text
stringlengths 82
354k
|
|---|
Hôn, còn gọi là hun, thơm, mi, là một hành động mà một người dùng đôi môi của mình để chạm vào một vật khác hoặc môi của người khác. Hôn thường là cử chỉ thể hiện tình cảm, và hai đôi môi cùng hôn nhau là biểu tượng của tình yêu.
Hôn được xuất hiện từ rất lâu về trước, nhưng không biết rõ cụ thể về mặt thời gian chính xác. Khi con người có nhận thức về mặt tình cảm, biết hát, biết hy sinh vì tình yêu thì họ biết hôn. Họ hôn những người họ tôn trọng và yêu quý để thể hiện tấm lòng của mình. Hôn có thể để diễn tả sự kính trọng, lòng biết ơn, thương mến hoặc tình cảm nam nữ.
Có nhiều loại hôn, chủ yếu được phân theo vị trí hôn. Phổ biến của hình thức hôn là hôn môi (còn gọi là nụ hôn), hôn má (còn gọi là thơm, chụt), hôn trán, hôn tay (thường là bày tỏ sự tôn trọng, nâng niu) hoặc hôn vào các chỗ nhạy cảm khi đang quan hệ tình dục như hôn ngực (vú), hôn cổ, gáy, bụng, đùi và hôn vào bộ phận sinh dụ, như hôn gió (hôn môi xa), hôn kêu, hôn nhẹ, hôn sâu, hôn thắm thiết, hôn nồng thắm mãnh liệ
Sử dụng và ý nghĩa.
Trong thực tế có rất nhiều cách hôn khác nhau.
Đặc biệt là trong tình yêu, đối với một số người, hôn như thế nào chính là thể hiện phần lớn tình yêu của họ dành cho người yêu của mình. Một số người thích cách hôn mạnh mẽ, say đắm, ướt át. Họ coi việc hôn như vậy là thể hiện tình cảm của mình dành cho người yêu hết sức mãnh liệt, tình yêu sâu đậm. Ngược lại một số người yêu nhau lại thích những nụ hôn nhẹ nhàng. Hôn là một trong những biểu hiện của đời sống tình dục con người. Tuy nhiên hiện nay, theo giới y khoa, việc hôn cũng sẽ truyền theo các loại bệnh truyền nhiễm cho người được hôn hoặc truyền ngược lại người chủ động hôn.
Ngoài ra có cả hôn tay, hôn xã giao (chạm má).. để thể hiện lòng tôn trọng với người đối diện.
Người ta thường tổ chức các cuộc thi hôn lâu nhất, và có người đã hôn lâu hơn cả một ngày trời. Đồng thời cũng có các giải thưởng trao cho các cảnh phim hôn lãng mạn nhất, thật nhấ
Bức ảnh nổi tiếng.
Bức ảnh nổi tiếng về nụ hôn là chụp một người lính thủy hôn nữ y tá tại quảng trường Thời đại ở New York vào ngày Phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh ("Vj day" - 14 tháng 8 năm 1945). Vào cuối thập kỷ 70 thế kỷ trước, Edith Cullen Shain đã viết cho Eisenstaedt:
Bà còn kể rằng, lúc đó rất nhiều người đã hôn bà.
Ngày 20 tháng 6 năm 2010, người phụ nữ trong bức ảnh này đã qua đời ở tuổi 91 do ung thư gan
|
Sukhoi Su-37 Терминатор (tên ký hiệu của NATO "Flanker-F" - Kẻ tấn công sát sườn F). Đây là loại máy bay chiến đấu đa nhiệm vụ, bay trong mọi thời tiết và là phiên bản mới nhất của dòng máy bay chiến đấu dựa trên mẫu máy bay chiến đấu Su-27, vốn đã được phát triển vào năm 1977 bởi Phòng thiết kế thử nghiệm Sukhoi ở Moskva.
Khả năng thao diễn.
Đặc trưng mới của khả năng thao diễn siêu việt của Su-37 là các động cơ đẩy hai chiều vừa có hướng vừa có tốc độ tốt, cho phép máy bay hồi phục sau khi xoay tròn và tắt máy ở hầu như mọi độ cao, và nó cũng được trang bị hệ thống kiểm soát fly-by-wire số hoàn toàn.
Chuyến bay đầu tiên của mẫu Su-37 thứ nhất diễn ra vào 2 tháng 4 năm 1996, khi nó xuất hiện ở triển lãm hàng không Moskva. Sau đó nó tiếp tục có một chuyến bay biểu diễn ở triển lãm hàng không Farnborough 96. Máy bay đã chứng tỏ khả năng thao diễn mới, như khả năng chúi mũi ra khỏi hướng bay ở một số giai đoạn, quay mũi quanh 360 độ và hồi phục sau khi rơi vào vệt khí đuôi bằng cách lao vào vệt khí này của một máy bay khác. Vốn ngân sách dành cho chiếc máy bay này đã bị ngắt một khoảng thời gian, nhưng sau đó nó được tiếp tục năm 1999 và Su-37 đang trải qua các chuyến bay thử nghiệm.
Buồng lái được trang bị bốn màn hình hiển thị tinh thể lỏng (HUD) cho các dữ liệu chiến lược và hoa tiêu, các hệ thống máy tính và thanh điều khiển các điều kiện hoạt động (HOTAS). Phi công có một thanh điều khiển di chuyển ngắn ở bên cạnh thay cho thanh điều khiển trung tâm, một tay cầm điều khiển điện tử và điều khiển sức phụt động cơ strain-gauging (pressure-to-throttle). Các thiết bị điện tử của máy bay được chế tạo tại xưởng Kronstadt, Sankt-Peterburg.
Su-37 có thể mang tới 14 tên lửa không đối không và tới 8.000 kg đạn dược. Mười hai điểm treo cứng bên ngoài có thể mang các tên lửa không đối không, tên lửa không đối đất, bom, rocket và ECM (bộ phận phản ứng điện tử). Máy bay được lắp một súng GSh-301 30 mm với tốc độ bắn tối đa 1.500 viên/phút.
Máy bay được trang bị tên lửa không đối không tầm ngắn Vympel R-73E có radar dẫn đường. R-73E (tên ký hiệu của NATO AA-11 Archer) là một tên lửa cận chiến mọi hướng có khả năng tiêu diệt các mục tiêu đang đuổi phía sau hay đang đối đầu phía trước ở độ cao từ 0.02 và 20 km, và mục tiêu g-load lên đến 12 g. Tên lửa không đối không Vympel RVV-AE (AA-12 Adder) cũng được gọi là R-77, có thể chặn đứng các mục tiêu có tốc độ lên tới 3.600 km/h và ở độ cao từ 0.02 đến 25 km.
Su-37 có thể được lắp thêm các tên lửa không đối đất như tên lửa tầm ngắn Kh-25 (AS-12 Kegler) và Kh-29 (AS-14 Kedge) với đầu đạn 317 kg.
Máy bay được lắp đặt một radar mạng quét điện tử bị động, chia pha xung Doppler đa chức năng theo dõi phía trước NO-11M có thể truy theo 15 mục tiêu cùng lúc và chỉ định mục tiêu cũng như dẫn đường cho tên lửa không đối không. NO-11M được chế tạo bởi NIIP, Viện nghiên cứu khoa học thiết kế công cụ. Nó cũng có radar theo dõi phía sau NIIP NO-12 và hệ thống giám sát, kiểm soát bắn.
Su-37 được trang bị hai động cơ phản lực cánh quạt đẩy trong AL-31FU TVC ("thrust vector control" - kiểm soát hướng và tốc độ phụt). Động cơ này được phát triển bởi Phòng thiết kế động cơ Lyulka (NPO Saturn) và dựa trên nguyên mẫu động cơ phản lực cánh quạt đẩy trục đôi AL-31F của chiếc Su-27. Động cơ được thiết kế máy nén bốn giai đoạn áp lực thấp (LP), máy nén chín giai đoạn áp lực cao (HP), buồng đốt hình khuyên và các turbine áp lực thấp và áp lực cao một giai đoạn, đốt lần hai ("afterburner") và máy trộn. Mỗi động cơ cung cấp sức đẩy 83.36 kN và tăng lên 142 kN khi tăng lực và có thể lái được từ 15 đến +15 độ dọc theo chiều đứng máy bay.
Bộ phận kiểm soát hướng và tốc độ phụt được tích hợp hoàn toàn với hệ thống kiểm soát bay digital. Miệng TVC có thể làm lệch cả theo kiểu đồng thời và khác biệt dựa vào thao diễn. Miệng được nối với khớp xoay hình khuyên và có thể được di chuyển trong pitch của máy bay bằng hai cặp kích thủy lực. TVC cho phép máy bay trình diễn ở tốc độ gần bằng không mà không bị giới hạn về góc bắn. Bộ phận kiểm soát này có thể được phi công điều khiển bằng tay hay hoàn toàn tự động nhờ hệ thống kiểm soát bay.
Danh sách tiếp theo.
redirect title="Bản mẫu:Airlistbox" /
commentĐổi hướng đến /comment
|
Máy bay trực thăng
Máy bay trực thăng hay máy bay lên thẳng là một loại phương tiện bay có động cơ, hoạt động bay bằng cánh quạt, có thể cất cánh, hạ cánh thẳng đứng, có thể bay đứng trong không khí và thậm chí bay lùi. Trực thăng có rất nhiều công năng cả trong đời sống thường nhật, trong kinh tế quốc dân và trong quân sự.
Nếu so sánh với máy bay phản lực thì máy bay trực thăng có kết cấu, cấu tạo phức tạp hơn rất nhiều, khó điều khiển, hiệu suất khí động học thấp, tốn nhiều nhiên liệu, tốc độ và tầm bay xa kém hơn rất nhiều. Nhưng bù lại những nhược điểm đó, khả năng cơ động linh hoạt, khả năng cất cánh – hạ cánh thẳng đứng không cần sân bay và tính năng bay đứng của nó làm cho loại máy bay này là không thể thay thế được. Thực tế là máy bay trực thăng có thể đến bất cứ nơi nào chỉ cần bãi đáp có kích thước lớn gấp rưỡi đường kính cánh quạt là nó đều có thể hạ cánh và cất cánh được.
Vì các đặc tính kỹ thuật đặc biệt mà các máy bay cánh cố định không thể có được như thế, máy bay trực thăng ngày càng phát triển, song hành cùng các loại máy bay cánh cố định thông thường và có ứng dụng ngày càng đa dạng: trong lĩnh vực giao thông vận tải nó cùng với các loại máy bay có cánh cố định lập thành ngành Hàng không dân dụng, trực thăng có vai trò rất lớn trong vận tải hàng không đường ngắn, trong các điều kiện không có đường băng, sân bay và để chở các loại hàng hoá cồng kềnh, siêu trường, siêu trọng vượt quá kích thước khoang hàng bằng cách treo dưới thân. Trong đời sống thường nhật, trực thăng được sử dụng như máy bay cứu thương, cứu nạn, cảnh sát, kiểm soát giao thông, an ninh, thể thao, báo chí và rất nhiều các ứng dụng khác. Đặc biệt trong quân sự nó là một thành phần rất quan trọng của lực lượng không quân và quân đội nói chung: vừa là loại máy bay vận tải thuận tiện vừa là loại máy bay chiến đấu rất hiệu quả, nhất là trong các nhiệm vụ đổ bộ đường không, tấn công cơ động, thọc sâu và yểm trợ, tấn công mặt đất.
Về mặt phân loại, máy bay trực thăng là khí cụ bay nặng hơn không khí, bay được nhờ lực nâng khí động học (lực nâng Zhukovsky) được tạo bởi "cánh quạt nâng nằm ngang". Cũng như đối với máy bay thông thường, lực nâng khí động học được tạo thành khi có chuyển động tương đối của cánh nâng đối với không khí, nhưng khác với máy bay thông thường là cánh nâng gắn cố định với thân máy bay, trực thăng có cánh nâng là loại cánh quạt quay ngang (thường có từ 2 đến 6 cánh quay trong mặt phẳng nằm ngang, cánh quạt này còn gọi là cánh quạt nâng). Với đặc điểm của cánh nâng như vậy, khi cánh quạt nâng quay vẫn bảo đảm được sự chuyển động tương đối của không khí đối với cánh nâng và tạo lực nâng khí động học trong khi bản thân máy bay không cần chuyển động. Vì vậy máy bay trực thăng có thể bay đứng treo một chỗ và thậm chí bay lùi.
Nguyên lý hoạt động.
Lực nâng khí động học.
Trực thăng cũng như máy bay thắng được trọng lực và bay lên được là nhờ lực nâng khí động học hay còn gọi là lực nâng Zhukovski. Đó là kết quả của sự chênh lệch áp suất không khí tại mặt trên và mặt dưới của vật thể (cánh nâng) khi dòng khí "chuyển động tương đối" chảy bao bọc qua vật thể. Để có lực nâng khí động học thì thiết diện vật thể (cánh nâng) phải không đối xứng qua trục chính và đường biên của mặt trên phải lớn hơn của mặt dưới, những vật thể có hình dạng thiết diện như vậy được gọi là có hình dạng cánh khí động học. Khi không khí chảy bao quanh hình cánh khí động sẽ có lực nâng khí động học và đồng thời xuất hiện lực cản. Hình khí động học nào cho hiệu ứng lực nâng càng cao mà lực cản càng ít thì được coi là có hiệu suất khí động học càng tốt.
Khi không khí chảy qua hình khí động là cánh nâng, tại mặt dưới sẽ có áp suất cao hơn so với mặt trên và hệ quả là sẽ xuất hiện một lực tác động từ dưới lên vuông góc với cánh. Lực nâng đó có độ lớn bằng tổng diện tích các cánh nhân với chênh lệch áp suất hai mặt. Độ chênh lệch áp suất phụ thuộc vào hình dạng thiết diện cánh tức là phụ thuộc vào hiệu suất khí động học của cánh, góc tấn (tiếng Anh: "angle of attack") – góc chảy của không khí tương đối với vật khí động, và vận tốc dòng chảy (đồng nghĩa với vận tốc quay của cánh quạt nâng). Như vậy khi cánh quạt nâng đạt đến vận tốc quay nào đó thì chênh lệch áp suất (đồng nghĩa với lực nâng) sẽ đủ để thắng trọng lực và trực thăng có thể bay lên được.
Cánh nâng của máy bay trực thăng là một hoặc vài bộ cánh quạt quay ngang (cánh quạt nâng): khi cánh quạt nâng quay nó tạo sự "chuyển động tương đối của cánh nâng và không khí" và tạo lực nâng. Như vậy đối với máy bay có cánh cố định thì chuyển động tương đối của cánh nâng đối với không khí là chuyển động của chính máy bay, nên lực nâng chỉ có khi máy bay có đủ vận tốc, mất vận tốc sẽ mất lực nâng (thất tốc) nên "máy bay cánh cố định không thể bay đứng một chỗ". Trực thăng cũng theo nguyên tắc lực nâng khí động học nhưng các cánh nâng là cánh quạt ngang quay xung quanh trục nên vẫn đảm bảo chuyển động tương đối với không khí và có lực nâng khi trực thăng vẫn đứng yên, nên "trực thăng có thể bay đứng một chỗ thậm chí bay lùi".
Chính vì sự khác nhau khi tạo lực nâng như vậy dẫn đến sự khác nhau về sử dụng công suất của trực thăng và máy bay cánh cố định: Đối với trực thăng gần như toàn bộ công suất động cơ máy bay là để tạo lực nâng chỉ một phần rất nhỏ để tạo lực đẩy ngang. Trong khi đó phần lớn công suất của máy bay cánh cố định là để tạo lực đẩy ngang chỉ có một phần nhỏ để tạo lực nâng một cách gián tiếp. Chính vì vậy nếu có cùng công suất máy thì máy bay trực thăng chở được nặng hơn nhiều máy bay có cánh cố định, nhưng vận tốc thì kém xa. Đây là điểm khác nhau rất lớn của hai loại máy bay này về khía cạnh công suất và tính năng.
Nguyên lý điều khiển bay và tính ổn định.
Điều khiển bay của máy bay trực thăng là rất phức tạp, phức tạp hơn nhiều so với máy bay cánh cố định. Tất cả các loại máy bay trực thăng đều có nguyên lý điều khiển chung như sau:
Như vậy để điều khiển trực thăng phi công phải kết hợp 4 cơ cấu điều khiển sau:
Máy bay có cánh cố định khi bay bản thân nó đã là một hệ cân bằng bền, bất cứ một lực hay tác nhân nào cũng đều sẽ làm phát sinh ra các lực hoặc mô men khác để đưa máy bay về vị trí cân bằng mới. Bản chất bay của trực thăng thì ngược lại nó là một hệ cân bằng không bền trong quá trình bay luôn phát sinh ra các lực và mô men làm máy bay mất cân bằng và phi công phải luôn can thiệp. Sự phức tạp của điều khiển bay trực thăng có thể thấy được qua một số ví dụ sau:
Do đó điều khiển máy bay trực thăng là rất phức tạp và căng thẳng khi tác động lên một cơ cấu điều khiển sẽ làm thay đổi các yếu tố cân bằng khác làm phi công phải luôn giữ cân bằng không bền như đứng thăng bằng "làm xiếc" trên quả bóng. Phi công luôn phải giữ cần "cyclic" là cần điều khiển chính do đó ghế phi công thường bố trí bên phải và bên tay phải (tay thuận) của phi công chỉ có cần cyclic, phi công phải luôn giữ nó bằng tay phải. Cần điều khiển thay đổi góc tấn toàn bộ ở bên tay trái, di chuyển lên xuống tương tự như thắng tay trong xe hơi, với tay ga vặn như mô tô. Chân phi công dẫm lên pê đan chống xoay. Khi làm một động tác nào đó thì phải đồng thời phải điều chỉnh hết các cơ cấu điều khiển khác như đã nói ở trên.
Sơ đồ nguyên tắc.
Khi đĩa cánh quạt nâng quay, theo định luật bảo toàn mô men động lượng thân máy bay cũng sẽ phải quay quanh trục cánh quạt theo chiều ngược lại với vận tốc quay phụ thuộc vào tỷ lệ mô men quán tính của rotor (cánh quạt và phần quay) và stator (thân máy bay và các phần còn lại), để chống lại hiện tượng tự quay này người ta thực hiện theo nhiều phương án khác nhau thông qua các sơ đồ nguyên tắc khác nhau. Ngoài ra các sơ đồ này cũng cho thấy các phương án điều khiển máy bay ở các khía cạnh khác.
Sơ đồ cơ bản.
Đây là sơ đồ "một cánh quạt nâng, một cánh quạt đuôi": Khi cánh quạt nâng quay, thân máy bay cũng sẽ phải quay quanh trục cánh quạt theo chiều ngược lại, để chống lại hiện tượng tự quay này máy bay trực thăng có thêm một cánh quạt đuôi theo chiều thẳng đứng, thổi gió theo chiều ngang. Lực đẩy của cách quạt đuôi tạo nên mô men lực đuôi có tay đòn dài bằng khoảng cách từ trục cánh quạt đuôi đến trục cánh quạt nâng sẽ cân bằng và triệt tiêu sự quay của thân máy bay giữ hướng cố định cho máy bay. Ngoài ra cánh quạt đuôi này còn có tác dụng để lái đổi hướng bay cho trực thăng: khi phi công đạp bàn đạp "chống xoay" ("anti-torque") cánh quạt đuôi sẽ thay đổi lực đẩy gió ngang làm thay đổi mô men đuôi. Đây là sơ đồ được gọi là sơ đồ Sikorsky theo tên của nhà tiên phong trong lĩnh vực trực thăng nhà sáng lập hãng trực thăng Sikorsky aircraft corporation nổi tiếng ngày nay.
Sơ đồ cơ bản này có ưu điểm rất lớn là rất đơn giản về kỹ thuật, độ ổn định cao, độ tin cậy của các cơ cấu máy tốt. Chính vì các ưu điểm này nên 95% số trực thăng trên thế giới là theo sơ đồ này. Mặt khác nó cũng có một số nhược điểm: vì chỉ có một cánh quạt nâng chịu toàn bộ trọng lực máy bay và lực đẩy ngang nên đường kính cánh quạt và vận tốc quay phải lớn, dễ dẫn đến các hiện tượng cộng hưởng rung lắc gây gãy cánh quạt và hiệu suất cánh quạt không thật cao vì phần đầu mút cánh quạt ở một phía có thể phải hoạt động trong điều kiện vận tốc siêu thanh. Và công suất để hoạt động cánh quạt đuôi chiếm khoảng 20%-30% công suất động cơ máy bay là công suất phí phạm không giúp gì cho việc nâng máy bay và chuyển động thẳng. Loại sơ đồ này rất ngại gió mạnh thổi ngang thân (làm vô hiệu hoá cánh quạt đuôi) do đó kén điều kiện thời tiết. Và vì phải có đuôi làm tay đòn cho mô men cánh quạt đuôi nên độ dài máy bay bị kéo dài không có lợi cho đặc tính kích thước.Tuy nhiên có nhiều nhược điểm lớn.
Sơ đồ chỉ một cánh quạt nâng.
Sơ đồ này còn gọi là sơ đồ NOTAR viết tắt từ tiếng Anh "NO TAil Rotor" nghĩa là "trực thăng không cánh quạt đuôi" nó giống sơ đồ cơ bản chỉ có điều nó không có cánh quạt đuôi để tạo mô men đuôi mà dựa vào hiệu ứng Coandă theo tên của nhà tiên phong hàng không Henri Coandă người România: khi dòng khí phụt ra, nó có xu hướng bám dính vào thành vật thể cứng và tạo lực và mô men chống lại mô men quay thân máy bay. Loại máy bay không cánh quạt đuôi này có hệ thống dẫn và bơm khí chạy ra đuôi và được phụt ra theo van phun tiết lưu. Khi phi công ấn pê đan chống xoay "anti-torque" sẽ điều khiển van phun tiết lưu tăng giảm dòng khí phụt ra làm tăng giảm mô men chống quay và sẽ hiệu chỉnh hướng bay (sự quay đầu) của máy bay. Hiện nay sơ đồ này còn đang rất mới, chỉ có hãng McDonnell Douglas áp dụng và gọi là trực thăng MD vì vậy sơ đồ này cũng gọi là "sơ đồ trực thăng MD" chưa có các số liệu để đánh giá tính ưu việt và nhược điểm của sơ đồ này.
Sơ đồ hai cánh quạt nâng đồng trục.
Sơ đồ "hai cánh quạt nâng đồng trục" còn gọi là sơ đồ Kamov theo tên của tổ hợp thiết kế – chế tạo Kamov của Liên Xô và Nga chuyên chế tạo trực thăng loại này và ngày nay cũng chỉ có hãng này làm máy bay trực thăng theo sơ đồ này, đây là "đặc sản" trực thăng Kamov của Liên Xô (tuy không phải do Liên Xô phát minh ra). Đặc điểm của sơ đồ này là không có cánh quạt đuôi mà có 2 bộ cánh quạt nâng đồng trục quay ngược chiều nhau để triệt tiêu mô men quay thân máy bay. Khi máy bay muốn quay đầu để rẽ hướng phi công ấn pê đan "anti-torque" sẽ tạo ra chênh lệch vận tốc quay của hai tầng cánh quạt đồng trục và máy bay sẽ quay thân tương ứng theo chiều cánh quạt quay chậm hơn.
Loại máy bay này có nhiều ưu điểm lớn: vì có 2 cánh quạt nâng nên đường kính, vận tốc quay của cánh quạt không cần lớn lắm cho phép cánh quạt hoạt động trong khoảng hiệu suất cao nhất, và độ an toàn chống cộng hưởng, chống rung giật cánh quạt tốt, không mất phần công suất hoang phí như loại Sikorsky. Đặc biệt tính cơ động của nó là hoàn hảo, tốt nhất trong các phương án trực thăng: nó có thể trong một khoảnh khắc đột ngột di chuyển theo nhiều hướng phải – trái, tiến – lùi và lên – xuống một cách rất linh hoạt (Loại Kamov Ka-50 của Nga có thể bay ngang thân sang phải, trái 80 km/giờ, bay lùi 90 km/giờ thay đổi chế độ bay trong vài giây), loại máy bay này có thể bay các loại hình pilotage (hình nhào lộn) mà các loại trực thăng khác không thể thực hiện được, rất dễ điều khiển. Vì không có cánh quạt đuôi nên loại này không ngán ngại gió thổi ngang, có thể cất cánh hạ cánh, bay treo và hoạt động ở mọi điều kiện thời tiết, và một ưu điểm nữa là vì kích thước cánh quạt nhỏ, không đuôi nên loại này có kích thước rất nhỏ gọn. Vì các ưu thế trên nên loại máy bay này là trực thăng chủ yếu của Hải quân xô viết và Nga ngày nay nhất là trên các hạm tàu chống tàu ngầm của nước này.
Loại này đồng thời có những nhược điểm: cánh quạt với hệ thống biến bước "collective" và "ciclic" bản thân đã là phức tạp nay lại thêm cơ cấu "trục trong trục" ngược chiều quay thì là quá phức tạp. Hệ thống đồng trục là bộ phận hay gặp nhiều rủi ro nhất của loại máy bay này. Và vì có 2 tầng cánh quạt, có độ cơ động tốt nên khi có chuyển động đột ngột có thể gây ra chạm cánh quạt vào nhau.
Sơ đồ hai cánh quạt nâng trước-sau.
Đây là phương án máy bay có "hai cánh quạt nâng không đồng trục" thường gắn ở đầu và đuôi máy bay, quay ngược chiều nhau để triệt tiêu mô men tự quay thân. Khi muốn quay đầu rẽ hướng phi công điều khiển bàn đạp "anti-torque" sẽ làm phát sinh chênh lệch vận tốc quay của hai đĩa cánh quạt và thân máy bay quay tương ứng theo chiều cánh quạt quay chậm hơn. Loại này điển hình là các máy bay vận tải lớn rất khoẻ như loại cần cẩu bay Boeing CH-47 Chinook của Hoa Kỳ.
Vì có hai cánh quạt nên hiệu suất cánh quạt và độ an toàn cộng hưởng, chống rung lắc tốt, không có công suất phí phạm. Loại sơ đồ này có sức nâng rất tốt và thường được dùng làm cần cẩu bay, nhưng nó có nhược điểm lớn là rất khó điều khiển và tính cơ động kém.
Sơ đồ hai cánh quạt nâng đan xen.
Ngoài ra Hoa Kỳ còn các loại Kamans là loại 2 bộ cánh quạt nâng đặt cạnh nhau hai trục xiên góc với nhau theo hình chữ "V", cánh quạt quay ngược chiều và đồng bộ ăn khớp (để không chém vào nhau) lấy theo mẫu của trực thăng chiến đấu Flettner Fl-282 của Đức.
Sơ đồ cánh quạt nâng tự do.
Đây là loại máy bay theo tiếng Anh là "Autogyro" hay "gyroplane" hay "gyrocopter" tiếng Nga là "Автожир". Đây là loại trực thăng có "cánh quạt nâng tự do" là loại máy bay đặc biệt lai tạp giữa máy bay có cánh cố định và trực thăng. Điểm đặc biệt của loại này là cánh quạt nâng của nó là cánh quạt nâng "tự do" (không nối với động cơ), mà động cơ là để lai cánh quạt đứng thổi gió theo chiều ngang như cánh quạt đẩy chuyển động ngang của máy bay thông thường. Động cơ lai cánh quạt đứng thổi gió ngang về phía sau làm máy bay chuyển động về phía trước, dòng khí chuyển động tương đối theo phương nằm ngang sẽ làm quay cánh quạt nâng tự do, làm phát sinh lực nâng khí động học và làm máy bay bay lên được. Cơ chế điều khiển thì đơn giản như của máy bay cánh cố định. Điển hình nhất của loại này là máy bay Kamov K-22 của Liên Xô là một trong những máy bay trực thăng lớn nhất từ xưa đến nay. Loại này đứng trung gian giữa máy bay có cánh cố định thông thường và trực thăng: không bay đứng, không cất cánh, hạ cánh thẳng đứng được nhưng lại có cánh quạt nâng làm cho máy bay có thể cất cánh với tốc độ nhỏ, đường băng ngắn, trọng tải chở nặng tốt. Loại sơ đồ này có ưu điểm rất lớn là khi gặp tai nạn trên không, máy bay rơi thì cánh quạt nâng tự do sẽ quay và có tác dụng như chiếc dù làm máy bay tiếp đất an toàn. Ngày nay loại trực thăng này không được phát triển nữa mà chỉ còn làm máy bay thể thao, giải trí cực nhỏ mà thôi, đây là sản phẩm rất nổi tiếng của hãng Cierva Autogiro Company của Tây Ban Nha.
Sơ đồ cánh quạt xoay hướng.
Đây cũng là một loại lai tạp giữa máy bay có cánh cố định và trực thăng. Cấu tạo của loại máy bay này về cơ bản giống máy bay cánh cố định chỉ khác là cánh quạt đẩy ngang có thể quay một góc 90° để thổi gió xuống phía dưới theo chiều thẳng đứng. Khi máy bay cất cánh, hạ cánh cánh quạt quay hướng thổi gió xuống dưới tạo lực nâng cho máy bay cất cánh, hạ cánh thẳng đứng. Khi đã lên đến độ cao cánh quạt lại quay về vị trí bình thường thổi gió về phía sau theo chiều ngang đẩy máy bay chuyển động thẳng theo chiều ngang và lực nâng do cánh cố định tạo ra như một máy bay cánh cố định bình thường. Cơ cấu điều khiển đơn giản giống của máy bay cánh cố định. Loại này kết hợp được cả đặc tính của máy bay và trực thăng nhưng có một điểm yếu lớn là cánh quạt vừa làm nhiệm vụ cánh quạt đẩy ngang của máy bay thông thường vừa làm nhiệm vụ cánh quạt nâng theo chiều thẳng đứng của trực thăng, mà hai loại cánh quạt này có tính chất và cấu tạo rất khác nhau do đó cánh quạt và máy bay này có hiệu suất thấp nên loại này không có ứng dụng rộng rãi chỉ sản xuất đơn chiếc theo chuyên dụng hạn hẹp. Điển hình nhất của loại này là máy bay Osprey V-22 của Hải quân Hoa Kỳ
Trên đây là một số loại sơ đồ nguyên tắc chính được áp dụng trong chế tạo trực thăng. Ngoài ra còn rất nhiều kiểu sơ đồ khác nữa, mỗi một phát minh thường đi kèm với một loại sơ đồ mới nhưng hiện nay chúng chưa có ứng dụng rộng rãi và chưa chứng minh được hiệu quả kỹ thuật hàng không.
Lịch sử phát triển.
Trực thăng sơ khởi.
Lịch sử phát triển máy bay trực thăng gắn liền với lịch sử phát triển Hàng không và lịch sử máy bay có cánh cố định. Ý tưởng về trực thăng còn ra đời trước cả ý tưởng của máy bay thông thường, ngày nay khi nghiên cứu di sản của họa sĩ vĩ đại người Ý Leonardo Da Vinci thế kỷ thứ 15, người ta tìm thấy bản vẽ của thiết bị bay theo nguyên tắc của trực thăng ngày nay, nó có cánh quạt ngang quay bằng dây chun vặn lạ, các ý tưởng bay của trực thăng chỉ có ý nghĩa hiện thực ở cuối thế kỷ 19 khi con người đã có động cơ nhiệt là nguồn năng lượng để bay.
Song hành cùng các nhà tiên phong của máy bay cánh cố định ngay từ thế kỷ 19 một loạt nhà kỹ thuật hàng không như Jan Bahyl, Oszkár Asbóth, Louis Breguet, Paul Cornu, Emile Berliner, Ogneslav Kostovic Stepanovic và Igor Ivanovich Sikorsky đã đưa ra thử nghiệm các mô hình máy bay trực thăng. Ngày 24 tháng 8 năm 1907 lần đầu tiên mô hình trực thăng bay lên được, nó do anh em Louis và Jacque Breguet người Pháp chế tạo dưới sự cố vấn kỹ thuật của giáo sư Charles Richet. Mô hình này hoàn toàn không thể điều khiển nổi và không thể chở nổi người, chỉ có thể bay lên được 50 cm. Tại nước Nga Igor Ivanovich Sikorsky sau này trở thành nhà tiên phong trực thăng và nhà công nghiệp sản xuất trực thăng nổi tiếng thế giới đã thí nghiệm trực thăng đầu tiên của mình vào năm 1908.
Người đầu tiên "bay" lên được bằng trực thăng là nhà sáng chế người Pháp nhà sản xuất xe đạp Paul Cornu. Ngày 13 tháng 11 năm 1907 ông này tự chế trực thăng của mình, tự lái và bay lên được 50 cm và ngồi trên không khí được 20 giây. Trực thăng đầu tiên này rất khó lái, gần như không điều khiển nổi.
Chiếc máy bay trực thăng đầu tiên có thể điều khiển được do Raul Pateras de Pescara chế tạo và biểu diễn vào năm 1916 tại Buenos Aires, Argentina. Vào năm 1923 nhà tiên phong của lĩnh vực trực thăng người Tây Ban Nha Juan de la Cierva phát minh và áp dụng loại trực thăng autogyro hay loại trực thăng theo sơ đồ cánh quạt nâng tự do và nhà phát minh này luôn trung thành với sơ đồ con đẻ của mình, cho đến nay loại này bị các kiểu trực thăng khác chèn ép chỉ còn ứng dụng trong các loại trực thăng thể thao, giải trí và vẫn là sản phẩm chính của hãng Cierva autogiro company.
Tại nước Nga Xô viết trong thập kỷ 1930 dưới sự đầu tư của nhà nước các kỹ sư Boris Yuriev và Alexei Cheremukhin tiến hành các thí nghiệm với máy bay trực thăng TsAGI 1-EA. Đây là loại có một cánh quạt nâng và phía đầu và đuôi có hai cánh quạt chống xoay "anti-torque" máy bay này vào ngày 14 tháng 8 năm 1932 đã bay lên được độ cao 650 m.
Nhưng có lẽ ấn tượng hơn cả vào thập niên 1930 là các thành công của người Đức. Năm 1934 máy bay Focke-Wulf Fw-61 do giáo sư Heinrich Focke và kỹ sư Gerd Achgelis thiết kế chế tạo, với máy bay này nữ phi công huyền thoại của đảng Quốc xã Hanna Reitsch đã thường xuyên bay biểu diễn như các chiến dịch tuyên truyền cho đế chế III. Loại máy bay này có một động cơ cùng lúc lai 3 cánh quạt: 2 cánh quạt nâng đặt hai bên phải trái quay ngược chiều nhau và một cánh quạt mũi theo chiều thẳng đứng để tạo lực đẩy ngang.
Trong thế chiến hai lần đầu tiên Đức đã sử dụng trực thăng trong chiến đấu đó loại máy bay trực thăng khác có kết cấu rất đặc sắc Flettner FL-282 Kolibri nó có 2 bộ cánh quạt nâng đặt cạnh nhau, trục nghiêng góc với nhau theo hình chữ "V", quay đồng bộ ngược chiều như bánh răng (để không chém vào nhau) với số lượng rất nhỏ tham chiến trên chiến trường Địa Trung Hải khi chiến tranh kết thúc, Hạm đội Đức phá hủy hết chỉ còn sót lại 3 chiếc được đem về Mỹ thử nghiệm. Có thể nói loại máy bay này là hoàn thiện nhất đương thời, đã có một số yếu tố của máy bay trực thăng hiện đại.
Đến đây có thể coi là kết thúc giai đoạn trực thăng sơ khởi và bước vào thời kỳ của trực thăng hiện đại. Mà đặc trưng cơ bản của thời kỳ sơ khởi là trực thăng chưa có hệ thống biến bước để tạo chênh lệch lực nâng làm nghiêng đĩa cánh quạt nâng. Hoàn toàn chưa có hệ thống thay đổi góc tấn "collective", và hệ thống "ciclic" thì lại càng chưa có. Do không thể nghiêng được mặt phẳng của cánh quạt nâng nên hầu hết trực thăng của thời kỳ này không thể nghiêng phải – trái, trước – sau, chỉ có thể bay thẳng về phía trước bằng cánh quạt đứng thổi gió ngang như của máy bay có cánh cố định. Chỉ duy nhất máy bay Flettner FL-282 Kolibri của Hải quân Đức Quốc xã là có lực đẩy ngang nhờ cánh quạt nâng nghiêng góc so với mặt phẳng ngang nhưng độ nghiêng góc này là kết cấu cố định và máy bay cũng chỉ có thể bay thẳng về phía trước và cũng rất vụng về khó xoay trở như các loại cùng thời khác. Vì cơ cấu điều khiển còn mang tính kiểm nghiệm và ít có cơ chế điều khiển nên máy bay rất khó điều khiển, rất vụng về, hay gặp rắc rối về tính không ổn định dẫn đến rơi nhiều vì những lý do khí động học.
Trực thăng hiện đại.
Sự phát triển trực thăng diễn ra cùng thời với máy bay có cánh cố định, nhưng trong khoảng 50 năm từ đầu thế kỷ 20 trong khi máy bay thông thường phát triển cực nhanh thì trực thăng tiến triển rất khó khăn. Máy bay trực thăng chỉ thực sự bắt đầu có ứng dụng rộng rãi ở thập kỷ 1950 trong khi đến thời điểm đó máy bay cánh cố định đã đi từ khung vải của máy bay anh em nhà Wright 1903, qua biplane vỏ gỗ như tiêm kích Softwith Camel của thế chiến I rồi đến các máy bay ném bom khổng lồ bay xuyên đại dương như siêu pháo đài bay B-29 trong thế chiến II và đến những năm 1950 khi áp dụng đại trà trực thăng thì máy bay cánh cố định đã bước vào thời đại máy bay phản lực.
Nguyên nhân của sự chậm chạp đó của trực thăng chủ yếu là vấn đề cộng hưởng, rung lắc cánh quạt nâng và các vấn đề điều khiển cánh quạt. Tất cả các tác động cơ học – khí động học rất phức tạp làm cánh quạt nâng rất dễ gãy hoặc rơi vào chế độ mất cân bằng. Chỉ đến những năm 1950 sau khoảng năm chục năm khi khoa học vật liệu cho ra đời được các loại thép đặc biệt chịu được các ứng suất rất cao thì khoa học các nước mới giải quyết được các vấn đề rất phức tạp này và máy bay trực thăng mới phát triển được.
Cũng giống như đối với máy bay có cánh thông thường Hoa Kỳ là nước đầu tư lớn nhất vào nghiên cứu trực thăng. Tháng 5 năm 1942 nước này đưa vào sản xuất theo dây chuyền loại trực thăng Sikorsky XR-4 cho quân đội nước mình. Và năm 1946 loại trực thăng Bell-47 của Arthur Young đã được cho phép sử dụng vào mục đích dân dụng. Hai thập kỷ sau loại Bell-206 lập các kỷ lục thế giới của máy bay trực thăng thương mại của mọi thời đại về số giờ bay và số lượng sản xuất của một loại trực thăng dân dụng. Những trực thăng này thực sự về bản chất đã không khác gì máy bay trực thăng ngày nay, nó theo sơ đồ Sikorsky với đĩa cánh quạt nâng có hệ thống biến bước '"collective" và "ciclic" với đầy đủ các cơ chế điều khiển hiện đại cho phép tính cơ động tốt.
Gần như ngay lập tức từ thập kỷ 1950 có sự bùng nổ của máy bay trực thăng vào mọi lĩnh vực. Và các quốc gia nhất là các nước đối địch trong chiến tranh Lạnh Liên Xô, Hoa Kỳ cùng nhau chạy đua vũ trang trong đó có "chạy đua trực thăng" trong khi Hoa Kỳ tối đa "trực thăng hoá" quân đội và các lĩnh vực kinh tế, cuộc sống thì Liên Xô luôn theo đuổi xây dựng các kỷ lục, cố gắng thiết kế các loại máy bay trực thăng khổng lồ "cao hơn – nhanh hơn – mạnh hơn". Các nước châu Âu đặc biệt như Pháp, Ý cũng đầu tư rất nhiều vào trực thăng, hiện nay các mẫu máy bay trực thăng của các nước này là rất có uy tín trên thế giới.
Trong các năm 1960, 1970 chiến tranh Việt Nam lần đầu tiên thử thách và đã cho thấy sức mạnh rất ghê gớm của loại vũ khí mới này: bộ binh trực thăng vận "kỵ binh bay" đi mây về gió, cơ động rất tốt có thể ngay chớp nhoáng đến được mọi nơi chiến sự và bí mật thâm nhập sâu vào vùng đối phương kiểm soát, thậm chí có thể sà thấp tung lưới bắt người dưới đất. Và trực thăng vũ trang được dùng làm vũ khí tiến công mặt đất và yểm trợ bộ binh cực kỳ hiệu quả... Với kinh nghiệm của cuộc chiến tranh này tất cả lục quân các cường quốc quân sự đều cố gắng xây dựng bộ binh trực thăng vận và các loại trực thăng chiến đấu khác nhau làm thay đổi sâu sắc hình thái chiến đấu chiến tranh hiện đại trên bộ. Đồng thời đây là loại máy bay rất thích hợp để bố trí trên chiến hạm của Hải quân.
Về phía Liên Xô nước này thiết kế những máy bay trực thăng khổng lồ liên tiếp phá những kỷ lục thế giới như của tổ hợp thiết kế – chế tạo Mil Mi-6, Mi-10, M(2006) Mi-26. Một tổ hợp trực thăng lớn khác của Liên Xô – Nga là Kamov cũng rất nổi tiếng với "đặc sản" sơ đồ trực thăng hai tầng cánh nâng đồng trục.
Trong nghiên cứu về trực thăng thế giới thời kỳ này có xu hướng đáng chú ý: một trong những cách giảm tải cho cánh quạt nâng là áp dụng các sơ đồ nhiều bộ cánh quạt như loại 2 tầng cánh quạt đồng trục kiểu Kamov hoặc như loại 2 đĩa cánh quạt không đồng trục như cần cẩu bay Boeing CH-47 Chinook. Hai hay nhiều đĩa cánh quạt cho phép giảm đường kính và vòng quay của từng đĩa cánh quạt nâng, tăng hiệu suất và độ an toàn cơ học – khí động học lên rất nhiều. Và đối với sơ đồ cơ bản Sikorsky để giảm vận tốc quay, đường kính đĩa cánh quạt mà không làm ảnh hưởng đến lực nâng thì người ta tăng số cánh trong một đĩa cánh quạt lên, cánh quạt nâng của máy bay trực thăng ngày nay có thể có đến 9 cánh, tăng số cánh cũng làm giảm tiếng ồn, nhưng việc tăng số cánh nhất là tăng số tầng cánh sẽ làm tăng tính phức tạp của cơ cấu điều khiển cánh quạt lên rất nhiều (cơ cấu này bản thân nó đã là rất rất phức tạp với các hệ thống điều khiển biến bước cho hệ thống thay đổi góc tấn và thay đổi góc với mặt phẳng ngang để tạo lực đẩy ngang).
Công suất máy của trực thăng cũng tăng lên rất nhiều từ những ngày sơ khởi trực thăng còn dùng động cơ piston chạy xăng đến những năm 1960, 1970 và cho đến nay chỉ còn rất ít những máy bay dân dụng nhỏ không cần công suất lớn vẫn tiếp tục dùng động cơ piston còn lại đều đã trang bị động cơ tuốc bin khí truyền lực loại động cơ này rất gọn nhẹ độ tin cậy rất cao và đặc biệt còn dự trữ tiềm năng công suất cho một thời gian rất dài có thể là hàng chục năm nữa.
Đến những năm 1980 – 1990 máy bay trực thăng không còn những bứt phá lớn về nguyên tắc nữa trực thăng đã đạt đến độ hoàn thiện của nó.
|
Năng lượng tự do Gibbs ("Gibbs free energy") là năng lượng vốn có của một hệ , khi cần nó được dùng để thực hiện công dưới các nhiệt độ và áp suất nhất định. Khái niệm về năng lượng tự do được ông Josiah Willard Gibbs nêu ra đầu tiên nên ký hiệu là G. Nó là năng lượng tối đa tiềm ẩn trong hệ thống. Các chất hóa học đều có chứa năng lượng tự do. Khi xảy ra phản ứng hóa học, có sự biến đổi năng lượng tự do được ký hiệu bằng ΔG.
Hàm năng lượng tự do Gibbs được tính bằng công thức:
∆G = ∆H - T∆S
Nếu tất cả các chất phản ứng và chất sản phẩm đều ở trạng thái tiêu chuẩn thì hàm năng lượng tự do Gibbs được tính bằng công thức:
∆G⁰ = ∆H⁰ - T∆S⁰
Trong cân bằng hoá học pha khí:
|
Hamas là từ viết tắt cho Harakat al-Muqawama al-Islamiyya (tiếng Ả Rập: حركة المقاومة الاسلامية), có nghĩa là "Phong trào Kháng chiến Hồi giáo". Ngày 14 tháng 12 năm 1987, chỉ ít ngày sau khi cuộc nổi dậy của người Palestine chống lại Israel (còn được gọi là Intifada lần thứ nhất) bùng nổ, Phong trào Hồi giáo Sunni Vũ trang Hamas đã được thành lập với mục tiêu dài hạn là thành lập một nhà nước Hồi giáo của người Palestine trên vùng lãnh thổ được hoạch định trước năm 1948.
Khẩu hiệu của Hamas là "Allah là mục tiêu, Nhà tiên tri Muhammad là hình mẫu, Kinh Koran là hiến pháp, Thánh chiến là con đường duy nhất và được chết vì Allah là sự thể hiện lòng trung thành". Vì những lý do đó, Hamas khước từ mọi giải pháp hòa bình, không công nhận nhà nước Israel. Và để thành lập một nhà nước Palestine Hồi giáo, đối với họ, không có con đường nào khác ngoài việc tiến hành khủng bố dân thường.
Trong tiếng Ả Rập, Hamas có nghĩa là "nhiệt huyết", "lửa". Các hành động của Hamas không đi ngược lại tiêu chí này. Đánh bom liều chết là một yếu tố mà Hamas coi là vũ khí trong cuộc chiến chống lại Israel.
Người ta biết đến Hamas nhiều hơn với vai trò là một phong trào quân sự. Nhưng thực tế, các hoạt động của họ trong lĩnh vực xã hội cũng khá rộng rãi. Trong khi các phong trào Hồi giáo vũ trang khác như Jihad, lữ đoàn tử vì đạo Al-Aqsa ít phát triển, thì Hamas ngày càng lớn mạnh và giành được sự ủng hộ nhờ các chương trình phúc lợi xã hội lớn. Nguồn tài chính được ước đoán hàng tỷ đô la Mỹ nhờ hoạt động quyên góp này đã trang trải cho các hoạt động xã hội và qua đó, Hamas giành được uy tín lớn trong người dân Palestine.
Tháng 2 năm 2006, nằm ngoài dự đoán, Hamas đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Hội đồng lập pháp Palestine. Một trong những nhà lãnh đạo của Hamas là Ismail Haniya trở thành Thủ tướng của Palestine.
Quan điểm quốc tế về Hamas.
Đối với các sử gia, các nhà chính trị học và luật gia của đa số các nước phương Tây thì Hamas là một phong trào khủng bố. Các quốc gia dưới đây xem Hamas là một tổ chức khủng bố:
Một số nước không cho Hamas là một tổ chức khủng bố hoặc vẫn giữ liên lạc vì một lý do nào đó:
|
Lã Bất Vi (Giản thể: 吕不韦; phồn thể: 呂不韋; 292 TCN - 235 TCN) là một thương nhân người nước Vệ, sau trở thành Tướng quốc của nước Tần thời Chiến Quốc. Ông nổi tiếng trong lịch sử về buôn quan bán tước, xoay trở từ người buôn bán bình thường trở thành một chính trị gia có ảnh hưởng.
Xuất thân từ thương gia, ông được chọn giữ chức Tướng quốc trong 13 năm cho nước Tần, trở thành một chính trị gia trứ danh đương thời. Với tư tưởng 「Kiêm Nho Mặc, hợp Danh Pháp; 兼儒墨,合名法」, ông hợp lực biên soạn nên Lã Thị Xuân Thu, chủ trương chính trị một cách rất có bài bản. Những thành quả này khiến ông trở thành một biểu tượng của phái Tạp gia - một trong Cửu Lưu thập gia thời Tiên Tần. Khi giữ chức, ông chủ trương đánh chiếm Đông Chu, Triệu cùng Vệ, mở Tam Xuyên, Thái Nguyên và Đông Quận, đối với cơ nghiệp nhà Tần có thành quả lớn lao. Sau cùng, vì sự vụ Lao Ái mà Lã Bất Vi bị liên lụy, cuối cùng bị chính Doanh Chính ép buộc uống thuốc độc tự sát.
Có thuyết nói rằng ông là cha của Doanh Chính, tức Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa, song thuyết này vẫn chưa được kiểm chứng và còn nhiều điểm mâu thuẫn. Các giáo sư John Knoblock và Jeffrey Riegel, trong bản dịch Lã Thị Xuân Thu của họ, gọi câu chuyện này "rõ ràng là sai, nhằm mục đích phỉ báng Bất Vi và xúc phạm Hoàng đế đầu tiên".
Lã Bất Vi là người nước Vệ, nay thuộc khu vực phía Nam của Bộc Dương, tỉnh Hà Nam. Sách Chiến Quốc sách lại nói ông sinh ra ở Dương Địch (猴阳) ở nước Hàn. Xuất thân tầm thường, Lã Bất Vi là một thương nhân, nhờ buôn bán thành công nên rất giàu có.
Năm thứ 40 đời Tần Chiêu Tương vương (267 TCN), Điệu Thái tử mất. Năm thứ 42 (265 TCN), ngôi Thái tử còn khuyết, nên Tần vương cho con thứ là An Quốc quân công tử Trụ làm Thái tử. An Quốc quân có hơn 20 người con và nhiều vợ, trong đó người vợ được yêu nhất được lập làm chính phu nhân, gọi là Hoa Dương phu nhân. Phu nhân không có con, mà một người con của An Quốc quân là Dị Nhân sinh ra bởi thị thiếp Hạ Cơ không được yêu quý, nên Dị Nhân phải làm con tin của Tần ở nước Triệu. Tần mấy lần đánh Triệu, nên Triệu bạc đãi Dị Nhân.
Lã Bất Vi ở Hàm Đan nước Triệu, trông thấy Dị Nhân bèn nảy ra ý muốn giúp Dị Nhân làm người kế nghiệp nước Tần để bản thân mình tiến thân, bèn chủ động kết giao với Dị Nhân. Lã Bất Vi đưa cho Dị Nhân năm trăm cân vàng tiêu dùng và đãi tân khách. Rồi lấy tiền mua của báu vật lạ, đem sang Tần, xin ra mắt người chị Hoa Dương phu nhân để dâng những vật ấy cho Hoa Dương phu nhân. Nhân đó, Lã Bất Vi kể Dị Nhân tài giỏi, khôn ngoan, giao với người các nước, bạn hữu khắp thiên hạ. Hoa Dương phu nhân không có con, Bất Vi khuyên nhận Dị Nhân làm con nuôi. Hoa Dương phu nhân nghe theo, vào xin An Quốc quân lập Dị Nhân làm thừa tự. Danh tiếng Dị Nhân từ đó càng nổi với chư hầu.
Bấy giờ, Lã Bất Vi có một người thiếp là Triệu Cơ, đàn hay múa giỏi và có nhan sắc. Một hôm, Bất Vi mời Dị Nhân đến nhà, sai Triệu Cơ ra rót rượu. Dị Nhân đem lòng say mê, Lã Bất Vi liền dâng Triệu Cơ cho Dị Nhân. Năm Chiêu Tương vương thứ 48 (259 TCN), tháng giêng, Triệu Cơ sinh hạ một con trai, chính là Doanh Chính.
Các sử gia vẫn luôn tranh cãi về việc Doanh Chính là con của Lã Bất Vi hay Dị Nhân, vì không loại trừ khả năng Triệu Cơ đã có thai với Lã Bất Vi từ trước. Tuy nhiên, học giả đời nhà Thanh là Lương Ngọc Thằng (梁玉繩) cho rằng ở đây có điểm đáng ngờ. Căn cứ nguyên văn mà Tư Mã Thiên chép trong Sử ký về việc Triệu Cơ sinh hạ, có ghi: [Cơ tự nặc hữu thân, chí đại kỳ thời, sinh tử Chính; 姬自匿有身,至大期時,生子政]. Trong đó, "Đại kỳ" một từ là chỉ ý việc phụ nữ đủ tháng sinh nở thời cổ, ám chỉ việc Triệu Cơ cùng Doanh Dị Nhân sau khi chung chạ thì mang thai, xác thực Triệu Cơ sau khi mang thai 10 tháng mới sinh ra Doanh Chính. Mà cũng trong Sử ký, phần Tần Thủy Hoàng bản kỷ, đặc biệt ghi rõ Doanh Chính là vào "Tần Chiêu vương năm thứ 48, tháng giêng sinh ra ở Hàm Đan", căn cứ tài liệu biên thành của Tần triều, đều có khảo chứng. Lương Ngọc Thằng chỉ ra rằng, Tư Mã Thiên đem cả hai cụm từ rất mâu thuẫn là [Tự nặc hữu thân; ý là "đang có thai"] cùng [Đại kỳ; ám chỉ "sau khi chung chạ mới có thai"] để chung trong một câu như vầy, là một loại bút pháp Xuân Thu, ám chỉ tin đồn rất phổ biến khi ấy là Triệu Cơ có thai trước khi hầu ngủ Doanh Dị Nhân nhưng không tiện phủ nhận. Rất có thể, Doanh Chính thật sự là con của Doanh Dị Nhân.
Năm thứ 50 đời Chiêu Tương vương (257 TCN), nước Tần sai Vương Ý vây Hàm Đan, triều đình nước Triệu muốn giết Dị Nhân. Biết được tin, Dị Nhân cùng Lã Bất Vi mưu đưa sáu trăm cân vàng cho kẻ coi giữ nên trốn thoát Triệu. Triệu muốn giết vợ con Dị Nhân, nhưng Triệu Cơ là con nhà tai mắt ở Triệu, lẩn trốn được vì thế mẹ con đều sống.
Tướng quốc nước Tần.
Năm Tần Chiêu Tương vương thứ 56 (251 TCN), Tần vương mất. Sau một thời gian để tang cha, sang năm sau (250 TCN) thì An Quốc quân lên làm Tần vương, tức là Tần Hiếu Văn vương, lập Hoa Dương phu nhân làm Vương hậu, Dị Nhân (lúc này đã đổi tên thành Tử Sở) do đó trở thành Thái tử.
Sau 6 năm cách biệt, Triệu Cơ cùng con là Doanh Chính được đón về nước Tần. Nhưng Hiếu Văn vương lên ngôi được 3 ngày đã mất. Thái tử Tử Sở lên thay, tức là Tần Trang Tương vương, tôn mẹ nuôi là Hoa Dương hậu làm [Hoa Dương Thái hậu], mẹ đẻ Hạ Cơ là [Hạ Thái hậu]. Có ý kiến cho rằng chính Bất Vi chủ mưu hại vua Tần để Tử Sở sớm lên thay ngôi.
Năm đầu (249 TCN), Tần Trang Tương vương liền phong cho Bất Vi làm Tướng quốc, tước hiệu Văn Tín hầu (文信侯), được ăn thuế 100.000 hộ thực ở quận Hà Nam, Lạc Dương. Trang Tương vương làm vua được 3 năm thì mất, Thái tử là Chính lên ngôi, gọi là Tần vương Chính, tức Tần Thủy Hoàng sau này, tôn Lã Bất Vi làm [Trọng phụ; 仲父].
Khi lên nắm phụ chính, Lã Bất Vi chủ trương mở rộng cương thổ của nước Tần, gây chiến và tranh giành ảnh hưởng đối với Đông Chu, Triệu cùng nước Vệ, chiếm đại lượng thành trì, làm cơ sở cho nước Tần về sau thống nhất thiên hạ. Bấy giờ ở Ngụy có Tín Lăng quân Nguỵ Vô Kỵ, ở Sở có Xuân Thân quân Hoàng Yết, ở Triệu có Bình Nguyên quân Triệu Thắng, ở Tề có Mạnh Thường quân Điền Văn, tất cả đều đua nhau quý kẻ sĩ, chiều tân khách. Lã Bất Vi thấy Tần mạnh mà mình không bằng họ nên xấu hổ cũng đón mời các kẻ sĩ đãi rất hậu, khách ăn trong nhà có đến ba nghìn. Khi ấy chư hầu có nhiều biện sĩ, như bọn Tuân Khanh làm sách truyền bá ra thiên hạ. Bất Vi bèn sai các khách soạn ra những điều mình biết, họp lại làm tám Lãm, sáu Luận, mười Kỷ gồm hơn hai mươi vạn chữ, cho là đủ hết những việc trời đất, muôn vật xưa nay. Ông đặt tên sách là Lã Thị Xuân Thu bày ở cửa chợ Hàm Dương, đặt nghìn lạng vàng lên trên, mời các du sĩ của chư hầu ai có thể thêm bớt một chữ thì xin biếu một nghìn lạng vàng.
Trong cung, Lã Bất Vi hay cùng mẹ của Tần vương là Triệu Cơ tư thông. Khi Tần vương Chính đã lớn mà Thái hậu cứ dâm loạn mãi, thì Lã Bất Vi sợ lộ mà mang vạ, bèn ngầm tìm một người có dương vật lớn tên Lao Ái, để chiều lòng Thái hậu thay mình. Quả nhiên Thái hậu nghe chuyện rồi, Lã Bất Vi vờ sai người tố cáo y phạm tội đáng thiến. Sau đó, Bất Vi lại báo với thái hậu: "Nên có kẻ giả bị thiến này làm chức Cấp Sự trung". Thái hậu bèn ngầm cho kẻ coi việc thiến nhiều tiền. Viên quan coi án lại luận tội vờ, nhổ râu mày làm cho hoạn quan nhờ vậy được vào hầu Thái hậu. Thái hậu cùng y gian dâm, sinh được hai đứa con, sợ người ta biết chuyện, bèn vờ xem bói nói nên tránh mùa dời cung sang đất Ung.
Năm thứ 9 đời Tần vương Chính (238 TCN), có kẻ phát giác Lao Ái thực không phải là hoạn quan, thường tư thông với Thái hậu, sinh hai con đều giấu đi.
Tần vương Chính liền giao cho pháp đình xét, biết rõ sự tình. Việc liên quan đến Tướng quốc là Lã Bất Vi. Tháng 9, Tần vương cho người giết 3 họ nhà Lao Ái, lại giết hai con do Thái hậu đẻ ra và đày Thái hậu sang đất Ung. Nhà cửa các môn hạ của Lao Ái đều bị tịch thu và họ bị đày sang đất Thục. Tiếp đến, Tần vương muốn giết cả Tướng quốc Lã Bất Vi, nhưng vì Bất Vi thời trước có công lớn, lại được các tân khách, biện sĩ nói giúp khá đông nên không nỡ làm tội.
Tháng 10 năm thứ 10 (237 TCN), Tần Vương cách chức Tướng quốc của Lã Bất Vi. Đến khi người Tề là Mao Tiều thuyết vua Tần, vua Tần mới sang Ung đón Thái hậu về Hàm Dương như cũ và phong ấp cho Văn Tín hầu Lã Bất Vi ở Hà Nam. Được hơn một năm, các tân khách cùng sứ giả của chư hầu đến thăm Văn Tín hầu lũ lượt ở trên đường.
Doanh Chính sợ Văn Tín hầu làm loạn, bèn viết thư nói:
Rồi bắt đem cả nhà Bất Vi dời sang Thục (nay là vùng Tứ Xuyên). Lã Bất Vi tự liệu sẽ bị giết, bèn uống thuốc độc tự tử. Khi đó, ông tầm 57 tuổi.
|
Bánh phồng tôm là một loại bánh thường dùng để ăn nhẹ phổ biến tại các nước Đông Nam Á. Bánh đã chiên có độ giòn, xốp, béo ngậy, thơm mùi hải sản.
Tại Việt Nam, bánh phồng tôm, được xem là đặc sản của miền Tây Nam Bộ, thường được bán dưới dạng chưa chiên, phải chiên lên trước khi sử dụng. Thành phố Sa Đéc thuộc tỉnh Đồng Tháp là nơi sản xuất nhiều bánh phồng tôm nhất Việt Nam với một thương hiệu rất nổi tiếng là Sa Giang.
Bánh phồng tôm cũng được bán dưới dạng đã chiên ở nhiều nước trên thế giới.
Bánh được làm từ bột (gồm bột năng hoặc bột sắn lấy từ củ của cây sắn có trộn thêm một ít bột nở, NaHCO3), thịt tôm xay nhuyễn, một ít hạt tiêu giã nhỏ. Người ta còn thay thịt tôm bằng thịt cua hay một số loại hải sản khác. Đặc biệt, bánh dùng cho người ăn chay có thành phần chủ yếu gồm bột và khoai tây.
Các thành phần nguyên liệu sau khi trộn với nhau sẽ được nhồi vào những chiếc túi vải dạng hình ống dài (giống như xúc xích nhưng to hơn nhiều). Sau khi được hấp chín, người ta cắt ra thành từng lát tròn mỏng rồi đem phơi khô.
Khi sử dụng phải chiên giòn với dầu ăn nóng, bánh sẽ nở to ra gấp 3-4 lần nên được gọi là bánh phồng.
Hiện nay ngoài loại bánh phồng tôm truyền thống còn có thêm các loại như phồng tôm cua, phồng tôm mực, bánh phồng basa với mùi vị hấp dẫn và đặc sắc.
Phổ biến ở Đông Nam Á.
Bánh phồng tôm được gọi là krupuk udang trong tiếng Indonesia, và chỉ là một biến thể của nhiều loại krupuk được công nhận trong ẩm thực Indonesia. Tại Indonesia nhiệm kỳ krupuk hoặc kerupuk được sử dụng như thuật ngữ chung để chỉ các loại bánh. Indonesia có lẽ có nhiều loại krupuk lớn nhất.
Krupuk udang (bánh phồng tôm) và các loại krupuk khác có mặt ở khắp mọi nơi ở Indonesia. Ví dụ về các nhãn hiệu krupuk udang phổ biến ở Indonesia bao gồm Finna và nhãn hiệu Komodo. Để đạt được độ giòn tối đa, hầu hết món krupuk udang thô được đóng gói sẵn này phải được phơi khô trước khi chiên giòn tại nhà. Để nấu krupuk, cần có một chảo và nhiều dầu ăn rất nóng. Raw krupuk khá nhỏ, cứng và có màu đậm hơn so với nấu chín. Các thị trấn đánh cá Sidoarjo ở Đông Java, cũng là Cirebon ở Tây Java, là nhà sản xuất chính của krupuk udang.
Bánh phồng tôm được gọi là keropok ở Malaysia. Chúng là một trong những món ăn nhẹ phổ biến nhất ở Malaysia và đặc biệt được phục vụ tại nhà của nhiều người trong các lễ hội (như Tết Nguyên Đán và Hari Raya).
Bánh phồng tôm được gọi là kropek (còn được đánh vần là kropeck) ở Philippines, hoặc theo tên tiếng Anh của họ là "prawn crakers" hoặc "fish crackers" (đặc biệt là trong các phiên bản thương mại được sản xuất hàng loạt). Chúng được làm từ bột mì truyền thống (thường là bột sắn), tôm bột hoặc cá, các loại gia vị khác nhau và nước. Không giống như ở Malaysia và Indonesia, kropek thường chỉ được ăn như một món ăn nhẹ hoặc món khai vị (rượu chôm chôm) đi kèm với rượu, tương tự như chicharon. Chúng thường được nhúng trong nước sốt dựa trên giấm cay, đáng chú ý nhất là sinamak (một loại giấm cay bản địa). Kropek cũng đã được đồng hóa vào ẩm thực Trung Quốc Philippines, thường được phục vụ như một món ăn phụ cho một số món ăn Philippines gốc Trung Hoa.
|
Luis Barragán (9 tháng 3 năm 1902 tại Guadalajara – 22 tháng 11 năm 1988 tại Thành phố Mexico) là một trong những kiến trúc sư México quan trọng nhất của thế kỉ 20.
Ông theo học tại trường Kỹ sư Tự do Guadalajara ("Escuela Libre de Ingenieros") từ năm 1919 đến năm 1923. Sau khi tốt nghiệp, Barragán quyết định đi du lịch châu Âu. Ông tỏ ra thích thú với kiến trúc của người Moors(người Tây Ban Nha có gốc Phi châu hay người Tây Ban Nha theo Hồi giáo) ở miền nam Tây Ban Nha, vùng Địa Trung Hải, các khu vườn của Ferdinand Bac và các tác phẩm lý thuyết của Le Corbusier. Trong thời gian này, ông đã tự học để trở thành một kiến trúc sư. Từ năm 1927 đến năm 1936, Barragán hành nghề kiến trúc tại Guadalajara và sau đó là Thành phố Mexico. Năm 1945, ông lập đồ án quy hoạch tổng mặt bằng và thiết kế đô thị khu ở Pedregal tại San Ángel. Năm 1955, ông tái thiết khu di tích lịch sử Convento de las Capuchinas Sacramentarias ở Tlalpan, nằm ở phía nam Thành phố Mexico. Năm 1957, Barragán bắt đầu thiết kế tháp Thông tin vệ tinh ở Naucalpan, khu ở Las Arboledas cách Thành phố Vệ tinh của Naucalpan vài km. Năm 1964, ông cùng với Las Arboledas thiết kế khu ở Lomas Verdes ở Naucalpan.
Năm 1980, ông là người thứ hai được trao giải thưởng Pritzker, nhà và xưởng thiết kế của ông được xây dựng từ năm 1948 ở Thành phố Mexico, hiện nay được xếp hạng Di sản thế giới của UNESCO.
|
James Stirling (kiến trúc sư)
Sir James Frazer Stirling (1926–1992) là một kiến trúc sư quan trọng nhất của Anh từ thập niên 1960. Ông sinh ra tại Glasgow, Scotland, nhưng lớn lên tại Liverpool. Stirling theo học kiến trúc tại Đại học Liverpool và thành lập văn phòng kiến trúc của mình tại London. Ông được giải thưởng Pritzker năm 1981.
Để tưởng nhớ ông, Hiệp hội Kiến trúc sư Hoàng gia Anh RIBA đặt ra Giải thưởng Stirling từ năm 1996.
|
Biên Hòa là một thành phố công nghiệp và là tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Nai, thuộc vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam. Thành phố Biên Hòa là đô thị loại I, là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có sông Đồng Nai chảy qua, cách thủ đô Hà Nội 1.684 km, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 30 km, cách thành phố Vũng Tàu 90 km. Biên Hòa là thành phố thuộc tỉnh có dân số đông nhất cả nước, tương đương với 2 thành phố trực thuộc trung ương là Đà Nẵng và Cần Thơ và cao hơn dân số của 37 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trên địa bàn thành phố có các tuyến quốc lộ như Quốc lộ 1 (chiều dài đi qua là 13 km), Quốc lộ 1K (chiều dài đi qua là 14 km và Quốc lộ 51 (chiều dài đi qua là 16 km).
Trong Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán (triều Nguyễn), Hoàng Minh Trí cho là đất Biên Hòa xưa là lãnh thổ nước Bà Lỵ (Bà Lị) và nước Thù Nại, những tiểu quốc cổ nằm ở phía Đông Nam nước Chiêm Thành, nay là vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai. Về sau, khi Chân Lạp lớn mạnh đều bị Chân Lạp thôn tính. Trước khi bị thực dân Pháp đô hộ, Biên Hòa là trung tâm của toàn bộ miền Nam với tên gọi Trấn Biên.
Năm 1808, dinh Trấn Biên đổi tên thành Trấn Biên Hòa, lỵ sở tại thôn Phước Lư, huyện Phước Long.
Năm 1832, Trấn Biên Hòa được đổi thành tỉnh Biên Hòa, lỵ sở dời về thôn Tân Lân, huyện Phước Chánh.
Năm 1876, thực dân Pháp chia tỉnh Biên Hòa thành 3 hạt tham biện: Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa. Đến năm 1900, các hạt tham biện đổi thành tỉnh. Tỉnh lỵ tỉnh Biên Hòa thuộc làng Bình Trước, tổng Phước Vĩnh Thượng, quận Châu Thành.
Năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ quyết định chia huyện Châu Thành, tỉnh Biên Hòa thành hai đơn vị là thị xã Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu:
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách đất tỉnh Biên Hòa lập thêm 2 tỉnh Long Khánh, Phước Long. Sau năm 1956, các làng gọi là xã; tỉnh lỵ tỉnh Biên Hòa thuộc xã Bình Trước, quận Châu Thành. Đến năm 1963, quận Châu Thành đổi tên thành quận Đức Tu, gồm 15 xã: Bình Trước, Tam Hiệp, Tân Thành, Hiệp Hòa, Bùi Tiếng, Hố Nai, Trảng Bom, Bửu Hòa, Tân Vạn, Long Bình Tân, Phước Tân, Long Hưng, An Hòa Hưng, Tân Phong, Bửu Long; quận lỵ đặt tại xã Tam Hiệp.
Sau năm 1975, 3 tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy hợp nhất thành tỉnh Đồng Nai, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Biên Hòa.
Năm 1976, thị xã Biên Hòa được nâng cấp thành thành phố Biên Hòa - đô thị loại III, thuộc tỉnh Đồng Nai, gồm 11 phường: An Bình, Hòa Bình, Quang Vinh, Quyết Thắng, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tân Mai, Tân Tiến, Thanh Bình, Thống Nhất, Trung Dũng và 9 xã: Bửu Hòa, Bửu Long, Hiệp Hòa, Hóa An, Long Bình Tân, Tân Hạnh, Tân Phong, Tân Thành, Tân Vạn.
Ngày 23 tháng 10 năm 1978, chuyển 2 xã Hố Nai 1 và Hố Nai 2 thuộc huyện Thống Nhất về thành phố Biên Hòa quản lý và đổi thành 2 phường có tên tương ứng.
Ngày 17 tháng 1 năm 1984, chia phường Hố Nai 2 thành 2 phường: Tân Biên và Tân Hòa; hợp nhất 2 xã: Bửu Long và Tân Thành thành xã Tân Bửu; chuyển 2 xã Tân Phong và Tân Vạn thành 2 phường có tên tương ứng.
Ngày 28 tháng 12 năm 1984, chuyển xã Bửu Hòa thành phường Bửu Hòa.
Ngày 8 tháng 6 năm 1988, chia phường Tam Hòa thành 2 phường: Tam Hòa và Bình Đa.
Ngày 10 tháng 5 năm 1993, thành phố Biên Hòa được công nhận là đô thị loại II.
Ngày 29 tháng 8 năm 1994, chuyển xã Tân Bửu thành phường Bửu Long; chuyển xã Long Bình Tân thành phường Long Bình Tân; chia phường Tam Hòa thành 2 phường: Tam Hòa và Long Bình; thành lập phường Tân Hiệp trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích và dân số của các phường Tam Hòa, Tam Hiệp và Tân Tiến; chia phường Tân Phong thành 2 phường: Tân Phong và Trảng Dài. Sau khi điều chỉnh, thành phố có 23 phường và 3 xã.
Năm 1996, đổi tên phường Hố Nai 1 thành phường Hố Nai.
Ngày 5 tháng 2 năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP. Theo đó, chuyển 4 xã: An Hòa, Long Hưng, Phước Tân, Tam Phước thuộc huyện Long Thành về thành phố Biên Hòa quản lý.
Sau khi điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính, thành phố Biên Hòa có 30 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, gồm 23 phường và 7 xã.
Ngày 30 tháng 12 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2488/QĐ-TTg công nhận Biên Hòa là đô thị loại I thuộc tỉnh Đồng Nai. Như vậy Biên Hòa là đô thị loại I thứ hai của khu vực Đông Nam Bộ, sau thành phố Vũng Tàu.
Ngày 10 tháng 5 năm 2019, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 694/NQ-UBTVQH14 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2019). Theo đó, chuyển 6 xã: An Hòa, Hiệp Hòa, Hóa An, Phước Tân, Tam Phước, Tân Hạnh thành 6 phường có tên tương ứng.
Thành phố Biên Hòa có 29 phường và 1 xã như hiện nay.
Kể từ ngày 10 tháng 5 năm 2022, Trụ sở Văn phòng HĐND-UBND thành phố Biên Hòa được di dời từ địa chí số 90 Hưng Đạo Vương, phường Thanh Bình, thành phố Biên Hòa sang địa chỉ số 225 Võ Thị Sáu, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa (Tầng 02, Tòa nhà Trung tâm hành chính thành phố Biên Hòa)
Vị trí địa lý.
Thành phố Biên Hòa nằm ở phía tây của tỉnh Đồng Nai, có vị trí địa lý:
Điều kiện tự nhiên.
Do nằm trong khu vực Đông Nam Bộ nên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa chung của toàn khu vực gồm 2 mùa rõ rệt gồm mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến tháng 10, mùa khô thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình trong năm từ khoảng 25,4 °C đến 27,2 °C.
Dân số thành phố tính đến năm 2019 là 1.055.414 người.
Dân số thành phố tính đến hết năm 2022 là 1.119.190 người.
Dân tộc thiểu số có 2.648 hộ với 11.946 người chiếm tỷ lệ 1.09% gồm 19 dân tộc: Hoa, Tày, Khmer, Dao, Thái, Mường, Nùng, Chơro, Giarai, H'Mông, Mạ, Thổ, Chay, Sán Dìu, X'Tiêng, Chăm, Êđê, Giáy, Cơho.
Đặc điểm dân cư Thành phố Biên Hòa đa dạng là do sự di cư đến đây sinh sống lao động và làm việc. Về thành phần tôn giáo, bao gồm Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Cao Đài, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam, Hồi giá, quanh khu vực phường Hố Nai, tạo nên nét đặc trưng tôn giáo nơi đây.
Thành phố Biên Hòa có 30 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 29 phường: An Bình, An Hòa, Bình Đa, Bửu Hòa, Bửu Long, Hiệp Hòa, Hóa An, Hòa Bình, Hố Nai, Long Bình, Long Bình Tân, Phước Tân, Quang Vinh, Quyết Thắng, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tam Phước, Tân Biên, Tân Hạnh, Tân Hòa, Tân Hiệp, Tân Mai, Tân Phong, Tân Tiến, Tân Vạn, Thanh Bình, Thống Nhất, Trảng Dài, Trung Dũng và xã Long Hưng.
Kinh tế - xã hội.
Biên Hòa có tiềm năng to lớn về phát triển kinh tế với nền đất lý tưởng, khí hậu thuận lợi cho việc xây dựng phát triển công nghiệp, có nguồn tài nguyên khoáng sản với trữ lượng khai thác đáng kể, nhất là tài nguyên khoáng sản về vật liệu xây dựng, thuận lợi về nguồn cung cấp điện, có nguồn nước dồi dào đủ cung cấp nhu cầu sản xuất và sinh hoạt (sông Đồng Nai), ngoài ra nguồn nhân lực với trình độ cao đã tăng cường nguồn lực con người cho yêu cầu phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa.Về cơ cấu kinh tế, năm 2017 công nghiệp - xây dựng chiếm 64,08%; dịch vụ chiếm 35,84% và nông lâm nghiệp chiếm 0,08%. Tính đến năm 2018, GDP/đầu người của thành phố cao gấp hai lần GDP/đầu người của Việt Nam (khoảng 4500 USD).
Thành phố này cũng là trung tâm công nghiệp quan trọng của cả nước. Biên Hòa có thế mạnh về công nghiệp và cũng là nơi đi tiên phong trong lĩnh vực Công nghiệp đầu tiên của cả nước với việc hình thành sớm KCN Biên Hòa I (năm 1967) - Khu kĩ nghệ Biên Hòa - Khu công nghiệp đầu tiên của cả nước sau ngày đất nước Thống Nhất.
Thành phố Biên Hòa hiện có 6 khu công nghiệp
Bên cạnh ngành công nghiệp hiện đại, hiện thành phố vẫn còn một vài cụm công nghiệp truyền thống, thủ công mĩ nghệ như:
Tài chính - Thương mại.
Tài chính ngân hàng cũng là thế mạnh kèm theo do sự phát triển công nghiệp mang lại, hằng năm tỉ trọng dịch vụ tài chính được nâng dần và thay thế cho công nghiệp, bước khởi đầu cho một thành phố phát triển của khu vực. Biên Hòa có hơn 39 hệ thống ngân hàng của các ngân hàng trong nước, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Với hơn 51 chi nhánh (CN), 92 phòng giao dịch (PGD), 27 quỹ tiết kiệm (QTK), trên 300 máy ATM.
Ngành thương mại cũng là điểm sáng trong phát triển kinh tế, với hệ thống Trung tâm thương mại, siêu thị lớn của Big C, Mega Market, C, Lotte, Vincom P, Nội thất lớn, cửa hàng điện tử, điện thoại máy tính có uy tín cũng có mặt tại đây. Ngoài ra, các chợ truyền thống cũng là nét đặc trưng nơi đây, nhiều chợ khá nổi tiếng như Chợ Biên Hòa, Chợ Tân Hiệp, Chợ Long Bì
Những năm gần đây, các thương hiệu bán lẻ đã bắt đầu cạnh tranh, mở rộng thị trường, tính đến thời điểm 02/2023, Thành phố Biên Hòa có 25 cửa hàng Bách Hóa Xanh, 73 cửa hàng Winmart+, 10 cửa hàng C
Nông lâm ngư nghiệp.
Nền nông nghiệp hiện đại theo sự phát triển đô thị, với việc cung cấp rau sạch xanh quy mô lớn cho thị trường thành phố Biên Hòa và lân cận. Hệ thống rừng phòng hộ tại Thành phố 1 triệu dân này đang được chú trọng phát triển và bảo vệ vì đây là "lá phổi xanh" nằm rải rác ở phường Tân Biên và phường Phước Tân. Về thủy sản, thành phố cũng còn một vài phường xã ven sông có bè cá.
Do vị trí gần Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm giáo dục của cả nước nên vì vậy mà thành phố Biên Hòa khá ít trường đại học và thêm nữa là trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục của tỉnh Đồng Nai nên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp của Đồng Nai hầu như đều nằm ở Biên Hòa. Ngược lại, thành phố Biên Hòa có rất nhiều trường THPT, THCS, TH và phân bố ở rất nhiều khu vực trong thành phố phục vụ cho nhu cầu dân số quá tải của thành phố Biên Hòa. Tuy nhiên hiện nay do dân số tăng đột biến nên những năm gần đây có một số trường tiểu học phải học ca 3, đây là vấn đề nan giải của ngành giáo dục Biên Hòa. Dân số như hiện nay đang là thách thức không chỉ của ngành giáo dục mà còn là vấn đề cho các ban ngành và Ủy ban Nhân dân Thành phố.
Thành phố ngày càng phát triển đã sinh ra nhiều Hệ thống trường dân lập liên cấp theo tiêu chuẩn chất lượng đào tạo tương đương các trường công lập và theo chuẩn quốc tế để đáp ứng cho nhu cầu học tập cho học sinh trên địa bàn thành phố Biên Hòa.
Hiện thành phố có trường Đại học:
Ngoài ra thành phố có các trường Cao đẳng lớn:
Thành phố có 30 trạm y tế của 30 phường xã được xây dựng và trang bị hiện đại phục vụ nhân dân tại các phường xã trong thành phố và Trung tâm y tế Thành phố Biên Hòa với hơn 8000 giường bệnh. Bên cạnh đó, một số Bệnh viện lớn của nhà nước đã hình thành và phát triển như:
Ngoài ra, một số Bệnh viện ngoài công lập đã hình thành và phát triển:
Du lịch là tiềm năng kinh tế mang đậm chất một đô thị sông nước và cổ lâu đời, đặc điểm thiên nhiên sinh thái nơi đây cũng khá phong phú, tuy nhiên, do chưa có đề án phát triển du lịch nên nơi đây vẫn là một viên ngọc ẩn mình giữa sự phát triển công nghiệp.
Ngoài ra, Các địa điểm tham quan, văn hóa, du lịch khác cũng khá phong phú:
Tiềm năng và sự phát triển về kinh tế, Đồng Nai đang định hướng để nâng cấp thành phố Biên Hòa và xây dựng những đô thị vệ tinh phát triển xung quanh thành phố này ở các huyện lân cận như Trảng Bom và Long Thành, Vĩnh Cửu, Nhơn Trạch. Hiện nay, thành phố này là một trong những thành phố đông dân, hiện đại và phát triển nhất cả nước.
Trong tương lai thành phố Biên Hòa sẽ là một đô thị vệ tinh độc lập trực thuộc trung ương trong vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh. Theo hướng phát triển, Thành phố Biên Hòa phát triển theo trục Bắc-Nam, phát triển trục trung tâm đường Nguyễn Hữu Cảnh, đường Trần Phú, mở rộng và hoàn thiện đô thị về phía Nam thành phố. Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng Giao thông đô thị, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng đô thị, phát triển đô thị theo hướng Văn minh - Giàu đẹp. Thực hiện các dự án khu dân cư tại các phường (Bửu Long, Quang Vinh, An Bình, Long Bình, Long Bình Tân, Trảng Dài, Tân Phong, Hóa An, Tam Phước, An Hòa); phát triển và cải tạo cảnh quan, khuyến khích phát triển phường Hiệp Hòa (Cù lao Phố); phát triển hệ thống đường sá nối thành phố Biên Hòa với cù lao Hiệp Hòa;. Mặc dù đã đạt mục tiêu đô thị loại I với nhiều dự án chỉnh trang đô thị, cơ sở hạ tầng xã hội, tuy nhiên theo lãnh đạo Ủy ban Nhân dân Thành phố Biên Hòa thì việc mức sống của người dân chưa được cao thì việc trở thành đô thị loại I sẽ không có ý nghĩa.
Bên cạnh tập trung phát triển đô thị, Thành phố tập trung phát triển bền vững, tập trung chuyển dịch cơ cấu tăng tỉ trọng Dịch vụ, giảm tỉ trọng công nghiệp và nông lâm ngư nghiệp với việc nhanh chóng đầu tư, cải tạo và xây dựng khu công nghiệp Biên Hòa I thành khu Trung tâm tài chính - thương mại Biên Hòa. Ngành nông ngư nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, sản xuất nuôi trồng hiện đại bền vững, phục vụ thị tường đô thị triệu dân và lân cận, bảo vệ và phát triển rừng lâm nghiệp, tạo mảng xanh, khí hậu cảnh quan sinh thái.
Hiện nay trên địa bàn thành phố Biên Hòa đã và đang hình thành một số khu đô thị mới như khu đô thị khu đô thị Biên Hòa Riverside Garden, khu đô thị Dreamland City, khu đô thị Hòa Bình Town, khu đô thị IDICO Hóa A
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Thành phố Phủ Lý, Việt Nam
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Tỉnh Gyeongsangnam-do, Hàn Quốc
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Biên Hòa là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước và là cửa ngõ quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trong tương lai, khi Thành phố Biên Hòa trở thành Thành phố Trực thuộc Trung ương thì thành phố này sẽ là đầu mối giao thông cực kì quan trọng của cả nước, đầu tàu về giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy, có 2 sân bay dân sự và quân sự lớn nhất Việt Nam (Sân bay Quân sự Biên Hòa, Sân bay Quốc tế Long Thành), Ga Biên Hòa - ga đường sắt lớn và tương đương với Ga Sài Gòn (nối tuyến đường sắt Thống Nhất và tuyến đường sắt Đông Tây), Mạng lưới cao tốc liên vùng, liên tỉnh, tuyến đường thủy phục vụ cho các cảng sô
Giao thông đô thị.
Khi Chính phủ quy hoạch vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, đã có nhiều câu hỏi đặt ra cho sự phát triển thật sự của Biên Hòa cũng như tỉnh Đồng Nai về hạ tầng giao thông do việc hình thành đô thị của Thành phố quá sớm (Thành phố được quy hoạch từ thời pháp thuộc với quy mô dân số khoảng 200.000-300.000 người, tuy nhiên dân số Biên Hòa đã đạt ngưỡng 1 triệu người). Chính vì vậy, xác định được tầm quan trọng của giao thông Biên Hòa trong vai trò kinh tế cả nước. Đồng Nai bắt đầu quan tâm nhiều hơn các dự án giao thông tầm cỡ và đồng thời phát triển giao thông nội bộ từ đô thị về đến nông thôn và đặc biệt là Thành phố Biên Hòa.
Là Đại công trường về Giao thông, Thành phố Biên Hòa đang sở hữu các dự án:
Các dự án đã hoàn thành như:
Các tuyến trục chính, cửa ngõ ra vào thành phố triệu dân cũng được đầu tư xây dựng thúc đẩy sự phát triển kinh tế và hạ tầng đô thị: Quốc lộ 1 (Xa lộ Hà Nội), Quốc lộ 1K (đường Nguyễn Ái Quốc), Quốc lộ 51, Trục đường Phạm Văn Thuận và đường Bùi Văn Hòa, Đường Huỳnh Văn Nghệ, Đường Đồng Khởi, Đường Võ Nguyên Giáp (tuyến tránh Quốc lộ 1), Đường Bùi Hữu Nghĩa, Trục đường Lê Văn Duyệt và đường Đặng Văn Trơn
Hệ thống đường sắt Thống Nhất chạy ngang qua Biên Hòa với 2 ga chính là: ga Hố Nai, ga Biên Hòa. Với 2 cầu đường sắt là cầu Ghềnh và cầu Rạch Cát; hai cầu này được xây dựng từ thời Pháp Thuộc đến nay và chỉ cho xe máy lưu thông sau nhiều sự kiện.
Tên đường Biên Hòa trước năm 1975.
Đường Thành Thái nay là đường Huỳnh Văn Lũy.
Đường Lê Văn Duyệt nay là đường Hoàng Minh Châu.
Đường Trần Thượng Xuyên và Nguyễn Thái Học nay là đường Nguyễn Văn Trị.
Đại lộ Trịnh Hoài Đức và Quốc lộ 1 nay là đường 30 tháng 4.
Quốc lộ 1 nay là đường Hà Huy Giáp.
Đường Nguyễn Hữu Cảnh và Hàm Nghi nay là đường Cách Mạng Tháng 8.
Đường Lê Văn Lễ nay là đường Nguyễn Thị Hiền.
Đường 4 và 5 cũ nay là đường Phan Trung và Trương Định
Sân Bay Biên Hòa là một trong những sân bay quân sự lớn nhất nước. Cách Thành phố Hồ Chí Minh 30 km. Sân bay Biên Hòa đã từng là căn cứ không quân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Không lực Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, sân bay Biên Hòa được Không quân Nhân dân Việt Nam tiếp quản sử dụng quân sự. Đơn vị đóng quân: Trung đoàn không quân tiêm kích 935 (Đoàn Biên Hòa) thuộc sư đoàn 370 Biên chế trang bị sẵn sàng chiến đấu: Su 30 MK2V (đóng vai trò chủ lực), một số cường kích A37, tiêm kích F5.
Tháng 6 năm 2015, Quốc hội thông qua dự án Sân bay quốc tế Long Thành sẽ được xây dựng với công suất thiết kế 100 triệu hành khách và 5 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Sân bay nằm cách Thành phố Biên Hòa 20 km, sẽ tạo cho thuận lợi rất lớn đến đô thị công nghiệp triệu dân này.
Với hệ thống sông Đồng Nai chảy qua và hệ thống kênh rạch lớn ăn sâu vào đất liền nên hoạt đường thủy tại đây cũng khá thuận tiện. Hệ thống cảng Đồng Nai là hệ thống cảng nội địa lớn nhất trên lưu vực sông Đồng Nai.
|
Radio Yerevan hoặc Armenia Radio là những câu truyện tiếu lâm rất phổ biến ở Liên Xô và các nước Cộng sản Đông Âu trước đây trong nửa sau thế kỉ 20. Đây là những câu truyện thuộc dạng Hỏi - Đáp, câu truyện thường có dạng
Radio Yerevan được hỏi: "..."
Radio Yerevan trả lời: "...".
Tiếu lâm chính trị Radio Yerevan.
Phần lớn những câu truyện tiếu lâm Radio Yerevan thuộc thể loại này, người nghe hỏi một câu về sự khác biệt giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Tư bản. Câu trả lời thường là "Trên nguyên tắc, đúng thế" nhưng chi tiết của câu trả lời lại mâu thuẫn với chính nó.
Câu trả lời của Radio Yerevan: Trên nguyên tắc, đúng là thế, nhưng đó là một bí mật quốc gia
Sai, tất cả đều như thế.
Trên nguyên tắc, đúng là thế, chỉ có điều Hiến pháp Hoa Kỳ bảo đảm quyền tự do sau khi ngôn luận
Đúng vậy, nhưng có một số người bình đẳng hơn những người khác (lấy ý tưởng từ tác phẩm "Trại súc vật" của George Orwell)
Những khó khăn tạm thời.
Những câu hỏi như vậy sẽ được thảo luận trong chương trình "Các lời khuyên hữu ích".
Ở nước Anh, cấm đoán là cấm đoán và cho phép là cho phép. Ở Mỹ, mọi thứ đều được phép ngoại trừ những gì bị cấm đoán. Ở Đức mọi thứ đều bị cấm đoán trừ những gì là được phép, ở Pháp mọi thứ đều được phép thậm chí cả khi bị cấm đoán. Ở Liên Xô, mọi thứ đều bị cấm đoán, thậm chí cả khi được phép.
Diễn văn của Khrushchev tại đại hội đảng.
Rất có thể, cả hai đều ăn mặc giản dị, họ ăn uống rất thanh đạm, họ không bao giờ có nhà riêng, và hơn hết, họ luôn tin rằng họ đang sống trên thiên đường.
Anh không biết rằng tất cả những sản phẩm tốt nhất luôn được lựa chọn để xuất khẩu?
|
Gia tộc Kennedy là một trong những dòng tộc danh giá nhất trong chính trường và chính phủ Hoa Kỳ.
Gia tộc này bắt nguồn từ cuộc hôn nhân giữa Joseph P. và Rose Fitzgerald Kennedy. Gia tộc có ảnh hưởng nổi trội trong Đảng Dân chủ này vẫn được biết tiếng vì khuynh hướng tự do trong các vấn đề chính trị. Có lẽ nhân vật mang họ Kennedy nổi tiếng nhất là cố Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, John F. Kennedy.
Người ta vẫn thường so sánh gia tộc Kennedy với các gia tộc danh giá khác như, gia tộc Bush, gia tộc Taft, Gia tộc Adams và xem họ như là các gia tộc quyền thế nhất trong nền chính trị Hoa Kỳ. Cả ba dòng tộc này đều có gốc rễ lâu đời ở vùng New England, đông bắc nước Mỹ. Gia trang Kennedy ("Kennedy Compound") toạ lạc tại Hyannis, tiểu bang Massachusetts.
Ngay từ đầu thập niên 1960 đã có một vài nhà bình luận tiên báo Tổng thống John F. Kennedy sẽ là nhà sáng lập một vương triều ngự trị tại Toà Bạch Ốc. Song lời tiên báo đã không thành hiện thực, và ý tưởng về một vương triều Kennedy đã rơi khỏi tầm chú ý của công luận sau khi Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy bị ám sát năm 1968 và Thượng nghị sĩ Edward Kennedy, năm 1969, dính líu vào một tai nạn xe hơi do điều khiển xe khi say rượu (gây ra cái chết của một phụ nữ ngồi trong xe). Tuy vậy, nhiều người trong gia tộc này vẫn tiếp tục nắm giữ những vị trí cao trong xã hội.
Gia tộc Kennedy có một lịch sử lâu dài được ghi dấu bởi những cái chết oan khiên và thảm khốc. Ba người đàn ông trong gia đình Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đều đối diện với những cái chết bất thường; sau cái chết của người cha vì bị ám sát năm 1968, con trai của Robert, David A. Kennedy năm 1984 chết vì dùng Demerol và cocaine quá liều; đến năm 1997, Michael Kennedy, một người con trai khác của Robert, thiệt mạng trong một tai nạn trượt tuyết. Ba mươi sáu năm sau vụ ám sát gây chấn động thế giới cướp mạng sống tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ, John F. Kennedy, con trai duy nhất của ông, John F. Kennedy, Jr. cũng mất mạng trong một vụ tai nạn máy bay ở tuổi 38.
Trước đó, em gái của vị tổng thống quá cố, Kathleen, thiệt mạng trong một tai nạn máy bay, và anh trai của ông, Joe, hi sinh trong một phi vụ chiến đấu tại Âu châu trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Thế hệ thứ nhất.
"Tộc trưởng" Patrick J. Kennedy (1858-1929) kết hôn với Mary Augusta Hickey. Patrick hoạt động chính trị và có quan hệ với Đảng Dân chủ tại địa phương.
Thế hệ thứ hai.
Năm 1914, con trai của Patrick, Joseph P. Kennedy Sr., (1888-1969), kết hôn với Rose Fitgerald (1890-1995), con gái của Thị trưởng thành phố Boston John F. Fitgerald. Joe Sr. đảm nhiệm chức vụ Đại sứ Hoa Kỳ tại Anh quốc trong những năm trước khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ hai.
Thế hệ thứ ba.
Rose và Joe Sr. sinh chín người con:
|
Sao (tiếng Anh: "star") hay gọi là định tinh hay hằng tinh (Chữ hán: 恆星) là một thiên thể plasma sáng, có khối lượng lớn được giữ bởi lực hấp dẫn. Sao gần Trái Đất nhất là Mặt Trời, nó là nguồn của hầu hết năng lượng trên Trái Đất. Nhiều sao khác có thể nhìn thấy được trên bầu trời đêm, khi chúng không bị lu mờ đi dưới ánh sáng của Mặt Trời. Về mặt lịch sử, hầu hết các sao sáng và nhìn thấy bằng mắt thường nằm trên thiên cầu được nhóm lại cùng nhau thành các chòm sao và các mảng sao, những sao sáng nhất đều được đặt những tên gọi riêng. Các danh mục sao mở rộng đã được các nhà thiên văn lập nên, cung cấp các cách định danh sao theo tiêu chuẩn hóa. Trong tiếng Hán, nó được gọi là "hằng tinh" (ngôi sao đứng yên) để phân biệt với "hành tinh" (ngôi sao chuyển động).
Trong phần lớn thời gian hoạt động của nó, một sao chiếu sáng được là do các phản ứng tổng hợp hạt nhân tại lõi của nó, giải phóng năng lượng truyền qua phần bên trong sao và sau đó bức xạ ra không gian bên ngoài. Hầu hết mọi nguyên tố xuất hiện trong tự nhiên nặng hơn heli đều được tạo ra nhờ các ngôi sao, hoặc thông qua quá trình tổng hợp hạt nhân sao trong suốt thời gian hoạt động của nó hoặc bởi tổng hợp hạt nhân siêu tân tinh khi ngôi sao phát nổ. Các nhà thiên văn học xác định được khối lượng, độ tuổi, thành phần hóa học và nhiều tính chất khác của ngôi sao bằng cách quan sát phổ, độ sáng và chuyển động của nó trong không gian. Khối lượng tổng cộng của ngôi sao là yếu tố chính trong quá trình tiến hóa sao và sự tàn lụi của nó. Nhiều đặc trưng khác của một sao được xác định thông qua lịch sử tiến hóa của nó, bao gồm đường kính, sự tự quay, chuyển động và nhiệt độ. Một biểu đồ liên hệ giữa nhiệt độ với độ sáng của nhiều ngôi sao, gọi là biểu đồ Hertzsprung-Russell (biểu đồ H-R), cho phép xác định được tuổi và trạng thái tiến hóa của một ngôi sao.
Một ngôi sao hình thành từ một đám mây co sụp lại của các vật chất với thành phần cơ bản là hydro, cùng với heli và một số các nguyên tố nặng hơn. Một khi nhân của sao đủ đặc, một số hạt nhân hydro ngay lập tức biến đổi thành heli thông qua quá trình tổng hợp hạt nhân. Phần còn lại của lớp bên trong ngôi sao mang năng lượng từ lõi ra ngoài thông qua quá trình kết hợp giữa bức xạ và đối lưu. Áp suất bên trong ngôi sao ngăn không cho ngôi sao tiếp tục bị co lại dưới ảnh hưởng của chính lực hấp dẫn của nó. Đến khi nhiên liệu hydro tại lõi bị cạn kiệt, các ngôi sao với khối lượng ít nhất bằng 0,4 lần khối lượng của Mặt Trời bắt đầu nở ra để trong một số trường hợp trở thành một sao khổng lồ đỏ tiếp tục đốt cháy các nguyên tố nặng hơn tại lõi sao hoặc tại các lớp vỏ bao quanh lõi. Ngôi sao sau đó bước vào giai đoạn suy biến, tái chế lại một tỷ lệ vật chất vào môi trường không gian liên sao, nơi đây sẽ hình thành lên một thế hệ sao mới với một tỷ lệ cao các nguyên tố nặng.
Hệ sao đôi và nhiều sao chứa hai hoặc nhiều ngôi sao có liên kết về lực hấp dẫn với nhau, và nói chung chúng di chuyển quanh nhau theo những quỹ đạo ổn định. Khi hai ngôi sao có quỹ đạo tương đối gần nhau, tương tác hấp dẫn giữa chúng có thể có một ảnh hưởng quan trọng lên quá trình tiến hóa của các ngôi sao. Các sao có thể tập hợp lại thành một cấu trúc liên kết hấp dẫn lớn hơn, như một quần tinh hay một thiên hà.
Lịch sử quan sát.
Thời kỳ Cổ đại.
Về mặt lịch sử, các ngôi sao đã trở thành quan trọng đối với các nền văn minh trên toàn thế giới. Chúng trở thành một phần của tín ngưỡng tôn giáo và đóng vai trò quan trọng trong việc định vị và định hướng. Nhiều nhà thiên văn cổ đại tin rằng các sao nằm cố định trên một thiên cầu, và chúng bất biến. Để thuận tiện, các nhà thiên văn đã nhóm các ngôi sao lại thành các chòm sao và sử dụng chúng để theo dõi chuyển động của các hành tinh và suy đoán vị trí của Mặt Trời. Chuyển động của Mặt Trời so với các ngôi sao (và đường chân trời) đã được sử dụng để làm ra dương lịch, và được dùng để áp dụng điều tiết trong nông nghiệp. Lịch Gregory hiện tại là lịch được sử dụng nhiều nơi trên thế giới, là dương lịch dựa trên góc của trục quay Trái Đất liên hệ tương đối với Mặt Trời.
Bản đồ sao chính xác cổ nhất cho đến ngày nay xuất hiện từ thời Ai Cập cổ đại năm 1534 trước Công nguyên. Danh lục sao được biết đến sớm nhất đã được biên soạn bởi các nhà thiên văn học Babylon ở Lưỡng Hà vào cuối thiên niên kỷ hai trước Công nguyên, trong thời đại Kassite (khoảng 1531-1155 TCN). Danh lục sao đầu tiên của thiên văn học Hy Lạp đã được lập ra bởi vào xấp xỉ năm 300 TCN, với sự giúp đỡ của Timocharis. Danh lục sao của (thế kỷ hai trước Công nguyên) bao gồm 1.020 ngôi sao và đã được Ptolemy đưa vào trong danh lục của ông. Hipparchus là người đầu tiên phát hiện ra một sao mới "nova" được ghi lại trong lịch sử. Rất nhiều tên gọi các chòm sao và ngôi sao sử dụng ngày nay được bắt nguồn từ thiên văn của người Hy Lạp.
Thời kỳ Trung cổ.
Mặc dù xuất hiện như thể bất biến trên bầu trời, các nhà thiên văn Trung Hoa cổ đại đã khẳng định là những ngôi sao mới có thể xuất hiện. Năm 185, lần đầu tiên họ đã quan sát và ghi lại một vụ nổ siêu tân tinh, bây giờ gọi là SN 185. Sự kiện ngôi sao bừng sáng nhất từng được ghi lại trong lịch sử là vụ nổ siêu tân tinh SN 1006, đã được quan sát vào năm 1006 và được ghi chép bởi nhà thiên văn Ai Cập Ali ibn Ridwan và một vài nhà thiên văn Trung Hoa khác. Siêu tân tinh SN 1054 (Thiên Quan khách tinh), tạo ra tinh vân Con Cua, cũng đã được quan sát bởi các nhà thiên văn Trung Hoa và Hồi giáo.
Các nhà thiên văn Hồi giáo thời Trung cổ đã đặt tên gọi Ả rập cho rất nhiều ngôi sao mà vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay, họ cũng đã phát minh ra nhiều loại dụng cụ thiên văn học dùng để tính toán vị trí của các ngôi sao. Họ đã xây dựng các viện nghiên cứu quan sát lớn đầu tiên, với mục đích chính là để lập các danh lục sao "Zij". Một trong số chúng, cuốn "Sách của những ngôi sao cố định" (năm 964) do nhà thiên văn học Ba Tư Abd al-Rahman al-Sufi viết, ông là người đã quan sát rất nhiều ngôi sao, quần tinh (bao gồm Omicron Velorum và quần tinh Brocchi) và các thiên hà (gồm thiên hà Andromeda). Vào thế kỷ thứ XI, nhà bác học người Ba Tư Abu Rayhan Biruni đã miêu tả Ngân Hà như là tập hợp vô số các mảnh với tính chất của các sao mờ, và tính ra vĩ độ của nhiều sao trong quá trình nguyệt thực năm 1019.
Nhà thiên văn Ibn Bajjah người ở Al-Andalus đề xuất là Ngân Hà là tập hợp của nhiều sao mà gần như chạm vào nhau và hiện lên là một hình ảnh liên tục do hiệu ứng của khúc xạ từ các vật liệu trong không khí, với trích dẫn quan sát của ông về sự giao hội của Sao Mộc và Sao Hỏa năm 500 AH (tức 1106/1107 AD) như là một chứng cứ.
Các nhà thiên văn học Châu Âu thời Trung Cổ như Tycho Brahe đã nhận ra các sao mới trong bầu trời đêm (sau đó gọi là "novae"), gợi ra rằng bầu trời (thiên đường) không hề bất biến như trước đây. Vào năm 1584, Giordano Bruno đề xuất rằng các ngôi sao thực sự là những mặt trời khác, và có thể có các hành tinh ngoài Hệ Mặt Trời, thậm chí giống với Trái Đất, quay quanh chúng, một ý tưởng đã từng được đề cập đến bởi các nhà triết học Hy Lạp Democritus và Epicurus, và bởi các nhà vũ trụ học Hồi giáo Trung cổ như Fakhr al-Din al-Razi. Các thế kỷ tiếp sau, ý tưởng về các ngôi sao như các mặt trời ở xa đã nhận được sự nhất trí giữa các nhà thiên văn. Để giải thích tại sao các ngôi sao không tác động hấp dẫn đáng kể lên hệ Mặt Trời, Isaac Newton cho rằng các ngôi sao được phân bố đều theo mọi hướng, dựa trên một ý tưởng do nhà thần học Richard Bentley đưa ra.
Thiên văn sao từ thế kỷ thứ XVII đến nay.
Nhà thiên văn người Ý Geminiano Montanari đã ghi lại các quan sát về sự thay đổi độ sáng của sao Algol năm 1667. Edmond Halley đã công bố những đo đạc đầu tiên về chuyển động riêng của cặp các sao "cố định" gần, cho thấy chúng đã thay đổi vị trí theo thời gian từ thời của các nhà thiên văn Hy Lạp Ptolemy và Hipparchus. Đo đạc trực tiếp đầu tiên về khoảng cách đến một ngôi sao (61 Cygni với khoảng cách 11,4 năm ánh sáng) đã được thực hiện bởi Friedrich Bessel năm 1838 sử dụng kĩ thuật thị sai. Các đo đạc thị sai cho thấy sự tách biệt lớn giữa các sao trên bầu trời.
William Herschel là nhà thiên văn học đầu tiên đã cố gắng xác định sự phân bố các ngôi sao trên bầu trời. Trong thập niên 1780, ông đã thực hiện hàng loạt các đo đạc với 600 hướng khác nhau, và đếm số sao quan sát được dọc theo hướng nhìn mỗi lần. Từ đây ông rút ra kết luận là số lượng các sao tăng ổn định về một hướng trên bầu trời, theo hướng về lõi Ngân Hà. Con trai ông John Herschel đã lặp lại nghiên cứu này ở bán cầu nam và tìm thấy điều tương tự về số lượng sao tăng ổn định theo cùng một hướng. Thêm vào các thành tựu khác của ông, William Herschel cũng chú ý tới khám phá của ông là một số ngôi sao không chỉ nằm dọc theo cùng một phương nhìn, nhưng cũng là các sao đồng hành tạo nên những hệ sao đôi.
Khoa học về quang phổ sao đã được đi tiên phong bởi Joseph von Fraunhofer và Angelo Secchi. Bằng cách so sánh phổ của các sao như sao Sirius với Mặt Trời, họ tìm ra những sự khác nhau trong cường độ và số các vạch hấp thụ—các đường tối màu trong phổ của sao là do sự hấp thụ của bầu khí quyển Trái Đất đối với những tần số xác định. Năm 1865 Secchi bắt đầu phân loại sao dựa theo kiểu phổ của chúng. Tuy nhiên, hình thức phân loại sao hiện đại mới được Annie Jump Cannon phát triển trong thập niên 1900.
Việc quan sát các sao đôi bắt đầu tăng lên một cách quan trọng trong thế kỷ XIX. Năm 1834, Friedrich Bessel đã quan sát sự thay đổi trong chuyển động riêng của sao Sirius, và ông suy luận ra sự tồn tại của một sao đồng hành bị che giấu. Edward Pickering đã lần đầu tiên phát hiện ra quang phổ của hệ sao đôi năm 1899 khi ông quan sát thấy sự tách có tính chu kỳ của các vạch phổ của sao Mizar theo chu kỳ 104 ngày. Các quan sát chi tiết của nhiều hệ thống sao đôi đã được thu thập lại bởi các nhà thiên văn William Struve và S. W. Burnham, cho phép xác định được khối lượng của sao từ tính toán về các tham số quỹ đạo. Và lời giải cho bài toán xác định quỹ đạo của các sao đôi từ các quan sát qua kính thiên văn được Felix Savary tìm ra năm 1827.
Thế kỷ thứ XX đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khoa học nghiên cứu sao. Kĩ thuật chụp ảnh đã trở thành một công cụ có giá trị cho thiên văn học. Karl Schwarzschild đã khám phá ra màu của một sao, và từ đó là nhiệt độ của sao, chúng có thể được xác định bằng cách so sánh giữa độ sáng nhìn thấy và độ sáng của ảnh chụp. Sự phát triển của quang kế quang điện đã cho phép đo đạc rất chính xác về độ lớn tại rất nhiều khoảng bước sóng khác nhau. Năm 1921 Albert A. Michelson lần đầu tiên đo đường kính sao nhờ một giao thoa kế trên kính thiên văn Hooker.
Sự nghiên cứu quan trọng về cơ sở vật lý của ngôi sao đã xuất hiện trong những thập kỷ đầu của thế kỷ hai mươi. Năm 1913, biểu đồ Hertzsprung-Russell được phát triển, thúc đẩy ngành thiên văn vật lý nghiên cứu sao. Nhiều mô hình thành công được xây dựng để giải thích cấu trúc bên trong của sao và sự tiến hóa của chúng. Phổ của các sao cũng đã được giải thích thành công nhờ sự phát triển của vật lý lượng tử. Điều này cũng cho phép xác định được thành phần hóa học của khí quyển một ngôi sao.
Ngoại trừ các siêu tân tinh, các ngôi sao đã được quan sát một cách cơ bản, trước tiên trong các thiên hà Nhóm Địa Phương của chúng ta, và đặc biệt là phần nhìn thấy được của Ngân Hà (như được mô tả chi tiết trong các danh lục sao trong thiên hà của chúng ta). Nhưng cũng có một số sao được quan sát trong thiên hà M100 của Đám Virgo, cách Trái Đất 100 triệu năm ánh sáng. Trong Siêu đám Địa Phương chúng ta có thể nhìn thấy các quần tụ sao, và các kính thiên văn hiện tại có thể quan sát các ngôi sao đơn lẻ mờ nhạt trong Đám Địa Phương— phân giải được những ngôi sao xa đến hàng trăm triệu năm ánh sáng (Xem Cepheid). Tuy nhiên, bên ngoài các thiên hà của Siêu đám Địa Phương, chưa có một ngôi sao đơn lẻ hay một quần tinh được quan sát. Chỉ ngoại trừ hình ảnh của một quần tinh lớn chứa hàng trăm nghìn ngôi sao nằm cách chúng ta 1 tỷ năm ánh sáng—gấp 10 lần khoảng cách đến những quần tinh xa nhất từng được quan sát.
Khái niệm chòm sao đã được biết từ thời kỳ Babylon. Những người cổ đại quan sát bầu trời tưởng tượng ra sự sắp xếp các vì sao nổi bật thành những hình ảnh, và họ gắn những hình ảnh này với những biểu tượng của thiên nhiên hay thánh thần. Có mười hai mẫu hình ảnh này nằm dọc theo dải của mặt phẳng hoàng đạo và chúng trở thành mười hai cung trong chiêm tinh học. Nhiều ngôi sao sáng điển hình cũng được đặt tên, đặc biệt là đặt theo ngôn ngữ Ả rập hoặc La tinh.
Giống như mỗi chòm sao hay Mặt Trời, các vì sao cũng có tên mang tính thần thoại dành cho chúng. Đối với người Hy Lạp cổ đại, một vài "vì sao" lại là những hành tinh (tiếng Hy Lạp πλανήτης (planētēs), có nghĩa là "kẻ lang thang"), đại diện cho nhiều vị thần tối cao, với tên gọi của các hành tinh Sao Thủy, Sao Kim, Sao Hỏa, Sao Mộc và Sao Thổ. (Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương được đặt tên của các vị thần của Hy Lạp và La Mã
cổ đại, nhưng do hai hành tinh này không được biết từ thời cổ đại do chúng quá mờ, nên tên của chúng đã được đặt bởi các nhà thiên văn sau này).
Vào khoảng những năm 1600, tên của các chòm sao được sử dụng để đặt tên cho các ngôi sao tương ứng nằm trong chòm sao đó. Nhà thiên văn học người Đức Johann Bayer lập ra một loạt các bản đồ sao và áp dụng các chữ Hy Lạp trong việc định danh các sao theo chòm sao của chúng. Sau đó tên gọi theo hệ thống số dựa trên xích kinh của ngôi sao đã được phát minh ra và thêm vào danh lục sao của John Flamsteed trong cuốn sách của ông "Historia coelestis Britannica" (ấn bản 1712), từ đó hệ thống số này được gọi là "Định danh Flamsteed" hay "số Flamsteed".
Theo luật không gian, chỉ có duy nhất một tổ chức quốc tế được công nhận là có quyền đặt tên cho các thiên thể đó là Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (IAU). Một số công ty tư nhân sử dụng tên gọi các vì sao mà Thư viện vương quốc Anh gọi là những công ty thương mại không hợp. Tuy nhiên, IAU không hợp tác với các công ty trong lĩnh vực thương mại để công nhận tên gọi hay sử dụng những tên gọi này cho các mục đích thương mại.
Trong tiếng Việt, một số hành tinh cũng được đặt tên với chữ "Sao" ở đầu, như Sao Thủy, Sao Kim, Sao Hoả... Không giống với các sao, các hành tinh là các thiên thể có khối lượng nhỏ hơn một phần nghìn lần khối lượng các sao, chứa vật chất chủ yếu ở dạng rắn, lỏng, khí, bay quanh các sao dưới tác dụng hấp dẫn bởi các sao. Tuy nhiên việc dùng các chữ "Sao" viết hoa là chỉ tên riêng, với ý nghĩa là vật thể trên trời, không dùng như danh từ chung với ý nghĩa phân loại.
Các đơn vị đo.
Hầu hết các tham số của một sao được biểu diễn theo các đơn vị SI để cho thuận tiện, ngoài ra các đơn vị CGI cũng được sử dụng (ví dụ biểu diễn độ sáng theo erg trên giây). Khối lượng, độ sáng và bán kính thường được cho theo đơn vị của Mặt Trời, dựa trên đặc trưng của Mặt Trời:
Đối với những độ dài lớn, như bán kính của sao khổng lồ hoặc bán trục lớn của hệ sao đôi, thường được biểu diễn theo đơn vị thiên văn (AU)—xấp xỉ khoảng cách trung bình giữa Trái Đất và Mặt Trời (150 triệu km hay 93 triệu dặm).
Sự hình thành và tiến hóa.
Các vì sao được hình thành trong những vùng mở rộng với mật độ cao hơn trong môi trường liên sao, mặc dù thế mật độ vẫn thấp hơn bên trong một buồng chân không ở trên Trái Đất. Những vùng này được gọi là các "đám mây phân tử", chúng chứa chủ yếu hydro và khoảng 23 – 28% heli cùng một ít phần trăm các nguyên tố nặng hơn. Một ví dụ của vùng đang hình thành sao là Tinh vân Lạp Hộ.
Một sao khối lượng lớn thường hình thành trong các đám mây phân tử, chúng là nguồn chiếu sáng những vùng này. Chúng cũng làm ion hóa hydro, tạo ra những vùng H II.
Sự hình thành tiền sao.
Sự hình thành một ngôi sao bắt đầu với sự bất ổn định hấp dẫn bên trong một đám mây phân tử, thường là từ sự kích hoạt của sóng xung kích từ các vụ nổ siêu tân tinh (những vụ nổ của sao khối lượng lớn) hoặc do va chạm giữa hai thiên hà (trong thiên hà bùng nổ sao). Khi một vùng đạt tới mật độ vật chất thỏa mãn giới hạn cho sự bất ổn định Jeans, nó bắt đầu co lại dưới lực hấp dẫn của chính nó.
Khi đám mây co lại, những tập hợp đơn lẻ của khí và bụi đậm đặc tạo nên cái mà chúng ta gọi là khối cầu Bok. Khối cầu tiếp tục suy sụp (co lại), mật độ tăng lên, năng lượng hấp dẫn chuyển thành nhiệt năng và làm cho nhiệt độ tăng lên. Khi đám mây tiền sao đã đạt tới xấp xỉ điều kiện ổn định của cân bằng thủy tĩnh, một tiền sao hình thành tại lõi của đám mây. Những sao tiền dải chính này thường bị bao bọc xung quanh bởi một đĩa tiền hành tinh. Chu kỳ co sụp hấp dẫn này diễn ra trong khoảng 10 đến 15 triệu năm.
Những sao sơ sinh với khối lượng nhỏ hơn 2 lần khối lượng Mặt Trời được gọi là các saoT Tauri, trong khi các sao có khối lượng lớn hơn gọi là sao Herbig Ae/Be. Những sao mới sinh ra phát ra các tia khí dọc theo trục tự quay của nó, làm giảm mô men góc của sao đang suy sụp và tạo ra những phần mờ đục trong vùng đám mây gọi là các thiên thể Herbig-Haro. Những tia này, kết hợp cùng với bức xạ từ các sao khối lượng lớn ở gần, có thể giúp thổi bay đám mây bao quanh ngôi sao đã hình thành.
Khoảng 90% thời gian sống của một sao là để đốt cháy hydro tạo ra heli trong những phản ứng nhiệt độ cao và áp suất cao tại lõi của sao. Những ngôi sao như vậy được xếp vào dải chính và gọi là các sao lùn. Bắt đầu tại độ tuổi 0 (zero-age) của dải chính, tỷ lệ heli trong lõi của sao sẽ tăng lên. Hệ quả là để duy trì tốc độ đòi hỏi của phản ứng nhiệt hạt nhân tại lõi, ngôi sao sẽ từ từ tăng dần nhiệt độ và độ sáng của nó–ví dụ Mặt Trời, ước tính nó đã tăng độ sáng lên khoảng 40% từ khi nó đạt đến dải chính cách đây 4,6 tỷ năm trước.
Mỗi sao phát ra gió sao chứa các hạt gây nên các dòng khí liên tục thổi vào không gian. Đối với hầu hết các sao, khối lượng bị mất đi do gió sao là không đáng kể. Mặt Trời mất khoảng 10−14 khối lượng Mặt Trời hàng năm, hay khoảng 0,01% tổng khối lượng của nó trong toàn bộ thời gian sống của nó. Tuy thế, những sao khối lượng lớn có thể mất từ 10−7 đến 10−5 khối lượng Mặt Trời mỗi năm, làm ảnh hưởng quan trọng tới sự tiến hóa của những sao này. Những sao mà khối lượng ban đầu lớn hơn 50 lần khối lượng Mặt Trời có thể mất trên một nửa tổng khối lượng trong khi nó vẫn đang ở trạng thái trên dải chính.
Khoảng thời gian một sao ở trong giai đoạn của dải chính phụ thuộc chủ yếu vào lượng nhiên liệu nó đã sử dụng và tốc độ đốt cháy nhiên liệu đó, và khối lượng và độ sáng ban đầu của ngôi sao. Đối với Mặt Trời, người ta ước tính là vào khoảng 1010 năm. Các ngôi sao lớn tiêu dùng nhiên liệu của chúng rất nhanh và có thời gian sống ngắn. Trái lại, các sao nhỏ (gọi là sao lùn đỏ) tiêu dùng năng lượng rất chậm và thời gian sống của chúng từ hàng chục tỷ đến hàng trăm tỷ năm. Đến cuối đời, chúng chỉ đơn giản mờ hơn đi mà thôi. Tuy nhiên, do thời gian sống của các sao như vậy vượt quá độ tuổi hiện tại của vũ trụ (13,7 tỷ năm), cho nên chưa thể có một sao lùn đỏ nào đạt đến trạng thái như thế.
Bên cạnh khối lượng, tỉ lệ các nguyên tố nặng hơn heli có thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiến hóa sao. Trong thiên văn học mọi nguyên tố nặng hơn heli được xem là "kim loại", và nồng độ hóa học các nguyên tố này được gọi là tỉ lệ kim loại (metallicity). Tỉ lệ kim loại có thể ảnh hưởng đến thời gian ngôi sao đốt cháy nhiên liệu, điều khiển sự hình thành của từ trường và làm thay đổi cường độ của gió sao. Các sao già, hay những sao lớp II (population II) có tỉ lệ kim loại (metallicity) ít hơn rõ rệt so với các sao trẻ, sao lớp I (population I), do chúng hình thành từ các đám mây phân tử. (Theo thời gian những đám mây này được làm giàu lên bởi các nguyên tố nặng hơn khi những ngôi sao già chết đi và để lại tỉ lệ kim loại trong khí quyển của chúng.
Khi một sao với khối lượng ít nhất 0,4 lần khối lượng Mặt Trời cạn kiệt nhiên liệu hydro tại lõi của nó, lớp ngoài cùng của nó mở rộng ra rất lớn và lạnh đi, khiến sao đó trở thành một sao khổng lồ đỏ. Ví dụ, trong khoảng 5 tỉ năm nữa, Mặt Trời của chúng ta sẽ trở thành một sao khổng lồ đỏ, nó sẽ nở rộng với bán kính cực đại vào khoảng 1AU, hay 250 lần bán kính hiện tại. Khi trở thành sao khổng lồ, Mặt Trời sẽ mất khoảng 30% khối lượng hiện tại.
Trong một sao khổng lồ đỏ với khối lượng lớn hơn 2,25 lần khối lượng Mặt Trời, sự đốt cháy hydro diễn ra tại một lớp bao quanh lõi. Thậm chí lõi bị nén lại đủ mạnh để có thể đốt cháy được heli, và bán kính ngôi sao bây giờ nhanh chóng co lại và nhiệt độ bề mặt ngôi sao tăng lên. Đối với những ngôi sao lớn hơn, vùng lõi của chúng chuyển dịch trực tiếp từ phản ứng đốt cháy hydro sang phản ứng đốt cháy heli.
Sau khi ngôi sao đã sử dụng hết nhiên liệu heli ở lõi, phản ứng nhiệt hạt nhân tiếp tục diễn ra trong lớp vỏ bao quanh một lõi nóng chứa cacbon và oxy. Ngôi sao từ đó đi theo con đường tiến hóa song song với pha ban đầu của sao khổng lồ đỏ, nhưng với nhiệt độ bề mặt cao hơn.
Sao khối lượng lớn.
Trong giai đoạn (pha) đốt cháy heli của chúng, những ngôi sao với khối lượng lớn hơn 9 lần khối lượng Mặt Trời nở rộng thành các sao siêu khổng lồ đỏ. Khi nhiên liệu trong chúng bị cạn kiệt tại lõi, chúng có thể tiếp tục thực hiện các phản ứng nhiệt hạt nhân để đốt cháy các nguyên tố nặng hơn heli.
Lõi co lại cho đến khi nhiệt độ và áp suất đạt đến đủ để thực hiện phản ứng đốt cháy cacbon (xem quá trình đốt cháy cacbon). Quá trình này tiếp tục với các giai đoạn tiếp theo là đốt cháy neon (xem quá trình đốt cháy neon), oxy (xem quá trình đốt cháy oxy), và silic (xem quá trình đốt cháy silic). Gần cuối đời của sao, phản ứng tổng hợp có thể diễn ra trong các lớp (giống như lớp củ hành) bên trong ngôi sao. Mỗi lớp tổng hợp các nguyên tố khác nhau, với lớp ngoài cùng tổng hợp hydro; lớp tiếp theo tổng hợp heli, và tiếp tục như vậy.
Giai đoạn cuối cùng của chuỗi phản ứng tổng hợp các nguyên tố của ngôi sao khi nó bắt đầu thực hiện phản ứng tổng hợp để tạo ra sắt. Do các hạt nhân sắt có năng lượng liên kết lớn hơn bất kì của một hạt nhân nặng nào khác, và nếu chúng được tổng hợp chúng sẽ không giải phóng năng lượng ra nữa – quá trình sẽ thu năng lượng từ bên ngoài. Như vậy, do chúng liên kết chặt hơn mọi hạt nhân nhẹ, nên năng lượng không thể giải phóng bằng phản ứng phân hạch hạt nhân. Đối với những ngôi sao khối lượng rất lớn và tương đối già, tại tâm của ngôi sao sẽ tích tụ một lõi sắt lớn. Các nguyên tố nặng hơn trong những sao này có thể được tạo ra tại bề mặt, khiến chúng tiến hóa thành các sao Wolf-Rayet với gió sao đậm đặc thổi ra lớp khí quyển bên ngoài.
Một sao kích thước trung bình khi tiến hóa sẽ thổi bay các lớp bên ngoài của nó để tạo thành tinh vân hành tinh. Nếu tàn dư của sao sau khi lớp khí quyển ngoài cùng bị thổi bay đi có khối lượng nhỏ hơn 1,4 lần khối lượng Mặt Trời, nó co lại thành một thiên thể tương đối nhỏ (có kích cỡ bằng khoảng Trái Đất) và không đủ nặng để tiếp tục nén sâu hơn, thiên thể này gọi là sao lùn trắng. Vật chất thoái hóa electron sâu bên trong sao lùn trắng không còn là plasma nữa, mặc dù ngôi sao lúc này thường được coi là quả cầu plasma. Các sao lùn trắng sẽ đi đến suy tàn trở thành các sao lùn đen trong một thời gian rất dài.
Trong những ngôi sao lớn hơn, phản ứng tổng hợp tiếp tục diễn ra cho đến khi lõi sắt trở lên lớn hơn (khối lượng lớn hơn 1,4 khối lượng Mặt Trời) và không thể tự chống đỡ được chính khối lượng của nó. Lúc này lõi sẽ ngay lập tức suy sụp khi các electron kết hợp với proton để tạo thành vụ bùng nổ với các neutron cùng các hạt neutrino (hay là phản ứng phân rã beta ngược hoặc sự bắt electron). Sóng xung kích tạo bởi sự suy sụp bất thình lình này làm cho phần còn lại của ngôi sao (những lớp bên ngoài lõi sắt) nổ tung thành một sự kiện siêu tân tinh. Một siêu tân tinh rất sáng mà chỉ trong một thời gian ngắn nó có thể sáng hơn toàn bộ các ngôi sao trong cùng thiên hà đó. Khi chúng xuất hiện trong Ngân Hà, trong lịch sử siêu tân tinh đã từng được quan sát bằng mắt thường với tên gọi "sao mới" (người Trung Hoa gọi là sao khách) nơi chúng trước đây chưa từng tồn tại.
Phần lớn vật chất trong một ngôi sao bị thổi bay đi trong vụ nổ siêu tân tinh (hình thành lên tinh vân như tinh vân Con Cua) và tàn dư còn lại của lõi là một sao neutron (mà đôi khi được coi là sao xung hoặc bùng nổ tia X hoặc, trong một số trường hợp của những sao khối lượng cực lớn (lớn đủ để lại một tàn dư với khối lượng lớn hơn 4 lần khối lượng Mặt Trời), là một lỗ đen. Trong một sao neutron, trạng thái vật chất được gọi là vật chất thoái hóa neutron, và nhiều người tin tưởng rằng có thể tồn tại thêm một dạng vật chất thoái hóa ngoại lai nữa, gọi là vật chất QCD, có khả năng có mặt tại lõi. Hiện nay vật chất tồn tại bên trong lỗ đen vẫn chưa được hiểu đến.
Những lớp bên ngoài bị thổi bay đi của ngôi sao đang suy tàn có chứa các nguyên tố nặng mà có thể được tham gia vào quá trình hình thành những ngôi sao mới. Những nguyên tố nặng này cho phép hình thành lên các hành tinh đá. Vật chất bị thổi bay đi của siêu tân tinh và gió sao của những ngôi sao lớn đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành lên môi trường liên sao.
Cùng với các ngôi sao đơn lẻ, các hệ nhiều sao có thể chứa hai hoặc nhiều sao có liên kết hấp dẫn với nhau và chúng quay quanh nhau. Những hệ nhiều ngôi sao thường gặp đó là hệ sao đôi, ngoài ra những hệ có nhiều ngôi sao hơn cũng đã được tìm thấy. Vì lý do ổn định của quỹ đạo, những hệ nhiều sao thường được tổ chức thành tập hợp các sao đôi quanh quay lẫn nhau. Những nhóm lớn hơn gọi là quần tinh cũng tổn tại. Chúng tập hợp từ một vài sao (trong stellar associations), đến hàng trăm nghìn ngôi sao trong các quần tinh cầu khổng lồ.
Từ lâu người ta đã giả sử rằng các ngôi lớn xuất hiện trong các hệ nhiều ngôi sao. Điều này đặc biệt đúng cho các lớp sao loại nặng O và B, nơi 80% chúng hình thành trong những hệ nhiều sao. Tuy nhiên tỉ lệ lại giảm cho những hệ nhiều sao nhỏ, chỉ có khoảng 25% sao lùn đỏ được biết là có sao đồng hành cùng. Với khoảng 85% ngôi sao trong thiên hà của chúng ta là sao lùn đỏ, hầu hết các ngôi sao trong Ngân Hà được sinh ra một cách đơn lẻ.
Các sao không trải đều ra trong vũ trụ, nhưng chúng thường được nhóm lại thành các thiên hà cùng với các khí và bụi liên sao. Một thiên hà điển hình chứa hàng trăm tỷ ngôi sao, và có hơn 100 tỷ (1011) thiên hà trong vũ trụ quan sát được. Nhiều nhà thiên văn học tin rằng các sao chỉ tồn tại trong các thiên hà, thì các ngôi sao ở môi trường liên thiên hà cũng đã được phát hiện. Các nhà thiên văn cũng ước tính có ít nhất 7×1022 ngôi sao trong vũ trụ quan sát thấy.
Ngôi sao gần nhất với Trái Đất, ngoài Mặt Trời, đó là Cận Tinh (Proxima Centauri), cách xa 39,9 nghìn tỉ km, hay 4,2 năm ánh sáng. Ánh sáng từ Proxima Centauri mất 4,2 năm mới tới được Trái Đất. Khi du hành với vận tốc của tàu con thoi (5 dặm trên một giây—khoảng 30.000 km trên một giờ), chúng ta phải mất tới 150.000 năm để đến được đó. Khoảng cách đến Cận Tinh là điển hình bên trong một đĩa thiên hà, bao gồm cả vùng của Hệ Mặt Trời. Các sao có thể gần nhau hơn khi chúng phân bố tại tâm của các thiên hà và trong các quần tinh cầu, hoặc chúng phân bố cách xa nhau hơn trong các hào quang thiên hà.
Do khoảng cách tương đối lớn giữa các ngôi sao bên ngoài nhân thiên hà, nên sự va chạm giữa các ngôi sao diễn ra rất hiếm. Những vùng đậm đặc hơn như nhân của các cụm sao cầu hay của thiên hà, sự va chạm có thể diễn ra nhiều hơn. Những va chạm này có thể tạo ra những ngôi sao xanh lang thang. Các sao không bình thường này có nhiệt độ bề mặt cao hơn những ngôi sao trong dải chính với cùng độ trưng trong cụm sao.
Hầu hết mọi thứ về một sao được xác định bằng khối lượng ban đầu của nó, bao gồm các đặc trưng cơ bản như độ trưng và kích thước, cũng như sự tiến hóa của sao, thời gian sống và sự kết thúc của nó.
Hầu hết ngôi sao có độ tuổi từ 1 tỷ năm đến 10 tỷ năm. Một số sao thậm chí có độ tuổi gần với 13,7 tỷ năm – bằng độ tuổi của vũ trụ quan sát thấy. Ngôi sao có độ tuổi già nhất đã từng được khám phá, HE 1523-0901, ước tính có tuổi 13,3 tỷ năm.
Sao có khối lượng càng lớn, thì có thời gian sống càng ngắn, bởi vì về cơ bản các sao càng nặng thì áp suất càng lớn hơn tại lõi của chúng, làm cho chúng tổng hợp hydro một cách nhanh hơn. Những sao nặng nhất tồn tại với khoảng thời gian trung bình 1 triệu năm, trong khi các sao nhỏ nhất (sao lùn đỏ) đốt cháy nhiên liệu của chúng rất chậm và kết thúc sau hàng chục đến hàng trăm tỷ năm.
Thành phần hóa học.
Khi các ngôi sao hình thành trong thiên hà, chúng có thành phần vào khoảng 70% hydro và 28% heli, được đo theo khối lượng, với một tỉ lệ nhỏ các nguyên tố nặng hơn. Tỉ lệ điển hình các nguyên tố nặng được đo theo số hạng thành phần sắt trong khí quyển của sao, do sắt là một nguyên tố phổ biến và các vạch hấp thụ của nó là tương đối dễ đo. Bởi vì các đám mây phân tử nơi các sao hình thành luôn được làm giàu bởi các nguyên tố nặng hơn từ các vụ nổ siêu tân tinh, nên việc xác định các thành phần hoá học của một ngôi sao có thể được sử dụng để suy ra độ tuổi của nó. Tỉ lệ các nguyên tố nặng hơn cũng là một dấu hiệu ngôi sao có khả năng có một hệ hành tinh quay xung quanh.
Ngôi sao có thành phần sắt thấp nhất từng đo được đó là sao lùn HE1327-2326, chỉ bằng 1/200.000 thành phần sắt của Mặt Trời. Ngược lại, sao siêu giàu tỉ lệ sắt μ Leonis với sự có mặt của sắt bằng hai lần của Mặt Trời, và sao có hành tinh quay quanh 14 Herculis có tỉ lệ sắt gần bằng ba lần. Cũng tồn tại những sao dị thường về mặt hoá học cho thấy sự có mặt không bình thường của các nguyên tố xuất hiện trong phổ của chúng; đặc biệt là crom và các nguyên tố đất hiếm.
Bởi vì các ngôi sao cách xa Trái Đất, ngoại trừ Mặt Trời ra, chúng đều hiện lên giống như những chấm sáng lấp lánh trên bầu trời đêm do hiệu ứng của bầu khí quyển Trái Đất. Mặt Trời là một ngôi sao gần nhất với Trái Đất vì vậy nó hiện lên như đĩa tròn cung cấp ánh sáng ban ngày cho hành tinh của chúng ta. Ngoài Mặt Trời, ngôi sao có kích thước biểu kiến lớn nhất là sao R Doradus, với đường kính góc chỉ là 0,057 cung giây.
Kích cỡ của hầu hết các ngôi sao theo đường kính góc là quá nhỏ để có thể quan sát với các kính thiên văn quang học hiện tại, vì vậy việc sử dụng các kính thiên văn giao thoa kế là cần thiết để tạo ra ảnh của những thiên thể này. Một kĩ thuật khác để đo kích thước góc của sao là nhờ sự che khuất. Bằng cách đo chính xác sự giảm độ sáng của sao khi nó bị Mặt Trăng che khuất (hoặc sự tăng độ sáng khi nó tái xuất hiện lại), đường kính góc của sao có thể tính toán ra được.
Các sao có kích thước từ 20 đến 40 km theo đường kính (sao neutron), đến sao khổng lồ như Betelgeuse trong chòm sao Lạp Hộ, với đường kính xấp xỉ lớn hơn 650 lần của Mặt Trời; hay 0,9 tỉ km.
Chuyển động của một sao tương đối đối với Mặt Trời có thể cung cấp thông tin hữu ích về nguồn gốc và độ tuổi của nó, cũng như về cấu trúc và sự tiến hoá xung quanh thiên hà. Các thành phần chuyển động của một ngôi sao bao gồm vận tốc xuyên tâm hướng vào hoặc ra xa Mặt Trời, và chuyển động góc ngang qua (gọi là chuyển động riêng.
Vận tốc xuyên tâm được đo bằng dịch chuyển Doppler của các vạch phổ của ngôi sao, tính theo đơn vị km/s. Chuyển động riêng của sao được xác định bằng các phép đo chính xác của trắc lượng học (astrometry), tính theo đơn vị mili-giây cung (mas) trên một năm. Bằng cách xác định thị sai của ngôi sao, chuyển động riêng của nó có thể đổi về đơn vị của vận tốc. Các sao có chuyển động riêng với tốc độ cao thì khá gần so với Mặt Trời, và là những ứng cử viên cho các phép đo thị sai.
Một khi các tốc độ của chuyển động được biết, vận tốc không gian của ngôi sao tương đối so với Mặt Trời hoặc so với thiên hà có thể tính ra được. Đối với những ngôi sao ở gần, người ta thấy rằng các sao loại I (population I) nói chung có vận tốc thấp hơn các sao già hơn – sao loại II (population II). Những sao loại II có quỹ đạo elip bị nghiêng so với mặt phẳng của thiên hà. Việc so sánh động học của các sao ở gần cũng dẫn đến việc xác định được các tập hợp sao (stellar association). Chúng là những nhóm sao có điểm chung về nguồn gốc trong các đám mây khí khổng lồ.
Từ trường của một ngôi sao được tạo ra từ những vùng bên trong sao nơi xảy ra những sự đối lưu tuần hoàn. Chuyển động của các plasma đối lưu này có chức năng giống như một máy phát điện (dynamo), tạo ra từ trường mở rộng ra bên ngoài ngôi sao. Cường độ của từ trường thay đổi theo khối lượng và thành phần hoá học của sao, và sự hoạt động của từ trường bề mặt phụ thuộc vào tốc độ quay của ngôi sao. Sự hoạt động của từ trường bề mặt tạo ra các vết sao (starspot), những vùng có từ trường mạnh và nhiệt độ bề mặt tại đấy thấp hơn những vùng lân cận. Vòng nhật hoa (coronal loop) là những cung từ trường vươn tới vành nhật hoa (corona) từ những vùng hoạt động. Chớp lửa sao (stellar flare) là những bùng nổ các hạt năng lượng cao được phát ra cũng từ các vùng từ trường hoạt động này.
Các sao trẻ, quay nhanh có xu hướng hoạt động bề mặt ở mức cao do từ trường của chúng. Tuy nhiên, từ trường có thể tác động ảnh hưởng lên gió sao, với chức năng giống như một cái phanh làm chậm dần tốc độ quay của ngôi sao khi ngôi sao dần già đi. Do vậy, những sao già hơn như Mặt Trời có tốc độ tự quay chậm đi rất nhiều và mức độ hoạt động bề mặt cũng thấp hơn. Các sao quay chậm có mức độ hoạt động giảm dần thay đổi theo chu kỳ và có thể ngừng hoạt động trong nhiều chu kỳ. Ví dụ, trong suốt thời kỳ yên tĩnh của nó (maunder minimum), Mặt Trời đi vào giai đoạn 70 năm không có hoạt động của vết đen Mặt Trời (sunspot).
Một trong những ngôi sao có khối lượng lớn nhất được biết là Eta Carinae, với khối lượng bằng khoảng từ 100 đến 150 lần khối lượng của Mặt Trời; vì thế nó có thời gian sống rất ngắn, chỉ vài triệu năm tuổi. Một nghiên cứu gần đây về quần tinh cái Cung (Arches cluster) gợi ra rằng khối lượng 150 lần khối lượng Mặt Trời là giới hạn trên cho các ngôi sao trong kỷ nguyên hiện tại của vũ trụ. Lý do cho giới hạn trên về khối lượng vẫn chưa được biết một cách chính xác, nhưng một phần là do độ sáng Eddington (Eddington luminosity) mà cho phép lượng sáng lớn nhất có thể được truyền qua khí quyển của một ngôi sao mà không làm thổi các khí vào không gian. Tuy thế, một ngôi sao tên là R136a1 trong đám sao RMC 136a đã được đo với khối lượng là 265 lần khối lượng Mặt Trời, đã đặt ra một giói hạn trên về khối lượng của các ngôi sao.
Những ngôi sao đầu tiên hình thành sau Big Bang có thể có khối lượng lớn hơn, trên 300 lần khối lượng của Mặt Trời hoặc hơn nữa, do sự vắng mặt hoàn toàn của các nguyên tố nặng hơn lithium trong thành phần của chúng. Tuy thế, thế hệ các sao siêu khối lượng, sao loại III (population III), đã biến mất từ lâu và hiện tại chỉ là về lý thuyết.
Với khối lượng chỉ bằng 93 lần khối lượng của Mộc Tinh, AB Doradus C, một sao đồng hành của sao AB Doradus A, là ngôi sao nhỏ nhất được biết đến có xảy ra phản ứng tổng hợp hạt nhân tại lõi. Đối với các sao có tính kim loại (metallicity) như Mặt Trời, theo lý thuyết hiện nay thì khối lượng nhỏ nhất đủ để một ngôi sao thực hiện được phản ứng tổng hợp tại lõi được ước tính vào khoảng 75 lần khối lượng của Sao Mộc. Tuy nhiên, khi thành phần kim loại (metallicity) rất thấp, một nghiên cứu gần đây về các sao mờ nhất cho thấy khối lượng sao tối thiểu là bằng 8,3%, hay khoảng 87 lần khối lượng Sao Mộc. Các thiên thể nhỏ hơn gọi là các sao lùn nâu, hiện tại vẫn chưa có định nghĩa rõ ràng giữa chúng và các hành tinh khí khổng lồ.
Sự kết hợp giữa bán kính và khối lượng của sao cho phép xác định được hấp dẫn tại bề mặt của ngôi sao. Các ngôi sao khổng lồ có hấp dẫn tại bề mặt thấp hơn nhiều so với các sao ở dải chính, và ngược lại đối với các sao thoái hoá, sao đặc như các sao lùn trắng. Hấp dẫn tại bề mặt có thể ảnh hưởng đến quang phổ biểu kiến của ngôi sao, với hấp dẫn bề mặt lớn hơn sẽ làm cho các vạch hấp thụ trở lên rộng ra.
Tốc độ quay của các sao có thể tìm được xấp xỉ thông qua đo đạc quang phổ, hoặc xác định chính xác hơn bằng cách theo dõi sự quay của các vết sao (starspot). Những ngôi sao trẻ có tốc độ quay rất nhanh, trên 100 km/s tại xích đạo. Như sao loại B Achernar có vận tốc quay tại xích đạo vào khoảng 225 km/s hoặc lớn hơn, khiến cho đường kính tại xích đạo của nó lơn hơn 50% khoảng cách giữa hai cực. Tốc độ quay này nhỏ hơn giới hạn 300 km/s, khi quay đến gần vận tốc giới hạn này ngôi sao sẽ bị phá vỡ ra. Ngược lại, Mặt Trời chỉ quay một vòng với chu kỳ 25 đến 35 ngày, với vận tốc tại xích đạo bằng 1,994 km/s. Từ trường của sao và gió sao cũng làm chậm tốc độ quay của các sao ở dải chính một lượng rõ rệt khi sao tiến hoá trên dải chính.
Các sao thoái hoá (degenerate star) bị co lại thành thiên thể đặc, khiến cho tốc độ quay của chúng tăng lên. Tuy nhiên tốc độ quay của chúng tương đối thấp so với mong đợi khi chúng ta áp dụng định luật bảo toàn momen góc; đó là tốc độ quay của thiên thể bù lại cho sự co về kích thước bằng cách tăng tốc độ tự quay của nó. Có thể một phần lớn momen góc của ngôi sao bị tiêu tan do gió sao làm mất một phần khối lượng của nó. Mặc dù vậy, tốc độ quay của một sao xung vẫn rất nhanh. Sao xung tại tâm của tinh vân Con Cua quay nhanh 30 vòng trong một giây. Và tốc độ quay của sao xung cũng chậm dần do sự phát ra các bức xạ.
Nhiệt độ tại bề mặt của một sao ở dải chính được xác định bằng tốc độ sản sinh năng lượng tại lõi và bán kính của sao, và thông thường được ước lượng từ chỉ số màu của sao. Thông thường nhiệt độ bề mặt của ngôi sao được cho theo nhiệt độ hiệu quả, là nhiệt độ của một vật đen lý tưởng mà phát ra năng lượng tại cùng một độ trưng trên diện tích bề mặt của sao. Chú ý rằng nhiệt độ hiệu quả chỉ là một giá trị đại diện, và thực tế ngôi sao có gradient nhiệt độ giảm theo sự tăng khoảng cách từ lõi. Nhiệt độ tại vùng lõi của sao là khoảng vài triệu kelvin.
Từ nhiệt độ của sao sẽ xác định được tốc độ năng lượng hoá hoặc ion hoá của các nguyên tố khác nhau, thể hiện kết quả trong đặc trưng của các vạch hấp thụ trong quang phổ. Nhiệt độ bề mặt của sao, cùng với độ sáng biểu kiến tuyệt đối và các đặc trưng của vạch hấp thụ trong quang phổ, thường được sử dụng để phân loại sao (xem phân loại bên dưới).
Các sao khối lượng lớn ở dải chính có nhiệt độ bề mặt lên tới 50.000 K. Các sao nhỏ hơn như Mặt Trời có nhiệt độ 6000 K. Những sao khổng lồ đỏ có nhiệt độ bề mặt tương đối thấp vào khoảng 3.600 K, nhưng chúng cũng có độ trưng tương đối lớn do diện tích mặt ngoài lớn.
Năng lượng được sản xuất ra bởi sao, là sản phẩm của phản ứng tổng hợp hạt nhân, bức xạ vào trong không gian bằng cả bức xạ điện từ và bức xạ hạt. Ngôi sao phát ra bức xạ hạt cũng chính là gió Sao Thổi vào không gian (tồn tại như là một dòng các hạt tích điện ổn định, như proton, hạt anpha, và hạt beta, thoát ra từ các lớp ngoài cùng của sao) và dòng ổn định các hạt neutrino thoát ra từ lõi sao.
Sản phẩm năng lượng tại lõi cũng là nguyên nhân tại sao ngôi sao chiếu sáng: mỗi lần hai hoặc nhiều hơn hạt nhân nguyên tử của một nguyên tố tổng hợp với nhau để tạo thành một hạt nhân của nguyên tố mới nặng hơn, các photon tia gamma được giải phóng từ phản ứng tổng hợp hạt nhân. Năng lượng này được biến đổi thành các dạng năng lượng điện từ khác, bao gồm ánh sáng khả kiến, theo thời gian chúng truyền đến các lớp bên ngoài của sao.
Màu sắc của một sao, được xác định bởi đỉnh tần số của ánh sáng khả kiến, phụ thuộc vào nhiệt độ các lớp ngoài cùng của ngôi sao, bao gồm quang quyển của nó. Bên cạnh ánh sáng khả kiến, ngôi sao cũng phát ra các dạng bức xạ điện từ không nhìn thấy được bằng mắt thường. Thực tế bức xạ điện từ phát ra từ ngôi sao trải rộng trên toàn phổ điện từ, từ bước sóng dài nhất là sóng radio, hồng ngoại cho đến bước sóng ngắn nhất như tia tử ngoại, tia X, và tia gamma. Mọi bước sóng bức xạ điện từ của ngôi sao, cả nhìn thấy và không nhìn thấy, đều có ý nghĩa quan trọng.
Sử dụng phổ của ngôi sao, các nhà thiên văn cũng xác định được nhiệt độ bề mặt, hấp dẫn tại bề mặt, tính kim loại (metallicity) và vận tốc tự quay của sao. Nếu biết được khoảng cách đến ngôi sao, như đo bằng thị sai, thì sẽ suy ra được độ trưng của nó. Khối lượng, bán kính, hấp dẫn tại bề mặt, và chu kỳ quay từ đó có thể ước lượng được trên cơ sở của mô hình sao. (Khối lượng có thể đo được một cách trực tiếp đối với những sao trong hệ sao đôi. Kĩ thuật vi thấu kính hấp dẫn cũng dùng để xác định khối lượng của ngôi sao.) Với những tham số này, các nhà thiên văn cũng ước lượng được độ tuổi của sao.
Trong thiên văn học, độ sáng là lượng ánh sáng, và những dạng năng lượng bức xạ khác, mà ngôi sao phát ra trên một đơn vị thời gian. Độ sáng của sao được xác định nhờ bán kính và nhiệt độ bề mặt của nó. Người ta đã chứng minh rằng, với giả sử chấp nhận được đó là ngôi sao là vật đen, thì độ sáng formula_1 được liên hệ với nhiệt độ formula_2 và bán kính formula_3 của ngôi sao theo phương trình: formula_4với σ là hằng số Stefan-Boltzmann 5,67×10−8 W·m−2·K−4. Tuy nhiên, do nhiều ngôi sao không phát ra thông lượng đều đặn—lượng năng lượng phát ra trên một đơn vị diện tích—thông qua toàn bộ bề mặt của nó. Ví dụ như sao có tốc độ quay nhanh như Vega có thông lượng năng lượng cao hơn tại cực so với dọc đường xích đạo.
Những vùng bề mặt với nhiệt độ và độ sáng trung bình thấp hơn được gọi là vết đen (sunspot, hay starspot). Những ngôi sao nhỏ, "lùn" như Mặt Trời nói chung về cơ bản chỉ xuất hiện những vết đen nhỏ. Đối với những sao lớn hơn có những vết đen lớn hơn, rõ ràng hơn, và chúng cũng thể hiện rất rõ những quầng sao tối (stellar limb darkening). Theo đó, độ trắng (brightness) giảm khi đi từ tâm đĩa sao về phía rìa của đĩa. Các sao lùn đỏ bừng sáng (flare star) như sao UV Ceti cũng chứa những đặc điểm về các vết đen điển hình.
Độ trắng (brightness) biểu kiến của một ngôi sao được đo bằng cấp sao biểu kiến của nó, đó là độ trắng của sao theo độ sáng của nó, với khoảng cách tính từ Trái Đất, và ánh sáng của ngôi sao bị thay đổi khi nó truyền qua khí quyển của Trái Đất. Cấp sao tuyệt đối hay nội tại có liên quan trực tiếp đến độ sáng của sao và đo bằng cấp sao biểu kiến với khoảng cách quy ước từ Trái Đất đến ngôi sao là 10 parsec (32,6 năm ánh sáng).
Cả hai thang đo cấp sao biểu kiến và cấp sao tuyệt đối đều theo đơn vị logarit: hiệu của một đơn vị cấp sao bằng với sự biến thiên độ trắng khoảng 2,5 lần (là căn bậc 5 của 100 hay xấp xỉ 2,512). Điều này có nghĩa là ngôi sao có cấp sao (+1,00) thì sáng hơn 2,5 lần ngôi sao có cấp sao (+2,00), và xấp xỉ 100 lần sáng hơn ngôi sao có cấp sao (+6,00). Những ngôi sao mờ nhất có thể quan sát bằng mắt thường trong điều kiện tốt có cấp sao khoảng +6.
Trên cả hai thang đo cấp sao tuyệt đối và biểu kiến, số cấp sao nhỏ hơn, tương ứng với ngôi sao sáng hơn; số cấp sao lớn hơn, tương ứng với ngôi sao mờ hơn. Những sao sáng nhất, trên một hoặc hai thang đo, có cấp sao âm. Biến thiên về độ trắng (Δ"L") giữa hai ngôi sao được tính toán bằng cách lấy số cấp sao của ngôi sao sáng hơn ("m"b) trừ đi số cấp sao của ngôi sao mờ hơn ("m"f), sau đó lấy hiệu là số mũ với cơ số 2,512; viết theo công thức là:
Liên quan đến cả độ sáng và khoảng cách đến Trái Đất, đối với một ngôi sao cấp sao tuyệt đối ("M") và cấp sao biểu kiến ("m") không tương đương với nhau; ví dụ, ngôi sao Sirius có cấp sao biểu kiến là –1,44, nhưng nó lại có cấp sao tuyệt đối là +1,41. Gọi r (parsec) là khoảng cách từ ngôi sao đến Trái Đất, thì công thức liên hệ giữa cấp sao tuyệt đối M và cấp sao biểu kiến m là: M = m + 5 – 5log(r)
Mặt Trời có cấp sao biểu kiến là −26,7, nhưng cấp sao tuyệt đối chỉ là +4,83. Sirius, ngôi sao sáng nhất trên bầu trời đêm khi nhìn từ Trái Đất, có độ sáng xấp xỉ gấp 23 lần Mặt Trời, trong khi Canopus, ngôi sao sáng thứ hai trên bầu trời đêm có cấp sao tuyệt đối là −5,53, và độ sáng của nó xấp xỉ gấp 14.000 lần độ sáng của Mặt Trời. Mặc dù Canopus có độ sáng lớn hơn Sirius rất nhiều lần, nhưng Sirius lại hiện lên sáng hơn Canopus. Điều này là do khoảng cách từ Sirius đến Trái Đất chỉ là 8,6 năm ánh sáng, còn Canopus nằm cách xa hơn nhiều lần, với khoảng cách 310 năm ánh sáng.
Cho đến năm 2006, ngôi sao có cấp sao tuyệt đối cao nhất là LBV 1806-20, với cấp sao −14,2. Nó có độ trưng cao gấp 5.000.000 lần Mặt Trời. Các sao có độ trưng thấp nhất được biết đến là các sao nằm trong đám NGC 6397. Sao lùn đỏ trong đám có cấp sao là +26, và sao lùn trắng với cấp sao +28 cũng đã được phát hiện. Những ngôi sao này rất mờ đến nỗi ánh sáng của chúng chỉ như những ngọn nến sinh nhật đặt trên Mặt Trăng khi nhìn từ Trái Đất.
Hệ thống phân loại sao hiện tại có nguồn gốc từ đầu thế kỷ XX, khi các sao được phân loại từ "A" đến "Q" trên cơ sở cường độ của vạch hydro trong quang phổ. Thời điểm đó người ta vẫn chưa biết rõ nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến cường độ của vạch quang phổ là do nhiệt độ; cường độ vạch hydro đạt đỉnh tại nhiệt độ trên 9.000 K, và nó trở lên yếu hơn tại cả nhiệt độ thấp hơn và cao hơn. Khi sự phân loại được sắp xếp lại theo thứ tự nhiệt độ, nó trở lên gần giống với biểu đồ của hiện đại.
Có các chữ cái đơn khác nhau cho sự phân loại sao tuân theo phổ của chúng, xếp từ loại "O", đối với sao rất nóng, đến "M", đối với sao rất lạnh mà các phân tử có thể hình thành trong khí quyển của chúng. Những phân loại sao chính theo thứ tự giảm dần của nhiệt độ bề mặt là: "O, B, A, F, G, K", và "M hay thường còn được gọi là (Oh Be A Fine Girl Kiss Me)". Có những kiểu phổ rất hiếm gặp cũng được phân loại đặc biệt. Những loại này thường là kiểu "L" và "T", tương ứng với phân loại các sao rất lạnh khối lượng nhỏ và sao lùn nâu. Mỗi một kiểu chia làm 10 kiểu nhỏ, đánh số từ 0 đến 9, theo thứ tự giảm dần nhiệt độ. Tuy thế, hệ thống phân loại này bị phá vỡ tại những nhiệt độ rất cao: lớp sao "O0" và "O1" có thể không tồn tại.
Ngoài ra, các sao có thể được phân loại theo hiệu ứng độ trưng được tìm thấy trong các vạch phổ của chúng, nó tương ứng với kích cỡ của sao và xác định bởi hấp dẫn tại bề mặt. Phân loại sắp xếp từ "0" (sao siêu khổng lồ) qua "III" (sao khổng lồ) đến "V" (sao lùn ở dải chính); một số tác giả thêm vào "VII" (sao lùn trắng). Hầu hết các sao thuộc vào dải chính, mà bao gồm các sao thông thường đốt cháy hydro. Chúng sắp xếp thành một dải chéo, hẹp khi ta vẽ lên biểu đồ theo cấp sao biểu kiến và kiểu phổ của chúng. Mặt Trời của chúng ta là một sao lùn vàng ở dải chính, được phân loại là "G2V", có nhiệt độ bề mặt trung bình và kích cỡ thông thường.
Ngoài những ký hiệu phân loại như trên, người ta còn thêm các chữ ở dưới các ký hiệu đó để cho biết những dị thường trong phổ của các sao. Ví dụ, ký tự ""e" có thể ám chỉ sự có mặt của các vạch phát xạ; "m" đại diện cho mức kim loại rất mạnh không thông thường, và "var"" có nghĩa là sự biến thiên trong kiểu phổ.
Các sao lùn trắng còn có phân loại riêng dành cho chúng với bắt đầu bằng chữ cái "D". Sau đó được chia ra thành các lớp "DA", "DB", "DC", "DO", "DZ", và "DQ", phụ thuộc vào những vạch điển hình được tìm thấy trong phổ của chúng. Điều này cho suy ra được một giá trị số ám chỉ bởi chỉ số nhiệt độ.
Các sao biến quang là những sao có độ sáng thay đổi ngẫu nhiên hay tuần hoàn bởi vì những tính chất nội tại của chúng hoặc do tác động của bên ngoài. Về bản chất đối với các sao biến quang, chúng có thể được chia ra làm ba nhóm chính.
Trong quá trình tiến hoá của ngôi sao, một số sao trải qua giai đoạn mà chúng trở thành các sao biến quang co giãn (pulsating variable star). Sao biến quang co giãn thay đổi bán kính và độ sáng theo thời gian, mở rộng hay co lại theo các chu kỳ từ vài phút đến vài năm, phụ thuộc vào kích thước của sao. Phân loại theo kiểu này gồm sao biến quang Cepheid và những sao kiểu Cepheid, và những sao biến quang chu kỳ lớn như sao Mira.
Các sao biến quang bùng phát (eruptive variable) là những sao bất thình lình tăng độ sáng của nó lên do những sự kiện như chớp lửa (flare) hay sự phóng một lượng lớn các hạt vào không gian. Những nhóm này bao gồm các tiền sao, sao Wolf-Rayet, sao bùng sáng (flare star), cũng như các sao khổng lồ và siêu khổng lồ.
Những sao biến quang kiểu nổ tung (explosive) hay biến động lớn (cataclysmic) trải qua sự thay đổi lớn về tính chất của chúng. Nhóm này bao gồm các sao mới (nova) và các siêu tân tinh. Một hệ sao đôi có một sao lùn trắng có thể tạo ra những vụ nổ sao lớn kiểu này, gồm sao mới và siêu tân tinh kiểu Ia. Vụ nổ được tạo ra khi sao lùn trắng bồi tụ hydro từ sao đồng hành, tăng dần khối lượng của nó cho đến khi xảy ra phản ứng tổng hợp hydro. Một số sao mới cũng có những vụ nổ mang tính tuần hoàn, lặp lại với biên độ trung bình.
Nhiều sao cũng thay đổi độ sáng do những nguyên nhân bên ngoài, như sự che khuất trong hệ sao đôi, cũng như các sao quay nhanh với những vết đen (starspot) lớn trên nó. Một ví dụ nổi bật về sự che khuất trong hệ sao đôi đó là hệ sao Algol, nó biến đổi cấp sao một cách đều đặn từ 2,3 đến 3,5 trong chu kỳ 2,87 ngày.
Phần bên trong của một sao ổn định tuân theo trạng thái cân bằng thủy tĩnh: các lực tác động vào một thể tích nhỏ bất kỳ được cân bằng chính xác với nhau. Những lực cân bằng bao gồm lực hấp dẫn hướng vào trong và lực hướng ra ngoài là gradient áp suất bên trong ngôi sao. Gradient áp suất được thiết lập nên bởi gradient nhiệt độ của plasma; phần bên ngoài của sao thì lạnh hơn phần bên trong lõi. Nhiệt độ tại lõi của một sao ở dải chính hoặc sao khổng lồ là ít nhất vào khoảng vài chục triệu K. Hệ quả là nhiệt độ và áp suất tại lõi đốt cháy hydro của sao ở dải chính là đủ cho phản ứng tổng hợp hạt nhân diễn ra và đủ để tạo ra năng lượng chống lại sự suy sụp của ngôi sao.
Khi hạt nhân nguyên tử được tổng hợp tại lõi, chúng phát ra năng lượng dưới dạng các tia gamma. Những photon này tương tác với plasma xung quanh, làm tăng thêm nhiệt năng tại lõi. Các ngôi sao ở dải chính biến đổi hydro thành heli qua phản ứng tổng hợp, tạo ra tỷ lệ tăng ổn định, chậm chạp của heli tại lõi. Thậm chí cho đến khi nguyên tố heli chiếm đa số và sự sinh năng lượng bị ngừng hẳn tại lõi. Quả thực, đối với các ngôi sao nặng hơn 0,4 lần khối lượng Mặt Trời, sự tổng hợp diễn ra chậm dần trong lớp vỏ nở rộng xung quanh lõi heli thoái hoá (degenerate).
Ngoài cân bằng thủy tĩnh, phần bên trong của một ngôi sao ổn định cũng duy trì sự cân bằng năng lượng về nhiệt lượng. Có một gradient nhiệt độ xuyên tâm trên toàn bộ phần bên trong sao cho tạo ra một thông lượng năng lượng theo đó hướng ra bên ngoài. Thông lượng năng lượng hướng ra ngoài thoát ra từ một lớp bên trong bất kỳ của ngôi sao bằng một cách chính xác thông lượng năng lượng từ lớp phía dưới hướng vào lớp đó.
Đới bức xạ là vùng bên trong ngôi sao nơi sự truyền bức xạ diễn ra đủ hữu hiệu để duy trì thông lượng năng lượng. Trong vùng này, plasma sẽ không bị xáo trộn và không tồn tại một chuyển động lớn nào của vật chất. Tuy nhiên, nếu điều này không đúng, thì plasma sẽ trở lên không ổn định và sự đối lưu diễn ra, tạo ra đới đối lưu. Điều này có thể xảy ra, ví dụ, trong vùng xuất hiện những thông lượng năng lượng rất cao, như gần tại lõi hoặc trong những vùng có độ mờ đục quang học cao như lớp vỏ bên ngoài.
Việc xảy ra sự đối lưu trong lớp vỏ bên ngoài của một sao ở dải chính phụ thuộc vào khối lượng của ngôi sao. Các sao với khối lượng một vài lần khối lượng Mặt Trời có đới đối lưu sâu bên trong cấu trúc của sao và một đới bức xạ ở những lớp phía bên ngoài. Những ngôi sao nhỏ hơn như Mặt Trời lại ngược lại, chúng có đới đối lưu nằm ở những lớp bên ngoài. Những sao lùn đỏ với khối lượng nhỏ hơn 0,4 lần khối lượng Mặt Trời thì sự đối lưu xảy ra trong toàn bộ ngôi sao và ngăn cản sự tích tụ thành một lõi heli. Đối với hầu hết các sao, những đới đối lưu sẽ luôn thay đổi theo thời gian khi ngôi sao trở lên già hơn và cấu trúc bên trong của sao bị thay đổi theo.
Phần của ngôi sao hiện lên trước mắt một người quan sát được gọi là quang quyển. Đây là lớp mà tại đó plasma của sao trở lên trong suốt đối với photon của ánh sáng. Từ vùng này, năng lượng được tạo ra ở lõi được tự do lan truyền vào không gian. Trong quang quyển có những vùng gọi là vết đen Mặt Trời (sun spot), đó là những vùng với nhiệt độ trung bình thấp hơn xuất hiện trên quang quyển.
Bên trên quang quyển là khí quyển của ngôi sao. Đối với các sao ở dải chính như Mặt Trời, đới thấp nhất bên trong khí quyển là vùng sắc quyển mỏng, nơi các tai lửa (spicule) xuất hiện và chớp lửa của sao (flare star) hình thành. Vùng này được bao bọc xung quanh bởi một vùng chuyển tiếp, nơi nhiệt độ tăng lên một cách nhanh chóng chỉ trong khoảng cách độ cao 100 km. Bên ngoài vùng này nữa gọi là quầng (corona) hay đối với Mặt Trời gọi là vành nhật hoa, một vùng với thể tích plasma siêu nóng và có thể mở rộng ra ngoài không gian hàng triệu km. Sự tồn tại của quầng dường như độc lập với đới đối lưu ở những lớp bên ngoài của sao. Và mặc dù nó có nhiệt độ rất cao, quầng phát ra rất ít ánh sáng. Vùng quầng của Mặt Trời thường chỉ có thể nhìn thấy được trong quá trình nhật thực.
Từ vùng quầng này, gió sao chứa các hạt plasam mở rộng ra bên ngoài từ ngôi sao, lan truyền cho đến tận khi nó tương tác với môi trường liên sao. Đối với Mặt Trời, sự ảnh hưởng của gió Mặt Trời mở rộng ra tận đến vùng có hình dạng bong bóng của nhật quyển (heliosphere).
Chu trình phản ứng tổng hợp hạt nhân.
Có nhiều phản ứng tổng hợp hạt nhân khác nhau diễn ra ở bên trong lõi các sao, phụ thuộc vào khối lượng và thành phần của ngôi sao, gọi chung là phản ứng tổng hợp hạt nhân sao. Khối lượng tổng cộng của các hạt nhân nguyên tử sau phản ứng tổng hợp nhỏ hơn tổng khối lượng các hạt tham gia phản ứng. Khối lượng bị mất này được giải phóng dưới dạng năng lượng điện từ, tuân theo nguyên lý sự tương đương khối lượng – năng lượng "E" = "mc"².
Quá trình tổng hợp hydro là một quá trình nhạy với nhiệt độ, chỉ cần nhiệt độ tăng trung bình trong lõi sẽ làm cho tốc độ phản ứng tổng hợp tăng lên rất lớn. Vì vậy nhiệt độ trong lõi của các sao ở dải chính thay đổi từ 4 triệu K đối với các sao lớp M đến 40 triệu K đối với các sao lớp O.
Trong Mặt Trời, với nhiệt độ tại lõi khoảng 10 triệu K, các hạt nhân hydro tổng hợp với nhau để tạo ra heli trong chuỗi phản ứng proton - proton:
41H → 22H + 2e+ + 2νe (4.0 MeV + 1.0 MeV)
21H + 22H → 23He + 2γ (5.5 MeV)
23He → 4He + 21H (12.9 MeV)
với e+ là hạt positron, γ là hạt photon tia gamma, νe là hạt neutrino, và H và He tương ứng là các đồng vị của hydro và heli. Năng lượng được giải phóng trong phản ứng này lên tới hàng triệu electron vôn, là nhỏ nếu chỉ tính riêng từng phản ứng một. Tuy nhiên bên trong Mặt Trời vô số các phản ứng này diễn ra liên tục, tạo ra đủ năng lượng cần thiết để duy trì cho sự bức xạ của ngôi sao ra bên ngoài.
Trong những ngôi sao nặng hơn, heli được tạo ra trong một chu trình phản ứng có cacbon tham gia làm chất xúc tác— chu trình cacbon-nitơ-oxy.
Trong những sao đã tiến hoá với lõi có nhiệt độ 100 triệu K và khối lượng từ 0,5 đến 10 lần khối lượng Mặt Trời, heli có thể biến đổi thành cacbon trong quá trình ba-alpha (triple-alpha process) với nguyên tố trung gian là beryli:
4He + 4He + 92 keV → 8*Be
4He + 8*Be + 67 keV → 12*C
12*C → 12C + γ + 7.4 MeV
Đối với toàn bộ phản ứng:
34He → 12C + γ + 7.2 MeV
Trong các sao có khối lượng lớn, những nguyên tố nặng hơn cũng có thể bị đốt cháy trong lõi đang co lại thông qua quá trình đốt cháy neon và quá trình đốt cháy oxy. Giai đoạn cuối cùng trong quá trình tổng hợp hạt nhân sao là quá trình đốt cháy silic với sản phẩm tạo ra là đồng vị bền sắt-56. Phản ứng tổng hợp không thể tiếp tục diễn ra đối với sắt nữa ngoại trừ quá trình thu nhiệt, và năng lượng chỉ có thể được sản sinh ra là nhờ sự suy sụp hấp dẫn.
Ví dụ bên dưới cho thấy khoảng thời gian cần thiết cho một ngôi sao có khối lượng 20 lần khối lượng Mặt Trời có thể tiêu thụ hết toàn bộ nhiên liệu hạt nhân của nó. Là một sao lớp O thuộc dải chính, nó có đường kính gấp 8 lần đường kính Mặt Trời và có độ trưng gấp 62.000 lần độ trưng của Mặt Trời.
|
Thầu dầu hay có nơi còn gọi là đu đủ tía (danh pháp hai phần: Ricinus communis) là một loài thực vật trong họ Đại kích (Euphorbiaceae) và là thành viên duy nhất trong chi Ricinus cũng như của phân tông Ricininae.
Từ "Ricinus" là một từ trong tiếng Latinh để chỉ các loài bét (thuộc bộ Acarina); hạt của nó được gọi như thế vì trông nó giống như một con bét. Nó là nguồn để sản xuất dầu thầu dầu có nhiều công dụng cũng như ricin, một chất độc (ricin từ 1-2 hạt thầu dầu có thể gây tử vong cho người lớn).
Mặc dù nó có thể có nguồn gốc ở vùng Đông Phi, nhưng ngày nay nó đã phổ biến trên toàn thế giới. Thầu dầu dễ thích nghi với môi trường sống mới và có thể tìm thấy ở các vùng đất bị bỏ hoang, gần đường sắt và gần đây được trồng nhiều để làm cảnh trong công viên hay các nơi công cộng khác.
Các hạt thầu dầu cũng được tìm thấy trong các ngôi mộ của người Ai Cập cổ đại có niên đại vào khoảng những năm 4000 TCN. Herodotus và các nhà du hành người Hy Lạp cổ đại khác cũng đã đề cập tới việc sử dụng dầu của hạt thầu thầu để thắp sáng và xức dầu lên cơ thể.
Việc sử dụng dầu của hạt thầu dầu tại Ấn Độ đã được đề cập tới trong một số tư liệu kể từ những năm 2000 TCN trong việc thắp sáng và trong y học cổ đại như là một loại thuốc nhuận tràng. Hạt thầu dầu và dầu của nó cũng được sử dụng tại Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, chủ yếu trong việc kê các đơn thuốc trong y học để uống hay sử dụng trong băng bó.
Mặc dù chỉ có một đại diện duy nhất nhưng thầu dầu có thể thay đổi rất nhiều về bề ngoài cũng như sự phát triển. Một số cây là loại thực vật lâu năm có thể đạt tới kích thước của một cây thân gỗ nhỏ trong khi một số cây khác là các dạng lùn và sinh trưởng như là loại cây một năm. Cũng tồn tại rất nhiều kiểu hình dạng và màu sắc của lá và chúng được lai giống để dùng làm cây cảnh. Ấu trùng của một số loài nhậy thuộc bộ Cánh vẩy Lepidoptera phá hoại thầu dầu như Ecpantheria scribonia, Hypercompe hambletoni và Discestra trifolii.
Hạt thầu dầu chứa khoảng 40-60% dầu, nó rất giàu các triglyxerit, chủ yếu là ricinolein.
Sản lượng hạt thầu dầu toàn thế giới khoảng 1,2-1,3 triệu tấn mỗi năm. Các khu vực sản xuất hàng đầu là Ấn Độ, Trung Quốc và Brasil.
"Ricinus" (thầu dầu) cực kỳ dễ gây dị ứng và có thang điểm dị ứng OPALS là 10 trên 10. Loại cây này cũng là tác nhân gây hen suyễn rất mạnh và dị ứng với "Ricinus" là phổ biến và nghiêm trọng.
Cây thầu dầu tạo ra một lượng lớn phấn hoa rất nhẹ, dễ dàng bay vào không khí và có thể hít vào phổi, gây ra các phản ứng dị ứng. Nhựa của cây gây phát ban da. Những người bị dị ứng với cây cũng có thể phát ban khi chỉ chạm vào lá, hoa hoặc hạt. Những cá nhân này cũng có thể có phản ứng dị ứng chéo với nhựa mủ từ cây Hevea brasiliensis có liên quan.
Độc tính của hạt thầu dầu thô là do sự hiện diện của ricin. Mặc dù liều gây chết người ở người lớn được coi là từ 4 đến 8 hạt, nhưng các báo cáo về ngộ độc thực tế là tương đối hiếm. Theo "Kỷ lục Guinness Thế giới", đây là loài thực vật thông thường độc nhất thế giới. Các triệu chứng của việc dùng quá liều ricin, có thể bao gồm buồn nôn, tiêu chảy, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp và co giật, kéo dài đến một tuần. Chất độc có thể được chiết xuất từ thầu dầu bằng cách cô đặc nó với một quy trình khá phức tạp tương tự như quy trình được sử dụng để chiết xuất xyanua từ hạnh nhân.
Nếu nuốt phải chất ricin, các triệu chứng thường bắt đầu trong vòng 2 đến 4 giờ, nhưng có thể bị trì hoãn tới 36 giờ. Chúng bao gồm cảm giác nóng rát ở miệng và cổ họng, đau bụng, mót rặn và tiêu chảy ra máu. Trong vòng vài ngày, tình trạng mất nước nghiêm trọng xảy ra, tụt huyết áp và giảm lượng nước tiểu. Trừ khi được điều trị, tử vong có thể xảy ra trong vòng 3–5 ngày; tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, có thể phục hồi hoàn toàn.
Ngộ độc xảy ra khi động vật kể cả con người, ăn phải hạt thầu dầu bị vỡ hoặc nhai vỡ hạt: hạt còn nguyên vẹn có thể đi qua đường tiêu hóa mà không giải phóng độc tố. Độc tố cung cấp cho cây thầu dầu một mức độ bảo vệ tự nhiên khỏi côn trùng gây hại như rệp vừng. Ricin đã được điều tra về khả năng sử dụng nó như một loại thuốc trừ sâu. Cây thầu dầu cũng là nguồn cung cấp acid undecylenic, một chất diệt nấm tự nhiên.
Dầu thầu dầu ép lạnh có bán trên thị trường không độc hại đối với con người ở liều lượng bình thường, dù là bên trong hay bên ngoài.
|
Romeo và Juliet là một vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Trong những vở kịch được viết bởi Shakespeare thì vở này cùng "Hamlet" là 2 vở nổi tiếng nhất và thường xuyên được diễn lại bởi hậu thế. Ngày nay, cái tên Romeo và Juliet thường dùng để chỉ những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt.
Vở kịch này về sau không chỉ phổ biến trong nghệ thuật sân khấu, mà còn được chuyển thành điện ảnh, opera, tiểu thuyế, "Romeo và Juliet" được bảo tồn và càng được phổ biến rộng rãi bởi William Davenant. Các tác phẩm điện ảnh của vở kịch bao gồm bản năm 1935 của George Cukor, bản năm 1968 của Franco Zeffirelli, bản phim năm 1996 của Baz Luhrmann và bản phim năm 2013 của Carlo Carlei.
Romeo và Juliet được viết vào khoảng 1594 - 1595, dựa trên một cốt truyện có sẵn kể về một mối tình oan trái vốn là câu chuyện có thật, từng xảy ra ở Ý thời Trung Cổ.
Câu chuyện bắt đầu tại thành Verona, hai dòng họ nhà Montague và nhà Capulet có mối hận thù lâu đời. Romeo, con trai họ Montague và Juliet, con gái họ Capulet đã yêu nhau say đắm ngay từ cái nhìn đầu tiên tại buổi dạ tiệc tổ chức tại nhà Capulet, do là dạ tiệc hoá trang nên Romeo mới có thể trà trộn vào trong đó. Đôi trai gái này đã đến nhà thờ nhờ tu sĩ Friar Laurence bí mật làm lễ cưới.
Đột nhiên xảy ra một sự việc: do xung khắc, anh họ của Juliet là Tybalt đã giết chết người bạn rất thân của Romeo là Mercutio. Để trả thù cho bạn, Romeo đã đâm chết Tybalt. Mối thù giữa hai dòng họ càng trở nên sâu nặng. Vì tội giết người nên Romeo bị trục xuất khỏi Verona và bị đi đày biệt xứ. Tưởng như mối tình của Romeo và Juliet bị tan vỡ khi Romeo đi rồi, Juliet bị cha mẹ ép gả cho Bá tước Paris. Juliet cầu cứu sự giúp đỡ của tu sĩ Laurence. Tu sĩ cho nàng uống một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết, thuốc có tác dụng trong vòng 42 tiếng. Tu sĩ sẽ báo cho Romeo đến hầm mộ cứu nàng trốn khỏi thành Verona.
Đám cưới giữa Juliet và Paris trở thành đám tang. Xác Juliet được đưa xuống hầm mộ. Tu sĩ chưa kịp báo cho Romeo thì từ chỗ bị lưu đày nghe tin Juliet chết, Romeo đau đớn trốn về Verona. Trên đường về chàng kịp mua một liều thuốc cực độc dành cho mình. Tại nghĩa địa, gặp Paris đến viếng Juliet, Romeo đâm chết Paris rồi uống thuốc độc tự tử theo người mình yêu. Romeo vừa gục xuống thì thuốc của Juliet hết hiệu nghiệm. Nàng tỉnh dậy và nhìn thấy xác Romeo bên cạnh đã chết, Juliet rút dao tự vẫn.
Cái chết tang thương của đôi bạn trẻ đã thức tỉnh hai dòng họ. Bên xác hai người, hai dòng họ đã quên mối thù truyền kiếp và bắt tay nhau đoàn tụ, nhưng câu chuyện tình yêu ấy vẫn mãi sẽ là nỗi đau rất lớn trong lòng những người biết đến họ.
|
Những tác phẩm viễn tưởng của ông bao gồm bộ đôi "Chuyện rừng xanh" ("Chuyện rừng xanh", 1894; "Chuyện rừng xanh phần hai", 1895), "Kim" (1901), "Chuyện là như thế" (1902) và rất nhiều truyện ngắn, bao gồm "Người đàn ông sẽ trở thành Vua" (1888). Các bài thơ của ông bao gồm "Mandalay" (1890), "Gunga Din" (1890), "Những vị thần của tiêu đề bản sao sách" (1919), "Gánh nặng người da trắng" (1899), và "Nếu—" (1910). Ông được xem là sáng tạo nghệ thuật truyện ngắn. Những tác phẩm thiếu nhi của ông đều là những tác phẩm kinh điểm; một nhà phê bình đã nhận xét ông có "tài kể chuyện uyên bác và xuất sắc".
Kipling vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 là một trong những nhà văn Anh Quốc nổi tiếng nhất. Henry James đã từng nói rằng "Kipling gây ấn tượng với tôi là một thiên tài toàn diện nhất, với trí tuệ khác xa với loại trí tuệ mà tôi từng biết." Vào năm 1907, ông được trao Giải Nobel Văn học, là nhà văn tiếng Anh đầu tiên đoạt giải này, ở tuổi 41, và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải này cho tới ngày nay. Ông cũng được bầu làm Thi sĩ Hoàng gia và một vài lần là tước hiệp sĩ, nhưng từ chối cả hai. Sau khi qua đời vào năm 1936, tro cốt của ông chôn tại Góc nhà thơ tại Tu viện Westminster.
Rudyard Kipling sinh tại Bombay, Ấn Độ. Cha là một chuyên gia Anh về lịch sử nghệ thuật Ấn Độ, giám đốc trường nghệ thuật Mumbai, mẹ là con một gia đình danh giá ở London, cả ông nội và ông ngoại đều là linh mục. Năm lên sáu, ông và cô em gái ba tuổi Alice ("Trix") tới Southsea, Portsmouth để sống với một cặp vợ chồng cho những đứa trẻ Anh quốc sống ở nước ngoài ở trọ. Trong thời gian ở Anh, Kipling đã học tại các trường United Service College, Westward Ho, Bideford. Năm 1882 ông trở về Ấn Độ, viết một số truyện ngắn và làm trợ lý Tổng biên tập cho tờ báo "Civil and Military Gazette" ở Lahore.
Chàng thanh niên đã khiến xã hội sở tại kinh ngạc bởi những ý kiến sắc sảo trước các vấn đề xã hội và kiến thức về đất nước Ấn Độ. Những chuyến đi hàng năm tới thành phố Shimla trong vùng Hymalaya là nguồn gốc dẫn đến sự ra đời nhiều tác phẩm của nhà văn. Năm 1892, ông kết hôn với Carrie Balestier tại Luân Đôn. Cả hai sau đó sang Mỹ sống và trở về Anh năm 1896. Theo lời khuyên của bác sĩ, mùa đông nhà văn sang Nam Phi. Trong Chiến tranh Boer (1899-1902) ông làm phóng viên mặt trận.
Trên đỉnh cao vinh quang và tiền bạc, Rudyard Kipling tránh công chúng, bỏ qua những phê bình thù nghịch, từ chối nhiều danh hiệu. Năm 1901 ông xuất bản tiểu thuyết "Kim" như một lời chào giã từ gửi đến đất nước Ấn Độ. Năm 1902 ông lui về sống tại một làng quê hẻo lánh ở Sussex (Anh) cho đến cuối đời.
Năm 1907 Kipling được trao giải Nobel khi mới 42 tuổi – là người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Nobel Văn học. Ông được trao giải Nobel Văn học khi đã có trong tay 20 tập sách (trong đó có 4 tiểu thuyết, hàng trăm bài thơ, nhiều tập ký, bài bá). Kipling đến Stockholm nhưng không đọc diễn văn nhận giải.
Ngoài giải Nobel, Kipling được nhận bằng danh dự và phần thưởng của nhiều trường đại học danh tiếng như Đại học Oxford, Đại học Cambridge, Đại học Edinburgh, Đại học Paris, Đại học Athens, Đại học T, giải Huy chương Vàng Văn học Hoàng gia Anh. Kipling mất tại London.
Thơ, văn của Kipling phản ánh cuộc sống người lính và nghĩa vụ của họ đối với Đế quốc Anh. Rudyard Kipling nổi tiếng với khả năng quan sát, trí tưởng tượng rực rỡ, độ chín muồi tư tưởng và tài năng thuật truyện xuất sắc. Những tác phẩm được biết đến nhiều nhất của ông có "The Jungle Book" (Sách rừng) - thấm sâu tư tưởng về sự sống khởi nguyên có tầng bậc giá trị rõ ràng và hết sức đơn giản mà nền văn minh không chạm đến được; và "Kim" - được coi là cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Anh hay nhất về Ấn Độ và là một trong những tiểu thuyết Anh hay nhất nói chung. Nhân vật chính do dự giữa những giá trị văn hóa Đông – Tây và cuối cùng đã chọn phương Tây nhưng vẫn canh cánh bên lòng một nỗi buồn nhớ phương Đông.
Về bài thơ "Nếu" (If).
Những bài thơ nổi tiếng nhất của Kipling như: "Ballad of East and West" (Bài thơ Đông – Tây), "Tommy, If" (Nếu), Mandalay đã được dịch ra tiếng Việt và in trong quyển "Những nhà giải thơ Nobel," Hà Nội, 2006.
Cuối thế kỷ 20, đài BBC đã đề nghị thính giả chọn những bài thơ hay nhất của các nhà thơ Anh. Có hàng nghìn người tham gia và kết quả là bài thơ "If" được chọn nhiều nhất, mở đầu cho tập "Những bài thơ hay nhất của nước Anh". Nhà văn Anh Richard Aldington, trong tiểu thuyết nổi tiếng "Death of a Hero" (Cái chết của một anh hùng, 1929) viết về một "thế hệ mất mát" trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, đã trích dẫn Kipling để ca ngợi tính cứng rắn của người lính ngoài mặt trận, ca ngợi những ai biết chém giết mà không hề run sợ, và chỉ khi đó "... con trai, con là một Con người!" Nhà đạo diễn người Anh Lindsay Anderson cũng đã dùng tên bài thơ để đặt tên cho một bộ phim nổi tiếng "If", giải thưởng Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes, chứng minh rằng sự giáo dục theo những chuẩn mực của Kipling đôi khi cho kết quả ngược lạ
Đấy chỉ là hai ví dụ tiêu biểu nhất trong văn chương và điện ảnh thế giới cho thấy bài thơ mới đọc qua có vẻ tất cả đều rõ ràng, thực ra vẫn ẩn giấu bên trong những ý nghĩa sâu xa mà một vài bản dịch chưa thể nào lột tả hết được… Ban đọc có thể xem chi tiết về bài thơ này ở mục từ Nế
Dù sao, dù người đời có trích dẫn theo nhiều vẻ khác nhau càng cho thấy một điều là bài thơ này có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội phương Tây và đã trở thành bất tử. Cuối cùng xin dành một đôi dòng về đối tượng của bài thơ này – con trai của Kipling chết năm 1915 ở mặt trận nước Pháp. Cú sốc này Kipling đã không thể hồi phục cho đến hết đời.
|
Nelson Rolihlahla Mandela (]; : Nen-xơn Man-đê-la; 18 tháng 7 năm 1918 – 5 tháng 12 năm 2013) là một nhà hoạt động chống apartheid người Nam Phi và là tổng thống đầu tiên của Nam Phi độc lập từ năm 1994 đến năm 1999. Ông là nguyên thủ da màu đầu tiên của quốc gia này được tiến cử dân chủ đại nghị hoàn toàn. Chính phủ của ông chú trọng dỡ bỏ chế độ phân biệt đối xử apartheid bằng các chính sách bồi dưỡng sự hòa giải chủng tộc. Về ý thức hệ chính trị, ông tin tưởng chủ nghĩa dân tộc Châu Phi và chủ nghĩa xã hội. Từ năm 1991 tới năm 1997, ông giữ chức chủ tịch Đảng Đại hội Dân tộc Phi (ANC).
Mandela sinh thành trong gia đình dân tộc Xhosa thuộc dòng dõi quý tộc Thembu ở Mvezo, Liên minh Nam Phi. Ông học luật tại Đại học Fort Hare và Đại học Witwatersrand, trước khi hành nghề luật sư tại Johannesburg. Ở đây, ông bị cuốn vào phong trào chính trị chống thực dân và ủng hộ chủ nghĩa dân tộc Châu Phi, gia nhập ANC vào năm 1943 và đồng sáng lập Liên đoàn Thanh niên vào năm 1944. Sau khi chính phủ toàn da trắng của Đảng Quốc dân thiết lập apartheid, một hệ thống phân chia chủng tộc có lợi cho công dân da trắng, Mandela và ANC nguyện thề sẽ lật đổ chế độ này. Ông được bổ nhiệm làm lãnh đạo chi bộ Transvaal của ANC, trở nên nổi danh vì tham gia Chiến dịch Phản kháng năm 1952 và Đại hội Nhân dân năm 1955. Ông liên tục bị bắt giữ vì các hành vi xúi giục nổi loạn, thậm chí phải hầu tòa vào năm 1956 nhưng may mắn thoát tội. Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, ông đã bí mật tham gia Đảng Cộng sản Nam Phi (SACP) lúc bấy giờ bị cấm. Tuy ban đầu chỉ kêu gọi biểu tình kiềm chế và ôn hoà, song sau khi liên kết với SACP, ông đã đồng sáng lập nhóm dân quân uMkhonto we Sizwe vào năm 1961 và dẫn đầu một chiến dịch phá hoại chống chính phủ đương thời. Mandela bị bắt giữ vào năm 1962; tại Phiên tòa Rivonia, ông bị kết án tù chung thân vì tội danh mưu toan lật đổ nhà nước.
Mandela thụ án 27 năm trong ba nhà tù, lần lượt ở Đảo Robben, Nhà tù Pollsmoor và Nhà tù Victor Verster. Vì áp lực từ trong nước và quốc tế, cũng như sự e sợ trước nguy cơ bùng nổ một cuộc nội chiến sắc tộc, Tổng thống F. W. de Klerk thả ông vào năm 1990. Mandela và de Klerk sau đó bắt tay hướng đến đàm phán chấm dứt apartheid. Nhờ nỗ lực ấy, Mandela và Đảng ANC đã giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử đa chủng tộc vào năm 1994. Dẫn đầu chính phủ liên minh cởi mở cùng bản hiến pháp mới, Mandela liên tục nhấn mạnh sự hòa giải giữa các nhóm chủng tộc trong đất nước và lập ra Ủy ban Sự thật và Hòa giải để điều tra các vụ xâm hại nhân quyền trong quá khứ. Về chính sách kinh tế, Mandela vẫn bám lấy khung sườn tự do kinh tế của chính phủ tiền nhiệm; ngoài ra, ông cũng giới thiệu các biện pháp khuyến khích cải cách ruộng đất, xóa đói giảm nghèo và mở rộng các dịch vụ an sinh xã hội. Trên trường quốc tế, Mandela từng là người điều đình trong vụ xét xử chuyến bay 103 của Pan Am và tổng thư ký của Phong trào không liên kết từ năm 1998 đến năm 1999. Ông khước từ lên làm tổng thống nhiệm kỳ hai, nhường vinh dự đó cho cấp phó là Thabo Mbeki. Cuối đời, ông trở thành nhà chính trị lão thành, vận động người dân ủng hộ xóa đói giảm nghèo và diệt trừ HIV/AIDS thông qua Quỹ Nelson Mandela.
Từ lúc bình sinh, Mandela đã là một nhân vật gây nhiều tranh cãi: những người hữu khuynh tố cáo ông là khủng bố cộng sản, trong khi những người cực tả phê phán ông còn quá nóng vội trong việc đàm phán hòa bình với giới ủng hộ arpetheid. Dẫu vậy, cộng đồng quốc tế vẫn công nhận công lao cao cả của ông trong việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc. Được coi là biểu tượng của tinh thần dân chủ và công bằng xã hội, ông đã vinh dự nhận hơn 250 giải thưởng, bao gồm Giải Nobel Hòa bình danh giá. Nhân dân Nam Phi đặc biệt mến mộ ông, thường gọi trìu mến ông bằng cái tên bộ lạc Thembu là Madiba, và kính cẩn tôn xưng ông như "Cha già dân tộc".
Nelson Mandela chào đời ngày 18 tháng 7 năm 1918 tại ngôi làng Mvezo ở Umtata, hồi ấy là Tỉnh Cape thuộc Nam Phi. Tên khai sinh của ông là Rolihlahla, một danh từ tiếng Xhosa có nghĩa đen là "kéo cành cây" và được hiểu thông tục là "kẻ gây rối", song về sau thì ông thường được biết đến với cái tên bộ lạc Madiba. Cụ nội của Nelson, Ngubengcuka, là quân chủ cai trị Vương quốc Thembu trong Lãnh thổ Transkei, nay là tỉnh Đông Cape của Nam Phi. Một trong những người con trai của Ngubengcuka, Mandela, là ông nội của Nelson. Vì Mandela là con của vua với bà vợ từ tộc Ixhiba, một "Gia tộc Tay trái", hậu duệ thuộc chi nhánh của ông trong hoàng tộc không có quyền hưởng ngai vàng, song vẫn được nhận vào hội viên hội đồng hoàng gia thừa kế.
Cha của Nelson Mandela, Gadla Henry Mphakanyiswa Mandela (1880–1928), là một tù trưởng địa phương và là hội viện cố vấn quân chủ; ông được bổ nhiệm vào năm 1915, sau khi người tiền nhiệm ông bị kết án tham nhũng bởi một thẩm phán da trắng. Năm 1926, Gadla cũng bị cách chức do tội tham nhũng, song Nelson lại được kể rằng, cha ông mất việc vì dám đứng lên chống đối các yêu sách quá đáng của vị thẩm phán. Là người sùng bái thần Qamata, Gadla lấy tới bốn bà vợ, sinh bốn con trai và chín con gái, sông ở những ngôi làng khác nhau. Mẹ của Nelson là vợ thứ ba của Gadla, Nosekeni Fanny, con gái của Nkedama thuộc Gia tộc Tay phải và một thành viên của bộ lạc amaMpemvu X="Template:Quote_box/" /
Không một ai trong gia đình tôi từng được đi học ... Vào ngày đầu tiên tới trường, giáo viên của tôi, cô Mdingane, đặt cho mỗi bạn học sinh một cái tên tiếng Anh. Đây là thông lệ của người Châu Phi thời ấy và chắc hẳn bắt nguồn từ thiên kiến Anh quốc trong nền giáo dục của bọn tôi. Hôm đó, cô Mdingane đặt cho tôi cái tên Nelson. Tại sao lại lấy tên đó thì tôi chịu.
Mandela sau này kể lại rằng, thuở ấu thơ của ông tràn ngập tín ngưỡng và tục kiêng kỵ Xhosa. Ông lớn lên cùng hai chị ruột ở "kraal" của mẹ tại làng Qunu, hằng ngày chăn gia súc và chơi đùa cùng bạn bè ngoài trời. Cha mẹ ông đều mù chữ; song vì là một tín đồ Kitô ngoan đạo, mẹ của Mandela đã gửi ông đến ngôi trường Giám lý địa phương khi ông lên bảy. Sau khi được rửa tội tại đây, giáo viên đã ban cho ông cái tên Anh ngữ "Nelson". Khi Mandela lên chín, cha ông chuyển đến ở Qunu, và qua đời vì một chứng bệnh không xác định mà Mandela tin là bệnh phổi. Cảm thấy "phiêu bạt vô định", ông về sau nói rằng, mình thừa kế "tính nổi loạn đáng tự hào" và "tinh thần công bằng cứng đầu" của cha.
Mẹ của Mandela đưa ông đến Mqhekezweni để được giám hộ bởi nhiếp chính của Thembu, Jongintaba Dalindyebo, vị tù trưởng mang ơn người cha quá cố của Mandela. Tuy không được gặp mẹ trong một khoảng thời gian rất dài nữa, Mandela cảm thấy rằng Jongintaba và phu nhân Noengland đối xử với ông như con ruột trong nhà, nuôi nấng ông cùng cậu con trai, Justice, và cô con gái, Nomafu.
Clarkebury, Healdtown, và Fort Hare: 1934–1940.
Để chuẩn bị thừa kế vị trí thành viên Hội đồng Cơ mật của cha mình, năm 1937, Mandela chuyển đến trường Healdtown, ngôi trường tại Fort Beaufort, nơi hầu hết con cháu hoàng tộc Thembu đều đi học. Vào lúc 19 tuổi, ông bắt đầu quan tâm đến bộ môn quyền anh và chạy bộ tại trường.
Vào năm 1939, ông đậu vào học bằng Cử nhân tại Trường Đại học Fort Hare, nơi ông đã gặp Oliver Tambo. Tambo và Mandela sau này là những người bạn và đồng nghiệp thân thiết. Mandela cũng kết bạn với người bà con Kaiser ("K.D.") Matanzima, người thuộc dòng trực hệ của Hữu gia của người Thembu, là người thừa kế ngai vàng Transkei, vì vai trò mà sau đó đã đưa ông đến với chính sách Bantustan. Chính sự ủng hộ chính sách này của ông và Mandela đã khiến hai người trở thành phe chính trị đối lập. Cuối năm thứ nhất, Mandela tham gia vào vụ tẩy chay của Hội sinh viên nhằm chống lại quy định của trường đại học, và bị buộc phải rời trường Fort Hare không được trở lại chừng nào ông chưa chấp nhận cuộc bầu cử của vào Hội. Sau này, lúc ở trong tù, Mandela đã học bằng Cử nhân luật của Chương trình đào tạo từ xa của Đại học Luân Đôn.
Một thời gian ngắn sau khi rời Fort Hare, Jongintaba đã thông báo với Mandela và Justice (con của quan nhiếp chính và là người thừa kế ngai vàng) rằng ông đã sắp xếp đám cưới cho cả hai người. Những thanh niên trẻ không vừa lòng với sự sắp đặt này, và quyết định chuyển đến sống ở Johannesburg. Khi đến Johannesburg, Mandela xin một chân canh gác tại một khu mỏ. Tuy nhiên, ông chủ lập tức đuổi việc Mandela khi hay rằng ông là con nuôi đang chạy trốn của Quan nhiếp chính. Mandela chuyển sang làm tập sự ở một công ty luật tên Witkin, Sidelsky và Edelman, nhờ quen biết với một người bạn và người hướng dẫn, nhân viên địa ốc Walter Sisulu. Khi làm việc tại hãng Witkin, Sidelsky và Edelman, Mandela đã hoàn tất tấm bằng Cử nhân hàm thụ của Trường Đại học Nam Phi, sau đó ông học luật tại Trường Đại học Witwatersrand, tại đó ông kết bạn tới bạn học mà sau này là đồng chí chống chủ nghĩa apartheid của ông Joe Slovo, Harry Schwarz và Ruth First. Slovo sau này là Bộ trưởng Bộ cư trú, còn Schwarz là Đại sứ Nam Phi tại Hoa Kỳ. Trong thời gian này, ông sống tại thành phố ngoại ô Alexandra, phía bắc Johannesburg.
Hoạt động cách mạng.
Sau chiến thắng của Đảng Quốc gia, ủng hộ chính sách phân biệt chủng tộc apartheid của những người Afrikaner, Mandela bắt đầu tham gia tích cực vào hoạt động chính trị. Ông đã lãnh đạo rất thành công trong Chiến dịch Phản đối của ANC năm 1952 và Đại hội Nhân dân năm 1955, từ đó thông qua Hiến chương Tự do là nền tảng cơ bản cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa apartheid. Trong thời gian này, Mandela và luật sư đồng nghiệp Oliver Tambo điều hành một công ty luật có tên là Mandela và Tambo, nhận bào chữa miễn phí hoặc giá rẻ cho nhiều người da đen thiếu luật sư đại diện.
Mahatma Gandhi có ảnh hưởng lớn đến cách thức đấu tranh của Mandela, và cả phương pháp dành thắng lợi của các nhà hoạt động chống chủ nghĩa apartheid các thế hệ sau. Mandela đã từng tham dự một hội nghị diễn ra tại New Delhi từ ngày 29-30 tháng 1 năm 2007 đánh dấu 100 năm ngày Gandhi đưa ra thuyết satyagraha (phản kháng bất bạo động) tại Nam Phi.
Ban đầu, khi kiên trì đường lối đấu tranh bất bạo động, Mandela và 150 người khác bị bắt giam vào ngày 5 tháng 12 năm 1956 và bị buộc tội phản quốc. Sau quá trình xét xử kéo dài từ năm 1956 – 1961, tất cả các bị cáo đều được tuyên trắng án. Từ năm 1952 – 1959, xuất hiện một lực lượng các nhà hoạt động da đen mới được gọi là những người Toàn Phi đã cản trở các hoạt động của ANC ở khu vực thành phố của người da đen, lực lượng này đòi hỏi phải có các biện pháp quyết liệt hơn nhằm chống lại chế độ của Đảng Quốc gia. Những nhà lãnh đạo ANC lúc bấy giờ là Albert Luthuli, Oliver Tambo và Walter Sisulu không những cho rằng những người Toàn Phi đang đi quá đà mà còn cảm thấy quyền lãnh đạo của họ đang bị đe dọa. Vì thế cánh lãnh đạo của ANC đã củng cố vị thế của mình bằng cách liên minh với các đảng phái chính trị nhỏ của những người Da trắng, Da màu, lẫn Da đỏ nhằm tranh thủ lôi kéo rộng rãi số người ủng hộ hơn phái Toàn Phi. Những người Toàn Phi nhạo báng Hiến chương Tự do trong Hội nghị tại Kliptown năm 1955 vì đảng ANC với số lượng thành viên áp đảo 100.000 người mà chỉ có được một phiếu trong liên minh Đại hội. Bốn trong năm tổng thư ký của các đảng phái tham gia đại hội đều đã ngầm tham gia Đảng Cộng sản Nam Phi (SACP) tái cơ cấu, gắn liền với chính sách của Moskva. Đến năm 2003 Blade Nzimande, Tổng thư ký SACP, tiết lộ rằng Walter Sisulu, Tổng thư ký của đảng ANC, cũng đã bí mật gia nhập SACP vào năm 1955 có nghĩa là cả năm Tổng thư ký đều là người của SACP và do đó giải thích lý do tại sao Sisulu quyết định đưa vai trò của ANC từ vai trò chi phối xuống thành một trong năm bên ngang vai nhau.
Trong năm 1959, ANC mất phần lớn sự ủng hộ từ lực lượng chiến đấu khi phần lớn những người Toàn Phi, với sự hỗ trợ tài chính từ Ghana và chính trị từ những người Sotho tại tỉnh Transvaal, đã ly khai để thành lập Đại hội Toàn Phi (PAC) dưới sự lãnh đạo của Robert Sobukwe và Potlako Leballo.
MK, SACP, và du khảo Châu Phi: 1961–62.
Vào năm 1961, Mandela trở thành người đồng sáng lập và là lãnh đạo cánh vũ trang của ANC, Umkhonto we Sizwe (tạm dịch "Cây giáo của Quốc gia", cũng viết tắt là "MK"). Ông điều hành các chiến dịch phá hoại chống lại các mục tiêu quân sự và của chính quyền, lên kế hoạch cho một cuộc chiến tranh du kích nếu phương cách phá hoại vẫn không chấm dứt được chế độ apartheid. Mandela cũng quyên tiền cho MK ở nước ngoài và sắp xếp các buổi huấn luyện bán quân sự cho nhóm.
Người đồng chí trong đảng ANC Wolfie Kadesh giải thích chiến dịch đánh bom do Mandela dẫn dắt như sau: "Khi chúng tôi biết rằng chúng tôi sẽ bắt đầu vào ngày 16 tháng 12 năm 1961, nhằm làm nổ tung những vị trí là biểu tượng của chủ nghĩa apartheid, như văn phòng giấy thông hành, tòa án địa phương, và những nơi tương tự... bưu điện và... các văn phòng chính phủ. Nhưng chúng tôi dự định thực hiện điều đó sao cho không có ai bị thương vong." Mandela đã nói về Wolfie: "Kiến thức về chiến tranh và kinh nghiệm trận mạc của ông là cực kỳ hữu ích đối với tôi."
Mandela đã xem bước chuyển sang đấu tranh vũ trang là phương kế cuối cùng; nhiều năm trời với chính sách đàn áp và bạo lực ngày càng tăng của chính quyền đã cho ông thấy sự phản kháng bất bạo động chống chủ nghĩa Apartheid nhiều năm đã không và cũng không thể thu được tiến triển nào.
Sau này, chủ yếu vào thập niên 1980, MK đã tiến hành chiến tranh du kích chống lại chế độ apartheid với nhiều thương vong là dân thường. Mandela sau này thừa nhận rằng ANC, trong cuộc chiến đấu chống lại apartheid, cũng vi phạm quyền con người, chỉ trích thẳng thừng những đảng viên trong đảng ông cố gắng đưa những câu chữ phản ánh sự thật ra khỏi báo cáo của Ủy ban Sự thật và Hòa giải.
Cho đến tận tháng 7 năm 2008, Mandela và các đảng viên ANC vẫn bị hạn chế đi đến Hoa Kỳ – ngoại trừ trụ sở Liên Hợp Quốc ở Manhattan — nếu không có giấy phép cho phép đặc biệt của Ngoại trưởng Hoa Kỳ, vì họ bị quy là khủng bố trong thời kỳ chế độ apartheid ở Nam Phi.
Bị bắt giữ và phiên tòa Rivonia: 1962–1964.
Ngày 5 tháng 8 năm 1962 Mandela bị bắt sau khi ẩn náu được 17 tháng, và giam giữ tại Pháo đài Johannesburg. Vụ bắt giữ này xảy ra do Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) đã tiết lộ nơi ẩn náu và nhân dạng giả của Mandela cho an ninh. Ba ngày sau đó, người ta đã đọc lời buộc tội ông chủ mưu kêu gọi công nhân đình công vào năm 1961 và vượt biên bất hợp pháp tại tòa. Ngày 25 tháng 10 năm 1962, Mandela bị tuyên án 5 năm tù giam. Hai năm sau vào ngày 11 tháng 6 năm 1964, ông lại phải ra tòa một lần nữa vì những hoạt động trong Hội đồng Quốc gia châu Phi (ANC).
Trong lúc Mandela đang trong tù, cảnh sát đã bắt giữ nhiều lãnh đạo cốt cán của ANC vào ngày 11 tháng 7 năm 1963, tại Liliesleaf Farm, Rivonia, phía bắc Johannesburg. Mandela được ghép vào xét xử chung, và tại Phiên tòa Rivonia, họ bị chánh án, Tiến sĩ Percy Yutar, cáo buộc nhiều tội danh trong đó chủ yếu là phá hoại (Mandela thừa nhận tội này) và các tội tương đương với phản quốc, nhưng chính quyền dễ chứng minh hơn. Lời buộc tội thứ hai cáo buộc các bị cáo âm mưu một cuộc xâm lược của ngoại quốc vào Nam Phi, Mandela phủ nhận tội danh này.
Trong lời phát biểu tại ghế bị cáo mở đầu phiên biện hộ trong phiên tòa ngày 20 tháng 4 năm 1964 tại Tòa án Tối cao Pretoria, Mandela đã nói rằng việc ANC lựa chọn sử dụng vũ lực chỉ là một sách lược mà thôi. Lời phát biểu của ông đã mô tả ANC đã sử dụng các biện pháp hòa bình như thế nào để chống lại chủ nghĩa apartheid trong nhiều năm trời cho đến khi xảy ra vụ Thảm sát Sharpeville. Sự kiện đó đi kèm với cuộc trưng cầu dân ý để thành lập Cộng hòa Nam Phi và sự tuyên bố tình trạng khẩn cấp cùng với việc cấm chỉ hoạt động của ANC đã khiến cho Mandela và các đồng chí của ông thấy rằng lựa chọn duy nhất của họ chỉ có thể thông qua các hành động phá hoại, nếu không chẳng khác nào một sự đầu hàng vô điều kiện. Mandela tiếp tục giải thích cách họ hình thành Tuyên ngôn Umkhonto we Sizwe vào ngày 16 tháng 12 năm 1961 dự kiến sẽ phô bày sự thất bại của các chính sách của Đảng Quốc gia sau khi nền kinh tế bị đe dọa cho những người ngoại quốc không còn sẵn lòng đầu tư vào đất nước nữa. Ông kết thúc bài phát biểu bằng những lời sau đây: "Tôi cống hiến cả đời tôi cho sự nghiệp đấu tranh của người dân châu Phi. Tôi đã chiến đấu chống lại sự thống trị của người da trắng, và tôi cũng chiến đấu chống lại sự thống trị của người da đen. Tôi yêu mến lý tưởng về một xã hội dân chủ và tự do trong đó mọi người dân sống với nhau hòa thuận và bình đẳng. Đó là lý tưởng mà tôi hy vọng sẽ sống vì nó và đạt được nó. Nhưng nếu cần, tôi cũng sẵn sàng chết vì lý tưởng đó."
Bram Fischer, Vernon Berrange, Harry Schwarz, Joel Joffe, Arthur Chaskalson và George Bizos là các luật sự bảo vệ cho bên bị. Harold Hanson cũng được bổ sung vào cuối phiên tòa để giúp giảm nhẹ tội danh. Tất cả mọi người trừ Rusty Bernstein đều bị tuyên là có tội, nhưng họ thoát khỏi án treo cổ mà bị tuyên tù chung thân vào ngày 12 tháng 6 năm 1964. Lời buộc tội gồm có tham gia lên kế hoạch hành động vũ trang, cụ thể là bốn cáo buộc phá hoại, mà Mandela thừa nhận, và một âm mưu chính trị trợ giúp nước ngoài xâm lược Nam Phi, tội này bị Mandela phủ nhận.
Thời gian trong tù.
Nelson Mandela bị giam giữ tại Đảo Robben và đã ở đấy 18 năm trong tổng số 27 năm trong tù của ông. Khi ở trong tù, ông dần dần trở nên nổi tiếng với vai trò là nhà lãnh đạo da đen đáng chú ý nhất tại Nam Phi. Ở trên đảo, ông và các tù nhân khác phải lao động khổ sai ở một mỏ đá vôi. Điều kiện sống trong tù rất cơ bản. Tù nhân cũng bị phân chia theo sắc tộc và tù nhân da đen là những người nhận được lượng thực phẩm ít nhất. Tù chính trị được giam giữ riêng biệt với thường phạm và được hưởng ít quyền lợi hơn. Mandela đã mô tả rằng, do bị xếp vào tù nhân nhóm D (hạng thấp nhất) ông chỉ được phép có một người khách viếng thăm và nhận một lá thư mỗi sáu tháng. Những lá thư thường bị trễ khá lâu và rất khó đọc do chế độ kiểm duyệt trong nhà tù.
Lúc ở trong tù Mandela đã tham gia khóa học từ xa của Đại học Luân Đôn và nhận bằng Cử nhân Luật. Ông sau đó được đề cử làm Hiệu trưởng danh dự của Đại học Luân Đôn trong cuộc bình chọn năm 1981, nhưng vị trí này đã thuộc về Vương nữ Anne.
Trong cuốn hồi ký "Inside BOSS" xuất bản năm 1981 điệp viên Gordon Winter đã kể về việc ông này tham gia kế hoạch giải cứu Mandela vào năm 1969: kế hoạch này bị Winter tiết lộ thay mặt cho cơ quan tình báo Nam Phi, họ muốn Mandela trốn thoát để họ có thể xử bắn ông khi tìm bắt lại. Kế hoạch này đã bị Cơ quan Tình báo Anh chặn đứng.
Vào tháng 3 năm 1982 Mandela được chuyển từ Đảo Robben sang Nhà tù Pollsmoor, cùng với các nhà lãnh đạo ANC khác như Walter Sisulu, Andrew Mlangeni, Ahmed Kathrada và Raymond Mhlaba. Đã có suy đoán rằng đây là cách để xóa bỏ sức ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo cấp cao này đối với thế hệ những nhà hoạt động da đen trẻ đang bị giam tại Đảo Robben, cái gọi là "Trường Đại học Mandela". Tuy nhiên, Thủ tướng Kobie Coetsee thuộc Đảng Quốc gia nói rằng việc chuyển trại này giúp cho việc liên hệ giữa họ và chính quyền Nam Phi được thuận tiện hơn.
Tháng 2 năm 1985 Tổng thống P.W. Botha đề nghị trả tự do cho Mandela với điều kiện ông phải 'từ bỏ phương cách đấu tranh chính trị bằng bạo lực một cách vô điều kiện'. Coetsee và các bộ trưởng khác phản đối đề xuất của Botha, cho rằng Mandela sẽ không bao giờ yêu cầu tổ chức của ông từ bỏ đấu tranh vũ trang để đổi lấy sự tự do cho cá nhân mình. Đúng là Mandela đã bác bỏ đề xuất và đưa ra lời tuyên bố thông qua cô con gái Zindzi trong đó nói rằng "Thứ tự do đang được đề nghị cho tôi là cái gì trong khi tổ chức của nhân dân vẫn bị cấm đoán? Chỉ có những người tự do mới có thể thương lượng mà thôi. Một tù nhân không thể tham gia vào một thỏa hiệp nào hết."
Cuộc gặp đầu tiên giữa Mandela và chính quyền Đảng Quốc gia diễn ra vào tháng 11 năm 1985, khi Kobie Coetsee gặp gỡ Mandela tại Bệnh viện Volks Hospital ở Cape Town nơi Mandela đang tịnh dưỡng sau cuộc phẫu thuật tuyến tiền liệt. Trong bốn năm sau đó, một loạt các cuộc gặp mang tính thăm dò đã diễn ra, làm nền tảng cho các cuộc tiếp xúc và thương lượng về sau, nhưng tiến bộ thực sự thì không nhiều.
Vào năm 1988 Mandela được chuyển đến Nhà tù Victor Verster và ở đó cho đến khi ông được phóng thích. Người ta đã dỡ bỏ nhiều hạn chế đối với ông và những người như Harry Schwarz đã có thể tự do thăm viếng ông. Schwarz, một người bạn của Mandela, biết ông từ khi họ học chung lớp luật ở trường đại học. Ông này cũng là luật sư biện hộ cho Mandela tại Phiên tòa Rivonia và sau này là đại sứ tại Washington khi Mandela làm tổng thống.
Trong suốt thời kỳ Mandela bị giam giữ, đã có nhiều áp lực ở trong cũng như ngoài nước đòi chính quyền Nam Phi phải trả tự do cho ông, với khẩu hiệu nổi tiếng "Free Nelson Mandela!" ("Hãy thả Nelson Mandela") Đến năm 1989, Nam Phi có sự chuyển biến khi Botha bị đột quỵ và Frederik Willem de Klerk thay thế vào vị trí tổng thống. De Klerk tuyên bố thả tự do cho Mandela vào tháng 2 năm 1990.
Mandela đã được Ủy hội Chữ thập đỏ Quốc tế viếng thăm vài lần khi ông còn ở Đảo Robben và sau này ở nhà tù Pollsmoor. Mandela đã nói về những chuyến thăm viếng như sau: "với cá nhân tôi, và với những ai đã từng trải qua thời gian là tù chính trị, Hội chữ thập đỏ là một tia sáng nhân đạo trong thế giới tăm tối thiếu nhân tính của nhà tù chính trị."
Nhà tù Victor Verster và được trả tự do: 1988–1990.
Ngày 2 tháng 2 năm 1990, Tổng thống Quốc gia F.W. de Klerk đã hủy lệnh cấm hoạt động đối với Đảng ANC và các tổ chức chống chủ nghĩa apartheid khác, đồng thời thông báo Mandela sẽ sớm được trả tự do. Mandela được trả tự do từ Nhà tù Victor Verster ở Paarl vào ngày 11 tháng 2 năm 1990. Sự kiện này được phát hình trực tiếp trên khắp thế giới.
Vào ngày được phóng thích, Mandela đã có một bài diễn văn gửi đến toàn quốc. Ông tuyên bố cam kết hòa bình và hòa giải với những người da trắng thiểu số trong nước, nhưng nói rõ rằng cuộc đấu tranh vũ trang của ANC vẫn chưa chấm dứt khi ông nói "phương sách đấu tranh vũ trang vào năm 1960 khi chúng tôi hình thành phái quân sự trong ANC (Umkhonto we Sizwe) đơn thuần là hành động tự vệ chống lại sự tàn bạo của chủ nghĩa apartheid. Các yếu tố đưa đến cuộc đấu tranh vũ trang đến nay vẫn hiển diện. Chúng tôi không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải tiếp tục. Chúng tôi bày tỏ hy vọng một không khí có lợi cho một cuộc thương lượng sẽ sớm được tạo ra, để nhu cầu đấu tranh vũ trang không còn nữa."
Ông cũng nói rằng tập trung chính của ông là mang lại hòa bình cho những người da đen đa số và cho họ quyền bỏ phiếu trong những cuộc bầu cử cấp quốc gia lẫn địa phương.
Sau khi được trả tự do, Mandela trở lại làm lãnh đạo ANC, rồi từ năm 1990 đến 1994, ông lãnh đạo đảng này trong cuộc thương lượng đa đảng dẫn tới cuộc bầu cử đa sắc tộc đầu tiên trong nước.
Năm 1991, ANC tổ chức hội nghị toàn quốc đầu tiên của mình ở Nam Phi sau khi được dỡ bỏ lệnh cấm, hội nghị đã bầu Mandela làm Chủ tịch (President) của tổ chức. Người bạn và người đồng nghiệp lâu năm của ông, Oliver Tambo, người lãnh đạo tổ chức lưu vong khi Mandela còn ở trong tù, trở thành Chủ tịch Quốc gia (National Chairperson).
Vai trò lãnh đạo của Mandela trong cuộc thương thuyết, cũng như mối quan hệ của ông với Tổng thống F.W. de Klerk, đã được thừa nhận khi họ cùng được trao Giải Nobel Hòa bình năm 1993. Tuy nhiên, mối quan hệ này thỉnh thoảng trở nên căng thẳng, cụ thể như trong một phát biểu nảy lửa vào năm 1991 khi ông nói De Klerk là người cầm đầu một "chế độ không hợp pháp, mất uy tín, gồm toàn những người thiểu số". Cuộc thương thuyết có lần đã đổ vỡ do vụ thảm sát Boipatong tháng 6 năm 1992, khi đó Mandela cùng đoàn đại biểu của ANC bước ra khỏi cuộc thương thuyết, cáo buộc chính quyền De Klerk đồng lõa với các vụ giết chóc. Tuy nhiên, những cuộc hội đàm đã được tiếp diễn sau vụ thảm sát Bisho tháng 9 năm 1992, khi bóng ma bạo lực khiến cho người ta nhận thấy hội đàm là cách duy nhất để tiến tới một giải pháp.
Sau vụ ám sát nhà lãnh đạo ANC Chris Hani tháng 4 năm 1993, lại dấy lên sự sợ hãi đất nước sẽ lại tan vỡ trong bạo lực. Mandela đã gửi thông điệp toàn quốc yêu cầu mọi người bình tĩnh, trong bài phát biểu với vai trò 'tổng thống' dù khi đó ông chưa phải là tổng thống thực sự. Mandela nói rằng "tối nay tôi đang nói với từng người Nam Phi, cả đen lẫn trắng, những lời nói xuất phát từ sâu thẳm lòng mình. Một người da trắng đầy thành kiến và căm giận đã đến đất nước chúng ta và thực hiện một hành vi sai lầm đến mức khiến cả nước phải đối mặt với vực thẳm khủng hoảng. Một người phụ nữ da trắng, gốc Afrikan, đã liều mạng sống của bà để chúng ta có thể biết đến, và mang lại sự công bằng cho vụ ám sát này. Vụ giết người máu lạnh nhằm vào Chris Hani đã tạo một làn sóng rung chuyển đất nước và thế giớ– sự tự do cho tất cả chúng ta". Dù đã có một số vụ bạo loạn xảy ra sau vụ ám sát, các bên thương lượng vẫn tích cực hành động, và sớm thỏa thuận một cuộc bầu cử dân chủ diễn ra vào ngày 27 tháng 4 năm 1994, chỉ hơn một năm sau vụ ám sát Hani.
Thời kỳ làm Tổng thống Nam Phi.
Cuộc bầu cử đa sắc tộc đầu tiên ở Nam Phi với quyền bỏ phiếu được trao cho tất cả mọi người đã diễn ra vào ngày 27 tháng 4 năm 1994. ANC giành được 62% số phiếu bầu, và Mandela, với vai trò là lãnh đạo ANC, đã nhậm chức làm Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi vào ngày 10 tháng 5 năm 1994, de Klerk của Đảng Quốc gia là phó tổng thống thứ nhất và Thabo Mbeki là phó tổng thống thứ hai trong Chính phủ Thống nhất Quốc gia. Với vị trí là Tổng thống từ tháng 5 năm 1994 cho đến tháng 6 năm 1999, Mandela đã chủ trì sự chuyển giao từ quyền lực của thiểu số và chủ nghĩa apartheid, giành được sự tôn trọng của quốc tế đối với những nỗ lực hòa giải quốc gia và thế giới của ông. Mandela đã khích lệ những người Nam Phi da đen ủng hộ cho đội "Springbok" (đội tuyển rugby quốc gia Nam Phi) trước đây bị dân chúng ghét bỏ khi Nam Phi tổ chức Cúp Rugby Thế giới 1995. Sau khi Springbok giành chiến thắng trong trận chung kết trước New Zealand, Mandela đã trao cúp vô địch cho đội trưởng Francois Pienaar, một người Afrikan, trên người mặc chiếc áo đấu Springbok với con số 6 của Pienaar sau lưng. Hành động này được xem là bước tiến lớn của sự hòa giải giữa người Nam Phi da trắng và da đen.
Sau khi nhậm chức tổng thống, một trong những dấu hiệu đặc trưng của Mandela là chiếc áo Batik của ông, còn được biết đến với cái tên "Áo Madiba", kể cả trong những sự kiện long trọng. Trong hành động quân sự đầu tiên sau thời kỳ apartheid của Nam Phi, Mandela đã ra lệnh cho quân đội xâm nhập lãnh thổ Lesotho vào tháng 9 năm 1999 để bảo vệ chính quyền của Thủ tướng Pakalitha Mosisili. Vụ việc này diễn ra sau một cuộc bỏ phiếu gây tranh cãi trong đó lực lượng phản đối đã đe dọa đến chính quyền thiếu ổn định này. Những nhà bình luận và phê bình trong đó có cả các nhà hoạt động vì AIDS như Edwin Cameron đã chỉ trích Mandela vì sự thiếu hiệu quả của chính quyền ông trong việc ngăn chặn cuộc khủng hoảng AIDS. Sau khi nghỉ hưu, Mandela thừa nhận rằng ông đã thất bại vì đã không chú ý nhiều hơn đến bệnh dịch HIV/AIDS. Mandela từ đó đã có một số bài phát biểu chống lại bệnh dịch AIDS.
Tổng thống Mandela có sự quan tâm đặc biệt trong việc giúp đỡ giải quyết tranh cãi kéo dài giữa một bên là quốc gia Lybia dưới thời Gaddafi, còn bên kia là Hoa Kỳ và Anh, đối với việc mang ra xét xử hai người Lybia bị truy tố vào tháng 11 năm 1991 và bị buộc tội phá hoại Chuyến bay 103 của Pan Am, khiến nó rơi tại thị trấn Lockerbie của Scotland ngày 21 tháng 12 năm 1988, làm cho 270 người thiệt mạng. Từ đầu năm 1992, Mandela đã có lời đề nghị không chính thức gửi tới Tổng thống George H.W. Bush yêu cầu xét xử hai nghi phạm Lybia tại quốc gia thứ ba. Bush tỏ ra tán thành đề nghị này, cả Tổng thống François Mitterrand của Pháp và Vua Juan Carlos I của Tây Ban Nha cũng vậy. Vào tháng 11 năm 1994 – sáu tháng sau khi ông đắc cử tổng thống – Mandela chính thức đề nghị Nam Phi nên là nơi diễn ra phiên toàn xét xử vụ đánh bom Chuyến bay 103 của Pan Am.
Tuy nhiên, Thủ tướng Anh John Major thẳng thừng từ chối ý tưởng này nói rằng chính phủ Anh không tin tưởng vào tòa án nước ngoài. Đến ba năm sau, Mandela một lần nữa lại gửi lời đề nghị đến người kế nhiệm Major, Tony Blair, khi ông có chuyến viếng thăm Luân Đôn vào tháng 7 năm 1997. Cuối năm đó, tại Cuộc họp những người đứng đầu chính phủ của khối Thịnh vượng chung năm 1997 tại Edinburgh tháng 10 năm 1997, Mandela đã cảnh báo:"Không thể có một quốc gia vừa là nguyên cáo, vừa là bên nguyên lẫn quan tòa."
Cuối cùng đã có một thỏa hiệp để tổ chức phiên tòa ở Trại quân sự Zeist ở Hà Lan, xét xử theo Luật Scotland, và Tổng thống Mandela bắt đầu thương thuyết với Đại tá Gaddafi để dẫn độ hai bị cáo (Megrahi và Fhimah) vào tháng 4 năm 1999. Sau phiên tòa kéo dài 9 tháng, phán quyết đã được công bố vào ngày 31 tháng 1 năm 2001. Fhimah được tuyên trắng án, nhưng Megrahi bị buộc tội và phải lãnh 27 năm tù trong một nhà tù ở Scotland. Kháng cáo lần đầu của Megrahi đã bị bác vào tháng 3 năm 2002, và cựu tổng thống Mandela đã đến thăm người này tại nhà tù Barlinnie vào ngày 10 tháng 6 năm 2002.
Megrahi sau đó được chuyển đến nhà tù Greenock và không còn bị biệt giam nữa. Tháng 8 năm 2009, Megrahi, sau khi được chẩn đoán bị ung thư và chỉ còn sống được 3 tháng, đã được trả tự do trong một đợt ân xá và được phép trở về Libya. Quỹ Nelson Mandela đã ủng hộ quyết định ân xá cho Megrahi trong một bức thư gửi tới Chính quyền Scotland thay mặt cho Mandela.
Hôn nhân và gia đình.
Mandela đã kết hôn ba lần, và có sáu con, 20 đứa cháu và số chắt thì ngày càng tăng. Ông là ông nội của Tù trưởng Mandla Mandela.
Cuộc hôn nhân đầu tiên.
Cuộc hôn nhân đầu tiên của Mandela là kết hôn với Evelyn Ntoko Mase người cũng như Mandela, xuất thân từ nơi về sau gọi là vùng Transkei của Nam Phi, mặc dù thực ra họ gặp nhau tại Johannesburg. Hai người chia tay vào năm 1957 sau 13 năm chung sống, ly dị vì sự căng thẳng do ông thường xuyên vắng nhà, dành quá nhiều thời gian cho công cuộc cách mạng, và một phần do bà là tín đồ Chứng nhân Jehovah, một tôn giáo đòi hỏi một sự trung lập về chính trị. Evelyn Mase chết năm 2004. Hai người có với nhau hai con trai, Madiba Thembekile (Thembi) (1946 – 1969) và Makgatho Mandela (1950 – 2005), và hai con gái, cả hai đều có tên Makaziwe Mandela (được biết đến với tên Maki; sinh 1947 và 1953). Đứa con gái đầu chết lúc 9 tháng tuổi, và họ đặt tên đứa con gái thứ hai theo tên cô con gái đầu lòng. Các con của họ đều đi học Trường Thế giới Thống nhất ở Waterford Kamhlaba. Thembi chết trong tai nạn xe hơi năm 1969 ở tuổi 25, khi đó Mandela đang bị giam giữ tại Đảo Robben và ông không được phép tham dự lễ tang. Makgatho chết vì bệnh AIDS năm 2005, khi 54 tuổi.
Cuộc hôn nhân thứ hai.
Người vợ thứ hai của Mandela, Winnie Madikizela-Mandela, cũng xuất thân từ vùng Transkei, mặc dù hai người cũng gặp nhau tại Johannesburg, nơi bà là công chức da đen đầu tiên của thành phố. Họ có hai con gái, Zenani (Zeni), sinh ngày 4 tháng 2 năm 1958 và Zindziswa (Zindzi) Mandela-Hlongwane, sinh năm 1960. Zindzi chỉ mới 18 tháng tuổi khi cha cô bị giam tại nhà tù Đảo Robben. Sau này, Winnie phải chịu mối bất hòa trong gia đình, phản ảnh cuộc xung đột chính trị của đất nước; khi chồng bà đang chịu án chung thân ở Đảo Robben, còn cha bà lại làm bộ trưởng nông nghiệp ở Transkei. Cuộc hôn nhân kết thúc bằng một cuộc ly thân rồi ly dị, được kích thêm từ mối bất hòa về chính trị.
Mandela vẫn mòn mỏi trong tù khi con gái ông Zenani kết hôn với Hoàng thân Thumbumuzi Dlamini năm 1973, anh trai của Vua Mswati III của Swaziland. Mặc dù bà có ấn tượng sâu sắc về cha mình, nhà chức trách Nam Phi không cho phép bà thăm ông từ khi bà 4 tuổi cho đến lúc bà 16 tuổi. Hai vợ chồng Dlamini sinh sống và kinh doanh tại Boston. Một trong hai đứa con trai của họ, Hoàng tử Cedza Dlamini (sinh năm 1976), được giáo dục tại Hoa Kỳ, đã đi theo bước chân của ông ngoại làm một người ủng hộ cho quyền con người và trợ giúp nhân đạo.
Zindzi Mandela-Hlongwane đã làm nên lịch sử trên toàn thế giới khi bà đọc bài diễn văn của Mandela từ chối lời đề nghị tha bổng có điều kiện vào năm 1985. Bà là nữ doanh nhân tại Nam Phi với ba con, đứa đầu lòng là con trai, Zondwa Gadaffi Mandela.
Cuộc hôn nhân thứ ba.
Mandela đã tái giá vào sinh nhật lần thứ 80 của ông năm 1998, với Graça Machel nhũ danh Simbine, góa phụ của Samora Machel, cựu tổng thống Mozambique và là đồng minh của ANC bị chết trong vụ rơi máy bay 12 năm trước đó. Cuộc hôn nhân là kết quả của hàng tháng trời thương thảo ở cấp quốc tế để đặt ra đồ sính lễ chưa từng có trong lịch sử để được rút khỏi bộ tộc của Machel. Một thỏa thuận miệng đã được thực hiện bởi nhà vua truyền thống đại diện cho Mandela, Vua Buyelekhaya Zwelibanzi Dalindyebo. Ông nội của thủ lĩnh tối cao là quan nhiếp chính Jongintaba Dalindyebo, người đã sắp xếp cuộc hôn nhân cho Mandela, đã lảng tránh bằng cách trốn sang Johannesburg vào năm 1940.
Mandela hiện vẫn còn ngôi nhà tại Qunu do đứa cháu trai nối dõi của ông quản lý, hiện ông vẫn trả tiền học phí và giữ quyền ủy viên hội đồng.
Mandela là Tổng thống đắc cử lớn tuổi nhất của Nam Phi khi ông nhậm chức ở tuổi 75 vào năm 1994. Ông đã quyết định không cầm quyền nhiệm kỳ thứ hai và nghỉ hưu vào năm 1999, người kế nhiệm ông là Thabo Mbeki.
Sau khi rời ghế Tổng thống, Mandela tiếp tục đóng vai trò tích cực trong nhiều tổ chức xã hội và vì quyền con người. Ông biểu lộ sự ủng hộ phong trào Make Poverty History (Biến đói nghèo thành dĩ vãng) mà trong đó Chiến dịch ONE là một bộ phận. Giải golf gây quỹ Khách mời Nelson Mandela, do Gary Player chủ trì, đã thu được hơn 20 triệu rand cho các quỹ vì trẻ em từ lúc bắt đầu năm 2000.
Mandela cũng là người ủng hộ cho Làng trẻ em SOS, tổ chức chuyên quyên tiền giúp đỡ trẻ em mồ côi và bị bỏ rơi lớn nhất thế giới. Mandela cũng xuất hiện trong một đoạn quảng cáo cho Thế vận hội mùa đông 2006, và đã được trích dẫn trong chiến dịch "Chúc mừng nhân loại" của Ủy ban Olympic Quốc tế:
Tháng 7 năm 2001 Mandela được chẩn đoán bệnh ung thư tuyến tiền liệt và tiến hành chữa trị. Ông được xạ trị trong 7 tuần. Năm 2003, Mandela bị CNN thông báo nhầm là đã chết khi bản cáo phó viết sẵn của ông (cùng với vài yếu nhân khác) do sơ suất đã hiển thị trên website của CNN vì lỗi bảo vệ mật khẩu. Vào năm 2007, một nhóm cánh tả không chính thống đã phổ biến email và tin nhắn SMS giả mạo nói rằng nhà chức trách đang giấu giếm cái chết của Mandela và những người Nam Phi da trắng sẽ bị tàn sát sau tang lễ của ông. Mandela lúc đó đang đi nghỉ tại Mozambique.
Tháng 6 năm 2004, ở tuổi 85, Mandela thông báo rằng ông sẽ không tham gia các hoạt động công cộng nữa. Sức khỏe của ông dần giảm sút, và ông muốn có nhiều thời gian hơn với gia đình. Mandela nói rằng không định cách ly hoàn toàn khỏi công chúng, nhưng muốn mình ở vị thế "sẽ gọi cho các bạn để hỏi xem tôi có được chào đón hay không, chứ không phải được mời làm các thứ và tham dự các sự kiện nữa. Lời thỉnh cầu của tôi là: Đừng gọi cho tôi, tôi sẽ gọi cho các bạn." Từ năm 2003, ông ít xuất hiện trước công chúng hơn và ít phát ngôn trước các vấn đề. Tóc ông bạc trắng và ông di chuyển chậm chạp với sự hỗ trợ của gậy. Cũng có báo cáo là ông đang bị chứng mất trí nhớ của người già.
Sinh nhật lần thứ 90 của Mandela đã được tổ chức ở nhiều nơi khắp đất nước ngày 18 tháng 7 năm 2008, lễ mừng chính được tổ chức tại quê nhà Qunu của ông. Một buổi hòa nhạc vinh danh ông cũng được tổ chức tại Hyde Park, Luân Đôn. Trong buổi diễn văn kỷ niệm sinh nhật của mình, Mandela kêu gọi những người giàu hãy giúp đỡ người nghèo trên khắp thế giới. Mặc dù vẫn ít xuất hiện trong suốt kỳ World Cup 2010 tại Nam Phi, Mandela cũng xuất hiện tại buổi bế mạc, tại đó ông đã được "chào đón nhiệt liệt".
Ngày 18 tháng 7 năm 2007, Nelson Mandela, Graça Machel, và Desmond Tutu tụ họp một nhóm các nhà lãnh đạo thế giới tại Johannesburg để đóng góp sự hiểu biết và khả năng lãnh đạo độc lập để giải quyết các vấn đề khó khăn nhất trên thế giới. Nelson Mandela thông báo lập nên một nhóm mới, The Elders, trong một bài diễn văn nhân sinh nhật lần thứ 89 của mình.
Tổng giám mục Tutu làm chủ tịch của The Elders. Các thành viên sáng lập nhóm bao gồm Graça Machel, Kofi Annan, Ela Bhatt, Gro Harlem Brundtland, Jimmy Carter, Lý Triệu Tinh, Mary Robinson và Muhammad Yunus.
"Nhóm này có tiếng nói tự do và khẳng khái, hoạt động công khai lẫn hậu trường về bất cứ hành động nào cần thực hiện", Mandela nói. "Cùng với nhau chúng tôi sẽ hoạt động để ủng hộ lòng can đảm tại nơi có sợ hãi, nuôi dưỡng thỏa thuận tại nơi có tranh chấp, và truyền hy vọng tại nơi tuyệt vọng."
Sau khi về hưu, một trong những sự quan tâm chính của Mandela là đấu tranh chống lại bệnh dịch AIDS. Ông đã có bài phát biểu bế mạc Hội nghị về AIDS Quốc tế lần thứ XIII năm 2000, tại Durban, Nam Phi. Vào năm 2003, ông hỗ trợ bằng cách cho phép chiến dịch gây quỹ chống AIDS 46664 sử dụng số hiệu tù nhân của ông. Tháng 7 năm 2004, ông bay tới Bangkok để phát biểu tại Hội nghị về AIDS Quốc tế lần thứ XV. Con trai ông, Makgatho Mandela, chết vì bệnh AIDS vào ngày 6 tháng 1 năm 2005.
Phê phán chính sách ngoại giao của Mỹ và Anh.
Nelson Mandela phản đối mạnh mẽ vụ can thiệp của NATO tại Kosovo năm 1999 và gọi đó là nỗ lực của các cường quốc nhằm kiểm soát thế giới.
Năm 2002 và 2003, Mandela chỉ trích chính sách ngoại giao của chính quyền Tổng thống Mỹ George W. Bush trong nhiều bài phát biểu. Phê phán về việc thiếu sự tham gia của Liên Hợp Quốc trong quyết định bắt đầu Chiến tranh Iraq, ông nói, "Đó là một bi kịch, những gì đang xảy ra, những gì Bush đang làm. Nhưng Bush giờ đây đang làm xói mòn Liên Hợp Quốc." Mandela cho rằng ông chỉ ủng hộ hành động chống lại Iraq nếu đó là do Liên Hợp Quốc ra lệnh. Mandela cũng nói bóng gió đến việc Liên Hợp Quốc có lẽ đã bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt chủng tộc vì đã không tuân theo ý kiến của Liên Hợp Quốc và tổng thư ký Kofi Annan về vấn đề chiến tranh. "Có phải vì tổng thư ký Liên Hợp Quốc hiện tại là một người da đen hay không? Họ không bao giờ làm vậy khi tổng thư ký là người da trắng".
Ông kêu gọi nhân dân Mỹ tham gia vào các cuộc biểu tình lớn chống lại Bush và kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới, đặc biệt là những nước có quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, phản đối Bush. "Điều tôi lên án ở đây là chỉ một cường quốc, với một vị tổng thống không có óc chiến lược, người không thể nghĩ cho đúng đắn, giờ đang muốn đẩy thế giới vào một cuộc tàn sát." Ông tấn công Hoa Kỳ vì các thành tích xấu về nhân quyền và đã thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới II. "Nếu có một quốc gia có hành động tàn ác đến mức không thể diễn tả được bằng lời, đó là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Họ bất cần." Nelson Mandela cũng chê trách nặng nề Thủ tướng Anh Tony Blair và gọi ông là "ngoại trưởng của Mỹ."
Tranh chấp với Ismail Ayob.
Ismail Ayob từng là một người bạn tin cậy và là luật sư riêng của Mandela trong hơn 30 năm. Vào tháng 5 năm 2005, Ayob được Mandela yêu cầu dừng bán các ấn phẩm có chữ ký của Mandela và tính toán lại lợi nhuận thu được từ việc bán chúng. Tranh chấp này đã khiến Mandela đệ đơn lên Tòa án Tối cao Nam Phi vào năm đó. Ayob cho rằng mình không làm điều gì sai trái, và nói rằng ông là nạn nhân của một chiến dịch bôi nhọ do các cố vấn của Mandela, mà cụ thể là luật sư George Bizos, dựng lên.
Vào năm 2005 và 2006, Ayob và vợ con của ông trở thành đối tượng chỉ trích của các cố vấn của Mandela. Vụ tranh chấp này được truyền thông rộng rãi, với Ayob được mô tả ở vị thế phản diện, cao điểm là khi Mandela đệ đơn lên Tòa án Tối cao. Đã có những cuộc họp công khai trong đó những người thân cận của Mandela chỉ trích Ayob và công chúng còn kêu gọi tẩy chay Ayob và gia đình ông. Lời biện hộ của Ismail và Zamila Ayob (vợ ông, và cũng là bị cáo liên quan) đưa ra các văn bản do Mandela ký và được các thư ký của ông làm chứng, từ đó bác bỏ nhiều lý lẽ của Nelson Mandela và các cố vấn.
Tranh chấp này một lần nữa lại xuất hiện trên mặt báo vào tháng 2 năm 2007 khi trong một phiên tòa tại Tòa án Tối cao Johannesburg, Ayob hứa sẽ trả 700.000 rand cho Mandela, chuyển qua các quỹ vì trẻ em của Mandela, và gửi lời xin lỗi,
mặc dù sau đó ông cho rằng ông là nạn nhân của "Sự trả thù" từ Mandela. Một số nhà bình luận bày tỏ sự cảm thông cho vị thế của Ayob, nói rằng vị trí biểu tượng của Mandela khiến cho Ayob khó mà được đối xử một cách công bằng.
Ayob, George Bizos và Wim Trengove là những người được ủy thác của Quỹ Ủy thác Nelson Mandela, được thành lập để cất giữ hàng triệu rand do các nhân vật kinh doanh nổi tiếng, trong đó có gia đình Oppenheimer, tặng cho Nelson Mandela vì lợi ích của con và cháu của ông. Ayob sau này rút lui của Quỹ ủy thác. Vào năm 2006, hai người được ủy thác còn lại của Nelson Mandela Trust đã tố cáo Ayob đã chi tiêu tiền từ quỹ ủy thác mà không báo cho họ biết. Ayob tuyên bố rằng số tiền này là để trả cho Dịch vụ Doanh thu Nam Phi, cho con và cháu của Mandela, cho chính Mandela, và trả cho bốn năm làm việc của công ty kế toán.
Bizos và Trengrove từ chối thông qua việc chi trả cho con cháu của Nelson Mandela và tiền trả cho công ty kế toán. Phiên tòa đã thỏa thuận rằng Ismail Ayob phải trả số tiền này, tổng cộng hơn 700.000 rand, cho quỹ ủy thác vì lẽ Ayob đã chưa được sự đồng ý của hai ủy thác viên khác trước khi dùng tiền. Người ta cũng khẳng định là Ayob đã có những nhận xét phỉ báng Mandela trong bản khai, vì thế tòa cũng yêu cầu Ayob xin lỗi. Người ta đã cho thấy các nhận xét này, tập trung vào các tài khoản ở nước ngoài của Nelson Mandela và việc không trả thuế cho các tài khoản này, không xuất phát từ lời khai của Ayob mà là từ chính lời khai của Nelson Mandela và George Bizos.
Tranh cãi về Kim cương máu.
Trong một bài viết trong báo "The New Republic" tháng 12 năm 2006, Nelson Mandela bị chỉ trích vì một số lời nhận xét tốt đẹp về ngành công nghiệp kim cương. Người ta lo ngại là điều này sẽ làm lợi cho những nhà cung cấp kim cương máu. Trong bức thư gửi tới Edward Zwick, đạo diễn của bộ phim "Kim cương máu", Mandela nói rằng:
Bài báo trên "New Republic" nói rằng lời bình luận này, cũng như các sáng kiến và phát biểu trong cuộc đời ông và trong thời gian làm tổng thống Nam Phi, bị ảnh hưởng từ cả tình bạn với Harry Oppenheimer, cựu chủ tịch De Beers, lẫn từ quan điểm 'quyền lợi quốc gia hẹp hòi' của Nam Phi (là nhà sản xuất kim cương chính).
Zimbabwe và Robert Mugabe.
Robert Mugabe, tổng thống Zimbabwe, người đã lãnh đạo đất nước này từ khi độc lập năm 1980, đã nhận được nhiều lời chỉ trích trên thế giới vì trận đánh giết chết khoảng 3000 người vào thập niên 1980 cũng như tham nhũng, quản lý yếu kém, đàn áp chính trị và theo gia đình trị dẫn đến nền kinh tế nước này sụp đổ.
Mặc dù cùng xuất thân là những nhà hoạt động vì tự do quốc gia, Mandela và Mugabe ít khi được xem là gần gũi. Mandela chỉ trích Mugabe vào năm 2000, nhắc tới những nhà lãnh đạo châu Phi đã giải phóng đất nước họ nhưng khư khư giữ ghế quá lâu. Khi về hưu, Mandela ít nhắc đến Zimbabwe và các vấn đề đối nội đối ngoại hơn, đôi khi đưa đến chỉ trích là không biết sử dụng ảnh hưởng của mình để khuyến khích giảm bớt chính sách của mình. Luật sư của ông George Bizos tiết lộ rằng Mandela đã được khuyên để giữ gìn sức khỏe ông phải tránh tham gia vào các hoạt động nhiều áp lực như các tranh cãi về chính trị. Tuy nhiên, vào năm 2007, Mandela đã nỗ lực thuyết phục Mugabe rời chức "sớm hơn", với "chút ít chân giá trị còn lại", trước khi ông bị săn đuổi như Augusto Pinochet. Mugabe không phản ứng gì trước lời phát biểu này. Vào tháng 6 năm 2008, ở cao trào khủng hoảng trong cuộc bầu cử tổng thống Zimbabwe, Mandela lên án "sự thất bại thảm hại của quyền lãnh đạo" tại Zimbabwe.
Theo một bài viết trên tạp chí Newsweek, "Mandela đã có được một vị trí bất khả xâm phạm khi nhắc đến Nam Phi. Ông là nhà giải phóng dân tộc, vị cứu tinh, là Washington và Lincoln hòa lại làm một".
Tháng 11 năm 2009, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông báo ngày sinh của Mandela, 18 tháng 7, sẽ được gọi là "Ngày Mandela" để ghi nhớ sự đóng góp của ông vào nền tự do của thế giới.
Mandela đã nhận được nhiều giải thưởng của Nam Phi, nước ngoài và quốc tế, trong đó có Giải Nobel Hòa bình năm 1993 (cùng với Frederik Willem de Klerk), được Nữ hoàng Elizabeth II trao Huân chương Công lao và Baliff Grand Cross của Huân chương Thánh John, Huân chương Tự do Tổng thống của George W. Bush. Tháng 7 năm 2004, thành phố Johannesburg trao tặng danh hiệu cao nhất cho Mandela sự tự do của thành phố tại buổi lễ ở Orlando, Soweto.
Ông cũng thường nhận được sự tán dương khi đi ra nước ngoài. Trong chuyến thăm Canada năm 1998, 45.000 học sinh đã chào đón ông khi ông có bài phát biểu tại SkyDome, Toronto. Vào năm 2001, ông là người còn sống đầu tiên trở thành Công dân danh dự của Canada (người nhận danh hiệu duy nhất trước đó là Raoul Wallenberg sau khi đã mất). Khi còn ở Canada, ông cũng nhận Huân chương Canada, là một trong số ít người nước ngoài nhận được huân chương này.
Năm 1981, ông được trao Giải Bruno Kreisky. Năm 1988, ông đoạt Giải thưởng Sakharov của Nghị viện châu Âu và Giải Nhân quyền của Liên Hợp Quốc. Năm 1990 ông nhận được Giải thưởng Bharat Ratna của chính phủ Ấn Độ và là người cuối cùng nhận được Giải thưởng Hòa bình Lenin của Liên Xô. Vào năm 1992 ông được nhận Giải thưởng Hòa bình Atatürk của Thổ Nhĩ Kỳ. Ông đã từ chối giải thưởng vì cho rằng Thổ Nhĩ Kỳ lúc đó đang vi phạm nhân quyền, nhưng đến năm 1999 thì chấp nhận giải thưởng Vào năm 1992 ông nhận được Nishan-e-Pakistan, giải thưởng phục vụ cộng đồng cao nhất của Pakistan. Năm 2004, ông được trao Giải Ý thức toàn cầu của Câu lạc bộ Budapest.
Bài hát ca ngợi.
Nhiều nghệ sĩ đã viết bài hát và nhạc về Mandela. Một trong những nhóm nổi tiếng nhất là The Specials đã thu âm bài hát "Free Nelson Mandela" vào năm 1983. Stevie Wonder viết bài hát đã đoạt giải Oscar "I Just Called to Say I Love You" cho Mandela, dẫn đến bài này bị Hãng thông tấn Nam Phi cấm lưu hành. Vào năm 1985, album "Nelson Mandela" của Youssou N'Dour là bản phát hành đầu tiên tại Mỹ của ca sĩ người Senegal này.
Năm 1988, một buổi hòa nhạc Kỷ niệm ngày sinh lần thứ 70 của Mandela đã diễn ra tại Sân vận động Wembley ở Luân Đôn là trung tâm của phong trào chống chủ nghĩa apartheid, tại đó nhiều ca sĩ đã góp tiếng nói ủng hộ Mandela. Jerry Dammers, tác giả của bài hát "Nelson Mandela", là một thành viên trong ban tổ chức. Simple Minds đã thu âm bài hát "Mandela Day" dành cho buổi hòa nhạc, Santana đã thu âm bản giao hưởng "Mandela", Tracy Chapman trình diễn bài "Freedom Now", dành tặng cho Mandela và phát hành album "Crossroads", Salif Keita đến từ Mali, có chơi ở buổi hòa nhạc, sau này có đến thăm Nam Phi và năm 1995 thu âm bài hát "Mandela" trong album "Folon".
Tại Nam Phi, "Asimbonanga (Mandela)" ("Chúng tôi chưa thấy ông") trở thành một trong những bài hát nổi tiếng nhất của Johnny Clegg, xuất hiện trong album "Third World Child" năm 1987. Hugh Masekela, khi đó đang lưu vong ở Anh, đã hát bài "Bring Him Back Home (Nelson Mandela)" vào năm 1987. Bài hát "Black President" vào năm 1989 của Brenda Fassie, cũng dành tặng Mandela, trở nên cực kỳ nổi tiếng dù nó bị cấm tại Nam Phi. Nhạc sĩ nhạc reggae người Nigeria Majek Fashek đã phát hành đĩa đơn, "Free Mandela" vào năm 1992, đưa ông thành một trong nhiều nghệ sĩ Nigeria phát hành bài hát liên quan đến phong trào chống chủ nghĩa apartheid và đến Mandela.
Vào năm 1990, ban nhạc rock ở Hồng Kông Beyond đã ra mắt bài hát tiếng Quảng Đông nổi tiếng, "Days of Glory". Bài hát với chủ đề chống chủ nghĩa apartheid đã nhắc đến cuộc đấu tranh anh hùng của Mandela vì sự công bằng sắc tộc. Nhóm Ladysmith Black Mambazo đã đi cùng với Mandela tới buổi trao Giải Nobel Hòa bình tại Oslo, Na Uy vào năm 1993, và trình diễn trong buổi nhậm chức năm 1994. Vào năm 2003, Mandela đồng ý đưa tên tuổi của ông vào chiến dịch 46664 chống lại căn bệnh AIDS, đặt theo số tù của ông. Nhiều nhạc sĩ nổi tiếng đã trình diễn trong các buổi hòa nhạc.
Sơ lược tiểu sử của Mandela đã được chiếu trong bản video nhạc "If Everyone Cared" của Nickelback vào năm 2006. Bài hát "Turn This World Around" của Raffi dựa trên bài diễn văn của Mandela khi ông giải thích thế giới cần phải "xoay vòng, vì những đứa trẻ". Một buổi hòa nhạc kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Mandela đã diễn ra tại Hyde Park, Luân Đôn ngày 27 tháng 6 năm 2008.
Sách tiểu sử đã xuất bản.
Tự truyện của Mandela, "Long Walk to Freedom", được xuất bản vào năm 1994. Mandela đã bắt đầu viết cuốn sách này một cách bí mật khi ở trong tù. Trong quyển sách này Mandela không tiết lộ điều gì về sự đồng lõa của F. W. de Klerk trong những vụ bạo lực xảy ra vào thập niên 80 và 90, hay vai trò của bà vợ cũ Winnie Mandela trong những vụ tắm máu đó. Tuy nhiên, ông sau này có cộng tác cùng với bạn ông, nhà báo Anthony Sampson bàn luận về các vấn đề này trong "". Một chi tiết khác mà Mandela đã bỏ qua là cuốn sách có phần giả mạo "Goodbye Bafana". Tác giả của nó, cai ngục James Gregory trên đảo Robben, nhận mình là bạn tâm tình của Mandela trong tù và đã xuất bản những chi tiết về những vụ yêu đương trong gia đình của người tù. Sampson luôn nói rằng Mandela không biết rõ Gregory lắm, nhưng có thể Gregory đã kiểm duyệt những bức thư gửi cho Mandela nên khám phá ra những chi tiết về đời tư của Mandela. Sampson cũng quả quyết rằng các cai ngục khác nghi ngờ Gregory là mật thám của chính phủ và Mandela đang xem xét việc kiện Gregory.
Điện ảnh và truyền hình.
Bộ phim "Mandela and De Klerk" kể lại câu chuyện phóng thích Mandela. Mandela do Sidney Poitier đóng vai. "Goodbye Bafana", một bộ phim phóng sự nói về cuộc đời của Mandela, ra mắt tại liên hoan phim Berlin ngày 11 tháng 2 năm 2007. Bộ phim có diễn viên Dennis Haysbert đóng vai Mandela và diễn tả tình bạn trong tù giữa Mandela và James Gregory.
Trong loạt chương trình truyền hình Mỹ "The Cosby Show" cháu nội của Cliff và Claire Huxtable được đặt theo tên của Nelson và Winnie để tôn vinh Mandela và bà vợ khi đó của ông Winnie.
Trong cảnh cuối năm 1992 bộ phim "Malcolm X", Mandela – vừa được phóng thích sau 27 năm ở tù – đóng vai thầy giáo trong một lớp học Soweto. Ông nhắc lại một phần bài diễn văn nổi tiếng nhất của Malcolm X, trong đó có câu: "Chúng ta sinh ra trên Trái Đất với quyền làm người, phải được tôn trọng như một con người, được trao những quyền của một con người trong xã hội này, trên Trái Đất này, vào ngày này, điều chúng ta muốn đưa thành hiện thự"
Đoạn cuối nổi tiếng của câu đó là ""bằng bất cứ giá nào"." Mandela đã thông báo với đạo diễn Spike Lee rằng ông không thể đọc câu này trước máy quay vì sợ chính quyền apartheid sẽ dùng nó chống lại ông. Lee đã rất biết ơn, và những giây cuối cùng của bộ phim là đoạn phim trắng đen của chính Malcolm X đọc câu này.
Mandela và đội trưởng Springboks, Francois Pienaar, là chủ đề của cuốn sách năm 2008 của John Carlin, "Playing the Enemy: Nelson Mandela and the Game that Made a Nation", trong đó nhấn mạnh vai trò của chiến thắng trong Giải rugby vô địch thế giới 1995 tại Nam Phi thời hậu apartheid. Carlin bán quyền làm phim cho Morgan Freeman. Bộ phim này, có tên "Invictus", được đạo diễn bởi Clint Eastwood, trong đó Freeman đóng vai Nelson Mandela và Matt Damon vai Pienaar.
Vào ngày 30 tháng 4 năm 2001, Khu vườn Nelson Mandela ở Quảng trường Thiên niên kỷ, Leeds đã chính thức khai trương và Nelson Mandela được tặng giải sự tự do của thành phố và được tặng một 'con cú vàng' (biểu tượng của Leeds) làm kỷ niệm. Trong bài phát biểu bên ngoài Đại sảnh Leeds trước 5000 người, Mandela đã cảm ơn nhầm 'nhân dân Liverpool vì sự hào phóng của các bạn'.
Vào ngày 31 tháng 3 năm 2004, Quảng trường Sandton ở Johannesburg được đổi tên thành Quảng trường Nelson Mandela, sau khi người ta dựng bức tượng Nelson Mandela cao 6 mét ở quảng trường để vinh danh nguyên thủ Nam Phi của mình.
Vào ngày 29 tháng 8 năm 2007, một bức tượng Nelson Mandela được khánh thành tại Quảng trường Nghị viện ở Luân Đôn bởi Richard Attenborough, Ken Livingstone, Wendy Woods, và Gordon Brown. Chiến dịch dựng tượng bắt đầu vào năm 2000 bởi Donald Woods, một nhà báo Nam Phi lưu vong vì tham gia phong trào chống chủ nghĩa apartheid. Mandela nói rằng nó đại diện cho không chỉ ông, mà còn cho những ai đang chống lại áp bức, đặc biệt tại Nam Phi. Ông nói thêm: "Lịch sử đấu tranh tại Nam Phi đầy những câu chuyện về các nam nữ anh hùng, một số họ là nhà lãnh đạo, một số là người ủng hộ. Tất cả họ đều xứng đáng được ghi nhớ."
Vào ngày 27 tháng 8 năm 2008, một bức tượng của Nelson Mandela được khánh thành tại Trại cải tạo Drakenstein Groot giữa Paarl và Franshhoek trên đường R301, gần Cape Town. Trước đây có tên Victor Verster, đây là nơi Mandela trải qua những năm cuối cùng trong thời gian 27 năm ở tù, khi ông và các đồng chí ở ANC đã thương thảo với chính quyền apartheid về những điều khoản để ông được tự do và bản chất của nước Nam Phi mới.
Bức tượng được đặt ngay nơi Mandela bước bước đi đầu tiên với tư thế một người tự do. Ngay bên ngoài cổng tù – đỉnh điểm của Long Walk to Freedom – tên tự truyện của Mandela.
Sau Trận động đất Loma Prieta năm 1989 phá hủy phần Cầu cạn đường Cypress của Xa lộ Nimitz tại Oakland, California, thành phố đã đổi tên con đường này và đặt tên là Mandela Parkway.
Tại Leicester, nước Anh, có một Công viên Nelson Mandela với khẩu hiệu "Nam Phi thuộc về tất cả những ai sống tại đó, dù Trắng hay Đen".
Lãnh tụ Nelson Mandela từ trần vào ngày 5 tháng 12 năm 2013 tại thành phố Johannesburg, hưởng thọ 95 tuổi
|
Jaroslav Seifert (23 tháng 9 năm 1901 tại Praha – 10 tháng 1 năm 1986 tại Praha) là một nhà văn, nhà thơ và nhà báo Tiệp Khắc được nhận giải Nobel Văn học năm 1984.
Tiểu sử và sự nghiệp.
Jaroslav Seifert sinh tại Žižkov, ngoại ô Praha. Bố ông, Antonín Seifert (sinh 1861), là thợ khóa, viên chức, nhà buôn bán ảnh và công nhân tại khoa chỉnh hình. Mẹ ông là Marie Seifertová (tên sinh Marie Borutová) (sinh 1873).
Ông theo học một số trường gymnázium (một loại trường trung học tại Séc), nhưng bỏ học sau năm thứ sáu vì nghỉ nhiều. Trong thời gian này Seifert hay đi bán thơ của mình tại những quán bia Praha. Tập thơ đầu tiên của ông được xuất bản năm 1921.
Ông là thành viên Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, chủ bút nhiều báo và tạp chí cộng sản - "Rovnost", "Srsatec" và "Reflektor" - và là nhân viên của nhà xuất bản cộng sản. Trong thập niên 1920, ông được coi là người cầm đầu những người đi tiên phong nghệ thuật Tiệp Khắc.
Năm 1949, ông và sáu nhà văn cộng sản khác bị đuổi ra khỏi đảng cộng sản vì ký tên vào bản tuyên ngôn chống đối lại xu hướng Bolshevik của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc.
Năm 1949, Seifert bỏ nghề viết báo để trọng tâm vào văn học. Thơ của ông nhận được nhiều giải quốc gia quan trọng những năm 1936, 1955 và 1968; năm 1967, ông được bổ nhiệm thành Nghệ sĩ quốc gia. Ông trở thành chủ tịch Hiệp hội Nhà văn Tiệp Khắc trong vòng mấy năm (1968-70). Năm 1984, ông nhận được Giải Nobel. Ông mất năm 1986.
Tác phẩm nổi bật.
Tác phẩm “"Praha – vòng hoa thơ sonet"” là bài thơ hay của Seifert gồm 15 bài sonet, mà câu mở đầu của bài tiếp theo là câu kết thúc của bài trước đó và bài cuối cùng là tập hợp những câu đầu tiên của 14 bài trước đó. Thể loại thơ “vòng hoa sonet” (A crown of sonnets) này có ở Ý từ thế kỷ XIV và thường được các bậc thầy về thơ dùng để thi thố tài nghệ. Tác phẩm đặc biệt này đã được dịch ra tiếng Việt.
|
"Đây là tên người Campuchia, họ viết trước, tên viết sau: họ là Norodom. Tuy vậy, tên người Campuchia hiện đại theo kí tự Latin thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau). Ngoài ra, tên còn có thể kèm các danh hiệu tôn xưng phía trước."
Thời niên thiếu của ông chủ yếu ở Praha, Tiệp Khắc. Ông đã học các môn nhạc, kịch, khiêu vũ tại Nhạc viện Quốc gia Praha, tốt nghiệp Viện Hàn lâm Nghệ thuật Âm nhạc Praha năm 1975. Đến năm 1976, ông tốt nghiệp cao học về nghệ thuật điện ảnh tại Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Sau đó, ông làm giáo sư khiêu vũ cổ điển tại nhiều nhạc viện của Pháp; làm Chủ tịch Hội múa Khmer tại Pháp; làm đạo diễn nghệ thuật nhóm balê DEVA rồi Hiệp hội điện ảnh Hoàng gia Khmer "(Khmera Picture)", sáng tác 2 bộ phim balê "Giấc mơ" và "Bốn nguyên tố".
Về mặt chính trị, ông từng làm đại diện của Campuchia tại Liên Hợp Quốc và UNESCO. Ngày 1 tháng 2 năm 1994, ông được phong làm Thái tử "(Sdech Krom Khun)". Đến ngày 14 tháng 10 năm 2004 được Hội đồng Tôn vương chọn làm Quốc vương Campuchia thay vua cha thường xuyên ở Bắc Kinh chữa bệnh. Lễ đăng quang chính thức đã diễn ra ngày 29 tháng 10 cùng năm đó.
Một số nhân vật đối lập ở Campuchia đã chỉ trích sự nhân nhượng của nhà vua, mô tả nó quá khoan dung đối với sự lãnh đạo kéo dài hàng thập kỷ của thủ tướng Hun Sen trong vương quốc.
Ngoài tiếng Khmer bản địa của mình, Norodom Sihamoni là quốc vương cầm quyền duy nhất trên thế giới nói tiếng Séc trôi chảy. Nhà vua cũng thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Nga.
Vào ngày 14 tháng 10 năm 2004, Sihamoni đã được lựa chọn bởi một hội đồng đặc biệt gồm chín thành viên, một phần của quá trình lựa chọn đã nhanh chóng được thực hiện sau sự thoái vị bất ngờ của Quốc vương Norodom Sihanouk một tuần trước đó, do không có điều khoản nào vào thời điểm đó trong hiến pháp của Campuchia rằng đề cập đến chủ đề thoái vị. Việc lựa chọn Hoàng tử Sihamoni đã được Thủ tướng Hun Sen và Chủ tịch Quốc hội khi đó là Hoàng tử Norodom Ranariddh. Sihamoni được cho là đã miễn cưỡng đảm nhận vai trò này, nhưng vẫn chấp nhận nó vì lợi ích quốc gia, trở về Phnom Penh vào ngày 20 tháng 10, cùng với cha mẹ của ông, Quốc vương Norodom Sihanouk và Hoàng thái hậu Norodom Monineath, theo ước tính. 100.000 người đã xếp hàng dài trên đường đi xe hộ tống từ Sân bay Quốc tế Phnom Penh đến Cung điện Hoàng gia để chào đón vị Vua sắp lên ngôi.
Sau đó, ông được chính thức được bổ nhiệm làm Vua vào ngày 29 tháng 10 năm 2004 trong một buổi lễ đăng quang được tổ chức tại Cung điện Hoàng gia ở thủ đô. Lễ đăng quang được chú ý vì tương đối đơn giản, được yêu cầu cụ thể bởi Quốc vương Sihanouk. Bản thân nhà vua Sihamoni không muốn các buổi lễ quá xa hoa vì ông không muốn đất nước nghèo khó phải chi quá nhiều tiền cho sự kiện này, ông chọn một sự kiện khiêm tốn hơn. Sihamoni không ngồi trên ngai vàng cao hơn, cao hơn cũng như không đội vương miện quân chủ bằng vàng và kim cương đi kèm với vương miện của hoàng gia. Trong bài phát biểu trước công chúng đầu tiên với tư cách là quốc vương, ông đã thừa nhận những lời khôn ngoan mà cha mình đã truyền đạt cho mình và cam kết trở thành vua của nhân dân
Vào ngày 12 tháng 12 năm 2008, Sihamoni đã chọn 26 thành viên của hoàng gia Campuchia vào tòa án cố vấn của mình, thời điểm đó, các nhà quan sát cho rằng việc bổ nhiệm này báo hiệu việc các thành viên hoàng gia ngừng tham gia chính trị vì về mặt lý thuyết, hiến pháp không cho phép các cá nhân đồng thời phục vụ trong cả triều đình và chính phủ. Thật vậy, chủ nghĩa bảo hoàng từ lâu đã là một yếu tố chính trong lịch sử chính trị Campuchia, với các thời kỳ mà các đảng bảo hoàng từng cai trị đất nước, chẳng hạn như Sangkum của Hoàng thân Sihanouk vào những năm 1950 và 1960 và đảng FUNCINPEC của Hoàng thân Ranariddh vào những năm 1990. một số quan chức đảng cầm quyền và thành viên hoàng gia khẳng định rằng không có chương trình nghị sự nào đằng sau động thái này và không nên hiểu nó là sự cấm đoán hoặc chấm dứt sự tham gia chính trị của hoàng gia, bất chấp ảnh hưởng và thành công bầu cử của phe bảo hoàng.
Vai trò chính trị.
Nhà vua có quyền hạn chính trị hạn chế và hiếm khi tham gia vào không gian chính trị Campuchia, phù hợp với vị trí của ông là một quân chủ lập hiến, và được coi là 'đứng trên chính trị'. Tuy nhiên, một số nhân vật đối lập Campuchia đã kêu gọi ông có tiếng nói mạnh mẽ hơn và tham gia trực tiếp vào các vấn đề chính trị của đất nước. Những người khác đã cảnh báo chống lại quan điểm này, viện dẫn rằng hiến pháp bảo đảm nghiêm ngặt đối với một vị vua chủ yếu theo nghi lễ sẽ "trị vì, nhưng không cai trị", lưu ý rằng việc can thiệp chính trị không phải là lợi ích lâu dài của chế độ quân chủ cũng như quốc gia, và Sihamoni, kể từ khi bắt đầu cầm quyền, đã cam kết và trung thành với lập trường phần lớn là phi chính trị. Thật vậy, trong quá trình lựa chọn chế độ quân chủ, Vua Sihanouk đã ca ngợi cách tiếp cận chính trị trung lập và vô tư của Hoàng tử Sihamoni như một đặc điểm chính giải thích tại sao ông phù hợp với vai trò này. Điều này được củng cố bởi phân tích từ các nhà quan sát rằng Sihamoni "đã đại diện cho cả tính liên tục và thay đổi - rút hoàng gia khỏi hoạt động chính trị tích cực, nhưng thúc đẩy nó như một biểu tượng của hòa giải dân tộc", do đó khôi phục "vai trò truyền thống của chế độ quân chủ như một 'chiếc ô' mà người dân Campuchia có thể thực hiện được "đoàn kết". Đổi lại, các nhà quan sát lập luận rằng điều này hạn chế bất kỳ sự chính trị hóa nào đối với chế độ quân chủ với tư cách là một thể chế trong khi vẫn duy trì tính trung lập cũng như tính hợp pháp của nó, đặc biệt là trong bối cảnh bản chất đôi khi gây tranh cãi và hỗn loạn của nền chính trị Campuchia.
Đã có một số trường hợp mà sự miễn cưỡng tham gia vào lĩnh vực chính trị của Sihamoni đã được thử thách. Năm 2005, trong thử thách chính trị lớn đầu tiên dưới triều đại của ông, có thông tin cho rằng ông đã do dự trong việc ủy quyền cho sự đồng ý của hoàng gia đối với các kế hoạch của chính phủ nhằm thực hiện một hiệp ước biên giới gây tranh cãi với nước láng giềng Việt Nam. Hiệp ước này đã được người tiền nhiệm của ông, Sihanouk phản đối, đã gây ra căng thẳng với chính phủ sau khi Thủ tướng Hun Sen bày tỏ sự thất vọng về sự chậm trễ trong sự chấp thuận của hoàng gia đến mức đề xuất bãi bỏ chế độ quân chủ. Sihamoni cuối cùng đã ký hiệp ước, sau khi đã được các quan chức chính phủ và lập pháp cũng như các thành viên khác của hoàng gia đảm bảo rằng sẽ không nhượng lại đất đai cho Việt Nam do việc ban hành hiệp ước song phương.
Cuộc sống cá nhân.
Ông là một người thích thiền định, đọc sách, tập thể dục, nghe nhạc cổ điển chẳng hạn như của Beethoven và tuân thủ các nghi lễ truyền thống của Phật giáo. Ngoài ra, có thông tin cho rằng ông thích phim hài, thỉnh thoảng là người thích ăn sô cô la. Hơn nữa, bên cạnh việc quan tâm đến các đĩa DVD liên quan đến múa ba lê và opera nói chung, còn chơi piano thành thạo và nổi tiếng là một độc giả quan tâm của các bài phê bình về sân khấu kịch Séc.
Bên cạnh tiếng Khmer bản địa của mình, Norodom Sihamoni nói tiếng Séc trôi chảy, vị vua cầm quyền duy nhất trên thế giới làm được như vậy. Nhà vua cũng thông thạo tiếng Pháp và có thể giao tiếp bằng tiếng Anh và tiếng Nga. Ông cũng thông thạo tiếng phổ thông cơ bản.
|
Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc
Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (tiếng Anh: United Nations Human Rights Council) là một tổ chức liên chính phủ trực thuộc Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, có sứ mệnh thúc đẩy sự phát triển và sự bảo vệ nhân quyền trên toàn thế giới, cũng như chỉ ra các vụ xâm phạm nhân quyền và đưa ra kiến nghị về chúng. Tổ chức này có chức năng thảo luận mọi vấn đề hoặc tình huống liên quan tới nhân quyền mà cần tới sự chú ý của nó trong suốt năm đó. Tổ chức này hội họp ở Trụ sở Liên Hợp Quốc tại Genève (Thụy Sĩ).
Hội đồng gồm 47 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, các thành viên được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bầu vào với tư cách đại diện nhóm quốc gia theo phân vùng địa lý tại Liên Hợp Quốc. Mỗi nhiệm kỳ của thành viên kéo dài ba năm.
Tổ chức này được ra đời ngày 15 tháng 3 năm 2006 theo Nghị quyết (A/RES/60/251) sau khi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết thành lập một tổ chức nhân quyền mới, thay thế Ủy ban Liên Hợp Quốc về Nhân quyền đã chấm dứt hoạt động năm 2006.
Nghị quyết này được sự ủng hộ của hầu hết các thành viên Liên Hợp Quốc, trừ Mỹ, Israel, Palau và quần đảo Marshall bỏ phiếu chống và Belarus, Iran và Venezuela bỏ phiếu trắng.
Việc thành lập Hội đồng Nhân quyền là một trong những hành động nhằm cải tổ Liên Hợp Quốc và các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc; khi Ủy ban Nhân quyền (CHR) bị nhiều chỉ trích rằng đã để những quốc gia có nhiều hành động phi nhân quyền làm thành viên và thao túng.
Ngày 19 tháng 6 năm 2006, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã họp phiên đầu tiên tại Genève (Thụy Sĩ) với sự tham gia của 47 thành viên đầu tiên và trên 100 quốc gia quan sát viên và các tổ chức quốc tế. Tại đây, ông Luis Alfonso de Alba (người México) đã được bầu là Chủ tịch Hội đồng Nhân quyền.
Nhiệm vụ của Hội đồng Nhân quyền.
Nghị quyết 60/251 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về thành lập Hội đồng Nhân quyền công bố 10 nhiệm vụ của Hội đồng Nhân quyền như sau
(a) Thúc đẩy giáo dục và học tập về quyền con người cũng như các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực, sẽ cung cấp bằng tham vấn và trên cơ sở đồng thuận của các quốc gia thành viên liên quan;
(b) Là diễn đàn cho các đối thoại về các vấn đề chuyên đề về tất cả các quyền con người;
(c) Đưa ra khuyến nghị cho Đại hội đồng LHQ về những bước phát triển của luật quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền;
(d) Thúc đẩy việc thực thi đầy đủ các nghĩa vụ nhân quyền của các quốc gia và theo dõi các mục tiêu và cam kết về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền được ghi nhận trong các Hội nghị và Hội nghị thượng đỉnh của LHQ;
(e) Tiến hành rà soát định kỳ phổ quát, dựa trên các thông tin khách quan và đáng tin cậy, về việc thực thi các nghĩa vụ và cam kết nhân quyền của từng quốc gia theo cách thức đảm bảo tính phổ quát trong tham gia và đối xử bình đẳng với tất cả các quốc gia; việc rà soát phải là một cơ chế hợp tác, dựa trên đối thoại tương tác, với sự tham gia đầy đủ của quốc gia liên quan và cân nhắc đến các nhu cầu xây dựng năng lực của quốc gia đó; cơ chế này cần bổ sung và không trùng lặp với công việc của các cơ quan điều ước; Hội đồng phải xây dựng mô hình và phân bổ thời gian cần thiết cho cơ chế rà soát định kỳ phổ quát trong vòng một năm kể từ kỳ họp đầu tiên;
(f) Đóng góp, thông qua đối thoại và hợp tác, vào việc ngăn chặn vi phạm nhân quyền và phản ứng nhanh chóng với những tình trạng khẩn cấp về nhân quyền;
(g) Tiếp nhận vai trò và trách nhiệm của Ủy ban Nhân quyền liên quan đến công việc của Văn phòng Cao uỷ Nhân quyền LHQ (OHCHR);
(h) Phối hợp chặt chẽ trong lĩnh vực nhân quyền với các chính phủ, các tổ chức khu vực, các thiết chế nhân quyền quốc gia và xã hội dân sự;
(i) Đưa ra các khuyến nghị về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền;
(j) Gửi báo cáo thường niên lên Đại hội đồng;
Cấu trúc của Hội đồng Nhân quyền.
Hội đồng Nhân quyền là một cơ quan liên chính phủ (thành viên là đại diện các quốc gia). Các quyết định của Hội đồng được đưa ra theo các cơ chế là nghị quyết của các kỳ họp thành viên.
Hội đồng Nhân quyền có ba kỳ họp thường xuyên vào tháng 3 (kéo dài bốn tuần), tháng 6 (ba tuần) và tháng 9 (ba tuần) hàng năm. Ngoài ra, Hội đồng có thể họp bất thường, gọi là kỳ họp đặc biệt, để giải quyết các vấn đề khẩn cấp và vi phạm nhân quyền, khi có một phần ba thành viên yêu cầu. Tính đến tháng 5/2020, đã có 28 kỳ họp đặc biệt được tổ chức.
Hội đồng có các cơ quan và cơ chế trực thuộc, mang tính liên chính phủ (gồm đại diện của các quốc gia) hoặc là cơ chế chuyên gia (do các chuyên gia độc lập thực hiện): Nhóm thứ nhất là các cơ quan trực thuộc Hội đồng, bao gồm: Nhóm công tác về Rà soát Định kỳ Phổ quát (cơ chế liên chính phủ); Ủy ban tư vấn (gồm 18 chuyên gia độc lập); Thủ tục khiếu nại; Nhóm thứ hai là các cơ chế chuyên gia để đối thoại và tư vấn về các chủ đề; Nhóm thứ ba là Các thủ tục đặc biệt; và Nhóm thứ tư là các cơ chế liên chính phủ mở chuyên về việc thảo luận và xây dựng các văn kiện và công ước nhân quyền.
Hội đồng Nhân quyền có 47 thành viên là các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, được bầu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Các thành viên được bầu sẽ giữ nhiệm kỳ 03 năm, và các nhiệm kỳ này gối nhau. Vì vậy việc bầu thành viên Hội đồng Nhân quyền tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc diễn ra hàng năm với khoảng một phần ba số ghế của Hội đồng được bầu (lần lượt 14, 15 hoặc 18 ghế được bầu cử hàng năm). Một thành viên Hội đồng có thể được bầu không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp.
Thành viên của Hội đồng Nhân quyền được cơ cấu theo nhóm vùng quốc gia như sau:
Khi là thành viên của Hội đồng Nhân quyền, các quốc gia có trách nhiệm bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền như được thống nhất trong Nghị quyết thành lập ra Hội đồng 60/251. Theo khoản 8 của nghị quyết này, các quốc gia được bầu chon căn cứ vào "đóng góp vào việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền cũng như những lời hứa tự giác và cam kết của ứng cử viên". Vì vậy khi tuyên bố ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền, một quốc gia thường công bố một bản Cam kết tự nguyện với tư cách thành viên.
Khi một quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền có vi phạm nhân quyền rộng lớn và mang tính hệ thống, tư cách thành viên có thể bị bãi bỏ bằng một cuộc bỏ phiếu thống nhất bởi ít nhất 2/3 đa số quốc gia thành viên có mặt và bỏ phiếu.
Danh sách các quốc gia đang là thành viên Hội đồng Nhân quyền được Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp quốc cập nhật tại đây. Tính đến tháng 1/2020, đã có 117 quốc gia từng giữ vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền.
47 thành viên đầu tiên của Hội đồng Nhân quyền được bầu chọn vào ngày 9 tháng 5 năm 2006. Để có bầu cử gối đầu, nhóm thành viên đầu tiên gồm 14 nước chỉ có nhiệm kỳ 01 năm, nhóm thứ hai là nhóm 15 nước có nhiệm kỳ 02 năm và nhóm thứ ba là nhóm 18 nước có nhiệm kỳ 03 năm.
Chủ tịch và các phó Chủ tịch Hội đồng.
Hội đồng Nhân quyền có một Chủ tịch và bốn Phó Chủ tịch, trong đó một Phó Chủ tịch kiêm báo cáo viên của Hội đồng. Chủ tịch và các phó Chủ tịch được bầu hàng năm tại Hội đồng.
Các cơ chế và vận hành của Hội đồng Nhân quyền.
Các kỳ họp của Hội đồng Nhân quyền.
Hội đồng Nhân quyền có ba kỳ họp thường kỳ hàng năm tại Geneva: kỳ mùa xuân thường diễn ra vào tháng 2-3, kỳ mùa hè vào tháng 5-6 và kỳ mùa thu vào tháng 9-10 hàng năm. Bên cạnh các kỳ họp thường kỳ, HĐNQ có thể tổ chức các kỳ họp đặc biệt để thảo luận các vấn đề mới phát sinh hoặc các khủng hoảng nghiêm trọng về nhân quyền. Ngoài ra, Hội đồng cũng có các hoạt động liên kỳ thảo luận các chủ đề mang tính kỹ thuật khác. Tuy vậy, các quyết định và nghị quyết của Hội đồng chỉ được thông qua tại các kỳ họp chính thức.
Tất cả các quốc gia thành viên LHQ đều có thể phát biểu tại các phiên họp chung của HĐNQ. Tuy vậy chỉ có các thành viên Hội đồng được tham gia các cơ chế của Hội đồng, và tham gia bỏ phiếu khi Hội đồng ra quyết định.
Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR).
UPR là cơ chế lần lượt rà soát việc thực thi các nghĩa vụ và cam kết nhân quyền của các quốc gia thành viên LHQ thông qua Nhóm làm việc về UPR của Hội đồng Nhân quyền. Thông qua đối thoại tương tác giữa quốc gia được rà soát và các quốc gia thành viên LHQ, quốc gia được rà soát công bố những biện pháp đảm bảo nghĩa vụ nhân quyền, các thách thức và ưu tiên để cải thiện tình hình nhân quyền ở nước mình; các quốc gia tham gia rà soát gửi câu hỏi và khuyến nghị về những hành động quốc gia được rà soát cần thực hiện để cải thiện tình hình nhân quyền ở nước được rà soát. Quốc gia được rà soát tuyên bố chấp thuận hoặc ghi nhận các khuyến nghị này. Kết quả một phiên rà soát được thông qua tại Hội đồng Nhân quyền.
UPR diễn ra trên cơ sở tất cả các chuẩn mực về nhân quyền có thể áp dụng được, bao gồm Tuyên ngôn Nhân quyền Phổ quát, các điều ước và văn kiện nhân quyền, các cam kết tự nguyện về nhân quyền của các quốc gia, và luật Nhân đạo quốc tế.
Có ba văn bản làm cơ sở cho đối thoại tại UPR: một báo cáo của quốc gia được rà soát, một bản tóm tắt thông tin của các cơ quan LHQ cung cấp (do OHCHR tóm tắt); một bản tóm tắt thông tin của các bên liên quan, bao gồm Cơ quan Nhân quyền quốc gia của nước được rà soát và các tổ chức xã hội dân sự (do OHCHR tóm tắt). Tất cả các văn bản này đều được công bố công khai ít nhất ba tháng trước phiên rà soát.
Việc rà soát tất cả các quốc gia thành viên LHQ (193 quốc gia) mất khoảng 5 năm, đây được tính là một chu kỳ UPR. Kỳ UPR đầu tiên được tiến hành năm 2007 và vào năm 2022 sẽ bắt đầu chu kỳ thứ tư.
Xem thêm: Thông tin chi tiết về UPR.
Các thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền.
Các “Thủ tục đặc biệt” là tên chung dành cho các cơ chế do Ủy ban Nhân quyền LHQ thành lập ra, sau khi Ủy ban này chấm dứt hoạt động thì được Hội đồng Nhân quyền tiếp quản. Thủ tục đặc biệt có chức năng xem xét, giám sát, tư vấn và báo cáo công khai về tình hình nhân quyền ở một số nước hoặc vùng lãnh thổ cụ thể (nhiệm vụ theo quốc gia) hoặc với những vấn đề và hiện tượng vi phạm nhân quyền chính trên toàn cầu (nhiệm vụ theo chủ đề).
Đến tháng 9/2020, có 44 Thủ tục Đặc biệt theo chủ đề và 11 Thủ tục theo quốc gia đang hoạt động.
Các cá nhân được bổ nhiệm vào các thủ tục đặc biệt là các Chuyên gia độc lập (người có nhiệm vụ thực hiện thủ tục đặc biệt) và có thể được gọi là Báo cáo viên Đặc biệt, Đại diện, Đặc phái viên, Chuyên gia độc lập, hay thành viên của Nhóm làm việc.
Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc (OHCHR) hỗ trợ các Chuyên gia này về nhân sự, hậu cần và hỗ trợ nghiên cứu để thực thi nhiệm vụ.
Thủ tục Đặc biệt có các nhiệm vụ:
Không như các ủy ban công ước của Liên Hợp Quốc, các Thủ tục Đặc biệt có thể được áp dụng ngay cả khi một Nhà nước chưa phê chuẩn công ước hay văn kiện liên quan, và không cần phải dùng hết các biện pháp khắc phục trong nước mới có thể tiếp cận các thủ tục đặc biệt.
|
Lý Tư (李斯, 284 TCN - 208 TCN) là nhà chính trị Trung Quốc cổ đại, làm đến chức thừa tướng dưới đời Tần Thủy Hoàng và Tần Nhị Thế. Ông là người có công lớn trong việc Tần Thủy Hoàng thống nhất chư hầu, đưa Trung Quốc trở thành một nước quân chủ tập quyền, thống nhất về văn tự, đo lường, tư tưởng.
Lý Tư là người đất Thượng Sái thuộc nước Sở. Ông sinh ra vào thời Chiến quốc thất hùng. Ông và Hàn Phi đều là học trò của Tuân Tử. Thời trẻ, Tư làm viên lại nhỏ ở quận, là thư ký quản lý văn thư của xã. Theo bộ Sử ký do thái sử đời Tây Hán Tư Mã Thiên biên soạn, Lý Tư bắt đầu nuôi ý chí làm chính trị khi ông nhìn thấy ở nơi ông làm việc, trong nhà xí có con chuột toàn ăn đồ ăn bẩn, rất sợ gặp người và chó; trái lại, con chuột ở nhà kho thì tha hồ ăn lúa, không sợ bị người và chó thấy. Lý Tư mới than: "Người ta hiền tài hay kém cỏi chẳng qua cũng như con chuột kia, đều là nhờ ở hoàn cảnh đấy thôi".
Sau đó, Lý Tư đến Tam Lăng (ngày nay là thị trấn Tam Lăng, huyện Thương Sơn, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) theo học Tuân Tử. Tuân Tử là một thầy giáo Nho học, trong sử sách còn gọi ông là Tuân Khanh, hoặc Tôn Khanh, Tuân Huống. Đến khi thành tài, Tư nhận thấy mình có theo vua Sở cũng không làm nên sự nghiệp gì, mà sáu nước đều yếu không có nước nào có thể giúp để lập công danh, chỉ có Tần cường thịnh nhất, nên Tư sang Tần. Tài năng của Lý Tư có nhiều mặt, không những về chính trị mà về văn học nghệ thuật ông cũng có tài hoa nhất định. Lỗ Tấn đã từng khen rằng "Văn chương đời Tần chỉ có mỗi mình Lý Tư". Về tính cách, Lý Tư có một chút tự phụ, đó là do người ta dựa vào "Tấm đá khắc chữ trên đài lang Nha" đời Tần có nét bút viết của ông:"Sau khi ta chết khoảng 530 năm có người nào thay được ta". Nhưng làm chính trị mới là niềm đam mê thực sự của ông.
Vào năm 247 TCN, khi đến nước Tần, gặp lúc Tần Trang Tương vương chết, Lý Tư bèn cầu xin làm môn hạ của Văn Tín Hầu Lã Bất Vi, thừa tướng nước Tần. Bất Vi cho là người hiền dùng làm quan "Lang". Lý Tư nhờ vậy có cơ hội du thuyết, Tần vương Chính cho Tư làm trưởng sử, rồi khách khanh. Trong số 3000 người "khách" của Lã Bất Vi, Lý Tư nhanh chóng trở thành người nổi trội nhất.
Nhưng lúc Lý Tư đang thuận buồm xuôi gió trên con đường làm quan thì nước Tần có manh nha nguy cơ chính trị "trục khách" nghiêm trọng. Năm 246 TCN, nước Hàn do không chống nổi sự tiến công của nước Tần, nên đã lập kế phái "thủy công" (chuyên gia thủy lợi) Trịnh Quốc đến Tần. Trịnh Quốc đến để can vua Tần đừng đào sông tưới ruộng, sau đó việc vỡ lở, các tôn thất và các quan đại thần khuyên Tần vương đuổi tất cả những người khách đi. Lý Tư cũng ở trong số khách bị đuổi. Tư trổ tài thuyết khách, khiến vua Tần bỏ lệnh đuổi khách, cho Tư làm quan như cũ. Đây là "phong trào trục khách" lần thứ nhất. Lúc này Lý Tư còn trẻ, mới bước vào đời, chức quan chưa cao, chưa có địa vị chính trị. Việc "trục khách" lần này đối với Lý Tư chỉ là chấn động nhỏ, lắng xuống rất nhanh. Nhưng lần "trục khách" thứ hai không giống như thế.
Vào năm thứ 9 triều đại Doanh Chính, Tần Vương đã hạ lệnh bãi chức Lã Bất Vi và giam giữ tại Hà Nam. Đại thần, tôn thất nhà Tần thừa cơ nhắc lại chuyện cũ, yêu cầu "trục khách". Vua Tần chính thức ban bố lệnh rà soát cả nước và Lý Tư lúc bấy giờ cũng là một đối tượng quan trọng bị trục xuất. Ông đã viết thư trình lên vua Tần, đó là "Gián trục khách thư". Về nghệ thuật mà nói, bài văn này có thể đại diện cho các tác phẩm ưu tú của văn chương đời Tần. Lúc bấy giờ, Tần vương Chính còn tỉnh táo, đọc xong thư của Lý Tư tỉnh ngộ, lập tức bỏ lệnh "trục khách", cử người đuổi theo Lý Tư, mời ông quay lại.
Thời gian biến đổi, khi Lý Tư nắm dược quyền thế trong tay, lại có thay đổi về nhân cách, luôn chạy theo tư lợi. Một khi tài năng và học vấn của người khác có thể uy hiếp ông ta thì dù nhân tài nào đi nữa, ông đều không cộng tác, dùng nhiều âm mưu quỷ kế để cho kẻ khác nhanh chóng bị tiêu diệt. Tuy Hàn Phi là người bạn học cũ của ông, do Hàn Phi sau này được là người tâm phúc bên cạnh vua Tần, nên đã bị Lý Tư hãm hại. Đây là bi kịch lịch sử của thời đại.
Thừa tướng nhà Tần.
Tư làm quan đến đình úy. Được hơn 20 năm, nước Tần thôn tính hết các nước chư hầu, thống nhất Trung Quốc. Tần vương Chính trở thành hoàng đế, phong Lý Tư làm thừa tướng. Nhà Tần san phẳng thành quách chư hầu, sai các quận, huyện nấu chảy khí giới, ý nói không dùng đến nữa. Nghe theo ý của Lý Tư, Tần Thủy Hoàng không phong đất cho ai dù chỉ thước, không lập tôn thất làm vương, công thần làm chư hầu để tránh lặp lại chuyện các nước đánh nhau.
Năm trị vì thứ 34 của Tần Thủy Hoàng (213 TCN), nhà vua mở tiệc rượu ở Hàm Dương. Nhóm sĩ phu Chu Thanh Thần làm chức bộc xạ hết lời ca ngợi công trạng, đức độ của Thủy Hoàng; người nước Tề là Thuần Vu Việt tiến ra can:
"Thần nghe: nhà Ân, nhà Chu làm vua hơn nghìn năm, phong các con em, các công thần để cho họ làm phên dậu giúp đỡ mình. Nay bệ hạ giầu có bốn biển nhưng con em vẫn là kẻ thất phu; nếu đột nhiên xảy ra việc như bọn Điền Thường hay bọn lục khanh thì không ai giúp đỡ, làm sao có thể cứu nhau được. Trong công việc không bắt chước đời xưa mà có thể lâu dài là điều chưa hề nghe nói. Nay bọn Thanh Thần lại xiểm nịnh bệ hạ để làm cho điều sai lầm của bệ hạ thêm nặng, như vậy không phải là kẻ trung thần".
Thủy Hoàng bèn hỏi ý Lý Tư; Lý Tư lập tức bác bỏ lời bàn của Thuần Vu Việt và dâng thư:
Tần Thủy Hoàng nghe theo Lý Tư, bèn tịch thu hết các sách Kinh thi, Kinh thư, sách của bách gia, chỉ để lại sách thuốc, sách bói, sách trồng cây, tránh chuyện dùng việc xưa để xét đời nay. Lý Tư cũng giúp nhà vua chế định luật pháp, thống nhất văn tự, đo lường, xây dựng các ly cung và biệt quán trong cả nước, đánh dẹp Hung Nô. Thủy Hoàng lấy con trưởng của Tư là Lý Do làm thái thú Tam Xuyên; các con trai của Tư đều được lấy công chúa nhà Tần, con gái thì lấy công tử nhà Tần. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, khoảng năm thứ 35 đời Tần Thủy Hoàng, Lý Tư cùng con là Lý Do mở tiệc rượu ở Hàm Dương. Khi thấy vô số quan viên kéo nhau tới chúc tụng, Lý Tư đã cảm nhận trước được sự sự suy vong của mình. Ông nói:
"Than ôi! Ta nghe Tân Khanh nói: “Sự vật không nên đi đến chỗ quá thịnh. Tư này là kẻ áo vải đất Thượng Sái, một tên đầu đen ở nơi làng xóm, nhà vua không biết ta hèn kém, cất nhắc lên đến thế này. Nay ta ở địa vị bầy tôi không thua kém ai, có thể nói là giầu sang cùng cực rồi vậy. Phàm sự vật đến cùng cực rồi thì sẽ suy, ta chưa biết sau này kết cục ra sao."
Tháng 10 năm thứ 37 đời Thủy Hoàng (210 TCN), vua Tần Thủy Hoàng đi chơi Cối Kê, dọc bờ biển, phía Bắc đến Lang Gia. Đi theo có thừa tướng Lý Tư và trung xa phủ lệnh kiêm chức giữ phù, ấn nhà vua là Triệu Cao, một hoạn quan và con nhỏ của Thủy Hoàng là Hồ Hợi. Thủy Hoàng có hơn hai mươi người con. Con cả là Phù Tô vì mấy lần can thẳng nên Thủy Hoàng sai coi binh ở Thượng Quận, cùng Mông Điềm làm tướng ở đấy.
Tháng 7 năm ấy, Thủy Hoàng đến Sa Khâu bị bệnh nặng, sai Triệu Cao viết một bức thư gửi cho công tử Phù Tô nói: ""Giao binh cho Mông Điềm, mau về lo việc tang đưa về Hàm Dương để chôn"." Bức thư đã dán rồi nhưng chưa trao cho sứ giả thì Thủy Hoàng mất. Thư và ấn đều ở chỗ Triệu Cao. Chỉ Hồ Hợi, Lý Tư, Triệu Cao và năm sáu viên hoạn quan được nhà vua yêu biết là Thủy Hoàng đã chết, còn quần thần không ai biết. Lý Tư cho là vua mất ở ngoài, không có thái tử chân chính, nên giấu kín việc ấy. Sai đặt Thủy Hoàng trong cái xe mát, trăm quan vẫn tâu trình, việc dâng đồ ăn như mọi ngày. Một viên hoạn quan ngồi trong xe chuẩn y lời tâu. Triệu Cao nhân đấy giữ lại bức thư gửi cho Phù Tô thuyết phục Hồ Hợi và Lý Tư bỏ Phù Tô, lập Hồ Hợi làm hoàng đế. Hồ Hợi và Lý Tư nghe theo, lập ra di chúc giả. Triệu Cao giả một bức thư gửi cho Phù Tô. Phù Tô nhận thư tưởng Thủy Hoàng trách tội nên tự vẫn.
Hồ Hợi lên nối nghiệp, tức là Nhị Thế Hoàng Đế. Tháng 9, chôn Thủy Hoàng ở Ly Sơn, cùng tất của những người trong hậu cung Tần Thủy Hoàng. Nhị Thế giết bọn đại thần Mông Nghị, mười hai công tử bị giết chết phơi thây ở chợ Hàm Dương, mười công chúa bị xé xác ở đất Đỗ, của cải của họ bị đưa vào kho vua, những người liên can bị tội không kể xiết.
Nhị Thế bạo ngược, đắm chìm trong tửu sắc, Trần Thắng, Ngô Quảng ở nước Sở nổi dậy, tự xưng vương chống lại, đánh đến Hồng Môn rồi rút lui. Lý Tư mấy lần can ngăn nhưng Nhị Thế không nghe. Lại thêm con cả của Lý Tư là Lý Do làm thái thú Tam Xuyên, bị quân Sở dưới quyền Ngô Quảng và sau đó là Hạng Vũ và Lưu Bang vây hãm, chiếm đất không dám ra chống cự, cũng bị Triệu Cao tìm cớ lập án. Lý Tư lúc bấy giờ chỉ lo bảo vệ quyền lợi bổng lộc, đành khoanh tay và nịnh bợ vua để được chú ý, nên đã dâng nhiều tờ trình, văn bản tán dương vua như: "Nghiêm đốc trách thư", "Hiền minh tri chủ", "Độc chế thiên hạ nhi vô sở chế". Nghe theo lời Lý Tư, Nhị Thế thi hành "đốc trách", sử dụng hình phạt nặng nề.
Triệu Cao làm lang trung lệnh, tiếm quyền Nhị Thế nhưng chưa diệt được Lý Tư nên lòng vẫn chưa yên. Cao vu cho Lý Tư làm phản. Lý Tư và con trai phải chịu phạt cực hình gọi là "ngũ hình" mà ông là người đặt ra và ba họ cùng bị giết, bêu đầu tại cổng thành. Đó là năm 208 TCN, khi ông khoảng hơn 60 tuổi.
Một năm sau khi Lý Tư chết, Triệu Cao ép Nhị Thế tự vẫn. Tần Tử Anh lên ngôi, giết Triệu Cao, rồi Lưu Bang tiến quân vào Tần, bắt Tử Anh, về sau Tử Anh lại bị Hạng Vũ giết. Nhà Tần diệt vong.
Thái sử thời Tây Hán Tư Mã Thiên bàn về Lý Tư trong bộ Sử ký;
|
William Cuthbert Faulkner (; 25 tháng 9 năm 1897 – 6 tháng 7 năm 1962) là một nhà văn người Mỹ nổi tiếng nhờ những tiểu thuyết và truyện ngắn lấy bối cảnh ở Hạt Yoknapatawpha hư cấu, dựa trên Hạt Lafayette, Mississippi, nơi Faulkner dành phần lớn cuộc đời mình tại đây. Là một người đoạt giải Nobel, Faulkner là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất của nền văn học Mỹ và thường được coi là một trong những nhà văn vĩ đại nhất của nền văn học miền Nam.
Faulkner sinh ra ở New Albany, Mississippi, và gia đình ông chuyển tới Oxford, Mississippi khi ông còn là một đứa trẻ. Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, ông gia nhập Lực lượng Không quan Hoàng gia Canada, nhưng không chiến đấu trực tiếp. Trở về Oxford, ông theo học Đại học Mississippi và bỏ học sau ba kỳ. Ông chuyển tới New Orleans, nơi ông iveets cuốn tiểu thuyết đầu tiên "Lương lính" (1925). Ông quay lại Oxford và viết "Sartoris" (1927), tác phẩm đầu tiên củ ông lấy bối cảnh ở Hạt Yoknapatawpha hư cấu. Vào năm 1929, ông cho xuất bản "Âm thanh và cuồng nộ". Năm tiếp theo, ông viết "Khi tôi nằm chết". Vào cuối thập kỷ đó, ông viết "Nắng tháng Tám", "Absalom, Absalom!" và "Cọ hoang".
Danh tiếng của Faulkner đạt đến đỉnh cao khi cuốn sách "The Portable Faulkner" của Malcom Cowley được xuất bản và khi ông được trao Giải Nobel Văn học 1949 "vì những đóng góp độc đáo và có tác động mạnh về mặt nghệ thuật đối với mảng tiểu thuyết hiện đại của Hoa Kỳ." Ông là người đoạt giải Nobel duy nhất sinh ra ở Mississippi. Hai tác phẩm của ông, "Một câu chuyện dụ ngôn" (1954) và "Bọn đạo chích" (1962) đã nhận Giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu. Faulkner mất do đau tim vào ngày 6 tháng 7 năm 1962, sau một lần ngã khỏi ngựa vào tháng trước. Ralph Ellison gọi ông là "nghệ sĩ vĩ đại nhất mà miền Nam đã sản sinh ra".
|
Fukuzawa Yukichi (福澤 諭吉 (Phúc Trạch Dụ Cát)/ , Fukuzawa Yukichi, 10 tháng 1 năm 1835 - 3 tháng 2 năm 1901) là một trong những nhà tư tưởng lớn nhất của Nhật Bản cận đại. Ông được xem là người có công mở đầu phong trào canh tân nước Nhật, cổ động dân chúng trút bỏ tư duy lạc hậu thời cổ đại mà tiếp thu học thuật Tây phương để sánh bước với các nước Âu Mỹ. Fukuzawa Yukichi là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà đấu tranh xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà văn, nhà dịch thuật và là một võ sĩ.
Ông là một nhà tư tưởng lớn có ảnh hưởng sâu và rộng nhất đến xã hội Nhật Bản cận đại. Những tư tưởng về chính trị, xã hội, kinh tế và giáo dục mà Fukuzawa truyền bá đã thay đổi hoàn toàn diện mạo của đất nước Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19. Người phương Tây coi ông như "Voltaire của đất nước mặt trời mọc". Tuy nhiên, người Trung Quốc và Triều Tiên lại lên án và xem ông là biểu tượng của chủ nghĩa quân phiệt hiếu chiến, bởi Fukuzawa chủ trương dùng vũ lực để xâm chiếm 2 nước này nhằm tranh giành thế lực với các nước phương Tây Fukuzawa Yukichi ủng hộ việc bành trướng lãnh thổ của Nhật và học thuyết xã hội kiểu Darwin, ông cho rằng chỉ những quốc gia mạnh nhất mới có thể sinh tồn thông qua một quá trình chọn lọc "kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu" (tức là Nhật Bản phải đi xâm chiếm nước khác, nếu không thì chính Nhật sẽ bị thôn tính). Quan điểm này đã mở đường cho quân đội Đế quốc Nhật xâm chiếm Trung Quốc, Triều Tiên, và sau đó đẩy Nhật Bản phát động Chiến tranh Thái Bình Dương, khiến hàng chục triệu người chết. Tác phẩm Thoát Á luận của Fukuzawa được coi là tiêu biểu cho chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản trước thế chiến 2
Lịch sử biết đến Fukuzawa Yukichi như một nhà cải cách chính trị-xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản vào cuối thời Edo, đầu thời kỳ Minh Trị, tức thời điểm dao động với nhiều chuyển biến lớn trong lịch sử Nhật Bản. Tư tưởng của ông đã ảnh hưởng sâu đậm với phong trào canh tân ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo nền móng cho Nhật Bản trở thành một cường quốc thế giới. Lòng biết ơn của người Nhật đối với Fukuzawa được thể hiện qua việc hình ông được in trên tờ tiền 10.000 yen (tờ giấy bạc có mệnh giá lớn nhất của Nhật), dù ông không phải thuộc hạng vua chúa hay võ tướng lỗi lạc của đất nước mặt trời mọc.
Ông sinh năm 1835, mất năm 1901, thọ 66 tuổi. Một điều thú vị tình cờ là cuộc cải cách Minh Trị duy tân bắt đầu vào năm 1868, lúc Fukuzawa 33 tuổi. Tức là nếu lấy năm Minh Trị thứ nhất làm mốc có thể chia cuộc đời 66 năm của ông thành hai phần thì chẵn phân nửa đời ông là thời gian trước triều Minh Trị; chẵn phân nửa sau là sau khi vua Minh Trị chấp chính. Qua đó sẽ thấy được những biến cố lớn lao không chỉ đối với bản thân cuộc đời Fukuzawa mà của cả xã hội Nhật Bản.
Fukuzawa Yukichi sinh tại Ōsaka, khi cha ông đang lưu nhiệm ở đó làm đại diện cho lãnh chúa xứ Nakatsu. Cha ông vốn là một nhà Nho nhiệt tâm với kinh sử, nhưng suốt đời không thoát khỏi cuộc đời tầm thường quanh quẩn xoay quanh việc sổ sách chi thu cho lãnh chúa. Vì cho công việc đó nặng phần ô trọc, không vượt ra khỏi vòng thủ thúc giai cấp nên ông là người bất đắc chí. Điều này đã ảnh hưởng nhiều đến nhận xét về đẳng cấp xã hội của Fukuzawa sau này.
Năm 1836, khi ông mới lên 1, cha mất, nên cả gia đình phải bỏ cảnh thị thành của Osaka mà về lại Nakatsu. Năm 14 tuổi ông chính thức nhập học đúng theo khuôn khổ Nho giáo cổ điển nhưng vì đã quen lối sống trong thành nên cả gia đình không dễ hòa nhập vào cuộc sống thôn dã khép kín, bị chi phối nặng nề bởi chế độ phong kiến lãnh địa. Sự việc đó cũng góp phần giúp Fukuzawa thấu hiểu rằng nề nếp cổ đã lỗi thời, không thể khư khư kìm hãm lực tiến hóa được. Cùng lúc đó chính sự rất sôi động vì năm 1853 Hoa Kỳ gửi tàu chiến vào Edo dưới sự chỉ huy của Matthew C. Perry đòi Mạc phủ Tokugawa phải thông thương, giao hẹn cho một năm phải thi hành. Mạc phủ thì bối rối, miễn cưỡng chấp nhận vì biết rằng không thể dùng võ lực chống lại các nước Âu Mỹ. Một mặt thì Mạc phủ tìm cách phòng thủ binh bị, mặt kia thì mềm mỏng nhượng bộ các yêu sách của Âu Mỹ.
Theo học Hà Lan học.
Ngay năm sau, 1854 Fukuzawa bỏ Nakatsu ra Nagasaki với ý định học kỹ thuật pháo binh chế tạo thuốc súng theo khoa học châu Âu. Vì Nhật Bản bấy lâu vẫn theo đuổi chính sách bế quan tỏa cảng (sakoku) hạn chế tối đa mọi tiếp xúc với Tây phương và mở mỗi hải cảng Nagasaki cho người Hà Lan được phép lập thương cuộc đổi chác hàng hóa nên đó cũng là cửa ngỏ duy nhất người Nhật tiếp nhận văn hóa Thái Tây. Sách vở từ phương Tây bấy giờ, hay đúng ra là sách của người Hòa Lan đã trở thành môn Hà Lan học để người Nhật nghiên cứu. Qua sự học hỏi, tìm tòi, trước tiên bằng cách học tiếng Hòa Lan, rồi đọc kỹ sách vở của họ, Fukuzawa cảm nhận được tinh thần thực dụng của học thuật Âu châu và dần tiếp thu nhiều tư tưởng khác liên quan đến cả nhân sinh quan.
Học ở Nagasaki đã khá thông nhưng Fukuzawa muốn tiến thêm nên dời lên Osaka theo học thày Ogata Kōan, một học giả Hà Lan học có tiếng lúc bấy giờ. Là một vị thày uyên bác và nhân hậu, lối ứng xử của Ogata Kōan đã tác động không nhỏ tới Fukuzawa; ông cũng thấm nhuần tư tưởng và tác phong đó. Ba năm sau khi ông mới 25 tuổi, Fukuzawa tòng lệnh của lãnh chúa Nakatsu, lên Edo mở trường tư thục để dạy dỗ các phiên thuộc của lãnh chúa. Ngôi trường đó là tiền thân của trường Đại học Keiō-gijuku ngày nay.
Chuyển sang học tiếng Anh và xuất ngoại.
Bấy giờ Mạc phủ đang xúc tiến khai thương, chiếu theo Hiệp ước Kanagawa mà mở thêm hai hải cảng Shimoda và Hakodate cho tàu Tây phương ra vào. Fukuzawa trong chuyến đi ngang qua Kanagawa có ghé hải cảng Yokohama và trực tiếp thấy rằng thương thuyền Hòa Lan không nắm vai trò ưu thế mà đúng ra là các thương thuyền Anh, Mỹ nên ông và quyết tâm bỏ Hà Lan học, chuyển sang học tiếng Anh để tiếp cận văn minh Anh Mỹ. Ông là một trong những người tiên phong trên con đường này nên phải thâu thập sách vở, tự học bằng từ điển, thậm chí học lỏm từ các thuyền viên ngoại quốc trong cảng. Khi nghe tin Mạc phủ cử một phái đoàn đi sứ sang Hoa Kỳ vào năm 1860, ông không ngần ngại xin theo tháp tùng trên con tàu "Kanrin Maru" mặc dù vào thời đó việc vượt đại dương lắm rủi ro; quyết định của Fukuzawa là hết sức táo bạo. Tàu đáp ở San Francisco và nán lại một tháng, cho phép Fukuzawa tận kiến nếp sống tiên tiến và khoa học kỹ thuật. Chuyến đi Mỹ năm đó, tiếp theo là chuyến sang châu Âu (1862), rồi lại một lần nữa sang Mỹ (1867) là động lực lớn giúp ông thâu nhận kiến thức rộng rãi, ảnh hưởng đến những quyết định tư duy và phương thức cách tân Nhật Bản của ông.
Biên soạn, trước tác, cổ động.
Với kinh nghiệm học được từ người phương Tây qua sách vở và những chuyến thị sát, ông đã nhiệt huyết truyền bá những tư tưởng tiến bộ bằng mọi phương tiện: dịch sách, viết báo, giảng dạy. Ông đã tách mình ra khỏi biến động chính trị cuối thời Mạc phủ Edo, chú tâm vào việc giáo dục, phổ biến những giá trị Thái Tây. Tài năng văn chương trác việt khi diễn đạt tầm nhìn sâu rộng và nhận xét sắc bén của ông đã lôi cuốn sự chú ý của giới trí thức lẫn bình dân. Bản thân ông đã tiên phong nêu gương đề cao tinh thần độc lập, thực học, và bình đẳng.
Trường Keiō-gijuku (Khánh Ứng nghĩa thục) do ông lập ra trở thành trường đại học tư thục hiện đại đầu tiên và cho đến nay hơn 100 năm sau, vẫn là một trong những trường đại học tư với uy tín hàng đầu của Nhật Bản. Đây chính là nơi đào tạo nhiều nhân tài trong các lãnh vực chính trị, khoa học, giáo dục, hạt mầm cho lớp tri thức tiên tiến của Nhật Bản lúc đất nước chuyển mình sang thời đại mới của triều Minh Trị.
Tài năng và nhân cách Fukuzawa Yukichi thăng hoa cùng với những năm tháng của cuộc cải cách Minh Trị duy tân. Ông đã để lại trước tác với số lượng lên tới hàng vạn trang, trong đó tiêu biểu phải kể đến là "Khuyến học vấn" Gakumon no susume (学問のすすめ, Gakumon no susume) (An Encouragement of Learning), "Văn minh luận chi khái lược" Bunmeiron no gairyaku (文明論之概略, Bunmeiron no gairyaku) (An Outline of a Theory of Civilization), "Tây Dương sự tình" Seiyō jijō (西洋事情, Seiyō jijō) (Things western), "Phúc ông tự truyện" Fukuō Jiden (福翁自伝, Fukuō Jiden) (Autobiography of Fukuzawa Yukichi)
Tư tưởng Thoát Á.
Có dịp được tiếp xúc với văn minh phương Tây qua sách vở và những chuyến viếng thăm Mỹ và châu Âu vào cuối thế kỷ 19, Fukuzawa nhận định rằng văn minh phương Tây phát triển hơn châu Á về nhiều mặt, và các nước châu Á khó lòng duy trì được nền độc lập nếu cứ đóng cửa trước văn minh phương Tây. Theo ông, giành được quyền tự trị chưa phải đã là độc lập, mà nền độc lập thật sự chỉ có thể thành hiện thực thông qua việc trở thành một quốc gia tiên tiến và văn minh. Nếu không có sự khai sáng và văn minh, nền độc lập giành được sẽ mau chóng mất đi để rồi lại lệ thuộc vào các quốc gia tiên tiến khác .
Nhận thức được các nước trong khu vực châu Á mới chỉ ở mức "bán văn minh", không thể là tấm gương cho Nhật Bản học hỏi, trong bài "14 tháng 1 năm 2010-thoat-a-luan Thoát Á luận", Fukuzawa kêu gọi nước Nhật hãy "tách ra khỏi hàng ngũ các nước châu Á, đuổi kịp và đứng vào hàng ngũ các nước văn minh phương Tây". Ông chủ trương mở cửa giao thương với phương Tây, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm quản lý xã hội của phương Tây để phát triển Nhật Bản. Quan điểm này của Fukuzawa đã được chứng minh bằng thực tế: Ở châu Á, chỉ có Nhật Bản và Thái Lan, hai nước chủ trương mở cửa, là tránh được sự xâm lược và thôn tính của các nước phương Tây. Chính sự du nhập của những giá trị và nền giáo dục khoa học kiểu phương Tây đã khiến Nhật Bản không bị phương Tây xâm lược.
Fukuzawa tin rằng giáo dục là cách duy nhất để đạt tới văn minh, bởi bản chất của văn minh là sự phát triển kiến thức và đạo đức nội tại của dân tộc:
""Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, [do đó] bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người."
Fukuzawa cho rằng nền giáo dục Nho học truyền thống ở Nhật Bản chính là sự cản trở lớn nhất của nền văn minh: Nó vừa cổ hủ vừa chậm phát triển, hàng nghìn năm vẫn không thay đổi, chỉ coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo mà coi thường chân lý và nguyên tắc. Số lượng người đi học đã ít ỏi, lại chỉ được dạy đọc/viết mà không được khuyến khích phát triển tư duy sáng tạo và độc lập. Chính vì vậy, Fukuzawa kêu gọi người dân hãy theo đuổi nền giáo dục thực học của phương Tây, dựa trên nền tảng khoa học và kỹ thuật. Mỗi người trong xã hội, từ các học giả uyên bác, những viên chức nhà nước địa vị cao đến những nông dân nghèo và những người buôn bán nhỏ đều có thể đi học để thực hiện tốt hơn chức năng riêng của mình, từ đó đóng góp sức mình vào phát triển xã hội, chứ không nhất thiết phải học để ra làm quan theo lối suy nghĩ truyền thống của Nho học hủ lậu. Fukuzawa phê phán lối học ấy trong xã hội Nhật đương thời:
"Trong xã hội Nhật Bản, mười người thì cả mười, trăm người thì cả trăm, tất cả đều mưu cầu việc tiến thân, thăng quan tiến chức và trở thành công chức".
Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân", tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông kêu gọi các sĩ phu Nhật Bản làm việc theo phương châm "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh cá nhân mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác (đây chính là tư tưởng Khai sáng của Immanuel Kant).
Để phổ biến kiến thức văn minh và tư tưởng tiến bộ phương Tây tới dân chúng, Fukuzawa đã viết trên 100 cuốn sách giải thích và cổ vũ cho thể chế chính quyền nghị viện, giáo dục phổ thông, cải cách ngôn ngữ và quyền của phụ nữ. Ông còn mở trường Đại học Keio (Trường Khánh Ứng Nghĩ Thục), nay trở thành một trong những trường đại học hàng đầu của Nhật Bản, để đào tạo những thế hệ thanh niên Nhật Bản theo phương thức mới. Cùng với một nhóm trí thức cùng tư tưởng, Fukuzawa cho ra mắt tờ báo "Jiji Shimpo" năm 1882, đây là một cơ quan tuyên truyền có tác động rất lớn đến công chúng Nhật Bản. Ông không coi mình là người làm chính trị, mà chỉ là "bác sĩ bắt mạch chính trị". Ông không tham gia chính quyền, dù được mời nhiều lần, nhờ đó có cơ hội phê phán chính quyền một cách mạnh mẽ và kiên quyết hơn.
Tư tưởng quân phiệt.
Fukuzawa cũng thể hiện tư tưởng có phần quá khích trong quan hệ với nước châu Á láng giềng. Ông viết: "Giờ đây nếu phải chờ nhà Thanh lẫn Triều Tiên đều cận đại hóa để cùng có một châu Á phồn vinh thì e không kịp nữa. Nhật Bản phải thoát ra khỏi Á châu ngay và sẽ tiếp cận với nhà Thanh và Triều Tiên với cùng một cách thức như các nước Âu - Mỹ mới được". Điều đó có nghĩa là ông khuyên Nhật Bản cũng phải gia nhập vào nhóm các nước đang cạnh tranh xâm chiếm thuộc địa ở vùng Đông Á như Âu - Mỹ. 20 năm sau thì đúng là Nhật Bản đã làm theo ý kiến mà Fukuzawa đề xướng, nghĩa là đua tranh với các nước thực dân Âu - Mỹ trong việc xâm chiếm các nước vùng Đông Á
Chủ nghĩa xã hội Darwin đã tác động sâu sắc đến Fukuzawa, ông cho rằng Nhật Bản phải thôn tính các nước châu Á để tránh việc bị các nước phương Tây xâm chiếm ("hoặc ăn thịt kẻ khác, hoặc bị kẻ khác ăn thịt"). Vì vậy, ông đã cổ vũ cho việc Nhật Bản xâm chiếm Triều Tiên và gây chiến với Trung Quốc.
Sự ủng hộ nhiệt tình của Fukuzawa đối với Chiến tranh Thanh-Nhật có liên quan nhiều đến quan điểm của ông về hiện đại hóa. Giống như nhiều bạn bè của mình trong chính phủ, Fukuzawa tin rằng việc hiện đại hóa châu Á chỉ có thể đạt được bằng vũ lực. Fukuzawa hy vọng một màn trình diễn về sức mạnh quân sự của Nhật sẽ làm chấn động dư luận ở phương Tây và giúp Nhật Bản tránh khỏi số phận bị xâu xé của Trung Quốc. Với hy vọng về một Nhật Bản mạnh mẽ, Fukuzawa đã xem các quốc gia châu Á vừa là mối đe dọa, vừa là cơ hội để Nhật thể hiện sức mạnh quân sự và chiếm làm thuộc địa.
Năm 2004, Yo Hirayama đã nghiên cứu di sản của bài viết "Thoát Á luận" và kết luận rằng nó đã gần như bị lãng quên từ khi được xuất bản vào năm 1885 cho đến những năm 1950, khi nó bắt đầu được trích dẫn lại và được coi là một ví dụ tiêu biểu về chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản trong thời Minh Trị
"Phúc ông tự truyện".
Fukuzawa Yukichi có lẽ bắt đầu được độc giả Việt Nam biết đến qua những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng đối với tư tưởng của Phan Bội Châu, Phong trào Duy Tân và lịch sử cận đại Việt Nam cùng bản dịch cuốn "Gakumon no susume" (Khuyến học) của giáo sư sử học Chương Thâu. Sự thành công của cuộc Minh Trị duy tân là tấm gương sáng, là nguồn cổ vũ cho rất nhiều chí sĩ tâm huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong đó có Phan Bội Châu và những sĩ phu của phong trào Duy Tân.
Sau thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ hai, mặc dù giới nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn của Nhật Bản có thể có những nhìn nhận lại về tư tưởng Fukuzawa Yukichi, nhưng cần khẳng định một điều rằng không một nhà tư tưởng nào lại có ảnh hưởng sâu và rộng đến xã hội Nhật Bản cận hiện đại hơn Fukuzawa. Có thể nói, những tư tưởng về chính trị, xã hội, kinh tế mà Fukuzawa truyền bá là một căn nguyên phát triển của Nhật Bản cận hiện đại. Vì vậy, tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp cũng như tư tưởng Fukuzawa là điều cần thiết, không chỉ giúp người Việt nhìn nhận những vấp váp, sai lầm trong lịch sử cận đại Việt Nam, mà còn hữu ích cho cả sự phát triển hiện nay và sau này. Đây cũng chính là điều khiến dịch giả quan tâm đến các trước tác của Fukuzawa nói chung và cuốn "Phúc ông tự truyện" nói riêng.
Cuốn tự truyện kể về những bước thăng trầm của cuộc đời Fukuzawa Yukichi từ khi sinh ra cho đến những năm tháng tuổi già. Có thể nói, chưa đọc "Phúc ông tự truyện" thì chưa thể hiểu nhân cách cũng như tư tưởng của Fukuzawa Yukichi. Cuốn tự truyện không chỉ là lời tự thuật chân thực về những thăng trầm trong cuộc đời riêng Fukuzawa mà còn tái hiện được cả bối cảnh phức tạp của xã hội Nhật Bản trong thời kỳ chuyển biến dữ dội vào nửa cuối thể kỷ 19. Và một điều cần nói thêm rằng, tất cả những biến động lớn lao đó của lịch sử Nhật Bản được phản ánh qua những trải nghiệm thực tế, sự phân tích với tư cách người đương thời và bằng giọng kể chân thành, ngôn ngữ giàu nhạc điệu của Fukuzawa, nghĩa là những gì được tái hiện lại trong cuốn tự truyện khác xa với bất kỳ một sự tường thuật cứng nhắc ở cuốn sách về lịch sử nào khác.
Cuốn tự truyện có 15 chương, mỗi chương lại bao gồm những câu chuyện nhỏ khác nhau. Trong quá trình dịch cuốn "Phúc ông tự truyện" này, dịch giả chủ yếu dựa trên bản Fukuō Jiden do Tomita Masafumi khảo chú, được Nhà xuất bản Đại học Keiō-gijuku Daigaku ấn hành vào tháng 1 năm 2001. Tomita Masafumi là người đã dày công nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Fukuzawa Yukichi.
Để vinh danh công lao đóng góp của Fukuzawa Yukichi, hình ảnh của ông được đưa vào tờ tiền mệnh giá 10000 yên Nhật lần lượt vào các năm 1984 và 2004
|
Cộng hòa Belarus là một quốc gia nằm ở Đông Âu. Belarus có biên giới với 5 quốc gia: phía tây tiếp giáp với Ba Lan, phía bắc với Litva và Latvia, phía đông là Nga và phía Nam là Ukraina. Nước cộng hòa này không tiếp giáp biển.
Trên lãnh thổ Belarus có hơn 4.000 biển hồ, nhiêu sông và đầm. Sông lớn nhất là sông Dnepr (Днепр).
Khí hậu Belarus ấm áp mang hơi ẩm của biển Baltic, vì thế nên mưa nhiều.
Vị trí của Belarus tại châu Âu giúp quốc gia này trở thành điểm giao lưu kinh tế của các quốc gia phía đông và tây.
|
Giải Pulitzer là một giải thưởng của Mỹ, trao cho nhiều lĩnh vực, trong đó quan trọng hơn cả là về báo chí và văn học. Đặc biệt về báo chí, Pulitzer được xem như một trong những giải danh giá nhất.
Joseph Pulitzer, chủ bút báo New York World đề nghị giải này trong di chúc của ông viết năm 1904. Khi đó ông có đề ra 13 giải: 4 cho báo chí, 4 cho văn học, 4 cho sân khấu và 1 cho giáo dục. Nhạy cảm với sự thay đổi, Pulitzer có lập ra một hội đồng tư vấn có quyền thay đổi nội dung giải thưởng. Từ năm 1917, giải được trao vào tháng 4 hàng năm bởi hiệu trưởng trường Đại học Columbia. Một phong bì 15.000 đô la (trước năm 2017 là 10.000 đô la) được tặng kèm theo giải thưởng. Hiện nay, giải Pulitzer có tới 21 nội dung: một số thể loại phóng sự, biên tập, biếm họa, nhiếp ảnh, tiểu thuyết, tiểu sử, sân khấu, thơ và âm nhạc.
|
Goncourt là một giải thưởng văn học Pháp được sáng lập theo di chúc của Edmond de Goncourt vào năm 1896. Hội văn học Goncourt thành lập chính thức năm 1900 và giải đầu tiên được trao ngày 21 tháng 12 năm 1903.
Giải Goncourt, được sáng lập để trao mỗi năm cho "tác phẩm văn xuôi xuất sắc nhất trong năm", nhưng hầu như chỉ trao cho tiểu thuyết. Nó là giải thưởng văn học Pháp được mong muốn nhất. Mặc dù tiền thưởng của giải chỉ là 10 euro, nhưng sự nổi tiếng mà Goncourt đem lại cho cuốn sách sẽ là một phần thưởng lớn thay thế.
Các thành viên của viện Goncourt họp vào các thứ ba đầu tiên mỗi tháng trong phòng khách của họ tại tầng hai nhà hàng Drouant ở Paris (Place Gaillon, quận 2). Tên người được giải sẽ công bố ngày 3 tháng 11 sau bữa ăn trưa tại nhà hàng.
Giải chỉ trao cho mỗi nhà văn một lần. Duy có Romain Gary năm 1956 nhận giải với tiểu thuyết "Racines du ciel" ("Rễ trời") và năm 1975 nhận một giải nữa với "La vie devant soi" ("Cuộc sống ở trước mặt"), nhưng dưới bút danh Émile Ajar.
|
Acid propionic (danh pháp khoa học acid propanoic) là một acid carboxylic có nguồn gốc tự nhiên với công thức hóa học CH3CH2COOH. Ở trạng thái tinh khiết và trong điều kiện thông thường, acid propionic là một chất lỏng không màu có tính ăn mòn và mùi hăng.
Acid propionic lần đầu tiên được Johann Gottlieb miêu tả năm 1844. Ông là người đã tìm thấy nó trong số các sản phẩm phân hủy của đường. Trong khoảng thời gian vài năm sau đó, các nhà hóa học khác cũng tạo ra acid propionic theo các cách khác nhau, nhưng không có ai trong số họ nhận ra rằng họ đã tạo ra cùng một hợp chất. Năm 1847, nhà hóa học người Pháp là Jean-Baptiste Dumas đã chứng minh được tất cả các acid trên đây chỉ là một hợp chất và ông gọi nó là acid propionic, lấy theo tiếng Hy Lạp "protos" = "đầu tiên" và "pion" = "béo", do nó là acid với công thức tổng quát H(CH2)"n"COOH nhỏ nhất có các tính chất của một acid béo, chẳng hạn như sự tạo ra một lớp váng mỡ khi bị kết tủa bởi muối và có muối với kali có tính chất giống xà phòng.
Acid propionic có các tính chất vật lý trung gian giữa các tính chất của các acid carboxylic nhỏ hơn như acid formic và acid acetic, với các acid béo lớn hơn. Nó hòa tan trong nước nhưng có thể bị loại ra khỏi nước bằng cách cho thêm muối. Giống như acid acetic và acid formic, dạng khí của nó vi phạm nghiêm trọng định luật khí lý tưởng do nó không chứa các phân tử acid propionic riêng rẽ mà lại có các cặp liên kết hydro giữa các phân tử. Nó cũng có sự bắt cặp này khi ở trạng thái lỏng.
Về mặt hóa học, acid propionic thể hiện các tính chất chung của acid carboxylic, và tương tự như phần lớn các acid carboxylic khác, nó tạo ra các hợp chất amide, ester, anhydride và chloride. Nó cũng có thể tham gia phản ứng halogen hóa pha alpha với brom khi có mặt PBr3 làm chất xúc tác (phản ứng HVZ) để tạo ra CH3CHBrCOOH.
Trong công nghiệp, acid propionic thông thường được sản xuất từ phản ứng oxy hóa của propionaldehit bằng không khí. Khi có mặt các xúc tác như cobalt, mangan sắt, phản ứng này diễn ra nhanh chóng thậm chí ở nhiệt độ vừa phải. Thông thường sản xuất công nghiệp được thực hiện ở 40-50 °C, được viết dưới phương trình hóa học sau:
CH3CH2CHO + ½ O2 → CH3CH2COOH
Một lượng lớn acid propionic đã từng được sản xuất như là phụ phẩm của việc sản xuất acid acetic, nhưng ngày nay thì nó chỉ là một nguồn rất nhỏ trong sản xuất acid propionic. Nhà sản xuất nay là BASF, với công suất khoảng 80 ktpa.
Acid propionic cũng được tạo ra theo phương pháp sinh học từ sự phân hủy do trao đổi chất của các acid béo chứa số lẻ các nguyên tử carbon, cũng như từ sự phân hủy của một số amino acid. Các vi khuẩn thuộc chi "Propionibacterium" cũng tạo ra acid propionic như là sản phẩm cuối cùng trong hoạt động trao đổi chất kỵ khí của chúng. Các vi khuẩn này ađược tìm thấy rất phổ biến trong dạ dày của các động vật nhai lại, và hoạt động của chúng là một phần nguyên nhân tạo ra mùi vị của cả phó mát Thụy Sĩ và mồ hôi.
Acid propionic ngăn cản sự phát triển của mốc và một số vi khuẩn. Do vậy, phần lớn acid propionic được sản xuất để sử dụng làm chất bảo quản cho cả thực phẩm dành cho con người cũng như thức ăn dành cho gia súc. Đối với thức ăn cho gia súc, nó được sử dụng hoặc là trực tiếp hoặc dưới dạng muối amoni. Đối với thực phẩm dành cho con người, đặc biệt là bánh mì và các sản phẩm nướng khác, nó được dùng dưới dạng các muối natri hay calci. Việc sử dụng tương tự cũng diễn ra đối với một số bột chống nấm chân loại cũ.
Acid propionic cũng là một hóa chất trung gian có ích. Nó có thể sử dụng để thay đổi các sợi cellulose tổng hợp. Nó cũng được dùng để sản xuất một số thuốc trừ sâu và dược phẩm. Các este của acid propionic đôi khi được dùng làm dung môi hay các chất tạo mùi nhân tạo.
Nguy hiểm chính từ acid propionic là bỏng hóa chất có thể sinh ra do tiếp xúc với acid đậm đặc. Trong các nghiên cứu trên động vật trong phòng thí nghiệm, hiệu ứng nguy hiểm nghiêm trọng duy nhất gắn liền với phơi nhiễm kinh niên đối với một lượng nhỏ acid propionic là các vết loét thực quản và dạ dày do tiêu thụ chất có tính ăn mòn này. Người ta chưa quan sát thấy các hiệu ứng độc hại, dị biến gen, ung thư hay sinh sản nào. Trong cơ thể, acid propionic bị oxy hóa nhanh chóng và bị thải ra khỏi cơ thể trong dạng carbon dioxide theo chu trình Krebs và nó không tạo ra sự tích lũy sinh học.
|
Văn Thiên Tường (, 6 tháng 6, 1236 - 9 tháng 1, 1283) là thừa tướng trung nghĩa lẫm liệt nhà Nam Tống, một thi sĩ nổi tiếng mà tư tưởng yêu nước đã thấm đượm trong thi văn của ông.
Ông là một vị anh hùng dân tộc của Trung Quốc, là 1 trong 5 vị quan thời Nam Tống (cùng với Nhạc Phi, Lý Cương, Hàn Thế Trung, Triệu Đỉnh) được thờ tại Đế vương miếu (历代帝王庙) thời nhà Minh, nhà Thanh xây dựng, trong đó thờ những vị quan văn, võ tướng được đánh giá là tài năng và tận trung nhất qua các triều đại.
Văn Thiên Tường ban đầu có tên Vân Tôn (雲孫), tự Thiên Tường (天祥), sau đổi thành Tống Thụy (宋瑞) và có tự là Lý Thiện (履善), hiệu Văn Sơn (文山). Ông xuất thân từ Cát Châu Lô Lăng (吉州廬陵), bây giờ là huyện Cát An, tỉnh Giang Tây). Lúc còn nhỏ, Văn Thiên Tường ham đọc sách, ông ngưỡng mộ cốt cách những nhân vật "Trung thần nghĩa sĩ" có chí khí, yêu nước thương dâ, đời vua Tống Lý Tông, Văn Thiên Tường 17 tuổi, tham gia kỳ thi Hương ở Lô Lăng, tên đậu đầu bảng. Lúc đứng trước tượng Âu Dương Tu, ông đã nói: "Sau này tôi chết đi, nếu không được như ông, mọi người tưởng nhớ, thì tôi không phải là bậc đại trượng phu".
Năm 1255, ông cùng em là Văn Bích tham gia kỳ thi Tiến sĩ và cả hai đều có tên trúng cử. Vào ngày công bố người trúng tuyển, Văn Thiên Tường đứng đầu trên 601 người đậu Tiến sĩ rồi ông được mang danh trạng nguyên, thì ông được tin cha chết. Hai anh em phải trở về quê hương khi chưa kịp nhận chức tước. Mãi đến năm 1259, Văn Thiên Tường mới được bổ nhiệm Công sự phán quan, một chức quan xử kiện. Khi quân nhà Nguyên tràn vào đất Tống, ông ứng "chiếu Cần Vương" dưới cờ vua Tống Cung Đế.
Năm 1275, ông được cử làm Hữu Thừa tướng, Khu mật sứ, Đô đốc thống quản quân mã. Vào tháng 8 năm đó, chẳng may Văn Thiên Tường bị thua trận ở Lô Lăng, may có người cứu thoát. Phu nhân là Âu Dương thị, con trai thứ là Văn Phật Sinh, hai con gái là Văn Liễu Nương và Văn Hoàn Nương đều bị quân Nguyên bắt giam. Công cuộc kháng chiến chống Nguyên không thành và ông bị quân Nguyên bắt đưa về Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay).
Năm 1278, mẹ ông và người con trai đầu mới 13 tuổi bị bệnh qua đời khiến ông vô cùng đau buồn. Triều đình phong cho ông làm Thiếu bảo, Tín Quốc công thi hành chủ trương tiến bộ. Trong thời gian ở Lâm An, tình thế quẫn bách, triều đình đã cử ông đến đại bản doanh Thừa tướng triều Nguyên là Bá Nhan đàm phán cầu hàng. Vua Nguyên thấy ông là người có tài và có khí tiết định giam giữ dụ hàng. Khi Bá Nhan lấy cái chết đe doạ, ông đã khẳng khái nói:"Tôi hiện đang là Tể tướng triều Tống, chỉ lấy cái chết để đền nợ nước, nếu lấy gươm đao dọa nạt, chẳng làm gì được đâu". Bá Nhan đã giữ ông lại và quyết định giải ông về Đại Đô (nay là Bắc Kinh).
Năm 1276, khi quân nhà Nguyên "(bấy giờ đã hùng hổ chinh phục khắp Âu Á (diệt nước Yên năm 1215, nước Hồi năm 1222, nước Kim năm 1234, đánh tan liên quân các tiểu quốc Nga, bắt sống nhiều hoàng thân Nga năm 1237, đánh Cao Ly năm 1247, diệt Đại Lý rồi chiêu hàng Thổ Phồn năm 1253, đánh Nhật Bản năm )" đi chinh phạt đến núi Cao Đình, nhà Tống xin hàng. Bá Nhan sai hàng tướng Lã Văn Hoán vào Lâm An, tra xét thành trì, treo bảng vàng vỗ về quân dân trong ngoài. Bá Nhan giam giữ Văn Thiên Tường trong quân, Thiên Tường mắng Bá Nhan thất tín. Văn Hoán ở bên cạnh khuyên giải, Thiên Tường mắng Hoán là loạn tặc, Văn Hoán rất hổ thẹn nói: "“Thừa tướng sao lại mắng Hoán là loạn tặc?”" Văn Thiên Tường nói: "“Quốc gia bất hạnh đến hôm nay, ngươi gây tội đầu, ngươi không phải loạn tặc thì ai? Trẻ con 3 thước đều mắng ngươi, có riêng gì ta?”" Lữ Văn Hoán nói: "“Ta giữ Tương Dương 6 năm không được cứu.”" Văn Thiên Tường nói: "“Sức cùng viện tuyệt, thì chết để báo nước là được. Ngươi yêu thân tiếc vợ con, đã phụ nước, còn phá hoại tiếng tăm cả nhà. Nay ngươi họp cả họ làm chuyện phản nghịch, là tặc thần muôn đời!”" Tướng Nguyên là Toa Đô cũng phải khen: "“Thừa tướng mắng họ Lữ hay lắm!”"
Vào cuối năm 1277, ông đã trốn thoát khi đang trên đường bị cưỡng bức lên phương Bắc ra mắt Nguyên Thế Tổ - Hốt Tất Liệt. Sau đó một thời gian, vào một buổi trưa tháng 12, Văn Thiên Tường đã xuất quân từ Hải Phong lên phía bắc, khi đi qua một quãng đường hẹp đã bị quân phục kích, rơi vào bẫy, không kịp trở tay và bị quân Nguyên bắt sống. Rút kinh nghiệm lần trước, lần này quân Nguyên canh phòng ông nghiêm mật. Nhiều lần Văn Thiên Tường đã tìm cách trốn nhưng vô hiệu. Một thời gian sau, nhà Tống cũng bị diệt vong.
Chiến tranh kết thúc, quân Nguyên bày yến tiệc để mừng công, Văn Thiên Tường cũng được mời đến. Trương Hoằng Phạm, đô đốc quân thủy nhà Nguyên đã nói với ông:
"Hiện nay, triều Tống đã mất, trung hiếu của ông cũng hết rồi. Thừa tướng có thể thay đổi ý kiến được không, làm việc cho triều Nguyên, mà Tể tướng triều Nguyên không phải là ông thì ai vào đó?"
Ông đã khẳng khái trả lời:
"Nước mất không thể cứu được, làm quan đại thần thì tội quả đáng chết, lẽ nào còn tham sống sợ chết, phản bội Tổ quốc được?"
Trên đường giải từ Quảng Châu lên Đại Đô, thời tiết khắc nghiệt, mưa gió tầm tã, Văn Tường bị xích giải đi. Ông đã từng tuyệt thực, nhịn đói, nhịn khát, muốn lấy cái chết để phản kháng, có lúc ông lại tìm cách trốn thoát, nhưng tất cả đều vô hiệu, vì quân Nguyên canh phòng nghiêm mật. Những lúc đó ông lại làm thơ gửi gắm tâm hồn, ý nguyện. Triều Nguyên muốn lợi dụng ông để lung lạc nhân tâm, hòa hoãn ý chí chống Nguyên của nhân dân Giang Nam nhưng vẫn không mua chuộc được ông. Triều Nguyên đã cho Lưu Mộng Viêm là Thừa tướng triều Tống đã hàng đến dụ hàng Văn Thiên Tường. Vừa trông thấy Lưu Mộng Viêm, Văn Thiên Tường lòng bốc giận, mắng rủa thậm tệ. Tiếp theo triều đình nhà Nguyên đưa Hoàng đế tù nhân Tống Cung Đế của Nam Tống mới 9 tuổi đến khuyên ông đầu hàng. Văn Thiên Tường trông thấy vua cũ, tuy không thóa mạ, nhưng lạnh nhạt nói: "Xin thánh giá hồi cung".
Vào một ngày tháng 5, triều đình nhà Nguyên lại cho người dẫn Văn Bích, em trai ông đã đầu hàng giặc đến khuyên ông nên hàng, Văn Thiên Tường kiên quyết: "Anh em một người là tù, một người cưỡi ngựa, cùng cha mẹ nhưng không đội một trời". Năm 1283, ông bị đưa đến Kim Loan điện để gặp Hốt Tất Liệt. Ông đứng sừng sững, bị lính đánh đến gãy xương, vẫn không chịu quỳ. Hốt Tất Liệt đề nghị ông theo nhà Nguyên, sẽ phong ông làm Thừa tướng nhưng ông không chấp nhận. Triều đình nhà Nguyên dày vò thân xác ông nhưng không nổi, cuối cùng đã dùng mẹo "tình cốt nhục" buộc con gái ông là Liêu Nương hiện đang bị chúng bắt giữ viết thư cho ông. Đến lúc này ông mới biết khi thua trận, vợ và con ông cũng bị bắt luôn, nhưng ông vẫn không khuất phục.
Sau ba năm thấy không thể khuất phục được ông, vua Nguyên hết cách bèn đem ông giết nhưng vẫn khen là "chân nam tử". Ông chết lúc mới 47 tuổi.
Khi hậu táng Văn Thiên Tường, người ta phát hiện ra một bài thơ tuyệt mệnh ghi như sau:
Văn Thiên Tường đã mất, nhưng khí tiết, phẩm chất đạo đức cao thượng của ông mãi mãi để cho người đời sau kính ngưỡng. Ông cùng với Lục Tú Phu và Trương Thế Kiệt được sử Trung gọi là "Tống vong tam kiệt" (ba bậc hào kiệt thời Tống mạt).
Văn Thiên Tường (文 天 祥) còn là một nhà thơ, nhà văn. Văn chương ông có lời lẽ khẳng khái, hào hùng của kẻ sĩ trong thời nước nhà lâm nạn. Khí tiết của Văn Thiên Tường ảnh hưởng rất nhiều đến sĩ phu đời sau. Hai câu thơ:
Đã được Nguyễn Công Trứ dùng trong bài hát nói "Chí khí Anh hùng" nổi tiếng của mình:
Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả, trả vay
Chí làm trai nam bắc đông tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
Đã chắc ai rằng nhục rằng vinh
Mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ
Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái trận cuồng
• Bài thơ Chính khí ca cũng là một tác phẩm hết sức nổi tiếng, được Văn Thiên Tường viết khi ông đang ở trong nhà tù của quân Nguyên.
Bài thơ "Chính Khí Ca".
Bài thơ "Chính khí ca" là một áng văn tuyệt tác, một tác phẩm nổi tiếng của Văn Thiên Tường, ca ngợi lòng yêu nước và chí khí lẫm liệt của những con người ngay thẳng cương trực, trung nghĩa thời xưa.
Tư tưởng "Chính khí ca" đã được truyền tụng rộng khắp vào Việt Nam nhằm khích lệ cổ vũ lòng yêu nước, tinh thần bất khuất của các con dân và sỹ phu nước Việt.
Năm 1882, sau khi thành Hà Nội thất thủ, ở Việt Nam cũng xuất hiện "Hà Thành chính khí ca", ca ngợi tinh thần yêu nước và chí khí trung nghĩa lẫm liệt của Tổng đốc Hoàng Diệu người đã quyết tử để bảo vệ thành Hà Nội.
Chính Khí Ca (正 氣 歌).
"(Bản gốc chữ Hán và phiên âm Hán-Việt)":
• Bản dịch của Thái Trọng Lai (mấy khổ đầu) :
"1• Trong trời đất có đầy chính khí,"
"• Xen lẫn vào mọi mặt sẵn dòng."
"• Dưới này là núi, là sông,"
"• Trên kia sao sáng cùng ông mặt trời."
"5• Là hạo nhiên khi người nhận nó,"
"• Khí ứ tràn nghẽn cả đất trời."
"• Nước nhà yên ả, thảnh thơi,
"• Khí hòa vũ trụ trút nơi triều đình."
"• Khi vận nước ngửa nghiêng, cùng quẫn,"
"10• Khí phả vào, danh rạng sử xanh."
• Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê (mấy khổ đầu):
1-Trời đất có chính khí
Lẫn lộn trong các hình
Dưới đất là sông núi
Trên trời là nhật, tinh.
5-Tại người là hạo nhiên
Vũ trụ đầy anh linh
Khí hoà nhả trước sân
Non nước lúc thanh bình
Thời cùng cao tiết hiện
10-Nhất nhất ghi sử xanh.
• Bản dịch (của Hoàng Tạo):
• Phạm Trọng Cảnh|Phạm Trọng Cảnh dịch nôm:
Trong trời đất có cái chính khí,
Tỏa sáng ra cho tất cả mọi loài hữu hình.
Tràn tuôn mặt đất từ sông đến núi và trên trời sáng chói trăng sao.
Là khí hạo nhiên của con người.
Khi non nước thanh bình thịnh trị,
Từ trong triều đến dân gian đều vang lời vui vẻ, an lạc.
Gặp lúc cùng khốn thì tiết tháo can trường tỏ ra,
Được sử xanh lưu truyền muôn đời.
Ở nước Tề thời Chiến Quốc, Thôi Tử giết vua quan Thái Sử chép việc mà không sợ uy quyền.
Ở Tấn, quan Tể Tướng Triệu Thuẩn bỏ trốn khi vua bị giết,
Đổng Hồ chép sự thật kết án Triệu Thuẩn không làm tròn trách nhiệm là giết vua.
Nước Tần, Trương Lương muốn báo thù cho nước Hàn một mình mang chùy đánh vua Tần Thủy Hoàng.
Tại nhà Hán, Tô Vũ đi sứ bị Hung Nô bắt giam 18 năm.
Trương Phi đánh Ba Thục bắt được tướng Nghiêm Nhan,
Nhan không chịu đầu hàng nói: nước Thục chỉ có tướng đứt đầu chứ không có tướng đầu hàng.
Vua Tấn Hoài Đế bị giặc đuổi,
Kê Thị Trung tức Kê Thiệu, lấy thân mình che chỡ vua, bị tên bắn máu tung đỏ cả áo long bào nhà vua.
Đời Đường An Lộc Sơn làm phản,
Trương Thư Dương tức Trương Tuần đánh giặc thua trận bị bắt,
Mắng giặc luôn miệng bị giặc bẽ gãy hai cái răng.
Nhan Kiều Khanh tức Nhan Thường Sơn bị giặc bắt
Mắng chưỡi luôn miệng, giặc cắt lưỡi vẫn tiếp tục chửi mãi không thôi.
Quảng Minh đời Hán được vua mời ra làm quan,
Không chịu, cứ ở mãi Liêu Đông ba mươi năm đội nón lá mặc áo vải bố.
Khổng Minh dâng biểu xin vua xuất quân đánh Ngụy, lời lẫm liệt oai hùng.
Tổ Địch qua sông đánh giặc
Bẻ gảy mái chèo thề không dẹp giặc xong không qua sông này.
Đoàn Tú Thực giận Châu Xế chiếm ngôi vua cầm hốt "(vật bằng ngọc các quan cầm cho oai nghi)",
Đánh vào đầu Xế máu ra lai láng.
Cái linh khí ấy tràn ngập muôn thuở,
Sáng rực cả trần ai, tỏ rõ cả trăng sao.
Khí thiên anh hùng, xem nhẹ cái chết tựa lông hồng.
Nó làm cho khuôn đất nhờ đó mà vững vàng,
Cột chống trời nhờ đó mà còn.
Tam cương được gìn giữ. Đạo nghĩa có được nguồn gốc.
Xót vì ta gặp vận chẳng may,
Tướng sĩ hèn nhát, cho nên ta bị bắt làm tù nhân.
Xe chở lên Bắc Kinh, dù ninh nấu ta trong vạc dầu sôi ta cũng coi như sương.
Trong ngục tù không thấy ánh mặt trời, phòng giam tối đen lập lòe như lửa ma.
Như ngựa quý sống cùng trâu bò "(Văn Thiên Tường sống cùng bốn người lính)".
Như phượng hoàng ăn thóc chung cùng đàn gà.
Gió lạnh sương mù, trong không khí ẩm thấp,
Ta thường nghĩ sắp chết đến nơi,
vậy mà trọn hai năm, bệnh tật hoài công lãng vãng chung quanh.
Riết rồi ta cũng thấy cái nền ngục ẩm thấp hôi hám này là cảnh thiên đường lạc quốc.
Vì thế ta vững được ý chí,
Ngắm mây trắng trôi trên đầu
Mà lòng buồn mênh mông như vòm trời vậy.
Thánh hiền nay đã xa, tinh hoa vẫn còn đó.
Trước hiên gió lộng mở sách đọc.
Gương xưa vẫn soi sáng trước mặt.
• Bản dịch (Nguyễn Văn Thọ):
"1. Anh hoa chính khí đất trời"
"Khoác hình vật chất khắp nơi vẫy vùng."
"Tràn mặt đất tuôn sông kết núi,"
"Vút trời mây chói lói trăng sao"
"5. Trần ai lẩn bóng anh hào,"
"Muôn ngàn khí phách rạt rào tầng xanh."
"Thuở non nước thanh bình khắp chốn,"
"Nét đan thanh chóng lộn bệ rồng."
"Sơn hà gặp buổi lao lung,"
"10. Càng cao tiết ngọc, càng bừng vẻ son."
"Tề Thái Sử mất còn mấy độ,"
"Thẻ tre kia há sợ gươm ai."
"Đổng Hồ múa bút mấy hồi,"
"Làm cho Tấn tặc tơi bời ruột gan"
"15. Trương Lương xót nỗi Hàn khói lửa,"
"Dùi đồng vung, nghiêng ngửa Tần vương."
"Ngọn cờ Tô Vũ phong sương,"
"Càng băng giá cảnh, càng hương sắc lòng"
"Đầu Nghiêm tướng dường đồng, dường thép,"
"20. Máu Kê quân nhuốm hết long bào."
"Trương Tuần răng cứng cát sao,"
"Thành đồng đà nát, lòng đào khôn thay."
"Lưỡi Thường Sơn nào hay lắt léo,"
"Mũ Quảng Minh che nẻo Liêu Đông."
"25. Xuất sư biểu ấy hào hùng,"
"Ngọc vàng rộn rã nát lòng thần minh."
"Dòng nước Hiệt lênh đênh bỡ ngỡ,"
"Thề cùng sông: «Tan rợ mới về !» "
"Hốt ngà có lúc cũng ghê,"
"30. Cho đầu soán chúa ê chề tóc tang."
"Linh khí ấy chứa chan muôn thuở,"
"Rực trần ai, tở mở trăng sao."
"Khí thiêng đượm máu hùng hào,"
"Phù sinh nhẹ tựa hồng mao sá gì."
"35. Giây buộc đất nó xe cho vững,"
"Cột chống trời nó dựng cho cao."
"Cương thường đạo nghĩa trước sau,"
"Mối giường then chốt quán thâu một mình."
"Ta lỡ bước điêu linh tù túng,"
"Vì ba quân lấp lửng ươn hèn."
"Thân tù dạ lỏng khóa then,"
"Một xe đầy ải, băng miền heo may."
"Đời luân lạc tỉnh say mấy độ,"
"Vạc dầu sôi mà ngó như sương."
"Ngục tù khóa kín ánh dương,"
"Phòng giam trời vắng tối dường than tro."
"Long câu giữa trâu bò len lỏi,"
"Phượng hoàng kia phận gửi đàn gà"
"Một mai gió lạnh sương mờ,"
"Mấy hồi run rét, xác xơ thân tàn."
"Cậy tuế nguyệt thổi tan chướng khí,"
"Nhờ dương quang đượm vẻ an khương."
"Nhớp nhơ là chốn tù trường,"
"Mà ta khinh khoát coi dường Bồng Lai."
"55. Ta vốn chẳng có tài phép lớn,"
"Nhưng trần ai khôn bận lòng ta."
"Lòng ta Chính Khí chói lòa,"
"Âm dương điên đảo khôn mờ tấc son."
"Trời lồng lộng mây tuôn sóng bạc,"
"Động lòng sầu man mác trời mây."
"Biển trời bát ngát chơi vơi,"
"Con thuyền dĩ vãng, bóng người xa xưa."
"60. Người xưa quá, tinh hoa vẫn đó,"
"Tinh hoa còn rạng rỡ tờ mây."
"Đạo xưa vầng sáng đâu đây,"
"Linh lung vầng sáng tỏa đầy dung quang."
Tư tưởng "Chính Khí Ca".
Bài thơ "Chính khí ca" của Văn Thiên Tường, ca ngợi lòng yêu nước và chí khí lẫm liệt của những con người ngay thẳng cương trực, trung nghĩa thời xưa, đã giữ toàn được cái khí chất lớn lao mạnh mẽ, được gọi là chính khí hạo nhiên của trời đất phú cho bậc đại trượng phu, cho người quân tử... Bài "Chính khí ca" làm chấn động, tỏa sáng cổ kim:
"Trời đất có chính khí
Toả ra cho muôn loà"
|
Tổng tư lệnh (總司令) được dùng để chỉ người nắm giữ chức vụ chỉ huy quân đội, hay mở rộng là toàn bộ các lực lượng vũ trang trên một khu vực địa lý cấp quốc gia hoặc tương đương. Trong tổ chức quân sự của một quốc gia, Tổng tư lệnh là chức vụ cao nhất. Chức vụ Tổng tư lệnh của một quốc gia thường do Nguyên thủ quốc gia đó nắm giữ, tùy thuộc theo thể chế chính trị như: Tổng thống, Chủ tịch nước, Quốc vương, Nữ hoàng, Nhà lãnh đạo, Lãnh tụ tối cao, Tổng Bí thư... Một số trường hợp do Thủ tướng (không phải nguyên thủ Quốc gia) là người đứng đầu Chính phủ làm Tổng tư lệnh.
Ở Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người duy nhất giữ chức vụ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Hiện nay, chức vụ này đã bị bãi bỏ, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nắm quyền thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là người chỉ huy cao nhất trong Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ. Do Việt Nam là nước đơn đảng, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lãnh đạo Quân đội trực tiếp, tuyệt đối nên Tổng Bí thư (kiêm nhiệm Bí thư Quân ủy Trung ương) là chức danh lãnh đạo cao nhất đối với quân đội.
|
Vũ khí hay hung khí (Tiếng Anh: "weapon", chữ Hán: 武器, nghĩa Hán Việt: "vũ" là võ thuật, quân sự; "khí" là đồ dùng) là các vật được sử dụng với mục đích gây sát thương hoặc gây hại. Chúng thường được sử dụng để tăng hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động như săn bắn, tội phạm, thực thi pháp luật, tự vệ và chiến tranh. Nói chung, vũ khí có thể được hiểu là bao gồm bất cứ thứ gì được sử dụng để đạt được lợi thế về chiến thuật, chiến lược, vật chất hoặc tinh thần trước kẻ thù hoặc địa điểm của kẻ thù.
Trong khi các đồ vật thông thường - gậy, đá, chai thủy tinh, ghế, xe cộ - có thể được sử dụng làm vũ khí ngẫu nhiên, thì nhiều vật được thiết kế rõ ràng cho mục đích gây sát thương. Những dụng cụ này rất đa dạng, từ dạng đơn giản như dao, rìu và kiếm cho đến dạng phức tạp như: súng, pháo xe tăng, máy bay quân sự, tàu chiến, tên lửa, bom, mì, chuyển đổi hoặc tăng cường để trở thành vũ khí chiến tranh được gọi là vũ khí hóa, chẳng hạn như: các loại mầm bệnh (vũ khí sinh học), các loại khí độc, chất độc hóa học (vũ khí hóa học), năng lượng hạt nhân (vũ khí hạt nhân)...
Việc sử dụng các đồ vật làm vũ khí đã được quan sát thấy ở các loài tinh tinh, dẫn đến suy đoán rằng loài người đầu tiên đã sử dụng vũ khí từ năm triệu năm trước. Tuy nhiên, điều này không thể được xác nhận bằng chứng cứ vật lý bởi vì gậy gỗ, giáo và đá không định hình sẽ để lại một hồ sơ không rõ ràng. Các loại vũ khí rõ ràng sớm nhất được tìm thấy là giáo Schöningen, tám cây giáo ném bằng gỗ có niên đại hơn 300.000 năm. Tại địa điểm Nataruk ở Turkana, Kenya, rất nhiều bộ xương người có niên đại 10.000 năm trước có thể là bằng chứng về chấn thương ở đầu, cổ, xương sườn, đầu gối và tay, bao gồm cả những mảnh obsidian găm vào xương có thể gây ra từ mũi tên và các xẻng mài nhọn trong cuộc xung đột giữa hai nhóm săn bắn hái lượm. Nhưng việc giải thích bằng chứng về chiến tranh ở Nataruk đã bị đặt dấu hỏi.
Những vũ khí cổ đại sớm nhất là những cải tiến tiến hóa của các công cụ thời kỳ đồ đá mới, nhưng những cải tiến đáng kể về vật liệu và kỹ thuật chế tạo đã dẫn đến một loạt cuộc cách mạng trong công nghệ quân sự.
Sự phát triển của các công cụ kim loại bắt đầu bằng đồng trong thời đại đồ đồng đá (khoảng 3.300 TCN) và tiếp theo là thời đại đồ đồng, dẫn đến việc tạo ra kiếm và các vũ khí tương tự của thời đại đồ đồng.
Trong thời kỳ đồ đồng, các công trình và công sự phòng thủ đầu tiên cũng xuất hiện, cho thấy nhu cầu an ninh ngày càng tăng. Những vũ khí được thiết kế để phá vỡ các công sự ngay sau đó, chẳng hạn như battering ram, được sử dụng vào năm 2500 TCN.
Sự phát triển của nghề luyện sắt vào khoảng năm 1300 TCN ở Hy Lạp đã có tác động quan trọng đến sự phát triển của vũ khí cổ đại. Sự phát triển này không phải là sự ra đời của kiếm thời đại đồ sắt, tuy nhiên do các thanh kiếm này không vượt trội so với kiếm bằng đồng, mà là do việc thuần hóa ngựa và sử dụng rộng rãi bánh xe có nan gỗ vào khoảng 2000 năm TCN. Điều này dẫn đến sự ra đời của xe ngựa kéo nhẹ, có khả năng di chuyển được cải thiện tỏ ra quan trọng trong thời đại này. Việc sử dụng chiến xa có bánh xe đẩy đạt đỉnh vào khoảng năm 1300 TCN và sau đó suy tàn, không còn phù hợp về mặt quân sự vào thế kỷ thứ 4 TCN.Một số nước Châu Á như Việt Nam ,Ấn Độ còn sử dụng voi chiến như một vũ khí trên bộ.
Kỵ binh phát triển sau khi ngựa được lai tạo để hỗ trợ khối lượng của con người. Ngựa đã giúp mở rộng phạm vi và tăng tốc độ khi tấn công.
Ngoài vũ khí trên bộ, tàu chiến, chẳng hạn như trireme, đã được sử dụng vào thế kỷ thứ 7 TCN
Chiến tranh châu Âu trong suốt lịch sử Hậu cổ điển được thống trị bởi các nhóm hiệp sĩ ưu tú được hỗ trợ bởi bộ binh đông đảo (cả trong vai trò chiến đấu và tầm xa). Họ đã tham gia vào chiến đấu cơ động và các cuộc bao vây bao gồm nhiều vũ khí và chiến thuật bao vây khác nhau. Knights trên lưng ngựa đã phát triển chiến thuật để sạc với cây thương cung cấp tác động đến sự hình thành của đối phương và sau đó vẽ vũ khí thực tế hơn (chẳng hạn như thanh kiếm) khi họ đánh cận chiến. Ngược lại, bộ binh, ở thời đại trước khi có các đội hình có cấu trúc, dựa vào các loại vũ khí rẻ và chắc chắn như giáo và kiếm trong chiến đấu gần và cung tên từ xa. Như quân đội trở nên chuyên nghiệp hơn, thiết bị của họ đã được chuẩn hóa và binh chuyển sang dùng mâu. Mâu thường có chiều dài từ 7 đến 8 feet, và được sử dụng cùng với các loại vũ khí nhỏ hơn (kiếm ngắn).
Trong chiến tranh ở phương Đông và Trung Đông, các chiến thuật tương tự đã được phát triển độc lập với những ảnh hưởng của châu Âu.
Sự xuất hiện của thuốc súng từ châu Á vào cuối thời kỳ này đã tạo ra một cuộc cách mạng trong chiến tranh. Đội hình lính ngự lâm, được lính cầm mâu bảo vệ đã chiếm ưu thế trong các trận chiến mở, và pháo thay thế trebuchet như một vũ khí công thành chính.
Thời kỳ Phục hưng châu Âu đánh dấu sự khởi đầu của việc thực hiện các loại súng trong chiến tranh phương Tây. Súng và tên lửa được đưa vào chiến trường.
Về chất lượng, súng cầm tay khác với vũ khí trước đó vì chúng giải phóng năng lượng từ các chất đẩy dễ cháy như thuốc súng, chứ không phải từ một vật đối trọng hoặc lò xo. Năng lượng này được giải phóng rất nhanh và có thể được tái tạo mà người dùng không cần nỗ lực nhiều. Do đó, ngay cả những vũ khí ban đầu như súng hỏa mai cũng mạnh hơn nhiều so với vũ khí do con người sử dụng. Súng ngày càng trở nên quan trọng và hiệu quả trong suốt thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, với những cải tiến tiến bộ trong cơ chế đánh lửa, sau đó là những thay đổi mang tính cách mạng trong việc xử lý đạn dược và thuốc phóng. Trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, các ứng dụng vũ khí mới bao gồm súng máy và tàu chiến không tải đã xuất hiện và vẫn là vũ khí quân sự hữu dụng và dễ nhận biết ngày nay, đặc biệt là trong các cuộc xung đột hạn chế. Vào thế kỷ 19, động cơ đẩy tàu chiến thay đổi từ động cơ buồm sang động cơ hơi nước chạy bằng nhiên liệu hóa thạch.
Kể từ sau cuộc chiến tranh Pháp-Ấn giữa thế kỷ 18 ở Bắc Mỹ đến đầu thế kỷ 20, vũ khí do con người sử dụng đã được giảm từ vũ khí chính trên chiến trường sang vũ khí dựa trên thuốc súng. Đôi khi được gọi là "Thời đại của Súng trường", thời kỳ này được đặc trưng bởi sự phát triển của súng dành cho bộ binh và đại bác để yểm trợ, cũng như sự khởi đầu của vũ khí cơ giới hóa như súng máy. Đặc biệt lưu ý, Howitzers đã có thể phá hủy pháo đài xây và các công sự khác, và phát minh duy nhất này đã gây ra cuộc Cách mạng trong các vấn đề quân sự (RMA), thiết lập các chiến thuật và học thuyết vẫn được sử dụng cho đến ngày nay.
Thời đại công nghiệp.
Một đặc điểm quan trọng của chiến tranh thời đại công nghiệp là sự leo thang về công nghệ - các đổi mới nhanh chóng được kết hợp thông qua việc nhân rộng hoặc bị phản công bởi một đổi mới khác. Sự leo thang công nghệ trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất (WW I) rất sâu sắc, bao gồm cả việc đưa máy bay vào tham chiến và chiến tranh hải quân với sự ra đời của hàng không mẫu hạm.
Thế Chiến thứ nhất.
Chiến tranh thế giới thứ nhất đánh dấu sự ra đời của chiến tranh công nghiệp hóa hoàn toàn cũng như vũ khí hủy diệt hàng loạt ("ví dụ", vũ khí hóa học và sinh học), và vũ khí mới đã được phát triển nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu thời chiến. Trên hết, nó hứa hẹn với các chỉ huy quân sự về sự độc lập khỏi con ngựa và sự hồi sinh trong chiến tranh cơ động thông qua việc sử dụng rộng rãi các phương tiện cơ giới. Những thay đổi mà các công nghệ quân sự này đã trải qua trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai chỉ mang tính tiến hóa, nhưng nó đã định hình sự phát triển của vũ khí trong phần còn lại của thế kỷ.
Các cuộc chiến ở giữa hai Thế chiến.
Giai đoạn đổi mới trong thiết kế vũ khí này tiếp tục diễn ra trong giai đoạn giữa các cuộc chiến tranh (giữa Thế chiến I và Thế chiến II) với sự phát triển liên tục của các hệ thống vũ khí của tất cả các cường quốc công nghiệp lớn. Các công ty vũ khí chính là Schneider-Creusot (có trụ sở tại Pháp), Škoda Works (Tiệp Khắc), và Vickers (Anh). Những năm 1920 cam kết giải trừ quân bị và cấm chiến tranh và khí độc, nhưng việc tái vũ trang đã tăng lên nhanh chóng trong những năm 1930. Các nhà sản xuất vũ khí phản ứng nhanh nhạy với bối cảnh chiến lược và kinh tế đang thay đổi nhanh chóng. Các khách hàng mua vũ khí chính của ba công ty lớn là Romania, Nam Tư, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ - và ở mức độ thấp hơn là ở Ba Lan, Phần Lan, các nước Baltic và Liên Xô,
Hình sự hóa việc dùng khí độc.
Các nhà phê bình hiện thực hiểu rằng chiến tranh không thể thực sự bị đặt ngoài vòng pháp luật, nhưng những hành vi thái quá tồi tệ nhất của nó có thể bị cấm. Khí độc đã trở thành trọng tâm của cuộc thập tự chinh trên toàn thế giới vào những năm 1920. Khí độc không giúp chiến thắng trận đánh, và các tướng sĩ không muốn dùng nó. Những người lính ghét nó dữ dội hơn nhiều so với đạn hay đạn nổ. Đến năm 1918, đạn pháo hóa học chiếm 35% nguồn cung cấp đạn dược của Pháp, 25% của Anh và 20% trong kho dự trữ của Mỹ. “Nghị định thư về cấm sử dụng trong chiến tranh về chất gây ngạt, khí độc hoặc khí khác và các phương pháp gây chiến bằng vi khuẩn” [“Nghị định thư Geneva”] được ban hành vào năm 1925 và đã được tất cả các nước lớn chấp nhận là chính sách. Năm 1937, khí độc được sản xuất với số lượng lớn, nhưng không được sử dụng ngoại trừ chống lại các quốc gia thiếu vũ khí hiện đại hoặc mặt nạ phòng độc.
Thế chiến thứ hai.
Nhiều vũ khí quân sự hiện đại, đặc biệt là vũ khí trên bộ, là những cải tiến tương đối nhỏ của các hệ thống vũ khí được phát triển trong Thế chiến II. "Xem công nghệ quân sự trong Thế chiến II để biết thêm chi tiết." Tuy nhiên, Thế chiến II có lẽ đã đánh dấu thời kỳ phát triển vũ khí điên cuồng nhất trong lịch sử nhân loại. Một số lượng lớn các thiết kế và khái niệm mới đã được đưa vào thực địa, và tất cả các công nghệ hiện có đã được cải tiến từ năm 1939 đến năm 1945. Vũ khí mạnh nhất được phát minh trong thời kỳ này là bom nguyên tử, tuy nhiên nhiều loại vũ khí khác có ảnh hưởng đến thế giới, chẳng hạn như máy bay phản lực và radar, nhưng bị lu mờ bởi tầm nhìn của vũ khí hạt nhân và tên lửa tầm xa.
Vũ khí hạt nhân.
Kể từ khi hiện thực hóa vũ khí hủy diệt cả hai bên (MAD), lựa chọn hạt nhân của chiến tranh tổng lực không còn được coi là một kịch bản có thể sống sót. Trong Chiến tranh Lạnh những năm sau Thế chiến II, cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều tham gia vào một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Mỗi quốc gia và các đồng minh của họ liên tục cố gắng vượt qua nhau trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân. Một khi khả năng công nghệ chung đạt đến mức có thể đảm bảo sự hủy diệt của Trái Đất x100 lần, thì một chiến thuật mới phải được phát triển. Với nhận thức này, kinh phí phát triển vũ khí chuyển trở lại chủ yếu tài trợ cho việc phát triển các công nghệ vũ khí thông thường để hỗ trợ các cuộc chiến tranh hạn chế hơn là chiến tranh tổng lực.
Sản xuất vũ khí.
Ngành công nghiệp vũ khí là một ngành công nghiệp toàn cầu liên quan đến việc mua bán và sản xuất vũ khí. Nó bao gồm một ngành công nghiệp thương mại liên quan đến nghiên cứu và phát triển, kỹ thuật, sản xuất và phục vụ vật liệu, thiết bị và cơ sở vật chất quân sự. Nhiều nước công nghiệp phát triển có ngành công nghiệp vũ khí trong nước để cung cấp cho các lực lượng quân sự của họ - và một số nước cũng có hoạt động buôn bán vũ khí đáng kể để công dân sử dụng cho mục đích tự vệ, săn bắn hoặc thể thao.
Các hợp đồng cung cấp quân đội của một quốc gia nhất định được các chính phủ ký kết, khiến các hợp đồng vũ khí có tầm quan trọng chính trị đáng kể. Mối liên hệ giữa chính trị và buôn bán vũ khí có thể dẫn đến sự phát triển một " khu phức hợp quân sự-công nghiệp ", nơi các lực lượng vũ trang, thương mại và chính trị trở nên liên kết chặt chẽ.
Theo Viện nghiên cứu SIPRI, khối lượng chuyển giao quốc tế các loại vũ khí chính trong năm 2010–14 cao hơn 16% so với năm 2005–2009 , và doanh số bán vũ khí của 100 công ty sản xuất vũ khí tư nhân và dịch vụ quân sự lớn nhất thế giới đạt tổng cộng 420 tỷ USD trong năm 2018.
Việc sản xuất, sở hữu, buôn bán và sử dụng nhiều loại vũ khí được kiểm soát chặt. Việc này có thể được luật hóa ở cấp chính quyền địa phương hoặc trung ương, hoặc hiệp ước quốc tế. Ví dụ về các biện pháp kiểm soát như vậy bao gồm:
Luật sử dụng súng.
Tất cả các quốc gia đều có luật và chính sách điều chỉnh các khía cạnh như chế tạo, mua bán, chuyển giao, sở hữu, sửa đổi và sử dụng vũ khí nhỏ của dân thường.
Các quốc gia quy định quyền tiếp cận súng cầm tay thường sẽ hạn chế quyền truy cập vào một số loại vũ khí nhất định và sau đó hạn chế các hạng người có thể được cấp giấy phép tiếp cận các loại súng đó. Có thể có các giấy phép riêng biệt dành cho săn bắn, bắn súng thể thao (hay còn gọi là bắn mục tiêu), tự vệ, thu thập và cất giấu, với các bộ yêu cầu, quyền và trách nhiệm khác nhau.
Luật kiểm soát vũ khí.
Các hiệp ước và thỏa thuận quốc tế đặt ra những hạn chế đối với việc phát triển, sản xuất, tích trữ, phổ biến và sử dụng vũ khí từ vũ khí nhỏ, vũ khí hạng nặng đến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Việc kiểm soát vũ khí thường được thực hiện thông qua việc sử dụng ngoại giao tìm cách áp đặt các giới hạn đó khi các bên tham gia đồng ý, mặc dù nó cũng có thể bao gồm nỗ lực của một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia nhằm thực thi các giới hạn đối với một quốc gia không đồng ý.
Luật buôn bán vũ khí.
Vận chuyển vũ khí là buôn bán vũ khí và đạn dược lậu. Điều gì cấu thành việc buôn bán vũ khí hợp pháp rất khác nhau, tùy thuộc vào luật pháp địa phương và quốc gia.
|
Alexandre Gustave Eiffel (15 tháng 12 năm 1832 – 27 tháng 12 năm 1923; ], ) là một kỹ sư kết cấu, nhà thầu, một nhà chuyên môn về các kết cấu kim loại người Pháp và là một nhà khí tượng học. Ông nổi tiếng vì đã thiết kế Tháp Eiffel, xây dựng năm 1887–1889 cho Triển lãm Thế giới năm 1889 tại Paris, Pháp, và cốt cho Tượng thần Tự do, ở Cảng New York, Hoa Kỳ
Alexandre Gustave Eiffel sinh tại Dijon, Côte-d'Or, Pháp. Cái tên "Eiffel" được cha ông lấy từ đầu thế kỷ 19 theo nơi sinh của ông tại vùng Eifel Đức (ở Marmagen), bởi người Pháp không thể đánh vần được họ của ông, "Bönickhausen". Thời tuổi trẻ, hai luồng ảnh hưởng mạnh nhất tới Eiffel đều là những nhà hoá học thành công, hai người chú Jean-Baptiste Mollerat và Michel Perret. Cả hai đều bỏ rất nhiều thời gian chơi với Eiffel, nhồi nhét vào đầu ông mọi thứ từ các kiến thức hoá học tới khai mỏ tới tôn giáo và triết học. Ở trường học, Eiffel rất thông minh, nhưng không chăm chỉ lắm. Khi theo học trung học tại Lycée Royal, Eiffel thấy chán ngán và cảm thấy rằng các buổi học là một sự phí phạm thời gian. Mãi tới hai năm học cuối cùng Eiffel mới tìm được niềm cảm hứng của mình, không phải trong kỹ thuật, mà là trong lịch sử và văn học. Các thói quen học tập của Eiffel dần cải thiện và ông tốt nghiệp với bằng cấp cả về khoa học và nhân văn. Eiffel đăng ký theo học tại một trường cao đẳng ở Sainte Barbe College tại Paris, để chuẩn bị cho các kỳ thi đầu vào khó khăn tại École Polytechnique. École Polytechnique từng, và vẫn là, ngôi trường nổi tiếng về kỹ thuật ở Pháp. Cuối cùng, Eiffel không được nhận vào École Polytechnique, nhưng thay vào đó ông theo học tại École Centrale des Arts et Manufactures ở Paris nơi ông học hoá học, nhận được bằng cấp tương đương Thạc sĩ Khoa học năm 1855. École Centrale là một trường tư tự do hiện nổi tiếng là một trong các trường kỹ thuật hàng đầu châu Âu. Công việc kinh doanh than của mẹ ông mang lại nguồn thu nhập dư dật cho gia đình và tạo điều kiện cho Gustave có được nền giáo dục đại học. Năm 1855 cũng là năm Paris đứng ra tổ chức Hội chợ Thế giới đầu tiên. Sau khi tốt nghiệp, người chú của Eiffel đề nghị ông làm việc tại một xưởng dấm ở Dijon, Pháp. Tuy nhiên, một cuộc tranh cãi gia đình đã không chấp nhận cơ hội đó, và Eiffel nhanh chóng thành nhân viên mới tại một công ty thiết kế cầu đường sắt.
Charles Nepveu trao cho Eiffel công việc đầu tiên với tư cách một trong nhiều quản lý dự án của một cầu đường sắt nằm ở Bordeaux, Pháp. Trong quá trình xây dựng, các kỹ sư lớn tuổi ở dự án dần thôi việc, và Eiffel cuối cùng đảm nhiệm cả dự án. Neveu theo dõi công việc của Eiffel tại hiện trường và tiếp tục đặt Eiffel vào các công việc khác liên quan tới quản lý dự án các cầu và kết cấu đường sắt. Trong những dự án này, Eiffel được biết các kỹ sư khác thời ấy, và ông được ghi nhớ với công việc của mình và được mời làm việc tại các dự án khác. Nepveu có ảnh hưởng mạnh tới Eiffel giúp ông trở nên thành công hơn với những dự án trong tương lai.
"Eiffel et Cie.", công ty tư vấn và xây dựng của Eiffel, với sự hỗ trợ của kỹ sư người Bỉ Téophile Seyrig, đã tham gia vào gói thầu quốc tế xây dựng một cây cầu đường sắt dài 160m qua sông Douro, giữa Oporto và Vila Nova de Gaia, Bồ Đào Nha. Đề xuất của ông giành chiến thắng bởi nó đẹp, có cấu trúc "trong sáng", giá thành thấp nhất, và nó tích hợp việc sử dụng "phương pháp các lực", khi ấy là một kỹ thuật mới trong thiết kế cấu trúc do Maxwell phát triển năm 1864. "Ponte Maria Pia" là một vòng cung khớp đôi đỡ một đường sắt đơn qua các cột tăng cường cho toàn bộ cây cầu. Việc xây dựng được tiến hành nhanh chóng và cây cầu hoàn thành trong chưa tới hai năm (5 tháng 1 năm 1876 tới mùng 4 tháng 11 năm 1877). Nó được Vua D. Luís và Nữ hoàng D. Maria Pia khai trương, và cây cầu được đặt theo tên nữ hoàng. Cây cầu được sử dụng cho tới tận năm 1991 (114 năm), khi nó được thay thế bởi Cầu S. John, được thiết kế bởi kỹ sư Edgar Cardoso. Eiffel đã xây dựng một số cầu đường sắt thép đúc tại Massif Central, như các cầu cạn tại Rouzat và Bouble. Chúng vẫn được dùng cho các chuyến tàu địa phương và được xây dựng cuối những năm 1860.
Gustave Eiffel cũng thiết kế La Ruche tại Paris, Pháp. Công trình này, giống như Tháp Eiffel, trở thành một địa điểm thắng cảnh của thành phố. Đây là một kết cấu tròn ba tầng trông giống như một tổ ong lớn và được tạo ra như một kết cấu tạm thời sử dụng như một nhà vòm rượu tại Đại Triển lãm năm 1900. La Ruche trong tiếng Pháp có nghĩa "tổ ong". Ông cũng xây dựng cầu cạn Garabit, một cầu đường sắt gần Ruynes en Margeride tại Cantal département. Ở châu Mỹ, Eiffel thiết kế ga đường sắt trung tâm tại Santiago de Chile (1897) và Mona Island Light nằm gần Puerto Rico. Cây đèn biển được xây dựng khoảng năm 1900 bởi Hoa Kỳ nước đã chiếm được hòn đảo sau khi chấm dứt Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ. Nó ngừng hoạt động năm 1976.
Năm 1887, Eiffel tham gia vào nỗ lực của Pháp xây dựng một Kênh Panama. Công ty Kênh Panama Pháp, dưới sự lãnh đạo của Ferdinand de Lesseps, đã tìm cách xây dựng một con kênh ngang mực nước biển, nhưng cuối cùng nhận ra rằng điều này là không thể thực hiện. Một con kênh nâng, với các cống đã được lựa chọn làm thiết kế mới, và Eiffel được giao việc thiết kế và xây dựng các cống. Tuy nhiên, toàn bộ dự án kênh gặp vấn đề quản lý kém nghiêm trọng, và cuối cùng sụp đổ với thiệt hại to lớn. Danh tiếng của Eiffel bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi ông bị dính líu vào các scandal tài chính liên quan tới de Lesseps và các doanh nghiệp hỗ trợ dự án. Chính Eiffel không liên quan tới các vấn đề tài chính, và sau này phán quyết có tội với ông đã được đảo ngược. Tuy nhiên, công việc của ông không bao giờ được thực hiện, bởi nỗ lực xây dựng kênh sau này của người Mỹ sử dụng các thiết kế cống mới (xem Lịch sử Kênh Panama).
Sau khi nghỉ hưu ông nghiên cứu và phát triển những ý tưởng mới thông qua việc sử dụng thực tế Tháp Eiffel. Tháp cho phép ông thực hiện những tiến bộ trong khí động học, khí tượng học, và truyền phát radio. Ông đã xây dựng một đường hầm gió tại đáy tháp để nghiên cứu khí động học, đặt các thiết bị khí tượng ở nhiều vị trí trên tháp, và đề nghị quân đội lắp đặt thiết bị radio trên đỉnh tháp. Trong những năm tiếp theo tháp tiếp tục được sử dụng cho truyền phát radio và cuối cùng được dùng để phát sóng vô tuyến.
Eiffel mất này 27 tháng 12 năm 1923 trong ngôi nhà của ông tại Rue Rabelais ở Paris, Pháp. Ông được chôn cất tại Cimetière de Levallois-Perret.
Gustave Eiffel cũng đã từng tới nhiều nơi như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Philippines, vân vân, thiết kế các toà nhà và các cấu trúc khác trong những chuyến thăm của mình. Ông trở nên rất nổi tiếng trên thế giới về ngọn tháp chúng ta đều biết ngày nay với cái tên Tháp Eiffel (đã đề cập ở trên).
Cuộc Cách mạng Công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của Gustave Eiffel. Mọi người đi vòng quanh thế giới, các kỹ thuật và vật liệu mới xuất hiện, và các quốc gia tiến lên công nghiệp hoá. Đa số các công việc của Eiffel bị ảnh hưởng bởi một trong những điều kiện do cuộc Cách mạng Công nghiệp tạo ra.
Điều kiện ảnh hưởng mạnh nhất tới công việc của Eiffel là giao thông. Mọi người trên khắp thế giới có nhu cầu đi lại an toàn qua các con sông và cần tới những cây cầu. Việc xây dựng những cây cầu đó đã khiến Eiffel có được danh tiếng là một kỹ sư, cho phép ông theo đuổi những dự án lớn hơn và khó khăn hơn sau này. Những cây cầu ông thiết kế được xây dựng trên khắp thế giới. Những cây cầu cho phép việc đi lại và thương mại diễn ra dễ dàng và nhanh chóng hơn tại những địa điểm chúng được xây dựng. Nhiều cây cầu của Eiffel không đòi hỏi phải có thợ tay nghề cao để lắp ráp, khiến chúng trở thành một lựa chọn rất kinh tế.
Tháp Eiffel có một dấu ấn lớn tại Pháp. Tháp là điểm nhấn của Triển lãm Thế giới (1889) và thu hút hàng triệu người tới Paris. Gần hai triệu người tới thăm Tháp Eiffel chỉ riêng trong năm 1889. Tháp nhanh chóng trở thành một điểm thu hút khách du lịch và mang lại những khoản tiền lớn cho nền kinh tế Pháp. Ban đầu bị coi là một thứ gây chướng mắt (thực tế nó được thiết kế để có thể được tháo dỡ dễ dàng sau cuộc Triển lãm), tháp nhanh chóng trở thành một biểu tượng quốc gia của Pháp và mang lại cảm giác tự hào cho người dân sống tại đó. Năm 1910 Gustave Eiffel đã có một kết luận phi thường trong xác định độ kháng gió của một đĩa phẳng; Gustave đã dùng Tháp Eiffel làm nơi thí nghiệm.
Tượng thần Tự do là một món quà của Pháp cho Mỹ. Thiết kế của Eiffel cho cấu trúc bên trong tượng cho phép nó có thể được thực hiện trong thực tế. Tượng thể hiện tình hữu nghị và sự tôn trọng giữa Pháp và Mỹ. Tượng thần Tự do nhanh chóng trở thành một biểu tượng quốc gia về tự do tại Hoa Kỳ và cũng khiến những công dân nước này tự hào. Bức tượng trở thành một điểm thu hút du khách nổi tiếng và khiến nhiều người tới New York, làm phát triển mạnh nền kinh tế. Nhiều người Mỹ sống tại Pháp rất hài lòng về món quà dành cho nước mình và để đáp lễ, đã chế tạo một bức tượng đồng tỷ lệ ¼ ở phía cuối dòng Île aux Cygnes, 1.4 km phía tây nam Tháp Eiffel.
Với tất cả những cơ hội do cuộc Cách mạng Công nghiệp mang lại, nó cũng đưa tới nhiều thách thức. Bởi Eiffel có cơ hội làm việc tại nhiều dự án ở những địa điểm khác nhau, các kỹ sư khác cũng có cơ hội tương tự. Tính cạnh tranh cho các dự án rất cao và danh tiếng của kỹ sư đóng một vai trò quan trọng trong việc thắng thầu dự án. Quả thực một thách thức khác trong sự nghiệp của Eiffel là đưa ra các vật liệu xây dựng mới. Bởi các vật liệu xây dựng mới chưa từng được chứng minh trong các dự án, các kỹ sư thường phải đối mặt với nguy cơ khi sử dụng chúng. Nhiều cây cầu Eiffel đã xây dựng được làm bằng thép là vật liệu mà ông đã giúp trở thành tiên phong. Với sự phát triển của Thế giới Công nghiệp thời kỳ ấy. Một số phát triển của ông gồm: thiết kế một hệ thống nén thủy lực cho phép các công nhân đặt móng cầu sâu hơn dưới nước, tạo ra các dàn vì kèo và kết cấu khung khoẻ nhưng có trọng lượng nhẹ "kiểu thanh dầm" có khả năng chống gió mạnh, sử dụng thép rèn cho xây dựng cầu bởi độ dẻo của nó có thể chống lại gió mạnh, uốn cong các đầu cột để tạo ra các đáy ổn định hơn, và phát triển "lao" là một cách dễ dàng hơn để di chuyển các thành phần kết cấu tới vị trí. Sự khéo léo và tài năng nổi bật của Eiffel cho phép ông thiết kế và xây dựng một số cấu trúc nổi tiếng nhất thế giới.
|
Chi Keo dậu (danh pháp khoa học: Leucaena) là một chi của khoảng 24 loài cây thân gỗ và cây bụi, phân bổ từ Texas (Hoa Kỳ) tới Peru. Nó thuộc về phân họ Trinh nữ ("Mimosoideae") trong họ Đậu ("Fabaceae").
Một số loài như keo dậu ("Leucaena leucocephala") có quả (khi chưa chín) và hạt có thể ăn được, được sử dụng làm cỏ khô cho gia súc, phân xanh, củi, cây trồng bảo vệ đất. Hiện nay nó được coi như là một nguồn cung cấp than củi và năng lượng (tương đương 1 triệu thùng dầu hay khoảng 159 triệu lít hàng năm từ diện tích 120 km²) hay thuốc trừ giun ở Sumatra, Indonesia.
Tại México, "Leucaena esculenta" được gọi là "guaje", có hạt ăn được cùng với muối, nhưng ở các loài khác, chất mimosin độc hại có thể dẫn đến rụng tóc, vô sinh
Tại Việt Nam, cây keo giậu còn có tên gọi khác là bình linh (Nam Bộ), táo nhơn (Trung Bộ) hay bọ chét , nhưng nhiều ở nam Trung Bộ, như ở Khánh Hòa. Keo giậu sinh trưởng tốt trên đất thoát nước, ít chua, có thể thích ứng với đất mặn vừa ven biển. Keo giậu chịu khô hạn rất tốt nhưng không chịu úng đặc biệt là khi còn non.
Bột keo dậu là thức ăn bổ sung caroten, vitamin, khoáng chất cho gia cầm và gia súc non. Lượng protein trong lá keo giậu khá cao (270 - 280 g/kg), tỷ lệ xơ thấp (155 g/kg) và hàm lượng caroten khá cao (200 mg). Keo giậu có chứa độc tố mimosin nên chỉ sử dụng dưới 25% trong khẩu phần cho gia súc nhai lại, dưới 10% đối với lợn và dưới 5% đối với gia cầm. Tuy nhiên ở nhiều vùng thì nó lại bị coi là loại thực vật xâm hại.
|
Keo dậu còn gọi là cây Bình linh (danh pháp hai phần: Leucaena leucocephala), là một loài cây gỗ nhỏ, loài cây này tại Việt Nam thường được trồng làm hàng rào nên người ta thường gọi là keo dậu. Nó thuộc về chi Keo dậu ("Leucaena") trong Phân họ Trinh nữ (Mimosoideae), họ Đậu (Fabaceae), bộ Đậu (Fabales) và sinh trưởng ở vùng nhiệt đới. Tán rộng, vỏ cây màu xám. Lá thuộc dạng lá kép lông chim 2 lần chẵn, trên cuống lá cấp 1 có các tuyến hình chậu (một đặc điểm điển hình thuộc phân họ trinh nữ). Hoa tự đầu trạng, tràng hoa màu trắng. Quả tạo thành chùm. Hạt khi xanh có thể ăn được và thường dùng làm thuốc trục giun, khi quả chín, hạt chuyển màu nâu
Tên keo dậu (còn gọi là keo giậu), hoặc táo nhơn, bọ chét, keo giun. Bông nở ra màu trắng, nó là một loại cây quen thuộc tại Việt Nam. Quả khi còn non có màu xanh nhạt, quả khi chín có màu nâu đen. Bên trong là hạt.
Hiện nay nó được coi như là một nguồn cung cấp than củi và năng lượng (tương đương 1 triệu thùng dầu hàng năm từ diện tích 120 km²) hay thuốc trừ giun ở Sumatra, Indonesia. Trong tiếng Indonesia nó được gọi là "petai cina" và trong tiếng Java là "lamtoro" hay "lamotorogung". Nó được coi là một cỗ máy sản xuất sinh khối, do sản lượng lá của nó tương đương với khối lượng khô khoảng 2-20 tấn/ha trong một năm và củi khoảng 30–40 m³/ha trong một năm, với sản lượng có thể gấp đôi trong những khu vực có khí hậu thích hợp. Nó cũng là loài cây rất hiệu quả trong việc cố định đạm, với khối lượng lớn hơn 500 kg/ha mỗi năm.
Quả và lá keo dậu có thể dùng làm thức ăn phụ cho gia súc. Do khả năng sinh thái có thể tái sinh hạt rất tốt nên người ta thường sử dụng keo dậu làm 1 loài cây tiên phong phục hồi rừng. Hạt keo dậu sẽ được gieo vãi trên đất mất tính chất đất rừng, keo dậu nảy mầm và sẽ cải tạo dần tính chất đất ở đây, tạo hoàn cảnh cho các loài cây gỗ khác có thể sinh trưởng.
Tại Việt Nam, cây keo dậu còn có tên gọi khác là bình linh (Nam Bộ), táo nhơn (Trung Bộ) hay bọ chít , nhưng nhiều ở nam Trung Bộ, như ở Khánh Hòa. Keo dậu sinh trưởng tốt trên đất thoát nước, ít chua, có thể thích ứng với đất mặn vừa ven biển. Keo dậu chịu khô hạn rất tốt nhưng không chịu úng đặc biệt là khi còn non.
Bột keo dậu là thức ăn bổ sung caroten, vitamin, khoáng chất cho gia cầm và gia súc non. Lượng protein trong lá keo dậu khá cao (270 - 280 g/kg), tỷ lệ xơ thấp (155 g/kg) và hàm lượng caroten khá cao (200 mg). Keo dậu có chứa độc tố mimosin nên chỉ sử dụng dưới 25% trong khẩu phần cho gia súc nhai lại, dưới 10% đối với lợn và dưới 5% đối với gia cầm. Tuy nhiên ở nhiều vùng thì nó lại bị coi là loại thực vật xâm hại.
|
Đấu tranh bất bạo động
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đấu tranh bất bạo động hay phản kháng phi bạo lực là một hình thức đấu tranh không dùng vũ khí mà sử dụng việc tập hợp số đông quần chúng làm sức mạnh để gây áp lực và hóa giải một thế lực đối kháng với họ.
Mahatma Gandhi được coi như là người đầu tiên áp dụng thể đấu tranh này để giải phóng dân tộc Ấn Độ ra khỏi sự đô hộ của Anh mà dân Ấn không phải hy sinh một giọt máu nào cho sự độc lập của quốc gia họ. Đấu tranh bất bạo động cũng được biết đến từ cuộc nổi dậy của sắc dân da đen ở Mỹ, lãnh đạo bởi Tiến sĩ Martin Luther King., và cũng đã được nhiều dân tộc trên thế giới áp dụng như tại các nước Đông Âu như những cuộc biểu tình vào ngày thứ hai tại Leipzig
Từ năm 1966 đến năm 1999, các cuộc đấu tranh bất bạo động của công dân đóng vai trò quan trọng trong 50 trong số 67 lần chuyển tiếp từ chế độ độc tài. Cuộc đấu tranh bất bạo động hiện nay bao gồm hoạt động biểu tình phản chiến hoặc phản đối thực trạng bất công của xã hội như Phong trào Chúng tôi thuộc về 99% (We are the 99%) nhằm phản đối bất bình đẳng thu nhập tại Hoa Kỳ. Nhiều phong trào thúc đẩy các triết lý về bất bạo động hoặc hòa bình đã áp dụng một cách thực tế các phương pháp hành động bất bạo động như một cách hiệu quả để đạt được các mục tiêu xã hội hoặc chính trị.
Tuy nhiên, các phong trào “phản kháng phi bạo lực” như biểu tình đông người vẫn có thể chuyển sang sử dụng các biện pháp bạo lực (bạo động, đốt phá, tấn công vũ trang) quyết liệt, nhất là khi các tổ chức tình báo nước ngoài đứng sau phong trào đó. Các nhà tổ chức các cuộc “Đấu tranh bất bạo động” ở Gruzia, “cách mạng cam” ở Ucraina và Mùa xuân Ả Rập ở các nước Bắc Phi và Trung Đô, các tổ chức phi chính phủ, các "quỹ tài trợ dân chủ", thậm chí cả các lực lượng đặc nhiệm từ bên ngoài có chức năng huấn luyện chiến thuật quân sự cho các lực lượng đối lập. Ban đầu là "Đấu tranh bất bạo động", nhưng nếu không đạt mục tiêu đề ra thì các lực lượng đối lập sẵn sàng chuyển sang sử dụng bạo động, đốt phá, gây chiến tranh để lật đổ chính phủ. Trên thực tế, nhiều cuộc chính biến ở Đông Âu, Trung Đông đã chuyển từ "phi bạo lực" ban đầu sang chiến tranh quy mô lớn (nội chiến Syria, nội chiến Ucraina, nội chiến L)
Đấu tranh bất bạo động có thể và đã được dùng để:
* Bất tuân dân sự: Tức là người tham gia đấu tranh có thể từ chối thực hiện những việc mà họ vẫn thường làm, hoặc được trông đợi sẽ làm.
* Hành động cố ý thực hiện: Tức là người tham gia đấu tranh có thể thực hiện những việc mà họ thường không làm, hoặc không được trông đợi sẽ làm, hoặc bị cấm thực hiện.
* Thuyết phục và thương lượng: để bắt đối phương chấp nhận các điều kiện của mình. Điều này chỉ thực hiện ở giai đoạn cuối cùng, khi phe đối lập đã bị dồn vào thế phải nhượng bộ.
* Thượng tôn pháp luật: Tức là không được xâm phạm lợi ích chung của xã hội và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác trong xã hội. Hoạt động đấu tranh bất bạo động được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ nhưng những người tham gia đấu tranh cũng phải tuân thủ pháp luật.
* Tôn trọng và thương yêu đối phương: Tức là tránh tư tưởng bạo lực bên ngoài (cơ thể) mà còn tránh bạo lực bên trong (tinh thần) nữa, không những không tiêu diệt đối phương mà còn không căm ghét đối phương nữa.
Tuy nhiên, do thành phần tham gia phức tạp nên các nguyên tắc này nhiều khi không được tuân theo đầy đủ. Ví dụ như các cuộc biểu tình đòi quyền bình đẳng cho người da đen ở Mỹ năm 2020, ban đầu là bất bạo động, nhưng về sau thì nhiều nhóm quá khích đã chuyển sang dùng bạo lực, cướp phá đường phố và hành hung người khác.
Những phương thức hành động.
Có ba phương pháp chính là:
Tiến sĩ Gene Sharp, một nhà nghiên cứu của học viện Albert Einstein, đã tổng hợp kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động hữu hiệu của nhiều nước trên thế giới đã đưa ra bảng liệt kê gần 200 phương cách đấu tranh trong cuốn sách "Từ độc tài đến dân chủ" của ông . Trên tổng thể, các phương cách này dựa vào 4 phương thức lớn sau:
1. Phương thức phản đối và thuyết phục bất bạo động, phương thức bất tuân dân sự.2. Phương thức bất hợp tác kinh tế: như tẩy chay kinh tế và đình công (tuy nhiên, hoạt động này phải theo tinh thần thượng tôn pháp luật)3. Phương thức bất hợp tác chính trị4. Phương thức can dự bất bạo động.
Có một điều cần chú ý là khi tiến hành các phương pháp này cần tuân thủ các nguyên tắc của hoạt động đấu tranh bất bạo động để giữ tính chính danh.
Các câu nói nổi tiếng.
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (1910 – 1996), Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1980-1981), Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976).
Hoạt động giả danh đấu tranh bất bạo động.
Hoạt động đấu tranh bất bạo động có ý nghĩa tốt, nhưng nhiều lúc đã bị lợi dụng để phục vụ các mục tiêu chính trị ngầm phía sau nhằm gây bất ổn chính trị, tiến tới lật đổ chính phủ hoặc mở đường cho ngoại quốc xâm lược một quốc gia. Việc lợi dụng khác với đấu tranh chống bạo động chân chính ở điểm là: hoạt động lợi dụng danh nghĩa đấu tranh bất bạo động không có người tổ chức, không có lãnh tụ uy tín (hoặc người tổ chức ngầm đứng phía sau thao túng, không lộ diện). Nếu so sánh với hoạt động đấu tranh bất bạo động của Mahatma Gandhi thì sẽ thấy rõ ràng là những sự kiện tại Ấn Độ đều có sự lãnh đạo, hướng dẫn của lãnh tụ đòi độc lập dân tộc của Ấn Độ là Mahatma Gandhi, ông đã phải tổ chức những phong trào đấu tranh có tổ chức rộng khắp trên Ấn Độ chứ không chỉ ở một địa điểm nào đó để đánh bóng tên tuổi. Đấu tranh bất bạo động chân chính sử dụng nguồn tin được kiểm chứng, được mọi người công nhận tính đúng đắn để đấu tranh; còn hoạt động giả danh đấu tranh bất bạo động thường sử dụng thông tin bị bóp méo, vu khống, bịa đặt để kích động đám đông mù quáng tin theo
Các cuộc cách mạng bất bạo động đầu thập niên 2010 bao gồm Mùa xuân Ả Rập là tiêu biểu của việc giả danh đấu tranh bất bạo động. Ban đầu là một loạt các hành vi bất tuân dân sự, biểu tình ngồi, và cuộc tổng đình công được tổ chức bởi các phong trào đối lập. Tuy nhiên, sau giai đoạn "bất bạo động" ban đầu, lực lượng đối lập sẽ thực hiện bạo loạn loạt đổ hoặc chiến tranh quân sự quyết liệt nếu thấy cần thiết, đẩy đất nước vào nội chiến hoặc bị quân đội nước ngoài tấn công, điển hình là ở Syria, Libya, Y
|
Dương Quý phi (chữ Hán: 楊貴妃, 719 – 756), còn gọi là Dương Ngọc Hoàn (楊玉環) hay Dương Thái Chân (楊太真), là một phi tần rất được sủng ái của Đường Huyền Tông Lý Long Cơ. Trong văn hóa Trung Hoa, bà được xếp vào một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc, có sắc đẹp được ví là Tu hoa (羞花), khiến hoa thu mình lại vì hổ thẹn.
Câu chuyện về tình duyên giữa Dương Quý phi và Đường Huyền Tông thường được nhắc đến với khung cảnh tráng lệ, xa hoa tột đỉnh của giai đoạn nhà Đường đang thịnh thế. Sự yêu chiều một cách thái quá của Đường Huyền Tông đối với Dương Quý phi là nguyên nhân khiến người đời cho rằng sự suy vong của nhà Đường đều do Dương Quý phi mà ra. Sắc đẹp của Dương Quý phi được ghi nhận là đầy đặn, thường được so sánh một cách đối lập với Triệu Phi Yến nhà Hán, với câu [Hoàn phì Yến sấu; 環肥燕瘦]. Triệu Phi Yến được biết đến nhẹ như chim yến, có thể đứng trên lòng bàn tay người, còn Dương Quý phi lại nổi tiếng vì sự đẫy đà, tròn trịa có phần mập mạp, sắc da mịn màng, diễm lệ.
Trong văn học Trung Hoa, bà là một mỹ nhân nổi tiếng. Bài thơ "Thanh bình điệu" của Lý Bạch đã khiến hình ảnh nhan sắc của bà được lưu truyền một cách bất tử, với câu thơ được lan truyền đến tận ngày nay: 「"Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung"」. Bên cạnh đó, tác phẩm trường văn "Trường hận ca" của đại thi nhân Bạch Cư Dị, cùng "Thái Chân ngoại truyện" của Nhạc Sử cũng góp phần khiến hình ảnh Dương Quý phi lan rộng hơn bao giờ hết. Đối với các nước ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa như Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản, hình tượng về Dương Quý phi cũng được biết đến rộng rãi, đặc biệt nhất chính là Nhật Bản, khi hình ảnh của bà là một đề tài phổ biến trong nghệ thuật hội họa thời kỳ Edo.
Có một sự thật rằng, tên thật của Dương Quý phi không được ghi lại. Các sách chính sử Tân Đường thư lẫn Cựu Đường thư đều không nói rõ tên thật của bà, mà chỉ ghi tên hiệu là Thái Chân (太真). Căn cứ theo sách "Minh Hoàng tạp lục" (明皇杂录) của Trịnh Xử Hối (鄭處誨) thì cho biết Quý phi có tiểu tự là Ngọc Hoàn (玉環), trong khi Trịnh Ngu (郑嵎) trong bài thơ "Tân Dương môn thi" (津阳门诗) lại nói bà có tiểu tự là Ngọc Nô (玉奴).
Có thể thấy rõ, những ký lục gần sát đương đại mà Dương Quý phi sinh sống cũng không rõ tên thật của bà là gì, ["Tiểu tự"; 小字] tức là một dạng biểu tự, tên gọi khi còn trẻ hoặc không chính thức, khác với ["Danh"; 名] là tên chính thức, như Tào Tháo có tên chính là Tháo, mà tiểu tự là "A Man". Về sau trong văn hóa đương đại, đa phần các tác phẩm đều gọi Dương Quý phi là 「Dương Ngọc Hoàn; 楊玉環」, tự hiển nhiên "Dương Ngọc Hoàn" trở thành tên thật của Dương Quý phi. Tuy vậy, các thi nhân cùng một số cổ thi vẫn duy trì cách gọi 「Dương Thái Chân; 楊太真」 hơn là "Dương Ngọc Hoàn", văn hóa Trung Quốc đại lục thời hiện đại mới dần phổ biến cách gọi "Dương Ngọc Hoàn" này.
Theo Cựu Đường thư cùng Tân Đường thư, Dương Ngọc Hoàn là con gái của một vị quan Tư hộ đất Thục Châu (蜀州; nay là Sùng Châu) tên là Dương Huyền Diễm (楊玄琰). Gia đình này nguyên gốc ở một quận Hoa Âm (nay là thành phố Hoa Âm của tỉnh Thiểm Tây), xuất thân từ gia tộc Hoằng Nông Dương thị (弘農楊氏) tại huyện Vĩnh Nhạc (永樂) thuộc Bồ Châu (蒲州; nay là Vĩnh Tế, Vận Thành), đây là một "Sĩ tộc" (士族) lâu đời được cho là hậu duệ của Thúc Hướng (叔向). Tổ tiên là Dương Uông (楊汪) - một quan viên nhà Tùy, từng bị Đường Thái Tông Lý Thế Dân xử tử. Cao tổ phụ Dương Lệnh Bổn (杨令本) từng làm Thứ sử của Kim Châu. Có thể thấy rõ Dương Ngọc Hoàn là dòng dõi Sĩ tộc, lại xuất thân trong gia đình quan lại, từ nhỏ Dương Ngọc Hoàn được học hát và múa. Đến khoảng năm 10 tuổi, cha mẹ mất, Dương Ngọc Hoàn mới đến Lạc Dương, sống với nhà chú, tức Dương Huyền Diễn (楊玄璬), khi ấy đang làm chức Sĩ tào Tham quân của Hà Nam phủ.
Dương Quý phi sinh khoảng năm Khai Nguyên thứ 7 (719), được cho là nguyên quán tại đất Thục (nay là Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên). Thật ra sử chính không hề ghi năm sinh của Dương phi, cũng như không hề ghi lại nơi sinh, vì khi bà qua đời sách Đường thư đều ghi khi 38 tuổi (tuổi mụ), nên mới suy ra là thời gian này. Còn về quê quán Hoa Âm, đấy là vì thủy tổ Dương Uông là người Hoa Âm nên người đời thường cho nguyên quán của cả nhà Dương phi là Hoa Âm, nhưng bởi vì Tằng tổ phụ Dương Thượng Hi (杨尚希) của Dương Uông vốn là người huyện Linh Bảo (nay là thành phố Linh Bảo, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), quê quán của tổ tiên đối với hậu duệ vẫn rất không cố định, do vậy nói quê quán Dương Quý phi ở Hoa Âm có thiên về mức võ đoán. Theo tiểu thuyết "Dương Thái Chân ngoại truyện" (楊太真外傳), Dương Ngọc Hoàn sinh ngày 1 tháng 6, tức 26 tháng 6 dương lịch, sinh ở huyện Đạo Giang thuộc đất Thục, tương đương với huyện Vĩnh Nhạc thuộc Bồ Châu. Đây cùng với hai sách Đường thư đều chép qua, và cũng là nguyên nhân nhiều người cho rằng Dương Quý phi cũng sinh ra và lớn lên ở đất Thục. Lại có cách nói Dương Quý phi người huyện Văn Hương (閿鄉) thuộc Quắc Châu (虢州; nay thuộc Bảo Định), đây là bởi vì Tổ phụ Dương Chí Khiêm (杨志谦; lại tên "Hữu Lượng" 友諒), Cao tổ phụ Dương Lệnh Bổn đều là người huyện Văn Hương.
Thời Gia Khánh, soạn ra "Toàn Đường văn", ghi nhận "Dung châu Tăng Ninh huyện Dương phi bia ký" (容州曾宁县杨妃碑记) có xưng gọi Dương Ngọc Hoàn là người Dương Vệ, Dung Châu, tức nay thuộc huyện Dung, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Tuy nhiên, có nhận định đây chỉ là một dạng hư cấu của người đời sau thêm thắt.
Nhập cung làm Đạo cô.
Đời nhà Đường, Đường Huyền Tông Lý Long Cơ là một trong những vị Hoàng đế trị vì lâu hơn cả. Các phi tần được Huyền Tông sủng ái sinh cả thảy 59 người con, trong số đó có 30 trai và 29 gái. Phi tần được ông sủng ái nhất là Võ Huệ phi, một người cháu của Võ Tắc Thiên, khi đó lễ nghi trong cung của bà không khác gì Hoàng hậu, nhưng bà vẫn không được phong Hoàng hậu vì lẽ bà là người trong tộc họ Võ. Để an ủi bà, Huyền Tông đối với Huệ phi vượt hẳn hơn nhiều các phi tần khác. Với Đường Huyền Tông, Võ Huệ phi sinh được bảy con, trong đó Thọ vương Lý Mạo (李瑁) là người con trai duy nhất sống sót qua tuổi trưởng thành.
Năm Khai Nguyên thứ 21 (733), khi 14 tuổi, Dương Ngọc Hoàn lấy thân phận "Trưởng nữ của Hà Nam phủ Sĩ tào Tham quân Dương Huyền Diễn" mà được chọn làm Vương phi của Thọ vương Mạo, Dương Ngọc Hoàn do vậy trở thành Thọ vương phi (壽王妃). Năm thứ 25 (737), Võ Huệ phi đột ngột qua đời. Sau khi Huệ phi mất, Đường Huyền Tông thường hay buồn rầu, ngày nhớ đêm thương, lập Tập Linh đài để cầu siêu cúng vái cho vong hồn Huệ phi được sớm siêu thoát về cõi tiên. Cũng trong thời gian này ông gặp Dương phi.
Về việc gặp gỡ giữa Huyền Tông và Dương phi, rất ít tư liệu ghi lại. Sách Cựu Đường thư không nói Dương Ngọc Hoàn vốn là Thọ vương phi của Lý Mạo, mà chỉ ghi:「"Lại có lời tấu rằng con gái Huyền Diễm, tư sắc quan đại, nghĩ nên triệu kiến vào cung. Khi ấy Phi mặc y phục Đạo sĩ, hiệu là Thái Chân"」. Vào thời ấy, Dương phi là con dâu của Đường Huyền Tông, nếu Huyền Tông nạp Dương thị làm cung phi, tức là loạn luân, rất có thể Cựu Đường thư cố ý bỏ qua thông tin "Thọ vương phi", chỉ ghi như thể Huyền Tông nạp cung nhân bình thường. Trong sách Tân Đường thư, thông tin Dương Ngọc Hoàn là Thọ vương phi được ghi rõ, còn ghi có người tấu nói Dương Ngọc Hoàn vốn "Tư chất thiên đĩnh, đáng được sung nhập Dịch đình". Liền đó vào năm thứ 28 (740), tháng 10, lấy danh nghĩa cầu phúc cho Đậu Thái hậu, Huyền Tông yêu cầu Thọ vương phi Dương thị nhập cung với thân phận Đạo sĩ, hiệu Thái Chân.
Câu chuyện về Dương phi từ con dâu mà được Huyền Tông nhìn trúng, dĩ nhiên cũng có đủ phương thức lưu truyền. Trong đó có truyền thuyết lại nói: Một hôm, Cao Lực Sĩ đi qua phủ Thọ vương thấy Dương phi là giai nhân tuyệt sắc, tinh thông ca vũ bèn nghĩ rằng có lẽ mỹ nhân này thay được Võ Huệ phi. Nhân buổi hầu, Cao Lực Sĩ mật tấu với Huyền Tông, truyền đưa Dương Ngọc Hoàn vào Tập Linh đài để trông coi đèn nhang sớm hôm cầu nguyện cho Võ Huệ phi. Do đó, Thọ vương phi Dương thị phải vào Hoa Thanh cung, đến Tập Linh đài làm Nữ Đạo sĩ. Dương Ngọc Hoàn vốn có nhan sắc trời cho, lại tinh thông cầm kỳ thi họa, có thể vừa múa vừa hát, người đương thời từng gặp đều so sánh như tiên nữ xuống trần. Đường Huyền Tông trông thấy Dương phi, lập tức si mê ngay. Ông muốn nàng ta vào cung nhưng lại vướng ngại chuyện là con dâu. Cao Lực Sĩ bèn ngày đêm nghĩ ra cách đưa Vi thị làm Thọ vương phi thay thế, do đó Huyền Tông mới nạp Dương Ngọc Hoàn vào cung.
Đắc sủng phong Quý phi.
Năm Thiên Bảo thứ 4 (745), tháng 7, Thọ vương Lý Mạo lấy con gái của Vi Chiêu Huấn (韋昭訓) làm kế phi. Không rõ thời gian mà Đường Huyền Tông ra chỉ cho Dương Thái Chân hoàn tục. Chỉ biết vào tháng 8, một tháng sau khi Lý Mạo lấy Vi thị, Hoàng đế ra ý chỉ phong Dương Ngọc Hoàn làm Quý phi, do vậy Dương Ngọc Hoàn trở thành [Thứ mẫu] của Lý Mạo.
Trong cung, Dương Quý phi được gọi là「Nương tử; 娘子」, theo lệ cũ của Võ Huệ phi mà được cung phụng đồ vật dụng không khác gì Hoàng hậu. Dương Quý phi rất khéo chiều chuộng vua, nên càng được vua yêu vì. Nàng lại tinh xảo về môn múa hát, thông cả các điệu nhạc, khôn ngoan hơn người. Nàng chỉ liếc mắt nhướng mày, là vua Huyền Tông mê tít. Vua giận hờn ai, nàng mỉm cười khóe mép là vua nguôi giận liền. Ngày đêm vua cứ ôm ghì lấy nàng, bỏ bê cả việc Triều đình, việc dân, việc nước. Dần dần nàng chiếm trọn cả trái tim và trí óc của Hoàng đế. Nàng muốn gì, vua cũng chiều. Nàng bảo gì vua cũng nghe. Nàng xin gì, vua cũng cho. Nàng sắp đặt việc triều chính thế nào, vua cũng chịu.
Dương Quý phi hiển quý, nên gia đình bà cũng được gia ân. Đường Huyền Tông truy phong cha của Quý phi là Huyền Diễm làm Thái úy, tước "Tề Quốc công" (齊國公), mẹ được phong "Lương Quốc phu nhân" (凉國夫人), một người chú khác của Quý phi là Dương Huyền Khuê trở thành Quang lộc khanh, anh họ Dương Tiêm (楊銛) thụ phong Hồng lư khanh. Đường Huyền Tông còn cho lập từ đường họ Dương, được Huyền Tông đích thân ban chữ để soạn văn bia.
Ba người chị của Quý phi, Huyền Tông nghe tiếng cũng có tài hoa nên đều được thiện đãi phong tước, còn gọi là Di (姨) như người nhà. Người lớn là Đại di, thụ phong "Hàn Quốc phu nhân" (韓國夫人), người thứ là Tam di thụ phong "Quắc Quốc phu nhân" (虢國夫人), và người nhỏ nhất (thứ 8 trong nhà) là Bát di thụ phong "Tần Quốc phu nhân" (秦國夫人). Ba vị phu nhân ra vào trong cung, nghi trượng người ngựa đều rất khuynh trời động đất, Huyền Tông còn đặc biệt mỗi tháng ban mấy quan tiền cho cả 3 vị phu nhân, lấy đó làm tiền mua son phấn tư trang. Gia tộc họ Dương mau chóng quý hiển tột bậc. Mỗi khi 3 vị phu nhân nhập triều, em gái của Huyền Tông là Ngọc Chân công chúa (玉真公主) cùng các vị mệnh phụ khác đều không dám tranh đường đi trước. Hai con gái của Huyền Tông, là Kiến Bình công chúa (建平公主) cùng Tín Thành công chúa (信成公主) đắc tội với Dương Quý phi, liền bị thu hồi ban thưởng. Phò mã đô úy Độc Cô Minh (独孤明) cũng bị miễn quan. Một vị Phò mã khác là Trình Xương Duệ (程昌裔), chồng của Quảng Bình công chúa (廣平公主), do bất bình với nhà họ Dương mà ẩu đả với gia nô nhà họ Dương, cuối cùng Huyền Tông tuy giết gia nô họ Dương nhưng cũng bãi miễn quan chức của Phò mã.
Vào thời điểm đó, Đường Huyền Tông đã 61 tuổi, còn Dương Quý phi cũng chưa đến 30 tuổi. Hoàng đế say đắm Dương Quý phi, chiều chuộng bà hết mực, như cuộc đi tắm suối của bà tại Hoa Thanh cung (華清宮) mỗi lần tốn hàng vạn bạc của quốc khố và làm chết hàng trăm mạng người, ông cũng thẳng tay, không chút tiếc rẻ. Dương Quý phi đã đẹp lại có tài chơi đàn tỳ bà, giỏi về âm nhạc. Bên cạnh âm nhạc, Dương Quý phi còn biết múa, lại đặt được nhiều khúc hát và điệu múa làm cho Huyền Tông càng thích thú say sưa hơn, nổi tiếng nhất chính là điệu múa 「Nghê thường vũ y khúc; 霓裳羽衣曲」 tương truyền do Đường Huyền Tông chế tác và Dương Quý phi đích thân múa, đây là một bản ca vũ huyền thoại được lưu truyền mãi về sau. Mỗi khi Huyền Tông đi ra ngoài, Quý phi không khi nào không tùy giá, xe ngựa đều do Cao Lực Sĩ đích thân cầm dây cương. Trong cung viện của Quý phi đều có tới 700 thợ làm dệt lụa may áo, thợ điêu khắc làm đồ đá đồ ngọc cũng hơn 100 người.
Theo Trịnh Xử Hối ghi chép trong "Minh Hoàng tạp lục", sau khi Quý phi được thụ phong không lâu, Lĩnh Nam có dâng một con chim anh vũ có thể bắt chước tiếng người, Huyền Tông và Quý phi rất ưa thích, gọi nó là "Tuyết Hoa nữ" (雪花女), kẻ hầu trong cung gọi thành "Tuyết Hoa nương" (雪花娘), cực kỳ tôn sùng và kính trọng không kém gì đối với Quý phi. Khi ấy, Đường Huyền Tông lệnh cho các thầy dạy ngôn ngữ trong cung tập cho con chim này nói tiếng người, liền khiến nó có thể ngâm nga thơ từ. Mỗi khi Huyền Tông đánh cờ cùng các Thân vương, gặp lúc bất lợi mà kẻ hầu không dám can, đều nói nhỏ con chim anh vũ này, nó sẽ bay ra quậy tung bàn cờ, giữ lại thể diện cho Huyền Tông. Về sau chim anh vũ bị diều hâu mổ chết, Huyền Tông và Quý phi làm hẳn một khu mộ cho nó, gọi là Anh Vũ trủng (鹦鹉冢). Thông qua câu chuyện về chim anh vũ nhỏ được Huyền Tông đặc biệt quý trọng, Trịnh Xử Hối cũng khẳng định được ân sủng mà Huyền Tông dành cho Dương Quý phi.
Ngoại thích họ Dương.
Khi ấy, một người anh họ cùng tổ phụ của Quý phi là Dương Chiêu được phong làm Tể tướng và được đổi tên là 「Quốc Trung; 國忠. Quốc Trung vốn không có học vấn, hay sa vào thú vui đánh bạc, nhưng do ảnh hưởng của Dương Quý phi mà bái làm Tể tướng, rồi vào triều cầm giữ triều chính. Sau thời thịnh trị Khai Nguyên, Đường Huyền Tông cao tuổi sa vào hưởng lạc, không còn nhiệt tình với chính sự, giao toàn quyền triều chính cho Dương Quốc Trung. Người đương thời đối với Dương Quốc Trung lộng quyền, ba vị phu nhân lấn át mệnh phụ công chúa trong cung cũng sinh ra oán hận đối với nhà họ Dương, cho là tà môn ngoại thích. Nhiều truyền thuyết cũng thêu dệt về Dương Quý phi tranh sủng, dung túng ngoại thích với hình ảnh không mấy hay ho.
Theo đà ân sủng không dứt của Dương Quý phi, hai con trai của Dương Quốc Trung, con thứ là Dương Xuất (杨昢) được gả con gái của Huyền Tông là Vạn Xuân công chúa (萬春公主), con cả là Dương Huyên (杨暄) được gả Diên Hòa quận chúa (延和郡主), một người em khác của Quý phi và Quốc Trung tên là Dương Giám (杨鑒) được gả Thừa Vinh quận chúa (承榮郡主). Đặc biệt là người con của Dương Huyền Khuê, tức cháu của Quý phi tên là Dương Kỹ (楊锜), được thụ phong Thị ngự sử và được gả Thái Hoa công chúa (太華公主), con gái của Huyền Tông với Võ Huệ phi. Do Võ Huệ phi khi ấy truy tặng Hoàng hậu, Thái Hoa công chúa chẳng khác Đích công chúa nên lễ nghi đều hơn các công chúa khác, Dương Kỹ được thơm lây, cùng công chúa được ban Giáp đệ ở tại trong cung. Khi đó, nhà họ Dương tổng cộng có 5 nhà đại diện, là nhà của 3 chị em họ Dương, nhà của Quốc Trung cùng nhà của Dương Kỹ ("lại nói là nhà Dương Tiêm"), được xưng gọi 「Ngũ gia; 五家」 hay 「Dương gia Ngũ trạch; 楊家五宅」, quyền thế ngút trời, từ trung ương đến địa phương, quan viên các cấp đều tranh nhau mang quà cáp và thiếp mời đến dòng dõi họ Dương, tấp nập vô cùng. Tương truyền mỗi khi Huyền Tông cùng Quý phi đến Hoa Thanh cung thì xe ngựa kẻ hầu của Ngũ gia đều hộ tống, tạo nên cảnh tượng "Ngũ gia hợp đội, Ngũ thải tân phân", trên đường đi đều rơi rớt châu báu lụa là quý hiếm, kẻ nghèo hèn tranh đến khói lửa mù mịt. Đương thời họ Dương được xưng 「Dương thị nhất môn thượng Nhị công chúa, Nhị quận chúa; 楊氏一門尚二公主、二郡主」, có thể nói khí thế không nhà nào sánh bằng.
Các người con của 3 vị phu nhân tuy không được xem là "Dương gia" nhưng cũng là họ hàng có liên quan, trong đó con gái của Hàn Quốc phu nhân là Thôi thị được cưới làm Chính phi cho Quảng Bình vương Lý Thục - Hoàng trưởng tôn của Đường Huyền Tông, con trai của Quắc Quốc phu nhân là Bùi Huy (裴徽) được gả con gái của Lý Thục tức Diên An công chúa (延安公主), con trai của Tần Quốc phu nhân là Liễu Quân (柳鈞) được gả Trường Thanh huyện chúa (長清縣主), người chú của Liễu Quân là Liễu Đàm (柳潭) được gả con gái của Thái tử Lý Hanh tức Hòa Chính công chúa (和政公主). Về sau, Dương Tiêm và Tần Quốc phu nhân đều mất sớm, còn lại 2 vị phu nhân cùng nhà Dương Quốc Trung là thịnh sủng lâu nhất.
Trong thời gian nắm quyền, Dương Quốc Trung có mâu thuẫn gay gắt với An Lộc Sơn, đây có thể xem là mầm mống gây ra Loạn An Sử. Nguyên lai An Lộc Sơn là người Liễu Thành, tên thật là An Rokhan, người dân tộc Túc Đặc. Lộc Sơn nguyên mang họ Khang, nhưng sau đó bà mẹ cải giá với An Diên Yểm nên lấy họ An. Lộc Sơn là phiên âm tiếng Hán của chữ Lushi, theo tiếng bản tộc có nghĩa là "ánh sáng". Lộc Sơn đầu quân làm tướng nhà Đường, nhờ chiến đấu dũng cảm và tỏ ra trung thành nên nhanh chóng được thăng tiến. Từ năm Khai Nguyên thứ 28 (740) đến năm Thiên Bảo thứ 10 (751), An Lộc Sơn được thăng từ Đô đốc Doanh Châu lên Tiết độ sứ ba trấn Phạm Dương (范陽; nay là khu vực vành đai Bảo Định và Bắc Kinh), Hà Đông (河東; tương đương khu vực Sơn Tây, Trung Quốc) và Bình Lư (平盧; thuộc khu vực Triều Dương, tỉnh Liêu Ninh), nắm toàn bộ vùng Đông Bắc của Đại Đường khi đó. Tuy có trí thông minh nhưng An Lộc Sơn luôn tỏ ra vụng về ngốc nghếch khiến Đường Huyền Tông rất tin tưởng và nhận ông làm con nuôi. Dương Quý phi trở thành mẹ nuôi của Lộc Sơn, dù kém ông 16 tuổi. Mỗi khi vào cung bái kiến, An Lộc Sơn đều đến cung viện của Quý phi bái trước, sau mới đến bái Hoàng đế, Huyền Tông bèn hỏi vì sao, thì An Lộc Sơn đáp:「"Thần là người Hồ, mà người Hồ đặt mẹ ở trước cha"」, Huyền Tông cảm thấy An Lộc Sơn thật thà nên rất mừng, lệnh cho Dương Tiêm cùng các anh chị em họ Dương khác đều đối đãi với An Lộc Sơn như người nhà.
Nhiều truyền thuyết nói rằng, chính từ lúc ra vào triều kiến Đường, An Lộc Sơn và Dương Quý phi bắt đầu có quan hệ lén lút, nhưng Huyền Tông không hề nghi ngờ mà càng thêm tín nhiệm Lộc Sơn. Thân hình An Lộc Sơn to béo bụng phệ, theo sử sách ghi lại thì người nặng tới 330 cân. Hoàng đế thấy vậy hỏi, Lộc Sơn lại mau miệng đáp rằng bụng to vì mang lòng trung với Thiên tử, Đường Huyền Tông nghe thế lại càng tin Lộc Sơn.
Hai lần xuất cung.
Bản thân Quý phi ỷ sủng thành kiêu ngạo, vào năm Thiên Bảo thứ 5 (750), rồi năm thứ 9 (754), từng hai lần cãi nhau với Huyền Tông, hậm hực ra khỏi cung. Tất cả các sách trên đều không nói cụ thể vì việc gì, riêng Tư trị thông giám nói Quý phi: ["Đố hãn bất tổn"; 妒悍不逊], nhưng cũng không giải thích chân tướng. Kết cuộc là Đường Huyền Tông vì thương nhớ Quý phi, tiếp tục gọi về, qua hai lần như vậy bà càng được sủng ái hơn trước.
Cả hai lần Dương Quý phi bị đưa về nhà, trong các sách sử đều không nói rõ ràng nguyên nhân, đây dẫn đến nhiều suy đoán trong chuyện này. Ở lần thứ nhất, nhiều suy đoán liên quan đến việc Đường Huyền Tông vẫn còn sủng ái Mai phi, Dương Quý phi ghen mà thất thố, Huyền Tông thịnh nộ nên đuổi về. Tuy nhiên, Mai phi cho đến nay được xác định là nhân vật hư cấu, học giả Lỗ Tấn và Trịnh Chấn Đạc đều phủ nhận sự tồn tại của Mai phi, do vậy nguyên nhân này không xác thực. Nhưng khi ấy rất nhiều giai thoại về sự phong lưu của Huyền Tông, và hình ảnh "Mai phi" được tạo ra có lẽ là phóng tác hóa cụ thể sự đa tình này của Huyền Tông, nên cách nói Dương Quý phi "vì ghen mà lỗ mãng" vẫn thường được duy trì. Mà lần thứ hai xuất cung, là khi nhà họ Dương đang quá thịnh sủng, nhiều nhận định cho rằng Đường Huyền Tông căn bản chính là dùng chiêu "Giết gà dọa khỉ", răn đe ngoại thích, điều này cũng thể hiện cơ sở ở việc Dương Quốc Trung phải nhờ Cát Ôn khéo léo phục sủng cho Quý phi.
Ghi chép chính sử.
Ngày Giáp Tý (9) tháng 11 năm Thiên Bảo thứ 14 (tức 16 tháng 12 năm 755), lấy danh 「Tru Quốc Trung, Thanh quân trắc」, An Lộc Sơn khởi binh từ Phạm Dương để đánh thẳng vào kinh đô Trường An, chính thức phản lại nhà Đường. Binh triều đại bại. Vào mùa hạ năm Thiên Bảo thứ 15 (756), quân của An Lộc Sơn tiến về Trường An.
Trước tình thế nguy cấp, Dương Quốc Trung dâng hạ sách bắt người trấn giữ ải Đồng Quan là tướng Ca Thư Hàn phải xuất quân đánh An Lộc Sơn. Trong khi đó các tướng muốn phòng thủ phải chờ quân của Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật đánh về. Ca Thư Hàn buộc phải ra quân, kết quả đại bại, 20 vạn quân bị giết, Hàn bị Sơn bắt sống. Quân Phiên khí thế hừng hạc đã tiến vào Tràng An. Đường Huyền Tông hoảng loạn, mệnh Thái tử Lý Hanh làm "Thiên hạ Binh mã nguyên soái" (天下兵馬元帥), lại muốn lệnh cho Thái tử điều hành triều chính, ý muốn thoái vị. Dương Quốc Trung hoảng sợ, cùng người họ Dương quỳ can, Dương Quý phi trong cung cũng phối hợp quỳ khóc, xin Huyền Tông đừng nghĩ chuyện nội thiền, cho nên Huyền Tông mới dừng ý này.
Sau khi quân Phiên tiến quá sát Trường An, Đường Huyền Tông quyết định đem Dương Quý phi, nhà họ Dương cùng một số quần thần phải bỏ kinh thành chạy vào đất Thục. Tháng 6 (ÂL) năm ấy, mọi người đến Mã Ngôi Dịch (馬嵬驛; nay là Hưng Bình, Thiểm Tây), tạm dừng ở đây. Ngày Bính Thìn (tức ngày 15 tháng 7 dương lịch), Long Vũ đại tướng quân Trần Huyền Lễ không chịu đi nữa, vì lương thực đã hết, quân sĩ khổ nhọc mà Dương Quốc Trung và cả gia quyến đều no đủ sung sướng, nên họ nổi lên chống lại. Trần Huyền Lễ tâu:「"Bọn rợ Hồ phản nghịch, ý về Quốc Trung"」, sau đó cùng binh sĩ hô lớn: 「"Dương Quốc Trung cùng rợ Hồ mưu phản nghịch"」, liền lập tức truy lùng giết toàn bộ người nhà Dương Quốc Trung, bao gồm cả Hàn Quốc phu nhân cùng Quắc Quốc phu nhân. Dẫu vậy, binh sĩ vẫn hừng hực không chịu nguôi.
Lòng căm phẫn đối với họ Dương chưa tan, Trần Huyền Lễ dưới danh nghĩa tướng sĩ, đã bức Huyền Tông đem thắt cổ Dương Quý phi thì họ mới chịu phò trợ nhà Đường, Huyền Lễ đến trước Cao Lực Sĩ nói:「"Giặc vẫn còn đó"; 賊本尚在」, ám chỉ Quý phi, Lực Sĩ nghe xong liền vào tâu Huyền Tông. Nghe Quốc Trung đã chết, binh sĩ muốn giết luôn Quý phi nên Huyền Tông do dự, vào bên trong thì Cao Lực Sĩ lại khuyên: 「"Các tướng sĩ đã giết Quốc Trung, nếu để Quý phi còn hầu hạ trong cung, nhân tình sẽ không yên"」. Đường Huyền Tông không còn cách nào, đành ban một dải lụa trắng, cho Cao Lực Sĩ thắt cổ Quý phi tại bên dưới cây lê trong Phật đường. Năm ấy bà 38 tuổi.
Sau khi chết, xác của Dương Quý phi chỉ là chôn vội ven đường, sau đó binh lính hành quân tiếp. Năm Chí Đức thứ 2 (757), sau khi Quý phi mất được 2 năm, Đường Huyền Tông trở về Trường An, lúc này Thái tử Hanh đã lên ngôi và ông trở thành Thái thượng hoàng, ông lại muốn cải táng Quý phi cho tử tế hơn, Lễ bộ Thị lang Lý Quỹ (李揆) khuyên rằng: 「"Long Vũ tướng sĩ giết Quốc Trung, lấy danh nghĩa giúp nước trừ loạn. Nay cải táng Cố phi, sẽ khiến tướng sĩ lo sợ, lễ tang không thể hành"」. Do vậy, Đường Huyền Tông chỉ có mật lệnh Trung sử cải táng vào chỗ khác, không ai biết rõ là đâu. Lúc trước khi an táng Quý phi, người ta chỉ dùng vải đệm bao bọc, da thịt bây giờ đã hư, chỉ có túi thơm vẫn còn. Khi nội quan trình lên, Thượng hoàng nghe mà thống khổ thê lương, chỉ có thể họa lại tranh của Quý phi đặt trong biệt điện, ngày đêm đều ngắm, cho đến khi ông qua đời.
Hiện tại mộ của Dương Quý phi ở tỉnh Thiểm Tây, cách thành phố Tây An 60 km, trở thành điểm tham quan, du lịch, di sản văn hoá cấp tỉnh. Các du khách thường nghe theo truyền thuyết kể rằng, đất xung quanh nấm mộ của Dương Quý phi trắng đặc biệt, có tác dụng làm trắng da, nên du khách đến viếng mộ thường lấy ít đất xung quanh đem về thoa mặt. Nay để tránh phá hoại di tích, ban quản lý đã cho rào lại xung quanh khu mộ, và cấm du khách lấy đất về. Thực chất, đây chỉ là "Mộ gió", không có thi thể, để tưởng niệm mà thôi.
Tương quan truyền thuyết.
Chết ở Phật đường.
Về cái chết của Dương Quý phi, hậu nhân vẫn còn truyền lại nhiều giả thiết về nơi chết của bà. Có người nói, Dương Quý phi khả năng chết ở Phật đường. Cựu Đường thư - Dương Quý phi truyện, Tư trị thông giám - Đường kỉ, các sách sử đều chép rằng Đường Huyền Tông lệnh Cao Lực Sĩ đem Dương Quý phi vào trong đại điện Phật, siết cổ chết ở dưới cây lê.
Tiểu thuyết 《Dương Thái Chân ngoại truyền》 ghi lại:「"Đường Huyền Tông cùng Dương Quý phi quyết biệt, bà “Khất dung lễ Phật”, Cao Lực Sĩ đem thắt cổ chết dưới cây lê"」.
Chết trong loạn quân.
Dương Quý phi có thể trực tiếp bị chết trong khi phiến loạn. Vào năm Chí Đức thứ 2 (757), Đỗ Phủ ở Trường An làm bài "Ai giang đầu", có một câu "Minh mâu hạo xỉ kim hà tại, huyết ô du hồn quy bất đắc", này ám chỉ Dương Quý phi bị giết chết, vẩy máu mà thành, chứ không phải bị thắt cổ.
Lý Ích Sở (李益所) làm thất tuyệt "Quá Mã ngôi", có những câu "Thác quân hưu tẩy liên hoa huyết" hay "Thái Chân huyết nhiễm mã đề tẫn", đều ám chỉ cùng một ý rằng Dương Quý phi chết vì bị kiếm bạo quân giết hại. Ngay cả Ôn Đình Quân trong bài "Mã ngôi dịch" cũng có:"Phản hồn vô nghiệm biểu yên diệt, mai huyết không sinh bích thảo sầu", đều lấy ý Dương Quý phi chết vì đao kiếm bạo quân.
Nuốt vàng mà chết.
Một cách nói là Quý phi nuốt vàng mà chết, khá mới lạ, chỉ thấy trong bài "Mã ngôi hành" của Lưu Vũ Tích.
Lưu lạc dân gian.
Còn có người cho rằng, Dương Quý phi vẫn chưa chết ở Mã Ngôi Dịch, mà là lưu lạc vào dân gian.
Nhà thơ Du Bình Bá (俞平伯) trong "Luận thơ từ khúc tạp" (论诗词曲杂著), lấy Trường hận ca của Bạch Cư Dị và Trường hận ca truyện của Trần Hồng (陳鴻) làm khảo chứng. Ông cho rằng Trường hận ca cùng Trường hận ca truyện cơ bản bổn ý, có một hàm xúc khác. Lúc ấy sáu quân bất ngờ làm phản, Quý phi bị ép chết, trong thơ nói rõ Đường Huyền Tông "“Cứu không được”", cho nên việc ban chiếu chỉ trong chính sử ghi lại, xét vào lúc ấy tuyệt sẽ không có. Trong Trường hận ca truyện của Trần Hồng còn có ghi rõ "Sai người dắt nàng đi", chứng tỏ Quý phi đã được Huyền Tông ngầm sai người đưa đi trốn.
Trong Trường hận ca, sau khi Đường Huyền Tông hồi loan, sai người cải táng, thì nói là "Mã ngôi pha hạ nê trung thổ, bất kiến ngọc nhan không tử xử", thi cốt đều tìm không thấy, càng làm tăng thêm nghi vấn rằng Quý phi không chết ở Mã Ngôi Dịch.
Đến ngoại quốc xa xôi.
Có thuyết nói rằng, Dương Quý phi được Trần Huyền Lễ và Cao Lực Sĩ bí mật bảo hộ, lệnh một thị tì chết thay và sắp xếp cho bà lên thuyền, bỏ trốn sang sống tại Nhật Bản cho đến khi mất ở tuổi 60. Tại Nhật Bản khi ấy là Thời Nara, Dương Quý phi được Thiên hoàng Kōken trọng thể đón tiếp.
Trong văn hóa Nhật Bản, Dương Quý phi rất được tôn sùng và hiện nay vẫn còn rất nhiều vở Noh, Kabuki hay tranh họa nói về câu chuyện của bà và Đường Huyền Tông. Trong tiếng Nhật, bà được gọi là "Yokihi" (Kana: ようきひ). Có thuyết thì cho rằng, nàng đã sang Hàn Quốc (xưa gọi là Cao Ly). Các thuyết này đều được dùng trong các tác phẩm thi ca, nhằm tôn vinh câu chuyện giữa Đường Huyền Tông và Dương Quý phi, điển hình là "Trường hận ca" của Bạch Cư Dị, "Trường hận ca truyện" (長恨歌傳) của Trần Hồ
Dương Quý phi rất thích ăn vải, tiếng Trung gọi là "Lệ chi" (荔枝). Đường Huyền Tông lệnh cho người phóng ngựa từ Lĩnh Nam (có thuyết là từ Tứ Xuyên, hoặc Phúc Kiến) đem về dâng cho Quý phi ăn. Trên đường đi, cứ mỗi 5 dặm, 10 dặm, lại đặt một trạm luân chuyển nhanh, theo đường thủy, đường bộ cứ thế thay phiên nhau, đem về quả lệ chi tươi ngon nhất.
Ngoài lệ chi ra, những vùng Phúc Kiến, Tứ Xuyên còn dâng lên một loại rượu làm từ sương (Cam lộ; 甘露), dâng lên cho Huyền Tông dùng. Loại rượu thanh đạm tuyệt thế, được xưng là "Mĩ tửu". Khi đó, Dương Quý phi ở Hoa Thanh cung (華清宮) dùng trái vải, Đường Huyền Tông uống rượu ngon, hoang lạc một thời, nên có câu "Hoa Thanh sinh ca nghê thường túy, Quý phi bả tửu lộ nùng tiếu", loại rượu tiến cống từ đó được gọi là "Lộ nùng tiếu" (露浓笑).
Thi sĩ Đỗ Mục có bài "Quá Hoa Thanh cung" - 過華清宮, trong đó có câu: "Nhất kị hồng trần phi tử tiếu, Vô nhân tri thị lệ chi lai" (一騎紅塵妃子笑, 無人知是荔枝來), chính là dựa vào điển tích này.
Quý phi túy tửu.
Dương Quý phi cũng là người ham rượu và là tay uống rượu có hạng. Tương truyền, bà thường cùng Huyền Tông đối ẩm trong những bữa tiệc triền miên. Đường Huyền Tông còn sai thợ khéo làm riêng một chiếc cốc đặc biệt cho nàng. Một hôm, Đường Huyền Tông hẹn hò với Quý phi, ra lệnh cho mở tiệc tại Bách Hoa đình (百花亭), để cùng đi ngắm hoa cùng uống rượu. Hôm sau, Dương Quý phi đến Bách Hoa Đình trước, chuẩn bị đầy đủ bữa tiệc. Ai ngờ chờ mãi không thấy đâu, đến khi nghe báo rằng Hoàng đế đang vui thú triệu hạnh Mai phi, Dương Quý phi nghe vậy rất đau buồn, không muốn sống nữa.
Vào lúc đó Dương Quý phi nổi tiếng có tính hẹp hòi hay ghen, mà phụ nữ trong trường hợp đợi chờ, rất dễ bộc lộ cái tính lẳng lơ. Trong lòng đang tình tứ đầy ắp, mà lại không có chỗ nào để khuây khỏa được ngay, thế là bà liền uống rượu để giải sầu, chỉ ba ly vào là đã say, tình tứ tràn trề, không kiềm chế được mình. Thế là bà liền lờ đi tất cả, ưỡn ẹo khiêu dâm, làm những động tác say rượu trước mặt hai Thái Giám là Cao Lực Sĩ và Bùi Lực Sĩ, để thỏa mãn dục vọng trong mình, mãi cho đến khi mệt lử rồi mới chịu trở về cung.
Điển tích trên được gọi là Quý phi túy tửu (貴妃醉酒; tức "Quý phi say rượu"), là một trong những điển tích nổi tiếng nhất liên quan đến Dương Quý phi, đặc biệt nổi tiếng trong giới Kinh kịch. Điển tích này nổi tiếng đến nỗi thường hay được lấy ra để diễn tả trên sân khấu và được xem là một trong những vở kinh điển nhất liên quan đến bà.
Thủ thuật làm đẹp.
Dương Quý phi rất sợ Huyền Tông sủng ái mỹ nhân khác nhưng không toan tính đến việc dùng thủ đoạn, vũ lực tranh giành mà chỉ tận dụng triệt để sức mạnh nhan sắc vô cùng quyến rũ, xinh đẹp của mình.
Dương Quý phi giữ gìn thân thể rất cẩn thận, không như các bà hoàng khác được phú quý giàu sang thì ăn uống thỏa thuê, mất hết vẻ duyên dáng trước kia.
Để có được thân hình đẹp với bộ ngực nảy nở luôn làm Đường Huyền Tông mê mẩn, Dương Quý phi rất chịu khó tìm tòi các phương pháp làm đẹp. Theo truyền thuyết dân gian để lại, bà đã tạo ra rất nhiều bí quyết làm đẹp cho riêng mình.
Một trong những loại trái cây mà các cung nữ phải thường xuyên mang tới cho Dương Quý phi là đu đủ. Ban đầu, đám cung nữ chỉ nghĩ đơn giản rằng chủ nhân thích ăn loại quả này chứ không hề biết đây chính là phương pháp chăm sóc đôi gò bồng đảo của mỹ nhân. Ngoài việc ăn nhiều đu đủ sống, Dương Quý phi còn sai các nô tì nấu canh đu đủ xanh để uống hàng ngày.
Một phương pháp tăng kích cỡ vòng một khác mà Dương Quý phi đã sử dụng là xoa bóp ngực, tương đối được truyền tụng nhiều nhất. Sau khi tắm xong, Dương Quý phi sai một nô tỳ xoa bóp vùng ngực cho mình. Việc xoa bóp sau khi tắm có thể kích thích lưu thông máu vùng ngực, giúp ngực khỏe mạnh và săn chắc. Người dân thời bấy giờ còn đồn rằng, sở dĩ Dương Quý phi vẫn giữ được vóc ngọc thân ngà, làn da trắng muốt và mịn màng là nhờ ở phương pháp bí truyền, tắm bằng sữa dê pha với tinh chất các loại hoa quý và một số dược chất đặc biệt. Dương Quý phi còn thường xuyên đến suối nước nóng ở Ly Sơn để ngâm mình, giữ gìn làn da không bị nếp nhăn tàn phá.
Bà cũng rất chú ý tới việc trang điểm, tuy không để son phấn làm át đi vẻ đẹp tự nhiên nhưng cũng không bao giờ để mặt mộc khi đối diện với hoàng đế.
Tương truyền, quần áo của Dương Quý phi nhiều không tả xiết bởi vì mỗi bộ mỹ nhân này chỉ mặc vài ba lần rồi thay đổi bằng bộ khác với dáng vẻ, màu sắc và loại tơ lụa khác đi. Với các trang phục tốn kém ấy, cùng những đồ trang sức xinh đẹp, quý giá, hầu như bao giờ Dương Quý phi cũng là người mới trước mặt Huyền Tông. Tuy nhiên, chính sắc đẹp của bà chính là dấu mốc khởi đầu cho sự suy vong của nhà Đường vốn đang thịnh trị thời Đường Huyền Tông Lý Long Cơ.
Thời Dương Quý phi cũng là giai đoạn cao trào làm đẹp của nữ nhân thời Đường bằng ấn chu sa. Tương truyền rằng, sau một tai nạn, Thượng Quan Uyển Nhi bị sẹo ngay giữa trán, khi sẹo lành tạo thành hình như búp sen nên bà đã vẽ thành bông hoa sen trên trán. Sau này, ấn ký này được lưu truyền như một phương thức trang điểm đặc trưng cho phụ nữ thời bấy giờ. "Ấn ký" này càng khiến vẻ đẹp kiêu sa, thanh thoát của Dương Quý phi thêm phần cốt cách tiên tử, khiến hoàng thượng mê đắm. Kể từ sau đó, trong các dịp đặc biệt, phụ nữ thời Đường thường vẽ lên trán một chấm tròn hay hình đôi cánh hoặc cánh hoa đơn giản. Phụ nữ có địa vị càng cao thì tạo hình chu sa trên trán càng cầu kỳ, phức tạp. Các tân nương trong ngày cưới cũng sẽ được vẽ một bông hoa lên trán.
Vẻ đẹp trong thơ ca.
Theo sử sách, vào đời Đường, phụ nữ được cho là đẹp, hấp dẫn thì phải tròn trịa, mập mạp. Trong tục ngữ, thành ngữ tiếng Hoa ngày nay vẫn còn câu: "Yến sấu Hoàn phì" (燕瘦環肥) hay "Hoàn phì Yến sấu" (環肥燕瘦). Tức là "Yến ốm Hoàn mập", Yến là chỉ người đẹp thời Hán: Triệu Phi Yến, Hoàn là chỉ Dương Quý phi thời Đường, ý câu thành ngữ là mỗi người một vẻ đẹp khác nhau. Thực sự tranh vẽ Dương Quý phi đời trước chỉ phù hợp với thẩm mỹ thời Đường khác thời nay rất nhiều.
Dương Quý phi có sắc đẹp được ví là "Tu hoa", nghĩa là khiến hoa phải xấu hổ.
"Sau khi vào cung, Dương Quý phi tư niệm cố hương. Ngày kia, nàng đến hoa viên thưởng hoa giải buồn, nhìn thấy hoa Mẫu Đơn, Nguyệt Quý nở rộ, nghĩ rằng mình bị nhốt trong cung, uổng phí thanh xuân, lòng không kìm được, buông lời than thở: "Hoa à, hoa à! Ngươi mỗi năm mỗi tuổi đều có lúc nở, còn ta đến khi nào mới có được ngày ấy?". Lời chưa dứt lệ đã tuôn rơi, nàng vừa sờ vào hoa, hoa chợt thu mình, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, nàng sờ phải là loại hoa trinh nữ (cây xấu hổ). Lúc này, có một cung nga nhìn thấy, người cung nga đó đi đâu cũng nói cho người khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi người gọi Dương Quý phi là "tu hoa"."
Truyền kỳ về Dương Quý phi đã đi vào rất nhiều thơ ca của nhiều thế hệ. Thi hào Lý Bạch có ba bài "Thanh bình điệu" ca tụng sắc đẹp của Dương Quý phi. Bài đầu tiên:
Thi sĩ nổi tiếng Lý Thương Ẩn cũng sáng tác 2 kỳ "Mã ngôi" để nói về bà:
Thi sĩ Bạch Cư Dị có bài Trường hận ca nổi tiếng kể về chuyện tình giữa bà và Đường Huyền Tông.
|
Châu Đức là một huyện thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Việt Nam.
Huyện Châu Đức nằm ở phía bắc của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, có vị trí địa lý:
Tổng diện tích đất tự nhiên là 42.104 ha với trên 150 ngàn dân, trong đó khoảng 71 ngàn người trong độ tuổi lao động, mật độ dân số 325,4 người/km².
Huyện Châu Đức có 16 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm thị trấn Ngãi Giao (huyện lỵ) và 15 xã: Bàu Chinh, Bình Ba, Bình Giã, Bình Trung, Cù Bị, Đá Bạc, Kim Long, Láng Lớn, Nghĩa Thành, Quảng Thành, Sơn Bình, Suối Nghệ, Suối Rao, Xà Bang, Xuân Sơn.
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, địa bàn huyện Châu Đức hiện nay thuộc quận Đức Thạnh, tỉnh Phước Tuy.
Sau năm 1975, chính quyền sáp nhập quận Đức Thạnh với quận Long Lễ thành huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, huyện Châu Thành thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mới thành lập.
Ngày 2 tháng 6 năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định 45-CP. Theo đó:
Khi mới thành lập, huyện Châu Đức có 12 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Ngãi Giao và 11 xã: Bình Ba, Bình Giã, Đá Bạc, Kim Long, Láng Lớn, Nghĩa Thành, Quảng Thành, Suối Nghệ, Suối Rao, Xà Bang, Xuân Sơn.
Ngày 23 tháng 7 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 57/1999/NĐ-CP. Theo đó:
Ngày 22 tháng 10 năm 2002, thành lập xã Cù Bị trên cơ sở một phần diện tích và dân số của xã Láng Lớn.
Ngày 24 tháng 12 năm 2004, thành lập xã Bàu Chinh trên cơ sở một phần diện tích và dân số của thị trấn Ngãi Giao, một phần diện tích và dân số của xã Kim Long.
Huyện Châu Đức có 1 thị trấn và 15 xã như hiện nay.
Trên địa bàn huyện có các địa điểm du lịch nổi bật như:
|
Phân họ Trinh nữ
Phân họ Trinh nữ hay phân họ hàm tụ thảo (danh pháp khoa học: Mimosoideae) là một phân họ trong thực vật có hoa thuộc họ Đậu ("Fabaceae" hay "Leguminosae") được đặc trưng bởi các hoa với các cánh hoa nhỏ và nhiều nhị hoa dễ thấy. Phân họ này được phân ra làm 5 tông là Acacieae, Ingeae, Mimoseae, Mimozygantheae và Parkieae.
Một số hệ thống phân loại, ví dụ hệ thống Cronquist, xem xét Fabaceae theo nghĩa hẹp ("sensu stricto"), đã nâng Mimisoideae lên cấp họ là Mimosaceae còn APG xem xét Fabaceae theo nghĩa rộng ("sensu lato"). LPWG (2017) không công nhận phân họ này mà gộp nó trong phân họ Caesalpinioideae như là nhánh mimosoid.
|
Tuồng Huế là một nghệ thuật hát bội có ở Huế, Việt Nam.
Năm 1627, Đào Duy Từ là người đầu tiên đã mang về cho chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nghệ thuật tuồng (hát bội). Giới nghệ nhân tuồng và cổ nhạc Huế đến nay vẫn thờ Đào Duy Từ làm tổ sư và coi 1627 là niên đại khởi đầu của lịch sử tuồng Huế. Nhà sư Thích Đại Sán, người Trung Quốc, đã được chúa Nguyễn Phúc Chu mời đến Huế năm 1695 đă kể lại buổi xem diễn tuồng trong phủ chúa. J. Barrow trong tác phẩm "A Voyage to Cochinchine in the year 1792–1793" đã vẽ lại cảnh diễn tuồng ở Đàng Trong thời Tây Sơn. Nghệ thuật tuồng Huế đã trải qua 3 thế kỷ phát triển trong dòng truyền thống văn hóa Phú Xuân và phát triển rực rỡ dưới triều đại các vua nhà Nguyễn. Vua Tự Đức đã từng tổ chức hàng ngũ sáng tác tuồng bao gồm những tác gia lỗi lạc trong nước, đứng đầu là Đào Tấn, sau này là tác giả kiệt xuất của nhiều vở tuồng nổi tiếng. Tuồng đã được biểu diễn trong nhà hát ở Đại nội như: Duyệt Thị Đường, Tĩnh Quang viện, Thông Minh đường, Khiêm Minh đườ
Dưới thời vua Tự Đức, hàng trăm vở tuồng đã được sáng tác, hàng trăm đào kép giỏi quy tụ về kinh đô. Vua Đồng Khánh thì mê tuồng đến nỗi đã dùng tên các nhân vật trong vở tuồng ông yêu thích để đặt cho các cung nữ. Còn vua Thành Thái cũng say sưa với nghệ thuật tuồng và rất trọng các đào kép giỏi, ông không chỉ ban thưởng tiền bạc mà còn phong tước hiệu cho nhiều bậc thầy hát bội. Ông là Hoàng đế duy nhất của triều Nguyễn đã lên sân khấu diễn tuồng "đóng trò" đồng thời là một tay trống tuồng tài ba. Vua Khải Định cũng đam mê với tuồng. Ông đã thiết lập hẳn một nơi diễn tuồng riêng tại cung An Định, ban xiêm y tốt cho các đoàn hát, tạo điều kiện cho các tài năng phát triển..
Từ sau thời Tự Đức, tuồng Huế dần vượt ra khỏi cung đình và trở thành sân khấu của quần chúng bình dân. Nhiều người đã tự đứng ra lập gánh hát, nuôi "đào", "kép" riêng và ganh đua với nhau. Nghệ thuật tuồng từ đó sống và phát triển được nhờ công chúng.
Tại kinh đô Huế, các rạp hát bắt đầu mọc lên khắp nơi, sân khấu tuồng từ trước vốn có chỉ phục vụ vua quan triều đình, dàn dần lan ra chiếm lĩnh ở những nơi công cộng. Những rạp hát nổi tiếng ở Huế trước năm 1945: Bắc Hòa, Nam Hòa, Đồng Xuân Lâu, Kim Long, An Cựu, Vĩ Dạ, Bao V: cô Thuôi, cô Ba Lài, cô Bạch Trúc, cô Cầm, cô Cháu Em, cô Nghè Đồng, cô Ba Vĩ, tiếng trống của sân khấu tuồng Huế.
Tình hình tuồng bản ở Huế.
Huế là nơi tập trung nhiều kịch bản tuồng nhất. Tuồng bản Hán Nôm chỉ xuất hiện khi văn học kịch nghệ cùng kỹ thuật in ấn mộc bản phát triển. Vào giai đoạn đầu, diễn viên tuồng "diễn cương", không có kịch bản. Ông bầu gánh hát sẽ soạn một sườn theo nội dung tích truyện rồi phân vai diễn viên theo nội dung đó mà tự tạo lời thoại, tương tự như diễn dân gian chèo ở miền Bắc.
Tuồng Huế được diễn cương đến trước nửa thế kỷ 18. Cuối thế kỷ 18, văn học dần dần phát triển và giới nho sỹ, trí thức xem tuồng như phương tiện giải trí hội đủ các yếu tố văn học nghệ thuật nên đã quan tâm đến các lời thoại, lời hát trong khi trình diễn, do đó kịch bản tuồng đã dần hình thành. Thời kỳ kịch bản tuồng được sáng tác mạnh mẽ nhất là từ thời Minh Mạng đến Tự Đức. Riêng pho tuồng "Vạn bửu trình tường" đã có hơn 100 hồi. Thời Tự Đức có một tổ chức sáng tác tuồng được thành lập, đó là Ban Hiệu Thư, gồm các tiến sĩ và cử nhân cũng các thành phần trí thức chuyên việc sáng tác kịch bản và hiệu đính các phường bản (bản tuồng trong dân gian) thành kinh bản (bản tuồng ở kinh đô) cho phù hợp với quan điểm đạo lý và chính trị của nhà nước đương thời.
Trải qua nhiều biến cố lớn như: biến cố thất thủ kinh đô năm 1885, giai đoạn 1945-1946 (Cách mạng Tháng Tám), giai đoạn , lại một lần nữa dân Huế lại di tản, đa phần dân Huế đưa gia đình, tài sản, gia vật vào Đà Nẵng và các thành phố khác. Các bản tuồng, nếu có cũng như các sách vở khác thường bị bỏ lại.
Các tuồng bản dân gian nổi tiếng: Di tình (Nghêu, sò, ốc, hến); Trương Ngáo; Trương đồ nhục; Trần Bồ; Giác sanh duyên; Tào lao; Lâm Sanh - Xuân Nương; Phạm Công - Cúc H
Tuy ý kiến về nguồn gốc phát sinh của tuồng dân gian có khác nhau với mỗi tài liệu, nhưng xác định giai đoạn phát triển của loại tuồng này thì đã được giới nghiên cứu đồng nhất: đó là thời điểm cuối thế kỷ 19. Chính vào thời điểm này, xã hội có những chuyển biến thuận lợi cho sự lớn mạnh của loại tuồng này về nhu cầu cách tân nghệ thuật biểu diễn. Chỉ có tuồng dân gian mới đáp ứng được những yêu cầu đó khi chế độ phong kiến triều Nguyễn không còn giữ được vị thế chính trị vững mạnh như trước.
|
Chi Trinh nữ (danh pháp khoa học: Mimosa) là một chi của khoảng 400 loài cây thân thảo và cây bụi, thuộc phân họ Trinh nữ ("Mimosoideae") trong họ Đậu ("Fabaceae"), với lá kép hình lông chim. Loài được biết nhiều nhất là "Mimosa pudica" với tên gọi dân dã là cây xấu hổ hay cây trinh nữ, do các lá của chúng khép lại khi bị chạm vào; nhiều loài khác cũng khép lá lại vào buổi chiều. Nó có nguồn gốc ở miền nam México và khu vực Trung Mỹ nhưng đã phổ biến rộng khắp như là một loài cây cảnh kỳ lạ được trồng trong nhà trong các khu vực ôn đới và ngoài vườn trong các khu vực nhiệt đới. Việc trồng ngoài vườn đã làm cho nó nhanh chóng trở thành một loại cỏ dại và là một loài xâm hại nguy hiểm ở nhiều nơi.
Các thành viên trong chi này thuộc về một số ít thực vật có khả năng có chuyển động thực vật nhanh; các ví dụ ngoài chi "Mimosa" còn có vũ thảo ("Desmodium motorium") và bẫy ruồi ("Dionaea muscipula").
Tên gọi khoa học của chi "Mimosa" có một lịch sử phức tạp, trải qua các thời kỳ chia nhỏ cũng như gộp lại, kết quả là nó đã có tới trên 3.000 tên gọi, phần nhiều hoặc là từ đồng nghĩa của các loài khác hay được chuyển sang các chi khác. Một phần là do các thay đổi này mà tên gọi "Mimosa" cũng đã được sử dụng cho một vài loài có họ hàng khác với các lá hình lông chim đơn hay kép, nhưng hiện nay chúng được phân loại trong các chi khác, phần lớn là để gọi "Albizia julibrissin" (tức cây hợp hoan thuộc chi muồng lá khế/ Albizia) và "Acacia dealbata" (keo bạc). Tại Việt Nam, tình trạng cũng tương tự. Ở một số nơi, như ở Đà Lạt, người ta cũng gọi cây keo bạc là mimosa.
Tại Nga, có một truyền thống tặng cho phụ nữ các bông hoa mimosa vàng (cùng với các hoa khác) vào Ngày quốc tế phụ nữ (8 tháng 3). Hoa này lấy từ cây "Acacia dealbata" (keo bạc), nó không phải là "Mimosa" thực sự.
|
Kính hiển vi quang học
Kính hiển vi quang học là một loại kính hiển vi sử dụng ánh sáng khả kiến để quan sát hình ảnh các vật thể nhỏ được phóng đại nhờ một hệ thống các thấu kính thủy tinh. Kính hiển vi quang học là dạng kính hiển vi đơn giản, lâu đời nhất và cũng là phổ biến nhất. Các kính hiển vi quang học cũ thường phải quan sát hình ảnh trực tiếp bằng mắt nhìn qua thị kính, nhưng các kính hiện đại hiện nay còn được gắn thêm các CCD camera hoặc các phim ảnh quang học để chụp ảnh.
Bằng chứng lịch sử ban đầu liên quan đến sự ra đời của kính hiển vi quang học là công bố về khả năng phóng đại các vật thể bằng các kính phóng đại trong cuốn "Books of Optics" vào năm 1021 bởi Ibn al-Haytham (Alhazen). Sau khi cuốn sách này được xuất bản, Roger Bacon ở Anh quốc đã lý giải và mô tả cơ chế của việc phóng đại này vào thế kỷ 13, và dẫn đến sự phát triển của kính lúp phóng đại ở Italia .
Những kính hiển vi ban đầu được phát minh vào năm 1590 ở Middelburg, Hà Lan . Ba người thợ tạo kính là Hans Lippershey (người đã phát triển các kính viễn vọng trước đó), Zacharias Janssen, cùng với cha của họ là Hans Janssen là những người đầu tiên xây dựng nên những kính hiển vi sơ khai. Năm 1625, Giovanni Faber là người xây dựng một kính hiển vi hoàn chỉnh đặt tên là Galileo Galilei .
Các cấu trúc của kính hiển vi quang học tiếp tục được phát triển tiếp theo đó, và kính hiển vi chỉ được sử dụng một cách phổ biến hơn ở Italia, Anh quốc, Hà Lan vào những năm 1660, 1670. Marcelo Malpighi ở Italia bắt đầu sử dụng kính hiển vi để nghiên cứu cấu trúc sinh học ở phổi. Đóng góp lớn nhất thuộc về nhà phát minh người Hà Lan Antoni van Leeuwenhoek, người đã phát triển kính hiển vi để tìm ra tế bào hồng cầu và tinh trùng và đã công bố các phát hiện này .
Cấu tạo và hoạt động.
Một kính hiển vi quang học gồm có nhiều bộ phận, có thể chia thành các phần như sau:
* Hệ hội tụ và tạo chùm sáng song song;
* Giá mẫu vật;
* Vật kính (có thể là một thấu kính hoặc một hệ thấu kính) là bộ phận chính tạo nên sự phóng đại;
* Hệ lật ảnh (lăng kính, thấu kính);
* Thị kính là thấu kính tạo ảnh quan sát cuối cùng;
* Hệ ghi ảnh.
Như hình ảnh ở bên, các phần (theo đánh số) có thể được mô tả như sau:
1. "Thị kính": Có thể từ một đến 2 thấu kính thủy tinh cho phép tạo ra ảnh cuối cùng của vật qua hệ quang học. Độ phóng đại của thị kính khá nhỏ, thường chỉ dưới 10x, và được lắp đặt trong một ống trụ, cho phép thay đổi dễ dàng.
2. Giá điều chỉnh vật kính hay còn gọi là đĩa quay gắn các vật kính có thể xoay đĩa để chuyển sang vật kính khác
3. "Vật kính": là thấu kính quan trọng nhất của các hệ tạo ảnh nhờ thấu kính, là một (hoặc có thể là hệ nhiều thấu kính) có tiêu cự ngắn, cho phép phóng đại vật với độ phóng đại lớn. Nhờ có giá điều chỉnh, các vật kính khác nhau có thể xoay để thay đổi trị số phóng đại. Trên vật kính có thể ghi các trị số phóng đại 4x, 5x, 10x, 20x, 40x, 50x, 80x hay 100x. Trong một số vật kính đặc biệt, người ta có thể sử dụng dầu nhằm tăng độ phân giải của hệ thống.
4, 5. Giá vi chỉnh, cho phép điều chỉnh độ cao của mẫu vật để lấy nét trong quá trình tạo ảnh.
6. Giá đặt mẫu vật hay còn gọi là bàn kính.
7. Hệ thống đèn, gươ
8. Hệ thống khẩu độ, và các thấu kính hội tụ để hội tụ và tạo ra chùm sáng song song chiếu qua mẫu vật.
9. Vi chỉnh cho phép dịch chuyển mẫu vật theo chiều ngang để quan sát các phần khác nhau theo ý muốn.
Kính hiển vi quang học hoạt động hoàn toàn trên nguyên tắc khúc xạ ánh sáng qua hệ các thấu kính thủy tinh. Vật kính, là loại thấu kính có tiêu cự ngắn, là bộ phận chính tạo nên sự phóng đại ảnh của mẫu vật. Ảnh tạo ra qua thấu kính này là ảnh thật, và ngược chiều so với vật mẫu ban đầu. Ảnh được quan sát ở thị kính chỉ được lật đúng chiều nhờ hệ thấu kính (hoặc lăng kính) trung gian đóng vai trò hệ lật ảnh. Tùy theo cách thức quan sát, ghi nhận ảnh mà ảnh được tạo ra ở thị kính có thể là ảnh thật hoặc ảnh ảo. Ảnh này sẽ là ảnh ảo khi hệ thị kính được thiết kế để quan sát trực tiếp bằng mắt thường, hoặc sẽ là ảnh thật khi hệ thị kính được ghép vào các thiết bị ghi nhận như phim quang học hoặc CCD camera.
Giới hạn độ phân giải.
Độ phân giải của một hệ quang học là khả năng phân biệt các điểm không gian, được định nghĩa bằng khoảng cách giữa hai điểm gần nhau nhất có thể phân biệt được nhờ hệ quang học này. Độ phân giải của kính hiển vi quang học bị quy định bởi khả năng phân giải của các thấu kính, mà ở đây bị giới hạn bởi hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng. Độ phân giải của kính hiển vi quang học sẽ bị giới hạn bởi bước sóng ánh sáng khả kiến và chỉ số khẩu độ:
với formula_2 là bước sóng ánh sáng, NA là thông số khẩu độ. Vì thế, độ phân giải của các kính hiển vi quang học tốt nhất chỉ vào khoảng vài trăm nm. Ví dụ với hệ kính sử dụng ánh sáng xanh (λ = 550 nm), chỉ số khẩu độ đối với không khí là 0,95 hoặc có thể đạt cao nhất là 1,5 nếu sử dụng dầu. Như vậy, độ phân giải tốt nhất của hệ có thể đạt được khoảng dưới 200 nm. Có nghĩa là những điểm trong khoảng cách này sẽ không thể nào phân biệt được.
|
Tô mộc, còn có các tên gọi khác là vang, tô phượng, vang nhuộm, co vang, mạy vang (danh pháp hai phần: Caesalpinia sappan), là một loài thực vật thân gỗ nhỏ, cao khoảng 5-10 mét, cho gỗ rất rắn, có màu đỏ nâu ở phần lõi và trắng ở phần ngoài, được tìm thấy ở khu vực Đông Nam Á. Gỗ của nó trong tiếng Anh gọi là "brezel wood". Gỗ tô mộc đã từng là một trong các mặt hàng chủ yếu trong buôn bán giữa người Nhật Bản và người khu vực Đông Nam Á (đặc biệt là Xiêm La) trong thế kỷ 17 trên các chu ấn thuyền.
Là loại cây ưa ánh sáng, sinh trưởng nhanh, ưa đất tốt và có thể sống được trong điều kiện bán khô hạn. Thân cây có nhiều gai. Cành non có lông mịn, sau đó hết lông và trở thành nhẵn, có gai ngắn. Lá kép lông chim, mọc so le. Có từ 10-15 lá chét nhỏ, hình ôvan hơi hẹp ở dưới và thuôn tròn ở đầu, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông mịn. Hoa 5 cánh màu vàng, mọc thành chùm ở đầu cành, từ khoảng tháng 6 tới tháng 9 hàng năm. Cuống có lông màu nâu gỉ sắt. Quả thuôn dẹt hình trứng ngược, vỏ rất cứng, có sừng nhọn ở đầu, trong chứa 3-4 hạt màu nâu vàng. Kích thước quả: dài 7–10 cm, rộng 3–4 cm. Cây chủ yếu mọc hoang ở rừng núi nhưng cũng được trồng ở nhiều nơi.
Theo Danh mục vị thuốc của Viện thông tin thư viện y học Trung ương (Việt Nam) thì nó thuộc về nhóm XVI-Hoạt huyết, khứ ứ. Nó được sử dụng trong y tế như là một loại thuốc kháng khuẩn với "Stapylococcus", "Salmonella", "Shigella dysenteriae", tiêu viêm và cầm máu. Bộ phận sử dụng là gỗ từ thân cây được thu hái vào khoảng thời gian mùa thu-đông, sau đó cưa thành các đoạn nhỏ và phơi khô. Khi dùng chẻ mỏng, sắc đặc.
Nó cũng là nguồn có giá trị để sản xuất một loại thuốc nhuộm có màu đỏ, được dùng để nhuộm các sản phẩm từ sợi bông. Tại Việt Nam, gỗ tô mộc còn là một trong những thành phần dùng để nấu nước rửa hài cốt khi cải táng. Phần lõi gỗ rắn, gần như không bị nứt nẻ và được sử dụng để chạm khắc đồ mỹ nghệ.
- Bộ phận dùng cây tô mộc
Chỉ dùng phần lõi gỗ màu đỏ sẫm, phơi khô vì hoạt chất tập trung ở lõi gỗ phần thân và cành to, tốt nhất nên lấy những cây trên 10 năm
- Các cách chế biến
• Ngâm kiệt: Gỗ tô mộc chẻ mỏng, ngâm với nước tỷ lệ 1:1, càng ngâm lâu tác dụng kháng sinh càng tốt.
• Dạng cao: Sắc tô mộc bình thường rồi cô lại thành cao lỏng để tiện bảo quản, dễ sử dụng, tăng khả năng diệt khuẩn
• Dạng viên: Phối hợp tô mộc với bột dược liệu khác như ngũ bội tử, búp ổi, các tá dược sau đó chia viên
• Brommo tô mộc: Gỗ tô mộc ngâm trong dung dịch Borat Natri 40% có tác dụng rửa vết thương, không gây đau rát, con vật ít liếm, vết thương mau lành.
• Glycerol tô mộc: Gỗ tô mộc chẻ mỏng ngâm trong dung môi kép bao gồm Glycerol, nước cất, cồn
|
Trong chi "Caesalpinia" thì loài cây phổ biến nhất được trồng là Caesalpinia pulcherrima (còn có danh pháp hai phần cũ là Poinciana pulcherrima). Tên gọi của nó trong tiếng Việt của nó là kim phượng, phượng ta, điệp, điệp cúng. Tên gọi theo phiên âm Hán-Việt là: phiên hồ điệp (番蝴蝶), kim phượng hoa (金鳳花), khổng tước hoa (孔雀花), hoàng hồ điệp (黃蝴蝶). Nhìn bề ngoài, nó khá giống với cây phượng vĩ có danh pháp khoa học là "Delonix regia" cùng phân họ.
Nó là một loài cây bụi cao tới 3 m, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới thuộc châu Mỹ. Lá của nó là loại lông chim kép, dài 20–40 cm và có từ 3-10 cặp lá chét, mỗi lá chét có từ 6-10 cặp lá chét nhỏ dài 15–25 mm và rộng 10–15 mm. Hoa của chúng mọc ra tại cành hoa dài tới 20 cm, mỗi hoa có 5 cánh màu vàng, da cam hay đỏ. Quả là loại quả đậu dài 6–12 cm.
Nó được trồng làm cây cảnh rất phổ biến ở khu vực nhiệt đới.
Phượng vĩ đôi khi cũng được gọi là "kim phượng" khi có hoa màu vàng đậm. Tuy nhiên phượng vĩ là cây đại mộc còn kim phượng thực thụ là cây tiểu mộc, với ba màu hoa cơ bản là màu vàng tươi, đỏ vàng, đỏ hồng hoặc đỏ pha vàng (xem hình) và ra hoa quanh năm, còn phượng vĩ chỉ ra hoa vào mùa hè.
|
Văn minh Ấn Độ
Nền văn minh Ấn Độ là một nền văn minh nổi tiếng và thuộc về những nền văn minh cổ nhất thế giới.
Nền văn minh Ấn Độ thời cổ đại bao gồm cả vùng đất ở các nước như: Ấn Độ, Pakistan, Nêpan, Bangladesh ngày nay.
Cơ sở hình thành nền văn minh Ấn Độ.
Điều kiện tự nhiên.
Bán đảo Ấn Độ thuộc Nam Á gần như hình tam giác. Ở phía bắc, bán đảo bị chắn bởi dãy núi Hymalaya. Từ bên ngoài vào Ấn Độ rất khó khăn, chỉ có thể qua các con đèo nhỏ ở tây-bắc Ấn. Đông nam và tây nam Ấn Độ giáp Ấn Độ dương.
Hàng năm tới mùa tuyết tan, nước từ dãy Hymalaya theo hai con sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges) lại đem phù sa tới bồi đắp cho những cánh đồng ở Bắc Ấn.
Nền văn minh ở lưu vực sông Indus (3.000-1.800 Tr. C.N.) đã thấm đượm những tư tưởng và hình thức nghệ thuật mà về sau người ta xem như bản sắc tiêu biểu cho Ấn Độ.
Người dân xây dựng nên nền văn minh cổ xưa nhất ở Ấn Độ ven bờ sông Ấn là những người Dravidian. Ngày nay những người Dravidian chủ yếu cư trú ở miền nam bán đảo Ấn Độ. Khoảng 2000 năm TCN đến 1500 năm TCN có nhiều tộc người Aryan tràn vào xâm nhập và ở lại bán đảo Ấn. Sau này, trong quá trình lịch sử còn có nhiều tộc người khác như người Hy Lạp, Hung Nô, Ả Rập Xê Út, Mông Cổ xâm nhập Ấn Độ do đó cư dân ở đây có sự pha trộn khá nhiều dòng máu, nhiều chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và văn hóa phong phú đã tạo nên nền văn minh Ấn Độ.
Các giai đoạn lịch sử chính.
Nền văn minh cổ xưa trên lưu vực sông Ấn (3.000-1.800 TCN).
Các nhà khảo cổ đã tìm ra cái nôi đầu tiên của Ấn Độ tại lưu vực sông Ấn. Tại đây người ta tìm thấy những pho tượng một người đàn ông trong tư thế suy tưởng gợi đến môn phái yoga. Rất nhiều hiện vật được tìm thấy ở khu vực Harappa và Mohenjo có niên đại từ 3.000 đến 1.800 trước công nguyên. Những tìm tòi gần đây hé mở phần nào về sự lan tỏa của nền văn minh lưu vực sông Ấn rộng lớn về miền Bắc và miền Tây xa xôi cùng với cư dân lưu vực sông Ấn lại có quan hệ gần gũi với văn hóa Dravidian, từng phồn thịnh từ rất lâu ở miền Nam Ấn Độ trước khi người Aryan đặt chân đến.
Nền văn minh sông Ấn đã tồn tại hơn 700 năm trong thịnh vượng, những người thợ thủ công của nền văn minh này đã hoàn thành nhiều sản phẩm có tính mỹ thuật và chất lượng cao. Nhưng cũng bất thình lình như khi xuất hiện, nền văn hóa này lại biến mất mà nguyên nhân cho đến nay vẫn chưa rõ. Dường như từ khoảng năm 2000 trước Công Nguyên xuất hiện nhiều vấn đề lớn. Người dân rời bỏ thành phố, những người còn lại bị thiếu ăn. Vào khoảng năm 1800 trước Công Nguyên phần lớn các thành phố đều đã bị bỏ hoang. Trong những thế kỷ sau đó, các ký ức và thành tựu của nền văn hóa sông Ấn đã biến mất hoàn toàn. Các di sản của văn minh Ấn Độ sau này đều là của Nền văn minh Vệ Đà (xuất hiện khoảng 1.600 năm TCN) do tộc người Aryan từ Trung Á đem tới chứ không phải của văn minh sông Ấn bản địa.
Nền văn minh Vệ Đà (1.600-thế kỷ I TCN).
Ở vào khoảng thời gian 100 đến 1.600 TCN, một chi của người Aryan, thường được gọi là người Indo-Aryan, di cư đến Ấn Độ. Họ đem theo cùng với họ là tiếng Phạn và một tôn giáo dựa trên nghi lễ hiến tế các vị thần tượng trưng cho các thế lực của thiên nhiên như Indra, thần mưa và sấm, thần Agni (lửa) và Varuma, chúa tể của các sông biển và mùa màng. Những bài ngợi ca vị thần ấy được tập hợp lại thành bốn tập Kinh Vệ Đà. Lâu đời nhất là tập Rigveda (1.500-1.200 Tr. C.N.). Đặc điểm của Kinh Veda là hướng con người đến tư tưởng cao cả, văn phong đẹp đẽ và bước chuyển những nghi thức từ bên ngoài vào kinh nghiệm nội tại. Thời kỳ này chính là thời kỳ có thuyết nói rằng cùng với nó là sự ra đời Đức Phật
Vào năm 326 TCN Alexandros người Macedonia vượt sông Indus và đánh thắng một trận quyết định và rút về. Cuộc xâm lăng của ông đã để lại dấu ấn của thế giới Hy Lạp, nâng văn hóa Ấn Độ lên một tầm cao mới.
Vào năm 320 TCN. Chandragup-ta Maurya (hoàng đế Maurya) thống nhất trở lại toàn bộ các bộ lạc rời rạc và thành lập chế độ tập quyền, kinh đô được đặt tại Pataliputra (bang Bihar ngày nay).
Thời kỳ hoàng kim của nền văn minh Ấn Độ thuộc vào thời kỳ triều đại Gupta. Thời kỳ này có nhiều thành tựu nổi bật về văn hóa trồng trọt. Thời kỳ này nền văn minh Ấn Độ đã để lại cho nhân loại một khối lượng các di sản khổng lồ.
Thành tựu chính của Văn minh Ấn Độ cổ đại.
Chữ viết, văn học.
Thời đại Harappa-Môhenjô Đarô, ở miền Bắc Ấn đã xuất hiện một loại chữ cổ mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 3.000 con dấu có khắc những ký hiệu đồ họa.
Thế kỉ VII TCN, ở đây đã xuất hiện chữ Brami, ngày nay còn khoảng 30 bảng đá có khắc loại chữ này. Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ V TCN ở Ấn Độ lại xuất hiện chữ Sanskrit, đây là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở Ấn Độ và Đông Nam Á sau này.
Hai tác phẩm văn học nổi bật thời cổ đại là Mahabharata và Ramayana. Mahabharata là bản trường ca gồm 220.000 câu thơ. Bản trường ca này nói về một cuộc chiến tranh giữa các con cháu Bharata. Bản trường ca này có thể coi là một bộ "bách khoa toàn thư" phản ánh mọi mặt về đời sống xã hội Ấn Độ thời đó.
Ramayana là một bộ sử thi dài 48.000 câu thơ, mô tả một cuộc tình giữa chàng hoàng tử Rama và công chúa Xita(con của nữ thần mẹ đất). Thiên tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân gian một số nước Đông Nam Á. Riêmkê ở Campuchia, Riêmkhiêm ở Thái Lan chắc chắn có ảnh hưởng từ Ramayana.
Thời cổ đại ở Ấn Độ còn có tập ngụ ngôn Năm phương pháp chứa đựng rất nhiều tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu.
Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ, ảnh hưởng tới nhiều nước Đông Nam Á. Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ một tôn giáo nhất định, do yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện. Có thể chia ra ba dòng nghệ thuật: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo.
Có rất nhiều chùa tháp Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy chùa hang Ajanta ở miền trung Ấn Độ. Đây là dãy chùa được đục vào vách núi, có tới 29 gian chùa, các gian chùa thường hình vuông và nhiều gian mỗi cạnh tới 20m. Trên vách hang có những bức tượng Phật và nhiều bích hoạ rất đẹp.
Các công trình kiến trúc Ấn Độ giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất Ấn Độ và được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỷ VII - thế kỷ XI. Tiêu biểu cho các công trình Ấn Độ giáo là cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn, gồm tất cả 85 đền xen giữa những hồ nước và những cánh đồng.
Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina, được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIII và lăng Taj Mahan được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII.
Khoa học tự nhiên.
Về thiên văn, người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ra làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày. (Như vậy năm bình thường có 360 ngày). Cứ sau 5 năm thì họ lại thêm vào một tháng nhuận.
Về toán học: Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ số mà ngày nay ta quen gọi là số Arập. Đóng góp lớn nhất của họ là đặt ra số không, nhờ vậy mọi biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên. (Người Tây Âu vì vậy mà từ bỏ số La Mã mà sử dụng số Arập trong toán học.) Họ đã tính được căn bậc 2 và căn bậc 3; đã có hiểu biết về cấp số, đã biết về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác.
Về Vật lý, người Ấn Độ cổ đại cũng đã có thuyết nguyên tử. Thế kỷ V TCN, có một nhà thông thái ở Ấn Độ đã viết ", do trọng lực của bản thân đã hút tất cả các vật về phía nó".
Y học cũng khá phát triển. Người Ấn Độ cổ đại đã mô tả các dây gân, cách chắp ghép xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi. Họ để lại hai quyển sách là "Y học toát yếu" và "Luận khảo về trị liệu".
Tư tưởng, tôn giáo.
Ấn Độ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo như Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo Jaina và đạo Sikh.
Đạo Bà La Môn mà sau này là Ấn Độ giáo ra đời vào khoảng thế kỷ XV TCN, trong hoàn cảnh đang có sự bất bình đẳng rất sâu sắc về đẳng cấp và đạo này chứng minh cho sự hợp lý của tình trạng bất bình đẳng đó.
Đạo Phật ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỉ 1 TCN do thái tử Xitđacta Gôtama, hiệu là Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) khởi xướng. Các tín đồ Phật giáo lấy năm 544 TCN là năm thứ nhất theo Phật lịch, họ cho là đây là năm mà Đức Phật đã nhập niết bàn. (Vì vậy, những người châu Á theo đạo Phật trước kia vẫn để ý đến ngày qua đời hơn ngày ra đời, khác hẳn những người theo đạo Thiên Chúa). Giáo lý cơ bản của đạo Phật là Tứ diệu đế (bốn điều cần giác ngộ về thế giới), vô ngã, duyên khởi, luật Nhân - Quả (làm việc ác tất yếu sẽ bị báo ứng).
Đạo Jaina xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN. Cùng thời với Phật giáo. Đạo này chủ trương bất sát sinh một cách cực đoan và nhấn mạnh sự tu hành khổ hạnh.
Đạo Sikh xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ XV. Giáo lý của đạo Sikh là sự dung hòa và kết hợp giáo lý của Ấn Độ giáo và giáo lý của Hồi giáo. Tín đồ đạo Sikh tập trung rất đông ở Punjab và ngôi đền thiêng liêng của họ là ngôi đền Vàng ở Punjab. Đạo Sikh là đạo sinh ra cuối cùng trên đất Ấn Độ.
|
Lăng Tự Đức (chữ Hán: 嗣德陵) là một quần thể công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất Tự Đức, tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Lúc mới xây dựng, Tự Đức đặt tên là Khiêm Cung (謙宮). Sau khi Tự Đức băng hà, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng (謙陵).
Lăng Tự Đức có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của hoàng gia nhà Nguyễn.
Quá trình xây lăng.
Tự Đức đã sớm nghĩ đến việc xây lăng mộ cho mình ngay khi còn sống. Vốn là một người giỏi thi phú, ông đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi vị của mình, địa điểm được chọn để xây lăng trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (Chú ý rằng "vạn niên cơ" là danh từ chung chỉ các lăng tẩm vua chứ không phải như nhiều sách vở cho là vua Tự Đức lấy tên Vạn Niên Cơ đặt tên cho công trình, với mong muốn được trường tồn). Tuy nhiên, do công việc sưu dịch xây lăng quá cực khổ, lại bị quan lại đốc thúc đánh đập tàn nhẫn, dân phu xây lăng đã nổi dậy, dẫn đến sự kiệnloạn Chày Vôi.
Tương truyền, dân chúng ta thán:
"Vạn Niên là Vạn Niên nào"
"Thành xây xương lính, hào đào máu dân"
Ngày 8-9 âm lịch năm Bính Dần (1866), tức năm Tự Đức thứ 19, do việc xây dựng Vạn niên cơ, quân sĩ và dân phu phải làm lụng khổ sở, có nhiều người oán giận. Nhân sự bất mãn đó, với lý do tôn phù Đinh Đạo (cháu ruột Tự Đức, nguyên tên là Ưng Đạo, do cha là An Phong công Hồng Bảo làm loạn nên phải đổi thành Đinh Đạo) lên ngôi vua, Đoàn Hữu Trưng cùng với các em là Đoàn Hữu Ái, Đoàn Tư Trực, cùng các đồng chí là Trương Trọng Hòa, Phạm Lương, Tôn Thất Cúc, Tôn Thất Giác, Bùi Văn Liệu, Nguyễn Văn Quí phát động khởi nghĩa. Những người tham gia khởi nghĩa phần đông là nhân công đang uất hận vì bị bắt lao dịch khắc nghiệt để xây dựng Vạn niên cơ. Họ dùng chầy vôi - dụng cụ lao động - làm vũ khí nên tục gọi là "giặc chày vôi". Tuy nhiên, cuộc đảo chính thất bại. Cả nhà Ưng Đạo đều bị hại. Đoàn Hữu Trưng và hai người em bị giết lúc mới 22 tuổi.
Tuy nhiên, do sự việc này, vua phải đặt tên Vạn niên cơ thành Khiêm Cung và viết bài biểu trần tình để tạ tội. Năm 1873, Khiêm Cung mới được hoàn thành, vua Tự Đức vẫn sống thêm 10 năm nữa rồi mới qua đời.
Gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có "chữ Khiêm" trong tên gọi. Lối đi lát gạch Bát Tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm môn đi qua trước Khiêm Cung Môn rồi uốn lượn quanh co ở phía trước lăng mộ. Qua khỏi cửa Vụ Khiêm và miếu thờ Sơn Thần là khu điện thờ, nơi trước đây là chỗ nghỉ ngơi, giải trí của vua. Đầu tiên là Chí Khiêm Đường (至謙堂) ở phía trái, nơi thờ các bà vợ vua. Tiếp đến là 3 dãy tam cấp bằng đá Thanh dẫn vào Khiêm Cung Môn (謙宫門)- một công trình hai tầng dạng vọng lâu như một thế đối đầu tiên với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước. Giữa hồ có đảo Tịnh Khiêm (淨謙) với những mảnh đất trồng hoa và những hang nhỏ để nuôi thú hiếm. Trên hồ Lưu Khiêm có Xung Khiêm Tạ (冲謙榭) và Dũ Khiêm Tạ (俞謙榭), nơi nhà vua đến ngắm hoa, làm thơ, đọc sá"Tuần Khiêm", "Tiễn Khiêm" và "Do Khiêm" bắt qua hồ dẫn đến đồi thông.
Bên trong Khiêm Cung Môn (謙宫門) là khu vực dành cho vua nghỉ ngơi mỗi khi đến đây. Chính giữa là điện Hòa Khiêm (和謙殿) để vua làm việc, nay là nơi thờ cúng bài vị của vua và Hoàng hậu. Hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu. Sau điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờ vong linh bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức. Bên phải điện Lương Khiêm là Ôn Khiêm Đường - nơi cất đồ ngự dụng. Đặc biệt, phía trái điện Lương Khiêm có nhà hát Minh Khiêm đường để nhà vua xem hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn. Có một hành lang từ điện Ôn Khiêm dẫn ra Trì Khiêm viện và Y Khiêm viện là chỗ ở của các cung phi theo hầu nhà vua, ngay cả khi vua còn sống cũng như khi vua đã chết. Cạnh đó là Tùng Khiêm viện, Dung Khiêm viện và vườn nuôi nai của vua.
Sau khu vực tẩm điện là khu lăng mộ. Ngay sau "Bái Đình" với hai hàng tượng quan viên văn võ là Bi Đình với tấm bia bằng đá Thanh Hóa nặng 20 tấn có khắc bài ""Khiêm Cung Ký" do chính Tự Đức soạn vào năm 1871. Tuy có đến 103 bà vợ nhưng Tự Đức không có con nối dõi nên đã viết bài văn bia này thay cho bia "Thánh đức thần công"" trong các lăng khác. Toàn bài văn dài 4.935 chữ, là một bản tự thuật của nhà vua về cuộc đời, vương nghiệp cũng như những rủi ro, bệnh tật của mình, kể công và nhận tội của Tự Đức trước lịch sử. Đằng sau tấm bia là hai trụ biểu sừng sững như hai ngọn đuốc tỏa sáng cùng với hồ Tiểu Khiêm hình trăng non đựng nước mưa để linh hồn vua rửa tội.
Khiêm Thọ Lăng là nơi chôn cất của Lệ Thiên Anh Hoàng hậu, Hoàng hậu của vua Tự Đức. Lăng có cấu trúc điển hình của các lăng mộ hoàng hậu nhà Nguyễn với bốn tầng nền, được dẫn lên bằng hệ thống bậc cấp. Ba tầng dưới là những khoảng sân rộng, tầng trên cùng là nơi đặt mộ phần, gồm hai lớp tường thành. Vòng tường ngoài có trổ cổng.
|
Hồ Baikal (phiên âm tiếng Việt: Hồ Bai-can; Nga: , , ]; , , "Baygal nuur", nghĩa là "hồ tự nhiên"; ) là hồ đứt gãy lục địa ở Nga, thuộc phía nam Siberi, giữa tỉnh Irkutsk ở phía tây bắc và Cộng hòa Buryatia ở phía đông nam.
Đây là hồ nước ngọt có lượng nước lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 22-23% tổng lượng nước ngọt không bị đóng băng quanh năm trên bề mặt thế giới. Với nước ngọt, nó nhiều hơn cả năm hồ nước của Ngũ Đại Hồ cộng lại. Độ sâu tối đa của hồ là , nên Baikal chính là hồ sâu nhất thế giới được coi là một trong số những hồ trong nhất và cũng là hồ lâu đời nhất thế giới. khi nó hình thành cách đây 25-30 triệu năm trước. Xét về diện tích bề mặt, đây là hồ nước lớn thứ bảy trên thế giới.
Tương tự như hồ Tanganyika, hồ Baikal được hình thành từ một thung lũng tách giãn cổ có hình lưỡi liềm dài với diện tích bề mặt , nhỏ hơn so với hồ Superior hay hồ Victoria. Baikal là nhà của hàng ngàn loài động thực vật, nhiều trong số đó không thể tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới. Chính vì vậy, hồ Baikal đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào năm 1996. Khu vực phía đông bờ hồ là nơi sinh sống của các bộ lạc người Buryat, họ chăn nuôi dê, lạc đà, bò và cừu, trong một môi trường khắc nghiệt khi nhiệt độ trung bình tối thiểu vào mùa đông là và tối đa trong mùa hè chỉ là .
Khu vực phía đông của hồ Baikal được gọi là Ngoại Baikal và khu vực quanh hồ đôi khi được gọi đơn giản là Baikalia.
Khu vực Baikal, đôi khi được gọi là Baikalia, đã có một lịch sử lâu dài về sự định cư của con người. Một bộ lạc đc biết đến sớm nhất trong khu vực là người Kurykan.
Nằm trong lãnh thổ cũ phía bắc của người Hung Nô, đây là một trong những nơi diễn ra Chiến tranh Hán-Hung Nô, nơi quân đội của nhà Hán truy đuổi và đánh bại lực lượng Hung Nô từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Họ đã ghi lại rằng, hồ nước là một "biển lớn" và gọi nó là "Bắc Hải" (北海), một trong Tứ Hải của Trung Quốc cổ đại. Bộ lạc người Kurykan nguồn gốc từ Siberi định cư tại đây vào thế kỷ thứ 6 đặt cho nó một cái tên dịch ra có nghĩa là "nhiều nước". Sau này nó được những người Buryat gọi là "Hồ tự nhiên" ("Baygal nuur") và "Hồ giàu có" ("Bay göl") bởi những người Yakut. Rất ít những người châu Âu biết về hồ nước này cho đến thế kỷ thứ 17, khi lãnh thổ của Nga mở rộng đến đây. Nhà thám hiểm người Nga đầu tiên đến đây là Kurbat Ivanov vào năm 1643.
Sự bành trướng của Sa quốc Nga vào khu vực của người Buryat nằm quanh hồ Baikal từ 1628–58 như là một phần của Cuộc chinh phạt của người Nga ở Siberia. Quân đội Nga theo dòng sông Angara ngược từ Yeniseysk (thành lập năm 1619) và sau đó di chuyển về phía nam từ sông Lena. Người Nga lần đầu tiên nghe nói về lãnh thổ của những người Buryat vào năm 1609 tại Tomsk. Theo truyện dân gian liên quan sau thực tế khoảng một thế kỷ thì vào năm 1623, Demid Pyanda, người có thể là người Nga đầu tiên đến Lena khi đi từ thượng lưu Lena đến Angara và đến Yeniseysk.
Vikhor Savin (1624) và Maksim Perfilyev (1626 và 1627–28) đã khám phá vùng đất của người Tungus ở hạ lưu Angara. Ở phía tây, Krasnoyarsk trên thượng lưu sông Yenisei được thành lập vào năm 1627. Một số cuộc thám hiểm không có tài liệu được khám phá về phía đông từ Krasnoyarsk. Năm 1628, Pyotr Beketov lần đầu tiên bắt một nhóm người Buryat nộp các cống phẩm ("Yasak") tại địa điểm mà sau này là Bratsk. Năm 1629, Yakov Khripunov lên đường từ Tomsk để tìm kiếm một mỏ bạc được đồn đại. Người của ông sớm bắt đầu cướp bóc cả người Nga và người bản địa. Họ có thêm một nhóm bạo loạn khác từ Krasnoyarsk tham gia cùng, nhưng đã rời khỏi vùng đất của người Buryat khi thiếu lương thực. Điều này gây khó khăn cho những người Nga khác khi vào khu vực này. Năm 1631, Maksim Perfilyev xây dựng một pháo đài gỗ ("Ostrog") tại Bratsk. Đến năm 1634, Bratsk đã bị phá hủy và quân đồn trú tại đây đều bị giết. Bratsk phục hồi bằng một cuộc viễn chinh chinh phạt dưới thời Radukovskii một năm sau đó. Năm 1638, nó tiếp tục bị bao vây nhưng không thành công.
Năm 1638, Perfilyev đã đi từ Angara qua Ilim đến sông Lena và đi xuôi dòng cho đến tận Olyokminsk. Trở về, ông đã đi thuyền trên sông Vitim vào khu vực phía đông hồ Baikal (1640), nơi ông nghe báo cáo về một đất nước Amur. Năm 1641, Verkholensk được thành lập tại thượng lưu sông Lena. Năm 1643, Kurbat Ivanov đã đi ngược dòng Lena xa hơn nữa về phía thượng nguồn, và ông trở thành người Nga đầu tiên nhìn thấy hồ Baikal và đảo Olkhon. Một nửa nhóm của ông vẫn ở lại hồ, đến Thượng Angara ở phía bắc, và trú đông trên sông Barguzin ở phía đông bắc.
Năm 1644, Ivan Pokhabov đi từ sông Angara đến Baikal, có lẽ trở thành người Nga đầu tiên sử dụng tuyến đường này, vì đây là con đường vô cùng hiểm trở khi có rất nhiều thác ghềnh. Ông băng qua hồ và khám phá hạ lưu sông Selenge. Khoảng năm 1647, ông lặp lại chuyến đi một lần nữa, có người hướng dẫn và đến thăm một 'Tsetsen Khan' gần Ulaabaatar. Năm 1648, Ivan Galkin xây dựng một pháo đài gỗ trên sông Barguzin mà đã trở thành một trung tâm từ đó mở rộng về phía đông. Năm 1652, Vasily Kolesnikov đã báo cáo rằng có thể đến Amur bằng cách theo sông Selenga, Uda và Khilok đến các địa điểm mà sau này là Chita và Nerchinsk. Năm 1653, Pyotr Beketov đi theo tuyến đường mà Kolesnikov sử dụng để đến hồ Irgen phía tây Chita, và mùa đông năm đó, một người của ông có tên là Urasov đã thành lập Nerchinsk. Nerchinsk đã bị phá hủy bởi người Tungus địa phương, nhưng được khôi phục vào năm 1658.
Đường sắt xuyên Sibir được xây dựng giữa năm 1896 đến 1902 băng qua khu vực này thông qua đường sắt Circum-Baikal ở cuối tây nam hồ Baikal cần phải sử dụng 200 cây cầu và 33 đường hầm. Cho đến khi hoàn thành, một chuyến phà đã vận chuyển các toa tàu băng qua hồ từ cảng Baikal đến Mysovaya trong một số năm. Khi đường sắt được xây dựng, một đoàn thám hiểm thủy văn lớn do F.K. Drizhenko lãnh đạo đã vẽ bản đồ đường viền chi tiết đầu tiên của hồ.
Hồ Baikal trở thành một chiến trường nhỏ giữa Quân đoàn Tiệp Khắc và Hồng Quân Liên Xô vào năm 1918. Vào những thời điểm hồ bị đóng băng, có thể đi bộ qua hồ mặc dù nguy cơ bị bỏng lạnh và hạ thân nhiệt có thể gây chết người bởi những cơn gió lớn và lạnh thổi qua mà không bị cản trở trên những dải băng phẳng. Vào mùa đông năm 1920, lực lượng Bạch Vệ rút lui khi băng qua hồ Baikal đóng băng. Gió trên mặt hồ khi ấy rất lạnh khiến nhiều người chết và bị đóng băng tại chỗ cho đến khi tan băng vào mùa xuân. Bắt đầu từ năm 1956, đập Irkutsk trên sông Angara được xây dựng khiến mực nước trong hồ nâng lên cao đã nâng mực nước hồ lên .
Địa lý và thủy văn.
Hồ Baikal nằm trong một thung lũng tách giãn được hình thành bởi Đới tách giãn Baikal, nơi vỏ Trái Đất dần tách ra. Với chiều dài và chiều rộng và diện tích , hồ Baikal có diện tích bề mặt lớn hơn bất kỳ hồ nước ngọt nào khác tại châu Á và là hồ sâu lớn nhất thế giới với độ sâu dưới mực nước biển. Phần đáy của hồ sâu dưới mực nước biển, song bên dưới đó là trầm tích, vì thể điểm đáy của đứt gãy sâu dưới mặt đất xung quanh: và là đứt gãy trên lục địa sâu nhất trên Trái Đất. Theo quan điểm địa chất, đứt gãy này vẫn còn trẻ và đang hoạt động, nó mở rộng khoảng 2 cm mỗi năm. Đớt đứt gãy này cũng có hoạt động động đất, ngoài ra cũng có các suối nước nóng trong khu vực quanh hồ. Hồ Baikal được phân thành ba bồn hay bể: Bắc, Trung và Nam, với độ sâu tương ứng là , , và . Bồn Bắc và Trung tách biệt nhau qua dãy Academician trong khi khu vực quanh đồng bằng Selenga và vùng yên ngựa Buguldeika tách biệt bồn Trung và Nam. Hồ thoát nước qua sông Angara, một chi lưu của sông Enisei. Địa hình đáng chú ý tại hồ Baikal là Mũi Ryty nằm trên bờ tây bắc.
Hồ Baikal ước tính có tuổi đời từ 25-30 triệu năm trước khiến nó trở thành hồ nước lâu đời nhất thế giới.
Bao quanh hồ nước là những dãy núi. Phía bắc là Dãy núi Baikal, đông bắc là dãy Barguzin, rừng Taiga bao quanh và hồ được bảo vệ bởi rất nhiều các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. Trong hồ nước là 27 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, lớn nhất trong số đó là đảo Olkhon dài là đảo hồ lớn thứ ba thế giới. Hồ nước được nuôi dưỡng bởi 330 con sông lớn nhỏ. Những dòng chính chảy trực tiếp vào Baikal là sông Selenga, Barguzin, Thượng Angara, Turka, Sarma và Snezhnaya. Sông Angara là cửa thoát nước duy nhất của hồ Baikal.
Hồ được bao quanh bởi những ngọn núi; Dãy núi Baikal ở bờ phía bắc, dãy Barguzin ở bờ đông bắc và các cánh rừng taiga được bảo vệ như một công viên quốc gia. Hồ có 27 hòn đảo; lớn nhất là hồ Olkhon, dài 72 km (45 dặm) và là hòn đảo trên hồ lớn thứ ba thế giới. Hồ được 330 dòng sông chảy vào. Những con sông chính chảy trực tiếp vào hồ Baikal là Selenga, Barguzin, Upper Angara, Turka, Sarma và Snezhnaya. Nó được dẫn lưu thông qua một lối thoát duy nhất, Angara.
Đặc điểm của nước.
Baikal là một trong những hồ nước trong nhất thế giới. Vào mùa đông, ở những khu vực mở, độ trong của nó có thể thấy được độ sâu từ nhưng trong suốt mùa hè, thường là chỉ ở mức từ . Hồ Baikal rất giàu Oxy, ngay cả ở những khu vực nước sâu, tách ra khỏi những khối phân tầng nước rõ rệt như tại Hồ Tanganyika và Biển Đen.
Ở hồ Baikal, nhiệt độ nước thay đổi đáng kể tùy thuộc vào vị trí, độ sâu và thời gian trong năm. Trong mùa đông và mùa xuân, bề mặt đóng băng trong khoảng từ 4-5 tháng, bắt đầu từ tháng 1 cho đến đầu tháng 5-6 (chậm nhất ở phía bắc) khi mặt hồ phủ đầy băng. Trung bình, lớp băng có độ dày từ nhưng tại một số gò băng nổi có thể lên đến . Trong giai đoạn này, nhiệt độ tăng chậm theo độ sâu của hồ, lạnh nhất gần bề mặt băng bao phủ cho đến độ sâu từ với nhiệt độ . Sau khi lớp băng nứt ra, bề mặt hồ được làm ấm dần lên bởi Mặt trời từ tháng 5-6 cho đến độ sâu nhưng nhiệt độ cũng chỉ dao động quanh bởi sự hòa trộn nước. Mặt trời tiếp tục làm nóng bề mặt nước và đạt cực đại vào tháng 8 khi nước trong hồ đạt tại khu vực nước mở, tại bãi cạn và phía nam hồ. Trong thời gian này, mô hình được đảo ngược so với mùa đông và mùa xuân, khi nhiệt độ nước tỉ lệ nghịch với độ sâu. Khi mùa thu bắt đầu, nhiệt độ bề mặt lại giảm xuống ở quanh ngưỡng cho đến dưới vào tháng 10 tháng 11. Ở những nơi có độ sâu từ 300 mét trở lên, nhiệt độ ổn định từ .
Nhiệt độ trung bình của bề mặt hồ đã tăng gần 1,5 °C (2,7 °F) trong 50 năm qua khiến thời gian băng bao phủ hồ cũng ngắn lại. Tại một số địa điểm có những miệng phun thủy nhiệt là nơi có dòng nước đạt đến . Chúng chủ yếu nằm ở vùng nước sâu, nhưng tại hồ Baikal thì một số vùng nước tương đối nông cũng tìm thấy. Chúng rất ít ảnh hưởng đến nhiệt độ của hồ vì khối lượng khổng lồ của hồ Baikal.
Hiện tượng mưa bão trên hồ khá phổ biến, đặc biệt là trong mùa hè và mùa thu, và có thể hình thành những con sóng trong hồ cao đến .
Hồ Baikal có sự đa dạng sinh học cao là nơi có hơn 1.000 loài thực vật và 2.500 loài động vật, nhưng trên thực tế con số này còn cao hơn đáng kể. Hơn 80% loài động vật tại đây là loài đặc hữu.
Khu vực quanh hồ là nơi có nhiều loài hoa. Trong đó loài "Kế đầm châu Âu" được tìm thấy ở giới hạn phía đông của hồ. Hầu hết, thực vật thủy sinh có mạch hầu hết không có, ngoại trừ ở một số vịnh cạn dọc theo bờ hồ Baikal. Hơn 85 loài thủy sinh chìm được ghi nhận là có mặt tại đây gồm các Chi Rong đuôi chó, Cỏ đuôi chó, Rong mái chèo, Cỏ Hòa thảo. Các loài xâm lấn như "Elodea canadensis" đã được đưa đến hồ vào những năm 1950. Thay vì thực vật có mạch, hệ thực vật thủy sinh thường bị chi phối bởi một số loài tảo lục, đáng chú ý nhất là "Draparnaldioides", "Tetraspora" và "Ulothrix" tại những khu vực nước nông dưới , mặc dù một số loài "Aegagrophila", "Cladophora" và "Draparnaldioides" cũng có thể được tìm thấy tại khu vực có độ sâu hơn . Ngoại trừ loài "Ulothrix" thì tất cả các loài khác đều là loài tảo đặc hữu. Có hơn 400 loài tảo cát, sinh vật đáy và sinh vật phù du được tìm thấy trong hồ, một nửa trong số chúng là loài đặc hữu của hồ Baikal, tuy nhiên không có sự chắc chắn về phân loại nhóm của các loài này.
Nổi tiếng nhất và được tìm thấy trong khắp vùng hồ là loài Hải cẩu Baikal. Đây là một trong ba quần thể hải cẩu sống hoàn toàn trong khu vực nước ngọt trên thế giới, hai phân loài còn lại của Hải cẩu đeo vòng tại Bắc Âu. Chúng được cho đã di chuyển đến đây từ Bắc Băng Dương hơn 800.000 năm trước, những chú hải cẩu nhỏ da trơn này đã trở thành biểu tượng của vùng di sản thiên nhiên Baikal diệu kỳ. Sự ô nhiễm và nạn săn bắt bởi những người Buryat đã làm giảm phần lớn số lượng loài này. Hiện chỉ còn khoảng 60.000 con đang sinh sống trong hồ, giảm hơn 100.000 con so với vài năm trước. Hải cẩu Baikal hay ẩn náu nên rất khó quan sát. Du khách đến đây thường chọn cách đến thăm vườn nuôi ở Irkutsk hoặc Listvyanka.
Một số loài động vật có vú khác sống ở quanh hồ còn có Gấu nâu Á Âu, Sói Á Âu, Cáo đỏ, Chồn zibelin, Chồn ecmin, Nai sừng tấm Á-Âu, Nai Altai, Tuần lộc, Hoẵng Siberia, Hươu xạ Siberia, Lợn rừng, Sóc đỏ, Marmota, Sóc chuột Siberia, Chuột Lemming, Thỏ núi. Cho đến Sơ kỳ Trung Cổ, loài Bò bison châu Âu có mặt ở phần cực đông của hồ nhưng cho đến ngày nay, chúng đã hoàn toàn biến mất.
Hồ Baikal có 236 loài chim, trong đó có 29 loài là loài chim sống ở mặt nước. Mặc dù được đặt tên theo hồ, cả hai loài mòng két Baikal và chích chòe bụi rậm Baikal đều phổ biến ở Đông Á.
Đây cũng là có dưới 65 loài cá bản địa nhưng hơn một nửa trong số chúng là loài đặc hữu. Một số loài không được tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới như Cá bống nước sâu, Cá mỡ Baikal, Cá bống đầu to. Chúng là những loài thuộc Họ Cá bống biển có chiều dài dưới . Đặc biệt là hai phân loài của Cá mỡ Baikal thường sống ở vùng nước sâu từ nhưng lại có thể tìm thấy ở khu vực nước nông hoặc sâu hơn nhiều so với tầng nước thường thấy chúng. Chúng là loài cá nước ngọt sống sâu nhất thế giới khi xuất hiện gần đáy hồ Baikal. Chúng là nguồn thức ăn chính của loài Hải cẩu Baikal và đại diện cho sinh khối cá lớn nhất trong hồ.
Loài bản địa quan trọng nhất đối với những ngư dân là Cá hồi Omul, một loài Cá hồi trắng đặc hữu. Nó được đánh bắt sau đó đem xông khói và bán ở các chợ quanh hồ. Một loài đặc hữu khác là Cá hồi trắng Baikal, hai phân loài của Cá hồi Thyman, Cá tầm Baikal và đều là những loài quan trọng có giá trị thương mại của lưu vực hồ Baikal.
Hồ Baikal chứa hệ động vật không xương sống đặc hữu gồm động vật phù du, 350 loài và phân loại động vật giáp xác mềm thuộc Amphipoda, Ostracoda (phần lớn đều là loài đặc hữu), 150 loài Ốc nước ngọt (trong đó có 117 loài đặc hữu), 200 loài Giun đốt (160 loài đặc hữu), 18 loài bọt biển (14 loài đặc hữu).
Một số tổ chức đang thực hiện các dự án nghiên cứu tự nhiên trên hồ Baikal. Hầu hết trong số họ là chính phủ hoặc liên kết với các tổ chức chính phủ. Trung tâm nghiên cứu Baikalian là một tổ chức nghiên cứu độc lập thực hiện các dự án nghiên cứu về môi trường, giáo dục và nghiên cứu tại hồ Baikal.
Vào tháng 7 năm 2008, Nga đã gửi hai tàu lặn nhỏ Mir-1 và Mir-2 xuống độ cao 1.592 m (5.223 ft) xuống đáy hồ Baikal để tiến hành các thử nghiệm địa chất và sinh học trên hệ sinh thái độc đáo của mình. Mặc dù ban đầu được báo cáo là thành công, họ đã không lập kỷ lục thế giới về lần lặn sâu nhất nước ngọt, đạt độ sâu chỉ 1.580 m (5.180 ft). Kỷ lục đó hiện đang được Anatoly Sagalevich nắm giữ, ở độ cao 1.637 m (5.371 ft) (cũng ở hồ Baikal trên tàu chìm của Song Ngư vào năm 1990). Nhà khoa học Nga và chính trị gia liên bang Artur Chilingarov, người lãnh đạo phái bộ, đã tham gia vào cuộc lặn Mir cũng như nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin.
Từ năm 1993, nghiên cứu về neutrino đã được thực hiện tại Kính thiên văn neutrino dưới hồ Baikal (BDUNT). Kính thiên văn Baikal Neutrino NT-200 đang được triển khai ở hồ Baikal, cách bờ 3,6 km (2,2 mi) ở độ sâu 1,1 km (0,68 mi). Nó bao gồm 192 mô-đun quang.
Hồ Baikal được mệnh danh là "Hòn ngọc của Siberia" và "Galapagos của Nga" đã thu hút các nhà đầu tư du lịch khi doanh thu năng lượng gây ra sự bùng nổ kinh tế. Grand Baikal của Viktor Grigorov tại Irkutsk là một trong những nhà đầu tư, người đã lên kế hoạch xây dựng ba khách sạn, tạo ra 570 việc làm. Năm 2007, chính phủ Nga tuyên bố vùng Baikal là đặc khu kinh tế. Một khu nghỉ mát nổi tiếng ở Listvyanka là nhà lịch sử bảy tầng có tên là Khách sạn Mayak. Ở phía bắc của hồ, một tổ chức phi chính phủ của Đức có tên Baikalplan đã hợp tác xây dựng với Chính phủ Nga Đường mòn khám phá bờ hồ Frolikha, một con đường dài là ví dụ cho sự phát triển bền vững trong khu vực. Baikal cũng được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào năm 1996. Rosatom cũng đã lên kế hoạch xây dựng một phòng thí nghiệm gần Baikal, kết hợp với một nhà máy Uranium trị giá 2,5 tỷ đôla đem đến 2.000 việc làm tại thành phố Angarsk.
Hồ Baikal là một điểm đến phổ biến của khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới. Theo Cơ quan Thống kê Liên bang Nga, thì năm 2013 đã có 79.179 khách du lịch nước ngoài đến thăm Irkutsk và hồ Baikal. Con số này vào năm 2014 đã tăng lên 146.937 khách. Những nơi phổ biến nhất để du khách tận hưởng cảnh quan tuyệt đẹp của hồ là tại Listvyanka, đảo Olkhon, mũi Kotelnikovsky, Baykalskiy Priboi, khu nghỉ mát Khakusy và làng Turka. Tuy cơ sở hạ tầng chưa phát triển nhưng nó ngày càng trở thành một địa điểm thu hút khách du lịch nhờ vào chất lượng dịch vụ cùng sự thoải mái khi ngắm nhìn cảnh sắc tự nhiên và đi bộ đường dài.
Con đường trên băng đến đảo Olkhon là con đường trên băng được phép duy nhất trên hồ Baikal. Nó được chuẩn bị bởi các chuyên gia hàng năm và mở cửa khi điều kiện thời tiết cho phép. Năm 2015, con đường trên băng này mở từ ngày 17 tháng 2 đến ngày 23 tháng 3. Độ dày của băng trên đường khoảng 60 cm (24 in), sức chịu tối đa là 10 tấn mở từ 9 - 18 giờ. Con đường này dài 12 km (7,5 dặm) bắt đầu từ làng Kurkut bên hồ, đến Irkutskaya Guba trên đảo Olkhon.
Du lịch sinh thái.
Baikal có một số hoạt động du lịch khác nhau, tùy theo mùa. Nói chung, Baikal có hai mùa du lịch hàng đầu. Mùa đầu tiên là mùa đông, thường bắt đầu vào giữa tháng 1 và kéo dài đến giữa tháng 4. Trong mùa này, độ dày của lớp băng trên hồ tăng lên tới 140 cm, cho phép lái xe an toàn trên lớp băng (trừ các phương tiện hạng nặng, như xe buýt du lịch). Điều này cho phép du khách nhìn của băng được hình thành tại các bờ đá của đảo Olkhon, bao gồm Mũi Hoboy, đá Three Brothers và các hang động ở phía Bắc Khuzhir. Du khách cũng có thể đi vào các hòn đảo nhỏ như Đảo Ogoy và Zamogoy.
Bản thân băng có độ trong suốt ở độ dày một mét, có các kiểu kẽ hở và âm thanh khác nhau. Đó là lý do tại sao mùa này là phổ biến để đi bộ đường dài, đi bộ trên băng, trượt băng và đi xe đạp. Một tuyến đường băng quanh Olkhon là khoảng 200 km. Một số khách du lịch có thể phát hiện hải cẩu Baikal dọc theo tuyến đường. Các doanh nhân địa phương cung cấp chỗ nghỉ qua đêm bằng lều tròn Yurt trên băng. Cũng trong mùa này thu hút khách đi câu cá trên băng. Hoạt động này phổ biến nhất ở phía Buryatia của Baikal (Ust-Barguzin). Những người không phải là ngư dân có thể thử đặc sản cá tươi ở hồ Baikal trong các chợ địa phương ở các ngôi làng lân cận (Listvyanka, Ust-Barguzin).
Mùa băng kết thúc vào giữa tháng Tư. Do nhiệt độ ngày càng tăng, băng bắt đầu tan và trở nên mỏng và dễ vỡ, đặc biệt là ở những nơi có dòng chảy dưới băng mạnh. Xe cộ và người nếu đi qua hồ có thể sụp dưới lớp băng. Điều này dẫn đến nhiều thương vong hàng năm.
Mùa du lịch thứ hai là mùa hè, cho phép khách du lịch khám phá thiên nhiên Baikal nhiều hơn. Những con đường mòn đi bộ trở nên mở, nhiều trong số chúng băng qua hai dãy núi: dãy núi Baikal ở phía tây và dãy Barguzin ở phía đông của Baikal. Con đường mòn phổ biến nhất bắt đầu ở Listvyanka và đi dọc theo bờ biển Baikal đến Bolshoye Goloustnoye. Tổng chiều dài của tuyến đường là 55 km, nhưng phần lớn khách du lịch thường chỉ đi bộ qua một phần của nó - một đoạn dài 25 km đến Bolshie Koty. Nó có mức độ khó thấp hơn và có thể an toàn cho những người không có kỹ năng và thiết bị đặc biệt.
Các tàu du lịch nhỏ hoạt động trong khu vực, giúp du khách có cơ hội xem chim chóc và các động vật khác (đặc biệt là hải cẩu Baikal) cũng như câu cá. Nước trong hồ rất lạnh ở hầu hết các nơi (không vượt quá 10 °C trong cả năm), nhưng ở một số vịnh như Chivirkuy, du khách có thể thoải mái khi bơi.
Ngôi làng đông dân nhất của Olkhon Khuzhir là một điểm đến du lịch sinh thái. Baikal luôn được ưa chuộng ở Nga và các nước thuộc Cộng đồng các Quốc gia Độc lập, nhưng trong vài năm qua Baikal đã chứng kiến một lượng du khách đến từ Trung Quốc và Châu Âu.
Vấn đề môi trường.
Nhà máy sản xuất giấy và bột giấy Baykalsk.
Nhà máy sản xuất giấy và bột giấy Baykalsk được xây dựng vào năm 1966 nằm trực tiếp bên bờ hồ Baikal. Nó sử dụng Clo để tẩy trắng và chất thải đổ trực tiếp vào hồ. Quyết định xây dựng nhà máy trên hồ Baikal đã dẫn đến sự phản đối mạnh mẽ từ các nhà khoa học Liên Xô. Theo họ, nước siêu tinh khiết của hồ là một nguồn tài nguyên quan trọng và nên được sử dụng cho sản xuất hóa chất sáng tạo, ví dụ như sản xuất sợi tổng hợp viscose chất lượng cao cho ngành hàng không và vũ trụ. Các nhà khoa học Liên Xô cảm thấy rằng việc thay đổi chất lượng nước của hồ Baikal là không hợp lý khi bắt đầu sản xuất giấy trên bờ. Vị trí của nhà máy cũng là nơi cần thiết để bảo tồn các loài sinh vật địa phương đặc hữu và duy trì khu vực xung quanh hồ Baikal như một khu giải trí. Tuy nhiên, sự phản đối của các nhà khoa học Liên Xô vấp phải sự phản đối từ hành lang công nghiệp và chỉ sau nhiều thập kỷ phản đối, nhà máy mới bị đóng cửa vào tháng 11 năm 2008 do không có lợi nhuận. Nhưng vào ngày 4 tháng 1 năm 2010, việc sản xuất đã được tiếp tục. Cuối năm đó, vào ngày 13 tháng 1 năm 2010, Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin đã đưa ra những thay đổi trong việc hợp pháp hóa hoạt động của nhà máy; hành động này đã mang lại một làn sóng phản đối từ các nhà sinh thái học và cư dân địa phương. Những thay đổi này dựa trên quyết tâm của Tổng thống Putin thông qua xác minh trực quan về tình trạng của hồ Baikal từ một chiếc tàu ngầm thu nhỏ, "Tôi có thể nhìn thấy bằng mắt của mình - và các nhà khoa học có thể xác nhận - Baikal đang ở trong tình trạng tốt và thực tế không có ô nhiễm". Mặc dù vậy, vào tháng 9 năm 2013, nhà máy đã trải qua một vụ phá sản cuối cùng với việc 800 công nhân cuối cùng dự kiến sẽ phải nghỉ làm vào ngày 28 tháng 12 năm 2013. Vào ngày nhà máy đóng cửa 28 tháng 12 năm 2013, Chính phủ Nga đã công bố kế hoạch xây dựng Trung tâm triển lãm của Khu bảo tồn thiên nhiên Nga thay cho nhà máy giấy đã đóng cửa.
Đường ống dẫn dầu Đông Siberia-Thái Bình Dương.
Công ty nhà nước về đường ống dẫn dầu Transneft đã lên kế hoạch xây dựng một đường ống chính có thể nằm trong phạm vi từ bờ hồ, trong một khu vực có hoạt động địa chấn đáng kể. Các nhà hoạt động môi trường ở Nga, tổ chức Hòa bình xanh, công dân địa phương là những người phản đối mạnh mẽ kế hoạch này do khả năng xảy ra sự cố tràn dầu có thể gây thiệt hại đáng kể cho môi trường. Theo chủ tịch của Transneft, nhiều cuộc họp với người dân sống tại khu vực bờ hồ đã được tổ chức tại các thị trấn dọc theo tuyến đường, đặc biệt là ở Irkutsk. Transneft đồng ý thay đổi kế hoạch của mình khi Tổng thống Nga Vladimir Putin ra lệnh cho công ty xem xét một tuyến đường thay thế nằm cách về phía bắc để tránh những rủi ro sinh thái như vậy. Transneft sau đó đã quyết định di chuyển đường ống ra khỏi khu vực hồ Baikal, và do đó nó sẽ không đi qua bất kỳ khu bảo tồn thiên nhiên liên bang hay nhà nước cộng hòa nào cả. Công việc bắt đầu với đường ống thay thế chỉ hai ngày sau khi Tổng thống Putin đồng ý.
Trung tâm làm giàu Uranium.
Năm 2006, chính phủ Nga đã công bố kế hoạch xây dựng trung tâm làm giàu uranium quốc tế đầu tiên trên thế giới tại một cơ sở hạt nhân hiện có ở Angarsk, một thành phố trên sông Angara cách bờ hồ 95 km (59 dặm) về phía hạ lưu. Các nhà phê bình và nhà hoạt động môi trường cho rằng nó sẽ là một thảm họa cho khu vực và đang thúc giục chính phủ xem xét lại.
Sau khi làm giàu, chỉ 10% vật liệu phóng xạ sẽ được xuất khẩu cho khách hàng quốc tế còn 90% sẽ được lưu trữ gần khu vực hồ Baikal dưới dạng Chất thải phóng xạ có chứa các nguyên tố phóng xạ độc hại. Nếu được bảo quản không đúng cách, nó có khả năng gây nguy hiểm cho con người và có thể gây ô nhiễm nguồn nước sông hồ. Một trung tâm làm giàu đã được xây dựng vào những năm 2010.
Nhà máy nước đóng chai của Trung Quốc.
Công ty AquaSib thuộc sở hữu của Trung Quốc đã mua đất dọc theo hồ và bắt đầu xây dựng một nhà máy nước đóng chai và đường ống dẫn ở thị trấn Kultuk. Mục tiêu của công ty này là xuất khẩu 190 triệu lít nước sang Trung Quốc mặc dù lưu vực hồ đã phải đối mặt với mực nước thấp trong lịch sử. Điều này đã thúc đẩy các cuộc biểu tình của người dân địa phương rằng hồ Baikal sẽ bị rút cạn nước. Tại thời điểm đó, chính quyền địa phương đã phải tạm dừng các kế hoạch để chờ kết quả phân tích.
Mối đe dọa khác.
Theo "The Moscow Times" và "Vice", các loài tảo xâm lấn phát triển mạnh trong hồ từ hàng trăm tấn chất thải lỏng bởi khách du lịch và hàng năm có đến 25.000 tấn chất thải lỏng được xử lý hàng năm bởi các tàu địa phương.
|
Đặng Tiểu Bình ( giản thể: 邓小平; phồn thể: 鄧小平; bính âm: "Dèng Xiǎopíng"; 22 tháng 8 năm 1904 - 19 tháng 2 năm 1997), tên khai sinh là Đặng Tiên Thánh (邓先聖) là một nhà chính trị người Trung Quốc, ông là Lãnh đạo tối cao của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ năm 1978 đến năm 1997 (khi ông qua đời). Sau khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976, Đặng lên nắm quyền và lãnh đạo Trung Quốc qua một loạt những cải cách kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa có ảnh hưởng sâu rộng, người Trung Quốc thường gọi ông với danh xưng "kiến trúc sư của Trung Quốc hiện đại".
Sinh ra trong một gia đình địa chủ có học thức ở tỉnh Tứ Xuyên, Đặng học tập và làm việc tại Pháp trong những năm 1920, nơi ông đã trở thành một người đi theo chủ nghĩa Mác Lênin. Ông gia nhập Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1923. Trong thời gian trở lại Trung Quốc, Đặng gia nhập tổ chức đảng ở Thượng Hải, trở thành một chính ủy của Hồng quân Trung Quốc ở những khu vực nông thôn. Năm 1931, ông bị giáng cấp do việc ủng hộ Mao Trạch Đông, nhưng được thăng cấp trở lại trong Hội nghị Tuân Nghĩa 1935. Khoảng cuối những năm thập niên 30, Đặng được xem là một "nhà cách mạng kì cựu" bởi vì ông đã từng tham gia cuộc Vạn lý trường chinh. Sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949, Đặng làm việc ở Tây Tạng cũng như vùng Tây Nam Trung Quốc nhằm củng cố sự quản lý của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Với vai trò là Tổng thư ký trong những năm thập niên 1950, Đặng đứng đầu Chiến dịch chống cánh hữu được phát động bởi Mao và có công lớn trong việc cải cách nền kinh tế Trung Quốc sau chiến dịch Đại nhảy vọt (1958-1960). Tuy nhiên, những chính sách kinh tế của Đặng đã khiến ông mất đi sự ủng hộ của Mao Trạch Đông và bị thanh trừng hai lần trong Cách mạng văn hóa.
Sau khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976, Đặng trở thành lãnh tụ tối cao Trung Quốc trong tháng 12 năm 1978. Lên lãnh đạo một đất nước bao phủ bởi xung đột xã hội, vỡ mộng với ý thức hệ và rối loạn do những nguyên nhân từ các chính sách của thời kỳ Mao Trạch Đông nắm quyền, Đặng đã bắt đầu mang đất nước vào khuôn khổ. Từ năm 1977 tới đầu năm 1979, ông đã tổ chức kì thi đại học cao đẳng trong Trung Quốc sau khi bị gián đoạn bởi Cách mạng văn hóa trong 10 năm, khởi xưởng chính sách lịch sử Cải cách mở cửa Trung Quốc, phát động Chiến tranh biên giới Việt - Trung. Trong tháng 8 năm 1980, ông bắt đầu cải tổ lại nền chính trị Trung Quốc bằng cách đặt ra giới hạn nhiệm kỳ cho các quan chức và đề xuất một sửa đổi mang tính hệ thống đối với Hiến pháp lần thứ ba của Trung Quốc. Trong những năm thập niên 80, Đặng ủng hộ chính sách kế hoạch hóa gia đình nhằm đối phó với khủng hoảng gia tăng dân số Trung Quốc, thực hiện chính sách Giáo dục bắt buộc và đưa ra Chương trình 863 cho khoa học và kĩ thuật.
Mặc dù Đặng Tiểu Bình chưa bao giờ có chức vụ nguyên thủ quốc gia hay đứng đầu chính phủ hoặc Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc nhưng nhiều người gọi ông là "kiến trúc sư" của một kiểu tư tưởng mới mà kết hợp tư tưởng chủ nghĩa xã hội với thị trường tự do, được gọi là "chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc". Ông mở cửa Trung Quốc giao lưu với thị trường thế giới, những chính sách phát triển Trung Quốc thành một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới và tăng chất lượng cuộc sống của hàng trăm triệu người. Đặng được bình chọn là Nhân vật của năm của tạp chí Time năm 1978 và 1985. Ông bị chỉ trích vì ra lệnh trấn áp những người biểu tình trong sự kiện Thiên An Môn, nhưng được khen ngợi cho sự tái khẳng định của ông về chương trình cải cách trong chuyến đi xuống phía Nam năm 1992 cũng như sự kiện bàn giao Hồng Kông cho Trung Quốc năm 1997.
Cuộc sống thời trẻ và gia đình.
Tổ tiên của Đặng có thể có nguồn gốc từ Mai Huyện, Quảng Đông, một vùng định cư xa xưa của người Khách Gia và đã chuyến đến sống tại Tứ Xuyên trong nhiều thế hệ. Con gái của Đặng là Đặng Lâm viết trong cuốn "Cha của tôi Đặng Tiểu Bình" rằng tổ tiên của Đặng có thể nhưng không chắc chắn là người Khách Gia. Sau này, người ta xác định Đặng có quê tổ ở quận Thanh Nguyên, địa cấp thị Cát An, tỉnh Giang Tây . Đặng sinh ngày 22 tháng 8 năm 1904 tại thôn Bài Phường, xã Hiệp Hưng, huyện Quảng An, phía đông tỉnh Tứ Xuyên.
Cha của Đặng, Đặng Thiệu Xương (tự Văn Minh), một địa chủ khá giả và từng học tại Đại học Luật và Khoa học Chính trị ở Thành Đô. Ông là một người nổi bật ở địa phương và là hội viên của một hội nhóm hoạt động bí mật nhằm lật đổ triều đình Mãn Thanh, Mẹ của Đặng, Đàm Thị đã mất sớm sau khi sinh Đặng, ông có ba anh em trai: Đặng Tiên Liệt, Đặng Tiểu Bình, Đặng Khẩn, và ba chị gái. Cha của Đặng có bốn người vợ, người vợ thứ nhất mất sớm mà không có con, mẹ của Đặng là vợ thứ hai và người vợ thứ ba sinh được một trai, bà thứ tư (Hạ Bá Căn) sinh được 2 trai, 3 gái. Mẹ đẻ Đặng Tiểu Bình mất sớm, nên sau này ông đã mời mẹ kế Hạ Bá Căn từ quê lên thủ đô sống chung cùng gia đình ông. Lúc 5 tuổi Đặng được gửi tới một ngôi trường truyền thống của Trung Quốc, sau đó lúc 7 tuổi ông đã học ở ngôi trường hiện đại hơn. Mẹ của ông, họ là Dan, chết sớm, để lại Đặng, ba anh trai và ba chị gái.
Người vợ đầu của Đặng, một bạn học của ông từ Moskva, đã mất ở tuổi 24 chỉ vài ngày sau khi sinh người con đầu tiên của Đặng, một bé gái nhưng cũng đã mất sau đó. Người vợ thứ hai của ông, Jin Weiying đã bỏ ông sau khi Đặng phải chịu cuộc tấn công chính trị năm 1933. Người vợ thứ ba của ông là Zhuo Lin là con gái của một nhà tư bản công nghiệp ở Hồ Nam. Bà trở thành một thành viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1938 và kết hôn với Đặng một năm sau đó. Họ đã có năm người con: 3 gái và 2 trai.
Giáo dục và sự nghiệp thời trẻ.
Khi lần đầu Đặng đi học, người thầy của ông đã phản đối cái tên của ông là "Xiānshèng" (先聖), mà gọi ông là "Xīxián" (希賢), tên bao gồm các chữ "khao khát" và "lòng tốt", với những ẩn ý về sự sáng suốt.
Mùa hè năm 1919, Đặng tốt nghiệp trường Trùng Khánh. Ông và 80 bạn học khác đã đi bằng tàu tới Pháp (bằng vé hạng chót) để tham gia "Phong trào làm việc chăm chỉ-học tập chuyên cần", một chương trình học tập và làm việc trong tổng số 4,001 người Trung Quốc tham gia khoảng năm 1927. Đặng là người trẻ nhất trong nhóm, lúc đó mới 15 tuổi. Wu Yuzhang, lãnh đạo địa phương của phong trào trong trường Chongqing, đã kết nạp Đặng và chú của ông vào phong trào. Cha của Đặng đã vô cùng ủng hộ con trai mình tham gia chương trình làm việc và học tập ở hải ngoại. Đêm trước khi khởi hành, cha của Đặng đã hỏi ông về những điều ông đã hứa để học tại Pháp. Ông đã lặp lại những từ ông đã học từ những người thầy của mình "để học kiến thức và chân lý từ phương Tây để cứu Trung Quốc". Đặng đã nhận thức được rằng, Trung Quốc đang chịu nhiều đau khổ to lớn, và rằng người Trung Quốc phải có một nền giáo học hiện đại để cứu đất nước của họ.
Tháng 12 năm 1920, chiếc tàu André Lyon của Pháp đã khởi hành tới Marseille với 210 học sinh bao gồm Đặng. Đặng lúc ấy 16 tuổi đã nhập học trường trung học ở Bayeux và Châtillon, nhưng ông đã dành hầu hết thời gian làm việc ở Pháp. Công việc đầu tiên của ông là thợ lắp ráp tại công ty sắt Le Creusot và thép ở La Garenne-Colombes, một vùng ngoại ô phía Tây Nam Paris. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên sau này, khi sự nghiệp chính trị của Đặng là đi xuống và ông đã được gửi tới làm việc trong một nhà máy máy kéo năm 1974 ông đã làm thợ lắp ráp lần nữa và đã chứng minh bản thân vẫn giữ những kĩ năng bậc thầy.
Ở La Garenne-Colombes, Đặng gặp Chu Ân Lai, Nhiếp Vinh Trăn, Cai Hesen, Zhao Shiyan và Li Whenhai. Dưới sự ảnh hưởng của những sinh viên lớn tuổi hơn ở Pháp, Đặng đã bắt đầu nghiên cứu chủ nghĩa Marx và tham gia truyền bá tác phẩm. Năm 1921 ông đã gia nhập Liên minh những người cộng sản trẻ Trung Quốc ở châu Âu. Vào năm 1924, ông đã gia nhập Đảng cộng sản Trung Quốc và trở thành một trong những lãnh đạo của Tổng chi nhánh liên minh trẻ ở châu Âu. Trong năm 1926 Đặng tới Liên Xô và học tại Đại học Tôn Trung Sơn tại Moscow, tại đây ông có một người bạn học là Tưởng Kinh Quốc, con trai của Tưởng Giới Thạch.
Quay lại Trung Quốc.
Cuối năm 1927, Đặng Tiểu Bình rời khỏi Moskva để trở về Trung Quốc, gia nhập quân đội của Phùng Ngọc Tường, một nhà lãnh đạo quân đội ở Tây Bắc Trung Quốc, người đã yêu cầu sự giúp đỡ của Liên Xô trong cuộc đấu tranh với các nhà lãnh đạo địa phương khác trong khu vực. Vào thời điểm đó, Liên Xô, thông qua Quốc tế cộng sản, một tổ chức quốc tế hỗ trợ các phong trào cộng sản trên khắp thế giới đã hỗ trợ liên minh của Đảng Cộng sản Trung Quốc với Quốc dân đảng (KMT) được thành lập bởi Tôn Trung Sơn.
Đặng Tiểu Bình đến Tây An, thành trì của Phùng Ngọc Tường, tháng 3 năm 1927 với nỗ lực ngăn chặn sự phá vỡ liên minh giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản. Sau khi liên minh giữa Quốc Dân Đảng và Cộng sản tan rã, Phùng Ngọc Tường đứng về phía Tưởng Giới Thạch và những người cộng sản như Đặng Tiểu Bình buộc phải chạy trốn. Năm 1929, ông lãnh đạo cuộc nổi dậy ở tỉnh Quảng Tây chống lại chính quyền của Quốc dân đảng. Cuộc nổi dậy thất bại và ông đến Giang Tây.
Thăng tiến chính trị.
Mặc dù Đặng có liên quan tới phong trào cách mạng Mác-xít ở Trung Quốc, nhà sử học Mobo Gao đã viết rằng: #đổi
Hoạt động ở Thượng Hải và Vũ Hán.
Sau khi rời quân đội Phùng Ngọc Tường ở phía tây bắc, Đặng Tiểu Bình đến thành phố Vũ Hán, trụ sở của những người cộng sản. Vào thời điểm đó, ông bắt đầu sử dụng biệt danh "Tiểu Bình" và nắm giữ các vị trí nổi bật trong bộ máy Đảng. Ông tham gia phiên họp khẩn cấp vào ngày 7 tháng 8 năm 1927, trong đó theo chỉ thị của Liên Xô, Đảng cách chức Tổng bí thư của Trần Độc Tú và Cù Thu Bạch. Ở Vũ Hán, Ông lần đầu gặp Mao Trạch Đông, người được các nhà lãnh đạo của Liên Xô ủng hộ.
Giữa năm 1927 và năm 1929, Đặng Tiểu Bình sống ở Thượng Hải, tại đây ông giúp tổ chức các cuộc biểu tình, tuy nhiên bị chính quyền Quốc dân đảng khủng bố tàn bạo. Trong giai đoạn này, Đặng kết hôn với một người phụ nữ ông từng gặp ở Moskva, Trương Tích Viên.
Chiến dịch quân sự ở Quảng Tây.
Bắt đầu từ năm 1929, ông tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại Quốc dân đảng ở Quảng Tây. Sự vượt trội của quân Tưởng Giới Thạch đã gây ra thương vong lớn cho quân của Đảng Cộng sản. Chiến lược đối đầu của lãnh đạo Đảng là một thất bại vì đã gây nhiều thương vong. Câu trả lời cho thất bại này đã xúc tác cho một trong những điều khó hiểu nhất trong tiểu sử của Đặng Tiểu Bình: tháng 3 năm 1931, ông rời tiểu đoàn 7 của Quân đội Cộng sản và chỉ xuất hiện một thời gian sau đó tại Thượng Hải.
Tiểu sử chính thức về Đặng Tiểu Bình nói rằng ông đã bị cấp trên buộc tội bỏ trốn khỏi khu vực chiến đấu trước khi đến Thượng Hải. Mặc dù ông không bị trừng phạt ở Thượng Hải, giai đoạn này vẫn chưa rõ ràng và nó được sử dụng để chống lại ông về sự tận tụy của Đặng với Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa.
Tại khu Xô viết Giang Tây.
Sau khi trở về Thượng Hải, Đặng Tiểu Bình biết được vợ ông bị sốt hậu sản và qua đời. Ngoài ra, ông phát hiện ra rằng nhiều đồng đội cũ của ông đã chết vì cuộc đàn áp của Quốc dân đảng chống lại Đảng Cộng sản.
Những chiến dịch chống Đảng Cộng sản Trung Quốc ở nhiều thành phố là một trở ngại đối với Đảng cộng sản và đặc biệt đối với các cố vấn Liên Xô. Trái ngược với cuộc cách mạng tổ chức tại thành thị, dựa trên kinh nghiệm của Liên Xô, lãnh đạo Mao Trạch Đông đã nhìn nhận nông dân là lực lượng cách mạng chính ở Trung Quốc. Ở một vùng miền núi của tỉnh Giang Tây, Mao Trạch Đông thiết lập một hệ thống chiến khu theo mô hình cộng sản, tiền đề của một Trung Hoa tương lai dưới chủ nghĩa cộng sản.
Tại một trong những đô thị quan trọng nhất ở Giang Tây, Thụy Kim, Đặng Tiểu Bình đảm nhiệm chức vụ Bí thư Đảng ủy vào mùa hè năm 1931. Năm 1933, ông trở thành giám đốc bộ phận tuyên truyền của Tỉnh ủy Giang Tây. Đó là lúc ông kết hôn với một phụ nữ trẻ ông gặp ở Thượng Hải tên là Kim Duy Ánh.
Những thành công tại Giang Tây khiến các nhà lãnh đạo đảng quyết định chuyển đến Giang Tây. Cuộc đối đầu giữa Mao Trạch Đông, các lãnh đạo đảng với những cố vấn Liên Xô ngày càng trở nên căng thẳng và cuộc tranh tranh giành quyền lực giữa hai bên đã dẫn đến việc giáng chức Đặng Tiểu Bình, người ủng hộ ý tưởng của Mao. Bất chấp lục đục nội bộ, Giang Tây trở thành địa phương đầu tiên được Đảng Cộng sản Trung Quốc kiểm soát. Giang Tây thậm chí còn phát hành tem và tiền giấy dưới danh nghĩa của Đảng Cộng sản, quân đội Tưởng Giới Thạch quyết định tấn công Giang Tây.
Vạn lý trường chinh.
Vào tháng 10 năm 1934, do bị bao vây bởi quân đội của Tưởng Giới Thạch, những người Cộng sản buộc phải rời khỏi Giang Tây. Lịch sử đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản tại Trung Quốc. Việc sơ tán rất khó khăn vì Quân Tưởng Giới Thạch đã chiếm giữ các vị trí trọng yếu. Vượt qua địa hình núi non và xa xôi, khoảng 100.000 người đã trốn thoát khỏi Giang Tây, bắt đầu một cuộc rút lui chiến lược qua nội địa Trung Quốc và kết thúc một năm sau, khi khoảng 8.000 đến 9.000 người sống sót đến tỉnh Thiểm Tây.
Trong hội nghị vào đầu tháng 3, một nhóm chính trị được gọi là 28 người Bolshevik (những người theo chủ nghĩa Marx chính thống), do Bác Cổ và Vương Minh dẫn đầu, bị lật đổ và Mao Trạch Đông trở thành lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình một lần nữa trở thành nhân vật cấp cao trong Đảng.
Cuộc đối đầu giữa quân Tưởng và quân Mao tạm thời bị gián đoạn, do cuộc xâm lược của Nhật Bản vào Trung Quốc buộc Quốc dân đảng phải thành lập liên minh lần thứ hai với những người cộng sản để bảo vệ đất nước chống lại sự xâm lăng của Nhật Bản.
Cuộc xâm lược của Nhật Bản.
Cuộc xâm lược của quân Nhật vào năm 1937 đánh dấu sự khởi đầu của cuộc chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai. Trong cuộc xâm lược, Đặng Tiểu Bình vẫn còn trong khu vực được kiểm soát bởi những người Cộng sản ở phía bắc, nơi ông giữ vai trò phó chỉ huy 3 sư đoàn được tổ chức lại của quân đội Cộng sản. Từ tháng 9 năm 1937 cho đến tháng 1 năm 1938, ông sống trong các tu viện Phật giáo và các ngôi đền ở dãy núi Ngũ Đài Sơn. Vào tháng 1 năm 1938, ông được bổ nhiệm làm Ủy viên chính trị của sư đoàn 129 của Quân đoàn số 18 do Lưu Bá Thừa chỉ huy, bắt đầu một quan hệ đối tác lâu dài với Lưu.
Đặng là chỉ huy chính trong những cuộc xung đột với người Nhật giáp với tỉnh Sơn Tây, Hà Nam và Hà Bắc, sau đó đến Diên An, nơi Mao đã thành lập những cơ sở cách mạng. Trong một chuyến đi của ông tới Diên An năm 1939, ông đã kết hôn lần thứ 3 với, Zhuo Lin, một người phụ nữ trẻ gốc Côn Minh.
Đặng được xem là một "nhà cách mạng kỳ cựu" bởi vì sự tham gia của ông trong Vạn lý trường chinh. Ông đảm nhiệm một vai trò lãnh đạo trong chiến dịch Cuộc tấn công 100 trung đoàn, nơi đã làm gia tăng vị thế của ông.
Tiếp tục chiến tranh chống Quốc dân đảng.
Sau thất bại của Nhật Bản trong Thế chiến II, Đặng Tiểu Bình đã đi đến Trùng Khánh, thành phố nơi Tưởng Giới Thạch thành lập chính phủ của mình trong cuộc xâm lược của Nhật Bản, để tham gia vào các cuộc đàm phán hòa bình giữa Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản. Kết quả của những cuộc đàm phán này không tích cực và cuộc đối đầu quân sự giữa hai đảng tiếp tục ngay sau cuộc họp tại Trùng Khánh.
Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, Đặng Tiểu Bình thực hiện một vai trò quan trọng là lãnh đạo chính trị và ủy viên chính trị của Quân đội số 2 do Lưu Bá Thừa chỉ huy. Ông cũng tham gia phổ biến những ý tưởng của Mao Trạch Đông, trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản. Công việc chính trị và ý thức hệ của ông, cùng với tư cách là cựu chiến binh của Vạn lý trường chinh, đã đặt ông vào một vị trí đặc quyền trong đảng để chiếm giữ các chức vụ cao sau khi Đảng Cộng sản đánh bại Tưởng Giới Thạch và thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Sự nghiệp chính trị dưới sự lãnh đạo của Mao.
Thị trưởng Trùng Khánh.
Vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, Đặng tham gia buổi lễ thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Bắc Kinh. Tại thời điểm đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã kiểm soát hoàn toàn phía Bắc, nhưng vẫn có những phần phía Nam được kiểm soát bởi Quốc dân Đảng. Ông trở thành nhà lãnh đạo chịu trách nhiệm bình định phía Tây Nam Trung Quốc, với vai trò là bí thư thứ nhất của Cục Tây Nam. Tổ chức này có nhiệm vụ tiếp quản phần cuối cùng chiếm được mà một phần phần của đất nước vẫn được cai quản bởi Quốc dân Đảng.
Chính phủ Quốc dân Đảng bị đánh bật khỏi Quảng Châu và rút lui đến Trùng Khánh. Ở đây, Tưởng Giới Thạch và con trai Tưởng Kinh Quốc, một bạn học cũ của Đặng ở Moskva muốn ngăn chặn cuộc tấn công của lực lượng Đảng cộng sản.
Dưới sự lãnh đạo của Đặng, quân đội Cộng sản chiếm được Trung Khánh vào cuối tháng 11 năm 1949 và tiến vào Thành Đô, thành trì cuối cùng của Tưởng Giới Thách một vài ngày sau đó. Tại thời điểm đó, Đặng trở thành thị trưởng Trùng Khánh, trong khi ông vẫn kiêm nhiệm lãnh đạo Đảng ở phía Tây Nam, nơi lực lượng quân đội Cộng sản đã đổi tên thành Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, dẹp tan sự chống cự của những thế lực ủng hộ Quốc dân Đảng. Trong năm 1950, Đảng cộng sản đã làm chủ toàn bộ Trung Hoa và chiếm lấy Tây Tạng.
Đặng Tiểu Bình sống 3 năm ở Trùng Khánh, thành phố nơi ông đã học trong thời trẻ trước khi sang Pháp. Trong năm 1952, Ông tới Bắc Kinh, nơi ông đã giữ nhiều vị trí khác nhau trong chính phủ trung ương.
Thăng tiến chính trị ở Bắc Kinh.
Tháng 7 năm 1952, ông được cử làm Phó Tổng lý (Phó Thủ tướng) Chính vụ viện (sau đổi là Quốc vụ viện), kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-kinh tế. Năm 1955, ông cùng Lâm Bưu được bầu làm ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1956, ông vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị, làm Bí thư thứ nhất Ban Bí thư, đứng cuối cùng (thứ 6) trong Ban Thường vụ sau Mao Trạch Đông (Chủ tịch Đảng), Lưu Thiếu Kì, Chu Ân Lai, Chu Đức và Trần Vân (đều là Phó Chủ tịch Đảng).
Năm 1966, trong Cách mạng văn hóa, Đặng Tiểu Bình bị phê phán nặng nề là "tên số hai trong Đảng đi theo chủ nghĩa tư bản", rồi bị cách chức vụ. Từ năm 1969 đến năm 1972, hai vợ chồng ông bị đưa về Giang Tây, con cái đều bị bắt đi cải tạo ở các tỉnh khác.
Ngày 20 tháng 3 năm 1973, Đặng Tiểu Bình rời Giang Tây, quay trở lại Trung Nam Hải (Bắc Kinh), sau khi được phục hồi công tác. Ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, rồi Phó Chủ tịch Đảng. Về mặt chính quyền, ông trở lại cương vị Phó Thủ tướng, rồi Phó Thủ tướng thứ nhất. Khi Chu Ân Lai lâm bệnh nặng, ông chủ trì công việc của Quốc vụ viện.
Năm 1976, sau khi Chu Ân Lai mất, nhóm chống đối ("bè lũ bốn tên") viện cớ Đặng Tiểu Bình có tư tưởng phản cách mạng và tác động đến Mao Trạch Đông, vì vậy ông lại bị Mao Trạch Đông cách chức, chỉ còn danh hiệu đảng viên và hộ khẩu Bắc Kinh. Ông là người phát động phong trào biểu tình ủng hộ cố thủ tướng Chu Ân Lai ngày 5 tháng 4 năm 1976.
Sau khi "bè lũ bốn tên" bị lật đổ, Đặng Tiểu Bình được khôi phục tất cả các chức vụ (1978): Phó Chủ tịch Đảng, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng.
Mục tiêu của hai cuộc thanh trừng.
Cách mạng Văn hóa.
Mao lo sợ rằng những chính sách cải cách kinh tế của Đặng và Lưu có thể dẫn sự phục hồi chủ nghĩa tư bản và kết thúc Cách mạng Trung Quốc. Cho lí do này và nhiều lý do khác nữa, Mao đã đưa ra Cách mạng Văn hóa năm 1966, trong khoảng thời gian này Đặng đã bị mất sự ủng hộ và bị buộc rút lui khỏi tất cả chức vụ của ông.
Trong suốt Cách mạng Văn hóa, ông và gia đình là mục tiêu của Hồng vệ binh, họ đã bỏ tù con trai cả của ông, Đặng Phác Phương, Đặng Phác Phương bị tra tấn và bị ném ra ngoài của sổ từ tầng 4 năm 1968, trở thành một người tàn phế. Vào tháng 10 năm 1969, Đặng Tiểu Bình được gửi tới nhà máy máy kéo Xinjian thuộc vùng nông thôn Giang Tây để làm việc như một công nhân. Trong 4 năm tại đây, Đặng đã dành thời gian rỗi của ông để viết. Ông bị đấu tố khắp cả nước, nhưng ở cấp độ thấp hơn so với Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ.
Sau khi người kế tục thứ hai của Mao, phó Chủ tịch đảng Lâm Bưu bị chết trong một tai nạn máy bay năm 1971 (theo một báo cáo ông đang cố gắng trốn khỏi Trung Quốc sau khi thất bại trong một cuộc đảo chính chống lại Mao), Đặng Tiểu Bình (người đã từng là chính ủy của Quân đoàn số 2 trong nội chiến) trở thành lãnh đạo quân sự ảnh hưởng nhất còn lại. Khi Thủ tướng Chu Ân Lai, người nếu sống đủ lâu có lẽ là người kế vị thứ ba của Mao, đã mắc bệnh ung thư, Đặng trở thành sự lựa chọn của Chu như là người kế nhiệm, nghĩa rằng ông có thể về lý thuyết là người kế vị của Mao. Chu đã thuyết phục đưa Đặng trở lại chính trường năm 1974 với vai trò là Phó thủ tướng thứ nhất, trong thực tế điều hành công việc Thủ tướng. Đặng đã tập trung tái cấu trúc nền kinh tế đất nước và nhấn mạnh sự thống nhất như là bước đi đầu tiên bằng cách nâng sản lượng sản xuất. Ông đã cẩn thận, tuy nhiên, để tránh mâu thuẫn với tư tưởng Mao Trạch Đông. Tháng một năm 1975, ông đã được bầu thêm chức Phó chủ tịch của Đảng trong Ủy ban trung ương lần thứ 10 cho lần đầu tiên trong vai trò đảng viên của ông. Li Desheng đã từ chức trong sự tán thành của ông. Đặng là một trong năm phó chủ tịch Đảng, với Chu là phó chủ tịch thứ nhất.
Trong thời gian này, Đặng đã thành lập Phòng Nghiên cứu Chính trị, lãnh đạo bởi những tri thức như Hu Qiaomu, Yu Guangyuan và Hu Sheng, được giao phó để tiếp cận nghiên cứu những cải cách chính trị và kinh tế. Ông đã lãnh đạo nhóm của mình và quản lý dự án trong giới hạn Quốc vụ viện, để tránh mối nghi ngờ của Tứ nhân bang.
Cách mạng văn hóa chưa kết thúc, và một nhóm chính trị cánh tả cấp tiến được gọi là Tứ nhân bang, lãnh đạo bởi vợ của Mao là Giang Thanh, đã cạnh tranh quyền lực trong Đảng. Tứ nhân bang đã xem Đặng như là đối thủ lớn nhất của họ. Mao, cũng đã nghi ngờ rằng Đặng sẽ phá hủy danh tiếng của Cách mạng văn hóa, chính sách mà Mao xem như là một trong những sáng kiến vĩ đại nhất. Khoảng cuối năm 1975, Đặng được yêu cầu để viết ra một loạt những thứ gọi là Tự phê bình. Mặc dù ông đã thừa nhận có một "quan điểm tư tưởng không phù hợp" trong khi đang giải quyết những công việc của đảng và quốc gia, ông đã miễn cưỡng thừa nhận rằng những chính sách của ông là sai về cơ bản. Sự đối địch của ông và Tứ nhân bang càng lớn hơn, và Mao dường như ngả về Tứ nhân bang. Mao đã từ chối tự phê bình của Đặng và yêu cầu Ban chấp hành trung ương Đảng để "thảo luận những sai lầm hoàn toàn của Đặng".
Chiến dịch 'Phê bình Đặng'.
Chu Ân Lai chết vào tháng 1 năm 1976, gây ra nỗi đau buồn cho cả quốc gia. Chu là một nhân vật quan trọng trong đời sống chính trị của Đặng, cái chết của ông đã làm mất đi sự ủng hộ còn lại cho Đặng trong Ban chấp hành Trung ương. Sau khi Đặng phát biểu ca ngợi Chu tại lễ tang, Tứ nhân bang, với sự cho phép của Mao, đã bắt đầu cái gọi là chiến dịch "Phê bình Đặng và Phản đối Sự phục hồi của Những thành phần Cánh hữu". Hoa Quốc Phong, không phải Đặng, được chọn làm người kế tục Mao với tư cách Thủ tướng vào ngày 4 tháng 2 năm 1976.
Nắm quyền và cầm quyền từ năm 1977-1989.
Sau khi Mao qua đời vào ngày 9 tháng 9 năm 1976 và việc Bè lũ bốn tên bị loại bỏ vào tháng 11 năm 1976, Đặng nổi lên như một lãnh đạo trên thực tế của Trung Quốc. Trước khi Mao mất, chỉ có vị trí trong chính phủ ông đang giữ là Phó thủ tướng thứ nhất của Hội đồng nhà nước, nhưng Hoa Quốc Phong muốn loại bỏ những thành phần cực đoan trong Đảng và thành công loại trừ Bè lũ bốn tên. Vào ngày 22 tháng 7 năm 1977, Đặng được phục hồi chức vụ Phó chủ tịch của Ủy ban trung ương, Phó Chủ tịch của Ủy ban quân sự và Tổng tư lệnh của Bộ tổng tham mưu Quân giải phóng Trung Quốc.
Từ ngày 10 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12 năm 1978, Hội nghị công tác trung ương đã diễn ra với sự tham dự của lãnh đạo các tỉnh, các quân khu, và Trung ương Đảng, chính phủ, và cơ quan quốc phòng. Chương trình nghị sự ban đầu tập trung vào các vấn đề trong nước – phát triển nông nghiệp và chính sách kinh tế trong các năm 1979 và 1980 – và không bao gồm tình hình Đông Dương, trái với khẳng định đã nêu của King Chen. Cuộc họp đã có một bước ngoặt bất ngờ khi Trần Vân (Chen Yun), một nhà hoạch định kinh tế kế hoạch cho Mao, phát biểu vào ngày 12 tháng 11 nhấn mạnh họ trước tiên phải giải quyết các hậu quả để lại của Cách mạng Văn hoá. Chương trình nghị sự sau đó đã chuyển sang vấn đề phục chức cho các đảng viên cấp cao trước đây bị truy tố trong Cách mạng Văn hoá và sang hướng chỉ trích liên minh Hoa – Uông vì tiếp tục theo đuổi chính sách tư tưởng cực tả. Cuộc họp kết thúc với quyết định triệu tập Hội nghị TW 3 của Đại hội Đảng khoá 11, ở đây Trần Vân đã trở thành Phó Chủ tịch ĐCSTQ, củng cố vị thế chính trị của Đặng Tiểu Bình. Với bầu không khí chính trị thay đổi ở Bắc Kinh, các quyết định của Đặng dần trở lên có ảnh hưởng cao tại chính trường Trung Quốc.
Cuối cùng, bằng sự chuẩn bị kĩ lưỡng huy động sự ủng hộ trong nội bộ đảng, Đặng đã đánh bại Hoa, người từng xá tội cho ông và loại bỏ Hoa khỏi vị trí lãnh đạo cấp cao đang nắm giữ vào khoảng năm 1980.
Cho phép những phê bình.
Đặng bãi bỏ Cách mạng Văn hóa và trong năm 1977 và đưa ra "Mùa xuân Bắc Kinh". Trong khi đó, ông đã thúc đẩy việc bãi bỏ hệ thống lý lịch giai cấp. Dưới hệ thống này, Đảng cộng sản Trung Quốc đã cởi bỏ những rào chắn cho những người mà được cho là có liên hệ với giai cấp địa chủ; sự cởi bỏ của nó đã cho phép một nhóm người ủng hộ khôi phục thị trường tư nhân để họ gia nhập Đảng cộng sản.
Đặng đã dần dần loại bỏ những đối thủ chính trị của ông. Bằng cách khuyến khích những chỉ trích đại chúng về Cách mạng văn hóa, ông đã làm suy yếu những người mà đã có được vị trí hiện tại của họ nhờ những việc họ đã làm trong sự kiện, trong khi củng cố những vị trí đồng minh của ông mà đã bị thanh trừng trong thời gian này. Đặng cũng nhận được một thỏa thuận lớn về sự ủng hộ của người dân. Khi Đặng dần dần củng cố quyền lực ở Đảng cộng sản, Hoa đã được thay thế bởi Triệu Tử Dương với vai trò thủ tướng năm 1980, và bằng Hồ Diệu Bang với chức vụ Tổng bí thư năm 1981, mặc dù trong thực tế Hoa là người được Mao Trạch Đông chọn như người kế tục ông với tư cách là "lãnh đạo tối cao" của Đảng cộng sản Trung Quốc và Cộng hòa nhân dân Trung Quốc.
Những quyết định quan trọng đã luôn được thực hiện ở nhà của Đặng ở Trung Nam Hải với một cuộc họp riêng với 8 cán bộ cao cấp khác, được gọi là Bát đại nguyên lão, đặc biệt với Trần Vân và Lý Tiên Niệm. Đặng đã nắm quyền hành với tư cách là "lãnh tụ tối cao" mặc dù ông chưa bao giờ giữ những vị trí hàng đầu của đảng, và đã dần dần loại bỏ ba lãnh đạo đảng, bao gồm Hồ Diệu Bang. Đặng vẫn còn ảnh hưởng lớn tới Đảng cộng sản Trung Quốc, tuy nhiên sau năm 1987 những chức vụ của ông chỉ là Chủ nhiệm Ủy ban Cố Vấn Đảng Cộng Sản Trung Quốc và chủ tịch Ủy ban quân sự trung ương Đảng cộng sản.
Vị trí của Mao ở Trung Quốc.
Với việc Đặng trở thành nhân vật số một mới của Trung Quốc có nghĩa rằng các vấn đề lịch sử và tư tưởng xung quoanh Mao Trạch Đông phải được giải quyết thích đáng. Bởi vì Đặng mong muốn những cải cách sâu rộng, nó đã không thể cho ông tiếp tục theo con đường cứng rắn của Mao là những chính sách "đấu tranh giai cấp" và những chiến dịch đại chúng. Trong năm 1982 Ban chấp hành TW Đảng đã phát hành một tài liệu được đặt tên là "Bàn về những vấn đề lịch sử khác nhau kể từ sự thành lập Cộng hòa nhân dân Trung Quốc". Mao vẫn giữ địa vị của ông như là một "người Mác xít, nhà cách mạng vô sản, nhà quân sự vĩ đại", và là người thành lập và dẫn đường không thể chối cãi của đất nước và quân đội. "Những chính sách tốt của ông phải được xem xét trước những sai lầm của ông", tài liệu đã viết công khai. Bản thân Đặng đã bình luận rằng Mao: "bảy phần tốt, ba phần xấu". Tài liệu cũng đưa Mao ra khỏi những trách nhiệm chính của ông về Cách mạng Văn hóa (mặc dù nó đã tuyên bố rằng "Sai lầm của Mao là đã bắt đầu Cách mạng văn hóa") để "chống lại bè lũ cách mạng" của Bè lũ bốn tên và Lâm Bưu.
Quan hệ quốc tế.
Tháng 2 năm 1978, sau khi đã ổn định đất nước sau thời kì hỗn loạn chính trị, Đặng đã thăm Bangkok, Kuala Lumpur và Singapore và đã gặp Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu. Đặng đã rất ấn tượng với sự phát triển kinh tế của Singapore, cây xanh, nhà ở, và sau đã gửi mười nghìn người Trung Quốc tới Singapore và các nước khắp thế giới để học những kinh nghiệm của họ và mang những kiến thức họ trở lại phục vụ đất nước.Lý Quang Diệu, đã khuyên Đặng dừng việc đưa Hệ tư tưởng Cộng sản tới Đông Nam Á, lời khuyên mà Đặng sau đó nghe theo.
Nhờ sự ủng hộ của những lãnh đạo đảng khác-những người đã phục hồi lại những vị trí của họ, từ năm 1978 việc nắm quyền của Đặng là không thể tránh khỏi. Mặc dù Hoa Quốc Phong giữ chính thức những vị trí cấp cao trong Cộng hòa nhân dân Trung Quốc, vị trí của ông, với sự ủng hộ ít ỏi, trở nên càng khó khăn. Vào năm 1978, trong suốt thời gian Đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 11, Đặng đã nắm quyền.
Bắt đầu từ năm 1979, những cải cách kinh tế đã được thúc đẩy theo mô hình thị trường, trong khi những lãnh đạo vẫn giữ phong cách hùng biện kiểu Cộng sản cũ. Hệ thống hợp tác xã lần lượt được hủy bỏ và những người nông dân đã bắt đầu có nhiều tự do hơn để quản lý đất đai họ đã canh tác và bán sản phẩm của họ ra chợ. Tại thời điểm đó, nền kinh tế Trung Quốc đã mở cửa để buôn bán quốc tế. Vào ngày 1, tháng 1 năm 1979, Hoa Kỳ đã công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, gạt Đài Loan sang một bên, và việc tiếp xúc giữa Trung Quốc và phương Tây đã bắt đầu phát triển. Vào cuối năm 1978, công ty hàng không vũ trụ Boeing đã thông báo bán Boeing 747 cho nhiều hãng máy bay ở Trung Quốc, và công ty đồ uống Coca-Cola đã công bố đại chúng ý định của họ mở kế hoạch sản xuất tại Thượng Hải.
Đầu năm 1979, Đặng đã nhận một lời mời thăm chính thức từ Hoa Kỳ, gặp Tổng thống Jimmy Carter ở Washington cũng như gặp nhiều nghị sỹ. Trung Quốc đã khẳng định rằng cựu tổng thống Richard Nixon được mời tới buổi tiệc chính thức ở Nhà Trắng, một biểu tượng biểu thị thái độ quả quyết của họ và mặt khác, mong muốn của họ với sáng kiến của Nixon. Trong suốt chuyến thăm; Đặng đã thăm Trung tâm không gian Johnson ở Houston, cũng như văn phòng chính của Coca-Cola và Boeing ở Atlanta và Seatle. Với những cuộc viếng thăm ý nghĩa, Đặng đã thể hiện rõ ràng rằng những ưu tiên hàng đầu của một chế độ Trung Quốc mới là phát triển kinh tế và khoa học kĩ thuật.
Mối quan hệ Trung-Nhật cũng đã cải thiện đáng kể. Đặng đã dùng Nhật Bản như một bài học về một cường quốc đang phát triển nhanh chóng, thiết lập một ví dụ điển hình cho nền kinh tế Trung Quốc.
Bốn hiện đại hóa, kinh tế, nông nghiệp, khoa học, phòng thủ.
Đặng đã trích dẫn câu tục ngữ "Vấn đề không phải là mèo trắng hay mèo đen, nếu nó bắt chuột nó là một con mèo tốt". Quan điểm đó chính là những phương thức chủ nghĩa tư bản đã vận hành. Đặng đã làm việc với đội của ông, đặc biệt là Triệu Tử Dương, người năm 1980 đã thay thế Hoa Quốc Phong làm thủ tướng, và Hồ Diệu Bang, người năm 1980 đã giữ vị trí tổng bí thư đảng. Đặng như vậy đã nắm quyền lực và bắt đầu tập trung vào những mục tiêu của "bốn hiện đại hóa"(kinh tế, nông nghiệp, khoa học và phát triển kĩ thuật và phòng thủ đất nước). Ông đã tuyên bố một kế hoạch tham vọng về việc mở cửa và mở rộng tự do kinh tế. Chỉ trong một vài năm họ đã làm những điều kì diệu khi cả thế giới theo dõi trong kinh ngạc.
Vị trí quyền lực cuối cùng vẫn giữ bởi Hoa Quốc Phong là chủ tịch Ủy ban quân sự Trung ương, đã bị tước đi bởi Đặng năm 1981. Tuy nhiên quá trình hiện đại hóa quân đội thực hiện chậm chạp. Một cuộc chiến tranh biên giới diễn ra với Việt nam trong năm 1977-79 đã gây ra những thay đổi thiếu khôn ngoan. Cuộc chiến làm hoang mang cho giới quan sát, nhưng Xiaoming Zhang thuyết phục Đặng rằng cuộc chiến có nhiều mục tiêu: dừng sự mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô trong khu vực, đạt được sự ủng hộ của Hoa Kỳ cho bốn mục tiêu hiện đại hóa của ông, và huy động Trung Quốc cho cuộc cải tổ và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Đặng cũng tìm cách củng cố quyền lực của ông ở quân đội Trung Quốc, và chứng minh cho thế giới rằng Trung Quốc có khả năng chiến đấu trong một cuộc chiến thật sự. Zhang nghĩ sự trừng phạt Việt Nam do việc họ đã xâm lược Campuchia là một nguyên nhân không quan trọng. Trong cuộc chiến này, lực lượng Trung Quốc đã tỏ ra quá yếu kém trong những vấn đề như trang thiết bị, chiến thuật, lãnh đạo, và kinh nghiệm chiến trường. Sự đe dọa quân sự đến từ Liên Xô, nước mạnh hơn nhiều về quân sự dù ít lính hơn bởi vì Liên Xô đã tiến xa hơn về vũ khí và công nghệ. Đặng đã quyết định rằng Trung Quốc đầu tiên phải có một sự tiến bộ về cơ sở hạng tầng khoa học dân sự trước khi nó có thể hi vọng làm ra những vũ khí hiện đại. Vì vậy ông đã tập trung việc giảm quân số, cho những người lớn tuổi, những quan chức tham nhũng và vây cánh của họ nghỉ hưu. Ông đã nhấn mạnh việc tuyển dụng nhiều thanh niên có nền giáo dục tốt hơn những người có thể điều khiển công nghệ cao khi điều đó dứt khoát sẽ xảy ra. Để thay vào sự bổ nhiệm và tham nhũng trong quân đoàn, ông đã áp đặt kỉ luật nghiêm khắc trong tất cả các cấp bậc. Trong năm 1982 ông đã thành lập một ủy ban mới cho Khoa học, Kĩ thuật và Công nghiệp cho Quốc phòng để kế hoạch sử dụng sự phát triển công nghệ trong lĩnh vực dân sự.
Đặng đã làm rất ít để cải thiện mối quan hệ nghèo nàn với Brezhnev và Kremlin trong những năm đầu cầm quyền của ông. Ông đã tiếp tục tuân thủ đường lối chủ nghĩa Mao về thời kì Chia rẽ Xô-Trung mà Liên Xô như những siêu cường quốc "bá chủ" như Hoa Kỳ, nhưng nó đe dọa tới Trung Quốc hơn bởi vì hai nước biên giới sát nhau. Tuy nhiên, mối quan hệ với Liên Xô đã cải thiện kể từ khi Mikhail Gorbachev nắm quyền năm 1985, và cuối cùng đã khôi phục quan hệ cấp quốc gia với việc Đặng họp với Gorbachev năm 1989 trong Hội nghị Xô - Trung 1989.
Xung đột Việt - Trung (1979-1980).
Cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình thực hiện một chuyến công du chính thức và lịch sử với tư cách lãnh đạo tối cao của Trung Quốc để vừa thúc đẩy Bốn Hiện đại và vừa dọn đường đánh Việt Nam. Ngày 28 tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình lên đường chính thức viếng thăm Mỹ nhằm bình thường hoá quan hệ hai nước. Hai ngày sau khi trở lại Bắc Kinh, ngày 11 tháng 2 năm 1979, Đặng Tiểu Bình triệu tập phiên họp mở rộng của Bộ Chính trị và giải thích đặc điểm và mục tiêu của cuộc tấn công Việt Nam. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, Đặng Tiểu Bình đưa khoảng từ 300 ngàn đến 600 ngàn quân tấn công Việt Nam. Sự kiện này được ghi nhận là chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 mà kéo dài cho tới 1990 (xem Xung đột Việt–Trung 1979–90).
Động cơ chính của Trung Quốc trong tấn công Việt Nam là kiềm chế tham vọng Việt Nam ở Đông Nam Á, ngăn chặn mối đe dọa Việt Nam đối với an ninh quốc gia Trung Quốc và phơi bày chỗ yếu của Liên Xô. Ý định của Đặng Tiểu Bình nêu công khai là "dạy cho Việt Nam một bài học" đã tạo ra một ấn tượng sai lệch rằng mục đích chính của cuộc chiến chỉ đơn giản là một "hành động trả thù". Ngay từ đầu, Bắc Kinh đã hạn chế nghiêm ngặt các mục tiêu, thời gian và phạm vi, và tiến hành chiến tranh tránh vượt hơn một cuộc xung đột biên giới giữa hai nước. Tuy nhiên, sau khi Việt Nam đưa quân đánh đuổi chế độ Pol Pot ở Campuchia, một đồng minh của Trung Quốc, Trung Quốc mở rộng mục tiêu gồm cả việc xâm lược vùng Tây Bắc Việt Nam. Suốt một thời gian dài sau đó, chính sách bao vây kinh tế và pháo kích biên giới của Đặng Tiểu Bình đã gây nhiều khó khăn cho Việt Nam.
Trao trả Hồng Kông và Ma Cao.
Từ năm 1980 trở đi, Đặng đã lãnh đạo sự phát triển kinh tế và về mặt chính trị đã thương lượng với thủ tướng Anh để hoàn lại lãnh thổ Hồng Kông, cuộc gặp cá nhân với Thủ tướng Anh lúc ấy là Margaret Thatcher. Thatcher đã tham dự cuộc gặp với hi vọng giữ sự quản lý của Anh lên Bán đảo Hồng Kông và Cửu Long- hai trong ba phần lãnh thổ hợp thành của thuộc địa- nhưng điều đó đã được từ chối dứt khoát bởi Đặng. Những kết quả đàm phán được gọi là Tuyên bố chung Trung-Anh , được ký vào 19 tháng 12 năm 1984, thứ đã chính thức vạch ra sự trả lại của Anh tới Trung Quốc thuộc địa Hồng Kông của họ vào năm 1997. Chính phủ Trung Quốc đã cam kết tôn trọng hệ thống kinh tế và quyền tự do dân sự của thuộc địa Anh trong 50 năm sau khi bàn giao.
Dưới sức ép từ Trung Quốc, năm 1987 Bồ Đào Nha đồng ý trả lại Ma Cao năm 1999, với một thỏa thuận tổng thể giống với Hồng Kông. Để quản lý hai lãnh thổ mới được trả về, Đặng đã dựa trên một nguyên tắc chính trị được đề ra bởi ông mà ông gọi là "một quốc gia, hai chế độ", điều ám chỉ tới việc cùng tồn tại dưới một quyền lực chính trị với những hệ thống kinh tế khác nhau của cộng sản và tư bản. Mặc dù lý thuyết này được áp dụng cho Hồng Kông và Ma Cao, Đặng có vẻ cũng muốn làm điều này với Đài Loan.
Ba bước để phát triển kinh tế.
Vào tháng 10 năm 1987, trong Kì họp toàn thể của Đại hội nhân dân quốc gia, Đặng được bầu lại với chức vụ Chủ tịch quân ủy trung ương, nhưng ông đã từ chức Chủ tịch của Ủy ban cố vấn Trung ương và được kế tục bởi Trần Vân. Đặng tiếp tục để chủ trì và phát triển cải cách và mở cửa như là chính sách cơ bản. và ông đã đưa ra ba bước cho chiến lược phát triển nền kinh tế Trung Quốc, trong vòng 7 năm: bước một, gấp đôi GNP năm 1980 và bảo đảm rằng người dân đủ cơm ăn và áo mặc, điều đã đạt được vào cuối những năm thập kỉ 1980; bước hai, tăng gấp 4 lần GNP năm 1980 khi thế kỉ 20 kết thúc, điều đã đạt được năm 1995 trước mốc đã đề ra; bước thứ 3, tăng phần trăm theo đầu người GNP, tới mức của những nước phát triển trung bình khoảng năm 2050, tại thời điểm đó, người Trung Quốc sẽ thật sự sung túc và hiện đại hóa sẽ được thực hiện cơ bản.
Cải cách kinh tế.
Cải thiện những mối quan hệ với thế giới bên ngoài là điều thứ hai trong hai bước thay đổi khôn ngoan quan trọng được vạch ra trong chương trình cải cách của Đặng được đặt tên là "Cải cách và Mở cửa" (Gaige Kaifang). Xã hội, chính trị hệ thống kinh tế Trung Quốc sẽ trải qua những thay đổi quan trọng trong thời kì Đặng nắm quyền. Những mục tiêu cải cách của Đặng được tóm tắt bởi "Bốn hiện đại hóa", đó là nông nghiệp, công nghiệp, khoa học và công nghệ, và quân sự.
Chiến lược cho việc đạt được những mục tiêu trong việc trở thành một quốc gia hiện đại, công nghiệp là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Đặng đã thảo luận rằng Trung Quốc đang trong thời kỳ chủ nghĩa xã hội nguyên thủy và nhiệm vụ của đảng là hoàn thiện điều gọi là "chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc" và "tìm kiếm bản chất vấn đề từ những thứ xác thực". (Điều đó khá giống với lý thuyết của Lenin trong Chính sách kinh tế mới trong những năm 1920, mà đã lập luận rằng Liên Xô đã không tiến đủ sâu vào giai đoạn chủ nghĩa tư bản và do đó cần chủ nghĩa tư bản một cách giới hạn để phát triển đầy đủ phương tiện sản xuất của nó).
Những giải thích trong Chủ nghĩa Mao đã làm giảm vai trò của hệ tư tưởng trong việc quyết định kinh tế. Giảm những nguyên tắc cộng sản nhưng không nhất thiết chỉ trích Chủ nghĩa Marx - Lenin, Đặng đã nhấn mạnh rằng "chủ nghĩa xã hội không có nghĩa là chia sẻ sự nghèo khó". Lý thuyết của ông biện bạch cho sự sự thừa nhận thị trường tự do được viết như sau:
Khác với Hoa Quốc Phong, Đặng đã tin rằng không chính sách nào nên bị từ chối hoàn toàn đơn giản bởi vì nó không tỏ ra đồng ý với Mao. Không giống với nhiều lãnh đạo bảo thủ như Trần Vân, Đặng không phản đối tới những chính sách lên các lĩnh vực mà chúng giống với một trong trong số các chính sách được tìm thấy trong các quốc gia tư bản.
Những nền tảng chính trị linh hoạt trong mối quan hệ với chủ nghĩa xã hội được ủng hộ mạnh mẽ bởi những trích dẫn như:
Mặc dù Đặng đã đưa ra lý thuyết nền tảng và ủng hộ chính trị để cho phép cải cách kinh tế xảy ra, sự nhất trí chung giữa những sử gia là chỉ một vài cải cách kinh tế mà Đặng đã giới thiệu được tạo ra bởi chính bản thân ông. Thủ tướng Chu Ân Lai, ví dụ, đã tiên phong cho Bốn hiện đại hóa nhiều năm trước Đặng. Ngoài ra, nhiều cải cách có thể được giới thiệu bởi những lãnh đạo địa phương, thường không được cho phép trực tiếp bởi chính quyền trung ương. Nếu thành công và triển vọng, những cải cách đó sẽ được chấp nhận bởi những khu vực rộng lớn khác và cuối cùng được giới thiệu cả nước. Một ví dụ được trích dẫn thường xuyên là "hệ thống kinh tế hộ gia đình", chính sách ban đầu bí mật được thực hiện bởi một làng nông thôn nghèo tại lúc mà có thể rủi ro bị kết án là "phản cách mạng". Kinh nghiệm đó đã chứng minh thành công. Đặng công khai củng hộ nó và nó sau đó được chấp nhận khắp cả nước. Nhiều cải cách khác bị ảnh hưởng bởi những kinh nghiệm của những quốc gia phát triển ở châu Á, gọi là Bốn con hổ châu Á.
Điều đó tương phản rõ nét với khuôn mẫu trong cải tổ (perestroika)được thực hiện bởi Mikhail Gorbachev mà những cải cách chính được tạo ra bởi chính Gorbachev. Những cải cách tiếp cận từ dưới lên của Đặng, tương phản với tiếp cận từ trên xuống của perestroika, có thể là một nhân tố then chốt trong những thành công của ông.
Những cải cách của Đặng thật sự bao gồm việc đưa vào việc điều hành kế hoạch hóa, tập trung hóa nền kinh tế vĩ mô bởi những nhà kỹ trị, từ bỏ những kiểu chiến dịch quần chúng về xây dựng kinh tế. Tuy nhiên không giống phong cách Xô viết, sự điều hành gián tiếp thông qua cơ chế thị trường. Đặng đã duy trì di sản của Mao để ở mức độ nào đó mà ông đã nhấn mạnh vai trò hàng đầu của năng suất nông nghiệp và đã khuyến khích một sự phân quyền quan trọng của việc thực hiện quyết định trong những hợp tác xã kinh tế nông thôn và kinh tế hộ cá thể nông dân. Ở cấp địa phương, khích lệ vật chất, phần nào hơn tuyên truyền chính trị, được dùng để thúc đẩy lực lượng lao động, bao gồm cho phép người nông dân kiểm thêm thu nhập bằng việc bán sản phẩm tư nhân của họ theo giá thị trường.
Trấn áp những cuộc biểu tình và bạo loạn trên quảng trường Thiên An Môn.
Những cuộc biểu tình và bạo loạn trên quảng trường Thiên An Môn, kết thúc vào ngày tàn sát 6 tháng 4 năm 1989, là một loạt những cuộc biểu tình trong và gần quảng trường Thiên An Môn trong Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa khoảng từ 15 tháng 4 tới 5 tháng 6 năm 1989, năm mà nhiều chính phủ cộng sản khác trên thế giới sụp đổ.
Những cuộc biểu tình xảy ra bởi sự kiện cái chết của Hồ Diệu Bang, một quan chức cải cách được hậu thuẫn bởi Đặng nhưng bị gạt ra bởi Bát đại nguyên lão và những người bảo thủ trong bộ chính trị. Nhiều người đã không hài lòng với phản ứng chậm chạp của đảng và sự chuẩn bị đám tang tương đối lặng lẽ. Quần chúng đau buồn đã bắt đầu đổ ra đường ở Bắc Kinh và các trường đại học trong những khu vực xung quanh. Ở Bắc Kinh đám đông tập trung tại Đài tưởng niệm Anh hùng nhân dân ở quảng trường Thiên An Môn. Sự đau buồn đã trở thành một sự kết nối quần chúng về sự tức giận chống lại nạn gia đình trị trong chính phủ, sự thải hồi bất công và cái chết sớm của Hồ, và vai trò đằng sau hậu trường của các nguyên lão trong Bộ chính trị. Khắp mọi nơi của đám tang Hồ, cuộc biểu tình đạt tới con số 100.000 người ở quảng trường Thiên An Môn. Trong khi những người biểu tình thiếu một nguyên nhân thống nhất hoặc lãnh đạo, người tham gia đã đưa vấn đề tham nhũng trong chính phủ và một vài tiếng nói đã kêu gọi cho tự do kinh tế và cải cách dân chủ trong cấu trúc của chính phủ trong khi những người khác kêu gọi phải ít độc đoán hơn và bớt tập trung hóa hình thức của chủ nghĩa xã hội.
Vào năm 1989, Sự kiện Thiên An Môn diễn ra. Đây là cuộc biểu tình đòi dân chủ của các sinh viên Trung Quốc. Một số nguồn cho rằng Đặng Tiểu Bình theo phe ủng hộ sự thay đổi trong nền kinh tế Trung Quốc, cùng với một số đồng minh như Triệu Tử Dương. Không có một báo cáo chính xác về vai trò của Đặng Tiểu Bình trong cuộc biểu tình, dù có một số người tin rằng ông ta đã tham gia vào việc ra lệnh cho quân đội trấn áp cuộc biểu tình. Theo ước đoán của tờ New York Times thì có ít nhất 10,000 thường dân thiệt mạng trong cuộc đụng độ. Sau sự kiện Thiên An Môn, Trung Quốc thực hiện lùng bắt một cách có quy mô những người ủng hộ phong trào này, giới hạn các nhà báo nước ngoài và kiểm duyệt tất cả báo chí trong nước. Sự kiện này bị các nước phương Tây lên án, cho đến tận ngày nay đa số người dân Trung Quốc không biết đến sự kiện này do Trung Quốc kiểm duyệt rất gắt gao.
Từ chức và chuyến đi xuống phía nam 1992.
Một cách chính thức, Đặng đã quyết định rút lui khỏi những vị trí cấp cao nhất khi ông đã từ chức Chủ tịch của Ủy ban quân ủy trung ương trong năm 1989, và đã rút khỏi sân khấu chính trị Trung Quốc năm 1992, tuy nhiên, vẫn trong "thời kỳ Đặng Tiểu Bình". Ông đã tiếp tục xem như là "nhà lãnh đạo tối cao" của đất nước, được tin rằng đã kiểm soát phía sau hậu trường. Đặng được công nhận chính thức như là "kiến trúc sư của cải cách kinh tế Trung Quốc và hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa Trung Quốc". Đối với Đảng cộng sản, ông được tin là đã thiết lập một hình mẫu tốt cho cán bộ những người mà không chịu nghỉ hưu khi họ tuổi cao. Ông đã phá vỡ những qui ước trước đây về việc nắm giữ chức vụ suốt đời, một truyền thống mà có thể vẫn còn cho tới năm 2018 với việc Tập Cận Bình phá bỏ giới hạn nhiệm kỳ. Ông thường được noi tới một cách đơn giản là Đồng chí Tiểu Bình, với không danh hiệu kèm theo.
Do sự kiện Thiên An Môn, quyền lực của Đặng đã suy giảm đáng kể và có những sự chống đối về việc cải cách của Đặng trong Đảng cộng sản. Để xác nhận lại những cải cách này, mùa xuân năm 1992, Đặng đã thực hiện chuyến đi nổi tiếng xuống phía Nam, thăm Quảng Châu, Thâm Quyến, Châu Hải và đón năm mới ở Thượng Hải, sử dụng chuyến đi như là một phương pháp xác nhận lại những chính sách kinh tế của ông sau khi ông nghỉ hưu. Chuyến đi xuống phía Nam được xem xét một cách rộng rãi như là dấu mốc quan trọng trong lịch sử hiện đại Trung Quốc, khi nó đã cứu Cải cách kinh tế Trung Quốc và giữ được sự ổn định xã hội.
Qua đời và phản ứng.
Đặng Tiểu Bình qua đời ngày 19 tháng 2 năm 1997 ở tuổi 92 vì bệnh Parkinson và bệnh viêm phổi. Nhà nước Trung Quốc khen ngợi ông như là "một người Mác-xít vĩ đại, một nhà cách mạng vô sản, chính khách, nhà chiến lược quân sự và ngoại giao vĩ đại; một trong những lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Trung Quốc, Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; kiến trúc sư vĩ đại trong việc mở cửa và hiện đại hóa chủ nghĩa xã hội Trung Quốc; người sáng lập lý luận Đặng Tiểu Bình".
Đúng 10 giờ sáng ngày 24 tháng 2, người dân được yêu cầu dừng lại mọi hoạt động và im lặng trong ba phút, quốc kỳ Trung Quốc treo rủ trong một tuần. Lễ tang được tiến hành đơn giản và tương đối riêng tư với sự tham dự của những nhà lãnh đạo quốc gia và gia đình Đặng, được phát sóng trực tiếp trên tất cả các kênh truyền hình khắp lãnh thổ Trung Quốc.
Sau lễ tang, nội tạng của ông được tặng cho trung tâm nghiên cứu y khoa, thi hài Đặng Tiểu Bình được hỏa táng và tro sau đó được rải xuống biển theo ước nguyện của ông. Hai tuần sau, truyền thông quốc gia Trung Quốc cho phát sóng những câu chuyện và phim tài liệu liên quan tới cuộc sống của Đặng.
Một số nhóm người Trung Quốc, đặc biệt là những người theo chủ nghĩa Mao hiện đại và nhà cải cách cực đoan (cánh tả và cánh hữu) đã có quan điểm tiêu cực với Đặng. Những năm sau này, bài hát "Câu chuyện mùa xuân", được sáng tác trong dịp Đặng đi xuống phía Nam năm 1992, một lần nữa được phát sóng rộng rãi.
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan đã hồi tưởng: #đổi Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã nói:#đổi
Khi so sánh những đài tưởng niệm của những lãnh đạo CPC khác, những sự tưởng nhớ tới Đặng là kín đáo, phù hợp với tư duy của Đặng về chủ nghĩa thực dụng. Hơn nữa, ông đã được hỏa táng và tro cốt của ông được rải xuống biển, trái với việc ướp xác như Mao.
Có một vài hình ảnh công cộng của Đặng ở trong nước. Một bức tượng đồng của Đặng được dựng vào 15 tháng 11 năm 2000, tại quảng trường tráng lệ của Công viên Lianhua Mountain ở Thâm Quyến. Bức tượng đó được tưởng nhớ tới vai trò của Đặng như là một nhà hoạch định và đóng góp tới sự phát triển của Khu vực kinh tế đặc biệt Thâm Quyến, bắt đầu từ 1979. Bức tượng cao 6m, với 3.68 m bệ đỡ. Bức tượng mô tả Đặng đang tự tin đi những bước dài về phía trước. Nhiều lãnh đạo quốc gia đã thăm bức tượng. Ngoài ra, trong những khu vực bờ biển trên hòn đảo tỉnh Hải Nam, Đặng được thấy trên những biển hiệu bên đường với những lời nói nhận mạnh về cải cách kinh tế hoặc chính sách của ông về một quốc gia, hai chế độ.
Đặng Tiểu Bình được gọi là "kiến trúc sư của Trung Quốc thời hiện đại" và được xem xét rộng rãi như là một trong những nhân vật ảnh hưởng nhất thế kỷ 20. Ông được chọn là Nhân vật của năm của Tạp chí "Time" năm 1978 và 1985, lãnh đạo thứ ba của Trung Quốc (sau Tưởng Giới Thạch và vợ ông là Tống Mỹ Linh) và lần thứ tư cho một lãnh đạo cộng sản (sau Joseph Stalin), được chọn hai lần, và Nikita Khrushchev được chọn.
Đặng được nhớ chủ yếu cho những cải cách kinh tế ông đã khởi xướng trong khi đang làm nhà lãnh đạo tối cao của Cộng hòa nhân dân Trung Quốc, những cải cách đã chèo lái Trung Quốc hướng tới một nền kinh tế thị trường, dẫn tới tăng trưởng kinh tế cao, tăng tiêu chuẩn sống của hàng trăm triệu người, mở rộng tự do văn hóa và cá nhân, và kết quả đã hội nhập đất nước vào nền kinh tế thế giới. Nhiều người dân đã được đưa ra khỏi sự đói nghèo trong suốt thời gian lãnh đạo của ông hơn bất kì thời gian nào khác trong lịch sử loài người, được rộng rãi cho là nhờ những cải cách rộng rãi của ông. Một vài người đã đề nghị rằng Đặng nên được trao giải Nobel hòa bình. Đặng cũng được công nhận giảm văn hóa của Mao Trạch Đông với việc mang tới sự kết thúc kỷ nguyên hỗn loạn của Cách mạng văn hóa. Hơn nữa, những chiến thuật mạnh tay đã được tin rằng giữ Cộng hòa nhân dân Trung Quốc được thống nhất, đối nghịch với quốc gia cộng sản quyền lực khác cùng thời điểm, Liên Xô, quốc gia đã sụp đổ năm 1991.
Tuy nhiên, Đặng cũng được nhớ cho việc để lại một chính phủ độc đoán và tiếp tục tồn tại, cho những việc lạm dụng quyền con người, và cho nhiều trường hợp bạo lực chính trị. Với tư cách là một lãnh đạo tối cao, ông đã chịu trách nhiệm Sự kiện Thiên An Môn, thứ đã được xem là gây ra cái chết cho hơn 3,000 người biểu tình ủng hộ dân chủ, ông đã tác động tới Đảng cộng sản che đậy cuộc thảm sát. Hơn nữa, ông được cho dính líu tới một vài sự thanh lọc tồi tệ nhất trong suốt thời Mao cai trị; dẫn chứng, ông đã ra lệnh một đội quân đàn áp một ngôi làng Hồi giáo ở Hồ Nam mà kết quả làm chết 1,600 người, bao gồm 300 trẻ em.
Với tư cách là nhà lãnh đạo tối cao, Đặng cũng đàm phán để kết thúc sự cai trị của thực dân Anh ở Hồng Kông và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và Liên Xô. Vào tháng 8 năm 1980, ông đã bắt đầu cải cách nền chính trị Trung Quốc bằng cách thiết lập giới hạn nhiệm kỳ cho quan chức và đề xuất một sự xem xét lại có hệ thống về Hiến pháp lần thứ ba của Trung Quốc, thứ đã được làm trong suốt Cách mạng văn hóa. Hiến pháp mới là hiện thân của Chủ nghĩa lập hiến phong cách Trung Quốc, được thông qua bởi Đại hội nhân dân quốc gia tháng 12 năm 1982 với hầu hết sự đồng ý, vẫn để lại ảnh hưởng cho tới ngày nay. Ông cũng đóng góp cho sự thành lập Luật giáo dục bắt buộc 9 năm (từ lớp 1 tới lớp 9), và phục hồi những cải cách nền chính trị Trung Quốc.
! colspan="3" style="border-top: 5px solid #ccccff;" | Chức vụ chính trị
! colspan="3" style="border-top: 5px solid #FFBF00;" | Chức vụ Đảng
|
Dame Zaha Mohammad Hadid (tiếng Ả Rập: زها حديد; sinh 31 tháng 10 năm 1950 – 31 tháng 3 năm 2016) là một nữ kiến trúc sư nổi tiếng người Anh gốc Iraq theo trường phái Kiến trúc giải tỏa kết cấu.
Học vấn và sự nghiệp.
Sinh ra ở Baghdad, Iraq, bà nhận bằng cử nhân toán học tại Đại học Hoa Kỳ ở Beirut, Liban, trước khi theo học tại Trường kiến trúc London ("Architectural Association School of Architecture"). Sau khi tốt nghiệp, Hadid làm việc cho văn phòng kiến trúc OMA ("Office for Metropolitan Architecture") của Elia Zenghelis và giáo sư cũ của bà: Rem Koolhaas. Đồng thời, bà cũng làm trợ lý cho Rem tại Trường Kiến trúc London. Năm 1979, Hadid thành lập hãng thiết kế riêng ở Luân Đôn. Hiện nay bà đang đảm nhiệm dự án Cung thể thao nước 20000 chỗ ngồi cho Thế vận hội mùa hè 2012 ở London. Bà cũng là một nhà thiết kế nội thất có danh tiếng, bao gồm khu Trí tuệ ("Mind Zone") tại Vòm Thiên niên kỉ của kiến trúc sư Richard Roger tại London.
Các công trình của bà mang nặng tính ý tưởng với những hình khối động và những giải pháp đặc biệt để để tiếp cận cũng như giải quyết công trình. Bà liên tục tham gia các cuộc thi thiết kế quốc tế. Mặc dù có rất nhiều đồ án thắng cuộc nhưng không được xây dựng. Trong số đó, nổi bật có The Peak Club ở Hồng Kông năm 1983, nhà hát Opera ở vịnh Cardiff, xứ Wales năm 1994. Năm 1988, bà tham dự triển lãm Kiến trúc giải tỏa kết cấu ở Bảo tàng nghệ thuật Hiện đại MoMA, Thành phố New York. Năm 2002, Hadid thắng trong cuộc thi quốc tế thiết kế tổng mặt bằng Trung tâm khoa học Singapore. Năm 2004, bà là nữ kiến trúc sư đầu tiên nhận giải thưởng Pritzker. Năm 2005, bà thắng trong cuộc thi thiết kế một sòng bạc mới ở Basel, Thụy Sĩ. Không chỉ là một kiến trúc sư nổi tiếng, bà còn nổi tiếng về với tác phẩm trong nghệ thuật sắp đặt, tranh vẽ và đồ nội thất. Bà cũng được trao tặng Huân chương Đế quốc Anh, tước sĩ quan (CBE). Hiện nay, bà là thành viên của ban biên tập Bách khoa toàn thư Britannica ("Encyclopædia Britannica").
Bà là giáo sư giảng dạy nhiều đại học lớn trên thế giới, trong số đó có Trường Nghệ thuật Thị giác ("Hochschule für Bildende Künste") ở Hamburg (Đức), Trường thiết kế tại Đại học Harvard, Đại học Chicago, Đại học Columbia tại Thành phố New York. Hiện bà đang giảng dạy tại Đại học Nghệ thuật ứng dụng Wien ở Áo.
Vào ngày 31 tháng 3 năm 2016, Hadid mất do ngừng tim tại một bệnh viện ở Miami, nơi bà đang điều trị căn bệnh viêm phế quản.
|
Trong lý thuyết xác suất và thống kê, số trung vị (tiếng Anh: "median") là một số tách giữa nửa lớn hơn và nửa bé hơn của một mẫu, một quần thể, hay một phân bố xác suất. Nó là giá trị giữa trong một phân bố, mà
số các số nằm trên hay dưới con số đó là bằng nhau. Điều đó có nghĩa rằng 1/2 quần thể sẽ có các giá trị nhỏ hơn hay bằng số trung vị, và một nửa quần thể sẽ có giá trị bằng hoặc lớn hơn số trung vị.
Để tìm "số trung vị" của một danh sách hữu hạn các số, ta xếp tăng dần tất cả các quan sát, rồi lấy giá trị nằm giữa danh sách. Nếu số quan sát là số chẵn, người ta thường lấy trung bình của hai giá trị nằm giữa.
Cách giải thích dễ hiểu.
Giả sử có 19 người nghèo và 1 tỉ phú trong một căn phòng. Mọi người đều bỏ tất cả tiền trong túi mình ra và đặt lên một cái bàn. Mỗi người nghèo đặt 5 đồng lên bàn; người tỉ phú đặt 1 tỷ đồng (109 đồng) lên đó. Khi đó, tổng số là 1.000.000.095 đồng. Nếu đem chia đều số tiền đó cho 20 người, mỗi người được 50.000.004 đồng và 75 xu. Số tiền đó là trung bình của số tiền mà mỗi người đã đem vào phòng. Nhưng "số trung vị" lại là 5 đồng, vì ta có thể chia thành 2 nhóm mỗi nhóm 10 người, và nói rằng mọi người trong nhóm thứ nhất mang không nhiều hơn 5 đồng và mọi người trong nhóm thứ hai mang không dưới 5 đồng. Theo nghĩa đó, "số trung vị" là số tiền mà một người điển hình mang tới. Ngược lại, giá trị trung bình không điển hình chút nào, do không có ai - người nghèo hoặc tỉ phú - mang đến một số tiền xấp xỉ 50.000.004,75 đồng.
Không duy nhất: có thể có nhiều hơn một số trung vị.
Có thể có nhiều hơn một số trung vị: ví dụ nếu số các trường hợp là một số chẵn thì không có một số trung vị duy nhất. Lưu ý rằng một nửa số các số trong danh sách có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng "một trong hai" giá trị giữa, và một nửa lớn hơn hay bằng "một trong hai" giá trị đó, đối với bất cứ số nào "nằm giữa" hai giá trị đó cũng vậy. Do vậy, trong trường hợp đó, cả hai số nằm giữa và mọi giá trị nằm giữa chúng đều là số trung vị.
Đo đạc sự phân tán thống kê.
Khi "trung vị" được dùng với vai trò tham số vị trí trong thống kê mô tả, có một vài lựa chọn một độ đo độ biến đổi: khoảng biến thiên giao độ ("range"), khoảng tứ phân vị ("interquartile range"), và độ lệch tuyệt đối ("absolute deviation"). Do trung vị chính là "tứ phân vị thứ hai", việc tính toán nó được minh họa trong bài về các tứ phân vị.
Trung vị của các phân bố xác suất.
Cho một phân bố xác suất bất kỳ trên tập số thực với hàm phân bố tích lũy "F", bất kể nó thuộc loại phân bố xác suất liên tục nào, một phân bố liên tục tuyệt đối (và do đó có một hàm mật độ xác suất) hay một phân bố xác suất rời rạc. Giá trị trung vị "m" của nó thỏa mãn đẳng thức
trong đó sử dụng tích phân Riemann-Stieltjes. Với một phân bố liên tục tuyệt đối với hàm mật độ xác suất "f", ta có
Số trung vị trong thống kê mô tả.
Số trung vị thường dùng chủ yếu cho các phân bố lệch, do nó biểu thị chính xác hơn trung bình cộng. Xét tập { 1, 2, 2, 2, 3, 9 }. Trong trường hợp đó, số trung vị bằng 2 và bằng mode, và nó có thể được coi là chỉ định tốt hơn về xu hướng trung tâm ("central tendency") hơn là trung bình số học có giá trị 3,166….
Tính toán số trung vị là một kỹ thuật phổ biến trong thống kê tổng kết ("summary statistics") và dữ liệu thống kê tổng kết ("summarizing statistical data"), do nó dễ hiểu và dễ tính, trong khi vẫn cho ra một độ đo tốt hơn giá trị kỳ vọng trong trường hợp có mặt các giá trị ngoại lệ ("outlier").
Các tính chất lý thuyết.
Tính chất tối ưu hóa.
Số trung vị còn là điểm trung tâm, nơi cực tiểu hóa trung bình của các độ lệch tuyệt đối; trong ví dụ trên, nó sẽ là (1 + 0 + 0 + 0 + 1 + 7) / 6 = 0.5 bằng cách sử dụng trung vị, trong khi nếu sử dụng giá trị trung binh, kết quả sẽ là 1.5. Trong ngôn ngữ của lý thuyết xác suất, giá trị của "c" mà làm cực tiểu
là số trung vị của phân bố xác suất của biến ngẫu nhiên "X".
Bất đẳng thức liên quan tới giá trị trung bình và số trung vị.
Đối với các phân bố xác suất liên tục, hiệu giữa số trung vị và giá trị trung bình nhỏ hơn hay bằng độ lệnh chuẩn. Xem bất đẳng thức giữa các tham số vị trí và tỉ lệ ("an inequality on location and scale parameters").
Tính toán hiệu quả.
Tuy việc sắp xếp "n" phần tử thường cần O("n" log "n") thao tác, bằng cách sử dụng một thuật toán "chia để trị", số trung vị của "n" phần tử có thể được tính với chỉ O("n") thao tác (thực ra, ta luôn có thể tìm thấy phần tử thứ "k" của một danh sách các giá trị với phương pháp này; nó có tên thuật toán lựa chọn ("selection algorithm")).
|
Ngũ Đại Hồ (tiếng Anh: "The Great Lakes", tức là "Các Hồ Lớn") là năm hồ lớn nằm trên hay gần biên giới Canada–Hoa Kỳ. Đây là nhóm hồ nước ngọt lớn nhất trên thế giới, và hệ thống Ngũ Đại Hồ – sông Saint Lawrence là hệ thống nước ngọt lớn nhất trên thế giới. Đôi khi năm hồ này được gọi biển nội địa.
Cách thuật nhớ phổ biến để nhớ lại tên của các hồ là chữ "HOMES" (tiếng Anh: "các nhà"), tức là Huron, Ontario, Michigan, Erie và Superior, nhưng cách này không có thứ tự đặc biệt nào. Những cách khác, thí dụ như "Sister Mary Hates Ecumenical Overtures" ("Xơ Maria ghét những ca khúc khởi đầu của nhà thờ") hay "She Made Harry Eat Onions" ("Bà ấy bắt Harry phải ăn hành"), xếp các hồ từ phía tây đến phía đông.
Theo quan điểm thủy học, hai hồ Michigan và Huron cùng trộn lẫn với nhau nên đôi khi được coi như một hồ: hồ Michigan-Huron. Khi tính như vậy thì hồ Michigan-Huron lớn hơn hồ Superior theo diện tích mặt nước, nhưng vẫn nhỏ hơn theo tổng thể tích nước.
Hồ thứ sáu cũng thuộc hệ thống Ngũ Đại Hồ là hồ Saint Clair. Hồ này nhỏ hơn năm hồ kia nhiều, nằm giữa hồ Huron và hồ Erie, và không được coi như một trong những "đại hồ". Hệ thống này cũng bao gồm những sông nối các hồ với nhau: sông Saint Mary giữa hồ Superior và hồ Huron, sông Saint Clair giữa hồ Huron và hồ St. Clair, sông Detroit giữa hồ Saint Clair và hồ Erie, và sông Niagara và thác Niagara giữa hồ Erie và hồ Ontario. (Hồ Michigan được nối với hồ Huron theo eo Mackinac.) Một số đảo lớn và một bán đảo chia ra hồ Huron thành hồ chính và vịnh Georgian.
Các hồ nằm giáp tỉnh bang Ontario (trừ hồ Michigan), và các tiểu bang Minnesota, Wisconsin, Michigan (trừ hồ Ontario), Illinois, Indiana, Ohio, Pennsylvania và New York. Bốn trong năm hồ này tạo nên biên giới Mỹ-Canada; riêng hồ Michigan nằm trọn trong nước Mỹ. Sông Saint Lawrence, một phần là biên giới quốc tế, là thủy lưu tháo nước chính của các hồ này – vì các hồ nối liền với nhau – và chảy qua Québec và bán đảo Gaspé trước khi đổ vào Bắc Đại Tây Dương.
Nhóm hồ này có vào khoảng 35.000 đảo trên Ngũ Đại Hồ rải rác, bao gồm đảo Manitoulin trên hồ Huron, đảo lớn nhất trên vùng nước nội địa; và đảo Royale trên hồ Superior, đảo lớn nhất trên hồ lớn nhất. Hai đảo này đủ lớn để có hồ riêng bên trong.
Ngày nay, 20% dung tích nước ngọt trên thế giới nằm trong nhóm hồ này: gần 23.000 km³ (5.473 dặm khối). Nhóm hồ này chứa đủ nước để phủ ngập cả 48 tiểu bang lục địa nước Mỹ dưới 2,9 mét nước (hay 9,5 foot nước). Tổng diện tích mặt nước của các hồ này là 244.000 km² (94.250 dặm vuông) – lớn hơn cả các tiểu bang New York, New Jersey, Connecticut, Rhode Island, Massachusetts, Vermont và New Hampshire cộng lại. Nếu kéo ra từ đầu đến cuối, đường bờ hồ của chúng có thể bao quanh gần nửa vòng Trái Đất theo đường xích đạo.
Đường biển Saint Lawrence và Đường nước Ngũ Đại Hồ mở vùng Ngũ Đại Hồ ra cho những tàu đi biển. Tuy nhiên, vì những tàu đi biển càng ngày càng dùng các container lớn hơn – tàu không đi lọt các cửa kênh ở những đường kênh này – khiến việc chuyên chở trên các đại hồ này phần nào bị hạn chế. Tuy chúng rất rộng, nhưng phần lớn của Ngũ Đại Hồ đóng băng vào mùa đông, nên hàng hải phần nhiều ngừng lại vào mùa đó. Tuy nhiên, có một số tàu phá băng chạy trên nhóm hồ này để mở đường giao thông.
Nhóm hồ này ảnh hưởng đến thời tiết ở vùng chung quanh, ví dụ như hiệu ứng hồ vào mùa tuyết. Vào mùa đông, hơi ẩm của gió từ phía tây có thể gây ra nhiều mưa tuyết, nhất là gần bờ biển về phía đông, như là ở Michigan, Ontario và New York. Trời không cần phải có mây khi có mưa tuyết do hiện tượng này. Lần nổi tiếng nhất là trận Bão tuyết năm 1977, trong đó gió mạnh thổi tuyết từ hồ Erie phủ ngập Buffalo, New York dưới lớp tuyết dày. Các hồ cũng giảm bớt nhiệt độ của vùng ven hồ ít nhiều vì hồ có khả năng hấp nhiệt vào mùa hè, rồi tỏa nhiệt từ từ vào mùa thu. Vì nhiệt độ được dung hòa nên có hiện tượng "vành đai trái cây" gần hồ và việc trồng trọt công nghiệp cung ứng được hoa quả cho thị trường.
|
Đèn pha là một thiết bị chiếu sáng được dùng chủ yếu trên các phương tiện cơ giới như xe ôtô, xe máy , chiếu ngang mặt đường và có khả năng chiếu sáng khoảng 100m trở lên. Hầu hết đèn pha đều sử dụng bóng đèn sợi hoặc bóng đèn halogen, có công suất 25-35 W đối với xe máy và 55-60 W đối với xe ôtô.
Đèn pha có thể được dùng kết hợp với đèn cốt (chiếu sáng gần) trong cùng một chóa đèn của xe cơ giới, hoặc lắp bổ sung để tạo ra khả năng chiếu sáng tối ưu.
Đèn pha led ra đời.
Hiện nay khi công nghệ LED phát triển thì đèn pha led ra đời, kết hợp giữa chức năng, kiểu dáng giản đơn, tính thẩm mỹ đèn pha led chính là phạm vi toàn diện của ánh đèn chiếu rọi chiếu sáng cho kiến trúc ngoài trời. Sản phẩm chính hãng của hai thương hiệu nổi tiếng về chiếu sáng là Duhal, Philips, Rạng Đông. Được thiết kế để cung cấp những hiệu ứng ánh sáng tối ưu từ luồng sáng mạnh đến hiệu ứng điểm nhấn tinh tế hơn. Thiết kế khe chuẩn trực quang học độc đáo mang đến hiệu suất ánh sáng đồng nhất và đảm bảo sự phối trộn màu sắc tuyệt nhất. Các loại đèn pha thường được sử dụng là đèn pha led 100 w, đèn pha led 50 w cao nhất có thể nên tới 200 w, so với đèn pha thường thì đèn pha công nghệ LED tiết kiệm năng lượng hơn nhiều lần, trước kia người dùng thường sử dụng đèn Halogen nhưng hiện nay phần lớn các gia đình, hộ kinh doanh đang dần chuyển sang đèn công nghệ led
Điểm nổi bật nữa là thiết kế theo phương pháp đúc khuôn đồng bộ với thân đèn khép kín đạt chuẩn IP65 (đảm bảo chống lại côn trùng, và bụi bẩn hoàn toàn; chống lại sự xâm nhập của nước vòi phun áp lục lớn ở tất cả mọi hướng)
Tuổi thọ cao 20.000 tới 50,000 giờ sử dụng lâu dài và bền vững mà các loại đèn pha truyền thống không đáp ứng được, thông thường những loại đèn pha halogen hay sợi đốt tuổi thọ chỉ 1000 tới 4000 giờ do đó chi phí thay thế rất tốn kén, nhưng cái lợi là chi phí đầu tư ban đầu sẽ thấp hơn rất nhiều khi ta sử dụng đèn pha led
Đặc điểm cấu tạo của đèn pha.
- Do công suất đèn lớn nên khi sử dụng sẽ tỏa ra nhiệt độ cao, do đó cần tản nhiệt của đèn cũng phải lớn và tiết diện rộng. Vì thế đèn thường làm bằng nhôm phía đui đèn được khía nhiều rảnh giúp giảm nhiệt nhanh như hình bên cạnh
|
Sông Nin hoặc Nile (tiếng Ả Rập: النيل, "an-nīl", tiếng Ai Cập cổ đại: iteru hay Ḥ'pī - có nghĩa là sông lớn), là dòng sông thuộc châu Phi, là sông chính của khu vực Bắc Phi, thường được coi là con sông dài nhất trên thế giới, với chiều dài 6.853 km và đổ nước vào Địa Trung Hải, tuy vậy có một số nguồn khác dẫn nghiên cứu năm 2007 cho rằng sông này chỉ dài thứ hai sau sông Amazon ở Nam Mỹ. Sông Nin được gọi là sông "quốc tế" vì lưu vực của nó bao phủ 11 quốc gia gồm Tanzania, Uganda, Rwanda, Burundi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Kenya, Ethiopia, Eritrea, Nam Sudan, Sudan và Ai Cập.
Sông này còn được người Việt phiên âm là Nhĩ Lô như trong sách "Tây hành nhật ký" của Phạm Phú Thứ.
Đây là dòng sông có ảnh hưởng nhất ở châu Phi, gắn liền với sự hình thành, phát triển và lụi tàn của nhiều vương quốc cổ đại, góp phần tạo dựng nên nền Văn minh sông Nin.
Sông Kagera đổ vào hồ Victoria gần thị trấn Bukoba của Tanzania là nguồn cung cấp nước dài nhất, mặc dù các nguồn tài liệu khác nhau không công nhận nó là nhánh dài nhất và do đó nó là nguồn xa nhất của sông Nile. Nguồn hoặc là Sông Ruvyironza từ tỉnh Bururi, Burundi, hoặc Nyabarongo chảy từ rừng Nyungwe ở Rwanda. Hai nguồn cung cấp này gặp nhau tại thác Rusumo tại ranh giới của Rwanda-Tanzania.
Năm 2010, một nhóm khảo sát đã đến đây miêu tả về nguồn của nhánh Rukarara, và đi theo một con đường trên sườn núi đã tìm thấy (trong mùa khô) nguồn nước mặt lộ ra chảy nhiều dặm ở phía thượng lưu, và đã tìm thấy nguồn mới, do đó chiều dài sông Nin là 6.758 km. Vịnh Gish được xem là nơi có "nước thánh" có giọt đầu tiên của sông Nin.
Sông Nin có hai nguồn chính, quan trọng nhất là sông Nin Trắng bắt nguồn từ vùng xích đạo Đông Phi, rồi đến sông Nin Xanh bắt nguồn từ Ethiopia. Hồ Victoria, nằm giữa Uganda, Kenya và Tanzania, được xem là nơi bắt nguồn của dòng sông này.
Sông Nin Xanh bắt nguồn từ Hồ Tana trên vùng cao nguyên của Ethiopia. Dòng Nin Xanh chảy được khoảng 1.400 km (850 dặm) tới Khartoum thì hai dòng Nin Xanh và Nin Trắng gặp nhau, hợp lưu tạo nên sông Nin. Phần lớn nguồn nước của sông Nin được cung cấp từ Ethiopia, chiếm khoảng 80-85% lưu lượng lệ thuộc vào vũ lượng. Mùa mưa ăn khớp với mùa hè khi nhiều trận mưa rào trút xuống, góp nước cho sông Nin.
Đoạn sông Nin ở phía Bắc chủ yếu chảy qua sa mạc. Phần lớn cư dân Ai Cập, ngoại trừ một số dân cư ven biển, sống dọc theo bờ sông Nin bắt đầu từ phía bắc thành phố Aswan. Di tích nền văn minh Ai Cập cổ đại cũng tập trung dọc theo hai bên bờ sông Nin. Dòng sông Nin còn là huyết mạch giao thông nhất là vào mùa lũ, khi mà các phương tiện đường bộ không thể di chuyển được.
Lưu vực sông Nin.
Lưu vực sông Nin chiếm khoảng 1/10 diện tích châu Phi là nơi phát triển và tàn lụi của nhiều nền văn minh cổ đại. Cư dân hai bên bờ sông Nin là một trong những nhóm người đầu tiên biết trồng trọt, làm nông nghiệp và sử dụng cày. Lưu vực sông Nin được giới hạn ở phía Bắc bởi biển Địa Trung Hải, phía Đông bởi dãy Biển đỏ (Red Sea Hills) và Cao nguyên Ethiopia, phía Nam bởi cao nguyên Đông Phi, trong đó có bao gồm hồ Victoria là một trong 2 nguồn của sông Nin, phía Tây tiếp giáp với lưu vực sông Chad, sông Công gô và trải dài xuống Tây nam đến dãy Marrah thuộc Sudan
Sông Nin với nguồn nước dồi dào đã tạo nên vùng Thung lũng trù phú nhất "lục địa đen". Nó đã góp phần rất lớn tới sự hình thành nền văn minh Ai Cập cổ đại, với những kim tự tháp kỳ vĩ. Sông Nin đã ảnh hưởng lớn tới nền văn hoá Ai Cập cổ ngay từ thời đại đồ đá, khi mà sa mạc Sahara đang ngày càng xâm lấn sang phía Đông của lục địa châu Phi.
Sông Nin bắt nguồn từ hồ Victoria ở khu vực xích đạo có mưa quanh năm nên lượng mưa khá lớn. Tới Khác-tum sông Nin nhận thêm nước từ phụ lưu Nin Xanh ở khu vực cận xích đạo, lưu lượng trở nên rất lớn, mùa nước lũ lên tới 90 000 m³/s; đến biên giới Ai Cập mặc dù sông Nin chảy giữa miền hoang mạc và không nhận được thêm phụ lưu nào nữa, nước sông vừa ngấm xuống đất, vừa bốc hơi mạnh, gần biển lưu lượng nước giảm nhiều nhưng ở Cai-rô (Ai Cập) về mùa cạn lưu lượng vẫn còn 700 m³/s.
Tranh chấp về nước.
Nước sông Nin ảnh hưởng đến các thể chế chính trị Đông Phi và Sừng châu Phi trong nhiều thập kỷ. Các quốc gia gồm Uganda, Sudan, Ethiopia và Kenya đã phàn nàn về việc Ai Cập thống trị nguồn tài nguyên nước. Sáng kiến lưu vực sông Nin thúc đẩy hợp tác hòa bình giữa các nước.
Nhiều nỗ lực đã được thực hiện nhằm thiết lập những thỏa thuận chia sẻ nước sông Nin giữa các quốc gia này. Nhưng rất khó khăn để đạt được thỏa thuận của tất cả các quốc gia trên về lợi ích của họ và những khác biệt về chính trị, chiến lược và xã hội. Ngày 14 tháng 5 năm 2010 tại Entebbe, Uganda, Ethiopia, Rwanda, Tanzania và Uganda đã ký một thỏa thuận mới về chia sẻ nước sông Nin mặc dù thỏa thuận này chịu sự phản đối mạnh mẽ của Ai Cập và Sudan. Lý tưởng nhất, những thỏa thuận như thế này nhằm thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả và công bằng nguồn tài nguyên nước lưu vực sông Nin. Nếu không có sự hiểu rõ hơn về sự sẵn có của nguồn tài nguyên nước trong tương lai của sông Nin, thì sẽ có nhiều cuộc xung đột giữa các quốc gia dựa vào nguồn cấp nước, phát triển kinh tế và xã hội từ sông Nin.
Khám phá hiện đại.
Cuộc thám hiểm Nin trắng, dẫn đầu bởi Hendrik Coetzee Nam Phi, trở thành người đầu tiên xác định chiều dài toàn bộ của sông Nin. Cuộc thám hiểm nguồn của sông Nin ở Uganda vào ngày 17 tháng 1 năm 2004 và đến Địa Trung Hải ở Rosetta một cách an toàn, trong vòng 2 tháng rưỡi.
Vào 28 tháng 4 năm 2004, nhà địa chất học Pasquale Scaturro và cộng sự của ông, kayaker và nhà làm phim tài liệu Gordon Brown đã trở thành người đầu tiên định vị sông Nin Xanh, từ hồ Tana ở Ethiopia đến các bãi biển thuộc Alexandria ở Địa Trung Hải. Mặc dù chuyến thám hiểm gồm nhiều người khác, nhưng Brown và Scaturro là những người duy nhất hoàn thành toàn bộ cuộc hành trình. Nhóm nghiên cứu sử dụng động cơ rời cho hầu hết cuộc hành trình.
|
Triton là vệ tinh tự nhiên lớn nhất của Sao Hải Vương và là vệ tinh đầu tiên của Sao Hải Vương được phát hiện. Nó được khám phá vào ngày 10 tháng 10 năm 1846 bởi nhà thiên văn học người Anh William Lassell. Đây là vệ tinh lớn duy nhất trong Hệ Mặt Trời có quỹ đạo nghịch hành, quỹ đạo theo hướng ngược với vòng quay của hành tinh. Với đường kính 2.710 kilômét (1.680 mi), đây là vệ tinh lớn thứ bảy trong Hệ Mặt Trời, vệ tinh duy nhất của Sao Hải Vương đủ lớn để ở trạng thái cân bằng thủy tĩnh và vệ tinh hành tinh lớn thứ hai so với hành tinh của nó, sau Mặt Trăng của Trái Đất. Do quỹ đạo nghịch hành và thành phần tương tự như Sao Diêm Vương, Triton được cho là một hành tinh lùn bị bắt từ vành đai Kuiper.
Triton được Camille Flammarion đặt tên theo vị thần biển Triton trong thần thoại Hy Lạp, con trai của thần Poseidon và nữ thần biển Amphitrite, năm 1880. Có lẽ hơi lạ là William Lassell, người phát hiện lại không đặt tên cho vệ tinh này vì chỉ vài năm sau, ông đã đặt tên cho những vệ tinh mới do ông phát hiện như mặt trăng thứ tám của Sao Thổ (Hyperion) và mặt trăng thứ ba và bốn của Sao Thiên Vương (Ariel và Umbriel).
Tuy nhiên chỉ đến khi mặt trăng thứ hai của Sao Hải Vương là Nereid được phát hiện thì Triton mới trở thành tên gọi chính thức của vệ tinh này.
Triton là vệ tinh duy nhất trong số tất cả các mặt trăng lớn của hệ Mặt Trời có quỹ đạo nghịch hành xung quanh hành tinh (tức là quỹ đạo của nó ngược với chiều quay của hành tinh). Những mặt trăng nhỏ ở xa Sao Mộc và Sao Thổ, cùng với ba mặt trăng ngoài cùng của Sao Thiên Vương cũng có quỹ đạo nghịch hành nhưng mặt trăng lớn nhất trong số đó (Phoebe) cũng chỉ có đường kính bằng 8% và khối lượng bằng 0.03% của Triton. Những mặt trăng có quỹ đạo nghịch hành không được hình thành từ cùng một miền của đám tinh vân tạo nên mặt trời với hành tinh của nó mà được "bắt" từ nơi khác. Điều này có thể giải thích một số đặc trưng của hệ Sao Hải Vương kể cả quỹ đạo hết sức kì lạ của mặt trăng ngoài cùng Nereid và bằng chứng về sự khác biệt trong lõi của Triton. Sự tương tự trong kích thước và thành phần của Triton đối với Sao Diêm Vương cũng như quỹ đạo kì lạ đi ngang Sao Hải Vương của Sao Diêm Vương phần nào gợi ý cho giả thuyết về nguồn gốc của Triton như một hành tinh giống Sao Diêm Vương.
Tính chất vật lý.
Triton là mặt trăng lớn thứ bảy và là thiên thể lớn thứ mười sáu trong Hệ Mặt Trời, thậm chí còn lớn hơn Sao Diêm Vương và Eris. Khối lượng của Triton lớn hơn 99,5% tổng khối lượng các thiên thể quay quanh Sao Hải Vương như các vành đai bao quanh hành tinh và 13 mặt trăng khác, Triton còn nặng hơn các mặt trăng kích thước nhỏ hơn trong Hệ Mặt Trời gộp lại. Mật độ của Triton là 2,05 g/cm³, cho thấy nó có thể chứa khoảng 25% là băng, chiếm còn lại là đá.
Bề mặt Triton bao phủ bởi một lớp băng nitơ trong suốt. Giống Sao Diêm Vương, lớp vỏ của Triton chứa gồm 55% băng nitơ và những hợp chất băng khác trộn vào nhau, 15-35% băng nước và 10-20% băng khô đông lạnh, cùng với lượng nhỏ mêtan và carbon monoxit. Trên bề mặt cũng chứa băng amoniac, và dihydrate phân bố trên thạch quyển. Diện tích bề mặt của Triton là 23 triệu km², bằng 15,5% diện tích phần đất liền trên Trái Đất. Suất phản chiếu của Triton luôn cao, độ sáng của nó chiếm 70% so với khi ánh sáng Mặt Trời chiếu lên Triton. Bề ngoài màu đỏ ửng của Triton là do băng mêtan hấp thụ bước sóng hồng ngoại.
Bởi bề mặt Triton trải qua bị nung chảy lâu dài, những mô hình về cấu trúc bên trong mặt trăng cho rằng bên trong Triton, giống với Trái Đất, gồm một lõi rắn, lớp manti và lớp vỏ. Nước chiếm hầu hết trên lớp manti, bao quanh vùng lõi chứa đá và kim loại. Có đủ đá bên trong Triton để phân rã phóng xạ để duy trì một đại dương nước ngầm cho đến hiện nay, giống như đại dương ngầm tồn tại bên dưới bề mặt Europa và một số thiên thể băng giá khác nằm ngoài Hệ Mặt Trời. Điều này được cho là không đủ để cung cấp năng lượng để tuần hoàn trong lớp vỏ băng giá của Triton. Tuy nhiên, các thủy triều nghiêng mạnh được cho là tạo ra đủ lượng nhiệt thêm vào để thực hiện điều này và tạo ra các dấu hiệu quan sát được về hoạt động địa chất trên bề mặt Triton trong gần đây. Những vật chất có màu đen được phun ra có khả năng chứa các hợp chất hữu cơ, và nếu nước lỏng có hiện diện trên Triton, người ta suy đoán rằng điều này có thể khiến nó có thể sống được đối với một số hình thức sự sống.
Triton có khí quyển mỏng giàu nitơ, cacbon monoxit và lượng nhỏ khí mêtan. Cũng giống với khí quyển Sao Diêm Vương, khí quyển Triton được cho là do sự bốc hơi băng nitơ từ bề mặt của mặt trăng. Nhiệt độ bề mặt Triton là 35,6 K (-237,6 °C), bởi băng nitơ trên Triton ấm hơn, trong trạng thái kết tinh và giai đoạn chuyển tiếp giữa các khối băng nitơ và diễn ra tại nền nhiệt độ đó. Một giới hạn nhiệt độ ở ngưỡng 40 K có thể được tạo ra từ trạng thái cân bằng áp suất khí nitơ bay hơi trong khí quyển của Triton. Điều này khiến Triton lạnh hơn Sao Diêm Vương, thiên thể có nhiệt độ cân bằng trung bình là 44 K (-229 °C). Áp suất khí quyển trên bề mặt Triton nhỏ, chỉ khoảng 1,4-1,9 Pa (0,014-0,019 mbar).
Sự không đồng đều trên bề mặt Triton hình thành nên một tầng đối lưu có độ cao lên tới 8 km. Những dải hẹp (streaks) trên bề mặt Triton tạo ra bởi các mạch nước phun (geysers), điều đó cho rằng những cơn gió hoạt động theo mùa trên tầng đối lưu có khả năng chuyển dời vật chất có kích thước hơn 1 micromet. Không giống như khí quyển của các thiên thể khác, Triton không có tầng bình lưu, nhưng nó lại có một tầng thượng khí quyển nằm cách bề mặt 8–950 km, và trên cùng là ngoại quyển. Nhiệt độ khí quyển Triton ở ngưỡng 95 ± 5 K, cao hơn nhiệt độ bề mặt do Triton nhận lượng nhiệt từ không gian vũ trụ. Đám sương mù hiện diện trên tầng đối lưu Triton, chúng được cho là chứa chủ yếu hydrocarbon và nitrile được tạo thành bởi quá trình bức xạ Mặt Trời len lỏi vào khu vực chứa khí mêtan. Khí quyển Triton cũng xuất hiện những đám mây nitơ đặc nằm ở độ cao cách bề mặt 1 và 3 km. Trong thập niên 1990, các quan sát trên mặt đất khi Triton đi qua phía trước một ngôi sao. Một cuộc quan sát cho thấy có sự hiện diện của một lớp khí quyển còn đặc hơn lớp khí quyển được cho là ghi từ dữ liệu của "Voyager 2". Quan sát khác cho thấy nhiệt độ tăng lên từ 5% trong giai đoạn 1989-1998. Các quan sát này cho thấy mùa hè trên Triton nóng bất thường, chỉ diễn ra vài trăm năm trong một lần. Các giả thuyết về sự nóng lên này bao hàm sự thay đổi về các mẫu băng nước trên bề mặt Triton và sự thay đổi của băng theo suất phản chiếu, dẫn đến việc hấp thụ lượng nhiệt nhiều hơn. Một giả thuyết khác lập luận rằng các thay đổi về nhiệt độ là kết quả của các trầm tích, vật chất màu đỏ sẫm tạo ra từ các quá trình địa chất trên bề mặt Triton. Bởi suất phản chiếu Bond của Triton cao nhất trong Hệ Mặt Trời, nó là nhạy cảm với biến đổi nhỏ trong quang phổ suất phản chiếu.
|
Hồ Erie (tiếng Pháp: "lac Érié"; tiếng Anh "Lake Erie", phát âm như "I-ri"), kề cận về phía bắc với tỉnh Ontario (Canada), về phía nam với các tiểu bang Mỹ Ohio, Pennsylvania, và New York, và về phía tây với tiểu bang Michigan, là hồ nhỏ nhất theo thể tích và nông nhất của Ngũ Đại Hồ ở Bắc Mỹ. Hồ này có tên của người Erie, bộ lạc thổ dân sống dọc theo bờ hồ về phía nam trước khi người Âu Châu tới vùng này.
Hồ Erie nói riêng là hồ tự nhiên lớn thứ 13 trên thế giới, khi tính vào hai biển Caspi và Aral. Nó có diện tích mặt nước là 25.700 km² (tức là 9.910 dặm vuông) và độ sâu trung bình là 19 m (62 foot), và nó chứa đựng 484 km³ nước (116 dặm khối nước). Để so sánh, hồ Superior có độ sâu trung bình là 147 m (483 foot), thể tích là 12.100 km³ (2.900 dặm khối), và đường bờ hồ kéo dài 4.385 km (2.726 dặm).
Hồ Erie có độ cao 173 m (569 foot) trên mặt biển. Nó dài 388 km (241 dặm) và ngang 92 km (57 dặm). Độ sâu trung bình của nó là 19 m (62 foot) và độ sâu cực đại là 64 m (210 foot). Phần tây, tức là ¼ của diện tích nông hơn với độ sâu trung bình là 13 m (42 foot) và độ sâu cực đại là 19 m (62 foot). Cái hay là độ sâu của hồ này ít hơn độ cao của thác Niagara, tức là cả hồ này sẽ bị cạn hoàn toàn khi thác nước đó cuối cùng bị ăn mòn tới cửa hồ.
Phần lớn nước của hồ Erie chảy từ sông Detroit (từ hồ Huron và hồ Saint Clair) và chảy tiếp theo sông Niagara và thác Niagara vào hồ Ontario. Các tàu có thể lái xuôi dòng bằng kênh Welland, một phần của Đường biển Saint Lawrence. Các nhánh sông quan trọng kia của hồ Erie bao gồm sông Grand, sông Raisin, sông Huron, sông Maumee, sông Sandusky, và sông Cuyahoga.
Ba tiểu bang Mỹ Ohio, Pennsylvania, và New York nằm về phía nam của hồ Erie; Michigan về phía tây, và tỉnh Ontario (Canada) về phía bắc. Vườn Quốc gia mũi Pelee, nơi cực nam của đất liền Canada, thuộc bán đảo nhô ra hồ. Vài đảo nằm ở phần tây của hồ; mỗi đảo này thuộc về Ohio trừ ra đảo Pelee của Ontario.
Các thành phố Buffalo, New York; Erie, Pennsylvania; Toledo, Ohio; Monroe, Michigan; và Cleveland, Ohio ven bờ biển của hồ Erie. Nó là hồ cuối cùng của Ngũ Đại Hồ được người Pháp tìm ra, sau khi họ theo những nhánh sông của hồ Ontario và khuân xuồng qua hồ Huron.
Hồ Erie có thời gian giữ nước là 2,6 năm, thời gian ngắn nhất của các Ngũ Đại Hồ.
Năm 1813, Trận hồ Erie dẫn ra trên hồ này giữa Hải quân Hoa Kỳ và Hải quân Hoàng gia của Vương quốc Anh trong Chiến tranh năm 1812. Sĩ quan chỉ huy Oliver Hazard Perry được nổi tiếng vì trận này.
Hồ Erie là hồ cạn nhất của các Ngũ Đại Hồ và được nổi tiếng vào thập niên 1960 và 1970 vì bị ô nhiễm. Dân ở vùng đấy thường miêu tả nó là "hồ chết", nhưng đánh cá thể thao và thương mại vẫn tiếp tục đến ngày nay. Vụ ô nhiễm ở hồ không được nổi tiếng đến Vụ cháy sông Cuyahoga vào tháng 6 năm 1969. Ô nhiễm từ Cleveland và những thành phố khác của Ohio đã làm nhánh sông này của hồ Erie bẩn với chất hóa dầu đến độ mà nó cháy tự nó. Vụ cháy này làm chính phủ tiểu bang mắc cỡ và bắt Quốc hội Hoa Kỳ phải thông qua Đạo luật Nước sạch.
|
Siêu cúp bóng đá châu Á
Siêu cúp bóng đá châu Á (tiếng Anh: Asian Super Cup) là giải bóng đá hàng năm giữa 2 câu lạc bộ đoạt Cúp các câu lạc bộ vô địch bóng đá quốc gia châu Á và Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Á. Giải do Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) tổ chức lần đầu tiên vào năm 1995 và chấm dứt năm 2002 sau khi sáp nhập với 2 cúp trên thành giải AFC Champions League.
Thống kê Siêu cúp bóng đá châu Á.
Theo câu lạc bộ.
Bảng dưới đây liệt kê các câu lạc bộ theo số lần vô địch và á quân tại Siêu cúp châu Á.
Bảng dưới đây liệt kê các quốc gia theo số lần vô địch và á quân tại Siêu cúp châu Á.
Theo huấn luyện viên.
Bảng dưới đây liệt kê các huấn luyện viên vô địch Siêu cúp châu Á.
|
Cúp AFC () là một giải bóng đá cấp câu lạc bộ lục địa thường niên do Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) tổ chức. Theo luật hiện tại, giải đấu chỉ chủ yếu dành cho các câu lạc bộ từ các quốc gia có thứ hạng thấp không có suất vào thẳng trực tiếp ở AFC Champions League dựa trên bảng xếp hạng giải đấu cấp câu lạc bộ AFC.
Al-Kuwait và Al-Quwa Al-Jawiya là các câu lạc bộ thành công nhất trong lịch sử của giải đấu, mỗi đội vô địch ba lần. Các câu lạc bộ đến từ Kuwait đã vô địch bốn lần, khiến họ trở thành quốc gia thành công nhất ở giải đấu. Kể từ khi giải đấu khởi tranh vào năm 2004, các câu lạc bộ từ Tây Á thống trị các trận chung kết của mỗi kỳ cho đến năm 2015 khi câu lạc bộ Malaysia Johor Darul Ta'zim từ Đông Á trở thành một trong các đội lọt vào chung kết và lên ngôi vô địch. Al-Seeb của Oman là đương kim vô địch sau khi đánh bại Kuala Lumpur City của Malaysia trong trận chung kết năm 2022.
Điều lệ giải đấu (Từ 2017 đến 2023–24).
Từ năm 2017, thể thức của AFC Cup được thay đổi, với mục đích giảm chi phí di chuyển giữa các địa điểm diễn ra các trận đấu.
Có 36 câu lạc bộ sẽ tham dự giải đấu (Kể từ năm 2021, con số này có thể lên tới 48), chia thành 9 bảng (Kể từ năm 2021, con số này có thể lên tới 12), mỗi bảng gồm 4 đội. Các suất tham dự được phân bố như sau:
Các đội Trung Á, Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á được xếp vào 1 nhóm gọi là Liên khu vực (Inter-zone), và đội vô địch nhóm này sẽ giành quyền vào chung kết tổng gặp đội vô địch Tây Á. Thể thức chi tiết như sau:
Tây Á và Đông Nam Á.
12 đội của mỗi khu vực sẽ được chia thành 3 bảng (Ở khu vực Tây Á là các bảng A, B và C và ở khu vực Đông Nam Á là các bảng F, G và H), mỗi bảng gồm 4 đội. Các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt trong bảng của mình. 3 đội nhất bảng và 1 đội nhì bảng có thành tích tốt nhất sẽ đi tiếp vào vòng loại trực tiếp khu vực tương ứng.
Liên khu vực Trung Á, Nam Á và Đông Á.
4 đội của mỗi khu vực được xếp vào 1 bảng riêng cho mỗi khu vực (Ở khu vực Trung Á là bảng D, khu vực Nam Á là bảng E và ở khu vực Đông Á là bảng I, nhưng từ năm 2021, tùy vào số suất dự vòng bảng mà có thể thay đổi thành 2 bảng cho khu vực đó). Các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt trong bảng của mình. 3 đội nhất bảng sẽ đi tiếp vào vòng loại trực tiếp liên khu vực. Kể từ năm 2021, trong trường hợp một khu vực có 2 bảng, sẽ có trận chung kết cho riêng khu vực đó, và đội thắng sẽ đi tiếp vào vòng loại trực tiếp liên khu vực.
Vòng loại trực tiếp.
Vòng loại trực tiếp khu vực Tây Á (West Asia Zonal Playoff).
3 đội nhất bảng và 1 đội nhì bảng có thành tích tốt nhất của các bảng đấu thuộc khu vực Tây Á (Bảng A, B và C) sẽ bốc thăm đá cặp với nhau. Hai đội thắng trong hai trận bán kết sẽ đối đầu với nhau ở trận chung kết khu vực và giành vé trực tiếp vào chung kết tổng giải đấu.
Vòng loại trực tiếp khu vực Đông Nam Á (ASEAN Zonal Playoff).
3 đội nhất bảng và 1 đội nhì bảng có thành tích tốt nhất của các bảng đấu thuộc khu vực Đông Nam Á (Bảng F, G và H) sẽ bốc thăm đá cặp với nhau. Hai đội thắng trong hai trận đấu bán kết sẽ đối đầu với nhau ở trận chung kết khu vực để giành vé đá bán kết liên khu vực.
Vòng loại trực tiếp liên khu vực (Inter-zone Playoff).
3 đội nhất bảng liên khu vực (Bảng D, E và I, hoặc là đội thắng chung kết khu vực tương ứng) và 1 đội bóng vô địch khu vực Đông Nam Á sẽ bốc thăm đá cặp với nhau. Hai đội thắng trong hai trận bán kết sẽ đối đầu với nhau ở trận chung kết để giành vé vào chung kết tổng giải đấu.
Chung kết tổng (Final).
Đội vô địch Tây Á và đội vô địch liên khu vực sẽ đối đầu với nhau trong trận chung kết tổng. Trận đấu sẽ chỉ diễn ra 1 lượt duy nhất trên sân của 1 trong 2 đội và sẽ thay đổi theo năm, với trận chung kết năm lẻ diễn ra ở sân của đội vô địch Liên khu vực, và năm chẵn sẽ diễn ra trên sân của đội vô địch Tây Á.
Thể thức này khiến cho AFC Cup trở thành giải đấu có thể thức phức tạp và lằng nhằng nhất thế giới hiện nay.
Kể từ năm 2021, nếu một khu vực trong nhóm Liên khu vực có từ 4 suất vào thẳng vòng bảng trở lên, hoặc có từ 7 suất dự vòng sơ loại và play-off trở lên, khu vực đó sẽ có 2 bảng. Tại AFC Cup 2021, do khu vực Trung Á có tới 7 đội được phân bổ suất dự vòng bảng, nên khu vực này sẽ có 2 bảng: D và E.
Thể thức mới và đổi tên (từ mùa giải 2024–25).
Từ mùa giải 2024–25, thể thức các giải bóng đá cấp câu lạc bộ của AFC có sự thay đổi, theo đó giải đấu hạng 2 mới thay cho Cúp AFC sẽ có 32 đội tham dự vòng bảng, chia làm 2 khu vực Đông và Tây (mỗi khu vực 16 đội). Các đội được chia làm 8 bảng (4 bảng A–D dành cho khu vực Tây Á, 4 bảng E–H dành cho khu vực Đông Á). Tại vòng bảng, các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm chọn ra 2 đội đứng đầu vào vòng loại trực tiếp. Các đội thi đấu loại trực tiếp 2 lượt riêng rẽ trong khu vực của mình cho đến trận Chung kết, nơi 2 đội sẽ thi đấu 1 trận duy nhất trên sân trung lập.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, AFC công bố tên của giải đấu thay thế Cúp AFC là AFC Champions League 2.
Đã từng có 32 liên đoàn bóng đá quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc AFC có đại diện tham dự, trong đó có 27 liên đoàn đã từng có đại diện tham dự tới vòng đấu bảng AFC Cup. Đối với các liên đoàn chưa bao giờ có đại diện lọt tới vòng đấu bảng thì không được liệt kê ở bảng bên dưới. Đối với dấu (*) dành cho những lần mà quốc gia đó có đại diện tham dự nhưng ít nhất là thất bại ở vòng loại.
|
Tổ chức từ thiện
Tổ chức từ thiện là một loại tổ chức phi lợi nhuận ("N.P.O") thực hiện các hoạt động từ thiện. Thuật ngữ này là tương đối chung chung và kỹ thuật có thể tham khảo một tổ chức từ thiện công cộng (còn gọi là "quỹ từ thiện", "quỹ công cộng" hoặc đơn giản là "quỹ") hoặc một quỹ tư nhân. Nó khác với các loại NPO trong đó tập trung của nó là tập trung vào mục tiêu có tính chất từ thiện nói chung (ví dụ như từ thiện, giáo dục, tôn giáo, hoặc các hoạt động khác,nhằm phục vụ ("chính sách") và kêu gọi cộng đồng hoặc tuyên truyền đến mọi người (hãy mường tượng đến những tác giả để lại những lịch sử đóng góp trên trang wiki nhằm ("quyên góp") để Wiki mang đến những giá trị được chia sẻ đến ("cộng đồng")).
(*Các định nghĩa pháp lý") của tổ chức từ thiện thay đổi tùy theo đất nước và trong một số trường hợp theo các khu vực của các ("Quốc gia") mà tổ chức từ thiện hoạt động. Các quy định, xử lý thuế, và cách thức pháp luật ảnh hưởng đến tổ chức từ thiện cũng thay đổi.
("Tổ chức") từ thiện không thuộc sự quản lý của ("chính phủ") ("là một trong những "tổ chức phi chính phủ") hoạt động nhờ kinh phí từ các tổ chức ("kinh tế") và cá nhân đóng góp. Hoạt động của các ("tổ chức từ thiện") bao gồm các ("phong trào vận động gây quỹ"), chuyển trợ giúp bằng quà hay tiền đến những đối tượng thuộc diện khó khăn và cần trợ giúp của xã hội. Tổ chức từ thiện thường được tổ chức với sự giúp đỡ của [[Giáo hội [[Phật giáo]],[[Chùa]], [[nhà thờ]] [[Thiên Chúa giáo|Thiên chúa giáo]], [[Phong trào Chữ thập đỏ]] và [[Trăng]] lưỡi liềm đỏ quốc tế|[[Hội Chữ thập đỏ]] và có hoạt động gắn liền với các cơ sở ("dạy nghề") hay ("chữa bệnh") như [[bệnh viện]], các ("trại dưỡng lão"), trại ("trẻ mồ côi").
Định nghĩa của tổ chức từ thiện ở [[Úc]] có nguồn gốc thông qua luật của Anh, ban đầu từ [[từ thiện Sử dụng Đạo luật 1601]], và sau đó thông qua nhiều thế kỷ của pháp luật dựa trên nó. Năm 2002, Chính phủ liên bang thiết lập một cuộc điều tra vào định nghĩa của tổ chức từ thiện. Đó là yêu cầu đề nghị rằng chính phủ nên ban hành luật một định nghĩa của tổ chức từ thiện, dựa trên các nguyên tắc phát triển thông qua các trường hợp pháp luật. Điều này dẫn đến Tổ chức từ thiện Bill 2003. Bill kết hợp một số quy định, chẳng hạn như hạn chế về tổ chức từ thiện được tham gia vận động chính trị, mà nhiều tổ chức từ thiện đã thấy như là một đi không mong muốn từ trường hợp pháp luật. Chính phủ sau đó bổ nhiệm một Hội đồng quản trị của cuộc điều tra thuế để tham khảo ý kiến với các tổ chức từ thiện Bill. Như một kết quả của sự chỉ trích rộng rãi từ các tổ chức từ thiện, Chính phủ đã quyết định từ bỏ dự án Luật.
Kết quả là, các chính phủ sau đó giới thiệu [[mở rộng Mục đích từ thiện Act 2004]] đã trở thành những gì. Bill đã không cố gắng để hệ thống hóa các định nghĩa của một mục đích từ thiện, nó chỉ đơn thuần là tìm cách làm rõ rằng mục đích nhất định thực sự từ thiện, từ thiện tình trạng đã bị nghi ngờ của pháp luật. Các mục đích: chăm sóc trẻ em, các nhóm tự giúp đỡ, đóng / dòng tu chiêm niệm
Công khai quyên góp tiền, tổ chức từ thiện ở Úc được yêu cầu phải đăng ký theo thẩm quyền nhà nước mà trong đó họ có ý định gây quỹ và phải được đăng ký trong mỗi và bất kỳ bang nào mà trong đó họ có ý định công khai gây quỹ. Ví dụ, trong tổ chức từ thiện [[Queensland]] phải đăng ký với Văn phòng QLD of Fair Trading. Một ví dụ về một tổ chức từ thiện đăng ký ở Queensland, Úc [[Sunnykids]] như vậy trong khi Sunnykids công khai có thể gây quỹ cho các mục đích từ thiện, và trong khi đóng góp như vậy là thuế khấu trừ trong tất cả các bang và lãnh thổ Úc - Kinh phí mình chỉ có thể tăng lên trong QLD như này là Nhà nước duy nhất trong đó tổ chức từ thiện được đăng ký để gây quỹ. Để cho các tổ chức từ thiện để gây quỹ trong các bang và vùng lãnh thổ Úc còn lại, nó sẽ cần phải đăng ký tại các bang hoặc vùng lãnh thổ riêng. Không cần phải nói, các tổ chức từ thiện Nhiều người Úc đang kêu gọi chính phủ liên bang và bang và vùng lãnh thổ thống nhất pháp luật cho phép đăng ký trong một bang hoặc vùng lãnh thổ để cho phép các tổ chức từ thiện để gây quỹ trong tất cả tám bang và vùng lãnh thổ Úc.
Tổ chức từ thiện ở Canada phải được đăng ký với Cục Tổ chức từ thiện Cơ quan thuế Canada. Theo Cơ quan thuế Canada:
Một tổ chức từ thiện đăng ký là một tổ chức được thành lập và hoạt động cho các mục đích từ thiện, và phải dành nguồn lực của mình để hoạt động từ thiện. Tổ chức từ thiện phải được cư trú ở Canada, và không thể sử dụng thu nhập của mình để mang lại lợi ích cho các thành viên.
Tổ chức từ thiện cũng phải đáp ứng một thử nghiệm lợi ích công cộng. Để đủ điều kiện theo thử nghiệm này, một tổ chức phải chứng minh rằng:
Những người có đủ điều kiện cho lợi ích công chúng như một toàn bộ, hoặc một phần đáng kể của nó, trong đó họ không phải là một nhóm hạn chế hoặc một trong những nơi các thành viên chia sẻ một kết nối riêng, chẳng hạn như các câu lạc bộ xã hội hoặc các hiệp hội chuyên nghiệp với các thành viên cụ thể
Các hoạt động của tổ chức từ thiện phải được pháp lý và không được trái với chính sách công
Để đăng ký là tổ chức từ thiện, tổ chức này phải được kết hợp hoặc điều chỉnh bởi một văn bản quy phạm pháp luật được gọi là một sự tin tưởng hay một hiến pháp. Tài liệu này đã giải thích mục đích của tổ chức và cấu trúc.
Anh quốc và xứ Wales.
Một tổ chức từ thiện, tổ chức từ thiện, ở Anh và xứ Wales là một loại đặc biệt của tổ chức tự nguyện Một tổ chức tự nguyện là một tổ chức thiết lập cho mục đích từ thiện, xã hội, từ thiện hoặc các là cần thiết để sử dụng bất kỳ lợi nhuận, thặng dư chỉ cho mục đích của tổ chức, và không phải là một phần của bất kỳ bộ phận quản lý, chính quyền địa phương hoặc cơ quan khác theo luật định Tất cả các tổ chức từ thiện là các tổ chức tự nguyện, nhưng không phải tất cả các tổ chức tự nguyện ở Anh và xứ Wales được tổ chức từ thiện.
Đối với một tổ chức tự nguyện là một tổ chức từ thiện, từ thiện, mục tiêu tổng thể của nó, đôi khi được gọi là "mục đích" của tổ chức, phải từ thiện. Tất cả các mục đích của tổ chức phải được từ thiện, như là một tổ chức từ thiện không thể có một số mục đích từ thiện và một số không [[Luật Các Tổ chức từ thiện 2006]] cung cấp danh sách mục đích từ thiện sau đây
Một tổ chức từ thiện cũng phải cung cấp một lợi ích công cộng.
Về mặt pháp lý, tất cả các tổ chức từ thiện cũng phải thực hiện theo:
Trước Đạo luật các tổ chức từ thiện năm 2006, định nghĩa của tổ chức từ thiện xuất phát từ một danh sách các mục đích từ thiện trong sử dụng từ thiện Đạo luật 1601 (còn được gọi là Điều lệ của Elizabeth), đã được giải thích và mở rộng thành một cơ thể đáng kể các trường hợp pháp luật. Trong các ủy viên "cho mục đích đặc biệt Thuế thu nhập v Pemsel" (1891), Chúa McNaughten xác định được bốn loại tổ chức từ thiện mà có thể được chiết xuất từ từ thiện Sử dụng Đạo luật và được định nghĩa được chấp nhận của tổ chức từ thiện trước Đạo luật các tổ chức từ thiện 2006.
Cho đến năm 2011, có một số loại cấu trúc pháp lý cho một tổ chức từ thiện ở Anh và xứ Wales.
[[Hiệp hội phi chính phủ là hình thức phổ biến nhất của tổ chức trong hoạt động tự nguyện ở Anh và xứ Wales. Hiệp hội phi chính phủ là một sự thống nhất giữa các cá nhân, những người đã đồng ý đến với nhau để lập thành một tổ chức cho một mục đích cụ thể. Một Hiệp hội phi chính phủ bình thường sẽ có tài liệu quản lý, hiến pháp, hoặc thiết lập các quy tắc, đề giải quyết các vấn đề như việc bổ nhiệm người quản lý văn phòng, và các quy tắc quản lý thành viên. Tổ chức không phải là một thực thể pháp lý riêng biệt. Vì vậy, nó không thể có các hoạt động pháp lý, nó không thể vay tiền, và nó không thể tham gia vào hợp đồng bằng tên của mình. Ngoài ra những người quản lý có thể được chịu trách nhiệm cá nhân nếu tổ chức từ thiện bị kiện hoặc có các khoản nợ ]]
[[Tin tưởng pháp luật|Tin tưởng]] bản chất là một mối quan hệ giữa ba bên, các nhà tài trợ của một số tài sản, người được ủy thác là những người nắm giữ tài sản và những người hưởng lợi (những người đủ điều kiện được hưởng lợi từ từ thiện). Khi có niềm tin có mục đích từ thiện, và là một tổ chức từ thiện, tin tưởng được biết đến như một tổ chức từ thiện. Tài liệu quản lý là Chứng thư ủy thác hoặc Tuyên bố của Trust, đi vào hoạt động một khi nó được chữ ký của tất cả các ủy thác. Những bất lợi chính của sự tin tưởng rằng, với một hiệp hội chưa hợp nhất, nó không có một thực thể pháp lý riêng biệt và được ủy thác phải sở hữu tài sản và ký kết hợp đồng. Người được ủy thác cũng chịu trách nhiệm nếu tổ chức từ thiện bị kiện hoặc trách nhiệm phải gánh chịu.
Một công ty bị giới hạn bởi đảm bảo là một công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, trách nhiệm của thành viên là giới hạn. Một công ty bảo lãnh không có vốn cổ phần, nhưng thay vì có thành viên bảo lãnh thay vì cổ đông. Trong trường hợp công ty bị lên vết thương, các thành viên đồng ý trả một số tiền danh nghĩa mà có thể được ít nhất là £ 1. Một công ty bị giới hạn bởi đảm bảo một cấu trúc hữu ích cho các tổ chức từ thiện đó là mong muốn cho người được ủy thác có sự bảo vệ của trách nhiệm hữu hạn. Ngoài ra, tổ chức từ thiện có một bản sắc pháp lý rõ ràng, và như vậy có thể tham gia vào hợp đồng, chẳng hạn như hợp đồng lao động trong tên riêng của mình
Một số lượng nhỏ của các tổ chức từ thiện được kết hợp bởi Hiến, một tài liệu mà tạo ra một công ty với tư cách pháp nhân (hoặc, trong một số trường hợp, biến đổi một tổ chức từ thiện được thành lập như là một công ty thành một tổ chức từ thiện được thành lập bởi Hiến pháp). Điều lệ phải được sự chấp thuận của [[Hội đồng cơ mật trước khi nhận được sự đồng ý Hoàng gia. Mặc dù bản chất của tổ chức từ thiện sẽ khác nhau tùy thuộc vào các điều khoản ban hành, nói chung là một điều lệ Hoàng gia sẽ cung cấp một tổ chức từ thiện cùng một trách nhiệm hạn chế như là một công ty và khả năng ký kết hợp đồng.
Luật Các Tổ chức từ thiện 2006 giới thiệu một hình thức pháp lý mới thành lập công ty thiết kế đặc biệt cho các tổ chức từ thiện, Thành lập Tổ chức từ thiện. Đây không phải là chưa có sẵn cho các tổ chức từ thiện để sử dụng
Quỹ từ không phải là thường được sử dụng ở Anh và xứ Wales. Đôi khi một tổ chức từ thiện sẽ sử dụng Quỹ từ như là một phần của ví dụ như tên của nó [Quỹ Tim mạch Anh, nhưng điều này không có ý nghĩa pháp lý và không cung cấp bất kỳ thông tin nào về công việc của tổ chức từ thiện hoặc làm thế nào nó là hợp pháp có cấu trúc. Cấu trúc của tổ chức sẽ là một trong ba loại cấu trúc mô tả ở trên.
Đăng ký từ thiện.
Tổ chức từ thiện có một thu nhập của hơn £ 5.000, và người mà pháp luật của nước Anh và xứ Wales được áp dụng, phải đăng ký với Ủy ban từ thiện [| Ủy ban từ thiện Anh và xứ Wales. Đối với công ty, pháp luật của nước Anh và xứ Wales thường sẽ áp dụng nếu công ty riêng của mình được đăng ký tại Anh và xứ Wales. Trong trường hợp khác nếu tài liệu quản lý không làm cho nó rõ ràng, pháp luật mà áp dụng sẽ là quốc gia mà tổ chức được kết nối.
Trường hợp thu nhập của một tổ chức không vượt quá 5.000 £ nó không phải là có thể đăng ký như là một tổ chức từ thiện với Ủy ban từ thiện [| Ủy ban từ thiện Anh và xứ Wales. Nó có thể, tuy nhiên, đăng ký như là một tổ chức từ thiện với [[HM Doanh thu và Hải quan]] cho các mục đích thuế mà thôi. Với sự gia tăng mức độ đăng ký bắt buộc, £ 5000 do Tổ chức từ thiện Act 2006, tổ chức từ thiện nhỏ hơn có thể được dựa trên [[HM Doanh thu và Hải quan|HMRC]] công nhận chứng minh mục đích từ thiện của họ và khẳng định nguyên tắc không vì lợi nhuận của họ
Một số tổ chức từ thiện được gọi là [[từ thiện được miễn thuế|miễn tổ chức từ thiện]] là không bắt buộc phải đăng ký với Ủy ban từ thiện và không chịu bất cứ quyền hạn giám sát của Ủy ban từ thiện. Các tổ chức từ thiện bao gồm hầu hết các trường đại học và viện bảo tàng quốc gia và một số tổ chức giáo dục khác. Tổ chức từ thiện khác được trừ từ sự cần thiết phải đăng ký, nhưng vẫn phải chịu sự giám sát của Ủy ban từ thiện. Các quy định về tổ chức từ thiện ngoại trừ có tuy nhiên bị thay đổi do các tổ chức từ thiện Act 2006. Nhiều tổ chức từ thiện trừ được tổ chức từ thiện tôn giáo
Tổ chức từ thiện ở Bắc Ai-len]] được đăng ký với Vương quốc Anh [HM Doanh thu và Hải quan. Ủy ban từ thiện cho Bắc Ireland " đã được thành lập và đã nhận được tên và chi tiết của hơn 7.000 tổ chức trước đây đã được cấp tình trạng từ thiện thuế mục đích. Việc tham gia của các tổ chức này vào một danh sách mới và tạm thời dưới tiêu đề "" "Các tổ chức trước đây đã được biết đến như các tổ chức từ thiện" đang tiếp tục. Danh sách này không phải là đăng ký mới, nhưng sẽ được thực hiện công khai trên trang web của CCNI.
20.000 tổ chức từ thiện như vậy ở [[Scotland]] được đăng ký với [[Văn phòng quản lý từ thiện Scotland]] (OSCR), cũng xuất bản Đăng ký tổ chức từ thiện trực tuyến. Scotland có số lượng tổ chức từ thiện bình quân đầu người cao nhất thế giới .
Tổ chức từ thiện, bao gồm cả tin tưởng từ thiện, có đủ điều kiện cho một tập hợp các phù điêu và miễn thuế tại Anh. Chúng bao gồm các phù điêu và miễn trừ liên quan đến thuế thu nhập, thuế vốn tăng, thuế thừa kế, tem thuế đất nhiệm vụ và thuế giá trị gia tăng.
Tại [[Hoa Kỳ]] một tổ chức từ thiện là một tổ chức được tổ chức và hoạt động cho các mục đích có lợi cho [[công ích]], tuy nhiên có sự phân biệt giữa các loại của các tổ chức từ thiện.
Mỗi tổ chức từ thiện Mỹ và nước ngoài đủ điều kiện được miễn thuế dưới mục [[501 (c) (3)]] của [[Internal Revenue Code]] bị xem là một [[quỹ tư nhân]] trừ khi nó cho [[Internal Revenue Service|IRS]] thấy rằng nó rơi vào nhóm khác. Trong một ý nghĩa chung, bất kỳ tổ chức nào không phải là một quỹ tư nhân (tức là nó đủ điều kiện như là một cái gì đó khác) thường là một tổ chức từ thiện công cộng như mô tả trong Mục 509 (a) của Bộ Luật Thuế
Ngoài ra, một [[quỹ tư nhân]] thường bắt nguồn quỹ chủ yếu từ một gia đình, cá nhân, công ty hoặc một số nguồn khác duy nhất và thường xuyên hơn không phải là một [[grantmaker]] và không yêu cầu tài trợ từ công chúng. Ngược lại, một [[Quỹ (tổ chức phi lợi nhuận)|Quỹ]] hoặc của tổ chức từ thiện cộng đồng nhận tài trợ từ các cá nhân, chính phủ, cơ sở tư nhân và mặc dù một số tổ chức từ thiện công cộng tham gia trong [[grantmaking]] hoạt động, hầu hết các dịch vụ thực hiện trực tiếp hoặc thuế khác miễn hoạt động.
Điều này dẫn đến sự phân biệt khác: Quỹ thường grantmakers (tức là họ sử dụng [[tài chính cung cấp vốn| cung cấp vốn để tài trợ cho các tổ chức khác, lần lượt thực hiện các mục tiêu của nền tảng gián tiếp) thường được gọi là "grantmaker "hoặc" quỹ không hoạt động ". Những tất nhiên có xu hướng được cơ sở tư nhân. Tuy nhiên, một số quỹ tư nhân, (và các tổ chức từ thiện công cộng nhất) sử dụng kinh phí của họ nhận được trực tiếp tham gia vào các hoạt động dịch vụ tự và đạt được mục tiêu của mình "cá nhân", như vậy để nói chuyện.
Ví dụ về một quỹ tư nhân không hoạt động sẽ là [[Quỹ Rockefeller]] và [[Quỹ Bill Melinda Gates]].
Ví dụ về các quỹ điều hành hoặc các tổ chức từ thiện công cộng bao gồm [[Quỹ AIDS nhi khoa Elizabeth Glaser]], [[Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ]]., [[Quỹ động vật hoang dã Thế giới]].
Các yêu cầu và thủ tục hình thành các tổ chức từ thiện khác nhau giữa các tiểu bang, cũng như các yêu cầu đăng ký và nộp hồ sơ cho các tổ chức từ thiện thực hiện các hoạt động từ thiện hoặc thu hút đóng góp từ thiện Vì vậy, hiệu quả trong thực tế, định nghĩa chi tiết của tổ chức từ thiện được xác định bởi các yêu cầu của pháp luật nhà nước của nhà nước, trong đó các tổ chức từ thiện hoạt động, và yêu cầu giảm thuế liên bang IRS.
Cứu trợ thuế liên bang.
Pháp luật về thuế liên bang cung cấp các lợi ích về thuế cho các tổ chức phi lợi nhuận được công nhận như miễn thuế thu nhập liên bang theo mục 501 (c) (3) của Bộ Luật Thuế Vụ (IRC). Những lợi ích của 501 (c) (3) tình trạng bao gồm miễn thuế thu nhập liên bang cũng như đủ điều kiện để nhận được đóng góp từ thiện được khấu trừ thuế. Để hội đủ điều kiện cho 501 (c) (3) tình trạng hầu hết các tổ chức phải áp dụng đối với Sở Thuế Vụ (IRS) cho tình trạng đó
Có một số yêu cầu phải được đáp ứng cho một tổ chức từ thiện để có được 501 (c) (3) tình trạng. Bao gồm các tổ chức được tổ chức như là một công ty, tin tưởng, hoặc chưa hợp hiệp hội, và tài liệu tổ chức của tổ chức (như các mặt thành lập công ty, tin tưởng các tài liệu, hoặc các bài viết của hiệp hội) phải giới hạn mục đích của nó là từ thiện và vĩnh viễn dành tài sản của mình cho mục đích từ thiện. Các tổ chức phải kiềm chế không thực hiện một số hoạt động khác như tham gia trong các chiến dịch chính trị của các ứng cử viên cho văn phòng địa phương, tiểu bang hoặc liên bang, và phải đảm bảo rằng thu nhập của nó không được hưởng lợi bất kỳ cá nhân thuế Hầu hết các tổ chức được miễn yêu cầu phải nộp [[báo cáo tài chính]] hàng năm ([[IRS Form 990]]) ở cấp tiểu bang và liên bang. Một tổ chức miễn thuế 990 và một số hình thức khác được yêu cầu phải được thực hiện để giám sát công cộng.
Các loại tổ chức từ thiện được coi là của IRS để được tổ chức vì lợi ích công cộng bao gồm những người được tổ chức cho:
Một số tổ chức khác, bao gồm cả những người tổ chức cho mục đích tôn giáo, khoa học, văn học và giáo dục, cũng như những người để thử nghiệm cho an toàn công cộng và bồi dưỡng quốc gia hoặc cạnh tranh quốc tế thể thao nghiệp dư, và để phòng ngừa tàn bạo cho trẻ em hoặc động vật có thể cũng hội đủ điều kiện cho tình trạng miễn thuế.
IRS, trừ trường hợp hiếm hoi, đề cập đến tất cả các tổ chức hội đủ điều kiện được miễn nộp theo [[501 (c) (3)]] và các tổ chức từ thiện
Danh sách của các tổ chức có liên quan.
- Xin lưu ý phần các liên kết bên ngoài không niêm yết tổ chức từ thiện cá nhân. Nó được dành riêng cho các cơ quan quốc gia quan trọng hơn. Bất kỳ liên kết khác sẽ được nhanh chóng loại bỏ! Tổ chức từ thiện đáng chú ý có thể được đưa vào danh mục: Tổ chức từ thiện. -
[[Thể loại:Tổ chức từ thiện| ]]
[[Thể loại:Di chúc và tín thác]]
[[Thể loại:Các dạng tổ chức|Từ thiện]]
[[Thể loại:Quỹ từ thiện| ]]
|
Ca trù (chữ Nôm: 歌籌), còn gọi nôm na là hát cô đầu / hát nhà trò là loại hình diễn xướng bằng âm giai nhạc thính phòng rất thịnh hành tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và trí thức yêu thích. Ca trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc.
Cho đến những năm 1980 thể loại này hay được gọi cái tên là hát ả đào (nghĩa đen là "hát xẩm cửa đình"), tuy nhiên sang thập niên 1990 thì hay gọi tên là hát ca trù. Từ "ca trù" được cho là lấy từ chữ Nôm: 歌籌 nghĩa là lối hát bỏ thẻ tre, người nghe hát thấy chỗ nào hay thì ném thẻ cho đào hát. Sau đó cứ đếm thẻ mà trả thành tiền. Các ca nương được gọi là ả đào tuy nhiên chữ "ả" liên kết với mại dâm, nên gọi chêch ra là cô đào, và dạng biến thể là cô đầu. Ca trù từng được tầng lớp trí thức thời phong kiến yêu thích, được biểu diễn tại các đình làng và cả ở cung đình, sau đó phát triển ở các giáo phường, sử dụng phụ nữ và dần bị biến tướng. Thời thực dân, ca trù phát triển ở các đô thị trong các "ca quán" nơi cung cấp rượu và thuốc phiện. Sau năm 1945 khi Việt Minh lên nắm quyền, nó bị phê phán gắn với các hoạt động mại dâm chế độ cũ. Sau 1954 ca trù chính thức bị cấm, nhưng được khôi phục sau khi công cuộc Đổi Mới được phát động và ngày nay hay được xem là bộ môn nghệ thuật bác học của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam.
Ngày 1 tháng 10 năm 2009, ca trù được ghi danh là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng lớn, với phạm vi tới 16 tỉnh, thành phố ở nửa phía Bắc Việt Nam. Hồ sơ đề cử Ca trù là di sản văn hóa thế giới với không gian văn hóa Ca trù trải dài khắp 16 tỉnh phía Bắc gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Ca trù là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại đứng thứ hai sau ả đào pansori của Hàn Quốc.
Ngày 23 tháng 2 năm 2020, nhằm ngày giỗ tổ nghiệp ca trù, Google lần đầu tiên tôn vinh loại hình nghệ thuật truyền thống này bằng biểu tượng đặc biệt thay thế tạm thời trên trang chủ của Google tại Việt Nam.
Không ai rõ ca trù có từ bao giờ, nhưng có một giai thoại kể rằng nó được khai sinh bởi Đinh Dự - con trai công thần Lam Sơn và công chúa Đường Hoa - người nhà trời. Nên ca trù có nguồn gốc nửa nhân nửa thần, linh thiêng mà cao quý.
Ca trù là dạng nghệ thuật biểu diễn dùng nhiều thể văn chương như: phú, truyện, ngâm, nhưng thể văn chương phổ biến nhất là hát nói và hát kể.
Hát nói xuất hiện sớm nhưng phải đợi đến đầu thế kỷ 19 mới có những tác phẩm lưu truyền đến nay như các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quá
Thành phần trình diễn.
Một chầu hát cần có ba thành phần chính:
Vì là nghệ thuật âm nhạc thính phòng, không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ. Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là "tức tịch," nghĩa là "ngay ở chiếu."
Ca trù vừa là loại thanh nhạc, vừa là loại khí nhạc. Có một ngôn ngữ âm nhạc tế nhị, tinh vi.
Một số tác phẩm nổi tiếng.
Bài bản ca trù có nhiều loại. Phổ biến nhất là hát nói, một thể văn vần có tính cách văn học cao. Những bài hát nói nổi tiếng phải kể đến:
Ngoài ra còn có những làn điệu cổ điển khác như "Tỳ bà hành" (bản diễn Nôm của Phan Huy Vịnh theo cổ bản của Bạch Cư Dị). Những điệu huê tình, gửi thư, bắc phản, hát
Ca trù ngày nay.
Sau Cách mạng Tháng 8, ca trù bị xem là "trò chơi hư hỏng, trụy lạc" và sau 1954 bị cấm đoán không chính thức vì bị xem là liên quan đến tệ nạn xã hội. Chính quyền cũng gán cho bộ môn ca trù là "phong kiến, trưởng giả" do dư luận xã hội nhìn nhận coi là thứ ăn chơi, trác táng trụy lạc của tầng lớp bóc lột. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã tham dự một buổi biểu diễn ca trù tại Văn Miếu Quốc Tử Giám trong năm 1962 nhân dịp Tết Nguyên đán. Năm 1976, học giả Trần Văn Khê đã thu âm các buổi biểu diễn của hai ca nương, người đã hát cho Hồ Chí Minh nghe, và xuất bản hai năm sau đó. Quan chức đầu tiên quảng bá ca trù là Nguyễn Xuân Khoát, người đứng đầu hiệp hội Xuân Thu nhã tập năm 1940-1942: ông đã thuyết trình về ca trù tại các hội nghị, trong các cơ sở giáo dục và trên đài phát thanh (tháng Tư năm 1976).
Những năm 1980, môn ca trù mới được cho phép trình diễn cho công chúng nhưng trong khuôn khổ đề tài chính trị chứ không giữ được thể văn truyền thống. Lần ra mắt đó, NSND Quách Thị Hồ hát bài "Những mùa xuân" trên đài phát thanh. Điệu nhạc thì cổ nhưng lời ca mang nội dung ca tụng Đảng Cộng sản Việt Nam. Dù đó là đề tài chỉ đạo, đó là lần đầu sau 30 năm bặt tiếng, khán thính giả miền Bắc Việt Nam mới nghe được làn điệu ca trù. Năm 2009. Chính phủ đề cử ca trù là bộ môn Di sản thế giới UNESCO. Ca trù từ đó mới được công nhận để nghiên cứu bảo tồn.
Nghệ thuật ca trù được giới thiệu trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật. Năm 1945 nhà văn Nguyễn Tuân đã ca ngợi loại hình nghệ thuật này trong tác phẩm "Chùa Đàn."
Nghệ thuật ca trù sau đó được khai thác trong nhiều bộ phim cũng như trong các chủ đề âm nhạc Việt Nam. Có thể bắt gặp ca trù trong phim "Mê Thảo, thời vang bóng", "Trăng tỏ thềm lan", "Trò đời", "Thương nhớ ở ai", "Long thành cầm giả ca" hay trong bài hát "Một nét ca trù ngày xuân", "Mái đình làng biển" của nhạc sĩ Nguyễn Cường, "Trên đỉnh Phù Vân", "Không thể và có thể", "Chảy đi sông ơi", "Một thoáng Tây Hồ" của Phó Đức Phương, "Chiều phủ Tây Hồ" của Phú Quang,"Chị tôi" của Trọng Đài (thơ Đoàn Thị Tảo), "Hà Nội linh thiêng hào hoa" của Lê Mây, "Đất nước lời ru" của Văn Thành Nho, "Nắng có còn xuân" của Đức Trí, "Giọt sương bay lên" của Nguyễn Vĩnh Tiến, "Chuyện nước non" của NSND Phạm Ngọc Khôi, "Vịnh xuân đất Tổ" của NSƯT Quang Vinh, "Đá trông chồng" của Lê Minh Sơ
Liên hoan ca trù toàn quốc lần thứ nhất diễn ra tại Hà Tĩnh (năm 2005). Liên hoan ca trù toàn quốc là hoạt động định kỳ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhằm thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam với UNESCO về công tác bảo vệ di sản văn hóa thế giới trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ca trù.
Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, năm 2010 có 63 câu lạc bộ ở 15 tỉnh, thành phố trên cả Việt Nam có hoạt động thường xuyên và có kế hoạch luyện tập truyền nghề ca trù. Một số tỉnh thành phía Bắc, điển hình là các tỉnh có nhiều câu lạc bộ ca trù như:
Hiện tại, nghệ thuật ca trù không chỉ dành riêng cho nữ giới mà nó đã phát triển một cách bình đẳng để mọi người cùng tham gia theo đuổi vì từ xưa nam giới chỉ chơi đàn, gõ trống phụ hoạ cho lời hát là chính. Nam giới (kép đàn) ngày nay cũng có thể vừa diễn tấu đàn vừa hát thay ca nương hoặc thay vào đó là một nữ nhạc công đệm đàn, gọi là "đàn nương".
Ca trù mặc dù đã được khôi phục lại nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong quảng bá, bảo tồn, do có một sự đứt gãy trong quá khứ, được cho là mang tính bác học khó hát, các nhạc cụ đàn đáy hay trống đế cũng không dễ chơi, khán giả trẻ tuổi thường không hiểu ý nghĩa của ca từ trong các bài hát (mang tính chất của chủ nghĩa yếm thế - khuyển nho, ca ngợi một cuộc sống đức hạnh hòa hợp với thiên nhiê)
|
Ma Cao (, ), cũng có thể viết là Macao, tên chính thức là Đặc khu hành chính Ma Cao thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, là một trong hai đặc khu hành chính của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa cùng với Hồng Kông. Ma Cao nằm ở đồng bằng châu thổ Châu Giang, giáp với thành phố Châu Hải của tỉnh Quảng Đông ở phía tây và phía bắc đồng thời hướng tầm nhìn ra Biển Đông ở phía đông và phía nam. Đây là khu vực có mật độ dân số cao nhất trên thế giới.
Trong lịch sử, các thương nhân người Bồ Đào Nha lần đầu tiên đến định cư tại Ma Cao trong thập niên 1550. Năm 1557, triều đình Nhà Minh đã cho Bồ Đào Nha thuê Ma Cao để làm cảng giao thương. Từ đó, người Bồ Đào Nha bắt đầu quản lý thành phố song đô thị này vẫn nằm trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc. Bồ Đào Nha trả tiền thuê hàng năm và quản lý lãnh thổ thuộc chủ quyền của Trung Quốc cho đến năm 1887, khi họ giành được quyền thuộc địa vĩnh viễn ở Trung Quốc qua Hiệp ước Bắc Kinh của Bồ Đào Nha. Kể từ sau Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất (1839 - 1842), Ma Cao trở thành thuộc địa của Đế quốc Bồ Đào Nha và nằm dưới sự quản lý, cải cách của quốc gia này từ giữa thế kỷ XVI cho đến năm 1999, Ma Cao cũng là tô giới cuối cùng của người châu Âu tại Trung Quốc. Nhà nước Bồ Đào Nha hiện đại đã chính thức chuyển giao chủ quyền đối với Ma Cao về lại cho Trung Quốc vào ngày 20 tháng 12 năm 1999. Tuyên bố chung Trung-Bồ và Luật cơ bản Ma Cao quy định rằng Ma Cao được phép duy trì các quyền tự trị cao độ ít nhất là cho đến năm 2049, tức 50 năm kể từ sau ngày chuyển giao.
Ma Cao là một khu vực hành chính đặc biệt của Trung Quốc, nơi duy trì các hệ thống quản lý và kinh tế riêng biệt với các hệ thống của Trung Quốc đại lục theo nguyên tắc "một quốc gia, hai hệ thống". Sự pha trộn độc đáo giữa kiến trúc Bồ Đào Nha và Trung Quốc trong trung tâm lịch sử của thành phố đã dẫn đến việc nó được ghi vào Danh sách Di sản Thế giới của UNESCO vào năm 2005.
Theo chính sách "một quốc gia, hai chế độ", Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chịu trách nhiệm về các vấn đề quốc phòng và ngoại giao của vùng lãnh thổ, trong khi Ma Cao duy trì hệ thống riêng biệt của mình trên các lĩnh vực luật pháp, giáo dục, lực lượng cảnh sát, tiền tệ, hải quan, nhập cư, hộ chiế
Ban đầu là một tập hợp dân cư thưa thớt của các hòn đảo ven biển, Ma Cao, thường được gọi là "Las Vegas của phương Đông", đã trở thành một thành phố nghỉ mát lớn và là điểm đến hàng đầu cho du lịch cờ bạc, với ngành công nghiệp cờ bạc lớn gấp bảy lần của Las Vegas. Thành phố có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới, và GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương là một trong những thành phố cao nhất thế giới. Lãnh thổ được đô thị hóa cao với 2/3 tổng diện tích đất được xây dựng trên đất khai hoang từ biển.
Theo The World Factbook của CIA, năm 2012, Ma Cao xếp thứ 2 toàn cầu về bình quân tuổi thọ. Ngoài ra, Ma Cao còn là một trong số ít khu vực tại châu Á có Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức rất cao. Người dân Ma Cao có mức thu nhập bình quân đầu người cao hàng đầu trên thế giới, Ma Cao được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) xếp loại là 1 vùng lãnh thổ có nền kinh tế phát triển, hoạt động kinh tế của Ma Cao phụ thuộc nhiều vào thương mại, dịch vụ, kinh doanh sòng bài và du lịch, ngoài ra nơi này cũng phát triển một số ngành sản xuất nhỏ.
Trước khi có khu dân cư của người Bồ Đào Nha vào giữa thế kỷ XVI, Ma Cao được biết đến với các tên gọi "Hào Kính" (濠鏡) hay "Kính Hải" (鏡海). Tên gọi "Macau" có nguồn gốc từ "miếu Ma Các" (), một công trình được xây dựng vào năm 1448 để thờ Ma Tổ – nữ thần của thuyền viên và ngư dân. Người ta nói rằng khi các thủy thủ Bồ Đào Nha đổ bộ lên bờ biển ngay bên ngoài miếu và hỏi tên của địa điểm này, những người bản địa đã trả lời là "媽閣" (). Cách đánh vần tiếng Bồ Đào Nha sớm nhất là Amaquão. Nhiều biến thể đã được sử dụng cho đến khi Amacão/"Amacao và Macão/Macao trở nên phổ biến trong thế kỷ 17. Sau đó, người Bồ Đào Nha đặt tên cho bán đảo là" "Macau". Cải cách năm 1911 của chính tả Bồ Đào Nha đã chuẩn hóa cách viết Ma Cao. Tuy nhiên, việc sử dụng tên gọi Macao vẫn còn thông dụng trong tiếng Anh và các ngôn ngữ châu Âu khác.
Bán đảo Ma Cao có nhiều tên trong tiếng Trung Quốc, bao gồm Jing'ao (井 澳 / 鏡 澳), Haojing (濠 鏡) và Haojing'ao (濠 鏡 澳). Các đảo Đãng Tể, Lộ Hoàn và Chu Hải được gọi chung là Shizimen (十字 門). Những cái tên này sau này trở thành Áo Môn (澳門), "Oumún" trong tiếng Quảng Đông và được dịch là "cửa vịnh" hoặc "cửa cảng", để chỉ toàn bộ lãnh thổ.
Lịch sử Ma Cao có thể truy nguyên từ thời nhà Tần (221–206 TCN), khi đó khu vực nay là Ma Cao nằm dưới quyền quản lý của Phiên Ngung thuộc Nam Hải quận. Các cư dân được ghi chép đầu tiên là những người đến tị nạn tại Ma Cao trước cuộc xâm lược Nam Tống của người Mông Cổ. Dưới thời Nhà Minh (1368–1644), có những ngư dân nhập cư đến Ma Cao từ Quảng Đông và Phúc Kiến.
Ma Cao đã chỉ phát triển thành một khu vực dân cư lớn khi người Bồ Đào Nha đến vào thế kỷ XVI vào thời Nhà Minh. Năm 1513, Jorge Álvares trở thành người Bồ Đào Nha đầu tiên đặt chân đến Trung Quốc. Năm 1535, Nhà Minh cho phép các thương nhân Bồ Đào Nha có được quyền neo tàu ở các bến cảng của Ma Cao và thực hiện hoạt động giao thương, mặc dù không có quyền ở trên bờ. Khoảng 1552–1553, họ giành được sự cho phép tạm thời để lưu trữ hàng hóa trên kho được dựng trên bờ, mục đích là để hàng hóa được khô ráo; họ nhanh chóng xây dựng các ngôi nhà thô sơ bằng đá quanh khu vực mà nay được gọi là Nam Loan. Năm 1557, người Bồ Đào Nha thành lập một khu dân cư lâu dài tại Ma Cao, trả 500 lạng bạc mỗi năm tiền thuê đất cho triều đình Nhà Minh. Người Bồ Đào Nha tiếp tục trả tiền thuê hàng năm cho đến năm 1863 để được quyền ở tại Ma Cao.
Năm 1564, Bồ Đào Nha là nước chế ngự giao thương giữa phương Tây với Ấn Độ, Nhật Bản và Trung Quốc. Tuy nhiên, niềm kiêu hãnh của họ đã bị giội một gáo nước lạnh khi chứng kiến sự thờ ơ của người Trung Hoa đối với họ. Năm 1631, người Trung Hoa hạn chế người Bồ Đào Nha giao thương tại Trung Quốc đến cảng Ma Cao.
Trong thế kỷ XVII, có khoảng 5.000 nô lệ sinh sống tại Ma Cao, cùng với họ là 2.000 người Bồ Đào Nha và 20.000 người Hán.
Do ngày càng có nhiều người Bồ Đào Nha đến định cư ở Ma Cao để tham gia hoạt động thương mại, họ có nhu cầu về tự quản; song điều này không thể đạt được cho đến thập niên 1840. Năm 1576, Giáo hoàng Grêgôriô XIII đã thành lập Giáo phận Ma Cao. Năm 1583, người Bồ Đào Nha tại Ma Cao được cho phép thành lập một viện nguyên lão để xử lý các vấn đề khác nhau liên quan đến những hoạt động xã hội và kinh tế của họ dưới sự giám sát chặt chẽ của chính quyền Trung Quốc, song điều này không có nghĩa là chuyển giao chủ quyền.
Ma Cao trở thành một thương cảng thịnh vương, song cùng với đó, nơi này đã trở thành mục tiêu chinh phục của người Hà Lan trong thế kỷ 17, song các cuộc tấn công lặp di lặp lại này đều thất bại. Ngày 24 tháng 6 năm 1622, người Hà Lan tấn công Ma Cao với hy vọng biến nơi đây thành vùng đất do họ sở hữu, sử gọi là trận Ma Cao. Người Bồ Đào Nha đã đẩy lui cuộc tấn công này và người Hà Lan từ đó không bao giờ cố gắng chinh phục Ma Cao lần nữa. Phần lớn những người bảo vệ Ma Cao khi đó là nô lệ châu Phi, và chỉ có một vài binh sĩ và linh mục người Bồ Đào Nha. Thuyền trưởng Kornelis Reyerszoon là chỉ huy của 800 tinh binh xâm lược người Hà Lan. Tổng đốc Hà Lan Jan Coen đã nói sau khi bị đánh bại rằng "Các nô lệ của Bồ Đào Nha tại Ma Cao phục vụ họ rất tốt và trung thành, rằng đó là những người đã đánh bại và đuổi người của ta đi vào năm ngoái", và "Người của ta nhìn thấy rất ít người Bồ Đào Nha" trong trận chiến.
Sau Chiến tranh Nha phiến (1839–1842), Bồ Đào Nha chiếm đóng hai đảo Đãng Tử và Lộ Hoàn tương ứng vào các năm 1851 và 1864. Ngày 1 tháng 12 năm 1887, triều đình Nhà Thanh và chính phủ Bồ Đào Nha đã ký kết Điều ước Hòa hảo và Thông thương Trung-Bồ, theo đó Trung Quốc nhượng quyền "chiếm giữ và cai trị vĩnh viễn Ma Cao cho Bồ Đào Nha" tuân theo các bản tuyên bố của Nghị định thư Lisboa. Bồ Đào Nha sẽ có nghĩa vụ "không bao giờ chuyển nhượng Ma Cao khi không có thỏa thuận trước với Trung Quốc", do đó đảm bảo rằng đàm phán giữa Bồ Đào Nha và Pháp (đối với khả năng đổi Ma Cao và Guinea thuộc Bồ Đào Nha với Congo thuộc Pháp) hoặc với các quốc gia khác sẽ không tiến triển – vì vậy mà các lợi ích thương mại của Anh Quốc được bảo đảm; Ma Cao chính thức trở thành một lãnh thổ dưới quyền cai trị của Bồ Đào Nha.
Năm 1928, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc của Quốc Dân đảng đã thông báo chính thức cho Bồ Đào Nha rằng họ hủy bỏ Điều ước Hòa hảo và Thông thương; Hai bên ký kết một điều ước Hữu nghị và Thông thương Trung-Bồ mới để thay thế điều ước bị bãi bỏ. Ngoại trừ một vài quy định liên quan đến nguyên tắc thuế quan và các vấn đề liên quan đến thương mại, điều ước mới không làm thay đổi chủ quyền của Ma Cao và quyền cai trị của Bồ Đào Nha tại Ma Cao vẫn không thay đổi.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, không giống như trường hợp của Timor thuộc Bồ Đào Nha khi bị Nhật Bản chiếm đóng cùng với Timor thuộc Hà Lan vào năm 1942, người Nhật tôn trọng tính trung lập của Bồ Đào Nha tại Ma Cao. Như vậy, Ma Cao đã có một thời gian ngắn ngủi đạt được thịnh vượng về kinh tế khi là cảng trung lập duy nhất ở Nam Trung Quốc, sau khi Nhật Bản chiếm Quảng Châu và Hồng Kông. Tháng 8 năm 1943, quân Nhật bắt giữ tàu "Sian" của Anh tại Ma Cao và giết chết khoảng 20 lính bảo vệ. Trong tháng tiếp theo, họ yêu cầu thiết lập chế độ "cố vấn" Nhật để thay thế chiếm đóng quân sự. Kết quả là Ma Cao trở thành vùng bảo hộ ảo của người Nhật.
Khi phát hiện ra việc Ma Cao trung lập đang có kế hoạch bán nhiên liệu hàng không cho Nhật Bản, chiến đấu cơ Hoa Kỳ từ USS "Enterprise" đã ném bom và bắn phá nhà chứa máy bay của Trung tâm Hàng không Hải quân vào ngày 16 tháng 1 năm 1945 để triệt phá nguyên liệu. Hoa Kỳ cũng tiến hành không kích vào các mục tiêu ở Ma Cao vào các ngày 25 tháng 2 và 11 tháng 6 năm 1945. Sau khi chính phủ Bồ Đào Nha kháng nghị, vào năm 1950, Hoa Kỳ đã trả 20.255.952 Đô la Mỹ cho chính phủ Bồ Đào Nha. Sự thống trị của Nhật Bản kết thúc vào tháng 8 năm 1945 với việc họ đầu hàng.
Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập vào năm 1949, chính phủ Bắc Kinh tuyên bố Điều ước Hữu nghị và Thông thương Trung-Bồ là một "điều ước bất bình đẳng" do ngoại quốc áp đặt đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, chính quyền Bắc Kinh đã không sẵn sàng để giải quyết, và duy trì "nguyên trạng" cho đến một thời gian thích hợp hơn.
Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc đại lục và tâm trạng bất mãn rộng rãi với chính phủ Bồ Đào Nha, các cuộc bạo động đã nổ ra ở Ma Cao vào năm 1966. Nghiêm trọng nhất là "sự kiện 3 tháng 12", với 6 người bị giết và hơn 200 người bị thương. Ngày 28 tháng 1 năm 1967, chính phủ Bồ Đào Nha đã đưa ra một lời xin lỗi chính thức.
Ngay sau khi chế độ độc tài tại Bồ Đào Nha bị lật đổ vào năm 1974 tại Lisboa, chính phủ mới của Bồ Đào Nha đã xác định rằng nước này sẽ từ bỏ toàn bộ các thuộc địa hải ngoại của mình. Năm 1976, chính phủ Lisboa tái định nghĩa Ma Cao là một "lãnh thổ Trung Quốc nằm dưới sự quản lý của Bồ Đào Nha" và trao cho Ma Cao quyền tự trị ở mức độ lớn về hành chính, tài chính và kinh tế. Ba năm sau, Bồ Đào Nha và Trung Quốc đồng thuận xem Ma Cao là "một lãnh thổ Trung Quốc nằm dưới sự quản lý (tạm thời) của Bồ Đào Nha". Chính quyền Trung Quốc và Bồ Đào Nha khởi đầu đàm phán về vấn đề Ma Cao vào tháng 6 năm 1986. Hai bên ký kết Tuyên bố chung Trung-Bồ vào năm sau, theo đó Ma Cao sẽ trở thành một đặc khu hành chính của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc chính thức tiếp nhận chủ quyền đối với Ma Cao vào ngày 20 tháng 12 năm 1999. Từ sau khi trở về với Trung Quốc, kinh tế Ma Cao tiếp tục thịnh vượng với sự tăng trưởng liên tục của du lịch từ Trung Quốc đại lục và xây mới các casino.
Chính quyền và chính trị.
Tuyên bố chung Trung-Bồ và Luật Cơ bản Ma Cao, hiến pháp Ma Cao do Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc ban hành vào năm 1993, xác định rằng hệ thống kinh tế, lối sống, quyền, và tự do của Ma Cao sẽ được duy trì không thay đổi ít nhất là 50 năm sau khi chủ quyền của khu vực được chuyển giao về Trung Quốc vào năm 1999. Theo phương châm "Một quốc gia, hai chế độ", Ma Cao được hưởng một quyền tự trị cao độ trên tất cả các lĩnh vực ngoại trừ quốc phòng và các vấn đề ngoại giao. Các quan chức Ma Cao, chứ không phải là quan chức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sẽ điều hành Ma Cao bằng cách sử dụng riêng biệt các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, cũng như quyền phân xử cuối cùng. Ma Cao duy trì tiền tệ, lãnh thổ hải quan, kiểm soát nhập cư và ranh giới, và lực lượng cảnh sát riêng biệt.
Đứng đầu chính quyền Ma Cao là trưởng quan hành chính, người này được chính phủ Trung ương tại Bắc Kinh bổ nhiệm theo tiến cử của một ủy ban bầu cử, tổ chức này có ba trăm thành viên, được các đoàn thể và cộng đồng bổ nhiệm. Việc tiến cử được thực hiện bằng một cuộc bầu cử trong khuôn khổ ủy ban. Nội các của trưởng quan hành chính bao gồm năm viên chức chính sách và Hội hành chính bao gồm từ 7 đến 11 thành viên làm nhiệm vụ cố vấn. Hà Hậu Hoa, một lãnh đạo cộng đồng và nguyên là một chủ ngân hàng, là trưởng quan đầu tiên của khu hành chính đặc biệt Ma Cao, thay thế Tổng đốc Vasco Rocha Vieira vào nửa đêm ngày 20 tháng 12 năm 1999. Thôi Thế An là Trưởng quan Ma Cao thứ hai và Hạ Nhất Thành là Trưởng quan đương nhiệm của Ma Cao.
Cơ quan lập pháp của Ma Cao là Hội Lập pháp, một cơ cấu gồm 29 thành viên trong đó có 12 thành viên được bầu trực tiếp, 10 thành viên được bầu gián tiếp đại diện cho các "khu vực bầu cử chức năng" và 10 thành viên do trưởng quan bổ nhiệm. Bất kỳ thường trú nhân nào đủ hoặc trên 18 tuổi đều có đủ điều kiện bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử trực tiếp. Bầu cử gián tiếp giới hạn trong các tổ chức đã đăng ký được gọi là "cử tri đoàn thể" và một ủy ban gồm 300 thành viên rút ra từ các nhóm khu vực, tổ chức đô thị và các cơ quan của chính phủ Trung ương.
Khuôn khổ ban đầu của hệ thống luật pháp Ma Cao dựa phần lớn vào luật pháp Bồ Đào Nha hay hệ thống luật dân sự Bồ Đào Nha, nó vẫn được duy trì sau năm 1999. Ma Cao có hệ thống tư pháp độc lập của mình với một pháp viện chung thẩm. Một ủy ban lựa chọn ra các thẩm phán và những người này được trưởng quan bổ nhiệm. Các thẩm phán ngoại quốc có thể phụng sự tại các tòa án.
Ma Cao có một hệ thống tòa án ba cấp: Pháp viện đệ nhất thẩm, pháp viện cấp trung và pháp viện chung thẩm. Trong tháng 2 năm 2009, Hội Lập pháp đã thông qua một dự luật an ninh dựa trên cơ sở điều luật an ninh đã bị rút lại trước đó ở Hồng Kông. Những người ủng hộ dân chủ lo ngại rằng phạm vi mở rộng quá mức của điều luật này sẽ dẫn đến lạm dụng, lo lắng này được tăng thêm sau khi một số ủng hộ viên dân chủ nổi bật của Hồng Kông đã bị từ chối cho nhập cảnh vào Ma Cao trong thời gian thông qua dự luật.
Dưới quyền cai trị của Bồ Đào Nha, Ma Cao thường được sử dụng làm một căn cứ viễn chinh đến Nhật Bản và các khu vực khác tại Đông Á từ thế kỷ XVI trở đi, người Bồ Đào Nha cũng duy trì một đơn vị đồn trú hùng mạnh, chủ yếu để đẩy lùi các cuộc tấn công của Hà Lan và Trung Quốc đại lục. Tuy nhiên, từ khi những người Anh đồng minh đến định cư tại Hồng Kông, sự cần thiết phải duy trì sự hiện diện mạnh mẽ tại Ma Cao đã trở nên mờ nhạt đối với người Bồ Đào Nha, cuối cùng chấm dứt vào năm 1974. Năm 1999, khi được bàn giao Ma Cao, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thiết lập một đơn vị đồn trú đáng kể tại Ma Cao, ngoài ra họ cũng có các đơn vị quân sự lớn đóng quân tại Chu Hải lân cận.
Ma Cao nằm cách về phía tây nam của Hồng Kông và cách Quảng Châu . Ma Cao có đường bờ biển, song chỉ có ranh giới trên bộ với Quảng Đông. Ma Cao gồm bán đảo Ma Cao cùng hai đảo Đãng Tử (Taipa) và Lộ Hoàn (Coloane), song hai đảo này ngày nay đã được nối với nhau thông qua một vùng đất lấn biển được gọi là Lộ Đãng Thành (Cotai). Bán đảo Ma Cao được thành hình từ cửa sông của Châu Giang ở phía đông và Tây Giang ở phía tây. Ma Cao giáp với đặc khu kinh tế Chu Hải tại Trung Quốc đại lục. Cửa khẩu chính giữa Ma Cao và phần còn lại của Trung Quốc là Portas do Cerco (Quan Áp) ở phía Ma Cao, và cửa khẩu Củng Bắc bên phía Chu Hải.
Bán đảo Ma Cao nguyên cũng là một hòn đảo, song về sau đã xuất hiện dải cát nối với lục địa và nó dần phát triển thành một eo đất hẹp, biến Ma Cao thành một bán đảo. Hoạt động cải tạo đất trong thế kỷ XVII đã biến Ma Cao thành một bán đảo với địa hình bằng phẳng, mặc dù vùng đất ban đầu vẫn có rất nhiều đồi dốc. Điệp Thạch Đường Sơn (疊石塘山)/Alto de Coloane là điểm cao nhất tại Ma Cao, với cao độ . Với mật độ đô thị hóa dày đặc, Ma Cao không có đất canh tác, đồng cỏ, rừng hay đất rừng.
Ma Cao có một khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Köppen "Cwa"), với ẩm độ tương đối trung bình từ 75% đến 90%. Tương tự như phần lớn miền Nam Trung Quốc, khí hậu Ma Cao thay đổi theo mùa do ảnh hưởng từ gió mùa, và sự khác biệt của nhiệt độ và ẩm độ giữa mùa hè và mùa đông là đáng chú ý, mặc dù không phải là lớn nhất tại Trung Quốc. Nhiệt độ trung bình tại Ma Cao là . Tháng bảy là tháng nóng nhất với nhiệt độ trung bình là . Tháng mát nhất là tháng giêng với nhiệt độ trung bình là .
Nằm trên bờ biển phía nam Trung Quốc, Ma Cao có lượng mưa phong phú, với lượng mưa trung bình năm là . Tuy nhiên, mùa đông chủ yếu là khô hanh do ảnh hưởng từ áp cao Siberi. Mùa thu ở Ma Cao kéo dài từ tháng 10 đến tháng 11, có thời tiết nắng và ấm với ẩm độ thấp. Mùa đông kéo dài từ tháng 12 đến đầu tháng 3 với thời tiết thường ôn hòa và hầu hết thời gian nhiệt độ ở mức trên 13 °C, mặc dù đôi lúc cũng có thể xuống dưới 8 °C. Ẩm độ bắt đầu tăng lên từ cuối tháng 3. Mùa hè có thời tiết từ rất ấm đến nóng và thường lên mức trên 30 °C vào ban ngày. Theo sau thời tiết nóng nực là các cơn mưa lớn, dông và thi thoảng là bão nhiệt đới.
Nền kinh tế Ma Cao dựa phần lớn vào du lịch. Các hoạt động kinh tế lớn khác tại Ma Cao là sản xuất xuất khẩu phụ tùng dệt may và quần áo, ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác. Ngành công nghiệp quần áo chiếm khoảng ba phần tư kim ngạch xuất khẩu của Ma Cao, và các ngành công nghiệp đánh bạc, du lịch và khoản lãi ước tính đóng góp trên 50% GDP của Ma Cao, và 70% thu nhập của chính quyền Ma Cao. Tính đến năm 2016, GDP của Ma Cao đạt 44.066, đứng thứ 86 thế giới và đứng thứ 29 châu Á.
Ma Cao là một thành viên sáng lập của WTO và duy trì quan hệ kinh tế và thương mại đầy đủ với trên 120 quốc gia và khu vực, đặc biệt là với Liên minh châu Âu và các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha; Ma Cao cũng là một thành viên của IMF. Ngân hàng Thế giới phân loại Ma Cao là một nền kinh tế có thu nhập cao và GDP bình quân đầu người của khu vực đạt 28.436 Đô la Mỹ vào năm 2006. Sau khi Ma Cao được bàn giao về Trung Quốc vào năm 1999, số du khách từ đại lục đã gia tăng nhanh chóng do Trung Quốc tiến hành nới lỏng hạn chế đi lại. Việc Ma Cao tiến hành tự do hóa ngành công nghiệp đánh bạc vào năm 2001 đã đem đến một dòng vốn đầu tư đáng kể, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế bình quân trong giai đoạn từ 2001 đến 2006 là xấp xỉ 13,1% mỗi năm.
Trong một báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới về du lịch quốc tế năm 2006, Ma Cao xếp hạng 21 về số du khách và xếp thứ 24 về thu nhập từ du lịch. Từ con số 9,1 triệu du khách trong năm 2000, số lượt khách đến Ma Cao đã tăng lên 18,7 triệu vào năm 2005 và 22 triệu vào năm 2006, với trên 50% lượt khách đến từ Trung Quốc đại lục và 30% đến từ Hồng Kông.
Ngành công nghiệp đánh bạc tại Ma Cao bắt đầu vào năm 1962, khi đó ngành này chỉ bao gồm Sociedade de Turismo e Diversões de Macau do Hà Hồng Sân (何鴻燊, Stanley Ho) điều hành theo một giấy phép độc quyền của chính phủ. Sự độc quyền chấm dứt vào năm 2002 và một vài chủ casino từ Las Vegas đã nỗ lực tiến vào thị trường đánh bạc của Ma Cao. Với việc mở cửa Sands Macao, vào năm 2004 và Wynn Macau vào năm 2006, doanh thu đánh bạc từ các casino của Ma Cao đã trở nên rất phát đạt. Năm 2007, Venetian Macau, khi đó là công trình lớn thứ hai thế giới về không gian sàn, đã mở cửa cho công chúng, theo sau là MGM Grand Macau. Doanh thu của ngành đánh bạc đã biến Ma Cao thành thị trường casino hàng đầu thế giới, vượt qua Las Vegas. Đầu thập niên 2010, Ma Cao cũng tăng cường các hoạt động biểu diễn và giải trí cùng với kinh doanh đánh bạc, bao gồm chương trình biểu diễn nổi tiếng House of Dancing Water, các buổi hòa nhạc, triển lãm thương mại và nghệ thuật.
Ma Cao là một trung tâm tài chính ngoài khơi, một thiên đường thuế, và một cảng tự do với việc không có chế độ quản lý ngoại hối. Cục quản lý Tiền tệ Ma Cao điều hòa tài chính ngoài khơi, trong khi Viện Thương mại và Xúc tiến đầu tư Ma Cao quy định việc đầu tư tại Ma Cao. Năm 2007, Moody's Investors Service đã nâng xếp hạng quản lý nội và ngoại tệ của Ma Cao lên 'Aa3' từ 'A1', rằng nền tảng tài chính vững chắc của chính quyền Ma Cao giống như một chủ nợ ròng lớn. Cơ quan đánh giá cũng nâng hạng trần tiền gửi ngoại tệ của Ma Cao đến 'Aa3' từ 'A1'.
Theo quy định của Luật cơ bản Ma Cao, chính quyền Ma Cao phải tuân theo nguyên tắc giữ chi tiêu ở trong giới hạn các khoản thu khi lập ngân sách của mình, và cố gắng để đạt được một sự cân bằng tài chính, tránh thâm hụt ngân sách và giữ cho ngân sách tương xứng với tốc độ tăng trưởng GDP. Tất cả các thu nhập tài chính của Đặc khu hành chính Ma Cao sẽ được chính quyền đặc khu quản lý và kiểm soát mà không phải bàn giao cho chính phủ Trung ương ở Bắc Kinh. Chính phủ Trung ương không đánh bất kỳ khoản thuế nào ở đặc khu hành chính Ma Cao.
Tại Ma Cao, lĩnh vực kinh tế là một vấn đề quan trọng, cũng là nhiệm vụ chỉ đạo của Trưởng quan. Từ năm 1999 đến nay, Macau đã được phép tự do hóa ngành công nghiệp sòng bạc (trước đây lĩnh vực này hoạt động dưới sự độc quyền của chính phủ Bồ Đào Nha), thu hút đầu tư, bắt đầu một giai đoạn phát triển kinh tế mới. Nền kinh tế Ma Cao tăng trưởng chóng mặt với tốc độ tăng trưởng hàng năm hai con số từ 2002 đến 2014, đưa Ma Cao trở thành một trong những nền kinh tế giàu nhất thế giới trên cơ sở bình quân đầu người. Năm 2016, tại Ma Cao có tỷ lệ người Hán là 88,4%, người Philippines là 4,6%, người Việt 2,4%, người Bồ Đào Nha 1,8%. Năm 2019, Ma Cao có 676.100 dân số, xếp thứ 33/33 đơn vị hành chính cấp tỉnh Trung Quốc, hạng 186 trong số các thành phố Trung Quốc, hạng 166 trong số các khu vực quốc gia trên thế giới, hạng nhất Trung Quốc và thế giới về mật độ dân số. GDP Ma Cao năm 2019 đạt 55,136 tỷ USD, xếp hạng 83 trong số các quốc gia, hạng 31/33 Trung Quốc. GDP bình quân đầu người đạt 81,151 USD, hạng nhất Trung Quốc, hạng ba thế giới. Mặc dù doanh thu công nghiệp sòng bạc là chủ yếu, đạt 37 tỷ USD, nhưng các ngành kinh tế khác đóng góp gần 20 tỷ USD cho gần 700.000 người, khiến cho người Ma Cao có trình độ đời sống cao.
Tôn giáo tại Ma Cao (2012)
templatestyles src="Legend/" / Phật giáo
(80%)templatestyles src="Legend/" / Kitô giáo
(6.7%)templatestyles src="Legend/" / Khác (13.7%)
Ma Cao là lãnh thổ có mật độ dân cư cao nhất thế giới, với 18.428 trên một km² (47.728/mi²). 95% cư dân Ma Cao là người Hán; 2% khác là người Bồ Đào Nha và/hoặc hợp chủng Hán/Bồ Đào Nha, và một nhóm dân tộc thường được gọi là người Bồ thổ sinh. Theo điều tra năm 2006, 47% cư dân Ma Cao sinh ra tại Trung Quốc đại lục, trong đó 74,1% sinh tại Quảng Đông và 15,2% sinh tại Phúc Kiến. Trong khi đó, 42,5% cư dân Ma Cao sinh ra tại Ma Cao, và những người sinh ra tại Hồng Kông, Philippines và Bồ Đào Nha lần lượt chiếm 3,7%, 2,0% và 0,3%.
Tăng trưởng dân số tại Ma Cao chủ yếu là do nhập cư từ Trung Quốc đại lục và dòng người lao động hải ngoại do tỷ suất sinh tại đây ở vào hàng thấp nhất thế giới. Theo một khảo sát do CIA tiến hành, Ma Cao là quốc gia hay lãnh thổ có tuổi thọ tính từ lúc sinh trung bình là 84,36 tuổi, trong khi tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh của Ma Cao nằm ở hàng thấp nhất thế giới.
Cả tiếng Trung (tiếng Quảng Đông) và tiếng Bồ Đào Nha đều là ngôn ngữ chính thức của Ma Cao. Ma Cao vẫn duy trì phương ngữ tiếng Bồ Đào Nha riêng của mình, được gọi là tiếng Bồ Đào Nha Ma Cao. Các ngôn ngữ khác như Quan thoại, tiếng Anh và tiếng Mân Nam cũng được một số cộng đồng bản địa nói. Tiếng Bồ thổ sinh Ma Cao, một ngôn ngữ Creole thường được gọi là "Patuá", vẫn được vài chục người Ma Cao nói.
Từ khi Ma Cao có một nền kinh tế lấy du lịch làm động lực, 14,6% lực lượng lao động làm việc trong các nhà hàng và khách sạn, và 10,3% làm việc trong ngành công nghiệp đánh bạc. Với việc khai trương một số khu nghỉ dưỡng casino và đang tiến hành xây dựng các công trình lớn khác, nhiều lĩnh vực được tường trình là phải chịu cảnh thiếu lao động, và chính quyền Ma Cao đã tìm cách nhập khẩu lao động từ các khu vực lân cận.
Số lao động nhập khẩu đã lên mức cao kỷ lục 98.505 vào quý 2 năm 2008, tương ứng với hơn 25% lực lượng lao động tại Ma Cao. Một số lao động bản địa đã phàn nàn về việc thiếu việc làm do làn sóng lao động giá rẻ. Một số người cũng cho rằng vấn đề lao động bất hợp pháp là nghiêm trọng. Một mối quan tâm khác là việc gia tăng bất bình đẳng về thu nhập trong khu vực. Hệ số Gini của Ma Cao, một đơn vị đo độ bất bình đẳng thu nhập phổ biến, đã tăng từ 0,43 vào năm 1998 lên 0,48 vào năm 2006. Hệ số này ở mức cao hơn các khu vực lân cận, như tại Trung Quốc đại lục (0,447), Hàn Quốc (0,316) và Singapore (0,425).
Hầu hết người Hán tại Ma Cao chịu ảnh hưởng sâu sắc từ truyền thống và văn hóa riêng của họ, hầu hết gắn bó với tôn giáo truyền thống Trung Hoa, họ tin tưởng vào Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo, chúng tạo thành một khối không thể tách rời. Ma Cao có một cộng đồng Ki-tô hữu khá lớn; tín hữu Công giáo La Mã và Tin Lành lần lượt chiếm 7% và 2% dân cư. Thêm vào đó, 17% dân số theo Phật giáo Đại thừa nguyên bản.
Tôn giáo tại Ma Cao (2012)
templatestyles src="Legend/" / Phật giáo
(80%)templatestyles src="Legend/" / Kitô giáo
(6.7%)templatestyles src="Legend/" / Khác (13.7%)
Các cư dân Ma Cao được hưởng một nền tảng giáo dục miễn phí trong 15 năm, bao gồm ba năm nhà trẻ, sau đó là sáu năm giáo dục tiểu học và sáu năm giáo dục trung học. Tỷ lệ biết chữ của lãnh thổ này là 93,5%. Những người mù chữ chủ yếu là những cư dân cao tuổi; thế hệ trẻ tuổi, chẳng hạn như trong độ tuổi 15–29, có tỷ lệ biết chữ trên 99%. Hiện nay, chỉ có duy nhất một trường học tại Ma Cao sử dụng tiếng Bồ Đào Nha làm phương tiện giảng dạy.
Ma Cao không sở hữu hệ thống giáo dục phổ quát của riêng mình; ngoại trừ các trường bậc cao ra, các trường học còn lại hoặc là theo hệ thống giáo dục của Anh, Trung Quốc, hoặc của Bồ Đào Nha. Hiện nay có 10 thể chế giáo dục bậc cao tại khu vực, bốn trong số chúng là thể chế công. Năm 2006, Chương trình đánh giá học sinh quốc tế, một cuộc khảo sát trên phạm vi toàn thế giới về thành tích giáo dục của học sinh 15 tuổi phối hợp với OECD, đã xếp Ma Cao đứng thứ năm và thứ sáu về khoa học và giải quyết vấn đề, tương ứng. Tuy nhiên, mặt bằng giáo dục của Ma Cao đứng ở mức thấp trong số các khu vực có thu nhập cao. Theo điều tra dân số năm 2006, trong số các cư dân Ma Cao bằng và trên 14 tuổi, chỉ 51,8% có trình độ giáo dục trung học và 12,6% có trình độ giáo dục bậc cao (cao đẳng hay đại học).
Theo quy định của Điều 121 trong Chương VI của Luật Cơ bản Ma Cao, chính phủ Ma Cao sẽ tự mình xây dựng các chính sách về giáo dục, bao gồm các chính sách liên quan đến hệ thống và sự quản lý giáo dục, ngôn ngữ giảng dạy, phân bổ kinh phí, hệ thống khảo thí, công nhận học vị và hệ thống các giải thưởng học thuật để thúc đẩy phát triển giáo dục. Phù hợp với luật cơ bản, chính quyền Ma Cao sẽ dần dần thiết lập một hệ thống giáo dục nghĩa vụ. Các tổ chức cộng đồng và cá nhân có thể điều hành các công việc giáo dục trong các loại hình khác nhau theo quy định của pháp luật.
Chăm sóc sức khỏe.
Người dân Ma Cao có một bệnh viện công lớn là bệnh viện Conde S. Januário (仁伯爵綜合醫院), và một bệnh viện tư lớn là bệnh viện Kính Hồ (鏡湖醫院), cả hai đều nằm trên bán đảo Ma Cao, cùng với chúng là một bệnh viện đại học mang tên Bệnh viện Khoa Đại (科大醫院) tại Lộ Đãng Thành. Bên cạnh các bệnh viện này, Ma Cao cũng có một rất nhiều các trung tâm y tế cung cấp chăm sóc sức khỏe cơ bản một cách miễn phí cho các cư dân. Ngoài ra, Đông y cũng hiện diện tại Ma Cao.
Hiện nay, không có bệnh viện nào tại Ma Cao được đánh giá một cách độc lập thông qua kiểm định chăm sóc sức khỏe quốc tế. Không có trường tây y tại Ma Cao và do đó tất cả những ai muốn trở thành bác sĩ sẽ phải tiếp nhận giáo dục và lấy chứng chỉ ở nơi khác. Các y tá địa phương được đào tạo tại Viện Bách khoa Ma Cao và Cao đẳng Điều dưỡng Kính Hồ.
Cục Y tế Ma Cao là đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc phối hợp hoạt động giữa các tổ chức công và tư trong lĩnh vực y tế công cộng, đảm bảo sức khỏe của các công dân thông qua các dịch vụ chuyên dụng và chăm sóc sức khỏe ban đầu, cũng như ngăn ngừa dịch bệnh và nâng cao sức khỏe. Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa bệnh tật Ma Cao đã được thành lập vào năm 2001, giám sát hoạt động của các bệnh viện, các trung tâm y tế, và trung tâm truyền máu tại Ma Cao. Thể chế này cũng quản lý cơ quan chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật ảnh hưởng đến dân cư, thiết lập nguyên tắc chỉ đạo đối với những bệnh viện và người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tư nhân, và phát hành giấy phép.
Các phương tiện giao thông tại Ma Cao đi bên trái, không giống với cả Trung Quốc đại lục và Bồ Đào Nha. Ma Cao có một mạng lưới giao thông công cộng phát triển tốt, kết nối bán đảo Ma Cao, Lộ Đãng Thành, Đãng Tử, Lộ Hoàn. Xe buýt và taxi là các loại hình giao thông cộng cộng chính tại Ma Cao. Hiện có ba công ty mang tên Transmac, Transportas Companhia de Macau và Reolian Public Transport Co., hoạt động dịch vụ xe buýt công cộng tại Ma Cao. Xích lô cũng hiện diện tại Ma Cao, song nó chủ yếu phục vụ cho mục đích tham quan. Nhà khai thác dịch vụ xe buýt công cộng mới nhất là Reolian Public Transport Co., công ty này đã tiến vào thị trường Ma Cao vào ngày 1 tháng 8 năm 2011. Nhà khai thác này hoạt động trên các tuyến mà Transmac và Transportas Companhia de Macau cũng đang hoạt động.
Bến phà vận chuyển hành khách Ngoại Cảng cung cấp dịch vụ vận tải xuyên ranh giới cho những hành khách đi lại giữa Ma Cao và Hồng Kông, trong khi bến phà Áo Thông (Yuet Tung) tại Nội Cảng cung cấp dịch vụ cho các hành khách đi lại giữa Ma Cao và các thành phố tại Trung Quốc đại lục, bao gồm Xà Khẩu và Thâm Quyến.
Ma Cao có một sân bay quốc tế hoạt động, được gọi là sân bay quốc tế Ma Cao, nằm ở cực đông của Đãng Tử và vùng nước lân cận. Sân bay này từng là một trong những trung tâm quá cảnh chính đối với các hành khách đi lại giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan, song hiện nay giữa khai khu vực này đã khai thông các đường bay trực tiếp. Sân bay là trung tâm chính của Air Macau. Năm 2006, sân bay quốc tế Ma Cao đã phục vụ khoảng 5 triệu lượt hành khách.
Sự pha trộn giữa truyền thống văn hóa và tôn giáo Trung Hoa và Bồ Đào Nha trong hơn bốn thế kỷ đã biến Ma Cao thành một tập hợp độc đắc gồm các ngày nghỉ, lễ hội và sự kiện. Sự kiện lớn nhất trong năm là Macau Grand Prix vào tháng 11, khi những đường phố chính tại bán đảo Ma Cao trở thành đường đua ô tô Công thức 1 tương tự như Monaco Grand Prix. Các sự kiện thường niên khác bao gồm lễ hội Nghệ thuật Ma Cao được tổ chức vào tháng 3, thi trình diễn pháo hoa quốc tế vào tháng 9, lễ hội Âm nhạc quốc tế trong tháng 10 và/hoặc tháng 11, và Marathon quốc tế Ma Cao vào tháng 12.
Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống quan trọng nhất, nó thường diễn ra vào cuối tháng một hoặc đầu tháng 2 dương lịch. Bồ Đề Viên (菩提園) tại Đãng Tử là nơi tổ chức lễ hội thần Thổ Địa vào tháng 2. Đám rước Cuộc thương khó của Giêsu là nghi thức và hành trình Công giáo nổi tiếng, đám diễu hàng đi từ Nhà thờ Thánh Austin đến Nhà thờ chính tòa, cũng được tổ chức vào tháng 2.
Ẩm thực địa phương của Ma Cao là một sự pha trộn giữa ẩm thực Quảng Đông và ẩm thực Bồ Đào Nha. Nhiều món ăn độc đáo là kết quả của những pha trộn nguyên liệu khi vợ của các thủy thủ Bồ Đào Nha cố gắng tái tạo nên những món ăn Âu. Thành phần và gia vị của nó đến từ châu Âu, Nam Mỹ, châu Phi, Ấn Độ, và Đông Nam Á, cũng như những thành phần bản địa Trung Hoa. Điểm đặc trưng là thực phẩm Ma Cao được ướp gia vị với các gia vị và hương liệu khác nhau bao gồm nghệ, nước cốt dừa, quế và cá tuyết phơi khô ướp muối, cho ra mùi thơm và vị đặc biệt. Các món ăn nổi tiếng của Ma Cao bao gồm Galinha à Portuguesa, Galinha à Africana (gà Phi), Bacalhau, tôm cay Ma Cao và cua cà ri xào. Bánh sườn cốt lết (豬扒包), sữa gừng đông (薑汁撞奶) và trứng chua cay (蛋撻) cũng rất phổ biến tại Ma Cao.
Ma Cao bảo tồn được nhiều di tích lịch sử trong khu vực đô thị. Khu lịch sử Ma Cao bao gồm khoảng 25 địa điểm lịch sử, được liệt kê chính thức là một Di sản thế giới của UNESCO vào ngày 15 tháng 7 năm 2005 trong kỳ họp thứ 29 của Ủy ban Di sản Thế giới, được tổ chức tại Durban, Nam Phi.
Ủy ban Thể thao và Olympic Ma Cao được thành lập vào năm 1987 và đã cố gắng ghi danh vào Ủy ban Olympic Quốc tế kể từ khi thành lập, nhưng vẫn chưa được chính thức công nhận, và cho đến nay Ma Cao vẫn chưa có vận động viên nào được tham gia Thế vận hội Olympic dưới tên "Ma Cao, Trung Quốc" (trái ngược với đoàn thể thao của Hồng Kông). Tuy nhiên, họ đã tham gia vào Paralympic Games.
Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất tại Ma Cao, và trên bình diện quốc tế, lãnh thổ này có Đội tuyển bóng đá quốc gia Ma Cao. Môn thể thao phổ biến khác tại Ma Cao là khúc côn cầu giày trượt, nó thường được người Bồ Đào Nha chơi. Ma Cao luôn tham gia vào giải vô địch khúc côn cầu giày trượt thế giới ở hạng B. Đội tuyển quốc gia của Ma Cao là đội khúc côn cầu giày trượt mạnh nhất châu Á và đã có nhiều danh hiệu vô địch khúc côn cầu giày trượt châu Á. Giải đua ô tô công thức 1 Macau Grand Prix được cho là sự kiện thể thao quốc tế quan trọng nhất tại Ma Cao. Đại hội Thể thao châu Á Trong nhà 2007 cũng được tổ chức tại đây.
|
Trong thống kê, số bình quân có hai nghĩa có liên quan:
Bên cạnh Thống kê, các số bình quân còn được dùng trong hình học và phân tích (và thường được gọi là trung bình); nhiều loại trung bình đã được phát triển cho các mục tiêu này (chúng ít được dùng trong Thống kê.) Xem mục Các loại trung bình khác để có một danh sách các trung bình.
Số bình quân mẫu thường được dùng với vai trò ước lượng xu hướng trung tâm chẳng hạn số bình quân của tổng thể chung. Tuy nhiên, người ta còn sử dụng các ước lượng khác. Ví dụ, số trung vị tốt hơn số bình quân mẫu trong vai trò ước lượng xu hướng trung tâm.
Với một biến ngẫu nhiên giá trị thực "X", số bình quân là giá trị kỳ vọng của "X". Nếu không tồn tại giá trị kỳ vọng thì biến ngẫu nhiên không có số bình quân.
Đối với một tập dữ liệu, số bình quân là chỉ đơn giản là tổng tất cả các quan sát chia cho số quan sát.
Một khi ta đã chọn phương pháp này để mô tả phương sai tương đối ("communality") của một tập dữ liệu, ta thường dùng độ lệch chuẩn để mô tả sự khác nhau của các quan sát.
Độ lệch chuẩn là căn bậc hai của phương sai cho biết bình quân giá trị của các lượng biến cách giá trị trung bình chung là bao nhiêu đơn vị.
Giá trị trung bình là giá trị duy nhất mà quanh đó tổng bình phương các độ lệch là nhỏ nhất.
Nếu ta tính tổng bình phương các độ lệch từ một cách đo xu hướng trung tâm bất kỳ nào khác, ta sẽ được một giá trị lớn hơn kết quả tương ứng của số bình quân. Đó là lý do mà độ lệch tiêu chuẩn và số bình quân thường được đặt cạnh nhau trong các báo cáo thống kê.
Một cách đo độ phân tán khác là độ lệch trung bình, tương đương với trung bình của độ lệch tuyệt đối từ giá trị trung bình. Cách đo này ít nhạy cảm với các giá trị ngoại lệ hơn, nhưng lại khó lần ngược hơn khi ta kết hợp các tập dữ liệu.
Lưu ý rằng không phải phân bố xác suất nào cũng có một giá trị trung bình hay phương sai, phân bổ Cauchy là một ví dụ.
Sau đây là tóm tắt của một số phương pháp tính số bình quân của một tập gồm n số. Xem giải thích cho các ký hiệu tại Bảng ký hiệu toán học.
Số bình quân số học.
Số bình quân số học là số bình quân tiêu chuẩn, thường chỉ được gọi ngắn gọn là "số bình quân" hoặc "trung bình".
Số bình quân này thường bị nhầm lẫn với số trung vị hoặc mode. Số bình quân số học là trung bình số học của một tập giá trị hoặc một phân bố; tuy nhiên, với các phân bố xiên, giá trị trung bình không nhất thiết trùng với giá trị nằm giữa (số trung vị), hay mode. Ví dụ, thu nhập bình quân bị lệch lên trên do một số ít người có thu nhập rất lớn, và đa số có thu nhập thấp hơn bình quân. Ngược lại, thu nhập trung vị nằm tại vị trí mà có một nửa dân số nằm trên và nửa kia nằm dưới nó. Thu nhập mode là thu nhập thường gặp nhất, nó thiên về số đông với thu nhập thấp hơn. Số trung vị hay mode thường là các độ đo trực quan hơn của các dữ liệu có dạng như vậy.
Có nghĩa là, nhiều phân bố xiên, chẳng hạn phân phối mũ và phân bổ Poisson, được mô tả tốt nhất bởi số bình quân.
Một thực nghiệm cho kết quả là dữ liệu: 34,27,45,55,22,34
Cách tính trung bình cộng
Số bình quân nhân.
Số bình quân nhân là số bình quân hữu ích cho các tập số mà được quan tâm nhiều đến tích của chúng. Ví dụ: tỉ lệ tăng trưởng.
Một thực nghiệm cho kết quả là dữ liệu: 34,27,45,55,22,34
Cách tính số bình quân nhân
Số bình quân điều hòa.
Số bình quân điều hòa là một số bình quân hữu ích cho các tập số được định nghĩa trong quan hệ với một đơn vị nào đó, ví dụ vận tốc (khoảng cách đi được trong mỗi đơn vị thời gian).
Một thực nghiệm cho kết quả là dữ liệu: 34,27,45,55,22,34
Cách tính số bình quân điều hòa
Số bình quân lũy thừa.
Số bình quân lũy thừa là tổng quát hóa của số bình quân số học, số bình quân nhân, và số bình quân điều hòa. Nó được định nghĩa bằng công thức
Bằng cách chọn các giá trị thích hợp cho tham số "m" ta có thể thu được số bình quân số học ("m" = 1), số bình quân nhân ("m" → 0) hay số bình quân điều hòa điều hòa ("m" = −1)
Số bình quân này có thể được tổng quát hóa hơn nữa để có số bình quân-f suy rộng ("generalized f-mean")
lựa chọn thích hợp cho hàm "f"("x") nghịch đảo được sẽ cho ra số bình quân số học với "f"("x") = "x", số bình quân nhân với "f"("x") = log("x"), hay số bình quân điều hòa với "f"("x") = 1/"x".
Số bình quân gia quyền.
Số bình quân gia quyền được sử dụng khi ta muốn kết hợp các số bình quân từ các mẫu với các kích thước khác nhau từ cùng một tổng thể chung:
Các trọng số formula_7 biểu diễn biên của mẫu "i". Trong các ứng dụng khác, chúng biểu diễn một độ đo độ tin cậy của ảnh hưởng của mẫu lên trung bình bằng các giá trị tương ứng.
Đôi khi một tập số (dữ liệu) có thể bị lẫn các giá trị ngoại lệ không chính xác, nghĩa là các giá trị quá lớn hoặc quá nhỏ. Trong trường hợp đó, người ta có thể sử dụng một trung bình cụt ("truncated mean"). Trung bình cụt được tính băng cách: loại bỏ các phần dữ liệu tại đỉnh hoặc đáy dữ liệu, thường là các lượng như nhau tại mỗi đầu, rồi lấy trung bình cộng của phần dữ liệu còn lại. Số giá trị bị loại bỏ được ghi dưới dạng tỷ lệ phần trăm của tổng số giá trị.
Trung bình khoảng tứ phân vị.
Trung bình khoảng tứ phân vị ("interquartile mean") là một ví dụ về một trung bình cụt. Đó chẳng qua là trung bình cộng sau khi đã loại bỏ phần tư giá trị nhỏ nhất và lớn nhất.
giả thiết rằng các giá trị đã được sắp xếp.
Trung bình của một hàm.
Trong giải tích, đặc biệt là giải tích đa biến, trung bình của một hàm được định nghĩa một cách lỏng lẻo là giá trị bình quân của hàm trên miền xác định của nó. Nếu là đơn biến, hàm formula_9 trên khoảng ("a,b") được định nghĩa là
(Xem thêm Định lý giá trị trung bình.) Trong trường hợp có nhiều biến, trung bình trên một miền compac tương đối "U" trong một không gian Ơclid được định nghĩa là
Đó là suy rộng của trung bình cộng. Ngoài ra, còn có thể tổng quát hóa trung bình nhân cho các hàm số bằng cách định nghĩa trung bình nhân của hàm "f" là
Tổng quát hơn, trong lý thuyết độ đo ("measure theory") và lý thuyết xác suất, cả hai loại trung bình đều đóng vai trò quan trọng.
|
Tuổi trẻ là một khoảng thời gian trong cuộc sống nằm giữa thời thơ ấu và thời trưởng thành. Nó gắn liền với vẻ ngoài, sự tươi mới, sức sống, tinh thần, , đặc trưng của một người trẻ. Không có độ tuổi cụ thể nào xác định thời gian của tuổi trẻ, cũng không có các hoạt động cụ thể nào đánh dấu sự kết thúc của tuổi trẻ.
Tuổi trẻ là thời gian định hình sự độc lập của một cá nhân. Sự định hình này phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa. Sự độc lập của một người trẻ là mức độ phụ thuộc của họ dựa vào gia đình về mặt tài chính và cảm xúc.
Thuật ngữ và định nghĩa.
Trên khắp thế giới, các thuật ngữ tiếng Anh "youth, adolescent, teenager, kid", và "young " được thay thế cho nhau, và thường có nghĩa giống nhau, nhưng đôi khi được phân biệt. Youth có thể là thời gian cuộc sống khi một người còn trẻ. Thời gian này bao gồm thời thơ ấu và khoảng thời gian nằm giữa thơ ấu với tuổi trưởng thành. Đối với một số mục đích sử dụng, chẳng hạn như thống kê việc làm, "youth" đôi khi cũng đề cập đến các cá nhân trong độ tuổi từ 14 đến 21. "Adolescence" thì lại dùng để chỉ một độ tuổi cụ thể trong một giai đoạn phát triển cụ thể trong cuộc sống của một người, không giống như "youth" là một phạm trù xã hội.
Liên Hợp Quốc định nghĩa "tuổi trẻ (thanh niên)" là những người trong độ tuổi từ 15 đến 24 với tất cả các số liệu thống kê của Liên Hợp Quốc dựa trên phạm vi này, Liên Hợp Quốc tuyên bố giáo dục là nguồn để thống kê. Liên Hợp Quốc cũng công nhận rằng điều này thay đổi mà không ảnh hưởng đến các nhóm tuổi khác được liệt kê bởi các quốc gia thành viên là 18-30 tuổi. Một sự khác biệt hữu ích trong chính Liên Hợp Quốc có thể được tạo ra giữa thanh thiếu niên (tức là những người trong độ tuổi từ 13 đến 19) và thanh niên (những người trong độ tuổi từ 18 đến 32). Trong khi tìm cách áp đặt một số thống nhất đối với các phương pháp thống kê, chính Liên Hợp Quốc nhận thức được mâu thuẫn giữa các phương pháp trong các đạo luật riêng của mình. Do đó theo định nghĩa độ tuổi 15-24 (được giới thiệu năm 1981), trẻ em được định nghĩa là những trẻ dưới 14 tuổi trong khi theo Công ước về Quyền trẻ em năm 1979, những trẻ dưới 18 tuổi được coi là trẻ em. Liên Hợp Quốc cũng tuyên bố rằng họ nhận thức được rằng một số định nghĩa tồn tại cho thanh thiếu niên trong các thực thể của Liên Hợp Quốc như Môi trường sống của Thanh niên đưa ra độ tuổi 15-32 và Hiến chương Thanh niên Châu Phi đưa ra độ tuổi 15-35.
Mặc dù liên kết với các quá trình sinh học của sự phát triển và lão hóa, "tuổi trẻ" cũng được định nghĩa là một vị trí xã hội phản ánh ý nghĩa của các nền văn hóa và xã hội khác nhau dành cho các cá nhân giữa thời thơ ấu và tuổi trưởng thành. Bản thân thuật ngữ này khi được đề cập theo cách thức vị trí xã hội, có thể mơ hồ khi áp dụng cho một người ở độ tuổi lớn hơn với vị trí xã hội rất thấp; có khả năng khi vẫn phụ thuộc vào người giám hộ của họ. Các học giả cho rằng các định nghĩa dựa trên tuổi tác không nhất quán giữa các nền văn hóa hoặc thời đại và do đó chính xác hơn là tập trung vào các quá trình xã hội trong quá trình chuyển sang độc lập trưởng thành để xác định tuổi trẻ.
Tuổi trẻ là giai đoạn xây dựng khái niệm về bản thân. Khái niệm bản thân của tuổi trẻ bị ảnh hưởng bởi các biến số như đồng nghiệp, lối sống, giới tính và văn hóa. Đó là thời gian của cuộc sống của một người khi sự lựa chọn của họ có nhiều khả năng ảnh hưởng đến tương lai của họ.
Các định nghĩa khác.
Ở phần lớn châu Phi cận Sahara, thuật ngữ "tuổi trẻ" có liên quan đến những người đàn ông trẻ từ 15 đến 30 hoặc 35 tuổi. Thanh niên ở Nigeria bao gồm tất cả các thành viên của Cộng hòa Liên bang Nigeria ở độ tuổi 18-35. Nhiều cô gái châu Phi trải nghiệm tuổi trẻ như một sự xen kẽ ngắn ngủi giữa lúc bắt đầu dậy thì và kết hôn và làm mẹ. Nhưng ở các khu vực thành thị, phụ nữ nghèo thường được coi là có tuổi trẻ lâu hơn nhiều, ngay cả khi họ sinh con ngoài hôn nhân. Thay đổi về mặt văn hóa, các công trình giới tính của thanh niên ở Châu Mỹ Latinh và Đông Nam Á khác với ở châu Phi cận Sahara. Ở Việt Nam, quan niệm phổ biến về giới trẻ của những công trình xã hội chính trị cho cả hai giới trong độ tuổi từ 15 đến 35.
Tại Brazil, thuật ngữ "giới trẻ" chỉ những người thuộc cả hai giới tính từ 15 đến 29 tuổi. Khung tuổi này phản ánh ảnh hưởng đối với luật pháp Brazil của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Nó cũng được định hình bởi khái niệm thanh thiếu niên đã bước vào cuộc sống hàng ngày ở Brazil thông qua một bài diễn văn về quyền trẻ em.
Tổ chức liên chính phủ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế định nghĩa "tuổi trẻ" là "những người từ 15 đến 29 tuổi".
Ngày 12 tháng 8 được Liên Hợp Quốc tuyên bố là Ngày Quốc tế Giới trẻ.
Quy định theo quốc gia.
Tại Việt Nam, theo Luật Thanh niên 2005, thanh niên được quy định là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi.
Tại Đức, quy định thanh niên ("junge Volljährige") là "người 18 nhưng chưa 27 tuổi", thiếu niên ("Jugendliche") là "người 14 nhưng chưa đủ 18 tuổi".
Quyền của giới trẻ.
Quyền trẻ em bao gồm tất cả các quyền thuộc về trẻ em. Khi lớn lên, họ được cấp các quyền mới (như bỏ phiếu, đồng ý, lái xe, ) và các nghĩa vụ (trách nhiệm hình sự, ). Có những giới hạn tối thiểu khác nhau về độ tuổi mà thanh thiếu niên không được tự do, độc lập hoặc có thẩm quyền về mặt pháp lý để đưa ra một số quyết định hoặc hành động. Một số giới hạn này là tuổi bầu cử, tuổi ứng cử, tuổi đồng ý, tuổi trưởng thành, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tuổi uống rượu, tuổi lái xe, , họ được tự do bầu cử, quan hệ tình dục, mua hoặc tiêu thụ đồ uống có cồn hoặc lái xe ô tô,
Tuổi được bầu cử.
Tuổi bầu cử là độ tuổi tối thiểu được thiết lập theo luật mà một người phải đạt được để đủ điều kiện bỏ phiếu trong một cuộc bầu cử công khai. Thông thường, độ tuổi được đặt ở mức 18 tuổi; tuy nhiên, độ tuổi thấp nhất là 16 và cao nhất là 21 tồn tại (xem danh sách bên dưới). Các nghiên cứu cho thấy 21% trong số tất cả những người 18 tuổi có kinh nghiệm bỏ phiếu. Đây là một quyền quan trọng vì bằng cách bỏ phiếu, họ có thể hỗ trợ chính trị do chính họ lựa chọn và không chỉ bởi những người thuộc thế hệ cũ.
Tuổi ứng cử là độ tuổi tối thiểu mà một người có thể đủ điều kiện hợp pháp để nắm giữ một số văn phòng chính phủ được bầu. Trong nhiều trường hợp, nó cũng xác định độ tuổi mà một người có thể đủ điều kiện tham gia cuộc bầu cử hoặc được đề cử.
Độ tuổi đồng ý là độ tuổi mà một người được coi là có thẩm quyền về mặt pháp lý để đồng ý với các hành vi tình dục, và do đó là độ tuổi tối thiểu của một người mà được phép tham gia hoạt động tình dục với người khác một cách hợp pháp. Khía cạnh phân biệt độ tuổi của luật đồng ý là người dưới độ tuổi tối thiểu được coi là nạn nhân và bạn tình của họ là người phạm tội.
Bảo vệ trẻ nhỏ.
Bảo vệ trẻ nhỏ là một hình thức bào chữa được gọi là cái cớ để các bị cáo nằm trong định nghĩa của "trẻ nhỏ" được miễn trừ khỏi trách nhiệm hình sự đối với hành động của họ, nếu tại thời điểm thích hợp, họ chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Điều này ngụ ý rằng trẻ em thiếu sự phán xét đi kèm với tuổi tác và kinh nghiệm để phải chịu trách nhiệm hình sự. Sau khi đạt đến độ tuổi ban đầu, có thể có các mức trách nhiệm được quy định theo độ tuổi và loại vi phạm.
Tuổi cho phép uống rượu.
Độ tuổi uống rượu hợp pháp là độ tuổi mà một người có thể tiêu thụ hoặc mua đồ uống có cồn. Những luật này bao gồm một loạt các vấn đề và hành vi, nêu rõ rượu có thể được uống khi nào và ở đâu. Nồng độ rượu tối thiểu có thể được tiêu thụ hợp pháp có thể khác với nồng độ rượu có thể mua ở một số quốc gia. Các luật này khác nhau giữa các quốc gia khác nhau và nhiều luật có miễn trừ hoặc hoàn cảnh đặc biệt. Hầu hết các luật chỉ áp dụng cho việc uống rượu ở nơi công cộng, trong đó việc tiêu thụ rượu tại nhà hầu hết không được kiểm soát (ngoại lệ là Vương quốc Anh, nơi có độ tuổi hợp pháp tối thiểu là 5 tuổi đối với tiêu dùng có giám sát ở những nơi riêng tư). Một số quốc gia cũng có giới hạn độ tuổi khác nhau đối với các loại đồ uống có cồn khác nhau.
Tuổi lái xe là độ tuổi mà một người có thể xin giấy phép lái xe. Các quốc gia có độ tuổi lái xe thấp nhất (dưới 17) là Úc, Canada, El Salvador, Iceland, Israel, Estonia, Macedonia, Malaysia, New Zealand, Na Uy, Philippines, Nga, Ả Rập Saudi, Slovenia, Thụy Điển, Vương quốc Anh (Đại lục) và Hoa Kỳ. Tỉnh bang Canada của Canada và một số tiểu bang của Hoa Kỳ cho phép tuổi lái xe thấp đến 14 tuổi. Nigeria có tuổi lái xe tối thiểu cao nhất thế giới ở tuổi 23. Ở Ấn Độ, tuổi lái xe hợp pháp là 18.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Nam Cao (nguyên danh Trần Hữu Tri, thánh danh Giuse, 29 tháng 10, năm 1915 hoặc 1917 – 30 tháng 11 năm 1951) là một nhà văn, nhà thơ, nhà báo và cũng là một chiến sĩ, liệt sỹ người Việt Nam. Ông là nhà văn hiện thực lớn (trước Cách mạng Tháng Tám), một nhà báo kháng chiến (sau Cách mạng), một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ 20. Nam Cao có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20.
Thân thế và sự nghiệp.
Nam Cao tên khai sinh là Trần Hữu Tri (có nguồn ghi là Trần Hữu Trí
), sinh ngày 29 tháng 10 năm 1915 nhưng giấy khai sinh ghi là 1917. Quê ông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Ông đã ghép hai chữ đầu tiên của tên tổng và huyện làm bút danh: Nam Cao.
Ông xuất thân từ một gia đình Công giáo ở nông thôn. Cha ông là ông Trần Hữu Huệ, làm và kinh doanh nghề mộc, có thời gian làm nghề thầy lang trong làng. Mẹ ông là bà Trần Thị Minh, vừa là nội trợ, làm vườn, làm ruộng và dệt vải.
Thuở nhỏ, Nam Cao học sơ học ở trường làng. Đến cấp tiểu học và bậc trung học, gia đình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường Thành Chung (nay là trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định). 1934 học xong bậc trung học, nhưng bị ngã và đau ốm nên chưa thi lấy bằng Thành chung. Đâu năm 1935 cưới vợ, Trần Thị Sen (tên thánh Maria Sen), người cùng làng. Tháng 11/1935 Nam Cao vào Sài Gòn, ở lại đây 30 tháng, sống bằng nghề làm thư ký hiệu may Ba Lễ, đồng thời bắt đầu viết văn, gửi cho các báo. Năm 1936 được đăng các truyện ngắn "Cảnh cuối cùng" và "Hai cái xác" dưới bút danh Thúy Rư trên tuần báo "Tiểu thuyết thứ bảy" (Hà Nội). Năm 1937 được đăng các truyện ngắn "Một bà hào hiệp", "Nghèo", "Đui mù" dưới bút danh Thúy Rư trên "Tiểu thuyết thứ bảy," Truyện "Những cánh hoa tàn" trên báo "Ích Hữu" (Hà Nội). Tháng 5/1938, vì lí do sức khoẻ, Nam Cao trở ra Bắc, về quê.
Đến với nghề văn.
Trở ra Bắc, sau khi tự học lại để thi lấy bằng Thành chung, Nam Cao lên Hà Nội dạy học ở Trường tư thục Công Thanh, trên đường Thụy Khuê, Hà Nội. Ông đưa in truyện ngắn "Cái chết của con Mực" trên báo "Hà Nội tân văn" (1940) và in thơ cũng trên báo này với các bút danh Xuân Du, Nguyệt.
Năm 1941, tập truyện đầu tay "Đôi lứa xứng đôi", tên trong bản thảo là "Cái lò gạch cũ", với bút danh Nam Cao do Nhà xuất bản Đời mới Hà Nội ấn hành được đón nhận như là một hiện tượng văn học thời đó. Sau này khi in lại (1945), Nam Cao đã đổi tên là "Chí Phèo".
Phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương, trường sở bị trưng dụng, ông rời Hà Nội, về dạy học ở Trường tư thục Kỳ Giang, tỉnh Thái Bình, rồi về lại làng quê Đại Hoàng. Thời kỳ này, Nam Cao cho ra đời nhiều tác phẩm. Ông in truyện dài nhiều kỳ "Truyện người hàng xóm" trên tờ "Trung Bắc Chủ nhật", viết xong tiểu thuyết "Chết mòn", sau đổi là "Sống mòn"...
Tham gia hoạt động cách mạng.
Tháng 6 năm 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam, đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh, và là một trong số những thành viên đầu tiên của tổ chức này. Trong không khí bị đàn áp gắt gao, ông phải rời Hà Nội về quê.
Năm 1945, trong cao trào Cách mạng tháng Tám, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, được cử làm Chủ tịch xã của chính quyền mới ở quê ông. Tháng 11/1945, Nam Cao từ quê ra Hà Nội, được cử làm Thư ký tòa soạn tạp chí "Tiên Phong," rồi được cử làm phái viên tham gia đoàn quân Nam tiến. Cuối năm 1945 ông trở ra Bắc. Thời gian này, 1945-1946, ông đưa in trên tạp chí "Tiên phong" các tác phẩm "Mò sâm-banh" (truyện ngắn), "Đường vô Nam" (bút ký). "Nỗi truân chuyên của khách má hồng" (truyện châm biếm chính trị), "Cách mạng" (truyện ngắn). Ông đổi tên truyện "Đôi lứa xứng đôi" thành "Chí Phèo" đưa in trong tập truyện "Luống cày" (Hội Văn hóa cứu quốc VN xuất bản, 1945) chung với Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Kim Lân.
Cuối năm 1946, Nam Cao nhận công tác ở Ty Văn hóa Hà Nam, làm báo "Giữ nước" và "Cờ chiến thắng" của tỉnh này. Mùa thu năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc. Ông là thư ký tòa soạn báo "Cứu quốc" Việt Bắc, viết "Nhật ký ở rừng". Tại chiến khu, năm 1948, Nam Cao gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam.
Năm 1950, Nam Cao chuyển sang làm việc ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm việc trong toà soạn tạp chí "Văn nghệ". Tháng 6, ông thuyết trình về vấn đề ruộng đất trong hội nghị học tập của văn nghệ sĩ, sau đó ông được cử làm Ủy viên tiểu ban văn nghệ của Trung ương Đảng. Trong năm đó, ông tham gia Chiến dịch Biên giới.
Tháng 5 năm 1951, Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng về dự Hội nghị văn nghệ Liên khu 3, sau đó hai nhà văn cùng vào công tác khu 4. Nam Cao trở ra tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp, vào vùng địch hậu khu 3. Ông có ý định kết hợp lấy thêm tài liệu cho cuốn tiểu thuyết dự định sẽ viết. Trên đường đi vào vùng tề, đoàn thể trong hội bơi tỏa ra bốn hướng, nhưng ông không biết bơi lội nên đã bị quân Pháp phục kích vây bắt và sát hại, hy sinh vào ngày 30 tháng 11 năm 1951 (nhằm ngày mùng 02 tháng 11 âm lịch), tại đồn Hoàng Đan thuộc làng Vũ Đại, xã Gia Xuân, Gia Viễn (Ninh Bình).[#endnote_]
Sau khi hy sinh, phần mộ ông đã bị thất lạc. Đầu năm 1996, một chương trình có tên "Tìm lại Nam Cao" nhằm tìm lại mộ phần của ông được Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam tổ chức với sự tham gia của 35 đơn vị tham gia như Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Hội Nhà văn Việt Nam, báo Nhân dâ(UIA) mời dự, một ngôi mộ được cho là của Nam Cao đã được tìm thấy ở nghĩa trang huyện Gia Viễn, (Ninh Bình) và quy tập về quê hương ông (xã Hòa Hậu, Lý Nhân, Hà Nam).
Tuy mất sớm, nhưng ảnh hưởng của ông đến văn học Việt Nam vẫn đáng kể. [#endnote_]
Cũng trong năm 1996, Nam Cao được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật.
Nhà tưởng niệm Nam Cao được thành lập từ ngày 30 tháng 11 năm 2004 tại Hà Nam để tưởng niệm 53 năm ngày mất của nhà văn này.
Truyện ký kháng chiến.
Ngoài ra ông còn làm thơ và biên soạn sách địa lý cùng với tác giả Văn Tân: "Địa dư các nước châu Âu" (1948), "Địa dư các nước châu Á", "châu Phi" (1969), "Địa dư Việt Nam" (1951).
Ông có một vợ và năm người con, trong đó một người đã mất trong nạn đói năm Ất Dậu.
|
Điều khiển học (tiếng Anh: "cybernetics") là khoa học về việc điều khiển, thu thập, truyền và xử lý thông tin, thường bao gồm liên hệ điều chỉnh ngược trong các cơ thể sống, trong máy móc và các tổ chức và các kết hợp của chúng (ví dụ hệ thống kỹ thuật xã hội, các máy móc do máy tính điểu khiển, chẳng hạn robot).
Vào khoảng những năm 1940, điều khiển học hiện đại bắt đầu với vai trò một ngành nghiên cứu kết hợp giữa các lĩnh vực hệ thống điều khiển, thần kinh học, lý thuyết mạng điện, và mô hình logic. Norbert Wiener đặt ra thuật ngữ "cybernetics" để chỉ đến ngành nghiên cứu các "cơ chế có mục đích" ("teleological mechanisms") và thuật ngữ này được phổ biến bởi cuốn sách của ông với tựa đề "Cybernetics, or control and communication in the animal and machine" ("Điều khiển học, hay điều khiển và giao tiếp trong động vật và máy móc", 1948). Vì vậy, ông Wiener được coi như cha đẻ của điều khiển học.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Iosif Vissarionovich Stalin hay Joseph Stalin (tên khai sinh: Ioseb Besarionis dze Jughashvili; 18 tháng 12 năm 1878 – 5 tháng 3 năm 1953) là một nhà cách mạng, nhà chính trị và lý luận chính trị người Gruzia. Ông giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô giai đoạn 1922–1952 và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô giai đoạn 1941–1953. Về ý thức hệ, Stalin là người tin tưởng các diễn giải của Lenin đối với chủ nghĩa Marx, sau được ông hình thức hóa thành chủ nghĩa Marx-Lenin. Các chính sách do ông ban hành thường được gọi là chủ nghĩa Stalin.
Stalin sinh thành trong một gia đình dân tộc Gruzia bần cùng ở thị trấn Gori, tỉnh Tiflis thuộc Đế quốc Nga (nay là Gruzia). Năm 1901, ông gia nhập Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga Marxist và làm biên tập viên cho tờ "Pravda". Trong khoảng thời gian này, ông tài trợ hoạt động của cánh Bolshevik do V. I. Lenin dẫn đầu bằng nhiều thủ đoạn như: trộm cướp nhà băng Đế quốc Nga, bắt cóc tống tiền quý tộc và bảo kê thu phí các khu mỏ tư bản. Liên tục bị chính quyền bắt giữ, ông đã dành nhiều năm tháng đày đọa ở Siberia. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự thành lập nhà nước cộng sản đơn đảng vào năm 1917, Stalin được bổ nhiệm vào Bộ Chính trị Bolshevik. Ông phục vụ Hồng quân trong Nội chiến Nga và giám sát hiệp ước thành lập Liên Xô vào năm 1922. Sau khi Lenin qua đời, Stalin vươn lên thâu tóm quyền lực và áp đặt "chủ nghĩa xã hội trong một quốc gia" làm chủ thuyết của Đảng Cộng sản Liên Xô. Nhờ các kế hoạch 5 năm do ông chủ trương, Liên Xô đã thực hiện tập thể hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa nhanh chóng, kiến thiết nền kinh tế tập trung do nhà nước hoạch định. Tuy nhiên, sự gián đoạn nghiêm trọng đối với chuỗi cung cấp thực phẩm đã gây ra nạn đói 1930–1933 ở Liên Xô. Bên cạnh đó, nhằm diệt trừ "kẻ thù của giai cấp công nhân", Stalin đã tiến hành Đại thanh trừng, theo đó khoảng một triệu người đã bị bắt tới các trại lao động khổ sai gọi là Gulag và ít nhất 700.000 người đã bị xử tử từ năm 1936 đến năm 1938.
Stalin truyền bá chủ nghĩa Marx–Lenin thông qua Quốc tế Cộng sản và hỗ trợ các phong trào chống phát xít ở Châu Âu hồi những năm 1930, đơn cử như trong Nội chiến Tây Ban Nha. Năm 1939, chế độ của ông ký kết hiệp ước không xâm phạm với Đức Quốc xã, đặt tiền đề cho cuộc xâm lược Ba Lan tiếp sau. Năm 1941, Đức bội ước và xâm lược Liên Xô, buộc Stalin phải gia nhập Khối Đồng minh với tư cách một trong ba lãnh đạo quyền lực nhất của khối này. Tuy thất bại trong giai đoạn đầu, Hồng quân Xô viết đã dần lấy lại đà thắng trước quân Đức và chiếm đóng Berlin vào năm 1945. Trong quá trình càn quét lãnh thổ địch, Liên Xô đã tiện thể sáp nhập các nước Baltic, Bessarabia và Bắc Bukovina, đồng thời dựng lên các chính phủ ủng hộ mình ở Đông–Trung Âu và một phần Đông Á. Với sự khép lại của Thế chiến II, Liên Xô và Hoa Kỳ trở thành hai siêu cường toàn cầu và bước vào giai đoạn căng thẳng mới gọi là Chiến tranh Lạnh. Stalin đảm trách công cuộc tái thiết Liên Xô thời kỳ hậu chiến và ủy nhiệm dự án phát triển bom hạt nhân vào năm 1949. Trong thời gian này, Liên Xô trải qua nạn đói lớn thứ hai và một làn sóng bài Do Thái lên tới cao trào trong Âm mưu bác sĩ. Sau khi Stalin qua đời vào năm 1953, nhà lãnh đạo mới của Liên Xô, Nikita S. Khrushchev, đã tố cáo chế độ cũ của người tiền nhiệm và khơi mào chính sách phi Stalin hóa mọi mặt đời sống xã hội Liên Xô.
Stalin được công nhận là một trong những nhân vật lịch sử cực kỳ quan trọng của thế kỷ 20. Ông là đối tượng của sự sùng bái cá nhân trong phong trào Marx-Lenin quốc tế, được tôn vinh là vị lãnh tụ xã hội chủ nghĩa đứng về phía nhân dân lao động. Kể từ khi Liên Xô giải thể vào năm 1991, Stalin vẫn giữ được tiếng tăm ở Nga và Gruzia vì nhân dân hai nơi đó xem ông như người có công đánh thắng phát-xít và đưa nước họ lên vị thế siêu cường. Dù vậy, chính quyền thời Stalin thường bị chỉ trích là toàn trị và bản thân Stalin cũng bị phê phán vì thực hiện nhiều chính sách tàn nhẫn như: áp bức chính trị, thanh lọc sắc tộc, trục xuất quy mô lớn, xử tử hàng loạt và trưng thu lương thực dẫn đến nạn đói nghiêm trọng.
1878–1899: Tuổi thơ và thiếu thời.
Stalin chào đời tại thị trấn Gori, Gruzia; bấy giờ là Tỉnh Tiflis thuộc Đế quốc Nga, ngôi nhà chung của các dân tộc Gruzia, Azerbaijan, Armenia, Nga, và Do Thái. Ông sinh ngày 18 tháng 12 năm 1878, và được rửa tội vào ngày 29 tháng 12 cùng năm. Tên khai sinh của ông là Ioseb Besarionis dze Jughashvili, hồi nhỏ còn được đặt biệt danh là "Soso", cách gọi yêu cái tên "Ioseb". Cha ông tên là Besarion Jughashvili, còn mẹ ông tên là Ekaterine Geladze. Stalin là người con duy nhất của cặp vợ chồng Geladze sống sót qua tuổi sơ sinh.
Besarion là thợ đóng giày làm thuê cho một công xưởng. Ban đầu thu nhập của ông khá khẩm song về sau sa sút, khiến gia đình rơi vào cảnh éo le. Besarion trở nên nghiện rượu, quay ra đánh đập vợ con. Stalin và mẹ Ekaterine bỏ nhà ra đi vào năm 1883, phiêu bạt đó đây, chuyển nơi sống tận 9 lần trong vòng một thập kỷ tới. Năm 1886, họ tá túc nhà một người bạn, Cha Christopher Charkviani. Ekaterine giúp việc nhà để kiếm sống và mong muốn cho con trai đi học. Tháng 9 năm 1888, Stalin được nhận vào trường Giáo hội Chính thống Gori, nhờ sự giúp đỡ của Charkviani. Tuy hay ẩu đả với đồng lứa, Stalin học rất giỏi, bộc lộ năng khiếu vẽ vời và kịch nghệ, tự viết thơ, và thích hát bè cùng các bạn. Ngoài ra Stalin từng gặp nhiều vấn đề về sức khỏe: trận đậu mùa năm 1884 lưu lại trên mặt ông một vết sẹo; năm 12 tuổi thì bị đâm trọng thương bởi một cỗ xe ngựa "phaeton", đây là lí do tay trái ông bị tê liệt suốt đời.
Tháng 8 năm 1894, Stalin được nhận vào Chủng viện Tâm linh Chính thống giáo ở Tiflis. Do có trợ cấp, ông không phải trả một số khoản học phí. Ông nội trú ở đây cùng 600 chủng sinh mục sư, đạt điểm số khá cao trên lớp. Ông tiếp tục sáng tác thơ; năm bài trong số đó, viết về các chủ đề như thiên nhiên, đất nước và tư tưởng ái quốc, được xuất bản dưới bút danh "Soselo" và đăng trên báo "Iveria" ("Gruzia") của Ilia Chavchavadze. Theo ký giả Simon Sebag Montefiore, chúng trở thành "những vần thơ Gruzia nhỏ song kinh điển", xuất hiện ở nhiều tuyển tập thơ Gruzia trong vòng vài năm tới. Lớn lên, Stalin mất hứng thú với việc học tôn giáo, khiến điểm số trên lớp sa sút. Theo một số nguồn, ông thường xuyên bị cấm túc vì hành vi nổi loạn ở trường.
Stalin tham gia một câu lạc bộ đọc sách cấm ở trường. Ông chịu ảnh hưởng rất lớn từ tiểu thuyết cách mạng "Phải làm gì?" (1863) của Nikolai G. Chernyshevsky và "Kẻ giết bố" của Alexander Kazbegi; trên thực tế, bí danh "Koba" về sau của Stalin bắt nguồn từ tên nhân vật chính trong tác phẩm này. Qua việc đọc, ông biết đến tác phẩm "Das Kapital" (1867) của Karl Marx và trở nên tin tưởng vào thuyết chính trị – xã hội Marxist bấy giờ đang khá thời thượng tại Gruzia; đây cũng là một trong những hình thức chủ nghĩa xã hội chống chế độ chuyên chế Sa hoàng. Vào mỗi buổi đêm, Stalin dự các cuộc họp bí mật của công nhân. Qua đó ông được giới thiệu với Silibistro "Silva" Jibladze, nhà Marxist sáng lập phái Mesame Dasi ("Nhóm thứ ba"). Sau một khoảng thời gian, Stalin rời chủng viện vào tháng 4 năm 1899 và không bao giờ ngoảnh lại.
1899–1904: Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga.
Tháng 10 năm 1899, Stalin làm việc cho đài khí tượng Tiflis. Do khối lượng công việc không nhiều, ông dành những lúc rảnh rỗi để hoạt động cách mạng. Stalin thu hút một nhóm những người ủng hộ ông qua các lớp dạy lý thuyết xã hội chủ nghĩa. Ông bí mật chủ trì một cuộc họp công nhân vào ngày 1 tháng 5 năm 1900 và thuyết phục họ tổ chức biểu tình đình công. Tới thời điểm này, cục cảnh sát mật Okhrana đã biết về hành tung của Stalin trong tổ cách mạng tại Tiflis. Họ dự định bắt giữ ông vào tháng 3 năm 1901, nhưng ông tẩu thoát kịp thời, lẩn trốn và sống qua ngày nhờ khoản tiền do người thân chu cấp. Phải sống lẩn lút, ông góp sức lên kế hoạch cho một cuộc biểu tình công nhân vào ngày 1 tháng 5 năm 1901; tầm 3.000 người sau đó đã tham gia, đụng độ với lực lượng trị an của triều đình. Ông liên tiếp tránh né được các cuộc lùng sục gắt gao của chính quyền bằng cách dùng tên giả và nương náu ở nhiều căn hộ khác nhau. Tháng 11 năm 1901, ông được bầu vào Ủy ban Tiflis của Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (RSDRP), một chính đảng Marxist được thành lập vào năm 1898.
Cùng tháng, Stalin tới cảng thị Batum. Luận điệu chủ chiến của Stalin đã gây chia rẽ những người Marxist ở thành phố, một số thậm chí nghi ngờ ông là điệp viên hai mang của chính quyền Sa hoàng. Stalin tìm được việc làm tại nhà kho tinh luyện Rothschild, nơi ông đồng tổ chức hai cuộc đình công lớn. Sau khi các thủ lĩnh công nhân bị bắt, ông tiếp tục kích động một cuộc biểu tình quần chúng, xui khiến họ đột nhập vào nhà ngục địa phương; lần này quân lính xả súng vào đám đông biểu tình, khiến 13 người thiệt mạng. Stalin tổ chức một cuộc biểu tình nữa vào ngày tang lễ của họ, nhưng bị bắt giam vào tháng 4 năm 1902. Ban đầu ông bị tạm giữ trong nhà tù Batumi, rồi chuyển sang nhà tù Kutaisi, rốt cuộc giữa năm 1903 bị kết án ba năm phát lưu nơi biên viễn Siberia.
Stalin rời Batum vào tháng 10, bị thuyên chuyển tới thị trấn Novaya Uda cuối tháng 11 năm 1903. Ông sống trong một căn nhà nông dân, ngủ trong phòng trữ lương thực. Ông từng hai lần định tẩu thoát: lần đầu, ông chạy được tới Balagansk nhưng phải quay lại vì bỏng lạnh; lần hai, vào tháng 1 năm 1904, thì thành công và tới được Tiflis. Tại đây, ông cùng Philip Makharadze chủ bút tờ báo Marxist tiếng Gruzia "Proletariatis Brdzola" ("Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản"). Ông kêu gọi phong trào Marxist Gruzia mạnh dạn tách khỏi phong trào Marxist Nga; điều mà đã khiến một số đảng viên RSDRP cáo buộc ông là có thái độ dân tộc chủ nghĩa đi ngược lại phong trào Marxist quốc tế, đồng thời bị kiến nghị khai trừ khỏi Đảng. Stalin đành phải rút lại lời kêu gọi của mình. Trong những năm tháng Stalin bị đày ải, RSDRP đã rạn nứt thành hai bè phái, "Bolshevik" của Vladimir I. Lenin và "Menshevik" của Yuli Martov. Stalin bất đồng với nhiều thành viên Menshevik ở Gruzia nên ngả theo phái Bolshevik. Mặc dù kiểm soát một bản doanh do Stalin lập ra tại thành phố mỏ Chiatura, Bolshevik vẫn chỉ là phái thiểu số trên địa bàn Gruzia khi so với phái Menshevik.
1905–1912: Cách mạng 1905 và hệ quả.
Tháng 1 năm 1905, quân đội Sa hoàng thảm sát người biểu tình tại Sankt-Peterburg. Bất ổn dần lan rộng trên toàn Đế quốc và leo thang thành Cách mạng năm 1905. Gruzia bị ảnh hưởng đáng kể bởi sự biến này. Stalin trú ở Baku vào tháng 2, thời điểm mà căng thẳng sắc tộc giữa người Armenia và Azerbaijan đang lên đến đỉnh điểm, khiến ít nhất 2.000 người thiệt mạng do ẩu đả. Stalin công khai khiển trách "cuộc pogrom chống lại người Do Thái và người Armenia" như một phần nỗ lực của Sa hoàng Nikolai II nhằm "củng cố ngai vàng đáng khinh của hắn ta". Stalin thành lập Đội Biệt động Bolshevik, có nhiệm vụ làm chêm đệm giữa hai phe dân tộc thù địch nhau tại Baku; ông cũng thừa cơ này để trộm cắp công cụ in ấn. Ông tiếp tục mở rộng quy mô Đội Biệt động giữa triền miên xung đột tại Gruzia, song song với động thái của phe Menshevik. Các toán quân của Stalin giải giáp binh lính và cảnh sát địa phương, đột kích kho vũ khí của chính quyền, gây quỹ thông qua việc bảo kê các nhà kinh doanh và hầm mỏ địa phương. Họ thực hiện nhiều đợt tấn công nhắm vào lính Cossack và phiến quân Trăm Đen ủng hộ Sa hoàng, đôi khi phối hợp hoạt động với lực lượng dân quân Menshevik.
Tháng 11 năm 1905, tổ Bolshevik Gruzia cử Stalin thay mặt họ tới dự hội nghị Bolshevik toàn thể được tổ chức tại Sankt-Peterburg. Lúc tới nơi, ông hay tin từ vợ của Lenin, bà Nadezhda Krupskaya, rằng địa điểm cuộc hẹn đã chuyển đến Tampere, Đại công quốc Phần Lan. Tại hội nghị năm 1905, Stalin vinh dự gặp mặt Lenin lần đầu tiên. Tuy hết sức tôn kính vị lãnh tụ, Stalin bất đồng với quan điểm của Lenin rằng phái Bolshevik phải cài cắm những ứng cử viên của họ trong cuộc bỏ phiếu sắp tới vào Duma Quốc gia; Stalin cho rằng quá trình tiến cử quốc hội không ích gì ngoài phí thời gian. Tháng 4 năm 1906, Stalin dự Đại hội RSDRP IV ở Stockholm; đây cũng là chuyến đi đầu tiên của ông ra ngoài Đế quốc Nga. Tại hội nghị, Đảng RSDRP – khi đó phái Menshevik chiếm đa số – đồng thuận là sẽ không thực hiện cướp có vũ trang để chu cấp cho các hoạt động cách mạng của họ. Lenin và Stalin bất đồng với quyết định này, bèn ngầm thảo luận với những đảng viên Bolshevik khác, lên kế hoạch cướp tiền của Đế quốc nhân danh cách mạng.
Tháng 7 năm 1906, Stalin kết hôn với Kato Svanidze trong một nhà thờ Chính thống giáo ở Senaki. Tháng 3 năm 1907, người vợ mới cưới sinh cho ông một đứa con trai, đặt tên là Yakov. Theo sử gia Robert Service, tới thời điểm này Stalin đã xây dựng tên tuổi cho mình như "người Bolshevik tiên phong của Gruzia". Ông dự Đại hội RSDRP lần V được tổ chức tại Nhà thờ Brotherhood, London, từ tháng 5 đến tháng 6 năm 1907. Về Tiflis, Stalin vạch ra kế hoạch cướp tiền của Ngân hàng Đế quốc vào tháng 6 năm 1907. Băng nhóm của ông đánh chặn thành công một đoàn hộ tống chở tiền băng qua Quảng trường Erivansky bằng súng và bom tự chế. Khoảng 40 người thiệt mạng trong vụ cướp, song tất cả các thành viên của băng nhóm đều chạy thoát. Sau phi vụ, Stalin chuyển tới sống ở Baku cùng vợ và con trai. Tại đây, phái Menshevik đối chất Stalin về vụ cướp và đầu phiếu khai trừ ông khỏi RSDRP, nhưng Stalin phớt lờ họ.
Stalin đảm bảo phái Bolshevik chiếm thế thượng phong trong nhánh RSDRP ở Baku, đồng thời biên tập hai tờ báo Bolshevik "Bakinsky Proletary" và "Gudok" ("Tiếng huýt"). Tháng 8 năm 1907, ông dự Đại hội VII Đệ nhị Quốc tế – một tổ chức chính trị theo chủ nghĩa xã hội – tại Stuttgart, Đức. Tháng 11 năm 1907, vợ Stalin qua đời vì sốt typhus, và vì vậy ông đành giao phó con trai mình cho nhà ngoại nuôi ở Tiflis. Tại Baku, ông tái hợp băng nhóm tội phạm "Trang phục". Họ tiếp tục đánh chặn phiến quân Trăm Đen nhờ nguồn quỹ gây dựng được bằng các thủ đoạn như bảo kê, rửa tiền, và trộm cướp. Họ bắt giữ nhiều con em quý tộc nhà giàu làm con tin để tống tiền. Đầu năm 1908, Stalin đến Genève, Thụy Sĩ, để gặp Lenin và nhà Marxist nổi danh người Nga Georgy V. Plekhanov – vị này không có thiện cảm với Stalin.
Tháng 3 năm 1908, Stalin bị bắt tạm giam tại nhà tù Bailov ở Baku. Ông trở thành thủ lĩnh của những người Bolshevik bị cầm tù, tổ chức các hội nhóm thảo luận và ra lệnh giết những kẻ tình nghi tố giác. Bị kết án hai năm đày ải ở Solvychegodsk, Tỉnh Vologda, Stalin tới đó vào tháng 2 năm 1909. Tháng 6 cùng năm, ông trốn thoát khỏi ngôi làng, cải trang thành phụ nữ và chạy tới Kotlas, từ đó về Sankt-Peterburg. Tháng 3 năm 1910, ông lại bị bắt và giải về Solvychegodsk. Tại đây, ông nảy sinh tình cảm với bà chủ đất Maria Kuzakova, người sinh đứa con trai thứ hai cho Stalin tên là Konstantin. Tháng 6 năm 1911, Stalin được phép chuyển tới Vologda, ở đây trong vòng hai tháng. Ông tiếp tục nảy sinh mối tình với Pelageya Onufrieva. Một lần nữa ông trốn đi Sankt-Peterburg, nhưng lại bị bắt vào tháng 9 năm 1911, lần này án trạng bị gia hạn thêm ba năm tại Vologda.
1912–1917: Trung ương Bolshevik và báo "Pravda".
Tháng 1 năm 1912, phái Bolshevik tiến hành bầu cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị Praha. Lenin và Grigory Y. Zinoviev quyết định trao cho Stalin một ghế trong ủy ban. Vẫn trú tại Vologda, Stalin đồng ý và giữ vị trí đó đến cuối đời. Lenin tin tưởng Stalin vì lẽ, với tư cách là người dân tộc Gruzia, Stalin có khả năng vận động các dân tộc thiểu số khác ủng hộ phái Bolshevik. Tháng 2 năm 1912, Stalin lại trốn về Sankt-Peterburg. Tại đây, ông chịu trách nhiệm chuyển đối tuần báo Bolshevik "Zvezda" ("Tinh tú") thành nhật báo "Pravda" ("Sự thật"), chính thức ấn hành vào tháng 4 năm 1912. Vai trò biên tập viên của Stalin được giữ kín.
Tháng 5 năm 1912, ông lại bị bắt giam tại nhà tù Shpalerhy, lần này lĩnh ba năm đày ải ở Siberia. Tháng 7 cùng năm, ông đặt chân đến ngôi làng hẻo lánh Narym và sống chung với đồng chí Yakov M. Sverdlov. Chỉ hai tháng sau, Stalin và Sverdlov đào tẩu về Sankt-Peterburg. Trong khoảng thời gian ngắn về thăm Tiflis sau đó, Stalin tái hợp băng cướp cũ và mai phục một toa xe chở thư; phi vụ này tuy vậy lại khiến hầu hết các thành viên (trừ Stalin) rơi vào tay chính quyền. Stalin về Sankt-Peterburg, tiếp tục biên tập và viết bài đăng cho tờ "Pravda".
Sau cuộc bầu cử Duma tháng 10 năm 1912, theo đó sáu đảng viên Bolshevik và sáu đảng viên Menshevik trúng cử, Stalin đã viết nhiều bài báo kêu gọi sư hòa giải giữa hai phái Marxist, khiến Lenin phật lòng. Cuối năm 1912, Stalin hai lần qua Áo-Hung để gặp Lenin tại Kraków, rốt cuộc quy thuận sự từ chối thỏa hiệp với phái Menshevik của Lenin. Tháng 1 năm 1913, Stalin đi Viên để tìm lời giải cho 'vấn đề dân tộc', thiểu số hoặc đa số, bên trong Đế quốc Nga. Lenin khuyến khích Stalin viết một bài luận về chủ đề này để lôi kéo các dân tộc muốn độc lập về phía mình, đồng thời kỳ vọng họ sẽ chọn liên minh với nước Nga do Bolshevik kiểm soát trong tương lai.
Bài chính luận "Chủ nghĩa Marx và vấn đề dân tộc" của Stalin lần đầu tiên được đăng trên số tháng Ba, tháng Tư, và tháng Năm năm 1913 của tạp chí "Prosveshcheniye" do Bolshevik ấn hành; rất được Lenin ưng thuận. Theo ký giả Montefiore, đây là "công trình nổi danh nhất của Stalin." Ông xuất bản nó dưới bí danh "K. Stalin", cái tên mà đã xuất hiện từ năm 1912, lấy từ gốc "stal" 'thép' tiếng Nga, nôm na dịch ra là "người thép". Stalin có lẽ đã bắt chước cách dùng bí danh của Lenin, lấy đây làm tên riêng suốt phần đời còn lại.
Tháng 2 năm 1913, Stalin bị bắt ở Sankt-Peterburg, lần này lĩnh bốn năm đày ải ở Turukhansk hẻo lánh thuộc Siberia, nơi mà việc trốn chạy rất khó thành công. Vào tháng 8, ông đặt chân đến làng Monastyrskoe, nhưng sau sáu tuần lưu trú thì bị chuyển tới Kostino. Tháng 3 năm 1914, quan ngại về nguy cơ phạm nhân tẩu thoát, chính quyền áp giải Stalin tới làng Kureika tọa lạc gần mép Vòng Bắc Cực. Tại đây, Stalin dan díu cô thôn nữ Lidia Pereprygina 14 tuổi, hồi đó vẫn trong độ tuổi cập kê. Theo ký giả Montefiore, tầm tháng 12 năm 1914, họ sinh một đứa nhỏ song nó chết yểu, sau sinh thêm một đứa nữa, đặt tên là Alexander, vào tháng 4 năm 1917.
Tại Kureika, Stalin chung sống với các tộc thổ dân Tungus và Ostyak, dành phần lớn thời gian câu cá.
1917: Cách mạng Nga.
Trong lúc Stalin thụ án phát lưu, Nga bước vào Thế chiến thứ nhất. Tháng 10 năm 1916, Stalin và nhiều đảng viên Bolshevik lưu đày khác bị gọi tòng quân, được thuyên chuyển đến Monastyrskoe. Họ dừng chân ở Krasnoyarsk vào tháng 2 năm 1917, nơi Stalin được miễn quân dịch vì cánh tay tàn tật của ông. Do không muốn trải qua bốn tháng tù đày nữa, ông xin phép được hoàn thành quân vụ tại Achinsk. Cách mạng Tháng Hai khơi mào khi Stalin ở đây; nhân dân Nga đứng lên khởi nghĩa ở Petrograd – tên mới của Sankt-Peterburg – khiến Sa hoàng Nicholas II phải hoảng hốt thoái vị để tránh bị lật đổ bạo lực. Đế quốc Nga giờ đây trở thành một nền cộng hòa trên thực tế, được điều hành bởi Chính phủ Lâm thời Nga theo chủ nghĩa tự do tư sản ("liberal"). Trong bầu không khí hân hoan phấn khởi, Stalin đã bắt tàu hỏa đi Petrograd vào tháng 3. Tại đây, Stalin và cộng sự Bolshevik Lev Kamenev lấy lại quyền kiểm soát tờ "Pravda", và Stalin được bổ nhiệm làm đại biểu của Bolshevik trong Ủy ban Chấp hành Xô viết Petrograd, một hội đồng công nhân khá quyền uy của thành phố. Tháng 4 cùng năm, Stalin là người nhận được nhiều phiếu tín nhiệm thứ ba trong cuộc bầu cử cho vị trí trong Ủy ban Chấp hành Trung ương Bolshevik; Lenin đứng thứ nhất và Zinoviev thứ hai. Điều này minh chứng cho vị thế cao cấp của Stalin trong nội bộ Đảng lúc bấy giờ.
Chính phủ hiện thời của bọn địa chủ và bọn tư bản phải được thay thế bằng một chính phủ mới, một chính phủ của công nhân và nông dân.Chỉnh phủ ngụy hiện thời không do nhân dân lựa chọn và không chịu trách nhiệm trước nhân dân phải được thay thế bằng một chính phủ được nhân dân công nhận, được đại biểu của công nhân, binh sĩ và nông dân bầu chọn, và phải chịu trách nhiệm trước các đại biểu đó.
— Xã luận của Stalin trên tờ "Pravda" vào tháng 10 năm 1917, tạm dịch từ
Stalin tham gia tổ chức cuộc biểu tình vũ trang của những người ủng hộ Bolshevik vào tháng 7 năm 1917 ở Petrograd. Sau khi sự biến này bị dập tắt, Chính phủ Lâm thời đã phát lệnh truy bức và đàn áp phái Bolshevik. Vào đêm xảy ra vụ bố ráp trụ sở "Pravda", Stalin đã kịp thời đưa Lenin trốn khỏi văn phòng, sau đó di chuyển lén nhà lãnh đạo Bolshevik từ nhà an toàn này sang nhà an toàn khác ở Petrograd, bảo đảm đường máu tới Razliv cho ông. Với sự vắng mặt của Lenin, Stalin tiếp tục biên soạn tờ "Pravda" và giữ vai trò thay quyền lãnh đạo Bolshevik, giám sát Đại hội lần sáu được tổ chức chui của Đảng. Lenin bắt đầu kêu gọi những người Bolshevik tiếm quyền bằng cách lật đổ Chính phủ Lâm thời Nga. Stalin và đồng sự cấp cao Leon Trotsky đều ủng hộ lời hiệu triệu của Lenin, song họ vấp phải phản đối từ phía Kamenev và nhiều đảng viên khác. Lenin trở về Petrograd và thuyết phục tổ chức đảo chính tại cuộc họp của Ban Chấp hành Trung ương vào ngày 10 tháng 10.
Ngày 24 tháng 10, cảnh sát bất ngờ khám xét các văn phòng báo chí của Bolshevik, đập phá trang thiết bị và máy in; Stalin cứu vớt được một số đồ đạc để tiếp tục viết lách. Sớm ngày 25 tháng 10, Stalin cùng Lenin dự cuộc họp chốt của Ban Chấp hành Trung ương tại Viện Smolny, trụ sở điều hành cuộc Cách mạng Tháng Mười. Dân quân Bolshevik nhanh chóng nắm quyền kiểm soát các trạm điện, bưu cục, nhà băng, tổng đài điện thoại và các cây cầu ở Petrograd. Tàu tuần tiễu "Rạng Đông", do Bolshevik kiểm soát, bắn phát pháo lệnh vào Cung điện Mùa đông; các đại biểu Chính phủ Lâm thời ra mặt đầu hàng và bị bắt giữ. Mặc dù được giao trách nhiệm họp bàn với các đại biểu Bolshevik tại Đại hội Xô viết Toàn Nga lần hai về tình hình chính sự, vai trò của Stalin trong Cách mạng Tháng Mười không quá nổi bật. Trotsky và các đối thủ Bolshevik khác của Stalin lấy đây là bằng chứng để xem nhẹ đóng góp của Stalin trong cuộc đảo chính, song giới sử gia hậu thế bác bỏ điều này. Theo nhà sử học Oleg Khlevniuk, Stalin "giữ một vai trò quan trọng [trong Cách mạng Tháng Mười]... với tư cách là đảng viên Bolshevik cao cấp, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và chủ biên tờ Pravda"; nhà sử học Stephen Kotkin cũng công nhận Stalin đã có nhiều đóng góp lớn lao dẫn tới cuộc đảo chính.
Phục vụ chính quyền của Lenin.
1917–1918: Củng cố quyền lực.
Ngày 26 tháng 10 năm 1917, Lenin trở thành chủ tịch Hội đồng Dân ủy Nga Xô ("Sovnarkom"). Stalin ủng hộ quyết định của Lenin, không liên minh với phái Menshevik và Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng, song họ vẫn nhượng bộ một số vị trí cho Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng cánh tả. Stalin bấy giờ là một trong tứ trụ của chính phủ mới, bên cạnh Lenin, Trotsky, và Sverdlov; trong bốn người này, Sverdlov thường xuyên vắng mặt và qua đời vào tháng 3 năm 1919. Văn phòng của Stalin ở gần nơi làm việc của Lenin bên trong Viện Smolny; chỉ riêng ông và Trotsky có quyền ra vào phòng đọc của vị lãnh tụ mà không cần hẹn trước. Mặc dù ít tiếng tăm hơn Lenin hoặc Trotsky, ảnh hưởng của Stalin bên trong Đảng Bolshevik đang từ từ được củng cố. Ông cùng Lenin ký các sắc lệnh đóng cửa các tờ báo thù địch chính quyền cách mạng, và cùng Sverdlov chủ trì phiên họp của ủy ban tạo lập hiến pháp mới cho Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga. Ông nhiệt tình ủng hộ quyết định thành lập Cheka của Lenin, cũng như chiến dịch Khủng bố Đỏ do ủy ban mới này chịu trách nhiệm; viện dẫn rằng bạo lực nhà nước đã phục vụ đắc lực cho chính quyền tư bản, nên cũng sẽ tỏ ra hữu hiệu nếu được vận dụng bởi chính quyền Xô viết. Không giống như các đảng viên Bolshevik cao cấp khác như Kamenev và Nikolai Bukharin, Stalin chưa bao giờ e ngại trước sự lớn mạnh của Cheka và sự lan rộng của cuộc Khủng bố Đỏ.
Sau khi nghỉ việc "Pravda", Stalin được bổ nhiệm làm Dân ủy phụ trách Vấn đề Dân tộc. Ông chọn Nadezhda Alliluyeva làm thư ký riêng và cưới bà vào một thời điểm sau đó. Tháng 11 năm 1917, Stalin ký duyệt Sắc lệnh Dân tộc, trao quyền được ly khai và tự quyết cho các dân tộc thiểu số trong Đế quốc Nga. Mục đích của Sắc lệnh chủ yếu mang tính chiến lược; những người Bolshevik muốn sự ủng hộ của các dân tộc thiểu số song vẫn hy vọng họ không thực sự muốn độc lập lãnh thổ. Tháng đó, ông lữ hành tới Helsinki để trò chuyện với Đảng Dân chủ Xã hội Phần Lan, chấp nhận yêu sách độc lập của họ vào tháng 12. Ban ngành của ông cung cấp kinh phí để thành lập các cơ sở in ấn và trường học sử dụng thổ ngữ thiểu số. Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng cáo buộc các đàm phán của Stalin về liên bang và tự quyết dân tộc là bình phong cho các chính sách đế quốc chủ nghĩa và chuyên quyền của Sovnarkom.
Vì sự tiếp diễn của Thế chiến thứ nhất, theo đó Nga vẫn đang gồng mình chống Đức và Áo-Hung, chính phủ của Lenin di chuyển từ Petrograd tới Moskva vào tháng 3 năm 1918. Stalin, Trotsky, Sverdlov, và Lenin chuyển tới sống và làm việc ở Điện Kremli. Stalin ủng hộ ý kiến hòa hoãn với Liên minh Trung tâm của Lenin bằng cách đánh đổi một phần lãnh thổ. Stalin cho rằng điều này là cần thiết vì – không như Lenin – ông cảm thấy một cuộc cách mạng vô sản ở Châu Âu chưa kề cận. Lenin thuyết phục các đảng viên Bolshevik cao cấp chấp thuận ý kiến của mình, dẫn đến quyết định ký kết Hiệp ước Brest-Litovsk vào tháng 3 năm 1918. Việc nhượng đất cho Liên minh Trung tâm đã khiến dân tình Nga phẫn nộ; Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng cánh tả rút khỏi chính phủ sau sự kiện này để bày tỏ bất bình. Đảng RSDRP sau đó được đổi tên thành Đảng Cộng sản Nga.
1918–1921: Chỉ huy quân đội.
Sau Cách mạng Tháng Mười, các quân đội tả khuynh lẫn hữu khuynh dấy binh chống chính quyền mới, khơi mào cuộc Nội chiến Nga. Tháng 5 năm 1918, Sovnarkom cử Stalin tới Tsaritsyn để trông coi việc thu mua lương thảo để đảm bảo chuỗi cung ứng ở miền nam nước Nga. Nóng lòng muốn chứng tỏ tư chất chỉ huy, ông bèn nắm quyền điều hành chiến dịch của đạo Hồng quân tại đây, ngoài ra còn kết thân với hai chiến hữu là Kliment Voroshilov và Semyon Budyonny. Vì tin rằng mình có lợi thế quân số, Stalin áp dụng chiến thuật biển người để xuyên thủng hàng ngũ của phe Bạch Vệ chống-Bolshevik ở Tsaritsyn, gây tổn thất nhân mạng không đáng có. Ngoài ra, ông cũng chỉ huy một chi nhánh Cheka địa phương, ủy quyền cho họ hành quyết những người bị tình nghi là phản cách mạng, đôi khi không cần qua xét xử. Trái với quy định của chính phủ, ông cho phép Cheka thanh trừng quân đội và các cơ quan phụ trách thực phẩm của chuyên viên địa phương thuộc tầng lớp trung lưu. Sự lạm dụng chiến dịch khủng bố của Stalin vượt trên mức hạn định của các lãnh đạo Bolshevik; chẳng hạn, ông từng hạ lệnh cho đốt làng mạc để nông dân tuân thủ giao nộp lương thảo.
Tháng 12 năm 1918, Stalin được cử tới Perm để điều tra xem tại sao lực lượng Bạch vệ của Alexander Kolchak có thể càn quét căn cứ Hồng quân ở đó. Ông về Moskva khoảng giữa tháng 1 và tháng 3 năm 1919, rồi được điều sang Mặt trận Tây tại Petrograd. Khi binh lính của Trung đoàn Hồng quân 3 đào ngũ, ông đã ra lệnh xử tử nhiều kẻ để làm gương. Vào tháng 12, ông quay lại Mặt trận Nam. Trong thời chiến, ông đã chứng tỏ bản thân đối với Ủy ban Chấp hành Trung ương Đảng, phô diễn tinh thần quyết đoán, ý chí quyết tâm, và sẵn lòng lãnh trách nhiệm trong các tình huống xung đột. Tuy nhiên, ông hay bất tuân mệnh lệnh và liên tục dọa từ chức khi bị mất thể diện. Ông bị chỉ trích công khai bởi Lenin tại Đại hội Đảng lần 8 vì vận dụng chiến thuật không hợp lý, gây thiệt hại nhân mạng không đáng có. Dù vậy, chính phủ vẫn trao tặng ông Huân chương Cờ đỏ vì sự tận tâm trong Nội chiến vào tháng 11 năm 1919.
Cuối năm 1919, phái Bolshevik đã kiểm soát hoàn toàn chiến cục. Sovnarkom bèn chuyển hướng sang việc lan truyền cách mạng vô sản ra toàn cầu, thành lập Quốc tế Cộng sản vào tháng 3 năm 1919; Stalin dự lễ khai mạc của tổ chức mới này. Tuy Stalin không chung quan điểm với Lenin về cách mạng vô sản châu Âu, ông vẫn nhận thấy rằng, chừng nào Nga Xô còn đứng một mình thì nó sẽ cực kỳ yếu ớt. Tháng 12 năm 1918, Stalin chuẩn bị sắc lệnh công nhận các cộng hòa Xô viết ở Estonia, Litva, và Latvia. Những chính phủ Marxist này vốn từng bị lật đổ trong cuộc nội chiến, điều mà Stalin coi là không chính đáng. Tháng 2 năm 1920, ông được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Thanh tra Công Nông, rồi được cử tới Mặt trận Kavkaz vào cùng tháng đó.
Tiếp nối các giao tranh trước đó giữa Ba Lan và Nga, chiến tranh Ba Lan – Xô viết bùng nổ vào năm 1920, mở màn với sự kiện quân Ba Lan xâm lược Ukraina và chiếm đóng Kiev vào ngày 7 tháng 5. Ngày 26 tháng 5, Stalin được điều tới Ukraina ở Mặt trận Tây Nam. Hồng quân tái chiếm Kiev vào ngày 10 tháng 6, đánh lui quân Ba Lan về lãnh thổ của họ. Ngày 16 tháng 7, Ban Chấp hành Trung ương phê duyệt quyết định đánh lấn sang Ba Lan. Lenin tin rằng giai cấp vô sản Ba Lan sẽ nổi dậy để hỗ trợ quân Nga lật đổ chính phủ Józef Piłsudski. Stalin khá dè chứng với đánh giá của Lenin, vì ông cho rằng chủ nghĩa dân tộc sẽ khiến công nhân Ba Lan ủng hộ cuộc chiến với Nga. Ông cũng cho rằng, Hồng quân chưa có đủ trang bị để tiến hành một cuộc tổng tấn công, và điều này chẳng may sẽ giúp Quân Bạch vệ ở Krym củng cố lực lượng, rất có khả năng châm ngòi lại cuộc Nội chiến. Tuy nhiên, lập luận của Stalin không có sức thuyết phục, nên ông đành thuận theo quyết sách của Lenin. Tại Mặt trận Tây Nam, ông quyết tâm đánh chiếm Lvov; nhằm thực hiện được ý đồ này, ông bất tuân lệnh chuyển quân cho nỗ lực tấn công Warsaw của Mikhail Tukhachevsky vào đầu tháng 8.
Giữa tháng 8 năm 1920, quân Ba Lan đã đẩy lùi cuộc tiến công của Nga, và Stalin quay về Moskva để hội kiến với Bộ Chính trị. Ở Moskva, Lenin và Trotsky khiển trách thái độ của ông trong cuộc chiến với Ba Lan. Stalin cảm thấy mình bị xem thường và tủi nhục; vào ngày 17 tháng 8, ông xin từ chức quân ngũ, được chấp thuận vào ngày 1 tháng 9. Tại Hội nghị Bolshevik lần thứ 9 giữa tháng 9, Trotsky cáo buộc Stalin đã mắc phải "sai sót chiến lược" trong việc quản lí trận địa. Trotsky cho rằng Stalin đã gây tổn hại đến chiến dịch do không tuân lệnh chuyển quân. Lenin đồng tình với Trotsky, và không một ai trong cuộc họp đứng ra bảo vệ Stalin. Do vậy, ông cảm thấy bị thất sủng và ngày càng thù ghét Trotsky. Chiến tranh Ba Lan - Xô viết khép lại vào ngày 18 tháng 3 năm 1921 với việc ký kết Hòa ước Riga.
1921–1923: Cuối đời Lenin.
Chính quyền Bolshevik bắt đầu tìm cách mở rộng tầm ảnh hưởng sang các nước láng giềng. Tháng 2 năm 1921, Nga Xô viết tuyên chiến với chính quyền Menshevik ở Gruzia. Tháng 4 năm 1921, Stalin cử Hồng quân tiếp quản Turkestan. Với tư cách Dân ủy viên phụ trách vấn đề Dân tộc, Stalin tin rằng mỗi quốc gia dân tộc và nhóm sắc tộc nên có quyền được tự biểu lộ quan điểm, chủ trương đề ra khái niệm "cộng hòa tự trị" bên trong một liên bang thống nhất. Một số nhà lý luận Marxist chỉ trích Stalin vì lập trường mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa tư sản này, còn số khác lại cáo buộc ông là có quan điểm thiên vị Nga.
Dãy Kavkaz đa sắc tộc, nơi chôn rau cắt rốn của Stalin, bấy giờ lại là rào cản lớn nhất đối với chính sách dân tộc do ông ban bố. Stalin phản đối việc lập ra các nhà nước cộng hòa Gruzia, Armenia, và Azeri tự chủ, viện lý rằng các dân tộc thiểu số vẫn sẽ bị đàn áp nếu làm vậy; thay vào đó, ông kêu gọi thành lập duy nhất một nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz. Đảng Cộng sản Gruzia tuy vậy không tiếp thu ý kiến của Stalin, dẫn đến mâu thuẫn mà thường được gọi là sự vụ Gruzia. Giữa năm 1921, Stalin trở về quê nhà ở miền nam Kavkaz, nhằm khuyển nhủ các đảng viên Gruzia chớ có tư tưởng sô-vanh dân tộc chủ nghĩa mà chà đạp quyền lợi của các dân tộc thiểu số sống cạnh bên như người Abkhazia, người Ossetia, và người Adjara. Nhân tiện dịp này, Stalin thăm con trai Yakov và đưa cậu lên Moskva nuôi nấng. Tháng 3 năm 1921, Nadezhda hạ sinh con trai thứ hai của Stalin, đặt tên là Vasily.
Sau khi cuộc Nội chiến Nga kết thúc, các cuộc đình công của công nhân và các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ xuyên khắp Nga, hầu hết là để phản đối lệnh trưng thu lương thực của Sovnarkom; do vậy mà Lenin đành thông qua Chính sách kinh tế mới (NEP) vào năm 1921. Lục đục cũng bắt đầu biểu hiện bên trong Đảng Cộng sản Nga, bắt nguồn từ việc Trotsky muốn bãi bỏ các công đoàn; Lenin phản đối điều này, dẫn đến việc Stalin phải giúp thành lập một bè phái chống Trotsky bên trong Đảng.
Stalin quá thô thiển. Cái khiếm khuyết này, tuy có thể hoàn toàn chấp nhận được trong hàng ngũ của chúng ta và giữa chúng ta như những người cộng sản, trở nên không thể nào chấp nhận được trên cương vị Tổng Bí thư. Vì vậy tôi đề nghị các đồng chí hãy tìm cách loại anh ta khỏi chức vụ đó và bổ nhiệm một người có phẩm chất khác Stalin ở tất cả các bình diện, ngoại trừ bình diện cao cả duy nhất, tức là anh ta nên khoan dung hơn, lịch sự hơn và ân cần hơn đối với các đồng chí, ít thất thường hơn,
—"Di chúc Lenin" ngày 4 tháng 1 năm 1923. Tạm dịch từ bản tiếng Anh của Service (2000).
Tháng 5 năm 1922, Lenin đột quỵ, tê liệt một phần thân. Do phải dưỡng bệnh ở dacha Gorki, Lenin liên lạc với Sovnarkom thông qua Stalin, người thường xuyên đến thăm ông. Lenin từng hai lần hỏi Stalin cho ông thuốc độc để tự tử, song bị từ chối. Bất chấp tình đồng chí giữa hai người, Lenin không thích cách xử sự "Á Châu" của Stalin, từng nói với em gái Maria rằng Stalin "không sáng suốt". Về chính sách, Lenin và Stalin mâu thuẫn về vấn đề ngoại thương; Lenin tin rằng nhà nước Xô viết nên giữ độc quyền về ngoại thương, còn Stalin ủng hộ lập trường của Grigori Sokolnikov rằng làm vậy là chưa thiết thực ở thời điểm hiện tại. Một tranh cãi khác nảy sinh giữa hai người trong Sự vụ Gruzia, theo đó Lenin ủng hộ nguyện vọng thành lập Cộng hòa Xô viết Gruzia của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Gruzia, hơn là ý kiến của Stalin nhằm thành lập một Liên bang Ngoại Kavkaz.
Lenin và Stalin cũng bất đồng với nhau về bản chất của nhà nước Xô viết. Lenin kêu gọi thành lập "Liên bang các Cộng hòa Xô viết của Châu Âu và Châu Á", phản ánh mong muốn của ông nhằm lan rộng tầm ảnh hưởng của Xô viết ra hai châu lục và khuyên Nga Xô nên tham gia liên bang này với tư cách bình đẳng như các Cộng hòa khác. Stalin tin rằng điều này sẽ khiến các dân tộc phi-Nga muốn độc lập hơn, vậy nên ông đề nghị các dân tộc thiểu số gia nhập Nga Xô với tư cách "cộng hòa tự trị". Lenin phê phán Stalin vì "tư tưởng sô vanh Đại Nga", còn Stalin vu cáo Lenin có "tư tưởng tự do tư sản dân tộc". Rốt cuộc hai người họ đi đến thỏa hiệp, đổi tên liên bang mới thành "Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết" (Liên Xô). Sự khai sinh của Liên Xô được chính thức phê chuẩn vào tháng 12 năm 1922; tuy là một nhà nước liên bang trên danh nghĩa, tất cả các quyết định quan trọng đều phải được chuẩn y bởi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô ở Moskva.
Lenin và Stalin cũng nảy sinh xích mích trong đời tư; Lenin đã rất tức giận khi hay tin Stalin xỉ mắng Krupskaya qua một cuộc điện thoại. Vào năm cuối đời của Lenin, Krupskaya đã trình bày cái gọi là "Di chúc Lenin" cho một số nhân vật cấp cao, trong đó có chỉ trích thái độ thô lỗ và chuyên quyền của Stalin, đồng thời khuyến nghị miễn nhiệm chức Tổng Bí thư của ông. Nhà sử học Kotkin đã đặt nghi vấn về tính xác thực của tài liệu này, gợi ý rằng có lẽ Krupskaya đã thảo nó. Tuy nhiên phải chú ý rằng bản thân Stalin chưa bao giờ nghi vấn điều này.
Gia tăng quyền bính.
1924–1927: Kế tục Lenin.
Lenin trút hơi thở cuối cùng vào tháng 1 năm 1924. Stalin cáng đáng tang sự cho vị lãnh tụ; tại tang lễ, ông là một trong những người đứng ra khiêng tiễn linh cữu của Lenin; trái với nguyện vọng của bà Krupskaya, Bộ Chính trị quyết định bảo quản và lưu giữ thi hài của Lenin trong lăng Quảng trường Đỏ ở Moskva. Điều này dần trở thành một phần của tục sùng bái cá nhân Lenin ở Liên Xô; Petrograd được đổi tên thành "Leningrad" cùng năm. Nhằm xây dựng hình ảnh của mình như một người Leninist tận tụy, Stalin thuyết giảng chín bài giảng mang tên "Các nền tảng của chủ nghĩa Lenin" tại Đại học Sverdlov, sau được xuất bản dưới dạng sách in. Tại Đại hội Đảng lần thứ 13 vào tháng 5 năm 1924, "Di chúc Lenin" được đọc trước các đại biểu tỉnh ủy. Hổ thẹn với những lời phê bình trong đó, Stalin xin từ chức Tổng Bí thư; hành động khiêm nhường này đã cứu vãn thể diện của ông, và Bộ Chính trị cho phép ông tiếp tục đảm đương chức nhiệm.
Trên cương vị Tổng Bí thư, Stalin gần như nắm toàn quyền bổ nhiệm cán bộ, cho phép ông đưa đồng minh lên giữ các chức vụ chủ chốt trong Đảng và chính phủ. Bên trong Đảng, ông thiên vị các đảng viên trẻ tuổi có xuất thân vô sản, hơn là nhóm "Bolshevik Già", những người mà xuất thân chủ yếu từ tầng lớp trung lưu đã tốt nghiệp đại học. Bên cạnh việc tiếp xúc thường xuyên với những viên chức non trẻ, Stalin cũng gây dựng mối quan hệ thân thiết với ba thủ trưởng cảnh sát mật (Cheka và cơ quan hậu thân, Tổng cục Chính trị Nhà nước): Felix Dzerzhinsky, Genrikh Yagoda, và Vyacheslav Menzhinsky. Tháng 2 năm 1926, vợ ông sinh bé gái Svetlana.
Sau khi Lenin mất, nhiều nhân vật cốt cán nổi lên muốn được kế tục di sản của ông: bên cạnh Stalin còn có Trotsky, Zinoviev, Kamenev, Bukharin, Alexei Rykov, và Mikhail Tomsky. Stalin coi Trotsky – người mà ông có tư thù day dứt – là trở ngại chính đối với quyền lực của mình bên trong Đảng. Trên thực tế, trong những năm tháng Lenin ốm đau bệnh tật, Stalin đã xây dựng một bè phái chống Trotsky cùng Kamenev và Zinoviev. Tuy Zinoviev quan ngại về uy thế manh nha của Stalin, ông vẫn đứng sau ủng hộ Stalin làm đối trọng với Trotsky ở Đại hội Đảng lần thứ 13. Phe Đối lập cánh Tả do Trotsky lập ra cho rằng NEP đang nhượng bộ quá nhiều cho chủ nghĩa tư bản; Stalin bị gọi là một "tên hữu khuynh" vì ủng hộ chính sách này. Đáp lại, Stalin bắt đầu gây dựng một nhóm ủy viên ủng hộ mình trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, còn phe Đối lập cánh Tả dần bị gạt khỏi quyền lực. Ông chiêu mộ được Bukharin về phe mình, người mà giống Stalin, cũng tin rằng các đề xuất của phe Đối lập cánh Tả sẽ khiến Liên Xô trở nên bất ổn.
1927–1931: Phi kulak hóa, tập thể hóa, và công nghiệp hóa.
Chính sách kinh tế.
Ta đã tụt hậu so với các nước phát triển từ 50 đến 100 năm. Ta phải rút ngắn khoảng cách này trong vòng 10 năm. Hoặc là ta làm vậy, hoặc là ta bị họ đè bẹp. Đây là bổn phận mà công nhân và nông dân Liên Xô đòi hỏi ở chúng ta.
— Stalin tháng 2 năm 1931, tạm dịch theo
Nền công nghiệp của Liên Xô lúc bấy giờ thua kém hoàn toàn so với phương Tây, và thiếu hụt ngũ cốc cũng là một vấn đề nhức nhối; sản lượng ngũ cốc năm 1927 ở Liên Xô chỉ bằng 70% năm 1926. Ngoài ra, Stalin cũng lo sợ mối đe dọa từ Nhật, Pháp, Anh, Ba Lan, và Romania. Phần lớn các tổ chức của Đảng Cộng sản, trong đó có Komsomol, OGPU, và Hồng quân, đã trở nên nóng lòng muốn dỡ bỏ chính sách NEP, vì lo ngại tầm ảnh hưởng của những kẻ hưởng lợi từ chính sách này; cụ thể là tầng lớp phú nông, hay "kulak", và các chủ doanh nghiệp nhỏ, hay "NEPmani". Vào thời điểm đó, Stalin cũng tỏ ý chống chính sách NEP, lập trường mà có thể coi là "thiên tả" hơn cả Trotsky hoặc Zinoviev.
Đầu năm 1928, Stalin đi Novosibirsk, nơi ông cáo buộc kulak địa phương tàng trữ ngũ cốc, bèn ra lệnh bắt giữ kulak và tịch thu mùa vụ của họ để đem về Moskva vào Tháng 2. Theo chỉ đạo của ông, các đội trưng thu ngũ cốc được lập ra ở khắp miền Tây Siberia và ở Dãy Ural, dẫn đến xung đột với tầng lớp nông dân. Stalin ra thông cáo rằng cả phú nông lẫn trung nông đều phải miễn cưỡng giao nộp mùa vụ. Bukharin cùng nhiều ủy viên Trung ương Đảng đã rất phẫn nộ do không được thông tin về chuyện này. Tháng 1 năm 1930, Bộ Chính trị phê duyệt chính sách trừ khử tầng lớp phú nông; những kulak bị tố cáo sẽ phải lãnh án phát lưu tại các trại tập trung nơi xa xôi hẻo lánh. Nhiều trong số họ bỏ mạng trên các chuyến đi. Tới tháng 7 năm 1930, hơn 320.000 hộ gia đình đã bị ảnh hưởng bởi chính sách phi kulak hóa. Theo Dmitri Volkogonov, quá trình phi kulak hóa là "cuộc khủng bố hàng loạt đầu tiên được áp dụng bởi Stalin trong chính đất nước của ông ta."
Năm 1929, Bộ Chính trị tiến hành tập thể hóa ruộng đất nông nghiệp trên diện rộng, thiết lập hai kiểu nông trang là "kolkhozy" hợp tác xã và "sovkhoz" nhà nước. Stalin cấm phú nông tham gia hợp tác xã. Tuy trên danh nghĩa tự nguyện, nhiều nông dân thực chất tham gia hợp tác xã vì sợ phải chịu chung số phận với bọn phú nông; số khác thì bị đe dọa hoặc cưỡng ép tham gia bởi những người thân với Đảng. Tới năm 1932, khoảng 62% hộ nông gia làm hợp tác xã, và tới năm 1936 thì đã đạt 90%. Nhiều hợp tác xã viên uất ức vì mất ruộng đất tư hữu, khiến năng suất sụt giảm. Nạn đói lan rộng khắp nơi khiến Bộ Chính trị thường xuyên phải hạ lệnh tái phân phối lương thực để cứu đói nhiều vùng.
Bạo loạn vũ trang chống chính sách phi kulak hóa và tập thể hóa bùng nổ ở Ukraina, bắc Kavkaz, nam Nga, và Trung Á, lên đến đỉnh điểm vào tháng 3 năm 1930; tất cả đều bị Hồng Quân dập tắt. Stalin viết một bài báo phản biện rằng, việc tập thể hóa là hoàn toàn tự nguyện, đồng thời khiển trách thậm tệ các quan chức địa phương. Tuy Bukharin và Stalin khá thân thiết nhau, Bukharin lại rất ngờ vực chính sách của bằng hữu; sở dĩ vì Bukharin cho rằng đây là sự trở về với chính sách "cộng sản thời chiến" khi trước của Lenin và tin rằng nó sẽ thất bại. Dẫu vậy, tới giữa năm 1928, Bukharin không có đủ người ủng hộ bên trong Đảng để chống lại cải cách. Tháng 11 năm 1929, Stalin nhanh chóng bãi nhiệm Bukharin khỏi Bộ Chính trị.
Chính sách đối ngoại và văn hóa.
Năm 1928, Stalin tuyên bố rằng cuộc chiến giữa giai cấp vô sản và kẻ thù sẽ tăng cường đồng thời với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Ông cảnh báo về một "mối hiểm nguy từ phía cánh hữu" trong nội bộ Đảng Cộng sản. Phiên tòa Shakhty, vụ án dàn dựng đầu tiên ở Liên Xô, được tổ chức vào năm 1928, theo đó hàng tá "chuyên viên công nghiệp" bị kết án phá hoại. Từ năm 1929 tới năm 1930, các phiên tòa dàn dựng liên tiếp được tổ chức nhằm đe dọa phe đối lập, đáng kể như: Phiên tòa Đảng Công nghiệp, phiên tòa Menshevik, và phiên tòa Metro-Vickers. Nhận thức rõ sự nghi ngại của dân Nga đa số đối với một lãnh tụ người dân tộc Gruzia, Stalin đã cho thăng tiến nhiều quan chức Nga trong bộ máy chính phủ nhằm củng cố quyền lực, đồng thời ấn định tiếng Nga là ngôn ngữ bắt buộc ở các cấp giáo dục và nhiệm sở, sử dụng song song với các ngôn ngữ địa phương ở những nơi người Nga chiếm thiểu số. Bên cạnh đó, thái độ dân tộc chủ nghĩa thiểu số bị kiềm chế. Ngoài ra, các chính sách xã hội bảo thủ cũng được ban hành nhằm đẩy mạnh kỷ luật dân sự và thúc đẩy gia tăng dân số; chính phủ chủ trương xây dựng các đơn vị gia đình vững chắc, khuyến khích bổn phận làm mẹ của phụ nữ, tái hình sự hóa đồng tính luyến ái, hạn chế nạo phá thai và ly hôn, cũng như bãi bỏ Ban Phụ nữ "Zhenotdel" bên trong Đảng Cộng sản.
1932–1939: Những khủng hoảng lớn.
Bên trong Liên Xô, dân chúng bắt đầu nảy sinh phẫn uất với chính phủ Stalin. Bất ổn dân sự, trước đó chỉ giới hạn ở nông thôn, giờ đây đã lan lên tận đô thị, khiến Stalin phải kiềm chế các chính sách kinh tế của mình vào năm 1932. Tháng 5 năm 1932, ông cho mở các khu chợ kolkhoz nơi nông dân có thể mậu dịch nông sản thặng dư do họ sản xuất. Song song với đó, các chế tài xử phạt trở nên mạnh tay hơn; tuân chỉ của Stalin, một sắc lệnh vào tháng 8 năm 1932 được ban hành, theo đó tội trộm cắp ngũ cốc có khả năng phải lĩnh án tử hình. Như một phần của kế hoạch 5 năm lần thứ hai, chỉ tiêu đầu ra giảm mạnh so với lần thứ nhất và nhấn mạnh công tác cải thiện đời sống của nhân dân. Lần này, chính phủ chủ trương mở rộng không gian nhà ở và sản xuất hàng hóa tiêu dùng. Tuy nhiên giống như lần trước, kế hoạch lần hai cũng liên tiếp phải tu chỉnh để phù hợp với điều kiện thực tiễn; chẳng hạn như việc chú trọng vào sản xuất quốc phòng theo sau sự kiện Adolf Hitler lên làm Thủ tướng Đức vào năm 1933.
Liên Xô trải qua nạn đói lớn giai đoạn 1932–33, gieo rắc cái chết cho 5-7 triệu người. Khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Ukraina và Bắc Kavkaz; song bên cạnh đó thì Kazakhstan và nhiều tỉnh thành của Nga cũng chịu ảnh hưởng đáng kể. Giới sử học từ lâu đã tranh luận rằng chính phủ của Stalin có cố ý tạo ra nạn đói này hay không. Trên thực tế, không tồn tại bất cứ tài liệu nào chứng minh Stalin hay nội các của ông kêu gọi bỏ đói nhân dân. Vụ mùa những năm 1931 và 1932 vốn đã thất bát sẵn do nghịch cảnh thời tiết, kèm theo đó là rất nhiều vụ mùa năng suất thấp khiến nông sản đầu ra giảm thiểu. Các chính sách của chính phủ – chủ trương công nghiệp hóa nhanh chóng, xã hội hóa gia súc, và tập trung gieo trồng tại một khu vực thay vì luân canh – đã làm trầm trọng thêm vấn đề. Nhà nước cũng thất bại trong việc dự trữ ngũ cốc để đề phòng trường hợp xấu. Stalin đổ trách nhiệm cho các thành phần không tốt và phá hoại bên trong giai cấp nông dân. Chính phủ của ông cung cấp một lượng nhỏ lương thực để cứu đói các vùng bị ảnh hưởng nhưng không ăn thua, bên cạnh đó thì lại ưu tiên hàng đầu cho lực lượng lao động thành thị. Đối với Stalin, công nghiệp hóa đất nước quan trọng hơn đời sống của nông dân. Xuất khẩu ngũ cốc, bấy giờ là nguồn phí chính để chi trả cho máy móc nhập ngoại, sụt giảm mạnh. Stalin về sau không thừa nhận lỗi lầm của mình trong nạn đói mà sự tồn tại bị giấu khỏi các quan sát viên ngoại quốc.
Chính sách đối ngoại và ý hệ.
Trong năm 1935–36, Stalin giám sát công tác phác thảo hiến pháp mới; các điều khoản tự do của nó được thiết kế chỉ nhằm mục đích tuyên truyền vì quyền lực thực tế nằm hết trong tay Stalin và Bộ Chính trị. Ông hùng hồn tuyến bố: "Chủ nghĩa xã hội, giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, về cơ bản đã đạt được ở đất nước này". Năm 1938, cuốn "Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô (Bolshevik)", còn được biết đến với cái tên thông tục là "Loạt bài giảng ngắn", được ấn hành. Một loạt các tiểu sử về Stalin cũng ra mắt trong thời kỳ này, mặc dù Stalin muốn được thể hiện như một hiện thân của Đảng Cộng sản hơn là con người thật của mình. Tới năm 1938, nội các của Stalin đã ổn định, bao gồm những nhân vật thân tín mà sẽ tiếp tục gắn bó với ông cho tới cuối đời.
Mong muốn cải thiện quan hệ quốc tế, Liên Xô gia nhập Hội Quốc Liên vào năm 1934. Từ tháng 10 năm 1933, Stalin bắt đầu trao đổi bí mật với Hitler. Stalin thán phục Hitler vì đã có thể kiểm soát Đảng Quốc xã sau khi trừ khử các đối thủ chính trị trong Đêm của những con dao dài. Tuy nhiên, Stalin nhận thức rõ mối hiểm họa manh nha của chủ nghĩa phát-xít và tìm cách liên kết với các nền tự do dân chủ Tây Âu. Tháng 5 năm 1935, Liên Xô ký kết một hiệp ước tương trợ với Pháp và Tiệp Khắc. Tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản vào tháng 7 và tháng 8 năm 1935, Liên Xô khuyến nghị các đảng Marx-Lenin quốc tế liên kết với các nhóm tả khác để tạo lập mặt trận nhân dân chống phát-xít. Đáp lại, các chính phủ chống cộng của Đức Quốc xã, Ý phát-xít và Đế quốc Nhật ký kết Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản vào năm 1936.
Stalin thường ra nhiều mệnh lệnh bất nhất về áp bức nhà nước. Tháng 5 năm 1933, ông cho phóng thích nhiều phạm nhân phạm tội vặt vãnh, đồng thời chỉ đạo các cơ quan an ninh ngừng phát lệnh truy nã và trục xuất hàng loạt. Tháng 9 năm 1934, ông lập ra các ủy ban điều tra về tội tống giam người vô cớ nhưng cùng tháng đó lại hạ lệnh tử hình các công nhân tại Nhà máy Luyện kim Stalin bị buộc tội làm gián điệp cho Nhật. Các hành vi lẫn lộn này chấm dứt vào tháng 12 năm 1934 sau khi ủy viên cao cấp Sergei M. Kirov bị giết hại. Lo sợ bị ám sát, Stalin tăng cường an ninh cá nhân và hiếm khi ra ngoài gặp mặt công chúng. Đồng thời, các vụ bắt bớ tăng mạnh trở lại sau cái chết của Kirov. Tiếp theo, Stalin ban hành sắc lệnh thành lập bộ ba NKVD và trao cho họ quyền phán quyết nằm trên tòa án. Năm 1935, ông lệnh cho NKVD trục xuất các thành phần phản cách mạng khỏi các đô thị lớn; đầu năm 1935, hơn 11.000 người đã bị trục xuất khỏi Leningrad. Năm 1936, Nikolai I. Yezhov được bổ nhiệm lên vị trị thủ trưởng NKVD.
Stalin đứng sau chủ mưu các vụ bắt bớ cựu đảng viên và ủy viên Trung ương tại nhiệm; bị vu vạ tội thông đồng với phương Tây, nhiều người trong số họ đã bị tống giam hoặc phát lưu nội quốc. Phiên tòa Moskva đầu tiên được tổ chức vào tháng 8 năm 1936; Kamenev và Zinoviev bị khép tội mưu sát và kết án tử hình. Phiên toà Moskva thứ hai bắt đầu từ tháng 1 năm 1937, và phiên thứ ba từ tháng 3 năm 1938; Bukharin và Rykov bị cáo buộc liên can đến mưu đồ khủng bố của khối Trotskyite-Zinovievite và đều bị tử hình. Cuối năm 1937, hầu hết tập thể lãnh đạo cũ đã bị thanh trừng và Bộ Chính trị giờ đây nằm gọn trong tay Stalin. Bên cạnh đó, ông cũng thúc giục các đảng cộng sản khác loại trừ các thành phần không theo đường lối Stalinist.
Làn sóng áp bức tăng mạnh trở lại vào tháng 12 năm 1936 và duy trì ở mức cao cho tới tháng 11 năm 1938, thời kỳ mà còn được gọi là Đại Thanh trừng. Tháng 5 năm 1937, phần lớn ủy viên bên trong Bộ Tư lệnh Tối cao và nhiều tướng tá quân sự bị bắt giữ dựa trên các cáo buộc bịa đặt. Tới cuối những năm 1937, quá trình thanh trừng đã lan ra ngoài Đảng và ảnh hưởng đến xã hội dân sự. Tháng 7 năm 1937, Bộ Chính trị ra lệnh thanh lọc "các phần tử chống Liên Xô" trong xã hội, nhắm vào các đảng viên Bolshevik chống đối Stalin, các cựu đảng viên Menshevik và Xã hội chủ nghĩa cách mạng, giới tăng lữ, cựu binh Bạch Vệ, và phạm nhân phổ thông. Cùng tháng, Stalin và Yezhov ký duyệt Lệnh số 00447, liệt kê 268.950 cá nhân nằm trong diện truy nã và 75.950 trong đó về sau bị tử hình. Stalin tiếp tục phát động "các chiến dịch dân tộc" nhắm đến sự thanh lọc các sắc tộc thiểu số bên trong Liên Xô – tức dân Ba Lan, Đức, Latvia, Phần Lan, Hy Lạp, Triều Tiên và Hán – bằng cách dịch chuyển cư dân bên trong hoặc ra ngoài. Trong những năm tháng Đại thanh trừng, khoảng 1,6 triệu người đã bị bắt, 700.000 người bị xử bắn, và một số lượng không rõ người chết do bị NKVD tra tấn.
Thế chiến thứ hai.
1939–1941: Hiệp thương với Đức.
Trên danh nghĩa một người Marxist–Leninist, Stalin cho rằng xung đột giữa các cường quốc tư bản là không thể tránh khỏi; sau khi Đức Quốc xã sáp nhập Áo và một phần Tiệp Khắc vào năm 1938, ông nhận thấy một cuộc chiến đang kề cận. Ông muốn Liên Xô phải đứng trung lập trong trường hợp đó, hy vọng một cuộc chiến giữa Đức và liên minh Anh-Pháp sẽ tạo điều kiện cho Liên Xô bứt lên vị thế hàng đầu ở châu Âu. Về mặt quân sự, Liên Xô cũng từng phải đối mặt với mối họa Đông phương, biểu hiện bởi các cuộc đụng độ với Nhật Bản vào cuối thập kỷ 1930. Với tình hình này, Stalin chủ động chuẩn bị vũ trang, mở rộng gấp đôi quy mô lục quân giữa tháng 1 năm 1939 và tháng 6 năm 1941, nhưng vì quá nóng vội nên làm sa đà chất lượng quân sĩ. Giữa năm 1940 và 1941, ông hạ lệnh thanh trừng hàng ngũ quân sĩ, khiến quân đội lâm vào cảnh thiếu thốn sĩ quan được huấn luyện bài bản khi chiến tranh nổ ra.
Vì Anh và Pháp không muốn đặt cược vào một liên minh với Liên Xô, Stalin đã phải tìm kiếm điều này ở Đức. Ngày 3 tháng 5 năm 1939, Stalin thay thế Ngoại trưởng Maxim Litvinov, một người có tư tưởng thân phương Tây, bằng Vyacheslav Molotov. Đức bắt đầu ngồi vào bàn đàm phán với Liên Xô, đề xuất chia cắt Đông Âu thành hai mảnh. Stalin thấy đây là cơ hội để mở rộng lãnh thổ và để đạt được hòa bình tạm thời với Đức. Tháng 8 năm 1939, hai bên ký kết Hiệp ước Molotov–Ribbentrop, một hiệp ước không xâm phạm đã được bàn bạc từ trước bởi Molotov và Ngoại trưởng Đức Joachim von Ribbentrop. Một tuần sau, Đức xâm lược Ba Lan, khiến Anh và Pháp phải tuyên chiến với Đức. Ngày 17 tháng 9, Hồng Quân tiến vào Đông Ba Lan, lấy danh nghĩa là lặp lại hòa bình sau khi chính phủ nước này sụp đổ. Vào ngày 28 tháng 9, Đức và Liên Xô trao đổi một vài khu vực họ chiếm được; Đức lấy những khu vực có nhiều người nói tiếng Ba Lan gồm Tỉnh Lublin và một phần Tỉnh Warszawa, còn Liên Xô lấy Litva. Hiệp ước Ranh giới Hữu nghị Đức-Xô được ký kết ít lâu sau, với sự có mặt của Stalin. Hai nhà nước tiếp tục trao đổi thương mại như bình thường, làm phá sản kế hoạch phong tỏa Đức của Anh.
Liên Xô tiếp tục yêu sách Phần Lan nhượng bộ lãnh thổ, nhưng bị từ chối. Liên Xô bèn xâm lược Phần Lan vào tháng 11 năm 1939; tuy có lợi thế về quân số, Hồng Quân bị kìm chân bởi Phần Lan bé nhỏ. Quốc tế ủng hộ cuộc kháng chiến của Phần Lan, khiến cho Liên Xô bị khai trừ khỏi Hội Quốc Liên. Liên Xô rốt cuộc phải kết thúc chiến tranh với Hòa ước Moskva; Phần Lan tuy vậy vẫn phải nhượng bộ một phần lãnh thổ của họ. Vào tháng 6 năm 1940, Hồng Quân chiếm đóng các nước Baltic, sáp nhập với Liên Xô vào tháng 8. Hồng Quân cũng thực hiện các cuộc xâm lược Bessarabia và miền bắc Bukovina, Rumani. Liên Xô đập tắt các phong trào chống đối ở những nơi mới chiếm được bằng các chiến dịch truy bức. Một trong những ví dụ khét tiếng là thảm sát Katyn vào tháng 4 và tháng 5 năm 1940, trong đó khoảng 22.000 thành viên của lực lượng vũ trang, cảnh sát và trí thức Ba Lan bị hành quyết.
Tốc độ chiến thắng Pháp của Đức giữa năm 1940 đã khiến Stalin rất ngạc nhiên. Ông chú trọng chính sách nhân nhượng Đức để trì hoãn xung đột với họ. Sau khi Hiệp ước Ba bên được ký kết giữa các nước phe Trục gồm Đức, Nhật và Ý vào tháng 10 năm 1940, Stalin đề xuất Liên Xô cũng nên gia nhập khối này. Để tỏ thiện ý với Đức, vào tháng 4 năm 1941, Liên Xô đi đến một thỏa luận trung lập với Nhật. Tuy đã đứng ở cương vị thủ tướng "de facto" hơn một thập kỷ rưỡi, Stalin kết luận rằng mối quan hệ của Liên Xô với Đức đã tan nát đến nỗi, ông phải đích thân đảm đương chức vụ này "de jure": vào ngày 6 tháng 5, Stalin thay thế Molotov làm Thủ tướng Liên Xô.
1941–1942: Đức tấn công.
Tháng 6 năm 1941, Đức tiến hành xâm lược Liên Xô, mở màn chiến sự ở Mặt trận Đông. Mặc dù các cơ quan tình báo đã liên tục cảnh báo về nguy cơ xâm lược, Stalin rốt cuộc vẫn bị bất ngờ bởi nước đi của Đức. Ông bèn thành lập Ủy ban Quốc phòng, giữ chức Chỉ huy Tối cao của nó, và chức Tổng Tư lệnh Tối cao của lực lượng vũ trang Xô viết (Stavka). Bên cạnh đó, Georgy Zhukov được bổ nhiệm làm Tổng tham mưu Trưởng. Chiến thuật Blitzkrieg của Đức đã phát huy hiệu quả trong giai đoạn đầu của cuộc chiến; lực lượng không quân Xô viết nhanh chóng bị vô hiệu hóa trong vòng hai ngày. Wehrmacht ngày càng được nước lấn sâu vào lãnh thổ của Liên Xô. Chẳng bấy lâu, Ukraina, Belorussia và vùng Baltic đã lần lượt thất thủ trước bước tiến của quân Đức; Leningrad bị bao vây tứ phía. Làn sóng người tị nạn đổ xô về Moskva và các thành phố lân cận. Tới tháng 7, lực lượng không quân Luftwaffe mở chiến dịch oanh tạc Moskva. Tới tháng 10, Wehrmacht đã chuẩn bị mở một cuộc tổng tiến công vào Moskva. Chính phủ Liên Xô tính sơ tán đến Kuibyshev nhưng Stalin nhất quyết ở lại để cổ vũ tinh thần binh sĩ. Rốt cuộc, kế hoạch chinh phục Moskva của quân Đức bị phá sản hoàn toàn sau hai tháng chiến đấu trong điều kiện thời tiết mùa đông khắc nghiệt ở ngoại vi thành phố.
Bỏ qua những lời tham mưu của Zhukov và các vị tướng lĩnh khác, Stalin vẫn chủ trương tấn công quân Đức chứ không phòng thủ. Vào tháng 6 năm 1941, ông hạ lệnh tiến hành một cuộc tiêu thổ, phá hủy cơ sở hạ tầng và không để lọt nguồn cung lương thực vào tay Đức. Ngoài ra ông cũng tiến hành thanh lọc bộ máy chỉ huy quân sự, một số chỉ huy cấp cao đã bị giáng chức trong khi một số khác đã bị bắt và xử bắn vì đã để thua trận. Với Lệnh Số 270, Stalin đề ra mệnh lệnh rằng, bất cứ binh sỹ Hồng quân nào có hành vi đào ngũ hoặc đầu hàng địch thì đồng đội có quyền xử bắn tại chỗ và gia đình của họ sẽ bị bắt giữ. Suốt cuộc chiến, cả hai bên Đức vầ Xô đều phớt lờ các nguyên tắc kiềm chế được đưa ra trong Công uớc Geneva. Liên Xô mạnh mẽ lên án hành động thảm sát những người cộng sản, dân Do Thái và Di-gan của quân phát xít. Đồng thời, Stalin cũng khai thác triệt để tinh thần chống Đức Quốc xã của người Do Thái; vào tháng 4 năm 1942, ông quyết định tài trợ Ủy ban Do Thái chống phát xít (JAC) để thu hút sự ủng hộ của nhân dân Do Thái cũng như của quan sát viên ngoại quốc dành cho Liên Xô.
Liên Xô quyết định liên minh với hai cường quốc của phe Đồng minh là Vương Quốc Anh và Hoa Kỳ. Để phục vụ cho công cuộc kháng chiến, Liên Xô tăng cường phát triển công nghiệp ở miền trung nước Nga, tập trung gần như hoàn toàn sản xuất cho quân đội. Họ đã đạt được năng suất công nghiệp rất cao, vượt xa Đức. Trong thời gian diễn ra chiến tranh, Stalin đã tỏ ra khoan dung hơn đối với Giáo hội Chính thống Nga, ông cho phép Giáo hội tiếp tục hoạt động và đích thân ông đã có cuộc gặp gỡ với Đức Thượng Phụ Sergius vào tháng 9 năm 1943. Bài hát Quốc tế ca, vốn là quốc ca của Liên Xô từ ngày đầu thành lập, đã được Stalin thay thế bằng một bài hát khác mang tính yêu nước hơn. Quốc tế Cộng sản bị giải thể vào năm 1943, và Stalin khuyến khích các đảng Mác-Lênin nước ngoài tập trung vào chủ nghĩa dân tộc hơn là chủ nghĩa quốc tế để mở rộng hơn sự ủng hộ trong nước của họ.
Vào tháng 4 năm 1942 Stalin ra lệnh cho Hồng quân tổ chức một cuộc phản công ở miền đông Ukraine để chiếm lại Kharlov từ tay quân Đức, nhưng không thành công. Đến tháng 6 năm 1942, Quân đội Đức mở cuộc tấn công vào thành phố Stalingrad; Stalin ra lệnh cho các chiến sĩ Hồng Quân phải giữ được thành phố bằng mọi giá. Trận Stalingrad giữa Hồng quân Liên Xô và Đức Quốc xã đã diễn ra vô cùng khốc liệt. Đến tháng 2 năm 1943, sau khi Hồng quân phản công, quân Đức tại Stalingrad đầu hàng. Chiến thắng của Liên Xô trong trận Stalingrad đánh dấu một bước ngoặt lớn của cuộc thế chiến.
1942–1945: Liên Xô phản công.
Tới tháng 11 năm 1942, Liên Xô đã bắt đầu đẩy lùi quân Đức ở chiến trường miền Nam trong chiến dịch Blau và, tuy mất mát 2.5 triệu binh lính trong nỗ lực đó, Liên Xô giờ đây chiếm thế thượng phong trong phần còn lại của cuộc chiến ở mặt trận phía Đông. Đức đã nỗ lực tổ chức một trận vây bọc tại Kursk nhằm giành lại thế chủ động trên toàn mặt trận nhưng rốt cuộc bất thành. Cuối năm 1943, Liên Xô đã chiếm lại được một nửa phần lãnh thổ từng bị Đức thôn tính từ năm 1941 đến năm 1942. Sản lượng công nghiệp quân sự đầu ra của Liên Xô cũng gia tăng đáng kể từ cuối năm 1941 cho đến đầu năm 1943 sau khi Stalin cho di dời các nhà máy về phía Đông để tránh cuộc tiến công và không kích của Đức.
Ở các nước Đồng minh phương Tây, Stalin ngày càng được nhìn nhận một cách tích cực. Năm 1941, dàn giao hưởng London đã tổ chức một buổi hòa nhạc để chúc tụng sinh nhật Stalin. Thậm chí vào năm 1942, tạp chí Times đã bình chọn ông là "Nhân vật của năm". Khi Stalin biết việc nhân dân Tây Âu gọi mình bằng cái tên trìu mến là "Chú Joe", ban đầu ông đã tỏ ra bị xúc phạm vì nghĩ đó là cách gọi không đàng hoàng. Thủ tướng Anh Churchill từng bay đến Moskva hai lần để gặp gỡ Stalin, lần đầu vào tháng 8 năm 1942 và lần hai vào tháng 10 năm 1944. Trái lại, Stalin hiếm khi rời Moskva trong suốt cuộc chiến, khiến Roosevelt và Churchill rất thất vọng.
Trong tháng 11 năm 1943, Stalin đã có cuộc gặp với Churchill và Roosevelt tại Tehran, địa điểm mà Stalin đích thân lựa chọn. Tại Tehran, ba vị nguyên thủ đồng ý rằng, để ngăn chặn Đức gây hấn trong tương lai, quốc gia này cần phải bị chia cắt một lần nữa. Stalin tỏ ra thiếu kiên nhẫn và liên tục kêu gọi Mỹ và Anh phải nhanh chóng mở một mặt trận phía Tây để giảm bớt áp lực bên phía Đông; cuối cùng, phe Đồng minh cũng đáp ứng yêu cầu của Stalin vào giữa năm 1944. Stalin cũng thỉnh nguyện rằng, sau khi chiến tranh kết thúc, Liên Xô sẽ sáp nhập các vùng lãnh thổ mà họ chiếm của Ba Lan như theo Hiệp ước Molotov–Ribbentrop với Đức; điều này bị Churchill phản đối. Về số phận của vùng Balkan, Churchill vào năm 1944 đã chấp thuận kiến nghị của Stalin rằng, Bulgaria, Romania, Hungary và Nam Tư sau chiến tranh sẽ nằm dưới tầm ảnh hưởng của Liên Xô còn Hy Lạp sẽ nằm dưới tầm ảnh hưởng của phương Tây.
Năm 1944, Liên Xô đã đánh bật quân Đức ra khỏi lãnh thổ và chuẩn bị tiến công nhằm giải phóng Đông Âu. Hồng quân mở Chiến dịch Bagration chống lại Tập đoàn quân Trung tâm của Đức. Vùng Baltic vắng bóng quân Đức sau đó được tái sáp nhập vào Liên Xô. Họ tiếp tục đánh Kavkaz và Crimea; một số nhóm sắc tộc thiểu số tại đây – người Kalmyk, Chechen, Ingushi, Karachai, Balka, và Tatar Krym – bị cáo buộc thông đồng với phát xít Đức. Chính quyền Stalin sau đó đã giải tán những nước cộng hòa tự trị của họ và từ cuối năm 1943 đến đầu năm 1944, phần lớn người dân của những khu vực này đã bị trục xuất đến Trung Á và Siberia. Ước tính có hơn một triệu người đã bị trục xuất.
Tháng 2 năm 1945, ba nguyên thủ Đồng minh bắt đầu đàm phán tại Hội nghị Yalta. Roosevelt và Churchill chấp thuận yêu sách của Stalin rằng Đức sẽ phải trả Liên Xô 20 tỷ đô để bồi thường thiệt hại, đồng thời Sakhalin và Quần đảo Kurile sẽ về tay nước này như là phần đãi ngộ cho công lao đánh Nhật. Họ cũng đi tới thỏa hiệp về việc tạo lập một chính phủ Ba Lan hiệp thương hậu chiến giữa phe cộng sản và bảo thủ. Tuy vậy, Stalin âm thầm muốn Ba Lan nằm dưới sự kiểm soát của mình. Hồng quân cố tình hạn chế viện trợ cho Ba Lan trong cuộc Khởi nghĩa Warszawa vì Stalin cho rằng một phong trào vũ trang thành công của nhân dân nước này sẽ cản trở sự thành lập của một chính phủ cộng sản do ông kiểm soát. Stalin nhấn mạnh rằng Hồng quân phải đánh chiếm bằng được Berlin để có thể kiểm soát nhiều lãnh thổ châu Âu nhất có thể. Churchill ngờ vực ý đồ của Stalin và đã thúc giục, tuy không thành công, người Mỹ rằng các đồng minh phương Tây cũng nên theo đuổi mục tiêu tương tự.
Tháng 4 năm 1945, Hồng quân chinh phục Berlin, Hitler tự tử, và Đức đầu hàng vào tháng 5. Stalin đã có ý định bắt sống Hitler; trên thực tế, thi thể của Hitler được đưa về Moskva để tránh trường hợp những kẻ cuồng tín Quốc xã sẽ lấy đó làm thánh tích. Trên đường tiến vào lãnh thổ Đức, Hồng quân đã phát hiện nhiều trại tử thần của Đức Quốc xã. Các binh sĩ Liên Xô kiệt quệ cướp bóc và cưỡng bức phụ nữ ở Đông Đức và nhiều khu vực giải phóng khác. Stalin không cho kỷ luật những kẻ phạm tội. Sau khi nghe lời phàn nàn của đồng chí công sản người Nam Tư Milovan Djilas, Stalin bèn hỏi lại rằng: sau tất cả những điều đã trải qua, làm sao các binh sĩ có thể "phản ứng bình thường? Có gì quá tồi tệ khi vui vẻ với một người phụ nữ, sau tất cả những điều khủng khiếp ấy?"
Với chiến bại của Đức, Stalin chuyển sự chú ý sang cuộc chiến với Nhật và gửi nửa triệu lính sang vùng Viễn Đông. Stalin bị các đồng minh thúc ép tham chiến và ông cũng muốn củng cố các vị trí chiến lược của Liên Xô ở châu Á. Vào ngày 8 tháng 8, giữa hai vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, quân Liên Xô đã mở cuộc càn quét Mãn Châu thuộc Nhật và đánh tan Đạo quân Quan Đông. Những sự biến ấy đã buộc Nhật Bản đầu hàng và khép lại Thế chiến II. Lực lượng Vũ trang Liên Xô tiếp tục bành trướng cho tới khi chiếm được toàn bộ các lãnh thổ nhượng bộ, song Hoa Kỳ khước từ và không cho phép Liên Xô tham gia vào cuộc chiếm đóng Nhật Bản.
Stalin dự Hội nghị Potsdam vào tháng 7 và tháng 8 năm 1945, bên cạnh những người đồng cấp Anh và Mỹ, lần lượt là Thủ tướng Clement Attlee và Tổng thống Harry Truman. Tại hội nghị, Stalin nhắc lại những lời hứa trước đó của mình với Churchill, rằng ông sẽ không bắt các nước Đông Âu phải "Xô-viết hóa". Stalin bắt Đức phải bồi thường mà không cần quan tâm đến mức tiếp tế tối thiểu để bảo đảm sự sống còn của nhân dân Đức, khiến Truman và Churchill lo lắng rằng Đức sẽ trở thành gánh nặng tài chính đối với các cường quốc phương Tây. Ngoài ra, Stalin cũng thúc đẩy chính sách "chiến lợi phẩm", cho phép Liên Xô tịch thu tài nguyên của các nước bị chiếm đóng mà không hạn định về số lượng hay chất lượng; một điều khoản đã được thông qua nhằm công nhận chính sách này nhưng chỉ ở chừng mực nhất định. Đức bị chia làm bốn khu vực chiếm đóng: của Liên Xô, của Hoa Kỳ, của Anh, và của Pháp; thủ đô Berlin – vốn nằm trong vùng kiểm soát của Liên Xô – cũng bị chia làm bốn theo đó.
Thời kỳ hậu chiến.
1945–1947: Công cuộc tái thiết và nạn đói.
Với sự khép lại của cuộc chiến, Stalin đã đạt đến – theo cách nói của Service – "đỉnh cao của sự nghiệp". Ông được dân chúng Liên Xô nhìn nhận như hiện thân của chiến thắng và chủ nghĩa ái quốc. Hồng quân dưới trướng Stalin hiện đã kiểm soát toàn bộ khu vực Trung và Đông Âu, vươn tới tận giới tuyến sông Elbe. Tháng 6 năm 1945, Stalin lấy danh hiệu Đại nguyên soái Liên Xô, đứng trên lễ đài Lăng Lenin để chiêm ngưỡng cuộc diễu hành mừng chiến thắng phát-xít do Zhukov dẫn đầu ở Hồng trường Moskva. Tại yến tiệc thiết đãi các sĩ quan chỉ huy quân đội, ông đã ngợi ca người Nga là "dân tộc vượt trội" và là "lực lượng mũi nhọn" của Liên Xô; đây cũng là lần đầu tiên ông thể hiện niềm tự hào với duy nhất nhân dân Nga thay vì khối đại đoàn kết dân tộc Xô viết.
Mặc dù vị thế quốc tế của Liên Xô đã được củng cố, Stalin vẫn tỏ ra rất cẩn trọng đối với những biểu hiện bất tuân trong quần chúng nhân dân. Ông cũng lo lắng trước sự trở về của các binh lính từ tiền tuyến, cụ thể là những thành phần đã tiếp xúc với hàng tiêu dùng của Đức, cướp bóc và mang chúng trở về Nga. Điều này khiến Stalin liên tưởng tới cuộc khởi nghĩa tháng Chạp năm 1825 bởi quân sĩ Nga từ Pháp trở về sau Chiến tranh Napoleon. Stalin buộc các tù bình Liên Xô hồi hương phải thông qua các trại "thanh lọc", theo đó khoảng 2.775.700 binh lính đã bị tra vấn lòng trung thành tại các trại này và nửa số đó đã bị bắt tới các trại lao động khổ sai. Ở các nước vùng Baltic vốn ngoan cố chống đối Liên Xô, chính quyền đã tiến hành chương trình phi kulak hóa và trừ khử tăng lữ, trục xuất khoảng 142.000 người giữa các năm 1945 và 1949. Hệ thống trại lao động Gulag được mở rộng đáng kể; tới tháng 1 năm 1953, khoảng 3% dân số Liên Xô đã bị bắt vào các trại tập trung hoặc bị phát lưu tới các vùng hẻo lánh thuộc nội quốc, trong đó 2,8 triệu người bị chuyển tới các "khu cư dân đặc biệt" ở những vùng cô lập về mặt địa lý và 2,5 triệu người khác trong các trại giam, thuộc địa lưu đày hoặc nhà tù.
Theo điều tra thiệt hại của NKVD, 1.710 thị trấn và 70.000 làng mạc trên khắp lãnh thổ Liên Xô đã bị hủy diệt. NKVD ước tính 26-27 triệu thường dân Liên Xô đã thiệt mạng trong cuộc chiến, cùng hàng triệu người khác bị thương, bị suy dinh dưỡng hoặc bị mồ côi cha mẹ. Do hậu quả của cuộc chiến, các đồng nghiệp của Stalin đã kiến nghị thay đổi chính sách nhà nước. Xã hội Liên Xô thời hậu chiến được thả lỏng hơn so với thời tiền chiến ở nhiều bình diện. Stalin cho phép Giáo hội Chính thống giáo Nga quản lý các thánh đường được thành lập trước thời chiến. Giới hàn lâm và nghệ thuật được tự do biểu đạt hơn thời kỳ trước năm 1941. Nhận ra rằng cần có những biện pháp táo bạo hơn trong công tác phòng chống lạm phát và tái thiết kinh tế, chính phủ Liên Xô đã tiến hành làm mất giá đồng Rúp và bãi bỏ sổ lương thực vào tháng 12 năm 1947. Án tử hình cũng được bãi bỏ vào năm 1947, nhưng được áp dụng lại vào năm 1950.
1947–1950: Sách lược Chiến tranh Lạnh.
Sau Thế chiến II, căng thẳng giữa các nước Đồng minh bắt đầu biểu hiện, mở ra thời kỳ mới gọi là Chiến tranh Lạnh. Tuy Stalin công khai vu cáo Anh và Mỹ như những kẻ gây hấn, ông cho rằng một cuộc chiến kề cận với họ khó có thể xảy ra và tin tưởng là sẽ có nhiều thập kỷ hòa bình trước mắt. Dù vậy, Stalin vẫn bí mật tài trợ nghiên cứu bom hạt nhân.
1950–1953: Những năm cuối đời.
Sức khỏe Stalin suy kiệt trong những năm tháng cuối đời. Ông dành nhiều thời gian hơn để nghỉ dưỡng; ví dụ như trong hai năm 1950 và 1951, ông dành hẳn năm tháng tại dacha ở Abkhazia.
Ý thức hệ chính trị.
Stalin tự nhận là đã nắm chắc chủ nghĩa Marx từ khi mới 15 tuổi, coi nó như kim chỉ nam triết học cho cuộc đời của mình. Theo Kotkin, Stalin khắc ghi "sự tin tưởng Marxist nồng nhiệt", trong khi Montefiore cho rằng chủ nghĩa Marx giữ một vai trò "bán tôn giáo" trong tâm khảm của Stalin. Tuy chưa bao giờ bị thuyết phục bởi chủ nghĩa dân tộc Gruzia, quan điểm Marxist thiếu thời của ông vẫn bị trộn lẫn với các yếu tố dân tộc chủ nghĩa nhất định. Nhà sử học Alfred J. Rieber bình chú rằng Stalin được nuôi dưỡng trong "một xã hội mà các cuộc khởi nghĩa được lưu truyền qua chuyện dân gian và nghi lễ dân tộc". Ông tin rằng việc thay đổi chủ nghĩa Marx là cần thiết để thích ứng với thực tiễn; năm 1917, ông tuyên bố rằng "có chủ nghĩa Marx giáo điều và có chủ nghĩa Marx sáng tạo. Tôi ủng hộ cái sau." Volkogonov tin rằng chủ nghĩa Marx của Stalin được định hình bởi "bước ngoặt tinh thần giáo điều", bắt nguồn từ nền giáo dục tôn giáo thời ông còn học ở chủng viện. Service đánh giá rằng "các sáng kiến ý hệ mới [của Stalin] chỉ là những phát triển mang tính thô thiển, hàm hồ về chủ nghĩa Marx". Theo đó, nhiều trong số chúng xuất phát từ mưu chước chính trị của ông chứ không phải từ sự tận tâm tri thức chân thật. Stalin thường sử dụng ý hệ "post hoc" để biện minh cho các hành động của mình. Ông tự xưng là "praktik", tức một nhà cách mạng thiên về thực hành hơn lý thuyết.
Đời tư, ngoại hình và tính cách.
Vốn là người dân tộc Gruzia, Stalin nói tiếng mẹ đẻ Gruzia từ nhỏ, chỉ bắt đầu học tiếng Nga khi lên tám hoặc chín tuổi. Có nghiên cứu cho rằng Stalin thực chất là người dân tộc Ossetia vì sở hữu kiểu đơn bội di truyền G2a-Z6653, tuy nhiên ông chưa bao giờ nhận mình mang dòng máu này. Ông rất tự hào về danh tính Gruzia của mình, khi nói tiếng Nga thì lộ rõ chất giọng Gruzia. Theo Montefiore, mặc cho sự gần gũi của Stalin với văn hóa Nga, ông vẫn luôn giữ nguyên cái chất Gruzia trong tính cách và sinh hoạt hằng ngày. Một số đồng sự của Stalin miêu tả ông chứa "chất Á châu"; theo một lời kể, ông có lần từng nói với một ký giả người Nhật rằng: "Tôi không phải người Âu, mà là người Á, một người Gruzia bị Nga hóa". Service cũng ghi nhận rằng, Stalin "sẽ không trở thành người Nga", không thể được coi là người Nga và bản thân ông cũng chẳng giấu giếm gì chuyện ấy. Montefiore thì cho rằng, "sau năm 1917, [Stalin] trở thành người có bốn tộc tính: người Gruzia theo sắc tộc, người Nga theo sự trung thành, người quốc tế chủ nghĩa theo ý thức hệ, người Liên Xô theo quyền công dân."
Stalin có chất giọng nhỏ nhẹ, khi nói tiếng Nga thì chậm rãi và hết sức thận trọng trong phát biểu. Những lúc trò chuyện riêng, Stalin sử dụng ngôn từ thô tục, điều mà ông tránh khi xuất hiện trước công chúng. Được miêu tả là một diễn giả tệ, theo Volkogonov, phong cách nói chuyện của Stalin "đơn giản và thông suốt, không quá viển vông xa vời, [không dùng] từ ngữ lôi cuốn hay phô trương kịch tính thái quá". Ông hiếm khi thuyết giảng trước đồng đảo khán giả, ưa thích bộc lộ ý tứ bằng văn viết. Phong cách viết của ông cũng chẳng khác phong cách nói là mấy, đặc trưng bởi sự đơn sơ, rõ ràng và súc tích. Ông dùng rất nhiều bí danh và bút danh lúc bình sinh, bao gồm "Koba", "Soselo", "Ivanov". Riêng cái tên "Stalin" thì được ông lựa chọn và sử dụng chính thức từ năm 1912 trở đi; vốn bắt nguồn từ từ "thép" trong tiếng Nga, vậy nên cái tên này thường được dịch giải là "Người đàn ông thép".
Stalin cao khi trưởng thành. Khuôn mặt của ông có nhiều vết sẹo do hồi nhỏ mắc phải đậu mùa, đặc điểm mà thường bị xóa khỏi các ảnh chân dung. Ông sinh ra với dị tật dính ngón ở bàn chân trái. Ngoài ra, cánh tay trái của ông bị thương tích nên ngắn hơn cánh tay phải và thiếu linh động hơn. Đây có lẽ là hậu quả do ông từng bị đâm bởi một cỗ xe ngựa hồi nhỏ.
Thiếu thời, Stalin thường ăn mặc một cách lôi thôi lếch thếch, tương phản với các giá trị thẩm mỹ của tầng lớp trung lưu thời bấy giờ. Tới năm 1907, ông nuôi tóc dài và thường để râu, bận bộ trang phục "chokha" truyền thống của Gruzia hoặc một chiếc áo sa-tanh đỏ kèm theo chiếc áo choàng màu xám bên ngoài và chiếc mũ phớt đen trên đầu. Kể từ giữa năm 1918 trở đi, ông trở nên ưa thích phong cách quân đội, theo đó thường đeo đôi ủng dài màu đen, mặc chiếc áo tunic không cổ sáng màu và cầm theo một khẩu súng. Ông là người nghiện hút thuốc bằng điếu tẩu hoặc xì-gà. Ít nhất về mặt công khai, Stalin là người biết kiềm chế và sống rất đơn sơ, không sở hữu gì quá sang trọng hoặc đắt đỏ. Mối bận tâm lớn nhất của ông là sự tích lũy quyền lực về tay mình.
Stalin thường thức dậy vào khoảng 11giờ sáng, ăn trưa vào khoảng 3-5giờ chiều và ăn tối không sớm hơn 9giờ đêm, sau đó tiếp tục làm việc tới tận khuya. Ông thường xuyên dùng bữa với các ủy viên trong Bộ Chính trị và gia đình họ. Với bổn phận lãnh tụ của một đất nước, ông hiếm khi rời Moskva trừ phi đi dacha vào những ngày nghỉ. Ông ghét đi du lịch và từ chối lấy máy bay làm phương tiện di chuyển.
Trotsky và nhiều nhân vật Xô viết đối lập khác thường bôi nhọ Stalin như một người tầm thường, không có tài cán; điều thất thiệt mà đã lan ra ngoài Liên Xô khi Stalin còn sống. Theo nhà nghiên cứu tiểu sử Montefiore, "khá rõ ràng từ những nhân chứng có ác cảm lẫn thiện cảm rằng, Stalin là một nhân vật thực sự phi thường, ngay từ lúc còn nhỏ". Stalin có một đầu óc phức tạp, một sự tự chủ rất lớn, và một trí nhớ tuyệt vời. Ông làm việc rất chăm chỉ, thể hiện tinh thần ham học hỏi mãnh liệt. Khi lên nắm quyền, ông quan tâm rất kĩ lưỡng đến mọi mặt đời sống xã hội Xô viết, từ việc xem xét kịch bản phim cho đến sơ đồ kiến trúc và vũ khí quân dụng hạng nặng. Theo Volkogonov, "đời tư và công việc của Stalin là một"; ông không bao giờ nghỉ làm chính trị.
Gia đình và các mối quan hệ.
Stalin là người rất trọng tình bằng hữu; ông vận dụng nó để gia tăng và bảo vệ vị thế quyền lực của chính mình. Kotkin quan sát rằng, Stalin "thường bị thu hút bởi những người giống ông: nhất là những trí thức mới nổi có xuất thân hèn mọn". Stalin đặt biệt danh cho những người mà ông quý mến, gọi Yezhov là "mâm xôi đen" chẳng hạn. Stalin rất dễ gần và thích nghe những câu đùa vui. Theo Montefiore, tình bạn của Stalin "vơ vẩn giữa sự yêu thương, sự ngưỡng mộ, và sự đố kị chua cay". Trên thực tế, khi Stalin còn điều hành Liên Xô, ông vẫn giữ liên hệ với nhiều cố hữu ở Gruzia, gửi thư và tặng tiền họ.
Stalin không phải kiểu người trăng hoa. Theo Boris Bazhanov, thư ký một thời của Stalin, "Phụ nữ không phải mối quan tâm của ông. Người phụ nữ của riêng ông [Alliluyeva] đã là quá đủ, và ông thậm chí cũng chẳng mấy quan tâm đến bà." Tuy nhiên, Montefiore cho rằng Stalin hồi trẻ "hiếm khi nào không có bạn gái." Montefiore miêu tả mẫu hình phụ nữ lý tưởng của Stalin là "những thiếu nữ trẻ, dễ bảo hoặc những thôn nữ đẫy đà," tựu trung là kiểu phụ nữ thông cảm và không quá khắt khe với ông. Theo Service, Stalin "coi phụ nữ như một phương tiện để đạt khoái cảm tình dục và tiện nghi ở nhà." Stalin từng kết hôn hai lần và có nhiều con cái.
Stalin cưới người vợ đầu, Ekaterina Svanidze, vào năm 1906. Theo Montefiore, hôn nhân của họ "là tình yêu đích thực". Volkogonov cũng cho rằng, Svanidze "có lẽ là người đàn bà duy nhất ông thực sự yêu". Khi bà mất, Stalin được cho là đã nói: "Sinh vật này đã khiến trái tim sỏi đá của tôi phải mềm dịu." Họ có với nhau một đứa con trai tên là Yakov. Yakov sau này sinh một cô con gái, Galina, trước khi gia nhập Hồng Quân trong Thế chiến thứ hai. Anh bị bắt giữ bởi quân Đức và rồi bỏ mạng trong trại giam.
Năm 1914, khi trạc 35 tuổi, Stalin từng có mối tình với Lidia Pereprygina, khi đó mới 14 tuổi, người sau đó có thai với Stalin. Khoảng tháng 12 năm 1914, Pereprygia sinh hạ đứa bé song nó bị chết non. Năm 1916, Lidia lại có thai lần nữa. Bà sinh hạ một đứa con trai, đặt tên là Alexander, vào khoảng tháng 4 năm 1917. Stalin, khi đó vắng mặt, sau mới biết về đứa con ngoài giá thú của mình song ông không mấy quan tâm đến điều đó.
Người vợ thứ hai của Stalin là bà Nadezhda Alliluyeva; hai người họ có mối quan hệ không mấy suôn sẻ và thường xuyên cãi vã. Họ có với nhau hai đứa con ruột – con trai Vasily và con gái Svetlana, cùng một người con nuôi kể từ năm 1921, Artyom Sergeev. Không rõ trong thời gian này Stalin có ngoại tình hay không, song Alliluyeva lúc ấy phẫn uất cho rằng Stalin không chung thủy, và bà tự tự vào năm 1932. Stalin hay chê trách Vasily vì thói hư hỏng của cậu; tuy nhiên, với tư cách là con trai của Stalin, Vasily thăng tiến rất nhanh chóng trong hàng ngũ Hồng Quân và có một phong cách sống rất hoang tàng. Trái lại, Stalin rất yếu quý cô con gái Svetlana bé bỏng, và cũng rất có cảm tình với Artyom. Về sau, ông không đồng thuận với nhiều hôn phu và chồng của Svetlana, khiến quan hệ giữa hai cha con trở nên căng thẳng. Sau Thế chiến thứ hai, Stalin dành rất ít thời gian cho con cái và gia đình không còn quan trọng đối với ông nữa. Sau khi Stalin qua đời, Svetlana đổi tên họ của bà thành Alliluyeva, rồi chạy trốn sang Hoa Kỳ.
Sau khi Nadezhda qua đời, Stalin trở nên thân thiết với chị dâu Zhenya Alliluyeva; sử gia Montefiore tin rằng hai người là tình nhân. Ngoài ra cũng có một số tin đồn sau năm 1934 cho rằng Stalin từng có mối tình với bà quản gia Valentina Istomina. Montefiore cũng khẳng định rằng Stalin có ít nhất hai đứa con ngoài giá thú, tuy nhiên bản thân Stalin chưa từng thú nhận điều này. Một trong số những người con đó là Konstantin Kuzakov, từng dạy triết ở Viện Cơ học Quân sự Leningrad, nhưng chưa từng gặp mặt Stalin. Đứa con kia chính là Alexander, con trai của Lidia Pereprygina; cậu được nuôi nấng bởi một người nông dân chài lưới và bị chính quyền Liên Xô gượng ép không được khai nhận mình là con ruột của Stalin.
Nhà sử học Robert Conquest khẳng định rằng, Stalin có lẽ "định hình dòng chảy của thế kỷ thứ 20" hơn bất cứ một cá nhân nào. Các nhà viết tiểu sử như Service và Volkogonov công nhận Stalin là một chính khách nổi bật và phi thường; Montefiore coi Stalin như một "sự kết hợp hiếm hoi giữa 'trí thức' và kẻ giết người", vừa là "chính khách tột bậc", vừa là "người khổng lồ khó tả và thú vị của thế kỷ thứ 20". Theo nhà sử học Kevin McDermott, các lối diễn giải về Stalin có thể dao động từ "sự ninh nọt bợ đỡ tới sự châm chọc buộc tội." Đối với phần lớn phương Tây và một bộ phận dân Nga chống cộng, Stalin bị đánh giá tiêu cực là kẻ giết người hàng loạt. Trái lại, đối với phần lớn dân Nga và Gruzia, ông được coi là một chính khách và người kiến quốc vĩ đại.
Service cho rằng Stalin đã có công kiến thiết và ổn định hóa Liên Xô, đồng thời nhận xét rằng nếu không có Stalin thì Liên Xô chắc hẳn sẽ sụp đổ trước năm 1991. Chỉ trong vòng ba thập kỷ, ông đã biến chuyển Liên Xô thành một cường quốc công nghiệp, giúp đất nước "đạt được những thành tựu hùng vĩ" trong các lĩnh vực như đô thị hóa, quân sự, giáo dục và niềm tự hào Xô viết. Dưới sự lãnh đạo của ông, tuổi thọ trung bình của nhân dân Xô viết tăng mạnh vì điều kiện sống, dinh dưỡng và trình độ y tế được cải thiện đáng kể, đồng thời giảm thiểu tỷ lệ tử vong. Tuy vậy cũng phải chú ý rằng, đóng góp của Stalin đối với sự phát triển của nền kinh tế Liên Xô vẫn đang bị đặt nghi vấn; một số nhà nghiên cứu cho rằng các chính sách của Stalin từ năm 1928 trở đi chỉ là những nhân tố hạn chế cho sự thành công về mặt kinh tế.
Liên Xô dưới thời Stalin thường bị phán xét là một nhà nước toàn trị, với Stalin nắm giữ vị trí thủ lĩnh chuyên chế. Nhiều học giả cáo buộc Stalin là một kẻ độc tài, một kẻ chuyên quyền, một kẻ Ceaser chủ nghĩa, hoặc một tên "phát xít đỏ". Montefiore nhận định rằng, Stalin vốn đồng trị vì trong một chế độ quyền lực tập trung do Đảng Cộng sản lãnh đạo, song nó đã dần biến tướng thành một chế độ độc tài cá nhân vào năm 1934. Theo đó, Stalin chỉ mới trở thành "độc tài tuyệt đối" giữa tháng 3 và tháng 6 năm 1937, khi các nhân vật NKVD và quân đội cao cấp lần lượt bị trừ khử. Theo Kotkin, Stalin đã "xây dựng chế độ độc tài cá nhân bên trong chuyên chính Bolshevik." Ở cả Liên Xô và nhiều nơi khác, ông được nhìn nhận như một "kẻ chuyên quyền Đông phương". Dmitri Volkogonov đánh giá Stalin là "một trong những nhân vật quyền lực nhất trong lịch sử loài người." McDermott khẳng định rằng Stalin đã "thâu tóm quyền lực chính trị vô tiền khoáng hậu vào tay mình." Service thì cho rằng Stalin "đã gần đạt được chế độ chuyên quyền cá nhân hơn bất cứ một quân vương nào" vào cuối thập kỷ 1930.
Tuy nhiên, McDermott khuyên rằng ta không nên bám vào cái "khuôn mẫu đơn giản hóa quá mức" – được truyền bá qua các tác phẩm hư cấu của Aleksandr Solzhenitsyn, Vasily Grossman và Anatoly Rybakov – để mà tả Stalin như một bạo chúa toàn năng và toàn hiện, kiểm soát mọi mặt đời sống Xô-viết thông qua truy bức và chủ nghĩa toàn trị. Service cũng không mấy ủng hộ bức tranh về Stalin như một "kẻ chuyên quyền không thể bị ngăn cản", bình chú rằng "tuy đúng là ông rất quyền lực, thẩm quyền của ông vẫn có hạn", và sự trị vì của Stalin cũng phải bảo toàn cấu trúc Xô-viết mà ông kế thừa. Kotkin quan sát rằng, khả năng Stalin bám trụ quyền lực dựa rất nhiều vào đa số ủy viên chống lưng trong Bộ Chính trị. Khlevniuk cũng nhận thấy, tại nhiều thời điểm, nhất là khi Stalin đã già yếu, xuất hiện "những cuộc biểu tình định kỳ" ở chóp bu đảng, điều mà thường đe dọa đến quyền lực độc tôn của Stalin. Với giới báo chí ngoại quốc, Stalin luôn chối bỏ các cáo buộc mình là một độc tài, khẳng định những kẻ phát ngôn như vậy không có kiến thức về cơ cấu chính phủ Liên Xô.
Một kho tàng văn học đồ sộ đã ra đời để vinh danh Stalin. Sinh thời, các tiểu sử được duyệt về Stalin thường có nội dung mang tính thần thánh hóa. Stalin đảm bảo tất cả những tác phẩm này nhắc ít nhất có thể về thuở thiếu thời của ông, cụ thể vì ông không muốn hé lộ mình là người Gruzia trong một đất nước chủ yếu là người Nga. Kể từ khi Stalin qua đời, nhiều tác phẩm tiểu sử mới đã được xuất bản, song phải tới tận những năm 1980 thì sử liệu đầu tay mới trở nên phong phú hơn. Dưới thời Mikhail Gorbachev, các hồ sơ lưu trữ về Stalin được giải mật và khai mở cho các nhà sử học; Stalin khi đó trở thành "một trong những vấn đề cấp bách và quan trọng nhất đối với nghị sự công cộng" ở Liên Xô. Sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, phần còn lại của các kho lưu trữ trở nên có sẵn cho các sử gia, phô ra ánh sáng những thông tin mới về Stalin, và kích thích việc xuất bản vô số các bài nghiên cứu học thuật.
Những người Leninist tới nay vẫn còn rất chia rẽ về di sản của Stalin; một số coi Stalin như là người kế tục xứng đáng của Lenin, số khác lại cho rằng ông đã phản bội lý tưởng của Lenin. Bản chất kinh tế-xã hội của Liên Xô dưới thời Stalin cũng là một chủ đề bị tranh cãi gay gắt, với nhiều luồng diễn giải cho rằng nó là chủ nghĩa xã hội nhà nước, hay chủ nghĩa tư bản nhà nước, hay chủ nghĩa công hữu quan liêu, hay thậm chí là một phương thức sản xuất mới hoàn toàn. Các cây bút xã hội chủ nghĩa như Volkogonov thú nhận rằng, các hành động của Stalin đã gây tổn hại đến "sức quyến rũ lớn lao của chủ nghĩa xã hội được sinh ra bởi Cách mạng Tháng Mười".
Số người chết dưới chế độ Stalin.
Với tử suất quá mức dưới thời cai trị của mình, Stalin đã bị gán mác "một trong những nhân vật khét tiếng của lịch sử". Những cái chết này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: tập thể hóa, nạn đói, chiến dịch khủng bố, dịch bệnh, chiến tranh và tình trạng ngược đãi trong các trại Gulag. Tuy nhiên, vì phần lớn những cái chết này xảy ra gián tiếp, người ta khó có thể ước định một cách chính xác số lượng nạn nhân của chế độ Stalin và giới sử tới nay vẫn còn bất đồng về vấn đề này. Ngoài ra, Stalin cũng bị cáo buộc tội diệt chủng vì hạ lệnh dịch chuyển cưỡng bức dân cư bên trong Liên Xô và gây ra (vô tình hoặc cố tình) nạn đói ở Ukraina.
Tư liệu chính thức trong kho lưu trữ của Liên Xô ghi nhận 799.455 vụ tử hình giữa năm 1921 và 1953; 681.692 vụ trong đó xảy ra giữa năm 1937 và 1938, tức trong Đại thanh trừng. Theo nhà nghiên cứu Michael Ellman, ước lượng hiện đại chính xác nhất về số người chết trong Đại thanh trưng là 950.000–1,2 triệu, bao gồm các hoàn cảnh như bị xử tử, bị biệt giam, hay sau khi được thả. Thêm vào đó, tuy dữ liệu lưu trữ cho biết có 1.053.829 người chết trong các trại Gulag từ năm 1934 tới năm 1953, đồng thuận sử học hiện tại cho rằng trong số 18 triệu người từng lưu chuyển qua hệ thống Gulag từ năm 1930 tới năm 1953, thì chỉ 1,5 tới 1,7 triệu người chết. Sử gia Stephen G. Wheatcroft và Ellman quy kết con số 3 triệu người chết cho chế độ của Stalin thông qua các vụ hành quyết và bỏ bê tù nhân. Wheatcroft và R. W. Davies ước lượng số người chết vì nạn đói vào khoảng 5,5–6,5 triệu, trong khi Steven Rosefielde đưa ra con số 8,7 triệu.
Năm 2011, sử gia Timothy D. Snyder tổng kết dữ liệu hiện đại sau khi kho lưu trữ Liên Xô được khai mở vào những năm 1990 và khẳng định chế độ của Stalin phải chịu trách nhiệm cho 9 triệu cái chết, trong đó 6 triệu bị giết có chủ đích. Snyder cho rằng con số 20 triệu hoặc hơn, vốn là ước tính trước khi kho lưu trữ mật được khai mở, hoàn toàn không đáng tin.
Tại Liên Xô và các quốc gia hậu Xô viết.
Ít lâu sau khi Stalin qua đời, Liên Xô trải qua thời kỳ phi Stalin hóa. Malenkov tố cáo sự sùng bái cá nhân đối với Stalin, rồi tới lượt báo "Sự thật" cũng ra tay chỉ trích. Vào năm 1956, Khrushchev đọc "diễn văn bí mật" với nhan đề "Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó" tại phiên họp kín của Đại hội Đảng lần thứ 20. Tại đây, Khrushchev lên án sự áp bức chính trị và sùng bái cá nhân dưới thời Stalin. Ông nhắc lại những lời này tại Đại hội Đảng lần thứ 22 vào tháng 10 năm 1962. Vào tháng 10 năm 1961, thi hài Stalin bị đưa ra khỏi Lăng Lenin và chôn cất tại Nghĩa trang tường Điện Kremli, nơi hiện có một bức tượng bán thân của ông. Theo đó, Stalingrad bị đổi tên thành Volgograd.
Quá trình phi Stalin hóa dưới thời Khruschev chấm dứt sau khi Leonid I. Brezhnev lên nắm quyền vào năm 1964; nhà lãnh đạo mới đã phần nào tái thiết hình tượng Stalin ở Liên Xô. Vào năm 1969 và một lần nữa vào năm 1979, các kế hoạch đã được vạch ra nhằm khôi phục danh tiếng cho di sản của Stalin, song chúng đều bị trì hoãn vì lo sợ làm tổn hại hình ảnh công chúng của Liên Xô. Gorbachev cảm thấy việc tố cáo Stalin là cần thiết đẻ chữa lành xã hội Liên Xô. Sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, tổng thống đầu tiên của Liên bang Nga, Boris N. Yeltsin, tiếp tục bôi đen Stalin như thời kỳ Gorbachev nhưng thêm vào đó là cả Lenin. Tổng thống kế vị Vladimir V. Putin không bào chữa cho Stalin, mà chú trọng vào việc tôn vinh công lao của Stalin. Vào tháng 10 năm 2017, Putin cho khánh thành đài tưởng niệm Bức tường Sầu bi tại Moskva, phát biểu rằng "quá khứ tồi tệ" sẽ không thể "được bao biện bởi bất cứ thứ gì" hay "bị tẩy trắng khỏi ký ức dân tộc." Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2017, Putin bày tỏ rằng "chúng ta không nên quên đi sự khủng khiếp của chủ nghĩa Stalin", song lại lên án sự bôi nhọ thái quá đối với Stalin "như một công cụ để tấn công Liên Xô và Nga". Trong những năm gần đây, chính phủ và dư luận Nga đã bị cáo buộc là có ý đồ khôi phục hình tượng Stalin.
Giữa triền miên những biến cố xã hội và kinh tế thời kỳ hậu Xô viết, phần đông dân Nga coi Stalin như một biểu tượng của trật tự kỷ cương, của sự nhìn xa trông rộng và niềm tự hào kiêu hãnh. Ông là nhân vật vẫn được tôn sùng bởi những người dân tộc chủ nghĩa Nga, những người hoài niệm về sự chiến thắng của Liên Xô trước Đức Quốc xã trong Thế chiến II. Hơn thế, cả hai phe chính trị cực tả và cực hữu ở Nga đều lấy ông làm hình mẫu cho ý thức hệ của mình.
Thăm dò ý kiến công chúng của Trung tâm Levada cho thấy danh tiếng của Stalin đã lớn mạnh kể từ năm 2015, với 46% người dân Nga bày tỏ thái độ tích cực đối với Stalin vào năm 2017, và 51% vào năm 2019. Trong một cuộc thăm dò dư luận vào năm 2021, tận 70% người dân Nga thể hiện thái độ tích cực đối với Stalin. Cùng năm, một khảo sát của Trung tâm cho thấy Stalin được 39% dân chúng Nga chấp thuận như một "hình tượng quốc gia dân tộc kiệt xuất nhất của mọi thời đại" và, tuy rằng không nhân vật lịch sử nào chiếm đa số, Stalin rõ ràng vẫn đứng đầu, theo sau bởi Vladimir Lenin với 30% và thi sĩ Alexander Pushkin với 23%. Văn học Nga thời kỳ này cũng chứng kiến sự đi lên của các tác phẩm ca ngợi Stalin, thường dựa trên sự không trung thực trong việc dẫn nguồn đầu tay. Trong đó, các cuộc truy bức của Stalin thường được xem như biện pháp cần thiết nhằm tiêu diệt "Kẻ thù của nhân dân", hoặc thậm chí đổ thừa trách nhiệm cho các quan chức địa phương.
Khu vực hậu Xô-viết cuối cùng ngoài Nga còn ngưỡng mộ Stalin rộng rãi đó là Gruzia, tuy thái độ chung của dân nước này vẫn khá lẫn lộn. Một bộ phận người Gruzia rất không bằng lòng với các chỉ trích về Stalin, nhân vật lịch sử nổi tiếng nhất trong lịch sử hiện đại của đất nước họ. Một khảo sát năm 2013 của Đại học Nhà nước Tbilisi cho thấy, 45% người dân Gruzia có "một thái độ tích cực" đối với Stalin. Một khảo sát năm 2017 của Trung tâm Nghiên cứu Pew khẳng định, 57% người dân Gruzia cảm thấy Stalin đã có những đóng góp tích cực cho quốc gia của mình, so với 18% những người cảm thấy thế đối với Gorbachev.
Ngoài hai nơi đó ra cũng có một số người bày tỏ thiện cảm đối với Stalin. Một khảo sát năm 2012 của Quỹ Carnegie tìm thấy 38% người dân Armenia đồng tình với ý kiến cho rằng, họ "luôn cần một nhà lãnh đạo như Stalin." Đầu năm 2010, một tượng đài Stalin mới đã được dựng lên ở Zaporizhzhia, Ukraina. Vào tháng 12 năm 2010, một nhóm người không xác định đã chém đầu nó và vào năm 2011 thì bức tượng bị trúng đạn pháo. Trong một cuộc thăm dò dư luận của Viện Xã hội học Quốc tế Kyiv vào năm 2016, 38% người tham gia bày tỏ thái độ tiêu cực đối với Stalin, 26% có ý kiến trung lập và 17% có thái độ tích cực, 19% còn lại từ chối trả lời.
|
Yến Vy (sinh năm 1979) là một nữ diễn viên và ca sĩ Việt Nam, nổi tiếng vì scandal vào năm 2005 khi một đoạn phim quay cảnh quan hệ tình dục của cô bị phát tán rộng rãi. Ngay sau đó, cuối năm 2005, Yến Vy lại bị phát hiện tham gia đường dây mại dâm cao cấp với mức giá bán dâm lên tới 700 - 1.000 USD/đêm, một số tiền rất lớn ở thời điểm đó.
Yến Vy tên thật là Đinh Thoại Yến Vy. Năm 1997 cô đoạt danh hiệu Á hậu tại cuộc thi Triển vọng điện ảnh của Hội Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức. Cô có tham gia một số bộ phim. Yến Vy cũng tham gia vào lĩnh vực ca hát, nhưng cô được nhắc tới với một scandal nhỏ cùng nhạc sĩ Trần Minh Phi. Trả lời trên báo chí, Yến Vy tỏ ra là một người khá nghiêm túc: "sợ đóng những cảnh hôn".
Đầu năm 2005, một đoạn phim khoảng 30 phút quay cảnh quan hệ tình dục của Yến Vy và bạn trai là Phan Thanh Tòng bị phát tán trên Internet. Đây là lần đầu tiên một phim sex của nghệ sĩ bị phát tán rộng rãi ở Việt Nam. Từ một diễn viên ít có danh tiếng, Yến Vy xuất hiện trên khắp các mặt báo và các phương tiện truyền thông đại chúng.
Sự kiện Yến Vy gây ra những dư luận trái ngược. Nhiều người cho rằng Yến Vy là một kẻ phóng đãng, sống buông thả, theo một số khác bênh vực thì cô chỉ là nạn nhân. Trả lời phỏng vấn, Yến Vy cho rằng cô bị quay trộm và cùng luật sư của mình, Yến Vy đâm đơn kiện Phan Thanh Tòng .
Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó Yến Vy bị phát hiện có tham gia một đường dây gái gọi cao cấp do Trần Thị Phố cầm đầu. Theo lời khai của Yến Vy, cô đã bán dâm nhiều lần với giá từ 700 đến 1.000 đô la, thậm chí sau khi bộ phim bị phát tán, cô vẫn đi khách. Yến Vy bị đưa về Trung tâm Dạy nghề Phụ nữ quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tập trung theo diện phục hồi nhân phẩm. Một thời gian sau cô được trả về địa phương .
Cha của Yến Vy vốn là một nhà giáo hiền lành, vì quá đau buồn trước những tai tiếng của con gái nên chỉ biết dùng rượu giải sầu và qua đời khi vừa bước qua tuổi 50. Sau cái chết của người cha mà chính cô là nguyên nhân gián tiếp gây ra, gia đình Yến Vy chuyển nhà đi nơi khác, cô rời bỏ giới văn nghệ, theo mẹ học nghề may.
Năm 2009, Yến Vy lập gia đình. Chồng của cô, Nguyễn John Ngọc, là một Việt kiều và là một hàng xóm cũ của gia đình. Sau đó, cô cùng chồng sang Mỹ định cư, mở một tiệm nail ở Mỹ.
|
Chi Cỏ tai tượng
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Chi Cỏ tai tượng hay gọi ngắn gọn là chi Tai tượng (Acalypha) (từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là "tầm ma", nhưng trong tiếng Việt thì tầm ma lại là từ để chỉ chi Urtica) là một chi thực vật thuộc họ Đại kích (Euphorbiaceae) và là chi duy nhất trong phân tông Acalyphinae. Với khoảng 450-500 loài từ cây thân thảo tới cây bụi, chi này chỉ đứng sau các chi "Euphorbia", "Croton" và "Phyllanthus" trong sự đa dạng. Cây tai tượng đuôi chồn ("Acalypha hispida"), được trồng như là một loại cây cảnh trong nhà do hoa sặc sỡ và đẹp, có lẽ là loài được biết đến nhiều nhất. Các loài khác được trồng để lấy lá. Một số loài được dùng làm thuốc trong Đông y.
Các loài trong chi này chủ yếu sinh trưởng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (nhưng không thấy có ở Hawaii và một vài đảo khác trên Thái Bình Dương), và chỉ có một ít loài sinh sống ở vùng ôn đới. Tại châu Mỹ có khoảng 2/3 các loài đã biết, phân bổ từ miền nam Hoa Kỳ tới Uruguay và miền bắc Argentina.
Các tên gọi các chi sau có thể coi là từ đồng nghĩa với "Acalypha":
Một số loài được liệt kê dưới đây.
|
Hồ Thượng (Hồ Superior, còn được gọi là "Gichigami" trong tiếng Ojibwa), kề cận với tỉnh Ontario (Canada) và tiểu bang Mỹ Minnesota về phía bắc và với hai tiểu bang Wisconsin và Michigan về phía nam, là hồ lớn và sâu nhất của Ngũ Đại Hồ ở Bắc Mỹ và lớn thứ ba thế giới (sau biển Caspi và hồ Baikal).
Nhưng nó được gọi là "Gichigami" ("nước lớn") trong tiếng Ojibwa, nhưng hồ này nổi tiếng hơn dưới tên "Gitche Gumee" do "Thơ ca Hiawatha" của Henry Wadsworth Longfellow. Các nhà thám hiểm Pháp đặt tên "lac Supérieur" (hồ Thượng) cho hồ này vì nó là hồ cực bắc của Ngũ Đại Hồ.
Hồ Thượng là hồ nước ngọt lớn nhất trên thế giới theo diện tích mặt nước, hồ Baikal ở Siberia lớn hơn theo thể tích. (Hồ Tanganyika ở miền trung Phi Châu có thể tích ước lượng là 18.900 km³, còn biển Caspi, trong khi nó lớn hơn, chứa đựng nước biển.)
Hồ Thượng có diện tích mặt nước là 82.100 km² (hay 31.700 dặm vuông) – lớn hơn tiểu bang Nam Carolina. Chiều dài của nó tới 563 km (350 dặm) và chiều ngang cực đại là 257 km (160 dặm). Độ sâu trung bình của nó là 147 m (483 foot) và độ sâu cực đại là 406 m (1.332 foot). Hồ Superior chứa đựng 12.232 km³ nước (2.935 dặm khối nước). Bờ biển của hồ này kéo dài là 4.385 km (2.726 dặm), khi tính vào bờ biển của các đảo nằm trên hồ. Độ cao của hồ này là 183 m (602 foot) trên mặt biển.
|
Chi Cỏ roi ngựa
Chi Cỏ roi ngựa (danh pháp khoa học: Verbena) là một chi của khoảng 250 loài cây một năm và lâu năm có thân thảo thuộc về họ cỏ Roi ngựa (Verbenaceae). Phần lớn các loài có nguồn gốc ở khu vực Tân Thế giới từ Canada kéo dài về phía nam tới miền nam Chile, nhưng có một vài loài có nguồn gốc ở khu vực Cựu Thế giới, chủ yếu ở châu Âu ("V. officinalis, V. supina").
Thông thường lá của chúng mọc đối, là loại lá đơn, và ở nhiều loài có lông tơ, thường là dày dặc. Hoa nhỏ, có màu trắng, hồng, tía hay lam, với 5 cánh hoa, và mọc thành cụm dày dặc.
Sử dụng và huyền thoại.
Cỏ roi ngựa được cho là có tính chất làm tăng tiết sữa. Huyền thoại dân gian còn cho rằng cây cỏ roi ngựa thông thường ("V. officinalis") đã được dùng để cầm máu tại các vết thương cho Giê-su sau khi ông được đưa ra khỏi thánh giá.
|
Hoa phổi là tên gọi chung để chỉ một số loài thực vật có hoa thuộc chi "Verbascum" trong họ Huyền sâm (Scrophulariaceae).
Hiện nay, người ta biết khoảng 250 loài hoa phổi khác nhau, có nguồn gốc ở châu Âu và châu Á, cụ thể là khu vực Địa Trung Hải. Một số loài đã được đưa vào châu Mỹ, Australia và Hawaii (và trong một số trường hợp đã hợp thủy thổ của khu vực).
Loài được biết đến nhiều nhất trong chi này là hoa phổi thường ("V. thapsus"), nó được sử dụng như là một loại thuốc để điều trị các chứng đau họng, ho và bệnh phổi.
Hoa phổi cũng là thành phần hoạt hóa trong nhiều loại thuốc hút thay thế cho thuốc lá.
|
Công viên La Villette
Công viên La Villette nằm ở quận 19 là công viên lớn nhất của thủ đô Paris, Pháp với diện tích là 25 ha, (diện tích không gian cây xanh lớn nhất của Paris là Nghĩa địa Père-Lachaise). Công trình được xây dựng vào năm 1985, hoàn thành năm 1991.
Lịch sử của công viên bắt đầu từ năm 1867, dưới quyết định của Napoléon III. Năm 1974, dự án "Thành lập công viên công cộng La Villette" bắt đầu. Nhiệm vụ của dự án là tái sử dụng khu diện tích đất công nghiệp bị bỏ hoang này thành một công viên độc nhất vô nhị. Dự án này lớn đến mức người ta mở một cuộc thi kiến trúc quốc tế vào năm 1982 với tổng số 460 nhóm dự thi từ 41 quốc gia tham dự. Người thắng cuộc là kiến trúc sư Bernard Tschumi, một kiến trúc sư theo trường phái giải tỏa kết cấu. Đồ án của ông đã thỏa mãn ba yêu cầu đặt ra: tính nghệ thuật, tính văn hóa, và tính đại chúng.
Công trình được coi là hình mẫu điển hình của kiến trúc công viên thế kỷ 20.
Đặc điểm cơ bản của công viên là tầm nhìn không bị ngắt quãng suốt dọc từ bắc xuống nam. Xương sống của công viên là lối đi dạo dài 3 km với gian triển lãm ngoài trời phủ tôn đỏ lượn sóng nối suốt dọc từ cổng La Villette đến cổng Pantin. Hai bên lối đi dạo là 10 khu vườn được thiết kế theo các chủ đề khác nhau. Đây cũng là các không gian sân chơi hoặc nhà hát ngoài trời. Một hệ thống các công trình màu đỏ chạy khắp công viên được mang tên "Sự điên rồ" ("Folies") dung hòa giữa yêu cầu vui chơi giải trí và các hoạt động văn hóa. Ngoài ra, có rất nhiều các tác phẩm điêu khắc ngộ nghĩnh và thú vị được đặt trong công viên. Hàng năm, thành phố Paris tổ chức khoảng chừng 16 cuộc hoạt động văn hóa trong công viên với khoảng 1500 nghệ sĩ và 600 các tiết mục biểu diễn.
Với diện tích khoảng 88000 m2 bãi cỏ, 60 loại cây khác nhau với tổng số khoảng 3220 cây, 160 trò chơi cho trẻ em và 35 km bờ kênh và nhiều phòng trưng bày, người ta ước tính chừng khoản 3,2 triệu khách đến công viên mỗi năm. Công viên La Villette mở cửa hàng ngày từ 6:00 :00
Các điểm tham quan.
Các nhà bảo tàng trong công viên, phòng hòa nhạc, sân khấu biểu diễn trực tiếp, và nhà hát, cũng như sân chơi cho trẻ em, và 35 kiến trúc phá cách. Chúng bao gồm:
|
Phạm Quỳnh (chữ Hán: 范瓊; 17 tháng 12 năm 1892 - 6 tháng 9 năm 1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi (尚之), bút danh: Hoa Đường (華堂), Hồng Nhân.
Ông được xem là người có quan điểm ủng hộ việc tự trị của Việt Nam dưới sự bảo hộ của Pháp, việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), và kiên trì chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến. Tuy nhiên, ông cũng bị nhiều người đương thời chỉ trích vì thái độ thân Pháp và cộng tác với chính quyền thực dân Pháp.
Phạm Quỳnh sinh tại số 17 phố Hàng Trống, Hà Nội; quê quán ở làng Lương Ngọc (nay thuộc xã Thúc Kháng), phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, một làng khoa bảng, có truyền thống hiếu học. Mồ côi mẹ từ 9 tháng tuổi, mồ côi cha từ khi lên 9 tuổi, Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học.
Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng, đỗ đầu bằng Thành chung (tốt nghiệp) Trường trung học Bảo hộ (tức Trường Bưởi, còn gọi là trường Thông ngôn).
Hoạt động báo chí, văn hóa xã hội.
Năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc ở Trường Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội lúc vừa tuổi 16.
Từ năm 1916, ông tham gia viết báo cho một số tờ có uy tín đương thời; làm chủ bút kỳ cựu của "Nam Phong tạp chí" từ ngày 1 tháng 7 năm 1917 cho đến năm 1932; tuyên truyền cho tư tưởng "Pháp Việt đề huề".
Cũng trong thời kỳ 1924–1932, ông còn là giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội.
Ngày 2 tháng 5 năm 1919, ông sáng lập và là Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến Đức, Trần Trọng Kim là Trưởng ban Văn học của Hội; và Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ.
Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục.
Năm 1924, ông được mời làm giảng viên Khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt, Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo "France - Indochine".
Từ năm 1925–1928, Phạm Quỳnh là Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ; năm 1926 ông làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ và đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương.
Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ.
Năm 1931, ông được giao chức Phó Hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932, giữ chức Tổng Thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.
Thượng thư Nam triều.
Ngày 11 tháng 11 năm 1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua thay Khải Định, ông được triều đình nhà Nguyễn triệu vào Huế tham gia chính quyền, thôi không làm chủ bút Nam Phong tạp chí nữa. Tại Huế thời gian đầu ông làm việc tại Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1942–1945).
Trong một bài viết trên báo "Sông Hương", ông đã đả phá Trần Trọng Kim và các sử gia phong kiến khi cho Triệu Đà là vua của nước Nam. Theo ông, "Quốc sử phải lấy dân tộc làm nền", "sử gia phong kiến tôn y (Triệu Đà) là ông vua khai quốc, ấy là đã làm một việc vô nghĩ, và cũng bởi cái chủ nghĩa ấy khích thích nên tôi mới viết bài này".
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Ông lui về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam, Huế.
Ngày 25 tháng 8 năm 1945, dân quân Việt Minh bắt được một nhóm biệt kích Pháp, trong đó có mật lệnh liên lạc với Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi để được hỗ trợ chống lại chính quyền cách mạng. Phạm Quỳnh bị Phan Hàm và Võ Quang Hồ bắt giữ theo lệnh khẩn của Mặt trận Việt Minh và áp giải ra khỏi Huế cùng với Ngô Đình Khôi (anh cùng cha khác mẹ với Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (con trai của Ngô Đình Khôi). Ba người bị xử bắn không lâu sau đó
Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú, và được cải táng ngày 9 tháng 2 năm 1956 tại Huế, trong khuôn viên chùa Vạn Phước.
Phạm Quỳnh được coi là người đi tiên phong trong việc dùng tiếng Việt để viết lý luận. Dương Quảng Hàm đánh giá các công trình của ông là đã "luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới".
Trước đây, cũng có nhiều người cho rằng ông gắn bó với các chủ trương chính trị của thực dân Pháp. Ông bị coi là "ru ngủ" thanh niên trí thức trong cái "hồn nước" mơ hồ, khiến họ đi chệch khỏi chí hướng làm cách mạng chống Pháp. Trong một thời gian dài, quan điểm chính thống của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam gọi ông là tay sai đắc lực của Pháp.
Kể từ năm 2000, nhiều tác phẩm của Phạm Quỳnh đã được xuất bản tại Việt Nam:
Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên - con trai của học giả Phạm Quỳnh, vào mùa thu năm 1945, Hồ Chí Minh đã nói với hai người chị của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức rằng: "Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng".
Ngày 28 tháng 5 năm 2016, hội đồng họ Phạm Việt Nam phối hợp cùng gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên tổ chức lễ khánh thành công trình trùng tu mộ phần và dựng tượng Phạm Quỳnh tại Thành phố Huế. Bức tượng bán thân Phạm Quỳnh do chính người cháu ngoại của ông là kiến trúc sư Tôn Thất Đại thiết kế với chiều cao 60 cm, bề ngang 50 cm, được đặt ở bục cao gần 2 m nằm ngay sau ngôi mộ ông ở trước chùa Vạn Phước (phường Trường An, Thành phố Huế). Phía trước bia mộ được ốp tấm bia đá đen khắc ghi câu nói nổi tiếng của ông: "Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn nước ta còn".
Ông là tác giả và dịch giả nhiều bài viết và sách văn học, triết học, cách ngôn, ngụ ngôn, tuồng hát tiếng Pháp dịch ra tiếng Việt và tùy bút. Gần như toàn bộ các tác phẩm của ông đều đăng trên tạp chí Nam Phong. Nhiều bài sau đó in lại thành sách do Đông Kinh ấn quán ở Hà Nội xuất bản.
Các tác phẩm của ông có thể chia làm ba loại:
Bao gồm các tác phẩm luận thuyết, phương pháp luận, sách cách ngôn, kịch bản và thơ vă, chủ yếu thiên về triết học, như triết học của Descartes. Tuy nhiên, ông cũng có dịch một số tác phẩm nghệ thuật như kịch của Corneille.
Phần quan trọng nhất trong các tác phẩm của Phạm Quỳnh là các tác phẩm khảo cứu. Ông nghiên cứu trong các sách chữ Nho, sách tiếng Pháp, và viết lại những bài chuyên khảo bằng tiếng Việt. Có ba ngành ông chú trọng là:
Nhiều tác phẩm của ông liên kết những học thuật Âu Tây và phân tích, so sánh chúng với các khái niệm quen thuộc của người Việt Nam. Như trong bài "Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng" ông có phần phân tích và so sánh giữa quan niệm người quân tử của đạo Khổng và người "chính nhân" (là chữ ông dùng cho "l'honnête homme") trong văn hóa Pháp. Hay như ông có những bài "Văn hóa Pháp đối với tiền đồ nước Nam" hoặc "Công cuộc chấn chỉnh quốc gia ở nước Pháp và khôi phục cổ điển ở nước Nam".
Ông viết nhiều du ký ghi lại những điều quan sát, nhận định, nghị luận trong các chuyến du lịch đi Pháp và đi các vùng đất Việt Nam như:
Về sách in sau này ở Việt Nam.
Ngoài sáu cuốn xuất bản sau này tại Việt Nam thì còn có cuốn "Hành trình nhật ký" in lần thứ hai tại San Jose, Hoa Kỳ vào năm 2002 (in thành sách lần thứ nhất tại Paris năm 1997) gồm các du ký: "Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ và Pháp du hành trình nhật ký". Sách do bà Phạm Thị Hoàn (sinh 1926) là con gái Phạm Quỳnh đứng bản quyền.
Ông có một người vợ là bà Lê Thị Vân (1892-1953) và 16 người con (3 người mất từ nhỏ). Trong đó:
Ngày sinh và mất.
Theo ông Nguyễn Thọ Dực, Trưởng ban Cổ văn, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có được Phạm Quỳnh cho biết ngày sinh để nhờ lấy số tử vi là ngày 13 tháng 12 năm Nhâm Thìn, tức ngày 30/1/1893. Không ai cho ngày sinh sai để lấy số tử vi cả. Cho nên, ngày này là chính xác nhất trong số các ngày sinh đã được biết của Phạm Quỳnh khai ở nơi này nơi khác.
|
Chi Húng quế hay chi É (Ocimum) là một chi thực vật có khoảng 35 loài cây thân thảo hay cây bụi sống một năm hoặc lâu năm có hương thơm, thuộc về họ Hoa môi (Lamiaceae), có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và ôn đới ấm của Cựu Thế giới.
"Ocimum basilicum" (húng quế) là một loại cây gia vị có tầm quan trọng trong ẩm thực, xem trang viết về loài này để có thêm chi tiết.
"Ocimum tenuiflorum" (hương nhu tía) là một loại cây thần thánh ở Ấn Độ nhưng không được sử dụng nhiều cho các mục đích nấu ăn. Được biết dưới tên gọi tulsi, loài cây này được dùng để thờ cúng thần Vishnu trong một số bộ phận của đạo Hin đu. Một loại trà làm từ lá cây này được sử dụng làm thuốc chữa cảm lạnh ở Ấn Độ.
Húng chanh, cây lai giữa "Ocimum americanum" với húng quế, là một thành phần phổ biến trong ẩm thực Thái Lan với hương vị mạnh tương tự như mùi của đại hồi, được dùng để tạo hương vị trong các món cari và các món xào.
"Ocimum americanum" (từ đồng nghĩa "Ocimum canum") có nguồn gốc ở châu Phi, mặc dù tên gọi của nó dễ làm cho người ta nghĩ đến nguồn gốc châu Mỹ.
Các loài trong chi "Ocimum" bị ấu trùng của một số loài thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) phá hoại, chẳng hạn "Endoclita malabaricus".
|
Kiến trúc thời kì đồ đá
Ở Tây Nam Á, thời kì đồ đá trong lịch sử kiến trúc bắt đầu từ khoảng 10000 năm trước Công nguyên ở vùng Cận Đông ("levant"), từ thời kì Tiền đồ sứ Đồ đá mới A và Tiền đồ sứ Đồ đá mới B ("Pre-Pottery Neolithic A/Pre-Pottery Neolithic B") và mở rộng ra hướng đông và hướng tây. Thời kì văn minh Đồ đá mới ở Đông nam Anatolia, Syria và Iraq vào khoảng 8000 năm trước Công nguyên. Hình thái xã hội hái lượm bắt đầu từ 7000 năm trước Công nguyên ở Đông Nam châu Âu, và ở Trung Âu vào khoảng 5500 năm trước Công nguyên. Ở châu Mỹ và châu Đại dương, người thổ dân bản địa vẫn còn ở thời kì đồ đá cho đến khi người châu Âu khám phá ra họ.
Các cư dân thời Đồ đá ở Cận Đông, Anatolia, Syria, phía nam bình nguyên Lưỡng Hà và Trung Á là những nhà xây dựng vĩ đại. Họ đã biết sử dụng gạch-bùn để xây nhà ở và các ngôi làng. Ở Çatalhöyük, người ta đã biết trang trí nhà cửa với những tranh vẽ tạo hình người và thú vật. Ở Trung Âu, các căn nhà dài bằng phên liếp đã được xây dựng. Các khu mộ tỉ mỉ cũng được cũng xây dựng. Đặc biệt, ngày nay vẫn còn hàng ngàn ngôi mộ như vậy ở Ireland. Người thời Đồ đá mới ở quần đảo Anh cũng xây dựng những nấm mồ và phòng mộ cho mình và các trại tường đất đắp ("causewayed camps"), các vòng tròn đá ("henges flint mines") và các đài đá lớn hình tròn ("cursus monuments").
|
Chi Mướp (danh pháp khoa học: Luffa, từ tiếng Ả Rập لوف) là một loại dây leo sống một năm ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Quả của ít nhất hai loài là "L. acutangula" và "L. aegyptiaca", được thu hoạch khi còn non để làm rau ăn, rất phổ biến ở châu Á và châu Phi. "L. acutangula" gọi là "jhingey" trong tiếng Bengal và "turai" trong tiếng Hindi. Quả của "L. aegyptiaca" cũng có khi để già để lấy xơ mướp phục vụ cho việc sử dụng trong nhà tắm hay nhà bếp sau khi đã loại bỏ mọi thứ chỉ còn để lại phần lõi chứa các sợi gỗ trong ruột (xylem). Loại này được gọi là "dhundul" trong tiếng Bengal, "ghiya tori" hay "nerua" trong tiếng Hindi, "peerkankai" trong tiếng Tamil.
Các loài thuộc chi Mướp bị ấu trùng của một số loài côn trùng thuộc bộ cánh vẩy (Lepidoptera) phá hoại, chẳng hạn "Hypercompe albicornis".
|
Bộ Hoa môi hay bộ Húng hoặc bộ Bạc hà (danh pháp khoa học: Lamiales) là một đơn vị phân loại trong nhánh Cúc (asterids) của thực vật hai lá mầm thật sự. Bộ Lamiales trước đây có giới hạn khá hẹp (ví dụ, trong hệ thống Cronquist), bao gồm các họ chính như họ Hoa môi (Lamiaceae hay Labiatae), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) và Boraginaceae cộng với một số họ nhỏ khác. Các công trình nghiên cứu về hệ thống phát sinh chủng loài gần đây đã chỉ ra rằng Lamiales theo định nghĩa hẹp như vậy là một nhóm đa ngành tương ứng với bộ Huyền sâm (Scrophulariales) và hai nhóm mà hiện nay thông thường tổ hợp trong một bộ mà trước kia nó bao gồm hai bộ Hippuridales và Plantaginales. Lamiales đã trở thành tên gọi được ưa thích cho nhóm tổ hợp lớn hơn này. Vị trí của họ Boraginaceae là không rõ ràng nhưng các nghiên cứu phát sinh loài chỉ ra rằng họ này không thuộc về bộ Lamiales.
Định nghĩa của họ Huyền sâm (Scrophulariaceae), trước đây là một nhóm đa ngành không đồng nhất được xác định chủ yếu bởi các đặc trưng có dạng chung. Nhiều họ khác cũng thuộc bộ Lamiales, có xuất phát nguồn từ đó, đã được chia tách một cách cơ bản để tạo ra một loạt các họ khác nhỏ hơn nhưng được định nghĩa tốt hơn và được coi là đơn ngành.
Các loài trong bộ Lamiales thể hiện các đặc trưng chung điển hình sau, mặc dù có một vài ngoại lệ đối với tất cả chúng:
Phát sinh chủng loài.
Biểu đồ chỉ ra mối quan hệ phát sinh chủng loài của bộ Hoa môi với các bộ khác trong nhánh Cúc như sau:
Biểu đồ chỉ ra mối quan hệ phát sinh chủng loài trong phạm vi bộ Hoa môi như sau:
Trong hệ thống phân loại Cronquist cũ, bộ Lamiales bao gồm các họ Lamiaceae, Verbenaceae, Boraginaceae và Lennoaceae. Nhiều họ khác liệt kê dưới đây đã được đưa vào trong bộ Scrophulariales.
Có khoảng 23.800 loài trong bộ Lamiales. Chúng được chia ra thành 1.059 chi trong 24-26 họ (hoặc nhiều hơn) (APG III, APG IV). Các họ và các chi (không xếp vào họ nào) được liệt kê trên website của APG.
|
Charles Wendell "Chuck" Colson (16 tháng 10 năm 1931 – 21 tháng 4 năm 2012) là cố vấn đặc biệt của Tổng thống Richard Nixon từ năm 1969 đến năm 1973, về sau là nhà lãnh đạo có nhiều ảnh hưởng trong cộng đồng Tin Lành, và là nhà phê bình văn hóa nổi tiếng.
Từng được biết tiếng là "thủ hạ" của Nixon, Colson có tên trong số bảy viên chức bị buộc tội trong Vụ Watergate, ông nhận tội ngăn cản công lý, và bị giam giữ trong Nhà tù Maxwell trong bảy tháng.
Trải nghiệm tiếp nhận đức tin Cơ Đốc đã khơi mở một sự thay đổi triệt để cho Colson. Từ đó, ông dành phần còn lại của đời mình cho các hoạt động từ thiện, cống hiến cho một tổ chức mục vụ cung ứng sự hỗ trợ và an ủi tinh thần cho những người đang sống trong tù, gọi là Bạn của Tù nhân ("Prison Fellowship"). Colson cũng là diễn giả và tác giả của hơn 30 đầu sách. Ông là chủ tịch Diễn đàn Wilberforce, một think tank có khuynh hướng Cơ Đốc truyền thống trong các vấn đề chính trị và xã hội, cũng là nhóm hoạt động tích cực vận động cho học thuyết sáng tạo ("intelligent design") được đem vào chương trình giáo dục và kỹ thuật sinh học, cũng thường tìm kiếm cơ hội trình bày quan điểm trong các vấn đề đạo đức trong các lãnh vực sinh học như nhân bản vô tính và nghiên cứu tế bào gốc.
Năm 1993, Colson được trao tặng Giải thưởng Templeton vì Tiến bộ Tôn giáo dành cho nhân vật "có sự đóng góp đặc biệt trong nỗ lực củng cố khía cạnh tâm linh của cuộc sống". Năm 2008, ông được Tổng thống George W. Bush trao tặng Huân chương Tổng thống.
Colson sinh ngày 16 tháng 10 năm 1931 tại Boston, Massachusetts, con trai của Inez "Dizzy" (nhũ danh Ducrow) và Wendell Ball Colson. Cậu mang hai dòng máu Anh và Thụy Điển. Trong Thế chiến II, cậu đứng ra vận động gây quỹ trong trường học nhằm kiếm đủ tiền mua một chiếc xe Jeep cho Quân đội Hoa Kỳ. Năm 1948, Colson hoạt động tình nguyện cho chiến dịch tái cử của Thống đốc tiểu bang Massachusetts lúc ấy, Robert Bradford.
Colson theo học tại Đại học Brown, và nhận văn bằng cử nhân ưu hạng năm 1953, rồi học vị tiến sĩ luật (J.D.) tại Đại học George Washington năm 1959.
Colson phục vụ trong binh chủng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ từ năm 1953 đến năm 1955, lên đến cấp bậc đại úy.
Sau khi rời quân ngũ, Colson giữ nhiệm vụ phụ tá cho Phụ tá Bộ trưởng Hải quân. Năm 1956, ông nhận làm Phụ tá hành chính cho Thượng nghị sĩ Leverett Saltonstall. Năm 1961, Colson làm việc cho công ty luật Gasby và Hannah.
Năm 1968, Colson làm việc trong một Ủy ban của Ứng cử viên Tổng thống của Đảng Cộng hòa, Richard Nixon.
Ngày 6 tháng 11 năm 1969, Colson được bổ nhiệm vào chức vụ Cố vấn đặc biệt cho Tổng thống Nixon. Chức trách của Colson là mời các nhóm quyền lợi có nhiều ảnh hưởng tham gia tiến trình thiết kế chính sách của Nhà Trắng, và tìm kiếm sự ủng hộ của họ cho các vấn đề đặc biệt. Văn phòng của ông được giao nhiệm vụ liên lạc với các tổ chức lao động, cựu chiến binh, nông gia, các nhóm bảo thủ, các tổ chức công nghiệp, các nhóm công dân, và tổ chức các cuộc vận động hành lang nhằm tìm kiếm sự ủng hộ cho các chính sách của chính phủ. Ông cũng chịu trách nhiệm phát triển đường dây liên lạc với các địa quận bầu cử bằng cách sắp xếp các cuộc gặp mặt của Tổng thống và gởi các tờ tin đến các nhóm quyền lợi.
Ngoài ra, Colson còn có các chức trách: thực hiện các công việc đặc biệt cho tổng thống như soạn thảo các bản tường trình pháp lý về các vấn đề đặc biệt, xem xét việc bổ nhiệm, và đề nghị danh sách khách mời đến Tòa Bạch Ốc. Colson cũng tham gia vào Uỷ ban Vận động Tái cử cho Tổng thống (CPR).
Được biết đến như là thủ hạ đắc lực của tổng thống, Colson từng có lần huênh hoang, "Tôi sẵn lòng bước qua bà nội tôi để làm cho Richard Nixon tái cử". Viết trên tạp chí Slate, David Plotz miêu tả Colson là "thủ hạ tàn ác của Richard Nixon, ‘thiên tài gian ác’ của một chính phủ xấu xa." Colson từng thừa nhận là ông "có ích cho Tổng thố".
Trong một buổi họp của CPR vào ngày 21 tháng 3 năm 1971, một ngân quỹ 250 000 USD được dành cho công việc "thu thập tin tình báo" về Đảng Dân chủ. Colson và John Ehrlichman bổ nhiệm E. Howard Hunt vào Đơn vị Hoạt động Đặc biệt của Nhà Trắng (gọi là "Plumbers"), đơn vị này được giao nhiệm vụ ngăn chặn rò rỉ tin tức của chính phủ Nixon. Ngày 15 tháng 5 xảy ra sự kiện Arthur Bremer âm mưu ám sát George Wallace khiến Colson ra lệnh cho Hunt đột nhập vào chung cư của Bremer tìm xem có bất cứ thông tin nào cho thấy Đảng Dân chủ có dính líu đến vụ ám sát hay không. Tuy nhiên, cũng có người cho rằng nhiệm vụ của Hunt là lấy những tài liệu dính líu đến vụ án ra khỏi nhà của Bremer. Tháng 9 năm 1971, Hunt chỉ huy một toán thuộc nhóm "Plumbers" đột nhập vào văn phòng bác sĩ tâm thần của Daniel Ellsberg. Colson hi vọng những bí mật được phát hiện về Ellsberg sẽ giúp làm giảm uy tín phe tả đang hoạt động tích cực chống chiến tranh. Trong tác phẩm "The Good Life" (Cuộc sống tốt đẹp) xuất bản năm 2005, Colson thừa nhận đã tiết lộ cho báo chí những thông tin mật của FBI về Ellsberg nhưng bác bỏ việc tổ chức cho toán của Hunt đột nhập vào văn phòng Ellsberg. Cũng trong cuốn sách này, Colson bày tỏ sự ân hận vì đã tìm cách che giấu sự thật về vụ việc kể trên.
Ngày 10 tháng 3 năm 1973, Colson từ nhiệm khỏi Nhà Trắng về hành nghề luật tại công ty luật Colson và Shapiro, Washington, D. C.
Ngày 1 tháng 3 năm 1974, Colson bị buộc tội âm mưu che giấu vụ đột nhập Watergate.
Khi đang đối diện với nguy cơ bị bắt giữ, Tom Phillip, bạn thân của Colson, tặng ông ấn bản một tác phẩm của C. S. Lewis, "Mere Christianity". Quyển sách này tác động mạnh đến Colson và ông quyết định chấp nhận đức tin Cơ Đốc theo trào lưu Tin Lành ("Evangelical"). Colson gia nhập nhóm cầu nguyện của Douglas Coe với các thành viên như Thượng Nghị sĩ Harold Hughes, cùng các dân biểu Al Quie và Graham B. Purcell, Jr..
Khi tin này được loan ra, một vài nhật báo tại Mỹ, trong đó có "Newsweek", "Village Voice", và "TIME" chế giễu kinh nghiệm qui đạo này, cho đó chỉ là một mánh khoé nhằm làm giảm tội cho Colson. Trong hồi ký "Born Again" (Tái sinh), Colson giải thích về quyết định của mình, "Tôi biết đã đến lú?...Sáng sớm thứ Sáu hôm ấy, khi đang ngồi nhìn ra vùng biển thân thương, những lời mà tôi không chắc là mình có thể hiểu tự nhiên tuôn ra khỏi miệng tôi, "Lạy Chúa Giê-xu, con tin Ngài. Con chấp nhận Ngài. Xin ngự vào cuộc đời con." Colson cũng kể lại rằng chỉ có ít tác giả có thiện cảm với quyết định này của ông như trường hợp của một bài viết được phổ biến rộng rãi của hãng thông tấn UPI, "Từ Watergate đến sự bình an trong tâm hồn".
Năm 1974, Colson không phản đối cáo trạng ngăn cản công lý trong vụ án Ellsberg, và bị kết án từ một đến ba năm tù. Ông cũng bị gạch tên khỏi đoàn luật sư Quận Columbia. Ông bị giam giữ trong bảy tháng tại Trại Cải huấn Maxwell, tiểu bang Alabama.
Suốt thời gian trong tù, Colson ngày càng quan tâm đến điều ông xem là những bất công đối với tù nhân, cùng những bất cập trong chương trình phục hồi nhân phẩm. Từ đó Colson tin rằng ông được Chúa kêu gọi hiến mình cho mục vụ giúp đỡ các tù nhân với trọng tâm là vận động thay đổi hệ thống lao tù.
Bạn của Tù nhân.
Sau khi mãn hạn tù, Colson tiến hành thành lập tổ chức Mục vụ Bạn của Tù nhân ("Prison Fellowship Ministries") vào năm 1976. Đây là "tổ chức lớn nhất thế giới với tôn chỉ tìm đến để giúp đỡ tù nhân, cựu tù, nạn nhân các tội ác hình sự cùng với gia đình của họ".
Colson vận động tích cực cho các hoạt động phục hồi nhân phẩm tù nhân và cải cách hệ thống nhà tù tại Hoa Kỳ. Ông đã đến thăm các nhà tù trên khắp nước Mỹ và nhiều nơi trên thế giới, xây dựng một phong trào với 40.000 người tình nguyện tại 100 quốc gia hoạt động trong các chương trình mục vụ của tổ chức. Năm 1983, Colson thành lập Justice Fellowship ("Thân hữu Công lý"), một nhóm tôn giáo vận động cải cách tư pháp hình sự. Mạnh mẽ chỉ trích phương pháp "bỏ tù rồi bỏ mặc chúng trong tù" trong cung cách đối xử với tù hình sự, Colson nỗ lực giúp đem Elizabeth Morgan ra khỏi nhà giam. Ông góp phần kiến tạo những nhà tù có các chương trình hoạt động tôn giáo, nơi mà tù nhân từ các trại giam khác tự nguyện xin chuyển đến. Toàn bộ tiền bản quyền xuất bản sách của Colson đều được dành tặng cho tổ chức Mục vụ Bạn của Tù nhân.
Những hoạt động khác.
Colson cũng duy trì các kênh truyền thông đa dạng, thường được sử dụng để thảo luận về các vấn đề đương thời theo thế giới quan Tin Lành. Quan điểm của Colson được xem là điển hình cho sự kiên định trong cung cách giải thích các vấn đề thời sự theo hệ tư tưởng của trào lưu Tin Lành thuộc cộng đồng Kháng Cách ("Protestant"). Trong những bài viết được đăng trên tạp chí Christianity Today, Colson chống lại hôn nhân đồng tính, và cho rằng vụ tai tiếng về tài chính của tập đoàn Enron là một hiện tượng xã hội, biểu thị cho hệ quả tất yếu của tinh thần thế tục đang phát triển mạnh tại Hoa Kỳ.
Ngay sau Vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, một vài nhà lãnh đạo tôn giáo như Jerry Falwell, với sự phụ hoạ của Pat Robertson, hợm hĩnh chỉ tay vào các nhóm đồng tính luyến ái và ủng hộ phá thai, kết án họ là tác nhân gây ra thảm họa vì cho rằng những nhóm này đã khiến cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đổ xuống nước Mỹ, và trong khi phần lớn tín hữu Cơ Đốc tại Hoa Kỳ tin rằng họ đang chịu bách hại vì đức tin của mình, Colson bày tỏ niềm xác tín rằng cộng đồng Cơ Đốc giáo tại đất nước này cần quay trở lại để tự xét mình, ăn năn sám hối về tội bất trung và tinh thần thế tục đang chiếm ưu thế vượt trội trong khắp hội thánh, Colson viết,
Năm 1993, Colson được trao tặng Giải thưởng Templeton (thành lập năm 1972 bởi John Templeton – doanh gia Mỹ gốc Anh, được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước hiệp sĩ năm 1987 vì những hoạt động từ thiện nhằm khuyến khích những tiến bộ tôn giáo và những thành quả trong lãnh vực nghiên cứu và khám phá về những thực thể tâm linh). Trong số các nhân vật nổi tiếng được trao tặng giải thưởng Templeton có Mẹ Teresa (năm 1973), Nhà truyền bá Phúc âm Billy Graham (năm 1982) và nhà sáng lập Phong trào Sinh viên Cơ Đốc (Campus Crusade for Christ), Bill Bright (năm 1996). Đây là giải thưởng đi kèm với phần tặng thưởng tiền mặt lớn nhất thế giới (hơn 1 triệu USD). Colson dùng số tiền này, cùng toàn bộ lợi tức có được từ tiền nhuận bút và diễn thuyết, để phát triển các chương trình từ thiện của Mục vụ Bạn của Tù nhân.
Tháng 10 năm 2002, Colson, cùng những nhà lãnh đạo tiếng tăm thuộc trào lưu Tin Lành tại Mỹ, đồng ký tên trong một bức thư ("Land letter") gởi Tổng thống Bush, ủng hộ cuộc chiến xâm lăng Iraq.
Năm 1994, Colson được trích dẫn trong một ca khúc được yêu thích của Steven Curtis Chapman, "Heaven in the Real World" (Thiên đàng trong Thế giới thật), có đoạn viết,
Tìm thấy hi vọng nơi đâu? Hàng triệu người đau buồn vì đạo đức suy đồi xung quanh ta. Ta không kỳ vọng vào các chính khách, hay hệ thống luật pháp, cũng không phải những điều vĩ đại của dân tộc này. Niềm hi vọng của chúng ta là quyền năng của Thiên Chúa làm thay đổi lòng người. Đó là niềm hi vọng của đất nước này. Và đó là niềm hi vọng của chúng ta trong cuộc đời.
"Born Again" (Tái sinh), cuốn hồi ký của Colson thuật lại trải nghiệm tôn giáo cũng như thời gian trong tù của ông, năm 1978 được dựng thành phim với Diễn viên Dean Jones trong vai Colson, Anne Francis vai Patty, vợ của Colson, và Harold Hughes nhận vai của chính mình ngoài đời. Năm 1995, Diễn viên Kevin Dunn vào vai Colson trong phim "Nixon".
Mới đây, Martin Nolan đã miêu tả Colson là có ảnh hưởng sâu đậm về mặt tâm linh trên Karl Rove, Rove là bạn và là một trong những cố vấn thân cận của Tổng thống George W. Bush. Trong tác phẩm của mình, "The Good Life", Colson thừa nhận rằng ông từng đảm nhiệm vai trò tương tự như của Rove hôm nay.
Ngày 1 tháng 6 năm 2005, xuất hiện trong một chương trình tin tức phát sóng toàn quốc và bình luận về những tiết lộ gần đây cho biết cựu nhân viên FBI W. Mark Felt chính là nhân vật bí ẩn được biết đến dưới mật danh Deep Throat. Colson bày tỏ sự bất bình về cung cách hành xử của Felt trong Vụ Watergate, ông cho rằng nếu Felt không thể tiếp tục trung thành với Tổng thống Nixon thì tốt hơn nên từ chức (thay vì tiết lộ cho báo chí những tin tức mật từ Nhà Trắng khiến công luận phẫn nộ dẫn đến việc Tổng thống Nixon phải từ chức).
Ngày 21 tháng 4 năm 2012, Colson qua đời trong bệnh viện "do những biến chứng từ bệnh xuất huyết não."
Ứng cử viên Tổng thống Đảng Cộng hòa, Mitt Romney nói, "Chuck Colson thể hiện và thực hiện vô số điều tốt lành cho cuộc sống của nhiều người, nhiều gia đình và nhiều cộng đồng ông phục vụ khi mang đến cho họ thông điệp của đức tin và hi vọng."
"Ông từng tham gia trò chơi khắc nghiệt trên sâu khấu chính trị để nắm giữ quyền lực. Ông từng là một con người nhẫn tâm. Ông từng muốn chiến thắng bằng mọi giá... Tôi nghĩ nếu có điều gì đó để nhớ về ông, thì ông nên được nhớ đến như là một người đã trải qua một sự thay đổi triệt để trong đời sống", nhận xét về Charles Colson của Michael Cromartie, Phó Chủ tịch Trung tâm Đạo đức và Chính sách công.
|
Đức tin Kitô giáo
Đức tin Cơ Đốc hoặc Đức tin trong Kitô giáo là niềm xác tín vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, đấng sáng tạo vũ trụ, và niềm tin vào ân điển cứu chuộc của Chúa Kitô, Con của Thiên Chúa hằng sống, đấng đã chết vì tội lỗi của nhân loại, mặc dù vẫn có thể tìm thấy một vài dị biệt trong các hệ tư tưởng khác nhau thuộc cộng đồng Kitô giáo.
Thuật ngữ "đức tin" có nguồn gốc trong Hi văn "πιστις" (pi´stis), nghĩa là tin quyết với tinh thần phó thác trong sự tin tưởng vững vàng. Tùy theo nội dung văn bản, thuật từ Hi văn này có thể được hiểu là "trung tín", "chung thủy" hoặc "trung kiên". (1Thessalonians 3: 7; Titus 2: 10).
Trong Tân Ước có một từ chủ yếu thể hiện ý niệm về đức tin. Đó là động từ "πιστευω" (pisteuo), cùng nguồn gốc với danh từ "πιστις" (pi´stis). Động từ này có hai nghĩa cơ bản. Thứ nhất, nó có nghĩa là "tin vào điều ai đó nói, chấp nhận một lời tuyên bố (đặc biệt mang tính chất tôn giáo) là đúng." Thứ hai, đức tin có nghĩa là "tin cậy người nào, khác với tin suông một điều gì." Nghĩa này luôn có thể nhận ra được qua việc sử dụng giới từ. Trong Phúc âm Máccô 1:15, giới từ "εν" (en) được sử dụng, "…các ngươi hãy ăn năn và tin phúc âm." Giới từ "εις" (eis) được dùng trong Công vụ 10: 43, "Hết thảy các đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài." Sứ đồ Giăng đề cập đến việc tin danh Chúa Giê-su "εις το ονομα" - eis to onoma, "Nhưng hễ ai nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Thiên Chúa, là ban cho những kẻ tin danh Ngài." Cấu trúc này có ý nghĩa đặc biệt đối với người Do Thái vốn xem danh tánh của một người là hoàn toàn tương đương với người đó. Vì thế, tin vào danh Chúa Giê-su là đặt lòng tin cá nhân vào chính Ngài. Dựa vào những lý do trên, chúng ta kết luận rằng loại đức tin cần có cho sự cứu rỗi bao gồm cả "tin rằng" và "tin vào", tức là chấp nhận một sự thật và tin cậy một người nào đó. Nhất thiết cả hai phải đi đôi với nhau.
Luận giải về chức năng của đức tin trong mối tương quan với giao ước của Thiên Chúa, tác giả thư Hebrew trong Tân Ước viết, "Đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong, là bằng cớ (hoặc xác tín) của những điều mình chẳng xem thấy". "Υποστασις" (hy-po´sta-sis), được dịch là "sự bảo đảm", thường xuất hiện trong các văn bản giao dịch cổ viết trên giấy "papyrus", chuyển tải ý tưởng cho rằng giao ước hoặc hợp đồng là biểu thị cho sự tin cậy lẫn nhau, bảo chứng cho việc chuyển đổi tài sản sẽ diễn ra đúng như đã cam kết trong hợp đồng. Cũng đồng quan điểm, Moulton và Milligan diễn giải, "Đức tin là hành động bảo chứng cho những gì đang được mong đợi." Từ "e ‘leg-khos" trong Hi văn, được dùng để miêu tả "sự xác tín" trong Hebrew 11: 1 miêu tả một sự việc, nhất là sự việc trông có vẻ như mâu thuẫn với những gì đang xảy ra, nhân đó giúp làm sáng tỏ những điều trước đó chưa nhận ra và bác bỏ những gì trông giống như hiện thực. Chứng cớ cho niềm xác tín này là mạnh mẽ và tích cực, ấy chính là đức tin. Đức tin Cơ Đốc, trong ý nghĩa này, không thể đánh đồng với sự cả tin.
Hebrew 11: 6 diễn giải ý nghĩa và vai trò của đức tin trong sống đạo như sau: "Vả, không có đức tin thì không thể làm vui lòng (Thiên Chúa); vì người đến gần Thiên Chúa phải tin rằng có Thiên Chúa, và Ngài là Đấng ban thưởng cho người hết lòng tìm kiếm Ngài."
Khái niệm của Tân Ước về đức tin lập nền trên sự tự mặc khải của Thiên Chúa, nhất là trong ý nghĩa của sự tin tưởng đặt vào các lời hứa cũng như sự quan tâm về những cảnh báo trong Kinh Thánh.
Tác giả các sách trong Tân Ước đồng nhất đức tin vào Thiên Chúa với đức tin vào Chúa Giê-su. Phúc âm Giăng đặc biệt nhấn mạnh khía cạnh này khi ký thuật lời của Chúa Giê-su, "Cha cũng chẳng xét đoán ai hết, nhưng đã giao trọn quyền phán xét cho Con, đặng ai nấy đều tôn kính Con, cũng như tôn kính Cha vậy. Ai không tôn kính Con, ấy là không tôn kính Cha, là Đấng đã sai Con đến." Khi được hỏi, "Chúng tôi phải làm gì để làm công việc của Thiên Chúa?" Chúa Giê-su trả lời, "Công việc của Thiên Chúa, ấy là các ngươi tin Đấng mà Ngài đã sai đến."
Cách khách quan, đức tin là chân lý được mặc khải bởi Thiên Chúa trong Kinh Thánh và truyền thống mà giáo hội trình bày trong hình thức ngắn gọn của các bản tín điều. Về chủ quan, đức tin củng cố các đức hạnh đến từ chân lý.
Đức tin là một hành động siêu nhiên.
Đức tin là một hành động siêu nhiên bởi ân điển thiên thượng. Đó là "hành động phù hợp với chân lý thiên thượng vận hành bởi ý chí, được cảm động bởi ân điển của Thiên Chúa". (Thánh Thomas, II-II,Q. iv, a. 2). Nếu ánh sáng của đức tin là sự ban cho siêu nhiên dành cho tri thức thì cũng vậy, ân điển là món quà siêu nhiên nhằm cảm động ý chí. Chẳng phải bởi học hỏi mà được cũng không bởi chuyên cần mà có, nhưng chỉ là "Hãy xin sẽ được" (Matthew 7. 7).
Đức tin không mù quáng.
Công đồng Vatican II viết, "Chúng ta tin rằng sự mặc khải là chân xác, không phải vì chân lý nội tại của sự huyền nhiệm có thể được nhận biết rõ ràng do sự soi sáng của lý trí, nhưng do thẩm quyền của Thiên Chúa Đấng tỏ lộ cho chúng ta, vì Ngài không hề lừa dối cũng không hề bị lừa dối". Như thế, liên quan đến hành động của đức tin mà tín hữu thuộc cộng đồng Cơ Đốc giáo thể hiện qua việc chấp nhận giáo lý Ba Ngôi, đức tin được miêu tả theo mô thức tam đoạn luận như sau:
Tín hữu Công giáo chấp nhận tiền đề chính vì họ tin rằng do lý trí lập nền trên tiền đề này, nên điều này là rõ ràng đối với lý trí; họ cũng chấp nhận tiền đề phụ vì giáo hội công bố như thế, mà giáo hội được xem là vô ngộ (không sai lầm) liên quan đến các vấn đề giáo lý như Công đồng Vatican nói, "cùng với sự trợ giúp nội tại của Chúa Thánh Linh, Thiên Chúa vui lòng ban cho chúng ta những chứng cớ ngoại tại về sự mặc khải của Ngài như phép mầu và lời tiên tri để bày tỏ rõ ràng sự toàn năng và toàn tri của Thiên Chúa, có được những chứng cớ chắc chắn nhất của sự mặc khải và mọi người đều có thể nhận lãnh". Thomas Aquinas viết: "Một người không nên tin trừ khi người ấy thấy được điều nên tin, hoặc do có chứng cớ của phép mầu hoặc do một điều tương tự" (II-II:1:4, ad 1). Ở đây Thomas nói về động cơ của sự khả tín và nguyên nhân dẫn đến đức tin.
Đức tin là sự Kiên định trong Niềm tin Hợp lý.
Trong tác phẩm "Mere Christianity", C. S. Lewis miêu tả trải nghiệm của ông về đức tin, phân biệt hai cách hiểu thuật từ này. Ông viết,
"Xem như đức tin được tín hữu Cơ Đốc sử dụng theo hai ý nghĩa hoặc với hai cấp độ… Trong ý nghĩa thứ nhất nó chỉ đơn giản là Niềm tin."
Trong những đoạn sau, Lewis tiếp tục luận giải,
"Đức tin, trong ý nghĩa mà tôi sử dụng cho thuật từ này, là nghệ thuật bám chặt vào những điều lý trí chúng ta đã một lần chấp nhận, bất kể tâm trạng chúng ta thay đổi như thế nào."
Đức tin liên quan đến Tri thức.
Tri thức được xem là yếu tố nền tảng cho đức tin. Dù vậy, cần có sự phân biệt trong khía cạnh này, đức tin bao hàm sự đồng tâm, đó là khi hành động của ý chí hiệp nhất với hành động của tri thức.
Luôn có sự tương quan giữa quan điểm về đức tin và sự hiểu biết về tính chất của sự mặc khải. Khi mặc khải được xem là truyền đạt thông tin thì đức tin được xem là chấp nhận tín lý trên lý trí. Đó là trường hợp của tư tưởng Kinh viện Kháng Cách. Một khi đã có đức tin, nó sẽ giúp chúng ta suy luận và nhận biết nhiều bằng chứng hỗ trợ khác nhau. Như thế, đức tin là một dạng tri thức; đức tin hoạt động phối hợp chứ không đối lập với lý trí.
Đức tin là sự Ban cho từ Thiên Chúa.
Bởi sự sa ngã và do sự tác động của quyền lực Satan, con người đánh mất khả năng nhận thức lời chứng của các sứ đồ về sự mặc khải của Thiên Chúa, họ không thể nhận biết hoặc thấu hiểu phúc âm để tiếp nhận Chúa Cơ Đốc, cũng không chịu từ bỏ mình để tin cậy ân điển của ngài, cho đến khi Chúa Thánh Linh soi sáng họ. Như thế, Thiên Chúa là đấng ban đức tin cho con người, và chỉ những ai được "dạy dỗ", "kéo đến" và "xức dầu" thì mới có thể đến với Chúa Giê-su mà thôi.
Đức tin được vận hành bởi Linh của Thiên Chúa.
Căn bản của đức tin là phải phù hợp với chân lý, sự đồng thuận của chúng ta đối với bất kỳ chân lý được mặc khải nào cũng phải dựa trên nền tảng tối hậu này, ấy là sự chân xác của Thiên Chúa. Đức tin lịch sử là sự lĩnh hội và đồng thuận với những dữ kiện lịch sử, trong khi đức tin hiện thời là sự tỉnh thức trong tâm trí con người được kích hoạt bởi sự giãi bày chân lý cũng như bởi những ảnh hưởng của tình cảm tôn giáo hoặc bởi sự vận hành của Chúa Thánh Linh. Cũng một thể ấy, đức tin dẫn đến sự cứu rỗi luôn luôn gắn kết với điều này, và được cảm động trong lòng người bởi Chúa Thánh Linh.
Sự chân thật của Thiên Chúa là bảo chứng của đức tin.
Nền tảng của đức tin là lời chứng của Thiên Chúa, không phải là luận cứ về những điều Thiên Chúa phán bảo, mà chỉ đơn giản là Thiên Chúa phán như thế. Đức tin trực tiếp lập nền trên "Chúa phán như thế" (câu nói xác chứng thẩm quyền được lặp lại nhiều lần bởi các tiên tri trong Cựu Ước). Nhưng muốn đạt đến thẩm quyền ấy của đức tin, cần phải có sự sở hữu và sự thẩm định đầy đủ về tính chính xác, chân thật và chân lý của Thiên Chúa, cùng với một yếu tố quan trọng khác, cũng là một trong những thuộc tính của Thiên Chúa, ấy là Thiên Chúa không bao giờ thay đổi.
|
Địa vật lý hố khoan
Địa vật lý hố khoan còn gọi là địa vật lý lỗ khoan, địa vật lý giếng khoan (tiếng Anh: "Borehole Logging" hay "Well Logging"), là một lĩnh vực của Địa vật lý thăm dò, thực hiện các quan sát đo đạc địa vật lý trong hố khoan, từ đó phân tích, giải đoán tài liệu để phân chia đất đá trong không gian quanh hố khoan theo thành phần, tính chất, trạng thái, và xác định các tham số vật lý của chúng.
Kết quả phân tích được liên kết với cột địa tầng hố khoan và biểu diễn báo cáo ở dạng "Biểu đồ địa vật lý hố khoan", còn gọi là "Băng ghi địa vật lý hố khoan".
Địa vật lý hố khoan được dùng trong khảo sát địa chất tổng quát, trong tìm kiếm dầu khí, khoáng sản, nước ngầm, nước khoáng, địa nhiệt, địa chất công trình, địa chất môi trường - tai biến tự nhiên.
Tại Việt Nam nhiều người gọi nó là "ca-rô-ta", là cách gọi theo tiếng Nga "Каротаж" khi kỹ thuật địa chất từ Liên Xô (cũ) nhập vào miền bắc Việt Nam hồi những năm 1957-1965. Đây vốn là thuật ngữ có gốc là tiếng Pháp "Carottage". Hiện nay tại Nga thiên về dùng thuật ngữ ', và tại Pháp thì dùng ' để chỉ Địa vật lý hố khoan.
Conrad và Marcel Schlumberger, người sáng lập Schlumberger Ltd vào năm 1926, được coi là phát minh của "địa vật lý điện hố khoan". Vào ngày 05/09/1927 một thành viên đội thăm dò đã thả các điện cực xuống hố khoan ở Pechelbronn, Alsace, Pháp, thu được kết quả "địa vật lý hố khoan" (logging) đầu tiên.
Máy móc thiết bị.
Các thiết bị "địa vật lý hố khoan" có 3 thành phần chính:
Yêu cầu chịu áp suất của đầu đo được đặc trưng bằng độ sâu làm việc lớn nhất, và dẫn đến ngày nay có các hệ thống đo ≤150 m (ít dùng), ≤500 m, ≤1000 m, ≤1500 m và ≥1500 m.
Trong thời gian dài từ lúc ra đời đến những năm 1970 (tại Việt Nam thì đến 1995), các đầu đo thực hiện đo tín hiệu tương tự, truyền tín hiệu bằng cáp nhiều ruột, dẫn lên máy ghi bút mực trên băng giấy. Số đường ghi đồng thời lúc đầu là 2, sau tăng lên 4. Thiết bị thì rất cồng kềnh, còn việc đo đạc tốn nhiều thời gian, đặc biệt là phải đo lại khi số liệu tràn thang hoặc quá nhỏ.
Tiếp theo là thời kỳ mã hóa tín hiệu thành xung tần số (Biến đổi A-F) truyền lên bằng cáp đồng trục với 4 kênh đo, phân biệt nhau bằng cực tính và biên độ, và có điều phối tránh mất xung. Khối điều khiển trên mặt đất thực hiện tách xung, đếm tần số xung, lưu trữ trên băng cassette số, và ghi băng ghi giấy kiểm tra. Tài liệu bắt đầu được phân tích bằng phần mềm trên máy tính lớn. Đây là bước chuyển đổi mang tính cách mạng, giảm trọng lượng thiết bị xuống mức có thể mang vác, và đã tránh được việc đo lại do lỗi chọn thang đo.
Từ cuối những năm 1980 các đầu đo (Sensor) được modul hóa, thực hiện số hóa tại chỗ và chuyển tới khối giao tiếp, từ đó truyền lên bằng cáp đồng trục theo giao thức số, qua khối điều khiển tới máy tính, lúc đầu là máy chuyên dụng và nay là laptop. Một lần đo có thể ghép nhiều modul, thực hiện hàng chục kênh đo nếu ghép được về nguyên lý đo, còn người đo máy có thể chỉ cần đo một lần cho nhóm phương pháp đó. Ví dụ Matrix Borehole Logging Systems, sản phẩm liên kết của Advanced Logic Technology (Luxembourg) và Mount Sopris Instruments Co. (Mỹ). Tài liệu được phân tích bằng phần mềm chạy trên PC như WellCAD.
Đồng thời, kỹ thuật Đo đạc trong khi khoan (Logging while drilling - LWD) được phát triển trong thăm dò dầu khí, sử dụng các công cụ và thiết bị đo đạc gắn vào đầu khoan (Bottom hole assembly - BHA), với hai dạng:
Các phương pháp đo được thực thi ở đầu đo. Cùng với phương pháp truyền thống, thì những phương pháp mới đang được nghiên cứu phát triển. Các trang web giới thiệu về các phương tiện điển hình cho thăm dò khoáng sản có "Downhole Probes" của hãng Mount Sopris Instruments hay Robertson Geologging Ltd, và cho thăm dò dầu khí có Schlumberger, Surface and Downhole Logging.
Các phương pháp điện.
Đo điện trở suất.
"Đo điện trở suất hố khoan" (Resistivity log) thực hiện theo cơ sở lý thuyết của Thăm dò Điện trở, bố trí hệ điện cực trong đầu đo ở hố khoan, nhằm thu được thông tin "điện trở suất" của đất đá. Nó là một trong các "phép đo chủ chốt" có mặt trong hầu hết các chuyến đo địa vật lý hố khoan, góp phần khẳng định hay hiệu đính cột địa tầng hố khoan.
Vì khi khoan, đất đá quanh thành hố khoan bị nứt vỡ với mức độ khác nhau. Sau đó sự xâm nhập của nước làm điện trở suất giảm tùy theo mức nứt vỡ quanh hố khoan. Để xác định điện trở suất của đới "đất đá nguyên dạng", cũng như bán kính các đới nứt vỡ quanh hố khoan, thì dùng Đầu đo điện đa điểm với các phân bố cực đo 8-16-32-64 inch. Ví dụ đầu đo "QL40-ELOG 8-16-32-64” normal resistivity probe" cho ra số liệu SP và 4 số liệu điện trở suất của 4 khoảng thu phát 8-16-32-64".
Đo điện trở suất và phân cực kích thích thực hiện với hệ đo 3 cực, lưỡng cực MN ở dưới, các cực A ở trên, còn cực B ở trên mặt đất, đặt ở nơi tiếp đất tốt và cách xa miệng hố khoan cỡ trên chục mét. Mặt khác để thuận tiện cho đo đạc, người ta tráo đổi cực thu ↔ phát và dùng "dòng đảo chiều có kỳ nghỉ", phát vào lưỡng cực MN và quan sát thế ở các cực A1, A, và cho phép đo đồng thời các điện thế điện trở, cũng như tách được điện thế thiên nhiên SP. Khi có nhiều "cực A" thì điện thế SP chỉ lấy ở 1 điện cực, và trong lý lịch đầu đo sẽ chỉ rõ vị trí "điểm đo" SP, và độ dịch so với điểm đo của điện trở suất là vị trí giữa của các cực MN.
"Đo ảnh điện trở suất hố khoan" (Resistivity Imaging) thực hiện theo phương pháp "Mặt cắt ảnh điện" (Resistivity/Chargeability Imaging) trong Thăm dò Điện trở, với "cáp đo đa cực" chế riêng cho hố khoan. Giãn cách điện cực cỡ 0,2 – 2 m. Đo ghi thực hiện bằng máy đo điện đa cực mặt đất. Kết quả giải ra phân bố điện trở suất tỏa tròn quanh hố khoan với bán kính tương tự "độ sâu khảo sát" của hệ cực đã chọn, và không phân biệt được hướng tồn tại dị thường. Nó được ứng dụng cho hố khoan không quá sâu trong tìm kiếm khoáng sản, địa chất thủy văn, địa chất công trình.
Đo điện trở dung dịch.
"Đo điện trở dung dịch hố khoan" (Fluid Resistivity log) thực hiện theo cơ sở lý thuyết của Thăm dò Điện trở, với "hệ vi điện cực" bố trí trong đầu đo ở hố khoan, nhằm thu được thông tin "điện trở suất" của dung dịch khoan, từ đó đánh giá tình trạng thủy văn của đất đá quanh hố khoan. Nó được ứng dụng cho hố khoan không quá sâu trong tìm kiếm nước ngầm, địa chất thủy văn, địa chất công trình.
Đo điện phân cực kích thích.
"Đo điện phân cực kích thích hố khoan" (Induced polarization log) thực hiện theo cơ sở lý thuyết của Thăm dò điện phân cực kích thích, bố trí hệ điện cực trong đầu đo ở hố khoan, nhằm thu được thông tin "độ nạp" (Chargeability) của đất đá. Kết quả được dùng cho đánh giá bản chất và mức độ triển vọng của đối tượng tìm kiếm các tầng đất đá quan tâm. Nó được ứng dụng cho hố khoan không quá sâu trong tìm kiếm khoáng sản có tính oxy hóa cao như pyrit, graphit, galena, bornit, magnetit, đồng chì kẽ, trong tìm kiếm nước ngầm, địa chất thủy văn, địa chất công trình. Ví dụ đầu đo QL40-IP Induced Polarization. Đầu này đo đồng thời điện trở suất theo phân bố cực 8-16-32-64", độ nạp tại cực 16" và 64" với 10 cửa sổ, điện trường thiên nhiên (SP) và trở tiếp địa (SPR) tại cực phát A.
Đo điện trường thiên nhiên.
"Đo điện trường thiên nhiên hố khoan" (Spontaneous potential log) thực hiện theo cơ sở lý thuyết của Thăm dò điện trường thiên nhiên, đo điện thế giữa điện cực M ở đầu đo và điện cực N trên mặt đất. Các điện cực làm bằng vòng chì. Trong thực tế ở nhiều bộ máy nó được đo đồng thời với đo điện trở suất. Các dị thường SP liên quan đến quặng có tính oxy hóa, hoặc nước ngầm thấm lọc.
Đo cảm ứng điện từ.
"Đo cảm ứng điện từ hố khoan" (Induction log) thực hiện theo cơ sở của "Phương pháp điện từ", phát trường điện từ vào đất đá và thu nhận cảm ứng ở các khoảng cách thu khác nhau. Kết quả thu được là độ dẫn điện tính ra mS/m, đặc trưng cho đới quanh thành hố khoan ở bán kính tùy theo tần số làm việc và khoảng cách phát-thu. Ví dụ đầu đo QL40-IND Dual Induction Probe, dùng tần 100 KHz, đo ở hai khoảng cách 50 và 80 cm.
Các phương pháp phóng xạ.
Đo gamma tự nhiên.
"Đo gamma tự nhiên hố khoan" (Gamma ray log) thực hiện theo cơ sở lý thuyết của Thăm dò phóng xạ, đo cường độ bức xạ gamma trong dải năng lượng 0,4 - 2,8 MeV nhằm phát hiện và đánh giá mức độ chứa nguyên tố phóng xạ của đất đá. Ngoài các vùng mỏ phóng xạ urani và thori, thì kali là thành phần của rất nhiều khoáng vật như biotit, mica, muscovit, các khoáng vật sé"phép đo chủ chốt", phục vụ cho phân chia đất đá theo thành phần và địa tầng trong các khảo sát địa chất. Ví dụ đầu đo QL40-GR – Natural Gamma.
Đo phổ gamma tự nhiên.
"Đo phổ gamma tự nhiên hố khoan" (Gamma ray spectrometry log) thực hiện theo cơ sở lý thuyết của Thăm dò phóng xạ, đo tại hố khoan ở vùng mỏ để đánh giá mức độ chứa kali ở mỏ Kali, hoặc urani hay thori ở mỏ chất phóng xạ. Vì tốc độ đo rất chậm nên có thể chỉ đo tại đoạn quan tâm trong hố khoan. Đầu đo phân tích phổ gamma bố trí các cửa sổ phổ:
Kết quả hiển thị ở dạng xung đếm được cũng như trị số hàm lượng quy ước. Ví dụ đầu đo QL40-SGR Spectral Gamma.
Để kết quả thu được chính xác, hệ thống đo phải được định kỳ "kiểm chuẩn hệ số hàm lượng". Tại Việt Nam có bố trí Trạm kiểm chuẩn ở xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
"Đo mật độ hố khoan" còn gọi là "đo gamma-gamma" (Density log) thực hiện theo cơ sở lý thuyết của Thăm dò phóng xạ, dùng nguồn tia gamma thường là Cesium Cs137 chiếu vào đất đá. Các tia gamma thứ cấp phát sinh theo Tán xạ Compton (Compton scattering) và Hiệu ứng quang điện (Photoelectric effect) trên các nguyên tử môi trường. Các đất đá có mật độ cao thì phát sinh tia gamma thứ cấp nhiều hơn. Đo gamma ở các khoảng cách gần nguồn và xa nguồn, sẽ xác định được mức độ kích thích này, từ đó tính ra mật độ. Máy sử dụng các khối "mẫu phân cỡ" để thực hiện thủ tục phân cỡ (Calibration), từ đó xác định "hệ số phân cỡ" dùng cho tính và hiện kết quả trực tiếp mật độ đất đá quanh hố khoan ra g/cm³.
Độ chính xác đo mật độ phụ thuộc cường độ nguồn chiếu. Các nguồn dưới 20 mCurie cho kết quả định tính, nguồn từ 100 mCurie trở lên cho kết quả định lượng cao. Ví dụ đầu đo QL40-DEN Compensated Dual Density – Caliper.
"Đo độ rỗng neutron hố khoan" (Neutron porosity log) dùng nguồn neutron chiếu vào đất đá, rồi đo ở các khoảng cách đến nguồn khác nhau của tia gamma, neutron nhiệt tán xạ hay neutron năng lượng cao tán xạ.
Sự tán xạ nhạy với lượng hydro trong đất đá, và nó gắn với dầu khí hay nước, mà lượng này gắn liền với "độ rỗng". Dị thường giả có thể có ở nơi có nhiều sét vốn không rỗng nhưng bắt giữ nước cao (Xem thêm: "Formation evaluation neutron porosity"). Đầu dò thường đặt cách nguồn từ 30 cm (12") đến 40 cm (16"). Nếu có hai đầu dò thì cái thứ hai nằm ở khoảng 60 cm (24") để thu mức phông.
Các phương pháp từ trường.
Đo độ từ cảm.
"Đo độ từ cảm hố khoan" (Magnetic Susceptibility log) được thực hiện bằng cách phát trường điện từ xoay chiều cỡ KHz vào đất đá và đo tín hiệu cảm ứng, từ đó tính ra "độ từ cảm" biểu kiến. Dải đo của đầu đo thường là 10−5 đến 10−1 cgs. Phương pháp được dùng cho phân chia địa tầng, đặc biệt là đới chứa "quặng nhiễm từ". Ví dụ đầu đo Bartington BSS-02B Borehole Magnetic Susceptibility Sonde.
Các phương pháp âm học.
Đo âm thanh (Sonic log).
"Đo âm thanh hố khoan" (Sonic log) thực hiện phát sóng âm vào thành hố khoan, và thu nhận sóng ở các khoảng cách nhất định. Các đầu thu phát (probe) được chế tùy theo yêu cầu và mức độ chi tiết nghiên cứu cần đạt được, và thường được các hãng chế tạo thành "probe" thương phẩm. Phần lớn các đo đạc thực hiện xác định sóng đến đầu tiên, tức sóng dọc P. Từ thời gian truyền sóng xác định ra tốc độ truyền sóng V, là đại lượng có quan hệ trực tiếp với "độ rỗng đất đá". Nó phục vụ nghiên cứu địa tầng, đánh giá mức độ chứa dầu khí, và xác định tham số đàn hồi trong địa chất công trì
Hệ thu phát thường có ít nhất 2 điểm thu đặt ở các khoảng cách khác nhau. Có các biến thể chính:
"Suspension PS Logging" hay "PS Log" là một hệ thống đo thí nghiệm địa chấn trong hố khoan sâu trên 50m, nơi phép đo với nguồn trên mặt đất khó với tới được. Nó được các nhà nghiên cứu của "OYO Corporation" (Nhật Bản) phát triển vào giữa những năm 1970.
Đầu đo gồm có nguồn phát sóng và các đầu thu lắp theo giãn cách cỡ 1m, tổng bề dài 6-7m, nối lên mặt đất bằng cáp nhiều ruột. Khoảng nối các phần tử trên làm bằng vật liệu cách âm (Filter tubes) để ngăn sóng truyền trực tiếp theo đầu đo. Nó không có càng ép thành hố khoan, nên chỉ làm việc ở đoạn có dung dịch khoan.
Nguồn phát sóng là một búa điện (Solenoid hammer) phát xung có băng tần 100–1000 Hz, đặt ở dưới cùng. Khi sóng này gặp thành hố khoan sẽ phát sinh trao đổi sóng, cho ra sóng dọc P và sóng ngang SH, lan trong đất đá và khúc xạ về các đầu thu.
Kết quả ghi tại mỗi điểm độ sâu là băng ghi, được vạch sóng xác định thời gian truyền tp, ts. Tốc độ truyền sóng được tính cho hai điểm thu cạnh nhau, và tùy theo offset sẽ phản ánh cho đới xa gần quanh thành hố khoan.
Các phương pháp khác.
Gồm những dạng đo có thể không có nội dung vật lý, nhưng được thực hiện bởi khối điều khiển và tời cáp của hệ thống đo địa vật lý hố khoan.
"Đo đường kính hố khoan" (Caliper log) bằng đầu đo Caliper, thường có dạng 3 cần chìa ra ba hướng với góc 120°. Đầu đo khép cần được thả xuống đáy hố khoan, sau đó mở cần rồi đo trong hành trình kéo lên.
Nó phát hiện các đoạn lở thành do đất yếu, do dung dịch khoan không phù hợp. Ví dụ QL40-CAL 3-Arm Caliper dùng cho hố khoan đường kính 50 – 736 mm (2" - 29").
"Đo độ lệch hố khoan" (Deviation log) nhằm xác định "độ nghiêng" (Inclination) và "phương vị" (Azimuth) thực tế của từng đoạn hố khoan. Nó phục vụ giám sát các hố khoan nghiêng, hoặc để hiệu chỉnh độ sâu cho hố khoan thẳng đứng nhưng thi công bị lệch.
Các máy thế hệ mới dùng "máy đo từ fluxgate" ba thành phần để xác định phương vị, và gia tốc kế (accelerometer) ba thành phần để xác định độ nghiêng, cho ra số đo liên tục, được số hóa và truyền lên mặt đất. Ví dụ đầu đo Mount Sopris QL40-DEV Borehole Deviation.
"Đo nhiệt độ hố khoan" (Temperature log) nhằm xác định tình trạng nhiệt trong hố khoan. Tại các hố khoan địa chất thủy văn (tìm kiếm hoặc quan trắc nước ngầm) thì nhiệt độ liên quan đến "dòng chảy" và "thấm lọc" nước. Ví dụ đầu đo QL40-FTC – Fluid Temperature + Conductivity Probe.
Chụp ảnh thành hố khoan.
"Chụp ảnh thành hố khoan" (Borehole Wall Imaging hay Borehole image logs) thực hiện chụp ảnh dọc thành hố khoan và cho ra ảnh trực quan về thành phần và trạng thái đất đá ở thành hố khoan.
Chụp ảnh thực hiện trong hố khoan khô hoặc nước trong không chống. Hệ thống quan sát như đầu chụp ảnh QL40-OBI-2G Optical Televiewer gồm có camera dạng vành tròn (360°), lăng kính và đèn chiếu LED để thu nhận ảnh. Đầu đo còn có đầu dò độ lệch (Deviation) bằng máy từ fluxgate để định hướng, đảm bảo quét được ảnh liên tục và có số liệu phương vị rõ ràng. Nó cung cấp cả số liệu độ nghiêng và phương vị thực tế của từng đoạn.
Lấy mẫu thành hố khoan.
"Lấy mẫu thành hố khoan" dùng ống chứa dãy các đầu đạn có đầu rỗng và dây giữ, đặt trong ô chứa thuốc súng và kíp điện nhỏ, thả xuống độ sâu quan tâm rồi điểm hỏa. Đầu đạn cắm vào thành hố khoan, thu giữ cỡ 1 cm³ đất đá. Nếu đá cứng thì đầu đạn bị "bẹp đầu". Nó được thực hiện nơi khoan bị thiếu mẫu, hoặc có sự thiếu tương hợp giữa địa tầng khoan và kết quả đo địa vật lý hố khoan. Việc lấy mẫu phải quyết định ngay trước khi rời hiện trường. Ngày nay ít dùng vì các phương pháp khác đủ thông tin để thay thế.
Xử lý phân tích.
Xử lý phân tích là chủ đề rộng như số phương cách đo đạc được áp dụng vào hố khoan. Ngày nay hỗ trợ phân tích được tích hợp trong phần mềm phân tích, như "WellCAD", hiện có version 5.2 (năm 2017), nên công đoạn này được thực hiện nhanh chóng.
Hiệu đính độ sâu.
Khi đo hố khoan, số liệu thô (Raw Data) được ghi trong Cơ sở dữ liệu theo "độ sâu quy ước". Đó là giá trị được tính theo cảm biến độ sâu cho "điểm tính độ sâu quy ước", trong khi ở dãy các đầu đo lắp nối tiếp nhau, thì vị trí "điểm đo vật lý" đã ở cách đó vài mét. Điểm tính độ sâu quy ước tùy thuộc người đo chọn, chẳng hạn chọn là đầu nối cáp khi nó nằm ở miệng hố thì có độ sâu =0.
Hiệu đính độ sâu chỉnh cho số liệu vật lý cụ thể về vị trí đặc trưng của nó, dựa theo độ dịch vị trí của điểm đo với "điểm tính độ sâu quy ước" trên dãy đầu đo.
Xác định ranh giới vật lý-địa chất.
Xác định ranh giới vật lý-địa chất bằng các "điểm đặc trưng" tại vị trí có giá trị thay đổi mạnh. Nếu ranh giới theo các quan sát khác nhau bị lệch nhau thì phải tìm nguyên nhân. Trong thực tế thì có thể xảy ra địa vật lý, hoặc riêng phép đo nào đó, bị sai do lỗi thi công nào đó.
Các phân tích định lượng.
Các phân tích định lượng thì theo quy trình của phương pháp cụ thể. Chẳng hạn kết quả đo phổ gamma chi tiết được dùng cho tính hàm lượng nguyên tố trong mỏ.
Biểu diễn kết quả.
Kết quả của tất cả các phép đo, cùng với cột địa tầng hố khoan đã hiệu chỉnh theo địa vật lý, được biểu diễn thành "Băng ghi địa vật lý hố khoan".
|
Họ Bầu bí (danh pháp khoa học: Cucurbitaceae) là một họ thực vật bao gồm dưa hấu, dưa chuột, bí đao, bầu, bí ngô, mướp, khổ qua, la hán quả. Nó là một trong những họ quan trọng nhất trong việc cung cấp thực phẩm trên thế giới, mặc dù có lẽ không quan trọng như họ Hòa thảo (Poaceae), họ Đậu (Fabaceae) hay họ Cà (Solanaceae).
Phần lớn các loài trong họ này là các loại dây leo sống một năm với hoa khá lớn và sặc sỡ. Phần lớn các loài trong họ rất dễ bị tổn thương trước ấu trùng của một số loài nhậy.
Phân loại gần đây của họ Cucurbitaceae chia nó thành 15 tông như sau:
Phát sinh chủng loài phân tử hiện đại gợi ý về các mối quan hệ như sau:
|
Trường Đại học Vinh
Trường Đại học Vinh () là một đại học đa ngành, đa lĩnh vực, cấp vùng Bắc Trung Bộ, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo , là một trường đại học lớn có vị thế trụ cột trong hệ thống giáo dục bậc cao của Việt Nam. Hiện nay, Trường Đại học Vinh được xếp vào danh sách trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam, đang được đầu tư phát triển thành Đại học, gồm nhiều Trường Đại học thành viên. Trường Đại học Vinh được Bộ GDĐT chọn là 1 trong 8 cơ sở giáo dục đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục của cả nước; tham gia Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông (ETEP)... khẳng định vị thế của Trường trong công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cho khu vực Bắc Trung Bộ và cả nước . Đại học Vinh còn là một Trung tâm nghiên cứu khoa học và tư vấn chính sách công cho tỉnh Nghệ An và các tỉnh Bắc miền Trung Việt Nam. Vị Hiệu trưởng đầu tiên của trường là Nhà giáo Nhân dân, Giáo sư Nguyễn Thúc Hào.
Sứ mệnh, Tầm nhìn, Mục tiêu.
Trường Đại học Vinh là cơ sở giáo dục đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, dẫn dắt sự phát triển giáo dục và đào tạo của khu vực Bắc Trung Bộ; là trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, góp phần thúc đẩy sự phát triển của quốc gia và quốc tế. (Quyết nghị của Hội đồng Khoa học và Đào tạo Nhà trường ngày 01/12/2021)
Mục tiêu tổng quát.
- Tạo dựng môi trường học thuật tốt để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân, hướng tới sự thành công.
- Tạo dựng môi trường học thuật tốt để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân, hướng tới sự thành công, vươn tầm ra khu vực và quốc tế, được xếp hạng trong top 500 trường đại học hàng đầu châu Á.
Triết lý giáo dục.
Khoa học - Hợp tác - Sáng tạo
Đại học Vinh hiện có 03 Trường đào tạo, 04 Viện trực thuộc, 03 Khoa đào tạo, 12 Phòng ban, 11 Trung tâm, 2 văn phòng đại diện với 62 ngành đào tạo đại học; 37 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 17 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ với trên 40.000 sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh.
Trường đào tạo là các cơ sở giáo dục có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng phụ trách nhiệm vụ đào tạo các ngành đào tạo; bồi dưỡng, phát triển các ngành học bao gồm:
Viện đào tạo là các cơ sở giáo dục có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, bao gồm:
Viện có 04 đơn vị trực thuộc gồm:
# Khoa Đào tạo trực tuyến
# Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao công nghệ giáo dục số
# Trung tâm Công nghệ thông tin
# Trung tâm Quản lý và Phát triển học liệu số.
Viện có 01 Studio được trang bị hiện đại, tiện nghi phục vụ cho việc sản xuất học liệu, bài giảng e-Learning và các sản phẩm số khác.
Các trường, khoa, viện cũ.
Hiện các trường, khoa, viện dưới đây đã nâng cấp hoặc sáp nhập thành pháp nhân mới, trở thành các phòng, trung tâm hoặc viện, trường đào tạo trực thuộc:
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Kiến trúc Lưỡng Hà
Lưỡng Hà ("Mesopotamia") là một bình nguyên nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrates thuộc Tây Á, ngày nay là miền nam của Iraq.
Giai đoạn 4000 năm trước Công nguyên.
Các công trình sớm nhất được tìm thấy tại các địa điểm như Mureybet và Abu Hureyra ở Syria vào khoảng 8000 năm trước Công nguyên là các nhà ở bán ngầm ("semi-subterranean dwellings") hình tròn. Một phần tường hình tròn được tìm thấy ở Zagros khoảng 8000 năm trước Công nguyên được xem như di tích kiến trúc đầu tiên của vùng phía bắc Lưỡng Hà. Công trình kiến trúc đầu tiên được ghi nhận ở vùng Hạ Iraq được tìm thấy ở vùng Maghzaliyah, gần Yarim Tepe vào khoảng 7000 năm trước Công nguyên với các thành đá cư trú ("megalithic settlement wall") và các kết hình vuông được làm từ các khối bùn ("tauf"), trên nền đá.
Kiến trúc của người Sumer.
Các cư dân người Sumer đầu tiên đã định cư ở Lưỡng Hà và xây dựng nên nền văn minh ở đây vào khoảng 3500 năm trước Công nguyên cho đến thời đại Babylon. Kiến trúc của vùng Lưỡng Hà thường được xem như bắt đầu với sự hình thành các thành phố của người Sumer và sự sáng tạo nên chữ viết và khoảng 3100 năm trước Công nguyên. Các công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kì Protoliterate là chủ yếu là các đền đài tôn giáo. Người Sumer sử dụng vật liệu chủ yếu xây dựng bằng gạch-bùn, với thể loại công trình nổi tiếng là các Đài chiêm tinh Ziggurat, còn được gọi là bệ núi, ra đời trên cơ sở sùng bái đồi núi, sùng bái thiên thể và tục lệ xem sao, các vì tinh tú trên trời. Ziggurat là loại hình kiến trúc kiểu tầng bậc, bệ cao nọ đặt trên bệ cao kia, càng lên cao thì thu dần lại, có đường dốc trượt hoặc bậc thang thẳng góc hoặc men theo khối xây để đi lên đỉnh, trên đỉnh có một đền thờ nhỏ. Bậc thang có khi đi lên từ bên phải và bên trái khối xây, cũng có kiểu bậc thang xoáy trôn ốc. Mỗi thành phố đều có một hoặc một số Ziggurat. Dấu vết còn lại đã chứng minh đó là những công trình kiến trúc bằng đất nện, bên ngoài có xây một lớp gạch. Ziggurat còn lại ở thành phố Ur là chứng tích nổi tiếng nhất của loại hình kiến trúc này, có niên đại khoảng năm 2125 TCN, có kích thước đáy 65 x 43 m, tầng một cao 9,75 m, tầng hai có kích thước 347 x 23 m, cao 2,5 m, chiều cao tầng trên cùng khoảng 21 m. Ngoài Ziggurat ở Ur, người ta còn tìm thấy dấu vết các Ziggurat khác ở Uruk, Eridou, Ninive và tạo dựng lại cả hình ảnh Ziggurat ở Babilon. Nhìn chung, các Ziggurat có từ ba đến bảy bậc, mỗi tầng được trang trí một màu khác nhau, tượng trưng cho một ngôi sao thờ.
Các ngôi đền điển hình của thời kì Protoliterate, bất kể dạng nền bằng hoặc dạng nền nâng cao được xây dựng tỉ mỉ hơn trong mặt bằng và các chi tiết trang trí. Tường nội thất thường được trang trí bằng các họa tiết hoặc hình mẫu khảm bằng đất nung màu sáng hoặc được mạ đồng. Ở cổng vào các thành phố của người Sume ở Uruk (ngày nay là Tall al-Warka, Iraq) thường có các cột được trang trí theo cách đó. Trong nội thất các tường nền bằng được trang trí với các tranh tường miêu tả các sự tích thần thánh như ở Uqair
Do vùng bình nguyên Tigris-Euphrates không có khoáng vật và cây cối lớn, các cấu trúc của người Sumer thường là từ gạch bùn dạng lồi ("plano-convex mudbrick"). Gạch lồi này được sản xuất từ đất nung hoặc phơi khô dưới ánh nắng mặt trời. Viên gạch có hình dạng với mặt dưới phẳng, mặt trên có dạng chỏm cầu. Người ta sử dụng sử dụng bùn làm vữa kết dính trong kết cấu xây dựng mà không dùng đến xi măng. Để tạo được độ ổn định cho kết cấu, người ta đặt một hàng gạch phẳng xuống đáy của mỗi hàng gạch. Phần lỗ thủng giữa các viên gạch được trét bằng nhựa cây, rơm, sậy và cỏ dại.
Do xây dựng bằng bùn đất, các công trình bằng cuối cùng sẽ bị hư hỏng, do vậy người Sumer phải phá hủy định kì, san phẳng và xây dựng lại trên cùng một địa điểm. Chu kì tái xây dựng các công trình trên cùng một địa điểm dần dần đã nâng cao cốt nền chung của toàn thành phố hơn vùng bình nguyên xung quanh thành các đồi. Các đồi này được tìm thấy ở khắp vùng Cận Đông. Các cuốn sách Sumer cổ đại ("cylinder seals") cũng miêu tả quá trình xây dựng từ cây sậy, không giống với những công trình được xây dựng ở vùng đầm lầy Ả rập phía nam Iraq ngày nay. Các ngôi đền và cung điện của người Sumer được xây dựng bằng các vật liệu và kỹ thuật tiên tiến hơn, ví dụ như trụ tường, hõm tường, bán cột và nền đất sét.
Cuối thiên niên kỷ thứ III trước Công Nguyên, lợi dụng sự suy sụp của Lưỡng Hà, hai tộc người Elam và người Amorites xâm lược tàn phá và cướp bóc. Người Amorites xây dựng hai quốc gia về phía Nam của Lưỡng Hà là Ixine và Laxa; ở phía Bắc của Lưỡng Hà cũng hình thành các quốc gia Esnunna và Marie. Đến lượt các quốc gia trên tranh giành và gây chiến với nhau liên miên, gây nên cảnh đổ nát hoang tàn.
Vào khoảng đầu thế kỷ XIX trước Công Nguyên, người Amorites thống nhất Bắc Lưỡng Hà và hình thành quốc gia cổ Babylon (khác với Tân Babylon sau này) và họ đã thống nhất được khu vực Lưỡng Hà. Quốc gia Babylon cổ nằm trên đường giao lưu quan trọng nối châu Á rộng lớn sang Địa Trung Hải, châu Phi và châu Âu.
Sự cường thịnh và hùng mạnh đạt đến cao điểm vào thời kỳ 1792-1750 trước Công Nguyên, dưới triều đại vua Hammourabi. Nhà nước cổ Babylon thống nhất trên một diện tích lãnh thổ toàn bộ Lưỡng Hà và bị suy sụp vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ II trước Công Nguyên bởi người Catsites nổi dậy và làm chủ hầu hết lãnh thổ của Babylon.
Thủ công nghiệp có nghề làm gạch, luyện kim, đồ trang sức, dệt, da, đóng thuyền, xây dự
Kiến trúc Ả Rập là tinh hoa pha trộn và sáng tạo của các luồng kiến trúc Địa Trung Hải và văn minh sông Hằng xa xội. Thành phố Babylon được bao quanh bởi một bức tường màu vàng dài 13 km và có 300 tháp canh. Đỉnh cao và chiếm về mức độ vĩ đại là một trong bảy kỳ quan cổ của người Babylon: Vườn treo Babylon.
Kỳ quan thế giới này được NebuchADnezzar xây dựng vào khoảng năm 605-562 TCN. Ông coi đó như một món quà dành cho người vợ, một người đã trưởng thành trong vùng đất quanh Media, khao khát cảnh núi rừng hùng vĩ.
Những đường rãnh hùng vĩ cùng các vòi phun nước theo phong cách boroque treo lơ lửng trên các mái vòm đan xen nhau, điều tuyệt diệu trong phong cách núi rừng của đất nước Iran được chuyển về vùng đồng bằng Mesopotamia ảm đạm - Vườn treo Babylon kết hợp trình độ bậc thầy về kỹ thuật với giấc mộng trữ tình. Sử gia có uy tín, người đầu tiên đề cập đến vườn treo là Berossus, một người dân thành Babylon đã viết về vườn treo vào khoảng năm 270 TCN. Ông kể rằng, NebuchADnezzar (605-562 TCN) xây một cung điện mới trong 15 ngày, nền móng bằng đá hay các bãi đất có hình bậc thang tựa như phong cảnh núi rừng. Theo lời Berossus, cây cối được trồng tại đây, cái được gọi là vườn treo, nhằm làm vui lòng một vị hoàng hậu.
Một trong số những thành tích của NebuchADnezzar, theo Berossus biết, mô tả cung điện mới của nhà vua như sau: cung điện cao như núi, một phần xây dựng bằng đá, nghe nói chỉ trong 15 ngày là hoàn tất. Không nêu cụ thể một khu vườn nào cả, nhưng các cung điện chỉ chăm sóc có một khu vườn.
Người Hy Lạp về sau bổ sung thêm nhiều chi tiết. Một giả thuyết kể rằng khu vườn rộng 120 m2, chiều cao của bức tường thành cao khoảng 25 m. Khu vườn có bãi đất tạo hình bậc thang như một nhà hát, với các công trình nhỏ hòa quyện bên trong. Phần nền xây nhiều vách tường, mỗi vách rộng khoảng 7m và cách nhau 3m, để đỡ các dầm bằng đá. Phía trên dầm là ba lớp riêng biệt - sậy đặt trong lớp nhựa đường, hai lớp đá xây bằng gạch, và lớp vỏ ngoài cùng làm bằng chì. Đất trong khu vườn đặt ở trên cùng, nước tưới cây lấy từ các cỗ máy ngụy trang hút nước từ con sông chảy bên dưới.
Một giả thuyết thứ hai cho rằng, có đến 20 vách tường chống. Một giả thuyết thứ ba lại kể khu vườn nằm trên các mái cong dạng vòm xây bằng gạch và nhựa đường: các đinh vít kiểu Archimede nằm dọc theo cầu thang cung cấp nước. Một mô tả khác cho rằng có một công trình phụ gồm các cột bằng đá đỡ các dầm bằng gỗ: dầm làm bằng thân cây cọ. Thay vì bị mục rữa, đã mang chất bổ đến nuôi dưỡng rễ cây trồng trong khu vực treo ở phía trên, toàn bộ khuôn viên được tưới tiêu bằng một hệ thống gồm các vòi phun nước và máng dẫn thiết kế thật tài tình.
Vì có những mô tả trái ngược nhau, một số tỏ ra ngờ vực liệu vườn treo có thật hay không. Tuy không có một đề cập đến bất cứ đặc điểm kiến trúc nào, ngoại trừ các thân cây không bị mục rữa, quả đáng ngạc nhiên. Du khách Hy Lạp chắc hẳn đã chứng kiến việc đưa cây cối lên cao, và chúng ta có thể tìm kiếm những gì còn lại trong đống đổ nát hiện tại theo cách hợp pháp. Nhưng thật không may, các cung điện ở Babylon đã bị những người háo hức tận dụng những viên gạch nung tráng lệ tàn phá hàng ngàn năm trước. Ngày nay chỉ còn lại phần nền móng mà thôi.
Những người thám hiểm ban đầu tìm kiếm các khu vườn trong Cung điện mùa hè trên cao, diện tích khoảng 180 m2, cùng với việc kết hợp các giếng nước công phu, nhưng vẫn không đủ không gian dành cho các bãi đất hình bậc thang và cây cối. Một nhà khảo cổ đã xác định vị trí của khu vườn nằm phía trên một số mái cong dạng vòm mà ông phát hiện nằm ở Cung điện phía Nam, lại một lần nữa cũng có các giếng nước, cái mái dạng vòm còn là nền móng của một khu vực hành chánh, cũng có thể là một nhà lao.
Bất kỳ ai tìm kiếm mặt bằng tầng trệt thuộc khu vực cung điện sẽ nhận thấy các cung điện phía Bắc và phía Nam nằm bên sườn hướng Bắc và Tây, gắn với Euphrates, bằng các công trình nào trong số này cũng đều có các khu vườn tạo hình bậc thang, có lẽ gây ấn tượng nhất là công trình phụ phía Tây. Phần bao quanh này, có diện tích khoảng 190 x 80 m, với các tường ngoài rộng khoảng 20 m, làm bằng gạch đặt trong lớp nhựa đường. Có nhiều căn phòng ở đầu phía Bắc, trong khi ở đầu phía Nam có một góc hình vuông, có lẽ cầu thang đặt trong một góc. Trong công trình độc đáo này, có thể người ta đã tạo hình một khu vườn hình vuông, gần bằng với kích thước yêu cầu, với các ngôi nhà nghỉ trong mùa hè cùng một khu núi non bộ tạo hình bậc thang.
Nhưng vấn đề này chỉ được giải quyết qua những cuộc khai quật gần đây hoặc bằng một số tư liệu chưa tìm thấy từ thời vương triều Nebuchadnezzar. Cho đến lúc này, chúng ta có thể hình dung Vườn treo có các mái dạng vòm và vòi nước hoặc bằng bất cứ hình ảnh nào trong trí tưởng tượng.
Trong lịch sử, từ Assyria được dùng sớm nhất để chỉ vùng thượng sông Tigris, đặt theo tên thủ đô đầu tiên, thành phố cổ Assur. Sau đó, nó ám chỉ một quốc gia và đế chế khống chế toàn bộ Fertile Crescent (vùng đất hình trăng lưỡi liềm ở Trung Đông bao gồm Levant, Lưỡng Hà và Ai Cập cổ), Ai Cập và phần lớn Anatolia. Từ Assyria đích thực chỉ vùng đất ở nửa bắc Lưỡng Hà (nửa phía nam là Babylon), với Nineveh là thủ đô.
Đất nước của người Assyria ở gần miền đồi núi, chạy dài theo sông Tigris tới tận núi Gordiaean hay dãy Carduchian ở Armenia, đôi khi được biết đến như là dãy núi Ashur.
Các vị vua Assyria lãnh đạo một đất nước rộng lớn trong ba thời điểm khác nhau trong lịch sử. Đó là các vương quốc Assyria cổ, giữa và mới. Vương quốc hùng mạnh và nổi tiếng nhất là vương quốc Assyria mới, 911-612 TCN.
Người Assyria đã nghĩ ra cách đào hố dưới chân tường thành, dùng các xe ram có cọc nhọn để phá tường thành. Họ cũng nghĩ ra các đội công binh xây cầu vượt sông với cầu phao hay các chiến binh trang bị túi da bơm căng để bơi.
Nơi có nhiều dấu tích đồ đá mới nhiều nhất ở Assyria là Tell Hassuna, trung tâm của nền văn hóa Hassuna. Buổi ban đầu của vương quốc Assyria không được xác thực rõ ràng lắm. Dựa theo những truyền thuyết Judeo-Christan, thành phố Ashur (Assur) được thành lập bởi Ashur con trai của Shem, người được đời sau xem như là thần bảo trợ của thành phố.
Thung lũng thượng sông Tigris bị thống trị bởi Sumer, Akkad và bắc Babylon; từng là một phần của đế quốc Sargon, đã bị tiêu diệt bởi bọn rợ trong thời Gutian, sau đó xây dựng lại, và kết thúc bởi sự cai trị của vương triều thứ ba Ur.
Những bản khắc chứ đầu tiên của người Assyria xuất hiện sau năm 2000 TCN. Nền quân chủ của Assyria được thiết lập bởi Zuliu, được cho là sống sau Bel-kap-kapu, tổ tiên của Shalmaneser I.
Thành phố Ashur đã có các liên hệ với các thành phố khác trên cao nguyên Anatolia (Thổ Nhĩ Kì ngày nay). Người Assyria thiết lập các khu buôn bán ở Cappadocia, Kanesh vào khoảng 1920 TCN-1840 TCN và 1798 TCN-1740 TCN. Những nơi này được gọi là karum, trong tiếng Akkad nghĩa là cảng, được ràng buộc với các thành phố ở Anatolia nhưng không dính kết về mặt địa lý, có các loại thuế đặc biệt. Chúng được truyền miệng về quá trình giao thương giữa Ashur và Anatolia nhưng không có công trình khảo cổ hay văn bản viết nào thể hiện. Sự trao đổi bao gồm kim loại (có lẽ là chì hay thiếc, không nguyên chất) và hàng dệt vải từ Assyria, chúng được đổi lấy kim loại quý hiếm từ Anatolia.
Nghệ thuật trang trí.
Đến 3000 năm trước Công nguyên trở đi, các hình thức trang trí công trình đã rất phát triển. Gạch ốp lát lưu ly là đỉnh cao của nghệ thuật trang trí mặt tường kiến trúc Lưỡng Hà cổ đại. Gạch có màu men óng ánh khác nhau, có độ bền vững tốt. Nền của những diện tích lớn trang trí bằng gạch lưu ly có màu lam đậm, phù điêu màu trắng hoặc màu vàng kim nhũ, toàn bộ tạo thành những "tấm thảm" rất ấn tượng. Lịch sử phát triển loại gạch lưu ly gắn bó với việc xây dựng lớn của Babilon thời đại Tân Babilon thế kỷ 6 TCN.
Triều đại Nabucodonosor 2 còn để lại cho nhân loại hai chứng tích lớn về kiến trúc có sử dụng gạch lưu ly từ thế kỷ 6. Chứng tích thứ nhất là cửa thành Ishtar, có bố cục trang trí các mảng tường lớn, phân bố đều các hình động vật, lặp di lặp lại một cách đơn giản nhưng ấn tượng về nhịp điệu rất mạnh. Chứng tích thứ hai là bức tường phía sau ngự điện trong cung điện của nhà vua Nabucodonosor. Toàn bộ mặt tường là bức tranh lớn, có một loạt con sư tử ở chân tường, băng giữa của tường có bốn cây, mỗi cây lại đỡ những bó hoa hai tầng, băng trên cùng là dải hoa cỏ.
|
Ba Lan (tiếng Ba Lan: "Polska"), tên chính thức là Cộng hòa Ba Lan (tiếng Ba Lan: "Rzeczpospolita Polska"), là một quốc gia có chủ quyền ở Trung Âu, tiếp giáp với các nước Đức, Slovakia, Cộng hòa Séc, Ukraina, Belarus, Litva, Nga và biển Baltic; diện tích 312.696 km², dân số 38,5 triệu (2020) gần như thuần chủng , đa phần (95%) theo đạo Công giáo Rôma được truyền bá vào đây khi nhà nước Ba Lan đầu tiên hình thành vào thế kỷ thứ X. Lãnh thổ Ba Lan trong lịch sử có nhiều thay đổi, biên giới hiện nay có từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai theo Thoả thuận Yalta.
Quốc gia Ba Lan được thành lập từ hơn 1.000 năm trước và đạt tới thời kỳ hoàng kim ở gần cuối thế kỷ XVI dưới thời Triều đại Jagiellonia, khi Ba Lan là một trong những nước lớn nhất, giàu nhất và mạnh nhất Châu Âu. Năm 1791, hạ viện của Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva chấp nhận Hiến pháp mùng 3 tháng 5, hiến pháp hiện đại đầu tiên của châu Âu và thứ hai trên thế giới sau Hiến pháp Hoa Kỳ. Ngay sau đó, nước này dừng tồn tại sau khi bị phân chia bởi các nước láng giềng là Nga, Áo và Phổ. Ba Lan giành lại độc lập năm 1918 sau Chiến tranh thế giới thứ nhất với tư cách Nền Cộng hoà Ba Lan thứ hai. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai nước này trở thành một quốc gia vệ tinh đi theo chủ nghĩa cộng sản của Liên bang Xô viết với cái tên Cộng hòa Nhân dân Ba Lan. Năm 1989 cuộc bầu cử bán đa đảng đầu tiên tại Ba Lan thời hậu chiến đã chấm dứt cuộc đấu tranh của Công đoàn Đoàn Kết ("Solidarność") khi phong trào này đánh bại những người cầm quyền thuộc Đảng cộng sản Ba Lan. Nền Cộng hoà Ba Lan thứ ba hiện tại đã được thành lập vài năm sau khi một hiến pháp mới ra đời năm 1997. Năm 1999 gia nhập NATO, và năm 2004 tham gia vào Liên minh châu Âu.
Ba Lan là một cường quốc trong khu vực Trung Âu. Nền kinh tế Ba Lan là nền kinh tế lớn thứ sáu trong EU tính theo GDP (tính theo PPP) và là một trong những nền kinh tế năng động trên thế giới. Ba Lan nổi tiếng xuất khẩu các mặt hàng như máy móc, hàng dệt, hoá chất, khoáng sản, gỗ, sản phẩm về da và giấy. Đất nước này cũng đạt thứ hạng cao về Chỉ số phát triển con người. Ba Lan là một quốc gia có nền kinh tế phát triển, một trong những nền kinh tế có mức thu nhập cao theo phân loại của Ngân hàng thế giới, với mức sống, các bảng xếp hạng về chất lượng cuộc sống, an toàn công cộng, giáo dục và tự do kinh tế cũng xếp Ba Lan ở vị trí cao trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh một hệ thống giáo dục tiểu học và trung học phát triển, giáo dục đại học ở Ba Lan là hoàn toàn miễn phí, nhà nước cũng cung cấp một hệ thống an sinh xã hội rộng rãi và một hệ thống chăm sóc sức khỏe phổ cập toàn dân. Ba Lan có tổng cộng 16 Di sản Thế giới được UNESCO công nhận, 15 trong số đó là các di sản văn hóa.
Nguồn gốc quốc hiệu.
Tên gọi của Ba Lan trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Trung. Trong tiếng Anh, quốc gia này được goi là ""Poland"." Bằng tiếng Trung, "Po-land" được phiên âm thành "波蘭" (pinyin: "Bō lán"). "波蘭" có âm Hán Việt là "Ba Lan".
"Cộng hòa Ba Lan" trong tiếng Ba Lan là "Rzeczpospolita Polska". Từ "rzeczpospolita" là cái tên lịch sử từng được sử dụng liên tục từ thế kỷ XVI, thời còn tồn tại Khối thịnh vượng chung Ba Lan - Litva, một chế độ quân chủ do quý tộc bầu chọn. Thuật ngữ "rzeczpospolita" có thể mang ý nghĩa "thịnh vượng chung" hay "cộng hoà" (có hai cách dịch sang tiếng Ba Lan cho thuật ngữ "republic" của tiếng Anh: "republika" và "rzeczpospolita"; nghĩa thứ hai hiện chỉ được sử dụng riêng cho Ba Lan, ví dụ "Republika Czeska" - Cộng hoà Séc, "Republika Francuska" - Cộng hoà Pháp, vân vân). Trong thời dưới quyền cộng sản (1952-1989) tên chính thức của nước này là Cộng hòa Nhân dân Ba Lan ("Polska Rzeczpospolita Ludowa"), cái tên này là sự ngắt đoạn duy nhất trong lịch sử cách gọi tên chính thức.
Ba Lan bắt đầu trở thành một thực thể và lãnh thổ được ghi nhận từ khoảng giữa thế kỷ thứ X dưới thời triều đại Piast. Nhà vua Ba Lan đầu tiên được ghi chép trong lịch sử, Mieszko I, được rửa tội năm 966, chấp nhận Công giáo làm tôn giáo chính thức mới của quốc gia, và đa phần dân cư đều cải theo đạo này trong thế kỷ tiếp sau.
Ở thế kỷ XII, Ba Lan bị phân chia thành nhiều quốc gia nhỏ hơn, các quốc gia này sau đó đã bị các đội quân Mông Cổ tàn phá trong những năm 1241, 1259 và 1287. Năm 1320 Władysław I trở thành vua nước Ba Lan mới tái thống nhất. Con trai ông, Kazimierz III, chấn chỉnh lại nền kinh tế Ba Lan, xây dựng các lâu đài mới và chiến thắng trong cuộc chiến với Lãnh địa công tước Ruthenia (Lwów trở thành một thành phố Ba Lan).
Tử thần Đen (nạn dịch hạch) ảnh hưởng tới hầu như mọi vùng châu Âu trong giai đoạn 1347-1351 không lan tới Ba Lan cho tới tận năm 1389.
Thời triều đại Jagiellon, lập liên minh với nước láng giềng Litva. Một thời kỳ hoàng kim diễn ra trong thế kỷ XVI sau khi Liên minh Lublin, lập ra Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva. Các công dân Ba Lan kiêu hãnh về những quyền tự do thời trước ("Złota Wolność") của mình và hệ thống nghị viện Sejm, với quyền ưu tiên lớn nhất dành cho giới quý tộc "szlachta". Từ thời ấy, người Ba Lan đã coi tự do là giá trị quan trọng nhất của họ; người Ba Lan thường tự gọi mình là "quốc gia của những người tự do". Về lãnh thổ, Ba Lan bành trướng ra xung quanh, chiếm nhiều vùng đất của Đế chế Nga (những vùng mà nay là Ucraina và Belarus) và thậm chí còn từng bao vây thủ đô Moskva của Nga vào năm 1612.
Giữa thế kỷ XVII, Thụy Điển xâm lược Ba Lan trong thời kỳ hỗn loạn của quốc gia này được gọi là "Đại hồng thủy" ("potop"). Nhiều cuộc chiến chống lại Đế quốc Ottoman, Nga, Cossacks, Transilvania và Brandenburg-Phổ cuối cùng kết thúc vào cuối năm 1699. Trong 80 năm tiếp theo, sự suy tàn của chính quyền trung ương và sự đình trệ của các định chế khiến quốc gia trở nên suy yếu, dẫn tới khuynh hướng vô chính phủ và tăng tình trạng phụ thuộc vào Nga. Cuối cùng điều này dẫn tới "Liberum Veto" (phủ quyết tự do), cho phép bất kỳ một thành viên nghị viện nào cũng có thể làm đình trệ hoạt động của Sejm trong kỳ họp, làm tê liệt hoàn toàn bất kỳ nỗ lực cải cách nào. Các Sa hoàng Nga lợi dụng tình trạng chính trị hỗn loạn này cung cấp tiền cho những kẻ phản quốc trong nghị viện để chúng ngăn cản mọi cải cách và nỗ lực thành lập hiến pháp mới cần thiết cho Ba Lan.
Thời kỳ Khai Sáng ở Ba Lan đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển phong trào quốc gia tái thiết đất nước, mang lại hiến pháp văn bản hiện đại đầu tiên của châu Âu, Hiến pháp mùng 3 tháng 5 năm 1791. Quá trình cải cách bị ngừng trệ với ba lần phân chia Ba Lan giữa Nga, Phổ và Áo trong các năm 1772, 1793 và 1795, khiến nước này hoàn toàn tan rã. Những người Ba Lan cảm thấy nền độc lập của họ đang mất đi và đã nhiều lần đứng lên chống lại những kẻ xâm lược (xem Danh sách các cuộc khởi nghĩa Ba Lan).
Napoléon Bonaparte tái lập quốc gia Ba Lan dưới tên Công quốc Warszawa, nhưng sau các cuộc chiến tranh của Napoléon, Ba Lan một lần nữa lại bị phân chia bởi Khối Đồng Minh chống Napoleon tại Hội nghị Wien. Phần phía đông do các Sa hoàng Nga cai quản với tư cách một Vương quốc Hội nghị, và có một hiến pháp tự do. Tuy nhiên, các Sa hoàng nhanh chóng thu hẹp các quyền tự do của người Ba Lan và cuối cùng đã sáp nhập nước này trên thực tế ("de facto"). Cuối thế kỷ XIX, vùng Galicia thuộc quyền quản lý của Áo đã trở thành ốc đảo tự do của Ba Lan.
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất tất cả các nước Đồng Minh đồng ý việc phục hồi quốc gia Ba Lan mà Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã tuyên bố tại Điểm 13 trong văn bản Mười bốn Điểm của ông. Một thời gian ngắn sau khi Đức đầu hàng vào tháng 11 năm 1918, Ba Lan tái giành độc lập trở thành nền Cộng hòa Ba Lan thứ hai ("II Rzeczpospolita Polska"). Nước này tái khẳng định sự độc lập của mình sau một loạt các cuộc xung đột quân sự, nổi tiếng nhất là cuộc Chiến tranh Ba Lan-Xô viết 1919-1921, kết thúc với việc Ba Lan chiếm đóng vùng Tây Ucraina và Tây Belarus.
Cuộc Đảo chính tháng 5 năm 1926 của Józef Piłsudski khiến quyền kiểm soát nền Cộng hòa Ba Lan thứ hai rơi vào tay phong trào Sanacja. Thời kỳ này kéo dài tới khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra ngày 1 tháng 9 năm 1939, khi nước Đức Phát xít và Liên bang Xô viết tấn công Ba Lan (17 tháng 9). Warszawa bị chiếm ngày 28 tháng 9 năm 1939 và Ba Lan được chia thành hai vùng, vùng phía Tây thuộc quyền kiểm soát của Đức Phát xít, còn vùng phía Đông (những lãnh thổ mà Ba Lan chiếm từ Liên Xô vào năm 1921) được trao trả cho Liên Xô như được đồng thuận trong Hiệp ước Ribbentrop-Molotov. Phần phía đông thuộc Phát xít Đức được gộp vào vùng Chính phủ Chung, và phần phía tây (đa số từng thuộc Đức trước Chiến tranh thế giới thứ nhất) được sáp nhập vào Nhà nước Đức.
Trong số tất cả các quốc gia liên quạn tới cuộc chiến, Ba Lan có phần trăm thiệt hại nhân mạng cao nhất: hơn 6 triệu người chết, một nửa trong số đó là người Ba Lan gốc Do Thái. Ba Lan cũng là nước có số quân tham chiến đứng trong khối Đồng Minh, cùng với Hoa Kỳ, và Anh Quốc và Liên Xô, để đánh bại hoàn toàn Phát xít Đức. Khi kết thúc chiến tranh, các biên giới của Ba Lan được mở rộng thêm về phía tây, biên giới phía tây được rời đến ranh giới Oder-Neisse, trong lúc ấy biên giới phía đông lùi về ranh giới Curzon, giống như đường biên giới năm 1919 với Liên Xô. Nước Ba Lan mới xuất hiện nhỏ hơn trước 20% với diện tích 77.500 km² (29.900 dặm vuông). Việc sửa đổi biên giới đã buộc hàng triệu người Ba Lan, Đức, Ukraina và Do Thái phải rời bỏ nhà cửa.
Hậu quả của các sự kiện trên là Ba Lan, lần đầu tiên trong lịch sử đa văn hóa của họ, trở thành một đất nước thống nhất chủng tộc. Một cộng đồng Ba Lan thiểu số vẫn đang sống ở các nước lân cận như Ukraina, Belarus và Latvia, cũng như tại các nước khác (xem bài viết người Ba Lan để biết con số dân). Số lượng người Ba Lan tại nước ngoài đông đảo nhất là ở Hoa Kỳ.
Liên bang Xô viết thành lập ra một chính phủ cộng sản chủ nghĩa mới tại Ba Lan, tương tự với đa phần còn lại của Khối Đông Âu. Sự liên minh quân sự bên trong Khối Hiệp ước Warszawa) trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh cũng là một phần của sự thay đổi này. Năm 1948, bước chuyển sang chủ nghĩa cộng sản khiến nước này bắt đầu bước vào thời kỳ cầm quyền đơn đảng. Nước Cộng hòa Nhân dân Ba Lan ("Polska Rzeczpospolita Ludowa") được chính thức tuyên bố thành lập năm 1952. Năm 1956 chính quyền bắt đầu nới lỏng kiểm soát, thả tự do một số tù nhân chính trị. Trong giai đoạn 1952-1975, kinh tế Ba Lan phát triển nhanh chóng nhờ công nghiệp hóa với sự trợ giúp của Liên Xô. Các sản phẩn xuất khẩu chính của Ba Lan trong thời kỳ này là tàu biển, đầu máy xe lửa, sản phẩm công nghiệp, hóa chất… Nước này còn có thể tự chế tạo nhiều sản phẩm công nghệ tiên tiến như xe tăng T-72, pháo tự hành, linh kiện máy bay chiến đấu.
Tuy nhiên, kinh tế bắt đầu trì trệ từ năm 1980 dẫn tới việc thành lập "Công đoàn Đoàn Kết" ("Solidarność") đối lập, và tổ chức này dần trở thành một lực lượng đối lập chính trị. Công đoàn Đoàn kết làm xói mòn ảnh hưởng thống trị của Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan tức Đảng cộng sản Ba Lan; tới năm 1989 họ đã giành được thắng lợi vang dội trong cuộc bầu cử nghị viện, và Lech Wałęsa, một ứng cử viên của Công đoàn Đoàn kết đã thắng cử tổng thống năm 1990. Phong trào Công đoàn Đoàn kết đã góp phần to lớn vào sự sụp đổ nhanh chóng sau đó của các chính phủ chủ nghĩa cộng sản trên khắp Đông Âu.
Một chương trình liệu pháp sốc đầu thập niên 1990 đã cho phép nước này chuyển đổi nền kinh tế trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh ở vùng Trung Âu vào thập niên 1999. Dù lâm vào tình trạng sụt giảm tạm thời các tiêu chuẩn kinh tế và xã hội, nhưng nước này đã có được nhiều cải thiện về tự do ngôn luận, điều hành đất nước theo quy chế nghị viện. Ba Lan là nước hậu cộng sản đầu tiên khôi phục lại kinh tế sau khủng hoảng chính trị, đạt tới mức GDP bằng với mức trước năm 1989. Tuy nhiên, nhiều ngành thế mạnh một thời của Ba Lan như đóng tàu, chế tạo máy đã vĩnh viễn mất đi sau thời kỳ này.
Năm 1991 Ba Lan trở thành thành viên Nhóm Visegrad và gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) năm 1999 cùng với Cộng hòa Séc và Hungary. Ba Lan đã đồng ý gia nhập Liên minh châu Âu trong một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vào tháng 6 năm 2003, và chính thức trở thành thành viên ngày 1 tháng 5 năm 2004. Ba Lan gia nhập Hiệp ước Schengen vào năm 2007, do đó, biên giới của đất nước này với các quốc gia thành viên khác của Liên minh châu Âu đã bị dỡ bỏ, cho phép người dân Ba Lan được tự do di chuyển hoàn toàn trong lãnh thổ của hầu hết các nước EU. Một phần biên giới phía đông của Ba Lan hiện tạo thành biên giới của EU với các nước Belarus, Nga và Ukraine. Khu vực biên giới này ngày càng được bảo vệ tốt, và một phần dẫn đến việc đặt ra cụm từ 'Pháo đài châu Âu'.
Trong nỗ lực tăng cường hợp tác quân sự với các nước láng giềng, Ba Lan đã thành lập Nhóm Visegrád với Hungary, Cộng hòa Séc và Slovakia, với tổng số 3.000 binh sĩ đã sẵn sàng để triển khai. Ngoài ra, ở phía đông Ba Lan, họ đã thành lập nhóm chiến đấu LITPOLUKRBRIG với Litva và Ukraine. Các nhóm chiến đấu này sẽ hoạt động bên ngoài NATO và trong khuôn khổ của Sáng kiến Quốc phòng châu Âu.
Vào ngày 10 tháng 4 năm 2010, Tổng thống Cộng hòa Ba Lan, Lech Kaczyński, cùng với 89 quan chức cấp cao khác của Ba Lan đã chết trong một vụ tai nạn máy bay thảm khốc gần Smolensk, Nga. Năm 2011, đảng cầm quyền là Đảng Nền tảng Dân sự (Civic Platform) đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc hội. Ba Lan gia nhập Cơ quan Vũ trụ châu Âu vào năm 2012, và đồng tổ chức giải bóng đá UEFA Euro 2012 cùng với Ukraine. Năm 2014, Thủ tướng Ba Lan là Donald Tusk được bầu chọn làm Chủ tịch Hội đồng Châu Âu, ông đã tuyên bố từ chức Thủ tướng. Cuộc bầu cử năm 2015 đã đem về chiến thắng cho đảng đối lập là Đảng Pháp luật và Công lý (PiS).
Ba Lan là một nền dân chủ đại diện, một nước cộng hòa đơn nhất bán tổng thống, với tổng thống là nguyên thủ quốc gia và thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Hiến pháp hiện tại của quốc gia được ban hành từ năm 1997. Cơ cấu chính phủ tập trung vào một Hội đồng Bộ trưởng, do một thủ tướng lãnh đạo. Tổng thống bổ nhiệm các thành viên của nội các theo đề xuất của thủ tướng, thường là những thành viên của các đảng phái thuộc liên minh đa số trong Quốc hội. Tổng thống được bầu bằng hình thức phổ thông đầu phiếu cứ năm năm một lần. Tổng thống hiện tại là Andrzej Duda và thủ tướng là Mateusz Morawiecki. Tổng thống là chỉ huy tối cao của lực lượng vũ trang, có quyền phủ quyết các đạo luật được thông qua bởi quốc hội, trong trường hợp một đạo luật bị Tổng thống phủ quyết nó vẫn có thể được thông qua nếu đạt được sự đồng thuận của ba phần năm số nghị sĩ Quốc hội. Tổng thống cũng có thể giải tán quốc hội trong một số điều kiện nhất định.
Tổng thống, với tư cách là đại diện của nhà nước trong các vấn đề đối ngoại, sẽ quyết định việc phê chuẩn hoặc từ bỏ các thỏa thuận quốc tế, bổ nhiệm và triệu hồi các đại diện toàn quyền của Cộng hòa Ba Lan và sẽ hợp tác với Thủ tướng và Bộ trưởng trong việc đưa ra các chính sách đối ngoại phù hợp. Là Tư lệnh tối cao của lực lượng vũ trang, Tổng thống cũng có quyền bổ nhiệm Tổng tham mưu trưởng và chỉ huy các chi nhánh của lực lượng vũ trang.
Các cử tri Ba Lan là những người bầu ra các đại biểu của quốc hội lưỡng viện bao gồm Hạ viện có 460 thành viên (Sejm) và Thượng viện có 100 thành viên (Senat). Sejm được bầu bằng hình thức đại diện tỷ lệ theo phương pháp d'Hondt, một phương pháp tương tự như được sử dụng trong nhiều hệ thống nhà nước cộng hòa nghị viện trên thế giới. Khác với Sejm, Senat được bầu theo phương thức đa số tương đối, với một thượng nghị sĩ tương ứng với một trong tổng số 100 khu vực bầu cử trên cả nước. Bầu cử quốc hội diễn ra ít nhất bốn năm một lần.
Sau khi chuyển từ chế độ Cộng sản độc đảng sang thể chế đa nguyên chính trị, các đảng phái mọc lên như nấm vào những năm đầu thập niên 1990. Sau cuộc bầu cử tự do đầu tiên vào năm 1991, số ghế tại quốc hội (Sejm) được chia ra cho cả hơn chục đảng phái khác nhau.
Ngoại trừ các đảng dân tộc thiểu số, chỉ những ứng cử viên của các đảng chính trị nhận được ít nhất 5% tổng số phiếu bầu trong cuộc bầu cử quốc gia mới có thể có ghế trong Sejm. Liên minh các đảng cần phải đạt được 8% tổng số phiếu bấu trở lên, kể từ cuộc bầu cử năm 1993.
Trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2015, Đảng Pháp luật và Công lý (PiS), một đảng dân túy cánh hữu theo tư tưởng dân chủ Thiên chúa giáo là đảng giành được số phiếu bầu lớn nhất. Cuộc bầu cử đánh dấu lần đầu tiên trong kỷ nguyên hậu cộng sản của Ba Lan, một đảng chính trị nhận được đủ số phiếu để thành lập một chính phủ đa số. Tổng thống Andrzej Duda cũng là một thành viên của đảng này.
Nhánh tư pháp đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định. Các thể chế chủ yếu của nó gồm Tòa án Tối cao (Sąd Najwyższy), Tòa án Hành chính Tối cao (Naczelny Sąd Administracyjny) - các thẩm phán được Tổng thống chỉ định theo giới thiệu của Hội đồng Quốc gia về Tư pháp trong một thời hạn xác định, Tòa án Hiến pháp (Trybunał Konstytucyjny) - các thẩm phán do Sejm lựa chọn với nhiệm kỳ chín năm và Tòa án Quốc gia (Trybunał Stanu) - các thẩm phán do Sejm lựa chọn với nhiệm kỳ tương đương nhiệm kỳ của Sejm, ngoại trừ chức danh chủ tịch do Chủ tịch thứ nhất Tòa án Tối cao nắm giữ. Sejm (khi được Thượng viện đồng thuận) chỉ định Ombudsman hay Cao ủy Bảo vệ Nhân quyền (Rzecznik Praw Obywatelskich) với nhiệm kỳ chín năm. Ombudsman có trách nhiệm giám sát và thực thi các quyền hạn và các quyền tự do của con người cũng như của công dân, luật pháp và các nguyên tắc của đời sống cộng đồng và sự công bằng xã hội.
Hiến pháp Ba Lan là đạo luật tối cao ở Ba Lan đương đại, và hệ thống pháp luật Ba Lan được dựa trên nguyên tắc quyền dân sự, chi phối bởi các quy định của Luật Dân sự. Trong lịch sử, văn kiện pháp lý nổi tiếng nhất của Ba Lan là Hiến pháp ngày 3 tháng 5 năm 1791. Nhà sử học Norman Davies khẳng định Hiến pháp 1791 của Ba Lan là bản hiến pháp thành văn đầu tiên ở châu Âu và là bản hiến pháp thành văn lâu đời thứ hai trong lịch sử, sau Hiến pháp Hoa Kỳ .
Hiến pháp 1791 đã công nhận sự bình đẳng về chính trị giữa những người thị dân và giới quý tộc (szlachta), và đặt người nông dân dưới sự bảo vệ của chính phủ, qua đó hạn chế được sự bóc lột của chế độ nông nô. Hiến pháp đã bãi bỏ các truyền thống lỗi thời trong nghị viện chẳng hạn như quyền phủ quyết tự do ("Liberum veto"), một quy tắc cổ xưa cho phép bất kỳ thành viên nào của Sejm (cơ quan lập pháp) có thể buộc một phiên họp đang diễn ra của nghị viện phải chấm dứt ngay lập tức và vô hiệu hóa bất kỳ đạo luật nào đã được thông qua tại phiên họp chỉ bằng cách hét lên: "Nie pozwalam!" (Tiếng Ba Lan: "Tôi không cho phép!"). Bản hiến pháp này cũng đã tuyên bố thiết lập một chế độ quân chủ lập hiến dân chủ. Việc thông qua hiến pháp 1791 được coi là mối đe dọa đối với các nước láng giềng của Ba Lan. Để đáp trả, Phổ, Áo và Nga đã thành lập một liên minh chống Ba Lan và trong thập kỷ tiếp theo 3 nước này đã hợp tác với nhau để chia cắt và tiêu diệt nhà nước Ba Lan. Mặc dù vậy, Hiến pháp 1791 đã có ảnh hưởng đến nhiều phong trào dân chủ trên toàn cầu sau này. Ở Ba Lan, quyền tự do ngôn luận được đảm bảo bởi Điều 25 (phần I. Cộng hòa) và Điều 54 (phần II. Các quyền tự do, quyền và nghĩa vụ của cá nhân và công dân) trong Hiến pháp Ba Lan.
Hiến pháp hiện tại của Ba Lan đã được Quốc hội Ba Lan thông qua vào ngày 2 tháng 4 năm 1997, được đa số cử tri cả nước chấp thuận sau một cuộc trưng cầu dân ý quốc gia vào ngày 25 tháng 5 năm 1997 và có hiệu lực kể từ ngày 17 tháng 10 năm 1997. Hiến pháp bảo đảm một quốc gia đa đảng, các quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do lập hội, và đặc biệt gạt bỏ hầu hết các lý tưởng cộng sản để tạo ra một "hệ thống kinh tế thị trường tự do". Nó đòi hỏi các quan chức nhà nước phải theo đuổi các chính sách công cộng về sinh thái và thừa nhận quyền bất khả xâm phạm của các gia đình, quyền thành lập công đoàn và đình công, đồng thời nghiêm cấm các hành vi cưỡng bức, tra tấn và trừng phạt thân thể.
Trước Phân vùng lần thứ ba năm 1795, những người phụ nữ ở Ba Lan được phép tham gia vào đời sống chính trị nếu nộp đủ thuế. Kể từ năm 1918, khi đất nước giành độc lập trở lại, tất cả những người phụ nữ Ba Lan đều có quyền bỏ phiếu. Ba Lan là quốc gia thứ 15 cho phép phụ nữ bầu cử. Hiện tại, ở Ba Lan, phá thai chỉ được phép trong những trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi cuộc sống hoặc sức khỏe của người phụ nữ bị đe dọa bởi việc tiếp tục mang thai, khi mang thai là kết quả của một hành vi tội phạm (chẳng hạn hiếp dâm) hoặc khi thai nhi bị dị tật nghiêm trọng . Đồng tính luyến ái ở Ba Lan được xác nhận là hợp pháp vào năm 1932, tuy vậy nước này không cho phép hôn nhân đồng giới.
Quan hệ ngoại giao.
Trong những năm gần đây, Ba Lan đã mở rộng trách nhiệm và nâng cao vị thế của mình trong các vấn đề của châu Âu và quốc tế, đã thiết lập quan hệ hữu nghị với các quốc gia châu Âu khác và hỗ trợ cho nhiều quốc gia đang phát triển.
Ba Lan là thành viên của Liên minh Châu Âu, NATO, Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Khu vực Kinh tế Châu Âu, Cơ quan Năng lượng Quốc tế, Hội đồng Châu Âu, Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế, Cơ quan vũ trụ châu Âu, G6, Hội đồng các quốc gia vùng biển Baltic, Nhóm Visengard, Tam giác Weimar và Hiệp ước Schengen.
Năm 1994, Ba Lan trở thành thành viên liên kết của Liên minh châu Âu (EU), và chính thức gia nhập Liên minh châu Âu vào tháng 5 năm 2004, cùng với các thành viên khác của nhóm Visegrád. Năm 1996, Ba Lan đã đạt được tư cách thành viên đầy đủ của OECD và tại Hội nghị thượng đỉnh Madrid năm 1997 đã được mời tham gia Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), quốc gia này trở thành thành viên chính thức của NATO vào tháng 3/1999.
Khi sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản vào năm 1989 đã vẽ lại bản đồ châu Âu, Ba Lan đã cố gắng tạo dựng mối quan hệ cùng có lợi và mạnh mẽ với bảy nước láng giềng mới, điều này đáng chú ý bao gồm việc ký kết các hiệp ước hữu nghị để thay thế các liên kết bị cắt đứt sau sự sụp đổ của khối Hiệp ước Warsaw. Ba Lan đã tạo dựng mối quan hệ đặc biệt với Ukraine, quốc gia mà họ đồng tổ chức giải bóng đá UEFA Euro 2012, trong nỗ lực giữ vững mối liên kết của đất nước này với thế giới phương Tây và cung cấp cho nó một giải pháp thay thế cho việc liên minh với Liên bang Nga. Mặc dù có nhiều phát triển tích cực trong khu vực, Ba Lan cũng đang phải tìm cách bảo vệ quyền của người dân tộc Ba Lan sống ở Liên Xô cũ; vào năm 2005 chế độ Lukashenko đã phát động một chiến dịch chống lại người dân tộc thiểu số Ba Lan ở Belarus .
Do lịch sử bi thảm của Ba Lan gắn liền với nhiều cuộc xâm lược của các nước láng giềng hùng mạnh (ví dụ: Phân vùng Ba Lan, Chiến tranh thế giới thứ hai), chính sách đối ngoại của Ba Lan theo đuổi mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với một cường quốc có đủ khả năng để hỗ trợ quân sự mạnh mẽ cho họ trong những tình huống nguy cấp. Điều này tạo ra nền tảng của mối quan hệ chặt chẽ giữa Ba Lan với Hoa Kỳ và sự nhạy cảm trong mối quan hệ giữa Ba Lan với đối tác của họ trong Liên minh Châu Âu là Đức. Đồng thời, yếu tố lịch sử cũng dẫn đến mối quan hệ ngoại giao rất căng thẳng với Nga, vốn đã liên tục xấu đi kể từ khi Vladimir Putin lên nắm quyền.
Trong những năm gần đây, quan hệ giữa Ba Lan với Nga đã xấu đi đáng kể. Ba Lan đã phản đối mạnh mẽ cuộc xâm lược quân sự vào Gruzia do Nga lãnh đạo vào năm 2008, tuyên bố ủng hộ Gruzia và lên án hành động của Nga. Người Ba Lan tin rằng cuộc xâm lược đã được người Nga thực hiện với nỗ lực tái lập và tái khẳng định sự thống trị của mình đối với các nước cộng hòa vệ tinh trước đây. Tuy nhiên, kể từ năm 2009, mối quan hệ với Nga đã phần nào được cải thiện - bất chấp tai nạn máy bay khiến cựu tổng thống Ba Lan qua đời năm 2010 vẫn được coi là một sự kiện gây tranh cãi khi có ý kiến cho rằng người Nga đứng sau vụ tai nạn. Sau cuộc khủng hoảng Crimea năm 2014, mối quan hệ giữa hai bên trở nên xấu đi một lần nữa, khi Ba Lan lên án mạnh mẽ các hành động của Nga chống lại Ukraine.
Ba Lan là quốc gia thành viên đông dân thứ sáu của Liên minh châu Âu và có tổng cộng 51 đại diện trong Nghị viện châu Âu. Kể từ khi gia nhập liên minh năm 2004, chính phủ Ba Lan đã nhất trí theo đuổi những chính sách nhằm tăng cường vai trò của đất nước trong các vấn đề của châu Âu và khu vực.
Lực lượng vũ trang Ba Lan bao gồm năm quân chủng: Lục quân ("Wojska Lądowe"), Hải quân ("Marynarka Wojenna"), Không quân ("Siły Powietrzne"), Lực lượng đặc nhiệm ("Wojska Specjalne") và Lực lượng phòng thủ lãnh thổ ("Wojska Specjalne"), đây là quân chủng mới được thành lập vào năm 2016. Quân đội nằm dưới sự chỉ huy của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, tổng tư lệnh của quân đội là Tổng thống Ba Lan.
Quy mô của quân đội Ba Lan ước tính vào khoảng 101.500 binh sĩ (năm 2016). Hải quân Ba Lan chủ yếu hoạt động ở biển Baltic và thực hiện các nhiệm vụ như tuần tra trên biển, tìm kiếm và cứu hộ trong phạm vi vùng biển thuộc chủ quyền của Ba Lan, ngoài ra còn có thể thực hiện các hoạt động như đo lường và nghiên cứu thủy văn cũng như hỗ trợ hậu cần cho Hải quân Hoa Kỳ. Không quân Ba Lan thường xuyên tham gia vào các nhiệm vụ kiểm soát không phận Baltic, ngoài ra có một số đơn vị đang phục vụ ở Afghanistan. Năm 2003, F-16C Block 52 của Mỹ được chọn làm máy bay chiến đấu đa chức năng chung mới cho lực lượng không quân Ba Lan, đợt giao hàng đầu tiên đã diễn ra vào tháng 11 năm 2006.
Nhiệm vụ quan trọng nhất của lực lượng vũ trang là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Ba Lan cũng như bảo vệ lợi ích của Ba Lan ở nước ngoài. Mục tiêu an ninh quốc gia của Ba Lan là hội nhập hơn nữa với các thể chế quốc phòng, kinh tế và chính trị của NATO và châu Âu thông qua việc hiện đại hóa và tái tổ chức quân đội. Quân đội Ba Lan đang được tổ chức lại theo tiêu chuẩn của NATO và kể từ năm 2010, quá trình chuyển đổi sang chế độ quân nhân hợp đồng đã hoàn tất. Nghĩa vụ quân sự bắt buộc đối với nam giới đã bị bãi bỏ vào năm 2008. Trước đó, nam giới Ba Lan phải phục vụ chín tháng trong quân ngũ khi đủ tuổi.
Học thuyết quân sự Ba Lan nhấn mạnh vào khả năng phòng thủ của quốc gia tương tự như các thành viên NATO khác. Từ năm 1953 đến 2009 Ba Lan đã có đóng góp rất lớn cho các sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Quân đội Ba Lan đã tham gia vào cuộc chiến tranh Iraq năm 2003, triển khai 2.500 binh sĩ tới miền nam Iraq và chỉ huy lực lượng đa quốc gia gồm 17 nước ở Iraq.
Quân đội Ba Lan đã tạm thời bị ảnh hưởng nặng nề bởi vụ tai nạn máy bay Tu-154 năm 2010, vụ tai nạn đã cướp đi sinh mạng của Tổng tham mưu trưởng Quân đội, ông Franciszek Gągor và tướng chỉ huy Không quân Andrzej Błasik, cùng với nhiều nhân vật quan trọng khác .
Hiện tại, quân đội Ba Lan đang trải qua một giai đoạn hiện đại hóa đáng kể, dự định sẽ hoàn thành vào năm 2022. Chính phủ đã chi tới 130 tỷ złoty (34 tỷ USD), tuy nhiên tổng số cuối cùng có thể lên tới 235 tỷ złoty (62 tỷ USD) nhằm thay thế các trang thiết bị lỗi thời và mua hệ thống vũ khí mới . Theo chương trình hiện đại hóa này, quân đội Ba Lan đã đặt mua của Mỹ một loạt các loại thiết vận xa, lựu pháo tự hành, máy bay trực thăng đa chức năng, cùng với đó là một hệ thống tên lửa đất-đối-không tầm trung, tàu ngầm tấn công, tàu dò mìn, và tên lửa chống hạm ven biển. Ngoài ra, quân đội có kế hoạch hiện đại hóa kho dự trữ xe tăng chiến đấu hiện có và nâng cấp các loại súng . Ba Lan hiện đang chi khoảng 2% tổng GDP cho quốc phòng và dự kiến sẽ tăng lên 2,5% GDP vào năm 2030. Vào tháng 5 năm 2017, Bộ Quốc phòng đã đảm bảo rằng quy mô của quân đội Ba Lan sẽ được tăng lên khoảng 250.000 nhân sự hoạt động tích cực.
Thực thi pháp luật và dịch vụ khẩn cấp.
Ba Lan có một hệ thống thực thi pháp luật phát triển cao với một lịch sử lâu dài về tính hiệu quả của Cơ quan Cảnh sát Nhà nước (Policja). Cảnh sát Nhà nước cung cấp dịch vụ điều tra tội phạm, Cảnh sát thành phố phục vụ trật tự công cộng và một số cơ quan chuyên môn khác, như Bộ đội Biên phòng Ba Lan, thực hiện các nhiệm vụ được giao. Ngoài các dịch vụ nhà nước này, các công ty an ninh tư nhân cũng rất phổ biến, mặc dù họ không có quyền hạn được giao cho các cơ quan nhà nước,chẳng hạn như, quyền bắt giữ hoặc giam giữ một nghi phạm.
Các dịch vụ khẩn cấp ở Ba Lan bao gồm các dịch vụ y tế khẩn cấp, các đơn vị tìm kiếm và cứu hộ của Lực lượng Vũ trang Ba Lan và Dịch vụ Cứu hỏa Nhà nước. Các dịch vụ y tế khẩn cấp ở Ba Lan, không giống như các dịch vụ khác, được cung cấp bởi chính quyền địa phương và khu vực.
Kể từ khi gia nhập Liên minh châu Âu, tất cả các dịch vụ khẩn cấp của Ba Lan đã được tiến hành tái cấu trúc lớn và trong quá trình đó, đã có được một lượng lớn các loại thiết bị và nhân sự mới. Tất cả nhân viên dịch vụ khẩn cấp của Ba Lan buộc phải mặc đồng phục và có thể dễ dàng nhận ra. Ngoài ra, cảnh sát và các cơ quan khác đã liên tục thay thế và hiện đại hóa đội xe của họ.
Địa lý Ba Lan gồm hầu như gồm toàn bộ những vùng đất thấp của Đồng bằng Bắc Âu, với độ cao trung bình 173 mét (568 ft), dù Sudetes (gồm Karkonosze) và dãy Núi Carpathia (gồm dãy núi Tatra, nơi có điểm cao nhất Ba Lan, Rysy, 2.499 m hay 8.199 ft) hình thành nên biên giới phía nam. Nhiều con sông lớn chảy ngang các đồng bằng; ví dụ, Wisła, Odra, Warta (Phía Tây) Bug. Ba Lan có hơn 9.300 hồ, chủ yếu ở phía bắc đất nước. Mazuria là vùng hồ lớn nhất và được nhiều du khách tham quan nhất tại Ba Lan. Những tàn tích của các khu rừng cổ vẫn còn sót lại: xem Danh sách những khu rừng tại Ba Lan, Rừng Bialowieza. Ba Lan có khí hậu ôn hoà, thời tiết lạnh, nhiều mây, hơi khắc nghiệt vào mùa đông và mùa hè dễ chịu, thường có mưa rào và mưa sét.
"Xem chi tiết tại:" Poland Topo Map on-line
Phân cấp hành chính.
Ba Lan được chia thành mười sáu tỉnh ("województwa", số ít - "województwo"):
Từ khi quay trở lại chế độ dân chủ, Ba Lan đã kiên định theo đuổi chính sách tự do hoá kinh tế và hiện đã trở thành một trong những ví dụ thành công nhất trong việc chuyển tiếp từ một nền kinh tế nửa tư bản nửa nhà nước sang một nền kinh tế thị trường chủ yếu sở hữu tư nhân. Hiện Ba Lan là nền kinh tế mạnh nhất trong số các nền kinh tế ở Đông Âu thời kỳ hậu cộng sản, và hiện cũng là một trong những nền kinh tế phát triển tăng trưởng nhanh nhất trong khối EU .
Việc tư nhân hoá các công ty nhà nước vừa và nhỏ và luật tự do thành lập các công ty mới đã cho phép lĩnh vực tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ, cùng với đó là sự xuất hiện của những tổ chức vì quyền lợi người tiêu dùng. Việc tái cơ cấu và tư nhân hóa "các lĩnh vực nhạy cảm" (như, than, thép, đường sắt, và năng lượng) đã bắt đầu. Vụ tư nhân hóa lớn nhất là việc bán Telekomunikacja Polska, công ty viễn thông quốc gia cho France Telecom (2000) và phát hành 30% cổ phần của ngân hàng lớn nhất Ba Lan, PKO BP, ra thị trường chứng khoán nước này (2004).
Có một thị trường nội địa mạnh, nợ tư nhân thấp, tỷ lệ thất nghiệp thấp, hệ thống tiền tệ linh hoạt và không phụ thuộc vào một ngành xuất khẩu duy nhất, Ba Lan là nền kinh tế châu Âu duy nhất tránh được những tác động của cuộc suy thoái kinh tế năm 2008 . Kể từ khi chính quyền cộng sản sụp đổ, Ba Lan đã theo đuổi chính sách tự do hóa nền kinh tế. Các mặt hàng xuất khẩu chính của đất nước bao gồm máy móc, đồ nội thất, thực phẩm, quần áo, giày dép và mỹ phẩm . Đối tác thương mại lớn nhất của Ba Lan bao gồm Đức, Cộng hòa Séc, Vương quốc Anh, Pháp và Ý . Theo dữ liệu của Eurostat, GDP bình quân đầu người của Ba Lan đã đạt 71% mức trung bình của EU vào năm 2018, tăng mạnh so với con số 50% vào thời điểm họ mới gia nhập EU vào năm 2004 .
Ba Lan có khu vực nông nghiệp rộng lớn với những trang trại tư nhân với tiềm năng để trở thành nước xuất khẩu lương thực hàng đầu trong Liên minh châu Âu mà họ đang là thành viên. Ba Lan hiện có có tiềm năng rất lớn trở thành nhà sản xuất thực phẩm hàng đầu trong Liên minh châu Âu. Các sản phẩm nông nghiệp đem lại giá trị cao nhất bao gồm cá hun khói và cá tươi, sô cô la hảo hạng, cùng với các sản phẩm từ sữa, thịt và bánh mì . Giá trị xuất khẩu thực phẩm cán mốc 62 tỷ zloty trong năm 2011, tăng 17% so với năm 2010 . Tuy nhiên, những thách thức vẫn tồn tại, đặc biệt là sự phụ thuộc vào đầu tư. Những cải cách cơ cấu trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, hệ thống trợ cấp, và hành chính nhà nước đã tạo ra những áp lực thuế lớn hơn dự kiến. Tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đã đạt mức mạnh mẽ và vững chắc từ năm 1993 tới năm 2000 với chỉ một giai đoạn giảm sút ngắn năm 2001 và 2002. Viễn cảnh hội nhập sâu hơn nữa vào Liên minh châu Âu buộc nền kinh tế phải đi đúng hướng, với mức tăng trưởng hàng năm là 3.7% năm 2003, tăng so với mức 1.4% năm 2002. Năm 2004 tăng trưởng GDP lên đến 5.4%, và năm 2005 là 3.3%. Năm 2017, mức tăng trường kinh tế là 4,9%.
Dù nền kinh tế Ba Lan hiện đang ở giai đoạn phát triển, vẫn còn nhiều thách thức trước mắt. Nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay là chuẩn bị cho nền kinh tế (thông qua việc tiếp tục cải cách cơ cấu một cách sâu rộng) nhằm cho phép nước này đạt các tiêu chí kinh tế chặt chẽ để gia nhập Đồng tiền chung châu Âu.
Kể từ khi mở cửa thị trường lao động Liên minh châu Âu từ năm 2004, ở Ba Lan đã có hơn 2,3 triệu người di cư sang các nước EU khác, chủ yếu là do mức lương cao hơn ở nước ngoài và tình cảnh thất nghiệp hàng loạt trong nước, ngay cả khi Ba Lan đã tránh được tác động của cuộc Đại suy thoái năm 2008 . Tuy vậy làn sóng di cư cũng đã làm tăng mức lương trung bình cho những người lao động ở lại Ba Lan, đặc biệt là những người có trình độ trung cấp . Tỉ lệ thất nghiệp cũng giảm dần; vào tháng 10 năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp ở Ba Lan được ước tính là 3,9%, một trong những quốc gia có tỉ lệ thất nghiệp thấp nhất trong Liên minh châu Âu . Năm 2019, Ba Lan đã thông qua luật miễn thuế thu nhập cho người lao động dưới 26 tuổi .
Các sản phẩm nổi tiếng của Ba Lan gồm quần áo, vật dụng điện tử, ô tô (gồm cả loại xe Leopard hạng sang), xe buýt (Autosan, Jelcz SA, Solaris, Solbus), máy bay trực thăng (PZL Świdnik), phương tiện vận tải, đầu máy xe lửa, máy bay (PZL Mielec), tàu thủy, cơ khí quân sự (gồm xe tăng, các hệ thống SPAAG), dược phẩm (Polpharma, Polfa, ...), thực phẩm, các sản phẩm hóa chất, công nghệ micro chip silicon (Sonion), vân vân.
Tính đến năm 2016, GDP của Ba Lan đạt 467.350 USD, đứng thứ 25 thế giới và đứng thứ 12 châu Âu.
Ba Lan đã trải qua một sự gia tăng số lượng khách du lịch kể từ khi nước này gia nhập Liên minh châu Âu năm 2004. Du lịch đóng góp đáng kể vào nền kinh tế nói chung và chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong khu vực dịch vụ của đất nước.
Thành phố được ghé thăm nhiều nhất là Kraków, cố đô của Ba Lan và là nơi lưu giữ nhiều di tích từ Thời đại Phục hưng Ba Lan. Kraków cũng là nơi tổ chức lễ đăng quang của hầu hết các vị vua Ba Lan trong lịch sừ. Mỏ muối Wieliczka là một điểm du lịch rất hút khách của Krakow. Một thành phố du lịch đáng chú ý khác trong nước là Wrocław, đây là một trong những đô thị cổ nhất ở Ba Lan, nổi tiếng với khu vườn bách thú khổng lồ và những bức tượng "người lùn Wroclaw". Khu Phố cổ lịch sử của thủ đô Warsaw đã được xây dựng lại hoàn toàn sau khi bị phá hủy trong thời chiến. Một số thành phố khác cũng thu hút một lượng lớn khách du lịch bao gồm Gdańsk, Poznań, Szczecin, Lublin, Toruń và các trại tập trung Auschwitz của Đức Quốc xã ở Oświęcim.
Các dịch vụ du lịch chính của Ba Lan gồm có các hoạt động ngoài trời như trượt tuyết, chèo thuyền, leo núi, du lịch thôn quê và tham quan di tích lịch sử. Điểm du lịch bao gồm các bãi biển thuộc biển Baltic ở phía bắc đất nước; Khu vực hồ Masuria và Rừng Białowieża ở phía đông; về phía nam có núi Karkonosze, các dãy núi Table và dãy núi Tatra, nơi có đỉnh Rysy là đỉnh núi cao nhất của Ba Lan, và nổi tiếng với con đường leo núi Orla PERC. Các dãy núi Pieniny và Bieszczady nằm ở cực đông nam. Có hơn 100 lâu đài trong cả nước, tập trung nhiều nhất ở vùng Hạ Silesia và dọc theo Đường mòn tổ chim đại bàng" nổi tiếng
Sản xuất điện ở Ba Lan chủ yếu dựa vào nhiên liệu hóa thạch. Nhiều nhà máy điện trên toàn quốc đã tận dụng trữ lượng than lớn nhất châu Âu của Ba Lan và sử dụng than làm nguyên liệu chính trong sản xuất. Năm 2013, Ba Lan đứng thứ 48 trong 129 quốc gia về Chỉ số bền vững năng lượng. Ba công ty khai thác than lớn nhất của Ba Lan (Węglokoks, Kompania Węglowa và JSW) khai thác khoảng 100 triệu tấn than mỗi năm.
Các dạng năng lượng tái tạo chiếm tỷ lệ nhỏ hơn trong sản lượng sản xuất điện năng của Ba Lan. Tuy nhiên, chính phủ Ba Lan đã đặt ra mục tiêu gia tăng tỉ lệ sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, dự kiến con số này sẽ tăng lên 15% vào năm 2020 (năm 2017 là 10,9%). Mục tiêu này được thực hiện chủ yếu thông qua việc xây dựng các trang trại gió và một số nhà máy thủy điện.
Ba Lan có khoảng 164.800.000.000 mét khối trữ lượng khí đốt tự nhiên và trữ lượng dầu mỏ vào khoảng 96.380.000 thùng. Các nguồn tài nguyên này được khai thác bởi các công ty cung cấp năng lượng chẳng hạn như PKN Orlen ("công ty Ba Lan duy nhất nằm trong Fortune Global 500"), PGNiG. Tuy nhiên, một lượng nhỏ nhiên liệu hóa thạch tự nhiên này là không đủ để Ba Lan đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng lượng một cách đầy đủ cho người dân. Do đó, nước này vẫn phải nhập khẩu dầu và khí tự nhiên.
5 công ty cung cấp điện lớn nhất Ba Lan là PGE, Tauron, Enea, Energa và Innogy Poland.
Giao thông vận tải.
Giao thông vận tải ở Ba Lan gồm có đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường hàng không. Kể từ khi gia nhập EU vào tháng 5 năm 2004, Ba Lan đã đầu tư một lượng lớn quỹ công vào các dự án hiện đại hóa mạng lưới giao thông của mình. Vào cuối năm 2017, Ba Lan có tổng cộng 3.421,7 km (2.126,1 mi) đường cao tốc. Ngoài những con đường mới được xây dựng này, nhiều con đường địa phương và khu vực đang được tu sửa như là một phần của chương trình quốc gia để tái thiết toàn bộ cơ sở hạ tầng đường bộ ở Ba Lan.
Năm 2015, cả nước có 19.000 km (11.800 mi) đường ray. Chính quyền Ba Lan hiện đang duy trì chương trình cải thiện tốc độ vận hành trên toàn bộ mạng lưới đường sắt Ba Lan. Để đạt được điều đó, Công ty Đường sắt quốc gia Ba Lan (PKP) đang đưa vào áp dụng các loại đầu máy xe lửa mới, về lý thuyết có khả năng tăng tốc lên tới 200 km/h (124 dặm / giờ). Ngoài ra, vào tháng 12 năm 2014, Ba Lan đã bắt đầu triển khai các tuyến đường sắt tốc độ cao kết nối các thành phố lớn của Ba Lan. Chính phủ Ba Lan đã tiết lộ rằng họ dự định kết nối tất cả các thành phố lớn với mạng lưới đường sắt cao tốc vào năm 2020. Ba Lan đang dần thực hiện Hệ thống quản lý giao thông đường sắt châu Âu. Các quy định hiện hành của Ba Lan cho phép các chuyến ETCS cấp 0 di chuyển với tốc độ lên tới 160 km / giờ, các chuyến tàu có ETCS cấp 1 có thể di chuyển với tốc độ lên tới 200 km/ giờ và các chuyến tàu có ETCS cấp 2 là trên 200 km/ giờ. Hầu hết các tuyến đường sắt kết nối liên vùng ở Ba Lan được điều hành bởi công ty PKP Intercity, trong khi các chuyến tàu địa phương được điều hành bởi nhiều doanh nghiệp, trong đó lớn nhất là Przewozy Regionalne.
Thị trường vận tải hàng không và hàng hải ở Ba Lan được phát triển khá tốt. Ba Lan có một số sân bay quốc tế, trong đó lớn nhất là Sân bay Warsaw Chopin, trung tâm toàn cầu của hãng hàng không LOT Ba Lan. Nó được thành lập vào năm 1929 từ sự hợp nhất của các hãng Aerolloyd (1922) và Aero (1925). Các sân bay quốc tế lớn khác bao gồm Sân bay quốc tế John Paul II ở Kraków, Sân bay Copernicus ở Wrocław, Sân bay Lech Wałęsa ở Gdańsk.
Các cảng biển nằm dọc theo bờ biển Baltic của Ba Lan, với hầu hết các hoạt động vận chuyển hàng hóa sử dụng Świnoujście, Police, Szczecin, Kołobrzeg, Gdynia, Gdańsk và Elbląg làm căn cứ. Phà chở khách nối Ba Lan với các nước Scandinavia quanh năm; Cảng Gdańsk là cảng duy nhất ở Biển Baltic có thể tiếp nhận tàu đại dương.
Khoa học, Kỹ thuật và Giáo dục.
Giáo dục trong xã hội Ba Lan đã được các vị vua cai trị quan tâm tới ngay từ thế kỷ XII. Cuốn danh mục thư viện Thánh đường Giáo hội Kraków có niên đại từ năm 1110 cho thấy ngay từ đầu thế kỷ XII tầng lớp trí thức Ba Lan đã tiếp cận với văn hóa châu Âu. Năm 1364, tại Kraków, Đại học Jagiellonian, do Vua Casimir III sáng lập đã trở thành một trong những trường đại học lớn và sớm nhất châu Âu. Năm 1773 Vua Stanisław August Poniatowski đã thành lập Hội đồng Giáo dục Quốc gia (Komisja Edukacji Narodowej), bộ giáo dục quốc gia đầu tiên trên thế giới. Ngày nay, Ba Lan có hơn một trăm viện giáo dục sau Trung học; các trường đại học truyền thống có tại các thành phố Gdańsk, Bydgoszcz, Katowice, Kraków, Lublin, Łódź,Olsztyn, Poznań, Rzeszów, Toruń, Warszawa và Wrocław cũng như các trường đại học kỹ thuật, y, kinh tế có mặt ở khắp nơi trên đất nước với khoảng 61.000 nhân viên. Có khoảng 300 viện nghiên cứu và phát triển với 10.000 nhà nghiên cứu. Tổng số có khoảng 91.000 nhà khoa học tại nước Ba Lan hiện nay.
Trong suốt chiều dài lịch sử, nhân dân Ba Lan đã có những đóng góp vô cùng đáng kể cho nhân loại trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và toán học. Nổi tiếng nhất là Nicolaus Copernicus (Mikołaj Kopernik), người đã nêu lên thuyết nhật tâm khẳng định Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Những thành tựu và khám phá của Copernicus được coi là nền tảng của văn hóa và bản sắc văn hóa Ba Lan.
Các tổ chức giáo dục đại học của Ba Lan; các trường đại học truyền thống, cũng như các tổ chức kỹ thuật, y tế và kinh tế, có nhân sự bao gồm khoảng 61.000 nhà nghiên cứu cùng với đội ngũ nhân viên. Có khoảng 300 viện nghiên cứu và phát triển, với tổng cộng khoảng 10.000 nhà nghiên cứu. Tổng cộng, có khoảng 91.000 nhà khoa học ở Ba Lan ngày nay. Tuy nhiên, trong thế kỷ 19 và 20, nhiều nhà khoa học Ba Lan đã làm việc ở nước ngoài; một trong những nhà khoa học lưu vong nổi tiếng nhất là Maria Skłodowska-Curie, một nhà vật lý và hóa học sống phần lớn cuộc đời của bà ở Pháp.
Trong nửa đầu thế kỷ 20, Ba Lan là một trung tâm toán học hưng thịnh. Các nhà toán học xuất sắc người Ba Lan đã thành lập Trường Toán học Lwów (với những tên tuổi như Stefan Banach, Stanisław Mazur, Hugo Steinhaus, Stanisław Ulam) và Trường Toán học Warsaw (với những tên tuổi như Alfred Tarski, Kazimierz Kuratowski, Wacław Sierpiński và Antoni Zyg.
Hơn 40 trung tâm nghiên cứu và phát triển và 4.500 nhà nghiên cứu biến Ba Lan thành trung tâm nghiên cứu và phát triển lớn nhất ở Trung và Đông Âu. Các công ty đa quốc gia như: ABB, Delphi, GlaxoSmithKline, Google, IBM, Intel, LG Electronics, Microsoft, Motorola, Siemens và Samsung đều đã thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển ở Ba Lan vì có sẵn lực lượng lao động trình độ cao, sự hiện diện của các trường đại học, sự hỗ trợ của chính quyền và có một thị trường lớn nhất ở Đông-Trung Âu. Theo báo cáo KPMG năm 2011, 80% các nhà đầu tư hiện tại của Ba Lan hài lòng với lựa chọn của họ và sẵn sàng tái đầu tư.
Viễn thông và Công nghệ thông tin.
Lĩnh vực viễn thông chiếm 4.4% GDP (cuối năm 2000), so với 2.5% năm 1996. Tuy nhiên, dù có chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng viễn thông lớn (mức độ sử dụng điện thoại chỉ tăng từ 78 trên 1000 dân năm 1989 lên 282 năm 2000)
mức độ sử dụng điện thoại di động 660 người trên 1000 dân (2005)
Ba Lan, với 38.544.513 cư dân, có dân số đông thứ tám ở châu Âu và đông thứ sáu trong Liên minh châu Âu. Quốc gia có mật độ dân số 122 người trên mỗi km vuông (328 mỗi dặm vuông).
Trong những năm gần đây, dân số Ba Lan đã có sự suy giảm do sự gia tăng di cư và giảm tỷ lệ sinh. Kể từ khi Ba Lan gia nhập Liên minh châu Âu vào ngày 1 tháng 5 năm 2004, một số lượng đáng kể người Ba Lan đã di cư ra nước ngoài, chủ yếu là tới Vương quốc Anh, Đức và Ireland để tìm kiếm cơ hội làm việc tốt hơn. Với điều kiện kinh tế ngày một cải thiện và mức lương trung bình của Ba Lan hiện đã ở mức 70% mức trung bình của EU trong năm 2016, xu hướng này bắt đầu giảm vào những năm 2010 và lực lượng lao động đang trở nên vô cùng cần thiết ở nước này.
Bộ trưởng Phát triển Ba Lan Mateusz Morawiecki đã kêu gọi người Ba Lan ở nước ngoài nên quay lại Ba Lan. Người thiểu số thuộc dân tộc Ba Lan vẫn còn hiện diện ở nhiều quốc gia láng giềng như Ukraine, Belarus và Litva, cũng như ở nhiều quốc gia khác. Tổng cộng, số người Ba Lan sống ở nước ngoài được ước tính là khoảng 20 triệu. Số lượng người Ba Lan định cư tại nước ngoài nhiều nhất là ở Hoa Kỳ, Đức, Anh và Canada. Tổng tỷ suất sinh(TFR) tại Ba Lan được ước tính vào năm 2016 là 1,39 trẻ em/ 1 phụ nữ. Ba Lan có độ tuổi trung bình là 41,1 tuổi.
Văn hóa Ba Lan có lịch sử lâu dài hàng nghìn năm, có ảnh hưởng từ cả phương Đông và phương Tây.
Ngày nay, chúng ta vẫn thấy các ảnh hưởng đó trong kiến trúc, văn hóa dân gian và nghệ thuật Ba Lan. Ba Lan cũng nằm trong vùng ảnh hưởng từ các nước như Ý, Đế chế Ottoman, Pháp và Mỹ. Giáo hoàng John Paul II, Fryderyk Chopin, Mikołaj Copernicus, Lech Wałęsa, Henryk Sienkiewicz, Adam Mickiewicz, Jan Matejko, Marie Curie, Roman Polański, Witold Gombrowicz và nhiều người khác đều là công dân Ba Lan.
Điện ảnh Ba Lan bắt đầu từ năm 1902, trải qua nhiều biến động lịch sử đã đạt được một số thành tựu và hiện đang trong quá trình hội nhập với thế giới.
Những món ăn nổi tiếng của ẩm thực Ba Lan gồm bigos, kiełbasa, barszcz (súp củ cải đỏ), czernina (súp tiết vịt), schabowy z kapustą, pierogi, gołąbki và nhiều món khoai tây khác.
|
Gạo là một sản phẩm lương thực thu từ cây lúa. Hạt gạo thường có màu trắng, nâu hoặc đỏ thẫm, chứa nhiều dinh dưỡng. Hạt gạo chính là nhân của thóc sau khi xay để tách bỏ vỏ trấu. Hạt gạo sau khi xay được gọi là gạo lứt, gạo lức hay gạo lật, nếu tiếp tục xát để tách cám thì gọi là gạo xát hay gạo trắng, nếu xát rối để giữ phần lớn lượng cám bổ dưỡng thì gọi là gạo xát rối hoặc gạo nguyên cám. Gạo là lương thực phổ biển của gần một nửa dân số thế giới.
Gạo có thể nấu thành cơm, cháo nhờ cách luộc trong nước hay bằng hơi nước. Gạo đồ là loại gạo thu được từ thóc được ngâm nước nóng hoặc sấy trong hơi nước rồi phơi khô sau đó mới được gia công chế biến qua các công đoạn chế biến khác như xay, xát, đánh bóng. Những mảnh vụn của gạo bị vỡ trên đồng lúa, khi phơi khô, khi vận chuyển hoặc khi xay sàng gạo được gọi là gạo tấm. Gạo cũng có thể rang cho vàng rồi giã mịn thành thính gạo, một loại gia vị. Loại bột được làm từ gạo bằng phương pháp ngâm và nghiền, gọi là bột gạo, là thành phần chính của nhiều loại bánh phổ thông và bún tại châu Á.
Từ gạo có thể chế biến thành rất nhiều loại thực phẩm khác nhau như bánh cốm, bánh nếp, bánh tẻ, bánh chưng, xôi, mỳ, bún, phở hay rượu.
Gạo là lương thực chính trong ẩm thực châu Á, khác với lương thực chính trong ẩm thực châu Âu, Mỹ là lúa mỳ, bột mỳ.
Cây lúa hiện nay được nông dân gieo trồng là kết quả xử lý trong phòng thí nghiệm và lai tạo tự nhiên cũng như nhân tạo của nhiều thế kỷ từ cây lúa dại.
Vì quỹ đất có giới hạn, các nhà khoa học đang nghiên cứu biến đổi gien của cây lúa để tạo ra giống lúa mới có năng suất cao, chống được bệnh tật và thời tiết khắc nghiệt, đồng thời rút ngắn thời gian chăm bón và sớm cho thu hoạch. Những thành công ban đầu của lúa biến đổi gien đã được ghi nhận, song hiện các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất được liệu loại lúa này có tác động xấu đến sức khỏe con người hay không.
Lịch sử thuần hóa và trồng trọt.
Có khá nhiều tranh cãi về nguồn gốc thuần hóa gạo. Các bằng chứng về di truyền được công bố trong "Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America" (PNAS) cho thấy rằng tất cả các dạng gạo châu Á, gồm cả "indica" và "japonica", bắt nguồn từ một loài thuần hóa đã bắt đầu cách nay 8.200–13.500 năm ở Trung Quốc từ loài lúa gạo hoang "Oryza rufipogon". Một nghiên cứu công bố năm 2012 trong tạp chí "Nature", đưa ra một bản đồ biến đổi gen lúa gạo, đã chỉ ra rằng việc thuần hóa cây lúa đã diễn ra ở thung lũng Châu Giang của Trung Quốc dựa trên bằng chứng gen. Từ Đông Á, lúa được phát tán về phía nam và Đông Nam Á.
Trước nghiên cứu này, quan điểm được chấp nhận rộng rãi dựa trên các bằng chứng khảo cổ học thì cho rằng lúa được thuần hóa đầu tiên ở thung lũng sông Dương Tử ở Trung Quốc.
Các nghiên cứu về hình thái của gạo từ di chỉ khảo cổ thể hiện rõ ràng sự chuyển tiếp từ việc thu nhặt lúa hoang đến việc trồng lúa gạo thuần hóa. Một số lượng lớn phytolith lúa gạo hoang ở Diaotonghuan có tuổi từ 12.000–11.000 BC chỉ ra rằng việc thu lượm lúa hoang là một phần trong khẩu phần ăn của dân địa phương. Những thay đổi về hình thái của Diaotonghuan phytoliths có tuổi từ 10.000–8.000 BC cho thấy lúa gạo đã được thuần hóa từ lúc này.
Gạo là sản phẩm từ cây lúa và nằm trong một quá trình sản xuất nông nghiệp, thường bao gồm những khâu chính sau: làm đất, chọn thóc giống, gieo hạt, ươm mạ, cấy, chăm bón (bón phân, đổ nước), gặt và xay xát.
Gạo là nguồn thu nhập và cuộc sống của hàng triệu nông dân trên toàn thế giới. Họ dùng khoảng 150 triệu hecta hàng năm để trồng lúa, với sản lượng khoảng 600 triệu tấn.
Châu Á là nơi sản xuất và cũng là nơi tiêu thụ khoảng 90% lượng gạo toàn thế giới.
Ở châu Phi, gần như toàn bộ 38 nước đều trồng lúa trong tổng số 54 quốc gia, song diện tích lúa ở Madagascar và Nigeria chiếm 60% tổng diện tích lúa tương đương 8,5 triệu hecta của châu lục này. Năng suất lúa của châu Phi thấp, khoảng 1,5 tấn/ha và chỉ bằng 40% năng suất của châu Á.
Phần lớn cây lúa nói đến trong sản xuất là lúa nước (tức ruộng lúa phải ngập nước theo một tiêu chuẩn khắt khe), song cũng có những loài lúa mọc trên ở vùng đồi núi mà ít cần đến công tác thủy lợi.
Việc trồng lúa phù hợp nhất tại các khu vực với chi phí nhân công thấp và lượng mưa lớn, do nó đòi hỏi nhiều nhân công để gieo trồng và cần nhiều nước để phát triển tốt. Tuy nhiên, lúa có thể trồng ở bất kỳ đâu, thậm chí ở cả các sườn đồi hay núi. Lúa là loại cây trồng đứng hàng thứ ba trên thế giới, chỉ sau ngô và lúa mì. Mặc dù các loài lúa có nguồn gốc ở khu vực miền nam châu Á và một phần nào đó của châu Phi, nhưng hàng thế kỷ thương mại và xuất khẩu thóc, gạo đã làm cho nó trở thành phổ biến trong nhiều nền văn minh.
Lúa thông thường được gieo hay cấy trong các ruộng lúa nước - các mảnh ruộng được tưới hay ngâm trong một lớp nước không sâu lắm với mục đích đảm bảo nguồn nước cho cây lúa và ngăn không cho cỏ dại phát triển. Khi cây lúa đã phát triển và trở thành chủ yếu trong các ruộng lúa thì nước có thể tưới tiêu theo chu kỳ cho đến khi thu hoạch mùa màng. Các ruộng lúa có tưới tiêu nước làm tăng năng suất, mặc dù lúa có thể trồng tại các vùng đất khô hơn (chẳng hạn các ruộng bậc thang ở sườn đồi) với sự kiểm soát cỏ dại nhờ các biện pháp hóa học.
Ở một vài khu vực có mực nước sâu, người ta cũng có thể trồng các giống lúa mà dân gian gọi nôm na là "lúa nổi". Các giống lúa này có thân dài có thể chịu được mực nước sâu tới trên 2 mét (6 ft).
Các ruộng lúa nhiều nước còn là môi trường sinh sống thích hợp cho nhiều loài chim như cò, vạc, diệc hay chim chích, nhiều loài động vật lưỡng cư như ếch, nhái hay bò sát như rắn hoặc các động vật giáp xác như tôm, tép, cua hay ốc. Nhiều loài động vật có các chức năng hữu ích trong việc kiểm soát các loài sâu bệnh.
Dù trồng trong ruộng nước hay ruộng khô thì cây lúa vẫn đòi hỏi một lượng nước lớn hơn nhiều so với các loại cây trồng khác. Việc gieo trồng lúa là một công việc chứa đựng các yếu tố mâu thuẫn tại một vài khu vực, chẳng hạn tại Hoa Kỳ và Australia, là các khu vực mà việc gieo trồng lúa chiếm tới 7% tài nguyên nước của các quốc gia này nhưng chỉ tạo ra 0,02% GDP. Tuy nhiên, tại các quốc gia có mùa mưa - bão theo chu kỳ thì việc gieo trồng lúa còn có tác dụng giữ cho việc cung cấp nước được duy trì ổn định hơn cũng như ngăn chặn lũ lụt không bị đột ngột.
Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam.
Việt Nam có hai vùng trồng lúa chính là đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam. Vào thời điểm năm 1922 thời Pháp thuộc toàn cõi Việt Nam tức cả ba kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, diện tích canh tác là 4.640.000 hecta lúa với sản lượng 7.200.000 tấn thóc. Năng suất ở mỗi miền khác nhau. Tính đến thập niên 1930 một hecta ở Bắc Kỳ thu hoạch được 1.470 kg thóc; Trung Kỳ đạt 1.370 kg/ha; và Nam Kỳ là 1.340 kg/ha. Tuy nhiên vì diện tích trồng trọt ở Nam Kỳ rộng lớn hơn nên miền Nam đã là vựa thóc, cung cấp phần thặng dư lớn nhất của cả sáu xứ Liên bang Đông Dương.
Sang thế kỷ 21 hàng năm sản lượng của cả nước đạt 33-34 triệu tấn thóc, trong đó chỉ sử dụng khoảng 8 triệu tấn (tương đương 4 triệu tấn gạo sau khi xay xát) cho xuất khẩu, còn lại là tiêu thụ trong nước và bổ sung dự trữ quốc gia.
Ở miền Bắc Việt Nam một năm có hai vụ lúa chính: vụ chiêm và vụ mùa.
Ở miền Nam Việt Nam, nông dân trồng ba vụ một năm: vụ đông xuân (có sản lượng cao nhất và thóc cũng đạt chất lượng tốt nhất cho xuất khẩu), vụ hè thu và vụ ba. Do lũ hàng năm ở đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây ảnh hưởng đến sản xuất, một phần nữa người dân có thể kiếm lời ổn định hơn từ việc nuôi thủy sản (tôm) hay trồng cây ăn quả, chính quyền đã khuyến cáo nông dân giảm và chuyển đổi một phần đất trồng lúa vụ ba.
Và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là bộ chủ quản, quản lý việc sản xuất lúa gạo của Việt Nam.
Hiện nay,Việt Nam là nơi có gạo ngon nhất thế giới, được Liên minh châu Âu và các quốc gia khác trên thế giới công nhận như gạo ST25 của Việt Nam.
Hạt thóc trước tiên được xay để tách lớp vỏ ngoài, đây là gạo xay còn lẫn trấu. Quá trình này có thể được tiếp tục, nhằm loại bỏ mầm hạt và phần còn sót lại của vỏ, gọi là cám, để tạo ra gạo. Gạo sau đó có thể được đánh bóng bằng glucoza hay bột tan ("talc") trong một quy trình gọi là "đánh bóng gạo", chế biến thành bột gạo hoặc thóc được chế biến thành loại thóc luộc thô. Gạo cũng có thể được bổ sung thêm các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các chất bị mất đi trong quá trình xay xát. Trong khi phương pháp đơn giản nhất là trộn thêm các chất dinh dưỡng dạng bột mà rất dễ bị rửa trôi theo nước (tại Hoa Kỳ thì gạo được xử lý như vậy cần có tem mác cảnh báo chống rửa/vo gạo) thì phương pháp phức tạp hơn sử dụng các chất dinh dưỡng trực tiếp lên trên hạt gạo, bao bọc hạt gạo bằng một lớp chất không hòa tan trong nước có tác dụng chống rửa trôi.
Trong khi việc rửa gạo làm giảm sự hữu ích của các loại gạo được làm giàu thì nó lại là cực kỳ cần thiết để tạo ra hương vị thơm ngon hơn và ổn định hơn khi gạo đánh bóng (bất hợp pháp tại một số quốc gia, như Hoa Kỳ) được sử dụng. Cám gạo, gọi là "nuka" ở Nhật Bản, là một mặt hàng có giá trị ở châu Á và được dùng cho nhiều nhu cầu thiết yếu hàng ngày. Nó là lớp chất dầu ẩm ướt bên trong được đun nóng lên để sản xuất một loại dầu ăn có lợi cho sức khỏe. Ứng dụng khác là để làm một loại rau dầm có tên gọi là "tsukemono". Tại nhiều nơi, gạo còn được nghiền thành bột để làm nhiều loại đồ uống như amazake, horchata, sữa gạo và rượu sakê. Bột gạo nói chung an toàn cho những người cần có chế độ ăn kiêng gluten. Gạo là một nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể. Con người hấp thụ chất bột và một số vitamin từ gạo. Có khoảng 2 tỉ người ở châu Á dùng gạo và các chế phẩm từ gạo để bổ sung 60% tới 70% nguồn năng lượng hàng ngày cho cơ thể.
Chế biến và nấu ăn.
Sản phẩm chủ yếu từ gạo là cơm. Gạo có thể nấu thành cơm nhờ cách luộc trong nước (vừa đủ) hay bằng hơi nước. Các nồi cơm điện rất phổ biến ở châu Á, đã đơn giản hóa quá trình này. Gạo cũng có thể nấu thành cháo bằng cách cho nhiều nước hơn bình thường. Bằng cách này gạo sẽ được bão hòa về nước và trở thành mềm, nở hơn. Các món cháo rất dễ tiêu hóa và vì thế nó đặc biệt thích hợp cho những người bị ốm.
Khi nấu các loại gạo chưa xát bỏ hết cám, một cách thức nấu ăn giữ được các chất dinh dưỡng gọi là "Cơm GABA" hay GBR có thể sử dụng. Nó bao gồm việc ngâm gạo trong khoảng 20 giờ trong nước ấm (38 °C hay 100 °F) trước khi nấu. Quá trình này kích thích sự nảy mầm, và nó kích hoạt các enzym có trong gạo. Bằng cách này, người ta có thể thu giữ được nhiều amino acid hơn. Gạo có thể dùng để làm bánh (bánh cuốn, bánh đa, bánh dày, bánh giò, bánh đ), làm bún, nấu rượu, kẹo kéo (mạch nha).
Gạo - hàng hóa.
Sản xuất gạo toàn cầu đã tăng lên đều đặn từ khoảng 200 triệu tấn vào năm 1960 tới 600 triệu tấn vào năm 2004. Gạo đã xay xát chiếm khoảng 68% trọng lượng thóc ban đầu. Năm 2004, ba quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu là Trung Quốc (31% sản lượng thế giới), Ấn Độ (20%) và Indonesia (9%). Theo FAO năm 2005 thế giới sản xuất 628 triệu tấn gạo, đạt mức kỷ lục, nhờ giá cả tăng trong năm 2004 làm tăng diện tích trồng trọt.
Năm 2008, sản lượng lúa gạo của Trung Quốc đạt 193 triệu tấn, Ấn Độ 148 triệu tấn, Indonesia 60 triệu tấn, Bangladesh 47 triệu tấn, Việt Nam 39 triệu tấn, Thái Lan và Myanmar cùng đạt 30,5 triệu tấn.
Các số liệu về xuất nhập khẩu gạo lại khác hẳn, do chỉ khoảng 5-6% gạo được buôn bán ở quy mô quốc tế. Ba nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới là Thái Lan (26% sản lượng gạo xuất khẩu), Việt Nam (15%) và Hoa Kỳ (11%), trong khi ba nhà nhập khẩu gạo lớn nhất là Indonesia (14%), Bangladesh (4%) và Brasil (3%).
Hàng năm có khoảng trên 20 triệu tấn gạo được dùng làm hàng hóa buôn bán trên toàn thế giới. Tổ chức Nông Lương (FAO) của Liên Hợp Quốc cho biết năm 2006 sản lượng gạo hàng hóa có thể đạt 27,8 triệu tấn, so với 29 triệu tấn trong năm 2005.
Năm 2009, tiêu thụ gạo trên thế giới là 531,6 triệu tấn lúa (tương đương 354.603 tấn gạo), trong đó Trung Quốc tiêu thụ 156,3 triệu tấn lúa (chiếm 29,4% toàn thế giới) và Ấn Độ tiêu thụ 123,5 triệu tấn lúa (23,3% của thế giới). Giữa các năm 1961 và 2002, tiêu thụ gạo trên đầu người tăng 40%.
Lúa gạo là cây trồng quan trọng nhất ở châu Á. Ví dụ, ở Campuchia 90% tổng diện tích đất nông nghiệp là trồng lúa.
Tiêu thụ gạo của Hoa Kỳ tăng mạnh trong vòng 25 năm qua, một phần dùng để sản xuất các sản phẩm từ gạo như bia. Gần 1/5 người Mỹ trưởng thành ăn ít nhất nửa khẩu phần gạo trắng hoặc nâu mỗi ngày.
Khủng hoảng thiếu gạo.
Bắt đầu từ khoảng cuối tháng 3 năm 2008, tình hình thiếu thốn lương thực - đặc biệt là gạo - trên toàn thế giới diễn ra hết sức nhanh chóng. Theo dự đoán của bộ Nông nghiệp Mỹ, trong năm 2008 trữ lượng gạo toàn cầu sẽ giảm xuống tới mức thấp nhất trong 25 năm qua, có thể gây ra "cơn đói" mới. Giá gạo liên tục tăng gấp nhiều lần chỉ trong vài tháng, mặc dù theo thông báo sản lượng gạo của các nước xuất khẩu gạo vẫn liên tục tăng.
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng.
Có rất nhiều nguyên nhân được đưa ra về cuộc khủng hoảng gạo lần này, tuy nhiên theo nhiều chuyên gia thì chủ yếu do các nguyên nhân sau:
Tác động môi trường.
Trồng lúa gạo trên các mảnh ruộng đất ngập nước được cho là góp 1,5% khí metan phát thải vào môi trường. Do các mảnh ruộng ngập nước lâu ngày làm cách ly oxy từ khí quyển vào đất làm phát sinh các phản ứng lên men kị khí trong đất. Trồng lúa gạo cần nhiều nước hơn các lại ngũ cốc khác. Trong khi đó sản xuất gạo cần gần 1/3 lượng nước ngọt trên Trái Đất.
Một nghiên cứu năm 2010 cho thấy rằng hậu quả của việc gia tăng nhiệt độ và giảm lượng bức xạ trong những năm cuối của thế kỷ 20 làm cho tỉ lệ tăng năng suất ở một vài nơi thuộc châu Á giảm, so với những nơi được quan sát không thấy xảy ra xu hướng này. Tỉ lệ tăng sản lượng đã giảm 10–20% ở một số nơi. Nghiên cứu ghi nhận ở 227 nông trại ở Thái Lan, Việt Nam, Nepal, Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh, và Pakistan. Cơ chế của sự tụt giảm năng suất này vẫn chưa được rõ ràng, nhưng có lẽ liên quan đến sự gia tăng hô hấp trong những ngày ấm làm tiêu tốn năng lượng cho việc quang hợp.
Sâu bệnh và tác nhân gây hại.
Các tác nhân gây hại đối với lúa gạo là những loài sinh vật hay vi sinh vật có khả năng làm giảm sản lượng hoặc giá trị của cây lúa (hoặc hạt gạo). Các tác nhân gây hại như cỏ dại, dịch bệnh, côn trùng, động vật gặm nhấm và chim. Nhiều yếu tố có thể làm dịch bệnh bùng phát như, khí hậu-thời tiết, công tác thủy lợi không đúng cách, sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và sử dung nhiều phân đạm. Ví dụ như dịch các loài trong họ Cecidomyiidae và "Spodoptera mauritia" bùng phát sau những đợt mưa lớn đầu mùa mưa trong khi đó các loài trong bộ Cánh viền bùng phát vào mùa khô hạn.
Côn trùng gây hại chính cho cây lúa là Rầy nâu (BPH), nhiều loài thuộc nhóm sâu đục thân như các loài thuộc chi "Scirpophaga" và "Chilo", Cecidomyiidae, các loài trong nhóm bugs – nổi tiếng là trong chi "Leptocorisa", sâu cuốn lá, sâu gạo và mọt gạo.
Bệnh đạo ôn, do loài nấm "Magnaporthe grisea" gây ra, là loại bệnh đáng chú ý nhất gây ảnh hưởng tới năng suất lúa. Các loại dịch bệnh khác như: "Rhizoctonia solani", Rice ragged stunt virus (vector truyền bệnh: BPH), và tungro (vector truyền bênh: "Nephotettix" spp). Cũng có loại nấm ascomycete, "Cochliobolus miyabeanus" gây bệnh đốm nâu trên lúa.
Lúa còn bị một số sâu bệnh phá hoại như cháy cổ lá, bạc lá, rầy nâu ("Nilaparvata lugens"), châu chấu, bọ trĩ, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen, rầy xám, các loài bọ xít (họ Pentatomidae) như bọ xít đen, bọ xít xanh, bọ xít dài, bọ xít gai, sâu cuốn lá nhỏ, sâu cuốn lá lớn, sâu đục thân lúa hai chấm, sâu năm vạch đầu nâu, sâu năm vạch đầu đen, sâu cú mèo, sâu keo, sâu cắn gié, sâu đo xanh, ruồi đục nõn, sâu nâu,
Nhiều loài giun tròn nhiễm cây lúa gây ra các bệnh như Ufra (Ditylenchus dipsaci), White tip disease (Aphelenchoide bessei), và bệnh thối rễ (Meloidogyne graminicola). Một số loài giun tròn như "Pratylenchus spp." là nguy hiểm nhất trong lúa nương của tất cả các nơi trên thế giới. Tuyến trùng rễ lúa ("Hirschmanniella oryzae") là một loài ký sinh trong di cư mà mức độ lây nhiễm cao hơn sẽ dẫn đến sự phá hủy hoàn toàn của một vụ lúa. Ngoài việc ảnh hưởng của ký sinh trùng, chúng cũng làm giảm sức sống của thực vật và tăng tính nhạy cảm của cây đối với các sâu bệnh khác.
Các tác nhân gây hại khác.
Các tác nhân gây hại khác như ốc "Pomacea canaliculata", panicle rice mite, chuột đồng, và cỏ dại "Echinochloa crusgali".
Tác hại của gạo với thừa cân, béo phì.
Gạo cũng như các loại lương thực có chứa tinh bột như các loại khoai, sắn, ngô, hạt mít, hạt dẻ và lúa mì là nguy cơ khiến cho thừa cân, béo phì và tiểu đường ngày một gia tăng trên toàn thế giới. Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến đái tháo đường gia tăng nhanh chóng là do môi trường sống, lối sống hiện nay của đa phần người châu Á. Trong đó, thói quen ăn uống nhiều chất bột đường, ít chất xơ khiến lượng đường tăng cao, đặc biệt là ăn nhiều cơm trắng. Cơm trắng từ các loại gạo đã được xay xát kỹ là loại thức ăn có chỉ số đường huyết cao. Sau khi ăn, cơm trắng chuyển hóa rất nhanh trong cơ thể thành đường.
|
Nhà máy điện hạt nhân
Nhà máy điện hạt nhân hay nhà máy điện nguyên tử là một hệ thống thiết bị điều khiển kiểm soát phản ứng hạt nhân dây chuyền ở trạng thái dừng nhằm sản sinh ra năng lượng dưới dạng nhiệt năng, sau đó năng lượng nhiệt này được các chất tải nhiệt trong lò (nước, nước nặng, khí, kim loại lỏ) truyền tới thiết bị sinh điện năng như turbin để sản xuất điện năng.
Lịch sử phát triển.
Điện được tạo ra bởi lò phản ứng hạt nhân lần đầu tiên vào ngày 3 tháng 9 năm 1948 tại Lò phản ứng Graphite X-10 ở Oak Ridge, Tennessee ở Hoa Kỳ.
Vào nửa sau thập niên 1940, trước khi ra đời quả bom hạt nhân đầu tiên của Liên Xô (thử nghiệm diễn ra ngày 29 tháng 8 năm 1949), các nhà khoa học Liên Xô đã bắt đầu xây dựng dự án đầu tiên để khai thác năng lượng hạt nhân với mục đích hòa bình, đây là những hướng đi quan trọng để giải quyết về vấn đề năng lượng đang rất hết sức cấp thiết trong tương lai.
Năm 1948, theo đề xuất của I. V. Kurchatov - người đi đầu trong lĩnh vực hạt nhân của Liên Xô - ông dẫn đầu nhóm nghiên cứu của mình bắt đầu những nghiên cứu đầu tiên về việc áp dụng thực tế năng lượng hạt nhân để thu được nguồn năng lượng điện .
Vào tháng 5 năm 1950 ở gần ngôi làng Obninsk thuộc tỉnh Kaluga (Liên Xô cũ) những công việc để xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên được bắt đầu.
Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của thế giới công suất 5 MW đã hòa vào mạng lưới điện quốc gia ngày 27 tháng 6 năm 1954 ở Liên Xô, tại thành phố Obninsk thuộc tỉnh Kaluga. Tới năm 1958 thì lần lượt các nhà máy khác đi vào hoạt động, đầu tiên là tổ máy số 1 nhà máy điện hạt nhân Sibirskaya với công suất 100 MW, và về sau toàn bộ dự án được hoàn thành thì công suất lên tới 600 MW. Cũng trong năm đó nhà máy điện hạt nhân Beloyarskaya cũng được triển khai xây dựng, nhưng mãi tới ngày 26 tháng 4 năm 1964 thì tổ máy phát điện đầu tiên mới đi vào hoạt động. Tới tháng 8 năm 1964 thì khối 1 của nhà máy điện hạt nhân Novovoronezhskaya với công suất 210 MW mới được khởi công. Khối 2 với công suất 365 MW được khởi công vào tháng 12 năm 1969. Tiếp đến năm 1973 người ta khởi công nhà máy điện hạt nhân Leningradskaya.
Sau Liên Xô thì các nhà máy điện hạt nhân khác cũng được xây dựng, với nhà máy điện hạt nhân Calder Hall ban đầu cũng chỉ có công suất 46 MW được đưa vào vận hành ngày 27 tháng 8 năm 1956 tại Anh. Sau đó 1 năm, tại Mỹ nhà máy điện hạt nhân Beaver Valley với công suất 60 MW cũng được bắt đầu xây dựng tại Shippingport, Pennsylvania.
Năm 1979 xảy ra một sự cố nghiêm trọng tại Mỹ tại nhà máy điện hạt nhân Three Mile Island. Sau sự kiện đó Hoa Kỳ đã ngừng xây dựng các lò phản ứng, trong dự kiến tới năm 2017 sẽ xây dựng xong 2 lò phản ứng mới trong khu nhà máy cũ..
Vào năm 1986 xảy ra một thảm họa hạt nhân rất nghiêm trọng là sự cố nổ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl. Ngoài những hậu quả trực tiếp như gây ô nhiễm phóng xạ các vùng lân cận, nó còn ảnh hưởng tới sự phát triển năng lượng hạt nhân. Điều này khiến toàn bộ các chuyên gia trên thế giới phải xem xét lại các vấn đề an toàn hạt nhân và suy nghĩ về sự hợp tác quốc tế với mục đích nâng cao an toàn trong khai thác, sử dụng năng lượng hạt nhân.
Ngày 15 tháng 5 năm 1989 tại cuộc họp sáng lập tổ chức tại Moskva, người ta đã thành lập Hiệp hội Thế giới các nhà vận hành nhà máy điện hạt nhân (WANO), một hiệp hội chuyên nghiệp quốc tế liên kết các tổ chức vận hành các nhà máy điện hạt nhân trên toàn thế giới. Hiệp hội đã đề ra nhiệm vụ soạn thảo và đưa ra kế hoạch phát triển, vận hành an toàn cho ngành điện hạt nhân trên toàn thế giới.
Nhà máy điện hạt nhân lớn nhất tại châu Âu — Nhà máy điện hạt nhân Zaporizhskaya tại thành phố Enerhodar (tỉnh Zaporizhia, Ukraina), được khởi công vào năm 1980, tới năm 1996 bắt đầu hoạt động với 6 tổ máy có tổng công suất 6 GW.
Nhà máy điện hạt nhân lớn nhất thế giới — Nhà máy điện Kashiwazaki-Kariwa (vận hành từ năm 2008) tại Nhật Bản, xây dựng tại thành phố Kashiwazaki, tỉnh Niigata. Người ta đưa vào vận hành 5 lò phản ứng nước sôi (BWR) và 2 lò phản ứng nước sôi tân tiến (ABWR), tổng công suất là 8,212 GW.
Sự cố nhà máy điện hạt nhân xảy ra gần đây nhất là sự cố nhà máy điện Fukushima 1 của Nhật Bản. Sự cố xảy ra vào tháng 3 năm 2011. Sự cố nhà máy điện Fukushima 1 xảy ra dưới tác động lớn của trận động đất, trận động đất đã phá hủy cấu trúc lò, hệ thống làm mát bị gián đoạn, các thanh nhiên liệu bị nóng chảy. Sự cố trên gây tác động rất nghiêm trọng về người và của. Nhất là một vùng rộng lớn bị nhiễm phóng xạ. Phóng xạ phát tán theo gió đến các vùng khác. Tại Việt Nam cũng đã đo được bụi phóng xạ tại sau vụ nổ nhà máy điện Fukushima.
Sản xuất năng lượng điện.
Với mục đích hòa bình là sản xuất năng lượng điện phục vụ cuộc sống, thì năng lượng điện hạt nhân đóng góp một phần không nhỏ trong ngành năng lượng:
Hiện tại, tương lai và triển vọng.
Nhà máy điện hạt nhân được xây dựng tại 31 quốc gia trên toàn thế giới. Trên thế giới năm 2014 đang có 388 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động với tổng công suất là 333 GW, Công ty TVEL của Nga cung cấp nhiên liệu cho 73 lò phản ứng trên tổng số 388 lò phản ứng (17 % thị trường thế giới).
Tuy vậy hiện có 45 lò phản ứng hạt nhân đã không sản xuất điện trong vòng hơn một năm rưỡi, đa phần trong số đó là của Nhật Bản.
Căn cứ vào báo cáo về tình trạng phát triển công nghiệp năng lượng hạt nhân vào năm 2014 thì sự phát triển đó đang có xu hướng giảm dần. Đỉnh điểm của sự phát triển được ghi nhận vào năm 2006 với mức năng lượng điện là 2,66 TW. Năng lượng hạt nhân năm 1996 chiếm 17,6% năng lượng điện toàn cầu và đã giảm xuống còn 10,8% năm 2013.
Hai phần ba các lò phản ứng hạt nhân được xây dựng tại Trung Quốc, Ấn Độ và Nga. Trong tương lai sẽ có rất nhiều nhà máy điện hạt nhân mới được xây dựng, nhưng đó vẫn là những vấn đề còn nóng hổi gây ra nhiều tranh cãi. Khi mà gần đây vào năm 2011 vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Fukushima-1 tại Nhật Bản xảy ra. Nó làm dấy lên phong trào "có nên tiếp tục sử dụng điện hạt nhân hay không?". Nhưng trên quy mô toàn cầu thì trong vòng 20 năm tiếp theo sẽ có thêm 8 lò phản ứng mới được xây dựng thêm.
Theo nghiên cứu về thời gian làm việc của các lò phản ứng thì tuổi thọ trung bình của mỗi lò phản ứng hạt nhân là 28,5 năm. Lò phản ứng hạt nhân có tuổi thọ lớn nhất là tại Thụy Sĩ với hơn 45 năm làm việc. Hiện tại đã có 153 lò phản ứng ngừng làm việc, thời gian làm việc trung bình của các lò đó là 23 năm.
Viện sĩ Anatoly Alexandrov cho rằng "nguồn năng lượng hạt nhân khổng lồ ấy sẽ đem lại những lợi ích vô cùng to lớn cho nhân loại và giải quyết được một loạt các vấn đề cấp bách cho chúng ta".
Nga là nước đầu tiên trên thế giới xây dựng nhà máy điện hạt nhân nổi, cho phép giải quyết các vấn đề thiếu hụt năng lượng cho những vùng duyên hải xa xôi của đất nước này..
Còn tại Mỹ, Nhật Bản thì các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu và phát triển những nhà máy điện hạt nhân cỡ nhỏ với công suất chỉ từ 10-20 MW nhằm phục vụ cho các mục đích khác nhau như cung cấp nhiệt, cung cấp điện cho các khu chung cư riêng lẻ, cho các khu sản xuất riêng biệt, và trong tương lai là cho các hộ gia đình. Với việc giảm công suất nhà máy điện xuống như thế, thì số lượng lò phải sản xuất là rất lớn. Đó cũng là một thách thức đang được đặt ra cho các nhà khoa học của Mỹ và Nhật Bản.
Phân loại nhà máy điện.
- Phân loại theo mục đích sử dụng (lò hạt nhân thí nghiệm, lò phản ứng hạt nhân thương mại)
- Phân loại theo chất tải nhiệt (lò khí, lò nước, lò kim loạ)
- Phân loại theo năng lượng của neutron (lò phản ứng neutron nhiệt, lò phản ứng neutron nhanh)
- Phân loại theo công suất
- Phân loại theo thế hệ lò
Nguyên tắc hoạt động.
Trên hình đưa ra cho chúng ta biết nguyên tắc làm việc của nhà máy điện hạt nhân với 2 vòng tuần hoàn. Năng lượng nhiệt được sinh ra ở vùng hoạt của lò phàn ứng (nơi xảy ra quá trình phân hạch Uranium-235). Nhiệt được cung cấp cho chất tải nhiệt (chất mang nhiệt), được bơm tuần hoàn trong vòng tuần hoàn một. Tiếp đến chất tản nhiệt (khi đó đã mang nhiệt lượng) sẽ đi tới bộ phận trao đổi nhiệt (trong lò hơi). Ở đây sẽ xảy ra quá trình trao đổi nhiệt, nhiệt từ chất tải nhiệt sẽ được truyền cho nước ở vòng tuần hoàn hai thông qua bộ phận trao đổi nhiệt. Nước ở lò hơi được đung nóng và sôi, hơi nước được tạo thành trong quá trình sôi sẽ được dẫn tới Turbin, hơi nước làm cho Turbin quay, dẫn đến Rotor quay và sinh ra dòng điện.
Hơi nước sau khi đi qua Turbin sẽ tiếp tục đi vào bộ phận ngưng tụ, tại đây hơi nước được làm mát, và bị ngưng tụ tạo thành nước. Nước ngưng tụ được máy bơm bơm ngược lại lò hơi, và tiếp tục một chu kỳ mới.
Chất tản nhiệt ở vòng tuần hoàn 1 sau khi vào bộ phận trao đổi nhiệt, mất đi một phần nhiệt lượng, lại được máy bơm bơm ngược lại lò phản ứng và tiếp tục 1 chu kỳ mới.
Bộ phận bù áp suất là một bộ phận rất quan trọng và rất phức tạp, có nhiệm vụ đảm bảo áp suất ổn định cho lò phản ứng. Khi sự chênh lệch nhiệt độ của chất tản nhiệt sẽ dẫn đến sự thay đổi áp suất của lò phản ứng. Và bộ phận này phải có nhiệm vụ thay đổi một cách nhịp nhàng và nhanh chóng. Khi mà sự thay đổi nhiệt độ xảy ra rất nhanh khoảng từ 10−15 s đến 10−13 s (thời gian xảy ra của một phản ứng phân hạch). Đối với chất tản nhiệt là nước, thì bộ phận bù áp có một nhiệm vụ rất quan trọng, nhằm duy trì ổn định một áp suất cao (Lò PWR là 160 atm), giúp nước ở vòng tuần hoàn một không sôi.
Ngoài nước được sử dụng làm chất tản nhiệt, thì các chất tản nhiệt khác như CO2 được dùng tại Anh, nước nặng, kim loại lỏng như Natri, Chì, Thủy ngâ(nước từ bộ phận sinh hơi - turbin- bộ phận ngưng tụ). Sử dụng các kim loại lỏng sẽ tạo điều kiện cho việc đơn giản hóa lò phản ứng, khi đó bộ phận bù áp vốn rất phức tạp sẽ không còn cần thiết nữa.
Số vòng tuần hoàn của lò phản ứng được thay đổi tùy theo các loại lò khác nhau (Trên hình là loại lò PWR Nước- Nước). Ngoài ra tại Nga còn phát triển loại lò RBMK. Đây là loại lò một vòng tuần hoàn, nước được sôi ngay trên thanh nhiên liệu, tạo ra hơi nước sau đó tới Turbin.
Trong trường hợp không thể cung cấp một lượng nước lớn để làm lạnh hơi nước trong quá trình ngưng tụ, thì ở nhà máy điện được xây dựng hồ chứa nước và tháp ngưng tụ. Tháp có nhiệm vụ làm tăng quá trình đối lưu và quá trình ngưng tụ trong bộ phận ngưng tụ của lò. Tháp ngưng tụ đã trở thành một phần nổi bật của mỗi nhà máy điện hạt nhân.
|
Điện Panthéon (tiếng Pháp: "Le Panthéon" hay đơn giản là "Panthéon"), hay Điện Toàn Thánh hoặc Điện Quán Thánh là một công trình lịch sử nằm trên đồi Sainte-Geneviève, thuộc Quận 5 thành phố Paris. Công trình nằm ở trung tâm khu phố La Tinh, được bao quanh bởi nhà thờ Saint-Étienne-du-Mont, thư viện Sainte-Geneviève, Đại học Paris I Panthéon-Sorbonne, Đại học Paris II Panthéon-Assas, tòa thị chính Quận 5 và trung học Henri-IV.
Ban đầu, Panthéon là một nhà thờ được xây dựng vào thế kỉ 18 để bảo quản thánh tích của thánh Geneviève. Nơi đây đã từng chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Pháp. Hiện nay điện Panthéon là nơi chôn cất và tôn vinh những nhân vật lịch sử và những người đã làm rạng danh cho nước Pháp.
Quá trình xây dựng.
Năm 1744, trong khi đang lâm bệnh nặng tại Metz, vua Louis XV đã đưa ra lời nguyện rằng nếu khỏi bệnh, ông sẽ xây một nhà thờ để dâng kính thánh Geneviève. Sau khi hồi phục sức khỏe và trở lại Paris, ông lập tức ra lệnh cho Hầu tước Marigny xây dựng một nhà thờ đặt trên nền của tu viện Sainte-Geneviève khi đó đang xuống cấp. Năm 1755, Hầu tước Marigny giao trách nhiệm thực hiện việc xây dựng nhà thờ cho kiến trúc sư Jacques-Germain Soufflot.
Phần móng bắt đầu được đào từ năm 1758 và đến ngày 6 tháng 9 năm 1764 vua Louis XV đặt viên đá đầu tiên chính thức khởi công xây dựng. Tuy vậy những khó khăn tài chính và cái chết của Soufflot năm 1780 đã làm chậm tiến độ thi công tòa nhà. Mãi đến năm 1790 nhà thờ mới được khánh thành nhờ nỗ lực của những người cộng tác với Soufflot là Jean-Baptiste Rondelet và Maximilien Brébion.
Sự phát triển về quy mô.
Từ năm 1791 đến năm 1793, tòa nhà được Quatremère de Quincy cải tạo toàn diện để biến nó thành một "panthéon" - một lăng danh nhân. Sau khi Cách mạng Pháp nổ ra và với sự đề nghị của Claude-Emmanuel de Pastoret, Hội đồng lập hiến 1789 đã đưa ra sắc lệnh ngày 4 tháng 4 năm 1791, theo đó Panthéon không còn giữ chức năng của một nhà thờ mà trở thành nơi chôn cất những người có cống hiến đặc biệt to lớn cho nước Pháp: "Để cho ngôi đền của tôn giáo trở thành ngôi đền của đất nước, để cho ngôi mộ của một người vĩ đại trở thành bàn thờ của quyền tự do" ("que le temple de la religion devienne le temple de la patrie, que la tombe d'un grand homme devienne l'autel de la liberté"). Ở phía trước ngôi điện, cũng theo đề nghị của Pastoret, người ta khắc thêm dòng chữ:
Dưới thời Đệ nhất đế chế, một sắc lệnh khác được đưa ra ngày 20 tháng 2 năm 1806, điện Panthéon lại nhận thêm nhiệm vụ là nơi tiến hành các nghi thức tôn giáo. Từ năm 1821 đến năm 1830, toàn bộ ngôi điện được chuyển trở lại thành nhà thờ (dưới thời vua Louis XVIII và Charles X). Từ ngày 15 tháng 8 năm 1830, Panthéon được đặt tên lại thành "Temple de la Gloire" (Điện vinh danh), từ 1848 đến 1851 là "Temple de l'Humanité" (Điện nhân loại). Panthéon còn một lần nữa trở thành nhà thờ dưới thời Đệ nhị đế chế (1851-1870). Mãi cho đến năm 1885, cùng với sự kiện di cốt nhà văn Victor Hugo được đưa vào điện, nhà thờ thánh Geneviève mới hoàn toàn bị rút khỏi khu điện Panthéon, nơi đây chỉ còn là nơi chôn cất những người con làm rạng danh cho nước Pháp.
Nội thất điện Panthéon
Những người nổi tiếng được an nghỉ tại Panthéon.
Quá trình xét duyệt.
Truyền thống đưa những người nổi tiếng vào chôn cất tại các "panthéon" đã có từ thời Ai Cập cổ đại, sau đó là Hy Lap và La Mã. Việc xét duyệt những người đủ tư cách đưa vào Panthéon Paris an nghỉ cũng tuân theo truyền thống này, tuy vậy có nhiều thay đổi theo từng thời kỳ của lịch sử nước Pháp.
Vào năm 1791 khi điện Panthéon mới chính thức có sắc lệnh thành lập, Hội đồng lập hiến là cơ quan quyết định những người có đủ tư cách chôn cất tại Panthéon. Trong thời Đế chế thứ nhất, đương nhiên Napoléon I là người có quyền tối cao trong quá trình xét duyệt. Đến thời Đệ tam cộng hòa thì các nghị sĩ là những người có quyền đề cử và quyết định ai sẽ được đưa vào điện. Vì lý do này có những quyết định đã gây tranh cãi gay gắt trong nội bộ nghị viện Pháp như việc đưa Émile Zola vào Panthéon năm 1908. Hiện nay quyền quyết định tối cao thuộc về Tổng thống Pháp.
Danh sách cụ thể.
Tính cho đến năm 2007, người ta thống kê được tổng cộng 76 người đã được ra quyết định đưa vào Panthéon an nghỉ ("panthéonisation"). Trong số này cũng có những người bị rút ra khỏi điện, đó là:
Cũng có những trường hợp tuy có quyết định nhưng quyết định đó lại không được thi hành, có thể kể tới René Descartes hay Joseph Bara. Một trường hợp đặc biệt khác là tướng Nicolas-Joseph Beaurepaire tuy được quyết định đưa vào Panthéon nhưng do di cốt của ông này chưa tìm được nên quyết định cũng không thể thi hành.
Vì vậy tính đến nay bên trong Panthéon có tổng cộng 65 ngôi mộ, trong đó có 3 ngôi mộ được đưa vào với lý do đặc biệt:
Danh sách cụ thể theo thời kì như sau:
Điện Panthéon và khoa học.
Bên cạnh các sự kiện lịch sử, điện Panthéon còn nổi tiếng với thí nghiệm Con lắc Foucault. Năm 1851, nhà vật lý Jean Bernard Léon Foucault trong khi tìm nơi thực hiện thí nghiệm chứng minh sự tự quay của Trái Đất đã sử dụng điện Panthéon vì chỉ có tòa nhà này mới đủ độ cao cần thiết để treo con lắc. Từ năm 1995, một con lắc Foucault mới đã lại được hoạt động trong Panthéon.
|
Xoáy thuận nhiệt đới
Xoáy thuận nhiệt đới hay bão nhiệt đới là các hệ thống bão (storm system) quay nhanh đặc trưng bởi một trung tâm có áp suất thấp, gió mạnh và cấu trúc mây dông xoắn ốc tạo ra mưa lớn. Phụ thuộc vào vị trí và cường độ, xoáy thuận nhiệt đới được đề cập đến bằng các tên gọi khác nhau như hurricane hay typhoon (tạm dịch: bão cuồng phong), bão nhiệt đới (tropical storm), bão xoáy (cyclonic storm), áp thấp nhiệt đới (tropical depression), hay đơn giản là xoáy thuận (cyclone).
Xoáy thuận nhiệt đới thường hình thành trên đại dương hay những vùng biển lớn có nhiệt độ nước tương đối ấm. Chúng thu thập năng lượng thông qua sự bay hơi của nước từ bề mặt đại dương, nguồn năng lượng này khác so với xoáy thuận ngoại nhiệt đới, những hệ thống lấy nhiên liệu chủ yếu từ sự tương phản nhiệt độ theo chiều ngang (horizontal temperature contrasts). Những cơn gió xoáy mạnh của xoáy thuận nhiệt đới là kết quả của sự bảo toàn momen động lượng truyền đạt bởi sự tự quay của Trái Đất khi những dòng khí thổi vào bên trong hướng tới trục quay. Do vậy, chúng hiếm khi hình thành trong phạm vi từ vĩ độ 5°B đến 5°N hai bên xích đạo. Xoáy thuận nhiệt đới thường có đường kính trong khoảng từ 100 đến 4000 km.
"Nhiệt đới" đề cập đến xuất xứ địa lý của xoáy thuận nhiệt đới, khi mà chúng hầu như chỉ hình thành trên những vùng biển nhiệt đới. "Xoáy thuận" đề cấp đến tính chất gió xoáy tự nhiên của chúng, với gió thổi ngược chiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu và thuận chiều kim đồng hồ ở Nam bán cầu. Sự đối nghịch trong hoàn lưu này là do điểm khác biệt trong hiệu ứng Coriolis về hướng gió giữa hai bán cầu.
Bên cạnh gió mạnh và mưa, xoáy thuận nhiệt đới còn có khả năng tạo ra lốc xoáy, những đợt sóng lớn, và nước biển dâng gây thiệt hại. Chúng thường suy yếu rất nhanh trên đất liền nơi mà chúng bị chia cắt khỏi nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu. Vì lý do đó, những vùng ven biển đặc biệt dễ bị tổn thương do xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ hơn nhiều so với những vùng nội địa, sâu trong đất liền. Tuy nhiên, mưa lớn cũng có thể gây lũ lụt nghiêm trọng trong đất liền, và nước biển dâng có thể tạo ra lũ lụt mở rộng sâu vào bên trong tới 40 km từ đường bờ biển. Mặc dù những tác động của xoáy thuận nhiệt đới đến vùng đông dân cư thường là nghiêm trọng, nhưng chúng cũng có thể làm giảm tình trạng khô hạn. Xoáy thuận nhiệt đới nhiều khi còn mang năng lượng nhiệt ra khỏi vùng nhiệt đới đến những vĩ độ ôn đới, điều này có thể đóng một vai trò quan trọng điều chỉnh khí hậu trong khu vực và toàn cầu.
Cấu trúc vật lý.
Xoáy thuận nhiệt đới là một vùng áp suất tương đối thấp trên tầng đối lưu, với sự xáo trộn áp suất lớn nhất diễn ra tại vị trí có độ cao thấp gần bề mặt. Trên Trái Đất, mức áp suất ghi nhận được tại trung tâm của xoáy thuận nhiệt đới là một trong những mức thấp nhất từng quan trắc được tại mực nước biển. Môi trường gần tâm xoáy thuận nhiệt đới là ấm hơn xung quanh tại mọi độ cao, do đó chúng có đặc tính như một hệ thống "lõi ấm".
Trường gió gần bề mặt của xoáy thuận nhiệt đới đặc trưng bởi dòng không khí quay nhanh quanh tâm hoàn lưu đồng thời tỏa tròn vào bên trong. Tuy nhiên, tại rìa phía ngoài của cơn bão, không khí gần như yên tĩnh, do sự tự quay của Trái Đất, không khí có momen động lượng tuyệt đối khác 0. Khi không khí thổi vào trong, chúng bắt đầu chuyển động xoáy (ngược chiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu, và theo chiều kim đồng hồ ở Nam bán cầu) để bảo toàn momen động lượng. Đến một khoảng bán kính bên trong, dòng không khí bắt đầu thăng lên đến đỉnh tầng đối lưu. Bán kính này thường trùng khớp với bán kính trong của thành mắt bão, là nơi có gió gần bề mặt mạnh nhất của cơn bão, do đó, nó được biết đến như là bán kính gió tối đa. Khi ở trên cao, dòng khí thổi ra khỏi tâm bão, tạo ra một màn mây ti.
Quá trình đã đề cập trước đó dẫn đến kết quả là trường gió có cấu trúc gần như đối xứng trục: vận tốc gió là thấp ở tâm, tăng lên nhanh chóng khi di chuyển ra phía ngoài đến vùng bán kính gió tối đa, và sau đó ngày một giảm dần khi đi ra vùng có bán kính lớn hơn. Tuy nhiên, trường gió thường thể hiện sự biến thiên theo không gian và thời gian, như là có thể tăng giảm kích thước phụ thuộc vào các yếu tố môi trường xung quanh và bản thân cơn bão. Theo chiều thẳng đứng, gió mạnh nhất là ở gần bề mặt và phân rã tại độ cao trong phạm vi tầng đối lưu.
Mắt và trung tâm.
Tại vùng trung tâm của một xoáy thuận nhiệt đới trưởng thành, không khí chìm hơn là thăng lên. Với một cơn bão đủ mạnh, không khí có thể chìm trong một lớp đủ sâu để ngăn chặn sự hình thành mây, bằng cách đó, mắt bão sắc nét được tạo ra. Thời tiết bên trong mắt thường yên bình và không có mây, mặc dù biển có thể động cực kỳ dữ dội. Mắt thường có dạng tròn, và đường kính điển hình là vào khoảng 30 – 65 km, mặc dù đã từng quan sát được những con mắt nhỏ bề rộng chỉ 3 km hay là lớn đến 370 km.
Vùng mây bao quanh rìa của mắt được gọi là thành mắt bão. Thành mắt bão thường mở rộng ra phía ngoài cùng với độ cao, giống như một sân vận động bóng đá; hiện tượng này đôi khi được đề cập đến như là hiệu ứng sân vận động. Thành mắt bão cũng là nơi tìm thấy những cơn gió mạnh nhất, không khí thăng lên với tốc độ nhanh nhất, mây đạt đến độ cao lớn nhất, và sự ngưng tụ - hay lượng ẩm là nhiều nhất. Tổn thất do gió nặng nề nhất xảy ra là khi thành mắt bão của một xoáy thuận nhiệt đới di chuyển qua phía trên đất liền.
Trong những cơn bão yếu hơn, mắt bão có thể bị che khuất bởi một khối mây dày đặc ở trung tâm (central dense overcast - CDO), đó là màn mây ti trên tầng cao kết hợp với vùng mây dông mạnh tập trung gần tâm của xoáy thuận nhiệt đới.
Thành mắt bão có thể biến đổi theo thời gian trong sự hình thành của chu trình thay thế thành mắt bão, hiện tượng này là một phần của những xoáy thuận nhiệt đới cường độ mạnh. Những dải mây mưa phía ngoài có thể tổ chức thành hình dạng tròn như một "chiếc nhẫn" mây dông di chuyển chậm vào phía trong, và chúng được tin rằng đã lấy đi lượng ẩm và momen động lượng của thành mắt bão ban đầu. Khi thành mắt bão đầu tiên suy yếu, xoáy thuận nhiệt đới cũng sẽ suy yếu tạm thời. Cuối cùng thành mắt bão phía ngoài sẽ thay thế cho thành mắt bão trước tại thời điểm cuối của chu trình, và từ đó cơn bão có thể tăng cường trở lại, có thể đạt đến hoặc thậm chí vượt qua cường độ tối đa lúc trước phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố điều kiện môi trường.
"Cường độ" bão được định nghĩa là sức gió, hay là vận tốc gió tối đa trong cơn bão. Vận tốc này được lấy trong khoảng thời gian 1 phút hoặc 10 phút tại độ cao tham chiếu tiêu chuẩn là 10 m. Sự lựa chọn một khoảng thời gian trung bình, cũng như cách thức quy ước tên gọi theo từng cấp độ của bão, là khác nhau giữa các trung tâm dự báo và khu vực đại dương - nơi xoáy thuận nhiệt đới hình thành.
Nếu có cơ hội, xoáy thuận nhiệt đới có thể trải qua một trạng thái khí tượng được biết đến như là một sự tăng cường độ nhanh chóng (rapid intensification), hay một giai đoạn mà trong đó vận tốc gió tối đa tăng lên nhanh chóng trong một quãng thời gian ngắn. Trung tâm Bão Quốc gia Hoa Kỳ định nghĩa sự tăng cường độ nhanh chóng là khi vận tốc gió duy trì liên tục trong 1 phút tối đa của một xoáy thuận nhiệt đới tăng lên ít nhất 30 knot (35 dặm/giờ, 55 km/giờ) trong khoảng thời gian 24 tiếng. Để cho hiện tượng này có thể xảy ra cần phải có một số điều kiện. Nhiệt độ nước biển phải cực kỳ ấm (gần bằng hoặc trên 30 °C, 86 °F), và nước ở nhiệt độ này phải đủ sâu để những con sóng không làm nước lạnh phía dưới trồi lên trên bề mặt. Độ đứt gió (wind shear) phải thấp; khi mà độ đứt gió cao, sự đối lưu và hoàn lưu của xoáy thuận sẽ bị gián đoạn. Thông thường, phải có mặt một xoáy nghịch (antycyclone) trên tầng đối lưu cao ở trên cơn bão cũng như để cho áp suất cực thấp trên bề mặt hình thành, không khí phải thăng lên rất nhanh trong thành mắt bão của cơn bão, và một xoáy nghịch trên tầng cao sẽ giúp điều chỉnh dòng khí này thoát ra một cách hiệu quả.
Có nhiều chuẩn đo phổ biến để xác định kích cỡ của xoáy thuận nhiệt đới. Trong đó phổ biển nhất là sử dụng bán kính gió tối đa, bán kính gió 34 knot (tức là vùng bán kính có gió bão, vận tốc gió lớn hơn 34 knot), bán kính đường đẳng áp kín phía ngoài xa nhất (ROCI), và bán kính gió tan biến. Một chuẩn đo bổ sung là bán kính mà tại đó trường xoáy tương đối của xoáy thuận giảm xuống đến 1×10−5 s−="Liu / Chan AMS"Lỗi: Đã định rõ DOI hư: 10.1175/1520-0493(1999)1272992:SOTCAI2.0.CO;2/ref
Trên Trái Đất, kích cỡ của xoáy thuận nhiệt đới trải dài trên một khoảng rộng, từ 100 đến 2000 km khi đo bằng bán kính gió tan biến. Xoáy thuận nhiệt đới trên Tây Bắc Thái Bình Dương là lớn nhất và trên Đông Bắc Thái Bình Dương là nhỏ nhất. Nếu bán kính của đường đẳng áp kín phía ngoài xa nhất nhỏ hơn 2 vĩ độ (222 km), ta có một xoáy thuận nhiệt đới "rất nhỏ". Bán kính từ 3 đến 6 vĩ độ (333 – 670 km) được xem là trung bình. Xoáy thuận nhiệt đới có kích thước "rất lớn" khi mà ROCI lớn hơn 8 vĩ độ (888 km). Những quan trắc chỉ ra kích cỡ chỉ nhỏ nếu liên quan đến các biến như cường độ bão (vận tốc gió tối đa), bán kính gió tối đa, vĩ độ, và cường độ tiềm năng tối đa.
Kích thước đóng một vai trò quan trọng trong sự điều chỉnh mức độ thiệt hại gây ra bởi một cơn bão. Nếu tất cả những yếu tố khác là như nhau, một cơn bão lớn hơn sẽ tác động đến một khu vực rộng lớn hơn trong một khoảng thời gian dài hơn. Bên cạnh đó, trường gió rộng gần bề mặt có thể tạo ra nước biển dâng cao hơn do sự kết hợp của chiều dài sóng lớn hơn, thời gian dài hơn và sự tăng cường thiết lập các cơn sóng. Ví dụ như cơn bão Sandy tấn công miền Đông nước Mỹ trong năm 2012 là một trong những cơn bão gây thiệt hại lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ do kích thước rất lớn của nó.
Hoàn lưu phía trên của những cơn bão mạnh mở rộng trong phạm vi tầng đối lưu của khí quyển, tại khu vực vĩ độ thấp là 15.000 - 18.000 m.
Vật lý và năng lượng học.
Trường gió trong không gian ba chiều của một xoáy thuận nhiệt đới có thể được phân tách thành hai bộ phận: một hoàn lưu sơ cấp (hoàn lưu cơ bản) và một hoàn lưu thứ cấp. Hoàn lưu sơ cấp là phần chuyển động luân chuyển của dòng thổi; nó là hoàn toàn tròn. Hoàn lưu thứ cấp là phần chuyển động đảo ngược của dòng thổi (vào - lên - ra - xuống), nó có hướng tỏa tròn và theo chiều thẳng đứng. Hoàn lưu sơ cấp là nơi tồn tại gió mạnh nhất và chịu trách nhiệm về những tổn thất lớn nhất mà một cơn bão gây ra, trong khi hoàn lưu thứ cấp quản lý năng lượng học của cơn bão.
Hoàn lưu thứ cấp: một động cơ nhiệt Carnot.
Nguồn năng lượng chủ yếu của một xoáy thuận nhiệt đới là lượng nước bốc hơi từ bề mặt đại dương, chúng ngưng tụ lại thành những đám mây và mưa khi không khí nóng ẩm bay lên cao và lạnh đi đến độ bão hòa. Năng lượng học của hệ thống có thể được lý tưởng hóa như một động cơ nhiệt Carnot khí quyển. Đầu tiên, dòng không khí thổi vào gần bề mặt thu thập năng lượng nhiệt chủ yếu thông qua sự bay hơi của nước tại nơi có nhiệt độ bề mặt đại dương ấm (trong quá trình bay hơi, nước biển lạnh đi và không khí ấm lên). Thứ hai, dòng khí ấm bay lên và lạnh dần đi trong phạm vi thành mắt bão trong khi tổng hàm lượng nhiệt được bảo tồn. Thứ ba, dòng khí thổi ra ngoài và mất nhiệt qua bức xạ nhiệt vào không gian tại nhiệt độ của tầng đối lưu lạnh. Cuối cùng, không khí chìm xuống và ấm lên tại rìa phía ngoài của cơn bão khi tổng hàm lượng nhiệt vẫn được bảo tồn. Giai đoạn một và ba là gần như đẳng nhiệt, trong khi giai đoạn hai và bốn là gần như đẳng entropy. Dòng thổi đảo ngược vào - lên - ra - xuống được biết đến như là hoàn lưu thứ cấp. Quan điểm Carnot cung cấp một giới hạn trên cho vận tốc gió tối đa mà một cơn bão có thể đạt được.
Các nhà khoa học ước tính một xoáy thuận nhiệt đới tỏa ra năng lượng nhiệt từ 50 đến 200 exajoule (1018 J) một ngày, tương đương với khoảng 1 PW (1015 watt). Mức năng lượng tỏa ra này tương đương 70 lần mức tiêu thụ năng lượng của toàn bộ con người trên Trái Đất và 200 lần công suất phát điện trên toàn cầu, hay tương đương với việc một quả bom nguyên tử có đương lượng 10 megaton nổ mỗi 20 phút.
Hoàn lưu sơ cấp: những cơn gió xoáy.
Dòng thổi xoáy sơ cấp trong một xoáy thuận nhiệt đới là kết quả từ sự bảo toàn momen động lượng bởi hoàn lưu thứ cấp. Momen động lượng tuyệt đối (trong khí tượng học) trên một hành tinh quay formula_1 được tính như sau:
trong đó formula_3 là tham số Coriolis, formula_4 là vận tốc gió phương vị, và formula_5 là bán kính đến trục quay. Vế đầu tiên bên phải là thành phần momen động lượng hành tinh chiếu lên trục thẳng đứng (trục quay). Vế thứ hai bên phải là momen động lượng tương đối của hoàn lưu đối với trục quay. Vì momen động lượng hành tinh biến mất tại xích đạo (nơi mà formula_6), nên xoáy thuận nhiệt đới hiếm khi hình thành trong phạm vi vĩ độ 5 gần xích đạo (từ 5°B đến 5°N).
Khi những dòng khí thổi tỏa tròn vào bên trong ở mực thấp, chúng bắt đầu chuyển động xoáy để bảo toàn momen động lượng. Tương tự, khi mà dòng khí xoáy nhanh thổi tỏa tròn ra phía ngoài ở gần tầng đối lưu, vòng xoay của nó giảm dần và cuối cùng thay đổi dấu hiệu tại nơi có bán kính đủ lớn. Kết quả là một cấu trúc theo chiều dọc đặc trưng bởi một xoáy thuận mạnh tại mực thấp và một xoáy nghịch mạnh gần tầng đối lưu; theo sự cân bằng gió nhiệt, điều này phù hợp với một hệ thống có trung tâm ấm hơn môi trường xung quanh tại mọi độ cao ("lõi ấm"). Theo như cân bằng thủy tĩnh, lõi ấm chuyển đổi thành áp suất thấp hơn ở trung tâm tại mọi độ cao, với sự giảm áp suất tối đa xảy ra ở vị trí trên bề mặt.
Các khu vực lớn và trung tâm cảnh báo liên quan.
Có sáu Trung tâm Khí tượng Chuyên ngành Khu vực (RSMC) trên thế giới. Các tổ chức này được chỉ định bởi Tổ chức Khí tượng Thế giới và họ có trách nhiệm theo dõi, ban hành các bản tin, cảnh báo, và thông báo về các xoáy thuận nhiệt đới nằm trong khu vực họ chịu trách nhiệm. Bên cạnh đó, có sáu Trung tâm Cảnh báo Xoáy thuận nhiệt đới (TCWC) cung cấp các thông tin trong phạm vi các vùng nhỏ hơn. RSMC và TCWC không phải là những tổ chức duy nhất cung cấp thông tin công khai về xoáy thuận nhiệt đới. Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) cũng ban hành những thông báo tại tất cả các khu vực xoáy thuận nhiệt đới trừ Bắc Đại Tây Dương nhằm phục vụ cho mục đích của Chính phủ Mỹ. Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) cũng ban hành những thông báo và đặt tên cho những xoáy thuận nhiệt đới tiến gần đến Philippines trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương để bảo vệ mạng sống và tài sản cho công dân nước họ. Trung tâm Bão Canada (CHC) ban hành những thông báo về xoáy thuận nhiệt đới và tàn dư của chúng dành cho công dân Canada khi chúng tác động đến đất nước này.
Vào ngày 26 tháng 3 năm 2004, Xoáy thuận Catarina đã trở thành xoáy thuận Nam Đại Tây Dương đầu tiên từng được ghi nhận và sau đó nó đã tấn công miền Nam Brazil với sức gió tương đương bão cấp 2 trong thang bão Saffir-Simpson. Khi mà xoáy thuận này hình thành ngoài phạm vi có thẩm quyền của các trung tâm cảnh báo khác, các nhà khí tượng học Brazil ban đầu đã xem nó như một xoáy thuận ngoại nhiệt đới, nhưng về sau đã phân loại nó là nhiệt đới.
Trên Trái Đất, xoáy thuận nhiệt đới hoạt động mạnh nhất vào cuối mùa hè, thời điểm mà sự chênh lệch giữa nhiệt độ ở trên cao và nhiệt độ bề mặt nước biển là lớn nhất. Tuy nhiên, mỗi khu vực lại có một hình mẫu mùa bão riêng. Tính trên toàn cầu, tháng 5 là tháng xoáy thuận nhiệt đới ít hoạt động nhất, ngược lại tháng 9 là tháng hoạt động mạnh nhất. Tháng 11 là tháng duy nhất mà toàn bộ các khu vực xoáy thuận nhiệt đới cùng trong giai đoạn hoạt động chính thức.
Trên khu vực Bắc Đại Tây Dương, mùa bão phân biệt diễn ra từ ngày 1 tháng 6 đến 30 tháng 11, đỉnh điểm là vào cuối tháng 8 đầu tháng 9. Tính trung bình theo thống kê, ngày 10 tháng 9 là thời điểm đạt đỉnh của mùa bão Đại Tây Dương. Vùng Đông Bắc Thái Bình Dương có giai đoạn hoạt động mở rộng hơn, nhưng khung thời gian cũng tương tự như Đại Tây Dương. Khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương chứng kiến xoáy thuận nhiệt đới hoạt động quanh năm, đỉnh điểm vào đầu tháng 9 và tối thiểu là tháng 2. Trên Bắc Ấn Độ Dương, bão thường xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 12, đỉnh điểm là tháng 5 và tháng 11. Còn ở Nam Bán cầu, mùa bão thường chính thức bắt đầu từ ngày 1 tháng 11 cho đến hết tháng 4, đỉnh điểm là giữa tháng 2 đầu tháng 3; dù vậy xoáy thuận nhiệt đới có thể xuất hiện quanh năm và thời điểm bắt đầu cho một năm là ngày 1 tháng 7.
Một cơn bão nhiệt đới trưởng thành bao gồm một hoàn lưu ngang gần đối xứng và một hoàn lưu đứng. Các hoàn lưu này đôi khi được gọi là hoàn lưu sơ cấp và hoàn lưu thứ cấp. Sự kết hợp của 2 hoàn lưu tạo thành một dạng chuyển động xoáy ốc. Không khí hội tụ theo hình xoắn ốc vào khu vực trung tâm của bão ở mực thấp, hầu hết dòng thổi vào bị giới hạn trong lớp biên mỏng có độ dày cỡ 500 m đến 1000 m.
Mắt bão là khu vực trong tâm của bão, nơi không có mây hoặc ít mây, lặng gió, có dòng giáng yếu. Thông thường chỉ có những cơn bão mạnh trường thành mới hình thành mắt bão rõ nét.
Hoàn lưu sơ cấp của xoáy thuận nhiệt đới mạnh nhất ở các mực thấp tại vùng mây thành mắt bão và giảm dần theo cả độ cao và bán kính. Trường nhiệt độ thể hiện một cấu trúc lõi nóng với nhiệt độ lớn nhất ở trong mắt bão do sự giải phóng ẩn nhiệt khi không khí nâng lên trong thành mây mắt bão.
Dòng thổi ra của xoáy thuận nhiệt đới nằm ở nửa trên tầng bình lưu với hoàn lưu xoáy nghịch ở ngoài bán kính vài trăm km.
Bão hình thành được phải hội đủ các điều kiện cần thiết như nhiệt độ của nước biển phải cao (tính từ mặt nước đến độ sâu hơn 50 mét ít nhất là trên 26.5 °C): Những nơi có bão biển thường ở trong vùng biển nhiệt đới ở cả hai bán cầu: Bán cầu Bắc và Bán cầu Nam, khí áp của khí quyển phải cực thấp để thu hút năng lượng từ các khu vực áp cao chung quanh và bão phải được duy trì nghĩa là không bị vật cản khi có lực ma sát (như khi đổ bộ vào đất liền). Do đó, bề mặt đại dương hoặc biển nhiệt đới, trong khoảng 10⁰ - 30⁰ vĩ tuyến Bắc và Nam, ở phía Tây các đại dương, nơi có lực Coriolis mạnh và có hiện tượng các dương lưu nóng duy trì nhiệt độ cao cho bão hình thành. Khu vực tam giác Bermuda (Tam Giác Quỷ) ở miền Tây Đại Tây Dương là một thí dụ điển hình, nơi có nhiều siêu bão cấp hành tinh.
Năng lượng của bão được tăng cường vì nhiều nguyên nhân: Do các luồng không khí ẩm từ các khu áp cao xung quanh hút vào, hoặc do kết hợp với sóng Đông, nơi có các khu áp thấp nhiệt đới xâm nhập vào áp cao chí tuyến, hoặc mạnh lên khi đi vào vùng có dòng biển nó
Tâm bão nhiệt đới thường di chuyển theo quỹ đạo parabol, ở bắc bán cầu, vào giai đoạn mới hình thành, hầu hết các cơn bão đều di chuyển theo hướng tây, sau đó tiếp tục di chuyển theo hướng tây bắc và giai đoạn sau cùng, nếu không bị suy yếu, sẽ di chuyển theo hướng đông bắc. Ở nam bán cầu, ban đầu bão di chuyển về hướng tây, sau chuyển về tây nam, rồi đến hướng đông nam. Nhưng cũng có những cơn bão di chuyển theo quỹ đạo rất phức tạp, nói chung quỹ đạo của bão phụ thuộc vào sự phân bố khí áp bề mặt trong khu vực lân cận.
Các xoáy thuận nhiệt đới tiêu biểu.
Bão Bhola năm 1970 là cơn bão có sức hủy diệt gây ra hậu quả nặng nề nhất trong lịch sử. Bão đã đổ bộ vào vùng đồng bằng sông Hằng ở Ấn Độ và Bangladesh, làm ít nhất 300 nghìn người đã chết, 100 nghìn người mất tích, và ảnh hưởng đến gần 1 triệu người. Ở Trung Quốc, bão Nina năm 1975 gây mưa lớn đã làm vỡ đập Bản Kiều và giết chết hơn 100 nghìn người. Siêu bão năm 1780 ở khu vực Bắc Đại Tây Dương đã giết chết khoảng 22.000 người ở Tiểu Antilles.. Bão nhiệt đới Thelma vào tháng 11 năm 1991 đã giết chết hàng ngàn người Philippines.
Cơn bão Katrina đổ bộ vào Hoa Kỳ làm 1.836 người chết, thiệt hại tài sản lên tới 81,2 tỉ USD (2008), với tổng thiệt hại hơn 100 tỉ USD (2005). Bão Mitch làm 10.000 người thiệt mạng ở Mỹ Latinh.
Siêu bão dữ dội nhất trong lịch sử là siêu bão Tip ở Tây Bắc Thái Bình Dương năm 1979, với mức áp suất thấp kỉ lục là 870 hPa (652,5 mmHg) và tốc độ gió duy trì cực đại 165 hải lý trên giờ (85 m/s) (tức 310 km/h duy trì gió trong 1 phút).. Bão Keith ở Thái Bình Dương và cơn bão Camille và bão Allen ở Bắc Đại Tây Dương cũng có cùng sức gió với bão Tip. Siêu bão Nancy năm 1961 đã ghi nhận tốc độ gió kỉ lục 185 hải lý trên giờ (95 m/s) (tức 346 km/h duy trì gió trong 1 phút), nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy tốc độ gió từ những năm 1940 đến những năm 1960 đã đo sức gió quá cao, không chính xác, do vậy bão Nancy có thể có sức gió thấp hơn. Bão Paka năm 1997 ở Guam được ghi nhận gió giật lên tới 205 hải lý (105 m/s) (tức 378 km/h).
Siêu bão Tip còn giữ kỉ lục là cơn bão lớn nhất với sức gió trên 64 km/h trải rộng với đường kính 2170 km. Cơn bão nhỏ nhất được ghi nhận, cơn bão nhiệt đới Marco, hình thành trong tháng 10 năm 2008, ở vịnh Mexico với sức gió trên 64 km/h trải rộng với đường kính 37 km.
Bão John là cơn bão nhiệt đới tồn tại lâu nhất và có đường đi dài nhất, kéo dài 31 ngày trong năm 1994 đi được 13280 km. Bão Rewa năm 1993-1994 có đường đi dài nhất ở Nam Bán Cầu, 8920 km.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Vladimir Ilyich Lenin (tên khai sinh: Vladimir Ilyich Ulyanov; 22 tháng 4 năm 1870 – 21 tháng 1 năm 1924) là một nhà cách mạng, nhà chính trị và lý luận chính trị người Nga. Ông là một trong những người sáng lập và đứng đầu chính phủ nước Nga Xô Viết giai đoạn 1917–1924, rồi Liên Xô giai đoạn 1922–1924. Dưới sự lãnh đạo của ông, nước Nga đã chuyển hóa thành một nhà nước độc đảng theo chủ nghĩa Marx-Lenin do Đảng Cộng sản Liên Xô chi phối. Học thuyết Marxist do ông tiếp thu và phát triển được gọi là chủ nghĩa Lenin.
Sinh ra trong một gia đình thượng trung lưu ở Simbirsk, Lenin lĩnh hội chính trị cách mạng xã hội chủ nghĩa sau cái chết của người anh trai vào năm 1887. Bị thôi học tại Đại học Hoàng gia Kazan vì biểu tình chống chính quyền Sa hoàng, ông đã dành những năm tháng tiếp theo học tập và hành nghề trợ lý luật sư. Năm 1893, ông chuyển tới sống ở Sankt-Peterburg và trở thành nhà hoạt động chính trị Marxist cao cấp. Năm 1897, ông bị bắt giữ vì tội danh xúi giục nổi loạn và bị đày tới xứ Siberia biên viễn trong vòng ba năm, nơi ông kết hôn với bà Nadezhda Krupskaya. Sau quãng thời gian đó, ông sang Tây Âu và trở thành nhà lý luận Marxist nổi danh của Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (RSDRP). Lenin đóng vai trò rất quan trọng đối với sự đứt gãy ý thức hệ nội bộ RSDRP hồi năm 1903, dẫn dắt phái Bolshevik chống lại phái Menshevik của Yuli Martov. Theo sau cuộc cách mạng bất thành năm 1905, ông kêu gọi quần chúng nhân dân biến chuyển Thế chiến thứ nhất thành một cuộc cách mạng vô sản toàn châu Âu, lật đổ chủ nghĩa tư bản và kiến dựng chủ nghĩa xã hội. Sau Cách mạng Tháng Hai năm 1917 và sự thành lập của Chính phủ Lâm thời Nga, Lenin trở về quê hương để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười của phái Bolshevik đi tới thắng lợi.
Chính phủ Bolshevik của Lenin ban đầu san sẻ quyền lực với phái Xã hội chủ nghĩa – cách mạng cánh tả, các xô viết được tiến cử, và một Quốc hội Lập hiến đa đảng; song tới năm 1918 thì Đảng Cộng sản đã tập trung hóa đáng kể quyền lực. Chính quyền của Lenin tái phân phối đất đai cho nông dân, quốc hữu hóa ngân hàng và các ngành công nghiệp lớn, rút khỏi Thế chiến thứ nhất sau khi nhượng bộ lãnh thổ cho Liên minh Trung tâm và lan tỏa tinh thần cách mạng vô sản toàn lục địa thông qua Quốc tế Cộng sản. Các thế lực chống đối chính quyền bị thẳng tay đàn áp trong cuộc Khủng bố Đỏ do ủy ban Cheka chịu trách nhiệm; theo đó hàng chục ngàn người đã bị xử tử hoặc bị bắt tới các trại tập trung. Hồng quân dưới thời Lenin đã đánh bại các đội quân chống Bolshevik hữu khuynh lẫn tả khuynh trong cuộc Nội chiến Nga (1917–1922) và tham gia vào cuộc chiến Ba Lan – Xô viết (1919–1921). Nhằm khắc phục di hại từ chiến tranh, nạn đói và các cuộc nổi dậy, Lenin kích thích tăng trưởng kinh tế quốc dân thông qua Chính sách Kinh tế Mới vào năm 1921. Sau năm 1917, nhiều quốc gia dân tộc phi-Nga đã tuyên bố độc lập theo ý chí của Lenin, song năm nước trong số đó về sau tái hợp với Nga thành Liên Xô vào năm 1922. Lenin qua đời ở Gorki vào năm 1924 sau khi trải qua ba cơn đột quỵ liên tiếp lúc gần cuối đời; vai trò lãnh đạo sau đó được kế thừa bởi I. V. Stalin.
Được xem là một trong những nhân vật lịch sử quan trọng và cực kỳ có sức ảnh hưởng, Lenin là đối tượng của sự sùng bái cá nhân tại Liên bang Xô viết sau khi ông qua đời cho đến khi quốc gia này giải thể vào năm 1991. Ông đã trở thành hình tượng gắn liền với chủ nghĩa Marx-Lenin, một hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng đến các phong trào cộng sản trên khắp thế giới. Lenin hiện được coi là một nhân vật để lại nhiều tranh luận; những người ủng hộ coi ông là một nhà cách mạng xã hội chủ nghĩa lỗi lạc đứng về phía giai cấp công nhân và là một nhà cải cách tiến bộ, trong khi những người phản đối thì cáo buộc ông đã sáng lập ra một nhà nước toàn trị, chịu trách nhiệm cho những vụ xử tử hàng loạt và trấn áp chính trị.
Đời cụ cố của Lenin mang trong mình dòng máu Nga, Đức, Thụy Điển, Do Thái, cùng một chút dòng máu có lẽ là Kalmyk. Cha của Lenin, ông Ilya Nikolayevich Ulyanov, xuất thân trong một gia đình vốn là nông nô; không rõ cha của Ilya là người dân tộc nào, song mẹ của Ilya, bà Anna Alexeyevna Smirnova, nửa Kalmyk nửa Nga theo huyết thống. Tuy gia cảnh khó khăn như vậy, Ilya đã nỗ lực vươn lên tầng lớp trung lưu. Ông nghiên cứu vật lý và toán học tại Đại học Kazan trước khi giảng dạy tại Viện Quý tộc Penza. Ilya cưới Maria Alexandrovna Blank khoảng giữa năm 1863. Được học hành tử tế, Maria là con gái trong một gia đình có mẹ là tín đồ Luther gốc Đức–Thụy Điển và cha là người Nga gốc Do Thái đã cải sang Thiên chúa giáo và hành nghề bác sĩ. Theo nhà sử học Petrovsky-Shtern, nhiều khả năng Lenin không biết tới thân phận nửa Do Thái của mẹ mình, chỉ được phát hiện bởi người chị gái Anna sau khi ông mất. Theo nguồn khác, cha của Maria có lẽ là dân Đức sang Nga lập nghiệp theo chỉ dụ của Yekaterina Đại đế.
Ngay sau đám cưới, Ilya nhận một công việc tại Nizhny Novgorod, trong vòng sáu năm sau đã thăng tiến lên chức Thanh tra các Trường Tiểu học của quận Simbirsk. Năm năm sau, ông được bổ nhiệm làm Thanh tra các Trường công cấp tỉnh, giám sát việc khánh thánh 450 trường học theo chủ trương hiện đại hóa của chính phủ Sa hoàng. Tháng 1 năm 1882, ông được trao tặng Huân chương Thánh Vladimir vì tâm huyết cho nghề nhà giáo, đồng thời trở thành quý tộc nối dõi.
Lenin chào đời ngày 22 tháng 4 năm 1870 tại Streletskaya Ulitsa, Simbirsk, nay là Ulyanovsk, và được rửa tội sáu ngày sau. Lúc bé, ông có biệt danh là "Volodya", cách nói yêu cái tên Vladimir. Ông là con thứ ba trong gia đình gồm tám người con: hai anh chị hơn tuổi là Anna (sinh năm 1864) và Aleksandr (sinh năm 1866); ba người em nhỏ hơn là Olga (sinh năm 1871), Dmitry (sinh năm 1874) và Maria (sinh năm 1878). Hai người con còn lại không may chết trong cũi. Ilya là tín đồ của Giáo hội Chính thống Nga nên cho tất cả những người con của mình rửa tội; về phần người mẹ Maria, lớn lên vốn đã là tín đồ Luther, bà không phân biệt các dòng Thiên chúa giáo, quan điểm mà về sau ảnh hưởng ít nhiều đến những người con.
Ilya và Maria đều là những người ủng hộ chế độ quân chủ và có khuynh hướng bảo thủ tự do, rất tin tưởng cải cách giải phóng 1861 do Sa hoàng Aleksandr II ban hành. Họ thường tránh mặt những người quá khích chính trị và không có bất kỳ một bằng chứng nào cho thấy họ bị cảnh sát theo dõi vì tư tưởng lật đổ chính quyền. Mỗi mùa hè gia đình Ilyich thường lui tới căn nhà ở Kokushkino để nghỉ dưỡng. Trong số các anh chị em trong nhà, Lenin chơi thân nhất với Olga, thường xuyên sai vặt cô em gái. Ông vốn có tính cạnh tranh cao, đôi khi quậy phá, song luôn chịu trách nhiệm cho hành vi xấu của mình. Là người yêu thích thể thao, ông dành phần lớn thời gian ngoài trời hoặc chơi cờ vua, ngoài ra còn học rất giỏi trên lớp, ở trường Gymnasium Cổ điển Simbirsk kỷ luật và bảo thủ.
Tháng 1 năm 1886, khi Lenin 15 tuổi, cha ông qua đời vì xuất huyết não. Sau thảm kịch ấy, tính cách ông trở nên thất thường, hay bực tức; từ đó trở đi ông từ bỏ niềm tin vào Chúa. Bấy giờ, anh trai của Lenin là Aleksandr, thường được gọi thân mật là Sasha, đang theo học tại Đại học Sankt-Peterburg. Bị cuốn vào phong trào chính trị chống chế độ quân chủ tuyệt đối đời Sa hoàng Aleksandr III, Aleksandr bắt đầu đọc sách báo tả khuynh bị nghiêm cấm và tổ chức các cuộc biểu tình chống chính quyền. Ông gia nhập một nhóm cách mạng có quyết tâm ám sát Sa hoàng và trở thành người chế tạo bom cho kế hoạch đó. Âm mưu không may bại lộ và những kẻ chủ mưu bị đưa ra xét xử; Aleksandr bị treo cổ vào tháng 5. Bất chấp nỗi đau mất cha và anh trai, Lenin kiên trì học hành, tốt nghiệp đầu lớp và được trao tặng huy chương vàng cho thành tích xuất sắc, sau đó chọn theo ngành luật tại Đại học Kazan.
Đại học và tư tưởng chính trị: 1887–1893.
Ngay khi bước chân vào ngưỡng cửa Đại học Kazan tháng 8 năm 1887, Lenin chuyển tới sống ở một căn hộ gần đó. Tại đây, ông tham gia "zemlyachestvo", một hội sinh viên đại diện cho thanh niên tới từ các tỉnh thành khác nhau. Nhóm này bầu cử Lenin làm gương mặt đại diện cho các "zemlyachestvo" của trường. Ông tham gia vào cuộc biểu tình tháng 12 chống lại các quy định ngặt nghèo của chính phủ hạn chế các hội sinh viên. Cảnh sát bắt Lenin và cáo buộc ông đầu têu cuộc nổi loạn; sự vụ này khiến ông bị đuổi học và trục xuất về Kokushkino theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nga. Tại đây, ông đọc ngấu nghiến sách vở, trở nên yêu thích tiểu thuyết cách mạng "Phải làm gì?" của Nikolai G. Chernyshevsky (1863).
Mẹ của Lenin bắt đầu lo lắng về khuynh hướng chính trị của con trai. Bà thuyết phục thành công Bộ Nội vụ cho phép Lenin quay về Kazan, song ông không được phép lên lớp. Vào ngày trở về, ông tham gia hội cách mạng của Nikolai Y. Fedoseyev, qua đó biết tới tác phẩm "Das Kapital" (1867) của Karl Marx. Điều này đã thắp ngọn lửa đam mê của ông với chủ nghĩa Marx, một học thuyết kinh tế – chính trị cho rằng xã hội diễn tiến nhờ đấu tranh giai cấp và rằng xã hội tư bản rốt cuộc sẽ suy tàn, mở đường cho nhân loại tiến lên giai đoạn xã hội chủ nghĩa và tối hậu là xã hội cộng sản. Ngày càng lo ngại về quan điểm chính trị của con trai, mẹ Lenin mua một mảnh đất ở vùng nông thôn Alakaevka thuộc tỉnh Samara với hy vọng rằng ông sẽ tập trung vào việc làm nông. Tuy nhiên, Lenin ít có hứng thú với việc đồng áng, khiến mẹ ông đành mau chóng bán mảnh đất kia đi, chỉ giữ lại ngôi nhà làm chỗ tới lui vào mùa hè.
Tháng 9 năm 1889, gia đình Ulyanov chuyển tới sống ở thành phố Samara, nơi Lenin gia nhập hội thảo luận chủ nghĩa xã hội của Alexei P. Sklyarenko. Ở đây, Lenin tâm đắc chủ nghĩa Marx và biên dịch sang tiếng Nga cuốn pamfơlê "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" (1848) viết bởi Marx và Friedrich Engels. Ông bắt đầu đọc các trước tác của nhà Marxist tiên phong người Nga Georgy V. Plekhanov, đồng thuận với Plekhanov rằng nước Nga bấy giờ đang chuyển biến từ giai đoạn phong kiến sang tư bản chủ nghĩa; vậy nên nếu một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa có nổ ra, thì giai cấp vô sản hoặc tầng lớp lao động thành thị sẽ là người thực hiện nó, chứ không phải bởi giai cấp nông dân. Quan điểm này trái ngược với quan điểm xã hội chủ nghĩa trọng nông của phái Narodnik; phái này cho rằng chỉ giai cấp nông dân mới có khả năng đưa nước Nga lên giai đoạn xã hội chủ nghĩa bằng cách kết thành các công xã nông dân, tức là bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Học thuyết của phái Narodnik đã manh nha phát triển từ những năm 1860 trong nội bộ Đảng Tự do Nhân dân, rồi trở thành chủ thuyết của phong trào xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ. Lenin bác bỏ tiền đề của chủ nghĩa xã hội trọng nông, song bản thân ông vẫn chịu ảnh hưởng rất lớn từ các thành viên Narodnik, chẳng hạn như Pyotr N. Tkachev và Sergei G. Nechaev, đồng thời kết thân được với nhiều người khác.
Tháng 5 năm 1890, mẹ Maria, người vẫn có vị thế xã hội do góa chồng quý tộc, thuyết phục chính quyền sở tại cho phép Lenin được dự thi lấy bằng Đại học Sankt-Peterburg; nỗ lực mà đã giúp Lenin nhận được tấm bằng danh dự hạng nhất. Lễ tốt nghiệp của Lenin diễn ra ảm đạm do trùng ngày em gái Olga qua đời vì thương hàn. Lenin sống ở Samara trong nhiều năm tới, hành nghề trợ lý pháp luật cho một tòa án địa phương, rồi cho một luật sư địa phương. Ông dành phần lớn thời gian tham gia thảo luận chính trị quá khích, hoạt động sôi nổi trong nhóm Sklyarenko và kiếm tìm một tầm nhìn để áp dụng chủ nghĩa Marx vào thực tiễn nước Nga. Lấy cảm hứng từ công trình của Plekhanov, Lenin thu thập dữ liệu kinh tế Nga nhằm chứng minh diễn giải Marxist về sự phát triển của xã hội và phản bác học thuyết Narodnik. Ông từng có lần viết một bài báo kinh tế học về giai cấp nông dân để đăng trên tạp chí "Russkaya Mysl", nhưng rốt cuộc bị họ từ chối.
Hoạt động cách mạng.
Hoạt động chính trị và đày ải ở Siberia: 1893–1900.
Cuối năm 1893, Lenin chuyển tới sống ở Sankt-Peterburg. Tại đây, ông làm trợ lý luật sư, đồng thời trở thành thành viên cao cấp của một tổ cách mạng Marxist tự xưng là những người Dân chủ Xã hội, phỏng theo tên của Đảng Dân chủ Xã hội Đức. Công khai là người thấu hiểu học thuyết Marxist trong phong trào xã hội chủ nghĩa, Lenin khuyến khích thành lập các tổ cách mạng bên trong các khu công nghiệp của Nga. Tới cuối năm 1894, ông hiện đã dẫn dắt một nhóm công nhân Marxist và luôn phải che đậy hành tung do lo sợ cảnh sát cài gián điệp bên trong. Cũng trong khoảng thời gian này, ông nảy sinh mối tình với bà Nadezhda "Nadya" Krupskaya, một giáo viên có tư tưởng Marxist. Ông cho ra đời tác phẩm chính trị ""Những "người bạn dân" là thế nào và họ đấu tranh chống những người Dân chủ Xã hội ra sao?"" nhằm đả kích phái xã hội chủ nghĩa trọng nông Narodnik, dựa phần lớn trên trải nghiệm của ông tại Samara; tầm 200 bản của tác phẩm này đã được in ấn lậu vào năm 1894.
Lenin hy vọng sẽ gắn kết được Đảng Dân chủ Xã hội với phong trào Giải phóng Lao động của các émigrés Marxist gốc Nga đặt trụ sở tại Thụy Sĩ; ông đã đích thân tới đất nước này để gặp gỡ các thành viên nổi bật của nhóm này là Plekhanov và Pavel Axelrod. Ông cũng tới thăm Paris để gặp con rể Marx là Paul Lafargue và tranh thủ luôn dịp này để nghiên cứu công xã Pháp năm 1871, thứ mà ông coi là tiền thân của chính phủ vô sản. Được chu cấp bởi thân mẫu, ông dưỡng bệnh ở Thụy Sĩ trước khi đi Berlin, nán lại học tại Staatsbibliothek trong vòng sáu tuần và gặp gỡ nhà hoạt động chính trị Marxist người Đức Wilhelm Liebknecht. Trở lại Nga, ông đi khắp nơi để phân phát các ấn phẩm chính trị bất hợp pháp thu lượm được khi còn ở ngoại quốc cho các công nhân đình công. Trong lúc hoàn thiện tác phẩm "Rabochee delo" ("Sứ mệnh của công nhân"), ông cùng 39 nhà hoạt động khác bị vây bắt ở Sankt-Peterburg dựa trên tội danh xúi giục nổi loạn.
Từ chối được đại diện hoặc bảo lãnh về mặt pháp lý, Lenin bác bỏ tất cả cáo buộc chống lại ông song rốt cuộc vẫn bị giam giữ một năm ròng để chờ xét xử. Ông dành thời gian tù ngục để suy tư và viết cuốn "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga". Trong tác phẩm, Lenin cho rằng chủ nghĩa tư bản công nghiệp tại Nga đã khiến nông dân ở nhiều vùng quê di cư ồ ạt lên thành phố, nơi họ trở thành giai cấp vô sản. Qua lăng kính Marxist, Lenin lý luận rằng họ sẽ lĩnh hội ý thức giai cấp; điều ắt sẽ dẫn đến sự lật đổ của chế độ Sa hoàng, tầng lớp quý tộc và giai cấp tư sản, kèm theo đó là sự thành lập nhà nước chuyên chính của nhân dân lao động, mở đường tới chủ nghĩa xã hội.
Tháng 2 năm 1897, Lenin bị kết án không cần xét xử ba năm phát lưu ở miền đông Siberia. Ông được cho vài ngày nán lại Sankt-Peterburg để giải quyết công việc dang dở và gặp mặt lần cuối Đảng Dân chủ Xã hội hiện đã đổi tên thành Liên đoàn đấu tranh vì sự giải phóng của giai cấp công nhân. Mẹ, chị và em gái của Lenin đồng hành cùng ông trên hành trình suốt 11 tuần đi Siberia. Chỉ bị coi là mối họa nhỏ, chính quyền Sa hoàng cho Lenin sống biệt lập trong một căn nhà nông dân nhỏ ở Shushenskoye, Minusinsky, dưới sự quản thúc của cảnh sát, nhưng do an ninh không quá chặt chẽ nên ông vẫn có thể trao đổi thư từ với những nhà cách mạng khác. Nhiều người trong số họ đã tới thăm Lenin, cùng ông tắm sông Enisei, săn vịt và dẽ giun để giết thời gian.
Tháng 5 năm 1898, Nadya cũng bị đày tới Shushenskoye, bị bắt trước đó vào tháng 8 năm 1896 can tội tổ chức biểu tình bất hợp pháp. Ban đầu chính quyền định thuyên chuyển bà tới Ufa, song Nadya thuyết phục họ đưa bà tới Shushenskoye, khai rằng bà và Lenin đã đính hôn; hai người họ kết hôn chính thức vào ngày 10 tháng 7 năm 1898. Trong khoảng thời gian cặp đôi sống chung với mẹ vợ Elizaveta Vasilyevna ở Shushenskoye, họ đã dịch nhiều tác phẩm về chủ nghĩa xã hội từ tiếng Anh sang tiếng Nga. Rất quan tâm đến những tiến triển mới trong phong trào Marxist Đức, Lenin đã biết về đứt gãy ý thức hệ trong nội bộ của phong trào này, với các nhà xét lại như Eduard Bernstein ủng hộ một con đường hòa bình, tuyển cử dân chủ tiến lên xã hội chủ nghĩa. Lenin tuy vậy vẫn trung thành với tư tưởng cách mạng bạo lực, cực lực công kích các luận điệu của phái xét lại trong tác phẩm "Một phản bác của phái Dân chủ Xã hội Nga". Năm 1899, Lenin hoàn thành cuốn "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", trước tác dài nhất của ông cho đến thời điểm đó, chỉ trích các nhà xã hội chủ nghĩa trọng nông và trình bày sự phát triển của xã hội Nga đứng trên lập trường Marxist. Xuất bản dưới bút danh Vladimir Ilin, cuốn sách hứng chịu nhiều phê bình tiêu cực.
München, London, và Genève: 1900–1905.
Sau quãng thời gian ở Siberia, Lenin chuyến tới Pskov vào đầu năm 1900. Tại đây, ông cố gắng gây quỹ cho tờ báo "Iskra" ("Tia Lửa"), một cơ quan tuyên truyền mới của đảng Marxist Nga, giờ tự xưng là Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (RSDRP). Tháng 7 năm 1900, Lenin rời Nga đi Tây Âu. Ông gặp gỡ các nhà Marxist người Nga tại Thụy Sĩ và tại hội nghị ở Corsier; họ đồng ý cho phát hành tờ "Iskra" tại München, cũng là nơi trú mới của Lenin vào tháng 9. Với sự đóng góp của nhiều nhà Marxist nổi bật, "Iskra" được tuồn lậu vào Nga, trở thành ấn phẩm ngầm nổi tiếng nhất tại đất nước này trong suốt 50 năm. Ông bắt đầu sử dụng bí danh Lenin vào tháng 12 năm 1901, có lẽ lấy cảm hứng từ con sông Lena ở Siberia; tuy nhiên lại hay dùng bí danh đầy đủ là N. Lenin. Ông xuất bản cuốn pamfơlê chính trị "Làm gì?" vào năm 1902 dưới bí danh mới, ấn phẩm có ảnh hưởng nhất cho tới thời điểm hiện tại, trình bày ý tưởng về sự cần thiết của một đảng tiên phong nhằm lãnh đạo giai cấp vô sản trong công cuộc cách mạng.
Nadya tham gia cùng Lenin ở München và trở thành thư ký riêng của ông. Họ tiếp tục xuất bản các bài báo chính trị kích động: Lenin viết cho tờ "Iskra" và thảo bản cương lĩnh của RSDRP, đả kích những người bất đồng chính kiến và phản biện các chỉ trích bên ngoài, nhất là từ Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng (SR), một nhóm Narodnik được thành lập vào năm 1901. Tuy trung thành với chủ nghĩa Marx, ông giờ đây chấp thuận quan điểm của phái Narodnik về tiềm lực cách mạng của giai cấp nông dân Nga, theo đó chắp bút viết cuốn pamfơlê "Gửi nông dân nghèo" vào năm 1903. Để tránh né kiểm duyệt của cảnh sát Bayern, Lenin chuyển tới London cùng trụ sở tờ "Iskra" vào tháng 4 năm 1902. Trong khoảng thời gian này, ông trở thành bạn của nhà Marxist gốc Nga-Ukraina Lev Trotsky. Lenin sau đó mắc bệnh viêm quầng và không thể lãnh đạo đội ngũ biên tập tờ "Iskra"; vì sự vắng mặt của ông, họ chuyển cơ sở hoạt động đến Genève.
Đại hội RSDRP lần 2 khai mạc ở London vào tháng 7 năm 1903. Tại đây, phái ủng hộ Lenin và phái ủng hộ Yuli Martov chia rẽ. Martov cho rằng đảng viên có quyền thể hiện tư tưởng độc lập với sự lãnh đạo của Đảng; Lenin phản đối, nhấn mạnh rằng một quyền lực tập trung chèo lái Đảng là cần thiết. Phái ủng hộ Lenin chiếm đa số nên được gọi là "nhóm số đông" ("bol'sheviki" tiếng Nga, Bolshevik); còn phái ủng hộ Martov lép vế được gọi là "nhóm số ít" ("men'sheviki" tiếng Nga; Menshevik). Tranh cãi giữa hai bè phái tiếp tục sau cuộc họp; những người Bolshevik cáo buộc phái đối lập là những kẻ cơ hội cải lương và thiếu kỷ luật, còn những người Menshevik cáo buộc Lenin là chuyên chế độc tài. Phẫn nộ với phái Menshevik, Lenin từ chức biên tập viên của tờ "Iskra" và xuất bản bài luận bất bình "Một bước tiến, hai bước lùi" vào tháng 5 năm 1904. Căng thẳng công việc khiến Lenin ngã bệnh và ông quyết định dành kì nghỉ đi bộ đường trường ở Thụy Sĩ để hồi sức. Tới mùa xuân năm 1905, phái Bolshevik đã chiếm thế thượng phong trong Ban Chấp hành Trung ương RSDRP. Vào tháng 12, tờ báo "Vpered" ("Tiến lên") bắt đầu được ấn hành.
Cách mạng 1905 và hệ quả: 1905–1914.
Tháng 1 năm 1905, vụ thảm sát những người biểu tình ở Sankt-Peterburg vào ngày Chủ nhật đã châm ngòi cho một loạt các bất ổn dân sự trên khắp lãnh thổ rộng lớn của Đế quốc Nga, sự kiện mà còn có tên là Cách mạng 1905. Lenin khuyến khích phái Bolshevik tham gia chủ động hơn vào sự biến này, cổ vũ tinh thần khởi nghĩa bạo lực. Sở dĩ vậy nên giờ đây Lenin đã tiếp nhận các khẩu hiệu của SR về "khởi nghĩa vũ trang", "khủng bố hàng loạt" và "trưng dụng đất của quý tộc tiểu địa chủ", chiến lược mà khiến phái Menshevik cáo buộc ông là lệch lạc khỏi tư tưởng Marxist chính thống. Đáp lại, ông vận động phái Bolshevik cự tuyệt với phái Menshevik; tuy nhiên phần đông những người Bolshevik từ chối điều đó và cả hai phái đã gạt các bất đồng sang một bên để cùng tham dự Đại hội RSDRP lần 3, được tổ chức tại Nhà thờ Brotherhood ở London vào tháng 4 năm 1905. Lenin trình bày ý kiến của mình trong tác phẩm "Hai sách lược", xuất bàn vào tháng 8 năm 1905. Trong tác phẩm, ông lập luận rằng giai cấp tư sản tự do của Nga sẽ ủng hộ một sự chuyển đổi sang chế độ quân chủ lập hiến, và vì vậy chắc chắn sẽ phản bội sự nghiệp cách mạng; thế nên ông đề xuất rằng giai cấp vô sản phải liên minh với giai cấp nông dân thì mới có cơ may lật đổ chế độ Sa hoàng và chung tay góp sức xây dựng nền "chuyên chính vô sản và nông dân dân chủ cách mạng lâm thời."
Cuộc nổi dậy đã bắt đầu. Vũ lực chống lại Vũ lực. Ẩu đả đường phố rầm rộ diễn ra, chướng ngại vật được quẳng xuống đường, giòn giã tiếng súng, vang rền tiếng pháo. Những dòng máu đang tuôn trào, cuộc nội chiến vì tự do đang rực cháy. Mát-xcơ-va và phương Nam, dãy Kavkaz và Ba Lan đã sẵn sàng kề vai sát cánh cùng giai cấp vô sản của Xanh Pê-téc-bua. Khẩu ngữ của công nhân giờ đây là: Chết hoặc Tự do!
—Lenin nói về Cách mạng năm 1905, tạm dịch theo
Để xoa dịu nhân dân sau cuộc cách mạng 1905 bất thành, Sa hoàng Nikolai II đã chấp thuận một loạt các chính sách cải cách tự do với bản Tuyên ngôn Tháng Mười. Trong bầu không khí này, Lenin cảm thấy an toàn để trở về Sankt-Peterburg. Tham gia đội ngũ biên tập của "Novaya Zhizn" ("Cuộc đời Mới"), một tờ báo pháp luật quá khích chính trị được duy trì bởi Maria F. Andreyeva, ông đã viết nhiều thảo luận liên quan đến mặt pháp lý của RSDRP. Ông khuyến khích Đảng tìm cách chiêu mộ thành viên sâu rộng hơn, đồng thời cổ vũ cho các cuộc biểu tình bạo lực, tin rằng hai yếu tố này đều rất quan trọng cho sự thành công của cách mạng. Nhận ra rằng đảng phí và quyên góp từ phần ít những người giàu có cảm tình với nghiệp cách mạng không thể nào trợ cấp nổi cho các hoạt động của phái Bolshevik, Lenin cùng một số đảng viên khác đã đề xuất kế hoạch cướp các cơ quan bưu điện, ga tàu và ngân hàng của chính phủ Sa hoàng. Dưới sự lãnh đạo của Leonid B. Krasin, một nhóm những người Bolshevik đã thực hiện các hành động phi pháp này; ví dụ nổi tiếng nhất là vào tháng 6 năm 1907, khi một nhóm Bolshevik dẫn đầu bởi Iosif V. Stalin thực hiện cướp có vũ trang Ngân hàng Nhà nước Tiflis, Gruzia.
Tuy đã cân nhắc dung hòa quan điểm giữa hai phái Bolshevik và Menshevik, phái Menshevik lên án gay gắt sự ủng hộ của Lenin đối với bạo lực và trộm cướp tại Đại hội RSDRP lần thứ tư, tổ chức tại Stockholm vào tháng 4 năm 1906. Lenin giúp đỡ một tay trong việc thành lập Trung tâm Bolshevik ở Kuokkala, Đại công quốc Phần Lan, nơi bấy giờ có quyền bán tự trị bên trong Đế quốc Nga, trước khi phái Bolshevik chiếm đại đa số trong RSDRP tại Đại hội lần thứ năm, được tổ chức ở London vào tháng 5 năm 1907. Sa hoàng bắt đầu mạnh tay trấn áp các thành phần đối địch, bãi bỏ quốc hội và Duma Đệ nhị, đồng thời ủy thác cho lực lượng cảnh sát mật Okhrana bắt giữ những người cách mạng. Với tình hình này, Lenin lánh nạn ở Thụy Sĩ. Ở đó, ông cố gắng đổi số tiền cướp được ở Tiflis.
Aleksandr A. Bogdanov và phái Bolshevik quyết định di dời Trung tâm Bolshevik tới Paris; tuy Lenin phản đối, ông vẫn đành phải chuyển tới thành phố vào tháng 12 năm 1908. Lenin không ưa Paris, chê nó là "một cái ổ bẩn thỉu", đã có lần phải đâm đơn kiện một người đi ô tô xô ngã ông lúc đang đạp xe. Trong khoảng thời gian ở đây, Lenin nảy sinh sự bất đồng tình với Bogdanov, người cho rằng giai cấp vô sản Nga trước tất phải lĩnh hội một nền văn hóa xã hội chủ nghĩa rồi mới có thể làm phương tiện cho một cuộc cách mạng. Thay vào đó, Lenin tán thành quan điểm gây dựng nhóm các trí thức xã hội chủ nghĩa tiên phong nhằm dẫn dắt giai cấp vô sản trong công cuộc cách mạng. Hơn nữa, Bogdanov, vốn chịu ảnh hưởng của Ernst Mach, tin rằng tất cả các khái niệm trên đời đều mang tính tương đối, còn Lenin mắc kẹt trong thế giới quan Marxist nên luôn cho rằng tồn tại một thực tại khách quan độc lập khỏi nhãn quan con người. Bogdanov và Lenin cùng đi nghỉ dưỡng tại villa của Maksim Gorky ở Capri vào tháng 4 năm 1908. Khi quay lại Paris, Lenin đề nghị chia đôi phái Bolshevik, một phái ủng hộ ông còn đâu ủng hộ Bogdanov, dựa trên cáo buộc rằng Bogdanov đã lệch lạc khỏi tư tưởng Marxist.
Tháng 5 năm 1908, Lenin bấy giờ đang lưu trú ở London, dốc sức nghiên cứu trong Phòng đọc Bảo tàng Anh để viết cuốn "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán", đả kích cái mà ông gọi là "sự sai lệch tư sản phản động" của chủ nghĩa tương đối Bogdanov. Tư tưởng chia bè kết phái của Lenin đã tạo nên sự bất hòa giữa bản thân ông và một số đảng viên Bolshevik, bao gồm các cộng sự từng rất thân cận như Alexei I. Rykov và Lev B. Kamenev. Lực lượng Okhrana khai thác điểm yếu này để cài nội gián Roman V. Malinovsky vào trong, giả bộ làm người ủng hộ nhiệt thành của Lenin. Nhiều đảng viên Bolshevik tỏ vẻ hoài nghi đối với Malinovsky, song không rõ Lenin có biết về danh tính thực của anh ta hay không; rất có thể ông đã tung tin giả cho Malinovsky để đánh lạc hướng Okhrana.
Tháng 8 năm 1910, Lenin dự Đại hội lần 8 của Đệ Nhị Quốc tế ở Copenhagen trong vai trò là đại biểu của RSDRP, rồi sau đó đi nghỉ ở Stockholm cùng mẹ. Ông chuyển tới Pháp cùng vợ và em gái, sinh sống ở Bombon rồi ở Paris. Tại đây, ông gặp mặt nhà nữ quyền Bolshevik người Pháp Inessa Armand; một số nhà nghiên cứu tiểu sử cho rằng Lenin và Armand đã có mối quan hệ tình cảm giữa năm 1910 và 1912. Tại một cuộc họp ở Paris vào tháng 6 năm 1911, Ban Chấp hành Trung ương RSDRP đã quyết định hướng lại hoạt động về Nga, cho đóng cửa Trung tâm Bolshevik và tờ báo "Proletari". Lenin thu xếp cho một hội nghị tại Praha vào tháng 1 năm 1912 nhằm cứu vãn ảnh hưởng của mình trong nội bộ Đảng. Chỉ có 16 trong số 18 khán thính giả thuộc phái Bolshevik tới tham dự, song ông vẫn bị chỉ trích thậm tệ về tư tưởng chia bè kết phái nên thất bại trong nỗ lực xây dựng lại hình tượng bên trong Đảng.
Trong khoảng thời gian ở Kraków thuộc Vương quốc Galicia và Lodomeria, một khu vực văn hóa Ba Lan của Đế quốc Áo-Hung, Lenin thường lui tới thư viện Đại học Jagiellonia để nghiên cứu. Ông giữ liên lạc với RSDRP bấy giờ đang hoạt động bên trong Đế quốc Nga, ra sức thuyết phục các đảng viên Bolshevik trong Duma phải tách khỏi liên minh quốc hội với Menshevik. Tháng 1 năm 1913, Stalin – nhân vật được Lenin khen ngợi là "một người Gruzia tuyệt vời" – tới thăm ông và họ cùng nhau thảo luận về tương lai của các dân tộc phi-Nga bên trong Đế quốc. Do sức khỏe sụt giảm của Lenin và vợ ông, họ chuyển đến sống ở thị trấn Biały Dunajec, trước khi đi Bern để phẫu thuật bướu giáp cho bà Nadya.
Thế chiến thứ nhất: 1914–1917.
Cuộc chiến [Thế chiến thứ nhất] vốn được phát động do [tham vọng] chia cắt thuộc địa và sự cướp bóc các lãnh thổ hải ngoại; mấy thằng trộm đã đoạn tuyệt với nhau – và [cái lý luận] dựa vào sự thất bại tạm thời của một trong các thằng trộm để mà đánh đồng mối quan tâm của tất cả các thằng trộm với mối quan tâm của các quốc gia hoặc của tổ quốc quả thực chỉ là xàm ngôn của bọn tư sản vô lẽ mà thôi.
—Quan điểm của Lenin về Thế chiến thứ nhất, tạm dịch theo
Lenin đang ở Galicia khi Thế chiến thứ nhất khơi mào. Nga giờ đây bị khóa vào thế đối chọi với Áo-Hung. Do bị phát hiện là mang quốc tịch Nga, Lenin đã bị bắt giữ trong một khoảng thời gian ngắn, cho tới khi mọi chuyện trở nên rõ ràng rằng ông là phần tử chống đối Sa hoàng. Lenin và vợ quay về Bern, rồi chuyển tới Zürich vào tháng 2 năm 1916. Lenin rất phẫn nộ khi biết tin Đảng Dân chủ-Xã hội Đức ủng hộ nỗ lực chiến tranh hung hăng của Đức, một hành động đi ngược lại đồng thuận Stuttgart của Quốc tế thứ hai, theo đó bắt buộc các đảng xã hội chủ nghĩa phải đồng lòng phản chiến. Qua đây Lenin nhận ra rằng Quốc tế Thứ hai chẳng còn nghĩa lý gì nữa. Ông dự Hội nghị Zimmerwald vào tháng 9 năm 1915 và Hội nghị Kienthal vào tháng 4 năm 1916, kêu gọi những người xã hội chủ nghĩa ở khắp nơi phản đối và chuyển biến "chiến tranh đế quốc" thành "nội chiến" của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản và quý tộc. Tháng 7 năm 1916, thân mẫu của Lenin qua đời nhưng ông không thể về viếng tang. Cái chết của người mẹ kính yêu đã khiến tinh thần của Lenin suy sụp đáng kể, ông bắt đầu bi quan cho rằng mình cũng sẽ sớm nhắm mắt chết mà chẳng được chứng kiến ngày cuộc cách mạng vô sản trở thành hiện thực.
Tháng 9 năm 1917, Lenin xuất bản cuốn "Chủ nghĩa đế quốc, hình thức tột cùng của chủ nghĩa tư bản"; trong đó lập luận rằng chủ nghĩa đế quốc là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản độc quyền, vì lẽ các nhà tư bản luôn muốn tối ưu hóa lợi nhuận bằng cách mở rộng sản xuất sang các vùng lãnh thổ mới, những nơi mà họ phải trả ít tiền công và có sẵn nguyên liệu giá rẻ. Ông tin rằng cạnh tranh xung đột sẽ dâng cao và chiến tranh giữa các nước đế quốc sẽ tiếp diễn cho tới khi chúng bị lật đổ bởi một cuộc cách mạng vô sản và khai sinh ra chủ nghĩa xã hội. Ông dành phần lớn thời gian đọc các tác phẩm của G. W. F. Hegel, Ludwig Feuerbach và Aristoteles, những triết gia mà đã có ảnh hưởng vô cùng lớn đến Marx. Điều này đã thay đổi quan điểm của Lenin về chủ nghĩa Marx; trước đây ông từng tin rằng chính sách có thể được phát triển dựa trên các nguyên lý khoa học tiền định, song giờ đây ông cho rằng chỉ thực tiễn mới có khả năng chứng minh tính đúng đắn của một chính sách. Tuy vẫn coi mình là một người Marxist chính thống, Lenin hiện đã đoạn tuyệt với "học thuyết giai đoạn"; trong khi những người Marxist chính thống tin rằng một "cuộc cách mạng tư sản–dân chủ" của tầng lớp trung lưu phải diễn ra trước "cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa" của giai cấp vô sản, thì Lenin lại cho rằng giai cấp vô sản có thể lật đổ thành công Nga hoàng mà không cần kinh qua bước trung gian nào.
Cách mạng Tháng Hai và những ngày Tháng Bảy: 1917.
Tháng 2 năm 1917, cách mạng nổ ra ở Sankt-Peterburg (đã được đổi tên thành Petrograd hồi đầu Thế chiến thứ nhất) với những đám công nhân lũ lượt đổ ra đường biểu tình vì lương thực khan hiếm và điều kiện làm việc tệ bạc. Bất ổn lan rộng khắp Nga, khiến Sa hoàng Nikolai II khiếp sợ và đành thoái vị. Duma Nhà nước chớp thời cơ này để lên nắm quyền, thành lập Chính phủ Lâm thời Nga và tuyên bố khai sinh nước Cộng hòa Nga. Tại Thụy Sĩ, Lenin hay tin cuộc chính biến thành công ở quê nhà và nô nức chia sẻ tin vui với những nhà cách mạng lưu vong. Ông quyết định quay về Nga để đích thân lãnh đạo phái Bolshevik, song hầu hết các tuyến đường đã bị chặn đứng do tình hình xung đột bất ổn. Lenin và các nhà cách mạng lưu vong lên kế hoạch mở đường máu băng qua Đức, đất nước mà bấy giờ vẫn đang sa lầy trong cuộc chiến chống Nga. Biết tin những người bất đồng chính kiến với Sa hoàng muốn trở về Nga, chính quyền Đức bèn cho phép 32 người Nga lưu vong, trong đó có Lenin và vợ, đi tàu xuyên qua đất nước họ. Vì lý do chính trị, Lenin và chính quyền Đức đồng thuận phao tin rằng, chuyến tàu chở Lenin xuyên lãnh thổ Đức đã bị niêm phong, song thực chất hành khách trên tàu có thể lên xuống thoải mái ở bất cứ trạm nghỉ nào. Nhóm người Nga đi từ Zürich tới Sassnitz, bắt phà tới Trelleborg, Thụy Điển, từ đó đi tiếp đến giới tuyến Haparanda–Tornio, rồi dừng chân tại Helsinki, trước khi cải trang và bắt chuyến tàu cuối về Petrograd.
Đáp chân tại ga Phần Lan tại Petrograd vào tháng 4, Lenin diễn thuyết công kích Chính phủ Lâm thời trước những người ủng hộ Bolshevik, một lần nữa kêu gọi cách mạng vô sản toàn lục địa. Trong những ngày tiếp theo, ông tham vấn tại các cuộc họp của phái Bolshevik, chê trách những thành phần đòi giảng hòa với phái Menshevik và đọc "Luận cương tháng Tư", một bản sách lược khái yếu dành cho phái Bolshevik được chính tay Lenin viết trên chuyến hành trình trở về từ Thụy Sĩ. Ông công khai chỉ trích phái Menshevik và Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng, hai phe chiếm số đông trong Xô viết Petrograd, vì dám ủng hộ Chính phủ Lâm thời, quy kết họ là những kẻ phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì cho rằng chính phủ mới có đầu óc đế quốc chẳng kém gì chế độ Sa hoàng cũ, Lenin đã nêu ra các yêu sách sau: cầu hòa với Đức và Áo-Hung ngay lập tức, giao nộp chính quyền về tay các xô viết, quốc hữu hóa các ngành công nghiệp và ngân hàng, tịch thu ruộng đất của địa chủ; tất cả nhằm gây dựng một chính quyền vô sản hướng tới chủ nghĩa xã hội. Trái lại, phái Menshevik tin rằng nước Nga chưa đạt đến độ chín muồi để đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời cáo buộc Lenin muốn kích động nội chiến. Trong những tháng tiếp theo, Lenin nỗ lực tuyên truyền các chính sách của ông, dự các cuộc họp của Trung ương Đảng Bolshevik, đóng góp các bài viết đăng trên "Pravda," diễn thuyết tại Petrograd nhằm chiêu mộ công nhân, binh lính, thủy thủ và nông dân cho sự nghiệp cách mạng.
Cảm thấy những người ủng hộ Bolshevik đang bắt đầu nản lòng, Lenin đề xuất tổ chức một cuộc biểu tình có vũ trang tại Petrograd để dò la phản ứng của chính phủ. Do sức yếu, ông rời thành phố tới làng Neivola ở Phần Lan để dưỡng bệnh. Cuộc biểu tình vũ trang sau đó của phái Bolshevik, còn có tên là những ngày Tháng Bảy, xảy ra trong lúc Lenin vắng mặt. Ngay khi hay tin về cuộc đụng độ giữa phái Bolshevik và Chính phủ Lâm thời, ông nhanh chóng quay về Petrograd và kêu gọi hòa hoãn. Đáp lại vụ ẩu đả, Chính phủ Lâm thời ra lệnh truy nã Lenin và nhiều đảng viên Bolshevik cốt cán, lục soát văn phòng của họ và loan tin vu khống Lenin là gián điệp của Đức. Tránh được cuộc lùng sục, Lenin lẩn trốn một thời gian ngắn ở một ngôi nhà an toàn bên trong Petrograd. Lo sợ cho tính mạng của mình, Lenin và cộng sự Grigory Y. Zinoviev đã cải trang và tẩu thoát khỏi Petrograd tới Razliv. Tại đây, Lenin chắp bút viết tác phẩm "Nhà nước và Cách mạng," suy tưởng về một xã hội hậu cách mạng vô sản và bàn luận về thuyết tiêu biến nhà nước để lại một xã hội cộng sản thuần khiết. Ông tiếp tục tán dương một cuộc khởi nghĩa vũ trang do phái Bolshevik lãnh đạo nhằm lật đổ Chính phủ Lâm thời, song một cuộc họp bí mật của Trung ương Đảng đã bác bỏ ý tưởng này. Lenin bắt tàu đi Phần Lan, dừng tại Helsinki vào ngày 10 tháng 8, nơi ông được chứa chấp bởi những cảm tình viên Bolshevik.
Cách mạng Tháng Mười: 1917.
Tháng 8 năm 1917, trong thời gian Lenin trú ở Phần Lan, tổng tư lệnh Quân đội Nga lúc bấy giờ, Lavr G. Kornilov, cử binh lính đến Petrograd hòng thực hiện một cuộc đảo chính quân sự chống lại Chính phủ Lâm thời. Thủ tướng Aleksandr F. Kerensky bèn cầu cứu Xô viết Petrograd (bao gồm những người Bolshevik) và cho phép các nhà cách mạng tập hợp công nhân thành các nhóm Hồng vệ binh để bảo vệ thành phố. Quân đảo chính giải tán trước khi tới được Petrograd, song sự biến đã giúp phái Bolshevik trở lại đấu trường chính trị. E ngại một cuộc phản cách mạng của cánh hữu thù địch chủ nghĩa xã hội, những người Menshevik và Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng chiếm đa số trong Xô viết Petrograd đã gây sức ép lên chính phủ, buộc họ phải bình thường hóa quan hệ với phái Bolshevik. Uy tín của phái Menshevik lẫn Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng đang ngày càng suy giảm bởi liên minh của họ với Chính phủ Lâm thời có chính sách chủ chiến vốn không được lòng dân. Phái Bolshevik thừa cơ lăng xê nhà Marxist thân Bolshevik là Trotsky lên nắm quyền trong Xô viết Petrograd. Tới tháng 9, phái Bolshevik đã chiếm thế thượng phong trong Xô viết Moskva và Petrograd.
Nhận ra mọi sự đã lắng xuống, Lenin quay về Petrograd. Ông dự cuộc họp ngày 10 tháng 10 của Ban Chấp hành Trung ương Bolshevik, nơi ông tiếp tục vận động một cuộc khởi nghĩa vũ trang nhằm lật đổ Chính phủ Lâm thời; lần này nhận được 10 phiếu thuận và 2 phiếu chống. Zinoviev và Kamenev phản đối quyết định này, cho rằng công nhân sẽ không ủng hộ một cuộc khởi nghĩa bạo lực chống chính quyền và hơn nữa cũng chẳng có bằng chứng nào cho thấy một cuộc cách mạng vô sản sẽ nổ ra ở châu Âu như Lenin dự đoán. Đảng Bolshevik nhanh chóng lên kế hoạch cho cuộc tấn công, họp chốt ở Viện Smolny vào ngày 24 tháng 10. Nơi đây là đại bản doanh của Ủy ban Cách mạng Quân sự (MRC), một nhóm dân quân vũ trang hầu hết trung thành với phái Bolshevik, được thành lập bởi Xô viết Petrograd trong cuộc binh biến của Kornilov.
Vào tháng 10, MRC nhận lệnh chiếm đóng các trụ sở giao thông, liên lạc, in ấn và chế tác tiện ích của Petrograd, hoàn thành nhiệm vụ mà không đổ một giọt máu. Bolshevik vây hãm lực lượng chính phủ cố thủ trong Cung điện Mùa đông, công hạ nó và bắt giữ các bộ trưởng sau khi tàu tuần tiễu "Rạng Đông" được điều khiển bởi các thủy thủ Bolshevik bắn phát pháo mã tử để ra hiệu cho sự khởi đầu của cuộc cách mạng. Lenin thông báo cho Xô viết Petrograd rằng Chính phủ Lâm thời đã bị lật đổ. Phái Bolshevik tuyên bố thành lập Hội đồng Dân ủy; Lenin ban đầu khước từ chức Chủ tịch của cơ quan này, đề cử Trotsky thay thế, nhưng những người Bolshevik nhất quyết bầu Lenin và ông đành thuận theo. Lenin và những người Bolshevik sau đó tham dự Đại hội Xô viết toàn Nga trong hai ngày 26 và 27 tháng 10, công bố chính quyền mới. Phái Menshevik chỉ trích kịch liệt cuộc đảo chính bất hợp pháp và báo động nguy cơ một cuộc nội chiến sắp nổ ra. Lenin và những người Bolshevik kỳ vọng một làn sóng cách mạng vô sản sẽ quét qua châu Âu trong vài tuần hoặc vài tháng tới.
Chính quyền của Lenin.
Tổ chức chính phủ Xô viết: 1917–1918.
Chính phủ Lâm thời trước đây đã lên kế hoạch bầu cử Quốc hội Lập hiến vào tháng 11 năm 1917; chống lại phản đối của Lenin, Sovnarkom đồng ý cho cuộc bầu cử được thông qua. Phái Bolshevik nhận gần một phần tư phiếu, thua Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng. Lenin cho rằng kết quả bầu cử chưa phản ánh thực chất ý chí của nhân dân, rằng những người bỏ phiếu chưa hiểu rõ cương lĩnh chính trị Bolshevik, và cáo buộc danh sách ứng cử đã được sắp đặt trước thời điểm những người Xã hội chủ nghĩa – cách mạng cánh tả tách khỏi Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng. Dù vậy, Quốc hội Lập hiến mới của Nga vẫn tụ họp ở Petrograd vào tháng 1 năm 1918. Sovnarkom cáo buộc hành động này là phản cách mạng do nó có ý định gạt bỏ quyền lực khỏi tay các xô viết; Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng và Menshevik bác bỏ cáo buộc đó. Bolshevik kiến nghị lên Quốc hội, đòi bài trừ quyền pháp lý của nó. Sau khi Quốc hội từ chối, Sovnarkom tuyên bố hành động đó rõ ràng mang tính chất phản cách mạng và giải tán cơ quan này bằng vũ lực.
Lenin khước từ những đề nghị liên tiếp, từ cả những người Bolshevik, thúc giục ông liên minh với các đảng xã hội chủ nghĩa khác. Tuy chối bỏ hiệp đồng với những người Menshevik hoặc Xã hội chủ nghĩa – cách mạng, Sovnarkom vẫn nhượng bộ chút ít và cho phái Xã hội chủ nghĩa – cách mạng cánh tả nắm giữ 5 vị trí trong nội các vào tháng 12 năm 1917. Liên minh này chỉ tồn tại bốn tháng cho tới tháng 3 năm 1918, khi những người Xã hội chủ nghĩa – cách mạng cánh tả rút khỏi chính phủ do bất đồng chính kiến với phái Bolshevik về Thế chiến thứ nhất. Tại Đại hội lần 7 vào tháng 3 năm 1918, những người Bolshevik đổi tên Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga thành Đảng Cộng sản Nga; sở dĩ bởi Lenin muốn tách biệt đảng phái của ông khỏi Đảng Dân chủ Xã hội Đức đang ngày càng theo chủ nghĩa xét lại, đồng thời nhấn mạnh mục đích tối thượng của Bolshevik là xây dựng xã hội cộng sản.
Tuy trên lý thuyết, quyền lực tuyệt đối nằm trong tay chính phủ được thay mặt bởi Sovnarkom và Ủy ban Điều hành (VTSIK) do Đại hội Xô viết toàn Nga (ARCS) tuyển cử; song về thực chất thì Đảng Cộng sản mới nắm giữ mọi quyền hành, điều mà ai bấy giờ cũng hiểu rõ. Tới năm 1918, Sovnarkom đã trở nên rất lớn mạnh, còn ARCS và VTSIK thì bị lép vế trầm trọng. Các xô viết bấy giờ đã không còn nắm thực quyền nào đối với Nga. Trong năm 1918 và 1919, chính phủ dần loại bỏ phái Menshevik và Xã hội chủ nghĩa – cách mạng khỏi các xô viết. Nga giờ đây đã trở thành quốc gia độc đảng.
Hai cơ quan mới là Bộ Chính trị (Politburo) và Cục Tổ chức (Orgburo) được thành lập trong nội bộ Đảng để phối hợp hoạt động với Ban Chấp hành Trung ương Đảng; quyết định đưa ra bởi các cơ quan này phải được chuẩn y bởi Sovnarkom và Hội đồng Lao động và Quốc phòng. Lenin là nhân vật đầu não trong cấu trúc chính trị này do ông giữ cương vị Chủ tịch Sovnarkom, cùng một ghế bên trong Hội đồng Lao động và Quốc phòng, cũng như trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản. Người có quyền lực gần bằng Lenin lúc này là cánh tay phải đắc lực Yakov M. Sverdlov; vị này mất vào tháng 3 năm 1919 trong đại dịch cúm. Tháng 11 năm 1917, Lenin và vợ chuyển đến sống ở hai phòng ngủ của Viện Smolny; vào tháng sau họ đi nghỉ ở Halila, Phần Lan. Tháng 1 năm 1918, Lenin suýt bị ám sát ở Petrograd; Fritz Platten đã chắn đạn cho ông và bị thương nặng.
Quan ngại về mối đe dọa của quân Đức đối với thủ đô Petrograd, Sovnarkom di dời tới Moskva vào tháng 3 năm 1918, phương án vốn chỉ mang tính chất phòng bị. Lenin, Trotsky và các lãnh đạo Bolshevik chuyển trụ sở đầu não tới Điện Kremli, nơi Lenin sống chung cùng vợ và em gái trong căn phòng ở tầng một ngay bên cạnh phòng họp của Sovnarkom. Lenin không hề thích Moskva, song ông hiếm khi ra ngoài thành phố suốt phần đời còn lại. Ông may mắn sống sót qua một vụ ám sát nữa tại Moskva vào tháng 8 năm 1918, bị bắn trọng thương sau một bài phát biểu trước công chúng. Một đảng viên Xã hội chủ nghĩa – cách mạng tên là Fanny Kaplan sau đó đã bị bắt và xử tử. Cuộc tấn công được báo chí Nga lan truyền rầm rộ, góp phần dâng cao cảm tình của công chúng đối với Lenin và tăng thêm uy tín cho ông. Tháng 9 năm 1918, ông lui về Gorki Leninskiye ở ngoại ô Moskva để nghỉ dưỡng, khu vực mới được quốc hữu hóa bởi chính phủ lúc bấy giờ.
Cải cách kinh tế, pháp luật và xã hội: 1917–1918.
Gửi Công nhân, Binh sĩ và Nông dân! Chính quyền xô-viết sẽ đề nghị với nhân dân tất cả các nước ký ngay tức khắc một hòa ước dân chủ và đình chiến ngay tức khắc trên tất cả các mặt trận. Chính quyền xô-viết sẽ đảm bảo chuyển giao lại cho các ủy ban nông dân xử lý những ruộng đất của bọn địa chủ, của các thái ấp và của các nhà tu, mà không phải bồi thường gì cả; sẽ bênh vực các quyền lợi của binh sĩ bằng cách tiến hành dân chủ hóa hoàn toàn quân đội; sẽ thiết lập chế độ kiểm soát của công nhân đối với sản xuất; sẽ đảm bảo kịp thời triệu tập Quốc hội lập hiến; sẽ chăm sóc việc cung cấp lương thực cho thành thị và các nhu yếu phẩm cho nông thôn; sẽ đảm bảo cho tất cả các dân tộc sống trên lãnh thổ nước Nga quyền thật sự được tự quyết ... Cách mạng muôn năm!
—Cương lĩnh chính trị của Lenin ngày 24 tháng 11 năm 1917, trích từ
Ngay sau khi lên năm quyền, Lenin đã ban hành một loạt các sắc lệnh. Đầu tiên là Sắc lệnh về ruộng đất, trong đó tuyên bố đất của quý tộc và Giáo hội Chính thống phải được quốc hữu hóa và tái phân phối cho nông dân dưới sự chỉ đạo của chính quyền địa phương. Điều này đi ngược lại nguyện vọng tập thể hóa đất canh tác của Lenin, song chính thức công nhận việc nông dân trưng dụng đất đã diễn ra từ trước. Tháng 11 năm 1917, chính phủ ban hành Sắc lệnh về báo chí nhằm đóng cửa các hãng thông tấn bị coi là phản cách mạng. Chính phủ khẳng định biện pháp này chỉ là tạm thời; sắc lệnh này bị chỉ trích gay gắt, ngay cả từ các đảng viên Bolshevik, do vi phạm quyền tự do báo chí.
Tháng 11 năm 1917, Lenin cho ra đời bản Tuyên ngôn về Quyền của Nhân dân Nga, trong đó khẳng định các nhóm dân tộc phi-Nga dưới nền Cộng hòa có quyền li khai và gây dựng nền độc lập của riêng họ. Theo đó, nhiều quốc gia đã tuyên bố độc lập và tách khỏi Nga (Phần Lan và Litva vào tháng 12 năm 1917, Latvia và Ukraina vào tháng 1 năm 1918, Estonia vào tháng 2 năm 1918, Ngoại Kavkaz vào tháng 4 năm 1918 và Ba Lan vào tháng 11 năm 1918). Đảng Bolshevik chủ động quảng bá các đảng cộng sản mới ở các quốc gia non trẻ này. Tháng 7 năm 1918, Đại hội lần 5 của Xô viết toàn Nga phê chuẩn hiến pháp tái lập Cộng hòa Nga thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga. Nhằm hiện đại hóa đất nước, chính phủ không sử dụng lịch Julius mà chuyển sang dùng lịch Gregorius giống các quốc gia châu Âu khác.
Tháng 11 năm 1917, Sovnarkom ban hành nghị định bãi bỏ hệ thống pháp luật của Nga, kêu gọi vận dụng "lương tâm cách mạng" thay thế pháp luật. Tòa án được thay bằng hệ thống tư pháp hai bậc, theo đó bao gồm Tòa án Cách mạng chuyên xử các vụ án phản cách mạng và Tòa án Nhân dân chuyên xử các vụ án dân sự hoặc hình sự. Hệ thống này xét xử không dựa trên bộ luật cũ, mà dựa trên các nghị định của Sovnarkom và cái gọi là "tinh thần chính nghĩa xã hội chủ nghĩa." Quân đội được tái tổ chức toàn diện vào tháng 11; Sovnarkom thi hành các biện pháp cào bằng, bãi bỏ các chức hàm, chức danh, huân chương, và kêu gọi binh sĩ tự thành lập ủy ban để bầu ra chỉ huy.
Tháng 10 năm 1917, Lenin ra lệnh giảm giờ làm cho toàn thể nhân dân lao động xuống còn 8 tiếng một ngày. Ông tiếp tục ban hành sắc lệnh về giáo dục nhân dân, đảm bảo mọi đứa trẻ ở Nga được giáo dục thế tục miễn phí, và thiết lập các trại trẻ mồ côi được nhà nước tài trợ. Ngoài ra, chính phủ cũng cương quyết khắc phục nạn mù chữ, theo đó tầm 5 triệu nhân dân đã tham gia các lớp xóa mù chữ thần tốc từ năm 1920 đến năm 1926. Ủng hộ bình đẳng giới, các đạo luật đã được thông qua nhằm giải phóng phụ nữ, trao cho họ quyền tự chủ tài chính và dỡ bỏ các hạn chế đối với ly hôn. Ban Phụ vận ("Zhenotdel") được thành lập để thúc đẩy các chính sách nữ quyền Bolshevik. Dưới thời Lenin, Nga trở thành quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa nạo phá thai theo yêu cầu nếu người phụ nữ đang trong kỳ tam cá nguyệt thứ nhất. Với ý thức hệ vô thần, Lenin và Đảng Cộng sản muốn bãi bỏ các tôn giáo có tổ chức bài bản. Tháng 1 năm 1918, chính phủ ra nghị định tách rời giáo hội và nhà nước, nghiêm cấm giảng dạy tôn giáo trong nhà trường.
Tháng 11 năm 1917, Lenin ban hành Sắc lệnh về Quyền kiểm soát của công nhân, kêu gọi công nhân thành lập các ủy ban tự bầu cử để giám sát công việc quản trị của các tập đoàn. Tháng đó chính phủ cũng ra nghị định trưng thu kim tệ, và quốc hữu hóa ngân hàng; những chính sách mà Lenin coi là bước tiến quan trọng lên xã hội chủ nghĩa. Vào tháng 12, Sovnarkom lập ra Xô viết Tối cao về Kinh tế Quốc dân (VSNKh) nắm giữ quyền hành đối với các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, và ngân quỹ. Các ủy ban nhà máy nằm dưới các công đoàn đều trực thuộc VSNKh; hoạch định kinh tế tập trung của nhà nước được ưu tiên trước các mối quan tâm kinh tế của công nhân địa phương. Đầu năm 1918, Sovnarkom xóa nợ ngoại quốc và từ chối trả lợi tức cho chủ nợ. Tháng 4 năm 1918, ngành giao thương được quốc hữu hóa, độc quyền nhà nước được thiết lập đối với xuất nhập khẩu. Tháng 6 năm 1918, tiện ích công cộng như đường ray, ngành kỹ thuật, ngành dệt may, ngành kim thuật và đào mỏ được quốc hữu hóa, tuy hầu như chỉ là trên danh nghĩa. Công cuộc quốc hữu hóa toàn diện không được tiến hành cho đến tháng 11 năm 1920, thời điểm khi mà các tập đoàn tiểu công nghiệp rơi vào tầm kiểm soát của nhà nước.
Phái "Cộng sản Tả khuynh" bên trong Đảng Bolshevik phê phán chính sách kinh tế của Sovnarkom là còn quá nhân nhượng; họ đòi quốc hữu hóa toàn bộ nền công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tài chính, giao thông và liên lạc. Lenin tin rằng điều này xa vời thực tiễn, cho rằng nhà nước chỉ nên quốc hữu các tập đoàn tư bản lớn, chẳng hạn như ngân hàng, đường ray, bất động sản lớn, công xưởng lớn và ngành khai mỏ, còn đâu vẫn cho phép tiểu tư bản hoạt động tới khi chúng đủ lớn để được quốc hữu hiệu quả. Lenin bất đồng với những người cộng sản tả khuynh về tổ chức kinh tế; vào tháng 6 năm 1918, ông lập luận rằng sự kiểm soát tập trung kinh tế là điều hết sức cấp thiết. Trái lại, phái tả khuynh lại muốn công nhân kiểm soát từng nhà máy một, hướng tiếp cận công đoàn chủ nghĩa mà Lenin cho là gây phương hại đến chủ nghĩa xã hội.
Với lập trường tả khuynh tự do cá nhân chủ nghĩa, Cộng sản Tả khuynh cùng các bè phái trong Đảng Cộng sản chỉ trích sự tụt dốc của nền dân chủ ở Nga. Trên trường quốc tế, nhiều nhà xã hội chủ nghĩa đã gièm pha chế độ của Lenin và bác bỏ chủ nghĩa xã hội do ông xây dựng. Cụ thể, họ nhấn mạnh sự thiếu vắng tham chính của nhân dân, thiếu vắng góp ý của nhân dân và nói chung là thiếu vắng một nền dân chủ công nghiệp. Cuối năm 1918, nhà Marxist người Séc-Áo Karl Kautsky xuất bản pamfơlê phê phán bản chất phi dân chủ của Nga Xô viết, song bị Lenin đáp trả kịch liệt. Nhà Marxist người Đức Rosa Luxemburg đồng thuận với Kautsky ở nhiều điểm. Nhà vô chính phủ người Nga Pyotr A. Kropotkin ví cuộc đảo chính Bolshevik như là "mồ chôn Cách mạng Nga."
Hòa ước Brest-Litovsk: 1917–1918.
[Với sự kéo dài cuộc chiến] chúng ta đã bất đắc dĩ làm lớn mạnh thêm chủ nghĩa đế quốc Đức, và đằng nào thì hòa bình cũng sẽ được phán quyết, nhưng hòa bình rốt cuộc sẽ trở xấu bởi lẽ kẻ đưa ra phán quyết là kẻ khác chúng ta. Không nghi ngờ gì nữa rằng hòa bình mà chúng ta buộc phải chấp thuận chỉ là hòa bình bất nhã mà thôi, nhưng nếu chiến tranh khơi mào thì chính quyền của chúng ta sẽ bị quét sạch và hòa bình sẽ được phán quyết bởi chính quyền khác.
—Lenin nói về hòa bình với Liên minh Trung tâm, tạm dịch theo
Ngay khi lên nắm quyền, Lenin tin rằng sách lược quan trọng nhất lúc này là rút khỏi Thế chiến thứ nhất bằng cách cầu hòa với Liên minh Trung tâm gồm Đức và Áo-Hung. Ông tin rằng chiến tranh tiếp diễn sẽ kích động sự uất ức trong hàng ngũ binh sĩ Nga kiệt quệ, những người mà ông đã hứa là sẽ có hòa bình. Hơn nữa, những binh lính này và quân Đức đều là mối hiểm họa đối với chính quyền cách mạng và sự nghiệp xã hội chủ nghĩa quốc tế. Trái lại, những người Bolshevik khác, cụ thể là Nikolai I. Bukharin và phái Tả khuynh Cộng sản, cho rằng hòa hoãn với Liên minh Trung tâm là hành động phản bội chủ nghĩa xã hội, thay vào đó đề xuất Nga thực hiện "một cuộc chiến bảo vệ cách mạng" mà sẽ kích động giai cấp vô sản Đức đứng lên lật đổ chính quyền.
Lenin đề xuất một thỏa thuận đình chiến ba tháng trong Sắc lệnh về Hòa bình vào tháng 11 năm 1917, được tán thành bởi Đại hội Xô viết lần 2, rồi được chuyển tiếp cho chính quyền Đức và Áo-Hung. Người Đức phản ứng rất tích cực với tin này, xem đây là cơ hội để tập trung lực lượng sang Mặt trận phía Tây và ngăn chặn thất bại kề cận. Vào tháng 11, đàm phán hòa bình diễn ra ở Brest-Litovsk, trụ sở bộ tư lệnh tối cao của Đức ở Mặt trận phía Đông, với phái đoàn Nga được dẫn đầu bởi Trotsky và Adolph A. Joffe. Song song với sự kiện này, hai bên đã thỏa thuận ngừng bắn cho tới tháng 1. Trong khuôn khổ cuộc hòa đàm, phía Đức kiên quyết bám giữ các phần lãnh thổ mà họ đã chiếm được trong cuộc chiến, bao gồm Ba Lan, Litva và Courland; trong khi phía Nga cho rằng điều này vi phạm trắng trợn quyền tự quyết dân tộc. Một bộ phận Đảng Bolshevik muốn trì hoãn cuộc đàm phán để chờ cuộc cách mạng vô sản trong kỳ vọng nổ ra ở châu Âu. Ngày 7 tháng 1 năm 1918, Trotsky đem tối hậu thư của Liên minh Trung tâm trở về Sankt-Peterburg: hoặc là Nga chấp nhận yêu sách lãnh thổ của Đức, hoặc là chiến tranh cứ thế tiếp diễn.
Vào tháng 1 và ít lâu sau vào tháng 2, Lenin thúc giục Đảng Bolshevik chấp nhận điều khoản của Đức. Ông cho rằng mất mát lãnh thổ có thể chấp nhận được nếu nó đảm bảo sự sống còn của chính quyền Bolshevik. Phần lớn những người Bolshevik bác bỏ ý kiến của Lenin và muốn kéo dài đàm phán, đồng thời cáo buộc lời lẽ của Đức là dối trá. Ngày 18 tháng 2, Quân đội Đức tiến hành chiến dịch Faustschlag, xâm nhập sâu hơn vào lãnh thổ do Nga kiểm soát, chinh phục Dvinsk trong vòng một ngày. Tại thời điểm này, Lenin đã thuyết phục thành công một bộ phận trong Ban Chấp hành Trung ương chấp thuận yêu sách lãnh thổ của Liên minh Trung tâm. Ngày 23 tháng 2, Liên minh Trung tâm ra tối hậu thư mới: hoặc là Nga công nhận Ba Lan, các quốc gia Baltic và Ukraina đều thuộc về Đức; hoặc là đối mặt với nguy cơ bị xâm lược toàn diện.
Ngày 3 tháng 3, Hiệp ước Brest-Litovsk được ký kết. Theo đó, Nga phải gánh tất cả bất lợi về phần mình, để mất vào tay Đức 26% dân số của cựu Đế quốc Nga, 37% diện tích đất canh tác, 28% tiềm năng công nghiệp, 26% tuyến đường ray, 3/4 nguồn quặng than và sắt. Quyết định nhân nhượng lãnh thổ trong hiệp ước đã vấp phải phản ứng dữ dội trên khắp phổ chính trị. Nhiều đảng viên Bolshevik và Xã hội chủ nghĩa – cách mạng trong Sovnarkom từ chức để bày tỏ sự phản đối. Sovnarkom bèn tập trung nguồn lực vào chiến dịch kích động giai cấp vô sản Đức, cho ấn hành hàng loạt sách báo phản chiến và chống chính quyền trên lãnh thổ nước họ; chính phủ Đức đáp trả bằng cách trục xuất các nhà ngoại giao Nga. Dẫu chiến thắng trên mặt trận ngoại giao, Liên minh Trung tâm vẫn không tài nào tránh được thất bại sau cùng. Vào tháng 11 năm 1918, Hoàng đế Đức Wilhelm II thoái vị và chính phủ thay thế ký kết hòa ước với phe Đồng minh. Sovnarkom rốt cuộc phải thừa nhận rằng Hiệp ước Brest-Litovsk chẳng đạt được mục đích gì.
Chống phú nông, Cheka, và Khủng bố Đỏ: 1918–1922.
[Giai cấp tư sản] thực thi khủng bố "chống lại công nhân, binh sĩ và nông dân" để phục vụ lợi ích của một nhóm thiểu số những chủ đất và chủ ngân hàng, còn chế độ Xô-viết áp dụng các biện pháp quyết đoán chống lại địa chủ, lũ vơ vét và đồng lõa của chúng "để phục vụ lợi ích của công nhân, binh sĩ và nông dân".
—Lenin nói về Khủng bố Đỏ, tạm dịch từ
Đầu năm 1918, nhiều thành phố phía tây Nga đối mặt với nạn đói do thiếu thốn lương thực dai dẳng. Lenin lên án kulak, tức tầng lớp phú nông ở Nga thời xưa, đã cố tình tích trữ ngũ cốc do họ sản xuất để tăng giá trị trao đổi trên thị trường. Tháng 5 năm 1918, ông lệnh cho quân dân vũ trang đi trưng thu ngũ cốc của kulak để đưa lên thành phố phân phối. Vào tháng 6, ông phát động thành lập Ủy ban Bần cố nông để viện trợ chiến dịch chống kulak. Chính sách đã gây ra bất ổn xã hội lớn và khiến bạo lực lan rộng vì các toán vũ trang thường hay ẩu đả với nông dân, làm tăng nguy cơ nảy sinh xung đột nội chiến. Một trong những ví dụ điển hình nhất cho thấy sự kiên quyết lập trường của Lenin đó là bức điện tháng 8 năm 1918 gửi tới các Bolshevik ở Penza. Trong đó, ông hiệu triệu lực lượng địa phương dập tắt một cuộc nổi dậy nông dân bằng cách treo cổ làm gương ít nhất 100 "tên kulak, trọc phú, [và] lũ hút máu."
Cuộc trưng thu ngũ cốc hà khắc của Lenin đã khiến nhiều nông dân thoái chí và không dám sản xuất vượt hơn số ngũ cốc họ tiêu thụ, hệ quả là sản lượng nông nghiệp sa sút tụt hậu. Thị trường chợ đen bùng nổ đã bù trừ cho nền kinh tế bị nhà nước hạn chế. Điều này đã khiến Lenin phải ban bố lệnh xử bắn những kẻ đầu cơ tích trữ, thương nhân chợ đen và trộm cướp. Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng và Xã hội chủ nghĩa – cách mạng cánh tả đều đã lên án chính sách trưng thu ngũ cốc bằng vũ lực của Đảng Bolshevik tại Đại hội Toàn Nga lần thứ 5 của Xô viết vào tháng 7 năm 1918. Nhận ra rằng Ủy ban Bần cố nông đôi khi xử tử cả nông dân không phải kulak, khiến tầng lớp này ngờ vực chính phủ, Lenin đành bãi bỏ chiến dịch vào tháng 12 năm 1918.
Lenin liên tục nhấn mạnh sự cần thiết của chiến dịch khủng bố và bạo lực nhằm xóa bỏ trật tự cũ, cũng như đảm bảo thắng lợi cho công cuộc cách mạng. Phát biểu trước Ủy ban Chấp hành Trung ương Toàn Nga Xô viết vào tháng 11 năm 1917, ông tuyên bố rằng "nhà nước là một thiết chế được xây dựng nhằm thực thi bạo lực. Trước đó, bạo lực này được thực thi bởi lũ tham ô thiểu số đứng trên đầu toàn bộ nhân dân; giờ đây chúng ta muốn [...] tổ chức lại bạo lực đó nhân danh lợi ích của nhân dân." Ông cực lực phản đối ý kiến bãi bỏ án tử hình. Lo sợ các thế lực chống phá Bolshevik âm mưu lật đổ chính quyền, Lenin cho thành lập lực lượng cảnh sát chính trị Cheka vào tháng 12 năm 1917, được lãnh đạo bởi Felix Dzerzhinsky.
Tháng 9 năm 1918, Sovnarkom thông qua nghị quyết khánh thành cuộc Khủng bố Đỏ, một hệ thống áp chế thi hành bởi Cheka. Tuy đôi khi được coi là công cụ để diệt trừ toàn bộ giai cấp tư sản, Lenin thực chất không có ý định quét sạch hoàn toàn giai cấp này, mà chỉ nhắm chủ yếu vào những thành phần có tư tưởng muốn tái lập trật tự cũ. Phần lớn nạn nhân của cuộc khủng bố là công dân giàu có hoặc là thành viên của chế độ Sa hoàng năm xưa; trong đó cũng có cả những người chống tư sản bất đồng với Bolshevik và những thành phần xã hội lưu manh như đĩ điếm. Cheka được ủy quyền xét xử và thi hành án đối với bất cứ thành phần nào thể hiện tư tưởng chống đối chính quyền mà không cần hỏi ý kiến của Tòa án Cách mạng. Theo đó, tổ chức này đã xử tử rất nhiều người trên khắp Nga Xô viết, thường hàng loạt theo số đông. Chẳng hạn như lực lượng Cheka ở Petrograd đã xử tử 512 người trong vòng vài ngày. Không có tư liệu chính xác nào còn sót lại về số người chết trong cuộc Khủng bố Đỏ; ước tính của các nhà sử học đời sau rơi vào tầm 10.000-15.000 người, hoặc 50.000-140.000.
Lenin chưa từng tận mắt chứng kiến hay tham gia vào chiến dịch khủng bố, công khai cách li khỏi nó. Các bài viết được xuất bản và diễn văn của Lenin rất hiếm khi nhắc đến xử tử; ông thường chỉ nói về điều này trong các bức điện mã hóa hoặc các bức mật thư. Nhiều người Bolshevik tỏ ra e ngại trước các cuộc hành quyết hàng loạt của Cheka và sự vô trách nhiệm dễ thấy của tổ chức này. Đảng Cộng sản đã cố gắng hạn chế hoạt động của Cheka vào tháng 2 năm 1919, tước bỏ quyền phán xử của Cheka ở những khu vực không có thiết quân luật, song tổ chức này vẫn tiếp tục hoành hành khắp đất nước. Tới năm 1920, Cheka đã trở thành một thế lực hùng mạnh ở Nga Xô viết, ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều nhánh của bộ máy nhà nước.
Một sắc lệnh tháng 4 năm 1919 đã cho thành lập các trại tập trung được ủy thác cho Cheka, sau được điều hành bởi cơ quan chính phủ gọi là Gulag. Cuối năm 1920, 84 khu trại đã được thiết lập khắp Nga Xô viết, chứa khoảng 50.000 tù nhân; tới tháng 10 năm 1923, số lượng trại tăng lên 315 và chứa khoảng 70.000 tù nhân. Những người bị bắt được tận dụng làm lao động cưỡng bức. Tháng 7 năm 1922, trí thức bị coi là chống đối chính quyền Bolshevik bị đày tới những vùng thưa thớt dân cư hoặc ra hẳn nước ngoài; Lenin đích thân xem xét kĩ lưỡng danh sách những người bị kết án theo kiểu này. Tháng 5 năm 1922, Lenin hạ lệnh xử tử các linh mục chống đối Bolshevik, khiến 14.000 đến 20.000 người chết theo một ước tính. Giáo hội Chính thống giáo Nga bị ảnh hưởng nặng nề nhất; ngoài ra các chính sách bài tôn giáo của chính quyền cũng ảnh hưởng xấu đến các giáo hội Công giáo La mã, Tin Lành, Do Thái giáo và Hồi giáo.
Nội chiến và xung đột với Ba Lan: 1918–1920.
Sự tồn tại song song lâu dài của Cộng hòa Xô viết cùng các nước đế quốc là điều không tưởng. Suy cho cùng, một trong hai [thể chế này] sẽ chiến thắng. Và cho tới cái kết cuối đó, một chuỗi các xung đột tồi tệ giữa Cộng hòa Xô viết và các chính phủ tư bản là điều không thể tránh khỏi. Vậy nghĩa là giai cấp thống trị, tức giai cấp vô sản, nếu chỉ có nguyện vọng là cai trị và muốn được cai trị, thì ắt phải thể hiện nó bằng tổ chức quân đội.
—Lenin nói về chiến tranh, tạm dịch theo
Lenin đã lường trước rằng tầng lớp quý tộc và tư sản Nga sẽ hiệp đồng với nhau để chống chính quyền cách mạng; ông cho rằng lợi thế về quan số của các tầng lớp hạ lưu, cộng với khả năng tổ chức quân đội hiệu quả của Đảng Bolshevik, sẽ đảm bảo thắng lợi cuối cùng cho họ. Tuy nhiên, Lenin đã không thể lường được cường độ chống đối mãnh liệt như thế nào. Nội chiến Nga tiếp đó chủ yếu là cuộc đối đầu giữa phe Hồng quân ủng hộ Bolshevik và phe Bạch vệ chống Bolshevik; song nó cũng bao gồm các cuộc chiến giành độc lập của các dân tộc ở biên giới phía Tây, các lực lượng nông dân đơn lập lẻ tẻ và Quân Lục trên khắp cựu lãnh thổ của Đế quốc Nga. Vì vậy, các nhà sử học đánh giá cuộc chiến này thực chất ẩn chứa bên trong hai xung đột riêng lẻ: một là giữa phe cách mạng và phản cách mạng, hai là giữa các phe cách mạng đối chọi lẫn nhau.
Bạch vệ là một lực lượng quân sự chống Bolshevik được sáng lập bởi nhiều quân sĩ phục vụ dưới chế độ Sa hoàng cũ, cấu thành từ các đạo quân sau: Tình nguyện quân của Anton I. Denikin ở miền Nam nước Nga, lực lượng của Aleksandr V. Kolchak ở Siberia, và lực lượng của Nikolai N. Yudenich ở các nước Baltic mới độc lập. Bạch vệ được hỗ trợ bởi 35.000 binh lính của Quân đoàn Séc, khi trước là tù binh chiến tranh của Liên minh Trung tâm, về sau phản bội Sovnarkom và hiệp đồng với tổ chức chống Bolshevik gọi là Ủy ban các Thành viên của Quốc hội Lập hiến (Komuch) ở Samara. Ngoài ra, Bạch vệ còn được hậu thuẫn bởi các cường quốc phương Tây, những người coi Hiệp ước Brest-Litovsk là sự phản bội nỗ lực chiến tranh của Đồng minh và lo sợ nguy cơ cách mạng lan rộng thông qua lời hiệu triệu của Bolshevik. Năm 1918, 10.000 lính Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Ý và Serbia đổ bộ tại Murmansk, nhanh chóng chiếm cứ Kandalaksha. Cũng trong năm đó, các lực lượng Anh, Mỹ và Nhật đổ bộ Vladivostok. Quân phương Tây rốt cuộc rút khỏi cuộc chiến, chỉ đứng sau trợ cấp kĩ thuật viên và đạn dược cho phe Bạch vệ; tuy vậy Nhật Bản vẫn kiến định bám trụ cuộc chiến với tham vọng mở rộng lãnh thổ.
Lenin ủy thác cho Trotsky thành lập Hồng quân Công Nông; được sự ủng hộ của Lenin, Trotsky thành lập Hội đồng Quân sự Cách mạng vào tháng 9 năm 1918 và giữ chức chủ tịch cho tới năm 1925. Nhận thức rõ kinh nghiệm chinh chiến của các sĩ quan chế độ cũ, Lenin cho phép họ tham gia lãnh đạo Hồng quân dưới sự giám sát của Trotsky. Phe Hồng quân nắm giữ hai thành phố lớn nhất của Nga lúc bấy giờ là Moskva và Petrograd, cùng hầu hết các khu vực trung tâm của Nga, trong khi đó Bạch vệ chỉ kiểm soát các phần lãnh thổ biên viễn và ít cư dân. Lực lượng Bạch vệ do vậy bị phân mảnh do cản trở địa lý, và họ cũng không chiếm được cảm tình của các dân tộc thiểu số vì có tư tưởng thượng đẳng chủng tộc Nga. Ngoài ra, các lực lượng chống Bolshevik cũng thực thi các chiến dịch Khủng bố Trắng nhằm diệt trừ những thành phần ủng hộ Bolshevik; làn sóng khủng bố này hầu như chỉ mang tính tự phát, chứ không được tổ chức bài bản như cuộc Khủng bố Đỏ. Cả hai phe tham chiến đều đã thực hiện nhiều vụ tấn công chống lại cộng đồng Do Thái; tội ác mà bị Lenin chỉ trích kịch liệt, cho rằng sự bài thị Do Thái bắt nguồn từ tuyên truyền của tư bản.
Tháng 7 năm 1918, Sverdlov thông báo cho Sovnarkom rằng Xô viết Khu vực Ural đã hành quyết vị cựu Sa hoàng và thân tộc của ông ta ở Yekaterinburg để không cho họ rơi vào tay Bạch vệ. Tuy thiếu chứng cứ, một số sử gia như Richard Pipes và Dmitry A. Volkogonov suy đoán rằng người ra mệnh lệnh có lẽ là Lenin. Sử gia James Ryan phản đối rằng "không lý" gì để tin vào chuyện ấy. Dù gì đi chăng nữa, Lenin coi cuộc hành quyết là cần thiết, viện dẫn vụ chém đầu Vua Louis XVI trong Cách mạng Pháp.
Sau Hiệp ước Brest-Litovsk, phái Xã hội chủ nghĩa – cách mạng cánh tả từ bỏ liên minh và ngày càng thù ghét phái Bolshevik. Tháng 7 năm 1918, nhà Xã hội chủ nghĩa – cách mạng cánh tả Yakov G. Blumkin ám sát đại sứ Đức Wilhelm von Mirbach tại Nga, hy vọng sự biến sẽ kích động một cuộc chiến cách mạng mới chống lại Đức. Phái Xã hội chủ nghĩa – cách mạng cánh tả sau đó thực hiện đảo chính ở Moskva, pháo kích Điện Kremli rồi chiếm đóng bưu điện trung tâm của thành phố, trước khi bị trấn áp bởi lực lượng của Trotsky. Các thủ lĩnh và đảng viên thuộc phái này bị bắt giữ và bỏ tù, song lại được đối xử mềm mỏng hơn những kẻ thù khác của Bolshevik.
Tới năm 1919, Bạch vệ hiện đã thất thế trầm trọng, tới đầu năm 1920 thì đã bị đánh tan tác trên mọi mặt trận. Tuy Sovnarkom giành phần thắng, lãnh thổ Nga đã bị co cụm lại do các nhóm sắc tộc bên trong Đế quốc Nga tuyên bố độc lập. Một vài trường hợp (điển hình là các quốc gia ở đông-bắc châu Âu như Estonia, Latvia, Litva và Phần Lan) được Xô viết chính thức công nhận độc lập và thỏa hiệp hòa ước. Các trường hợp khác bị Hồng quân đàn áp thẳng tay; tới năm 1921, phong trào dân tộc Ukrainia bị đè bẹp và dãy Kavkaz đã trở lại quyền kiểm soát của Nga, tuy nhiên xung đột vẫn tiếp diễn ở Trung Á cho tới cuối những năm 1920.
Sau khi quân đoàn Ober Ost của Đức rút khỏi Mặt trận phía Đông theo đúng Hòa ước, quân đội Nga Xô viết và Ba Lan bèn tiến vào để khỏa lấp khoảng trống quyền lực. Nhà nước Ba Lan và chính quyền Xô viết non trẻ đều có ý định mở rộng lãnh thổ tại đây. Lính Ba Lan và Nga Xô đụng độ lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1919, nhanh chóng leo thang thành chiến tranh Ba Lan-Xô viết. Không giống các cuộc chiến trước, cuộc chiến này đóng vai trò quan trọng trong chiến lược xuất khẩu cách mạng sang các nước châu Âu khác của Sovnarkom. Quân Ba Lan đánh lấn sang Ukraina và tới tháng 5 năm 1920 đã chiếm được Kiev từ tay Nga Xô. Sau khi đánh lui Quân đội Ba Lan, Lenin kêu gọi Hồng quân xâm lược Ba Lan với niềm tin rằng giai cấp vô sản của đất nước này sẽ vùng lên ủng hộ quân Nga và châm ngòi cho một cuộc cách mạng. Trotsky và các Bolshevik khác tỏ ra ngờ vực, song vẫn tiến hành cuộc xâm lược; giai cấp vô sản Ba Lan rốt cuộc đã không nổi dậy và Hồng quân hứng chịu thất bại nặng nề tại Trận Warszawa. Quân Ba Lan đẩy lùi Hồng quân về lãnh thổ Nga, buộc Sovnarkom cầu hòa; cuộc chiến khép lại với Hòa ước Riga, theo đó Nga phải nhượng đất cho Ba Lan.
Quốc tế Cộng sản và cách mạng toàn cầu: 1919–1920.
Sau Hòa ước ở Mặt trận phía Tây, Lenin tin rằng cuộc cách mạng châu Âu sớm muộn sẽ đến. Chớp thời cơ này, Sovnarkom hậu thuẫn cho sự thành lập chính phủ xô viết Hungary của Béla Kun vào tháng 3 năm 1919, kèm theo đó là chính quyền xô viết ở Bayern và hàng loạt các cuộc nổi dậy xã hội chủ nghĩa khác ở Đức, bao gồm cuộc nổi dậy của Liên đoàn Spartakus. Trong Nội chiến Nga, Hồng quân đã được cử tới các đất nước non trẻ mới giành độc lập để hỗ trợ các phái Marxist địa phương thành lập các chính phủ kiểu xô viết. Ở châu Âu, điều này đã góp phần tạo dựng các chính phủ cộng sản Estonia, Latvia, Litva, Byelorussia và Ukraina độc lập với Nga, còn về phía viễn đông thì đã góp phần tạo nên chính phủ cộng sản Ngoại Mông. Nhiều thành viên cốt cán của Bolshevik muốn sáp nhập những vùng này vào Nga; Lenin nhấn mạnh rằng chủ quyền quốc gia và tự quyết dân tộc cần được tôn trọng, song vẫn đảm bảo rằng những chính phủ mới này trên thực tế đều nằm dưới sự điều hành của Sovnarkom.
Cuối năm 1918, Đảng Lao động Anh kêu gọi thành lập hội nghị Quốc tế Lao động và Xã hội chủ nghĩa, với sự tham gia của các đảng xã hội chủ nghĩa trên khắp thế giới. Lenin cho rằng đây chẳng qua là phiên bản khác của Đệ nhị Quốc tế, nên cho thành lập một hội nghị quốc tế riêng lẻ để chống lại nó. Với sự giúp đỡ của Zinoviev, Nikolai Bukharin, Trotsky, Christian Rakovsky và Angelica Balabanoff, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản ("Comintern") khai mạc ở Moskva vào tháng 3 năm 1919. Sự kiện này không quá đình đám trên các phương tiện truyền thông; trong số 34 đại biểu đến dự, 30 đại biểu xuất thân từ cựu lãnh thổ của Đế quốc Nga, và hầu hết các đại biểu quốc tế không được công nhận chính thức là thành viên của các đảng xã hội chủ nghĩa ở nước nhà. Phái Bolshevik vì vậy áp đảo hoàn toàn tại hội nghị. Lenin sau đó thông qua một loạt các quy định, chỉ cho phép các đảng xã hội chủ nghĩa theo quan điểm Bolshevik tham dự Comintern. Ở kỳ họp thứ nhất, Lenin đã trò chuyện với nhiều đại biểu, công kích tư tưởng dân chủ nghị viện đi lên xã hội chủ nghĩa của phái Marxist xét lại như Kautsky, kiên định kêu gọi cách mạng bạo lực nhằm lật đổ các chính phủ tư sản trên khắp châu Âu. Mặc dù Zinoviev giữ ghế chủ tịch của Comintern, Lenin vẫn cực kỳ có sức ảnh hưởng.
Đại hội lần hai của Quốc tế Cộng sản khai mạc ở Viện Smolny vào tháng 7 năm 1920; lần cuối cùng Lenin rời khỏi Moskva. Tại đây, ông khuyến khích các đại biểu ngoại quốc noi gương cuộc đảo chính thành công của Bolshevik, đồng thời từ bỏ quan điểm bấy lâu cho rằng chủ nghĩa tư bản là giai đoạn cần thiết trong tiến trình phát triển xã hội, thay vào đó khuyến khích các dân tộc dưới ách thực dân chủ động chuyển biến xã hội tiền-tư bản ở nước nhà thành xã hội chủ nghĩa. Lenin viết tác phẩm "Bệnh ấu trĩ "Tả khuynh" trong phong trào cộng sản" dành riêng cho dịp này, một cuốn sách ngắn đả kích các thành phần bên trong đảng cộng sản Anh và Đức cố chấp từ chối gia nhập các nghị viện quốc gia và các tổ chức công đoàn; ông mong muốn họ chấp thuận để giúp đỡ sự nghiệp cách mạng. Hội nghị bị trì hoãn vài ngày do cuộc chiến đang diễn ra với Ba Lan, sau phải tiếp tục ở Moskva, kéo dài tới tháng 8. Cuộc cách mạng toàn cầu trong dự đoán của Lenin rốt cuộc chẳng bao giờ tới; chính phủ cộng sản ở Hungary bị lật đổ và các cuộc khởi nghĩa Marxist ở Đức bị đàn áp.
Nạn đói và Chính sách Kinh tế Mới: 1920–1922.
Trong nội bộ Đảng Cộng sản phát sinh hai bè phái bất đồng chính kiến mới là Nhóm Tập trung Dân chủ và Đối lập Công nhân; cả hai phái đều cho rằng nước Nga đang trở nên quá tập trung và quan liêu. Phái Đối lập Công nhân, thông qua quan hệ của họ với các công đoàn nhà nước, bảy tỏ rằng giai cấp công nhân đang dần mất đi sự tin tưởng vào nhà nước. Họ đã rất phẫn nộ khi biết tin Trotsky định bãi bỏ công đoàn. Ông ta cho rằng công đoàn là tổ chức thừa thãi trong một "nhà nước của công nhân", song Lenin bất đồng với ý kiến này; phần lớn những người Bolshevik ủng hộ quan điểm của Lenin trong cuộc tranh cãi. Tại Đại hội Đảng lần thứ 10 diễn ra vào tháng 3 năm 1921, Lenin ra quyết định nghiêm cấm chia bè kết phái bên trong Đảng, ai không tuân thủ sẽ bị khai trừ.
Một phần gây ra bởi hạn hán, nạn đói Nga năm 1921 là nạn đói kinh hoàng nhất trong lịch sử nước Nga kể từ năm 1891, gieo rắc cái chết cho hơn 5 triệu người. Nạn đói bị làm trầm trọng thêm bởi chính sách trưng thu lương thảo, cũng như bởi sự xuất khẩu phần lớn trữ lượng ngũ cốc của Nga ra ngoại quốc. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí đã lập ra một ủy ban phụ trách phân phối lương thực nhằm sang Nga cứu đói. Thượng phụ Tikhon của Moskva đã kêu gọi các nhà thờ Chính thống giáo bán đồ không cần thiết để bố thí cho người đói, hành động mà đã nhận được sự ủng hộ của chính phủ. Vào tháng 2 năm 1922, Sovnarkom áp dụng biện pháp mạnh tay hơn, ra lệnh cho tịch thu và bán hết tất cả các vật phẩm quý giá đối với nhà thờ giáo hội. Tikhon phản đối việc bán chác các vật phẩm được dùng trong Tiệc Thánh và một số tăng lữ kháng lệnh của Sovnarkom, gây ra nhiều vụ ẩu đả.
Giữa năm 1920 và 1921, kháng cự đối với lệnh trưng thu ngũ cốc ở nhiều địa phương đã leo thang thành các cuộc nổi dậy nông dân chống Bolshevik trên khắp Nga, song đều bị dập tắt. Cuộc nổi dậy lớn nhất diễn ra ở Tambov bị Hồng quân nhanh chóng đập tan. Vào tháng 2 năm 1921, công nhân Petrograd đổ ra đường đình công; chính quyền phản ứng bằng thiết quân luật, cử Hồng quân vào thành phố để trấn áp người biểu tình. Tháng 3 cùng năm, thủy thủ ở Kronstadt nổi dậy chống chính quyền cách mạng, ra yêu sách rằng tất cả các ấn phẩm xã hội chủ nghĩa phải được lưu hành tự do, các công đoàn phải được quyền tự do hội họp và nông dân phải được quyền trao đổi tự do trên thị trường, cũng như phải chấm dứt ngay tức khắc chiến dịch trưng thu. Lenin cho rằng đám thủy thủ đã bị Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng và các thế lực đế quốc thù địch đánh lừa, vậy nên kêu gọi dập tắt cuộc biến loạn. Dưới sự lãnh đạo của Trotsky, Hồng quân đánh dẹp cuộc binh biến vào ngày 17 tháng 3, dẫn đến cái chết của hàng ngàn người và tù binh bị giải đến các trại tập trung.
Tháng 2 năm 1921, Lenin trình bày Chính sách kinh tế mới (NEP) lên Bộ Chính trị; ông thuyết phục các đảng viên Bolshevik cao cấp dựa trên sự cấp thiết của vấn đề và chính sách được thông qua vào tháng 4. Trong bài luận "Về thuế lương thực", Lenin giải thích rằng NEP là sự trở lại với kế hoạch kinh tế nguyên bản của Bolshevik, khẳng định rằng chính sách cộng sản thời chiến khi trước của Sovnarkom chỉ đóng vai trò thay thế NEP trong tình hình nội chiến rối ren mà thôi. NEP cho phép các tập đoàn tư nhân hoạt động lại trên lãnh thổ Nga, tái thiết chế độ tiền lương và mở lại thị trường để nông dân tự do buôn bán sản phẩm. Chính sách cũng cho phép các ngành công nghiệp tư quy mô nhỏ được tái hoạt động, trong khí đó thì các lĩnh vực như công nghiệp cơ bản, giao thông vận tải và ngoại thương vẫn nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước. Lenin gọi đây là "chủ nghĩa tư bản nhà nước", và một số đảng viên Bolshevik cho rằng nó đi ngược lại các giá trị của chủ nghĩa xã hội. Các nhà nghiên cứu tiểu sử Lenin thường coi NEP là một trong những thành tựu lớn nhất của ông và một số thậm chí tin rằng nếu chính sách này không được thông qua kịp thời thì Sovnarkom sớm muộn sẽ bị lật đổ bởi các cuộc nổi dậy nhân dân.
Tháng 1 năm 1920, chính phủ thi hành luật lao động bắt buộc, có hiệu lực với tất cả các công dân trong độ tuổi từ 16 đến 50. Lenin kêu gọi triển khai dự án GOELRO lắp đặt lưới điện diện rộng, khởi công từ tháng 2 năm 1920; câu nói nổi tiếng của Lenin rằng "chủ nghĩa cộng sản bằng chính quyền Xô viết cộng điện khí hóa toàn quốc" sẽ được trích dẫn rộng rãi trong nhiều năm tới. Nhằm mở rộng nền kinh tế Nga thông qua ngoại thương, Sovnarkom đã cử các đại biểu của mình đến dự Hội nghị Genoa 1922; Lenin muốn đích thân đến dự nhưng vì bệnh nặng nên thôi. Phái đoàn Nga đi đến thỏa thuận với Đức, tiếp sau một thỏa thuận giao thương với Vương quốc Anh. Lenin hy vọng với khoản đầu tư mới của ngoại quôca, Sovnarkom sẽ có thể làm trầm trọng thêm sự cạnh tranh giữa các nước tư bản và hối thúc sự sụp đổ của chúng; ông cũng ngỏ lời cho thuê vựa dầu Kamchatka với một công ty tư bản Mỹ nhằm đẩy mạnh căng thẳng giữa quốc gia này và Nhật Bản, đất nước mà bấy giờ cũng muốn chiếm hữu Kamchatka để xây dựng tiềm lực đế quốc của riêng mình.
Sức khỏe suy giảm và lục đục với Stalin: 1920–1923.
Lenin hổ thẹn khi đảng Bolshevik tổ chức lễ mừng sinh nhật thứ 50 cho ông vào tháng 4 năm 1920, sự kiện mà cũng được tôn vinh khắp nước Nga bằng các bài thơ và tiểu sử dành riêng cho ông. Giữa năm 1920 và 1926, 20 tập của công trình hợp tuyển Lenin được ấn hành; tuy vẫn có một số tư liệu bị cắt bỏ. Trong năm 1920, một số nhân vật nổi danh ở phương Tây sang Nga để thăm Lenin, trong đó có nhà văn H. G. Wells, triết gia Bertrand Russell, các nhà hoạt động vô chính phủ Emma Goldman và Alexander Berkman. Armand, bấy giờ đã yếu đi nhiều, cũng tới thăm Lenin tại Điện Kremli. Ông khuyên bà đi điều dưỡng ở Kislovodsk để chóng hồi phục, song bà mất tại đó vào tháng 9 năm 1920 sau một trận dịch tả. Thi hài Armand được đưa về Moskva và chôn cất tại Tường Điện Kremli trước sự chứng kiến của một Lenin muộn phiền.
Lenin đổ bệnh nặng cuối năm 1921, trở nên nhạy cảm với âm thanh, mất ngủ và đau đầu thường xuyên. Theo khuyến nghị của Bộ Chính trị, Lenin rời Moskva, lui về dinh thự Gorki để dưỡng bệnh vào tháng 7, nơi ông được vợ và em gái chăm sóc chu đáo. Ông bắt đầu nghĩ quẩn đến việc tự sát, hỏi Krupskaya và Stalin cho kali cyanide để kết liễu cuộc đời. Hai mươi sáu vị bác sĩ đã được thuê để theo dõi bệnh tình của Lenin trong những năm cuối đời, một số là người ngoại quốc. Có ý kiến cho rằng bệnh tình của Lenin bắt nguồn từ sự oxi hóa các mảnh đạn găm trong người ông từ vụ mưu sát năm 1918, khiến ông phải trải qua một ca phẫu thuật vào tháng 4 năm 1922. Các triệu chứng tiếp diễn đã làm các bác sĩ rất bối rối; có lẽ ông đã mắc phải bệnh suy nhược thần kinh hoặc xơ vữa động mạch não, thậm chí có đồn đoán cho rằng ông bị giang mai. Tháng 5 năm 1922, ông bị đột quỵ, mất khả năng nói tạm thời và bị liệt phần thân bên phải. Sức khỏe Lenin đã hồi phục tương đối vào tháng 7. Ông quay về Moskva vào tháng 10 nhưng cơn đột quỵ tái phát vào tháng 12, khiến ông lại phải lui về Gorki.
Bất chấp sức yếu, Lenin vẫn rất quan tâm đến việc chính sự. Khi giới lãnh đạo Đảng Xã hội chủ nghĩa – cách mạng bị bê bối bày đặt âm mưu chống chính quyền trong một phiên tòa diễn ra giữa tháng 6 và tháng 8 năm 1922, Lenin đã kêu gọi phải nghiêm trị những kẻ phản trắc; thay vào đó họ bị cầm tù vô thời hạn và về sau bị sát hại trong cuộc Đại Thanh trừng của Stalin. Với sự ủng hộ của Lenin, chính phủ Xô viết đã có thể nhổ rễ hiệu quả phái Menshevik khỏi Nga bằng cách đào thải tất cả các thành phần Menshevik khỏi các thiết chế cũng như các tập đoàn nhà nước vào tháng 3 năm 1923 và bắt giữ các thành viên của đảng này để thuyên chuyển tới các trại tập trung. Lenin lo lắng về sự tiếp diễn của một hệ thống quan liêu kiểu Sa hoàng ở Nga Xô viết, nhất là vào những năm cuối đời. Phê phán thái độ quan liêu cửa quyền, ông đề nghị phải cải tổ triệt để nội bộ chính quyền để tránh tệ này, cảnh báo trong một bức thư rằng: "chúng ta đang sa vào một vũng lầy quan liêu bẩn thỉu".
Trong tháng 12 năm 1922 và tháng 1 năm 1923, cái được giới sử gia gọi là "Di chúc Lenin" bắt đầu được thảo, trong đó có các nhận xét về phẩm chất của những người đồng chí của ông, tiêu biểu là Trotsky và Stalin. Ông khuyến nghị miễn nhiệm Stalin khỏi chức Tổng Bí thư Trung ương Đảng vì cho rằng ông ta không hợp với vị trí này. Lenin muốn đưa Trotsky lên thay thế, khen Trotsky là "người có năng lực nhất trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng hiện thời". Lenin nêu bật trí tuệ của Trotsky, song cũng phê phán thói tự cao và thiên hướng cậy quyền của ông ta. Trong thời kỳ này, Lenin cũng đọc cho thư ký viết một bài luận chỉ trích bản chất quan liêu của Bộ Dân ủy thanh tra công nông, khuyến khích tuyển mộ thêm nhân sự xuất thân từ tầng lớp lao động để giải quyết vấn đề. Trong một bài luận khác, ông kêu gọi nhà nước nỗ lực hơn nữa trong công tác xóa nạn mù chữ, tuyên truyền sự đúng giờ và tận tâm trong quần chúng nhân dân, cũng như khuyến khích nông dân tham gia hợp tác xã.
Stalin quá thô thiển. Cái khiếm khuyết này, tuy có thể hoàn toàn chấp nhận được trong hàng ngũ của chúng ta và giữa chúng ta như những người cộng sản, trở nên không thể nào chấp nhận được trên cương vị Tổng Bí thư. Vì vậy tôi đề nghị các đồng chí hãy tìm cách loại anh ta khỏi chức vụ đó và bổ nhiệm một người có phẩm chất khác Stalin ở tất cả các bình diện, ngoại trừ bình diện cao cả duy nhất, tức là anh ta nên khoan dung hơn, lịch sự hơn và ân cần hơn đối với các đồng chí, ít thất thường hơn,
—Lenin ngày 4 tháng 1 năm 1923, tạm dịch theo
Trong lúc Lenin vắng mặt, Stalin đã bắt đầu củng cố quyền lực bằng cách đề bạt các đồng minh lên giữ các vị trí chủ chốt, đồng thời xây dựng hình ảnh bản thân như là người bằng hữu thân cận và là người kế thừa xứng đáng của Lenin. Tháng 12 năm 1922, Stalin đảm nhận việc giám sát chế độ dưỡng bệnh của Lenin, được Bộ Chính trị giao phó phận sự kiểm soát các chuyến thăm hỏi Lenin của người ngoài. Cùng lúc đó, Lenin ngày càng trở nên mâu thuẫn với Stalin; trong khi Lenin kiên quyết rằng nhà nước phải giữ độc quyền về ngoại thương vào giữa năm 1922, Stalin lại dẫn dắt những người Bolshevik khác chống lại ý kiến của Lenin tuy bất thành. Giữa hai người họ cũng nảy sinh xích mích; có lần Stalin quát mắng bà Krupskaya qua một cuộc điện thoại, khiến Lenin rất tức giận và gửi thư bắt Stalin phải xin lỗi.
Rạn nứt chính trị đáng kể nhất giữa hai người họ diễn ra trong Sự vụ Gruzia. Stalin khuyến nghị rằng các quốc gia bị Xô viết hóa cưỡng bức như Gruzia, Azerbaijan và Armenia nên được sáp nhập hoàn toàn vào Nga, mặc cho nguyện vọng trái chiều của các chính phủ Xô viết địa phương. Lenin cho rằng hành động của Stalin và những người ủng hộ ông ta mang tính chất sô vanh dân tộc Đại Nga, thay vào đó kêu gọi các quốc gia-dân tộc ấy nhập vào Nga với tư cách bán độc lập để cùng tạo dựng một liên bang thống nhất với quốc hiệu "Liên bang các Cộng hòa Xô viết của châu Âu và châu Á". Tuy ban đầu phản đối, Stalin rốt cuộc chấp nhận ý kiến này. Được sự tán thành của Lenin, Stalin đổi quốc hiệu của liên bang được đề xướng thành Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô). Lenin cử Trotsky thay mặt ông phát biểu tại phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào tháng 12; tại đây kế hoạch thành lập liên bang được nhất trí, rồi được Đại hội Xô viết thông qua vào ngày 30 tháng 12, chính thức khai sinh Liên bang Xô viết. Mặc cho bệnh tình, Lenin được bầu làm chủ tịch trong chính phủ Liên Xô mới lập.
Qua đời và tang lễ: 1923–1924.
Tháng 3 năm 1923, Lenin trải qua cơn đột quỵ thứ ba, mất khả năng nói. Cùng tháng, ông bị liệt một phần thân phải và bắt đầu biểu hiện chứng thất ngôn giác quan. Tới tháng 5, sức khỏe của ông có vẻ đã hồi phục, lấy lại được khả năng di chuyển, trò chuyện và viết lách. Vào tháng 10, ông tới Kremli lần cuối. Trong tuần cuối của cuộc đời, Zinoviev, Kamenev và Bukharin tới thăm hỏi ông; trong đó Bukharin là người cuối cùng gặp ông tại dinh thự Gorki trước ngày mất. Ngày 21 tháng 1 năm 1924, Lenin rơi vào cơn mê sảng và mất không lâu sau. Nguyên nhân cái chết được tuyên bố là do một căn bệnh mạch máu không thể chữa khỏi.
Chính quyền Xô viết loan báo tin buồn cho toàn thể nhân dân vào ngày hôm sau. Ngày 23 tháng 1, đại diện của Đảng Cộng sản, công đoàn và xô viết tới dinh thự Gorki để chứng kiến thi hài Lenin đặt trong chiếc cữu màu đỏ, được khiêng tiễn bởi những người Bolshevik. Linh cữu sau đó được chuyển về Moskva bằng tàu hỏa, rồi được quàn trong Nhà Công đoàn. Ba ngày tiếp theo, khoảng một triệu người thương tiếc đã tới viếng Lenin, nhiều người đứng chờ hàng tiếng đồng hồ bất chấp thời tiết lạnh giá. Vào ngày 26 tháng 1, Đại hội đại biểu toàn thể Xô viết lần thứ 11 gặp mặt để tưởng nhớ Lenin, với các bài phát biểu của Kalinin, Zinoviev và Stalin. Đáng chú ý, Trotsky không xuất hiện tại sự kiện này; ông bấy giờ đang dưỡng bệnh tại Dãy Kavkaz, về sau cáo buộc Stalin đã gửi nhầm ngày tang lễ trong điện báo, khiến ông không thể nào đến dự kịp. Lễ truy điệu được cử hành vào ngày hôm sau trên Quảng trường Đỏ, đồng hành bởi quân nhạc, nơi đám đông quần chúng nghe một loạt các bài điếu văn trước khi thi hài được đặt vào lăng. Tuy rét cóng, hàng chục ngàn người đã tới dự lễ.
Bất chấp phản đối từ bà Krupskaya, thi hài của Lenin được bảo quản và lưu giữ để viếng thăm trong lăng Quảng trường Đỏ. Năm 1925, một viện nghiên cứu được lập ra để giải phẫu não của Lenin, qua đó phát hiện ra rằng nó bị xơ cứng rất nặng. Tháng 7 năm 1929, Bộ Chính trị chuẩn y quyết định dỡ bỏ lăng gốc tạm thời để thay bằng một lăng vĩnh viễn làm từ đá granite, hoàn công vào năm 1933. Quan tài của Lenin được thay thế vào năm 1940 và một lần nữa vào năm 1970. Từ năm 1941 đến năm 1945, thi hài ông được di dời tạm thời đến Tyumen để đảm bảo an toàn trong Thế chiến thứ hai. Cho đến năm 2023, thi hài vẫn được lưu giữ để viếng thăm bên trong Lăng Lenin ở Quảng trường Đỏ.
Ý thức hệ chính trị.
Chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Lenin.
Chúng ta đâu có trả vờ rằng Marx hoặc các nhà Marxist biết con đường đúng nhất để tiến tới chủ nghĩa xã hội. Điều đó hoàn toàn nhảm nhí. Chúng ta biết phương hướng, chúng ta biết lực lượng giai cấp nào sẽ đưa đẩy nó, song về cụ thể, thực tiễn, thì điều này phải được thể hiện bởi "trải nghiệm của hàng triệu con người" khi họ chung tay gây dựng nó.
—Lenin ngày 11 tháng 12 năm 1917, tạm dịch từ
Lenin là một nhà Marxist tận tụy. Ông tin tưởng rằng diễn giải của mình về chủ nghĩa Marx — lần đầu tiên được gọi là "chủ nghĩa Lenin" bởi Martov vào năm 1904 — là đúng nhất và chính thống nhất. Theo lập trường Marxist của Lenin, nhân loại nhất định sẽ đạt đến chủ nghĩa cộng sản thuần túy, tạo lập nên một xã hội phi nhà nước, phi giai cấp và quân bình của công nhân; nơi họ không còn bị bóc lột hoặc tha hóa nữa, được làm chủ vận mệnh của bản thân, "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu". Theo Volkogonov, Lenin tin tưởng "sâu sắc và thật lòng" vào con đường mà ông đã đặt ra cho nước Nga để tiến lên xã hội cộng sản.
Theo lập trường Marxist của Lenin, các xã hội đương thời không thể trực tiếp tiến lên xã hội cộng sản mà trước tất phải trải qua giai đoạn xã hội chủ nghĩa; do vậy, mối quan tâm của ông là làm cách nào để nước Nga đạt được giai đoạn xã hội chủ nghĩa. Lenin cho rằng một nền "chuyên chính vô sản" là cần thiết nhằm trấn áp giai cấp tư sản và phát triển một thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa. Trong bài luận "Bàn về chế độ hợp tác xã", ông giải thích rằng chủ nghĩa xã hội là "khi các tư liệu sản xuất đã thuộc về xã hội, khi giai cấp vô sản, với tư cách là giai cấp, đã thắng giai cấp tư sản — thì chế độ của những người xã viên hợp tác xã văn minh mới là chế độ xã hội chủ nghĩa."
Trước năm 1914, quan điểm của Lenin hầu như đồng thuận với thuyết Marxist Tây phương dòng chính. Mặc dù chỉ trích những người Marxist tiếp nhận tư tưởng của các nhà triết học và xã hội học phi-Marxist, chính ông cũng chịu ảnh hưởng không chỉ từ dòng lý luận Marxist Nga mà còn từ các tư tưởng của phong trào cách mạng Nga rộng lớn hơn, bao gồm dòng chủ nghĩa xã hội trọng nông Narodnik. Ông đã cải tiến lý thuyết của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh đương thời, đồng thời điều hành nước Nga trong điều kiện chiến tranh, nạn đói và suy thoái kinh tế. Lenin đã đóng góp nhiều điều mới cho chủ nghĩa Marx chính thống, phát triển nó thành chủ nghĩa Lenin.
Trong các trước tác lý luận chính trị, tiêu biểu như tác phẩm "Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản," Lenin đã thảo luận về những điều ông cho là những tiến triển của chủ nghĩa tư bản sau khi Marx qua đời; theo ông, chủ nghĩa tư bản đã bước lên một trình độ mới gọi là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Lenin tin rằng, mặc dù nền kinh tế Nga bị chi phối bởi cơ cấu nông nghiệp là chính, song sự hiện diện của chủ nghĩa tư bản độc quyền tại đây chứng tỏ đất nước này đã chín muồi về mặt vật chất để tiến lên giai đoạn xã hội chủ nghĩa. Theo Ryan, chủ nghĩa Lenin có phần chuyên chế và giáo điều hơn các biến thể khác của chủ nghĩa Marx, và nổi bật vì khêu gợi được cảm xúc mãnh liệt tới từ viễn kiến giải phóng nhân loại của nó. Ngoài ra, chủ nghĩa Lenin cũng nhấn mạnh vai trò của đảng tiên phong trong việc dẫn dắt giai cấp vô sản tiến tới cách mạng, đồng thời đề cao bạo lực trong vai trò như một công cụ hữu dụng của cách mạng.
Vấn đề dân chủ và dân tộc.
Lenin tin rằng chế độ dân chủ đại biểu ở các nước tư bản tạo nên ảo tưởng về dân chủ, trong khi vẫn duy trì cái gọi là "chuyên chế tư sản". Ông miêu tả chế độ dân chủ đa đảng ở Hoa Kỳ như là "những cuộc đối đầu ngoạn mục và vô nghĩa giữa hai chính đảng tư sản", theo đó thì cả hai đảng đều được dẫn dắt bởi "những tỉ phú ranh mãnh" bóc lột giai cấp vô sản Mỹ. Ông chống chủ nghĩa tự do ("liberalism"), thể hiện sự bất đồng cảm đối với sự trân trọng tự do ("liberty") như một giá trị, và tin rằng quyền tự do ("freedom") dưới ách chủ nghĩa tự do chỉ là gian trá mà thôi, bởi suy cho cùng thì người lao động vẫn bị bóc lột bởi các nhà tư bản.
Lenin khẳng định rằng "chính phủ Xô viết dân chủ gấp triệu lần cộng hòa tư sản dân chủ nhất", cho rằng dân chủ tư sản là "một nền dân chủ cho kẻ giàu." Lenin coi "chuyên chính vô sản" dân chủ vì nó cho phép công nhân bầu cử đại biểu trong các hội đồng xô viết và quan chức đại diện cho họ, thay phiên luân chuyển liên tục, cũng như cho phép họ tham gia vào việc quản lý nhà nước. Tuy nhiên, viễn cảnh của Lenin về một nhà nước vô sản chệch khỏi quan điểm của lý thuyết Marxist chính lưu lúc bấy giờ; các nhà Marxist Tây Âu như Kautsky hình dung về một chính phủ nghị viện dân chủ trong đó giai cấp vô sản chiếm đa số, trong khi Lenin kêu gọi thành lập một nhà nước tập trung hóa, mạnh mẽ về tiềm lực, có khả năng ngăn cản bất cứ sự can thiệp nào của giai cấp tư sản.
Lenin là người quốc tế chủ nghĩa ủng hộ một cuộc cách mạng thế giới; theo đó cho rằng ranh giới quốc gia dân tộc là khái niệm hủ lậu và chủ nghĩa dân tộc là sự xao nhãng khỏi cuộc đấu tranh giai cấp quan trọng hơn. Ông tin rằng trong hình thái xã hội chủ nghĩa, các quốc gia trên thế giới sẽ không thể tranh khỏi sự hợp nhất và lập ra một chính phủ thế giới duy nhất. Ông cho rằng nhà nước xã hội chủ nghĩa trên lý thuyết sẽ có dạng nhà nước đơn nhất, được tập trung hóa, và ông coi định lý phân quyền như một khái niệm bày vẽ của giai cấp tư sản. Trong các trước tác của mình, Lenin thể hiện tư tưởng phản đế, khẳng định tất cả các dân tộc đều có "quyền được tự quyết." Ông ủng hộ các cuộc chiến giải phóng dân tộc, chấp nhận quan điểm cho rằng các xung đột kiểu vậy có thể khiến một số nhóm dân tộc thiểu số tách khỏi nhà nước xã hội chủ nghĩa, vì những nhà nước như vậy không "thánh thiện hay đảm bảo được là không phạm lỗi lầm hay khuyết điểm."
Trước khi lên nắm quyền vào năm 1917, ông lo ngại nhà nước Xô viết sẽ không thể bình trị các quốc gia dân tộc thiểu số mong muốn độc lập; theo sử gia Simon Sebag Montefiore, vậy nên Lenin muốn Stalin phát triển "một lý thuyết chủ trương quyền tự trị và quyền được ly khai mà không cần thiết là phải đảm bảo cả hai." Sau khi giành chính quyền, Lenin nhanh chóng kêu gọi bãi bỏ mối ràng buộc của các dân tộc thiểu số với Đế quốc Nga, theo đó ủng hộ sự ly khai độc lập nhưng thực chất lại kỳ vọng sự tái hợp ngay tức khắc dựa trên tinh thần vô sản quốc tế chủ nghĩa. Ông sẵn sàng sử dụng vũ lực quân sự để đảm bảo sự thống nhất này, với kết quả là các cuộc tấn công xâm nhập các lãnh thổ đã tuyên bố độc lập như Ukraina, Gruzia, Ba Lan, Phần Lan, và các quốc gia Baltic. Chỉ khi xung đột với Phần Lan, các quốc gia Baltic, và Ba Lan thất bại thì chính phủ của Lenin mới chính thức công nhận nền độc lập của các chính thể này.
Đời tư, ngoại hình và tính cách.
Lenin nhìn nhận bản thân như một con người làm nên lịch sử, luôn vững tin vào sự chính đáng của công cuộc cách mạng cũng như khả năng lãnh đạo của mình. Nhà viết tiểu sử Louis Fischer miêu tả ông là "một người yêu những sự thay đổi triệt để và sự biến động tột cùng", một người mà cho rằng "không có giải pháp trung gian. Ông là kiểu người phóng đại cái đúng-sai, đỏ-hoặc-đen". Đánh giá cao "khả năng làm việc kỷ cương phi thường" và "sự cống hiến hết mình cho nghiệp cách mạng" của Lenin, nhà sử học Richard Pipes viết rằng ông là người cực kỳ có sức hút. Tương tự, Volkogonov cho rằng "chỉ bằng tính cách của mình, [Lenin] đã sẵn có ảnh hưởng đến mọi người". Trái lại, bằng hữu Gorky của Lenin miêu tả ông là "một người vững vàng, khỏe khoắn, bị hói đầu," nhìn trông "khá đời thường" và "không có mấy vẻ lãnh đạo".
[Các trước tác của Lenin] đã tiết lộ chi tiết về một con người có ý chí sắt đá, tự trói buộc mình với sự tự giác kỷ cương, sự khinh bỉ đối với kẻ địch và chướng ngại, quyết tâm lạnh lùng của một người nhiệt thành, động cơ của một người cuồng tín và khả năng thuyết phục hoặc dọa nạt những kẻ nhu nhược nhờ sự chuyên tâm vào duy nhất một mục đích, sự mãnh liệt đường vệ, lối tiếp cận bất nhân nhượng, sự hy sinh bản thân, sự sắc sảo chính trị và sức thuyết phục hoàn toàn [rằng ông] nắm giữ cái chân lý tuyệt đối. Cuộc đời ông đã trở thành lịch sử của phong trào Bolshevik.
—Đánh giá của Louis Fischer về Lenin, 1964
Nhà sử học Robert Service cho biết Lenin hồi nhỏ là một người có xúc cảm rất mãnh liệt, thù ghét cay đắng chính quyền Sa hoàng. Theo Service, Lenin đã phát triển một "sự gắn bó xúc cảm" đối với các hình tượng anh hùng như Marx, Engels và Chernyshevsky. Ông sở hữu ảnh chân dung của họ, và từng nói trong một bức thư rằng ông "ái mộ" Marx và Engels. Nhà nghiên cứu tiểu sử James D. White cho rằng Lenin coi giáo huấn của họ như "kinh thánh" hay "giáo điều", những thứ "không cần hoài nghi mà chỉ cần tin tưởng". Theo Volkogonov, Lenin coi chủ nghĩa Marx như "chân lý tuyệt đối", theo đó mà hành xử như "một người cuồng tín". Tương tự, triết gia Bertrand Russell cảm thấy rằng Lenin thể hiện một "niềm tin kiên định kiểu tôn giáo đối với chân lý Marxist". Nhà viết tiểu sử Christopher Read ví Lenin như "một phiên bản thế tục của các thủ lĩnh thần quyền, [những người mà] lấy tính chính đáng từ cái chân lý [dường như] trong các học thuyết của họ, chứ không từ sự ủy thác của nhân dân". Dẫu vậy Lenin là một người vô thần chỉ trích tôn giáo, tin rằng bản chất của chủ nghĩa xã hội là phản tôn giáo; vì lẽ ấy nên ông coi chủ nghĩa xã hội Kitô là một khái niệm tự mâu thuẫn.
Service nhận xét rằng Lenin có thể "buồn rầu và thay đổi tâm trạng đột ngột". Pipes thì cho rằng Lenin là "một người chán ghét nhân loại tới tận cùng". Read bác bỏ quan điểm đó, viện dẫn những lúc Lenin bày tỏ lòng tốt, nhất là đối với trẻ em. Theo nhiều nhà viết tiểu sử, Lenin không khoan nhượng với kình địch chính trị, và hay bác bỏ thẳng thừng các ý kiến trái với mình. Ông có khi "phê phán thâm độc người khác", thể hiện một khuynh hướng nhạo báng, chế giễu, hoặc đả kích "ad hominem" những người phản đối mình. Ông làm ngơ trước các sự thực không phù hợp với ý mình, khinh miệt sự thỏa hiệp, và hiếm khi thừa nhận lỗi lầm của bản thân. Ông không muốn thay đổi quan điểm của mình, trừ khi lập trường cũ hoàn toàn bị bãi bỏ, rồi sau đó lại theo quán tính mà không chịu thay đổi. Lenin không biểu hiện tính cách tàn bạo và không mong muốn bạo lực, song lại chấp nhận bạo lực khi người khác thực hiện nó và không tỏ ra thông cảm cho bất cứ thành phần nào bị giết nhân danh sự nghiệp cách mạng. Đứng trên lập trường vị lợi chủ nghĩa, Lenin coi mục đích luôn hợp thức hóa đường lối, phương tiện. Theo Service, "tiêu chí đạo đức [của Lenin] rất đơn giản: một hành động có thăng tiến hoặc ngăn cản sứ mệnh Cách mạng hay không?"
Lenin bình thường với vẻ bề ngoài hiền dịu và đôn hậu, người mà thích tiếng cười, người mà yêu thú cưng và thấu cảm tình lý, chuyển đổi ngay tức khắc khi các vấn đề về giai cấp và chính trị được nêu lên. Ông lập tức trở nên nhạy bén, không nhượng bộ, không chùn bước và đầy căm thù, cực kỳ nghiêm khắc. Ngay cả trong trạng thái ấy, ông vẫn có khả năng đùa những câu đùa đen.
—Nhận xét của Dmitri Volkogonov, 1994
Về mặt dân tộc, Lenin tự nhận là người Nga. Service miêu tả Lenin là "một người khá hợm hĩnh khi bàn tới các vấn đề về dân tộc, xã hội và văn hóa". Vị lãnh tụ Bolshevik tin rằng các quốc gia Châu Âu khác, nhất là Đức, có nền văn hóa vượt trội hơn so với Nga. Ông cho rằng nước Nga là "một trong những quốc gia ở Châu Á hiền hòa, trung cổ và lạc hậu theo cách đáng xấu hổ nhất." Lenin phiền lòng trước cái mà ông cho là sự thiếu vắng tính ngay thẳng và nếp kỷ luật của nhân dân Nga; từ lúc trẻ ông đã muốn nước Nga trở nên giống Châu Âu và phương Tây hơn.
Trái với chiều hướng cách mạng trong lập trường chính trị, Lenin không thích các thí nghiệm cách tân về văn chương và nghệ thuật, cụ thể là các trào lưu hội họa như chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa vị lai và chủ nghĩa lập thể, mà đề cao chủ nghĩa hiện thực và văn học cổ điển Nga. Lenin có tư tưởng khá bảo thủ và cứng nhắc về giới tính và hôn nhân. Suốt quãng đời trưởng thành, ông gắn bó với người vợ Krupskaya, nhà nữ cách mạng Marxist mà ông kết hôn khi ở Siberia. Hai ông bà đều tiếc nuối vì không có con, dành thời gian rảnh để chơi đùa với con cháu bạn bè. Read bình chú rằng Lenin "giữ các mối quan hệ gần gũi, nồng ấm, suốt đời" với các thành viên trong gia đình. Ông không có bạn thâm niên và Armand thường được cho là người bạn tâm tình duy nhất của ông.
Ngoài tiếng Nga mẹ đẻ, Lenin còn biết nói và viết bằng tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Anh. Vì là người chú tâm đến sức khỏe, ông thường xuyên tập thể dục, ưa thích các hoạt động ngoài trời như đạp xe, bơi lội và săn bắn. Thời gian ở Thụy Sĩ, ông còn có hứng thú với bộ môn đi bộ đường núi. Ông rất thích nuôi thú cưng, nhất là mèo. Ông kỳ thị sự xa hoa lãng phí, sống rất đơn sơ giản dị. Pipes bình chú rằng Lenin "hết sức khiêm tốn với nhu cầu bản thân", làm gương cho "một lối sống chất phác, gần như khổ hạnh." Lenin ghét sự bừa bãi, luôn dọn dẹp ngăn nắp bàn làm việc, gọt bút chì thật cẩn thận và mong muốn sự tĩnh lặng tuyệt đối khi làm việc. Theo Fischer, "tính tự cao [ở Lenin] hầu như không có.", Trên thực tế, Lenin không hài lòng với tục sùng bái cá nhân mà chính quyền Xô viết đã dựng lên cho mình; tuy nhiên, ông cũng cho rằng việc này có thể có lợi ích nào đó trong công cuộc kết đoàn phong trào cộng sản .
Volkogonov, tuy bất đồng với hệ tư tưởng của Lenin, vẫn khen ngợi rằng "rất hiếm cá nhân nào trong lịch sử có khả năng thay đổi đáng kể một xã hội lớn ở tầm vĩ mô như vậy." Chính quyền của Lenin đã xây dựng khung sườn cho hệ thống chính phủ điều hành Nga xuyên suốt bảy thập kỷ tới và cung cấp mô hình cho các nhà nước cộng sản hậu thân, bao phủ 1/3 thế giới vào giữa thế kỷ thứ 20, noi theo. Vì vậy, ảnh hưởng của Lenin mang tầm quốc tế. Là một nhân vật lịch sử gây nhiều tranh cãi, Lenin vừa được tôn vinh ca ngợi bởi một số người, vừa bị trách nhiếc xỉ vả bởi một số khác. Ngay cả lúc sinh thời, nhân dân Nga "có người yêu mến cũng có người căm ghét, có người ngưỡng mộ cũng có người khinh miệt" ông. Những luồng tư tưởng ấy đã len lỏi vào các nghiên cứu về Lenin và chủ nghĩa Lenin, bắt nguồn từ các bất đồng liên quan đến lập trường chính trị.
Nhà sử học Albert Resis nhận định rằng nếu Cách mạng Tháng Mười được coi là sự kiện quan trọng nhất của thế kỷ thứ 20, thì Lenin "dù tốt hay xấu vẫn phải được công nhận là vị lãnh tụ chính trị quan trọng nhất thế kỷ." White khen ngợi Lenin là "một trong những nhân vật lịch sử đương đại kiệt xuất mà không cần tranh cãi". Service ghi nhận vị lãnh tụ Nga được nhiều người xem là một trong những "tác nhân chính yếu" của thế kỷ 20. Read coi ông là "một trong những biểu tượng rộng rãi, dễ nhận ra một cách phổ quát, của thế kỷ thứ 20". Ryan coi ông là "một trong những cá nhân đáng kể và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử đương đại." Tạp chí "Time" vinh danh Lenin là một trong , đồng thời là một trong 25 chính khách tiêu biểu của mọi thời đại.
Ở phương Tây, các nhà nghiên cứu tiểu sử bắt đầu viết về Lenin ít lâu sau khi ông qua đời; một số như Christopher Hill thông cảm với Lenin, song số khác như Richard Pipes và Robert Gellately kịch liệt chỉ trích ông. Các sử gia như Read và Lars Lih thì cố gắng giữ trung lập hoặc bình phẩm tốt về Lenin để tránh bị gán mác chính trị. Những người có cảm tình với Lenin tôn vinh ông vì đã góp phần cải tiến thuyết Marxist sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Nga lúc bấy giờ. Tường thuật của Liên Xô miêu tả ông là người nhận ra cái không thể tránh khỏi của lịch sử, nhờ đó đã giúp nó chắc chắn xảy ra. Trái lại, phần lớn giới sử học phương Tây coi ông như một kẻ thao túng các sự kiện nhằm tiếm đoạt và chiếm giữ quyền bính chính trị; họ cáo buộc tư tưởng của Lenin chỉ là cớ để ông hợp thức hóa các chính sách thực dụng của mình. Về sau, những người xét lại lịch sử ở cả Nga lẫn phương Tây đều nhấn mạnh vào tác động của các ý tưởng sẵn có từ trước, cũng như áp lực từ phía nhân dân, lên bản thân Lenin và các chính sách của ông.
Tôi tôn vinh Lenin như là một người hoàn toàn hy sinh bản thân và dành trọn tâm huyết để thực hiện công bằng xã hội. Tôi cho rằng phương pháp của ông ấy chưa thiết thực, song chắc chắn một điều: ông ấy là mẫu người bảo vệ và chấn hưng nhân loại.
Nhiều nhà sử học và nghiên cứu tiểu sử cho rằng chính quyền của Lenin mang tính chất toàn trị, là một nhà nước cảnh sát, và là một chế độ độc tài đơn đảng. Nhiều học giả theo đó cáo buộc Lenin là độc tài. Ryan cho rằng Lenin "không phải độc tài theo nghĩa rằng mọi khuyến nghị của ông phải được chấp thuận và thông qua", bởi lẽ nhiều người đồng cấp khác ý kiến với Lenin vẫn có quyền phủ quyết chúng. Fischer bình chú rằng tuy "Lenin là một người độc đoán, song ông không phải độc tài kiểu dạng Stalin về sau." Volkogonov nhận định rằng Lenin là người đặt nền móng cho "chuyên chính của Đảng" và phải tới thời Stalin thì Liên Xô mới biến thành "chuyên chính của một người."
Song để công bằng mà nói, nhiều nhà quan sát Marxist, gồm có các sử gia phương Tây như Hill và John Rees, phản biện luận điệu vu cáo chính quyền của Lenin là một chế độ độc tài; sở dĩ vì họ nhìn nhận nó như một phương thức bảo toàn các yếu tố dân chủ chưa thực sự hoàn hảo mà không cần các tiến trình tuyển cử ở các quốc gia dân chủ tự do. Ryan cho rằng nhà sử học tả khuynh Paul Le Blanc "đã nhận định rất đúng rằng các phẩm chất cá nhân dẫn Lenin đến các chính sách tàn nhẫn của ông không nhất thiết là mạnh tay hơn khi so với những nhà lãnh đạo phương Tây thế kỷ 20." Hơn nữa, Ryan cho rằng bạo lực cách mạng của Lenin chỉ đơn thuần là công cụ nhằm đạt được mục đích nhất định, cụ thể là xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, tối hậu là thế giới cộng sản – một thế giới không còn bạo lực. Nhà sử học J. Arch Getty nhận xét rằng, "Lenin xứng đáng được tôn vinh vì quan niệm kẻ hiền có phước được hưởng nước thiên đàng, rằng có khả năng cho một phong trào chính trị dựa trên bình đẳng và công bằng xã hội." Một số trí thức tả khuynh, tiêu biểu gồm có Slavoj Žižek, Alain Badiou, Lars T. Lih và Fredric Jameson, khuyên rằng chúng ta cần làm bừng cháy lại tinh thần cách mạng cương quyết như của Lenin để giải quyết các vấn đề bất cập đương đại.
Tại Liên Xô và các quốc gia hậu Xô viết.
Tại Liên Xô, tục sùng bái cá nhân dành cho Lenin đã manh nha phát triển kể từ lúc ông còn sống, song chỉ thực sự nở rộ sau khi ông mất. Theo Nina Tumarkin, đây có thể được coi là "tục sùng bái lãnh tụ cách mạng công phu nhất" kể từ thời George Washington ở Hoa Kỳ, và thường được miêu tả là mang tính chất "bán tôn giáo". Tượng bán thân hoặc toàn thân của Lenin được dựng lên ở hầu hết các ngôi làng. Chân dung của Lenin xuất hiện ở khắp nơi, trên tem bưu chính, đồ gốm, bích chương, các mặt báo "Pravda" và "Izvestia" Xô viết. Những nơi ông từng sinh hoạt trở thành bảo tàng đón khách thăm thú. Nhiều thư viện, đường phố, nông trang, bảo tàng, thị trấn và khu vực được đặt tên theo Lenin; ví dụ như thành phố Petrograd được đổi tên thành "Leningrad" vào năm 1924, hay quê hương Simbirsk của Lenin được đổi tên thành Ulyanovsk. Huân chương Lenin trở thành giải thưởng hết sức danh giá, chỉ được trao tặng cho các cá nhân có thành tích nổi bật. Tuy nhiên những điều này không được Lenin tán thành, hơn nữa còn bị chỉ trích công khai bởi bà Krupskaya.
Nhiều nhà nghiên cứu tiểu sử nhận xét rằng các bản thảo của Lenin có giá trị gần giống Kinh Thánh ở Liên Xô. Pipes thêm rằng "ý kiến nào của ông cũng được trích dẫn để hợp thức hóa một chính sách bất kỳ và được nhìn nhận như là chân lý." Người kế tục Lenin, Iosif Stalin, đã hệ thống hóa chủ nghĩa Lenin qua một loạt các bài giảng ở Đại học Sverdlov rồi cho xuất bản chúng dưới nhan đề "Các vấn đề của chủ nghĩa Lenin". Stalin cũng cho sưu tầm các bản thảo của vị cố lãnh tụ và cất trữ chúng ở Viện Marx–Engels–Lenin. Tài liệu của Lenin ở ngoại quốc, chẳng hạn như tập sách của ông ở Kraków, thường được mua lại với giá đắt để sưu tập trong viện nghiên cứu. Dưới thời Xô viết, người ta kiểm soát rất chặt các bản thảo này và rất ít cá nhân có quyền truy cập chúng. Tất cả các bản thảo có lợi cho Stalin đều được xuất bản, còn các bản thảo khác thì không. Kiến thức về dòng máu phi-Nga và thân thế quý tộc của Lenin được giữ kín. Cụ thể thì thông tin về huyết thống Do Thái của Lenin vẫn là bí mật cho đến những năm 1980, có lẽ vì thái độ bài Do Thái ở Nga Xô lúc bấy giờ, hoặc để không gây ảnh hưởng đến chính sách Nga hóa của Stalin, hoặc để không cho cộng đồng thù Do Thái quốc tế quay sang thù cả Liên Xô. Kể từ đó, các đảng phái chính trị cánh hữu ở Nga thường lợi dụng phát hiện này để vu khống Lenin định nhổ rễ văn hóa Nga. Dưới thời Stalin, Lenin thường được miêu tả là người bằng hữu thân thiết của ông ta, người đã ủng hộ Stalin lên nắm quyền. Dưới thời Xô viết, tổng cộng năm ấn bản khác nhau của các tác phẩm của Lenin đã được xuất bản bằng tiếng Nga, bản đầu tiên vào năm 1920 và bản cuối cùng trong giai đoạn 1958-1965; bản thứ năm được tuyên bố là "hoàn chỉnh", nhưng trên thực tế thì nhiều thông tin bị lược bỏ vì lý do chính trị.
Sau khi Stalin qua đời, nhà lãnh đạo mới của Liên Xô, Nikita S. Khrushchyov đã ngay lập tức khơi mào chính sách phi Stalin hóa bằng cách trích dẫn các bản thảo của Lenin, trong đó gồm cả những phê phán về Stalin, để hợp thức hóa chiến dịch. Khi Mikhail S. Gorbachyov lên nắm quyền vào năm 1985, ông đã thực thi các chính sách "glasnost" và "perestroika", cũng viện dẫn trên danh nghĩa các nguyên tắc do Lenin đặt ra. Cuối năm 1991, giữa sự tan rã hỗn loạn của Liên Xô, tổng thống đầu tiên của Liên bang Nga, Boris N. Yeltsin, đã truất quyền kiểm soát kho lưu trữ Lenin của Đảng Cộng sản Liên Xô và đặt nó dưới sự giám sát của Trung tâm Lưu trữ và Nghiên cứu Tư liệu Lịch sử đương đại. Đợt chuyển giao này đã hé lộ 6.000 bản thảo chưa từng được công bố của Lenin, sau được giải mật và khai mở cho giới nghiên cứu sử học. Kể từ năm 1991 thì đã có một số bàn tán về việc di dời thi hài Lenin từ Lăng Quảng trường Đỏ tới Tường điện Kremli để chôn cất. Yeltsin, với sự ủng hộ của Giáo hội Chính thống giáo Nga, từng định đóng cửa Lăng Lenin và cải táng thi hài Lenin tại Nghĩa trang Volkov ở Sankt-Peterburg, cạnh nơi yên nghỉ của Maria A. Ulyanova. Tuy nhiên, vị tổng thống Nga kế nhiệm, Vladimir V. Putin, phản đối vì cho rằng hành động đó sẽ làm phật lòng các thế hệ từng sinh sống và chiến đấu dưới 70 năm chế độ Xô viết.
Năm 2012, nhiều đảng viên Đảng Dân chủ Tự do Nga đề xuất tháo dỡ các tượng đài Lenin. Ý kiến này nhận được sự ủng hộ của một bộ phận Đảng Thống nhất bấy giờ đang nắm quyền ở Nga, song bị đảng Cộng sản Nga phản đối dữ dội. Dự luật này rốt cuộc bị rút lại. Nga vẫn lưu giữ 7.000 bức tượng Lenin tồn tại vào năm 1991; tính đến năm 2022, khoảng 6.000 tượng đài Lenin vẫn tồn tại khắp nước này.
Trong làn sóng biểu tình Euromaidan 2013-2014, tượng đài Lenin ở nhiều thành phố trên khắp Ukraina đã bị các đám đông quá khích phá hoại và kéo đổ. Vào tháng 4 năm 2015, chính phủ Ukrainia ra lệnh dỡ bỏ tất cả các tượng đài còn sót lại tuân theo luật phi cộng sản hóa của nước này. Trong cuộc xâm lược toàn diện Ukraina của Nga vào năm 2022, nhiều bức tượng Lenin bị hạ bệ trước đó đã được dựng trở lại bởi quân Nga tại các khu vực chiếm đóng. Những hành động này tuy vậy chẳng liên quan gì đến chủ nghĩa cộng sản mà chỉ nhằm mục đích phô diễn bá quyền của Nga đối với Ukraina.
Đối với phong trào cộng sản quốc tế.
Theo nhà viết tiểu sử David Shub (1965), tấm gương của Lenin và những ý tưởng của ông đã góp phần "xây nên cơ sở của phong trào Cộng sản ngày nay." Các nhà nước xã hội chủ nghĩa học hỏi từ tư tưởng của Lenin xuất hiện trên khắp thế giới trong thế kỷ thứ 20. Năm 1972, nhà sử học Marcel Liebman khẳng định rằng, "hiếm có phong trào nổi dậy nào ngày nay, từ Mỹ Latinh đến Angola, mà không được coi là di sản của chủ nghĩa Lenin."
Sau khi Lenin qua đời, Stalin cho hình thức hóa chủ nghĩa Marx-Lenin, về sau được kế thừa và diễn giải theo nhiều chiều hướng khác nhau bởi các đảng phái đối lập trong phong trào cộng sản. Khi lưu vong ở ngoại quốc, Trotsky đã chê trách chủ nghĩa Stalin là sự báng bổ đối với chủ nghĩa Lenin, một hệ thống mà đã trở nên quá quan liêu và chuyên quyền của riêng ông ta.
Chủ nghĩa Marx–Lenin đã được dung hòa với nhiều phong trào cách mạng nổi bật của thế kỷ 20, góp phần phát sinh các dòng tư tưởng mới như chủ nghĩa Stalin, "Juche", tư tưởng Mao Trạch Đông, tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Castro. Trái lại, nhiều nhà cộng sản Tây Âu hậu thế, chẳng hạn như Manuel Azcárate và Jean Ellenstein, cho rằng Lenin và các ý tưởng của ông không thực sự quá quan trọng đối với việc đạt đến mục đích tối hậu của chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, họ tự nhận là những người Marxist song không phải là Marxist-Leninist.
[[Thể loại:Người Nga gốc Do Thái]]
[[Thể loại:Lãnh tụ Liên Xô]]
[[Thể loại:Nhà báo Liên Xô]]
[[Thể loại:Nhà báo Nga]]
[[Thể loại:Lãnh tụ Cộng sản]]
[[Thể loại:Vladimir Lenin| ]]
[[Thể loại:Người cộng sản Nga]]
[[Thể loại:Luật sư Nga]]
[[Thể loại:Nhà triết học Nga]]
[[Thể loại:Nhà triết học vô thần]]
[[Thể loại:Triết gia chính trị]]
[[Thể loại:Bài cơ bản dài]]
[[Thể loại:Nhà lý luận Mác-xít]]
[[Thể loại:Sinh năm 1870]]
[[Thể loại:Mất năm 1924]]
[[Thể loại:Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô]]
[[Thể loại:Chính khách Liên Xô]]
[[Thể loại:Nhà cách mạng Nga]]
[[Thể loại:Tử vong do đột quỵ]]
[[Thể loại:Chống chủ nghĩa đế quốc]]
[[Thể loại:Nhà phê bình tôn giáo]]
[[Thể loại:Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô]]
[[Thể loại:Chủ nghĩa Lenin]]
[[Thể loại:Tù nhân Nga]]
[[Thể loại:Nhà kinh tế học Nga]]
[[Thể loại:Người Liên Xô gốc Do Thái]]
[[Thể loại:Chủ nghĩa Stalin]]
|
Huyền thoại Don Juan (phiên âm tiếng Tây Ban Nha như "Đôn Hoan", các tài liệu thường phiên âm là Đông Gioăng) bắt nguồn từ một câu chuyện có thật: một thanh niên Tây Ban Nha quyến rũ một cô gái trong tu viện sau đó ruồng bỏ cô ta. Và theo truyền thuyết đó thì nên viết Dom Juan thay vì Don Juan.
Trong tiếng Việt Don Juan được dùng như Sở Khanh, nhưng với ý nghĩa ít tiêu cực hơn.
Tác phẩm về kẻ quyến rũ.
Vào thế kỷ 16 và 17, Tirso de Molina, một nhà soạn kịch Tây Ban Nha viết vở "El burlador de Sevila y el cambido de pierra". Trải qua nhiều thay đổi, xuất hiện dưới dạng hài kịch ứng tác, Don Juan được Molière viết lại vào năm 1665. Tiếp đến Don Juan được Mozart viết trong vở opera Don Giovanni và Baudelaire viết trong thơ của mình. Rồi Mérimée, Byron, Dumas cùng rất nhiều tác giả, nhà soạn nhạc và nhà làm phim lấy cảm hứng từ nhân vật gian dối này, kẻ dám thách thức những quy tắc đạo đức và xã hội.
Don Juan trong văn học.
Năm 1665, Molière viết vở kịch rất nổi tiếng Dom Juan kể lại câu chuyện về anh chàng hào hoa. Dom Juan kết hôn với Done Elvire rồi ruồng bỏ cô ta trốn đi với tên hầu Sganarelle (đóng bởi Molière trong những buổi diễn của ông). Trong cảnh 1 hồi 1, Sganarelle nói chuyện với Gusman, tên hầu của Done Elvire và tiết lộ con người thật của Don Juan, kẻ sau đó tiếp tục kết hôn nhiều lần rồi bỏ rơi những cô gái bị hắn ta chinh phục.
Don Juan với điện ảnh.
Cùng rất nhiều phim khác. Theo thống kê của Internet Movie Database có khoảng gần 100 bộ phim về đề tài này.
|
Thành phố Québec ("Ville de Québec") là trung tâm chính trị của tỉnh bang Québec, Canada. Đây là nơi đặt Quốc hội Québec ("Parlement du Québec") và cũng là một trong số các thành phố lớn của miền Đông Canada. Ngôn ngữ mẹ đẻ của người dân thành phố là tiếng Pháp. Trong tiếng Pháp, người ta có cách nói khác nhau để phân biệt giữa Thành phố Québec ("à Québec" và "de Québec") và tỉnh bang Québec ("au Québec" và "du Québec"). Thành phố Québec nằm ở trung tâm hành chính của vùng thủ đô của Québec ("Capitale-Nationale de Québec"). Thành phố Québec hiện nay vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn, bao bọc khu trung tâm cổ của thành phố. Đây là thành phố duy nhất ở Bắc Mỹ có thành bảo vệ. Ngoài ra, Thành phố Québec được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1985. Thành phố sẽ kỉ niệm 400 năm ngày thành lập và ngày 3 tháng 7 năm 2008. Đây cũng là thành phố cổ nhất thuộc Cộng đồng Pháp ngữ ở Bắc Mỹ. Vì vậy Québec còn được gọi là Cố đô ("La Vieille Capitale").
Một phần của thành phố nằm ở phần mũi Diamant, một mỏm đá lớn đâm ra phía sông Saint-Laurent mà hình dạng của phần đất này thích hợp cho mục đích phòng thủ. Dân cư của thành phố có khoảng chừng 586 500 người và toàn bộ khu vực vào khoảng 717 600 dân cư (người Québécois). Tên gọi của Thành phố Québec xuất phát từ chữ "Kébec", theo thổ ngữ của người dân bản xứ Algonquin có nghĩa "nơi dòng sông khép miệng" diễn tả phần hẹp nhất của sông Saint-Laurent chảy qua Thành phố Québec và thành phố Lévis nằm bên kia sông. Khẩu hiệu của thành phố là "Don de Dieu feray valoir" (Tận dụng hiệu quả gia tài của Đức Chúa).
Québec là thành phố nổi tiếng như lễ hội Carnaval mùa đông ("Carnaval d'hiver"), lễ hội Tân Pháp ("Fête de la Nouvelle-France") và lâu đài Frontenac ("Château Frontenac") (được đặt theo tên của toàn quyền người Pháp Louis de Buade de Frontenac) cạnh bờ sông Saint-Laurent và cạnh khu phố cổ Petit Champlain. Tòa Quốc hội Québec, Bảo tàng Nghệ thuật Québec và Bảo tàng văn minh cũng là những công trình nổi tiếng nằm quanh khu phố cổ ("Vieux Québec") trong trung tâm thành phố ("centre ville"). Nằm ở ngoại vi thành phố, thác Montmorency và nhà thờ Sainte-Anne-de-Beaupré ("Basilique Sainte-Anne-de-Beaupré") cũng là những địa điểm du lịch hấp dẫn của Québec.
Giao thông đường bộ.
Québec kết nối với thành phố Lévis và vùng ngoại ô dọc theo sông Saint-Laurent bằng hai cây cầu: Québec và Pierre Laporte, và một con phà. Cầu Orleans Island kết nối Québec với đảo Orleans.
Giao thông công cộng.
(RTC) chịu trách nhiệm về giao thông công cộng ở vùng thủ đô. RTC đang đánh giá việc tái xây dựng hệ thống tàu điện mặt đất (tramway) nhầm giảm tải lưu thông và thu hút người dùng.
Giao thông đường sắt được vận hành bởi VIA Rail tại Gare du Palais. Nhà ga này là trạm cuối ở phía đông của tuyến xe lửa dọc theo . Một bến xe bus nội ô liên kết với hệ thống xe bus đường dài của tính bang nằm kế bên nhà ga; bến xe bus này cung cấp dịch vụ của
Lịch sử của Thành phố Québec.
Từ Stadaconé tới James Wolfe.
Thành phố Québec được Samuel de Champlain chính thức thành lập ngày 3 tháng 7 năm 1608, dưới sự bảo trợ của Pierre Dugua de Mons, tại một địa điểm lân cận một làng người Iroquois mang tên Stadaconé. Đây được xem là nơi khởi thủy của cộng đồng Pháp ngữ ở Bắc Mỹ. Vào giai đoạn đầu của thế kỉ 17, địa điểm hiện nay của Thành phố Québec chỉ được biết đến bởi những người dân du mục Algonquin, đó là địa điểm mà dòng sông Saint-Laurent thu hẹp lại. Vị trí đó thích hợp để thành một cụm dân cư cố định.
Các thành phố kết nghĩa.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Bordeaux, Aquitaine, Pháp (từ 1962)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Calgary, Alberta, Canada (từ 1956)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Trường Xuân, Trung Quốc
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Guanajuato, Guanajuato, México (từ 2002)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huế, Việt Nam (từ 2005)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Liège, Bỉ (từ 2002)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Montevideo, Uruguay (từ 2000)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Namur, Bỉ (từ 1999)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Ouagadougou, Burkina Faso (từ 2000)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Paris, Pháp (từ 2003)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Sousse, Tunisia (từ 2004)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Sankt-Peterburg, Nga (từ 2002)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Tây An, Trung Quốc (từ 2001)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Cực khoái hoặc Lên đỉnh là sự giải phóng đột ngột của hưng phấn tình dục tích lũy trong suốt chu kỳ đáp ứng tình dục, dẫn đến nhịp co thắt cơ bắp trong vùng khung chậu đặc trưng bởi khoái cảm tình dục. Cực khoái có cả ở nam và nữ, và được hệ thống thần kinh tự chủ kiểm soát. Chúng thường được liên kết với những phản xạ tự nhiên khác, bao gồm co thắt cơ bắp ở nhiều khu vực của cơ thể, một cảm giác hưng phấn chung và, thường xuyên gây ra chuyển động cơ thể và các âm thanh. Khoảng thời gian sau khi đạt cực khoái (được gọi là thời kỳ hạ nhiệt) thường là một trải nghiệm thư giãn, được cho là do sự giải phóng các hormone thần kinh oxytocin và prolactin cũng như endorphin (hay "morphin nội sinh").
Cực khoái của con người thường là kết quả của sự kích thích tình dục thể chất của dương vật ở nam giới (điển hình là xuất tinh kèm theo) và của âm vật ở nữ giới. Kích thích tình dục có thể bằng cách tự thực hành (thủ dâm) hoặc cùng với bạn tình quan hệ tình dục thâm nhập, không thâm nhập hoặc thực hiện những hoạt động tình dục khác.
Các ảnh hưởng sức khỏe xung quanh cực khoái của con người rất đa dạng. Có nhiều phản ứng sinh lý trong hoạt động tình dục, bao gồm trạng thái thư giãn do prolactin tạo ra, cũng như thay đổi hệ thần kinh trung ương như giảm hoạt động chuyển hóa của các phần lớn của vỏ não trong khi không có thay đổi hoặc tăng chuyển hóa hoạt động trong các khu vực limbic (tức là "giáp") của não. Ngoài ra còn có một loạt các rối loạn chức năng tình dục, chẳng hạn như không có khả năng đạt cực khoái (anorgasmia). Những tác động này tác động đến quan điểm văn hóa của cực khoái, như niềm tin rằng cực khoái và tần số/tính nhất quán của nó là quan trọng hoặc không liên quan đến sự thỏa mãn trong mối quan hệ tình dục, và lý thuyết về các chức năng sinh học và tiến hóa của cực khoái.
Trong bối cảnh lâm sàng, cực khoái thường được xác định nghiêm ngặt bởi các cơn co thắt cơ bắp có liên quan trong hoạt động tình dục, cùng với các kiểu thay đổi đặc trưng của nhịp tim, huyết áp, và thường là nhịp thở và độ sâu. Điều này được phân loại là sự phóng thích đột ngột của hưng phấn tình dục tích lũy trong chu kỳ đáp ứng tình dục, dẫn đến các cơn co thắt cơ bắp nhịp nhàng ở vùng xương chậu. Tuy nhiên, các định nghĩa về cực khoái khác nhau và có một sự đồng thuận rằng làm thế nào để phân loại nhất quán nó là "không có". Ít nhất hai mươi sáu định nghĩa về cực khoái đã được liệt kê trong tạp chí "Clinical Psychology Review".
Có một số tranh luận về việc một số loại cảm giác tình dục nhất định nên được phân loại chính xác là cực khoái, bao gồm cả cực khoái nữ gây ra bởi kích thích điểm G một mình, và chứng minh cực khoái kéo dài hoặc liên tục kéo dài vài phút hoặc thậm chí một giờ. Câu hỏi xoay quanh định nghĩa lâm sàng về cực khoái, nhưng cách xem cực khoái này chỉ đơn thuần là sinh lý, trong khi đó cũng có các định nghĩa về tâm lý, nội tiết và thần kinh về cực khoái. Trong những trường hợp này và các trường hợp tương tự, các cảm giác có kinh nghiệm là chủ quan và không nhất thiết liên quan đến các cơn co thắt không tự nguyện đặc trưng của cực khoái. Tuy nhiên, cảm giác ở cả hai giới là vô cùng dễ chịu và thường được cảm nhận khắp cơ thể, gây ra trạng thái tinh thần thường được mô tả là siêu việt, và gây co mạch và khoái cảm liên quan có thể so sánh với cực khoái co thắt hoàn toàn. Ví dụ, những phát hiện hiện đại hỗ trợ sự phân biệt giữa xuất tinh và cực khoái nam. Vì lý do này, có những quan điểm từ cả hai phía về việc liệu những điều này có thể được xác định chính xác là cực khoái hay không.
Cực khoái có thể đạt được trong một loạt các hoạt động, bao gồm quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn hoặc miệng, quan hệ tình dục không xâm nhập hoặc thủ dâm. Họ cũng có thể đạt được bằng cách sử dụng một đồ chơi tình dục, chẳng hạn như máy rung hoặc nội dung khiêu dâm. Đạt được cực khoái bằng cách kích thích núm vú hoặc các vùng kích thích tình dục khác là hiếm hơn. Cực khoái nhiều lần liên tiếp cũng có thể xảy ra, đặc biệt là ở phụ nữ, nhưng chúng cũng không phổ biến. Cực khoái liên tiếp là cực khoái xảy ra rất gần nhau trong một khoảng thời gian ngắn.
Ngoài kích thích thể chất, cực khoái có thể đạt được từ sự kích thích tâm lý đơn thuần, chẳng hạn như trong khi mơ (mộng tinh cho nam hoặc nữ) hoặc bằng cực khoái cưỡng bức. Cực khoái chỉ thông qua kích thích tâm lý đã được báo cáo đầu tiên trong số những người bị chấn thương cột sống. Mặc dù chức năng tình dục và tình dục sau chấn thương tủy sống rất thường xuyên bị ảnh hưởng, nhưng chấn thương này không làm mất đi một trong những cảm giác tình dục như hưng phấn tình dục và ham muốn tình dục.
Một người cũng có thể trải qua cực khoái không tự nguyện, chẳng hạn như trong trường hợp bị hãm hiếp hoặc bị tấn công tình dục khác.
Tài liệu khoa học tập trung vào tâm lý của cực khoái nữ nhiều hơn đáng kể so với tâm lý của cực khoái nam, "dường như phản ánh giả định rằng cực khoái nữ phức tạp hơn về mặt tâm lý so với cực khoái nam", nhưng "bằng chứng thực nghiệm hạn chế cho thấy nam và cực khoái nữ có thể mang nhiều điểm tương đồng hơn sự khác biệt. Trong một nghiên cứu có kiểm soát của Vance và Wagner (1976), những người độc lập không thể phân biệt các mô tả bằng văn bản về trải nghiệm cực khoái của nam và nữ".
Ở nam giới, cách phổ biến nhất để đạt được cực khoái là bằng cách kích thích dương vật. Điều này thường đi kèm với xuất tinh, nhưng có thể, mặc dù cũng hiếm, đối với nam giới để đạt cực khoái mà không xuất tinh (được gọi là "cực khoái khô"). Các cậu bé trước tuổi dậy thì sẽ có cực khoái khô. Cực khoái khô cũng có thể xảy ra như là kết quả của xuất tinh ngược, hoặc hypogonadism. Đàn ông cũng có thể xuất tinh mà không đạt cực khoái, được gọi là xuất tinh không cực khoái. Họ cũng có thể đạt được cực khoái bằng cách kích thích tuyến tiền liệt ("xem bên dưới").
Mô hình hai giai đoạn.
Quan điểm truyền thống về cực khoái nam là có hai giai đoạn: phát xạ sau cực khoái, gần như ngay lập tức theo sau là giai đoạn thư giãn. Thời kỳ thư giãn là giai đoạn phục hồi sau khi đạt cực khoái, trong thời gian đó người đàn ông không thể có thêm cực khoái về mặt sinh lý nữa. Năm 1966, Masters và Johnson đã công bố nghiên cứu quan trọng về các giai đoạn kích thích tình dục. Mẫu của họ bao gồm phụ nữ và đàn ông, và, không giống như Alfred Kinsey vào năm 1948 và 1953, đã cố gắng xác định các giai đoạn sinh lý trước và sau khi đạt cực khoái.
Masters và Johnson lập luận rằng, trong giai đoạn đầu tiên, "cơ quan phụ kiện và nam giới có thể cảm thấy sự xuất tinh sắp diễn ra, hai đến ba giây sau khi xuất tinh xảy ra, mà người đàn ông không thể kiềm chế, trì hoãn hoặc kiểm soát bằng mọi cách" và, trong giai đoạn thứ hai, "nam giới cảm thấy những cơn co thắt dễ chịu trong quá trình xuất tinh, báo cáo khoái cảm lớn hơn gắn liền với khối lượng xuất tinh lớn hơn". Họ cho rằng, không giống như nữ giới, "đối với người đàn ông, giai đoạn hạ nhiệt bao gồm thời gian hồi phục" và nói thêm rằng "nhiều nam giới dưới 30 tuổi, nhưng tương đối ít sau đó, có khả năng xuất tinh thường xuyên và chỉ phải nghỉ ngơi trong một thời gian ngắn trước khi có thể xuất tinh lần nữa". Masters và Johnson đã đánh đồng cực khoái nam và xuất tinh và duy trì sự cần thiết cho một giai đoạn hồi phục giữa các lần cực khoái.
Cực khoái liên tiếp và đa cực khoái.
Có rất ít nghiên cứu khoa học về nhiều cực khoái ở nam giới. Dunn và Trost định nghĩa nhiều cực khoái nam là "hai hoặc nhiều lần cực khoái có hoặc không xuất tinh và không, hoặc chỉ có giới hạn, rất hạn chế mất cương cứng trong một và cùng một lần quan hệ tình dục". Mặc dù, do giai đoạn hồi phục, hiếm khi nam giới đạt được nhiều cực khoái, một số nam giới đã báo cáo có nhiều lần cực khoái liên tiếp, đặc biệt là không xuất tinh. Nhiều cực khoái thường được báo cáo ở những người đàn ông rất trẻ so với những người đàn ông lớn tuổi. Ở những người đàn ông trẻ tuổi, thời gian phục hồi có thể chỉ kéo dài một vài phút, nhưng ở những người đàn ông lớn tuổi có thể phải chờ hơn một giờ.
Việc hormone oxytocin tăng vọt trong quá trình xuất tinh được cho là nguyên nhân chính trong giai đoạn hồi phục và lượng oxytocin tăng lên có thể ảnh hưởng đến độ dài của mỗi giai đoạn hồi phục. Một nghiên cứu khoa học để ghi lại thành công tự nhiên, xuất tinh hoàn toàn, nhiều lần cực khoái ở một người đàn ông trưởng thành đã được tiến hành tại Đại học Rutgers năm 1995. Trong quá trình nghiên cứu, sáu lần cực khoái xuất tinh hoàn toàn đã được trải nghiệm trong 36 phút, không có thời gian hồi phục rõ ràng.
Yếu tố và khả năng của cực khoái.
Ở phụ nữ, cách phổ biến nhất để đạt được cực khoái là do sự kích thích tình dục trực tiếp của âm vật (kích thích duy trì bằng tay, bằng miệng hoặc ma sát tập trung ép vào các bộ phận bên ngoài của âm vật). Thống kê chung chỉ ra rằng 70-80% phụ nữ cần kích thích âm vật trực tiếp để đạt cực khoái, mặc dù kích thích âm vật gián tiếp (ví dụ, thông qua thâm nhập âm đạo) cũng có thể là đủ. Phòng khám Mayo tuyên bố: "Cực khoái khác nhau về cường độ và phụ nữ khác nhau về tần suất cực khoái và lượng kích thích cần thiết để kích hoạt cực khoái". Cực khoái âm vật dễ dàng đạt được hơn bởi vì toàn bộ bề mặt của âm vật có hơn 8.000 đầu dây thần kinh cảm giác, có nhiều (hoặc nhiều hơn trong một số trường hợp) số đầu dây thần kinh có trong dương vật người hoặc quy đầu dương vật. Vì âm vật là đối ứng với dương vật, nó có khả năng nhận được kích thích tình dục tương đương nhau.
Một quan niệm sai lầm, đặc biệt trong các ấn phẩm nghiên cứu cũ, là âm đạo hoàn toàn không nhạy cảm. Tuy nhiên, có những khu vực trong thành âm đạo trước và giữa ngã ba trên cùng của môi nhỏ và niệu đạo đặc biệt nhạy cảm. Liên quan đến mật độ cụ thể của các đầu dây thần kinh, trong khi khu vực thường được mô tả là điểm G có thể tạo ra cực khoái, và bọt biển niệu đạo, một khu vực có thể tìm thấy điểm G, chạy dọc theo "mái" của âm đạo và có thể tạo ra cảm giác dễ chịu khi được kích thích, khoái cảm tình dục mãnh liệt (bao gồm cả cực khoái) từ kích thích âm đạo thỉnh thoảng hoặc không có vì âm đạo có kết thúc thần kinh ít hơn đáng kể so với âm vật. Mật độ lớn nhất của các đầu dây thần kinh âm đạo là ở phần dưới (gần lối vào) của âm đạo.
Nhà giáo dục tình dục Rebecca Chalker tuyên bố rằng chỉ một phần của âm vật, bọt biển niệu đạo, tiếp xúc với dương vật, ngón tay hoặc dương vật giả trong âm đạo. Hite và Powderer nói rằng đầu của âm vật và môi nhỏ, cũng rất nhạy cảm, không nhận được sự kích thích trực tiếp trong quá trình giao hợp. Bởi vì điều này, một số cặp vợ chồng có thể làm tình khi người phụ nữ ở phía trên hoặc kỹ thuật căn chỉnh tư thế tình dục để tối đa hóa kích thích âm vật. Đối với một số phụ nữ, âm vật rất nhạy cảm sau cao trào, làm cho kích thích thêm sẽ gây ra đau đớn.
Masters và Johnson lập luận rằng tất cả phụ nữ đều có khả năng đạt đa cực khoái nhưng đàn ông có khả năng đạt đa cực khoái rất hiếm, và tuyên bố rằng "phụ nữ có khả năng nhanh chóng trở lại cực khoái ngay sau khi trải nghiệm cực khoái, nếu được điều chỉnh lại trước khi căng thẳng giảm xuống dưới mức phản ứng của pha cao nguyên". Mặc dù thường báo cáo rằng phụ nữ không trải qua giai đoạn hồi phục và do đó có thể đạt cực khoái thêm hoặc nhiều lần cực khoái, ngay sau lần đầu tiên, một số nguồn cho biết cả nam và nữ đều trải qua giai đoạn hồi phục sau cực khoái vì phụ nữ có thể cũng trải qua một thời gian sau khi đạt cực khoái trong đó kích thích tình dục thêm không tạo ra hưng phấn. Sau khi đạt cực khoái ban đầu, cực khoái tiếp theo đối với phụ nữ có thể mạnh hơn hoặc dễ chịu hơn khi sự kích thích được tăng dần.
Cực khoái âm vật và âm đạo.
Thảo luận về cực khoái nữ rất phức tạp bởi cực khoái ở phụ nữ thường được chia thành hai loại: cực khoái âm vật và cực khoái âm đạo (hoặc điểm G). Năm 1973, Irving Singer đưa ra giả thuyết rằng có ba loại cực khoái nữ; ông phân loại chúng là âm hộ, tử cung và pha trộn, nhưng bởi vì ông là một triết gia, "những phạm trù này được tạo ra từ những mô tả về cực khoái trong văn học hơn là nghiên cứu trong phòng thí nghiệm". Năm 1982, Ladas, Whoop và Perry cũng đề xuất ba loại: loại "lều" (bắt nguồn từ kích thích âm vật), loại "khung A" (bắt nguồn từ kích thích điểm G) và loại "pha trộn" (xuất phát từ kích thích âm vật và điểm G). Năm 1999, Whoop và Komisaruk đề xuất kích thích cổ tử cung là có thể gây ra loại cực khoái nữ thứ tư.
Cực khoái nữ bằng các biện pháp khác ngoài kích thích âm vật hoặc âm đạo/điểm G ít phổ biến hơn trong tài liệu khoa học và hầu hết các nhà khoa học cho rằng không nên phân biệt giữa "các loại" cực khoái nữ. Sự khác biệt này bắt đầu với Sigmund Freud, người đã đưa ra khái niệm "cực khoái âm đạo" tách biệt với cực khoái âm vật. Năm 1905, Freud tuyên bố rằng cực khoái âm vật hoàn toàn là một hiện tượng ở tuổi vị thành niên và khi đến tuổi dậy thì, phản ứng thích hợp của phụ nữ trưởng thành là thay đổi cực khoái âm đạo, nghĩa là cực khoái mà không có bất kỳ kích thích âm vật nào. Mặc dù Freud không cung cấp bằng chứng cho giả định cơ bản này, nhưng hậu quả của lý thuyết này là rất đáng kể. Nhiều phụ nữ cảm thấy không thỏa đáng khi họ không thể đạt được cực khoái khi giao hợp âm đạo một mình, liên quan đến ít hoặc không có sự kích thích âm vật, vì lý thuyết của Freud làm cho giao hợp dương vật-âm đạo trở thành thành phần trung tâm để thỏa mãn tình dục của phụ nữ.
Các khảo sát quốc gia lớn đầu tiên về hành vi tình dục là Báo cáo Kinsey. Alfred Kinsey là nhà nghiên cứu đầu tiên chỉ trích gay gắt ý tưởng của Freud về tình dục và cực khoái của phụ nữ khi, qua các cuộc phỏng vấn với hàng ngàn phụ nữ, Kinsey phát hiện ra rằng hầu hết phụ nữ mà ông khảo sát không thể đạt cực khoái âm đạo. Ông "chỉ trích Freud và các nhà lý thuyết khác đã phóng chiếu các cấu trúc tình dục của nam giới lên phụ nữ" và "xem âm vật là trung tâm chính của phản ứng tình dục" và âm đạo là "tương đối không quan trọng" để thỏa mãn tình dục, nói rằng "ít phụ nữ đưa ngón tay vào hoặc vật vào âm đạo của họ khi họ thủ dâm". Ông "kết luận rằng sự hài lòng từ sự xâm nhập dương vật [chủ yếu] là tâm lý hoặc có lẽ là kết quả của cảm giác được đề cập".
Nghiên cứu của Masters và Johnson về chu kỳ đáp ứng tình dục nữ, cũng như nghiên cứu của Shere Hite, thường ủng hộ những phát hiện của Kinsey về cực khoái nữ giới. Nghiên cứu của Masters và Johnson về chủ đề này xuất hiện vào thời điểm phong trào nữ quyền ở làn sóng thứ hai, và truyền cảm hứng cho các nhà nữ quyền như Anne Koedt, tác giả của "Thần thoại về cực khoái âm đạo", nói về "sự phân biệt giả" được tạo ra giữa cực khoái âm vật và âm đạo và sinh học của phụ nữ không được phân tích đúng.
Quan hệ âm vật và âm đạo.
Nghiên cứu nói rằng âm đạo có khả năng tạo ra cực khoái tiếp tục bị tranh luận bởi vì, ngoài sự tập trung thần kinh thấp của âm đạo, các báo cáo về vị trí của điểm G không nhất quán ở một số phụ nữ và có thể là không tồn tại ở một số phụ nữ và có thể là một mở rộng một cấu trúc khác, chẳng hạn như tuyến của Skene hoặc âm vật, là một phần của tuyến Skene. Vào tháng 1 năm 2012 "Tạp chí Y học tình dục" xem xét nhiều năm nghiên cứu về sự tồn tại của điểm G, các học giả tuyên bố rằng "[r] eports trên các phương tiện truyền thông công cộng sẽ khiến người ta tin rằng điểm G là một thực thể có đặc điểm tốt có khả năng cung cấp sự kích thích tình dục cực độ, nhưng điều này là xa sự thật".
Giải thích có thể cho điểm G đã được Masters và Johnson kiểm tra, họ là những nhà nghiên cứu đầu tiên xác định rằng cấu trúc âm vật bao quanh và kéo dài dọc theo và bên trong môi âm hộ. Ngoài việc quan sát rằng phần lớn các đối tượng nữ của họ chỉ có thể đạt cực khoái âm vật, họ phát hiện ra rằng cả cực khoái âm vật và âm đạo đều có cùng giai đoạn phản ứng vật lý. Trên cơ sở này, họ lập luận rằng kích thích âm vật là nguồn gốc của cả hai loại cực khoái, lý do rằng âm vật bị kích thích trong quá trình thâm nhập bằng ma sát với mũ trùm của nó; quan niệm của họ rằng điều này cung cấp cho âm vật đủ kích thích tình dục đã bị chỉ trích bởi các nhà nghiên cứu như Elisabeth Lloyd.
Nghiên cứu của bác sĩ tiết niệu Úc Helen O'Connell năm 2005 cũng chỉ ra mối liên hệ giữa cực khoái trải qua âm đạo và âm vật, cho thấy mô âm vật kéo dài vào thành trước của âm đạo và do đó cực khoái âm vật và âm đạo có cùng nguồn gốc. Một số nghiên cứu, sử dụng siêu âm, đã tìm thấy bằng chứng sinh lý của điểm G ở những phụ nữ báo cáo đạt cực khoái khi giao hợp âm đạo, nhưng O'Connell cho rằng mối quan hệ liên kết của âm vật với âm đạo là giải thích sinh lý cho phỏng đoán điểm G. Sau khi sử dụng công nghệ MRI cho phép cô ghi nhận mối quan hệ trực tiếp giữa chân hoặc rễ của âm vật và mô cương cứng của "bóng đèn âm vật" và cora, và niệu đạo và âm đạo xa, cô nói rằng thành âm đạo là âm vật; rằng nâng da ra khỏi âm đạo trên các bức tường bên cho thấy các bóng đèn của âm vật hình tam giác, khối hình lưỡi liềm của mô cương cứng. O'Connell et al., người đã thực hiện mổ xẻ trên bộ phận sinh dục nữ của tử thi và nhiếp ảnh được sử dụng để lập bản đồ cấu trúc của dây thần kinh ở âm vật, đều đã nhận thức được rằng âm vật là nhiều hơn chỉ là qui đầu của mình và khẳng định vào năm 1998 rằng có nhiều cương dương mô liên quan đến âm vật hơn thường được mô tả trong sách giáo khoa giải phẫu. Họ kết luận rằng một số con cái có các mô và dây thần kinh rộng hơn so với những con khác, đặc biệt là đã quan sát điều này ở những người trẻ tuổi so với người già, và do đó, phần lớn phụ nữ chỉ có thể đạt được cực khoái bằng cách kích thích trực tiếp các bộ phận bên ngoài của âm vật, sự kích thích của các mô tổng quát hơn của âm vật thông qua giao hợp có thể là đủ cho những người khác.
Các nhà nghiên cứu người Pháp Odile Buisson và Pierre Foldès đã báo cáo những phát hiện tương tự với kết quả của O'Connell. Năm 2008, họ đã công bố bản siêu âm 3D hoàn chỉnh đầu tiên của âm vật bị kích thích và tái bản nó vào năm 2009 với nghiên cứu mới, chứng minh các cách thức mà mô cương cứng của âm vật xâm nhập và bao quanh âm đạo, cho rằng phụ nữ có thể đạt được cực khoái âm đạo thông qua kích thích điểm G vì âm vật có nhiều bẩm sinh được kéo sát vào thành trước của âm đạo khi người phụ nữ bị kích thích tình dục và trong quá trình thâm nhập âm đạo. Họ khẳng định rằng vì thành trước của âm đạo có liên kết chặt chẽ với các bộ phận bên trong của âm vật, kích thích âm đạo mà không kích hoạt âm vật có thể là không thể. Trong nghiên cứu được công bố năm 2009 của họ, "các mặt phẳng vành trong quá trình co rút tầng sinh môn và sự xâm nhập của ngón tay đã chứng minh mối quan hệ chặt chẽ giữa gốc âm vật và thành âm đạo trước". Buisson và Foldès đề xuất rằng "độ nhạy cảm đặc biệt của thành âm đạo trước thấp hơn có thể được giải thích bằng áp lực và chuyển động của rễ âm vật trong quá trình thâm nhập âm đạo và co thắt đáy chậu sau đó".
Hỗ trợ một điểm G khác biệt là một nghiên cứu của Đại học Rutgers, xuất bản năm 2011, đây là lần đầu tiên ánh xạ bộ phận sinh dục nữ lên phần cảm giác của não. Quét não cho thấy não ghi lại những cảm giác khác biệt giữa kích thích âm vật, cổ tử cung và thành âm đạo - nơi điểm G được báo cáo là - khi một số phụ nữ tự kích thích mình trong máy cộng hưởng từ chức năng (fMRI). "Tôi nghĩ rằng phần lớn các bằng chứng cho thấy rằng điểm G không phải là một điều đặc biệt", Barry Komisaruk, người đứng đầu kết quả nghiên cứu cho biết. "Nó không giống như nói, 'Tuyến giáp là gì?' Điểm G là một thứ giống như Thành phố New York cũng là một thứ vậy. Đó là một khu vực, đó là sự hội tụ của nhiều cấu trúc khác nhau". Nhận xét về nghiên cứu của Komisaruk và các phát hiện khác, Emmanuele Jannini, giáo sư khoa nội tiết tại Đại học Aquila ở Ý, thừa nhận một loạt các bài luận được xuất bản vào tháng 3 năm 2012 trên "Tạp chí Y học tình dục", là tài liệu chứng minh rằng cực khoái âm đạo và âm vật là hiện tượng riêng biệt, kích hoạt các khu vực khác nhau của não và có thể gợi ý những khác biệt tâm lý quan trọng giữa các phụ nữ.
Các yếu tố và nghiên cứu khác.
Khó đạt cực khoái thường xuyên sau khi kích thích tình dục rộng rãi, được gọi là anorgasmia, phổ biến hơn đáng kể ở phụ nữ so với nam giới ("xem bên dưới"). Ngoài rối loạn chức năng tình dục là nguyên nhân khiến phụ nữ không thể đạt cực khoái, hoặc thời gian hưng phấn tình dục cần thiết để đạt cực khoái là khác nhau và lâu hơn ở phụ nữ so với nam giới, các yếu tố khác bao gồm thiếu giao tiếp giữa bạn tình về những gì cần thiết cho người phụ nữ để đạt cực khoái, cảm giác không thỏa mãn tình dục ở một trong hai người bạn tình, chỉ tập trung vào sự thâm nhập (âm đạo hoặc cách khác), và đàn ông nói chung kích thích phụ nữ đạt cực khoái dựa trên kinh nghiệm tình dục của chính họ với những người phụ nữ khác.
Các học giả nói rằng "nhiều cặp vợ chồng bị mắc kẹt trong ý tưởng rằng cực khoái chỉ nên đạt được thông qua giao hợp [quan hệ tình dục qua đường âm đạo]" và rằng "[e] nói về "màn dạo đầu" cho thấy rằng bất kỳ hình thức kích thích tình dục nào khác chỉ đơn thuần là chuẩn bị cho sự kiện chính. '... Bởi vì phụ nữ đạt cực khoái thông qua giao hợp ít nhất so với nam giới, nên họ có nhiều khả năng hơn nam giới để đạt cực khoái". Nhà tư vấn tình dục Ian Kerner tuyên bố: "Đó là một huyền thoại rằng sử dụng dương vật là cách chính để làm hài lòng phụ nữ". Ông trích dẫn nghiên cứu kết luận rằng phụ nữ đạt cực khoái khoảng 25% thời gian giao hợp, so với 81% thời gian trong quan hệ tình dục bằng miệng (liếm âm hộ).
Trong nghiên cứu thực nghiệm quy mô lớn đầu tiên trên toàn thế giới để liên kết các thực hành cụ thể với cực khoái, được báo cáo trên "Tạp chí Nghiên cứu Giới tính" năm 2006, các biến số lịch sử nhân khẩu học và tình dục có liên quan tương đối yếu với cực khoái. Dữ liệu được phân tích từ Nghiên cứu về Sức khỏe và Mối quan hệ của Úc, một cuộc khảo sát qua điện thoại quốc gia về hành vi và thái độ và kiến thức về sức khỏe tình dục được thực hiện vào năm 2001, năm 2002, với mẫu đại diện từ 19.307 người Úc từ 16 đến 59 tuổi. Thực hành bao gồm "chỉ giao hợp âm đạo (12%), kích thích âm đạo + thủ công bộ phận sinh dục của nam và / nữ (49%), và giao hợp âm đạo + bằng tay + bằng miệng (32%)" và "làm tình cũng có thể có bao gồm các thực hành khác. Đàn ông đạt cực khoái trong 95% các cuộc gặp gỡ và phụ nữ trong 69%. Nói chung, càng thực hành nhiều, cơ hội đạt cực khoái của phụ nữ càng cao. Phụ nữ có nhiều khả năng đạt cực khoái hơn trong các cuộc gặp gỡ bao gồm cả bú liếm âm hộ".
Các nghiên cứu khác cho thấy phụ nữ tiếp xúc với nồng độ androgen trước khi sinh thấp hơn có nhiều khả năng đạt cực khoái khi giao hợp âm đạo hơn so với những phụ nữ khác.
Tập thể dục tạo cực khoái.
Kinsey, trong cuốn sách năm 1953 của ông "Về hành vi tình dục ở nữ giới", đã tuyên bố rằng tập thể dục có thể mang lại khoái cảm tình dục, bao gồm cả cực khoái. Một đánh giá vào năm 1990 về chính phản ứng tình dục như tập thể dục, xem xét tài liệu và tuyên bố rằng lĩnh vực này được nghiên cứu kém; họ cũng nói rằng các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tập thể dục nhịp điệu hoặc đẳng trương giống như hoạt động tình dục hoặc các tư thế tình dục có thể tạo ra khoái cảm tình dục, bao gồm cả cực khoái. Một đánh giá năm 2007 về mối quan hệ giữa rối loạn chức năng sàn chậu và các vấn đề tình dục ở nam và nữ cho thấy họ thường liên kết với nhau và cho rằng liệu pháp vật lý tăng cường sàn chậu có thể giúp giải quyết các vấn đề tình dục nhưng nó không được nghiên cứu đủ. Bắt đầu từ ít nhất năm 2007, thuật ngữ "coregasm" đã được sử dụng trên các phương tiện truyền thông phổ biến để nói đến cực khoái do tập thể dục hoặc theo cách nói học thuật gọi là "khoái cảm tình dục do tập thể dục" hoặc "EISP", và thảo luận rộng rãi của "Yogasm" xảy ra trong một bài đăng trên "Daily Beast" năm 2011. Một bài báo xuất bản năm 2012 đã trình bày kết quả của một cuộc khảo sát trực tuyến về những phụ nữ đã trải qua cực khoái hoặc khoái cảm tình dục khác trong khi tập thể dục. Bài viết đã được thảo luận rộng rãi trên các phương tiện truyền thông phổ biến khi nó được xuất bản. Các tác giả của bài báo nói rằng nghiên cứu về mối quan hệ giữa tập thể dục và phản ứng tình dục vẫn còn thiếu.
Kích thích hậu môn và tuyến tiền liệt.
Ở cả hai giới, khoái cảm có thể bắt nguồn từ các đầu dây thần kinh xung quanh hậu môn, chẳng hạn như khi quan hệ tình dục qua đường hậu môn. Có thể đàn ông đạt được cực khoái thông qua việc tự kích thích tuyến tiền liệt. Tuyến tiền liệt là tương đồng của nam (biến thể) với các tuyến Skene (được cho là có liên quan đến điểm G nữ), và có thể được kích thích tình dục thông qua quan hệ tình dục qua đường hậu môn, mát-xa đáy chậu hoặc qua máy rung. Kích thích tuyến tiền liệt có thể tạo ra cực khoái sâu hơn, được một số người đàn ông mô tả là lan rộng và mãnh liệt hơn, kéo dài hơn và cho phép cảm giác xuất thần nhiều hơn so với cực khoái được khơi gợi chỉ bằng kích thích dương vật. Việc thực hành đóng chốt (bao gồm một phụ nữ thâm nhập vào hậu môn của một người đàn ông với một dương vật giả có dây đeo) kích thích tuyến tiền liệt. Nó cũng là điển hình cho một người đàn ông không đạt được cực khoái như một đối tác tiếp nhận chỉ từ quan hệ tình dục qua đường hậu môn.
Đối với phụ nữ, thâm nhập dương vật-hậu môn cũng có thể gián tiếp kích thích âm vật bởi các dây thần kinh cảm giác chung, đặc biệt là dây thần kinh "pudendal", đưa ra các dây thần kinh hậu môn kém và phân chia thành dây thần kinh quanh hậu môn và dây thần kinh giữa của âm vật. Khu vực điểm G, được coi là có liên kết với âm vật, cũng có thể được kích thích gián tiếp khi quan hệ tình dục qua đường hậu môn. Mặc dù hậu môn có nhiều đầu dây thần kinh, mục đích của chúng không đặc biệt để gây ra cực khoái, và vì vậy một người phụ nữ đạt được cực khoái chỉ bằng cách kích thích hậu môn là rất hiếm. Kích thích trực tiếp âm vật, khu vực điểm G hoặc cả hai, trong khi tham gia vào quan hệ tình dục qua đường hậu môn có thể giúp một số phụ nữ tận hưởng hoạt động và đạt cực khoái trong thời gian đó.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Phạm Tuyên (sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930) là một nhạc sĩ nổi tiếng người Việt Nam, cựu Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội, tác giả của bài hát "Như có Bác trong ngày đại thắng", "Đảng đã cho ta một mùa xuân", "Chiếc đèn ông sao" cùng nhiều bài hát thiếu nhi phổ biến với trẻ em Việt Nam.
Thân thế và sự nghiệp.
Phạm Tuyên sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, quê ở làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương và là người con thứ 9 của Phạm Quỳnh, một viên quan đại thần và nhà văn hóa thời Nguyễn.
Năm 1949, ông công tác tại Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, khóa V. Năm 1950, là Đại đội trưởng tại Trường Thiếu sinh quân Việt Nam. Trong thời gian này, ông đã có những chùm ca khúc về Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, về Thiếu sinh quân Việt Nam.
Năm 1954, ông được cử làm cán bộ phụ trách Văn-Thể-Mỹ tại Khu học xá Trung ương (Nam Ninh, Trung Quốc). Từ năm 1958, ông về nước, công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ đạo về biên tập âm nhạc. Từ đó cho đến năm 1975, ông đã sáng tác nhiều bài hát được nhiều người biết như "Bài ca người thợ rừng", "Bài ca người thợ mỏ", hợp xướng "Miền Nam anh dũng và bất khuất", "Bám biển quê hương", "Yêu biết mấy những con đường", "Chiếc gậy Trường Sơn", "Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ", "Từ làng Sen", "Đêm trên Cha Lo", "Từ một ngã tư đường phố, Có ai vô xứ Nghệ".
Bài "Như có Bác trong ngày đại thắng" được ông sáng tác đêm ngày 28 tháng 4 năm 1975, tập và thu âm ngay trong chiều ngày 30 tháng 4 để phát sóng trong bản tin thời sự đặc biệt 17 giờ cùng ngày của Đài tiếng nói Việt Nam chính thức công bố tin giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.
Sau 1975, ông có ca khúc bất hủ như: "Gửi nắng cho em", "Con kênh ta đào", "Màu cờ tôi yêu" (thơ Diệp Minh Tuyền), "Thành phố mười mùa hoa" (1985, thơ Lệ Bì).
Ca khúc "Chiến đấu vì độc lập tự do" được ông sáng tác ngay trong đêm của ngày nổ ra cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979. Ca khúc này đã mở đầu cho trào lưu cho dòng nhạc "biên giới phía Bắc" nhưng không còn được lưu hành kể từ khi quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc được cải thiện.
Ông có sáng tác nhiều cho lớp trẻ. Nhiều bài hát thiếu nhi đã trở thành bài truyền thống qua nhiều thế hệ như: "Tiến lên đoàn viên", "Chiếc đèn ông sao", "Hành khúc Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh", "Hát dưới cờ Hà Nội", "Gặp nhau giữa trời thu Hà Nội", "Đêm pháo hoa", "Cô và mẹ"...
Ông còn viết nhiều bài cho tạp chí, Đài phát thanh và truyền hình giới thiệu về thẩm mỹ âm nhạc, về tác giả và tác phẩm, là người đề xướng và chỉ đạo nhiều cuộc thi mang tính chất toàn quốc như Tiếng hát hoa phượng đỏ, Liên hoan Văn nghệ truyền hình toàn quốc, nhiều năm là Chủ tịch Hội đồng giám khảo của nhiều Hội diễn toàn quốc về văn hoá - văn nghệ của Bộ Văn hóa Thông tin và nhiều ngành khác trong nước.
Ông là Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam từ năm 1963 đến năm 1983.
Vào năm 1993, ông phổ lời Việt cho một số ca khúc chủ đề trong phim hoạt hình Nhật Bản "Doraemon" cho Đội ca thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện. Sau đó các bài hát được Nhà xuất bản Kim Đồng tập hợp phát hành dưới dạng băng casette gồm 2 vol dưới tên "Chúng ta hát cùng Doraemon"
Ông hiện đã nghỉ hưu và sống tại Hà Nội. Ngày 18 tháng 8 năm 2011, ban liên lạc họ Phạm tại thành phố Hồ Chí Minh và công ty TNHH Họ Phạm Phương Nam tổ chức đêm nhạc Họ Phạm với chủ đề: "Mọi trái tim - một tấm lòng" cũng mời ông và nhạc sĩ Phạm Duy tới dự.
Năm 2001, nhạc sĩ Phạm Tuyên được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho cụm 5 tác phẩm: Đảng đã cho ta một mùa xuân, Bám biển quê hương, Chiếc gậy Trường Sơn, Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ, Như có Bác trong ngày đại thắng.
Năm 2005, Phạm Tuyên được đề cử giải thưởng Hồ Chí Minh nhưng không đạt vì ông chưa có cụm công trình nào xuất sắc hơn cụm công trình đã được Giải thưởng Nhà nước.
Năm 2012, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt IV (4) về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm "Những ngôi sao ca đêm, Từ Làng Sen, Đêm trên Cha Lo, Tiến lên Đoàn viên, Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng".
Vợ ông là Nguyễn Ánh Tuyết (1936-2009), phó giáo sư, tiến sĩ chuyên ngành tâm lý học, chủ nhiệm đầu tiên của khoa GD Mầm non Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, tác giả của 18 bộ giáo trình giảng dạy, 40 năm giảng dạy và viết bài cho nhiều tạp chí khoa học, giáo dụ
|
Chi Mướp đắng (danh pháp khoa học: Momordica) là một chi của khoảng 50-60 loài cây thân thảo dạng dây leo sống một năm hay lâu năm, thuộc về họ Bầu bí (Cucurbitaceae), có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Phi và miền nam châu Á.
Trồng và sử dụng.
Một số loài trong chi "Momordica" được trồng để làm cây cảnh hay lấy quả có nhiều cùi thịt, quả có dạng hoặc là tròn, thuôn dài hay hình trụ, có màu từ da cam tới đỏ khi chín, có gai hay bướu ở lớp vỏ.
Bao gồm khoảng 50 được công nhận như sau:
Một số loài phân bố ở Việt Nam.
Mướp đắng hay khổ qua ("Momordica charantia") có vị đắng, theo Đông y tính hàn, giúp giải nhiệt. Mướp đắng thường được dùng làm thức ăn hay nấu nước trị rôm sảy cho trẻ em.
Gấc ("Momordica cochinchinensis") có nạc thường dùng để nhuộm thức ăn.
|
Michelle Bachelet (sinh ngày 29 tháng 9 năm 1951 tại Santiago, Chile) là tổng thống Chile thứ 35 và 37, từ ngày 12 tháng 3 năm 2006 đến ngày 11 tháng 3 năm 2010, và từ ngày 11 tháng 3 năm 2014 đến ngày 11 tháng 3 năm 2018. Tháng 9 năm 2006, tạp chí "Forbes" chọn bà vào danh sách 100 phụ nữ quyền thế nhất thế giới, ở vị trí thứ 17 .
Tên đầy đủ của bà là Verónica Michelle Bachelet Jeria/βeˈɾonika miˈʃɛl baʃˈle ˈçeɾja/. Cha bà là từng làm tướng không quân dưới thời Tổng thống Salvador Allende. Cuộc sống yên bình của gia đình bà nói riêng và của toàn xã hội Chile nói chung bị đảo lộn sau cuộc đảo chính đẫm máu của Augusto Pinochet. Kết quả của sự kiện này là Allende bị bắn chết, còn Pinochet lên làm tổng thống, hiến pháp bị huỷ bỏ, quốc hội bị giải tán, nhiều đảng phái chính trị bị đàn áp, hơn 130.000 người bị bắt giữ, giam cầm và tra tấn, hàng nghìn người bị xử tử. Khi đó, Michelle Bachelet đang là sinh viên ngành y trường Đại học Chile cũng phải chịu nhiều đau đớn, mất mát. Cả gia đình bị bắt giữ và tra tấn, trong đó cha bà chết năm 1974. Bạn trai của bà là Jamie Lopez cũng bị sát hại. Năm 1975, bà và mẹ bà sang Úc rồi Cộng hoà Dân chủ Đức lánh nạn. Tại đây, bà theo học trường Đại học Berlin và lập gia đình với kiến trúc sư Jorge Dávalos.
Năm 1979, gia đình bà trở về Chile. Bà tiếp tục học ở Đại học Chile và tham gia các tổ chức phi chính phủ. Năm 1984, bà ly thân với chồng. Hai người có với nhau 2 người con: Sebastián (1978) và Francisca (1984). Bà có người con thứ 3 với ông Aníbal Henríquez năm 1992. Bà bắt đầu tham gia chính trường Chile với các chức vụ cố vấn cho Bộ trưởng Y tế rồi Bộ trưởng Quốc phòng. Sau đó, bà lần lượt được Tổng thống Ricardo Lagos bổ nhiệm làm bộ trưởng 2 bộ trên (bộ Y tế: 11 tháng 3 năm 2000, bộ Quốc phòng: 7 tháng 1 năm 2002. Ngày 15 tháng 1 năm 2006, bà là đại diện của Đảng Xã hội Chile tham gia cuộc bầu cử tổng thống và giành thắng lợi với 53,5% tổng số phiếu bầu. Như vậy, bà trở thành người phụ nữ đầu tiên trở thành Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng thống của đất nước Nam Mỹ này.
Bà là thành viên của Hội đồng Phụ nữ lãnh đạo thế giới và hội viên Câu lạc bộ Madrid.
|
Vương cung thánh đường Sacré-Cœur, Paris
Vương cung thánh đường Sacré-Cœur (tiếng Pháp: "Basilique du Sacré-Cœur", còn gọi là "Nhà thờ Thánh Tâm") là một nhà thờ Công giáo nổi tiếng của Paris. Nằm trên đỉnh đồi Montmartre, thuộc Quận 18, nhà thờ Sacré-Cœur được xây dựng vào cuối thế kỷ 19, dâng cho trái tim Chúa Giêsu. Sacré-Cœur có nghĩa là "Thánh Tâm".
Ngày nay, Sacré-Cœur là một nhà thờ quan trọng và một trong những địa điểm thu hút du khách nhất của thành phố Paris.
Nằm trên đồi Montmartre, nhà thờ Sacré-Cœur ở phía Bắc của thành phố Paris. Từ chân đồi, ngoài cầu thang bộ còn có thang máy kéo Montmartre do công ty RATP quản lý. Phía trước nhà thờ, một điểm có thể nhìn toàn cảnh thành phố Paris, các kính viễn vọng được lắp đặt dành cho du khách. Bên cạnh Sacré-Cœur, quảng trường nhỏ Tertre là nơi các họa sĩ vẽ chân dung và biếm họa cho du khách. Nơi đây cũng tập trung nhiều nhà hàng, quán cà phê và Không gian Dalí, trưng bày các tác phẩm của Salvador Dalí.
Mặt bằng nhà thờ Sacré-Cœur mang hình thập giá lớn. Vòm chính nhà nhờ cao 55 mét, đường kính 16 mét, đỉnh cao 83 mét. Phía bên trong, hậu cung nhà thờ rộng 475 m², trang trí theo phong cách La Mã-Byzance. Các mảnh kính màu được trang trí từ năm 1903 tới năm 1920. Nhưng năm 1944, trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các cuộc ném bom làm vỡ các cửa kính và tới năm 1946 được thực hiện lại. Tháp chuông của nhà thờ còn có quả chuông mang tên Savoyarde, lớn nhất nước Pháp.
Không chỉ là công trình tôn giáo quan trọng, nhà thờ Sacré-Cœur ngày nay còn là địa điểm thu hút du khách thứ hai Paris, chỉ sau nhà thờ Đức Bà. Năm 2005, Sacré-Cœur đón tiếp khoảng 8 triệu lượt khách, đứng trên cả tháp Eiffel và bảo tàng Louvre. Hình ảnh nhà thờ nổi tiếng còn xuất hiện trong các tác phẩm nghệ thuật. Trong số đó có thể kể tới bộ phim "Sabrina" năm 1954 với Audrey Hepburn hay "Le fabuleux destin d'Amélie Poulain" năm 2001 với Audrey Tautou.
Dự định xây dựng Sacré-Cœur được bắt đầu vào một thời kỳ chính trị phức tạp. Mặc dù công trình thường được cho là để tượng niệm các binh lính của Công xã Paris, nhưng sự thực ý định xây dựng nhà thờ Sacré-Cœur có từ năm 1870, trong khi Công xã Paris xảy ra vào năm sau đó.
Năm 1870, chiến tranh Pháp-Phổ nổ ra. Hội nghị giám mục ở Vatican bị gián đoạn và Giáo hoàng Piô IX, không còn được quân Pháp bảo vệ, trở thành bị giam lỏng ở Vatican. Nước Pháp thua trận, Quân đội Đức chiếm một phần lãnh thổ. Ý định xây dựng nhà thờ xuất phát từ hai nhà tư sản Paris, Alexandre Legentil và Hubert Rohault de Fleury. Legentil và Rohault, cùng lấy hai con gái nhà Charles Marcotte, từng là các quan chức cao cấp thời Louis-Philippe. Ngay khi Paris bắt đầu bị vây hãm, Legentil và Rohault cùng tất cả gia đình chuyển tới Poitiers. Vốn rất sùng đạo, hai người cho rằng nước Pháp thua trận vì đã mang tội lỗi. Do vậy, cần phải xây dựng một nhà thờ để tỏ lòng thành tâm.
Ngày 18 tháng 1 năm 1872, giám mục Paris, Hồng y Joseph Hippolyte Guibert chấp nhận lời đề nghị xây dựng nhà thờ và Montmartre được chọn làm địa điểm. Ngày 5 tháng 3 năm 1873, Joseph Hippolyte Guibert gửi một bức thư tới Jules Simon, bộ trưởng Bộ Văn hóa, thỉnh cầu xây dựng một nhà thờ mới. Được Quốc hội phê chuẩn, khu đất trên đồi Montmartre được mua lại với giá 833 ngàn franc. Ngày 31 tháng 7 năm 1873, Giáo hoàng Piô IX cũng gửi một chiếu thư chấp nhận cho xây dựng nhà thờ Sacré-Cœur, có nghĩa là "Trái tim thiêng liêng", ám chỉ Thánh Tâm Chúa Giêsu. Cùng với Sacré-Cœur, thời kỳ này, một loạt nhà thờ khác cũng được xây dựng trên khắp nước Pháp: nhà thờ ở Lourdes, nhà thờ Đức Bà Fourvière ở Lyon, nhà thờ Đức Bà Garde ở M
Địa điểm của Sacré-Cœur, đồi Montmartre vốn là một địa điểm tôn giáo lâu đời của Paris. Những nhà nguyện, tu viện đã có ở đây từ thế kỷ 5. Đỉnh đồi Montmartre, cao 129 mét so với mực nước biển, là một trong những điểm cao nhất Paris.
Từ 1 tháng 2 tới 30 tháng 6 năm 1874, một cuộc thi kiến trúc được tổ chức. 78 bản thiết kế được gửi tới và người thắng cuộc là kiến trúc sư Paul Abadie. Bản thiết kế của Paul Abadie mang phong cách kiến trúc La Mã và kiến trúc xứ Byzance, Sacré-Cœur lấy cảm hứng từ nhà thờ Hagia Sophia ở Istanbul và San Marco ở Venezia hay Ravenna. So với những nhà thờ của thời Trung Cổ, như nhà thờ Đức Bà với phong cách Gothic, thì Sacré-Cœur có dáng vẻ khác hẳn.
Việc thi công được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 năm 1875 và viên đá đầu tiên được đặt xuống vào ngày 16 tháng 10. Xây dựng trên nền đất sét, móng của nhà thờ đã phải đào sâu xuống 33 mét, với 83 cọc bê tông. Năm 1878, việc thi công được tiến hành ở phần hầm và năm 1881 tiếp đến xây dựng nhà thờ.
Ngày 16 tháng 10 năm 1895, quả chuông lớn của giáo xứ Savoie dâng tặng được chuyển tới. Mang tên thánh Savoyarde, quả chuông đường kính 3 mét và nặng 18.835 kg, được anh em nhà Paccard đúc tại Annecy năm 1895. Tới năm 1914, công việc hoàn thành. Lễ cung hiến được dự định vào 17 tháng 10 năm 1914, nhưng Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra. Cho tới tận 17 tháng 10 năm 1919, buổi lễ mới được tổ chức. Số tiền xây dựng nhà thờ Sacré-Cœur, tính theo năm 1923, lên tới 45 triệu franc do các giáo xứ ở khắp nước Pháp quyên góp. Tượng đài mở cửa hàng ngày từ 6:30 sáng đến 10:30 tối.
|
Đà điểu châu Phi
Đà điểu châu Phi (danh pháp khoa học: Struthio camelus) là một loài chim chạy, có nguồn gốc từ châu Phi. Nó là loài còn sinh tồn duy nhất của họ Struthionidae, và chi Struthio. Chúng rất khác biệt về hình thể với cổ, chân dài và có tốc độ lật mặt lên đến 65 km/giờ (40 dặm/giờ). Đà điểu được xem là loài chim còn sống lớn nhất và được chăn nuôi trên khắp thế giới. Tên khoa học của nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là "chim lạc đà" . Trong tên khoa học của nó phần thứ hai "-camelus" mang ý nghĩa liên tưởng tới môi trường sống khắc nghiệt trong tự nhiên của chúng.
Đà điểu châu Phi nặng từ 90 đến 130 kg (200 đến 290 pound). Một số đà điểu trống đã được ghi nhận là có thể nặng đến 155 kg (340 pao). Đà điểu trống trưởng thành có lông chủ yếu là màu đen với một vài điểm trắng ở cánh và đuôi. Đà điểu mái và con non có màu xám nâu nhạt với vài đốm trắng. Đà điểu trống dùng đôi cánh nhỏ do thoái hóa của nó để múa gọi bạn tình và che chở cho đà điểu con. Bộ lông của chúng mềm và khác biệt so với lông vũ của loài chim bay. Vẫn còn những cái móng trên hai cánh của chúng. Cặp chân khỏe của chúng không có lông. Chân có hai ngón với một ngón lớn hơn trông giống như móng ngựa. Điểm độc đáo này giúp cho khả năng chạy của đà điểu. Với lông mi rậm và đen, cặp mắt của đà điểu lớn nhất trong các loài động vật trên cạn còn sống.
Ở độ tuổi trưởng thành (2–4 năm), đà điểu trống cao 1,8–2,7 m (6–9 ft), đà điểu mái 1,7–2 m (5,5–6,5 ft). Trong năm đầu tiên, đà điểu con tăng cao 25 cm (10 inch) mỗi tháng. Một năm tuổi đà điểu đạt trọng lượng 45 kg (100 pao).
Phân loại và phân bố địa lý.
Trong tự nhiên đà điểu châu Phi sống ở thảo nguyên savanna và vùng Sahel của châu Phi, về phía Bắc và Nam của vùng rừng xích đạo. Đà điểu thuộc về bộ Struthioniformes (bộ Đà điểu hay Chim chạy). Cùng bộ với nó là đà điểu Nam Mỹ, chim ê mu (đà điểu sa mạc ở Australia), đà điểu đầu mào và lớn nhất nhưng đã tuyệt chủng là "Aepyornis".
Các phân loài của nó là:
Đà điểu châu Phi sống theo từng nhóm 5–50 con, du cư theo những loài thú ăn cỏ khác như ngựa vằn hay linh dương. Chúng ăn chủ yếu là hạt hay cây cỏ, đôi khi chúng ăn cả những động vật nhỏ như cào cào. Kiếm ăn vào ban ngày là chủ yếu. Không có răng, chúng phải nuốt sỏi để giúp cho việc nghiền thức ăn trong mề. Chúng có thể đi trong một thời gian dài không cần đến nước, mà chỉ dựa vào độ ẩm của những cây cỏ chúng nuốt vào. Tuy nhiên chúng thích nước và thường hay tắm.
Với khả năng nghe và nhìn thính nhạy, chúng có thể phát hiện những loài thú săn mồi như sư tử từ khoảng cách xa.
Theo một truyền thuyết phổ biến, đà điểu nổi tiếng về việc chui đầu vào cát khi gặp nguy hiểm. Tác giả La Mã Pliny – bậc trưởng lão, trong cuốn "Lịch sử tự nhiên" đã mô tả về đà điểu và việc giấu đầu vào bụi rậm của chúng. Tuy nhiên lại không có quan sát đã được ghi nhận nào về hành vi này. Một phản bác khá nổi tiếng là: một loài có hành vi như thế sẽ không thể tồn tại lâu dài. Truyền thuyết này có lẽ bắt nguồn từ sự thật rằng: quan sát từ khoảng cách xa sẽ thấy khi ăn, đà điểu vùi đầu vào cát, bởi vì chúng chủ tâm nuốt cát và sạn vào để giúp cho việc nghiền thức ăn. Chứ nếu vùi đầu vào cát thì đà điểu sẽ chết ngạt mất. Khi nằm xuống để tránh thú săn mồi, đà điểu ép sát đầu và cổ xuống đất, trông xa giống như là một ụ đất nhỏ. Khi gặp nguy hiểm, đà điểu hoảng loạn bỏ chạy và tự làm bị thương nặng bởi những cú đá từ cặp giò khỏe mạnh của chúng.
Trong kinh Phúc Âm soạn bởi Job (Job 39.13-18), đà điểu được mô tả với cặp cánh ngắn ngủn buồn cười, không chú ý đến an toàn của tổ trứng, đối xử khắc nghiệt đối với đàn con, thiếu khôn ngoan, nhưng lại làm con ngựa phải hổ thẹn với tốc độ của chúng.
Đà điểu châu Phi trưởng thành hoàn toàn ở độ tuổi 2 - 4 năm, con trống chậm hơn con mái khoảng 6 tháng. Mùa sinh sản bắt đầu từ tháng 3 hay 4 đến tháng tháng 8, tùy thuộc vào vùng địa lý. Đà điểu trống dùng tiếng rít và những âm thanh khác để đánh nhau, chiếm lãnh thổ và quyến rũ hậu cung có từ 2 – 5 đà điểu mái. Kẻ chiến thắng sẽ giao phối với toàn hậu cung nhưng chỉ lập một "hậu" mà thôi.
Đà điểu châu Phi là loài đẻ trứng. Toàn hậu cung sẽ cùng đẻ trứng có phôi vào một tổ của "hậu", đó chỉ đơn giản là một cái hố sâu từ 30 – 60 cm. Trứng nặng từ 1,3 – 1,4 kg (3 pao), dài 15 cm (6 inch), rộng 13 cm (5 inch), là loại trứng lớn nhất và có phôi lớn nhất, nhưng lại là nhỏ nhất nếu so sánh tương đối với kích thước của đà điểu. Mỗi tổ có từ 15 – 60 trứng màu trắng nhạt và bóng láng. Con cái ấp trứng vào ban ngày còn con trống thì vào ban đêm, bởi vậy chúng có màu lông khác nhau để tránh bị phát hiện khi đang ấp trứng. Quá trình ấp từ 35 – 45 ngày và con trống thường đón chào con con mới nở. Tuổi thọ của đà điểu châu Phi là từ 30 - 70 năm, trung bình là 50 năm.
Đà điểu con mới nở đã mở mắt và trong vòng 1, 2 tiếng chúng đã có thể chạy nhảy được rồi. Hầu như những loài chim không bay, con của chúng mở mắt lúc mới chào đời và có lớp lông tơ bảo vệ, thân hình của đà điểu con cũng không ngoại lệ. Còn những loài biết bay, thì hầu như con của chúng không có lông và không mở mắt, chúng phải nhờ vào mẹ hay bố tìm mồi. Đà điểu con rất hiếu động, bố mẹ chúng phải tập họp chúng lại như một nhà trẻ di động. Chúng chạy lung tung và trong vòng nửa năm đầu đà điểu con rất dễ chết vì những lý do khác ngoài thiên nhiên, nhưng sau đó chúng lớn rất nhanh.
Đà điểu và con người.
Trước đây đà điểu bị săn bắt và được nuôi vì bộ lông của chúng, đã từng là vật trang trí cho mũ của các quý bà. Bộ da của chúng cũng rất có giá trị. Vào thế kỷ XVIII, chúng đã bị săn bắt gần đến tuyệt chủng. Chúng được nuôi từ thế kỷ XIX. Thị trường lông đà điểu sụp đổ sau Thế Chiến I. Chăn nuôi thương mại bắt đầu trở lại vào thập niên 1970 để lấy lông và sau đó là da. Đà điểu Ả Rập và Nam Tây Á bị tuyệt chủng vào giữa thế kỷ XX.
Ngày nay, đà điểu được nuôi khắp thế giới, tại cả những vùng khí hậu lạnh như Thụy Điển. Chúng thích nghi với nhiệt độ từ 30 đến – 10 °C; được nuôi tại hơn 50 nước trên thế giới, nhưng phần lớn là ở Nam Phi. Do hệ số chuyển đổi thức ăn của đà điểu là thấp nhất (3,5:1 so với của gia súc là 6:1), nên chúng rất hấp dẫn đối với nông dân. Mặc dù đà điểu được nuôi chủ yếu để lấy da, tiếp đến là thịt; nhưng còn những sản phẩm phụ khác như là trứng, phụ phẩm, lông. Người ta cho rằng da đà điểu hiện đang có giá trị thương mại lớn nhất. Thịt đà điểu có vị như thịt bò nạc, mỡ và cholesterol thấp, nhưng lại giàu calci, đạm và sắt. Đà điểu lớn đến mức một người tầm vóc trung bình có thể cưỡi nó; thông thường người cưỡi nắm lấy đôi cánh của chúng. Ở một số vùng ở Bắc Phi và Ả Rập, chúng được huấn luyện để cưỡi lên núi. Các tổ chức bảo vệ quyền động vật chỉ trích việc cưỡi đà điểu ở Hoa Kỳ, nhưng những cuộc đua này ít phổ biến rộng rãi vì khó có thể đóng yên đà điểu và chúng cũng hơi nóng tính.
Đà điểu bị xếp là động vật nguy hiểm ở Úc, Hoa Kỳ và Anh. Chúng đã tấn công và giết chết người. Con mái lớn rất cục bộ, hung hãn và có thể tấn công và đá rất mạnh. Đà điểu có thể chạy nhanh hơn cả một vận động viên điền kinh.
Trứng của đà điểu dùng làm vật trang trí, vì vỏ của chúng dày, khó vỡ. Có người lấy vỏ trứng và làm đèn ngủ, hay để cả nguyên vỏ chỉ lấy hết ruột ra. Có nhiều tiệm hoàn kim còn dát vàng lên vỏ trứng đà điểu và bán rất cao giá.
|
Họ Đà điểu (Struthionidae) là một họ chim không biết bay thuộc Bộ Đà điểu (Struthioniformes), gồm những loài đà điểu, và họ hàng đã tuyệt chủng của chúng. Hai loài đà điểu còn sinh tồn là đà điểu châu Phi và đà điểu Somali, cả hai đều thuộc chi Struthio, cũng chứa một số loài được biết đến từ hóa thạch thế Holocen như đà điểu châu Á. Đà điểu châu Phi là loài phổ biến rộng rãi hơn trong hai loài, và là loài chim còn sống lớn nhất. Loài đà điểu còn lại cũng được xem là một trong những loài chim lớn nhất từ trước đến nay.
Đà điểu xuất hiện lần đầu tiên từ thế Miocen, mặc dù các hóa thạch thế Paleocen, thế Eocen và thế Oligocen khác nhau cũng có thể thuộc về họ này. Đà điểu được phân loại vào trong nhóm các loài chim thứ lớp Palaeognathae, tất cả các loài còn sinh tồn trong thứ lớp này đều không biết bay, bao gồm cả chim kiwi, đà điểu Emu và đà điểu Nam Mỹ.
Năm 2019, các loài "S. pannonicus", "S. dmanisensis" (đà điểu khổng lồ) và "S. transcaucasicus" đã được chuyển đến chi Pachystruthio.
Bộ Struthioniformes (đà điểu)
|
Montmartre là một khu phố của Paris, nằm trên quả đồi lớn thuộc Quận 18. Từng là nơi tập trung của nhiều họa sĩ nổi tiếng, cộng với nhà thờ Sacré-Cœur, cối xay gió Moulin de la Galette, các con phố nhỏ, quán cà phê, nhà hàng, Quảng trường Tertre, thang máy đồi M
Tiếng Việt đầu thế kỷ 20 còn gọi khu phố này là xóm Mông Mạc như trong sách du ký Paris của Phạm Quỳnh.
Nguồn gốc cái tên của Montmartre không có những khẳng định chắc chắn. Một số nhà sử học cho rằng "Montmartre" có gốc từ "Mons Mercurei et Mons Martis", có nghĩa núi Mercure và núi Mars, tên hai vị thần. Vết tích những ngôi đền thờ thần Mars (Hỏa tinh Vương)và thần Mercure (Thủy tinh Vương) được tìm thấy ở đây. Cũng có một giả thuyết thứ hai theo cách triết tự: Montmartre xuất phát từ chữ "Mons Martyrium", có nghĩa ngọn đồi những người tử vì đạo. Theo truyền thuyết thì Thánh Denis, vị giám mục đầu tiên của Paris, đã tử vì đạo ở ngọn đồi này. Một trong những con phố ở Montmartre có tên "Martyrs", tiếng Pháp: rue des Martyrs, có nghĩa là phố những ngưởi tử vì đạo. Khoảng năm 475, Thánh Geneviève đã cho xây trên sườn đồi, vị trí Thánh Denis tử vì đạo, một nhà nguyện. Tới thế kỷ 9, nó trở nên đổ nát và được xây dựng lại.
Từ thế kỷ 6, tại Montmartre đã có một xóm nhỏ với nhà thờ và nghĩa địa. Năm 1095, các tu sĩ tới đây xây dựng một tu viện. Vua Louis VI mua lại khu vực này từ các tu sĩ và cho xây dựng một nhà thờ cùng tu viện. Năm 1154, các phụ tá linh mục đã tát cạn đầm lầy này giữa Montmartre và Paris. Năm 1534 tại Montmartre, Thánh Íñigo Oñaz López de Loyola cùng bạn bè đã lập nên một dòng tu (Superior General of the Society of Jesus hay Supérieur général de la Compagnie de Jésus). Vào năm 1559, một đám cháy lớn đã thiêu trụi phần lớn tu viện và tới năm 1611, một tu viện mới được xây dựng. Năm 1590, Henri IV đã ở đồi Montmartre trong thời gian cho vây hãm thành Paris.
Năm 1790, khi hình thành những xã và tỉnh, Montmartre là một xã của Seine. Nằm bên trong tuyến công sự được xây dựng vào thế kỷ 19, Montmartre được sáp nhập vào Paris năm 1860 và thành một phần của Quận 18. Phần địa phận của Montmartre bên ngoài công sự thuộc về Saint-Ouen. Từ năm 1871, Montmartre trở thành một trong những điểm quan trọng của Paris.
Khu phố nghệ sĩ.
Cuốn từ điển của nhà xuất bản Roussard đã thống kê tới 4285 nghệ sĩ, từ danh tiếng đến ít tên tuổi, từng sống tại Montmartre trong hai thế kỷ 19 và 20. Từ khoảng năm 1820, các nghệ sĩ bắt đầu tập trung về đây. Đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, khu phố này từng là điểm đến của những họa sĩ nổi tiếng bậc nhất với các trường phái Ấn tượng, Lập thể, Dã thú..
Gần đây, bộ phim nổi tiếng của Pháp "Le Fabuleux Destin d'Amélie Poulain" cũng thực hiện nhiều cảnh quay về khu phố này.
Địa điểm du lịch.
Nằm trên đỉnh đồi Montmartre là nhà thờ Sacré-Cœur nổi tiếng, cũng là một địa điểm thuận lợi để nhìn toàn cảnh Paris. Vẫn giữ được không khí nghệ sĩ, khu phố Montmartre tập trung nhiều nhà hàng, quán cà phê, phòng tranh, cửa hàng đồ lưu niệ, các họa sĩ vẽ chân dung và tranh biếm họa cho du khách. Cạnh quảng trường còn có Không gian Dalí, trưng bày các tác phẩm của họa sĩ Salvador Dalí. Để đưa du khách từ dưới chân lên đỉnh đồi, từ năm 1900 một thang máy được lắp đặt. Một số địa điểm nổi tiếng như quán Moulin Rouge hay nghĩa trang Montmartre cũng nằm không xa nhà thờ Sacré-Cœur.
Montmartre cũng là một địa điểm quan trọng của tôn giáo. Ngoài nhà thờ Sacré-Cœur, ở dây còn có nhà thờ Saint-Pierre de Montmartre và nhà thờ Saint-Jean de Montmartre cùng bốn xứ đạo: Carmélites, Bénédictines du Sacré-Cœur de Montmartre, Notre-Dame du Cénacle và Sainte-Famille de Bordeaux.
Những người nổi tiếng sinh tại Montmartre.
Có nhiều người nổi tiếng từng sống tại Montmartre và cùng không ít những nhân vật sinh ra ở đây. Có thể kể đến:
|
Bộ Đà điểu (Struthioniformes) là một bộ gồm các loài chim lớn, không biết bay có nguồn gốc từ Gondwana, phần lớn trong chúng hiện nay đã tuyệt chủng. Không giống như các loài chim không bay khác, các loài đà điểu không có xương chạc trên xương ức của chúng và như thế thiếu nơi neo đủ mạnh cho các cơ cánh của chúng, vì thế chúng không thể bay được mặc dù chúng có các cánh phù hợp cho việc bay lượn.
Phần lớn khu vực đại lục Gondwana cổ đã do các loài đà điểu chiếm lĩnh, hoặc có chúng cho đến thời gian tương đối gần đây.
Các loài tuyệt chủng.
Ngoài ra, các mảnh vỏ trứng tương tự như vỏ trứng của "Aepyornis" cũng được tìm thấy trên quần đảo Canary. Các mảnh này có niên đại tới Trung hay Hậu Miocen, và không có giả thuyết phù hợp nào đã được đề ra là chúng tới đây như thế nào do sự không chắc chắn về việc các đảo này có từng được nối liền với đại lục hay không.
Tiến hóa và hệ thống học.
HIện tại tồn tại 2 phương thức tiếp cận phân loại học trong phân loại chim chạy: phương thức thứ nhất, được sử dụng tại bài này, kết hợp các nhóm như là các họ trong bộ Struthioniformes, trong khi phương thức thứ hai cho rằng các dòng dõi đã tiến hóa chủ yếu là độc lập với nhau và vì thế nâng các họ lên cấp bộ (như Rheiformes, Casuariiformes, Apterygiformes ).
Một số nghiên cứu dựa trên hình thái học, miễn dịch học và trình tự DNA chỉ ra rằng các loài chim chạy là đơn ngành. Miêu tả truyền thống về tiến hóa của chim chạy là một nhóm xuất hiện ở dạng chim không bay tại Gondwana trong kỷ Creta, sau đó đã tiến hóa theo các hướng tách biệt do các châu lục bị trôi dạt ra xa nhau. Tuy nhiên, phân tích gần đây về biến thiên gen giữa các loài chim chạy lại mâu thuẫn với điều đó: phân tích DNA dường như chỉ ra rằng các loài chim chạy đã rẽ nhánh ra khỏi nhau quá gần đây để có thể chia sẻ cùng một tổ tiên Gondwana chung. Bên cạnh đó, hóa thạch Trung Eocen của "tiền-đà điểu" "Palaeotis" từ Trung Âu có thể ngụ ý rằng giả thuyết "ngoài Gondwana" là sai. Ngoài ra, phân tích gần đây với 20 gen hạt nhân đã đặt câu hỏi về tính đơn ngành của nhóm, gợi ý rằng các loài tinamou có thể bay được cũng gộp lại trong phạm vi dòng dõi chim chạy.
Nghiên cứu so sánh đối với toàn bộ trình tự DNA ti thể của các loài chim chạy còn sinh tồn cộng với 2 loài moa (khủng điểu) đặt moa tại vị trí cơ sở, tiếp theo là đà điểu châu Mỹ, tiếp nữa là đà điểu châu Phi, tiếp theo là kiwi, với đà điểu Úc (emu) và đà điểu đầu mào là các họ hàng gần gũi nhất. Một nghiên cứu khác lại đảo lại vị trí tương đối của moa và đà điểu châu Mỹ và chỉ ra rằng chim voi không phải là họ hàng gần của đà điểu châu Phi hay các loài chim chạy khác, trong khi nghiên cứu các gen hạt nhân lại chỉ ra là đà điểu châu Phi rẽ nhánh đầu tiên, tiếp theo là đà điểu châu Mỹ và tinamou, sau đó là kiwi tách ra từ đà điểu Úc và đà điểu đầu mào. Các nghiên cứu chia sẻ các niên đại rẽ nhánh ngụ ý rằng trong khi các tổ tiên của moa có thể từng tồn tại ở New Zealand kể từ khi nó tách ra khỏi các phần khác của Gondwana, các tổ tiên của kiwi dường như bằng một cách nào đó đã phát tán tới đây (New Zealand) từ Australia gần đây hơn, có lẽ thông qua cầu đất liền hay bằng cách "nhảy" qua các đảo. Theo các phân tích có sớm hơn thì đà điểu châu Phi dường như đã tới châu Phi theo một lộ trình nào đó sau khi nó tách khỏi Nam Mỹ (như bằng xâm lấn đại lục Á Âu và sau đó châu Phi tách ra khỏi Ấn Độ), nhưng các dữ liệu hạt nhân chỉ ra rằng đà điểu châu Phi rẽ nhánh đầu tiên có lẽ phù hợp với trình tự tách mảng kiến tạo của Gondwana. Các khía cạnh khác (nhưng không phải tất cả) trong cổ địa sinh học chim chạy là phù hợp với giả thuyết hình thành loài theo địa lý (sự chia tách kiến tạo mảng của Gondwana).
Các nghiên cứu bộ gen phát sinh loài gần đây gợi ý rằng tinamou trên thực tế có thể thuộc về nhóm này. Nếu như thế, nó làm cho nhóm 'chim chạy' trở thành cận ngành chứ không phải đơn ngành. Điều này cũng đặt ra câu hỏi đáng chú ý về tiến hóa của khả năng bay được và khả năng không bay được trong nhóm này, do chim chạy theo truyền thống được cho là có tổ tiên không bay được và là nhóm đơn ngành, trong khi sự rẽ nhánh của tinamou trong phạm vi dòng dõi chim chạy chỉ ra rằng hoặc là khả năng bay được đã tái tiến hóa ở tinamou, hoặc là đã mất đi ở các loài chim chạy khác.
Vào năm 2014, một phân tích phát sinh chủng loài DNA ti thể bao gồm cả các thành viên hóa thạch chỉ ra rằng tinamou lồng sâu bên trong nhóm đà điểu. Đà điểu châu Phi được đặt ở nhánh đầu tiên (cơ sở), tiếp theo là đà điểu Nam Mỹ, sau đó là nhánh chứa moa và tinamou, tiếp theo là hai nhánh cuối cùng, một nhánh chứa emu và đà điểu đầu mào, trong khi nhánh còn lại chứa chim voi và kiwi. Mối quan hệ chị-em của moa-tinamou là phù hợp với các phát hiện khác có sớm hơn cũng như đương thời, trong khi mối quan hệ chị-em của chim voi và kiwi thì là phát hiện mới. Hỗ trợ bổ sung cho điều này cũng thu được từ phân tích hình thái học.
Ảnh hưởng đến văn minh loài người.
Vào thời Ai Cập cổ đại, người ta dùng hình "lông đà điểu" để chỉ ý nghĩa "chính nghĩa" vì lông đà điểu tương đối bằng nhau.
Các loài viễn tưởng.
Chocobo trong loạt trò chơi điện tử Final Fantasy là loài chim viễn tưởng tương tự như các loài chim chạy. Trong các trò chơi này thì chocobo là một dạng phương tiện vận tải,và chúng được cưỡi và kéo xe tương tự như ngựa.
Đáng chú ý là roc (từ tiếng Ba Tư: "رخ" - rokh) thời Ả Rập trung cổ, theo truyền thuyết là loài chim tương tự như các loài đà điểu và đủ lớn để có thể nhấc bổng cả voi. Theo vài nguồn thì nó chính là đà điểu châu Phi. Quân xe trong cờ vua có lẽ có nguồn gốc từ đây.
Ghi chú và Liên kết ngoài.
có thông tin Anh ngữ về:
|
Người Khmer (Việt Nam)
Người Khmer tại Việt Nam (hay người Khmer-Krom) (ខ្មែរក្រោម) là bộ phận dân tộc Khmer ở Việt Nam, người Khmer là dân tộc bản địa sinh sống đầu tiên tại lãnh thỗ Kampuchea Krom hay vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Người Kinh là dân đến định cư trên lãnh thổ Kampuchea Krom sau người bản địa Khmer-Krom trong cuộc nam tiến từ bắc sang nam để lánh nạn chiến tranh Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17.
Người Khmer được công nhận là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.
Trong khi các thư tịch cũ của người Việt dùng danh từ Cao Miên (高棉) hay Cao Man (高蠻) để nói đến người Campuchia.
Chỉ thị số 117-CT/TƯ ngày 29 tháng 9 năm 1981 của Ban bí thư trung ương Đảng cộng sản Việt Nam và Chỉ thị số 122-CT ngày 12 tháng 5 năm 1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam về "Công tác đối với đồng bào Khmer" quy định thống nhất dùng tên gọi dân tộc Khmer, người Khmer, không được dùng những tên gọi không chính xác hoặc có hàm ý miệt thị hoặc dùng để miệt thị phân biệt như người Miên, người Việt gốc Miên, người Man
Người Khmer ở Việt Nam nói tiếng Khmer và tiếng Việt.
Nguồn gốc về lịch sử địa lý cũng khiến ngôn ngữ của người Khmer ở Việt Nam chia ra làm nhiều phương ngữ khác nhau. Có thể thành 3 loại phương ngữ ở những vùng cụ thể:
1. Phương ngữ Phrah Tro Peang: được sử dụng ở các tỉnh Trà Vinh, Cà Mau, Vĩnh Long có giọng điệu khác hẳn so với tiếng Khmer phổ thông vì nhóm người sử dụng phương ngữ này đã sống tách biệt với trung tâm của người Khmer từ thời hậu Phù Nam và tiền Chân Lạp. Phương ngữ này được xem là một phương ngữ cổ có quan hệ chặc chẽ và gần gũi với tiếng Khmer phổ thông.
2. Phương ngữ Prek Ruksey - Srok Khleang: được sử dụng ở các Cần Thơ và Sóc Trăng. Nhóm người sử dụng phương ngữ này là hậu dụê của người Khmer trốn chạy khỏi sự áp bức trong thời kì suy tàn hậu Angkor trong lịch sử Campuchia. Phương ngữ này mang nét riêng vì chịu ảnh hưởng nhiều từ người Hoa di cư đến.
3. Còn lại là nhóm ngôn ngữ Khmer phổ thông không có sự khác biệt đáng kể.
Dân số và địa bàn cư trú.
Ở Việt Nam, người Khmer là dân tộc bản địa có lịch sử định canh định cư rất lâu dài sống chủ yếu ở miền Nam Việt Nam đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long thuộc các tỉnh, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, được gọi là Khmer Krom (có nghĩa là "Hạ", "Dưới trong" tiếng Khmer) để phân biệt với người Khmer Campuchia.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Khmer ở Việt Nam có dân số 1.319.562 người, có mặt tại nhiều tỉnh ở Nam Bộ.
Sau đây là danh sách các tỉnh có nhiều người Khmer nhất:
Hầu hết người Khmer ở Việt Nam là tín đồ Phật giáo Nam Tông Khmer - một kiểu Phật giáo hòa trộn nhiều thành phần của Ấn Độ giáo, thuyết vật linh (tục thờ cúng thần sông núi, cây cỏ...), và tục thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hơn, Phật giáo của người Khmer là Phật giáo nguyên thủy, tên phổ thông là Phật giáo Nam tông.
Cũng giống như người Khmer ở Campuchia người Khmer ở Việt Nam đều gìn giữ và phát huy nền văn hóa lâu đời của mình, một số lễ hội chính của người Khmer:
Các lễ hội Phật giáo:
Xung đột vũ trang và vận động chính trị.
Cuối năm 1960 ở Nam Vang người Khmer Krom thành lập Mặt trận Giải phóng, chủ trương tấn công Việt Nam Cộng hòa . Chau Dera làm chủ tịch, với hai yêu sách chính:
Ngày 27 Tháng 8, 1963 Norodom Sihanouk tuyên bố đoạn giao với Việt Nam Cộng hòa nhằm gây áp lực tranh đấu. Chính quyền Nam Vang còn giúp cơ sở vật chất và ngoại giao cho FLKK. Cuối năm 1963 lực lượng này sáp nhập với Mặt trận Giải phóng Champa và Mặt trận Giải phóng Kampuchea phía Bắc ("Front de Libération du Kampuchea Nord" FLKN) thành khối FULRO, mở rộng địa bàn hoạt động từ đồng bằng sông Cửu Long lên Cao nguyên Trung phần và đến tận Phú Yên.
Sau năm 1975 vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa người Việt và người Khmer bị cuốn vào Chiến tranh Việt Nam-Campuchia giữa các lãnh tụ ở Hà Nội và Phnôm Pênh và tiếng nói người Khmer Krom lu mờ. Tuy nhiên sang thế kỷ 21 người Khmer Krom lại phát động phong trào đòi chính quyền Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tự do sắc tộc và công nhận địa vị tiên khởi của người Khmer Krom ở đồng bằng sông Cửu Long.
|
Lịch sử Liên Xô
Lịch sử Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết phản ánh một giai đoạn thay đổi cho cả Nga và thế giới. Mặc dù các thuật ngữ "Nước Nga Xô viết" và "Liên Xô" thường đồng nghĩa trong lời nói hàng ngày, khi đề cập đến nền tảng của Liên Xô, "Nước Nga Xô viết" đề cập đúng đến vài năm giữa Cách mạng Tháng Mười năm 1917 và việc tạo ra Liên Xô năm 1922.
Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Vào ngày 7 tháng 11 năm 1917, Cách mạng Tháng Mười đã nổ ra. Sau những thay đổi mạnh mẽ vào tháng 1, những người Bolshevik đã giành được quyền lực chính trị ở Nga. Ngay lập tức ký "Hiệp ước hòa bình Brest" với Đức và rút khỏi Thế chiến thứ nhất.
Trong những năm sau đó, Hồng quân, do Lev Davidovich Trotsky chỉ huy, đã đánh bại sự can thiệp vũ trang của Bạch vệ và nhiều nước phương Tây thông qua nội chiến.
30 tháng 12 năm 1922, Liên bang Nga, Ukraina, Belarus và Liên bang Ngoại Kavkaz hợp nhất với nhau để tạo thành Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết. Liên Xô đã được chính thức thành lập.
Năm 1924, người sáng lập Liên Xô, Lenin đã qua đời và sau đó là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Joseph Stalin đã nhận được quyền lực cao nhất. Để củng cố chính quyền và đối phó với những nguy cơ từ nước ngoài, Stalin đã trấn áp các đối thủ chính trị thông qua các biện pháp cứng rắn và thực hiện một cuộc thanh lọc lớn của các nhà lãnh đạo đảng, nhà nước và quân đội có ý định nổi loạn. Đồng thời, chính sách tập thể hóa nông nghiệp đã được thực hiện. Trong nhiệm kỳ của mình, hàng triệu người đã bị gửi đến các trại lao động.
Năm 1938, người Anh và người Pháp đã thông qua "chính sách xoa dịu" để lãnh đạo thảm họa "phát xít" cho Liên Xô và dựng lên âm mưu của München.
Vào giữa tháng 4 năm 1939, Anh, Pháp và Liên Xô đã tổ chức các cuộc đàm phán quân sự và chính trị tại Moskva. Trong các cuộc đàm phán, Liên Xô đã đưa ra một số gợi ý cho Anh và Pháp:
Chiến tranh thế giới thứ hai.
Vào mùa đông năm 1939, Liên Xô đã tấn công Phần Lan do tranh chấp lãnh thổ ở vùng biên giới, buộc Phần Lan phải nhượng lại một phần lãnh thổ của mình, được gọi là Chiến tranh Sufen. Khi phát xít Đức xâm chiếm Liên Xô vào năm 1941, Phần Lan gia nhập Phe Trục.
Vào ngày 3 tháng 8 năm 1939, Ngoại trưởng Đức Joachim von Ribbentrop yêu cầu Su cải thiện mối quan hệ của họ. Vào thời điểm này, Liên Xô đã giới thiệu "Hiệp ước Sud và không xâm phạm lẫn nhau" vào ngày 23 tháng 8 với Đức Quốc xã. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, theo phạm vi ảnh hưởng của hiệp ước, Liên Xô đã phái quân đến Ba Lan để chiếm lại lãnh thổ mà Ba Lan chiếm từ Nga năm 1921. Ba nước vùng baltic là Estonia, Latvia và Litva sáp nhập vào Liên Xô qua các cuộc bỏ phiếu. Hàng trăm ngàn người bị trục xuất đến các khu vực xa xôi ở Siberia.
Việc ký kết "Hiệp ước Xô-Đức" của Liên Xô chỉ là một kế hoạch hòa hoãn nhằm tránh phải giao chiến sớm với Đức. Lãnh đạo Liên Xô biết rõ rằng Adolf Hitler, người luôn muốn tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, sẽ sớm xé bỏ hiệp ước hòa bình. Do đó, Liên Xô bắt đầu vận chuyển một lượng lớn vật liệu và thiết bị từ phần châu Âu sang hậu phương, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc chiến tranh Xô-Đức sau đó. Tuy nhiên, Stalin vẫn có một chút tính toán sai lầm. Ông luôn tin rằng Đức sẽ không tấn công Liên Xô trước khi đánh bại nước Anh, nhưng cuối cùng Hitler lại quyết định tấn công Liên Xô dù chưa đánh bại được Anh
Vào sáng sớm ngày 22 tháng 6 năm 1941, Đức đã phát động một cuộc tấn công bất ngờ vào Liên Xô với hơn 3,8 triệu quân, 5.100 máy bay, 3.800 xe tăng và một số lượng lớn pháo. Do không chuẩn bị chiến tranh, Hồng quân Xô viết đã chịu tổn thất lớn về quân sự, nhưng sau đó dần hồi phục, đánh bại quân địch trong những trận đánh lớn ở Moscow và Stalingrad, sau đó quay sang phản công Đức. Sau đó, chiến trường Xô-Đức trở thành chiến trường chính của lục địa châu Âu cho đến ngày 6 tháng 6 năm 1944, khi quân Đồng minh phát động Trận Normandy.
Năm 1945, các lực lượng Đồng minh, bao gồm Hồng quân Xô viết, đã chiếm được toàn bộ lãnh thổ Đức và chiến tranh ở châu Âu kết thúc. Tuy bị các chỉ huy nghiêm cấm nhưng một số binh sỹ Quân đội Xô viết, do quá căm thù sự giết chóc mà quân Đức gây ra nên đã có những hành động trả thù người Đức, bao gồm cưỡng hiếp phụ nữ ở Đức.
Ngày 08 tháng 8 năm 1945, Hồng quân Xô viết tuyên chiến với phát xít Nhật Bản và ngày 9 tháng 8 đã phát động chiến dịch Bão tháng tám ở phía đông bắc Trung Quốc và phía bắc của bán đảo Triều Tiên, để tiêu diệt quân Quan Đông của Nhật Bản.
Năm 1949, 12 quốc gia do Hoa Kỳ đứng đầu đã ký Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương tại Washington D.C, tuyên bố thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Liên Xô đã ký Công ước Warszawa với các đồng minh xã hội chủ nghĩa của mình vào năm 1955, thành lập Khối Warszawa và tranh đấu với NATO, và bắt đầu Chiến tranh Lạnh.
Năm 1953, Stalin qua đời. Đã có một vài sự đấu tranh chính trị giữa lãnh đạo hàng đầu của Đảng Cộng sản Liên Xô, người cuối cùng Khrushchev Doukua Malenkov đã trở thành lãnh đạo tối cao, là Bí thư thứ nhất Trung ương Cộng sản Liên Xô. Kể từ đó, Khrushchev đã chấm dứt các vụ bắt giữ, thả các tù nhân chính trị và khôi phục danh dự cho hàng trăm nghìn người.
Để củng cố vị trí của mình, Khrushchev đã thực hiện một loạt các liên hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Vào tháng 9 năm 1954, Khrushchev đã dẫn đầu một phái đoàn lớn tham gia lễ kỷ niệm 5 năm Quốc khánh Trung Quốc, đạt được một loạt thỏa thuận và cải thiện toàn diện quan hệ Xô-Trung, chấm dứt mối quan hệ thù địch lâu dài giữa hai nước. Vào ngày 3 tháng 10 năm 1954, Khrushchev và Mao Trạch Đông chính thức gặp nhau tại Hội trường Shuinian Zhongnanhai. Khrushchev cuối cùng đã thỏa hiệp yêu cầu Mao Trạch Đông để sở hữu vũ khí hạt nhân và hứa sẽ gửi các chuyên gia để giúp Trung Quốc xây dựng lò phản ứng hạt nhân nhỏ. Kể từ đó, quan hệ Xô-Trung đã bước vào thời kỳ hoàng kim.
Vào ngày 25 tháng 2 năm 1956, Khrushchev đã báo cáo bí mật về "Sự thờ cúng cá nhân và hậu quả của nó" vào ngày cuối cùng của Đại hội CPSU lần thứ 20. Ông chỉ trích hoàn toàn sự thờ phượng cá nhân của Stalin và tiến hành một chiến dịch về Stalin. Tổng phủ định. Tuy nhiên, tại một thời điểm, bất ổn chính trị đã được kích hoạt. Vào tháng 10 cùng năm, đã có những sự cố của Ba Lan và Hungary.
Vào ngày 30 tháng 10 năm 1956, chính phủ Liên Xô đã ban hành "Tuyên bố về sự phát triển và tăng cường hơn nữa nền tảng hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác", thừa nhận sự tồn tại của chủ nghĩa sô vanh quyền lực lớn và tuyên bố rằng các biện pháp sẽ được thực hiện trong tương lai. Vào ngày 31 tháng 12, bữa tiệc mừng năm mới của Khrushchev đã đánh giá lại Stalin.
Năm 1958, quan hệ giữa hai nước Xô-Trung bắt đầu xấu đi về vấn đề xây dựng các đài phát thanh sóng dài ở Trung Quốc, thiết lập một cảng quân sự và những khác biệt nghiêm trọng về các vấn đề Xô-Trung về vấn đề tư tưởng.
Năm 1960, Liên Xô đã rút toàn bộ nhân viên khoa học kỹ thuật và chuyên gia khỏi Trung Quốc và bắt đầu một loạt các tranh chấp giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trung Quốc tuyên bố rằng Liên Xô cũng đã thu hồi từ Đảng Cộng sản Trung Quốc số lượng vũ khí được cung cấp trong Chiến tranh Triều Tiên.
Vào ngày 12 tháng 4 năm 1961, Con tàu "Phương Đông-1" của Liên Xô đã được phóng và Yuri Gagarin thực hiện chuyến bay vào vũ trụ đầu tiên của con người.
Vào tháng 10 năm 1962, cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba đã nổ ra. Nó gây ra cuộc khủng hoảng quân sự nghiêm trọng nhất giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh, cuối cùng 2 bên cùng nhượng bộ để tránh chiến tranh.
Năm 1964, Khrushchev từ chức, Brezhnev giành được quyền lực chính trị, trở thành thư ký đầu tiên của Bộ Chính trị Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (sau này là Tổng Bí Thư) và Liên Xô bước vào thời kỳ Brezhnev. Trong khi đó, có một cơ hội để cải thiện quan hệ Trung-Xô, nhưng cuối cùng thì nó vẫn chưa đủ. Cụ thể, các cuộc xung đột biên giới như sự cố đảo Trân Bảo và sự cố Iron Lekti đã làm tăng thêm mâu thuẫn trong mối quan hệ Trung-Xô.
Năm 1968, Liên Xô can thiệp vào vụ bạo động ở Tiệp Khắc. Sự can thiệp vũ trang được gọi là cải cách dân chủ của "Mùa xuân Praha", năm 1979, Liên Xô đưa quân vào Afghanistan. Cả hai hành động đã bị các nước phương Tây lên án.
Trong thời kỳ Brezhnev, Liên Xô đã theo đuổi chính sách mở rộng ảnh hưởng ra khắp thế giới. Ngoài Tập đoàn Đông Âu và Mông Cổ, Việt Nam, Nam Yemen, Cuba, Angola, Ethiopia và các quốc gia khác đã được đưa vào đồng minh của Liên Xô hoặc thành lập các căn cứ quân sự ở các nước này. Brezhnev đề xuất "lý thuyết chủ quyền hạn chế" và tin rằng chủ quyền của các nước xã hội chủ nghĩa bị hạn chế. Ông đề xuất lý thuyết này nhằm nhấn mạnh chủ quyền xã hội chủ nghĩa của các nước khác và đưa các quốc gia khác thành quốc gia đồng minh của Liên Xô. Liên Xô trong thời đại Brezhnev cũng thực hiện một cuộc chạy đua vũ trang quy mô lớn với Hoa Kỳ, làm gia tăng sức mạnh quốc gia nhưng cũng làm gia tăng thêm những khó khăn mà nền kinh tế quốc gia Liên Xô gặp phải.
Thế vận hội Mùa hè 1980 được coi là một cửa sổ để thể hiện chủ nghĩa xã hội của Liên Xô với thế giới, nhưng vì chiến tranh Afghanistan}}, nó đã trở thành Thế vận hội Olympic bị các nước phương Tây tẩy chay.
Năm 1985, nhân vật cải cách Gorbachev tiếp quản quyền lực chính trị và tiếp quản tổng thư ký của Bộ Chính trị Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông đã thay đổi nhiều ý tưởng trước đó. Gorbachev đã cố gắng cải thiện các phương pháp quản trị chính trị và kinh tế, thực hiện cải cách và chính sách mở trong nước và thanh lý những sai lầm lịch sử. Ông đã cố gắng xây dựng "chủ nghĩa xã hội dân chủ, nhân đạo" ở Liên Xô. Nhưng mặt khác, những cải cách của ông đã có những hậu quả không lường trước được. Với sự phân cấp của quyền lực trung ương, các nhà lãnh đạo của các nước cộng hòa thành viên bắt đầu tìm kiếm quyền tự chủ lớn hơn, tiến tới ly khai khỏi chính phủ trung ương. Với sự lan rộng của "sự cởi mở", các vấn đề lịch sử và mâu thuẫn sắc tộc của CPSU đã bị phơi bày, dẫn đến việc họ mất đi sự ủng hộ ở các nước cộng hòa thành viên. Đặc biệt vào năm 1989, sự tích lũy chính trị và kinh tế của chủ nghĩa cộng sản đã nổ ra. Đảng Cộng sản và các mục tiêu chính trị của nó ngày càng không được ưa chuộng ở các nước Đông Âu, và các nhàn nước cộng sản chủ nghĩa ở các nước Đông Âu sụp đổ. Các chính phủ của Các nước cộng hòa của Liên bang Xô viết cũng đã học theo các nước Đông Âu với ý định tách ra độc lập khỏi Liên Xô.
Vào ngày 19 tháng 8 năm 1991, những người bảo thủ trong CPSU đã phát động một cuộc đảo chính không thành công, cố gắng lấy lại quyền lực của các nước cộng hòa và chấm dứt các cải cách kinh tế không thành công. Tuy nhiên, dưới sự phản đối của người dân, đa số thành viên của Đảng Cộng sản Liên Xô và cuộc nổi dậy của một số quân đội, cuộc đảo chính chỉ mới ba ngày và tuyên bố thất bại. Vào ngày 24 tháng 8, Ukraina nước cộng hòa lớn thứ hai của Liên Xô, tuyên bố độc lập. Cộng hòa bắt đầu tan rã. Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã ra lệnh tuyên bố Đảng Cộng sản Liên Xô là một tổ chức bất hợp pháp và hạn chế các hoạt động của nó tại Liên Xô. Vào cuối năm 1991, ông đã ký "Thỏa thuận ngày Belove" với Chủ tịch Xô viết tối cao Belarus và tổng thống Ukraina Leonid Kravchuk tại thủ đô của Minsk và thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập để thay thế Liên Xô với khuôn khổ tương tự như liên bang. Các quốc gia gia nhập khác của Liên Xô đã trả lời và rời khỏi Liên Xô. Liên Xô chỉ tồn tại trên danh nghĩa vào thời điểm này. Vào ngày 25 tháng 12 năm 1991, Gorbachev tuyên bố từ chức và trao lại quyền lực quốc gia cho Yeltsin. Liên Xô ngừng tồn tại như một quốc gia có chủ quyền chính thức chấm dứt tồn tại.
|
Lê Minh Hương (3 tháng 10 năm 1936 - 23 tháng 5 năm 2004) là Thượng tướng Công an nhân dân Việt Nam. Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam (1996-2000) - Trước năm 1998 là Bộ Nội vụ.
Lê Minh Hương sinh ngày 3 tháng 10 năm 1936, tại xã Sơn Tân, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Từ tháng 10 năm 1948 đến tháng 12 năm 1950, ông làm liên lạc đơn vị 75 bộ đội địa phương Hà Tĩnh. Đến tháng 1 năm 1951, chuyển sang công tác hành chính tại thị xã Hà Tĩnh. Sau năm 1954, ông là Ủy viên Thường trực Ủy ban nhân dân thị xã Hà Tĩnh.
Từ tháng 4 năm 1956, ông làm Trinh sát chính trị Công an tỉnh Hà Tĩnh và Công an Liên khu IV. Đến tháng 11 năm 1962, ông là học viên lớp đào tạo đặc biệt về nghiệp vụ an ninh tại Trường Công an Trung ương (nay là Học viện An ninh Nhân dân).
Từ tháng 9 năm 1965 đến năm 1978, ông được biệt phái công tác tại Bộ Ngoại giao.
Từ năm 1979, ông công tác tại Bộ Nội vụ giữ các chức vụ: Phó phòng; Cục phó A13 (đến tháng 6 năm 1981); Cục trưởng Cục A13 (đến tháng 2 năm 1988); Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, kiêm Cục trưởng Cục A13 (đến tháng 10 năm 1988); Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục 5 (đến tháng 6 năm 1989).
Từ tháng 1 năm 1990, ông được giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục 5, Bộ Nội vụ; được phong quân hàm Thiếu tướng tháng 8 năm 1990.
Từ tháng 2 năm 1991, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương; đến tháng 6 năm 1991, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa VII, VIII, IX. Ông được phong quân hàm Trung tướng tháng 12 năm 1992.
Tháng 6 năm 1996, ông được bầu vào Bộ Chính trị các khóa VIII, IX, giữ chức Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nội vụ (từ tháng 5 năm 1998 gọi là Bộ Công an) và giữ chức vụ này đến năm 2002. Ông được phong quân hàm Thượng tướng tháng 1 năm 1998.
Ông là Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, Ủy viên Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội khóa IX; Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.
Ông qua đời ngày 23 tháng 5 năm 2004 tại Hà Nội, khi ông vẫn đang đương nhiệm Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa IX (2001 - 2005). Quá trình truy cứu trách nhiệm vụ Năm Cam đối với ông bị dừng trong lúc thời gian lâm bệnh.
Ngày 5/3/2008, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam ký Quyết định số 245/QĐ-CTN truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho ông và chiều 30/7, lễ truy tặng đã được tổ chức trọng thể tại Bộ Công an, Hà Nội.
|
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.