref|www.fas.org.48}}
* Miland Brown. ''First Persian Gulf War''[http://www.libraryreference.org/gulfwar.html] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20070121233845/http://www.libraryreference.org/gulfwar.html |date=2007-01-21 }}
* Daniel Forbes. ''Gulf War crimes?''{{ref|www.salon.com.50}} ngày 15 tháng 5 năm 2000. Salon Magazine.
* T. M. Hawley. ''Against the Fires of Hell: The Environmental Disaster of the Gulf War''. Năm 1992. ISBN 0-15-103969-0.
* Dilip Hiro. ''[[Desert Shield to Desert Storm: The Second Gulf War]]''. Năm 1992. Routledge.
* Ronald Andrew Hoskinson and Norman Jarvis. ''Gulf War Photo Gallery''{{ref|www.hoskinson.net.51}} năm 1994.
* Gilles Kepel. "From the Gulf War to the Taliban Jihad." ''Jihad: The Trail of Political Islam.'' Năm 2002.
* Allan Little. ''Iraq coming in from the cold?''{{ref|news.bbc.co.uk.52}} ngày 1 tháng 12 năm 1997. BBC.
* John MacArthur. ''Independent Policy Forum Luncheon Honoring''{{ref|www.whatreallyhappened.com.53}}
* [http://www.ibtauris.com/ibtauris/display.asp?K=510000000841820&sf_01=CAUTHOR&st_01=munro&sf_02=CTITLE&sf_03=KEYWORD&m=1&dc=1 Alan Munro. ''Arab Storm: Politics and Diplomacy Behind the Gulf War''] [[I.B. Tauris.]] năm 2006. ISBN 1-84511-128-1.
* Naval Historical Center. ''The United States Navy in Desert Shield/Desert Storm''{{ref|www.history.navy.mil.54}} ngày 15 tháng 5 năm 1991.
* Larry A. Niksch and Robert G. Sutter. ''Japan's Response to the Persian Gulf Crisis: Implications for U.S.-Japan Relations''{{ref|digital.library.unt.edu.55}} ngày 23 tháng 5 năm 1991. Congressional Research Service, Library of Congress.
* Paul William Roberts, ''The Demonic Comedy: In the Baghdad of Saddam Hussein {{ref|http://www.paulwmroberts.com}}
* [[Micah Sifry]] và [[Christopher Cerf]]. ''The Gulf War Reader''. Năm 1991. ISBN 0-8129-1947-5.
* [[Jean Edward Smith]], ''George Bush's War'', New York: Henry Holt & Company, năm 1992.
* Peter Turnley. ''The Unseen Gulf War'' (photo essay){{ref|www.digitaljournalist.org.56}} tháng 12 năm 2002.
* Paul Walker and Eric Stambler. ''...and the dirty little weapons''{{ref|www.bullatomsci.org.57}} năm 1991. Bulletin of the Atomic Scientists, Vol 47, Number 4.
* Andre Gunder Frank. ''Third World War in the Gulf: A New World Order''{{ref|rrojasdatabank.info.58}} ngày 20 tháng 5 năm 1991. Political Economy Notebooks for Study and Research, no. 14, tr. 5–34.
* PBS Frontline. ''The Gulf War:an in-depth examination of the 1990-1991 Persian Gulf crisis''{{ref|www.pbs.org.59}}
* Report to Congress on the Conduct of the Persian Gulf War, Chapter 6{{ref|es.rice.edu.60}}
==Tham khảo==
{{tham khảo}}
== Ghi chú ==
{{đầu tham khảo|colwidth=30em}}
# {{note|coalition01}} Có nhiều con số khác nhau về số quốc gia tham gia trong Liên minh tùy theo nguồn. Sự khác nhau có thể là do không có tiêu chuẩn vệ độ tham gia. Ví dụ về các con số các nhau: [http://www.gulfwar1991.com/Gulf%20War%20Files/Introduction%20The%20Real%20Story%20of%20the%201991%20Gulf%20War%20By%20Hassan%20A%20El-Najjar.htm an Arab anti-Gulf War essay - 31] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20070208033451/http://www.gulfwar1991.com/Gulf%20War%20Files/Introduction%20The%20Real%20Story%20of%20the%201991%20Gulf%20War%20By%20Hassan%20A%20El-Najjar.htm |date=ngày 8 tháng 2 năm 2007 }}; [http://www.cnn.com/SPECIALS/2001/gulf.war/facts/gulfwar/ CNN - 34]; [http://arabic-media.com/gulf_coalition.htm an Arab media site - 36]; [http://www.heritage.org/Research/MiddleEast/wm225.cfm the Heritage Foundation (a US conservative thinktank citing a 1991 Department of Defense report) - 38] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20070601082845/http://www.heritage.org/Research/MiddleEast/wm225.cfm |date=2007-06-01 }}; [http://www.nationmaster.com/graph-T/mil_gul_war_coa_for US Institute of Medicine report on Gulf War Veterans' Health - 39] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20071011181808/http://nationmaster.com/graph-T/mil_gul_war_coa_for |date=2007-10-11 }}. Số thành viên Liên minh có thể thấp đến [http://www.google.com/search?hl=en&lr=&q=1991+Gulf+War+Coalition+%2219+countries+in+the+coalition%22 19] vào lúc đầu chiến dịch oanh tạc.
# {{note|www.army.mil.25}} {{chú thích web | title=U.S. Army Professional Writing | url=http://www.army.mil/professionalwriting/volumes/volume1/july_2003/7_03_2v2.html | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=2006-10-11 | archive-url=https://web.archive.org/web/20061011195656/http://www.army.mil/professionalwriting/volumes/volume1/july_2003/7_03_2v2.html | url-status=dead }}
# {{note|web.sipri.org.26}} {{chú thích web | title=- Arms transfers to Iraq, 1970-2004 | url=http://web.sipri.org/contents/armstrad/atirq_data.html | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=2006-04-28 | archive-url=https://web.archive.org/web/20060428080617/http://web.sipri.org/contents/armstrad/atirq_data.html }}
# {{note|www.army.mil.27}} {{chú thích web | title=U.S. Army Professional Writing (See above) | url=http://www.army.mil/professionalwriting/volumes/volume1/july_2003/7_03_2v2.html | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=2006-10-11 | archive-url=https://web.archive.org/web/20061011195656/http://www.army.mil/professionalwriting/volumes/volume1/july_2003/7_03_2v2.html | url-status=dead }}
# {{note|www.gulfweb.org.28}} {{chú thích web | title=Senator Riegle's Report | url=http://www.gulfweb.org/bigdoc/report/riegle1.html | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=ngày 6 tháng 7 năm 2012 | archive-url=https://web.archive.org/web/20120706121855/http://www.gulfweb.org/bigdoc/report/riegle1.html | url-status=dead }}
# {{note|www.gwu.edu.29}} {{chú thích web | title=Shaking Hands with Saddam Hussein | url=http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB82/index.htm | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|archive.gao.gov.30}} {{chú thích web | title=T-NSIAD-91-13 Iraq's Participation in the Commodity Credit Corporation's GSM-102/103 Export Credit Guarantee Programs | url=http://archive.gao.gov/d38t12/143407.pdf | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|www.army.mil.31}} {{chú thích web | title=U.S. Army Professional Writing (See above) | url=http://www.army.mil/professionalwriting/volumes/volume1/july_2003/7_03_2v2.html | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=2006-10-11 | archive-url=https://web.archive.org/web/20061011195656/http://www.army.mil/professionalwriting/volumes/volume1/july_2003/7_03_2v2.html | url-status=dead }}
# {{note|refbot.32}} {{chú thích web | title=More U.S. Exports to Iraq?, by John Haldane, Nov. 26, 1984 | url=http://www.washington-report.org/backissues/112684/841126008.html | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|thomas.loc.gov.33}} {{chú thích web | title=Search Results - THOMAS (Library of Congress) | url=http://thomas.loc.gov/cgi-bin/bdquery/z?d100:SN02763:@@@L&summ2=m& | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}{{Liên kết hỏng|date=2021-11-03 |bot=InternetArchiveBot }}
# {{note|www.fas.org.34}} {{chú thích web | title=http://www.fas.org/irp/offdocs/nsd/nsd26.pdf | url=http://www.fas.org/irp/offdocs/nsd/nsd26.pdf | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|www.globalsecurity.org}} {{chú thích web | title=Iraqi Air Force Equipment - Introduction | url=http://www.globalsecurity.org/military/world/iraq/air-force-equipment-intro.htm | access-date=ngày 18 tháng 1 năm 2005 }}
# {{note|www.whitehouse.gov.35}} {{chú thích web | title=Apparatus of Lies: Crafting Tragedy | url=http://www.whitehouse.gov/ogc/apparatus/crafting.html#3 | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=2006-05-11 | archive-url=https://web.archive.org/web/20060511173221/http://www.whitehouse.gov/ogc/apparatus/crafting.html#3 | url-status=dead }}
# {{note|Pope}} {{chú thích web | title= "Cheney changed his view on Iraq", by Charles Pope, ''Seattle Post-Intelligencer'', ngày 29 tháng 9 năm 2004 | url= http://seattlepi.nwsource.com/national/192908_cheney29.html | access-date= ngày 7 tháng 1 năm 2005 | archive-date= 2006-04-26 | archive-url= https://web.archive.org/web/20060426114557/http://seattlepi.nwsource.com/national/192908_cheney29.html | url-status= dead }}
# {{note|www.pbs.org.36}} {{chú thích web | title=frontline: the gulf war: appendix: Iraqi death toll | url=http://www.pbs.org/wgbh/pages/frontline/gulf/appendix/death.html | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|www.who.int.37}} {{chú thích web | title=WHO: Depleted Uranium | url=http://www.who.int/ionizing_radiation/env/du/en/ | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archiveurl=https://web.archive.org/web/20030311073821/http://www.who.int/ionizing_radiation/env/du/en/ | archive-date=ngày 11 tháng 3 năm 2003 | url-status=live }}
# {{note|www.au.af.mil.38}} {{chú thích web | title=Fact Sheet on the Health Effects of Depleted Uranium | url=http://www.au.af.mil/au/awc/awcgate/state/1007dufactsheet.htm | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=ngày 29 tháng 8 năm 2017 | archive-url=https://web.archive.org/web/20170829054027/http://www.au.af.mil/au/awc/awcgate/state/1007dufactsheet.htm | url-status=dead }}
# {{note|www.ccnr.org.39}} {{chú thích web | title=Gulf War Veterans and Depleted Uranium | url=http://www.ccnr.org/du_hague.html | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|www.royalsoc.ac.uk.40}} {{chú thích web | title=Royal Society: Science issues: Depleted uranium | url=http://www.royalsoc.ac.uk/landing.asp?id=1243 | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=2004-11-15 | archive-url=https://web.archive.org/web/20041115142512/http://www.royalsoc.ac.uk/landing.asp?id=1243 | url-status=dead }}
# {{note|www.projectcensored.org.41}} {{chú thích web | title=Project Censored Media democracy in action | url=http://www.projectcensored.org/publications/2005/4.html | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=2006-04-26 | archive-url=https://web.archive.org/web/20060426075512/http://www.projectcensored.org/publications/2005/4.html | url-status=dead }}
# {{note|www.ceip.org.42}} {{chú thích web | title=Conclusions | url=http://www.ceip.org/files/projects/npp/resources/georgetown/PatriotPaper.pdf | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=2005-10-29 | archive-url=https://web.archive.org/web/20051029074640/http://www.ceip.org/files/projects/npp/resources/georgetown/PatriotPaper.pdf | url-status=dead }}
# {{note|www.commondreams.org.43}} {{chú thích web | title=''Allies Deliberately Poisoned Iraq Public Water Supply In Gulf War'' | url=http://www.commondreams.org/headlines/091700-01.htm | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=ngày 5 tháng 12 năm 2005 | archive-url=https://web.archive.org/web/20051205094328/http://www.commondreams.org/headlines/091700-01.htm | url-status=dead }}
# {{note|www.washingtonpost.com.44}} {{chú thích web | title= ''U.S. Claims Iraqi Nuclear Reactors Hit Hard'' | url= http://www.washingtonpost.com/wp-srv/inatl/longterm/fogofwar/archive/post012091.htm | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|refbot.45}} {{chú thích web | title=The Gulf War | url=http://www.us-israel.org/jsource/History/Gulf_War.html | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=2004-06-03 | archive-url=https://web.archive.org/web/20040603163913/http://www.us-israel.org/jsource/History/Gulf_War.html | url-status=dead }}
# {{note|news.bbc.co.uk.46}} {{chú thích web | title= ''Timeline: War in the Gulf'' | url= http://news.bbc.co.uk/hi/english/world/middle_east/newsid_861000/861164.stm | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|members.aol.com.47}} {{chú thích web | title=''Killing Hope: U.S. Military and CIA Interventions Since World War II'' | url=http://members.aol.com/bblum6/iraq2.htm | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archiveurl=https://web.archive.org/web/20000917071305/http://members.aol.com/bblum6/iraq2.htm | archive-date=ngày 17 tháng 9 năm 2000 | url-status=live }}
# {{note|www.fas.org.48}} {{chú thích web | title= ''Attack Aircraft Proliferation: Areas for Concern'' | url= http://www.fas.org/spp/aircraft/part08.htm | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date= 2016-03-11 | archive-url= https://web.archive.org/web/20160311184339/http://fas.org/spp/aircraft/part08.htm | url-status= dead }}
# {{note|www.libraryreference.org.49}} {{chú thích web | title= ''First Persian Gulf War'' | url= http://www.libraryreference.org/gulfwar.html | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date= 2007-01-21 | archive-url= https://web.archive.org/web/20070121233845/http://www.libraryreference.org/gulfwar.html | url-status= dead }}
# {{note|www.salon.com.50}} {{chú thích web | title= ''Gulf War crimes?'' | url= http://www.salon.com/news/feature/2000/05/15/hersh/ | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date= 2011-08-06 | archive-url= https://web.archive.org/web/20110806072152/http://www.salon.com/news/feature/2000/05/15/hersh | url-status= dead }}
# {{note|www.hoskinson.net.51}} {{chú thích web | title= ''Gulf War Photo Gallery'' | url= http://www.hoskinson.net/gulfwar/ | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|news.bbc.co.uk.52}} {{chú thích web | title= ''Iraq coming in from the cold?'' | url= http://news.bbc.co.uk/hi/english/world/from_our_own_correspondent/newsid_34000/34588.stm | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|www.whatreallyhappened.com.53}} {{chú thích web | title= ''Independent Policy Forum Luncheon Honoring'' | url= http://www.whatreallyhappened.com/RANCHO/LIE/HK/HK_IRAQ.html | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|www.history.navy.mil.54}} {{chú thích web | title= ''The United States Navy in Desert Shield/Desert Storm'' | url= http://www.history.navy.mil/wars/dstorm/ | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date= 2005-12-02 | archive-url= https://web.archive.org/web/20051202183506/http://www.history.navy.mil/wars/dstorm/ | url-status= dead }}
# {{note|digital.library.unt.edu.55}} {{chú thích web | title= ''Japan's Response to the Persian Gulf Crisis: Implications for U.S.-Japan Relations'' | url= http://digital.library.unt.edu/govdocs/crs/permalink/meta-crs-8 | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|www.digitaljournalist.org.56}} {{chú thích web | title= ''The Unseen Gulf War'' (photo essay) | url= http://www.digitaljournalist.org/issue0212/pt_intro.html | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date= 2005-12-10 | archive-url= https://web.archive.org/web/20051210141023/http://www.digitaljournalist.org/issue0212/pt_intro.html | url-status= dead }}
# {{note|www.bullatomsci.org.57}} {{chú thích web | title=''...and the dirty little weapons'' | url=http://www.bullatomsci.org/issues/1991/may91/may91walker.html | access-date=ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date=ngày 3 tháng 2 năm 2007 | archive-url=https://web.archive.org/web/20070203181115/http://www.thebulletin.org/error404.html | url-status=dead }}
# {{note|rrojasdatabank.info.58}} {{chú thích web | title= ''Third World War in the Gulf: A New World Order'' | url= http://rrojasdatabank.info/agfrank/gulf_war.html | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|www.pbs.org.59}} {{chú thích web | title= ''The Gulf War:an in-depth examination of the 1990-1991 Persian Gulf crisis'' | url= http://www.pbs.org/wgbh/pages/frontline/gulf/script_b.html | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 }}
# {{note|es.rice.edu.60}} {{chú thích web | title= Report to Congress on the Conduct of the Persian Gulf War, Chapter 6 | url= http://es.rice.edu/projects/Poli378/Gulf/gwtxt_ch6.html | access-date= ngày 4 tháng 12 năm 2005 | archive-date= 2007-02-02 | archive-url= https://web.archive.org/web/20070202221842/http://es.rice.edu/projects/Poli378/Gulf/gwtxt_ch6.html | url-status= dead }}
{{cuối tham khảo}}
== Liên kết ngoài ==
{{thể loại Commons|Gulf War (1990-1991)}}
* [http://www.desert-storm.com Desert-Storm.com] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20071011022915/http://www.desert-storm.com/ |date=2007-10-11 }} Online Community For Desert-Storm Veterans. Information resource about the war.
* [http://digital.library.unt.edu/govdocs/crs/search.tkl?q=%22desert+storm%22&search_crit=fulltext&search=Search&date1=Anytime&date2=Anytime&type=form Congressional Research Service (CRS) Reports regarding the Gulf War] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20071011171939/http://digital.library.unt.edu/govdocs/crs/search.tkl?q=%22desert+storm%22&search_crit=fulltext&search=Search&date1=Anytime&date2=Anytime&type=form |date=2007-10-11 }}
{{DEFAULTSORT:Vùng Vịnh}}
[[Thể loại:Chiến tranh Vùng Vịnh| ]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Hoa Kỳ|Vịnh lần thứ nhất]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Iraq]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Kuwait]]
[[Thể loại:Lịch sử quân sự Hoa Kỳ thế kỷ 20]]
[[Thể loại:Lịch sử Iraq]]
[[Thể loại:Lịch sử Kuwait]]
[[Thể loại:Bài Iraq chọn lọc]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Maroc]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Bangladesh]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Syria]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Oman]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Qatar]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Pakistan]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Hy Lạp]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Hà Lan]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Na Uy]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Đan Mạch]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Bỉ]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Thụy Điển]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Tây Ban Nha]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Ý]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Ba Lan]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Niger]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Sénégal]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Ai Cập]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Argentina]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Tiệp Khắc]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Ả Rập Xê Út]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Bahrain]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Honduras]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Bồ Đào Nha]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Thổ Nhĩ Kỳ]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Hàn Quốc]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Pháp]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Hungary]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Vương quốc Liên hiệp Anh]]
[[Thể loại:Nhiệm kỳ tổng thống George H. W. Bush]]
[[Thể loại:Hoa Kỳ năm 1990]]
[[Thể loại:Hoa Kỳ năm 1991]]
[[Thể loại:Hoạt động liên quan tới lực lượng đặc nhiệm]]
[[Thể loại:Chiến tranh ủy nhiệm]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Úc]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Canada]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới New Zealand]] | 120920 |
1291 | Phạm Văn Đồng | 0 | null | null | 73563981 | 73563782 | 2025-06-04T13:48:19 | true | Đã thay đổi thiết lập khóa của “[[Phạm Văn Đồng]]”: Thường xuyên bị [[Wikipedia:Tài khoản con rối|tài khoản rối]] sửa ([Sửa đổi=Chỉ cho phép các thành viên tự động xác nhận] (vô thời hạn) [Di chuyển=Chỉ cho phép các thành viên tự động xác nhận] (vô thời hạn)) | wikitext | text/x-wiki | pyb2skwn8lzykcsm0jz3hr1evk1x6v9 | {
"username": "P. ĐĂNG",
"id": "827006",
"ip": null
} | {{Viên chức
| tên = Phạm Văn Đồng
| hình = Phạm Văn Đồng 1972.jpg
| cỡ hình = 250px
| miêu tả = Phạm Văn Đồng năm 1972
| chức vụ = [[Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam|Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương<br/> Đảng Cộng sản Việt Nam]]
| bắt đầu = [[18 tháng 12]] năm [[1986]]
| kết thúc = [[29 tháng 12]] năm [[1997]]<br>({{số năm theo năm và ngày|1986|12|18|1997|12|29}})
| tiền nhiệm = ''Chức vụ thành lập''
| kế nhiệm = [[Võ Văn Kiệt]]
| trưởng chức vụ = Cố vấn
| trưởng viên chức = *[[Trường Chinh]] (đến 30/9/1988)
*[[Lê Đức Thọ]] (đến 13/10/1990)
*[[Nguyễn Văn Linh]] (từ 27/6/1991)
*[[Võ Chí Công]] (từ 27/6/1991)
| chức vụ 2 = [[Thủ tướng Việt Nam]]
| bắt đầu 2 = [[20 tháng 9]] năm [[1955]]
| kết thúc 2 = [[17 tháng 6]] năm [[1987]]<br>({{số năm theo năm và ngày|1955|9|20|1987|6|17}})
| tiền nhiệm 2 = [[Hồ Chí Minh]]<br>'''Nhà nước thống nhất'''
| kế nhiệm 2 = [[Phạm Hùng]]
| thêm 2 = <div style = "text-align: left">'''Chức danh đầy đủ'''
<div style = "padding-left: 10px">[[Thủ tướng Việt Nam|Thủ tướng Chính phủ]] [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (trước 1976)<br>[[Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam|Thủ tướng Chính phủ (Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sau 1976)</div></div>
| chức vụ 4 = [[Bộ trưởng]] [[Bộ Ngoại giao (Việt Nam)|Bộ Ngoại giao]]
| bắt đầu 4 = [[tháng 4]] năm [[1954]]
| kết thúc 4 = [[tháng 2]] năm [[1961]]
| kế nhiệm 4 = [[Ung Văn Khiêm]]
| tiền nhiệm 4 = [[Hoàng Minh Giám]]
| chức vụ 5 = [[Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Trưởng phòng Lào - Miên Trung ương]]
| bắt đầu 5 = [[1954]]
| kết thúc 5 = [[tháng 8]] năm [[1955]]
| tiền nhiệm 5 = [[Nguyễn Chí Thanh]]
| kế nhiệm 5 = [[Lê Đức Thọ]]
| chức vụ 6 = [[Phó Thủ tướng Chính phủ (Việt Nam)|Phó Thủ tướng Chính phủ]]
| bắt đầu 6 = [[25 tháng 7]] năm [[1947]]
| kết thúc 6 = [[20 tháng 9]] năm [[1955]]<br>({{số năm theo năm và ngày|1947|7|25|1955|9|20}})
| tiền nhiệm 6 = [[Nguyễn Hải Thần]]
| kế nhiệm 6 = [[Phan Kế Toại]]
| trưởng chức vụ 6 = Chủ tịch
| trưởng viên chức 6 = [[Hồ Chí Minh]]
| chức vụ 7 = Thứ trưởng [[Bộ Tài chính Việt Nam|Bộ Kinh tế]]
| kết thúc 7 = [[25 tháng 7]] năm [[1949]]
| kế nhiệm 7 = [[Cù Huy Cận|Huy Cận]]
| trưởng chức vụ 7 = Bộ trưởng
| trưởng viên chức 7 = [[Phan Anh (luật sư)|Phan Anh]]
| chức vụ 8 = Phó Trưởng ban [[Ủy ban thường vụ Quốc hội|Thường trực Quốc hội]]
| bắt đầu 8 = [[2 tháng 3]] năm [[1946]]
| kết thúc 8 = [[9 tháng 11]] năm [[1946]]<br>({{số năm theo năm và ngày|1946|3|2|1946|11|9}})
| trưởng chức vụ 8 = Trưởng ban
| trưởng viên chức 8 = [[Nguyễn Văn Tố]]
| chức vụ 9 = [[Đại biểu Quốc hội Việt Nam]] khóa I, II, III, IV, V, VI, VII, VIII
| bắt đầu 9 = [[6 tháng 1]] năm [[1946]]
| kết thúc 9 = [[19 tháng 4]] năm [[1987]]<br>({{số năm theo năm và ngày |1946|1|6|1987|4|19}})
| chức vụ 10 = [[Bộ trưởng]] [[Bộ Tài chính Việt Nam]]
| bắt đầu 10 = [[16 tháng 8]] năm [[1945]]
| kết thúc 10 = [[2 tháng 3]] năm [[1946]]<br>({{số năm theo năm và ngày|1945|8|16|1946|3|2}})
| tiền nhiệm 10 = ''đầu tiên''
| kế nhiệm 10 = [[Lê Văn Hiến]]
| quốc tịch = {{VIE}}
| ngày sinh = {{Ngày sinh|1906|3|1}}
| nơi sinh = Làng Thi Phổ, [[Mộ Đức]], [[Quảng Ngãi]], [[Trung Kỳ]], [[Liên bang Đông Dương]]
| ngày chết = {{Ngày mất và tuổi|2000|4|29|1906|3|1}}
| nơi chết = [[Hà Nội]], [[Việt Nam]]
| dân tộc = [[người Kinh|Kinh]]
| tôn giáo =
| đảng = [[Tập tin:Flag of the Communist Party of Vietnam.svg|25px]] [[Đảng Cộng sản Việt Nam]]
| họ hàng = * Minh Châu (con dâu)
* Phạm Quốc Hoa (cháu nội trai)
* Phạm Quốc Hương (cháu nội gái)
| cha = [[Phạm Văn Nga]]
| mẹ = [[Nguyễn Thị Tuân]]
| vợ = Phạm Thị Cúc
| con = [[Phạm Sơn Dương]]<ref>{{chú thích web|url=https://dantri.com.vn/chinh-tri/con-trai-thu-tuong-pham-van-dong-xuc-dong-trong-ngay-sinh-cua-cha-20160301112020509.htm|title=Con trai Thủ tướng Phạm Văn Đồng xúc động trong ngày sinh của cha|date = ngày 1 tháng 3 năm 2016 |publisher=Báo Dân trí|access-date = ngày 17 tháng 10 năm 2018}}</ref> (sinh [[1951]])
| giải thưởng = {{HCVN|Sao Vàng}}
}}
'''Phạm Văn Đồng''' (1 tháng 3 năm 1906 – 29 tháng 4 năm 2000), bí danh '''Anh Tô''', là một nhà cách mạng, nhà ngoại giao và chính khách người Việt Nam. Ông từng giữ chức [[Thủ tướng Việt Nam|Thủ tướng]] đầu tiên của nước [[Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] từ năm 1976 (từ năm 1981 gọi là [[Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng]]) cho đến khi nghỉ hưu năm 1987. Trước đó ông từng giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] từ năm 1955 đến năm 1976.
Phạm Văn Đồng là vị [[Thủ tướng Việt Nam|Thủ tướng]] [[Việt Nam]] tại vị lâu nhất (1955–1987) và là học trò, cộng sự thân thiết của [[Hồ Chí Minh|Chủ tịch Hồ Chí Minh]]. Ông có tên gọi thân mật là '''Tô''',<ref>Thùy Dương. [http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=0&cn_id=170390 Anh Tô của chúng ta] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20141015183735/http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=0&cn_id=170390 |date=2014-10-15 }}. Ngày 28 tháng 2 năm 2006 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref><ref>[http://nhandan.com.vn/cuoituan/doi-song-van-hoa/item/17898802-.html Anh Tô người tôn trọng hiền tài]. Đoàn Minh Tuấn ghi lại theo lời kể của Nguyễn Đình Thi. Ngày 23 tháng 8 năm 2011 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref><ref>[http://baolangson.vn/tin-bai/Chinh-tri/ky-niem-105-nam-ngay-sinh-dong-chi-pham-van-dong-1-3-1906--1-3-2011-anh-to-va-bac-to-cua-chung-ta/30-28-5533 Kỷ niệm 105 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng (1-3-1906 - 1-3-2011): Anh Tô và Bác Tô của chúng ta] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20160201051154/http://baolangson.vn/tin-bai/Chinh-tri/ky-niem-105-nam-ngay-sinh-dong-chi-pham-van-dong-1-3-1906--1-3-2011-anh-to-va-bac-to-cua-chung-ta/30-28-5533 |date = ngày 1 tháng 2 năm 2016}}. Ngày 1 tháng 3 năm 2011 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref> đây từng là bí danh của ông.<ref>Minh Ngọc. [http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2011/4/256270/ Người cộng sản kiên trung]. Ngày 27 tháng 4 năm 2011 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref><ref>Đỗ Xuân. [http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=10005&cn_id=169199 Phạm Văn Đồng người con ưu tú của quê hương Quảng Ngãi] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20141017043041/http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=10005&cn_id=169199 |date=2014-10-17 }}. Ngày 27 tháng 2 năm 2006 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref><ref>Lê Hồng Khánh. [http://baoquangngai.vn/channel/2047/201211/di-tich-lich-su-van-hoa-quoc-gia-tren-dia-ban-tinh-quang-ngai-khu-luu-niem-thu-tuong-pham-van-dong-2199591/ Di tích lịch sử văn hóa quốc gia trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi: Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng]. Ngày 13 tháng 11 năm 2012 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref> Ông còn có tên gọi là '''Lâm Bá Kiệt''' khi làm Phó chủ nhiệm cơ quan Biện sự xứ tại Quế Lâm (chủ nhiệm là [[Hồ Học Lãm]]).
==Tiểu sử==
Phạm Văn Đồng sinh ngày 1 tháng 3 năm 1906 trong một gia đình trí thức ở [[Đức Tân, Mộ Đức]], [[Quảng Ngãi]]. Từ nhỏ, ông được tiếp thu truyền thống văn hóa của quê hương và gia đình, trau dồi kiến thức về lịch sử, văn hóa của dân tộc và nhân loại. Ông theo học trường [[Quốc học Huế]] và sớm phát huy năng khiếu học [[tiếng Pháp]]; nhờ đó mà ông có thể nắm bắt nền tảng văn học-triết học Pháp nói riêng và phương Tây nói chung.
Năm 1925, ông tham gia phong trào bãi khóa của học sinh, sinh viên khi [[Phan Châu Trinh]] mất. Một năm sau (1926), ông sang [[Quảng Châu]] dự lớp huấn luyện cách mạng do [[Hồ Chí Minh]] tổ chức rồi gia nhập [[Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội]]. Năm 1929, ông được cử vào Kỳ bộ [[Nam Kỳ]], rồi vào Tổng bộ [[Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội]] và tham gia đại hội của tổ chức này họp ở [[Hồng Kông]]. Tháng 7/1929, thực dân Pháp bắt ông và kết án đi đầy 10 năm tù ở [[Côn Đảo]] trong [[vụ án đường Barbier]].
Năm 1936, sau khi ra tù, Phạm Văn Đồng hoạt động ở [[Hà Nội]]. Năm 1940, ông bí mật sang [[Trung Quốc]] cùng với [[Võ Nguyên Giáp]], gia nhập [[Đảng Cộng sản Đông Dương]] và được [[Hồ Chí Minh|Nguyễn Ái Quốc]] giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ địa gần biên giới Việt – Trung.
Năm 1945, tại [[Quốc dân Đại hội Tân Trào]], Phạm Văn Đồng được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho [[Cách mạng tháng 8]].
==Tham gia chính phủ==
===Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất===
Trước khi nước [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] được thành lập, ngày [[16 tháng 8]] năm [[1945]], Phạm Văn Đồng giữ chức [[Bộ Tài chính (Việt Nam)#Các vị Bộ trưởng qua các thời kỳ|Bộ trưởng]] [[Bộ Tài chính (Việt Nam)|Tài chính]] trong Chính phủ mới. Tuy nhiên, dấu ấn nổi bật của ông là trong lĩnh vực ngoại giao.
Ngày 2 tháng 3 năm 1946 tại Hà Nội, ông được bầu làm Phó Trưởng ban Thường vụ [[Quốc hội Việt Nam|Quốc hội]] (khóa I).
[[Tập tin:Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng tại Paris.jpg|nhỏ|phải|250px|Thủ tướng Phạm Văn Đồng (áo đen), đi sau chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] ở thủ đô [[Paris]], [[Pháp]], 1946.]]
Ngày 31 tháng 5 năm [[1946]], Phạm Văn Đồng là Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại [[Hội nghị Fontainebleau 1946|Hội nghị Fontainebleau]] (Pháp)<ref>{{Chú thích web|url = http://www.nxbctqg.org.vn/index.php?searchword=Ph%E1%BA%A1m+V%C4%83n+%C4%90%E1%BB%93ng&categories=0&authors=&softcontent=&datecreate=&Itemid=676&option=com_advance_search|tiêu đề = trang 109, cuốn Phạm Văn Đồng Tiểu sử}}</ref> thay cho [[Nguyễn Tường Tam]] không nhận nhiệm vụ, nhằm tìm một giải pháp độc lập cho [[Bán đảo Đông Dương|Đông Dương]]. Tuy nhiên, hội nghị thất bại do Pháp không trả lời dứt khoát về việc ấn định thời hạn thực hiện cuộc trưng cầu dân ý ở [[Nam Kỳ]].
Khi [[Chiến tranh Đông Dương]] bùng nổ, ông được cử làm Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại [[Nam Trung Bộ Việt Nam|Nam Trung Bộ]]. Năm [[1947]] ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (Ủy viên chính thức từ năm 1949). Từ tháng 7 năm [[1949]], ông được cử làm Phó Thủ tướng duy nhất.
Tại Đại hội [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Cộng sản Đông Dương/Đảng Lao động Việt Nam]] lần thứ hai năm 1951, Phạm Văn Đồng trở thành ủy viên [[Bộ Chính trị Trung ương Đảng]].
Sau thất bại của Nhật Bản, các lực lượng Việt Minh đã chiến đấu với lực lượng thực dân Pháp trong [[Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất]] kéo dài từ năm 1945 đến năm 1954. Người Pháp đã phải chịu thất bại nặng nề tại [[Trận chiến Điện Biên Phủ]] vào năm 1954 và hòa bình được thiết lập tìm kiếm. Tháng 5 năm 1954, ông là trưởng phái đoàn Chính phủ dự [[Hiệp định Genève, 1954|Hội nghị Genève]] về Đông Dương. Những đóng góp của đoàn Việt Nam do ông đứng đầu tạo ra những đột phá đưa hội nghị để giành độc lập cho [[bán đảo Đông Dương]]. Trải qua 8 cuộc họp toàn thể và 23 phiên họp căng thẳng, phức tạp, với tinh thần chủ động và cố gắng của phái đoàn Việt Nam, thì đến ngày [[20 tháng 7]] năm [[1954]], bản Hiệp định đình chỉ chiến sự trên bán đảo Đông Dương đã được ký kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền của các nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Lực lượng Pháp rút khỏi cuộc xung đột trực tiếp với miền Bắc Việt Nam mới độc lập. Các lực lượng Pháp rút khỏi cuộc xung đột trực tiếp với [[Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà|miền Bắc Việt Nam]] mới độc lập. Ông đã ký hiệp định hòa bình với Thủ tướng Pháp [[Pierre Mendès]].
Tháng 9 năm 1954, Phạm Văn Đồng kiêm chức [[Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (Việt Nam)|Bộ trưởng]] [[Bộ Ngoại giao (Việt Nam)|Ngoại giao]] nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng.
== Thủ tướng Chính phủ (1955-1987) ==
Từ ngày [[20 tháng 9]] năm [[1955]], ông trở thành [[Thủ tướng Việt Nam|thủ tướng Chính phủ]] của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ năm 1976, ông là thủ tướng của [[Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]], phó chủ tịch [[Hội đồng Quốc phòng]] cho đến khi về hưu năm 1987. Ông cũng liên tục làm đại biểu [[Quốc hội]] từ năm 1946 đến năm 1987.
=== Chiến tranh chống Mỹ ===
Trong năm 1954, ông giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá I VNDCCH (1955), ông được cử làm Thủ tướng. Năm 1960, Phạm Văn Đồng trở thành gương mặt đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong [[Chiến tranh Việt Nam|chiến tranh với Hoa Kỳ]], vì ông là người thường nói chuyện với các nhà ngoại giao và nhà báo nước ngoài. Ông được biết là có mối liên hệ chặt chẽ với chính phủ Trung Quốc, chính phủ đã giúp tài trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông cũng là một trong những nhân vật tham gia vào các cuộc đàm phán hòa bình nhằm chấm dứt xung đột dưới chính quyền của [[Lyndon B. Johnson]] và [[Richard Nixon]].
Năm 1963, Phạm Văn Đồng tham gia vào "vụ Maneli", được đặt tên theo [[Mieczysław Maneli]], ủy viên Ba Lan của [[Ủy ban Kiểm soát Quốc tế]]. Vào tháng 5 năm 1963, Phạm Văn Đồng nói với Maneli rằng ông quan tâm đến kế hoạch hòa bình kêu gọi liên bang của hai miền Việt Nam, nói rằng chỉ cần các cố vấn Mỹ rời khỏi miền Nam Việt Nam thì "chúng tôi có thể đạt được thỏa thuận với bất kỳ người Việt Nam nào".{{sfn|Karnow|1983|p=292}} Phản ánh những vấn đề do hạn hán ở miền Bắc Việt Nam gây ra, Phạm Văn Đồng nói với Maneli rằng ông sẵn sàng chấp nhận một lệnh ngừng bắn, sau đó sẽ là một cuộc trao đổi hàng đổi hàng với than từ miền Bắc Việt Nam được đổi lấy gạo từ miền Nam Việt Nam.{{sfn|Miller|2013|p=305}} Năm 1964–1965, Phạm Văn Đồng tham gia vào cái gọi là "Sứ mệnh trên biển", gặp gỡ nhà ngoại giao [[J. Blair Seaborn]], người từng là Ủy viên Canada của [[Ủy ban Quốc tế về Giám sát và Kiểm soát]]. Ngày 8 tháng 6 năm 1964, ông Phạm Văn Đồng gặp Seaborn tại Hà Nội. Seaborn đã nhận được lời đề nghị từ Tổng thống Johnson hứa viện trợ kinh tế hàng tỷ đô la Mỹ và công nhận ngoại giao đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để đổi lấy việc họ từ bỏ mục tiêu đánh đổ chính phủ Việt Nam Cộng hòa và chấp nhận sự chia cắt Việt Nam.{{sfn|Karnow|1983|p=348}} Seaborn cũng cảnh báo rằng Johnson đang xem xét một chiến dịch ném bom chiến lược nhắm vào miền Bắc Việt Nam nếu lời đề nghị của ông bị từ chối.{{sfn|Karnow|1983|p=348}} Ông Đồng nói với Seaborn rằng các điều khoản của Mỹ là không thể chấp nhận được và ông yêu cầu Mỹ chấm dứt hỗ trợ cho Việt Nam Cộng hòa; miền Nam Việt Nam trở thành vùng trung lập trong Chiến tranh Lạnh; và để [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng]], hay còn được phía Việt Nam Cộng hoà và cùng các đồng minh phương Tây gọi là Việt Cộng, tham gia vào một chính phủ liên minh ở Sài Gòn.
{{sfn|Karnow|1983|p=348}}
===Sau hòa bình===
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, ngày [[19 tháng 12]] năm [[1976]], Đại hội Đảng lần thứ IV đã bầu Phạm Văn Đồng vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị.
Phạm Văn Đồng rất trăn trở trước những khó khăn của đất nước. Ông đã chỉ đạo cho cán bộ đi khảo sát "khoán chui" trong nông nghiệp ở Hải Phòng. Ông Đồng trực tiếp làm việc với cán bộ lãnh đạo Hải Phòng và kết luận cái được, cái chưa được trong cơ chế khoán này. Đó là tiền đề cho Chỉ thị của Đảng về khoán hộ trong nông nghiệp ở thời kỳ đổi mới, một giải pháp hiệu quả cho nền nông nghiệp. Cũng thời gian này, đồng chí đã đồng ý cho Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp mới trong cơ chế sản xuất công nghiệp và từng bước tổng kết. Từ đó đã ra đời các Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ, mở ra cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh, từng bước xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp. Đó là những bước đầu của tư tưởng đổi mới.
Tại Đại hội Đảng lần thứ V, ngày [[30 tháng 3]] năm [[1982]], Ban Chấp hành Trung ương đã tiếp tục bầu Phạm Văn Đồng vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị.<ref>{{Chú thích web|url = http://www.nxbctqg.org.vn/index.php?searchword=Ph%E1%BA%A1m+V%C4%83n+%C4%90%E1%BB%93ng&categories=0&authors=&softcontent=&datecreate=&Itemid=676&option=com_advance_search|tiêu đề = Đại hội Đảng lần V bầu Phạm Văn Đồng làm Ủy viên Bộ Chính trị, trang 303, cuốn Phạm Văn Đồng Tiểu sử}}</ref> Trong thời gian làm thủ tướng chính phủ, Phạm Văn Đồng và [[Nguyễn Văn Linh]] đã lên tiếng ủng hộ đạo diễn [[Trần Văn Thủy]] trong sự kiện về bộ phim tài liệu [[Hà Nội trong mắt ai]].<ref name="daotao.vtv.vn">[http://daotao.vtv.vn/dao-dien-tran-van-thuy-voi-ky-uc-ha-noi-trong-mat-ai/ Đạo diễn Trần Văn Thủy với ký ức "Hà Nội trong mắt ai"] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20160130221735/http://daotao.vtv.vn/dao-dien-tran-van-thuy-voi-ky-uc-ha-noi-trong-mat-ai/ |date = ngày 30 tháng 1 năm 2016}}, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình – Đài truyền hình Việt Nam</ref>
Sau khi Tổng bí thư [[Lê Duẩn]] mất vào ngày [[10 tháng 7]] năm [[1986]], ông cùng với các nhà lãnh đạo gấp rút chuẩn bị cho kì Đại hội Đảng lần thứ VI sắp diễn ra vào tháng 12 này. Ngày [[18 tháng 12]] năm [[1986]], ông cùng với [[Trường Chinh]] và [[Lê Đức Thọ]] (ba nhà lãnh đạo cao nhất lúc bấy giờ) tuyên bố từ chức và sẽ không ứng cử Bộ Chính trị khóa VI hoặc Ban chấp hành Trung ương khóa VI và cả ba ông đã được bổ nhiệm vào Hội đồng cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
==Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1986-1997)==
Phạm Văn Đồng là Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12 năm [[1986]] đến [[1997]]. Ông cùng Tổng Bí thư [[Nguyễn Văn Linh]] và Thủ tướng [[Đỗ Mười]] đã tham gia cuộc gặp không chính thức với lãnh đạo [[Trung Quốc]] tại [[Thành Đô]] tháng 9 năm [[1990]] nhằm bình thường hóa mối quan hệ giữa hai nước sau hơn 10 năm căng thẳng và xung đột.
Ngày [[21 tháng 8]] năm [[1998]], thủ tướng [[Phan Văn Khải]] ký quyết định số 746/QĐ – TTg bổ nhiệm ông làm chủ tịch danh dự Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn [[Từ điển bách khoa Việt Nam]]
Ông đã được tặng thưởng [[Huân chương Sao vàng (Việt Nam)|Huân chương Sao Vàng]] của Việt Nam và nhiều huân chương khác của nhiều nước như [[Liên Xô]], [[Lào]], [[Campuchia]], [[Cuba]], [[Bulgaria]], [[Ba Lan]] và [[Mông Cổ]].
Từ đầu thập niên 80 thế kỷ XX, do bị teo dây thần kinh đáy mắt nên mắt ông bắt đầu mờ dần.<ref>Hương Thảo Nguyên. [http://phunutoday.vn/kham-pha/chuyen-ve-cuoc-doi-co-thu-tuong-pham-van-dong-iii-11776.html Chuyện về cuộc đời Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (III)]. Ngày 7 tháng 3 năm 2012 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref>
Tháng 5 năm 1999, dù tuổi cao, sức khỏe không còn tốt, ông vẫn gửi đến Tạp chí Cộng sản bài viết "Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam". Tại đây, ông đã chỉ rõ những mặt yếu kém cần sửa chữa, khắc phục, với tinh thần thấy rõ sự thật, nói đúng sự thật, nói hết sự thật, nghiêm khắc và sắc bén làm nổi rõ những gì phải giải quyết, đồng thời đưa ra những biện pháp giải quyết thiết thực và hiệu quả. Những lời tâm huyết từ đáy lòng của người chiến sĩ cách mạng lão thành đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh của Đảng của dân tộc, đã có sức lay động con tim độc giả. Bài viết đã gây được sự chú ý của dư luận trong những ngày đầu cuộc vận động triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương VI (lần 2).
== Qua đời và tang lễ ==
Ông từ trần vào lúc 23 giờ 10 phút, ngày [[29 tháng 4]] năm [[2000]] (tức ngày 25 tháng 3 năm Canh Thìn) tại [[Hà Nội]], hưởng thọ 94 tuổi. Lễ quốc tang được tổ chức trong 2 ngày, từ ngày 5 đến ngày 6 tháng 5 năm 2000. Lễ viếng của ông được tổ chức tại Nhà tang lễ quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội trong suốt 2 ngày quốc tang. Lễ truy điệu được tổ chức vào 8:00, ngày 6 tháng 5 năm 2000 tại Nhà tang lễ quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông. Sau đó, ông được an táng tại [[Nghĩa trang Mai Dịch]]. Lễ truy điệu và an táng ông Phạm Văn Đồng được truyền hình trực tiếp trên các kênh hòa sóng của VTV.<ref>TLTHVN. [https://www.youtube.com/post/UgkxaIEXV-hCFg6zX020hBPValaHj0i0kf-u Lịch lễ Quốc tang cố thủ tướng Phạm Văn Đồng].</ref>
==Gia đình==
Mẹ của Phạm Văn Đồng là cụ [[Nguyễn Thị Tuân]].<ref>{{Chú thích web|url = http://www.nxbctqg.org.vn/index.php?searchword=Ph%E1%BA%A1m+V%C4%83n+%C4%90%E1%BB%93ng&categories=0&authors=&softcontent=&datecreate=&Itemid=676&option=com_advance_search|tiêu đề = Thân mẫu của Phạm Văn Đồng, trang 19, cuốn Phạm Văn Đồng Tiểu sử}}</ref>
Phạm Văn Đồng có vợ là bà [[Phạm Thị Cúc]] (sinh năm 1922, kém ông 16 tuổi)<ref>{{chú thích web|author1=Lam Thanh|title=Phu nhân cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng qua đời|url=https://motthegioi.vn/thoi-su-c-66/xa-hoi-c-94/phu-nhan-co-thu-tuong-pham-van-dong-qua-doi-98840.html|website=Báo Một thế giới|access-date=ngày 9 tháng 1 năm 2019|date=ngày 15 tháng 10 năm 2018|archive-date=2019-01-09|archive-url=https://web.archive.org/web/20190109062810/https://motthegioi.vn/thoi-su-c-66/xa-hoi-c-94/phu-nhan-co-thu-tuong-pham-van-dong-qua-doi-98840.html|url-status=dead}}</ref>, sinh được một người con trai duy nhất là [[Phạm Sơn Dương]] (sinh năm 1951)<ref name="Hương Thảo Nguyên. Chuyện về cuộc đời Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (II). Phụ nữ & Đời sống.">Hương Thảo Nguyên. [http://phunutoday.vn/kham-pha/chuyen-ve-cuoc-doi-co-thu-tuong-pham-van-dong-ii-11628.html Chuyện về cuộc đời Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (II)]. Ngày 6 tháng 3 năm 2012 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref>, hiện là [[thiếu tướng]] [[Quân đội nhân dân Việt Nam]], phó giám đốc [[Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự]]<ref>Lê Trọng. [http://lamdongtv.vn/van-hoa-the-thao-du-lich/201307/cat-tien-khanh-thanh-quang-truong-pham-van-dong-325815/ Cát Tiên: Khánh thành Quảng trường Phạm Văn Đồng] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20131201053057/http://lamdongtv.vn/van-hoa-the-thao-du-lich/201307/cat-tien-khanh-thanh-quang-truong-pham-van-dong-325815/ |date = ngày 1 tháng 12 năm 2013}}. Ngày 28 tháng 7 năm 2013 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref><ref>[http://vast.ac.vn/projects/vutru/index.php/component/organization/?view=organization&id=22%3Avien-khoa-hoc-va-cong-nghe-quan-su Thông tin cán bộ: Viện Khoa học và Công nghệ quân sự] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20121231015926/http://www.vast.ac.vn/projects/vutru/index.php/component/organization/?view=organization&id=22:vien-khoa-hoc-va-cong-nghe-quan-su |date = ngày 31 tháng 12 năm 2012}}. [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref><ref>Kim Tân. [http://dantri.com.vn/xa-hoi/bo-nhiem-2-thu-truong-thang-ham-tuong-mot-so-si-quan-307664.htm Bổ nhiệm 2 Thứ trưởng, thăng hàm tướng một số sĩ quan]. Ngày 11 tháng 2 năm 2009 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref>. Sau khi lấy bà Cúc (tháng 10 năm 1946) Phạm Văn Đồng vào công tác trong [[Liên khu V]]. Mấy năm sau, bà Cúc được phép vào Nam sống với chồng. Vào đến nơi thì Phạm Văn Đồng lại được lệnh ra Bắc. Sau đó bà Cúc bị bệnh "nửa quên nửa nhớ" (theo lời của Việt Phương, người từng làm thư ký cho Phạm Văn Đồng trong 53 năm) kéo dài cho đến tận bây giờ. Phạm Văn Đồng từng đưa bà Cúc sang Trung Quốc, Liên Xô chữa bệnh nhưng vẫn không khỏi. Phạm Văn Đồng mất trước bà Phạm Thị Cúc.<ref>Nguyễn Tiến Năng. [http://www.tgvn.com.vn/Item/VN/NgoaiGiao/2013/8/BEEAA9E3BDD7D265/ Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Người học trò xuất sắc của Bác Hồ] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20131002102919/http://www.tgvn.com.vn/Item/VN/NgoaiGiao/2013/8/BEEAA9E3BDD7D265/ |date = ngày 2 tháng 10 năm 2013}}. Ngày 30 tháng 8 năm 2013 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref><ref>Hương Thảo Nguyên. [http://phunutoday.vn/kham-pha/chuyen-ve-cuoc-doi-co-thu-tuong-pham-van-dong-i-11626.html Chuyện về cuộc đời Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (I)]. Ngày 5 tháng 3 năm 2012 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref> Bà Phạm Thị Cúc mất lúc 10 giờ 45 phút sáng ngày 15 tháng 10 năm 2018, hưởng thọ 96 tuổi.<ref>{{chú thích web|author1=Lê Hiệp|title=Phu nhân cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng qua đời|url=https://thanhnien.vn/thoi-su/phu-nhan-co-thu-tuong-pham-van-dong-qua-doi-1013666.html|website=Báo Thanh niên|access-date = ngày 9 tháng 1 năm 2019 |date = ngày 15 tháng 10 năm 2018}}</ref>
[[Phạm Sơn Dương]] có vợ là Minh Châu và hai người con: con trai Quốc Hoa, con gái Quốc Hương. Tên của Quốc Hoa và Quốc Hương là do Phạm Văn Đồng đặt, ý là "hoa, hương của đất nước".<ref>Vi Thùy Linh. [http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-toan-canh/minh-chau-mimosa-duoc-ve-la-sung-suong-n2009050409431829.htm Minh Châu "Mimosa": "Được vẽ là sung sướng"]. Ngày 4 tháng 5 năm 2009 [Ngày 11 tháng 9 năm 2013].</ref>
==Đánh giá==
Với bề dày hơn 70 năm hoạt động trong sự nghiệp Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó nhiều năm giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt, Phạm Văn Đồng được nhiều nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản và học giả trong nước, những người gần gũi với ông đánh giá là có nhiều đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực.
Thủ tướng [[Võ Văn Kiệt]] nhận xét về ông "''tác phong giản dị mà lịch thiệp''", "''lối sống đạm bạc mà văn hóa''" "''rất mực ôn hòa''" "''hết mức bình dị''" và "''Năm trước, ở bài viết trong cuốn sách kỷ niệm về anh Sáu Thọ, tôi có nhắc tới biệt danh "Sáu Búa" thể hiện tính quyết đoán cao và sự thẳng thắn trong đấu tranh nội bộ của anh Sáu. Với Anh Tô, tôi thấy dường như Anh là sự bù trừ cho anh Sáu và một số anh khác''".<ref>[Kỷ niệm 102 năm ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng (1/3/1906- 1/3/2008)
Đồng chí Phạm Văn Đồng - Nhà cách mạng uyên bác và một nhân cách lớn https://baocantho.com.vn/dong-chi-pham-van-dong-nha-cach-mang-uyen-bac-va-mot-nhan-cach-lon-a34302.html]</ref>
==Đàm phán ở Genève năm 1954==
Ông Việt Phương, nguyên thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong buổi họp báo giới thiệu sách của các nhà ngoại giao, đã tiết lộ rằng khi đàm phán hiệp định Genève (1954), do đoàn Việt Nam không có điện đài nên Bộ trưởng Ngoại giao lúc đó là Phạm Văn Đồng đã mắc một sai lầm khi nhờ Trung Quốc chuyển các bức điện về nước, do vậy Trung Quốc biết hết các sách lược của Việt Nam và sử dụng chúng để ép Việt Nam ký hiệp định theo lợi ích của Trung Quốc. Trong đàm phán Phạm Văn Đồng sử dụng phiên dịch Trung Quốc nên nội dung liên lạc giữa đoàn đàm phán và Trung ương, Trung Quốc đều biết trước và tìm cách ngăn chặn. Phạm Văn Đồng sau này cũng thừa nhận là đoàn Việt Nam khi đó quá tin đoàn Trung Quốc. Tại hội nghị ấy, Phạm Văn Đồng chỉ chủ yếu tiếp xúc với đoàn Liên Xô và đoàn Trung Quốc, trong khi Anh là đồng chủ tịch, quan điểm lại khác với Pháp, nhưng ông lại không tranh thủ, không hề tiếp xúc với phái đoàn Anh.<ref>http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/ngoai-giao-ho-chi-minh-tu-geneva-den-paris-tu-le-thuoc-den-tu-chu-452001.html</ref>
==Văn kiện gây tranh cãi 1958==
{{chính|Công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng}}
Chính phủ Trung Quốc ra Tuyên bố về [[lãnh hải]] 12 hải lý ngày 4 tháng 9 năm 1958<ref name="BNG">[http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19232.htm International Recognition Of China's Sovereignty over the Nansha Islands] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20121014040310/http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19232.htm |date=2012-10-14 }}, Bộ ngoại giao Trung Quốc</ref>. Phạm Văn Đồng sau đó đã viết một Công hàm gửi cho Thủ tướng Trung Quốc [[Chu Ân Lai]] vào ngày [[14 tháng 9]] năm [[1958]]<ref name="BNG"/> và sau đó cho đăng trên [[nhân Dân (báo)|báo Nhân dân]] ngày [[22 tháng 9]] năm [[1958]], <ref name="BNG"/> trong đó có đoạn:
[[Tập tin:1958 diplomatic note from phamvandong to zhouenlai.jpg|nhỏ|Năm 1958, Công hàm của Thủ tướng Việt Nam dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi cho thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa [[Chu Ân Lai]] ]]
:''Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Phạm Văn Đồng gửi thứ trưởng [[Bộ Ngoại giao Trung Quốc]], ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ [[Trung Quốc]] về hải phận''.
Theo quan điểm của Trung Quốc (tài liệu Bộ Ngoại giao), công hàm của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Phạm Văn Đồng đương nhiên "công nhận" chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo trên [[biển Đông]] vì trước đó trong số báo ngày [[6 tháng 9]] báo Nhân dân "đã đăng chi tiết về Tuyên bố Lãnh hải của chính phủ Trung Quốc trong đó đường cơ sở để tính lãnh hải bao gồm bờ biển hai quần đảo [[Quần đảo Hoàng Sa|Tây Sa]] và [[Quần đảo Trường Sa|Nam Sa]] trên [[biển Đông]]"<ref name="BNG"/>. Các tài liệu công bố công khai cho công chúng Trung Quốc bản dịch tiếng Trung đều không dịch đầy đủ nội dung của văn kiện này, thiếu một số nội dung trong đó có đoạn "triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc".{{fact}}
Theo Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày 7 tháng 8 năm 1979 thì: Sự diễn giải của Trung quốc về bản công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà như một sự công nhận chủ quyền của phía Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản công hàm chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung quốc.<ref>[http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1501&Style=1&ChiTiet=33807 Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn 1975 - 1991 (Kỳ 14)] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20130929032623/http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1501&chitiet=33807&Style=1 |date = ngày 29 tháng 9 năm 2013}}, Nhóm PV Biển Đông, 06/07/2011, Báo Đại Đoàn Kết</ref><ref>{{Chú thích web | url = http://www.xaydungdang.org.vn/Home/vankientulieu/Bien-dao-Viet-Nam/2011/4133/Chu-quyen-bien-dao-Viet-Nam.aspx | tiêu đề = Tạp chí Xây dựng Đảng | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 12 tháng 3 năm 2015 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = | archive-date = 2012-07-16 | archive-url = https://web.archive.org/web/20120716045424/http://www.xaydungdang.org.vn/Home/vankientulieu/Bien-dao-Viet-Nam/2011/4133/Chu-quyen-bien-dao-Viet-Nam.aspx | url-status = dead }}</ref> (Tức là khoảng 22 km, mà không cho biết đường cơ sở để tính chủ quyền 12 hải lý có bao gồm đường bờ biển hai quần đảo đó hay không). Văn bản này không đề cập đến hai quần đảo mà chỉ đề cập đến cơ sở khoảng cách trên biển mà Trung Quốc dùng để tính hải phận. Việt Nam khẳng định lại chủ quyền đối với 2 quần đảo này, nhắc lại lập trường của Việt Nam về việc giải quyết sự tranh chấp về 2 quần đảo giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình.<ref>{{Chú thích web | url = http://www.hoangsa.danang.gov.vn/index.php/gi-i-thi-u/l-ch-s-ch-quy-n?start=2 | tiêu đề = Lịch sử chủ quyền | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 5 tháng 10 năm 2015 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = | archive-date = 2015-05-08 | archive-url = https://web.archive.org/web/20150508102330/http://hoangsa.danang.gov.vn/index.php/gi-i-thi-u/l-ch-s-ch-quy-n?start=2 | url-status = dead }}</ref>
==Vinh danh==
Hiện nay ở thủ đô [[Hà Nội]], tên Phạm Văn Đồng được đặt cho đoạn đường nối từ ngã tư [[Xuân Thủy]] – [[Phạm Hùng]] – [[Hồ Tùng Mậu]] đến [[cầu Thăng Long]] mở đầu cho tuyến đường dẫn từ nội thành Hà Nội tới sân bay quốc tế [[Sân bay quốc tế Nội Bài|Nội Bài]]. Ngoài ra tại [[Việt Nam]], tên ông còn được đặt cho nhiều tuyến đường lớn ở [[Đà Nẵng]], [[Đồng Hới]], [[Nha Trang]], [[Hải Phòng]], [[Thành phố Hồ Chí Minh]],... Tại [[Đà Nẵng]] có một [[bãi biển]] mang tên ông. Tại [[Quảng Ngãi]] có một trường đại học mang tên ông, dựa trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ngãi và Trường Cao đẳng cộng đồng Quảng Ngãi.
==Chú thích==
{{tham khảo|30em}}
==Xem thêm==
*[[Thủ tướng Việt Nam]]
{{Đầu hộp}}
{{thứ tự kế vị|chức vụ=[[Thủ tướng]]<br />nước [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]]|trước=[[Hồ Chí Minh]]|sau=Không có|năm=[[20 tháng 9|20-9]]-[[1955]]–[[2 tháng 7|2-7]]-[[1976]]}}
{{thứ tự kế vị|chức vụ=Thủ tướng ([[Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng]])<br />nước [[Việt Nam|Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam]]|trước=Không có|sau=[[Phạm Hùng]]|năm=2-7-1976–[[18 tháng 6|18-6]]-[[1987]]}}
{{Cuối hộp}}
==Liên kết ngoài==
{{Thể loại Commons|Phạm Văn Đồng}}
{{Wikiquote|Phạm Văn Đồng}}
* [http://www.mofa.gov.vn/bng_vietnam/nr050225105543/nr050225105648/nr050302090325/ns050302090956 Tiểu sử Phạm Văn Đồng] trên website Bộ Ngoại giao Việt Nam.
*[http://openvault.wgbh.org/catalog/vietnam-df9fbf-interview-with-pham-van-dong-1981 Phỏng vấn Phạm Văn Đồng, 1981]
* {{TĐBKVN|22095}}
* [http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/09/120914_phamvandong_note.shtml Nhìn lại Công hàm Phạm Văn Đồng 1958] BBC
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
{{Thủ tướng Việt Nam}}
{{Ủy viên Bộ Chính trị khóa II}}
{{Ủy viên Bộ Chính trị khóa III}}
{{Ủy viên Bộ Chính trị khóa IV}}
{{Ủy viên Bộ Chính trị khóa V}}
{{Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam}}
{{Thời gian sống|sinh=1906|mất=2000}}
[[Thể loại:Nhà cách mạng Việt Nam]]
[[Thể loại:Người Quảng Ngãi]]
[[Thể loại:Thủ tướng Việt Nam]]
[[Thể loại:Phó Thủ tướng Việt Nam]]
[[Thể loại:Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam]]
[[Thể loại:Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam]]
[[Thể loại:Thứ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam]]
[[Thể loại:Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I]]
[[Thể loại:Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa II]]
[[Thể loại:Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa III]]
[[Thể loại:Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa IV]]
[[Thể loại:Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa V]]
[[Thể loại:Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa VI]]
[[Thể loại:Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa VII]]
[[Thể loại:Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam]]
[[Thể loại:Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa II]]
[[Thể loại:Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III]]
[[Thể loại:Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV]]
[[Thể loại:Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa V]]
[[Thể loại:Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa I]]
[[Thể loại:Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa II]]
[[Thể loại:Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III]]
[[Thể loại:Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV]]
[[Thể loại:Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa V]]
[[Thể loại:Học sinh Quốc học Huế]]
[[Thể loại:Học sinh trường Bưởi]]
[[Thể loại:Huân chương Sao Vàng]]
[[Thể loại:Nhân vật trong chiến tranh Việt Nam]]
[[Thể loại:Nhà ngoại giao Việt Nam]]
[[Thể loại:Nhà dân tộc chủ nghĩa Việt Nam]]
[[Thể loại:Hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên]] | 41551 |
1293 | Liên bang Đông Dương | 0 | null | null | 74133101 | 74133098 | 2025-09-18T11:41:49 | false | Sửa liên kết, phần lịch sử thành lập gần như mang toàn bộ chi tiết Chiến tranh Pháp - Đại Nam (1858-1884) nên làm bài viết trở nên quá dài | wikitext | text/x-wiki | ecu2nhcla6e5pr5ewd1vr075nopyswd | {
"username": "Anonymous Agent",
"id": "534293",
"ip": null
} | {{Cần nhiều trích dẫn trong bài hơn|date=tháng 3/2024}}
{{bài cùng tên|Bán đảo Đông Dương}}
{{Indochine}}'''Liên bang Đông Dương''' ([[chữ Nôm]]: 聯邦東洋, {{langx|fr|Union indochinoise}},{{efn|group=b|Nghị định ngày 17 tháng 10 năm 1887.}} sau 1947 là ''Fédération indochinoise)'' hay còn gọi là '''Đông Dương thuộc Pháp''', '''Đông Pháp''', là [[lãnh thổ]] nằm dưới quyền cai trị của [[Đế quốc thực dân Pháp|thực dân Pháp]] trong hơn 67 năm (1887-1954) tại khu vực [[Đông Nam Á]], ngày nay thuộc lãnh thổ [[Việt Nam]], [[Lào]], [[Campuchia]] và đất đai của huyện [[Trạm Giang]] (tỉnh [[Quảng Đông]], [[Trung Quốc]]). Nhân danh [[Triều đình Huế]], Pháp cũng chính thức kiểm soát [[quần đảo Trường Sa]] và [[quần đảo Hoàng Sa]] vào năm 1920 và tuyên bố chủ quyền thống trị vào năm 1921.
Tháng 9 năm 1858, lực lượng viễn chinh của [[Đệ Nhị Đế chế Pháp]] cùng sự hỗ trợ của thực dân [[Tây Ban Nha]] nổ súng tấn công [[Bán đảo Sơn Trà]] của nước [[Nhà Nguyễn|Đại Nam]] (ngày nay thuộc [[Đà Nẵng]]), mở đầu cho công cuộc thuộc địa hóa bán đảo Đông Dương. Đến ngày [[17 tháng 10]] năm [[1887]], Liên bang Đông Dương được chính thức thành lập theo Sắc lệnh của [[Tổng thống Pháp|Tổng thống Cộng hoà Pháp]]<ref name="hoanganh">[https://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/to-chuc-bo-may-cac-co-quan-trong-chinh-quyen-thuoc-dia-o-viet-nam-1862-1945 Tổ chức bộ máy các cơ quan trong chính quyền thuộc địa ở Việt Nam (1862 - 1945)] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20170715135549/http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/to-chuc-bo-may-cac-co-quan-trong-chinh-quyen-thuoc-dia-o-viet-nam-1862-1945 |date = ngày 15 tháng 7 năm 2017}}, Đỗ Hoàng Anh, Văn hóa Nghệ An, 09 Tháng 3 2017</ref> với ba [[thuộc địa]] là [[Nam Kỳ]] (''Cochinchine''), [[Bắc Kỳ]] (''Tonkin''), [[Trung Kỳ]] (''Annam'') đều thuộc Đại Nam, và [[Campuchia thuộc Pháp|Cao Miên]]; [[Lào thuộc Pháp|Lào]] gia nhập vào năm 1893 và [[Quảng Châu Loan]] được sáp nhập từ năm 1900. Thủ phủ Liên bang Đông Dương ban đầu đặt tại [[Sài Gòn]], sau đã chuyển ra [[Hà Nội]] từ năm 1902. Ngoài ra, [[Đà Lạt]] còn được xem như thủ đô mùa hè của Liên bang, nơi nghỉ dưỡng dành cho giới cầm quyền Pháp.
Liên bang Đông Dương là một chế độ nửa thuộc địa, nửa phong kiến.<ref name="Feudalism_Capitalism">{{harvnb|Christie|1998|p=78}}</ref> Đứng đầu liên bang là một [[Toàn quyền Đông Dương|Toàn quyền]] (''Gouverneur Général de l'Indochine française'' từ [[1887]] đến [[1945]]) hay một [[Cao ủy]] (giai đoạn 1945-1954) của chính phủ nước bảo hộ Pháp. Tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ (ngoại trừ [[Hà Nội]], [[Hải Phòng]] và [[Đà Nẵng]]), chính quyền từ cấp tỉnh trở xuống do các quan chức người Việt quản lý đặt dưới quyền [[vua]] [[nhà Nguyễn|Nguyễn]], tuy nhiên, tại mỗi tỉnh đều có một viên Công sứ người Pháp thực hiện chức năng bảo hộ của nước Pháp đối với [[An Nam]].<ref name="hoanganh" /><ref>Brocheur. tr 78-9</ref>
Trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai]], Liên bang Đông Dương bị [[Đế quốc Nhật Bản]] chiếm đoạt rồi mất ảnh hưởng ở tại Việt Nam. Tuy nhiên, Nhật Bản lại thua quân [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]] vào năm 1945 và Đông Dương sau đó lại do Pháp kiểm soát nhưng họ buộc phải từ bỏ chủ quyền tại Lào và Campuchia vào năm 1953. Liên bang này chỉ thực sự tan rã sau khi [[Pháp]] thua trận ở [[Chiến dịch Điện Biên Phủ|Điện Biên Phủ]] và [[Hiệp định Genève, 1954|Hiệp ước hòa bình Genève]] được ký kết năm [[1954]].
== Tên gọi ==
Nguồn gốc cụm từ ''Indochine'' trong tiếng Pháp có nghĩa là "Trung-Ấn", [[bán đảo Đông Dương]] còn có tên gọi là bán đảo Trung-Ấn vì bán đảo này gần với [[Trung Quốc]] và [[Ấn Độ]] (với ''Indo'' là Ấn và -''chine'' là Trung, nên gọi là Trung-Ấn).
Trong giai đoạn 1947-1954, '''''Union indochinoise''''' (Liên bang Đông Dương trong tiếng Pháp) được đổi tên thành '''''Fédération indochinoise''''' (Liên đoàn Đông Dương). Ngoài ra, liên bang còn có các tên gọi khác như '''Đông Dương thuộc Pháp''' ([[chữ Nôm]]: 東洋屬法, {{langx|fr|Indochine française}}) hoặc gọi tắt là '''Đông Pháp''' ([[chữ Nôm]]: 東法).
== Địa lý ==
{{chính|Bán đảo Đông Dương}}
Với diện tích 737.000 km² (284.557 sq mi), Liên bang Đông Dương là lãnh thổ thuộc địa lớn thứ 2 ở [[Đông Nam Á]] (sau [[Đông Ấn Hà Lan]]) trong thời gian tồn tại. Địa hình Đông Dương bao gồm một phần dãy núi kéo dài từ [[cao nguyên]] [[Tây Tạng]] giáp với Trung Quốc ở phía bắc, xen kẽ với các vùng đất thấp phần lớn bị thoát nước bởi ba hệ thống sông lớn chạy theo hướng bắc nam là [[sông Mê Kông]] (chảy qua [[Lào]], [[Cao Miên]] và [[Nam Kỳ]]), ở phía bắc, ở phía đông giáp với [[Biển Đông]], ở phía tây giáp với [[Xiêm]] và ở phía nam giáp với [[Vịnh Thái Lan|vịnh Xiêm]].
== Thành lập ==
=== Những mối liên kết đầu tiên (trước thế kỷ XIX) ===
{{chính|Quan hệ Pháp – Việt Nam|Quan hệ giữa Nguyễn Ánh và người Pháp}}
Vào đầu [[thế kỷ 17]], nhà giáo sĩ [[Dòng Tên]] người Avignon (nay thuộc Pháp) là [[Alexandre de Rhodes]] đến Việt Nam truyền đạo, góp phần tạo ra [[chữ Quốc ngữ]] tại đây. Đến [[thế kỷ 18]], ảnh hưởng của người Pháp ở Đông Dương chỉ giới hạn trong lĩnh vực thương mại cùng một số thành tựu của các nhà truyền giáo thuộc [[Hội Thừa sai Paris]].
Năm 1787, [[Pierre Pigneau de Behaine]], một linh mục [[Công giáo]] [[người Pháp]], đã thỉnh cầu vua [[Louis XVI của Pháp]] cử các tình nguyện viên quân đội để chi viện cho [[Gia Long|Nguyễn Ánh]] chiếm lại lãnh địa đã mất về tay [[nhà Tây Sơn]]. Sau đó, Pigneau qua đời ở Việt Nam, nhưng quân đội của ông đã chiến đấu tại đây đến năm 1802, khi [[nhà Nguyễn]] được thành lập và Nguyễn Ánh trở thành vua Việt Nam đầu tiên thống nhất đất nước sau hàng trăm năm chiến tranh. Ông lấy niên hiệu Gia Long.
Sau khi thống nhất đất nước của mình, Gia Long lại thiên về hướng tạo dựng mối hữu nghị mới với [[nhà Thanh]] ở Trung Quốc, khi đồng ý xưng thần với đế quốc này. Đồng thời, do lo ngại sự gia tăng ngày càng nhiều số lượng giáo sĩ ở Việt Nam là một mối đe dọa tiềm tàng, các vua nhà Nguyễn về sau bắt đầu thực hiện <nowiki>''bế quan tỏa cảng''</nowiki> (cấm giao thương với bên ngoài) và cấm đạo nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của thực dân châu Âu tại khu vực này.
Từ thời vua [[Minh Mạng]] (con trai thứ sau và là người kế vị của vua Gia Long), triều đình Huế thi hành chính sách cấm đạo với các biện pháp trấn áp bằng vũ lực thậm chí là xử tử. Năm 1835, một cha xứ người Pháp là [[Joseph Marchand Du|Joseph Manchard]] bị triều đình nhà Nguyễn khép tội xúi giục dân bản địa nổi loạn, và bị xử tử bằng hình thức [[Tùng xẻo|lăng trì]].
=== Chiến tranh Pháp - Đại Nam (1858-1884) ===
==== Chiến dịch Nam Kỳ và Cao Miên (1858-1867) ====
Tháng 1/1857, công sứ Pháp tại [[Thượng Hải|tô giới Thượng Hải]] là [[Charles de Montigny]] được hoàng đế [[Napoléon III của Pháp|Napoléon III]] của [[Đệ Nhị Đế chế Pháp]] cử đến Việt Nam nhằm thuyết phục triều đình nhà Nguyễn chấm dứt việc đàn áp hay trục xuất các nhà truyền đạo Công giáo<ref name="tucker29">Tucker, tr. 29.</ref>, và thông quan hàng hải. Nhưng vua nhà Nguyễn lúc đó là [[Tự Đức]] đã khước từ mọi yêu cầu của de Montigny, khiến hoàng đế Pháp phải điều một hạm đội hải quân 3.300 người (gồm 300 lính [[Philippines]] của thực dân [[Tây Ban Nha]])<ref>Chapuis (1995), tr. 195.</ref> do đô đốc [[Charles Rigault de Genouilly]] chỉ huy nhằm đánh phá cảng Tourane ([[Đà Nẵng]] ngày nay). Hạm đội Pháp chiếm được [[Sơn Trà|bán đảo Sơn Trà]]. Nhưng sau ba tháng ròng giao tranh mà không thấy cơ hội tiến sâu vào đất liền, de Genouilly đã mở một cuộc tấn công khác vào thành [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]].<ref name="tucker29" /><ref name="Chapuis248">Chapuis (2000), tr. 48.</ref>
Ngày 17/2/1859, hạm đội Pháp chiếm được đại đồn [[Chí Hòa (định hướng)|Chí Hòa]] ở Sài Gòn vốn phòng bị kém. Tuy nhiên, quân Pháp lại không thể chinh phục các lãnh thổ bên ngoài vành đai phòng thủ của thành phố, khiến De Genouilly bị thay thế bởi [[Louis Adolphe Bonard]] vào tháng 11/1859.
Sau đó, người Pháp nỗ lực để đạt một hiệp ước bảo vệ [[Giáo hội Công giáo|đức tin Công giáo]] tại Việt Nam<ref name="tucker29" /><ref name="Chapuis248" /> nhưng không thành công và cuộc chiến ở Sài Gòn vẫn tiếp diễn. Đến năm 1861, lực lượng Pháp chiếm được vùng [[đồng bằng sông Cửu Long]], buộc người Việt ký [[Hòa ước Nhâm Tuất]] ngày 5/6/1862; qua đó, Công giáo được tự do hoạt động; mở cửa giao thương ở đồng bằng sông Cửu Long và tại ba cảng ở cửa sông Hồng ở miền bắc Việt Nam; nhường lại các tỉnh [[Biên Hòa]], [[Gia Định]] và [[Định Tường]], cùng với đảo [[Côn Sơn (đảo)|Poulo Condore]] cho Pháp cai quản; đồng thời trả khoản bồi thường tương đương với 4.000.000 đồng bạc.<ref>Chapuis, tr 49-53.</ref><ref name="Llewellyn">Llewellyn.</ref><ref>Thomazi, tr. 69-71.</ref>
Năm 1864, ba tỉnh nói trên sau khi về tay người Pháp đã chính thức trở thành thuộc địa Nam Kỳ thuộc Pháp. Đến năm 1867, phó đô đốc Pháp [[Pierre-Paul de La Grandière|Pierre de la Grandière]] buộc người Việt Nam phải nhượng thêm ba tỉnh [[An Giang|Châu Đốc]], [[Hà Tiên (tỉnh)|Hà Tiên]] và [[Vĩnh Long]]. Theo đó, cả vùng Nam bộ cũng như đồng bằng sông Cửu Long đều nằm dưới sự cai trị của Pháp.<ref name="Llewellyn" />
Năm 1863, vua [[Campuchia thuộc Pháp|Campuchia]] [[Norodom]] yêu cầu thiết lập chế độ bảo hộ của Pháp đối với nước mình. Năm 1867, vương quốc [[Vương quốc Rattanakosin|Xiêm]] ([[Thái Lan]] ngày nay) từ bỏ quyền thống trị đối với Campuchia và chính thức công nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với nước này; đổi lại, Xiêm có sáp nhập các tỉnh [[Battambang]] và [[Xiêm Riệp]] thành một phần lãnh thổ [[Thái Lan]] cho đến năm 1906.
==== Biến cố ở Bắc Kỳ ====
[[Đô đốc]] [[Marie Jules Dupré]] yêu cầu đại tá [[Francis Garnier]] ra [[Bắc Kỳ]] để giải quyết vụ xung đột giữa lái buôn Pháp [[Jean Dupuis]] và chính quyền địa phương. Nguyên nhân là khi [[Nguyễn Tri Phương]] ra Bắc yết thị cấm [[người Việt]] và [[Hoa kiều]] giao thiệp với người phương Tây, không cho chở hàng đi [[Vân Nam]] và yêu cầu yêu cầu phía Pháp bắt Dupuis (theo [[Hòa ước Nhâm Tuất (1862)|Hiệp ước Nhâm Tuất]] năm 1862, [[Hà Nội]] không phải nơi thông thương) nhưng ông ta vẫn kiên quyết ở lại. Triều đình phải cử quan [[Khâm sai]] [[Lê Tuấn]] cùng [[Nguyễn Văn Tường]] và [[Nguyễn Tăng Doãn]] vào [[Gia Định]] thương nghị. Khi Garnier gặp Nguyễn Tri Phương có đề nghị ký một bản thương ước mở [[sông Hồng]] cho việc thông thương nhưng [[Nguyễn Tri Phương]] từ chối do chưa rõ ý kiến của triều đình Huế.
Đại tá Garnier sau đó gửi cho triều đình Đại Nam một bản tối hậu thư, trong đó yêu cầu quân nhà Nguyễn phải giải giáp và cho Jean Dupuis tự do đi lại. Khi không nhận được thư trả lời, Garnier và Dupuis lên kế hoạch đánh thành Hà Nội; theo đó, lúc 6 giờ sáng ngày 20/11, các pháo thuyền ''Scorpion'' và ''Espignol'' do thuyền trưởng [[Adrien-Paul Balny d'Avricourt]] chỉ huy sẽ bắn phá hai cửa thành phía bắc và phía đông cùng các cơ sở chính quyền của Hà Nội; đặc biệt tập trung pháo kích hướng về doanh trại chỉ huy của khâm sai đại thần [[Nguyễn Tri Phương]] (dinh tổng đốc Hà Ninh và cột cờ). Tới 6 giờ 30, quân Pháp sẽ ngừng pháo kích; Garnier và viên phụ tá [[de Trentinian]] sẽ chỉ huy 25 thủy bộ binh với hai khẩu sơn pháo phối hợp với quân của phó thuyền trưởng Esmez tấn công cửa thành phía nam rồi bắt liên lạc với cánh quân đã vào trong cửa phía đông của Bain cùng với 2 phụ tá là Hautefeuille và Perrin. Tổng số quân Pháp tham chiến là 90 người. Ngoài ra, Dupuis phải bố trí toán lính đánh thuê [[Trung Quốc]] của ông ta tiến sát gần cửa đông lúc 2 pháo thuyền bắt đầu khai hỏa; ngay sau khi cuộc pháo kích kết thúc, Dupuis sẽ dẫn quân chiếm đóng lầu canh hình bán nguyệt ở cổng thành phía đông rồi đóng chốt ở phía bắc nhằm chặn đường rút lui của quan binh Đại Nam.
Đúng như kế hoạch, rạng sáng ngày 20/11/1873, quân Pháp bắt đầu tấn công. Tổng đốc Hà Ninh [[Nguyễn Tri Phương]] chỉ huy quân lính phòng thủ nhưng chẳng bao lâu thì [[Hoàng thành Thăng Long|thành Hà Nội]] thất thủ. Bản thân ông bị thương nặng và bị quân Pháp bắt. Con trai ông là [[Nguyễn Lâm]] cũng tử trận. Ít lâu sau, Nguyễn Tri Phương tuyệt thực và qua đời trong ngục.
Ngay sau khi [[Trận thành Hà Nội (1873)|thành Hà Nội thất thủ]], triều đình Huế phái [[Trần Đình Túc]], [[Trương Gia Hội]] cùng hai giáo sĩ là Sohier và Danzelger ra Hà Nội để điều đình với Garnier nhưng ông ta đã chiếm các thành [[Nam Định]], [[Phủ Lý]], và [[Hải Dương]]. Vua [[Tự Đức]] liền khiến Tam Tuyên tổng đốc [[Hoàng Kế Viêm|Hoàng Tá Viêm]] sung tiết chế Bắc Kỳ quân vụ và tham tán [[Tôn Thất Thuyết]] đem theo 1.000 quân đến đóng ở phủ [[Từ Sơn]] ([[Bắc Ninh]] ngày nay). Tuy nhiên, quân triều đình ra đến [[Thanh Hóa]] thì phải hồi kinh vì thành [[Ninh Bình]] đã thất thủ.
Khi Garnier đánh chiếm thành Nam Định, [[Quân Cờ Đen|quân cờ đen]] ở [[Sơn Tây (tỉnh cũ)|Sơn Tây]], do [[Lưu Vĩnh Phúc]] chỉ huy hoạt động mạnh và đánh chiếm đồn phòng thủ của quân Pháp tại [[Phủ Hoài]] và nhiều tiền đồn khác ở ngoại vi Hà Nội. Garnier phải cử tàu ''Scorpion'' chở 15 lính tăng viện cho [[Bain de la Coquerie]] và ngay sau đó tàu này phải ra [[cửa Cấm]] chờ tàu ''Decrès'' chở quân tăng viện từ [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]] ra.
Ngày 18/12/1873, sau khi cử y sĩ Harmand giữ chức quản trị quân sự cùng với 25 lính thủy giữ thành Nam Định, Garnier quay trở về Hà Nội để dự trù một cuộc phản công ở Phủ Hoài. Tuy nhiên, vào chiều hôm sau (19/12), Garnier ra lệnh đình chiến, và tiếp đoàn thương nghị của triều đình Huế do Trần Đình Túc và Trương Gia Hội dẫn đầu, nhằm tìm giải pháp hòa bình cho đôi bên. Tới ngày 21/12, khi Garnier đang nghị bàn với phái đoàn Đại Nam, ông được tin là quan binh triều đình phối hợp với quân Cờ Đen ở Sơn Tây để tiến đến Hà Nội. Garnier liền dẫn một toán quân ra chặn đánh, nhưng bị quân Cờ Đen phục kích giết chết tại [[Cầu Giấy]].
Triều đình khi nhận được tin thắng trận đã lập tức cho [[Lê Tuấn]] và [[Nguyễn Văn Tường]] đến Sài Gòn thương nghị với đô đốc Dupré. Viên đô đốc này không được chính phủ Pháp ủng hộ trong vụ Bắc Kỳ nên bằng lòng trả các thành lại cho các quan địa phương và ký Hòa ước mới. Nhưng sau vụ đụng độ ở Bắc Kỳ, quyền tự quyết về ngoại giao của Đại Nam bị buộc phải giao cho người Pháp.
==== Hiệp ước Quý Mùi (1883) ====
Năm 1876, [[Phạm Thận Duật]] dẫn đầu sứ bộ Đại Nam sang [[Tên gọi Trung Quốc|Trung Hoa]] cầu viện [[nhà Thanh]] để đối phó với Pháp. Triều đình Huế cũng chiêu nạp quân Cờ Đen của [[Lưu Vĩnh Phúc]], bổ nhiệm ông này làm chức [[Chuẩn Đô đốc|đề đốc]] cùng các quan chống cự quân Pháp. Khi đó, tình hình ở Bắc Kỳ trở nên bất ổn bởi các lực lượng người Hoa khiến chính phủ Pháp phải cân nhắc phương án đặt sự bảo hộ hoàn toàn ở Bắc Kỳ. Ngay từ năm 1879, đô đốc [[Bernard Jauréguiberry]] đã yêu cầu tăng viện 6.000 người sang [[Bắc Kỳ]] áp đặt nền bảo hộ nhưng chính phủ Pháp đã từ chối. Năm 1882, [[thống đốc Nam Kỳ]] [[Charles Le Myre de Vilers]] yêu cầu [[đại tá]] [[Henri Rivière|Henry Rivière]] dẫn với 233 quân ra Bắc Kỳ để bảo vệ các thương gia Pháp khỏi các băng đảng người Hoa. Khi tới Hà Nội ngày 3/4 năm đó, [[Henri Rivière|Henry Rivière]] đã có ý chiếm thành nhưng bị thống đốc de Vilers phản đối.
Cuối năm 1882, quân Thanh do các tướng [[Tạ Kính Bưu]] và [[Đường Cảnh Tùng]] vượt biên giới sang đóng ở [[Bắc Ninh]] và [[Sơn Tây (tỉnh cũ)|Sơn Tây]]. Triều Nguyễn trước đó đã yêu cầu [[nhà Thanh]] việc trợ, trong khi đại sứ Pháp ở [[Bắc Kinh]] thương thảo với tổng đốc [[Trực Lệ]] [[Lý Hồng Chương]] nhằm phân chia quyền kiểm soát Bắc Kỳ giữa hai nước. Đại tá Rivière sau đó dẫn quân đánh chiếm [[Hồng Gai, Hạ Long|Hòn Gai]] và [[Nam Định]], nhưng sau đó các quan viên triều Nguyễn như [[Trương Quang Đản]], [[Bùi Ân Niên]], [[Hoàng Kế Viêm]] đe doạ kéo quân bao vây người Pháp ở Hà Nội. Trong khi xuất quân phá vây, Rivière bị quân Cờ Đen của [[Lưu Vĩnh Phúc]] hạ sát sáng ngày 19/5/1883. Trước đó 4 ngày, [[Hạ viện Pháp|quốc hội Pháp]] thông qua 1 khoản ngân sách 5.500.000 franc, cho phép gởi thêm quân lực tới xứ Bắc Kỳ.
Ngày 19/7/1883, vua [[Tự Đức]] băng hà. Bộ chỉ huy Pháp lợi dụng những biến loạn xảy ra sau sự kiện này, nên cử tướng Courbet chỉ huy hạm đội đi đánh [[cửa Thuận An]] nhằm buộc triều đình phải xin hưu chiến và chấp nhận ký kết một hiệp ước có lợi cho người Pháp. Trước sự uy hiếp của Courbet, triều đình cử [[thượng thư]] [[bộ Lại]] [[Nguyễn Trọng Hợp (nhà Nguyễn)|Nguyễn Trọng Hợp]] ra Thuận An để điều đình với Pháp. Tổng ủy [[Francois Jules Harmand]] ra một yêu sách gồm 27 điều khoản và gia hạn cho triều đình Huế phải trả lời trong vòng 24 giờ đồng hồ, nếu không sẽ khai hỏa đánh lên kinh thành. Các điều khoản mà phía Pháp đưa ra, được sử gia [[Trần Trọng Kim]] tóm tắt trong ''[[Việt Nam sử lược]]'' tựu trung có mấy điểm chính:
# Triều đình Huế thừa nhận sự "bảo hộ" của Pháp. Mặt ngoại giao kể cả việc giao thiệp với nước Trung Hoa cũng phải có sự ưng thuận của Pháp.
# [[Nam Kỳ]] là xứ [[thuộc địa]] của Pháp từ năm [[1874]], nay được mở rộng gồm cả tỉnh [[Bình Thuận]] thay vì Bình Thuận thuộc [[Trung Kỳ]].
# Pháp có quyền đóng quân ở [[Đèo Ngang]] và [[cửa Thuận An]].
# [[Trung Kỳ]], tức các tỉnh từ [[Khánh Hòa]] ra đến Đèo Ngang thuộc triều đình Huế. Cắt ba tỉnh [[Thanh Hóa]], [[Nghệ An]], và [[Hà Tĩnh]] nhập vào Bắc Kỳ.
# [[Khâm sứ Trung Kỳ|Khâm sứ]] Pháp ở Huế có quyền ra vào tự do yết kiến vua.
# Ở Bắc Kỳ (gồm cả ba tỉnh [[Thanh Hóa|Thanh]]-[[Nghệ An|Nghệ]]-[[Hà Tĩnh|Tĩnh]]), người Pháp có quyền đặt [[công sứ]] ở các tỉnh để kiểm soát quan Việt nhưng đại để việc nội trị không bị ảnh hưởng.
Bản hòa ước được hai bên ký kết ngày 23 Tháng Bảy [[âm lịch]] triều [[Hiệp Hòa]], tức ngày 25/8/1883, còn gọi là [[Hòa ước Quý Mùi, 1883|hiệp ước Harmand]] (hay hòa ước Quý Mùi).
Dù vậy, phái chủ chiến của [[Tôn Thất Thuyết]] và [[Nguyễn Văn Tường]] chỉ xem đây như kế hoãn binh, để có thời gian củng cố lực lượng phản kháng. Hai ông đã kêu gọi thành lập nghĩa quân chống Pháp, đắp đồn xung quanh kinh thành và cho xây dựng căn cứ [[Thành Tân Sở|Tân Sở]], đồng thời chờ viện quân [[nhà Thanh]] lúc đó đã vượt biên giới vào Bắc Kỳ giao tranh với quân Pháp theo thỉnh cầu của Phạm Thận Duật, và sửa sang đường thượng đạo ra Bắc hầu tìm cách chống cự lâu dài. Súng ống, đạn dược, lương nong và gần 30% kho bạc triều đình được bí mật chuyển lên Tân Sở, đợi ngày phản công. Trong khi hàng vạn nhân công đang xây dựng căn cứ trong miền rừng núi [[Quảng Trị]], vua [[Hiệp Hòa|Hiệp Hoà]] chủ trương hoà giải bị cho là nhu nhược và bị ép phải tự tử. Ngày 2/12 năm đó, [[Tôn Thất Thuyết]] và [[Nguyễn Văn Tường]] lập [[Kiến Phúc|hoàng tử Ưng Đăng]] lên ngôi, niên hiệu ''Kiến Phúc''.
==== Hiệp ước Giáp Thân (1884) ====
Vua Kiến Phúc ở ngôi được 8 tháng thì băng hà. Hoàng tử Ưng Lịch kế vị ngai vàng, lấy hiệu là [[Hàm Nghi]]. Lúc này, quân Pháp ở [[Bắc Kỳ]] đã đẩy lui quân chủ lực nhà Thanh về Trung Quốc. Tuy nhiên, quân Thanh vẫn hiện diện tại một số tỉnh thượng du phía Bắc và đe doạ lực lượng phòng vệ Pháp ở Bắc Kỳ. Chính phủ Pháp đã cử [[François-Ernest Fournier]] sang [[Thiên Tân]] ký với [[Lý Hồng Chương]] một bản thỏa thuận sơ bộ, được gọi là [[hòa ước Thiên Tân 1884]]; trong đó, có điều khoản nhà Thanh công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Dựa vào bản thỏa thuận sơ bộ năm 1884 ở Thiên Tân. Chính phủ Pháp đã cử [[Jules Patenôtre]] - đại diện [[Đệ Tam Cộng hòa Pháp|Đệ Tam Cộng Hòa Pháp]] đến Huế sửa lại [[Hòa ước Quý Mùi, 1883|hòa ước Quý Mùi 1883]] trước đó giữa Pháp và nhà Nguyễn bằng một bản hòa ước khác có nhiều điều khoản có lợi hơn cho Pháp, bao gồm việc áp đặt quyền bảo hộ hoặc cai trị hoàn toàn đối với lãnh thổ Đại Nam.
Đại diện Cộng hòa Pháp là Jules Patenôtre, đặc phái viên và đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa Pháp tại Bắc Kinh. Và đại diện Hoàng đế An Nam gồm quan nhiếp chính [[Nguyễn Văn Tường]] (đệ nhất phụ chính đại thần, Lại bộ thượng thư), [[Phạm Thận Duật]] (Hộ bộ thượng thư) và [[Tôn Thất Phán]] (phụ trách ngoại giao, quyền Công bộ Thượng thư).
Những vị này sau khi đã trao đổi ủy nhiệm thư, đúng phép tắc lễ nghi, đã thỏa thuận với nhau về những điều khoản sau đây<ref>Bước đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa của Pháp ở Việt Nam (1858 - 1897) - Nguyễn Xuân Thọ - Nhà xuất bản Hồng Đức - ISBN 9786048659202</ref>:
'''Điều 1:''' Nước [[An Nam]] thừa nhận và chấp thuận nền bảo hộ của nước Pháp. Nước Pháp sẽ đại diện cho nước An Nam trên mọi quan hệ ngoại giao. Những người dân An Nam nằm ''ở'' nước ngoài đều đặt dưới quyền bảo hộ của nước Pháp.
'''Điều 2:''' Một lực lượng quân sự Pháp sẽ chiếm đóng [[cửa Thuận An]] lâu dài. Mọi đồn lũy và công trình quân sự dọc theo bờ sông Huế ([[sông Hương]]) sẽ bị san bằng.
'''Điều 3:''' Các quan chức An Nam tiếp tục nắm quyền cai trị các tỉnh nằm giữa ranh giới của xứ Nam Kỳ cho đến ranh giới tỉnh Ninh Bình, ngoại trừ các vấn đề hải quan, công chánh, và nói chung, bất kỳ dịch vụ đòi hỏi phải có sự chỉ đạo thống nhất hoặc phải sử dụng các kỹ sư, nhân viên người Âu châu.
'''Điều 4:''' Trong những giới hạn đã chỉ rõ trên đây, chính phủ An Nam sẽ cho phép mở cửa cho việc buôn bán với mọi quốc gia tại các cảng [[Đà Nẵng|Tourane]], [[Quy Nhơn]], Đà Nẵng và Xuân Đài. Những cảng khác có thể được mở cửa thêm trong tương lai, sau khi đã có một sự thỏa thuận trước giữa hai bên. Chính phủ Pháp sẽ đặt tại đó những nhân viên dưới quyền của viên công sứ Pháp tại Huế.
'''Điều 5:''' Một công sứ toàn quyền (khác với viên công sứ Huế, đại diện cho chính phủ Pháp, sẽ chủ trì những quan hệ ngoại giao của nước An Nam và phụ trách điều hành công việc thường ngày của bộ máy bảo hộ mà không nhúng tay vào công việc hành chính địa phương của các tỉnh nằm trong những giới hạn quy định trong điều 3. Viên công sứ toàn quyền sẽ ''ở'' trong nội thành Huế với một đội quân tùy tùng. Viên công sứ toàn quyền sẽ có quyền lợi kiến cá nhân và không chính thức với Đức vua An Nam (sau này gọi là Khâm sứ Trung kỳ).
'''Điều 6:''' Tại Bắc Kỳ, những công sứ hoặc phó sứ sẽ được chính phủ Cộng hòa đặt tại những tỉnh lỵ nào mà xét thấy sự có mặt của họ sẽ bổ ích. Họ sẽ được đặt dưới quyền của viên công sứ toàn quyền. Họ sẽ đóng trong một thành và trong mọi trường hợp, ngay trong phạm vi dành cho các quan; nếu cần, họ sẽ được cấp một đội quân tùy tùng Pháp hoặc An Nam.
'''Điều 7:''' Các công sứ sẽ tránh không can thiệp các công việc hành chính nội bộ các tỉnh. Các quan chức An Nam mọi ngạch sẽ tiếp tục cai trị và điều hành công việc dưới sự kiểm soát của các viên công sứ; nhưng khi có yêu cầu của các nhà chức trách Pháp thì họ sẽ bị cách chức.
'''Điều 8:''' Các công chức và nhân viên người Pháp ''ở'' mọi ngạch chỉ được liên hệ với các quan chức An Nam qua trung gian các công sứ.
'''Điều 9:''' Một đường dây điện tín sẽ được bắc từ Sài Gòn ra Hà Nội và khai thác bởi những nhân viên người Pháp. Một phần các lệ phí thu được sẽ chuyển cho chính phủ An Nam; đáp lại, chính phủ An Nam sẽ cấp cho những đất đai cần thiết để xây dựng các trạm điện tín.
'''Điều 10:''' Tại Trung Kỳ (An Nam) cũng như Bắc Kỳ, tất cả những người nước ngoài thuộc bất cứ quốc tịch nào cũng đều đặt dưới quyền tài phán của người Pháp. Các nhà chức trách Pháp sẽ quyết định, căn cứ trên những tranh chấp, bất cứ là loại nào, sẽ xảy ra giữa người An Nam và người nước ngoài cũng như giữa nước ngoài với nhau.
'''Điều 11:''' Tại Trung Kỳ, các quan bố chánh sẽ thu thuế cũ dưới sự kiểm soát của các quan chức Pháp, cho triều đình Huế. Tại Bắc Kỳ, các công sứ với sự cộng tác của các quan bố chánh, sẽ tập trung cũng một công việc thuế ấy, và họ sẽ kiểm soát cả hai mặt thu và chi. Một tiểu ban gồm công chức Pháp và Nam sẽ ấn định những số tiền dành cho các ngành hành chính sự nghiệp khác nhau và cho các công trình công cộng. Phần còn lại sẽ nộp vào ngân khố của triều đình Huế.
'''Điều 12:''' Trên toàn cõi đất nước, công tác thuế quan được tổ chức lại sẽ hoàn toàn giao phó cho các nhà cai trị Pháp. Chỉ có thuế quan cửa biển và cửa khẩu biên giới đặt bất cứ nơi nào cảm thấy cần. Sẽ không chấp nhận bất cứ một khiếu nại nào liên quan đến những biện pháp mà các nhà chức trách quân sự đã thi hành về mặt thuế quan. Các luật lệ và quy chế liên đến những thuế gián tiếp, đến chế độ bảng giá thuế quan và chế độ y tế của Nam Kỳ sẽ được áp dụng cho cả lãnh thổ Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
'''Điều 13:''' Các công dân hay dân bảo hộ của nước Pháp đều có thể đi lại tự do, buôn bán, tạo sự mua bán và sử dụng tùy ý những động sản và bất động sản... trên toàn cõi Bắc Kỳ và trong các cảng mở cửa của Trung Kỳ. Đức vua An Nam xác nhận bằng văn bản những cam kết đã được quy định bởi Hiệp ước 15/3/1874 vì quyền lợi của các giáo sĩ và giáo dân.
'''Điều 14:''' Những người muốn đi du lịch đó đây trong nội địa nước An Nam chỉ có thể được cấp giấy phép qua sự trung gian của khâm sứ tại Huế hoặc của chính phủ Nam Kỳ. Các nhà đương cục đó sẽ cấp giấy phép thông hành cho họ, giấy thông hành phải được trình với chính phủ Việt Nam để được đóng dấu thị thực.
'''Điều 15:''' Nước Pháp cam kết từ đây sẽ bảo đảm sự nguyên vẹn lãnh thổ của Đức vua An Nam, bảo vệ Đức vua chống lại những cuộc tấn công từ bên ngoài và những vụ nổi loạn bên trong. Hướng vào mục đích đó, các nhà chức trách Pháp có thể chiếm đóng quân sự trên lãnh thổ Trung Kỳ và Bắc Kỳ những đại điểm xét thấy cần thiết cho sự thực thi chế độ bảo hộ.
'''Điều 16:''' Đức vua An Nam sẽ tiếp tục lãnh đạo công cuộc nội trị của đất nước như cũ, trừ những hạn chế quy định trong bản hiệp ước này.
'''Điều 17:''' Những món nợ hiện nay An Nam còn nợ Pháp sẽ được giải quyết bằng những đợt thanh toán theo hình thức cụ thể sẽ được quy định sau. Đức vua An Nam sẽ không được ký kết một sự vay mượn nào của nước ngoài nếu không có phép của chính phủ Pháp.
'''Điều 18:''' Những cuộc hội nghị sau này sẽ ấn định giới hạn của các cảng mở cửa và những khu đất nhượng cho nước Pháp trong những cảng này; việc xây dựng các hải đăng trên bờ biển Trung Kỳ và Bắc Kỳ; chế độ và việc khai thác mỏ; chế độ tiền tệ; phần tỷ lệ dành cho chính phủ An Nam trên tổng số thu nhập về quan thuế, về các ty; về các phí điện tín và về những khoản thu nhập khác không nói đến trong điều II của hiệp ước này.
Hiệp ước này sẽ đệ trình lên chủ tịch nước Cộng hòa Pháp và Qụốc vương An Nam phê chuẩn. Việc trao đổi phê chuẩn sẽ được tiến hành càng sớm càng hay.
'''Điều 19''': Hiệp ước này sẽ thay thế cho các Hiệp ước ngày 15/3, 31/8 và 23/11/1864.
Một năm sau (1885), chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh đã đi đến ký kết bản hiệp ước chính thức, được gọi là chính thức [[Hòa ước Thiên Tân (1885)|hòa ước Thiên Tân 1885]]. Trung Hoa chính thức từ bỏ mọi quyền lực thiên triều đối với chư hầu An Nam và trao cho nước Pháp toàn quyền cai trị, biến An Nam thành thuộc địa của họ tại Đông Nam Á.
==== Khởi nghĩa Cần Vương (1885-1889) ====
Từ cuối năm 1884, phe chủ chiến ở Huế do Tôn Thất Thuyết đứng đầu đã nhân danh vua Hàm Nghi phản đối việc 300 quân Pháp kéo vào Huế lập căn cứ Mang Cá ngay trong Hoàng thành. Đáp lại, người Pháp tăng thêm số quân đóng ở Mang Cá lên hàng ngàn người.
Tôn Thất Thuyết huy động số quân ở các địa phương tập trung về Huế, bí mật tổ chức một cuộc phản công. Ngày 27/6/1885, [[de Courcy]] (tổng chỉ huy vừa được cử sang) chủ động đem 4 đại đội và 2 tàu chiến từ [[Hải Phòng]] vào Huế nhằm loại trừ phe chủ chiến và dự định bắt sống Tôn Thất Thuyết.
Ngày 2/7 cùng năm, de Courcy đến cửa [[Cửa Thuận An|Thuận An]] rồi đến Huế yêu cầu Hội đồng phụ chính đến hội thương. Tôn Thất Thuyết cáo bệnh không đến, gấp rút chấn chỉnh quân sĩ, đào hào đắp lũy trong thành và bố trí hai đạo quân đặc biệt phòng thủ hoàng thành, nhằm giành thế chủ động trước khi de Courcy vào hoàng thành.[[Tập tin:Map of French Indochina expansion.svg|nhỏ|200px|phải|Tiến trình xâm lược của thực dân Pháp ở Đông Dương]][[Tập tin:Colonies of the second French colonial empire.jpg|nhỏ|200px|phải|Đông Dương năm 1891 (từ ''[[Le Monde illustré]]'')<br />
1. Toàn cảnh ''Lac-Kaï''<br />
2. Vân Nam, tại cầu cảng [[Hà Nội]]<br />
3. Đường ngập Hà Nội<br />
4. Bến tàu Hà Nội]]
Đêm ngày 4/7, giữa lúc de Courcy đang dự tiệc ở sứ quán bên kia [[sông Hương]], Tôn Thất Thuyết bí mật chia quân làm hai cánh. Cánh thứ nhất (do [[Tôn Thất Lệ]] chỉ huy) có nhiệm vụ tấn công sứ quán Pháp. Cánh thứ hai (do Tôn Thất Thuyết đích thân chỉ huy) sẽ tập kích, tiêu diệt toàn bộ lính Pháp ở đồn Mang Cá. Đúng 1 giờ sáng hôm sau (5/7), quân của Tôn Thất Thuyết nổ súng hiệu đột nhập đồn Mang Cá, khiến lính Pháp rối loạn. Vài sĩ quan của họ bị thương vong. Đồng thời, sứ quán Pháp bên kia bờ sông Hương cũng bị tấn công, các trại lính Pháp bốc cháy dữ dội. De Courcy chỉ huy quân Pháp cố gắng cầm cự đến lúc trời gần sáng.
Lợi dụng quân Nguyễn chuyển hướng tấn công sang sứ quán, quân Pháp kéo 3 đội quân vào chiếm thành Huế, đốt phá dinh thự, tàn sát dân chúng và vượt qua các ổ phục kích để tiến vào Hoàng Thành.
Trên đường tiến quân, nhiều binh lính Pháp cướp bóc của cải và sát hại người dân vô tội. Trong ngày hôm đó, hầu như nhà nào cũng có người bị giết. Về sau, hàng năm người dân Huế lấy ngày 23 tháng 5 Âm lịch làm ngày giỗ chung cho những dân bị thảm sát trong ngày này.
Tiến vào Hoàng Thành, quân Pháp chiếm được một số lớn của cải mà triều đình chưa kịp chuyển đi, gồm 2,6 tấn vàng và 30 tấn bạc, trong số này chỉ có một phần rất nhỏ sau này được hoàn lại cho triều đình Huế. Còn lại, số 700.000 lạng bạc phải được 5 lính Pháp đóng hòm trong 5 ngày mới xong và chở về Pháp.
Lúc đó, Tôn Thất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi cùng đoàn tùy tùng dời kinh đô Huế chạy ra sơn phòng Tân Sở. Tại đây, ngày 13/7/1885, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi, đã hạ [[chiếu Cần Vương]] lần thứ nhất, kêu gọi sĩ phu, văn thân và nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến giúp vua bảo vệ quê hương đất nước. Để tránh sự truy lùng gắt gao của quân Pháp, Tôn Thất Thuyết lại đưa Hàm Nghi vượt qua đất Lào đến sơn phòng Ấu Sơn (nay là [[Hương Khê]], [[Hà Tĩnh]]). Tại đây, vua Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần Vương lần hai ngày 20/9 năm đó.
Đây là thời kỳ của những phong trào kháng chiến tự phát, nhỏ lẻ, hoàn toàn không có sự tham gia của quân đội triều đình. Lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa Cần Vương không phải là các võ quan triều Nguyễn như trong thời kì đầu chống Pháp, mà là các trí thức, sĩ phu văn thân yêu nước đã tự nguyện hưởng ứng lời kêu gọi của vua, đứng lên kháng chiến nhằm đánh bại quân Pháp đang cai trị đất nước họ. Các cuộc khởi nghĩa đó là:
* Khởi nghĩa của [[Nguyễn Văn Giáp]] ở [[Sơn Tây (tỉnh cũ)|Sơn Tây]] và Tây Bắc (1883-1887)
* [[Nghĩa hội Quảng Nam]] của [[Nguyễn Duy Hiệu]].
* [[Khởi nghĩa Hương Khê]] (1885–1896) của [[Phan Đình Phùng]], [[Cao Thắng]] ở [[Hương Khê]], [[Hà Tĩnh]].
* Khởi nghĩa của [[Nguyễn Xuân Ôn]] ở [[Nghệ An]].
* [[Khởi nghĩa Ba Đình]] (1886–1887) của [[Đinh Công Tráng]], [[Phạm Bành]] ở [[Nga Sơn (huyện)|Nga Sơn]], [[Thanh Hóa]].
* Khởi nghĩa của [[Mai Xuân Thưởng]] ở [[Bình Định]].
* Khởi nghĩa của [[Lê Thành Phương]] ở [[Phú Yên]] (1885–1887).
* [[Khởi nghĩa Hùng Lĩnh]] (1886–1892) của [[Tống Duy Tân]] ở [[Bá Thước (huyện)|Bá Thước]] và [[Quảng Xương]], [[Thanh Hóa]].
* [[Khởi nghĩa Bãi Sậy]] (1883–1892) của [[Nguyễn Thiện Thuật]] ở [[Hưng Yên]].
* Phong trào kháng chiến ở [[Thái Bình]] – [[Nam Định]] của [[Tạ Hiện]] và [[Phạm Huy Quang]].
* [[Khởi nghĩa Hưng Hóa]] của [[Nguyễn Quang Bích]] ở [[Phú Thọ]] và [[Yên Bái]].
* [[Khởi nghĩa Thanh Sơn]] (1885–1892) của [[Đốc Ngữ]] (Nguyễn Đức Ngữ) ở [[Hòa Bình]].
* Khởi nghĩa của [[Trịnh Phong]] ở [[Khánh Hòa]] (1885–1886).
* Khởi nghĩa của [[Lê Trực]] và [[Nguyễn Phạm Tuân]] ở [[Quảng Bình]].
* Khởi nghĩa của [[Hoàng Đình Kinh]] ở vùng [[Lạng Sơn]], [[Bắc Giang]].
* Khởi nghĩa của [[Lê Trung Đình]], [[Nguyễn Tự Tân]] ở [[Quảng Ngãi]].
* Khởi nghĩa của [[Trương Đình Hội]], [[Nguyễn Tự Như]] ở [[Quảng Trị]].
* khởi Nghĩa của [[Cù Hoàng Địch]] ở Nghệ Tĩnh
Tuy nhiên, tất cả các cuộc kháng chiến này đều thất bại. Đêm ngày 30 tháng 10 năm 1888, vua Hàm Nghi bị người Pháp bắt trong lúc đang ngủ say. Sau đó, thực dân Pháp ra sức thuyết phục nhà vua trẻ cộng tác nhưng vua Hàm Nghi đã từ chối quyết liệt. Sao đó, thực dân Pháp quyết định đưa vua Hàm Nghi đi đày tại [[Algérie|Algeria]], một thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi (châu Phi), các cuộc khởi nghĩa chống Pháp vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, phong trào Cần Vương suy yếu dần; từng cuộc khởi nghĩa lần lượt bị tiêu diệt.
Đông Dương thuộc Pháp được thành lập vào ngày 17/10/1887 từ [[Bắc Kỳ]], [[Trung Kỳ]], [[Nam Kỳ]] (thuộc Việt Nam ngày nay) và [[Vương quốc Campuchia]].<ref>{{Chú thích web|url=https://mjp.univ-perp.fr/constit/vn1887.htm|tựa đề=Indo-Chine française, 1887|ngày truy cập=2024-04-14}}</ref> Thực dân Pháp chính thức giữ lại vị thế của giới cai trị địa phương là [[Vua Việt Nam|hoàng đế Việt Nam]] và [[Danh sách nguyên thủ quốc gia Campuchia|quốc vương Campuchia]], nhưng thực tế đã tập hợp mọi quyền lực trong tay họ; các nhà cai trị địa phương chỉ giải quyết các vấn đề không mấy quan trọng giữa các thứ dân người Việt, nên được xem như chính phủ bù nhìn do Pháp lập nên.
== Chính trị ==
=== Thể chế chính trị ===
[[Tập tin:Indochine 1905.jpg|nhỏ|200px|phải|Liên bang Đông Dương thuộc Pháp vào năm 1905. Bản đồ này bao gồm cả lãnh thổ của Xiêm (màu tím) thuộc "vùng ảnh hưởng" của Pháp.]]
Chính trị Đông Dương thuộc thể chế thuộc địa và bảo hộ nên không có quyền tự quyết.
Riêng ở [[Nam Kỳ]] thì có bầu cử định kỳ và vận động cử tri. Tuy nhiên số cử tri rất khiêm nhường. Vào khoảng thập niên 1910 thì chỉ có 1.000 cử tri người Việt,<ref>Ho Tai, Hue-Tam. tr 42</ref> tức những người được vào Pháp tịch. Số người Pháp thì có khoảng 3.000 người ghi danh đi bầu. Sau cuộc cải tổ năm 1922, đặc quyền bầu cử được nới rộng và số cử tri người Việt tăng lên khoảng 20.000, đa số thuộc giới thượng lưu Tây học.<ref>Ho Tai, Hue-Tam. tr 288</ref> Đây là thành phần cử tri bỏ phiếu trong những cuộc tuyển cử [[Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ|Hội đồng Quản hạt]] so với 2-3 triệu dân của toàn xứ Nam Kỳ.
Về mặt thông tin, báo chí thì chính phủ Bảo hộ áp dụng chính sách kiểm duyệt sách báo. Lệ này đến năm 1935 mới nới lỏng hơn khi [[Đảng Xã hội (Pháp)|Đảng Xã hội Pháp]] của thủ tướng [[Léon Blum]] lên chấp chính.<ref>Hà Thúc Ký. tr 36</ref>
=== Bộ máy hành chính ===
Liên bang Đông Dương được đặt dưới quyền của hai cơ quan ở chính quốc Pháp. [[Nam Kỳ]], [[Campuchia|Cao Miên]] và [[Lào]] phụ thuộc Bộ Thuộc địa Pháp dưới sự cai trị quân sự trong khi [[Trung Kỳ|Trung]] và [[Bắc Kỳ]] phụ thuộc Bộ Ngoại giao Pháp do của nhà chức trách dân sự.<ref name="Dommen, Arthur. Trang 22">Dommen, Arthur. Trang 22.</ref> Dưới thời Toàn quyền Doumer việc cai trị mới được gộp lại trực thuộc Bộ Thuộc địa.
==== Cấp liên bang ====
{{chính|Toàn quyền Đông Dương}}Đứng đầu liên bang Đông Dương là viên Toàn quyền và Tổng thư ký, tức Phó Toàn quyền. Sau năm 1945 chức vụ [[Toàn quyền Đông Dương]] đổi thành Cao ủy Pháp tại Đông Dương (''Hauts commissaires de France en Indochine'') và đến năm 1953 thì gọi là Tổng ủy (''Commissaires généraux'').
[[Tập tin:Francouzská Indočína.jpg|phải|nhỏ|200px|Địa hình và phân vùng hành chính trong Liên bang Đông Dương thời kỳ ổn định.]]Chức toàn quyền được giao quyền lực rất lớn vì là người đứng đầu về hành chính lẫn quân sự. Hỗ trợ cho chức vụ này là Hội đồng Tối cao (''Conseil supérieur''). Cơ quan này gồm có:
:*Toàn quyền (đứng làm chủ tịch),
:*Tổng tư lệnh quân đội,
:*Thiếu tướng hải quân chỉ huy hạm đội Viễn Đông,
:*Thống đốc Nam Kỳ
:*Thống sứ Bắc Kỳ
:*Thống sứ Ai Lao
:*Thống sứ Cao Miên
:*Khâm sứ Trung Kỳ
:*Chủ tịch Đại hội đồng Kinh tế Tài chính,
:*Bốn người bản xứ đặc bổ.
Hội đồng Tối cao họp hai năm một lần, một tại Hà Nội và một tại Sài Gòn, để ban hành các đạo luật và tính toán ngân sách chung và riêng của từng xứ.
Mười một bộ ở cấp liên bang gọi là tổng nha môn (''services généraux'') được giao việc điều hành các công vụ của nhà nước.
{| class="wikitable" border="0" cellpadding="2" cellspacing="2" width="300px"
! valign=top style="width:100px" align="center"| Thứ tự
! valign=top style="width:400px" | Tổng nha môn (năm thành lập)
! valign=top style="width:400px" | Chủ sự
|- bgcolor="#FFFFFF"
| 1 || Tài chính (1897) || Giám đốc
|- bgcolor="#FFFFFF"
| 2 || Học chính || Giám đốc
|- bgcolor="#FFFFFF"
| 3 || Tư pháp || Giám đốc
|- bgcolor="#FFFFFF"
| 4 || Công chính (1898) || Tổng Thanh tra
|- bgcolor="#FFFFFF"
| 5 || Công khoáng || Tổng Thanh tra
|- bgcolor="#FFFFFF"
| 6 || Y tế || Tổng Thanh tra
|- bgcolor="#FFFFFF"
| 7 || Nông lâm (1899) || Tổng Thanh tra
|- bgcolor="#FFFFFF"
| 8 || Bưu chính (1901) || Giám đốc
|- bgcolor="#FFFFFF"
| 9 || Công an (1922) || Giám đốc
|- bgcolor="#FFFFFF"
| 10 || Quân sự || Tổng Tư lệnh
|- bgcolor="#FFFFFF"
| 11 || Hải quân || Tư lệnh
|}
Hệ thống lập pháp cấp liên bang còn có hai nghị hội: Hội đồng Chính phủ (''Conseil de Gouvernement de l'Indochine'') và [[Đại hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương]] (''Grand Conseil des Intérêts économiques et Financiers de I’Indochine''), thành lập năm 1928. Hội đồng Kinh tế có 51 thành viên: 28 người Pháp và 23 đại biểu của ba xứ Việt, Miên, Lào.<ref>Vu Tam Ich. tr 60</ref> Trong số 23 người bản xứ thì [[người Việt]] chiếm tối đa 18 ghế.<ref name="Duncanson"/> Hai hội đồng này chủ yếu là cơ quan tư vấn và thảo nghị chứ không phải viện lập pháp.<ref>Đào Duy Anh. Trang 161.</ref>
[[Tập tin:French Indochina c. 1930.jpg|nhỏ|200px|Bản đồ Liên bang Đông Dương 1930]]
Về mặt tư pháp, có hai tòa án thượng thẩm cấp liên bang đặt tại [[Hà Nội]] và [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]] để nhận các bản kháng án từ những tòa án địa phương. Hệ thống tư pháp này duy trì trật tự công lý. Trong các vụ kháng án, các quan tòa người Âu được sự hỗ trợ từ quan lại người bản xứ. Về nguyên tắc, Liên bang này hoàn toàn theo luật pháp <nowiki>''mẫu quốc''</nowiki>.
Ngoài quyền đại diện liên lạc với chính quốc, ứng xử ngoại giao và điều hành quân đội, chính quyền Liên bang còn có toàn quyền tài chính. Triều đình Huế "lãnh lương" từ chính phủ Bảo hộ.<ref>Vu Tam Ich. tr 61</ref>
Tổng cộng trên toàn cõi Đông Dương vào năm [[1936]] chính quyền có khoảng 3.300 công chức người Pháp trong guồng máy cai trị, trong số đó 400 thuộc cấp liên bang tập trung ở Hà Nội; số còn lại phụ thuộc cấp địa phương. Đa số xuất thân từ Trường Thuộc địa (École Coloniale ở [[Paris]]).<ref name="Frustrated">Vũ Ngự Chiêu. ''Political and Social Change in Viet-Nam between 1940 and 1946''. Madison, WI: The University of Wisconsin, 1984. tr 67-116</ref>
==== Cấp địa phương thuộc địa ====
Trong sáu xứ thuộc Liên bang Đông Dương, riêng Nam Kỳ trực thuộc chế độ [[thuộc địa]] do Pháp cai trị trực tiếp. Đứng đầu Nam Kỳ là [[Thống đốc Nam Kỳ|thống đốc]] (''gouverneur''). "Hội đồng Tư mật" và [[Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ|Hội đồng Thuộc địa]] là hai nghị hội tại đây.
Ở cấp nhỏ hơn thì có Chánh Tham biện (''administrateur'') đứng đầu mỗi địa hạt (''arrondissement''), sau đổi thành Chủ tỉnh (Tỉnh trưởng) (''chef de la province'') và tỉnh (''province''). Dưới tỉnh là quận (''circonscription'') và cơ sở phái viên hành chính (''délégation administrative''), đứng đầu là viên Chủ quận (''Chef de la circonscription'') và vị Phái viên hành chính (''Délégué administratif'') tương ứng; rồi đến cấp tổng (''canton'') với cai tổng quản lý.
Dân Nam Kỳ hưởng quy chế "thuộc dân Pháp" (''sujets français'') và được hưởng quyền lợi nhiều hơn các xứ khác. Muốn vào Pháp tịch để bình đẳng như dân mẫu quốc thì phải nộp đơn để thành ''citoyens français''.<ref>Hoàng Cơ Thụy. Trang 1339.</ref> Nam Kỳ cũng là xứ có bầu cử định kỳ và vận động cử tri. Người có Pháp tịch hoặc hội đủ một số điều kiện tài chánh mới có quyền đi bầu.
Ở cấp tỉnh thì hội đồng tỉnh ở Nam Kỳ bắt đầu hoạt động từ năm [[1882]]. Thôn xã được tổ chức với khái niệm dân chủ đầu phiếu từ năm [[1927]].<ref name="Duncanson"/>
Về mặt luật pháp thì Nam Kỳ chiếu theo bộ hình luật của Pháp ban hành năm 1912.<ref name="Đào Duy Anh. tr 155">Đào Duy Anh. tr 155</ref>
==== Cấp địa phương bảo hộ ====
[[Tập tin:Alexandre Varenne.jpg|phải|nhỏ|200px|Toàn quyền [[Alexandre Varenne]], tại chức 1925 - 1928.]]
Bốn xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào và Miên thuộc chế độ [[bảo hộ]], tức chế độ hành chính bản xứ do người Pháp cai trị gián tiếp qua ngạch quan lại địa phương. Vì lẽ đó mà có hai hệ thống song hành, một của Pháp và một của người bản xứ, trên pháp lý là bình quyền chính trị, nhưng khi thi hành thì chế độ bản xứ tùy thuộc vào quyền phán quyết của người Pháp. [[Bộ Ngoại giao Pháp]] đảm nhiệm việc hành chính nhưng sang đầu thế kỷ 20 thì giao lại cho Bộ Thuộc địa Pháp, phản ảnh quan điểm và chính sách của Pháp đối với các xứ bảo hộ. Dân cư của các xứ Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Lào và Miên trên mặt pháp lý thuộc hạng ''protéges français'', thấp nhất trong ba hạng ''citoyens'' (công dân), ''sujets'' (thuộc dân), và ''protéges'' (dân bảo hộ) ở Đông Dương.
Tại Bắc Kỳ, đứng đầu nền bảo hộ Bắc Kỳ là [[Thống sứ Bắc Kỳ|Thống sứ]] người Pháp (''Résidents supérieurs'') (1889-1955) cùng ba nghị hội "Hội đồng Bảo hộ", "Hội đồng Pháp nhân" (đại diện người Pháp), và "[[Viện Dân biểu Bắc Kỳ]]" (đại diện người Việt). Viên thống sứ tuy là người Pháp nhưng kể từ ngày 26 Tháng Bảy năm 1897<ref>Dommen, Arthur. Trang 23.</ref> kiêm cả chức đại diện cho Nam triều, tức là [[kinh lược sứ]] của vua [[nhà Nguyễn]]. Các quan lại bản xứ trên danh nghĩa là quan của triều đình Huế nhưng đều trực thuộc quyền viên thống sứ.<ref>Hà Thúc Ký. tr 33</ref> Chủ quyền của triều đình Huế ở Bắc Kỳ từ đó càng bị thu hẹp. Trước năm 1889, khâm sứ Trung Kỳ đại diện cho cả hai xứ Bắc và Trung Kỳ.<ref>Hoàng Cơ Thụy. Trang 1353.</ref>
Kể từ năm 1900, Thống sứ Bắc Kỳ kiêm luôn chức quản trị [[Quảng Châu Loan]] tuy đây là một nhượng địa riêng với hạn kỳ 99 năm.
Cấp tỉnh thì hội đồng tỉnh bắt đầu hiện diện từ năm [[1886]] nhưng hoạt động yếu ớt. Ở cấp [[làng]] [[xã]] thì cũng như tiền triều [[nhà Nguyễn]], người dân được tự trị. Mãi đến năm [[1941]] ở Bắc Kỳ mới thực hiện cải cách, cho dân chúng đầu phiếu bầu hội đồng xã.<ref name="Duncanson"/>
Ở Trung Kỳ, đứng đầu nền bảo hộ Trung Kỳ là [[khâm sứ Trung Kỳ|Khâm sứ]] người Pháp. Chức vụ này từ năm 1884 đến 1889 có tên là ''Résidents généraux d'Annam''. Sau năm 1889 thì đổi thành ''Résidents supérieurs'' (1889-1953). Hành dinh của Khâm sứ Pháp đặt ở Huế. Sang thập niên 1950 thì chuyển vào [[Đà Lạt]].<ref name="Duncanson">Duncanson, Dennis. ''Government and Revolution in Vietnam''. New York: Oxford University Press, 1968. tr 72-139</ref>
Khâm sứ Trung Kỳ tham gia hội đồng phụ chính từ năm [[1887]], đến Tháng Sáu năm [[1895]] thì có đặc quyền chủ tọa [[Cơ mật Viện|Hội đồng Cơ mật]] và cả [[Tôn nhân phủ]].<ref>Brocheux. tr 84</ref> Tất cả các công văn sắc dụ ban hành đều phải có chữ ký phê thuận của viên khâm sứ.<ref name="Brocheur">''Pierre Brocheux và Daniel Hémery. ''Indochina, An Ambiguous Colonization, 1858-1954''. Berkeley, CA: University of California Press, 2009. tr 74</ref> Ngoài ra Triều đình Huế kể từ Tháng Chín 1897 phải chịu cho một viên hội lý người Pháp làm quản sự cho mỗi vị thượng thư trong [[Lục bộ]] cũ.<ref>Hoàng Cơ Thụy. Trang 1511.</ref>
Hiệp sức với viên Khâm sứ là "Hội đồng Bảo hộ" và "Hội đồng Pháp nhân" (đại diện người Pháp). Trung Kỳ cũng có "[[Viện Dân biểu Trung Kỳ]]" thành lập năm 1926 nhưng cơ quan này kể từ năm 1932 không thuộc chính phủ bảo hộ nữa mà thuộc triều đình Huế kiểm soát. Trước năm 1932 Viện Dân biểu trực thuộc viên Khâm sứ Pháp.
Thống sứ Bắc Kỳ hay Khâm sứ Trung Kỳ là hai cách gọi khác nhau của người Việt nhưng chức vị và quyền hành trong chính phủ Bảo hộ thì giống nhau. Tiếng Pháp gọi chức vụ này là ''résident supérieur'', đúng ra dịch sát nghĩa là "lưu trú quan đại thần".
Ở cấp tỉnh thì có hội đồng tỉnh, thành lập từ năm [[1913]], muộn hơn Bắc Kỳ 27 năm, và mãi đến năm [[1942]] mới bắt đầu tổ chức lại thôn xã và cho phép người dân đầu phiếu hội đồng xã.<ref name="Duncanson"/>
Vùng duyên hải thì hệ thống quan lại và hành chính của người Việt thì giữ nguyên nhưng ở trên [[Cao nguyên Trung phần|Cao nguyên]] thì người Pháp lập một khu riêng, không do người Việt quản trị, gọi là ''Pays Montagnards du Sud'' bắt đầu vào [[thập niên 1920]]. Người Việt không có giấy phép không được lên vùng này.<ref name="Duncanson"/>
Ở Lào và Miên cũng có khâm sứ như Trung Kỳ. Khâm sứ Pháp ở Cao Miên kể từ năm [[1897]] có quyền hành rộng lớn như khâm sứ ở Huế.<ref>Brocheux. Tr 84</ref>
Ở [[Campuchia|Cao Miên]] thì ''khet'' (tương đương với "tỉnh") thì có ''chau-faikhet''. ở [[Lào]] không có cấp tỉnh mà chỉ có cấp tương đương với phủ huyện ([[tiếng Pháp]]: ''préfecture'') gọi là ''mouang'' hay ''muang'', có ''chao-muang'' đứng đầu. Công sứ Pháp ở Cao Miên so với Việt Nam thì việc cai trị có tính trực tiếp hơn tuy vẫn là trên danh nghĩa "bảo hộ". Công sứ ở Miên có thực quyền trị an, thu thuế, mở mang kinh tế mà không cần sự ưng thuận của Miên triều.<ref name="Colonial">Pierre Brocheux và Daniel Hémery. ''Indochina, An Ambiguous Colonization, 1858-1954''. Berkeley, CA: University of California Press, 2009. tr 15-69</ref>
==== Cấp địa phương tô giới ====
[[Tập tin:Haiphong - Boulevard Paul Bert - Vue Générale.jpg|nhỏ|Phố Paul Bert, [[Hải Phòng]].]]
Đạo dụ 1 Tháng Mười năm 1888 triều vua [[Đồng Khánh]] (toàn quyền [[Richaud]]) nhượng thêm ba thành phố Hà Nội, [[Hải Phòng]], và Đà Nẵng (người Pháp gọi là Tourane) làm tô giới (''concession'') của Pháp, tức là cùng thể chế trực trị như Nam Kỳ tuy nằm trong lãnh thổ bảo hộ bản xứ.<ref name="Dommen, Arthur. Trang 22"/>
Đứng đầu hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn là viên Thị trưởng người Pháp (''Maire''). Hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng tại Bắc Kỳ cùng thành phố Tourane (Đà Nẵng) tại Trung Kỳ, đứng đầu là viên Đốc lý người Pháp (''Résident-maire''). Bên cạnh viên Thị trưởng hay Đốc lý là Hội đồng thành phố (''Conseil Municipal'') đối với thành phố loại I hoặc Ủy hội thành phố (''Commission Municipale'') đối với thành phố loại II. Thành viên của Hội đồng hoặc Uỷ hội gồm cả người Pháp lẫn người Việt;<ref>Henri Rusier, Henri Brenier. Tr 351</ref> Hội đồng thành phố Sài Gòn được lập năm 1869, Ủy hội thành phố Chợ Lớn lập năm 1879, Hội đồng thành phố Hà Nội và Hải Phòng lập năm 1891 và Ủy hội thành phố Tourane lập năm 1908.<ref>Goodman, Allan E. Tr 14</ref>
Ngoài ra bốn quân khu vùng biên giới Việt-Hoa và Lào-Hoa, gọi là các [[đạo quan binh]] (''territoire militaire''), cũng thuộc dạng cai trị trực tiếp. [[Cao nguyên Trung phần]] gồm các tỉnh [[Đắk Lắk|Darlac]] (lập năm 1904), [[Kon Tum|Kontum]] (1913), [[Donnai Thượng]], [[Lang Bian]] (1920), và [[Pleiku]] (1932) cũng đặt ngoài quyền quản trị của người Việt.<ref name="Structures">Pierre Brocheux và Daniel Hémery. ''Indochina, An Ambiguous Colonization, 1858-1954''. Berkeley, CA: University of California Press, 2009. Tr 70-115</ref>
== Pháp luật ==
Pháp luật ở Trung Kỳ thì dùng [[Hoàng Việt luật lệ|bộ luật Gia Long]] bổ sung với hình luật và dân luật của Pháp. Ở cấp dưới thì quan tri phủ và tri huyện đứng làm quan tòa sơ thẩm, quan tỉnh xét phúc thẩm và công sứ Pháp có nhiệm vụ kiểm sát. Chung thẩm thì có bộ Hộ và bộ Hình cùng khâm sứ Pháp.<ref name="Đào Duy Anh. tr 155"/>
Ở Bắc Kỳ thì có bộ "Hoàng Việt Tân luật" ban hành năm 1918 dùng bộ luật Gia Long nhưng sửa đổi theo thích ứng của chính quyền Pháp. Cũng giống như Trung Kỳ, quan tri phủ và tri huyện xét sơ thẩm. Đệ nhị cấp thì có công sứ Pháp làm chính thẩm còn quan tổng đốc và tuần phủ làm bồi thẩm. Trên hết là tòa Phúc thẩm Hà Nội.<ref name="Đào Duy Anh. tr 155"/>
Ở Nam Kỳ thì dùng "Pháp quy giản yếu 1883" dựa trên luật pháp bên chính quốc.<ref>Huy Đức. ''Bên thắng cuộc II: Quyền bính''. Sài Gòn: Osinbook, 2012. Tr 245</ref>
Đối với người Pháp thì luật lệ bản xứ không áp dụng cho họ vì họ được xét xử dưới bộ luật Pháp như ở bên Pháp.<ref name="Frustrated"/>
== An ninh-quân sự ==
Lực lượng quân sự của Pháp ở Đông Dương vào năm [[1937]] là 10.779 lính [[Người da trắng|da trắng]]. Đến năm 1940 trước [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] thì con số này tăng lên thành 14.500, trong đó có 3.600 sĩ quan chỉ huy và 4.000 quân [[Lê dương Pháp|Lê dương]] (''Legionnaires étrangères''). Tổng số quân lính kể cả lính bản xứ là 90.000.<ref name="Frustrated"/>
Ngoài ra chính quyền Đông Dương còn dùng [[Sở Liêm phóng Đông Dương]] làm [[cơ quan tình báo]] và [[cảnh sát|công an]], kiểm soát và phá hoại các hoạt động chống lại chính quyền, nhất là các tổ chức chính trị.
== Phân cấp hành chính ==
{{Xem thêm|Hành chính Việt Nam thời Pháp thuộc}}
[[Tập tin:DongDuong1891.jpg|nhỏ|200px|phải|Bản đồ [[Đông Dương thuộc Pháp]] vào năm 1891 trước khi lập nền bảo hộ ở Lào.]]
[[Tập tin:Carte du Tong-king 1879.JPG|nhỏ|phải|Bản đồ địa giới Bắc Kỳ năm 1879 bao gồm cả thị trấn Đông Hưng và mũi Bạch Long, đến năm 1887 bị Pháp cắt cho nhà Thanh]]
Trước cả khi Liên bang Đông Dương được thành lập, vào thập kỷ 1870 Pháp đã tiến hành phân chia [[Biên giới Việt Nam-Campuchia|địa giới giữa Nam Kỳ thuộc Pháp và Cao Miên do Pháp bảo hộ]]. Năm 1870 Pháp cùng Cao Miên điều chỉnh ranh giới tại vùng thượng nguồn giữa hai [[sông Vàm Cỏ Tây]], Vàm Cỏ Đông: Phần lớn đất đai vùng này là vùng lồi Svay Tieep-Svay Rieng (nay thuộc [[tỉnh Svay Rieng]]) trả về Campuchia; bù lại một dải đất nhỏ dọc bờ tây nam rạch Cái Cậy (thượng lưu của [[sông Vàm Cỏ Đông]]) vốn thuộc [[tỉnh Prey Veng]] thì trao cho Nam Kỳ. Dải đất này đến năm 1914 thì lại nhập vào Campuchia bởi nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Năm 1873 hoàn thành việc cắt chỉnh địa giới hai hạt Hà Tiên và Châu Đốc của Nam Kỳ, phần đất phía bắc [[kênh Vĩnh Tế]] và thị xã [[Hà Tiên (tỉnh)|Hà Tiên]] ngày nay, về cho Campuchia.
Dưới sự cai trị của Pháp, địa giới các xứ Đông Dương được phân định lại. [[Công ước Pháp-Thanh 1887]] lấy đông kinh tuyến 105º43’ làm giới hạn bên bờ [[Vịnh Bắc Bộ|Vịnh Bắc Việt]] nên một dải đất Trường Bình, [[Bạch Long Vĩ (bán đảo)|Bạch Long]] ở phía bắc [[sông Bắc Luân]] thuộc tổng Vạn Ninh bị nhượng cho nhà Thanh.<ref>[http://74.6.239.67/search/cache?ei=UTF-8&p=sino+french+treaty+1887&fr=moz2&u=community.middlebury.edu/~scs/docs/Keyuan%2C%2520Zou%2C%2520Tonkin%2520Gulf%2520Maritime%2520Boundary%2520Delimitation.pdf&w=sino+french+treaty+1887&d=M67aS52uSZUv&icp=1&.intl=us]{{Liên kết hỏng|date=ngày 9 tháng 5 năm 2021|bot=InternetArchiveBot}} Vịnh Bắc Việt và Công ước 1887 Pháp-Thanh</ref> Việc đóng mốc phân định biên giới hoàn thành năm 1896. Vì sự chia cắt đó đến năm 2000 có 22.000 [[Người Kinh (Trung Quốc)|người Kinh]] là hậu duệ người Việt cũ vẫn sinh sống ở đất Quảng Tây. Ngược lại đất các vùng Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai xưa là phên giậu biên thùy, từng triều cống [[Lan Xang|Lão Qua]], thì nay được sáp nhập vào Bắc Kỳ. Đất [[Bồn Man|Trấn Ninh]] và [[Huaphanh|Sầm Châu]] mặc dù có quan Việt cai quản thì người Pháp lại cắt cho Lào kể từ năm [[1895]] và [[1903]].
Vùng [[Cao nguyên Trung phần]] thì người Pháp năm [[1893]] buộc [[nhà Nguyễn|triều đình Huế]] cắt ra và cho phụ thuộc [[Lào]]. Năm [[1904]] thì [[Đắk Lắk|Darlac]] (Ban Mê Thuột) mới được trả lại [[Trung Kỳ]]; [[Kon Tum|Kontum]] theo chân năm [[1905]]. Tuy nhiên khu vực cao nguyên này gần như trực thuộc người Pháp cai trị. Triều đình Huế có quyền bổ nhiệm viên quan quản đạo nhưng thực quyền nằm trong tay công sứ Pháp. Năm [[1923]] chính công sứ Darlac là [[Léopold Sabatier]] đã ra lệnh tuyệt cấm người Việt lên lập nghiệp ở Darlac rồi lại vận động [[khâm sứ Trung Kỳ]] là Pierre Pasquier áp dụng chung chính sách này cho toàn [[cao nguyên Trung phần]].<ref name="Chi">Lê Đình Chi. ''Người Thượng Miền Nam Việt Nam''. Gardena, CA: Văn Mới, 2006. 407-450.</ref>
Năm [[1906]] Xiêm trả lại hai tỉnh [[Battambang (tỉnh)|Battambang]] và [[Xiêm Riệp (tỉnh)|Xiêm Riệp]] để nhập vào Cao Miên.
Năm 1916 vì bất ổn ở vùng biên giới Việt-Hoa, chính quyền Bảo hộ cho lập năm quân khu để kiểm soát vùng cực bắc xứ Bắc Kỳ và Lào.
Từ thập niên 1890 chính quyền Bảo hộ nhân danh triều đình Huế đã có dự định dựng ngọn [[hải đăng]] để khẳng định chủ quyền của Pháp trên [[quần đảo Hoàng Sa]] nhưng đồ án không thực hiện được và mãi đến năm 1938 mới có lực lượng chính thức chiếm đóng quần đảo này.<ref>[http://74.6.239.67/search/cache?ei=UTF-8&p=paracels+french&vm=r&xa=00Ae8qCgyN.qBGZcPH1imw--%2C1238805617&fr=sfp&u=www.prio.no/files/file44432_01-07_paracels_isa_hong_kong_paper.pdf&w=paracels+paracel%27s+french&d=Zy0_752uSdOB&icp=1&.intl=us]{{Liên kết hỏng|date=ngày 17 tháng 3 năm 2021|bot=InternetArchiveBot}} "The Paracels, the 'other' South China Sea Dispute" 2001.</ref> Dù vậy khi nhà Thanh gửi thuyền xâm phạm Hoàng Sa vào những năm đầu thế kỷ 20 thì Bộ Ngoại giao Pháp đã có công văn phản đối.<ref>[http://www.rfi.fr/actuvi/articles/110/article_2399.asp] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090324044401/http://www.rfi.fr/actuvi/articles/110/article_2399.asp|date=2009-03-24}} "Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".</ref> Cuộc tranh chấp này kéo dài cho đến khi người Pháp mất chủ quyền ở Đông Dương và vẫn chưa kết thúc.
== Nhân khẩu ==
=== Dân số ===
{| border=1 cellspacing=0 cellpadding=5
! Năm
! Dân số Liên bang Đông Dương<ref>Gauthier, Julian. Tr 16</ref>
|-
| 1921
! 18.800.000
|-
| 1926
! 20.500.000
|-
| 1931
! 21.450.000
|-
| 1936
! 23.030.000
|-
| 1943
! 25.000.000
|}
Vào đầu thế kỷ 20, thành phần dân cư của Liên bang Đông Dương gồm có [[người Việt]], [[người Khmer]], [[người Thái]], [[người Chăm]] và các dân tộc thiểu số khác{{efn|group=b|Riêng Việt Nam có 54 dân tộc, được trình bày tại Bảo tàng Dân tộc học Hà Nội.}}. Trong số đó, người Việt là đông nhất với 15 triệu người, kế đến là người Khmer với 1,3 triệu người, người Thái 1,1 triệu và người Chăm 100.000, số dân tộc thiểu số ước khoảng 500.000 người. Ngoài số này, còn có khoảng 300.000 [[Người Hoa tại Việt Nam|người Hoa]] và các dân tộc châu Á khác, 15.000 người Âu và 40.000 người Âu lai Á. Tính tổng cộng, dân số của Liên bang Đông Dương vào khoảng 18.370.000 người, mật độ trung bình 24 người trên một km².
=== Tôn giáo ===
Các tôn giáo chính ở Đông Dương là [[Phật giáo]], với [[Phật giáo Đại thừa]] và [[Phật giáo nguyên thủy]]. Ngoài ra, các nhà truyền giáo Công giáo tích cực đã lan rộng khắp Đông Dương và khoảng 10% dân số Bắc Kỳ được xác định là Công giáo vào cuối thời Pháp. [[Nho giáo]] và [[tín ngưỡng dân gian]] đều có nhiều ảnh hưởng. Nguồn gốc của [[đạo Cao Đài]] cũng bắt đầu trong thời kỳ này.
Không giống như [[Algérie]], sự định cư của Pháp ở Đông Dương không xảy ra ở quy mô lớn. Đến năm 1940, chỉ có khoảng 34.000 thường dân Pháp sống ở Đông Dương, cùng với một số ít nhân viên quân đội Pháp và nhân viên chính phủ. Những lý do chính khiến cho việc định cư của Pháp không phát triển theo cách tương tự như ở [[Bắc Phi thuộc Pháp]] (nơi có dân số hơn 1 triệu dân thường Pháp) là vì Đông Dương được coi là một thuộc địa kinh tế của Pháp (''colonie d'exploitation économique'') chứ không phải thuộc địa định cư (''colonie de peuplement'') (thuộc địa định cư giúp [[chính quốc Pháp]] khỏi bị quá đông đúc), và vì Đông Dương đã ly thân từ Pháp.
=== Ngôn ngữ ===
[[Tiếng Pháp]] là ngôn ngữ hàng đầu của Đông Dương trong giáo dục, chính trị, thương mại và truyền thông. Tiếng Pháp được sử dụng rộng rãi ở các khu vực thành thị và đã trở thành ngôn ngữ chính của giới thượng lưu có học thức. [[Văn hóa Pháp]] có tác động sâu rộng nhất đến [[Nam Kỳ]] và [[Bắc Kỳ]], trong khi [[Campuchia]], [[Lào]] và [[Trung Kỳ]] phải chịu những tác động tương đối ngắn hạn. Tuy nhiên, hầu hết người dân bản địa vẫn sử dụng ngôn ngữ bản địa trong thời kỳ thuộc địa. Sau thời kỳ thuộc địa, chính phủ miền Nam Việt Nam vẫn sử dụng tiếng Pháp. Ngay cả ngày nay, trí thức và người lớn tuổi địa phương vẫn nói tiếng Pháp. Ngày nay, chính phủ Campuchia và Lào đôi khi vẫn sử dụng tiếng Pháp.
== Kinh tế ==
{| class="wikitable" style="float:right; margin:1em; margin-top:0;"
|-
! colspan="2" | '''Số liệu cao su xuất cảng'''<ref>Bernard, Paul. "L'Avenir économique de l'Indochine". ''Illustration: número spécial sur l'Indochine''. Paris: Société nationale des Enterprises de Presse, 1949.</ref>
|- style="background:lightgrey;"
! năm
! tấn
|-
| 1939
! 66.556
|-
| 1940
! 72.245
|-
| 1941
! 76.069
|-
| 1942
! 75.178
|-
| 1943
! 74.734
|-
| 1944
! 61.361
|-
| 1945
! 12.000
|-
| 1946
! 20.295
|-
| 1947
! 38.560
|-
| 1948
! 43.000
|-
| 1949
! 45.000
|}
{| class="wikitable" style="float:right; margin:1em; margin-top:0;"
|-
! colspan="2" | '''Số liệu thóc gạo xuất cảng'''<ref>Cucherousset, Henri. ''L'Indochine d'hier et d'aujourd'hui''. Hanoi: L'É veil Économique, 1926. Tr 46.</ref>
|- style="background:lightgrey;"
! năm
! tấn
|-
| 1865
! 50.000
|-
| 1875
! 268.000
|-
| 1890
! 460.000
|-
| 1900
! 595.000
|-
| 1910
! 815.000
|-
| 1925
! 1.300.000
|}
[[Tập tin:Billet de banque indochine.jpg|nhỏ|trái|170px|Tiền giấy mệnh giá 1 đồng bạc Đông Dương]]
[[Tập tin:Stamp Indochina 1907 4c.jpg|nhỏ|trái|170px|Tem Đông Pháp]]
Sau khi ký [[Hòa ước Giáp Thân (1884)]] thì quân đội Pháp tiến vào Kinh thành Huế tiếp thu các cơ quan hành chính kể cả kho bạc. Họ ghi nhận thu được hơn 6.000 nén [[vàng]], 2.000 đồng vàng và vô số bạc nén. Phân nửa sau đó được hoàn lại [[triều đình Huế]] còn phân nửa được đưa lên tàu chở về chính quốc Pháp trang trải binh phí cuộc viễn chinh. Tổng cộng trọng lượng Pháp thâu nhận bằng biên bản là 14.630 [[kg]] bạc và 1.335 kg vàng, phần lớn mang nấu chảy để đúc lại sung vào công quỹ của Pháp.<ref>[http://vi.rfi.fr/viet-nam/20180115-viet-nam-kho-vang-duy-nhat-con-lai-cua-trieu-nguyen-tai-monnaie-de-paris "Việt Nam: Kho báu duy nhất còn lại của triều Nguyễn ở Monnaie de Paris"]</ref>
Kinh tế Đông Pháp từ đó được vận hành chủ yếu là một nền kinh tế thuộc địa để hỗ trợ cho kinh tế Pháp chứ không có kế hoạch tự túc hoặc phát triển theo khả năng bản xứ. [[Toàn quyền Đông Dương|Toàn quyền]] [[Pierre Marie Antoine Pasquier|Pasquier]] đã khẳng định: ''"Il faut que les profits de l'Indochine reviennent aux Français"'' ("Lợi nhuận từ Đông Dương phải trao lại cho nước Pháp"). Đông Pháp là nguồn nguyên liệu và vật liệu bán chế trong khi chính quốc Pháp cung ứng những sản phẩm chế biến để bán lại sang Đông Pháp.
Về mặt nông lâm, cơ chế [[đồn điền]] nhất là đồn điền [[cao su (cây)|cao su]] để cung cấp cho thị trường Âu Mỹ là một điển hình cho mối tương quan giữa Pháp và Đông Pháp. Cây cao su ''Hevea brasiliensis'' đầu tiên đem từ [[Mã Lai]] sang trồng ở Đông Dương là vào năm 1897 ở Sài Gòn. Đến năm 1905 thì cạo mủ thấy sản xuất được nên bắt đầu phát động đem trồng nhiều nơi.<ref>Hoàng Cơ Thụy. Trang 1500.</ref> Nhiều công ty lớn của Pháp như [[hãng Michelin]] đều đầu tư vào ngành này, sở hữu những đồn điền với diện tích rộng lớn, tổng cộng chiếm hơn 138.000 [[hecta]] trên toàn Đông Dương.<ref>Bernard, Paul.</ref> Tính đến năm 1926 thì diện tích trồng cao su là hơn 166.000 ha với 13 triệu cây cao su.<ref>[http://belleindochine.free.fr/Caoutchouc1926.htm L'épopée du caoutchouc, en 1926]</ref> Số lượng nhân công cần để khai thác nguồn lợi này cũng đã làm dao động xã hội bản xứ. Lượng cao su xuất cảng đạt hơn 10 nghìn tấn vào năm 1929 và tiếp tục gia tăng đến khi [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] bùng nổ. Sản lượng cao su sau đó tụt xuống chỉ còn 15% sản lượng tiền chiến và không phục hồi được cho dù có đến cuối thập niên 1940 đã đạt khoảng 60% sản lượng cao nhất.
{| class="wikitable" style="float:right; margin:1em; margin-top:0;"
|-
! colspan="3" | '''Số liệu nông sản'''<ref>Gauthier. tr 233</ref>
|- style="background:lightgrey;"
! mặt hàng
! diện tích (hecta)
! sản lượng (tấn)
|-
| lúa gạo
! 6.000.000
! 8.000.000 (thóc)
|-
| bắp ngô
! 430.000
! 370.000 (hột lóc)
|-
| cao su
! 133.000
! 76.000 (tấm)
|-
| chè
! 25.000
! 17.000 (lá)
|-
| cà phê
! 12.000
! 3.500 (hột)
|-
| hột tiêu
! 3.000
! 4.000 (hột)
|-
| mía
! 40.000
! 80.000 (đường)
|-
| thuốc lào
! 15.000
! 14.000 (lá)
|-
| bông gòn
! 15.000
! 1.300 (bông)
|}
Lượng nông phẩm lớn nhất của Đông Dương là lúa gạo, đạt 2.140.000 tấn xuất cảng năm 1937 với diện tích canh tác ở Nam Kỳ tăng mạnh từ 522.000 hecta năm 1880 đến 2 triệu 2 hecta năm 1937.<ref>Dommen, Arthur. Trang 29.</ref> Chính phủ Bảo hộ có tay trong việc phân phát đất đai. Tính đến năm 1940, 1.299.500 hecta được phát cho người bản xứ và 962.200 hecta cho người Âu châu. Trên tổng số đó, 63% là cho người Âu châu so với 89% đất phát cho người bản xứ là ở Nam Kỳ. Dân bản xứ tập trung lĩnh canh đất trồng lúa trong khi người Pháp lấy đất mở đồn điền trồng cao su, cà phê, chè.<ref>Gauthier. tr 227</ref> Vào thập niên 1950 trong số các địa chủ sở hữu hơn 100 [[ha]], phần lớn tập trung ở Nam Kỳ thì 2033 người là người Việt và 430 là công dân Pháp.<ref>Foreign Areas Studies Division. ''US Army Area Handbook for Vietnam''. Tr 75</ref>
Những khu vực kinh tế khác được chính phủ Bảo hộ lưu ý là khoáng sản ([[than đá]], [[chì]], [[kẽm]]), [[chè]], [[cà phê]], [[hồ tiêu|hạt tiêu]]. Kỹ nghệ nhẹ như ngành dệt, [[thuốc lá]], [[xi măng]] cũng được phát triển.
Kỹ nghệ lớn nhất với khoảng 50.000 công nhân là ngành khai thác than đá, chủ yếu ở [[Hà Tu]] và [[Hòn Gai]] (Pháp gọi là Hongay) và [[Cẩm Phả]] của công ty "Société de Charbonnages du Tonkin". Hãng "Société de Charbonnages du Đông Triều" thì khai thác ở Kê Bào. Năm 1930 sản lượng than đá khai thác là 1.890.000 [[tấn]], trong đó 3/4 được xuất cảng.
Những mặt hàng được nhập khẩu chính vào Đông Dương thời kỳ này là [[sữa đặc]], thức ăn đóng hộp, bột mì, rau, đường, cà phê, trà, thuốc lá, chỉ bông, vải bông, rượu, than, dầu lửa, đồ kim loại, dược phẩm, xà phòng, đồ gốm, đồ thủy tinh và pha lê, giấy, máy móc, xe hơi, v.v. Các mặt hàng xuất khẩu quan trọng gồm có: gạo, cá (cá khô và cá muối), tiêu, quế, dầu thực vật, [[gỗ tếch]], sợi bông (thô), than và kẽm, lụa (thô), xi măng, thảm chiếu, da, v.v. Cán cân xuất nhập khẩu vào năm 1914 là thặng dư gần 66 triệu đồng.
{| class="wikitable" style="float:right; margin:1em; margin-top:0;"
|-
! colspan="3" | '''Giá trị ngoại thương 1914'''<ref name="JapaneseGuide"/>
|- style="background:lightgrey;"
!!! Giá trị nhập khẩu (''franc'')!! Giá trị xuất khẩu (''franc'')
|-
| Bắc Kỳ || 96.239.000 || 100.260.000
|-
| Trung Kỳ || 6.364.000 || 11.1360.000
|-
| Nam Kỳ || 158.998.000 || 219.253.000
|-
| Campuchia || 4.891.000 || 1.686.000
|-
| ''Tổng cộng'' || ''266.492.000'' || ''332.335.000''
|}
Cơ quan điều hành kinh tế cho cả sáu xứ Đông Pháp là [[Ngân hàng Đông Dương]] (Banque de l'Indochine), thành lập từ năm 1875. Ngân hàng này có đặc quyền phát hành [[đồng bạc Đông Dương]] (''piastre indochinoise'').
Chính quyền Bảo hộ còn giành độc quyền bán [[thuốc phiện]], [[rượu]], và [[muối]], còn được gọi là thuế "môn bài". Ba khoản thu này cộng thêm quan thuế xuất nhập khẩu cung ứng 95% ngân sách để trả lương công chức.<ref>Brocheur. tr 81</ref> Lấy trường hợp thu ngân của chính phủ Bảo hộ ở Bắc Kỳ năm [[1886]] trên tổng số 134 triệu [[đồng bạc Đông Dương|đồng]] thì bốn nguồn thuế chính là:<ref name="Cartes">Bianconi, F. ''Cartes Commerciales Tonkin''. Paris: Imprimerie et Libraire centrales dé Chemins de fer, 1886.</ref>
#thuế thuốc phiện: 45 triệu
#thuế rượu: 20 triệu đồng
#thuế muối: 45 triệu đồng
#[[thuế thân]]: 21 triệu đồng.
[[Độc quyền (kinh tế)|Độc quyền]] nấu rượu thì giao cho công ty ''Société des Distilleries d'Indochine'' phân phối cho toàn Liên bang dưới hiệu "RA" (''Régie de Alcool''), tục gọi là "rượu ty". Những nguồn rượu khác thì bị liệt vào hạng rượu lậu và ai nấu hay mua thì bị truy tố và tài sản tịch thu.<ref>Hoàng Cơ Thụy. tr 1505</ref>
Đối với thuốc phiện thì quyền nhập cảng, chế biến và bán sỉ là do cơ quan Régie de l'Opium đảm nhận. Tính đến năm 1900 thì lợi nhuận chính phủ thu được từ thuốc phiện đạt hơn phân nửa số tiền thu nhập của toàn Liên bang Đông Dương.<ref>[http://74.6.239.67/search/cache?ei=UTF-8&p=opium+indochine+regie&y=Search&fr=moz2&u=www.asiapacificms.com/papers/pdf/gt_opium_trade.pdf&w=opium+indochine+regie&d=ZF_oeZ2uSjgC&icp=1&.intl=us]{{Liên kết hỏng|date=ngày 9 tháng 5 năm 2021|bot=InternetArchiveBot}} "Golden Triangle Opium Trade, an Overview"</ref> Riêng việc phân phối bán lẻ là để cho tư nhân, đa số là người Hoa.<ref>Logan, William S. Trang 79.</ref>
== Cơ sở hạ tầng ==
=== Giao thông ===
[[Tập tin:Mytho - Le train en gare.jpg|phải|nhỏ|Ga xe lửa Mỹ Tho, 1905.]]
[[Tập tin:InaugSG.JPG|phải|nhỏ|Khánh thành tàu điện Sài Gòn-Chợ Lớn 27.12.1881]]
Nỗ lực lớn nhất của nhà nước Bảo hộ là xây dựng hệ thống [[đường ray|đường sắt]]. Đoạn đường sắt thiết lập trước tiên với kinh phí 11,6 triệu [[franc Pháp|franc]] là ở Nam Kỳ, dài 71 cây số, hoàn tất Tháng Bảy năm 1885 nối liền Sài Gòn và [[Mỹ Tho]].<ref>[http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=71552&print=yes] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080307172713/http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=71552&print=yes|date=2008-03-07}} Định tường ngày xưa</ref> Vào những năm 1897-1900 thì con đường sắt Hà Nội-[[Lạng Sơn]] hoàn thành ở Bắc Kỳ với giá trị chiến lược cao để củng cố vùng biên giới Việt-Hoa. Sau đó nhà nước chủ trương xây dựng một hệ thống đường sắt Xuyên Đông Dương (''Chemin de fer Transindochinois'') nối liền Hà Nội và Sài Gòn. Dự án này đến năm 1936 mới xây xong, chạy dài từ [[Nam Quan]] đến Mỹ Tho với [[chiều dài]] 1714 km. Đây là tiền thân của [[đường sắt Bắc Nam]] của Việt Nam sau này. Hành trình Sài Gòn - Hà Nội mất 60 giờ đồng hồ, tức hai ngày và ba đêm.<ref>Hoàng Cơ Thụy. Trang 1495.</ref>
Ngoài ra còn có những nhánh đường sắt khác từ [[Phnôm Pênh|Nam Vang]] đến biên giới [[Xiêm]]; từ Sài Gòn đi [[Lộc Ninh]]; từ [[Tháp Chàm (thị trấn)|Tháp Chàm]] lên [[Đà Lạt]]; từ [[Ninh Giang (thị trấn)|Phủ Ninh Giang]] qua [[Kẻ Sặt]] đến [[Cẩm Giàng]].<ref name="Diplomatic">Foreign Office and the Board of Trade, ed. ''Report for the Year 1908 on the Trade of French Indo-China''. London: Harrison and Sons, 1909.</ref> Riêng đoạn đường từ [[Hải Phòng]] lên Hà Nội rồi từ Hà Nội ngược [[sông Thao]] vượt biên giới Việt-Hoa sang [[Vân Nam]] thì do tư nhân hãng "Compagnie Française des Chemins de fer de l'Indochine et du Yunnan" khai thác. Tính đến năm 1939 thì toàn cõi Đông Dương có 3.372 km đường sắt.<ref>Cherry, Haydon. tr 123</ref>
Ở hai đô thị chính, Sài Gòn và Hà Nội chính quyền còn cho thiết lập hệ thống "tàu điện" (''tramways''). Tàu điện Sài Gòn khánh thành năm 1881 lúc đầu chạy bằng [[nước|hơi nước]] và đến năm 1923 mới chính thức chạy bằng điện. Lộ trình 7,2 km này nối Chợ Lớn, Sài Gòn (theo đường Galliéni, sau năm 1955 là [[Đường Trần Hưng Đạo, Thành phố Hồ Chí Minh|đường Trần Hưng Đạo]]<ref>[http://belleindochine.free.fr/Saigon1882.htm Saigon 1882]</ref>) rồi tỏa ra Hóc Môn, Gò Vấp, phục vụ đến năm 1953 mới tháo bỏ. Tàu điện Hà Nội với 29 km đường rày khởi dụng năm 1901 và mãi đến năm 1990 mới thôi.<ref>[http://www.tramz.com/tva/vn.html] Tàu điện Sài Gòn và Hà Nội</ref> Để cung cấp năng lượng, người Pháp đặt hệ thống [[điện lực]]. Có lẽ sau Nhật Bản (1886)<ref>[https://hermes-ir.lib.hit-u.ac.jp/rs/bitstream/10086/25372/1/HJcom0460100100.pdf "THE HISTORY OF JAPAN'S ELECTRIC POWER INDUSTRY BEFORE WORLD WAR II"]</ref> Hà Nội là thành phố đầu tiên ở Á châu có điện thắp sáng từ cuối thế kỷ 18. Năm 1897 công suất của công ty điện lực mà người Việt quen gọi là "sở nhà đèn" tăng lên thành 850 [[mã lực]]. Tư nhân cũng có thể đặt mua.<ref>[http://vi.rfi.fr/viet-nam/20161125-ha-noi-va-noi-nho-tieng-leng-keng-tau-dien-xua "Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa"]</ref>
Công trình phát triển đường sá thì có [[cầu Long Biên|cầu Sông Cái]] dài hơn 1,600 m do công ty Daydé et Pillé thực hiện từ năm 1897 đến 1901 mới xong là công trình đáng kể nhất. Ngoài ra còn có những xây cất nhỏ hơn như [[cầu Hàm Rồng]] bắc qua [[sông Mã]] ở Thanh Hóa; [[cầu Trường Tiền]] ngang [[sông Hương]] ở Huế; [[cầu Rạch Cát]] và [[cầu Gành]] (hay [[cầu Ghềnh]]) bắc qua sông Đồng Nai, nối liền [[Cù Lao Phố]] với thành phố Biên Hoà, v.v. Con đường thiên lý sau đó được rải nhựa dần để [[ô tô|xe hơi]] có thể chạy suốt từ biên giới Việt-Hoa đến biên giới Miên-Xiêm. Tổng cộng trên toàn cõi có khoảng 28.000 km đường trải nhựa hoặc trải đá sỏi.<ref name="Anticolonialism">Hy V Luong. ''Tradition, Revolution, and Market Economy in a North Vietnamese Village, 1925-2006''. Honolulu: University of Hawai'i Press, 2010. tr 25-50</ref>
=== Viễn thông ===
Chính phủ Pháp cũng cho thiết lập hệ thống dây thép [[điện tín]], đoạn đầu tiên hoàn tất năm 1862 nối Sài Gòn, [[Biên Hòa]] và [[Chợ Lớn]]. Đến năm 1888 thì đường dây liên lạc Sài Gòn-Hà Nội cũng làm xong.<ref>Dommen, Arthur. Trang 28.</ref>
== Xã hội ==
[[Tập tin:Ban den.JPG|nhỏ|trái|250px|Bàn đèn [[thuốc phiện]] được xem như một "công cụ" chính trong [[chính sách ngu dân]] ở Việt Nam của Pháp]]
Thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh doanh [[thuốc phiện]] và [[rượu]] như một đặc quyền của nhà nước.
Xã hội Việt Nam khi đối diện nền kinh tế mới của người Pháp biến đổi và phân hóa sâu sắc. Mâu thuẫn giữa [[giai cấp]] [[địa chủ]] và [[nông dân]] vẫn tồn tại và là mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội, là tàn dư của nghìn năm [[phong kiến]]. Địa chủ sở hữu phần lớn ruộng đất, một số dựa vào thế lực của Pháp để thủ lợi.
[[Nông dân]] là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam (chiếm khoảng 90% dân số), cũng là thành phần gánh chịu phần lớn phí tổn của nền Bảo hộ. Giai cấp [[công nhân]] nhỏ hơn, hình thành từ cuộc [[khai thác thuộc địa lần thứ nhất]] của thực dân Pháp. Họ tập trung ở các [[thành phố]] và khu vực [[khai thác mỏ]].
Cũng tập trung ở thành thị là giai cấp [[tư sản]] và [[tiểu tư sản]] bao gồm [[doanh nhân]] trong các ngành [[công nghiệp]], [[thương nghiệp]], và cả [[nông nghiệp]]. Ngoài ra trong nhóm này cũng là giới [[học sinh]], [[trí thức]], [[thợ thủ công]], [[công chức]] và những người làm nghề tự do.
Các thành phần xã hội tuy chung một khái niệm yêu nước nhưng cũng có khi đối chọi về kinh tế và văn hóa.
=== Dân cư ===
{| border=1 cellspacing=0 cellpadding=5
! Thị xã
! Dân số vào năm 1930
|-
| Sài Gòn
! 150.000<ref>Marquet, J. tr 62</ref>
|-
| Hà Nội
! 100.000<ref name="Marquet, J. tr 99">Marquet, J. tr 99</ref>
|-
| Hải Phòng
! 100.000<ref name="Marquet, J. tr 99"/>
|-
| Huế
! 80.000<ref>Marquet, J. tr 120</ref>
|-
| Phnom Penh
! 75.000<ref>Marquet, J. tr 69</ref>
|-
| Nam Định
! 50.000<ref name="Marquet, J. tr 99"/>
|-
| Đà Nẵng
! 20.000<ref>Marquet, J. tr 119</ref>
|}
Về dân cư, [[người Việt]] sống chủ yếu ở [[Bắc Kỳ]], [[Trung Kỳ]] và [[Nam Kỳ]], [[người Khmer]] sống ở [[Campuchia]], [[Người Thái (Việt Nam)|người Thái]] ở [[Lào]], [[người Chăm]] ở Nam Kỳ và một phần Campuchia; những người thuộc dân tộc thiểu số sống rải rác dọc theo vùng núi cao trong lục địa.
Trong các sắc dân bản địa, người Việt có tổ chức xã hội cao hơn cả. Qua kinh nghiệm nhiều đời, họ đã có được những tập quán nông nghiệp phát triển, nhưng năng lực buôn bán yếu. Thương mại trên khắp Đông Dương nằm trong tay những người Hoa. Người Thái thích sống ở những vùng cao, với công việc chính là nuôi gia súc và săn bắn; họ kém văn minh hơn hẳn những người Việt. Người Khmer thì làm các nghề về gỗ, nông, ngư nghiệp, và săn bắn<ref name="JapaneseGuide">{{Chú thích sách |author = Cục Đường sắt Nhật Bản |title = An official guide to Eastern Asia, Vol. V, EAST INDIES |url = http://dlxs.library.cornell.edu/cgi/t/text/pageviewer-idx?c=sea&cc=sea&idno=sea001&q1=Chi-hoa&frm=frameset&view=image&seq=1 |access-date = ngày 8 tháng 5 năm 2009 |edition = lần in thứ 2 |date = [[1920]] |location = [[Tōkyō|Tokyo]], [[Nhật Bản]] |language = tiếng Anh }}</ref>.
Trên pháp lý, người dân Đông Dương chia thành ba hạng. Đứng đầu là [[quyền công dân|công dân]] Pháp (''citoyens français'') gồm những người Pháp và một số người bản xứ được nhập tịch. Thứ nhì là thuộc dân Pháp (''sujets français'') là dân Nam Kỳ và dân chúng của ba thành phố Đà Nẵng, Hải Phòng và Hà Nội. Hạng ba mới là dân bảo hộ (''protégés français'') tức là đại đa số dân chúng Trung, Bắc Kỳ, Lào, và Cao Miên.<ref>Hoàng Cơ Thụy. tr 1523</ref>
=== Di dân ===
Một hậu quả của chính sách nhà nước Bảo hộ khi hậu thuẫn việc thông thương với Trung Hoa là đà gia tăng số người Hoa nhập cảnh với nhiều ưu đãi.
::{| border=1 cellspacing=0 cellpadding=5
! Năm
! Số người Trung Hoa nhập cảnh Đông Dương<ref>Lévi, Sylvain. Trang 210-1.</ref>
|-
| 1923
! 19.800
|-
| 1924
! 13.800
|-
| 1925
! 15.200
|-
| 1926
! 19.000
|-
| 1927
! 31.100
|-
| 1928
! 30.100
|}
Từ tổng số 60.000 Hoa kiều vào cuối thế kỷ 19, đến năm 1921 thì số di dân [[người Hoa]] đã tăng thành 156.000 riêng ở Nam Kỳ<ref name="Goscha, Christopher E. tr 5">Goscha, Christopher E. tr 5</ref> Họ nắm tài lực và tận dụng khai thác hệ thống kinh tài khắp Đông Nam Á, nhất là ngành buôn [[gạo]]. Số thương gia tên tuổi lịch sử còn ghi lại có Wang-Tai, [[Chú Hỏa|Hui Bon Hoa]] (tục gọi là "chú Hỏa"), [[Quách Đàm]] (xây chợ Bình Tây).<ref>Nguyên Hương Nguyễn Cúc. Trang 293.</ref> Đến năm [[1937]] trong suốt ba Kỳ Trung, Nam, Bắc có 217.000 Hoa kiều, chiếm hơn 11% dân số.<ref>Marr, David. Trang 24.</ref> Theo hiệp ước ký giữa Pháp và [[nhà Thanh]] năm 1885 và 1886 thì người Tàu ngụ cư ở Đông Dương hưởng quy chế ngoại nhân ưu đãi (''etrangers bénéficiant d'un statut privilégié'') được miễn [[sưu thuế]], không phải bắt làm tạp dịch hay nhập ngũ lại được quyền đi lại tự do. Hơn nữa vì giữ [[quốc tịch]] [[Tên gọi Trung Quốc|Trung Hoa]], quyền lợi của họ có chính phủ Bắc Kinh bênh vực.<ref>Hoàng Cơ Thụy. tr 1522.</ref> Cộng đồng người Hoa tổ chức theo nguyên quán, tục gọi là ''bang'' ([[tiếng Pháp]]: ''congrégation''). Vào năm 1885 thì có bảy bang ở Nam Kỳ nhưng sau đó gộp lại thành năm bang căn cứ theo nguyên quán: Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu, và Hẹ.<ref>Smith, Harvey et al. tr 87</ref> Ước tính dân số (1950) Hoa kiều của ba kỳ: Bắc, Trung, Nam thì có 337.500 người nói tiếng Quảng Đông, 225.000 nói tiếng Tiều, 75.000 nói tiếng Hẹ, 60.000 nói tiếng Phúc Kiến và 30.000 nói tiếng Hải Nam, tổng cộng là 727.500.<ref name=MGRV>Schrock, Joann, et al. ''Minority Groups in the Republic of Vietnam''. Washington, DC: Department of the Army, 1966. Tr 933</ref>
::{| border=1 cellspacing=0 cellpadding=5
! Năm
! Số Hoa kiều ở Đông Dương
|-
| cuối thế kỷ 19
! 60.000
|-
| 1921
! 156.000 (riêng Nam Kỳ)
|-
| 1937
! 217.000 (Việt Nam)
|-
| 1950
! 727.500 (Việt Nam)
|}
Trong khi triều đình Huế phân biệt người Việt và [[người Minh Hương|Minh Hương]], chính quyền Bảo hộ gộp người Minh Hương (hơn 80.000 vào năm 1944) vào bộ tịch người Việt.<ref name=MGRV/> Ngoài ra có khoảng 5.000 Ấn kiều từ các thuộc địa của Pháp bên Ấn Độ. Giống như người Hoa, người Ấn đại đa số là thương nhân, cùng làm nghề cho vay nặng lãi.<ref>Marr, David. Trang 25.</ref>
Số người Âu châu đến cuối thập niên 1930 là 39.000, đa số người Pháp, nắm giữ địa vị then chốt chính trị và kinh tế trong ba ngành xuất cảng gạo, cao su, và khoáng sản.<ref>Marr, David. Trang 23-4.</ref> Ba nhóm ngoại kiều Pháp, Hoa và Ấn tập trung ở thành thị trong khi dân bản xứ phần lớn sinh sống ở nông thôn.
Một chính sách di dân nữa được đề ra là việc mộ dân ở Bắc và Trung Kỳ đưa vào Nam làm phu đồn điền cao su hoặc nông trại miền núi Cao nguyên Trung Kỳ hay thượng du Bắc Kỳ.<ref>Salemink, Oscar. Trang 27.</ref> Riêng niên khóa 1926-27, 35.000 người dân từ Bắc và Trung Kỳ được mộ làm phu và đưa vào Nam Kỳ làm công trong các đồn điền.<ref>Ho Tai. Tr 219</ref> Người Việt cũng được khuyến khích di cư sang Lào và Cao Miên.<ref>[http://www.minorityrights.org/?lid=3419&tmpl=printpage] Thiểu số người Việt trên đất Miên.</ref> Thống kê năm 1908 ghi nhận 60.000 người Việt trên đất Miên.<ref>[http://www.san.beck.org/20-9-Siam,Laos,Cambodia1800-1950.html] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20180928075144/http://www.san.beck.org/20-9-Siam,Laos,Cambodia1800-1950.html|date=2018-09-28}} Xiêm, Miên, Lào 1800-1950</ref> Đến năm 1921 thì tổng số người Việt ở Cao Miên là hơn 140.000<ref name="Goscha, Christopher E. tr 5"/> và 191.000 vào năm 1937.<ref>Marr, David. tr 25</ref> Cùng thời gian sau đó vào cuối thập niên 1930 thì số người Việt ở Lào đã tăng lên gần 40.000.<ref>[http://www.alstewart.com/history/sampan.htm] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080625075720/http://www.alstewart.com/history/sampan.htm|date=ngày 25 tháng 6 năm 2008}} Người Việt trên đất Lào thời Pháp thuộc.</ref> Một số khác được đưa sang [[Vanuatu|Tân Đảo]] và đảo [[Nouvelle-Calédonie|Tân Thế giới]] làm [[chân đăng|phu]] mỏ và đồn điền của Pháp.
=== Giáo dục ===
[[Tập tin:Henri Oger's book 1.jpg|phải|nhỏ|Cuốn ''Tự học Pháp thoại tiệp kính'' tức ''Phép học một mình chóng thông tiếng Tây'' do [[Henri Oger]] soạn để dạy người Việt học tiếng Pháp vào đầu thế kỷ 20, in ở [[Hà Nội]]]]
Một hậu quả khác rất đáng kể của cuộc bảo hộ đối với người Việt là việc thay đổi toàn diện về học thuật. Ở Nam Kỳ ngay từ năm 1867 người Pháp đã ngưng hẳn thể chế [[khoa cử]] bằng [[chữ Hán|chữ Nho]] và đến năm 1878 thì các công văn bằng [[chữ Hán|chữ Nho]] cũng bị loại bỏ, thay bằng [[tiếng Pháp|chữ Pháp]] và [[quốc ngữ|chữ Quốc ngữ]].<ref name="cothommagazine.com">[http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=278&Itemid=49] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090626112700/http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=278&Itemid=49|date=ngày 26 tháng 6 năm 2009}} Thi cử và nền Giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc - Trần Bích San</ref> Trường sở tại Nam Kỳ bắt đầu áp dụng theo mẫu trường công ở Pháp từ năm [[1879]].<ref name="Cultural"/> Tuy nhiên ở Trung và Bắc Kỳ thì chữ Nho tiếp tục được giảng dạy dưới sự vận động của Giám đốc Học chính Gustave Dumoutier.<ref name="Cultural1">Pierre Brocheur và Daniel Hémery. ''Indochina, An Ambiguous Colonization 1858-1954''. Berkeley: University of California Press, 2009. tr 217-49</ref>
==== Cải cách năm 1908 ====
Đến năm [[1908]] thì Hội đồng Cải cách Học vụ (Conseil de Perfectionnement de l'enseignement indigène, lập năm 1905) thời Toàn quyền Beau lập Học bộ tức Nha Giám đốc Học chính (Direction de l'Enseignement) dưới sự điều hành của [[Henri Gourdon]] và quy hoạch lại việc giáo dục ở Trung và Bắc Kỳ, chia thành ba bậc: ấu học, tiểu học và trung học. Đây bước đầu của chữ Quốc ngữ trong ngành giáo dục của người Việt.
*Ấu học thì giao cho xã thôn dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ; ai đậu thì gọi là "tuyển sinh."
*Tiểu học thì do phủ huyện có [[huấn đạo]] và [[giáo thụ]] đảm trách, tiếp tục dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ và có thể tình nguyện học thêm chữ Pháp chứ không bắt buộc;
*Trung học thì do quan [[đốc học]] ở tỉnh lỵ trông coi và dạy [[quốc ngữ|chữ Quốc ngữ]] và [[tiếng Pháp]].
Tổng số trường học ở Trung và Bắc Kỳ là khoảng 15.000 với 200.000 học sinh.<ref name="Cultural"/> Bắt đầu từ khoa [[thi Hương|thi hương]] năm 1909 thì thí sinh phải biết chữ Quốc ngữ để làm bài.<ref>Nguyễn Thị Chân Quỳnh. Trang 104.</ref> Ở Hà Nội thì có thêm [[trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Hà Nội|trường Bảo hộ]] và Huế thì có [[trường Hậu bổ (định hướng)|trường Hậu bổ]] cùng với [[trường Trung học phổ thông chuyên Quốc Học - Huế|trường Quốc học]] sẵn có để đào tạo thêm nhân sự.<ref name="cothommagazine.com"/>
==== Cải cách năm 1915 ====
Năm 1915 thì Bắc Kỳ rồi năm 1918 Trung Kỳ cũng theo Nam Kỳ bỏ khoa cử để theo chương trình do Nha Học chính Đông Dương soạn ra tức bộ học luật (''Code de l'instruction publique'') ban hành ngày 21 Tháng 12 năm 1917.<ref>Dương Quảng Hàm. tr XXI</ref> Theo đó thì tiếng Pháp được đưa vào giáo trình từ bậc tiểu học. Tiểu học chia thành ba cấp:
* Sơ học (ba năm, đỗ bằng Sơ học yếu lược ''Certificat d'etudes primaires Franco-Indigènes'', viết tắt là CEPFI),
* Tiểu học (ba năm, đỗ bằng Cơ thủy ''Certificat d'etudes elementaires''), và
* Cao đẳng tiểu học (bốn năm, đỗ bằng Cao đẳng tiểu học ''Diplôme d'études primaires supérieures'').
Tính đến năm 1938 thì toàn cõi Đông Dương có 406.669 học sinh tiểu học (tỷ số 1/5 số trẻ em ở tuổi đi học). Đại đa số ghi danh học trường công nhưng cũng có khoảng 60.000 học sinh theo học ở các tư thục, trong đó 36.000 do Giáo hội Công giáo huấn luyện tại 650 trường sở.<ref>Foreign Areas Studies Division.''U. S. Army Area Handbook for Vietnam''. Washington, DC: Department of the Army, 1962. Tr 115</ref>
Trung học (ba năm) thì chỉ có bốn trường (lycée) đặt ở [[Phnôm Pênh]] (lycée Sisowath, 1935), Huế (lycée Khai-Dinh, 1936), Sài Gòn (lycée Petrus-Ky) và Hà Nội (lycée du Protectorat) mà thôi. Học xong hai năm thì thi lấy bằng Tú tài bản xứ.<ref>Nguyễn Thị Chân Quỳnh. Trang 35.</ref> Ba năm thì lấy bằng ''baccalauréat''. Bằng ''baccalauréat'' được công nhận tương đương với bên chính quốc kể từ năm 1930.<ref name="Trường Pháp-Nam">[http://www.harvard-yenching.org/publications-and-projects/working-papers-series/TRAN_Thi_Phuong_Hoa_Franco_Vietnamese_schools.pdf Trường Pháp-Nam]{{Liên kết hỏng|date = ngày 17 tháng 3 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }}</ref> Số người đậu bằng ''baccalauréat'' rất ít oi, như năm [[1942]] tổng cộng chỉ có 75 người.<ref name="Cultural"/>
Đại học thì có mở chỉ một cơ sở là [[Viện Đại học Đông Dương]] ở Hà Nội khai giảng từ năm 1907 nhưng hoạt động gián đoạn đến năm 1917 mới tái tục. Điểm đáng lưu ý là chứng chỉ do Đại học Đông Dương cấp không được công nhận là tương xứng với các trường đại học bên Pháp. Sinh viên Đông Dương muốn sang Pháp học cũng bị gây khó dễ và hạn chế.<ref>Norindr, Panivong. Trang 45.</ref>
Năm [[1924]] mở khóa học đầu tiên của [[Trường Mỹ thuật Đông Dương]] với hai phân khoa: 1) hội họa, điêu khắc & trang trí, 2) kiến trúc.<ref>Vu Tam Ich. tr 77</ref>
Ở [[Phnôm Pênh]] thì người Pháp lập trường Bảo hộ từ năm 1893. Đến năm 1905 thì đổi thành Collège Sisowath.<ref>[http://epaa.asu.edu/epaa/v3n19.html] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090630144513/http://epaa.asu.edu/epaa/v3n19.html|date=ngày 30 tháng 6 năm 2009}} Giáo dục Pháp-Miên thời kỳ thuộc địa.</ref>
Những cải cách của chính quyền Pháp chỉ một phần là để nâng cao kiến thức dân chúng nhưng còn có dụng ý là để chuyển hướng tư duy của đại chúng. Thay vì trông đợi vào giới sĩ phu truyền thống dẫn dắt, nay người dân thường sẽ có nhà nước Bảo hộ đào tạo kiến thức. Người Pháp đã dồn nhiều nỗ lực vào việc cải tổ nền giáo dục bản xứ. Một chứng cứ là sách giáo khoa thời Pháp không dùng danh từ "Việt Nam" mà chỉ nhắc đến "Đông Pháp" và các xứ lệ thuộc<ref name="Trường Pháp-Nam"/>
=== Nghiên cứu, khoa học, & kỹ thuật ===
[[Tập tin:Henri Mouhot.jpg|phải|nhỏ|Henri Mouhot, nhà khoa học và thám hiểm Pháp ở Đông Dương.]]
Chính phủ Bảo hộ cho thành lập một số cơ sở khoa học ở Đông Dương như Viện Pasteur (Institut Pasteur de Saigon, 1890 & Nha Trang, 1895)<ref>[http://www.pasteur.fr/infosci/archives/ind1.html] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20141014083046/http://www.pasteur.fr/infosci/archives/ind1.html|date=ngày 14 tháng 10 năm 2014}} Trang về Viện Pasteur Đông Dương</ref>, Nha Địa chất (Service géologique, 1918), Viện Canh nông Thuộc địa (Institut agronomie coloniale, 1918), [[Viện Hải dương học (Việt Nam)|Viện Hải dương học]] (Institut océanographique, 1922).<ref>Cooper, Nicola. Trang 30-1.</ref>
Bác sĩ [[Alexandre Yersin]] qua Viện Pasteur đã có nhiều đóng góp về căn bệnh [[dịch hạch]]. Ông chọn sống tại Nha Trang, Trung Kỳ nơi ông tiếp tục những cuộc thí nghiệm khoa học cho đến khi mất.
[[Bệnh viện|Nhà thương]] theo y học Tây phương đầu tiên ở Đông Dương là nhà thương Chợ Quán, bắt đầu hoạt động năm [[1864]] nhưng phải đợi đến năm [[1914]] thì số lượng y sĩ mới đủ để đáp ứng nhu cầu dịch vụ [[y học|y khoa]] thường xuyên.<ref name="Duncanson"/>
Về văn hóa và lịch sử thì có [[Viện Viễn Đông Bác cổ]] (École française d'Extrême-Orient) lập năm 1900 ở Sài Gòn để nghiên cứu, thu thập, và lưu trữ nhiều cổ vật cùng khai quật các di chỉ [[khảo cổ học|khảo cổ]]. Năm 1902 thì Viện này chuyển ra Hà Nội với chi nhánh ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Nam Vang, và [[Battambang]].<ref>[http://www.efeo.fr/en/presentation/historique.shtml] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20081011034756/http://www.efeo.fr/en/presentation/historique.shtml|date=ngày 11 tháng 10 năm 2008}} Lịch sử Viện Viễn Đông Bác cổ</ref>
Một trong những "khám phá" lớn nhất trong ngành khảo cổ vào thời điểm này là cuộc khai quật di tích [[Angkor Wat]] được nhà khoa học [[Henri Mouhot]] ghi lại và phổ biến đến thế giới Tây phương. Cổ hơn thì năm 1923 khai quật được di chỉ [[văn hóa Đông Sơn|Đông Sơn]], thuộc tỉnh [[Thanh Hóa]] nơi khám phá ra một số [[Trống đồng Đông Sơn|trống đồng]] tiêu biểu cho thời đại cổ đại của người Việt.<ref>Goloubew, Victor. "Art et Archélogie de l'Indochine". ''L'Indochine Française''. Hanoi: Imprimerie G Taupin & Cie, 1938. tr 123</ref>
[[Henri Parmentier]] thì có công khảo cổ trong việc nghiên cứu giải mã các cổ vật và di tích [[Chiêm Thành]].
Bốn viện bảo tàng lớn được thành lập để lưu trữ các di vật văn hóa:<ref name="Cultural">Pierre Brocheux và Daniel Hémery. ''Indochina''. Berkeley, CA: University of California Press, 2009. tr 217-249</ref>
*Viện Bảo tàng Albert Sarraut (1920) ở [[Phnôm Pênh|Nam Vang]]
*Viện Bảo tàng Khải Định (1923) ở Huế
*Viện Bảo tàng Louis Finot (1926) ở Hà Nội
*Viện Bảo tàng Blanchard de la Brosse (1927) ở Sài Gòn.
==== Chiến tranh Pháp-Xiêm ====
{{Chính|Chiến tranh Pháp-Xiêm}}
Sự mở rộng lãnh thổ của Pháp trên bán đảo Đông Dương đã kích hoạt [[Chiến tranh Pháp-Xiêm]]. Năm 1893, chính phủ Pháp đã sử dụng tranh chấp biên giới để kích động [[Sự cố Paknam|sự cố hải quân Paknam]] để gây ra một cuộc khủng hoảng. Pháo hạm Pháp xuất hiện tại Bangkok và yêu cầu nhượng lại các vùng lãnh thổ của Lào ở phía đông sông Mê Kông.
Vua [[Rama V]] của Xiêm yêu cầu chính phủ Anh bảo hộ, nhưng sau đó yêu cầu người trước phải tuân thủ tất cả các yêu cầu của chính phủ Pháp. Chính phủ Anh sau đó đã đến chính phủ Pháp để đàm phán với vua Pháp. Hai bên đã đạt được thỏa thuận: Xiêm chỉ cần nhượng lại Lào chứ không phải các vùng lãnh thổ khác, trong khi Anh là một thỏa thuận với Pháp bảo đảm sự toàn vẹn của phần còn lại của Xiêm. Đổi lại, Xiêm phải nhượng vùng [[Shan]] nói tiếng Thái ở đông bắc [[Miến Điện]] cho đế quốc Anh và nhượng Lào cho người Pháp. [[Vương quốc Lào|Lào]] đã được thêm vào sau [[Chiến tranh Pháp-Xiêm]] năm 1893.
==== Xâm lấn lãnh thổ Xiêm ====
[[Tập_tin:OccupationOfTrat1904.jpg|trái|nhỏ|Quân Pháp chiếm đóng [[Trat (tỉnh)|Trat]] năm 1904|324x324px]]
Pháp không dung hòa được tham vọng của họ với Xiêm. Năm 1906, họ đã tạo ra một sự cố khác buộc Xiêm phải công nhận quyền kiểm soát lãnh thổ phía tây [[sông Mê Kông]] và qua [[Luang Prabang]]. Ngoài ra, Xiêm thừa nhận sự kiểm soát của Pháp đối với [[Champasak (thị trấn)|Champasak]] và Tây Campuchia. Hơn nữa, Pháp cũng đã đạt được tỉnh [[Chanthaburi (tỉnh)|Chanthaburi]] dưới kiểm soát của phương Tây. Trước đó, vào năm 1904, Xiêm đã nhượng [[Trat (tỉnh)|Trat]] và sang Pháp để đòi Chanthaburi. Hai năm sau, Xiêm lấy lại được Trat, nhưng họ đã nhượng lại rất nhiều vùng lãnh thổ ở biên giới phía đông nam, như [[Battambang (tỉnh)|Battambang]], [[Siam Nakhon (tỉnh)|Siam Nakhon]] và [[Banteay Meanchey (tỉnh)|Banteay Meanchey]].
Vào cuối những năm 1930, Xiêm đã tiến hành một loạt các cuộc đàm phán với Pháp để cố gắng phục hồi lãnh thổ đã mất trước đó. Sau khi Pháp sụp đổ năm 1940, Xiêm đã xâm chiếm các vùng đất tranh chấp ở Lào và Campuchia. Chiến tranh Thái-Pháp bùng nổ vào tháng 1 năm 1941. Dưới sự bảo hộ hùng mạnh của Nhật Bản, chính phủ Đông Dương trung thành với [[chính phủ Vichy]] đã buộc phải đồng ý nhượng lại [[Angkor Thom]], phía đông [[hồ Tonlé Sap]] và 14 độ vĩ bắc, Xiêm Riệp, Battambang và Lào nằm ở bờ phía tây sông Mê Kông đến Thái Lan. Đại diện hai nước đã tới [[Tokyo]] để ký hiệp định, sau đó Thái Lan giành lại quyền kiểm soát khu vực này.
==== Việt Nam Quốc dân Đảng phát động khởi nghĩa ====
{{Chính|Khởi nghĩa Yên Bái}}
Vào ngày 10 tháng 2 năm 1930, những người lính Việt Nam đóng quân tại [[Yên Bái]] đã phát động một cuộc nổi dậy với sự hỗ trợ của [[Việt Nam Quốc dân Đảng]]. Cuộc tấn công là sự xáo trộn lớn nhất được tạo ra bởi phong trào phục hồi quân chủ [[Cần Vương]] vào cuối thế kỷ 19. Mục đích của cuộc nổi dậy là để truyền cảm hứng cho một cuộc nổi dậy rộng lớn hơn trong dân chúng nói chung trong nỗ lực lật đổ chính quyền thực dân. Việt Nam Quốc dân Đảng trước đó đã cố gắng tham gia vào các hoạt động bí mật để làm suy yếu chính quyền Pháp, nhưng tăng giám sát của Pháp hoạt động của mình dẫn đến nhóm lãnh đạo của họ lấy nguy cơ dàn dựng một cuộc tấn công quân sự quy mô lớn ở [[đồng bằng sông Hồng]] của [[miền Bắc Việt Nam]].
==== Chiến tranh Pháp-Thái ====
{{Chính|Chiến tranh Pháp-Thái}}
Trong [[chiến tranh thế giới thứ hai]], Thái Lan đã nhân cơ hội cho các điểm yếu của Pháp để đòi lại các vùng lãnh thổ đã mất trước đó, dẫn đến Chiến tranh Pháp-Thái giữa tháng 10 năm 1940 và ngày 9 tháng 5 năm 1941. Các lực lượng Thái Lan thường làm tốt trên mặt đất, nhưng các mục tiêu của Thái Lan trong chiến tranh là hạn chế. Vào tháng 1, lực lượng hải quân [[Vichy Pháp]] đã quyết định đánh bại lực lượng hải quân Thái Lan trong [[trận Kong Chang]]. Cuộc chiến kết thúc vào tháng 5 do sự xúi giục của Nhật Bản, với việc Pháp buộc phải thừa nhận lợi ích lãnh thổ cho Thái Lan.
=== Chiến tranh thế giới thứ hai ===
[[Tập tin:Thống-Chế đã nói - Đại-Pháp khắng khít với thái bình, như dân quê với đất ruộng.jpg|trái|nhỏ|225px|upright|Thống Chế đã nói: Đại Pháp khắng khít với thái bình, như dân quê với đất ruộng". Một tờ [[tuyên truyền]] được vẽ tại [[Hà Nội]], 1942 ([[Hán Nôm]] là "太平" Thái bình)]]
{{Chính|Đế quốc Việt Nam|Việt Nam trong Chiến tranh thế giới thứ hai}}
Vào tháng 6 năm 1940, Pháp đầu hàng [[Đức Quốc Xã]], quân Đức chiếm đóng Pháp và [[Chính phủ Vichy|chính phủ bù nhìn Vichy]] được thành lập ở miền nam. Trong khi Pháp bị Nhật Bản đánh bại, Nhật Bản đã nói với chính phủ Pháp mới thành lập vào tháng 9 rằng họ sẽ cho phép quân đội đế quốc Nhật Bản tiến vào [[vịnh Bắc Bộ]], nhưng cuối cùng đã phát triển thành cuộc xâm lược Đông Dương. Động thái này đã tạo ra một nhân tố thuận lợi cho quân đội Nhật Bản chống lại [[Quốc dân Cách mệnh Quân]]. Đồng thời, đây cũng là một trong những bước để Nhật Bản thiết lập một [[khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á]].
Thái Lan nhân cơ hội phát động cuộc chiến tranh Thái-Pháp lần thứ hai vào tháng 10 năm 1940, lấy lại lãnh thổ đã mất trước đó.
Vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật Bản được giải phóng tại Pháp và Hoa Kỳ quyết định kiểm soát hoàn toàn Đông Dương và tiến hành [[Chiến dịch Đông Dương (1945)|chiến dịch Đông Dương lần thứ hai]] của Pháp trong hoàn cảnh Hoa Kỳ có lợi thế ở Thái Bình Dương. Nhật Bản ủng hộ hoàng đế [[Bảo Đại]] thiết lập ngai vàng, thiết lập chế độ bù nhìn và kiểm soát khu vực này cho đến khi ông đầu hàng.
=== Chiến tranh Đông Dương ===
[[Tập_tin:RE-OCCUPATION_OF_FRENCH_INDO-CHINA.jpg|phải|nhỏ|220x220px|Quân Nhật đầu hàng quân Đồng minh tại Sài Gòn]]
{{Chính|Chiến tranh Đông Dương}}
Sau khi [[Chiến tranh thế giới lần thứ hai]] kết thúc, Pháp đã rút các vùng lãnh thổ bị mất trong chiến tranh Thái-Pháp và sẵn sàng nối lại chế độ thực dân, nhưng lại đụng độ với [[Việt Minh]]. Tổ chức này của những người cộng sản và những người theo [[Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam|chủ nghĩa dân tộc]] được lãnh đạo bởi [[Hồ Chí Minh]]. [[Hoa Kỳ]] đã viện trợ cho Việt Nam trong [[chiến tranh thế giới thứ hai]] để hỗ trợ cho sự kháng cự của nhóm này đối với sự cai trị của Nhật Bản.
[[Tổng thống Hoa Kỳ]] [[Franklin D. Roosevelt|Franklin Roosevelt]] và tướng [[Joseph Stilwell]] đã nói rõ rằng người Pháp không được hỏi lại Đông Dương của Pháp sau khi chiến tranh kết thúc. Ông nói với Ngoại trưởng [[Cordell Hull]], người ở Đông Dương dưới sự cai trị tồi tệ hơn của Pháp gần 100 năm so với lúc ban đầu. Roosevelt hỏi [[Tưởng Giới Thạch]] nếu ông muốn Đông Dương, mà Tưởng Giới Thạch trả lời: "Trong mọi trường hợp!"<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=v5YlBtzklvQC&pg=PA235&dq=chiang+kai-shek+vietnam+Under+no+circumstances&hl=en&ei=hI4OTZGwIcL98Aasn5iVDg&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=2&ved=0CCgQ6AEwAQ#v=onepage&q=chiang%20kai-shek%20vietnam%20Under%20no%20circumstances&f=false|title=The march of folly: from Troy to Vietnam|author=Barbara Wertheim Tuchman|publisher=Random House, Inc.|year=1985|isbn=0-345-30823-9|page=235|access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2010}}</ref>. Sau chiến tranh, [[quân đội Anh]] tiến vào miền nam Đông Dương để cho Pháp lấy lại đất<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=iF3MG43x--0C&pg=PA30&dq=chiang+kai-shek+vietnam+french+concessions&hl=en&ei=_Y0OTYTpIsL38Aa2_MiwDg&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=3&ved=0CC0Q6AEwAg#v=onepage&q=chiang%20kai-shek%20vietnam%20french%20concessions&f=false|title=America's war in Vietnam: a short narrative history|author=Larry H. Addington|publisher=Indiana University Press|year=2000|isbn=0-253-21360-6|page=30|access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2010}}</ref>. Tưởng Giới Thạch đã phái tướng [[Lư Hán]] lãnh đạo 200.000 quân vào phía bắc Đông Dương để chấp nhận [[Nhật Bản đầu hàng]]. Chính phủ [[Trung Hoa Dân Quốc|Trung Quốc]] ủng hộ [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] mới thành lập và sử dụng [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] để tăng ảnh hưởng trong chính phủ mới và gây áp lực lên Pháp<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=o1t8-EjWyrgC&pg=PA119&dq=chiang+kai-shek+vietnam+french+concessions&hl=en&ei=_Y0OTYTpIsL38Aa2_MiwDg&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=8&ved=0CEUQ6AEwBw#v=onepage&q=chiang%20kai-shek%20vietnam%20french%20concessions&f=false|title=Britain in Vietnam: prelude to disaster, 1945-6|author=Peter Neville|publisher=Psychology Press|year=2007|isbn=0-415-35848-5|page=119|access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2010}}</ref>. Pháp, dưới sự điều phối của Tưởng Giới Thạch, đã đạt được thỏa thuận hòa bình với [[Việt Minh]] và từ bỏ tất cả các đặc quyền, lợi ích và nhượng bộ của mình tại Trung Quốc. Tháng 3 năm 1946, Đông Dương bắt đầu dần dần trở lại thời kỳ cai trị của Pháp.<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=pVNaoUu7veUC&pg=PA21&dq=chiang+kai-shek+vietnam+french+concessions&hl=en&ei=_Y0OTYTpIsL38Aa2_MiwDg&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=9&ved=0CEoQ6AEwCA#v=onepage&q=chiang%20kai-shek%20vietnam%20french%20concessions&f=false|title=The tragedy of the Vietnam War: a South Vietnamese officer's analysis|author=Van Nguyen Duong|publisher=McFarland|year=2008|isbn=0-7864-3285-3|page=21|access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2010}}</ref><ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=1I4HOcmE4XQC&pg=PA41&dq=chiang+kai-shek+vietnam+french+concessions&hl=en&ei=_Y0OTYTpIsL38Aa2_MiwDg&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=2&ved=0CCgQ6AEwAQ#v=onepage&q=chiang%20kai-shek%20vietnam%20french%20concessions&f=false|title=Vietnam 1946: how the war began|author=Stein T?nnesson|publisher=University of California Press|year=2010|isbn=0-520-25602-6|page=41|access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2010}}</ref><ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.com/books?id=yQGqQ3LmExwC&pg=PA63&dq=chiang+kai-shek+vietnam+french+concessions&hl=en&ei=_Y0OTYTpIsL38Aa2_MiwDg&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=4&ved=0CDIQ6AEwAw#v=onepage&q=chiang%20kai-shek%20vietnam%20french%20concessions&f=false|title=The Vietnam War as history: edited by Elizabeth Jane Errington and B.J.C. McKercher|author=Elizabeth Jane Errington|publisher=Greenwood Publishing Group|year=1990|isbn=0-275-93560-4|page=63|access-date =ngày 28 tháng 11 năm 2010}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.historyplace.com/unitedstates/vietnam/index-1945.html|title=The Vietnam War Seeds of Conflict 1945 - 1960|year=1999|publisher=The History Place|access-date =ngày 28 tháng 12 năm 2010}}</ref>
=== Hiệp định Genève ===
{{Chính|Hiệp định Genève, 1954}}
Tại [[Hội nghị Genève]] diễn ra vào ngày 27 tháng 4 năm 1954, các quốc gia đã đưa ra một giải pháp cho vấn đề Đông Dương. Kết quả của cuộc họp đã ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ của Đông Dương, và yêu cầu Pháp trao cho Việt Nam chủ quyền độc lập, cấm các nước can thiệp vào công việc nội bộ của khu vực và phân định khu vực giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam là khu vực phi quân sự. Cuối cùng, hiệp định quy định rằng miền Bắc và miền Nam Việt Nam đã tổ chức một cuộc [[trưng cầu dân ý]] vào tháng 7 năm 1956 để giải quyết vấn đề thống nhất đất nước<ref name="USvietAnalysis2" />. Pháp từ bỏ tất cả các yêu sách lãnh thổ chống lại Đông Dương tại cuộc họp. Cả [[Hoa Kỳ]] và [[Quốc gia Việt Nam|Nam Việt Nam]] đều không ký hiệp định. Chỉ có Pháp và [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|miền Bắc Việt Nam]] ký hiệp định. Miền Bắc thành một nước [[xã hội chủ nghĩa]], trong khi miền Nam thành lập một chế độ mới do Mỹ hậu thuẫn.
Hoa Kỳ bắt đầu thâm nhập vào các vấn đề của Việt Nam, cuối cùng dẫn đến sự bùng nổ của [[Chiến tranh Việt Nam]]. Năm 1954, [[Campuchia]] và [[Lào]] tuy đã độc lập nhưng cũng tham gia vào cuộc chiến này. [[Chiến tranh Việt Nam]] kết thúc năm 1975, kết thúc bằng việc Hoa Kỳ thất bại và phải rút quân khỏi [[Việt Nam Cộng hòa|miền Nam Việt Nam]]. Việt Nam đã được [[Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975|thống nhất đất nước]] vào năm 1976.
== Giải thể ==
=== Nhật Bản nhập cuộc ===
Năm 1941 [[Quân đội Nhật Bản|Quân đội Đế quốc Nhật Bản]] thời [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] tiếp thu Đông Dương với sự thỏa thuận của [[chính phủ Vichy]] theo thỏa ước giữa đại sứ Pháp Charles Arsènes-Henry ở [[Tōkyō|Tokyo]] và ngoại trưởng [[Yōsuke Matsuoka]] ký hồi 30 Tháng Tám, 1940.<ref>Hà Thúc Ký. tr 52</ref><ref>George Kahin, et al. tr 97</ref> Theo đó thì Nhật Bản được rộng quyền điều hành quân sự trên toàn cõi Đông Dương chống lại [[khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|phe Đồng Minh]] nhưng người Pháp vẫn duy trì bộ máy cai trị của nhà nước Bảo hộ và Nhật công nhận chủ quyền của Pháp.
=== Tranh chấp với Xiêm ===
Trong khi đó thì triều đình [[Xiêm|Xiêm La]] của Thủ tướng [[Plaek Pibulsongkram]] nhân khi thấy quyền lực của Pháp ở Đông Dương bị suy yếu nên tìm cách đòi lại lãnh thổ cũ ở Lào và Cao Miên bị Pháp chiếm đoạt vào năm 1907. Thất bại về mặt ngoại giao, Xiêm điều quân đến gần biên giới rồi mở cuộc tấn công và chiếm toàn phần đất Lào ở hữu ngạn [[mê Kông|sông Mê Kông]] vào ngày 19 Tháng Giêng, 1941. Không quân Xiêm thì mở cuộc oanh kích nhiều địa điểm ở [[tỉnh Battambang]] và tiến chiếm được tỉnh lỵ. Về mặt bể thì hải quân Pháp và hải quân Xiêm nổ súng ở khu vực [[Ko Chang|đảo Chang]]. Ba chiến thuyền của Xiêm bị đánh chìm nhưng vì áp lực của [[Đế quốc Nhật Bản]], chính phủ Đông Dương của toàn quyền [[Jean Decoux]] phải giảng hòa rồi nhượng lại cho Xiêm những [[tỉnh Battambang]], [[Sisophon]] và [[Xiêm Riệp (tỉnh)|Siemreap]] của Cao Miên ngày 11 Tháng Ba, 1941, chấm dứt cuộc xung đột vũ trang giữa Xiêm và Đông Pháp.<ref>Punnee Soonpornthoct. ''From Freedom to Hell, A History of Foreign Interventions in Cambodian Politics and Wars''. New York: Vantage Press. tr 29</ref>
=== Nhật đảo chính Pháp ===
Thỏa hiệp giữa Pháp và Nhật kéo dài bốn năm cho đến ngày [[9 tháng 3]] năm 1945 thì Nhật Bản đột ngột tuyên bố trao quyền cho các chính quyền bản xứ và ra lệnh tống giam nhiều viên chức Pháp. Kiều dân Pháp bị hạn chế đi lại và phải tập trung ở bảy thị trấn, không được di chuyển ra nơi khác.<ref>Nouvelles Éditions Latines. ''Indochina, A French Point of View''. Paris: Bibliotheque de l'Union française, 1950. Tr 9.</ref> Ngày [[11 tháng 3|11 Tháng Ba]], đại sứ Yokoyama Masayuki vào [[Hoàng thành Huế|Đại Nội]] Huế yết kiến vua [[Bảo Đại]] và chứng kiến lời tuyên cáo độc lập của [[Đế quốc Việt Nam]].<ref>Nguyễn Ngọc Phách. ''Chữ Nho và đời sống mới''. Melbourne: Hải Ngoại, 2004. Trang 525</ref> Ngày [[13 tháng 3|13 Tháng Ba]], vua [[Campuchia|Cao Miên]] [[Norodom Sihanouk]] cũng theo gương [[Bảo Đại]] rồi đến ngày [[8 tháng 4|8 Tháng Tư]] thì quốc vương [[Lào]] [[Sisavang Vong]] cũng tuyên bố độc lập.<ref>Ngô Văn. tr 299</ref> Ngày 17 Tháng Tư thì Thủ tướng [[Trần Trọng Kim]] trình diện với danh sách [[nội các]] để chấp chính nhưng đến Tháng Tám năm 1945 khi Nhật tuyên bố đầu hàng phe [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]] thì Pháp xúc tiến việc tái chiếm Đông Dương đang do [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] kiểm soát và lập lại Liên bang Đông Dương.
Ngay từ Tháng Chạp năm 1943 [[Charles de Gaulle|Charles De Gaulle]], người lãnh đạo lực lượng Pháp bấy giờ lưu vong ở [[Algiers]] đã tuyên bố ý định tái lập chủ quyền của Pháp trên các xứ Đông Dương. Lực lượng [[Việt Minh]] dã tiến hành đảo chính Phát-xit Nhật ngày 19/08/1945. Sau đó, chính quyền phát-xít tuyên bố trao toàn bộ quyền kiểm soát tại Việt Nam cho [[Việt Minh]]. Tại Nam Bộ, [[Nam Bộ kháng chiến]] kháng chiến nổ ra khi Việt Minh, trước đó đã thay Nhật kiểm soát khu vực này, đã cương quyết chống trả lại hành vi tái xâm lược của Pháp. Tới ngày 19/12/1946, sau những hành động khiêu khích của Pháp, [[Hồ Chí Minh]] ra [[Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến]], chính thức bắt đầu [[Chiến tranh Đông Dương|giai đoạn 9 năm kháng chiến chống lại sự tái xâm lược của Pháp tại Đông Dương]].
Trong thời gian chín năm cuối, người Pháp có thay đổi cơ chế hành chính: bỏ chức vụ "Toàn quyền" và thay bằng "Cao ủy" rồi "Tổng ủy"; thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ hay thống sứ Bắc Kỳ thì thay bằng "Ủy viên cộng hòa". Tuy nhiên, Đông Dương vẫn là một phần của [[Liên hiệp Pháp]]. Ngoài ra chính phủ Pháp cũng hứa hẹn cải tổ bằng cách phát triển giáo dục và hướng tới dân chủ tự trị trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp.
== Xem thêm ==
* [[Toàn quyền Đông Dương]]
* [[Pháp thuộc]]
* [[Danh sách Thống đốc Nam Kỳ]]
== Ghi chú ==
{{ghi chú}}
== Chú thích ==
{{tham khảo|colwidth=30em}}
{{Commonscat|French Indochina}}
== Tham khảo ==
{{refbegin}}
{{div col|colwidth=30em}}
* Bernard, Paul. "L'Avenir économique de l'Indochine". ''Illustration: número spécial sur l'Indochine''. Paris: Société nationale des Enterprises de Presse, 1949.
*Pierre Brocheux và Daniel Hémery. ''Indochina, An Ambiguous Colonization, 1858-1954''. Berkeley, CA: University of California Press, 2009.
* Cherry, Haydon. "Social Communication and Colonial Archeology in Viêt Nam." ''New Zealand Journal of Asian Studies'' 6, 2 (December, 2004).
* Cooper, Nicola. ''France in Indochina, Colonial Encounters''. Oxford, UK: Berg, 2001.
* Dương Quảng Hàm. ''Quốc văn trích diễm''. Paris: Institut de l'Asie du Sud-Est, 1989.
* Đào Duy Anh. ''Việt Nam văn hóa sử cương''. Houston: Xuân Thu, ?.
* Dommen, Arthur. ''The Indochinese Experience of the French, and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam''. Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 2001.
*Foreign Areas Studies Division. ''US Army Area Handbook for Vietnam''. Washington, DC: Special Operations Research Ofice, 1962.
*Gauthier, Julian. ''L'Indochine au travail dans la paix française''. Paris: Eyrolles, 1949.
* Goodman, Allan E. ''Politics in War''. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1973.
* Goscha, Chritopher E. "Widening the Colonial Encounter: Asian Connections Inside French Indochina During the Interwar Period". ''Modern Asian Studies''. Cambridge, UK: Cambridge University Press, 2008.
* Kahin, George, et al. ''Indochina in the 1940s and 1950s''. Cornell, NY: Cornell Southeast Asia Program, 1992.
* Lévi, Sylvain. ''Indochine''. Paris: Société d'Editions Géographique, Maritimes et Coloniales, 1931.
* Hà Thúc Ký. ''Sống còn với Dân tộc, hồi ký chính trị''. ?: Phương Nghi, 2009.
* Henri Rusier, Henri Brenier. ''L'Indochine française''. Paris: Librairie Armand Colin, 1911.
* Ho Tai, Hue-Tam. '''Radicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution''. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1992.
* Hoàng Cơ Thụy. ''Việt sử khảo luận''. Paris: Nam Á, 2002.
*Marquet, Jean. ''La France mondiale au XX° siècle: l'Union indochinoise''. Paris: Delalain, 1931.
* Marr, David. ''Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945''. Berkeley, CA: University of California Press, 1984.
* Ngô Văn. ''Việt Nam 1920-1945''. Montreuil: L'Insomniaque/Chuông rè, 2000.
* Nguyên Hương Nguyễn Cúc. ''Saigon 300 năm cũ''. Dallas, TX: Tiếng Sông Hương, 1999.
* Nguyễn Thị Chân Quỳnh. ''Thi hương, Tập thượng''. Paris: An Tiêm, 2002.
* Norindr, Panivong. ''Phantasmatic Indochina''. Durham, NC: Duke University Press. 1996.
* Russier, Henri & Henri Brenier. ''L'Indochine française''. Paris: Librairie Armand Colin, 1911.
* Samelink, Oscar. "One Country, Many Journeys". ''Vietnam, Journeys of Body, Mind, and Spirit''. Berkeley, CA: University of California Press, 2003.
* Smith, Harvey et al. ''Area Handbook for South Vietnam''. Washington, DC: US Government Printing Office, 1967.
* Vu Tam Ich. "A Historical Survey of Educational Developments in Vietnam". ''Bulletin of the Bureau of School Service'' Vol XXXII, No 2. Lexington, KY: University of Kentucky, College of Education, 1959.
* {{chú thích sách|tác giả=Clive J. Christie|tựa đề=Southeast Asia in the Twentieth Century: A Reader|url=https://archive.org/details/southeastasiaint0000chri|năm=1998|nhà xuất bản=I.B.Tauris|ngôn ngữ=tiếng Anh}}
{{div col end}}
{{refend}}
== Đọc thêm ==
* {{chú thích sách|year=1931|title=Le Tonkin Scolaire|location=Hanoï|publisher=Imprimerie d’Extrême-Orient}}
* {{chú thích sách|title=Asie du Sud-Est’ L’Asie Orientale et Méridionale aux XIXe et XXe Siècles|location=Paris}}
* {{chú thích sách|author=Anh, N.|year=1999|title=Asie Du Sud-Est’ L’Asie Orientale Et Méridionale Aux Xixe Et Xxe Siècles|location=Paris|publisher=Presses Universitaires de France}}
== Liên kết ngoài ==
{{Commonscat|French Indochina}}
*{{en icon}} {{fr icon}} ''[http://www.wdl.org/en/item/2392 The Colonization of Indochina]'', from around 1892
*{{en icon}} {{fr icon}} ''[http://www.wdl.org/en/item/310 Indochina]'', a tourism book published in 1910
* Pierre Brocheux: [https://encyclopedia.1914-1918-online.net/article/colonial_society_indochina/ Colonial Society (Indochina)], in: [https://encyclopedia.1914-1918-online.net/home.html/ 1914-1918-online. International Encyclopedia of the First World War].
{{Liên bang Đông Dương}}
{{Các cựu thuộc địa của Pháp}}
{{Phong trào độc lập Việt Nam}}
{{Đại Đông Á cộng vinh quyển}}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
{{coord|21.0333|N|105.8500|E|source:wikidata|display=title}}
[[Thể loại:Liên bang Đông Dương| ]]
[[Thể loại:Cựu quốc gia ở Đông Nam Á]]
[[Thể loại:Cựu thuộc địa ở Châu Á]]
[[Thể loại:Thực dân Pháp ở châu Á]]
[[Thể loại:Cựu thuộc địa của Pháp]]
[[Thể loại:Cựu quốc gia trong lịch sử Campuchia]]
[[Thể loại:Cựu quốc gia trong lịch sử Việt Nam]]
[[Thể loại:Lịch sử Lào]]
[[Thể loại:Việt Nam thế kỷ 19]]
[[Thể loại:Việt Nam thế kỷ 20]]
[[Thể loại:Campuchia thế kỷ 19]]
[[Thể loại:Campuchia thế kỷ 20]]
[[Thể loại:Lào thế kỷ 19]]
[[Thể loại:Lào thế kỷ 20]]
[[Thể loại:Chủ nghĩa Tân đế quốc]]
[[Thể loại:Đế quốc thực dân Pháp]]
[[Thể loại:Liên hiệp Pháp]]
[[Thể loại:Đế chế thứ hai]]
[[Thể loại:Đệ Tam Cộng hòa Pháp]]
[[Thể loại:Đệ Tứ Cộng hòa Pháp]]
[[Thể loại:Quan hệ Campuchia-Pháp]]
[[Thể loại:Quan hệ Lào-Pháp]]
[[Thể loại:Quan hệ Pháp – Việt Nam]]
[[Thể loại:Khởi đầu năm 1887 ở Việt Nam]]
[[Thể loại:Khởi đầu năm 1887 ở Liên bang Đông Dương]]
[[Thể loại:Khởi đầu năm 1945 ở Việt Nam]] | 131758 |
1294 | Đông dương | 0 | Bán đảo Đông Dương | null | 7935474 | 2894287 | 2012-08-21T15:14:04 | true | Bot: Giải quyết đổi hướng kép đến [[Bán đảo Đông Dương]] | wikitext | text/x-wiki | qhevargqmjbyrfp8tfu4p8wm30oyiod | {
"username": "EmausBot",
"id": "161772",
"ip": null
} | #đổi [[Bán đảo Đông Dương]] | 38 |
1296 | World Wide Web | 0 | null | null | 73383482 | 72094757 | 2025-03-29T19:19:53 | false | /* Đọc thêm */ | wikitext | text/x-wiki | bqnuri6f7m98r8a8g0itkiwcm4fqpia | {
"username": null,
"id": null,
"ip": "212.200.164.98"
} | {{1000 bài cơ bản}}
[[Tập tin:WWW logo by Robert Cailliau.svg|nhỏ|phải|200px|Logo của World Wide Web]]
[[Tập tin:Web Page.png|thumb|upright=1.35|Một trang web có thể được hiển thị bằng trình duyệt web. Các trình duyệt web thường làm nổi bật và gạch chân các liên kết siêu văn bản và các trang web có thể chứa hình ảnh.]]
[[Tập tin:World Map of Web Index 2014.svg|thumb|upright=1.35|Bản đồ toàn cầu về [[chỉ mục web]] cho các quốc gia trong năm 2014]]
'''World Wide Web''', gọi tắt là '''WWW''', '''mạng lưới [[Trái Đất|toàn cầu]]''' là một [[không gian]] [[thông tin]] toàn cầu mà mọi người có thể truy cập ([[đọc]] và viết) [[thông tin]] qua các thiết bị kết nối với mạng [[Internet]]; một [[hệ thống thông tin]] trên Internet cho phép các [[tài liệu]] được kết nối với các tài liệu khác bằng các liên kết [[siêu văn bản]], cho phép người dùng tìm kiếm thông tin bằng cách di chuyển từ tài liệu này sang tài liệu khác. [[Thuật ngữ]] này thường được hiểu nhầm là [[từ đồng nghĩa]] với chính thuật ngữ ''Internet''. Nhưng [[Website|Web]] thực ra chỉ là một trong các [[dịch vụ]] chạy trên Internet, ngoài Web ra còn các dịch vụ khác như [[thư điện tử]] hoặc [[FTP]].
[[Nhà khoa học máy tính|Nhà khoa học]] người [[Anh]]: [[Tim Berners-Lee]] được cho là đã phát minh ra World Wide Web khi làm việc cho [[CERN]] vào tháng 3 năm [[1989]] bằng cách gửi ''Quản lý thông tin: Đề xuất''<ref>[https://www.w3.org/History/1989/proposal.html https://www.w3.org/History/1989/proposed.html]</ref> và viết [[trình duyệt web]] đầu tiên vào năm [[1990]].<ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=wK0xBWfL9GkC|title=Tim Berners-Lee: Inventor of the World Wide Web|last=McPherson|first=Stephanie Sammartino|publisher=Twenty-First Century Books|year=2009|isbn=978-0-8225-7273-2|archive-url=https://web.archive.org/web/20160415133504/https://books.google.com/books?id=wK0xBWfL9GkC|archive-date=ngày 15 tháng 4 năm 2016|url-status=live|df=dmy-all}}</ref><ref name="AHT">{{Chú thích báo|url=http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,990627,00.html|title=Network Designer Tim Berners-Lee|last=Quittner|first=Joshua|date=ngày 29 tháng 3 năm 1999|work=Time Magazine|access-date =ngày 17 tháng 5 năm 2010|archive-url=https://web.archive.org/web/20070815090521/http://www.time.com/time/magazine/article/0%2C9171%2C990627%2C00.html|archive-date=ngày 15 tháng 8 năm 2007|url-status=live|quote=He wove the World Wide Web and created a mass medium for the 21st century. The World Wide Web is Berners-Lee's alone. He designed it. He loosed it on the world. And he more than anyone else has fought to keep it open, nonproprietary and free.|url-access=subscription}}{{Số trang}}</ref> Trình duyệt được phát hành bên ngoài CERN năm [[1991]], lần đầu tiên cho các tổ chức nghiên cứu khác bắt đầu vào tháng 1 năm 1991 và công chúng trên Internet vào tháng 8 năm 1991. World Wide Web là trung tâm cho sự phát triển của [[Thời đại Thông tin]] và là công cụ chính mà hàng tỷ người sử dụng để tương tác trên Internet.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.pewinternet.org/2014/03/11/world-wide-web-timeline|title=World Wide Web Timeline|date=ngày 11 tháng 3 năm 2014|website=Pew Research Center|archive-url=https://web.archive.org/web/20150729162322/http://www.pewinternet.org/2014/03/11/world-wide-web-timeline/|archive-date=ngày 29 tháng 7 năm 2015|url-status=live|access-date =ngày 1 tháng 8 năm 2015}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.washingtonpost.com/news/style-blog/wp/2014/03/12/36-ways-the-web-has-changed-us/|title=36 Ways the Web Has Changed Us|author=Dewey|first=Caitlin|date=ngày 12 tháng 3 năm 2014|website=The Washington Post|archive-url=https://web.archive.org/web/20150909195224/https://www.washingtonpost.com/news/style-blog/wp/2014/03/12/36-ways-the-web-has-changed-us/|archive-date=ngày 9 tháng 9 năm 2015|url-status=live|access-date =ngày 1 tháng 8 năm 2015}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.internetlivestats.com|title=Internet Live Stats|archive-url=https://web.archive.org/web/20150702051222/http://www.internetlivestats.com/|archive-date=ngày 2 tháng 7 năm 2015|url-status=live|access-date =ngày 1 tháng 8 năm 2015}}</ref>
[[Tài nguyên web]] có thể là bất kỳ loại phương tiện có thể tải xuống nào, nhưng ''[[Trang web|các trang web]]'' là phương tiện [[siêu văn bản]] đã được [[Văn bản có định dạng|định dạng]] bằng [[HTML|Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản]] (HTML).<ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=W6Sv_mdC_nIC&pg=PA390|title=New Perspectives on Microsoft Office Access 2007, Comprehensive|last=Joseph Adamski|last2=Kathy Finnegan|publisher=Cengage Learning|year=2007|isbn=978-1-4239-0589-9|page=390}}</ref> [[Định dạng tập tin|Định dạng]] như vậy cho phép các [[siêu liên kết]] nhúng có chứa [[URL]] và cho phép người dùng dễ dàng [[Định hướng|điều hướng]] đến các [[tài nguyên web]] khác. Ngoài [[Plain text|văn bản]], các trang web có thể chứa các thành phần [[hình ảnh]], [[video]], [[âm thanh]] và [[phần mềm]] được hiển thị trong trình duyệt web của người dùng dưới dạng các trang kết hợp nội dung [[đa phương tiện]].
Nhiều tài nguyên web với một chủ đề chung, một [[tên miền]] chung hoặc cả hai, tạo nên một trang web. Trang web được lưu trữ trong các [[máy tính]] đang chạy [[Chương trình máy tính|chương trình]] gọi là [[máy chủ web]] đáp ứng các yêu cầu được thực hiện qua Internet từ các trình duyệt web chạy trên máy tính của người dùng. Nội dung trang web có thể được cung cấp phần lớn bởi nhà xuất bản hoặc tương tác nơi người dùng đóng góp nội dung. Các trang web cung cấp nội dung với vô số lý do như thông tin, [[giải trí]], [[thương mại]], [[chính phủ]] hoặc phi chính phủ,...
== Lịch sử ==
[[Tập tin:NeXTcube_first_webserver.JPG|nhỏ| Máy tính NeXT được sử dụng bởi [[Tim Berners-Lee]] tại [[CERN]]. ]]
[[Tập tin:CERN_web_corridor.jpg|nhỏ| Hành lang nơi WWW ra đời. [[CERN]], tầng trệt tòa nhà số 1 ]]
Tầm nhìn của Tim Berners-Lee về một hệ thống thông tin siêu liên kết toàn cầu đã trở thành một khả năng thực tế vào nửa cuối thập niên 1980.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.mwdwebsites.com/nj-web-design-world-wide-web.html|title=The Evolution of the World Wide Web|author=Enzer|first=Larry|date=ngày 31 tháng 8 năm 2018|website=Monmouth Web Developers|archive-url=https://web.archive.org/web/20181118231641/https://www.mwdwebsites.com/nj-web-design-world-wide-web.html|archive-date = ngày 18 tháng 11 năm 2018 |url-status=|access-date=ngày 31 tháng 8 năm 2018}}</ref> Đến năm [[1985]], Internet toàn cầu bắt đầu phổ biến ở [[châu Âu]] và [[Hệ thống phân giải tên miền|Hệ thống tên miền]] (trên đó [[URL|Bộ định vị tài nguyên thống nhất]] được xây dựng) ra đời. Năm [[1988]], kết nối [[Internet Protocol|IP]] trực tiếp đầu tiên giữa châu Âu và [[Bắc Mỹ]] đã được thực hiện và Berners-Lee bắt đầu thảo luận cởi mở về khả năng của một [[hệ thống]] giống như web tại CERN.<ref>{{Chú thích web|url=http://cs.wellesley.edu/~cs315/BOOKS/TBL12.pdf|title=Archived copy|archive-url=https://web.archive.org/web/20151117022333/http://cs.wellesley.edu/~cs315/BOOKS/TBL12.pdf|archive-date=ngày 17 tháng 11 năm 2015|url-status=dead|access-date = ngày 26 tháng 8 năm 2015}}</ref>
Khi làm việc tại CERN, Berners-Lee đã trở nên thất vọng với sự thiếu hiệu quả và khó khăn do tìm kiếm thông tin được [[Lưu trữ dữ liệu|lưu trữ]] trên các máy tính khác nhau.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.usatoday.com/story/tech/news/2019/03/12/world-wide-web-turns-30-berners-lee-contract-thoughts-internet/3137726002/|title=Happy 30th birthday, World Wide Web. Inventor outlines plan to combat hacking, hate speech|last=May|first=Ashley|date=ngày 12 tháng 3 năm 2019|work=USA Today|access-date = ngày 12 tháng 3 năm 2019 |language=en}}</ref> Vào ngày 12 tháng 3 năm [[1989]], ông đã gửi một [[bản ghi nhớ]], có tiêu đề "Information Management: A Proposal",<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.vox.com/2019/3/12/18260709/30th-anniversary-of-the-world-wide-web-google-doodle-history|title=The World Wide Web — not the internet — turns 30 years old|last=Aja Romano|date=ngày 12 tháng 3 năm 2019|work=Vox.com}}</ref> cho ban quản lý tại CERN cho một hệ thống có tên "Lưới" tham chiếu ENQUIRE, một [[dự án]] [[cơ sở dữ liệu]] và [[phần mềm]] mà ông đã xây dựng vào năm [[1980]], trong đó sử dụng thuật ngữ "web" và mô tả một [[Hệ thống thông tin quản lý|hệ thống quản lý thông tin]] phức tạp hơn dựa trên các liên kết được nhúng trong văn bản có thể đọc được: "Hãy tưởng tượng, sau đó, các tài liệu tham khảo trong tài liệu này đều được liên kết với [[địa chỉ mạng]] của thứ mà chúng đề cập, do đó trong khi đọc tài liệu này, bạn có thể chuyển tới chúng bằng một cú click chuột." Một hệ thống như vậy, ông giải thích, có thể được truy cập đến bằng cách sử dụng một trong những ý nghĩa hiện có của từ ''siêu văn bản'', một thuật ngữ mà ông nói đã được đặt ra trong những năm [[1950]]. Đề xuất tiếp tục giải thích tại sao các liên kết siêu văn bản như vậy không thể bao gồm các tài liệu đa phương tiện bao gồm [[đồ họa]], lời nói và [[video]], do đó Berners-Lee đưa ra việc sử dụng thuật ngữ ''hypermedia''.<ref>{{Chú thích web|url=http://w3.org/History/1989/proposal.html|title=Information Management: A Proposal|author=Berners-Lee|first=Tim|date=March 1989|publisher=W3C|archive-url=https://web.archive.org/web/20090315161300/http://www.w3.org/History/1989/proposal.html|archive-date=ngày 15 tháng 3 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 27 tháng 7 năm 2009}}</ref>
Với sự giúp đỡ từ đồng nghiệp và người say mê siêu văn bản Robert Cailliau, ông đã xuất bản một đề xuất chính thức hơn vào ngày 12 tháng 11 năm 1990 để xây dựng một "dự án siêu văn bản" có tên là "WorldWideWeb" (một từ) dưới dạng "web" của "tài liệu siêu văn bản" để xem "[[Trình duyệt web|Trình duyệt]]" sử dụng [[Client-server|kiến trúc máy chủ của khách hàng]].<ref name="W90">{{Chú thích web|url=http://w3.org/Proposal.html|title=WorldWideWeb: Proposal for a HyperText Project|author=Berners-Lee|first=Tim|authorlink=Tim Berners-Lee|author2=Cailliau|first2=Robert|authorlink2=Robert Cailliau|date=ngày 12 tháng 11 năm 1990|archive-url=https://web.archive.org/web/20150502080527/http://www.w3.org/Proposal.html|archive-date=ngày 2 tháng 5 năm 2015|url-status=live|access-date =ngày 12 tháng 5 năm 2015}}</ref> Tại thời điểm này, HTML và [[Hypertext Transfer Protocol|HTTP]] đã được phát triển được khoảng hai tháng và máy chủ Web đầu tiên còn khoảng một tháng để hoàn thành thử nghiệm thành công đầu tiên. Đề xuất này ước tính rằng một trang web chỉ đọc sẽ được phát triển trong vòng ba tháng và phải mất sáu tháng để đạt được "việc tạo ra các liên kết mới và tài liệu mới của độc giả, [để] [[quyền tác giả]] trở nên phổ biến" cũng như "tự động thông báo cho độc giả khi có tài liệu mới mà anh ấy/cô ấy quan tâm". Trong khi mục tiêu là thông tin chỉ đọc được đáp ứng, quyền tác giả có thể truy cập của nội dung web mất nhiều thời gian hơn để hoàn thiện, với khái niệm [[wiki]], [[WebDAV]], [[blog]], [[Web 2.0]] và [[RSS (định dạng tập tin)|RSS]]/Atom.<ref>{{Chú thích web|url=http://info.cern.ch/NextBrowser.html|title=Tim Berners-Lee's original World Wide Web browser|archive-url=https://web.archive.org/web/20110717031115/http://info.cern.ch/NextBrowser.html|archive-date=ngày 17 tháng 7 năm 2011|url-status=live|quote=With recent phenomena like blogs and wikis, the Web is beginning to develop the kind of collaborative nature that its inventor envisaged from the start.}}</ref>
[[Tập tin:Cern_datacenter.jpg|nhỏ|Trung tâm dữ liệu CERN năm 2010 chứa một số máy chủ WWW]]
Đề xuất này được mô phỏng theo phần mềm đọc [[SGML]] Dynatext của [[Electronic Book Technology]], một phần phụ của Viện Nghiên cứu Thông tin và Học bổng tại [[Đại học Brown]]. Hệ thống [[Dynatext]], được CERN cấp phép, là nhân tố chính trong việc mở rộng SGML ISO 8879: 1986 cho Hypermedia trong HyTime, nhưng nó được coi là quá đắt và có chính sách cấp phép không phù hợp để sử dụng trong cộng đồng vật lý năng lượng cao nói chung, cụ thể là lệ phí cho mỗi tài liệu và từng lần cập nhật tài liệu. Máy tính NeXT đã được Berners-Lee sử dụng làm [[máy chủ web]] đầu tiên trên thế giới và cũng để viết [[trình duyệt web]] đầu tiên, WorldWideWeb vào năm 1990. Vào Giáng sinh năm 1990, Berners-Lee đã xây dựng tất cả các công cụ cần thiết cho một Web hoạt động:<ref>{{Chú thích web|url=http://w3.org/People/Berners-Lee/WorldWideWeb|title=Tim Berners-Lee: client|publisher=W3.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20090721113108/http://www.w3.org/People/Berners-Lee/WorldWideWeb|archive-date=ngày 21 tháng 7 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 27 tháng 7 năm 2009}}</ref> trình duyệt web đầu tiên (cũng là trình chỉnh sửa web) và máy chủ web đầu tiên. Trang web đầu tiên,<ref>{{Chú thích web|url=http://w3.org/History/19921103-hypertext/hypertext/WWW/TheProject.html|title=First Web pages|publisher=W3.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20100131201408/http://www.w3.org/History/19921103-hypertext/hypertext/WWW/TheProject.html|archive-date=ngày 31 tháng 1 năm 2010|url-status=live|access-date =ngày 27 tháng 7 năm 2009}}</ref> mô tả chính dự án, được xuất bản vào ngày 20 tháng 12 năm 1990.<ref>{{Chú thích web|url=http://home.cern/topics/birth-web|title=The birth of the web|publisher=CERN|archive-url=https://web.archive.org/web/20151224103843/http://home.cern/topics/birth-web|archive-date=ngày 24 tháng 12 năm 2015|url-status=live|access-date =ngày 23 tháng 12 năm 2015}}</ref>
Trang web đầu tiên có thể bị mất, nhưng Paul Jones của UNC-Chapel Hill ở Bắc Carolina đã thông báo vào tháng 5 năm 2013 rằng Berners-Lee đã đưa cho Jones những gì ông nói là trang web lâu đời nhất được biết đến trong chuyến thăm năm 1991 đến UNC. Jones đã lưu nó trên một [[ổ đĩa quang]] từ và trên máy tính NeXT của mình.<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.newsobserver.com/2013/05/24/2915835/hunt-for-worlds-oldest-www-page.html|title=Hunt for world's oldest WWW page leads to UNC Chapel Hill|last=Murawski|first=John|date=ngày 24 tháng 5 năm 2013|work=[[News & Observer]]|archive-url=https://web.archive.org/web/20130608011200/http://www.newsobserver.com/2013/05/24/2915835/hunt-for-worlds-oldest-www-page.html|archive-date=ngày 8 tháng 6 năm 2013|url-status=dead}}</ref> Vào ngày 6 tháng 8 năm 1991, Berners-Lee đã xuất bản một bản tóm tắt ngắn về dự án World Wide Web trên nhóm tin ''alt.hypertext''.<ref>{{Chú thích web|url=http://groups.google.com/group/alt.hypertext/msg/395f282a67a1916c|title=Short summary of the World Wide Web project|date=ngày 6 tháng 8 năm 1991|access-date =ngày 27 tháng 7 năm 2009}}</ref> Ngày này đôi khi bị nhầm lẫn với lần xuất hiện công khai của các máy chủ web đầu tiên đã xảy ra vài tháng trước đó. Một ví dụ khác về sự nhầm lẫn như vậy, một số phương tiện truyền thông đã báo cáo rằng bức ảnh đầu tiên trên Web được Berners-Lee công bố vào năm 1992, một hình ảnh của ban nhạc nhà Cern [[Les Horribles Cernettes]] được chụp bởi Silvano de Gennaro; Gennaro đã từ chối câu chuyện này, viết rằng phương tiện truyền thông đã "hoàn toàn bóp méo lời nói của chúng tôi vì lợi ích của chủ nghĩa giật gân rẻ tiền".<ref>{{Chú thích web|url=http://musiclub.web.cern.ch/MusiClub/bands/cernettes/disclaimer.html|title=Silvano de Gennaro disclaims 'the first photo on the Web'|archive-url=https://web.archive.org/web/20120804062915/http://musiclub.web.cern.ch/MusiClub/bands/cernettes/disclaimer.html|archive-date=ngày 4 tháng 8 năm 2012|url-status=live|access-date =ngày 27 tháng 7 năm 2012|quote=If you read well our website, it says that it was, to our knowledge, the 'first photo of a band'. Dozens of media are totally distorting our words for the sake of cheap sensationalism. Nobody knows which was the first photo on the Web.}}</ref>
Các máy chủ đầu tiên bên ngoài châu Âu được lắp đặt tại Trung tâm Stanford Linear Accelerator (SLAC) ở Palo Alto, California, để lưu trữ các cơ sở dữ liệu Spires -HEP. Các nguồn khi nói đến ngày của sự kiện này có khác nhau đáng kể. Thời gian biểu của World Wide Web Consortium cho biết tháng 12 năm 1992,<ref>{{Chú thích web|url=http://w3.org/2005/01/timelines/timeline-2500x998.png|title=W3C timeline|archive-url=https://web.archive.org/web/20100331235418/http://www.w3.org/2005/01/timelines/timeline-2500x998.png|archive-date=ngày 31 tháng 3 năm 2010|url-status=live|access-date =ngày 30 tháng 3 năm 2010}}</ref> trong khi chính SLAC tuyên bố tháng 12 năm 1991,<ref>{{Chú thích web|url=http://www.slac.stanford.edu/history/earlyweb/history.shtml|title=The Early World Wide Web at SLAC|archive-url=https://web.archive.org/web/20051124035516/http://www.slac.stanford.edu/history/earlyweb/history.shtml|archive-date=ngày 24 tháng 11 năm 2005|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://slac.stanford.edu/spires/about/|title=About SPIRES|archive-url=https://web.archive.org/web/20100212023810/http://www.slac.stanford.edu/spires/about/|archive-date=ngày 12 tháng 2 năm 2010|url-status=live|access-date =ngày 30 tháng 3 năm 2010}}</ref> cũng như một tài liệu của W3C có tiêu đề ''A Little History of the World Wide Web''.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.w3.org/History.html|title=A Little History of the World Wide Web|archive-url=https://web.archive.org/web/20130506021750/http://www.w3.org/History.html|archive-date=ngày 6 tháng 5 năm 2013|url-status=live}}</ref> Khái niệm cơ bản của siêu văn bản bắt nguồn từ các dự án trước đó từ những năm 1960, như Hệ thống chỉnh sửa siêu văn bản (HES) tại Đại học Brown, Dự án Xanadu của Ted Nelson và Hệ thống oN-Line (NLS) của [[Douglas Engelbart]]. Cả Nelson và Engelbart đã lần lượt lấy cảm hứng từ bản sao Bản ghi nhớ của [[Vannevar Bush]], được mô tả trong luận văn năm 1945 'Như chúng ta có thể suy nghĩ'.
Bước đột phá của Berners-Lee là kết hôn với siêu văn bản trên Internet. Trong cuốn sách ''Weaving The Web'', ông giải thích rằng ông đã nhiều lần đề xuất rằng một cuộc hôn nhân giữa hai công nghệ là có thể với các thành viên của ''cả hai'' cộng đồng kỹ thuật, nhưng khi không có ai nhận lời mời, cuối cùng ông đã tự nhận dự án. Trong quá trình đó, ông đã phát triển ba công nghệ thiết yếu:
* Một hệ thống các mã định danh duy nhất trên toàn cầu cho các tài nguyên trên Web và các nơi khác, định danh tài liệu chung (UDI), sau này được gọi là [[URL|định vị tài nguyên thống nhất]] (URL) và [[URI|định danh tài nguyên thống nhất]] (URI);
* Ngôn ngữ xuất bản [[HTML|HyperText Markup Language]] (HTML);
* [[Hypertext Transfer Protocol|Giao thức truyền siêu văn bản]] (HTTP).<ref>{{Chú thích web|url=http://web.mit.edu/invent/iow/berners-lee.html|title=Inventor of the Week Archive: The World Wide Web|publisher=[[Massachusetts Institute of Technology]]: MIT School of Engineering|archive-url=https://web.archive.org/web/20100608081841/http://web.mit.edu/invent/iow/berners-lee.html|archive-date=ngày 8 tháng 6 năm 2010|access-date =ngày 23 tháng 7 năm 2009}}</ref>
World Wide Web có một số khác biệt so với các hệ thống siêu văn bản khác có sẵn tại thời điểm đó. Web chỉ yêu cầu các liên kết đơn hướng chứ không phải liên kết hai chiều, khiến ai đó có thể liên kết đến tài nguyên khác mà không cần hành động của chủ sở hữu tài nguyên đó. Nó cũng làm giảm đáng kể khó khăn trong việc triển khai các máy chủ và trình duyệt web (so với các hệ thống trước đó), nhưng đến lượt nó lại đưa ra vấn đề kinh niên về ''liên kết hỏng''. Không giống như các phiên bản tiền nhiệm như HyperCard, World Wide Web không độc quyền, cho phép phát triển máy chủ và máy khách một cách độc lập và thêm tiện ích mở rộng mà không bị hạn chế cấp phép. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1993, Cern tuyên bố rằng World Wide Web sẽ là miễn phí cho mọi người.<ref>{{Chú thích web|url=http://tenyears-www.web.cern.ch/tenyears-www/Welcome.html|title=Ten Years Public Domain for the Original Web Software|date=ngày 30 tháng 4 năm 2003|publisher=Tenyears-www.web.cern.ch|archive-url=https://web.archive.org/web/20090813032723/http://tenyears-www.web.cern.ch/tenyears-www/Welcome.html|archive-date=ngày 13 tháng 8 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 27 tháng 7 năm 2009}}</ref> Đến hai tháng sau khi thông báo rằng việc máy chủ thực hiện giao thức [[Gopher (protocol)|Gopher]] không còn miễn phí sử dụng, điều này đã tạo ra một sự thay đổi nhanh chóng từ bỏ Gopher và hướng tới Web. Một trình duyệt web phổ biến ban đầu là [[ViolaWWW]] cho [[Unix]] và [[Hệ thống X Window|X Window System]].
[[Tập tin:Cailliau_Abramatic_Berners-Lee_10_years_WWW_consortium.png|nhỏ| Robert Cailliau, Jean-François Abramatic và [[Tim Berners-Lee]] tại lễ kỷ niệm 10 năm của Hiệp hội mạng toàn cầu. ]]
Các học giả thường đồng ý rằng một bước ngoặt của World Wide Web đã bắt đầu bằng việc giới thiệu<ref>{{Chú thích web|url=http://livinginternet.com/w/wi_mosaic.htm|title=Mosaic Web Browser History – NCSA, Marc Andreessen, Eric Bina|publisher=Livinginternet.com|access-date=ngày 27 tháng 7 năm 2009|archive-date = ngày 18 tháng 5 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20100518171938/http://www.livinginternet.com/w/wi_mosaic.htm}}</ref> trình duyệt web Mosaic<ref>{{Chú thích web|url=http://totic.org/nscp/demodoc/demo.html|title=NCSA Mosaic – ngày 10 tháng 9 năm 1993 Demo|publisher=Totic.org|access-date =ngày 27 tháng 7 năm 2009}}</ref> vào năm 1993, một trình duyệt đồ họa được phát triển bởi một nhóm tại Trung tâm Ứng dụng [[siêu máy tính]] tại Đại học Illinois tại Urbana mật Champaign (NCSA-UIUC), do Marc Andreessen lãnh đạo. Tài trợ cho Mosaic đến từ Sáng kiến Điện toán và Truyền thông hiệu suất cao của Hoa Kỳ và Đạo luật tính toán hiệu năng cao năm 1991, một trong một số phát triển điện toán do Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Al Gore khởi xướng.<ref>{{Chú thích web|url=http://cs.washington.edu/homes/lazowska/faculty.lecture/innovation/gore.html|title=Vice President Al Gore's ENIAC Anniversary Speech|date=ngày 14 tháng 2 năm 1996|publisher=Cs.washington.edu|archive-url=https://web.archive.org/web/20090220183820/http://www.cs.washington.edu/homes/lazowska/faculty.lecture/innovation/gore.html|archive-date=ngày 20 tháng 2 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 27 tháng 7 năm 2009}}</ref> Trước khi phát hành Mosaic, đồ họa thường không được trộn với văn bản trong trang web và phổ biến của web là ít hơn so với các giao thức cũ được sử dụng trên Internet, chẳng hạn như Gopher và Wide Area Information Servers (WAIS). [[Giao diện người dùng]] đồ họa của Mosaic cho phép Web trở thành giao thức Internet phổ biến nhất. [[W3C|World Wide Web Consortium]] (W3C) được Tim Berners-Lee thành lập sau khi ông rời Tổ chức nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN) vào tháng 10 năm 1994. W3C được thành lập tại [[Viện Công nghệ Massachusetts]] Phòng thí nghiệm Khoa học máy tính (MIT / LCS) với sự hỗ trợ từ các [[Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến|dự án nghiên cứu nâng cao Cơ quan Quốc phòng]] (DARPA), vốn đã đi tiên phong trong Internet; một năm sau, một trang web thứ hai được thành lập tại INRIA (một phòng thí nghiệm nghiên cứu máy tính quốc gia của Pháp) với sự hỗ trợ của [[Ủy ban châu Âu|Ủy ban Châu Âu]] DG InfSo; và vào năm 1996, một trang web thứ ba đã được tạo ra tại [[Nhật Bản]] tại [[Đại học Keio]]. Đến cuối năm 1994, tổng số trang web vẫn còn tương đối ít, nhưng nhiều trang web đáng chú ý đã đi vào hoạt động, báo trước hoặc truyền cảm hứng cho các dịch vụ phổ biến nhất hiện nay.
Được kết nối bởi Internet, các trang web khác đã được tạo ra trên khắp thế giới. Điều này thúc đẩy phát triển tiêu chuẩn quốc tế cho các giao thức và định dạng. Berners-Lee tiếp tục tham gia vào việc hướng dẫn phát triển các tiêu chuẩn web, chẳng hạn như các [[ngôn ngữ đánh dấu]] để soạn các trang web và ông ủng hộ tầm nhìn của mình về [[Mạng ngữ nghĩa|Semantic Web]]. World Wide Web cho phép truyền bá thông tin qua Internet thông qua định dạng linh hoạt và dễ sử dụng. Do đó, nó đóng một vai trò quan trọng trong việc phổ biến sử dụng Internet.<ref>{{Chú thích web|url=http://legal-dictionary.thefreedictionary.com/Internet|title=Internet legal definition of Internet|date=ngày 15 tháng 7 năm 2009|website=West's Encyclopedia of American Law, edition 2|publisher=Free Online Law Dictionary|access-date =ngày 25 tháng 11 năm 2008}}</ref> Mặc dù hai thuật ngữ này đôi khi dùng lẫn nhau do được sử dụng phổ biến, ''World Wide Web'' là không [[Từ đồng nghĩa|đồng nghĩa]] với ''Internet.''<ref>{{Chú thích web|url=http://techterms.com/definition/www|title=WWW (World Wide Web) Definition|publisher=TechTerms|archive-url=https://web.archive.org/web/20090511015356/http://www.techterms.com/definition/www|archive-date=ngày 11 tháng 5 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 19 tháng 2 năm 2010}}</ref> Web là một không gian thông tin chứa các tài liệu siêu liên kết và các tài nguyên khác, được xác định bởi các URI của chúng.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.w3.org/TR/webarch/#intro|title=Architecture of the World Wide Web, Volume One|author=Jacobs|first=Ian|author2=Walsh|first2=Norman|date=ngày 15 tháng 12 năm 2004|publisher=W3C|location=Introduction|archive-url=https://web.archive.org/web/20150209063216/http://www.w3.org/TR/webarch/#intro|archive-date=ngày 9 tháng 2 năm 2015|url-status=live|access-date =ngày 11 tháng 2 năm 2015}}</ref> Nó được triển khai như cả phần mềm máy khách và máy chủ sử dụng các giao thức Internet như [[TCP/IP|TCP / IP]] và [[Hypertext Transfer Protocol|HTTP]]. Berners-Lee được Nữ hoàng [[Elizabeth II]] [[Huân chương Đế quốc Anh|phong tước hiệp sĩ]] năm 2004 vì "các dịch vụ cho sự phát triển toàn cầu của Internet".<ref name="gaz">{{Chú thích web|url=https://www.thegazette.co.uk/London/issue/57155/supplement/24/data.pdf|title=Supplement no.1, Diplomatic and Overseas List, K.B.E.|date=ngày 31 tháng 12 năm 2003|website=thegazette.co.uk|publisher=The Gazette|archive-url=https://web.archive.org/web/20160203092022/https://www.thegazette.co.uk/London/issue/57155/supplement/24/data.pdf|archive-date=ngày 3 tháng 2 năm 2016|url-status=live|access-date =ngày 7 tháng 2 năm 2016}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=http://news.bbc.co.uk/1/hi/technology/3357073.stm|title=Web's inventor gets a knighthood|date=ngày 31 tháng 12 năm 2003|access-date =ngày 25 tháng 5 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20071223055131/http://news.bbc.co.uk/1/hi/technology/3357073.stm|archive-date=ngày 23 tháng 12 năm 2007|url-status=live|publisher=BBC}}</ref> Ông không bao giờ xin cấp bằng sáng chế cho phát minh của mình.
==Chức năng==
{{main|HTTP|HTML}}
[[Tập tin:Internet_Key_Layers.png|nhỏ| World Wide Web hoạt động như một [[Giao thức truyền thông|giao thức]] [[Tầng ứng dụng|lớp ứng dụng]] được chạy "trên đỉnh" (theo nghĩa bóng) Internet, giúp làm cho nó hoạt động nhiều hơn. Sự ra đời của trình duyệt web [[Mosaic (trình duyệt)|Mosaic]] đã giúp web trở nên tiện dụng hơn rất nhiều, bao gồm hiển thị hình ảnh và hình ảnh chuyển [[GIF|động]] ([[GIF]]). ]]
Các thuật ngữ ''Internet'' và ''World Wide Web'' thường được sử dụng mà không có nhiều sự khác biệt. Tuy nhiên, hai thuật ngữ không có nghĩa giống nhau. Internet là một hệ thống toàn cầu của [[Mạng máy tính|các mạng máy tính được]] kết nối với nhau. Ngược lại, World Wide Web là một tập hợp toàn cầu các tài liệu và các tài nguyên khác, được liên kết bởi các siêu liên kết và [[URI]]. Tài nguyên web được truy cập bằng [[Hypertext Transfer Protocol|HTTP]] hoặc [[HTTPS]], là các giao thức Internet cấp ứng dụng sử dụng các giao thức truyền tải của Internet.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.w3.org/Help/#webinternet|title=What is the difference between the Web and the Internet?|publisher=World Wide Web Consortium|archive-url=https://web.archive.org/web/20160422072749/http://www.w3.org/Help/#webinternet|archive-date=ngày 22 tháng 4 năm 2016|url-status=live|access-date =ngày 18 tháng 4 năm 2016}}</ref>
Việc xem một [[trang web]] trên World Wide Web thường bắt đầu bằng cách nhập [[URL]] của trang vào trình duyệt web hoặc bằng cách theo một siêu liên kết đến trang hoặc tài nguyên đó. Trình duyệt web sau đó khởi tạo một loạt các thông báo truyền thông nền để tìm nạp và hiển thị trang được yêu cầu. Vào những năm 1990, sử dụng trình duyệt để xem các trang web, và chuyển từ trang này sang trang khác thông qua các siêu liên kết, được biết đến như là 'duyệt web,' 'lướt web' (sau khi lướt kênh) hoặc 'điều hướng Web'. Những nghiên cứu ban đầu về hành vi mới này đã điều tra các mẫu người dùng trong việc sử dụng trình duyệt web. Một nghiên cứu, ví dụ, đã tìm thấy năm mẫu người dùng: lướt web khám phá, lướt web cửa sổ, lướt phát triển, điều hướng giới hạn và điều hướng mục tiêu.<ref>{{Chú thích tạp chí|last=Muylle|first=Steve|last2=Rudy Moenaert|last3=Marc Despont|year=1999|title=A grounded theory of World Wide Web search behaviour|url=http://www.ingentaconnect.com/content/routledg/rjmc/1999/00000005/00000003/art00004|url-status=live|journal=Journal of Marketing Communications|volume=5|issue=3|page=143|doi=10.1080/135272699345644|archive-url=https://web.archive.org/web/20141020140153/http://www.ingentaconnect.com/content/routledg/rjmc/1999/00000005/00000003/art00004|archive-date=ngày 20 tháng 10 năm 2014|issn = 1352-7266 }}</ref>
Ví dụ sau đây cho thấy chức năng của trình duyệt web khi truy cập một trang tại URL <code><nowiki>http://www.example.org/home.html</nowiki></code>. Trình duyệt phân giải tên máy chủ của URL (<code>www.example.org</code>) thành [[Địa chỉ IP|địa chỉ Giao thức Internet]] bằng [[Hệ thống phân giải tên miền|Hệ thống tên miền]] (DNS) được phân phối toàn cầu. ''Tra'' cứu này trả về một địa chỉ IP như ''203.0.113.4'' hoặc ''2001: db8: 2e:: 7334''. Trình duyệt sau đó yêu cầu tài nguyên bằng cách gửi yêu cầu [[Hypertext Transfer Protocol|HTTP]] qua Internet đến máy tính tại địa chỉ đó. Nó yêu cầu dịch vụ từ một số cổng TCP cụ thể nổi tiếng với dịch vụ HTTP, để máy chủ nhận có thể phân biệt yêu cầu HTTP với các giao thức mạng khác mà nó có thể đang phục vụ. Giao thức HTTP thường sử dụng số cổng 80 và đối với giao thức HTTPS, thông thường nó là số cổng 443. Nội dung của yêu cầu HTTP có thể đơn giản như hai dòng văn bản:
<syntaxhighlight lang="http">
GET /home.html HTTP/1.1
Host: www.example.org
</syntaxhighlight>
Máy tính nhận yêu cầu HTTP chuyển nó đến phần mềm máy chủ web lắng nghe yêu cầu trên cổng 80. Nếu máy chủ web có thể thực hiện yêu cầu, nó sẽ gửi phản hồi HTTP trở lại trình duyệt cho thấy thành công:
<syntaxhighlight lang="http">
HTTP/1.1 200 OK
Content-Type: text/html; charset=UTF-8
</syntaxhighlight>
tiếp theo là nội dung của trang được yêu cầu. Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản ([[HTML]]) cho một trang web cơ bản có thể trông như thế này:
<syntaxhighlight lang="html">
<html>
<head>
<title>www.Example.org – The World Wide Web</title>
</head>
<body>
<p>The World Wide Web, abbreviated as WWW and commonly known...</p>
<u> WWW
</u>
</body>
</html>
</syntaxhighlight>
Trình duyệt web phân tích cú pháp HTML và diễn giải đánh dấu (<syntaxhighlight lang="html" inline><title></syntaxhighlight>, <syntaxhighlight lang="HTML" inline><p></syntaxhighlight> cho đoạn văn,v.v...) bao quanh các từ để định dạng văn bản trên màn hình. Nhiều trang web sử dụng HTML để tham chiếu các URL của các tài nguyên khác như hình ảnh, phương tiện được nhúng khác, tập lệnh ảnh hưởng đến hành vi của trang và Biểu [[CSS|định kiểu xếp chồng]] ảnh hưởng đến bố cục trang. Trình duyệt thực hiện các yêu cầu HTTP bổ sung cho máy chủ web cho các loại [[Kiểu phương tiện|phương tiện Internet khác]]. Khi nhận được nội dung của họ từ máy chủ web, trình duyệt sẽ dần dần hiển thị trang lên màn hình theo quy định của HTML và các tài nguyên bổ sung này.
=== HTML ===
{{main|HTML}}
Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (HTML) là [[ngôn ngữ đánh dấu]] tiêu chuẩn để tạo [[Trang web|các trang web]] và [[ứng dụng web]]. Với [[CSS|Cascading Style Sheets]] (CSS) và [[JavaScript]], nó tạo thành một bộ ba công nghệ [[Viên đá đầu tiên|nền tảng]] cho World Wide Web.<ref>{{Chú thích sách|title=JavaScript – The definitive guide|last=Flanagan|first=David|edition=6|page=1|quote=JavaScript is part of the triad of technologies that all Web developers must learn: HTML to specify the content of web pages, CSS to specify the presentation of web pages, and JavaScript to specify the behaviour of web pages.}}</ref>
[[Trình duyệt web]] nhận tài liệu HTML từ [[máy chủ web]] hoặc từ bộ nhớ cục bộ và hiển thị tài liệu vào các trang web đa phương tiện. HTML mô tả cấu trúc của một trang web [[Mạng ngữ nghĩa|về mặt ngữ nghĩa]] và ban đầu bao gồm các tín hiệu cho sự xuất hiện của tài liệu.
[[Phần tử HTML|Các phần tử HTML]] là các khối xây dựng của các trang HTML. Với cấu trúc HTML, [[Phần tử HTML|hình ảnh]] và các đối tượng khác như [[Phần tử HTML|biểu mẫu tương tác]] có thể được nhúng vào trang được hiển thị. HTML cung cấp một phương tiện để tạo các tài liệu có cấu trúc bằng cách biểu thị [[Ngữ nghĩa học|ngữ nghĩa]] cấu trúc cho văn bản như tiêu đề, đoạn văn, danh sách, [[Siêu liên kết|liên kết]], trích dẫn và các mục khác. Các phần tử HTML được mô tả bằng ''các thẻ'', được viết bằng [[Dấu ngoặc|dấu ngoặc nhọn]]. Các thẻ như {{code|lang=html|code=<img />}} và {{code|<input />|lang=html}} trực tiếp giới thiệu nội dung vào trang. Các thẻ khác, chẳng hạn như {{code|lang=html|code=<p>}} bao quanh và cung cấp thông tin về văn bản tài liệu và có thể bao gồm các thẻ khác làm thành phần phụ. Các trình duyệt không hiển thị các thẻ HTML, nhưng sử dụng chúng để diễn giải nội dung của trang.
HTML có thể nhúng các chương trình được viết bằng [[Ngôn ngữ kịch bản|ngôn ngữ script]] như [[JavaScript]], ảnh hưởng đến hành vi và nội dung của các trang web. Bao gồm CSS xác định giao diện và bố cục nội dung. [[W3C|World Wide Web Consortium]] (W3C), người duy trì cả hai tiêu chuẩn HTML và CSS, đã khuyến khích sử dụng CSS trên HTML trình bày rõ ràng.{{Tính đến|1997}}<ref name="deprecated">{{Chú thích web|url=https://www.w3.org/TR/REC-html40-971218/conform.html#deprecated|title=HTML 4.0 Specification — W3C Recommendation — Conformance: requirements and recommendations|date=ngày 18 tháng 12 năm 1997|publisher=World Wide Web Consortium|access-date =ngày 6 tháng 7 năm 2015}}</ref>
=== Liên kết ===
Hầu hết các trang web chứa siêu liên kết đến các trang liên quan khác và có lẽ các tệp có thể tải xuống, tài liệu nguồn, định nghĩa và các tài nguyên web khác. Trong HTML cơ bản, một siêu liên kết trông như thế này:
<syntaxhighlight lang="html" inline><a href="http://www.example.org/home.html">www.Example.org Homepage</a></syntaxhighlight>
[[Tập tin:WorldWideWebAroundWikipedia.png|nhỏ| Biểu diễn đồ họa của một phần nhỏ của WWW, thể hiện [[Siêu liên kết|các siêu liên kết]] ]]
Một tập hợp các tài nguyên hữu ích, có liên quan, được kết nối với nhau thông qua các liên kết siêu văn bản được mệnh danh là một ''mạng lưới'' thông tin. Xuất bản trên Internet tạo ra thứ mà Tim Berners-Lee gọi là ''WorldWideWeb'' (trong CamelCase ban đầu, sau đó đã bị loại bỏ) vào tháng 11 năm 1990.<ref name="W90"/>
Cấu trúc siêu liên kết của WWW được mô tả bởi webgraph: các nút của biểu đồ web tương ứng với các trang web (hoặc URL) các cạnh được định hướng giữa chúng với các siêu liên kết. Theo thời gian, nhiều tài nguyên web được chỉ ra bởi các siêu liên kết biến mất, di dời hoặc được thay thế bằng các nội dung khác nhau. Điều này làm cho các siêu liên kết trở nên lỗi thời, một hiện tượng được gọi trong một số vòng tròn là thối liên kết và các siêu liên kết bị ảnh hưởng bởi nó thường được gọi là liên kết chết. Bản chất bất ổn của Web đã thúc đẩy nhiều nỗ lực lưu trữ các trang web. [[Internet Archive]], hoạt động từ năm 1996, được biết đến nhiều nhất với những nỗ lực như vậy.
=== Tiền tố WWW ===
Nhiều tên máy chủ được sử dụng cho World Wide Web bắt đầu bằng ''www'' vì thông lệ đặt tên máy chủ [[Internet]] lâu dài theo các dịch vụ mà chúng cung cấp. Tên máy chủ của [[máy chủ web]] thường là ''www'', giống như cách mà nó có thể là ''ftp'' cho [[FTP|máy chủ FTP]] và ''tin tức'' hoặc ''nntp'' cho máy chủ tin tức [[Usenet]]. Các tên máy chủ này xuất hiện dưới dạng Hệ thống tên miền (DNS) hoặc [[tên miền phụ]], như trong ''www.example.com''. Việc sử dụng ''www'' không được yêu cầu bởi bất kỳ tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc chính sách nào và nhiều trang web không sử dụng nó; máy chủ web đầu tiên là ''nxoc01.cern.ch''.<ref>{{Chú thích web|url=http://w3.org/People/Berners-Lee/FAQ.html|title=Frequently asked questions by the Press|author=Berners-Lee|first=Tim|publisher=W3C|archive-url=https://web.archive.org/web/20090802051415/http://www.w3.org/People/Berners-Lee/FAQ.html|archive-date=ngày 2 tháng 8 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 27 tháng 7 năm 2009}}</ref> Theo Paolo Palazzi,<ref>Palazzi, P (2011) [http://soft-shake.ch/2011/en/conference/sessions.html?key=earlydays 'The Early Days of the WWW at CERN'] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120723105704/http://soft-shake.ch/2011/en/conference/sessions.html?key=earlydays |date=2012-07-23 }}</ref> người từng làm việc tại CERN cùng với Tim Berners-Lee, việc sử dụng phổ biến ''www'' làm tên miền phụ là tình cờ; trang dự án World Wide Web dự định được xuất bản tại www.cern.ch trong khi info.cern.ch được dự định là trang chủ của Cern, tuy nhiên các bản ghi DNS không bao giờ được chuyển đổi và việc thực hành trả trước ''www'' vào trang web của tổ chức tên miền sau đó đã được sao chép. Nhiều trang web được thiết lập vẫn sử dụng tiền tố hoặc họ sử dụng các tên miền phụ khác như ''www2'', ''an toàn'' hoặc ''en'' cho các mục đích đặc biệt. Nhiều máy chủ web như vậy được thiết lập sao cho cả tên miền chính (ví dụ: example.com) và tên miền phụ ''www'' (ví dụ: www.example.com) đề cập đến cùng một trang web; những người khác yêu cầu một hình thức này hoặc hình thức khác, hoặc họ có thể ánh xạ đến các trang web khác nhau. Việc sử dụng tên miền phụ rất hữu ích để tải cân bằng lưu lượng truy cập web đến bằng cách tạo bản ghi CNAME trỏ đến một cụm máy chủ web. Vì hiện tại, chỉ có một tên miền phụ có thể được sử dụng trong CNAME, kết quả tương tự không thể đạt được bằng cách sử dụng mở tên miền gốc.<ref>{{Chú thích web|url=https://medium.freecodecamp.org/why-cant-a-domain-s-root-be-a-cname-8cbab38e5f5c|title=Why a domain’s root can’t be a CNAME — and other tidbits about the DNS|author=Dominic Fraser|date=ngày 13 tháng 5 năm 2018|website=FreeCodeCamp}}</ref>
Khi người dùng gửi một tên miền chưa hoàn chỉnh cho trình duyệt web trong nhập [[thanh địa chỉ]] đầu vào của nó, một số trình duyệt web sẽ tự động thử thêm tiền tố "www" vào đầu của nó và có thể là ".com", ".org" và ".net "Ở cuối, tùy thuộc vào những gì có thể thiếu. Ví dụ: nhập ' microsoft ' có thể được chuyển đổi thành ''<nowiki>http://www.microsoft.com/</nowiki>'' và 'openoffice' thành ''<nowiki>http://www.openoffice.org</nowiki>''. Tính năng này bắt đầu xuất hiện trong các phiên bản đầu tiên của [[Mozilla Firefox|Firefox]], khi nó vẫn có tiêu đề hoạt động 'Firebird' vào đầu năm 2003, từ một thực tiễn trước đó trong các trình duyệt như Lynx.<ref>{{Chú thích web|url=http://forums.mozillazine.org/viewtopic.php?f=9&t=10980|title=automatically adding www.___.com|date=ngày 16 tháng 5 năm 2003|publisher=mozillaZine|archive-url=https://web.archive.org/web/20090627225046/http://forums.mozillazine.org/viewtopic.php?f=9&t=10980|archive-date=ngày 27 tháng 6 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 27 tháng 5 năm 2009}}</ref> <sup class="noprint Inline-Template" style="white-space:nowrap;">]</sup> Có thông tin rằng Microsoft đã được cấp bằng sáng chế của Hoa Kỳ cho ý tưởng tương tự vào năm 2008, nhưng chỉ dành cho [[thiết bị di động]].<ref>{{Chú thích web|url=http://techdirt.com/articles/20080626/0203581527.shtml|title=Microsoft Patents Adding 'www.' And '.com' To Text|author=Masnick|first=Mike|date=ngày 7 tháng 7 năm 2008|publisher=Techdirt|archive-url=https://web.archive.org/web/20090627212151/http://www.techdirt.com/articles/20080626/0203581527.shtml|archive-date=ngày 27 tháng 6 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 27 tháng 5 năm 2009}}</ref>
Trong tiếng Anh, www thường được đọc là ''double-u double-u double-u''.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.oxforddictionaries.com/us/definition/american_english/WWW?q=www|title=Audible pronunciation of 'WWW'|publisher=Oxford University Press|archive-url=https://web.archive.org/web/20140525195152/http://www.oxforddictionaries.com/us/definition/american_english/WWW?q=www|archive-date=ngày 25 tháng 5 năm 2014|url-status=live|access-date =ngày 25 tháng 5 năm 2014}}</ref> Một số người dùng phát âm nó ''dub-dub-dub'', đặc biệt là ở New Zealand. Stephen Fry, trong loạt [[podcast]] "Podgrams" của mình, phát âm nó là ''wuh wuh wuh''.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.podcasts.com/stephen_frys_podgrams_audio_visual/episode/series_2_episode_1_stephenfry.com_2.0|title=Stephen Fry's pronunciation of 'WWW'|publisher=Podcasts.com|archive-url=https://web.archive.org/web/20170404220105/http://www.podcasts.com/stephen_frys_podgrams_audio_visual/episode/series_2_episode_1_stephenfry.com_2.0|archive-date=ngày 4 tháng 4 năm 2017|url-status=live}}</ref> Nhà văn người Anh [[Douglas Adams]] đã từng châm biếm trong ''[[The Independent|tờ Độc lập]] vào Chủ nhật'' (1999): "World Wide Web là điều duy nhất tôi biết về hình thức rút gọn của nó mất nhiều thời gian hơn ba lần để nói ngắn hơn"<ref name="Sim">{{Chú thích web|url=https://www.newscientist.com/blog/technology/2008/07/help-us-find-better-way-to-pronounce.html|title=Help us find a better way to pronounce www|author=Simonite|first=Tom|date=ngày 22 tháng 7 năm 2008|website=newscientist.com|publisher=New Scientist, Technology|archive-url=https://web.archive.org/web/20160313095715/https://www.newscientist.com/blog/technology/2008/07/help-us-find-better-way-to-pronounce.html|archive-date=ngày 13 tháng 3 năm 2016|url-status=live|access-date =ngày 7 tháng 2 năm 2016}}</ref> Trong tiếng Quan Thoại, ''World Wide Web'' thường được dịch qua liên kết ngữ nghĩa thành ''Wan wǎng Wei'' ({{Lang|zh|[[wikt:万维网|万维网]]}}), thỏa mãn ''www'' và nghĩa đen là "mạng vô số chiều",<ref>{{Chú thích web|url=http://us.mdbg.net/chindict/chindict.php?page=translate&trst=0&trqs=World+Wide+Web&trlang=&wddmtm=0|title=MDBG Chinese-English dictionary – Translate|archive-url=https://web.archive.org/web/20081112091834/http://us.mdbg.net/chindict/chindict.php?page=translate|archive-date=ngày 12 tháng 11 năm 2008|url-status=live|access-date =ngày 27 tháng 7 năm 2009}}</ref> một bản dịch phản ánh khái niệm thiết kế và phổ biến của World Wide Web. Không gian web của Tim Berners-Lee tuyên bố rằng ''World Wide Web'' được chính thức đánh vần là ba từ riêng biệt, mỗi từ viết hoa, không có dấu gạch ngang.<ref>{{Chú thích web|url=http://w3.org/People/Berners-Lee/FAQ.html|title=Frequently asked questions by the Press – Tim BL|publisher=W3.org|archive-url=https://web.archive.org/web/20090802051415/http://www.w3.org/People/Berners-Lee/FAQ.html|archive-date=ngày 2 tháng 8 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 27 tháng 7 năm 2009}}</ref> Việc sử dụng tiền tố www đã giảm dần, đặc biệt là khi [[Ứng dụng web|các ứng dụng web]] [[Web 2.0]] tìm cách tạo thương hiệu cho tên miền của chúng và làm cho chúng dễ phát âm.<ref name="cas">{{Chú thích web|url=http://www.thefreelibrary.com/It's+not+your+grandfather's+Internet.-a0239804575|title=It's not your grandfather's Internet.|author=Castelluccio|first=Michael|date=2010|website=thefreelibrary.com|publisher=Institute of Management Accountants|access-date =ngày 7 tháng 2 năm 2016}}</ref> Khi [[Web di động]] ngày càng phổ biến, các dịch vụ như [[Gmail]].com, [[Outlook.com]], [[Myspace]].com, [[Facebook]].com và [[Twitter]].com thường được đề cập nhất mà không cần thêm "www." (hoặc, thực sự, ".com") cho tên miền.
=== Sơ đồ mô tả ===
Các chỉ định lược đồ ''<code><nowiki>http://</nowiki></code>'' và ''<code><nowiki>https://</nowiki></code>'' khi bắt đầu [[URI]] web tương ứng với [[Hypertext Transfer Protocol|Giao thức truyền siêu văn bản]] hoặc [[HTTPS|Bảo mật HTTP]]. Họ chỉ định giao thức truyền thông để sử dụng cho yêu cầu và phản hồi. Giao thức HTTP là nền tảng cho hoạt động của World Wide Web và lớp mã hóa được thêm vào trong HTTPS là điều cần thiết khi trình duyệt gửi hoặc truy xuất dữ liệu bí mật, như mật khẩu hoặc thông tin ngân hàng. Các trình duyệt web thường tự động thêm <nowiki>http: //</nowiki> vào các URI do người dùng nhập, nếu bị bỏ qua.
=== Trang web ===
[[Tập tin:Commons.png|nhỏ|Ảnh chụp màn hình của một trang web trên Wikimedia Commons]]
Một ''trang web'' (cũng được viết dưới dạng ''trang web'') là một tài liệu phù hợp với World Wide Web và [[Trình duyệt web|các trình duyệt web]]. Trình duyệt web hiển thị một trang web trên [[Màn hình máy tính|màn hình]] hoặc thiết bị di động.
Thuật ngữ ''trang web'' thường đề cập đến những gì có thể nhìn thấy, nhưng cũng có thể đề cập đến nội dung của chính [[Tập tin|tệp máy tính]], thường là tệp văn bản chứa [[siêu văn bản]] được viết bằng [[HTML]] hoặc [[ngôn ngữ đánh dấu]] so sánh. Các trang web điển hình cung cấp [[siêu văn bản]] để duyệt đến các trang web khác thông qua [[Siêu liên kết|các siêu liên kết]], thường được gọi là ''các liên kết''. Các trình duyệt web sẽ thường xuyên phải truy cập nhiều yếu tố tài nguyên web, chẳng hạn như đọc biểu định [[CSS|kiểu]], tập lệnh và hình ảnh, trong khi trình bày từng trang web.
Trên mạng, trình duyệt web có thể truy xuất trang web từ [[máy chủ web]] từ xa. Máy chủ web có thể hạn chế quyền truy cập vào một mạng riêng như mạng nội bộ của công ty. Trình duyệt web sử dụng [[Hypertext Transfer Protocol|Giao thức truyền siêu văn bản]] (HTTP) để thực hiện các yêu cầu như vậy đến [[máy chủ web]].
Một trang web ''tĩnh'' được phân phối chính xác như được lưu trữ, như nội dung web trong [[Hệ thống file|hệ thống tệp]] của máy chủ web. Ngược lại, một trang web ''động'' được tạo bởi một [[ứng dụng web]], thường được điều khiển bởi phần mềm phía máy chủ. Các trang web động giúp trình duyệt (máy khách) cải thiện trang web thông qua đầu vào của người dùng đến máy chủ.
==== Trang web tĩnh ====
''Trang web tĩnh'' (đôi khi được gọi là ''trang phẳng/trang cố định'') là [[trang web]] được phân phối cho người dùng chính xác như được lưu trữ, trái ngược với các trang web động được tạo bởi [[ứng dụng web]].
Do đó, một trang web tĩnh hiển thị cùng một thông tin cho tất cả người dùng, từ mọi bối cảnh, tùy thuộc vào khả năng hiện đại của [[máy chủ web]] để đàm phán loại [[Kiểu phương tiện|nội dung]] hoặc ngôn ngữ của tài liệu có sẵn các phiên bản đó và máy chủ được cấu hình để làm như vậy.
==== Trang web động ====
[[Tập tin:Scheme_dynamic_page_en.svg|phải|nhỏ|500x500px| Trang web động: ví dụ về scripting tại máy chủ ([[PHP]] và [[MySQL]]). ]]
''Trang web động phía máy chủ'' là [[trang web]] có cấu trúc được điều khiển bởi [[máy chủ ứng dụng]] xử lý các tập lệnh phía máy chủ. Trong kịch bản phía máy chủ, [[Tham số (lập trình máy tính)|các tham số]] xác định cách tiến hành lắp ráp mỗi trang web mới, bao gồm cả việc thiết lập xử lý phía máy khách nhiều hơn.
Một ''trang web động phía máy khách'' xử lý trang web bằng cách sử dụng tập lệnh HTML chạy trong trình duyệt khi tải. JavaScript và các ngôn ngữ kịch bản lệnh khác xác định cách HTML trong trang nhận được được phân tích cú pháp vào [[DOM|Mô hình đối tượng tài liệu]] hoặc DOM, đại diện cho trang web được tải. Các kỹ thuật phía máy khách tương tự sau đó có thể tự động cập nhật hoặc thay đổi DOM theo cùng một cách.
Sau đó, một trang web động được tải lại bởi người dùng hoặc bởi một [[chương trình máy tính]] để thay đổi một số nội dung biến. Thông tin cập nhật có thể đến từ máy chủ hoặc từ các thay đổi được thực hiện cho DOM của trang đó. Điều này có thể hoặc không thể cắt bớt lịch sử duyệt web hoặc tạo một phiên bản đã lưu để quay lại, nhưng một ''bản cập nhật trang web động'' bằng công nghệ [[Ajax (lập trình)|Ajax]] sẽ không tạo ra một trang để quay lại, cũng không cắt bớt lịch sử duyệt web về phía trước của trang được hiển thị. Sử dụng các công nghệ Ajax, người dùng cuối sẽ có ''một trang động'' được quản lý dưới dạng một trang trong [[trình duyệt web]] trong khi nội dung web thực tế được hiển thị trên trang đó có thể khác nhau. Máy Ajax định vị trên trình duyệt yêu cầu các bộ phận DOM của nó, ''DOM,'' cho khách hàng của mình từ một máy chủ ứng dụng.
[[HTML động|DHTML]] là thuật ngữ chung cho các công nghệ và phương pháp được sử dụng để tạo các trang web không phải là trang web tĩnh, mặc dù nó đã không được sử dụng phổ biến kể từ khi phổ biến [[Ajax (lập trình)|AJAX]], một thuật ngữ mà hiện nay nó hiếm khi được sử dụng. Kịch bản phía máy khách, kịch bản phía máy chủ hoặc kết hợp những thứ này tạo nên trải nghiệm web động trong trình duyệt.
[[JavaScript]] là [[ngôn ngữ kịch bản]] được phát triển lần đầu tiên vào năm 1995 bởi [[Brendan Eich]], sau đó là [[Netscape]], để sử dụng trong các trang web.<ref name="Hamilton">{{Chú thích web|url=http://computerworld.com.au/article/255293/-z_programming_languages_javascript|title=The A-Z of Programming Languages: JavaScript|author=Hamilton, Naomi|date=ngày 31 tháng 7 năm 2008|website=Computerworld|publisher=IDG|archive-url=https://web.archive.org/web/20090524025720/http://www.computerworld.com.au/article/255293/-z_programming_languages_javascript|archive-date=ngày 24 tháng 5 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 12 tháng 5 năm 2009}}</ref> Phiên bản tiêu chuẩn là [[ECMAScript]].<ref name="Hamilton" /> Để làm cho các trang web tương tác nhiều hơn, một số ứng dụng web cũng sử dụng các kỹ thuật JavaScript như [[Ajax (lập trình)|Ajax]] (JavaScript không đồng bộ và [[XML]]). Tập lệnh phía máy khách được phân phối cùng với trang có thể thực hiện các yêu cầu HTTP bổ sung cho máy chủ, để đáp ứng với các hành động của người dùng như di chuyển chuột hoặc nhấp chuột hoặc dựa trên thời gian đã trôi qua. Phản hồi của máy chủ được sử dụng để sửa đổi trang hiện tại thay vì tạo một trang mới với mỗi phản hồi, do đó máy chủ chỉ cần cung cấp thông tin gia tăng, giới hạn. Nhiều yêu cầu Ajax có thể được xử lý cùng một lúc và người dùng có thể tương tác với trang trong khi dữ liệu được truy xuất. Các trang web cũng có thể thường xuyên thăm dò máy chủ để kiểm tra xem thông tin mới có sẵn hay không.<ref>{{Chú thích web|url=http://buntin.org/2008/sep/23/jquery-polling-plugin/|title=jQuery Polling plugin|author=Buntin|first=Seth|date=ngày 23 tháng 9 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20090813184848/http://buntin.org/2008/sep/23/jquery-polling-plugin/|archive-date=ngày 13 tháng 8 năm 2009|url-status=dead|access-date = ngày 22 tháng 8 năm 2009}}</ref>
=== Trang web ===
{{main|Trang web}}
[[Tập tin:United_States_Antarctic_Program_website_from_2018_02_22.png|phải|nhỏ|482x482px| Trang web usap.gov]]
''Trang web'' <ref>{{Chú thích web|url=http://www.thefreedictionary.com/Website|title=website|author=|first=|date=|website=[[TheFreeDictionary.com]]|publisher=|archive-url=|archive-date=|url-status=|access-date = ngày 2 tháng 7 năm 2011}}</ref> là tập hợp các tài nguyên web liên quan bao gồm [[Trang web|các trang web]], nội dung [[đa phương tiện]], thường được xác định bằng một [[tên miền]] chung và được xuất bản trên ít nhất một [[máy chủ web]]. Ví dụ đáng chú ý là [[wikipedia]].org, [[google]].com và [[amazon.com]].
Một trang web có thể được truy cập thông qua [[Internet Protocol|mạng Giao thức Internet]] (IP) công cộng, chẳng hạn như [[Internet]] hoặc [[Local area network|mạng cục bộ]] riêng (LAN), bằng cách tham chiếu một trình [[URL|định vị tài nguyên thống nhất]] (URL) xác định trang web.
Trang web có thể có nhiều chức năng và có thể được sử dụng trong nhiều thời trang khác nhau; một trang web có thể là một trang web cá nhân, một trang web công ty cho một công ty, một trang web của chính phủ, một trang web của tổ chức,v.v... Các trang web thường dành riêng cho một chủ đề hoặc mục đích cụ thể, từ giải trí và [[Dịch vụ mạng xã hội|mạng xã hội]] đến cung cấp tin tức và giáo dục. Tất cả các trang web có thể truy cập công khai cùng nhau tạo thành World Wide Web, trong khi các trang web riêng, chẳng hạn như trang web của công ty dành cho nhân viên, thường là một phần của [[Intranet|mạng nội bộ]].
Các trang web, là các khối xây dựng của trang web, là các [[Văn kiện|tài liệu]], thường được soạn thảo [[Plain text|bằng văn bản thuần túy]] xen kẽ với các hướng dẫn định dạng của Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản ([[HTML]], [[XHTML]]). Họ có thể kết hợp các yếu tố từ các trang web khác với [[Phần tử HTML|các neo đánh dấu]] phù hợp. Các trang web được truy cập và vận chuyển với [[Hypertext Transfer Protocol|Giao thức truyền siêu văn bản]] (HTTP), có thể tùy chọn sử dụng mã hóa ([[HTTPS|HTTP Secure]], HTTPS) để cung cấp bảo mật và quyền riêng tư cho người dùng. Ứng dụng của người dùng, thường là [[trình duyệt web]], hiển thị nội dung trang theo hướng dẫn đánh dấu HTML của nó lên [[Màn hình máy tính|thiết bị đầu cuối hiển thị]].
[[Siêu liên kết]] giữa các trang web chuyển đến người đọc cấu trúc trang web và hướng dẫn điều hướng của trang web, thường bắt đầu bằng một trang chủ chứa một thư mục của nội dung trang web. Một số trang web yêu cầu đăng ký người dùng hoặc đăng ký để truy cập nội dung. Ví dụ về các trang web đăng ký bao gồm nhiều trang web kinh doanh, trang web tin tức, trang web [[Tập san học thuật|tạp chí học thuật]], trang web trò chơi, trang web chia sẻ tệp, [[Diễn đàn trực tuyến|bảng tin]], [[Thư điện tử|email]] dựa trên web, trang web [[Dịch vụ mạng xã hội|mạng xã hội]], trang web cung cấp dữ liệu [[thị trường chứng khoán]] theo thời gian thực, cũng như các trang web cung cấp dịch vụ khác nhau. Người dùng cuối có thể truy cập các trang web trên một loạt thiết bị, bao gồm [[máy tính để bàn]] và [[máy tính xách tay]], [[máy tính bảng]], [[điện thoại thông minh]] và TV thông minh.
=== Trình duyệt web ===
{{main|Trình duyệt web}}
''Trình duyệt web'' (thường được gọi là ''trình duyệt'') là [[User Agent|tác nhân người dùng]] [[Phần mềm ứng dụng|phần mềm]] để truy cập thông tin trên World Wide Web. Để kết nối với [[Máy chủ web|máy chủ]] của trang web và hiển thị các trang của nó, người dùng cần phải có chương trình trình duyệt web. Đây là chương trình mà người dùng chạy để tải xuống, định dạng và hiển thị một trang web trên máy tính của người dùng.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.differencebetween.net/technology/internet/difference-between-search-engine-and-browser/|title=Difference Between Search Engine and Browser}}</ref>
Ngoài việc cho phép người dùng tìm, hiển thị và di chuyển giữa các trang web, trình duyệt web thường sẽ có các tính năng như giữ dấu trang, ghi lịch sử, quản lý cookie (''xem bên dưới'') và trang chủ và có thể có phương tiện để ghi lại mật khẩu để đăng nhập vào trang web.
Các trình duyệt phổ biến nhất là [[Google Chrome|Chrome]], [[Mozilla Firefox|Firefox]], [[Safari]], [[Internet Explorer]] và [[Microsoft Edge|Edge]].
=== Máy chủ web ===
[[Tập tin:Inside_and_Rear_of_Webserver.jpg|phải|nhỏ| Mặt trong và mặt trước của máy chủ web Dell PowerEdge, một máy tính được thiết kế để gắn giá đỡ]]
Máy ''chủ Web'' là [[Máy chủ|phần mềm máy chủ]] hoặc phần cứng dành riêng để chạy phần mềm nói trên, có thể đáp ứng các yêu cầu máy khách World Wide Web. Nói chung, một máy chủ web có thể chứa một hoặc nhiều trang web. Một máy chủ web xử lý các yêu cầu mạng đến qua [[Hypertext Transfer Protocol|HTTP]] và một số giao thức liên quan khác.<ref name="new">{{Chú thích web|url=http://www.webdevelopersnotes.com/basics/what_is_web_server.php|title=What is web server?'|author=|first=|date = ngày 23 tháng 11 năm 2010 |website=webdevelopersnotes|archive-url=|archive-date=|url-status=|access-date = ngày 1 tháng 2 năm 2019}}</ref>
Chức năng chính của máy chủ web là lưu trữ, xử lý và phân phối [[Trang web|các trang web]] cho người truy cập.<ref>{{Chú thích sách|title=Web performance tuning|url=https://archive.org/details/webperformancetu0000kill|last=Patrick|first=Killelea|date=2002|publisher=O'Reilly|isbn=978-0596001728|edition=2nd|location=Beijing|pages=[https://archive.org/details/webperformancetu0000kill/page/264 264]|oclc=49502686}}</ref> Giao tiếp giữa máy khách và máy chủ diễn ra bằng [[Hypertext Transfer Protocol|Giao thức truyền siêu văn bản (HTTP)]]. Các trang được phân phối thường xuyên nhất là các [[HTML|tài liệu HTML]], có thể bao gồm [[hình ảnh]], biểu định kiểu và [[JavaScript|tập lệnh]] ngoài nội dung văn bản.
[[Tập tin:Wikimedia_Foundation_Servers-8055_35.jpg|nhỏ|275x275px| Nhiều máy chủ web có thể được sử dụng cho một trang web lưu lượng truy cập cao; Tại đây, các máy chủ [[Dell]] được cài đặt cùng nhau đang được sử dụng cho [[Wikimedia Foundation]]. ]]
[[User Agent|Tác nhân người dùng]], thường là [[trình duyệt web]] hoặc trình thu thập dữ liệu web, bắt đầu giao tiếp bằng cách [[Hypertext Transfer Protocol|yêu cầu]] một tài nguyên cụ thể bằng HTTP và máy chủ phản hồi với nội dung của tài nguyên đó hoặc thông báo lỗi nếu không thể thực hiện được. Tài nguyên thường là một tệp thực trên [[Bộ nhớ|bộ lưu trữ thứ cấp]] của máy chủ, nhưng điều này không nhất thiết phải như vậy và phụ thuộc vào cách máy chủ web được triển khai.
Mặc dù chức năng chính là phục vụ nội dung, nhưng việc triển khai HTTP đầy đủ cũng bao gồm các cách nhận nội dung từ khách hàng. Tính năng này được sử dụng để gửi biểu mẫu web, bao gồm việc tải lên tập tin.
Nhiều máy chủ web chung cũng hỗ trợ tập lệnh phía máy chủ bằng [[Active Server Pages]] (ASP), [[PHP]] (Bộ xử lý siêu văn bản) hoặc các [[Ngôn ngữ kịch bản|ngôn ngữ tập lệnh khác]]. Điều này có nghĩa là hành vi của máy chủ web có thể được viết thành kịch bản trong các tệp riêng biệt, trong khi phần mềm máy chủ thực tế vẫn không thay đổi. Thông thường, chức năng này được sử dụng để tạo các tài liệu HTML một cách linh hoạt ("đang hoạt động") thay vì trả lại các tài liệu tĩnh. Cái trước chủ yếu được sử dụng để lấy hoặc sửa đổi thông tin từ [[cơ sở dữ liệu]]. Cái sau thường nhanh hơn nhiều và dễ dàng [[Web caching|lưu vào bộ nhớ cache hơn]] nhưng không thể cung cấp nội dung động.
Máy chủ web cũng có thể thường xuyên được tìm thấy [[Hệ thống nhúng|được nhúng]] trong các thiết bị như [[máy in]], [[Router|bộ định tuyến]], [[webcam]] và chỉ phục vụ một [[Local area network|mạng cục bộ]]. Sau đó, máy chủ web có thể được sử dụng như một phần của hệ thống để theo dõi hoặc quản trị thiết bị được đề cập. Điều này thường có nghĩa là không có phần mềm bổ sung nào phải được cài đặt trên máy khách vì chỉ cần một trình duyệt web (hiện đã có trong hầu hết các [[hệ điều hành]]).
=== Cookie web ===
''Cookie HTTP'' (còn được gọi là ''cookie web'', ''Internet cookie'', ''cookie'' ''trình duyệt'' hoặc đơn giản là ''cookie'') là một phần nhỏ dữ liệu được gửi từ một trang web và được [[trình duyệt web]] của người dùng lưu trữ trên máy tính của người dùng trong khi người dùng đang duyệt. Cookies được thiết kế để trở thành một cơ chế đáng tin cậy để các trang web ghi nhớ thông tin [[Trạng thái (khoa học máy tính)|trạng thái]] (như các mục được thêm vào giỏ hàng trong cửa hàng trực tuyến) hoặc để ghi lại hoạt động duyệt của người dùng (bao gồm nhấp vào nút cụ thể, [[Điều khiển truy cập|đăng nhập]] hoặc ghi lại trang nào đã được truy cập trong quá khứ). Chúng cũng có thể được sử dụng để ghi nhớ các mẩu thông tin tùy ý mà người dùng trước đây đã nhập vào các trường mẫu như tên, địa chỉ, mật khẩu và số thẻ tín dụng.
Các loại cookie khác thực hiện các chức năng thiết yếu trong web hiện đại. Có lẽ quan trọng nhất, ''cookie xác thực'' là phương pháp phổ biến nhất được sử dụng bởi các máy chủ web để biết liệu người dùng có đăng nhập hay không và họ đăng nhập vào tài khoản nào. Nếu không có cơ chế như vậy, trang web sẽ không biết nên gửi một trang có chứa thông tin nhạy cảm hay yêu cầu người dùng tự xác thực bằng cách đăng nhập. Tính bảo mật của cookie xác thực thường phụ thuộc vào bảo mật của trang web phát hành và [[So sánh các trình duyệt web|trình duyệt web]] của người dùng và vào việc dữ liệu cookie có được mã hóa hay không. Các lỗ hổng bảo mật có thể cho phép [[Hacker (an ninh máy tính)|hacker]] đọc dữ liệu của cookie, được sử dụng để có quyền truy cập vào dữ liệu người dùng hoặc được sử dụng để có quyền truy cập (với thông tin xác thực của người dùng) vào trang web có cookie (xem kịch bản chéo và chéo trang trang web yêu cầu giả mạo).<ref>{{Chú thích web|url=http://news.cnet.com/8301-10789_3-9918582-57.html|title=Gmail cookie stolen via Google Spreadsheets|author=Vamosi|first=Robert|date=ngày 14 tháng 4 năm 2008|website=News.cnet.com|access-date=ngày 19 tháng 10 năm 2017|archive-date=2013-12-09|archive-url=https://web.archive.org/web/20131209210402/http://news.cnet.com/8301-10789_3-9918582-57.html|url-status=dead}}</ref>
Cookie theo dõi, và đặc biệt là cookie theo dõi của bên thứ ba, thường được sử dụng làm cách để lập hồ sơ dài hạn về lịch sử duyệt web của cá nhân {{En dash}} mối lo ngại về quyền riêng tư khiến Châu Âu<ref>{{Chú thích web|url=http://webcookies.org/faq/#Directive|title=What about the "EU Cookie Directive"?|year=2013|publisher=WebCookies.org|access-date=ngày 19 tháng 10 năm 2017|archive-date = ngày 11 tháng 10 năm 2017 |archive-url=https://web.archive.org/web/20171011095259/https://webcookies.org/faq/#Directive|url-status=dead}}</ref> và các nhà lập pháp Hoa Kỳ phải hành động vào năm 2011.<ref name="eulaw">{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/news/technology-12668552|title=New net rules set to make cookies crumble|date = ngày 8 tháng 3 năm 2011 |work=BBC}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://adage.com/article/digital/sen-rockefeller-ready-a-real-track-bill/227426/|title=Sen. Rockefeller: Get Ready for a Real Do-Not-Track Bill for Online Advertising|date = ngày 6 tháng 5 năm 2011 |website=Adage.com}}</ref> Luật pháp châu Âu yêu cầu tất cả các trang web nhắm mục tiêu đến các quốc gia thành viên [[Liên minh châu Âu]] phải có được "sự đồng ý" từ người dùng trước khi lưu trữ cookie không cần thiết trên thiết bị của họ.
Nhà nghiên cứu của Google Project Zero, Jann Horn mô tả cách các cookie có thể được đọc bởi một bên trung gian, như nhà cung cấp điểm truy cập [[Wi-Fi]]. Ông khuyến nghị sử dụng trình duyệt ở chế độ ẩn danh trong những trường hợp như vậy.<ref>[https://thejh.net/written-stuff/want-to-use-my-wifi? Bạn muốn sử dụng wifi của tôi?], Jann Horn, truy cập 2018-01-05.</ref>
=== Công cụ tìm kiếm ===
[[Tập tin:Mayflower_Wikimedia_Commons_image_search_engine_screenshot.png|nhỏ|Kết quả tìm kiếm cụm từ "nguyệt thực" trong công cụ tìm kiếm hình ảnh dựa trên web]]
''Công cụ tìm kiếm web'' hoặc ''công cụ tìm kiếm Internet'' là một [[hệ thống phần mềm]] được thiết kế để thực hiện ''tìm kiếm trên web'' (''tìm kiếm Internet''), có nghĩa là tìm kiếm World Wide Web theo cách có hệ thống để biết thông tin cụ thể được chỉ định trong truy vấn tìm kiếm trên web. Các kết quả tìm kiếm thường được trình bày trong một dòng kết quả, thường được gọi là các trang kết quả của công cụ tìm kiếm (SERPs). Thông tin có thể là một hỗn hợp của [[Trang web|các trang web]], hình ảnh, video, infographics, bài viết, tài liệu nghiên cứu và các loại tệp khác. Một số công cụ tìm kiếm cũng [[Khai phá dữ liệu|khai thác dữ liệu]] có sẵn trong [[cơ sở dữ liệu]] hoặc thư mục mở. Không giống như các thư mục web, được duy trì bởi các biên tập viên của con người, các công cụ tìm kiếm cũng duy trì thông tin theo [[Hệ thống thời gian thực|thời gian thực]] bằng cách chạy một [[thuật toán]] trên trình thu thập dữ liệu web. Nội dung Internet không có khả năng được tìm kiếm bởi một công cụ tìm kiếm web thường được mô tả là [[Web chìm]].
=== Deep web ===
{{main|Web chìm}}
Web chìm,<ref name="nhamilton">{{Chú thích tạp chí|last=Hamilton|first=Nigel|title=The Mechanics of a Deep Net Metasearch Engine|citeseerx=10.1.1.90.5847}}</ref> ''web vô hình'',<ref name="jal">{{Chú thích tạp chí|last=Devine|first=Jane|last2=Egger-Sider|first2=Francine|date=July 2004|title=Beyond google: the invisible web in the academic library|url=https://archive.org/details/sim_journal-of-academic-librarianship_2004-07_30_4/page/265|journal=The Journal of Academic Librarianship|volume=30|issue=4|pages=265–269|doi=10.1016/j.acalib.2004.04.010}}</ref> hoặc ''web ẩn''<ref name="cthw">{{Chú thích tạp chí|last=Raghavan|first=Sriram|last2=Garcia-Molina|first2=Hector|date=September 11–14, 2001|title=Crawling the Hidden Web|url=http://ilpubs.stanford.edu:8090/725/|journal=27th International Conference on Very Large Data Bases}}</ref> là một phần của World Wide Web có nội dung không được lập chỉ mục bởi [[Máy truy tìm dữ liệu|các công cụ tìm kiếm web]] tiêu chuẩn. Thuật ngữ ngược lại với web sâu là [[Mạng nổi|web bề mặt]], có thể truy cập được đối với bất kỳ ai sử dụng Internet.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.computerhope.com/jargon/s/surface-web.htm|title=Surface Web|publisher=Computer Hope|access-date =ngày 20 tháng 6 năm 2018}}</ref> [[Khoa học máy tính|Nhà khoa học máy tính]] Michael K. Bergman được cho là đã đặt ra thuật ngữ ''deep web'' vào năm 2001 như một thuật ngữ lập chỉ mục tìm kiếm.<ref name="wright2009"><cite class="citation news">Wright, Alex (2009-2-22). [https://www.nytimes.com/2009/02/23/technology/internet/23search.html?th&emc=th "Khám phá một 'Deep Web' mà Google không thể nắm bắt được"]. ''Thời báo New York'' <span class="reference-accessdate">. Truy cập <span class="nowrap">2009-02-23</span></span>.</cite> <templatestyles src="Module:Citation/CS1/styles.css"></templatestyles></ref>
Nội dung của web sâu được ẩn đằng sau [[Hypertext Transfer Protocol|các]] biểu mẫu [[Hypertext Transfer Protocol|HTTP]],<ref>Madhavan, J., Ko, D., Kot, Ł., Ganapathy, V., Rasmussen, A., & Halevy, A. (2008). Thu thập dữ liệu web sâu của Google. Thủ tục tố tụng của VLDB, 1 (2), 1241 Tiết52.</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://www.questia.com/article/1G1-370513892/how-do-you-want-me-to-do-it-does-it-have-to-look|title=How Do You Want Me to Do It? Does It Have to Look like an Accident? – an Assassin Selling a Hit on the Net; Revealed Inside the Deep Web|author=Shedden|first=Sam|date=ngày 8 tháng 6 năm 2014|via=[[Questia]]|access-date=ngày 5 tháng 5 năm 2017|url-access=subscription|archive-date=2020-03-01|archive-url=https://web.archive.org/web/20200301174912/https://www.questia.com/article/1G1-370513892/how-do-you-want-me-to-do-it-does-it-have-to-look|url-status=dead}}</ref> và bao gồm nhiều cách sử dụng rất phổ biến như [[Email trên nền web|thư trên web]], [[Internet Banking|ngân hàng trực tuyến]] và các dịch vụ mà người dùng phải trả tiền và được bảo vệ bởi một [[Paywall]], [[video theo yêu cầu]], một số tạp chí và báo trực tuyến, trong số những loại khác.
Nội dung của web sâu có thể được định vị và truy cập bằng một [[Địa chỉ IP|địa chỉ]] [[URL]] hoặc [[Địa chỉ IP|IP]] trực tiếp và có thể yêu cầu mật khẩu hoặc quyền truy cập bảo mật khác qua trang web công cộng.
== Bảo mật web ==
Đối với [[tội phạm]], Web đã trở thành một địa điểm để phát tán [[Phần mềm ác ý|phần mềm độc hại]] và tham gia vào một loạt các [[Tội phạm công nghệ cao|tội phạm mạng]], bao gồm trộm cắp danh tính, lừa đảo, [[gián điệp]] và thu thập thông tin tình báo.<ref name="Ben-Itzhak">{{Chú thích báo|url=http://www.computerweekly.com/Articles/2008/04/18/230345/infosecurity-2008-new-defence-strategy-in-battle-against.htm|title=Infosecurity 2008 – New defence strategy in battle against e-crime|last=Ben-Itzhak, Yuval|date=ngày 18 tháng 4 năm 2008|work=ComputerWeekly|access-date =ngày 20 tháng 4 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20080604061926/http://www.computerweekly.com/Articles/2008/04/18/230345/infosecurity-2008-new-defence-strategy-in-battle-against.htm|archive-date=ngày 4 tháng 6 năm 2008|url-status=live|publisher=Reed Business Information}}</ref> Các lỗ hổng dựa trên web hiện vượt xa các mối lo ngại về bảo mật máy tính truyền thống,<ref>{{Chú thích web|url=http://cwe.mitre.org/documents/vuln-trends/index.html|title=Vulnerability Type Distributions in CVE (version 1.1)|author=Christey, Steve|author2=Martin, Robert A.|date=ngày 22 tháng 5 năm 2007|publisher=[[MITRE Corporation]]|archive-url=https://www.webcitation.org/6FtlBe2xt?url=http://cwe.mitre.org/documents/vuln-trends/index.html|archive-date=ngày 15 tháng 4 năm 2013|url-status=live|access-date =ngày 7 tháng 6 năm 2008|name-list-style=amp}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí|date=April 2008|title=Symantec Internet Security Threat Report: Trends for July–December 2007 (Executive Summary)|url=http://eval.symantec.com/mktginfo/enterprise/white_papers/b-whitepaper_exec_summary_internet_security_threat_report_xiii_04-2008.en-us.pdf|url-status=live|publisher=Symantec Corp.|volume=XIII|pages=1–2|archive-url=https://web.archive.org/web/20080625065121/http://eval.symantec.com/mktginfo/enterprise/white_papers/b-whitepaper_exec_summary_internet_security_threat_report_xiii_04-2008.en-us.pdf|archive-date=ngày 25 tháng 6 năm 2008|access-date =ngày 11 tháng 5 năm 2008}}</ref> và theo đo lường của [[Google]], khoảng một trong mười trang web có thể chứa mã độc.<ref>{{Chú thích báo|url=http://news.bbc.co.uk/2/hi/technology/6645895.stm|title=Google searches web's dark side|date=ngày 11 tháng 5 năm 2007|access-date =ngày 26 tháng 4 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20080307211615/http://news.bbc.co.uk/2/hi/technology/6645895.stm|archive-date=ngày 7 tháng 3 năm 2008|url-status=live|publisher=BBC News}}</ref> Hầu hết các [[Tấn công mạng|cuộc tấn công]] dựa trên web diễn ra trên các trang web hợp pháp và hầu hết, được đo lường bởi Sophos, được lưu trữ tại Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nga.<ref name="Sophos-Q1-2008">{{Chú thích web|url=http://www.sophos.com/sophos/docs/eng/marketing_material/sophos-threat-report-Q108.pdf|title=Security Threat Report (Q1 2008)|publisher=Sophos|archive-url=https://www.webcitation.org/6FtlC9dSG?url=http://www.sophos.com/en-us/support/documentation.aspx?requested=eng%2Fmarketing_material%2Fsophos-threat-report-Q108.pdf|archive-date=ngày 15 tháng 4 năm 2013|url-status=live|access-date =ngày 24 tháng 4 năm 2008}}</ref> Phổ biến nhất trong tất cả các mối đe dọa phần mềm độc hại là các cuộc tấn công tiêm nhiễm [[SQL injection|SQL]] vào các trang web.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.sophos.com/sophos/docs/eng/papers/sophos-security-report-jul08-srna.pdf|title=Security threat report|date=July 2008|publisher=Sophos|archive-url=https://www.webcitation.org/6FtlCpmr7?url=http://www.sophos.com/en-us/medialibrary/gated%20assets/white%20papers/sophossecurityreportjul08srna.pdf|archive-date=ngày 15 tháng 4 năm 2013|url-status=live|access-date =ngày 24 tháng 8 năm 2008}}</ref> Thông qua HTML và URI, Web dễ bị tấn công như kịch bản chéo trang (XSS) đi kèm với việc giới thiệu JavaScript<ref name="FGHR">{{Chú thích sách|url=http://www.syngress.com/book_catalog//SAMPLE_1597491543.pdf|title=Cross Site Scripting Attacks: XSS Exploits and Defense|last=Fogie, Seth, Jeremiah Grossman, Robert Hansen, and Anton Rager|publisher=Syngress, Elsevier Science & Technology|year=2007|isbn=978-1-59749-154-9|pages=68–69, 127|access-date =ngày 6 tháng 6 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20080625065121/http://www.syngress.com/book_catalog//SAMPLE_1597491543.pdf|archive-date=ngày 25 tháng 6 năm 2008}}</ref> và bị [[thiết kế web]] [[Web 2.0]] và Ajax làm cho việc sử dụng các tập lệnh bị trầm trọng hơn<ref>{{Chú thích web|url=http://www.oreillynet.com/pub/a/oreilly/tim/news/2005/09/30/what-is-web-20.html|title=What Is Web 2.0|author=O'Reilly, Tim|date=ngày 30 tháng 9 năm 2005|publisher=O'Reilly Media|pages=4–5|archive-url=https://www.webcitation.org/6FtlDN6CL?url=http://oreilly.com/web2/archive/what-is-web-20.html|archive-date=ngày 15 tháng 4 năm 2013|url-status=live|access-date =ngày 4 tháng 6 năm 2008}} and AJAX web applications can introduce security vulnerabilities like "client-side security controls, increased attack surfaces, and new possibilities for Cross-Site Scripting (XSS)", in {{Chú thích tạp chí|last=Ritchie, Paul|date=March 2007|title=The security risks of AJAX/web 2.0 applications|url=http://www.infosecurity-magazine.com/research/Sep07_Ajax.pdf|journal=Infosecurity|archive-url=https://web.archive.org/web/20080625065122/http://www.infosecurity-magazine.com/research/Sep07_Ajax.pdf|archive-date=ngày 25 tháng 6 năm 2008|access-date =ngày 6 tháng 6 năm 2008}} which cites {{Chú thích báo|url=http://www.securityfocus.com/infocus/1868|title=Ajax Security Basics|last=Hayre, Jaswinder S.|date=ngày 22 tháng 6 năm 2006|access-date =ngày 6 tháng 6 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20080515114747/http://www.securityfocus.com/infocus/1868|archive-date=ngày 15 tháng 5 năm 2008|url-status=live|publisher=SecurityFocus|last2=Kelath, Jayasankar|name-list-style=amp}}</ref> Ngày nay theo một ước tính, 70% tất cả các trang web được mở cho các cuộc tấn công XSS vào người dùng của họ.<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.csoonline.com/article/221113|title=Software Vulnerability Disclosure: The Chilling Effect|last=Berinato, Scott|date=ngày 1 tháng 1 năm 2007|work=CSO|access-date =ngày 7 tháng 6 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20080418072230/http://www.csoonline.com/article/221113|archive-date=ngày 18 tháng 4 năm 2008|publisher=CXO Media|page=7}}</ref> [[Tấn công giả mạo|Lừa đảo]] là một mối đe dọa phổ biến khác đối với Web. Vào tháng 2 năm 2013, RSA (bộ phận bảo mật của EMC) ước tính thiệt hại toàn cầu từ lừa đảo ở mức 1,5 tỷ đô la vào năm 2012.<ref name="First_Post">{{Chú thích web|url=http://firstbiz.firstpost.com/biztech/2012-global-losses-from-phishing-estimated-at-1-5-bn-16850.html|title=2012 Global Losses From phishing Estimated At $1.5 Bn|date=ngày 20 tháng 2 năm 2013|publisher=FirstPost|archive-url=https://web.archive.org/web/20141221122958/http://firstbiz.firstpost.com/biztech/2012-global-losses-from-phishing-estimated-at-1-5-bn-16850.html|archive-date=ngày 21 tháng 12 năm 2014|url-status=live|access-date =ngày 25 tháng 1 năm 2019}}</ref> Hai trong số các phương thức lừa đảo nổi tiếng là Covert Redirect và Open Redirect.
Các công ty đã đề xuất các giải pháp khác nhau. Các công ty bảo mật lớn như [[McAfee LLC|McAfee]] đã thiết kế các bộ quản trị và tuân thủ để đáp ứng các quy định sau ngày 11/9,<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.eweek.com/c/a/Security/McAfee-Governance-Risk-and-Compliance-Business-Unit/|title=McAfee Governance, Risk and Compliance Business Unit|last=Prince, Brian|date=ngày 9 tháng 4 năm 2008|work=eWEEK|access-date =ngày 25 tháng 4 năm 2008|publisher=Ziff Davis Enterprise Holdings}}</ref> và một số, như [[Finjan]] đã khuyến nghị kiểm tra mã lập trình theo thời gian thực và tất cả nội dung bất kể nguồn gốc của nó là gì.<ref name="Ben-Itzhak"/> Một số người lập luận rằng các doanh nghiệp coi bảo mật Web là cơ hội kinh doanh chứ không phải là [[Trung tâm chi phí (doanh nghiệp)|trung tâm chi phí]],<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.informationweek.com/news/security/client/showArticle.jhtml?articleID=207100989|title=Down To Business: It's Past Time To Elevate The Infosec Conversation|last=Preston, Rob|date=ngày 12 tháng 4 năm 2008|work=InformationWeek|access-date =ngày 25 tháng 4 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20080414031843/http://www.informationweek.com/news/security/client/showArticle.jhtml?articleID=207100989|archive-date=ngày 14 tháng 4 năm 2008|url-status=live|publisher=United Business Media}}</ref> trong khi những người khác kêu gọi "quản lý quyền kỹ thuật số luôn luôn phổ biến" được thi hành trong cơ sở hạ tầng để thay thế hàng trăm công ty bảo mật dữ liệu và mạng.<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.informationweek.com/news/security/showArticle.jhtml?articleID=197003826|title=RSA's Coviello Predicts Security Consolidation|last=Claburn, Thomas|date=ngày 6 tháng 2 năm 2007|work=InformationWeek|access-date =ngày 25 tháng 4 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20090207091418/http://www.informationweek.com/news/security/showArticle.jhtml?articleID=197003826|archive-date=ngày 7 tháng 2 năm 2009|url-status=live|publisher=United Business Media}}</ref> [[Jonathan Zittrain]] đã nói rằng người dùng chia sẻ trách nhiệm về an toàn điện toán là tốt hơn nhiều so với việc khóa Internet.<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.networkworld.com/news/2008/040908-zittrain.html|title=How the iPhone is killing the 'Net|last=Duffy Marsan|first=Carolyn|date=ngày 9 tháng 4 năm 2008|work=Network World|access-date =ngày 17 tháng 4 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20080414043829/http://www.networkworld.com/news/2008/040908-zittrain.html|archive-date=ngày 14 tháng 4 năm 2008|url-status=dead|publisher=IDG}}</ref>
== Tính riêng tư ==
Mỗi khi khách hàng yêu cầu một trang web, máy chủ có thể xác định địa chỉ IP của yêu cầu và thường ghi nhật ký. Ngoài ra, trừ khi được đặt không làm như vậy, hầu hết các trình duyệt web ghi lại các trang web được yêu cầu trong một tính năng ''lịch sử'' có thể xem được và thường [[Web caching|lưu trữ]] nhiều nội dung cục bộ. Trừ khi giao tiếp trên trình duyệt máy chủ sử dụng mã hóa HTTPS, các yêu cầu và phản hồi web truyền đi trong văn bản thuần túy trên Internet và có thể được xem, ghi lại và lưu trữ bởi các hệ thống trung gian. Khi một trang web yêu cầu và người dùng cung cấp, thông tin nhận dạng cá nhân của Wapsuch là tên thật, địa chỉ, địa chỉ email,v.v...các thực thể dựa trên web có thể liên kết lưu lượng truy cập web hiện tại với cá nhân đó. Nếu trang web sử dụng [[Cookie (tin học)|cookie HTTP]], xác thực tên người dùng và mật khẩu hoặc các kỹ thuật theo dõi khác, nó có thể liên quan đến các lượt truy cập web khác, trước và sau với thông tin nhận dạng được cung cấp. Theo cách này, một tổ chức dựa trên web có thể phát triển và xây dựng hồ sơ của từng người sử dụng trang web hoặc trang web của mình. Nó có thể có thể xây dựng một hồ sơ cho một cá nhân bao gồm thông tin về các hoạt động giải trí, sở thích mua sắm, nghề nghiệp của họ và các khía cạnh khác trong hồ sơ [[nhân khẩu học]] của họ. Những hồ sơ này rõ ràng là mối quan tâm tiềm năng cho các nhà tiếp thị, nhà quảng cáo và những người khác. Tùy thuộc vào các điều khoản và điều kiện của trang web và luật pháp địa phương áp dụng thông tin từ các hồ sơ này có thể được bán, chia sẻ hoặc chuyển cho các tổ chức khác mà không cần thông báo cho người dùng. Đối với nhiều người bình thường, điều này có nghĩa ít hơn một số e-mail bất ngờ trong hộp của họ hoặc một số quảng cáo có liên quan không đáng có trên một trang web trong tương lai. Đối với những người khác, điều đó có thể có nghĩa là thời gian dành cho một mối quan tâm bất thường có thể dẫn đến một sự tiếp thị mục tiêu tiếp theo có thể không được chào đón. Thực thi pháp luật, chống khủng bố và các cơ quan gián điệp cũng có thể xác định, nhắm mục tiêu và theo dõi các cá nhân dựa trên lợi ích hoặc thông tin của họ trên Web.
[[Dịch vụ mạng xã hội]] cố gắng khiến người dùng sử dụng tên thật, sở thích và địa điểm của họ, thay vì bút danh, vì giám đốc điều hành của họ tin rằng điều này làm cho trải nghiệm mạng xã hội hấp dẫn hơn đối với người dùng. Mặt khác, các bức ảnh được tải lên hoặc các tuyên bố không được bảo vệ có thể được xác định cho một cá nhân, người có thể hối tiếc về sự phơi bày này. Nhà tuyển dụng, trường học, phụ huynh và người thân khác có thể bị ảnh hưởng bởi các khía cạnh của hồ sơ mạng xã hội, chẳng hạn như bài đăng văn bản hoặc ảnh kỹ thuật số, rằng cá nhân đăng bài không có ý định cho những khán giả này. Những kẻ bắt nạt trực tuyến có thể sử dụng thông tin cá nhân để quấy rối hoặc theo dõi người dùng. Các trang web mạng xã hội hiện đại cho phép kiểm soát chi tiết các cài đặt quyền riêng tư cho từng bài đăng riêng lẻ, nhưng chúng có thể phức tạp và không dễ tìm hoặc sử dụng, đặc biệt là cho người mới bắt đầu.<ref>{{Chú thích tạp chí|last=boyd|first=danah|last2=Hargittai, Eszter|date=July 2010|title=Facebook privacy settings: Who cares?|journal=First Monday|volume=15|issue=8|doi=10.5210/fm.v15i8.3086}}</ref> Hình ảnh và video được đăng lên các trang web đã gây ra các vấn đề cụ thể, vì chúng có thể thêm khuôn mặt của một người vào hồ sơ trực tuyến. Với [[Hệ thống nhận dạng khuôn mặt|công nghệ nhận dạng khuôn mặt]] hiện đại và tiềm năng, sau đó có thể liên kết khuôn mặt đó với các hình ảnh, sự kiện và tình huống ẩn danh khác trước đây đã được chụp lại ở nơi khác. Do bộ nhớ đệm hình ảnh, bản sao mirror và sao chép, rất khó để xóa hình ảnh khỏi World Wide Web.
== Tiêu chuẩn ==
Các tiêu chuẩn web bao gồm nhiều tiêu chuẩn và thông số kỹ thuật phụ thuộc lẫn nhau, một số trong đó chi phối các khía cạnh của [[Internet]], không chỉ World Wide Web. Ngay cả khi không tập trung vào web, các tiêu chuẩn như vậy trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển và quản trị của các trang web và [[dịch vụ web]]. Cân nhắc bao gồm khả năng tương tác, khả năng [[Sự tiếp cận|truy cập]] và khả năng sử dụng của các trang web và trang web.
Các tiêu chuẩn web, theo nghĩa rộng hơn, bao gồm những chuẩn sau đây:
* ''Các khuyến nghị'' được công bố bởi [[W3C|World Wide Web Consortium]] (W3C) <ref>{{Chú thích web|url=http://www.w3.org/TR/#Recommendations|title=W3C Technical Reports and Publications|publisher=W3C|access-date = ngày 19 tháng 1 năm 2009}}</ref>
* "Mức sống" được thực hiện bởi Nhóm làm việc về công nghệ ứng dụng siêu văn bản Web (WHATWG)
* ''[[RFC|Tài liệu Yêu cầu Nhận xét]]'' (RFC) do Lực lượng đặc nhiệm Kỹ thuật Internet (IETF) xuất bản <ref>{{Chú thích web|url=http://www.ietf.org/rfc.html|title=IETF RFC page|publisher=IETF|access-date = ngày 19 tháng 1 năm 2009}}</ref>
* ''Các tiêu chuẩn'' được công bố bởi [[Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế]] (ISO) <ref>{{Chú thích web|url=http://www.iso.org/iso/search.htm?qt=world+wide+web&published=on&active_tab=standards|title=Search for World Wide Web in ISO standards|publisher=ISO|access-date = ngày 19 tháng 1 năm 2009}}</ref>
* ''Các tiêu chuẩn'' được công bố bởi Ecma International (trước đây là ECMA) <ref>{{Chú thích web|url=http://www.ecma-international.org/publications/index.html|title=Ecma formal publications|publisher=Ecma|access-date = ngày 19 tháng 1 năm 2009}}</ref>
* ''Tiêu chuẩn [[Unicode]]'' và các ''báo cáo kỹ thuật Unicode'' (UTR) khác nhau được công bố bởi Hiệp hội Unicode <ref>{{Chú thích web|url=https://www.unicode.org/reports/index.html|title=Unicode Technical Reports|publisher=Unicode Consortium|access-date = ngày 19 tháng 1 năm 2009}}</ref>
* Các cơ quan đăng ký tên và số được duy trì bởi [[Tổ chức cấp phát số hiệu Internet|Cơ quan cấp số được gán Internet]] (IANA) <ref>{{Chú thích web|url=http://www.iana.org/|title=IANA home page|publisher=IANA|access-date = ngày 19 tháng 1 năm 2009}}</ref>
Các tiêu chuẩn web không phải là các bộ quy tắc cố định, mà là một bộ liên tục phát triển các thông số kỹ thuật hoàn thiện của các công nghệ web.<ref>{{Chú thích sách|url=http://www.masteringhtml5css3.com/|title=Web standards - Mastering HTML5, CSS3, and XML|last=Leslie Sikos|publisher=[[Apress]]|year=2011|isbn=978-1-4302-4041-9|access-date=2019-03-13|archive-date=2015-04-02|archive-url=https://web.archive.org/web/20150402152305/http://www.masteringhtml5css3.com/}}</ref> Các tiêu chuẩn web được phát triển bởi các tổ chức tiêu chuẩn Nhóm nhóm của các bên quan tâm và thường cạnh tranh với nhiệm vụ tiêu chuẩn hóa không phải là công nghệ được phát triển và tuyên bố là tiêu chuẩn của một cá nhân hoặc công ty. Điều rất quan trọng để phân biệt các thông số kỹ thuật đang được phát triển với các thông số kỹ thuật đã đạt đến trạng thái phát triển cuối cùng (trong trường hợp thông số kỹ thuật của [[W3C]], mức trưởng thành cao nhất).
== Khả năng tiếp cận ==
Có các phương pháp để truy cập Web theo các phương tiện và định dạng thay thế để tạo điều kiện cho những [[người khuyết tật]] sử dụng. Những khuyết tật này có thể là thị giác, thính giác, thể chất, liên quan đến lời nói, nhận thức, thần kinh hoặc một số kết hợp. Các tính năng trợ năng cũng giúp những người khuyết tật tạm thời, như gãy tay hoặc người dùng già khi khả năng của họ thay đổi.<ref name="WAI">{{Chú thích web|url=http://www.w3.org/WAI|title=Web Accessibility Initiative (WAI)|publisher=World Wide Web Consortium|archive-url=https://web.archive.org/web/20090402001730/http://www.w3.org/WAI/|archive-date=ngày 2 tháng 4 năm 2009|url-status=dead|access-date =ngày 7 tháng 4 năm 2009}}</ref> Web nhận thông tin cũng như cung cấp thông tin và tương tác với xã hội. World Wide Web Consortium tuyên bố rằng điều cần thiết là Web có thể truy cập được, vì vậy nó có thể cung cấp quyền truy cập như nhau và cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.w3.org/WAI/bcase/Overview|title=Developing a Web Accessibility Business Case for Your Organization: Overview|publisher=World Wide Web Consortium|archive-url=https://web.archive.org/web/20090414173026/http://www.w3.org/WAI/bcase/Overview|archive-date=ngày 14 tháng 4 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 7 tháng 4 năm 2009}}</ref> Tim Berners-Lee từng lưu ý: "Sức mạnh của Web nằm ở tính phổ quát của nó. Truy cập bởi mọi người bất kể khuyết tật là một khía cạnh thiết yếu."<ref name="WAI" /> Nhiều quốc gia quy định [[Công nghệ thông tin tiếp cận|khả năng truy cập web]] như một yêu cầu cho các trang web.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.w3.org/WAI/bcase/pol|title=Legal and Policy Factors in Developing a Web Accessibility Business Case for Your Organization|publisher=World Wide Web Consortium|archive-url=https://web.archive.org/web/20090405142512/http://www.w3.org/WAI/bcase/pol|archive-date=ngày 5 tháng 4 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 7 tháng 4 năm 2009}}</ref> Hợp tác quốc tế trong Sáng kiến Khả năng truy cập Web của W3C đã dẫn đến các hướng dẫn đơn giản mà các tác giả nội dung web cũng như nhà phát triển phần mềm có thể sử dụng để làm cho Web có thể truy cập được đối với những người có thể hoặc không thể sử dụng công nghệ hỗ trợ.<ref name="WAI" /><ref>{{Chú thích web|url=http://www.w3.org/WAI/intro/wcag.php|title=Web Content Accessibility Guidelines (WCAG) Overview|publisher=World Wide Web Consortium|archive-url=https://web.archive.org/web/20090401074742/http://www.w3.org/WAI/intro/wcag.php|archive-date=ngày 1 tháng 4 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 7 tháng 4 năm 2009}}</ref>
== Quốc tế hóa ==
Hoạt động [[Quốc tế hóa và địa phương hóa|quốc tế hóa]] W3C đảm bảo rằng công nghệ web hoạt động trong tất cả các ngôn ngữ, chữ viết và văn hóa.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.w3.org/International/|title=Internationalization (I18n) Activity|publisher=World Wide Web Consortium|archive-url=https://web.archive.org/web/20090416052903/http://www.w3.org/International/|archive-date=ngày 16 tháng 4 năm 2009|url-status=live|access-date =ngày 10 tháng 4 năm 2009}}</ref> Bắt đầu vào năm 2004 hoặc 2005, [[Unicode]] đã có được chỗ đứng và cuối cùng vào tháng 12 năm 2007 đã vượt qua cả [[ASCII]] và Tây Âu là mã hóa ký tự được sử dụng thường xuyên nhất trên Web.<ref>{{Chú thích báo|url=http://googleblog.blogspot.com/2008/05/moving-to-unicode-51.html|title=Moving to Unicode 5.1|last=Davis, Mark|date=ngày 5 tháng 4 năm 2008|access-date =ngày 10 tháng 4 năm 2009|archive-url=https://web.archive.org/web/20090521191341/http://googleblog.blogspot.com/2008/05/moving-to-unicode-51.html|archive-date=ngày 21 tháng 5 năm 2009|url-status=live|publisher=Google}}</ref> Ban đầu {{IETF RFC|3986}} cho phép các tài nguyên được xác định bởi URI trong một tập hợp con của US-ASCII. RFC 3987 cho phép nhiều ký tự hơn nữa, bất kỳ ký tự nào trong Bộ ký tự phổ quát, và bây giờ tài nguyên có thể được IRI xác định bằng bất kỳ ngôn ngữ nào.
== Bộ nhớ đệm web ==
{{main|Web caching}}
[[Web caching|Bộ đệm web]] là một máy tính được đặt trên Internet công cộng hoặc trong một doanh nghiệp lưu trữ các trang web được truy cập gần đây để cải thiện thời gian phản hồi cho người dùng khi cùng một nội dung được yêu cầu trong một thời gian nhất định sau yêu cầu ban đầu. Hầu hết các trình duyệt web cũng triển khai [[Web caching|bộ đệm]] của [[Web caching|trình duyệt]] bằng cách ghi dữ liệu thu được gần đây vào thiết bị lưu trữ dữ liệu cục bộ. Các yêu cầu HTTP của trình duyệt chỉ có thể yêu cầu dữ liệu đã thay đổi kể từ lần truy cập cuối cùng. Các trang web và tài nguyên có thể chứa thông tin hết hạn để kiểm soát bộ nhớ đệm để bảo mật dữ liệu nhạy cảm, như trong [[Internet Banking|ngân hàng trực tuyến]] hoặc để tạo điều kiện cho các trang web được cập nhật thường xuyên, như phương tiện tin tức. Ngay cả các trang web có nội dung rất năng động đôi khi cũng có thể cho phép các tài nguyên cơ bản được làm mới. Các nhà thiết kế trang web thấy đáng để đối chiếu các tài nguyên như dữ liệu CSS và JavaScript thành một vài tệp trên toàn trang web để chúng có thể được lưu trữ hiệu quả. [[Tường lửa]] doanh nghiệp thường lưu trữ tài nguyên web được yêu cầu bởi một người dùng vì lợi ích của nhiều người dùng. Một số [[Máy truy tìm dữ liệu|công cụ tìm kiếm]] lưu trữ nội dung lưu trữ của các trang web thường xuyên truy cập.
== Xem thêm ==
* [[Internet Society|Internet]]
* [[Web 2.0]]
* [[Thư điện tử]]
* [[Máy truy tìm dữ liệu]]
==Đọc thêm==
{{thể loại Commons|W3C}}
* {{chú thích tạp chí| author=Berners-Lee, Tim; Bray, Tim; Connolly, Dan; Cotton, Paul; Fielding, Roy; Jeckle, Mario; Lilley, Chris; Mendelsohn, Noah; Orchard, David; Walsh, Norman; Williams, Stuart | title=Architecture of the World Wide Web, Volume One | publisher=W3C | date=ngày 15 tháng 12 năm 2004 | version=Version 20041215 | url=http://www.w3.org/TR/webarch/}}
* {{chú thích tạp chí| author=Fielding, R.; Gettys, J.; Mogul, J.; Frystyk, H.; Masinter, L.; Leach, P.; Berners-Lee, T. | title=Hypertext Transfer Protocol – HTTP/1.1 | publisher=Information Sciences Institute |date = June 1999| version=Request For Comments 2616}}
* Niels Brügger, ed. ''Web History'' (2010) 362 pages; Historical perspective on the World Wide Web, including issues of culture, content, and preservation.
* {{chú thích web| author=Polo, Luciano | title=World Wide Web Technology Architecture: A Conceptual Analysis | year=2003 | work=New Devices}}
* {{chú thích web| author=Skau, H.O. | title=The World Wide Web and Health Information | date= March 1990 | work=New Devices}}
==Liên kết ngoài==
{{wikibooks|Nets, Webs and the Information Infrastructure}}
* [http://info.cern.ch/hypertext/WWW/TheProject.html The first website]<ref>{{chú thích web|title=http://info.cern.ch - home of the first website|url=http://info.cern.ch/|publisher=CERN|access-date =ngày 12 tháng 6 năm 2014}}</ref>
* [http://www.w3.org/History/19921103-hypertext/hypertext/WWW/ Early archive of the first Web site]
* [http://www.mit.edu/people/mkgray/net/ Internet Statistics: Growth and Usage of the Web and the Internet]
* [http://www.livinginternet.com/w/w.htm Living Internet] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090107015339/http://www.livinginternet.com./w/w.htm |date = ngày 7 tháng 1 năm 2009}} A comprehensive history of the Internet, including the World Wide Web.
* {{dmoz|Computers/Internet/Web_Design_and_Development|Web Design and Development}}
* [http://www.w3.org/ World Wide Web Consortium (W3C)]
* [http://www.w3.org/Protocols/NL-PerfNote.html W3C Recommendations Reduce "World Wide Wait"]
* [http://www.worldwidewebsize.com/ World Wide Web Size] Daily estimated size of the World Wide Web.
* [http://cle.ens-lyon.fr/40528325/0/fiche___pagelibre/ Antonio A. Casilli, Some Elements for a Sociology of Online Interactions] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20110501162838/http://cle.ens-lyon.fr/40528325/0/fiche___pagelibre/ |date = ngày 1 tháng 5 năm 2011}}
* [http://web-graph.org/ The Erdős Webgraph Server] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20210301013100/http://web-graph.org/ |date=2021-03-01 }} offers weekly updated graph representation of a constantly increasing fraction of the WWW.
== Tham khảo ==
{{Tham khảo|30em}}
{{thể loại Commons}}
{{Semantic Web}}
[[Thể loại:Bài cơ bản dài trung bình]]
[[Thể loại:World Wide Web| ]]
[[Thể loại:Phát minh Anh]]
[[Thể loại:Tương tác người-máy tính]]
[[Thể loại:Thời đại thông tin]]
[[Thể loại:CERN]]
[[Thể loại:Tim Berners-Lee]] | 107338 |
1297 | Chiến tranh vùng Vịnh lần 1 | 0 | Chiến tranh Vùng Vịnh | null | 37330011 | 273775 | 2018-02-27T01:17:32 | true | Bot: Giải quyết đổi hướng kép đến [[Chiến tranh Vùng Vịnh]] | wikitext | text/x-wiki | ori1hujfe4fsr44sx1n241kboy3ljd7 | {
"username": "Xqbot",
"id": "98738",
"ip": null
} | #đổi [[Chiến tranh Vùng Vịnh]] | 38 |
1299 | Giê-su | 0 | null | null | 73634572 | 73334338 | 2025-06-27T01:10:55 | false | /* Đầu đời, gia quyến, và nghề nghiệp */loại bỏ đoạn nd có thể gây tranh cãi, thêm vào quan điểm phủ nhận thông tin từ ông Nicholas Notovitch. | wikitext | text/x-wiki | fatjh50khudyki70wc7yxzawmt42rcn | {
"username": "Như Gây Mê",
"id": "765844",
"ip": null
} | {{Khóa-phá hoại|small=yes}}
{{1000 bài cơ bản}}
{{Infobox person
| name = Giêsu
| image = Spas vsederzhitel sinay.jpg
| caption = {{longitem |Linh ảnh [[Đấng toàn năng Kitô (Sinai)|Đấng toàn năng Kitô]] ở [[Tu viện Thánh Catarina]], nơi [[Núi Sinai|sơn cước Sinai]], có niên đại về thế kỷ thứ 6}}
| birth_date = {{circa}} [[Ngày sinh Chúa Jesus|4 TCN]]{{efn|[[John P. Meier]] lại cho rằng Jesus sinh vào {{c.|7 hoặc 6 TCN}}.{{sfn|Meier|1991|p=407}}<!--
--> [[Karl Rahner]] khẳng định rằng đồng thuận trong giới học giả Kitô là {{c.|4 TCN|lk=no}}.{{sfn|Rahner|2004|p=732}} <!--
-->[[E. P. Sanders]] cũng cho rằng ngày sinh của Giêsu là {{c.|4 TCN|lk=no}} và cũng đề cập đến đồng thuận số động.{{sfn|Sanders|1993|pp=10–11}} <!--
-->[[Jack Finegan]] dựa trên bằng chứng thuyền thống Kitô thuở sớm để củng cố cho giả định niên đại {{c.|3 hoặc 2 TCN|lk=no}}.<ref name=Finegan>{{harvnb|Finegan|1998|page=[https://archive.org/details/handbookbiblical00fine/page/n350 319]}}</ref> <!--
-->}}
| birth_place = <!--Note: No scholarly consensus for any more precise a location than Judea:-->[[Vương quốc Herod Judea]], [[Đế quốc La Mã]]{{sfn|Brown|1977|p=513}}
| death_date = 30 hoặc 33 CN<br/>(33–36 tuổi)
| death_place = [[Jerusalem]], [[Judaea (tỉnh La Mã)|Judea]], Đế quốc La Mã
| known_for = Hình tượng trung tâm của [[Đạo Kitô]]
| death_cause = <!---Note: No (further) comments required here; the scholarly consensus that the cause of Jesus' death was crucifixion is given in the article text:--->[[Sự kiện đóng đinh Giêsu|Bị đóng đinh trên cây thập tự]]
| parents = {{hlist |[[Maria]]|[[Thánh Giuse|Giuse]]}}
}}
'''Giêsu''' ([[chữ Nôm]]: 支秋,<ref>支秋 có âm Hán-Việt là ''Chi-thu'' nhưng đọc theo âm Nôm là ''Giê-su''. Tham khảo: [[Girolamo Maiorica]]. [https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/btv1b54100295f/f9.image 徳主支秋巻之二] ''Đức Chúa Giê-su quyển chi nhị''.<br>Trần Văn Toàn (2005). "[https://web.archive.org/web/20160922222914/http://giaophannhatrang.org/index.php?nv=news&op=Van-hoa%2FTu-vi-Taberd-va-di-san-van-hoa-Viet-Nam-6554 Tự vị Taberd và di sản văn hóa Việt Nam]".<br>Hoàng Xuân Việt (2006). [https://books.google.ca/books?id=noLvBZcWoScC&lpg=PA2&pg=PA99#v=onepage&q&f=false ''Tìm hiểu lịch sử chữ Quốc ngữ'']. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. Tr. 99.</ref> còn được viết là '''Giê-su''', '''Giê-xu''', '''Yêsu''', '''Jesus''', '''Gia-tô'''<ref>''Gia-tô'' hoặc ''Da-tô'' là [[phiên âm Hán-Việt]] của 耶穌 ([[chữ Hán phồn thể|phồn thể]]) hay 耶稣 ([[chữ Hán giản thể|giản thể]]), [[Bính âm Hán ngữ|pinyin]]: ''Yēsū''.</ref>; khoảng [[4 TCN]] – [[3 tháng 4]], [[33|33 SCN]]), còn được gọi là '''Giêsu Kitô''', '''Jesus Christ''', hay '''Gia-tô Cơ-đốc''' là một nhân vật [[lịch sử]] [[người Do Thái]], nhà giảng thuyết, người sáng lập ra [[Kitô giáo]] vào [[Thế kỷ 1|thế kỉ thứ 1]]. Tên gọi Giêsu trong [[tiếng Hebrew]] đọc là ''Yehoshua'' (יהושע – có nghĩa "Đức [[Chúa]] là Đấng Cứu Độ"), thường được gọi vắn tắt là ''Yeshua'' (ישוע). Đối với người đương thời, Giêsu còn được gọi là '''Giêsu thành [[Nazareth]]''', hoặc '''Giêsu con ông [[Thánh Giuse|Giuse]]'''. Từ ''[[Kitô]]'' ([[tiếng Latinh]]: ''Christus'', [[tiếng Hy Lạp]]: Χριστός ''Khristós'', hay ''Cơ-đốc'' theo phiên âm Hán Việt) là một danh hiệu của Giêsu, có nghĩa là "người được xức dầu", nhằm chỉ ông là đấng [[Messiah]], đã được tiên báo trong [[Cựu Ước]]. Những gì chúng ta biết được về Giêsu là do được ghi chép trong [[Kinh Thánh|Thánh Kinh]] [[Tân Ước]], đặc biệt là trong bốn sách [[Phúc Âm]].
Những nguồn thông tin chính về cuộc đời và những lời dạy của Giêsu là bốn [[sách Phúc Âm]] quy điển, đặc biệt là trong [[Phúc Âm Nhất Lãm]],<ref>"The Gospel of John is quite different from the other three gospels, and it is primarily in the latter that we must seek information about Jesus." Sanders (1993), p. 57.</ref><ref name="ActJIntro">{{Chú thích sách|author1link=Robert W. Funk|last1=Funk|first1=Robert W.|author2link=Jesus Seminar|first2=Jesus|last2=Seminar|year=1998|work=The acts of Jesus: the search for the authentic deeds of Jesus|location=San Francisco|publisher=HarperSanFrancisco|title=Introduction|pages=1–40|isbn=978-0-06-062978-6}}</ref> mặc dù nhiều học giả cho rằng những văn bản như [[Phúc Âm Tôma]] và [[Phúc Âm Hebrew]]<ref>[http://www.jstor.org/stable/3262407 P. Parker, ''A Proto-Lukan Basis for the Gospel According to the Hebrews'' Journal of Biblical Literature, Vol. 59, No. 4 (Dec., 1940), pp. 471-473]</ref><ref>[http://books.google.ca/books?id=Vs9YXAB_axYC&dq=%22James+Edwards%22++%22Hebrew+Gospel%22&printsec=frontcover&source=bl&ots=cdXiwt--gI&sig=MExo3o7vnOrb887DWJ4tVbM94es&hl=en&ei=l3o1S_TnI9W9lAehybWRBw&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=1&ved=0CAgQ6AEwAA#v=onepage&q=&f=false J. R. Edwards, ''The Hebrew Gospel & the Development of the Synoptic Tradition'', Eerdmans Publishing, 2009 pp. 1-376]</ref> cũng xác đáng.<ref name="levine">{{Chú thích sách|authorlink=Amy-Jill Levine|last=Levine|first=Amy-Jill|url=http://books.google.ca/books?id=zFhvECwNQD0C&pg=PA352|title=Visions of Kingdoms: From Pompey to the First Jewish Revolt (63 TCN—70 CE)|editor=Coogan Michael D.|year=1998|work=The Oxford History of the Biblical World|location=New York and Oxford|publisher=Oxford University Press|pages=370–371|isbn=978-0-19-508707-9}}</ref>
Trong [[Hồi giáo]], Giêsu ({{langx|ar|عيسى}}, chuyển tự là {{transl|ar|ISO|[[Giêsu theo quan điểm của Hồi giáo|Isa]]}}) được xem là một [[Tiên tri của Hồi giáo|nhà tiên tri]] quan trọng của [[Thiên Chúa]]<ref>{{Chú thích sách|last=Houlden|first=James L.|year=2005|title=Jesus: The Complete Guide|url=https://archive.org/details/jesuscompletegui0000unse|location=London|publisher=Continuum|isbn=978-0-8264-8011-8}}</ref><ref>{{Chú thích web|tác giả 1=Prof. Dr. Şaban Ali Düzgün|url=http://www.diyanet.gov.tr/English/web_kitap.asp?yid=30|tiêu đề=Uncovering Islam: Questions and Answers about Islamic Beliefs and Teachings|vị trí=Ankara|nhà xuất bản=The Presidency of Religious Affairs Publishing|năm=2004|ngày truy cập=2010-02-15|archive-date = ngày 1 tháng 2 năm 2009 |archive-url=https://web.archive.org/web/20090201122618/http://www.diyanet.gov.tr/English/web_kitap.asp?yid=30}}</ref>, người mang lại [[Injil]] (Phúc Âm), và là người làm những phép lạ. Hồi giáo cũng xưng nhận Giêsu là Đấng Masih (Messiah), nhưng họ không dạy rằng Giêsu mang đặc tính thần linh. [[Quan điểm của Hồi giáo về cái chết của Giêsu|Quan điểm của Hồi giáo]] cho rằng Giêsu đã lên [[thiên đàng|thiên đường]] cả linh hồn và thể xác nhưng không trải qua việc [[Sự kiện đóng đinh Giêsu|đóng đinh]] vào [[Thánh giá|thập tự giá]] và [[Sự phục sinh của Giêsu|phục sinh]],<ref>{{Chú thích web|url=http://www.usc.edu/dept/MSA/quran/004.qmt.html#004.157|tiêu đề=Compendium of Muslim Texts|ngày truy cập=2010-02-15|archive-date=2007-06-10|archive-url=https://web.archive.org/web/20070610054838/http://www.usc.edu/dept/MSA/quran/004.qmt.html#004.157|url-status=dead}}</ref> khác với [[Đức tin Kitô giáo|niềm tin truyền thống của Kitô giáo]] về cái chết và sự phục sinh của Giêsu.
== Tên và danh hiệu ==
[[Người Do Thái]] đương thời thường thêm tên người cha hoặc tên quê quán vào tên gọi cá nhân.<ref name="Britannica">{{cite encyclopedia | url=http://www.britannica.com/EBchecked/topic/303091/Jesus-Christ |title=Jesus Christ | encyclopedia=Encyclopædia Britannica | access-date=ngày 13 tháng 4 năm 2013| first1=Ed P.|last1=Sanders |first2= Jaroslav J.| last2= Pelikan}}</ref> Như vậy, trong Tân Ước, Giêsu cũng được gọi là "Giêsu thành Nazareth" (Mátthêu 26:71)<ref>{{chú thích web|url=https://thanhlinh.net/index.php?q=node/11660|title=Chương 26 -|website=thanhlinh.net}}</ref>, "con ông Giuse" (Lc 4:22) hoặc đầy đủ nhất là "Giêsu con ông Giuse thành Nazareth" (Ga 1:45)<ref>{{chú thích web|url=https://thanhlinh.net/index.php?q=node/11745|title=Gioan -|website=thanhlinh.net}}</ref>. Tuy nhiên, trong Máccô 6:3 thì lại gọi là "con bà [[Maria]], và anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simon"<ref>{{chú thích web|url=https://thanhlinh.net/index.php?q=node/11668|title=Chương 6 -|website=thanhlinh.net}}</ref>. Tên Giêsu ngày nay trong các ngôn ngữ hiện đại có nguồn gốc từ ''Iesus'' trong [[tiếng Latinh]], đây là một hình thức chuyển tự của chữ {{lang|grc|Ἰησοῦς}} (''{{lang|grc-Latn|Iesous}}'') từ [[tiếng Hy Lạp]].<ref name="CE name">{{CathEncy | wstitle=Origin of the Name of Jesus Christ | first= Anthony J. |last= Maas}}</ref> Hình thức thể hiện của tiếng Hy Lạp lại bắt nguồn từ chữ ישוע (''Yeshua'') trong [[tiếng Aram]], nhưng tựu trung có nguồn gốc từ chữ יהושע (''Yehoshua'') của [[tiếng Do Thái]].<ref name="EhrmanDid29">{{chú thích sách|last=Ehrman|first=Bart D.|title=Did Jesus Exist?: The Historical Argument for Jesus of Nazareth|year=2012|publisher=HarperOne|page=29|isbn=978-0-06-208994-6 |url =http://books.google.com/?id=hf5Rj8EtsPkC&printsec=frontcover&dq=did+jesus+exist+bart+ehrman#v=snippet&q=%22nearly%20anyone%20who%20lived%20in%20the%20first%20century%22&f=false}}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Joshua|url=http://www.merriam-webster.com/dictionary/joshua|nhà xuất bản=Merriam-Webster|ngày truy cập=ngày 4 tháng 8 năm 2013}}</ref> Tên ''Yeshua'' dường như đã được sử dụng trong xứ [[Judea]] tại thời điểm Giêsu ra đời.<ref>{{chú thích sách|publisher=Westminster John Knox Press |isbn=978-0-664-23433-1 |title=Matthew |first=Douglas |last=Hare |year=2009 |page=11}}</ref> Theo giải thích của Tân Ước, tên gọi này nghĩa là "Giavê là sự cứu rỗi".{{sfn|France|2007|p=53}}[[Tập tin:JesusYeshua2.svg|nhỏ|trái|268x268px|Tiếng Hebrew, Hy Lạp và phiên âm Latin tên của Chúa Giêsu]]Các tín đồ sơ khai đã thường gọi là "Chúa Giêsu Kitô".{{sfn|Doninger|1999|p=212}} Từ ''[[Kitô (danh hiệu)|Ki-tô]]'' (hay ''Ki-ri-xi-tô'', [[chữ Nôm]]: 基移吹蘇), cũng phiên âm là ''Cơ-đốc'' (hay ''Cơ-lợi-tư-đốc'', [[chữ Hán]]: 基利斯督), không phải là tên nhưng là một danh hiệu. Trong [[tiếng Hy Lạp]], Χριστός (''Khristos'') có nghĩa là "người được xức dầu", được dịch từ [[tiếng Hebrew]] ''[[Messiah]]'', để gọi vị lãnh đạo được Thiên Chúa sai đến giải cứu dân Chúa, trong ngôn ngữ hiện đại được hiểu là "Đấng cứu thế".<ref name="CE name" /><ref>{{chú thích sách|last=Heil|first=John P.|title=Philippians: Let Us Rejoice in Being Conformed to Christ|year=2010|publisher=Society of Biblical Lit|isbn=978-1-58983-482-8|page=66|url=http://books.google.com/books?id=i4u42_PsPNsC&pg=PA66#v=onepage&q&f=false}}</ref> Chữ [[Kitô hữu]] được chỉ những người tin và theo Chúa Kitô.
Theo ký thuật của các [[sách Phúc Âm]], Giêsu xưng mình là Con người (''the Son of man'' - tức "Con của loài người", "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con người không có chỗ tựa đầu" - Mt 8:20). Danh xưng này thường được cho là để khẳng định Giêsu là một con người trọn vẹn cũng như Giêsu được gọi là Con Thiên Chúa (''the Son of God'', "Quả thật, người này là Con Thiên Chúa" - Mt 27:54) để khẳng định Giêsu đồng thời cũng là Thiên Chúa cách trọn vẹn.<ref name="AMcGrath">''Christian Theology: An Introduction'' by Alister E. McGrath 2010 ISBN 1-4443-3514-6 page 270</ref>.
Ngoài ra, Giêsu còn có một số danh xưng khác như "Đấng Tiên tri", "Chúa". Trong [[Phúc Âm Gioan]] 14:6 chép: "Đức Chúa Giêsu phán rằng: Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy" (Ga 14:6). Theo đức tin Kitô giáo, Giê-su là con [[Thiên Chúa#Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo|Đức Chúa Trời]], và được sinh ra trên [[Trái Đất]] và chịu đóng đinh, để [[Cứu rỗi|cứu chuộc]] nhân loại khỏi tội lỗi, nên Giê-su còn được xưng tụng là ''Đấng Cứu Thế, Đấng Cứu Rỗi'', ''Cứu Chúa'' - "''Nhưng Thiên Chúa tỏ lòng yêu thương của Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Chúa Cơ Đốc vì chúng ta chịu chết''"''.'' (Roma 5:8).
== Cuộc đời và giáo huấn theo Tân Ước==
{{chính|Cuộc đời Giêsu theo Tân Ước}}
{{xem thêm|Các địa danh liên quan đến Giêsu trong Tân Ước}}
{{Kitô giáo}}
=== Phúc Âm quy điển ===
{{chính|Sách Phúc Âm|Tổng hòa Phúc Âm|Độ tin cậy sử học của các sách Phúc Âm}}
Bốn cuốn [[Phúc Âm quy điển]] ([[Phúc Âm Mátthêu|Mátthêu]], [[Phúc Âm Máccô|Máccô]], [[Phúc Âm Luca|Luca]], và [[Phúc Âm Gioan|Gioan]]) là những nguồn văn liệu cực kỳ quan trọng về cuộc đời và thông điệp của Giêsu.<ref name="Britannica" /> Các phần khác trong Tân Ước cũng có đề cập qua một số giai đoạn trong cuộc đời của ông, chẳng hạn như sự kiện [[Bữa ăn tối cuối cùng]] được kể trong [[Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô|1 Côrintô]] [[1 Côrintô 11|11]]:23–26.<ref>{{bibleverse|1 Corinthians|11:23-26|9}}</ref>{{sfn|Blomberg|2009|pp=441–42}}{{sfn|Evans|2003|pp=465–77}} [[Sách Công vụ Tông đồ]]<ref>{{bibleverse|Acts|10:37–38|9}} và {{bibleverse|Acts|19:4|9}}</ref> đề cập đến thừa tác vụ ban sớm của Giêsu và dự tưởng của [[Gioan Tẩy Giả]].<ref name="Bruce1988">{{chú thích sách|title=The Book of the Acts|url=https://archive.org/details/bookofacts00bruc|first=Frederick F.|last= Bruce|year= 1988 |isbn= 978-0-8028-2505-6 |page= [https://archive.org/details/bookofacts00bruc/page/n389 362] |publisher=Wm. B. Eerdmans Publishing}}</ref>{{sfn|Rausch|2003|p=77}} Công vụ 1:1–11<ref>{{bibleverse|Acts|1:1–11|9}}</ref> kể chi tiết hơn các cuốn quy điển về sự kiện [[Giêsu thăng thiên]].<ref>Cũng được nhắc đến ở {{bibleref2|1 Timothy 3:16}}</ref>{{sfn|Evans|2003|pp=521–30}} Giáo huấn của Giêsu được trích dẫn rất nhiều lần trong [[Các thư tín Phaolô#Độ xác thực|các lá thư Phaolô xác đáng]], có niên đại trước cả các quy điển Phúc Âm.<ref>{{bibleref2|1 Corinthians 7:10–11, 9:14, 11:23–25}}, {{bibleref2|2 Corinthians 12:9}}</ref>{{efn|Powell viết: "[Paul] does cite words or instructions of Jesus in a few places,<ref>{{bibleref2|1 Cor. 7:10–11; 9:14; 11:23–25}}; {{bibleref2|2 Cor. 12:9}}; cf. {{bibleref2|Acts 20:35}}</ref> but for the most part he displays little interest in the details of Jesus' earthly life and ministry."<ref>{{chú thích sách |last= Powell |first= Mark A. |title= Introducing the New Testament |url=https://archive.org/details/introducingnewte00powe |url-access= limited |date= 2009 |publisher= Baker Academic |page= [https://archive.org/details/introducingnewte00powe/page/248 248]|isbn= 978-0-8010-2868-7 }}</ref>}}
Một số nhóm [[Kitô giáo sơ khai|Kitô hữu thuở sớm]] có những tác phẩm tường thuật khác về cuộc đời của Giêsu và giáo huấn khác Tân Ước. Chúng bao gồm [[Phúc Âm Tôma]], [[Phúc Âm Phêrô]], [[Phúc Âm Giuđa]], [[Ngụy thư Giacôbê]], và [[Ngụy thư Tân Ước|nhiều ngụy thư khác]]. Hầu hết học giả cho rằng những tác phẩm này được viết khá muộn và không đáng tin như bộ bốn cuốn Phúc Âm quy điển.{{sfn|Brown|1997|pp=835–40}}<ref>{{chú thích sách|last1=Evans|first1=C.A.|title=Exploring the Origins of the Bible|date=2008|publisher=Baker Academic|page=154}}</ref>{{sfn|Keener|2009|p=56}}
==== Danh tính tác giả, niên đại, và độ tin cậy ====
Các tác giả viết bốn cuốn Phúc Âm quy điển đều khuyết danh. Theo truyền thống, những người này được xác định là [[bốn nhà thánh sử]] có liên hệ với Giêsu:{{sfn|Funk|Hoover|The Jesus Seminar|1993|p=3}} cộng sự của [[Thánh Phêrô|Phêrô]] là [[Thánh sử Máccô|Gioan Máccô]] viết cuốn Máccô; một trong những môn đệ của Giêsu viết cuốn [[Mátthêu, Tông đồ Thánh sử|Mátthêu]];{{sfn|Funk|Hoover|The Jesus Seminar|1993|p=3}} [[Thánh sử Luca]], bằng hữu của [[Sứ đồ Phaolô|Phaolô]] được nhắc đến trong một số tín thư, viết cuốn Luca;{{sfn|Funk|Hoover|The Jesus Seminar|1993|p=3}} và một môn đệ khác của Giêsu, biệt danh là "[[môn đệ quý mến]]",{{sfn|Cross|Livingstone|2005|loc=John, St.}} viết cuốn Gioan.{{sfn|Funk|Hoover|The Jesus Seminar|1993|p=3}}
Theo [[giả thuyết ưu tiên Máccô]], sách Phúc Âm quy điển đầu tiên được viết là Phúc Âm Máccô (60–75 CN), kế tiếp là Phúc Âm Mátthêu (65–85 CN), Phúc Âm Luca (65–95 CN), rồi Phúc Âm Gioan (75–100 CN).<ref>{{chú thích sách |url=https://books.google.com/books?id=l2sloGWzzV8C&pg=PA58 | title=Can We Trust the Gospels?: Investigating the Reliability of Matthew, Mark, Luke, and John | publisher=Crossway | year=2007 | page=58 | isbn=978-1-4335-1978-9 | first=Mark D. | last=Roberts | access-date=14 August 2015 | archive-date=7 September 2015 | archive-url=https://web.archive.org/web/20150907174109/https://books.google.com/books?id=l2sloGWzzV8C&pg=PA58 | url-status=live }}</ref> Hầu hết học giả đồng thuận rằng Mátthêu và Luca sử dụng cuốn Máccô làm tham chiếu để viết các tác phẩm của họ. Hơn nữa, vì tường thuật của Mátthêu và Luca chia sẻ một số chi tiết chung không có trong Máccô, nhiều nhà nghiên cứu suy đoán rằng hai tác giả kể trên đã tham khảo từ một nguồn nào đó khác nguồn Máccô – được giả sử là "[[nguồn Q]]".{{sfn|Licona|2010|pp=210–21}}
==== Khảo dị cấu trúc và nội dung ====
=== Phả hệ và giáng sinh ===
{{chính|Phả hệ của Giêsu|Sự giáng sinh của Giêsu}}
{{Chúa Giê-xu}}
Giêsu là người Do Thái,{{sfn|Vermes|1981|pp=20, 26, 27, 29}} được hạ sinh bởi [[Maria]], vợ của [[Thánh Giuse|Giusê]].<ref>[[Matthew 1]]; [[Luke 2]]</ref> Phúc Âm Mátthêu và Luca đưa ra hai ký thuật về [[phả hệ của Giêsu]]. Cuốn Mátthêu truy tổ tiên của Giêsu về [[Abraham]] thông qua [[David]].<ref>{{bibleverse|Matthew|1:1–16}}</ref>{{sfn|Sanders|1993|pp=80–91}} Cuốn Luca truy tổ tiên của Giêsu về Thiên Chúa thông qua [[Adam]].<ref>{{bibleverse|Luke|3:23–38}}</ref>{{sfn|Brown|1978|p=[https://books.google.com/books?id=ML1mnUBwmhcC&pg=PA163 163]}} Danh sách họ hàng các đời giữa Abraham và David của Giêsu trong hai tác phẩm rất tương đồng, song từ đó trở đi thì khác biệt rất nhiều. Mátthêu liệt kê 27 thế hệ từ David đến Giusê, còn Luca khẳng định tồn tại tới tận 42 thế hệ, hơn nữa cũng có rất ít tên trùng lặp nhau.{{efn|So sánh {{bibleref2|Matthew|1:6–16|NIV}} và {{bibleref2|Luke|3:23–31|NIV}}. Xem thêm {{section link|Phả hệ của Giêsu|So sánh giữa hai phả hệ}}.}}<ref>{{chú thích sách |last=France |first=R.T. |author-link=R. T. France |title=The Gospel According to Matthew: An Introduction and Commentary |url=https://books.google.com/books?id=ttTgacXnLV8C&pg=PA72 |publisher=Eerdmans |year=1985 |page=72 |isbn=978-0-8028-0063-3 |access-date=15 October 2018 |archive-date=29 February 2020 |archive-url=https://web.archive.org/web/20200229004519/https://books.google.com/books?id=ttTgacXnLV8C&pg=PA72 |url-status=live }} "From David the two lists diverge, as Matthew follows the line of succession to the throne of Judah from Solomon, whereas Luke's list goes through Nathan, ... and converges with Matthew's only for the two names of Shealtiel and Zerubabbel until Joseph is reached."</ref> Nhiều giả thuyết đã được đề ra để giải thích cho những bất nhất này.{{efn|Để có cái nhìn tổng quan về vấn đề này, xem {{section link|Phả hệ của Giêsu|Giải thích cho sự đa dạng}}.}}
[[Tập tin:Gerard van Honthorst - Adoration of the Shepherds (1622).jpg|thumb|left|Họa phẩm ''Sự chiêm bái của các mục đồng'' bởi [[Gerard van Honthorst]], 1622]]
Phúc Âm Mátthêu và Luca đều đề cập đến sự kiện Giêsu chào đời, đều khẳng định một thiếu nữ đồng trinh tên là Maria đã hạ sinh Giêsu ở [[Bethlehem]] nhằm hoàn bị một lời sấm. Ký thuật của Luca nhấn mạnh các sự kiện xảy ra trước [[sự giáng sinh của Giêsu|khi Giêsu chào đời]] và xoay quanh Maria, trong khi Mátthêu tập trung chủ yếu vào những sự kiện sau đó và xoay quanh Giusê.{{sfn|Mills|Bullard|1998|p=556}}<ref name="marsh37">{{chú thích sách |title=Jesus and the Gospels |last=Marsh |first=Clive |author2=Moyise, Steve |year=2006 |isbn=978-0-567-04073-2 |page=37 |publisher=Clark International |url=https://books.google.com/books?id=ecHpPzDLkhcC&pg=PA37 |access-date=14 August 2015 |archive-date=7 September 2015 |archive-url=https://web.archive.org/web/20150907095218/https://books.google.com/books?id=ecHpPzDLkhcC&pg=PA37 |url-status=live }}</ref>{{sfn|Morris|1992|page=26}} Cả hai tác phẩm đều khẳng định Giusê và Maria là cha mẹ của Giêsu, và cùng ủng hộ học thuyết về [[sự ra đời đồng trinh của Giêsu]], theo đó thì Maria được thụ thai một cách thần kỳ bởi [[Thánh Linh]] khi bà còn là một thiếu nữ đồng trinh.<ref name="Jeffrey">{{chú thích sách |title=A Dictionary of biblical tradition in English literature |last=Jeffrey |first=David L. |year=1992 |isbn=978-0-85244-224-1 |pages=538–40 |publisher=Wm. B. Eerdmans Publishing |url=https://books.google.com/books?id=7R0IGTSvIVIC |access-date=8 October 2020 |archive-date=8 October 2020 |archive-url=https://web.archive.org/web/20201008221946/https://books.google.com/books?id=7R0IGTSvIVIC |url-status=live }}</ref>{{sfn|Cox|Easley|2007|pp=30–37}}<ref>{{chú thích sách |title=Who's Who in the New Testament |last=Brownrigg |first= Ronald |year=2002 |isbn=978-0-415-26036-7 |pages=96–100 |publisher=Taylor & Francis}}</ref> Đồng thời, ta cũng có bằng chứng, ít nhất là trong sách Công vụ Tông đồ [[Thánh sử Luca|Luca]], rằng Giêsu được cho là có hai dòng cha, giống như nhiều hình tượng huyền sử thời ấy.
[[Tập tin:Bellini-circumcision-NG1455-fm.jpg|thumb|alt=74.9 x 102.2 cm|Họa phẩm ''Lễ cắt bao quy đầu'' bởi [[Giovanni Bellini]], khoảng năm 1500, miêu tả sự kiện Giêsu được cắt bao quy đầu.]]
Trong Phúc Âm Mátthêu, Giusê đã rất bối rối khi biết Maria mang thai, song một thiên sứ đã báo mộng an ủi ông rằng không có gì phải sợ, bởi lẽ đứa bé được thụ thai bởi quyền năng của Thánh Linh. Trong Phúc Âm Mátthêu 2:1–12, [[Các nhà đạo sĩ từ Phương Đông|các nhà đạo sĩ từ phương Đông]] đã tới để dâng bái Giêsu vì tin rằng cậu là Vua của người Do Thái. Trong Phúc Âm Mátthêu, khi [[Herodes Đại vương|Hêrôđê Đại vương]] hay tin Giêsu ra đời, ông ta liền hạ lệnh cho [[Các Thánh Anh Hài|giết tất cả các bé trai dưới 2 tuổi]] ở Bethlehem. Song một thiên sứ đã kịp thời cảnh báo Giusê trong giấc mơ thứ hai, giúp cho gia đình ông có thể chạy nạn sang Ai Cập – về sau lại an cư ở Nazareth.
Trong Phúc Âm Luca 1:31–38, Maria nhận tin báo từ thiên thần Gabriel rằng, bà sẽ mang thai một đứa con tên là Giêsu nhờ quyền năng của Thánh Linh. Lúc sắp sửa sinh, Maria và Giusê đang lữ hành từ Nazareth tới ngôi nhà tổ tiên của Giusê ở Bethlehem để khai hộ khẩu theo chỉ dụ của Hoàng đế La Mã [[Caesar Augustus]]. Tại đây, Maria hạ sinh Giêsu. Vì không tìm thấy hàng quán nào để nghỉ ngơi, bà đành đặt đứa con sơ sinh lên một máng cỏ. Thiên sứ liền thông cáo sự ra đời của Giêsu cho một đám mục đồng, khiến họ đến thăm Bethlehem và chứng kiến Giêsu, rồi lan truyền tin mừng này khắp nơi. Phúc Âm Luca 2:21 kể về việc Giusê và Maria cho đứa con mới sinh của họ được cắt bao quy đầu vào ngày thứ 8, rồi đặt tên là Giêsu, đúng theo chỉ bảo của Gabriel. Sau khi [[Dâng Chúa Giê-su trong đền thánh|dâng Giêsu tại Đền Thánh]], Giusê và Maria quay về Nazareth.
=== Đầu đời, gia quyến, và nghề nghiệp ===
{{chính|Giêsu Hài đồng}}
{{xem thêm|Gia đình Giêsu trở về Nazareth|Những năm tháng không biết của Giêsu|Anh em của Giêsu}}
[[Tập tin:Brooklyn Museum - Jesus Found in the Temple (Jesus retrouvé dans le temple) - James Tissot - overall.jpg|nhỏ|289x289px|Họa phẩm ''Tìm thấy Giêsu trong Đền Thánh'' của [[James Tissot]].]]
Sau khi sinh ra, gia đình Giêsu đã [[trốn sang Ai Cập]] và chỉ trở về sau khi [[Herodes Cả|vua Hêrôđê]] băng hà tại Giêricô.
Giêsu trải qua thời niên thiếu tại làng [[Nazareth]] thuộc xứ [[Galilea]]. Chỉ có một sự kiện xảy ra trong thời gian này được ghi lại là khi cậu bé Giêsu theo gia đình lên [[Jerusalem]] trong một chuyến hành hương. Bị thất lạc khỏi cha mẹ, cuối cùng cậu bé Giêsu 12 tuổi được tìm thấy trong [[Đền thờ Jerusalem]], đang tranh luận với các học giả Do Thái giáo.
Theo tác giả [[Nicholas Notovitch]], trong tác phẩm ''”Cuộc đời chưa được biết đến của Chúa”'', Giêsu, mang tên Isha, đã sang Ấn Độ học [[Phật giáo]] trong suốt thời thanh niên của ông.<ref>https://ocoy.org/original-christianity/unknown-life-of-jesus-christ/</ref> Tuy nhiên, theo quan điểm của học giả Wilhelm Schneemelcher vào năm 1990<ref>{{chú thích sách | title = ''New Testament Apocrypha, Vol. 1: Gospels and Related Writings'' by Wilhelm Schneemelcher and R. Mcl. Wilson | url = https://books.google.com.vn/books?vid=ISBN066422721X | year = 1990 | isbn = 066422721X | page = 84}} </ref> và học giả Robert McNair Price vào năm 2003<ref> {{chú thích sách | title = Robert M. Price ''The Incredible Shrinking Son of Man: How Reliable is the Gospel Tradition?''. Prometheus Books | year = 2003 | url = https://books.google.com.vn/books?vid=ISBN9781591021216&redir_esc=y | page = 93 | isbn = 978-1591021216}}</ref>, họ cho rằng tuyên bố của ông Notovitch là không chính xác.
=== Rửa tội và cám dỗ ===
Ngay sau khi chịu lễ [[Thanh Tẩy]] (lễ Rửa Tội) bởi [[Gioan Baotixita]], Giêsu bắt đầu đi rao giảng, khi ấy khoảng ba mươi tuổi. Theo [[Phúc Âm Luca]], Giêsu và [[Gioan Baotixita]] là anh em họ vì Maria và [[Elizabeth]], mẹ của Gioan, là hai chị em họ.
=== Thừa tác vụ công cộng ===
Theo [[Kinh Thánh]], Giêsu đã cùng các môn đồ đi khắp xứ [[Galilea]] để giảng dạy và chữa bệnh. Cung cách giảng dạy mang thẩm quyền, uy lực cùng với kỹ năng diễn thuyết điêu luyện, Giêsu sử dụng các [[dụ ngôn]] để giảng dạy quan điểm về tình yêu thương nên đã thu hút rất nhiều người. Họ tụ họp thành đám đông và tìm đến bất cứ nơi nào Giêsu có mặt. Đôi khi đám đông trở nên mất trật tự và ông buộc phải ngồi trên thuyền mà giảng dạy. Giêsu cũng tìm đến và thuyết giáo tại các hội đường Do Thái giáo (''synagogue'').[[Tập tin:P. Chester Beatty I, folio 13-14, recto.jpg|nhỏ|268x268px|[[Phúc Âm Luca]] viết trên một giấy cói bằng chữ Hy Lạp ở thế kỷ thứ III]]
Giêsu áp dụng các phương pháp khác nhau khi giảng dạy, phép [[nghịch lý]], phép [[ẩn dụ]] và các [[truyện dụ ngôn]]. Ông thường tập trung vào Nước Trời (hay Thiên Quốc). Nổi tiếng nhất là [[Bài giảng trên núi]], trong đó đề cập đến [[Các Mối phúc|Tám Mối Phúc thật]] (''Beatitudes''). Trong số những dụ ngôn của Giêsu, được biết đến nhiều nhất là hai câu chuyện: [[Dụ ngôn Người Samaria nhân lành|Người Samaria nhân lành]] và [[Dụ ngôn Đứa con hoang đàng|Người con trai hoang đàng]]. Giêsu có nhiều môn đồ, thân cận nhất là [[mười hai sứ đồ]] (hoặc tông đồ), [[Thánh Phêrô|Phêrô]] được [[Giáo hội Công giáo Rôma|Công giáo Rôma]] cho là sứ đồ trưởng. Theo [[Tân Ước]], Giêsu làm nhiều phép lạ như chữa bệnh, đuổi tà ma và khiến một người đàn ông tên là Lazarô sống lại khi đã chết.
Giới lãnh đạo Do Thái giáo bao gồm các nhóm quyền lực đối nghịch nhau như nhóm Sadducee và nhóm [[Pharisêu]] (Pharisee) thường bất đồng với Giêsu. Ông vẫn thường vạch trần tính chuộng hình thức cũng như tinh thần đạo đức giả của người Pharisêu. Nhiều người xem Giêsu như một [[nhà cải cách xã hội]], những người khác tỏ ra nhiệt tình vì tin rằng ông là vị vua đến để giải phóng dân Do Thái khỏi ách thống trị của [[Đế quốc La Mã]], trong khi giới cầm quyền xem Giêsu như một thế lực mới đang đe dọa những định chế tôn giáo và chính trị đương thời. Nhiều người tin nhận Giêsu là "Đấng Cứu Tinh" (Messie, Messiah) đến để cứu chuộc nhân loại.
=== Bị bắt và xét xử ===
{{Chính|Cuộc thương khó của Giêsu|Sự kiện đóng đinh Giêsu}}
Giêsu cùng các môn đồ lên thành [[Jerusalem]] vào dịp [[Lễ Vượt Qua]] (''Passover''); ông vào [[Đền thờ Jerusalem]], đánh đuổi những người buôn bán và những kẻ đổi tiền, lật đổ bàn của họ và quở trách họ rằng: "Nhà ta được gọi là nhà cầu nguyện nhưng các ngươi biến thành hang ổ của bọn trộm cướp". Sau đó, Giêsu bị bắt giữ theo lệnh của Toà Công luận (''Sanhedrin'') bởi viên Thượng tế [[Joseph Caiaphas]]. Trong bóng đêm của khu [[vườn Getsemani]] ở ngoại ô Jerusalem, lính La Mã nhận diện Giêsu nhờ cái hôn của [[Giuđa Ítcariốt|Judas Iscariot]], một môn đồ đã phản ông để nhận được tiền.
Tòa công luận cáo buộc Giêsu tội phạm thượng và giao ông cho các quan chức Đế quốc La Mã để xin y án tử hình, không phải vì tội phạm thượng nhưng vì cáo buộc xúi giục nổi loạn. Dưới áp lực của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, Tổng đốc [[Pontius Pilatus]] (Philatô) miễn cưỡng ra lệnh đóng đinh Giêsu. Tuy nhiên, theo các sách Phúc Âm, một tấm bảng có hàng chữ viết tắt [[INRI]] (của câu: "Giêsu người Nazareth, vua dân Do Thái") được treo trên thập tự giá theo lệnh của Pilate.
Sau khi Giêsu chết, [[Giuse người Arimathea]] đến gặp Pilate và xin được phép chôn với sự chứng kiến của [[Maria]], [[Maria Madalena|Maria Magdalena]] và những phụ nữ khác.
=== Phục sinh và Lên Trời ===
{{Chính|Sự phục sinh của Giêsu}}
{{Xem thêm|Giêsu tái lâm}}
[[Tập tin:IVANOV YAV HRISTA MARI1.jpg|nhỏ|270x270px|''Chúa Giêsu hiện lên với Maria Madalena'', tranh 1835 do [[Alexander Andreyevich Ivanov]] vẽ.|thế=]]
Các [[Kitô hữu]] tin rằng Giêsu [[Tái sinh|sống lại]] vào ngày thứ ba sau khi chết trên thập tự giá. Sự kiện này được đề cập đến theo thuật ngữ Kitô giáo là [[sự phục sinh của Giêsu]], được cử hành hằng năm vào ngày [[Lễ Phục Sinh|Lễ Phục sinh]].
Trong Kinh Thánh, [[Maria Madalena]] (đi một mình trong Phúc Âm Gioan nhưng có những người phụ nữ khác đi cùng trong [[Phúc Âm Nhất Lãm]]) đến ngôi mộ của Giêsu vào sáng sớm ngày Chủ nhật và bất ngờ thấy ngôi mộ rỗng. Mặc dù đã nghe lời dạy của Chúa Giêsu, các môn đệ vẫn không hiểu rằng Chúa Giêsu sẽ trỗi dậy.
* Trong Phúc Âm Mátthêu, có các lính canh ở ngôi mộ. Một thiên thần từ trời xuống và mở ngôi mộ, khiến lính canh ngất vì hoảng sợ. Giêsu hiện ra với hai bà Maria. Sau đó, Giêsu hiện ra với mười một môn đệ còn lại, truyền lệnh cho họ đi rao giảng và rửa tội cho muôn dân nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
*Trong Phúc Âm Máccô, [[Maria Madalena]] và [[Maria (mẹ của Giacobê)|Maria]], mẹ của Giacobê, và [[Salome]] khi đến thăm mộ với thuốc thơm để xức xác ông (theo tục lệ thời ấy) thì chỉ thấy ngôi mộ trống mà trước đó họ đã an táng ông trong đó. Về phần các Tông đồ, thì họ ra đi giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng đi với các Tông đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo. Và Giêsu luôn ở cùng các ông cho đến ngày tận thế.
* Phúc Âm Gioan thuật rằng khi Maria Madalena đến bên ngôi mộ trống thì thấy hai [[thiên sứ]] mặc áo trắng. Hai thiên sứ hỏi: "Hỡi người đàn bà kia, sao ngươi khóc? Người thưa rằng: Vì người ta đã dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài ở đâu". Vừa nói xong người đàn bà quay lại, thấy Đức Chúa Giêsu tại đó; nhưng chẳng biết ấy là Đức Chúa Giêsu. Các sách Phúc Âm và [[Sách Công vụ Tông đồ|Công vụ]] đều ghi nhận rằng Giêsu đã gặp lại các môn đệ tại các nơi chốn khác nhau trong suốt bốn mươi ngày trước khi về trời.
Hầu hết Kitô hữu chấp nhận câu chuyện phục sinh, như được ký thuật trong Tân Ước, là sự kiện lịch sử và xem đây là tâm điểm cho [[Đức tin Kitô giáo]] của họ mặc dù theo quan điểm của một số tín hữu thuộc trào lưu tự do (''liberalism''), đây chỉ là câu chuyện có tính ẩn dụ. Tuy nhiên lịch sử chứng minh đây là niềm tin bất di dịch của Kitô giáo. Tất cả Kitô hữu tin rằng Giêsu đã làm nhiều dấu kỳ phép lạ và các [[tông đồ]] được ban cho quyền lực siêu nhiên bởi ơn Chúa Thánh Thần để chữa lành bệnh tật cho nhiều người và nói được nhiều thứ tiếng khác nhau sau khi Giêsu về trời.
== Góc độ sử học ==
{{chính|Giêsu lịch sử|Điều tra về Giêsu lịch sử|Diễn dịch hàn lâm về các chi tiết trong Phúc Âm}}
{{xem thêm|Phê bình Kinh Thánh}}
Trước [[thời kỳ Khai sáng]] ở phương Tây, các Phúc Âm được coi như là những tường thuật lịch sử mang tính người thật việc thật. Song giới học giả hiện đại hầu như đều đặt nghi vấn về độ tin cậy của những kinh sách này; họ chủ trương kẻ ra ranh giới giữa Giêsu được tả trong các Phúc Âm và Giêsu thực sự trong lịch sử.{{sfn|Levine|2006|p=5}} Kể từ thế kỷ thứ 18 trở đi, ba cuộc điều tra hàn lâm riêng lẻ về Giêsu lịch sử đã được tiến hành, mỗi đợt một đặc thù và dựa trên các tiêu chí nghiên cứu khác nhau, gắn liền với thời đại riêng.{{sfn|Witherington|1997|p=113}}{{sfn|Powell|1998|pp=19–23}} Tuy phần đông học giả đồng thuận rằng Giêsu đã từng tồn tại, và cũng đều chấp nhận một số chi tiết cơ bản trong tiểu sử của ông, song chân dung Giêsu được phục dựng theo từng tác giả vẫn khác nhau ít nhiều, và cũng khác hoàn toàn so với ký thuật trong Phúc Âm.{{sfn|Theissen|Winter|2002|p=5}}<ref>''Jesus Research: An International Perspective (Princeton-Prague Symposia Series on the Historical Jesus)'' by James H. Charlesworth and Petr Pokorny (15 September 2009) {{ISBN|978-0-8028-6353-9}} pp. 1–2</ref>
=== Judea và Galilee thế kỷ thứ nhất ===
[[Tập tin:Xupalestine.PNG|nhỏ|250px|phải|Xứ [[Palestine]] thời Giêsu sống]]
=== Niên biểu ===
Hầu hết các học giả đồng ý rằng Giêsu là một [[người Do Thái]] vùng [[Galilea]], sinh vào khoảng đầu [[thế kỷ I|thế kỷ thứ nhất]] và qua đời trong khoảng từ năm 30 đến 36 [[Công Nguyên|SCN]] tại xứ [[Judea]], ông chỉ sống và hoạt động tại Galilea và [[Judea]] chứ không ở nơi khác<ref name=KGreen442>{{chú thích sách|first1=Joel B. |last1=Green |first2=Scot |last2=McKnight |first3= I. Howard |last3=Marshall|title= Dictionary of Jesus and the Gospels |url=http://books.google.com/?id=9ntwNm-tOogC&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false |publisher=InterVarsity Press| year=1992 | page=442|isbn=9780830817771}}</ref><ref name=Dunn303>{{cite encyclopedia|title=The Spirit-Filled Experience of Jesus|url=https://books.google.com/books?id=37uJRUF6btAC&q=%22We+may+surmise+that+he%22|first=Marcus J. |last=Borg |encyclopedia=The Historical Jesus in Recent Research|editor-last1= Dunn |editor-first2=Scot |editor-last2=McKnight|year= 2006 |isbn= 1-57506-100-7 |page= 303|editor-first=James D. G.}}</ref>. Các sách Phúc Âm chỉ tập trung vào quãng đời ba năm cuối khi Giêsu sống dưới trần gian, đặc biệt là tuần lễ cuối cùng trước khi bị đóng đinh vào thập giá, nhưng chúng cũng cung cấp một số manh mối liên quan đến năm sinh của Chúa Giêsu. Đoạn Mátthêu 2:1 liên kết sự giáng sinh của Chúa Giêsu với sự cai trị của [[Herod Đại đế]] - người đã chết vào khoảng năm thứ 4 trước Công nguyên, và đoạn Luca 1:5 viết rằng Herod đã trị vì trước khi Chúa Giêsu giáng sinh, ngoài ra Phúc Âm này còn đề cập đến cuộc điều tra dân số của chính quyền La Mã diễn ra mười năm sau đó. Luke 3:1-2 và 3:23 viết rằng Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ khi ông khoảng ba mươi tuổi, và đó là năm thứ 15 của triều đại Tiberius (khoảng năm 28 hoặc 29 Công Nguyên). Qua những chi tiết này và bằng các phương pháp phân tích khác nhau, hầu hết các học giả đi đến đồng thuận rằng Chúa Giêsu sinh trong khoảng từ năm thứ 6 đến 4 trước Công nguyên,{{sfn|Dunn|2003|p=324}}
Về thời điểm qua đời, tức là sự kiện ông bị đóng đinh trên cây thập giá, hầu hết các học giả đồng ý rằng sự kiện này xảy ra trong khoảng từ năm 30 đến 33 Công nguyên.<ref name=Humphreys1992>{{chú thích tạp chí |url=http://www.tyndalehouse.com/tynbul/library/TynBull_1992_43_2_06_Humphreys_DateChristsCrucifixion.pdf#page=9 |title=The Jewish Calendar, a Lunar Eclipse and the Date of Christ's Crucifixion |journal=Tyndale Bulletin |year=1992 |volume=43 |issue=2 |page=340 |first1=Colin J. |last1=Humphreys |first2=W. G. |last2=Waddington}}</ref>{{sfn|Köstenberger|Kellum|Quarles|2009|p=398}} Các sách Phúc Âm nói rằng sự kiện này xảy ra trong thành xứ [[Judea]] mà [[Pilate]] là tổng trấn thuộc quyền [[Đế quốc La Mã|La Mã]] khoảng năm 26-36.<ref>{{chú thích sách|last=Green |first=Joel B. |title=The gospel of Luke: New International Commentary on the New Testament Series |year= 1997 |publisher=Wm. B. Eerdmans Publishing |isbn= 978-0-8028-2315-1 |page=168 |url=http://books.google.com/?id=wzRVN2S8cVgC&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false }}</ref> Người ta tin rằng ngày mà [[Phaolô]] theo Kitô giáo (ước tính khoảng năm 33-36) có mối liên hệ nào đó đến cho ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh qua việc phân tích thư của Thánh Phaolô và Sách Công vụ Tông đồ.<ref>{{chú thích sách|first=Paul|last=Barnett|title=Jesus & the Rise of Early Christianity: A History of New Testament Times|year=2002 |isbn=978-0-8308-2699-5 |url=http://books.google.com/books?id=NlFYY_iVt9cC&pg=PA21#v=onepage&q&f=false |publisher=InterVarsity Press |page=21}}</ref> Các nhà thiên văn từ thời [[Isaac Newton]] đã cố gắng ước lượng chính xác ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh bằng cách phân tích chuyển động của [[Mặt Trăng]] và tính theo lịch sử của [[lễ Vượt Qua]] theo lịch của người Do Thái. Và ngày giả thiết được chấp nhận rộng rãi nhất theo phương pháp này là ngày 7 tháng 4, năm 30 AD; và ngày 3 tháng 4 năm 33 (kể cả [[lịch Julius]]).
== Di sản ==
Theo hầu hết các giải thích [[Kinh Thánh]] của Kitô giáo, các chủ đề cơ bản của những lời răn dạy của Giêsu là sự hối cải, [[tình yêu vô điều kiện]], tha thứ tội lỗi và khoan dung và về Thiên đường.<ref>Sniegocki, John. "[http://catholicbooksreview.org/2005/grassi.htm Review of Joseph GRASSI, ''Peace on Earth: Roots and Practices from Luke's Gospel'',]" Collegeville, Minnesota: Liturgical Press, 2004 (repentance, forgiveness);
Bock, Darrell L. "[http://www.bible.org/page.php?page_id=2210 Major Themes of Jesus' life]", (coming of the Kingdom of God);
Brussat, Frederic and Mary Ann. "[http://www.spiritualityandpractice.com/books/books.php?id=9695 Review of ''If Grace Is So Amazing, Why Do not We Like It?,'']" (grace);
Hughes, F. A. "[http://www.stempublishing.com/authors/hughes/GRACTRTH.html Grace and Truth]", Stem Publishing 1972 (grace)</ref> Khởi đầu như một giáo phái nhỏ của người Do Thái,<ref name="isbn0759100152">{{Chú thích sách|author=Duhaime, Jean; Blasi, Anthony J.; Turcotte, Paul-André|title=Handbook of early Christianity: social science approaches|url=https://archive.org/details/handbookofearlyc0000unse|publisher=AltaMira Press|location=Walnut Creek, Calif|year=2002|isbn=0759100152|page=[https://archive.org/details/handbookofearlyc0000unse/page/434 434]}}</ref> nó đã phát triển và trở thành một tôn giáo riêng biệt so với [[do Thái giáo|đạo Do Thái]] vài thập kỷ sau cái chết của Giêsu. Kitô giáo đã lan rộng ra khắp [[đế quốc La Mã|đế chế La Mã]] dưới dạng được biết đến qua [[Tín điều Nicea]] và trở thành [[quốc giáo]] dưới thời [[Theodosius I]]. Qua hàng thế kỷ, nó lan rộng đến hầu hết châu Âu và trên toàn thế giới. [[C. S. Lewis]] và [[Giáo hoàng Gioan Phaolô II]] đã bảo vệ niềm tin vào Giêsu trước những sự chỉ trích mang tính lịch sử.
== Nhận định ==
=== Kitô giáo ===
Hầu hết [[Kitô hữu]] tin rằng, Giêsu là [[Thiên Chúa]], là [[Đấng Mêsia|Đấng Messiah]] mà sự xuất hiện đã được tiên báo trong [[Cựu Ước]]. Họ tin rằng Giêsu là [[Thiên Chúa]] hóa thân thành [[người]], là Ngôi Hai trong [[Ba Ngôi]]; rằng Giêsu nhập thể bởi quyền phép [[Chúa Thánh Thần]], xuống thế gian để [[cứu rỗi|cứu]] nhân loại khỏi [[Tội lỗi#Cơ Đốc giáo|tội lỗi]] và sự chết bởi máu của Giêsu đã đổ ra khi bị [[Sự kiện đóng đinh Giêsu|đóng đinh]] trên [[Thánh giá|thập tự giá]] như là sinh tế chuộc tội cho loài người. Họ cũng tin rằng Giêsu đã [[Sự phục sinh của Giêsu|sống lại từ cõi chết]] và sau đó trở lại [[Thiên đàng|Thiên Đàng]].
=== Hồi giáo ===
Khác với [[đức tin Kitô giáo|đức tin]] của người Kitô giáo, [[Người Hồi giáo|tín đồ Hồi giáo]] tin rằng, Giêsu là một trong những [[ngôn sứ|nhà tiên tri]] ([[ngôn sứ]]) đáng được tôn trọng, được Thiên Chúa sai đến và là [[Đấng Mêsia|Đấng Messiah]]; nhưng họ không tin Giêsu là "Con Thiên Chúa". Họ cũng không tin về sự chết và sự phục sinh của Giêsu, xem đó chỉ là sự hóa phép của Thiên Chúa dành cho tiên tri Giêsu để đánh lừa người đương thời. Sau đó, Giêsu về trời cả hồn lẫn xác.
=== Do Thái giáo ===
[[Do Thái giáo]] thì cực lực phản đối cả hai niềm tin của hai tôn giáo trên. Họ không xem Giêsu là Thiên Chúa xuống thế làm người cũng không nhận đó là nhà tiên tri, thậm chí coi đó là nhà tiên tri giả hay kẻ xúc phạm đến Thiên Chúa của họ. Họ cho rằng, kể từ sau sự sụp đổ lần thứ hai của [[Đền thờ Jerusalem]], không có một tiên tri nào xuất hiện thêm nữa. Cho đến tận bây giờ, họ vẫn đang hy vọng có một [[Đấng Mêsia|Đấng Messiah]] từ trời xuống.
=== Phật giáo ===
[[Phật giáo]] hầu như không đưa ra nhận định về vai trò của Giêsu trong tôn giáo họ. Đối với họ, dựa theo [[Lịch sử Trái Đất|lịch sử]], Giêsu chỉ là một con người. Tuy nhiên, một số tín đồ thuộc một số phái cho rằng, với những đức tính hiển nhiên của Giêsu, chắc chắn sau đó Giêsu cũng được sinh vào cõi trời dựa theo luật [[nhân quả]]. Do đó, những người tu theo Phật giáo cấp tiến, nhất là [[Tịnh độ tông]], có thể tôn kính Giêsu như một vị [[A-la-hán]] hay [[Bồ Tát|Bồ tát]]<ref>{{chú thích web|url=http://www.phattuvietnam.net/|title=Phật giáo Việt Nam - Phật giáo Việt Nam|publisher=}}</ref>.
Một số [[Phật tử]], trong đó có [[Tenzin Gyatso|Tenzin Gyatso, Đạt-lại Lạt-ma thứ 14]]<ref>Beverley, James A., [http://www.christianitytoday.com/ct/2001/june11/15.64.html Hollywood's Idol], Christianity Today, "Jesus Christ also lived previous lives", he said. "So, you see, he reached a high state, either as a Bodhisattva, or an enlightened person, through Buddhist practice or something like that", Truy cập 20 tháng 4 năm 2007</ref> xem Giêsu như một vị đại [[Bồ Tát|Bồ tát]], người cống hiến đời mình cho hạnh phúc của nhân loại. [[Nga Sơn Thiều Thạc]] ở thế kỷ XIV của [[Tào Động tông]] ngụ ý rằng những lời dạy của Giêsu trong [[Sách Phúc Âm]] do một người đã được giải thoát (arahant) viết.<ref>[[101 Zen Stories]]; #16</ref>
=== Khác ===
Một [[người Nhật]] theo [[chủ nghĩa vô chính phủ]], [[Kōtoku Shūsui]] có viết tác phẩm ''Kirisuto Massatsuron'' (基督抹殺論, ''Cơ Đốc Mạt Sát Luận''). Trong tác phẩm này, Shūsui cho rằng Giêsu chỉ là một nhân vật thần thoại và không có thực.<ref>[http://www.iwanami.co.jp/.BOOKS/33/4/3312550.html 基督抹殺論] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20160303175408/http://www.iwanami.co.jp/.BOOKS/33/4/3312550.html|date=ngày 3 tháng 3 năm 2016}}([[Iwanami Shoten, Publishers]] website, tiếng Nhật)</ref><ref>{{chú thích web|url=http://archive.org/details/japanesethoughti012224mbp|title=Japanese Thought In The Meiji Era Centenary Culture Council Series|last=Kosaka Masaaki|date=31 Tháng ba 2021|publisher=Pan-Pacific Press|via=Internet Archive}}</ref>.
Vì có vai trò đặc biệt trong một số tôn giáo này, Giêsu được nhìn nhận là một trong những nhân vật quan trọng nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong [[Lịch sử thế giới|lịch sử nhân loại]].
== Xem thêm ==
{{columns-list|colwidth=30em|
* [[Cuộc đời Giêsu theo Tân Ước]]
**[[Sự giáng sinh của Giêsu]]
**[[Các dụ ngôn của Chúa Giêsu]]
**[[Tiệc Ly]]
**[[Cuộc thương khó của Giêsu|Cuộc thương khó]] và [[sự kiện đóng đinh Giêsu|khổ hình của Giêsu]]
**[[Sự phục sinh của Giêsu]]
*[[Chúa Cha]]
*[[Chúa Thánh Linh]]
*[[Kitô giáo]]
*[[Cứu rỗi]]
*[[Mười hai sứ đồ]]
*[[Những người xưng là Giê-su]]
}}
== Ghi chú ==
{{notelist|30em}}
== Chú thích ==
{{Tham khảo|30em}}
=== Thư mục ===
{{refbegin|30em}}
* {{chú thích sách
|first=Douglas
|last=Hare
|title=Matthew
|url=https://archive.org/details/matthew0000hare
|publisher=Westminster John Knox Press
|year=1993
|isbn=978-0-664-23433-1
}}
* {{chú thích sách|first=Craig L.|last=Blomberg|author-link=Craig Blomberg|title=Jesus and the Gospels: An Introduction and Survey|year=2009|isbn=978-0-8054-4482-7|url=https://books.google.com/books?id=U5rIPC1UgsgC|publisher=B&H Publishing Group|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222031/https://books.google.com/books?id=U5rIPC1UgsgC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|title=The people's New Testament commentary|first1=M. Eugene|last1=Boring|first2=Fred B.|last2=Craddock|author-link2=Fred Craddock|year=2004|isbn=978-0-664-22754-8|publisher=Westminster John Knox Press|url=https://books.google.com/books?id=N0tLXRIiIe0C|access-date=14 August 2015|archive-date=4 January 2014|archive-url=https://web.archive.org/web/20140104165219/http://books.google.com/books?id=N0tLXRIiIe0C|url-status=live}}
* {{chú thích sách |first=Raymond E. |last=Brown |title=The Birth of the Messiah: a commentary on the infancy narratives in Matthew and Luke |url=https://archive.org/details/birthofmessiahco00brow_1 |year=1977 |isbn=978-0-385-05907-7 |publisher=Doubleday}}
* {{chú thích sách|title=Mary in the New Testament|first=Raymond E.|last=Brown|year=1978|isbn=978-0-8091-2168-7|url=https://books.google.com/books?id=ML1mnUBwmhcC|publisher=Paulist Press|access-date=14 August 2015|archive-date=17 September 2014|archive-url=https://web.archive.org/web/20140917011141/http://books.google.com/books?id=ML1mnUBwmhcC|url-status=live}}
* {{chú thích sách |title=The Gospel and Epistles of John: A Concise Commentary |first=Raymond E. |last=Brown |author-link=Raymond E. Brown |year=1988 |isbn=978-0-8146-1283-5 |publisher=Liturgical Press |url=https://archive.org/details/gospelepistleso00brow }}
* {{chú thích sách|last=Brown|first=Raymond E.|title=An Introduction to the New Testament|publisher=Doubleday|year=1997|isbn=978-0-385-24767-2|url=https://archive.org/details/introductiontone00brow_0}}
* {{chú thích sách|last=Carter|first=Warren|author-link=Warren Carter|title=Pontius Pilate: portraits of a Roman governor|year=2003|isbn=978-0-8146-5113-1|url=https://books.google.com/books?id=mvhHcXKK0UEC|publisher=Liturgical Press|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222031/https://books.google.com/books?id=mvhHcXKK0UEC|url-status=live}}
* {{chú thích sách |title=Studying the Historical Jesus: Evaluations of the State of Current Research |first1=Bruce |last1=Chilton |author-link1=Bruce Chilton |first2=Craig A. |last2=Evans |author-link2=Craig A. Evans |year=1998 |isbn=978-90-04-11142-4 |publisher=Brill |url=https://books.google.com/books?id=AJM9grxOjjMC |access-date=8 October 2020 |archive-date=4 October 2020 |archive-url=https://web.archive.org/web/20201004084608/https://books.google.com/books?id=AJM9grxOjjMC |url-status=live }}
* {{chú thích sách|first1=Steven L.|last1=Cox|first2=Kendell H|last2=Easley|year=2007|title=Harmony of the Gospels|isbn=978-0-8054-9444-0|url=https://books.google.com/books?id=QjmwuFUksOQC|publisher=B&H Publishing Group|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222032/https://books.google.com/books?id=QjmwuFUksOQC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|editor-first1=Frank L.|editor-last1=Cross|editor-first2=E.A.|editor-last2=Livingstone|title=Oxford Dictionary of the Christian Church|publisher=Oxford University Press|year=2005|url=https://books.google.com/books?id=fUqcAQAAQBAJ|isbn=978-0-19-280290-3|access-date=8 October 2020|archive-date=15 May 2019|archive-url=https://web.archive.org/web/20190515065637/https://books.google.com/books?id=fUqcAQAAQBAJ|url-status=live}}
* {{chú thích sách|first1=John D.|last1=Crossan|author-link1=John Dominic Crossan|first2=Richard G.|last2=Watts|title=Who Is Jesus?: Answers to Your Questions About the Historical Jesus|publisher=Westminster John Knox Press|year=1999|isbn=978-0-664-25842-9|url=https://archive.org/details/whoisjesusanswer00cros}}
* {{chú thích sách|last=De Smet|first=Daniel|year=2016|chapter=Les racines docétistes de l'imamologie shi'ite|editor1-last=Amir-Moezzi|editor1-first=Mohammad Ali|editor2-last=De Cillis|editor2-first=Maria|editor3-last=De Smet|editor3-first=Daniel|editor4-last=Mir-Kasimov|editor4-first=Orkhan|title=L'Ésotérisme shi'ite, ses racines et ses prolongements – Shi'i Esotericism: Its Roots and Developments|series=Bibliothèque de l'Ecole des Hautes Etudes, Sciences Religieuses|volume=177|location=Turnhout|publisher=Brepols|pages=87–112|doi=10.1484/M.BEHE-EB.4.01163|isbn=978-2-503-56874-4}}
* {{chú thích sách|last=Dickson|first= John |author-link= John Dickson (author) |title=Jesus: A Short Life|url=https://archive.org/details/jesusshortlife0000dick_e9b2|publisher= Kregel Publications|year= 2008| isbn= 978-0-8254-7802-4}}
* {{chú thích sách|last=Dillenberger|first=John|author-link=John Dillenberger|title=Images and Relics : Theological Perceptions and Visual Images in Sixteenth-Century Europe: Theological Perceptions and Visual Images in Sixteenth-Century Europe|url=https://archive.org/details/imagesrelicstheo0000dill|publisher=Oxford University Press|year=1999|isbn=978-0-19-976146-3}}
* {{chú thích sách|first1= John R.|last1= Donahue|first2= Daniel J.|last2= Harrington|author-link2= Daniel J. Harrington|title= The Gospel of Mark|publisher= Liturgical Press|year= 2002|url=https://books.google.com/books?id=xZAIsUZOwSQC|isbn= 978-0-8146-5804-8|access-date= 8 October 2020|archive-date= 3 January 2014|archive-url=https://web.archive.org/web/20140103010742/http://books.google.com/books?id=xZAIsUZOwSQC|url-status= live}}
* {{chú thích sách|last=Doninger|first=Wendy|year=1999|title=Merriam-Webster's Encyclopedia of World Religions|publisher=Merriam-Webster|url=https://archive.org/details/isbn_9780877790440|isbn=978-0-87779-044-0}}
* {{chú thích sách|first=James D.G.|last=Dunn|author-link=James Dunn (theologian)|title=Jesus Remembered|year=2003|isbn=978-0-8028-3931-2|publisher=Wm. B. Eerdmans Publishing|url=https://books.google.com/books?id=G4qpnvoautgC}}
* {{chú thích sách|last1=Eddy|first1=Paul R.|last2=Boyd|first2=Gregory A.|author-link2=Greg Boyd (theologian)|year=2007|title=The Jesus legend: a case for the historical reliability of the synoptic Jesus tradition|publisher=Baker Academic|isbn=978-0-8010-3114-4|url=https://books.google.com/books?id=U26_85NmwPUC|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222033/https://books.google.com/books?id=U26_85NmwPUC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|title=Jesus: Apocalyptic Prophet of the New Millennium|first=Bart|last=Ehrman|author-link=Bart D. Ehrman|year=1999|isbn=978-0-19-983943-8|publisher=Oxford University Press|url=https://archive.org/details/jesusapocalyptic00ehrm|url-access=registration}}
* {{chú thích sách|title=Jesus, Interrupted: Revealing the Hidden Contradictions in the Bible (and Why We Don't Know About Them)|last=Ehrman|first=Bart D.|year=2009|url=https://archive.org/details/jesusinterrupted00ehrm_0/|publisher=HarperOne|isbn=978-0-06-117393-6}}
* {{chú thích sách |last=Ehrman |first=Bart D. |title=How Jesus Became God|publisher=HarperCollins |year=2014|url=https://books.google.com/books?id=dmspAgAAQBAJ|isbn=978-0-06225-219-7}}
* {{chú thích sách|first=Bart|last=Ehrman|year=2011|title=Forged: writing in the name of God – Why the Bible's Authors Are Not Who We Think They Are|isbn=978-0-06-207863-6 |url=https://archive.org/details/forged_ehrm_2011_000_10544376 |url-access=registration|publisher=HarperCollins}}
* {{chú thích sách |last=Ehrman |first=Bart D. |title=Did Jesus Exist?: The Historical Argument for Jesus of Nazareth |year=2012 |publisher=HarperOne |isbn=978-0-06-208994-6 |url=https://books.google.com/books?id=hf5Rj8EtsPkC |access-date=8 October 2020 |archive-date=3 August 2020 |archive-url=https://web.archive.org/web/20200803200020/https://books.google.com/books?id=hf5Rj8EtsPkC |url-status=live }}
* {{chú thích sách|last=Evans|first=Craig A.|author-link=Craig A. Evans|year=2003|title=The Bible Knowledge Background Commentary: Matthew-Luke|isbn=978-0-7814-3868-1|publisher=David C. Cook|url=https://archive.org/details/bibleknowledgeba00crai}}
* {{chú thích sách|first=Craig A.|last=Evans|url=https://books.google.com/books?id=87x8TqW6MJQC|title=Jesus and His World: The Archaeological Evidence|year=2012a|publisher=Westminster John Knox Press|isbn=978-0-664-23413-3|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222033/https://books.google.com/books?id=87x8TqW6MJQC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|last=Evans|first=Craig A.|title=Matthew (New Cambridge Bible Commentary)|date=2012b|publisher=Cambridge University Press|isbn=978-0-521-01106-8}}
* {{chú thích sách |last=Finegan |first=Jack |title=Handbook of Biblical Chronology |year=1998 |publisher=Hendrickson Publishers |isbn=978-1-56563-143-4 |url=https://archive.org/details/handbookbiblical00fine |url-access=limited }}
* {{chú thích sách|first=David N.|last=Freedman|author-link=David Noel Freedman|title=Eerdmans Dictionary of the Bible|year=2000|publisher=Amsterdam University Press|isbn=978-0-8028-2400-4|url=https://books.google.com/books?id=P9sYIRXZZ2MC|access-date=8 October 2020|archive-date=3 August 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20200803133406/https://books.google.com/books?id=P9sYIRXZZ2MC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|last=Friedmann|first=Yohanan|year=1989|title=Prophecy Continuous: Aspects of Ahmadi Religious Thought and Its Medieval Background|location=Berkeley|publisher=University of California Press|isbn=978-0-520-05772-2}}
* {{chú thích sách|first1=Robert W.| last1= Funk |first2= Roy W.|last2= Hoover |author3= The Jesus Seminar |author-link3=Jesus Seminar |title = The Five Gospels |publisher= Scribner |year= 1993 |isbn=978-0-0254-1949-0 |oclc=819666252}}
* {{chú thích sách |first1=Joel B. |last1=Green |first2=Scot |last2=McKnight |first3=I. Howard |last3=Marshall |author-link1=Joel B. Green |author-link2=Scot McKnight |author-link3=I. Howard Marshall |title=Dictionary of Jesus and the Gospels |url=https://books.google.com/books?id=9ntwNm-tOogC |publisher=InterVarsity Press |year=1992 |page=442 |isbn=978-0-8308-1777-1 |access-date=8 October 2020 |archive-date=8 October 2020 |archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222034/https://books.google.com/books?id=9ntwNm-tOogC |url-status=live }}
* {{chú thích sách |title= Systematic Theology: An Introduction to Biblical Doctrine |last= Grudem |first= Wayne |author-link= Wayne Grudem |year= 1994 |publisher= Zondervan |location= Grand Rapids, MI |isbn= 978-0-310-28670-7 |url=https://archive.org/details/systematictheolo00grud_0 }}
* {{chú thích sách|first=Stephen L.|last= Harris |title= Understanding the Bible |url=https://archive.org/details/understandingbib0000harr_w2l8| publisher= Mayfield |year= 1985}}
* {{chú thích sách|last=Houlden|first=J. Leslie|title=Jesus: the complete guide|year=2006|isbn=978-0-8264-8011-8|publisher=Continuum|url=https://books.google.com/books?id=Ey8mZKV_jfkC|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222034/https://books.google.com/books?id=Ey8mZKV_jfkC|url-status=live}}
* {{chú thích tạp chí |last1=Humphreys |first1=Colin J. |last2=Waddington |first2=W. G. |date=1992 |url=https://legacy.tyndalehouse.com/tynbul/Library/TynBull_1992_43_2_06_Humphreys_DateChristsCrucifixion.pdf |title=The Jewish Calendar, a Lunar Eclipse and the Date of Christ's Crucifixion |journal=Tyndale Bulletin |volume=43 |issue=2 |pages=331–351 |doi=10.53751/001c.30487 |s2cid=189519018 |access-date=21 April 2019 |archive-date=21 April 2019 |archive-url=https://web.archive.org/web/20190421091510/https://legacy.tyndalehouse.com/tynbul/Library/TynBull_1992_43_2_06_Humphreys_DateChristsCrucifixion.pdf |url-status=live }}
* {{chú thích sách|last=Keener|first=Craig S.|title=The Gospel of Matthew: A Socio-Rhetorical Commentary |date=2009b |isbn=978-0-8028-6498-7}}
* {{chú thích sách|last=Keener|first=Craig S.|title=The Historical Jesus of the Gospels |date=2009 |publisher=William B. Eerdmans Publishing}}
* {{chú thích sách|last=Keener|first=Craig S.|title=The Historical Jesus of the Gospels |year=2012 |publisher=William B. Eerdmans Publishing |isbn= 978-0-8028-6292-1}}
* {{chú thích sách|first1=Andreas J.|last1=Köstenberger|first2=L. Scott|last2=Kellum|first3=Charles L|last3=Quarles|title=The Cradle, the Cross, and the Crown: An Introduction to the New Testament|year=2009|isbn=978-0-8054-4365-3|url=https://books.google.com/books?id=g-MG9sFLAz0C|publisher=B&H Publishing Group|access-date=8 October 2020|archive-date=27 July 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727131059/https://books.google.com/books?id=g-MG9sFLAz0C|url-status=live}}
* {{chú thích sách|last=Lawson|first=Todd|year=2009|title=The Crucifixion and the Qur'an: A Study in the History of Muslim Thought|location=Oxford|publisher=Oneworld|isbn=978-1-85168-635-3}}
* {{chú thích sách |title=Transfiguration |first=Dorothy A. |last=Lee |author-link=Dorothy Lee (theologian) |year=2004 |isbn=978-0-8264-7595-4 |url=https://books.google.com/books?id=cYWwEefwCegC |publisher=Continuum |access-date=8 October 2020 |archive-date=8 October 2020 |archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222034/https://books.google.com/books?id=cYWwEefwCegC |url-status=live }}
* {{cite encyclopedia|title=Introduction|first=Amy-Jill|last=Levine|author-link=Amy-Jill Levine|encyclopedia=The Historical Jesus in Context|editor-last1=Levine|editor-last2=Allison|editor-first3=John D.|editor-last3=Crossan|publisher=Princeton Univ Press|isbn=978-0-691-00992-6|year=2006|editor1-first=Amy-Jill|editor2-first=Dale C.|editor2-link=Dale Allison|url=https://books.google.com/books?id=HIp_0N3uPPcC|access-date=8 October 2020|archive-date=10 April 2014|archive-url=https://web.archive.org/web/20140410102712/http://books.google.com/books?id=HIp_0N3uPPcC|url-status=live}}
* {{chú thích sách |title=The Misunderstood Jew: The Church and the Scandal of the Jewish Jesus|first=Amy-Jill|last=Levine|author-link=Amy-Jill Levine|year=2007 |isbn=978-0-06-174811-0|url=https://archive.org/details/TheMisunderstoodJewTheChurchAndTheScandalOfTheJewishJesus|publisher=Harper-Collins}}
* {{chú thích sách |url=https://books.google.com/books?id=rv8xNoRBtxMC | title=The Resurrection of Jesus: A New Historiographical Approach | publisher=InterVarsity Press | year=2010 | isbn=978-0-8308-2719-0 | first=Michael R. | last=Licona | access-date=29 July 2015 | archive-date=18 February 2020 | archive-url=https://web.archive.org/web/20200218101307/https://books.google.com/books?id=rv8xNoRBtxMC | url-status=live }}
* {{cite encyclopedia|first=Paul L.|last=Maier|author-link=Paul L. Maier|title=The Date of the Nativity and Chronology of Jesus|encyclopedia=Chronos, kairos, Christos: nativity and chronological studies|editor-last1=Finegan|editor-first2=Jerry|editor-last2=Vardaman|editor-first3=Edwin M.|editor-last3=Yamauchi|year=1989|isbn=978-0-931464-50-8|url=https://books.google.com/books?id=UCBBY_O88uYC&pg=PA113|publisher=Eisenbrauns|editor-first=Jack|editor1-link=Jack Finegan|editor3-link=Edwin M. Yamauchi|access-date=14 August 2015|archive-date=7 September 2015|archive-url=https://web.archive.org/web/20150907110057/https://books.google.com/books?id=UCBBY_O88uYC&pg=PA113|url-status=live}}
* {{chú thích sách|title= The Synoptics: Matthew, Mark, Luke|first1= Ján|last1= Majerník|first2= Joseph|last2= Ponessa|first3= Laurie W.|last3= Manhardt|year= 2005|isbn= 978-1-931018-31-9|url=https://books.google.com/books?id=cqP5xHXGYPQC|publisher= Emmaus Road Publishing|access-date= 8 October 2020|archive-date= 19 August 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20200819025434/https://books.google.com/books?id=cqP5xHXGYPQC|url-status= live}}
* {{chú thích sách |url=https://books.google.com/books?id=v26doW8jIyYC&pg=PA4 | title=Christianity: An Introduction | publisher=John Wiley & Sons | last=McGrath | first=Alister E. | author-link=Alister McGrath | year=2006 | pages=4–6 | isbn=978-1-4051-0899-7 | access-date=14 August 2015 | archive-date=10 September 2015 | archive-url=https://web.archive.org/web/20150910073956/https://books.google.com/books?id=v26doW8jIyYC&pg=PA4 | url-status=live }}
* {{chú thích sách |last=Meier |first=John P. |author-link=John P. Meier |title=A Marginal Jew: The Roots of the Problem and the Person |url=https://archive.org/details/marginaljewrethi0000john |year=1991 |publisher=Yale University Press |isbn=978-0-300-14018-7}}
* {{cite encyclopedia|last=Meier|first=John P.|title=How do we decide what comes from Jesus|encyclopedia=The Historical Jesus in Recent Research|editor-last1=Dunn|editor-last2=McKnight|year=2006|isbn=978-1-57506-100-9|url=https://books.google.com/books?id=37uJRUF6btAC|editor1-first=James D.G.|publisher=Eisenbrauns|editor2-first=Scot|access-date=14 August 2015|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222035/https://books.google.com/books?id=37uJRUF6btAC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|last1=Melton|first1=J. Gordon|year=2010|chapter=Ahmad, Mirza Ghulam Hazrat|editor1-last=Melton|editor1-first=J. Gordon|editor2-last=Baumann|editor2-first=Martin|title=Religions of the World: A Comprehensive Encyclopedia of Beliefs and Practices|volume=1|pages=54–56|edition=2|isbn=978-1-59884-203-6|location=Santa Barbara|publisher=ABC-CLIO|chapter-url=https://books.google.com/books?id=v2yiyLLOj88C&pg=PA55|access-date=14 August 2015|archive-date=21 October 2016|archive-url=https://web.archive.org/web/20161021175959/https://books.google.com/books?id=v2yiyLLOj88C&pg=PA55|url-status=live}}
* {{chú thích sách|last1=Mills|first1=Watson E.|last2=Bullard|first2=Roger A.|year=1998|title=Mercer dictionary of the Bible|publisher=Mercer University Press|isbn=978-0-86554-373-7|url=https://books.google.com/books?id=goq0VWw9rGIC|access-date=14 August 2015|archive-date=18 October 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20171018095243/https://books.google.com/books?id=goq0VWw9rGIC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|last=Morris|first=Leon|author-link=Leon Morris|year=1992|title=The Gospel according to Matthew|publisher=Wm. B. Eerdmans Publishing|isbn=978-0-85111-338-8|url=https://books.google.com/books?id=-pwaSKcHyEEC|access-date=8 October 2020|archive-date=2 August 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20200802002134/https://books.google.com/books?id=-pwaSKcHyEEC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|last=Niswonger|first=Richard L.|title=New Testament History|year=1992|isbn=978-0-310-31201-7|publisher=Zondervan|url=https://books.google.com/books?id=uyAXaNnz9sUC}}
* {{chú thích sách|last=Pannenberg|first=Wolfhart|author-link=Wolfhart Pannenberg|url=https://books.google.com/books?id=zWfvlpURwiIC|title=Jesus – God and Man|year=1968|isbn=978-0-334-00783-8|publisher=S.C.M. Press|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222035/https://books.google.com/books?id=zWfvlpURwiIC|url-status=live}}
* {{chú thích sách |last=Powell |first=Mark A. |author-link=Mark Allan Powell |title=Jesus as a Figure in History: How Modern Historians View the Man from Galilee |year=1998 |isbn=978-0-664-25703-3 |url=https://archive.org/details/jesusasfigureinh0000powe |url-access=registration |publisher=Westminster John Knox Press }}
* {{chú thích sách|last=Rahner|first=Karl|author-link=Karl Rahner|title=Encyclopedia of theology: a concise Sacramentum mundi|year=2004|isbn=978-0-86012-006-3|publisher=Continuum|url=https://books.google.com/books?id=WtnR-6_PlJAC|access-date=8 October 2020|archive-date=27 July 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20200727115653/https://books.google.com/books?id=WtnR-6_PlJAC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|title=Who is Jesus?: an introduction to Christology|first=Thomas P.|last=Rausch|author-link=Thomas Rausch|year=2003|publisher=Liturgical Press|isbn=978-0-8146-5078-3|url=https://books.google.com/books?id=8OJCa6euw5gC|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222036/https://books.google.com/books?id=8OJCa6euw5gC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|last=Redford|first=Douglas|title=The Life and Ministry of Jesus: The Gospels|year=2007|isbn=978-0-7847-1900-8|url=https://books.google.com/books?id=dDMQz5BVFbEC|publisher=Standard Publishing|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222036/https://books.google.com/books?id=dDMQz5BVFbEC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|title=Archaeology and the Galilean Jesus: a re-examination of the evidence|first=Jonathan L.|last=Reed|year=2002|isbn=978-1-56338-394-6|url=https://books.google.com/books?id=Xrav1ge-A_sC|publisher=Continuum|access-date=8 October 2020|archive-date=4 May 2016|archive-url=https://web.archive.org/web/20160504050031/https://books.google.com/books?id=Xrav1ge-A_sC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|last=Robinson|first=Neal|year=1991|title=Christ in Islam and Christianity|url=https://archive.org/details/christinislamchr0000robi|location=Albany|publisher=State University of New York Press|isbn=978-0-7914-0559-8}}
* {{cite encyclopedia|last=Robinson|first=Neal|year=2005|title=Jesus|editor1-last=McAuliffe|editor1-first=Jane Dammen|encyclopedia=Encyclopaedia of the Qurʾān|publisher=Brill|doi=10.1163/1875-3922_q3_EQCOM_00099}}
* {{chú thích sách|last=Sanders|first=E. P.|author-link=E. P. Sanders|title=The Historical Figure of Jesus|publisher=Allen Lane Penguin Press|year=1993|url=https://books.google.com/books?id=lkbTL36ZgPIC|isbn=978-0-14-192822-7|access-date=8 October 2020|archive-date=18 April 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20170418040039/https://books.google.com/books?id=lkbTL36ZgPIC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|last1=Theissen|first1=Gerd|author-link1=Gerd Theissen|last2=Merz|first2=Annette|author-link2=Annette Merz|year=1998|title=The Historical Jesus : a Comprehensive Guide|isbn=978-1-4514-0863-8|publisher=Fortress Press|url=https://books.google.com/books?id=3ZU97DQMH6UC|access-date=8 October 2020|archive-date=5 August 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20200805091805/https://books.google.com/books?id=3ZU97DQMH6UC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|title=The Quest for the Plausible Jesus: The Question of Criteria|first1=Gerd|last1=Theissen|first2=Dagmar|last2=Winter|year=2002|isbn=978-0-664-22537-7|publisher=Westminster John Knox Press|url=https://books.google.com/books?id=qB5ulgKx4OUC|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222036/https://books.google.com/books?id=qB5ulgKx4OUC|url-status=live}}
* {{chú thích sách |first=Graham H. |last=Twelftree |author-link=Graham Twelftree |title=Jesus the miracle worker: a historical & theological study |isbn=978-0-8308-1596-8 |url=https://archive.org/details/jesusmiraclework00grah/page/95 |year=1999 |publisher=InterVarsity Press |page=[https://archive.org/details/jesusmiraclework00grah/page/95 95] }}
* {{chú thích sách|last=Van Voorst|first=Robert E|year=2000|title=Jesus Outside the New Testament: An Introduction to the Ancient Evidence|publisher=Eerdmans Publishing|isbn=978-0-8028-4368-5|url=https://books.google.com/books?id=lwzliMSRGGkC|access-date=8 October 2020|archive-date=19 August 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20200819143206/https://books.google.com/books?id=lwzliMSRGGkC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|title=Expository Dictionary of New Testament Words|last= Vine | first= William E. | author-link= William Edwy Vine |year= 1940|publisher= Fleming H. Revell Company|isbn= 978-0-916441-31-9}}
* {{chú thích sách|title= Jesus the Jew: A Historian's Reading of the Gospels|last= Vermes|first= Geza|author-link1= Geza Vermes|year= 1981|publisher= First Fortress|location= Philadelphia|isbn= 978-0-8006-1443-0|url=https://books.google.com/books?id=RvSEK2HALnwC|access-date= 8 October 2020|archive-date= 8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222037/https://books.google.com/books?id=RvSEK2HALnwC|url-status= live}}
* {{chú thích sách|title=The Bible Knowledge Commentary: New Testament|first1=John F.|last1=Walvoord|author-link1=John Walvoord|first2=Roy B.|last2=Zuck|year=1983|isbn=978-0-88207-812-0|publisher=David C. Cook|url=https://books.google.com/books?id=DP4UiA4gQNMC|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222037/https://books.google.com/books?id=DP4UiA4gQNMC|url-status=live}}
* {{chú thích sách|title=The Jesus Quest: The Third Search for the Jew of Nazareth|first=Ben|last=Witherington|author-link=Ben Witherington III|year=1997|isbn=978-0-8308-1544-9|publisher=InterVarsity Press|url=https://books.google.com/books?id=IE_T3Xh2fyUC|access-date=8 October 2020|archive-date=8 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201008222039/https://books.google.com/books?id=IE_T3Xh2fyUC|url-status=live}}
{{refend}}
== Liên kết ngoài ==
{{sisterlinks|Jesus|commons=Category:Jesus Christ|q=Giêsu}}
* [http://www.latinvulgate.com/christverse.aspx Complete Sayings of Jesus Christ] ''In Parallel Latin & English — The Complete Christ Sayings''
* [http://www.newadvent.org/cathen/08374c.htm Jesus Christ Catholic Encyclopedia article]
* [http://christianity.com/Jesus/ Christian Foundations: Jesus] articles from a Protestant perspective
* [http://www.atmajyoti.org/spirwrit-the_christ_of_india.asp The Christ of India] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080526145153/http://www.atmajyoti.org/spirwrit-the_christ_of_india.asp |date = ngày 26 tháng 5 năm 2008}} A Hindu perspective on Jesus
* [http://www.islamfrominside.com/Pages/Articles/Jesus%20-%20An%20Islamic%20Perspective.html An Islamic perspective on Jesus]
* [http://www.alislam.org/topics/jesus/index.php Ahmadiyya views on Jesus]
* [http://www.jesuschrist.lds.org Jesus Christ, the Son of God] articles from a Mormon perspective
* [http://www.biblicalstudies.org.uk/jesus.php BiblicalStudies.org.uk] Offers an extensive bibliography plus numerous full-text articles.
* [http://en.wikisource.org/wiki/The_Complete_Works_of_Swami_Vivekananda/Volume_4/Lectures_and_Discourses/Christ%2C_the_Messenger Christ, the Messenger]— Swami Vivekananda
* [http://www.religionfacts.com/christianity/history/jesus.htm Overview of the Life of Jesus] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080609203646/http://www.religionfacts.com/christianity/history/jesus.htm |date = ngày 9 tháng 6 năm 2008}} A summary of New Testament accounts.
* [http://www.pbs.org/wgbh/pages/frontline/shows/religion/ From Jesus to Christ] — A [[Frontline (PBS TV series)|Frontline]] documentary on Jesus and early Christianity.
* [http://www.religiousstudies.uncc.edu/JDTABOR/indexb.html The Jewish Roman World of Jesus] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20100817164055/http://www.religiousstudies.uncc.edu/JDTABOR/indexb.html |date=2010-08-17 }}
* [http://pages.ca.inter.net/~oblio/jhcjp.htm The Jesus Puzzle] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080224051938/http://pages.ca.inter.net/~oblio/jhcjp.htm |date = ngày 24 tháng 2 năm 2008}} — [[Earl Doherty]]'s website.
{{Nhân vật trong Tân Ước}}
{{Thanh chủ đề|Cơ Đốc giáo|Hồi giáo|Tôn giáo|Tiểu sử}}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
[[Thể loại:Chúa Giê-su| ]]
[[Thể loại:Ba Ngôi]]
[[Thể loại:Nhân vật Kinh Thánh]]
[[Thể loại:Sinh thập niên 0]]
[[Thể loại:Mất thập niên 30]]
[[Thể loại:Bài cơ bản dài]]
[[Thể loại:Nhà lãnh đạo Cơ Đốc giáo]]
[[Thể loại:Người sáng lập tôn giáo]] | 78198 |
1300 | Thích Ca Mâu Ni | 0 | Thích-ca Mâu-ni | null | 65285692 | 25482279 | 2021-07-30T10:01:25 | true | Bot: Giải quyết đổi hướng kép đến [[Thích-ca Mâu-ni]] | wikitext | text/x-wiki | buxrba0z87pcdwpftadu2bs88bmk0nv | {
"username": "EmausBot",
"id": "161772",
"ip": null
} | #đổi [[Thích-ca Mâu-ni]] | 29 |
1301 | Jesus | 0 | Giê-su | null | 191780 | 29884 | 2006-04-16T19:53:17 | false | Đổi hướng đến [[Giê-su]] để giải quyết đổi hướng kép | wikitext | text/x-wiki | ioupvf4fbbz02hekg5stc3v8c37xvo1 | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #redirect [[Giê-su]] | 21 |
1302 | Đức Chúa Giê-xu | 0 | Giê-su | null | 191779 | 29885 | 2006-04-16T19:53:17 | false | Đổi hướng đến [[Giê-su]] để giải quyết đổi hướng kép | wikitext | text/x-wiki | ioupvf4fbbz02hekg5stc3v8c37xvo1 | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #redirect [[Giê-su]] | 21 |
1303 | Giêxu | 0 | Giê-su | null | 191781 | 29886 | 2006-04-16T19:53:18 | false | Đổi hướng đến [[Giê-su]] để giải quyết đổi hướng kép | wikitext | text/x-wiki | ioupvf4fbbz02hekg5stc3v8c37xvo1 | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #redirect [[Giê-su]] | 21 |
1304 | Thành viên:Ma'ame Michu | 2 | null | null | 29887 | 3600 | 2004-10-02T08:35:38 | true | null | wikitext | text/x-wiki | tickxfpe8jyfrnd1wyf60lwoxz9tpzj | {
"username": "Ma'ame Michu",
"id": "109",
"ip": null
} | {| rules="all" align="center" cellpadding="4" style="text-align: center; border: 1px solid #999; border-right: 2px solid #999; border-bottom: 2px solid #999"
|-
|
'''[[:fr:Utilisateur:Ma'ame Michu]]'''
Je parle et écris en '''français'''.<br />But I can read and write '''English''' (but it's not easy).<br />Und, manchmal, '''Deutsch''' lesen und schreiben (aber es ist schwer).
|} | 385 |
1305 | Thảo luận Thành viên:Ma'ame Michu | 3 | null | null | 29888 | 3601 | 2004-10-02T08:36:15 | true | null | wikitext | text/x-wiki | 60vjb6whu9jfq2kkhcst5avfyjf7vpd | {
"username": "Ma'ame Michu",
"id": "109",
"ip": null
} | {| rules="all" align="center" cellpadding="4" style="text-align: center; border: 1px solid #999; border-right: 2px solid #999; border-bottom: 2px solid #999"
|-
|
'''[[:fr:Discussion Utilisateur:Ma'ame Michu]]'''
Je parle et écris en '''français'''.<br />But I can read and write '''English''' (but it's not easy).<br />Und, manchmal, '''Deutsch''' lesen und schreiben (aber es ist schwer).
|} | 396 |
1306 | Thành viên:Ma'ame Michu/monobook.css | 2 | null | null | 29889 | null | 2004-09-12T22:26:13 | true | import monobook.css | css | text/css | 341kez82ko1m18k9a35931j8qhh1g4w | {
"username": "Ma'ame Michu",
"id": "109",
"ip": null
} | @import url(http://fr.wikipedia.org/w/index.php?title=Utilisateur:Ma%27ame_Michu/monobook.css&action=raw&ctype=text/css); | 121 |
1307 | Thành viên:Ma'ame Michu/monobook.js | 2 | null | null | 29890 | null | 2004-09-12T22:27:30 | true | import monobook.js | javascript | text/javascript | 61glfsc4dprjuh1dr6kuoew2fsej2wd | {
"username": "Ma'ame Michu",
"id": "109",
"ip": null
} | document.write('<SCRIPT SRC="http://fr.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Utilisateur:Ma%27ame_Michu/monobook.js&action=raw&ctype=text/javascript"><\/SCRIPT>'); | 158 |
1311 | Thảo luận:Quy tắc viết mã PHP | 1 | null | null | 7289300 | 7289294 | 2012-06-12T18:29:38 | true | Đã hủy sửa đổi của [[Special:Contributions/27.69.95.183|27.69.95.183]] ([[User talk:27.69.95.183|Thảo luận]]) quay về phiên bản của [[User:Historypro|Historypro]] | wikitext | text/x-wiki | m1grt839im2jq526c9mh9ra9x2t7kze | {
"username": "Dung005",
"id": "3915",
"ip": null
} | Suy nghĩ đầu tiên:
-PHP khá hỗn loạn. Tên hàm tên biến đặt tùm lum. Lúc thì ten_ham() lúc thì tenHam(). Theo tôi, việc đặt tên hàm theo kiểu tenHam() (studlyCaps) SẼ GIÚP PHÂN BIỆT hàm nào là do PHP định nghĩa, hàm nào là do user tự định nghĩa [[User:Pcdinh|Pcdinh]] 03:26, 15 Sep 2004 (UTC)
thế mà cũnh fải nói [[User:210.245.9.152|210.245.9.152]] 16:36, 9 Nov 2004 (UTC)
Dĩ nhiên, có người thừa hiểu, có người chưa hiểu. Thế nên vẫn phải nói. [[User:Pcdinh|Pcdinh]]
==Tiêu chuẩn hay kỹ năng ?==
Xin hỏi chuẩn này đã được tổ chức quốc tế nào công nhận? Hay Tổ chức quốc gia nào công nhận? Hay nó chỉ là một đề xuất/đề nghị về kỹ thuật?
Và nếu là chuẩn thì nó có từ hội nghị/hội thảo quốc tế nào?
Nếu như chưa có thì tên của bài viết sẽ phải thay đổi lại vì sẽ gây hiểu làm rằng đây là một chuẩn mực bắt buộc mọi developer phải theo .Tôi ở nước ngoài viết rất nhiều code PHP chưa bao giờ nghe nói có một loại chuẩn như vầy hết!
Ngoài ra trong nội dung còn có dưa ra các thông tin cá nhân nên tránh (vi phạm tính trung lập)
[[User:Nhanvo|Làng Đậu]] 03:57, 17 tháng 8 2005 (UTC)
:Từng có [http://forum.vnoss.org/viewtopic.php?id=152 thảo luận] về vấn đề này.--[[User:Arisa|Á Lý Sa]] 04:08, 17 tháng 8 2005 (UTC)
::Như vậy thì bài này nên được xóa đi vì nó không phải là một "chuẩn" (''standard'') nào cả -- nó hãy còn trong pha thảo luận. [[User:Mekong Bluesman|Mekong Bluesman]] 04:11, 17 tháng 8 2005 (UTC)
:::Nếu chỉ là đề án nhưng nếu có gía trị kỹ thuật thì theo tôi vẩn có thể đặt tên lại: "kỹ năng cơ bản lập trình PHP" hay "kỹ thuật viết mã PHP" chẳng hạn. Nhưng cũng vẩn phải xem xét kỹ bài viết và điều chỉnh văn phong, câu cú tránh bớt các tư tương chủ quan quá xa! [[User:Nhanvo|Làng Đậu]] 04:17, 17 tháng 8 2005 (UTC)
::Cảm ơn anh Arisa, tôi đã skim qua cái link. Các bài về ngôn ngữ lập trình PHP của bạn Pdinh tôi sẽ xem và bổ xung thông tin (nếu cần) khi nào có đủ giờ (vì bên toán cũng thiếu rất nhiều bài mà lâu nay không thấy Bunhia tham gia viết?!!!). Khi viết về ngôn ngữ thì thứ tự ưu tiên vẩn nên là C, C++, Java, JavaScript, DHTML, C#, PHP, Perl.... (Quên kí LĐ)
:Như vậy trong vòng 1 tuần nếu tác giả bài không thay đổi nội dung hay không có ý kiến, thì nó sẽ bị chuyển tên và bị điều chỉnh lại nội dung cho phù hợp hơn. [[User:Nhanvo|Làng Đậu]] 13:50, 17 tháng 8 2005 (UTC)
==Không phải tiêu chuẩn cũng chẳng phải là kĩ năng==
Trước hết, nó không phải là rule như có bạn nào đã sửa. Đã là rule thì phải là có enforce. Đằng này chẳng ma nào nhân nhượng mà enforce cho đâu.
Kĩ năng? Nghĩa của từ kĩ năng quá rộng. Không thích hợp cho bài này. Vì bài chỉ là hướng dẫn có tính tham khảo là cách dùng văn phong (là chủ yếu) trong PHP chứ không cố tình đi sâu vào vấn đề kĩ thuật.
Tiếp đến Nhanvo không nên gọi tôi là tác giả vì nó đi ngược với tinh thần của Wikipedia. Chỉ có contributor thôi.
Theo tôi nên đổi là Hướng dẫn (hoặc Tổng hợp về) phong cách viết mã (vốn nghe một phát là hiểu ngay đây chẳng qua là vấn đề trình bày) hơn là Kĩ năng viết mã (vốn tập trung vào vấn đề kĩ thuật ngôn ngữ và xử lý thông tin, bao gồm cả phong cách).
Tiếp đến không nên biến bài này thành bài trao đổi và đấu đá về các thói quen viết mã. Cái taste của mọi người rất khó giải thích cho nên tôi đề nghị biến nó thành bài tổng kết về các phong cách viết mã chủ yếu thì hơn để ai đó đọc có thể tự lựa chọn và tự đánh giá. Khi đóng góp cho bài này, tôi cũng chọn phương pháp tổng hợp: nghĩa là đối với một vấn đề mình có thể đưa ra hai, ba sự lựa chọn và nói rõ là những lựa chọn đó được dùng trong các đề án hay dự án nào. Việc còn lại là việc của độc giả.
Ý kiến cuối cùng của tôi: Tổng hợp về phong cách viết mã PHP. (pcdinh)
==Bài viết đã quá lâu ==
Tôi chả biết anh pcdinh có ý nghĩ gì mà viết câu "không nên biến bài này thành bài trao đổi và đấu đá về các thói quen viết mã"? Tôi nghĩ người viết thảo luận nên tập trung vào tinh thần Wiki hơn 1 tí. Nếu như bài này không đủ tiêu chuẩn thì nó sẽ bị xóa, có vậy thôi! Trang Wiki là một từ điển không phải chổ để trình bày ý kiến cá nhân.
Thế cho hỏi:
* "Tổng hợp " tổng hợp cái gì với ý nghĩa nào. Tổng hợp từ đâu ? Tại sao phải dùng chữ tổng hợp trong tưa đề
* "Phong cách " Bạn hày cho tôi một ý tưởng cụ thể thế nào là một phong cách lập trình
Tôi hay bất kì ai cũng có thể đổi tên bài này theo ý bạn nếu cái tên "Tổng hợp về phong cách viết mã PHP" là hợp lí và nếu bất kì một người nào đọc vào tựa đề đều hiểu bạn muốn nói gì? Tôi là người làm chuyên môn ngành này nhiều năm. Tôi đọc không hiểu cái tựa đề của bạn muốn gì thì làm sao người thường đọc hiểu.
Trước đây bài này được bạn cho 1 cái tựa hoàn toàn sai là "chuẩn PHP" đã bị nhiều người đề nghị xóa vì không hợp lệ, tôi là người duy nhất cố gắng vớt vát để tạm thời cho bạn có thời gian điều chỉnh lại. Dĩ nhiên cái tựa đề đó chỉ là tạm thời cho đến khi bạn hoàn tất sơ khởi bài viết nhưng cho tới nay đã hơn hai tháng không hề thấy có sự thay đổi hay thêm thông tin.
Tôi không nghĩ những chi tiết nhỏ của 1 bài nhỏ ở cái trang này đáng để dùng từ "đấu đá". Nó hoàn toàn không hợp với tinh thần của những người tình nguyện. Thực ra nếu có muốn đá thì nên nghĩ đến câu "khôn ngoan đá đáp người ngoài" trước đi. MỘt bài viết thiếu phẩm chất sẽ làm hại cho wiki và nhất là làm hại cho nghiều người đọc vì tính giáo dục của nó cho nên rất cần được mọi người điều chỉnh.
Nếu như trong 1 thời gian vài tuần nữa bài này vẩn không được update hay chăm sóc. Thì tôi sẽ điều chỉnh lại toàn bộ thay bạn đó nhé!
Chúc may mắn
== Quy ước viết mã JAVA ==
== Vẫn câu hỏi cũ ==
Vẫn câu hỏi cũ như cách đây 3 năm, tổ chức nào quy định tiêu chuẩn này? Không có "chuẩn" tự định nghĩa. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|trả lời]]) 09:18, ngày 10 tháng 8 năm 2008 (UTC)
:Chuẩn không có nghĩ là cứ phải có tổ chức nào quy định mà nó cũng có thể là sự tích góp những điều nào đó để rút ra những phần hay nhất, hợp lý nhất. Chuẩn thì cũng có thể có nhiều chuẩn khác nhau, được dùng ở nhiều nơi khác nhau. Những chuẩn tôi đưa ra dựa trên chuẩn của PEAR http://pear.php.net/manual/en/standards.php
[[Thành viên:Web2.0vietnam|Web2.0vietnam]] ([[Thảo luận Thành viên:Web2.0vietnam|thảo luận]]) 14:07, ngày 10 tháng 8 năm 2008 (UTC)
::Wikipedia là một bách khoa toàn thư, những điều viết ra phải là chuẩn mực (tức mọi người '''phải''' tuân theo), hoặc nó phải phản ánh toàn bộ các ''tiêu chuẩn'' hiện có. Chỉ cần tìm trong Google với từ khóa "php coding standard" thì ra hàng triệu trang web đề nghị cái gọi là "coding standard". Những điều anh viết chỉ là một quy ước, đề nghị của một nhóm viết web. Theo tôi, trong lĩnh vực công nghệ thông tin, chuẩn là phải có tên rõ ràng (như RFC, ISO), chứ không chỉ đơn giản là quy ước viết code. [[Thành viên:Vinhtantran|Tân]] ([[Thảo luận Thành viên:Vinhtantran|trả lời]]) 15:28, ngày 10 tháng 8 năm 2008 (UTC)
:::Quy ước thì cũng không khác gì so với chuẩn, dùng từ quy tắc có được không? Tôi cũng không hiểu các bạn tranh cãi để làm gì? Để Wikipedia không có lấy một bài mô tả về coding standard, hay dùng coding style (Cách viết mã). Tôi nghĩ có là bách khoa hay không thì trước hết phải có đề xuất, từ đề xuất đó mọi người mới chỉnh sửa sao cho hợp lý nhất. Nếu không chỉnh sửa được thì đừng nên bắt bẻ cách không có lối thoát. Bằng chứng là trang đã được tạo rất lâu nhưng mấy năm trời vẫn là trang trắng. Cứng nhắc như vậy thì có ích lợi gì khi đã bỏ phí rất nhiều thời gian cho trang này?[[Thành viên:Web2.0vietnam|Web2.0vietnam]] ([[Thảo luận Thành viên:Web2.0vietnam|thảo luận]]) 15:05, ngày 12 tháng 8 năm 2008 (UTC)
::Bài này có thể hợp nhất vào [[quy ước viết mã nguồn]] tạo thành 1 mục con kiểu ==Quy ước viết mã nguồn theo chuẩn của PEAR==, không nên lúc nào cũng viết thành một bài riêng và treo bản tiêu chuẩn (chỉ dùng để tránh tự quảng cáo bản thân mà thôi). [[Thành viên:Historypro|Historypro]] ([[Thảo luận Thành viên:Historypro|thảo luận]]) 15:23, ngày 12 tháng 8 năm 2008 (UTC) | 10068 |
1314 | Bản mẫu:Theo chữ đầu tiên | 10 | null | null | 29893 | 4542 | 2004-12-12T03:06:08 | true | null | wikitext | text/x-wiki | psya6mmop5f96jevqej3sx3d6a74xt5 | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=A A] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=B B] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=C C] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=D D] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=Đ Đ] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=E E] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=F F] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=G G] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=H H] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=I I] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=J J] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=K K] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=L L] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=M M] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=N N] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=O O] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=P P] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=Q Q] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=R R] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=S S] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=T T] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=U U] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=V V] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=W W] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=X X] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=Y Y] [http://vi.wikipedia.org/w/wiki.phtml?title=Special:Allpages&from=Z Z] | 1918 |
1315 | Bản mẫu:Giới thiệu Wikipedia | 10 | null | null | 64639197 | 64466719 | 2021-03-21T15:09:23 | false | null | wikitext | text/x-wiki | 2197oqygb2w2752tvxwnxy6wze6gx2h | {
"username": "Kateru Zakuro",
"id": "617924",
"ip": null
} | [[Wikipedia:Giới thiệu|Wikipedia là gì?]] –
[[Wikipedia:Chào mừng người mới đến|Chào mừng người mới đến]] –
[[Đặc biệt:Categories|Danh sách chủ đề]] –
[[:Thể loại:Tất cả|"Cây" thể loại]] –
[[Wikipedia:Bách khoa nội dung mở hay ở điểm nào?|Bách khoa mở hay ở điểm nào?]] –
<!-- [[Wikipedia:Tại sao cần giúp đỡ?|Tại sao cần giúp đỡ?]] – -->
[[Wikipedia:Thảo luận|Thảo luận]] –
[[Wikipedia:Liên lạc|Liên lạc với Wikipedia]] –
[[mail:wikivi-l|Danh sách thư]] –
<span class="show-link">[news://gmane.science.linguistics.wikipedia.vietnamese Nhóm tin]</span> –
<span class="show-link">[irc://irc.freenode.net/wikipedia-vi Phòng chat IRC]</span>
<noinclude>{{pp-template|small=yes}}
[[Thể loại:Cộng đồng Wikipedia]]
[[Thể loại:Bản mẫu lịch sử Trang Chính Wikipedia]]
</noinclude> | 972 |
1316 | Wikipedia:Thảo Luận | 4 | Wikipedia:Thảo luận | null | 29895 | null | 2005-04-23T03:36:42 | false | Wikipedia:Thảo Luận được di chuyển đến Wikipedia:Thảo luận | wikitext | text/x-wiki | oq03xue38gsdqbkjjebx1sfoszbuq7v | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #redirect [[Wikipedia:Thảo luận]]
| 37 |
1317 | Bản mẫu:Tin tức Wikipedia | 10 | null | null | 73815847 | 71651126 | 2025-09-02T14:18:37 | false | null | wikitext | text/x-wiki | swqnghz6hiek4b6xkw8g02rhg3ypalp | {
"username": "Chó Vàng Hài Hước",
"id": "760883",
"ip": null
} | <!-- Khi thêm tin mới, bạn hãy đặt lên đầu danh sách và xóa bớt tin ở cuối bảng để danh sách không bị dài quá. Đồng thời nhờ bạn đưa tin đó vào trang Wikipedia:Tin tức. -->
<noinclude>{{Historical template|old=Bản mẫu:Thời sự Wikipedia|new=Wikipedia:Thời báo/Cập nhật tình hình}}</noinclude>[[Tập tin:Nuvola apps kchart.svg|phải|100px]]
;2014
* '''9 tháng 8''': Wikipedia được tin cậy hơn báo chí [http://yougov.co.uk/news/2014/08/09/more-british-people-trust-wikipedia-trust-news/] [http://congnghe.nld.com.vn/doi-song-net/wikipedia-duoc-tin-cay-hon-bao-chi-20140811110707692.htm]
<div style="text-align: right"><includeonly>[[Tiêu bản:Tin tức Wikipedia|<span title="Cập nhật lần cuối vào lúc 07:56, ngày 24 tháng 10 năm 2010 (UTC)">Cập nhật</span>]] – </includeonly>[[m:Tin tức về Wikimedia|Tin tức các dự án Wikimedia]] – '''[[Wikipedia:Tin tức|Thêm nữa…]]'''</div>
__NOEDITSECTION__
<noinclude>
[[Thể loại:Bản mẫu lịch sử Trang Chính Wikipedia|{{PAGENAME}}]]
</noinclude> | 1123 |
1318 | Bản mẫu:Mẫu Trang Chính Wikipedia 2005/Trợ giúp | 10 | null | null | 64639168 | 64639165 | 2021-03-21T15:07:34 | true | Thienhau2003 đã đổi [[Bản mẫu:Trợ giúp]] thành [[Bản mẫu:Mẫu Trang Chính Wikipedia 2005/Trợ giúp]] | wikitext | text/x-wiki | qeot036thmjl3pejvhk9iekfpg1k381 | {
"username": "Kateru Zakuro",
"id": "617924",
"ip": null
} | '''Câu hỏi:'''
[[Wikipedia:Câu thường hỏi|Câu thường hỏi]] –
[[Wikipedia:Bàn tham khảo|Hỏi người khác]] –
[[Wikipedia:Thảo luận|Thảo luận]] –
[[Wikipedia:Tin nhắn cho bảo quản viên|Nhắn tin cho bảo quản viên]] –
[[Wikipedia:Từ điển thuật ngữ|Thuật ngữ Wikipedia]]
'''Đóng góp:'''
[[Trợ giúp:Sửa đổi trang|Cách sửa bài]] –
[[Trợ giúp:Bắt đầu trang|Cách viết bài mới]] –
[[Wikipedia:Dự án|Các tiểu dự án]] –
[[Wikipedia:Chỗ thử|Chỗ thử wiki hóa]]
'''Kế hoạch:'''
[[Wikipedia:Tiêu chuẩn bài|Tiêu chuẩn bài]] –
[[Wikipedia:Bài thỉnh cầu|Yêu cầu bài viết]]
<!-- –
[[Wikipedia:Chỗ thử|Chỗ thử sửa đổi]] –
[[Wikipedia:Sơ đồ kế hoạch|Sơ đồ kế hoạch]]
[[Wikipedia:Hợp tác dịch bài|Hợp tác dịch bài]]-->
__NOEDITSECTION__
<span style="float:right;">{{sửa|Tiêu bản:Trợ giúp|}}</span><noinclude>[[Thể loại:Bản mẫu lịch sử Trang Chính Wikipedia]]</noinclude> | 1148 |
1319 | Bản mẫu:Thảo luận mới | 10 | null | null | 71668093 | 64671568 | 2024-09-01T13:17:37 | false | null | wikitext | text/x-wiki | hgk6w3v136tetmhyb1u0744nx6bq7gn | {
"username": "Băng Tỏa",
"id": "748493",
"ip": null
} | [[Hình:Internet-talk-error.svg|phải|75px|]]
Mời bạn tích cực tham gia [[Wikipedia:Thảo luận|thảo luận]] những vấn đề cấp bách, các kế hoạch phát triển Wikipedia tiếng Việt hoặc góp ý giải quyết những vấn đề cụ thể tại các trang [[Wikipedia:Trang thảo luận|thảo luận]] và [[Wikipedia:Biểu quyết|biểu quyết]]. Các thảo luận và biểu quyết mới nhất có tại:
*[[Wikipedia:Thảo luận]]
*[[Wikipedia:Biểu quyết]]
<noinclude>[[Thể loại:Cộng đồng Wikipedia]]
[[Thể loại:Bản mẫu lịch sử Trang Chính Wikipedia]]</noinclude> | 637 |
1320 | Bản mẫu:Bảng mục lục Wikipedia | 10 | Bản mẫu:Mẫu Trang Chính Wikipedia 2005/Theo thể loại | null | 64639333 | 824334 | 2021-03-21T15:16:44 | true | Bot: Giải quyết đổi hướng kép đến [[Bản mẫu:Mẫu Trang Chính Wikipedia 2005/Theo thể loại]] | wikitext | text/x-wiki | fx1hw2iserodx5lsxvtxqq3fm8q0wba | {
"username": "EmausBot",
"id": "161772",
"ip": null
} | #đổi [[Bản mẫu:Mẫu Trang Chính Wikipedia 2005/Theo thể loại]] | 75 |
1322 | Bản mẫu:Liên quan Wikipedia | 10 | null | null | 74141113 | 64715806 | 2025-09-20T08:40:01 | false | null | wikitext | text/x-wiki | h7ncg93tqpz7r82y608xet8mmuy5ax7 | {
"username": "Minorax",
"id": "672165",
"ip": null
} | Wikipedia trực thuộc [[wmf:|Wikimedia Foundation]], một tổ chức phi lợi nhuận cũng đồng thời điều hành nhiều [[wmf:Our projects|dự án]] khác. Các dự án này hoặc đa ngôn ngữ hoặc đã có phiên bản tiếng Việt ("Beta" là phiên bản tiếng Việt đang trong quá trình thử nghiệm):
<table class="layout plainlinks" style="width:100%; margin:auto; text-align:left; background:transparent;">
<tr>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[File:Commons-logo.svg|31px|link={{fullurle:Commons:Trang Chính|uselang=vi}}|Commons]] </td>
<td style="width:33%; padding:4px;"> '''[{{fullurle:Commons:Trang Chính|uselang=vi}} Commons]''' <br> Kho tư liệu chung </td>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[File:Wikiquote-logo.svg|51px|link=q:|Wikiquote]] </td>
<td style="width:33%; padding:4px;"> '''[//vi.wikiquote.org/ Wikiquote]''' <br> Bộ sưu tập danh ngôn </td>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[File:Wikiversity-logo.svg|41px|link={{fullurle:BetaWikiversity:Trang Chính|uselang=vi}}|Wikiversity]] </td>
<td style="width:33%; padding:4px;"> [{{fullurle:BetaWikiversity:Trang Chính|uselang=vi}} '''Wikiversity''' Beta] <br> Học liệu mở </td>
</tr><tr>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[File:Wikibooks-logo.svg|35px|link=b:|Wikibooks]] </td>
<td style="padding:4px;"> '''[//vi.wikibooks.org/ Wikibooks]''' <br> Tủ sách giáo khoa mở </td>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[File:Wikisource-logo.svg|35px|link=s:|Wikisource]] </td>
<td style="padding:4px;"> '''[//vi.wikisource.org/ Wikisource]''' <br> Văn thư lưu trữ mở </td>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[File:Wiktsister en.png|35px|link=wikt:|Wiktionary]] </td>
<td style="padding:4px;"> '''[//vi.wiktionary.org/ Wiktionary]''' <br> Từ điển mở </td>
</tr><tr>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[File:Wikinews-logo.svg|51px|link={{fullurle:n:Trang Chính|uselang=vi}}|Wikinews]] </td>
<td style="padding:4px;"> [{{fullurle:n:Trang Chính|uselang=vi}} '''Wikinews''' Beta] <br> Nguồn tin tức mở </td>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[File:Wikispecies-logo.svg|35px|link={{fullurle:Wikispecies:Trang Chính|uselang=vi}}|Wikispecies]] </td>
<td style="padding:4px;"> '''[{{fullurle:Wikispecies:Trang Chính|uselang=vi}} Wikispecies]''' <br> Danh mục các loài </td>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[Tập tin:Wikivoyage-logo.svg|35px|link=voy:Trang Chính|Wikivoyage]] </td>
<td style="padding:4px;"> '''[[voy:Trang Chính|Wikivoyage]]'''<br />Cẩm nang du lịch mở </td>
</tr><tr>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[File:Wikidata-logo.svg|58px|link=//www.wikidata.org/wiki/Wikidata:Trang_Chính?setlang=vi|Wikidata]] </td>
<td style="padding:4px;"> '''[{{fullurle:Wikidata:Trang_Chính|uselang=vi}} Wikidata]''' <br> Cơ sở kiến thức chung </td>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[File:Wikimedia Community Logo.svg|35px|link={{fullurle:m:Trang Chính|uselang=vi}}|Meta-Wiki]] </td>
<td style="padding:4px;"> '''[{{fullurle:m:Trang Chính|uselang=vi}} Meta-Wiki]''' <br> Điều phối các dự án Wikimedia </td>
<td style="text-align:center; padding:4px;"> [[Tập tin:MediaWiki-2020-icon.svg|40px|link={{fullurle:MW:MediaWiki/vi|uselang=vi}}|MediaWiki]] </td>
<td style="padding:4px;"> '''[{{fullurle:MW:MediaWiki/vi|setlang=vi}} MediaWiki]'''<br />Phần mềm wiki </td>
</tr></table><noinclude>
{{documentation}}
<!-- Add categories and interwikis to the /doc subpage, not here! -->
</noinclude> | 3665 |
1324 | Wikipedia:Quyền | 4 | Wikipedia:Quyền tác giả | null | 66185241 | 66185161 | 2021-09-25T11:07:10 | false | Hồi sửa về bản sửa đổi 29903 của [[Special:Contributions/Nguyễn Cường|Nguyễn Cường]] ([[User talk:Nguyễn Cường|talk]]) | wikitext | text/x-wiki | g63rgi7ua8bimfpbzmmtw04hlxv2dfh | {
"username": "Nguyenmy2302",
"id": "769406",
"ip": null
} | #REDIRECT [[Wikipedia:Quyền tác giả]] | 42 |
1328 | Quảng Nam | 0 | null | null | 74133876 | 74129093 | 2025-09-18T15:24:24 | true | Đã lùi lại sửa đổi của [[Special:Contributions/HoangPhuTung|HoangPhuTung]] ([[User talk:HoangPhuTung|thảo luận]]) quay về phiên bản cuối của [[User:BOTL BARON BÁ CHỦ THIÊN LÔI|BOTL BARON BÁ CHỦ THIÊN LÔI]] | wikitext | text/x-wiki | 0gbr8m6d0rqf0jvskqrc7z64ovd9vr0 | {
"username": "Huỳnh Hoàng Nhật Duy",
"id": "791160",
"ip": null
} | {{bài cùng tên|Quảng Nam (định hướng)}}
{{Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam | Tỉnh
| tên = Quảng Nam
| logo = Logo Quang Nam.svg
| ghi chú logo = Biểu trưng
| nhiều hình = {{multiple image
| border = infobox
| total_width = 280
| image_style = border:1;
| perrow = 1/2/1
| image1 = Hoi An (42681823051).jpg
| image2 = Japanese covered-bridge of Hoi An in 2015 06.jpg
| image3 = Cu Lao Cham Marine Park, Vietnam (2594704519).jpg
| image4 = Wt-3807.jpg
}}
| ghi chú hình = Từ trên xuống dưới, từ trái sang phải: [[Phố cổ Hội An]], [[Chùa Cầu]], [[Cù lao Chàm]], [[Thánh địa Mỹ Sơn]]
| vĩ độ = 15.556898
| kinh độ = 108.03680
| diện tích = 10.574,86 km²<ref name="area_2020">{{cite act|index=387/QĐ-BTNMT|title=Phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2020|url=https://luatvietnam.vn/tai-nguyen/quyet-dinh-387-qd-btnmt-217769-d1.html|legislature=[[Bộ Tài nguyên và Môi trường (Việt Nam)]]|date= 2022| type = Quyết định}}</ref><ref name="Tổng_cục_Thống_kê_2022">{{Chú thích sách | author = [[Tổng cục Thống kê (Việt Nam)|Tổng cục Thống kê]] | year = 2022 | url = https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2022/08/Sach-Nien-giam-TK-2021.pdf | title = Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2021 | publisher = Nhà Xuất bản Thống kê | access-date = ngày 1 tháng 8 năm 2022 | archive-date = ngày 1 tháng 8 năm 2022 | archive-url = https://web.archive.org/web/20220801122014/https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2022/08/Sach-Nien-giam-TK-2021.pdf|url-status=live}}</ref>{{rp|90}}
| dân số = 1.519.400 người<ref name="Tổng_cục_Thống_kê_2022"/>{{rp|93}}
| thời điểm dân số = 2022
| dân số thành thị = 401.300 người ({{formatnum:{{#expr:401300/1519400*100round2}}}}%)<ref name="Tổng_cục_Thống_kê_2022"/>{{rp|99}}
| dân số nông thôn = 1.118.100 người ({{formatnum:{{#expr:1118100/1519400*100round2}}}}%)<ref name="Tổng_cục_Thống_kê_2022"/>{{rp|101}}
| mật độ dân số = 144 người/km²<ref name="Tổng_cục_Thống_kê_2022"/>{{rp|90}}
| vùng = *[[Duyên hải Nam Trung Bộ]]
*[[Kinh tế trọng điểm Trung Bộ]]
| dân tộc = [[Người Việt|Kinh]], [[Người Hoa (Việt Nam)|Hoa]], [[Người Cơ Tu|Cơ-tu]], [[Người Xơ Đăng|Xơ-đăng]], [[Người Giẻ Triêng|Giẻ-triêng]], [[Người Co|Cor]], [[Người Chăm|Chăm]]
| tỉnh lỵ = Thành phố [[Tam Kỳ]]
| thành lập =
*1471
*1997: tái lập
| giải thể = [[12 tháng 6]] năm [[2025]] <ref name="202/2025/QH15"/>
| chủ tịch UBND = [[Lê Văn Dũng]]
| hội đồng nhân dân = 57 đại biểu
| chủ tịch HĐND =[[Nguyễn Đức Dũng]]
| chủ tịch UBMTTQ = [[Lê Trí Thanh]]
| chánh án TAND = [[Trương Trọng Tiến]]
| viện trưởng VKSND = [[Nguyễn Văn Quang (kiểm sát viên)|Nguyễn Văn Quang]]
| bí thư =[[Lương Nguyễn Minh Triết]]
| trụ sở UBND = Số 50 Hùng Vương, [[phường Tân Thạnh]], thành phố Tam Kỳ
| đại biểu quốc hội =
| phân chia hành chính = 2 thành phố, 1 thị xã, 14 huyện
| mã địa lý = [[ISO 3166-2:VN|VN-27]]
| mã hành chính = 49<ref>[https://danhmuchanhchinh.gso.gov.vn/ Tổng cục Thống kê]</ref>
| mã bưu chính = [[Mã bưu chính Việt Nam|56xxxx]]
| mã điện thoại = [[Mã điện thoại Việt Nam|235]]
| biển số xe = [[Biển xe cơ giới Việt Nam|92]]
| điện thoại = 0235.3.818.333
| fax = 0235.3.811.759
| web = {{url|quangnam.gov.vn}}
| GRDP = 115.883 tỉ đồng (5,04 tỉ USD)
| thời điểm kinh tế = 2022
| GRDP đầu người = 76,6 triệu đồng (3.292 USD)|biệt danh=Vùng đất [[Ngũ Phụng Tề Phi]]<br>Vùng đất 2 [[Danh sách di sản thế giới tại Việt Nam|di sản văn hóa thế giới]]|tên cũ=[[Quảng Nam – Đà Nẵng]] (hay Quảng Đà)|tên khác=[[Quảng Nam – Đà Nẵng|Xứ Quảng]] (cùng với [[Đà Nẵng]])}}
'''Quảng Nam'''{{efn|[[Phương ngữ Quảng Nam]]: [[Bảng mẫu tự ngữ âm quốc tế|[wɐːŋnɐm]]])<ref>{{chú thích sách|last1=Andrea Hoa|first1=Pham|title=Nguồn gốc và sự hình thành giọng Quảng Nam|date=2022|publisher=Nhà xuất bản Đà Nẵng}}</ref>}}, là một [[Tỉnh (Việt Nam)|tỉnh]] cũ [[Bờ biển|ven biển]] nằm ở cực bắc khu vực [[duyên hải Nam Trung Bộ]], [[Trung Bộ|miền Trung]] của [[Việt Nam]]. Quảng Nam nằm trong [[Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ|vùng kinh tế trọng điểm miền Trung]].
Tỉnh có 2 thành phố là thành phố ([[Tỉnh lỵ (Việt Nam)|tỉnh lỵ]]) [[Tam Kỳ]] và thành phố [[Hội An]]. Tỉnh Quảng Nam là nơi có nhiều di sản văn hóa thế giới nhất cả nước với hai di sản văn hóa thế giới được tổ chức [[Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc|UNESCO]] công nhận là [[phố cổ Hội An]] và [[thánh địa Mỹ Sơn]]. Ngoài ra, tỉnh Quảng Nam còn là một vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều người con ưu tú, tài ba và lỗi lạc cho đất nước. Đây cũng là tỉnh duy nhất của vùng [[duyên hải Nam Trung Bộ]] vừa giáp [[Biển Đông]], vừa giáp biên giới với nước [[Lào|Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào]] và có đường biên giới quốc tế.
Năm 2022, Quảng Nam là đơn vị hành chính [[Việt Nam]] đông thứ 19 về số dân, [[Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP|xếp thứ 17]] về [[Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)]], [[Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP bình quân đầu người|xếp thứ 17]] về [[Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)|GRDP]] bình quân đầu người, [[Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP|đứng thứ 27]] về tốc độ tăng trưởng [[Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)|GRDP]]. Với 1.519.400 người, GRDP đạt 115,883 tỉ [[Đồng (đơn vị tiền tệ)|Đồng]] (tương ứng với 5,04 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 76,6 triệu đồng (tương ứng với 3.161,34 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 10,3%.
Trong 6 tháng đầu năm 2021, Quảng Nam nằm trong nhóm 9 tỉnh của cả nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) trên 2 con số (tăng 11,7%), đứng thứ 5 so với cả nước và cao nhất [[Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ]]. Quy mô nền kinh tế gần 51.973 tỷ đồng, đứng vị trí thứ 2 sau Đà Nẵng.
Quảng Nam có [[Khu kinh tế mở Chu Lai]] nổi tiếng với nhà máy của [[Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải|THACO]], là một đòn bẩy quan trọng của [[Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ]]. Năm 2018, khánh thành nhà máy sản xuất ô tô [[Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải|Thaco]] [[Mazda]] lớn nhất và hiện đại nhất [[Đông Nam Á]] tại Quảng Nam.
Ngày [[12 tháng 6]] năm 2025, [[Quốc hội Việt Nam|Quốc hội]] thông qua Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, theo đó tỉnh được giải thể để sáp nhập vào thành phố [[Đà Nẵng]].<ref name=":NQSN2025">{{Chú thích web |date=16 tháng 6 năm 2025 |title=TOÀN VĂN: Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh |url=https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-202-2025-qh15-ve-sap-xep-don-vi-hanh-chinh-cap-tinh-119250612174148722.htm |publisher=Báo Điện tử Chính phủ |access-date=2025-06-30 |archive-date=2025-06-30 |archive-url=https://web.archive.org/web/20250630073035/https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-202-2025-qh15-ve-sap-xep-don-vi-hanh-chinh-cap-tinh-119250612174148722.htm |url-status=live }}</ref><ref name=202/2025/QH15>{{Chú thích web|url=https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=94532|tựa đề= Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh |ngày= 2025-06-12 |website= Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20250612150244/https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=94532|ngày lưu trữ= 2025-06-12 |ngày truy cập= 2025-06-12 |url-status=live}}</ref>
== Tên gọi ==
Trải qua suốt quãng thời gian bao thăng trầm cùng dân tộc Việt Nam, danh xưng Quảng Nam đã nhiều lần thay đổi tên gọi: Từ Đạo Thừa tuyên Quảng Nam đến xứ Quảng Nam, trấn Quảng Nam, dinh Quảng Nam thời xa xưa, rồi đặc khu Quảng Đà trong thời chiến tranh chống Mỹ, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (tỉnh Quảng Đà) sau ngày thống nhất đất nước và trở lại danh xưng cũ là tỉnh Quảng Nam khi tỉnh được tái lập năm 1997 trên cơ sở chia tách tỉnh [[Quảng Nam – Đà Nẵng]] (hay còn được gọi là tỉnh [[Quảng Nam – Đà Nẵng|Quảng Đà]]) thành 2 đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam và thành phố [[Đà Nẵng]]. Năm 1471, với sự kiện vua [[Lê Thánh Tông]] thành lập Thừa tuyên Quảng Nam. Vua [[Lê Thánh Tông]] đã khẳng định chủ quyền lãnh thổ của [[Đại Việt]] đối với vùng đất này. Vua [[Lê Thánh Tông]] đã có một sự lựa chọn, một định hướng mang ý nghĩa lịch sử trọng đại trong quá trình phát triển lâu dài của [[người Việt]] và ý nghĩa chiến lược về tầm nhìn xa, xu thế phát triển, mang ý nghĩa quyết định vận mệnh của quốc gia [[Đại Việt]] ngày đó. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà vị vua này nổi tiếng uyên thâm đã chọn hai chữ đầy ý nghĩa để đặt tên cho vùng đất mới: "Quảng" có nghĩa là mở rộng, "Nam" có nghĩa là về [[Hướng nam|phương Nam]], nên tên gọi "Quảng Nam" có nghĩa là "mở rộng về phương Nam''"''.
== Địa lý ==
=== Vị trí ===
Tỉnh Quảng Nam thuộc khu vực [[Duyên hải Nam Trung Bộ]] của [[Trung Bộ|miền Trung]], nước [[Việt Nam]], cách thủ đô [[Hà Nội]] 820 km về phía Bắc, cách thành phố [[Huế]] 235 km về phía Bắc, giáp với thành phố [[Đà Nẵng]] ở phía Bắc và cách [[Thành phố Hồ Chí Minh]] 900 km về phía Nam theo đường [[Quốc lộ 1|Quốc lộ 1A]], có vị trí địa lý:
* Phía bắc giáp thành phố [[Huế]]. và thành phố [[Đà Nẵng]]
*Phía nam giáp tỉnh [[Quảng Ngãi]] và tỉnh [[Kon Tum]]
*Phía tây giáp tỉnh [[Sekong]] của [[Lào]]
*Phía đông giáp [[Biển Đông]]
Tỉnh lỵ của Quảng Nam đặt tại thành phố [[Tam Kỳ]], có đô thị phố cổ [[Hội An]]. Quảng Nam nằm ở khoảng giữa [[Hà Nội]] và [[Thành phố Hồ Chí Minh]] tính theo đường [[Quốc lộ 1]].
Tỉnh Quảng Nam diện tích 10.574,86 km², lớn thứ 6 của Việt Nam, dân số năm 2022 là 1.519.400 người<ref name=QNAM2019>{{Chú thích web|url =http://tamquang.gov.vn/FileUpload/Kqua%20TDTDS-Nha%20o%201.4.19.pdf|title =Dân số đến 01 tháng 4 năm 2019 - tỉnh Quảng Nam|access-date =ngày 4 tháng 5 năm 2020|author =Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương|ngày lưu trữ =2020-09-29|archive-url =https://web.archive.org/web/20200929012519/http://tamquang.gov.vn/FileUpload/Kqua%20TDTDS-Nha%20o%201.4.19.pdf|url-status =dead}}</ref>, mật độ dân số đạt 144 người/km².
===Địa hình===
Địa hình thấp dần từ tây sang đông và chia làm 3 vùng: vùng núi phía tây, trung du ở giữa và đồng bằng ven biển phía đông. Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm trên 25 °C, lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2.000-2.500 mm với hơn 70% tập trung vào 3 tháng mùa mưa (tháng 10, 11 và 12). [[Sông Vu Gia|Vu Gia]] - [[Sông Thu Bồn|Thu Bồn]] và [[:Tập tin:Sông Tam Kỳ, Quảng Nam.JPG|Tam Kỳ]] là hai lưu vực sông chính ở Quảng Nam.
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của Quảng Nam (thời tiết - khí hậu, địa hình, tài nguyên nước, biển) có nhiều thuận lợi, tiềm năng cho phát triển sự nghiệp văn hóa đa dạng, độc đáo (phát triển những tiểu vùng văn hóa), phát triển ngành du lịch (du lịch văn hóa, du lịch sinh thái).
Quảng Nam có hướng địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông hình thành 3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng ven biển. Vùng đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000 m như núi Lum Heo cao 2.045 m, núi Tion cao 2.032 m, núi Gole - Lang cao 1.855 m (huyện [[Phước Sơn]]). [[Núi Ngọc Linh]] cao 2.598 m nằm giữa ranh giới Quảng Nam, [[Kon Tum]] là đỉnh núi cao nhất của dãy [[Dãy Trường Sơn|Trường Sơn]]. Ngoài ra, vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dài cồn cát chạy dài từ [[Điện Ngọc]], [[Điện Bàn]] đến [[Tam Quang, Núi Thành|Tam Quang]], [[Núi Thành]]. Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển gồm [[sông Thu Bồn]], [[sông Tam Kỳ]] và [[Sông Trường Giang (Quảng Nam)|sông Trường Giang]].
Quảng Nam có đường bờ biển dài 125 km, ven biển có nhiều bãi tắm đẹp, nổi tiếng, như: [[Hà My]] ([[Điện Bàn]]), [[Cửa Đại]] ([[Hội An]]), [[Bình Minh]] ([[Thăng Bình]]), [[Tam Thanh]] ([[Tam Kỳ]]), [[Bãi Rạng]] ([[Núi Thành]]),... [[Cù Lao Chàm]] là cụm đảo ven bờ với hệ sinh thái phong phú được công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới.
===Khí hậu===
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc. Nhiệt độ trung bình năm 25,6 °C, Mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 12 °C và nhiệt độ vùng núi thậm chí còn thấp hơn. Độ ẩm trung bình trong không khí đạt 84%. Lượng mưa trung bình 2000–2500 mm. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 10 đến tháng 12, mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8, tháng 1 và tháng 9 là các tháng chuyển tiếp với đặc trưng là thời tiết hay nhiễu loạn và khá nhiều mưa. Mưa phân bố không đều theo không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng. Vùng Tây Bắc thuộc lưu vực [[sông Bung]] (các huyện [[Đông Giang]], [[Tây Giang]] và [[Nam Giang]]) có lượng mưa thấp nhất trong khi vùng đồi núi Tây Nam thuộc lưu vực [[sông Thu Bồn]] (các huyện [[Nam Trà My]], [[Bắc Trà My]], [[Tiên Phước]] và [[Hiệp Đức]]) có lượng mưa lớn nhất. [[Trà My]] là một trong những trung tâm mưa lớn nhất của Việt Nam với lượng mưa trung bình năm vượt quá 4,000 mm. Mưa lớn lại tập trung trong một thời gian ngắn trong 3 tháng mùa mưa trên một địa hình hẹp, dốc tạo điều kiện thuận lợi cho lũ các sông lên nhanh.
Hiện có hai trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh quan trắc đầy đủ các yếu tố khí tượng trong một thời gian dài (bắt đầu từ 1976) là trạm Tam Kỳ và trạm Trà My. Trạm Tam Kỳ đặt tại phường [[Hòa Thuận, Tam Kỳ|Hòa Thuận]], thành phố [[Tam Kỳ]] được sử dụng để tính toán các yếu tố khí tượng liên quan cho vùng đồng bằng phía Đông của tỉnh. Trạm Trà My đặt tại thị trấn Trà My, huyện [[Bắc Trà My]] được sử dụng để tính toán các yếu tố khí tượng liên quan cho vùng núi phía Tây của tỉnh.
Giá trị trung bình của các yếu thời tiết cơ bản tại [[Tam Kỳ]], đại diện cho vùng đồng bằng phía Đông của tỉnh được trình bày trong bảng dưới đây:
{{Weather box
|location = Tam Kỳ|metric first = Yes|single line = Yes|Jan record high C = 32.0|Feb record high C = 36.0|Mar record high C = 37.0|Apr record high C = 40.0|May record high C = 40.1|Jun record high C = 40.0|Jul record high C = 38.0|Aug record high C = 39.0|Sep record high C = 38.6|Oct record high C = 35.0|Nov record high C = 32.0|Dec record high C = 30.7|year record high C = 40.1|Jan high C = 25.0|Feb high C = 26.0|Mar high C = 29.0|Apr high C = 32.0|May high C = 33.0|Jun high C = 33.8|Jul high C = 34.0|Aug high C = 34.0|Sep high C = 31.4|Oct high C = 29.0|Nov high C = 27.0|Dec high C = 24.3|year high C = 29.8|Jan mean C = 21.0|Feb mean C = 22.0|Mar mean C = 24.0|Apr mean C = 27.0|May mean C = 28.0|Jun mean C = 28.7|Jul mean C = 29.0|Aug mean C = 29.0|Sep mean C = 27.1|Oct mean C = 26.0|Nov mean C = 24.0|Dec mean C = 21.6|year mean C = 25.6|Jan low C = 19.0|Feb low C = 20.0|Mar low C = 22.0|Apr low C = 24.0|May low C = 21.6|Jun low C = 25.3|Jul low C = 25.0|Aug low C = 25.0|Sep low C = 24.3|Oct low C = 23.0|Nov low C = 22.0|Dec low C = 19.7|year low C = 22.8|Jan record low C = 12.0|Feb record low C = 15.0|Mar record low C = 13.0|Apr record low C = 19.0|May record low C = 21.6|Jun record low C = 22.4|Jul record low C = 21.0|Aug record low C = 20.0|Sep record low C = 20.6|Oct record low C = 18.0|Nov record low C = 16.0|Dec record low C = 12.0|year record low C = 12.0|precipitation colour = green|Jan precipitation mm = 108.0|Feb precipitation mm = 46.0|Mar precipitation mm = 40.6|Apr precipitation mm = 58.1|May precipitation mm = 108|Jun precipitation mm = 111|Jul precipitation mm = 71.3|Aug precipitation mm = 103.0|Sep precipitation mm = 320.0|Oct precipitation mm = 735.0|Nov precipitation mm = 630.0|Dec precipitation mm = 386.0|Jan humidity = 88.0|Feb humidity = 88.0|Mar humidity = 85.0|Apr humidity = 83.0|May humidity = 80.0|Jun humidity = 80.0|Jul humidity = 76|Aug humidity = 76.0|Sep humidity = 87|Oct humidity = 87.0|Nov humidity = 88.0|Dec humidity = 84.0|Jan precipitation days = 18|Feb precipitation days = 11|Mar precipitation days = 9|Apr precipitation days = 9|May precipitation days = 11|Jun precipitation days = 11|Jul precipitation days = 9|Aug precipitation days = 12|Sep precipitation days = 16|Oct precipitation days = 22|Nov precipitation days = 23|Dec precipitation days = 23|Jan sun = 133.0|Feb sun = 148.0|Mar sun = 208.0|Apr sun = 222.0|May sun = 254.0|Jun sun = 236.0|Jul sun = 250.0|Aug sun = 231.0|Sep sun = 192.0|Oct sun = 154.0|Nov sun = 108.0|Dec sun = 83.0|source 1 = http://lucci-vietnam.info/|date = April 2015}}
Giá trị trung bình của các yếu thời tiết cơ bản tại Trà My, đại diện cho vùng núi phía Tây của tỉnh được trình bày trong bảng dưới đây:
{{Weather box
|location = Trà My|metric first = Yes|single line = Yes|Jan record high C = 32.8|Feb record high C = 36.4|Mar record high C = 37.9|Apr record high C = 40.5|May record high C = 38.9|Jun record high C = 38.7|Jul record high C = 37.9|Aug record high C = 39.7|Sep record high C = 36.7|Oct record high C = 34.1|Nov record high C = 32.4|Dec record high C = 31.9|year record high C = 40.5|Jan high C = 24.9|Feb high C = 26.9|Mar high C = 30.2|Apr high C = 32.9|May high C = 33.6|Jun high C = 33.5|Jul high C = 33.7|Aug high C = 33.5|Sep high C = 31.4|Oct high C = 28.6|Nov high C = 25.9|Dec high C = 23.6|year high C = 29.9|Jan mean C = 20.7|Feb mean C = 21.9|Mar mean C = 24.1|Apr mean C = 26.0|May mean C = 26.7|Jun mean C = 27.1|Jul mean C = 26.9|Aug mean C = 26.9|Sep mean C = 25.7|Oct mean C = 24.3|Nov mean C = 22.5|Dec mean C = 20.5|year mean C = 24.4|Jan low C = 18.3|Feb low C = 19.1|Mar low C = 20.5|Apr low C = 22.2|May low C = 23.1|Jun low C = 23.5|Jul low C = 23.2|Aug low C = 23.2|Sep low C = 22.8|Oct low C = 22.0|Nov low C = 20.6|Dec low C = 18.8|year low C = 21.4|Jan record low C = 11.8|Feb record low C = 13.0|Mar record low C = 12.9|Apr record low C = 18.2|May record low C = 19.9|Jun record low C = 20.2|Jul record low C = 20.8|Aug record low C = 20.2|Sep record low C = 19.0|Oct record low C = 15.1|Nov record low C = 14.1|Dec record low C = 10.4|year record low C = 10.4|precipitation colour = green|Jan precipitation mm = 133.0|Feb precipitation mm = 67.4|Mar precipitation mm = 190.0|Apr precipitation mm = 109.0|May precipitation mm = 301.0|Jun precipitation mm = 244.0|Jul precipitation mm = 166.0|Aug precipitation mm = 174.0|Sep precipitation mm = 386.0|Oct precipitation mm = 982.0|Nov precipitation mm = 1038.0|Dec precipitation mm = 502.0|Jan humidity = 89|Feb humidity = 87.0|Mar humidity = 84.0|Apr humidity = 83|May humidity = 85|Jun humidity = 84.0|Jul humidity = 84.0|Aug humidity = 84|Sep humidity = 88.0|Oct humidity = 88.0|Nov humidity = 93.0|Dec humidity = 93.0|Jan precipitation days = 16|Feb precipitation days = 12|Mar precipitation days = 9|Apr precipitation days = 12|May precipitation days = 20|Jun precipitation days = 17|Jul precipitation days = 16|Aug precipitation days = 16|Sep precipitation days = 20|Oct precipitation days = 23|Nov precipitation days = 24|Dec precipitation days = 23|Jan sun = 78.0|Feb sun = 136.0|Mar sun = 190.0|Apr sun = 194.0|May sun = 210.0|Jun sun = 244.0|Jul sun = 207.0|Aug sun = 199.0|Sep sun = 158.0|Oct sun = 121.0|Nov sun = 75.0|Dec sun = 59.0|source 1 = http://lucci-vietnam.info/|date = April 2015}}
===Thủy văn===
Quảng Nam có hai hệ thống sông lớn là Vu Gia - Thu Bồn (VG-TB) và Tam Kỳ. Diện tích lưu vực VG-TB (bao gồm một phần lưu vực thuộc tỉnh [[Kon Tum]], [[Quảng Ngãi]], thành phố [[Đà Nẵng]] là 10,350 km², là 1 trong 10 hệ thống sông có diện tích lưu vực lớn nhất [[Việt Nam]] và lưu vực sông Tam Kỳ là 735 km². Các sông bắt nguồn từ sườn đông của dãy Trường Sơn, chảy chủ yếu theo hướng Tây-Đông và đổ ra biển Đông tại [[cửa Hàn]] ([[Đà Nẵng]]), [[Cửa Đại, Hội An|cửa Đại]] ([[Hội An]]) và [[Cửa An Hòa|An Hòa]] ([[Núi Thành]]). Ngoài hai hệ thống sông trên, [[Sông Trường Giang (Quảng Nam)|sông Trường Giang]] có [[chiều dài]] 47 km chảy dọc ven biển theo hướng Bắc - Nam kết nối hệ thống sông VG-TB và Tam Kỳ.
Do địa hình đồi dốc và lượng mưa lớn nên mạng lưới sông ngòi của tỉnh Quảng Nam khá dày đặc. Mật độ sông ngòi trung bình là 0.47 km/km² cho hệ thống VG - TB và 0.6 km/km² cho các hệ thống sông khác.
Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm. Lưu lượng dòng chảy trung bình năm của sông Vu Gia (tính đến thị trấn [[Thạnh Mỹ, Nam Giang|Thạnh Mỹ]] với diện tích lưu vực 1,850 km²) là 127 m³/s, của sông Thu Bồn (tính đến [[Nông Sơn]] với diện tích lưu vực 3,130 km²) là 281 m³/s. Chế độ dòng chảy của sông ngòi có sự phân mùa rõ rệt. Dòng chảy 3 tháng mùa lũ (tháng 10, 11, 12) chiếm 65 - 70% tổng dòng chảy cả năm trong khi dòng chảy vào mùa kiệt (từ tháng 2 đến tháng 8) rất thấp. Hai tháng 1 và 9 là các tháng chuyển tiếp với dòng chảy thất thường. Lưu lượng cực đại của Thu Bồn tại Nông Sơn là 10,600 m³/s và lưu lượng tối thiểu đo được là 15.7 m³/s trong khi đó lưu lượng cực đại của Vu Gia tại Thạnh Mỹ là 4,540 m³/s và cực tiểu là 10.5 m³/s. Lưu lượng lớn vào mùa mưa và thấp vào mùa khô là nguyên nhân chính gây nên lũ lụt và hạn hán trong vùng.<ref>VIET, T.Q., 2014. Estimating the impact of climate change induced saltwater intrusion on agriculture in estuaries- the case of Vu Gia Thu Bon. Vietnam. Doctoral dissertation. RURH University Bochum. pp.175.</ref>
Tài nguyên nước phong phú là tiền đề để phát triển [[Thủy điện ở Việt Nam|thủy điện]] trên địa bàn. Tính đến 2015, trên địa bàn Quảng Nam có 8 dự án thủy điện có công suất lớn (trên 100 MW) và 35 thủy điện có công suất nhỏ. Nhiều nhà máy thủy điện công suất lớn như [[Thủy điện Sông Tranh 2|Sông Tranh 2]], [[Thủy điện Đăk Mi 4|Đăk Mi 4]], [[Thủy điện A Vương|A Vương]], [[Thủy điện Sông Bung 2|Sông Bung 2]], [[Thủy điện Sông Bung 4|Sông Bung 4]], [[Thủy điện Sông Kôn 2|Sông Kôn 2]]... đã và đang được xây dựng góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước.
===Tài nguyên đất===
Sử dụng đất: Theo số liệu thống kê, kiểm kê đất đai vào ngày 01/01/2010, trong tổng diện tích tự nhiên 1.043.836 ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm 798.790 ha, diện tích đất phi nông nghiệp là 87.765 ha và diện tích đất chưa sử dụng là 157.281 ha.
Tổng diện tích tự nhiên của Quảng Nam là 1.043.803 ha được hình thành từ chín loại đất khác nhau gồm cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa sông, đất phù sa biển, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòn trơ sỏi đá,... Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày. Nhóm đất cát ven biển đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản.
===Tài nguyên rừng===
Tỉnh Quảng Nam có 425.921 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 40,9%; trữ lượng gỗ của tỉnh khoảng 30 triệu m3. Diện tích rừng tự nhiên là 388.803 ha, rừng trồng là 37.118 ha. Rừng giàu ở Quảng Nam hiện có khoảng 10 nghìn ha, phân bố ở các đỉnh núi cao, diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh, có trữ lượng gỗ khoảng 69 m3/ha. Các khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh nằm ở sông Thanh thuộc huyện Nam Giang.
Tháng Tư năm 2011 nhà chức trách tỉnh Quảng Nam cho thành lập [[Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sao La]] ([[tiếng Anh]]: Saola Nature Reserve), mở hành lang cho các sinh vật vùng núi giữa [[Lào]] và [[Việt Nam]], nhất là loài [[sao la]] đang bị đe dọa.<ref>{{Chú thích web|url=https://news.blogs.cnn.com/2011/04/13/reserve-established-for-one-of-worlds-rarest-animals/?hpt=C2|tựa đề=Reserve established for one of world's rarest animals|ngày=2011-04-13|website=CNN|dịch tựa đề=Khu bảo tồn được thành lập cho một trong những động vật quý hiếm nhất thế giới|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20181123201207/https://news.blogs.cnn.com/2011/04/13/reserve-established-for-one-of-worlds-rarest-animals/?hpt=C2|ngày lưu trữ=2018-11-23|url-status=dead|ngày truy cập=2020-10-16}}</ref>
Rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh là kiểu sinh thái chủ đạo của Quảng Nam. Quảng Nam là tỉnh giàu tiềm năng rừng nhưng do bị khai thác quá mức trong một thời gian dài nên diện tích rừng nguyên sinh còn ít. Việc đẩy mạnh trồng rừng trong những năm gần đây đã tăng diện tích đất có rừng của Quảng Nam lên hơn 55% vào năm 2014. Đây là một trong những địa phương có diện tích đất có rừng cao nhất cả nước. Rừng đặc dụng [[sông Thanh]] là khu bảo tồn lớn nhất tỉnh, nơi mà các động vật hoang dã khu vực Trung Trường Sơn đang được bảo tồn. Nhân sâm Ngọc Linh là cây dược liệu quý phân bố chủ yếu ở độ cao trên 1.000 m của núi [[Khối núi Ngọc Linh|Ngọc Linh]].
=== Môi trường ===
{{Chính|Môi trường Quảng Nam}}
==Lịch sử==
{{chính|Lịch sử hành chính Quảng Nam}}
Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống văn hóa và nhiều di sản văn hóa thế giới nhất cả nước với hai di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận là [[phố cổ Hội An]] và [[thánh địa Mỹ Sơn]]. Quảng Nam còn là một vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều người con ưu tú, tài ba và lỗi lạc cho đất nước. Năm 2008, Quảng Nam là tỉnh đầu tiên của vùng [[Duyên hải Nam Trung Bộ]] có 2 thành phố trực thuộc tỉnh ([[Tam Kỳ]], [[Hội An]]). Đây cũng là tỉnh duy nhất của vùng [[Duyên hải Nam Trung Bộ]] vừa giáp biển vừa giáp biên giới, có đường biên giới quốc tế.
[[Tập tin:QuangNamThoiLe.png|nhỏ|phải|Bản đồ đường qua xứ Quảng Nam thời [[Lê trung hưng]], theo ''Thiên Nam lộ đồ'' vẽ lại năm 1741(bản sao chép của Dumoutier). Bãi cát vàng (''鐄葛𣺽'') trên bản đồ tức là [[Quần đảo Hoàng Sa|Hoàng Sa]]]]
[[Tập tin:QuangNamTinh.jpg|nhỏ|phải|Bản đồ tỉnh Quảng Nam của [[nhà Nguyễn]] Việt Nam in trong [[Đại Nam nhất thống chí]]]]'''<big>Thời nhà Trần</big>'''
Trước kia Quảng Nam là vùng đất của [[Chiêm Thành|Vương quốc Chiêm Thành]]. Năm [[1306]] theo thỏa ước giữa vua [[Chiêm Thành]] là [[Chế Mân]] và vua [[Đại Việt]] là [[Trần Nhân Tông]] thì vua [[Chế Mân]] dâng hai châu, đó là: '''châu Ô''' tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế) và '''châu Lý''' tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm [[sính lễ]] [[lễ cưới|cưới]] con gái vua Trần Nhân Tông là [[huyền Trân|công chúa Huyền Trân]]. [[Người Việt]] dần định cư tại hai vùng đất mới; người [[Chiêm Thành]] lùi dần về vùng đất còn lại phía Nam của vương quốc.
Năm 1400, [[nhà Hồ]] thay thế [[nhà Trần]]. [[Nhà Hồ]] chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị.
Năm 1407, Trần Ngỗi khởi nghĩa ở Nghệ An xưng là Giản Định đế [[nhà Hậu Trần]], có hai viên quan cũ nhà Hồ là [[Đặng Tất]] ở [[Thuận Hóa|Hóa Châu]] (nay là [[Thừa Thiên Huế]]) và [[Nguyễn Cảnh Chân]] ở [[Thăng Hoa (địa danh)|Thăng Hoa]] (nay là Quảng Nam) theo giúp. Tháng Giêng âm lịch năm 1408, Trần Ngỗi cùng Đặng Tất chỉ huy quân [[nhà Hậu Trần]] đại phá 4 vạn quân [[Nhà Minh|Minh]] do Mộc Thạnh chỉ huy ở [[trận Bô Cô]].
'''<big>Thời Lê</big>'''
Năm [[1471]], sau khi chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa cho đến [[đèo Cù Mông]], vua [[Lê Thánh Tông]] lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 - Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là [[Đà Nẵng]], Quảng Nam, [[Quảng Ngãi]], [[Bình Định]]). Danh xưng Quảng Nam xuất hiện từ đây.
'''<big>Thời chúa Nguyễn</big>'''
Sang thời kỳ [[Trịnh–Nguyễn phân tranh]], Quảng Nam thuộc quyền cai quản của [[chúa Nguyễn]] (từ năm 1570). [[Hội An]] được nhà chúa chọn là điểm giao thương duy nhất với thế giới khi đó nên nhiều thương gia nước ngoài hay gọi vùng đất này là "Quảng Nam Quốc". Biên niên sử thời Nguyễn đã chép về giai đoạn này như sau: "Chúa ở trấn hơn 10 năm, (chúa Tiên [[Nguyễn Hoàng]]) chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một đô hội lớn".
Đến giữa [[thế kỷ 17]], việc triều chính xứ [[Đàng Trong]] suy đồi. Thuế thì nặng; quan lại thì lợi dụng địa vị, sinh sự làm khổ dân. Trước hoàn cảnh đó, khi phong trào [[Nhà Tây Sơn|Tây Sơn]] bùng nổ, dân Quảng Nam cũng nổi dậy. Mùa thu năm [[1773]] khi quân Tây Sơn kéo ra Quảng Nam, dân Quảng Nam đã phối hợp cùng nghĩa quân phục kích ở Bến Đá (Thạch Tân, Thăng Hoa, Quảng Nam) đánh bại quân của chúa Nguyễn do các tướng [[Nguyễn Cửu Thống]], [[Nguyễn Hữu Sách]] chỉ huy. [[Nhà Tây Sơn]] tuy vậy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi.
'''<big>Thời nhà Nguyễn</big>'''[[Tập tin:Province de Quang-Nam (1909).jpg|250px|phải|nhỏ|Bản đồ tỉnh Quảng Nam năm 1909]]
Năm [[1806]] vua [[Gia Long]] thống nhất đất nước. Về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ-[[Thừa Thiên Huế|Quảng Đức]], Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh.
Năm [[1831]], vua [[Minh Mạng]] đổi trấn và doanh thành tỉnh. Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này. Tỉnh Quảng Nam được chia thành 2 [[phủ (định hướng)|phủ]]: Thăng Bình (升平) (trước là Thăng Hoa) (gồm các huyện Lễ Dương (醴陽) Tam Kỳ (三岐), [[Hà Đông (huyện cũ)|Hà Đông]] (河東), Quế Sơn (桂山)) và Điện Bàn (奠磐) (gồm các [[huyện]] Hòa Vang (和榮), Duy Xuyên (濰川), Diên Phúc (延福) (sau đổi là Diên Phước), Đại Lộc (大祿)).
'''<big>Thời Pháp thuộc</big>'''
Năm [[1888]], dưới triều vua [[Thành Thái]], [[Đà Nẵng]] bị tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất [[nhượng địa]] của [[đế quốc thực dân Pháp|thực dân Pháp]].
'''<big>Thời Việt Nam Cộng Hòa</big>'''
{| class="wikitable" style="float:right; margin:1em; margin-top:0;"
|-
! colspan="2" | '''Dân số tỉnh Quảng Nam 1975'''<ref>''Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh''. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.</ref>
|- style="background:lightgrey;"
! Quận
! Dân số
|-
| Đại Lộc || 49.693
|-
| Điện Bàn || 164.761
|-
| Đức Dục || 47.461
|-
| Duy Xuyên || 84.206
|-
| Hiếu Đức || 15.906
|-
| Hiếu Nhơn || 82.442
|-
| Hòa Vang || 91.450
|-
| Quế Sơn || 73.629
|-
| Thường Đức || 17.963
|-(Thăng Bình?)
| '''Tổng số''' || 627.511
|}
Sau [[Hiệp định Genève, 1954|Hiệp định Genève]], tỉnh Quảng Nam thời [[Việt Nam Cộng Hòa]] vào năm [[1956]] lại chia thành hai tỉnh mới lấy sông Rù Rì (tức sông Ly Ly) làm ranh giới là '''Quảng Nam''' ở phía Bắc gồm chín quận và '''[[Quảng Tín (tỉnh)|Quảng Tín]]''' ở phía Nam gồm sáu quận.
Chín (9) quận của Quảng Nam là:
*[[Hòa Vang]] (nay là các quận [[Cẩm Lệ]], [[Liên Chiểu]], [[Ngũ Hành Sơn (quận)|Ngũ Hành Sơn]], một phần huyện [[Hòa Vang]], một phần quận [[Hải Châu]] thuộc thành phố [[Đà Nẵng]]).<ref>Phi trường Đà Nẵng thuộc quận Hòa Vang</ref>
*[[Đại Lộc]]
*[[Điện Bàn]]
*[[Duy Xuyên]]
*[[Nông Sơn|Đức Dục]] (nay là huyện [[Nông Sơn]] và một phần các huyện [[Đại Lộc]], [[Duy Xuyên]]).
*[[Hội An|Hiếu Nhơn]] (nay là thành phố [[Hội An]] và một phần thị xã [[Điện Bàn]]).
*[[Quế Sơn]]
*[[Hiếu Đức]] (nay là một phần các huyện [[Hòa Vang]] thuộc thành phố [[Đà Nẵng]] và huyện [[Đông Giang]]).
*[[Thượng Đức]] (nay là các huyện [[Nam Giang]], [[Tây Giang]] và một phần các huyện [[Đại Lộc]], [[Đông Giang]]).
Tỉnh lỵ đặt tại [[Hội An]] thuộc quận [[Hiếu Nhơn]].<ref>{{Chú thích web|url = http://phuocson.gov.vn/Default.aspx?tabid=107&NewsViews=2841|tiêu đề = Lịch sử địa lý huyện Phước Sơn|ngày truy cập = 2015-04-17|archive-date = 2016-12-04|archive-url = https://web.archive.org/web/20161204224506/http://phuocson.gov.vn/Default.aspx?tabid=107&NewsViews=2841|url-status = dead}}</ref>
Tỉnh Quảng Tín, từ sông Ly Ly vào đến Dốc Sỏi (ranh giới với tỉnh [[Quảng Ngãi]]), gồm 6 quận:
*[[Thăng Bình]]
*[[Tam Kỳ]] (nay là thành phố Tam Kỳ, huyện [[Phú Ninh]] và một phần huyện [[Núi Thành]])
*[[Núi Thành|Lý Tín]] (nay là một phần huyện [[Núi Thành]])
*[[Tiên Phước]]
*[[Bắc Trà My|Hậu Đức]] (nay là một phần huyện [[Bắc Trà My]])
*[[Hiệp Đức]] (nay là các huyện [[Hiệp Đức]] và [[Phước Sơn]]).
Dân số [[Quảng Tín (tỉnh)|Quảng Tín]] lúc đó là 353.752 người; tỉnh lỵ đóng tại [[Tam Kỳ]].
'''<big>Sau năm 1975</big>'''
;Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng
Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ Nhà Nước [[Việt Nam|Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] quyết định sáp nhập 3 tỉnh: Quảng Nam, [[Quảng Tín (tỉnh)|Quảng Tín]] và thành phố [[Đà Nẵng]] thành lập tỉnh [[Quảng Nam-Đà Nẵng]] với [[Đà Nẵng (thành phố trực thuộc tỉnh)|Đà Nẵng]] là tỉnh lị.
Sau khi thành lập tỉnh, có những thay đổi hành chính như sau: chuyển thị xã [[Đà Nẵng (thành phố thuộc tỉnh)|Đà Nẵng]] thành thành phố [[Đà Nẵng (thành phố trực thuộc tỉnh)|Đà Nẵng]], hợp nhất thị xã Tam Kỳ và 2 huyện Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ thành huyện [[Tam Kỳ]].
Đến năm [[1980]], tỉnh [[Quảng Nam – Đà Nẵng]] có thành phố [[Đà Nẵng (thành phố thuộc tỉnh)|Đà Nẵng]] (tỉnh lị), thị xã Hội An, 12 huyện: [[Đại Lộc]], [[Điện Bàn]], [[Duy Xuyên]], [[Nam Giang|Giằng]], [[Hiên (huyện)|Hiên]], [[Hòa Vang]], [[Phước Sơn]], [[Quế Sơn]], [[Tam Kỳ]], [[Thăng Bình]], [[Tiên Phước]], [[Trà My (huyện)|Trà My]].
Ngày [[4 tháng 2]] năm [[1982]], thành lập huyện đảo [[Hoàng Sa (huyện)|Hoàng Sa]].<ref name="194HDBT">{{chú thích web|title=Quyết định số 194/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng: Quyết định về việc thành lập Huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng|url=https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=6581|website=vanban.chinhphu.vn|publisher=Cổng Thông tin điện tử Chính phủ|access-date=2024-05-07|language=vi}}</ref>
Ngày [[3 tháng 12]] năm [[1983]], chia huyện Tam Kỳ thành [[Tam Kỳ|thị xã Tam Kỳ]] và huyện [[Núi Thành]].<ref name="144HDBT">{{chú thích web|title=Quyết định số 144/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng: Quyết định về việc phân vạch địa giới huyện Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng|url=https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=6616|website=chinhphu.vn|publisher=Cổng Thông tin điện tử Chính phủ|access-date=2024-05-07|language=vi}}</ref>
Ngày [[31 tháng 12]] năm [[1985]], thành lập huyện [[Hiệp Đức]] trên cơ sở tách 2 xã thuộc huyện [[Thăng Bình]], 4 xã thuộc huyện [[Quế Sơn]] và 2 xã thuộc huyện [[Phước Sơn]].<ref name="289HDBT">{{chú thích web|title=Quyết định số 289/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng: Quyết định về việc thành lập huyện Hiệp Đức thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng|url=https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=6310|website=vanban.chinhphu.vn|publisher=Cổng Thông tin điện tử Chính phủ|access-date=2024-05-07|language=vi}}</ref>
Đến năm [[1991]], tỉnh [[Quảng Nam-Đà Nẵng]] gồm: [[Đà Nẵng (thành phố trực thuộc tỉnh)|thành phố Đà Nẵng]] (tỉnh lị), 2 thị xã: [[Tam Kỳ]], [[Hội An]] và 14 huyện: [[Đại Lộc]], [[Điện Bàn]], [[Duy Xuyên]], [[Nam Giang, Quảng Nam|Giằng]], [[Hiên (huyện)|Hiên]], [[Hiệp Đức]], [[Hòa Vang]], [[Hoàng Sa (huyện)|Hoàng Sa]], [[Núi Thành]], [[Phước Sơn]], [[Quế Sơn]], [[Thăng Bình]], [[Tiên Phước]], [[Trà My (huyện)|Trà My]].
;Tỉnh Quảng Nam
Năm [[1997]], theo Nghị quyết được ban hành tại kỳ họp thứ X của [[Quốc hội Việt Nam|Quốc hội]], tỉnh [[Quảng Nam – Đà Nẵng]] được chia thành hai đơn vị hành chính độc lập gồm thành phố [[Đà Nẵng]] và tỉnh Quảng Nam. Tỉnh Quảng Nam mới có 14 huyện gồm [[Đại Lộc]], [[Điện Bàn]], [[Duy Xuyên]], [[Nam Giang|Giằng]], [[Hiên (huyện)|Hiên]], [[Hiệp Đức]], [[Núi Thành]], [[Phước Sơn]], [[Quế Sơn]], [[Thăng Bình]], [[Tiên Phước]], [[Trà My (huyện)|Trà My]] và 2 thị xã: [[Tam Kỳ]] (tỉnh lị), [[Hội An]].
Ngày [[16 tháng 8]] năm [[1999]], huyện Giằng được đổi tên thành huyện [[Nam Giang, Quảng Nam|Nam Giang]].<ref>{{chú thích web|title=Nghị định số 71/1999/NĐ-CP của Chính phủ: điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập phường, xã thuộc thị xã Hội An, huyện Hiên và đổi tên huyện Giằng, tỉnh Quảng Nam|url=https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=4813|website=vanban.chinhphu.vn|publisher=Cổng Thông tin điện tử Chính phủ|access-date=2024-05-07|language=vi}}</ref>
Ngày [[20 tháng 6]] năm [[2003]], chia huyện Trà My thành 2 huyện là huyện [[Bắc Trà My]] và huyện [[Nam Trà My]]; chia huyện Hiên thành 2 huyện là huyện [[Đông Giang]] và huyện [[Tây Giang]].
Ngày [[5 tháng 1]] năm [[2005]], chia thị xã Tam Kỳ thành [[Tam Kỳ|thị xã Tam Kỳ]] và huyện [[Phú Ninh]].<ref>{{chú thích web|title=Nghị định số 01/2005/NĐ-CP của Chính phủ: Nghị định thành lập phường, xã thuộc thị xã Tam Kỳ; điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Tam Kỳ để thành lập huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam|url=https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=14305|website=vanban.chinhphu.vn|publisher=Cổng Thông tin điện tử Chính phủ|access-date=2024-05-07|language=vi}}</ref>
Ngày [[29 tháng 9]] năm [[2006]], chuyển thị xã Tam Kỳ thành [[Tam Kỳ|thành phố Tam Kỳ]].<ref>{{chú thích web|title=Nghị định số 113/2006/NĐ-CP của Chính phủ: Về việc thành lập thành phố Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam|url=https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=16437|website=chinhphu.vn|publisher=Cổng Thông tin điện tử Chính phủ|access-date=2024-05-07|language=vi}}</ref>
Ngày [[29 tháng 1]] năm [[2008]], chuyển thị xã Hội An thành [[Hội An|thành phố Hội An]].<ref>{{chú thích web|title=Nghị định số 10/2008/NĐ-CP của Chính phủ: Về việc thành lập thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam|url=https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=57140|website=chinhphu.vn|publisher=Cổng Thông tin điện tử Chính phủ|access-date=2024-05-07|language=vi}}</ref>
Năm 2008, Quảng Nam là tỉnh đầu tiên thuộc vùng [[Duyên hải Nam Trung Bộ|Nam Trung Bộ]] có 2 thành phố trực thuộc tỉnh lần lượt là thành phố [[Tam Kỳ]] và thành phố [[Hội An]].
Ngày [[8 tháng 4]] năm [[2008]], chia huyện [[Quế Sơn]] thành 2 huyện là huyện [[Quế Sơn]] và huyện [[Nông Sơn]].<ref>{{chú thích web|title=Nghị định số 42/2008/NĐ-CP của Chính phủ: Về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Quế Sơn, huyện Phước Sơn; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Quế Sơn để thành lập huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam|url=https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=62740|website=chinhphu.vn|publisher=Cổng Thông tin điện tử Chính phủ|access-date=2024-05-07|language=vi}}</ref>
Ngày [[11 tháng 3]] năm [[2015]], chuyển huyện [[Điện Bàn]] thành thị xã [[Điện Bàn]].<ref>Nghị quyết số 889/NQ-UBTVQH13</ref>
Ngày [[24 tháng 10]] năm [[2024]], [[Ủy ban Thường vụ Quốc hội]] ban hành Nghị quyết số 1241/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2023–2025 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày [[1 tháng 1]] năm [[2025]]). Theo đó, sáp nhập toàn bộ 471,64 km<sup>2</sup> diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 35.438 người của huyện Nông Sơn trở lại huyện Quế Sơn.<ref>{{Chú thích web |url=https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=90611 |ngày lưu trữ=2024-11-08 |ngày truy cập=2024-11-20 |tiêu đề=Nghị quyết số 1241/NQ-UBTVQH15 của UBTVQH về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2023 - 2025 |archive-url=https://web.archive.org/web/20241108223403/https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=90611 |url-status=dead }}</ref>
Tỉnh Quảng Nam có 2 thành phố, 1 thị xã và 14 huyện.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15<ref name="202/2025/QH15"/> về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh Quảng Nam vào thành phố Đà Nẵng.
==Hành chính==
Tỉnh Quảng Nam hiện có 17 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 14 huyện, được chia thành 241 đơn vị hành chính cấp xã gồm: 29 phường, 14 thị trấn, 190 xã.<ref name=NQ727>{{chú thích web|title=Nghị Quyết 727/NQ-UBTVQH15 Về việc thành lập các phường thuộc thị xã Điện Bàn và thị trấn Trung Phước thuộc huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam|url=https://vietlaw.quochoi.vn/Pages/vbpq-toan-van.aspx?ItemID=29245|website=Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam|publisher=Quốc hội Việt Nam|access-date=2024-05-07}}</ref>
{| cellpadding="0" cellspacing="6" width="100%" align="center" style="background: #f9f9f9; border: 1px #aaa solid; margin-top: 16px"
! colspan="3" style="background: #E6E6FA; font-size: 95%;" | Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Quảng Nam
|-
| width="50%" valign="top" style="background: #f9f9f9;"|
{| cellpadding="1" cellspacing="1" style="background: #f9f9f9; font-size: 90%; text-align: right;" width="100%"
|-
! align="left" style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF; padding-left: 10px; white-space:nowrap" | Tên!! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" |Dân số ngày 1/4/2019 (người)!! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" | Hành chính
|-
| align="left" colspan="3" style="background: #F5F5DC; padding-left: 30px;" | '''Thành phố (2)'''
|-
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" |[[Tam Kỳ]] ||122.374||''8 phường, 4 xã ''
|-bgcolor="#F5F5F5"
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" |[[Hội An]] ||98.599||''9 phường, 4 xã ''
|-
| align="left" colspan="3" style="background: #F5F5DC; padding-left: 30px;" | '''Thị xã (1)'''
|-
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" |[[Điện Bàn]] ||226.564||''12 phường, 8 xã ''
|-
| align="left" colspan="3" style="background: #F5F5DC; padding-left: 30px;" | '''Huyện (14)'''
|-bgcolor="#F5F5F5"
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" | [[Bắc Trà My]]||41.335||''1 thị trấn, 12 xã''
|-
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" |[[Đại Lộc]] ||141.851||''1 thị trấn, 17 xã''
|-bgcolor="#F5F5F5"
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" | [[Đông Giang]] ||25.116||''1 thị trấn, 10 xã''
|-
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" |[[Duy Xuyên]] ||126.686||''1 thị trấn, 12 xã''
|}
| width="50%" valign="top" style="background: #f9f9f9;" |
{| cellpadding="1" cellspacing="1" style="background: #f9f9f9; font-size: 90%; text-align: right;" width="100%"
|-
! align="left" style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF; padding-left: 10px; white-space:nowrap" | Tên!! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" | Dân số ngày 1/4/2019 (người)!! style="border-bottom: 2px solid #CCCCFF;" | Hành chính
|-bgcolor="#F5F5F5"
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" | [[Hiệp Đức]]||37.127||''1 thị trấn, 9 xã''
|-
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" |[[Nam Giang]]|| 26.123||''1 thị trấn, 11 xã''
|-bgcolor="#F5F5F5"
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" | [[Nam Trà My]]|| 31.306||''10 xã''
|-
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" | [[Núi Thành]]|| 147.721||''1 thị trấn, 16 xã''
|-bgcolor="#F5F5F5"
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" | [[Phú Ninh]]|| 77.204||''1 thị trấn, 9 xã''
|-
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" | [[Phước Sơn]]||26.337||''1 thị trấn, 11 xã''
|-bgcolor="#F5F5F5"
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" |[[Quế Sơn]]|| 107.499|| ''3 thị trấn, 15 xã''
|-
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" | [[Tây Giang]]|| 20.005||''10 xã''
|-bgcolor="#F5F5F5"
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" | [[Thăng Bình]]|| 173.726||''1 thị trấn, 19 xã''
|-
| align="left" style="padding-left: 6px; white-space:nowrap" | [[Tiên Phước]]|| 66.239||''1 thị trấn, 13 xã''
|}
| valign="top" style="background: #f9f9f9; font-size: 90%" |
|}
==Dân số==
Tính đến ngày 1/4/2019, dân số Quảng Nam là 1.495.812 người, với mật độ dân số trung bình là 140 người/km², đây cũng là tỉnh đông dân thứ 3 vùng [[Duyên hải Nam Trung Bộ]], 34,3% dân số sống ở đô thị và 65,7% dân số sống ở nông thôn. Dân cư phân bố trù mật ở dải đồng bằng ven biển, dọc [[Quốc lộ 1|quốc lộ 1A]], đồng bằng Vu Gia Thu Bồn và Tam Kỳ. Mật độ dân số của [[Tam Kỳ]], [[Hội An]] và [[Điện Bàn]] vượt quá 1.000 người/km². Trong khi rất thưa thớt ở các huyện miền núi phía Tây. Mật độ dân số trung bình của 6 huyện miền núi gồm [[Đông Giang]], [[Tây Giang]], [[Nam Giang]], [[Phước Sơn]], [[Bắc Trà My]] và [[Nam Trà My]] là dưới 30 người/km². Với 65,7% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước. Tuy nhiên quá trình đô thị hóa của tỉnh đang diễn ra mạnh mẽ sẽ tác động lớn đến sự phân bố dân cư nông thôn-thành thị trong thời gian tới.
[[Tập tin:Thanh phan dan toc Quangnam.png|thumb|Thành phần các dân tộc ở Quảng Nam]]
Theo cuộc tổng điều tra dân số ngày 1/4/2019, có 37 tộc người cùng sinh sống trên địa bàn Quảng Nam trong đó đông nhất là người Kinh (91,1%), người Cơ Tu (3,2%), người Xơ Đăng (2,7%), và người Gié Triêng (1,3%). 29 tộc người còn lại chỉ chiếm 0,9% dân số.
Quảng Nam có lực lượng lao động dồi dào, với trên 887,000 người (chiếm 62% dân số toàn tỉnh), trong đó lao động ngành nông nghiệp chiếm 61,57%, ngành công nghiệp và xây dựng là 16,48% và ngành dịch vụ là 21,95%.
Chất lượng nguồn lao động đang được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề chiếm 30% tổng số lao động, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là gần 18.000 người.
Là một tỉnh với quy mô dân số trung bình, nhưng cơ cấu dân số trẻ và đa phần trong độ tuổi lao động sẽ đặt ra nhu cầu lớn về tiêu dùng và hưởng thụ văn hoá, nhất là các hoạt động văn hoá công cộng, các loại hình văn hoá, nghệ thuật mới, các hoạt động thể thao.
Giai đoạn 2000-2010, dân số đô thị của tỉnh tăng chậm, từ 207.000 người (2000) lên hơn 260,000 người (2010). Việc hình thành các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế mở Chu Lai cùng với quá trình phát triển kinh tế nhằm đưa tỉnh trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020 sẽ đẩy nhanh quá trình đô thị hóa. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa cùng với lực lượng lao động dồi dào sẽ làm tăng mức độ di động dân số trong nội tỉnh cũng như ngoại tỉnh. Quá trình di động dân số (nội tỉnh và ngoại tỉnh) sẽ làm tăng mức độ giao thoa văn hóa.
Quá trình đô thị hóa và di động dân số trong những năm tới đặt ra những vấn đề cho phát triển sự nghiệp Văn hóa của tỉnh, như: xây dựng môi trường văn hóa ở các khu công nghiệp, khu dân cư; nhu cầu văn hóa ở các khu đô thị, cụm dân cư (các sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa,...).
== Tôn giáo ==
Tính đến ngày [[1 tháng 4]] năm [[2019]], toàn tỉnh có 11 [[tôn giáo]] khác nhau đạt 78,977 người, nhiều nhất là [[Công giáo tại Việt Nam|Công giáo]] có 37,526 người, tiếp theo là [[Phật giáo Việt Nam|Phật giáo]] có 22,670 người, [[Kháng Cách|đạo Tin Lành]] có 11,730 người, [[đạo Cao Đài]] có 6,970 người. Còn lại các tôn giáo khác như [[Baha'i giáo]] có 36 người, [[Phật giáo Hòa Hảo]] có 17 người, [[Minh Sư đạo]] có 13 người, [[Bà La Môn]] có bảy người, [[Hồi giáo tại Việt Nam|Hồi giáo]] có năm người, [[Minh Lý đạo]] có hai người và 1 người theo [[Bửu Sơn Kỳ Hương]].<ref name="dstcdtvn">{{Chú thích web|url=http://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=12724|tựa đề=Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009|tác giả=Tổng cục Thống kê Việt Nam|kiểu=doc}}</ref>
==Kinh tế ==
{{Chính|Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP}}{{Chính|Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP bình quân đầu người}}
Tỉnh Quảng Nam phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020.
Năm 2018, Tỉnh có cơ cấu kinh tế: Công nghiệp và dịch vụ chiếm 88%, Nông-Lâm-Ngư Nghiệp 12%.
Tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân giai đoạn 2010-2015 là 16,3% (Năm 2015 là 11,53%).
Quảng nam có 13 khu công nghiệp, kinh tế mở (Khu kinh tế mở Chu Lai). Do đó Quảng Nam hiện nay đang thiếu rất nhiều lao động-một nghịch lý khi tỷ lệ sinh viên không có việc làm trên cả nước rất lớn,
Tổng sản phẩm nội địa 2010 khoảng hơn 23.000 tỷ đồng tăng lên hơn 89.900 tỷ đồng năm 2018.Thu ngân sách nhà nước tăng cao, năm 2018 thu ngân sách ướt đạt xấp xỉ 20.000 tỷ đồng (đứng 10/63 tỉnh thành, đứng thứ 2 các tỉnh miền trung từ [[Thanh Hóa]] đến [[Bình Thuận]] chỉ sau [[Thanh Hóa|Thanh Hoá]] và [[Đà Nẵng]]. Năm 2018 chứng kiến nền kinh tế phát triển mạnh mẽ chỉ trong 9 tháng đầu năm thu ngân sách ướt đạt 16.300 tỷ đồng bằng 103,5% dự toán năm 2018 Dự kiến 2018 thu ngân sách khoảng xấp xỉ 26.000 tỷ đồng. Tuy nhiên thu ngân sách chủ yếu dựa vào khu phức hợp sản xuất và lắp ráp ô tô Trường Hải.
Xuất khẩu 2018 ướt đạt trên 700 triệu USD. Tỉnh có cảng Kỳ Hà, Sân bay quốc tế Chu Lai. Phấn đấu đến năm 2020 GDP bình quân đầu người từ 3.400-3.600 USD (75-80 triệu đồng). Năm 2018 tỉnh này đón gần 5,4 triệu lượt khách du lịch (xếp thứ 2 miền trung sau Tp. Đà Nẵng với gần 6,1 triệu lượt).
Năm 2022, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10,3%. Cơ cấu kinh tế bao gồm:
* Nông, lâm, thủy sản chiếm 13,9%.
* Công nghiệp, xây dựng chiếm 34,4%.
* Dịch vụ chiếm 30,1%.
* Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 18,6%.
* Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2022 đạt 26.000 tỉ đồng.
Năm 2022, Quảng Nam là đơn vị hành chính [[Việt Nam]] đông thứ 19 về số dân, [[Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP|xếp thứ 27]] về [[Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)]], [[Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP bình quân đầu người|xếp thứ 17]] về [[Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)|GRDP]] bình quân đầu người, [[Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP|đứng thứ 27]] về tốc độ tăng trưởng [[Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)|GRDP]]. Với 1.519.400 người,<ref>{{Chú thích web|url=https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=714|title=Dân số các tỉnh Việt Nam năm 2018|tác giả=|last=|first=|date=|website=Tổng cục Thống kê Việt Nam|archive-url=|archive-date=|url-status=|access-date = ngày 30 tháng 9 năm 2019}}</ref> GRDP đạt 115,883 tỉ [[Đồng (đơn vị tiền tệ)|Đồng]] (tương ứng với 5,04 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 76,6 triệu đồng (tương ứng với 3.161,34 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 10,3%.<ref name=":033">{{Chú thích web|url=http://qso.gov.vn/?page=asp&o=a9e85fa3dc585cc7c773052111cfda07&l=2&c=5&d=457|title=Tình hình kinh tế, xã hội Quảng Nam năm 2018|tác giả=|last=|first=|date=|website=Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam|archive-url=|archive-date=|url-status=|access-date = ngày 12 tháng 10 năm 2019}}</ref>
===Tiềm năng phát triển thủy điện===
Quảng Nam có hệ thống sông suối dày đặc với tiềm năng thủy điện lớn. Hệ thống sông [[Sông Vu Gia|Vu Gia]] - [[Sông Thu Bồn|Thu Bồn]] với phần lớn lưu vực nằm trong địa giới tỉnh được đánh giá là có tiềm năng [[thủy điện]] lớn thứ tư cả nước đang được đầu tư khai thác.<ref>http://www.ialyhpc.vn/index.php?mod=readn&id=83&m= {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090220153301/http://www.ialyhpc.vn/index.php?mod=readn&id=83&m= |date = ngày 20 tháng 2 năm 2009}} EVN, Tiềm năng thủy điện Quảng Nam, 2007</ref> Hiện nay tỉnh có các nhà máy thủy điện đã và đang xây dựng như NMTĐ A Vương (210 MW - [[Tây Giang (định hướng)|Tây Giang]]), Sông Bung 2 (100 MW), Sông Bung 4 (220 MW), Sông Giằng (60 MW), Đak Mi 1(255 MW), Đak Mi 4(210 MW), Sông Kôn 2 (60 MW), Sông Tranh 2 (135 MW),... Đa phần các nhà máy thủy điện nằm trên lưu vực sông Vu Gia nơi có địa hình dốc và tiềm năng thủy điện lớn.
Việc xây dựng các công trình thủy điện thượng lưu Vu Gia - Thu Bồn ảnh hưởng lớn đến dòng chảy hạ lưu. Việc thủy điện Đăk Mi 4 chuyển nước từ Vu Gia sang Thu Bồn làm suy giảm đáng kể dòng chảy hạ lưu Vu Gia. Vào mùa kiệt từ tháng 2 đến tháng 8, vùng ven sông Vu Gia thường đối mặt với thiếu nước cho sinh hoạt và trồng trọt. dòng chảy bị suy giảm là nguyên nhân chính làm cho mặn xâm nhập sâu vào hạ lưu Vu Gia, Thu Bồn và Vĩnh Điện.
==Giáo dục==
=== Học viện ===
* Phân viện [[Học viện Hành chính Quốc gia (Việt Nam)|Học viện Hành chính Quốc Gia (Việt Nam) khu vực Miền Trung]] - ''NAPA'' - ([[(Vietnam) National Academy of Public Administration campus in Centralern regions|(Vietnam) National Academy of Public Administration campus in Centralern]])
=== Đại học ===
* [[Trường Đại học Quảng Nam]] - ''QNU'' - ([[Quảng Nam University]])
* [[Trường Đại học Phan Châu Trinh]] - ''PCTU'' - ([[Phan Châu Trinh University]])
=== Cao đẳng ===
* Trường Cao đẳng Quảng Nam
* Trường Cao đẳng Đông Á
* Trường Cao đẳng Công nghệ - Kinh tế và Thủy lợi Miền Trung
* Trường Cao Đẳng Điện lực Miền Trung
* Trường Cao đẳng Miền Trung
* Trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam
* Trường Cao đẳng Nghề Quảng Nam
* Trường Cao đẳng Phương Đông
* Trường Cao Đẳng Công Kỹ Nghệ Đông Á
* Trường Cao Đẳng [[Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải|Thaco]]
=== Trung cấp ===
* Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Quảng Nam
* Trường Trung cấp Bách khoa Quảng Nam
* Trường Trung cấp Quảng Đông
* Trường Trung cấp Nghề Bắc Quảng Nam
* Trường Trung cấp Nghề Nam Quảng Nam
* Trường Trung cấp nghề Thanh niên Dân tộc - Miền núi Quảng Nam
* Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật khu vực [[Trung Bộ|Miền Trung]] - [[Tây Nguyên]]
* Trường Trung cấp [[Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á|ASEAN]]
== Văn hóa ==
===Lễ hội===
* [[Lễ hội Bà Thu Bồn]] là một lễ hội dân gian của cư dân ven sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam với mục đích cầu nguyện một năm mới đất trời thuận hòa, người dân ấm no hạnh phúc. Lễ hội được tổ chức hằng năm vào ngày 12 tháng 2 âm lịch.<ref>{{Chú thích web|url=https://tuoitre.vn/hang-van-nguoi-du-le-hoi-quang-nam---hanh-trinh-di-san-2005-71211.htm|tựa đề=Hàng vạn người tham dự lễ hội Quảng Nam-Hành trình di sản 2005|ngày=2005-03-21|website=Báo Tuổi Trẻ}}</ref> Xen lẫn các tiết mục văn nghệ dân gian là tiếng hò reo cổ vũ của cư người xem hội hai bên bờ. Nghi thức quan trọng nhất là lễ tế Bà và lễ rước nước về đền. Đền thờ Bà Thu Bồn nằm trong một vùng đồng bằng ven sông thuộc huyện Duy Xuyên. Phần hội quan trọng nhất là hội đua thuyền Lệ Bà (Nam-Nữ), hội thả hoa đăng và đốt lửa thiêng trên những bãi bồi của dòng sông Thu Bồn.
* [[Lễ hội Bà Chiêm Sơn]] là lễ hội của cư dân làm nghề nuôi tằm dệt vải của xã [[Duy Trinh]], huyện [[Duy Xuyên]]. Lễ được tổ chức ngày 10-12 tháng Giêng âm lịch tại Dinh bà Chiêm Sơn. Lễ hội là dịp bày tỏ niềm tôn kính với người đã khai sinh ra nghề ươm tằm dệt lụa cho địa phương. Người tham gia lễ hội có cơ hội thưởng thức các món ăn đặc trưng của người Quảng Nam. Lễ hội còn là dịp để tham gia các trò chơi dân gian như đá gà, ném bóng vào rổ, hát bài chòi.
* [[Carneval Hội An]] là lễ hội đường phố được tổ chức lần đầu tiên tại thành phố [[Hội An]] vào giao thừa năm 2009 (dương lịch). Lễ hội mô phỏng theo các lễ hội carneval đường phố vốn rất nổi tiếng tại các nước châu Âu và Mỹ Latin.
* [[Lễ hội Rước cộ Bà Chợ Được]] được tổ chức hằng năm vào ngày 11 tháng Giêng (âm lịch) tại xã [[Bình Triều]], huyện [[Thăng Bình]]. Đây là một kiểu lễ hội tâm linh để tỏ lòng tôn kính với bà Nguyễn Thị Của. Theo tài liệu "Thần Nữ Linh Ứng Truyện", bà sinh năm 1799 tại huyện [[Đại Lộc]], tỉnh Quảng Nam. Bà mất năm 1817, hưởng dương 18 tuổi. Theo cư dân địa phương, bà rất linh thiêng. Trong một lần ngao du đến làng Phước Ấm (nay là Chợ Được, xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam), thấy cảnh sông nước hữu tình, bà chọn nơi này họp chợ để giúp cư dân có cuộc sống sung túc hơn. Bà hóa thân thành một thiếu nữ xinh đẹp chừng 18 tuổi làm nghề bán nước đổi trầu. Dần dần cư dân xung quanh tập trung buôn bán, Chợ Được được hình thành và phát triển. Để ghi nhớ công ơn bà, cư dân trong vùng lập đền thờ "Lăng Bà" và được triều đình phong tặng sắc phong "Thần Nữ Linh Ứng-Nguyễn Thị Đẳng Thần".
* [[Lễ hội Nguyên Tiêu]] là lễ hội của hoa kiều tại Hội An. Lễ được tổ chức tại Hội quán Triều Châu và Quảng Triệu vào ngày 16 tháng Giêng (âm lịch) hằng năm.
* [[Lễ hội Đêm Rằm Phố Cổ]] được tổ chức vào ngày 14 âm lịch hằng tháng tại đô thị cổ Hội An. Tại thời điểm đó, cư dân trong thành phố sẽ tắt hết điện chiếu sáng, thay vào đó là ánh sáng rực rỡ từ đèn lồng. Thành phố sống trong không gian tĩnh mịch của quá khứ. Các phương tiện có động cơ không được tham gia lưu thông. Đường phố được dành cho người đi bộ thưởng lãm.
===Làng nghề truyền thống===
* Làng [[gốm]] Thanh Hà (phường [[Thanh Hà (phường)|Thanh Hà]], thành phố [[Hội An]])
* Làng [[mộc (Ngũ hành)|mộc]] Kim Bồng (xã [[Cẩm Kim]], thành phố [[Hội An]])
* Làng đúc đồng Phước Kiều (phường [[Điện Phương]], thị xã [[Điện Bàn]])
* Làng dệt Mã Châu (thị trấn [[Nam Phước]], huyện [[Duy Xuyên]])
* Làng dâu tằm Đông Yên - Thi Lai (xã [[Duy Trinh]], huyện [[Duy Xuyên]])
* Làng dệt [[chiếu]] [[cói]] Bàn Thạch (xã [[Duy Vinh]], huyện [[Duy Xuyên]])
* Làng rau Trà Quế (xã [[Cẩm Hà, Hội An|Cẩm Hà]], thành phố [[Hội An]])
* Làng trống Lam Yên (xã [[Đại Minh, Đại Lộc|Đại Minh]], huyện [[Đại Lộc]])
* Làng nghề làm bún (phường [[Tân Thạnh (phường)|Tân Thạnh]], thành phố [[Tam Kỳ]])
* Làng nghề truyền thống [[nước mắm Cửa Khe]] (xã [[Bình Dương, Thăng Bình|Bình Dương]], huyện [[Thăng Bình]])
* Làng bích họa Tam Thanh (xã [[Tam Thanh, Tam Kỳ|Tam Thanh]], thành phố [[Tam Kỳ]])
==Giao thông==
Quảng Nam có hệ thống giao thông khá phát triển với nhiều loại hình như đường bộ, đường sắt, đường sông, sân bay và cảng biển. Quảng Nam có tuyến [[Quốc lộ 1|Quốc lộ 1A]] đi qua.
===Đường bộ===
Hệ thống đường quốc lộ và tỉnh lộ trên địa bàn tỉnh được xây dựng theo hướng Bắc - Nam và Đông - Tây.
[[Quốc lộ 1|Quốc lộ 1A]] và [[đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông]] đi qua địa phận các huyện, thị xã và thành phố: [[Núi Thành]], [[Tam Kỳ]], [[Phú Ninh]], [[Thăng Bình]], [[Quế Sơn]], [[Duy Xuyên]] và [[Điện Bàn]]. [[Quốc lộ 14]] đi qua địa phận các huyện: [[Phước Sơn]], [[Nam Giang]], [[Đông Giang (định hướng)|Đông Giang]] và [[Tây Giang (định hướng)|Tây Giang]]. [[Quốc lộ 14B]] đi qua địa phận các huyện [[Đại Lộc]] và [[Nam Giang]]. [[Quốc lộ 14E]] đi qua địa phận các huyện: [[Thăng Bình]], [[Hiệp Đức]] và [[Phước Sơn]]. Ngoài ra tỉnh còn có 1 hệ thống đường bộ gồm các tỉnh lộ như 604, 607, 609, 610, 611, 614, 615, 616, 617, 618 (mới và cũ), 620 và nhiều hương lộ, xã lộ...
*[[Quốc lộ 1|Quốc lộ 1A]]: Điểm đầu tại km 942 là ranh giới giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Điểm cuối tại km 1027 là ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Ngãi.
*[[Đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông]]: Điểm đầu tại ranh giới giữa Đà Nẵng và Quảng Nam. Điểm cuối tại ranh giới giữa Quảng Nam và Quảng Ngãi.
*[[Đường Hồ Chí Minh]]: Điểm đầu tại [[A Tép]] ranh giới giữa tỉnh [[Thừa Thiên Huế]] và tỉnh Quảng Nam, Điểm cuối tại cầu Đắc Zôn ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh [[Kon Tum]].
*[[Quốc lộ 14B]]: Điểm đầu tại km 32 là ranh giới giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thuộc địa phận 2 huyện [[Hòa Vang]] và huyện [[Đại Lộc]]. Điểm cuối tại km 74 điểm giao với đường Hồ Chí Minh thuộc huyện [[Nam Giang]].
*[[Quốc lộ 14D]]: Điểm đầu lý trình km 0 tại Bến Giằng nối với đường Hồ Chí Minh, điểm cuối lý trình km 74,4 tại cửa khẩu Đắc ốc (huyện Nam Giang) ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam - Việt Nam với tỉnh [[Sekong (tỉnh)|Xê Kông]] - [[Lào]].
*[[Quốc lộ 14E]]: Điểm đầu lý trình km 0 tại ngã ba Cây Cốc (huyện [[Thăng Bình]]) giao với Quốc lộ 1 (lý trình km 972 + 200). Điểm cuối lý trình km 78 + 432 giao với đường Hồ Chí Minh tại [[thị trấn Khâm Đức]] (huyện [[Phước Sơn]]).
*[[Quốc lộ 14G]]: Điểm đầu tại thị trấn [[Prao]], [[Đông Giang]], điểm cuối trên địa phận Quảng Nam tại ranh giới với thành phố [[Đà Nẵng]].
*[[Quốc lộ 14H]]: Điểm đầu tại cảng Cửa Đại (thành phố [[Hội An]]), điểm cuối giao đường Trường Sơn Đông tại xã Quế Lâm, huyện [[Nông Sơn]].
*[[Quốc lộ 40B]].
*[[Quốc lộ 24C]].
===Đường sắt===
Trục [[Đường sắt Bắc Nam|đường sắt Việt Nam]] đi qua tỉnh này:[[Tập tin:VietnamRailway.jpg|Đường sắt Bắc Nam đoạn đi qua địa phận tỉnh Quảng Nam.|nhỏ|phải|200px]]
{|class="wikitable"
| STT || Tên Ga || Địa chỉ
|-
| 1 || [[Ga Nông Sơn|Nông Sơn]] || thôn La Hòa, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
|-
| 2 || [[Ga Trà Kiệu|Trà Kiệu]] || xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
|-
| 3 || [[Ga Phú Cang|Phú Cang]] || thôn Quý Phước, xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
|-
| 4 || [[Ga An Mỹ|An Mỹ]] || xã Tam An, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam
|-
| 5 || [[Ga Tam Kỳ|Tam Kỳ]] || đường Nguyễn Hoàng, phường An Xuân, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
|-
| 6 || [[Ga Diêm Phổ|Diêm Phổ]] || thôn Diêm Phổ, xã Tam Anh, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
|-
| 7 || [[Ga Núi Thành|Núi Thành]] || thị trấn Núi Thành, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
|}
===Đường hàng không===
Năm [[1965]], người Mỹ xây dựng [[sân bay Chu Lai]], nhằm mục đích phục vụ các hoạt động quân sự ở miền Trung và [[Tây Nguyên]]. 40 năm sau, ngày [[2 tháng 3|02 tháng 3]] năm [[2005]], sân bay Chu Lai đón chuyến bay thương mại đầu tiên từ Thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu một sự kiện lịch sử của tỉnh. Năm 2010, Vietnam Airlines có tuyến bay Chu Lai - Hà Nội. Việc sân bay Chu Lai vào hoạt động thương mại sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển không chỉ của Quảng Nam (với khu công nghiệp Chu Lai) mà còn của tỉnh [[Quảng Ngãi]] (với [[Khu kinh tế Dung Quất|khu công nghiệp Dung Quất]]). Xa hơn nữa, sân bay Chu Lai sẽ được phát triển thành sân bay quốc tế phục vụ cho việc trung chuyển hành khách và hàng hóa trong khu vực. Ngoài ra, việc đưa sân bay Chu Lai vào hoạt động sẽ giúp cho du khách đến với hai di sản văn hóa thế giới đó là [[Hội An|Phố cổ Hội An]] và [[Thánh địa Mỹ Sơn]] dễ dàng hơn.
=== Đường sông ===
Quảng Nam có 941 km sông ngòi tự nhiên, đang quản lý và khai thác 307 km sông (chiếm 32,62%), gồm 11 sông chính. Hệ thống sông hoạt động chính gồm 2 hệ thống: sông Thu Bồn và sông Trường Giang, hai hệ thống sông này đều đổ ra biển Đông theo 3 cửa sông: sông Hàn, Cửa Đại và Kỳ Hà.
Sông Trung ương quản lý: dài 132 km, gồm: Đoạn 1 [[sông Thu Bồn]], [[trường Giang|sông Trường Giang]].
Toàn bộ đường sông đang khai thác vận tải thủy của tỉnh Quảng Nam dài 207 km, gồm 11 tuyến: [[Sông Thu Bồn]], [[trường Giang|sông Trường Giang]], [[sông Vu Gia]], [[sông Yên]], [[sông Vĩnh Điện]], [[sông Hội An]], [[sông Cổ Cò]], [[sông Duy Vinh]], [[sông Bà Rén]], [[sông Tam Kỳ]] và [[sông An Tân]].
=== Biển số xe ===
<small>Dấu x có thể là chữ hoặc số, <nowiki>#</nowiki> là một con số.</small>
* Thành phố [[Tam Kỳ]] {{code|92-Bx ###.##}}; {{code|92-L8 ####}}; {{code|92-L9 ####}};
* Thành phố [[Hội An]] {{code|92-Cx ###.##}}; {{code|92-H1 ####}};
* Thị xã [[Điện Bàn]] {{code|92-Dx ###.##}}; {{code|92-H2 ####}}; {{code|92-S2 ####}};
* Huyện [[Đại Lộc]] {{code|92-Ex ###.##}}; {{code|92-H3 ####}}; {{code|92-S3 ####}};
* Huyện [[Duy Xuyên]] {{code|92-Fx ###.##}}; {{code|92-H4 ####}};
* Huyện [[Quế Sơn]] {{code|92-Gx ###.##}}; {{code|92-H5 ####}};
* Huyện [[Thăng Bình]] {{code|92-Hx ###.##}}; {{code|92-H6 ####}}; {{code|92S5 ####}};
* Huyện [[Hiệp Đức]] {{code|92-Kx ###.##}}; {{code|92-H7 ####}};
* Huyện [[Phú Ninh]] {{code|92-Lx ###.##}}; {{code|92-H8 ####}};
* Huyện [[Tiên Phước]] {{code|92-Mx ###.##}}; {{code|92-H9 ####}};
* Huyện [[Núi Thành]] {{code|92-Nx ###.##}}; {{code|92-R1 ####}};
* Huyện [[Phước Sơn]] {{code|92-Px ###.##}}; {{code|92-L2 ####}};
* Huyện [[Nam Giang, Quảng Nam|Nam Giang]] {{code|92-Sx ###.##}};
* Huyện [[Đông Giang]] {{code|92-Tx ###.##}};
* Huyện [[Tây Giang]] {{code|92-Ux ###.###}};
* Huyện [[Bắc Trà My]] {{code|92-Vx ###.##}}; {{code|92-L6 ####}};
* Huyện [[Nam Trà My]] {{code|92-Xx ###.##}}; {{code|92-L7 ####}};
* Huyện [[Nông Sơn]] {{code|92-Yx ###.##}};
==Đặc sản ẩm thực==
Quảng Nam là tỉnh có rất nhiều đặc sản, ẩm thực địa phương như: hải sản, mì Quảng, cao lầu Hội An, bê thui Cầu Mống, quế Trà My, [[bánh tổ]] [[Hội An]], [[Họ Cá chuồn|cá chuồn]] [[Núi Thành]], [[sâm ngọc linh]] [[Nam Trà My]], [[bánh nậm]], đường bát Quảng Nam, gỏi bòn bon Tiên Phước, [[rượu Hồng Đào]], bánh tráng Đại Lộc, măng rừng, cơm lam Tây Bắc, củ nén, [[bánh bèo]], ớt a riêu Đông Giang, [[rượu cần Tây Nguyên]], [[cơm gà]] [[Tam Kỳ]], xí mà Hội An, bánh thuẫn, bưởi trụ lông Đại Bình, rau rừng, ba kích tím, bánh khô mè, tam hữu Trà Quế, khoai lang xứ Quảng, [[gà tre]] [[Đèo Le]], chè dây ra den Đông Giang, [[mía]] [[Điện Bàn]], côn trùng Tây Bắc, nộm dưa chuối chát, rau sen nấu hến Nông Sơn, bánh tráng cuốn thịt heo, hạt tiêu Tiên Phước, bánh bao - bánh vạc, mít hông Tam Kỳ, bánh đậu xanh mặn, [[rau]] [[xương rồng]], [[Chè (ẩm thực)|chè]] [[Hội An]], bánh sừng trâu Cơ Tu, món hến, bánh tráng nhúng đường, dưa kiệu Thăng Bình, [[ốc đá]] [[Sông Tiên (Việt Nam)|sông Tiên]], [[kẹo]] [[Lạc|đậu phộng]] (bánh cu đơ), [[cam]] [[Tây Giang]], [[Bánh mì Việt Nam|bánh mì]] [[Hội An]], zơ rá Cơ Tu, [[bánh xèo]], nước mắm Tam Thanh, [[mật ong]] [[rừng]], bánh tráng Phú Triêm, xôi đường, chuối mốc Tiên Phước, bánh đập Hội An, măng núi trộn, mực cơm bãi Ngang, [[dứa]] [[Đại Lộc]], rượu tr'đin Tây Giang, cháo lươn xanh, [[bánh bột lọc]], nhộng ong miền Tây, cá niên, [[táo mèo]] [[Nam Trà My]], [[hoành thánh]] [[Hội An]], phở sắn Đông Phú, rượu tà vạt, ram tôm, nếp đắng Lộc Đại, nước mắm Cửa Khe, nấm lim xanh, [[yến sào]] [[Cù Lao Chàm]].
==Hình ảnh==
{{Commonscat|Quang Nam}}
<gallery>
Tập tin:Tháp Bằng An, Điện Bàn, Quảng Nam.JPG| Tháp Bằng An, Điện Bàn, Quảng Nam.
Tập tin:Tháp Khương Mỹ, Quảng Nam.JPG| Tháp Khương Mỹ, Quảng Nam.
Tập tin:Schoolchildren Nam Yen Quang Nam.jpg| Học sinh tại trường tiểu học Hòa Bắc, Yên Nam, Quảng Nam.
Tập tin:Quang Nam Country Road.JPG| Một con đường đất ở Điện Bàn, Quảng Nam.
Tập tin:Cơm gà Tam Kỳ, Quảng Nam.JPG|Cơm gà Tam Kỳ, Quảng Nam
Tập tin:Đường phố ở Tam Kỳ, Quảng Nam.JPG|Đường phố ở Tam Kỳ, Quảng Nam
</gallery>
==Chú thích==
{{notelist}}
{{tham khảo|30em}}
==Liên kết ngoài==
*[http://www.quangnam.gov.vn/cmspages/chuyenmuc/chuyenmuc_view.aspx?IDChuyenMuc=160 Lịch sử Quảng Nam trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Nam] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20131207184421/http://quangnam.gov.vn/cmspages/chuyenmuc/chuyenmuc_view.aspx?IDChuyenMuc=160 |date = ngày 7 tháng 12 năm 2013}}
{{Tỉnh cũ Việt Nam}}
[[Thể loại:Quảng Nam| ]]
[[Thể loại:Tỉnh cũ Việt Nam]] | 78330 |
1329 | Wikipedia:Tin tức/2004/09 | 4 | null | null | 29908 | null | 2004-09-20T23:48:38 | false | Added news about new design | wikitext | text/x-wiki | 1kru8szpgeazr8jadyafwtbykg3iwmw | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | Tin tức về dự án Wikipedia vào tháng 9 năm 2004:
==Chủ nhật, ngày [[19 tháng 9]] năm 2004==
*[[User:Mxn|Minh Nguyễn]] đổi [[User:Mxn/Trang Chính|Trang Chính thử]] đến thiết kế mới, theo [[Wikibooks:Trang Chính|Wikibooks]], [[Wiktionary:Trang Chính|Wiktionary]], và [[Wikisource:Trang Chính|Wikisource Tiếng Việt]]. Thiết kế sẽ trở thành cho [[Tranh Chính]] thật. | 418 |
1330 | Giang Trạch Dân | 0 | null | null | 74127264 | 73447119 | 2025-09-15T17:18:42 | false | null | wikitext | text/x-wiki | 1atuxx0gljd3q07cue4xemzb2ie36hx | {
"username": "DangTungDuong",
"id": "126698",
"ip": null
} | {{Cần biên tập|date=tháng 3/2022}}
{{Thông tin viên chức
| tên = Giang Trạch Dân <br> Jiang Zemin <br> 江泽民
| hình = Jiang Zemin 2002.jpg
| cỡ hình = 250px
| ngày sinh = {{ngày sinh|1926|8|17|df=yes}}
| nơi sinh = [[Dương Châu]], tỉnh [[Giang Tô]], [[Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)|Trung Hoa Dân Quốc]]
| nơi ở =
| ngày mất = {{ngày mất và tuổi|2022|11|30|1926|8|17|df=yes}}
| nơi mất = [[Thượng Hải]], Trung Quốc
| chức vụ = [[Tập tin: Danghui.svg |22px]]<br>[[Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc|Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc]]
| bắt đầu = [[24 tháng 6]] năm [[1989]]
| kết thúc = [[25 tháng 11]] năm [[2002]]<br/>{{số năm theo năm và ngày|1989|6|24|2002|11|25}}
| tiền nhiệm = [[Triệu Tử Dương]]
| kế nhiệm = [[Hồ Cẩm Đào]]
| địa hạt =
| phó chức vụ =
| phó viên chức =
| chức vụ 2 = [[Tập tin:National Emblem of the People's Republic of China (2).svg|22px]]<br/>[[Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]]
| bắt đầu 2 = [[17 tháng 3]] năm [[1993]]
| kết thúc 2 = [[15 tháng 3]] năm [[2003]]<br/>{{số năm theo năm và ngày|1993|3|17|2003|3|15}}
| tiền nhiệm 2 = [[Dương Thượng Côn]]
| kế nhiệm 2 = [[Hồ Cẩm Đào]]
| địa hạt 2 =
| phó chức vụ 2 = Phó Chủ tịch
| phó viên chức 2 = [[Vinh Nghị Nhân]]<br/>[[Hồ Cẩm Đào]]
| chức vụ 3 = Chủ tịch [[Quân ủy Trung ương Trung Quốc|Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc]]
| bắt đầu 3 = [[19 tháng 11]] năm [[1989]]
| kết thúc 3 = [[19 tháng 3]] năm [[2003]] <br>{{số năm theo năm và ngày|1989|11|19|2003|3|19}}
| tiền nhiệm 3 = [[Đặng Tiểu Bình]]
| kế nhiệm 3 = [[Hồ Cẩm Đào]]
| địa hạt 3 =
| phó chức vụ 3 = Phó Chủ tịch
| phó viên chức 3 = [[Tào Cương Xuyên]]<br/> [[Quách Bá Hùng]] <br/>[[Hồ Cẩm Đào]]<br/>[[Trì Hạo Điền]]<br/> [[Trương Vạn Niên]]<br/>[[Lưu Hoa Thanh]] <br/>[[Trương Chấn]]<br/>[[Dương Thượng Côn]]
| chức vụ 4 = Chủ tịch [[Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]]
| bắt đầu 4 = [[19 tháng 3]] năm [[1990]]
| kết thúc 4 = [[18 tháng 3]] năm [[2003]] <br>{{số năm theo năm và ngày|1990|3|19|2003|3|18}}
| tiền nhiệm 4 = Đặng Tiểu Bình
| kế nhiệm 4 = Hồ Cẩm Đào
| địa hạt 4 =
| phó chức vụ 4 = Phó Chủ tịch
| phó viên chức 4 = [[Tào Cương Xuyên]]<br/> [[Quách Bá Hùng]] <br/>[[Hồ Cẩm Đào]]<br/>[[Trì Hạo Điền]]<br/> [[Trương Vạn Niên]]<br/>[[Lưu Hoa Thanh]] <br/>[[Trương Chấn]]<br/>[[Dương Thượng Côn]]
| chức vụ 7 = [[Bí thư Ban Bi thư, Phó Chủ tịch nước (Trung Quốc)|Ban Bí thư]] [[Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ]]
| bắt đầu 7 = [[Tháng 11]] năm [[1987]]
| kết thúc 7 = [[Tháng 6]] năm [[1989]]
| tiền nhiệm 7 = [[Nhuế Hạnh Văn]]
| kế nhiệm 7 = [[Chu Dung Cơ]]
| địa hạt 7 =
| phó chức vụ 7 = Thị trưởng
| phó viên chức 7 = Chu Dung Cơ
| chức vụ 8 = [[Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân|Thị trưởng Chính phủ Nhân dân thành phố]] [[Thượng Hải]]
| bắt đầu 8 = [[1985]]
| kết thúc 8 = [[1987]]
| tiền nhiệm 8 = [[Uông Đạo Hàm]]
| kế nhiệm 8 = [[Chu Dung Cơ]]
| địa hạt 8 =
| phó chức vụ 8 =
| phó viên chức 8 =
| chức vụ 9 = Bộ trưởng [[Bộ Công nghiệp Điện tử Trung Quốc]]
| bắt đầu 9 = [[1982]]
| kết thúc 9 = [[1984]]
| tiền nhiệm 9 = [[Trương Đĩnh]]
| kế nhiệm 9 = [[Lý Thiết Ánh]]
| địa hạt 9 =
| phó chức vụ 9 =
| phó viên chức 9 =
| đa số =
| đảng = [[Tập tin:Danghui.svg|20px]] [[Đảng Cộng sản Trung Quốc]]
| đảng khác =
| danh hiệu =
| nghề nghiệp =
| học vấn =
| học trường = Trung học Dương Châu <br/> Đại học Trung ương Quốc lập <br/>Đại học Giao thông
| dân tộc = [[Người Hán|Hán]]
| tôn giáo = [[không tôn giáo|không]]
| họ hàng =
| cha =
| mẹ =
| vợ = [[Vương Dã Bình]] (cưới 1949)
| chồng =
| kết hợp dân sự =
| con = [[Giang Miên Hằng]] (con trưởng) <br/> [[Giang Miên Khang]] (con thứ)
| website =
| chữ ký =
| phục vụ =
| thuộc =
| năm tại ngũ =
| cấp bậc =
| đơn vị =
| chỉ huy =
| tham chiến =
| chú thích =
}}
'''Giang Trạch Dân '''
([[Tiếng Anh|chữ Anh]]: Jiang Zemin, [[Chữ Hán phồn thể|chữ Trung phồn thể]]: 江澤民, [[Chữ Hán giản thể|chữ Trung giản thể]]: 江泽民, [[bính âm Hán ngữ|bính âm]]: Jiāng Zémín; 17 tháng 8 năm 1926 – 30 tháng 11 năm 2022), quê quán sinh trưởng tổ tiên của ông ở trấn Giang Loan, huyện [[Vụ Nguyên]], [[Giang Tây|tỉnh Giang Tây]],<ref>{{Chú thích web|url=http://jiangxi.jxnews.com.cn/system/2006/10/11/002351064.shtml|tiêu đề=本网记者走进江泽民祖籍地---婺源江湾|ngày tháng=Xuất bản vào ngày 11 tháng 10 năm 2006|ngày truy cập=ngày 29 tháng 10 năm 2017|website=中国江西网}}</ref> nhưng ông ra đời ở [[Địa cấp thị|thành phố cấp quận]] [[Dương Châu]], [[Giang Tô|tỉnh Giang Tô]]. Tháng 4 năm 1946, Giang Trạch Dân gia nhập [[Đảng Cộng sản Trung Quốc]], tháng 6 năm 1989 ông trở thành hạt nhân lãnh đạo của [[Các thế hệ lãnh đạo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa|tập thể lãnh đạo Trung ương đời thứ 3]]. Tháng 6 năm 1989, Giang đảm nhiệm [[Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc|Tổng thư kí Đảng Cộng sản Trung Quốc]], Chủ tịch Quân uỷ Trung ương [[Đảng Cộng sản Trung Quốc]],<ref>{{Chú thích web|url=http://news.ifeng.com/history/zhongguoxiandaishi/detail_2012_08/16/16846654_0.shtml?_from_ralated|tiêu đề=人民网:邓小平评价江泽民"是合格的党总书记"|ngày tháng=Xuất bản vào ngày 16 tháng 8 năm 2012|ngày truy cập=ngày 29 tháng 10 năm 2017|website=凤凰网}}</ref> Chủ tịch Quân uỷ Trung ương [[Trung Quốc|nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa]]. Từ tháng 3 năm 1993 đến tháng 3 năm 2003, ông trở thành [[Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa|Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa]].
Giang Trạch Dân lên nắm quyền lãnh đạo sau sự kiện [[Sự kiện Thiên An Môn|những cuộc phản kháng trên Quảng trường Thiên An Môn năm 1989]], thay thế [[Triệu Tử Dương]], người bị thanh trừng vì quá khoan dung với những người phản kháng, với chức vụ [[Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc|Tổng bí thư]]. Với ảnh hưởng ngày càng suy giảm của [[Đặng Tiểu Bình]] vì tuổi tác, Giang Trạch Dân đã thực sự trở thành "lãnh đạo tối cao" trong thập niên 1990. Dưới sự lãnh đạo của ông, Trung Quốc đã trải qua một giai đoạn phát triển bền vững với các cải cách, thu hồi một cách hoà bình [[Hồng Kông]] từ [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Anh Quốc]] và [[Ma Cao]] từ [[Bồ Đào Nha]], và cải thiện các quan hệ với thế giới bên ngoài trong khi [[Đảng Cộng sản Trung Quốc|Đảng Cộng sản]] vẫn duy trì được sự kiểm soát chặt chẽ với chính phủ. Được biết đến là một trong những khuôn mặt chính trị lôi cuốn của Trung Quốc, Giang Trạch Dân bị chỉ trích vì quá cẩn thận với hình ảnh đời sống cá nhân, và quá nhún nhường trước [[Nga]] và [[Hoa Kỳ]]. Những lời chỉ trích cũng tập trung vào sự bất lực của Giang Trạch Dân trong việc duy trì kiểm soát trên nhiều vấn đề và sự bất công xã hội trong nhiệm kỳ của ông. Các thành viên Đảng Cộng sản Trung Quốc theo đường lối cứng rắn buộc tội Giang Trạch Dân là một lãnh đạo quá thiên cải cách, người đã hợp pháp hoá hoàn toàn cho [[chủ nghĩa tư bản]]. Đóng góp của ông vào [[học thuyết Marx]], một danh sách các lý luận mang tính chỉ đạo theo đó Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhà nước, được gọi là lý thuyết [[Thuyết Ba Đại Diện]], đã được đưa vào [[Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc|Điều lệ Đảng]] và hiến pháp Nhà nước.
== Tiểu sử và sự thăng tiến ==
Dòng họ ông, một khái niệm quan trọng trong xã hội truyền thống Trung Quốc, nằm tại thôn Giang, huyện Tinh Đức ([[Huy Châu]] cũ), phía nam tỉnh [[An Huy]], đây cũng là quê hương của một số học giả và trí thức nổi tiếng Trung Quốc. Giang Trạch Dân lớn lên trong những năm [[chiến tranh Trung-Nhật|chiếm đóng]] của [[Đế quốc Nhật Bản|Nhật Bản]]. Chú ông, Giang Thế Hầu, một cán bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc hy sinh trong khi chiến đấu với quân Nhật, và được coi là một người tử vì đạo.<ref>{{Chú thích web |url=http://www.theepochtimes.com/211,100,,1.html |ngày truy cập=2007-11-26 |tựa đề=Câu chuyện thật về Giang Trạch Dân |archive-date=2006-11-14 |archive-url=https://web.archive.org/web/20061114165620/http://www.theepochtimes.com/211,100,,1.html |url-status=dead }}</ref> Giang Trạch Dân vào Đại học Trung ương Quốc gia (国立中央大学) tại vùng Nam Kinh dưới sự chiếm đóng của quân Nhật trước khi chuyển sang [[Đại học Giao thông Thượng Hải]]. Ông tốt nghiệp năm 1947 với tấm bằng kỹ sư điện. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc khi còn đang là sinh viên. Sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Giang Trạch Dân được đi học tại [[ZIL|Nhà máy Ô tô Stalin]] ở [[Moskva]] trong thập niên 1950. Ông làm việc tại Xưởng ô tô thứ nhất tại [[Trường Xuân]]. Cuối cùng ông chuyển sang làm các công việc quản lý của chính phủ và bắt đầu thăng tiến, trở thành một thành viên Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản, Bộ trưởng Công nghiệp Điện năm 1983. Năm 1985 ông trở thành Chủ tịch thành phố [[Thượng Hải]], và sau đó là Bí thư thành uỷ Thượng Hải.
Khi còn là chủ tịch thành phố, Giang Trạch Dân nhận được nhiều lời khen chê khác nhau. Nhiều lời chỉ trích cho rằng ông là một "bình hoa", một thuật ngữ Trung Quốc được dùng để miêu tả người chỉ có chức vụ nhưng vô tích sự.<ref name="BBC: Profile: Jiang Zemin">[http://news.bbc.co.uk/1/hi/world/asia-pacific/1832448.stm Hồ sơ: Giang Trạch Dân ]</ref> Nhiều người cho rằng sự phát triển của Thượng Hải trong thời gian này là công của [[Chu Dung Cơ]].<ref>[http://articles.latimes.com/1993-07-31/news/mn-18906_1_zhu-rongji Tờ báo Los Angeles Times: Trung Quốc nghiêng vào giải quyết nhiều hơn: Chính trị: Phó thủ tướng Chu Dung Cơ được phân công để giải quyết vấn đề kinh tế, tham nhũng, nổi loạn ở nông thôn.]</ref> Giang Trạch Dân là người tuyệt đối trung thành với Đảng, trong giai đoạn này, giữa các cuộc cải cách kinh tế của [[Đặng Tiểu Bình]]. Trong một nỗ lực nhằm kiềm chế những sinh viên bất bình năm 1986, Giang Trạch Dân đã viện dẫn [[Diễn văn Gettysburg|Bài diễn văn Gettysburg]] bằng tiếng Anh trước một nhóm sinh viên phản kháng.<ref>Kuhn, Robert Lawrence: Người đàn ông đã thay đổi Trung Quốc: Cuộc đời và di sản của Giang Trạch Dân</ref>
Giang Trạch Dân được miêu tả là người có khả năng nói tạm đủ nhiều ngoại ngữ, gồm [[tiếng Romania|tiếng Rumani]], [[tiếng Nga]], và [[tiếng Anh]]. Một trong những sở thích của ông là tiếp đón các vị khách nước ngoài với những cuộc nói chuyện nhỏ về văn học và nghệ thuật bằng ngôn ngữ của họ, ngoài ra còn hát những bài hát ngoại quốc bằng nguyên ngữ. Ông trở nên thân thiết với [[Allen Broussard]], vị thẩm phán [[người Mỹ gốc Phi]] tới thăm Thượng Hải năm [[1987]].
Giang bắt đầu thăng tiến trong hệ thống chính trị quốc gia năm [[1987]], tự động trở thành một thành viên Bộ chính trị [[Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc]] vì theo truyền thống vị Bí thư thành uỷ Thượng Hải đương nhiên có chân trong Bộ chính trị. Năm 1989, Trung Quốc đối mặt với cuộc khủng hoảng vì [[Sự kiện Thiên An Môn|những cuộc phản kháng trên Quảng trường Thiên An Môn]], và Chính phủ Trung ương đang bối rối trước việc giải quyết cuộc khủng hoảng đó. ([[Cải cách Kinh tế Trung Quốc|Chính sách mở cửa]], do [[Đặng Tiểu Bình]] đưa ra, đã chứng tỏ là một điểm quan trọng và khôn ngoan trong lịch sử hiện đại Trung Quốc, giúp kinh tế phát triển ở mức độ đáng kinh ngạc trong nhiều thập kỷ.) Tháng 6, Đặng Tiểu Bình bãi chức nhân vật theo đường lối tự do [[Triệu Tử Dương]], người bị cho là có đường lối quá ôn hoà trước các sinh viên phản kháng. Ở thời điểm đó, Giang Trạch Dân là [[Chính trị Thượng Hải|Bí thư thành uỷ Thượng Hải]], khu vực hàng đầu của trung tâm kinh tế mới Trung Quốc. Trong một vụ việc với ''World Economic Herald'', Giang Trạch Dân đã cho đóng cửa tờ báo này, lên án nó gây nguy hại. Việc xử lý vụ khủng hoảng ở Thượng Hải đã được Bắc Kinh chú ý, và vị lãnh đạo tối cao khi ấy là Đặng Tiểu Bình. Khi các cuộc phản kháng leo thang và vị Tổng thư ký Đảng cộng sản khi ấy là [[Triệu Tử Dương]] bị cách chức, Giang Trạch Dân được giới lãnh đạo Đảng chọn làm ứng cử viên thay cho [[Lý Thụy Hoàn]] ở [[Thiên Tân]], Thủ tướng [[Lý Bằng]], [[Trần Vân]], và những vị lãnh đạo già cả khác để trở thành Tổng bí thư. Ở thời điểm đó ông bị coi là ứng cử viên không thích hợp. Trong vòng ba năm, Đặng Tiểu Bình đã chuyển hầu hết quyền lực trong Đảng, Nhà nước và quân đội vào tay Giang Trạch Dân.
== Những năm đầu nắm quyền ==
Giang Trạch Dân leo lên chức vụ cao nhất nước năm 1989 với một căn cứ quyền lực hậu thuẫn khá nhỏ trong Đảng, và vì thế, có ít quyền hành thực sự. Ông chỉ đơn giản được cho là một nhân vật chuyển tiếp tạm thời trước khi một chính phủ kế tục và ổn định hơn của Đặng Tiểu Bình xuất hiện. Các nhân vật nổi bật khác trong Đảng và Quân đội như [[Dương Thượng Côn]] và người em trai cùng cha khác mẹ [[Dương Bạch Băng]] được cho là đang lên kế hoạch một cuộc đảo chính. Giang Trạch Dân đã dùng Đặng Tiểu Bình làm hậu thuẫn cho mình trong những năm đầu cầm quyền. Vốn được coi là người có quan điểm tân bảo thủ, Giang Trạch Dân đã cảnh báo chống lại "tự do hoá tư sản". Tuy nhiên, [[Đặng Tiểu Bình]] cho rằng phương pháp duy nhất để Đảng Cộng sản tiếp tục nắm quyền cai trị trên toàn Trung Quốc là tiếp tục con đường cải cách kinh tế và hiện đại hoá, và vì thế có quan điểm trái ngược Giang Trạch Dân.
Đặng Tiểu Bình đã làm gia tăng lời chỉ trích sự lãnh đạo của Giang Trạch Dân năm 1992. Trong chuyến đi thăm phương nam, ông đã khôn khéo gợi ý rằng tốc độ cải cách còn chưa đủ nhanh, và giới "lãnh đạo trung ương" (như Giang Trạch Dân) phải chịu trách nhiệm chính. Giang Trạch Dân trở nên cẩn thận hơn và hoàn toàn tuân thủ các cải cách của Đặng Tiểu Bình. Năm 1993, Giang Trạch Dân đưa ra thuật ngữ mới "Kinh tế Thị trường Xã hội chủ nghĩa", một tuyên bố bề ngoài có vẻ nghịch lý, để chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung của Trung Quốc sang một nền [[kinh tế thị trường]] tư bản có sự quản lý của nhà nước. Đây là một bước tiến vĩ đại của chủ trương "Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc" của Đặng Tiểu Bình. Cùng lúc ấy, sau khi đã lấy được lòng tin của Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân bổ nhiệm nhiều người thân tín ở Thượng Hải vào các chức vụ trong chính phủ. Ông xoá bỏ [[Uỷ ban Cố vấn Trung ương]], một cơ quan cố vấn gồm các vị lãnh đạo cách mạng già cả nhằm tập trung quyền lực. Giang Trạch Dân nắm chức Chủ tịch Quân uỷ Trung ương năm 1989, sau khi đã được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tháng 3 năm [[1993]].
== Chức Chủ tịch nước ==
=== Đặng Tiểu Bình mất ===
{{Chính trị Trung Quốc}}[[Đặng Tiểu Bình]] mất đầu năm [[1997]], và Trung Quốc, dần phát triển từ các cuộc cải cách từ thời Đặng Tiểu Bình với sự ổn định khá vững chắc trong thập niên 1990, phải đối mặt với các vấn đề kinh tế và xã hội. Tại lễ tang Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân đọc bài ca ngợi chính thức, với cả những giọt nước mắt mà nhiều người Trung Quốc coi là giả dối. Giang Trạch Dân đã thừa hưởng một đất nước Trung Quốc với tình trạng tham nhũng nặng nề, các nền kinh tế địa phương phát triển quá nhanh cho sự ổn định của toàn thể đất nước. Ý tưởng của Đặng rằng "một số vùng có thể trở nên giàu có trước các vùng khác" đã khiến hố sâu ngăn cách giàu nghèo giữa các vùng ven biển và vùng nội địa càng rộng. Sự phát triển kinh tế thần kỳ đương nhiên dẫn tới tình trạng nhiều [[doanh nghiệp nhà nước]] (SOE) phải bị đóng cửa, tỷ lệ [[thất nghiệp]] lên tới 40% tại một số vùng thành thị. Các [[thị trường chứng khoán]] lên xuống bất thường. Tỷ lệ di cư từ nông thôn tới các vùng thành thị lớn chưa từng thấy và chính phủ không làm được gì nhiều để giảm hố sâu ngăn cách về kinh tế giữa thành thị và nông thôn. Các báo cáo chính thức về phần trăm GDP của Trung Quốc bị mất đi do các quan chức tham nhũng lên tới 10%.<ref>[http://nps.edu/programs/ccs/webjournal/Article.aspx?ArticleID=124 Trung Quốc: Một đối thủ cạnh tranh ngang hàng kinh tế mới nổi]</ref> Một môi trường hỗn loạn các phiếu nợ bất hợp pháp do các quan chức dân sự và quân sự phát hành đã khiến đa số các tài sản bị tham nhũng được chuyển ra nước ngoài. Mức độ [[tham nhũng]] đã quay trở lại, nếu không nói là vượt quá so với tình trạng thời kỳ Quốc dân Đảng cầm quyền hồi thập niên 1940. Tỷ lệ tội phạm tăng vọt và sự tái xuất hiện của [[tội phạm có tổ chức]] bắt đầu trở thành tai hoạ tại các thành phố. Tình trạng phá hoại môi trường tự do càng khiến giới trí thức lo ngại và lên tiếng cảnh báo. Mục tiêu lớn nhất của Giang Trạch Dân trong điều hành kinh tế là sự ổn định, và ông tin rằng một chính phủ ổn định với quyền lực tập trung trung ương cao độ là điều kiện tiên quyết, chấp nhận trì hoãn cải cách chính trị, vốn là nguyên nhân gây ra rất nhiều vấn đề.<ref name="BBC: Profile: Jiang Zemin"/> Giang Trạch Dân tiếp tục rót vốn để phát triển các [[Vùng Kinh tế Đặc biệt]] và các vùng ven biển.
Giang Trạch Dân được cho là vị lãnh đạo Trung Quốc đầu tiên thực sự biết sử dụng truyền hình để tăng cường hình ảnh cá nhân, giành được tiếng là người có sức lôi cuốn, dù không phải tuyệt đối. Bắt đầu từ năm [[1996]], Giang đưa ra một loạt các biện pháp cải cách với giới truyền thông đang thuộc quyền quản lý của nhà nước, với mục đích tăng cường "hạt nhân lãnh đạo" dưới quyền mình, và cùng lúc ấy đàn áp một số đối thủ chính trị. Việc tăng cường hình ảnh cá nhân trên các phương tiện truyền thông không được tán thành ở thời Đặng Tiểu Bình, và cũng không hề có ở thời Mao Trạch Đông và [[Hoa Quốc Phong]] hồi cuối thập niên 1970. Trên tờ [[Nhân dân Nhật Báo]] và bản tin lúc 7 giờ sáng của [[Đài truyền hình trung ương Trung Quốc|CCTV]]-1 đều có các sự kiện liên quan tới Giang, việc này kéo dài cho tới khi Hồ Cẩm Đào đưa ra những thay đổi trong quản lý truyền thông năm 2006. Ông xuất hiện bất ngờ trước truyền thông phương Tây và có một cuộc phỏng vấn chưa từng có tiền lệ với nhà báo [[Mike Wallace (nhà báo)|Mike Wallace]] của kênh CBS năm 2000 tại [[Bắc Đới Hà]]. Giang Trạch Dân thường sử dụng tiếng nước ngoài trước các ống kính truyền thông phương tây, dù không phải lúc nào cũng trôi chảy. Trong một cuộc gặp với một phóng viên Hồng Kông năm 2000 về hành động rõ ràng kiểu "mệnh lệnh triều đình" của chính phủ trong việc ủng hộ [[Đổng Kiến Hoa]] tranh cử chức [[Chủ tịch Hành pháp Hồng Kông]], Giang Trạch Dân đã gọi các nhà báo Hồng Kông một cách bất lịch sự là "too simple, sometimes naive" (quá đơn giản, thỉnh thoảng ngờ nghệch) bằng tiếng Anh<ref>{{Chú thích web |url=http://www.hkja.org.hk/press_free/a_report/annual_report_2001.htm |ngày truy cập=2007-11-26 |tựa đề=Tờ báo xã hội Hong Kong: Báo cáo thường niên FOE, 2001 |archive-date = ngày 17 tháng 7 năm 2007 |archive-url=https://web.archive.org/web/20070717203953/http://www.hkja.org.hk/press_free/a_report/annual_report_2001.htm }}</ref>. Sự kiện này đã được phát trên truyền hình Hồng Kông buổi tối hôm đó, và bị coi là một scandal ở bên ngoài Trung Quốc.
Từ năm [[1999]], truyền thông cũng đóng một vai trò trung gian trong việc dẹp loạn [[Pháp Luân Công]], được cho là một hành động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chính Giang, và bị chỉ trích mạnh mẽ ở phương Tây. Giang Trạch Dân được cho là đã xung đột với vị Thủ tướng khi ấy là [[Chu Dung Cơ]] về việc xử lý phong trào tinh thần phát triển nhanh chóng này. Giang cũng cho bắt giữ những người điều phối và dẹp tan các vụ biểu tình, dù có nhiều hành động phản kháng từ các nhóm nhân quyền. Ông cũng là bị đơn của nhiều cuộc kiện tụng liên quan tới vấn đề này.
=== Chính sách đối ngoại ===
Giang Trạch Dân cũng đã bị chỉ trích bên trong Trung Quốc vì quá khoan nhượng với [[Hoa Kỳ]] và [[Nga]].<ref>{{Chú thích web |url=http://www.theepochtimes.com/news/5-7-3/30012.html |ngày truy cập=2013-12-05 |tựa đề=Tất cả vì quyền lực ở Trung Quốc: Câu chuyện thật về Giang Trạch Dân |archive-date=2011-12-03 |archive-url=https://web.archive.org/web/20111203155438/http://www.theepochtimes.com/news/5-7-3/30012.html |url-status=dead }}</ref> Ông đã tiến hành một chuyến [[Viếng thăm cấp nhà nước]] bất ngờ tới Hoa Kỳ năm 1997, có nhiều người đã phản đối từ Phong trào Độc lập Tây Tạng cho tới những người thực hành Pháp Luân Công. Giang Trạch Dân đã đọc một bài diễn văn tại [[Đại học Harvard]], một phần bằng tiếng Anh, nhưng vẫn không tránh khỏi các câu hỏi về dân chủ và tự do. Trong cuộc gặp thượng đỉnh chính thức với Tổng thống Hoa Kỳ [[Bill Clinton]], giọng điệu ngoại giao đã mềm mỏng hơn khi Giang Trạch Dân và Clinton cùng đề cập tới những lập trường chung và tránh đi các bất đồng. Clinton tới thăm Trung Quốc tháng 2 năm 1999, và nói rằng Trung Quốc cùng Hoa Kỳ là đối tác chứ không phải hai đối thủ. Khi khối [[NATO]] do Hoa Kỳ đứng đầu [[Vụ ném bom đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade của NATO|ném bom đại sứ quán Trung Quốc]] tại [[Beograd|Belgrade]] năm 1999, Giang Trạch Dân dường như đã chuẩn bị một lập trường cứng rắn để thể hiện trong nước nhưng trên thực tế ông chỉ đưa ra những hành động phản kháng mang tính biểu tượng. Một hành động tương tự diễn ra khi một chiếc máy bay do thám của Mỹ [[Vụ việc Đảo Hải Nam|va chạm với một chiếc máy bay phản lực Trung Quốc]], khiến viên phi công Trung Quốc thiệt mạng. Giang Trạch Dân đã cho phép phi hành đoàn chiếc máy bay Mỹ ở tại một khách sạn sang trọng tại [[Hải Nam]], và thả họ ba ngày sau đó mà không yêu cầu bất kỳ khoản bồi thường thiệt hại nào.<ref>[http://nl.newsbank.com/nl-search/we/Archives?p_product=NewsLibrary&p_multi=BBAB&d_place=BBAB&p_theme=newslibrary2&p_action=search&p_maxdocs=200&p_topdoc=1&p_text_direct-0=0F97A5C48B7AFFEC&p_field_direct-0=document_id&p_perpage=10&p_sort=YMD_date:D&s_trackval=GooglePM Tân Hoa xã: Trung Quốc giang Trạch Dân, Jean Chrétien của Canada thảo luận về mối quan hệ. Đăng ngày 21 tháng 10 năm 2001.]</ref> Đa phần chính sách đối ngoại của Giang Trạch Dân chú trọng tới thương mại quốc tế chứ không phải hội nhập kinh tế. Là một người bạn của cựu Thủ tướng Canada [[Jean Chretien]]<ref>[http://nl.newsbank.com/nl-search/we/Archives?p_product=NewsLibrary&p_multi=BBAB&d_place=BBAB&p_theme=newslibrary2&p_action=search&p_maxdocs=200&p_topdoc=1&p_text_direct-0=0F97A5C48B7AFFEC&p_field_direct-0=document_id&p_perpage=10&p_sort=YMD_date:D&s_trackval=GooglePM Tân Hoa Xã Trung Quốc: Giang Trạch Dân, Jean Chretien của Canada thảo luận về các mối quan hệ] 21 tháng 10 năm 2001.</ref> Giang Trạch Dân đã tăng cường vị thế kinh tế của Trung Quốc ở nước ngoài, tìm cách thiết lập quan hệ thân thiện với các quốc gia có nền thương mại tiếp giáp với nền kinh tế Mỹ.
=== Phát triển kinh tế ===
Giang Trạch Dân không có chuyên môn về kinh tế, và vào năm [[1997]] đã giao nhiệm vụ điều hành kinh tế đất nước cho [[Chu Dung Cơ]], người đã trở thành [[Chủ tịch Quốc vụ viện|Thủ tướng]], và tiếp tục giữ chức này trong suốt cuộc [[Khủng hoảng Tài chính châu Á]]. Dưới sự lãnh đạo chung của họ, [[Lục địa Trung Quốc]] đã duy trì được mức tăng trường [[Tổng sản phẩm Quốc nội|GDP]] 8% mỗi năm, đạt được mức tăng trưởng kinh tế trên đầu người cao nhất so với các nền kinh tế lớn trên thế giới, khiến thế giới phải kinh ngạc về tốc độ tăng trưởng này. Điều này có được chủ yếu nhờ sự tiếp nỗi quá trình chuyển tiếp sang một nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, các nhà kinh tế, buộc tội Giang đã tạo ra một nền [[bong bóng kinh tế|kinh tế bong bóng]] có thể bùng nổ bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên, việc kiểm soát chặt chẽ kinh tế của chính phủ vẫn tiếp diễn, khi Giang Trạch Dân không ngừng tập trung quyền lực. Thành quả trong thời kỳ cầm quyền của Giang càng tăng với việc Trung Quốc gia nhập thành công vào [[Tổ chức Thương mại Thế giới]] và Bắc Kinh giành quyền đăng cai [[Olympics Mùa hè năm 2008]].
=== Thuyết Ba Đại Diện ===
Nội dung Thuyết Ba đại điện: Đảng cộng sản Trung Quốc đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, đại diện nền văn hóa tiên tiến và đại diện lợi ích của đông đảo nhân dân Trung Quốc.
Trước khi chuyển giao quyền lực cho thế hệ lãnh đạo trẻ hơn, Giang Trạch Dân đã đưa [[Thuyết Ba Đại Diện]] của mình vào trong Điều lệ Đảng, cùng với [[Chủ nghĩa Marx-Lenin|Chủ nghĩa Mác Lênin]], [[Chủ nghĩa Mao|Tư tưởng Mao Trạch Đông]], và [[Học thuyết Đặng Tiểu Bình]] Tại đại hội thứ 16 Đảng Cộng sản Trung Quốc năm [[2002]]. Dù trái ngược với Chủ nghĩa Mao và Chủ nghĩa Mác ở một số khía cạnh, nó cũng được đưa vào trong Hiến pháp Trung Quốc. Những người chỉ trích tin rằng đây chỉ là một phần trong sự [[thần thánh hoá]] cá nhân Giang, những người khác coi việc áp dụng học thuyết là tư tưởng dẫn đường trong việc lãnh đạo tương lai của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Học thuyết Ba Đại diện được nhiều nhà phân tích chính trị coi là nỗ lực của Giang Trạch Dân nhằm mở rộng các Nguyên tắc Mác xít Lêninít, và vì thế đưa ông lên ngang tầm với những triết gia Mác xít Trung Quốc thời trước như Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.
== Rút lui khỏi quyền lực ==
Năm 2002, Giang Trạch Dân rời khỏi [[Ban Thường trực Bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc]] nhường đường cho một "thế hệ lãnh đạo thứ tư" đứng đầu là [[Hồ Cẩm Đào]], đánh dấu sự khởi đầu quá trình chuyển tiếp quyền lực kéo dài trong vài năm. Hồ Cẩm Đào lên nắm chức vụ lãnh đạo Đảng, trở thành Tổng bí thư [[Đảng Cộng sản Trung Quốc|Đảng Cộng sản]]. Sáu trong số chín thành viên mới Ban Thường trực ở thời điểm ấy được coi là một phần trong cái gọi là "[[Nhóm Thượng Hải]]" của Giang, đáng chú ý nhất là vị Phó Chủ tịch [[Tăng Khánh Hồng]] và Phó Thủ tướng [[Hoàng Cúc]].
Dù vậy Giang Trạch Dân vẫn giữ chức chủ tịch cơ quan đầy quyền lực là [[Quân ủy Trung ương|Quân uỷ Trung ương]], đa số các thành viên cơ quan này là các sĩ quan quân đội chuyên nghiệp. ''Liberation Army Daily'' (Nhật Báo Quân đội Giải phóng), một tờ báo được cho là đại diện cho các quan điểm của đa số quân đội Trung Quốc, ngày 11 tháng 3 năm 2003 đã có một bài trích dẫn hai đại biểu quân đội nói, "Có một trung tâm được gọi là 'trung thành', trong khi hai trung tâm sẽ dẫn tới 'các vấn đề.'" Điều này được hiểu là một lời chỉ trích nỗ lực của Giang nhằm thực hiện quyền lãnh đạo đối với Hồ Cẩm Đào theo mô hình của Đặng Tiểu Bình.
Hồ Cẩm Đào kế tục Giang Trạch Dân làm [[Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa]] ngày [[15 tháng 3]] năm [[2003]]. Trước sự ngạc nhiên của nhiều nhà quan sát, bằng chứng về sự ảnh hưởng kéo dài của Giang Trạch Dân trên chính sách bỗng biến mất khỏi truyền thông. Giang Trạch Dân rõ ràng đã giữ im lặng trong cuộc khủng hoảng dịch [[Hội chứng hô hấp cấp tính nặng|SARS]], đặc biệt rõ khi so sánh với Hồ Cẩm Đào và [[Ôn Gia Bảo]]. Đã có những tranh luận cho rằng các thoả thuận về định chế được đưa ra sau Đại hội đảng lần thứ 16 khiến Giang chỉ có một vị trí không còn nhiều ảnh hưởng nữa.<ref>[http://www.cecc.gov/publications/issue-papers/information-control-and-self-censorship-in-the-prc-and-the-spread-of-sars Kiểm soát thông tin và kiểm duyệt ở Trung Quốc và lây lan của bệnh SARS]</ref> Dù nhiều thành viên Ban Thường trực Bộ chính trị là đồng minh của ông, Ban Thường trực không có chức năng lãnh đạo với bộ máy quản lý dân sự.
Ngày [[19 tháng 9]] năm [[2004]], sau một cuộc gặp bốn ngày với 198 thành viên [[Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc|Ban chấp hành Trung ương]], Giang Trạch Dân đã từ chức Chủ tịch Quân uỷ Trung ương, vị trí cuối cùng trong Đảng của ông. Sáu tháng sau ông từ chức vụ cuối cùng, chủ tịch Quân ủy Trung ương (CMC). Điều này đã khiến trong nhiều tuần tiếp theo đã có những lời đồn rằng những người ủng hộ Hồ Cẩm Đào trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản đã gây sức ép buộc Giang Trạch Dân rút lui. Theo đúng quy định, Giang Trạch Dân chỉ hết nhiệm kỳ vào năm 2007. Hồ Cẩm Đào lên nắm chức chủ tịch CMC, nhưng, trong một thất bại chính trị rõ ràng của Giang Trạch Dân, Từ Tài Hậu, chứ không phải Tăng Khánh Hồng được chỉ định làm vị phó của Hồ Cẩm Đào. Cuộc chuyển tiếp quyền lực này chính thức đánh dấu sự kết thúc kỷ nguyên của Giang tại Trung Quốc, khoảng từ năm 1993 tới năm 2004<ref>[http://journals.sub.uni-hamburg.de/giga/files/journals/3/articles/61/public/61-61-1-PB.pdf Tạp chí chuyển giao hiện tại ở Trung Quốc]</ref>.
Dù Giang ít khi xuất hiện trước công chúng từ sau khi từ bỏ chức vụ chính thức cuối cùng hồi năm 2004, ông đã xuất hiện cùng Hồ Cẩm Đào trong lễ kỷ niệm lần thứ 80 ngày thành lập Quân đội Giải phóng Nhân dân <ref>[https://web.archive.org/web/20071213081036/http://www.iht.com/articles/ap/2007/08/01/asia/AS-GEN-China-Politics.php China's leadership makes show of unity ahead of key Communist Party congress] International Herald Tribune</ref>, và đi thăm Bảo tàng Quân đội của Cách mạng Nhân dân Trung Quốc với Lý Bằng, Chu Dung Cơ, và các quan chức cao cấp khác.<ref>[http://www.cctv.com/english/20070801/113223.shtml Former Chinese President tours Military Museum] CCTV International</ref>
==Gia đình==
Tháng 12 năm [[1949]] ông kết hôn với Vương Dã Bình, hai người có hai đứa con trai, con trưởng là [[Giang Miên Hằng]], hiện giữ chức Phó Viện trưởng [[Viện khoa học Trung Quốc]]. Kiêm nhiệm Viện trưởng Phân Viện Thượng Hải, đồng thời còn đảm nhiệm chức giám đốc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tập đoàn Xe điện Thượng Hải, giám đốc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tập đoàn Liên lạc Viễn thông Thượng Hải, giám đốc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tập đoàn Sân bay Thượng Hải, con thứ hai là [[Giang Miên Khang]] nhậm chức tại một Trung tâm Nghiên cứu ở Thượng Hải, đồng thời còn giữ chức Tổng giám đốc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Địa lý thành phố Thượng Hải.
==Qua đời==
{{Bài chi tiết|Cái chết và quốc tang của Giang Trạch Dân}}
Giang Trạch Dân qua đời vào ngày 30 tháng 11 năm 2022 tại [[Thượng Hải]], hưởng thọ 96 tuổi. Theo [[Tân Hoa Xã]] ông qua đời lúc 12:13 chiều vì [[bệnh bạch cầu]] và suy đa tạng.<ref>{{chú thích báo |title=Former Chinese leader Jiang Zemin dies aged 96 |url=https://www.bbc.co.uk/news/world-asia-china-63805991 |access-date=30 November 2022 |work=BBC News |date=30 November 2022}}</ref><ref>{{chú thích báo |title=Former Chinese president Jiang Zemin dies at 96 |url=https://www.theguardian.com/world/2022/nov/30/jiang-zemin-former-chinese-president-dies-at-96 |access-date=30 November 2022 |work=The Guardian |date=30 November 2022 |language=en}}</ref><ref>{{chú thích báo |last=Buckley |first=Chris |last2=Wines |first2=Michael |date=2022-11-30 |title=Jiang Zemin, Leader Who Guided China Into Global Market, Dies at 96 |language=en-US |work=The New York Times |url=https://www.nytimes.com/2022/11/30/obituaries/jiang-zemin-dead.html |access-date=2022-11-30 |issn=0362-4331}}</ref>
Ngày 11 tháng 12 năm 2022, tro cốt của ông đã được rải xuống biển ở cửa sông Trường Giang theo nguyện vọng của ông và gia đình.<ref>{{Chú thích web|url=https://znews.vn/zingnews-post1383961.html|tựa đề=Tro cốt ông Giang Trạch Dân được rải xuống biển|tác giả=Tuấn Đạt|ngày=2022-12-11|website=[[ZingNews]]|ngôn ngữ=vi|url-status=live|ngày truy cập=2022-12-11}}</ref>
== Sơ lược lý lịch ==
*Năm 1937 - Nhập học trường Trung học Dương Châu.
*Năm 1943 - Nhập học trường Đại học Trung ương Nam Kinh.
*Tháng 10 năm 1945 - Chuyển hộ khẩu sang trường Đại học Giao thông Thượng Hải.
*Tháng 4 năm 1946 - Gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc.
*Tháng 9 năm 1982 - Được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng tại đại hội Đảng lần 12.
*Tháng 6 năm 1983 - Nhậm chức Bộ trưởng Công nghiệp Điện tử.
*Tháng 6 năm 1985 - Nhậm chức Phó Thư ký Ủy ban Đảng thành phố Thượng Hải.
*Tháng 7 năm 1985 - Nhậm chức [[Thị trưởng Thượng Hải]].
*Tháng 11 năm 1987 - Được bầu làm Bí thư thành ủy Thượng Hải. Ủy viên [[Cục Chính trị Trung ương Đảng]] tại đại hội toàn Đảng kỳ 1 khoá 13.
*Tháng 4 năm 1988 – Thôi giữ chức vụ [[Thị trưởng Thượng Hải]].
*Tháng 6 năm 1989 - Được bầu làm Ủy viên Thường vụ Cục Chính trị Trung ương Đảng. Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tại đại hội toàn Đảng kỳ 4 khoá 13.
*Tháng 11 năm 1989 - Được bầu làm Chủ tịch Ủy viên Quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tại đại hội toàn Đảng kỳ 5 khoá 13.
*Tháng 3 năm 1990 - Được bầu làm Chủ tịch Ủy viên Quân sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại hội nghị lần 3 đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc kỳ 7.
*Tháng 3 năm 1993 - Được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại hội nghị lần 1 Đại biểu Nhân dân toàn quốc kỳ 8.
*Tháng 11 năm 1998 - Là vị Chủ tịch nước Trung Quốc đầu tiên viếng thăm Nhật Bản.
*Tháng 2 năm 2000 - Thâu tóm chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm kết thúc cuộc [[đấu tranh giai cấp]], là một trong 3 đại biểu đề xuất tư tưởng phủ định cuộc [[đấu tranh giai cấp]] vẫn còn đang tiếp diễn.
*Tháng 11 năm 2002 - Thôi giữ chức vụ Ủy viên Thường vụ Cục Chính trị. Tổng thư ký Đảng tại đại hội toàn Đảng kỳ 1 lần 16.
*Tháng 3 năm 2003 - Thôi giữ chức vụ Chủ tịch nước tại hội nghị lần 1 Đại biểu Nhân dân toàn quốc kỳ 10.
*Tháng 9 năm 2004 - Từ chức Chủ tịch Ủy viên Quân sự Trung ương Đảng tại đại hội toàn Đảng kỳ 4 lần 16.
*Tháng 3 năm 2005 - Từ chức Chủ tịch Ủy viên Quân sự Trung ương Quốc gia tại hội nghị lần 3 Đại biểu Nhân dân toàn quốc kỳ 10.
== Xem thêm ==
*[[Phòng 610]]
*[[Chính trị Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa]]
*[[Lịch sử Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1989-2002)]]
*''[[Người đàn ông đã thay đổi Trung Quốc: Cuộc đời và Di sản Giang Trạch Dân]]'', tiểu sử gây tranh cãi về Giang Trạch Dân của Robert Lawrence Kuhn
* [[Chu Vĩnh Khang]]
* [[Bạc Hy Lai]]
* [[Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân]]
* [[Thị trưởng Chính phủ Nhân dân thành phố Thượng Hải]]
* [[Bí thư Tỉnh ủy (Trung Quốc)]]
* [[Bí thư Thành ủy thành phố Thượng Hải]]
== Tham khảo và đọc thêm ==
{{Tham khảo}}
*[[Gilley, Bruce]]. "Tiger on the Brink: Jiang Zemin and China's New Elite." Berkeley: University of California Press, 1998. 395pp. This was the first biography of Jiang to appear in the West. A comprehensive and highly readable journalistic account of Jiang's early years, his ascendancy within the Party bureaucracy, and his ultimate rise to power as Deng Xiaoping's successor in the wake of Tiananmen.
*[[Robert Lawrence Kuhn|Kuhn, Robert Lawrence]] = ''The Man Who Changed China: The Life and Legacy of Jiang Zemin'', Random House (English edition) 2005. Century Publishing Group, Shanghai (Chinese edition) 2005. The book is a general biography of Jiang with a more favorable stance towards him.
**[http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2005-03/02/content_420886.htm ''China Daily''] = English language review of biography by Dr. Kuhn.
*''The Real Story of Jiang Zemin'', [[The Epoch Times]] newspaper. http://www.theepochtimes.com This article is largely critical of Jiang. (Authorship remains anonymous for safety reasons)
*[[Willy Lam|Lam, Willy Wo-Lap]]. "The Era of Jiang Zemin"; Prentice Hall, Singapore: 1999. General Jiang-era background information and analysis, not comprehensive biography.
== Liên kết ngoài ==
{{thể loại Commons|Jiang Zemin}}
{{wikiquote-en|Jiang Zemin}}
*[http://english.people.com.cn/data/people/jiangzemin.shtml Biography at ''People's Daily'']
*[http://www.chinavitae.com/biography_display.php?id=18 Biography at China Vitae, the web's largest online database of China VIPs] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060826170934/http://www.chinavitae.com/biography_display.php?id=18 |date=2006-08-26 }}
*[http://www.chinese-tools.com/caricatures/jiang-zemin.html Caricature of Jiang Zemin] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20070630044533/http://www.chinese-tools.com/caricatures/jiang-zemin.html |date = ngày 30 tháng 6 năm 2007}}
*[http://www.cosmopolis.ch/english/cosmo5/zemin.htm Reviews of Jiang Zemin biographies by cosmopolis.ch]{{Liên kết hỏng|date = ngày 10 tháng 3 năm 2021 |bot=InternetArchiveBot }}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
{{Lãnh đạo Thượng Hải}}
{{Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc}}
{{Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa}}
{{Thời gian sống|1926|2022}}
[[Thể loại:Người Giang Tô]]
[[Thể loại:Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc]]
[[Thể loại:Chủ tịch Trung Quốc]]
[[Thể loại:Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIV]]
[[Thể loại:Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XV]]
[[Thể loại:Bí thư Thành ủy Thượng Hải]]
[[Thể loại:Thị trưởng Chính phủ Nhân dân thành phố Thượng Hải]]
[[Thể loại:Giang Trạch Dân]] | 44352 |
1331 | Thể loại:Toán học | 14 | null | null | 61336606 | 61336500 | 2020-05-07T03:55:36 | false | null | wikitext | text/x-wiki | r7rzz6izff7hf76sbi3ybrtj7do4ufv | {
"username": "Hugopako",
"id": "309098",
"ip": null
} | {{diffusecat}}
{{Bài chính thể loại}}
{{thể loại Commons|Mathematics}}
{{chủ đề|Toán học}}
[[Thể loại:Trừu tượng]]
[[Thể loại:Phân loại chủ đề chính]]
[[Thể loại:Khoa học hình thức]] | 232 |
1332 | Bản mẫu:Bài chính thể loại | 10 | null | null | 67423096 | 67178550 | 2021-12-06T22:09:30 | true | Đã thay đổi thiết lập khóa của “[[Bản mẫu:Bài chính thể loại]]”: Bản mẫu/module nguy hiểm cao ([Sửa đổi=Chỉ cho phép các kỹ thuật viên bản mẫu] (vô thời hạn) [Di chuyển=Chỉ cho phép các kỹ thuật viên bản mẫu] (vô thời hạn)) | wikitext | text/x-wiki | 06n7kq21xlgjtcqtp2fs5fdlbxy62l6 | {
"username": "NguoiDungKhongDinhDanh",
"id": "798851",
"ip": null
} | {{#gọi:Cat main|catMain}}<noinclude>
{{tài liệu}}
<!-- Categories go on the /doc subpage, and interwikis go on Wikidata. -->
</noinclude> | 142 |
1335 | Bản mẫu:CIA World Factbook | 10 | null | null | 13039551 | 11241308 | 2013-08-07T17:56:32 | true | Bot: Di chuyển 1 liên kết ngôn ngữ đến [[d:q6263704]] tại [[d:|Wikidata]] | wikitext | text/x-wiki | mor3zpsb51q0sg74lsih2daw09p2olq | {
"username": "EmausBot",
"id": "161772",
"ip": null
} | {{Include-USGov|agency=CIA World Factbook
|url={{{url|{{#if:{{{year|}}}|http://www.umsl.edu/services/govdocs/wofact{{{year}}}/index.html|https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/index.html}}}}}
|article={{{article|{{#if:{{{year|}}}|{{{year}}} edition}}}}}
|author={{{author|}}}|accessdate={{{accessdate|}}}
}}<includeonly></includeonly><noinclude>
{{Tài liệu}}
</noinclude> | 395 |
1336 | Thời sự/2004/01 | 0 | Tháng 1 năm 2004 | null | 29915 | null | 2004-09-23T03:57:47 | false | Thời sự/2004/01 đã được di chuyển đến Tháng 1 năm 2004 | wikitext | text/x-wiki | 68a9gscsairklfgmub3e5bz2hk3ujub | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #REDIRECT [[Tháng 1 năm 2004]]
| 32 |
1338 | Thời sự/2004/03 | 0 | Tháng 3 năm 2004 | null | 29917 | null | 2004-09-23T03:58:15 | false | Thời sự/2004/03 đã được di chuyển đến Tháng 3 năm 2004 | wikitext | text/x-wiki | 8a04ykytpnauqgqgc94h0za2l5e9rzr | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | #REDIRECT [[Tháng 3 năm 2004]]
| 33 |
1339 | Wikipedia:Nguồn tin tức | 4 | null | null | 26076695 | 23419193 | 2016-12-28T17:00:43 | true | null | wikitext | text/x-wiki | 0n54s73gm687s3atqozhyshk01mic8a | {
"username": "Plantaest",
"id": "501647",
"ip": null
} | ==Nguồn==
Liên kết bên ngoài đến những website thời sự lớn thế giới bằng [[tiếng Việt]]:
*[[Truyền hình]]
**[http://www.bbc.co.uk/vietnamese/index.shtml British Broadcasting Corporation (BBC)] (Anh)
*[[Internet]]
**[http://www.vnexpress.net/ VnExpress] (Việt Nam)
**[http://vietnamnet.vn/ Việt Nam Net] (Việt Nam)
**[http://www.nguoi-viet.com/ Người-Việt Online] (Mỹ)
*[[Radio]]
**[http://www.voanews.com/vietnamese/ VOAnews.com] (Mỹ)
==Danh sách về nguồn thời sự==
*[[Báo điện tử]]
*[http://directory.google.com/Top/World/Vietnamese/Tin_t%E1%BB%A9c/ Thư Mục Mạng Lưới của Google: Báo chí và Tin Tức]
[[Thể loại:Thời sự]]
[[Thể loại:Tin tức]]
[[Thể loại:Trợ giúp Wikipedia|{{PAGENAME}}]][[Thể loại:Tài nguyên cho nhà nghiên cứu]] | 839 |
1345 | Wikipedia | 0 | null | null | 72232465 | 72093809 | 2025-03-12T02:57:25 | false | xóa liên kết không phù hợp | wikitext | text/x-wiki | c67x4wjpe5sekgtkkx1mrnsbfnjeoac | {
"username": "ChopinChemist",
"id": "618379",
"ip": null
} | {{pp-vandalism|small=yes}}
{{Selfref|Về phiên bản tiếng Việt, xem [[Wikipedia tiếng Việt]]; về trang giới thiệu Wikipedia không phải bài bách khoa, xem [[Wikipedia:Giới thiệu]]}}
{{Thông tin trang web
| name = Wikipedia
| logo = [[Tập tin:Wikipedia-v2-logo.svg|frameless|240px|alt=Một khối cầu màu trắng ghép lại từ nhiều mảnh xếp hình lớn. Trên mỗi mảnh là các chữ cái thuộc nhiều bộ chữ cái khác nhau]]<br />[[Tập tin:Wikipedia wordmark.svg|150px|Wikipedia wordmark]]
| logocaption = [[Biểu tượng Wikipedia]] – một quả cầu có chứa các [[ký tự]] từ nhiều [[hệ chữ viết]] khác nhau.
| screenshot = [[Tập tin:Wikipedia Portal Screenshot (2022).svg|border|270px|alt=Trang chủ Wikipedia với đường liên kết đến nhiều ngôn ngữ khác.]]
| collapsible = yes
| caption = Ảnh chụp màn hình Cổng thông tin đa ngôn ngữ của Wikipedia
| url = {{URL|http://www.wikipedia.org}}
| slogan = [[Tiếng Anh]]: The free encyclopedia that anyone can edit.<br/>([[tiếng Việt]]: ''Cuốn bách khoa toàn thư mà ai cũng có thể chỉnh sửa.'')
| commercial = Không
| type = [[Bách khoa toàn thư trực tuyến]]
| registration = Tùy chọn<ref group=gc>Yêu cầu đăng ký để thực hiện các tác vụ nhất định như chỉnh sửa trang được bảo vệ, tạo trang mới hay tải lên các tập tin.</ref>
| language = 309 [[ngôn ngữ]]<ref name="ListOfWikipedias">{{chú thích web | url = http://meta.wikimedia.org/wiki/List_of_Wikipedias | title = List of Wikipedias | publisher = [[Wikipedia:Meta-Wiki|Meta-Wiki]] | ngày truy cập = 2008-06-15 | archive-date = 2006-02-04 | archive-url = https://web.archive.org/web/20060204035946/http://meta.wikimedia.org/wiki/List_of_Wikipedias | url-status = live }}</ref>
| num_users = >315.147 tài khoản hoạt động<ref group=note>Để là tài khoản [[Special:ActiveUsers|xác nhận]], người dùng phải thực hiện ít nhất một lần chỉnh sửa hoặc hành động khác trong một tháng nhất định.</ref> và >85.634.144 tài khoản đã đăng ký
<br/>3.906 quản trị viên
| content license = [[Giấy phép Creative Commons|CC Attribution / Share-Alike]] 3.0. Đa số tài liệu được cấp giấy phép kép dựa theo [[GFDL]], giấy phép cho các tập tin phương tiện có thể khác.
| owner = [[Wikimedia Foundation]]
| author = {{ubl|[[Jimmy Wales]]| [[Larry Sanger]]<ref name=projectorigins>{{chú thích báo|url=http://www.signonsandiego.com/uniontrib/20041206/news_mz1b6encyclo.html|author=Jonathan Sidener|title=Everyone's Encyclopedia|access-date=ngày 15 tháng 10 năm 2006|publisher=San Diego Union Tribune|archive-date=2018-12-24|archive-url=https://web.archive.org/web/20181224234813/https://www.sandiegouniontribune.com/uniontrib/20041206/news_mz1b6encyclo.html|url-status=live}}</ref>}}
| launch date = {{Ngày bắt đầu và tuổi|2001|1|15}}
| current status = Đang hoạt động
| oclc = 52075003
| programming_language = Nền tảng [[LAMP]]<ref name="roadchap">{{chú thích web |url= http://rogchap.com/2011/09/06/top-40-website-programming-languages/ |title= Top 40 Website Programming Languages |website= roadchap.com |author= Chapman, Roger |date= ngày 6 tháng 9 năm 2011 |access-date = ngày 6 tháng 9 năm 2011 | url-status=dead |archiveurl = https://web.archive.org/web/20130922015103/http://rogchap.com/2011/09/06/top-40-website-programming-languages/ |archive-date= ngày 22 tháng 9 năm 2013 }}</ref>
}}
'''Wikipedia''' ({{IPAc-en|audio=GT Wikipedia BE.ogg|ˌ|w|ɪ|k|ɪ|ˈ|p|iː|d|i|ə}} {{respell|WIK|i|PEE|dee|ə}} hoặc {{IPAc-en|audio=GT Wikipedia AE.ogg|ˌ|w|ɪ|k|i|ˈ|p|iː|d|i|ə}} {{respell|WIK|ee|PEE|dee|ə}}) là một [[bách khoa toàn thư]] [[Nội dung tự do|mở]] [[Internet|trực tuyến]] [[đa ngôn ngữ]]<ref>{{Chú thích web|url=https://www.theverge.com/2015/9/4/9260981/jimmy-wales-wikipedia-china|tiêu đề=Wikipedia founder defends decision to encrypt the site in China|tác giả 1=Brandom, Russell|ngày=ngày 4 tháng 9 năm 2015|website=The Verge|ngày truy cập=ngày 19 tháng 9 năm 2015|archive-date=2018-06-12|archive-url=https://web.archive.org/web/20180612141751/https://www.theverge.com/2015/9/4/9260981/jimmy-wales-wikipedia-china|url-status=live}}</ref> được sáng lập và duy trì bởi một cộng đồng biên tập viên tình nguyện và chạy trên nền tảng [[wiki]].
Tính đến [[tháng 1 năm 2021]], theo xếp hạng của [[Alexa Internet|Alexa]], Wikipedia là một trong 15 trang [[Website|web]] phổ biến nhất [[thế giới]]<ref name="Alexa siteinfo" /> còn tạp chí ''[[The Economist]]'' xếp Wikipedia là "địa điểm được truy cập nhiều thứ 13 trên [[World Wide Web|web]]".<ref name=Econ21>{{Chú thích web |url=https://www.economist.com/leaders/2021/01/09/happy-birthday-wikipedia |ngày truy cập=2021-01-16 |tựa đề=Anon (2021) ''Happy Birthday, Wikipedia: Lessons from the success of a different sort of tech titan'' The Economist (leader ngày 9 tháng 1 năm 2021) |archive-date=2021-01-08 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210108171842/https://www.economist.com/leaders/2021/01/09/happy-birthday-wikipedia |url-status=live }}</ref> Wikipedia không chạy [[Quảng cáo trực tuyến|quảng cáo]] và do [[tổ chức phi lợi nhuận]] [[Wikimedia Foundation|Wikimedia]] quản lý, nhận tài trợ chủ yếu thông qua [[quyên góp]].<ref>{{Chú thích báo|title=Wikimedia pornography row deepens as Wales cedes rights – BBC News|url=http://www.bbc.com/news/10104946|date=ngày 10 tháng 5 năm 2010|access-date=ngày 28 tháng 6 năm 2016|work=BBC|ngôn ngữ=en|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132742/https://www.bbc.com/news/10104946|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích báo|author=Vogel, Peter S.|title=The Mysterious Workings of Wikis: Who Owns What?|url=http://www.ecommercetimes.com/story/76351.html|date=ngày 10 tháng 10 năm 2012|access-date=ngày 28 tháng 6 năm 2016|work=Ecommerce Times|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132745/https://www.ecommercetimes.com/story/76351.html%20|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích báo|title=Wikimedia Foundation employee ousted over paid editing|author=Mullin, Joe|url=https://arstechnica.com/tech-policy/2014/01/wikimedia-foundation-employee-ousted-over-paid-editing/|date=ngày 10 tháng 1 năm 2014|access-date=ngày 28 tháng 6 năm 2016|work=Ars Technica|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132740/https://arstechnica.com/tech-policy/2014/01/wikimedia-foundation-employee-ousted-over-paid-editing/|url-status=live}}</ref>
[[Jimmy Wales]] và [[Larry Sanger]] đưa Wikipedia đi vào hoạt động từ ngày [[15 tháng 1]] năm [[2001]]. Cái tên "Wikipedia" là do Sanger ghép từ "[[wiki]]" và "encyclopedia" (bách khoa toàn thư). Khởi đầu với phiên bản [[Wikipedia tiếng Anh|tiếng Anh]] nhưng nay Wikipedia đã có hơn 300 phiên bản với tổng cộng hơn 55 triệu bài viết,<ref name="CBS2">{{chú thích báo|url=https://www.cbsnews.com/news/wikipedia-jimmy-wales-morley-safer-60-minutes/|title=Wikipedia cofounder Jimmy Wales on 60 Minutes|work=[[CBS News]]|access-date=ngày 6 tháng 4 năm 2015|ngôn ngữ=en|archive-date=2021-01-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210115213820/https://www.cbsnews.com/news/wikipedia-jimmy-wales-morley-safer-60-minutes/|url-status=live}}</ref> và thu hút hơn 1,7 tỷ lượt xem mỗi [[tháng]].<ref name="small screen"/><ref name="Wikimedia_Stats">{{chú thích web|url=https://stats.wikimedia.org/#/all-wikipedia-projects|title=Wikistats – Statistics For Wikimedia Projects|website=stats.wikimedia.org|publisher=Wikimedia Foundation|access-date=ngày 18 tháng 11 năm 2020|ngôn ngữ=en|archive-date=2020-07-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20200711051858/https://stats.wikimedia.org/#/all-wikipedia-projects|url-status=live}}</ref> Trong số đó, Wikipedia tiếng Anh là phiên bản lớn nhất với hơn 6,2 triệu bài viết.
Wikipedia được coi là tài liệu tham khảo viết chung lớn nhất và phổ biến nhất trên [[Internet]].<ref name="Tancer">{{Chú thích báo|author=Bill Tancer|date=ngày 1 tháng 5 năm 2007|title=Look Who's Using Wikipedia|work=[[Time (magazine)|Time]]|url=http://www.time.com/time/business/article/0,8599,1595184,00.html|url-status=dead|access-date=ngày 1 tháng 12 năm 2007|archive-url=https://web.archive.org/web/20120803185245/http://www.time.com/time/business/article/0,8599,1595184,00.html|archive-date=2012-08-03|quote=The sheer volume of content [...] is partly responsible for the site's dominance as an online reference. When compared to the top 3,200 educational reference sites in the US, Wikipedia is No. 1, capturing 24.3% of all visits to the category}}. [[Cf.]] Bill Tancer (Global Manager, Hitwise), [http://weblogs.hitwise.com/bill-tancer/2007/03/wikipedia_search_and_school_ho.html "Wikipedia, Search and School Homework"] {{webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120325220239/http://weblogs.hitwise.com/bill-tancer/2007/03/wikipedia_search_and_school_ho.html|date=ngày 25 tháng 3 năm 2012}}, ''[[Hitwise]]'', ngày 1 tháng 3 năm 2007.</ref><ref name="Woodson">{{Chú thích báo |url = https://www.reuters.com/article/internetNews/idUSN0819429120070708 |title = Wikipedia remains go-to site for online news |date = ngày 8 tháng 7 năm 2007 |author = Alex Woodson |agency = Reuters |quote = Online encyclopedia Wikipedia has added about 20 million unique monthly visitors in the past year, making it the top online news and information destination, according to Nielsen//NetRatings. |access-date = ngày 16 tháng 12 năm 2007 |archive-date = 2007-11-21 |archive-url = https://web.archive.org/web/20071121104746/https://www.reuters.com/article/internetNews/idUSN0819429120070708 |url-status = live }}</ref><ref name="365M">{{Chú thích web |url = http://upload.wikimedia.org/wikipedia/meta/3/3a/TED2010%2C_Stuart_West_full_presentation_updated_with_January_data.pdf |tiêu đề = Wikipedia's Evolving Impact: slideshow presentation at TED2010 |tên 1 = Stuart |họ 1 = West |ngày = |ngày truy cập = ngày 23 tháng 10 năm 2015 |archive-date = 2016-04-09 |archive-url = https://web.archive.org/web/20160409215246/https://upload.wikimedia.org/wikipedia/meta/3/3a/TED2010,_Stuart_West_full_presentation_updated_with_January_data.pdf |url-status = dead }}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.comscore.com/Insights/Press_Releases/2012/9/comScore_Media_Metrix_Ranks_Top_50_US_Web_Properties_for_August_201|tiêu đề=comScore MMX Ranks Top 50 US Web Properties for August 2012|website=comScore|ngày=ngày 12 tháng 9 năm 2012|ngày truy cập=ngày 6 tháng 2 năm 2013|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132752/https://www.comscore.com/Insights/Press-Releases/2012/9/comScore-Media-Metrix-Ranks-Top-50-US-Web-Properties-for-%D8%A7%DA%AF%D8%B3%D8%AA-201?cs_edgescape_cc=US|url-status=live}}</ref> [[2016|Năm 2016]], [[tạp chí]] ''[[Time]]'' từng tuyên bố rằng tính chất mở của Wikipedia đã biến nó trở thành bách khoa toàn thư lớn nhất và tốt nhất thế giới, tương ứng với những gì Wales từng hình dung.<ref>{{Chú thích tạp chí |url= http://content.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,1975813_1975844_1976488,00.html |title= Jimmy Wales – The 2006 Time 100 |journal= [[Time (magazine)|Time]] |date= ngày 8 tháng 5 năm 2006 |access-date= ngày 11 tháng 11 năm 2017 |first= Chris |last= Anderson |archive-date= 2018-12-25 |archive-url= https://web.archive.org/web/20181225091654/http://content.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,1975813_1975844_1976488,00.html%20 }}</ref> Uy tín của dự án ngày càng tăng lên trong [[thập niên 2010]] nhờ vào những nỗ lực cải thiện chất lượng và độ tin cậy.<ref name=Econ21/>
Wikipedia ngày càng trở nên phổ biến<ref name="noitieng">Xem những sơ đồ tại "[http://stats.wikimedia.org/EN/PlotsPngUsageVisits.htm Lần được truy nhập] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060424065853/http://stats.wikimedia.org/EN/PlotsPngUsageVisits.htm |date=2006-04-24 }}", Thống kê Wikipedia, 1 tháng 1 năm 2005.</ref> nhưng nó cũng bị chỉ trích về độ chính xác, thiên vị có tính hệ thống, và thiên kiến giới tính do có nhiều thành viên nam; trong các chủ đề gây tranh cãi nó đã bị chính trị thao túng và bị truyền thông sử dụng để tuyên truyền.<ref name=Petrilli/> Ban quản trị Wikipedia đã tuyên bố rằng đây "''không phải là nguồn đáng tin cậy cho các nghiên cứu và bài viết học thuật''", và nhấn mạnh rằng ''"việc viện dẫn Wikipedia trong các nghiên cứu là không thể chấp nhận được"''<ref>{{chú thích web|author1=Đức Hoàng|title=Chính sách từ Wikipedia|url=https://vnexpress.net/goc-nhin/chinh-sach-tu-wikipedia-4044413.html|website=[[VNExpress]]|access-date=ngày 20 tháng 1 năm 2020|date=ngày 20 tháng 1 năm 2020|ngày lưu trữ=2020-01-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20200121195554/https://vnexpress.net/goc-nhin/chinh-sach-tu-wikipedia-4044413.html|url-status=live}}</ref>
== Lịch sử ==
{{Chính|Lịch sử Wikipedia}}
=== Nupedia ===
{{Main|Nupedia}}
[[Tập tin:Nupedia_logo_and_wordmark.png|thế=Logo reading "Nupedia.com the free encyclopedia" in blue with the large initial "N"|nhỏ|Wikipedia ban đầu được phát triển từ một dự án bách khoa toàn thư khác có tên là Nupedia.]]
Trước Wikipedia, các bách khoa toàn thư trực tuyến hợp tác khác cũng được thử nghiệm, nhưng không có dự án nào thành công như Wikipedia.<ref>{{Chú thích web|last1=Garber|first1=Megan|date=12 tháng 10 năm 2011|url=http://www.niemanlab.org/2011/10/the-contribution-conundrum-why-did-wikipedia-succeed-while-other-encyclopedias-failed/|tựa đề=The contribution conundrum: Why did Wikipedia succeed while other encyclopedias failed?|website=Nieman Lab|ngày truy cập=ngày 5 tháng 6 năm 2016|ngôn ngữ=en|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132749/http://www.niemanlab.org/2011/10/the-contribution-conundrum-why-did-wikipedia-succeed-while-other-encyclopedias-failed/|url-status=live}}</ref> Khởi thủy của Wikipedia là một dự án bổ trợ cho [[Nupedia]], một dự án bách khoa toàn thư [[tiếng Anh]] trực tuyến tự do với các bài viết do các chuyên gia chấp bút và được xem xét dựa trên một quy trình chính thức.<ref name="KockJungSyn2016">Kock, N., Jung, Y., & Syn, T. (2016). [http://cits.tamiu.edu/kock/pubs/journals/2016JournalIJeC_WikipediaEcollaboration/Kock_etal_2016_IJeC_WikipediaEcollaboration.pdf Wikipedia and e-Collaboration Research: Opportunities and Challenges.] (PDF) {{Webarchive |url=https://web.archive.org/web/20160927001627/http://cits.tamiu.edu/kock/pubs/journals/2016JournalIJeC_WikipediaEcollaboration/Kock_etal_2016_IJeC_WikipediaEcollaboration.pdf |date=ngày 27 tháng 9 năm 2016|ngôn ngữ=en}} ''International Journal of e-Collaboration'' (IJeC), 12(2), 1–8.</ref> Dự án được thành lập vào [[9 tháng 3|ngày 9 tháng 3]] [[2000|năm 2000]], thuộc quyền sở hữu của [[Bomis]], một công ty [[cổng thông tin điện tử]]. Các nhân vật chính là [[Giám đốc điều hành]] Bomis, Jimmy Wales và Larry Sanger – tổng biên tập của Nupedia và Wikipedia sau này.<ref name="autogenerated1">{{chú thích web|last1=Sidener|first1=Jonathan|title=Everyone's Encyclopedia|url=http://signonsandiego.com/uniontrib/20041206/news_mz1b6encyclo.html|website=Lưu trữ từ SignOnDiego.com|publisher=6 tháng 12 năm 2004|access-date=ngày 17 tháng 1 năm 2021|ngôn ngữ=en|archive-date=2007-10-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20071011150228/http://signonsandiego.com/uniontrib/20041206/news_mz1b6encyclo.html|url-status=bot: unknown}}</ref><ref name="Meyers">{{chú thích web|last1=Meyers|first1=Peter|title=Fact-Driven? Collegial? This Site Wants You|url=https://www.nytimes.com/2001/09/20/technology/fact-driven-collegial-this-site-wants-you.html?n=Top%2FReference%2FTimes+Topics%2FSubjects%2FC%2FComputer+Software|website=The New York Times|publisher=20 tháng 9 năm 2001|access-date=ngày 17 tháng 1 năm 2021|ngôn ngữ=en|archive-date=2021-01-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20210129093333/https://www.nytimes.com/2001/09/20/technology/fact-driven-collegial-this-site-wants-you.html?n=Top%2FReference%2FTimes+Topics%2FSubjects%2FC%2FComputer+Software|url-status=live}}</ref> Ban đầu Nupedia được cấp phép theo Giấy phép [[Nội dung tự do|Nội dung Mở]] Nupedia của riêng mình, nhưng sau đó đã chuyển sang [[Giấy phép Tài liệu Tự do GNU]] do [[Richard Stallman]] thúc giục (lúc này Wikipedia chưa thành lập).<ref name="stallman1999">{{chú thích web|last1=Stallman|first1=Richard M.|title=The Free Encyclopedia Project|url=https://www.gnu.org/encyclopedia/encyclopedia.html|website=Free Software Foundation|publisher=20 tháng 6 năm 2007|access-date=ngày 17 tháng 1 năm 2021|archive-date=2012-01-05|archive-url=https://web.archive.org/web/20120105013327/http://www.gnu.org/encyclopedia/encyclopedia.html|url-status=live}}</ref> Wales được ghi nhận là người thiết lập mục tiêu tạo ra một bách khoa toàn thư cho phép chỉnh sửa công khai,<ref name="SangerMemoir">{{chú thích web|last1=Sanger|first1=Larry|title=The Early History of Nupedia and Wikipedia: A Memoir|url=https://features.slashdot.org/story/05/04/18/164213/the-early-history-of-nupedia-and-wikipedia-a-memoir|website=Slashdot|publisher=18 tháng 4 năm 2005|access-date=ngày 17 tháng 1 năm 2021|archive-date=2009-05-25|archive-url=https://web.archive.org/web/20090525051304/http://features.slashdot.org/features/05/04/18/164213.shtml|url-status=live}}</ref><ref name="Sanger">{{chú thích web|last1=Sanger|first1=Larry|title=Wikipedia Is Up!|url=http://www.nupedia.com/pipermail/nupedia-l/2001-January/000684.html|website=Lưu trữ từ thư điện tử trên Nupedia|publisher=17 tháng 1 năm 2001|access-date=ngày 17 tháng 1 năm 2021|archive-date=2001-05-06|archive-url=https://web.archive.org/web/20010506042824/http://www.nupedia.com/pipermail/nupedia-l/2001-January/000684.html|url-status=bot: unknown}}</ref> còn Sanger được ghi nhận là người nghĩ ra chiến lược sử dụng công nghệ [[wiki]] để đạt được mục tiêu đó.<ref name="WM foundation of WP 1">{{Chú thích web|url=https://lists.wikimedia.org/pipermail/wikipedia-l/2001-October/000671.html|tựa đề=Wikipedia-l: LinkBacks?|ngày truy cập=ngày 20 tháng 2 năm 2007|ngôn ngữ=en|archive-date=2014-06-20|archive-url=https://web.archive.org/web/20140620072830/http://lists.wikimedia.org/pipermail/wikipedia-l/2001-October/000671.html|url-status=live}}</ref> [[10 tháng 1|Ngày 10 tháng 1]] [[2001|năm 2001]], trên danh sách gửi thư của Nupedia, Sanger đề xuất tạo ra một wiki như một dự án "trung chuyển" cho Nupedia.<ref name="nupedia feeder from WP 1">{{Chú thích báo|url=http://www.nupedia.com/pipermail/nupedia-l/2001-January/000676.html|title=Let's Make a Wiki|last=Sanger|first=Larry|date=ngày 10 tháng 1 năm 2001|access-date =ngày 26 tháng 12 năm 2008|url-status=live|archive-url=https://web.archive.org/web/20030414014355/http://www.nupedia.com/pipermail/nupedia-l/2001-January/000676.html|archive-date=ngày 14 tháng 4 năm 2003|publisher=Internet Archive|ngôn ngữ=en}}</ref>
=== Khởi tạo và phát triển ban đầu ===
{{Nhiều hình
| footer = Jimmy Wales (trái) và Larry Sanger (phải).
| width =
| image1 = Jimmy Wales Fundraiser Appeal edit.jpg
| width1 = 115
| image2 = L Sanger.jpg
| width2 = 115
| align =
| direction =
| caption1 =
| caption2 =
}}
Các [[tên miền]] ''wikipedia.com'' và ''wikipedia.org'' lần lượt được đăng ký vào ngày 12 tháng 1 năm 2001,<ref>{{Chú thích web |url=http://www.networksolutions.com/whois/results.jsp?domain=wikipedia.com|tựa đề=WHOIS domain registration information results for wikipedia.com from Network Solutions|ngày=ngày 27 tháng 9 năm 2007|url-status=dead|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070927193149/http://www.networksolutions.com/whois/results.jsp?domain=wikipedia.com|ngày lưu trữ=ngày 27 tháng 9 năm 2007|ngày truy cập=ngày 31 tháng 8 năm 2018|ngôn ngữ=en}}</ref> và [[13 tháng 1|ngày 13 tháng 1]] năm 2001.<ref>{{Chú thích web |url=http://www.networksolutions.com/whois/results.jsp?domain=wikipedia.org |tựa đề=WHOIS domain registration information results for wikipedia.org from Network Solutions|ngày=ngày 27 tháng 9 năm 2007|url-status=dead|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070927194913/http://www.networksolutions.com/whois/results.jsp?domain=wikipedia.org|ngày lưu trữ=ngày 27 tháng 9 năm 2007|ngày truy cập=ngày 31 tháng 8 năm 2018|ngôn ngữ=en}}</ref> Wikipedia ra mắt vào [[15 tháng 1|ngày 15 tháng 1]] năm 2001<ref name="KockJungSyn2016"/> dưới dạng một ấn bản bằng ngôn ngữ tiếng Anh duy nhất tại www.wikipedia.com.<ref name="WikipediaHome">{{chú thích web|title=Trang chủ của Wikipedia|url=http://www.wikipedia.com/|website=Lưu trữ từ trang chủ của Wikipedia|publisher=31 tháng 1 năm 2001|access-date=ngày 17 tháng 1 năm 2021|archive-date=2001-03-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20010331173908/http://www.wikipedia.com/|url-status=bot: unknown}}</ref> Cái tên "Wikipedia" là do Sanger ghép từ "[[wiki]]" và "encyclopedia" (bách khoa toàn thư).<ref name="Miliard">{{chú thích web|last1=Miliard|first1=Mike|title=Feature - Wikipediots: Who are these devoted, even obsessive contributors to Wikipedia?|url=https://www.cityweekly.net/utah/feature-wikipediots-who-are-these-devoted-even-obsessive-contributors-to-wikipedia/Content?oid=2131674|website=Salt Lake City Weekly|publisher=20 tháng 2 năm 2008|access-date=ngày 16 tháng 1 năm 2021|ngôn ngữ=en|archive-date=2018-05-05|archive-url=https://web.archive.org/web/20180505115342/https://www.cityweekly.net/utah/feature-wikipediots-who-are-these-devoted-even-obsessive-contributors-to-wikipedia/Content?oid=2131674|url-status=live}}</ref><ref name="Sidener">{{chú thích web|last1=Sidener|first1=Jonathan|title=Wikipedia family feud rooted in San Diego|url=http://legacy.sandiegouniontribune.com/news/tech/personaltech/20061009-9999-mz1b9wikiped.html|website=Lưu trữ từ Union-Tribune|publisher=9 tháng 10 năm 2006|access-date=ngày 16 tháng 1 năm 2021|ngôn ngữ=en|archive-date=2016-11-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20161111074945/http://legacy.sandiegouniontribune.com/news/tech/personaltech/20061009-9999-mz1b9wikiped.html|url-status=bot: unknown}}</ref> Sanger công bố sự kiện này trên danh sách gửi thư Nupedia. Chính sách "quan điểm trung lập" của Wikipedia<ref name="NPOV">{{Srlink|Wikipedia:Quan điểm trung lập}}</ref> được hệ thống hóa trong vài tháng đầu. Ban đầu Wikipedia có tương đối ít quy tắc và hoạt động độc lập với [[Nupedia]].<ref name="SangerMemoir" /> Bomis vốn định biến Wikipedia thành một doanh nghiệp để kiếm lời.<ref name="Seth-Finkelstein">{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/technology/2008/sep/25/wikipedia.internet|title=Read me first: Wikipedia isn't about human potential, whatever Wales says|last=Finkelstein, Seth|date=ngày 25 tháng 9 năm 2008|work=[[The Guardian]]|location=Luân Đôn|ngôn ngữ=en|access-date=2021-01-02|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132800/https://www.theguardian.com/technology/2008/sep/25/wikipedia.internet+|url-status=live}}</ref>
[[Tập tin:WikipediaHomePage30March2001.png|nhỏ|phải|300px|Wikipedia tiếng Anh vào [[30 tháng 3|ngày 30 tháng 3]] năm 2001, hai [[tháng]] rưỡi sau khi được thành lập.]]
Những thành viên đóng góp thuở đầu của Wikipedia đến từ Nupedia, những tin nhắn tại [[Slashdot]] và các [[Máy truy tìm dữ liệu|kết quả tìm kiếm]]. Các ấn bản ngôn ngữ cũng được tạo ra và lên đến 161 phiên bản vào cuối [[2004|năm 2004]].<ref name="WP early language stats 1">{{Chú thích web|url=https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Multilingual_statistics|tựa đề=Multilingual statistics|ngày=ngày 30 tháng 3 năm 2005|website=Wikipedia|ngày truy cập=ngày 26 tháng 12 năm 2008|ngôn ngữ=en|archive-date=2021-01-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20210104003735/https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Multilingual_statistics|url-status=live}}</ref> Nupedia và Wikipedia hoạt động song song cho đến khi các máy chủ cũ của Nupedia bị gỡ bỏ vĩnh viễn vào năm 2003 và cả nội dung của Nupedia được tích hợp vào Wikipedia. [[9 tháng 9|Ngày 9 tháng 9]] [[2007|năm 2007]], Wikipedia tiếng Anh vượt mốc hai triệu bài viết để trở thành bách khoa toàn thư lớn nhất từng được tập hợp, vượt qua ''[[Vĩnh Lạc đại điển]]'' được tạo ra dưới thời [[nhà Minh]] [[1408|năm 1408]] (từng giữ kỷ lục này gần 600 [[năm]]).<ref name="EB_encyclopedia">{{chú thích sách |title=Encyclopedias and Dictionaries|work=Encyclopædia Britannica|date=2007|pages=257-286|edition=15|volume=18}}</ref>
Do lo ngại [[Quảng cáo|quảng cáo thương mại]] có thể ảnh hưởng đến dự án và thiếu quyền hạn bảo quản tại [[Danh sách Wikipedia|Wikipedia]], nhiều thành viên [[Wikipedia tiếng Tây Ban Nha]] tách khỏi Wikipedia để tạo ra bách khoa toàn thư [[Enciclopedia Libre Universal en Español|Enciclopedia Libre]] vào [[Tháng hai|tháng 2]] [[2002|năm 2002]].<ref name="EL fears and start 1">{{Chú thích web |url=http://osdir.com/ml/science.linguistics.wikipedia.international/2003-03/msg00008.html|tựa đề=[long] Enciclopedia Libre: msg#00008|website=Osdir|url-status=dead|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20081006065927/http://osdir.com/ml/science.linguistics.wikipedia.international/2003-03/msg00008.html|ngày lưu trữ=ngày 6 tháng 10 năm 2008|ngày truy cập=ngày 26 tháng 12 năm 2008|ngôn ngữ=en}}</ref> Cùng năm, Wales thông báo rằng Wikipedia sẽ không hiển thị [[quảng cáo]] và trang web được đổi tên miền sang ''wikipedia.org''.<ref name="Shirky">{{chú thích sách|last1=Clay|first1=Shirky|title=Here Comes Everybody: The Power of Organizing Without Organization|url=https://archive.org/details/herecomeseverybo0000shir/page/273/mode/2up|date=2008|publisher=The Penguin Press via Amazon Online Reader|isbn=978-1-59420-153-0|page=273|access-date = ngày 17 tháng 1 năm 2021}}</ref> [[MediaWiki|Brion Vibber]] áp dụng các thay đổi này vào [[15 tháng 8|ngày 15 tháng 8]] năm 2002.<ref>{{Chú thích web|url=https://lists.wikimedia.org/pipermail/wikipedia-l/2002-August/003982.html|tựa đề=Brion VIBBER at pobox.com|tác giả=Vibber|tên=Brion|ngày=ngày 16 tháng 8 năm 2002|website=[[Wikimedia]]|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20140620071550/https://lists.wikimedia.org/pipermail/wikipedia-l/2002-August/003982.html|ngày lưu trữ=ngày 20 tháng 6 năm 2014|ngày truy cập=ngày 8 tháng 12 năm 2020|ngôn ngữ=en}}</ref>
Từ Wikipedia và Nupedia, [[Wikimedia Foundation|Quỹ Hỗ trợ Wikipedia]] được thành lập ngày [[20 tháng 6]] năm [[2003]].<ref name="Wikimedia">Wales, James. "[http://mail.wikipedia.org/pipermail/wikipedia-l/2003-June/010690.html Giới thiệu Quỹ Hỗ trợ Wikimedia] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20051114082611/http://mail.wikipedia.org/pipermail/wikipedia-l/2003-June/010690.html |date=2005-11-14 }}". 20 tháng 6 năm 2003. [mailto:wikipedia-l@wikipedia.org wikipedia-l@wikipedia.org].</ref> Từ đó đến nay, Wikipedia cùng các dự án liên quan đều thuộc [[tổ chức phi lợi nhuận]] này. Dự án liên quan đầu tiên của Wikipedia, "Kỷ niệm: Wiki [[11 tháng 9]]", được thành lập vào tháng 10 năm 2002 để kể về những [[Sự kiện 11 tháng 9|Tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9]]; dự án từ điển [[Wiktionary]] mở cửa vào tháng 12 năm 2002; bộ sưu tập danh ngôn [[Wikiquote]], một tuần sau khi Wikimedia được thành lập; và thư viện mở [[Wikibooks]], tháng sau; cũng như các dự án khác.<ref>{{Chú thích web|url=https://hmn.wiki/vi/Wikipedia:Wikimedia_sister_projects|tựa đề=Wikipedia:Các dự án chị em của Wikimedia|url-status=live|ngày lưu trữ=2023-08-04|ngày truy cập=2023-08-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20230804074527/https://hmn.wiki/vi/Wikipedia:Wikimedia_sister_projects}}</ref>
Mặc dù Wikipedia tiếng Anh đạt ba triệu bài vào [[Tháng tám|tháng 8]] [[2009|năm 2009]], nhưng nếu xét về số lượng bài mới và số người đóng góp thì dường như sự phát triển của phiên bản tiếng Anh lại đạt đỉnh khoảng đầu [[2007|năm 2007]].<ref name="guardian WP user peak 1">{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/technology/2009/aug/12/wikipedia-deletionist-inclusionist|title=Wikipedia approaches its limits|last=Bobbie Johnson|date=ngày 12 tháng 8 năm 2009|work=The Guardian|access-date=ngày 31 tháng 3 năm 2010|location=Luân Đôn|ngôn ngữ=en|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132759/https://www.theguardian.com/technology/2009/aug/12/wikipedia-deletionist-inclusionist+|url-status=live}}</ref> [[2006|Năm 2006]], mỗi ngày bách khoa toàn thư có khoảng 1.800 bài viết mới; đến [[2013|năm 2013]] mức trung bình đó là khoảng 800.<ref name="WP growth modelling 1">{{Srlink|:en:Wikipedia:Modelling_Wikipedia_extended_growth|Mô hình tăng trưởng của Wikipedia (tiếng Anh)}}</ref> Một nhóm nghiên cứu tại [[Xerox PARC|Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto]] cho rằng tốc độ tăng trưởng chậm lại này là do tính độc quyền ngày càng tăng của dự án và xu hướng cưỡng lại sự thay đổi.<ref name="wikisym slowing growth 1">{{cite conference |url = http://www.wikisym.org/ws2009/procfiles/p108-suh.pdf |title = The Singularity is Not Near: Slowing Growth of Wikipedia |year = 2009 |location = Orlando, Florida |conference = The International Symposium on Wikis |url-status=dead |archive-url = https://web.archive.org/web/20110511110022/http://www.wikisym.org/ws2009/procfiles/p108-suh.pdf |archive-date = ngày 11 tháng 5 năm 2011}}</ref> Những người khác cho rằng sự phát triển đang đi ngang một cách tự nhiên bởi vì các bài viết thuộc chủ đề rõ ràng đủ nổi bật đều được tạo và có nội dung rồi.<ref name="bostonreview the end of WP 1">{{cite magazine|author=Evgeny Morozov|date=November–December 2009|title=Edit This Page; Is it the end of Wikipedia|url=https://bostonreview.net/books-ideas/edit-page-wikipedia-evgeny-morozov|archive-url=https://web.archive.org/web/20191211050926/http://bostonreview.net/books-ideas/edit-page-wikipedia-evgeny-morozov|archive-date=ngày 11 tháng 12 năm 2019|magazine=Boston Review|url-status=live|ngôn ngữ=en}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=https://www.nytimes.com/2009/03/29/weekinreview/29cohen.html|title=Wikipedia – Exploring Fact City|last=Cohen|first=Noam|date=ngày 28 tháng 3 năm 2009|work=The New York Times|access-date=ngày 19 tháng 4 năm 2011|ngôn ngữ=en|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132801/https://www.nytimes.com/2009/03/29/weekinreview/29cohen.html%20|url-status=live}}</ref><ref name="stanford WP lack of future growth 1">{{Chú thích tạp chí|last=Gibbons|first=Austin|last2=Vetrano|first2=David|last3=Biancani|first3=Susan|year=2012|title=Wikipedia: Nowhere to grow|url=https://snap.stanford.edu/class/cs341-2012/reports/09-GibbonsVetranoBiancaniCS341.pdf|archive-url=https://web.archive.org/web/20140718091331/http://snap.stanford.edu/class/cs341-2012/reports/09-GibbonsVetranoBiancaniCS341.pdf|archive-date=ngày 18 tháng 7 năm 2014|ngôn ngữ=en}} {{Open access}}</ref>
[[Tháng mười một|Tháng 11]] [[2009|năm 2009]], một nhà nghiên cứu tại Đại học Rey Juan Carlos ở [[Madrid]] phát hiện Wikipedia tiếng Anh đã mất đi 49.000 biên tập viên trong ba tháng đầu năm 2009, so với việc mất đi 4.900 biên tập viên trong cùng kỳ năm 2008.<ref name="guardian editors leaving 1">{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/technology/2009/nov/26/wikipedia-losing-disgruntled-editors|title=Wikipedia falling victim to a war of words|last=Jenny Kleeman|date=ngày 26 tháng 11 năm 2009|work=The Guardian|access-date=ngày 31 tháng 3 năm 2010|location=Luân Đôn|ngôn ngữ=en|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132806/https://www.theguardian.com/technology/2009/nov/26/wikipedia-losing-disgruntled-editors+|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí|title=Wikipedia: A quantitative analysis|url=http://libresoft.es/publications/thesis-jfelipe|format=PDF|archive-url=https://web.archive.org/web/20120403172516/http://libresoft.es/publications/thesis-jfelipe|archive-date=ngày 3 tháng 4 năm 2012|ngôn ngữ=en}}</ref> ''[[The Wall Street Journal]]'' cho rằng một trong những lý do chính là một loạt các quy tắc được áp dụng cho việc biên tập và các tranh chấp liên quan đến nội dung.<ref name="WSJ WP losing editors 1">Volunteers Log Off as Wikipedia Ages, The Wall Street Journal, ngày 27 tháng 11 năm 2009.</ref> Wales phản bác những tuyên bố này vào năm 2009, phủ nhận sự suy giảm đồng thời nghi vấn phương pháp luận của nghiên cứu trên.<ref name="telegraph Wales WP not losing editors 1">{{Chú thích báo|url=https://www.telegraph.co.uk/technology/wikipedia/6660646/Wikipedias-Jimmy-Wales-denies-site-is-losing-thousands-of-volunteer-editors.html|title=Wikipedia's Jimmy Wales denies site is 'losing' thousands of volunteer editors|last=Barnett|first=Emma|date=ngày 26 tháng 11 năm 2009|work=The Daily Telegraph|access-date=ngày 31 tháng 3 năm 2010|location=London|ngôn ngữ=en|archive-date=2018-11-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181126141126/https://www.telegraph.co.uk/technology/wikipedia/6660646/Wikipedias-Jimmy-Wales-denies-site-is-losing-thousands-of-volunteer-editors.html|url-status=live}}</ref> Hai năm sau (2011), Wales thừa nhận một sự suy giảm nhẹ, từ "nhiều hơn 36.000 biên tập viên một chút" vào [[tháng 6 năm 2010]] xuống còn 35.800 vào [[tháng 6 năm 2011]], đồng thời tuyên bố số lượng biên tập viên là "ổn định và bền vững".<ref name="wiki-women2">{{Chú thích báo|url=https://www.independent.co.uk/life-style/gadgets-and-tech/news/wikipedia-seeks-women-to-balance-its-geeky-editors-2333605.html|title=Wikipedia seeks women to balance its 'geeky' editors|last=Kevin Rawlinson|date=ngày 8 tháng 8 năm 2011|work=The Independent|access-date=ngày 5 tháng 4 năm 2012|ngôn ngữ=en|archive-date=2020-11-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20201115185652/https://www.independent.co.uk/life-style/gadgets-and-tech/news/wikipedia-seeks-women-to-balance-its-geeky-editors-2333605.html|url-status=live}}</ref> Bài báo "Sự suy tàn của Wikipedia" năm 2013 trên ''[[MIT Technology Review|Technology Review]]'' (Tạp chí Công nghệ) của MIT đặt câu hỏi về tuyên bố này và tiết lộ rằng, kể từ năm 2007, Wikipedia đã mất đi một phần ba số biên tập viên tình nguyện, những người ở lại Wikipedia thì ngày càng tập trung vào những điều vụn vặt.<ref name="Simonite-20133">{{Chú thích tạp chí|last=Simonite|first=Tom|date=ngày 22 tháng 10 năm 2013|title=The Decline of Wikipedia|url=https://www.technologyreview.com/2013/10/22/175674/the-decline-of-wikipedia/|journal=[[MIT Technology Review]]|access-date=ngày 30 tháng 11 năm 2013|ngôn ngữ=en|archive-date=2022-07-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20220731083716/https://www.technologyreview.com/2013/10/22/175674/the-decline-of-wikipedia/}}</ref> [[Tháng 7 năm 2012]], ''[[The Atlantic]]'' báo cáo rằng số lượng [[Quản trị viên cơ sở dữ liệu|quản trị viên]] Wikipedia cũng đang giảm dần.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.theatlantic.com/technology/archive/2012/07/3-charts-that-show-how-wikipedia-is-running-out-of-admins/259829|title=3 Charts That Show How Wikipedia Is Running Out of Admins|date=ngày 16 tháng 7 năm 2012|work=The Atlantic|ngôn ngữ=en|access-date=2021-01-02|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132809/https://www.theatlantic.com/technology/archive/2012/07/3-charts-that-show-how-wikipedia-is-running-out-of-admins/259829%20|url-status=live}}</ref> Trong số ra [[25 tháng 11|ngày 25 tháng 11]] năm 2013 của tạp chí ''[[New York (định hướng)|New York]]'', Katherine Ward cho biết "Wikipedia, trang web được sử dụng nhiều thứ sáu toàn cầu, đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng nội bộ".<ref>Ward, Katherine. ''New York'' Magazine, issue of ngày 25 tháng 11 năm 2013, p. 18.</ref>
=== Các cột mốc ===
[[Tập tin:European Wikipedias article count 2019 map.svg|nhỏ|Bản đồ hiển thị số lượng bài viết của từng [[ngôn ngữ]] [[Châu Âu]] tính đến tháng 1 [[2019|năm 2019]]. Một [[hình vuông]] đại diện cho 10.000 bài viết. Các ngôn ngữ có ít hơn 10.000 bài viết được thể hiện bằng một ô vuông. Các ngôn ngữ được nhóm theo ngữ hệ và mỗi [[ngữ hệ]] được trình bày bằng một [[Màu sắc|màu]] riêng biệt.]]
[[Tháng 1 năm 2007]] là lần đầu tiên Wikipedia lọt vào [[Danh sách những website phổ biến nhất|danh sách 10 trang web phổ biến nhất]] ở Mỹ, theo comScore Networks. Với 42,9 triệu lượt người truy cập, Wikipedia đứng vị trí thứ 9, vượt qua ''[[The New York Times]]'' (hạng 10) và [[Apple Inc.|Apple]] (hạng 11), gia tăng đáng kể so với tháng 1 năm 2006 (hạng 33), tức Wikipedia nhận được khoảng 18,3 triệu người truy cập.<ref>{{cite magazine|date=ngày 17 tháng 2 năm 2007|title=Wikipedia Breaks Into US Top 10 Sites|url=http://www.pcworld.com/article/129135/wikipedia_breaks_into_us_top_10_sites.html|magazine=PCWorld|ngôn ngữ=en|journal=|access-date = ngày 2 tháng 1 năm 2021 |archive-date = ngày 26 tháng 12 năm 2018 |archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132807/https://www.pcworld.com/article/129135/wikipedia_breaks_into_us_top_10_sites.html%20}}</ref> {{Tính đến|2020|March}}, theo [[Alexa Internet]], Wikipedia có thứ hạng 13 trong số các trang web về mức độ phổ biến.<ref name="Alexa siteinfo">{{chú thích web|title=Wikipedia.ord Traffic, Demographics and Competitors|url=https://www.alexa.com/siteinfo/wikipedia.org|website=www.alexa.com|access-date=ngày 16 tháng 1 năm 2021|archive-date=2020-08-25|archive-url=https://web.archive.org/web/20200825070245/https://www.alexa.com/siteinfo/wikipedia.org|url-status=dead}}</ref> [[2014|Năm 2014]], Wikipedia có tám tỷ lượt xem trang mỗi tháng.<ref>{{Chú thích web|url=http://stats.wikimedia.org/wikimedia/squids/SquidReportPageViewsPerCountryOverview.htm|tựa đề=Wikimedia Traffic Analysis Report – Wikipedia Page Views Per Country|nhà xuất bản=Wikimedia Foundation|ngày truy cập=ngày 8 tháng 3 năm 2015|ngôn ngữ=en|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132802/https://stats.wikimedia.org/wikimedia/squids/SquidReportPageViewsPerCountryOverview.htm%20|url-status=live}}</ref> [[9 tháng 2|Ngày 9 tháng 2]] năm 2014, ''[[The New York Times]]'' báo cáo rằng Wikipedia có 18 tỷ [[Lượt tải trang|lượt xem trang]] và gần 500 triệu người truy cập mỗi tháng, "theo công ty xếp hạng comScore".<ref name="small screen">{{chú thích báo |url = https://www.nytimes.com/2014/02/10/technology/wikipedia-vs-the-small-screen.html?_r=0 |title = Wikipedia vs. the Small Screen |work = The New York Times |date = ngày 9 tháng 2 năm 2014 |last = Cohen |first = Noam |ngôn ngữ = en |access-date = 2021-01-02 |archive-date = 2018-12-26 |archive-url = https://web.archive.org/web/20181226132757/https://www.nytimes.com/2014/02/10/technology/wikipedia-vs-the-small-screen.html?_r=0%20 |url-status = live }}</ref> Loveland và Reagle cho rằng trong cả quá trình phát triển này, Wikipedia tuân theo một truyền thống lâu đời của bách khoa toàn thư lịch sử tích lũy sự cải tiến tiến từng phần thông qua "tích lũy kỳ thị".<ref name="sagepub WP and encyclopedic production 1">{{chú thích tạp chí/Lua|author=Jeff Loveland and Joseph Reagle|date=ngày 15 tháng 1 năm 2013|title=Wikipedia and encyclopedic production|journal=New Media & Society|volume=15|issue=8|page=1294|doi=10.1177/1461444812470428|s2cid=27886998|ngôn ngữ=en}}</ref><ref name="theatlantic WP actually a reversion 1">{{Chú thích web|url=https://www.theatlantic.com/technology/archive/2013/01/what-if-the-great-wikipedia-revolution-was-actually-a-reversion/272697|tựa đề=What If the Great Wikipedia 'Revolution' Was Actually a Reversion? • The Atlantic|tác giả=Rebecca J. Rosen|ngày=ngày 30 tháng 1 năm 2013|ngày truy cập=ngày 9 tháng 2 năm 2013|ngôn ngữ=en|archive-date=2020-12-03|archive-url=https://web.archive.org/web/20201203235140/https://www.theatlantic.com/technology/archive/2013/01/what-if-the-great-wikipedia-revolution-was-actually-a-reversion/272697/|url-status=live}}</ref>
[[Tập tin:History_Wikipedia_English_SOPA_2012_Blackout2.jpg|phải|nhỏ|Màn hình đen Wikipedia phản đối [[Dự luật Đình chỉ hoạt động vi phạm bản quyền trực tuyến|SOPA]] vào ngày 18 [[tháng 1 năm 2012]]]]
Ngày 18 [[tháng 1 năm 2012]], Wikipedia tiếng Anh tham gia vào một loạt các cuộc biểu tình phối hợp chống lại hai luật được đề xuất tại [[Quốc hội Hoa Kỳ]] — [[Dự luật Đình chỉ hoạt động vi phạm bản quyền trực tuyến|Đạo luật Ngừng vi phạm bản quyền trực tuyến]] ([[Dự luật Đình chỉ hoạt động vi phạm bản quyền trực tuyến|SOPA]]) và [[Dự luật PROTECT IP|Đạo luật BẢO VỆ IP]] ([[Dự luật PROTECT IP|PIPA]]) — bằng cách [[Phản đối SOPA và PIPA|bôi đen các trang trong 24 giờ]].<ref name="LA Times Jan 19">{{Chú thích báo|url=http://latimesblogs.latimes.com/technology/2012/01/wikipedia-sopa-blackout-congressional-representatives.html|title=Wikipedia: SOPA protest led eight million to look up reps in Congress|last=Netburn|first=Deborah|date=ngày 19 tháng 1 năm 2012|work=Los Angeles Times|access-date=ngày 6 tháng 3 năm 2012|ngôn ngữ=en|archive-date=2012-09-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20120921230747/http://latimesblogs.latimes.com/technology/2012/01/wikipedia-sopa-blackout-congressional-representatives.html|url-status=live}}</ref> Hơn 162 triệu người đã đọc thấy các trang giải thích tạm thời này.<ref name="BBC WP blackout protest 1">{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/news/technology-16590585|title=Wikipedia joins blackout protest at US anti-piracy moves|date=ngày 18 tháng 1 năm 2012|work=BBC News|access-date=ngày 19 tháng 1 năm 2012|archive-date=2020-12-20|archive-url=https://web.archive.org/web/20201220043801/https://www.bbc.co.uk/news/technology-16590585|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://wikimediafoundation.org/wiki/SOPA/Blackoutpage|tựa đề=SOPA/Blackoutpage|nhà xuất bản=Wikimedia Foundation|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20180622185443/https://wikimediafoundation.org/wiki/SOPA/Blackoutpage|ngày lưu trữ=ngày 22 tháng 6 năm 2018|ngày truy cập=ngày 19 tháng 1 năm 2012|ngôn ngữ=en}}</ref>
Ngày 20 [[tháng 1 năm 2014]], báo cáo của Subodh Varma cho ''[[The Economic Times]]'' (Thời báo Kinh tế) chỉ ra rằng không chỉ sự tăng trưởng của Wikipedia bị đình trệ mà còn "mất gần 10 phần trăm lượt xem trang vào năm ngoái. Đã có sự sụt giảm khoảng hai tỷ lượt xem trong giai đoạn [[tháng 12 năm 2012]] và [[Tháng mười hai|tháng 12]] năm 2013. Các phiên bản phổ biến nhất đang dẫn đầu trang: lượt xem trang của Wikipedia tiếng Anh giảm 12[[Ký hiệu phần trăm|%]], phiên bản tiếng Đức giảm 17% và phiên bản tiếng Nhật giảm 9%." Varma cũng nói rằng "Trong khi các nhà quản lý Wikipedia nghĩ rằng đây có thể là do sai sót trong khâu đếm, các chuyên gia khác cảm thấy rằng dự án [[Google Knowledge Graph|Knowledge Graph]] (Sơ đồ Tri thức) của Google được khởi động vào năm ngoái có thể đang lấy mất người dùng Wikipedia."<ref name="economictimes.indiatimes.com">{{Chú thích báo|url=http://economictimes.indiatimes.com/articleshow/29094246.cms|title=Google eating into Wikipedia page views?|last=Varma|first=Subodh|date=ngày 20 tháng 1 năm 2014|work=The Economic Times|access-date=ngày 10 tháng 2 năm 2014|publisher=[[Times Internet Limited]]|ngôn ngữ=en|archive-date=2022-12-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20221211043545/https://economictimes.indiatimes.com/articleshow/29094246.cms|url-status=live}}</ref> Khi được liên hệ về vấn đề này, Clay Shirky, phó giáo sư tại [[Đại học New York]] và đồng nghiệp tại Trung tâm [[Internet]] & [[Xã hội]] Berkman của [[Đại học Harvard|Harvard]] cho biết rằng ông cho rằng phần lớn sự sụt giảm của số lượt xem trang là do Sơ đồ tri thức, nói rằng, "Nếu bạn có thể nhận được câu trả lời của mình từ trang tìm kiếm, bạn sẽ không cần nhấp vào [bất kỳ đường dẫn nào nữa]."<ref name="economictimes.indiatimes.com" /> Đến cuối tháng 12 năm 2016, Wikipedia được xếp hạng thứ năm trong các trang web phổ biến nhất trên toàn cầu.<ref name="Alexa">{{Chú thích web|url=http://www.alexa.com/topsites|tựa đề=Alexa Top 500 Global Sites|website=[[Alexa Internet]]|ngày truy cập=ngày 28 tháng 12 năm 2016|ngôn ngữ=en|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226070416/https://www.alexa.com/topsites%20|url-status=dead}}</ref>
Tháng 1 năm 2013, một [[274301 Wikipedia|tiểu hành tinh]] được đặt tên theo Wikipedia;<ref name="MPC82403">{{Chú thích tạp chí|title=Báo cáo của Minor Planet Center|work=Minor Planet Circular|publisher=[[Liên đoàn Thiên văn Quốc tế]]|date=ngày 27 tháng 1 năm 2013|page=82403|url=http://www.minorplanetcenter.net/iau/ECS/MPCArchive/2013/MPC_20130127.pdf|language=tiếng Anh|format=PDF|access-date=2021-01-17|archive-date=2013-05-18|archive-url=https://web.archive.org/web/20130518074319/http://www.minorplanetcenter.net/iau/ECS/MPCArchive/2013/MPC_20130127.pdf}}</ref> [[Tháng mười|tháng 10]] năm 2014, Wikipedia được vinh danh với ''[[Tượng đài Wikipedia]]'' tại thị trấn [[Słubice]], [[Ba Lan]];<ref name=telegraph>{{chú thích báo | title=Polish town to build statue honouring Wikipedia | last=Day | first=Matthew | date=ngày 10 tháng 10 năm 2014 | work=[[The Daily Telegraph]] | url=https://www.telegraph.co.uk/news/worldnews/europe/poland/11153603/Polish-town-to-build-statue-honouring-Wikipedia.html | access-date=ngày 11 tháng 10 năm 2014 | ngôn ngữ=en | archive-date=2014-10-11 | archive-url=https://web.archive.org/web/20141011191441/http://www.telegraph.co.uk/news/worldnews/europe/poland/11153603/Polish-town-to-build-statue-honouring-Wikipedia.html | url-status=live }}</ref> và [[Tháng bảy|tháng 7]] [[2015|năm 2015]], 106 trong số 7.473 tập 700 trang của Wikipedia được in thành sách giấy (một phần của dự án [[Print Wikipedia]]). Năm 2019, một loài thực vật có hoa được đặt tên là ''[[Viola angustifolia|Viola wikipedia]]''.<ref name="Watson">{{Chú thích tạp chí|last=Watson|first=J.M.|year=2019|title=Lest we forget. A new identity and status for a ''Viola'' of section Andinium W. Becker; named for an old and treasured friend and companion. Plus another... |url=http://www.srgc.org.uk/logs/logdir/2019Sep261569525649IRG117.pdf |journal=International Rock Gardener|issue=117|pages=47–|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20191001153437/http://www.srgc.org.uk/logs/logdir/2019Sep261569525649IRG117.pdf|archive-date=ngày 1 tháng 10 năm 2019|access-date =ngày 6 tháng 10 năm 2019|ngôn ngữ=en}}</ref> Tháng 4 năm 2019, một tàu đổ bộ mặt trăng của [[Israel]], [[Beresheet]], đã rơi xuống bề mặt [[Mặt Trăng]] mang theo một bản sao của gần như toàn bộ Wikipedia tiếng Anh được khắc trên các tấm niken mỏng; các chuyên gia nói rằng những chiếc đĩa này có khả năng sống sót sau vụ va chạm.<ref name="WRD-20190805">{{Chú thích báo|url=https://www.wired.com/story/a-crashed-israeli-lunar-lander-spilled-tardigrades-on-the-moon/|title=A Crashed Israeli Lunar Lander Spilled Tardigrades On The Moon|last=Oberhaus|first=Daniel|date=ngày 5 tháng 8 năm 2019|work=[[Wired (tạp chí)|Wired]]|access-date=ngày 6 tháng 8 năm 2019|ngôn ngữ=en|archive-date=2020-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20200430113813/https://www.wired.com/story/a-crashed-israeli-lunar-lander-spilled-tardigrades-on-the-moon/|url-status=live}}</ref><ref name="VOX-20190806">{{Chú thích báo|url=https://www.vox.com/science-and-health/2019/8/6/20756844/tardigrade-moon-beresheet-arch-mission|title=Tardigrades, the toughest animals on Earth, have crash-landed on the moon – The tardigrade conquest of the solar system has begun.|last=Resnick|first=Brian|date=ngày 6 tháng 8 năm 2019|work=[[Vox (website)|Vox]]|access-date=ngày 6 tháng 8 năm 2019|ngôn ngữ=en|archive-date=2019-11-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20191129050220/https://www.vox.com/science-and-health/2019/8/6/20756844/tardigrade-moon-beresheet-arch-mission|url-status=live}}</ref> [[Tháng sáu|Tháng 6]] năm 2019, các nhà khoa học đã báo cáo rằng toàn bộ 16 [[Gigabyte|GB]] văn bản bài viết của Wikipedia tiếng Anh đã được mã hóa thành một [[DNA]] tổng hợp.<ref name="CNET-20190629">{{Chú thích báo|url=https://www.cnet.com/news/startup-packs-all-16gb-wikipedia-onto-dna-strands-demonstrate-new-storage-tech/|title=Startup packs all 16GB of Wikipedia onto DNA strands to demonstrate new storage tech – Biological molecules will last a lot longer than the latest computer storage technology, Catalog believes.|last=Shankland|first=Stephen|date=ngày 29 tháng 6 năm 2019|work=[[CNET]]|access-date=ngày 7 tháng 8 năm 2019|ngôn ngữ=en|archive-date=2021-01-14|archive-url=https://web.archive.org/web/20210114100714/https://www.cnet.com/news/startup-packs-all-16gb-wikipedia-onto-dna-strands-demonstrate-new-storage-tech/|url-status=live}}</ref>
== Tính mở ==
Không giống như các bách khoa toàn thư truyền thống, Wikipedia tuân theo nguyên tắc [[trì hoãn]]<ref group="note">Nguyên tắc trì hoãn có nghĩa là chờ cho đến khi rắc rối nảy sinh rồi mới giải quyết chúng.</ref> về tính bảo mật của nội dung.<ref name="zittrain">{{Chú thích sách|url=https://archive.org/details/futureofinternet00zitt|title=The Future of the Internet and How to Stop It – Chapter 6: The Lessons of Wikipedia|last=Zittrain|first=Jonathan|publisher=Yale University Press|year=2008|isbn=978-0-300-12487-3|author-link=Jonathan Zittrain|access-date =ngày 26 tháng 12 năm 2008|ngôn ngữ=en}}</ref><!-- Nó bắt đầu gần như hoàn toàn mở — ai cũng có thể tạo bài và độc giả nào cũng có thể chỉnh sửa các bài viết trên Wikipedia, ngay cả những người không có tài khoản Wikipedia. Các sửa đổi cho tất cả các bài viết sẽ được xuất bản ngay lập tức. Do đó, bất kỳ bài viết nào cũng có thể chứa những điểm không chính xác như sai sót, [[Thành kiến ý tưởng trên Wikipedia|thành kiến tư tưởng]] và văn bản vô nghĩa hoặc không liên quan.-->
=== Hạn chế sửa đổi ===
[[Tập tin:Wikipedia_editing_interface.png|phải|nhỏ|Giao diện chỉnh sửa mã nguồn của Wikipedia.]]
Do Wikipedia ngày càng trở nên phổ biến, một số phiên bản, bao gồm cả phiên bản tiếng Anh, đã đưa ra các hạn chế sửa đổi trong một số trường hợp, chẳng hạn như chỉ người dùng đã đăng ký mới có thể tạo một bài viết mới.<ref>{{Srlink|:en:Wikipedia:Tutorial/Registration|Registration notes (bằng tiếng Anh)}}</ref> Một số bài đặc biệt gây tranh cãi, nhạy cảm hoặc dễ bị phá hoại trên [[Wikipedia tiếng Anh]] và một số phiên bản khác đều được bảo vệ ở một mức độ nào đó.<ref name="WP protection policy 1">{{Srlink|:en:Wikipedia:Protection policy|Quy định khóa trang của Wikipedia tiếng Anh}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=https://www.nytimes.com/2006/06/17/technology/17wiki.html|title=Growing Wikipedia Refines Its 'Anyone Can Edit' Policy|last=Hafner|first=Katie|date=ngày 17 tháng 6 năm 2006|work=The New York Times|access-date=ngày 5 tháng 12 năm 2016|ngôn ngữ=en|archive-date=2020-11-27|archive-url=https://web.archive.org/web/20201127014953/https://www.nytimes.com/2006/06/17/technology/17wiki.html|url-status=live}}</ref> Một bài viết thường xuyên bị [[Phá hoại trên Wikipedia|phá hoại]] có thể bị [[Wikipedia:Quy định khóa trang|bán khóa]] hoặc giới hạn cho các thành viên xác nhận mở rộng, có nghĩa là chỉ những ai đã có quyền [[Wikipedia:Quyền truy cập của thành viên|xác nhận tự động]] hoặc [[Wikipedia:Quyền truy cập của thành viên|xác nhận mở rộng]] mới có thể sửa đổi nó.<ref>[[Wikipedia:Protection policy|Quy định khóa trang của Wikipedia tiếng Anh]]</ref> Bài viết nào thường xuyên gây tranh cãi có thể bị khóa ở mức chỉ có quản trị viên mới biên tập được bài.<ref>{{Srlink|:en:Wikipedia:Protection policy#Full protection|Quy định khóa trang của Wikipedia tiếng Anh (bằng tiếng Anh)}}</ref>
Trong một số trường hợp nhất định, tất cả các biên tập viên được phép đề nghị các sửa đổi, nhưng một số biên tập viên khác phải xem xét lại, tùy thuộc vào các điều kiện nhất định. Ví dụ: [[Wikipedia tiếng Đức]] duy trì "phiên bản ổn định" của các bài viết,<ref name="WP some sites stable versions 12">{{Chú thích danh sách thư|url=https://lists.wikimedia.org/pipermail/wikide-l/2008-December/021594.html|title=Bericht Gesichtete Versionen|access-date=ngày 15 tháng 2 năm 2009|ngôn ngữ=de|archive-date=2014-06-22|archive-url=https://web.archive.org/web/20140622083323/http://lists.wikimedia.org/pipermail/wikide-l/2008-December/021594.html|url-status=live}}</ref> đã qua một số đánh giá nhất định. Sau các thử nghiệm kéo dài và thảo luận cộng đồng, Wikipedia tiếng Anh đã giới thiệu hệ thống "các thay đổi đang chờ được xử lý" vào tháng 12 năm 2012.<ref name="BInsider pending changes intro 1">{{Chú thích báo|url=http://www.businessinsider.com/pending-changes-safeguard-on-wikipedia-2012-12|title=Wikipedia Has Figured Out A New Way To Stop Vandals In Their Tracks|last=William Henderson|date=ngày 10 tháng 12 năm 2012|work=Business Insider|ngôn ngữ=en|access-date=2021-01-02|archive-date=2020-10-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20201031150702/https://www.businessinsider.com/pending-changes-safeguard-on-wikipedia-2012-12|url-status=live}}</ref> Theo hệ thống này, tại một số bài viết dễ gây tranh cãi hoặc dễ bị phá hoại, các sửa đổi của người dùng mới và chưa đăng ký sẽ được thành viên có uy tín xét duyệt trước khi chúng được xuất bản.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.com/news/10312095|title=Wikipedia unlocks divisive pages for editing|last=Frewin|first=Jonathan|date=ngày 15 tháng 6 năm 2010|work=BBC News|access-date=ngày 21 tháng 8 năm 2014|ngôn ngữ=en|archive-date=2021-01-24|archive-url=https://web.archive.org/web/20210124191826/https://www.bbc.com/news/10312095|url-status=live}}</ref>
=== Xét duyệt các thay đổi ===
[[Tập tin:History_Comparison_Example_(Vector).png|nhỏ|Sự khác biệt giữa các phiên bản của một bài viết được đánh dấu.]]
Mặc dù các thay đổi không được xem xét một cách có hệ thống, phần mềm hỗ trợ Wikipedia cung cấp các công cụ nhất định cho phép bất kỳ ai cũng có thể xem xét các thay đổi do người khác thực hiện. Trang "Lịch sử" của mỗi bài viết liên kết đến mỗi bản sửa đổi.<ref group="note">Những sửa đổi với nội dung phỉ báng, đe dọa hình sự, hay vi phạm bản quyền có thể bị xóa khỏi lịch sử.</ref> Trên hầu hết các bài viết, bất kỳ ai cũng có thể hoàn tác các thay đổi của người khác bằng cách nhấp vào liên kết trên trang lịch sử của bài viết. Ai cũng có thể xem các [[Trợ giúp:Thay đổi gần đây|thay đổi mới nhất]] của các bài viết và ai cũng có thể duy trì một [[Wiki|"danh sách theo dõi"]] các bài viết mà họ quan tâm để nhận thông báo về các thay đổi liên quan. "Tuần tra các trang mới" là một quá trình để kiểm tra các bài viết mới tạo.<ref>[[Wikipedia:New pages patrol]]</ref>
Năm 2003, nghiên cứu sinh Tiến sĩ kinh tế học Andrea Ciffolilli lập luận rằng [[chi phí giao dịch]] thấp khi tham gia vào một [[wiki]] tạo ra chất xúc tác cho sự phát triển hợp tác và các tính năng như cho phép dễ dàng truy cập các phiên bản trước đây của một trang có lợi cho việc "xây dựng sáng tạo" hơn "phá hủy sáng tạo".<ref name="FMonday collaborative effort 1">Andrea Ciffolilli, [http://firstmonday.org/article/view/1108/1028 "Phantom authority, self-selective recruitment, and retention of members in virtual communities: The case of Wikipedia"] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20161206104747/http://firstmonday.org/article/view/1108/1028|date=ngày 6 tháng 12 năm 2016}}, ''[[First Monday (journal)|First Monday]]'' December 2003.</ref>
=== Phá hoại ===
{{Main|Phá hoại trên Wikipedia}}
[[Tập tin:John_Seigenthaler_Sr._speaking.jpg|thế=White-haired elderly gentleman in suit and tie speaks at a podium.|nhỏ|Nhà báo người Mỹ [[John Seigenthaler, Sr.|John Seigenthaler]] ([[1927]]–2014), chủ đề của vụ Wikipedia viết sai tiểu sử của Seigenthaler.]]
Bất kỳ thay đổi hoặc chỉnh sửa nào nhằm thao túng nội dung để tổn hại đến tính toàn vẹn của Wikipedia đều được coi là hành vi phá hoại. Các kiểu phá hoại phổ biến và rõ ràng nhất bao gồm thêm vào các lời tục tĩu hay hài hước thô thiển, quảng cáo và các loại [[thư rác]] khác;<ref name="upenn link spamming 1">{{cite conference |last1 = West |first1 = Andrew G. |last2 = Chang |first2 = Jian |last3 = Venkatasubramanian |first3 = Krishna |last4 = Sokolsky |first4 = Oleg |last5 = Lee |first5 = Insup |title = Link Spamming Wikipedia for Profit |conference = 8th Annual Collaboration, Electronic Messaging, Anti-Abuse, and Spam Conference |pages = 152–161 |date = 2011 |url = http://repository.upenn.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1508&context=cis_papers |doi = 10.1145/2030376.2030394 |ngôn ngữ = en |access-date = 2021-01-10 |archive-date = 2021-03-06 |archive-url = https://web.archive.org/web/20210306020130/https://repository.upenn.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1508&context=cis_papers |url-status = live }}</ref> hoặc phá hoại bằng cách xóa một phần nội dung hoặc xóa trắng cả trang. Cũng có các loại phá hoại ít phổ biến hơn, chẳng hạn như thêm thông tin sai lệch vào bài viết, thay đổi [[Định dạng tập tin|định dạng]] chuẩn, sửa đổi ngữ nghĩa của trang như tiêu đề hoặc thể loại của trang, nghịch [[mã wiki]] của một bài viết hoặc sử dụng hình ảnh một cách gián đoạn.<ref name="WP vandalism manipulation 1">{{Srlink|:en:Wikipedia:Vandalism|Phá hoại trên Wikipedia tiếng Anh (bằng tiếng Anh)}}. ''Wikipedia''. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2012.</ref>
Các phá hoại hiển nhiên thường dễ bị xóa khỏi các bài viết trên Wikipedia; thời gian trung bình để phát hiện và khắc phục phá hoại là vài phút.<ref name="MIT_IBM_study">{{chú thích sách/Lua|author = Fernanda B. Viégas |author2 = Martin Wattenberg |author3 = Kushal Dave |url = http://alumni.media.mit.edu/~fviegas/papers/history_flow.pdf |archive-url = https://web.archive.org/web/20060125025047/http://alumni.media.mit.edu/~fviegas/papers/history_flow.pdf |archive-date = ngày 25 tháng 1 năm 2006 |title = Studying Cooperation and Conflict between Authors with History Flow Visualizations |journal = Proceedings of the ACM Conference on Human Factors in Computing Systems (CHI) |pages = 575–582 |year = 2004 |doi = 10.1145/985921.985953 |isbn = 978-1-58113-702-6 |s2cid = 10351688 |access-date = ngày 24 tháng 1 năm 2007|ngôn ngữ=en}}</ref><ref name="CreatingDestroyingAndRestoringValue">{{chú thích tạp chí/Lua|author = Reid Priedhorsky |author2 = Jilin Chen |author3 = Shyong (Tony) K. Lam |author4 = Katherine Panciera |author5 = Loren Terveen |author6 = John Riedl |title = Creating, Destroying, and Restoring Value in Wikipedia |journal = Association for Computing Machinery GROUP '07 Conference Proceedings; GroupLens Research, Department of Computer Science and Engineering, University of Minnesota |date = ngày 4 tháng 11 năm 2007 |url = http://www-users.cs.umn.edu/~reid/papers/group282-priedhorsky.pdf |access-date = ngày 13 tháng 10 năm 2007 |url-status=dead |archive-url = https://web.archive.org/web/20071025080718/http://www-users.cs.umn.edu/~reid/papers/group282-priedhorsky.pdf |archive-date = ngày 25 tháng 10 năm 2007 |df = mdy-all|ngôn ngữ=en}}</ref> Tuy nhiên, một số phá hoại cần nhiều thời gian hơn để khắc phục.<ref name="Seigenthaler">{{chú thích báo |url = https://www.usatoday.com/news/opinion/editorials/2005-11-29-wikipedia-edit_x.htm |last = Seigenthaler |first = John |title = A False Wikipedia 'biography' |date = ngày 29 tháng 11 năm 2005 |work = USA Today |access-date = ngày 26 tháng 12 năm 2008 |ngôn ngữ = en |archive-date = 2012-01-06 |archive-url = https://web.archive.org/web/20120106225139/http://www.usatoday.com/news/opinion/editorials/2005-11-29-wikipedia-edit_x.htm |url-status = live }}</ref>
[[Tháng 5 năm 2005]], một người khuyết danh đã đưa thông tin sai lệch vào tiểu sử của chính khách Mỹ [[John Seigenthaler, Sr.|John Seigenthaler]], mạo nhận Seigenthaler là một nghi phạm trong [[vụ ám sát John F. Kennedy]], và nội dung sai này không được sửa trong bốn tháng, gây nên sự cố tiểu sử Seigenthaler. Seigenthaler – [[Giám đốc (doanh nghiệp)|giám đốc]] biên tập sáng lập của ''[[USA Today]]'', sáng lập viên của First Amendment Center (Trung tâm Tu chính án Thứ nhất) của Freedom Forum (Diễn đàn Tự do) tại [[Giáo dục bậc cao|Đại học]] [[Vanderbilt, Texas|Vanderbilt]], đã gọi điện cho đồng sáng lập Wikipedia Jimmy Wales, hỏi liệu Wales có thể tìm ra ai đã đưa thông tin sai lệch này hay không. Wales trả lời không, nhưng sau này thủ phạm đã được tìm ra.<ref name="book The World is Flat 1">{{Chú thích sách|title=The World is Flat|url=https://archive.org/details/worldisflatbrief0000frie_r7b0|last=Friedman|first=Thomas L.|publisher=[[Farrar, Straus & Giroux]]|year=2007|isbn=978-0-374-29278-2|page=[https://archive.org/details/worldisflatbrief0000frie_r7b0/page/124 124]|ngôn ngữ=en}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://archive.firstamendmentcenter.org/news.aspx?id=17798|tựa đề=Founder shares cautionary tale of libel in cyberspace|tác giả=Buchanan|tên=Brian|ngày=ngày 17 tháng 11 năm 2006|nhà xuất bản=archive.firstamendmentcenter.org|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20121221140311/http://archive.firstamendmentcenter.org/news.aspx?id=17798|ngày lưu trữ=ngày 21 tháng 12 năm 2012|ngày truy cập=ngày 17 tháng 11 năm 2012|ngôn ngữ=en}}</ref> Sau vụ việc, Seigenthaler mô tả Wikipedia là "một công cụ nghiên cứu thiếu sót và vô trách nhiệm". Sự cố này đã dẫn đến những thay đổi về chính sách tại Wikipedia, thắt chặt mức độ kiểm chứng thông tin đối với các bài viết về nhân vật còn sống.<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.businessweek.com/stories/2005-12-13/wikipedia-a-work-in-progress|title=Wikipedia: "A Work in Progress"|last=Helm|first=Burt|date=ngày 13 tháng 12 năm 2005|work=[[BusinessWeek]]|access-date =ngày 26 tháng 7 năm 2012|archive-url=https://web.archive.org/web/20120708062333/http://www.businessweek.com/stories/2005-12-13/wikipedia-a-work-in-progress|archive-date=ngày 8 tháng 7 năm 2012|ngôn ngữ=en}}</ref>
=== Tranh chấp biên tập ===
Khi tranh chấp về nội dung trong một bài viết, các thành viên có thể liên tục thực hiện các thao tác lùi sửa đổi của đối phương, được gọi là [[Wikipedia:Bút chiến|"bút chiến"]].<ref>{{Srlink|:en:Wikipedia:Dispute Resolution|Giải quyết mâu thuẫn tại Wikipedia tiếng Anh (bằng tiếng Anh)}}</ref><ref name="NBC WP editorial warzone 12">{{Chú thích báo|url=http://sys03-public.nbcnews.com/technology/wikipedia-editorial-warzone-says-study-838793|title=Wikipedia is editorial warzone, says study|last=Coldewey|first=Devin|date=ngày 21 tháng 6 năm 2012|work=[[NBC News]]|archive-url=https://archive.today/20140822010030/http://sys03-public.nbcnews.com/technology/wikipedia-editorial-warzone-says-study-838793|archive-date=ngày 22 tháng 8 năm 2014|department=Technology|ngôn ngữ=en}}</ref> Quá trình này được đánh giá là làm tiêu tốn tài nguyên mà không bổ sung kiến thức hữu ích cho bài viết,<ref>{{Chú thích tạp chí/Lua|last=Kalyanasundaram|first=Arun|last2=Wei|first2=Wei|last3=Carley|first3=Kathleen M.|last4=Herbsleb|first4=James D.|date=December 2015|title=An agent-based model of edit wars in Wikipedia: How and when is consensus reached|journal=2015 Winter Simulation Conference (WSC)|location=Huntington Beach, CA, USA|publisher=IEEE|pages=276–287|doi=10.1109/WSC.2015.7408171|isbn=9781467397438|ngôn ngữ=en}}</ref> cũng như tạo ra một nền văn hóa biên tập mang tính cạnh tranh,<ref>{{Chú thích tạp chí/Lua|last=Suh|first=Bongwon|last2=Convertino|first2=Gregorio|last3=Chi|first3=Ed H.|last4=Pirolli|first4=Peter|date=2009|title=The singularity is not near: slowing growth of Wikipedia|url=http://portal.acm.org/citation.cfm?doid=1641309.1641322|journal=Proceedings of the 5th International Symposium on Wikis and Open Collaboration – WikiSym '09|location=Orlando, Florida|publisher=ACM Press|page=1|doi=10.1145/1641309.1641322|isbn=9781605587301|doi-access=free}}</ref> dựa trên xung đột<ref>{{Chú thích báo|url=https://hbr.org/2016/06/why-do-so-few-women-edit-wikipedia|title=Why Do So Few Women Edit Wikipedia?|last=Torres|first=Nicole|date=ngày 2 tháng 6 năm 2016|work=Harvard Business Review|access-date=ngày 20 tháng 8 năm 2019|issn=0017-8012|archive-date=2020-06-17|archive-url=https://web.archive.org/web/20200617014645/https://hbr.org/2016/06/why-do-so-few-women-edit-wikipedia|url-status=live}}</ref> gắn liền với [[Thể hiện giới tính|vai trò giới tính]] [[nam tính]] truyền thống,<ref>{{chú thích tạp chí/Lua|last1=Bear |first1=Julia B. |last2=Collier |first2=Benjamin |date=March 2016 |title=Where are the Women in Wikipedia? Understanding the Different Psychological Experiences of Men and Women in Wikipedia |journal=Sex Roles |volume=74 |issue=5–6 |pages=254–265 |doi=10.1007/s11199-015-0573-y |s2cid=146452625 |issn=0360-0025}}</ref> góp phần vào sự thiên vị giới tính trên Wikipedia.
== <span id="Rules_and_laws_governing_content">Chính sách và luật lệ</span> ==
{{Phương tiện thông tin ngoài|width=220px|float=right|headerimage=[[Tập tin:Jimbo at Fosdem cropped.jpg|210px]]|video1=[https://www.cbsnews.com/news/wikipedia-jimmy-wales-morley-safer-60-minutes/ Wikimania], ''60 Minutes'', [[CBS]], 20 [[phút]], ngày [[5 tháng 4]] năm [[2015]], đồng sáng lập Jimmy Wales tại Fosdem}}
Nội dung trong Wikipedia tuân theo luật (cụ thể là luật [[Quyền tác giả|bản quyền]]) [[Hoa Kỳ]] và tiểu bang [[Virginia]], nơi đặt phần lớn máy chủ của Wikipedia. Ngoài các vấn đề pháp lý, các nguyên tắc biên tập của Wikipedia được thể hiện trong "[[Wikipedia:Năm cột trụ|Năm cột trụ]]" và trong nhiều [[Wikipedia:Danh sách quy định và hướng dẫn|quy định và hướng dẫn]] nhằm xác định nội dung một cách thích hợp. Các quy định này được ghi dưới dạng wiki, các biên tập viên của Wikipedia có thể viết và sửa đổi.<ref name="pcworld who's behind WP">{{Chú thích web|url=http://www.pcworld.idg.com.au/index.php/id;1866322157;fp;2;fpid;2|tựa đề=Who's behind Wikipedia?|ngày=ngày 6 tháng 2 năm 2008|website=PC World|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20080209110303/http://www.pcworld.idg.com.au/index.php/id%3B1866322157%3Bfp%3B2%3Bfpid%3B2|ngày lưu trữ=ngày 9 tháng 2 năm 2008|ngày truy cập=ngày 7 tháng 2 năm 2008|ngôn ngữ=en}}</ref> Các thành viên [[Wikipedia:Quy định và hướng dẫn#Các quy định được thực thi ra sao?|thực thi]] quy định bằng cách lược bỏ hoặc sửa lại các nội dung không đạt chuẩn. Quy định của các phiên bản ngôn ngữ khác được dịch từ quy định của Wikipedia tiếng Anh; nhưng sau đó đã dần khác nhau.<ref name="WP some sites stable versions 12"/>
Theo quy định của Wikipedia tiếng Anh, mỗi mục từ trong Wikipedia phải nói về một chủ đề bách khoa và không phải là mục từ trong từ điển hoặc kiểu từ điển.<ref name="WP content policy 1">{{Srlink|WP:KHONG|Những gì không phải là Wikipedia}}. Truy cập 13 tháng 1 năm 2021.</ref> Chủ đề này phải đáp ứng các tiêu chuẩn về "độ nổi bật" của Wikipedia,<ref name="WP notability guide 1">{{srlink|Wikipedia:Độ nổi bật|Độ nổi bật}}. Truy cập 13 tháng 1 năm 2021.</ref> thường có nghĩa là chủ đề đó phải được đưa tin trên các phương tiện truyền thông chính thống hoặc xuất hiện trên các tạp chí học thuật lớn và độc lập. Wikipedia chỉ truyền đạt những kiến thức đã được công nhận, tức Wikipedia [[Wikipedia:Nghiên cứu chưa công bố|không đăng]] các nghiên cứu và ý tưởng mới. Một thông tin nào đó có thể bị nghi vấn thì cần được dẫn từ một [[Wikipedia:Nguồn đáng tin cậy|nguồn tham khảo đáng tin cậy]].<ref name="WP Verifiability policy 1">{{srlink|Wikipedia:TTKCD|Thông tin kiểm chứng được}}. Truy cập 13 tháng 1 năm 2021.</ref> Do đó, đôi khi các thông tin đúng có thể bị xóa do không có nguồn.<ref name="IHT WP valid info wrong removable 1">{{Chú thích báo|title=For inclusive mission, Wikipedia is told that written word goes only so far|last=Cohen|first=Noam|date=ngày 9 tháng 8 năm 2011|work=[[International Herald Tribune]]|page=18}}{{Cần đăng ký mua}}</ref> Ngoài ra, Wikipedia luôn mang thái độ trung lập, tức là Wikipedia tổng hợp quan điểm từ các nguồn độc lập và trình bày nó trong bài viết bách khoa một cách hợp lý.<ref>[[Wikipedia:Thái độ trung lập]]</ref>
== Quản trị ==
{{Further|Wikipedia:Bảo quản viên}}
Chế độ [[vô chính phủ]] ban đầu của Wikipedia cũng đã dần tích hợp các yếu tố [[dân chủ]] và thứ bậc theo thời gian.<ref>{{Chú thích web|url=http://features.slashdot.org/story/05/04/18/164213/the-early-history-of-nupedia-and-wikipedia-a-memoir|tựa đề=The Early History of Nupedia and Wikipedia: A Memoir|tác giả=Sanger|tên=Larry|ngày=ngày 18 tháng 4 năm 2005|website=Slashdot|nhà xuất bản=Dice|ngày truy cập=2021-01-02|archive-date=2015-05-24|archive-url=https://web.archive.org/web/20150524114402/http://features.slashdot.org/story/05/04/18/164213/the-early-history-of-nupedia-and-wikipedia-a-memoir|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí|last=Kostakis|first=Vasilis|date=March 2010|title=Identifying and understanding the problems of Wikipedia's peer governance: The case of inclusionists versus deletionists|url=http://firstmonday.org/ojs/index.php/fm/article/view/2613/2479|journal=First Monday|volume=15|issue=3|access-date=2021-01-02|archive-date=2021-03-10|archive-url=https://web.archive.org/web/20210310125049/https://firstmonday.org/ojs/index.php/fm/article/view/2613/2479}}</ref> Một bài viết trên Wikipedia không thuộc quyền sở hữu của ai – người tạo ra nó, các thành viên khác, hay chủ thể của bài viết.<ref>{{srlink|Wikipedia:Sở hữu bài viết|Sở hữu bài viết.}}</ref>
Các [[Wikipedia:Thành viên|biên tập viên]] có uy tín trong cộng đồng có thể ứng cử một trong nhiều cấp quản lý tình nguyện: bắt đầu với "[[Người chủ trì|điều phối viên]]/bảo quản viên",<ref>{{srlink|Wikipedia:Bảo quản viên|Bảo quản viên của Wikipedia}}</ref> những người dùng có đặc quyền xóa trang, khóa bài viết trong trường hợp bị phá hoại hoặc tranh chấp biên tập và chặn sửa đổi của một số người. Dù mang tên như vậy nhưng quản trị viên không được hưởng bất kỳ [[Độc quyền nền tảng|đặc quyền]] đặc biệt nào trong việc ra quyết định; thay vào đó, quyền hạn của họ chủ yếu bị giới hạn trong việc thực hiện các chỉnh sửa có ảnh hưởng trên toàn dự án và do đó không được phép đối với các biên tập viên thông thường và thực hiện các hạn chế nhằm ngăn chặn các chỉnh sửa gây rối (chẳng hạn như phá hoại).<ref>{{srlink|:en:Wikipedia:Administrators#Administrator conduct|Administrator conduct (bằng tiếng Anh).}}</ref><ref>{{srlink|:en:Wikipedia:RfA_Review/Reflect|Wikipedia:RfA Review/Reflect (bằng tiếng Anh).}}</ref>
Ngày càng ít biên tập viên trở thành quản trị viên hơn những năm trước, một phần là do quá trình xét duyệt các quản trị viên tiềm năng của Wikipedia đã trở nên nghiêm ngặt hơn.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.theatlantic.com/technology/archive/2012/07/3-charts-that-show-how-wikipedia-is-running-out-of-admins/259829|tựa đề=3 Charts That Show How Wikipedia Is Running Out of Admins|tác giả=Meyer|tên=Robinson|ngày=ngày 16 tháng 7 năm 2012|website=[[The Atlantic]]|ngày truy cập=ngày 2 tháng 9 năm 2012|archive-date=2018-12-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20181226132809/https://www.theatlantic.com/technology/archive/2012/07/3-charts-that-show-how-wikipedia-is-running-out-of-admins/259829%20|url-status=live}}</ref>
<!--Các [[Wikipedia:Hành chính viên|hành chính viên]] chịu trách nhiệm trao quyền cho các quản trị viên mới dựa trên các đề xuất từ cộng đồng.
=== Giải quyết tranh chấp ===
Theo thời gian, Wikipedia đã phát triển một quy trình giải quyết tranh chấp bán chính thức để hỗ trợ trong những trường hợp cần thiết. Để xác định sự đồng thuận của cộng đồng, người biên tập có thể nêu vấn đề tại các diễn đàn cộng đồng thích hợp, <ref group="note">See for example the [[wikipedia:Biographies of living persons/Noticeboard|Biographies of Living Persons Noticeboard]] or [[wikipedia:Neutral point of view/Noticeboard|Neutral Point of View Noticeboard]], created to address content falling under their respective areas.</ref> hoặc tìm kiếm ý kiến bên ngoài thông qua [[wikipedia: Ý kiến thứ ba|yêu cầu ý kiến thứ ba]] hoặc bằng cách bắt đầu một cuộc thảo luận cộng đồng chung hơn được gọi là [[Wikipedia:Đề nghị cho ý kiến|"đề nghị cho ý kiến"]].
==== Ủy ban trọng tài ====
Ủy ban Trọng tài chủ trì quá trình giải quyết tranh chấp cuối cùng. Mặc dù các tranh chấp thường phát sinh từ sự bất đồng giữa hai quan điểm đối lập về nội dung một bài viết, Ủy ban Trọng tài rõ ràng từ chối trực tiếp phán quyết về quan điểm cụ thể cần được thông qua. Các phân tích thống kê cho thấy rằng ủy ban bỏ qua nội dung tranh chấp và thay vào đó tập trung vào cách thức tiến hành tranh chấp, hoạt động không quá nhiều để giải quyết tranh chấp và tạo hòa bình giữa các biên tập viên xung đột, nhưng để loại bỏ các biên tập viên có vấn đề trong khi cho phép các biên tập viên có năng suất trở lại để tham gia. Do đó, ủy ban không quy định nội dung của các bài viết, mặc dù đôi khi tổ chức này lên án việc thay đổi nội dung khi cho rằng nội dung mới vi phạm chính sách của Wikipedia (ví dụ, nếu nội dung mới bị coi là [[Wikipedia:Thái độ trung lập|thiên vị]]). Các biện pháp khắc phục của nó bao gồm cảnh báo và [[wikipedia: Thử việc|quản chế]] (được sử dụng trong 63% trường hợp) và [[wikipedia:Quy định cấm chỉ|cấm biên tập viên từ các bài viết]] (43%), chủ đề (23%) hoặc Wikipedia (16%). Các lệnh cấm hoàn toàn từ Wikipedia thường được giới hạn trong các trường hợp mạo danh và [[hành vi chống đối xã hội]]. Khi hành vi không phải là mạo danh hoặc chống đối xã hội, mà là chống lại sự đồng thuận hoặc vi phạm chính sách chỉnh sửa, các biện pháp khắc phục có xu hướng giới hạn ở mức cảnh báo.<ref>{{Chú thích tạp chí|last=David A. Hoffman|last2=Salil K. Mehra|year=2009|title=Wikitruth through Wikiorder|url=https://archive.org/details/sim_emory-law-journal_2009_59_1/page/151|journal=[[Emory Law Journal]]|volume=59|issue=1|pages=151–210|ssrn=1354424}}</ref>-->
== Cộng đồng ==
{{Main|Cộng đồng Wikipedia}}
[[Jimmy Wales]] lập luận rằng phần lớn các đóng góp cho Wikipedia đến từ "một cộng đồng ... một nhóm tận tâm gồm vài trăm tình nguyện viên", cho nên dự án cũng "giống như một tổ chức truyền thống".<ref name="blodget">{{Chú thích báo|url=http://www.businessinsider.com/2009/1/who-the-hell-writes-wikipedia-anyway|title=Who The Hell Writes Wikipedia, Anyway?|last=Blodget|first=Henry|date=ngày 3 tháng 1 năm 2009|work=Business Insider|access-date=2021-01-02|archive-date=2012-07-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20120730101023/http://www.businessinsider.com/2009/1/who-the-hell-writes-wikipedia-anyway|url-status=live}}</ref> Năm 2008, một bài báo trên tạp chí ''Slate'' báo cáo rằng: "Theo các nhà nghiên cứu ở [[Palo Alto, California|Palo Alto]], một phần trăm người dùng Wikipedia chịu trách nhiệm cho khoảng một nửa số sửa đổi của trang web này."<ref>{{Chú thích báo|url=http://www.slate.com/id/2184487|title=The Wisdom of the Chaperones|last=Wilson|first=Chris|date=ngày 22 tháng 2 năm 2008|work=[[Slate (tạp chí)|Slate]]|access-date=ngày 13 tháng 8 năm 2014|archive-date=2008-03-06|archive-url=https://web.archive.org/web/20080306021921/http://www.slate.com/id/2184487/|url-status=live}}</ref> Sau này [[Aaron Swartz]] bàn cãi về các phương pháp đánh giá này, lưu ý rằng phần lớn nội dung (được đo bằng số ký tự) của một số bài viết mà anh lấy mẫu do những người dùng có số lượt sửa đổi thấp đóng góp.<ref>{{Chú thích web/Lua |url = http://www.aaronsw.com/weblog/whowriteswikipedia |title = Raw Thought: Who Writes Wikipedia? |first = Aaron |last = Swartz |date = ngày 4 tháng 9 năm 2006 |access-date = ngày 23 tháng 2 năm 2008 |url-status=dead |archive-url = https://web.archive.org/web/20140803134036/http://www.aaronsw.com/weblog/whowriteswikipedia |archive-date = ngày 3 tháng 8 năm 2014 |df = mdy-all}}</ref>
<!--Wikipedia tiếng Anh có 6.220.889 bài viết, 40.626.736 biên tập viên đã đăng ký và 126.859 biên tập viên đang hoạt động. Biên tập viên được coi là đang hoạt động nếu họ đã thực hiện một hoặc nhiều chỉnh sửa trong 30 ngày qua.
Các biên tập viên không tuân thủ các thông lệ của Wikipedia, chẳng hạn như [[Wikipedia:Chữ ký|ký tên vào các bình luận trên trang thảo luận]], có thể ngầm báo hiệu rằng họ là người ngoài Wikipedia, làm tăng tỷ lệ người trong Wikipedia nhắm mục tiêu vào họ hoặc coi nhẹ các đóng góp của họ. Trở thành người trong Wikipedia đòi hỏi những chi phí không nhỏ: người đóng góp phải học các mã công nghệ cụ thể của Wikipedia, tuân theo quy trình giải quyết tranh chấp đôi khi phức tạp và tìm hiểu một "nền văn hóa khó hiểu phong phú với những trò đùa và tài liệu tham khảo nội bộ".<ref name="labor squeeze on WP 1">{{Chú thích tạp chí|last=Goldman, Eric|title=Wikipedia's Labor Squeeze and its Consequences|journal=Journal on Telecommunications and High Technology Law|volume=8}}</ref>{{Cần số trang}} Những biên tập viên không đăng nhập theo một nghĩa nào đó là công dân hạng hai trên Wikipedia,<ref name="labor squeeze on WP 1" /> với tư cách là "những người tham gia được công nhận bởi các thành viên của cộng đồng wiki, những người có lợi ích nhất định trong việc bảo tồn chất lượng của sản phẩm, trên cơ sở sự tham gia liên tục của họ",<ref name="legal edu and WP 1">{{Chú thích tạp chí|last=Noveck, Beth Simone|title=Wikipedia and the Future of Legal Education|journal=Journal of Legal Education|volume=57}}</ref>{{Cần số trang}} nhưng lịch sử đóng góp của các biên tập viên ẩn danh chưa đăng ký chỉ được công nhận bởi [[địa chỉ IP]] của họ không thể được quy cho một biên tập viên cụ thể nào một cách chắc chắn.-->
Một nghiên cứu năm 2007 của các nhà nghiên cứu [[Đại học Dartmouth]] cho thấy "những người đóng góp ẩn danh và không thường xuyên cho Wikipedia [...] cũng là một nguồn kiến thức đáng tin cậy như những người có đăng ký".<ref name="sciam good samaritans 1">{{Chú thích báo|url=http://www.sciam.com/article.cfm?id=good-samaritans-are-on-the-money|title=Wikipedia "Good Samaritans" Are on the Money|date=ngày 19 tháng 10 năm 2007|work=Scientific American|access-date=ngày 26 tháng 12 năm 2008|archive-date=2022-12-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20221211043556/https://www.scientificamerican.com/article/good-samaritans-are-on-the-money/|url-status=live}}</ref> Năm 2009, Jimmy Wales tuyên bố rằng "hóa ra hơn 50% tổng số chỉnh sửa là do 0,7% người dùng đóng góp...[tức] 524 người... Và trên thực tế, 2% tích cực nhất, tức là 1.400 người, đã thực hiện 73,4% tổng số sửa đổi."<ref name="blodget"/> Tuy nhiên, vào năm 2009, biên tập viên kiêm nhà báo Henry Blodget của ''[[Business Insider]]'' chỉ ra rằng trong một mẫu bài viết ngẫu nhiên, hầu hết nội dung trên Wikipedia (đo bằng lượng văn bản đóng góp còn tồn tại cho đến lần chỉnh sửa mẫu mới nhất) được tạo bởi "người ngoài cuộc", còn hầu hết việc biên tập và định dạng được thực hiện bởi "người trong cuộc".<ref name="blodget"/> Theo một nghiên cứu năm 2009, có "bằng chứng rằng cộng đồng Wikipedia có một sự phản kháng ngày càng tăng với các nội dung mới".<ref name="newscientist WP boom to bust 1">{{Chú thích web|url=https://www.newscientist.com/article/dn17554-after-the-boom-is-wikipedia-heading-for-bust.html|tựa đề=After the boom, is Wikipedia heading for bust?|tác giả=Giles|tên=Jim|ngày=ngày 4 tháng 8 năm 2009|website=New Scientist|ngày truy cập=2021-01-02|archive-date=2015-04-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20150421215605/http://www.newscientist.com/article/dn17554-after-the-boom-is-wikipedia-heading-for-bust.html|url-status=live}}</ref> Một số nghiên cứu chỉ ra rằng hầu hết những người đóng góp cho Wikipedia là nam giới; còn kết quả của một cuộc khảo sát của [[Wikimedia Foundation|Quỹ Wikimedia]] vào năm 2008 cho thấy chỉ có 13% biên tập viên Wikipedia là [[Phụ nữ|nữ giới]].<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.nytimes.com/2011/01/31/business/media/31link.html?_r=0|title=Define Gender Gap? Look Up Wikipedia's Contributor List|last=Cohen|first=Noam|work=The New York Times|access-date=ngày 28 tháng 10 năm 2013|publisher=The New York Times Company|archive-date=2013-10-06|archive-url=https://web.archive.org/web/20131006065114/http://www.nytimes.com/2011/01/31/business/media/31link.html?_r=0|url-status=live}}</ref>
== Phiên bản ngôn ngữ ==
{{Main|Danh sách Wikipedia}}
Hiện có 313 phiên bản ngôn ngữ của Wikipedia.<ref name="WP list of WPs by article 1">{{chú thích web|url=http://meta.wikimedia.org/wiki/List_of_Wikipedias#All_Wikipedias_ordered_by_number_of_articles|title=Wikipedia:List of Wikipedias|publisher=English Wikipedia|access-date=ngày 16 tháng 1 năm 2021|archive-date=2006-02-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20060204035946/http://meta.wikimedia.org/wiki/List_of_Wikipedias#All_Wikipedias_ordered_by_number_of_articles|url-status=live}}</ref> Tính đến [[tháng 1 năm 2021]], sáu phiên bản lớn nhất theo thứ tự là Wikipedia tiếng Anh, [[Wikipedia tiếng Cebuano|Cebuano]], [[Wikipedia tiếng Thụy Điển|Thụy Điển]], [[Wikipedia tiếng Đức|Đức]], [[Wikipedia tiếng Pháp|Pháp]] và [[Wikipedia tiếng Hà Lan|Hà Lan]]. Các Wikipedia lớn thứ hai và thứ ba nhờ vào [[bot]] tạo bài viết [[Lsjbot]], tính đến năm 2013 đã tạo ra khoảng một nửa số bài viết trên Wikipedia tiếng Thụy Điển và hầu hết các bài viết trên Wikipedia tiếng Cebuano và [[Wikipedia tiếng Waray|Waray]]. Hai phiên bản Cebuano và Waray là hai ngôn ngữ bản địa của [[Philippines]].<ref name="WP list of WPs 1"/>
Ngoài sáu trang đứng đầu, có mười hai Wikipedias có hơn một triệu bài viết ([[Wikipedia tiếng Nga|tiếng Nga]], [[Wikipedia tiếng Ý|tiếng Ý]], [[Wikipedia tiếng Tây Ban Nha|tiếng Tây Ban Nha]], [[Wikipedia tiếng Ba Lan|tiếng Ba Lan]], [[Wikipedia tiếng Waray|tiếng Waray]], [[Wikipedia tiếng Việt|tiếng Việt]], [[Wikipedia tiếng Nhật|tiếng Nhật]], [[Wikipedia tiếng Trung|tiếng Trung]], [[Wikipedia tiếng Ả Rập-Ai Cập|tiếng Ả Rập Ai Cập]], [[Wikipedia tiếng Ả Rập|tiếng Ả Rập]], [[Wikipedia tiếng Bồ Đào Nha|tiếng Bồ Đào Nha]] và [[Wikipedia tiếng Ukraina|tiếng Ukraina]]), và Sáu Ngôn Ngữ Wikipedia có hơn 500.000 bài viết ([[Wikipedia tiếng Ba Tư|tiếng Ba Tư]], [[Wikipedia tiếng Catalan|Catalan]], [[Wikipedia tiếng Serbia|Serbia]], [[Wikipedia tiếng Indonesia|Indonesia]], [[Tiếng Na Uy|Na Uy Bokmål]] và [[Wikipedia tiếng Hàn Quốc|Hàn Quốc]]), 43 phiên bản Wikipedia khác có hơn 100.000 bài và 82 phiên bản Wikipedia khác có trên 10.000 bài.<ref name="ListOfWikipedias" /><ref name="WP list of WPs 1">[[metawiki:List of Wikipedias|List of Wikipedias]]</ref> Wikipedia tiếng Anh là phiên bản lớn nhất với hơn 6,2 triệu bài viết. Tính đến tháng 1 năm 2019, theo Alexa, [[Tên miền phụ|miền phụ]] tiếng Anh (en.wikipedia.org; Wikipedia tiếng Anh) nhận được khoảng 57% lưu lượng truy cập của Wikipedia, lượng còn lại thuộc về các ngôn ngữ tiếng Nga: 9%; tiếng Trung: 6%; Tiếng Nhật: 6%; tiếng Tây Ban Nha: 5%.<ref name="Alexa siteinfo" />
[[Tập tin:TurkishWikipedia_block_pageviews_february-may2017.png |phải|nhỏ|Biểu đồ về số lần xem trang của [[Wikipedia tiếng Thổ Nhĩ Kỳ]] cho thấy mức sụt giảm lớn khoảng 80% ngay sau khi lệnh [[Thổ Nhĩ Kỳ chặn Wikipedia năm 2017|chặn Wikipedia ở Thổ Nhĩ Kỳ]] được áp dụng vào năm 2017.]]
Vì Wikipedia dựa trên nền tảng [[World Wide Web|Web]] và có mặt trên toàn thế giới, các biên tập viên của cùng một ấn bản ngôn ngữ có thể sử dụng các phương ngữ khác nhau hoặc có thể đến từ các quốc gia khác nhau (ví dụ như [[Wikipedia tiếng Anh|phiên bản tiếng Anh]]). Những khác biệt này có thể dẫn đến xung đột về khác biệt chính tả trong tiếng Anh (ví dụ: ''colour'' hay ''[[Màu sắc|color]]'')<ref name="WP spelling MOS 1">{{Chú thích web|url=https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Manual_of_Style/Spelling|tựa đề=Spelling|ngày=ngày 26 tháng 9 năm 2018|website=Manual of Style|nhà xuất bản=Wikipedia|ngày truy cập=ngày 19 tháng 5 năm 2007|archive-date=2021-01-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20210104005104/https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Manual_of_Style/Spelling|url-status=live}}</ref> cũng như khác biệt về quan điểm.<ref name="WP countering bias 1">{{Chú thích web|url=https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:WikiProject_Countering_systemic_bias|tựa đề=Countering systemic bias|ngày=ngày 15 tháng 7 năm 2018|ngày truy cập=ngày 19 tháng 5 năm 2007|archive-date=2021-01-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20210104005153/https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:WikiProject_Countering_systemic_bias|url-status=live}}</ref>
Các phiên bản ngôn ngữ tuân theo các chính sách toàn cục (như "thái độ trung lập") nhưng khác nhau về một số quan điểm chính sách và thực tiễn, đáng chú ý nhất là việc liệu hình ảnh không được cấp phép [[Nội dung tự do|tự do]] có được sử dụng theo yêu cầu [[sử dụng hợp lý]] hay không.<ref name="WP meta fair use 1">{{Chú thích web|url=http://meta.wikimedia.org/wiki/Fair_use|tựa đề=Fair use|nhà xuất bản=Meta-Wiki|ngày truy cập=ngày 14 tháng 7 năm 2007|archive-date=2011-08-12|archive-url=https://web.archive.org/web/20110812030801/http://meta.wikimedia.org/wiki/Fair_use|url-status=live}}</ref><ref name="WP meta WP images 1">{{Chú thích web|url=http://meta.wikimedia.org/wiki/Images_on_Wikipedia|tựa đề=Images on Wikipedia|ngày truy cập=ngày 14 tháng 7 năm 2007|archive-date=2007-10-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20071011065356/http://meta.wikimedia.org/wiki/Images_on_Wikipedia|url-status=live}}</ref><ref name="IBM visual WP 1">{{Chú thích tạp chí|last=Fernanda B. Viégas|date=ngày 3 tháng 1 năm 2007|title=The Visual Side of Wikipedia|url=http://www.research.ibm.com/visual/papers/viegas_hicss_visual_wikipedia.pdf|journal=Visual Communication Lab, IBM Research|access-date=ngày 30 tháng 10 năm 2007|archive-date=2009-03-03|archive-url=https://web.archive.org/web/20090303204722/http://www.research.ibm.com/visual/papers/viegas_hicss_visual_wikipedia.pdf}}</ref>
Jimmy Wales mô tả Wikipedia là "một nỗ lực để tạo ra và phân phối một bộ bách khoa toàn thư mở chất lượng cao nhất có thể cho mọi người trên hành tinh bằng ngôn ngữ của họ".<ref name="WP Wales free multi-lingual encyclopedia">[[Jimmy Wales]], [[mailarchive:wikipedia-l/2005-March/020469.html|"Wikipedia is an encyclopedia"]], ngày 8 tháng 3 năm 2005, <Wikipedia-l@wikimedia.org></ref> Mỗi phiên bản ngôn ngữ ít nhiều hoạt động độc lập nhưng đều được điều phối và giám sát bởi Meta-Wiki – [[wiki]] của Quỹ Wikimedia dùng để duy trì tất cả các dự án của mình (Wikipedia và các dự án khác).<ref name="WP metawiki maintenance 1">{{Chú thích web|url=http://meta.wikimedia.org/|tựa đề=Meta-Wiki|nhà xuất bản=Wikimedia Foundation|ngày truy cập=ngày 24 tháng 3 năm 2009|archive-date=2003-09-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20030921062728/http://meta.wikimedia.org/|url-status=live}}</ref> Ví dụ: Meta-Wiki cung cấp số liệu thống kê quan trọng về tất cả các ấn bản ngôn ngữ của Wikipedia,<ref name="WP meta stats 1">{{Chú thích web|url=http://meta.wikimedia.org/wiki/Statistics|tựa đề=Meta-Wiki Statistics|nhà xuất bản=Wikimedia Foundation|ngày truy cập=ngày 24 tháng 3 năm 2008|archive-date=2012-08-08|archive-url=https://web.archive.org/web/20120808154039/http://meta.wikimedia.org/wiki/Statistics|url-status=live}}</ref> và duy trì danh sách bài viết mà mọi Wikipedia nên có.<ref name="WP meta articles on all sites 1">{{Chú thích web|url=http://meta.wikimedia.org/wiki/List_of_articles_every_Wikipedia_should_have|tựa đề=List of articles every Wikipedia should have|nhà xuất bản=Wikimedia Foundation|ngày truy cập=ngày 24 tháng 3 năm 2008|archive-date=2012-08-18|archive-url=https://web.archive.org/web/20120818072451/http://meta.wikimedia.org/wiki/List_of_articles_every_Wikipedia_should_have|url-status=live}}</ref> Danh sách liên quan đến nội dung cơ bản theo chủ đề: tiểu sử, lịch sử, địa lý, xã hội, văn hóa, khoa học, công nghệ và toán học. Không hiếm các bài viết liên quan mạnh đến một ngôn ngữ cụ thể không có bài viết tương ứng trong một phiên bản khác. Ví dụ: các bài viết về các thị trấn nhỏ ở Hoa Kỳ có thể chỉ có ở bản tiếng Anh, dù đáp ứng các tiêu chí về độ nổi bật của các Wikipedia ngôn ngữ khác.
Các bài viết đã dịch chỉ đại diện cho một phần nhỏ các bài viết trong hầu hết các phiên bản, một phần là do các phiên bản đó không cho phép dịch các bài viết một cách hoàn toàn tự động.<ref name="WP auto-translations rules 1">{{Chú thích web|url=https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Translation|tựa đề=Wikipedia: Translation|ngày=ngày 27 tháng 9 năm 2018|website=English Wikipedia|ngày truy cập=ngày 3 tháng 2 năm 2007|archive-date=2021-01-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20210104005304/https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Translation|url-status=live}}</ref> Các bài viết có sẵn bằng nhiều ngôn ngữ có thể cung cấp "[[liên kết interwiki]]", liên kết đến các bài viết tương ứng trong các phiên bản khác.
Một nghiên cứu do ''[[PLOS One|PLOS ONE]]'' công bố vào năm 2012 cũng ước tính tỷ lệ đóng góp cho các ấn bản Wikipedia khác nhau từ các khu vực khác nhau trên thế giới. Nghiên cứu này báo cáo rằng tỷ lệ các sửa đổi được thực hiện từ [[Bắc Mỹ]] là 51% đối với [[Wikipedia tiếng Anh]] và 25% đối với [[Wikipedia tiếng Anh đơn giản]].<ref name="PLoS One 20122"/>
=== Suy thoái tại Wikipedia tiếng Anh ===
[[Tập tin:User_-_demography.svg|trái|nhỏ|Ước tính lượng chia sẻ đóng góp từ các khu vực khác nhau trên thế giới cho các ấn bản Wikipedia khác nhau.<ref name="PLoS One 20122">{{Chú thích tạp chí|last=Yasseri|first=Taha|last2=Sumi|first2=Robert|last3=Kertész|first3=János|author-link3=János Kertész|date=ngày 17 tháng 1 năm 2012|title=Circadian Patterns of Wikipedia Editorial Activity: A Demographic Analysis|journal=[[PLoS ONE]]|volume=7|issue=1|pages=e30091|arxiv=1109.1746|bibcode=2012PLoSO...730091Y|doi=10.1371/journal.pone.0030091|pmc=3260192|pmid=22272279}}</ref>]]
Ngày 1 tháng 3 năm 2014, bài báo "Tương lai của Wikipedia" của ''[[The Economist]]'' trích dẫn một phân tích xu hướng liên quan đến dữ liệu do Wikimedia Foundation xuất bản: "[t] số biên tập viên cho phiên bản tiếng Anh đã giảm một phần ba trong 7 năm",<ref name="economist12">{{Chú thích báo|url=https://www.economist.com/news/international/21597959-popular-online-encyclopedia-must-work-out-what-next-wikipeaks|title=The future of Wikipedia: WikiPeaks?|date=ngày 1 tháng 3 năm 2014|work=The Economist|access-date=ngày 11 tháng 3 năm 2014|archive-date=2014-04-08|archive-url=https://web.archive.org/web/20140408202455/http://www.economist.com/news/international/21597959-popular-online-encyclopedia-must-work-out-what-next-wikipeaks|url-status=live}}</ref> tỷ lệ này về cơ bản là trái ngược với thống kê cho Wikipedia bằng các ngôn ngữ khác (không phải tiếng Anh). ''The Economist'' báo cáo rằng kể từ năm 2008, số lượng cộng tác viên có trung bình 5 chỉnh sửa trở lên mỗi tháng là tương đối ổn định đối với Wikipedia bằng các ngôn ngữ khác là khoảng 42.000 biên tập viên, chênh lệch nhỏ theo mùa là khoảng 2.000 biên tập viên trở lên. Bằng cách so sánh chi tiết, số lượng biên tập viên tích cực trên Wikipedia tiếng Anh được trích dẫn là đạt đỉnh vào năm 2007 với khoảng 50.000 người rồi giảm xuống 30.000 vào đầu năm 2014.
Nếu sự sụt giảm này tiếp tục giữ nguyên với tỷ lệ xu hướng được trích dẫn là khoảng 20.000 biên tập viên bị mất trong vòng bảy năm, thì đến năm 2021 sẽ chỉ có 10.000 biên tập viên hoạt động trên Wikipedia tiếng Anh.<ref name="economist12"/> Phân tích này cũng cho thấy Wikipedia các ngôn ngữ khác (không phải tiếng Anh) thành công trong việc giữ chân các biên tập viên tích cực bằng cơ sở tái tạo và duy trì, khi mà số lượng tương đối không đổi ở mức khoảng 42.000.<ref name="economist12" /> Không có bình luận nào được đưa ra liên quan đến tiêu chuẩn chính sách chỉnh sửa khác biệt với Wikipedia bằng ngôn ngữ khác (không phải tiếng Anh) sẽ cung cấp một giải pháp thay thế khả thi cho Wikipedia tiếng Anh để cải thiện hiệu quả tỷ lệ hao hụt biên tập viên đáng kể trên Wikipedia tiếng Anh.<ref>Andrew Lih. ''Wikipedia''. Alternative edit policies at Wikipedia in other languages.</ref>
== Đón nhận ==
Nhiều biên tập viên đã [[Phê bình Wikipedia|chỉ trích]] bộ quy định ngày càng nhiều của Wikipedia, gồm hơn năm mươi chính sách và gần 150.000 từ ({{Tính đến|2014|lc=y}}).<ref name="bureaucracy">{{cite magazine|last=Jemielniak|first=Dariusz|date=ngày 22 tháng 6 năm 2014|title=The Unbearable Bureaucracy of Wikipedia|url=http://www.slate.com/articles/technology/future_tense/2014/06/wikipedia_s_bureaucracy_problem_and_how_to_fix_it.html|access-date=ngày 18 tháng 8 năm 2014|magazine=[[Slate (tạp chí)|Slate]]|archive-date=2016-09-10|archive-url=https://web.archive.org/web/20160910232539/http://www.slate.com/articles/technology/future_tense/2014/06/wikipedia_s_bureaucracy_problem_and_how_to_fix_it.html}}</ref><ref>D. Jemielniak, ''Common Knowledge'', Stanford University Press, 2014.</ref>
Wikipedia cũng bị phê bình là [[Thiên vị hệ thống|sự thiên vị mang tính hệ thống]]. Vào năm 2010, nhà báo [[Edwin Black]] mô tả Wikipedia là một hỗn hợp của "sự thật, một nửa sự thật và vài sự giả dối".<ref name="EdwinBlack">[[Edwin Black|Black, Edwin]] (ngày 19 tháng 4 năm 2010) [http://historynewsnetwork.org/article/125437 Wikipedia – The Dumbing Down of World Knowledge] {{webarchive|url=https://web.archive.org/web/20160909210831/http://historynewsnetwork.org/article/125437|date=ngày 9 tháng 9 năm 2016}}, [[History News Network]] Retrieved ngày 21 tháng 10 năm 2014</ref> Các bài báo trong ''[[Biên niên sử của Giáo dục Đại học|Biên niên sử về Giáo dục Đại học]]'' và ''[[Tạp chí Quản lý Thư viện Học thuật|Tạp chí Thủ thư Học thuật]]'' đã chỉ trích chính sách [[Wikipedia:Thái độ trung lập|Thái độ trung lập]] của Wikipedia, kết luận rằng thực tế là Wikipedia rõ ràng không được thiết kế để cung cấp thông tin chính xác về một chủ đề, mà là tập trung vào tất cả các quan điểm chính về chủ đề này, ít chú ý hơn đến những quan điểm phụ và tạo ra những thiếu sót có thể dẫn đến niềm tin sai lầm dựa trên thông tin không đầy đủ.<ref>Messer-Kruse, Timothy (ngày 12 tháng 2 năm 2012) [http://chronicle.com/article/The-Undue-Weight-of-Truth-on/130704/ The 'Undue Weight' of Truth on Wikipedia] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20161218162359/http://chronicle.com/article/The-Undue-Weight-of-Truth-on/130704/|date=ngày 18 tháng 12 năm 2016}} ''[[The Chronicle of Higher Education]]'' Retrieved ngày 27 tháng 3 năm 2014</ref><ref>Colón-Aguirre, Monica & Fleming-May, Rachel A. (ngày 11 tháng 10 năm 2012) [http://faculty.washington.edu/jwj/lis521/colon%20wikipedia.pdf "You Just Type in What You Are Looking For": Undergraduates' Use of Library Resources vs. Wikipedia] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20160419031904/http://faculty.washington.edu/jwj/lis521/colon%20wikipedia.pdf|date=ngày 19 tháng 4 năm 2016}} (p. 392) ''[[The Journal of Academic Librarianship]]'' Retrieved ngày 27 tháng 3 năm 2014</ref><ref>Bowling Green News (ngày 27 tháng 2 năm 2012) [http://www.bgsu.edu/news/2012/02/wikipedia-experience-sparks-national-debate.html Wikipedia experience sparks national debate] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20160827120800/http://www.bgsu.edu/news/2012/02/wikipedia-experience-sparks-national-debate.html|date=ngày 27 tháng 8 năm 2016}} [[Bowling Green State University]] Retrieved ngày 27 tháng 3 năm 2014</ref>
Lần lượt vào năm 2010 và 2011, [[Oliver Kamm]] và [[Edwin Black]] cáo buộc rằng các bài viết bị chi phối bởi những biên tập viên ồn ào nhất và kiên trì nhất, thường là của một nhóm có "nhiều kiến thức" về chủ đề này.<ref name="EdwinBlack"/><ref name="okw">[https://web.archive.org/web/20110814104256/http://www.timesonline.co.uk/tol/comment/columnists/guest_contributors/article2267665.ece Wisdom? "More like dumbness of the crowds". Oliver Kamm. Times Online (archive version 2011-08-14)] ([http://oliverkamm.typepad.com/blog/2007/08/wisdom-more-lik.html Author's own copy] {{Webarchive |url=https://web.archive.org/web/20160905131644/http://oliverkamm.typepad.com/blog/2007/08/wisdom-more-lik.html |date=ngày 5 tháng 9 năm 2016}})</ref> Một bài báo năm 2008 trên tạp chí ''Education Next'' kết luận rằng với tư cách là một nguồn tài nguyên về các chủ đề gây tranh cãi, Wikipedia có thể bị thao túng và bị chỉ đạo.<ref name="Petrilli">J. Petrilli, Michael (Spring 2008/Vol. 8, No. 2) [http://educationnext.org/wikipedia-or-wickedpedia/ Wikipedia or Wickedpedia?] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20161121024654/http://educationnext.org/wikipedia-or-wickedpedia/|date=ngày 21 tháng 11 năm 2016}}, [[Education Next]] Retrieved ngày 22 tháng 10 năm 2014</ref>
Năm 2006, trang web phê bình ''Wikipedia Watch'' liệt kê hàng chục ví dụ về [[đạo văn]] trong Wikipedia tiếng Anh.<ref name="wwplagiarism">{{chú thích web |title = Plagiarism by Wikipedia editors |url = http://www.wikipedia-watch.org/psamples.html |publisher = Wikipedia Watch |date = ngày 27 tháng 10 năm 2006 |archive-url = https://www.webcitation.org/5lXiLbptk?url=http://www.wikipedia-watch.org/psamples.html |archive-date = ngày 25 tháng 11 năm 2009 |url-status=dead}}</ref>
=== Độ chính xác của nội dung ===
{{main|Độ tin cậy của Wikipedia}}
Các bài viết trong các bộ bách khoa toàn thư truyền thống như ''[[Encyclopædia Britannica]]'' được các chuyên gia viết cẩn thận, nên các bộ bách khoa đó nổi tiếng về độ chính xác.<ref>{{Chú thích báo|url=http://archive.wired.com/culture/lifestyle/news/2005/12/69844|title=Wikipedia, Britannica: A Toss-Up|date=ngày 15 tháng 12 năm 2005|work=Wired|access-date=ngày 8 tháng 8 năm 2015|agency=Associated Press|archive-date=2016-03-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20160304201813/http://archive.wired.com/culture/lifestyle/news/2005/12/69844|url-status=live}}</ref> Nhưng một cuộc bình duyệt vào năm 2005 của tạp chí khoa học ''[[Nature]]'' đối với bốn mươi hai mục từ khoa học trên cả Wikipedia và ''Encyclopædia Britannica'' tìm thấy chỉ có ít sự khác biệt về độ chính xác, và kết luận rằng "các bài viết khoa học trung bình trong Wikipedia có khoảng bốn chỗ sai; còn ''Britannica'' có ba."<ref name="GilesJ2005Internet">{{Chú thích tạp chí |author = Jim Giles |title = Internet encyclopedias go head to head |journal = [[Nature]] |volume = 438 |issue = 7070 |pages = 900–901 |date = December 2005 |pmid = 16355180 |url = http://www.nature.com/nature/journal/v438/n7070/full/438900a.html |doi = 10.1038/438900a |authorlink = Jim Giles (reporter) |bibcode = 2005Natur.438..900G |access-date = 2022-12-11 |archive-date = 2009-11-24 |archive-url = https://web.archive.org/web/20091124180014/http://www.nature.com/nature/journal/v438/n7070/full/438900a.html }}{{Cần đăng ký mua}}
Note: The study was cited in several news articles; e.g.:
*{{Chú thích báo |title = Wikipedia survives research test |publisher = BBC News |url = http://news.bbc.co.uk/2/hi/technology/4530930.stm |date = ngày 15 tháng 12 năm 2005 |access-date = |ngôn ngữ = en |archive-date = 2012-08-07 |archive-url = https://web.archive.org/web/20120807165903/http://news.bbc.co.uk/2/hi/technology/4530930.stm |url-status = live }}</ref> Joseph Reagle cho rằng nghiên cứu có thể phản ánh "khả năng chuyên môn của những người đóng góp cho Wikipedia" trong mảng khoa học, nhưng "Wikipedia có thể không hoạt động tốt như vậy nếu lấy một mẫu ngẫu nhiên các bài viết thuộc chủ đề nhân văn."<ref name="Reagle, pp. 165–166">Reagle, pp. 165–166.</ref> Những người khác đưa ra những lời chỉ trích tương tự.<ref name="Orlowski2005">{{Chú thích báo|url=https://www.theregister.co.uk/2005/12/16/wikipedia_britannica_science_comparison/|title=Wikipedia science 31% more cronky than Britannica's Excellent for Klingon science, though|last=Orlowski|first=Andrew|date=ngày 16 tháng 12 năm 2005|work=[[The Register]]|access-date=ngày 25 tháng 2 năm 2019|archive-date=2019-06-20|archive-url=https://web.archive.org/web/20190620212204/https://www.theregister.co.uk/2005/12/16/wikipedia_britannica_science_comparison|url-status=live}}</ref> Sau này, ''Encyclopædia Britannica'' đã phản đối kết quả nghiên cứu này của ''Nature'';<ref name="nature.com britannica response 1">{{Chú thích web|url=http://www.nature.com/press_releases/Britannica_response.pdf?item|tựa đề=Encyclopaedia Britannica and Nature: a response|định dạng=PDF|ngày truy cập=ngày 13 tháng 7 năm 2010|archive-date=2012-10-18|archive-url=https://web.archive.org/web/20121018155612/http://www.nature.com/press_releases/Britannica_response.pdf?item|url-status=live}}</ref> ''Nature'' đáp lại bằng cách bác bỏ những luận điểm ''Britannica'' đưa ra.<ref name="nature.com">{{Chú thích web|url=http://www.nature.com/nature/britannica/index.html|tựa đề=Nature's responses to Encyclopaedia Britannica|ngày=ngày 30 tháng 3 năm 2006|website=Nature|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20170515025717/http://www.nature.com/nature/britannica/index.html|ngày lưu trữ=ngày 15 tháng 5 năm 2017|ngày truy cập=ngày 25 tháng 2 năm 2018}}</ref> Ngoài những bất đồng quan điểm này, những người khác đã kiểm tra kích thước mẫu và phương pháp lựa chọn mẫu ''Nature'' từng sử dụng, và coi đó là một "thiết kế nghiên cứu sai lầm"<!-- (trong lựa chọn bằng tay của ''Nature'', một phần hoặc toàn bộ, để so sánh), thiếu phân tích thống kê (ví dụ, [[khoảng tin cậy]] được báo cáo) và thiếu nghiên cứu "sức mạnh thống kê" (ví dụ, do cỡ [[Cỡ mẫu|mẫu]] nhỏ, 42 hoặc 4× 10 <sup>1</sup> bài viết được so sánh, so với >10<sup>5</sup> và >10<sup>6</sup> mẫu là tối thiểu tương ứng cho ''Britannica'' và Wikipedia tiếng Anh)-->.<ref>See author acknowledged comments in response to the citation of the ''Nature'' study, at ''PLoS ONE'', 2014, "Citation of fundamentally flawed ''Nature'' quality 'study' ", In response to T. Yasseri et al. (2012) Dynamics of Conflicts in Wikipedia, Published ngày 20 tháng 6 năm 2012, {{DOI|10.1371/journal.pone.0038869}}, see {{Chú thích web|url=http://www.plosone.org/annotation/listThread.action?root%3D80078|tựa đề=Dynamics of Conflicts in Wikipedia|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160116210930/http://www.plosone.org/annotation/listThread.action?root=80078|ngày lưu trữ=ngày 16 tháng 1 năm 2016|ngày truy cập=ngày 22 tháng 7 năm 2014}}, accessed ngày 21 tháng 7 năm 2014.</ref>
Về phía mình, Wikipedia tự nhận là không chịu trách nhiệm cuối cùng cho các tuyên bố và nội dung trên Wikipedia.<ref>{{Srlink|Wikipedia:Phủ nhận chung|Quy định về phủ nhận chung của Wikipedia|ngày truy cập=18 tháng 1 năm 2021}}</ref><!-- Vào năm 2009, ''PC World'' khơi lên lo ngại rằng việc thiếu [[trách nhiệm giải trình]] là do sự ẩn danh, bổ sung thông tin sai lệch, [[Phá hoại trên Wikipedia|phá hoại]] và các vấn đề tương tự.<ref name="pcworld WP blunders 1">{{Chú thích web|url=http://www.pcworld.com/article/170874/the_15_biggest_wikipedia_blunders.html|tựa đề=The 15 Biggest Wikipedia Blunders|tác giả=Raphel|tên=JR|ngày=ngày 26 tháng 8 năm 2009|website=[[PC World]]|ngày truy cập=ngày 2 tháng 9 năm 2009}}</ref>-->
Nhà kinh tế học [[Tyler Cowen]] bình luận rằng: "Nếu trong một thời gian ngắn mà phải đoán xem liệu Wikipedia hay bài báo trung bình của tạp chí tham khảo về kinh tế học có nhiều khả năng đúng hơn, tôi nghĩ rằng tôi sẽ chọn Wikipedia."<!-- Ông nhận xét rằng một số nguồn phi hư cấu truyền thống bị thiên vị hệ thống và các kết quả mới lạ, theo ý kiến của ông, được đưa tin quá nhiều trong các bài viết và thông tin liên quan bị bỏ qua trong các bản tin.--> Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo rằng các trang web Internet cũng thường chứa nhiều lỗi và các học giả và chuyên gia phải thận trọng trong việc khắc phục chúng.<ref name="tnr experts vigilant in correcting WP 1">{{Chú thích web|url=http://www.tnr.com/story.html?id=82eb5d70-13bd-4086-9ec0-cb0e9e8411b3|tựa đề=Cooked Books|tác giả=Cowen|tên=Tyler|ngày=ngày 14 tháng 3 năm 2008|website=The New Republic|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20080318103017/http://www.tnr.com/story.html?id=82eb5d70-13bd-4086-9ec0-cb0e9e8411b3|ngày lưu trữ=ngày 18 tháng 3 năm 2008|ngày truy cập=ngày 26 tháng 12 năm 2008}}</ref>
Các nhà phê bình cho rằng Wikipedia không đáng tin cậy do sở hữu tính chất mở và thiếu các nguồn tham khảo thích hợp cho phần lớn thông tin.<ref name="TNY reliability issues 1">{{Chú thích báo|title=Know It All|last=Stacy Schiff|date=ngày 31 tháng 7 năm 2006|work=[[The New Yorker]]|author-link=Stacy Schiff}}</ref> Một số cho rằng Wikipedia có thể đáng tin cậy, nhưng độ tin cậy của một bài viết bất kỳ thì không rõ. Các biên tập viên của các tài liệu tham khảo truyền thống như ''Encyclopædia Britannica'' nghi vấn về [[Thỏa dụng|tính khả dụng]] và địa vị của dự án với tư cách là một bách khoa toàn thư. [[Jimmy Wales]] tuyên bố rằng Wikipedia đã tránh được nhiều vấn nạn "tin giả" vì cộng đồng Wikipedia thường xuyên tranh luận về chất lượng của nguồn dẫn trong các bài viết.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.npr.org/2018/04/27/606393983/wikipedia-founder-says-internet-users-are-adrift-in-the-fake-news-era|title=Wikipedia Founder Says Internet Users Are Adrift In The 'Fake News' Era|work=NPR.org|access-date =ngày 1 tháng 5 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180625213220/https://www.npr.org/2018/04/27/606393983/wikipedia-founder-says-internet-users-are-adrift-in-the-fake-news-era|archive-date=ngày 25 tháng 6 năm 2018}}</ref>
Cấu trúc mở của Wikipedia khiến nó trở thành mục tiêu cho những kẻ [[Troll (Internet)|lừa đảo trên Internet]], gửi [[Thư rác (điện tử)|thư rác]] cùng nhiều hình thức vận động có trả tiền, có thể khiến việc duy trì một bách khoa toàn thư trực tuyến trung lập và có thể kiểm chứng được trở nên khó khăn.<ref name="citizendium WP trolling issues 1">{{Chú thích web|url=http://www.citizendium.org/essay.html|tựa đề=Toward a New Compendium of Knowledge (longer version)|website=Citizendium|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20061011230402/http://www.citizendium.org/essay.html|ngày lưu trữ=ngày 11 tháng 10 năm 2006|ngày truy cập=ngày 10 tháng 10 năm 2006}}</ref> Để đối phó với vấn nạn [[Biên tập xung đột lợi ích trên Wikipedia|biên tập được tài trợ]] và biên tập được tài trợ ngầm, ''[[The Wall Street Journal]]'' (Tạp chí Phố Wall) báo cáo là Wikipedia đã tăng cường các quy định chống lại việc biên tập được tài trợ ngầm<ref name="ReferenceA">{{Chú thích báo|url=https://blogs.wsj.com/digits/2014/06/16/wikipedia-strengthens-rules-against-undisclosed-editing/|title=Wikipedia Strengthens Rules Against Undisclosed Editing|last=Elder, Jeff|date=ngày 16 tháng 6 năm 2014|work=[[The Wall Street Journal]]|access-date=2021-01-02|archive-date=2014-06-18|archive-url=https://web.archive.org/web/20140618200711/http://blogs.wsj.com/digits/2014/06/16/wikipedia-strengthens-rules-against-undisclosed-editing/|url-status=live}}</ref> – "Bắt đầu từ thứ Hai [16 tháng 6 năm 2014], những thay đổi trong điều khoản sử dụng của Wikipedia yêu cầu rằng ai được trả tiền để biên tập bài phải tiết lộ việc đó. Giám đốc truyền thông của Wikimedia [[Katherine Maher]] cho biết thay đổi này nhằm giải quyết bức xúc của các biên tập viên tình nguyện rằng "chúng ta không phải là một dịch vụ quảng cáo; chúng ta là một bách khoa toàn thư."<ref name="ReferenceA" /><ref name="cnet politicians and WP 1">{{Chú thích web|url=http://news.cnet.com/8301-10784_3-6032713-7.html|tựa đề=Politicians notice Wikipedia|tác giả=Kane, Margaret|ngày=ngày 30 tháng 1 năm 2006|website=CNET|ngày truy cập=ngày 28 tháng 1 năm 2007|archive-date=2012-10-03|archive-url=https://web.archive.org/web/20121003001120/http://news.cnet.com/8301-10784_3-6032713-7.html|url-status=dead}}</ref><ref name="msnbc MS cash for WP edits 1">{{Chú thích web|url=https://www.nbcnews.com/id/16775981|tựa đề=Microsoft offers cash for Wikipedia edit|tác giả=Bergstein, Brian|lk tác giả=Brian Bergstein|ngày=ngày 23 tháng 1 năm 2007|nhà xuất bản=NBC News|ngày truy cập=ngày 1 tháng 2 năm 2007|archive-date=2013-12-05|archive-url=https://web.archive.org/web/20131205062212/http://www.nbcnews.com/id/16775981|url-status=live}}</ref>
Một quyển sách giáo khoa luật của Harvard ''Legal Research in a Nutshell'' (2011) giới thiệu Wikipedia là một "nguồn tham khảo chung", "có thể giúp ích" trong việc "tăng tốc trong luật pháp liên quan một tình huống" và "dù không có thẩm quyền, nhưng có thể cung cấp thông tin cơ bản cũng như dẫn đến các nguồn tài liệu chuyên sâu hơn".<ref name="Nutshell in-depth resources">{{Chú thích sách|url=https://archive.org/details/legalre_coh_2010_00_0532/page/32|title=Legal Research in a Nutshell|last=Cohen|first=Morris|last2=Olson, Kent|publisher=Thomson Reuters|year=2010|isbn=978-0-314-26408-4|edition=10th|location=St. Paul, Minnesota|pages=[https://archive.org/details/legalre_coh_2010_00_0532/page/32 32–34]}}</ref>
=== Không được khuyến khích trong giáo dục ===
Hầu hết các [[giảng viên]] đại học không khuyến khích sinh viên dẫn nguồn từ điển bách khoa nào trong các [[Học viện|bài viết học thuật]], ưu tiên các [[nguồn sơ cấp]]; một số còn cấm trích dẫn Wikipedia.<ref name="insidehighered against WP 1">{{Chú thích tạp chí/Lua |last=Waters |first=N.L. |year=2007 |title=Why you can't cite Wikipedia in my class|journal=Communications of the ACM|volume=50|issue=9|page=15|citeseerx=10.1.1.380.4996|doi=10.1145/1284621.1284635}}</ref><ref name="insidehighered wiki no cite">{{Chú thích web|url=http://www.insidehighered.com/news/2007/01/26/wiki|tựa đề=A Stand Against Wikipedia|tác giả=Jaschik|tên=Scott|ngày=ngày 26 tháng 1 năm 2007|website=Inside Higher Ed|ngày truy cập=ngày 27 tháng 1 năm 2007|archive-date=2019-02-23|archive-url=https://web.archive.org/web/20190223055553/http://www.insidehighered.com/news/2007/01/26/wiki|url-status=live}}</ref> Wales nhấn mạnh rằng bách khoa toàn thư nào cũng không thích hợp để làm nguồn và đừng dựa vào nó để làm nguồn uy tín. Wales cho biết (2006 hoặc trước đó) hàng tuần ông nhận được khoảng mười [[Thư điện tử|email]] từ các sinh viên nói rằng bài luận của họ bị điểm kém vì dẫn nguồn Wikipedia; ông đáp rằng họ bị vậy là xứng đáng. "Vì Chúa, bạn đang học đại học kia mà; đừng dẫn nguồn từ điển bách khoa", Wales nói.<ref name="Jimmy Wales don't cite WP 1">"Jimmy Wales", ''Biography Resource Center Online''. (Gale, 2006.)</ref>
Tháng 2 năm 2007, một bài báo trên ''[[The Harvard Crimson]]'' báo cáo rằng một số giáo sư tại [[Đại học Harvard]] đã đưa các bài viết trên Wikipedia vào giáo trình của họ mà không nhận ra rằng các bài viết này có thể bị thay đổi.<ref name="thecrimson wiki debate">Child, Maxwell L., [https://www.thecrimson.com/article.aspx?ref=517305 "Professors Split on Wiki Debate"] {{Webarchive |url=https://web.archive.org/web/20081220125910/http://www.thecrimson.com/article.aspx?ref=517305 |date=ngày 20 tháng 12 năm 2008}}, ''The Harvard Crimson'', ngày 26 tháng 2 năm 2007.</ref> Tháng 6 năm 2007, cựu chủ tịch của [[Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ]] [[Michael Gorman (thủ thư)|Michael Gorman]] đã lên án Wikipedia và [[Google]], tuyên bố rằng các học giả ủng hộ việc sử dụng Wikipedia là "các nhà tri thức ngang tầm với một chuyên gia dinh dưỡng khuyến nghị một chế độ ăn kiêng ổn định gồm Big Mac với đủ thứ hầm bà lằng."<ref name="stothart">{{chú thích web|last1=Stothart|first1=Chloe|title=Web threatens learning ethos|url=https://www.timeshighereducation.com/news/web-threatens-learning-ethos/209408.article?sectioncode=26&storycode=209408|url-status=live|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20121221140310/http://www.timeshighereducation.co.uk/story.asp?sectioncode=26&storycode=209408|ngày lưu trữ=21 tháng 12 năm 2012|website=The Times Higher Education Supplement|date=21 tháng 12 năm 2012|access-date = ngày 17 tháng 1 năm 2021 |ngôn ngữ=en}}</ref>
=== Thông tin y học ===
{{Xem thêm|Thông tin sức khỏe trên Wikipedia}}
Ngày 5 tháng 3 năm 2014, Julie Beck viết bài "Nguồn thông tin chăm sóc sức khỏe số 1 của bác sĩ: Wikipedia" cho tạp chí ''The Atlantic'', tuyên bố rằng "Năm mươi phần trăm bác sĩ tra cứu tình trạng bệnh trên trang (Wikipedia) và một số còn tham gia biên tập các bài viết để nâng cao chất lượng thông tin sẵn có." Beck tiếp tục trình bày chi tiết rằng các chương trình mới của [[Amin Azzam]] tại Đại học San Francisco nhằm cung cấp các khóa học của trường y cho sinh viên y để học cách biên tập và cải thiện [[Thông tin sức khỏe trên Wikipedia|các bài viết về sức khỏe trên Wikipedia]], cũng như các chương trình kiểm soát chất lượng nội bộ do Wikipedia tổ chức của [[James Heilman]] để cải thiện một nhóm 200 bài viết liên quan đến sức khỏe có tầm quan trọng y tế trung tâm theo tiêu chuẩn cao nhất của Wikipedia về các bài viết bằng cách sử dụng Quy trình đánh giá Bài viết chọn lọc và Bài viết tốt.<ref name="Julie Beck 2014">Julie Beck. "Doctors' #1 Source for Healthcare Information: Wikipedia". ''The Atlantic'', ngày 5 tháng 3 năm 2014.</ref> Trong một bài báo tiếp theo vào ngày 7 tháng 5 năm 2014 trên ''tờ The Atlantic'' có tiêu đề "Liệu Có Bao Giờ Wikipedia Là Một Văn Bản Y Khoa Rõ Ràng?", Julie Beck trích lời James Heilman của [[Wikipedia:WikiProject Medicine|WikiProject Medicine]] (Dự án Y học trên Wikipedia): "Chỉ vì một tham khảo đã qua bình duyệt chưa đồng nghĩa với việc đó là một tham khảo chất lượng cao."<ref name="theatlantic.com">{{cite magazine|last=Beck|first=Julie|date=ngày 7 tháng 5 năm 2014|title=Can Wikipedia Ever Be a Definitive Medical Text?|url=https://www.theatlantic.com/health/archive/2014/05/can-wikipedia-ever-be-a-definitive-medical-text/361822/|access-date=ngày 14 tháng 6 năm 2014|magazine=The Atlantic|archive-date=2019-04-08|archive-url=https://web.archive.org/web/20190408004220/https://www.theatlantic.com/health/archive/2014/05/can-wikipedia-ever-be-a-definitive-medical-text/361822/}}</ref> Beck bổ sung: "Wikipedia có quy trình bình duyệt riêng trước khi các bài viết được xếp hạng 'tốt' hay 'chọn lọc'. Heilman từng tham gia vào quá trình đó và nói rằng 'ít hơn một phần trăm' các bài viết y học trên Wikipedia đã đậu." <ref name="theatlantic.com" />
<!--
=== Chất lượng viết ===
Năm 2008, các nhà nghiên cứu tại [[Đại học Carnegie Mellon]] nhận thấy rằng chất lượng của một bài viết trên Wikipedia sẽ bị ảnh hưởng hơn là có được từ việc thêm nhiều người viết hơn khi bài viết thiếu sự phối hợp rõ ràng hoặc ẩn ý thích hợp.<ref>{{Chú thích sách/Lua |title=Proceedings of the 2008 ACM conference on Computer supported cooperative work|last=Kittur|first=Aniket|last2=Kraut|first2=Robert E.|date=2008|publisher=ACM|isbn=978-1-60558-007-4|location=New York|pages=37–46|chapter=Harnessing the wisdom of crowds in Wikipedia: quality through coordination|citeseerx=10.1.1.546.9900|doi=10.1145/1460563.1460572|chapter-url=http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.546.9900&rep=rep1&type=pdf|chapter-format=PDF}}</ref> Ví dụ: khi những người đóng góp viết lại các phần nhỏ của một mục thay vì thực hiện các bản sửa đổi toàn thời lượng, thì nội dung chất lượng cao và chất lượng thấp có thể được xen kẽ trong cùng một mục. [[Roy Rosenzweig]], một giáo sư lịch sử, nhận định rằng ''American National Biography Online'' vượt trội hơn Wikipedia về "văn viết rõ ràng và hấp dẫn", theo ông, là một khía cạnh quan trọng của việc viết lịch sử được hay. Đối chiếu cách đối xử của Wikipedia về [[Abraham Lincoln]] với sử gia về [[Nội chiến Hoa Kỳ|Nội chiến]] [[James M. McPherson]] trong ''American National Biography Online'', ông nói rằng cả hai về cơ bản đều chính xác và bao quát các giai đoạn chính trong cuộc đời Lincoln, nhưng ca ngợi "cách sử dụng ngữ cảnh phong phú hơn của McPherson [...] trích dẫn để nắm bắt được giọng nói của Lincoln [...] và [...] khả năng truyền tải một thông điệp sâu sắc của ông trong một số ít từ. " Ngược lại, ông đưa ra một ví dụ về văn xuôi trên Wikipedia mà ông thấy "vừa dài dòng vừa buồn tẻ". Rosenzweig cũng chỉ trích "sự lung tung — được khuyến khích bởi chính sách NPOV — [có nghĩa là] khó có thể phân biệt được bất kỳ lập trường diễn giải tổng thể nào trong lịch sử Wikipedia". Trong khi nói chung ca ngợi bài viết trên [[William Clarke Quantrill]], ông đã trích dẫn kết luận của nó như một ví dụ về sự "lập lờ" như vậy, sau đó tuyên bố: "Một số sử gia [...] nhớ đến ông ta như một kẻ cơ hội, khát máu, trong khi những người khác tiếp tục coi ông ta như một người lính táo bạo và anh hùng dân gian địa phương."<ref name="Rosenzweig" />
Các nhà phê bình khác cũng đưa ra cáo buộc tương tự rằng, ngay cả khi các bài viết trên Wikipedia là chính xác về mặt thực tế, chúng thường được viết với một văn phong nghèo nàn, gần như không thể đọc được. Nhà phê bình thường xuyên của Wikipedia, Andrew Orlowski, nhận xét, "Ngay cả khi bài viết Wikipedia đúng 100% về thực tế và những dữ kiện đó đã được lựa chọn cẩn thận, tất cả thường được viết như thể nó đã được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác sau đó sang một ngôn ngữ thứ ba, với phiên dịch mù chữ ở mỗi giai đoạn dịch."<ref name="theregister Wales WP founder on quality 1">{{Chú thích web |url=https://www.theregister.co.uk/2005/10/18/wikipedia_quality_problem/page2.html|tựa đề=Wikipedia founder admits to serious quality problems|tác giả=Andrew Orlowski|ngày=ngày 18 tháng 10 năm 2005|website=The Register|ngày truy cập=ngày 30 tháng 9 năm 2007}}</ref> Một nghiên cứu về các bài viết trên Wikipedia về [[ung thư]] đã được thực hiện vào năm 2010 bởi Yaacov Lawrence thuộc Trung tâm Ung thư Kimmel tại [[Đại học Thomas Jefferson]]. Nghiên cứu chỉ giới hạn ở những bài viết có thể tìm thấy trong ''Physician Data Query'' và loại trừ những bài viết được viết ở cấp độ lớp "bắt đầu" hoặc lớp "sơ khai". Lawrence nhận thấy các bài viết này chính xác nhưng không dễ đọc, và cho rằng "việc Wikipedia không dễ đọc (đối với độc giả không học đại học) có thể phản ánh nguồn gốc khác nhau và cách biên tập lộn xộn của nó".<ref name="upi accuracy 1">{{Chú thích báo|url=https://www.sciencedaily.com/releases/2010/06/100601114641.htm|title=Cancer information on Wikipedia is accurate, but not very readable, study finds|date=ngày 2 tháng 6 năm 2010|work=Science Daily|access-date =ngày 31 tháng 12 năm 2010}}</ref> ''The Economist'' lập luận rằng những bài viết tốt hơn có xu hướng đáng tin cậy hơn: "những bài viết lủng củng hoặc dài dòng thường phản ánh những suy nghĩ mông lung và thông tin không đầy đủ".<ref name="economist incomplete info">{{Chú thích báo|url=https://www.economist.com/node/8820422?story_id=8820422|title=Fact or fiction? Wikipedia's variety of contributors is not only a strength|date=ngày 10 tháng 3 năm 2007|work=The Economist|access-date =ngày 31 tháng 12 năm 2010}}</ref>
-->
=== Phạm vi các chủ đề và thiên vị hệ thống ===
Vì là bách khoa toàn thư trực tuyến với hàng [[Byte|terabyte]] dung lượng, Wikipedia có thể chứa nhiều chủ đề hơn so với bất kỳ bách khoa toàn thư giấy nào.<ref name="WP advantages over trad media 1">{{Srlink|:en:Wikipedia:PAPER|Wikipedia không phải là bách khoa toàn thư giấy (bằng tiếng Anh)}}</ref> Các biên tập viên liên tục xem xét mức độ và cách thức bao phủ chính xác trên Wikipedia và bất đồng cũng diễn ra (xem [[Chủ nghĩa xóa và chủ nghĩa thêm trên Wikipedia|chủ nghĩa xóa và chủ nghĩa thêm]]).<ref name="Economist disagreements not uncommon">{{Chú thích báo|url=https://www.economist.com/printedition/displaystory.cfm?story_id=10789354|title=The battle for Wikipedia's soul|date=ngày 6 tháng 3 năm 2008|work=The Economist|access-date=ngày 7 tháng 3 năm 2008|issn=0013-0613|archive-date=2016-04-13|archive-url=https://web.archive.org/web/20160413130505/http://www.economist.com/printedition/displaystory.cfm?story_id=10789354|url-status=live}}</ref><ref name="telegraph WP torn apart 1">{{Chú thích báo|url=https://www.telegraph.co.uk/technology/3354752/Wikipedia-an-online-encyclopedia-torn-apart.html|title=Wikipedia: an online encyclopedia torn apart|last=Douglas|first=Ian|date=ngày 10 tháng 11 năm 2007|work=The Daily Telegraph|access-date=ngày 23 tháng 11 năm 2010|location=London|archive-date=2012-11-12|archive-url=https://web.archive.org/web/20121112075136/http://www.telegraph.co.uk/technology/3354752/Wikipedia-an-online-encyclopedia-torn-apart.html|url-status=live}}</ref> Wikipedia chứa các tài liệu mà một số người có thể thấy phản cảm, xúc phạm hoặc khiêu dâm. Chính sách '[[WP:KHONG|Wikipedia không bị kiểm duyệt]]' đôi khi gây tranh cãi: vào năm 2008, Wikipedia đã từ chối một kiến nghị trực tuyến chống lại việc đưa hình ảnh của Muhammad vào bài viết [[Muhammad]] của [[Wikipedia tiếng Anh|ấn bản tiếng Anh]], trích dẫn chính sách này. Một số tài liệu nhạy cảm về mặt chính trị, tôn giáo và khiêu dâm trên Wikipedia đã khiến Wikipedia [[Kiểm duyệt Wikipedia|bị kiểm duyệt]] bởi chính phủ ở Trung Quốc, Pakistan,<ref name="washington post state censorship 1">{{Chú thích báo|url=https://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2010/05/20/AR2010052005073.html|title=Pakistan blocks YouTube a day after shutdown of Facebook over Muhammad issue|last=Bruilliard|first=Karin|date=ngày 21 tháng 5 năm 2010|work=The Washington Post|access-date=ngày 24 tháng 10 năm 2011|archive-date=2010-05-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20100521083252/http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2010/05/20/AR2010052005073.html|url-status=live}}</ref> cùng các quốc gia khác.
[[Tập tin:Wikipedia_content_by_subject.png|nhỏ|Biểu đồ hình tròn của nội dung Wikipedia theo chủ đề kể từ tháng 1 năm 2008.|277x277px]]
Một nghiên cứu năm 2008 do các nhà nghiên cứu tại Đại học Carnegie Mellon và Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto thực hiện đã đưa ra sự phân bố các chủ đề cũng như sự phát triển trong từng lĩnh vực (từ tháng 7 năm 2006 đến tháng 1 năm 2008):<ref name="Kittur2009">{{chú thích web |url = http://www-users.cs.umn.edu/~echi/papers/2009-CHI2009/p1509.pdf |title = What's in Wikipedia? Mapping Topics and Conflict Using Socially Annotated Category Structure |last1 = Kittur |first1 = A |last2 = Chi |first2 = E. H. |last3 = Suh |first3 = B. |date = 2009 |publisher = ACM |pages = 1509–1512 |location = New York |via = In Proceedings of the 27th International Conference on Human Factors in Computing Systems (Boston, Massachusetts, April 4–9, 2009). CHI '09 |ngày truy cập = 2021-01-17 |archive-date = 2016-04-13 |archive-url = https://web.archive.org/web/20160413130503/http://www-users.cs.umn.edu/~echi/papers/2009-CHI2009/p1509.pdf |url-status = bot: unknown }}</ref>
* Văn hóa nghệ thuật: 30% (210%)
* Tiểu sử và con người: 15% (97%)
* Địa lý và địa điểm: 14% (52%)
* Khoa học xã hội và xã hội: 12% (83%)
* Lịch sử và sự kiện: 11% (143%)
* Khoa học tự nhiên và vật lý: 9% (213%)
* Công nghệ và khoa học ứng dụng: 4% (−6%)
* Hệ thống tôn giáo và tín ngưỡng: 2% (38%)
* Sức khỏe: 2% (42%)
* Toán học và logic: 1% (146%)
* Tư tưởng và triết lý: 1% (160%)
Những con số này chỉ đề cập đến số lượng bài viết: một chủ đề có thể chứa một số lượng lớn các bài viết ngắn và một chủ đề khác chứa một số lượng nhỏ các bài viết dài. Thông qua chương trình "Wikipedia Loves Libraries", Wikipedia hợp tác với các thư viện công cộng lớn như [[Thư viện Công cộng New York cho Nghệ thuật Biểu diễn|Thư viện Công cộng New York về Nghệ thuật Biểu diễn]] để mở rộng phạm vi nội dung của mình đến các chủ đề và bài viết ít được quan tâm.<ref name="NYT subjects and articles">{{Chú thích báo|url=https://www.nytimes.com/2011/10/21/theater/editing-wikipedia-at-the-new-york-public-library-for-the-performing-arts.html|title=Wikipedia's Deep Dive Into a Library Collection|last=Petrusich|first=Amanda|date=ngày 20 tháng 10 năm 2011|work=The New York Times|access-date=ngày 28 tháng 10 năm 2011|archive-date=2020-11-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20201111213754/http://www.nytimes.com/2011/10/21/theater/editing-wikipedia-at-the-new-york-public-library-for-the-performing-arts.html|url-status=live}}</ref>
Một nghiên cứu năm 2011 của các nhà nghiên cứu tại [[Đại học Minnesota]] chỉ ra rằng các biên tập viên nam và nữ tập trung vào các chủ đề khác nhau. Nữ giới tập trung nhiều hơn vào thể loại Con người và Nghệ thuật, còn nam giới tập trung nhiều hơn vào Địa lý và Khoa học.<ref>{{Chú thích tạp chí|last=Lam|first=Shyong (Tony) K.|last2=Anuradha Uduwage|last3=Zhenhua Dong|last4=Shilad Sen|last5=David R. Musicant|last6=Loren Terveen|last7=John Riedl|date=October 3–5, 2011|title=WP: Clubhouse? An Exploration of Wikipedia's Gender Imbalance|url=http://files.grouplens.org/papers/wp-gender-wikisym2011.pdf|journal=WikiSym 2011|page=4|access-date=2021-01-02|archive-date=2013-10-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20131029232437/http://files.grouplens.org/papers/wp-gender-wikisym2011.pdf}}</ref>
==== Độ bao phủ và khuynh hướng ====
Nghiên cứu của [[Viện Internet Oxford]] do Mark Graham thực hiện vào năm 2009 chỉ ra rằng sự phân bố địa lý của các chủ đề là rất không đồng đều. Châu Phi là khu vực ít có bài nhất.<ref>Mark Graham, [https://web.archive.org/web/20161002051150/http://zerogeography.net/post/144973716228/mapping-the-geographies-of-wikipedia-content Mapping the Geographies of Wikipedia Content], ''Zerogeography.net'' (ngày 12 tháng 11 năm 2009).</ref> Trên 30 phiên bản ngôn ngữ của Wikipedia, các bài viết lịch sử và đề mục nói về lịch sử (hình thành) thường xoay quanh lĩnh vực liên quan đến châu Âu và tập trung vào các sự kiện gần đây.<ref>{{Chú thích sách/Lua |title=Multilingual historical narratives on Wikipedia |last=Strohmaier|first=Markus|date=ngày 6 tháng 3 năm 2017|publisher=GESIS Data Archive|chapter=KAT50 Society, Culture|doi=10.7802/1411|quote=Wikipedia narratives about national histories (i) are skewed towards more recent events (recency bias) and (ii) are distributed unevenly across the continents with significant focus on the history of European countries (Eurocentric bias).}}</ref>
Một bài xã luận năm 2014 trên tờ ''[[The Guardian]]'' cho rằng người ta dành nhiều công sức để cung cấp nguồn tham khảo cho [[Danh sách những người biểu diễn khiêu dâm theo thập kỷ|danh sách diễn viên khiêu dâm nữ]] hơn là [[danh sách các nhà văn nữ|danh sách nhà văn nữ]].<ref name=GuardianAugust2014>''[[The Guardian]]'' 2014 (London) [https://www.theguardian.com/commentisfree/2014/aug/07/guardian-view-wikipedia-evolving-truth The Guardian view on Wikipedia: evolving truth] {{Webarchive |url=https://web.archive.org/web/20161112212758/https://www.theguardian.com/commentisfree/2014/aug/07/guardian-view-wikipedia-evolving-truth |date=ngày 12 tháng 11 năm 2016}}</ref>
==== Thiên vị hệ thống ====
Khi nhiều biên tập viên đóng góp vào một chủ đề hoặc một tập hợp các chủ đề, có thể phát sinh [[thiên vị hệ thống]], do nền tảng nhân khẩu học của các biên tập viên. Năm 2011, Wales tuyên bố rằng mức độ phủ sóng không đồng đều phản ánh nhân khẩu học của các biên tập viên, trích dẫn ví dụ "tiểu sử của những phụ nữ nổi tiếng trong lịch sử và các vấn đề xung quanh việc chăm sóc trẻ sơ sinh".<ref name="wiki-women2"/> Ngày 22 tháng 10 năm 2013, bài luận "Sự suy giảm của Wikipedia" của Tom Simonite trên ''Technology Review'' (Tạp chí Công nghệ) của MIT thảo luận về ảnh hưởng của sự thiên vị hệ thống và [[Phê bình Wikipedia|chính sách leo thang]] đối với xu hướng giảm số lượng biên tập viên.<ref name="Simonite-20133"/><!--
Thiên vị mang tính hệ thống trên Wikipedia có thể tuân theo xu hướng văn hóa nói chung, {{Vague|date=August 2019}} ví dụ như thiên vị một số quốc gia, dân tộc hoặc tôn giáo đa số. Cụ thể hơn, nó có thể tuân theo thành kiến của [[Văn hóa mạng|văn hóa Internet]], thiên về giới trẻ, nam giới, nói tiếng Anh, có trình độ học vấn, hiểu biết về công nghệ và đủ giàu có để có thời gian chỉnh sửa wikipedia. Về bản chất, sự thiên vị này có thể bao gồm sự tập trung quá mức vào các chủ đề như văn hóa đại chúng, công nghệ và các sự kiện hiện tại.<ref name="Quilter">{{Chú thích web |url=http://works.bepress.com/cgi/viewcontent.cgi?article=1035&context=laura_quilter |tựa đề=Systemic Bias in Wikipedia: What It Looks Like, and How to Deal with It|tác giả=Quilter, Laura|ngày=ngày 24 tháng 10 năm 2012|nhà xuất bản=University of Massachusetts–Amherst|ngày truy cập=ngày 26 tháng 11 năm 2012}}</ref>
-->Năm 2013, [[Taha Yasseri]] thuộc [[Đại học Oxford]] nghiên cứu các xu hướng thống kê của sự thiên lệch hệ thống trên Wikipedia được giới thiệu bằng cách biên tập các xung đột kèm cách giải quyết.<ref>"[https://www.technologyreview.com/s/517101/edit-wars-reveal-the-10-most-controversial-topics-on-wikipedia/ Edit Wars Reveal the 10 Most Controversial Topics on Wikipedia] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20190408002303/https://www.technologyreview.com/s/517101/edit-wars-reveal-the-10-most-controversial-topics-on-wikipedia/ |date=2019-04-08 }}", MIT Technology Review, ngày 17 tháng 7 năm 2013.</ref><ref name="autogenerated3">{{Chú thích sách/Lua |title=The Most Controversial Topics in Wikipedia: A Multilingual and Geographical Analysis|last=Yasseri|first=Taha|last2=Spoerri|first2=Anselm|last3=Graham|first3=Mark|last4=Kertesz|first4=Janos|publisher=Scarecrow Press|year=2014|editor-last=Fichman, P.|arxiv=1305.5566|doi=10.2139/SSRN.2269392|ssrn=2269392|editor-last2=Hara, N.}}</ref> Nghiên cứu của ông xem xét [[hành vi làm việc phản tác dụng]] của việc bút chiến. Yasseri cho rằng các thao tác lùi sửa hoặc "hoàn tác" đơn giản không phải là thước đo quan trọng nhất cho hành vi phản tác dụng trên Wikipedia và thay vào đó dựa vào phép đo thống kê để phát hiện "các cặp nội dung lùi sửa" hoặc "các cặp lùi sửa lẫn nhau". "Cặp lùi sửa lẫn nhau" là một biên tập viên lùi sửa nội dung của một biên tập viên khác, sau đó biên tập viên kia lại lùi sửa đưa bài viết trở lại nội dung cũ. Kết quả được lập bảng cho một số phiên bản ngôn ngữ của Wikipedia. Ba bài viết có tỷ lệ xung đột lớn nhất trên Wikipedia tiếng Anh là [[George W. Bush]], [[Chủ nghĩa vô chính phủ]] và [[Muhammad]].<ref name="autogenerated3" /> Còn tại Wikipedia tiếng Đức, ba tỷ lệ xung đột lớn nhất tại thời điểm đó là các bài về [[Croatia]], [[Khoa luận giáo|Scientology]] và [[thuyết âm mưu về sự kiện 11 tháng 9]].<ref name="autogenerated3" />
Các nhà nghiên cứu từ [[Đại học Washington tại St. Louis|Đại học Washington]] phát triển một mô hình thống kê để đo lường sự thiên vị có hệ thống trong hành vi của người dùng Wikipedia liên quan đến các chủ đề gây tranh cãi. Các tác giả tập trung vào những thay đổi hành vi của các quản trị viên bách khoa toàn thư sau khi giữ cương vị quản trị, và cho rằng sự thiên vị có hệ thống xảy ra sau khi họ nắm vị trí quản trị viên.<ref>{{cite conference |url = https://dl.acm.org/citation.cfm?id=2505566 |title = Manipulation among the arbiters of collective intelligence: How Wikipedia administrators mold public opinion |last1 = Das |first1 = Sanmay |last2 = Allen |first2 = Lavoie |last3 = Malik |first3 = Magdon-Ismail |date = ngày 1 tháng 11 năm 2013 |publisher = ACM |book-title = CIKM '13 Proceedings of the 22nd ACM international conference on Information & Knowledge Management |pages = 1097–1106 |location = San Francisco, California |doi = 10.1145/2505515.2505566 |isbn = 978-1-4503-2263-8 |access-date = 2021-01-15 |archive-date = 2018-11-06 |archive-url = https://web.archive.org/web/20181106210405/https://dl.acm.org/citation.cfm?id=2505566 |url-status = live }}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí/Lua |last1 = Das |first1 = Sanmay |last2 = Allen |first2 = Lavoie |last3 = Malik |first3 = Magdon-Ismail |title = Manipulation among the arbiters of collective intelligence: How Wikipedia administrators mold public opinion |journal = ACM Transactions on the Web |volume = 10 |issue = 4 |pages = 24 |date = ngày 24 tháng 12 năm 2016 |doi = 10.1145/3001937|s2cid = 12585047 }}
</ref>
=== Nội dung khiêu dâm ===
Bài viết trên Wikipedia về album năm 1976 ''[[Virgin Killer]]'' của [[ban nhạc]] [[Scorpions]] có ảnh bìa gốc của album – hình ảnh khỏa thân của một bé gái chưa dậy thì. Bìa album này đã gây ra tranh cãi và đã được thay thế ở một số quốc gia. Tháng 12 năm 2008, [[Internet Watch Foundation]] (Tổ chức Giám sát Internet) quyết định rằng bìa album là một hình ảnh khiếm nhã có thể bất hợp pháp và thêm URL của bài viết vào một "danh sách đen" mà tổ chức này cung cấp cho các [[nhà cung cấp dịch vụ internet]] của Liên hiệp Anh, kết quả là hầu hết các nhà cung cấp ở Anh chặn truy cập vào bài viết ''Virgin Killer'' trong bốn ngày.<ref name="Register ISP censorship">{{Chú thích báo|url=https://www.theregister.co.uk/2008/12/07/brit_isps_censor_wikipedia|title=Brit ISPs censor Wikipedia over 'child porn' album cover|last=Metz|first=Cade|date=ngày 7 tháng 12 năm 2008|work=[[The Register]]|access-date=ngày 10 tháng 5 năm 2009|archive-date=2020-05-13|archive-url=https://web.archive.org/web/20200513233758/https://www.theregister.co.uk/2008/12/07/brit_isps_censor_wikipedia/|url-status=live}}</ref>
Tháng 4 năm 2010, Sanger viết thư cho [[Cục Điều tra Liên bang Mỹ]], nêu rõ lo ngại của mình rằng hai thể loại hình ảnh trên [[Wikimedia Commons]] có chứa nội dung khiêu dâm trẻ em, tức vi phạm [[luật khiêu dâm của Hoa Kỳ]].<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.smh.com.au/technology/technology-news/wikipedia-rejects-child-porn-accusation-20100428-tsvh|title=Wikipedia rejects child porn accusation|date=ngày 29 tháng 4 năm 2010|work=The Sydney Morning Herald|access-date =ngày 14 tháng 5 năm 2017|archive-url=https://web.archive.org/web/20170902180523/http://www.smh.com.au/technology/technology-news/wikipedia-rejects-child-porn-accusation-20100428-tsvh|archive-date=ngày 2 tháng 9 năm 2017}}</ref><ref name="Inquirer child abuse allegations">{{Chú thích báo|url=http://www.theinquirer.net/inquirer/news/1603521/wikipedia-denies-child-abuse-allegations|title=Wikipedia denies child abuse allegations: Co-founder grassed the outfit to the FBI|last=Farrell|first=Nick|date=ngày 29 tháng 4 năm 2010|work=The Inquirer|access-date =ngày 9 tháng 10 năm 2010|archive-date = ngày 1 tháng 5 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20100501174521/http://www.theinquirer.net/inquirer/news/1603521/wikipedia-denies-child-abuse-allegations}}</ref> Sanger giải thích rằng những hình ảnh liên quan đến [[Ái nhi|ấu dâm]] và [[lolicon]] này không phải của trẻ em thật, mà được dùng cho mục đích "thể hiện hình ảnh nạn lạm dụng tình dục trẻ em", theo [[Đạo luật PROTECT (2003)|Đạo luật PROTECT năm 2003]]. Luật này cấm chụp ảnh khiêu dâm trẻ em và hình ảnh hoạt hình và hình vẽ của trẻ em có nội dung tục tĩu. Sanger cũng bày tỏ lo ngại về khả năng tiếp cận các hình ảnh trên Wikipedia trong trường học.<ref name="TET child porn accusations">{{Chú thích báo|url=http://economictimes.indiatimes.com/infotech/internet/Wikipedia-blasts-co-founders-accusations-of-child-porn-on-website/articleshow/5871943.cms|title=Wikipedia blasts co-founder's accusations of child porn on website|date=ngày 29 tháng 4 năm 2010|work=The Economic Times|access-date=ngày 29 tháng 4 năm 2010|location=India|archive-date=2021-04-14|archive-url=https://web.archive.org/web/20210414015843/https://economictimes.indiatimes.com/infotech/internet/Wikipedia-blasts-co-founders-accusations-of-child-porn-on-website/articleshow/5871943.cms|url-status=live}}</ref> Phát ngôn viên của [[Wikimedia Foundation|Quỹ Wikimedia]] Jay Walsh đã bác bỏ cáo buộc của Sanger, nói rằng Wikipedia không có "tài liệu mà chúng tôi cho là bất hợp pháp. Nếu có thì chúng tôi sẽ xóa." Sau khiếu nại của Sanger, Wales đã xóa các hình ảnh tình dục mà không hỏi ý kiến cộng đồng. Một số biên tập viên lập luận rằng quyết định xóa đã quá vội vàng, sau đó Wales đã tự nguyện từ bỏ một số quyền hạn mà đó giờ ông nắm giữ vì là đồng sáng lập của dự án. Trong một tin nhắn gửi đến Quỹ Wikimedia, Wales viết rằng hành động này "nhằm mục đích khuyến khích thảo luận về các vấn đề xoay quanh nội dung/tư tưởng, hơn là về tôi và tôi đã hành động nhanh như thế nào".<ref name="BBC News Wales cedes rights">{{Chú thích báo|url=http://news.bbc.co.uk/2/hi/technology/10104946.stm|title=Wikimedia pornography row deepens as Wales cedes rights|date=ngày 10 tháng 5 năm 2010|work=BBC News|access-date=ngày 19 tháng 5 năm 2010|archive-date=2010-06-18|archive-url=https://web.archive.org/web/20100618192131/http://news.bbc.co.uk/2/hi/technology/10104946.stm|url-status=live}}</ref> Các nhà phê bình, trong đó có [[Wikipediocracy]], nhận thấy rằng nhiều hình ảnh khiêu dâm bị xóa khỏi Wikipedia từ năm 2010 đã xuất hiện trở lại.<ref name="XBIZ">{{Chú thích báo|url=http://newswire.xbiz.com/view.php?id=169017|title=Wikipedia Gives Porn a Break|last=Gray|first=Lila|date=ngày 17 tháng 9 năm 2013|work=XBIZ.com|access-date=ngày 10 tháng 11 năm 2013|archive-date=2013-10-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20131021064635/http://newswire.xbiz.com/view.php?id=169017|url-status=dead}}</ref>
=== Quyền riêng tư ===
Có lo ngại rằng trong mắt luật pháp, [[Sự riêng tư|quyền riêng tư]] của một công dân cá nhân liệu vẫn còn là quyền riêng tư một "công dân cá nhân" không, hay là của một "[[Nhân vật công chúng|nhân vật của công chúng]]".<ref>Andrew McStay, 2014, [https://www.amazon.co.uk/Privacy-Philosophy-Affective-Protocol-Formations/dp/143311898X Privacy and Philosophy: New Media and Affective Protocol] {{Webarchive |url=https://web.archive.org/web/20160414204326/http://www.amazon.co.uk/Privacy-Philosophy-Affective-Protocol-Formations/dp/143311898X |date=ngày 14 tháng 4 năm 2016}}, New York Peter Lang.</ref><ref group="note">Xem bài viết [https://web.archive.org/web/20101130081035/http://texaspress.com/index.php/publications/law-media/731-law-a-the-media-in-texas--libel-cases "Phỉ báng"] của David McHam để xem sự khác biệt theo luật.</ref>
Tháng 1 năm 2006, một tòa án Đức ra lệnh đóng cửa [[Wikipedia tiếng Đức]] trong phạm vi lãnh thổ Đức vì khai tên đầy đủ của hacker quá cố [[Tron (hacker)|Boris Floricic]] (còn gọi là "Tron"). Ngày 9 tháng 2 năm 2006, đơn chống lại Wikimedia Deutschland bị lật lại, tòa án không cho rằng [[Quyền được bảo vệ đời tư|quyền riêng tư]] của Tron hay của cha mẹ anh đang bị xâm phạm.<ref name="heise Tron public issue 1">[http://www.heise.de/newsticker/meldung/Gericht-weist-einstweilige-Verfuegung-gegen-Wikimedia-Deutschland-ab-Update-173587.html Heise] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120913054949/http://www.heise.de/newsticker/meldung/Gericht-weist-einstweilige-Verfuegung-gegen-Wikimedia-Deutschland-ab-Update-173587.html |date=ngày 13 tháng 9 năm 2012}}—{{lang|de|Gericht weist einstweilige Verfügung gegen Wikimedia Deutschland ab (update)}}, by Torsten Kleinz, ngày 9 tháng 2 năm 2006.</ref>
Wikipedia có "{{Visible anchor|Volunteer Response Team}}" (Đội ngũ Phản hồi Tình nguyện) sử dụng hệ thống [[WP:OTRS|OTRS]] để xử lý các yêu cầu mà không cần phải tiết lộ danh tính của các bên liên quan; ví dụ như để xác nhận quyền sử dụng hình ảnh cá nhân và các phương tiện khác trong dự án.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.otrs.com/en/|tựa đề=IT Service Management Software|nhà xuất bản=OTRS.com|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20131030215341/http://www.otrs.com/en/|ngày lưu trữ=ngày 30 tháng 10 năm 2013|ngày truy cập=ngày 9 tháng 6 năm 2012}}</ref>
=== Phân biệt giới tính ===
{{Main|Thiên kiến giới tính trên Wikipedia}}
Wikipedia đã bị báo chí lên án là [[phân biệt giới tính]], [[quấy rối]] phái nữ và chứa đầy [[thiên kiến giới tính]].<ref name="Paling2">{{Chú thích web|url=https://www.theatlantic.com/technology/archive/2015/10/how-wikipedia-is-hostile-to-women/411619/|tựa đề=Wikipedia's Hostility to Women|tác giả=Paling|tên=Emma|ngày=ngày 21 tháng 10 năm 2015|website=The Atlantic|ngày truy cập=ngày 24 tháng 10 năm 2015|archive-date=2015-10-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20151021174625/http://www.theatlantic.com/technology/archive/2015/10/how-wikipedia-is-hostile-to-women/411619/|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí|last=Auerbach|first=David|date=ngày 11 tháng 12 năm 2014|title=Encyclopedia Frown|url=http://www.slate.com/articles/technology/bitwise/2014/12/wikipedia_editing_disputes_the_crowdsourced_encyclopedia_has_become_a_rancorous.html|journal=Slate|access-date=ngày 24 tháng 10 năm 2015|archive-date=2014-12-13|archive-url=https://web.archive.org/web/20141213060041/http://www.slate.com/articles/technology/bitwise/2014/12/wikipedia_editing_disputes_the_crowdsourced_encyclopedia_has_become_a_rancorous.html}}</ref> Thái độ được cho là độc hại cùng sự khoan nhượng ngôn ngữ bạo lực và lạm dụng cũng góp phần giải thích cho khoảng cách giới tính trong cộng đồng Wikipedia.<ref name="CSM-misogyny2">{{Chú thích tạp chí|date=August 2013|title=In UK, rising chorus of outrage over online misogyny|url=http://www.csmonitor.com/World/Security-Watch/Backchannels/2013/0801/In-UK-rising-chorus-of-outrage-over-online-misogyny|journal=Christian Science Monitor|access-date=2021-01-02|archive-date=2015-07-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20150704200524/http://www.csmonitor.com/World/Security-Watch/Backchannels/2013/0801/In-UK-rising-chorus-of-outrage-over-online-misogyny}}</ref>
== Hoạt động ==
=== Wikimedia Foundation ===
[[Tập tin:Katherine_Maher.jpg|thế=Katherine Maher in 2016. She is seen with light skin, blonde hair, and blue eyes. She is seen wearing a black shirt.|nhỏ|Năm 2016, [[Katherine Maher]] là giám đốc điều hành thứ ba của Wikimedia, kế nhiệm [[Lila Tretikov]], người đã tiếp quản công việc từ [[Sue Gardner]] vào năm 2014.]]
{{Main|Wikimedia Foundation}}
Wikipedia được điều hành và tài trợ bởi Quỹ [[Wikimedia Foundation]], một tổ chức phi lợi nhuận cũng điều hành các dự án liên quan như [[Wikitionary]] và [[Wikibooks]], vận hành bằng đóng góp và tài trợ của công chúng.<ref name="financialstatements">{{Chú thích web |url=http://upload.wikimedia.org/wikipedia/foundation/a/ac/FINAL_10_11From_KPMG.pdf |tựa đề=Wikimedia Foundation – Financial Statements – ngày 30 tháng 6 năm 2011 and 2010 |nhà xuất bản=Wikimedia Foundation |ngày truy cập=ngày 5 tháng 6 năm 2016 |archive-date=2012-04-18 |archive-url=https://web.archive.org/web/20120418033650/https://upload.wikimedia.org/wikipedia/foundation/a/ac/FINAL_10_11From_KPMG.pdf |url-status=live }}</ref> Biểu mẫu 990 IRS năm 2013 của quỹ cho thấy doanh thu là 39,7 triệu USD, chi phí là gần 29 triệu USD, số tài sản là 37,2 triệu USD còn nợ phải trả rơi vào khoảng 2,3 triệu USD.<ref>{{Chú thích web |url=http://upload.wikimedia.org/wikipedia/foundation/5/5c/Form_990_-_FY_12-13_-_Public.pdf |tựa đề=Wikimedia Foundation IRS Form 990 |ngày truy cập=ngày 14 tháng 10 năm 2014 |archive-date=2021-03-08 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210308015041/https://upload.wikimedia.org/wikipedia/foundation/5/5c/Form_990_-_FY_12-13_-_Public.pdf |url-status=live }}</ref>
Tháng 5 năm 2014, Quỹ Wikimedia bổ nhiệm [[Lila Tretikov]] làm giám đốc điều hành thứ hai, thế chỗ Sue Gardner.<ref>{{Chú thích web|url=https://wikimediafoundation.org/wiki/Press_releases/WMF_announces_new_ED_Lila_Tretikov|tựa đề=Press releases/WMF announces new ED Lila Tretikov|ngày=ngày 31 tháng 5 năm 2018|nhà xuất bản=Wikimedia Foundation|ngày truy cập=ngày 14 tháng 6 năm 2014|archive-date=2017-10-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20171011032425/https://wikimediafoundation.org/wiki/Press_releases/WMF_announces_new_ED_Lila_Tretikov|url-status=live}}</ref> Ngày 1 tháng 5 năm 2014, tờ ''[[The Wall Street Journal]]'' (TWSJ) đưa tin rằng việc Tretikov xuất thân từ ngành công nghệ thông tin từ những năm ở Đại học California đã giúp Wikipedia phát triển theo các hướng tập trung hơn, nương theo tuyên ngôn định vị thường trực của Tretikov "Thông tin cũng giống như không khí, nó muốn được tự do."<ref name="Jeff Elder 2014">Jeff Elder, ''The Wall Street Journal'', ngày 1 tháng 5 năm 2014, "Wikipedia's New Chief: From Soviet Union to World's Sixth-Largest Site".</ref><ref name="nytimes.com2">{{Chú thích báo |url=https://www.nytimes.com/2014/05/02/business/media/open-source-software-specialist-selected-as-executive-director-of-wikipedia.html?_r=0 |title=Media: Open-Source Software Specialist Selected as Executive Director of Wikipedia |last=Noam Cohen |date=ngày 1 tháng 5 năm 2014 |work=The New York Times |access-date=2021-01-02 |archive-date=2017-10-18 |archive-url=https://web.archive.org/web/20171018132219/https://www.nytimes.com/2014/05/02/business/media/open-source-software-specialist-selected-as-executive-director-of-wikipedia.html?_r=0 |url-status=live }}</ref> Cũng trong bài báo, phát ngôn viên Jay Walsh của Wikimedia "cho biết Tretikov sẽ ưu tiên giải quyết vấn đề đó ([[Biên tập xung đột lợi ích trên Wikipedia|viết bài có trả tiền]]). 'Chúng tôi thực sự đang thúc đẩy sự minh bạch... Chúng tôi đang nhấn mạnh rằng việc viết bài trả phí không được hoan nghênh.' Chúng tôi đang ưu tiên các sáng kiến thu hút người dùng đa dạng hơn, hỗ trợ Wikipedia trên thiết bị di động tốt hơn, các công cụ vị trí địa lý mới để tìm kiếm nội dung địa phương dễ dàng hơn, cũng như ưu tiên nhiều công cụ hơn cho người dùng ở thế giới thứ hai và thứ ba", Walsh nói.<ref name="Jeff Elder 2014" />
Sau khi Tretikov rời Wikipedia do các vấn đề liên quan đến việc sử dụng tính năng "siêu bảo vệ" mà một số phiên bản ngôn ngữ của Wikipedia đã áp dụng, [[Katherine Maher]] trở thành giám đốc điều hành thứ ba của Wikimedia vào tháng 6 năm 2016.<ref>Dimitra Kessenides. Bloomberg News Weekly. ngày 26 tháng 12 năm 2016. "Is Wikipedia 'Woke'".</ref> Maher tuyên bố một trong những ưu tiên của cô là vấn đề quấy rối biên tập viên đặc hữu của Wikipedia mà hội đồng quản trị Wikipedia từng xác định vào tháng 12.<ref>Dimitra Kessenides. Bloomberg News Weekly. ngày 26 tháng 12 năm 2016, p. 74. "Is Wikipedia 'Woke'".</ref>
=== Hoạt động và hỗ trợ phần mềm ===
{{Main|MediaWiki}}
Wikipedia dựa trên [[MediaWiki]], một nền tảng [[phần mềm wiki]] chuyên biệt, [[Phần mềm tự do|tự do]] và có [[Phần mềm nguồn mở|mã nguồn mở]], viết bằng ngôn ngữ [[PHP]] và xây trên [[cơ sở dữ liệu]] [[MySQL]].<ref name="nedworks database system">{{Chú thích web |url = http://www.nedworks.org/~mark/presentations/san/Wikimedia%20architecture.pdf |title = Wikimedia Architecture |first = Mark |last = Bergsma |publisher = Wikimedia Foundation |access-date = ngày 27 tháng 6 năm 2008 |archive-url = https://web.archive.org/web/20090303204708/http://www.nedworks.org/~mark/presentations/san/Wikimedia%20architecture.pdf |archive-date = ngày 3 tháng 3 năm 2009}}</ref> Phần mềm này bao gồm những tính năng lập trình như [[Macro (máy tính)|ngôn ngữ macro]], [[biến số]], hệ thống nhúng bản mẫu (''template transclusion''), và [[đổi hướng URL]]. MediaWiki được phát hành theo [[Giấy phép Công cộng GNU]] (GPL) và được các dự án Wikimedia sử dụng, cũng như nhiều dự án wiki khác. Ban đầu Wikipedia chạy trên [[UseModWiki]], một chương trình [[Perl]] của Clifford Adams (''Phase I''). Nó bắt phải viết hoa theo kiểu [[CamelCase]] để tạo ra [[siêu liên kết]] giữa các bài; sau này mới xuất hiện cú pháp hai [[dấu ngoặc vuông]]. Từ tháng 1 năm 2002 (''Phase II''), Wikipedia bắt đầu sử dụng chương trình [[PhpWiki|PHP wiki]] với cơ sở dữ liệu MySQL; phần mềm này do [[Magnus Manske]] viết riêng cho Wikipedia. Phần mềm Phase II được sửa nhiều lần để thỏa mãn nhu cầu đang tăng trưởng theo [[đường lũy thừa|cấp số nhân]]. Tháng 7 năm 2002 (''Phase III''), Wikipedia đổi qua phần mềm thế hệ thứ ba MediaWiki, vốn do [[Lee Daniel Crocker]] viết.
Một số phần mở rộng MediaWiki được cài đặt<ref name="WP extensions installed">{{Chú thích web|url=https://en.wikipedia.org/wiki/Special:Version|tựa đề=Version: Installed extensions|ngày=ngày 28 tháng 9 năm 2018|ngày truy cập=2021-01-02|archive-date=2019-03-20|archive-url=https://web.archive.org/web/20190320121042/https://en.wikipedia.org/wiki/Special:Version|url-status=live}}. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2014.</ref> để mở rộng chức năng của phần mềm MediaWiki.
Tháng 4 năm 2005, một phần mở rộng [[Lucene]]<ref>{{Chú thích web|url=https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Wikipedia_Signpost/2005-04-18/Lucene_search|tựa đề=Lucene search: Internal search function returns to service|tác giả=Michael Snow|ngày=ngày 29 tháng 12 năm 2016|nhà xuất bản=Wikimedia Foundation|ngày truy cập=ngày 26 tháng 2 năm 2009|archive-date=2012-07-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20120731211712/https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Wikipedia_Signpost/2005-04-18/Lucene_search|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://lists.wikimedia.org/pipermail/wikitech-l/2005-April/016297.html|tựa đề=[Wikitech-l] Lucene search|tác giả=Brion Vibber|ngày truy cập=ngày 26 tháng 2 năm 2009|archive-date=2013-03-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20130330033506/http://lists.wikimedia.org/pipermail/wikitech-l/2005-April/016297.html|url-status=live}}</ref> được thêm vào tìm kiếm tích hợp của MediaWiki. Wikipedia chuyển từ [[MySQL]] sang Lucene nhằm thực hiện các lệnh tìm kiếm và hiện đang sử dụng Lucene Search 2.1,<ref>{{Chú thích web|url=http://www.mediawiki.org/wiki/Extension:Lucene-search|tựa đề=Extension:Lucene-search|nhà xuất bản=Wikimedia Foundation|ngày truy cập=ngày 31 tháng 8 năm 2009|archive-date=2008-11-20|archive-url=https://web.archive.org/web/20081120003932/http://www.mediawiki.org/wiki/Extension:Lucene-search|url-status=live}}</ref>{{Cần cập nhật trong dòng|date=November 2016}} được viết bằng [[Java (ngôn ngữ lập trình)|Java]] và dựa trên thư viện Lucene 2.3.<ref>{{Chú thích web|url=https://phabricator.wikimedia.org/diffusion/SVN/browse/branches/lucene-search-2.1/lib/|tựa đề=mediawiki –Revision 55688: /branches/lucene-search-2.1/lib|nhà xuất bản=Wikimedia Foundation|ngày truy cập=ngày 31 tháng 8 năm 2009|archive-date=2019-04-08|archive-url=https://web.archive.org/web/20190408001625/https://phabricator.wikimedia.org/diffusion/SVN/browse/branches/lucene-search-2.1/lib/|url-status=dead}}</ref>
Tháng 7 năm 2013, sau khi thử nghiệm beta rộng rãi, một tiện ích mở rộng WYSIWYG, [[VisualEditor]], được mở nhằm sử dụng công khai.<ref name="thenextwebve">{{Chú thích web|url=https://thenextweb.com/insider/2013/07/02/wikimedia-rolls-out-its-wysiwyg-visual-editor-for-logged-in-users-accessing-wikipedia-articles-in-english/|tựa đề=Wikimedia rolls out WYSIWYG visual editor for logged-in users accessing Wikipedia articles in English|tác giả=Emil Protalinski|ngày=ngày 2 tháng 7 năm 2013|website=The Next Web|ngày truy cập=ngày 6 tháng 7 năm 2013|archive-date=2013-07-05|archive-url=https://web.archive.org/web/20130705200158/http://thenextweb.com/insider/2013/07/02/wikimedia-rolls-out-its-wysiwyg-visual-editor-for-logged-in-users-accessing-wikipedia-articles-in-english/|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=https://www.telegraph.co.uk/technology/wikipedia/10196578/Wikipedia-introduces-new-features-to-entice-editors.html|title=Wikipedia introduces new features to entice editors|last=Curtis, Sophie|date=ngày 23 tháng 7 năm 2013|work=The Daily Telegraph|access-date=ngày 18 tháng 8 năm 2013|archive-date=2020-12-06|archive-url=https://web.archive.org/web/20201206030126/https://www.telegraph.co.uk/technology/wikipedia/10196578/Wikipedia-introduces-new-features-to-entice-editors.html|url-status=live}}</ref><ref name="TheEconomistVE">{{Chú thích báo|url=https://www.economist.com/blogs/babbage/2011/12/changes-wikipedia|title=Changes at Wikipedia: Seeing things|last=L. M.|date=ngày 13 tháng 12 năm 2011|work=[[The Economist]]|access-date=ngày 28 tháng 7 năm 2013|archive-date=2013-06-09|archive-url=https://web.archive.org/web/20130609185354/http://www.economist.com/blogs/babbage/2011/12/changes-wikipedia|url-status=live}}</ref><ref name="softpedia-best">{{Chú thích web|url=http://news.softpedia.com/news/Wikipedia-s-New-VisualEditor-Is-the-Best-Update-in-Years-and-You-Can-Make-It-Better-365072.shtml|tựa đề=Wikipedia's New VisualEditor Is the Best Update in Years and You Can Make It Better|tác giả=Lucian Parfeni|ngày=ngày 2 tháng 7 năm 2013|website=[[Softpedia]]|ngày truy cập=ngày 30 tháng 7 năm 2013|archive-date=2013-10-03|archive-url=https://web.archive.org/web/20131003062619/http://news.softpedia.com/news/Wikipedia-s-New-VisualEditor-Is-the-Best-Update-in-Years-and-You-Can-Make-It-Better-365072.shtml|url-status=live}}</ref> Nó đã vấp phải nhiều sự phản đối và chỉ trích, và được mô tả là "chậm chạp và đầy lỗi".<ref name="Orlowski, Andrew2">{{Chú thích web|url=https://www.theregister.co.uk/2013/08/01/wikipedians_reject_wysiwyg_editor/|tựa đề=Wikipedians say no to Jimmy's 'buggy' WYSIWYG editor|tác giả=Orlowski, Andrew|ngày=ngày 1 tháng 8 năm 2013|website=The Register|ngày truy cập=ngày 18 tháng 8 năm 2013|archive-date=2013-08-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20130804115056/http://www.theregister.co.uk/2013/08/01/wikipedians_reject_wysiwyg_editor|url-status=live}}</ref>
=== Sửa đổi tự động ===
{{main|Wikipedia bot}}
Wikipedia dùng các chương trình máy tính (được gọi là [[bot]]) để thực hiện các tác vụ đơn giản và lặp đi lặp lại, chẳng hạn như sửa các lỗi chính tả phổ biến, các vấn đề về văn phong, hoặc khởi tạo các bài viết mới về địa lý với một định dạng chuẩn có sẵn lấy từ dữ liệu thống kê.<ref>{{Srlink|:en:Wikipedia:Bots|Thông tin về Wikipedia Bot (tiếng Anh)}}</ref><ref name="meetbots">{{Chú thích báo|url=https://www.bbc.co.uk/news/magazine-18892510|title=Meet the 'bots' that edit Wikipedia|last=Daniel Nasaw|date=ngày 24 tháng 7 năm 2012|work=BBC News|access-date=2021-01-02|archive-date=2012-07-28|archive-url=https://web.archive.org/web/20120728024625/https://www.bbc.co.uk/news/magazine-18892510|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/technology/blog/2012/jul/26/boot-up-wikipedia-apple|title=Boot up: The Wikipedia vandalism police, Apple analysts, and more|last=Halliday|first=Josh|date=ngày 26 tháng 7 năm 2012|work=[[The Guardian]]|access-date=ngày 5 tháng 9 năm 2012|last2=Arthur, Charles|archive-date=2022-02-20|archive-url=https://web.archive.org/web/20220220203949/https://www.theguardian.com/technology/blog/2012/jul/26/boot-up-wikipedia-apple|url-status=live}}</ref> Tại Wikipedia tiếng Thụy Điển, biên tập viên {{ill|Sverker Johansson|sv}} từng dùng bot để tạo bài mới và được báo cáo là đã tạo ra tới 10.000 bài viết vào một số ngày nhất định.<ref>{{Chú thích báo|url=https://online.wsj.com/articles/for-this-author-10-000-wikipedia-articles-is-a-good-days-work-1405305001|title=For This Author, 10,000 Wikipedia Articles Is a Good Day's Work|last=Jervell|first=Ellen Emmerentze|date=ngày 13 tháng 7 năm 2014|work=The Wall Street Journal|access-date=ngày 18 tháng 8 năm 2014|archive-date=2018-02-24|archive-url=https://web.archive.org/web/20180224112408/https://www.wsj.com/articles/for-this-author-10-000-wikipedia-articles-is-a-good-days-work-1405305001|url-status=live}}</ref> Có những bot được thiết kế để thông báo một cách tự động khi biên tập viên mắc các lỗi thường gặp như dấu ngoặc kép hoặc dấu ngoặc đơn chưa khớp.<ref>{{Chú thích web|url=https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Wikipedia_Signpost/2009-03-23/Abuse_Filter|tựa đề=Wikipedia signpost: Abuse Filter is enabled|ngày=ngày 23 tháng 3 năm 2009|nhà xuất bản=English Wikipedia|ngày truy cập=ngày 13 tháng 7 năm 2010|archive-date=2022-03-22|archive-url=https://web.archive.org/web/20220322114624/https://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Wikipedia_Signpost/2009-03-23/Abuse_Filter|url-status=live}}</ref> Khi bot chạy sai và gây ra lỗi, các biên tập viên khác có thể hủy các lỗi đó và khôi phục nội dung gốc. Một bot chống phá hoại sẽ được lập trình để phát hiện và hủy các sửa đổi phá hoại một cách nhanh chóng.<ref name="meetbots" /> Bot cũng có thể chỉ ra chỉnh sửa đến từ các tài khoản hoặc dải [[địa chỉ IP]] cụ thể, như đã xảy ra vào thời điểm xảy ra vụ [[Chuyến bay 17 của Malaysia Airlines|máy bay MH17]] bị bắn rơi vào tháng 7 năm 2014 khi người ta báo cáo rằng các chỉnh sửa đã được thực hiện thông qua IP do chính phủ Nga kiểm soát.<ref>Aljazeera, ngày 21 tháng 7 năm 2014, "MH17 Wikipedia entry edited from Russian Government IP Address". {{Chú thích web |url=http://stream.aljazeera.com/story/201407211855-0023944 |tựa đề=MH17 Wikipedia entry edited from Russian government IP address|ngày=ngày 21 tháng 7 năm 2014|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20161116002928/http://stream.aljazeera.com/story/201407211855-0023944|ngày lưu trữ=ngày 16 tháng 11 năm 2016|ngày truy cập=ngày 22 tháng 7 năm 2014}}</ref> Trên Wikipedia, các bot phải được phê duyệt trước khi kích hoạt.<ref>{{Srlink|:en:Wikipedia:Bot policy|Quy định về bot của Wikipedia (tiếng Anh).}}</ref>
Theo [[Andrew Lih]], nếu không sử dụng các bot thì khó mà mở rộng Wikipedia lên hàng triệu bài viết.<ref>Andrew Lih (2009). ''[[The Wikipedia Revolution]]'', chapter ''Then came the Bots'', pp. 99–106.</ref>
=== Hoạt động và hỗ trợ phần cứng ===
[[Tập tin:Floridaserversfront1.jpg|nhỏ|trái|Wikipedia nhận 25.000 đến 60.000 yêu cầu đọc trang mỗi giây, tùy vào thời gian trong ngày. Hơn 300 cụm máy chủ được thiết lập để thỏa mãn các yêu cầu này.]]
[[Tập tin:Wikimedia Servers(vietnamese).svg|nhỏ|alt=Các máy chủ của Wikipedia trên toàn thế giới|Các máy chủ của Wikipedia trên toàn thế giới.]]
[[Tập tin:Wikimedia-servers-2009-04-05 vi.svg|nhỏ|alt=Biểu đồ dữ liệu được chuyển giữa các máy chủ của Wikipedia. 20 máy chủ cơ sở dữ liệu chuyển dữ liệu tới hàng trăm máy chủ Apache phía sau; các máy Apache chuyển dữ liệu tới 50 máy squid phía trước.|Tóm lược cấu trúc hệ thống vào tháng 4 năm 2009. Xem [[m:Server layout diagrams|biểu đồ máy chủ tại Meta-Wiki]].]]
Wikipedia nhận 25.000 đến 60.000 yêu cầu đọc trang mỗi giây, tùy thuộc vào thời gian trong ngày.<ref name="Thống kê yêu cầu">{{Chú thích web|url=http://toolserver.org/~leon/stats/reqstats/reqstats-monthly.png|tiêu đề=Thống kê yêu cầu hàng tháng|nhà xuất bản=Quỹ Wikimedia|ngày truy cập=3 tháng 2 năm 2007|archive-date = ngày 28 tháng 5 năm 2008 |archive-url=https://web.archive.org/web/20080528011038/http://toolserver.org/~leon/stats/reqstats/reqstats-monthly.png}}</ref><ref name="WP tools requests per day">[https://web.archive.org/web/20081028185204/https://toolserver.org/~leon/stats/reqstats/reqstats-monthly.png "Monthly request statistics"], Wikimedia. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008.</ref>{{Cần cập nhật trong dòng|date=July 2019}} {{Tính đến|2019|}} mới là lần đầu tiên các yêu cầu trang được chuyển đến lớp front-end của máy chủ bộ nhớ đệm [[Varnish (phần mềm)|Varnish]].<ref>{{Chú thích web|url=https://wikitech.wikimedia.org/wiki/Varnish|tựa đề=Varnish – Wikitech|website=wikitech.wikimedia.org|ngày truy cập=ngày 12 tháng 5 năm 2019|archive-date=2021-01-20|archive-url=https://web.archive.org/web/20210120040423/https://wikitech.wikimedia.org/wiki/Varnish|url-status=live}}</ref>{{Cần cập nhật trong dòng|date=November 2020|reason=ATS too now}} Các số liệu thống kê khác, dựa trên dấu vết truy cập Wikipedia 3 tháng công khai cũng có sẵn.<ref name="globule access trace">{{Chú thích web|url=http://www.globule.org/publi/WWADH_comnet2009.html|tựa đề=Wikipedia Workload Analysis for Decentralized Hosting|tác giả=Guido Urdaneta, Guillaume Pierre and Maarten van Steen|nhà xuất bản=Elsevier Computer Networks 53 (11), pp. 1830–1845, June 2009|ngày truy cập=ngày 5 tháng 6 năm 2016|archive-date=2012-06-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20120626185442/http://www.globule.org/publi/WWADH_comnet2009.html|url-status=live}}</ref> Yêu cầu không thể được phân phát từ bộ đệm Varnish được gửi đến máy chủ cân bằng tải chạy phần mềm [[Máy chủ ảo Linux]], máy chủ này sẽ chuyển chúng đến một trong các máy chủ web Apache để hiển thị trang từ cơ sở dữ liệu. Máy chủ web cung cấp các trang theo yêu cầu, thực hiện kết xuất trang cho tất cả các phiên bản ngôn ngữ của Wikipedia. Nhằm tăng tốc độ, các trang đã kết xuất được lưu vào bộ nhớ đệm trong bộ nhớ đệm phân tán cho đến khi hết hiệu lực, cho phép hoàn toàn bỏ qua kết xuất trang đối với hầu hết các truy cập tới các trang phổ biến.
Wikipedia hiện chạy trên các [[Điện toán cụm|cụm]] máy chủ [[Linux]] chuyên dụng (chủ yếu là [[Ubuntu]]).<ref name="CW WP simplifies infrastructure">{{Chú thích báo|url=http://www.computerworld.com/s/article/9116787/Wikipedia_simplifies_IT_infrastructure_by_moving_to_one_Linux_vendor?taxonomyId=154&pageNumber=1&taxonomyName=Servers%20and%20Data%20Center|title=Wikipedia simplifies IT infrastructure by moving to one Linux vendor|last=Weiss|first=Todd R.|date=ngày 9 tháng 10 năm 2008|work=[[Computerworld]]|access-date=ngày 1 tháng 11 năm 2008|archive-date=2012-10-05|archive-url=https://web.archive.org/web/20121005181633/http://www.computerworld.com/s/article/9116787/Wikipedia_simplifies_IT_infrastructure_by_moving_to_one_Linux_vendor?taxonomyId=154&pageNumber=1&taxonomyName=Servers%20and%20Data%20Center|url-status=live}}</ref><ref name="ars tech Ubuntu server infra">{{Chú thích web|url=https://arstechnica.com/open-source/news/2008/10/wikipedia-adopts-ubuntu-for-its-server-infrastructure.ars|tựa đề=Wikipedia adopts Ubuntu for its server infrastructure|tác giả=Paul|tên=Ryan|ngày=ngày 9 tháng 10 năm 2008|website=Ars Technica|ngày truy cập=ngày 1 tháng 11 năm 2008|archive-date=2009-01-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20090130021503/http://arstechnica.com/open-source/news/2008/10/wikipedia-adopts-ubuntu-for-its-server-infrastructure.ars|url-status=live}}</ref>{{Cần cập nhật trong dòng|date=November 2020|reason=No ubuntu left, prod runs debian stable/oldstable}} {{Tính đến|2009|12}}, có 300 cụm máy ở Florida và 44 cụm máy ở [[Amsterdam]]. Ngày 22 tháng 1 năm 2013, trung tâm dữ liệu chính của Wikipedia được chuyển đến một cơ sở [[Equinix]] ở [[Ashburn, Virginia]].<ref>{{Chú thích web|url=https://diff.wikimedia.org/2013/01/19/wikimedia-sites-move-to-primary-data-center-in-ashburn-virginia/|tựa đề=Wikimedia sites to move to primary data center in Ashburn, Virginia|tác giả=Palmier|tên=Guillaume|nhà xuất bản=WMF|ngày truy cập=ngày 5 tháng 6 năm 2016|archive-date=2018-07-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20180715011114/https://blog.wikimedia.org/2013/01/19/wikimedia-sites-move-to-primary-data-center-in-ashburn-virginia/|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.datacenterknowledge.com/archives/2013/01/14/its-official-equinix-ashburn-is-wikimedias-home/|tựa đề=It's Official: Ashburn is Wikipedia's New Home|tác giả=Verge|tên=Jason|ngày=ngày 14 tháng 1 năm 2013|nhà xuất bản=Data Center Knowledge|ngày truy cập=ngày 5 tháng 6 năm 2016|archive-date=2018-07-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20180715011703/http://www.datacenterknowledge.com/archives/2013/01/14/its-official-equinix-ashburn-is-wikimedias-home/|url-status=live}}</ref> Năm 2017, Wikipedia cài đặt một cụm bộ nhớ đệm trong một cơ sở Equinix ở [[Singapore]], đây là cơ sở đầu tiên thuộc loại này ở châu Á.<ref>{{Chú thích web|url=https://phabricator.wikimedia.org/T156028|tựa đề=⚓ T156028 Name Asia Cache DC site|website=Wikimedia Phabricator|ngày truy cập=ngày 12 tháng 5 năm 2019|archive-date=2019-05-12|archive-url=https://web.archive.org/web/20190512040933/https://phabricator.wikimedia.org/T156028|url-status=live}}</ref>
=== Nghiên cứu nội bộ và phát triển hoạt động ===
Sau khi số lượng tài trợ cho Wikipedia ngày càng tăng vượt quá bảy chữ số trong năm 2013 như được báo cáo gần đây,<ref name="Simonite-20133"/> Quỹ Wikipedia đã đạt đến ngưỡng tài sản đủ điều kiện để xem xét theo các nguyên tắc kinh tế [[Lý thuyết tổ chức ngành|tổ chức công nghiệp]] để chỉ ra sự cần thiết tái đầu tư các khoản đóng góp vào nghiên cứu và phát triển nội bộ của Quỹ.<ref name="autogenerated5">Frederic M. Scherer and David Ross, [1970] 1990. ''Industrial Market Structure and Economic Performance'', 3rd ed. Houghton-Mifflin. {{SSRN|1496716}} and 1st ed. review [https://www.jstor.org/stable/3003013 extract] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20210310200937/https://www.jstor.org/stable/3003013 |date=2021-03-10 }}. • [[Google Scholar]] search of [https://archive.today/20120721074339/http://scholar.google.com/scholar?q=Frederic+M.+Scherer&hl=en&btnG=Search&as_sdt=1,47&as_sdtp=on Frederic M. Scherer]</ref> Hai trong số các dự án gần đây của nghiên cứu và phát triển nội bộ như vậy là tạo Trình chỉnh sửa trực quan và tab "Cảm ơn" chưa được sử dụng nhiều, được phát triển để cải thiện các vấn đề về tiêu hao trình chỉnh sửa, vốn không thành công lắm.<ref name="Simonite-20133" /><ref name="Orlowski, Andrew2"/> Adam Jaffe nghiên cứu ước tính tái đầu tư của các tổ chức công nghiệp vào nghiên cứu và phát triển nội bộ, và khuyến nghị phạm vi từ 4% đến 25% hàng năm, còn công nghệ cao cấp sẽ đòi hỏi mức độ hỗ trợ cao hơn cho việc tái đầu tư nội bộ.<ref name="Patents, Citations pp 89-153">''Patents, Citations, and Innovations'', by Adam B. Jaffe, Manuel Trajtenberg, pp. 89–153.</ref> Ở mức độ đóng góp năm 2013 cho Wikimedia hiện nay được ghi nhận là 45 triệu [[USD]], Jaffe và Caballero đề xuất mức ngân sách tính toán để tái đầu tư vào nghiên cứu và phát triển nội bộ là từ 1,8 triệu và 11,3 hàng triệu USD hàng năm.<ref name="Patents, Citations pp 89-153" /> Năm 2016, ''Bloomberg News'' báo cáo mức đóng góp là 77 triệu USD hàng năm, cập nhật ước tính của Jaffe để có mức hỗ trợ cao hơn lên đến từ 3,08 triệu tới 19,2 triệu USD hàng năm.<ref name="Patents, Citations pp 89-153" />
=== Ấn phẩm tin tức nội bộ ===
Các ấn phẩm tin tức do cộng đồng sản xuất bao gồm [[Wikipedia:The Signpost|''The Signpost'']] của [[Wikipedia tiếng Anh]], được thành lập vào năm 2005 bởi Michael Snow, một luật sư, quản trị viên Wikipedia, và cựu chủ tịch hội đồng quản trị của [[Wikimedia Foundation]].<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.nytimes.com/2007/03/05/technology/05wikipedia.html?pagewanted=2&_r=1|title=A Contributor to Wikipedia Has His Fictional Side|last=Cohen|first=Noam|date=ngày 5 tháng 3 năm 2007|work=The New York Times|access-date=ngày 18 tháng 10 năm 2008|archive-date=2021-03-08|archive-url=https://web.archive.org/web/20210308140247/https://www.nytimes.com/2007/03/05/technology/05wikipedia.html?pagewanted=2&_r=1|url-status=live}}</ref>
== Truy cập nội dung ==
=== Cấp phép nội dung ===
Khi bắt đầu vào năm 2001, tất cả văn bản trên Wikipedia đều dùng [[Giấy phép Tài liệu Tự do GNU]] (GFDL), một giấy phép [[copyleft]] cho phép phân phối lại, tạo ra các tác phẩm phái sinh và sử dụng nội dung cho mục đích thương mại, còn tác giả vẫn giữ bản quyền tác phẩm.<ref name="WP copyright and commerciality 1">{{Srlink|:en:Wikipedia:Copyrights|Quy định về bản quyền của Wikipedia (tiếng Anh)}}</ref> Giấy phép này vốn là hướng dẫn sử dụng phần mềm đi kèm các chương trình [[Phần mềm tự do|phần mềm miễn phí]] được cấp phép theo [[Giấy phép Công cộng GNU|GPL]]. Do đó đây là một lựa chọn tồi cho một tài liệu tham khảo phổ thông: ví dụ, GFDL yêu cầu các tài liệu tái bản từ Wikipedia phải đi kèm với một bản sao đầy đủ của văn bản GFDL. Tháng 12 năm 2002 phát hành [[giấy phép Creative Commons]], được thiết kế không chỉ cho hướng dẫn sử dụng phần mềm mà đặc biệt dành cho các tác phẩm sáng tạo nói chung. Giấy phép này trở nên phổ biến trong giới blogger cũng như những người phân phối các tác phẩm sáng tạo trên Web. Wikipedia đã tìm cách chuyển sang [[Creative Commons]].<ref name="WPF switch to CC">{{Chú thích web|url=https://wikimediafoundation.org/wiki/Resolution:License_update|tựa đề=Resolution:License update|tác giả=Walter Vermeir|năm=2007|nhà xuất bản=Wikizine|ngày truy cập=ngày 4 tháng 12 năm 2007|archive-date=2011-09-03|archive-url=https://web.archive.org/web/20110903084619/http://wikimediafoundation.org/wiki/Resolution:License_update|url-status=live}}</ref> Vì GFDL và Creative Commons không tương thích nhau nên vào tháng 11 năm 2008, theo yêu cầu của dự án, [[Quỹ Phần mềm Tự do|Tổ chức Phần mềm Tự do]] (FSF) đã phát hành một phiên bản mới của GFDL được thiết kế đặc biệt để cho phép Wikipedia cấp phép nội dung theo CC BY-SA vào ngày 1 tháng 8 năm 2009. (Phiên bản mới của GFDL sẽ tự động bao gồm nội dung Wikipedia.) Tháng 4 năm 2009, Wikipedia cùng các dự án chị em tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý toàn cộng đồng để quyết định việc chuyển đổi vào tháng 6 năm 2009.<ref name="MW licensing QA">{{Chú thích web|url=http://meta.wikimedia.org/wiki/Licensing_update/Questions_and_Answers|tựa đề=Licensing update/Questions and Answers|website=Wikimedia Meta|nhà xuất bản=Wikimedia Foundation|ngày truy cập=ngày 15 tháng 2 năm 2009|archive-date=2012-08-07|archive-url=https://web.archive.org/web/20120807035406/http://meta.wikimedia.org/wiki/Licensing_update/Questions_and_Answers|url-status=live}}</ref><ref name="MW licensing timeline 1">{{Chú thích web|url=http://meta.wikimedia.org/wiki/Licensing_update/Timeline|tựa đề=Licensing_update/Timeline|website=Wikimedia Meta|nhà xuất bản=Wikimedia Foundation|ngày truy cập=ngày 5 tháng 4 năm 2009|archive-date=2012-06-14|archive-url=https://web.archive.org/web/20120614213709/http://meta.wikimedia.org/wiki/Licensing_update/Timeline|url-status=live}}</ref><ref name="WP blog license migration">{{Chú thích web|url=https://diff.wikimedia.org/2009/05/21/wikimedia-community-approves-license-migration|tựa đề=Wikimedia community approves license migration|website=Wikimedia Foundation|ngày truy cập=ngày 21 tháng 5 năm 2009|archive-date=2021-01-13|archive-url=https://web.archive.org/web/20210113042618/https://diff.wikimedia.org/2009/05/21/wikimedia-community-approves-license-migration/|url-status=live}}</ref>
Các phiên bản ngôn ngữ có các cách xử lý các tệp phương tiện (ví dụ: tệp hình ảnh) khác nhau. Một số phiên bản, chẳng hạn như Wikipedia tiếng Anh, chứa các tệp hình ảnh không miễn phí theo thuyết [[sử dụng hợp lý]], còn những phiên bản khác thì không, một phần vì thiếu học thuyết sử dụng hợp pháp ở quốc gia của họ (ví dụ: trong [[luật bản quyền của Nhật Bản]]). Các tệp phương tiện được cấp phép [[nội dung tự do]] (ví dụ: [[Creative Commons]] 'CC BY-SA) được chia sẻ trên các phiên bản ngôn ngữ thông qua kho lưu trữ [[Wikimedia Commons]], một dự án do Wikimedia Foundation điều hành. Wikipedia tuân theo các luật bản quyền quốc tế khác nhau liên quan đến hình ảnh khiến một số người nhận thấy rằng phạm vi ảnh về các chủ đề của Wikipedia thua kém chất lượng của văn bản bách khoa.<ref name="NYT photos on WP">{{Chú thích báo|url=https://www.nytimes.com/2009/07/20/arts/20funny.html|title=Wikipedia May Be a Font of Facts, but It's a Desert for Photos|last=Cohen|first=Noam|date=ngày 19 tháng 7 năm 2009|work=New York Times|access-date=ngày 9 tháng 3 năm 2013|archive-date=2011-11-10|archive-url=https://web.archive.org/web/20111110054750/http://www.nytimes.com/2009/07/20/arts/20funny.html|url-status=live}}</ref>
Wikimedia Foundation không phải là người cấp phép cho nội dung mà chỉ là một dịch vụ lưu trữ cho những người đóng góp (và người cấp phép) cho Wikipedia. Vị trí này đã được bảo vệ thành công trước tòa.<ref name="reuters French defamation case2">{{Chú thích báo|url=https://www.reuters.com/article/internetNews/idUSL0280486220071102?feedType=RSS&feedName=internetNews|title=Wikipedia cleared in French defamation case|date=ngày 2 tháng 11 năm 2007|work=Reuters|access-date=ngày 2 tháng 11 năm 2007|archive-date=2021-01-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20210126020310/https://www.reuters.com/article/internetNews/idUSL0280486220071102?feedType=RSS&feedName=internetNews|url-status=live}}</ref><ref name="ars tech WP dumb suing case2">{{Chú thích web|url=https://arstechnica.com/news.ars/post/20080502-dumb-idea-suing-wikipedia-for-calling-you-dumb.html|tựa đề=Dumb idea: suing Wikipedia for calling you "dumb"|tác giả=Anderson|tên=Nate|ngày=ngày 2 tháng 5 năm 2008|website=Ars Technica|ngày truy cập=ngày 4 tháng 5 năm 2008|archive-date=2011-08-06|archive-url=https://web.archive.org/web/20110806121938/http://arstechnica.com/tech-policy/news/2008/05/dumb-idea-suing-wikipedia-for-calling-you-dumb.ars|url-status=live}}</ref>
=== Phương thức truy cập ===
Nội dung Wikipedia được phân phối theo giấy phép mở và ai cũng có thể sử dụng lại hoặc phân phối lại nội dung này miễn phí. Nội dung của Wikipedia đã được xuất bản dưới nhiều hình thức, cả trực tuyến và ngoại tuyến, hay bên ngoài trang web Wikipedia.
* '''Trang web''': Có hàng nghìn "trang nhân bản" đăng lại nội dung từ Wikipedia: hai trang nổi bật là [[Reference.com]] và [[Answers.com]] (cũng chứa nội dung từ các nguồn tham khảo khác). Một ví dụ khác là [[Wapedia]], hiển thị nội dung của Wikipedia ở định dạng thân thiện với thiết bị di động trước cả Wikipedia.
* '''Ứng dụng dành cho thiết bị di động''': Nhiều ứng dụng dành cho thiết bị di động cung cấp quyền truy cập vào Wikipedia trên các [[thiết bị di động]], bao gồm cả thiết bị [[Android (hệ điều hành)|Android]] và [[iOS]] (xem [[Danh sách ứng dụng di động Wikipedia|ứng dụng Wikipedia]]).
* '''Công cụ tìm kiếm''': Một số [[Máy truy tìm dữ liệu|công cụ tìm kiếm trên web]] sử dụng đặc biệt nội dung Wikipedia khi hiển thị kết quả tìm kiếm: ví dụ như [[Bing]] (thông qua công nghệ thu được từ [[Powerset (công ty)|Powerset]]) và [[DuckDuckGo]].
* '''Đĩa compact, DVD''': Các bài viết trên Wikipedia đã được xuất bản thành [[đĩa quang]]. Wikipedia CD Selection bản tiếng Anh năm 2006 chứa khoảng 2.000 bài viết.<ref name="wikipediaondvd authorized 1">[http://www.wikipediaondvd.com/ "Wikipedia on DVD"] {{Webarchive | url=https://web.archive.org/web/20130603205800/http://www.wikipediaondvd.com/ | date=ngày 3 tháng 6 năm 2013}} Linterweb. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2007. "Linterweb is authorized to make a commercial use of the Wikipedia trademark restricted to the selling of the Encyclopedia CDs and DVDs".</ref><ref name="wikipediaondvd commercially available 1">[http://www.wikipediaondvd.com/site.php?temp=buy "Wikipedia 0.5 Available on a CD-ROM"] {{Webarchive | url=https://web.archive.org/web/20130503073535/http://www.wikipediaondvd.com/site.php?temp=buy | date=ngày 3 tháng 5 năm 2013}} ''Wikipedia on DVD''. Linterweb. "The DVD or CD-ROM version 0.5 was commercially available for purchase." Retrieved ngày 1 tháng 6 năm 2007.</ref> Phiên bản tiếng Ba Lan chứa gần 240.000 bài viết.<ref name="WM polish WP on dvd">{{Chú thích web|url=http://meta.wikimedia.org/wiki/Polska_Wikipedia_na_DVD_%28z_Helionem%29/en|tựa đề=Polish Wikipedia on DVD|ngày truy cập=ngày 26 tháng 12 năm 2008|archive-date=2011-09-03|archive-url=https://web.archive.org/web/20110903102158/http://meta.wikimedia.org/wiki/Polska_Wikipedia_na_DVD_%28z_Helionem%29/en|url-status=live}}</ref> Có cả phiên bản tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha.<ref name="WP german on dvd 1">{{Chú thích web|url=https://de.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:DVD|tựa đề=Wikipedia:DVD|ngày=ngày 31 tháng 7 năm 2018|ngày truy cập=ngày 26 tháng 12 năm 2008|archive-date=2020-12-19|archive-url=https://web.archive.org/web/20201219111201/https://de.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:DVD|url-status=live}}</ref><ref name="python.org CDPedia Argentina 1">{{Chú thích web|url=http://python.org.ar/pyar/Proyectos/CDPedia|tựa đề=CDPedia (Python Argentina)|ngày truy cập=ngày 7 tháng 7 năm 2011|archive-date = ngày 6 tháng 8 năm 2012 |archive-url=https://web.archive.org/web/20120806014040/http://python.org.ar/pyar/Proyectos/CDPedia}}</ref> Ngoài ra còn có loạt đĩa CD / DVD phi thương mại "Wikipedia for Schools" (Wikipedia dành cho trường học) do các thành viên Wikipedia và [[SOS Children's Villages UK|SOS Children]] tự tay lựa chọn và sản xuất, xoay quanh [[National curriculum|Chương trình giảng dạy quốc gia]] của Liên hiệp Anh và nhằm mục đích hữu ích cho các nước nói tiếng Anh. Dự án này có thể được tìm thấy trên mạng; nếu in thành một bách khoa toàn thư giấy sẽ cần khoảng 20 quyển.
* '''Sách in''': Từ năm 2009, công ty [[Books LLC]] của Mỹ và ba công ty con ở [[Mauritius|Mauritian]] của nhà xuất bản Đức [[VDM Publishing|VDM]] đã xuất bản hàng chục nghìn cuốn sách [[in theo yêu cầu]] sao chép các bài viết của Wikipedia tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga và tiếng Pháp.
* '''Semantic Web''': Trang web [[DBpedia]] bắt đầu trích xuất dữ liệu từ các hộp thông tin và khai báo danh mục của Wikipedia tiếng Anh từ năm 2007. Wikimedia cũng tạo ra dự án [[Wikidata]] nhằm lưu trữ các dữ kiện cơ bản từ mỗi trang của Wikipedia và các wiki WMF khác rồi cung cấp ở định dạng [[Mạng ngữ nghĩa|ngữ nghĩa]] có thể kiểm chứng, [[RDF]]. Tính đến tháng 2 năm 2014, trang này có 15.000.000 mục cùng 1.000 thuộc tính mô tả.
Có những thách thức trong việc lấy lại toàn bộ nội dung của Wikipedia để tái sử dụng, vì việc nhân bản trực tiếp qua [[trình thu thập thông tin web]] là không được khuyến khích. Wikipedia công bố các [[Wikipedia:Tải xuống cơ sở dữ liệu|"kho chứa"]] nội dung ở dạng văn bản; trước năm 2007 Wikipedia còn không có sẵn kho lưu hình ảnh.<ref name="WP image data dumps 1">[[Metawiki:Data dumps#Downloading Images|Data dumps: Downloading Images]], Wikimedia Meta-Wiki</ref>
Một số phiên bản Wikipedia có [[Wikipedia:Bàn tham khảo|bàn tham khảo]], nơi các tình nguyện viên trả lời câu hỏi của độc giả. Theo một nghiên cứu của Pnina Shachaf trên ''[[Tạp chí Tài liệu]]'', chất lượng của bàn tham khảo Wikipedia có thể sánh với [[bàn tham khảo thư viện]] tiêu chuẩn, với độ chính xác là 55%.<ref name="slis WP reference desk 1">{{Chú thích web|url=http://www.slis.indiana.edu/news/story.php?story_id=2064|tựa đề=Wikipedia Reference Desk|ngày truy cập=ngày 9 tháng 9 năm 2014|archive-date=2012-08-12|archive-url=https://web.archive.org/web/20120812200325/http://www.slis.indiana.edu/news/story.php?story_id=2064|url-status=live}}</ref>
==== Truy cập di động ====
[[Tập tin:Wikipedia on Mobile screenshot (2024).png |nhỏ|Phiên bản di động của trang chính Wikipedia tiếng Anh từ ngày 2 tháng 10 năm 2024.]]
Phương tiện ban đầu của Wikipedia là để người dùng đọc và chỉnh sửa nội dung bằng bất kỳ [[trình duyệt web]] tiêu chuẩn nào bằng [[Truy cập Internet|kết nối Internet]] cố định. Nội dung Wikipedia đã có thể truy cập thông qua [[web di động]] từ tháng 7 năm 2013; nhưng ngày 9 tháng 2 năm 2014, ''[[The New York Times]]'' trích lời phó giám đốc Quỹ Wikimedia Erik Möller rằng sự chuyển đổi lưu lượng truy cập internet từ máy tính để bàn sang thiết bị di động là đáng kể và là một nguyên nhân để quan ngại.<ref name="small screen"/> Bài báo này cũng báo cáo thống kê so sánh về các chỉnh sửa trên thiết bị di động, "Chỉ 20 phần trăm độc giả của Wikipedia tiếng Anh đến qua thiết bị di động, một con số thấp hơn phần trăm lưu lượng truy cập di động cho các trang web phương tiện khác, nhiều trang web còn đạt đến 50%. Và việc chuyển sang chỉnh sửa trên thiết bị di động thậm chí còn bị tụt hậu hơn nữa."<ref name="small screen"/> ''[[The New York Times]]'' báo cáo rằng Möller đã chỉ định "một nhóm gồm 10 nhà phát triển phần mềm tập trung vào di động", đồng thời trích dẫn một mối quan tâm chính là làm sao để Wikipedia giải quyết các vấn đề về số lượng biên tập viên mà Wikipedia thu hút cũng như duy trì nội dung trong môi trường truy cập di động.<ref name="small screen"/>
Tháng 7 năm 2014, ''[[Bloomberg Businessweek]]'' báo cáo rằng các ứng dụng di động Android của Google đã thống trị thị phần lớn nhất trong các lô hàng điện thoại thông minh toàn cầu cho năm 2013 với 78,6% thị phần, đối thủ cạnh tranh sát sao nhất là iOS (với 15,2% thị phần).<ref>Brad Stone, "How Google's Android chief, Sundar Pichai, became the most powerful man in mobile", June 30{{snd}}ngày 6 tháng 7 năm 2014, ''Bloomberg BusinessWeek'', pp. 47–51.</ref> Vào thời điểm Tretikov được hẹn và cuộc phỏng vấn trên web của cô với [[Sue Gardner]] vào tháng 5 năm 2014, đại diện Wikimedia đưa ra một thông báo kỹ thuật liên quan đến số lượng hệ thống truy cập di động trên thị trường đang tìm kiếm quyền truy cập vào Wikipedia. Ngay sau cuộc phỏng vấn trên web được đăng tải, các đại diện tuyên bố rằng Wikimedia sẽ áp dụng cách tiếp cận toàn diện để cung cấp nhiều hệ thống truy cập di động nhất có thể nhằm mở rộng truy cập di động nói chung, bao gồm BlackBerry và hệ thống Windows Phone, giúp thị phần trở thành vấn đề thứ yếu.<ref name="nytimes.com2"/> Phiên bản mới nhất của ứng dụng Android dành cho Wikipedia được phát hành vào ngày 23 tháng 7 năm 2014, nhìn chung là nhận được các đánh giá tích cực, đồng thời nhận điểm trên 4/5 trong một cuộc thăm dò với khoảng 200.000 người dùng tải xuống từ [[Google Chrome|Google]].<ref>{{Chú thích web|url=https://play.google.com/store/apps/details?id=org.wikipedia&hl=en|tựa đề=Wikipedia – Android Apps on Google Play|website=Play.Google.com|ngày truy cập=ngày 21 tháng 8 năm 2014|archive-date=2020-11-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20201121143233/https://play.google.com/store/apps/details?id=org.wikipedia&hl=en|url-status=live}}</ref> Phiên bản mới nhất cho [[iOS]] phát hành vào ngày 3 tháng 4 năm 2013 và nhận các đánh giá tương tự.<ref>{{Chú thích web|url=https://itunes.apple.com/us/app/wikipedia-mobile/id324715238?mt=8|tựa đề=Wikipedia Mobile on the App Store on iTunes|ngày=ngày 4 tháng 8 năm 2014|website=iTunes.Apple.com|ngày truy cập=ngày 21 tháng 8 năm 2014|archive-date=2019-06-10|archive-url=https://web.archive.org/web/20190610191249/https://itunes.apple.com/us/app/wikipedia-mobile/id324715238?mt=8|url-status=live}}</ref>
Người dùng có thể truy cập Wikipedia từ điện thoại di động vào đầu năm 2004, thông qua [[WAP|Giao thức Ứng dụng Không dây]] (WAP), thông qua dịch vụ [[Wapedia]]. Tháng 6 năm 2007, Wikipedia ra mắt [https://web.archive.org/web/20090112031222/http://en.mobile.wikipedia.org/ en.mobile.wikipedia.org], một trang web chính thức dành cho các thiết bị không dây. Năm 2009, một dịch vụ di động mới hơn chính thức được phát hành<ref name="WM mobile added 1">{{Chú thích web|url=http://techblog.wikimedia.org/2009/06/wikimedia-mobile-launch|tựa đề=Wikimedia Mobile is Officially Launched|ngày=ngày 30 tháng 6 năm 2009|website=Wikimedia Technical Blog|ngày truy cập=ngày 22 tháng 7 năm 2009|archive-date = ngày 12 tháng 12 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20101212023818/http://techblog.wikimedia.org/2009/06/wikimedia-mobile-launch/|url-status=dead}}</ref> tại địa chỉ [https://en.m.wikipedia.org/ en.m.wikipedia.org], phục vụ cho các thiết bị di động cao cấp hơn như [[iPhone]], thiết bị dựa trên [[Android (hệ điều hành)|Android]] hoặc thiết bị dựa trên [[WebOS]]. Một số phương pháp truy cập Wikipedia di động khác cũng xuất hiện. Nhiều thiết bị và ứng dụng tối ưu hóa hoặc tăng cường hiển thị nội dung Wikipedia cho thiết bị di động, một số còn kết hợp các tính năng bổ sung như sử dụng [[siêu dữ liệu]] Wikipedia, chẳng hạn như [[thông tin địa lý]].<ref name="androgeoid.com LPOI WP 1">{{Chú thích web|url=http://androgeoid.com/2011/04/local-points-of-interest-in-wikipedia|tựa đề=Local Points Of Interest In Wikipedia|ngày=ngày 15 tháng 5 năm 2011|ngày truy cập=ngày 15 tháng 5 năm 2011|archive-date=2011-06-01|archive-url=https://web.archive.org/web/20110601092809/http://androgeoid.com/2011/04/local-points-of-interest-in-wikipedia/|url-status=dead}}</ref><ref name="ilounge iphone gems WP">{{Chú thích web|url=http://www.ilounge.com/index.php/articles/comments/15802|tựa đề=iPhone Gems: Wikipedia Apps|ngày=ngày 30 tháng 11 năm 2008|ngày truy cập=ngày 22 tháng 7 năm 2008|archive-date=2018-09-07|archive-url=https://web.archive.org/web/20180907183213/http://www.ilounge.com/index.php/articles/comments/15802|url-status=live}}</ref>
[[Wikipedia Zero]] là một sáng kiến của Wikimedia Foundation nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận của bách khoa toàn thư tới các nước đang phát triển<ref>{{Chú thích web|url=http://www.niemanlab.org/2013/01/wikipedia-plans-to-expand-mobile-access-around-the-globe-with-new-funding|tựa đề=Wikipedia plans to expand mobile access around the globe with new funding|tác giả=Ellis|tên=Justin|ngày=ngày 17 tháng 1 năm 2013|website=NiemanLab|nhà xuất bản=Nieman Journalism Lab|ngày truy cập=ngày 22 tháng 4 năm 2013|archive-date=2021-02-01|archive-url=https://web.archive.org/web/20210201215539/https://www.niemanlab.org/2013/01/wikipedia-plans-to-expand-mobile-access-around-the-globe-with-new-funding/|url-status=live}}</ref> và đã ngừng hoạt động vào tháng 2 năm 2018.<ref>{{Chú thích web|url=https://diff.wikimedia.org/2018/02/16/partnerships-new-approach/|tựa đề=Building for the future of Wikimedia with a new approach to partnerships – Wikimedia Diff|website=[[Wikimedia Foundation]]|ngày truy cập=ngày 12 tháng 5 năm 2019|archive-date=2019-09-05|archive-url=https://web.archive.org/web/20190905163603/https://blog.wikimedia.org/2018/02/16/partnerships-new-approach/|url-status=live}}</ref>
[[Andrew Lih]] và [[Andrew Brown (nhà văn)|Andrew Brown]] đều coi việc chỉnh sửa Wikipedia bằng [[điện thoại thông minh]] là rất khó và việc này sẽ không khuyến khích các thành viên tiềm năng. Số lượng biên tập viên Wikipedia đã giảm sau vài năm và Tom Simonite của ''[[MIT Technology Review]]'' tuyên bố cấu trúc quan liêu cùng bộ quy định là một yếu tố dẫn đến điều này. Simonite cáo buộc một số [[Cộng đồng Wikipedia|người dùng Wikipedia]] sử dụng các quy tắc và hướng dẫn rối rắm nhằm áp đảo những người khác và họ còn được lợi trong việc giữ nguyên [[Status quo|hiện trạng]].<ref name="Simonite-20133"/> Lih cáo buộc rằng cộng đồng hiện đang bất đồng nghiêm trọng về cách giải quyết vấn đề này. Lih lo sợ cho tương lai lâu dài của Wikipedia; còn Brown lo ngại Wikipedia không thể giải quyết các vấn đề này trong khi các bách khoa toàn thư đối thủ lại không có khả năng thay thế Wikipedia.<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.nytimes.com/2015/06/21/opinion/can-wikipedia-survive.html|title=Can Wikipedia Survive?|last=Andrew Lih|date=ngày 20 tháng 6 năm 2015|access-date=2021-01-03|archive-date=2015-06-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20150621032208/http://www.nytimes.com/2015/06/21/opinion/can-wikipedia-survive.html|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/commentisfree/2015/jun/25/wikipedia-editors-dying-breed-mobile-smartphone-technology-online-encyclopedia|title=Wikipedia editors are a dying breed. The reason? Mobile|last=Andrew Brown|date=ngày 25 tháng 6 năm 2015|work=The Guardian|access-date=2021-01-03|archive-date=2019-04-16|archive-url=https://web.archive.org/web/20190416013908/https://www.theguardian.com/commentisfree/2015/jun/25/wikipedia-editors-dying-breed-mobile-smartphone-technology-online-encyclopedia|url-status=live}}</ref>
== Ảnh hưởng văn hoá ==
=== Nguồn đáng tin cậy để chống lại tin giả ===
Những năm 2017–18, sau một loạt các báo cáo tin tức sai lệch, cả [[Facebook]] và [[YouTube]] đều tuyên bố sẽ dựa vào Wikipedia để giúp người dùng đánh giá các báo cáo và bác bỏ tin tức sai lệch. Viết trên ''tờ [[The Washington Post]],'' [[Noam Cohen]] cho biết, "Việc [[YouTube]] dựa vào Wikipedia để lập kỷ lục được xây dựng trực tiếp dựa trên suy nghĩ của một nền tảng thách thức thực tế khác, mạng xã hội [[Facebook|Facebook,]] năm ngoái đã thông báo rằng Wikipedia sẽ giúp người dùng loại bỏ tin giả."<ref name="auto">{{chú thích báo|first=Noam|last=Cohen|title=Conspiracy videos? Fake news? Enter Wikipedia, the ‘good cop’ of the Internet|url=https://www.washingtonpost.com/outlook/conspiracy-videos-fake-news-enter-wikipedia-the-good-cop-of-the-internet/2018/04/06/ad1f018a-3835-11e8-8fd2-49fe3c675a89_story.html|work=The Washington Post|date=ngày 7 tháng 4 năm 2018|archive-url=https://web.archive.org/web/20180614045810/https://www.washingtonpost.com/outlook/conspiracy-videos-fake-news-enter-wikipedia-the-good-cop-of-the-internet/2018/04/06/ad1f018a-3835-11e8-8fd2-49fe3c675a89_story.html |archive-date=ngày 14 tháng 6 năm 2018 |ngôn ngữ=en}}</ref> Kể từ tháng 11 năm 2020, Alexa ghi lại số lần xem trang hàng ngày trên mỗi khách truy cập là 3,03 và thời gian trung bình hàng ngày trên trang web là 3:46 phút.
=== Lượng người xem ===
Tháng 2 năm 2014, ''[[The New York Times]]'' báo cáo rằng Wikipedia xếp hạng năm toàn cầu trong số tất cả các trang web, cho biết "Với 18 tỷ lượt xem trang và gần 500 triệu lượt người truy cập mỗi tháng [... ] Wikipedia chỉ kém Yahoo, [[Facebook]], Microsoft và Google, những trang lớn nhất với 1,2 tỷ người truy cập."<ref name="small screen"/> Nhưng thứ hạng này đã giảm xuống thứ 13 trên toàn cầu vào tháng 6 năm 2020 chủ yếu do sự gia tăng phổ biến của các trang web Trung Quốc chuyên về mua sắm trực tuyến.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.alexa.com/topsites|tựa đề=The top 500 sites on the web|website=Alexa|ngày truy cập=ngày 13 tháng 6 năm 2020|archive-date=2018-07-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20180715000009/https://www.alexa.com/topsites|url-status=dead}}</ref>
Bên cạnh [[Hàm logistic|sự tăng trưởng logistic]] về số lượng bài viết, Wikipedia đã dần dần đạt được vị thế là một trang web tham khảo chung kể từ khi thành lập vào năm 2001. Khoảng 50% lưu lượng truy cập từ công cụ tìm kiếm đến Wikipedia đến từ Google, một lượng lớn người dùng Wikipedia để tra cứu bài tập về nhà. Số lượng người đọc Wikipedia trên toàn thế giới đạt 365 người triệu vào cuối năm 2009.<ref name="365M2">{{Chú thích web|url=http://upload.wikimedia.org/wikipedia/meta/3/3a/TED2010%2C_Stuart_West_full_presentation_updated_with_January_data.pdf|tựa đề=Wikipedia's Evolving Impact: slideshow presentation at TED2010|tác giả=West|tên=Stuart|ngày truy cập=ngày 23 tháng 10 năm 2015|archive-date=2016-04-09|archive-url=https://web.archive.org/web/20160409215246/https://upload.wikimedia.org/wikipedia/meta/3/3a/TED2010,_Stuart_West_full_presentation_updated_with_January_data.pdf|url-status=dead}}</ref> Dự án "[[Trung tâm nghiên cứu Pew|Pew]] Internet and American Life" cho thấy 1/3 người dùng Internet ở Mỹ đã tham khảo Wikipedia. Năm 2011, ''[[Business Insider]]'' định giá Wikipedia là 4 tỷ đô la nếu nó chạy quảng cáo.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.businessinsider.com/2011-digital-100#7-wikimedia-foundation-wikipedia-7|tựa đề=The World's Most Valuable Startups|tác giả=SAI|ngày=ngày 7 tháng 10 năm 2011|website=Business Insider|ngày truy cập=ngày 14 tháng 6 năm 2014|archive-date=2020-11-12|archive-url=https://web.archive.org/web/20201112033214/https://www.businessinsider.com/2011-digital-100?r=US&IR=T#7-wikimedia-foundation-wikipedia-7|url-status=live}}</ref>
Theo "Wikipedia Readership Survey 2011" (Khảo sát độc giả Wikipedia năm 2011), độ tuổi trung bình của người đọc Wikipedia là 36, tương đương ở các giới tính khác nhau. Gần một nửa số độc giả Wikipedia truy cập trang này hơn năm lần một tháng và một số lượng độc giả tương tự đặc biệt tìm đến Wikipedia trong danh sách kết quả của công cụ tìm kiếm. Khoảng 47% độc giả không nhận ra rằng Wikipedia là một tổ chức phi lợi nhuận.<ref>{{Chú thích web|url=http://meta.wikimedia.org/wiki/Research:Wikipedia_Readership_Survey_2011/Results|tựa đề=Research: Wikipedia Readership Survey 2011/Results – Meta|ngày=ngày 6 tháng 2 năm 2012|nhà xuất bản=Wikimedia|ngày truy cập=ngày 16 tháng 4 năm 2014|archive-date=2020-11-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20201111193102/https://meta.wikimedia.org/wiki/Research:Wikipedia_Readership_Survey_2011/Results|url-status=live}}</ref>
==== Đại dịch Covid-19 ====
Trong thời gian diễn ra [[đại dịch COVID-19]], mức độ đưa tin của Wikipedia về đại dịch này đã nhận được sự chú ý của giới truyền thông quốc tế và làm tăng lượng người đọc Wikipedia nói chung.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.dawn.com/news/1551521|tựa đề=Wikipedia breaks five-year record with high traffic in pandemic|tác giả=Jahangir|tên=Ramsha|ngày=ngày 23 tháng 4 năm 2020|website=DAWN.COM|ngôn ngữ=en|ngày truy cập=ngày 4 tháng 5 năm 2020|archive-date=2020-04-23|archive-url=https://web.archive.org/web/20200423205758/https://www.dawn.com/news/1551521|url-status=live}}</ref>
=== Ý nghĩa văn hóa ===
[[Tập tin:Quadriga-verleihung-rr-02.jpg|nhỏ|[[Jimmy Wales]] thay mặt cho Wikipedia nhận giải [[Giải Quadriga|Quadriga]] ''Sứ mệnh Khai sáng'' năm 2008.]]
{{Main|Wikipedia trong văn hóa}}
Nội dung của Wikipedia được sử dụng trong các nghiên cứu hàn lâm, sách, hội nghị và các phiên tòa,<ref name="ssrn.com Wikipedian Justice 1">{{Chú thích tạp chí|last=Sharma|first=Raghav|date=ngày 19 tháng 2 năm 2009|title=Wikipedian Justice|ssrn=1346311}}</ref> làm nguồn tham khảo trong báo chí,<ref name="ajr.org WP in the newsroom">{{Chú thích báo|url=http://www.ajr.org/Article.asp?id=4461|title=Wikipedia in the Newsroom|last=Shaw|first=Donna|date=February–March 2008|work=American Journalism Review|access-date =ngày 11 tháng 2 năm 2008|archive-url=https://web.archive.org/web/20120805155909/http://www.ajr.org/Article.asp?id=4461|archive-date=ngày 5 tháng 8 năm 2012}}</ref> cũng như trở thành tâm điểm trong [[Bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, 2008|chiến dịch bầu cử năm 2008 của Hoa Kỳ]].<ref name="WP.com WP election usage">{{Chú thích báo|url=https://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2007/09/16/AR2007091601699_pf.html|title=On Wikipedia, Debating 2008 Hopefuls' Every Facet|last=Jose Antonio Vargas|date=ngày 17 tháng 9 năm 2007|work=The Washington Post|access-date=ngày 26 tháng 12 năm 2008|archive-date=2011-04-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20110429004222/http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2007/09/16/AR2007091601699_pf.html|url-status=live}}</ref> Tháng 9 năm 2008, Wikipedia nhận giải thưởng [[Giải Quadriga|Quadriga]] ''Một Sứ mệnh Khai sáng'' của Werkstatt Deutschland,<ref name="loomarea.com WP award 1">{{Chú thích web|url=http://loomarea.com/die_quadriga/e/index.php?title=Award_2008|tựa đề=Die Quadriga – Award 2008|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20080915140714/http://loomarea.com/die_quadriga/e/index.php?title=Award_2008|ngày lưu trữ=ngày 15 tháng 9 năm 2008|ngày truy cập=ngày 26 tháng 12 năm 2008}}</ref> rồi [[giải Erasmus]] vào năm 2015 cho các đóng góp đặc biệt cho văn hóa, xã hội hoặc khoa học xã hội,<ref name="EP2015">{{Chú thích web|url=http://www.erasmusprijs.org/?lang=en&page=Erasmusprijs|tựa đề=Erasmus Prize – Praemium Erasmianum|nhà xuất bản=Praemium Erasmianum Foundation|ngày truy cập=ngày 15 tháng 1 năm 2015|archive-date=2015-11-16|archive-url=https://web.archive.org/web/20151116125118/http://www.erasmusprijs.org/?lang=en&page=Erasmusprijs|url-status=live}}</ref> cũng như [[Giải thưởng Hoàng tử xứ Asturias|giải Công chúa Asturias]] của [[Tây Ban Nha]] về Hợp tác Quốc tế.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.fpa.es/es/premios-princesa-de-asturias/premiados/2015-wikipedia.html?especifica=0&idCategoria=0&anio=2015&especifica=0|tựa đề=Premio Princesa de Asturias de Cooperación Internacional 2015|nhà xuất bản=Fundación Princesa de Asturias|ngày truy cập=ngày 17 tháng 6 năm 2015|archive-date=2021-05-06|archive-url=https://web.archive.org/web/20210506110104/https://www.fpa.es/es/premios-princesa-de-asturias/premiados/2015-wikipedia.html?especifica=0&idCategoria=0&anio=2015&especifica=0|url-status=live}}</ref>
Wikipedia cũng là đối tượng châm biếm trong các bộ phim hài truyền hình Mỹ [[The Office (phim truyền hình Mỹ)|''The Office'']],<ref>{{Chú thích web|url=http://www.officetally.com/the-office-the-negotiation|tựa đề=The Office: The Negotiation, 3.19|ngày=ngày 5 tháng 4 năm 2007|ngày truy cập=ngày 27 tháng 12 năm 2014|archive-date=2020-11-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20201129083141/https://www.officetally.com/the-office-the-negotiation|url-status=live}}</ref> ''[[Scrubs (phim truyền hình)|Scrubs]]'',<ref name="Bakken one doctor 1">Bakken, Janae. "[[My Number One Doctor]]"; ''[[Scrubs (TV series)|Scrubs]]''; [[American Broadcasting Company|ABC]]; ngày 6 tháng 12 năm 2007.</ref> trang web hài hước ''[[CollegeHumor]]''.<ref name="collegehumor.com WP funny 1">{{Chú thích web|url=http://www.collegehumor.com/video/3581424/professor-wikipedia|tựa đề=Professor Wikipedia|ngày=ngày 17 tháng 11 năm 2009|nhà xuất bản=CollegeHumor|định dạng=Video|ngày truy cập=ngày 19 tháng 4 năm 2011|archive-date=2012-07-17|archive-url=https://web.archive.org/web/20120717044157/http://www.collegehumor.com/video/3581424/professor-wikipedia|url-status=live}}</ref> Tháng 7 năm 2009, BBC Radio 4 phát sóng một loạt phim hài có tên là ''[[Bigipedia]]'', lấy bối cảnh trên một trang web nhại lại Wikipedia.<ref name="comedy.org.uk WP funny 1">{{Chú thích web|url=http://www.comedy.org.uk/guide/radio/bigipedia/interview/|tựa đề=Interview With Nick Doody and Matt Kirshen|website=[[British Comedy Guide]]|ngày truy cập=ngày 31 tháng 7 năm 2009|archive-date=2009-09-25|archive-url=https://web.archive.org/web/20090925035635/http://www.comedy.org.uk/guide/radio/bigipedia/interview/|url-status=live}}</ref>
=== Các dự án chị em{{snd}}Wikimedia ===
[[Wikimedia Foundation|Quỹ Wikimedia]] cũng tạo ra và điều hành các dự án chị em với Wikipedia, bao gồm [[Wiktionary]] (một dự án từ điển được khởi động vào tháng 12 năm 2002), [[Wikiquote]] (một bộ sưu tập các câu danh ngôn được tạo ra một tuần sau khi Wikimedia ra mắt), [[Wikibooks]] (một bộ sưu tập các sách giáo khoa và văn bản mở), [[Wikimedia Commons]] (một trang dành cho đa phương tiện), [[Wikinews]] (dành cho tin tức), [[Wikiversity]] (một dự án tạo ra các tài liệu học tập miễn phí và cung cấp các hoạt động học tập trực tuyến), và [[Wikispecies]] (một danh mục các loài). Năm 2012 ra mắt [[Wikivoyage]] (một hướng dẫn du lịch chỉnh sửa tự do) và [[Wikidata]], một cơ sở dữ liệu kiến thức mở.
=== Xuất bản ===
[[Tập tin:WikiMedia_DC_2013_Annual_Meeting_08.JPG|phải|nhỏ|Một nhóm Wikimedians của chi hội [http://wikimediadc.org/wiki/Home Wikimedia DC] tại cuộc họp thường niên năm 2013 của Wikimedia DC đang đứng trước ''Encyclopædia Britannica'' ''(phía sau bên trái)'' tại Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ.]]
Cái chết của các [[bách khoa toàn thư]] thương mại là minh chứng rõ ràng nhất cho hiệu quả kinh tế của Wikipedia, đặc biệt là các ấn bản giấy, ví dụ ''[[Encyclopædia Britannica]]'' cũng không thể cạnh tranh với một sản phẩm miễn phí.<ref>{{Chú thích web|url=http://mediadecoder.blogs.nytimes.com//2012/03/13/after-244-years-encyclopaedia-britannica-stops-the-presses/|tựa đề=After 244 Years, Encyclopaedia Britannica Stops the Presses|tác giả=Bosman|tên=Julie|ngày=ngày 13 tháng 3 năm 2012|website=The New York Times|ngày truy cập=ngày 26 tháng 1 năm 2015|archive-date=2020-12-16|archive-url=https://web.archive.org/web/20201216114230/https://mediadecoder.blogs.nytimes.com/2012/03/13/after-244-years-encyclopaedia-britannica-stops-the-presses/|url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.gizmocrazed.com/2012/03/encyclopedia-britannica-dies-at-the-hands-of-wikipedia-infographic/|tựa đề=''Encyclopedia Britannica Dies At The Hands Of Wikipedia'', Gizmocrazed.com (with ''statista'' infographic from NYTimes.com)|ngày=ngày 20 tháng 3 năm 2012|nhà xuất bản=Gizmocrazed.com|ngày truy cập=ngày 14 tháng 6 năm 2014|archive-date=2020-11-24|archive-url=https://web.archive.org/web/20201124202939/https://www.gizmocrazed.com/2012/03/encyclopedia-britannica-dies-at-the-hands-of-wikipedia-infographic/|url-status=live}}</ref><ref name="FT impact on traditional media">{{Chú thích báo|url=http://www.ft.com/cms/s/0/ae22314a-d383-11e2-b3ff-00144feab7de.html|title=A chapter in the Enlightenment closes|last=Christopher Caldwell (journalist)|date=ngày 14 tháng 6 năm 2013|work=[[Financial Times|ft.com]]|access-date=ngày 15 tháng 6 năm 2013|quote=Bertelsmann did not resort to euphemism this week when it announced the end of the Brockhaus encyclopedia brand. Brockhaus had been publishing reference books for two centuries when the media group bought it in 2008. [...] The internet has finished off Brockhaus altogether. [...] What Germans like is Wikipedia.|author-link=Christopher Caldwell (journalist)|archive-date=2013-08-20|archive-url=https://web.archive.org/web/20130820232737/http://www.ft.com/cms/s/0/ae22314a-d383-11e2-b3ff-00144feab7de.html|url-status=live}}</ref> Trong bài luận "Sự vô luân của [[Web 2.0]]" năm 2005, [[Nicholas G. Carr|Nicholas Carr]] chỉ trích các trang web có [[nội dung do người dùng tạo]] như Wikipedia có thể khiến các nhà sản xuất nội dung chuyên nghiệp (và theo ông là cũng có chất lượng cao hơn) phá sản, vì "miễn phí sẽ luôn chiến thắng chất lượng". Carr viết rằng: "Tiềm ẩn trong những viễn cảnh xuất thần của Web 2.0 là sự thống trị của giới nghiệp dư. Tôi không thể tưởng tượng được điều gì đáng sợ hơn thế."<ref name="RType WP traditional media impact 1">{{Chú thích web|url=http://www.roughtype.com/archives/2005/10/the_amorality_o.php|tựa đề=The amorality of Web 2.0|ngày=ngày 3 tháng 10 năm 2005|website=Rough Type|ngày truy cập=ngày 15 tháng 7 năm 2006|archive-date=2006-08-24|archive-url=https://web.archive.org/web/20060824022255/http://www.roughtype.com/archives/2005/10/the_amorality_o.php|url-status=live}}</ref> Những người khác không cho rằng Wikipedia sẽ có thể thay thế hoàn toàn các ấn phẩm truyền thống. Tổng biên tập tạp chí ''[[Wired (tạp chí)|Wired]]'' [[Chris Anderson (tác giả)|Chris Anderson]] viết trên ''[[Nature]]'' rằng phương thức "[[trí tuệ đám đông]]" của Wikipedia sẽ không thay thế được các [[tạp chí khoa học]] hàng đầu có quy trình [[bình duyệt]] nghiêm ngặt.
Người ta cũng đang tranh luận về ảnh hưởng của Wikipedia đối với hoạt động kinh doanh xuất bản tiểu sử. [[Kathryn Hughes]], giáo sư viết tiểu sử tại Đại học East Anglia, đồng thời là tác giả của ''The Short Life and Long Times of Mrs Beeton'' và ''George Eliot: the Last Victorian'' đặt câu hỏi "Điều đáng lo ngại là, nếu bạn có thể đọc được tất cả thông tin đó từ Wikipedia, thì còn lại gì để viết tiểu sử?".<ref>{{Chú thích báo|url=https://www.theguardian.com/books/booksblog/2013/feb/07/traditional-biography-shakespeare-breakfast|title=Alison Flood: ''Should traditional biography be buried alongside Shakespeare's breakfast?''|last=Alison Flood|date=ngày 7 tháng 2 năm 2013|work=The Guardian|access-date=ngày 14 tháng 6 năm 2014|archive-date=2021-03-08|archive-url=https://web.archive.org/web/20210308125414/https://www.theguardian.com/books/booksblog/2013/feb/07/traditional-biography-shakespeare-breakfast|url-status=live}}</ref>
=== Sử dụng trong nghiên cứu ===
Wikipedia được sử dụng một cách rộng rãi như một kho [[Ngữ liệu văn bản|ngữ liệu]] để nghiên cứu ngôn ngữ trong [[ngôn ngữ học tính toán]], [[Truy hồi thông tin|truy xuất thông tin]] và [[xử lý ngôn ngữ tự nhiên]]. Wikipedia thường đóng vai trò là cơ sở tri thức đích cho vấn đề [[liên kết thực thể]], sau này được gọi là "wikification",<ref name="wikify">Rada Mihalcea and Andras Csomai (2007). [http://www.cse.unt.edu/~tarau/teaching/NLP/papers/Mihalcea-2007-Wikify-Linking_Documents_to_Encyclopedic.pdf Wikify! Linking Documents to Encyclopedic Knowledge] {{Webarchive |url=https://web.archive.org/web/20160218062051/http://www.cse.unt.edu/~tarau/teaching/NLP/papers/Mihalcea-2007-Wikify-Linking_Documents_to_Encyclopedic.pdf |date=ngày 18 tháng 2 năm 2016}} Proc. CIKM.</ref> và cho vấn đề liên quan của việc [[Nhập nhằng (xử lý ngôn ngữ tự nhiên)|phân định nghĩa từ]].<ref name="milne witten WP usage 1">David Milne and Ian H. Witten (2008). Learning to link with Wikipedia. Proc. CIKM.</ref> Các phương pháp tương tự wikification có thể được sử dụng để tìm các liên kết "bị thiếu" trong Wikipedia.<ref name="discovering missing WP links 1">Sisay Fissaha Adafre and [Maarten de Rijke] (2005). [http://staff.science.uva.nl/~mdr/Publications/Files/linkkdd2005.pdf Discovering missing links in Wikipedia] {{Webarchive |url=https://web.archive.org/web/20120717054413/http://staff.science.uva.nl/~mdr/Publications/Files/linkkdd2005.pdf |date=ngày 17 tháng 7 năm 2012}} Proc. LinkKDD.</ref>
Năm 2015, các nhà nghiên cứu người Pháp, Tiến sĩ José Lages của [[Đại học Franche-Comté]] tại [[Besançon]] và Dima Shepelyansky của [[Đại học Paul Sabatier]] tại [[Toulouse]] công bố bảng xếp hạng đại học toàn cầu dựa trên các trích dẫn học thuật trên Wikipedia.<ref name="mitmining">{{Chú thích báo|url=http://www.technologyreview.com/view/544266/wikipedia-mining-algorithm-reveals-worlds-most-influential-universities/|title=Wikipedia-Mining Algorithm Reveals World's Most Influential Universities: An algorithm's list of the most influential universities contains some surprising entries|date=ngày 7 tháng 12 năm 2015|work=[[MIT Technology Review]]|access-date=ngày 27 tháng 12 năm 2015|archive-date=2016-02-01|archive-url=https://web.archive.org/web/20160201174817/http://www.technologyreview.com/view/544266/wikipedia-mining-algorithm-reveals-worlds-most-influential-universities/|url-status=live}}</ref><ref name="harvardisonlymarmow">{{Chú thích báo|url=http://www.marketwatch.com/story/two-universities-beat-harvard-in-this-surprising-school-ranking-2015-12-09|title=Harvard is only the 3rd most influential university in the world, according to this list|last=Marmow Shaw|first=Jessica|date=ngày 10 tháng 12 năm 2015|work=[[MarketWatch]]|access-date=ngày 27 tháng 12 năm 2015|archive-date=2022-12-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20221211043541/https://www.marketwatch.com/story/two-universities-beat-harvard-in-this-surprising-school-ranking-2015-12-09|url-status=live}}</ref><ref name="wikipediarankingtimesworldunifranche">{{Chú thích báo|url=https://www.timeshighereducation.com/features/wikipedia-ranking-world-universities-top-100|title=Wikipedia Ranking of World Universities: the top 100. List ranks institutions by search engine results and Wikipedia appearances|last=Bothwell|first=Ellie|date=ngày 15 tháng 12 năm 2015|work=[[Times Higher Education]]|access-date=ngày 27 tháng 12 năm 2015|archive-date=2021-03-08|archive-url=https://web.archive.org/web/20210308172450/https://www.timeshighereducation.com/features/wikipedia-ranking-world-universities-top-100|url-status=live}}</ref> Họ sử dụng [[PageRank]] (xếp hạng trang) "theo sau là số lần xuất hiện trong 24 phiên bản ngôn ngữ khác nhau của Wikipedia (thứ tự giảm dần) và thế kỷ mà chúng được thành lập (thứ tự tăng dần)".<ref name="wikipediarankingtimesworldunifranche" />
Một nghiên cứu năm 2017 của [[Viện Công nghệ Massachusetts]] gợi ý rằng các từ được sử dụng trên các bài viết Wikipedia sẽ xuất hiện trong các ấn phẩm khoa học.<ref>[https://www.sciencenews.org/blog/scicurious/wikipedia-science-reference-citations Wikipedia has become a science reference source even though scientists don't cite it] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20180210120955/https://www.sciencenews.org/blog/scicurious/wikipedia-science-reference-citations |date=ngày 10 tháng 2 năm 2018}} Science News, 2018</ref><ref>[https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=3039505 Science Is Shaped by Wikipedia: Evidence from a Randomized Control Trial] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20171221090715/https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=3039505 |date=ngày 21 tháng 12 năm 2017}} SSRN, 2017</ref>
Các nghiên cứu liên quan đến Wikipedia đã sử dụng [[học máy]] và [[trí tuệ nhân tạo]] để hỗ trợ các hoạt động khác nhau. Một trong những lĩnh vực quan trọng nhất — tự động phát hiện hành vi phá hoại<ref>Sarabadani, A., Halfaker, A., & Taraborelli, D. (2017). [[arxiv:1703.03861|Building automated vandalism detection tools for Wikidata]]. In Proceedings of the 26th International Conference on World Wide Web Companion (pp. 1647–1654). International World Wide Web Conferences Steering Committee.</ref><ref>Potthast, M., Stein, B., & Gerling, R. (2008). [https://pdfs.semanticscholar.org/8805/b4d923bee9c9534373425de81a1ba296d461.pdf Automatic vandalism detection in Wikipedia] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20190112195138/https://pdfs.semanticscholar.org/8805/b4d923bee9c9534373425de81a1ba296d461.pdf |date=2019-01-12 }}. In European conference on information retrieval (pp. 663–668). Springer, Berlin, Heidelberg.</ref> và đánh giá [[chất lượng dữ liệu]] trong Wikipedia.<ref>Asthana, S., & Halfaker, A. (2018). [https://dl.acm.org/ft_gateway.cfm?id=3274290&type=pdf With Few Eyes, All Hoaxes are Deep]. Proceedings of the ACM on Human-Computer Interaction, 2(CSCW), 21.</ref>
== Dự án liên quan ==
Một số bách khoa toàn thư đa phương tiện tương tác kết hợp các mục được viết bởi công chúng đã tồn tại rất lâu trước khi Wikipedia được thành lập. Dự án đầu tiên trong số này là [[Dự án Domesday của BBC|Dự án Domesday]] của [[BBC]] năm 1986, bao gồm văn bản (được nhập trên máy tính [[BBC Micro]]) và ảnh từ hơn một triệu người đóng góp ở Anh Quốc, và bao gồm địa lý, nghệ thuật và văn hóa của Anh Quốc. Đây là bách khoa toàn thư đa phương tiện tương tác đầu tiên (và cũng là tài liệu đa phương tiện lớn đầu tiên được kết nối thông qua các liên kết nội bộ); phần lớn các bài báo có thể truy cập được thông qua bản đồ tương tác của Anh Quốc. Giao diện người dùng và một phần nội dung của Dự án Domesday đã được mô phỏng trên một trang web cho đến năm 2008.<ref name="Domesday Project">{{chú thích web |url = http://www.domesday1986.com/ |title = Website discussing the emulator of the Domesday Project User Interface |author = Heart Internet |access-date = ngày 9 tháng 9 năm 2014 |archive-date = 2007-01-15 |archive-url = https://web.archive.org/web/20070115135325/http://www.domesday1986.com/ |url-status = live }}</ref>
Một số bách khoa toàn thư cộng tác, có nội dung miễn phí được tạo ra cùng thời với Wikipedia (ví dụ: [[Everything2]]),<ref>{{Chú thích báo |url=http://www.cnn.com/2000/TECH/computing/11/21/net.gen.encyclopedias.idg/index.html |title=The next generation of online encyclopedias |last=Frauenfelder |first=Mark |date=ngày 21 tháng 11 năm 2000 |work=CNN.com |archive-url=https://web.archive.org/web/20040814034109/http://www.cnn.com/2000/TECH/computing/11/21/net.gen.encyclopedias.idg/index.html|archive-date=ngày 14 tháng 8 năm 2004}}</ref> rồi nhiều thứ được hợp nhất vào dự án (ví dụ: [[GNE (bách khoa toàn thư)|GNE]]).<ref name="gnu.org">[https://www.gnu.org/encyclopedia/encyclopedia.html The Free Encyclopedia Project]gnu.org ( {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120105013327/http://www.gnu.org/encyclopedia/encyclopedia.html |date=2012-01-05 }})</ref> Một trong những bách khoa toàn thư trực tuyến đầu tiên thành công nhất kết hợp các mục nhập vào của công chúng là [[h2g2]], do [[Douglas Adams]] tạo ra vào năm 1999. Từ điển bách khoa h2g2 tương đối nhẹ nhàng, tập trung vào các bài viết vừa dí dỏm vừa nhiều thông tin.
Các trang web [[Cơ sở tri thức|kiến thức]] do người dùng hợp tác phát triển tiếp theo đã lấy cảm hứng từ Wikipedia. Một số, chẳng hạn như [[Susning.nu]], [[Enciclopedia Libre Universal en Español|Enciclopedia Libre]], [[Hudong]] và [[Baidu Baike]] cũng không áp dụng quy trình đánh giá chính thức, còn một số như [[Conservapedia]] thì tính mở không mạnh bằng. Những trang web khác sử dụng [[bình duyệt]] truyền thống hơn, chẳng hạn như ''[[Encyclopedia of Life]]'', bách khoa toàn thư wiki trực tuyến ''[[Scholarpedia]]'' và [[Citizendium]]. Sanger tạo ra [[Citizendium]] để trở thành một giải pháp thay thế đáng tin cậy cho Wikipedia.<ref name="JayLyman">{{Chú thích báo|url=http://www.crmbuyer.com/story/53137.html|title=Wikipedia Co-Founder Planning New Expert-Authored Site|last=Lyman|first=Jay|date=ngày 20 tháng 9 năm 2006|access-date=ngày 27 tháng 6 năm 2007|publisher=LinuxInsider|archive-date=2012-05-24|archive-url=https://web.archive.org/web/20120524164124/http://www.crmbuyer.com/story/53137.html|url-status=live}}</ref>
== Ghi chú ==
{{Tham khảo|group=gc}}
<references group="note"/>
== Tham khảo ==
{{Tham khảo|3}}
== Liên kết ngoài ==
{{Liên kết tới các dự án khác|Wikipedia|d=Q52|s=Category:Wikipedia|n=Category:Wikipedia|m=Wikipedia|mw=Wikipedia|species=no}}
* {{Trang web chính thức|https://www.wikipedia.org|mobile=https://en.m.wikipedia.org}} – cổng thông tin đa ngôn ngữ (chứa liên kết tới tất cả các phiên bản ngôn ngữ của Wikipedia)
** {{Twitter|Wikipedia}}
** {{Facebook|Wikipedia}}
* [http://www.wikimediafoundation.org/ Quỹ Hỗ trợ Wikimedia]
* [https://www.ted.com/talks/jimmy_wales_on_the_birth_of_wikipedia/transcript?language=vi Sự ra đời của Wikipedia], Jimmy Wales
{{Wikipedia}}
{{Wikimedia Foundation}}
{{Wikipedias}}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
[[Thể loại:Wikipedia| ]]
[[Thể loại:Bách khoa toàn thư trực tuyến]]
[[Thể loại:Wiki]]
[[Thể loại:Dự án Wikimedia]]
[[Thể loại:Xử lý thông tin xã hội]]
[[Thể loại:Website MediaWiki]] | 236311 |
1351 | Bỉ | 0 | null | null | 73768057 | 73763410 | 2025-08-17T00:44:37 | false | Đã cứu 0 nguồn và đánh dấu 1 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5 | wikitext | text/x-wiki | 5my32ygyuna4qcb1h7zhwp9ev7ms1xi | {
"username": "InternetArchiveBot",
"id": "686003",
"ip": null
} | {{Infobox country
| conventional_long_name = Vương quốc Bỉ
| native_name = {{ubl|{{native name|nl|Koninkrijk België}}|{{native name|fr|Royaume de Belgique}}|{{native name|de|Königreich Belgien}}}}
| common_name = Bỉ
| image_flag = Flag of Belgium.svg <!--Please do not replace the official 2:3 size flag by the more commonly used civil flag. Thank you.-->
| image_coat = Great_coat_of_arms_of_Belgium.svg
| symbol_type = Quốc huy
| national_motto = {{native phrase|nl|Eendracht maakt macht}}<br />{{native phrase|fr|L'union fait la force}}<br />{{native phrase|de|Einigkeit macht stark}}
| englishmotto = ({{Langx|en|"[[Unity makes strength]]"}})
| national_anthem = <br />''[[La Brabançonne]]''<br />("The Brabantian")<br />[[File:La Brabançonne.oga]]
| image_map = {{switcher|[[File:Belgium (orthographic projection).svg|upright=1.15|frameless]]|Hiện bản đồ địa cầu|[[File:EU-Belgium.svg|upright=1.15|frameless]]|Hiện bản đồ châu Âu|default=2}}
| map_caption = {{map caption
| location_color = xanh đậm
| region = châu Âu
| region_color = xám đậm
| subregion = [[Liên minh châu Âu]]
| subregion_color = xanh nhạt
}}
| official_languages = {{hlist|[[Tiếng Hà Lan]]|[[Tiếng Pháp]]|[[Tiếng Đức]]}}
| demonym = {{ublist|item_style=white-space:nowrap;
| [[Người Bỉ]]}}
| religion = {{plainlist|
{{Tree list}}
* 49% [[Kitô giáo tại Bỉ|Kitô giáo]]
** 44% [[Công giáo tại Bỉ|Công giáo]]
** 5% [[Hệ phái trong Kitô giáo|hệ phái khác]]
{{Tree list/end}}
* 40% [[Không tôn giáo tại Bỉ|không tôn giáo]]
* 7% [[Hồi giáo tại Bỉ|Hồi giáo]]
* 3% tôn giáo khác
}}
| religion_year = 2021<ref>{{cite web | url=https://data.europa.eu/data/datasets/s2237_95_2_516_eng?locale=en | title=Data.europa.eu }}</ref>
| capital = [[Thành phố Bruxelles]]
| coordinates = {{Coord|50|51|N|4|21|E|type:city}}
| largest_city = [[Bruxelles]]
| government_type = [[Chế độ quân chủ lập hiến]] [[Thể chế đại nghị|đại nghị]] liên bang<ref name="CVGVo">{{cite web|title=Government type: Belgium|url=https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/fields/2128.html|work=The World Factbook|publisher=CIA|access-date=19 December 2011|archive-url=https://web.archive.org/web/20120207225832/https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/fields/2128.html|archive-date=7 February 2012|url-status=dead}}</ref>
| leader_title1 = [[Quân chủ Bỉ|Quốc vương]]
| leader_name1 = [[Philippe của Bỉ|Philippe]]
| leader_title2 = [[Thủ tướng Bỉ|Thủ tướng]]
| leader_name2 = [[Bart De Wever]]
| legislature = [[Quốc hội Liên bang Bỉ|Quốc hội Liên bang]]
| upper_house = [[Thượng viện Bỉ|Thượng viện]]
| lower_house = [[Hạ viện Bỉ|Hạ viện]]
| area_km2 = 30,689<ref name=area>{{cite web|url=https://statbel.fgov.be/en/land-use-according-land-register|title=Land use according to the land register|language=en|publisher=Statbel|date=16 November 2023|access-date=31 July 2024}}</ref>
| area_sq_mi = 11,849
| area_rank = 136<!-- Area rank should match [[List of countries and dependencies by area]] -->
| percent_water = 0.64 (2022)<ref name=land>{{cite web|url=https://statbel.fgov.be/en/themes/environment/land-cover-and-use/land-use|title=Land use|language=en|publisher=Statbel|date=15 September 2023|access-date=31 July 2024}}</ref><ref name="cn5oK">{{cite web|title=Surface water and surface water change|access-date=11 October 2020|publisher=[[Organisation for Economic Co-operation and Development]] (OECD)|url=https://stats.oecd.org/Index.aspx?DataSetCode=SURFACE_WATER|archive-date=24 March 2021|archive-url=https://web.archive.org/web/20210324133453/https://stats.oecd.org/Index.aspx?DataSetCode=SURFACE_WATER|url-status=live}}</ref>
| population_census = {{IncreaseNeutral}} 11,812,354<ref name=population>{{cite web|url=https://www.ibz.rrn.fgov.be/fileadmin/user_upload/fr/pop/statistiques/population-bevolking-20250101.pdf|title=Population Belgium|language=en|publisher=ibz|date=1 January 2025|access-date=17 February 2025}}{{Liên kết hỏng|date=2025-08-17 |bot=InternetArchiveBot }}</ref><!-- Belgium does not work with censuses and estimates but has an always up-to-date population register, with official data for 1 January of each year. Monthly updated statistics are available via https://www.ibz.rrn.fgov.be/fileadmin/user_upload/fr/pop/statistiques/population-bevolking-20250101.pdf -->
| population_census_year = 2025
| population_estimate_rank = 82
| population_density_km2 = 384<!-- based on the 2025-01-01 population number, else it does not make sense in the light of everything above -->
| population_density_rank = 22
| population_density_sq_mi =
| ethnic_groups = {{unbulleted list
| 64.8% [[người Bỉ]]
| 35.2% [[Nhân khẩu học của Bỉ|dân tộc khác]]
}}
| ethnic_groups_ref = <ref>{{cite web |title=Diverity according to origin in Belgium |url=https://statbel.fgov.be/en/themes/population/structure-population/origin |website=Statbel }}</ref>
| ethnic_groups_year = 2025
| GDP_PPP = {{increase}} 889.833 tỷ đô la Mỹ<ref name="IMFWEO.BE">{{cite web |url=https://www.imf.org/en/Publications/WEO/weo-database/2024/October/weo-report?c=124,&s=NGDPD,PPPGDP,NGDPDPC,PPPPC,&sy=2022&ey=2029&ssm=0&scsm=1&scc=0&ssd=1&ssc=0&sic=0&sort=country&ds=.&br=1 |title=World Economic Outlook Database, October 2024 Edition. (Belgium) |publisher=[[International Monetary Fund]] |website=www.imf.org |access-date=17 February 2025}}</ref>
| GDP_PPP_year = 2025
| GDP_PPP_rank = 37
| GDP_PPP_per_capita = {{increase}} 75,187 đô la Mỹ<ref name="IMFWEO.BE" />
| GDP_PPP_per_capita_rank = 20
| GDP_nominal = {{increase}} 689.364 tỷ đô la Mỹ<ref name="IMFWEO.BE" />
| GDP_nominal_year = 2025
| GDP_nominal_rank = 23
| GDP_nominal_per_capita = {{increase}} 58,248 đô la Mỹ<ref name="IMFWEO.BE" />
| GDP_nominal_per_capita_rank = 16
| Gini_year = 2022
| Gini_change = increase <!--increase/decrease/steady-->
| Gini = 24.9 <!--number only-->
| Gini_ref = <ref name="eurogini">{{cite web|url=https://ec.europa.eu/eurostat/databrowser/view/tessi190/default/table?lang=en|title=Gini coefficient of equivalised disposable income – EU-SILC survey|publisher=[[Eurostat]]|website=ec.europa.eu|access-date=28 June 2023|archive-date=9 October 2020|archive-url=https://web.archive.org/web/20201009091832/https://ec.europa.eu/eurostat/databrowser/view/tessi190/default/table?lang=en|url-status=live}}</ref>
| HDI = 0.951
| HDI_rank = 10
| HDI_year = 2023<!-- Please use the year to which the data refers, not the publication year. -->
| HDI_change = increase
| HDI_ref = <ref name="UNHDR">{{Cite web |date=6 May 2025 |title=Human Development Report 2025 |url=https://hdr.undp.org/system/files/documents/global-report-document/hdr2025reporten.pdf|url-status=live |archive-url=https://web.archive.org/web/20250506051232/https://hdr.undp.org/system/files/documents/global-report-document/hdr2025reporten.pdf |archive-date=6 May 2025 |access-date=6 May 2025 |publisher=[[United Nations Development Programme]]}}</ref>
| sovereignty_type = [[Lịch sử Bỉ|Hình thành]]
| established_event1 = [[Cách mạng Brabant]]
| established_date1 = 1789–1790
| established_event2 = [[Hợp chúng quốc Bỉ]]
| established_date2 = 1790
| established_event3 = [[Chính phủ lâm thời Bỉ (1814-1815)|Chính phủ lâm thời Bỉ]]
| established_date3 = 1814–1815
| established_event4 = [[Vương quốc Liên hiệp Hà Lan]]
| established_date4 = 1815–1839
| established_event5 = [[Cách mạng Bỉ]]
| established_date5 = 25 tháng 8 năm 1830
| established_event6 = Tuyên bố thành lập
| established_date6 = 4 tháng 10 năm 1830
| established_event7 = [[Hiệp ước Luân Đôn (1839)|Công nhận]]
| established_date7 = 19 tháng 4 năm 1839
| established_event8 = [[Nhà nước liên bang]]
| established_date8 = 1970
| currency = [[Euro]] ([[Euro sign|€]])
| currency_code = EUR
| time_zone = [[Giờ Trung Âu]]
| utc_offset = +1
| time_zone_DST = [[Giờ mùa hè Trung Âu]]
| utc_offset_DST = +2
| drives_on = phải<ref>{{cite web |title=List of left- & right-driving countries |url=https://www.worldstandards.eu/cars/list-of-left-driving-countries/ |website=WorldStandards}}</ref>
| calling_code = [[Số điện thoại tại Bỉ|+32]]
| cctld = [[.be]]{{efn|.be is the common internet top-level domain name for Belgium. The [[.eu]] domain is also used, as it is shared with other [[European Union]] member states.}}
| footnote_a = Tỷ lệ chính thức của quốc kỳ Bỉ là 13:15, nhưng tỷ lệ thông thường là 2:3.
| footnote_b = [[Bruxelles]] là thủ đô trên thực tế, nhưng [[Thành phố Bruxelles]] là thủ đô ''de jure''.<ref name="lmUvF">{{cite book|title=The Belgian Constitution|date=May 2014|publisher=Belgian House of Representatives|location=Brussels, Belgium|page=63|url=http://www.const-court.be/en/basic_text/belgian_constitution.pdf|access-date=10 September 2015|archive-url=https://web.archive.org/web/20150810142522/http://www.const-court.be/en/basic_text/belgian_constitution.pdf|archive-date=10 August 2015|url-status=live}}</ref>
}}
'''Bỉ''' ({{langx|nl|België}} {{IPA|nl|ˈbɛlɣijə||Nl-belgie.ogg}}; {{langx|fr|Belgique}} {{IPA|fr|bɛlʒik||Fr-belgique.ogg}}; {{langx|de|Belgien}} {{IPA|de|ˈbɛlɡi̯ən||De-Belgien.ogg}}; {{langx|en|Belgium}}), tên chính thức là '''Vương quốc Bỉ''', là một [[quốc gia có chủ quyền]] tại [[Tây Âu]]. Bỉ có biên giới với [[Pháp]], [[Hà Lan]], [[Đức]], [[Luxembourg]], và có bờ biển ven [[biển Bắc]]. Đây là một quốc gia có diện tích nhỏ, mật độ dân số cao, dân số khoảng 11 triệu người. Bỉ thuộc cả hai vùng văn hoá châu Âu German và châu Âu Latinh, với hai nhóm ngôn ngữ chính: [[Tiếng Hà Lan]] hầu hết được nói tại cộng đồng người [[Vlaanderen]], đây là bản ngữ của 59% dân số; tiếng Pháp hầu hết được nói trong cư dân vùng [[Wallonie]] và là bản ngữ của khoảng 40% dân số; ngoài ra có khoảng 1% dân số là người nói [[tiếng Đức]].
Về mặt lịch sử, Bỉ nằm tại một khu vực được gọi là Các vùng đất thấp (Nederlanden), lớn hơn một chút so với liên minh [[Benelux]] hiện nay. Khu vực này được gọi là Belgica trong [[tiếng Latinh]] theo tên tỉnh [[Gallia Belgica]] của [[Đế quốc La Mã|La Mã]] (Roma). Từ cuối thời [[Trung cổ]] cho đến thế kỷ XVII, khu vực Bỉ là một trung tâm thương nghiệp và văn hoá thịnh vượng và có tính chất thế giới. Từ thế kỷ XVI cho đến khi Bỉ độc lập từ [[Vương quốc Liên hiệp Hà Lan|Hà Lan]] bằng [[Cách mạng Bỉ]] vào năm 1830, khu vực này trở thành chiến trường giữa các cường quốc chính tại [[châu Âu]], do đó được mệnh danh là "Chiến trường của châu Âu",<ref name="Hass">{{Chú thích web|url=http://www.fh-kehl.de/zeitung/rezensionen/2003/cook,belgium.htm|tiêu đề=Rezension zu (Review of) Cook, Bernard: Belgium. A History|tác giả=Haß, Torsten|ngày=ngày 17 tháng 2 năm 2003|nhà xuất bản=FH-Zeitung (journal of the [[Fachhochschule]])|ngôn ngữ=de|isbn=0-8204-5824-4|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070609152931/http://www.fh-kehl.de/zeitung/rezensionen/2003/cook%2Cbelgium.htm|ngày lưu trữ=ngày 9 tháng 6 năm 2007|url-status=dead|ngày truy cập=ngày 24 tháng 5 năm 2007|trích dẫn=die Bezeichnung Belgiens als "the cockpit of Europe" (James Howell, 1640), die damals noch auf eine kriegerische Hahnenkampf-Arena hindeutete}}—The book reviewer, Haß, attributes the expression in English to [[James Howell]] in 1640. Howell's original phrase "the cockpit of Christendom" became modified afterwards, as shown by:<br />*{{Chú thích web|url=http://www.napier.ac.uk/warpoets/Hydraissues/Hyn01/hyn01a03.html|tiêu đề=The Hydra No.1 New Series (November 1917)—Arras And Captain Satan|tác giả=Carmont, John|work=War Poets Collection|nhà xuất bản=Napier University's Business School|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20080511040638/http://www2.napier.ac.uk/warpoets/Hydraissues/Hyn01/hyn01a03.html|ngày lưu trữ=ngày 11 tháng 5 năm 2008|url-status=live|ngày truy cập=ngày 24 tháng 5 năm 2007}}—and as such coined for Belgium:<br />*{{Chú thích web|url=http://www.fromoldbooks.org/Wood-NuttallEncyclopaedia/c/cockpitofeurope.html|tiêu đề=Nuttall Encyclopaedia of General Knowledge—Cockpit of Europe|tác giả=Wood, James|năm=1907|ngày truy cập=ngày 24 tháng 5 năm 2007|trích dẫn=Cockpit of Europe, Belgium, as the scene of so many battles between the Powers of Europe.}} (See also [[The Nuttall Encyclopaedia]])</ref> danh tiếng này được củng cố trong hai thế chiến của thế kỷ XX.
Ngày nay, Bỉ theo chế độ quân chủ lập hiến liên bang, có một hệ thống nghị viện. Quốc gia này được chia thành ba vùng và ba cộng đồng tồn tại cạnh nhau. Hai vùng lớn nhất là [[Vùng Flanders|Vlaanderen]] tại miền bắc có cư dân nói [[Tiếng Hà Lan (Vlaanderen)|tiếng Hà Lan]], và [[Wallonie]] tại miền nam có hầu hết dân chúng nói [[Tiếng Pháp Bỉ|tiếng Pháp]]. Vùng Thủ đô [[Bruxelles]] có quy chế song ngữ chính thức, và được vùng Vlaanderen bao quanh.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.tlfq.ulaval.ca/axl/EtatsNsouverains/bruxelles-capitale.htm|tiêu đề=Belgique • België • Belgien—Région de Bruxelles-Capitale • Brussels Hoofdstedelijk Gewest|tác giả=Leclerc, Jacques|ngày=ngày 18 tháng 1 năm 2007|work=L'aménagement linguistique dans le monde|nhà xuất bản=Host: Trésor de la langue française au Québec (TLFQ), [[Université Laval]], Quebec|ngôn ngữ=fr|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070609031824/http://www.tlfq.ulaval.ca/AXL/EtatsNsouverains/bruxelles-capitale.htm|ngày lưu trữ=ngày 9 tháng 6 năm 2007|url-status=live|ngày truy cập=ngày 18 tháng 6 năm 2007|trích dẫn=C'est une région officiellement bilingue formant au centre du pays une enclave dans la province du Brabant flamand (Vlaams Brabant)}}<br />*{{Chú thích web|url=http://www.belgium.or.kr/page60.html|tiêu đề=About Belgium|nhà xuất bản=Belgian Federal Public Service (ministry) / Embassy of Belgium in the Republic of Korea|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20081002031948/http://www.belgium.or.kr/page60.html|ngày lưu trữ=ngày 2 tháng 10 năm 2008|ngày truy cập=ngày 21 tháng 6 năm 2007|trích dẫn=the Brussels-Capital Region is an enclave of 162 km² within the Flemish region.|url-status=dead}}<br />*{{Chú thích web|url=http://uk.encarta.msn.com/encnet/refpages/RefArtTextonly.aspx?refid=781531490|tiêu đề=Flanders (administrative region)|năm=2007|work=Microsoft Encarta Online Encyclopedia|nhà xuất bản=Microsoft|url lưu trữ=https://www.webcitation.org/5kwPxLurr?url=http://uk.encarta.msn.com/encnet/refpages/RefArtTextonly.aspx?refid=781531490|ngày lưu trữ=ngày 31 tháng 10 năm 2009|ngày truy cập=ngày 21 tháng 6 năm 2007|trích dẫn=The capital of Belgium, Brussels, is an enclave within Flanders.|url-status=dead}}
<br />*{{Chú thích web|url=http://www.ncata.org/doc/Oct99.pdf|tiêu đề=The FIT Invasions of Mons|tác giả=McMillan, Eric|ngày=October 1999|work=Capital translator, Newsletter of the NCATA, Vol. 21, No. 7, p. 1|nhà xuất bản=National Capital Area Chapter of the American Translators Association (NCATA)|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070626185804/http://www.ncata.org/doc/Oct99.pdf|ngày lưu trữ=ngày 26 tháng 6 năm 2007|ngày truy cập=ngày 21 tháng 6 năm 2007|trích dẫn=The country is divided into three autonomous regions: Dutch-speaking Flanders in the north, mostly French-speaking [[Brussels]] in the center as an enclave within Flanders and French-speaking Wallonia in the south, including the German-speaking ''Cantons de l'Est''.|url-status=dead}}<br />*{{Chú thích web|url=http://perswww.kuleuven.be/~u0025631/pdf/RANDBRUS.pdf|tiêu đề=Language Facilities in the Brussels Periphery|tác giả=Van de Walle, Steven|nhà xuất bản=[[KULeuven]]—Leuvens Universitair Dienstencentrum voor Informatica en Telematica|định dạng=PDF|url lưu trữ=https://www.webcitation.org/5kwPxLurr?url=http://uk.encarta.msn.com/encnet/refpages/RefArtTextonly.aspx?refid=781531490|ngày lưu trữ=ngày 31 tháng 10 năm 2009|ngày truy cập=ngày 21 tháng 6 năm 2007|trích dẫn=Brussels is a kind of enclave within Flanders—it has no direct link with Wallonia.|url-status=dead}}</ref> [[Cộng đồng nói tiếng Đức tại Bỉ|Cộng đồng nói tiếng Đức]] nằm tại miền đông Wallonie.<ref>[http://www.belgium.be/en/about_belgium/government/communities/german-speaking_community/ The German-speaking Community] at Belgium.be</ref><ref name="German-speaking_Community">{{Chú thích web|tiêu đề=The German-speaking Community |nhà xuất bản=The German-speaking Community |url=http://www.dglive.be/EN/Desktopdefault.aspx/tabid-1263/2264_read-27181/ |ngày truy cập=ngày 5 tháng 5 năm 2007 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070530023348/http://www.dglive.be/EN/Desktopdefault.aspx/tabid-1263/2264_read-27181/ |ngày lưu trữ=ngày 30 tháng 5 năm 2007 |url-status=dead }} The (original) [http://www.dglive.be/DesktopDefault.aspx/tabid-84/186_read-448/ version in German language] (already) mentions 73,000 instead of 71,500 inhabitants.</ref> Các xung đột về đa dạng ngôn ngữ và chính trị liên quan tại Bỉ được phản ánh trong lịch sử chính trị và hệ thống quản lý phức tạp tại đây, với [[Danh sách chính phủ tại Bỉ|sáu chính quyền khác nhau]].<ref name="bbcnews1">{{chú thích báo|title=Language dispute divides Belgium|author=Morris, Chris<!--NO LINK unless it goes to a British TV journalist-->|publisher=BBC News
|date=ngày 13 tháng 5 năm 2005|url=http://news.bbc.co.uk/1/hi/world/europe/4545433.stm|access-date =ngày 8 tháng 5 năm 2007}}</ref><ref name=paulderidder>{{Chú thích web|tiêu đề=Langues majoritaires, langues minoritaires, dialectes et NTIC|ngày=ngày 25 tháng 9 năm 2001|ngôn ngữ=fr|tác giả=Petermann, Simon|người khác=Belgium—at colloquium ''IX<sup>e</sup> Sommet de la francophonie—Initiatives 2001—Ethique et nouvelles technologies, session 6 Cultures et langues, la place des minorités'', [[Bayreuth]]|url=http://www.initiatives.refer.org/Initiatives-2001/_notes/sess604.htm|ngày truy cập=ngày 4 tháng 5 năm 2007|archive-date = ngày 2 tháng 11 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20131102084828/http://www.initiatives.refer.org/Initiatives-2001/_notes/sess604.htm|url-status=dead}}</ref>
Bỉ tham gia [[cách mạng công nghiệp]]<ref name="Fitzmaurice">{{Chú thích web|url=http://cain.ulst.ac.uk/dd/report9/report9d.htm|tiêu đề=New Order? International models of peace and reconciliation—Diversity and civil society|tác giả=Fitzmaurice, John|năm=1996|website=Democratic Dialogue Northern Ireland's first think tank, Belfast, Northern Ireland, UK|nhà xuất bản=|url-status=dead|ngày truy cập=ngày 12 tháng 8 năm 2007|archive-date=2014-01-25|archive-url=https://web.archive.org/web/20140125171511/http://cain.ulst.ac.uk/dd/report9/report9d.htm}}</ref><ref name="EUbusiness">{{Chú thích web|tiêu đề=Belgium country profile|ngày=ngày 27 tháng 8 năm 2006|nhà xuất bản=EUbusiness, Richmond, UK|url=http://www.eubusiness.com/Belgium/belgium-country-profile/|ngày truy cập=ngày 12 tháng 8 năm 2007|ngày lưu trữ=2009-10-07|archive-url=https://web.archive.org/web/20091007053429/http://www.eubusiness.com/Belgium/belgium-country-profile|url-status=dead}}</ref>, và trong thế kỷ XX từng sở hữu [[Đế quốc thực dân Bỉ|một số thuộc địa]] tại châu Phi.<ref name=Karl>{{Chú thích web |tiêu đề=Chapter 27. The Age of Imperialism (Section 2. The Partition of Africa) |work=World History II |tác giả=Karl, Farah |author2=Stoneking, James |năm=1999 |nhà xuất bản=Appomattox Regional Governor's School (History Department), Petersburg, Virginia, USA |ngày truy cập=ngày 16 tháng 8 năm 2007 |url=http://www.args.k12.va.us/academics/history/Stoneking/chapters/world2/world27.pdf |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070925221249/http://www.args.k12.va.us/academics/history/Stoneking/chapters/world2/world27.pdf |định dạng=PDF |ngày lưu trữ=ngày 25 tháng 9 năm 2007 |url-status=dead }}</ref> Nửa sau thế kỷ XX có dấu ấn là gia tăng căng thẳng giữa các công dân nói tiếng Hà Lan và nói tiếng Pháp, được thúc đẩy do khác biệt về ngôn ngữ và văn hoá cũng như phát triển kinh tế không đồng đều của Vlaanderen và Wallonie. Sự đối lập liên tục này dẫn đến một vài cải cách sâu rộng, kết quả là chuyển đổi Bỉ từ một nhà nước đơn nhất sang nhà nước liên bang trong giai đoạn từ 1970 đến 1993. Bất chấp các cải cách này, căng thẳng giữa các nhóm vẫn tồn tại; chủ nghĩa ly khai có quy mô đáng kể tại Bỉ, đặc biệt là trong cộng đồng Vlaanderen; tồn tại pháp luật về ngôn ngữ gây tranh luận trong các khu tự quản đa ngôn ngữ.<ref name=UCL>{{Chú thích web|tiêu đề=Bilingual island in Flanders|work=UCL|tác giả=Buoyant Brussels|url=https://www.ucl.ac.uk/dutchstudies/an/SP_LINKS_UCL_POPUP/SPs_english/brussels/eiland.html|ngày truy cập=ngày 5 tháng 6 năm 2016|archive-date=2016-05-24|archive-url=https://web.archive.org/web/20160524135618/http://www.ucl.ac.uk/dutchstudies/an/SP_LINKS_UCL_POPUP/SPs_english/brussels/eiland.html|url-status=dead}}</ref>
Bỉ là một trong sáu quốc gia sáng lập của [[Liên minh châu Âu]], và là nơi đặt trụ sở của [[Ủy ban châu Âu]], [[Hội đồng Liên minh châu Âu]], [[Hội đồng châu Âu]] và [[Nghị viện châu Âu]] và nhiều tổ chức quốc tế lớn khác. Bỉ cũng là một thành viên sáng lập của [[Khu vực đồng euro]], [[NATO]], [[OECD]] và [[WTO]], và là bộ phận của Liên minh [[Benelux]] và [[Khu vực Schengen]]. Bỉ là một quốc gia phát triển, có kinh tế thu nhập cao với trình độ tiên tiến, và được phân loại là "rất cao" trong [[chỉ số phát triển con người]].
==Tên gọi==
{{main|Tên gọi Bỉ}}
Tên gọi của nước Bỉ trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của nước Bỉ trong [[tiếng Trung]]. Trong tiếng Trung nước Bỉ được gọi là "比利時" (Bǐlìshí, [[âm Hán Việt]]: ''Bỉ Lợi Thời''). Tên gọi "Bỉ" trong tiếng Việt là gọi tắt của "Bỉ Lợi Thời".<ref>Trần Văn Chánh. Từ điển Hán-Việt — Hán ngữ cổ đại và hiện đại. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. Năm 2014. Trang 2420.</ref> [[Tiếng Việt]] cuối thế kỷ 19 còn phiên âm địa danh này là '''Bắc Lợi Thì'''.<ref>PGV. ''Dictionnaire franco-tonkinois illustré''. Hà Nội: FH Schneider, 1898. tr 401</ref>
Quốc hiệu nước Bỉ ({{langx|nl|België}} {{IPA|nl|ˈbɛlɣijə||Nl-belgie.ogg}}; {{langx|fr|Belgique}} {{IPA|fr|bɛlʒik||Fr-belgique.ogg}}; {{langx|de|Belgien}} {{IPA|de|ˈbɛlɡi̯ən||De-belgien.ogg}}) bắt nguồn từ ''[[Gallia Belgica]]'', tên gọi của một [[tỉnh của La Mã]] ở phần cực bắc của [[Gallia]] nơi người ''[[Belgae]]'' sinh sống.<ref>{{chú thích sách|url=https://archive.org/details/encyclopediaofro0000buns|title=Encyclopedia of the Roman Empire|author=Bunson, Matthew|publisher=Facts on File, New York|year=1994|isbn=0 8160 2135 X|edition=352|pages=[https://archive.org/details/encyclopediaofro0000buns/page/169 169]}}</ref>
==Lịch sử==
{{Main article|Lịch sử Bỉ}}
===Tiền độc lập===
Trước khi người [[Đế quốc La Mã|La Mã]] (Roma) xâm chiếm khu vực vào năm 100 TCN, đây là nơi cư trú của người ''[[Belgae]]'', pha trộn giữa các dân tộc [[Người Celt|Celt]] và [[Các dân tộc German|German]].<ref>{{chú thích sách|title=Encyclopedia of the Roman Empire|url=https://archive.org/details/encyclopediaofro0000buns|author=Bunson, Matthew|publisher=Facts on File, New York|year=1994|isbn=0-8160-2135-X|edition=Hardcover|page=[https://archive.org/details/encyclopediaofro0000buns/page/169 169]}}<!--reference 2007-08-15 borrowed from WP article 'Gallia Belgica', version 2007-05-12 id=128931276, at "Agrippa made the divisions on what he perceived to be distinctions in language, race and community—Gallia Belgica was meant to be a mix of Germanic and Celtic peoples."; not doublechecked--></ref> Các bộ lạc [[người Frank|Frank]] thuộc nhóm German dần [[Giai đoạn Di cư|di cư]] đến trong thế kỷ V, đưa khu vực vào phạm vi cai trị của các quốc vương [[vương triều Meroving|Meroving]]. Thay đổi từng bước về quyền lực trong thế kỷ VIII khiến vương quốc của người Frank phát triển thành [[Đế quốc Caroling]].<ref name=CookP3>{{chú thích sách|title=Belgium: A History|url=https://archive.org/details/belgiumhistory00cook|author=Cook, Bernard A.|year=2002|page=[https://archive.org/details/belgiumhistory00cook/page/3 3]|series=Studies in Modern European History, Vol. 50|publisher=Peter Lang Pub, New York|isbn=0-8204-5824-4}}<br /><!--
-->Ib. e-book (2004) NetLibrary, Boulder, Colorado, United States, {{ISBN|0-8204-7283-2}} [Also print edition ([http://isbndb.com/d/book/belgium_a_history.html ISBNDB.com] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20070927233550/http://isbndb.com/d/book/belgium_a_history.html |date = ngày 27 tháng 9 năm 2007}} 2004-06-30) or ([http://www.peterlang.com/index.cfm?vID=67647&vLang=E&vHR=1&vUR=3&vUUR=4&vNoHB=True Peterlang.com] {{webarchive|url=https://web.archive.org/web/20070927000202/http://www.peterlang.com/index.cfm?vID=67647&vLang=E&vHR=1&vUR=3&vUUR=4&vNoHB=True |date=ngày 27 tháng 9 năm 2007 }} 2005), {{ISBN|0-8204-7647-1}}]</ref>
[[Hiệp ước Verdun]] năm 843 phân chia khu vực giữa [[Trung Frank]] và [[Tây Frank]], khu vực này trở thành một tập hợp các thái ấp có tính độc lập ít nhiều, và là chư hầu của [[Danh sách quân chủ Pháp|Quốc vương Pháp]] hoặc của [[Hoàng đế La Mã Thần thánh]].<ref name=CookP3/> Nhiều thái ấp trong số này thống nhất thành [[Hà Lan Burgundy|Nederlanden thuộc Bourgogne]] trong các thế kỷ XIV và XV.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Chapter I: The Burgundian Netherlands|work=History of Holland|tác giả=Edmundson, George|nhà xuất bản=The University Press, Cambridge. Republished: Authorama|năm=1922|url=http://www.authorama.com/history-of-holland-3.html|ngày truy cập=ngày 15 tháng 12 năm 2010}}</ref>
[[Karl V của Thánh chế La Mã|Hoàng đế Karl V]] mở rộng liên minh cá nhân của [[Mười bảy tỉnh]] trong thập niên 1540, khiến nó vượt xa khỏi một liên minh cá nhân theo sắc lệnh năm 1549 và gia tăng ảnh hưởng của ông đối với Lãnh địa Thân vương-Giám mục Liège.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Chapter II: Habsburg Rule in the Netherlands|work=History of Holland|tác giả=Edmundson, George|nhà xuất bản=The University Press, Cambridge. Republished: Authorama|năm=1922|url=http://www.authorama.com/history-of-holland-4.html|ngày truy cập=ngày 9 tháng 6 năm 2007}}</ref>
[[Chiến tranh Tám mươi Năm]] (1568–1648) phân chia Các Vùng đất thấp thành [[Cộng hòa Hà Lan|Các tỉnh Liên hiệp]] (''Belgica Foederata'' trong tiếng [[Latin]], "Nederlanden Liên bang") và Miền Nam Nederlanden (''Belgica Regia'', "Nederlanden Hoàng gia"). Miền Nam Nederlanden nằm dưới quyền cai trị liên tiếp của gia tộc [[Habsburg Tây Ban Nha]] và [[Gia tộc Habsburg|Habsburg Áo]], bao gồm hầu hết lãnh thổ nay là Bỉ. Đây là chiến trường trong hầu hết chiến tranh [[Chiến tranh Pháp-Tây Ban Nha (1635-1659)|Pháp-Tây Ban Nha]] và [[Chiến tranh Kế vị Áo|Pháp-Áo]] vào thế kỷ XVII-XVIII.
Sau các chiến dịch trong năm 1794 của Chiến tranh [[Cách mạng Pháp]], [[Đệ Nhất Cộng hòa Pháp]] sáp nhập Các vùng đất thấp, kể cả các lãnh thổ chưa từng do gia tộc Habsburg cai trị trên danh nghĩa như Lãnh địa Thân vương-Giám mục Liège, kết thúc quyền cai trị của Áo trong khu vực. Các vùng đất thấp thống nhất thành [[Vương quốc Liên hiệp Hà Lan]] (Nederlanden) khi [[Đệ Nhất Đế chế Pháp]] giải thể vào năm 1815 sau thất bại của [[Napoléon Bonaparte]].
===Độc lập===
[[Tập tin:Wappers - Episodes from September Days 1830 on the Place de l’Hôtel de Ville in Brussels.JPG|thumb|Tranh miêu tả [[Cách mạng Bỉ]] 1830 của [[Gustaf Wappers]]|200x200px|thế=]]
[[Tập tin:5 francs Leopold II 1870.png|thumb|5 franc bạc của Bỉ, với chân dung vua [[Leopold II của Bỉ|Leopold II]], đúc 1870]]
Năm 1830, [[Cách mạng Bỉ]] dẫn đến các tỉnh miền nam ly khai khỏi Hà Lan và hình thành quốc gia Bỉ độc lập theo Công giáo và nằm dưới quyền giai cấp tư sản, có ngôn ngữ chính thức là tiếng Pháp, và trung lập.<ref name="Dobbelaere-VoyE">{{chú thích tạp chí
|url = http://socrel.oxfordjournals.org/content/51/Special_Issue/S1.full.pdf
|title = From Pillar to Postmodernity: The Changing Situation of Religion in Belgium
|page = S1
|publisher = www-oxford.op.org (The Allen Review). Online at [[Oxford Journals]], [[Oxford University Press]]
|year = 1990
|format = PDF
|access-date =ngày 25 tháng 2 năm 2011
|author = [[Karel Dobbelaere|Dobbelaere, Karel]] |author2=Voyé, Liliane
}}</ref><ref name=Gooch>{{chú thích sách
|url = https://www.questia.com/read/3461234
|title = Belgium and the February Revolution
|author = [[Brison D. Gooch|Gooch, Brison Dowling]]
|publisher = [[Martinus Nijhoff Publishers]], The Hague, Netherlands
|year = 1963
|page = 112
|access-date = ngày 18 tháng 10 năm 2010
|archive-date = 2011-06-28
|archive-url = https://web.archive.org/web/20110628222235/http://www.questia.com/read/3461234
}}</ref>
[[Leopold I của Bỉ|Leopold I]] đăng cơ làm quốc vương vào ngày 21 tháng 7 năm 1831, ngày này hiện là ngày quốc khánh Bỉ, kể từ đó Bỉ theo chế độ quân chủ lập hiến và dân chủ nghị viện, có hiến pháp thế tục dựa theo [[Bộ luật Dân sự Pháp|bộ luật Napoléon]].<ref>{{Chú thích web| url=http://www.belgium.be/en/about_belgium/country/belgium_in_nutshell/symbols/national_holiday/| tiêu đề=National Day and feast days of Communities and Regions| nhà xuất bản=Belgian Federal Government| ngày truy cập=ngày 20 tháng 7 năm 2011| ngày lưu trữ=ngày 24 tháng 7 năm 2011| url-status=live| url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20110724132628/http://www.belgium.be/en/about_belgium/country/belgium_in_nutshell/symbols/national_holiday/}}</ref> Quyền bầu cử vào lúc đầu bị hạn chế, song nam giới được cấp quyền phổ thông đầu phiếu sau tổng đình công năm 1893, còn với nữ giới là vào năm 1949.
Các chính đảng chủ yếu trong thế kỷ XIX là Đảng Công giáo và Đảng Tự do, còn Công đảng xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX. Tiếng Pháp lúc đầu là ngôn ngữ chính thức duy nhất, ngôn ngữ này được giai cấp quý tộc và tư sản chấp thuận. Tuy nhiên, tiếng Pháp dần để mất tầm quan trọng về tổng thể từ khi tiếng Hà Lan cũng được công nhận. Sự công nhận này được chính thức hoá vào năm 1898 và đến năm 1967 thì Quốc hội chấp nhận một phiên bản tiếng Hà Lan của Hiến pháp.<ref>{{Chú thích web
|tiêu đề=Ethnic structure, inequality and governance of the public sector in Belgium
|họ=Deschouwer
|tên=Kris
|nhà xuất bản=United Nations Research Institute for Social Development (UNRISD)
|ngày=January 2004
|url=http://www.unrisd.org/UNRISD/website/document.nsf/ab82a6805797760f80256b4f005da1ab/ec506a59176be044c1256e9e003077c3/$FILE/Deschou.pdf
|định dạng=PDF
|ngày truy cập=ngày 22 tháng 5 năm 2007
|url-status=dead
|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070614025223/http://www.unrisd.org/UNRISD/website/document.nsf/ab82a6805797760f80256b4f005da1ab/ec506a59176be044c1256e9e003077c3/%24FILE/Deschou.pdf
|ngày lưu trữ=ngày 14 tháng 6 năm 2007
}}</ref>
[[Hội nghị Berlin]] 1885 nhượng quyền kiểm soát [[Nhà nước Tự do Congo]] cho [[Leopold II của Bỉ|Quốc vương Leopold II]] với tư cách là tài sản cá nhân của ông. Từ khoảng năm 1900 quốc tế gia tăng quan tâm về đối xử khắc nghiệt và dã man đối với cư dân Congo dưới quyền Leopold II, đối với ông Congo chủ yếu là một nguồn thu nhập từ ngà voi và cao su.<ref name=Forbath>{{chú thích sách| title=The River Congo: The Discovery, Exploration and Exploitation of the World's Most Dramatic Rivers| publisher=Harper & Row| year=1977| isbn=978-0061224904| last=Forbath| first=Peter| page=278| url=https://books.google.com/books?id=UtgwAQAAIAAJ&q=The+River+Congo:+The+Discovery,+Exploration+and+Exploitation+of+the+World's+Most+Dramatic+Rivers&dq=The+River+Congo:+The+Discovery,+Exploration+and+Exploitation+of+the+World's+Most+Dramatic+Rivers&hl=en&sa=X&ved=0ahUKEwjJh5TpxdTLAhWMOz4KHWpYDoUQ6AEIHTAA| url-access=subscription}}</ref> Năm 1908, những phản đối này khiến nhà nước Bỉ đảm nhận trách nhiệm cai trị thuộc địa, từ đó lãnh thổ này được gọi là [[Congo thuộc Bỉ]].<ref>{{chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=jNZ6srograIC&dq=0-7432-3221-6&q=congo+free+state#v=snippet&q=congo%20free%20state&f=false|title=The State of Africa|last=Meredith|first=Martin|publisher=Jonathan Ball|year=2005|isbn=978-1868422203|pages=95–96(?)|url-access=subscription}}</ref>
Đức xâm chiếm Bỉ vào tháng 8 năm 1914, động thái này nằm trong [[Kế hoạch Schlieffen]] nhằm tấn công Pháp, và hầu hết giao tranh trên [[Mặt trận phía Tây (Thế Chiến thứ Nhất)|Mặt trận phía Tây]] trong [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]] diễn ra tại miền tây của Bỉ. Bỉ nắm quyền kiểm soát các thuộc địa [[Ruanda-Urundi]] của Đức (nay là [[Rwanda]] và [[Burundi]]) trong chiến tranh, và đến năm 1924 [[Hội Quốc Liên]] uỷ thác chúng cho Bỉ. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Bỉ sáp nhập các huyện [[Eupen-Malmedy|Eupen và Malmedy]] của [[Phổ (quốc gia)|Phổ]] vào năm 1925, đây là nguyên nhân xuất hiện một thiểu số nói tiếng Đức trong nước.
[[Trận nước Bỉ|Người Đức lại xâm chiếm Bỉ vào tháng 5 năm 1940]], và 40.690 người Bỉ bị giết trong cuộc chiếm đóng và nạn diệt chủng sau đó, hơn một nửa trong số đó là người Do Thái. [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]] tiến hành giải phóng Bỉ từ tháng 9 năm 1944 đến tháng 2 năm 1945. Sau [[Chiến tranh thế giới thứ hai]], một cuộc tổng đình công buộc Quốc vương [[Leopold III của Bỉ|Leopold III]] phải thoái vị vào năm 1951, do nhiều người Bỉ cảm thấy ông đã cộng tác với Đức trong chiến tranh.<ref name=Arango>{{chú thích sách| first=Ramon| last=Arango| title=Leopold III and the Belgian Royal Question| publisher=The Johns Hopkins Press| location=Baltimore| year=1961| url-access=subscription| page=108| url=https://books.google.com/books?id=yLzkugAACAAJ&dq=Leopold+III+and+the+Belgian+Royal+Question&hl=en&sa=X&ved=0ahUKEwjP2YrUwtTLAhWE4D4KHX-6AIUQ6AEIHTAA}}</ref> Congo thuộc Bỉ giành độc lập vào năm 1960 trong [[Khủng hoảng Congo]];<ref>{{Chú thích web |url=http://www.bbc.co.uk/dna/h2g2/A1304803 |tiêu đề=The Congolese Civil War 1960–1964
|work=[[BBC News]] |ngày truy cập=ngày 29 tháng 4 năm 2010 }}</ref> Ruanda-Urundi tiếp bước độc lập hai năm sau đó. Bỉ gia nhập [[NATO]] với tư cách thành viên sáng lập, và thành lập nhóm [[Benelux]] cùng Hà Lan và Luxembourg.
Bỉ trở thành một trong sáu thành viên sáng lập của [[Cộng đồng Than Thép châu Âu]] vào năm 1951 và của [[Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu]] và [[Cộng đồng Kinh tế châu Âu]] thành lập năm 1957. Bỉ hiện là nơi đặt trụ sở các cơ quan hành chính và tổ chức chủ yếu của Liên minh châu Âu, như [[Ủy ban châu Âu]], [[Hội đồng Liên minh châu Âu]] cùng các phiên họp đặc biệt và uỷ ban của [[Nghị viện châu Âu]].
==Địa lý==
[[Tập tin:Belgium relief location map.jpg|thumb|200x200px|Bản đồ địa hình Bỉ|thế=]]
{{main|Địa lý Bỉ}}
Bỉ có biên giới với [[Pháp]] ({{nowrap|620 km}}), [[Đức]] ({{nowrap|167 km}}), [[Luxembourg]] ({{nowrap|148 km}}) và [[Hà Lan]] ({{nowrap|450 km}}). Tổng diện tích là 30.528 km², trong đó diện tích đất là 30.278 km².<ref name=CIA>{{Chú thích web|url=https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/be.html |tiêu đề=Belgium |work=The World Factbook |nhà xuất bản=[[Central Intelligence Agency]] |url-status=dead |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20160710084134/https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/be.html |ngày lưu trữ=ngày 10 tháng 7 năm 2016 }}</ref> Lãnh thổ Bỉ giới hạn giữa vĩ tuyến 49°30 và 51°30 Bắc, giữa kinh tuyến 2°33 và 6°24 Đông.<ref>{{nl icon}} [http://www.belgium.be/nl/over_belgie/land/geografie/ Geografische beschrijving van België – Over Belgie – Portaal Belgische Overheid]. Belgium.be. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013.</ref>
Bỉ có ba vùng địa lý chính; đồng bằng duyên hải nằm tại tây bắc và cao nguyên trung tâm đều thuộc bồn địa Anh-Bỉ, còn vùng cao [[Ardenne]] tại đông nam thuộc vành đai kiến tạo sơn Hercynia. Ngoài ra, bồn địa Paris vươn tới một khu vực nhỏ tại mũi cực nam của Bỉ, gọi là Lorraine thuộc Bỉ.<ref>{{Chú thích web
|tiêu đề=Belgium—The land—Relief
|work=Encyclopædia Britannica
|năm=2007
|nhà xuất bản=Encyclopædia Britannica, Chicago, Illinois, US
|url=https://edit.britannica.com/getEditableToc?tocId=24981
|ngày truy cập=ngày 3 tháng 7 năm 2007
|archive-date = ngày 17 tháng 12 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20131217183818/https://edit.britannica.com/getEditableToc?tocId=24981
|url-status=dead
}}</ref>
[[Tập tin:Diksmuide - Polders - IJzer.jpg|thumb|Đất cải tạo dọc sông [[Yser]]|200x200px|thế=]]
Đồng bằng ven biển gồm chủ yếu là các đụn cát và đất quai đê. Vùng nội lục sâu hơn có cảnh quan bằng phẳng và dần cao lên, có nhiều sông chảy qua, với các thung lũng phì nhiêu và đồng bằng nhiều cát [[Campine]] (''Kempen'') tại đông bắc. Các vùng đồi và cao nguyên có rừng rậm rạp thuộc khu vực Ardenne có địa hình gồ ghề và nhiều đá hơn, với các hang động và hẻm núi nhỏ. Ardenne trải dài về phía tây sang Pháp, còn về phía đông nối liền đến [[Eifel]] tại Đức qua cao nguyên [[Hautes Fagnes]]/Hohes Venn, trên đó có đỉnh [[Signal de Botrange]] cao nhất Bỉ với độ cao 694 m.<ref>{{Chú thích web |tiêu đề=Geography of Belgium
|nhà xuất bản=123independenceday.com |url=http://www.123independenceday.com/belgium/geography.html |ngày truy cập=ngày 10 tháng 8 năm 2007| url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070912093214/http://www.123independenceday.com/belgium/geography.html |ngày lưu trữ=ngày 12 tháng 9 năm 2007 |url-status=live}}</ref><ref>{{Chú thích web |tiêu đề=Life—Nature |năm=2005 |nhà xuất bản=Office for Official Publications of the European Communities |url=http://kp.org.pl/n2k/pdf/15.pdf |ngày truy cập=ngày 10 tháng 8 năm 2007}}</ref>
Bỉ thuộc vùng khí hậu đại dương, có lượng mưa đáng kể trong tất cả các mùa ([[phân loại khí hậu Köppen]]: ''Cfb''), giống như hầu hết phần tây bắc châu Âu.<ref>{{chú thích tạp chí|last1=Peel|first1=Murray C.|last2=Finlayson|first2=Bryan L.|last3=McMahon|first3=T. A.|year=2007|title=Updated world map of the Köppen–Geiger climate classification|url=http://www.hydrol-earth-syst-sci.net/11/1633/2007/hess-11-1633-2007.html|journal=Hydrology and Earth System Sciences|volume=11|issue=5|pages=1633–1644|doi=10.5194/hess-11-1633-2007|issn=1027-5606}} ''(direct: [http://www.hydrol-earth-syst-sci.net/11/1633/2007/hess-11-1633-2007.pdf Final Revised Paper])''</ref> Nhiệt độ trung bình thấp nhất là trong tháng 1 với 3 °C, và cao nhất là trong tháng 7 với 18 °C. Lượng [[giáng thủy]] trung bình tháng dao động từ 54 mm vào tháng 2 và tháng 4 đến 78 mm vào tháng 7.<ref>{{Chú thích web
|tiêu đề=Climate averages—Brussels
|nhà xuất bản=EuroWEATHER/EuroMETEO, Nautica Editrice Srl, Rome, Italy
|url=http://www.euroweather.net/english/climate/city_EBBR/id_GT/meteo_brussels%20belgium
|ngày truy cập=ngày 27 tháng 5 năm 2007
|archive-date=2011-07-23
|archive-url=https://web.archive.org/web/20110723122812/http://www.euroweather.net/english/climate/city_EBBR/id_GT/meteo_brussels%20belgium
|url-status=dead
}}</ref> Tính trung bình trong giai đoạn 2000-2006, nhiệt độ thấp nhất trong ngày là 7 °C và cao nhất là 14 °C, còn lượng mưa hàng tháng là 74 mm; lần lượt cao hơn khoảng 1 °C và 10 mm so với các giá trị bình thường của thế kỷ trước.<ref name=statbel2>{{Chú thích web
|url = http://statbel.fgov.be/pub/d0/p007y2006_nl.pdf
|tiêu đề = Kerncijfers 2006 – Statistisch overzicht van België
|các trang = 9–10
|ngôn ngữ = nl
|nhà xuất bản = Belgian Federal Government Service (ministry) of Economy—Directorate-general Statistics Belgium
|ngày truy cập =ngày 8 tháng 5 năm 2007
|url lưu trữ = https://web.archive.org/web/20070605012645/http://statbel.fgov.be/pub/d0/p007y2006_nl.pdf
|ngày lưu trữ = ngày 5 tháng 6 năm 2007
}}</ref>
Về địa lý thực vật, Bỉ nằm giữa các tỉnh châu Âu Đại Tây Dương và Trung Âu thuộc khu vực Circumboreal trong giới Boreal.<ref>Takhtajan, Armen, 1986. ''Floristic Regions of the World''. (translated by T.J. Crovello and A. Cronquist). [[University of California Press]], [[Berkeley, California|Berkeley]].</ref> Theo [[Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên]], lãnh thổ Bỉ thuộc vùng sinh thái rừng hỗn hợp Đại Tây Dương.<ref>{{WWF ecoregion|id=pa0402|name=Atlantic mixed forests}}</ref> Do Bỉ có mật độ dân số cao, công nghiệp hoá và có vị trí tại trung tâm của [[Tây Âu]], nên quốc gia này vẫn phải đối diện với một số vấn đề về môi trường. Tuy nhiên, do các nỗ lực kiên định của các cấp chính quyền, nên tình trạng môi trường tại Bỉ dần được cải thiện. Hơn thế, Bỉ còn là một trong các quốc gia có tỷ lệ tái chế chất thải cao nhất tại châu Âu, đặc biệt là vùng Vlaanderen có tỷ lệ phân loại chất thải cao nhất châu lục. Gần 75% chất thải sinh hoạt được tái sử dụng, tái chế hoặc dùng làm phân bón.
=== Các tỉnh===
{{Belgian provinces Labelled Map}}
Lãnh thổ Bỉ được phân thành ba vùng, trong đó vùng Vlaanderen và vùng Wallonie được chia tiếp thành các [[tỉnh của Bỉ|tỉnh]]; riêng vùng [[Bruxelles|Thủ đô Bruxelles]] không phải là một tỉnh hoặc là một phần của tỉnh nào.
{| class="sortable wikitable" style="text-align:left"
|-
! style="width:110px;"| Tỉnh
! style="width:110px;"| Tên tiếng Hà Lan
! style="width:110px;"| Tên tiếng Pháp
! style="width:110px;"| Tên tiếng Đức
! style="width:115px;"| Thủ phủ
! style="width:115px;"| Thành phố lớn nhất
! style="width:50px;"| Diện tích<br />(km²)
! style="width:70px;"| Dân số<br />(1/1/2016)
|-
| [[Antwerpen (tỉnh)|Antwerpen]] || '''Antwerpen''' || Anvers || Antwerpen || [[Antwerpen]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Antwerpen'')<br />(tiếng Pháp: ''Anvers'')|| [[Antwerpen]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Antwerpen'')<br />(tiếng Pháp: ''Anvers'') || style="text-align:right"|2.860|| style="text-align:right"| 1.824.136
|-
| [[Oost-Vlaanderen]] || '''Oost-Vlaanderen''' || Flandre-Orientale || Ostflandern || [[Gent]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Gent'')<br />(tiếng Pháp: ''Gand'') || [[Ghent]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Gent'')<br />(tiếng Pháp: ''Gand'') || style="text-align:right"|2.982|| style="text-align:right"| 1.486.722
|-
| [[Vlaams-Brabant]] || '''Vlaams-Brabant''' || Brabant flamand || Flämisch Brabant || [[Leuven]]<br />(tiếng Pháp: ''Louvain'')<br />(tiếng Đức: ''Löwen'') || [[Leuven]]<br />(tiếng Pháp: ''Louvain'') || style="text-align:right"|2.106 || style="text-align:right" | 1.121.693
|-
| [[Hainaut]] || Henegouwen || '''Hainaut''' || Hennegau || [[Mons]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Bergen'') || [[Charleroi]] || style="text-align:right"|3.800|| style="text-align:right"| 1.337.157
|-
| [[Liège (tỉnh)|Liège]] || Luik || '''Liège''' || '''Lüttich''' || [[Liège]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Luik'')<br />(tiếng Đức: ''Lüttich'') || [[Liège]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Luik'')<br />(tiếng Đức: ''Lüttich'') || style="text-align:right"|3.844 || style="text-align:right"| 1.098.688
|-
| [[Limburg (Bỉ)|Limburg]] || '''Limburg''' || Limbourg || Limburg || [[Hasselt]] || [[Hasselt]] || style="text-align:right"|2,414|| style="text-align:right"| 863,425
|-
| [[Luxembourg (tỉnh)|Luxembourg]] || Luxemburg || '''Luxembourg''' || Luxemburg || [[Arlon]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Aarlen'')<br />(tiếng Đức: ''Arel'') || [[Arlon]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Aarlen'')<br />(tiếng Đức: ''Arel'') || style="text-align:right"|4.443|| style="text-align:right"| 280.327
|-
| [[Namur (tỉnh)|Namur]] || Namen || '''Namur''' || Namur || [[Namur]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Namen'') || [[Namur]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Namen'') || style="text-align:right"|3.664|| style="text-align:right"| 489.204
|-
| [[Walloon Brabant]] || Waals-Brabant|| '''Brabant wallon''' || Wallonisch Brabant || [[Wavre]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Waver'') || [[Braine-l'Alleud]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Eigenbrakel'') || style="text-align:right"|1.093|| style="text-align:right"| 396.840
|-
| [[West-Vlaanderen]] || '''West-Vlaanderen''' || Flandre-Occidentale || Westflandern || [[Brugge]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Brugge'')<br />(tiếng Pháp: ''Bruges'')<br />(tiếng Đức: ''Brügge'') || [[Brugge]]<br />(tiếng Hà Lan: ''Brugge'')<br />(tiếng Pháp: ''Bruges'')<br />(tiếng Đức: ''Brügge'')|| style="text-align:right"|3.151|| style="text-align:right"| 1.181.828
|}
==Chính trị==
{{main|Chính trị Bỉ|Quân chủ Bỉ}}
{{multiple image
| width1 = 125
| width2 = 170
| align =
| direction =
| width =
| image1 = Koning Filip van België.jpg|200px
| image2 = Charles Michel (politician).jpg|200px
| caption1 = [[Philippe của Bỉ|Philippe]]<br />{{small|Quốc vương từ năm 2013}}
| caption2 = [[Charles Michel]]<br />{{small|[[Thủ tướng Bỉ|Thủ tướng]] từ năm 2014}}
}}
Bỉ có chế độ [[quân chủ lập hiến]] [[Thể chế đại nghị|nghị viện]] [[liên bang]]. Nghị viện liên bang Bỉ gồm có một tham nghị viện (thượng viện) và chúng nghị viện (hạ viện). Thượng viện gồm có 50 thượng nghị sĩ được bổ nhiệm từ nghị viện của các cộng đồng và vùng, cùng 10 thượng nghị sĩ được bầu thêm. Trước năm 2014, hầu hết thành viên Thượng viện được bầu cử trực tiếp. 150 đại biểu của Hạ viện được bầu theo một hệ thống đại diện tỉ lệ từ 11 khu vực bầu cử. Bỉ quy định nghĩa vụ bầu cử và do đó duy trì tỷ lệ cử tri bỏ phiếu vào hàng cao nhất thế giới.<ref name=Franklin>{{Chú thích web|tiêu đề=Voter Turnout Rates from a Comparative Perspective|năm=2002|họ=López Pintor|tên=Rafael|họ 2=Gratschew|tên 2=Maria|nhà xuất bản=[[International Institute for Democracy and Electoral Assistance|IDEA]]|url=http://www.idea.int/publications/vt/upload/Voter%20turnout.pdf|định dạng=PDF|ngày truy cập=ngày 22 tháng 6 năm 2011|archive-date=2011-11-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20111121050252/http://www.idea.int/publications/vt/upload/Voter%20turnout.pdf|url-status=dead}}</ref>
Quốc vương (hiện là [[Philippe của Bỉ|Philippe]]) là [[nguyên thủ quốc gia]], giữ chức Tổng tư lệnh Lực lượng vũ trang Bỉ. Ông bổ nhiệm các bộ trưởng cùng thủ tướng theo tín nhiệm của Hạ viện để hình thành chính phủ liên bang. Hội đồng Bộ trưởng gồm không quá 15 thành viên. Hội đồng Bộ trưởng phải gồm một số lượng cân bằng các thành viên nói tiếng Hà Lan và nói tiếng Pháp, thủ tướng có thể được ngoại lệ.<ref name=constitution1>{{Chú thích web|tiêu đề=The Belgian Constitution – Article 99 |nhà xuất bản=Belgian House of Representatives |ngày=January 2009 |url=http://www.dekamer.be/kvvcr/pdf_sections/publications/constitution/grondwetEN.pdf |ngày truy cập=ngày 26 tháng 6 năm 2011 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20110706134014/http://www.dekamer.be/kvvcr/pdf_sections/publications/constitution/grondwetEN.pdf |ngày lưu trữ=ngày 6 tháng 7 năm 2011 |url-status=dead }}</ref> Hệ thống tư pháp dựa trên [[dân luật]] và có nguồn gốc từ [[Bộ luật Dân sự Pháp|bộ luật Napoléon]]. Toà huỷ án (Cour de cassation) là toà án cấp cuối cùng, còn Toà chống án (Cour d'appel) dưới đó một cấp.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Belgium 1831 (rev. 2012)|url=https://www.constituteproject.org/constitution/Belgium_2012?lang=en|website=Constitute|ngày truy cập=ngày 30 tháng 3 năm 2015}}</ref>
===Văn hoá chính trị===
[[Tập tin:Belgique - Bruxelles - Palais de la Nation - 01.jpg|thumb|Nghị viện Liên bang Bỉ tại Bruxelles|200x200px|thế=]]Các thể chế chính trị tại Bỉ có tính phức tạp, hầu hết quyền lực chính trị được tổ chức xoay quanh nhu cầu đại diện cho các cộng đồng văn hoá chủ yếu.<ref>{{Chú thích web |tiêu đề=Belgium, a federal state |nhà xuất bản=Belgium.be|url=http://www.belgium.be/en/about_belgium/government/federale_staat/|ngày truy cập=ngày 26 tháng 11 năm 2010}}</ref>
Kể từ khoảng năm 1970, các chính đảng quốc gia quan trọng tại Bỉ bị phân chia thành các bộ phận riêng biệt, chủ yếu đại diện cho các lợi ích chính trị và ngôn ngữ của các cộng đồng tương ứng.<ref name=USStateDpt>{{Chú thích web|tiêu đề=Background Note: Belgium|nhà xuất bản=U.S. Department of States|ngày=ngày 29 tháng 4 năm 2010|url=https://www.state.gov/r/pa/ei/bgn/2874.htm|ngày truy cập=ngày 26 tháng 11 năm 2010}}</ref>
Các chính đảng chủ yếu trong mỗi cộng đồng gần với chính trị trung dung, song vẫn được phân thành ba nhóm chính: Dân chủ Cơ Đốc giáo, Tự do và Dân chủ Xã hội.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Belgium – Political parties|work=European Election Database|url=http://www.nsd.uib.no/european_election_database/country/belgium/parties.html|nhà xuất bản=Norwegian Social Science Data Services|năm=2010|ngày truy cập=ngày 10 tháng 12 năm 2010|archive-date=2011-04-27|archive-url=https://web.archive.org/web/20110427100052/http://www.nsd.uib.no/european_election_database/country/belgium/parties.html|url-status=dead}}</ref>
Các đảng đáng chú ý hơn phát triển mạnh từ giữa thế kỷ trước, chủ yếu xoay quanh chủ đề ngôn ngữ, dân tộc hay môi trường và gần đây có các đảng nhỏ hơn tập trung vào một số tính chất tự do riêng biệt.<ref name=USStateDpt/>
Một chuỗi các chính phủ liên minh Dân chủ Cơ Đốc giáo tồn tại suốt từ năm 1958 đã bị phá vỡ vào năm 1999 sau khủng hoảng dioxin lần thứ nhất, đây là một vụ bê bối ô nhiễm thực phẩm quy mô lớn.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Dioxin contamination scandal hits Belgium: Effects spread through European Union and beyond|work=World Socialist Web Site (WSWS)|nhà xuất bản=International Committee of the Fourth International (ICFI)|tác giả=Tyler, Richard <!--Do ''not'' link to fictional character or The Daily Telegraph's Enterprise Editor, this R.T.=WSWS correspondent-->|ngày=ngày 8 tháng 6 năm 1999|url=http://www.wsws.org/en/articles/1999/06/belg-j08.html|ngày truy cập=ngày 16 tháng 7 năm 2016}}</ref><ref>ElAmin, Ahmed (ngày 31 tháng 1 năm 2006) [http://www.foodproductiondaily.com/news/ng.asp?id=65481-belgium-netherlands-dioxin Belgium, Netherlands meat sectors face dioxin crisis]. foodproductiondaily.com</ref><ref>{{chú thích báo|title=Food Law News—EU : CONTAMINANTS—Commission Press Release (IP/99/399) Preliminary results of EU-inspection to Belgium|author=[[European Commission]]|publisher=School of Food Biosciences, University of Reading, UK|date=ngày 16 tháng 6 năm 1999|url=http://www.foodlaw.rdg.ac.uk/news/eu-99-40.htm|access-date=ngày 29 tháng 5 năm 2007|archive-date=2006-09-27|archive-url=https://web.archive.org/web/20060927155917/http://www.foodlaw.rdg.ac.uk/news/eu-99-40.htm|url-status=dead}}</ref> Một "liên minh cầu vồng" xuất hiện từ sáu đảng: Tự do, Dân chủ Xã hội và Xanh của Vlaanderen và Pháp ngữ.<ref>{{chú thích báo|title=Belgium's "rainbow" coalition sworn in|publisher=BBC News|date=ngày 12 tháng 7 năm 1999 |url=http://news.bbc.co.uk/1/hi/world/europe/392004.stm|access-date =ngày 20 tháng 5 năm 2007}}</ref> Sau đó, một "liên minh tía" gồm lực lượng Tự do và Dân chủ Xã hội được hình thành sau khi các Đảng Xanh mất hầu hết ghế trong bầu cử năm 2003.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=La Chambre des représentants—Composition |dịch tiêu đề=Composition of the Chamber of Representatives |ngày=ngày 9 tháng 3 năm 2006 |nhà xuất bản=The Chamber of Representatives of Belgium |url=http://www.lachambre.be/kvvcr/pdf_sections/pri/fiche/10F.pdf |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20061107200900/http://www.lachambre.be/kvvcr/pdf_sections/pri/fiche/10F.pdf |định dạng=PDF |ngày lưu trữ=ngày 7 tháng 11 năm 2006 |ngày truy cập=ngày 25 tháng 5 năm 2007 |ngôn ngữ=fr |url-status=live }}</ref>
Chính phủ dưới quyền Thủ tướng [[Guy Verhofstadt]] từ năm 1999 đến năm 2007 đạt được cân bằng ngân sách, có một số cải cách thuế, một cải cách thị trường lao động, lên kế hoạch kết thúc sử dụng năng lượng hạt nhân và đưa ra khung pháp lý cho phép truy tố nghiêm ngặt hơn tội phạm chiến tranh và khoan dung hơn đối với sử dụng ma tuý nhẹ. Những giới hạn nhằm cản trở [[an tử]] được giảm bớt và đồng tính tuyến ái được hợp pháp hoá. Chính phủ thúc đẩy ngoại giao tích cực tại châu Phi<ref>{{Chú thích web|url=http://www.tiscali.co.uk/reference/encyclopaedia/hutchinson/m0019846.html |ngày truy cập=ngày 27 tháng 5 năm 2007 |tiêu đề=Rwanda |work=tiscali.reference |nhà xuất bản=Tiscali UK |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20090924034710/http://www.tiscali.co.uk/reference/encyclopaedia/hutchinson/m0019846.html |ngày lưu trữ=ngày 24 tháng 9 năm 2009 |url-status=live }} The article shows an example of Belgium's recent African policies.</ref> và phản đối xâm chiếm Iraq.<ref>{{chú thích báo|date=ngày 16 tháng 2 năm 2003|title=Belgian demand halts NATO progress|agency=CNN|url=http://www.cnn.com/2003/WORLD/meast/02/16/sprj.irq.nato.belgium.ap/|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20050116083744/http://www.cnn.com/2003/WORLD/meast/02/16/sprj.irq.nato.belgium.ap/|archive-date=2005-01-16|access-date=ngày 16 tháng 6 năm 2007}}</ref> Đây là quốc gia duy nhất không có giới hạn tuổi về an tử.<ref name="bbc">{{Chú thích web|url=http://www.bbc.co.uk/news/world-europe-37395286|nhà xuất bản=bbc.co.uk|tiêu đề=Belgium minor first to be granted euthanasia - BBC News|ngày truy cập=ngày 6 tháng 1 năm 2017}}</ref>
Liên minh của Verhofstadt đạt được kết quả kém trong bầu cử vào tháng 6 năm 2007, và Bỉ lâm vào khủng hoảng chính trị trong hơn một năm.<ref>{{chú thích báo |url=http://news.bbc.co.uk/2/hi/europe/country_profiles/1002141.stm|title=Time-line Belgium|publisher=BBC News|date=ngày 5 tháng 1 năm 2009|access-date =ngày 16 tháng 7 năm 2009|quote=2007 September – Belgium without a government for 100 days.}}</ref> Nhiều nhà quan sát suy đoán cuộc khủng hoảng có thể khiến nước Bỉ bị phân chia.<ref name=SanFranChro>{{Chú thích web |url=http://www.sfgate.com/cgi-bin/article.cgi?f=/c/a/2007/10/12/MNB6SEM9K.DTL |tiêu đề=Divisions could lead to a partition in Belgium|họ=Bryant|tên=Elizabeth|work=[[San Francisco Chronicle]]|ngày truy cập=ngày 28 tháng 5 năm 2008|ngày=ngày 12 tháng 10 năm 2007}}</ref><ref name=BBCJuly2008>{{chú thích báo |url=http://news.bbc.co.uk/2/hi/europe/7507506.stm |title=Analysis: Where now for Belgium?|last=Hughes|first=Dominic|publisher=BBC News|date=ngày 15 tháng 7 năm 2008|access-date =ngày 16 tháng 7 năm 2008}}</ref><ref name=Telegraph2010>{{chú thích báo|title=Fears over 'break up' of Belgium |url=http://www.telegraph.co.uk/news/worldnews/europe/belgium/7982892/Fears-over-break-up-of-Belgium.html |last=Banks |first=Martin |work=[[The Daily Telegraph]] |location=Luân Đôn |date=ngày 6 tháng 9 năm 2010 |access-date =ngày 6 tháng 9 năm 2010 |archiveurl=https://web.archive.org/web/20100909132726/http://www.telegraph.co.uk/news/worldnews/europe/belgium/7982892/Fears-over-break-up-of-Belgium.html |archive-date=ngày 9 tháng 9 năm 2010 |url-status=live |df= }}</ref> Từ 21 tháng 12 năm 2007 đến 20 tháng 3 năm 2008, chính phủ lâm thời của Verhofstadt nắm quyền.<ref name="news">{{chú thích báo|url=http://news.bbc.co.uk/2/hi/europe/7506640.stm |title=Belgian PM offers his resignation|publisher=BBC News|date=ngày 15 tháng 7 năm 2008|access-date =ngày 29 tháng 4 năm 2010}}</ref> Sau đó, chính phủ mới dưới quyền [[Yves Leterme]] thuộc phe Dân chủ Cơ Đốc giáo Vlaanderen nhậm chức. Tuy nhiên, đến ngày 15 tháng 7 năm 2008, Leterme tuyên bố nội các từ chức vì không có tiến triển trong cải cách hiến pháp.<ref name="news"/> Đến tháng 12 năm 2008, ông lại đề xuất từ chức trước quốc vương sau một cuộc khủng hoảng quanh việc bán [[Fortis (tài chính)|Fortis]] cho [[BNP Paribas]].<ref>[http://edition.cnn.com/2008/WORLD/europe/12/19/belgium.government.resignation/index.html CNN.com] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090201143115/http://edition.cnn.com/2008/WORLD/europe/12/19/belgium.government.resignation/index.html |date=2009-02-01 }}, "Belgium Prime Minister offers resignation over banking deal"</ref> Lần này, đề xuất từ chức của ông được chấp thuận và nhân vật cùng đảng là [[Herman Van Rompuy]] tuyên thệ làm thủ tướng vào ngày 30 tháng 12 năm 2008.<ref>[https://www.reuters.com/article/rbssFinancialServicesAndRealEstateNews/idUSLS35202520081228 Belgian king asks Van Rompuy to form government] Reuters.</ref>
Sau khi Herman Van Rompuy được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng châu Âu vào năm 2009, ông đề xuất được từ chức vào ngày 25 tháng 11 năm 2009. Ngay sau đó, chính phủ mới dưới quyền Thủ tướng [[Yves Leterme]] tuyên thệ. Đến ngày 22 tháng 4 năm 2010, Leterme lại đề xuất với quốc vương cho nội các của ông từ chức<ref>{{chú thích báo|url=http://www.france24.com/en/20100422-belgium-leterme-resigns-vld-liberals-democrats-quit-ruling-coalition|title=Prime Minister Leterme resigns after liberals quit government |date=ngày 22 tháng 4 năm 2010|publisher=France 24|access-date =ngày 22 tháng 4 năm 2010}}</ref> sau khi một đối tác là OpenVLD rút khỏi chính phủ, và được quốc vương chính thức chấp thuận vào ngày 26 tháng 4.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.france24.com/en/20100426-leterme-albert-accepts-resignation-prime-minister-government-collapse-belgium|tiêu đề=King Albert II accepts resignation of Prime Minister Yves Leterme|nhà xuất bản=France 24|ngày truy cập=ngày 29 tháng 4 năm 2010}}</ref>
Bỉ tổ chức bầu cử nghị viện vào ngày 13 tháng 6 năm 2010, Đảng N-VA theo đường lối dân tộc chủ nghĩa Vlaanderen trở thành đảng lớn nhất tại Vlaanderen, còn Đảng Xã hội trở thành đảng lớn nhất tại Wallonie.<ref>{{Chú thích web|url=http://electionresources.org/be/chamber.php?election=2010|tiêu đề=Federal Elections in Belgium – Chamber of Representatives Results}}</ref> Cho đến tháng 12 năm 2011, Bỉ nằm dưới quyền chính phủ tạm thời của Leterme do cuộc đàm phán nhằm thành lập chính phủ mới gặp bế tắc. Đến ngày 30 tháng 3 năm 2011, Bỉ lập kỷ lục thế giới về thời gian không có chính phủ chính thức.<ref name="BBC News ngày 6 tháng 5 năm 2015">{{Chú thích web|tiêu đề=Reality Check: How long can nations go without governments?|url= http://www.bbc.co.uk/news/election-2015-32612828|họ=Kovacevic|tên=Tamara|ngày=ngày 6 tháng 5 năm 2015|website=[[BBC News Online]]|ngày truy cập=ngày 25 tháng 3 năm 2016}}</ref> Đến tháng 12 năm 2011, chính phủ dưới quyền chính trị gia xã hội Wallonie [[Elio Di Rupo]] tuyên thệ nhậm chức.
Trong bầu cử liên bang năm năm 2014 (diễn ra đồng thời với bầu cử địa phương), kết quả là Đảng N-VA giành được nhiều cử tri hơn nữa, song liên minh cầm quyền (gồm các thế lực Dân chủ Xã hội, Tự do và Dân chủ Cơ Đốc giáo của Vlaanderen và Pháp ngữ) duy trì thế đa số vững chắc trong Nghị viện. Ngày 22 tháng 7 năm 2014, Quốc vương Philippe bổ nhiệm [[Charles Michel]] (MR) và [[Kris Peeters]] (CD&V) chỉ đạo thành lập nội các liên bang mới gồm các đảng N-VA, CD&V, Open Vld của Vlaanderen và MR của cộng đồng Pháp ngữ. Đây là lần đầu tiên N-VA nằm trong nội các liên bang, còn phía Pháp ngữ chỉ có MR là đại diện dù đảng này chiếm thế thiểu số tại Wallonie.
===Cộng đồng và vùng===
[[Tập tin:Communities of Belgium.svg|thumb|Các cộng đồng:<br>{{legend|#fab274|[[Cộng đồng Vlaanderen]] / khu vực tiếng Hà Lan}}
{{legend striped|#fab274|#f2536b|up=yes|Cộng đồng Vlaanderen & Pháp / khu vực song ngữ}}
{{legend|#f2536b|[[Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp|Cộng đồng nói tiếng Pháp]] / khu vực nói tiếng Pháp}}{{legend|#40bb6a|[[Cộng đồng nói tiếng Đức tại Bỉ|Cộng đồng nói tiếng Đức]] / khu vực nói tiếng Đức}}|thế=|200x200px]]
[[Tập tin:Regions of Belgium.svg|thumb|Vùng:<br>{{legend|#fab274|[[Vùng Flanders|Vùng Vlaanderen]] / khu vực tiếng Hà Lan}}{{legend|#2385d2|[[Bruxelles]]-Vùng thủ đô / khu vực song ngữ}}{{legend|#f2536b|[[Wallonie|Vùng Wallonie]] / các khu vực tiếng Pháp và Đức}}|thế=|200x200px]]
Theo một tập quán có thể truy nguồn gốc từ thời các triều đình Bourgogne và Habsburg,<ref>{{chú thích sách|title=Zweisprachigkeit in den Benelux-ländern|language=de|author=Kramer, Johannes|quote=Zur prestige Sprache wurde in den Spanischen Niederlanden ganz eindeutig das Französische. Die Vertreter Spaniens beherrschten normalerweise das Französische, nicht aber das Niederländische; ein beachtlicher Teil der am Hofe tätigen Adligen stammte aus Wallonien, das sich ja eher auf die spanische Seite geschlagen hatte als Flandern und Brabant. In dieser Situation war es selbstverständlich, dass die flämischen Adligen, die im Laufe der Zeit immer mehr ebenfalls zu Hofbeamten wurden, sich des Französischen bedienen mussten, wenn sie als gleichwertig anerkannt werden wollten. [Transl.: The prestigious language in the Spanish Netherlands was clearly French. Spain's representatives usually mastered French but not Dutch; a notable part of the nobles at the court came from Wallonia, which had taken party for the Spanish side to a higher extent than Flanders and Brabant. It was therefore evident within this context that the Flemish nobility, of which a progressively larger number became servants of the court, had to use French, if it wanted to get acknowledged as well.]|publisher=Buske Verlag|year=1984|page=69|isbn=3-87118-597-3}}</ref> trong thế kỷ XIX, cần phải biết tiếng Pháp nếu muốn thuộc về tầng lớp thượng lưu cai trị, và những người chỉ có thể nói tiếng Hà Lan trên thực tế là những công dân hạng hai.<ref>{{chú thích sách|title=Political History of Belgium: From 1830 Onwards|author1=Witte, Els |author2=Craeybeckx, Jan |author3=Meynen, Alain |publisher=Academic and Scientific Publishers|location=Brussels|year=2009|page=56}}</ref> Đến cuối thế kỷ XIX, và tiếp tục sang thế kỷ XX, các phong trào Vlaanderen tiến triển nhằm phản đối tình trạng này.<ref name="Fitzmaurice1996-p31">[[#Fitzmaurice|Fitzmaurice (1996)]], p. 31.</ref>
Cư dân miền nam Bỉ nói tiếng Pháp hoặc các phương ngữ của tiếng Pháp, và hầu hết cư dân [[Bruxelles]] tiếp nhận tiếng Pháp làm ngôn ngữ thứ nhất của họ, song người Vlaanderen từ chối làm như vậy và từng bước thành công trong việc đưa tiếng Hà Lan trở thành một ngôn ngữ bình đẳng trong hệ thống giáo dục.<ref name="Fitzmaurice1996-p31" /> Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chính trường Bỉ ngày càng chịu sự chi phối bởi quyền tự trị của hai cộng đồng ngôn ngữ chính.<ref name=EED>{{Chú thích web|url=http://www.nsd.uib.no/european_election_database/country/belgium/background.html|tiêu đề=Belgium|work=[[European Election Database]]|nhà xuất bản=[[Norwegian Social Science Data Services]]|năm=2010|ngày truy cập=ngày 8 tháng 12 năm 2010}}</ref> Xung đột giữa các cộng đồng nổi lên và hiến pháp được sửa đổi nhằm giảm thiểu tiềm năng xung đột.<ref name=EED />
Dựa trên bốn khu vực ngôn ngữ được xác định vào năm 1962–63 (tiếng Hà Lan, song ngữ, tiếng Pháp, tiếng Đức), hiến pháp quốc gia liên tục được sửa lại vào năm 1970, 1980, 1988 và 1993 nhằm tạo thành một hình thức nhà nước liên bang độc nhất với quyền lực chính trị tách biệt thành ba cấp:<ref name=rolandwillemyns>{{chú thích tạp chí
|title=The Dutch-French Language Border in Belgium
|journal=Journal of Multilingual and Multicultural Development
|volume=23
|issue=1&2
|year=2002
|pages=36–49
|author=Willemyns, Roland
|url=http://www.multilingual-matters.net/jmmd/023/0036/jmmd0230036.pdf
|access-date=ngày 22 tháng 6 năm 2007
|doi=10.1080/01434630208666453
|url-status=dead
|archiveurl=https://web.archive.org/web/20070626185804/http://www.multilingual-matters.net/jmmd/023/0036/jmmd0230036.pdf
|archive-date=2007-06-26
|df=
|archive-url=https://web.archive.org/web/20070626185804/http://www.multilingual-matters.net/jmmd/023/0036/jmmd0230036.pdf
}}</ref><ref name=constitution2>{{Chú thích web|tiêu đề=The Belgian Constitution – Article 4 |nhà xuất bản=Belgian House of Representatives |ngày=January 2009 |ngày truy cập=ngày 26 tháng 6 năm 2011 |url=http://www.dekamer.be/kvvcr/pdf_sections/publications/constitution/grondwetEN.pdf |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20110706134014/http://www.dekamer.be/kvvcr/pdf_sections/publications/constitution/grondwetEN.pdf |ngày lưu trữ=ngày 6 tháng 7 năm 2011 |url-status=dead }}</ref>
# Chính phủ liên bang đặt tại Bruxelles.
# Ba cộng đồng ngôn ngữ:
#* [[Cộng đồng Vlaanderen]] (nói tiếng Hà Lan);
#* [[Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp|Cộng đồng Pháp]] (nói tiếng Pháp);
#* [[Cộng đồng nói tiếng Đức tại Bỉ|Cộng đồng nói tiếng Đức]].
# Ba vùng:
#* [[Vùng Flanders|Vùng Vlaanderen]], chia thành 5 tỉnh;
#* [[Wallonie|Vùng Wallonie]], chia thành 5 tỉnh;
#* [[Bruxelles|Vùng thủ đô Bruxelles]].
Các khu vực ngôn ngữ theo hiến pháp sẽ xác định ngôn ngữ chính thức trong các khu tự quản của họ, cũng như giới hạn địa lý của các thể chế được cấp quyền về các công việc cụ thể.<ref name="Fitzmaurice1996-p121">[[#Fitzmaurice|Fitzmaurice (1996)]], p. 121</ref> Mặc dù điều này cho phép có bảy nghị viện và chính phủ, song khi các cộng đồng và vùng được hình thành vào năm 1980, các chính trị gia Vlaanderen quyết định sáp nhập cả hai.<ref name="Fitzmaurice1996-p122">[[#Fitzmaurice|Fitzmaurice (1996)]], p. 122.</ref> Do đó người Vlaanderen chỉ có một thể chế cơ quan và chính phủ duy nhất được cấp quyền trong toàn bộ các vấn đề theo thẩm quyền.
Biên giới chồng chéo của các vùng và cộng đồng tạo ra hai nơi đặc biệt: Lãnh thổ Bruxelles-Vùng thủ đô (tồn tại sau các vùng khác gần một thập niên) thuộc cả hai cộng đồng Vlaanderen và Pháp, còn lãnh thổ của Cộng đồng nói tiếng Đức hoàn toàn nằm trong Vùng Wallonie. Xung đột về thẩm quyền giữa các thể chế được giải quyết thông qua Toà án Hiến pháp Bỉ. Cấu trúc được dự tính là một thoả hiệp nhằm cho phép các nền văn hoá khác biệt cùng tồn tại hoà bình.<ref name="Fitzmaurice" />
===Phân cấp thẩm quyền===
Thẩm quyền của liên bang gồm có tư pháp, phòng thủ, cảnh sát liên bang, an sinh xã hội, năng lượng hạt nhân, chính sách tiền tệ và nợ công, và các khía cạnh khác của tài chính công. Các công ty quốc hữu gồm có Tập đoàn Bưu chính Bỉ (Bpost) và [[Công ty Đường sắt Quốc gia Bỉ]] (SNCB/NMBS). Chính phủ liên bang chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của Bỉ và của các thể chế liên bang trước [[Liên minh châu Âu]] và [[NATO]]. Họ kiểm soát một bộ phận đáng kể trong y tế công cộng, nội vụ và ngoại vụ.<ref name=fedgov1>{{Chú thích web|tiêu đề=The Federal Government's Powers|work=.be Portal|nhà xuất bản=Belgian Federal Government|url=http://www.belgium.be/en/about_belgium/government/federal_authorities/competence_federal_government/|ngày truy cập=ngày 4 tháng 2 năm 2011}}</ref> Ngân sách (không tính nợ) do chính phủ liên bang kiểm soát chiếm khoảng 50% thu nhập công khố quốc gia. Chính phủ liên bang sử dụng khoảng 12% công vụ viên.<ref>{{chú thích sách|quote=In 2002, 58.92% of the fiscal income was going to the budget of the federal government, but more than one-third was used to pay the interests of the public debt. Without including this post, the share of the federal government budget would be only 48.40% of the fiscal income. There are 87.8% of the civil servants who are working for the Regions or the Communities and 12.2% for the Federal State.|author=Lagasse, Charles-Etienne|title=Les nouvelles institutions politiques de la Belgique et de l'Europe|publisher=Erasme|location=Namur|year=2003|isbn=2-87127-783-4|page=289}}</ref>
Các cộng đồng thi hành thẩm quyền trong ranh giới định lý xác định dựa theo ngôn ngữ, ban đầu chúng có định hướng là các cá nhân của một ngôn ngữ cộng đồng, gồm văn hoá (bao gồm truyền thông nghe nhìn), giáo dục và sử dụng ngôn ngữ thích hợp. Sau đó, mở rộng đến các vấn đề cá nhân ít có liên quan trực tiếp đến ngôn ngữ, gồm chính sách y tế (trị bệnh và phòng bệnh) và trợ giúp cho các cá nhân (bảo hộ thanh thiếu niên, phúc lợi xã hội, hỗ trợ gia đình hay dịch vụ giúp đỡ người nhập cư.).<ref name=fedgov2>{{Chú thích web|tiêu đề=The Communities|work=.be Portal|nhà xuất bản=Belgian Federal Government|url=http://www.belgium.be/en/about_belgium/government/communities/|ngày truy cập=ngày 26 tháng 6 năm 2011}}</ref>
Các vùng có thẩm quyền trên các lĩnh vực có thể liên kết rộng rãi đến lãnh thổ của họ, gồm có kinh tế, việc làm, nông nghiệp, chính sách nước, nhà ở, công trình công cộng, năng lượng, giao thông, môi trường, quy hoạch đô thị và nông thôn, bảo tồn tự nhiên, tín dụng và ngoại thương. Họ giám sát các tỉnh, khu tự quản và các công ty công ích liên cộng đồng.<ref name=fedgov3>{{Chú thích web|tiêu đề=The Regions|work=.be Portal |nhà xuất bản=Belgian Federal Government|url=http://www.belgium.be/en/about_belgium/government/regions/|ngày truy cập=ngày 26 tháng 6 năm 2011}}</ref>
Trong một số lĩnh vực, mỗi cấp lại có nhiều mức độ tiếp cận khác nhau với các vấn đề riêng biệt. Chẳng hạn như trong giáo dục, quyền tự trị của các cộng đồng không bao gồm quyền quyết định về khía cạnh bắt buộc hay được phép định ra các yêu cầu tối thiểu về trao bằng cấp, chúng vẫn là công việc của liên bang.<ref name=fedgov1/> Mỗi cấp chính quyền có thể tham gia vào nghiên cứu khoa học và quan hệ quốc tế có liên hệ với quyền lực của họ. Quyền chế định các hiệp ước của chính phủ các vùng và cộng đồng tại Bỉ ở mức rộng rãi nhất so với các đơn vị liên bang trên thế giới.<ref name=Lagasse2>{{chú thích sách|title=Les nouvelles institutions de la Belgique et de l'Europe|language=fr|quote=[Le fédéralisme belge] repose sur une combinaison unique d'équipollence, d'exclusivité et de prolongement international des compétences. ([Belgian federalism] is based on a unique combination of equipollence, of exclusivity, and of international extension of competences.)|author=Lagasse, Charles-Etienne|page=603}}</ref><ref name=Suinen>{{Chú thích web|url=http://www.monde-diplomatique.fr/2000/10/SUINEN/14406.html|tiêu đề=Une Première mondiale|work=[[Le Monde diplomatique]]|ngôn ngữ=fr|trích dẫn=Dans l'organisation de ces autonomies, la Belgique a réalisé une « première » mondiale: afin d'éviter la remise en cause, par le biais de la dimension internationale, de compétences exclusives transférées aux entités fédérées, les communautés et régions se sont vu reconnaître une capacité et des pouvoirs internationaux. (In organizing its autonomies, Belgium realized a World's First: to avoid a relevant stalemate, international consequences caused transfers of exclusive competences to federal, community and regional entities that are recognised to have become internationally enabled and enpowered.)|tác giả=Suinen, Philippe|ngày=October 2000}}</ref>\
===Ngoại giao ===
{{main|Quan hệ ngoại giao của Bỉ}}
Do có vị trí trung tâm tại Tây Âu, trong quá khứ Bỉ nằm trên tuyến đường tiến quân của các đội quân xâm lược đến từ các láng giềng hùng mạnh. Do biên giới của Bỉ hầu như không có khả năng phòng thủ, nên quốc gia này có truyền thống về chính sách hoà giải nhằm tránh bị các cường quốc hùng mạnh lân cận thống trị. Điều đình giữa các cường quốc châu Âu chấp thuận cho thành lập nước Bỉ vào năm 1831 với điều kiện quốc gia này duy trì tính trung lập nghiêm ngặt. Chính sách trung lập của Bỉ kết thúc sau khi quốc gia này bị [[Đế quốc Đức|Đức]] chiếm đóng trong [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]]. Trong những năm trước [[Chiến tranh thế giới thứ hai]], Bỉ cố gắng trở lại chính sách trung lập, song sau đó vẫn bị [[Đức Quốc Xã|Đức]] xâm chiếm. Năm 1948, Bỉ ký kết [[Hiệp ước Brussels|Hiệp ước Bruxelles]] với [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Anh]], [[Pháp]], [[Hà Lan]] và [[Luxembourg]], và một năm sau trở thành một trong các thành viên sáng lập của Liên minh Đại Tây Dương.
[[Người Bỉ]] mạnh mẽ tán thành nhất thể hoá châu Âu, và hầu hết các khía cạnh trong chính sách ngoại giao, kinh tế và mậu dịch của quốc gia này được điều phối thông qua [[Liên minh châu Âu]] có trụ sở tại [[Bruxelles]]. Ngoài ra, Bỉ còn có trụ sở của [[Ủy ban châu Âu]], [[Hội đồng Liên minh châu Âu]] và các phiên họp của [[Nghị viện châu Âu]]. Liên minh thuế quan hậu chiến của Bỉ với [[Hà Lan]] và [[Luxembourg]] mở đường cho việc thành lập [[Cộng đồng châu Âu]] (tiền thân của [[Liên minh châu Âu]]). Tương tự, việc bãi bỏ kiểm soát biên giới nội bộ Benelux là một hình mẫu cho Hiệp ước Schengen có quy mô rộng hơn, nhằm mục đích chính sách thị thực chung và di chuyển tự do của nhân dân qua biên giới chung. Người Bỉ nhận thức được vai trò nhỏ bé của họ trên trường quốc tế, họ tán thành mạnh mẽ củng cố nhất thể hoá kinh tế và chính trị trong [[Liên minh châu Âu]]. Bỉ tích cực tìm cách cải thiện quan hệ với các chế độ dân chủ mới tại Trung và Đông Âu thông qua các diễn đàn như [[OSCE]], các thoả thuận liên quan của EU, và Quan hệ Đối tác vì Hoà bình của [[NATO]].
Một đặc điểm khác thường của chủ nghĩa liên bang Bỉ là việc các cộng đồng và vùng của Bỉ duy trì các quan hệ quốc tế riêng của họ, bao gồm ký kết các hiệp ước. Do đó, có một số thể chế quốc tế Hà Lan-Vlaanderen như Liên minh tiếng Hà Lan hoặc các thể chế kiểm soát sông [[Scheldt]], trong đó chỉ có Vlaanderen tham gia. Tương tự như vậy, chỉ có Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp tham gia [[Cộng đồng Pháp ngữ]]. Bỉ duy trì các quan hệ đặc biệt với các cựu thuộc địa của họ là Cộng hoà Dân chủ Congo, Rwanda và Burundi, song thường có sóng gió.
===Quân đội===
{{main|Quân đội Bỉ}}
Các lực lượng vũ trang Bỉ gồm khoảng 47.000 binh sĩ tại ngũ. Năm 2010, ngân sách quốc phòng của Bỉ đạt tổng cộng 3,95 tỉ euro (chiếm 1,12% GDP).<ref>{{Chú thích web|url=http://www.eda.europa.eu/DefenceData/Belgium?DDYear=2010 |tiêu đề=Defence Data of Belgium in 2010 |nhà xuất bản=[[European Defence Agency]] |ngày truy cập=ngày 9 tháng 8 năm 2012 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20120924153002/http://www.eda.europa.eu/DefenceData/Belgium?DDYear=2010 |ngày lưu trữ=ngày 24 tháng 9 năm 2012 |url-status=live }}</ref> Họ được tổ chức thành một cấu trúc thống nhất gồm bốn thành phần: Lục quân, Không quân, Hải quân và Quân y. Quyền chỉ huy điều hành bốn binh chủng thuộc về Bộ tham mưu về hành quân và huấn luyện thuộc Bộ Quốc phòng, đứng đầu là Phó tham mưu trưởng hành quân và huấn luyện, và thuộc về Tổng tư lệnh Quốc phòng (Chef de la Défense).<ref>{{Chú thích web|url=http://www.mil.be/def/index.asp |tiêu đề=Defensie La Défense |ngày truy cập=ngày 15 tháng 6 năm 2011 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20110614214307/http://www.mil.be/def/index.asp |ngày lưu trữ=ngày 14 tháng 6 năm 2011 |url-status=live }}</ref>
Ảnh hưởng từ [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] khiến cho an ninh tập thể là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Bỉ. Bỉ ký kết Hiệp ước Bruxelles và gia nhập NATO vào năm 1948. Tuy nhiên, công việc nhất thể hoá lực lượng vũ trang vào NATO chỉ bắt đầu từ sau [[Chiến tranh Triều Tiên]].<ref>David Isby and Charles Kamps Jr, 'Armies of NATO's Central Front,' Jane's Publishing Company, 1985, p.59</ref> Bỉ cùng với Luxembourg phái một phân đội tiểu đoàn đi chiến đấu tại Triều Tiên với tên gọi là Bộ tư lệnh Liên Hợp Quốc Bỉ. Đây là sứ mệnh đầu tiên trong số các sứ mệnh của Liên Hợp Quốc được Bỉ hỗ trợ. Hiện nay, Hải quân Bỉ hoạt động gắn bó mật thiết với Hải quân Hà Lan theo quyền chỉ huy của Đô đốc Benelux.
==Kinh tế==
{{main|Kinh tế Bỉ}}
[[Tập tin:Bruegge huidenvettersplein.jpg|thumb|Trung tâm lịch sử của thành phố [[Brugge]] là một di sản thế giới [[UNESCO]]|200x200px|thế=]]
Nền kinh tế có tính toàn cầu mạnh mẽ<ref>Bỉ xếp hạng nhất trong chỉ số toàn cầu hoá KOF 2009{{Chú thích web
|url=http://globalization.kof.ethz.ch/
|tiêu đề=KOF Index of Globalization
|editor=ETH Zürich
|lk biên tập=ETH Zürich
|ngày truy cập=ngày 2 tháng 2 năm 2009}}</ref> và hạ tầng giao thông của Bỉ được tích hợp với phần còn lại của châu Âu. Bỉ có vị trí nằm tại trung tâm của một khu vực công nghiệp hoá cao độ, giúp quốc gia này đứng thứ 15 thế giới về xuất nhập khẩu vào năm 2007.<ref>{{Chú thích web
|url=https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/rankorder/2078rank.html
|tiêu đề=Rank Order – Exports
|work=CIA – The 2008 world factbook
|trích dẫn=15[th]: Belgium $322,200,000,000 (2007 est.)
|ngày truy cập=ngày 5 tháng 10 năm 2008| url lưu trữ= https://web.archive.org/web/20081004073036/https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook//rankorder/2078rank.html| ngày lưu trữ= ngày 4 tháng 10 năm 2008 | url-status= live}}</ref><ref>{{Chú thích web
|url=https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/rankorder/2087rank.html
|tiêu đề=Rank Order – Imports
|work=CIA – The 2008 world factbook
|trích dẫn=15[th]: Belgium $323,200,000,000 (2007 est.)
|ngày truy cập=ngày 5 tháng 10 năm 2008| url lưu trữ= https://web.archive.org/web/20081004070323/https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook//rankorder/2087rank.html| ngày lưu trữ= ngày 4 tháng 10 năm 2008 | url-status= live}}</ref> Kinh tế Bỉ có đặc điểm là lực lượng lao động năng suất cao, [[tổng sản lượng quốc gia]] (GNP) cao và xuất khẩu bình quân ở mức cao.<ref name=diplomatbe1>{{Chú thích web
|tiêu đề=Belgian economy
|work=Belgium
|nhà xuất bản=Belgian Federal Public Service (ministry) of Foreign Affairs, Foreign Trade and Development Cooperation
|url=http://www.diplomatie.be/en/belgium/belgiumdetail.asp?TEXTID=49019
|ngày truy cập=ngày 12 tháng 6 năm 2009
|trích dẫn=Belgium is the world leader in terms of export per capita and can justifiably call itself the 'world's largest exporter'.
| url lưu trữ= https://web.archive.org/web/20090615182722/http://www.diplomatie.be/en/belgium/belgiumdetail.asp?TEXTID=49019| ngày lưu trữ= ngày 15 tháng 6 năm 2009 | url-status= live}}</ref> Các mặt hàng nhập khẩu chính của Bỉ là nguyên liệu thô, máy móc và thiết bị, hoá chất, kim cương thô, dược phẩm, thực phẩm, thiết bị giao thông và sản phẩm dầu. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Bỉ là máy móc và thiết bị, hoá chất, kim cương gia công, kim loại và các sản phẩm kim loại, cùng thực phẩm.<ref name=CIA />
Kinh tế Bỉ có định hướng dịch vụ mạnh mẽ, và thể hiện tính chất kép: Kinh tế Vlaanderen năng động còn kinh tế Wallonie bị tụt hậu.<ref name="Fitzmaurice" /><ref>{{Chú thích web
|tiêu đề=Wallonia in 'decline' thanks to politicians
|nhà xuất bản=Expatica Communications BV
|ngày=ngày 9 tháng 3 năm 2005
|url=http://www.expatica.com/actual/article.asp?subchannel_id=48&story_id=17824
|ngày truy cập=ngày 16 tháng 6 năm 2007
|archive-date=2007-09-29
|archive-url=https://web.archive.org/web/20070929103007/http://www.expatica.com/actual/article.asp?subchannel_id=48&story_id=17824
|url-status=dead
}}</ref> Với tư cách là một thành viên sáng lập của Liên minh châu Âu, Bỉ ủng hộ mạnh mẽ đối với kinh tế mở và mở rộng quyền lực của các thể chế EU nhằm tích hợp các nền kinh tế thành viên. Từ năm 1922, thông qua Liên minh Kinh tế Bỉ-Luxembourg, Bỉ và Luxembourg có một thị trường mậu dịch duy nhất với liên minh thuế quan và tiền tệ.<ref>{{Chú thích web | url=http://www.mae.lu/fr/Site-MAE/Politique-etrangere-et-europeenne/Organisations-Economiques-Regionales/L-Union-economique-belgo-luxembourgeoise | tiêu đề=L'Union économique belgo-luxembourgeoise | nhà xuất bản=Luxembourgian Ministry of Foreign Affairs | ngày truy cập=ngày 15 tháng 6 năm 2011 | ngôn ngữ=fr | archive-date = ngày 30 tháng 9 năm 2011 | archive-url=https://web.archive.org/web/20110930131538/http://www.mae.lu/fr/Site-MAE/Politique-etrangere-et-europeenne/Organisations-Economiques-Regionales/L-Union-economique-belgo-luxembourgeoise | url-status=dead }}</ref>
Bỉ là quốc gia đầu tiên tại châu Âu lục địa trải qua [[cách mạng công nghiệp]], đó là vào đầu thế kỷ XIX.<ref name=erih>{{Chú thích web
|tiêu đề=Industrial History Belgium
|nhà xuất bản=European Route of Industrial Heritage
|url=http://en.erih.net/index.php?pageId=114
|ngày truy cập=ngày 8 tháng 5 năm 2007
|url-status=dead
|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20130731024244/http://en.erih.net/index.php?pageId=114
|ngày lưu trữ=ngày 31 tháng 7 năm 2013
}}</ref> [[Liège]] và [[Charleroi]] nhanh chóng phát triển ngành khai mỏ và sản xuất thép, các ngành này phát đạt cho đến giữa thế kỷ XX tại thung lũng sông Sambre và Meuse và khiến Bỉ nằm trong nhóm ba quốc gia có mức độ công nghiệp hoá lớn nhất trên thế giới từ năm 1830 đến năm 1910.<ref>{{chú thích sách
|author=Rioux, Jean-Pierre
|title=La révolution industrielle
|language=fr
|publisher=Seuil
|location=Paris
|year=1989
|page=105
|isbn=2-02-000651-0}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.erih.net/industrial-history/belgium.html|nhà xuất bản=European route of industrial heritage|tiêu đề=Industrial History, Belgium|ngày truy cập=2017-11-08|archive-date = ngày 31 tháng 7 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20100731104102/http://www.erih.net/industrial-history/belgium.html|url-status=dead}}</ref> Tuy nhiên, đến thập niên 1840 thì ngành dệt của Vlaanderen lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, và vùng này trải qua nạn đói từ năm 1846 đến năm 1850.<ref>{{cite conference
| url = http://www.helsinki.fi/iehc2006/papers3/Vanhaute.pdf
| title = The European subsistence crisis of 1845–1850: a comparative perspective
|author1=Vanhaute, Eric |author2=Paping, Richard |author3=Ó Gráda, Cormac | year = 2006
| conference = IEHC
| location = Helsinki
| access-date =ngày 31 tháng 5 năm 2011
}}</ref><ref>{{chú thích sách |last1=Vanhaute |first1=Eric |title=When the potato failed. Causes and effects of the 'last' European subsistance crisis, 1845–1850 |format=PDF |access-date=ngày 31 tháng 5 năm 2011 |year=2007 |publisher=Brepols |isbn=978-2-503-51985-2 |pages=123–148 |chapter='So worthy an example to Ireland'. The subsistance and industrial crisis of 1845–1850 in Flanders |url=http://biblio.ugent.be/input/download?func=downloadFile&fileOId=919187&recordOId=359578 |archive-date=2011-07-22 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110722225255/http://biblio.ugent.be/input/download?func=downloadFile&fileOId=919187&recordOId=359578 }}</ref>
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các ngành hoá chất và dầu mỏ được mở rộng nhanh chóng tại [[Gent]] và [[Antwerpen]]. Các cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào [[Khủng hoảng dầu mỏ 1973|năm 1973]] và 1979 khiến kinh tế lâm vào một cuộc suy thoái; giai đoạn này đặc biệt kéo dài tại Wallonie, ngành thép trong vùng này trở nên kém cạnh tranh và phải trải qua sụt giảm nghiêm trọng.<ref name=usdepartmentofstate1>{{Chú thích web
|tiêu đề=Background Note: Belgium
|nhà xuất bản=US Department of State, Bureau of European and Eurasian Affairs
|ngày=April 2007
|url=https://www.state.gov/r/pa/ei/bgn/2874.htm
|ngày truy cập=ngày 8 tháng 5 năm 2007| url lưu trữ= https://web.archive.org/web/20070508230300/http://www.state.gov/r/pa/ei/bgn/2874.htm| ngày lưu trữ= ngày 8 tháng 5 năm 2007 | url-status= live}}</ref> Trong các thập niên 1980 và 1990, trung tâm kinh tế của quốc gia tiếp tục chuyển về phía bắc và hiện tập trung tại khu vực Kim cương Vlaanderen (Vlaamse Ruit) đông dân.<ref>{{Chú thích web
|tiêu đề=Het belang van de Vlaamse Ruit vanuit economisch perspectief ''The importance of the Flemish Diamond from an economical perspective''
|ngôn ngữ=nl
|tác giả=Vanhaverbeke, Wim
|url=http://edata.ub.unimaas.nl/www-edocs/loader/file.asp?id=264
|nhà xuất bản=Netherlands Institute of Business Organization and Strategy Research, [[University of Maastricht]]
|ngày truy cập=ngày 19 tháng 5 năm 2007| url lưu trữ = https://web.archive.org/web/20070314033239/http://edata.ub.unimaas.nl/www-edocs/loader/file.asp?id=264| ngày lưu trữ = ngày 14 tháng 3 năm 2007}}</ref>
[[Tập tin:Ougree 16.jpg|thumb|left|Sản xuất thép dọc sông Meuse tại [[Ougrée]], gần [[Liège]]|200x200px|thế=]]
Đến cuối thập niên 1980, các chính sách kinh tế vĩ mô của Bỉ dẫn đến nợ chính phủ luỹ tích đạt khoảng 120% GDP. Năm 2006, ngân sách được cân bằng và nợ công ngang với 90,3% GDP.<ref>{{Chú thích web
|tiêu đề=The World Factbook—(Rank Order—Public debt)
|ngày=ngày 17 tháng 4 năm 2007
|url=https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/rankorder/2186rank.html
|nhà xuất bản=CIA
|ngày truy cập=ngày 8 tháng 5 năm 2007
|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070613005546/https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/rankorder/2186rank.html
|ngày lưu trữ=ngày 13 tháng 6 năm 2007
|url-status=dead
}}</ref> Năm 2005 và 2006, mức tăng trưởng GDP thực lần lượt là 1,5% và 3,0%, cao hơn một chút khu vực đồng euro. Tỷ lệ thất nghiệp là 8,4% vào năm 2005 và 8,2% vào năm 2016, gần với trung bình khu vực. Đến tháng 10 năm 2010, tỷ lệ này tăng lên 8,5% trong khi mức trung bình của Liên minh châu Âu là 9,6%.<ref name=nbb>{{Chú thích web
|tiêu đề=Key figures
|nhà xuất bản=National Bank of Belgium
|url=http://www.nbb.be/pub/00_00_00_00_02/?l=en&t=ho
|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070430165049/http://www.nbb.be/pub/00_00_00_00_02/?l=en&t=ho
|ngày lưu trữ=ngày 30 tháng 4 năm 2007
|ngày truy cập=ngày 19 tháng 5 năm 2007}}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=EurActiv|url=http://www.euractiv.com/en/regional-policy/belgium-makes-place-urban-enterprises-news-500878|work=Belgium makes place for urban enterprises|nhà xuất bản=EurActiv|ngày truy cập=ngày 19 tháng 3 năm 2011| url lưu trữ= https://web.archive.org/web/20110430045610/http://www.euractiv.com/en/regional-policy/belgium-makes-place-urban-enterprises-news-500878| ngày lưu trữ= ngày 30 tháng 4 năm 2011 | url-status= live}}</ref> Từ năm 1832 đến năm 2002, đơn vị tiền tệ của Bỉ là [[franc Bỉ]]. Bỉ chuyển sang dùng đồng euro vào năm 2002.
Mặc dù suy giảm 18% từ năm 1970 đến năm 1999, song vào năm 1999 Bỉ vẫn có mạng lưới đường sắt dày đặc nhất trong Liên minh châu Âu với 11,38 km/1.000 km². Mặt khác, trong cùng giai đoạn này có sự phát triển lớn (+56%) về mạng lưới xa lộ. Năm 1999, Bỉ có 55,1 km xa lộ mỗi 1.000 km² và 16,5 km xa lộ mỗi 1.000 cư dân, cao hơn đáng kể các mức trung bình của Liên minh châu Âu là 13,7 và 15,9.<ref name=panorama>{{chú thích sách | title=Panorama of Transport | publisher=Office for Official Publications of the European Communities | year=2003 | isbn=92-894-4845-8 | url=http://www.uni-mannheim.de/edz/pdf/eurostat/02/KS-DA-02-001-EN-N-EN.pdf | format=PDF | access-date = ngày 8 tháng 11 năm 2017 | archive-date = ngày 7 tháng 8 năm 2011 | archive-url=https://web.archive.org/web/20110807053511/http://www.uni-mannheim.de/edz/pdf/eurostat/02/KS-DA-02-001-EN-N-EN.pdf | url-status=dead }}</ref>
Giao thông tại một số nơi tại Bỉ nằm vào hàng đông đúc nhất tại châu Âu. Vào năm 2010, người đến làm việc hàng ngày tại các thành phố Bruxelles và Antwerpen lần lượt phải mất 65 và 64 tiếng mỗi năm do tắc đường.<ref>{{Chú thích web|work=Wallstreet Journal |tác giả=Fidler, Stephen |ngày=ngày 3 tháng 11 năm 2010 |ngày truy cập=ngày 21 tháng 6 năm 2011 |url=https://blogs.wsj.com/brussels/2010/11/03/europes-traffic-jam-capitals/ |tiêu đề=Europe's Top Traffic Jam Capitals }}</ref> Giống như hầu hết các quốc gia nhỏ khác tại châu Âu, có trên 80% giao thông hàng không tại Bỉ là thông qua một sân bay duy nhất, [[sân bay Bruxelles]]. Các cảng Antwerpen và Zeebrugge (Brugge)]] chiếm hơn 80% giao thông hàng hải của Bỉ, Antwerpen là bến cảng lớn thứ nhì tại châu Âu với tổng khối lượng hàng hoá xử lý là 115.988.000 tấn vào năm 2000 sau khi tăng trưởng 10,9% trong suốt 5 năm trước đó.<ref name=panorama /><ref>Another comparative study on transportation in Belgium: {{chú thích sách | title=OECD environmental performance reviews: Belgium | publisher=OECD | year=2007 | isbn=92-64-03111-1}}</ref> Năm 2016, cảng Antwerpen xử lý 214 triệu tấn hàng hoá, tăng trưởng 2,7% so với năm trước.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.portofantwerp.com/en/news/port-antwerp-finishes-2016-growth-27-definitive-figure |tiêu đề=Double record for freight volume |work=port of Antwerp |ngày truy cập=ngày 23 tháng 2 năm 2017 }}</ref>
Tồn tại cách biệt lớn về kinh tế giữa Vlaanderen và Wallonie. Wallonie trong quá khứ từng thịnh vượng hơn so với Vlaanderen, hầu hết là do có các ngành công nghiệp nặng, song việc ngành thép sụt giảm sau Chiến tranh thế giới thứ hai khiến vùng này suy thoái nhanh chóng, trong khi Vlaanderen thì nổi lên nhanh chóng. Từ đó, Vlaanderen có kinh tế thịnh vượng, nằm trong các vùng giàu nhất châu Âu, trong khi Wallonie thì tiêu điều. Năm 2007, tỷ lệ thất nghiệp của Wallonie cao gấp đôi so với Vlaanderen. Phân chia này góp một phần quan trọng trong căng thẳng giữa hai vùng bên cạnh phân chia ngôn ngữ vốn có. Các phong trào ủng hộ độc lập giành được mức ủng hộ cao tại Vlaanderen là một kết quả của tình trạng này. Liên minh Vlaanderen Mới (N-VA) theo chủ nghĩa phân lập trở thành chính đảng lớn nhất tại Vlaanderen.<ref name=Crisis>{{Chú thích web |tiêu đề=The Belgian Crisis |work=The Belgian Crisis |url=https://sites.google.com/site/thebelgiancrisis/the-crisis |ngày truy cập=ngày 5 tháng 6 năm 2016
}}</ref><ref name=Divided>{{Chú thích web
|tiêu đề=Belgium: A nation divided
|work=Independent
|tác giả=John Lichfield
|năm=2007
|url=https://www.independent.co.uk/news/world/europe/belgium-a-nation-divided-765752.html
|ngày truy cập=ngày 5 tháng 6 năm 2016
}}</ref><ref name="google">{{chú thích sách|title=Belgium: A History|author=Cook, B.A.|date=2002|publisher=Peter Lang|isbn=9780820458243|url=https://books.google.com/books?id=p9gGAU3InGUC&pg=PA139|page=139|access-date =ngày 6 tháng 1 năm 2017}}</ref>
=== Khoa học và kỹ thuật ===
[[Tập tin:Mercator.jpg|thumb|276x276px|[[Gerardus Mercator]]|thế=]]
Trong tiến trình lịch sử quốc gia, Bỉ luôn có các đóng góp cho sự phát triển của khoa học và kỹ thuật. Tây Âu trong thế kỷ XVI thời cận đại có bước phát triển mạnh về khoa học, trong đó Bỉ có nhà bản đồ học [[Gerardus Mercator]], nhà giải phẫu học [[Andreas Vesalius]], nhà y học thảo dược [[Rembert Dodoens]]<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Rembert Dodoens: iets over zijn leven en werk—Dodoens' werken|ngày=ngày 20 tháng 12 năm 2005|work=Plantaardigheden—Project Rembert Dodoens (Rembertus Dodonaeus)|ngôn ngữ=nl|trích dẫn=... het Cruijdeboeck, dat in 1554 verscheen. Dit meesterwerk was na de bijbel in die tijd het meest vertaalde boek. Het werd gedurende meer dan een eeuw steeds weer heruitgegeven en gedurende meer dan twee eeuwen was het het meest gebruikte handboek over kruiden in West-Europa. Het is een werk van wereldfaam en grote wetenschappelijke waarde. De nieuwe gedachten die Dodoens erin neerlegde, werden de bouwstenen voor de botanici en medici van latere generaties. ''(... the Cruijdeboeck, published in 1554. This masterpiece was, after the Bible, the most translated book in that time. It continued to be republished for more than a century and for more than two centuries it was the mostly used referential about herbs. It is a work with world fame and great scientific value. The new thoughts written down by Dodoens, became the building bricks for botanists and physicians of later generations.)''
|nhà xuất bản=Stichting Kruidenhoeve/Plantaardigheden|vị trí=Balkbrug|url=http://plantaardigheden.nl/dodoens/over_dodoens/leven_en_werk.htm#dodoens|ngày truy cập=ngày 17 tháng 5 năm 2007| url lưu trữ= https://web.archive.org/web/20070610070835/http://www.plantaardigheden.nl/dodoens/over_dodoens/leven_en_werk.htm| ngày lưu trữ= ngày 10 tháng 6 năm 2007 | url-status= live}}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Simon Stevin|họ=O'Connor|tên=J. J.|họ 2=Robertsonfirst2=E. F.|nhà xuất bản=School of Mathematics and Statistics, University of St Andrews, Scotland|năm=2004|url=http://www-groups.dcs.st-andrews.ac.uk/~history/Biographies/Stevin.html|trích dẫn=Although he did not invent decimals (they had been used by the Arabs and the Chinese long before Stevin's time) he did introduce their use in mathematics in Europe.|ngày truy cập=ngày 11 tháng 5 năm 2007| url lưu trữ= https://web.archive.org/web/20070609192011/http://www-groups.dcs.st-andrews.ac.uk/~history/Biographies/Stevin.html| ngày lưu trữ= ngày 9 tháng 6 năm 2007 | url-status= live}}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Abstract (*)|trích dẫn=The importance of A. Vesalius' publication'' 'de humani corporis fabrica libri septem' ''cannot be overestimated.|nhà xuất bản=S. Karger AG, Basel|url=http://content.karger.com/ProdukteDB/produkte.asp?Aktion=ShowPDF&ProduktNr=223979&Ausgabe=225203&ArtikelNr=13462|ngày truy cập=ngày 11 tháng 5 năm 2007}} (*) Free abstract for pay-per-view article by{{chú thích tạp chí|title=The Low Countries – 16th/17th century|last1=De Broe|first1=Marc E.|last2=De Weerdt|first2=Dirk L.|last3=Ysebaert|first3=Dirk K.|last4=Vercauteren|first4=Sven R.|last5=De Greef|first5=Kathleen E.|last6=De Broe|first6=Luc C.|journal=American Journal of Nephrology|year=1999|volume=19|issue=2|pages=282–9|pmid=10213829|doi=10.1159/000013462|url=http://content.karger.com/ProdukteDB/produkte.asp?Aktion=ShowPDF&ArtikelNr=13462&Ausgabe=225203&ProduktNr=223979&filename=13462.pdf}}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề='A Day Without Yesterday': Georges Lemaitre & the Big Bang|ngày=ngày 24 tháng 3 năm 2000|các trang=18–19|tác giả=Midbon, Mark |nhà xuất bản=[[Commonweal]], republished: Catholic Education Resource Center (CERC)|url=http://www.catholiceducation.org/articles/science/sc0022.html|ngày truy cập=ngày 7 tháng 6 năm 2007| url lưu trữ= https://web.archive.org/web/20070706021420/http://www.catholiceducation.org/articles/science/sc0022.html| ngày lưu trữ= ngày 6 tháng 7 năm 2007 | url-status= live}}</ref> và nhà toán học [[Simon Stevin]] cùng các nhà khoa học nổi tiếng khác.<ref>{{chú thích sách|title=The Fair Face of Flanders|year=2001|url=https://archive.org/details/fairfaceofflande0000patr|author=Carson, Patricia |page=[https://archive.org/details/fairfaceofflande0000patr/page/136 136]|isbn=90-209-4385-5|publisher=Lannoo Uitgeverij}}</ref>
Nhà hoá học [[Ernest Solvay]]<ref>{{chú thích sách|title=Biographical Dictionary of the History of Technology|page=1135|author=Day, Lance |editor1=Lance Day |editor2=Ian McNeil |publisher=Routledge|year=2003|isbn=0-203-02829-5}}</ref> và kỹ sư [[Zenobe Gramme]] (École Industrielle de Liège)<ref>{{chú thích sách|title=Biographical Dictionary of the History of Technology|page=523|author=Woodward, Gordon |editor1=Lance Day |editor2=Ian McNeil |publisher=Routledge|year=2003|isbn=0-203-02829-5}}</ref> lần lượt được đặt tên cho [[Công nghệ Solvay|phương pháp Solvay]] và máy phát điện Gramme trong thập niên 1860. [[Bakelit]] được phát triển vào năm 1907–1909 bởi [[Leo Baekeland]]. Ernest Solvay cũng đóng vai trò là một nhà nhân đạo lớn và được đặt tên cho Viện Xã hội học Solvay, Trường Kinh tế và Quản trị Solvay Bruxelles, và Viện Vật lý và Hoá học Solvay Quốc tế, nay thuộc [[Đại học Tự do Bruxelles (tiếng Pháp)|Đại học Tự do Bruxelles]]. Năm 1911, ông khởi đầu một loạt hội nghị, gọi là các hội nghị Solvay về vật lý và hoá học, chúng có tác động sâu sắc đến tiến triển của vật lý và hoá học lượng tử.<ref>{{chú thích sách|title=Cultures of Creativity: the Centennial Exhibition of the Nobel Prize|url=https://archive.org/details/culturesofcreati0000unse|author=Larsson, Ulf |page=[https://archive.org/details/culturesofcreati0000unse/page/211 211]|isbn=0-88135-288-8|publisher=Science History Publications|year=2001}}</ref> Một người Bỉ khác cũng có đóng góp lớn cho khoa học cơ bản là [[Georges Lemaître]] (Đại học Công giáo Leuven), ông có danh tiếng nhờ đề xuất thuyết [[Big Bang]] về nguồn gốc của vũ trụ vào năm 1927.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Georges Lemaître, Father of the Big Bang |url=http://www.amnh.org/education/resources/rfl/web/essaybooks/cosmic/p_lemaitre.html |nhà xuất bản=[[American Museum of Natural History]] |năm=2000 |ngày truy cập=ngày 9 tháng 12 năm 2010 |url-status=dead |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20130117044852/http://www.amnh.org/education/resources/rfl/web/essaybooks/cosmic/p_lemaitre.html |ngày lưu trữ=ngày 17 tháng 1 năm 2013 }}</ref>
Có ba cá nhân Bỉ từng được nhận giải Nobel về sinh lý học và y học, đó là [[Jules Bordet]] (Đại học Tự do Bruxelles) vào năm 1919, [[Corneille Heymans]] (Đại học Gent) vào năm 1938 và [[Albert Claude]] (Đại học Tự do Bruxelles) cùng với [[Christian de Duve]] (Đại học Công giáo Louvain) vào năm 1974. [[François Englert]] (Đại học Tự do Bruxelles) được trao giải Nobel vật lý vào năm 2013. [[Ilya Prigogine]] (Đại học Tự do Bruxelles) được trao giải Nobel hoá học vào năm 1977.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=The Nobel Prize in Chemistry 1977|url=http://nobelprize.org/nobel_prizes/chemistry/laureates/1977/|nhà xuất bản=Nobelprize.org|ngày truy cập=ngày 9 tháng 12 năm 2010| url lưu trữ= https://web.archive.org/web/20101203102528/http://nobelprize.org/nobel_prizes/chemistry/laureates/1977/| ngày lưu trữ= ngày 3 tháng 12 năm 2010 | url-status= live}}</ref> Hai nhà toán học Bỉ từng được được trao [[Huy chương Fields]]: [[Pierre Deligne]] vào năm 1978 và [[Jean Bourgain]] vào năm 1994.<ref>{{MacTutor Biography|id=Deligne|title=Pierre Deligne}} (Retrieved ngày 10 tháng 11 năm 2011)</ref><ref>{{MacTutor Biography|id=Bourgain|title=Jean Bourgain}} (Retrieved ngày 10 tháng 11 năm 2011)</ref>
==Nhân khẩu==
[[Tập tin:Brussels view from Mont des Arts, Brussels, Belgium (cropped).jpg|thumb|[[Bruxelles]] là thành phố thủ đô và vùng đô thị lớn nhất tại Bỉ|thế=|200x200px]]
{{main|Nhân khẩu Bỉ}}
{{As of|2015|01|01}}, tổng dân số Bỉ theo đăng ký dân số là 11.190.845.<ref name=Population/> Hầu như toàn bộ dân chúng sống trong đô thị, đạt 97% vào năm 2004.<ref>{{Chú thích web
|tiêu đề=Quelques résultats des précédents recensements—Indicateurs de logement (1991)
|nhà xuất bản=Belgian Federal Government Service (ministry) of Economy—Directorate-general Statistics Belgium
|năm= 2006
|ngôn ngữ=fr
|url=http://statbel.fgov.be/census/previous_fr.asp
|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070625171813/http://www.statbel.fgov.be/census/previous_fr.asp
|ngày lưu trữ=ngày 25 tháng 6 năm 2007
|ngày truy cập=ngày 8 tháng 5 năm 2007}}</ref> Mật độ dân số của Bỉ là 365 người/km² tính đến tháng 3 năm 2013. Vlaanderen có mật độ dày đặc nhất.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.gvpedia.com/Uploads/Files/market%20essentials%20-%20belgium.pdf|nhà xuất bản=British chamber of commerce in Belgium|tiêu đề=Belgium – Market essentials|ngày truy cập=ngày 7 tháng 1 năm 2011|archive-date = ngày 29 tháng 4 năm 2011 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110429185157/http://www.gvpedia.com/Uploads/Files/market%20essentials%20-%20belgium.pdf|url-status=dead}}</ref> Còn vùng đồi núi Ardenne có mật độ thấp nhất. {{As of|2015|01|01}}, vùng Vlaanderen có dân số là 6.437.680, các thành phố lớn nhất trong vùng là [[Antwerpen]] (511.771), [[Gent]] (252.274) và [[Brugge]] (117.787). Wallonie có 3.585.214 người, các thành phố lớn nhất là [[Charleroi]] (202.021), [[Liège]] (194.937) và [[Namur]] (110.447). Bruxelles có 1.167.951 cư dân tại 19 khu tự quản của Vùng Thủ đô, ba trong số đó có trên 100.000 cư dân.<ref name=Population/>
{{As of|2011}}, 89% cư dân là công dân Bỉ.<ref>{{Chú thích web | tiêu đề=Population par sexe et nationalité pour la Belgique et les régions, 2001 et 2011 | ngôn ngữ=fr | url=http://statbel.fgov.be/fr/statistiques/chiffres/population/structure/natact/beletr/ | tác giả=Belgian Federal Government | ngày truy cập=ngày 31 tháng 8 năm 2012 | archive-date = ngày 31 tháng 10 năm 2012 | archive-url=https://web.archive.org/web/20121031222719/http://statbel.fgov.be/fr/statistiques/chiffres/population/structure/natact/beletr/ | url-status=dead }}</ref> Tính đến năm 2007, công dân các thành viên Liên minh châu Âu khác chiếm khoảng 6% dân số Bỉ. Các cộng đồng ngoại kiều đông đảo nhất lần lượt là người Ý, người Pháp, người Hà Lan, người Maroc, người Bồ Đào Nha, người Tây Ban Nha, người Thổ Nhĩ Kỳ và người Đức.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=European Migration Network—Annual Statistical Report on migration and asylum in Belgium (Reference year 2003)—section A. 1) b) Population by citizenship & c) Third country nationals, 1 January 2004
|ngày=April 2006
|tác giả=Perrin, Nicolas |người khác=Study Group of Applied Demographics (Gédap)
|các trang= 5–9
|nhà xuất bản=Belgian Federal Government Service (ministry) of Interior—Immigration Office
|url=http://www.dofi.fgov.be/nl/statistieken/belgian%20migration%20point/punt%208%20Belgian%20Statistical%20Report%20on%20Asylum%20and%20Migration%202003.pdf
|archive-url=https://web.archive.org/web/20070614025224/http://www.dofi.fgov.be/nl/statistieken/belgian%20migration%20point/punt%208%20Belgian%20Statistical%20Report%20on%20Asylum%20and%20Migration%202003.pdf
|url-status=dead
|archive-date=ngày 14 tháng 6 năm 2007
|ngày truy cập=ngày 28 tháng 5 năm 2007}}</ref><ref>[https://web.archive.org/web/20021008133014/http://ecodata.mineco.fgov.be/mdn/Vreemde_bevolking.jsp De vreemde bevolking]. ecodata.mineco.fgov.be</ref> Năm 2007, Bỉ có 1,38 triệu cư dân sinh tại ngoại quốc, chiếm 12,9% dân số. Trong đó, 685.000 (6,4%) sinh bên ngoài Liên minh châu Âu và 695.000 (6,5%) sinh tại các quốc gia thành viên EU khác.<ref>[http://www.emploi.belgique.be/WorkArea/DownloadAsset.aspx?id=28772 L'IMMIGRATION EN BELGIQUE. EFFECTIFS, MOUVEMENTS. ET MARCHE DU TRAVAIL]. Rapport 2009. Direction générale Emploi et marché du travai</ref><ref>{{Chú thích web | tiêu đề=Structure de la population selon le pays de naissance | ngôn ngữ=fr | url=http://statbel.fgov.be/fr/statistiques/chiffres/population/structure/paysnaiss/ | tác giả=Belgian Federal Government | ngày truy cập=ngày 31 tháng 8 năm 2012 | archive-date = ngày 25 tháng 8 năm 2012 | archive-url=https://web.archive.org/web/20120825030522/http://statbel.fgov.be/fr/statistiques/chiffres/population/structure/paysnaiss/ | url-status=dead }}</ref>
Đầu năm 2012, cư dân có xuất thân ngoại quốc cùng các hậu duệ của họ được ước tính chiếm khoảng 25% tổng dân số, tức có 2,8 triệu ''người Bỉ mới''.<ref name="npdata.be">[http://www.npdata.be/BuG/155-Vreemde-afkomst/Vreemde-afkomst.htm BuG 155 – Bericht uit het Gewisse – 01 januari 2012]. npdata.be (ngày 1 tháng 1 năm 2012).</ref> Trong số người Bỉ mới này, 1,2 triệu có nguồn gốc châu Âu và 1,35 triệu<ref name="npdata">[http://www.npdata.be/BuG/159-Verkiezingen-2012/Verkiezingen-2012.htm BuG 159 – Bericht uit het Gewisse – 7 mei 2012]. npdata.be (ngày 7 tháng 5 năm 2012).</ref> có nguồn gốc từ bên ngoài phương Tây (hầu hết là từ [[Maroc]], [[Thổ Nhĩ Kỳ]], [[Cộng hoà Dân chủ Congo]]). Từ khi luật quốc tịch Bỉ được sửa đổi vào năm 1984, đã có trên 1,3 triệu người nhập cư nhận được quyền công dân Bỉ. Nhóm người nhập cư cùng hậu duệ đông đảo nhất tại Bỉ là người Maroc.<ref>[http://www.hbvl.be/Archief/guid/voor-het-eerst-meer-marokkaanse-dan-italiaanse-migranten.aspx?artikel=e2214650-9013-4207-8139-68ab46554b87 Voor het eerst meer Marokkaanse dan Italiaanse migranten] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20140118063203/http://www.hbvl.be/archief/guid/voor-het-eerst-meer-marokkaanse-dan-italiaanse-migranten.aspx?artikel=e2214650-9013-4207-8139-68ab46554b87 |date=2014-01-18 }}. hbvl.be. {{Nowrap|21 tháng 5}} 2007</ref> 89,2% số cư dân có nguồn gốc Thổ Nhĩ Kỳ đã nhập tịch, tỷ lệ của người gốc Maroc là 88,4%, của người Ý là 75,4%, của người Pháp là 56.2% và của người Hà Lan là 47,8% theo số liệu năm 2012.<ref name="npdata"/>
{{Thành phố lớn nhất Bỉ}}
{{Clear}}
{|class="wikitable sortable" style="text-align:left;"
|-style="font-size:100%; text-align:center;"
!align=center|Khu đô thị chức năng<ref name="europa">{{Chú thích web|url=http://appsso.eurostat.ec.europa.eu/nui/show.do?dataset=urb_lpop1&lang=en|nhà xuất bản=appsso.eurostat.ec.europa.eu|tiêu đề=appsso.eurostat.ec.europa.eu/nui/show.do?dataset=urb_lpop1&lang=en|ngày truy cập=ngày 6 tháng 1 năm 2017}}</ref>
!align=center|Dân số<br /><small>2011</small>
|-
| '''Bruxelles'''
| align=right|2.608.000
|-
| '''Antwerpen'''
| align=right|1.091.000
|-
| '''Liège'''
| align=right|744.000
|-
| '''Gent'''
| align=right|591,000
|-
| '''Charleroi'''
| align=right|488.000
|-
|}
=== Ngôn ngữ ===
[[Tập tin:Brussels signs.jpg|thumb|Biển báo song ngữ tại Bruxelles|thế=|200x200px]]
Bỉ có ba ngôn ngữ chính thức là tiếng Hà Lan, tiếng Pháp và tiếng Đức, ngoài ra một số ngôn ngữ thiểu số phi chính thức cũng được nói tại đây.<ref name="Ethnologue-16thEd">{{chú thích sách|title=Languages of Belgium|work=Ethnologue: Languages of the World|edition=sixteenth|editor=Lewis, M. Paul|publisher=[[SIL International]]|location=Dallas, Texas, U.S.A.|year=2009|pages=1,248|isbn=978-1-55671-216-6 |url=http://www.ethnologue.com/show_country.asp?name=BE|access-date =ngày 27 tháng 2 năm 2011}}</ref> Không có số liệu thống kê chính thức về phân bố hoặc sử dụng ba ngôn ngữ chính thức hoặc các phương ngữ của chúng.<ref>{{chú thích báo|title=Surviving in Babel? Language rights and European integration|journal=Canaanite in the Amarna tablets|volume=1|author=de Witte, Bruno|editor=Rainey, Anson F.|publisher=Brill|year=1996|isbn=90-04-10521-2|page=122}}</ref> Tuy nhiên, các tiêu chuẩn như ngôn ngữ của cha mẹ, của giáo dục, hoặc tình trạng ngôn ngữ thứ hai của người sinh tại nước ngoài có thể đưa đến các con số giả thuyết. Một ước tính cho rằng 60% dân số Bỉ nói tiếng Hà Lan (thường gọi là tiếng Vlaanderen), và 40% nói tiếng Pháp. Người Bỉ nói tiếng Pháp thường được gọi là người Wallonie, song người nói tiếng Pháp tại Bruxelles không phải người Wallonie.
Tổng số người nói tiếng Hà Lan là hơn 6,2 triệu, tập trung tại vùng Vlaanderen miền bắc, còn người nói tiếng Pháp có hơn 3,3 triệu tại Wallonie và ước tính có 870.000 (chiếm 85%) tại Bruxelles-Vùng thủ đô.<ref name=britishcouncil>{{Chú thích web |tiêu đề=Belgium Market background |trích dẫn=The capital Brussels, 80–85 percent French-speaking, ... |nhà xuất bản=[[British Council]] |url=http://www.britishcouncil.org/eumd-information-background-belgium.htm |ngày truy cập=ngày 5 tháng 5 năm 2007 |ngày lưu trữ=ngày 22 tháng 11 năm 2007 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20071122233056/http://www.britishcouncil.org/eumd-information-background-belgium.htm |url-status=dead }}—Strictly, the capital is the municipality [[Brussels|(City of) Brussels]], though the Brussels-Capital Region might be intended because of its name and also its other municipalities housing institutions typical for a capital.</ref> Cộng đồng nói tiếng Đức gồm 73.000 người tại phía đông của vùng Wallonie; với khoảng 10.000 người Đức và 60.000 công dân Bỉ nói tiếng Đức. Có khoảng 23.000 người nói tiếng Đức nữa sống trong các khu tự quản gần ranh giới chính thức của cộng đồng này.<ref name="German-speaking_Community"/><ref>{{Chú thích web |tiêu đề=Citizens from other countries in the German-speaking Community |nhà xuất bản=The German-speaking Community |url=http://www.dglive.be/EN/Desktopdefault.aspx/tabid-1408/2267_read-27184/ |ngày truy cập=ngày 5 tháng 5 năm 2007 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070628233901/http://www.dglive.be/EN/Desktopdefault.aspx/tabid-1408/2267_read-27184/ |ngày lưu trữ=ngày 28 tháng 6 năm 2007 |url-status=dead }}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=German (Belgium)—Overview of the language |nhà xuất bản=Mercator, Minority Language Media in the European Union, supported by the [[European Commission]] and the [[University of Wales]] |url=http://www.aber.ac.uk/cgi-bin/user/merwww/index.pl?rm=lang_detail;id=112;lang=1 |ngày truy cập=ngày 7 tháng 5 năm 2007 |ngày lưu trữ=ngày 11 tháng 5 năm 2011 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20110511181257/http://www.aber.ac.uk/cgi-bin/user/merwww/index.pl?rm=lang_detail%3Bid%3D112%3Blang%3D1 |url-status=dead }}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Belgique • België • Belgien—La Communauté germanophone de Belgique|work=L'aménagement linguistique dans le monde|ngôn ngữ=fr|ngày=ngày 19 tháng 4 năm 2006|tác giả=Leclerc, Jacques|nhà xuất bản=Host: Trésor de la langue française au Québec (TLFQ), [[Université Laval]], Quebec|url=http://www.tlfq.ulaval.ca/axl/europe/belgiqueger.htm|ngày truy cập=ngày 7 tháng 5 năm 2007|archive-date=2007-05-03|archive-url=https://web.archive.org/web/20070503050229/http://www.tlfq.ulaval.ca/AXL/europe/belgiqueger.htm|url-status=dead}}</ref>
Tiếng Hà Lan-Bỉ và tiếng Pháp-Bỉ đều có khác biệt nhỏ về từ vựng và sắc thái ngữ nghĩa với các dạng được nói tại Hà Lan và Pháp. Nhiều người Vlaanderen vẫn nói các phương ngữ của tiếng Hà Lan trong môi trường địa phương của họ. [[Tiếng Wallon]] được nhìn nhận là một phương ngữ của tiếng Pháp hoặc là một [[Nhóm ngôn ngữ Rôman|ngôn ngữ Roman]] riêng biệt,<ref>{{chú thích sách|author=Feller Jules|title=Notes de philologie wallonne|publisher=Vaillant Carmanne|location=Liège|year=1912}}</ref> song hiện nay chỉ thỉnh thoảng được hiểu và nói, hầu hết là trong nhóm người cao tuổi. Tiếng Walloon là tên gọi chung cho bốn phương ngữ tiếng Pháp tại Bỉ. Các phương ngữ của tiếng Wallonie, cùng với các phương ngữ của [[tiếng Picard]],<ref name="Ethnologue-15thEd">Among Belgium native German speakers many are familiar with the local dialect varieties of their region, that include dialects that spill over into neighboring Luxembourg and Germany.{{chú thích sách|title=Languages of Belgium|work=Ethnologue: Languages of the World|edition=Fifteenth|editor=Gordon, Raymond G. Jr.|publisher=[[SIL International]]|location=Dallas, Texas, U.S.A.|year=2005}} (Online version: [http://www.ethnologue.com/show_country.asp?name=BE Sixteenth edition])</ref> không được sử dụng trong đời sống công cộng và đã bị tiếng Pháp thay thế.
===Tôn giáo===
[[Tập tin:Basilica of the Sacred Heart-2.jpg|thumb|Vương cung thánh đường Thánh Tâm tại [[Koekelberg]], Bruxelles|200x200px|thế=]]
{{Pie chart
|thumb = right
|caption = Tôn giáo tại Bỉ (2015)<ref name=EB2015>{{chú thích sách|title=Eurobarometer 437: Discrimination in the EU in 2015|publisher=European Commission|url=http://zacat.gesis.org/webview/index.jsp?headers=http%3A%2F%2F193.175.238.79%3A80%2Fobj%2FfVariable%2FZA6595_V11&previousmode=table&stubs=http%3A%2F%2F193.175.238.79%3A80%2Fobj%2FfVariable%2FZA6595_V294&study=http%3A%2F%2F193.175.238.79%3A80%2Fobj%2FfStudy%2FZA6595&V294slice=1&mode=table&v=2&weights=http%3A%2F%2F193.175.238.79%3A80%2Fobj%2FfVariable%2FZA6595_V499&V294subset=1+-+12&analysismode=table&gs=7&V11slice=AT&top=yes|access-date=ngày 15 tháng 10 năm 2017|via=[[GESIS – Leibniz Institute for the Social Sciences|GESIS]]|archive-date=2017-10-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20171015202418/http://zacat.gesis.org/webview/index.jsp?headers=http%3A%2F%2F193.175.238.79%3A80%2Fobj%2FfVariable%2FZA6595_V11&previousmode=table&stubs=http%3A%2F%2F193.175.238.79%3A80%2Fobj%2FfVariable%2FZA6595_V294&study=http%3A%2F%2F193.175.238.79%3A80%2Fobj%2FfStudy%2FZA6595&V294slice=1&mode=table&v=2&weights=http%3A%2F%2F193.175.238.79%3A80%2Fobj%2FfVariable%2FZA6595_V499&V294subset=1+-+12&analysismode=table&gs=7&V11slice=AT&top=yes}}</ref>
|label1 = Công giáo Roma
|value1 = 52.9
|color1 = DarkOrchid
|label2 = Tin Lành
|value2 = 2.1
|color2 = DodgerBlue
|label3 = Chính thống giáo
|value3 = 1.6
|color3 = Orchid
|label4 = Các hệ phái Kitô giáo khác
|value4 = 4.1
|color4 = SkyBlue
|label5 = Bất khả tri/Không tôn giáo
|value5 = 17.1
|color5 = Honeydew
|label6 = Vô thần
|value6 = 14.9
|color6 = Grey
|label7 = Hồi giáo
|value7 = 5.2
|color7 = Green
|label8 = Khác
|value8 = 2.1
|color8 = Chartreuse
}}
Từ khi Bỉ độc lập, [[Công giáo La Mã]] giữ thế cân bằng với các phong trào tự do tư tưởng mạnh, và có được một vai trò quan trọng trong nền chính trị Bỉ. Tuy nhiên, Bỉ là một quốc gia thế tục ở mức độ lớn do hiến pháp thế tục quy định tự do tôn giáo, và chính phủ nói chung đều tôn trọng quyền này trong thực tiễn. Dưới thời trị vì của [[Albert I của Bỉ|Albert I]] và [[Baudouin I của Bỉ|Baudouin]], quân chủ Bỉ có danh tiếng vì sùng bái Công giáo.<ref name=MarshallCavendish2009>{{chú thích sách|publisher=Marshall Cavendish|year=2009|author1=Loopbuyck, P.|author2=Torfs, R.|volume=4|title=The world and its people – Belgium, Luxembourg and the Netherlands|isbn=0-7614-7890-6|page=499}}</ref>
[[Giáo hội Công giáo|Công giáo La Mã]] có truyền thống là tôn giáo đa số tại Bỉ; đặc biệt mạnh mẽ tại Vlaanderen. Tuy nhiên, tỷ lệ dự lễ nhà thờ ngày Chủ nhật vào năm 2009 chỉ là 5% trên toàn quốc; riêng Bruxelles là 3%,<ref>{{Chú thích web|url=http://www.brusselnieuws.be/artikel/met-uitsterven-bedreigd-de-brusselse-kerkganger |ngôn ngữ=nl|tiêu đề=Churchgoers in Brussels threatened with extinction|website=Brusselnieuws.be|ngày=ngày 30 tháng 11 năm 2010 |ngày truy cập=ngày 4 tháng 9 năm 2011}}</ref> còn Vlaanderen là 5,4%. Mức dự lễ nhà thờ năm 2009 tại Bỉ bằng khoảng một nửa so với mức năm 1998 (11%).<ref>[http://www.standaard.be/artikel/detail.aspx?artikelid=3932PEIJ Kerken lopen zeer geleidelijk helemaal leeg – Dutch news article describing church attendance in Flanders]. Standaard.be (ngày 25 tháng 11 năm 2010). Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2011.</ref> Mặc dù mức dự lễ nhà thờ giảm sút, song bản sắc Công giáo vẫn là một phần quan trọng trong văn hoá Bỉ.<ref name=MarshallCavendish2009/>
Theo Eurobarometer 2010,<ref name="Special Eurobarometer 393">''[http://ec.europa.eu/public_opinion/archives/ebs/ebs_341_en.pdf Eurobarometer Biotechnology report 2010] {{webarchive|url=https://web.archive.org/web/20110430163128/http://ec.europa.eu/public_opinion/archives/ebs/ebs_225_report_en.pdf |date=ngày 30 tháng 4 năm 2011 }}'' p.381.</ref> 37% công dân Bỉ cho biết rằng họ tin có [[Thượng đế]], 31% tin rằng có một số loại linh hồn hoặc lực sống, 27% không tin rằng có bất kỳ loại linh hồn nào, cũng như Thượng đế hay lực sống nào. Theo Eurobarometer 2015, 60,7% tổng dân số Bỉ trung thành với [[Kitô giáo|Cơ Đốc giáo]], trong đó [[Giáo hội Công giáo|Công giáo La Mã]] là giáo phái lớn nhất với 52,9%, [[Kháng Cách|Tin Lành]] chiếm 2,1% còn [[Chính thống giáo Đông phương|Chính thống giáo]] là 1,6%. Lượng người không theo tôn giáo nào chiếm 32% dân số và gồm người theo thuyết vô thần (14,9%) và thuyết bất khả tri (17.1%). 5,2% dân số là người [[Hồi giáo]] và 2,1% tin vào các tôn giáo khác.<ref name=EB2015/> Một khảo sát tương tự vào năm 2012 cho thấy rằng Cơ Đốc giáo là tôn giáo lớn nhất tại Bỉ, với 65% dân số là tín đồ.<ref name=EUROBAROMETER>{{citation |title=Discrimination in the EU in 2012 |work=[[Eurobarometer|Special Eurobarometer]] |year=2012 |series=383 |page=233 |url=http://ec.europa.eu/public_opinion/archives/ebs/ebs_393_en.pdf |access-date=ngày 14 tháng 8 năm 2013 |publisher=[[European Commission]] |location=[[European Union]] |url-status=dead |archiveurl=https://web.archive.org/web/20121202023700/http://ec.europa.eu/public_opinion/archives/ebs/ebs_393_en.pdf |archive-date=2012-12-02 |df= |archive-url=https://web.archive.org/web/20121202023700/http://ec.europa.eu/public_opinion/archives/ebs/ebs_393_en.pdf }}</ref>
Về mặt tượng trưng cũng như hữu hình, Giáo hội Công giáo La Mã vẫn có một vị trí thuận lợi.<ref name=MarshallCavendish2009 /> Bỉ công nhận chính thức ba tôn giáo: Cơ Đốc giáo ([[Công giáo]], [[Kháng Cách|Tin Lành]], [[Chính thống giáo Đông phương|Chính thống giáo]] và [[Anh giáo]]), [[Hồi giáo]] và [[Do Thái giáo]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.euresisnet.eu/Pages/ReligionAndState/BELGIUM.aspx |tiêu đề=State and Church in BELGIUM |website=euresisnet.eu |ngày=ngày 31 tháng 10 năm 2007 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20100717143131/http://www.euresisnet.eu/Pages/ReligionAndState/BELGIUM.aspx |ngày lưu trữ=ngày 17 tháng 7 năm 2010 |url-status=dead }}</ref>
Vào đầu thập niên 2000, có khoảng 42.000 người Do Thái tại Bỉ. Cộng đồng người Do Thái tại Antwerpen (khoảng 18.000 người) là một trong các cộng đồng lớn nhất tại châu Âu, và là một trong những cộng đồng lớn cuối cùng trên thế giới có ngôn ngữ chính là [[tiếng Yiddish]]. Hầu hết trẻ em Do Thái tại Antwerpen tiếp nhận một chương trình giáo dục Do Thái.<ref>Ghiuzeli, Haim F. [http://www.bh.org.il/database-article.aspx?48207 The Jewish Community of Antwerp, Belgium]. Beit Hatfutsot, the Museum of the Jewish People</ref> Có một vài tờ báo Do Thái và hơn 45 thánh đường Do Thái hoạt động trên toàn quốc (30 trong số này là tại Antwerpen).
Một cuộc điều tra vào năm 2006 tại Vlaanderen, là vùng được cho là sùng đạo hơn so với Wallonie, cho thấy rằng 55% nhận mình theo tôn giáo và 36% tin rằng Thượng đế tạo ra vũ trụ.<ref>Inquiry by 'Vepec', 'Vereniging voor Promotie en Communicatie' (Organization for Promotion and Communication), published in Knack magazine {{Nowrap|22 November}} 2006 p. 14 [The Dutch language term 'gelovig' is in the text translated as 'religious'. More precisely it is a very common word for believing in particular in any kind of God in a [[Monotheism|monotheistic]] sense, or in some [[afterlife]]], or both.</ref> Mặt khác, Wallonie trở thành một trong các vùng thế tục nhất/ít sùng đạo nhất tại châu Âu, hầu hết cư dân của vùng nói tiếng Pháp không cho rằng tôn giáo là một phần quan trọng trong cuộc đời họ, và có đến 45% dân số nhận rằng họ không theo tôn giáo. Điều này đặc biệt chính xác tại miền đông Wallonie và các khu vực dọc biên giới với Pháp.
Một ước tính vào năm 2008 cho thấy rằng khoảng 6% dân số Bỉ (628.751 người) là người Hồi giáo.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.indymedia.be/index.html%3Fq=node%252F29363.html|tiêu đề=In België wonen 650.000 muslims |nhà xuất bản=Indy Media|ngày=ngày 12 tháng 9 năm 2008|ngày truy cập=ngày 16 tháng 7 năm 2016}}</ref> Người Hồi giáo chiếm 23,6% dân số tại Bruxelles, 4,9% dân số Wallonie và 5,1% dân số Vlaanderen. Đa số người Hồi giáo tại Bỉ sống trong các thành phố lớn như Antwerpen, Bruxelles và Charleroi. Nhóm người nhập cư lớn nhất tại Bỉ là người Maroc, còn người Thổ Nhĩ Kỳ là nhóm Hồi giáo lớn thứ nhì.<ref name="hbvl.be">[http://www.hbvl.be/Archief/guid/voor-het-eerst-meer-marokkaanse-dan-italiaanse-migranten.aspx?artikel=e2214650-9013-4207-8139-68ab46554b87 Voor het eerst meer Marokkaanse dan Italiaanse migranten] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20140118063203/http://www.hbvl.be/archief/guid/voor-het-eerst-meer-marokkaanse-dan-italiaanse-migranten.aspx?artikel=e2214650-9013-4207-8139-68ab46554b87 |date=2014-01-18 }}. hbvl.be. {{Nowrap|21 May}} 2007</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.npdata.be|nhà xuất bản=Npdata.be |tiêu đề=Moslims in België per gewest, provincie en gemeente|ngày=ngày 18 tháng 9 năm 2015 |ngày truy cập=ngày 9 tháng 3 năm 2016}}</ref>
===Y tế===
Người Bỉ có sức khoẻ tốt, theo ước tính năm 2012 thì tuổi thọ dự tính trung bình của họ là 79,65 năm.<ref name=CIA /> Từ năm 1960, tuổi thọ dự tính của người Bỉ tăng lên hai tháng mỗi năm, giống với trung bình của châu Âu. Tử vong tại Bỉ chủ yếu là do rối loạn tim mạch, ung thư, rối loạn hệ thống hô hấp và các nguyên nhân phi tự nhiên (tai nạn, tự vẫn). Các nguyên nhân tử vong phi tự nhiên và ung thư là các nguyên nhân tử vong phổ biến nhất đối với nữ giới từ 24 tuổi trở xuống và nam giới từ 44 tuổi trở xuống.<ref name=Corens2007>{{chú thích tạp chí|journal=Health Systems in Transition|volume=9|year=2007|title=Belgium, health system review|author=Corens, Dirk|publisher=European Observatory on Health Systems and Policies|url=http://www.euro.who.int/__data/assets/pdf_file/0007/96442/E90059.pdf|issue=2|access-date=2017-11-08|archive-date=2011-05-23|archive-url=https://web.archive.org/web/20110523162634/http://www.euro.who.int/__data/assets/pdf_file/0007/96442/E90059.pdf}}</ref>
Y tế tại Bỉ được tài trợ thông qua đóng góp an sinh xã hội và thuế. Bảo hiểm y tế có tính chất bắt buộc. Dịch vụ y tế được đáp ứng bởi một hệ thống hỗn hợp công lập và tư nhân gồm các thầy thuốc độc lập, các bệnh viện công lập, đại học và bán tư nhân. Bệnh nhân phải thanh toán cho dịch vụ y tế, sau đó sẽ được các thể chế bảo hiểm y tế hoàn trả, song với các hạng mục không đủ tiêu chuẩn (của bệnh nhân và dịch vụ) thì sẽ tồn tại cái gọi là hệ thống thanh toán bên thứ ba.<ref name=Corens2007/> Hệ thống y tế Bỉ được chính phủ liên bang, chính phủ cấp vùng Vlaanderen và Wallonie giám sát và tài trợ; Cộng đồng nói tiếng Đức cũng giám sát và chịu trách nhiệm gián tiếp.<ref name=Corens2007/>
===Giáo dục===
Giáo dục tại Bỉ có tính chất nghĩa vụ đối với người từ 6 đến 18 tuổi.<ref name=Hofman_Hofman_Gray_Daly>{{chú thích sách|title=Institutional context of education systems in Europe: a cross-country comparison on quality and equity
|first1=Roelande H.|last1=Hofman|first2=W. H. A.|last2=Hofman|first3=J. M.|last3=Gray|first4=P.|last4=Daly|publisher=Kluwer Academic Publishers|year=2004|isbn=1-4020-2744-3|url=https://books.google.com/books?id=nskLDqh40dwC|pages=97, 105}} Extracts:
[https://books.google.com/books?id=nskLDqh40dwC&pg=PA97 p. 97],
[https://books.google.com/books?id=nskLDqh40dwC&pg=PA105 p. 105]<!--
--></ref> Trong số các quốc gia [[OECD]] vào năm 2002, Bỉ có tỷ lệ cao thứ ba về số người từ 18 đến 21 tuổi nhập học tại bậc giáo dục sau trung học, với 42%.<ref name="NCES_Tbl-388">{{Chú thích web|tiêu đề=Table 388. Percentage of population enrolled in secondary and postsecondary institutions, by age group and country – Chapter 6. International Comparisons of Education, data: 2002|work=Digest of Education Statistics—Tables and Figures|năm=2005|nhà xuất bản=National Center for Education Statistics, Institute of Education Sciences (IES), US Department of Education|url=http://nces.ed.gov/programs/digest/d05/tables/dt05_388.asp|ngày truy cập=ngày 6 tháng 6 năm 2007}}</ref> Mặc dù theo ước tính có 99% dân số trưởng thành Bỉ biết chữ, song có lo ngại gia tăng về vấn đề mù chữ chức năng.<ref name="Ethnologue-15thEd" /><ref name=UNDP>{{Chú thích web|tiêu đề=I. Monitoring Human Development: Enlarging peoples's choices ... —5. Human poverty in OECD, Eastern Europe and the CIS |work=Human Development Indicators |các trang=172–173 |nhà xuất bản=[[United Nations Development Programme]] (UNDP) |năm=2000 |url=http://hdr.undp.org/reports/global/2000/en/pdf/hdr_2000_back1.pdf |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070614025222/http://hdr.undp.org/reports/global/2000/en/pdf/hdr_2000_back1.pdf |ngày lưu trữ=ngày 14 tháng 6 năm 2007 |ngày truy cập=ngày 6 tháng 6 năm 2007 |url-status=live }}</ref> [[Chương trình đánh giá học sinh quốc tế]] (PISA), phối hợp với OECD, vào năm 2016 xếp hạng giáo dục Bỉ tốt thứ 19 trên thế giới, cao hơn đáng kể mức trung bình của OECD.<ref name="OECD_PISA-2006">{{Chú thích web|tiêu đề=Range of rank on the PISA 2006 science scale|nhà xuất bản=[[OECD]]|url=http://www.oecd.org/dataoecd/42/8/39700724.pdf|định dạng=PDF|ngày truy cập=ngày 27 tháng 2 năm 2011}}</ref> Giáo dục được tổ chức riêng biệt bởi mỗi cộng đồng, Cộng đồng Vlaanderen có thành tích giáo dục cao hơn đáng kể so với các Cộng đồng Pháp và Cộng đồng nói tiếng Đức.<ref name="De-Meyer_Pauly_Van-de-Poele">{{chú thích tạp chí|title=Learning for Tomorrow's Problems – First Results from PISA2003|page=52|publisher=Ministry of the Flemish Community – Education Department; [[University of Ghent]] – Department of Education, Ghent, Belgium (Online by [[OECD]])|access-date =ngày 27 tháng 2 năm 2011|year= 2005|url=http://www.oecd.org/dataoecd/57/60/36324368.pdf|format=PDF|author1=De Meyer, Inge|author2=Pauly, Jan|author3=Van de Poele, Luc}}</ref>
Phán ánh cấu trúc kép của bối cảnh chính trị Bỉ trong thế kỷ XIX, do các đảng Tự Do và Công giáo xác định đặc điểm, hệ thống giáo dục Bỉ được tách biệt trong một phân đoạn thế tục và một phân đoạn tôn giáo. Nhánh giáo dục thế tục nằm dưới quyền kiểm soát của các cộng đồng, các tỉnh hay các khu tự quản; còn nhánh giáo dục tôn giáo, chủ yếu là Công giáo, được tổ chức bởi giới chức tôn giáo, song được các cộng đồng trợ cấp và giám sát.<ref name="De-Ley">{{Chú thích web|tiêu đề=Humanists and Muslims in Belgian Secular Society (Draft version)|tác giả=De Ley, Herman|nhà xuất bản=Centrum voor Islam in Europe (Centre for Islam in Europe), [[Ghent University]]|năm=2000|url=http://www.flwi.ugent.be/cie/CIE/deley10.htm|ngày truy cập=ngày 7 tháng 6 năm 2007|archive-date = ngày 9 tháng 6 năm 2007 |archive-url=https://web.archive.org/web/20070609120804/http://www.flwi.ugent.be/cie/CIE/deley10.htm|url-status=dead}}</ref>
==Văn hoá==
{{main|Văn hóa Bỉ}}
Các phong trào nghệ thuật lớn từng có bước phát triển mạnh mẽ tại khu vực nay là Bỉ, tạo được ảnh hưởng to lớn đến nghệ thuật và văn hoá của châu Âu, bất chấp việc tại đây có phân chia về chính trị và ngôn ngữ. Hiện nay, trên một phạm vi nhất định, sinh hoạt văn hoá được tập trung trong mỗi cộng đồng ngôn ngữ, và nhiều rào cản khiến cho không gian văn hoá chung ít được thể hiện.<ref name="Fitzmaurice"/><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Belgium—Arts and cultural education|work=Compendium of Cultural Policies and Trends in Europe, 8th edition|nhà xuất bản=Council of Europe / ERICarts|năm=2007|url=http://www.culturalpolicies.net/web/belgium.php?aid=831|ngày truy cập=ngày 8 tháng 5 năm 2007|archive-date = ngày 31 tháng 8 năm 2007 |archive-url=https://web.archive.org/web/20070831150145/http://www.culturalpolicies.net/web/belgium.php?aid=831|url-status=dead}}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Belgique |work=European Culture Portal |nhà xuất bản=[[European Commission]] |năm=2007 |url=http://ec.europa.eu/culture/portal/sites/members/belgium_en.htm |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20071224164244/http://ec.europa.eu/culture/portal/sites/members/belgium_en.htm |ngày lưu trữ=ngày 24 tháng 12 năm 2007 |ngày truy cập=ngày 10 tháng 5 năm 2007 |url-status=live }}</ref> Kể từ thập niên 1970, không còn các đại học hoặc cao đẳng song ngữ tại Bỉ, ngoại lệ là Học viện Quân sự Hoàng gia và Học viện Hàng hải Antwerpen, và cũng không có cơ quan truyền thông chung<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Frontière linguistique, frontière politique, une presse en crise|ngôn ngữ=fr|tác giả=Gonthier, Adrien
|work=Le Monde diplomatique|năm=2003|url=http://www.monde-diplomatique.fr/2003/05/GONTHIER/10142|ngày truy cập=ngày 17 tháng 6 năm 2008}}</ref> không có tổ chức đơn lẻ quy mô lớn nào về văn hoá hay khoa học chung giữa các cộng đồng lớn.<ref>{{chú thích sách|last=Mumford|first=David|authorlink=David Mumford|title=The World Today Series|work=The New York Times|series=Western Europe/2007|year=2008|isbn=1-887985-89-1}}</ref>
===Nghệ thuật===
[[Tập tin:Eyck.hubert.lamb.750pix.jpg|thumb|''Het Lam Gods'' vẽ năm 1432 của [[Jan van Eyck|van Eyck]]|thế=|200x200px]]
Bỉ có đóng góp đặc biệt phong phú cho hội họa và kiến trúc. Nghệ thuật Mosa, hội họa sơ kỳ Vlaanderen,<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Low Countries, 1000–1400 AD |work=Timeline of Art History |nhà xuất bản=Metropolitan Museum of Art |năm=2007 |url=http://www.metmuseum.org/toah/ht/07/euwl/ht07euwl.htm |ngày truy cập=ngày 10 tháng 5 năm 2007 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070415094905/http://www.metmuseum.org/toah/ht/07/euwl/ht07euwl.htm |ngày lưu trữ=ngày 15 tháng 4 năm 2007 |url-status=live }}</ref> Phục hưng Vlaanderen và Baroque<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Low Countries, 1400–1600 AD |work=Timeline of Art History |nhà xuất bản=Metropolitan Museum of Art |năm=2007 |url=http://www.metmuseum.org/toah/ht/08/euwl/ht08euwl.htm |ngày truy cập=ngày 10 tháng 5 năm 2007 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070429051506/http://www.metmuseum.org/toah/ht/08/euwl/ht08euwl.htm |ngày lưu trữ=ngày 29 tháng 4 năm 2007 |url-status=live }}</ref> và các điển hình về [[Kiến trúc Roman]], [[Kiến trúc Gothic|Gothic]], [[Kiến trúc Phục Hưng|Renaissance]] và [[Kiến trúc Baroque|Baroque]] là những dấu mốc trong lịch sử nghệ thuật. Nghệ thuật tại Các vùng đất thấp vào thế kỷ XV chịu sự chi phối từ hội họa tôn giáo của [[Jan van Eyck]] và [[Rogier van der Weyden]], đến thế kỷ XVI thì có đặc điểm là đa dạng hơn về phong cách như tranh phong cảnh của [[Pieter Bruegel il Vecchio|Pieter Bruegel]] còn [[Lambert Lombard]] tiêu biểu cho phong cách cổ điển.<ref>{{chú thích sách|language=fr|first=Jacques|last=Hendrick|title=La peinture au pays de Liège|year=1987|location=Liège|publisher=Editions du Perron|isbn=2-87114-026-X|page=24}}</ref> Phong cách Baroque của [[Peter Paul Rubens]] và [[Anthony van Dyck]] thăng hoa vào đầu thế kỷ XVII tại miền nam Nederland,<ref>{{chú thích sách|language=de|first=Herwig|last=Guratzsch|title=Die große Zeit der niederländische Malerei|year=1979|publisher=Verlag Herder|location=Freiburg im Beisgau|page=7}}</ref> song về sau dần bị suy thoái.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Low Countries, 1600–1800 AD |work=Timeline of Art History |nhà xuất bản=Metropolitan Museum of Art |năm=2007 |url=http://www.metmuseum.org/toah/ht/09/euwl/ht09euwl.htm |ngày truy cập=ngày 10 tháng 5 năm 2007 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070513131424/http://www.metmuseum.org/toah/ht/09/euwl/ht09euwl.htm |ngày lưu trữ=ngày 13 tháng 5 năm 2007 |url-status=live }}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Art History: Flemish School: (1600–1800)—Artists: (biography & artworks)|url=http://wwar.com/masters/movements/flemish_school.html|ngày=ngày 5 tháng 2 năm 2006|nhà xuất bản=World Wide Arts Resources|ngày truy cập=ngày 10 tháng 5 năm 2007|archive-date = ngày 13 tháng 10 năm 2009 |archive-url=http://arquivo.pt/wayback/20091013022635/http://wwar.com/masters/movements/flemish_school.html|url-status=dead}}—A general presentation of the Flemish artistic movement with a list of its artists, linking to their biographies and artworks</ref>
Trong thế kỷ XIX và XX, nhiều họa sĩ [[Chủ nghĩa lãng mạn|lãng mạn]], [[Chủ nghĩa biểu hiện|biểu hiện]] và [[Chủ nghĩa siêu thực|siêu thực]] của Bỉ nổi lên, như [[James Ensor]] và các nghệ sĩ khác thuộc nhóm [[Les XX]], [[Constant Permeke]], [[Paul Delvaux]] và [[René Magritte]]. Phong trào CoBrA có tính tiên phong xuất hiện trong thập niên 1950, còn nhà điêu khắc [[Panamarenko]] vẫn là một nhân vật xuất sắc của nghệ thuật đương đại.<ref>{{Chú thích web|url=http://wwar.com/masters/nationalities/belgian.html|tiêu đề=Belgian Artists: (biographies & artworks)|ngày=ngày 5 tháng 2 năm 2006|nhà xuất bản=World Wide Arts Resources|ngày truy cập=ngày 10 tháng 5 năm 2007|archive-date = ngày 15 tháng 5 năm 2016 |archive-url=http://arquivo.pt/wayback/20160515200408/http://wwar.com/masters/nationalities/belgian.html|url-status=dead}}—List of Belgian painters, linking to their biographies and artworks</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www1.uol.com.br/bienal/23bienal/universa/iueopa.htm|tiêu đề=Panamarenko|tác giả=Baudson, Michel|năm=1996|nhà xuất bản=Flammarion (Paris)|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070207233008/http://www1.uol.com.br/bienal/23bienal/universa/iueopa.htm|ngày lưu trữ=ngày 7 tháng 2 năm 2007|url-status=live|ngày truy cập=ngày 10 tháng 5 năm 2007}}</ref> Các nghệ sĩ đa lĩnh vực [[Jan Fabre]], [[Wim Delvoye]] và [[Luc Tuymans]] là các nhân vật nổi tiếng quốc tế khác trong lĩnh vực nghệ thuật đương đại.
Đóng góp của Bỉ cho kiến trúc tiếp tục trong thế kỷ XIX và XX, bao gồm các công trình của [[Victor Horta]] và [[Henry van de Velde]], họ là những người khởi xướng chính của phong cách [[Art Nouveau]].<ref>[http://www.senses-artnouveau.com/brussels.php Brussels, capital of Art Nouveau (page 1)] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20070509094014/http://www.senses-artnouveau.com/brussels.php |date=2007-05-09 }},{{Chú thích web|tiêu đề=ib. (page2)|năm=2007|nhà xuất bản=Senses Art Nouveau Shop, Brussels|url=http://www.senses-artnouveau.com/brussels.php?page=2|ngày truy cập=ngày 11 tháng 5 năm 2007|archive-date=ngày 4 tháng 3 năm 2007|archive-url=https://web.archive.org/web/20070304211919/http://www.senses-artnouveau.com/brussels.php?page=2|url-status=dead}} (for example)</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Major Town Houses of the Architect Victor Horta (Brussels)|work=[[UNESCO]]'s World Heritage List|nhà xuất bản=UNESCO|url=http://whc.unesco.org/en/list/1005|trích dẫn=The appearance of Art Nouveau in the closing years of the 19th century marked a decisive stage in the evolution of architecture, making possible subsequent developments, and the Town Houses of Victor Horta in Brussels bear exceptional witness to its radical new approach.|ngày truy cập=ngày 16 tháng 5 năm 2007}}</ref>
[[Tập tin:TV-uitzending Domino Jacques Brel tijdens de opname in Amsterdam, Marcanti, Bestanddeelnr 914-8399.jpg|thumb|left|[[Jacques Brel]], 1963|thế=|200x200px]]
Thanh nhạc thuộc trường phái Pháp-Vlaanderen phát triển tại phần phía nam của Các vùng đất thấp và là một đóng góp quan trọng cho văn hoá Phục hưng.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Western music, the Franco-Flemish school|trích dẫn=Most significant musically was the pervasive influence of musicians from the Low Countries, whose domination of the musical scene during the last half of the 15th century is reflected in the period designations the Netherlands school and the Franco-Flemish school.|work=[[Encyclopædia Britannica]]|năm=2007|url=http://www.britannica.com/eb/article-15698/Western-music|ngày truy cập=ngày 15 tháng 5 năm 2007}}</ref> Vào thế kỷ XIX và XX, xuất hiện các nghệ sĩ vĩ cầm lớn như [[Henri Vieuxtemps]], [[Eugène Ysaÿe]] và [[Arthur Grumiaux]], trong khi [[Adolphe Sax]] phát minh [[saxophone]] vào năm 1846. Nhà soạn nhạc [[César Franck]] sinh tại Liège vào năm 1822. Âm nhạc đại chúng đương đại tại Bỉ cũng có danh tiếng. Nhạc sĩ Jazz [[Toots Thielemans]] và ca sĩ [[Jacques Brel]] có được danh tiếng toàn cầu. Ngày nay, ca sĩ [[Stromae]] là một ngôi sao âm nhạc tại châu Âu và thế giới, có được thành công lớn. Trong thể loại nhạc rock/pop, Telex, Front 242, K's Choice, Hooverphonic, Zap Mama, Soulwax và dEUS cũng nổi tiếng. Trong sân khấu heavy metal, các ban nhạc như Machiavel, Channel Zero và Enthroned có người hâm mộ trên toàn cầu.<ref>Two comprehensive discussions of rock and pop music in Belgium since the 1950s:<br>{{Chú thích web|tiêu đề=The Timeline—A brief history of Belgian Pop Music |ngày=March 2007 |work=The Belgian Pop & Rock Archives |nhà xuất bản=Flanders Music Centre, Brussels |url=http://houbi.com/belpop/timeline.htm |ngày truy cập=ngày 7 tháng 6 năm 2007 }}<br>{{Chú thích web|tiêu đề=Belgian Culture—Rock |năm=2006 |nhà xuất bản=Vanberg & DeWulf Importing |url=http://www.belgianexperts.com/rock.php |ngày truy cập=ngày 11 tháng 5 năm 2007 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070607110011/http://www.belgianexperts.com/rock.php |ngày lưu trữ=ngày 7 tháng 6 năm 2007 |url-status=dead }}</ref>
Bỉ sản sinh một số tác giả nổi tiếng, như các nhà thơ [[Emile Verhaeren]], [[Robert Goffin]] và các nhà tiểu thuyết [[Hendrik Conscience]], [[Georges Simenon]], [[Suzanne Lilar]], [[Hugo Claus]] và [[Amélie Nothomb]]. Nhà thơ và biên kịch [[Maurice Maeterlinck]] thắng giải Nobel văn học vào năm 1911. ''[[Những cuộc phiêu lưu của Tintin]]'' của [[Hergé]] là tác phẩm nổi tiếng nhất của truyện tranh Pháp-Bỉ, song còn có nhiều tác giả lớn khác như [[Peyo]] (''[[Xì Trum]]''), [[André Franquin]] (''Gaston Lagaffe''), Dupa (''Cubitus''), [[Morris (họa sĩ truyện tranh)|Morris]] (''[[Lucky Luke]]''), Greg (''Achille Talon''), Lambil (''Les Tuniques Bleues''), Edgar P. Jacobs và Willy Vandersteen, khiến ngành truyện tranh của Bỉ giành được tiếng tăm trên thế giới.<ref>{{chú thích sách|title=Comics in French: the European bande dessinée in context|author=Grove, Laurence|publisher=Berghahn Books|year=2010|isbn=1-84545-588-6}}</ref>
Điện ảnh Bỉ đã đưa một số tiểu thuyết Vlaanderen lên màn ảnh rộng. Các đạo diễn Bỉ phải kể đến là [[André Delvaux]], [[Stijn Coninx]], [[Luc Dardenne|Luc]] và [[Jean-Pierre Dardenne]]; các diễn viên nổi tiếng là [[Jean-Claude Van Damme]], [[Jan Decleir]] và [[Marie Gillain]]; các bộ phim thành công gồm có ''Rundskop, ''C'est arrivé près de chez vous'' và ''De Zaak Alzheimer''.<ref>A review of the Belgian cinema till about 2000 can be found at{{Chú thích web|tiêu đề=History of Cinema in Belgium|work=Film Birth|năm=2007|url=http://www.filmbirth.com/belgium.html|ngày truy cập=ngày 26 tháng 6 năm 2011|archive-date=2011-09-14|archive-url=https://web.archive.org/web/20110914135756/http://www.filmbirth.com/belgium.html|url-status=dead}}</ref> Trong thập niên 1980, Viện hàn lâm Mỹ thuật Hoàng gia tại Antwerpen sản sinh những người tiên phong quan trọng về thời trang, gọi là Antwerpen Sáu.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Fashion and the 'Antwerp Six'|năm=2004|url=http://fashionworlds.blogspot.com/2000_01_16_fashionworlds_archive.html|nhà xuất bản=Fashion Worlds|place=Dorset, UK|ngày truy cập=ngày 13 tháng 5 năm 2007|archive-date=2007-04-19|archive-url=https://web.archive.org/web/20070419042245/http://fashionworlds.blogspot.com/2000_01_16_fashionworlds_archive.html|url-status=dead}}</ref>
===Dân gian===
[[Tập tin:Binche - Les Gilles.jpg|thumb|Gilles tại [[Binche]] mang mặt nạ sáp theo phong tục|thế=|200x200px]]
Văn hoá dân gian có vị thế lớn trong đời sống văn hoá Bỉ, quốc gia này có một số lượng tương đối cao các đám rước, đoàn cưỡi ngựa, cuộc diễu hành, 'ommegangs' và 'ducasses', 'kermesse' và các lễ hội địa phương khác, chúng gần như luôn có nguồn gốc tôn giáo hoặc thần thoại. Carnival Binche cùng với các [[Gilles]] nổi tiếng của lễ hội này; và những người khổng lồ và rồng trong đám rước tại [[Ath]], Bruxelles, [[Dendermonde]], [[Mechelen]] và [[Mons]] được [[UNESCO]] công nhận là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Processional Giants and Dragons in Belgium and France|nhà xuất bản=[[UNESCO]]|url=http://www.unesco.org/culture/intangible-heritage/05eur_uk.htm|ngày truy cập=ngày 15 tháng 5 năm 2007}}</ref>
Các điển hành khác là Carnival Aalst; các đám rước vẫn còn mang tính sùng đạo rất cao mang tên Thánh Huyết (Heilig Bloedprocessie) tại [[Brugge]], Vương cung thánh đường Virga Jesse tại [[Hasselt]] và Vương cung thánh đường Đức mẹ Hanswijk tại Mechelen; lễ hội ngày 15 tháng 8 tại [[Liège]]; và lễ hội Walloon tại [[Namur]]. Có nguồn gốc từ năm 1832 và được phục dựng trong thập niên 1960, [[Gentse Feesten]] đã trở thành một truyền thống hiện đại. Một ngày lễ phi chính thức quan trọng là ngày Thánh Nicholas, đây là một ngày hội cho trẻ em, còn tại Liège là cho sinh viên.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Folklore estudiantin liégeois|nhà xuất bản=[[University of Liège]]|url=http://www.ulg.ac.be/cms/c_36320/photographies-folklore-etudiant?hlText=Saint+Nicolas&hlMode=any&hlText=Saint+Nicolas&hlMode=any&hlText=Saint+Nicolas&hlMode=any|ngôn ngữ=fr|ngày truy cập=ngày 17 tháng 6 năm 2008}}</ref>
===Ẩm thực===
[[Tập tin:Moules Frites.jpg|thumb|''[[Moules-frites]]'' là món ăn quốc gia của Bỉ|thế=|200x200px]]
Nhiều nhà hàng Bỉ được xếp hạng cao được xuất hiện trong các sách chỉ dẫn nhà hàng có ảnh hưởng nhất như sách [[Michelin Guide]].<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=The Michelin stars 2007 in Belgium |nhà xuất bản=Resto.be TM Dreaminvest |năm=2007 |url=http://www2.resto.be/bib_new.cfm?langue=uk |ngày truy cập=ngày 15 tháng 5 năm 2007 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20081009160257/http://www2.resto.be/bib_new.cfm?langue=uk |ngày lưu trữ=ngày 9 tháng 10 năm 2008 |url-status=dead }}</ref> Bỉ nổi tiếng với [[bia]], [[sô-cô-la]], [[waffel]] và [[khoai tây chiên]] với [[mayonnaise]]. Khoai tây chiên có nguồn gốc tại Bỉ, song không rõ địa điểm chính xác. Các món ăn quốc gia là "thịt nướng và khoai tây chiên với salad", và "trai với khoai tây chiên".<ref>{{Chú thích web|url=http://www.epicurious.com/recipes/recipe_views/views/40035|ngày truy cập=ngày 12 tháng 8 năm 2007|tiêu đề=Steak-frites|nhà xuất bản=Epicurious|archive-date=2007-08-08|archive-url=https://web.archive.org/web/20070808152457/http://www.epicurious.com/recipes/recipe_views/views/40035|url-status=dead}} Republished from{{chú thích sách|title=Everybody Eats Well in Belgium Cookbook|url=https://archive.org/details/everybodyeatswel0000vanw|date=October 1996|author1=Van Waerebeek, Ruth|author2=Robbins, Maria|publisher=Workman Publishing|isbn=1-56305-411-6}}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Belgium|nhà xuất bản=Global Gourmet|url=http://www.globalgourmet.com/destinations/belgium/backgrounder.html|ngày truy cập=ngày 12 tháng 8 năm 2007|archive-date=2007-09-28|archive-url=https://web.archive.org/web/20070928001505/http://www.globalgourmet.com/destinations/belgium/backgrounder.html|url-status=dead}} Republished from{{chú thích sách|title=Everybody Eats Well in Belgium Cookbook|url=https://archive.org/details/everybodyeatswel0000vanw|date=October 1996|author1=Van Waerebeek, Ruth|author2=Robbins, Maria|publisher=Workman Publishing|isbn=1-56305-411-6}}</ref><ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Mussels |năm=2005 |work=Visit Belgium |nhà xuất bản=Official Site of the Belgian Tourist Office in the Americas |url=http://www.visitbelgium.com/mussels.htm |ngày truy cập=ngày 12 tháng 8 năm 2007 |url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20070210101230/http://www.visitbelgium.com/mussels.htm |ngày lưu trữ=ngày 10 tháng 2 năm 2007 |url-status=live }}</ref>
Các nhãn hiệu sô-cô-la và kẹo nhân quả của Bỉ như Côte d'Or, Neuhaus, Leonidas và Godiva có được danh tiếng, cũng như các nhà sản xuất độc lập như Burie và Del Rey tại Antwerpen và Mary's tại Bruxelles.<ref>{{chú thích sách|title=Belgium and Luxembourg|author1=Elliott, Mark|author2=Cole, Geert|publisher=Lonely Planet|year=2000|page=53|isbn=1-86450-245-2}}</ref> Bỉ sản xuất trên 1.100 loại bia khác nhau.<ref name="BierbijbelNieuwsblad">{{chú thích báo|url=http://www.nieuwsblad.be/article/detail.aspx?articleid=G2I3H7IVR|title=Nieuwe bierbijbel bundelt alle 1.132 Belgische bieren|first=Chris|last=Snick|date=ngày 18 tháng 10 năm 2011|language=nl|newspaper=Het Nieuwsblad|access-date=2017-11-08|archive-date=2012-06-05|archive-url=https://web.archive.org/web/20120605055509/http://www.nieuwsblad.be/article/detail.aspx?articleid=G2I3H7IVR|url-status=dead}}</ref><ref name="BierbijbelKW">{{chú thích báo|date=ngày 18 tháng 10 năm 2011|title=Nieuwe bierbijbel met 1.132 Belgische bieren voorgesteld in Brugge|language=nl|newspaper=Krant van West-Vlaanderen|url=https://kw.be/nieuws/nieuwe-bierbijbel-met-1-132-belgische-bieren-voorgesteld-in-brugge/|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20120531221549/http://kw.knack.be/west-vlaanderen/nieuws/algemeen/nieuwe-bierbijbel-met-1-132-belgische-bieren-voorgesteld-in-brugge/article-1195119387827.htm|archive-date=ngày 31 tháng 5 năm 2012|access-date=2021-11-30}}</ref> Bia Trappist (tu sự dòng Luyện tâm) của Tu viện Westvleteren nhiều lần được xếp hạng là bia tuyệt nhất thế giới.<ref>{{chú thích báo|last=Ames|first=Paul|title=Buying the World's Best Beer|url=http://www.globalpost.com/dispatch/benelux/090828/st-sixtus-westvleteren-beer|access-date =ngày 19 tháng 11 năm 2010|newspaper=Global Post|date=ngày 30 tháng 8 năm 2009}}</ref><ref>{{chú thích báo|last=Guthrie|first=Tyler|title=Day trip to the best beer in the world|url=http://articles.chicagotribune.com/2010-08-11/travel/sc-trav-0810-strip-belgian-bike-trip-20100810_1_westvleteren-beer-day-trip|access-date=ngày 19 tháng 11 năm 2010|newspaper=Chicago Tribune|date=ngày 11 tháng 8 năm 2010|archive-date=2010-12-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20101204040743/http://articles.chicagotribune.com/2010-08-11/travel/sc-trav-0810-strip-belgian-bike-trip-20100810_1_westvleteren-beer-day-trip|url-status=dead}}</ref><ref>{{chú thích báo|title=Monks run short of 'world's best' beer |url=http://www.abc.net.au/news/newsitems/200508/s1435915.htm |access-date =ngày 19 tháng 11 năm 2010 |publisher=ABC |date=ngày 12 tháng 8 năm 2005 |agency=Reuters |archiveurl=https://web.archive.org/web/20090310004301/http://www.abc.net.au/news/newsitems/200508/s1435915.htm |archive-date=ngày 10 tháng 3 năm 2009 |url-status=live |df= }}</ref> Hãng rượu bia lớn nhất thế giới xét về dung tích là [[Anheuser-Busch InBev]], có trụ sở tại [[Leuven]].<ref>{{cite press release|title=InBev dividend 2006: 0.72 euro per share—infobox: About InBev|quote=InBev is a publicly traded company ([[Euronext]]: INB) based in [[Leuven]], Belgium. The company's origins date back to 1366, and today it is the leading global brewer by volume.|date=ngày 24 tháng 4 năm 2007|publisher=InBev|url=http://www.inbev.com/press_releases/20070424.1.e.cfm|access-date =ngày 31 tháng 5 năm 2007}}</ref>
===Thể thao===
[[Tập tin:Eddy Merckx Molteni 1973.jpg|thumb|left|317x317px|[[Eddy Merckx]] được xem là một trong các tay đua xe đạp vĩ đại nhất mọi thời đại|thế=]]
Kể từ thập niên 1970, các câu lạc bộ và liên đoàn thể thao tại Bỉ được tổ chức riêng biệt trong mỗi cộng đồng ngôn ngữ.<ref>{{chú thích sách|title=Organised sport in transition: development, structures and trends of sports clubs in Belgium|author1=Task, Marijke|author2=Renson, Roland |author3=van Reusel, Bart |work=Sport clubs in various European countries|editor=Klaus Heinemann|publisher=Schattauer Verlag|year=1999|isbn=3-7945-2038-6|pages=183–229}}</ref> [[Bóng đá]] là môn thể thao phổ biến nhất trên toàn nước Bỉ; các môn thể thao rất phổ biến khác là đua xe đạp, quần vợt, bơi, judo<ref>{{chú thích sách|title=Belgium|url=https://archive.org/details/belgium00wing|author=Wingfield, George |publisher=Infobase Publishing|editor=Charles F. Gritzner|year=2008|isbn=978-0-7910-9670-3|pages=[https://archive.org/details/belgium00wing/page/94 94]–95}}</ref> và bóng rổ.<ref>{{chú thích báo
|title=Belgium's 10 most popular sports|author=Hendricks, Kelly|work=The Bulletin|date=ngày 20 tháng 6 năm 2014|url=http://www.xpats.com/belgiums-10-most-popular-sports|access-date =ngày 26 tháng 10 năm 2014}}</ref>
Bỉ có số lượng tay đua vô địch [[Tour de France]] chỉ sau Pháp. Họ cũng có nhiều chiến thắng nhất tại giải vô địch thế giới đường trường UCI, [[Philippe Gilbert]] là nhà vô địch thế giới vào năm 2012. Một tay đua Bỉ khác đang nổi tiếng là [[Tom Boonen]]. Với năm chiến thắng tại [[Tour de France]] và nhiều thành tích đua xe đạp khác, tay đua người Bỉ [[Eddy Merckx]] được xem là một trong các tay đua vĩ đại nhất mọi thời đại.<ref>{{chú thích báo|title=Great, but there are greater|author=Majendie, Matt|publisher=BBC Sport|date=ngày 18 tháng 4 năm 2005|quote=[the Author's] top five [cyclists] of all time: 1 Eddy Merckx, 2 [[Bernard Hinault]], 3 [[Lance Armstrong]], 4 [[Miguel Indurain]], 5 [[Jacques Anquetil]]|url=http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/other_sports/cycling/3925265.stm|access-date =ngày 20 tháng 9 năm 2007}}</ref> Cựu thủ môn người Bỉ [[Jean-Marie Pfaff]] được nhìn nhận là một trong những thủ môn vĩ đại nhất trong lịch sử bóng đá.<ref>"[http://www.goalkeepersaredifferent.com/keeper/goalkeeping_greats.htm Goalkeeping Greats]" Goalkeepersaredifferent.com. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2008.</ref>
Bỉ từng đăng cai [[Giải vô địch bóng đá châu Âu 1972]], và đồng đăng cai [[Giải vô địch bóng đá châu Âu 2000]] cùng Hà Lan. [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ]] từng đứng thứ nhất trong [[Bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA|bảng xếp hạng của FIFA]] vào tháng 11 năm 2015<ref>{{chú thích báo|date=ngày 5 tháng 11 năm 2015|title=Belgium go top, Chile and Austria soar|publisher=FIFA|url=http://www.fifa.com/fifa-world-ranking/news/y=2015/m=11/news=belgium-go-top-chile-and-austria-soar-2730157.html|url-status=dead|archive-url=https://web.archive.org/web/20160626094459/http://www.fifa.com/fifa-world-ranking/news/y%3D2015/m%3D11/news%3Dbelgium-go-top-chile-and-austria-soar-2730157.html|archive-date=2016-06-26|access-date=ngày 30 tháng 3 năm 2016}}</ref> và tháng 9 năm 2018.
[[Kim Clijsters]] và [[Justine Henin]] đều từng nhận được danh hiệu vận động viên của năm do [[Hiệp hội quần vợt nữ]] trao tặng, họ là những nữ vận động viên quần vợt hạng nhất. Trường đua ô tô Spa-Francorchamps tổ chức Grand Prix Bỉ thuộc giải vô địch công thức một thế giới. Tay đua Bỉ [[Jacky Ickx]] từng chiến thắng tám cuộc đua Grands Prix và sáu cuộc đua [[24 Hours of Le Mans]] và hai lần là á quân tại giải vô địch công thức một thế giới. Bỉ cũng có nhiều tiếng tăm về đua mô tô địa hình với tay đua Stefan Everts.<ref>{{chú thích sách|title=Motocross History: From Local Scrambling to World Championship MX to Freestyle|url=https://archive.org/details/motocrosshistory0000wood|author=Woods, Bob|publisher=Crabtree Publishing Company| year=2008|isbn=978-0-7787-3987-6|page=[https://archive.org/details/motocrosshistory0000wood/page/19 19]}}</ref> Các sự kiện thể thao được tổ chức thường niên tại Bỉ gồm giải điền kinh Memorial Van Damme, giải Grand Prix Bỉ, một số cuộc đua xe đạp cổ điển như Ronde van Vlaanderen và Liège–Bastogne–Liège. [[Thế vận hội Mùa hè 1920]] được tổ chức tại Antwerpen.
==Ghi chú==
{{Ghi chú}}
== Tham khảo ==
=== Cước chú ===
<!-- Do not add a scrollbox to these references. It breaks formatting, inhibits printing and prevents users of screen readers from "viewing" an article's references.-->
{{clear}}
{{Tham khảo|30em}}
=== Nguồn chung trên mạng ===
{{refbegin}}
* {{cite encyclopedia|title=Belgium|encyclopedia=[[Encyclopædia Britannica]]|publisher=Encyclopædia Britannica, Chicago, Illinois, USA|url=http://www.britannica.com/EBchecked/topic/59268/Belgium|access-date=7 June 2007}}
* {{Chú thích web|title=Boordtabel |year=2007 |language=nl |publisher=Centre for Information, Documentation and Research on Brussels (BRIO) |url=http://www.briobrussel.be/ned/webpage4.asp?WebpageId=39 |access-date=2 June 2007 |archive-url=https://web.archive.org/web/20070529224015/http://www.briobrussel.be/ned/webpage4.asp?WebpageId=39 |archive-date=29 May 2007 |url-status=dead }} (mentioning other original sources)
* [https://www.cia.gov/the-world-factbook/countries/belgium/ Belgium]. ''[[The World Factbook]]''. [[Central Intelligence Agency]]. Retrieved on 7 June 2007.
* {{Chú thích web|title=The Constitution |date=21 January 1997 |publisher=Federal Parliament Belgium |url=http://www.fed-parl.be/constitution_uk.html |archive-url=https://web.archive.org/web/20070607094156/http://www.fed-parl.be/constitution_uk.html |archive-date=7 June 2007 |access-date=7 June 2007 |url-status=dead }}
* {{Chú thích web |title=Country Portal – Europe—Belgium |publisher=Belgian Federal Government Service (ministry) of Economy—Directorate-general Statistics Belgium |url=http://statbel.fgov.be/port/cou_eu_en.asp#BE |archive-url=https://web.archive.org/web/20070701233100/http://www.statbel.fgov.be/port/cou_eu_en.asp#BE |archive-date=1 July 2007 |access-date=7 June 2007 |url-status=dead }}
* {{Chú thích web |title=Die Stellung und Rolle der deutschsprachigen Minderheit in Ostbelgien innerhalb des belgischen Nationalstaats |author=Fischer, Kathrin |work=Kleiner Geländekurs in die EUREGIO Maas-Rhein |language=de |date=21 July 1999 |publisher=Geographical Institute of the [[University of Göttingen]] (Department Culture and Social Geography), Göttingen, Germany |url=http://www.geogr.uni-goettingen.de/kus/personen/euregio/emr99-21.htm |archive-url=https://web.archive.org/web/20070720161347/http://www.geogr.uni-goettingen.de/kus/personen/euregio/emr99-21.htm |archive-date=20 July 2007 |access-date=13 June 2007 |url-status=dead }}
* {{Chú thích web|title=History of Belgium |date=30 May 2007 |work=World History at KMLA |publisher=Korean Minjok Leadership Academy (KMLA) |url=http://www.zum.de/whkmla/region/lowcountries/xbelgium.html |access-date=2 June 2007 |archive-url=https://web.archive.org/web/20070706215841/http://www.zum.de/whkmla/region/lowcountries/xbelgium.html |archive-date=6 July 2007 |url-status=live}}
* {{Chú thích sách|title=Brusselse Thema's in Brussel—Taalverhoudingen, taalverschuivingen en taalindentiteit in een meertalige stad – summary ''The Use of Languages in Brussels'' |pages=227–250 |language=nl |date=1 June 2001 |author=Janssens, Rudi |publisher=Vrije Universiteit Brussel Press, Brussels |isbn=978-90-5487-293-1 |url=http://www.briobrussel.be/assets/bt8download.pdf |access-date=2 June 2007 |url-status=live |archive-url=https://web.archive.org/web/20070605012657/http://www.briobrussel.be/assets/bt8download.pdf |archive-date=5 June 2007 }}
* {{Chú thích web|title=Belgique • België • Belgien |work=L'aménagement linguistique dans le monde |language=fr |year=2006 |author=Leclerc, Jacques |publisher=Host: Trésor de la langue française au Québec (TLFQ), [[Université Laval]], Quebec |url=http://www.tlfq.ulaval.ca/axl/europe/belgiqueacc.htm |access-date=2 June 2007 |url-status=dead |archive-url=https://web.archive.org/web/20070608172452/http://www.tlfq.ulaval.ca/axl/europe/belgiqueacc.htm |archive-date=8 June 2007}}
* {{chú thích báo
|title=Bye bye Belgium?
|date=20 December 2006 |author=Mnookin, Robert
|author2=Verbeke, Alain
|publisher=International Herald Tribune, republished by [[Harvard Law School]]
|url=http://www.law.harvard.edu/news/2006/12/20_mnookin.php
|access-date=1 June 2007 |archive-url=https://web.archive.org/web/20070321151959/http://www.law.harvard.edu/news/2006/12/20_mnookin.php
|archive-date=21 March 2007 |url-status=live
}}—Reflections on nations and nation-state developments regarding Belgium
{{refend}}
=== Thư mục ===
{{refbegin}}
* {{Chú thích sách|title=A History of the Low Countries|author=Arblaster, Paul|edition=Hardcover 312pp|date=23 December 2005|series=Palgrave Essential Histories|publisher=Palgrave Macmillan, New York|isbn=978-1-4039-4827-4}}
* {{Chú thích sách|title=History of the Low Countries|editor=Blom, J. C. H.|editor2=Lamberts, Emiel |translator=Kennedy, James C.|edition=Hardcover 503pp|date=May 1999|publisher=Berghahn Books, Oxford/New York|isbn=978-1-57181-084-7}}
* {{Chú thích sách|title=A History of Belgium from the Roman Invasion to the Present Day|url=https://archive.org/details/cu31924027038417|author=Cammaerts, Émile L.<!--NO WIKILINK to poor stub-->|orig-year=1913|edition=357pp|year=1921|publisher=D. Appleton and Co, New York|oclc=1525559|asin=B00085PM0A}}<br /><!--
-->[Also editions [1913], London, {{OCLC|29072911}}; (1921) D. Unwin and Co., New York {{OCLC|9625246}} also published (1921) as ''Belgium from the Roman invasion to the present day'', The Story of the nations, 67, T. Fisher Unwin, London, {{OCLC|2986704}}]
* {{Chú thích sách|title=The History of Belgium: Part 1. Cæsar to Waterloo|author1=de Kavanagh Boulger|author2=Demetrius C. |edition=Paperback 493pp|orig-year=1902|date=28 June 2001|series=Elibron Classics|publisher=Adamant Media ([[Delaware corporation]]), Boston, Massachusetts, United States|isbn=978-1-4021-6714-0}} Facsimile reprint of a 1902 edition by the author, London<br /><!--
-->{{Chú thích sách|title=Ib. Part 2. 1815–1865. Waterloo to the Death of Leopold I|author=Ib.|edition=Paperback 462pp|orig-year=1909|date=June 2001|series=Ib.|publisher=Ib
|isbn=978-1-4021-6713-3}} Facsimile reprint of a 1909 edition by the author, London
* {{Chú thích sách|ref=Fitzmaurice|title=The Politics of Belgium: A Unique Federalism|author=Fitzmaurice, John|author-link=John Fitzmaurice|edition=Paperback 284pp|year=1996|series=Nations of the modern world|publisher=Westview Press|place=Boulder, Colorado, USA|isbn=978-0-8133-2386-2|oclc=30112536}}
* {{Chú thích sách|title=The Low Countries: History of the Northern and Southern Netherlands|author=Kossmann-Putto, Johanna A. |author2=Kossmann Ernst H. |editor=Deleu Jozef H. M. |translator=Fenoulhet Jane|others=''De Lage Landen: geschiedenis van de Noordelijke en Zuidelijke Nederlanden''. Vlaams-Nederlandse Stichting [[Ons Erfdeel]], [[Rekkem]]|edition=3rd Rev. edition Paperback 64pp
|orig-year=1987<!--verified, though @libris (alibris.com) mentions 1987-->|date=January 1993|publisher=Flemish-Netherlands Foundation Stichting Ons Erfdeel, Rekkem, Belgium|isbn=978-90-70831-20-2|author2-link=Ernst Kossmann }}
{{refend}}
== Liên kết ngoài ==
{{Sisterlinks|wikt=Bỉ|b=en:Belgium|q=en:Belgium|s=en:Constitution of Belgium|commons=category:Belgium|n=en:Portal:Belgium|v=en:Belgium}}
{{wikivoyage|Bỉ}}
; Chính phủ
* [http://www.monarchie.be/ Trang chính thức của quân chủ Bỉ]
* [http://www.Belgium.be/ Trang chính thức của chính phủ liên bang Bỉ]
* [https://www.cia.gov/library/publications/world-leaders-1/world-leaders-b/belgium.html Thành viên nội các] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20070612233630/https://www.cia.gov/library/publications/world-leaders-1/world-leaders-b/belgium.html |date=2007-06-12 }}
; Thông tin chung
* {{CIA World Factbook_link|be|Bỉ}}
* [http://www.britannica.com/EBchecked/topic/59268/Belgium Bỉ] trên ''[[Encyclopædia Britannica]]''
* [http://ucblibraries.colorado.edu/govpubs/for/belgium.htm Bỉ] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080607084449/http://ucblibraries.colorado.edu/govpubs/for/belgium.htm |date=2008-06-07 }} tại ''UCB Libraries GovPubs''
* [http://www.state.gov/p/eur/ci/be/ Bỉ] tại [[Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ]]
* {{dmoz|Regional/Europe/Belgium}}
* [http://www.loc.gov/rr/international/european/belgium/be.html Portals to the World] từ [[Thư viện Quốc hội Mỹ]]
* [http://www.fao.org/countryprofiles/index.asp?lang=en&iso3=BEL&subj=1&paia= Hồ sơ quốc gia FAO: Bỉ] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20120126041548/http://www.fao.org/countryprofiles/index.asp?lang=en&iso3=BEL&subj=1&paia= |date=2012-01-26 }}
{{wikiatlas|Bỉ}}
; Du lịch
* [http://www.visitbelgium.com/ Official Site of the Belgian Tourist Office in the Americas and GlobeScope],<br />– its [http://www.visitbelgium.com/links.htm#toursitofficeinbelgium links to sites of Belgian Tourist Offices in Belgium]<br />– its [http://www.visitbelgium.com/links.htm#globaloffices links to sites of Belgian Tourist Offices worldwide]
; Khác
* [[s:en:Catholic Encyclopedia (1913)/Belgium|Belgium]], entry on the [[Catholic Encyclopedia|Catholic Encyclopedia 1913]], republished on [[Wikisource]]
* [http://publicdiplomacy.wikia.com/wiki/Belgium Belgium] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20100304012324/http://publicdiplomacy.wikia.com/wiki/Belgium |date=2010-03-04 }}, entry on the [[Public Diplomacy]] wiki monitored by the [[USC Center on Public Diplomacy]]
* [http://eudocs.lib.byu.edu/index.php/History_of_Belgium:_Primary_Documents History of Belgium: Primary Documents] ''EuroDocs: Online Sources for European History''
{{Navboxes
|list1=
{{Châu Âu}}
{{Navboxes
|title=Thành viên tổ chức quốc tế
|list1=
{{Liên minh châu Âu}}
{{Thành viên Liên minh châu Âu}}
{{Ủy hội châu Âu}}
{{Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)}}
{{OSCE}}
{{Liên minh Địa Trung Hải}}
{{Liên minh tiếng Hà Lan}}
{{La Francophonie|state=collapsed}}
}}
{{Monarchies|state=collapsed}}
}}
[[Thể loại:Bỉ| ]]
[[Thể loại:Benelux]]
[[Thể loại:Quân chủ liên bang]]
[[Thể loại:Quốc gia thành viên Cộng đồng Pháp ngữ]]
[[Thể loại:Quốc gia thành viên NATO]]
[[Thể loại:Quốc gia thành viên Ủy hội châu Âu]]
[[Thể loại:Quốc gia và vùng lãnh thổ nói tiếng Pháp]]
[[Thể loại:Quốc gia và vùng lãnh thổ nói tiếng Đức]]
[[Thể loại:Quốc gia và vùng lãnh thổ nói tiếng Hà Lan]]
[[Thể loại:Quốc gia châu Âu]]
[[Thể loại:Quốc gia thành viên Liên minh châu Âu]]
[[Thể loại:Quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc]]
[[Thể loại:Quốc gia thành viên Liên minh tiếng Hà Lan]]
[[Thể loại:Quốc gia Tây Âu]]
[[Thể loại:Quốc gia thành viên Liên minh Địa Trung Hải]] | 176760 |
1352 | Thành viên:Davidcannon | 2 | null | null | 29931 | null | 2004-09-28T02:26:19 | false | null | wikitext | text/x-wiki | nuax8azzvisilvck0bmtprkfstlt3y4 | {
"username": "Davidcannon",
"id": "117",
"ip": null
} | {{NUMBEROFARTICLES}} | 20 |
1353 | Toán học | 0 | null | null | 74140076 | 74140072 | 2025-09-20T01:36:42 | false | null | wikitext | text/x-wiki | gu13z0fmixqelq1z4bhx9wt5e39s6m5 | {
"username": "~2025-65990-4",
"id": "1010876",
"ip": null
} | {{Thanh bên chủ đề Toán học}}[[Tập tin:Euclid.jpg|nhỏ|phải|250px|[[Euclid]], nhà toán học Hy Lạp, thế kỷ thứ 3 trước [[Tây lịch]], theo hình dung của họa sĩ [[Raphael]], trong một chi tiết của bức họa "Trường Athens".<ref>Người đời sau không biết Euclid trông như thế nào, do đó miêu tả về Euclid trong các tác phẩm nghệ thuật tùy thuộc vào trí tượng tượng của người nghệ sĩ (''xem [[Euclid]]'').</ref>]]
'''Toán học''' hay gọi tắt là '''toán''' ([[tiếng Anh]]: ''Mathematics'' hoặc viết tắt là ''Math'') là một ngành nghiên cứu trừu tượng về những chủ đề như lượng (các [[số|con số]]),<ref name="OED">{{Chú thích web |url=https://www.oed.com/view/Entry/114974 |tiêu đề=mathematics, ''n.'' |nhà xuất bản=Oxford University Press |work=Oxford English Dictionary |năm=2012 |ngày truy cập=ngày 16 tháng 6 năm 2012 |trích dẫn=The science of space, number, quantity, and arrangement, whose methods involve logical reasoning and usually the use of symbolic notation, and which includes geometry, arithmetic, algebra, and analysis ([Toán học là] ngành khoa học nghiên cứu về không gian, các con số, số lượng, và sự sắp xếp, bao gồm hình học, số học, đại số, và giải tích; các phương pháp của toán học liên quan đến suy luận logic và thường sử dụng các ký hiệu tượng trưng).}}</ref> [[Cấu trúc (toán học)|cấu trúc]] ([[Tập hợp (toán học)|tập hợp]], [[tô pô]]),<ref name="Kneebone">{{chú thích sách |title=Mathematical Logic and the Foundations of Mathematics: An Introductory Survey |publisher=Dover |author=Kneebone, G.T. |year=1963 |pages=[http://books.google.com/books?id=tCXxf4vbXCcC&pg=PA4 4] |isbn=0-486-41712-3 |quote=Mathematics... is simply the study of abstract structures, or formal patterns of connectedness (Toán học... đơn giản là ngành nghiên cứu về những cấu trúc trừu tượng, hay những mô thức hình thức của sự nối kết).}}</ref> [[không gian]] ([[hình học]], [[Hệ tọa độ Descartes|hệ toạ độ]], [[vector]]), khả năng ([[xác suất]], [[biến ngẫu nhiên]]) và [[vi tích phân|sự thay đổi]] ([[hàm số]], [[Giới hạn (toán học)|giới hạn]], [[đạo hàm]], [[vi phân]], [[tích phân]]).<ref name="LaTorre">{{chú thích sách |title=Calculus Concepts: An Informal Approach to the Mathematics of Change |publisher=Cengage Learning |author=LaTorre, Donald R., John W. Kenelly, Iris B. Reed, Laurel R. Carpenter, and Cynthia R Harris |year=2011 |pages=[http://books.google.com/books?id=1Ebu2Tij4QsC&pg=PA2 2] |isbn=1-4390-4957-2 |quote=Calculus is the study of change—how things change, and how quickly they change (Vi tích phân là lĩnh vực ngiên cứu về sự thay đổi-mọi thứ thay đổi và thay đổi nhanh chậm như thế nào).}}</ref><ref name="Ramana">{{chú thích sách |title=Applied Mathematics |publisher=Tata McGraw–Hill Education |author=Ramana |year=2007 |page=[http://books.google.com/books?id=XCRC6BeKhIIC&pg=SA2-PA10 2.10] |isbn=0-07-066753-5 |quote=The mathematical study of change, motion, growth or decay is calculus (Vi tích phân là lĩnh vực toán học nghiên cứu về sự thay đổi, chuyển động, phát triển, hay suy tàn).}}</ref><ref name="Ziegler">{{chú thích sách |title=An Invitation to Mathematics: From Competitions to Research |publisher=Springer |author=Ziegler, Günter M. |authorlink=Günter M. Ziegler |year=2011 |pages=[http://books.google.com/books?id=9TATfteVeVYC&pg=PR7 7] |isbn=3-642-19532-6 |chapter=What Is Mathematics?}}</ref> Các [[nhà toán học]] và [[Nhà triết học|triết học]] có nhiều quan điểm khác nhau về [[định nghĩa]] và phạm vi của toán học.<ref name="Mura">{{chú thích tạp chí |title=Images of Mathematics Held by University Teachers of Mathematical Sciences |author=Mura, Robert |journal=Educational Studies in Mathematics |date=Dec 1993 |volume=25 |issue=4 |pages=[http://www.jstor.org/stable/3482762?seq=1#page_scan_tab_contents 375–385] }}</ref><ref name="Runge">{{chú thích sách |title=Iris Runge: A Life at the Crossroads of Mathematics, Science, and Industry |publisher=Springer |author=Tobies, Renate and Helmut Neunzert |year=2012 |pages=[http://books.google.com/books?id=EDm0eQqFUQ4C&pg=PA9 9] |isbn=3-0348-0229-3 |quote=It is first necessary to ask what is meant by ''mathematics'' in general. Illustrious scholars have debated this matter until they were blue in the face, and yet no consensus has been reached about whether mathematics is a natural science, a branch of the humanities, or an art form (Trước hết cần hỏi "toán học" nói chung có nghĩa là gì. Những học giả có tiếng đã tranh luận gay gắt về vấn đề này, vậy mà chưa ai đồng ý được với nhau chuyện toán học có phải là một ngành khoa học tự nhiên, một nhánh của các ngành nhân văn, hay một dạng nghệ thuật).}}</ref>
Các [[nhà toán học]] tìm kiếm các [[mẫu (dạng thức)|mô thức]]<ref name="future">Steen, L.A. (ngày 29 tháng 4 năm 1988). ''The Science of Patterns'' [[Science (journal)|Science]], 240: 611–616. And summarized at [http://www.ascd.org/publications/curriculum-handbook/409/chapters/The-Future-of-Mathematics-Education.aspx Association for Supervision and Curriculum Development] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20101028101034/http://www.ascd.org/publications/curriculum-handbook/409/chapters/The-Future-of-Mathematics-Education.aspx |date = ngày 28 tháng 10 năm 2010}}, www.ascd.org.</ref><ref name="devlin">Devlin, Keith, ''Mathematics: The Science of Patterns: The Search for Order in Life, Mind and the Universe'' (Scientific American Paperback Library) 1996, ISBN 978-0-7167-5047-5</ref> và sử dụng chúng để tạo ra những [[giả thuyết]] mới. Họ lý giải tính đúng đắn hay sai lầm của các [[giả thuyết]] bằng các [[chứng minh toán học]]. Khi những cấu trúc toán học là mô hình tốt cho hiện thực, lúc đó suy luận toán học có thể cung cấp sự hiểu biết sâu sắc hay những tiên đoán về [[tự nhiên]]. Thông qua việc sử dụng những phương pháp trừu tượng và [[lôgic]], toán học đã phát triển từ việc [[đếm]], [[tính toán]], [[đo lường]] đến việc nghiên cứu có hệ thống những [[hình dạng]] và [[chuyển động]] của các [[đối tượng vật lý]]. Con người đã ứng dụng toán học trong đời sống từ xa xưa. Việc tìm lời giải cho những bài toán có thể mất hàng năm, hay thậm chí hàng thế kỷ.<ref>Kneebone, G.T. (1963). ''Mathematical Logic and the Foundations of Mathematics: An Introductory Survey''. Dover. pp. [https://books.google.com/books?id=tCXxf4vbXCcC&pg=PA4 4]. [[International Standard Book Number|ISBN]] [[Đặc biệt:BookSources/0-486-41712-3|0-486-41712-3]]. <q>Mathematics... is simply the study of abstract structures, or formal patterns of connectedness.</q></ref>
Những [[logic|lập luận chặt chẽ]] xuất hiện trước tiên trong nền toán học [[Hy Lạp]] cổ đại, đáng chú ý nhất là trong tác phẩm ''[[Cơ sở (Euclid)|Cơ sở]]'' của [[Euclid]]. Kể từ những công trình tiên phong của [[Giuseppe Peano]] ([[1858]]–[[1932]]), [[David Hilbert]] ([[1862]]–[[1943]]), và của những [[nhà toán học]] khác trong [[thế kỷ 19]] về các hệ thống tiên đề, nghiên cứu toán học trở thành việc thiết lập [[chân lý]] thông qua suy luận logic chặt chẽ từ những [[tiên đề]] và [[định nghĩa]] thích hợp. Toán học phát triển tương đối chậm cho tới thời [[Phục hưng]], khi sự tương tác giữa những phát minh toán học với những phát kiến khoa học mới đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng những phát minh toán học vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.<ref>Eves 1990</ref>
Toán học được sử dụng trên khắp thế giới như một công cụ thiết yếu trong nhiều lĩnh vực, bao gồm [[khoa học]], [[kỹ thuật]], [[y học]], và [[tài chính]]. [[Toán học ứng dụng]], một nhánh toán học liên quan đến việc ứng dụng kiến thức toán học vào những lĩnh vực khác, thúc đẩy và sử dụng những phát minh toán học mới, từ đó đã dẫn đến việc phát triển nên những ngành toán hoàn toàn mới, chẳng hạn như [[thống kê]] và [[lý thuyết trò chơi]]. Các nhà toán học cũng dành thời gian cho [[toán học thuần túy]], tức là đào rất sâu vào các lý thuyết toán học. Không có biên giới rõ ràng giữa toán học thuần túy và toán học ứng dụng, và những ứng dụng thực tiễn thường được khám phá từ những gì ban đầu được xem là [[toán học thuần túy]].<ref>Ivars Peterson, ''The Mathematical Tourist'', Freeman, 1988, ISBN 0-7167-1953-3. p.4 "A few complain that the computer program can't be verified properly" (Một số người phàn nàn là các chương trình máy tính không thể được xác minh một cách rõ ràng) - khi nhắc đến chứng minh Haken–Apple của Định lý bốn màu.</ref>
== Lịch sử ==
[[Tập tin:Kapitolinischer Pythagoras adjusted.jpg|nhỏ|phải|180px|Nhà toán học Hy Lạp [[Pythagoras]] (khoảng 570–495 [[TCN]]), được coi là đã phát minh ra [[định lý Pythagore]].]]
{{chính|Lịch sử toán học}}
[[Tập tin:Persian Khwarazmi.jpg|nhỏ|229x229px|Nhà toán học Ba Tư [[Muhammad ibn Mūsā al-Khwārizmī|Al-Khwarizmi]] (Khoảng 780-850 TCN), người phát minh ra [[Đại số]].]]
Từ "''mathematics''" trong [[tiếng Anh]] bắt nguồn từ ''μάθημα'' (''máthēma'') trong [[tiếng Hy Lạp]] cổ, có nghĩa là "thứ học được",<ref>{{Chú thích web |tiêu đề=mathematic |nhà xuất bản=Online Etymology Dictionary |url=https://www.etymonline.com/word/mathematic}}</ref> "những gì người ta cần biết," và như vậy cũng có nghĩa là "học" và "khoa học"; còn trong tiếng [[Hy Lạp]] hiện đại thì nó chỉ có nghĩa là "bài học." Từ ''máthēma'' bắt nguồn từ μανθάνω (''manthano''), từ tương đương trong tiếng [[Hy Lạp]] hiện đại là μαθαίνω (''mathaino''), cả hai đều có nghĩa là "học." Trong [[tiếng Việt]], "toán" có nghĩa là ''tính''; "toán học" là ''môn học về toán số.''<ref name="VNTD">Hội Khai Trí Tiến Đức, [http://www.vietnamtudien.org/vntd-kttd/index.html ''Việt-Nam Tự-Điển''], Trung-Bắc Tân-Văn, 1931.</ref> Trong các [[ngôn ngữ]] sử dụng từ vựng gốc [[Hán]] khác, môn học này lại được gọi là ''[[số học]]''.
Sự tiến hóa của toán học có thể nhận thấy qua một loạt gia tăng không ngừng về những phép trừu tượng, hay qua sự mở rộng của nội dung ngành học. Phép trừu tượng đầu tiên, mà nhiều loài động vật có được,<ref>{{chú thích tạp chí |title=Abstract representations of numbers in the animal and human brain |journal=Trends in Neuroscience |volume=21 |issue=8|date=Aug 1998 |pages=355–361 |doi=10.1016/S0166-2236(98)01263-6 |pmid=9720604 |last1=Dehaene |first1=Stanislas |last2=Dehaene-Lambertz |first2=Ghislaine |last3=Cohen |first3=Laurent}}</ref> có lẽ là về các [[con số]], với nhận thức rằng, chẳng hạn, một nhóm hai quả [[táo]] và một nhóm hai quả [[cam]] có cái gì đó chung, ở đây là số lượng quả trong mỗi nhóm.
Các bằng chứng [[khảo cổ học]] cho thấy, ngoài việc biết đếm những vật thể vật lý, con người thời [[tiền sử]] có thể cũng đã biết đếm những đại lượng trừu tượng như thời gian - ngày, mùa, và năm.<ref>Xem, chẳng hạn, Raymond L. Wilder, ''Evolution of Mathematical Concepts; an Elementary Study'', ''passim'' ISBN 0486490610</ref>
Đến khoảng năm 3000 trước [[Tây lịch]] thì toán học phức tạp hơn mới xuất hiện, khi người [[Văn minh cổ Babylon|Babylon]] và người [[Ai Cập]] bắt đầu sử dụng số học, đại số, và hình học trong việc tính [[thuế]] và những tính toán tài chính khác, trong xây dựng, và trong quan sát [[thiên văn]].<ref>Kline 1990, Chapter 1.</ref> Toán học được sử dụng sớm nhất trong [[thương mại]], đo đạc đất đai, [[hội họa]], dệt, và trong việc ghi nhớ thời gian.
Các phép tính số học căn bản trong [[toán học Babylon]] ([[phép cộng|cộng]], [[phép trừ|trừ]], [[phép nhân|nhân]], và [[phép chia|chia]]) xuất hiện đầu tiên trong các tài liệu khảo cổ. Giữa năm 600 đến 300 trước [[Lịch Gregory|Tây lịch]], người [[Hy Lạp]] cổ đã bắt đầu nghiên cứu một cách có hệ thống về toán học như một ngành học riêng, hình thành nên [[toán học Hy Lạp]].<ref>"''[http://books.google.com/books?id=drnY3Vjix3kC&pg=PA1&dq&hl=en#v=onepage&q=&f=false A History of Greek Mathematics: From Thales to Euclid]''". Thomas Little Heath (1981). ISBN 0-486-24073-8</ref> Kể từ đó toán học đã phát triển vượt bậc; sự tương tác giữa toán học và khoa học đã đem lại nhiều thành quả và lợi ích cho cả hai. Ngày nay, những phát minh toán học mới vẫn tiếp tục xuất hiện làm cho toán học ngày càng đa dạng hơn.
==Cảm hứng, thuần túy ứng dụng, và vẻ đẹp==
{{chính|Vẻ đẹp của toán học}}
[[Tập tin:GodfreyKneller-IsaacNewton-1689.jpg|nhỏ|150px|[[Isaac Newton]] (1643–1727), một trong những người phát minh ra [[vi tích phân]].]]
Toán học nảy sinh ra từ nhiều kiểu bài toán khác nhau. Trước hết là những bài toán trong thương mại, đo đạc đất đai, kiến trúc, và sau này là [[thiên văn học]]; ngày nay, tất cả các ngành khoa học đều gợi ý những bài toán để các nhà toán học nghiên cứu, ngoài ra còn nhiều bài toán nảy sinh từ chính bản thân ngành toán. Chẳng hạn, nhà vật lý [[Richard Feynman]] đã phát minh ra [[tích phân lộ trình]] (path integral) cho [[cơ học lượng tử]] bằng cách kết hợp suy luận toán học với sự hiểu biết sâu sắc về mặt [[Vật lý học|vật lý]], và [[lý thuyết dây]] - một lý thuyết khoa học vẫn đang trong giai đoạn hình thành với cố gắng thống nhất tất cả các [[tương tác cơ bản]] trong tự nhiên - tiếp tục gợi hứng cho những lý thuyết toán học mới.<ref>{{chú thích sách |title=The Feynman Integral and Feynman's Operational Calculus |author=Johnson, Gerald W.; Lapidus, Michel L. |publisher=Oxford University Press |year=2002 |isbn=0-8218-2413-9}}</ref> Một số lý thuyết toán học chỉ có ích trong lĩnh vực đã giúp tạo ra chúng, và được áp dụng để giải các bài toán khác trong lĩnh vực đó. Nhưng thường thì toán học sinh ra trong một lĩnh vực có thể hữu ích trong nhiều lĩnh vực, và đóng góp vào kho tàng các khái niệm toán học.
Các nhà toán học phân biệt ra hai ngành [[toán học thuần túy]] và [[toán học ứng dụng]]. Tuy vậy các chủ đề toán học thuần túy thường tìm thấy một số ứng dụng, chẳng hạn như [[lý thuyết số]] trong ngành [[mật mã học]]. Việc ngay cả toán học "thuần túy nhất" hóa ra cũng có ứng dụng thực tế chính là điều mà [[Eugene Wigner]] gọi là "sự hữu hiệu đến mức khó tin của toán học".<ref>{{chú thích tạp chí |last=Wigner |first=Eugene |year=1960 |title=The Unreasonable Effectiveness of Mathematics in the Natural Sciences |url=http://www.dartmouth.edu/~matc/MathDrama/reading/Wigner.html |journal=Communications on Pure and Applied Mathematics |volume=13 |issue=1 |pages=1–14 |doi=10.1002/cpa.3160130102 |access-date = ngày 18 tháng 12 năm 2013 |archive-date = ngày 28 tháng 2 năm 2011 |archive-url=https://web.archive.org/web/20110228152633/http://www.dartmouth.edu/~matc/MathDrama/reading/Wigner.html }}</ref> Giống như trong hầu hết các ngành học thuật, sự bùng nổ tri thức trong thời đại khoa học đã dẫn đến sự chuyên môn hóa: hiện nay có hàng trăm lĩnh vực toán học chuyên biệt và bảng phân loại các chủ đề toán học đã dài tới 46 trang.<ref>{{Chú thích web |url=https://mathscinet.ams.org/mathscinet/msc/pdfs/classification2010.pdf |tiêu đề=Mathematics Subject Classification 2010 |định dạng=PDF |ngày tháng= |ngày truy cập = ngày 9 tháng 11 năm 2010}}</ref> Một vài lĩnh vực toán học ứng dụng đã nhập vào những lĩnh vực liên quan nằm ngoài toán học và trở thành những ngành riêng, trong đó có [[xác suất]], [[vận trù học]], và [[khoa học máy tính]].
Những ai yêu thích ngành toán thường thấy toán học có một vẻ đẹp nhất định. Nhiều nhà toán học nói về "sự thanh lịch" của toán học, [[mỹ học|tính thẩm mỹ]] nội tại và vẻ đẹp bên trong của nó. Họ coi trọng sự giản đơn và tính tổng quát. Vẻ đẹp ẩn chứa cả bên trong những [[chứng minh toán học]] đơn giản và gọn nhẹ, chẳng hạn chứng minh của [[Euclid]] cho thấy có vô hạn [[số nguyên tố]], và trong những [[giải tích số|phương pháp số]] giúp đẩy nhanh các phép tính toán, như phép [[biến đổi Fourier nhanh]]. Trong cuốn sách ''Lời bào chữa của một nhà toán học''<ref name="Ziegler" /> (A Mathematician's Apology) của mình, G. H. Hardy tin rằng chính những lý do về mặt thẩm mỹ này đủ để biện minh cho việc nghiên cứu toán học thuần túy. Ông nhận thấy những tiêu chuẩn sau đây đóng góp vào một vẻ đẹp toán học: tầm quan trọng, tính không lường trước được, tính không thể tránh được, và sự ngắn gọn.<ref>{{chú thích sách |title=A Mathematician's Apology |author=Hardy, G.H. |publisher=Cambridge University Press |year=1940 |isbn=0-521-42706-1}}</ref> Sự phổ biến của toán học vì mục đích giải trí là một dấu hiệu khác cho thấy nhiều người tìm thấy sự sảng khoái trong việc giải toán...
==Ký hiệu, ngôn ngữ, tính chặt chẽ==
{{chính|Danh sách ký hiệu toán học}}
[[Tập tin:Leonhard Euler 2.jpg|upright|nhỏ|150px|[[Leonhard Euler]], người tạo ra và phổ biến hầu hết các ký hiệu toán học được dùng ngày nay.]]
Hầu hết các ký hiệu toán học đang dùng ngày nay chỉ mới được phát minh vào thế kỷ 16.<ref>[http://jeff560.tripod.com/mathsym.html Earliest Uses of Various Mathematical Symbols] (Có thêm nhiều tài liệu tham khảo về chủ đề này).</ref> Trước đó, toán học được viết ra bằng chữ, quá trình nhọc nhằn này đã cản trở sự phát triển của toán học.<ref>Kline, p. 140, on [[Diophantus]]; p. 261, on Franciscus Vieta.</ref> [[Leonhard Euler|Euler]] (1707–1783) là người tạo ra nhiều trong số những ký hiệu đang được dùng ngày nay. Ký hiệu hiện đại làm cho toán học trở nên dễ hơn đối với chuyên gia toán học, nhưng người mới bắt đầu học toán thường thấy nản lòng. Các ký hiệu cực kỳ ngắn gọn: một vài biểu tượng chứa đựng rất nhiều thông tin. Giống ký hiệu [[âm nhạc]], ký hiệu toán học hiện đại có cú pháp chặt chẽ và chứa đựng thông tin khó có thể viết theo một cách khác đi.
[[Ngôn ngữ]] toán học có thể khó hiểu đối với người mới bắt đầu. Những từ như ''hoặc'' và ''chỉ'' có nghĩa chính xác hơn so với trong lời nói hàng ngày. Ngoài ra, những từ như ''[[tập mở|mở]]'' và ''[[trường (đại số)|trường]]'' đã được cho những nghĩa riêng trong toán học. Những thuật ngữ mang tính kỹ thuật như ''[[phép đồng phôi]]'' và ''[[tích phân|khả tích]]'' có nghĩa chính xác trong toán học. Thêm vào đó là những cụm từ như ''[[tương đương logic|nếu và chỉ nếu]]'' nằm trong thuật ngữ chuyên ngành toán học. Có lý do tại sao cần có ký hiệu đặc biệt và vốn từ vựng chuyên ngành: toán học cần sự chính xác hơn lời nói thường ngày. Các nhà toán học gọi sự chính xác này của [[ngôn ngữ]] và [[logic]] là "tính chặt chẽ."
==Các lĩnh vực toán học==
{{chính|Các lĩnh vực toán học}}
Trước thời kì [[Phục Hưng]], toán học chỉ được phân ra thành hai lĩnh vực chính là [[số học]] - nghiên cứu các phép toán với những con số và [[hình học]] - nghiên cứu về các hình dạng.<ref>{{Chú thích sách|url=https://www.worldcat.org/oclc/940355128|title=The development of mathematics|last=Bell|first=Eric Temple|date=1992|publisher=Dover Publications|isbn=978-0-486-15228-8|location=New York|oclc=940355128}}</ref> Kể cả những ngành [[ngụy khoa học]] như [[thần số học]] và [[thiên văn học]], khi đó cũng chưa được tách biệt rõ ràng khỏi toán học.<ref>{{Chú thích sách|url=https://www.worldcat.org/oclc/28115124|title=Mathematics in history, culture, philosophy, and science: from ancient times to modern age|last=Tiwari|first=Sarju|date=1992|publisher=Mittal Publications|isbn=81-7099-404-7|edition=1 |location=New Delhi, India|oclc=28115124}}</ref>
Trong thời kì Phục Hưng, hai lĩnh vực mới xuất hiện. Các [[Danh sách ký hiệu toán học|kí hiệu toán học]] làm nảy sinh [[đại số]], ngành mà ở đó nghiên cứu tập trung vào các [[công thức]]. [[Giải tích toán học|Giải tích]] - với [[Giới hạn (toán học)|giới hạn]] và [[tích phân]] - nghiên cứu tập trung vào các [[Hàm liên tục|hàm số liên tục]], và sự thay đổi của chúng theo các [[Biến số|biến]] cho trước. Một vài lĩnh vực như [[cơ học thiên thể]] hay [[cơ học vật rắn]] khi đó cũng được nghiên cứu bởi toán, nhưng giờ lại là các phân ngành chính của [[vật lý học]].<ref>{{Chú thích sách|url=https://www.worldcat.org/oclc/1350855557|title=Leonhard Euler and the foundations of celestial mechanics|last=Musielak|first=Dora|date=2022|isbn=978-3-031-12322-1|location=Cham, Switzerland|oclc=1350855557}}</ref>[[Toán học tổ hợp|Tổ hợp]] cũng được nghiên cứu nhiều trong lịch sử, nhưng chỉ trở thành một lĩnh vực riêng kể từ [[Thế kỷ 17|thế kỉ thứ mười bảy]].<ref>{{Chú thích web|url=https://reader.elsevier.com/reader/sd/pii/0315086079900740?token=4444FBA1D24E773E0F1D10B2239712D13E7916618A4BFFB9949DE0A24C31CF182145A79BEB154E890C6451A2559292B0&originRegion=eu-west-1&originCreation=20221202101108|tựa đề=Elsevier Enhanced Reader|website=reader.elsevier.com|ngôn ngữ=en|ngày truy cập=2022-12-02}}</ref>
Cuối [[Thế kỉ XIX|thế kỉ mười chín]], những nghiên cứu [[triết học]] về nguồn gốc của toán học và kết quả của sự hệ thống hóa của các [[tiên đề]] đã tạo ra nhiều ngành toán học mới. [[Phân lớp Lĩnh vực Toán học]] ([[tiếng Anh]]: Mathematics Subject Classification - MSC) năm 2020 đã chỉ ra rằng có ít nhất sáu mươi ba ngành toán học độc lập, một vài trong số đó chỉ xuất hiện từ thế kỉ XX là [[Logic toán|logic toán học]] và [[nguồn gốc toán học]].<ref>https://zbmath.org/static/msc2020.pdf</ref>
===Nền tảng và triết học===
[[File:Venn_A_intersect_B.svg|nhỏ|250px|[[Biểu đồ Venn]] thường được sử dụng để miêu tả quan hệ giữa các tập hợp.]]
Để làm rõ nền tảng toán học, lĩnh vực [[logic toán học]] và [[lý thuyết tập hợp]] đã được phát triển. Logic toán học bao gồm nghiên cứu toán học về [[logic]] và ứng dụng của logic hình thức trong những lĩnh vực toán học khác. Lý thuyết tập hợp là một nhánh toán học nghiên cứu các tập hợp hay tập hợp những đối tượng. Lý thuyết phạm trù, liên quan đến việc xử lý các cấu trúc và mối quan hệ giữa chúng bằng phương pháp trừu tượng, vẫn đang tiếp tục phát triển. Cụm từ "khủng hoảng nền tảng" nói đến công cuộc tìm kiếm một nền tảng toán học chặt chẽ diễn ra từ khoảng năm 1900 đến 1930.<ref>Luke Howard Hodgkin & Luke Hodgkin, ''A History of Mathematics'', Oxford University Press, 2005.</ref> Một số bất đồng về nền tảng toán học vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Cuộc khủng hoảng nền tảng nổi lên từ một số tranh cãi thời đó, trong đó có những tranh cãi liên quan đến lý thuyết tập hợp của [[Georg Cantor|Cantor]] và cuộc tranh cãi giữa [[L. E. J. Brouwer|Brouwer]] và [[David Hilbert|Hilbert]].
Khoa học máy tính lý thuyết bao gồm lý thuyết khả tính (computability theory), [[lý thuyết độ phức tạp tính toán]], và [[lý thuyết thông tin]]. Lý thuyết khả tính khảo sát những giới hạn của những mô hình lý thuyết khác nhau về máy tính, bao gồm mô hình [[máy Turing]] nổi tiếng. Lý thuyết độ phức tạp nghiên cứu khả năng có thể giải được bằng máy tính; một số bài toán, mặc dù về lý thuyết có thể giải được bằng máy tính, cần thời gian hay không gian tính toán quá lớn, làm cho việc tìm lời giải trong thực tế gần như không thể, ngay cả với sự tiến bộ nhanh chóng của [[phần cứng]] máy tính. Một ví dụ là bài toán nổi tiếng "[[Bài toán P so với NP|{{nowrap|'''P''' {{=}} '''NP'''?}}]]".<ref>[https://web.archive.org/web/20131212094206/http://www.claymath.org/millenium-problems/p-vs-np-problem P vs NP Problem], [[Viện Toán học Clay]] cập nhật: 28 tháng 5 năm 2015 3:14 pm</ref> Cuối cùng, lý thuyết thông tin quan tâm đến khối lượng dữ liệu có thể lưu trữ được trong một môi trường lưu trữ nhất định, và do đó liên quan đến những khái niệm như [[nén dữ liệu]] và [[entropy thông tin]].
:{|style="border:1px solid #ddd; text-align:center; margin:auto" cellspacing="15"
|<math>p \Rightarrow q \,</math>|| [[Tập tin:Venn A intersect B.svg|128px]] || [[Tập tin:Commutative diagram for morphism.svg|96px]] || [[Tập tin:DFAexample.svg|96px]]
|-
|[[Logic toán học]] || [[Lý thuyết tập hợp]] || [[Lý thuyết phạm trù]] || [[Lý thuyết tính toán]]
|}
===Toán học thuần túy===
====Số học====
{{Main|Lý thuyết số}}
Việc nghiên cứu về lượng (quantity) bắt đầu với các [[số|con số]], trước hết với [[số tự nhiên]] và [[số nguyên]] và các phép biến đổi số học, nói đến trong lĩnh vực [[số học]]. Những tính chất sâu hơn về các số nguyên được nghiên cứu trong [[lý thuyết số]], trong đó có [[định lý lớn Fermat]] nổi tiếng. Trong lý thuyết số, giả thiết [[số nguyên tố sinh đôi]] và [[giả thiết Goldbach]] là hai bài toán chưa giải được.
Khi hệ thống số được phát triển thêm, các số nguyên được xem như là [[tập con]] của các [[số hữu tỉ]]. Các số này lại được bao gồm trong [[số thực]] vốn được dùng để thể hiện những đại lượng [[hàm liên tục|liên tục]]. Số thực được tổng quát hóa thành [[số phức]]. Đây là những bước đầu tiên trong phân bố các số, sau đó thì có các ''[[quaternion]]'' (một sự mở rộng của số phức) và ''[[octonion]]''. Việc xem xét các số tự nhiên cũng dẫn đến các [[số vô hạn]] (transfinite numbers), từ đó chính thức hóa khái niệm "[[vô hạn]]". Một lĩnh vực nghiên cứu khác là kích cỡ (size), từ đó sinh ra số đếm (cardinal numbers) và rồi một khái niệm khác về vô hạn: số ''aleph'', cho phép thực hiện so sánh có ý nghĩa kích cỡ của các tập hợp lớn vô hạn.
:{|style="border:1px solid #ddd; text-align:center; margin:auto" cellspacing="20"
|<math>0,1, 2, 3,\ldots\!</math>|| <math>0,1,-1,2,-2,3,-3,\ldots</math>|| <math>-2,\ \frac{1}{4},\ 0.37,\ldots</math>|| <math>-e,\ \sqrt{2},\ 3,\ \pi,\ldots</math>|| <math>-1,\ i,</math><math>\ 2+3i, \ 2e^{i\frac{4\pi}{3}},\ldots</math>
|<math>\aleph_0.\ \aleph_1,\ \aleph_2,\ldots,\ \aleph_\alpha,\ldots</math>
|-
|[[Số tự nhiên]]|| [[Số nguyên]] || [[Số hữu tỉ]] || [[Số thực]] || [[Số phức]]
|[[Số vô hạn]]
|}
====[[Cấu trúc (toán học)|Cấu trúc]]====
{{Main|Cấu trúc toán học}}
Nhiều đối tượng toán học, chẳng hạn [[tập hợp]] những con số và những [[hàm số]], thể hiện cấu trúc nội tại toát ra từ những phép biến đổi toán học hay những mối quan hệ được xác định trên tập hợp. Toán học từ đó nghiên cứu tính chất của những tập hợp có thể được diễn tả dưới dạng cấu trúc đó; chẳng hạn [[lý thuyết số]] nghiên cứu tính chất của tập hợp những số nguyên có thể được diễn tả dưới dạng những phép biến đổi số học. Ngoài ra, thường thì những tập hợp có cấu trúc (hay những cấu trúc) khác nhau đó thể hiện những tính chất giống nhau, khiến người ta có thể xây dựng nên những tiên đề cho một lớp cấu trúc, rồi sau đó nghiên cứu đồng loạt toàn bộ lớp cấu trúc thỏa mãn những tiên đề này. Do đó người ta có thể nghiên cứu các [[nhóm (đại số)|nhóm]], [[vành]], [[trường (đại số)|trường]], và những hệ phức tạp khác; những nghiên cứu như vậy (về những cấu trúc được xác định bởi những phép biến đổi đại số) tạo thành lĩnh vực [[đại số trừu tượng]]. Với mức độ tổng quát cao của mình, đại số trừu tượng thường có thể được áp dụng vào những bài toán dường như không liên quan gì đến nhau. Một ví dụ về lý thuyết đại số là [[đại số tuyến tính]], lĩnh vực nghiên cứu về các [[không gian vectơ]], ở đó những yếu tố cấu thành nó gọi là [[vectơ]] có cả lượng và hướng và chúng có thể được dùng để mô phỏng các điểm (hay mối quan hệ giữa các điểm) trong không gian. Đây là một ví dụ về những hiện tượng bắt nguồn từ những lĩnh vực [[hình học]] và [[đại số]] ban đầu không liên quan gì với nhau nhưng lại tương tác rất mạnh với nhau trong toán học hiện đại. [[Toán học tổ hợp]] nghiên cứu những cách tính số lượng những đối tượng có thể xếp được vào trong một cấu trúc nhất định.
:{| class="wikitable sortable" style="border:1px solid #ddd; text-align:center; margin:auto" cellspacing="15"
|+
|<math>\begin{matrix} (1,2,3) & (1,3,2) \\ (2,1,3) & (2,3,1) \\ (3,1,2) & (3,2,1) \end{matrix}</math> || [[Tập tin:Elliptic curve simple.svg|96px]] || [[Tập tin:Rubik's cube.svg|96px]] || [[Tập tin:Group diagdram D6.svg|96px]] || [[Tập tin:Lattice of the divisibility of 60.svg|96px]] || [[Tập tin:Braid-modular-group-cover.svg|96px]]
|-
|[[Toán học tổ hợp]] || [[Lý thuyết số]] || [[Lý thuyết nhóm]] || [[Lý thuyết đồ thị]] || [[Lý thuyết trật tự]]|| [[Đại số]]
|}
====Không gian====
{{Main|Hình học}}
Việc nghiên cứu không gian bắt đầu với [[hình học]] - cụ thể là [[hình học Euclid]]. [[Lượng giác]] là một lĩnh vực toán học nghiên cứu về mối quan hệ giữa các cạnh và góc của [[tam giác]] và với các hàm lượng giác; nó kết hợp không gian và các con số, và bao gồm [[định lý Pythagore]] nổi tiếng. Ngành học hiện đại về không gian tổng quát hóa những ý tưởng này để bao gồm hình học nhiều chiều hơn, [[hình học phi Euclide]] (đóng vai trò quan trọng trong [[lý thuyết tương đối tổng quát]]), và [[tô pô]]. Cả lượng và không gian đều đóng vai trò trong [[hình học giải tích]], [[hình học vi phân]], và [[hình học đại số]]. [[Tổ hợp lồi|Hình học lồi]] và [[hình học rời rạc]] trước đây được phát triển để giải các bài toán trong [[lý thuyết số]] và [[giải tích hàm|giải tích phiếm hàm]] thì nay đang được nghiên cứu cho các ứng dụng trong [[tối ưu hóa (toán học)|tối ưu hóa]] (tối ưu lồi) và [[khoa học máy tính]] (hình học tính toán). Trong hình học vi phân có các khái niệm bó sợi (fiber bundles) và vi tích phân trên các [[đa tạp]], đặc biệt là [[vi tích phân vectơ]] và [[vi tích phân tensor]]. Hình học đại số thì mô tả các đối tượng hình học dưới dạng lời giải là những tập hợp phương trình đa thức, cùng với những khái niệm về lượng và không gian, cũng như nghiên cứu về các [[nhóm tô-pô]] kết hợp cấu trúc và không gian. Các [[nhóm Lie]] được dùng để nghiên cứu không gian, cấu trúc, và sự thay đổi. [[Tô pô]] trong tất cả những khía cạnh của nó có thể là một lĩnh vực phát triển vĩ đại nhất của toán học thế kỷ 20; nó bao gồm [[tô-pô tập hợp điểm]] (point-set topology), [[tô-pô lý thuyết tập hợp]] (set-theoretic topology), [[tô pô đại số|tô-pô đại số]] và [[tô-pô vi phân]] (differential topology). Trong đó, những chủ đề của tô-pô hiện đại là [[không gian mêtric hóa được|lý thuyết không gian mêtric hóa được]] (metrizability theory), [[lý thuyết tập hợp|lý thuyết tập hợp tiên đề]] (axiomatic set theory), [[đồng luân|lý thuyết đồng luân]] (homotopy theory), và [[lý thuyết Morse]]. Tô-pô cũng bao gồm [[giả thuyết Poincaré]] nay đã giải được, và [[giả thuyết Hodge]] vẫn chưa giải được. Những bài toán khác trong hình học và tô-pô, bao gồm [[định lý bốn màu]] và [[giả thiết Kepler]], chỉ giải được với sự trợ giúp của máy tính.
:{|style="border:1px solid #ddd; text-align:center; margin:auto" cellspacing="15"
|[[Tập tin:Illustration to Euclid's proof of the Pythagorean theorem.svg|96px]] || [[Tập tin:Sinusvåg 400px.png|96px]] || [[Tập tin:Hyperbolic triangle.svg|96px]] || [[Tập tin:Torus.png|96px]] || [[Tập tin:Mandel zoom 07 satellite.jpg|96px]] || [[Tập tin:Measure illustration.png|70px]]
|-
|[[Hình học]] || [[Lượng giác]] || [[Hình học vi phân]] || [[Tô pô]] || [[Phân dạng|Hình học fractal]] || [[Độ đo|Lý thuyết độ đo]]
|}
====Sự thay đổi====
{{Main|Giải tích|Vi tích phân}}
Hiểu và mô tả sự thay đổi là chủ đề thường gặp trong các ngành [[khoa học tự nhiên]]. [[Vi tích phân]] là một công cụ hiệu quả đã được phát triển để nghiên cứu sự thay đổi đó. [[Hàm số]] từ đây ra đời, như một khái niệm trung tâm mô tả một đại lượng đang thay đổi. Việc nghiên cứu chặt chẽ các [[số thực]] và hàm số của một biến thực được gọi là [[giải tích thực]], với [[số phức]] thì có lĩnh vực tương tự gọi là [[giải tích phức]]. [[Giải tích hàm|Giải tích phiếm hàm]] (functional analysis) tập trung chú ý vào những không gian thường là vô hạn chiều của hàm số. Một trong nhiều ứng dụng của giải tích phiếm hàm là trong [[cơ học lượng tử]] (ví dụ: [[lý thuyết phiếm hàm mật độ]]). Nhiều bài toán một cách tự nhiên dẫn đến những mối quan hệ giữa lượng và tốc độ thay đổi của nó, rồi được nghiên cứu dưới dạng các [[phương trình vi phân]]. Nhiều hiện tượng trong tự nhiên có thể được mô tả bằng những [[hệ thống động lực]]; [[lý thuyết hỗn độn]] nghiên cứu cách thức theo đó nhiều trong số những hệ thống động lực này thể hiện những hành vi không tiên đoán được nhưng vẫn có tính tất định.
{|style="border:1px solid #ddd; text-align:center; margin:auto" cellspacing="20"
|[[Tập tin:Integral as region under curve.svg|96px]] || [[Tập tin:Vector field.svg|96px]] || [[Tập tin:Airflow-Obstructed-Duct.png|96px]] || [[Tập tin:Limitcycle.svg|96px]] || [[Tập tin:Lorenz attractor.svg|96px]] || [[Tập tin:Conformal grid after Möbius transformation.svg|96px]]
|-
|[[Vi tích phân]] || [[Trường vector|Giải tích véc tơ]]|| [[Phương trình vi phân]] || [[Hệ thống động lực]] || [[Lý thuyết hỗn loạn|Lý thuyết hỗn độn]] || [[Giải tích phức]]
|}
===Toán học ứng dụng===
{{Main|Toán học ứng dụng}}
[[Toán học ứng dụng]] quan tâm đến những phương pháp toán học thường được sử dụng trong [[khoa học]], [[kỹ thuật]], [[kinh doanh]], và [[công nghiệp]]. Như vậy, "toán học ứng dụng" là một ngành [[Khoa học Toán học|khoa học toán học]] với kiến thức đặc thù. Thuật ngữ toán học ứng dụng cũng được dùng để chỉ lĩnh vực chuyên nghiệp, ở đó các nhà toán học giải quyết các bài toán thực tế. Với tư cách là một ngành nghề chú trọng vào các bài toán thực tế, toán học ứng dụng tập trung vào "việc thiết lập, nghiên cứu, và sử dụng những mô hình toán học" trong khoa học, kỹ thuật, và những lĩnh vực thực hành toán học khác. Trước đây, những ứng dụng thực tế đã thúc đẩy sự phát triển các lý thuyết toán học, để rồi sau đó trở thành chủ đề nghiên cứu trong [[toán học thuần túy]], nơi toán học được phát triển chủ yếu cho chính nó. Như vậy, hoạt động của toán học ứng dụng nhất thiết có liên hệ đến nghiên cứu trong lĩnh vực toán học thuần túy.
====Thống kê và những lĩnh vực liên quan====
{{Main|Xác suất|Thống kê}}
Toán học ứng dụng có nhiều phần chung với [[thống kê]], đặc biệt với [[lý thuyết xác suất]]. Các nhà thống kê, khi làm việc trong một công trình nghiên cứu, "tạo ra số liệu có ý nghĩa" sử dụng phương pháp tạo mẫu ngẫu nhiên (random sampling) và những thí nghiệm được ngẫu nhiên hóa (randomized experiments);<ref>Rao, C.R. (1997) ''Statistics and Truth: Putting Chance to Work'', World Scientific. ISBN 981-02-3111-3</ref> việc thiết kế thí nghiệm hay mẫu thống kê xác định phương pháp phân tích số liệu (trước khi số liệu được tạo ra). Khi xem xét lại số liệu từ các thí nghiệm và các mẫu hay khi phân tích số liệu từ những nghiên cứu bằng cách quan sát, các nhà thống kê "làm bật ra ý nghĩa của số liệu" sử dụng phương pháp mô phỏng và suy luận – qua việc chọn mẫu và qua ước tính; những mẫu ước tính và những tiên đoán có được từ đó cần được thử nghiệm với những số liệu mới.<ref>Giống với các khoa học toán học khác như vật lý và khoa học máy tính, thống kê là một ngành độc lập chứ không phải là một nhánh của toán học ứng dụng. Tương tự như các nhà vật lý và nhà khoa học máy tính, những nhà nghiên cứu thống kê là các nhà khoa học toán học. Nhiều nhà thống kê có bằng cấp trong ngành toán học, và một số nhà thống kê cũng là nhà toán học.</ref>
[[Lý thuyết thống kê]] nghiên cứu những bài toán liên quan đến việc quyết định, ví dụ giảm thiểu nguy cơ (sự tổn thất được mong đợi) của một hành động mang tính [[thống kê]], chẳng hạn sử dụng phương pháp thống kê trong ước tính tham số, kiểm nghiệm giả thuyết, và chọn ra tham số cho kết quả tốt nhất. Trong những lĩnh vực truyền thống này của [[thống kê toán học]], bài toán quyết định-thống kê được tạo ra bằng cách cực tiểu hóa một hàm mục tiêu (objective function), chẳng hạn giá thành hay sự mất mát được mong đợi, dưới những điều kiện nhất định.<ref name="RaoOpt">{{chú thích sách |editor1-last=Arthanari |editor1-first=T.S. |editor2-last=Dodge |editor2-first=Yadolah |editor2-link=|last=Rao |first=C.R. |authorlink= |chapter=Foreword |title=Mathematical programming in statistics |url=https://archive.org/details/mathematicalprog0000arth |series=Wiley Series in Probability and Mathematical Statistics |publisher=Wiley |location=New York |year=1981 |pages=vii–viii |isbn=0-471-08073-X }}</ref> Vì có sử dụng lý thuyết tối ưu hóa, lý thuyết toán học về thống kê có chung mối quan tâm với những ngành khoa học khác nghiên cứu việc quyết định, như [[vận trù học]], [[lý thuyết điều khiển tự động|lý thuyết điều khiển]], và [[toán kinh tế|kinh tế học toán]].<ref name="Whittle">{{harvtxt|Whittle|1994|pp=10–11 and 14–18}}: {{chú thích sách |first=Peter |last=Whittle |authorlink= |chapter=Almost home |editor-link= |editor-first=F.P. |editor-last=Kelly |year=1994 |title=Probability, statistics and optimisation: A Tribute to Peter Whittle |location=Chichester |publisher=John Wiley |isbn=0-471-94829-2 |pages=1–28 |url=http://www.statslab.cam.ac.uk/History/2history.html#6._1966--72:_The_Churchill_Chair |edition=previously "A realised path: The Cambridge Statistical Laboratory upto 1993 (revised 2002)" |access-date = ngày 17 tháng 12 năm 2013 |archive-date = ngày 19 tháng 12 năm 2013 |archive-url=https://web.archive.org/web/20131219080017/http://www.statslab.cam.ac.uk/History/2history.html#6._1966--72:_The_Churchill_Chair }}</ref>
====Toán học tính toán====
[[Toán học tính toán]] đưa ra và nghiên cứu những phương pháp giải các bài toán toán học mà con người thường không có khả năng giải số được. [[Giải tích số]] nghiên cứu những phương pháp giải các bài toán trong [[Giải tích toán học|giải tích]] sử dụng [[giải tích hàm|giải tích phiếm hàm]] và [[lý thuyết xấp xỉ]]; giải tích số bao gồm việc nghiên cứu [[xấp xỉ]] và [[rời rạc hóa]] theo nghĩa rộng, với sự quan tâm đặc biệt đến [[sai số làm tròn]] (rounding errors). Giải tích số và nói rộng hơn tính toán khoa học (scientific computing) cũng nghiên cứu những chủ đề phi giải tích như khoa học toán học, đặc biệt là [[Ma trận (toán học)|ma trận]] thuật toán và [[lý thuyết đồ thị]]. Những lĩnh vực khác của toán học tính toán bao gồm [[đại số máy tính]] (computer algebra) và [[tính toán biểu tượng]] (symbolic computation).
{|style="border:1px solid #ddd; text-align:center; margin:0 auto" cellspacing="20"
|-
|[[Tập tin:Gravitation space source.png|96px]] || [[Tập tin:BernoullisLawDerivationDiagram.svg|96px]] || [[Tập tin:Composite trapezoidal rule illustration small.svg|96px]] || [[Tập tin:Maximum boxed.png|96px]] || [[Tập tin:Two red dice 01.svg|96px]] || [[Tập tin:Oldfaithful3.png|96px]] || [[Tập tin:Caesar3.svg|96px]]
|-
|[[Vật lý toán học]] || [[Thủy động lực học]] || [[Giải tích số]] || [[Tối ưu hóa (toán học)|Tối ưu hóa]] || [[Lý thuyết xác suất]] || [[Thống kê]] || [[Mật mã học]]
|-
|[[Tập tin:Market Data Index NYA on 20050726 202628 UTC.png|96px]] || [[Tập tin:Arbitrary-gametree-solved.svg|96px]] || [[Tập tin:Signal transduction pathways.svg|96px]] || [[Tập tin:CH4-structure.svg|96px]] || [[Tập tin:Signal transduction pathways.svg|96px]] [[Tập tin:GDP PPP Per Capita IMF 2008.svg|96px]] || [[Tập tin:Simple feedback control loop2.svg|96px]]
|-
|[[Toán tài chính|Tài chính toán]] || [[Lý thuyết trò chơi]] || [[Toán sinh học|Sinh học toán]] || [[Toán hóa học|Hóa học toán]]|| [[Toán sinh học]] || [[Toán kinh tế|Kinh tế toán]] || [[Lý thuyết điều khiển tự động|Lý thuyết điều khiển]]
|}
==Giải thưởng toán học và những bài toán chưa giải được==
{{Main|Huy chương Fields|Giải thưởng Abel|Các bài toán thiên niên kỷ}}
Có thể nói giải thưởng toán học danh giá nhất là [[Huy chương Fields]],<ref>"The Fields Medal is now indisputably the best known and most influential award in mathematics (Hiện nay Fields Medal chắc chắn là giải thưởng toán học có ảnh hưởng nhất và được biết đến nhiều nhất)." Monastyrsky 2001</ref><ref>{{chú thích tạp chí
|last=Riehm
|first=Carl
|title=The Early History of the Fields Medal
|journal=Notices of the AMS
|volume=49
|issue=7
|pages=778–782
|publisher=AMS
|date=August 2002
|url=http://www.ams.org/notices/200207/comm-riehm.pdf
|format=PDF
}}</ref> thiết lập vào năm 1936 và nay được trao bốn năm một lần cho 2 đến 4 nhà toán học có độ tuổi dưới 40. Huy chương Fields thường được xem là tương đương với [[Giải Nobel]] trong những lĩnh vực khác. (Giải Nobel không xét trao thưởng trong lĩnh vực toán học) Một số giải thưởng quốc tế quan trọng khác gồm có: [[Giải Wolf về Toán học]] (thiết lập vào năm 1978) để ghi nhận thành tựu trọn đời; [[Giải Abel]] (thiết lập vào năm 2003) dành cho những nhà toán học xuất chúng; [[Huy chương Chern]] (thiết lập vào năm 2010) để ghi nhận thành tựu trọn đời.
Năm 1900, nhà toán học người Đức [[David Hilbert]] biên soạn một danh sách gồm 23 bài toán chưa có lời giải (còn được gọi là [[Các bài toán của Hilbert]]). Danh sách này rất nổi tiếng trong cộng đồng các nhà toán học, và ngày nay có ít nhất chín bài đã được giải. Một danh sách mới bao gồm bảy bài toán quan trọng, gọi là "[[Các bài toán thiên niên kỷ|Các bài toán của giải thiên niên kỷ]]" (Millennium Prize Problems), đã được công bố vào năm 2000, ai giải được một trong số các bài toán này sẽ được trao giải một triệu [[đô-la]]. Chỉ có một bài toán từ danh sách của Hilbert (cụ thể là [[giả thuyết Riemann]]) trong danh sách mới này. Tới nay, một trong số bảy bài toán đó ([[giả thuyết Poincaré]]) đã có lời giải.
==Mối quan hệ giữa toán học và khoa học==
[[Tập tin:Carl Friedrich Gauss.jpg|upright|nhỏ|trái|150px|[[Carl Friedrich Gauss]], người được xem là "hoàng tử của toán học."<ref>{{chú thích sách
|last=Zeidler
|first=Eberhard
|title=Oxford User's Guide to Mathematics
|url=https://archive.org/details/oxfordusersguide00zeid
|location=Oxford, UK
|publisher=Oxford University Press
|year=2004
|isbn=0-19-850763-1
|page=[https://archive.org/details/oxfordusersguide00zeid/page/n1210 1188]}}</ref>]]
[[Carl Friedrich Gauss|Gauss]] xem toán học là "hoàng tử của các ngành khoa học".<ref name="Waltershausen">{{chú thích sách |last=Waltershausen |first=Wolfgang Sartorius von |authorlink=|title=Gauss zum Gedächtniss |year=1856 |publisher=Sändig Reprint Verlag H. R. Wohlwend |isbn=3-253-01702-8 |url=https://www.amazon.de/Gauss-Ged%e4chtnis-Wolfgang-Sartorius-Waltershausen/dp/3253017028}}</ref> Trong cụm từ [[La-tinh]] ''Regina Scientiarum'' và cụm từ [[tiếng Đức]] ''Königin der Wissenschaften'' (cả hai đều có nghĩa là "nữ hoàng của các ngành khoa học"), từ chỉ "khoa học" có nghĩa là "lĩnh vực tri thức," và đây cũng chính là nghĩa gốc của từ ''science'' (khoa học) trong [[tiếng Anh]]; như vậy toán học là một lĩnh vực tri thức. Sự chuyên biệt hóa giới hạn nghĩa của "khoa học" vào "khoa học tự nhiên" theo sau sự phát triển của phương pháp luận [[Francis Bacon|Bacon]], từ đó đối lập "khoa học tự nhiên" với [[triết học kinh viện|phương pháp kinh viện]], phương pháp luận [[Aristotle]] nghiên cứu từ những nguyên lý cơ sở. So với các ngành khoa học tự nhiên như sinh học hay vật lý học thì thực nghiệm và quan sát thực tế có vai trò không đáng kể trong toán học. [[Albert Einstein]] nói rằng "khi các định luật toán học còn phù hợp với thực tại thì chúng không chắc chắn; và khi mà chúng chắc chắn thì chúng không còn phù hợp với thực tại."<ref name=certain>Einstein, p. 28. Câu trích dẫn nằm trong đoạn Einstein trả lời cho câu hỏi: "How can it be that mathematics, being after all a product of human thought which is independent of experience, is so admirably appropriate to the objects of reality?" (Làm sao mà toán học, nói cho cùng cũng chỉ là một sản phẩm của tư duy con người và độc lập với trải nghiệm, lại có thể mô tả tốt như vậy những đối tượng của thực tại?) Bản thân ông cũng quan tâm đến bài báo ''The Unreasonable Effectiveness of Mathematics in the Natural Sciences'' (Sự hữu hiệu đến mức khó tin của toán học trong các ngành khoa học tự nhiên) của nhà vật lý Eugene Wigner.</ref> Mới đây hơn, [[Marcus du Sautoy]] đã gọi toán học là "nữ hoàng của các ngành khoa học;... động lực thúc đẩy chính đằng sau những phát kiến khoa học."<ref>Marcus du Sautoy, ''[http://www.bbc.co.uk/programmes/b00stcgv A Brief History of Mathematics: 10. Nicolas Bourbaki]'', BBC Radio 4, ngày 1 tháng 10 năm 2010.</ref>
Nhiều triết gia tin rằng, trong toán học, tính có thể chứng minh được là sai (falsifiability) không thể thực hiện được bằng thực nghiệm, và do đó toán học không phải là một ngành khoa học theo như định nghĩa của [[Karl Popper]].<ref>{{chú thích sách |title=Out of Their Minds: The Lives and Discoveries of 15 Great Computer Scientists |author=Shasha, Dennis Elliot; Lazere, Cathy A. |publisher=Springer |year=1998 |page=228}}</ref> Tuy nhiên, trong thập niên 1930, các định lý về tính không đầy đủ (incompleteness theorems) của [[Kurt Gödel|Gödel]] đưa ra gợi ý rằng toán học không thể bị quy giảm về logic mà thôi, và Karl Popper kết luận rằng "hầu hết các lý thuyết toán học, giống như các lý thuyết vật lý và sinh học, mang tính giả định-suy diễn: toán học thuần túy do đó trở nên gần gũi hơn với các ngành khoa học tự nhiên nơi giả định mang tính chất suy đoán hơn hơn mức mà người ta nghĩ."<ref>Popper 1995, p. 56</ref>
Một quan điểm khác thì cho rằng một số lĩnh vực khoa học nhất định (như [[vật lý lý thuyết]]) là toán học với những tiên đề được tạo ra để kết nối với thực tại. Thực sự, nhà vật lý lý thuyết [[J. M. Ziman]] đã cho rằng khoa học là "tri thức chung" và như thế bao gồm cả toán học.<ref>{{chú thích sách
| first = John | last = Ziman | year = 1968
| title = Public Knowledge: Essay Concerning the Social Dimension of Science
| url = https://archive.org/details/publicknowledgee0000zima_x4x9 | publisher = Cambridge University Press
| isbn = 978-0-521-06894-9 }}</ref> Dù sao đi nữa, toán học có nhiều điểm chung với nhiều lĩnh vực trong các ngành khoa học vật lý, đáng chú ý là việc khảo sát những hệ quả logic của các giả định. [[Trực giác]] và hoạt động thực nghiệm cũng đóng một vai trò trong việc xây dựng nên các giả thuyết trong toán học lẫn trong những ngành khoa học (khác). [[Toán học thực nghiệm]] ngày càng được chú ý trong bản thân ngành toán học, và việc tính toán và mô phỏng đang đóng vai trò ngày càng lớn trong cả khoa học lẫn toán học.
Ý kiến của các nhà toán học về vấn đề này không thống nhất. Một số cảm thấy việc gọi toán học là khoa học làm giảm tầm quan trọng của khía cạnh thẩm mỹ của nó, và lịch sử của nó trong bảy [[giáo dục khai phóng|môn khai phóng]] truyền thống; một số người khác cảm thấy rằng bỏ qua mối quan hệ giữa toán học và các ngành khoa học là cố tình làm ngơ trước thực tế là sự tương tác giữa toán học và những ứng dụng của nó trong [[khoa học]] và [[kỹ thuật]] đã là động lực chính của những phát triển trong toán học. Sự khác biệt quan điểm này bộc lộ trong cuộc tranh luận triết học về chuyện toán học "được tạo ra" (như [[nghệ thuật]]) hay "được khám phá ra" (như khoa học). Các [[viện đại học]] thường có một trường hay [[phân khoa]] "khoa học và toán học".<ref>Chẳng hạn, [https://www.csun.edu/science-mathematics College of Science and Mathematics] (Trường Đại học Khoa học và Toán học) ở California State University, Northridge.</ref> Cách gọi tên này ngầm ý rằng khoa học và toán học gần gũi với nhau nhưng không phải là một.
== Xem thêm ==
{{chủ đề|Toán học}}
* [[Danh sách nhà toán học|Danh sách các nhà toán học]]
* [[Danh sách các bài toán học|Danh sách các bài toán toán học]]
== Chú thích ==
{{tham khảo|30em}}
==Tham khảo==
{{Đầu tham khảo|30em}}
* [[Toán học là gì?]], Richard Courant (1888-1972) và Herbert Robbins (1915-2001), [[Nhà xuất bản Đại học Oxford]] 1941. Hàn Liên Hải dịch, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật 1984.
* [Tác giả?]. ''Toán học'' (Bộ sách Tri thức tuổi hoa niên thế kỷ XXI). Từ Văn Mặc, Từ Thu Hằng dịch. Nhà xuất bản. Văn hóa Thông tin, 2001, 470 tr..
* Nguyễn Đình Trí, Tạ Văn Đĩnh, Nguyễn Hồ Quỳnh [http://dulieu.tailieuhoctap.vn/books/giao-duc-dai-cuong/toan-cao-cap/file_goc_780751.pdf Toán học cao cấp] Tập một: Đại số và hình học giải tích. Nhà xuất bản Giáo dục. Tháng 10 năm 2006. 393 trang
* S. M. Nikol skij (ch.b.). ''Từ điển bách khoa phổ thông toán học''. Hoàng Quý, Nguyễn Văn Ban, và Hoàng Chúng dịch. Nhà xuất bản. Giáo dục, 2001, 454 tr.
* Howard Eves. ''Giới thiệu lịch sử toán học''. Trần Tất Thắng dịch. Nhà xuất bản. Tp. Hồ Chí Minh, 1993, 518 tr.
* Benson, Donald C., ''The Moment of Proof: Mathematical Epiphanies'', Oxford University Press: new ed. (Dec. 14, 2000). ISBN 0-19-513919-4.
* Boyer, Carl B. ''A History of Mathematics''. Wiley: 2nd ed. (Mar. 6, 1991). ISBN 0-471-54397-7.
* Courant, R. and H. Robbins. ''What Is Mathematics?: An Elementary Approach to Ideas and Methods''. Oxford University Press, USA: 2nd ed. (Jul. 18, 1996). ISBN 0-19-510519-2.
* Davis, Philip J. and Hersh, Reuben. ''The Mathematical Experience''. Mariner Books: Reprint ed. (Jan. 14, 1999). ISBN 0-395-92968-7.
* {{chú thích tạp chí
| last = Einstein
| first = Albert
| authorlink = Albert Einstein
| title = Sidelights on Relativity (Geometry and Experience)
| publisher = P. Dutton., Co
| year = 1923}}
* Eves, Howard. ''An Introduction to the History of Mathematics''. Saunders: 6th ed., 1990. ISBN 0-03-029558-0.
* Gullberg, Jan. ''Mathematics—From the Birth of Numbers''. W. W. Norton & Company: 1st ed. (Oct. 1997). ISBN 0-393-04002-X.
* Hazewinkel, Michiel (ed.), ''Encyclopaedia of Mathematics''. Kluwer Academic Publishers, 2000.
* Jourdain, Philip E. B.. "The Nature of Mathematics," trong ''The World of Mathematics''. James R. Newman, editor. Dover Publications, 2003. ISBN 0-486-43268-8.
* Kline, Morris. ''Mathematical Thought from Ancient to Modern Times''. Oxford University Press (Mar. 1, 1990). ISBN 0-19-506135-7.
* {{chú thích tạp chí|url=http://www.fields.utoronto.ca/aboutus/FieldsMedal_Monastyrsky.pdf|year=2001|title=Some Trends in Modern Mathematics and the Fields Medal|author=Monastyrsky, Michael|publisher=Canadian Mathematical Society|access-date = ngày 28 tháng 7 năm 2006 |format=PDF}}
* Pappas, Theoni. ''The Joy Of Mathematics''. Wide World Publishing: revised edition (Jun. 1989). ISBN 0-933174-65-9.
* Peterson, Ivars. ''Mathematical Tourist, New and Updated Snapshots of Modern Mathematics''. Owl Books, 2001. ISBN 0-8050-7159-8.
* {{Chú thích sách | last = Paulos | first = John Allen | authorlink = | year = 1996 | title = A Mathematician Reads the Newspaper | url = https://archive.org/details/mathematicianrea0000paul_c1f1 | publisher = Anchor | isbn = 0-385-48254-X}}
* {{Chú thích sách | first=Karl R. | last=Popper | authorlink= | title=In Search of a Better World: Lectures and Essays from Thirty Years | url=https://archive.org/details/insearchofbetter00karl | chapter=On knowledge | publisher=Routledge | year=1995 | isbn=0-415-13548-6}}
* {{chú thích tạp chí| last=Sevryuk | first=Mikhail B. | authorlink = | year = 2006| title = Book Reviews| journal = Bulletin of the American Mathematical Society| volume = 43| issue = 1| pages = 101–109| url = http://www.ams.org/journals/bull/2006-43-01/S0273-0979-05-01069-4/S0273-0979-05-01069-4.pdf| format = PDF| access-date = ngày 24 tháng 6 năm 2006 | doi = 10.1090/S0273-0979-05-01069-4}}
{{Cuối tham khảo}}
== Liên kết ngoài ==
{{thể loại Commons|Mathematics}}
{{wikibooks|Thể loại:Toán học}}
{{Wiktionary|toán học}}
* {{Britannica|369194|Mathematics}}
* {{TĐBKVN|1038}}
* [http://math.ac.vn/vi/ Viện Toán học]. Việt Nam.
* [https://ocw.mit.edu/courses/mathematics/ ''Mathematics'' Các khóa học và bài giảng về toán học]. [[Viện Công nghệ Massachusetts|MIT]] OpenCourseWare.
* {{MathWorld |title=Mathematics |urlname=Mathematics}}
* [https://web.archive.org/web/20150520074511/http://www.math-atlas.org/ The Mathematical Atlas] (Bản đồ các nhánh toán học).
* [https://link.springer.com/journal/10013 Vietnam Journal of Mathematics]
* [http://journals.math.ac.vn/acta/ Acta Mathematica Vietnamica]
* [https://sites.google.com/site/letrungkienmath/bao-toan-hoc-va-tuoi-tre Toán học và tuổi trẻ]
{{Toán}}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
{{Thanh chủ đề|Toán học|Sinh học|La Mã và Hy Lạp cổ đại |Đế quốc Ottoman|Châu Mỹ}}
{{Sao bài viết tốt}}
[[Thể loại:Toán học|*]]
[[Thể loại:Bài cơ bản dài]]
[[Thể loại:Khoa học hình thức]]
[[Thể loại:Thuật ngữ toán học]]
[[Thể loại:Khoa học tự nhiên]]
[[Thể loại:Phân loại chủ đề chính]]
[[Thể loại:Bài viết chủ đề chính]] | 61139 |
1354 | Khoa học tự nhiên | 0 | null | null | 71925249 | 70660125 | 2024-11-08T13:50:04 | false | null | wikitext | text/x-wiki | f62tzmbdtrifct8y3smivvi2iyy66ay | {
"username": "Hoangnguyenngo71",
"id": "975243",
"ip": null
} | {{chú thích trong bài}}
[[Tập tin:NaturalScienceMontage.png|thumb|right|310px|Khoa học tự nhiên tìm hiểu về thế giới quanh chúng ta và vũ trụ. 5 phân ngành chính là: [[hóa học]] (trung tâm), [[thiên văn học]], [[khoa học Trái Đất]], [[vật lý]], và [[sinh học]] (theo chiều kim đồng hồ từ bên trái).]]
{{Khoa học}}
{{Lịch sử khoa học}}
[[Tập tin:Bo sach khtn.jpg|nhỏ|Toán học, vật lý học, hóa học và sinh học. Bộ sách giáo khoa từ lớp 10 đến lớp 12 của nhóm ngành khoa học tự nhiên.]]
'''Khoa học tự nhiên''', hay '''Tự nhiên học''', ([[tiếng Anh]]: ''natural science'') là một nhánh của [[khoa học]], có mục đích nhận thức, mô tả, giải thích và tiên đoán về các [[hiện tượng]] và [[Quy luật lượng - chất|quy luật tự nhiên]], dựa trên những dấu hiệu được kiểm chứng chắc chắn. Trong khoa học tự nhiên, [[giả thuyết]] được sử dụng rộng rãi để xây dựng những [[lý thuyết]] khoa học.
== Giải thích ==
Các môn khoa học tự nhiên tạo nên cơ sở cho các [[khoa học ứng dụng]]. Các khoa học tự nhiên và ứng dụng lại được phân biệt với các ngành [[khoa học xã hội]], [[nhân văn học|nhân văn]], [[thần học]], và [[nghệ thuật]].
Các ngành [[Toán học]], [[Khoa học Thống kê|Thống kê]] và [[Tin học]] cung cấp nhiều công cụ và khung làm việc được sử dụng trong các ngành khoa học tự nhiên. Ở [[Việt Nam]], ba ngành này được xếp vào loại khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước nói [[tiếng Anh]], không có quan điểm như vậy.
* [[Thiên văn học]], nghiên cứu về các thiên thể và hiện tượng bên ngoài [[khí quyển Trái Đất|bầu khí quyển Trái Đất]], ví dụ [[sao]], [[thiên hà]], v.v..
* [[Sinh học]], nghiên cứu về [[sự sống]].
** [[Sinh thái học]] và [[Khoa học môi trường]], nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa sự sống và môi trường.
* [[Hóa học]], nghiên cứu cấu tạo, các [[phản ứng hóa học]], cấu trúc, và các tính chất của vật chất và các biến đổi lý hóa mà chúng trải qua.
* [[Khoa học Trái Đất]], nghiên cứu về Trái Đất, các chuyên ngành gồm có:
** [[Địa chất học]]
** [[Thủy văn học|Thủy văn]] (''Hydrology'')
** [[Khí tượng học]]
** [[Địa vật lý]] và [[Hải dương học]]
** [[Khoa học đất]]
* [[Vật lý học]], nghiên cứu các thành phần cơ bản của [[vũ trụ]], các [[lực]] và tương tác của chúng, và các kết quả của các lực này.
== Lịch sử ==
Từ thời xa xưa cho đến thời Trung cổ, đối tượng nghiên cứu của Khoa học tự nhiên được biết đến như là các triết lý tự nhiên. Đến cuối thời Trung cổ và thời hiện đại, việc giải thích một cách triết học về tự nhiên dần dần được thay thế bởi sự tiếp cận một cách khoa học sử dụng phương pháp luận quy nạp. Các nghiên cứu của Ibn al-Haytham và Sir Francis Bacon phổ biến trong các tiếp cân này, do đó đã giúp cho việc tiến lên cuộc [[cách mạng khoa học]] của nhân loại.
Trước thế kỷ 19, việc nghiên cứu khoa học đã trở nên chuyên nghiệp và có các tổ chức, và các tổ chức này dần dần đạt được tiếng tăm trong nghiên cứu khoa học tự nhiên. Nhóm nghiên cứu khoa học được tạo ra bởi [[William Whewell]] vào năm [[1834]] dựa trên tổ chức Mary Somerville's On the Connexion of the Sciences.
== Tham khảo==
{{Tham khảo}}
== Liên kết ngoài ==
* {{Thể loại Commons nội dòng|Natural sciences}}
{{vi}}
* [http://www.vista.gov.vn/ Mạng thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam]
* [http://www.vast.ac.vn/ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam]
{{En icon}}
* [https://www.natsci.tripos.cam.ac.uk/ Natural Sciences Tripos] Các ngành khoa học tự nhiên tại Đại học Cambridge
* [http://web.mit.edu/dibner/#hrst History of Recent Science and Technology] Lịch sử khoa học và công nghệ cận đại
* [http://scibooks.org/ Scibooks – La Scienza Del Gioco] Điểm sách về khoa học tự nhiên. Trang này chứa hơn 50 bài nhận xét đản xuất bản về các cuốn sách khoa học tự nhiên, kèm theo nhiều bài luận chọn lọc về các chủ đề hiện hành của khoa học tự nhiên.
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
{{Khoa học tự nhiên}}
{{Thanh chủ đề|Vật lý|Thiên nhiên}}
[[Thể loại:Khoa học tự nhiên| ]]
[[Thể loại:Tự nhiên]]
[[Thể loại:Môn học]] | 4996 |
1355 | Hình học | 0 | null | null | 73542360 | 71669505 | 2025-05-27T08:59:43 | false | Đã cứu 4 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5 | wikitext | text/x-wiki | id78haybibrygl134b8hhdxpd5oxztm | {
"username": "InternetArchiveBot",
"id": "686003",
"ip": null
} | {{1000 bài cơ bản}}
[[Tập tin:Teorema_de_desargues.svg|phải|nhỏ|236x236px|Hình minh họa [[định lý Desargues]], một kết quả quan trọng trong [[hình học Euclid]]]]{{Thanh bên chủ đề Toán học}}{{Hình học}}
'''Hình học''' ([[tiếng Anh]]: ''geometry'') là một phân nhánh của [[toán học]] liên quan đến hình dạng, kích thước, vị trí tương đối của các hình khối và các tính chất của [[không gian]]. Hình học phát triển độc lập trong một số nền văn hóa cổ đại như một phần của kiến thức thực tiễn liên quan đến [[chiều dài]], [[diện tích]], và [[thể tích]], với một phần các yếu tố của [[khoa học Toán học]] đến từ phương Tây như các định lý của [[Thales]] (thế kỷ VI TCN). Đến thế kỷ thứ III TCN, hình học đã được [[Euclid]] hệ thống hóa dưới một hình thức tiên đề mang tên ông – [[Hình học Euclid]] đã trở thành chuẩn mực cho nhiều thế kỷ sau đó.<ref>Martin J. Turner,Jonathan M. Blackledge,Patrick R. Andrews (1998).</ref> [[Archimedes]] phát triển các kỹ thuật rất khéo léo để tính [[diện tích]] và [[khối lượng]], theo một cách nào đó đã áp dụng phép tính [[tích phân]]. [[Thiên văn học]] khi tính toán vị trí của các [[Sao|ngôi sao]] và [[hành tinh]] trên bản đồ [[thiên cầu]] và mô tả mối quan hệ giữa chuyển động của các [[thiên thể]], đã trở thành một nguồn quan trọng cung cấp các bài toán hình học trong suốt 1500 năm tiếp theo. Trong thế giới cổ điển, cả hình học và thiên văn học đã được coi là một phần của quadrivium, một tập hợp con của bảy môn [[Giáo dục các môn khai phóng|giáo dục khai phóng]] cần thiết cho mọi công dân phải nắm vững.
Việc giới thiệu [[hệ tọa độ]] của [[René Descartes]] và sự phát triển đồng thời của [[đại số]] đánh dấu một giai đoạn phát triển mới cho hình học, kể từ khi các hình hình học như các đường cong phẳng không thể được mô tả bằng [[Hình học giải tích|giải tích]] theo dạng [[phương trình]] và [[Hàm số|hàm]]. Điều này đóng một vai trò quan trọng trong sự xuất hiện của [[vi tích phân]] vào thế kỷ XVII. Sau đó, lý thuyết của [[phối cảnh]] cho thấy rằng có nhiều yếu tố hình học hơn là chỉ các thuộc tính số liệu của các hình vẽ: phối cảnh đã trở thành nguồn gốc của hình học projective. Các đối tượng nghiên cứu của hình học đã được tiếp tục mở rộng bằng việc nghiên cứu các cấu trúc nội tại của các đối tượng hình học của [[Leonhard Euler|Euler]] và [[Carl Friedrich Gauß|Gauss]], điều này dẫn đến việc tạo ra các nhánh [[Tô pô|tô pô học]] và [[hình học vi phân]].
Trong thời của Euclid, không sự phân biệt rõ ràng giữa [[không gian]] [[Vật lý học|vật lý]] và không gian hình học. Kể từ khi phát hiện [[hình học phi Euclid]] vào thế kỷ 19, các khái niệm về không gian đã trải qua một sự thay đổi cơ bản và nêu lên câu hỏi: không gian hình học nào là thích hợp nhất với không gian vật lý. Với sự phát triển của toán học lý thuyết trong thế kỷ 20, 'không gian' (cho dù là 'điểm', 'đường', hoặc 'mặt phẳng') bị mất nội dung trực quan của nó, vì vậy người đọc phải phân biệt giữa không gian vật lý và không gian hình học (trong đó 'không gian', 'điểm', v.v... vẫn còn có ý nghĩa trực quan) và không gian trừu tượng. Hình học hiện đại xem xét [[Đa tạp|không gian đa tạp]] - không gian có mức độ trừu tượng đáng kể hơn so với [[Không gian Euclide|không gian Euclid]] quen thuộc. Những không gian trên có thể có sẵn các cấu trúc bổ sung nhằm cho phép đo [[chiều dài]]. Hình học hiện đại có nhiều mối quan hệ với vật lý như được minh họa bằng các liên kết giữa [[hình học giả Riemann]] và [[thuyết tương đối rộng]]. Một trong những lý thuyết vật lý mới nhất, [[lý thuyết dây]], cũng rất gần gũi với hình học.
Trong khi bản chất thị giác của hình học làm cho nó dễ dàng tiếp cận hơn so với các môn toán học khác như đại số hay [[lý thuyết số]], ngôn ngữ hình học cũng được sử dụng trong bối cảnh xa rời truyền thống nguồn gốc Euclide của nó (ví dụ như trong [[Phân dạng|hình học fractal]] và [[hình học đại số]]).<ref>It is quite common in algebraic geometry to speak about ''geometry of [[Đa tạp đại số|algebraic varieties]] over finite fields'', possibly singular.</ref>
== Tổng quan ==
[[Tập tin:Chinese_pythagoras.jpg|phải|nhỏ|300x300px|Kiểm tra [[định lý Pytago]] trên [[tam giác]] (3, 4, 5) [[Tam giác|triangle]] trong sách 周髀算經, 500–200 BC.]]
Sự phát triển của hình học ghi nhận được kéo dài hơn hai [[thiên niên kỷ]]. Bởi vậy, nhận thức hình học luôn tiến hóa dần qua các thời đại:
=== Hình học thực tiễn ===
Hình học có nguồn gốc là một khoa học thực tiễn liên quan đến khảo sát, đo đạc, diện tích và khối lượng. Những thành tích đáng chú ý nhất trong giai đoạn đầu của hình học bao gồm các công thức về [[Chiều dài|độ dài]], [[diện tích]] và [[thể tích]], như là [[định lý Pythagoras]], [[chu vi hình tròn]] và [[diện tích hình tròn]], diện tích [[tam giác]], thể tích của [[hình trụ tròn]], [[Mặt cầu|hình cầu]] và [[hình chóp]]. Một phương pháp tính toán các khoảng cách và [[chiều cao]] không thể tiếp cận dựa trên sự đồng dạng về hình học là định lý [[Thales]]. Sự phát triển của [[thiên văn học]] dẫn đến sự ra đời của [[lượng giác]] phẳng và lượng giác cầu, cùng với các kỹ thuật tính toán.
=== Hình học tiên đề ===
[[Tập tin:Parallel_postulate_en.svg|phải|nhỏ|Hình minh họa [[tiên đề Euclid về đường thẳng song song]]]]
[[Tập tin:Geometry_Lessons.jpg|nhỏ|Giảng dạy hình học trong thế kỷ XX.]]
[[Euclid]] sử dụng một phương pháp trừu tượng hơn trong tác phẩm [[Cơ sở (Euclid)|Cơ sở]] của ông, một trong những tác phẩm có sức ảnh hưởng lớn nhất của nhân loại. Ông đã giới thiệu các [[tiên đề]] nhất định, thể hiện tính chất cơ bản hoặc hiển nhiên đúng của điểm, đường thẳng, và mặt phẳng. Ông tiến hành suy luận một cách chặt chẽ để rút ra các định lý khác bằng cách lý luận toán học. Tính năng đặc trưng của phương pháp tiếp cận của hình học Euclid là sự chặt chẽ của nó, và nó đã được biết đến như hình học tiên đề hoặc hình học tổng hợp. Vào đầu thế kỷ 19, việc khám phá [[hình học phi Euclid]] của [[Nikolai Ivanovich Lobachevsky]] (1792–1856), [[János Bolyai]] (1802–1860), [[Carl Friedrich Gauß|Carl Friedrich Gauss]] (1777–1855) và những người khác dẫn đến một sự quan tâm trở lại trong phương pháp tiếp cận này, và trong thế kỷ 20, [[David Hilbert]] (1862–1943) đã áp dụng lý luận tiên đề nhằm cung cấp một nền tảng hiện đại của hình học.
=== Các số trong hình học ===
[[Tập tin:Square_root_of_2_triangle.svg|phải|nhỏ|200x200px|Trường phái Pytago phát hiện ra rằng các cạnh của một tam giác có thể có độ dài vô tỉ.]]
Trong thời [[Hy Lạp cổ đại]] [[Trường phái Pytago|trường phái Pythagoras]] đã đánh giá vai trò của các số trong hình học. Tuy nhiên, việc phát hiện [[chiều dài]] vô tỉ, vốn mâu thuẫn với quan điểm triết học của họ, làm cho họ từ bỏ con số trừu tượng và chuyển sang sử dụng tham số hình học cụ thể, chẳng hạn như độ dài và diện tích các hình. Các số đã được giới thiệu trở lại trong hình học dưới hình thức [[hệ tọa độ]] của [[René Descartes|Descartes]], người đã nhận ra rằng việc nghiên cứu các hình dạng hình học có thể được hỗ trợ bằng các diễn đạt đại số của chúng, và [[hệ tọa độ Descartes]] đã được đặt theo tên ông. [[Hình học giải tích]] ứng dụng các phương pháp của đại số để giải quyết các bài toán hình học, bằng cách liên hệ các [[đường cong]] hình học với các [[phương trình]] đại số. Những ý tưởng này đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của [[Vi tích phân|vi phân và tích phân]] trong thế kỷ XVII và đã dẫn đến việc phát hiện ra nhiều đặc tính mới của đường cong phẳng. [[Hình học đại số]] hiện đại xem xét những câu hỏi tương tự như trên ở một mức độ trừu tượng cao hơn.
=== Hình học vị trí ===
Ngay trong thời cổ đại, các nhà toán học đã giải các bài toán về vị trí tương đối hoặc mối quan hệ không gian của các hình hình học. Một số ví dụ được đưa ra bởi các đường tròn nội ngoại tiếp của [[đa giác]], đường giao nhau và [[tiếp tuyến]] với [[đường conic]], các cấu hình [[Pappus của Alexandria|Pappus]] và [[Menelaus]] của các điểm và đường. Trong thời [[Trung Cổ|Trung cổ]], những bài toán mới và phức tạp hơn được đặt ra: số lượng tối đa của hình cầu, đồng thời tiếp xúc với một hình cầu nhất định mà có cùng một bán kính? Việc lèn chặt hàng loạt hình cầu kích thước bằng nhau trong không gian sẽ tạo ra cái gì? Hầu hết các câu hỏi liên quan đến các khối hình học 'cố định', chẳng hạn như các đường hoặc [[mặt cầu]]. [[Hình học projective]], [[tổ hợp lồi]], và [[hình học rời rạc]] là ba phân nhánh trong hình học ngày nay để xử lý các bài toán trên.
[[Leonhard Euler]], trong khi nghiên cứu [[Bài toán bảy cây cầu Euler|bài toán bảy cây cầu ở Königsberg]], đã xem xét các thuộc tính cơ bản nhất của hình học chỉ dựa vào hình dạng, độc lập với các thuộc tính số liệu của chúng. Euler gọi chi nhánh mới này của hình học là ''geometria situs'' (hình học vị trí), nhưng hiện nay nó được biết đến với tên là [[Tô pô|tô pô học]]. Tô pô học phát triển từ hình học, nhưng biến thành một ngành độc lập lớn. Nó không quan tâm đến sự khác biệt giữa đối tượng có thể liên tục bị biến dạng thành các hình khác nhau. Các đối tượng có thể vẫn giữ lại một số tính chất hình học, như trong trường hợp của nút thắt [[hyperbol]].
=== Dựng hình ===
Hình học cổ điển đặc biệt quan tâm đến việc dựng một hình hình học đã được mô tả trong một số cách khác. Hình học cổ điển chỉ cho phép dựng hình sử dụng [[Com-pa|compa]] và [[Thước|thước kẻ]]. Ngoài ra, mỗi bài dựng hình phải được hoàn thành trong một số hữu hạn các bước. Tuy nhiên, một số bài dựng hình khó hoặc không thể giải quyết chỉ bằng các phương tiện này, và các phép dựng hình sử dụng [[parabol]] và đường cong khác, cũng như các thiết bị cơ khí, đã được áp dụng.
=== Hình học hậu Euclid ===
[[Tập tin:Hyperbolic_triangle.svg|phải|nhỏ|[[Hình học vi phân]] sử dụng các công cụ của [[vi tích phân]] để giải quyết các bài toán liên quan đến đường cong.]]
Trong gần hai ngàn năm kể từ Euclid, trong khi phạm vi của các bài toán hình học đã được mở rộng rõ rệt, sự hiểu biết cơ bản về không gian vẫn là giống nhau. [[Immanuel Kant]] tranh luận rằng chỉ có một hình học ''tuyệt đối'' mà được tâm trí cho là đúng (''a priori)'': hình học Euclid là sự tổng hợp và phát triển của cái được cho là đúng.<ref>Kline (1972) "Mathematical thought from ancient to modern times", Oxford University Press, p. 1032.</ref> Tư tưởng thống trị này đã bị lật đổ bởi khám phá mang tính cách mạng của [[hình học phi Euclid]] với công trình nghiên cứu của [[Bolyai]], [[Nikolai Ivanovich Lobachevsky|Lobachevsky]] và [[Carl Friedrich Gauß|Gauss]] (Gauss không bao giờ công bố nghiên cứu này của ông). Ba nhà toán học trên đã chứng minh [[Không gian Euclide|không gian Euclid]] chỉ là một khả năng cho sự phát triển của hình học. Một tầm nhìn rộng lớn hơn của hình học sau đó đã được [[Bernhard Riemann|Riemann]] phân tích trong bài giảng năm 1867 khi nhậm chức ''Über die Hypothesen, welche der Geometrie zu Grunde liegen'' (Bàn về các giả thuyết mà hình học dựa vào)<ref>{{Chú thích web|url=http://www.maths.tcd.ie/pub/HistMath/People/Riemann/Geom/|title=Ueber die Hypothesen, welche der Geometrie zu Grunde liegen.|publisher=}}</ref> Bài luận này chỉ được xuất bản sau khi ông chết. Ý tưởng mới của Riemann về không gian tỏ ra rất quan trọng trong [[thuyết tương đối rộng]] của [[Albert Einstein|Einstein]] và [[hình học Riemann]]. Hình học Riemann xem xét không gian theo một cách rất chung chung, trong đó các khái niệm về [[chiều dài]] được định nghĩa. Đây là một hướng đi chính của hình học hiện đại.
=== Chiều không gian ===
[[Tập tin:Von_Koch_curve.gif|nhỏ|Hoa tuyết Koch, với chiều fractal =log4/log3 và chiều tô pô=1]]
Trong hình học cổ điển cho phép số chiều không gian là 1 ([[đường thẳng]]), 2 ([[Mặt phẳng (toán học)|mặt phẳng]]) và 3 (thế giới chúng ta đang sống được coi là [[không gian ba chiều]]), các nhà toán học đã sử dụng [[Chiều|các [[chiều cao]] hơn]] trong hơn hai thế kỷ qua. Số chiều đã trải qua các giai đoạn là bất kỳ [[số tự nhiên]] ''n'', có thể là vô hạn với sự ra đời của [[không gian Hilbert]], và bất kỳ số thực dương nào trong [[Phân dạng|hình học fractal]]. Lý thuyết về chiều là một lĩnh vực kỹ thuật, ban đầu nằm trong tô pô học nói chung, thảo luận về ''các định nghĩa''; cùng với hầu hết các ý tưởng toán học, khái niệm chiều hiện nay được định nghĩa chứ không còn là cảm nhận trực giác. Kết nối đa tạp topo có số chiều được xác định rõ; đây là một định lý ([[Định lý bất biến của miền xác định|bất biến của miền xác định]]) thay vì cái gì đó tự được coi là đúng.
Các vấn đề về chiều vẫn rất quan trọng đối với hình học, khi mà không có câu trả lời đầy đủ cho các bài toán cổ điển. Kích thước 3 của không gian và 4 của [[không-thời gian]] là các trường hợp đặc biệt trong tô pô hình học. Chiều 10 và 11 là con số quan trọng trong [[lý thuyết dây]]. Nghiên cứu có thể mang lại một lý do hình học thỏa đáng cho ý nghĩa của chiều 10 và 11.
=== Tính đối xứng ===
[[Tập tin:Order-3_heptakis_heptagonal_tiling.png|phải|nhỏ|Sắp xếp lớp các mặt phẳng [[hyperbol]]]]
Mô hình [[đối xứng]] trong hình học có lịch sử lâu đời cũng gần như chính hình học. Các hình hình học như [[đường tròn]], [[đa giác đều]] và [[Khối đa diện đều Platon|các khối đa diện đều Platon]] có ý nghĩa sâu sắc đối với nhiều nhà triết học cổ đại và chúng đã được nghiên cứu chi tiết trước thời của Euclid. Mô hình đối xứng xảy ra trong tự nhiên và đã được mô phỏng nghệ thuật trong vô số các hình thức, bao gồm cả đồ họa của [[Maurits Cornelis Escher|M. C. Escher]]. Tuy nhiên, chỉ đến nửa sau của thế kỷ 19, các vai trò thống nhất của tính đối xứng trong nền tảng của hình học mới được công nhận. Chương trình Erlangen của [[Felix Klein]] tuyên bố rằng, trong một ý nghĩa rất chính xác, đối xứng, thể hiện qua các khái niệm về một sự biến đổi [[Nhóm (toán học)|nhóm]], cho thấy hình học'' là gì''. Sự đối xứng trong [[hình học Euclid]] cổ điển được thể hiện qua tính [[Tương đẳng (hình học)|tương đẳng]] và chuyển động cứng nhắc, trong khi trong hình học xạ ảnh một vai trò tương tự được thực hiện bởi phép cộng tuyến, biến đổi hình học chuyển đường thẳng thành đường thẳng. Tuy nhiên trong hình học mới của Bolyai và Lobachevsky, Riemann, Clifford và Klein, và [[Sophus Lie]] rằng ý tưởng Klein 'xác định một hình học thông qua nhóm đối xứng của nó' đã có ảnh hưởng lớn nhất. Cả hai đối xứng rời rạc và liên tục đóng vai trò nổi bật trong hình học: đối xứng rời rạc có ý nghĩa trong [[Tô pô|tô pô học]] và trong [[lý thuyết nhóm]] hình học, còn đối xứng liên tục có ý nghĩa trong thuyết Lie và [[hình học Riemann]].
Một loại khác của tính đối xứng là nguyên tắc của tính hai mặt trong hình học projective. Hiện tượng meta này có thể được mô tả đại khái như sau: trong bất kỳ [[Định lý toán học|định lý]] nào, đổi ''điểm'' thành ''mặt phẳng'', ''gặp'' thành ''cắt'', ''nằm trong'' thành ''có chứa'', và bạn sẽ có được một định lý mới cũng đúng. Một hình thức tương tự và có liên quan chặt chẽ của tính hai mặt tồn tại giữa một [[không gian vectơ]] và không gian hai mặt của nó.
== Lịch sử ==
{{chính|Lịch sử hình học}}
[[Tập tin:Westerner_and_Arab_practicing_geometry_15th_century_manuscript.jpg|phải|nhỏ|250x250px|Một người [[châu Âu]] và một người [[Người Ả Rập|Ả Rập]] luyện tập hình học trong thế kỷ 15.]]
Khởi đầu sớm nhất được ghi nhận của bộ môn hình học có thể được truy nguồn từ các nền văn minh cổ đại [[Lưỡng Hà]] và [[Ai Cập cổ đại|Ai Cập]] vào thiên niên kỷ thứ 2 TCN.<ref>J. Friberg, "Methods and traditions of Babylonian mathematics.</ref><ref>{{Chú thích sách|edition=2 |publisher=[[Dover Publications]]|last=Neugebauer|first=Otto|author-link=Otto E. Neugebauer|title=The Exact Sciences in Antiquity|origyear=1957|year=1969|isbn=978-0-486-22332-2|url=https://books.google.com/?id=JVhTtVA2zr8C}}</ref> Hình học sơ khai là một tập hợp các nguyên tắc thực nghiệm được phát minh liên quan đến độ dài, góc, diện tích, và khối lượng. Chúng được phát triển để đáp ứng một số nhu cầu thực tế trong [[Khảo sát xây dựng|khảo sát]], [[xây dựng]], [[thiên văn học]] và hàng loạt ngành nghề khác. Các sách vở sớm nhất được biết đến về hình học là ''giấy cói Rhind'' (2000–1800 TCN) ở Ai Cập và ''giấy cói Moscow'' (khoảng 1890 TCN), các sách đất sét Babylon như "Plimpton 322" (1900 TCN). Ví dụ, giấy cói Moscow đưa ra một công thức tính thể tích của một [[hình chóp]] [[hình cụt|cụt]].<ref name="Boyer 1991 loc=Egypt p. 19"><span>(</span>[[Wikipedia:Geometry#CITEREFBoyer1991|Boyer 1991]]<span>, "Egypt" p. 19)</span></ref> Các tấm đất sét sau đó (350–50 TCN) cho thấy các nhà thiên văn Babylon đã sử dụng [[hình thang]] để tính toán vị trí và [[li độ]] của [[sao Mộc]] trong không gian thời gian-vận tốc. Các phép tính hình học này đã đi trước các tính toán của Máy tính Oxford, bao gồm định lý tốc độ trung bình, những 14 thế kỷ.<ref>{{Chú thích tạp chí|last=Ossendrijver|first=Mathieu|date=29 Jan 2016|title=Ancient Babylonian astronomers calculated Jupiter’s position from the area under a time-velocity graph|url=http://science.sciencemag.org/content/351/6272/482.full|journal=Science|publisher=|volume=351|issue=6272|pages=482–484|doi=10.1126/science.aad8085|access-date=ngày 29 tháng 1 năm 2016}}</ref> Người [[Nubia]] cổ đại ở Nam Ai Cập đã
thành lập một hệ thống hình học bao gồm cả phiên bản sơ khai của đồng hồ mặt trời.<ref>[http://www.jstor.org/pss/3822211 The Journal of Egyptian Archaeology.]</ref><ref>{{Chú thích web|url=http://www.archaeology.org/online/news/nubia.html|title=Neolithic Skywatchers|date=ngày 27 tháng 5 năm 1998|first=Andrew|last=Slayman|work=Archaeology Magazine Archive|publisher=}}</ref>
Trong thế kỷ thứ 7 TCN, nhà toán học Hy Lạp [[Thales|Thales của Miletus]] sử dụng hình học để giải quyết các vấn đề như tính toán [[chiều cao]] của [[kim tự tháp]] và khoảng cách của tàu đến bờ biển. Ông được cho là người đầu tiên sử dụng lập luận áp dụng vào hình học, bằng cách rút ra bốn hệ quả từ định lý Thales.<ref><span>(</span>[[Wikipedia:Geometry#CITEREFBoyer1991|Boyer 1991]]<span>, "Ionia and the Pythagoreans" p. 43)</span></ref>
Pytago thành lập Trường Pytago, được ghi công đã chứng minh [[định lý Pytago]] lần đầu tiên<ref>Eves, Howard, An Introduction to the History of Mathematics, Saunders, 1990, [[Wikipedia:Special:BookSources/0030295580|ISBN 0-03-029558-0]].</ref> mặc dù định lý này có một lịch sử lâu dài.<ref>{{Chú thích tạp chí|title=The Discovery of Incommensurability by Hippasus of Metapontum|author=Kurt Von Fritz|journal=The Annals of Mathematics|year=1945}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí|title=The Pentagram and the Discovery of an Irrational Number|journal=The Two-Year College Mathematics Journal|author=James R. Choike|year=1980}}</ref> [[Eudoxus của Cnidus|Eudoxus]] (408–khoảng 355 TCN) phát triển các phương pháp vét cạn dùng để tính toán diện tích và khối lượng của vật cong,<ref><span>(</span>[[Wikipedia:Geometry#CITEREFBoyer1991|Boyer 1991]]<span>, "The Age of Plato and Aristotle" p. 92)</span></ref>
cũng như một lý thuyết về tỷ lệ nhằm tránh các [[Số vô tỉ|số vô tỷ]] khi đo đạc, điều này đã cho phép hình học có những bước tiến bộ đáng kể. Khoảng năm 300 TCN, hình học được Euclid cách mạng hóa với tác phẩm ''[[Cơ sở (Euclid)|Cơ sở]]'' của ông. Tác phẩm này được đánh giá là sách giáo khoa thành công và có ảnh hưởng nhất của mọi thời đại.<ref><span>(</span>[[Wikipedia:Geometry#CITEREFBoyer1991|Boyer 1991]]<span>, "Euclid of Alexandria" p. 119)</span></ref> Cuốn sách giới thiệu sự chặt chẽ của toán học thông qua các phương pháp tiên đề và là ví dụ sớm nhất của lối viết vẫn được sử dụng trong toán học ngày nay, đó là định nghĩa, tiên đề, định lý, và chứng minh. Mặc dù hầu hết các nội dung của ''Cơ sở'' đều đã được biết đến từ trước, Euclid đã sắp xếp chúng vào một khung tư duy logic và mạch lạc.<ref name="Boyer 1991 loc=Euclid of Alexandria p. 104"><span>(</span>[[Wikipedia:Geometry#CITEREFBoyer1991|Boyer 1991]]<span>, "Euclid of Alexandria" p. 104)</span></ref> Cuốn ''Cơ sở''
được phổ cập tất cả những người có học vấn ở phương Tây cho đến giữa thế kỷ 20 và nội dung của nó vẫn được giảng dạy trong các lớp học hình học ngày nay.<ref>Howard Eves, ''An Introduction to the History of Mathematics'', Saunders, 1990, [[Wikipedia:Special:BookSources/0030295580|ISBN 0-03-029558-0]] p. 141: "No work, except [[Kinh Thánh|The Bible]], has been more widely used.</ref> [[Archimedes]] (khoảng 287–212 TCN) của [[Siracusa|Syracuse]] đã sử dụng phương pháp vét cạn để tính toán diện tích dưới vòng cung của một [[parabol]] bằng tổng một [[Chuỗi (toán học)|chuỗi vô tận]], và cho ra kết quả xấp xỉ khá chính xác của số [[pi]].<ref>{{Chú thích web|title=A history of calculus|author1=O'Connor, J.J.|author2=Robertson, E.F.|publisher=[[University of St Andrews]]|url=http://www-groups.dcs.st-and.ac.uk/~history/HistTopics/The_rise_of_calculus.html|date=February 1996|access-date=ngày 7 tháng 8 năm 2007|archive-date=2007-07-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20070715191704/http://www-groups.dcs.st-and.ac.uk/~history/HistTopics/The_rise_of_calculus.html|url-status=dead}}</ref>
Ông cũng nghiên cứu các xoắn ốc mang tên ông và thu được công thức thể tích của các mặt quay quanh một trục.
[[Tập tin:Woman_teaching_geometry.jpg|trái|nhỏ|''Phụ nữ dạy hình học''. Minh họa thời một bản dịch trung cổ đầu tiên của cuốn [[Cơ sở (Euclid)|Cơ sở]], (khoảng 1310)]]
Các nhà toán học Ấn Độ cũng có nhiều đóng góp quan trọng trong hình học. Cuốn sách ''Satapatha Brahmana'' (thế kỷ 3 TCN)
chứa các quy tắc cho công trình xây dựng hình học tương tự như cuốn ''Sulba Sutras''.<ref><span>(</span>[[Wikipedia:Geometry#CITEREFStaal1999|Staal 1999]]<span>)</span><sup class="noprint Inline-Template" style="white-space:nowrap;">[''[[Wikipedia:Chú thích nguồn gốc|<span title="A more detailed citation is required. (January 2016)">full citation needed</span>]]'']</sup></ref> Theo <span>(</span>[[wikipedia:Geometry#CITEREFHayashi2005|Hayashi 2005]]<span>, p.</span> <span>363)</span>, cuốn ''Śulba Sūtras'' chứa "diễn đạt bằng lời nói tồn tại sớm nhất của định lý Pytago trên thế giới, mặc dù nó đã được những người Babylon cổ đại biết đến từ trước. Chúng chứa danh sách các [[bộ ba số Pythagore]],<ref>Pythagorean triples are triples of integers <math> (a,b,c) </math> with the property: <math>a^2+b^2=c^2</math>.</ref> vốn là trường hợp đặc biệt của [[phương trình Diophantos]].<ref name="cooke198"><span>(</span>[[Wikipedia:Geometry#CITEREFCooke2005|Cooke 2005]]<span>, p.</span> <span>198)</span>: "The arithmetic content of the ''Śulva Sūtras'' consists of rules for finding Pythagorean triples such as (3, 4, 5), (5, 12, 13), (8, 15, 17), and (12, 35, 37).</ref> Trong bản thảo Bakhshali, có một vài bài toán hình học (bao gồm cả các bài toán về khối lượng của các chất rắn bất thường). Bản thảo Bakhshali cũng "sử dụng một hệ thống số thập phân với một dấu chấm cho số không."<ref name="hayashi2005-371"><span>(</span>[[Wikipedia:Geometry#CITEREFHayashi2005|Hayashi 2005]]<span>, p.</span> <span>371)</span></ref> Tác phẩm Aryabhatiya của [[Aryabhata]] (499)
bao gồm các công thức tính toán diện tích và khối lượng.
[[Brahmagupta]] đã viết tác phẩm thiên văn học ''Brāhma Sphuṭa Siddhānta'' năm 628. Chương 12 của cuốn này, có 66 câu [[tiếng Phạn]], được chia thành hai phần: "Các phép toán cơ bản" (bao gồm khai căn bậc ba, phân số, tỷ lệ và tỷ lệ thuận) và "toán học thực tế" (bao gồm hỗn hợp, chuỗi toán học, hình học phẳng, xếp gạch, cưa gỗ, và xếp chồng gạo).<ref name="hayashi2003-p121-122"><span>(</span>[[Wikipedia:Geometry#CITEREFHayashi2003|Hayashi 2003]]<span>, pp.</span> <span>121–122)</span></ref> Trong phần sau, ông nêu định lý nổi tiếng của mình về các đường chéo của một [[tứ giác nội tiếp]]. Chương 12 cũng bao gồm một công thức tính diện tích của một tứ giác nội tiếp (một trường hợp tổng quát của [[công thức Heron]]), cũng như mô tả đầy đủ các hình [[tam giác]] hữu tỷ (hình [[tam giác]] với cạnh và diện tích là các số hữu tỷ).<ref name="hayashi2003-p121-122"/>
Trong thời kỳ [[Trung Cổ]], các nhà toán học Hồi giáo đã đóng góp vào sự phát triển của hình học, đặc biệt là [[hình học đại số]].<ref>R. Rashed (1994), ''The development of Arabic mathematics: between arithmetic and algebra'', p. 35 [[Luân Đôn|London]]</ref><ref name="Boyer Omar Khayyam positive roots">{{Chú thích sách|last=Boyer|authorlink=Carl Benjamin Boyer|title=A History of Mathematics|url=https://archive.org/details/historymathemati00boye_328|year=1991|chapter=The Arabic Hegemony|pages=[https://archive.org/details/historymathemati00boye_328/page/n260 241]–242|quote=Omar Khayyam (ca. 1050–1123), the "tent-maker," wrote an ''Algebra'' that went beyond that of al-Khwarizmi to include equations of third degree. Like his Arab predecessors, Omar Khayyam provided for quadratic equations both arithmetic and geometric solutions; for general cubic equations, he believed (mistakenly, as the 16th century later showed), arithmetic solutions were impossible; hence he gave only geometric solutions. The scheme of using intersecting conics to solve cubics had been used earlier by Menaechmus, Archimedes, and Alhazan, but Omar Khayyam took the praiseworthy step of generalizing the method to cover all third-degree equations (having positive roots)... For equations of higher degree than three, Omar Khayyam evidently did not envision similar geometric methods, for space does not contain more than three dimensions,... One of the most fruitful contributions of Arabic eclecticism was the tendency to close the gap between numerical and geometric algebra. The decisive step in this direction came much later with Descartes, but Omar Khayyam was moving in this direction when he wrote, "Whoever thinks algebra is a trick in obtaining unknowns has thought it in vain. No attention should be paid to the fact that algebra and geometry are different in appearance. Algebras are geometric facts which are proved."}}</ref> Al-Mahani (sinh 853) hình thành các ý tưởng của việc giải các bài toán hình học như biến việc nhân đôi hình lập phương thành [[giải phương trình]] đại số.<ref>{{MacTutor Biography|id=Al-Mahani|title=Al-Mahani}}</ref> Thābit ibn Qurra (được biết đến với tên Thebit trong [[tiếng Latinh]]) (836–901) xử lý các phép tính áp dụng cho tỷ lệ của thông số hình học, và đóng góp cho sự phát triển của [[hình học giải tích]].<ref>{{MacTutor Biography|id=Thabit|title=Al-Sabi Thabit ibn Qurra al-Harrani}}</ref> [[Omar Khayyám]] (1048–1131) tìm ra các giải pháp hình học để [[giải phương trình]] bậc ba.<ref>{{MacTutor Biography|id=Khayyam|title=Omar Khayyam}}</ref> Định lý của [[Alhazen|Ibn al-Haytham]] (Alhazen), Omar Khayyam và Nasir al-Din al-Tusi về [[tứ giác]],bao gồm các tứ giác Lambert và tứ giác Saccheri, là kết quả ban đầu trong hình học hyperbol, và cùng với những tiên đề thay thế của họ, chẳng hạn như [[tiên đề Playfair]], các công trình trên đã có một ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của hình học phi Euclid, và là tiền đề cho các công trình của các nhà toán học Witelo (c. 1230-c. 1314), Gersonides (1288-1344), Alfonso, [[John Wallis]], và [[Giovanni Girolamo Saccheri]].<ref>Boris A. Rosenfeld and Adolf P. Youschkevitch (1996), "Geometry", in Roshdi Rashed, ed., ''Encyclopedia of the History of Arabic Science'', Vol. 2, p. 447–494 [470], Routledge, London and New York:</ref>
==Hình học đương đại==
=== Hình học Euclid ===
{{Chính|Hình học Euclid}}
[[Tập tin:Title page of Sir Henry Billingsley's first English version of Euclid's Elements, 1570 (560x900).jpg|nhỏ|phải|200px|Bìa trước của bản dịch tiếng Anh đầu tiên của Henry Billingsley năm 1570]]
Hệ tiên đề hình học đầu tiên được tập hợp hệ thống và công bố trong tác phẩm ''[[Cơ sở (Euclid)|Cơ sở]]'' của [[Euclid]]. Hệ tiên đề này lấy mô hình từ không gian vật lý theo nhận thức của thời đó. Các khái niệm nguyên thủy trong hệ tiên đề này là ''điểm'',''đường thẳng'' và ''mặt phẳng''. Từ ba khái niệm cơ bản này và một số rất ít các tiên đề, Euclid đã xây dựng thành nội dung toàn bộ môn hình học ở phổ thông hiện nay, mà sau này các nhà toán học gọi là hình học Euclid.
Tuy nhiên, các tiên đề/định đề và một số khái niệm do Euclid xây dựng chưa đủ chặt chẽ do chưa có sự hoàn thiện về [[lý thuyết tập hợp]]. Sau này [[David Hilbert]] đã hoàn chỉnh lại thành một hệ tiên đề chặt chẽ và hoàn chỉnh. Môn hình học dạy trong chương trình phổ thông hiện nay thường chia ra [[hình học Euclid|hình học phẳng]] và [[hình học không gian]].
Hình học là một trong những môn học xuất hiện khá sớm. Hàng ngàn năm trước [[Công Nguyên|Công nguyên]], con người đã phải đo đạc các thửa ruộng, đong thóc gạo khi thu hoạch, xây dựng những kim tự tháp khổng lồ. Môn hình học lúc đầu ra đời có ý nghĩa là một khoa học về đo đạc. Nhưng rồi, con người không phải chỉ cần đo đất, mà cần nghiên cứu nhiều điều phức tạp hơn. Tuy nhiên, hình học chỉ trở thành môn khoa học thực sự khi con người nêu lên các tính chất hình học bằng con đường suy diễn chặt chẽ, chứ không phải từ đo đạc trực tiếp.
=== Tiên đề thứ năm của Euclid và Hình học phi Euclid ===
{{Chính|Hình học phi Euclid}}
Tiên đề thứ năm của Euclid gây nhiều sự chú ý của các nhà toán học vì nội dung của nó khá dài. Theo ngôn ngữ hiện nay thì định đề này có nội dung là:
:"''Qua một điểm ở ngoài một đường thẳng luôn có và chỉ có đúng một đường thẳng song song với đường thẳng đã cho''".
Nhiều nhà toán học nghi ngờ rằng nó là một [[định lý toán học|định lý]], nghĩa là có thể suy ra từ các tiên đề khác và loay hoay tìm cách chứng minh nó. Nhưng không một ai thành công. Đến thế kỷ thứ 19, hầu như đồng thời và độc lập với nhau, ba nhà toán học ở [[Nga]] ([[Nikolai Ivanovich Lobachevsky]]), [[Đức]] ([[Carl Friedrich Gauß|Carl Friedrich Gauss]]), và [[Hungary]] ([[János Bolyai]]) đã đặt ra một tư duy mới mẻ: ''"Chứng minh rằng nó không thể chứng minh được"''. Điều đó có nghĩa là ta có thể xây dựng một thứ hình học khác, trong đó tiên đề thứ năm là không đúng. Cả ba người đều đạt được kết quả. Từ đó ra đời hình học phi Euclid.
== Hình học fractal ==
'''[[Phân dạng|Fractal]]''' là một thuật ngữ do nhà Toán học [[Benoît Mandelbrot|Mandelbrot]] đưa ra khi ông khảo sát những hình hoặc những hiện tượng trong thiên nhiên không có đặc trưng về độ dài. Mandelbrot là nhà toán học vĩ đại của [[thế kỷ 20]]. Ông nói rằng: "Các đám mây không phải là [[hình cầu]], các ngọn núi không phải là [[mặt nón#Hình nón|hình nón]]". Theo ông Fractal là chỉ những đối tượng hình học có hình dáng gồ ghề, không trơn nhẵn trong thiên nhiên. Cụ thể hơn đó là những vật thể có tính đối xứng sắp xếp trong một phạm vi nhất định, có nghĩa là khi ta chia một vật thể fractal, với hình dáng gồ ghề, gãy góc ra thành những phần nhỏ thì nó vẫn có được đặc tính đối xứng trong một cấu trúc tưởng như hỗn đoạn. Hình dáng các đám mây, đường đi của các [[Tia sét|tia chớp]] là những ví dụ mà ta dễ nhìn thấy được.
Rất nhiều người, khi có dịp làm quen với hình học fractal đã nhanh chóng thích thú có khi đến say mê, bởi nhiều lý do:
Một là, hình học fractal ra đời và phát triển với nhiều ý tưởng mới lạ, độc đáo, gợi cho ta một cách nhìn thiên nhiên khác với cách nhìn quá quen thuộc do [[hình học Euclid]] đưa lại từ mấy nghìn năm nay.
Hai là, hình học fractal thường được xây dựng với quy tắc khá đơn giản, nhưng đưa đến những hình ảnh rất lạ mắt, rất đẹp.
Ba là, hình học fractal có nhiều ứng dụng phong phú, đa dạng, có khi rất bất ngờ vào rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ các ngành xây dựng, khai thác dầu khí, chế tạo dụng cụ chính xác… đến [[sinh lý học]], [[ngôn ngữ học]], [[âm nhạc]].
Bốn là, hình học fractal là một ngành toán học cao cấp, hiện đại nhưng một số ý tưởng của nó, một số kết quả đơn giản của nó có thể trình bày thích hợp cho đông đảo người đọc.
Hình học Euclid được giới thiệu ở trường trung học với việc khảo sát các hình [[đa giác]], [[hình tròn]], hình [[đa diện]], [[quả cầu|hình cầu]], [[mặt nón#Hình nón|hình nón]]…Hơn hai nghìn năm qua hình học Euclid đã có tác dụng to lớn đối với nền văn minh nhân loại, từ việc đo đạc ruộng đất đến vẽ đồ án xây dựng nhà cửa, chế tạo vật dụng và máy móc, từ việc mô tả [[quỹ đạo]] của các hành tinh trong [[hệ Mặt Trời|hệ mặt trời]] đến mô tả cấu trúc của [[nguyên tử]]. Tuy nhiên, qua hình học Euclid ta nhìn mọi vật dưới dạng "đều đặn", "trơn nhẵn". Với những hình dạng trong hình học Euclid ta không thể hình dung và mô tả được nhiều vật thể rất quen thuộc xung quanh như quả núi, bờ biển, đám mây, nhiều bộ phận trong cơ thể như [[mạch máu]]… là những vật cụ thể cực kỳ không đều đặn không trơn nhẵn mà rất xù xì, gồ ghề. Một ví dụ đơn giản: bờ biển đảo Phú Quốc dài bao nhiêu? Ta không thể có được câu trả lời. Nếu dùng cách đo hình học quen thuộc dù thước đo có nhỏ bao nhiêu đi nữa ta cũng đã bỏ qua những lồi lõm giữa hai đầu của thước đo ấy, nhất là chỗ bờ đá nhấp nhô. Và với thước đo càng nhỏ ta có [[chiều dài]] càng lớn và có thể là… vô cùng lớn.
== Các phân ngành của hình học hiện nay ==
== Xem thêm ==
* [[Danh sách các bộ môn hình học]]
* [[Hình học Euclid]]
* [[Cơ bản (Euclid)]]
* [[Hình học phi Euclid]]
== Tham khảo ==
{{tham khảo|30em}}
==Liên kết ngoài==
{{Wikibooks}}
{{thể loại Commons|Geometry}}
* A [[v:Geometry|geometry]] course from [[v:|Wikiversity]]
* [http://www.8foxes.com/ ''Unusual Geometry Problems'']
* [http://mathforum.org/library/topics/geometry/ ''The Math Forum'' — Geometry] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20220128062957/http://mathforum.org/library/topics/geometry/ |date=2022-01-28 }}
** [http://mathforum.org/geometry/k12.geometry.html ''The Math Forum'' — K–12 Geometry] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080415225526/http://mathforum.org/geometry/k12.geometry.html |date=2008-04-15 }}
** [http://mathforum.org/geometry/coll.geometry.html ''The Math Forum'' — College Geometry] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080415055232/http://mathforum.org/geometry/coll.geometry.html |date=2008-04-15 }}
** [http://mathforum.org/advanced/geom.html ''The Math Forum'' — Advanced Geometry] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20080416182158/http://mathforum.org/advanced/geom.html |date=2008-04-16 }}
* [http://precedings.nature.com/documents/2153/version/1/ Nature Precedings — ''Pegs and Ropes Geometry at Stonehenge'']
* [http://www.math.niu.edu/~rusin/known-math/index/tour_geo.html ''The Mathematical Atlas'' — Geometric Areas of Mathematics] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20060906203141/http://www.math.niu.edu/~rusin/known-math/index/tour_geo.html |date = ngày 6 tháng 9 năm 2006}}
* [http://www.gresham.ac.uk/event.asp?PageId=45&EventId=618 "4000 Years of Geometry"] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20071004174210/http://www.gresham.ac.uk/event.asp?PageId=45&EventId=618 |date=2007-10-04 }}, lecture by Robin Wilson given at [[Gresham College]], ngày 3 tháng 10 năm 2007 (available for MP3 and MP4 download as well as a text file)
** [http://plato.stanford.edu/entries/geometry-finitism/ Finitism in Geometry] at the Stanford Encyclopedia of Philosophy
* [http://www.ics.uci.edu/~eppstein/junkyard/topic.html The Geometry Junkyard]
* [http://www.mathopenref.com Interactive geometry reference with hundreds of applets]
* [http://math.kennesaw.edu/~mdevilli/JavaGSPLinks.htm Dynamic Geometry Sketches (with some Student Explorations)] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090321024112/http://math.kennesaw.edu/~mdevilli/JavaGSPLinks.htm |date = ngày 21 tháng 3 năm 2009}}
* [http://www.khanacademy.org/?video=ca-geometry--area--pythagorean-theorem#california-standards-test-geometry Geometry classes] at [[Khan Academy]]
{{Chủ đề hình học}}
{{Toán}}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
[[Thể loại:Hình học| ]]
[[Thể loại:Bài cơ bản dài]]
[[Thể loại:Toán học thuần túy]] | 43193 |
1356 | Thảo luận Wikipedia:Thảo luận/Lưu 2 | 5 | null | null | 139380 | 29935 | 2006-01-31T10:28:57 | true | [[Thảo luận Wikipedia:Thảo luận]] đổi thành [[Thảo luận Wikipedia:Thảo luận/Lưu 2]] | wikitext | text/x-wiki | tahh3pdj2n823hdpps3odwvho3mmlcg | {
"username": "Phan Ba",
"id": "208",
"ip": null
} | Xin xem [[Wikipedia:Thảo luận]] | 35 |
1357 | Thảo luận Thành viên:Nhữ Quỳnh Tân | 3 | null | null | 53435 | 29936 | 2005-09-07T02:33:35 | false | Sửa liên kết bằng tay | wikitext | text/x-wiki | rhvjpqppvg69dwn6o1nh1z47v18ozpb | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | ==Chào bạn!==
(Trả lời câu ở [[Thảo luận Wikipedia:Thảo Luận]])
Website này vẫn còn nhiều tiếng Anh tại dự án này chỉ có vài người làm giúp đỡ thường xuyên. Tôi là người làm phần nhiều ở đây, mà tôi vẫn đang học tiếng Việt, cho nên tôi hay dịch sai lắm. Đây chưa có đủ người giúp để sửa đổi những dịch sai của tôi.
Nếu bạn có thể giúp đỡ chúng tôi về dự án này thì tốt lắm! Mời bạn sửa đổi những trang nào - hoặc đây cũng có một liên kết đề "[[Special:Randompage|Trang ngẫu nhiên]]" ở bên trái. Cám ơn rất là nhiều!
– [[User:Mxn|[[User:Mxn|Minh Nguyễn]] <small>([[User talk:Mxn|thảo luận]], [http://mxn.f2o.org/ blog])</small>]] 00:05, 30 Sep 2004 (UTC) | 853 |
1358 | Thể loại:Quốc gia | 14 | null | null | 65490269 | 65490108 | 2021-08-15T19:37:48 | true | Đã lùi lại sửa đổi của [[Special:Contributions/Canhductu111|Canhductu111]] ([[User talk:Canhductu111|Thảo luận]]) quay về phiên bản cuối của [[User:Hugopako|Hugopako]] | wikitext | text/x-wiki | 3pyki8d2geqqyargl5i8vowfllv67fp | {
"username": "NguoiDungKhongDinhDanh",
"id": "798851",
"ip": null
} | {{category diffuse}}
'''[[Quốc gia]]''', hay [[nước (địa lý)|nước]], là một thực thể bao gồm:
{{thể loại Commons|Countries}}
# một vùng [[địa lý học|địa lý]],
# một [[dân tộc]] và
# một hệ thống [[chính trị]] trong đó có [[chính phủ]], [[hiến pháp]], [[luật lệ]], [[trật tự]], [[quân đội]], [[thuế má]]...
{{Bài chính thể loại}}
{{TOC}}
[[Thể loại:Địa lý học]]
[[Thể loại:Thế giới]]
[[Thể loại:Chính trị]]
[[Thể loại:Quốc tịch]]
[[Thể loại:Địa chính trị]]
[[Thể loại:Thể loại chứa]]
[[Thể loại:Đơn vị lãnh thổ hành chính theo loại]]
[[Thể loại:Nơi chốn]] | 716 |
1359 | Thể loại:Đạo Phật | 14 | null | null | 301043 | 62033 | 2006-08-29T11:16:29 | false | null | wikitext | text/x-wiki | 80ayj7q1rv7wwkcrcyxp8wat99t32e8 | {
"username": "Nguyễn Thanh Quang",
"id": "255",
"ip": null
} | {{Đổi hướng thể loại|Phật giáo}} | 45 |
1360 | Thảo luận Wikipedia:Bằng nhiều ngôn ngữ | 5 | null | null | 29939 | 3579 | 2004-10-01T01:21:26 | false | Re: Walloon | wikitext | text/x-wiki | cmv8l3w6carsp4b3koofxu671f391ty | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | As far as I know, ''Wallon'' (Walloon) in Vietnamese is ''tiếng Oa-lon''. [[User:David|David]] 12:00, 30 Sep 2004 (UTC)
:Alright. Thanks. – [[User:Mxn|[[User:Mxn|Minh Nguyễn]] <small>([[User talk:Mxn|thảo luận]], [http://mxn.f2o.org/ blog])</small>]] 01:21, 1 Oct 2004 (UTC) | 298 |
1361 | Quốc gia | 0 | null | null | 73757338 | 73611001 | 2025-08-11T23:44:10 | false | null | wikitext | text/x-wiki | d9jikmj86jkz7dgtbzc2q66pgwxgc62 | {
"username": "Mynameiskakaka?",
"id": "994132",
"ip": null
} | {{unreferenced}}
{{Xem thêm|Nước (chính trị)}}
[[Tập tin:Flag-map of the world.svg|nhỏ|Bản đồ các quốc gia trên thế giới, kèm theo đó là quốc kì của các quốc gia trên lãnh thổ của mỗi nước]]
'''Quốc gia''' là một khái niệm [[không gian]], [[văn minh]], [[xã hội]] và [[chính trị]]; trừu tượng về [[tinh thần]], [[tình cảm]] và [[pháp lý]], để chỉ về một [[lãnh thổ]] có [[chủ quyền]], một [[chính quyền]] và những [[con người]] của các [[dân tộc]] có trên [[lãnh thổ]] đó; họ gắn bó với nhau bằng [[luật pháp]], [[quyền lợi]], [[văn hóa]], [[tôn giáo]], [[ngôn ngữ]], [[chữ viết]] qua quá trình [[lịch sử]] lập quốc, và những [[Người|con người]] chấp nhận nền [[văn hóa]] cũng như lịch sử lập quốc đó cùng chịu sự chi phối của chính quyền, và, họ cùng nhau chia sẻ quá khứ cũng như hiện tại và cùng nhau xây dựng một tương lai chung trên vùng lãnh thổ có chủ quyền. Theo nghĩa thông thường, "quốc gia" được hiểu là một [[quốc gia có chủ quyền]]. Tuy nhiên nó cũng có thể là một [[lãnh thổ phụ thuộc]] hoặc một quốc gia cấu thành nên một quốc gia có chủ quyền, ví dụ như [[Scotland]] trong [[Anh Quốc]].
Quốc gia cũng có khi được dùng để chỉ một '''nước''' hay '''đất nước''', như "Nước [[Việt Nam]] là một quốc gia ở vùng [[Đông Nam Á]]". Hai khái niệm này, mặc dù vẫn thường được dùng thay cho nhau, nhưng có sắc thái khác nhau.
Tính từ "quốc gia" là dùng để chỉ mức độ quan trọng tầm cỡ quốc gia và/hoặc được [[chính phủ]] bảo trợ như "[[Thư viện quốc gia]], [[Trung tâm lưu trữ quốc gia]], Hội đồng quốc gia biên soạn từ điển..."
Về phương diện [[công pháp quốc tế]] thì một chủ thể được xem là quốc gia khi có đầy đủ các yếu tố sau: [[lãnh thổ]], dân cư và có chính quyền. Quốc gia là chủ thể quan trọng của quan hệ [[pháp luật quốc tế]].
Hiện nay thì thế giới có 195 quốc gia thuộc [[Liên Hợp Quốc|Liên Hiệp Quốc]], bao gồm 193 quốc gia thành viên và 2 quan sát viên là [[Thành Vatican|Thành quốc Vatican]] và [[Nhà nước Palestine|Palestine]].
Các quốc gia này được chia thành các khu vực khác nhau trên thế giới:
* '''Châu Phi''': 54 quốc gia
* '''Châu Á''': 48 quốc gia
* '''Châu Âu''': 44 quốc gia
* '''Châu Mỹ Latinh và Caribe''': 33 quốc gia
* '''Châu Đại Dương''': 14 quốc gia
* '''Bắc Mỹ''': 2 quốc gia
== Xem thêm ==
* [[Danh sách quốc gia|Danh sách các nước trên thế giới]]
* [[Danh sách quốc gia theo số dân|Danh sách quốc gia theo dân số]]
* [[Danh sách quốc gia không còn tồn tại|Danh sách các nước không còn nữa]]
* [[Danh sách quốc gia xã hội chủ nghĩa|Danh sách các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa]]
*[[Danh sách các chủ đề liên quan đến quốc gia]]
*[[Danh sách theo quốc gia]]
==Tham khảo==
{{Tham khảo|30em}}
== Liên kết ngoài ==
{{sơ khai chính trị}}
{{thể loại Commons|Countries}}
[[Thể loại:Quốc gia| ]]
[[Thể loại:Địa lý học]]
[[Thể loại:Thế giới]]
[[Thể loại:Chính trị học]]
[[Thể loại:Địa lý nhân văn]] | 3573 |
1362 | Thể loại:Địa lý học | 14 | null | null | 70501725 | 64166807 | 2023-07-30T00:16:15 | false | Sửa lỗi trình bày văn bản | wikitext | text/x-wiki | osqad80fnq7pjvwzw463wonurqxfph5 | {
"username": "Ln.Vi",
"id": "922154",
"ip": null
} | [[Tập tin:Physical world.jpg|nhỏ|300px|phải|[[Bản đồ]] thế giới]]
'''[[Địa lý học]]''' là địa lý một ngành khoa học chuyên nghiên cứu về những quy luật, đặc điểm, phân bố của tự nhiên (địa lý tự nhiên); dân cư trên điều kiện tự nhiên đó (địa lý dân cư); nền kinh tế dựa trên điều kiện tự nhiên tình hình, đặc điểm dân cư (địa lý kinh tế). Chữ ''địa'' (地) là chữ Hán-Việt có nghĩa là ''đất'' hay ''trái đất'', ''lý''(理)là "chân lý", "lý luận". Chữ địa lý bắt nguồn từ gốc chữ Hi lạp gồm 2 phần, ''geo'' có nghĩa là ''Trái đất'', ''graphy'' có nghĩa là ''mô tả''.
Chủ đề này bao gồm:
* Các [[vị trí]] trên trái đất
* Các vùng [[chính trị]] và [[văn minh]], thí dụ như [[quốc gia]] và [[thành phố]]
* Các môn [[khoa học]] liên quan.
''Để tham khảo về những vùng ngoài trái đất, xem chủ đề [[:Category:Thiên văn học|thiên văn học]].''
{{Bài chính thể loại}}
{{thể loại Commons|Geography}}
<!--[[Thể loại:10 lĩnh vực lớn]]-->
[[Thể loại:Khoa học Trái Đất]]
[[Thể loại:Cấu trúc]]
[[Thể loại:Khoa học xã hội]][[Thể loại:Phân loại chủ đề chính]] | 1354 |
1364 | Địa lý | 0 | null | null | 73439804 | 73373191 | 2025-04-18T17:41:28 | true | (Bot) [[User:AnsterBot#AlphamaEditor|AlphamaEditor]], thêm thể loại, Executed time: 00:00:04.9064590, replaced: {{Cite encyclopedia → {{Chú thích bách khoa toàn thư | wikitext | text/x-wiki | 56hndngtyjilvnnfa2ltng949h3vj3h | {
"username": "AnsterBot",
"id": "912316",
"ip": null
} | {{1000 bài cơ bản}}
{{bài cùng tên|Địa lý (định hướng)}}
[[Tập tin:CIA WorldFactBook-Political world.pdf|nhỏ|phải|400px|Bản đồ Hành chính Thế giới, 2019 bởi [[CIA]].]]
'''Địa lí''' hay '''Địa lí học''' (hay còn gọi tắt là '''địa''') ([[Tiếng Anh]]: ''geography'', {{Langx|el|γεωγραφία|geographia}}, nghĩa là "mô tả Trái Đất"<ref>{{Chú thích web |url=http://www.etymonline.com/index.php?term=geography |tiêu đề=Online Etymology Dictionary |nhà xuất bản=Etymonline.com |ngày tháng= |ngày truy cập=2009-04-17}}</ref>) ngành giáo dục cũ của Việt Nam còn gọi là '''Địa dư''', là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu về các vùng đất, địa hình, dân cư và các hiện tượng trên [[Trái Đất]].<ref>{{Chú thích web |tiêu đề=Geography |work=The American Heritage Dictionary/ of the English Language, Fourth Edition |nhà xuất bản=Houghton Mifflin Company |url=http://dictionary.reference.com/browse/geography |ngày truy cập=ngày 9 tháng 10 năm 2006}}</ref> Dịch sát nghĩa sẽ là "nhằm mô tả hoặc viết về Trái Đất". Người đầu tiên đề cập đến thuật ngữ này là [[Eratosthenes]] (276–194 TCN).<ref>{{chú thích sách|title=Eratosthenes' Geography|year=2010|publisher=Princeton University Press|url=http://books.google.co.uk/books/about/Eratosthenes_Geography.html?id=8peKyWK_SWsC|isbn=9780691142678}}</ref> Bốn lĩnh vực truyền thống nghiên cứu về địa lý là phân tích không gian của tự nhiên và các hiện tượng con người (như các nghiên cứu về phân bố), [[Địa lý khu vực|nghiên cứu khu vực]], nghiên cứu về mối quan hệ con người đất, và nghiên cứu về ''[[Khoa học Trái Đất]]''.<ref>{{chú thích tạp chí |last=Pattison |first=W.D. |year=1990 |title=The Four Traditions of Geography |journal=Journal of Geography |volume=89 |issue=5 |pages=202–6 |url=http://www.geog.ucsb.edu/~kclarke/G200B/four_20traditions_20of_20geography.pdf |issn=0022-1341 |doi=10.1080/00221349008979196 }} Reprint of a 1964 article.</ref> Địa lý hiện đại mang tính liên ngành bao gồm tất cả những hiểu biết trước đây về Trái Đất và tất cả những mối quan hệ phức tạp giữa con con người và tự nhiên - không chỉ đơn thuần là nơi có các đối tượng đó, mà còn về cách chúng thay đổi và đến được như thế nào. Địa lý đã được gọi là "ngành học về thế giới" và "cầu nối giữa con người và [[khoa học vật lý]]". Địa lý được chia thành hai nhánh chính: [[Địa lý nhân văn]] và [[địa lý tự nhiên]].<ref>{{Chú thích web |url=http://web.clas.ufl.edu/users/morgans/lecture_2.prn.pdf |ngày truy cập=2014-07-03 |tựa đề=Bản sao đã lưu trữ |archive-date=2008-10-03 |archive-url=https://web.archive.org/web/20081003084542/http://web.clas.ufl.edu/users/morgans/lecture_2.prn.pdf |url-status=dead }}</ref><ref>{{Chú thích web |url=http://www.physicalgeography.net/fundamentals/1b.html |tiêu đề=1(b). Elements of Geography |nhà xuất bản=Physicalgeography.net |ngày tháng= |ngày truy cập=2009-04-17}}</ref><ref>Bonnett, Alastair ''What is Geography?'' Luân Đôn, Sage, 2008</ref>
Chủ đề này bao gồm:
* Các vị trí trên Trái Đất và trên [[vũ trụ]].
* Các vùng [[văn minh]] ví dụ như [[quốc gia]] hay [[thành phố]] và địa phương.
* Các môn [[khoa học]] liên quan đến địa lý ([[lịch sử]], [[triết học]], [[toán học]], [[tự nhiên học]], [[thiên văn học]], [[địa chất học]], [[xã hội học]], [[dân tộc học]], [[sinh thái học]],...)
==Lịch sử==
Các bản đồ thế giới cổ nhất từng được biết đến có tuổi vào thời [[Babylon]] cổ vào thế kỷ IX TCN.<ref name="Kurt A. Raaflaub & Richard J. A. Talbert 2009 147">{{Chú thích sách |title=Geography and Ethnography: Perceptions of the World in Pre-Modern Societies |author=Kurt A. Raaflaub & Richard J. A. Talbert |publisher=[[John Wiley & Sons]] |year=2009 |isbn=1405191465 |page=147 |postscript=<!--None-->}}</ref> Bản đồ thế giới [[Babylonia]] nổi tiếng nhất là ''[[Bản đồ thế giới của Babylon|Imago Mundi]]'' vào 600 TCN.<ref>Siebold, Jim [http://www.henry-davis.com/MAPS/Ancient%20Web%20Pages/103.html Slide 103] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20161109193653/http://www.henry-davis.com/MAPS/Ancient%20Web%20Pages/103.html |date=2016-11-09 }} via henry-davis.com - accessed 2008-02-04</ref> Bản đồ được [[Eckhard Unger]] tái lập thể hiện vị trí của [[Babylon]] ở [[Euphrates]], bao bọc xung quanh là các vùng đất có hình tròn gồm [[Assyria]], [[Urartu]]<ref>{{Chú thích web | url = http://www.jstor.org/pss/1151277 | tiêu đề = JSTOR: An Error Occurred Setting Your User Cookie | tác giả 1 = | ngày = | ngày truy cập = 25 tháng 9 năm 2015 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref> và một vài thành phố, các thành phố và vùng đất bên ngoài lại được bao bọc bởi một con sông ([[Oceanus]]), có 7 hòn đảo xung quanh nó tạo thành một hình sao 7 đỉnh. Các văn bản kèm theo đề cập đến 7 khu vực bên ngoài đại dương bao la. Trong các miêu tả thì có 5 trong số đó vẫn còn tồn tại.<ref>{{Chú thích sách |first=Irving |last=Finel |title=A join to the map of the world: A notable discover |year=1995 |pages=26–27}}</ref> Ngược lại với ''Imago Mundi'', một [[bản đồ thế giới]] Babylon trước đó có tuổi vào thể kỷ 9 TCNd mô tả Babylon nằm về phía bắc từ trung tâm thế giới, mặc dù nó không xác định rõ ràng cái gì là trung tâm.<ref name="Kurt A. Raaflaub & Richard J. A. Talbert 2009 147"/>
Theo cách tiếp cận, địa lý được chia thành hai nhánh chính: địa lý chung và địa lý khu vực. Địa lý nói chung là phân tích và nghiên cứu vật lý và địa lý nhân văn, trong khi các khu vực địa lý là súc tích và giải quyết các hệ thống lãnh thổ cụ thể. Tuy nhiên, sự kết nối giữa hai ngành có truyền thống là một vấn đề của cuộc tranh luận trong [[Địa lý thế giới|địa lý]].
===Địa lý khu vực===
Địa lý khu vực là nghiên cứu về các khu vực trên thế giới. Chú ý đến đặc điểm độc đáo của một vùng cụ thể như các yếu tố tự nhiên, yếu tố con người, và khu vực bao gồm các kỹ thuật phân định không gian vào khu vực.
Địa lý trong khu vực cũng là một phương pháp nhất định để nghiên cứu địa lý, địa lý so sánh với số lượng hoặc vị trí địa lý quan trọng. Cách tiếp cận này chiếm ưu thế trong nửa sau của thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, một thời gian khi mô hình địa lý sau đó khu vực là trung tâm trong các ngành khoa học địa lý. Sau đó bị chỉ trích vì tính miêu tả của nó và thiếu cơ sở lý thuyết. Chỉ trích mạnh mẽ trong những năm 1950 và cuộc cách mạng về số lượng. Các nhà chỉ trích chính là G. H. T. Kimble<ref>Kimble, G.H.T. (1951): ''The Inadequacy of the Regional Concept'', London Essays in Geography, edd. L.D. Stamp and S.W. Wooldridge, các trang 492-512.</ref> and [[Fred K. Schaefer]].<ref>Schaefer, F.K. (1953): ''Exceptionalism in Geography: A Methodological Examination'', [[Annals of the Association of American Geographers]], vol. 43, các trang 226-245.</ref>
===Địa lý tự nhiên===
Địa lý tự nhiên là một phân ngành của địa lý chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu hệ thống hóa các mô hình và quá trình diễn ra trong [[thủy quyển]], [[sinh quyển]], [[khí quyển Trái Đất|khí quyển]], thổ quyển và [[thạch quyển]]. Nó có ý định giúp người ta hiểu sự sắp xếp tự nhiên của Trái Đất, khí hậu và các kiểu mẫu hệ [[thực vật]] và [[động vật]] của nó. Nhiều lĩnh vực của địa lý tự nhiên sử dụng các kiến thức của [[địa chất học]], cụ thể là trong nghiên cứu về [[phong hóa]] và [[xói mòn]]. Địa chất học các hành tinh khác trong hệ Mặt Trời, xem bài [[Đặc trưng địa chất của hệ Mặt Trời]].
Địa lý tự nhiên trong vai trò của một ngành khoa học thông thường tương phản và bổ sung cho ngành khoa học chị em của nó là [[Địa lý nhân văn]].
:{| style="border:1px solid #ddd; text-align:center; margin: auto;" cellspacing="15"
| [[Tập tin:Línea de Wallace.jpg|96px]] || [[Tập tin:Cyclone Catarina from the ISS on March 26 2004.JPG|96px]] || [[Tập tin:90 mile beach.jpg|96px]] || [[Tập tin:Gavin Plant.JPG|96px]]
|-
| [[Địa lý sinh vật học]] || [[Khí hậu học]] & [[Khí tượng học]] || [[Địa lý học duyên hải]] || [[Quản lý môi trường]]
|-
| [[Tập tin:Meridian convergence and spehrical excess.png|96px]] || [[Tập tin:Delicate Arch LaSalle.jpg|96px]] || [[Tập tin:Receding glacier-en.svg|96px]] ||[[Tập tin:Meander-en.svg|96px]]
|-
| [[Khảo sát xây dựng]] || [[Địa mạo học]] || [[Băng học]] || [[Thủy văn học]] & [[Thủy đạc học]]
|-
| [[Tập tin:Khajuraho-landscape.jpg|96px]] || [[Tập tin:World11.jpg|96px]] || [[Tập tin:Soil profile.jpg|96px]] || [[Tập tin:Pangea animation 03.gif|96px]]
|-
| [[Sinh thái học cảnh quan]] || [[Hải dương học]] || [[Thổ nhưỡng học]] || [[Cổ địa lý học]]
|-
| [[Tập tin:Milankovitch Variations sv.png|96px]]
|-
| [[Kỷ Đệ Tứ]]
|}
===Địa lý nhân văn===
{{chính|Địa lý nhân văn}}
Địa lý nhân văn là một trong 2 phân ngành của địa lý. Địa lý nhân văn là một nhánh của [[khoa học xã hội]] nghiên cứu về thế giới, con người, cộng đồng và văn hóa<ref name=HGDICT>{{Chú thích bách khoa toàn thư | last = Johnston| first = Ron| editor1-last = Johnston | editor1-first = Ron| editor2-last = Gregory| editor2-first = Derek| editor3-last = Pratt| editor3-first = Geraldine|editor4-last = Watts | editor4-first = Michael|title = Human Geography| encyclopedia = The Dictionary of Human Geography| pages = 353–360| publisher = Blackwell| location = Oxford| year = 2000}}</ref> có sự nhấn mạnh mối liên hệ của không gian và vị trí địa lý. Địa lý nhân văn khác với [[địa lý tự nhiên]] chủ yếu tập trung nhiều vào nghiên cứu các hoạt động của con người và dễ tiếp thu các phương pháp nghiên cứu định lượng hơn.
:{| class="wikitable sortable mw-collapsible mw-collapsed" style="border:1px solid #ddd; text-align:center; margin: auto;" cellspacing="15"
|+
| [[Tập tin:Qichwa conchucos 01.jpg|96px]] || [[Tập tin:Pepsi in India.jpg|96px]] || [[Tập tin:Christaller model 1.jpg|96px]] || [[Tập tin:Star of life.svg|96px]]
|-
|[[Địa văn hóa]] || [[Địa lý phát triển]] || [[Địa lý kinh tế]] || [[Địa lý sức khỏe]]
|-
| [[Tập tin:British Empire 1897.jpg|96px]] || [[Tập tin:UN General Assembly.jpg|96px]] || [[Tập tin:Pyramide Comores.PNG|96px]] || [[Tập tin:ReligionSymbol.svg|96px]]
|-
| [[Địa sử học]] || [[Địa chính trị]] || [[Địa lý dân cư]] & [[Nhân khẩu học]] || [[Địa lý tôn giáo]]
|-
| [[Tập tin:US-hoosier-family.jpg|96px]] || [[Tập tin:RERParisVision2025.png|96px]] || [[Tập tin:Niagara Falls 4 db.jpg|96px]] || [[Tập tin:New-York-Jan2005.jpg|96px]]
|-
| [[Địa lý xã hội]] || [[Địa lý vận tải]] || [[Địa lý du lịch]] || [[Địa lý đô thị]]
|}
==Một số nhà địa lý học nổi bật==
[[Tập tin:The Geographer.jpg|nhỏ|phải|200px|''The Geographer'' của [[Johannes Vermeer]]]]
* [[Eratosthenes]] (276TCN - 194TCN) - người tính toán kích thước (chu vi, đường kính xích đạo) gần đúng [[Trái Đất]], đưa ra khái niệm '''Địa lý''' (''Geographica'') và vẽ tấm [[bản đồ]] [[thế giới]] đầu tiên, được mệnh danh là "Cha đẻ của Địa lý học".
* [[Ptolemy]] (khoảng 90–khoảng 168) người hoàn thiện và đề xuất "[[Thuyết địa tâm|thuyết Địa tâm]]" (thuyết cho rằng Trái Đất là trung tâm [[vũ trụ]], [[Mặt Trời]], [[Mặt Trăng]] và các [[thiên thể]] khác đều chuyển động xung quanh [[Trái Đất]]), vẽ những tấm bản đồ thế giới với độ chính xác cao (trong thời điểm bấy giờ), bổ sung thêm nhiều địa danh mới.
* [[Al Battani|Al-Battani]] ({{langx|ar|محمد بن جابر بن سنان البتاني}}) (khoảng 850-khoảng 929), người tính ra giá trị gần đúng của góc nghiêng của trục tự quay của [[Trái Đất]] so với [[mặt phẳng quỹ đạo]].
* [[Al Idrisi]] ([[tiếng Ả Rập]]: أبو عبد الله محمد الإدريسي; Latinh: Dreses) (1100–1165/66)
* [[Gerardus Mercator]] (1512–1594)
* [[Alexander von Humboldt]] (1769–1859)
* [[Carl Ritter]] (1779–1859)
* [[Arnold Henry Guyot]] (1807–1884)
* [[William Morris Davis]] (1850–1934)
* [[Paul Vidal de la Blache]] (1845–1918)
* Sir [[Halford Mackinder|Halford John Mackinder]] (1861–1947)
* [[Carl O. Sauer]] (1889–1975)
* [[Walter Christaller]] (1893–1969)
* [[Yi-Fu Tuan]] (1930-)
* [[David Harvey]] (1935-)
* [[Edward Soja]] (sinh 1941)
* [[Michael Frank Goodchild]] (1944-)
* [[Doreen Massey]] (1944-)
* [[Nigel Thrift]] (1949-)
* [[Ellen Churchill Semple]] (1863–1932)
==Tham khảo==
{{Tham khảo|30em}}
==Liên kết ngoài==
{{Wiktionary}}
{{Wikibooks}}
{{thể loại Commons|Geography}}
{{Khoa học xã hội|state=collapsed}}
{{Atlat}}
{{các chủ đề|Địa lý}}
[[Thể loại:Địa lý học| ]]
[[Thể loại:Khoa học Trái Đất]]
[[Thể loại:Khoa học xã hội]]
[[Thể loại:Bài cơ bản dài trung bình]]
[[Thể loại:Môn học]]
[[Thể loại:Phân loại chủ đề chính]]
[[Thể loại:Bài viết chủ đề chính]] | 14508 |
1365 | Đạo Phật | 0 | Phật giáo | null | 56019 | 56013 | 2005-09-13T21:57:28 | false | null | wikitext | text/x-wiki | ax9zbmem5lhqhx1x4gh0j5o4tu4av3l | {
"username": "Baodo",
"id": "1014",
"ip": null
} | #redirect [[Phật giáo]] | 26 |
1366 | Wikipedia:Tin tức/2004/10 | 4 | null | null | 29945 | null | 2004-10-01T01:34:45 | false | Added news about having 200 articles | wikitext | text/x-wiki | nu590d5clxthh9x7gljjannde6wqgm5 | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | Tin tức về dự án Wikipedia vào tháng 10 năm 2004:
==Thứ 6, ngày [[1 tháng 10]] năm 2004==
*Hiện có [[Special:Allpages|200 trang]] rồi. [[Đạo Phật]] là trang số 200, dùng bản văn ngắn lắm ở [[:Category:Đạo Phật|Category:Đạo Phật]]. Hiện có nhiều bài thông tin, mà dự án này lúc nào sẽ cấn thêm. Hơn nữa, dự án này có nhiều [[Wikipedia:Stub|bài mẩu (stub)]]. Phải viết thêm đầy đủ vào những cái trang đó để làm bách khoa này có ích hơn. | 541 |
1367 | Bản mẫu:Ngày tuần lễ Friday | 10 | null | null | 29946 | 3595 | 2004-10-01T01:54:47 | true | null | wikitext | text/x-wiki | f05j3iki53utjdu8j2r5ppjd3gars5z | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | Thứ sáu | 10 |
1368 | Bản mẫu:Ngày tuần lễ Sunday | 10 | null | null | 29947 | null | 2004-10-01T01:47:23 | false | Testing... | wikitext | text/x-wiki | id74joo9s4fkt9ff1swmtxbm3v4dkzo | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | Chủ nhật | 12 |
1369 | Bản mẫu:Ngày tuần lễ Monday | 10 | null | null | 29948 | 3591 | 2004-10-01T01:53:29 | true | null | wikitext | text/x-wiki | slwuaxblgktiuog5785zefzmourpbad | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | Thứ hai | 9 |
1370 | Bản mẫu:Ngày tuần lễ Tuesday | 10 | null | null | 29949 | 3592 | 2004-10-01T01:53:40 | true | null | wikitext | text/x-wiki | je9s7j4s1fy0c7ufmqrbg76mqqehfbs | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | Thứ ba | 8 |
1371 | Bản mẫu:Ngày tuần lễ Wednesday | 10 | null | null | 29950 | 3593 | 2004-10-01T01:53:54 | true | null | wikitext | text/x-wiki | sxoxc0a0deuinxhxzbar4b40fngpbaf | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | Thứ tư | 9 |
1372 | Bản mẫu:Ngày tuần lễ Thursday | 10 | null | null | 29951 | 3594 | 2004-10-01T01:54:24 | true | null | wikitext | text/x-wiki | 05b6tow78nrxqlq7kgq87hjohk9318f | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | Thứ năm | 10 |
1373 | Bản mẫu:Ngày tuần lễ Saturday | 10 | null | null | 29952 | 3596 | 2004-10-01T01:55:03 | true | null | wikitext | text/x-wiki | fa2s1rdnkh0avhk420zzhi5mvcdcirc | {
"username": "Mxn",
"id": "4",
"ip": null
} | Thứ bảy | 11 |
1375 | Thể loại:Cơ học | 14 | null | null | 68094887 | 63917745 | 2022-02-03T07:20:57 | false | null | wikitext | text/x-wiki | mayx5x9aatuqplmejdw7yszq5t9h43u | {
"username": "Lqal76",
"id": "846894",
"ip": null
} | '''Cơ học''' là một ngành của [[vật lý]] nghiên cứu về [[chuyển động]] của [[vật chất]] trong [[không gian]] dưới tác dụng của [[các lực]].
=== Các chuyên ngành trong cơ học ===
* [[Cơ học cổ điển]]
** [[Cơ học Newton]], lý thuyết nguồn gốc của chuyển động ([[động học]]) và các lực ([[Động lực học (cơ học)|động lực học]])
** [[Cơ học Lagrange]], một hình thức lý thuyết
** [[Cơ học Hamilton]], một hình thức lý thuyết khác
** [[Cơ học thiên thể]], chuyển động của các ngôi sao, [[thiên hà]]...
** [[Cơ học vật rắn]], [[lý thuyết đàn hồi]], các đặc tính của vật thể rắn hoặc vật thể bán-rắn
** [[Âm học]], [[âm thanh]] trong chất rắn và chất lỏng...
** [[Tĩnh học]], [[vật rắn]], [[cân bằng vật rắn]]
** [[Cơ học chất lưu]], [[cơ học môi trường liên tục]], chuyển động của chất lưu (lỏng, khí,...)
** [[Thủy lực học]], cân bằng của chất lỏng
** [[Cơ sinh học]], chất rắn, chất lỏng,... trong [[sinh học]]
** [[Cơ học thống kê]]
** [[Thuyết tương đối]] hoặc cơ học [[Albert Einstein|Einsteinian]], [[hấp dẫn]] vũ trụ
* [[Cơ học lý thuyết]]
* [[Cơ học lượng tử]]
** [[Vật lý hạt]], chuyển động, cấu trúc và tương tác của các [[hạt cơ bản]]
** [[Vật lý hạt nhân]], chuyển động, cấu trúc và tương tác của các [[hạt nhân]]
** [[Vật lý vật chất đậm đặc]], lượng tử [[chất khí]], [[vật rắn]], [[chất lỏng]]...
** [[Cơ học lượng tử thống kê]]
{{Liên kết bài chủ đề}}
{{thể loại Commons|Mechanics}}
[[Thể loại:Kỹ thuật điện cơ]]
[[Thể loại:Vật lý học]]
[[Thể loại:Kỹ thuật cơ khí]]
[[Thể loại:Khái niệm vật lý]]
[[Thể loại:Chuyên ngành vật lý]] | 1988 |
1376 | Cơ học cổ điển | 0 | null | null | 74134258 | 70660087 | 2025-09-18T21:24:42 | false | null | wikitext | text/x-wiki | 2i3gyidjfcpoayswu1jdisoy2rizfyy | {
"username": "Lcsnes",
"id": "699065",
"ip": null
} | {{1000 bài cơ bản}}
{{Cơ học cổ điển}}
[[Tập tin:Orbital_motion.gif|liên_kết=https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp tin:Orbital_motion.gif|thế=animation of orbital velocity and centripetal acceleration|phải|nhỏ|180x180px|Sơ đồ chuyển động quỹ đạo của một vệ tinh xung quanh Trái Đất, hiển thị các vectơ vận tốc vuông góc và véc tơ gia tốc (lực).]]
'''Cơ học cổ điển''' là một nhánh con của [[vật lý]] nghiên cứu về [[chuyển động]] cơ bản của vật thể vĩ mô và các [[lực]] tác động lên vật đó, tuân theo những định luật vật lý sơ khai và những kết quả thu được bằng thực nghiệm, phân biệt với '''cơ học lượng tử''' nghiên cứu và chuyển động của các hạt vi mô.
Nếu trạng thái hiện tại của một vật thể được biết đến, có thể dự đoán theo [[định luật]] cơ học cổ điển nó sẽ di chuyển như thế nào trong tương lai (tính xác định) và cách nó di chuyển trong quá khứ (tính thuận nghịch).
Sự phát triển sớm nhất của cơ học cổ điển thường được gọi là cơ học Newton. Nó bao gồm các khái niệm vật lý được sử dụng và các phương pháp toán học được phát minh bởi [[Isaac Newton]], [[Gottfried Leibniz|Gottfried Wilhelm Leibniz]] và những nhà khoa học khác trong thế kỷ 17 để mô tả chuyển động của các [[vật thể]] dưới ảnh hưởng của một hệ thống [[lực]].
Sau đó, các phương pháp trừu tượng hơn đã được phát triển, dẫn đến các cải cách của cơ học cổ điển được gọi là [[cơ học Lagrange]] và [[cơ học Hamilton]]. Những tiến bộ này, được thực hiện chủ yếu trong thế kỷ 18 và 19, vượt xa đáng kể công việc của [[Newton]], đặc biệt thông qua việc sử dụng [[cơ học phân tích]]. Các hệ cơ học này với một số sửa đổi, cũng được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực vật lý hiện đại.
Cơ học cổ điển cung cấp kết quả cực kỳ chính xác khi nghiên cứu các vật thể lớn không cực lớn và tốc độ không đạt tới [[tốc độ ánh sáng]]. Khi các vật thể được kiểm tra có kích thước bằng đường kính nguyên tử, cần phải giới thiệu một lĩnh vực [[Cơ học|cơ bản chính khác]]: [[cơ học lượng tử]]. Để mô tả vận tốc không nhỏ so với tốc độ ánh sáng, cần có [[Thuyết tương đối hẹp|tính tương đối đặc biệt]]. Trong trường hợp các đối tượng trở nên cực kỳ lớn, [[thuyết tương đối rộng]] sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, một số nguồn hiện đại bao gồm cơ học tương đối tính vào vật lý cổ điển, theo quan điểm của họ đại diện cho cơ học cổ điển ở dạng phát triển và chính xác nhất.<ref group="note">The notion of "classical" may be somewhat confusing, since this term usually refers to the era of [[classical antiquity]] in [[European history]]. While many discoveries within the [[Toán học]] of that period are applicable today and of great use, much of the science that emerged from that time has since been superseded by more accurate models. This in no way detracts from the science of that time as most of modern physics is built directly upon those developments. The emergence of classical mechanics was a decisive stage in the development of [[science]], in the modern sense of the term. Above all, it is characterized by an insistence that more rigor be used to describe the behavior of bodies. Such an exacting foundation is only available through [[mathematical]] treatment and reliance on [[experiment]], rather than [[Speculative reason|speculation]]. Classical mechanics established a way to predict the behavior of objects in a quantitative manner and ways to test these predictions through carefully designed [[measurement]]. The emerging globally cooperative endeavor provided increased scrutiny and testing of both theory and experiment. This remains a key factor in establishing certainty in knowledge and in bringing it to the service of society. History shows how closely the health and wealth of a society depend on nurturing this investigative and critical approach.</ref>
== Mô tả lý thuyết ==
[[Tập tin:Tir_parabòlic.svg|liên_kết=https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp tin:Tir_parab%C3%B2lic.svg|thế=diagram of parabolic projectile motion|nhỏ|Việc phân tích [[Chuyển động đạn|chuyển động]] của vật thể được [[Chuyển động đạn|phóng]] là một phần của cơ học cổ điển.]]
Sau đây giới thiệu các khái niệm cơ bản của cơ học cổ điển. Để đơn giản, nó thường mô hình các đối tượng trong thế giới thực dưới dạng [[Hạt điểm|các hạt điểm]] (các đối tượng có kích thước không đáng kể). Chuyển động của một hạt điểm được đặc trưng bởi một số lượng nhỏ các [[tham số]]: vị trí, [[khối lượng]] của nó và các [[Lực|lực tác]] dụng lên nó. Mỗi tham số được thảo luận lần lượt.
Trong thực tế, các loại đối tượng mà cơ học cổ điển có thể mô tả luôn có kích thước [[0 (số)|khác không]]. (Vật lý của các hạt ''rất'' nhỏ, như [[electron]], được mô tả chính xác hơn bằng [[cơ học lượng tử]].) Các vật thể có kích thước khác không có hành vi phức tạp hơn các hạt điểm giả thuyết, vì [[Bậc tự do (lý hóa)|mức độ tự do]] bổ sung, ví dụ, một quả [[bóng chày]] có thể [[quay]] trong khi nó đang di chuyển. Tuy nhiên, kết quả cho các hạt điểm có thể được sử dụng để nghiên cứu các vật thể đó bằng cách coi chúng là các vật thể [[wiktionary:composite|tổng hợp]], được tạo thành từ một số lượng lớn các hạt điểm tác động tập thể. Tâm [[Khối tâm|khối lượng]] của một vật thể tổng hợp hoạt động giống như một hạt điểm.
Cơ học cổ điển sử dụng các khái niệm [[Tâm lý chung|thông thường]] về cách vật chất và lực tồn tại và tương tác. Nó giả định rằng vật chất và năng lượng có các thuộc tính xác định, có thể biết được như vị trí trong không gian và tốc độ. Cơ học không tương đối cũng giả định rằng các lực có tác động tức thời.
=== Vị trí và các dẫn xuất của nó ===
Vị ''trí'' của [[hạt điểm]] được xác định liên quan đến [[hệ tọa độ]] tập trung vào điểm tham chiếu cố định tùy ý trong [[không gian]] gọi là gốc ''O.'' Một hệ tọa độ đơn giản có thể mô tả vị trí của [[Hạt (vật lý)|hạt]] ''P'' với một [[vectơ]] được ký hiệu bởi một mũi tên có nhãn '''r''' chỉ từ gốc ''O'' đến điểm ''P.'' Nói chung, hạt điểm không cần đứng yên so với ''O.'' Trong trường hợp ''P'' di chuyển so với ''O'', '''r''' được định nghĩa là hàm của ''t'', [[thời gian]]. Trong thuyết tương đối tiền Einstein (được gọi là [[Nguyên lý tương đối Galileo|thuyết tương đối Galilê]]), thời gian được coi là tuyệt đối, tức là [[Thời gian|khoảng thời gian]] được quan sát để trôi qua giữa bất kỳ cặp sự kiện nào là giống nhau cho tất cả các nhà quan sát.<ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=rkP1CAAAQBAJ|title=Elements of Newtonian Mechanics|last=Knudsen|first=Jens M.|last2=Hjorth|first2=Poul|publisher=Springer Science & Business Media|year=2012|isbn=978-3-642-97599-8|edition=illustrated|page=30}}</ref> Ngoài việc dựa vào [[thời gian tuyệt đối]], cơ học cổ điển giả định [[hình học Euclid]]e cho cấu trúc của không gian.<ref>[http://ocw.mit.edu/courses/physics/8-01-physics-i-fall-2003/lecture-notes/binder1.pdf MIT physics 8.01 lecture notes (page 12)] {{Webarchive|url=http://webarchive.loc.gov/all/20130709154423/http%3A//ocw.mit.edu/courses/physics/8%2D01%2Dphysics%2Di%2Dfall%2D2003/lecture%2Dnotes/binder1.pdf |date=2013-07-09 }} (PDF)</ref>
==== Vận tốc và tốc độ ====
{| class="wikitable" style="float:right; margin:0 0 1em 1em;"
|vị trí
|m
|-
|vị trí góc / [[góc]]
|không đơn vị (radian)
|-
|[[vận tốc]]
|m · s<sup>−1</sup>
|-
|[[vận tốc góc]]
|s<sup>−1</sup>
|-
|[[gia tốc]]
|m · s<sup>−2</sup>
|-
|[[gia tốc góc]]
|s<sup>−2</sup>
|-
|độ giật
|m · s <sup>−3</sup>
|-
|"giật góc"
|s<sup>−3</sup>
|-
|[[năng lượng riêng]]
|m² · s <sup>−2</sup>
|-
|liều hấp thụ
|m² · s <sup>−3</sup>
|-
|[[Mô men quán tính|lực quán tính]]
|kg · m²
|-
|[[động lượng]]
|kg · m · s<sup>−1</sup>
|-
|[[Mô men động lượng|động lượng góc]]
|kg · m² · s<sup>−1</sup>
|-
|[[lực]]
|kg · m · s<sup>−2</sup>
|-
|[[Mô men lực|mô-men xoắn]]
|kg · m <sup>2</sup> · s <sup>−2</sup>
|-
|[[năng lượng]]
|kg · m <sup>2</sup> · s <sup>−2</sup>
|-
|[[công suất]]
|kg · m <sup>2</sup> · s <sup>−3</sup>
|-
|[[áp suất]] và [[mật độ năng lượng]]
|kg · m <sup>1</sup> · s <sup>−2</sup>
|-
|[[sức căng bề mặt]]
|kg · s <sup>−2</sup>
|-
|[[Định luật Hooke|hằng số đàn hồi]]
|kg · s <sup>−2</sup>
|-
|[[Chiếu xạ|sự chiếu xạ]] và [[thông lượng năng lượng]]
|kg · s <sup>−3</sup>
|-
|[[Độ nhớt|Độ nhớt động học]]
|m <sup>2</sup> · s <sup>−1</sup>
|-
|[[Độ nhớt|độ nhớt động]]
|kg · m <sup>1</sup> · s <sup>−1</sup>
|-
|[[Khối lượng riêng|mật độ]] ([[Khối lượng riêng|mật độ]] khối lượng)
|kg · m <sup>3</sup>
|-
|[[Khối lượng riêng|mật độ]] ([[Khối lượng riêng|mật độ]] trọng lượng)
|kg · m <sup>2</sup> · s <sup>−2</sup>
|-
|[[mật độ số]]
|m<sup>−3</sup>
|-
|[[Hành động (vật lý)|hoạt động]]
|kg · m <sup>2</sup> · s <sup>−1</sup>
|}
''[[Vận tốc]]'', hoặc [[Vi tích phân|tốc độ thay đổi]] vị trí theo thời gian, được định nghĩa là [[đạo hàm]] của vị trí theo thời gian:
<math>\mathbf{v} = {\mathrm{d}\mathbf{r} \over \mathrm{d}t}\,\!</math>
Trong cơ học cổ điển, vận tốc có thể trực tiếp cộng và trừ. Ví dụ: nếu một chiếc xe đi về hướng đông ở 60 km/h và vượt qua một chiếc xe khác đi cùng chiều ở 50 km/h, chiếc xe chậm hơn nhận thấy chiếc xe nhanh hơn khi đi về phía đông ở mức {{Nowrap|60 − 50 {{=}} 10 km/h}}. Tuy nhiên, từ góc độ của chiếc xe nhanh hơn, chiếc xe chậm hơn đang di chuyển 10 km/h về phía tây, thường được ký hiệu là -10 km/h trong đó dấu hiệu ngụ ý ngược lại. Vận tốc là phụ gia trực tiếp như [[wikibooks:Physics with Calculus/Mechanics/Scalar and Vector Quantities|đại lượng vectơ]]; chúng phải được xử lý bằng cách sử dụng [[Tích phân vectơ|phân tích vector]].
Về mặt toán học, nếu vận tốc của đối tượng thứ nhất trong cuộc thảo luận trước được biểu thị bằng vectơ {{Nowrap|'''u''' {{=}} ''u'''''d'''}} và vận tốc của đối tượng thứ hai bởi vectơ {{Nowrap|'''v''' {{=}} ''v'''''e'''}}, trong đó ''u'' là tốc độ của đối tượng thứ nhất, ''v'' là tốc độ của vật thứ hai và '''d''' và '''e''' là [[vector đơn vị|các vectơ đơn vị]] theo hướng chuyển động của từng vật tương ứng, khi đó vận tốc của vật thứ nhất mà vật thứ hai nhìn thấy là
<math>\mathbf{u}' = \mathbf{u} - \mathbf{v} \,.</math>
Tương tự, đối tượng thứ nhất nhìn thấy vận tốc của đối tượng thứ hai là
<math>\mathbf{v'}= \mathbf{v} - \mathbf{u} \,.</math>
Khi cả hai đối tượng đều chuyển động theo cùng một hướng, phương trình này có thể được đơn giản hóa thành
<math>\mathbf{u}' = (u - v) \mathbf{d} \,.</math>
Hoặc, bằng cách bỏ qua hướng, sự khác biệt chỉ có thể được đưa ra về mặt tốc độ:
<math>u' = u - v \,.</math>
==== Gia tốc ====
''[[Gia tốc]]'', hoặc tốc độ thay đổi của vận tốc, là [[đạo hàm]] của vận tốc theo thời gian ([[Đạo hàm|đạo hàm thứ hai]] của vị trí đối với thời gian):
<math>\mathbf{a} = {\mathrm{d}\mathbf{v} \over \mathrm{d}t} = {\mathrm{d^2}\mathbf{r} \over \mathrm{d}t^2}.</math>
Gia tốc thể hiện sự thay đổi của vận tốc theo thời gian. Vận tốc có thể thay đổi theo cường độ hoặc hướng hoặc cả hai. Đôi khi, việc giảm độ lớn của vận tốc " ''v'' " được gọi là ''giảm tốc'', nhưng nói chung, bất kỳ thay đổi nào về vận tốc theo thời gian, bao gồm cả giảm tốc, được gọi đơn giản là gia tốc.
==== Hệ quy chiếu ====
Trong khi vị trí, vận tốc và gia tốc của [[Hạt (vật lý)|hạt]] có thể được mô tả đối với bất kỳ [[Người quan sát (thuyết tương đối đặc biệt)|người quan sát]] nào trong bất kỳ trạng thái chuyển động nào, cơ học cổ điển giả định sự tồn tại của một [[hệ quy chiếu]] đặc biệt trong đó các quy luật cơ học của tự nhiên có dạng tương đối đơn giản. Những hệ quy chiếu đặc biệt này được gọi là [[Hệ quy chiếu|hệ quy chiếu quán tính]]. hệ quy chiếu quán tính là một hệ quy chiếu lý tưởng hóa trong đó một đối tượng không có ngoại lực tác động lên nó. Do không có ngoại lực tác dụng lên nó nên vật có vận tốc không đổi; nghĩa là, nó ở trạng thái nghỉ hoặc di chuyển đồng đều theo một đường thẳng.
Một khái niệm chính của hệ quy chiếu quán tính là phương pháp để xác định chúng. Đối với các mục đích thực tế, các hệ quy chiếu không tăng tốc đối với [[Sao|các ngôi sao ở xa]] (một điểm cực kỳ xa) được coi là các xấp xỉ tốt cho các hệ quy chiếu quán tính. [[Hệ quy chiếu|Các hệ quy chiếu không quán tính]] tăng tốc liên quan đến hệ quy chiếu quán tính hiện có. Chúng tạo thành nền tảng cho thuyết tương đối của Einstein. Do chuyển động tương đối, các hạt trong hệ quy chiếu không quán tính dường như di chuyển theo những cách không được giải thích bởi các lực từ các trường hiện có trong hệ quy chiếu. Do đó, dường như có các lực khác đi vào các phương trình chuyển động chỉ là kết quả của gia tốc tương đối. Các lực lượng này được gọi là [[Lực quán tính|lực lượng hư cấu]], lực quán tính hoặc lực lượng giả.
Xét hai [[hệ quy chiếu]] ''S'' và <var>S'</var>. Đối với người quan sát trong mỗi hệ quy chiếu, một sự kiện có tọa độ không gian thời gian là (''x'', ''y'', ''z'', ''t'') trong hệ quy chiếu ''S'' và (<var>x '</var>, <var>y'</var>, <var>z '</var>, <var>t'</var>) trong hệ quy chiếu <var>S '</var>. Giả sử thời gian được đo như nhau trong tất cả các hệ quy chiếu và nếu chúng ta yêu cầu {{Nowrap|''x'' {{=}} <var>x'</var>}} khi {{Nowrap|''t'' {{=}} 0}}, thì mối quan hệ giữa các tọa độ không gian thời gian của cùng một sự kiện được quan sát từ các hệ quy chiếu <var>S'</var> và ''S'', đang di chuyển với vận tốc tương đối của ''u'' theo hướng ''x'' là:
: <math>x' = x - u t \,</math>
: <math>y' = y \,</math>
: <math>z' = z \,</math>
: <math>t' = t \,.</math>
Tập hợp các công thức này xác định một [[Tác động nhóm|phép biến đổi nhóm]] được gọi là [[Biến đổi Galilê|phép biến đổi Galilê]].. Nhóm này là một trường hợp giới hạn của [[nhóm Poincaré]] được sử dụng trong [[thuyết tương đối hẹp]]. Trường hợp giới hạn áp dụng khi vận tốc ''u'' rất nhỏ so với ''c'', [[tốc độ ánh sáng]].
Các biến đổi có hậu quả sau đây:
* '''v''' ′ = '''v''' - '''u''' (vận tốc '''v''' của hạt từ phối cảnh của ''S'' chậm hơn '''u''' so với vận tốc '''v''' từ góc nhìn của ''S'')
* '''a''' = '''a''' (gia tốc của hạt là như nhau trong bất kỳ hệ quy chiếu quán tính nào)
* '''F''' ′ = '''F''' (lực tác dụng lên hạt là như nhau trong bất kỳ hệ quy chiếu quán tính nào)
* [[Tốc độ ánh sáng|tốc độ của ánh sáng]] không phải là một hằng số trong cơ học cổ điển, cũng như vị trí đặc biệt được trao cho tốc độ ánh sáng trong [[Cơ học tương đối|cơ học tương đối tính]] có một đối trọng trong cơ học cổ điển.
Đối với một số vấn đề, thuận tiện khi sử dụng tọa độ xoay (hệ quy chiếu). Do đó, người ta có thể giữ một ánh xạ tới một hệ quy chiếu quán tính thuận tiện, hoặc giới thiệu thêm một [[lực ly tâm]] hư cấu và [[Hiệu ứng Coriolis|lực Coriolis]].
=== Lực; Định luật thứ hai của Newton ===
Một lực trong vật lý là bất kỳ hành động nào làm cho vận tốc của vật thể thay đổi; đó là, để tăng tốc. Một lực bắt nguồn từ bên trong một [[Trường (vật lý)|trường]], chẳng hạn như trường tĩnh điện (gây ra bởi điện tích tĩnh), từ trường điện (gây ra bởi điện tích chuyển động) hoặc trường hấp dẫn (gây ra bởi khối lượng), trong số những trường khác.
[[Isaac Newton|Newton]] là người đầu tiên thể hiện một cách toán học mối quan hệ giữa [[lực]] và [[động lượng]]. Một số nhà vật lý giải thích [[Các định luật về chuyển động của Newton|định luật chuyển động thứ hai của Newton]] là một định nghĩa về lực và khối lượng, trong khi những người khác coi đó là một định đề cơ bản, một định luật tự nhiên.<ref>{{Chú thích sách|url=https://archive.org/details/classicaldynamic00thor|title=Classical dynamics of particles and systems|last=Thornton|first=Stephen T.|last2=Marion|first2=Jerry B.|date=2004|publisher=Brooks/Cole|isbn=978-0-534-40896-1|edition=5.|location=Belmont, CA|pages=[https://archive.org/details/classicaldynamic00thor/page/n67 50]|url-access=limited}}</ref> Cả hai cách giải thích đều có cùng hậu quả toán học, trong lịch sử được gọi là "Định luật thứ hai của Newton":
<math>\mathbf{F} = {\mathrm{d}\mathbf{p} \over \mathrm{d}t} = {\mathrm{d}(m \mathbf{v}) \over \mathrm{d}t}.</math>
Đại lượng ''m'' '''v''' được gọi là [[động lượng]]. Do đó, lực ròng tác dụng lên một hạt bằng tốc độ thay đổi động lượng của hạt theo thời gian. Vì định nghĩa của gia tốc là {{Nowrap|'''a''' {{=}} d'''v'''/d''t''}}, nên luật thứ hai có thể được viết dưới dạng đơn giản và quen thuộc hơn:
<math>\mathbf{F} = m \mathbf{a} \,.</math>
Chừng nào lực tác dụng lên một hạt được biết đến, định luật thứ hai của Newton là đủ để mô tả chuyển động của hạt. Khi các quan hệ độc lập cho mỗi lực tác dụng lên một hạt có sẵn, chúng có thể được thay thế thành định luật thứ hai của Newton để có được [[Phương trình vi phân thường|phương trình vi phân thông thường]], được gọi là ''phương trình chuyển động''.
Ví dụ, giả sử rằng ma sát là lực duy nhất tác dụng lên hạt và nó có thể được mô hình hóa như là một hàm của vận tốc của hạt:
<math>\mathbf{F}_{\rm R} = - \lambda \mathbf{v} \,,</math>
Trong đó ''λ'' là hằng số dương, dấu âm cho biết lực ngược chiều với cảm giác của vận tốc. Khi đó phương trình chuyển động là
<math>- \lambda \mathbf{v} = m \mathbf{a} = m {\mathrm{d}\mathbf{v} \over \mathrm{d}t} \,.</math>
Biểu thức này có thể được [[Nguyên hàm|tích phân]] để có được
<math>\mathbf{v} = \mathbf{v}_0 e^\frac{-\lambda t}{m}</math>
trong đó '''v''' <sub>0</sub> là vận tốc ban đầu. Điều này có nghĩa là vận tốc của hạt này [[Phân rã theo cấp số nhân|phân rã theo cấp số mũ]] về 0 khi thời gian tăng. Trong trường hợp này, một quan điểm tương đương là động năng của hạt được hấp thụ bởi ma sát (chuyển đổi nó thành năng lượng nhiệt theo sự [[bảo toàn năng lượng]]) và hạt đang chậm lại. Biểu thức này có thể được tích hợp thêm để có được vị trí '''r''' của hạt như là một hàm của thời gian.
Các lực quan trọng bao gồm [[Tương tác hấp dẫn|lực hấp dẫn]] và [[lực Lorentz]] cho [[Lực Lorentz|lực]] [[Điện từ học|điện từ]]. Ngoài ra, [[Các định luật về chuyển động của Newton|định luật thứ ba của Newton]] đôi khi có thể được sử dụng để suy ra các lực tác dụng lên một hạt: nếu biết rằng hạt ''A'' tác dụng một lực '''F''' lên một hạt ''B khác'', thì theo đó ''B'' phải tác dụng một ''lực phản ứng'' bằng nhau và ngược chiều, - '''F''', trên ''A.'' Dạng mạnh của định luật thứ ba của Newton yêu cầu '''F''' và - '''F''' hành động dọc theo đường nối ''A'' và ''B'', trong khi dạng yếu thì không. Minh họa về hình thức yếu của định luật thứ ba của Newton thường được tìm thấy cho lực từ.
=== Công và năng lượng ===
Nếu một lực không đổi '''F''' được áp dụng cho một hạt mà làm cho một '''r''' chuyển Δ, <ref group="note">The displacement Δ'''r''' is the difference of the particle's initial and final positions: Δ'''r''' = '''r'''<sub>final</sub> − '''r'''<sub>initial</sub>.</ref> ''công được thực hiện'' bởi các lực được định nghĩa là [[tích vô hướng]] của lực lượng và vectơ chuyển:
<math>W = \mathbf{F} \cdot \Delta \mathbf{r} \,.</math>
Tổng quát hơn, nếu lực thay đổi theo chức năng của vị trí khi hạt di chuyển từ '''r''' <sub>1</sub> đến '''r''' <sub>2</sub> dọc theo đường ''C'', thì công thực hiện trên hạt được tính theo [[tích phân đường]]:
<math>W = \int_C \mathbf{F}(\mathbf{r}) \cdot \mathrm{d}\mathbf{r} \,.</math>
Nếu công được thực hiện trong việc di chuyển hạt từ '''r'''<sub>1</sub> đến '''r'''<sub>2</sub> là như nhau cho dù con đường nào được thực hiện, thì lực được cho là [[Lực bảo toàn|bảo toàn]]. [[Tương tác hấp dẫn|Trọng lực]] là một lực bảo toàn, cũng như lực do một [[lò xo]] lý tưởng hóa, được tính theo [[Định luật Hooke|luật Hooke]]. Các lực do [[ma sát]] là không bảo toàn.
[[Động năng]] ''E''<sub>k</sub> của hạt có khối lượng ''m'' di chuyển với tốc độ ''v'' được cho bởi
<math>E_\mathrm{k} = \tfrac{1}{2}mv^2 \,.</math>
Đối với các vật thể mở rộng gồm nhiều hạt, động năng của vật thể tổng hợp là tổng động năng của các hạt.
[[Công (vật lý học)|Định lý năng lượng của công]] quy định rằng đối với một hạt có khối lượng ''m'' không đổi, tổng công ''W'' thực hiện trên hạt khi nó chuyển từ vị trí '''r'''<sub>1</sub> sang '''r'''<sub>2</sub> bằng với sự thay đổi [[động năng]] ''E'' <sub>k</sub> của hạt:
<math>W = \Delta E_\mathrm{k} = E_\mathrm{k_2} - E_\mathrm{k_1} = \tfrac{1}{2}m\left(v_2^{\, 2} - v_1^{\, 2}\right) \,.</math>
Các lực bảo toàn có thể được biểu thị dưới dạng [[Gradien|độ dốc]] của hàm vô hướng, được gọi là [[thế năng]] và ký hiệu là ''E''<sub>p</sub>:
<math>\mathbf{F} = - \mathbf{\nabla} E_\mathrm{p} \,.</math>
Nếu tất cả các lực tác dụng lên một hạt đều là các lực bảo toàn và ''E''<sub>p</sub> là tổng năng lượng tiềm năng (được định nghĩa là công của các lực liên quan để sắp xếp lại các vị trí lẫn nhau của các cơ thể), thu được bằng cách tổng hợp các năng lượng tiềm năng tương ứng với mỗi lực
<math>\mathbf{F} \cdot \Delta \mathbf{r} = - \mathbf{\nabla} E_\mathrm{p} \cdot \Delta \mathbf{r} = - \Delta E_\mathrm{p} \,.</math>
Sự giảm thế năng bằng với sự gia tăng của động năng
<math>-\Delta E_\mathrm{p} = \Delta E_\mathrm{k} \Rightarrow \Delta (E_\mathrm{k} + E_\mathrm{p}) = 0 \,.</math>
Kết quả này được gọi là ''bảo toàn năng lượng'' và nói rằng tổng [[năng lượng]],
<math>\sum E = E_\mathrm{k} + E_\mathrm{p} \,,</math>
là không đổi trong thời gian. Nó thường hữu ích, bởi vì nhiều lực thường gặp là có tính bảo toàn.
=== Vượt ra ngoài các định luật của Newton ===
Cơ học cổ điển cũng mô tả các chuyển động phức tạp hơn của các vật thể phi điểm mở rộng. [[Định luật chuyển động của Euler|Luật chuyển động của Euler]] cung cấp các phần mở rộng cho các định luật của Newton trong lĩnh vực này. Các khái niệm về [[Mô men động lượng|động lượng góc]] dựa vào cùng một [[Vi tích phân|phép tính]] được sử dụng để mô tả chuyển động một chiều. [[Phương trình tên lửa]] mở rộng khái niệm tốc độ thay đổi động lượng của một vật thể để bao gồm các tác động của một vật thể "mất khối lượng".
Có hai công thức thay thế quan trọng của cơ học cổ điển: [[cơ học Lagrange]] và [[cơ học Hamilton]]. Chúng, và các công thức hiện đại khác, thường bỏ qua khái niệm "lực", thay vào đó đề cập đến các đại lượng vật lý khác, chẳng hạn như năng lượng, tốc độ và động lượng, để mô tả các hệ cơ học theo [[Tọa độ suy rộng|tọa độ tổng quát]].
Các biểu thức được đưa ra ở trên cho động lượng và động năng chỉ có giá trị khi không có đóng góp điện từ đáng kể. Trong điện từ, định luật thứ hai của Newton đối với các dây mang dòng điện bị phá vỡ trừ khi người ta bao gồm sự đóng góp của trường điện từ cho động lượng của hệ thống như được biểu thị bởi [[vectơ Poynting]] chia cho ''c''<sup>2</sup>, trong đó ''c'' là [[tốc độ ánh sáng]] trong chân không.
== Lịch sử ==
Những viên gạch đầu tiên của bộ môn '''cơ học''' dường như được xây nền từ thời [[Hy Lạp cổ đại]]. Những kết quả nghiên cứu đầu tiên được ngày nay biết đến là của [[Archimedes]] (287-212 TCN). Chúng bao gồm định lý mang tên ông trong thủy tĩnh học, khái niệm về khối tâm và nghiên cứu cân bằng của [[đòn bẩy]].
[[Tập tin:Galileo by leoni.jpg|nhỏ|phải|[[Galileo Galilei]]]]
Cơ học chỉ được đánh thức vào [[phục Hưng|thời kỳ Phục Hưng]] ở [[châu Âu]] với những tiến bộ vượt bậc vào [[thế kỷ 16|thế kỉ 16]]. Trong suốt đêm trường [[trung Cổ|thời Trung Cổ]], những lý thuyết ngụy biện của [[Aristoteles|Aristote]] (384-322 TCN) đã ngăn trở rất nhiều sự đi lên của khoa học đích thực. Vào thời này, có [[Leonardo da Vinci]] ([[1452]]-[[1519]]) với những nghiên cứu về tĩnh học. Tuy nhiên những tên tuổi lớn nhất của giai đoạn huy hoàng này chính là nhà khoa học [[người Ba Lan]] [[Nicolai Copernic]] ([[1473]]-[[1543]]) - người đã phủ nhận mô hình với [[Trái Đất]] là trung tâm vũ trụ của [[Claudius Ptolemaeus|Ptolémée]] (xem [[thuyết địa tâm]]) và mô tả những chuyển động đúng đắn của [[hệ Mặt Trời]], là nhà thiên văn học [[người Đức]] [[Johannes Kepler]] ([[1571]]-[[1630]]) - người đã phát biểu ba định luật mang tên ông về sự chuyển động của các hành tinh, là nhà bác học thiên tài [[người Ý]] [[Galileo Galilei]] ([[1564]]-[[1642]]). Có thể nói Galileo là ông tổ khai sáng ra động lực học: ông đã đưa ra khái niệm [[gia tốc]], phát biểu vào năm [[1632]] [[nguyên lý tương đối Galileo]] và [[nguyên lý quán tính]]. Ông cũng đã nghiên cứu đến rất nhiều những vấn đề khác nhau của cơ học: con lắc, mặt phẳng nghiêng, sự rơi tự do.
[[Tập tin:GodfreyKneller-IsaacNewton-1689.jpg|nhỏ|trái|[[Isaac Newton]]]]
Kế tiếp sau đó, sang [[thế kỷ 17|thế kỉ 17]], nhà khoa học [[người Pháp]] [[Blaise Pascal]] ([[1623]]-[[1662]]) đã có những nghiên cứu quan trọng về thủy tĩnh học. Nhà vật lý [[người Hà Lan]] [[Christiaan Huygens]] ([[1629]]-[[1695]]) đã phân tích chuyển động quay, đặc biệt là những dao động của [[con lắc]] và đưa ra khái niệm về [[động năng]] cũng như về [[lực hướng tâm]]. Đặc biệt, nhà bác học [[người Anh]] [[Isaac Newton]] ([[1642]]-[[1727]]) đã xuất bản cuốn sách ''Philosphiae naturalis principia mathematica'' (''Những nguyên lý toán học của triết học tự nhiên'') trong đó có nêu lên ba định luật mang tên ông, tạo nên nền tảng của cơ học cổ điển<ref>{{Chú thích web |url=http://vatlysupham.hnue.edu.vn/viewtopic.php?f=67&t=1071 |ngày truy cập=2018-10-03 |tựa đề=Những nguyên lý toán học trong triết học tự nhiên (Philosophiae Naturalis Principia Mathematica) của Isaac Newton |archive-date = ngày 3 tháng 10 năm 2018 |archive-url=https://web.archive.org/web/20181003061907/http://vatlysupham.hnue.edu.vn/viewtopic.php?f=67&t=1071 |url-status=dead }}</ref>. Chúng ta cũng biết đến Newton với định luật vạn vật hấp dẫn do một lần nhìn thấy táo rơi.
[[Thế kỷ 18|Thế kỉ 18]] được xem như là thế kỉ của [[cơ học giải tích]]. Nhà bác học [[người Thụy Sĩ]] [[Leonhard Euler]] ([[1707]]-[[1783]]) đã phát biểu những phương trình về cơ học chất lưu. Ông cũng tham gia vào việc xây dựng nên ngành cơ học giải tích cùng với [[Louis Joseph Lagrange]] ([[1736]]-[[1813]]) và [[Jean le Rond d'Alembert|Jean Le Rond d'Alembert]] ([[1717]]-[[1783]]).
[[Tập tin:WilliamRowanHamilton.jpeg|nhỏ|phải|200px|[[William Rowan Hamilton]]]]
Tiếp theo đó, sự phát triển của cơ học cổ điển đã đạt tới giới hạn với những ứng dụng tuyệt vời. Ví dụ như [[Pierre-Simon Laplace]] ([[1749]]-[[1827]]) đã cải thiện sự chính sáng về sự ra đời của chuyển động các hành tinh nhờ vào phương pháp nhiễu loạn<ref>[https://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/giai-dieu-day-va-ban-giao-huong-vu-tru-112-2009752.html Giai điệu dây và bản giao hưởng vũ trụ (112) - ''VnExpress'']</ref>. [[Urbain Le Verrier]] ([[1811]]-[[1877]]) đã tiên đoán trước sự tồn tại của [[Sao Hải Vương]] bằng chính phương pháp này. Ngoài ra, ông cũng đã khám phá ra sự gần lại của cận điểm của [[Sao Thủy]]. Tuy nhiên chính kết quả này lại đánh dấu một trong những giới hạn của cơ học Newton: kết quả này chỉ có thể được giải thích dựa vào cơ học tương đối. [[William Rowan Hamilton]] ([[1805]]-[[1865]]) đã đề xuất ra phép khai triển chính được biết đến với tên [[phương trình Hamilton]]. Chúng ta cũng có thể kể đến [[Henri Poincaré]] ([[1854]]-[[1912]]) với những đóng góp trong cơ học tính toán.
Cuối cùng có rất nhiều sự mở rộng của cơ học cổ điển trong lĩnh vực về các môi trường liên tục (thủy động lực học hoặc môi trường chịu biến dạng).
Chúng ta cũng không được phép quên rằng mặc dù ngày nay đã có rất nhiều những phát minh và khám phá trong cơ học lượng tử và cơ học tương đối ở [[thế kỷ 20|thế kỉ 20]] nhưng những nghiên cứu về hệ hỗn độn trong những năm 1970, về những áp dụng của cơ học cổ điển vẫn là một phần to lớn trong lâu đài [[vật lý học]]. Mặt khác, vẫn còn đó nguyên vẹn rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết trong cơ học cổ điển, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến dao động kép.
''xem [[Lịch sử cơ học]]''
== Phát minh nghiên cứu ==
Người ta phân biệt các phần khác nhau trong cơ học cổ điển:
;[[Chuyển động học]]
:[[tiếng Anh]]: ''kinematics'', [[tiếng Pháp]]: ''cinématique'', bắt nguồn từ chữ [[tiếng Hy Lạp|Hy Lạp]] ''κινημα'' (hay ''kinema'') có nghĩa là chuyển động. Đây là những nghiên cứu mô tả chuyển động nhưng không quan tâm đến nguyên nhân gây ra chuyển động.
;[[Động lực học]]
:tiếng Anh: ''dynamics'', tiếng Pháp: ''dynamique'', bắt nguồn từ chữ Hy Lạp ''δύναμη'' (hay ''dyname'') có nghĩa là lực. Đây là những nghiên cứu nhằm thiết lập mối liên hệ giữa chuyển động và những nguyên nhân gây ra nó.
Cũng có thể chia cơ học thành hai nhánh:
;[[Động học]]
:tiếng Anh: ''kinetics'', hay là nghiên cứu mô tả những hệ vật chất đang trong quá trình chuyển động: đây được xem là thủy tổ của hầu như mọi lĩnh vực khác nhau của cơ học. Ở đây, người ta thường xuyên phải định nghĩa những đại lượng cho phép mô tả chuyển động như là [[động lượng]], [[mô men động lượng|mômen động lượng]]...
;[[Tĩnh học]]
:tiếng Anh: ''statics'', hay là nghiên cứu sự cân bằng của các hệ vật chất: nhánh này đã được ngầm bao hàm trong bộ môn phân tích động lực học khi xem rằng [[vận tốc]] và [[gia tốc]] của mọi thành phần động lực học đều bằng 0.
==Ghi chú==
<references group="note"/>
== Tham khảo ==
{{tham khảo|30em}}
== Liên kết ngoài ==
{{Wikiquote}}
* {{thể loại Commons nội dòng}}
{{Isaac Newton}}
{{vật lý}}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
[[Thể loại:Cơ học cổ điển| ]]
[[Thể loại:Lịch sử vật lý]] | 36042 |
1377 | Thể loại:Hoá hữu cơ | 14 | null | null | 301046 | 45905 | 2006-08-29T11:17:36 | false | null | wikitext | text/x-wiki | 6ogjfkujshtoq24j6111vcw91ryrscm | {
"username": "Nguyễn Thanh Quang",
"id": "255",
"ip": null
} | {{Đổi hướng thể loại|Hóa hữu cơ}} | 47 |
1378 | Hóa hữu cơ | 0 | null | null | 74138610 | 73804377 | 2025-09-19T12:42:17 | true | null | wikitext | text/x-wiki | hi0nvewnzlcx72ttvhyqhv2kmri8uov | {
"username": "Dotruonggiahy12",
"id": "629007",
"ip": null
} | {{1000 bài cơ bản}}
[[Hình:Ch4-structure.png|nhỏ|phải|400px|Mô hình phân tử [[metan]]: hợp chất hydrocarbon đơn giản nhất]]
{{Hóa học}}
'''Hóa hữu cơ''' hay '''hóa học hữu cơ''' là một phân ngành [[hóa học]] nghiên cứu về cấu trúc, tính chất, thành phần và [[phản ứng hóa học]] của những [[hợp chất hữu cơ]] và [[vật liệu hữu cơ]] (các hợp chất chứa [[carbon]]). Nghiên cứu cấu trúc xác định thành phần hóa học và công thức của hợp chất. Nghiên cứu tính chất bao gồm [[các tính chất vật lý]] và [[các tính chất hóa học|hóa học]], và đánh giá khả năng phản ứng hóa học để hiểu được hành vi của chúng. Nghiên cứu các [[phản ứng hữu cơ]] bao gồm [[tổng hợp hóa học]] các [[sản phẩm tự nhiên]], [[thuốc]] và [[polymer]], và nghiên cứu các phân tử hữu cơ riêng lẻ trong phòng thí nghiệm và thông qua nghiên cứu lý thuyết (trong silico).
Phạm vi của các hóa chất được nghiên cứu trong hóa học hữu cơ bao gồm [[hydrocarbon]] (hợp chất hữu cơ chỉ chứa carbon và [[hydrogen]]) cũng như các hợp chất của carbon, nhưng cũng chứa các nguyên tố khác,<ref name="J. Clayden, N. Greeves 2012 pp. 1-15">Elschenbroich, C. (2006) ''Organometallics'' 3rd Ed., Wiley-VCH</ref><ref>Morrison, Robert T.; Boyd, Robert N. and Boyd, Robert K. (1992) ''Organic Chemistry'', 6th ed., Benjamin Cummings.</ref> đặc biệt là [[oxygen]], [[nitrogen]], [[sulfur]](lưu huỳnh), [[phosphorus]] (bao gồm nhiều trong ngành [[hóa sinh]]) và các [[halogen]].
Trong kỷ nguyên hiện đại, phạm vi được mở rộng hơn nữa trong [[bảng tuần hoàn]], với các nguyên tố thuộc nhóm chính, bao gồm:
* Các hợp chất [[hóa học cơ kim]] nhóm 1 và 2 liên quan đến [[kim loại kiềm]] ([[liti|lithium]], [[natri|sodium]] và [[kali|potassium]]) hoặc [[Kim loại kiềm thổ|kiềm thổ]] ([[magiê|magnesium]]).
* Các [[á kim]] ([[boron]] và [[silicon]]) hoặc các kim loại khác ([[nhôm|aluminium]] và [[thiếc]]).
Ngoài ra, các nghiên cứu đương đại tập trung vào hóa học hữu cơ còn liên quan đến các chất hữu cơ khác bao gồm [[lanthanide]], nhưng đặc biệt là các kim loại chuyển tiếp như [[kẽm]], [[đồng|copper]], [[palladi]], [[nickel]], [[cobalt]], [[titani]] và [[chromi]].
Các hợp chất hữu cơ tạo thành nền tảng của tất cả sự sống trên Trái Đất và tạo thành phần lớn các hóa chất được biết đến. Các mô hình liên kết của cacbon, với [[hóa trị]] bốn - liên kết đơn, đôi và ba, cộng thêm các cấu trúc với các electron bất định - làm cho các hợp chất hữu cơ rất đa dạng về cấu trúc và phạm vi ứng dụng của chúng rất lớn. Chúng tạo thành cơ sở, hoặc là thành phần của nhiều sản phẩm thương mại bao gồm cả dược phẩm; hóa dầu và hóa chất nông nghiệp, và các sản phẩm làm từ chúng bao gồm dầu nhờn, dung môi; nhựa; nhiên liệu và chất nổ. Nghiên cứu về hóa học hữu cơ không chỉ chồng chéo với các ngành hóa học cơ kim và hóa sinh, mà còn với hóa học dược phẩm, hóa học polymer và khoa học vật liệu.
==Lịch sử==
{{chính|Lịch sử hóa học}}
[[Hình:Friedrich woehler.jpg|phải|nhỏ|[[Friedrich Wöhler]]]]
Trước thể kỷ 19, các nhà hóa học nhìn chung tin rằng các hợp chất thu được từ các sinh vật sống được thừa hưởng một sức sống có thể phân biệt chúng với những [[hợp chất vô cơ]]. Theo quan điểm về [[sức sống]], các vật chất hữu cơ được sở hữu một "sức sống" (vital force).<ref name=G%E>{{Greenwood&Earnshaw2nd}}</ref> Trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX, một vài nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về các hợp chất hữu cơ đã được công bố. Khoảng năm 1816 [[Michel Eugène Chevreul|Michel Chevreul]] đã nghiên cứu xà phòng làm từ nhiều loại [[mỡ]] khác nhau và [[kiềm]]. Ông đã tách các acid khác nhau, khi kết hợp với kiềm, để tạo ra xà phòng. Vì chúng là tất cả các hợp chất riêng biệt, nên ông đã minh họa rằng nó có thể tạo ra thay đổi về hóa học giữa những loại mỡ khác nhau (thường từ các nguồn hữu cơ), tạo ra các hợp chất mới, mà không có "sức sống". Năm 1828 [[Friedrich Wöhler]] đã tạo ra [[ure]], một thành phần hữu cơ của nước tiểu, từ [[Cyanat|ammoni cyanat]] NH<sub>4</sub>CNO vô cơ, quá trình mà ngày nay được gọi là [[tổng hợp Wöhler]]. Mặc dù Wöhler luôn thận trọng trong việc tuyên bố rằng ông đã bác bỏ các lý thuyết về lực sống, sự kiện này được coi là một bước ngoặt trong việc đặt nền tảng để ngành hóa hữu cơ phát triển.<ref name=G%E/>
Năm 1856 [[Sir William Henry Perkin|William Henry Perkin]], trong khi đang cố gắng chế [[quinine]], đã tạo ra [[chất nhuộm]] hữu cơ một cách tình cờ hiện được gọi là [[Perkin's mauve]]. Từ thành công về tài chính này của ông, sự phát hiện của ông đã tạo nên mối quan tâm lớn đối với hóa hữu cơ.<ref>D. M. Kiefer "Organic Chemicals' Mauve Beginning" Chem. Eng. News Archive, 1993, vol.71, pp 22–23. {{DOI|10.1021/cen-v071n032.p022}}</ref>
Bước đột phá quan trọng trong hóa hữu cơ là quan điểm về cấu trúc hóa học đã phát triển một cách độc lập và đồng thời bởi [[August Kekulé|Friedrich August Kekulé]] và [[Archibald Scott Couper]] năm 1858.<ref>{{chú thích web | url = http://www.chemheritage.org/discover/online-resources/chemistry-in-history/themes/molecular-synthesis-structure-and-bonding/kekule-and-couper.aspx | tiêu đề = August Kekulé and Archibald Scott Couper Chemical Heritage Foundation | author = | ngày = | ngày truy cập = 25 tháng 9 năm 2015 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref>
Ngành công nghiệp dược bắt đầu trong cuối thập niên của thế kỷ XIX khi việc sản xuất ra axit acetylsalicylic (hay [[aspirin]]) ở Đức bắt đầu bởi [[Bayer]].<ref>{{chú thích web | url = http://www.telegraph.co.uk/health/healthnews/8184625/History-of-aspirin.html | tiêu đề = History of aspirin | author = | ngày = 7 tháng 12 năm 2010 | ngày truy cập = 25 tháng 9 năm 2015 | nơi xuất bản = Telegraph.co.uk | ngôn ngữ = | archive-date = 2014-10-08 | archive-url = https://web.archive.org/web/20141008074638/http://www.telegraph.co.uk/health/healthnews/8184625/History-of-aspirin.html | url-status = dead }}</ref>
==Đặc điểm==
Chất hữu cơ thường tồn tại dưới dạng [[hỗn hợp]], khoa học hiện đại đã phát triển nhiều phương pháp để đánh giá độ tinh sạch, đặc biệt quan trọng phải kể đến là kỹ thuật [[sắc ký]] như [[sắc ký#sắc ký lỏng hiệu năng cao|sắc ký lỏng hiệu năng cao]] (HPLC) và [[sắc ký#sắc ký khí|sắc ký khí]]. Bên cạnh đó là các phương pháp thông thường để tách chiết như [[chưng cất]], [[kết tinh]], và [[chiết bằng dung môi]].
Các hợp chất hữu cơ thông thường được định danh bằng các thí nghiệm hóa học, thường được gọi là ''"phương pháp ướt"'' (dùng nhiều các thuốc thử để định tính trong dung dịch). Tuy vậy các phương pháp đó đã dần được thay thế bằng các phương pháp [[quang phổ]] hay các máy phân tích chuyên sâu.<ref>"The Systematic Identification of Organic Compounds" R.L. Shriner, C.K.F. Hermann, T.C. Morrill, D.Y. Curtin, and R.C. Fuson John Wiley & Sons, 1997 [[ISBN|0-471-59748-1]]</ref> Các phương pháp phân tích sau được liệt kê theo thứ tự tiện ích cũng tăng dần của phương pháp:
* ''[[Cộng hưởng từ hạt nhân|Phổ cộng hưởng từ hạt nhân]] (NMR)'' là kỹ thuật được dùng phổ biến nhất, phương pháp này cho phép đọc các thông tin tính hiệu từ các nguyên tử và cấu trúc lập thể từ đó chuyển chúng thành các phổ tương quan. Nguyên tắc của phương pháp dựa vào sự hiện diện của các đồng vị tự nhiên của [[hydro]] và [[carbon]], từ đó mà có phổ NMR của <sup>1</sup>H và <sup>13</sup>C.
* ''Phương pháp phân tích cơ bản:'' phương pháp này phá hủy toàn phân tử hữu cơ và từ đó xác định thành phần nguyên tố của toàn phân tử. Đây là phương pháp sơ khai nhất làm nền tảng cho [[phương pháp khối phổ]].
* ''[[Phương pháp khối phổ]]'' cho thấy phân tử khối của một hợp chất hữu cơ đầy đủ, cùng với các mảnh phân tử bị vỡ ra từ sự bắn phá của các điện tử, từ đó có thể xác định các cấu trúc của nó. Các máy khối phổ có độ phân giải cao có thể ác định được chính xác cấu trúc thực tế của phân tử hữu cơ và được dùng để thay thế cho ''phương pháp phân tích cơ bản''. Trước đây, phương pháp khố phổ có một số hạn chế là không thể ghi nhận sự hiện diện của các mảnh trung hòa về điện, tuy vậy sự phát triển của kỹ thuật ion hóa đã cho phép nhận diện ''"thông số khối lượng"'' của hầu hết các hợp chất hữu cơ.
* ''[[Tinh thể học]]'' là phương pháp chắc chắn để xác định cấu trúc hình học của phân tử, điều kiện để xác định hợp chất khi cô lập được các tinh thể đơn của hợp chất, và tinh thể này phải đại diện được cho mẫu. Một phần mềm tự động hóa cao cho phép xác định cấu trúc của tinh thể thu được sau đó rà soát ngân hàng dữ liệu các hợp chất hữu cơ trong vài giờ để cho ra được hình thái tinh thể trùng khớp.
Các phương pháp quang phổ truyền thống như [[phổ hồng ngoại]] (IR), máy đo [[độ quay cực]], [[phổ tử ngoại khả kiến]] (UV/VIS) tuy chỉ cung cấp những thông tin tương đối kém đặc hiệu về cấu trúc của hợp chất hữu cơ nhưng vẫn còn được sử dụng khá phổ biến để phân loại và nhận danh các hợp chất hữu cơ.
==Tính chất==
Tính chất vật lý của các hợp chất hữu cơ thường bao gồm [[định tính]] và [[định lượng]]. Các thông số cho quá trình định lượng bao gồm điểm nóng chảy, điểm sôi, và chỉ số khúc xạ. Định tính bao gồm nhận biết về mùi, độ đồng nhất, [[độ tan]], và [[màu sắc]].
===Điểm nóng chảy và điểm sôi===
Hợp chất hữu cơ rất dễ nóng chảy hay sôi. Ngược lại, trong khi các vật liệu vô cơ nói chung có thể bị nóng chảy, nhiều chất không thể đun sôi, thay vào đó có xu hướng phân hủy. Trước đây, điểm nóng chảy (m.p.) và điểm sôi (b.p.) cung cấp những thông tin cơ bản về độ tinh khiết và định danh sơ lược các hợp chất hữu cơ. Chúng có mối tương quan với tính phân cực của phân tử và khối lượng phân tử. Vài chất hữu cơ, đặc biệt là các hợp chất đối xứng dễ bay hơi hơn là tan chảy. Các chất hữu cơ thường không ổn định ở nhiệt độ trên 300 °C, nói cách khác, chúng dễ bị phân hủy khi vượt quá nhiệt độ trên, mặc dù có một số ngoại lệ.
===Độ hòa tan===
Chất hữu cơ không phân cực có xu hướng [[kỵ nước]], nghĩa là chúng ít tan trong nước và tan nhiều trong các [[dung môi]] hữu cơ khác. Có một vài ngoại lệ với một số chất hữu cơ có trọng lượng phân tử thấp như [[rượu]], [[amine]], và [[acid carboxylic]] nhờ các [[liên kết hydrogene]]. Các chất hữu cơ thường dễ tan trong dung môi hữu cơ. Dung môi có thể là [[diethyl ether|ether]] tinh khiết hay [[ethanol|rượu ethanol]], hay hỗn hợp, cũng có thể là các dung môi thân dầu như [[xăng ête|ether dầu hỏa]] hoặc các dung môi có vòng benzen khác chưng cất phân đoạn và tinh chế lại từ dầu hỏa. Độ hòa tan trong các dung môi khác nhau tùy thuộc vào loại dung môi và các nhóm chức hiện diện.
===Tính chất ở thể rắn===
Các tính chất đặc biệt khác nhau của tinh thể phân tử và polymer hữu cơ với các hệ liên hợp được quan tâm tùy thuộc vào các ứng dụng, ví dụ: cơ nhiệt và cơ điện như tính [[áp điện]], tính [[dẫn điện]] (xem [[polyme dẫn điện]] và [[chất bán dẫn hữu cơ]]) và tính chất [[quang điện]] (ví dụ: [[quang học phi tuyến tính]]). Vì lý do lịch sử, các tính chất như vậy chủ yếu là chủ đề của các lĩnh vực [[khoa học polyme]] và [[khoa học vật liệu]].
==Danh pháp==
Tên của các hợp chất hữu cơ là có hệ thống, theo logic từ một tập hợp các quy tắc, hoặc không hệ thống, theo các truyền thống khác nhau. Danh pháp hệ thống được quy định bởi [[IUPAC]]. Danh pháp hệ thống nói chung gồm các phần: Tiền tố - Tên mạch carbon - Hậu tố (hay phần định chức). Cho rằng có hàng triệu hợp chất hữu cơ được biết đến, việc sử dụng nghiêm ngặt các tên có hệ thống có thể rất cồng kềnh. Do đó, khuyến nghị rằng tên IUPAC nên được theo dõi chặt chẽ hơn đối với các hợp chất đơn giản, nhưng không cần thiết để áp dụng cho các phân tử phức tạp hơn. Để sử dụng cách đặt tên có hệ thống, người ta phải biết các cấu trúc và tên của các cấu trúc cha mẹ. Cấu trúc cha mẹ bao gồm hydrocarbon không phân hủy, dị vòng và các dẫn xuất đơn chức của chúng.
Danh pháp không hệ thống đơn giản hơn và không mơ hồ, ít nhất là đối với các nhà hóa học hữu cơ. Tên không hệ thống không chỉ ra cấu trúc của hợp chất. Chúng phổ biến cho các phân tử phức tạp, bao gồm hầu hết các sản phẩm tự nhiên. Ví dụ, hợp chất [[LSD]] (tên không chính thức) có tên hệ thống là (6aR,9R)-N,N-diethyl-7-methyl-4,6,6a,7,8,9-hexahydroindolo-[4,3-fg] quinoline-9-carboxamide.
Với việc sử dụng điện toán ngày càng tăng, các phương pháp đặt tên khác đã phát triển dự định sẽ được giải thích bằng máy móc. Hai định dạng phổ biến là [[SMILES]] và [[InChI]].
===Phác cấu trúc===
Các phân tử hữu cơ được mô tả phổ biến hơn bằng hình minh họa hoặc [[công thức cấu trúc]], sự kết hợp của hình vẽ và ký hiệu hóa học. [[Công thức thu gọn nhất]] rất đơn giản và không mơ hồ. Trong hệ thống này, các điểm cuối và giao điểm của mỗi dòng đại diện cho một cacbon và các nguyên tử hydro có thể được ghi chú rõ ràng hoặc được giả sử là có mặt như được ngụ ý bởi hóa trị của cacbon.
==Phân loại hợp chất hữu cơ==
Hợp chất hữu cơ được phân thành hai loại chính là [[hydrocarbon]] và dẫn xuất của chúng. Các hydrocarbon tiếp tục được phân loại dựa trên độ bất bão hòa, còn dẫn xuất của hydrocarbon được phân loại theo [[nhóm chức]].
===Nhóm chức===
[[Hình:Acetic acid atoms.svg|right|thumb|Acid [[carboxylic]] có chứa một [[nhóm chức]] carboxyl (-COOH). [[Acid acetic]], minh họa ở đây, là một ví dụ.]]
Khái niệm về các nhóm chức là trung tâm trong hóa học hữu cơ, vừa là phương tiện để phân loại các cấu trúc, vừa để dự đoán các thuộc tính của hợp chất. Một nhóm chức là một module phân tử, và khả năng phản ứng của nhóm chức đó được giả định, trong giới hạn, giống hệt nhau giữa nhiều loại phân tử. Các nhóm chức quyết định các tính chất hóa học và vật lý của các hợp chất hữu cơ. Các phân tử được phân loại dựa trên cơ sở các nhóm chức của chúng. Alcohol, ví dụ, tất cả đều có nhóm C-O-H. Tất cả các alcohol đều có xu hướng ưa nước, thường tạo thành [[ester]] và thường có thể được chuyển đổi thành các [[halogen]] tương ứng. Hầu hết các nhóm chức có tính chất dị hợp tử (các nguyên tử khác với C và H). Các hợp chất hữu cơ được phân loại theo các nhóm chức bao gồm, alcohol, carboxylic acid, amine, v.v.<ref>{{citation| last1 = Smith | first1 = Michael B.| last2 = March | first2 = Jerry| author2-link = Jerry March | date = 2007 | title = Advanced Organic Chemistry: Reactions, Mechanisms, and Structure| edition = 6th| location = New York| url = https://books.google.com/books?id=JDR-nZpojeEC| publisher = Wiley-Interscience| isbn = 978-0-471-72091-1}}</ref>
===Hợp chất không vòng===
Các hydrocarbon không vòng (acyclic) được chia thành ba nhóm [[dãy đồng đẳng]] theo trạng thái bão hòa của chúng:
* [[Alkane]] (paraffin): hydrocarbon không vòng, không có liên kết đôi hoặc ba, chỉ có liên kết đơn C-C, C-H
* [[Alkene]] (olefin): hydrocarbon không vòng có chứa một hoặc nhiều liên kết đôi, tức là di-olefin (dien) hoặc poly-olefin.
* [[Alkyn]]: hydrocarbon không vòng có một hoặc nhiều liên kết ba.
Phần còn lại của nhóm được phân loại theo các nhóm chức có mặt. Các hợp chất này có thể là mạch không phân nhánh, mạch nhánh hoặc mạch vòng. Mức độ phân nhánh ảnh hưởng đến các đặc điểm, chẳng hạn như số octan hoặc số cetane trong hóa học dầu khí.
===Hợp chất thơm===
Hydrocarbon thơm chứa liên kết đôi liên hợp. Điều này có nghĩa là mọi nguyên tử cảbbonn trong vòng được lai hóa sp<sup>2</sup>, tăng tính ổn định. Ví dụ quan trọng nhất là [[benzene]], cấu trúc được phát hiện ra bởi [[Kekulé]], người đầu tiên đề xuất nguyên tắc phân định hoặc cộng hưởng để giải thích cấu trúc của nó. Đối với các hợp chất vòng "thông thường", mùi thơm được tạo ra bởi sự có mặt của các electron pi 4n + 2 bất định, trong đó n là một số nguyên. Sự không ổn định đặc biệt (tính không thơm) được cho là do sự hiện diện của các electron pi liên hợp 4n.
===Hợp chất dị vòng===
Các đặc tính của hydrocarbon mạch vòng một lần nữa bị thay đổi nếu có các dị hợp tử, có thể tồn tại dưới dạng các nhóm thế gắn vào vòng ở bên ngoài (exocyclic hay ngoại vòng) hoặc là thành viên của chính mạch vòng đó (endocyclic hay nội vòng). Ở trường hợp sau, vòng này được gọi là một dị vòng. [[Pyridine]] và [[furan]] là những ví dụ về dị vòng thơm trong khi [[piperidine]] và [[tetrahydrofuran]] là các dị vòng tương ứng. Các dị hợp tử của các phân tử dị vòng nói chung có thể là oxygen, sulfur (lưu huỳnh) hoặc nitrogen, nguyên tố cuối đặc biệt phổ biến trong các hệ thống sinh hóa.
Dị vòng thường được tìm thấy trong một loạt các sản phẩm bao gồm thuốc nhuộm anilin và thuốc. Ngoài ra, chúng phổ biến trong một loạt các hợp chất sinh hóa như alkaloids, [[vitamin]], [[steroid]] và [[nucleic acid]] (ví dụ: [[DNA]], [[RNA]]).
Các vòng có thể hợp nhất với các vòng khác với một cạnh để tạo ra các hợp chất đa vòng. Các [[nucleoside]] thuộc nhóm [[purine]] là dị vòng thơm đa vòng đáng chú ý. Các vòng cũng có thể hợp nhất trên một "góc" sao cho một nguyên tử (hầu như luôn luôn là carbon) có hai liên kết với một vòng và hai liên kết với vòng kia. Các hợp chất như vậy được gọi là [[hợp chất xoắn]] hay hợp chất spiro và nó rất quan trọng trong một số [[sản phẩm tự nhiên]].
===Polymer===
Một tính chất quan trọng của cacbon là nó dễ dàng tạo thành chuỗi, hoặc mạng, được liên kết bởi các liên kết carbon-carbon. Quá trình liên kết được gọi là trùng hợp, trong khi các chuỗi, hoặc mạng, được gọi là polymer. Các hợp chất nguồn được gọi là một [[monomer]].
Hai nhóm polymer chính tồn tại: polymer tổng hợp và polymer sinh học. Polymer tổng hợp được sản xuất nhân tạo và thường được gọi là polymer công nghiệp. Polymer sinh học xảy ra trong một môi trường tự nhiên, hoặc không có sự can thiệp của con người.
Các polymer hữu cơ phổ biến là [[polyethylene]] (polyethene), [[polypropylene]], [[nylon]], [[polytetrafluoroethylene]] (PTFE), [[polystyrene]], [[polyester]], [[polymethylmethacrylate]] (được gọi là Perspex và plexiglas), và [[polyvinyl chloride]] (PVC).
== Phản ứng trong hóa hữu cơ==
Các phản ứng hóa hữu cơ thường gặp là:
{{div col|colwidth=30em}}
* [[Phản ứng thế]]
* [[Phản ứng cộng]]
* [[Phản ứng thủy phân]]
* [[Phản ứng hydrat hóa (cộng nước)]]
* [[Phản ứng đề hydrat hóa (khử nước)]]
* [[Phản ứng este hóa]]
* [[Phản ứng oxy hóa]]: [[phản ứng oxy hóa Kornblum|oxy hóa Kornblum]], [[phản ứng oxy hóa Swern|Swern]], [[phản ứng oxy hóa alcohol|oxy hóa alcohol]]
* [[Phản ứng trùng hợp#Phản ứng trùng ngưng|Phản ứng trùng ngưng, đồng trùng ngưng]]
* [[Phản ứng Friedel-Crafts]]
* [[Phản ứng cộng thân hạch]]
* [[Phản ứng cộng thân điện tử]]
* [[Phản ứng aldol hóa]]
* [[Phản ứng Diels-Alder]]
* [[Phản ứng Markó-Lam]]
* [[Phản ứng Nierenstein]]
* [[Phản ứng Pinner]]
* [[Phản ứng Wittig]]
* [[Phản ứng khử Wolff-Kishner]]
* [[Phản ứng Wurtz]]
* [[Phản ứng xếp hàng Beckmann]]
* [[Phản ứng khử Birch]]
* [[Phản ứng khử Clemmensen]]
* [[Phản ứng thế thân điện tử trên nhân hương phương]]
* [[Phản ứng thế thân hạch]]
{{div col end}}
== Xem thêm ==
* [[Hóa vô cơ]]
==Tham khảo==
{{tham khảo|30em}}
== Liên kết ngoài ==
{{Wikiquote}}
* {{thể loại Commons nội dòng}}
{{Hóa học hữu cơ}}
{{Các ngành hóa học}}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
[[Thể loại:Hóa hữu cơ]]
[[Thể loại:Bài cơ bản dài trung bình]]
[[Thể loại:Hóa học]]
[[Thể loại:Hợp chất hữu cơ]] | 23717 |
1379 | GFDL | 0 | Giấy phép Tài liệu Tự do GNU | null | 232267 | 86336 | 2006-05-30T09:52:17 | true | null | wikitext | text/x-wiki | 24jga4wxsolcevbb2v75ehngt3dq6mz | {
"username": "Tttrung",
"id": "272",
"ip": null
} | #redirect [[Giấy phép Tài liệu Tự do GNU]] | 50 |
1380 | GNU Free Documentation License | 0 | Giấy phép Tài liệu Tự do GNU | null | 232268 | 88336 | 2006-05-30T09:52:37 | true | null | wikitext | text/x-wiki | byw68weokb29cq6x2t68kjzb7xg7do6 | {
"username": "Tttrung",
"id": "272",
"ip": null
} | #REDIRECT [[Giấy phép Tài liệu Tự do GNU]] | 50 |
1381 | GNU FDL | 0 | Giấy phép Tài liệu Tự do GNU | null | 232269 | 88337 | 2006-05-30T09:52:55 | true | null | wikitext | text/x-wiki | byw68weokb29cq6x2t68kjzb7xg7do6 | {
"username": "Tttrung",
"id": "272",
"ip": null
} | #REDIRECT [[Giấy phép Tài liệu Tự do GNU]] | 50 |
1383 | Thể loại:Stub | 14 | null | null | 4908691 | 3699790 | 2011-08-17T01:40:25 | true | Bot: Thêm [[ms:Kategori:Tunas]] | wikitext | text/x-wiki | 56xxj9ubz11b4eac9g1ai1unur6xro4 | {
"username": "MerlIwBot",
"id": "219478",
"ip": null
} | {{Đổi hướng thể loại|Sơ khai}}
[[ms:Kategori:Tunas]] | 64 |
1386 | Wikipedia:Bài sơ khai | 4 | null | null | 69138305 | 69138301 | 2022-09-26T16:35:01 | true | /* Sơ khai */ | wikitext | text/x-wiki | qyzwphjz21djd5cnk538is4n4qqbz1s | {
"username": "Vp08122010",
"id": "858190",
"ip": null
} | {{Khóa-nửa-vô hạn}}
{{Hướng dẫn Wikipedia|WP:SOKHAI|WP:STUB}}
{{nutshell|Một bài viết quá ngắn chỉ có các thông tin trên mức cơ bản về một chủ đề cần được đánh dấu là một '''bài sơ khai''' bằng cách thêm một '''tiêu bản sơ khai''' từ danh sách [[:Thể loại:Tiêu bản sơ khai|tại đây]] vào phía cuối bài. Bất kỳ ai cũng có thể sửa đổi một bài viết sơ khai, hoặc xóa bỏ tiêu bản sơ khai ra khỏi bài viết không còn dạng sơ khai nữa.}}
Bài sơ khai là một bài viết chỉ có một vài câu viết, quá ngắn để có thể bao quát một cách bách khoa chủ đề bài viết, nhưng không quá ngắn đến mức không có thông tin nào hữu ích. Những bài viết dài thường không được xem là bài sơ khai, dù có thể chúng chưa được [[biên tập]] lại. Với những bài viết này, thường người ta sẽ thêm một [[Bản mẫu:Cần dọn dẹp|bản mẫu chỉnh trang]] thay vì bản mẫu sơ khai. Để ý là nếu một bài viết nhỏ có ít thông tin được chú thích nguồn đầy đủ, hoặc nếu chủ đề không thấy có gì nổi bật, nó có thể bị [[Wikipedia:xóa trang|xóa]] hoặc [[Wikipedia:Hợp nhất|hợp nhất]] vào một bài viết thích hợp khác.
Tuy chỉ cần "định nghĩa" có thể đã đủ giúp bài viết thành sơ khai, cần nhớ rằng [[WP:KHONGTUDIEN|Wikipedia không phải là từ điển]]. Nếu khó mà thêm được tí thông tin nào vào bài, mục từ nó nên được chuyển sang một dự án khác, [[Wiktionary]]. Sự khác biệt giữa từ điển và bài viết bách khoa có thể được diễn đạt như sau: Một mục từ trong từ điển ''nói về'' [[wikt:Wiktionary:Tiêu chuẩn đưa vào|một từ hoặc một cụm từ]]; một bài viết bách khoa toàn thư ''nói về chủ đề được bao hàm'' trong từ hoặc cụm từ đó. Thay vì chép những bài viết như vậy sang Wiktionary, bạn có thể thêm {{tl|Di chuyển đến Wiktionary}} vào bài.
Không có một mốc độ dài cụ thể nào để nói một bài viết không còn là sơ khai nữa. Tuy những bài viết quá ngắn có thể xem là bài sơ khai, có một số chủ đề không có gì nhiều hơn để viết. Ngược lại, có những chủ đề có thể có rất nhiều thứ để viết - những bài viết như vậy vẫn có thể gọi là bài sơ khai dù chúng dài đến vài đoạn văn. Do đó, rất khó để nói bài viết có thuộc sơ khai hay không nếu chỉ dựa trên độ dài, và khi quyết định nó là sơ khai, cần phải nghiên cứu và phân tích kỹ. Tương tự, tình trạng sơ khai thường chỉ phụ thuộc vào độ dài nội dung văn bản của nó - danh sách, tiêu bản, hình ảnh, và những thứ phụ trợ khác trong bài viết thường không được tính đến khi xét đến bài sơ khai.
== Một bài sơ khai lý tưởng ==
Bất kỳ một thành viên nào cũng có thể viết một bài sơ khai.
{{viết bài mới}}
Khi bạn viết một bài sơ khai, hãy ghi nhớ rằng nó cần phải chứa đủ thông tin để các thành viên khác có thể mở rộng nó. Điều chủ chốt nhất là phải cung cấp ''ngữ cảnh'' một cách thỏa đáng—những bài viết có ít hoặc không có ngữ cảnh nào thường sẽ dẫn tới [[Wikipedia:Xóa trang|bị xóa nhanh]]. Bạn có thể nghiên cứu những điều cần viết trước hoặc là qua những cuốn sách hoặc các website tin cậy. Bạn cũng có thể đóng góp các kiến thức lấy được từ những nguồn khác, nhưng sẽ rất hữu ích nếu thực hiện một chút nghiên cứu trước khi bắt đầu, để đảm bảo rằng thông tin mà bạn đưa vào là chính xác và [[Wikipedia:Quan điểm trung lập|không thiên lệch]]. Hãy sử dụng ngôn từ của mình: chép trực tiếp từ các nguồn khác là [[đạo văn]], và đôi khi có thể vi phạm [[Wikipedia:Quyền tác giả|bản quyền]].
Bắt đầu bằng cách định nghĩa hoặc mô tả chủ đề của bạn. Tránh định nghĩa một cách sai lầm (định nghĩa bằng một từ đồng nghĩa, định nghĩa quá hẹp hoặc quá rộng hoặc khó hiểu). Viết một cách rõ ràng và dễ hiểu. Ví dụ, nói rõ một người nào đó nổi tiếng vì điều gì, một địa điểm nằm ở đâu và nó nổi tiếng vì cái gì, hoặc các chi tiết cơ bản về một sự kiện và nó xảy ra khi nào.
Kế tiếp, cố gắng mở rộng dựa trên định nghĩa cơ bản này. Liên kết trong các từ thích hợp để những người nào chưa quen với chủ đề có thể hiểu được bạn đang viết gì. Tránh liên kết không cần thiết; thay vào đó, hãy suy xét xem những từ nào cần phải có định nghĩa thêm thì một người đọc thông thường mới có thể hiểu được bài viết. Cuối cùng, một bước quan trọng: thêm [[WP:NDTC|nguồn]] thông tin mà bạn đã dùng vào bài sơ khai; xem [[WP:CTNG|chú thích nguồn gốc]] để biết thêm thông tin về cách làm điều này tại Wikipedia.
Sau khi bạn đã tạo và lưu bài viết, những người khác sẽ có thể cải thiện nó.
== Cách đánh dấu một bài là sơ khai ==
Sau khi viết một bài ngắn, hoặc tìm thấy một bài sơ khai nhưng chưa được đánh dấu, bạn nên chèn một ''tiêu bản sơ khai'' vào trang. Chọn trong các tiêu bản được liệt kê tại '''[[:Thể loại:Bản mẫu sơ khai]]'''.
Theo quy ước chung thì tiêu bản này được đặt vào cuối bài viết, sau đề mục ''Liên kết ngoài'', các tiêu bản điều hướng, và các thẻ thể loại, để cho thể loại sơ khai sẽ xuất hiện ở cuối cùng. Thường hay hơn nếu để hai hàng trắng giữa tiêu bản sơ khai đầu tiên và những thứ phía trước nó. Cũng như tất cả các tiêu bản khác, chèn tiêu bản sơ khai rất đơn giản bằng cách đặt tên tiêu bản vào giữa cặp gồm hai dấu ngoặc móc (ví dụ, <tt>{{tl|sơ khai máy tính}}</tt>). Các tiêu bản sơ khai cần được [[Wikipedia:Nhúng|nhúng]], ''không phải'' [[Wikipedia:Thay thế bản mẫu|thế]].
Các tiêu bản sơ khai có hai phần: một thông điệp ngắn ghi chú rằng chủ đề của bài sơ khai và khuyến khích người đọc mở rộng nó, và một liên kết thể loại, dùng để đặt bài viết vào một ''thể loại sơ khai'' chung với các bài sơ khai cùng chủ đề. Tên của các tiêu bản sơ khai thường là ''sơ khai chủ đề''; danh sách các tiêu bản này có thể xem tại [[:Thể loại:Tiêu bản sơ khai|đây]]. Bạn không cần phải biết tất cả các tiêu bản — hoặc chỉ cần đơn giản thêm <tt>{{tl|sơ khai}}</tt> cũng đã được. Tuy nhiên bài viết được gắn thẻ càng chính xác, thì những người khác đỡ mất công sắp xếp hơn, và những biên tập viên khác dễ tìm thấy bài viết đúng sở trường để mở rộng hơn.
Nếu một bài viết thuộc nhiều thể loại sơ khai khác nhau, bạn có thể dùng nhiều tiêu bản sơ khai, nhưng chúng tôi khuyên bạn chỉ dùng những thể loại nào mà chủ đề liên quan nổi bật. Tuy nhiên, nếu thực sự cần, chỉ nên tối đa là ba hoặc bốn tiêu bản sơ khai.
==Ví dụ==
===Sơ khai===
{{chính|Thể loại:Sơ khai}}
{{sơ khai}}
{{sơ khai điện ảnh}}
{{sơ khai kinh tế học}}
{{sơ khai tên miền}}
{{sơ khai ngày}}
{{Sơ khai năm}}
{{sơ khai ẩm thực}}
{{sơ khai âm nhạc}}
{{sơ khai toán học}}
{{sơ khai hóa học}}
{{sơ khai giao thông}}
{{sơ khai bóng đá}}
{{sơ khai siêu mẫu}}
{{sơ khai sinh học}}
{{sơ khai y tế}}
{{sơ khai y học}}
{{sơ khai tiểu sử}}
== Đưa bài ra khỏi trạng thái sơ khai ==
Khi bài sơ khai đã được mở rộng và trở thành một bài đầy đủ hơn, bất kỳ người sửa đổi nào cũng có thể bỏ tiêu bản sơ khai ra khỏi bài. Không cần đến [[Wikipedia:bảo quản viên|bảo quản viên]] hay sự cho phép nào cả.
Nhiều bài viết vẫn bị đánh dấu là sơ khai dù trên thực tế nó đã được mở rộng lớn hơn độ dài của một bài sơ khai. Nếu bài viết là quá lớn không thể xem là sơ khai được nhưng vẫn còn cần mở rộng, tiêu bản sơ khai có thể thay bằng tiêu bản <code>{{tl|mở rộng}}</code> (một bài viết không nên có cả tiêu bản sơ khai lẫn tiêu bản mở rộng).
[[Wikipedia:Táo bạo lên|Hãy táo bạo]] gỡ bỏ các thẻ sơ khai nếu chúng rõ ràng không còn phù hợp.
== Thống kê ==
Hiện có {{formatnum:{{NUMBEROFSTUBS}}}} bài sơ khai tại Wikipedia tiếng Việt, tức là {{formatnum:{{#expr: ({{NUMBEROFSTUBS}} / {{NUMBEROFARTICLES:R}} * 100) round 2 }}}}% số lượng các bài tại đây.
[[Thể loại:Làm thế nào Wikipedia]] | 9567 |
1387 | Nguyễn Văn Thiệu | 0 | null | null | 73517517 | 73510618 | 2025-05-17T15:12:21 | false | Tham khảo cách dùng từ "Tổng trưởng Bộ...." trong bài viết https://vnexpress.net/co-quan-duoc-vi-nhu-nha-may-san-xuat-thanh-cua-vatican-4874861.html | wikitext | text/x-wiki | b40chk1dilz0un70oyg3n7gzubm5ih6 | {
"username": "Hongkytran",
"id": "677736",
"ip": null
} | {{bài cùng tên|Nguyễn Văn Thiệu (định hướng)}}
{{Thông tin viên chức/1
|name = Nguyễn Văn Thiệu
|image = Official Portrait of Nguyễn Văn Thiệu, President of the Republic of Vietnam (cropped).jpg
|order = thứ 2
|caption = Nguyễn Văn Thiệu vào năm 1969
|office = Tổng thống Việt Nam Cộng hòa
|vicepresident = {{ubl|[[Nguyễn Cao Kỳ]] (1967–1971)|Trần Văn Hương (1971–1975)}}
|primeminister = {{ubl|[[Nguyễn Văn Lộc (thủ tướng)|Nguyễn Văn Lộc]] (1967–1968)|Trần Văn Hương (1968–1969)|[[Trần Thiện Khiêm]] (1969–tháng 4/1975)|[[Nguyễn Bá Cẩn]] (tháng 4/1975)}}
|term_start = 31 tháng 10 năm 1967
|term_end = 21 tháng 4 năm 1975<br />({{số năm theo năm và ngày |1967|10|31|1975|4|21}})
|predecessor = ''Bản thân''<br />(dưới vai trò Chủ tịch [[Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (Việt Nam Cộng hòa)|Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia]])
|successor = [[Trần Văn Hương]]
|office2 = [[Nguyên thủ Việt Nam Cộng hòa|Chủ tịch]] [[Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia|Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia Việt Nam Cộng hòa]]
|primeminister2 = Nguyễn Cao Kỳ
|term_start2 = 14 tháng 6 năm 1965
|term_end2 = 31 tháng 10 năm 1967<br />({{số năm theo năm và ngày|1965|6|14|1967|10|31}})
|predecessor2 = [[Phan Khắc Sửu]] (với tư cách Quốc trưởng)
|successor2 = ''Chức vụ bị bãi bỏ''
| office3 = Tổng trưởng [[Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa]]
| term_start3 = 16 tháng 2 năm 1965
| term_end3 = 20 tháng 6 năm 1965<br />({{số năm theo năm và ngày|1965|2|16|1965|6|20}})
| primeminister3 = [[Phan Huy Quát]]
| predecessor3 = [[Trần Văn Minh (lục quân)|Trần Văn Minh]]
| successor3 = [[Nguyễn Hữu Có]]
{{collapsed infobox section begin|last=yes|Các chức vụ khác
|titlestyle = border:1px dashed lightgrey}}{{Infobox officeholder1|embed = yes
|office4 = Đệ nhất Phó Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa
|term_start4 = Tháng 2 năm 1965
|term_end4 = 12 tháng 6 năm 1965
|primeminister4 = [[Phan Huy Quát]]
|office5 = Đệ nhị Phó Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa
|term_start5 = Tháng 1 năm 1965
|term_end5 = Tháng 2 năm 1965
|primeminister5 = [[Trần Văn Hương]]
| office6 = Tham mưu trưởng Liên quân [[Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]
| term_start6 = 30 tháng 1 năm 1964
| term_end6 = 15 tháng 9 năm 1964
| predecessor6 = [[Lê Văn Kim]]
| successor6 = [[Cao Văn Viên]]
| office7 = Tiểu khu trưởng Ninh Thuận
| term_start7 = 1954
| term_end7 = 1955
| predecessor7 = [[Đỗ Mậu]]
| successor7 = [[Thái Quang Hoàng]]
{{Collapsed infobox section end}}
}}
|birth_date = {{ngày sinh|1923|4|5|df=yes}}
|birth_place = [[Ninh Hải]], [[Ninh Thuận]], [[Trung Kỳ]], [[Liên bang Đông Dương]]
|death_date = {{ngày mất và tuổi|2001|9|29|1923|4|5|df=y}}
|death_place = [[Boston]], [[Massachusetts]], [[Mỹ]]
|death_cause = [[Tai biến mạch máu não]]
|party = [[Mặt trận Quốc gia Dân chủ Xã hội]] (1969–1975)
|otherparty = {{unbulleted list|[[Đảng Cần lao Nhân vị]] (đến 1963)|[[Đảng Dân chủ (Việt Nam Cộng hòa)|Đảng Dân chủ]] (1967–1969)}}
|spouse = {{marriage|[[Nguyễn Thị Mai Anh]]|1951|2001}}
|children = 4 <small>([[#Gia đình|xem chi tiết]])</small>
|alma_mater = [[Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt|Trường Võ bị Quốc gia]] [[Huế]]
|signature = Signature of Nguyễn Văn Thiệu.svg
|signature_alt = Chữ ký Nguyễn Văn Thiệu
|occupation = {{hlist|[[Sĩ quan]]|[[Chính trị gia]]}}
|allegiance = {{flagicon image|Flag of North Vietnam (1945–1955).svg}} [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] <small>(tới 1946)</small><br />{{flagicon image|Flag of South Vietnam.svg}} [[Quốc gia Việt Nam]]<br />{{flagicon image|Flag of South Vietnam.svg}} [[Việt Nam Cộng hòa]]
|branch = {{flagicon image|Flag of North Vietnam (1945–1955).svg}} [[Việt Minh]] <small>(tới 1946)</small><br />{{flagicon image|Drapeau de l'Armée Nationale Vietnamienne.png}} [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]]<br />{{Lục quân|South Vietnam}}
|serviceyears = 1945–1967
|rank = [[Tập tin:B ARVN-OF-8 (horizontal).svg|30px]] [[Trung tướng]]
|commands = {{hidden|Xem chi tiết:|
[[Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt]] <small>(1956–60)</small><br />[[Sư đoàn 7 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 7 Bộ binh]] <small>(1960–61)</small><br />[[Sư đoàn 1 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 1 Bộ binh]] <small>(1961–62)</small><br />[[Sư đoàn 5 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 5 Bộ binh]] <small>(1962–64)</small><br />[[Quân đoàn IV (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn IV]] và Vùng 4 chiến thuật <small>(1964–65)</small>}}
|battles = [[Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1960|Đảo chính năm 1960]]<br />[[Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963|Đảo chính năm 1963]]
}}
{{Loạt bài về Nguyễn Văn Thiệu}}
'''Nguyễn Văn Thiệu''' (5 tháng 4 năm 1923{{snd}}29 tháng 9 năm 2001) là một sĩ quan, chính khách người Việt Nam, từng giữ chức [[tổng thống Việt Nam Cộng hòa]], Chủ tịch [[Đảng Dân chủ (Việt Nam Cộng hòa)|Đảng Dân chủ]] và [[Mặt trận Quốc gia Dân chủ Xã hội]] từ năm 1967 đến năm 1975. Trong cương vị một [[trung tướng]] bộ binh của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]], Nguyễn Văn Thiệu được hội đồng tướng lĩnh bầu làm [[Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (Việt Nam Cộng hòa)|Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia]], trở thành [[Nguyên thủ Việt Nam Cộng hòa|Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa]] vào năm 1965. Là một chính trị gia theo đường lối [[chống cộng]] mạnh mẽ, ông đắc cử tổng thống sau khi giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử diễn ra vào năm 1967 và nắm giữ cương vị này cho đến khi từ chức chỉ vài ngày trước khi chính quyền Sài Gòn đầu hàng [[Cộng hòa Miền Nam Việt Nam|chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] trong [[sự kiện 30 tháng 4 năm 1975]].
Sinh ra tại [[Phan Rang – Tháp Chàm|Phan Rang]], duyên hải [[Duyên hải Nam Trung Bộ|Nam Trung Bộ Việt Nam]], Nguyễn Văn Thiệu ban đầu gia nhập lực lượng [[Việt Minh]] vào năm 1945, nhưng ông đào ngũ và tìm đường vào Sài Gòn chỉ một năm sau đó. Tại đây, ông gia nhập lực lượng [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]] thuộc [[Liên hiệp Pháp]]. Sau khi [[Quốc gia Việt Nam#Quân Pháp rút khỏi Việt Nam|người Pháp rút khỏi Đông Dương]], Quân đội Quốc gia dần chuyển đổi thành Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn Nguyễn Văn Thiệu trở thành Chỉ huy trưởng [[Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt|Trường Võ bị Đà Lạt]] trước khi được thăng cấp [[đại tá]] và trở thành một tư lệnh sư đoàn. Tháng 11 năm 1963, Nguyễn Văn Thiệu tham gia [[Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963|đảo chính]] lật đổ anh em [[Ngô Đình Diệm]] và [[Ngô Đình Nhu]]. Sau đó, ông được thăng cấp bậc [[thiếu tướng]] và bắt đầu tham chính. Nền chính trị Việt Nam Cộng hòa bước vào một giai đoạn bất ổn khi các cuộc đảo chính thường xuyên diễn ra. Bằng cách hành xử khôn khéo, Nguyễn Văn Thiệu leo lên vị trí hàng đầu trong bộ máy quyền lực Sài Gòn giữa lúc các sĩ quan xung quanh ông vướng vào những cuộc đấu đá và thanh trừng nội bộ. Năm 1965, tại thời điểm Nguyễn Văn Thiệu được [[Hội đồng Quân lực (Việt Nam Cộng hòa)|Hội đồng Quân lực]] bầu vào chức vụ quốc trưởng thì nền chính trị miền Nam đã dần ổn định trở lại.
Năm 1967, quá trình chuyển dịch từ chính quyền quân sự thành một chính phủ dân sự ở [[miền Nam Việt Nam]] được lên kế hoạch. Sau những cuộc tranh giành quyền lực ngay bên trong nội bộ quân đội, Nguyễn Văn Thiệu, trong liên danh cùng [[Nguyễn Cao Kỳ]], tham gia [[Tuyển cử 1967 Việt Nam Cộng hòa|tranh cử tổng thống]] và giành chiến thắng. Tuy nhiên, căng thẳng bên trong bộ máy lãnh đạo ngày càng trở nên rõ rệt. Nguyễn Văn Thiệu tìm cách vô hiệu hóa Nguyễn Cao Kỳ bằng việc loại bỏ những người ủng hộ ông Kỳ ra khỏi các vị trí trọng yếu trong quân đội và nội các. Để nắm chắc phần thắng trong [[Bầu cử tổng thống Việt Nam Cộng hòa 1971|cuộc bầu cử năm 1971]], ông Thiệu tiến hành áp đặt các quy định mới, ngăn cấm quyền tham gia tranh cử của hầu hết ứng cử viên. Số người còn lại, trong đó có ông Kỳ, đều tự rút tư cách ứng cử viên vì biết trước rằng cuộc bầu cử sẽ có gian lận. Là ứng cử viên duy nhất tham gia tranh cử tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu tái đắc cử với 94% số phiếu.
Trong thời gian nắm quyền, Nguyễn Văn Thiệu bị chỉ trích là đã làm ngơ trước tệ nạn [[tham nhũng]] tràn lan. Ông cũng bị cáo buộc là chỉ bổ nhiệm những người trung thành với mình thay vì những sĩ quan có năng lực vào các vị trí chỉ huy trong quân đội. Trong [[Chiến dịch Lam Sơn 719]] năm 1971 và [[Chiến dịch Xuân – Hè 1972]], Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải hứng chịu những tổn thất nặng nề do sự thiếu năng lực của các tướng lĩnh dưới trướng ông Thiệu. Sau khi [[Hiệp định Paris 1973|Hiệp định Paris]] được ký kết vào năm 1973, chính quyền Sài Gòn tiếp tục chống cự thêm hai năm trước khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phát động tổng tấn công. Trước sức tấn công mạnh mẽ của đối phương, Nguyễn Văn Thiệu, trên cương vị tổng tư lệnh, đã mắc phải những sai lầm chiến lược bao gồm quyết định rút quân hoàn toàn khỏi [[Cao nguyên Trung phần]] và dẫn đến những cuộc tháo chạy hỗn loạn lẫn sự tan rã dây chuyền của hàng loạt cứ điểm quân sự. Tuy tuyên bố tái ngũ với cấp bậc trung tướng và sẽ tiếp tục chiến đấu sau khi từ chức, song Nguyễn Văn Thiệu đã bí mật rời khỏi [[Việt Nam]], di tản ra nước ngoài rồi cuối cùng định cư ở Mỹ cho đến khi qua đời.
==Thiếu thời==
Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5 tháng 4 năm 1923 tại [[Phan Rang – Tháp Chàm|Phan Rang]] trong một gia đình khá giả thuộc tầng lớp trung lưu, quê gốc tại làng Tri Thủy, xã Tân Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã [[Tân Hải, Ninh Hải|Tân Hải]], huyện [[Ninh Hải]], tỉnh [[Ninh Thuận]]).{{sfnp|Veith|2021|p=42}} Ông là con út trong gia đình có 7 người con <!--Veith (2021) cho rằng cụ Trung có 5 con trai, 2 con gái, trong khi Nguyễn Tiến Hưng (2010) thì cho rằng cụ có 4 con trai, 3 con gái. Vì thông tin còn mâu thuẫn nên chỉ ghi là 7 người con. -->nên lúc nhỏ được gọi là "cậu Tám".{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=360}} Cha của Nguyễn Văn Thiệu là cụ Nguyễn Văn Trung, một nhân sĩ Nho học, mẹ là bà Bùi Thị Hành.{{sfnp|Trần Ngọc Thống|Hồ Đắc Huân|Lê Đình Thụy|2011|p=217}} Các anh chị của ông lần lượt là Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Thị Phiếu, Nguyễn Văn Kiểu và Nguyễn Thị Phận; hai người còn lại đều không rõ tên tuổi.{{sfnp|Trần Ngọc Thống|Hồ Đắc Huân|Lê Đình Thụy|2011|p=218–19}} Dù hồi trẻ chưa theo đạo nhưng sau khi học hết lớp đệ tứ (tương đương lớp 9), ông nhập học [[Trường Pellerin Huế|trường dòng Công giáo Pellerin]] của người Pháp tại [[kinh thành Huế]] dưới sự hỗ trợ của anh cả Nguyễn Văn Hiếu. Khi ông Hiếu rời khỏi Huế vào năm 1939, Nguyễn Văn Thiệu theo chân người anh thứ hai là Nguyễn Văn Kiểu vào Sài Gòn, nhập học Trường Trung học Lê Bá Cang{{efn|Trung học Lê Bá Cang là một trường tư thục do Lê Bá Cang thành lập, khai giảng khóa học đầu tiên vào năm 1934–35. Lê Bá Cang từng là sinh viên du học ở Paris, song bị trục xuất khỏi Pháp vì tham gia biểu tình phản đối vụ người Pháp xử chém 13 nhà cách mạng của [[Việt Nam Quốc dân Đảng]] sau cuộc [[Khởi nghĩa Yên Bái]]. Trường tọa lạc trên đường Cao Thắng, Quận 3, Sài Gòn. Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, trường trở thành Hội Việt–Mỹ dạy tiếng Anh.{{sfnp|Bộ Văn hóa|2003|p=96}}}} rồi tốt nghiệp với bằng [[Tú tài I và II|Tú tài bán phần]] vào năm 1942.{{sfnp|Veith|2021|p=45}} Khi [[Thế chiến thứ hai]] lan đến Đông Dương, Nguyễn Văn Thiệu về quê làm nông và đánh cá cùng gia đình.{{sfnp|Lamb|2001|p=1}}{{sfnp|Veith|2021|p=45–46}}
Năm 1945, sau khi thế chiến kết thúc, Nguyễn Văn Thiệu gia nhập lực lượng [[Việt Minh]] do [[Hồ Chí Minh]] lãnh đạo.{{sfnp|Tucker|2008|p=942}} Ông cùng các đồng chí được huấn luyện quân sự trong rừng, dùng gậy tre tập bắn vì không có súng.<ref name="tel">{{harvnb|''The Daily Telegraph'', 1 tháng 10 năm 2001}}</ref> Nhờ có năng lực quản lý, Nguyễn Văn Thiệu nhanh chóng trở thành một huyện đội trưởng.{{sfnp|Veith|2021|p=46}} Tuy nhiên, chưa đến 1 năm sau, ông đào ngũ vào Nam khi quân đội Pháp quay trở lại [[Bán đảo Đông Dương|Đông Dương]]. Trong một phỏng vấn với tạp chí ''[[Time (tạp chí)|Time]]'' sau này, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố ông đào ngũ vì biết "Việt Minh là Cộng sản […] họ bắn người dân, họ lật đổ các ủy ban xã, họ tịch thu đất đai".{{sfnp|Lamb|2001|p=1}} Nhờ sự giúp đỡ của anh cả là ông Hiếu – một luật sư được đào tạo ở Paris – Nguyễn Văn Thiệu vào Sài Gòn, theo học Trường Kỹ thuật trên đường Đỗ Hữu Vị (nay là [[Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng]]) rồi sau đó thì chuyển sang Trường Hàng hải Dân sự.{{sfnp|Phong Hoàn Công|2008}} Sau một năm, Nguyễn Văn Thiệu tốt nghiệp với tư cách một sĩ quan, nhưng từ chối làm việc trên một con tàu khi biết được chủ người Pháp sẽ trả lương cho ông thấp hơn so với sĩ quan Pháp.{{sfnp|Veith|2021|p=46}}
== Binh nghiệp ==
===Quân đội Quốc gia Việt Nam===
[[Tập tin:Infantry lieutenant Nguyen Van Thieu.png|upright|trái|nhỏ|Trung úy Nguyễn Văn Thiệu vào khoảng năm 1951]]
Tháng 9 năm 1949, Nguyễn Văn Thiệu rời ngành hàng hải và ghi danh khóa sĩ quan võ bị đầu tiên của [[Quân đội Quốc gia Việt Nam]] khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1948 tại Trường Võ bị Huế, tiền thân của [[Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt|Trường Võ bị Đà Lạt]].{{sfnp|Trần Ngọc Thống|Hồ Đắc Huân|Lê Đình Thụy|2011|p=218}} Ngày 1 tháng 6 năm 1949, ông tốt nghiệp với cấp bậc [[thiếu úy]], ra trường phục vụ trong một đơn vị Bộ binh của Quân đội Quốc gia nằm trong [[Liên hiệp Pháp]]. Chức vụ đầu tiên Nguyễn Văn Thiệu đảm nhiệm là Trung đội trưởng đồn trú tại [[Mỏ Cày (huyện)|Mỏ Cày]], [[Bến Tre]]. Cùng năm đó, ông được cử sang Pháp học tại Trường Bộ binh Coëtquidan thuộc Trường Võ bị Liên quân Saint-Cyr.{{efn|{{lang|fr|École Spéciale Militaire de Saint-Cyr}}}}{{sfnp|Veith|2021|p=47}}
Trong những cuộc đụng độ với Việt Minh, Nguyễn Văn Thiệu thể hiện mình là người có năng lực chỉ huy. Do chính sách chế tài đối với những sĩ quan ở miền Trung và miền Nam nên ông được điều ra Bắc. Đầu năm 1951, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp [[trung úy]], tham gia khóa học chỉ huy chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà Nội.{{efn|Tiền thân của trường [[Trường Chỉ huy tham mưu Việt Nam Cộng hòa|Chỉ huy và Tham mưu]] sau này.}}{{sfnp|Veith|2021|p=48}} Tháng 7 năm 1951, ông được điều về trường Võ bị Đà Lạt làm trung đội trưởng khóa sinh của khóa 5. Năm 1952, sau khi tham gia khoá đào tạo tiểu đoàn trưởng và Liên đoàn trưởng lưu động tại Hà Nội cùng [[Cao Văn Viên]] và [[Nguyễn Khánh]],{{sfnp|Goscha|2011|p=86, 128}} Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp [[đại úy]] và được điều chuyển về bộ chỉ huy mặt trận [[Hưng Yên]] và phục vụ tại đây trong vòng 1 năm.{{sfnp|Veith|2021|p=49}}
Tháng 1 năm 1954, sau khi được thăng cấp [[thiếu tá]], Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền chỉ huy Liên đoàn Bộ binh số 11 và dẫn đầu một cuộc hành quân đánh vào quê nhà Thanh Hải. Việt Minh rút lui vào căn nhà cũ của gia đình Nguyễn Văn Thiệu và tin rằng ông sẽ không tấn công tiếp, nhưng họ đã nhầm. Nguyễn Văn Thiệu cho nổ mìn đánh bật được lực lượng Việt Minh ra khỏi khu vực, phá hủy luôn căn nhà nơi mình từng sinh ra và lớn lên.{{sfnp|Veith|2021|p=49–50}} Sau ngày 20 tháng 7 năm 1954, Nguyễn Văn Thiệu làm trưởng phòng 3 Đệ nhị Quân khu Trung Việt do Đại tá Trương Văn Xương làm tư lệnh. Sau đó, ông trở thành tham mưu trưởng Đệ Nhị Quân khu sau khi bàn giao chức trưởng phòng 3 cho Thiếu tá [[Trần Thiện Khiêm]], trở thành Tiểu khu trưởng [[Ninh Thuận]] thay Thiếu tá Đỗ Mậu vào cuối năm.{{sfnp|Trần Ngọc Thống|Hồ Đắc Huân|Lê Đình Thụy|2011|p=218}}
===Quân đội Việt Nam Cộng hòa===
Năm 1955, chuyển sang thời [[Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam|Đệ Nhất Cộng hòa]], Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp [[trung tá]] và được bổ nhiệm chức vụ chỉ huy trưởng [[Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt|Trường Võ bị Đà Lạt]]. Tháng 7 năm 1957, ông được cử đi học khóa Chỉ huy & Tham mưu cao cấp tại [[Leavenworth, Kansas]], Hoa Kỳ. Năm 1958, ông tốt nghiệp về nước và tái nhiệm chức chỉ huy trưởng trường võ bị.{{sfnp|Trần Ngọc Thống|Hồ Đắc Huân|Lê Đình Thụy|2011|p=218}} Năm 1959, ông tiếp tục được cử đi học khóa Tình báo Tác chiến tại [[Okinawa]], [[Nhật Bản]]. Kết thúc khóa học, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Hành quân tại Bộ Tổng tham mưu. Ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp [[đại tá]], ngay sau đó được cử đi du học lớp Phòng không tại Trường Fort Bliss, Texas, Hoa Kỳ.{{sfnp|Trần Ngọc Thống|Hồ Đắc Huân|Lê Đình Thụy|2011|p=218}}
Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Trung tá [[Vương Văn Đông]] và Đại tá [[Nguyễn Chánh Thi]] tiến hành [[Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1960|đảo chính]] chống lại [[Ngô Đình Diệm]].{{sfnp|Miller|2013|p=202–203}} Tuy nhiên, sau khi bao vây [[Dinh Norodom|Dinh Độc Lập]], phe đảo chính trì hoãn tấn công và quay sang đàm phán một thỏa thuận chia sẻ quyền lực. Ngô Đình Diệm giả vờ nhận lời để câu giờ, tạo cơ hội cho lực lượng trung thành với mình có đủ thời gian đến ứng cứu.{{sfnp|Miller|2013|p=204}} Phe đảo chính cũng thất bại trong việc phong tỏa các tuyến đường tiến vào thủ đô để chặn quân tiếp viện của ông Diệm.{{sfnp|Jacobs|2006|p=115–18}} Đây chính là sở hở để Đại tá Nguyễn Văn Thiệu điều động các đơn vị thuộc [[Sư đoàn 7 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 7 Bộ binh]] từ [[Biên Hòa]] tới Sài Gòn giải vây Ngô Đình Diệm.{{sfnp|Jacobs|2006|p=118}} Trong lúc ông Diệm đọc bài diễn văn giả trên đài phát thanh thì lực lượng trung thành với tổng thống dưới trướng [[Trần Thiện Khiêm]] xông vào khuôn viên dinh. Nhận thấy tình hình chuyển biến theo chiều hướng bất lợi, nhiều binh sĩ đảo chính đổi phe.{{sfnp|Moyar|2004|p=113}} Cuộc giao tranh sau đó chớp nhoáng nhưng khốc liệt với khoảng 400 người chết, trong đó có nhiều thường dân tò mò xuống đường để xem hai phe giao chiến.{{sfnp|Jacobs|2006|p=117–20}} Cuộc đảo chính kết thúc với thắng lợi thuộc về Tổng thống Diệm.{{sfnp|Langguth|2000|p=105–10}}{{sfnp|Jacobs|2006|p=120}} Ngày 21 tháng 10 năm 1961, Nguyễn Văn Thiệu được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh [[Sư đoàn 1 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 1 Bộ binh]]. Cuối năm 1962, ông lại được điều động giữ tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh.{{sfnp|Tucker|2008|p=526–33}}
== Cuộc đảo chính năm 1963 ==
{{chính|Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963|Vụ bắt giữ và sát hại Ngô Đình Diệm}}
[[Tập tin:Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh 7.jpg|nhỏ|[[Dinh Gia Long]], nơi diễn ra trận kịch chiến giữa quân đội đảo chính do Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy và [[Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống Phủ]] trong đêm ngày 1 và rạng sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963.]]
Với tư cách Tư lệnh [[Sư đoàn 5 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 5]], Nguyễn Văn Thiệu tham gia lực lượng đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Nguyễn Văn Thiệu điều động 2 trung đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh và một chi đoàn thiết giáp tiến vào Sài Gòn và bao vây [[Thành Cộng Hòa]], mục đích gây áp lực ép Ngô Đình Diệm đầu hàng.{{sfnp|Nông Huyền Sơn|2016}} Đêm hôm đó, Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy lực lượng tiến về phía [[Dinh Gia Long]] – nơi ở của Ngô Đình Diệm.{{sfnp|Jones|2003|p=414}} Tuy nhiên, vào lúc này, anh em Ngô Đình Diệm đã trốn khỏi Dinh bằng đường hầm bí mật và đến tá túc tại nhà của Mã Tuyên – một thương gia người Hoa.{{sfnp|Miller|2013|p=323}} Khoảng 22 giờ, được yểm trợ bởi pháo binh và xe tăng, bộ binh của Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu khai hỏa tấn công doanh trại của [[Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống Phủ|Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống]]. Hai bên đấu súng quyết liệt, quân đảo chính dùng súng phun lửa tấn công dinh.{{sfnp|Jones|2003|p=414}} Sau một hồi im tiếng súng thì vào lúc 3 giờ sáng ngày 2 tháng 11, Nguyễn Văn Thiệu tái khởi động các đợt pháo kích. Đến 5 giờ 15 phút, lực lượng bảo vệ Dinh Gia Long được lệnh buông súng đầu hàng. Ít giờ sau, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu từ [[Nhà thờ Cha Tam]] ra hàng.{{sfnp|Miller|2013|p=324}} Vào khoảng 10 giờ, họ bị đưa lên một [[M-113|xe thiết giáp]] và được một số sĩ quan áp giải về [[Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Bộ Tổng tham mưu]], song cả hai đã bị sát hại trên đường đi.{{sfnp|Kahin|1986|p=180}}{{sfnp|Vũ Quý Tùng Anh|2014|p=32}}
Tuy Trung tướng [[Dương Văn Minh]], người đứng đầu phe đảo chính, thường bị quy trách nhiệm là đã ra lệnh giết anh em Ngô Đình Diệm,{{sfnp|Blair|2008|p=70}} nhưng cho tới hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa đạt được đồng thuận về việc ai là người thực sự đứng sau sự kiện này.{{sfnp|Jones|2003|p=435}}{{sfnp|Hammer|1987|p=299}} Sau khi Nguyễn Văn Thiệu trở thành tổng thống, Dương Văn Minh phát biểu rằng chính Nguyễn Văn Thiệu mới thực sự là người gây ra cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm khi đã chần chừ và trì hoãn cuộc tấn công vào Dinh Gia Long. Ông Minh cho rằng nếu hai anh em Diệm, Nhu bị bắt ở Dinh Gia Long, họ sẽ tránh được việc bị sát hại khi đi cùng một nhóm người nhỏ. Tướng [[Trần Văn Đôn]], một nhân vật chủ chốt khác trong cuộc đảo chính, được cho là đã gây sức ép với Nguyễn Văn Thiệu khi Sư đoàn 5 bao vây Dinh Gia Long. Trần Văn Đôn gọi điện nói với Nguyễn Văn Thiệu rằng: "Anh làm gì mà chậm thế? Có cần thêm quân không? Nếu cần thì gọi cho [[Tôn Thất Đính|Đính]], bảo anh ta điều thêm quân. Nhớ làm cho nhanh nhanh, xong xuôi mọi chuyện anh sẽ được thăng tướng!"{{sfnp|Hammer|1987|p=299}} Tuy nhiên, ông Thiệu cương quyết từ chối cáo buộc và tuyên bố Dương Văn Minh "phải chịu toàn bộ trách nhiệm cho cái chết của Ngô Đình Diệm" – một tuyên bố mà ông Minh chưa từng lên tiếng phủ nhận.{{sfnp|Jones|2003|p=435}}
Ngô Đình Diệm tiếp tục là một chủ đề cấm kỵ tại miền Nam cho đến thời điểm Nguyễn Văn Thiệu trở thành tổng thống. Năm 1971, chính phủ Nguyễn Văn Thiệu lần đầu tiên chấp thuận các lễ tưởng niệm công khai cho vị cố tổng thống này nhân dịp kỷ niệm tám năm ngày mất của ông. Đệ nhất Phu nhân [[Nguyễn Thị Mai Anh]] được nhìn thấy là đã khóc trong một lễ cầu siêu cho Ngô Đình Diệm ở [[Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn]].{{sfnp|Hammer|1987|p=317}}
== Con đường tiến tới quyền lực ==
=== Chính quyền Nguyễn Khánh ===
{{xem thêm|Hội đồng Quân nhân Cách mạng (Việt Nam Cộng hòa)|Cuộc chỉnh lý tại Việt Nam Cộng hòa 1964}}
Sau cuộc đảo chính, sự nghiệp Nguyễn Văn Thiệu thăng tiến nhanh chóng. Nhờ những đóng góp của mình và sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ Trung tướng [[Trần Thiện Khiêm]], Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp lên bậc [[Thiếu tướng]],<ref name="antgqntt"/> trở thành một trong 12 thành viên của [[Hội đồng Quân nhân Cách mạng (Việt Nam Cộng hòa)|Hội đồng Quân nhân Cách mạng]] với vị trí ủy viên.{{sfnp|Jones|2003|p=99–100}}{{sfnp|Vũ Quý Tùng Anh|2014|p=34}} Các nhân vật chủ chốt của Hội đồng này gồm có [[Dương Văn Minh]], [[Trần Văn Đôn]], [[Lê Văn Kim]] và [[Tôn Thất Đính]].{{sfnp|Kahin|1986|p=182}}
[[Tập tin:Nguyễn Khánh 1964.jpg|nhỏ|upright|trái|Tướng [[Nguyễn Khánh]] bị một số tướng lĩnh Công giáo, trong đó có Nguyễn Văn Thiệu, chỉ trích vì nhượng bộ phe Phật giáo quá mức.]]
Cuộc đảo chính lật đổ gia đình họ Ngô không đem lại sự ổn định tại miền Nam Việt Nam khi mà các tướng lĩnh Sài Gòn đầy tham vọng bước vào cuộc nội chiến tranh giành quyền lực chính trị.<ref name="antgqntt"/> Dương Văn Minh bị chỉ trích là quá thân Pháp,{{sfnp|Vũ Quý Tùng Anh|2014|p=34}} thờ ơ trong việc điều hành đất nước, còn những nhân vật đứng đầu chính phủ như Thủ tướng [[Nguyễn Ngọc Thơ]] thì bị cáo buộc là "công cụ" của chính quyền quân sự.{{sfnp|Shaplen|1966|p=223}} Ngày 30 tháng 1 năm 1964, Trung tướng [[Nguyễn Khánh]] dưới sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đã [[Cuộc chỉnh lý tại Việt Nam Cộng hòa 1964|tiến hành binh biến không đổ máu]] đoạt chính quyền.{{sfnp|Cosmas|2012|p=11–13}} Nguyễn Khánh thế chỗ Dương Văn Minh làm chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, tuy nhiên vẫn giữ ông Minh làm quốc trưởng trên danh nghĩa do uy tín của ông này trong quân đội vẫn còn quá lớn.{{sfnp|Vũ Quý Tùng Anh|2014|p=34}} Sau cuộc chỉnh lý, Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tham mưu trưởng liên quân. Tháng 8 năm 1964, cảm thấy đã đến lúc có thể nắm quyền hành tuyệt đối, Nguyễn Khánh ban bố tình trạng khẩn cấp trên phạm vi toàn quốc, ngăn cấm biểu tình, tái lập kiểm duyệt báo chí, tăng quyền hạn cho cảnh sát, cho phép họ có quyền khám xét và bắt bớ người tùy ý. Nguyễn Khánh ban hành Hiến chương Vũng Tàu – một hiến pháp trao cho ông ta quyền lực của tổng thống.{{sfnp|McAllister|2008|p=762}} Tuy nhiên, hành động này chỉ khiến Nguyễn Khánh thêm phần suy yếu khi rất đông sinh viên, tăng ni, Phật tử và đối thủ chính trị đã xuống đường biểu tình phản đối hiến chương mới, kêu gọi chấm dứt tình trạng khẩn cấp và khôi phục lại chính phủ dân sự.{{sfnp|VanDeMark|1995|p=20}}{{sfnp|Moyar|2004|p=757}}
Lo ngại có thể bị lật đổ trước các cuộc biểu tình ngày càng gia tăng,{{sfnp|Moyar|2004|p=761}} Nguyễn Khánh chấp nhận nhượng bộ. Ông đồng ý bãi bỏ hiến chương mới và các đặc quyền cảnh sát, đồng thời cam kết sẽ khôi phục chính quyền dân sự và xóa bỏ [[Đảng Cần lao Nhân vị]], một công cụ chính trị có tổ chức gần như bí mật, được dùng để duy trì chế độ Ngô Đình Diệm bằng cách tìm kiếm và loại bỏ những người bất đồng chính kiến.{{sfnp|Moyar|2004|p=761}} Nhiều sĩ quan cao cấp theo Công giáo như Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu lên tiếng chỉ trích cái mà họ gọi là "sự chuyển giao quyền lực sang người nhà Phật".{{sfnp|Moyar|2004|p=762–63}} Họ tìm cách loại bỏ Nguyễn Khánh, ủng hộ Dương Văn Minh và cố gắng lôi kéo nhiều sĩ quan khác tham gia âm mưu. Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu tìm kiếm sự ủng hộ từ Đại sứ Hoa Kỳ [[Maxwell Taylor]] cho một cuộc đảo chính mới. Tuy nhiên, Taylor không muốn có thêm bất kỳ xáo trộn nào trong bộ máy lãnh đạo, do lo ngại cuộc đảo chính thứ ba trong vòng 3 tháng sẽ làm suy yếu một chính phủ vốn không ổn định. Điều này khiến Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu không thể thực hiện kế hoạch đã định.{{sfnp|Moyar|2004|p=763}}
Sự chia rẽ giữa các tướng lĩnh bộc lộ rõ nét trong cuộc họp Hội đồng Quân sự Cách mạng. Nguyễn Khánh cho rằng tình trạng bất ổn hiện tại là do các thành viên và người ủng hộ [[Đại Việt Quốc dân Đảng]] – một chính đảng thân Công giáo – gây nên.{{sfnp|Moyar|2004|p=318}} Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu cũng là hai trong số những sĩ quan Công giáo dính líu tới Đảng Đại Việt.{{sfnp|Kahin|1986|p=229–39}} Trần Thiện Khiêm chỉ trích Nguyễn Khánh nhượng bộ phe Phật giáo quá mức dẫn đến rắc rối. Nguyễn Văn Thiệu và một viên tướng Công giáo khác là [[Nguyễn Hữu Có]] đòi Dương Văn Minh thay thế Nguyễn Khánh, song bị từ chối.{{sfnp|Moyar|2004|p=318}} Cảm thấy áp lực trước những lời lên án mạnh mẽ, Nguyễn Khánh cho biết sẽ từ chức. Tuy nhiên, sau khi tình hình lâm vào thế bế tắc, Nguyễn Khánh, Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm đã thiết lập chế độ "Tam đầu chế" nhằm lập lại trật tự, nhưng căng thẳng vẫn còn khi ông Khánh vẫn chi phối việc đưa ra quyết định.{{sfnp|Moyar|2004|p=763}}
Ngày 15 tháng 9 năm 1964, Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tư lệnh [[Quân đoàn IV (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn IV]] và Vùng IV chiến thuật, kiểm soát 3 sư đoàn và các tỉnh thuộc khu vực [[Đồng bằng sông Cửu Long]]. Sự kiện trên diễn ra sau khi phe Phật giáo vận động Nguyễn Khánh loại bỏ [[Dương Văn Đức (trung tướng)|Dương Văn Đức]] khỏi vị trí tư lệnh.{{sfnp|Moyar|2004|p=326–27}} Để đáp trả, Dương Văn Đức liên thủ cùng [[Lâm Văn Phát]] kéo quân về Sài Gòn thị uy, dự định lật đổ Chính phủ Nguyễn Khánh nhưng bất thành.{{sfnp|Kahin|1986|p=228–232}}{{sfnp|Moyar|2004|p=326}} Trong sự kiện trên, sự im lặng của Trần Thiện Khiêm lẫn Nguyễn Văn Thiệu, kết hợp với sự phản đối của họ đối với Nguyễn Khánh được xem là động thái ủng hộ ngầm đối với phe nổi dậy.{{sfnp|Kahin|1986|p=231}}{{sfnp|Moyar|2004|p=316–19}} Ghi chép của Đại sứ quán Hoa Kỳ vào trung tuần tháng 9 năm 1964 cho thấy Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu "có vẻ thụ động đến mức dường như đã ngầm ủng hộ Đức và Phát". Sau khi chuyện không thành, hai người đã thể hiện sự ủng hộ "có phần muộn màng" đối với ông Khánh.{{sfnp|Kahin|1986|p=498}}
=== Nhóm tướng lĩnh trẻ ===
{{xem thêm|Đảo chính Việt Nam Cộng hòa tháng 12 năm 1964}}
[[Tập tin:Thi and thieu.jpg|nhỏ|upright|Hai tướng Nguyễn Văn Thiệu (giữa) và Nguyễn Chánh Thi (trái) tại Căn cứ Không quân Đà Nẵng.]]
Thiếu tướng Lục quân Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Không quân [[Nguyễn Cao Kỳ]] (Tư lệnh [[Không quân Việt Nam Cộng hòa]]), Thiếu tướng Lục quân [[Nguyễn Chánh Thi]] (Tư lệnh [[Quân đoàn I (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn I]]) và Đề đốc [[Chung Tấn Cang]] (Tư lệnh [[Hải quân Việt Nam Cộng hòa|Quân chủng Hải quân]]) đều là những gương mặt nổi bật trong nhóm tướng lĩnh trẻ của Việt Nam Cộng hòa mà phía Hoa Kỳ thường gọi bằng cái tên ''Young Turks''.{{efn|''Young Turks'', nghĩa đen "Người Thổ Nhĩ Kỳ trẻ/Thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ", ban đầu dùng để chỉ một phong trào cải cách chính trị vào đầu thế kỷ 20 ủng hộ việc thay thế chế độ quân chủ chuyên chế của [[Đế quốc Ottoman]] bằng một chính phủ lập hiến, nhưng về sau trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ "một/nhóm người trẻ tuổi có tham vọng thay đổi triệt để hệ thống chính trị đã được thiết lập."}}{{sfnp|Cosmas|2012|p=121}} Nhóm này và Nguyễn Khánh muốn cưỡng chế những sĩ quan có trên 25 năm phục vụ trong quân đội về hưu,{{sfnp|McNamara|VanDeMark|1996|p=186}} cho rằng họ lạc hậu, lỗi thời, thiếu hiệu quả, nhưng quan trọng hơn cả, việc loại bỏ những người này giúp họ có thể loại trừ những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.{{sfnp|Moyar|2004|p=769}} Những nhân vật nằm trong danh sách này bao gồm các tướng [[Dương Văn Minh]], [[Trần Văn Đôn]], [[Lê Văn Kim]] và [[Mai Hữu Xuân]].{{sfnp|Moyar|2004|p=769}}{{sfnp|Lovell|2013|p=26}}
Ngày 17 tháng 12 năm 1964, nhóm tướng lĩnh trẻ đệ trình yêu sách trên lên Quốc trưởng [[Phan Khắc Sửu]]. Ông Sửu chuyển vấn đề lên [[Thượng Hội đồng Quốc gia (Việt Nam Cộng hòa)|Thượng Hội đồng Quốc gia]] (một cơ quan chấp chính dân sự được thành lập nhằm chuyển dần sang chính phủ dân sự) để xin ý kiến. Tuy nhiên, Thượng Hội đồng đã từ chối. Một trong những nguyên nhân chính có thể do nhiều thành viên của Thượng Hội đồng đều đã có tuổi và họ không hài lòng trước thái độ của nhóm tướng lĩnh trẻ đối với những người thuộc thế hệ tiền nhiệm.{{sfnp|Moyar|2004|p=344}} Trước động thái trên, ngày 18 tháng 12, Nguyễn Khánh thành lập [[Hội đồng Quân lực (Việt Nam Cộng hòa)|Hội đồng Quân lực]] để làm hậu thuẫn.{{sfnp|Cosmas|2012|p=193}}
Ngày 19 tháng 12, Nguyễn Khánh họp Hội đồng Quân lực và ra thông cáo giải thể Thượng Hội đồng Quốc gia, đồng thời cho bắt giữ một số chính khách dân sự đưa đi an trí tại Pleiku.{{sfnp|Moyar|2004|p=769}} Phan Khắc Sửu và [[Trần Văn Hương]] vẫn được lưu nhiệm Quốc trưởng và Thủ tướng.{{sfnp|Shaplen|1966|p=294}} Đại sứ Hoa Kỳ [[Maxwell D. Taylor]], người xem chính phủ dân sự như một bước tiến quan trọng trong quá trình tiến đến ổn định về chính trị tại miền Nam Việt Nam, không hài lòng với hành động của các tướng lĩnh.{{sfnp|Hunt|1965|p=10}} Trong một buổi họp riêng với 4 tướng trẻ (Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Cao Kỳ, Chung Tấn Cang), Đại sứ Taylor đe dọa cắt viện trợ và có những câu nói chạm đến lòng tự ái của họ.{{sfnp|Shaplen|1966|p=295}}{{sfnp|Karnow|1997|p=398}} Lợi dụng sự căng thẳng, Nguyễn Khánh họp báo chỉ trích hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam Cộng hòa như một "tên thực dân" của Taylor, yêu cầu Washington triệu hồi ông ta về nước.{{sfnp|Lovell|2013|p=26}}{{sfnp|Văn Nguyên Dưỡng|2014|p=100}} Vụ việc này khiến quan hệ giữa Nguyễn Khánh và Taylor rạn nứt không thể cứu vãn.{{sfnp|Kahin|1986|p=297}}
=== Tham chính ===
Ngày 18 tháng 1 năm 1965, trước áp lực từ các tướng lĩnh, Thủ tướng Trần Văn Hương tiến hành cải tổ nội các với sự tham gia của Nguyễn Văn Thiệu (Đệ nhị Phó Thủ tướng), [[Trần Văn Minh (lục quân)|Trần Văn Minh]] (Tổng trưởng [[Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa|Bộ Quốc phòng]]), [[Linh Quang Viên]] (Tổng trưởng Bộ Tâm lý chiến) và Nguyễn Cao Kỳ (Tổng trưởng Bộ Thanh niên Thể thao).{{efn|Chức vụ Tổng trưởng dưới thời Việt Nam Cộng hòa tương đương chức vụ Bộ trưởng ngày nay.}}{{sfnp|Cosmas|2012|p=205}} Đây là lần đầu Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện với tư cách một chính trị gia, không phải trong vai trò một quân nhân. Cũng trong ngày hôm đó, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp bậc hàm [[trung tướng]].<ref name="antgqntt">{{harvnb|Phong Hoàn Công|2010}}</ref> Trong thời gian này, chính phủ Trần Văn Hương phải đối mặt với sự chống đối mạnh mẽ từ phía Phật giáo.{{sfnp|Kahin|1986|p=267–69}} Các lãnh tụ Phật giáo như Thượng tọa [[Thích Trí Quang]], [[Thích Tâm Châu]] bắt đầu tuyệt thực đòi Trần Văn Hương từ chức và giải tán chính phủ.{{sfnp|VanDeMark|1995|p=57}} Hàng loạt phật tử nối gót nhau xuống đường biểu tình và tổ chức tuyệt thực tập thể, có ni cô thậm chí tự thiêu phản đối.{{sfnp|Bowman|1985|p=103}} Nguyễn Khánh – người phải dựa vào sự ủng hộ của giới Phật giáo để duy trì quyền lực – đã không thực hiện biện pháp đáng kể nào để dập tắt các cuộc biểu tình.{{sfnp|Moyar|2004|p=774–75}} Thay vào đó, ông quyết định bãi nhiệm Trần Văn Hương vào ngày 27 tháng 1.{{sfnp|Kahin|1986|p=267–69}}{{sfnp|Moyar|2004|p=775}} Sau nhiều cuộc hội đàm cùng Hội đồng Quân lực, vào ngày 16 tháng 2, Tiến sĩ [[Phan Huy Quát]] được bổ nhiệm làm thủ tướng đứng đầu một nội các dân sự nhưng phải chịu sự giám sát từ phe quân nhân.{{sfnp|VanDeMark|1995|p=79–80}} Ông Thiệu ngay sau đó trở thành Đệ nhất Phó Thủ tướng trong nội các mới.{{sfnp|Nelson|2020|p=51}} Từ trung tuần tháng 2 đến trung tuần tháng 6, ông cũng đồng thời kiêm nhiệm chức Tổng trưởng Bộ Quốc phòng nhằm thay thế cho Trần Văn Minh, người vừa được chỉ định làm Tổng Tư lệnh Quân lực.
Hành động của Nguyễn Khánh đã vô hiệu hóa một âm mưu ngược chống lại ông. Lo sợ bị bãi nhiệm, Trần Văn Hương chống lưng một âm mưu do một số tướng lĩnh Công giáo thân [[Đảng Đại Việt]] như [[Nguyễn Hữu Có]] và Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu, mưu đồ loại bỏ Nguyễn Khánh và đưa [[Trần Thiện Khiêm]] từ [[Washington, D.C.|Washington]] quay trở về nước. [[Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn]] không phản đối âm mưu bởi Taylor và Nguyễn Khánh kể từ sau vụ đảo chính hồi tháng 12 đã trở thành kẻ thù không đội trời chung.{{sfnp|Kahin|1986|p=297}} Tuy vậy, người Mỹ không hoàn toàn ủng hộ nước cờ này, cho rằng nó không được tính toán kỹ lưỡng và có thể gây ra một vụ bê bối chính trị do một số thành viên tham gia âm mưu sẽ phải dùng máy bay Mỹ để di chuyển qua lại giữa Sài Gòn và Washington. Do đó, người Mỹ chỉ hứa sẽ cho Trần Văn Hương tị nạn nếu cần thiết.{{sfnp|Kahin|1986|p=297}} Tuy nhiên, sau khi tìm thấy bằng chứng cho thấy Nguyễn Khánh muốn thỏa thuận với cộng sản, phía Hoa Kỳ đã bày tỏ thái độ ủng hộ âm mưu trên.{{sfnp|Kahin|1986|p=294–95}} Taylor cam kết với nhóm tướng lĩnh trẻ rằng Hoa Kỳ "sẽ không chống lưng hay ủng hộ tướng Khánh dưới bất kỳ hình thức nào". Tại thời điểm đó, Taylor và các nhân viên sứ quán ở Sài Gòn đánh giá cao ba người Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Hữu Có và Chung Tấn Cang, xem họ là những người có thể thay thế Nguyễn Khánh.{{sfnp|Kahin|1986|p=298}} Theo một báo cáo của CIA, Nguyễn Văn Thiệu được một quan chức Mỹ giấu tên mô tả là người "thông minh, đầy tham vọng, và rất có thể sẽ vẫn tiếp tục tham gia âm mưu đảo chính để phục vụ cho mục đích cá nhân".{{sfnp|Kahin|1986|p=512}}
Nguyễn Văn Thiệu đã không kịp thực hiện âm mưu khi Đại tá [[Phạm Ngọc Thảo]] – người trên thực tế là một [[điệp viên]] do Hà Nội cài cắm ở Sài Gòn – cùng Thiếu tướng [[Lâm Văn Phát]], Đại tá [[Bùi Dzinh]] tiến hành đảo chính vào ngày 19 tháng 2, mục tiêu bắt sống Nguyễn Khánh.{{sfnp|Kahin|1986|p=299–301}} Tuy nhiên, Nguyễn Khánh kịp rời Sài Gòn bằng máy bay trước khi xe tăng của quân đảo chính kéo vào.{{sfnp|VanDeMark|1995|p=81}} Dưới sự hỗ trợ từ Hoa Kỳ, Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đứng ra dập tắt âm mưu đảo chính.{{sfnp|Kahin|1986|p=303}} Nhân cơ hội, Thiệu–Kỳ "mượn gió phất cờ", nhóm họp Hội đồng Quân lực bỏ phiếu bất tín nhiệm và trục xuất Nguyễn Khánh ra nước ngoài với danh nghĩa là "đại sứ lưu động".{{sfnp|Cosmas|2012|p=206–207}}{{sfnp|Blair|2008|p=134}} Có cáo buộc cho rằng Nguyễn Văn Thiệu đã truy bắt và mưu sát Đại tá Phạm Ngọc Thảo một cách phi pháp vào năm 1965. Phóng sự điều tra năm 2012 của báo ''[[Thanh Niên (báo)|Thanh Niên]]'' cho rằng Nguyễn Văn Thiệu đơn thuần chỉ là đang loại bỏ một đối thủ đáng gờm, chứ không hề hay biết việc người này là cộng sản nằm vùng.{{sfnp|Hoàng Hải Vân|2012}} Cuộc đảo chính bất thành ngày 19 tháng 2 năm 1965 chỉ là một phần của một loạt các cuộc đảo chính giữa các sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, diễn ra sau vụ mưu sát Ngô Đình Diệm cuối năm 1963. Giữa lúc các tướng lĩnh tranh giành quyền lực nội bộ trong các cuộc binh biến, mà kết quả là một số người phải đi đày biệt xứ, Nguyễn Văn Thiệu đã "tọa sơn quan hổ đấu", từng bước trở thành một trong những nhân vật quyền lực nhất Sài Gòn.{{sfnp|Karnow|1997|p=396–401; 694–95}}<ref name="antgqntt"/>
== Quốc trưởng (1965–1967) ==
=== Lên nắm quyền ===
[[Tập tin:South Vietnamese Armed Forces Day (19 June 1966) – CC35204 (cropped).jpg|nhỏ|Nhóm tướng lĩnh trẻ trong buổi duyệt binh Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1966. Bốn người ở giữa (từ trái qua phải) lần lượt là: [[Cao Văn Viên]], Nguyễn Văn Thiệu, [[Nguyễn Hữu Có]], [[Nguyễn Cao Kỳ]]]]
Thủ tướng [[Phan Huy Quát]] thất bại trong việc đoàn kết các phe phái quân sự và dân sự đối địch ở miền Nam Việt Nam. Mặc dù đạt được một số tiến triển, đáng chú ý nhất là việc giải tán Hội đồng Quân lực, nhưng ông không thể làm thay đổi cán cân quyền lực vốn nghiêng hẳn về phía quân đội.{{sfnp|Lovell|2013|p=27}} Sau hơn ba tháng đảm nhiệm cương vị thủ tướng, Phan Huy Quát tuyên bố từ chức, với lý do mâu thuẫn không thể hóa giải với Quốc trưởng [[Phan Khắc Sửu]]. Quyết định của Phan Huy Quát buộc Phan Khắc Sửu cũng phải từ chức quốc trưởng, mở đường cho một giai đoạn quân nhân nắm chính quyền.{{sfnp|Bùi Diễm|Chanoff|1999|p=146–47}}
Ngày 14 tháng 6 năm 1965, hội đồng tướng lĩnh nhóm họp, bầu Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch [[Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (Việt Nam Cộng hòa)|Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia]], đảm nhiệm cương vị quốc trưởng. Nguyễn Cao Kỳ được đề cử làm chủ tịch [[Ủy ban Hành pháp Trung ương (Việt Nam Cộng hòa)|Ủy ban Hành pháp Trung ương]], tức thủ tướng.{{sfnp|Bùi Diễm|Chanoff|1999|p=147}} Sự thành lập của chính phủ Thiệu–Kỳ đánh dấu sự kết thúc của một thời kỳ khủng hoảng chính trị tại miền Nam Việt Nam, với hàng loạt cuộc đảo chính và 8 lần thay đổi nhân sự diễn ra liên tiếp chỉ trong vòng một năm rưỡi kể từ vụ đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu.{{sfnp|Karnow|1997|p=396–401, 694–95}}{{sfnp|Vũ Quý Tùng Anh|2014|p=35}} Cương vị quốc trưởng mà Nguyễn Văn Thiệu đảm nhiệm là một vị trí tương đối "hữu danh vô thực" vì Nguyễn Cao Kỳ mới là người nắm quyền hành trên thực tế trong thời kỳ này.{{sfnp|Lovell|2013|p=27–28}}
Cuộc chuyển giao quyền lực lần này không gặp phải sự phản đối từ giới chức Washington do họ không đặc biệt ủng hộ Phan Huy Quát.{{sfnp|Lovell|2013|p=28}} Tuy nhiên, người Mỹ có những cách nhìn nhận khác nhau về nhóm tướng lĩnh trẻ lên nắm quyền ở miền Nam Việt Nam. Tổng thống [[Lyndon B. Johnson]] đặt nhiều hy vọng trước lời hứa "đánh bại kẻ thù, xây dựng lại nông thôn, ổn định kinh tế và cải thiện nền dân chủ miền Nam Việt Nam." Ngược lại, một số quan chức khác như Phó đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam là [[:en:U. Alexis Johnson|U. Alexis Johnson]] thì cho rằng nhóm tướng lĩnh trẻ gồm Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đều là "những người theo [[chủ nghĩa dân tộc]] [[bài ngoại]], chán ngán nền dân chủ."{{sfnp|Lovell|2013|p=29}}
=== Khủng hoảng Phật giáo ===
{{chính|Biến động Miền Trung}}
{{nhiều hình
| align = left
| image1 = NARA photo 111-CCV-562-CC34956.jpg
| width1 = 143
| alt1 = Nhóm người cầm băng rôn đứng giữa đường
| caption1 = Phật tử xuống đường biểu tình chống chính phủ quân quản vào tháng 5 năm 1966
| image2 = 70-176-A Effigy, Straw, Nguyen Van Thieu (6996729250).jpg
| width2 = 107
| alt2 = Hình nộm
| caption2 = Hình nộm bằng rơm của Nguyễn Văn Thiệu mà người biểu tình đã sử dụng
}}
Sau khi lên nắm quyền, chính phủ Thiệu–Kỳ tiếp tục đối mặt với hàng loạt thách thức vốn đã khiến miền Nam Việt Nam rơi vào tình trạng bất ổn chính trị trong những năm trước đó. Dù nội các mới được giới quan sát đánh giá là có năng lực, nhưng mâu thuẫn giữa các phe phái chính trị vẫn âm ỉ. Phe Công giáo dè chừng Nguyễn Cao Kỳ, một Phật tử, còn phe Phật giáo thì không hài lòng với Nguyễn Văn Thiệu, một Ki-tô hữu.{{sfnp|Lovell|2013|p=30}} Bên cạnh đó, miền Nam Việt Nam trong giai đoạn này mang dáng dấp của một [[chế độ phong kiến|nhà nước phong kiến]], vận hành như một liên minh lỏng lẻo giữa các lãnh chúa hơn là một quốc gia tập quyền thực sự. Các tư lệnh quân đoàn cai quản khu vực của mình như những thái ấp riêng, thu thuế từ dân chúng và chỉ nộp một phần về trung ương, trong khi giữ lại phần lớn làm của riêng.{{sfnp|Karnow|1997|p=459–60}}
Trong bối cảnh trên, lực lượng Phật giáo – dưới sự dẫn dắt của Thượng tọa [[Thích Trí Quang]] – tiếp tục đóng vai trò nòng cốt trong phong trào quần chúng phản đối chính phủ quân quản, đòi hỏi thành lập Quốc hội Lập hiến để soạn thảo một hiến pháp cho miền Nam Việt Nam.{{sfnp|Topmiller|2002|p=43, 53–55}}{{sfnp|Dallek|1998|p=358–59}} Thích Trí Quang không phản đối sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam, nhưng không hài lòng khi thấy Nguyễn Văn Thiệu trở thành quốc trưởng, do Thiệu từng là thành viên [[Cần lao Nhân vị]] dưới thời Ngô Đình Diệm.{{sfnp|McAllister|2008|p=776–77}} Nhà lãnh đạo Phật giáo này chỉ trích "khuynh hướng phát xít" của ông Thiệu, đồng thời cáo buộc các cựu thành viên Cần lao đang thao túng và phá hoại Nguyễn Cao Kỳ từ phía sau.{{sfnp|Moyar|2004|p=781–82}} Ông xem Thiệu như biểu tượng còn sót lại của chế độ Công giáo trị dưới thời Ngô Đình Diệm và lên án những tội ác mà Thiệu từng gây ra đối với Phật giáo trong quá khứ. Thích Trí Quang công khai ủng hộ Trung tướng [[Nguyễn Chánh Thi]] – một vị tướng theo Phật giáo – đứng ra lãnh đạo đất nước.{{sfnp|McAllister|2008|p=777}}
Nhận thấy Nguyễn Chánh Thi là một đối thủ tiềm tàng và nguy hiểm, Nguyễn Cao Kỳ quyết định cách chức ông. Tuy nhiên, động thái này không những không dập tắt được bất ổn mà còn khiến phong trào Phật giáo tại miền Trung, vốn đã âm ỉ, bùng lên mạnh mẽ hơn.{{sfnp|Topmiller|2002|p=33–38}} Thích Trí Quang dẫn nhiều phật tử xuống đường phản đối chính quyền Thiệu–Kỳ. Một số đơn vị trực thuộc Quân đoàn I thậm chí từ chối tuân theo mệnh lệnh từ trung ương và công khai ủng hộ tướng Thi cùng phong trào Phật giáo.{{sfnp|Karnow|1997|p=460–65}} Trước tình hình căng thẳng leo thang, Nguyễn Cao Kỳ tìm cách đàm phán nhưng không đạt được kết quả. Cuối cùng, ông quyết định sử dụng vũ lực để đàn áp phong trào nổi dậy tại miền Trung. Thích Trí Quang bị đưa về Sài Gòn và quản thúc tại gia, trong khi Nguyễn Chánh Thi buộc phải lưu vong sang Hoa Kỳ. Thất bại này khiến phong trào tranh đấu Phật giáo nhanh chóng tan rã và không còn là mối đe dọa đối với chính quyền Sài Gòn.{{sfnp|Kahin|1986|p=428–32}}
== Tranh cử tổng thống năm 1967 ==
{{chính|Tuyển cử 1967 Việt Nam Cộng hòa}}
[[Tập tin:Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ during a press conference on the eve of the national election, 2 September 1967.png|nhỏ|trái|Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ trong một cuộc họp báo diễn ra vào ngày 2 tháng 9 năm 1967.]]
Ngày 1 tháng 4 năm 1967, trước sự hối thúc từ Hoa Kỳ, chính quyền Sài Gòn ban hành [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|hiến pháp mới]], ấn định sự ra đời của nền [[Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam]]. Theo hiến pháp mới, Việt Nam Cộng hòa sẽ áp dụng chế độ [[chế độ lưỡng viện|quốc hội lưỡng viện]] và [[tổng thống chế|hệ thống tổng thống]] với nhiệm kỳ 4 năm. Chế độ mới này dự kiến sẽ thành hình sau cuộc bầu cử tổng thống và [[Quốc hội Việt Nam Cộng hòa#Thượng viện|thượng viện]] vào tháng 9 năm 1967.{{sfnp|Nelson|2020|p=66}}
Trước thềm bầu cử, hai tướng Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu đều quyết định ra tranh cử riêng rẽ: Nguyễn Cao Kỳ liên danh cùng Luật sư [[Nguyễn Văn Lộc (thủ tướng)|Nguyễn Văn Lộc]] ([[Đạo Cao Đài|Cao Đài]]), trong khi Nguyễn Văn Thiệu liên danh cùng Trịnh Quốc Khánh của [[Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng|Đảng Dân Xã]] ([[Phật giáo Hòa Hảo]]), hứa hẹn cải cách xã hội, xây dựng một nền dân chủ hợp pháp và tuyên bố sẽ "mở rộng cánh cửa hòa bình [với phe cộng sản]".{{sfnp|Nelson|2020|p=69}} Quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu tuy nhận được sự ủng hộ từ CIA và Đại sứ quán Hoa Kỳ, nhưng Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ lại được đánh giá là ở cửa trên do nắm trong tay guồng máy hành chính, đồng thời được nhóm tướng lĩnh trẻ đang nắm giữ những vị trí then chốt trong chính phủ ủng hộ.{{sfnp|Lovell|2013|p=42–45}}{{sfnp|Fear|2016|p=22}} Trong cuộc bầu cử lần này, ngoại trừ liên danh Kỳ–Lộc và Thiệu–Khánh thuộc phe quân sự, 10 liên danh còn lại đều là dân sự.{{sfnp|Nelson|2020|p=70}} Lo ngại một liên danh dân sự có thể sẽ giành chiến thắng do phe quân nhân sẽ phải chia phiếu vì có hai ứng cử viên tranh cử độc lập, giới tướng lĩnh gây áp lực thuyết phục hai người liên danh với nhau.{{sfnp|Fear|2016|p=24}} Nguyễn Cao Kỳ cuối cùng cũng chấp nhận đứng phó trong liên danh Thiệu–Kỳ song ông Thiệu bị buộc phải chấp nhận ký một thỏa thuận ngầm, đồng ý để ông Kỳ nắm giữ mọi quyền hành nếu hai người đắc cử.{{sfnp|Lovell|2013|p=46}}
Trong ngày bầu cử 3 tháng 9 năm 1967, liên danh Thiệu–Kỳ giành chiến thắng với 35% phiếu – một tỷ lệ thấp hơn so với con số 45–50% mà các nhà quan sát chính trị dự đoán Nguyễn Văn Thiệu sẽ đạt được.{{sfnp|Nelson|2020|p=73}} Tuy được Washington công nhận, song kết quả bầu cử này đã gặp phải sự phản đối từ một bộ phận dân chúng khiến nhiều người xuống đường phản đối quốc hội lập hiến hợp thức hóa kết quả.{{sfnp|Chánh Trinh|2004|p=115}} Trong vòng nhiều ngày, các dân biểu quốc hội lập hiến tranh luận nảy lửa về tính công bằng của cuộc bầu cử hôm 3 tháng 9. Một số dân biểu như [[Phan Khắc Sửu]] hay [[Lý Quí Chung]] bày tỏ mong muốn hủy bỏ kết quả, một số người thì cáo buộc những người khác nhận hối lộ từ Thiệu–Kỳ nhưng không đưa ra được bằng chứng xác thực.{{sfnp|Nelson|2020|p=75}} Quốc hội sau đó phê chuẩn kết quả bầu cử với tỷ lệ 58 phiếu thuận, 43 phiếu chống.{{sfnp|Chánh Trinh|2004|p=117}}
Trần Văn Tuyên, một nhà bình luận đương thời của tờ ''Chính Luận'', cho rằng cuộc bầu cử ít nhất đã "hợp pháp hóa, chỉnh lý hóa và sắp dân sự hóa" chính quyền quân sự cũ. Tuy nhiên, lấy ví dụ từ chính quyền Ngô Đình Diệm – một chế độ mà theo ông đã mắc sai lầm cơ bản là "không biết đoàn kết lực lượng quốc gia" – Trần Văn Tuyên lo ngại rằng nền Đệ nhị Cộng hòa là một chế độ "tiên thiên bất túc{{efn|''Tiên thiên bất túc'': Ngay từ khi mới sinh ra đã không được khỏe mạnh, di truyền bẩm sinh bệnh tật từ cha mẹ.}} và đời sống của nó bị đe dọa nghiêm trọng ngay từ lúc ra đời".{{sfnp|Fear|2016|p=26}} Về phần Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, tuy giành chiến thắng trong cùng một liên danh, nhưng đây chỉ mới là khởi đầu của cuộc tranh giành quyền lực giữa hai con người đầy tham vọng này.{{sfnp|Karnow|1997|p= 465–67}}
== Nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên (1967–1971) ==
{{xem thêm|Lễ nhậm chức lần thứ nhất của Nguyễn Văn Thiệu}}
[[Tập tin:South Vietnamese President Nguyễn Văn Thiệu taking oath of office, 67-0480-A (cropped).png|trái|nhỏ|Nguyễn Văn Thiệu tuyên thệ nhậm chức tổng thống vào ngày 31 tháng 10 năm 1967.]]
Sau khi kết quả bầu cử được [[Quốc hội Việt Nam Cộng hòa]] phê chuẩn, Nguyễn Văn Thiệu chính thức trở thành tổng thống đầu tiên của [[Đệ Nhị Cộng hòa (Việt Nam Cộng hòa)|Đệ Nhị Cộng hòa]] ở tuổi 44. Ông tuyên thệ nhậm chức tổng thống trong một buổi lễ nhậm chức công khai cho công chúng tham gia trước trụ sở hạ viện (nay là [[Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh]]) vào ngày 31 tháng 10 năm 1967.{{sfnp|Stur|2020|p=72}} Trong bài diễn văn nhậm chức của mình, Nguyễn Văn Thiệu tuyên thệ sẽ "bảo vệ tổ quốc, tôn trọng hiến pháp và phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc."{{sfnp|Nguyễn Văn Thiệu|1968|p=1}} Cũng trong bài phát biểu, ông tuyên bố xây dựng chính sách quốc gia dựa trên ba đường lối chính là "xây dựng dân chủ, phục hồi nền hòa bình, cải thiện xã hội". Thông qua chính sách này, ông tuyên bố sẽ chiến thắng trước ba kẻ thù chính là "chủ nghĩa chuyên chế, chiến tranh, bất bình đẳng và lạc hậu", và qua đó đưa đất nước đến với "dân chủ, hòa bình và tiến bộ."{{sfnp|Nguyễn Văn Thiệu|1968|p=2}}
=== Mậu Thân 1968 ===
{{chính|Sự kiện Tết Mậu Thân}}
[[Sự kiện Tết Mậu Thân|Tết Nguyên đán Mậu Thân năm 1968]], [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] bất ngờ mở chiến dịch tổng tấn công đánh vào nhiều đô thị trọng yếu tại miền Nam bất chấp tuyên bố ngừng bắn trước đó.{{sfnp|Hanoi VNA International Service 1967}} Khi chiến sự bùng nổ, Nguyễn Văn Thiệu và gia đình đã về [[Mỹ Tho (tỉnh)|Mỹ Tho]] ăn tết bên ngoại.{{sfnp|Phan Thứ Lang|2007|p=179}}{{sfnp|Elliott|2003|p=1036}} Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ – người lúc đó vẫn còn ở thủ đô – đã nắm quyền chỉ huy và tổ chức các đơn vị ở Sài Gòn phản kích.<ref name=Independent>{{harvnb|Stowe|2001}}</ref>
Tuy lực lượng Quân Giải phóng bị đẩy lùi và chịu thương vong rất lớn, nhưng phía Việt Nam Cộng hòa cũng phải gánh hậu quả nặng nề do đây là lần đầu tiên chiến tranh tiếp cận đáng kể tới các đô thị đông dân cư. Khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa được kéo về để bảo vệ các thành phố, Quân Giải phóng đã chớp thời cơ chiếm quyền kiểm soát các vùng nông thôn.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=116}} Nỗi kinh hoàng mà sự kiện Tết Mậu Thân mang tới cùng với những tổn thất và dư chấn mà nó để lại đã khiến dân chúng dần đánh mất niềm tin ở Tổng thống Thiệu, cho rằng ông không thể bảo vệ họ.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=118}}
Chính quyền Sài Gòn ước tính số thương vong dân sự là vào khoảng 14.300 người chết và 24.000 người bị thương.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=116}} Khoảng 630.000 người mất nhà mất cửa, 800.000 người phải di tản vì chiến tranh từ trước đó. Vào cuối năm 1968, 8% dân số miền Nam sống trong các trại tị nạn. Cơ sở hạ tầng quốc gia bị hư hại nghiêm trọng cùng với hơn 70.000 ngôi nhà bị phá hủy.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=116}} Với 27.915 người thiệt mạng và 70.968 người bị thương, Mậu Thân 1968 trở thành năm đẫm máu nhất của cuộc chiến tính đến thời điểm đó đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Smedberg|2008|p=196}}
[[Tập tin:69-10-0049-E.jpg|nhỏ|Nguyễn Văn Thiệu viếng các nạn nhân bị sát hại trong [[Thảm sát Huế Tết Mậu Thân|Thảm sát Huế]].]]
Sau cuộc tấn công, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã có hành động quyết liệt hơn nhằm đối phó với cộng sản.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=118–19}} Ngày 1 tháng 2 năm 1968 (Mùng 3 Tết), tổng thống họp Hội đồng Nội các, ban hành lệnh [[thiết quân luật]] trên khắp cả nước.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=119}}{{sfnp|Hoàng An|Thanh Liêm|Thanh Nhã|1982|p=18}} Ngày 19 tháng 6 năm 1968, trước tình hình chiến sự nguy ngập bùng nổ trên cả bốn vùng chiến thuật, [[Quốc hội Việt Nam Cộng hòa|Quốc hội]] đã phê chuẩn đề xuất thay đổi luật tổng động viên của Tổng thống Thiệu mà họ đã từ chối trước đó.{{sfnp|Zaffiri|1994|p=293}} Theo luật mới, tuổi quân dịch được hạ từ 20 xuống 18, cho phép chính phủ cưỡng bách tòng quân nam giới trong độ tuổi từ 18 đến 38 vào lực lượng chính quy hoặc các lực lượng [[địa phương quân và nghĩa quân]]. Ngoài ra, luật mới quy định tất cả nam công dân tuổi từ 16 đến 50 sẽ phải tham gia lực lượng bán quân sự mang tên Nhân dân Tự vệ.{{sfnp|Nguyễn Kỳ Phong|2018}} Đến cuối năm, trên 200.000 tân binh đã được bổ sung vào quân ngũ, nâng tổng binh lực Việt Nam Cộng hòa lên hơn 900.000 người.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=119}}{{sfnp|Hoàng Ngọc Lung|1981|p=135–36}}
Trong thời gian này, Nguyễn Văn Thiệu thúc đẩy các chiến dịch tổng động viên và hoạt động chống tham nhũng. Ba trong số bốn tư lệnh quân đoàn bị thay thế vì màn thể hiện tệ hại trước Quân Giải phóng. Ông cũng thành lập Ủy ban Phục hồi Quốc gia để giám sát việc phân phối lương thực, tái định cư và xây dựng nhà ở cho người chạy nạn. Phẫn nộ vì các cuộc tấn công của phe cộng sản, một bộ phận người dân miền Nam đã thay đổi cách nhìn đối với cuộc chiến, đặc biệt là những dân cư thành thị vốn rất thờ ơ với cuộc chiến.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=119}}
=== Tranh giành quyền lực ===
Dù trở thành tổng thống, song vị trí của Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa được đảm bảo. Đối thủ chính của ông – Phó Tổng thống [[Nguyễn Cao Kỳ]] – vẫn nhận được sự ủng hộ đáng kể từ quân đội.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=124–25}}{{sfnp|Fear|2016|p=28}} Những chiến công của Nguyễn Cao Kỳ trong [[Sự kiện Tết Mậu Thân]] – thời kỳ vốn được xem là giai đoạn khủng hoảng sâu sắc nhất của miền Nam – đã làm lu mờ hình ảnh Nguyễn Văn Thiệu, khiến quan hệ giữa hai người càng trở nên căng thẳng.<ref name=Independent/> Lo sợ bị đảo chính, ông Thiệu tìm cách vô hiệu hóa đối thủ bằng cách giành sự ủng hộ từ người Mỹ.{{sfnp|Fear|2017}}
Trong giai đoạn sau Tết Mậu Thân, nhiều nhân vật thân cận của ông Kỳ trong quân đội và chính phủ nhanh chóng bị ông Thiệu tước bỏ quyền lực, bắt giữ hoặc lưu đày.{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=126}} Nhằm tạo uy thế trên chính trường, Nguyễn Văn Thiệu tiến hành đàn áp dư luận miền Nam Việt Nam và bổ nhiệm một số thành viên [[Việt Nam Nhân xã Cách mạng Đảng|Đảng Nhân xã]] – một chính đảng được thành lập bởi cựu thành viên [[Cần lao Nhân vị]]{{sfnp|Fear|2016|p=48}} – vào các vị trí trọng yếu trong nội các.{{sfnp|Fear|2016|p=31}} Nhiều người chỉ trích hành động của ông Thiệu là đang "bôi thêm vết đen lên chế độ mệnh danh là dân chủ pháp trị". Chỉ trong vòng 6 tháng, dân chúng đã bắt đầu gọi ông Thiệu là "độc tài",{{sfnp|Dougan|Weiss|1983|p=126}} một số người chỉ trích chính quyền Đệ nhị Cộng hòa là một "chế độ Diệm không Diệm".{{sfnp|Fear|2016|p=46}} Trong những năm sau đó, Nguyễn Cao Kỳ dần bị Nguyễn Văn Thiệu cô lập và cho ra ngoài lề.{{sfnp|Stowe|2001}}
=== Việt Nam hóa chiến tranh ===
{{chính|Việt Nam hóa chiến tranh}}
[[Tập tin:President Richard Nixon and South Vietnam's President Nguyen Van Thieu Making a Joint Statement at Midway Island.jpg|trái|nhỏ|Nguyễn Văn Thiệu và Richard Nixon phát biểu tại Midway]]
Ngày 8 tháng 6 năm 1969, Nguyễn Văn Thiệu tham gia hội nghị với tân Tổng thống Hoa Kỳ [[Richard Nixon]] tại [[Rạn san hô vòng Midway|đảo Midway]] ở [[Thái Bình Dương]].{{sfnp|Davidson|1991|p=596}} Trong cuộc họp, Nixon tuyên bố rằng 25.000 quân Mỹ sẽ được rút về vào cuối tháng 8 cùng năm, lấy lý do rằng việc duy trì một lực lượng quá lớn ở Việt Nam sẽ gây bất lợi cho ông trong bối cảnh phong trào phản chiến ngày càng phát triển mạnh mẽ ở Hoa Kỳ. Nixon cũng đề cập đến chương trình [[Việt Nam hóa chiến tranh]] và cam kết sẽ hỗ trợ Việt Nam Cộng hòa xuyên suốt 2 nhiệm kỳ của mình, trong đó 4 năm đầu sẽ là yểm trợ quân sự, 4 năm tiếp theo sẽ tập trung hỗ trợ về mặt kinh tế.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=286}} Đại tướng [[Creighton Abrams]]{{spnd}}Tư lệnh [[Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam]]{{spnd}}phản đối quyết định rút quân của Nixon, cho rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa chưa đủ kinh nghiệm và chưa được đào tạo bài bản để có thể tự mình tiếp tục cuộc chiến. Tuy nhiên, hoạt động rút quân nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ dân chúng Hoa Kỳ.{{sfnp|Hosch|2010|p=132}} Trong chuyến thăm Sài Gòn sau đấy vào ngày 30 tháng 7 năm 1969, Nixon tiếp tục bảo ông Thiệu hãy yên tâm rằng việc rút vài sư đoàn chỉ là làm "cho có lệ" nhằm xoa dịu phong trào phản chiến. Người Mỹ sẽ đẩy mạnh hoạt động vũ trang cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, để miền Nam cuối cùng có thể tự mình chịu trách nhiệm hoàn toàn trong cuộc chiến.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=287}}
Tháng 4 năm 1970, sau khi đảo chính lật đổ Quốc trưởng [[Norodom Sihanouk]], [[Lon Nol]] tiến hành phong tỏa hải cảng [[Sihanoukville (thành phố)|Sihanoukville]], ngăn chặn đường tiếp tế từ biển tới [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]]. Nhằm bảo vệ [[Đường Trường Sơn]] – tuyến đường tiếp vận duy nhất còn lại của họ – [[Trung ương Cục miền Nam]] mở một loạt các chiến dịch dọc tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia và giành quyền kiểm soát một giải đất nằm dọc Vùng III và Vùng IV chiến thuật của Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Davidson|1991|p=624–25}}{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=119}} Không thể đương đầu Quân Giải phóng một mình, Lon Nol cầu viện Hoa Kỳ. Đáp lại yêu cầu, liên quân Hoa Kỳ – Việt Nam Cộng hòa tổ chức một [[Chiến dịch Campuchia|cuộc tiến công quy mô lớn vào Campuchia]] nhằm truy quét Quân Giải phóng.{{sfnp|Davidson|1991|p=625}} Sau 3 tháng giao chiến, tuy không thể tiêu diệt tận gốc các căn cứ của Trung ương Cục miền Nam trên đất Campuchia, nhưng cuộc hành quân đã gây tổn hại nghiêm trọng đối với sự hỗ trợ hậu cần của Quân Giải phóng.{{sfnp|Davidson|1991|p=627–28}} Những kết quả thu về góp phần làm tăng sĩ khí Quân lực Việt Nam Cộng hòa, khi mà giờ đây, họ không còn nằm ở thế bị động như trước nữa.{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=120–21}}
[[Tập tin:ARVN in Cambodia.jpg|nhỏ|Lực lượng [[bộ binh cơ giới]] của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Campuchia năm 1970.]]
Tháng 8 tháng 2 năm 1971, dựa trên nền tảng của Chiến dịch Campuchia, Nguyễn Văn Thiệu phát động [[Chiến dịch Lam Sơn 719]] đánh vào Hạ Lào, mục đích cắt đứt con đường tiếp tế từ miền Bắc Việt Nam sang Campuchia cũng như để chứng minh rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa đủ sức thay thế Quân đội Hoa Kỳ đang thực hiện chương trình rút quân về nước.{{sfnp|Davidson|1991|p=641}} Lực lượng mặt đất chỉ bao gồm Lục quân Việt Nam Cộng hoà, Hoa Kỳ chỉ đảm nhận yểm trợ bằng pháo binh và không quân.{{sfnp|Davidson|1991|p=639}} Tuy đã lên kế hoạch tác chiến tỉ mỉ, nhưng thông qua hoạt động tình báo và từ việc dư luận Mỹ liên tiếp rò rĩ thông tin về cuộc hành quân sắp tới, Hà Nội đã sớm có chuẩn bị và bố trí các vị trí phòng thủ, khiến tính bất ngờ của chiến dịch không còn được bảo đảm.{{sfnp|Davidson|1991|p=644}} Thêm vào đó, việc đánh giá sai lầm về đối phương khiến Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị áp đảo về mặt quân số lẫn hỏa lực. Tuy chiếm được mục tiêu tối hậu của chiến dịch là Tchepone, song Quân lực Việt Nam Cộng hòa không thể cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược và triệt phá các căn cứ hậu cần của Quân Giải phóng.{{sfnp|Davidson|1991|p=650}} Trước sức ép mạnh mẽ từ đối phương, Quân lực Việt Nam Cộng hòa chịu tổn thất nặng nề và buộc phải rút lui.{{sfnp|Davidson|1991|p=649}} Tuy Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố chiến thắng song Lam Sơn 719 là một thất bại về mặt quân sự lẫn tâm lý của Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ.{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=125}} Số thương vong quá lớn gây tổn thương nghiêm trọng về mặt tinh thần, khiến Quân lực Việt Nam đánh mất sự tự tin mà họ đạt được trước đó.{{sfnp|Davidson|1991|p=651}}
=== Cải cách điền địa ===
{{chính|Cải cách điền địa (Việt Nam Cộng hòa)#Cải cách lần 2 (Thời Đệ Nhị Cộng hòa)}}
[[Tập tin:Nguyen Van Thieu converses with two village elders (CC45537).jpg|nhỏ|upright|trái|Nguyễn Văn Thiệu thăm hỏi sức khỏe hai bô lão trong chuyến thị sát tại tỉnh Phước Long]]
Ngay từ khi trở thành quốc trưởng vào năm 1965, Nguyễn Văn Thiệu đã dành nhiều sự chú ý tới vấn đề nông thôn, tuyên bố rằng "đất đai phải thuộc về người trồng cấy".{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2017}} Tháng 1 năm 1967, ông chọn An Giang làm nơi thí điểm mô hình cải cách điền địa mới. Sau [[Sự kiện Tết Mậu Thân]] năm 1968, vì một vùng nông thôn rộng lớn đã lọt dưới quyền kiểm soát của [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]], giới lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa chú ý đến việc giành lại đất đai ở nông thôn.{{sfnp|Cao Văn Thân|2019|p=96–98}}{{sfnp|Trần Hữu Đính|1993|p=13}} Trong hội nghị giữa [[Richard Nixon]] và Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Midway vào tháng 6 năm 1969, vấn đề nông thôn và cải cách điền địa cũng được đưa ra mổ xẻ bên cạnh chương trình [[Việt Nam hóa chiến tranh]]. Chương trình cải cách điền địa được ước tính sẽ tốn 400 triệu đô la Mỹ trong 10 năm,{{sfnp|Cao Văn Thân|2019|p=101}} phía Hoa Kỳ hứa sẽ viện trợ Việt Nam Cộng hòa 40 triệu đô la Mỹ để thực hiện chương trình này.{{sfnp|Lâm Quang Huyên|2002|p=128}}
Ngày 26 tháng 3 năm 1970, Nguyễn Văn Thiệu ký sắc lệnh ban hành luật "[[Người cày có ruộng (luật)|Người cày có ruộng]]", ứng dụng các yếu tố cơ bản của mô hình thí nghiệm năm 1967, và gọi ngày hôm đó là "là ngày vui sướng nhất trong đời".{{sfnp|Prosterman|1970|p=751, 761}} Chương trình Người cày có ruộng được nhiều quan sát viên quốc tế đánh giá là một trong những chương trình cải cách ruộng đất thành công nhất ở các nước đang phát triển.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2005|loc=Chương 5}} Tờ ''Washington Evening Star'' gọi đó là "tin tức tốt đẹp nhất đến từ Việt Nam kể từ khi kết thúc sự chiếm đóng của người Nhật", còn tờ ''[[The New York Times|New York Times]]'' cho rằng "Có lẽ đây là cuộc cải cách ruộng đất không cộng sản mang nhiều tham vọng và tiến bộ nhất của thế kỷ 20".{{sfnp|Prosterman|1970|p=751}}{{sfnp|Võ Văn Sen|1995|p=109}} Rút kinh nghiệm từ cuộc [[Cải cách điền địa (Việt Nam Cộng hòa)#Cải cách lần 1 (Thời Đệ nhất Cộng hòa)|cải cách điền địa trước đó]] dưới thời Ngô Đình Diệm, chương trình Người cày có ruộng không nhằm vào việc phục hồi tầng lớp địa chủ, mà hướng tới việc xóa bỏ chế độ tá canh, thực hiện việc cấp không ruộng đất cho nông dân, qua đó hướng tới tới mục tiêu là tạo ra một tầng lớp trung nông và tư sản nông thôn mới.{{sfnp|Trần Hữu Đính|1993|p=13–14}} Trong 3 năm thực hiện, 1970–1973, chương trình này đã tạo ra một tầng lớp tiểu nông đông đảo, thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp phát triển.{{sfnp|Trần Hữu Đính|1993|p=17}} Nông dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất và năng suất lúa gạo tăng lên, đời sống của nhân dân vùng quê được cải thiện.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2017}}
=== Tái tranh cử năm 1971 ===
{{Main|Bầu cử tổng thống Việt Nam Cộng hòa 1971}}
Năm 1971, Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử tổng thống một lần nữa.{{sfnp|Minh Tân|1971|p=1, 3}}{{sfnp|Đặng Văn Sung|1971|p=1, 11}} Để nắm chắc phần thắng, Nguyễn Văn Thiệu tìm mọi cách giới hạn số người ra ứng cử.{{sfnp|Lovell|2013|p=198}} Do đó, hai đối thủ đáng chú ý nhất còn lại của ông trong cuộc bầu cử năm 1971 chỉ còn Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ và Đại tướng Dương Văn Minh.{{sfnp|Berman|2001|p=92}} Trước thềm bầu cử, ông Kỳ cáo buộc ông Thiệu dung túng tham nhũng và chỉ trích những sai lầm chiến lược dẫn tới [[Chiến dịch Lam Sơn 719|Cuộc hành quân Hạ Lào]] thảm họa đầu năm 1971.{{sfnp|Lovell|2013|p=192}} Về phần Hoa Kỳ, họ bày tỏ thái độ ủng hộ Nguyễn Văn Thiệu, cho rằng ông chính là một "[[nhà lãnh đạo mạnh mẽ]]" mà Việt Nam Cộng hòa đang cần.{{sfnp|Lovell|2013|p=200–201}} Dương Văn Minh mong muốn đàm phán hòa bình với [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và bị cho là quá "yếu đuối".{{sfnp|Lovell|2013|p=194}} Nguyễn Cao Kỳ tuy tuyên bố sẽ tiến hành Bắc phạt nếu đắc cử, song ông bày tỏ thái độ lạnh nhạt với Hoa Kỳ và muốn họ phải rời khỏi Việt Nam hoàn toàn vào cuối năm 1972, đầu năm 1973.{{sfnp|Lovell|2013|p=192–93}} Cho rằng những đối thủ của ông Thiệu đi ngược lại lợi ích của Hoa Kỳ, một số quan chức Mỹ đã bí mật hậu thuẫn kinh tế cho chiến dịch tái tranh cử của vị tổng thống đương nhiệm.{{sfnp|Lovell|2013|p=188}}
Nguyễn Văn Thiệu đứng chung liên danh cùng [[Trần Văn Hương]] – đối thủ của ông trong đợt bầu cử năm 1967.{{sfnp|Chánh Trinh|2004|p=226}} Lo ngại bị chia phiếu với ông Kỳ, ông Thiệu lợi dụng quyền kiểm soát Thượng viện và Hạ viện để áp đặt luật bầu cử mới, yêu cầu ứng cử viên phải được một số dân biểu nhất định ký tên giới thiệu, qua đó loại bỏ người này ra khỏi cuộc đua.{{sfnp|Lovell|2013|p=199}} Như vậy, danh sách ứng cử viên tổng thống chỉ còn mỗi Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh.{{sfnp|Chánh Trinh|2004|p=217}} Tuy nhiên, do cho rằng ông Thiệu đã bố trí guồng máy gian lận kết quả, ông Minh tuyên bố rút tư cách ứng cử viên.{{sfnp|Lovell|2013|p=200}} Trước nguy cơ "tự tranh cử với chính mình", ông Thiệu tìm cách đưa ông Kỳ trở lại cuộc đua, song người này từ chối và tuyên bố tẩy chay đợt bầu cử.{{sfnp|Lovell|2013|p=202}} Nhà Trắng tuy không hài lòng với cuộc bầu cử thiếu tính cạnh tranh tại miền Nam Việt Nam, nhưng không có hành động nào để can thiệp vào chuyện nội bộ nước này.{{sfnp|Lovell|2013|p=203, 205}} Là người duy nhất tham gia tranh cử, Nguyễn Văn Thiệu dễ dàng tái đắc cử với 94% số phiếu vào ngày 3 tháng 10.{{sfnp|Penniman|1972|p=126–46}}{{sfnp|FitzGerald|2002|p=528}} Được xem là một cuộc "bầu cử độc diễn",{{sfnp|Lovell|2013|p=17}} đợt bầu cử năm 1971 đã đặt dấu chấm hết hoàn toàn cho cuộc thử nghiệm lập hiến và nền chính trị đa nguyên ở miền Nam Việt Nam vốn từng được xem là đầy hứa hẹn vào năm 1967.{{sfnp|Fear|2017}}
== Nhiệm kỳ tổng thống thứ hai (1971–1975) ==
[[Tập tin:71-0046 Nguyen Van Thieu.jpg|nhỏ|200px|Nguyễn Văn Thiệu phát biểu trước binh sĩ vào năm 1971]]
Quan hệ giữa Sài Gòn và Washington trở nên căng thẳng vì cuộc bầu cử độc diễn năm 1971 và thái độ chống đối của Nguyễn Văn Thiệu đối với cuộc đàm phán hòa bình với Hà Nội. Tuy nhiên, Nhà Trắng vẫn giữ vững lập trường ủng hộ Tổng thống Thiệu vì cho rằng ông là người duy nhất có thể điều hành đất nước.{{sfnp|Lovell|2013|p=235–236}} Sau khi tái đắc cử, Nguyễn Văn Thiệu dự định phát động chiến dịch chống tham nhũng và chiến tranh chống ma túy theo mô hình của Hoa Kỳ vào năm 1972, nhưng chưa kịp thực hiện thì Quân Giải phóng phát động [[Chiến dịch Xuân – Hè 1972]].{{sfnp|Lovell|2013|p=237}}
Vào thời điểm Chiến dịch Xuân – Hè bùng nổ, Quân đội Hoa Kỳ đã rút về gần hết nên Quân lực Việt Nam Cộng hòa đơn thương độc mã đương đầu với Quân Giải phóng trong các cuộc giao tranh trên bộ.{{sfnp|Lovell|2013|p=238}} Sau khi để mất Quảng Trị trong [[Chiến dịch Trị Thiên]], Nguyễn Văn Thiệu thay thế Chuẩn tướng [[Vũ Văn Giai]] và Trung tướng [[Hoàng Xuân Lãm]] bằng Trung tướng [[Ngô Quang Trưởng]] làm tư lệnh Quân đoàn I, góp phần làm đảo ngược thế cờ cho Việt Nam Cộng hòa. Dưới sự yểm trợ mạnh mẽ bằng phi pháo{{efn|''Phi pháo'', viết tắt của "phi cơ và trọng pháo", chỉ sự hỗ trợ không lực tầm gần và yểm trợ bằng pháo binh hạng nặng.}} và oanh kích từ Không quân và Hải quân Hoa Kỳ, tướng Trưởng chỉ huy Quân đoàn I thành công [[Trận Thành cổ Quảng Trị|tái chiếm]] [[Thành cổ Quảng Trị]] vào ngày 16 tháng 9 năm 1972 sau gần 3 tháng kịch chiến.{{sfnp|Davidson|1991|p=705}} Tuy Quân lực Việt Nam Cộng hòa có thể giành lại Quảng Trị và thành công cố thủ các thành thị khác song các khu vực nông thôn của Vùng I chiến thuật vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Quân Giải phóng.{{sfnp|Lovell|2013|p=245}}
Màn thể hiện của Tổng thống Thiệu nói riêng và Quân lực Việt Nam Cộng hòa nói chung dù nhận được sự tán dương từ một số sĩ quan cấp cao của Quân đội Hoa Kỳ song không đủ để thuyết phục Nhà Trắng rằng ông có thể bảo vệ miền Nam Việt Nam một cách hiệu quả trước những mối đe dọa từ bên ngoài. Sau khi chiến sự tạm lắng, Washington và Hà Nội đẩy mạnh tiến trình đàm phán hòa bình.{{sfnp|Lovell|2013|p=245}}
=== Đàn áp chính trị ===
Giữa năm 1972, trong bối cảnh chiến sự leo thang, Nguyễn Văn Thiệu ban bố [[thiết quân luật]] trên phạm vi toàn quốc và tiến hành bóp nghẹt các đối thủ chính trị bằng cách tập trung quyền lực vào bản thân. Ông Thiệu đề xuất Quốc hội ban cho mình quyền cai trị bằng nghị định khẩn cấp mà theo ông là cần thiết để đối phó với Quân Giải phóng, nhưng đề nghị này đã bị Thượng viện từ chối.{{sfnp|Lovell|2013|p=249}} Luật sửa đổi mà Quốc hội thông qua sau đó đã hạn chế [[Tình trạng khẩn cấp|quyền hạn khẩn cấp]] của Tổng thống Thiệu, chỉ ban cho ông quyền kiểm soát sáu tháng đối với các vấn đề quốc phòng, an ninh, kinh tế và tài chính.{{sfnp|Lovell|2013|p=249}} Tháng 8 cùng năm, ông đẩy mạnh hoạt động kiểm duyệt báo chí, cho đóng cửa 41 tờ báo. Tuy nhiên, dưới làn sóng phản đối kịch liệt từ công chúng, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải nới lỏng kiểm duyệt, nhưng vẫn tiếp tục kiểm soát chặt chẽ nền chính trị Sài Gòn.{{sfnp|Lovell|2013|p=250}}
Mùa thu năm 1972, Nguyễn Văn Thiệu ra sắc lệnh cho phép bắt giữ không qua xét xử bất kỳ người nào bị nghi ngờ mắc các tội như tham gia tổ chức cộng sản, giết người, đầu hàng, nổi loạn hoặc hiếp dâm.{{sfnp|Lovell|2013|p=250}} Vào thời điểm [[Hiệp định Paris]] được ký kết vào đầu năm 1973, ông Thiệu công khai là đang giam cầm 32.000 tù nhân chính trị, nhưng CIA ước tính con số thực tế phải lên tới 40.000.{{sfnp|Lovell|2013|p=250–51}} Để biện minh cho những hành động của mình, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trước dư luận quốc tế rằng "dân chủ chỉ là một phát minh của Tây phương" và không nên áp dụng lên một xã hội phương Đông. Ông Thiệu cũng ban hành một nghị định mới, mạnh tay xử lý vấn nạn tham nhũng và buôn lậu ma túy. Bất kỳ ai bị bắt giữ vì buôn ma túy, cướp đường phố, cướp có vũ trang, hiếp dâm hoặc môi giới mại dâm đều phải đối mặt với án tử hình.{{sfnp|Lovell|2013|p=252}} Bất chấp sự phản đối mạnh mẽ từ công chúng Việt Nam và Hoa Kỳ, Nhà Trắng vẫn ủng hộ quyết định của ông Thiệu và cho rằng một biện pháp mạnh mẽ hoặc cực đoan là cần thiết để có thể giữ vững sự ổn định cũng như bảo vệ Việt Nam Cộng hòa trước những cuộc tấn công của Quân Giải phóng.{{sfnp|Lovell|2013|p=253}}
=== Thân cô thế cô ===
{{xem thêm|Hiệp định Paris}}
[[Tập tin:President Nixon escorts Nguyen Van Thieu, President of the Republic of Vietnam, to his car outside the Administrative... - NARA - 194498 (cropped).tif|trái|upright|nhỏ|Nguyễn Văn Thiệu và [[Richard Nixon]] tại [[San Clemente, California]] vào tháng 4 năm 1973]]
Ngày 27 tháng 1 năm 1973, [[Hiệp định Paris]] được ký kết, chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Nguyễn Văn Thiệu không ủng hộ cuộc đàm phán hòa bình này và chỉ chấp nhận ký kết hiệp định một cách miễn cưỡng dưới sức ép từ phía Washington.{{sfnp|Lovell|2013|p=278}} Ông chỉ trích [[Ngoại trưởng Hoa Kỳ]] [[Henry Kissinger]] "ham [[Giải Nobel Hòa bình|Giải Nobel]]" và để cho Hà Nội "chơi xỏ".{{sfnp|Lovell|2013|p=265–266}} Những đơn vị [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] được phép ở lại trong lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng chứng minh là một mối đe dọa lớn về mặt an ninh của Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Lovell|2013|p=279}}
Không lâu sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Quân Giải phóng bắt đầu vi phạm lệnh ngừng bắn và cố gắng chiếm thêm lãnh thổ, dẫn đến những trận đánh lớn giữa quân đội hai bên. Cuối năm 1973, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21, [[Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam]] ban hành Nghị quyết 21, kêu gọi "đấu tranh quân sự" tại miền Nam Việt Nam để "giành dân, giành quyền làm chủ" và thăm dò phản ứng của Sài Gòn và Washington.{{sfnp|Willbanks|2004|p=210}} Năm 1974, Quân Giải phóng tiến hành các cuộc tấn công vào hai tỉnh [[Quảng Đức (tỉnh)|Quảng Đức]] và [[Biên Hoà (tỉnh)|Biên Hòa]], gây thiệt hại lớn cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Willbanks|2004|p=197}} Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã không có động thái đáp trả nào trước những hành động vi phạm Hiệp định Paris của Quân Giải phóng.{{sfnp|Willbanks|2004|p=213}}
Nguyễn Văn Thiệu vẫn giữ vững lập trường đối nghịch với Hiệp định Paris thông qua chính sách "Bốn không":{{sfnp|Willbanks|2004|p=213}} không thương lượng với cộng sản; không có hoạt động của cộng sản hoặc phe đối lập ở phía nam [[Khu phi quân sự vĩ tuyến 17]] (DMZ); không chính phủ liên hiệp; và không nhường một tấc đất nào, một thôn ấp nào cho cộng sản.{{sfnp|Willbanks|2004|p=193}} Ông Thiệu vẫn tiếp tục đặt niềm tin vào người Mỹ, cho rằng họ sẽ giữ lời và sẽ can thiệp bằng không quân ở Việt Nam trong trường hợp phe cộng sản vi phạm nghiêm trọng hiệp định Paris.{{sfnp|Willbanks|2004|p=202}}
Tuy nhiên, vào ngày 1 tháng 7 năm 1973, [[Quốc hội Hoa Kỳ]] đã thông qua đạo luật ngăn cấm mọi hoạt động chiến sự – cả trên không lẫn mặt đất – của quân đội nước này tại cả ba nước Đông Dương.{{sfnp|Willbanks|2004|p=195}} Ngày 25 tháng 10 năm 1973, [[Richard Nixon]] phủ quyết {{Ill|Dự luật Quyền hạn Chiến tranh|en|War Powers Resolution}}, cho rằng đạo luật này áp đặt "các hạn chế vi hiến và nguy hiểm" đối với thẩm quyền của tổng thống. Tuy nhiên, vào ngày 7 tháng 11 năm 1973, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua dự luật trên, bất chấp sự phủ quyết của Nixon.{{sfnp|Willbanks|2004|p=195}} Trong hai năm 1973–74, viện trợ của Hoa Kỳ giảm hơn 50% xuống còn 965 triệu đô la Mỹ.{{sfnp|Jones|2003|p=125}} Bất chấp những khó khăn chính trị mà Nixon đang phải đối mặt và mối quan hệ căng thẳng giữa ông chủ Nhà Trắng và Quốc hội Hoa Kỳ về vấn đề Việt Nam,{{sfnp|Willbanks|2004|p=195–96}} Nguyễn Văn Thiệu và hầu hết các nhà lãnh đạo Sài Gòn lúc bấy giờ vẫn lạc quan về hoạt động viện trợ của Hoa Kỳ.{{sfnp|Willbanks|2004|p=202}} Theo Trung tướng [[Đồng Văn Khuyên]] thì "giới lãnh đạo Sài Gòn vẫn tiếp tục tin rằng Hoa Kỳ sẽ can thiệp bằng không quân ngay cả khi Quốc hội Hoa Kỳ đã ngăn cấm tuyệt đối [điều này] … Họ đã tự lừa dối bản thân mình."{{sfnp|Đồng Văn Khuyên|1979|p=387}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=217}}
Năm 1974, trong khoảng thời gian [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] nghỉ ngơi để phục hồi sức mạnh chiến đấu, Nguyễn Văn Thiệu quyết định chớp thời cơ tiến hành phản kích. Ông đã kéo giãn lực lượng bằng cách tung ra các đòn tấn công giành lại phần lớn lãnh thổ mà Quân Giải phóng chiếm được trong các chiến dịch năm 1973 và giành lại 15% tổng diện tích đất do phe cộng sản kiểm soát vào thời điểm Hiệp định Paris đi vào hiệu lực.{{sfnp|Willbanks|2004|p=199}} Tháng 4 năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu phát động tấn công vào khu vực căn cứ địa của Quân Giải phóng tại tỉnh [[Svay Rieng (tỉnh)|Svay Rieng]], Campuchia, giáp ranh với [[Tây Ninh]]. Chiến dịch Svay Rieng là cuộc hành quân tấn công lớn cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tuy giành thắng lợi song chiến dịch này gây tổn thất lớn về mặt nhân lực và vật lực đối với Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Willbanks|2004|p=200–01}} Đến cuối năm 1974, trong khi Quân đội miền Nam rơi vào tình cảnh thiếu thốn trang thiết bị do Hoa Kỳ cắt giảm quân viện,{{sfnp|Willbanks|2004|p=202–08}} thì quân đội miền Bắc ngày càng tăng cường sức mạnh vũ trang của mình.{{sfnp|Willbanks|2004|p=206}}
=== Những ngày cuối cùng ===
{{chính|Chiến dịch Mùa Xuân 1975}}
==== Thất thế ====
{{chính|Chiến dịch Đường 14 – Phước Long|Chiến dịch Tây Nguyên}}
[[Tập tin:President Nguyen Van Thieu (South Vietnam) and world map - NARA - 192502.tif|250px|nhỏ|Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bên tấm bản đồ thế giới.]]
Cuối năm 1974, [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] có 370.000 quân bố trí trên toàn lãnh thổ miền Nam.{{sfnp|Willbanks|2004|p=232}} Họ đồng thời nhận được nguồn cung khí tài quân sự dồi dào từ miền Bắc.{{sfnp|Willbanks|2004|p=209}} Ngày 12 tháng 12, Quân Giải phóng [[Chiến dịch Đường 14 – Phước Long|phát động tấn công]] [[Phước Long (tỉnh)|tỉnh Phước Long]], mục đích thăm dò phản ứng của quốc tế, nhất là của Hoa Kỳ, nhằm chuẩn bị cho việc triển khai những kế hoạch tiếp theo.<ref name="Phước Long">{{harvnb|Phạm Huy Dương|Phạm Bá Toàn|2005|p=320}}</ref> Họ nhanh chóng chiếm ưu thế, vây xiết lực lượng [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]] tại Phước Long.{{sfnp|Hồ Khang|Trần Tiến Hoạt|Nguyễn Xuân Năng|Nguyễn Văn Quyền|Lê Văn Lạng|2013|p=217}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=222–25}}
Ngày 2 tháng 1 năm 1975, Tổng thống Thiệu chủ tọa một cuộc họp khẩn cấp với Trung tướng [[Dư Quốc Đống]], người phụ trách tình hình Phước Long, cùng một số sĩ quan cấp cao khác. Tướng Đống trình bày kế hoạch giải vây Phước Long nhưng bị từ chối do Quân lực Việt Nam Cộng hòa khi đó thiếu khả năng không vận và không còn đủ quân trừ bị để tăng viện.{{sfnp|Willbanks|2004|p=222–25}}{{sfnp|Hồ Khang|Trần Tiến Hoạt|Nguyễn Xuân Năng|Nguyễn Văn Quyền|Lê Văn Lạng|2013|p=219}} Trên thực tế thì vào lúc đó, các thành viên bộ chỉ huy đều có chung suy nghĩ là quân phòng thủ không thể cầm cự đủ lâu để đợi quân tiếp viện.{{sfnp|Cao Văn Viên|1983|p=63–64}} Trước tình thế bất lợi, ông Thiệu quyết định nhượng toàn bộ tỉnh này cho cộng sản, vì nó được xem là kém quan trọng hơn [[Tây Ninh]], [[Pleiku]], hoặc [[Thừa Thiên Huế|Huế]] cả về mặt kinh tế, chính trị lẫn nhân khẩu.{{sfnp|Willbanks|2004|p=225}} Ngày 6 tháng 1 năm 1975, Phước Long thất thủ, trở thành tỉnh lỵ đầu tiên ở miền Nam vĩnh viễn rơi vào tay Quân Giải phóng.{{sfnp|Willbanks|2004|p=226}}
Nhận thấy sự suy yếu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa khi không đủ khả năng phản kích chiếm lại những vùng đã mất, hay quan trọng hơn cả là Hoa Kỳ sẽ không can thiệp quân sự ở miền Nam,{{sfnp|Hồ Khang|Trần Tiến Hoạt|Nguyễn Xuân Năng|Nguyễn Văn Quyền|Lê Văn Lạng|2013|p=220}}<ref name="Phước Long"/> giới lãnh đạo Hà Nội quyết định phát động [[Chiến dịch Tây Nguyên]] nhắm vào khu vực [[Cao nguyên Trung phần]].{{sfnp|Willbanks|2004|p=228}} Quân Giải phóng chọn Thị xã [[Buôn Ma Thuột]]{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=48–50}} làm mục tiêu then chốt mở màn Chiến dịch Tây Nguyên vì đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam Cộng hòa tại Cao nguyên Trung phần.{{sfnp|Hồ Khang|Trần Tiến Hoạt|Nguyễn Xuân Năng|Nguyễn Văn Quyền|Lê Văn Lạng|2013|p=214}} Tư lệnh Quân Giải phóng là Đại tướng [[Văn Tiến Dũng]] bố trí nghi binh ở khu vực bắc Cao nguyên khiến Thiếu tướng [[Phạm Văn Phú]], chỉ huy [[Quân đoàn II (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn II Việt Nam Cộng hòa]], phải chuyển một phần binh lực tới [[Pleiku]] và [[Kon Tum]] để đối phó, dẫn tới cánh Buôn Ma Thuột bị sơ hở.{{sfnp|Davidson|1991|p=770–72}}{{sfnp|Hồ Khang|Trần Tiến Hoạt|Nguyễn Xuân Năng|Nguyễn Văn Quyền|Lê Văn Lạng|2013|p=250–51}} Quân Giải phóng lúc này bí mật di chuyển lực lượng lớn về phía Nam, qua đó áp đảo quân phòng thủ Buôn Ma Thuột với tỷ lệ 8 trên 1.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=49}} Ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận Buôn Ma Thuột bắt đầu và kết thúc chỉ sau vỏn vẹn 8 ngày.{{sfnp|Willbanks|2004|p=234, 238}}
Ngày 18 tháng 3 năm 1975, Quân Giải phóng giành hoàn toàn quyền kiểm soát tỉnh Đắk Lắk.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=51}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=238}} Các lực lượng Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng di chuyển về phía đông nhằm ngăn chặn Quân Giải phóng đánh xuống các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ.{{sfnp|Willbanks|2004|p=240}}{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=63}} Trước bước tiến mạnh mẽ của quân cộng sản, Tổng thống Thiệu đã cử một phái đoàn đến Washington D.C. vào đầu tháng 3 năm 1975, đề nghị Hoa Kỳ tăng viện trợ quân sự khẩn cấp. Đại sứ Hoa Kỳ [[Graham Martin]] cũng bay tới Washington để trình bày vụ việc với Tổng thống [[Gerald Ford]]. Trước tình hình ngày càng trở nên vô vọng đối với Việt Nam Cộng hòa, Quốc hội Hoa Kỳ thể hiện thái độ miễn cưỡng và chỉ thông qua một ngân khoản viện trợ trị giá 700 triệu đô la Mỹ so với con số 1,45 tỷ được đề xuất ban đầu.{{sfnp|Isaacs|1983|p=314}} Tuy vậy, chính quyền Ford tiếp tục khuyến khích ông Thiệu hãy giữ vững lòng tin với người Mỹ.{{sfnp|Isaacs|1983|p=320}}
Trong khoảng thời gian này, trước áp lực ngày một gia tăng, Nguyễn Văn Thiệu càng lúc càng trở nên đa nghi và hoang tưởng hơn trước. Theo Tiến sĩ [[Nguyễn Tiến Hưng]], một trong những phụ tá thân cận nhất của tổng thống, thì ông Thiệu "luôn đề phòng một cuộc đảo chính lật đổ mình."{{sfnp|Willbanks|2004|p=229}} Ông tuyên bố rằng "trong tình hình chính trị Việt Nam, phải cẩn thận ngay cả với dấu chấm, dấu phẩy."{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=351}} Chính sự tự cô lập bản thân này khiến Nguyễn Văn Thiệu thường từ chối "sự cộng tác của nhiều người giỏi, công việc tham mưu xứng đáng, tham khảo ý kiến và hợp tác."{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=351–52}} Ông hiếm khi trao đổi cùng các tướng và thành viên ban tham mưu, sẵn sàng ra tay triệt hạ những người tài nếu thấy họ có thể lấn át mình.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=352}} Các sĩ quan trung thành đều chấp hành nghiêm ngặt mệnh lệnh từ ông Thiệu, đồng ý để ông "đưa ra mọi quyết định về cách thức tiến hành cuộc chiến".{{sfnp|Willbanks|2004|p=235}}{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=53}}
==== Triệt thoái Cao nguyên Trung phần ====
[[Tập tin:HCMC3.jpg|thumb|trái|upright|Bản đồ tái phối trí lực lượng của Tổng thống Thiệu]]
Ngày 11 tháng 3 năm 1975, sau khi kết luận rằng không còn hy vọng nhận được gói quân viện trị giá 300 triệu đô la Mỹ từ Hoa Kỳ,{{sfnp|Willbanks|2004|p=232}}{{sfnp|Cao Văn Viên|1983|p=76}} Nguyễn Văn Thiệu đã cho mời ba cố vấn quân sự thân cận nhất của mình là Thủ tướng [[Trần Thiện Khiêm]], Đại tướng [[Cao Văn Viên]] và Trung tướng [[Đặng Văn Quang (tướng)|Đặng Văn Quang]] đến [[Dinh Độc Lập]] để họp.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=51}}{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=48–49}} Sau khi phân tích tình hình, ông Thiệu lấy ra một tấm bản đồ quốc gia khổ nhỏ và bàn luận về việc tái phối trí lực lượng và "co cụm" lãnh thổ để "bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thật sự quan trọng."{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=49}}{{sfnp|Davidson|1991|p=774}}
Trên bản đồ, Nguyễn Văn Thiệu khoanh vùng những khu vực mà ông cho là quan trọng nhất, trong đó bao gồm toàn bộ Vùng III và Vùng IV chiến thuật với cả thềm lục địa, nơi có những giếng dầu mới được phát hiện.{{sfnp|Davidson|1991|p=776}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=235}} Ông cũng chỉ ra những khu vực hiện đang nằm dưới sự kiểm soát của Quân Giải phóng cần phải được chiếm lại bằng mọi giá, vì đây là nơi tập trung của các nguồn tài nguyên như gạo, cao su và khu công nghiệp.{{sfnp|Willbanks|2004|p=235}} Theo ông, những khu vực này đủ để Việt Nam Cộng hòa tồn tại và phát triển thành một quốc gia riêng.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=357}} Đối với Vùng I và Vùng II chiến thuật, ông Thiệu vẽ một số vạch cắt ngang các vùng duyên hải, cho rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa nên giữ những gì có thể giữ, tùy theo khả năng, nhưng có thể rút lui về phía Nam nếu cần thiết. Đây là chiến lược mà ông Thiệu gọi là "đầu bé, đít to" – thả lỏng phần trên, giữ chặt phần dưới.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=357}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=235}}
Ngày 14 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu cùng 3 người trên bay tới Cam Ranh để gặp Thiếu tướng [[Phạm Văn Phú]], Tư lệnh Quân đoàn II.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=359}} Ông Thiệu quyết định rằng mục tiêu ưu tiêu của Quân đoàn II là tái chiếm Buôn Mê Thuột,{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=54}} cho rằng nơi này quan trọng hơn Pleiku và Kon Tum cả về mặt kinh tế lẫn nhân khẩu.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=52}} Sách lược của ông là tập trung tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của [[Quân đội nhân dân Việt Nam]], trong đó có [[Sư đoàn 320, Quân đội nhân dân Việt Nam|Sư đoàn 320]] thiện chiến chiếm giữ Buôn Ma Thuột, thay vì đối đầu với các toán du kích của Quân Giải phóng.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=360}} Nhằm tạo yếu tố bất ngờ, tướng Phú quyết định rút lui về phía biển theo Tỉnh lộ 7B, một con đường nhỏ, hư hỏng nặng, trước khi triển khai lực lượng và tiến hành chiến dịch tái chiếm Buôn Mê Thuột.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=361}}{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=54–58}}
Các tướng lĩnh được lệnh giữ bí mật, không được để cho phía Hoa Kỳ biết.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=60}} Cuộc rút lui quy mô lớn với hàng trăm nghìn quân nhân và thường dân được dự đoán sẽ rất nguy hiểm. Tuy nhiên, nó đã được tổ chức một cách vội vã mà không có kế hoạch cụ thể, dẫn tới sự thiếu phối hợp giữa các bên. Nhiều sĩ quan cao cấp không hề hay biết về lệnh triệt thoái, một số đơn vị bị bỏ lại sau hoặc rút lui một cách rời rạc.{{sfnp|Davidson|1991|p=777–78}} Sự việc càng trở nên nghiêm trọng khi đoàn xe vận tải bị trễ ba ngày do cầu bị hỏng.{{sfnp|Willbanks|2004|p=239}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=242}} Quân Giải phóng được lệnh truy kích, đến ngày 18 tháng 3 năm 1975 thì đuổi kịp đoàn xe, gây ra tổn thất nghiêm trọng.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=58}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=242–43}}
Ngày 18 tháng 3 năm 1975, lực lượng Biệt động quân Việt Nam Cộng hòa cùng thiết xa đánh chặn vô tình bị không quân oanh tạc nhầm, phải hứng chịu thương vong lớn.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=59–60}}{{sfnp|Davidson|1991|p=778}} Lợi dụng lợi thế về mặt số lượng, Quân Giải phóng tiến hành truy kích, đánh phá đoàn di tản.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=60}} Sau 9 ngày, chỉ có 20.000 trong số tổng cộng 60.000 quân và 25% trong số 180.000 thường dân tham gia di tản đến được [[Tuy Hòa]] vào ngày 27 tháng 3.{{sfnp|Hosmer|Kellen|Jenkins|1980|p=96}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=245}} Lệnh di tản của ông Thiệu đến quá trễ đã biến cuộc triển khai này trở thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn, tạo nên một "con đường máu" cùng với cái chết của hơn 150.000 người.{{sfnp|Willbanks|2004|p=245}} Sau chiến thắng với tầm mức không ngờ, Quân Giải Phóng đã hoàn toàn làm chủ toàn bộ Cao nguyên Trung phần{{sfnp|Willbanks|2004|p=252–55}} trong khi chiến dịch phản công nhằm chiếm lại Buôn Ma Thuột của Quân lực Việt Nam Cộng hòa không bao giờ được hiện thực hóa vì Quân đoàn II chỉ còn 25% binh lực ban đầu.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=63}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=243}}
==== Sụp đổ dây chuyền ====
[[Tập tin:HCMC8.jpg|nhỏ|200px|Bản đồ Vùng I Chiến thuật và các hướng đánh của Quân Giải phóng trong tháng 3 năm 1975.]]
Thảm họa ở Cao nguyên Trung phần được tiếp nối bởi một thảm họa tương tự tại các tỉnh thuộc Vùng I chiến thuật.{{sfnp|Davidson|1991|p=779}} [[Quân đoàn I (Việt Nam Cộng hòa)|Quân đoàn I]] khi đó nằm dưới sự chỉ huy của Trung tướng [[Ngô Quang Trưởng]], người được đánh giá là vị tướng tài ba nhất của miền Nam.{{sfnp|Willbanks|2004|p=246}} Tính đến trung tuần tháng 3 năm 1975, Quân Giải phóng tuy có tới 5 sư đoàn và 27 trung đoàn bổ sung nhưng chỉ mới cố gắng đánh chặn các tuyến xa lộ mà chưa thể tấn công vào các vị trí mà Quân đoàn I vẫn giữ vững.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=66}} Trong buổi họp ngày 13 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu sau khi phân tích tình hình đã truyền đạt kế hoạch "co cụm" lãnh thổ của mình với tướng Trưởng và ra lệnh bỏ Huế để rút về Đà Nẵng.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=364}} Tướng Trưởng tuy không phàn nàn, song cảm thấy bối rối trước kế hoạch của tổng thống.{{sfnp|Davidson|1991|p=776–78}}
Ngày 19 tháng 3 năm 1975, Ngô Quang Trưởng bay vào Sài Gòn gặp Tổng thống Thiệu bày tỏ ý định rút về cố thủ ba cứ địa Huế, Đà Nẵng và Chu Lai.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=76}}{{sfnp|Davidson|1991|p=781}} Sau khi nghe tướng Trưởng giải thích rằng không còn đường nào để rút khỏi Huế do Quốc lộ 1 đã bị Quân Giải phóng đánh chặn, ông Thiệu miễn cưỡng nghe theo.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=368}} Ngày 20 tháng 3 năm 1975, Tổng thống Thiệu lên sóng phát thanh, hiệu triệu rằng Huế cần phải được phòng thủ "bằng mọi giá".{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=70}} Tối hôm đó, Ngô Quang Trưởng lệnh binh lính rút khỏi Quảng Trị để lui về phòng tuyến tại [[sông Mỹ Chánh]] ở phía Bắc Huế.{{sfnp|Willbanks|2004|p=250}} Vì nhuệ khí và kỷ luật của ba quân vẫn còn tương đối cao, tướng Trưởng tự tin có thể giữ được Huế.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=369}} Tuy nhiên, ông nhanh chóng bị sốc khi nhận được công điện hỏa tốc truyền đạt chỉ thị mới của tổng thống rằng "nếu tình hình bắt buộc, chỉ cần lui về giữ Đà Nẵng mà thôi." Ông Thiệu đưa ra quyết định này vì cho rằng Quân đoàn I không đủ còn đủ quân để có thể phòng thủ một lúc ba nơi.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=78}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=248}} Mệnh lệnh "tiền hậu bất nhất" này gây hoang mang trong quân đội, nhất là đối với những binh lính bị buộc phải bỏ rơi quê hương và thân nhân để rút lui.{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=303}}
Quân đoàn I trên đường rút lui về Đà Nẵng liên lục chịu sức ép từ Quân Giải phóng. Bên cạnh đó, việc hàng trăm nghìn dân thường tham gia di tản khiến tình hình nhanh chóng vượt ngoài tầm kiểm soát.{{sfnp|Hosmer|Kellen|Jenkins|1980|p=109}} Bất mãn trước những quyết định của Tổng thống Thiệu, Tư lệnh [[Sư đoàn 1 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Sư đoàn 1 Bộ binh]] là Chuẩn tướng [[Nguyễn Văn Điềm]] tức giận phát biểu trước binh sĩ rằng: "Chúng ta đã bị phản bội rồi. Bây giờ thì mạnh ai người nấy lo cho chính mình."{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=290}} Trước sự tấn công dồn dập của Quân Giải phóng, sư đoàn 1 nhanh chóng tan rã, nhiều binh sĩ đào ngũ hoặc tiến hành cướp bóc.{{sfnp|Willbanks|2004|p=248}} Do vậy, chỉ 1/3 quân số ban đầu đến được Đà Nẵng.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=95}}
Ngày 27 tháng 3 năm 1975, Quân Giải phóng liên tiếp nã pháo vào các căn cứ quân sự tại Đà Nẵng làm cho tinh thần của cả quân và dân trong thành phố thêm phần hoảng loạn. Thêm vào đó, việc dòng người tị nạn từ các nơi đổ về quá đông, lên tới 1,5 triệu người, khiến Đà Nẵng trở nên hỗn loạn và không thể kiểm soát.{{sfnp|Davidson|1991|p=784}} Nhận thấy việc cố thủ Đà Nẵng là bất khả thi, Ngô Quang Trưởng gọi điện về Sài Gòn yêu cầu cho phép di tản bằng đường biển.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=79}} Tuy nhiên, Nguyễn Văn Thiệu do dự không đưa ra mệnh lệnh dứt khoát.{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=308}} Ông vẫn nuôi hy vọng Hoa Kỳ can thiệp quân sự vào Việt Nam một lần nữa và muốn giữ Đà Nẵng bằng mọi giá để sử dụng làm đầu cầu cho người Mỹ đổ bộ.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=101–102}} Tuy nhiên, sau khi liên lạc với Sài Gòn bị gián đoạn bởi hỏa lực của Quân Giải phóng, Ngô Quang Trưởng đành phải tùy cơ ứng biến, ra lệnh rút lui khỏi Đà Nẵng bằng đường biển.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=80–81}}{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=309}}
Không có sự hỗ trợ từ Sài Gòn, cuộc di tản diễn ra trong tình cảnh hỗn loạn.{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=308–309}} Hàng chục nghìn người bỏ mạng trước các đợt pháo kích của Quân Giải phóng. Nhiều người chết đuối khi chen lấn giẫm đạp tranh nhau xuống tàu. Số lượng tàu được gửi đi là quá ít đối với hàng triệu người phải sơ tán.{{sfnp|Willbanks|2004|p=252–53}} Chỉ có khoảng 16.000 binh sĩ và 50.000 người trong số gần hai triệu dân thường ở Đà Nẵng được sơ tán thành công.{{sfnp|Phạm Kim Vinh|1988|p=315}}{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=83}} Ngày 29 tháng 3 năm 1975, Quân Giải phóng tiến vào chiếm đóng đô thị lớn hàng thứ hai tại miền Nam Việt Nam, bắt giữ hơn 70.000 binh sĩ,{{sfnp|Willbanks|2004|p=253}} thu được 100 [[tiêm kích cơ]] và hàng loạt khí tài quân sự khác.{{sfnp|Willbanks|2004|p=255}} Đà Nẵng thất thủ kéo theo sự sụp đổ dây chuyền của các đô thị ven biển Nam Trung Bộ như "một dãy bình sứ trượt khỏi kệ".{{sfnp|Willbanks|2004|p=254–55}} Chỉ sau vỏn vẹn 2 tuần, hơn một nửa lãnh thổ miền Nam đã hoàn toàn nằm trong quyền kiểm soát của Quân Giải phóng.{{sfnp|Isaacs|1983|p=380}}
=== Từ chức ===
{{xem thêm|Chiến dịch Hồ Chí Minh|Trận Xuân Lộc}}
{{CSS image crop
|Image = Wayne Hays, Spiro T. Agnew, Gerald R. Ford, President Thieu, and Carl Albert standing together. April 5, 1973.jpg
|bSize = 400
|cWidth = 150
|cHeight = 200
|oTop = 25
|oLeft = 110
|Location = left
|Description = Nguyễn Văn Thiệu và [[Gerald Ford]]
}}
Sau những thắng lợi vượt xa mức tưởng tượng, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết tâm giành chiến thắng trước khi miền Nam bước vào mùa mưa năm 1975 thay vì đợi đến năm 1976 để thực hiện bước 2 của ''Kế hoạch chiến lược hai năm 1975–1976'' như đã đề ra vào cuối năm 1974.{{efn|''Kế hoạch chiến lược hai năm 1975–1976'' của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm hai bước:{{sfnp|Hồ Khang|Trần Tiến Hoạt|Nguyễn Xuân Năng|Nguyễn Văn Quyền|Lê Văn Lạng|2013|p=203}}
* ''Bước 1 (1975)'': tranh thủ yếu tố bất ngờ, tập trung lực lượng, phương tiện, vũ khí đánh địch trên phạm vi lớn toàn miền Nam.
* ''Bước 2 (1976)'': thực hiện tổng công kích – tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam.}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=256}}{{sfnp|Veith|Pribbenow|2004|p=178}} Ngày 7 tháng 4 năm 1975, [[Lê Đức Thọ]] đến sở chỉ huy của Đại tướng [[Văn Tiến Dũng]] tại [[Lộc Ninh]] thay mặt Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo [[Chiến dịch Hồ Chí Minh]].{{sfnp|Willbanks|2004|p=265}}{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=112}} Trong cuộc họp Bộ Chỉ huy chiến dịch, Văn Tiến Dũng phác thảo kế hoạch tiến đến Sài Gòn bằng ba hướng. Mục tiêu đầu tiên của chiến dịch là [[Xuân Lộc]],{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=116}} tỉnh lỵ của [[tỉnh Long Khánh]], nơi án ngữ các trục giao thông quan trọng hướng thẳng về Sài Gòn.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=142}}{{sfnp|Duy Tường|2005|p=380}} Được mệnh danh là "cánh cửa thép", Xuân Lộc là mắt xích trọng yếu trong hệ thống phòng thủ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.{{sfnp|Nguyễn Hữu Đức|Nguyễn Thị Thanh|2005|p=343}}
Ngày 9 tháng 4 năm 1975, Quân Giải phóng phát động tấn công Xuân Lộc.{{sfnp|Willbanks|2004|p=265}} Thiếu tướng [[Lê Minh Đảo]] chỉ huy 25.000 quân – khoảng 1/3 lực lượng còn lại của Quân lực Việt Nam Cộng hòa – bảo vệ phòng tuyến Xuân Lộc.{{sfnp|Willbanks|2004|p=266}} Sư đoàn 18 dưới trướng Lê Minh Đảo chống trả quyết liệt, giữ vững tuyến phòng thủ trong nhiều ngày.{{sfnp|Veith|Pribbenow|2004|p=191}} Tuy nhiên do thiếu không quân yểm trợ cũng như việc Quân Giải phóng thay đổi chiến thuật đánh vòng sang phía khác, nên sau khi các phòng tuyến ở Tây Ninh và Phan Rang lần lượt thất thủ, phòng tuyến Xuân Lộc trở nên mất tác dụng.{{sfnp|Veith|Pribbenow|2004|p=202, 206}} "Cánh cửa thép" Xuân Lộc bị phá vỡ sau 11 ngày kịch chiến, Sài Gòn bị Quân Giải phóng bao vây và cô lập hoàn toàn.{{sfnp|Willbanks|2004|p=267}}{{sfnp|Hosmer|Kellen|Jenkins|1980|p=133}} Trận tử chiến tại Xuân Lộc là minh chứng cuối cùng cho thấy nếu được dẫn dắt đúng cách bởi một đội ngũ chỉ huy có năng lực, Quân lực Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn đủ khả năng đối chọi trực diện với Quân Giải phóng.{{sfnp|Davidson|1991|p=790}}
Ngày 10 tháng 4 năm 1975, Tổng thống Hoa Kỳ [[Gerald Ford]] vận động Quốc hội thông qua một gói viện trợ quân sự bổ sung trị giá 722 triệu đô la Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa, cùng với 250 triệu đô la Mỹ viện trợ kinh tế và ấn định hạn chót để quốc hội đưa ra quyết định là ngày 19 tháng 4 năm 1975.{{sfnp|Isaacs|1983|p=408}}{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=127}} Cũng trong khoảng thời gian này, để đề phòng trường hợp Quốc hội Hoa Kỳ từ chối viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu đã cử Tổng trưởng [[Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa|Bộ Ngoại giao]] [[Vương Văn Bắc]] sang [[Ả Rập Xê Út]] để yêu cầu vay tiền.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=140}} Tuy được Quốc vương [[Khalid của Ả Rập Xê Út|Khalid]] bật đèn xanh, nhưng thương vụ cho vay được dự kiến sẽ phải mất ít nhất ba đến bốn tháng để hoàn thành.{{sfnp|Jespersen|2002|p=457}} Trong cơn tuyệt vọng, Tổng thống Thiệu đã gửi thư cho Tổng thống Ford đề nghị vay thế chấp 3 tỷ đô la Mỹ. Tuy nhiên, cả đề nghị vay nợ lẫn viện trợ đều bị Quốc hội Hoa Kỳ bác bỏ.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=469}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=267–68}}
Dưới áp lực từ các tướng, Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào ngày 21 tháng 4 năm 1975.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=138–41}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=268–69}} Ông đã có một bài phát biểu kéo dài ba tiếng trên sóng truyền hình, được nhiều người đánh giá là bài diễn văn "hay nhất",{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=474}} nhưng đồng thời cũng "đả kích nhất" của ông trong suốt 8 năm làm tổng thống.{{sfnp|Dawson|1977|p=286}} Trong bài diễn văn tuy "rời rạc, nhưng nồng nhiệt và chân thành" này, ông lần đầu tiên thừa nhận lệnh di tản khỏi Cao nguyên Trung phần và miền Bắc là căn nguyên dẫn đến thảm bại.{{sfnp|Dawson|1977|p=288}} Tuy nhiên, sau đó ông tuyên bố quyết định trên – nếu xét về tình hình lúc bấy giờ – là bất đắc dĩ, đồng thời đùn đẩy trách nhiệm cho các tướng.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=138}} Ông mô tả Hoa Kỳ là "một đồng minh vô nhân đạo với những hành động vô nhân đạo" và lên tiếng chỉ trích hành động cắt giảm viện trợ của họ:{{sfnp|Cohen|1983|p=413}}
{{Phương tiện thông tin ngoài
| float =
| topic =
| image1 = [https://cdnc.ucr.edu/?a=d&d=DS19750421.2.8&e=-------en--20--1--txt-txIN--------1 Thieu Resigns; Blames US. Cease-Fire Seems Very Doubtful Now]
| video1 = [https://www.youtube.com/watch?v=p4-TJjGaDCU Diễn văn từ chức của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu – 21.4.1975] (trích đoạn)
}}
{{cquote|{{css-style|font-family: Georgia, serif;|…Tôi từng nói với người Mỹ:<!-- {{efn|''Người Mỹ'' mà Nguyễn Văn Thiệu đề cập ở đây là phái đoàn Quốc hội Hoa Kỳ tới Việt Nam khảo sát tình hình vào tháng 3 năm 1975}} --> Mấy ông bảo chúng tôi làm những việc mà chính mấy ông không làm được với nửa triệu lính, binh hùng tướng mạnh, xài gần 300 tỷ Mỹ kim trong 6 năm trời. Nếu [các ông] không muốn nói là bị Cộng sản đánh bại ở Việt Nam thì cũng phải nói một cách khiêm nhường là mấy ông không có thắng. Mấy ông chỉ tìm một cái lối thoát danh dự. Thì bây giờ với cái quân đội này, súng thiếu, đạn thiếu, thuốc thiếu, xăng thiếu, máy bay thiếu, không có B-52 lại bảo tôi làm cái chuyện đội đá vá trời thì có khác gì mấy ông cho tôi 3 Mỹ kim mà bảo tôi đi máy bay hạng nhất, ở phòng ngủ có giá 1 ngày 30 Mỹ kim, ăn 1 ngày 4–5 miếng thịt bò, uống 1 ngày 7-8 ly rượu. Không làm được, phi lý? […] Và mấy ông còn 1 năm nữa, mấy ông ăn [[Quốc khánh Hoa Kỳ|cái lễ 200 năm]]. Thì tôi có hỏi họ hẳn hoi là lời nói của Hoa Kỳ có còn đáng tin cậy hay không? Mà những gì mấy ông hứa có giá trị gì hay không? 300 triệu Mỹ kim có đáng gì với mấy ông? 300 triệu Mỹ kim mà so với cái chuyện mấy ông bảo tôi rằng hãy làm 1 chiến thắng, hãy ngăn chặn 1 sự xâm lăng [của Cộng sản Bắc Việt] mà mấy ông làm trong 6 năm trời không được! […] Mỹ đánh không lại Cộng sản nên bỏ mặc Việt Nam Cộng hòa đánh một mình thì làm sao ăn. Có giỏi thì Mỹ vô đây lần nữa…"}}}}
Nguyễn Văn Thiệu cũng trách cứ Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger vì đã ký Hiệp định Paris – một hiệp định mà Hà Nội đã vi phạm.<ref name="tel"/> Ông tuyên bố rằng người Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa, cho rằng "cái bản văn hiệp định đó là bản văn Hoa Kỳ bán miền Nam Việt Nam cho Cộng sản".{{sfnp|Dawson|1977|p=287–88}} Ông Thiệu cũng đổ lỗi cho các phương tiện truyền thông cả trong và ngoài nước vì liên tiếp đưa tin tham nhũng và khủng hoảng của chính phủ Sài Gòn, làm suy sụp tinh thần của quân đội và dân chúng.<ref name=Independent/> Ngay sau bài phát biểu, Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên nắm quyền tổng thống, nhưng cũng không thể cứu vãn được tình hình.{{sfnp|Willbanks|2004|p=270}} Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn, kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam.{{sfnp|Nguyễn Ngọc Cơ|Hồ Khang|Đỗ Xuân Huy|Nguyễn Văn Minh|Nguyễn Huy Thục|Nguyễn Văn Quyền|Lê Quang Lạng|Trần Hữu Huy|Ngô Quang Chính|2013|p=21}}
== Lưu vong ==
{{xem thêm|16 tấn vàng của Việt Nam Cộng hòa}}
{{Wikisource|1=Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa|2=Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống VNCH}}
Trong bài diễn văn từ chức ngày 21 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố "tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ" và khẳng định rằng ông sẽ tái ngũ và tiếp tục chiến đấu trong vai trò một vị tướng "kề bên anh em chiến sĩ".{{efn|Nguyên văn: "…Dù mất một Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, quân đội vẫn còn Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kề bên anh em chiến sĩ…"}}{{sfnp|Browne|1975}} Tuy nhiên, ông sau đó đã bí mật rời khỏi Sài Gòn sang [[Đài Loan]] trên một chiếc phi cơ [[Douglas DC-6|C-118]] vào đêm ngày 25–26 tháng 4 năm 1975.{{sfnp|Gibson|2018}}{{sfnp|''New York Times'', 26 tháng 4 năm 1975}} Để cho sự ra đi này được danh chính ngôn thuận, Tổng thống [[Trần Văn Hương]] đã ký nghị định đề cử Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm làm đặc sứ Việt Nam Cộng hòa sang [[Đài Bắc]] phúng điếu [[Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc]] [[Tưởng Giới Thạch]], người đã [[Cái chết và quốc tang của Tưởng Giới Thạch|qua đời]] gần 3 tuần trước đó vào ngày 5 tháng 4 năm 1975.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2020}}
Cuộc ra đi của Nguyễn Văn Thiệu và các trợ lý diễn ra dưới sự sắp xếp của Thomas Polgar, trưởng [[CIA]] ở Sài Gòn.{{sfnp|Ward|Burns|2017|p=548}} Theo ký giả [[:en:Morley Safer|Morley Safer]], CIA cũng dính dáng đến việc "chuyên chở nhiều va-li chứa đầy kim loại nặng bằng máy bay" ra nước ngoài, mà "kim loại nặng" ở đây ám chỉ tới vàng. Tuy nhiên, theo phóng sự điều tra của báo ''[[Tuổi Trẻ (báo)|Tuổi Trẻ]]'', ông Thiệu tuy có ý định chuyển 16 tấn vàng ra nước ngoài, nhưng đã không thể thực hiện. Số vàng được bàn giao cho Ủy ban Quân quản và nằm trong số 40 tấn vàng mà [[Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] bán ra quốc tế vào năm 1979 để "giải quyết những vấn đề khó khăn cấp bách của quốc gia, trong đó có miếng ăn của người dân".{{sfnp|Hà Anh|2020}}{{sfnp|Quốc Việt|2015}}
Sau khi đến Đài Bắc, Nguyễn Văn Thiệu thoạt đầu sống tại nhà anh trai Nguyễn Văn Kiểu, Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan, người có một căn nhà ở vùng ngoại ô trước khi cùng gia đình chuyển tới một căn hộ tại khu Thiên Mẫu, quận [[Sỹ Lâm]], Đài Bắc.{{sfnp|''New York Times'', 3 tháng 6 năm 1975}} Vì con trai theo học tại [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Anh]], ông cùng gia đình chuyển tới đây và sinh sống tại một căn nhà ở [[Kingston upon Thames]], tọa lạc phía tây nam [[Luân Đôn]].{{sfnp|Corfield|2014|p=209}} Trong thời gian ở Anh, ông Thiệu khá kín tiếng, đến nỗi [[Văn phòng Đối ngoại và Thịnh vượng chung|Văn phòng Đối ngoại Anh]] vào năm 1990 không rõ ông đang làm gì, ở đâu. Đầu thập niên 1990, gia đình ông tới Foxborough thuộc vùng ngoại vi [[Boston]], [[Massachusetts]] và sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại ở đây. Nguyễn Văn Thiệu không viết hồi ký, hiếm khi trả lời phỏng vấn và từ chối tiếp khách. Ngoài việc nhìn thấy ông Thiệu dắt chó đi dạo, hàng xóm hiếm khi có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu ông.{{sfnp|Lamb|2001}} Những lần xuất hiện ít ỏi của ông trước dư luận quốc tế sau khi lưu vong gồm có bộ phim tài liệu ''[[Việt Nam cuộc chiến 10000 ngày]]'' của Mỹ sản xuất năm 1980 và cuộc phỏng vấn với tạp chí ''[[Spiegel]]'' của [[Tây Đức]] vào năm 1979, trao đổi về quãng thời gian nắm giữ cương vị tổng thống miền Nam Việt Nam.{{sfnp|Engel|Lohfeldt|1979}}{{sfnp|Shales|1982}}
Việc Nguyễn Văn Thiệu ít khi xuất hiện trước công chúng là do lo ngại sự thù địch của người Việt Nam tị nạn cộng sản, những người tin rằng ông là nhân tố chính khiến Việt Nam Cộng hòa chiến bại.{{sfnp|Corfield|2014|p=209}} Tuy nhiên, ông từng có một số buổi trao đổi với cộng đồng người Việt sau khi sang Hoa Kỳ định cư. Năm 1992, ông Thiệu lên tiếng tố cáo [[Quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam|sự xích lại gần nhau]] giữa Hoa Kỳ và [[Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] nhưng từ năm 1993 thì lại có ý muốn thiện chí tham gia vào các cuộc thảo luận [[Hòa giải và hòa hợp dân tộc ở Việt Nam|hòa giải dân tộc]], nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng kiều bào có cơ hội trở về nước.{{sfnp|Đoan Trang|2001}} Trong một buổi phỏng vấn năm 1993, ông cho rằng Việt Nam cần phải được dân chủ hóa, nhưng phải bằng một giải pháp chính trị ôn hòa, không bạo động "để tránh một cuộc nội chiến gây hận thù triền miên cho các thế hệ mai sau". Cũng trong buổi phỏng vấn này, ông nói rằng mình đã không làm tròn được nhiệm vụ mà nhân dân giao phó, dù đã "cố gắng trong khả năng chức vị của ông đối với cộng sản và kể cả đối với đồng minh", đồng thời tuyên bố "nhận lãnh trách nhiệm hoàn toàn trước nhân dân và lịch sử".{{sfnp|''SBS Tiếng Việt'', 2019}}
== Qua đời ==
Nguyễn Văn Thiệu cùng vợ [[Nguyễn Thị Mai Anh]] kỷ niệm 50 năm ngày cưới tại [[Hawaii]] khi [[Sự kiện 11 tháng 9]] xảy ra. Việc cả 2 chiếc máy bay đâm vào Tòa Tháp Đôi của [[Trung tâm Thương mại Thế giới (1973–2001)|Trung tâm Thương mại Thế giới]] đều cất cánh từ [[Sân bay quốc tế Logan]] nằm gần nhà hai người đã có những tác động tâm lý nhất định đối với ông, gây ảnh hưởng đến sức khỏe.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=33}} Vì đường bay bị gián đoạn bởi vụ tấn công, hai vợ chồng bị kẹt lại ở Hawaii hơn 1 tuần. Khi về tới nhà, bệnh tình ông trở nặng.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=34}}
Sau khi [[tai biến mạch máu não|đột quỵ]] và hôn mê từ ngày 27 tháng 9 năm 2001, Nguyễn Văn Thiệu qua đời ngày 29 tháng 9 tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess, [[Boston]], [[Massachusetts]], thọ 78 tuổi.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=34}} Tang lễ của ông được cử hành tại Nhà tang lễ<!-- còn gọi là nhà quàn --> Eaton & Mac Kay ở [[Newton, Massachusetts]] vào ngày 6 tháng 10 năm 2001.{{sfnp|Trần Ngọc Thống|Hồ Đắc Huân|Lê Đình Thụy|2011|p=220}} Thi thể của ông được [[hỏa táng]] nhưng không rõ nơi đặt tro cốt. Theo lời bà Mai Anh thì trước lúc qua đời, ông bày tỏ mong muốn được an táng ở quê nhà [[Phan Rang – Tháp Chàm|Phan Rang]], nếu không "thì hỏa táng rải một nửa xuống biển, một nửa trên núi".{{sfnp|Mai Nguyễn|2015}}
== Đời tư ==
=== Gia đình ===
[[Tập tin:Marriage of Nguyen Thi Mai Anh and Nguyen Van Thieu in 1951.jpg|upright|nhỏ|Vợ chồng Nguyễn Văn Thiệu trong ngày cưới]]
Năm 1951, Nguyễn Văn Thiệu kết hôn với [[Nguyễn Thị Mai Anh]], con gái thứ bảy trong một gia đình có mười anh chị em. Họ có với nhau 1 con gái, 2 con trai, lần lượt là Nguyễn Thị Tuấn Anh, Nguyễn Quang Lộc và Nguyễn Thiệu Long.{{sfnp|Trần Ngọc Thống|Hồ Đắc Huân|Lê Đình Thụy|2011|p=217}} Ngoài ra, hai vợ chồng cũng nhận nuôi Nguyễn Thị Phương Anh, con gái của ông Nguyễn Xuân Hiếu, là cháu gái ruột gọi ông Thiệu bằng chú.{{sfnp|Veith|2021|p=44}}{{sfnp|Mai Nguyễn|2015}} Năm 1973, con gái lớn Tuấn Anh đã kết hôn cùng Nguyễn Tấn Triều – con trai Tổng giám đốc [[Air Vietnam]] Nguyễn Tấn Trung – trong một đám cưới được liệt vào hàng "vương giả, lớn nhất, sang trọng nhất" miền Nam thời bấy giờ.{{sfnp|''Petrotimes'' 2015}} Có rất ít thông tin về ba người con còn lại, chỉ biết rằng con trai lớn Nguyễn Quang Lộc theo học tại [[Eton College]] – một trường nam sinh ở [[Berkshire]], Anh. Đây được cho là một trong những nguyên nhân chính khiến gia đình ông Thiệu chuyển tới Anh sinh sống và ở lại đây hơn một thập kỷ trước khi di cư sang Hoa Kỳ.{{sfnp|Corfield|2014|p=209}}
=== Ngoại ngữ ===
Nguyễn Văn Thiệu nói được [[tiếng Pháp]], [[tiếng Anh]] và thường trả lời phỏng vấn bằng hai ngôn ngữ này. Ông học tiếng Pháp trên ghế nhà trường. Về phần tiếng Anh thì ông không học qua trường lớp mà chỉ thông qua các phụ tá của mình. Tuy nhiên, kỹ năng tiếng Anh của ông được đánh giá khá cao, thể hiện qua cuộc đối thoại không cần thông dịch viên, dài 8 tiếng đồng hồ với Tổng thống [[Richard Nixon]] vào ngày 8 tháng 6 năm 1969.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=44–46}}<ref name="DVtuvi"/>
=== Tín ngưỡng ===
Nguyễn Thị Mai Anh sinh ra trong một gia đình [[Công giáo tại Việt Nam|Công giáo]] toàn tòng{{efn|''Công giáo toàn tòng'': Chỉ tất cả thành viên trong một gia đình, hay tất cả gia đình trong một xứ đạo đều theo Công giáo.}} ở Mỹ Tho, có truyền thống [[Đông y]]. Nguyễn Văn Thiệu vốn là một [[Phật giáo|Phật tử]], song đã cải sang đạo Công giáo của vợ vào năm 1958.{{sfnp|''The Irish Times'', 6 tháng 10 năm 2001}}{{sfnp|Isaacs|1983|p=115}} Một số người đã chỉ trích hành động này, cho rằng ông Thiệu cải đạo chỉ để mưu cầu lợi ích chính trị và tìm kiếm sự thăng tiến trong quân đội.<ref name="NYT 2001">{{harvnb|Butterfield|2001}}</ref> Là một tín hữu Công giáo, Nguyễn Văn Thiệu không bỏ lỡ Thánh Lễ [[Chúa Nhật]] nào tại nhà thờ.{{sfnp|Scholl-Latour|1980|p=179}} Tuy vậy, gia đình ông chịu sự ảnh hưởng lớn từ văn hóa truyền thống Việt Nam. Ông Thiệu xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, còn bà Mai Anh thì chịu ảnh hưởng khá lớn về nề nếp, gia phong của một gia đình phong kiến, mang nặng tư tưởng Nho giáo.{{sfnp|Nam Anh|Mai Kỳ|2014}} Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, Nguyễn Văn Thiệu cho tu sửa nhiều chùa chiền, đền thờ và [[Văn miếu|Văn Thánh miếu]] thờ tự [[Khổng Tử]].<ref name=TTĐS/> Năm 1967, ông đưa gia đình về quê để vinh quy bái tổ theo nghi thức truyền thống Nho giáo sau khi đắc cử tổng thống. Ngoài ra, ông cũng thường dâng hương tưởng niệm các [[Vua Hùng]] và phát biểu trước công chúng trong các dịp [[Giỗ Tổ Hùng Vương]] hàng năm.{{sfnp|Scholl-Latour|1980|p=178}}
Nguyễn Văn Thiệu là một người đặc biệt tin vào [[bói toán]], [[tử vi đẩu số|tử vi]] và [[phong thủy]].{{sfnp|Slote|De Vos|1998|p=150–51}}<ref name=TTĐS>{{harvnb|Hoàng Anh Sướng|2019}}</ref> Cho rằng sự tốt xấu của phong thủy âm trạch{{efn|''Âm trạch'': đất xây mồ, mộ phần.}} quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp của mình, Nguyễn Văn Thiệu cho dời mồ mả tổ tiên tới một khu đất khác được cho là có địa lý tốt vào năm 1956.{{sfnp|Slote|De Vos|1998|p=150}} Ông còn cử ra đó một đơn vị canh gác tới 400 lính. Tuy nhiên, vào tháng 4 năm 1975, đơn vị này đã nổi loạn, dùng máy ủi san phẳng các ngôi mộ.{{sfnp|Dawson|1977|p=270}} Ông cũng đã cho đổi ngày tháng năm sinh từ ngày 5 tháng 4 năm 1923 thành ngày 24 tháng 12 năm 1924. Đây được cho là một sự thay đổi có chủ đích, vì ngày sinh mới của ông nhằm vào giờ Tý, ngày Đinh Sửu, tháng Tý và năm Tý, mà trong [[tử vi đẩu số]] thì đây là lá số "tam trùng quí số" hay "tam tý vi vương",{{efn|Một số ý kiến cho rằng với ngày sinh mới này, thì Nguyễn Văn Thiệu không chỉ trùng "tam Tý" mà trùng "tứ Tý" (''trùng tứ quý mệnh'') vì trong tử vi, nó thuộc cung Mệnh Viên, mà cung này cũng nằm ở Tý.<ref name="trấn yểm"/>}} đồng nghĩa với việc sở hữu "chân mệnh đế vương".<ref name="DVtuvi">{{harvnb|''Dân Việt'' 2019}}</ref>{{sfnp|''Đất Việt'' 2011}} Nguyễn Văn Thiệu có am hiểu nhất định về phong thủy và rất tin tưởng một vị thầy bói tên là [[Huỳnh Liên (thầy bói)|Huỳnh Liên]], một nhân vật được người đương thời mệnh danh là "[[Quỷ Cốc Tử|Quỷ Cốc tiên sinh]]". Mong muốn bảo toàn cơ nghiệp, ông đã lệnh cho thầy phác họa đồ hình phong thủy,{{efn|Theo chuyên đề ''An ninh thế giới'' của báo ''[[Công an nhân dân (báo)|Công an nhân dân]]'', Nguyễn Văn Thiệu có mời thầy phong thủy Huỳnh Liên đến đàm đạo. Ông vẽ trước một đồ hình chữ "T", tương ứng với cụm sao Vua. Thầy Huỳnh Liên sau khi xem cũng phải thán phục tài chiêm tinh của ông, song kiến nghị vẽ thêm một đường thẳng. Theo thầy Huỳnh Liên, đây là hình chữ "chủ" (主), mà trong chữ "chủ" có chữ "vương" (王), làm vua mà không làm chủ thì mất quyền vào tay [[Nguyễn Cao Kỳ]], tổng thống thành ra kẻ ngồi làm hình nộm. Nếu vừa "vương" vừa "chủ" thì mới đích thật có quyền hành trong tay. Nguyễn Văn Thiệu nghe theo, liền cho trấn yểm các vị trí mà thầy đã chọn.<ref name="trấn yểm"/>}} trấn yểm long mạch của nhiều vị trí, mà quan trọng nhất là cụm long mạch [[Dinh Độc Lập]], [[Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh|Thư viện Quốc gia]], [[Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn|Nhà thờ Đức Bà]] và [[Hồ Con Rùa]].<ref name="trấn yểm">{{harvnb|Nông Huyền Sơn|2014}}</ref>
==Tặng thưởng==
Dưới đây là danh sách huân chương mà Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu đã nhận được trong sự nghiệp quân nhân của mình:{{sfnp|Halstead|1966}}
=== Trong nước ===
{{Col-begin}}
{{Col-2}}
* {{Ribbon devices|number=|type=oak|ribbon=VPD National Order of Vietnam - Grand Cross BAR.svg|width=40}} [[Bảo quốc Huân chương#Hệ thống cấp bậc|Bảo quốc Huân chương Đệ nhất đẳng]]
* {{Ribbon devices|number=0|type=oak|ribbon=VPD National Order of Vietnam - Commander BAR.svg|width=40}} [[Bảo quốc Huân chương#Hệ thống cấp bậc|Bảo quốc Huân chương Đệ tam đẳng]]
* {{Ribbon devices|number=0|type=oak|ribbon=Vietnam Army Distinguished Service Order Ribbon-First Class.svg|width=40}} [[Huy chương ân thưởng trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Lục quân Huân chương]] Đệ nhất hạng
* {{Ribbon devices|number=0|type=oak|ribbon=Vietnam Air Force Distinguished Service Order Ribbon-First Class.svg|width=40}} [[Huy chương ân thưởng trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Không quân Huân chương]] Đệ nhất hạng
* {{Ribbon devices|number=|type=oak|ribbon=Vietnam Navy Distinguished Service Order Ribbon-First Class.svg|width=40}} [[Huy chương ân thưởng trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Hải quân Huân chương]] Đệ nhất hạng
* {{Ribbon devices|number=|type=oak|other_device=|ribbon=Vietnam_Military_Merit_Ribbon.svg|width=40}} Quân công Bội tinh
{{Col-2}}
* {{Ribbon devices|number=0|type=|other_device=|ribbon=Vietnam_Good_Conduct_Medal_ribbon-Second_Class.svg|width=40}} Quân phong Bội tinh Đệ nhị hạng
* {{Ribbon devices|number=0|type=|ribbon=Vietnam_Military_Service_Medal_ribbon-Second_Class.svg|width=40}} Quân vụ Bội tinh Đệ nhị hạng
* {{Ribbon devices|number=|type=oak|other_device=|ribbon=Vietnam_Armed_Forces_Honor_Medal_ribbon-First_Class.svg|width=40}} Danh dự Bội tinh Đệ nhị hạng
* {{Ribbon devices|number=0|type=|ribbon=Vietnam_Gallantry_Cross,_with_palm.svg|width=40}} Anh dũng Bội tinh với Nhành dương liễu
* {{Ribbon devices|number=|type=oak|ribbon=Vietnam_Army_Meritorious_Service_Medal_ribbon.svg|width=40}} Vinh công Bội tinh
* {{Ribbon devices|number=0|type=service-star|ribbon=Republic_of_Vietnam_Campaign_Medal_ribbon,_with_60-_clasp.svg|width=40}} Chiến dịch Bội tinh
{{Col-end}}
=== Nước ngoài ===
* {{Ribbon devices|number=0|type=oak|ribbon=Grand Order of Mugunghwa (South Korea) - ribbon bar.svg|width=40}} Đại Huân chương ''Mugunghwa'' ({{flag|Hàn Quốc}})
* {{Ribbon devices|number=|type=service-star|ribbon=US_Legion_of_Merit_Commander_ribbon.png|width=40}} ''Legion of Merit'' Hạng II ({{flag|Hoa Kỳ}})
* {{Ribbon devices|number=0|type=oak|ribbon=Croix_de_Guerre_des_Theatres_d'Operations_Exterieurs_ribbon.svg|width=40}} ''Croix de guerre des théâtres d'opérations extérieures'' ({{flag|Pháp}})
== Ghi chú ==
{{Tham khảo|group=lower-alpha|30em}}
== Chú thích ==
{{Tham khảo|30em}}
== Thư mục ==
=== Ấn phẩm ===
==== Nguồn sơ cấp ====
{{Đầu tham khảo|30em|indent=yes}}
* {{chú thích sách|origyear=1987|last2=Chanoff|first2=David|author1=Bùi Diễm|authorlink1=Bùi Diễm|date=1999|title=In the Jaws of History|trans-title=Gọng kìm lịch sử|publisher=Indiana University Press|location=Bloomington, Ind.|isbn=978-0-253-33539-5|url=https://books.google.de/books?id=Opb_14GLdXcC|language=en|access-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |archive-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210502051431/https://books.google.de/books?id=Opb_14GLdXcC}}
*{{chú thích sách|author1=Chánh Trinh|year=2004|authorlink1=Lý Quí Chung|title=Hồi ký không tên|publisher=Nhà xuất bản Thời Đại|location=Thành phố Hồ Chí Minh|oclc=64588731|url=https://books.google.de/books?id=QWxxAAAAMAAJ|access-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |archive-date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210501225806/https://books.google.de/books?id=QWxxAAAAMAAJ}}
* {{chú thích sách|author1=Cao Văn Viên|title=The Final Collapse|trans-title=Hồi Ký Miền Nam|authorlink1=Cao Văn Viên|date=1983|publisher=Center of Military History, U.S. Army|location=Washington, D.C.|isbn=978-0-16-001930-2|language=en}}
* {{chú thích sách|last1=Cohen|first1=Steven D.|trans-title=Việt Nam: Tuyển tập và Hướng dẫn về Lịch sử Truyền hình|title=Vietnam: Anthology and Guide to A Television History|url=https://archive.org/details/vietnamanthology00cohe|date=1983|publisher=Knopf|location=New York|isbn=978-0-394-33251-2|oclc=10800446|language=en}}
* {{chú thích báo|editor1=Đặng Văn Sung|title=Bầu cử 3-10: «Bất hợp pháp, vô giá trị». Phải lật đổ Tổng thống Thiệu, lập chính phủ mới|work=Chính Luận|agency=82 Lê Lai|issue=2253|date = ngày 9 tháng 9 năm 1971 |location=Sài Gòn}}
* {{chú thích sách|author1=Đồng Văn Khuyên|authorlink1=Đồng Văn Khuyên|title=The RVNAF|trans-title=Không lực VNCH|date=1979|publisher=U.S. Army Center of Military History|location=Washington, D.C.|oclc=567825020|url=https://books.google.de/books/about/The_RVNAF.html?id=3kBX4MWwMAwC|language=en|access-date = ngày 17 tháng 5 năm 2021 |archive-date = ngày 17 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210517035157/https://books.google.de/books/about/The_RVNAF.html?id=3kBX4MWwMAwC}}
* {{chú thích web|last1=Halstead|first1=Dirck|title=19 Jun 1966, Saigon, South Vietnam|url=https://live.staticflickr.com/2473/4048659435_eb021df4b7_b.jpg|publisher=Bettmann/CORBIS|access-date =2021-06-06|location=Sài Gòn|date=1966-06-19|archive-date=2021-06-06|archive-url=https://web.archive.org/web/20210606122319/https://live.staticflickr.com/2473/4048659435_eb021df4b7_b.jpg|url-status=live}}
* {{chú thích sách|author1=Hoàng An|author2=Thanh Liêm|author3=Thanh Nhã|title=Sài Gòn Máu Lửa: Tết Mậu Thân 1968|date=1982|publisher=Sống Mới|location=[[Fort Smith, Arkansas]]|oclc=9141718|url=https://books.google.de/books?id=GSVJAQAAMAAJ|access-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |archive-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210502025409/https://books.google.de/books?id=GSVJAQAAMAAJ}}
* {{chú thích sách|author1=Hoành Linh Đỗ Mậu|authorlink1=Đỗ Mậu|title=Việt-Nam máu lửa quê hương tôi: hồi-ký chính trị: bổ túc hồ sơ về sự sụp-đổ của Việt-Nam Cộng-Hòa|date=1987|publisher=Nhà xuất bản Quê Hương|location=Mission Hills, California|oclc=221367638|others=Bản điện tử}}
* {{chú thích sách|author1=Hoàng Ngọc Lung|title=The General Offensives of 1968-69|trans-title=Cuộc tổng tấn công 1968–69|date=1981|publisher=U.S. Army Center of Military History|location=Washington, D.C.|url=https://books.google.de/books?id=cHZuAAAAMAAJ|oclc=560346620|language=en|access-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |archive-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210502033131/https://books.google.de/books?id=cHZuAAAAMAAJ}}
* {{chú thích sách|last1=McNamara|first1=Robert S.|last2=VanDeMark|first2=Brian|trans-title=Nhìn lại: Bi kịch và bài học của Việt Nam|title=In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam|date=1996|publisher=Vintage Books|location=New York|isbn=978-0-679-76749-7|oclc=1010742768|url=https://books.google.de/books/about/In_Retrospect.html?id=c2BIsKgZQlUC|language=en|author-link1=Robert McNamara|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210515195903/https://books.google.de/books/about/In_Retrospect.html?id=c2BIsKgZQlUC}}
* {{chú thích báo|editor1=Minh Tân|title=10 nghị-sĩ đưa vấn đề Tổng-thống Thiệu độc diễn ra Thượng-viện|work=Hòa Bình|agency=235 Phạm Ngũ Lão|issue=853|date=1971-09-18|location=Sài Gòn}}
* {{chú thích web|url-status=live|title=NFLSV Statement On Truce For Holidays {{!}} Hanoi VNA International Service|trans-title=Tuyên bố của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam về việc ngừng bắn nhân dịp lễ tết|url=https://vva.vietnam.ttu.edu/images.php?img=/images/213/2131001044.pdf|publisher=Vietnam Center and Sam Johnson Vietnam Archive|access-date =2021-05-09|language=en|date=1967-11-20|archive-date=2021-05-10|archive-url=https://web.archive.org/web/20210510000300/https://vva.vietnam.ttu.edu/images.php?img=%2Fimages%2F213%2F2131001044.pdf|ref={{sfnRef|Hanoi VNA International Service 1967}}}}
* {{chú thích sách|author1=Nguyễn Văn Thiệu|title=Inaugural Address by President Nguyen Van Thieu|date=1968|publisher=Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ|location=Washington D.C.|url=https://archive.org/details/InauguralAddress/mode/2up|language=en|trans-title=Diễn văn nhậm chức của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu}}
* {{chú thích báo|author1=Thượng Châu|title=Kỳ–Minh mật đàm tính kế đánh Tổng thống Thiệu|work=Hòa Bình|agency=235 Phạm Ngũ Lão|issue=854|date=1971-09-19|location=Sài Gòn}}
{{Cuối tham khảo}}
==== Nguồn thứ cấp ====
{{Đầu tham khảo|30em|indent=yes}}
* {{chú thích sách|last1=Berman|first1=Larry|trans-title=Không hòa bình, vô danh dự: Nixon, Kissinger và sự phản bội ở Việt Nam|title=No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger, and Betrayal in Vietnam|date=2001|publisher=Simon and Schuster|isbn=978-0-7432-1742-2|url=https://books.google.de/books?id=CTP9rK50Z8cC|language=en|access-date=2021-05-18|archive-date=2021-05-18|archive-url=https://web.archive.org/web/20210518233654/https://books.google.de/books?id=CTP9rK50Z8cC}}
* {{chú thích sách |last=Blair |first=Anne E. |url=https://www.degruyter.com/document/doi/10.12987/9780300143928/html |title=Lodge in Vietnam |trans-title=Lodge ở Việt Nam |date=2008 |publisher=Yale University Press |isbn=978-0-300-14392-8 |jstor=j.ctt32bmmm |language=en |location=[[New Haven, Connecticut]] |doi=10.12987/9780300143928/html |access-date=2021-06-24 |archive-date=2021-05-04 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210504091353/https://www.degruyter.com/document/doi/10.12987/9780300143928/html }}
* {{chú thích tạp chí|last1=Boudarel|first1=Georges|title=Vietnam: Les conditions politiques d'une victoire militaire|trans-title=Việt Nam: Những điều kiện chính trị của một chiến thắng quân sự|journal=Esprit|date=1975|issue=448 (7/8)|pages=111–133|url=https://esprit.presse.fr/article/boudarel-georges/vietnam-les-conditions-politiques-d-une-victoire-militaire-27482|jstor=24264748|language=fr|issn=0014-0759|access-date = ngày 17 tháng 5 năm 2021 |archive-date = ngày 17 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210517071643/https://esprit.presse.fr/article/boudarel-georges/vietnam-les-conditions-politiques-d-une-victoire-militaire-27482}}
* {{chú thích sách|last1=Bowman|first1=John S.|title=The Vietnam War: An Almanac|trans-title=Niên giám Chiến tranh Việt Nam|date=1985|publisher=World Almanac Publications|location=Thành phố New York|isbn=978-0-911818-85-7|oclc=1247912084|url=https://books.google.de/books?id=tRTcAAAAIAAJ|language=en|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210515224301/https://books.google.de/books?id=tRTcAAAAIAAJ}}
* {{chú thích tạp chí|author1=Bộ Văn hóa|title=Đọc sách|journal=Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật|date=2003|issue=1–6|oclc=20324841|publisher=Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch|location=Hà Nội|issn=0866-8655}}
* {{chú thích sách|editor1=Bùi Đình Thanh|title=Một số vấn đề về "Việt Nam hóa chiến tranh"|date=1973|publisher=Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện sử học|location=Hà Nội|oclc=1085888335|url=https://books.google.de/books?id=B3j7XkJJoLcC|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210515103038/https://books.google.de/books?id=B3j7XkJJoLcC}}
* {{chú thích sách|author1=Cao Văn Thân|editor1-last=Vu|editor1-first=Tuong|editor2-last=Fear|editor2-first=Sean|trans-title=Việt Nam Cộng hòa, 1955–1975: Góc nhìn của người Việt về xây dựng đất nước|title=The Republic of Vietnam, 1955–1975: Vietnamese Perspectives on Nation Building|url-access=subscription|date=2019|publisher=Cornell University Press|location=Ithaca, New York; Luân Đôn|oclc=1090997942|chapter=Land Reform and Agricultural Development, 1968–1975 [Cải cách ruộng đất và phát triển nông nghiệp 1968–1975]|language=en|isbn=9781501745157|url=https://de.scribd.com/book/438579880/The-Republic-of-Vietnam-1955-1975-Vietnamese-Perspectives-on-Nation-Building|jstor=10.7591/j.ctvq2w3nh.7|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20210531221217/https://www.scribd.com/book/438579880/The-Republic-of-Vietnam-1955-1975-Vietnamese-Perspectives-on-Nation-Building}}
* {{chú thích sách|last1=Cawthorne|first1=Nigel|translator1=Thanh Xuân|title=Chiến Tranh Việt Nam - Được Và Mất|date=2007|publisher=Nhà xuất bản Đà Nẵng|location=Đà Nẵng|oclc=951326568|url=https://books.google.de/books?id=jjBIAQAACAAJ|access-date=2021-05-13|archive-date=2021-05-13|archive-url=https://web.archive.org/web/20210513024833/https://books.google.de/books?id=jjBIAQAACAAJ}}
* {{chú thích sách|last1=Corfield|first1=Justin|trans-title=Từ điển Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh|title=Historical Dictionary of Ho Chi Minh City|date=2014|publisher=Anthem Press|location=Luân Đôn|isbn=978-1-78308-333-6|url=https://books.google.de/books?id=pdAZBQAAQBAJ|oclc=885013502|language=en|access-date=2021-06-24|archive-date=2021-04-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20210429150231/https://books.google.de/books?id=pdAZBQAAQBAJ}}
* {{chú thích sách|last1=Cosmas|first1=Graham A.|trans-title=Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ và Chiến tranh ở Việt Nam, 1960–1968, Phần 2|title=The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1960-1968, Part 2|date=2012|publisher=[[Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ]]|location=[[Washington, D.C.]]|url=https://play.google.com/books/reader?id=I_06AQAAMAAJ&hl=de&pg=GBS.PR5|oclc=929886249|language=en|access-date=2021-06-24|archive-date=2021-05-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20210531221154/https://play.google.com/books/reader?id=I_06AQAAMAAJ&hl=de&pg=GBS.PR5}}
* {{chú thích sách|last1=Davidson|first1=Phillip B.|trans-title= Việt Nam thời chiến: Lịch sử, 1946–1975 |title=Vietnam at War: The History, 1946-1975|date=1991|publisher=Oxford University Press|isbn=978-0-19-506792-7|oclc=1014860941|language=en}}
* {{chú thích sách|last1=Dawson|first1=Alan|trans-title=55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ|title=55 Days: The Fall of South Vietnam|date=1977|publisher=Phimphilai Press|location=Englewood Cliffs|oclc=483414517|url=https://books.google.de/books/about/55_Days.html?id=LKpsswEACAAJ|language=en|access-date=2021-06-24|archive-date=2021-05-03|archive-url=https://web.archive.org/web/20210503195313/https://books.google.de/books/about/55_Days.html?id=LKpsswEACAAJ}}
* {{chú thích sách|last1=Dallek|first1=Robert|trans-title=Kẻ khổng lồ bất hoàn mỹ: Lyndon Johnson và Thời đại của ông, 1961–1973|title=Flawed Giant: Lyndon Johnson and His Times, 1961-1973|date=1998|publisher=Oxford University Press|location=Thành phố New York|isbn=978-0-19-505465-1|oclc=1052696406|url=https://books.google.de/books?id=au0RDAAAQBAJ|language=en|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210515221017/https://books.google.de/books?id=au0RDAAAQBAJ}}
* {{chú thích sách |last1=Dougan |first1=Clark |last2=Fulghum |first2=David |trans-title=Sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam |title=The Fall of the South |url=https://archive.org/details/fallofsouth00doug_0 |url-access=registration |location=Boston, Massachusetts |publisher=Boston Publishing Company |year=1985 |isbn=0939526166 |display-authors=etal }}
* {{chú thích sách |last1=Dougan |first1=Clark |last2=Weiss |first2=Stephen |trans-title=Một chín sáu tám |title=Nineteen Sixty-Eight |url=https://archive.org/details/nineteensixtyeig00doug |url-access=registration |location=Boston, Massachusetts |publisher=Boston Publishing Company |year=1983 |isbn=0939526069 |display-authors=etal}}
* {{chú thích sách|author1=Duy Tường|title=Đại thắng mùa xuân, 1975: Chiến thắng của sức mạnh Việt Nam|date=2005|publisher=Nhà xuất bản Quân đội nhân dân|location=Hà Nội|oclc=607504757}}
<!-- * {{chú thích luận văn|author1=Đặng Thị Hoài|title=Vietnamese United States Negotiationsduring the Vietnam War (1965-1968) |trans-title= Các cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ với Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam (1965-1968) |date=2017 |url=https://edoc.ub.uni-muenchen.de/22796/1/Dang_Hoai_Thi.pdf|url-status=live|type=Luận án tiến sĩ|id= {{URN|nbn|de:bvb:19-227966}} |doi=10.5282/edoc.22796 |location=München|publisher=[[Đại học Ludwig Maximilian München|Đại học Ludwig Maximilian]]|language=en|archive-date=2021-05-05|archive-url=http://web.archive.org/web/20210505032348/https://edoc.ub.uni-muenchen.de/22796/1/Dang_Hoai_Thi.pdf|access-date=2021-05-16}} -->
* {{chú thích sách|last1=Elliott|first1=David W. P.|trans-title=Chiến tranh Việt Nam: Cách mạng và Biến đổi xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long, 1930–1975|title=The Vietnamese War: Revolution and Social Change in the Mekong Delta, 1930-1975|date=2003|publisher=M.E. Sharpe|location=Armonk, New York; Luân Đôn|isbn=978-0-7656-0602-0|url=https://books.google.de/books?id=KclCL2yZVRAC|language=en|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210515230042/https://books.google.de/books?id=KclCL2yZVRAC}}
* {{chú thích tạp chí|last1=Fear|first1=Sean|title=The Ambiguous Legacy of Ngô Đình Diệm in South Vietnam’s Second Republic (1967–1975)|journal=Journal of Vietnamese Studies|date=2016|volume=11|issue=1|pages=1–75|doi=10.2307/26377898|url=https://www.semanticscholar.org/paper/The-Ambiguous-Legacy-of-Ng%C3%B4-%C4%90%C3%ACnh-Di%E1%BB%87m-in-South-Fear/3fac32d3efe4729be1086bdeef4d0c9ccafff738|trans-title=Di sản mơ hồ của Ngô Đình Diệm dưới thời Đệ nhị Cộng hoà tại miền miền Nam Việt Nam (1967–1975)|publisher=University of California Press|language=en|issn=1559-372X|access-date = ngày 17 tháng 5 năm 2021 |archive-date = ngày 17 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210517071642/https://www.semanticscholar.org/paper/The-Ambiguous-Legacy-of-Ng%C3%B4-%C4%90%C3%ACnh-Di%E1%BB%87m-in-South-Fear/3fac32d3efe4729be1086bdeef4d0c9ccafff738}}
* {{chú thích sách|last1=FitzGerald|first1=Frances|trans-title=Lửa trong lòng hồ|title=Fire in the Lake|date=2002|publisher=Little, Brown|location=Boston, Massachusetts|isbn=978-0-316-07464-3|oclc=880579783|url=https://books.google.de/books?id=0elDDwAAQBAJ|language=en|access-date=2021-06-24|archive-date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210501013542/https://books.google.de/books?id=0elDDwAAQBAJ}}
* {{chú thích sách|last1=Jones|first1=Howard|trans-title=Cái chết của một thế hệ: Vụ ám sát Diệm và John F. Kennedy kéo dài chiến tranh Việt Nam như thế nào|title=Death of a Generation: How the Assassinations of Diem and JFK Prolonged the Vietnam War|date=2003|publisher=Oxford University Press, USA|location=Thành phố New York|isbn=978-0-19-505286-2|url=https://books.google.de/books?id=NHqeyBiPjzQC|oclc=186263788|language=en|access-date=2021-06-24|archive-date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210501014741/https://books.google.de/books?id=NHqeyBiPjzQC}}
* {{chú thích sách|last1=Gardner|first1=Lloyd C.|trans-title=Trả bằng giá nào: Lyndon Johnson và cuộc chiến tranh vì Việt Nam|title=Pay Any Price: Lyndon Johnson and the Wars for Vietnam|date=1997|publisher=Elephant Paperbacks|location=Chicago|isbn=978-1-56663-175-4|oclc=36884045|url=https://books.google.de/books?id=m3ouAQAAIAAJ|language=en|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210515221017/https://books.google.de/books?id=m3ouAQAAIAAJ}}
* {{chú thích sách|last1=Goscha|first1=Christopher E.|oclc=928841500|trans-title=Từ điển Lịch sử Chiến tranh Đông Dương (1945–1954): Một cách tiếp cận quốc tế và liên ngành|url-status=live|title=Historical Dictionary of the Indochina War (1945-1954): An International and Interdisciplinary Approach|date=2011|publisher=Nordic Institute of Asian Studies|location=Copenhagen|isbn=978-87-7694-063-8|url=http://norden.diva-portal.org/smash/get/diva2:867424/FULLTEXT01|language=en|archive-date=2017-09-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20170921195709/http://norden.diva-portal.org/smash/get/diva2:867424/FULLTEXT01|access-date=2021-05-17}}
* {{chú thích sách|last1=Hammer|first1=Ellen Joy|oclc=607198040|trans-title=Một cái chết tháng 11|title=A Death in November: America in Vietnam, 1963|date=1987|publisher=Penguin Publishing Group|location=Thành phố New York|isbn=978-0-525-24210-9|url=https://books.google.de/books?id=K19uAAAAMAAJ|language=en|access-date=2021-05-27|archive-date=2021-05-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20210531221159/https://books.google.de/books?id=K19uAAAAMAAJ}}
* {{chú thích sách|author1=Hoàng Đức Nhã|editor1-last=Vu|editor1-first=Tuong|editor2-last=Fear|editor2-first=Sean|trans-title=Việt Nam Cộng hòa, 1955–1975: Góc nhìn của người Việt về xây dựng đất nước|title=The Republic of Vietnam, 1955–1975: Vietnamese Perspectives on Nation Building|date=2019|publisher=Cornell University Press|location=Ithaca, New York; Luân Đôn|oclc=1090997942|chapter=Striving for a Lasting Peace: The Paris Accords and Aftermath [Đấu tranh cho một nền hòa bình lâu dài: Hiệp định Paris và hậu quả ]|language=en|isbn=9781501745157|url=https://de.scribd.com/book/438579880/The-Republic-of-Vietnam-1955-1975-Vietnamese-Perspectives-on-Nation-Building|jstor=10.7591/j.ctvq2w3nh.7|author-link1=Hoàng Đức Nhã|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20210531221217/https://www.scribd.com/book/438579880/The-Republic-of-Vietnam-1955-1975-Vietnamese-Perspectives-on-Nation-Building}}
* {{chú thích sách|last1=Hosch|first1=William L.|trans-title=Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam: Con người, Chính trị và Quyền lực|title=The Korean War and The Vietnam War: People, Politics, and Power|date=2010|publisher=The Rosen Publishing Group, Inc|location=Thành phố New York|isbn=978-1-61530-011-2|oclc=435629057|url=https://books.google.de/books?id=EvfQpUoH5Z0C|language=en|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210515084614/https://books.google.de/books?id=EvfQpUoH5Z0C}}
* {{chú thích sách |last1=Hosmer |first1=Stephen T. |last2=Kellen |first2=Konrad |last3=Jenkins |first3=Brian M. |title=The fall of South Vietnam: statements by Vietnamese military and civilian leaders |trans-title=Sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam: Lời tường trình của các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự Việt Nam |location=Thành phố New York |publisher=Crane, Russak |year=1980 |isbn=0844813451 |url-access=registration |url=https://archive.org/details/fallofsouthvietn0000hosm }}
* {{chú thích sách|author1=Hồ Khang|author2=Trần Tiến Hoạt|author3=Nguyễn Xuân Năng|author4=Nguyễn Văn Quyền|author5=Lê Quang Lạng|title=Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 1954-1975|cuốn= Tập VIII: Toàn thắng|date=2013|publisher=[[Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật]]|location=Hà Nội|isbn=978-604-57-1520-8|oclc=34850334}}
* {{chú thích tạp chí|editor1-last=Hunt|editor1-first=George P.|title=To L.B.J.: What IS Our Aim in Vietnam?|trans-title=Gửi Tổng thống Johnson: Mục tiêu của chúng ta ở Việt Nam là gì?|journal=LIFE|date=1965-01-08|volume=58|issue=1|url=https://books.google.de/books?id=yEgEAAAAMBAJ|publisher=Time Inc|language=en|issn=0024-3019|access-date=2021-06-24|archive-date=2021-05-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20210531221154/https://books.google.de/books?id=yEgEAAAAMBAJ}}
* {{chú thích tạp chí|last1=Jespersen|first1=T. Christopher|trans-title=Kissinger, Ford, và Quốc hội: Cái kết cực đắng ở Việt Nam |title=Kissinger, Ford, and Congress: The Very Bitter End in Vietnam|journal=Pacific Historical Review|date=2002|volume=71|issue=3|pages=439–473|doi=10.1525/phr.2002.71.3.439|language=en|issn=0030-8684}}
* {{chú thích sách |title=Without Honor: Defeat in Vietnam and Cambodia |trans-title=Vô danh dự: Thất bại ở Việt Nam và Campuchia |first=Arnold R. |last=Isaacs |publisher=Johns Hopkins University Press |year=1983 |isbn=0801830605 |location=Baltimore, Maryland |url=https://archive.org/details/withouthonordefe0000isaa }}
* {{chú thích sách|last1=Jacobs|first1=Seth|title=Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America's War in Vietnam, 1950-1963|date=2006|publisher=Rowman & Littlefield|location=Lanham, Maryland|isbn=978-0-7425-4448-2|url=https://books.google.de/books?id=h0_MU8uU60cC|oclc=237070251|language=en|trans-title=Viên thượng thư thời Chiến tranh Lạnh: Ngô Đình Diệm và nguồn gốc cuộc chiến của Hoa Kỳ ở Việt Nam, 1950–1963|access-date=2021-05-21|archive-date=2021-05-21|archive-url=https://web.archive.org/web/20210521121819/https://books.google.de/books?id=h0_MU8uU60cC}}
* {{chú thích sách|last1=Kahin|first1=George McTurnan|language=en|trans-title=Cuộc can thiệp: Mỹ tham gia vào cuộc Chiến tranh Việt Nam như thế nào?|title=Intervention: How America became involved in Vietnam|date=1986|publisher=Alfred A. Knopf|location=Thành phố New York|isbn=978-0-394-54367-3|url=https://archive.org/details/intervention00geor/page/n575/mode/2up}}
* {{chú thích sách|last1=Karnow|first1=Stanley|author-link=Stanley Karnow|trans-title=Việt Nam: Một thiên lịch sử|title=Vietnam, a History|date=1997|publisher=[[Penguin Books]]|location=Thành phố New York|isbn=978-0-14-026547-7|oclc=1011619313|url=https://books.google.de/books?id=OXwBEAAAQBAJ|language=en|access-date=2021-06-24|archive-date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210501013542/https://books.google.de/books?id=OXwBEAAAQBAJ}}
* {{chú thích luận văn|last1=Kohl|first1=Arno |trans-title=Lý thuyết Domino và Chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam 1954–1961: Một nghiên cứu điển hình về vai trò của các mô hình trong chính trị quốc tế |title=Dominotheorie und amerikanische Vietnampolitik 1954 - 1961: eine Fallstudie zur Rolle von Leitbildern in der internationalen Politik|date= 2001 |url=https://freidok.uni-freiburg.de/data/534|type=Luận án tiến sĩ|id= {{URN|nbn|de:bsz:25-opus-5341}} {{DNB-IDN|965431665}} |location=Neuerburg |institution=[[Đại học Freiburg]]|language=de}}
* {{chú thích sách|last1=Langguth|first1=A. J.|title=Our Vietnam: The War 1954-1975|date=2000|publisher=Simon and Schuster|location=Thành phố New York|isbn=978-0-7432-1244-1|trans-title=Nước Việt ta|url=https://archive.org/details/unset0000unse_f6q3/page/n9/mode/2up|language=en}}
* {{chú thích sách|author1=Lâm Quang Huyên|title=Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam|date=2002|publisher=Nhà xuất bản Khoa học xã hội|location=Hà Nội|oclc=605581084|url=https://books.google.de/books?id=0vfsAAAAMAAJ|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210515103035/https://books.google.de/books?id=0vfsAAAAMAAJ}}
* {{chú thích luận văn|last1=Lovell|first1=Joshua K.|trans-title=Nhìn rõ bản chất Nguyễn Văn Thiệu: Chính quyền Nixon dung túng cho một kẻ độc tài, , 1969–1974|title=See It Through with Nguyen Van Thieu: The Nixon Administration Embraces a Dictator, 1969-1974|date= 2013-06 |url=https://macsphere.mcmaster.ca/bitstream/11375/13092/1/fulltext.pdf|type=Luận án tiến sĩ|url-status=live |location=Hamilton, Ontario |institution=[[Đại học McMaster]]|language=en|archive-date=2020-09-24|archive-url=http://web.archive.org/web/20200924120838/https://macsphere.mcmaster.ca/bitstream/11375/13092/1/fulltext.pdf|access-date=2021-05-17}}
* {{chú thích tạp chí|last1=McAllister|first1=James|trans-title='Tôn giáo – thứ quan trọng duy nhất ở Việt Nam': Thích Trí Quang và chiến tranh Việt Nam|title='Only Religions Count in Vietnam': Thich Tri Quang and the Vietnam War|language=en|journal=Modern Asian Studies|date=2008|volume=42|issue=4|pages=751–782|doi=10.1017/s0026749x07002855|url=https://zenodo.org/record/848735|jstor=20488040|s2cid=145595067|issn=0026-749X|publisher=Cambridge University Press|access-date=2021-06-24|archive-date=2017-08-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20170826032447/https://zenodo.org/record/848735}}
* {{chú thích tạp chí|last1=McAllister|first1=James|title=What Can One Man Do? Nguyễn Đức Thẳng and the Limits of Reform in South Vietnam|journal=Journal of Vietnamese Studies|date=2009|volume=4|issue=2|pages=117–153|doi=10.1525/vs.2009.4.2.117|url=https://online.ucpress.edu/jvs/article-abstract/4/2/117/60626/What-Can-One-Man-Do-Nguy-n-D-c-Th-ng-and-the|trans-title=Đơn thương độc mã thì có thể làm gì? Nguyễn Đức Thẳng và những giới hạn của công cuộc cải cách ở miền Nam Việt Nam|language=en|issn=1559-372X|access-date=2021-05-18|archive-date=2021-05-18|archive-url=https://web.archive.org/web/20210518233654/https://online.ucpress.edu/jvs/article-abstract/4/2/117/60626/What-Can-One-Man-Do-Nguy-n-D-c-Th-ng-and-the}}
* {{chú thích sách|last1=Miller|first1=Edward|trans-title=Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ và số phận Nam Việt Nam |title=Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States, and the Fate of South Vietnam|date=2013|publisher=Harvard University Press|location=Cambridge, Massachusetts; Luân Đôn, Anh|isbn=978-0-674-07298-5|oclc=1091505288|language=en}}
* {{chú thích luận văn|last1=Nelson|first1=Ryan|trans-title=Miền Nam Việt Nam: Lịch sử Chính trị, Văn hóa, Xã hội, 1963 đến 1967 |title=South Vietnam: A Social, Cultural, Political History, 1963 to 1967|date=2020|url=https://escholarship.org/uc/item/0hn5v34r|type=Luận án tiến sĩ|id=ark:/13030/m5qp1pr9|publisher=[[Đại học California]]|location=Berkeley|language=en}}
* {{chú thích tạp chí|last1=Moyar|first1=Mark|title=Political Monks: The Militant Buddhist Movement during the Vietnam War|journal=Modern Asian Studies|date=2004|doi=10.1017/S0026749X04001295|trans-title=Những nhà sư chính trị: Phong trào Phật giáo đấu tranh trong Chiến tranh Việt Nam|url=https://www.semanticscholar.org/paper/Political-Monks%3A-The-Militant-Buddhist-Movement-the-Moyar/ea572578964c0338a31776887c298df7c602ccf1|publisher=Cambridge University Press|location=Thành phố New York|language=en|access-date=2021-06-24|archive-date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210501013543/https://www.semanticscholar.org/paper/Political-Monks:-The-Militant-Buddhist-Movement-the-Moyar/ea572578964c0338a31776887c298df7c602ccf1}}
* {{chú thích sách|author1=Nguyễn Hữu Đức|author2=Nguyễn Thị Thanh|title=Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức các tư lệnh và chính ủy|date=2005|publisher=Nhà xuất bản Quân đội nhân dân|location=Hà Nội|oclc=607765895}}
* {{chú thích sách|author1=Nguyễn Ngọc Cơ|author2=Hồ Khang|author3=Đỗ Xuân Huy|author4=Nguyễn Văn Minh|author5=Nguyễn Huy Thục|author6=Nguyễn Văn Quyền|author7=Lê Quang Lạng|author8=Trần Hữu Huy|author9=Ngô Quang Chính|title=Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 1954-1975|cuốn= Tập IX: Tính chất, đặc điểm, tầm vóc và bài học lịch sử|date=2013|publisher=[[Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật]]|location=Hà Nội|isbn=978-604-57-1520-8|oclc=34850334}}
* {{chú thích sách|translator1=Võ Văn Sen|translator2=Nguyễn Hoàng Dũng|translator3=Vũ Bảo Quốc|title=Từ Tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập|author1=Nguyễn Tiến Hưng|author1-link=Nguyễn Tiến Hưng|last2=Schecter|first2=Jerrold L.|date=1990|publisher=Nhà xuất bản Trẻ|location=TP. Hồ Chí Minh|oclc=246905289|url=https://iss.ndl.go.jp/books/R100000002-Ia1000013605-00?locale=en&ar=4e1f|origyear=1989|editor=Anh Kiệt|access-date=2021-06-24|archive-date=2021-05-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20210531221217/https://iss.ndl.go.jp/books/R100000002-Ia1000013605-00?locale=en&ar=4e1f}}
* {{Chú thích sách |title=Khi đồng minh tháo chạy |title-link=Khi đồng minh tháo chạy |date=2005 |isbn=978-0-9749097-7-6 |author1=Nguyễn Tiến Hưng |location=San Jose, California |oclc=61104089}}
* {{chú thích sách|author1=Nguyễn Tiến Hưng|author-link=Nguyễn Tiến Hưng|title=Tâm tư Tổng thống Thiệu|date=2010|publisher=Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh|location=San Bernardino, California|isbn=978-1-62988-059-4|oclc=880451329|url=https://books.google.de/books/about/Tam_Tu_Tong_Thong_Thieu.html?id=wyQznwEACAAJ|access-date=2021-06-24|archive-date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210501013544/https://books.google.de/books/about/Tam_Tu_Tong_Thong_Thieu.html?id=wyQznwEACAAJ}}
* {{chú thích sách|author1=Nguyễn Tiến Hưng|title=Khi đồng minh nhảy vào|date=2016|publisher=Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh|isbn=978-1-4951-4862-0|oclc=953289539|url=https://books.google.de/books?id=gM2tAQAACAAJ|access-date=2021-06-24|archive-date=2021-05-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20210531221210/https://books.google.de/books?id=gM2tAQAACAAJ}}
* {{chú thích sách |last1=Penniman |first1=Howard R. |trans-title=Bầu cử ở miền Nam Việt Nam |title=Elections in South Vietnam |url=https://archive.org/details/electionsinsouth00penn |url-access=registration |location=Washington, D.C. |publisher=American Enterprise Institute for Public Policy Research |year=1972 |language=en }}
* {{chú thích sách|editor1=Phạm Huy Dương|editor2=Phạm Bá Toàn|title=Chiến dịch Hồ Chí Minh: trang sử vàng qua các trận đánh|date=2005|publisher=Nhà xuất bản Quân đội nhân dân|location=Hà Nội|oclc=645829083}}
* {{chú thích sách|author1=Phạm Kim Vinh|title=Cái chết của Nam Việt Nam: những trận đánh cuối cùng|date=1988|publisher=Xuân Thu|location=[[Los Alamitos, California]]|isbn=978-1-882273-21-8|oclc=462767921}}
* {{chú thích sách|author1=Phan Thứ Lang|title=Nguyễn Cao Kỳ, trở về đất mẹ|date=2007|publisher=Nhà xuất bản Công an nhân dân|location=Hà Nội|oclc=951206830|url=https://books.google.de/books?id=O0pRAQAAMAAJ|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210515230040/https://books.google.de/books?id=O0pRAQAAMAAJ}}
* {{chú thích tạp chí|last1=Prosterman|first1=Roy L.|title=Land-to-the-Tiller in South Vietnam: The Tables Turn|journal=Asian Survey|date=1970|volume=10|issue=8|pages=751–764|doi=10.2307/2642811|url-status=live|url=https://staff.washington.edu/sherrye/project/documents/landToTheTiller.pdf|trans-title=Người cày có ruộng ở miền Nam Việt Nam: Tình thế đổi thay|publisher=University of California Press|language=en|issn=0004-4687|archive-date=2021-02-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20210204172312/http://staff.washington.edu/sherrye/project/documents/landToTheTiller.pdf|access-date=2021-05-16}}
* {{chú thích sách | first = Robert | last = Shaplen | trans-title = Cuộc cách mạng thất bại: Việt Nam 1945–1965 | title = The Lost Revolution: Vietnam 1945–1965 | year = 1966 |language=en | publisher = André Deutsch | location = London |oclc=252406051}}
* {{chú thích sách|last1=Scholl-Latour|first1=Peter|authorlink1=Peter Scholl-Latour|trans-title=Cái chết ở ruộng lúa: 30 năm chiến tranh tại Đông Dương|title=Der Tod im Reisfeld: Dreißig Jahre Krieg in Indochina|date=1980|publisher=Bertelsmann|location=Gütersloh|url=https://www.amazon.de/Tod-Reisfeld-Drei%C3%9Fig-Jahre-Indochina/dp/B002WP2Z1S|edition=Lizenzausgabe für Bertelsmann Club GmbH|language=de|access-date=2021-05-11|archive-date=2021-05-11|archive-url=https://web.archive.org/web/20210511204039/https://www.amazon.de/Tod-Reisfeld-Drei%C3%9Fig-Jahre-Indochina/dp/B002WP2Z1S}}
* {{chú thích sách|last1=Slote|first1=Walter H.|last2=De Vos|first2=George A.|trans-title=Nho giáo và gia đình|title=Confucianism and the Family|date=1998|publisher=SUNY Press|location=Thành phố New York|isbn=978-0-7914-3736-0|oclc=1087935147|url=https://books.google.de/books/about/Confucianism_and_the_Family.html?id=PSl01JK7dWcC|language=en|access-date=2021-06-24|archive-date=2021-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20210430103659/https://books.google.de/books/about/Confucianism_and_the_Family.html?id=PSl01JK7dWcC}}
* {{chú thích sách|last1=Smedberg|first1=Marco |year=2008 |title=Vietnamkrigen: 1880–1980 |trans-title = Những cuộc chiến tranh Việt Nam: 1880–1980 |location=Lund, Scania |publisher=Historiska Media |isbn=978-9185507887 |language=sv}}
* {{chú thích sách|last1=Stur|first1=Heather Marie|trans-title=Sài Gòn thời chiến: Miền Nam Việt Nam và thập niên sáu mươi|title=Saigon at War: South Vietnam and the Global Sixties|date=2020|publisher=Cambridge University Press|isbn=978-1-107-16192-4|doi=10.1017/9781316676752|url=https://www.cambridge.org/core/books/saigon-at-war/EB311133B08D56E148BDDFB86923B6B5|language=en|access-date=2021-05-20|archive-date=2021-05-20|archive-url=https://web.archive.org/web/20210520024847/https://www.cambridge.org/core/books/saigon-at-war/EB311133B08D56E148BDDFB86923B6B5}}
* {{chú thích sách|last1=Topmiller|first1=Robert J.|trans-title=Hoa sen nở rộ: Phong trào Hòa bình của Phật giáo ở miền Nam Việt Nam, 1964–1966|title=The Lotus Unleashed: The Buddhist Peace Movement in South Vietnam, 1964-1966|date=2002|publisher=University Press of Kentucky|location=Lexington|isbn=978-0-8131-3701-8|jstor=j.ctt2jcpd0|url=https://books.google.de/books/about/The_Lotus_Unleashed.html?id=kQYZBit1_dcC|oclc=213465297|language=en|access-date=2021-05-15|archive-date=2021-05-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210515221017/https://books.google.de/books/about/The_Lotus_Unleashed.html?id=kQYZBit1_dcC}}
* {{chú thích luận văn|author1=Trần Hữu Đính|title=Quá trình biến đổi về chế độ sở hữu ruộng đất và cơ cấu giai cấp ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long 1969–1975 |date=1993 |url=http://luanan.nlv.gov.vn/luanan?a=d&d=TTkFqWqxlBea1993.1.27&e=-------vi-20--1--img-txIN-------#|type=Luận án tiến sĩ|id= Mã số lưu trữ Thư viện Quốc gia: LA93.0239.3 |location=Hà Nội|publisher=Viện Sử học}}
* {{chú thích sách|author1=Trần Ngọc Thống|author2=Hồ Đắc Huân|author3=Lê Đình Thụy|title=Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa|date=2011|publisher=Hương Quê|location=Garden Grove, California|isbn=978-0-9852182-0-1|url=https://books.google.de/books?id=vG9tngEACAAJ|oclc=858443142|access-date=2021-06-24|archive-date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210501013544/https://books.google.de/books?id=vG9tngEACAAJ}}
* {{chú thích luận văn|author1=Trương Thùy Dung|title=The American Influences on the Higher Education of the Second Republic of Vietnam: The Case of the National Universities |trans-title= Ảnh hưởng của Hoa Kỳ tới nền giáo dục đại học của Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam: Trường hợp của các trường đại học quốc gia |date=2020 |url= https://ediss.sub.uni-hamburg.de/bitstream/ediss/8470/1/Dissertation.pdf |url-status=live|type=Luận án tiến sĩ|id= {{URN|nbn|de:gbv:18-106090}} |location=Hamburg|publisher=[[Đại học Hamburg]]|language=en|archive-date = ngày 17 tháng 5 năm 2021 |archive-url=http://web.archive.org/web/20210517170231/https://ediss.sub.uni-hamburg.de/bitstream/ediss/8470/1/Dissertation.pdf|access-date=2021-05-17}}
* {{chú thích sách|last1=Tucker|first1=Spencer|trans-title=Bách khoa toàn thư về Chiến tranh Lạnh: Lịch sử chính trị, xã hội và quân sự|title=Encyclopedia of the Cold War: A Political, Social, and Military History|date=2008|publisher=ABC-CLIO|location=[[Santa Barbara, California]]|isbn=978-1-85109-701-2|url=https://books.google.de/books?id=JQsZAQAAIAAJ|oclc=1038137037|language=en|access-date=2021-06-24|archive-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210502192233/https://books.google.de/books?id=JQsZAQAAIAAJ}}
* {{chú thích sách |last=VanDeMark |first=Brian |title=Into the Quagmire: Lyndon Johnson and the Escalation of the Vietnam War |trans-title=Sa vào vũng lầy: Lyndon Johnson và sự leo thang của chiến tranh Việt Nam |publisher=Oxford University Press |location=Thành phố New York; Oxford |year=1995 |isbn=0-19-506506-9 |oclc=1154966635 |url=https://books.google.de/books?id=DXU8DwAAQBAJ |access-date=2021-05-19 |archive-date=2021-05-19 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210519213021/https://books.google.de/books?id=DXU8DwAAQBAJ }}
* {{chú thích sách|author=Văn Nguyên Dưỡng|trans-title=Bi kịch Chiến tranh Việt Nam: Phân tích của một sĩ quan miền Nam Việt Nam|title=The Tragedy of the Vietnam War: A South Vietnamese Officer's Analysis|date=2014|publisher=McFarland|location=Jefferson|isbn=978-0-7864-8338-9|oclc=1058446983|url=https://books.google.de/books?id=pVNaoUu7veUC|language=en|access-date=2021-06-24|archive-date=2021-05-03|archive-url=https://web.archive.org/web/20210503060948/https://books.google.de/books?id=pVNaoUu7veUC}}
* {{chú thích tạp chí|last1=Veith|first1=George J.|last2=Pribbenow|first2=Merle L.|title="Fighting Is an Art": The Army of the Republic of Vietnam's Defense of Xuan Loc, 9-21 April 1975|journal=The Journal of Military History|date=2004|volume=68|issue=1|pages=163–213|jstor=3397252|trans-title=Đánh nhau là một nghệ thuật: Cuộc phòng thủ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Xuân Lộc, 9–21 tháng 4 năm 1975|language=en|issn=0899-3718}}
* {{chú thích sách|last1=Veith|first1=George J.|oclc=2020039074|title=Drawn Swords in a Distant Land: South Vietnam's Shattered Dreams|date=2021|publisher=Encounter Books|location=Thành phố New York|isbn=978-1-64177-173-3|trans-title=Đấu kiếm nơi vùng đất xa: Những ước mơ tan vỡ của miền Nam Việt Nam|url=https://books.google.de/books?id=n7zyDwAAQBAJ|language=en|access-date = ngày 17 tháng 5 năm 2021 |archive-date = ngày 17 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210517174307/https://books.google.de/books?id=n7zyDwAAQBAJ}}
* {{chú thích sách|author1=Võ Văn Sen|title=Vấn đề ruộng đất ở Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam (1954–1975)|date=1995|publisher=Nhà xuất bản Tổng hợp|location=Thành phố Hồ Chí Minh}}
* {{chú thích tạp chí|author1=Vũ Quý Tùng Anh|title=Vai trò của Dương Văn Minh trong cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm|journal=Science and Technology Development Journal|date=2014|url=http://stdj.scienceandtechnology.com.vn/index.php/stdj/article/download/1323/1656|volume=17|issue=X2|pages=26–36|publisher=[[Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh]]|location=Thành phố Hồ Chí Minh|access-date=2021-06-24|archive-date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210501020550/http://stdj.scienceandtechnology.com.vn/index.php/stdj/article/download/1323/1656}}
* {{chú thích sách|last1=Ward|first1=Geoffrey C.|last2=Burns|first2=Ken|location=Thành phố New York|trans-title=Chiến tranh Việt Nam: Một lịch sử thầm kín|title=The Vietnam War: An Intimate History|date=2017|publisher=Knopf Doubleday Publishing Group|isbn=978-1-5247-3310-0|oclc=1002655971|url=https://books.google.de/books?id=i4KyDQAAQBAJ|language=en|access-date=2021-05-16|archive-date=2021-05-16|archive-url=https://web.archive.org/web/20210516021346/https://books.google.de/books?id=i4KyDQAAQBAJ}}
* {{chú thích sách|last=Willbanks |first= James H. |trans-title= Bỏ rơi Việt Nam: Hoa Kỳ đã rút lui và miền Nam Việt Nam đã thất bại trong cuộc chiến như thế nào |title=Abandoning Vietnam: How America Left and South Vietnam Lost Its War |location=Lawrence, Kansas|publisher=University of Kansas Press |year=2004 |isbn=0-7006-1331-5}}
* {{chú thích sách|last1=Zaffiri|first1=Samuel|title=Westmoreland: A Biography of General William C. Westmoreland|trans-title=Westmoreland: Tiểu sử của Tướng William C. Westmoreland|date=1994|publisher=William Morrow and Company|location=Thành phố New York|isbn=978-0-688-11179-3|oclc=243801029|url=https://books.google.de/books?id=e714AAAAMAAJ|language=en|access-date=2021-06-24|archive-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210502033129/https://books.google.de/books?id=e714AAAAMAAJ}}
{{Cuối tham khảo}}
=== Trực tuyến ===
{{refbegin|30em|indent=yes}}
* {{chú thích web|url-status=live|last1=Browne|first1=Malcolm W.|title=10‐YEAR RULE ENDS|trans-title=TRIỀU ĐẠI 10 NĂM KẾT THÚC|url=https://www.nytimes.com/1975/04/22/archives/10year-rule-ends-vice-president-huong-71-years-old-takes-office-in.html|website=The New York Times|access-date =2021-04-29|language=en|date=1975-04-22|archive-date=2021-04-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20210429152517/https://www.nytimes.com/1975/04/22/archives/10year-rule-ends-vice-president-huong-71-years-old-takes-office-in.html}}
* {{chú thích web|url-status=live|last1=Butterfield|first1=Fox|trans-title=Nguyễn Văn Thiệu chết ở tuổi 76|title=Nguyen Van Thieu Is Dead at 76|url=https://www.nytimes.com/2001/10/01/us/nguyen-van-thieu-is-dead-at-76-last-president-of-south-vietnam.html?sec=&spon=&pagewanted=3|website=The New York Times|access-date =2021-04-30|language=en|date=2001-10-01|archive-date=2021-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20210430064437/https://www.nytimes.com/2001/10/01/us/nguyen-van-thieu-is-dead-at-76-last-president-of-south-vietnam.html?sec=&spon=&pagewanted=3}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Đoan Trang|author-link=Phạm Đoan Trang|title=Nguyễn Văn Thiệu đã chết|url=https://vnexpress.net/nguyen-van-thieu-da-chet-1988624.html|website=VnExpress|access-date =2021-04-29|date=2001-10-01|archive-date=2021-04-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20210429174910/https://vnexpress.net/nguyen-van-thieu-da-chet-1988624.html}}
* {{chú thích web|url-status=live|last1=Engel|first1=Johannes K.|last2=Lohfeldt|first2=Heinz P.|trans-title=Người Mỹ đã phản bội chúng tôi|title=»Die Amerikaner haben uns verraten«|url=https://www.spiegel.de/politik/die-amerikaner-haben-uns-verraten-nguyen-van-thieu-a-e7f24473-0002-0001-0000-000039685817|website=Der Spiegel|access-date =2021-05-19|language=de|date=1979-12-09|archive-date=2021-05-19|archive-url=https://web.archive.org/web/20210519000107/https://www.spiegel.de/consent-a-?targetUrl=https%3A%2F%2Fwww.spiegel.de%2Fpolitik%2Fdie-amerikaner-haben-uns-verraten-nguyen-van-thieu-a-e7f24473-0002-0001-0000-000039685817}}
* {{chú thích web|url-status=live|last1=Fear|first1=Sean|title=The Feud That Sank Saigon|trans-title=Mối thâm thù Thiệu – Kỳ làm Sài Gòn sụp đổ|url=https://www.nytimes.com/2017/03/03/opinion/the-feud-that-sank-saigon.html|website=The New York Times|access-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |language=en|date=2017-03-04|archive-date=2021-03-23|archive-url=https://web.archive.org/web/20210323201546/https://www.nytimes.com/2017/03/03/opinion/the-feud-that-sank-saigon.html}}
* {{chú thích web|url-status=live|last1=Gibson|first1=Liam|trans-title=Phương Nam phong phú: Vút vút trời cao: Mối quan hệ Đài Loan – Việt Nam|title=Bountiful South: Soaring sky high: Taiwan-Vietnam ties|url=https://www.taipeitimes.com/News/feat/archives/2018/04/10/2003691016|website=Taipei Times|publisher=The Liberty Times Group|access-date =2021-04-29|location=Đài Bắc|language=en|date=2018-04-10|archive-date=2021-04-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20210429150231/https://www.taipeitimes.com/News/feat/archives/2018/04/10/2003691016}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Hà Anh|title=Chuyện người tiếp quản 16 tấn vàng giữa Sài Gòn 45 năm trước|url=https://dantri.com.vn/kinh-doanh/chuyen-nguoi-tiep-quan-16-tan-vang-giua-sai-gon-45-nam-truoc-20200420092738652.htm|website=Báo điện tử Dân Trí|access-date =2021-04-30|date=2020-04-20|archive-date=2021-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20210430042427/https://dantri.com.vn/kinh-doanh/chuyen-nguoi-tiep-quan-16-tan-vang-giua-sai-gon-45-nam-truoc-20200420092738652.htm}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Hoàng Anh Sướng|title=Trấn yểm long mạch và sự sụp đổ không thể cứu vãn của ông Thiệu|url=https://tuoitredoisong.net/chuyen-la/tran-yem-long-mach-va-su-sup-do-khong-the-cuu-van-cua-ong-thieu-23528|website=Báo Tuổi Trẻ và Đời Sống|access-date =2021-04-30|date=2019-06-12|archive-date=2021-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20210430061916/https://tuoitredoisong.net/chuyen-la/tran-yem-long-mach-va-su-sup-do-khong-the-cuu-van-cua-ong-thieu-23528}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Hoàng Hải Vân|title=Cái chết bi thảm và sứ mệnh hoàn hảo|url=https://thanhnien.vn/thoi-su/phong-su-dieu-tra/cai-chet-bi-tham-va-su-menh-hoan-hao-289585.html|website=Báo Thanh Niên|access-date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |date=2012-12-26|archive-date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210501003025/https://thanhnien.vn/thoi-su/phong-su-dieu-tra/cai-chet-bi-tham-va-su-menh-hoan-hao-289585.html}}
* {{chú thích web|url-status=dead|url=http://articles.latimes.com/2001/oct/01/local/me-52050/2|trans-title=Nguyễn Văn Thiệu, 78; Tổng thống miền Nam Việt Nam|tiêu đề=Nguyen Van Thieu, 78; S. Vietnam's President|họ=Lamb|tên=David|ngày tháng=2001-10-01|website=Los Angeles Times|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20121110022303/http://articles.latimes.com/2001/oct/01/local/me-52050/2|ngày lưu trữ=2012-11-10|ngày truy cập=2020-05-02}}
* {{chú thích web|url-status=live|title=Lễ tưởng niệm cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại Úc|url=https://www.sbs.com.au/language/vietnamese/audio/le-tuo-ng-nie-m-co-to-ng-tho-ng-nguye-n-van-thie-u-ta-i-u-c|website=SBS Tiếng Việt|publisher=Special Broadcasting Service|access-date =2021-04-29|date=2019-10-01|ref={{SfnRef|''SBS Tiếng Việt'', 2019}}|archive-date=2021-04-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20210429163856/https://www.sbs.com.au/language/vietnamese/audio/le-tuo-ng-nie-m-co-to-ng-tho-ng-nguye-n-van-thie-u-ta-i-u-c}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Mai Nguyễn|title=Phụ lục 2: Bà Mai Anh sau ngày ông Nguyễn Văn Thiệu mất đã nói gì với báo chí?|url=https://1thegioi.vn/phu-luc-2-ba-mai-anh-sau-ngay-ong-nguyen-van-thieu-mat-da-noi-gi-voi-bao-chi-93092.html|website=Báo Một thế giới|access-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |date=2015-01-21|archive-date=2021-05-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20210504091334/https://1thegioi.vn/phu-luc-2-ba-mai-anh-sau-ngay-ong-nguyen-van-thieu-mat-da-noi-gi-voi-bao-chi-93092.html}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Nam Anh|author2=Mai Kỳ|title=Bà Mai Anh đưa Tổng thống Thiệu vào mê cung mê tín dị đoan|url=https://laodong.vn/archived/ba-mai-anh-dua-tong-thong-thieu-vao-me-cung-me-tin-di-doan-681435.ldo|website=Lao Động|access-date =2021-04-30|date=2014-09-21|archive-date=2021-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20210430100856/https://laodong.vn/archived/ba-mai-anh-dua-tong-thong-thieu-vao-me-cung-me-tin-di-doan-681435.ldo}}
* {{chú thích web|url-status=live|title=Nguyễn Văn Thiệu (Kỳ 1): Chuyện ly kỳ về lá số tử vi|url=https://danviet.vn/nguyen-van-thieu-ky-1-chuyen-ly-ky-ve-la-so-tu-vi-77771036259.htm|website=Dân Việt|access-date =2021-04-30|date=2019-11-29|archive-date=2021-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20210430061916/https://danviet.vn/nguyen-van-thieu-ky-1-chuyen-ly-ky-ve-la-so-tu-vi-77771036259.htm|ref={{sfnRef|''Dân Việt'' 2019}}}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Nguyễn Kỳ Phong|title=Việt Nam Cộng Hòa trước và sau Tết Mậu Thân 1968|url=https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-43217291|website=BBC News Tiếng Việt|access-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |date=2018-02-28|archive-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210502031938/https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-43217291}}
* {{chú thích web|url-status=live|title=Nguyen Van Thieu|url=https://www.telegraph.co.uk/news/obituaries/1358069/Nguyen-Van-Thieu.html|website=The Daily Telegraph|access-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |language=en|date=2001-10-01|archive-date=2021-05-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20210504091332/https://www.telegraph.co.uk/news/obituaries/1358069/Nguyen-Van-Thieu.html|ref={{sfnRef|''The Daily Telegraph'', 1 tháng 10 năm 2001}}}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Nguyễn Tiến Hưng|title=Ý kiến về 'Người Cày Có Ruộng'|archive-date=2021-05-15|archive-url=https://web.archive.org/web/20210515101714/https://www.bbc.com/vietnamese/forum-41376956|url=https://www.bbc.com/vietnamese/forum-41376956|website=BBC News Tiếng Việt|access-date =2021-05-15|date=2017-09-24}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Nguyễn Tiến Hưng|title=30/04: Tổng thống Minh và văn thư yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam|url=https://www.bbc.com/vietnamese/forum-52471319|website=BBC News Tiếng Việt|access-date =2021-04-29|location=Virginia, Hoa Kỳ|date=2020-04-29|archive-date=2021-04-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20210429150231/https://www.bbc.com/vietnamese/forum-52471319}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Nông Huyền Sơn|title=Chân mạng của Nguyễn Văn Thiệu|url=http://antg.cand.com.vn/Ho-so-mat/Chan-mang-cua-Nguyen-Van-Thieu-307775/|website=An ninh Thế giới|publisher=Báo Công an nhân dân điện từ|access-date =2021-04-30|date=2014-03-25|archive-date=2021-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20210430061914/http://antg.cand.com.vn/Ho-so-mat/Chan-mang-cua-Nguyen-Van-Thieu-307775/}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Nông Huyền Sơn|title=Chiến đoàn “ma” trong vụ đảo chính Ngô Đình Diệm|url=http://antg.cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Chien-doan-ma-trong-vu-dao-chinh-Ngo-Dinh-Diem-406841/|website=An ninh thế giới|publisher=Báo Công an nhân dân điện tử|access-date =2021-04-30|date=2016-09-06|archive-date=2021-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20210430125920/http://antg.cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Chien-doan-ma-trong-vu-dao-chinh-Ngo-Dinh-Diem-406841/}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Quốc Việt|title=Thương vụ đặc biệt: Bán vàng!|url=https://tuoitre.vn/thuong-vu-dac-biet-ban-vang-731957.htm|website=Tuổi Trẻ Online|access-date =2021-04-29|archiveurl=https://web.archive.org/web/20170118050816/http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20150410/thuong-vu-dac-biet-ban-vang/731957.html|archivedate=2017-01-18|date=2015-04-10}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Phong Hoàn Công|title=Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và những trang đời tức tưởi|url=http://antgct.cand.com.vn/So-tay/Cuu-Tong-thong-Nguyen-Van-Thieu-va-nhung-trang-doi-tuc-tuoi-310545/|website=An ninh Thế giới|publisher=Báo Công an nhân dân điện tử|access-date =2021-04-29|date=2008-01-07|archive-date=2021-04-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20210429150231/http://antgct.cand.com.vn/So-tay/Cuu-Tong-thong-Nguyen-Van-Thieu-va-nhung-trang-doi-tuc-tuoi-310545/}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=Phong Hoàn Công|title=Tổng thống Sài Gòn cũ Nguyễn Văn Thiệu và hành trình chiến bại (kỳ II)|url=http://antgct.cand.com.vn/So-tay/Tong-thong-Sai-Gon-cu-Nguyen-Van-Thieu-va-hanh-trinh-chien-bai-(ky-II)-312186/|website=An ninh thế giới|publisher=Báo Công an nhân dân điện tử|access-date =2021-04-30|date=2010-04-21|archive-date=2021-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20210430223918/http://antgct.cand.com.vn/So-tay/Tong-thong-Sai-Gon-cu-Nguyen-Van-Thieu-va-hanh-trinh-chien-bai-(ky-II)-312186/}}
* {{chú thích web|url-status=live|last1=Shales|first1=Tom|trans-title=Trở về Việt Nam|title=Return to Vietnam|url=https://www.washingtonpost.com/archive/lifestyle/1982/05/24/return-to-vietnam/0099cf46-534e-48f7-98ec-ab02a1c732c3/|website=The Washington Post|access-date =2021-04-29|language=en|date=1982-05-24|archive-date=2021-05-18|archive-url=https://archive.today/20210518235818/https://www.washingtonpost.com/archive/lifestyle/1982/05/24/return-to-vietnam/0099cf46-534e-48f7-98ec-ab02a1c732c3/}}
* {{chú thích web|url-status=live|last1=Stowe|first1=Judy|title=Nguyen Van Thieu|website=The Independent|url=https://www.independent.co.uk/news/obituaries/nguyen-van-thieu-729460.html|access-date = ngày 2 tháng 5 năm 2021 |archiveurl=https://web.archive.org/web/20091105185110/http://www.independent.co.uk/news/obituaries/nguyen-van-thieu-729460.html|archivedate=2009-11-05|location=Vương quốc Anh|language=en|date=2001-10-02}}
* {{chú thích web|url-status=live|title=Thieu is reported arriving in Taipei|trans-title=Thiệu được cho là đã đến Đài Bắc|url=https://www.nytimes.com/1975/04/26/archives/thieu-is-reported-arriving-in-taipei-said-to-fly-in-with-wife-and.html|website=The New York Times|access-date =2021-04-29|language=en|date=1975-04-26|ref={{SfnRef|''New York Times'', 26 tháng 4 năm 1975}}|archive-date=2021-04-29|archive-url=https://web.archive.org/web/20210429150231/https://www.nytimes.com/1975/04/26/archives/thieu-is-reported-arriving-in-taipei-said-to-fly-in-with-wife-and.html}}
* {{chú thích web|trans-title=Thiệu dời đến sống tại một căn hộ cho thuê tại Đài Bắc|title=Thieu Moves Into Rented House in Taipei|url=https://www.nytimes.com/1975/06/03/archives/thieu-moves-into-rented-house-in-taipei.html|website=The New York Times|access-date =2021-05-27|ref={{SfnRef|''New York Times'', 3 tháng 6 năm 1975}}|location=Đài Bắc|language=en|date=1975-06-03|archive-date=2021-05-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20210531221157/https://www.nytimes.com/1975/06/03/archives/thieu-moves-into-rented-house-in-taipei.html}}
* {{chú thích web|url-status=live|title=TT Nguyễn Văn Thiệu 'cuồng tâm linh, tín phong thủy'|url=https://datviet.trithuccuocsong.vn/van-hoa/nguoi-viet/tt-nguyen-van-thieu-cuong-tam-linh-tin-phong-thuy-2259073|website=Đất Việt|access-date =2021-04-30|date=2011-06-15|archive-date=2021-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20210430061918/https://datviet.trithuccuocsong.vn/van-hoa/nguoi-viet/tt-nguyen-van-thieu-cuong-tam-linh-tin-phong-thuy-2259073|ref={{sfnRef|''Đất Việt'' 2011}}}}
* {{chú thích web|url-status=live|trans-title=Tổng thống do Hoa Kỳ hậu thuẫn trước ngày Sài Gòn sụp đổ|title=US-backed president before the collapse of Saigon|url=https://www.irishtimes.com/news/us-backed-president-before-the-collapse-of-saigon-1.330821|website=The Irish Times|access-date =2021-04-30|language=en|date=2001-10-06|archive-date=2021-05-04|archive-url=https://web.archive.org/web/20210504091412/https://www.irishtimes.com/news/us-backed-president-before-the-collapse-of-saigon-1.330821|ref={{sfnRef|''The Irish Times'', 6 tháng 10 năm 2001}}}}
* {{chú thích web|url-status=live|author1=V.H|title=Tổng thống Ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu - Kẻ đầu cơ chính trị và ái tình (Kỳ IV)|url=https://petrotimes.vn/tong-thong-nguy-quyen-nguyen-van-thieu-ke-dau-co-chinh-tri-va-ai-tinh-ky-iv-282276.html|website=Báo điện tử Petrotimes|access-date =2021-04-30|date=2015-05-07|archive-date=2021-04-30|archive-url=https://web.archive.org/web/20210430053348/https://petrotimes.vn/tong-thong-nguy-quyen-nguyen-van-thieu-ke-dau-co-chinh-tri-va-ai-tinh-ky-iv-282276.html|ref={{sfnRef|''Petrotimes'' 2015}}}}
{{refend}}
== Đọc thêm ==
;Phóng sự điều tra về 16 tấn vàng của báo ''Tuổi Trẻ'':
* {{chú thích web|author1=Bùi Thanh|title=Ông Thiệu đã chuyển 16 tấn vàng sang Mỹ?|website=Tuổi Trẻ Online |url=https://tuoitre.vn/ky-1-ong-thieu-da-chuyen-16-tan-vang-sang-my-134622.htm<!-- |access-date =2021-05-16 -->|date=2006-04-26}}
* {{chú thích web|author1=Bùi Thanh|title=Kỳ 2: Chuyến ra đi bí mật|url=https://tuoitre.vn/ky-2-chuyen-ra-di-bi-mat-134801.htm|website=Tuổi Trẻ Online<!-- |access-date =2021-05-13 -->|date=2006-04-27}}
* {{chú thích web|author1=Bùi Thanh|title=Kỳ 3: Không có ánh sáng cuối đường hầm|url=https://tuoitre.vn/ky-3-khong-co-anh-sang-cuoi-duong-ham-134929.htm |website=Tuổi Trẻ Online|date=2006-04-28}}
* {{chú thích web|author1=Bùi Thanh|title=Kỳ 4: Kế hoạch bí mật từ dinh tổng thống|url=https://tuoitre.vn/ky-4-ke-hoach-bi-mat-tu-dinh-tong-thong-135084.htm|website=Tuổi Trẻ Online|date=2006-04-29}}
* {{chú thích web|author1=Bùi Thanh|title=Kỳ 5: Vàng đổi chủ|url=https://tuoitre.vn/ky-5-vang-doi-chu-135236.htm|date=2006-04-30|website=Tuổi Trẻ Online }}
* {{chú thích web|author1=Bùi Thanh|title=Người giữ chìa khóa kho vàng|url=https://tuoitre.vn/ky-cuoi-nguoi-giu-chia-khoa-kho-vang-135370.htm|date=2006-05-1|website=Tuổi Trẻ Online }}
;Khác:
* {{chú thích web|title=Hội thảo: Hoàn cảnh khiến VNCH chọn ‘dân chủ một phần’, dân thấy ‘bị phản bội’|url=https://www.voatiengviet.com/a/hoan-canh-khien-vnch-chon-dan-chu-mot-phan-dan-thay-bi-phan-boi/5133309.html|website=VOA|date=2019-10-22<!--|access-date =2021-05-02 |archive-date=2021-02-26|archive-url=https://web.archive.org/web/20210226202713/https://www.voatiengviet.com/a/hoan-canh-khien-vnch-chon-dan-chu-mot-phan-dan-thay-bi-phan-boi/5133309.html -->}}
* {{chú thích sách|author1=Lâm Quang Thi|author-link1=Lâm Quang Thi|title=The Twenty-five Year Century: A South Vietnamese General Remembers the Indochina War to the Fall of Saigon|date=2002|publisher=University of North Texas Press|location=Denton|isbn=978-1-57441-143-0|trans-title=Hai mươi lăm năm trong một thế kỷ|oclc=1058159084|url=https://books.google.de/books?id=EuElvVvorT8C|language=en}}
* {{chú thích sách|author=Nguyễn Cao Kỳ|authorlink1=Nguyễn Cao Kỳ|first2=Marvin J.|last2=Wolf|trans-title=Đứa con cầu tự|language=en|title=Buddha's Child: My Fight to Save Vietnam|date=2002|publisher=St. Martin's Publishing Group|location=New York|isbn=978-1-4668-6085-8|oclc=865182586|url=https://books.google.de/books?id=uZLqAQAAQBAJ }}
* {{chú thích web|author1=Nguyễn Hòa|title=Tranh luận về những năm cuối của VNCH và TT Nguyễn Văn Thiệu|url=https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/hoi-thao-ve-vnch-tai-dai-hoc-oregon-tranh-luan-ve-nhung-nam-cuoi-cua-vnch-va-tt-nguyen-van-thieu/|website=Nguoi Viet Online|date=2019-10-18<!--|access-date =2021-05-02 |archive-date = ngày 1 tháng 5 năm 2021 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210501183101/https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/hoi-thao-ve-vnch-tai-dai-hoc-oregon-tranh-luan-ve-nhung-nam-cuoi-cua-vnch-va-tt-nguyen-van-thieu/ -->}}
* {{chú thích tạp chí|last1=Welsch|first1=Gabriel|type=Truyện ngắn|title=Nguyen Van Thieu Is Dead at 78|journal=The Georgia Review|date=2003|volume=57|issue=4|pages=826–838|url=https://thegeorgiareview.com/posts/nguyen-van-thieu-is-dead-at-78/|jstor=41402370|issn=0016-8386}}
<!-- Đang cập nhật -->
==Liên kết ngoài==
{{Thể loại Commons|Nguyễn Văn Thiệu}}
{{Wikiquote|Nguyễn Văn Thiệu}}
* {{Britannica|413640|Nguyen Van Thieu}}
* {{TĐBKVN|23680}}
* [http://content.time.com/time/covers/0,16641,19670915,00.html Nguyen Van Thieu] trên tạp chí ''[[Time (tạp chí)|Time]]'', số ngày 15 tháng 9 năm 1967
* [https://americanarchive.org/catalog/cpb-aacip_512-513tt4gj27 A Conversation with Nguyen Van Thieu] tại [[:en:American Archive of Public Broadcasting|Cơ quan Lưu trữ Truyền hình Công cộng Hoa Kỳ]]
{{Nguyên thủ Việt Nam Cộng hòa}}
{{navboxes|list=
{{Nguyên thủ Việt Nam}}
{{Chính trị Việt Nam Cộng hòa}}
{{Dòng thời gian Chiến tranh Việt Nam}}
{{Biến cố Phật giáo}}
}}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
{{Thanh chủ đề|Tiểu sử|Chính trị|Lịch sử Việt Nam |Chiến tranh Việt Nam}}
{{pp-30-500|small=yes}}
{{Thời gian sống|1923|2001}}{{Sao chọn lọc|phiên bản chọn lọc=65072403|thời gian=21 tháng 6 năm 2021}}<!--
-->{{nobots}}<!--
-->
[[Thể loại:Người Ninh Thuận]]
[[Thể loại:Người họ Nguyễn tại Việt Nam]]
[[Thể loại:Trung tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa]]
[[Thể loại:Nguyên thủ Việt Nam Cộng hòa]]
[[Thể loại:Đảng Dân chủ (Việt Nam Cộng hòa)]]
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Việt]]
[[Thể loại:Phó Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa]]
[[Thể loại:Người Việt di cư tới Mỹ]]
[[Thể loại:Tử vong do đột quỵ]]
[[Thể loại:Chính khách Việt Nam Cộng hòa]]
[[Thể loại:Chính khách Đảng Cần lao Nhân vị]]
[[Thể loại:Tín hữu Công giáo Việt Nam]]
[[Thể loại:Người chống cộng Việt Nam]]
[[Thể loại:Cựu sinh viên trường École Spéciale Militaire de Saint-Cyr]] | 204165 |
1388 | George W. Bush | 0 | null | null | 73803920 | 73802192 | 2025-08-28T18:05:03 | false | Thay tập tin US_Air_Force_O2_shoulderboard_rotated_(1949–1994).svg bằng [[Tập tin:US_Air_Force_O2_shoulderboard_rotated_(1949–1999).svg]] (yêu cầu bởi [[:commons:User:CommonsDelinker|CommonsDelinker]] với lý do: [[:c:COM:FR|File renamed]]:). | wikitext | text/x-wiki | b5tp6fss4lpn6q3dd8wku99p4obmg6k | {
"username": "CommonsDelinker",
"id": "15735",
"ip": null
} | {{Mở rộng ngôn ngữ|date=tháng 10/2022}}
{{Chú thích trong bài|ngày=tháng 3 năm 2021}}
{{Infobox officeholder 1
| name = George W. Bush
| image = George-W-Bush.jpeg
| imagesize = 250px
| office = [[Tập tin:Seal of the President of the United States.svg|30px]]<br>[[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ]]
| term_start = [[20 tháng 1]] năm [[2001]]
| term_end = [[20 tháng 1]] năm [[2009]]<br />{{số năm theo năm và ngày |2001|1|20|2009|1|20}}
| predecessor= [[Bill Clinton]]
| successor = [[Barack Obama]]
| 1blankname = Phó Tổng thống
| 1namedata = [[Dick Cheney]]
| office1 = [[Thống đốc Texas|Thống đốc thứ 46]] của [[Texas|bang Texas]]
| 2namedata2 = [[Bob Bullock]]<br/>[[Rick Perry]]
| 2blankname2 = Phó Thống đốc
| term_start2 = [[17 tháng 1]] năm [[1995]]
| term_end2 = [[21 tháng 12]] năm [[2000]]<br />{{số năm theo năm và ngày |1995|1|17|2000|12|21}}
| predecessor2 = [[Ann Richards]]
| successor2 = [[Rick Perry]]
| birth_date = {{birth date and age|1946|7|6}}
| birth_place = [[New Haven, Connecticut|New Haven]], [[Connecticut]], [[Hoa Kỳ]]
| parents =[[George H. W. Bush]]<br>[[Barbara Bush]]
|spouse = [[Laura Bush|Laura Welch]] <br> (kh. 1977)
| party = [[Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ)|Đảng Cộng hòa]]
| signature = GeorgeWBush Signature.svg
| signature_alt = Cursive signature in ink
| children = [[Barbara Bush (sinh 1981)|Barbara]] <br> [[Jenna Bush Hager|Jenna]]
| alma_mater = [[Đại học Yale]] <br> [[Đại học Harvard]]
| relations = ''Xem [[Gia tộc Bush]]''
| blank1 = Tôn giáo
| data1 = [[Anh giáo]] (1946-1977) <br> [[Phong trào Giám Lý|Giám Lý]] (1977-nay)
| website = [http://www.georgewbushlibrary.smu.edu/ Bush Presidential Library]<br>[http://www.bushcenter.com/ Bush Presidential Center]<br>[http://georgewbush-whitehouse.archives.gov/index.html The White House] ''Archived''
|allegiance = {{nowrap|{{flagicon image|Flag of the United States (Pantone).svg|size=23px}} [[Hoa Kỳ]]}}
| nickname = Dubya GWB
|branch = [[Tập tin:Texas_Air_National_Guard_patch.png|20px]] [[Lực lượng Phòng không Quốc gia Texas]]<br/> [[Lực lượng Phòng không Quốc gia Alabama]]
|serviceyears = 1968–1974
|rank = [[Tập tin:US Air Force O2 shoulderboard rotated (1949–1999).svg|25px]] [[Trung uý]]
|unit = [[Phi đội Trinh sát 147]]<br/>[[Phi đội Tiêm kích 187]]
|awards = [[United States Aviator Badge#United States Air Force|Air Force Pilot's Badge]], [[Air Force Outstanding Unit Award|Outstanding Unit Award]], [[National Defense Service Medal]], [[Marksmanship Ribbon#Air Force|Small Arms Expert Marksmanship Ribbon]].<ref>[http://www.veterantributes.org/TributeDetail.php?recordID=1627 Veteran Tributes: George W. Bush]</ref>
|caption=Chân dung chính thức, 2003}}
'''George Walker Bush''' (còn gọi là '''George Bush con''', '''Bush Jr''' hoặc '''Bush 43''', sinh ngày [[6 tháng 7]] năm [[1946]]) là một chính trị gia, doanh nhân, và là [[tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] thứ 43 của [[Hoa Kỳ]] tại nhiệm từ năm 2001 đến năm 2009. Ông là thành viên [[Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ)|Đảng Cộng hoà]] và từng đảm nhiệm chức [[Thống đốc Texas|Thống đốc]] thứ 46 của tiểu bang [[Texas]] từ năm 1995 đến năm 2000. Ngoài ra, ông còn là thành viên của một gia đình có quyền thế ở nước Mỹ, [[Gia tộc Bush]], với cha của ông, [[George H. W. Bush]], là Tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ tại nhiệm năm 1989 đến năm 1993.
Bush là con trai cả của [[Barbara Bush|Barbara]] và [[George H. W. Bush]], và là người con trai thứ hai trở thành Tổng thống Mỹ sau cha mình (người đầu tiên là [[John Quincy Adams]]). Sau khi tốt nghiệp [[Đại học Yale]] năm 1968 và [[Đại học Harvard|Trường Kinh doanh Harvard]] năm 1975, ông làm việc trong ngành dầu khí. Bush kết hôn với [[Laura Bush|Laura Welch]] vào năm 1977. Khoảng một năm sau khi kết hôn, Bush tranh cử dân biểu [[Hạ viện Hoa Kỳ]]. Tuy nhiên, ông đã thất bại trong cuộc bầu cử lần đó. Vài năm sau, Bush trở thành đồng sở hữu một đội bóng chày mang tên [[Texas Rangers]]. Trong cuộc bầu cử Thống đốc bang Texas năm 1994, ông đã vượt qua vị Thống đốc lúc bấy giờ là [[Ann Richards]] để trở thành người lãnh đạo mới của tiểu bang Texas. Bush được [[Bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, 2000|bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ năm 2000]] sau khi đánh bại vị Phó Tổng thống đương nhiệm đến từ [[Đảng Dân chủ (Hoa Kỳ)|Đảng Dân chủ]] [[Al Gore]]. Đây là một chiến thắng khá sát sao và gây nhiều tranh cãi nhất lịch sử khi phải cần đến xét xử của [[Tòa án Tối cao Hoa Kỳ]] để chấm dứt việc kiểm phiếu lại ở tiểu bang [[Florida]]. Đồng thời, cũng với chiến thắng này, Bush trở thành người thứ tư được bầu làm Tổng thống với số phiếu phổ thông ít hơn đối thủ.
Để đáp trả cuộc tấn công [[Sự kiện 11 tháng 9|khủng bố ngày 11 tháng 9]], Bush đã phát động cuộc "[[Chiến tranh chống khủng bố]]" và mở màn chiến dịch này với [[Chiến tranh Afghanistan (2001–nay)|chiến tranh Afghanistan]] năm 2001. Vào năm 2003, ông cũng cho tiến hành [[Chiến tranh Iraq]]. Trong thời gian làm Tổng thống, Bush đã ký ban hành nhiều điều luật bao gồm các cắt giảm thuế, [[Đạo luật Yêu nước]] (Patriot Act), [[Đạo luật Giáo dục cho Mọi Trẻ em]] (No Child Left Behind Act), [[Đạo luật Cấm Phá Thai]] (Partial-Birth Abortion Act), [[Đạo luật Hiện đại Hóa Chương trình Bảo hiểm Sức khỏe]] (Medicare Modernization Act) và tài trợ cho chương trình cứu trợ [[HIV/AIDS|AIDS]] mang tên là [[PEPFAR]]. Trong kỳ bầu cử Tổng thống năm 2004, Bush đã giành được một chiến thắng sát sao sau khi vượt qua [[Thượng viện|Thượng nghị sĩ]] của Đảng Dân chủ [[John Kerry]]. Sau khi tái đắc cử, Bush đã phải nhận nhiều lời chỉ trích từ nhiều phía trên [[phổ chính trị]] (từ các chính trị gia thuộc cả Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa) vì cách xử lý các vấn đề trong Chiến tranh Iraq, [[Bão Katrina]], cũng như các thách thức khác.
Giữa tình hình trên, Đảng Dân chủ đã giành lại quyền kiểm soát [[Quốc hội Hoa Kỳ|Quốc hội]] trong cuộc bầu cử năm 2006. Vào tháng 12 năm 2007, Hoa Kỳ bước vào thời kỳ suy thoái dài nhất kể từ [[Chiến tranh Thế giới thứ hai]], và thời gian này thường được gọi là thời kỳ "[[Đại suy thoái]]"<nowiki/>. Sự việc này đã khiến chính quyền Bush phải dựa vào sự chấp thuận của Quốc hội cho nhiều chương trình kinh tế nhằm bảo toàn hệ thống tài chính của đất nước.
Bush là một trong những tổng thống Hoa Kỳ nhận cả sự mến mộ lẫn không bằng lòng từ người dân. Sau vụ tấn công 11/9, ông có được sự tín nhiệm cao nhất trong lịch sử. Tuy nhiên, khi cuộc [[Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ 2007-2009|khủng hoảng tài chính]] năm 2008 xảy ra, mức tín nhiệm lại xuống một trong những ngưỡng thấp nhất trong lịch sử. Bush kết thúc nhiệm kỳ thứ hai của mình vào năm 2009 và trở về Texas. Năm 2010, ông đã xuất bản hồi ký của mình mang tên ''[[Decision Points]]''. [[Thư viện Tổng thống]] của ông được khai trương vào năm 2013. Mặc dù mức ủng hộ của người dân dành cho Bush đã dần được cải thiện đáng kể từ khi rời nhiệm sở, ông vẫn bị [[Xếp hạng các tổng thống Hoa Kỳ trong lịch sử|đánh giá]] là một trong những vị Tổng thống tệ nhất trong các cuộc thăm dò của các nhà sử học.
== Xuất thân ==
[[Tập tin:GeorgeWBush1947.png|150px|nhỏ|phải|George W. Bush và bố mẹ, năm [[1947]].]]
George W. Bush là con trai của [[tổng thống Hoa Kỳ]] thứ 41 [[George H. W. Bush]] và [[Barbara Bush]], sinh tại [[New Haven, Connecticut|New Haven]], [[Connecticut]], nhưng lớn lên ở miền Nam tại [[Midland]] và [[Houston, Texas|Houston]], [[Texas]] với các em là [[Jeb Bush|Jeb]], Neil, Marvin và Dorothy. (Một người em gái, Robin, chết vì bệnh [[ung thư máu]] vào năm [[1953]], lúc ba tuổi.) Cả gia đình thường đến nghỉ hè và nghỉ lễ tại gia trang Bush ở [[Maine]].
Tiếp bước cha, Bush theo học tại trường đại học Phillips ([[1961]]–[[1964]]), rồi đến [[Đại học Yale]] ([[1964]]–[[1968]]). Ông không phải là một sinh viên chăm chỉ và thành tích học tập của ông không được xem là xuất sắc. Bush thường nói đùa rằng người ta biết đến ông không phải do điểm số ở trường mà bởi cuộc đời hoạt động của ông. Ông nhận bằng Cử nhân Lịch sử năm [[1968]].
Sau khi tốt nghiệp đại học, Bush gia nhập một đơn vị không quân thuộc Lực lượng Vệ binh Quốc gia tại [[Texas]] vào ngày [[27 tháng 5]] năm 1968 và tình nguyện phục vụ cho đến ngày [[26 tháng 5]] năm [[1974]], tức là trong suốt thời gian Hoa Kỳ tham chiến tại [[Việt Nam]]. Bush là phi công máy bay F-102 cho đến năm [[1972]].
Năm [[1973]], ông được phép rời quân ngũ (6 tháng trước hạn) và theo học tại Trường đại học Kinh doanh thuộc [[Đại học Harvard]]. Ông chính thức được giải ngũ ngày [[1 tháng 10]] năm [[1973]] và nhận bằng [[MBA]] (Cao học quản trị và kinh doanh) năm [[1975]].
[[Tập tin:GW-Bush-in-uniform.jpg|150px|nhỏ|trái|Trung úy G. W. Bush trong Lực lượng Vệ binh Quốc gia]]
Bush miêu tả cuộc sống của ông trước tuổi 40 là thời kỳ "tuổi thanh niên thiếu chín chắn trong vấn đề trách nhiệm", đồng thời thú nhận rằng ông dùng rượu khá thường xuyên. Ông thuật lại việc ông quyết định bỏ rượu là khi vừa thức giấc, đang váng vất với dư âm của tiệc mừng sinh nhật 40 tuổi, "tôi bỏ rượu năm [[1986]], từ đó tôi không uống một giọt nào". Bush cho rằng một trong những yếu tố giúp ông thay đổi cuộc đời là lần gặp gỡ với [[Mục sư]] [[Billy Graham]] vào năm [[1985]].
Năm [[1977]], George Bush kết hôn với [[Laura Bush|Laura Welch]]. Họ có hai con gái sinh đôi, Barbara và Jenna Bush, sinh năm [[1981]]. Năm [[1986]], ở tuổi 40, ông rời bỏ giáo hội Episcopal để gia nhập [[Phong trào Giám Lý|Giáo hội Giám lý Hiệp nhất]] mà vợ ông là một thành viên.
Sau thất bại khi ra tranh cử, tại Texas, chức vụ Dân biểu Liên bang trong [[Quốc hội Hoa Kỳ|Quốc hội]] năm [[1978]], Bush kinh doanh dầu mỏ và thành lập công ty ''Arbusto Energy'' năm [[1979]]. Năm [[1984]], ông bán ''Arbusto'' cho ''Spectrum 7'' và được mời làm [[Tổng giám đốc điều hành|CEO]] cho Spectrum 7. Khi ''Spectrum 7'' sáp nhập với ''Harken Energy'' năm 1986, Bush trở thành một trong những giám đốc của tập đoàn này.
George Bush nhận nhiệm vụ "Ông Bầu" cho đội bóng chày ''Texas Rangers'' trong 5 năm, thời gian mà tên tuổi ông được biết đến với nhiều thiện cảm khắp tiểu bang Texas.
Năm [[1994]], vào dịp nghỉ phép, Bush ra tranh cử thống đốc tiểu bang Texas và đánh bại thống đốc đương nhiệm Ann Richards, thuộc đảng Dân chủ. Ông tái đắc cử vào năm [[1998]].
== Đức tin ==
{{Hộp trích dẫn
|vị trí= phải
|rộng=
|nội dung= Nếu bạn chưa từng hoài nghi nghĩa là bạn chưa hề nghiêm túc suy nghĩ về những gì bạn tin.
|nguồn= ''George W. Bush''.<ref>{{Chú thích web |url=http://www.time.com/time/politics/article/0,8599,2030739,00.html |ngày truy cập=2010-11-11 |tựa đề=Bản sao đã lưu trữ |archive-date=2010-11-14 |archive-url=https://web.archive.org/web/20101114075434/http://www.time.com/time/politics/article/0,8599,2030739,00.html |url-status=dead }}</ref>
}}
Lần hội kiến với Mục sư [[Billy Graham]] năm [[1985]] dẫn Bush đến trải nghiệm mới trong [[đức tin Kitô giáo|đức tin Cơ Đốc]]; ông quyết tâm bỏ rượu, và bước vào ngả rẽ quyết định cho cuộc đời và sự nghiệp của mình. Từ đó, Bush tách khỏi [[Anh giáo]] (''Episcopalian'') để gia nhập Giáo hội Giám Lý Hiệp Nhất mà vợ ông là một thành viên.
Thỉnh thoảng Bush dự lễ tại [[Nhà thờ St. John]] thuộc Giáo hội Episcopal chỉ vì lý do thuận tiện: Giáo đường này tọa lạc đối diện [[Nhà Trắng|Tòa Bạch Ốc]], cạnh [[Công trường Lafayette]]. Kể từ thời [[James Madison]], tất cả Tổng thống đều dự thánh lễ ở đây.
Ngày [[13 tháng 12]] năm [[1999]], trong một buổi tranh luận trên truyền hình dành cho các ứng cử viên Đảng Cộng hoà trong cuộc chạy đua vào Toà Bạch Ốc, khi được hỏi: "Chính trị gia nào hoặc nhà tư tưởng nào ông cảm thấy đồng cảm nhất, tại sao ?" Không giống những ứng cử viên khác, nêu tên các vị tổng thống và các nhân vật trong chính giới, Bush trả lời "[[Giê-su|Chúa Cơ Đốc]], bởi vì Ngài đã thay đổi con người tôi." Câu trả lời của ông đã khiến những người tân bảo thủ như Alan Keyes và Bill Kristoll chỉ trích.
Trong cả hai nhiệm kỳ tổng thống, Bush đã tổ chức những buổi lễ tôn giáo không theo truyền thống Cơ Đốc như Lễ [[Ramadan]] của [[Hồi giáo]].
Sự quan tâm của Bush đối với các giá trị [[tôn giáo]] được cho là hữu ích cho ông trong các cuộc bầu cử. Có đến 56% những người "dự thánh lễ nhà thờ mỗi tuần" bầu phiếu cho Bush trong cuộc tuyển cử năm [[2000]], đến năm [[2004]] tỷ lệ này lên đến 63%.
== Tranh cử Tổng thống ==
[[Tập tin:Bush daughters.png|220px|nhỏ|George và [[Laura Bush]] cùng hai cô con gái Jenna và Barbara, năm [[1990]].]]
George W. Bush miêu tả mình là một người "bảo thủ nhân ái" khi tiến hành chiến dịch vận động tranh cử tổng thống năm [[2000]]. Sau khi giành được sự đề cử của đảng Cộng hoà, Bush phải đối đầu với Phó tổng thống [[Al Gore]], người được đảng Dân chủ chọn làm ứng cử viên cho cuộc chạy đua vào Toà Bạch Ốc. Bush giành được 271 phiếu của cử tri đoàn, trong khi Gore có 266 phiếu. Bush được chọn bởi 47,9% của tổng số cử tri, còn số người bầu cho Gore cao hơn chút ít (48,4%), nhưng không ai giành được đa số của 105 triệu phiếu bầu.
[[Tập tin:ElectoralCollege2000.svg|thumb|300px|trái|Bầu cử năm 2000]]Đó là lần đầu tiên, kể từ sau năm [[1888]], một người thắng cử khi nhận được ít phiếu phổ thông hơn người thất cử. Đó cũng là lần đầu tiên, kể từ sau năm [[1876]], người thắng cuộc bởi phiếu bầu của cử tri đoàn phải trải qua một cuộc tranh tụng gay gắt trước khi được công nhận thắng cử bởi phán quyết của [[Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ|Tối cao Pháp viện]].
Tuy nhiên, bốn năm sau, George W. Bush đắc cử nhiệm kỳ thứ hai với 286 số phiếu cử tri đoàn và ông cũng nhận được 3,5 triệu phiếu phổ thông nhiều hơn đối thủ, thượng nghị sĩ [[John Kerry]] của đảng Dân chủ.
Trong lễ Nhậm Chức vào ngày [[20 tháng 1]] năm [[2005]], George W. Bush được hướng dẫn đọc lời thề bởi vị Chánh án Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ [[William Rehnquist]]. Bài diễn văn nhậm chức của ông tập trung vào chủ đề phát triển tự do và dân chủ trên khắp thế giới.
{{cquote|
:''Quyền lợi sống còn của nước Mỹ và những xác tín sâu sắc nhất của người dân Mỹ là một. Từ những ngày lập quốc, chúng ta đã công bố rằng mọi người sống trên đất đều có quyền, nhân cách và phẩm giá không gì so sánh được, bởi vì họ mang hình ảnh của Đấng tạo dựng nên trời và đất. Trải qua nhiều thế hệ, chúng ta công bố "mệnh lệnh của quyền tự chủ", bởi vì, không ai là chủ nô, cũng không ai là kẻ tôi đòi. Phát huy những lý tưởng này là sứ mệnh của tất cả chúng ta. Chính vì sứ mệnh này mà quốc gia chúng ta đã được sản sinh. Đó là công lao vinh hiển của tiền nhân. Ngày nay, nó là một đòi hỏi thúc bách cho nền an ninh của đất nước, và cũng là lời kêu gọi dành cho thời đại chúng ta''.}}
== Tổng thống Hoa Kỳ (2001-2009) ==
=== Nhiệm kỳ đầu tiên ===
[[Tập tin:Bush-un-darfur.jpg|220px|nhỏ|Bush phát biểu tại [[Đại hội đồng Liên Hợp Quốc]], năm [[2004]].]]
Tháng 6 năm [[2001]], trong chuyến viếng thăm Âu châu lần đầu tiên với tư cách Tổng thống, Bush gặp phải sự chỉ trích mạnh mẽ từ các nhà lãnh đạo [[Châu Âu|Âu châu]] vì ông bác bỏ [[Nghị định thư Kyōto|Nghị định thư Kyoto]]. Năm [[1997]], trong khi đại diện của Hoa Kỳ và các nước khác đang đàm phán hiệp ước này, [[Quốc hội Hoa Kỳ]] đã biểu quyết với số phiếu 95-0, chống lại bất kỳ hiệp ước nào chống sự hâm nóng toàn cầu mà không có điều khoản đòi hỏi những cam kết từ các nước đang phát triển. Tuy nghị định thư Kyoto đã được ký tượng trưng bởi Peter Burleigh, quyền đại sứ Hoa Kỳ tại [[Liên Hợp Quốc]], năm [[1998]], chính phủ [[Bill Clinton|Clinton]] đã không trình quốc hội phê chuẩn.
Năm [[2002]], Bush chống đối hiệp ước vì cho rằng nó làm hại sự tăng trưởng kinh tế tại Hoa Kỳ, ông nói: "''Theo cách nhìn của tôi, sự tăng trưởng kinh tế là giải pháp, không phải là vấn nạn (cho môi trường)''".
Chính phủ cũng tranh luận về nền tảng khoa học của hiệp ước. Tháng 11 năm [[2004]], [[Nga]] phê chuẩn hiệp ước, đáp ứng đòi hỏi về con số tối thiểu các quốc gia phê chuẩn hiệp ước mà không cần đến sự phê chuẩn từ Hoa Kỳ.
Chính sách đối ngoại của Bush được công bố trong chiến dịch tranh cử bao gồm mối quan hệ chặt chẽ hơn với Mỹ La tinh, nhất là [[México]], giảm thiểu sự can thiệp chính trị và quân sự vào nội bộ các nước trong vùng.
Sau vụ [[Sự kiện 11 tháng 9|tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001]], chính phủ chú tâm nhiều hơn vào [[Trung Đông]]. Ngày [[7 tháng 10]] năm [[2001]], gần một tháng sau cuộc tấn công, Hoa Kỳ và các nước đồng minh bắt đầu dội bom và tấn công trên bộ vào [[Afghanistan]] nhằm lật đổ chế độ [[Taliban]], theo cáo buộc của chính phủ Bush, là đã che chở cho [[Osama bin Laden]]. Cuộc chiến này nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của quốc tế, và Taliban mau chóng sụp đổ.
Dưới sự lãnh đạo của tổng thống Afghanistan, [[Hamid Karzai]], nỗ lực tái thiết đất nước với sự phối hợp của Liên hiệp quốc, có kết quả lẫn lộn. Dù Bin Laden, đến năm [[2005]], vẫn chưa bị bắt hoặc bị hạ sát, một cuộc bầu cử dân chủ đã được tổ chức vào ngày [[9 tháng 10]] năm 2004. Có một số vấn đề về ghi danh cử tri khiến 15 trong số 18 ứng cử viên tổng thống đe dọa rút lui, nhưng theo nhận xét của các quan sát viên quốc tế, cuộc bầu cử xảy ra một cách dân chủ và công bằng tại "đại đa số các phòng bầu phiếu".
[[Tập tin:US Presidential Visit to Afghanistan 2006 - welcoming ceremonies.jpg|220px|nhỏ|George W., [[Laura Bush]], [[Condoleezza Rice|Condi Rice]], và Tổng thống [[Hamid Karzai]] trong chuyến thăm [[Afghanistan]], [[1 tháng 3]] năm [[2006]].]]
Ngày [[14 tháng 12]] năm 2001, với lý do không còn thích hợp, Bush rút khỏi Hiệp ước chống [[tên lửa đạn đạo]] năm [[1972]], hiệp ước này là nền tảng duy trì tình trạng ổn định về vũ khí nguyên tử giữa Hoa Kỳ và [[Liên Xô]] trong thời kỳ [[chiến tranh lạnh]].
Từ đó, Bush tập trung xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo. Hệ thống này là mục tiêu của nhiều chỉ trích, chú trọng vào tính khả thi về mặt khoa học. Những cuộc thử nghiệm đưa ra một kết quả lẫn lộn, một số thành công, một số thất bại. Đề án này dự định được bắt đầu khai triển vào năm [[2005]].
Hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo chưa thành công hoàn toàn trong việc ngăn chặn các loại tên lửa được phóng từ tàu thuyền hoặc từ các phương tiện trên bộ và vẫn được tiếp tục thử nghiệm. Những người chỉ trích cho rằng đây là một sai lầm đắt giá, một hệ thống được xây dựng để đối đầu với một cuộc tấn công ít có khả năng xảy ra nhất với tên lửa đạn đạo mang đầu đạn nguyên tử.
Tổng thống Bush cũng gia tăng chi phí nghiên cứu, phát triển quân sự và hiện đại hóa hệ thống vũ khí, nhưng hủy bỏ các chương trình như hệ thống đạn đạo tự hành Crusader. Chính phủ cũng bắt đầu chương trình nghiên cứu tên lửa hạt nhân xuyên qua công sự phòng thủ.
====Cuộc chiến tại Iraq====
{{Main|Chiến tranh Iraq}}
[[Tập tin:George W. Bush walks with Ryan Phillips to Navy One.jpg|160px|nhỏ|trái|upright|Tổng thống Bush trong bộ đồ bay khi đến thăm [[Hàng không Mẫu hạm]] [[USS Abraham Lincoln]], năm [[2003]].]]
Từ năm [[1998]], Đạo luật giải phóng [[Iraq]] xác định chính sách của Hoa Kỳ là lật đổ [[Saddam Hussein]]. Sau cuộc tấn công 9/11, chính phủ Bush cho rằng tình thế tại Iraq đã trở nên khẩn cấp. Họ tin rằng chế độ Saddam Hussein cố tìm cách sở hữu nguyên liệu cho vũ khí nguyên tử và vi phạm lệnh cấm vận của Liên hiệp quốc vì không chịu tường trình đầy đủ về các loại nguyên liệu vũ khí hoá học và sinh học mà họ đang sở hữu, cũng như vũ khí huỷ diệt hàng loạt (WMD). Có nhiều tranh cãi giữa phe chống đối và phe ủng hộ tiến hành chiến tranh, liệu Hoa Kỳ đã có chứng cớ Iraq sở hữu WMD, và chứng cớ về các mối quan hệ giữa Iraq và [[Al-Qaeda]].
Trong chính phủ Bush, chỉ có (một mình) Ngoại trưởng [[Colin Powell]] là cho rằng "''Hoa Kỳ không nên tiến hành chiến tranh mà không có sự ủng hộ của LHQ''". Do đó, Hoa Kỳ đã cứu xét và thảo luận đến việc liệu có đạt được một Quyết nghị của [[Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc]] để được quyền sử dụng quân lực, nhưng cuối cùng phải từ bỏ ý định này khi gặp phải sự chống đối từ một số thành viên của Hội đồng Bảo an LHQ, cùng với lời đe doạ của Pháp sẽ dùng quyền phủ quyết. Thay vào đó, Hoa Kỳ tập hợp được một nhóm khoảng 40 quốc gia mà Bush gọi là "liên minh tình nguyện" trong đó có [[Anh]], [[Tây Ban Nha]], [[Ý]] và [[Ba Lan]].
Ngày [[20 tháng 3]] năm [[2003]], Liên minh Tấn công Iraq, trưng dẫn các Quyết nghị (1441, 1205, 1137, 1134, 1115,1060, 949, 778, 715) của Hội đồng Bảo an LHQ liên quan đến Iraq, đến thái độ thiếu hợp tác của Iraq trong quá khứ và trong hiện tại để thực thi các quyết nghị này, sự từ chối hợp tác với các thanh tra LHQ của Saddam, âm mưu ám sát cựu tổng thống George Bush tại [[Kuwait]] và việc Saddam vi phạm hiệp ước ngưng bắn năm [[1991]]. Liên minh lập luận rằng các Quyết nghị này cho họ quyền sử dụng vũ lực. Một số nhà lãnh đạo thế giới như [[Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc]] [[Kofi Annan]], không đồng ý và gọi cuộc chiến này là bất hợp pháp. Mục tiêu chính lật đổ Saddam Hussein mà Hoa Kỳ đưa ra là nhằm ngăn chặn Iraq khai triển vũ khí huỷ diệt hàng loạt.
Liên minh mau chóng đánh bại quân đội Iraq. Tuy nhiên, sau khi Tổng thống Bush tuyên bố chấm dứt các chiến dịch quân sự vào ngày [[1 tháng 5]] năm [[2003]], những cuộc nổi loạn gây ra nhiều khó khăn hơn dự tưởng vì '''sự sai lầm trong việc giải tán "NGAY LẬP TỨC" quân đội Iraq sau chiến thắng quân sự của Hoa Kỳ và Liên Minh''', toàn thể quân nhân Iraq bỗng nhiên thất nghiệp, không có tiền nuôi gia đình, sẵn vũ khí và dễ nghe lời các giáo sĩ Hồi giáo cực đoan.
Từ sự '''sai lầm chiến thuật''' đó, sự ủng hộ của công chúng Mỹ bắt đầu sút giảm trong khi các tổ chức nổi loạn vũ trang ngày càng được tổ chức nhiều hơn. Mặt khác, một cuộc điều tra tình báo tiến hành bởi một Ủy ban lưỡng đảng không tìm thấy chứng cứ Saddam Hussein tàng trữ WMD, dù bản tường trình xác định rằng chính quyền Hussein cố gắng sở hữu kỹ thuật hầu cho Iraq có thể chế tạo WMD ngay sau khi LHQ bãi bỏ lệnh cấm vận. Bản tường trình cũng không tìm thấy mối quan hệ hợp tác nào giữa Hussein và Al-Qaeda. Bush vẫn cương quyết bảo vệ quyết định của mình, cho rằng "''Thế giới ngày nay trở nên an toàn hơn" (khi không còn'' [[Saddam Hussein]]).
=== Chi tiêu Quân sự ===
Trong số hai ngàn bốn trăm tỷ đô la dành cho ngân sách Liên bang (Hoa Kỳ) năm [[2005]], khoảng 401 tỷ được chi tiêu cho quốc phòng. Đây là chi tiêu quân sự cao nhất kể từ cuối [[thập niên 1990]], nhưng chỉ là ở mức trung bình nếu so sánh với chi tiêu quốc phòng trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
=== Đối nội ===
==== Đề án Tổ chức Từ thiện Tôn giáo ====
Đầu năm 2001, Bush hợp tác với các nghị sĩ thuộc [[Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ)|Đảng Cộng hòa]] tại Quốc hội thông qua các đạo luật nhằm thay đổi cách Chính phủ liên bang đánh thuế, gây quỹ và điều hoà các tổ chức từ thiện và các đề án phi lợi nhuận được điều hành bởi các tổ chức tôn giáo (''Faith-based Initiatives''). Trước đó, các tổ chức này được phép nhận tài trợ từ liên bang, nhưng luật mới loại bỏ những điều khoản đòi hỏi họ không được nối kết hoạt động xã hội với truyền bá niềm tin tôn giáo. Một vài tổ chức như Liên hiệp Tự do Dân sự chỉ trích chương trình này, cho là chính quyền liên kết và dành đặc quyền cho tôn giáo.
==== Đa nguyên và Dân quyền ====
[[Tập tin:President George W. Bush alongside Dick Cheney and Dennis Hastert presents his fourth State of the Union address at the U.S. Capitol, February 2, 2005.jpg|220px|nhỏ|Tổng thống Bush đọc [[Thông điệp Liên bang]] tại [[Điện Capitol Hoa Kỳ|Điện Capitol]], năm [[2005]].]]
Bush chống lại việc thừa nhận pháp lý dành cho hôn nhân đồng tính, nhưng ủng hộ việc xác lập quy chế cho tình trạng kết hợp dân sự ("Tôi không nghĩ là chúng ta nên từ chối người dân một dự thảo pháp luật về quyền kết hợp dân sự"), ông ủng hộ Tu chính án liên bang về hôn phối, tu chính [[Hiến pháp Hoa Kỳ]] nhằm định nghĩa hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ. Bush tái khẳng định sự bất đồng của ông với quan điểm chống lại quyền kết hợp dân sự của diễn đàn đảng Cộng hoà, ông nói rằng vấn đề kết hợp dân sự (tình trạng sống chung, không phải là hôn nhân theo luật pháp, của những cặp đồng giới hay khác giới) nên thuộc vào thẩm quyền của các tiểu bang. Bush cũng lặp lại sự ủng hộ của mình cho việc tu chính hiến pháp trong bài diễn văn liên bang vào ngày [[2 tháng 2]] năm 2005. Tuy Bush chống đối hôn nhân đồng tính, ông là tổng thống đầu tiên thuộc đảng Cộng hoà bổ nhiệm các viên chức chính phủ là những người đồng tính công khai, trong đó có Michael Guest, đại sứ Hoa Kỳ tại [[România]], và năm người khác.
Dù nhiều người cho là Bush chống đối luật ''affirmative action'' (dành những ưu đãi trong giáo dục và việc làm cho người thuộc các chủng tộc thiểu số), Bush tỏ ra trân trọng phán quyết của [[Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ|Tối cao Pháp viện]] nhằm bảo vệ tình trạng đa chủng tộc trong quy chế tuyển sinh vào các trường đại học. Colin Powell là [[người Mỹ gốc Phi]] đầu tiên được bổ nhiệm vào chức vụ Ngoại trưởng trong nhiệm kỳ đầu của Bush, người kế nhiệm Powell vào năm 2005 là [[Condoleezza Rice]], phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên đảm nhận nhiệm vụ này.
==== Kinh tế ====
Trong nhiệm kỳ đầu, Bush tìm kiếm sự phê chuẩn của quốc hội cho ba lần cắt giảm thuế của ông, gồm thuế lợi tức cho các cặp đã kết hôn, thuế thổ cư và mức thuế biên tế, dẫn đến sự giảm sút đáng kể trong số thu ngân sách, tính theo tỷ lệ với [[Tổng sản phẩm nội địa|GDP]], đến mức thấp nhất kể từ năm [[1959]].
Với chính sách giảm thuế cùng lúc với gia tăng chi tiêu, chỉ trong một nhiệm kỳ chính phủ Bush biến ngân sách từ tình trạng thặng dư thành thâm thủng. Ngân sách với mức thặng dư 230 tỷ đô la khi Clinton rời [[Nhà Trắng|Toà Bạch Ốc]] đã trở thành thâm thủng 374 tỷ năm 2003 và 413 tỷ vào năm 2004, dù vẫn thấp hơn mức thâm thủng trong [[thập niên 1980]] của chính phủ [[Ronald Reagan]].
Tuy nhiên, theo ước tính của ''Baseline Budget Projections'', tháng 1 năm 2005, mức thâm thủng trong nhiệm kỳ đầu của Bush sẽ giảm dần trong nhiệm kỳ thứ hai, còn 368 tỷ vào năm 2005, 261 tỷ năm [[2007]], 207 tỷ năm [[2009]] và sẽ thặng dư đôi chút vào năm [[2012]].
Tuyển dụng lao động trong khu vực tư, theo Văn phòng Thống kê Lao động, giảm sút đáng kể trong thời kỳ này. Dù vậy, chỉ số thất nghiệp bắt đầu hạ giảm từ năm 2003, đến năm 2005 chỉ còn dưới 5%. Trong năm 2005 có thêm hơn 1 triệu việc làm và tình trạng này còn kéo dài trong 25 tháng liên tiếp.
==== Môi trường ====
Bush thường bị chỉ trích bởi những người chủ trương bảo vệ [[môi trường]]. Họ cáo buộc chính sách của ông phục vụ các nhu cầu kỹ nghệ và làm suy yếu các biện pháp bảo vệ môi trường. Ông đã ký ban hành đạo luật di sản [[Ngũ Đại Hồ]] năm 2002, cho phép chính phủ liên bang thu dọn chất ô nhiễm và lắng cặn trong ngũ đại hồ. Bush vận động cho việc khai thác trữ lượng dầu mỏ tại Khu bảo tồn Đời sống Hoang dã quốc gia Bắc cực mà theo nhiều người là khu hoang dã còn sót lại tại [[Hoa Kỳ]]. Bush chống đối Nghị định thư Kyoto vì cho rằng hiệp ước này làm hại nền kinh tế Hoa Kỳ, nhưng theo nhận xét của các nhóm môi trường, các viên chức chính phủ, cùng với Bush và Cheney, có quan hệ với ngành kỹ nghệ [[năng lượng]], xe hơi và những nhóm chống việc bảo vệ môi trường khác. Dù vậy, Bush tuyên bố rằng lý do khiến ông từ chối ủng hộ Nghị định thư Kyoto là vì những quy định nghiêm nhặt của nó áp đặt lên Hoa Kỳ trong khi tỏ ra dễ dãi với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là [[Trung Quốc]] và [[Ấn Độ]]. "Quốc gia có nhiều khí thải tạo hiệu ứng nhà kính thứ nhì thế giới là Trung hoa. Thế nhưng, Trung hoa hoàn toàn được miễn trừ khỏi những yêu cầu của nghị định thư Kyoto". Ông cũng tỏ ra nghi ngờ về những luận cứ khoa học về hiện tượng ấm nóng toàn cầu, nhấn mạnh rằng cần có thêm nghiên cứu để xác định tính chính xác của các luận cứ này.
==== Di trú ====
Bush đề xuất dự luật di trú, cho phép kéo dài [[visa (định hướng)|visa]] cho người đến Hoa Kỳ làm việc, đến sáu năm, nhưng không được quyền cư trú hay quyền công dân.
=== Bổ nhiệm ===
==== Nội các ====
{| cellpadding="1" cellspacing="4" style="margin:3px; border:3px solid #000000;" align="right"
!bgcolor="#000000" colspan="3"|
|-
|align="left"|'''CHỨC VỤ'''||align="left"|'''TÊN'''||align="left"|'''NHIỆM KỲ'''
|-
!bgcolor="#000000" colspan="3"|
|-
|[[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] || '''George W. Bush''' || 2001–2009
|-
|[[Phó Tổng thống Hoa Kỳ|Phó Tổng thống]] || '''Richard B. Cheney''' || 2001–2009
|-
!bgcolor="#000000" colspan="3"|
|-
|[[Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ|Bộ trưởng Ngoại giao]] || '''[[Colin Powell|Colin L. Powell]]''' || 2001–2005
|-
| || '''[[Condoleezza Rice]]''' || 2005–2009
|-
|[[Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ|Bộ trưởng Quốc phòng]] || '''[[Donald Rumsfeld|Donald H. Rumsfeld]]''' || 2001–2006
|-
| || '''[[Robert Gates]]''' || 2006–2009
|-
|Bộ trưởng Ngân khố || '''Paul H. O'Neill''' || 2001–2003
|-
| || '''John W. Snow''' || 2003–2006
|-
| || '''Henry M. Paulson, Jr''' || 2006–2009
|-
|Bộ trưởng Tư pháp || '''John D. Ashcroft''' || 2001–2005
|-
| || '''Alberto R. Gonzales''' || 2005–2007
|-
| || '''Michael Mukasey''' || 2007-2009
|-
|Bộ trưởng Nội vụ || '''Gale A. Norton''' || 2001–2006
|-
| || '''Dirk Kempthorne''' || 2006–2009
|-
|Bộ trưởng Nông nghiệp || '''Ann M. Veneman''' || 2001–2005
|-
| || '''Mike Johanns''' || 2005–2009
|-
|Bộ trưởng Thương mại || '''Donald L. Evans''' ||2001–2005
|-
| || '''Carlos M. Gutierrez''' || 2005–2009
|-
|Bộ trưởng Lao động || '''Elaine L. Chao''' || 2001–2009
|-
|Bộ trưởng Y tế || '''Tommy G. Thompson''' || 2001–2005
|-
| || '''Michael O. Leavitt''' || 2005–2009
|-
|Bộ trưởng Gia cư và phát triển đô thị || '''Melquiades R. Martinez''' || 2001–2003
|-
| || '''Alphonso R. Jackson''' || 2004–2009
|-
|Bộ trưởng Giao thông || '''Norman Y. Mineta''' || 2001–2006
|-
| || '''Mary E. Peters''' || 2006–2009
|-
|Bộ trưởng Năng lượng || '''E. Spencer Abraham''' || 2001–2005
|-
| || '''Samuel W. Bodman''' || 2005–2009
|-
|Bộ trưởng Giáo dục || '''Roderick R. Paige''' || 2001–2005
|-
| || '''Margaret Spellings''' || 2005–2009
|-
|Bộ trưởng Cựu chiến binh || '''Anthony J. Principi''' || 2001–2005
|-
| || '''James Nicholson''' || 2005–2009
|-
|Bộ trưởng An ninh nội địa || '''Thomas J. Ridge''' || 2003–2005
|-
| || '''Michael Chertoff''' || 2005–2009
|}
Bush bổ nhiệm vào nội các số người thuộc các chủng tộc thiểu số lớn nhất từ trước đến nay, lần đầu tiên có một bộ trưởng là một phụ nữ gốc Á (''Chao''). Đây là một nội các nổi bật với hai đặc điểm: nhiều chủng tộc nhất và, theo sách kỷ lục [[Guinness]], giàu có nhất.
Trong nội các này, có mặt một viên chức không thuộc Đảng Cộng hoà, Norman Mineta, bộ trưởng Giao thông, là bộ trưởng [[Người Mỹ gốc Á|gốc Á]] đầu tiên và là đảng viên Dân chủ, đã phục vụ trong nội các [[Bill Clinton|Clinton]] với chức danh bộ trưởng thương mại.
Nội các này cũng có những nhân vật tiếng tăm, từng phục vụ trong các chính phủ trước như Colin Powell, [[Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ|Cố vấn An ninh Quốc gia]] cho [[Ronald Reagan]] và là [[Chủ tịch Liên quân]] dưới thời [[George H. W. Bush]] và Clinton, Bộ trưởng Quốc phòng [[Donald Rumsfeld]], phục vụ trong chính phủ [[Gerald Ford]] cũng với chức vụ bộ trưởng quốc phòng. Cũng vậy, Phó Tổng thống [[Dick Cheney|Richard Cheney]] từng là bộ trưởng quốc phòng dưới thời George H. W. Bush.
==== Các Cố vấn và các Chức vụ khác ====
Giám đốc Tình báo Quốc gia – [[John Negroponte]] (2005).
Giám đốc [[Cơ quan Tình báo Trung ương (Hoa Kỳ)|CIA]] – [[George Tenet]] (2001 – 2004), John E. McLaughlin (Quyền Giám đốc, 2004), Porter J. Goss (2004 –).
Giám đốc [[Cục Điều tra Liên bang|FBI]] – Robert Mueller.
[[Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ|Cố vấn An ninh Quốc gia]] – [[Condoleezza Rice]] (2001 – 2005), [[Stephen Hadley]] (2005 –).
Đại sứ Hoa Kỳ tại [[Liên Hợp Quốc]] – John Negroponte (2001 – 2004), John Danforth (2004), [[John R. Bolton]] (2005 –).
Chánh Văn phòng Toà Bạch Ốc – [[Andrew Card]] (tương đương Bộ trưởng Tổng thống Phủ.)
Phó Văn phòng Toà Bạch Ốc và Cố vấn trưởng – [[Kark Rove]](tương đương Thứ trưởng Tổng thống phủ).
Cố vấn – [[Karen Hughes]] (2001 – 2002), (tương đương chức vụ đại sứ năm 2005.)
Phát ngôn viên Báo chí Toà Bạch Ốc – Ari Fleischer (2001 – 2003), Scott McClellan (2003 –).
==== Tối cao Pháp viện ====
Cho đến tháng 1 năm [[2006]], Tổng thống Bush đã bổ nhiệm hai vị thẩm phán cho Tối cao Pháp viện
* [[John Roberts]] (Chánh Án) - tháng 9 năm 2005.
* [[Samuel Alito]] - tháng 1 năm 2006.
=== Nhiệm kỳ thứ hai ===
[[Tập tin:Bush cropped.jpg|180px|nhỏ|Bush vận động tranh cử tại [[St. Petersburg, Florida]], năm [[2004]].]]
Nhiệm kỳ thứ hai của Bush được ghi dấu với nhiều rủi ro.
- Sau Bài diễn văn Liên bang lần thứ năm, tổng thống đẩy mạnh những cải cách [[An sinh Xã hội]], lúc đầu được ủng hộ bởi đảng của ông nhưng lại không thuyết phục được các nghị sĩ thuộc cả hai đảng để có thể được thông qua tại Quốc hội.
- Trong chuyến viếng thăm của Bush, đến [[Gruzia|Cộng hoà Gruzia]], ngày [[10 tháng 5]] năm [[2005]], đã xảy ra một âm mưu ám sát ông do Vladimir Arutinian, nhưng quả lựu đạn không nổ sau khi va vào một cô gái và lăn vào đám đông cách lễ đài 19 m, nơi Bush đang đứng đọc diễn văn.
- Cung cách đối phó với [[Bão Katrina]] của chính phủ liên bang và những nghi vấn về bè phái trong tháng 8 năm 2005 gây không ít khó khăn cho tổng thống.
- Gần đây là những tranh luận về tính hợp pháp của chương trình do thám người dân trong nước dẫn đến những đề xuất nhằm hạn chế các đặc quyền hành pháp.
Ngày [[17 tháng 11]] năm [[2006]], Tổng thống George W. Bush và [[Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ|Đệ Nhất Phu nhân]] [[Laura Bush]] đến [[Hà Nội]] để tham dự Hội nghị [[Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương|APEC]] lần thứ 14, và hội kiến với những nhà lãnh đạo Việt Nam, sau đó thăm chính thức [[Việt Nam]] [http://vnexpress.net/Vietnam/Xa%2Dhoi/2006/11/3B9F07A8/]. Ngày [[19 tháng 11]], sau khi đáp máy bay vào [[Thành phố Hồ Chí Minh]], cùng với [[Thủ tướng Úc]] [[John Howard]], Bush và Laura đến dùng bữa tại một nhà hàng trên [[Đường Hai Bà Trưng, Thành phố Hồ Chí Minh|đường Hai Bà Trưng]]. Hôm sau, ông đến thăm Trung tâm Chứng khoán, Viện Pasteur và Viện Bảo tàng Lịch sử [http://www.thanhnien.com.vn/Xahoi/2006/11/20/170819.tno]. Ông là tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam kể từ lúc chiến tranh Việt Nam kết thúc năm [[1975]].
====Cuộc chiến tại Iraq====
Vào ngày 10 tháng 1 năm 2007, Bush tuyên bố [[tăng quân trong Chiến tranh Iraq năm 2007|tăng thêm 21.500 quân cho Iraq]], cũng như một chương trình việc làm cho người Iraq, nhiều đề xuất tái thiết hơn và 1,2{{nbs}}tỷ đô la ( tương đương với ${{Inflation|US|1.2|2007|r=1}}{{nbs}}tỷ năm {{Inflation-year|US}}) cho những chương trình này.<ref>{{chú thích báo |url=https://www.nbcnews.com/id/16558652 |title=Admitting strategy error, Bush adds Iraq troops |publisher=[[NBC News]] |date=January 11, 2007 }}</ref> On May 1, 2007, Bush used his second-ever veto to reject a bill setting a deadline for the withdrawal of U.S. troops,<ref>{{chú thích báo |first1=Sheryl Gay |last1=Stolberg |last2=Zeleny |first2=Jeff |title=Bush Vetoes Bill Tying Iraq Funds to Exit |newspaper=The New York Times |date=May 1, 2007 |url=https://www.nytimes.com/2007/05/02/washington/02policy.html |archive-url=https://web.archive.org/web/20060818114650/http://www.nytimes.com/2007/05/02/washington/02policy.html |archive-date=August 18, 2006 }}</ref> saying the debate over the conflict was "understandable" but insisting that a continued U.S. presence there was crucial.<ref>{{chú thích báo |publisher=CNN |date=March 19, 2008 |url=http://edition.cnn.com/2008/POLITICS/03/18/bush.iraq/index.html |title=Bush on anniversary: War in Iraq must go on |archive-date=2021-08-17 |access-date=2024-02-22 |archive-url=https://web.archive.org/web/20210817130859/http://edition.cnn.com/2008/POLITICS/03/18/bush.iraq/index.html |url-status=dead }}</ref>
====Vụ ném giày tại Baghdad năm 2008====
{{Main|Vụ ném giày George W. Bush năm 2008}}
[[Tập tin:POTUS George W. Bush with Prime Minister of Iraq, Part 2.webm|left|thumb|start=03:30|thumbtime=03:38|Vụ ném giày vào mặt Bush ở Baghdad, Iraq, tháng 12 năm 2008]]
Vào ngày 14 tháng 12 năm 2008, [[Muntadhar al-Zaidi]], một nhà báo người Iraq, đã ném cả hai chiếc giày của mình vào Bush trong một cuộc họp báo ở Baghdad. Bush không bị thương vì đã xỏ được đôi giày.<ref name="Karadsheh">{{chú thích báo|last=Karadsheh|first=Jomana|author2=Cal Perry|title=Bush 'shoe thrower' to be freed from Iraqi jail|publisher=CNN|date=14 tháng 9 năm 2009|url=http://www.cnn.com/2009/WORLD/meast/09/14/iraq.shoe.thrower/index.html|access-date=October 20, 2021}}</ref> Tuy nhiên, thư ký báo chí Nhà Trắng [[Dana Perino]] đã bị một vết bầm tím trên mặt sau khi bị an ninh đập vào cần micrô.<ref>{{chú thích báo|last=Allen|first=Mike|title=Perino bruised in shoe-hurling melee|website=Politico|date=December 14, 2008|url=https://www.politico.com/story/2008/12/perino-bruised-in-shoe-hurling-melee-016568|access-date=20 tháng 10 năm 2021}}</ref> Al-Zaidi nhận bản án ba năm tù, sau đó được giảm xuống còn một năm. Ngày 15 tháng 9 năm 2009, anh được thả sớm vì cải tạo tốt.<ref name="Karadsheh" />
===Bổ nhiệm tư pháp===
====Tòa án tối cao====
{{multiple image
| direction = vertical
| width = 220
| image1 = Roberts, Bush SCOTUS announcement.jpg
| image2 = With President George W. Bush Looking on, Judge Samuel A. Alito Acknowledges his Nomination as Associate Justice of the U.S. Supreme Court.jpg
| footer = Các ứng cử viên Thẩm phán Tòa án Tối cao John Roberts và Samuel Alito, 2005
}}
Vào ngày 19 tháng 7 năm 2005, sau thông báo về việc nghỉ hưu của [[Phó Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ|Phó Thẩm phán]] [[Sandra Day O'Connor]] vào ngày 1 tháng 7, Bush đã đề cử thẩm phán phúc thẩm liên bang [[John Roberts]] là người thay thế O'Connor; tuy nhiên, sau cái chết của Chánh án [[William Rehnquist]] vào ngày 3 tháng 9, đề cử vẫn đang chờ xử lý đó đã bị rút lại vào ngày 5 tháng 9, thay vào đó, Bush đề cử Roberts làm [[Chánh án Hoa Kỳ]] tiếp theo. Ông được Thượng viện xác nhận vào ngày 29 tháng 9 năm 2005.<ref name=roll_call_roberts>[https://www.senate.gov/legislative/LIS/roll_call_lists/roll_call_vote_cfm.cfm?congress=109&session=1&vote=00245 U.S. Senate Roll Call Votes – Nomination of John Roberts], ''senate.gov''.</ref>
Vào ngày 3 tháng 10 năm 2005, Bush đề cử [[Luật sư Nhà Trắng]] [[Harriet Miers]] kế nhiệm O'Connor; tuy nhiên, Miers đã rút lại đề cử vào ngày 27 tháng 10 sau khi vấp phải sự phản đối đáng kể từ cả hai đảng, những người cho rằng cô không được chuẩn bị kỹ lưỡng và không hiểu biết về luật pháp,<ref name="greenburg" />{{Rp|278}} một lần nữa không có ứng cử viên nào thay thế O'Connor. Cuối cùng, vào ngày 31 tháng 10, Bush đề cử thẩm phán phúc thẩm liên bang [[Samuel Alito]], người được Thượng viện xác nhận thay thế O'Connor vào ngày 31 tháng 1 năm 2006.<ref>James L. Gibson, and Gregory A. Caldeira, "Confirmation politics and the legitimacy of the US Supreme Court: Institutional loyalty, positivity bias, and the Alito nomination". ''American Journal of Political Science'' 53.1 (2009): 139–155 [https://pages.wustl.edu/files/pages/imce/jlgibson/ajps2009.pdf online] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20201024235739/https://pages.wustl.edu/files/pages/imce/jlgibson/ajps2009.pdf|date=24 tháng 10 2020}}</ref>
== Nhận định ==
Bush là mục tiêu của nhiều lời ca tụng và không ít sự chỉ trích gay gắt. Những người ủng hộ ông chú trọng vào các lãnh vực như kinh tế, an ninh trong nước và khả năng lãnh đạo của ông sau cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9. Những người chống đối bất đồng về các vấn đề như đạo luật USA PATRIOT, cuộc tuyển cử nhiều tranh cãi năm 2000, và cuộc chiến tại Iraq. Tạp chí ''[[Time (tạp chí)|TIME]]'' chọn Bush là Nhân vật của Năm 2000 và 2004. Vinh dự này được dành cho những nhân vật, theo nhận xét của các chủ biên, là những người được công luận quan tâm nhất (''newsmaker'') trong năm.
=== Trong nước ===
Thời gian đầu sau khi nhậm chức (2001), nhiều người xem Bush là một Tổng thống không có sự ủy nhiệm đầy đủ, vì ông vào Toà Bạch ốc nhờ một phán quyết của Tối cao Pháp viện. Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, thái độ của người dân Mỹ đã thay đổi, khi họ chứng kiến ông đứng trên đống đổ nát của toà nhà WTC với loa phóng thanh trên tay, thể hiện khả năng và ý chí kiên cường của một nhà lãnh đạo. Từ đó, hình ảnh của Bush được cải thiện đáng kể trong lòng người dân Mỹ, và tác động không ít đến kết quả bầu cử năm 2004.
Suốt thời kỳ khủng hoảng quốc gia sau cuộc tấn công 11/9, Bush nhận được sự ủng hộ của 85% dân chúng Mỹ, nhưng suy giảm dần và dừng lại ở mức 50% trong hai năm rưỡi. Phần lớn dân chúng Hoa Kỳ gần đây đã không còn tin tưởng vào chính sách của ông đối với vấn đề Iraq (hiện chỉ còn dưới 40% người Mỹ ủng hộ chính sách này - thời điểm tháng 7-8 năm 2005). Tuy nhiên, cũng qua các cuộc thăm dò, đa số dân Mỹ vẫn tin rằng cá nhân ông Bush là người thẳng thắn và trung thực.
Vào lúc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ năm 2002, Bush nhận được sự ủng hộ cao nhất so với bất kỳ tổng thổng nào vào cùng thời điểm ấy kể từ [[Dwight D. Eisenhower|Dwight Eisenhower]], đảng Cộng hoà tiếp tục kiểm soát thượng viện và giành thêm ghế tại hạ viện; trước đó, thường thì đảng của tổng thống đương nhiệm sẽ mất ghế trong cuộc tuyển cử giữa nhiệm kỳ, nhưng năm 2000 đánh dấu cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ lần thứ ba kể từ cuộc [[Nội chiến]], một đảng cầm quyền giành thêm ghế tại cả hai viện (hai lần kia xảy ra vào năm 1902 và 1934).
[[Tập tin:BushBlairIraqSov.jpg|220px|nhỏ|Bush và [[Tony Blair|Blair]] tại hội nghị [[NATO]], [[Istanbul]], [[Thổ Nhĩ Kỳ]], [[28 tháng 6]] năm [[2004]].]]
Trong năm 2001, mức ủng hộ dành cho Bush xuống thấp dần, ngoại trừ một lần bứt lên cao sau khi quân đội liên minh lật đổ chế độ Saddam Husein tại Iraq.
=== Ngoài nước ===
Vì chính sách đơn phương (''unilateralism'') áp dụng khi cần thiết cộng với thái độ kiên quyết và quả cảm của mình đối với mọi vấn đề trên thế giới, Bush không được nhiều yêu thích bên ngoài Hoa Kỳ. Một cuộc thăm dò năm 2004 cho thấy một cái nhìn không mấy tích cực về Bush đang phổ biến tại [[Anh]], [[Pháp]], [[Ý]], [[Đức]], [[México]], [[Tây Ban Nha]] và [[Canada]]. Dĩ nhiên, mức độ chống đối Bush cao đặc biệt tại các nước Hồi giáo mà đa số giáo sĩ rất bảo thủ và cực đoan, thường vượt quá 90%. Nhưng Bush được ưa chuộng tại [[Israel]], với 62% dân chúng ở đây ủng hộ ông. Trước cuộc bầu cử năm 2004, Kerry nhận được sự ủng hộ cao hơn Bush với khoảng cách lớn tại 30 trong số 35 quốc gia, rất có thể điều này đã giúp Bush thắng cử chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2. Sau cuộc tuyển cử, đa số người được hỏi tại hầu hết các quốc gia nói rằng họ chờ đợi những ảnh hưởng từ nhiệm kỳ thứ hai của Bush.
== Tác phẩm ==
* ''A Charge to Keep'' ([[1999]]), ghi chép
* ''We will prevail: President George W. Bush on war, terrorism, and freedom'' ([[2003]])
* ''George W. Bush on God and on Country: The President Speaks Out About Faith, Principle, and Patriotism'' ([[2004]])
* ''Decision Points'' (Điểm quyết định, [[2010]]), tự truyện
* ''41: A Portrait of My Father'' (Cha tôi: Tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ, [[2014]]), hồi ức
== Xem thêm ==
* [[Laura Bush]]
* [[Gia tộc Bush]]
* [[Muntadhar al-Zaidi]]
== Tham khảo ==
{{Tham khảo}}
== Liên kết ngoài ==
{{thể loại Commons|George W. Bush}}
{{wikisource tác giả|George W. Bush}}
* [http://www.whitehouse.gov/about/presidents/GeorgeWBush/ Trang web của Nhà Trắng.] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090626223537/http://www.whitehouse.gov/about/presidents/georgewbush/ |date=2009-06-26 }}
* [http://www.vnexpress.net/GL/The-gioi/Anh/2009/01/3BA0A68A/ Cha con tổng thống Bush.] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090314041710/http://www.vnexpress.net/GL/The%2Dgioi/Anh/2009/01/3BA0A68A/ |date=2009-03-14 }}
* [http://ngoisao.net/news/thoi-cuoc/2006/11/3b9bb1d5/ Căn vệ tổng thống Bush tại Việt Nam] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090915233750/http://www.ngoisao.net/News/Thoi-cuoc/2006/11/3B9BB1D5/ |date = ngày 15 tháng 9 năm 2009}}
* [http://www.vnmedia.vn/newsdetail.asp?NewsId=161120&Catid=9 Tổng thống Bush viết hồi ký.] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20090415083353/http://www.vnmedia.vn/newsdetail.asp?NewsId=161120&Catid=9 |date=2009-04-15 }}
{{s-start}}
{{s-ppo}}
{{s-bef|before=[[Clayton Williams]]}}
{{s-ttl|title=Ứng cử viên [[Thống đốc Texas]]<br>đại diện cho [[Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ)|Đảng Cộng hòa]]|years=[[1994]], [[1998]]}}
{{s-aft|after=[[Rick Perry]]}}
{{s-bef|before=[[Bob Dole]]}}
{{s-ttl|title=Ứng cử viên [[Tổng thống Hoa Kỳ]]<br>đại diện cho [[Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ)|Đảng Cộng hòa]]|years=[[Bầu cử tổng thống Hoa Kỳ 2000|2000]], [[Bầu cử tổng thống Hoa Kỳ 2004|2004]]}}
{{s-aft|after=[[John McCain]]}}
{{s-off}}
{{s-bef|before=[[Ann Richards]]}}
{{s-ttl|title=[[Thống đốc Texas]]|years=1995–2000}}
{{s-aft|after=[[Rick Perry]]}}
{{s-bef|before=[[Bill Clinton]]}}
{{s-ttl|title=[[Tổng thống Hoa Kỳ]]|years=2001–2009}}
{{s-aft|after=[[Barack Obama]]}}
{{s-end}}
{{Tổng thống Hoa Kỳ}}
{{Thống đốc Texas}}
{{Time Nhân vật của năm 1976–2000}}
{{Kiểm soát tính nhất quán}}
{{Thời gian sống|sinh=1946|tên=Bush, George W.}}
{{DEFAULTSORT:Bush, George W.}}
[[Thể loại:George W. Bush| ]]
[[Thể loại:Doanh nhân Mỹ thế kỷ 20]]
[[Thể loại:Chính khách Mỹ thế kỷ 20]]
[[Thể loại:Nhà văn Mỹ thế kỷ 20]]
[[Thể loại:Họa sĩ Mỹ thế kỷ 21]]
[[Thể loại:Chính khách Mỹ thế kỷ 21]]
[[Thể loại:Nhà văn Mỹ thế kỷ 21]]
[[Thể loại:Người viết tiểu sử Mỹ]]
[[Thể loại:Nhà đầu tư Mỹ]]
[[Thể loại:Người viết hồi ký Mỹ]]
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Séc]]
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Hà Lan]]
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Anh]]
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Pháp]]
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Đức]]
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Ireland]]
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Scotland]]
[[Thể loại:Người Mỹ gốc Wales]]
[[Thể loại:Nhà văn chính trị Hoa Kỳ]]
[[Thể loại:Vận động viên rugby union Hoa Kỳ]]
[[Thể loại:Phi công Connecticut]]
[[Thể loại:Phi công Texas]]
[[Thể loại:Gia tộc Bush]]
[[Thể loại:Doanh nhân Connecticut]]
[[Thể loại:Thống đốc Texas]]
[[Thể loại:Cự học sinh Harvard Business School]]
[[Thể loại:Nhân vật còn sống]]
[[Thể loại:Họa sĩ Connecticut]]
[[Thể loại:Họa sĩ Texas]]
[[Thể loại:Người Midland, Texas]]
[[Thể loại:Cựu học sinh Phillips Academy]]
[[Thể loại:Tổng thống Hoa Kỳ]]
[[Thể loại:Tổng thống Hoa Kỳ của Đảng Cộng hòa]]
[[Thể loại:Vận động viên New Haven, Connecticut]]
[[Thể loại:Vận động viên Texas]]
[[Thể loại:Ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ 2004]]
[[Thể loại:Cựu sinh viên Đại học Yale]]
[[Thể loại:Hội kín Skull & Bones]]
[[Thể loại:Diễn giả truyền cảm hứng người Mỹ]]
[[Thể loại:Người từ Midland, Texas]]
[[Thể loại:Ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ)]]
[[Thể loại:Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ]]
[[Thể loại:Nhà văn Texas]] | 56630 |
1389 | Nội chiến Congo thứ hai | 0 | null | null | 73343771 | 72022602 | 2025-03-29T03:34:03 | false | /* top */ clean up, [[en:User:Monkbot/task 20]]: replace {lang-??} templates with {langx|??} [[Wikipedia:Biểu quyết xóa trang (thể loại, bản mẫu và mô đun)#Các bản mẫu lang-xx|‹Xem Tfd›]] (Replaced 1); | wikitext | text/x-wiki | 85samat83a1blgbkaq2kd705fzj7sfy | {
"username": "TheSecondFunnyYellowBot",
"id": "977823",
"ip": null
} | {{Infobox military conflict
|image=[[Tập tin:DRC Rwanda line.jpg|122px|border]][[Tập tin:Congolese soldier.jpg|100px|border]]<br>[[Tập tin:Gbadolite.jpg|224px|border]]
|caption= Các nạn nhân bị hãm hiếp đã được tái hòa nhập thành công vào cộng đồng của họ, tập hợp {{small | (trên bên trái)}} <br> Binh sĩ Quân đội Congo vào năm 2001 {{small | (trên bên phải)}} <br> Binh sĩ nổi dậy Congo ở thị trấn phía bắc của [[Gbadolite]] vào năm 2000 {{small | (dưới)}}
|partof=[[Congo Civil War (disambiguation)|Nội chiến Congo]] và hậu quả của [[Nạn diệt chủng Rwanda]]
|conflict=Chiến tranh Congo lần thứ nhất<br />Chiến tranh Congo lần thứ hai
|date=Chiến tranh Congo lần 1: 24 tháng 10 năm 1996 - 16 tháng 5 năm 1997<br />({{Age in years, months, weeks and days|month1=10|day1=24|year1=1996|month2=05|day2=16|year2=1997}})<br />Chiến tranh Congo lần 2: 2 tháng 8 năm 1998 - 18 tháng 7 năm 2003<br>({{Age in years, months, weeks and days|month1=08|day1=02|year1=1998|month2=07|day2=18|year2=2003}})
|result= Kết quả quân sự không rõ
*<nowiki> Thỏa thuận Sun City</nowiki>
*Cộng hòa Dân chủ Congo được thành lập dưới thể chế đa đảng, lãnh đạo bởi [[Joseph Kabila]] là tổng thống và [[Jean-Pierre Bemba]] là thủ tướng.
* [[Hiệp định Pretoria]]; Rwandan rút quân khỏi Congo để đổi lấy cam kết giải giáp lực lượng dân quân Hutu.
* [[Chính phỉ lâm thời Cộng hòa Dân chủ Congo]] được thành lập, phát triển bởi [[MONUC]].
* Tiếp tục [[Xung đột Ituri]].
* Sự bắt đầu của [[Xung đột Kivu]].
|place=[[Cộng hòa Dân chủ Congo]]
|combatant1='''Chiến tranh Congo lần 1''':{{flag|Zaire|size=22px}}<br />
*FAZ
*White Legion<br />{{flag|Sudan|size=22px}}<br />{{flag|Chad|size=22px}}<br />{{Flagicon image|Flag of the Rwandan Democratic Movement.svg|size=23px}}[[Interahamwe]]<br />{{Flagicon image|Flag of the CNDD-FDD.svg|size=23px}}[[CNDD-FDD]]<br />[[Tập tin:Flag of UNITA.svg|22px|border]][[UNITA]]<br />{{Flagicon image|Flag of the Allied Democratic Forces.svg|size=23px}}[[Allied Democratic Forces|ADF]]<br />[[FLNC]]<br />'''Chiến tranh Congo lần 2''':<br />'''Phe ủng hộ chính phủ:'''<br />{{flag|Democratic Republic of the Congo|1997|size=22px}}<br />{{ANG}}<br />{{CHA}}<br />{{NAM}}<br />{{ZWE}}<br />'''Các lực lượng chống Uganda:'''<br />{{Flagicon image|Flag red yellow 5x3.svg|size=23px}} [[Lord's Resistance Army|LRA]]<br />{{SUD}} <small>(Alleged)</small>
* {{Flagicon image|Flag of the Allied Democratic Forces.svg|size=23px}}[[Allied Democratic Forces|ADF]]
* [[Uganda National Rescue Front|UNRF II]]
* [[Nationalist and Integrationist Front|FNI]]
'''Các nhóm dân quân chống Rwanda:'''<br />{{flagicon image|Flagge FDLR.svg}} [[Democratic Forces for the Liberation of Rwanda|FDLR]]
* [[Mai-Mai]]
* {{Flagicon image|Flag of the Rwandan Democratic Movement.svg|size=23px}}[[Interahamwe]]
* [[Republican Rally for Democracy in Rwanda|RDR]]
* {{Flagicon image|Flag of Rwanda (1962-2001).svg|size=23px}}[[Army for the Liberation of Rwanda|ALiR]]
* Các lực lượng Hutu liên kết khác
''Các lực lượng chống Burundi:'''
* {{Flagicon image|Flag of the CNDD-FDD.svg|size=23px}}[[National Council for the Defense of Democracy–Forces for the Defense of Democracy|CNDD-FDD]]
* [[National Liberation Front (Burundi)|FROLINA]]
|combatant2= ''''Chiến tranh Congo lần 1''':<br />[[ADFL]]<br />{{flagicon|Rwanda|1962|size=22px}} [[Rwanda]]<br />{{flagicon|Uganda}} [[Uganda]]<br />{{flagicon|Burundi}}[[Burundi]]<br />{{flagicon|Angola}} [[Angola]]<br />[[SPLA]]<br />{{flagicon|Eritrea}} [[Eritrea]]<br />
----[[Mai Mai]]<br />'''Chiến tranh Congo lần 2''':<br />'''Các nhóm dân quân Rwanda liên kết khác:'''
* [[Rally for Congolese Democracy|RCD]]
* [[Rally for Congolese Democracy–Goma|RCD-Goma]]
* [[Banyamulenge]]
'''Các nhóm Uganda liên kết:'''
* [[Movement for the Liberation of Congo|MLC]]
* [[Forces for Renewal]]
* [[Union of Congolese Patriots|UPC]]
* Các nhóm dân quân Tutsi liên kết khác
'''Lực lượng chống MPLA:'''<br />[[Tập tin:Flag of UNITA.svg|22px|border]] [[UNITA]]<br />'''Foreign state actors:'''<br /> {{flagicon|Uganda}} [[Uganda]]<br />{{flagicon|Rwanda|1962|size=22px}} [[Rwanda]]<br />{{flagicon|Burundi}} [[Burundi]]
----<small>Note: Rwanda và Uganda đã chiến tranh vào tháng 6 năm 2000 trên lãnh thổ Congo.</small>
|commander1='''CHDC Congo''':<br /> [[Laurent-Désiré Kabila]] <br /><small>(1997–2001)</small><br /> [[Joseph Kabila]]<br /> <small>(2001–2003)</small>
----'''Namibia:'''<br /> [[Sam Nujoma]]<br />[[Dimo Hamaambo]]<br />[[Martin Shalli]]
----'''Zimbabwe:'''<br /> [[Robert Mugabe]]<br /> [[Emmerson Mnangagwa]]<br /> [[Constantine Chiwenga]]<br /> [[Perence Shiri]]
----'''Angola:'''<br /> [[José Eduardo dos Santos]]<br /> [[João de Matos]]
---- '''Chad:'''<br /> [[Idriss Déby]]
|commander2='''MLC:'''<br />[[Jean-Pierre Bemba]]
----'''RCD:'''<br /> [[Ernest Wamba dia Wamba]]
----'''Tutsi groups:''' <br /> [[Laurent Nkunda]]
----'''Uganda:'''<br /> [[Yoweri Museveni]]
----'''Rwanda:'''<br /> [[Paul Kagame]]
----'''Burundi:'''<br /> [[Pierre Buyoya]]
|strength1='''Chiến tranh Congo lần 1''':<br />'''Zaire''': khoảng 50,000<br />'''Interahamwe''':50,000-100,000 tất cả<br />'''UNITA''': khoảng 1,000 tới 2,000<br />'''Chiến tranh Congo lần 2''':<br />'''Mai Mai:''' 20–30,000 dân quân
----'''Interahamwe:''' 20,000+
|strength2='''Chiến tranh Congo lần 1''':<br />[[ADFL]]:57,000<br />'''Rwanda''':3,500-4,000<br />'''Angola''':1,000+<br />'''Eritrea''': 1 tiểu đoàn <br />'''Chiến tranh Congo lần 2''':<br />'''RCD:''' không rõ
----'''Rwanda:''' 8,000+<ref>{{chú thích báo |url=http://www.economist.com/world/africa/displayStory.cfm?story_id=1213296 |work=The Economist |title=Africa's great war |date=ngày 4 tháng 7 năm 2002 |access-date =ngày 7 tháng 2 năm 2007 |archive-url=https://web.archive.org/web/20070205043254/http://www.economist.com/World/africa/displayStory.cfm?story_id=1213296 |archive-date=ngày 5 tháng 2 năm 2007 |url-status=live |df=dmy-all }}</ref>
|casualties1='''Chiến tranh Congo lần 1''':<br />10,000-15,000 giết<br />10,000 đào tẩu<br /> hàng ngàn đầu hàng<br />'''Chiến tranh Congo lần 2''': ?
|casualties2='''Chiến tranh Congo lần 1''':<br />3,000-5,000 bị giết<br />'''Chiến tranh Congo lần 2''':<br />2,000 người Uganda<br />4,000 thương vong của phiến quân
|casualties3='''Chiến tranh Congo lần 1''':222,000 người tị nạn mất tích<br /> '''Tổng cộng''': 250,000 người chết<br />'''Chiến tranh Congo lần 2''': 5,4 triệu chết (1998–2008)<br />350,000+ chết do bạo lực (1998–2001)|}}
[[Tập tin:Cg-map.png|nhỏ|phải|220px|[[Cộng hòa Dân chủ Congo]]]]
'''Nội chiến Congo''' ({{langx|fr|Deuxième guerre du Congo}}) có thể là một trong các cuộc chiến sau:
* Cuộc khủng hoảng ở [[Cộng hòa Dân chủ Congo]] (1960-1965), từ ngày quốc gia này giành được độc lập từ [[Bỉ]] cho tới khi cựu tổng thống [[Mobutu Sese Seko]] lên nắm quyền.
* [[Nội chiến Congo lần I]] (1996-1997), dẫn đến sự lật đổ Mobutu của [[Laurent Kabila]].
* [[Nội chiến Congo lần II]] (1998-2002) với sự tham gia của chín quốc gia dẫn đến các cuộc chiến lẻ tẻ hiện nay mặc dù đã có hòa bình trên phương diện chính thức.
'''Nội chiến Congo''' được nói tới trong bài này là cuộc xung đột từ năm [[1998]] phần lớn trên lãnh thổ [[Cộng hòa Dân chủ Congo]] (trước là [[Zaire|Zaïre]]). Cuộc chiến này lôi kéo chín nước [[châu Phi]] và khoảng 20 nhóm vũ trang, đây là cuộc [[chiến tranh]] giữa các nước lớn nhất trong [[lịch sử châu Phi]] hiện đại. Theo [[Ủy ban cứu trợ quốc tế]], hơn 3,8 triệu người bị chết vì cuộc chiến này từ [[1998]] đến nay, phần lớn vì thiếu ăn hay bệnh tật. Hàng triệu người khác bị đuổi ra khỏi nhà hay đang tìm kiếm [[tị nạn|nơi nương náu]] ở các nước bên cạnh CHDC Congo. Dù là vài sáng kiến và thỏa thuận hòa bình đã thành công một phần dẫn đến sự công nhận hòa bình chính thức năm [[2002]], các nhóm vũ trang vẫn không buông súng và chiến tranh vẫn không suy giảm và vẫn tiếp diễn đến tháng 2 năm [[2005]].
== Chiến tranh Congo lần 1 ==
== Chiến tranh Congo lần 2 ==
==Tham khảo==
{{tham khảo}}
{{Sơ khai Angola}}
{{thể loại Commons|African World War}}
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Cộng hòa Dân chủ Congo]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Angola]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Burundi]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Rwanda]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Uganda]]
[[Thể loại:Chiến tranh liên quan tới Zimbabwe]]
[[Thể loại:Lịch sử châu Phi]] | 9276 |
1391 | Bản mẫu:PD-USGov-CIA-WF | 10 | null | null | 65752559 | 65751898 | 2021-08-23T18:47:55 | false | null | wikitext | text/x-wiki | otka509d7wxizd15x4gqt18lt9n26hf | {
"username": "Băng Tỏa",
"id": "748493",
"ip": null
} | {{Siêu dữ liệu bản quyền/PVCC}}
{{imbox
| type = license
| image = [[Image:PD-icon.svg|52px|Public domain|link=]]
| imageright = [[Image:CIA World Factbook Cover.jpg|64x64px|Public domain]]
| text = Hình này là bản đồ hay lá cờ lấy và/hoặc sửa đổi từ cuốn sách ''[[The World Factbook]]'' của [[CIA]]. Theo luật [[Hoa Kỳ]] về quyền tác giả, mọi thông tin và hình ảnh từ ''World Factbook'' đều thuộc '''[[phạm vi công cộng]]''' tại Hoa Kỳ.<div style="display:none;">
<span class="licensetpl_short">PD</span>
<span class="licensetpl_long">Public domain</span>
<span class="licensetpl_link_req">false</span>
<span class="licensetpl_attr_req">false</span>
</div>
}}{{free media}}
<includeonly>[[Thể loại:Hình lấy từ CIA World Factbook|{{PAGENAME}}]]</includeonly><noinclude>
==Xem thêm==
*[[Wikipedia:Thẻ quyền cho hình ảnh]]
*{{tl|PD-USGov}}
*{{tl|PD-USGov-CIA-WF}}
*{{tl|PD-flag-historical}}
[[Thể loại:Hình lấy từ CIA World Factbook|*]]
[[Thể loại:Hình ảnh của chính phủ Hoa Kỳ|*]]
[[Thể loại:Hình thuộc phạm vi công cộng|*]]
[[Thể loại:Thẻ quyền hình ảnh]]
</noinclude> | 1220 |
1396 | Y tế học | 0 | Khoa học sức khỏe | null | 71927930 | 14533627 | 2024-11-09T23:30:00 | true | Bot: Giải quyết đổi hướng kép đến [[Khoa học sức khỏe]] | wikitext | text/x-wiki | 5yz7tackzt4krfv5l428kf4p4k8dj0l | {
"username": "Xqbot",
"id": "98738",
"ip": null
} | #đổi [[Khoa học sức khỏe]] | 35 |
1397 | Thể loại:Khoa học về Trái đất | 14 | null | null | 301036 | 29974 | 2006-08-29T11:13:47 | false | null | wikitext | text/x-wiki | sj1f4siw869illoqb6tjkt4qgxtu5ow | {
"username": "Nguyễn Thanh Quang",
"id": "255",
"ip": null
} | {{Đổi hướng thể loại|Khoa học Trái Đất}} | 56 |
1398 | Bản mẫu:Catmore | 10 | Bản mẫu:Xem thêm thông tin thể loại | null | 59462389 | 26691578 | 2020-03-15T13:04:07 | true | Bot: Giải quyết đổi hướng kép đến [[Bản mẫu:Xem thêm thông tin thể loại]] | wikitext | text/x-wiki | q6bl79wh8xbr1d8twvodq49tpjed0ez | {
"username": "EmausBot",
"id": "161772",
"ip": null
} | #đổi [[Bản mẫu:Xem thêm thông tin thể loại]] | 57 |
1400 | Thống kê | 0 | null | null | 72043703 | 72039523 | 2024-12-24T13:00:18 | true | Đã lùi lại sửa đổi của [[Special:Contributions/Free Vietnam 0430|Free Vietnam 0430]] ([[User talk:Free Vietnam 0430|thảo luận]]) quay về phiên bản cuối của [[User:SongVĩ.Bot II|SongVĩ.Bot II]] | wikitext | text/x-wiki | phe5fu4iln039aravbe5m8jl1z4ubsz | {
"username": "Ayane Fumihiro",
"id": "872953",
"ip": null
} | {{1000 bài cơ bản}}
{{Thanh bên chủ đề Toán học}}
{{Quản trị kinh doanh}}[[Tập tin:The Normal Distribution.svg|thumb|283px|Mật độ xác suất xuất hiện nhiều hơn khi tiến gần giá trị (trung bình cộng) được kỳ vọng trong [[phân phối chuẩn]]. Trong hình là thống kê được sử dụng trong kiểm định chuẩn. Các loại thang đo bao gồm [[độ lệch chuẩn]], phần trăm cộng dồn'', đương lượng phân vi, điểm Z, điểm T, chín chuẩn hoá'' và ''phần trăm trong chín chuẩn hoá.'']]
[[Tập tin:Scatterplot.jpg|thumb|200px|Đồ thị phân tán được sử dụng trong [[thống kê mô tả]] nhằm thể hiện mối quan hệ quan sát được giữa các biến số.'']]
'''Thống kê''' ([[Tiếng Anh]]: ''statistics'') là nghiên cứu của tập hợp nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm phân tích, giải thích, trình bày và tổ chức [[dữ liệu]]<ref name="Dodge">Dodge, Y. (2006) ''The Oxford Dictionary of Statistical Terms'', OUP. ISBN 0-19-920613-9</ref>. Khi áp dụng thống kê trong [[khoa học]], [[công nghiệp]] hoặc các vấn đề [[xã hội]], thông lệ là bắt đầu với tổng thể thống kê hoặc một quá trình mô hình thống kê sẽ được nghiên cứu. Tổng thế có thể gồm nhiều loại khác nhau như "tất cả mọi người đang sống trong một đất nước" hay "tập hợp các phân tử của [[tinh thể]]". Nó đề cập tới tất cả các khía cạnh của dữ liệu bao gồm việc lập kế hoạch, thu thập dữ liệu mẫu cho các cuộc khảo sát và [[thí nghiệm]].<ref name=Dodge/>
Khi không thể thu thập được dữ liệu [[điều tra dân số]], các nhà thống kê thu thập dữ liệu bằng cách phát triển các mẫu thí nghiệm và mẫu khảo sát cụ thể. Quá trình lấy mẫu đại diện đảm bảo rằng những suy luận và kết luận có thể được áp dụng từ mẫu cho đến tổng thể. Một nghiên cứu thực nghiệm bao gồm việc đo lường hệ thống được nghiên cứu, thao tác trên hệ thống và sau đó đo lường thêm, sử dụng cùng thủ tục mẫu để xác định xem các thao tác có thay đổi giá trị đo lường hay không Ngược lại, một quan sát nghiên cứu không liên quan đến thao tác thực nghiệm.
Hai phương pháp thống kê chính được sử dụng trong phân tích dữ liệu: [[thống kê mô tả]], đây là phương pháp tóm tắt dữ liệu từ một mẫu sử dụng các chỉ số như là giá trị trung bình hoặc độ lệch chuẩn, và [[thống kê suy luận]], rút ra kết luận từ dữ liệu biến thiên ngẫu nhiên (ví dụ: các sai số quan sát, mẫu của tổng thể)<ref name=LundResearchLtd>{{chú thích web|last=Lund Research Ltd. |url=https://statistics.laerd.com/statistical-guides/descriptive-inferential-statistics.php |title=Descriptive and Inferential Statistics |publisher=statistics.laerd.com |access-date = ngày 23 tháng 3 năm 2014}}</ref>. Thống kê mô tả được sử dụng thường xuyên nhất với hai thuộc tính phân phối (mẫu hoặc tổng thể): chiều hướng trung tâm (hoặc vị trí) tìm cách để mô tả giá trị trung bình hoặc giá trị đặc trưng của phân phối, trong khi phân tán (hoặc thay đổi) mức độ đặc trưng mà các thuộc tính của phân phối đi trệch so với nghiên cứu. Suy luận về thống kê toán học được thực hiện trong khuôn khổ của lý thuyết xác suất, trong đó đề cập tới việc phân tích các hiện tượng ngẫu nhiên. Để thực hiện một suy luận khi chưa biết số lượng, hoặc nhiều ước lượng được đánh giá bằng cách sử dụng mẫu.
Thủ tục thống kê tiêu chuẩn liên quan đến sự phát triển của một giả thuyết vô nghĩa ban đầu là không có mối quan hệ nào giữa hai đại lượng. Loại bỏ hoặc bác bỏ giả thuyết này là một nhiệm vụ quan trọng trong việc giải thích những quan điểm mới của khoa học thống kê, đưa ra một ý nghĩa chính xác trong đó một giả thuyết được chứng minh là sai. Những gì thống kê gọi là một giả thuyết khác chỉ đơn giản là một giả thuyết trái với giả thuyết vô nghĩa. Phân tích từ một giả thuyết hai hình thức cơ bản của lỗi này được ghi nhận: sai số loại I (giả thuyết vô nghĩa sai bị bác bỏ cho một tính chất xác thực không đúng) và sai số loại II (giả thuyết không được bác bỏ và sự khác biệt thật sự giữa các tổng thể được bỏ qua cho một phủ định sai). Một việc quan trọng là tập hợp các giá trị của các ước lượng dẫn đến bác bỏ giả thuyết vô nghĩa. Do đó sai số của xác suất loại I là xác suất các ước lượng thuộc các miền quan trọng cho rằng giả thuyết đúng (có ý nghĩa thống kê) và sai số của xác suất loại II là xác suất mà các ước lượng không phụ thuộc các lớp quan trọng được đưa ra rằng giả thuyết thay thế là đúng. Các chính sách thống kê của một bài đánh giá xác suất đúng khi bác bỏ giả thuyết vô nghĩa khi giả thuyết là sai. Nhiều vấn đề đã được liên kết với khôn khổ: từ việc có được một cỡ mẫu đủ để xác định một giả thuyết vô nghĩa thích hợp.
Quy trình đo lường để tạo ra các dữ liệu thống kê cũng có thể bị lỗi. Phần nhiều trong số các lỗi này được chia làm hai loại: ngẫu nhiên (noise - dữ liệu vô nghĩa) hoặc có hệ thống (bias – độ chệch), nhưng các loại sai lệch khác (ví dụ, sai lệch khi người phân tích báo cáo sai các đơn vị đo lường) cũng rất quan trọng. Sự xuất hiện của dữ liệu bị thiếu hoặc sự kiểm duyệt có thể dẫn đến các ước tính bị chệch và những kỹ thuật cụ thể đã được phát triển để giải quyết những vấn đề này.
Thống kê có thể được cho là đã bắt đầu trong nền văn minh cổ xưa, ít nhất là từ cuối thế kỷ thứ 5 TCN, nhưng cho đến thế kỷ 18 thì nó mới chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ [[số học]] và lý thuyết thống kê. Thủ tướng Anh là Benjamin Disraeli nhận xét: [[Dối trá, dối trá đáng nguyền rủa, và thống kê|có ba loại nói dối gồm nói dối, nói dối thậm tệ và thống kê]]<ref name=disraeli>{{Chú thích sách|url=https://www.oxfordreference.com/view/10.1093/acref/9780199237173.001.0001/q-author-00001-00000992|title=Oxford Dictionary of Quotations|edition=7|editor=Elizabeth Knowles|publisher=[[Oxford University Press]]|year=2009|isbn=9780199237173|doi=10.1093/acref/9780199237173.001.0001|quote=There are three kinds of lies: lies, damned lies and statistics. attributed to Disraeli in Mark Twain Autobiography (1924) vol. 1; }}</ref>
==Quy mô==
Thống kê là một phần toán học của khoa học gắn liền với tập hợp dữ liệu, phân tích, giải thích hoặc thảo luận về một vấn đề nào đó, và trình bày dữ liệu<ref>Moses, Lincoln E. (1986) ''Think and Explain with Statistics'', Addison-Wesley, ISBN 978-0-201-15619-5. pp. 1–3</ref>, hay là một nhánh của toán học.<ref>Hays, William Lee, (1973) ''Statistics for the Social Sciences'', Holt, Rinehart and Winston, p.xii, ISBN 978-0-03-077945-9</ref> Có thể xem thống kê là một môn khoa học riêng biệt chứ không phải là một nhánh của toán học.<ref>{{chú thích sách |last=Moore |first=David |title=Statistics for the Twenty-First Century |url=https://archive.org/details/statisticsfortwe0000unse |publisher=The Mathematical Association of America |editor=F. Gordon and S. Gordon |location=Washington, DC |year=1992 |pages=[https://archive.org/details/statisticsfortwe0000unse/page/14 14]–25 |chapter=Teaching Statistics as a Respectable Subject |isbn=978-0-88385-078-7}}
</ref><ref>{{chú thích sách |last=Chance |first=Beth L. |author2=Rossman, Allan J. |title=Investigating Statistical Concepts, Applications, and Methods |publisher=Duxbury Press |year=2005 |chapter=Preface |isbn=978-0-495-05064-3 |url=http://www.rossmanchance.com/iscam/preface.pdf}}</ref>
===Toán thống kê===
Toán thống kê là ứng dụng của toán học để thống kê, ban đầu được hình thành như là khoa học của nhà nước – tập hợp dữ liệu và phân tích các dữ liệu về một đất nước: kinh tế, đất đai, quân sự, dân số... Kỹ thuật toán học được sử dụng bao gồm các phân tích toán học, đại số tuyến tính, phân tích ngẫu nhiên, phương trình vi phân, lý thuyết xác suất và thống kê toán.<ref>{{chú thích sách|last=Lakshmikantham|first=ed. by D. Kannan,... V.|title=Handbook of stochastic analysis and applications|date=2002|publisher=M. Dekker|location=New York|isbn=0824706609}}</ref><ref>{{chú thích sách|last=Schervish|first=Mark J.|title=Theory of statistics|date=1995|publisher=Springer|location=New York|isbn=0387945466|edition=Corr. 2nd print.}}</ref>
==Tổng quan==
Khi ứng dụng thống kê cho một vấn đề khoa học, ngành công nghiệp, hoặc một vấn đề xã hội...rất cần thiết để bắt đầu với việc thống kê tổng thể hoặc tiến trình nghiên cứu. Nghiên cứu về tổng thể có thể có nhiều chủ đề như "tất cả những người đang sống trong một nước" hay "mỗi nguyên tử tạo nên tinh thể".
Các nhà thống kê tổng hợp dữ liệu về toàn bộ tổng thể (hoạt động điều tra mẫu tổng thể). Điều này có thể được thống kê bởi Viện thống kê chính phủ. Thống kê mô tả có thể được sử dụng để tổng hợp các số liệu tổng thể. Mô tả bằng các con số bao gồm để lệch trung bình và độ lệch chuẩn cho các dữ liệu liên tục (như thu nhập), trong khi tần số và tỷ lệ phần trăm hiệu quả hơn khi mô tả các loại dữ liệu.
Khi một cuộc điều tra mẫu tổng thể không thể thực hiện được, ta lựa chọn một tập hợp con của dân số, đó được gọi là một mẫu nghiên cứu. Khi mẫu đó là đại diện của mẫu tổng thể được xác định, dữ liệu được tập hợp cho các biến trong mẫu quan sát hoặc mẫu thực tế. Một lần nữa thống kê mô tả có thể được sử dụng để tổng hợp các dữ liệu mẫu. Tuy nhiên, các bản thiết kế mẫu đã bị tác động bởi một yếu tố ngẫu nhiên, do đó việc thành lập số mẫu mô tả cũng không được chắc chắn. Để rút ra kết luận có ý nghĩa về toàn bộ tổng thể, thống kê suy luận là rất cần thiết. Nó sử dụng mẫu trong dữ liệu mẫu để suy luận về tổng thể, mô tả ngẫu nhiên. Những suy luận có thể mang hình thức trả lời có hoặc không các câu hỏi về dữ liệu (kiểm định giả thuyết), ước tính số lượng dữ liệu (ước tính), mô tả các liên kết của dữ liệu (tương quan) và các mối quan hệ của các mẫu trong dữ liệu (ví dụ sử dụng phân tích hồi quy). Suy luận có thể mở rộng để dự báo, tiên đoán và ước tính giá trị không được chú ý đến hoặc sự liên kết với tổng thể được nghiên cứu. Nó có thể bao gồm các biến ngoại suy hoặc biến nội suy của chuỗi thời gian hoặc dữ liệu không gian, và khai thác dữ liệu.
==Thu thập dữ liệu==
===Phương pháp chọn mẫu===
Trong bộ dữ liệu điều tra tổng thể, trường hợp không thể thu thập số liệu, dữ liệu thống kê phân tích được phát triển bằng các thiết kế thử nghiệm cụ thể và các [[Mẫu (thống kê)|mẫu]] khảo sát. Thống kê chính là việc cung cấp công cụ để nói trước và dự báo việc sử dụng các dữ liệu thông qua các mô hình thống kê. Để sử dụng một mẫu như một thông tin hướng dẫn cho toàn bộ tổng thể, điều quan trọng là nó thực sự đại diện cho mẫu tổng thể. Lấy mẫu đại diện phải đảm bảo rằng nó được suy luận và kết luận một cách chính xác từ việc chọn mẫu cho toàn bộ tổng thể. Một vấn đề lớn nhằm làm tăng kích cỡ mẫu được lựa chọn là mẫu đại diện. Thống kê cung cấp các phương pháp thiết kế thử nghiệm mẫu, các thử nghiệm này có thể làm giảm bớt các vấn đề ở việc bắt đầu nghiên cứu, tăng khả năng nhận biết các mẫu tin tưởng về mẫu thống kê.
Lý thuyết chọn [[Mẫu (thống kê)|mẫu]] là một phần của lý thuyết xác suất thống kê toán. Xác suất được sử dụng trong "toán học thống kê" (cách khác "lý thuyết thống kê") để nghiên cứu sự phân bố lấy mẫu thống kê mẫu và các tính chất của thủ tục thống kê. Việc sử dụng các phương pháp thống kê là được chấp nhận khi các phương pháp hoặc thống kê mẫu tổng thể đủ thông tin để chấp nhận giả thuyết.
Sự khác biệt trong quan điểm giữa lý thuyết xác suất cổ điển và lý thuyết xác suất lấy [[Mẫu (thống kê)|mẫu]] là xấp xỉ, lý thuyết xác suất bắt đầu từ các tham số cho tổng quy mô mẫu để suy ra xác suất mẫu. Tuy nhiên phương pháp thống kê phát triển theo hướng đối lập – quy nạp từ các mẫu để các thông số lớn hơn hoặc tổng quy mô mẫu.
===Các nghiên cứu thực nghiệm và quan sát===
Mục đích cho một dự án nghiên cứu thống kê là điều tra nguyên nhân, và từ đó rút ra kết luận của những thay đổi ảnh hưởng đến giá trị các nhân tố ảnh hưởng hoặc các biến độc lập dựa trên các biến phụ thuộc hoặc trả lời cho nghiên cứu. Có hai loại chính của nghiên cứu thống kê các biến nguyên nhân: nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu quan sát. Cả hai loại nghiên cứu này đều có sự tác động của biến độc lập (hoặc các biến) về hành vi của các biến phụ thuộc được quan sát. Sự khác biệt giữa hai biến này nằm ở cách nghiên cứu dựa trên thực tế. Mỗi biến có thể có ý nghĩa. Nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến việc lấy kích thước mẫu nghiên cứu, thao tác hệ thống và thêm vào kích thước mẫu sử dụng cho quá trình lấy mẫu, sau đó lấy mẫu bổ sung để xác định các thao tác sửa đổi giá trị của các phép đo. Ngược lại, một nghiên cứu quan sát không liên quan đến thao tác thực nghiệm. Thay vào đó, dữ liệu được thu thập và mối tương quan giữa các yếu tố dự báo và trả lời cho các khám phá và kiểm tra. Trong khi các công cụ của việc phân tích dữ liệu có kết quả tốt từ việc phân tích ngẫu nhiên, cũng có thể áp dụng cho các loại dữ liệu khác - như nghiên cứu tự nhiên và nghiên cứu quan sát – mà một nhà thống kê sẽ sử dụng như biến thay thế, nhiều lý thuyết đánh giá có cấu trúc (ví dụ: sự khác biệt trong các đánh giá khác nhau và biến đo lường thông tin, trong rất nhiều biến khác) cung cấp kết quả phù hợp cho các nhà nghiên cứu.
==Các thực nghiệm==
Các bước cơ bản của một nghiên cứu thống kê là:
# Lập kế hoạch nghiên cứu, bao gồm việc tìm kiếm số liệu để trả lời cho các nghiên cứu. Sử dụng các thông tin sau: ước tính sơ lược về kích thước của hiệu quả điều tra, các giả thuyết, các biến khảo sát dự định. Xem xét việc lựa chọn đối tượng khảo sát và đúng quy trình nghiên cứu. Các nhà thống kê cho rằng nên so sánh thử nghiệm một cách đáng tin cậy với tiêu chuẩn mẫu hoặc tiêu chuẩn so sánh một kết quả nghiên cứu. Chấp nhận ước lượng không chệch của mức ý nghĩa đáng tin cậy.
# Thiết kế nghiên cứu nhằm ngăn sự ảnh hưởng của các biến gây nhiễu và phân bố mẫu ngẫu nhiên của hệ số tin cậy cho các đối tượng để ước lượng không chệch của mức ý nghĩa đáng tin cậy và sai sót trong nghiên cứu. Ở giai đoạn này, các thí nghiệm và các thống kê viết giao thức nghiên cứu mà chính việc hướng dẫn thực hiện các thí nghiệm và chỉ ra những phân tích ban đầu của các dữ liệu nghiên cứu.
# Kiểm tra các nghiên cứu sau các giao thức thử nghiệm và phân tích dữ liệu và phân tích
# Kiểm tra thêm các dữ liệu thiết lập trong phân tích thứ cấp, đề xuất giả thuyết mới cho các nghiên cứu sau này.
# Tìm kiếm tài liệu và trình bày kết quả nghiên cứu.
Các thí nghiệm về nghiên cứu hành vi con người có mối liên quan đặc biệt. Các nghiên cứu nổi tiếng của Hawthorne, nghiên cứu về những thay đổi trong môi trường làm việc tại nhà máy Hawthorne của Công ty Western Electric. Các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc xác định liệu tăng việc chiếu sáng có tăng năng suất làm việc của công nhân lắp ráp. Đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã đo năng suất trong nhà máy, sau đó biến đổi sự chiếu sáng trong một khu vực của nhà máy và kiểm tra xem có ảnh hưởng của thay đổi ánh sáng đến năng suất hay không. Nghiên cứu cho thấy năng suất thực sự được cải thiện (dựa theo các điều kiện thử nghiệm). Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ ra các sai sót trong quá trình thí nghiệm, đặc biệt là thiếu các nhóm kiểm soát và thông tin mờ nhạt. Các hiệu ứng Hawthorne đề cập đến việc tìm kiếm một kết quả (trong trường hợp này là năng suất lao động) thay đổi do sự quan sát. Những người trong các nghiên cứu Hawthorne làm việc có hiệu quả không phải vì thay đổi ánh sáng, mà vì họ đang được quan sát.<ref name="pmid17608932">{{chú thích tạp chí |author=McCarney R, Warner J, Iliffe S, van Haselen R, Griffin M, Fisher P |title=The Hawthorne Effect: a randomised, controlled trial |journal=BMC Med Res Methodol |volume=7|pages=30 |year=2007 |pmid=17608932 |pmc=1936999 |doi=10.1186/1471-2288-7-30}}</ref>
===Nghiên cứu quan sát===
Một ví dụ của nghiên cứu quan sát là một trong những khám phá sự tương quan giữa giữa việc hút thuốc lá và ung thư phổi. Nghiên cứu này thường sử dụng việc điều tra để thu thập các quan sát về các khu vực tham gia nghiên cứu và sau đó thực hiện các phân tích thống kê. Trong trường hợp này, những nhà nghiên cứu thu thập các quan sát của những người hút thuốc và không hút thuốc, có thể thông qua một nghiên cứu về bệnh chứng, và sau đó tìm số liệu các trường hợp ung thư phổi trong mỗi nhóm điều tra.
==Các kiểu dữ liệu==
Các biến thử khác nhau đã được tạo ra để phân loại mức độ đo lường. Các nhà tâm lý Stanley Smith Stevens đã xác định thang đo danh nghĩa, thứ tự, khoảng thời gian và tỷ lệ đo. Thang đo danh nghĩa không có thứ tự xếp hạng có ý nghĩa trong các giá trị, và cho phép chuyển đổi một-một. Thang đo thứ tự có sự khác biệt chính xác giữa các giá trị liên tiếp, nhưng có một thứ tự có ý nghĩa giá trị và cho phép bất kỳ chuyển đổi nào để chuyển đổi. Đo khoảng thời gian có ý nghĩa và khoảng cách giữa các phép đo được xác định, nhưng giá trị bằng không là tùy ý (như trong trường hợp số dôi kinh độ và độ C hoặc độ F), và cho phép bất kỳ chuyển đổi tuyến tính. Đo tỷ lệ có cả một giá trị số không có ý nghĩa và khoảng cách giữa các phép đo khác nhau được xác định, và cho phép chuyển đổi sang sự thay đổi tỷ lệ.
Vì các biến chỉ phù hợp cho thang đo danh nghĩa hoặc thang đo thứ tự, không thể đo lường một cách hợp lý về số lượng, đôi khi chúng được nhóm lại với nhau như các biến phân loại, trong khi thang đo tỷ lệ và thang đo thời gian được nhóm lại với nhau như là các biến định tính, những biến có thể rời rạc hoặc liên tục do tính chất số lượng. Chúng thường được phân biệt như vậy thường ít tương quan với các dữ liệu trong nghiên cứu khoa học lưu trữ và phân tích thông tin được đưa vào. Trong đó các biến phân loại phân đôi có thể được đại diện với các kiểu dữ liệu Boolean (sử dụng hệ thống dữ liệu lý luận như AND, OR, NOT để xác định quan hệ giữa các thực thể), biến phân loại Polytomous với số nguyên....và các biến liên tục với các loại dữ liệu nghiên cứu khoa học lưu trữ và phân tích thông tin được đưa vào. Nhưng các bản đồ của các kiểu dữ liệu khoa học lưu trữ và phân tích thông tin đưa vào với các loại dữ liệu thống kê phụ thuộc vào phân loại sau khi được thực hiện.
Có nhiều phân tích khác đã được đề xuất. Ví dụ, Mosteller và Tukey (1977)<ref>Mosteller, F., & Tukey, J. W. (1977). ''Data analysis and regression''. Boston: Addison-Wesley.</ref> phân lớp, phân bậc, tính phân số, đếm, tổng số lượng và cân bằng. Nelder (1990)<ref>Nelder, J. A. (1990). The knowledge needed to computerise the analysis and interpretation of statistical information. In ''Expert systems and artificial intelligence: the need for information about data''. Library Association Report, London, March, 23–27.</ref> mô tả tính liên tục, chỉ số liên tục, tính tỷ lệ và chế độ phân loại của dữ liệu. Cũng như Chrisman (1998)<ref>Chrisman, Nicholas R. (1998). Rethinking Levels of Measurement for Cartography. ''Cartography and Geographic Information Science'', vol. 25 (4), pp. 231–242</ref> và Van Den Berg (1991)<ref>van den Berg, G. (1991). ''Choosing an analysis method''. Leiden: DSWO Press</ref>
.
Vấn đề có thích hợp hay không để áp dụng các loại khác nhau của các phương pháp thống kê số liệu thu được từ các loại khác nhau của các phương pháp đo lường phức tạp do các vấn đề liên quan đến việc chuyển đổi các biến và giải thích chính xác các câu hỏi đặt ra nghiên cứu. "mối quan hệ giữa các dữ liệu và những gì dữ liệu mô tả đơn thuần phản ánh một thực tế là một số loại báo cáo thống kê có thể có giá trị chân lý đó không phải là bất biến theo một số biến thay đổi. Có hay không một sự chuyển đổi hợp lý để chiêm ngưỡng phụ thuộc vào câu hỏi ai đang cố gắng để trả lời". (Hand, 2004, p. 82)<ref>Hand, D. J. (2004). ''Measurement theory and practice: The world through quantification.'' London, UK: Arnold.</ref>
==Thuật ngữ và lý thuyết của thống kê suy luận==
===Thống kê, ước tính và số lượng chính===
Hãy xem xét một mẫu các phân phối độc lập có cùng tính chất, các biến ngẫu nhiên với một phân phối xác suất nhất định: suy luận thống kê và lý thuyết tính toán xác định một mẫu ngẫu nhiên là véc tơ ngẫu nhiên được đưa ra bởi các véc tơ theo cột của các biến phân phối độc lập có cùng tính chất.<ref name=Piazza>Piazza Elio, Probabilità e Statistica, Esculapio 2007</ref> Tổng thể được chọn làm mẫu được mô tả bởi một phân phối xác suất mà có thể có tham số chưa biết.
Một thống kê là một biến ngẫu nhiên, đó là một chức năng của các mẫu ngẫu nhiên, nhưng không phải là chức năng của các tham số chưa biết. Mặc dù các phân phối mẫu của xác suất thống kê có thể có tham số chưa biết.
Xem xét chức năng của các tham số chưa biết: một ước lượng là một thống kê được sử dụng để ước lượng hàm này. Ước lượng thường được sử dụng bao gồm ý nghĩa của mẫu khảo sát, không gồm mẫu phương sai và hiệp phương sai mẫu.
Biến ngẫu nhiên là một hàm của mẫu ngẫu nhiên và các tham số chưa biết, nhưng có phân phối xác suất không phụ thuộc vào các tham số chưa biết, được gọi là một đại lượng quan trọng hay biến phụ thuộc. Sử dụng biến phụ thuộc bao gồm các chỉ số z, các số liệu thống kê chi bình phương và giá trị t-value của phân phối Student.
Giữa hai ước lượng của một tham số cho trước, với ước lượng điểm trung bình bình phương được cho rằng có hiệu quả hơn. Hơn nữa một ước lượng được cho là giá trị tiệm cận nếu giá trị kỳ vọng của nó bằng với giá trị thực của tham số chưa biết được ước tính, và là giá trị tiệm cận nếu giá trị kỳ vọng của nó hội tụ ở giới hạn với giá trị thực của tham số như vậy.
Các đặc tính thích hợp để ước lượng bao gồm: ước lượng UMVUE có phương sai nhỏ nhất cho tất cả các giá trị có thể có của các tham số ước lượng (đây thường là các đặc tính dễ dàng để xác minh hiệu quả) và đánh giá phù hợp cùng quy về trong xác suất để đúng với giá trị của tham số.
Điều này vẫn còn để lại những câu hỏi làm thế nào để có ước lượng trong một tình huống nhất định và thực hiện các tính toán, một phương pháp đã được đề xuất: các phương pháp trong thời điểm hiện tại, những phương pháp likelihood lớn nhất, phương pháp bình phương nhỏ nhất và phương pháp gần nhất của ước lượng phương trình.
===Giả thuyết vô nghĩa và các giả thuyết thay thế===
Giải thích thông tin thống kê có thể bao gồm sự phát triển của một giả thuyết trong đó giả định rằng bất cứ điều gì xảy ra được đề xuất như là một nguyên nhân không có hiệu quả trên các biến đo lường.
Minh họa tốt nhất cho một người mới làm thống kê là gặp phải tình trạng khó khăn khi thử nghiệm với những người khảo sát. Các giả thuyết không có giá trị H0, khẳng định rằng bị cáo là vô tội, trong khi các giả thuyết khác H1, khẳng định rằng bị cáo có tội. Bản cáo trạng đưa ra những nghi ngờ về việc có tội. Các giả thuyết H0 (hiện trạng) đối lập với giả thuyết H1 và được tồn tại khi H1 được hỗ trợ bằng các chứng cứ "bác bỏ những điều vô lý". Tuy nhiên "không đạt yêu cầu để bác bỏ giả thuyết H0" trong trường hợp không bao gồm tính vô tội, nhưng chỉ đơn thuần là không đủ bằng chứng để buộc tội. Vì vậy, người được khảo sát không nhất thiết phải chấp nhận H0 nhưng không bác bỏ H0. Trong khi người ta không thể "chứng minh" một giả thuyết, người ta có thể kiểm tra xấp xỉ để đưa ra phương pháp thử nghiệm, phương pháp kiểm tra các sai số loại II.
Những gì các nhà thống kê gọi là một giả thuyết có một hoặc hai khả năng xảy ra chỉ đơn giản là một giả thuyết trái ngược với giả thuyết vô nghĩa.
===Sai số===
Tác động từ giả thuyết hai loại sai số cơ bản được ghi nhận:
*Sai số loại I là giả thuyết rỗng bị bác bỏ là sai khi "bác bỏ phủ định".
*Sai số lại II là giả thuyết không rỗng được bác bỏ để loại bỏ và sự khác biệt trên thực tế giữa các quần thể được bỏ qua cho một "bác bỏ khẳng định"
Độ lệch chuẩn đề cập đến mức độ các quan sát cá nhân trong mẫu khác với một giá trị trung tâm, chẳng hạn như các mẫu hoặc ý nghĩa tổng thể, trong khi sai số chuẩn đề cập đến một ước tính của sự khác biệt giữa trung bình mẫu và ý nghĩa tổng thể.
Một lỗi thống kê là số lượng mà một quan sát khác với giá tị kỳ vọng của nó, giá trị thặng dư là số lượng một quan sát khác với giá trị ước lượng giả định giá trị dự kiến về một mẫu nhất định (còn gọi là dự đoán).
Sai số bình phương có nghĩa khi được sử dụng cho việc ước lượng hiệu quả thu thập dữ liệu, một lớp được sử dụng rộng rãi trong ước lượng. Sai số căn bậc hai đơn giản là căn bậc hai của sai số căn bậc hai có nghĩa.
Nhiều phương pháp thống kê nhằm giảm thiểu tổng giá trị thặng dư của bình phương, và chúng được gọi là "phương pháp bình phương nhỏ nhất" trái ngược với độ lệch chuẩn nhỏ nhất. Sau đó cung cấp cung cấp số lượng bằng với các lỗi nhỏ và lớn, trong khi trước đây chỉ ra rõ các sai số lớn hơn. Tổng giá trị thặng dư của giá trị bình phương có thể phân biệt được, nó cung cấp thuộc tính có ích để tính hàm hồi quy. Bình phương tối thiểu áp dụng hồi quy tuyến tính được gọi là bình phương nhỏ nhất thông thường và bình phương nhỏ nhất chấp nhận cho hàm hồi quy phi tuyến tính được gọi là bình phương tối thiểu phi tuyến tính. Cũng trong một mô hình hồi quy tuyến tính các phần không xác định của mô hình được gọi là sai số giới hạn, bị nhiễu hoặc có thể là dữ liệu thừa.
Tiến trình đo lường tạo ra số liệu thống kê cũng có thể có sai số. Nhiều trong số các sai số này được phân loại ngẫu nhiên (dữ liệu thừa) hoặc hệ thống (độ sai lệch), nhưng các loại sai số khác (ví dụ: sai lệch, chẳng hạn như khi một báo cáo phân tích của các đơn vị không chính xác) cũng quan trọng. Sự xuất hiện của dữ liệu bị mất và/ hoặc kiểm định, điều này có thể dẫn đến ước lượng sai lệch và từ đó đã phát triển một phương pháp cụ thể để giải quyết vấn đề này.<ref>Rubin, Donald B.; Little, Roderick J. A.,Statistical analysis with missing data, New York: Wiley 2002</ref>
===Ước lượng theo khoảng===
[[Tập tin:NYW-confidence-interval.svg|thumb|right|Khoảng tin cậy: dòng màu đỏ là giá trị thực cho giá trị trung bình trong ví dụ này, đường màu xanh là khoảng tin cậy ngẫu nhiên cho 100 giá trị.]]
Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra là một phần của một mẫu tổng thể, vì vậy kết quả không hoàn toàn đại diện cho toàn bộ tổng thể. Bất kỳ ước tính thu được từ mẫu chỉ gần đúng với giá trị tổng thể. Khoảng tin cậy cho phép các nhà thống kê thể hiện chặt chẽ các mẫu dự tính phù hợp với các giá giá trị thực trong toàn bộ tổng thể. Thông thường chúng được thể hiện ở khoảng tin cậy 95%. Chính thức khoảng tin cậy 95% cho một giá ở phạm vi rộng, nếu lấy mẫu và phân tích được lặp đi lặp lại trong cùng một điều kiện (cho ra bộ dữ liệu khác nhau), khoảng cách giữa hai giá trị sẽ bao gồm giá trị thật (tổng thể) đạt 95% giá trị trong tổng số các trường hợp có thể xảy ra. Điều này không có nghĩa là xác suất mà giá trị thực trong khoảng tin cậy là 95%. Từ những quan điểm, kết luận như vậy là không có nghĩa, như là giá trị thực không phải là một biến ngẫu nhiên. Hoặc là giá trị thực hoặc trong phải trong một khoảng tin cậy. Tuy nhiên, sự thật là trước khi bất kỳ dữ liệu nào được lấy mẫu và đưa ra kế hoạch làm thế nào để tạo ra khoảng tin cậy, xác suất là 95% cho khoảng tin cậy chưa được thống kê sẽ bao gồm các giá trị đúng: tại thời điểm này, giới hạn của khoảng tin cậy là các biến ngẫu nhiên chưa được quan sát. Một phương pháp mà không mang lại một khoảng tin cậy được hiểu là một xác suất nhất định có chứa các giá trị thực sử dụng trong một khoảng tin cậy từ thống kê Bayesian: phương pháp này phụ thuộc vào cách giải thích khác nhau thế nào là "xác suất", đó như là xác suất Bayesian.
Trong nguyên tắc chọn khoảng tin cậy có thể được đối xứng hoặc không đối xứng. Một khoảng tin cậy có thể không đối xứng vì nó hoạt động thấp hơn hoặc cao hơn các ràng buộc cho một tham số (khoảng tin cậy phía trái hoặc phải), nhưng nó cũng có thể là không đối xứng vì khoảng hai chiều được xây dựng đối xứng trong dự tính. Đôi khi các giới hạn cho một khoảng tin cậy đạt được tiệm cận và được sử dụng để ước tính giới hạn.
===Mức ý nghĩa===
[[Tập tin:P-value in statistical significance testing.svg|400px|thumb|right|Trong biểu đồ này dòng màu đen là phân phối xác suất cho các kiểm định thống kê, các miền quan trọng là tập hợp các giá trị bên phải của điểm dữ liệu được quan sát (giá trị quan sát của kiểm định thống kê) và giá trị p-value được đại diện bởi các khu vực màu xanh lá cây.]]
Thống kê hiếm khi chỉ trả lời các câu hỏi dưới dạng có/không dưới các phân tích. Sự giải thích thường đi xuống đến mức ý nghĩa thống kê áp dụng với số lượng và thường đề cập đến xác suất của một giá trị chính xác từ chối giả thuyết rỗng (có thể xem như là giá trị p-value).
Phân phối chuẩn<ref name=Piazza/> là để thử nghiệm một giả thuyết đối với một giả thuyết khác. Một miền quan trọng là để tập hợp các giá trị của các ước lượng dẫn đến bác bỏ giả thuyết rỗng. Do đó xác suất của sai số loại I là xác suất mà các ước lượng thuộc các khu vực quan trọng cho rằng giải thuyết đúng (có ý nghĩa thống kê) và xác suất sai số loại II là xác suất mà các ước lượng không thuộc miền quan trọng được đưa ra bằng giả thuyết thay thế là đúng. Các số lượng thống kê của một thử nghiệm là xác suất mà nó đúng bác bỏ giả thuyết rỗng khi giả thuyết là sai.
Đề cập đến mức ý nghĩa thống kê không nhất thiết là kết quả của tổng thể so với số hạng thực. Ví dụ, trong một nghiên cứu lớn về một loại thuốc có thể chỉ ra rằng thuốc có tác dụng mang lại lợi ích đáng kể về mặt thống kê nhưng rất nhỏ, như vậy loại thuốc này dường như không có khả năng tác dụng nhiều cho bệnh nhân.
Trong khi về nguyên tắc mức chấp nhận ý nghĩa được thống kê có phải xem xét vấn đề, các giá trị p-value là mức ý nghĩa nhỏ nhất cho phép thử nghiệm để bác bỏ giả thuyết. Kết quả tương đương nói rằng các giá trị p-value là xác suất, giả định giả thuyết là đúng, kết quả quan sát là cực kỳ thấp như kiểm định thống kê. Do đó giá trị p-value càng nhỏ, xác suất sai số loại I càng thấp.
Một vấn đề thường xảy ra với loại này:
* Một sự khác biệt đó là có ý nghĩa thống kê cao vẫn có thể không có ý nghĩa, nhưng nó có thể phát biểu đúng các kiểm định trong thống kê. Một câu trả lời trở thành giả thuyết chỉ có mức ý nghĩa bao gồm các giá trị p-value, tuy nhiên không biết được kích thước hay tầm quan trọng của kiểm định quan sát được và cũng có thể kết luận được tầm quan trọng của các khác biệt nhỏ trong các nghiên cứu lớn. Một cách tiếp cận tốt hơn và ngày càng phổ biến là để báo cáo khoảng tin cậy. Mặc dù chúng được đưa ra từ việc tính toán tương tự như những kiểm định giả thuyết hoặc giá trị p-value, mô tả kích thước của ảnh hưởng và những điều không chắc chắn.
* Độ sai lệch của thay đổi điều kiện, những ý kiến sai lầm của Aka: những lời phê bình chỉ ra các giá trị để kiểm định giả thuyết (giả thuyết vô nghĩa) được ưa chuộng, vì xác suất của kết quả của giả thuyết vô nghĩa đưa ra kết quả quan sát được. Một thay thế cho phương pháp này được đưa ra bởi suy luận Bayesian, mặc dù nó đòi hỏi việc một xác suất cho trước.<ref name="Ioannidis 2005 p.e124">{{chú thích tạp chí | last=Ioannidis | first=John P. A. | title=Why Most Published Research Findings Are False | journal=PLoS Medicine | publisher=Public Library of Science (PLoS) | volume=2 | issue=8 | date = ngày 30 tháng 8 năm 2005 | issn=1549-1676 | doi=10.1371/journal.pmed.0020124 | page=e124}}</ref>
* Bác bỏ giả thuyết không tự động chứng minh được giả thuyết thay thế.
* Như tất cả mọi thứ trong thống kê suy luận nó dựa vào kích thước mẫu, và do đó dưới miền giá trị p-value giá trị có thể không được tính.
===Các ví dụ===
Một số thử nghiệm và thống kê nổi tiếng là:
*Phân tích phương sai (ANOVA)
*Kiểm định chi bình phương
*Sự tương quan
*Phân tích nhân tố
*Mann-Whiteney
*Độ lệch chuẩn ý nghĩa bình phương
*Hệ số tương quan Pearson
*Phân tích hồi quy
*Thứ bậc hệ số tương quan của Spearman
*Kiểm định t-test
*Chuỗi thời gian
==Sử dụng thống kê sai ==
Sử dụng sai mục đích các số liệu thống kê có thể có những kết quả không lường được, những sai số nghiêm trọng trong mô tả và giải thích sai ý nghĩa ngay cả các chuyên gia có kinh nghiệm cũng có các lỗi như vậy, và nghiêm trọng là chúng có thể dẫn đến đưa ra quyết định sai. Ví dụ chính sách xã hội, nghề thuốc, và độ tin cậy của cấu trúc dựa trên các số liệu thống kê.
Ngay cả khi các kỹ thuật thống kê được áp dụng một cách chính xác, kết quả có thể khó để giải thích cho những người thiếu chuyên môn. Ý nghĩa thống kê của một phương pháp có thể được gây ra bởi sự thay đổi ngẫu nhiên trong mẫu, có thể hoặc không thể đồng ý với đánh giá trực quan của mức ý nghĩa. Tập hợp các kỹ năng thống kê cơ bản mà mọi người cần phải thỏa thuận với các thông tin trong cuộc sống hàng ngày như một kỹ năng trong lĩnh vực thống kê.
Có ý kiến cho rằng kiến thức thống kê được cho là bị lạm dụng một cách quá bình thường bằng cách tìm ra hướng để giải thích các dữ liệu có ích cho người trình bày.<ref name="Huff Geis 2010">{{chú thích sách | last=Huff | first=D. | last2=Geis | first2=I. | title=How to Lie with Statistics | publisher=W. W. Norton & Company | year=2010 | isbn=978-0-393-07087-3 | url=https://books.google.ca/books?id=5oSU5PepogEC | page= }}</ref> Một sự nghi ngờ và tìm hiểu sai về số liệu thống kê được kết hợp với các trích dẫn, "có ba loại của sự lừa dối: dối trá, rất dối trá và thống kê". Lạm dụng các số liệu thống kê có thể có được kể cả vô ý và có chủ ý, và cuốn sách làm thế nào để nói dối các nhà thống kê<ref name="Huff Geis 2010" /> đã chỉ ra một loạt các quyết định. Trong một nỗ lực để làm sáng tỏ việc sử dụng và lạm dụng các số liệu thống kê, đánh giá các kỹ thuật thống kê được sử dụng trong các lĩnh vực cụ thể được thực hiện (ví dụ: Warne, Lazo, Ramos, and Ritter).<ref name="Warne Lazo Ramos Ritter pp. 134–149">{{chú thích tạp chí | last=Warne | first=Russell T. | last2=Lazo | first2=Maria | last3=Ramos | first3=Tammy | last4=Ritter | first4=Nicola | title=Statistical Methods Used in Gifted Education Journals, 2006-2010 | journal=Gifted Child Quarterly | publisher=SAGE Publications | volume=56 | issue=3 | date = ngày 6 tháng 6 năm 2012 | issn=0016-9862 | doi=10.1177/0016986212444122 | pages=134–149}}</ref>
Cách để tránh số liệu thống kê bao gồm sử dụng sơ đồ thích hợp và ngăn ngừa sai số.<ref name="Statistics in Archaeology">{{chú thích sách | chapter = Statistics in archaeology | pages = [https://archive.org/details/encyclopediaarch00pear/page/2093 2093]–2100 | first1 = Robert D. | last1 = Drennan | title = Encyclopedia of Archaeology | url = https://archive.org/details/encyclopediaarch00pear | year = 2008 | publisher = Elsevier Inc. | editor-first = Deborah M. | editor-last = Pearsall | isbn = 978-0-12-373962-9 }}</ref> Sử dụng sai số có thể xảy ra khi kết luận là sai số quá lớn và yêu cầu có tính đại diện hơn so với giá trị thật, thường là cố ý hay vô ý không nhận thấy ra sai số mẫu.<ref name="Misuse of Statistics">{{chú thích tạp chí |last=Cohen |first=Jerome B. |title=Misuse of Statistics |url=https://archive.org/details/sim_journal-of-the-american-statistical-association_1938-12_33_204/page/657 |journal=Journal of the American Statistical Association |date=December 1938 |volume=33 |issue=204 |pages=657–674 |location=JSTOR |doi=10.1080/01621459.1938.10502344}}</ref> Đồ thị dạng cột được cho là biểu đồ đơn giản nhất để sử dụng và hiểu, các biểu đồ này có thể vẽ bằng tay hoặc bằng các chương trình máy tính đơn giản<ref name="Statistics in Archaeology"/>. Nhưng hầu hết mọi người đều không nhìn ra giá trị sai lệch hay sai số, vì vậy những lỗi sai này không được sửa chữa. Nên mọi người thường tin vào kết quả ngay cả khi nó không phải là kết quả tốt.<ref name="Misuse of Statistics"/> Để làm cho dữ liệu thu thập được từ các số liệu thống kê đáng tin cậy và chính xác, mẫu được chọn phải có tính tổng thể.<ref name="Modern Elementary Statistics">{{chú thích tạp chí|last=Freund|first=J. F.|title=Modern Elementary Statistics|journal=Credo Reference|year=1988}}</ref> Theo Huff, "độ tin cậy của một mẫu có thể bị phá hủy giá trị sai lệch, cho phép một số mức độ hoài nghi".<ref>Trích: "''The dependability of a sample can be destroyed by [bias]... allow yourself some degree of skepticism.''" {{harvnb|Huff|Geis|2010|p=21}}.</ref>
Để hỗ trợ cho sự hiểu biết của các số liệu thống kê, Huff đã đề xuất một loạt các câu hỏi được hỏi trong mỗi trường hợp:<ref name="Huff Geis 2010" />
*Ai nói vậy?
*Làm thế nào để anh/chị biết?
*Những gì còn thiếu?
*Có ai thay đổi nội dung?
*Nó có ý nghĩa không?
===Hiểu sai mối tương quan===
[[Tập tin:Simple Confounding Case.svg|200px|thumbnail|right| Vấn đề [[biến gây nhiễu]]: '' X '' và '' Y '' có thể tương quan với nhau, không phải vì có mối quan hệ nhân quả giữa chúng, mà bởi vì cả hai đều phụ thuộc vào biến thứ ba '' Z ''. '' Z '' được gọi là hệ số gây nhiễu.]]
Các khái niệm về mối tương quan đặc biệt đáng chú ý cho những rắc rối tiềm ẩn có thể xảy ra. Phân tích thống kê của một tập dữ liệu thường cho thấy rằng hai biến (thuộc tính) của tổng thể được xem xét dưới nhiều trường hợp khác nhau, như chúng có mối quan hệ. Ví vụ, một nghiên cứu về thu nhập hàng năm mà dựa vào độ tuổi có thể cho thấy rằng người nghèo có xu hướng có cuộc sống ngắn hơn so với người giàu. Hai biến được cho là có quan hệ, tuy nhiên, nó có thể có hoặc không với biến khác. Các hiện tượng tương quan có thể được giải thích bởi một hiện tượng trước đây không được xem xét đến như một yếu tố thứ ba, gọi là biến nhiễu hoặc biến bác bỏ. Vì lý do này, không còn cách nào để lập tức suy ra sự tồn tại của một quan hệ nhân quả giữa hai biến. (xem tương quan nào không đưa đến kết quả).
==Lịch sử của khoa học thống kê==
[[Tập tin:Blaise Pascal Versailles.JPG|thumb|right|230px|[[Blaise Pascal]], một nhà tiên phong về các môn toán xác suất.]]
Phương pháp thống kê đã tồn tại ít nhất là thế kỷ thứ 5 trước công nguyên.
Một số học giả xác định được nguồn gốc của số liệu thống kê đến năm 1663, với các ấn phẩm của tự nhiên và quan sát chính trị Bills do John Graunt. Ứng dụng đầu tiên của thống kê xoay quanh nhu cầu chính sách các quốc gia trên cơ sở dữ liệu nhân khẩu học và kinh tế, do đó hình thành ngành nghiên cứu nguồn gốc thống kê. Phạm vi của các môn học thống kê mở rộng trong những năm đầu thế kỷ 19 bao gồm việc thu thập và phân tích dữ liệu nhưng không chuyên sâu. Ngày nay, thống kê được sử dụng rộng rãi hơn trong chính phủ, kinh doanh, khoa học tự nhiên và xã hội.
Cơ sở hình thành toán học đã được đưa ra vào thế kỷ 17 với sự phát triển lý thuyết xác suất của Blaise Pascal và Pierre de Fermat. Lý thuyết xác suất toán xuất phát từ việc nghiên cứu trò chơi may rủi, mặc dù khái niệm xác suất đã được nghiên cứu trong thời trung cổ và luật của các triết gia như Juan Caramuel.<ref>J. Franklin, The Science of Conjecture: Evidence and Probability before Pascal,Johns Hopkins Univ Pr 2002</ref> Các phương pháp bình phương nhỏ nhất đã được mô tả đầu tiên bởi Adrien-Mrie Legendre vào năm 1805.
[[Tập tin:Karl Pearson, 1910.jpg|thumb|right|230px|[[Karl Pearson]], người sáng lập thống kê toán học.]]
Các lĩnh vực hiện đại của số liệu thống kê xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 trong 3 giai đoạn.<ref>{{chú thích sách|url=http://books.google.co.uk/books?id=jYFRAAAAMAAJ|title=Studies in the history of statistical method|author=Helen Mary Walker|year=1975|publisher=Arno Press}}</ref> Giai đoạn đầu tiên, vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, được dẫn dắt bởi các công việc của Sir Francis Galton và Karl Pearson, đã trở thành một hệ thống thống kê toán học sử dụng trong phân tích, không chỉ trong các nghiên cứu khoa học, mà còn sử dụng trong các ngành công nghiệp và chính trị. Sự đóng góp của Galton trong lĩnh vực này bao gồm giới thiệu các khái niệm về độ lệch chuẩn, tương quan, hồi quy và các ứng dụng của các phương pháp này để nghiên cứu về đặc điểm của con người, [[chiều cao]], cân nặng, chiều dài của lông mi và các đặc điểm khác.<ref name=Galton1877>Galton F (1877) Typical laws of heredity. Nature 15: 492–553</ref> Pearson phát triền các hệ số tương quan, được định nghĩa như là tích số quan trọng<ref>{{chú thích tạp chí | doi = 10.1214/ss/1177012580 | last1 = Stigler | first1 = S. M. | year = 1989 | title = Francis Galton's Account of the Invention of Correlation | url =https://archive.org/details/sim_statistical-science_1989-05_4_2/page/73| journal = Statistical Science | volume = 4 | issue = 2| pages = 73–79 }}</ref>. Phương pháp của hiện tại cho việc điều chỉnh phân phối màu và hệ thống các đường cong liên tục, trong số những mẫu khác<ref name="Pearson, On the criterion">{{chú thích tạp chí|last1=Pearson|first1=K.|year=1900|title=On the Criterion that a given System of Deviations from the Probable in the Case of a Correlated System of Variables is such that it can be reasonably supposed to have arisen from Random Sampling|url=|journal=Philosophical Magazine Series 5|volume=50|issue=302|pages=157–175|doi=10.1080/14786440009463897}}</ref>. Galton và Pearson thành lập Biometrika là cuốn sách đầu tiên của thống kê toán và sinh học, thành lập ban thống kê đầu tiên tại trường đại học London.<ref>{{chú thích web|year=|title=Karl Pearson (1857–1936)|publisher=Department of Statistical Science – [[University College London]]|url=http://www.ucl.ac.uk/stats/department/pearson.html|ngày truy cập=2015-02-06|archive-date=2008-09-25|archive-url=https://web.archive.org/web/20080925065418/http://www.ucl.ac.uk/stats/department/pearson.html|url-status=dead}}</ref>
Giai đoạn thứ hai của những năm 1910 và 1920 đã được khởi xướng bởi William Gosset, và đỉnh cao trong tri thức của Sir Ronald Fisher, người đã viết cuốn sách để xác định các ngành học trong các trường đại học trên toàn thế giới. Ấn phẩm quan trọng nhất của Fissher là 1916 trang, các tương quan giữa mối liên hệ với giả thuyết, kế thừa của Mendelian và 1925 cách sử dụng phương pháp thống kê cho những nhà nghiên cứu. Bài viết của ông là người đầu tiên sử dụng các thuật ngữ thống kê, phương sai. Ông đã phát triển mô hình thử nghiệm nghiêm ngặt và cũng hệ thống đầy đủ dữ liệu, thống kê phụ thuộc, phân biệt tuyến tính của Fisher và thông tin Fisher.<ref>{{chú thích tạp chí|last=Agresti|first=Alan|author2=David B. Hichcock |year=2005|title=Bayesian Inference for Categorical Data Analysis|journal=Statistical Methods & Applications|issue=14|page=298|url=http://www.stat.ufl.edu/~aa/articles/agresti_hitchcock_2005.pdf|doi=10.1007/s10260-005-0121-y|volume=14}}</ref>
Giai đoạn cuối cùng, trong đó chủ yếu là nhận thấy sự tinh tế và mở rộng phát triển trước đó, nổi lên từ sự hợp tác giữa Egon Pearson và Jerzy Neyman trong năm 1930. Họ giới thiệu các khái niệm về sai số "loại II", sức mạnh của một thử nghiệm và khoảng thời gian tin cậy. Năm 1934, Jerzy Neyman cho thấy việc chọn mẫu ngẫu nhiên phân lớp là một phương pháp tốt hơn của ước lượng so với chọn mẫu có mục đích.<ref>Neyman, J (1934) On the two different aspects of the representative method: The method of stratified sampling and the method of purposive selection. ''[[Journal of the Royal Statistical Society]]'' 97 (4) 557–625 {{jstor|2342192}}</ref>
Ngày nay phương pháp thống kê được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực có liên quan đến việc ra quyết định, để cho các kết luận chính xác từ một bộ phận so với các dữ liệu và đưa ra quyết định khi đối mặt với kết luận không chắc chắn dựa trên phương pháp thống kê. Việc sử dụng máy tính hiện đại đã tính toán nhanh các tính toán thống kê quy mô lớn, và cũng đã có những phương pháp mới có thể không chính xác bằng việc tính bằng tay. Thống kê tiếp tục là một lĩnh vực nghiên cứu thiết thực, ví dụ như vấn đề làm sao để phân tích dữ liệu lớn.<ref>{{chú thích web | url = http://www.santafe.edu/news/item/sfnm-wood-big-data/ | tiêu đề = Science in a Complex World - Big Data: Opportunity or Threat? | author = | ngày = | ngày truy cập = 9 tháng 2 năm 2015 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref>
==Ứng dụng==
===Ứng dụng thống kê, lý thuyết thống kê và toán thống kê===
"Thống kê ứng dụng" bao gồm thống kê mô tả và các ứng dụng của thống kê suy luận (bằng chứng cần thiết)<ref>Anderson, D.R.; Sweeney, D.J.; Williams, T.A.. (1994) ''Introduction to Statistics: Concepts and Applications'', pp. 5–9. West Group. ISBN 978-0-314-03309-3</ref>. Lý thuyết thống kê liên quan tới những lập luận logic cơ bản giải thích của phương pháp tiếp cận kết luận thống kê, cũng bao gồm toán thống kê. Toán thống kê không chỉ bao gồm các thao tác của phân phối xác suất cần thiết cho kết quả phát sinh liên quan đến các phương pháp tính toán và suy luận, nhưng còn khía cạnh khác nhau của các số liệu thống kê tính toán và thiết kế các thử nghiệm.
===Học qua máy và khai thác dữ liệu===
Có hai ứng dụng cho học qua máy móc và khai thác dữ liệu: quản lý dữ liệu và phân tích dữ liệu. Các công cụ thống kê cần thiết cho việc phân tích dữ liệu.
===Thống kê trong xã hội học===
Thống kê được áp dụng cho một loạt các môn học, bao gồm cả khoa học tự nhiên và xã hội, chính trị và kinh doanh. Thống kê tư vấn có thể giúp các tổ chức và công ty không có chuyên môn trả lời những thắc mắc.
===Tính toán thống kê===
[[Tập tin:Gretl screenshot.png|thumb|300px|[[gretl]], một ví dụ của những phần mềm thống kê mở]]
Sự tăng nhanh và ổn định ở khả năng tính toán bắt đầu từ nửa sau thế kỷ 20 đã có một tác động đáng kể vào việc thực hành của môn khoa học thống kê. Mô hình thống kê lúc đầu gần như là của một lớp mô hình tuyến tính, nhưng khả năng tính toán, cùng với các thuật toán số học phù hợp, gây ra một lãi suất tăng trong các mô hình phi tuyến (như mạng thần kinh) cũng như tạo ra các kiểu mới, chẳng hạn như mô hình tuyến tính tổng quát và mô hình đa cấp.
Khả năng tính toán tăng cũng dẫn đến sự phổ biến ngày càng tăng của các phương pháp tính toán dựa trên chọn mẫu, chẳng hạn như xem xét hoán vị và khả năng tự hoán vị, trong khi các kỹ thuật như Gibbs lấy mẫu đã sử dụng mô hình Bayesian khả thi hơn. Các cuộc cách mạng máy tính có ảnh hưởng đến tương lai của số liệu thống kê với sự nhấn mạnh mới về "thử nghiệm" và thống kê "thực nghiệm". Một số lượng lớn của tổng thể và đặc biệt là phần mềm thống kê taị thời điểm hiện tại.
===Thống kê áp dụng cho toán học hay nghệ thuật===
Theo truyền thống, thống kê có liên quan tới sự suy luận bản vẽ qua việc sử dụng một phương pháp bán tiêu chuẩn đã được "yêu cầu thử nghiệm" trong hầu hết các ngành khoa học. Điều này đã thay đổi việc sử dụng số liệu thống kê trong các bối cảnh không có kết luận. Những gì đã được coi là một chủ đề vô vị, thực hiện trong nhiều lĩnh vực như một mức yêu cầu, bây giờ được xem một cách nhiệt tình. Ban đầu một số người khó tính đã cười nhạo, nhưng hiện nay lại được coi là phương pháp cần thiết trong mọi lĩnh vực.
* Lý thuyết số tự nhiên n, biểu đồ phân rã của dữ liệu được tạo ra bởi một hàm phân phối có thể được chuyển đổi với các công cụ quen thuộc được sử dụng trong thống kê để cho thấy những điều cơ bản, mà sau đó có thể dẫn đến các giả thuyết.
* Phương pháp thống kê bao gồm các phương pháp dự báo được kết hợp với lý thuyết hỗn hợp và hình học nhân bản để tạo ra các tác phẩm video được đánh giá có vẻ đẹp tuyệt vời.
* Các quá trình nghệ thuật của Jackson Pollock dựa trên thí nghiệm nghệ thuật phân bố cơ bản trong tự nhiên được tiết lộ. Với sự ra đời của máy tính, các phương pháp thống kê được áp dụng để hợp thức hóa với các quá trình tự nhiên phân phối theo định hướng như vậy để thực hiện và phân tích nghệ thuật hình ảnh động.
* Phương pháp thống kê có thể được sử dụng để xác nhận trong nghệ thuật trình diễn, như trong một thẻ giả dựa trên quá trình Markov và chỉ hoạt động một thời gian nhất định, qua đó có thể dự đoán được việc sử dụng phương pháp thống kê.
* Thống kê có thể được sử dụng trong việc tạo hình nghệ thuật, như trong âm nhạc hay thống kê ngẫu nhiên phát minh bởi Lannis Xenakis, nơi âm nhạc biểu diễn rõ ràng. Mặc dù kiểu nghệ thuật không phải lúc nào cũng như mong đợi, nó diễn ra theo cách đó là được đoán trước và có hòa âm được bằng cách sử dụng thống kê.
===Lĩnh vực chuyên môn===
Các kỹ thuật thống kê được sử dụng trong một loạt các nghiên cứu khoa học và xã hội, bao gồm: ngành sinh học, tính toán sinh học, tính toán xã hội học, hệ thống sinh học, khoa học xã hội và nghiên cứu xã hội. Một số lĩnh vực sử dụng điều tra thống kê được áp dụng rộng rãi rằng họ có chuyên môn. Những ngành này bao gồm:
* Khoa học tính toán bảo hiểm (đánh giá rủi ro trong các ngành công nghiệp bảo hiểm và tài chính)
* ứng dụng thông tin kinh tế
* thiên văn học (đánh giá thống kê của dữ liệu thiên văn)
* sinh học
* thống kê kinh doanh
* hóa học (phân tích dữ liệu hóa học)
* khai thác dữ liệu (áp dụng thống kê và nhận dạng mẫu để khám phá tri thức từ dữ liệu)
* dân số học
* kinh tế học (phân tích thống kê các số liệu kinh tế)
* thống kê năng lượng
* thống kê kỹ thuật
* khoa học nghiên cứu bệnh dịch (phân tích thống kê của bệnh)
* địa lý và hệ thống thông tin địa lý, đặc biệt trong phân tích không gian
* xử lý hình ảnh
* thống kê y tế
* thống kê về hành vi, tâm lý
* độ bền cơ khí
* thống kê xã hội
Ngoài ra còn có các loại cụ thể của phân tích thống kê cũng đã phát triển các thuật ngữ chuyên ngành thống kê các phương pháp thống kê:
* thống kê đa biến
* phân lớp thống kê
* phân tích dữ liệu có cấu trúc (thống kê)
* mô hình phương trình cấu trúc
* phương pháp điều tra
* phân tích sự tồn tại
* thống kê trong các môn thể thao khác nhau, đặc biệt là bóng chày và bóng bầu dục.
Thống kê là một công cụ quan trọng trong cơ sở sản xuất kinh doanh. Nó được sử dụng để hiểu hệ thống đo lường biến động, kiểm soát quá trình (như trong kiểm soát quá trình thống kê hoặc thông qua hệ thống), cho dữ liệu tóm tắt, và đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu. Nó đóng vai là một công cụ quan trọng, và là công cụ duy nhất đáng tin cậy.
==Tham khảo==
{{tham khảo|30em}}
== Liên kết ngoài ==
{{thể loại Commons|Statistics}}
* [http://unstats.un.org/unsd/methods/inter-natlinks/sd_natstat.htm Trang chủ của cơ quan thống kê các nước]
* [http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=393&idmid=3&ItemID=3481 Trang chủ của Tổng cục Thống kê Việt Nam]
{{Toán học}}
[[Thể loại:Thống kê| ]]
[[Thể loại:Khoa học Toán học]]
[[Thể loại:Khoa học bổ trợ của lịch sử]]
[[Thể loại:Khoa học hình thức]]
[[Thể loại:Phương pháp đánh giá]]
[[Thể loại:Phương pháp khoa học]]
[[Thể loại:Phương pháp nghiên cứu]]
[[Thể loại:Thông tin]]
[[Thể loại:Dữ liệu]]
[[Thể loại:Bài cơ bản dài]] | 63234 |
1401 | Chiến tranh thời cổ đại | 0 | null | null | 37433098 | 30682717 | 2018-03-01T11:01:20 | true | null | wikitext | text/x-wiki | bm8njc7v9rdiwyno9rg3a095m6h7hwv | {
"username": "Iulamgiha",
"id": "421136",
"ip": null
} | '''Chiến tranh thời cổ đại''' là [[chiến tranh]] xuất hiện từ thuở ban đầu của [[lịch sử]] cho đến cuối thời cổ đại. Thông thường ở [[Châu Âu]] coi như thời cổ đại kết thúc với sự sụp đổ của [[đế quốc La Mã|đế chế La Mã]] vào năm [[476]]. Ở [[Trung Quốc]], được coi là kết thúc vào [[thế kỷ 5]] khi [[kỵ binh]] trở nên quan trọng hơn trong các cuộc chiến chống lại sự xâm lấn từ phía bắc.
==Tham khảo==
{{tham khảo}}
{{sơ khai lịch sử quân sự}}
[[Thể loại:Chiến tranh cổ đại|*]] | 632 |
1402 | Thành viên:Bgbot | 2 | null | null | 1649537 | 170532 | 2008-12-07T18:45:56 | true | robot Thêm: af, als, an, ar, ast, ay, az, bi, bn, br, bs, ca, chr, co, cs, csb, cy, da, de, el, en, eo, es, et, eu, fa, fi, fo, fr, fy, ga, gd, gl, gn, gu, gv, he, hi, hr, hu, ia, id, ie, io, is, it, ja, jbo, jv, ka, km, kn, ko, ks, ku, ky, la, lb, | wikitext | text/x-wiki | nd05dnbemte3mv6ef0h3r3zun7kv1ze | {
"username": "ArthurBot",
"id": "94935",
"ip": null
} | {{Tóm tắt về robot Wikipedia |
Tên = Bgbot |
Người chủ = [[Thành viên:Borislav|Borislav Manolov]] |
Bắt đầu = [[15 tháng 10]], [[2004]] |
Tổng số sửa đổi = 2 |
Cập nhật tổng số sửa đổi = 09:39, ngày 19 tháng 3 năm 2006 (UTC) |
Cờ robot = Chưa có
}}
'''Bgbot''' is a bot which is primarily active on [[:bg:|Bulgarian Wikipedia]]. Its main task on other wikipedias consists of making of bg: interwikis.
The bot was developed by [[:bg:Потребител:Borislav|User:Borislav]], so any possible complaints about it should be [[:bg:Потребител беседа:Borislav|directed]] to him :-).
[[af:Gebruiker:Bgbot]]
[[als:Benutzer:Bgbot]]
[[ar:مستخدم:Bgbot]]
[[an:Usuario:Bgbot]]
[[roa-rup:User:Bgbot]]
[[ast:Usuariu:Bgbot]]
[[gn:Puruhára:Bgbot]]
[[ay:Usuario:Bgbot]]
[[az:İstifadəçi:Bgbot]]
[[id:Pengguna:Bgbot]]
[[ms:Pengguna:Bgbot]]
[[bn:ব্যবহারকারী:Bgbot]]
[[zh-min-nan:User:Bgbot]]
[[jv:Panganggo:Bgbot]]
[[su:Pamaké:Bgbot]]
[[bi:User:Bgbot]]
[[bs:Korisnik:Bgbot]]
[[br:Implijer:Bgbot]]
[[bg:Потребител:Bgbot]]
[[ca:Usuari:Bgbot]]
[[cs:Wikipedista:Bgbot]]
[[co:User:Bgbot]]
[[cy:Defnyddiwr:Bgbot]]
[[da:Bruger:Bgbot]]
[[de:Benutzer:Bgbot]]
[[et:Kasutaja:Bgbot]]
[[na:User:Bgbot]]
[[el:Χρήστης:Bgbot]]
[[en:User:Bgbot]]
[[es:Usuario:Bgbot]]
[[eo:Vikipediisto:Bgbot]]
[[eu:Lankide:Bgbot]]
[[fa:کاربر:Bgbot]]
[[fo:Brúkari:Bgbot]]
[[fr:Utilisateur:Bgbot]]
[[fy:Meidogger:Bgbot]]
[[ga:Úsáideoir:Bgbot]]
[[gv:User:Bgbot]]
[[gd:User:Bgbot]]
[[gl:Usuario:Bgbot]]
[[gu:User:Bgbot]]
[[ko:사용자:Bgbot]]
[[hi:सदस्य:Bgbot]]
[[hr:Suradnik:Bgbot]]
[[io:Uzanto:Bgbot]]
[[ia:Usator:Bgbot]]
[[ie:User:Bgbot]]
[[xh:User:Bgbot]]
[[is:Notandi:Bgbot]]
[[it:Utente:Bgbot]]
[[he:משתמש:Bgbot]]
[[kn:ಸದಸ್ಯ:Bgbot]]
[[ka:მომხმარებელი:Bgbot]]
[[ks:User:Bgbot]]
[[csb:Brëkòwnik:Bgbot]]
[[ky:User:Bgbot]]
[[sw:User:Bgbot]]
[[ku:Bikarhêner:Bgbot]]
[[la:Usor:Bgbot]]
[[lv:Lietotājs:Bgbot]]
[[lb:Benotzer:Bgbot]]
[[lt:Naudotojas:Bgbot]]
[[jbo:User:Bgbot]]
[[hu:Szerkesztő:Bgbot]]
[[mk:Корисник:Bgbot]]
[[mg:Utilisateur:Bgbot]]
[[ml:ഉപയോക്താവ്:Bgbot]]
[[mt:User:Bgbot]]
[[mi:User:Bgbot]]
[[mr:सदस्य:Bgbot]]
[[mn:User:Bgbot]]
[[nah:Tlatequitiltilīlli:Bgbot]]
[[nl:Gebruiker:Bgbot]]
[[ja:利用者:Bgbot]]
[[no:Bruker:Bgbot]]
[[nn:Brukar:Bgbot]]
[[oc:Utilizaire:Bgbot]]
[[om:User:Bgbot]]
[[pa:ਮੈਂਬਰ:Bgbot]]
[[km:អ្នកប្រើប្រាស់:Bgbot]]
[[nds:Bruker:Bgbot]]
[[pl:Wikipedysta:Bgbot]]
[[pt:Usuário:Bgbot]]
[[ro:Utilizator:Bgbot]]
[[ru:Участник:Bgbot]]
[[sa:योजकः:Bgbot]]
[[sc:Utente:Bgbot]]
[[st:User:Bgbot]]
[[sq:Përdoruesi:Bgbot]]
[[simple:User:Bgbot]]
[[sk:Redaktor:Bgbot]]
[[sl:Uporabnik:Bgbot]]
[[sr:Корисник:Bgbot]]
[[sh:User:Bgbot]]
[[fi:Käyttäjä:Bgbot]]
[[sv:Användare:Bgbot]]
[[tl:Tagagamit:Bgbot]]
[[ta:பயனர்:Bgbot]]
[[tt:Äğzä:Bgbot]]
[[th:ผู้ใช้:Bgbot]]
[[tg:Корбар:Bgbot]]
[[tpi:User:Bgbot]]
[[chr:User:Bgbot]]
[[tr:Kullanıcı:Bgbot]]
[[uk:Користувач:Bgbot]]
[[ur:صارف:Bgbot]]
[[vo:Geban:Bgbot]]
[[wa:Uzeu:Bgbot]]
[[yi:באַניצער:Bgbot]]
[[yo:User:Bgbot]]
[[zh:User:Bgbot]] | 3383 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.