title
stringlengths
1
250
url
stringlengths
37
44
text
stringlengths
1
4.81k
Người Châu Mạ
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10761
Người Châu Mạ hay người Mạ (có tên gọi khác Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn) là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, cư trú chủ yếu tại nam Trung phần . Người Mạ nói "tiếng Mạ" thuộc ngữ chi Bahnar của ngữ tộc Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á. Dân số và địa bàn cư trú. Theo điều tra dân số năm 1999, người Mạ có khoảng...
Người Châu Mạ
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10761
Lãnh thổ người Mạ đã từng ổn định trong lịch sử, khiến cho một số tài liệu xưa gọi nó là tiểu vương quốc Mạ hoặc xứ Mạ. Hôn nhân gia đình. Nhà trai chủ động trong hôn nhân, nhưng sau lễ cưới chú rể phải sang ở nhà vợ, đến khi nộp đủ đồ sính lễ cho nhà gái mới được đưa vợ về ở hẳn nhà mình. Văn hóa. Kho tàng văn học dân...
Người Châu Mạ
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10761
Giáp vách tiền là một sạp nhỏ và thấp (khoảng 70–80 cm) trên để bát, đĩa, vỏ bầu khô và các thứ lặt vặt khác. Nhà người Cờ Ho hoặc Chil về hình thức thì nhà của họ cũng giống nhà người Mạ. Cái khác ở cách bố trí trong nhà là giáp vách tiền, cái sạp ở nhà người Mạ thì người Cơ ho còn kết hợp làm chuồng hà. Trang phục. C...
Người Châu Mạ
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10761
Phụ nữ còn mang vòng chân đồng nhiều vòng xoắn.
Người M'Nông
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10762
Người M'Nông theo cách gọi của Việt Nam và họ tự gọi dân tộc của họ là Bu-Nông. Theo phiên âm tiếng Khmer là Phnong Đơm nghĩa là Khmer cổ thời Phù Nam. Dân tộc M'nông (Bu-Nông) là tập hợp các nhóm người địa phương bao gồm: Bu-Đâng, Preh, Gar, Nông, Prâng, RLăm, Kuêñ, Čil Bu Nor, nhóm Bu-Nông Bu-Đâng, là sắc tộc cư trú ...
Người M'Nông
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10762
Người Bu-Nông ở Bản Đôn có nghề săn voi và thuần dưỡng voi nổi tiếng. Nghề thủ công của người M'Nông có dệt vải sợi bông do phụ nữ đảm nhiệm và đan lát các dụng cụ như gùi, giỏ, mùng... do đàn ông làm. Tổ chức cộng đồng. Mỗi làng thường có vài chục nóc nhà, ông trưởng làng đóng vai trò to lớn trong dân làng. Mọi người ...
Người M'Nông
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10762
Trong vốn từ vựng M'nông bộc lộ rõ sự ảnh hưởng của tiếng Chăm, qua ngôn ngữ Ê Đê và Gia Rai, là những ngôn ngữ thuộc nhóm Malay-Polynesia, bên cạnh sự ảnh hưởng sâu đậm hơn của nhóm Môn-Khmer... Trong quá trình lịch sử phát triển tộc người của mình, do địa bàn cư trú phân tán trên một vùng rừng núi hiểm trở, việc giao...
Người M'Nông
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10762
Voi rừng săn được, đem về thuần dưỡng biến thành vật nuôi trong gia đình và được dùng làm phương tiện vận chuyển đường rừng rất hữu hiệu. Xưa kia, người M'nông còn dùng voi làm chiến tượng trong chiến tranh bộ lạc... Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm như: trâu, bò, dê, lợn, gà, vịt ở người Bu-Nông Gar, Bu-Nông Čil chủ yế...
Người M'Nông
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10762
Người Bu-Nông thích mang nhiều đồ trang sức như: vòng cổ, vòng tay, vòng chân, hoa tai, nhẫn bằng đồng hay bằng bạc... Riêng nữ giới còn thích quàng lên cổ những chuỗi hạt cườm ngũ sắc Những chiếc vòng đồng là cái mà hầu như người Bu-Nông nào cũng có. Đó là kỷ vật của các lễ hiến sinh, hay lễ kết nghĩa anh em, bạn bè. ...
Người Ơ Đu
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10763
Người Ơ Đu, còn có tên gọi khác là người Tày Hạt, là một dân tộc ít người có vùng cư trú là huyện Tương Dương phía tây tỉnh Nghệ An, và Trung Lào. Từ "Ơ Đu" là tên tự gọi của dân tộc, và theo tiếng Thái nghĩa là "thương lắm". Họ là một trong những dân tộc ít người nhất của Việt Nam và Lào. Tại Việt Nam "người Ơ Đu" đượ...
Người Ơ Đu
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10763
Nhưng hiện nay người Ơ Đu chỉ còn giữ được ý thức tự giác về tộc người, còn ngôn ngữ thì hầu như đã mất (chỉ còn một vài người biết tiếng mẹ đẻ). Họ sử dụng thông thạo tiếng Thái và tiếng Khơ Mú hoặc biết thêm tiếng Việt. Bản sắc văn hóa của người Ơ Đu mờ nhạt vì chịu ảnh hưởng của người Thái và người Khơ Mú. Trong lần...
Người Ơ Đu
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10763
Một ngôi nhà thường có 4 đến 8 cột, tương ứng với 1 hay 3 gian tùy điều kiện từng gia đình. Khi dựng, bao giờ người Ơ Đu cũng dựng cột chính (gọi là cột góc ma nhà ở) trước, sau đó mới đến các cột khác theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.
Người Rơ Măm
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10764
Người Rơ Măm là một dân tộc ít người ở Việt Nam. Tộc người này cư trú chính tại làng Le, xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Người Rơ Măm là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam . Ngôn ngữ. Tiếng Rơ Măm thuộc ngữ chi Bahnaric của ngữ tộc Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á. Dân số và địa bàn cư trú. Dân số Rơ Măm tại Việt Nam ...
Người Rơ Măm
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10764
Nhà cửa. Nhà ở đều có hành lang chính giữa, chạy suốt chiều dài sàn, ở trung tâm nhà có một gian rộng là nơi tiếp khách và diễn ra các sinh hoạt văn hóa nói chung của các gia đình. Trang phục. Có phong cách riêng trong tạo dáng và trang trí trang phục, đặc biệt là trang phục nữ. Người Rơ Măm có tục "cà răng, căng tai"....
Người Rơ Măm
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10764
Trứng kiến vàng màu trắng đục, to bằng hạt gạo, có mùi thơm nhẹ. Cách làm cá gỏi kiến vàng khá đơn giản: Cá suối bắt loại vừa phải, bằng ba ngón tay, đem về làm sạch, băm nhuyễn, vắt cho cạn nước để đỡ mùi tanh. Kiến vàng và trứng giã sơ qua, để ngoài nắng một lúc cho se lại. Lấy muối hột, ớt xanh, tiêu rừng trộn chung...
Người Tà Ôi
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10765
Người Tà Ôi, gồm có 3 nhóm địa phương còn gọi là "kan tua, Pa Cô, Ba Hi hay Pa Hi", là một dân tộc cư trú ở miền trung Việt Nam và nam Lào. Tại Việt Nam người Tà Ôi là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam . Theo Điều tra dân số Việt Nam năm 2019 có 52.356 người , thuộc nhóm Tà Ôi Thượng (Upper Ta Oi) theo Joshu...
Người Tà Ôi
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10765
Người Tà Ôi trước đây làm rẫy là chính, gần đây ở một số nơi họ làm ruộng nước, có vườn cây ăn quả, đào ao thả cá. Hôn nhân gia đình. Thanh niên nam nữ Tà Ôi tự do tìm hiểu nhau qua tục đi "sim" tình tự nơi chòi rẫy. Họ trao vật làm tin cho nhau, rồi nhà trai nhờ người mai mối. Sau lễ cưới, cô dâu trở thành người nhà c...
Người Tà Ôi
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10765
Trang phục. Cá tính tộc người không rõ nét, nổi bật mà có sự giao thoa của nhiều yếu tố văn hóa khác trên trang phục. Đồ trang sức bằng đồng, bạc, hạt cườm, xương là phổ biến. Tục cà răng, căng tai, xăm mình, để tóc lá bài trước trán đã phai nhạt đi. Nhà dài. Sau năm 1975 nhà nước Việt Nam có chủ trương xóa bỏ nhà dài,...
Người Tà Ôi
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10765
Trong phòng khách còn có cây cột to (âr rông mông), nơi để chum rượu lớn buộc vào đó cho chắc chắn. Tất cả của cải như chum, trống, thanh la, v.v. đều để ở gian khách, không bao giờ xảy ra trường hợp mất hay cầm nhầm. Nếu có việc lớn như tổ chức lễ aja cũng đưa khách về ở gian khách. Gian khách cũng là chỗ thanh niên, ...
Người Tà Ôi
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10765
Mặt bằng sinh hoạt ngôi nhà dài Bếp của mỗi hộ sẽ được làm ở giữa nhà, phía trên có một giàn treo, chỗ ngủ của gia đình là sàn nhà. Khi ngủ người ta xoay chân về phía bếp lửa. Cho đến năm 1972 khi làng chuyển về Việt Nam định cư thì cách nằm ngủ của phần lớn người Tà Ôi vẫn như vậy. Củi dùng để nấu nướng hay sưởi ấm đư...
Người Tà Ôi
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10765
Ngày dựng cột chính, hương được thắp theo lối dân tộc, người ta dùng một cái giỏ có chân bỏ vào: 6 chén, thịt gà. Khi cúng già làng sẽ là người chủ tế, mọi người đứng ở xung quanh. Các trường hợp chuyển nhượng nhà sau khi mua cũng phải làm lễ cúng, ví dụ: nhà Kê Văn Tham mua của Hồ Viên Pả, khi chuyển về ở phải tổ chức...
Người Tà Ôi
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10765
Trong các dịp cúng lễ hồn của người chết cũng thường về thông qua những giấc mơ (am bo) của người sống. Theo người Tà Ôi thì hồn được hóa thân như tiếng nói, hoặc hồn có thể tạo ra một sức mạnh tác động đến vật thể khác, ví dụ như hồn có thể về gõ cửa. Người Tà Ôi còn cho rằng người chết sau 3 ngày thì có thể quay trở ...
Người Tà Ôi
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10765
Các trường hợp làng bị bão lụt, thiên tai cũng tổ chức cúng thần trời, đất, nhà rông, nhà ở. Khi tổ chức đâm trâu cúng cho trời có 12 loại thức ăn, cúng đất là tám loại thức ăn, cúng cho giàng kmưk là năm loại thức ăn: trâu, lợn, gà, tiết canh, món nướng, món thái, làm canh làm xôi. Cơm được để trong chén và rót nước đ...
Người Tà Ôi
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10765
Thần chỗ ở gia đình thường xuất hiện từ giấc mơ của chủ nhà, khi ngủ người Tà Ôi mơ thấy thần chỗ ở gia đình nhập vào tấm khố, tấm rèng hay bất cứ đồ vật nào thì người ta sẽ bỏ đồ vật đó vào cái kang (một loại gùi được đan đặc biệt) và để ở góc nhà. Chủ nhà sẽ làm một con gà để làm lễ cúng nhập giàng an teng vào hộ gia...
Người Tà Ôi
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10765
Việc tổ chức cúng tạ ơn thần rừng được làm chu đáo, sau đó người ta mới cắt đầu hổ rồi mang về làng. Một nhóm thanh niên làm nhà mồ cho hổ (ping a vó), khi làm xong nhà mồ thì chưa đặt đầu hổ vào bên trong. Làng tổ chức lễ hiến sinh bằng cách giết thịt một con dê, một con gà, một con lợn để khánh thành ngôi nhà mồ đó. ...
Người Xinh Mun
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10766
Người Xinh Mun, còn gọi người Puộc, người Pụa là một dân tộc ít người, sinh sống ở bắc Việt Nam và Lào. Tại Việt Nam người Xinh Mun được công nhận trong số 54 dân tộc tại Việt Nam . Ngôn ngữ. Tiếng nói của người Xinh Mun là tiếng Puộc (tiếng Xinh Mun, Ksingmul), thuộc ngữ chi Khơ Mú trong ngữ tộc Môn-Khmer, ngữ hệ Nam ...
Người Xinh Mun
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10766
Người Xinh Mun đa số mang họ Lò, họ Vi. Mỗi họ đều có kiêng cữ riêng. Các con theo họ cha. Trong nhà, khi người cha chết, thì con trai cả giữ vai trò quan trọng. Hôn nhân gia đình. Trong hôn nhân, nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái. Sau lễ dạm, lễ hỏi mới đến lễ đi rể, thường sau vài ba năm lúc cô dâu chú rể đã có vài ...
Người Xơ Đăng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10767
Người Xơ Đăng hay Xê Đăng, còn có tên gọi khác là "Sedang," "Cà Dong," "Sơ-drá, Hđang, Mơ-nâm, Hà Lăng, KmRâng, Bri La, Tang, Tà Trĩ, Châu, Con Lan", là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam . Tiếng Xơ Đăng là ngôn ngữ thuộc Nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á. Dân số và địa bàn cư trú. Người Xơ Đăng cư trú...
Người Xơ Đăng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10767
Nhóm Tơ-dra có nghề rèn từ quặng sắt rất phát triển và nổi tiếng. Tổ chức cộng đồng. Mỗi làng Xơ Đăng có nhà rông, có bãi mộ chôn người chết... Nhà cửa của dân làng quây quần bên nhau, mọi người gắn bó giúp đỡ nhau. Ông "già làng" được trọng nể nhất, là người điều hành mọi sinh hoạt chung trong làng và đại diện của dân...
Người Xơ Đăng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10767
Xơ Đăng là 1 trong 47 dân tộc sinh sống ở vùng đất Tây Nguyên với truyền thống văn hóa đặc sắc, trong đó có những nét đẹp trên trang phục. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống, đồng bào Xơ Đăng đã có từ lâu đời, góp phần lưu giữ những nét đặc trưng nhất trên trang phục của dân tộc Xơ Đăng. Trong 5 nhóm địa phương thì ngoài nh...
Người Xơ Đăng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10767
Dân tộc của người Jalai, Chu ru thì tay dài, váy dào, hoa văn chỉ ở gấu áo, trên ngực.. Người Xơ Đăng lại mặc váy cộc, áo cộc. Hoa văn dày đặc hơn". Một bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Xơ Đăng gồm có: áo, váy và tấm choàng (khăn vai). Áo là kiểu áo chui đầu, không có tay. Tấm choàng hay còn gọi là khăn vai của ph...
Người Xtiêng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10768
Người Xtiêng hay còn gọi là người Stiêng hay Giẻ Xtiêng (không nhầm với người Giẻ Triêng) là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Người Xtiêng nói tiếng Xtiêng, một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer trong ngữ hệ Nam Á. Ngôn ngữ thứ hai là ngôn ngữ phổ thông quốc gia nơi họ cư trú, là tiếng Việt hoặc tiếng...
Người Xtiêng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10768
Chiêng dùng trong hội lễ, cả trong bộc lộ tình cảm, hòa giải xích mích giữa các gia đình. Ngoài chiêng còn có cồng, khèn bầu cũng được người Xtiêng ưa thích. Cuối mùa khô, họ hay chơi thả diều. Hôn nhân gia đình. Người Xtiêng lấy vợ, lấy chồng khác dòng họ. Thông thường con trai từ tuổi 19-20, con gái từ tuổi 15-17 bắt...
Người Pà Thẻn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10770
Người Pà Thẻn hay Pá Hưng, còn viết là Pạ Hung, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Tại Trung Quốc, người Pá Hưng không được xếp vào dân tộc riêng mà được coi là một nhánh của người Miêu. Người Pà Thẻn tự gọi mình là "Pạ Humg" nghĩa là "Tám vị anh hùng" hay gọi là "Bát Hùng" của "Tám dòng họ(Xìn(Sìn) phát ...
Người Pà Thẻn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10770
Lúa, ngô là cây lương thực chính. Về dịch vụ: phát triển du lịch sinh thái kết hợp văn hóa cộng đồng tại địa phương, Làng văn hóa du lịch cộng đồng Pà thẻn tại thôn My Bắc, du lịch sinh thái tại thôn Minh Hạ xã Tân Lập, huyện Bắc Quang. Tổ chức cộng đồng. Các bản của người Pà Thẻn thường tập trung ven suối, thung Lũng ...
Người Pà Thẻn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10770
Áo dài là loại xẻ ngực, có thể gọi là áo lửng, cổ thấp liền hai vạt trước, khi mặc vạt phải đè chéo lên vạt trái, phía dưới của vạt phải nhọn xuống tạo thành vạt chính của thân trước. Ông tay và toàn bộ thân áo được trang trí với lối dùng màu nóng sặc sỡ. Áo này mặc với váy hở dệt thuê hoa văn đa dạng (hình thập ngoặc,...
Người Cờ Lao
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10771
Người Cờ Lao, các tên gọi khác Gelao, Ke Lao, tên tự gọi: Klau ( hay người Ngật Lão, ) là một dân tộc cư trú ở vùng nam Trung Quốc và bắc Việt Nam. Họ là một trong số 54 dân tộc Việt Nam và 56 dân tộc Trung Quốc được công nhận một cách chính thức. Tổng số người Cờ Lao tại hai quốc gia này khoảng 438.200-594.000 người (...
Người Cờ Lao
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10771
Tại Hà Giang, người Cờ Lao cư trú tại các địa phương như xã Bạch Đích, Phú Lũng huyện Yên Minh, các xã Sính Lủng và Phố Là, huyện Đồng Văn và xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì. Tại xã Túng Sán, Hoàng Su Phì, họ chiếm đa số tương đối (trên 40%). Tổ chức cộng đồng. Mỗi bản người Cờ Lao có khoảng 15-20 nhà. Mỗi nhà là một g...
Người La Chí
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10772
Dân tộc La Chí, còn gọi là Cù Tê, La Quả, là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Nhóm ngôn ngữ. Tiếng La Chí thuộc hệ ngôn ngữ Tai-Kadai. Jerold Edmondson (2008) ghi nhận khoảng 2.500 người nói tiếng La Chí ở Vân Nam, Trung Quốc, nhưng không rõ xếp loại về dân tộc . Dân số và địa bàn cư trú. Cư trú c...
Người La Chí
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10772
Mỗi gia đình có nhà sàn để ở và nhà đất liền kề để làm bếp. Nhà sàn gồm 3 gian, chỉ có một cầu thang lên xuống ở gần đầu hồi phía giáp nhà đất, bàn thờ tổ tiên đặt tại gian nhà sàn to nhất. Trang phục. Trang phục của người La Chí đơn giản, không cầu kỳ. Đàn ông mặc áo 5 thân dài tới ngang bắp chân (ngày nay áo ngắn hơn...
Người La Ha
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10773
Người La Ha, còn được gọi với một số tên khác nhau như La Ha, Klá, Phlạo, Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa là một dân tộc cư trú ở miền bắc Việt Nam. Người La Ha được chính thức công nhận là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam . Ngôn ngữ. Tiếng La Ha thuộc ngữ chi Kra của hệ ...
Người La Ha
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10773
Do đó, trang phục của người La Ha giống trang phục của người Thái đen. Lễ hội. Lễ hội Pang A. Lễ hội Pang A hay lễ con nuôi được diễn ra tại nhà thầy mo. Người La Ha có quan niệm người bệnh được thầy mo nhận làm con nuôi, từ một năm hay lâu dài tùy mức độ bệnh nặng nhẹ. Các con nuôi được thầy chữa khỏi bệnh sẽ được mời...
Pu Péo
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10774
Dân tộc Pu Péo (tên gọi khác Ka Beo, Pen ti lô lô (Lô Lô bản địa), La quả, ; Hán Việt: bố phiêu tộc) là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam . Người Pu Péo cư trú tập trung ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc các huyện Đồng Văn, Yên Minh và Bắc Mê tỉnh Hà Giang, Phú Thọ, Tuyên Quang Ngôn ngữ. Tiếng Pu ...
Pu Péo
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10774
Pặt oong tiếng Pu Péo có nghĩa là làm sạch nước, là phát nước, phát lửa ra đồng đuổi những tà ma, xui xẻo ra khỏi nhà. Người dân trong bản góp 2 con gà (1 trống, 1 mái), gạo nếp làm bánh để làm lễ cúng chung, dâng lên thần rừng, thần núi, thần nước... cầu những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với người dân trong bản trong năm...
Pu Péo
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10774
Phụ nữ thường mặc hai áo: áo trong là chiếc áo ngắn cài cúc nách phải, màu chàm không trang trí hoa văn, có đường viền điểm xuyết ở cổ áo, áo ngoài là loại xẻ ngực, cổ và nẹp trước liền nhau, không cài cúc, ống tay áo, nẹp áo và gấu áo được trang trí hoa văn nhiều màu. Váy là loại dài đen, quanh gấu được trang trí hoa ...
Người Gia Rai
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10776
Người Gia Rai, còn gọi là Jarai (Jrai) hay Ană Krai (con của rồng), là một dân tộc cư trú ở vùng Tây Nguyên của Việt Nam, đa số là tại Gia Lai và một ít ở Campuchia. Người Gia Rai còn có tên gọi khác là người Jrai (hay Ană Pô Grei, Anak Drai hay Jarai-từ gốc: con cái của Ga Rai, người Gia Rai, Gia Lai theo phiên âm tiế...
Người Gia Rai
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10776
Người Gia Rai cư trú tập trung tại các tỉnh: Gia Lai (459.738 người, chiếm 29,2% dân số toàn tỉnh và 90,5% tổng số người Gia Rai tại Việt Nam), ngoài ra còn có ở Kon Tum (25.883 người), Đắk Lắk (20.495 người). Đây là dân tộc bản địa có số dân đông nhất Tây Nguyên. Lịch sử và tên gọi. Vào năm 1471, Đại Việt sử ký toàn t...
Người Gia Rai
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10776
Tiểu quốc J'rai (còn gọi là Ala Car P'tao Degar, Dhung Vijaya, Nam Vijaya, Nam Bàn, Nam Phan, Nam Phiên, Chăm Pa Thượng) là một tiểu quốc cổ của các bộ tộc Nam Đảo ở Tây Nguyên, Việt Nam với bộ tộc nòng cốt là người Gia Rai và người Êđê hình thành từ khoảng cuối thế kỷ 15 và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành...
Người Gia Rai
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10776
Đây tộc người duy nhất thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo có nhà rông, có thể do ảnh hưởng của cư dân "Ba Na" thuộc ngữ tộc Môn-Khmer. Có nhóm Arap của người Gia Rai thực ra là người gốc Ba Na đã bị Gia Rai hóa. Đây là tộc người duy nhất ở Tây Nguyên đã có một tổ chức xã hội tiền nhà nước với hai vua (Ptao): vua Nước và vua Lửa...
Người Gia Rai
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10776
Loại dài tay giống phong cách áo dài nam Êđê hay M'Nông. Cũng giống như mọi dân tộc nào biết dệt vải, may trang phục, người Gia Rai chế tác sợi từ quả cây bông và giữ nguyên màu sợi là màu trắng. Việc tạo ra các sắc màu cho sợi là cả một quá trình kinh nghiệm của người Gia Rai. Họ có truyền thống chế "thuốc nhuộm" từ c...
Người Gia Rai
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10776
Có nhóm ở Plei Ku với nguyên tắc trên nhưng được mở rộng thành các mảng hoa văn ở giữa thân váy, nửa thân dưới áo và hai ống tay. Trang sức có vòng cổ, vòng tay.
Người Ra Glai
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10777
Người Ra Glai, còn gọi là Raglai, Ra Glây, Raglay, Rang Chơk, Rang ngok để phân biệt với Rang La tức người Chăm, Glai, La Vang , là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam . Người Ra Glai cư trú chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận và huyện Khánh Sơn, phía nam tỉnh Khánh Hòa cũng như tại Bình Thuận. Dân số người Ra Glai là 1...
Người Ra Glai
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10777
Ở khu vực phía Nam này, người Raglai sống gần gũi với người Chăm ở đồng bằng, nên đời sống văn hóa của họ có sự giao thoa, ảnh hưởng khá lớn, được chứng minh qua cuộc trao đổi của hai người (đi cắm nêu rẫy về và người giữ nhà) trong lễ Cúng “ăn lúa mới” (Mbak padai baruw) ở thôn Ú, xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn bằng tiếng ...
Người Ra Glai
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10777
Về ngọn nguồn các tộc người của nhóm này, dù các nhà khoa học còn nhiều tranh luận nhưng đều thống nhất rằng họ vốn là những cư dân hải đảo (gốc Đông Nam Á hoặc di cư từ các đảo vùng biển Nam Trung Quốc xuống Đông Nam Á). Có thể hình dung quá trình hình thành và phát triển của người Raglai ở Việt Nam qua hai giai đoạn ...
Người Ra Glai
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10777
Già làng là người điều hành mọi hoạt động, chủ trì các lễ hội, tổ chức đội ngũ phòng chống thú dữ cũng như các lực lượng xâm nhập...). Ngoài ra còn có chủ Núi (cai quản rừng núi, nương rẫy thuộc sở hữu gia đình, sở hữu dòng họ và sở hữu cộng đồng) và chủ Xử việc (phân xử sự việc lớn nhỏ xảy ra trong làng trên cơ sở luậ...
Người Ra Glai
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10777
Thông thường con gái út trong gia đình được thừa hưởng tài sản, là có trách nhiệm lớn chăm sóc bố mẹ về tuổi già. Mẹ hay vợ là chủ nhà có quyền quyết định trong gia đình. Cô gái nếu ưng thuận chàng trai nào thì nói với bố mẹ lo lễ cưới chồng. Trong hôn nhân ngoài quyền của người mẹ, tiếng nói của ông cậu khá quan trọng...
Người Ngái
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10778
Người Ngái (tiếng Ngái: ; phiên âm Bạch thoại: ; tên gọi khác là Ngái Hắc Cá, Hẹ, Lầu Mần, Sín, Đản, Lê) là một dân tộc sinh sống tại Việt Nam và được công nhận trong 54 dân tộc Việt Nam. Theo nghiên cứu của học giả Hà Hợp Dương Thượng, học giả Ngô Vân Hà và đồng sự, người Ngái là người Khách Gia đến từ các vùng Quảng ...
Người Ngái
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10778
Họ được gọi là người Hoa Nùng vì có xuất thân từ tầng lớp nông dân người Hoa thuộc Hán tộc chứ không phải người Nùng Tráng (vì chữ Nùng ở đây là dùng âm đọc tiếng Quảng Đông phương ngữ Khâm Liêm của chữ 農 Nông), và được gọi là người Nùng sau năm 1885, chủ yếu là do người Pháp không muốn thừa nhận họ là người Hoa vì nhữ...
Người Ngái
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10778
Phú Bình ( phường Phú Trung,Q Tân Phú ,Phường 2,Phường 9-Q 11. Làng Gia Liêu-Phường Phú Bình, làng Tân Thủy-phường Bàu Sen-TpLong Khánh,Bàu Hầm,125,Định Quán-Đồng Nai...Do đó số liệu thống kê ở đây là thiếu chính xác.(Thường người Ngái sẽ biết nói tiếng Ngái và tiếng Quảng Đông nhưng người Hoa gốc Quảng Đông thì không ...
Người Ngái
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10778
Sau khi chôn cất được cúng vào dịp 21 ngày, 35 ngày, , 49 ngày, 100 ngày, 3 năm thì làm lễ đoạn tang.Tang ma của người Ngái ở SG cũng như ở Miền Nam thường tổ chức cúng kiến linh đình còn nhiều hủ tục... Người Ngái có tục cúng mộ vào dịp Thanh Minh,Trùng cửu(mùng 9/9al hoặc 19/9 hoặc 29/9)...Sau 5- 10 năm thì cải táng...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Người Nùng, là một trong số 54 nhóm sắc tộc được chính phủ Việt Nam chính thức phân loại. Người Nùng nói tiếng Nùng, là ngôn ngữ thuộc ngữ chi Tai của ngữ hệ Tai-Kadai. Người Nùng có văn hóa, ngôn ngữ giống với dân tộc Tày và với một số nhánh người Tráng tại Trung Quốc. Người Nùng sống tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Làm việc với khung thời gian 200-300 và lấy đường biên giới Việt-Trung ra làm ranh giới phân định không chỉ cho chủ quyền quốc gia mà còn cho các nhóm sắc tộc khác nhau có thể dẫn đến hiểu nhẩm rằng người Nùng là một nhóm thiểu số ngoại lai mới di cư đến hoặc bị trục xuất đến một vùng đất khác. Khi xét đường biên giới ...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Họ sau đó di cư xuống phía nam vào Thái Lan và Lào rồi sau đó vòng lên phía bắc tới miền bắc Việt Nam rồi tiếp tục di cư vào lãnh thổ Trung Quốc ngày nay. Họ cư trú dọc đường biên giới Việt-Trung ngày nay rồi tiếp tục di cư dọc vùng duyên hải Hoa Nam lên phía bắc đến cửa sông Trường Giang, gần Thượng Hải khoảng 8-10.00...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Tuy nhiên, Weera Ostapirat (2005) ủng hộ một mối liên hệ di truyền về mặt ngôn ngữ học thông qua các cặp âm tương ứng nhau theo một cách dễ dàng chấp nhận hơn cho các nhà ngôn ngữ học so sánh. Ostapirat không phát triển một giả thuyết liên quan đến vị trí của Daic mà lại liên hệ ngôn ngữ mà ông gọi là "proto-Kra-Dai" t...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Nếu các ngôn ngữ Tai-Kadai di cư khỏi Đài Loan trở lại đất liền vào bờ biển Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, và (có lẽ) Việt Nam, chúng hẳn đã không có được sự phát triển tương tự như các ngôn ngữ PAN khác mà đã di cư sang Philippines và các quần đảo khác tại Đông Nam Á. Các ngôn ngữ Tai-Kadai tại Trung Hoa đại lục hẳn ...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
「猪,…南楚謂之豨。」 「豨」xī < "Hán Cổ" *xjɨj < "Hán Thượng Cổ" *hləj-q ← "Proto-Kam-Sui" *ʔdlaaj5 (> "Kam" (h)laa:i5) "lợn" 知~~智 "zhī" < *trje(H) < *te(-s) 「知」,愈也。南楚病愈者…或謂之知" ""zhī" nghĩa là ‘lành’. Tại phía nam nước Sở, khi một cơn bệnh khỏi... việc này thỉnh thoảng được gọi là "zhī"." ← "Proto-Tai" *ʔdiiA1 "tốt,...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Axel Schuessler (2007) cho rằng trong quá khứ xa xưa, các cư dân nói nhóm ngôn ngữ Kam-Tai nhiều khả năng đã sinh sống xa về phía bắc đến tận lưu vực sông Trường Giang. Ví dụ, hoàng tộc của nước Sở có họ là "hùng" (熊) tức 'gấu', nhưng trong tiếng Sở nó được gọi là "mị" (芈), đây là một từ Kam-Tai dành cho 'gấu'. Các học...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Tuy nhiên, khi xem xét lại bốn trong số các từ cơ bản mà Norman và Mei đưa ra, gồm: "chết", "đồng", "biết", "chó", Laurent Sagart kết luận rằng không có bằng chứng thuyết phục nào, về mặt ngôn ngữ hoặc các khía cạnh khác, cho sự hiện diện của một dạng AA ban đầu tại vùng duyên hải đông nam Trung Hoa. Theo Erica F. Brin...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Chúng được gọi là nổi dậy Xiyuan "(Tây Nguyên)" (Tây Nguyên có gốc từ châu Tây Nguyên nằm dọc sông Tả Giang ở khu vực Phù Tuy ngày nay, và đây cũng là tên một đơn vị hành chính dưới thời Đường nằm giữa Tả Giang và Hữu Giang). Thế lực của họ Hoàng nằm ở khu vực Ninh Minh, Long Châu, Sùng Tả và Phù Tuy, những vùng này đư...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Thủ lĩnh của các dòng họ này duy trì quyền lực của mình qua các mối quan hệ theo kiểu gia đình và quan hệ cá nhân. Miêu tả các cộng đồng bản địa ở khu vực biên giới tại Quảng Tây thế kỷ XVI, một nhà sử học viết, "trong khi các thủ lĩnh có chung họ không nhất thiết phải có cùng tổ tiên...họ thường nêu ra các mối quan hệ...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Tống Sử miêu tả họ Nông vào thời này là chúng giàu có về vàng, đông đúc về dân số: "để tóc dài và cài áo về phía trái. Chúng thích chiến đấu và xem nhẹ cái chết". Cũng theo Tống Sử, qua một thầy cúng có thế lực tên là Ả Nùng (阿儂), một phụ nữ thực hiện ma thuật và hiến tế người. Dưới sự chỉ dẫn của cô, Nùng Tồn Phúc giế...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Năm 1053 quân tiếp viện của Trung Hoa đến Quảng Tây và vào cuối năm đó hoặc tháng đầu tiên năm 1054, quân của Nùng Trí Cao bị đánh bại ở phía bắc Ung Châu (Nam Ninh ngày nay). Nùng Trí Cao, Ả Nùng và các con trai của Nùng Trí Cao chạy đến làng Đặc Ma (特磨) ở Vân Nam, nơi mà họ đã sống trong 5 năm sau khi Nùng Tôn Phúc b...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Năm 1368, tướng Sầm Bá Nghiêm (岑伯顏) đầu hàng quân của Chu Nguyên Chương, khu vực cai quản của ông được chuyển thành một châu Thổ Ty, và ông được ban một con dấu và bổ nhiệm làm Tri của Điền Châu (田州). Thổ Ty cha truyền con nối này giữ được mối quan hệ hòa bình với triều đình cho đến khi vấn đề nảy sinh trong gia đình c...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Năm 1505, tổng đốc Lưỡng Đông là Phan Phiên cùng các thuộc hạ điều động hơn 100.000 quân từ hai tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và quân bản địa từ khu vực Tả Giang và Hồ Quảng đến đánh Sầm Tuấn và nhanh chóng giành được chiến thắng. Sau khi Sầm Tuấn tự sát, Phan Phiên lợi dụng sự thiếu vắng quyền lực của Thổ Ty địa phương đ...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Đầu năm 1527, các thuộc hạ của Sầm Mãnh là Lư Tô (盧蘇) và Vương Thụ (王受) nổi dậy ở Điền Châu. Sau khi chiếm Tứ Ân bên cạnh, họ đè bẹp quân do tổng đốc Quảng Tây chỉ huy. Tháng năm, 1526, Vương Dương Minh (王陽明), một quan chức nhà Minh đã mãn nhiệm, được tái bổ nhiệm làm binh bộ thượng tư Nam Kinh và tả đô ngự sử với mệnh...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Sầm Ngõa Thị không chỉ là một lãnh đạo quân sự xuất sắc mà còn được biết đến vì kỹ năng sử dụng song kiếm bản rộng trong chiến trận. Quân Quảng Tây đóng vai trò chính trong việc đánh bại một tổ hợp hơn 4.000 cướp biển và tiêu giệt hơn 3.000 trong số này tại trận Vương Giang Kinh (王江涇) ngoại thành Thượng Hải (Shanghai) ...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Lary tiếp tục với một quan sát có liên quan trực tiếp tới khu vực biên giới Việt-Trung: "các vùng biên giới thường cô lập và bị nghèo đói tác động mạnh; các cư dân ở đó bị tập trung lại với nhau tương phản với các cư dân giàu có hơn ở những vùng trung tâm thuộc cả hai tỉnh."" Lary miêu tả mối quan hệ giữa các tỉnh Trun...
Người Nùng
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10779
Năm 1924, tiếng Nùng lần đầu tiên được ghi theo hệ chữ Latinh nhờ linh mục người Pháp François M. Savina. Viện Ngôn Ngữ Học Mùa Hè (Summer Institute of Linguistics) trước năm 1975 cũng có một bộ chữ cho người Nùng Phản Slình sống ở miền nam Việt Nam. Ở miền bắc Việt Nam, có thêm phương án chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở ch...
Người Sán Dìu
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10780
Người Sán Dìu (hoặc Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán quan cốc, San Déo Nhín, ; Hán Việt: Sơn Dao tộc) là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam sinh sống trên địa bàn miền trung du của một số tỉnh miền Bắc Việt Nam như Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh... Nguồn gốc. Dân tộc Sán Dìu l...
Người Sán Dìu
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10780
Tuy nhiên, ngày nay phụ nữ Sán Dìu cũng mặc quần, áo sơ mi và đi dép nhựa, giày da, giày vải như người Kinh. Trang sức của người Sán Dìu có vòng tay, vòng cổ, khuyên tai bạc. Cưới xin. Người Sán Dìu có cách xem tuổi dựa theo thuyết ngũ hành. Nếu so tuổi thấy hợp, ông mối sẽ báo cho nhà gái biết việc xem lá số đã thành ...
Người Sán Dìu
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10780
Đến ngày Thanh Minh hàng năm thì tảo mộ. Lễ tảo mộ thường là cá và cơm nếp (các loại cá). Ngoài ra có thể là thịt lợn, gà luộc... Trong mỗi mộ phải có 1 bộ cờ dây (5 cờ) được làm từ giấy với đủ loại màu khác nhau. với những mộ của người là thầy cúng thì con hoặc cháu cắm thêm cờ tam giác. Quan niệm người Sán Dìu khi có...
Người Sán Dìu
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10780
Truyện kể - chủ yếu truyện thơ khá đặc sắc. Các điệu nhảy múa thường xuất hiện trong đám ma. Nhạc cụ có tù và, kèn, trống, sáo, thanh la, não bạt cũng để phục vụ nghi lễ tôn giáo. Nhiều trò chơi dân tộc được họ ưa thích là: đi cà kheo, đánh khăng, đánh cầu lông kiểu Sán Dìu, kéo co. Trước đây trong các dịp lễ Tết, hội ...
Người Cống
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10781
Người Cống (tên gọi khác Xắm Khống, Mông Nhé, Xá Xeng) là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng bắc Lào, tây bắc Việt Nam và bắc Thái Lan. Tên dân tộc theo tiếng Thái-Lào là Phu Noi (;). Tổng số dân cỡ 40.000 người. Tại Việt Nam người Cống là một trong số 54 dân tộc được công nhận. Họ cư trú chủ yếu tại huyện Mường Tè và khu ...
Người Cống
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10781
Tổ chức cộng đồng. Mỗi họ của người Cống có một trưởng họ, có chung một kiêng cữ, có chung quy định về chỗ đặt bàn thờ tổ tiên và cách cúng bái. Trong từng gia đình, người chồng, người cha giữ vai trò đứng đầu, khi người cha chết thì con trai cả thay thế. Hôn nhân gia đình. Trước kia chỉ trai gái người Cống mới lấy nha...
Người Hà Nhì
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10782
Người Hà Nhì (tên tự gọi: "Haqniq", tiếng Hán: 哈尼族 "Hāní zú, Cáp Nê tộc, chữ nôm:𠊛何贰"), tên gọi khác: Ha Ni, U Ní, Xá U Ní là một dân tộc sống ở Đông Nam Á và lân cận bên Trung Quốc. Người Hà Nhì nói "tiếng Hà Nhì", ngôn ngữ thuộc nhóm Lô Lô, trong ngữ tộc Tạng-Miến, ngữ hệ Hán-Tạng. Tại Việt Nam người Hà Nhì là một d...
Người Hà Nhì
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10782
Tại đây có huyện tự trị dân tộc Hà Ni, dân tộc Di, dân tộc Thái Nguyên Giang ("Yuánjiāng Hānízú Yízú Dǎizú zìzhìxiàn" 元江哈尼族彝族傣族自治县) với huyện lị là Nguyên Giang. Nguồn gốc. Người ta chưa biết rõ nguồn gốc của người Hà Nhì, tuy tổ tiên họ, tộc người Khương, đã di cư từ vùng cao nguyên Thanh Tạng xuống phía nam từ trước ...
Người Hà Nhì
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10782
Ngoài lễ chính là Tết Nguyên đán và Tết thiếu nhi thì còn có lễ Khu Già Già (tháng 6), lễ Ga Tho Tho (tháng 11). Ngoài ra có thêm một số lễ cúng nhỏ như: ăn lúa mới (tháng 8), ăn nếp mới (tháng 9)... Người Hà Nhì có nhiều truyện cổ, có cả truyện thơ dài. Nam nữ thanh niên có điệu múa riêng, đều theo nhịp tấu, nhạc cụ g...
Người Hà Nhì
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10782
Ngoài ra người Hà Nhì còn kiêng không ăn thịt ngựa vì họ quan niệm con ngựa là bạn đã giúp họ thồ chở hàng và ngày tết ngựa cũng sẽ được ăn cháo và đồ ăn ngon. Tết thiếu nhi. Kết thúc Tết Nguyên Đán khoảng 2 tuần, người Hà Nhì lại chọn ngày để đón Tết thiếu nhi. Tết thiếu nhi sẽ tổ chức giữa tháng giêng hoặc cuối tháng...
Người Hà Nhì
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10782
Tường trình rất dày. Nhà không có cửa sổ, cửa ra vào cũng ít, phổ biến là chỉ có một cửa ra vào mở ở mặt trước nhà và lệch về một bên. Mặt bằng sinh hoạt: nhà thường ba gian, ít nhà bốn gian. Có hiên rộng ở mặt trước nhà. Trong nhà chia theo chiều dọc: nữa nhà phía sau là các phòng nhỏ. Nửa nhà phía trước để trồng, một...
Người La Hủ
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10783
Người La Hủ, còn có các tên gọi khác như Xá Lá Vàng, người Khổ Thông (); trong đó "La Hủ" hay "Lạp Hỗ tộc" () hay "Kawzhawd" là những tên tự gọi. Người La Hủ sinh sống tại Trung Quốc, Mỹ, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Lào. Dân số và địa bàn cư trú. Tại Việt Nam. Dân tộc La Hủ là một trong số 54 dân tộc của Việt Nam . ...
Người La Hủ
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10783
Đàn ông La Hủ đan ghế, mâm, chiếu, nong nia...v.v. bằng mây rất giỏi và đa số biết nghề rèn. Văn hóa. Người La Hủ có trên một chục điệu múa khèn. Thanh niên thích thổi khèn bầu. Các bài hát tuy thường dùng tiếng Hà Nhì nhưng có nhịp điệu riêng, trong đó từng ngày được xác định theo chu kỳ 12 con vật (chuột, trâu, thỏ, ...
Người Lô Lô
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10784
Người Lô Lô (theo cách gọi ở Việt Nam và Thái Lan) hay người Di theo cách gọi ở Trung Quốc (), Mùn Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn, người Yi trong nhiều văn liệu quốc tế, là một sắc tộc có vùng cư trú truyền thống là tiểu vùng nam Trung Quốc - bắc bán đảo Đông Dương. "Người Lô Lô" là một trong số 54 dân tộ...
Người Lô Lô
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10784
Ngôn ngữ. Người Lô Lô nói tiếng Lô Lô (hay tiếng Di), là một ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Tạng-Miến trong ngữ hệ Hán-Tạng. Tiếng Lô Lô có chữ viết riêng theo vần (âm tiết). Chữ viết của người Lô Lô trước kia là chữ tượng hình, nhưng hiện nay ít khi sử dụng; một số bài hát dân ca Lô Lô hay chương trình dạy tiếng Lô Lô trên tr...
Người Lô Lô
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10784
Họ là một trong số ít các dân tộc ở Việt Nam hiện nay còn sử dụng trống đồng trong sinh hoạt. Trống đồng là một nhạc cụ truyền thống của người Lô Lô gắn liền với huyền thoại về nạn hồng thủy. Theo huyền thoại thì ngày xưa có nạn lụt lớn, nước dâng cao đến tận trời. Có hai chị em nhờ trời cứu để chị vào trống đồng to, e...
Người Lô Lô
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10784
Cộng đồng, nhà cửa. Người Lô Lô có nhiều dòng họ. Người trong dòng họ thường cộng cư với nhau thành một làng. Người Lô Lô thường lập làng ở lưng chừng núi, nhưng gần nguồn nước. Nhà cửa ở khá tập trung, mỗi làng từ 20 đến 25 nóc nhà. Người Lô Lô có ba loại nhà khác nhau: nhà đất, nhà sàn nửa đất và nhà sàn. Trang phục....
Người Si La
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10785
Người Si La, còn gọi là Cú Dé Xử, Khà Pé, là một dân tộc cư trú ở bắc Lào và bắc Việt Nam. Tại Việt Nam người Si La được công nhận là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, có số dân theo Điều tra dân số năm 2019 là 909 người. Người Si La nói "tiếng Si La", là một ngôn ngữ của thuộc ngữ tộc Tạng-Miến trong ngữ hệ Hán-Tạ...
Người Si La
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10785
Lễ cưới của người Si La Người Si La thực hiện hôn nhân một vợ một chồng và ngoại hôn dòng họ. Con cô con cậu được phép kết hôn, nhưng phải cách ba đời. Luật tục chấp nhận hôn nhân giữa con dì con già, nhưng không cho phép "hôn nhân nối dây", không chấp nhận ly hôn, nhưng cho phép tái hôn đối với những người góa bụa. Ng...
Người Si La
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10785
Đồ lễ chuẩn bị cho lễ cưới gồm 1 con gà, 2 bát gạo nếp, 2 quả trứng, 1 chai rượu, 1 bát nước, 1 cái cân tiểu li, 1 chiếc vòng cổ và 5 đồng bạc. Đến giờ đẹp đã định trước, từ sáng sớm (trước khi gà gáy), chị hoặc em gái của chú rể sẽ sang nhà gái xin dâu và được mẹ hoặc chị dâu của cô gái dắt tay cô gái ra cửa, trao cho...
Người Si La
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10785
Lúc này, đôi vợ chồng trẻ phải cùng ăn hết xôi và trứng ngay tại cửa trước sự chứng kiến của tổ tiên và mọi người trong họ. Nghi thức này thể hiện sự chung thủy trong tình yêu của đôi vợ chồng trẻ trước sự chứng kiến của mọi người. Trong nhà, mọi người tham dự lễ cưới ngồi xung quanh mâm, thầy cúng xé thịt gà cho cô dâ...
Người Si La
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=10785
Trang phục của phụ nữ Si La khá cầu kỳ. Mảng áo trước ngực áo may bằng vải khác màu với áo và được gắn đầy những đồng xu bạc, xu nhôm. Khăn đội đầu của phụ nữ khác nhau theo lứa tuổi. Các cô thường đeo chiếc túi bằng dây rừng, được trang trí những tơ chỉ đỏ sặc sỡ. Dân ca dân tộc Si La Các bài dân ca được người Si La s...