text
stringlengths
82
354k
Dương Thu Hương (sinh năm 1947 tại Thái Bình) là một nữ văn sĩ người Việt Nam, sống ở Paris, Pháp từ năm 2006. Lúc 8 tuổi trong thời kỳ Cải cách ruộng đất, bà đã đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến phong trào chia đất cho nông dân và tố cáo địa chủ. Năm 1967, bà tình nguyện tham gia Thanh niên xung phong, phong trào Tiếng hát át tiếng bom, phục vụ trong một đoàn văn công tại một trong những khu vực chiến tranh ác liệt nhất lúc đó: Bình Trị Thiên. Sau chiến tranh, trở ra Bắc, bà cầm bút viết văn và công tác trong ngành điện ảnh. Bà tham dự khóa đầu tiên Trường viết văn Nguyễn Du (1980). Các tác phẩm của bà nhanh chóng nổi tiếng và nằm trong số những tác phẩm được nhiều người đọc lúc đó trong phong trào Cởi Mở. Bà từng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng đã bị khai trừ khỏi Đảng vào năm 1989 do không tuân thủ điều lệ Đảng và phê phán thể chế hiện hành. Bà viết nhiều tác phẩm như "Bên kia bờ ảo vọng", "Những thiên đường mù"… có nội dung chỉ trích hệ thống chính trị Việt Nam. Bà bị bắt giam năm 1991 vì kêu gọi cải tổ dân chủ và chỉ được cho sang Pháp nhận Huân chương Văn hóa Nghệ thuật "Chevalier des Arts et des Lettres" được Bộ trưởng Bộ Văn hóa Pháp, ông Jacques Toubon, trao tặng, sau khi có sự can thiệp của phu nhân tổng thống Pháp hồi đó, bà Danielle Mitterrand năm 1994. , Các tác phẩm của bà hiện nay[] không được phép lưu hành tại Việt Nam vì lý do chính trị. Bà đã từng phải vào tù do viết sách và phát biểu phê phán việc áp dụng chủ nghĩa Marx-Lenin, phản đối sự độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có 6 tác phẩm (truyện) của bà được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức. Với cuốn "Chốn vắng", bà được truyền hình Pháp TF1 phỏng vấn. Đây được xem là cuốn tiểu thuyết tốt nhất của bà, nằm trong danh sách đề cử giải Femina và nhận Giải thưởng của tạp chí Elle ("Grand prix des lectrices de Elle") 2007. Trong tháng 4 năm 2006, bà được mời sang Paris (Pháp) và sau đó sang New York (Mỹ) dự một hội nghị Văn bút Quốc tế. Giữa năm 2008, bốn tác phẩm của bà đã được đưa vào bộ sách Bouquins ở Pháp: "Bên kia bờ ảo vọng", "Những thiên đường mù", "Tiểu thuyết vô đề" và "Chốn vắng". Sau khi kết thúc chuyến đi, bà xin lưu trú tại Pháp. Năm 2009, Dương Thu Hương được Giáo sư Joseph Pivato, dạy môn văn chương Anh ngữ tại đại học Athabasca ở Alberta, Canada đề cử vào danh sách thẩm xét cho giải Nobel văn chương của năm, tuy nhiên đề cử này không vượt qua được vòng thẩm xét của ủy ban Nobel. Tháng 4 năm 2023, Ban giám khảo Giải Cino Del Duca quyết định trao giải thưởng này cho nhà văn Dương Thu Hương – tác giả cuốn “Chốn Vắng” (Terre des oublies). Giải thưởng này của Pháp được trao cho các nhà văn có tác phẩm và những thành tựu mang thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại. Khi trả lời phỏng vấn tờ Việt Tide, Dương Thu Hương nói rằng bà đã sớm có tư tưởng chống Đảng Cộng sản Việt Nam. Bà từng được mời vào Đảng hồi thanh niên nhưng từ chối vì "không thể xếp tôi đứng vào hàng ngũ với những người mà tôi khinh bỉ". Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 bà đã “ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết, một cảm giác vô cùng hoang mang và cay đắng”, “Tôi tưởng kẻ thù của mình phải mắt xanh mũi lõ và da trắng… Năm 69, tôi thấy họ là người mũi tẹt da vàng tóc đen.” Dương Thu Hương cho rằng dân Việt Nam đã bị đẩy vào một cuộc chiến vô nghĩa vì luôn luôn mang tâm thức phải “chiến đấu chống ngoại xâm”, một hệ quả từ ngàn năm chống Tàu và trăm năm chống Tây.
Fyodor Matveyevich Apraksin (tiếng Nga: Фёдор Матвеевич Апраксин), dưới triều Pyotr Đại đế là Đại tướng, Đô đốc Hải quân người Nga đầu tiên, Tổng đốc Azov, Hiệp sĩ Huân chương Sankt-Andrew, Bá tước, Ủy viên Hội đồng Cơ mật, Thượng Nghị sĩ; và dưới triều Nữ hoàng Yekaterina I là Ủy viên Hội đồng Cơ mật Tối cao. Apraksin là người chân chất, hăng hái, rất hãnh diện, không thích bị ai kể cả Sa hoàng sỉ nhục. Apraksin phục vụ Pyotr Đại đế qua nhiều cương vị, nhưng ông thích nhất là phục vụ trong hải quân – một điều hiếm thấy trong số quần thần của Pyotr. Apraksin luôn giữ mối quan hệ với Pyotr dựa trên sự pha trộn giữa tự trọng và cẩn thận. Trong triều đình, một khi đã xác định điều gì là đúng, ông vẫn tiếp tục biện luận chống lại Sa hoàng cho đến khi quân vương cất tiếng đe dọa ông mới thôi. Nhưng trên mặt biển, Apraksin không muốn nhân nhượng Pyotr, luôn làm trái lời đến mức trêu tức quân vương, tuy sau cùng ông thưa bẩm với Pyotr: "Trong khi với tư cách Đô đốc mà biện luận với Hoàng thượng về sự hiểu biết của một tư lệnh hạm đội, tôi sẽ không nhân nhượng; nhưng nếu Ngài lấy tư cách Sa hoàng để sai khiến thì tôi sẽ biết nhiệm vụ của mình." Có lúc Sa hoàng hạ lệnh đưa một nhóm tu sĩ trẻ ở Moskva vào Học viện Hải quân ở Sankt-Peterburg, rồi bắt họ đi đóng cọc trong công cuộc đào Kênh Moika. Apraksin cảm thấy bất mãn vì danh dự của giới quý tộc bị xúc phạm, đi đến Moika, cởi ra bộ quân phục đô đốc cùng với Huân chương St Andrew treo lên một cái cột, rồi làm việc đóng cọc cùng với nhóm trai trẻ. Pyotr Đại đế đi đến và ngạc nhiên hỏi: "Làm thế nào mà một đại tướng-đô đốc như ông lại đi đóng cọc?" Apraksin trả lời: "Thưa Hoàng thượng, những lao công này là cháu họ, cháu nội ngoại của tôi. Thế thì tôi là ai và tôi có quyền gì mà được hưởng đặc ân?" Khi vua Thụy Điển Karl XII dẫn quân bắt đầu tiến công vào đất Nga trong Đại chiến Bắc Âu, Apraksin chỉ huy 24.500 quân trấn giữ Thành phố Sankt-Peterburg. Tướng Lybecker của Thụy Điển mang quân vượt qua Sông Neva phía thượng nguồn của Sankt-Peterburg định uy hiếp thành phố này. Tuy nhiên, ở đây ông này nhận được tin sai lạc do Apraksin gài vào rằng Sankt-Peterburg được bố phòng quá chắc chắn, nên thay vì tấn công thành phố, ông dẫn quân đi một đường vòng về phía nam và tây qua vùng đồng ruộng của Ingria. Nga áp dụng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến, khiến cho chẳng bao lâu quân Thụy Điển cạn lương thực, và họ phải giết ngựa để ăn thịt. Không có đại pháo, Lybecker không thể công hãm các thành phố, và sau khi lang thang khắp tỉnh Ingria mà không làm được việc gì, cuối cùng ông dẫn quân đến bờ biển gần Narva, nơi có một đội thuyền Thụy Điển có thể tiếp nhận người nhưng không đủ sức chở ngựa. Sáu ngàn con ngựa bị giết hoặc bị cắt gân chân để không cho quân Nga sử dụng, và đoàn thuyền Thụy Điển về đến Vyborg ở Phần Lan. Lực lượng của Lybecker đã đi một vòng quanh thành phố Sankt-Peterburg mà không đạt được gì, còn bị mất 3.000 quân. Đó là nhờ công của Apraksin. Mùa xuân 1710, sau chiến thắng vang dội của Nga ở trận Poltava. Apraksin được phái dẫn 18.000 quân công phá Vyborg. Thị trấn này là một pháo đài quan trọng và là điểm tập kết cho quân Thụy Điển để đe dọa Sankt-Peterburg. Ngày 13/6/1710, thị trấn Vyborg với 154 sĩ quan và 3.726 quân trú phòng Thụy Điển rơi vào tay Apraksin. Mùa xuân 1713, Apraksin được cử làm Tư lệnh chiến dịch ở Biển Baltic, dẫn đến chiến thắng quan trọng đầu tiên của hải quân Nga trong trận hải chiến Hangö. Với đội thuyền ga-lê đổ bộ binh sĩ từ điểm này sang điểm khác, quân Nga tuần tự tiến công dọc bờ biển Phần Lan hướng về phía tây. Mỗi khi Tướng Thụy Điển Lybecker dàn lực lượng của ông ở một vị trí phòng thủ cẩn mật nào đó, thuyền ga-lê Nga chi việc đi vòng qua ông, chèo vào một bến cảng ở nơi khác rồi đổ lên đội quân còn sung sức vì không phải đi bộ, cùng với pháo và hàng hậu cần. Lybecker không thể làm gì khác hơn là phải rút lui. Đầu tháng 5, hàng chục tàu Nga chở đầy binh sĩ xuất hiện ngoài khơi Helsingfors (hiện nay là Helsinki, thủ đô của Phần Lan). Đối mặt với hàng ngàn quân Nga thình lình tiến vào từ ngoài biển, quân trú phòng chỉ có thể đốt rụi hàng hậu cần của họ mà rút lui. Đến mùa hè 1713, quân Nga đã chinh phục toàn miền nam Phần Lan. Nhưng trên mặt biển, Thụy Điển vẫn giữ ưu thế: chiến hạm của họ có thể trụ lại và sẵn sàng sử dụng đại pháo bắn tan tác thuyền ga-lê của Nga. Thuyền ga-lê chỉ có cơ hội nếu dụ chiến hạm Thụy Điển vào gần bờ rồi xông ra đánh khi lặng gió. Đây là trường hợp mà Pyotr lợi dụng trong trận hải chiến Hangö vào tháng 8/1714. Khi chuẩn bị cho chiến dịch hải quân năm 1714, Pyotr Đại đế đã gia tăng gần gấp đôi hạm đội Baltic. Tháng Năm, 20 chiến hạm và gần 200 thuyền ga-lê đã sẵn sàng. Ngày 22/6/1714, 100 thuyền ga-lê dưới quyền chỉ huy của người Venice và Hy Lạp có kinh nghiệm ở Biển Địa trung hải, chèo đi Phần Lan với Apraksin làm tư lệnh và Pyotr làm tư lệnh phó. Trong nhiều tuần, hạm đội Nga không dám tiến quá Mũi Hangö kẻo chạm trán với hạm đội Thụy Điển gồm 16 chiến hạm, 5 tàu khu trục và một số thuyền nhỏ hơn dưới quyền Đô đốc Wattrang, lãnh nhiệm vụ ngăn chặn sự xâm nhập đến Đảo Aland và bờ biển Thụy Điển. Trong nhiều tuần, hai bên đều ở vào thế bế tắc. Wattrang không muốn giao chiến gần bờ, và thuyền ga-lê của Nga không muốn hứng chịu đạn pháo của Wattrang ngoài khơi, nên neo lại cách Hangö 10 kí-lô-mét về hướng đông. Cuối cùng, ngày 4/8, chiến hạm của Wattrang tiến đến, và khi thấy đông đảo thuyền Nga, trở ra biển khơi. Thuyền ga-lê của Nga vội đuổi theo, hy vọng bắt kịp vài chiến hạm địch khi gió ngưng thổi. Nhưng phần lớn chiến hạm Thụy Điển chạy thoát được. Sáng hôm sau, điều mà phía Nga chờ đợi cuối cùng đã đến: gió ngừng thổi, biển lặng, và trên mặt nước phẳng lì như gương là một phân đội chiến hạm Thụy Điển dưới quyền của Đô đốc Ehrenskjold. Lúc bình minh, 20 thuyền ga-lê Nga vội rời vùng biển cạn dọc bờ, tiến đến đội chiến hạm Thụy Điển đang bất động. Tối hôm ấy, lực lượng của Apraksin gồm trên 60 thuyền ga-lê luồn vào giữa hạm đội Thụy Điển và bờ biển rồi tiến ra khơi giữa hai phân đội của Wattrang và Ehrenskjold. Để ẩn náu, Ehrenskjold rút phân đội của ông vào một vịnh hẹp, các chiến hạm nối đuôi nhau dàn thành hàng ngang từ bờ này sang bờ kia. Ngày hôm sau, với chiến hạm Thụy Điển bị cô lập, Apraksin sẵn sàng tấn công. Đầu tiên, ông phái người lên soái hạm của Thụy Điển để ra điều kiện cho Ehrenskjold đầu hàng trong danh dự. Ehrenskjold từ chối, và cuộc chiến bắt đầu. Đấy là cuộc chiến kỳ lạ giữa loại tàu chiến cổ xưa và loại hiện đại. Thụy Điển vượt trội về hỏa lực đại pháo và kinh nghiệm chiến trường của thủy thủ đoàn, nhưng Nga chiếm ưu thế về số lượng tàu và quân số. Thuyền ga-lê có tính cơ động hơn, trên boong đầy lính bộ binh, đổ xô đến, lúc đầu hứng chịu tổn thất vì đạn pháo, áp sát rồi đổ quân qua chiến hạm Thụy Điển. Thật ra, Apraksin chỉ huy giống như tướng lục quân hơn là đô đốc hải quân. Hai giờ chiều 6/8/1714, ông phát động đợt đầu tiên gồm 35 thuyền ga-lê. Bên Thụy Điển chờ cho họ đến gần rồi khai hỏa đạn pháo khiến cho thuyền Nga phải lui về. Đợt tấn công thứ hai gồm 85 thuyền ga-lê cũng bị đẩy lui. Rồi Apraksin ra lệnh toàn hạm đội 95 thuyền Nga đánh tổng lực vào bên trái của hàng các chiến hạm nối đuôi nhau của Thụy Điển; quân Nga tràn lên, một chiến hạm Thụy Điển bị lật vì lượng người quá lớn trên boong. Khi hàng chiến hạm Thụy Điển đã bị một lỗ hổng, thuyền Nga chèo qua rồi rẽ qua tấn công hai bên, lần lượt đánh hạ từ chiến hạm này qua chiến hạm khác. Cuộc chiến kéo dài ba giờ đồng hồ với tổn thất nặng cho mỗi bên. Cuối cùng, hạm đội Thụy Điển bị khuất phục, 361 người tử trận và trên 900 bị bắt làm tù binh. Ehrenskjold cũng bị bắt, cùng với soái hạm của ông và 9 thuyền nhỏ khác. Hangö là trận thắng đầu tiên của hải quân Nga, và Pyotr luôn xem đấy là sự kiện đã minh chứng cho những năm gian khổ gây dựng nên hạm đội, và là chiến thắng có tầm quan trọng ngang với Trận Poltava. Năm 1719, Nga mở chiến dịch tấn công chính quốc Thụy Điển để thúc ép đàm phán chấm dứt chiến tranh. Chiến thuật cũng giống như khi đánh Phần Lan lúc trước: sử dụng thuyền ga-lê chở bộ binh đến vùng biển cạn, nơi mà chiến hạm không thể đến được. Apraksin là tư lệnh của hạm đội Nga gồm 180 thuyền ga-lê và 300 thuyền đáy bằng, được 28 chiến hạm hộ tống. Mùa hè năm ấy, hạm đội Nga đạt thắng lợi. Ngày 4/6, 7 chiến hạm của Nga chận đánh 3 tàu nhỏ hơn của Thụy Điển và bắt giữ cả ba tàu này. Dù có sự hiện diện của hạm đội Anh gồm 16 chiến hạm, Pyotr dẫn một số chiến hạm lớn nhất của Nga hợp cùng hạm đội của Apraksin với 30.000 quân đánh phá vùng bờ biển phía đông của Thụy Điển trong 5 tuần. Apraksin phái một lực lượng Cossack tiến đánh Stockholm, nhưng họ bị chặn lại. Một lực lượng hải quân Thụy Điển gồm 4 chiến hạm và 9 tàu khu trục trú đóng trong cảng Stockholm khiến thuyền ga-lê của Nga không thể tiến vào. Apraksin chia lực lượng tàu Nga thành từng nhóm nhỏ đánh phá dọc bờ biển phía Nam, đốt phá thị trấn, nhà máy và xưởng lọc sắt, và bắt giữ một số tàu của Thụy Điển chở quặng sắt rồi mang số tàu này về Nga. Trong một xưởng đúc đại bác, quân Nga tịch thu được 300 khẩu pháo chưa kịp gửi đi cho quân đội Thụy Điển. Thêm một cuộc tấn công của Nga vào Stockholm, nhưng lại bị đánh bật ra. Cùng lúc, một lực lượng khác của Nga đánh phá và gây tổn thất tương tự cho vùng bờ biển của Thụy Điển phía Bắc, phá hủy nhà máy, kho tàng, và đốt phá 3 thị trấn. Quân Nga tịch thu và mang về một lượng lớn quặng sắt và nông sản, và ném xuống biển hoặc đốt phần không thể mang theo. Mùa hè 1720, trong khi hạm đội Anh được phái đến với danh nghĩa dàn xếp hòa bình đang biểu dương lực lượng ngoài khơi, thuyền ga-lê của Apraksin đi vòng và một lần nữa tiến đánh bờ biển Thụy Điển. Một lực lượng gồm 8.000 quân kể cả Cossack đổ bộ và xâm nhập vào đất liền đến 45 kí-lô-mét mà không gặp sức kháng cự nào, thỏa sức đốt phá thị trấn và làng mạc Thụy Điển. Một phân đội gồm 2 chiến hạm và 4 tàu khu trục của Thụy Điển cố đuổi kịp 61 thuyền ga-lê của Nga, nhưng cuối cùng cả bốn tàu khu trục đều vướng đá ngầm và bị bắt. Đầu năm 1715, có thư nặc danh tố cáo một số cận thần của Pyotr Đại đế kể cả Apraksin liên can đến tham nhũng, và một cuộc điều tra rộng lớn được thực hiện. Apraksin không bị trừng phạt do công trạng trong quá khứ và cũng vì lý lẽ biện hộ là ông thường đi chinh chiến xa nên không biết gì về những việc làm của thuộc hạ. Đến năm 1719, Apraksin cùng với Aleksandr Danilovich Menshikov bị kết tội biển thủ, bị xử tịch thu mọi đất phong và tước vị, nhận lệnh phải trả lại thanh gươm và bị quản thúc tại gia để chờ Pyotr phê duyệt bản án. Pyotr thoạt đầu ký duyệt, rồi ngày sau trong sự ngạc nhiên của nhiều người, hủy bỏ bản án vì xét công trạng trong quá khứ. Cả hai được phục hồi mọi tước vị và tài sản, chỉ phải trả tiền phạt nặng. Sa hoàng không thể cai trị mà thiếu hai người. Đưa Ekaterina lên ngôi. Ngày 23 tháng 1 năm 1725, khi bệnh tình trở nặng và Pyotr Đại đế nhận Phép thánh Cuối cùng, Apraksin là một trong số 3 cận thần được tin tưởng nhất được triệu đến giường bệnh để nhận những lời dặn dò cuối cùng của Pyotr. Trong khi Pyotr Đại đế đang hấp hối, các cận thần của ông chuẩn bị chọn người lên kế vị. Nhóm cận thần gốc gác là dân thường đi lên cảm thấy sẽ bị mất mát nhiều nếu giới quý tộc cũ nắm quyền trở lại, nên họ cùng nhau quyết định ủng hộ Ekaterina. Biết rõ rằng các lữ đoàn Cảnh vệ sẽ có tiếng nói cuối cùng, họ đã điều các lữ đoàn này vào đóng quanh hoàng cung. Nơi đây, Cảnh vệ được nhắc nhở rằng Ekaterina đã đi theo họ và người chồng trong các chiến dịch quân sự. Mọi khoản tiền lương còn thiếu Cảnh vệ được thanh toán nhanh chóng trên danh nghĩa Nữ hoàng đế. Các lữ đoàn Cảnh vệ đều trung thành với Pyotr Đại đế, và Ekaterina được họ yêu mến, vì thế với những lời dẫn dụ và cách đãi ngộ họ sẵn lòng ủng hộ. Ngay cả với những bước thận trọng như thế, việc lên ngôi của Ekaterina vốn trước đó là một cô gái quê gốc Litva, người tình và cuối cùng người vợ thứ hai của Pyotr, không phải là chắc chắn. Một ứng viên khác là Đại vương công Pyotr Alekseevich, con trai của Hoàng thái tử Aleksei. Theo truyền thống của Nga, với tư cách là cháu nội của quân vương tạ thế, anh này có quyền trực tiếp thừa kế ngai vàng, và đa số trong giới quý tộc, tăng lữ cùng dân thường đều xem anh là người kế vị hợp pháp. Cuộc chạm trán xảy ra vào đêm 27 ngày 1 năm 1725, chỉ vài giờ trước khi Pyotr Đại đế qua đời, khi Thượng viện và những nhà lãnh đạo cấp cao của đất nước nhóm họp để quyết định việc kế vị. Trong khi họ đang thảo luận, một số sĩ quan của hai Lữ đoàn Cảnh vệ Preobrazhenskoe và Semyonovsky, trước đó đã lẻn vào phòng họp, lên tiếng ủng hộ Ekaterina. Cùng lúc, một hồi trống nổi lên phía dưới khiến các chính khách bước ra cửa sổ để nhìn xuống. Họ thấy các đội ngũ của Cảnh vệ đang dàn chung quanh hoàng cung. Hoàng thân Buturlin, chỉ huy doanh trại Sankt-Peterburg và là một thành viên của phe quý tộc, trở nên giận dữ và hỏi tại sao quân sĩ tụ tập ở đây mà không có lệnh của ông. Vị tư lệnh Cảnh vệ cứng cỏi đáp: "Thưa Ngài, chúng tôi làm theo mệnh lệnh của phu nhân quân vương, nữ hoàng Ekaterina, mà Ngài, tôi và tất cả thần dân trung thành đều phải tuân lệnh lập tức và vô điều kiện." Các binh sĩ, nhiều người đẫm nước mắt, hô lên: "Cha chúng ta đã chết, nhưng mẹ chúng ta vẫn còn sống." Trong hoàn cảnh như thế, Apraksin cất lời đề nghị tôn Ekaterina là Quân vương chuyên chế với mọi quyền hạn như vị Hoàng đế phu quân. Lời đề nghị được chấp thuận nhanh chóng. Sáng ngày sau, Ekaterina bước vào. Bà vừa cất tiếng nức nở rằng mình bây giờ là "quả phụ và kẻ mồ côi", thì Apraksin quỳ xuống trước mặt bà và tuyên cáo quyết định của Thượng viện. Mọi người trong gian phòng đều tung hô, và binh sĩ Cảnh vệ bên ngoài phụ họa theo. Một bản tuyên cáo ngày hôm đó thông báo cho đế quốc Nga và cả thế giới biết rằng vị quân vương mới là một phụ nữ, Nữ hoàng Yekaterina I. Một năm sau khi Pyotr Đại đế qua đời, Hội đồng Cơ mật Tối cao được thành lập gồm sáu thành viên (trong đó có Apraksin), có quyền lực gần như là quân vương, kể cả quyền ban hành nghị định.
The Black Eyed Peas The Black Eyed Peas là một ban nhạc hip hop, rap, pop Mỹ đến từ Los Angeles. Ban nhạc hiện gồm các thành viên: , , Taboo và Fergie. Từ thành công của album "Elephunk" năm 2003, họ bắt đầu có được sự nổi tiếng và thành công quốc tế trong thể loại pop/dance. Nhóm bán được gần 18 triệu album và 9 triệu đĩa đơn trên toàn cầu. Nhóm từng tham gia biểu diễn mở màn cho Justified/Stripped Tour của Justin Timberlake và Christina Aguilera, sau đó là Stripped World Tour của Aguilera. Danh sách đĩa nhạc.
Olympic Tin học Quốc tế Olympic Tin học Quốc tế (, viết tắt là IOI) là một kỳ thi tin học được tổ chức hàng năm dành cho học sinh trung học. Kỳ thi IOI đầu tiên được tổ chức vào năm 1989. Kỳ thi gồm hai ngày lập trình trên máy vi tính, giải quyết các bài toán về lĩnh vực thuật toán. Học sinh dự thi theo thể thức cá nhân, mỗi nước có thể có đến bốn thành viên tham gia. Học sinh tham dự giải được lựa chọn thông qua các kỳ thi tin học quốc gia. Ví dụ, đội tuyển Việt Nam được lựa chọn dựa trên kết quả kỳ thi chọn đội tuyển quốc gia thường được tổ chức vào tháng năm hàng năm. Cấu trúc của kỳ thi. Vào mỗi ngày thi, học sinh thường phải giải quyết ba bài toán trong vòng năm giờ. Mỗi học sinh làm việc một mình trên máy vi tính và không được phép nhận sự trợ giúp nào khác. Thông thường để giải quyết một bài toán, thí sinh phải viết một chương trình máy tính bằng bất cứ ngôn ngữ lập trình nào và nộp trước khi thời hạn năm giờ kết thúc. Sau đó, chương trình sẽ được chấm bằng cách cho chạy thử với các bộ dữ liệu (test data) được giữ bí mật, bao gồm nhiều test (thông thường 10 hoặc 20). Thí sinh được chấm điểm cho mỗi test mà chương trình chạy đúng, trong giới hạn bộ nhớ và thời gian cho phép. Có một số trường hợp, chương trình của thí sinh phải tương tác với một thư viện được giữ bí mật. Những bài toán loại này cho phép dữ liệu nhập vào không cần xác định trước, mà phụ thuộc vào sự tương tác của chương trình thí sinh, ví dụ trong các bài toán về trò chơi. Còn một loại bài toán khác trong đó thí sinh sẽ được phép biết các bộ dữ liệu vào (input) trong thời gian năm giờ thi. Với các bài toán loại này, thí sinh không cần nộp chương trình mà sẽ nộp các bộ kết quả (output) tương ứng. Thí sinh có thể tạo ra các file kết quả bằng bất kỳ cách nào, bằng cách viết chương trình, bằng tay, hoặc kết hợp cả hai phương pháp này. Điểm của mỗi thí sinh là điểm tổng cộng của các bài toán trong hai ngày thi. Trong lễ trao giải, các thí sinh được trao huy chương tùy theo điểm tổng tương đối. 50% thí sinh dẫn đầu (tính trung bình hai thí sinh mỗi nước) sẽ được trao huy chương, sao cho tỉ lệ giữa vàng: bạc: đồng: không có huy chương xấp xỉ 1:2:3:6 (như vậy cứ khoảng 12 thí sinh sẽ có một huy chương vàng).
Trại súc vật (tên tiếng Anh là Animal Farm) là một tiểu thuyết ngụ ngôn của George Orwell, xuất bản lần đầu tiên ở Anh vào ngày 17 tháng 8 năm 1945. Cuốn sách kể về một nhóm động vật trang trại nổi loạn chống lại người chủ của chúng, hy vọng tạo ra một xã hội nơi động vật có thể bình đẳng, tự do và hạnh phúc. Cuối cùng, đời sống trong trang trại lặp lại tình trạng tồi tệ như trước đây, dưới chế độ độc tài của một con lợn tên Napoleon. Trong bài tiểu luận" Tại sao tôi viết "(1946), Orwell đã viết rằng "Animal Farm" là cuốn sách đầu tiên mà ông cố gắng, với ý thức đầy đủ "để hợp nhất mục đích chính trị và mục đích nghệ thuật với nhau". Một số nguồn phuơng Tây cho rằng tác phẩm là ẩn dụ thời kỳ Stalin của Liên Xô. Orwell là một nhà xã hội chủ nghĩa dân chủ, ông ủng hộ chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ trích Joseph Stalin và chủ nghĩa Stalin, một thái độ được định hình chủ trong Nội chiến Tây Ban Nha. (""), Tuy nhiên, lúc khác Orwell đã nói rằng tác phẩm của ông không ám chỉ bất cứ quốc gia hoặc hệ thống chính trị cụ thể nào. Các sự kiện và nhân vật trong truyện có thể xảy ra ở bất cứ một quốc gia nào, trong bất cứ một giai đoạn nào trong quá khứ; bởi sự ham muốn quyền lực, tham nhũng hoặc sự khờ dại là đặc điểm chung của phần lớn con người trong suốt các giai đoạn lịch sử tại mọi quốc gia (ví dụ như nhân vật chính là chú lợn Napoleon được nhại chính xác theo tên Hoàng đế Pháp Napoleon, và nhiều sự kiện trong truyện rõ ràng là tương đồng với Cách mạng Pháp, câu tuyên ngôn “Mọi con vật đều bình đẳng” cũng là nhại chính xác theo Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp. Hoặc Bảy điều răn trong nông trại, chú quạ Moses và bầy cừu là sự nhại lại chính xác Mười điều răn, tên nhà tiên tri Moses và các con chiên của Cơ Đốc giáo). Tiêu đề ban đầu là "Animal Farm: A Fairy Story," nhưng các nhà xuất bản Hoa Kỳ đã bỏ phụ đề khi nó được xuất bản vào năm 1946, và chỉ một bản dịch duy nhất trong suốt cuộc đời của Orwell được giữ lại. Các biến thể tiêu đề khác bao gồm phụ đề như "A Satire" và "A Satire đương đại". Đối với bản dịch tiếng Pháp, trong quá trình kiểm duyệt, tên nhân vật chính (chú lợn Napoleon) được thay đổi (vì nó ám chỉ rõ ràng đến Hoàng đế Pháp Napoleon), trong khi một số tình tiết và tiêu đề được nhà xuất bản đề nghị thay đổi để hướng truyện ám chỉ đến Liên Xô (đối thủ của phương Tây trong Chiến tranh Lạnh), và thế là Orwell đề xuất tiêu đề ', viết tắt là URSA, từ tiếng Latin có nghĩa là "gấu", một biểu tượng của nước Nga. Nó cũng chơi chữ theo tên tiếng Pháp của Liên Xô, '. Orwell đã viết cuốn sách trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 1943 đến tháng 2 năm 1944, khi Vương quốc Anh đang ở trong liên minh thời chiến với Liên Xô chống lại Đức Quốc Xã, và giới trí thức Anh lúc đó rất tôn trọng Stalin, một hiện tượng mà Orwell không thích. Bản thảo ban đầu đã bị một số nhà xuất bản của Anh và Mỹ từ chối, bao gồm một trong những bản của Orwell, Victor Gollancz, đã trì hoãn việc xuất bản. Nó trở thành một thành công thương mại lớn khi xuất hiện, một phần vì Anh quốc đã từ bỏ quan hệ đồng minh và coi Liên Xô là đối thủ trong Chiến tranh Lạnh, và người Anh đã sử dụng tác phẩm này như một tài liệu tuyên truyền chống Liên Xô. Sau hơn 50 năm từ khi xuất bản, tác phẩm đã được dịch ra 68 thứ tiếng trên thế giới kể cả tiếng Telugu, tiếng Ba Tư, tiếng Iceland và tiếng Ukraina và thường xuyên được tái bản. "Tạp chí Time" đã chọn cuốn sách này là một trong 100 tiểu thuyết hay nhất bằng tiếng Anh (1923 tới 2005);. Nó cũng giành một Giải Hugo quá khứ năm 1996. Tiểu thuyết không chỉ đề cập tới sự tham nhũng bởi các lãnh đạo bị tha hóa mà còn cả việc làm sao sự đồi bại, dửng dưng, lãnh đạm, ham danh lợi và thiển cận của mỗi cá nhân có thể tiêu diệt bất kỳ khả năng nào của một xã hội mới tốt đẹp và bình đẳng hơn. Tuy tiểu thuyết này thể hiện giới lãnh đạo tham nhũng đã làm lu mờ mục tiêu cao đẹp của cách mạng, nó cũng cho thấy nguy cơ để sự dửng dưng và lãnh đạm, dân trí thấp kém của những người dân bên trong một cuộc cách mạng có thể dẫn tới sự thất bại của nhà nước mới nếu sự chuyển tiếp êm đẹp sang một chính phủ với những người xứng đáng không được diễn ra. Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm. Thủ lĩnh (Old Major), chú lợn đực già tại Trại Manor (hay "Willingdon Đẹp đẽ" như nó tự gọi mỗi khi xuất hiện) kêu gọi các loài vật khác trong Trại tới một cuộc họp, tại đó nó so sánh con người với những kẻ ăn bám và dạy các con vật một bài hát cách mạng, "Beasts of England" (Những súc vật của nước Anh). Khi Thủ lĩnh chết ba ngày sau đó, hai con lợn trẻ, Snowball và Napoleon, nắm quyền chỉ huy và biến giấc mơ của Thủ lĩnh thành một triết lý đầy đủ. Các con vật nổi dậy và đuổi Ông Jones khỏi trang trại, đổi tên từ "Trại Manor" thành "Trại súc vật." Bảy điều răn của Chủ nghĩa súc vật được viết trên tường của một nhà kho để tất cả mọi con vật có thể đọc được. Điều thứ 7 là quan trọng nhất, "Mọi con vật đều bình đẳng." Tất cả các con vật đều phải làm việc, nhưng chú ngựa thồ, Boxer, làm việc nhiều hơn những con khác và nhận câu châm ngôn — "Tôi sẽ làm việc nhiều hơn nữa." Chú lợn Snowball tìm cách dạy các con thú khác đọc và viết (dù ít con muốn học đọc và viết cẩn thận, và điều này đã góp phần vào việc những con lợn chăm chỉ hơn trở thành nhà cầm quyền); thức ăn thừa mứa; và trang trại hoạt động êm thấm. Những con lợn tự nâng cấp chúng lên các vị trí lãnh đạo, thể hiện sự ưu tú của mình bằng các đặt bên cạnh các loại thức ăn đặc biệt phục vụ cho sức khỏe cá nhân của chúng. Trong lúc đó, Napoleon bí mật lấy những chú chó con từ các con chó trong trang trại và tự mình huấn luyện chúng. Khi Ông Jones tìm cách lấy lại trang trại, các con vật đánh bại ông trong cái chúng gọi là "Trận Cowshed." Napoleon và Snowball bắt đầu một cuộc cạnh tranh quyền lãnh đạo. Khi Snowball tuyên bố ý tưởng về một cối xay gió, Napoleon nhanh chóng phản đối nó. Snowball thực hiện một bài phát biểu nồng nhiệt để ủng hộ cối xay gió, trong khi đó Napoleon triệu tập chín con chó của mình, và chúng đã đuổi Snowball đi. Với sự vắng mặt của Snowball, Napoleon tuyên bố mình là lãnh đạo và thực hiện những thay đổi. Những cuộc hội họp sẽ không còn được tổ chức nữa và thay vào đó là một uỷ ban của những con lợn sẽ quyết định điều gì sẽ xảy ra với trang trại. Napoleon, dùng một chú lợn trẻ tên là Squealer làm người phát ngôn của mình, thông báo rằng Snowball đã ăn cắp ý tưởng về cối xay gió của Napoleon. Nhân vật Squealer trong trường hợp này có thể coi là một sự ám chỉ tới một nhân vật thêu dệt (spin doctor) chính trị. Các con vật làm việc nhiều hơn với lời hứa hẹn về một cuộc sống dễ dàng hơn với chiếc cối xay gió. Sau một cơn bão mạnh, các con vật thấy thành quả lao động của chúng đã biến mất do thiên tai. Napoleon và Squealer sau đó tìm cách thuyết phục các con vật rằng Snowball là người đã phá huỷ cối xay gió, dù theo những lời bàn luận miệt thị từ các trang trại xung quanh thực tế cối xay gió bị phá huỷ bởi những bức tường được xây quá mỏng. Khi Snowball trở thành kẻ giơ đầu chịu báng, Napoleon bắt đầu thanh trừng trang trại, giết nhiều con vật mà nó buộc tội là thông đồng với Snowball. Trong lúc ấy, Boxer được dạy châm ngôn thứ hai: "Napoleon luôn luôn đúng." Napoleon ngày càng lạm dụng quyền lực; những con lợn áp đặt thêm nhiều biện pháp kiểm soát trong khi vẫn giữ các ưu tiên cho chúng. Những con lợn viết lại lịch sử để kể tội Snowball và vinh danh Napoleon, ví dụ bằng cách nói rằng Snowball đã chiến đấu cho loài người trong Trận Cowshed, và rằng Napoleon đã đánh Snowball, trong khi trên thực tế Snowball bị trúng một viên đạn từ khẩu súng của Jones. Squealer sửa chữa mọi tuyên bố do Napoleon đưa ra, thậm chí cả sự thay đổi Bảy điều răn của Chủ nghĩa súc vật của những con lợn. "Không con thú nào được uống rượu" được đổi thành "Không con thú nào được uống rượu "quá mức"" khi những con lợn phát hiện ra nơi cất giấu rượu whiskey. Bài hát "Beasts of England" cũng bị cấm vì lý do nó không thích hợp, bởi theo Napoleon giấc mơ của Trại súc vật đã trở thành hiện thực. Nó được thay thế bằng một bài hát ca ngợi Napoleon, và nó có vẻ đã chấp nhận cách sống của một con người. Các con vật, dù phải làm việc quá sức, vẫn tin tưởng theo tuyên truyền tâm lý rằng chúng vẫn đang sống tốt đẹp hơn so với cuộc sống trước kia với Ông Jones, người chủ Trang trại Manor. Squealer lợi dụng trí nhớ kém của các con vật và sáng tác ra các con số để thể hiện sự cải thiện của chúng. Mr. Frederick, một trong hai trại chủ láng giềng, đã lừa Napoleon bằng cách mua gỗ xẻ bằng tiền giả, và sau đó tấn công trang trại, dùng thuốc nổ để phá huỷ chiếc cối xay gió mới được làm lại. Dù những con vật của Trại súc vật cuối cùng đã giành chiến thắng, chúng phải trả một giá đắt, bởi nhiều con thú, kể cả Boxer, đã bị thương. Squealer biến mất một cách bí ẩn khỏi trận đánh. Boxer tiếp tục làm việc nhiều và nhiều hơn, cho tới khi cuối cùng nó lăn ra khi đang làm việc ở cối xay gió. Napoleon điều một chiếc xe bán tải tới chở Boxer tới bác sĩ thú y, giải thích cho những con vật đang lo lắng rằng Boxer sẽ được chăm sóc tốt ở đó. Tuy nhiên, Benjamin đã nhận ra khi Boxer được tống lên xe rằng thực tế chiếc xe thuộc về "Alfred Simmonds, Kẻ giết Ngựa và Nấu Hồ", và cố gắng lên tiếng phản đối, nhưng những nỗ lực tuyệt vọng của các con thú không mang lại kết quả. Squealer nhanh chóng thông báo rằng chiếc xe đã được bệnh viện mua lại và giấy của người sở hữu trước vẫn chưa được viết lại. Nó kể lại một câu truyện cổ tích kịch tính và đầy nước mắt về cái chết của Boxer trong tay những bác sĩ giỏi nhất. Trên thực tế, những con lợn đã gửi Boxer tới chỗ chết để đổi lấy tiền mua thêm whiskey. Và vì thế lũ lợn lại tiếp tục say mèm. Nhiều năm trôi qua, và những con lợn học đi thẳng, mang theo roi da, và mặc quần áo. Bảy điều răn được giảm xuống còn một câu duy nhất: "Tất cả các loài vật đều bình đằng, nhưng một số loài vật bình đẳng hơn những loài vật khác." Napoleon tổ chức một bữa tiệc cho những con lợn và người ở trong vùng (trong Trại Foxwood bên cạnh, của Ông Pilkington), người đã chúc mừng Napoleon vì có những con vật làm việc nhiều nhất nước với lương thực ít nhất. Napoleon thông báo liên minh của mình với loài người, chống lại các tầng lớp lao động của cả hai "thế giới". Sau đó nó xoá bỏ các hành động và truyền thống liên quan tới Cách mạng, và đổi lại tên trang trại trở về ban đầu là "Trại Manor". Các con vật, nghe được về việc đó, nhận ra những con lợn cầm quyền đã thay đổi. Trong một ván poker, một cuộc tranh cãi nổ ra giữa Napoleon và Ông Pilkington khi cả hai đều chơi quân bài Át Bích, và các con vật nhận ra rằng những bộ mặt của những con lợn khi đó hầu như đã giống với mặt người và rằng không ai có thể nhận ra sự khác biệt giữa chúng. Chủ nghĩa động vật. Chủ nghĩa động vật là một hình ảnh phản chiếu có tính chất ngụ ý về các nhà nước mới trong lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn mới thành lập, cũng như diễn tiến quan niệm của cách mạng và chính phủ mới về việc làm thế nào để thực hiện nó. Chủ nghĩa này do chú lợn Old Major rất được tôn trọng đề ra. Những chú lợn Snowball, Napoleon, và Squealer đã đưa các tư tưởng của Old Major vào trong một triết lý thực tế, mà chúng đặt tên chính thức là Chủ nghĩa động vật. Ngay sau đó Napoleon và Squealer bắt đầu thực hiện các trò truỵ lạc của loài người (uống rượu, ngủ trên giường và mua bán). Squealer được sử dụng để sửa đổi Bảy điều răn để thích hợp với sự “người hoá” của nó, nhằm bóp méo lý thuyết nhân đạo ban đầu của chính phủ mới để lập lại một xã hội chuyên chế độc tài thời jones. Bảy điều răn là một danh sách các quy định hay luật được cho là để giữ trật tự và đảm bảo tính căn bản của Chủ nghĩa động vật bên trong Trại súc vật. Bảy điều răn được đưa ra để thống nhất mọi loài vật với nhau trong một lý tưởng chung chống lại con người và ngăn chặn các loài vật không đi theo những thói quen ma quỷ của con người. Bởi không phải tất cả loài vật đều có thể nhớ được Bảy điều răn, chúng được rút gọn lại thành một câu căn bản: "Bốn chân tốt! Hai chân xấu!" (với cánh cũng được tính là chân cho mục đích này, Snowball cho rằng cánh được tính như chân bởi chúng là các vật thể để vận động chứ không phải để thao tác), câu nói được những con cừu thường xuyên nhắc lại, khiến đám đông những con vật quên đi những lời nói dối của những con lợn. Bảy điều răn nguyên bản là: Sau này, Napoleon và những con lợn của nó tham nhũng bằng quyền lực tuyệt đối chúng có được với trang trại. Để duy trì sự đồng đẳng với các loài vật khác, Squealer bí mật viết thêm vào các điều răn để làm lợi cho các con lợn trong khi vẫn giữ bí mật để chúng không bị buộc tội phá vỡ các điều luật (như "Không con vật nào được uống rượu" được thêm "quá mức" và "Không con vật nào được ngủ trên giường" được thêm "trải ga"). Các điều răn cuối cùng bị bỏ đi hoàn toàn, và được thay thế bằng câu "Mọi con vật đều bình đẳng, "nhưng một số con vật bình đẳng hơn những con vật khác"", và "Bốn chân tốt, hai chân "tốt hơn!"" khi loài lợn ngày càng giống con người. Tác giả Orwell đã nói rằng tác phẩm của ông không ám chỉ bất cứ quốc gia hoặc hệ thống chính trị cụ thể nào. Các sự kiện và nhân vật trong Trại súc vật có thể dùng để chỉ bất cứ một xã hội nào, trong bất cứ một giai đoạn nào có những đặc điểm tương tự với Trại súc vật; chính phủ độc tài, tham nhũng và sự khờ dại nói chung của loài người; Snowball là ẩn dụ cho những chính khách tốt bụng nhưng khờ khạo, và con lợn lãnh đạo, Napoleon, là ẩn dụ cho kiểu chính khách tư lợi và gian xảo. Các nhân vật khác ám chỉ những loại người khác nhau trong xã hội với những vai trò, tính cách, nhận thức và hành vi khác nhau. Một chú lợn đực là cảm hứng cho cuộc Nổi dậy trong cuốn sách. Nó 12 tuổi. Một số ý kiến cho rằng đây là ẩn dụ dựa trên cả Karl Marx, người sáng lập Chủ nghĩa Marx và Vladimir Lenin (ở điều hộp sọ của nó được đặt ở một nơi trưng bày công cộng được tôn trọng, như thi hài của Lenin). Tuy nhiên, theo Christopher Hitchens: "các tính chất cá nhân của Lenin và Trotsky được tổng hợp vào trong một nhân vật [ví dụ, Snowball], hay, nó thậm chí có thể [...] nói, hoàn toàn không có Lenin." Một số ý kiến khác lại cho rằng đây là ẩn dụ về Montesquieu, triết gia khai sáng Pháp, người đặt nền móng tư tưởng cho Cách mạng Pháp. Một số ý kiến khác nữa lại coi đây là ẩn dụ về Jesus, người khai sinh ra Kito giáo và thi hài của ông trên thập giá được coi là biểu tượng trưng bày thiêng liêng. Tuy nhiên, Orwell đã nói tác phẩm này không ám chỉ một người hoặc một đất nước cụ thể nào, do đó cần hiểu Thủ lĩnh là ẩn dụ chỉ chung những nhà tư tưởng lớn trong lịch sử như Khổng Tử, Jesus, Luther, các nhà triết học thời Phục Hư, bình đẳng của họ là cảm hứng cho những cuộc cách mạng lật đổ kiểu nhà nước cũ. "Một con lợn đực Berkshire hung dữ, chú lợn Berkshire duy nhất tại trang trại, không phải là một nhân vật chỉ nói phét, mà với một danh tiếng vì đi theo con đường riêng của mình", Napoleon là kẻ bạo chúa và hung ác chính duy nhất của "Trại súc vật". Nó bắt đầu dần xây dựng quyền lực, sử dụng những con chó con bị bắt đi khỏi bố mẹ, những con chó Jessie và Bluebell, và nuôi dạy chúng trở thành những con chó hung ác làm tay sai của mình. Sau khi đuổi Snowball khỏi trang trại, Napoleon tự trao cho mình quyền lực tuyệt đối, bắt những động vật khác gọi nó là lãnh tụ, sử dụng tuyên truyền giả tạo của Squealer và đe doạ cùng sự doạ dẫm của các con chó để giữ các con vật khác tuân theo luật lệ. Trong khi làm những việc vị phạm điều răn, nó dần thay đổi các điều răn hoặc sử dụng Squealer để mang lợi cho mình. Tới cuối cuốn sách, Napoleon và những con lợn đồng minh của nó đã học đứng thẳng và bắt đầu hành động như con người là cái ban đầu đã khiến chúng nổi dậy. Trong phiên bản tiếng Pháp đầu tiên của "Trại súc vật", Napoleon được gọi là ', cách đọc tiếng Pháp của Caesar Đây là tên của một hoàng đế La Mã, nhà xuất bản đặt ra nhằm tránh tên gốc đề cập trực tiếp đến Hoàng đế Napoleon của Pháp. Tuy nhiên bản dịch khác gọi nó là '. Đối thủ của Napoleon và ban đầu là lãnh đạo của trang trại sau khi lão Jones bị lật đổ. Nó là sự ám chỉ tới những lãnh đạo tốt bụng nhưng thiếu mưu kế, không đủ khả năng bảo vệ quan điểm của mình. Nó được hầu hết các con vật ủng hộ và tin tưởng vì đã lãnh đạo mang lại một vụ mùa bội thu đầu tiên, nhưng đã bị Napoleon đuổi khỏi trang trại. Snowball đã lãnh đạo những công việc hiệu quả cho trang trại và các con vật và có những kế hoạch nhằm giúp các con vật đạt được một xã hội quân bình, nhưng Napoleon và những con chó của nó đã đuổi Snowball khỏi trang trại, và Napoleon tung ra những tin đồn khiến Snowball trở thành ma quỷ, tham nhũng và nó đã bí mật phá hoại những nỗ lực của các con vật nhằm cải thiện trang trại, như việc Snowball là mật thám của Jones. Đồng thời tất cả các hành động tham nhũng do bọn lợn gây ra đều bị Napoleon đổ hết lên đầu Snowball Một con lợn thịt nhỏ, trắng, béo là cánh tay phải của Napoleon và là bộ trưởng tuyên truyền. Squealer đã sử dụng ngôn ngữ để giải thích, bào chữa và tán dương mọi hành động của Napoleon. Squealer hạn chế tranh luận bằng cách làm nó trở nên phức tạp và nó từ chối và làm mất phương hướng, ví dụ nó đưa ra tuyên bố rằng những con lợn cần các đồ xa xỉ nhằm làm việc một cách hiệu quả. Tuy nhiên, khi các vấn đề vẫn cứ tồn tại dai dẳng, nó thường sử dụng cách đe doạ sự quay trở lại của Ông Jones, người chủ cũ của trang trại, để bào chữa cho những ưu tiên dành cho loài lợn. Squealer sử dụng những chiến thuật để thuyết phục các con vật rằng cuộc sống đang ngày càng tốt lên. Đa số các con vật chỉ có quá khứ mờ nhạt về đời sống trước cách mạng; vì thế, chúng đã tin tưởng. Bên cạnh đó, Squealer cũng sửa lại các điều răn được in trên tường chuồng bò để có lợi cho lũ lợn, bằng chứng là một lần nó được tìm thấy bên dưới bức tường ghi 7 điều răn với một cái thang gãy và thùng sơn trắng bị đổ. Cuối cùng, nó là con vật đầu tiên đi bằng hai chân sau. Một chú lợn nhà thơ viết các bài quốc ca thứ hai và thứ ba của "Trại súc vật" sau khi bài "Beasts of England" bị cấm. Ngụ ý là những đứa trẻ của Napoleon (dù không được viết rõ trong tiểu thuyết) và là thế hệ những con vật đầu tiên thực sự thấm nhuần tư tưởng bất bình đẳng giữa các loài vật của nó. Bốn con lợn phàn nàn về việc Napoleon giành quyền quản lý trang trại nhưng nhanh chóng bị bịt miệng và sau này bị hành quyết. Một con lợn nhỏ chỉ được đề cập đến một lần; nó là con lợn để nếm thức ăn của Napoleon nhằm đảm bảo nó không bị bỏ thuốc độc, để đối phó với những lời đồn đại về một âm mưu ám sát nhằm vào Napoleon. Chủ cũ của trang trại, Jones là một người nghiện rượu nặng và các con vật nổi dậy chống lại ông sau khi ông đã uống quá nhiều tới mức không thèm chăm sóc hay cho chúng ăn. Nỗ lực của Jones để chiếm lại trang trại đã thất bại trong Trận Cowshed. Ông đại diện cho các kiểu nhà nước cũ bị cách mạng lật đổ. Người chủ cứng rắn của Pinchfield, một trang trại được quản lý tốt ở bên cạnh. Ông mua gỗ từ các con vật bằng tiền giả và sau đó tấn công chúng, phá huỷ chiếc cối xay gió nhưng cuối cùng bị đánh bại trong Trận Windmill. Có những câu chuyện về việc ông đối xử thô bạo với các con vật, như quẳng những con chó vào trong một lò sưởi. Pinchfield là trang trại nhỏ hơn trang trại Foxwood của Pilkington nhưng được điều hành hiệu quả hơn, và Frederick trong một thời gian ngắn đã tham gia vào một "liên minh" với Napoleon bằng cách đề nghị mua gỗ từ nó nhưng sau đó đã phá vỡ thoả thuận và gây ra một cuộc tấn công đẫm máu vào Trại súc vật. Ông ta được cho là đại diện cho các nhà nước đồng minh với chế độ cũ và muốn dập tắt sự ra đời một kiểu nhà nước mới (ví dụ như Vương quốc Phổ tấn công vào Pháp khi nước này xảy ra cách mạng). Người chủ dễ tính nhưng xảo quyệt của Foxwood, một trang trại láng giềng với toàn cỏ dại, như được miêu tả trong cuốn sách. Ở cuối cuộc chơi, cả Napoleon và Pilkington đều có quân Át Bích và sau đó bắt đầu đánh nhau ầm ỹ. Pilkington và trang trại Foxwood dựa trên Hoa Kỳ: Foxwood được miêu tả là lớn hơn Pinchfield, nhưng không được điều hành hiệu quả. Quân Át Bích và cuộc tranh cãi giữa Napoleon và Pilkington là biểu tượng cho cuộc đấu giữa các nguyên thủ quốc gia, họ cai trị theo phương pháp giống nhau nhưng luôn mâu thuẫn quyền lợi với nhau. Một người đàn ông được Napoleon thuê để làm quan hệ công chúng của Trại súc vật với loài người. Whymper được sử dụng như một người trung gian trong việc buôn bán thương mại với loài người những đồ mà các con thú không thể tự chế tạo: ban đầu là một sự cần thiết thực sự bởi những con thú không thể tự chế tạo các thành phần của cối xay gió, nhưng cuối cùng Whymper được dùng để mua những đồ xa xỉ như rượu cho các con lợn. Có bốn nhân vật ngựa chính: Boxer, Clover, và Mollie, là những con ngựa, và Benjamin, là một con lừa. Boxer là một lao động trung thành, tử tế và luôn cống hiến. Về thể chất nó là con vật khoẻ nhất trang trại, nhưng ngây thơ và chậm chạp, điều này khiến nó luôn nói "Tôi sẽ làm việc nhiều hơn nữa" và "Napoleon luôn đúng" dù có tình trạng tham nhũng. Clover là bạn của Boxer, luôn chăm sóc Boxer, và nó cũng là con vật luôn chăm lo cho các con ngựa khác, và nói chung các con vật khác (như những con vịt được nó che chở giữa hai chân trước và bụng trong bài phát biểu của Thủ lĩnh). Mollie là con ngựa cái trẻ kiêu ngạo, luôn nghĩ về bản thân, thích hưởng lạc và thích đeo ruy băng trên bờm, ăn các cục đường, và bị con người làm hư chăm sóc kỹ lưỡng. Nó nhanh chóng rời bỏ đến trang trại khác và chỉ được đề cập tới một lần. Benjamin là một trong những con vật sống lâu nhất, và cũng là một trong số ít biết đọc. Nó là người bạn rất trung thành của Boxer, và không hề làm gì để cảnh báo các con vật khác về sự tham nhũng của các con lợn, (mà nó thầm nhận ra ngày càng trở nên trầm trọng). Khi được hỏi nó thấy hạnh phúc hơn lúc trước hay sau Cách mạng, Benjamin nói, "Những con lừa sống rất lâu. Các bạn chưa từng thấy một con lừa chết." Nó sống yếm thế và bi quan, câu nói thường xuyên của nó là; "Cuộc sống sẽ tiếp diễn như nó vẫn tiếp diễn - có nghĩa là, xấu xa". Nhưng nó cũng là một con vật khôn ngoan nhất trang trại, và có thể "đọc tốt như bất kỳ một con lợn nào". Một con dê già cả và khôn ngoan là bạn của mọi con vật trong trang trại. Nó, giống như Benjamin và Snowball, là một trong số ít con vật trong trang trại biết đọc (với một số khó khăn bởi đầu tiên nó phải đánh vần từ ra mồm đã) và giúp Clover phát hiện ra rằng Bảy điều răn đã liên tục bị thay đổi. Con của Jessie và Bluebell, bị Napoleon lấy đi từ khi sinh để làm lực lượng an ninh của nó. Những con chó này được huấn luyện để trở nên xấu xa, tới mức nhiều con vật bị chúng xé nhỏ gồm cả bốn con lợn trẻ, một con cừu và nhiều con gà. Chúng cũng định làm thế với Boxer, vì đã chặn một con chó dưới chân mình. Những con chó đã xin ân xá, và theo lệnh của Napoleon, Boxer trả tự do cho những con chó con. Một con chim già thỉnh thoảng tới trang trại với những câu truyện cổ tích về một nơi ở trên trời được gọi là Núi bánh kẹo, nơi nó nói các con vật sẽ được tới sau khi chết — nhưng chỉ khi chúng làm việc chăm chỉ. Nó được coi là đại diện của các thế lực tôn giáo, và Núi bánh kẹo được cho là hình ảnh của Thiên đường sau khi chết dành cho các con vật. Nó bỏ thời gian để khiến các con vật tin vào Núi bánh kẹo, và không hề làm việc gì. Nó cảm thấy không bình đẳng so với các con vật khác vì thế nó đã bỏ đi sau cuộc nổi loạn, cho mọi con vật được cho là bình đẳng. Tuy nhiên, ở đoạn sau cuốn sách nó quay lại trang trại và tiếp tục tuyên bố về sự hiện hữu của Núi bánh kẹo. Các con vật khác bối rối trước thái độ của những con lợn với Moses; chúng cho rằng những lời nói của nó là vô nghĩa, nhưng cho phép nó ở lại trang trại. Những con lợn làm việc này để mang lại một hy vọng về một cuộc sống thứ hai hạnh phúc cho các con vật, có lẽ để giữ đầu óc chúng luôn hướng tới Núi bánh kẹo chứ không phải về một cuộc nổi dậy. Cuối truyện, Moses là một trong số ít con vật nhớ về cuộc nổi dậy, cùng với Clover, Benjamin, và những con lợn. Chúng có tầm hiểu biết hạn chế về tình hình nhưng lại mù quáng ủng hộ các lý tưởng của Napoleon. Chúng thường nhắc đi nhắc lại câu "bốn chân tốt, hai chân xấu". Ở cuối truyện, một trong Bảy điều răn được sửa sau khi những con lợn đã học đi trên hai chân sau và câu nói của chúng đổi thành "bốn chân tốt, hai chân tốt hơn". Những con lợn có thể dựa vào chúng để tiêu diệt bất kỳ sự phản kháng nào từ những con vật khác. Nó là hình ảnh của những người không có tầm nhìn sáng suốt, dễ dàng bị điều khiển bởi kẻ cầm quyền Chúng đập vỡ những quả trứng thay vì trao nó cho những kẻ cầm quyền cao hơn (những con lợn), những kẻ luôn muốn đem trứng bán cho con người. Sữa của chúng bị những con lợn ăn trộm, lũ lợn cũng học cách vắt sữa bò, và biến nó trở thành cháo khoai tây sữa hàng ngày cho chúng trong khi những con vật khác không có được bất cứ thứ gì xa xỉ. George Orwell đã viết bản chép tay năm 1943 và 1944 theo những kinh nghiệm của ông trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, mà ông miêu tả trong cuốn "Homage to Catalonia" năm 1938. Trong lời nói đầu của một ấn bản tiếng Ukraina năm 1947 cuốn Animal Farm ông đã giải thích cách thoát khỏi những cuộc thanh trừng trong cuộc chiến tại Tây Ban Nha đã dạy ông "sự dễ dàng thế nào để việc tuyên truyền chuyên chế có thể kiểm soát ý kiến của những người đã được khai sáng tại các quốc gia dân chủ." Điều này thúc đẩy Orwell thể hiện và mạnh mẽ lên án cái ông đã nhìn thấy như là tình trạng tham nhũng đã bóp méo các lý tưởng chủ nghĩa nhân đạo nguyên thủy. Trong lời nói đầu đó Orwell cũng miêu tả cái mang cho ông ý tưởng đặt nội dung cuốn sách trong một trang trại: Orwell đã gặp phải nhiều khó khăn khi tìm cách xuất bản cuốn sách. Bốn nhà xuất bản từ chối; một ban đầu đã chấp nhận nhưng sau đó từ chối sau khi tham vấn với Bộ thông tin Anh Quốc. Cuối cùng Secker and Warburg đã xuất bản ấn bản đầu tiên 1945. Tại Khối Đông Âu cả "Animal Farm" và "Nineteen Eighty-Four" sau này đều có trong danh sách sách cấm cho tới "die Wende" năm 1989, và chỉ có được trên các mạng lưới Samizdat phe nhóm. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. coi là "thuộc những đoạn quan trọng tạo nên điều cốt lõi của cuốn tiểu thuyết." Harold Bloom cho rằng các nội dung trong sách được lấy cảm hứng từ cách mạng Pháp. Cụ thể, lợn Thủ Lĩnh là sự nhại lại các nhà tư tưởng thời khai sáng tại Pháp (như Rosseau), lợn Napoleon là một sự lặp lại nguyên vẹn cái tên của Hoàng đế Napoleon, người đã lợi dụng cuộc Cách mạng Pháp để giành lấy ngôi vị. Trận Windmill trong cuốn sách thì được lấy cảm hứng từ Trận Valmy nổi tiếng, nơi quân cách mạng Pháp đã đánh thắng liên quân các nước phong kiến châu Âu. Khẩu hiệu "tất cả các loài vật đều bình đẳng" cũng là sự nhại lại nguyên vẹn khẩu hiệu "tất cả mọi người đều bình đẳng" trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp Trái lại, Peter Edgerly Firchow và Peter Hobley Davison cho rằng những sự kiện trong "Animal Farm" phản ánh những gì diễn ra tại Liên Xô, trận đánh tưởng tượng này thể hiện Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại đặc biệt là Trận Stalingrad và Trận Moscow. Trong trận đánh, Fredrick đã đào các hố và những nơi đặt thuốc nổ bên trong, và nó được "Toàn thể các con vật, ngoại trừ Napoleon" yểm hộ; nhà xuất bản đã sửa nó thành "Mọi con vật, gồm cả Napoleon" nhằm lái người đọc liên tưởng đến Joseph Stalin, nhà lãnh đạo đã chọn ở lại Moskva khi người Đức tiến công. "Trận Cowshed" thì thể hiện cuộc xâm lược của liên quân vào nước Nga Xô viết năm 1918, và thất bại của Bạch vệ trong cuộc Nội chiến Nga. Như Orwell đã nói, tác phẩm của ông không ám chỉ bất kỳ nước nào, do đó các sự kiện trong cuốn sách có thể được suy diễn theo rất nhiều hướng khác nhau (trên đây chỉ là 2 hướng suy diễn trong số đó), bởi rất nhiều cuộc cách mạng tại các quốc gia khác nhau (Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ...), hoặc sự ra đời của các tôn giáo đều có những sự kiện, nhân vật tương đồng với cuốn sách. Những nỗ lực tìm kiếm một nhà xuất bản. Trong Thế chiến II mọi việc trở nên rõ ràng với Orwell rằng một tác phẩm văn học bị suy diễn là chống Liên Xô (dù Orwell đã nói rõ rằng tác phẩm của mình không ám chỉ bất kỳ nước nào) không phải là thứ mà hầu hết các nhà xuất bản lớn sẽ đụng vào — gồm cả nhà xuất bản thường xuyên của ông Gollancz. Ông cũng đã nộp bản đánh máy tới Faber and Faber, nơi nhà thơ T. S. Eliot (người là một đạo diễn phim) cũng từ chối nó; Eliot đã viết thư trả lời Orwell ca ngợi "văn hay" và "tính chính trực cơ bản" của nó nhưng tuyên bố rằng họ sẽ chỉ chấp nhận xuất bản nó nếu có được một số thiện cảm cho quan điểm "mà tôi cho rằng nói chung là Trotskyite". Eliot đã nói ông thấy quan điểm "không thuyết phục", và chắc rằng những con lợn được tạo ra cho sự điều hành tốt nhất của trang trại; ông giả định rằng một số người có thể cho rằng "điều gì cần thiết.. không phải là thêm công kích chủ nghĩa cộng sản mà thêm nhiều con lợn có đầu óc hướng tới cộng đồng". Một nhà xuất bản ông tìm kiếm trong cuộc chiến, ban đầu chấp nhận "Animal Farm", sau đó đã từ chối cuốn sách sau khi một quan chức tại Bộ thông tin cảnh báo ông — dù người được cho là đã ra lệnh này sau đó bị phát hiện là một điệp viên Liên Xô. Nhà xuất bản sau đó viết thư cho Orwell, nói: Dù được viết năm 1943, "Animal Farm" mãi tới năm 1945 Animal Farm mới được xuất bản vì tình trạng khan hiếm giấy và lo ngại làm xấu đi quan hệ liên minh Anh-Xô. Vấn đề "Tự do báo chí" tại Anh. Orwell lúc đầu đã viết một lời nói đầu phàn nàn về sự kiểm duyệt tự thân của Anh và làm thế nào người dân Anh đã bị đàn áp trong việc chỉ trích Liên Xô, đồng minh trong Thế chiến II của họ. "Sự thật tai hại về kiểm duyệt văn học tại Anh là bởi nó hầu như là tự nguyện. ... Mọi thứ đang được giữ đúng đắn bên ngoài báo chí Anh, không phải bởi vì Chính phủ can thiệp mà bởi một thoả thuận chung ngầm rằng 'nó sẽ không được làm' để đề cập tới sự thực đặc biệt đó." Chính đoạn lời nói đầu cũng bị kiểm duyệt và vào tháng 6 năm 2009 vẫn chưa được xuất bản trong hầu hết các ấn bản của cuốn sách. Vợ ông Eileen Blair đã làm việc trong cuộc chiến tại Bộ thông tin kiểm duyệt báo chí. Secker và Warburg đã xuất bản phiên bản đầu tiên của Animal Farm năm 1945 mà không có đoạn mở đầu. Tuy nhiên, nhà xuất bản đã để không gian cho một lời nói đầu trong bản in thử của tác giả. Vì những lý do chưa được biết, không lời nói đầu nào được cung cấp và toàn bộ số trang đã phải làm lại ở những phút cuối cùng. Nhiều năm sau, năm 1972, Ian Angus đã tìm thấy bản đánh máy gốc có nhan đề "Tự do Báo chí", và Bernard Crick đã xuất bản nó, cùng với lời nói đầu của chính ông trong The Times Literary Supplement ngày 15 tháng 9 năm 1972 as "How the essay came to be written". Bản thử của Orwell chỉ trích sự tự kiểm duyệt của báo chí Anh, đặc biệt trong việc đàn áp những miêu tả không tâng bốc Stalin và chính phủ Liên Xô. Bản thử này cũng xuất hiện trong ấn bản Animal Farm tại Italia năm 1976, với một lời giới thiệu khác nữa của Crick, tuyên bố là ấn bản đầu tiên có lời nói đầu. Các nhà xuất bản khác vẫn ngần ngại in nó. Những đề cập văn hoá. Những đề cập tới cuốn tiểu thuyết thường xuất hiện trong các tác phẩm khác của văn hoá đại chúng, đặc biệt trong âm nhạc và các show truyền hình. "Animal Farm" đã hai lần được chuyển thể thành phim. "Animal Farm" năm 1954 là phim truyện hoạt hình và phim "Animal Farm" năm 1999 là một phiên bản TV live action, cả hai đều có những khác biệt so với tiểu thuyết. Trong bộ phim năm 1954 Napoleon bị lật đổ trong một cuộc cách mạng thứ hai trong khi trong bộ phim năm 1999 chế độ của Napoleon tự sụp đổ, trong khi ở nguyên tác thì Napoleon vẫn tiếp tục nắm quyền. Ngày 17 tháng 7 năm 2009, A, gồm cả "Animal Farm" và "Nineteen Eighty-Four" của George Orwell, khỏi danh sách bán, người mua trả lại, và xoá các khoản trong các thiết bị của người mua sau khi phát hiện ra rằng nhà xuất bản thiếu một số quyền để xuất bản những cuốn đang bị nghi vấn. Các ghi chú và chú giải của những cuốn sách do những người sử dụng viết trên thiết bị của họ cũng bị xoá. Sau khi hành động này dẫn tới những lời phản đối và so sánh với chính "Nineteen Eighty-Four", người phát ngôn của Amazon Drew Herdener đã nói rằng công ty "… đang thay đổi những hệ thống của chúng tôi để trong tương lai chúng tôi sẽ không xoá bỏ các cuốn sách khỏi các thiết bị của khách hàng trong những hoàn cảnh như vậy." "Animal Farm" có bản dịch đầu tiên ra tiếng Việt do Nhà in Viễn Đông (Imprimerie d’Extrême orient - IDEO) in tại Sài Gòn trước năm 1952 với tựa là "Cuộc cách-mạng trong trại súc-vật". Năm 1975 thời Việt Nam Cộng hòa thì có bản dịch của Đỗ Khánh Hoan cũng in tại Sài Gòn với tựa "Nông trại súc vật". Ngoài ra tại Hoa Kỳ Có bản dịch "Trại súc vật" của Đỗ Cẩm Sơn trong khi ở Tiệp Khắc Hà Minh Thọ cho in bản "Muông cầm trại" khoảng thập niên 1990. Dưới thời Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì Phạm Nguyên Trường có ra một bản dịch do nhà xuất bản Giấy Vụn in, nhưng đây thực ra là bản in lậu (không có bản quyền) và “nhà xuất bản Giấy Vụn” thực ra chỉ là một nhóm cá nhân chuyên in ấn bất hợp pháp tại Việt Nam. Năm 2013 Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành phiên bản thứ sáu bằng tiếng Việt do An Lý dịch dưới nhan đề "Chuyện ở nông trại". Tuy nhiên sau đó sách đã bị thu hồi.
Tự kiểm tra khi nguồn bật Trong BIOS của kiến trúc máy tính IBM PC, chức năng tự kiểm tra khi nguồn bật hay POST, viết tắt của chữ tiếng Anh Power-On Self Test, là việc đầu tiên BIOS làm khi nó khởi động máy tính. POST được xây dựng sẵn là một chương trình máy tính để kiểm tra phần cứng, đảm bảo mọi thứ sẵn có và đảm bảo chức năng của mình, trước khi BIOS bắt đầu khởi động. POST chạy nhanh và thông thường không thông báo kết quả kiểm tra, ngoại trừ trường hợp nó gặp vấn đề. Nếu POST gặp phải trục trặc, khi bật máy, máy sẽ phát ra tiếng bíp và sau đó dừng, không tiếp tục khởi động. Loa được sử dụng vì kiểm tra này được thực hiện trước khi màn hình nhận tín hiệu. Những mẫu tiếng bíp được sử dụng để chẩn đoán các vấn đề phần cứng của máy tính. Các mẫu này phụ thuộc nhà sản xuất BIOS, ví dụ Award hay AMI BIOSes. Một số lỗi POST được coi là lỗi không sửa được, một số khác thì vẫn sửa được. Lỗi không sửa được ("fatal") sẽ ngắt quá trình khởi động ngay lập tức (ví dụ không tìm thấy bộ nhớ hệ thống). Thực tế, hầu như lỗi khởi động POST là lỗi không sửa được. POST còn được sử dụng trong việc phát hiện các sự cố mở rộng cho PC. Các tín hiệu BIOS gửi ra khi gặp các vấn đề mở rộng có thể được dùng để "gỡ rối vấn đề" bằng giao tiếp gỡ rối. Giao tiếp này đặt tai khe ISA và chấp nhận mã gỡ rối do BIOS gửi tới địa chỉ vào/ra đặc biệt, sử dụng là 80h. Giao tiếp hiển thị những mã này và nơi POST dừng nếu nó tìm ra vấn đề. Giao tiếp này thường được thiết kế chỉ dành cho người sửa chữa PC bị lỗi nghiêm trọng hoặc một số người làm nhiều về hệ thống máy tính.
Một quá trình Poisson, đặt theo tên nhà toán học người Pháp Siméon-Denis Poisson (1781 - 1840), là một quá trình ngẫu nhiên được định nghĩa theo sự xuất hiện của các biến cố. Một quá trình ngẫu nhiên "N"("t") là một quá trình Poisson (thời gian-thuần nhất, một chiều) nếu: trong đó số λ dương là một tham số cố định, được gọi là tham số tỉ lệ ("rate parameter"). Có nghĩa là, biến ngẫu nhiên formula_4 mô tả số lần xuất hiện trong khoảng thời gian formula_2 tuân theo một phân bố Poisson với tham số formula_6. Tổng quát hơn, một quá trình Poisson là một quá trình gán cho mỗi khoảng thời gian bị chặn hay mỗi vùng bị chặn trong một không gian nào đó (chẳng hạn, một mặt phẳng Euclid hay một không gian Euclid 3 chiều) một số ngẫu nhiên các biến cố, sao cho: Quá trình Poisson là một trong các quá trình Lévy nổi tiếng. Các quá trình Poisson thời gian thuần nhất ("time-homogeneous") còn là các ví dụ của các quá trình Markov thời gian liên tục thời gian thuần nhất. Một quá trình Poisson một chiều thời gian thuần nhất là một quá trình sinh sản thuần túy ("pure-birth process") - ví dụ đơn giản nhất về một quá trình sinh-tử ("birth-death process") Các quá trình Poisson một chiều. Một quá trình Poisson một chiều trên khoảng từ 0 đến ∞ (nghĩa là khi đồng hồ bắt đầu từ thời điểm 0 và là khi ta bắt đầu đếm) có thể được xem là một hàm ngẫu nhiên không giảm với giá trị nguyên "N"("t"), hàm này đếm số lần "xuất hiện" trước thời điểm "t". Cũng như mỗi biến ngẫu nhiên Poisson được đặc trưng bởi một tham số vô hướng ("scalar parameter") λ, mỗi quá trình Poisson được đặc trưng bởi một hàm tỉ lệ λ("t"), đó là kỳ vọng của số "lần xuất hiện" hay "biến cố" xảy ra trong mỗi đơn vị thời gian. Nếu tỉ lệ đó là hằng số, thì số "N"("t") biến cố xảy ra trước thời điểm "t" có một phân bố Poisson với giá trị kỳ vọng λ"t". Cho "X""t" là số lần xuất hiện trước thời điểm "t", "T""x" là thời điểm của lần xuất hiện thứ "x", với "x" = 1, 2, (Ta dùng ký hiệu "X" lớn và "T" lớn cho các biến ngẫu nhiên, và "x" nhỏ và "t" nhỏ cho các giá trị không ngẫu nhiên.) Biến ngẫu nhiên "X""t" có một phân bố xác suất "rời rạc"—một phân bố Poisson—và biến ngẫu nhiên "T""x" có một phân bố xác suất "liên tục". Rõ ràng, số lần xuất hiện trước thời điểm "t" nhỏ hơn "x" khi và chỉ khi thời gian đợi cho đến lần xuất hiện thứ "x" lớn hơn "t". Bằng ký hiệu, biến cố [ "X""t" "x" ] xảy ra khi và chỉ khi biến cố [ "T""x" "t" ]. Vậy, xác suất của các biến cố này là bằng nhau: Thực tế này cộng với kiến thức về phân bố Poisson cho phép ta tìm phân bố xác suất của các biến ngẫu nhiên liên tục này. Trong trường hợp tỷ lệ, nghĩa là kỳ vọng của số lần xuất hiện trong mỗi đơn vị thời gian, là hằng số, công việc này khá đơn giản. Cụ thể, xét thời gian đợi cho tới lần xuất hiện thứ nhất. Dễ thấy, thời gian đó lớn hơn "t" khi và chỉ khi số lần xuất hiện trước thời điểm "t" là bằng 0. Nếu tỷ lệ là λ lần xuất hiện trong mỗi đơn vị thời gian, ta có Do đó, thời gian đợi cho đến lần xuất hiện đầu tiên tuân theo một phân phối mũ. Phân phối mũ này có giá trị kỳ vọng 1/λ. Nói cách khác, nếu tỷ lệ bình quân của các lần xuất hiện là 6 lần mỗi phút chẳng hạn, thì thời gian đợi trung bình tới khi có lần xuất hiện đầu tiên là 1/6 phút. Phân phối mũ không có khả năng nhớ, nghĩa là ta có: Công thức trên có nghĩa là xác suất có điều kiện cho việc "ta phải đợi lần xuất hiện đầu tiên thêm nhiều hơn, chẳng hạn, 10 giây nữa, biết rằng ta đã đợi 30 giây rồi mà chưa được" không khác với xác suất của việc "ta vừa mới bắt đầu đợi và ta phải đợi thêm ít nhất 10 giây nữa". Sinh viên học môn xác suất thường gặp phải nhầm lẫn đó. Thực tế rằng P("T"1 40 | "T"1 30) = P("T"1 10) không có nghĩa rằng các biến cố "T"1 40 và "T"1 30 là độc lập. Tóm lại, tính chất không bộ nhớ của phân bố xác suất của thời gian chờ đợi T cho đến lần xuất hiện tiếp theo có nghĩa là Nó "không" có nghĩa là
Khoa học thư viện Khoa học thư viện hay thư viện học (tiếng Anh: "Library science") là bộ môn khoa học xã hội nghiên cứu quy luật phát triển sự nghiệp thư viện như một hiện tượng xã hội. liên hệ một cách hữu cơ với những điều kiện chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội với những quan điểm và tư tưởng của giai cấp thống trị trong các chế độ xã hội khác nhau. Khái niệm thư viện. Danh từ thư viện (bibliotheque) xuất phát từ tiếng Hy Lạp biblio là sách và thêka là bảo quản, vậy nghĩa đen của thư viện là nơi tàng trữ và bảo quản sách báo Đối tượng nghiên cứu. Thư viện học nghiên cứu những vấn đề sau: Các phân ngành chính của Thư viện học. Thư viện học đại cương. Thư viện học đại cương nghiên cứu vai trò của thư viện trong hệ thống các cơ quan văn hóa, giáo dục, khoa học và sản xuất. Nghiên cứu những nguyên lý tổ chức sự nghiệp thư viện, những nguyên tắc xây dựng hệ thống, mạng lưới thư viện, phân định các loại hình thư viện. Tổ chức thư viện phục vụ có phân biệt cho từng nhóm đối tượng phục vụ khác nhau. Nghiên cứu chính sách, phương hướng, phát triển thư viện và các hình thức, phương pháp chỉ đạo, lãnh đạo sự nghiệp thư viện. Kho sách thư viện. Là một bộ phận cấu thành của thư viện học. Phần này nghiên cứu sâu về những nguồn tin tư liệu, các nguyên tắc bổ sung kho sách như: tính khoa học, tính kế hoạch, tính hợp lý, tính hiện đại và cập nhật của công tác bổ sung vốn tư liệu; Các hình thức bổ sung: bổ sung khởi đầu, bổ sung hiện tại, bổ sung hoàn bị. Nghiên cứu hệ thống cung cấp sách báo cho thưviện: cơ quan phát hành, chế độ nộp lưu chiểu văn hóa phẩm, trao đổi sách giữa các thư viện trong nước và quốc tế... Nghiên cứu tổ chức các loại hình kho sách: kho khép kín (Kho chính, kho phụ, kho tạp chí, báo, kho tài liệu đặc biệt, kho lưu), kho mở (kho tự chọn)...; Phương pháp sắp xếp kho sách: Theo phân loại, theo trang khổ, theo đăng ký cá biệ: Đăng ký cá biệt, đăng ký tổng quát; Tổ chức bảo quản và kiểm kê kho sách của thư viện. Mục lục thư viện. Mục lục thư viện là một phần của thư viện học. Phần này trình bày cách miêu tả và phân loại các ấn phẩm theo tên tác giả, tên sách, phương pháp miêu tả sách có nhiều tập, bộ tùng thư...Cách miêu tả ấn phẩm đặc biệt, miêu tả ấn phẩm định kỳ...Trong thời đại khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển, để hòa nhập, trao đổi và giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực và thế giới, cần thực hiện miêu tả theo theo tiêu chuẩn quốc tế, gọi tắt là ISBD (International Standard Bibliography Description). Phân loại các ấn phẩm có trong kho thư viện, trước hết phải xác định nội dung của quyển sách, xác định công dụng của sách và vị trí của nó trong bảng phân loại, xác định ký hiệu phân loại của từng quyển sá Nghiên cứu phương pháp cấu tạo mục lục, có ba loại mục lục cơ bản: Hiện nay các nước trên thế giới coi mục lục là hệ thống tìm tin mang tính chất truyền thống, là phương tiện có hiệu quả để tuyên truyền, giới thiệu nội dung kho sách của thư viện, giúp độc giả chọn được sách hay, sách tốt nhanh chóng đúng yêu cầu. Mặt khác thư viện áp dụng công nghệ mới tin học hóa các loại hình mục lục đọc bằng máy MARC (MAchine Readable Catalogue). Công tác độc giả. Nghiên cứu những nhiệm vụ, nội dung và nguyên tắc công tác bạn đọc. Vai trò của thư viện trong việc tự học góp phần nâng cao dân trí. Nghiên cứu hứng thú và nhu cầu của bạn đọc, hướng dẫn phương pháp đọc sách. Tổ chức hệ thống phục vụ bạn đọc: Phương pháp công tác với từng bạn đọc, phương pháp tuyên truyền trực quan, tuyên truyền miệng, tổ chức các loại phòng đọc: Phòng đọc tổng hợp, phòng đọc chuyên ngành, phòng đọc tạp chí, phòng đọc quý hiếm, phòng đọc microcart, CD-R, phòng mượn giữa các thư viện, chi nhánh thư viện, thư viện lưu động, các trạm giao sá Tổ chức và quản lý thư viện. Là phần cơ bản của thư viện học. Bao gồm: Tổ chức lao động khoa học trong thư viện đại chúng và thư viện khoa học. Định mức tiêu chuẩn lao động trong từng loại hình thư viện. Cơ cấu thư viện theo chức năng phù hợp với từng loại hình thư viện.Quản lý thư viện bao gồm quản lý kế hoạch công tác: kế hoạch dài hạn, kế hoạch năm, hàng quý, hàng thá, kiểm tra đôn đốc hoàn thành kế hoạch. Quản lý nhân sự có nghĩa là quản lý con người, quản lý nghề nghiệp chuyên môn để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ. Quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ thư viện để có chính sách thích hợp, động viên tính năng động, sáng tạo của họ để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác. Thống kê, báo cáo, ngân sách và hạch toán của thư viện. Quản lý toàn bộ tài sản, cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng và bổ sung trang thiết bị hiện đại nhằm từng bước tự động hóa hoạt động của thư viện. Lịch sử sự nghiệp thư viện. Nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển sự nghiệp thư viện. Nghiên cứu nội dung, hình thức, phương pháp và tổ chức sử dụng sách báo mang tính chất tập thể xã hội trong các chế độ xã hội khác nhau gắn liền với chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa của xã hội đó. Lịch sử thư viện. Theo các nguồn tài liệu sử học và khảo cổ học, thư viện trên thế giới đã xuất hiện từ thời cổ đại, khoảng 2750 trước công nguyên, đó là thư viện của nhà vua Sargon của Akkad Sargon, ở thành phố Akkad. Vào thế kỷ VII (668 - 633) trước công nguyên, trong thư viện của nhà vua Assyria tàng trữ 20.000 cuốn sách bằng đất sét. Nội dung kho sách của thư viện rất phong phú, gồm biên niên sử, những sách khoa học đã ghi lại nhiều thành tựu của người Sumer, người Babylon, người Assyria; Những sách văn học bao gồm truyện cổ tích, truyện thần thoại, các bản anh hùng ca; Những tác phẩm thiên văn học; Những cuốn từ điển Sumer - Babylon; tuyển tập giáo trình; Các bài tập ngữ pháp. Thư viện còn tàng trữ nhiều cuốn sách quý về ngôn ngữ, lịch sử, đời sống, tập quán, pháp luật của các dân tộc vùng Lưỡng Hà thời bấy giờ. Thư viện Alexandria thành lập vào thế kỷ III trước công nguyên - là thư viện công cộng đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Kho sách thư viện gồm 90.000 tập, đa số là các tác phẩm của nền văn hóa Hy Lạp cổ đại và của các dân tộc vùng Trung cận Đông. Ở đây có nhiều tác phẩm nổi tiếng như bi kịch của Aeschylus, Sophocles, Euripides; hài kịch của A: Herodotus, P, khoa học chính xác như: toán học, vật lý học, hóa học, thiên văn học, y học, thực vật, địa lý...Tất cả các công dân được quyền sử dụng thư viện, nhiều nhà bác học đã nghiên cứu và làm việc trong thư viện như nhà toán học Euclid và Archimes, nhà vật lý học H, đồng thời là người trông coi thư viện Alexandria đã tiến hành phân loại sách trong thư viện, công trình này gồm 122 tập. Bộ phân loại sách này đến nay không còn nữa. Sự hình thành và phát triển thư viện Việt Nam. Thư viện xuất hiện vào thế kỷ XI, sau khi Việt Nam giành được chủ quyền độc lập chế độ phong kiến tập quyền trung ương dần dần ổn định, bắt đầu phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, xây dựng trường học, mở các khoa thi, xây dựng kho chứa sánh như: dựng nhà Tàng kinh Trần Phúc (1011) Tàng kinh Bác Giác (1021), Tàng kinh đại hùng (1023), Tàng kinh Trung Hưng (1034). Đời Lý, Phật giáo được coi là quốc giáo. Phần lớn các kho sách của thư viện tàng trữ, bảo quản là sách Kinh Phật. Theo sách Thiền uyển tập Anh thời Lý có khoảng 40 nhà sư làm thơ, viết văn nổi tiếng. Trong đó có những tác phẩm tiêu biểu nhất của các thiền sư như: Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viên Chiế, vì tác giả vừa là nhà tu hành lại vẫn hành động và suy nghĩ như người dân Đại Việt. Ngoài ra, trong kho sách thư viện tàng trữ nhiều tác phẩm có giá trị không phải của nhà chùa như sách của Lý Thái Tông, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Nguyên Ức, Lý Thừa Â, Nguyễn Công Bật viết Văn bia chùa Báo Ân ca ngợi Lý Thường Kiệt, có uy vũ lớn, đánh nam dẹp bắc đều thắng. Trong kho sách của thư viện còn bảo quản các chiếu chỉ của vua quan như: Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ, bài chiếu nêu rõ ý chí "Muốn đóng nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu muôn đời sau". Lý Thái Tổ muốn xây dựng đất nước một cách quy mô, phát huy quyền lực của chính quyền trung ương, chiếu dời đô phản ánh nguyện vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất. Ngoài văn bia, chiếu chỉ, thư viện còn tàng trữ nhiều tác phẩm có giá trị về mặt sử học, văn học, triết học, truyện, ký, thơ ca. Năm 1070, Lý Thánh Tông sai lập Văn Miếu ở thủ đô Thăng Long, thế là bên cạnh các chùa thờ Phật, đã có miếu thờ các vị thánh hiền, nho gia, đắp tượng Chu Công, Khổng Tử và 72 vị tiên hiền. Năm 1076, Lý Nhân Tông cho mở Quốc Tử Giám để chăm lo giảng dạy Nho giáo, các sách giáo khoa được phổ biến rộng rãi và nhập vào thư viện ngày càng nhiều. Do đó, ngoài những kho sách tàng kinh đã có một thư viện được xây dựng bên cạnh Quốc Tử Giám (1078). Năm 1253, Quốc học viện được thành lập, để cho các nho sĩ tới lui học tập có kho chứa sách, phòng đọc sách, có thầy giảng dạy, có nơi lưu trú cho học sinh. Đến thời Trần Duệ Tông mở khoa thi tiến sĩ, đồng thời đã cử Trần Tông một nhà nho phụ trách thư viện Lãn Kha và dạy học. Cuối đời Trần nho giáo đã trở thành quốc giáo. Khi nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly lên cầm quyền đã mở trường học đến các châu, quận, huyện, nhà nước cấp ruộng đất nuôi thầy, mở lớp học và mua sách Nho giáo; Chương trình thi cử ngoài kinh, truyện sử còn có những môn thi như: làm toán, viết chữ. Sau khi đánh bại nhà Hồ, quân nhà Minh chiếm Việt Nam thi hành chính sách thủ tiêu nền văn hóa Việt Nam, Hán hóa dân tộc Việt Nam. Năm 1407 vua nhà Minh sai Trương Phụ, Trần Húc thiêu hủy tất cả sách vở của ngưới Việt, đập nát bia đá và tịch thu tất cả thư viện, sách vở về lịch sử, văn học, pháp luật, quân sự còn sót lại đưa về Kim Lăng Trung Quốc. Từ khi nhà Lê khôi phục nền độc lập Nho giáo trở thành quốc pháp. Vua Lê Thái Tổ đã sai Nguyễn Trãi, Phan Phu Tiên, Lý Tử Tấn sưu tầm các sách vở của triều đại trước để xây dựng thư viện và đưa vào Bí thư các để tham khảo, phục vụ cho việc học tập, thi cử và giảng dạy. Năm 1483, Vua Lê Thánh Tông, xây dựng lại Văn Miếu và lập nhà Thái học ở sau Văn Miếu, ở đây vừa là giảng đường vừa là thư viện, là nơi bảo quản các bản in gỗ quan trọng. Trong 37 năm trị vì vua Lê Thánh Tông đã mở 12 khoa thi hội, lấy 501 tiến sĩ (Trong đó có 10 trạng nguyên). Năm 1506 nhà Lê đã tổ chức kì thi toán, có 3 vạn người dự 47 thi. Kết quả có 1519 người trúng tuyể, nền giáo dục triều Lê ngày càng phát triển. Số người dự thi hương, thi hội ngày càng đông, nhu cầu sử dụng sách báo của thư viện ở kinh thành, cho đến các đạo, quận, huyệ Năm 1462, Lương Như Hộc được cử giữ chức Bí thư các giám học sĩ, đồng thời trông coi thư viện. Thời Lê - Trịnh cho tu sửa Quốc Tử giám và Bí thư các đồng thời bổ dụng nhà bác học Lê Quý Đôn phụ trách thư viện Thái học (1762). Thành phần kho sách của các thư viện từ cuối đời Trần cho đến thời Lê - Trịnh bao gồm đại bộ phận là sách triết học, chính trị, lịch sử, văn học, pháp luật, y học, thủy lợi, kiến trúc, luyện kim đúc trống đồng tinh xảo, sách kỹ thuật thủ công nghiệp như nuôi tằm, dệt lụa, làm giấ, tinh thần giữ nước cao cả... Năm 1792, Hoàng đế Quang trung lập Sùng chính thư viện ở Nghệ An, cử Nguyễn Thiếp làm viện trưởng để tổ chức việc dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm gồm có Tiểu học; Tứ Thư; Kinh Thi;Kinh Dịch, trong đó Tiểu học và Tứ Thư đã được dịch xong. Thế kỷ XIX, các vua triều Nguyễn rất chú ý xây dựng thư viện như: Tàng thư lâu ở phía Tây hồ Tĩnh Tâm (1825), Tân thư viện, Tử Khuê thư viện. Qua các bản thư mục và mục lục của những thư viện này, hiện nay còn giữ ở thư viện khoa học xã hội, viện thông tin khoa học xã hội, chứng minh rằng kho sách của các thư viện còn tương đối nhiều và đang tiến hành các khâu kỹ thuật như phân loại ấn phẩm, sắp xếp sách, xây dựng mục lụ, đầu thế kỷ XX khi Thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, chữ quốc ngữ đã được sử dụng trong các cơ quan nhà nước, đồng thời dùng để in sách, thư viện bắt đầu bổ sung một số sách chữ quốc ngữ và sách phương Tây bằng nguyên bản hoặc bản dịch. Năm 1874 vua Tự Đức đã cho thư viện tàng trữ 16 bộ sách phương Tây như: Vạn quốc công pháp, Bác vật tân biên, Hàn hải kim châm, Khai mỏ yếu thuậ, nhưng sách khoa học kỹ thuật nhập vào thư viện vẫn còn bị hạn chế. Năm 1898, thực dân Pháp đã tiến hành xây dựng thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ và lập ngay thư mục "An Nam" (Bibliographie Annamite) của A. de Bellcomhe và Barbier du Bocage. Trong thư mục này giới thiệu 257 tác phẩm, báo, tạp chí, bản thảo, bản đồ, sơ đồ nói về Việt Nam. Năm 1912 Henri Codier xây dựng thư mục quan trọng "Thư viện Đông Pháp" (Bibliographie Indosinica), trong đó giới thiệu những sách và bài tạp chí bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài xuất bản ở Đông Dương và các nước khác có liên quan đến Việt Nam, nhằm mục đích nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên Việt Nam. Kho sách của thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ có 104.000 cuốn, đại bộ phận là sách, tạp chí, bản đồ, tranh ảnh, bia đá, bản thảo, chép , bao gồm các môn loại tri thức như: Lịch sử, khảo cổ, địa lý, địa chất, kinh tế... của Việt Nam và Đông Dương. Tháng 10 năm 1919, Thực dân Pháp xây dựng thư viện trung tâm của Đông Dương (Nay là thư viện Quốc gia Việt Nam). Vào năm 1921, Thực dân Pháp giao cho thư viện thu lưu chiểu văn hóa phẩm đã in, xuất bản trên lãnh thổ Việt Nam, Lào, Campuchia. Từ năm 1922 đến 1943, thư viện đã biên soạn và xuất bản thư mục thống kê đăng ký quốc gia. Kho sách của thư viện lúc bấy giờ có 150.000 tập và 1.883 tên loại báo và tạp chí xuất bản ở Đông Dương, các nước châu Á và Phá Tóm lại, từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX, thư viện Việt Nam phát triển rất chậm, kho sách thư viện bị nhiều tổn thất mất mát, có khi bị phá hủy vì các cuộc chiến tranh của phong kiến và đế quốc nước ngoài, các cuộc nội chiến gây nên. Thư viện Việt Nam xuất hiện với chức năng tàng trữ là chủ yếu, trong khi thần quyền còn chiếm ưu thế trong ý thức của nhân dân, Phật giáo, Nho giáo giữ vai trò quốc giáo trong xã hội, thì thư viện thường xuất hiện trong các cung điện nhà vua, nhà chùa, nhà chung, nhà thờ, trong các trường họ Từ năm 1945 cho đến nay, mục đích, phương hướng, nội dung hoạt động của các loại hình thư viện thay đổi về cơ bản. Thư viện đã thiết thực phục vụ cho nền kinh tế mới, nền văn hóa mới, con người phát triển toàn diện.
Trong hóa hữu cơ, một hợp chất hữu cơ được gọi là no nếu nó có số lượng nguyên tử hydro lớn nhất có thể, nghĩa là không có liên kết đôi carbon-carbon, hay trong một mạch hydrocarbon, mỗi nguyên tử carbon được liên kết với hai nguyên tử hydro. Ví dụ, trong các hydrocarbon đơn giản, alkan là no, còn alken là không no. Các hợp chất không no được đặc trưng bởi các hệ electron pi. Khái niệm này được dùng một cách tương tự đối với các thành phần acid béo của lipid, ở đó chất béo được mô tả là no hay không no phụ thuộc vào việc thành phần axít béo có chứa liên kết đôi carbon-carbon hay không. Với hợp chất không no, cấu trúc carbon chứa liên kết đôi hoặc đôi khi là liên kết ba. Nhiều loại dầu thực vật chứa các axít béo với một hay nhiều liên kết đôi.
Jennifer Lynn Lopez (sinh ngày 24 tháng 7 năm 1969), là một diễn viên hay đóng cảnh khỏa thân hở ngực. Vào năm 1991, Lopez bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là một thành viên trong nhóm vũ công "Fly Girl" trong chương trình truyền hình hài kịch "In Living Color". Bà vẫn là một người bình thường cho đến năm 1993, khi bà quyết định theo đuổi sự nghiệp diễn xuất. Bà vào vai Selena, là vai diễn chính đầu tiên trong đời trong bộ phim kể về một nhân vật có thật cùng tên vào năm 1997. Bà sau đó nhận được một đề cử tại Giải Quả cầu vàng và trở thành diễn viên gốc Latin đầu tiên kiếm được hơn 1 triệu đô-la Mỹ cho một bộ phim. Bà cũng tham gia bộ phim phiêu lưu kinh dị "Anaconda" (1997), và bộ phim hài tội phạm "Out of Sight" (1998), sau đó trở thành nữ diễn viên Latin được trả lương cao nhất trong giới Hollywood. Lopez bước vào ngành công nghiệp âm nhạc vào năm 1999 với album phòng thu đầu tay của cô, "On the 6", bao gồm các đĩa đơn được xếp hạng top 10 trong "Billboard" Hot 100. Lopez sinh ra tại Castle Hill, New York. Bố bà - David Lopez (kĩ thuật viên máy tính) - và mẹ bà - Guadalupe Rodriguez (giáo viên mầm non) - là người Puerto Rico. Bà có hai chị em gái, Lynda và Leslie. Jennifer Lopez từng học trong trường Thiên chúa giáo, hoàn tất trung học tại trường Trung học Preston ở Bronx. Từ năm 19 tuổi, bà bắt đầu tự lo học phí để học ca hát và nhảy múa. Sau khi theo học một học kỳ tại trường Cao đẳng Baruch, Jennifer phân chia quỹ thời gian để vừa làm một nhân viên công chứng, vừa tham gia lớp học nhảy đồng thời tham gia nhảy biểu diễn tại những ở Manhattan. Sau nhiều tháng tham gia các cuộc tuyển chọn vũ công, Lopez được chọn làm vũ công trong những video nhạc rap trong năm 1990 của chương trình Yo!MTV Raps và là vũ công múa minh họa cho nhóm nhạc New Kids on the Block trong phần trình diễn ca khúc "Games" của nhóm này tại Giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 1991. Sau khi bị từ chối hai lần, Lopez đạt được vai diễn vũ công "Fly Girl" ("Những cô gái biết bay") trong chương trình truyền hình hài "In Living Color" năm 1990. Không lâu sau đó, Lopez trở thành vũ công múa minh họa cho Janet Jackson và quảng bá hình ảnh chính mình trong video ca nhạc "That's the Way Love Goes" năm 1993.
Ông đã ba lần được đề cử Giải Oscar cho "Nam diễn viên chính xuất sắc nhất" và nhận giải "Diễn viên nam phụ xuất sắc nhất". Ông cũng từng nhận được hai giải thưởng Emmy, bốn giải thưởng Quả cầu vàng, hai giải Screen Actors Guild và năm giải Grammy. Ngày 11 tháng 8 năm 2014, ông được tìm thấy trong tình trạng bất tỉnh tại tư gia ở Paradise Cay, California và được xác nhận qua đời ở tuổi 63. Nguyên nhân cuối cùng được đưa ra là do thắt cổ tự tử. Mẹ của ông, Laura McLaurin (nhũ danh Smith, 24 tháng 9 năm 1922 – 4 tháng 9 năm 2001), là một cựu người mẫu từ New Orleans, Louisiana. Cha của ông, Robert Fitzgerald Williams (10 tháng 9 năm 1906 – 18 tháng 10 năm 1987) là một người điều hành cấp cao tại Công ty Ford Motor phụ trách khu vực miền Trung Tây. Ông kị ngoại (ông tổ ngoại) của ông là thượng nghị sĩ và thống đốc Mississippi Anselm J. McLaurin.. Tổ tiên của Williams bao gồm: Anh, Wales, Ireland, Scotland, Đức và Pháp.. Ông lớn lên trong Giáo hội Hoa Kỳ (trong khi mẹ của ông thực hành Giáo hội Cơ đốc Khoa học).. Ông lớn lên ở Bloomfield Hills, Michigan, nơi ông theo học Trường Detroit Country Day, và sau đó chuyển đến Woodacre, quận Marin, California, nơi ông theo học Trường trung học Redwood công lập ở gần Larkspur, California. Williams học tại Claremont McKenna College (lúc đó được gọi là trường Claremont Men's College). Williams rời Claremont và đạt được học bổng toàn phần vào Trường Juilliard danh giá. Trong giữa Claremont và Juilliard, ông nhập học Đại học Marin theo học ngành sân khấu. Ông phải chật vật chống chứng nghiện cocaine và rượu trong những năm 1980 và có tâm lý không tốt suốt nhiều thập kỷ. Ông chiến đấu với chứng nghiện cocaine và rượu đầu những năm 1980 nhưng đã cai được 20 năm. Tháng 7/2014, ông tiếp tục phải quay lại Trung tâm điều trị chống chứng nghiện Hazelden ở Minnesota. Williams kết hôn với người vợ đầu tiên với bà Valerie Velardi vào năm 1978. Hai người chia tay sau 10 năm chung sống do ông bị phát hiện ngoại tình với một nữ nhân viên phục vụ quầy rượu. Ông và bà vợ đầu tiên có một con trai tên Zachary. Người vợ thứ hai của Robin Williams là bà Marsha Garces vốn là vú em của gia đình. Cô và Robin làm đám cưới vào năm 1989 bà Marsha Garces đang mang bầu con gái của hai người. Chỉ một năm sau khi hoàn tất thủ tục ly dị với người vợ thứ nhất, Robin đã kết hôn với bà Marsha Garces. Ông và Marsha chung sống từ năm 1989 tới năm 2008 và có một con trai và một con gái. Người vợ thứ ba của Robin là nhà thiết kế Susan Schneider, họ tổ chức đám cưới vào năm 2011. Williams được tìm thấy trong tình trạng bất tỉnh tại tư gia ngoài California gần trưa 11 tháng 8 năm 2014 (giờ địa phương) và được xác nhận qua đời vào lúc 12:02 trưa cùng ngày. Nguyên nhân ban đầu do Cảnh sát Paradise Cay được cho là tự tử bằng cách tự làm ngạt. Theo người đại diện của Williams, ông phải trải qua tình trạng suy sụp trong suốt thời gian trước khi qua đời, dù không hề khẳng định đó là lý do mà Williams tự tử. Kết quả giám định cuối cùng cho rằng ông đã thắt cổ tự tử
Trong hóa hữu cơ, alken là một hydrocarbon chứa liên kết đôi carbon–carbon. Alken thường đồng nghĩa với olefin. Thuật ngữ olefin dùng cho bất cứ hydrocarbon nào có chứa một hoặc nhiều liên kết đôi. Tuy nhiên, Liên minh Hóa học Thuần túy và Ứng dụng Quốc tế (IUPAC) khuyến nghị chỉ sử dụng tên "alken" cho các hydrocarbon mạch hở chỉ có một liên kết đôi; alkadien, alkatrien, , hoặc polyen đối với hydrocarbon mạch hở có hai hoặc nhiều liên kết đôi; cycloalken, cycloalkadien, ; và "olefin" cho hydrocarbon mạch vòng hay mạch hở có một hoặc nhiều liên kết đôi. Alken mạch hở, chỉ có 1 liên kết đôi và không chứa nhóm chức nào khác (còn gọi là alken đơn chức hay mono-en) tạo thành dãy đồng đẳng của hydrocarbon có công thức chung với "n" từ 2 trở lên (ít hơn alkan tương ứng 2 hydro ). Khi "n" từ 4 trở lên thì có đồng phân dựa vào sự thay đổi vị trí nối đôi và vị trí các cấu phần liên kết với carbon có nối đôi. Alken thường các hợp chất không phân cực không màu, hơi giống với alkan nhưng phản ứng mạnh hơn. Một số thành viên đầu tiên của chuỗi là chất khí hoặc chất lỏng ở nhiệt độ phòng. Alken đơn giản nhất, ethylen () (danh pháp IUPAC: "ethen") là hợp chất hữu cơ được sản xuất ở quy mô công nghiệp lớn nhất. Các hợp chất thơm thường được gọi là alken vòng, tuy nhiên cấu trúc và tính chất của chúng đủ khác biệt để chất không được phân loại là alken hoặc olefin. hydrocarbon có 2 liên kết đôi xen phủ ( ) được gọi là allen (hợp chất đơn giản nhất là "allen") và những hợp chất có ba liên kết đôi liền nhau trở lên (, , ) được gọi là cumulen. Đồng phân cấu tạo. Các alken có 4 nguyên tử carbon trở lên có thể tạo thành đồng phân cấu tạo. Hầu hết các alken là đồng phân của cycloalkan. Sau đây là số đồng phân cấu tạo của alken mạch hở có một liên kết đôi: Nhiều phân tử trong số này có đồng phân "cis–trans". Cũng có thể có các nguyên tử carbon bất đối đặc biệt trong các phân tử lớn (từ trở lên). Số lượng đồng phân tăng nhanh khi thêm tăng số nguyên tử carbon. Cấu trúc và liên kết. Liên kết đôi carbon-carbon cấu tạo bởi 1 liên kết sigma và 1 liên kết pi. Liên kết đôi này mạnh hơn liên kết đơn (C=C là 611 kJ / mol, còn C–C là 347 kJ/mol). Liên kết đôi ngắn hơn liên kết đơn với độ dài liên kết trung bình là 1,33 Å (133 pm, C–C là 1,53 Å). Mỗi nguyên tử carbon của liên kết đôi sử dụng ba orbital lai hóa sp2 để tạo thành liên kết sigma với ba nguyên tử khác. Các orbital nguyên tử 2p không lai hóa sẽ ở vị trí vuông góc với mặt phẳng tạo bởi trục của ba orbital lai hóa sp2, xen phủ nhau để tạo thành liên kết pi. Liên kết này nằm bên ngoài trục C–C chính, tạo liên kết pi có năng lượng liên kết yếu hơn đáng kể so với liên kết sigma, chỉ 65 kcal/mol. Sự quay quanh liên kết đôi carbon-carbon bị hạn chế vì cần tiêu tốn năng lượng để phá vỡ liên kết của orbital p trên hai nguyên tử carbon. Do đó, sự chuyển đổi giữa đồng phân "cis" hoặc "trans" chậm đến mức có thể tách ra được dừng đồng phân riêng rẽ mà không bị đồng phân hóa. Các alken phức tạp hơn có thể được đặt tên bằng danh pháp "E" – "Z" cho các phân tử có 3 hoặc 4 nhóm thế khác nhau. Ví dụ, trong số các đồng phân của buten, hai nhóm methyl của ("Z")-but-2-en (hay còn gọi là "cis"-2-buten) xuất hiện ở cùng một phía của liên kết đôi và trong ("E")-but-2 -en (còn gọi là "trans"-2-buten), nhóm methyl xuất hiện ở hai phía đối diện. Hai đồng phân của buten có tính chất vật lý và hóa học riêng biệt. Theo dự đoán của mô hình VSEPR về lực đẩy cặp electron, góc liên kết xung quanh mỗi nguyên tử carbon trong liên kết đôi khoảng 120°. Góc có thể thay đổi do tương tác Van der Waals được tạo ra bởi các tương tác không liên kết giữa các nhóm chức gắn với các nguyên tử carbon của liên kết đôi. Ví dụ, góc liên kết C–C–C trong propylen là 123,9°. Đối với các alken có cầu nối, quy tắc Bredt phát biểu rằng liên kết đôi không thể xảy ra ở đầu cầu của hệ vòng có cầu nối, trừ khi các vòng đủ lớn. Theo Fawcett định nghĩa: Lấy "S" là tổng số nguyên tử không nằm ở đầu cầu trong các vòng, để ổn định cấu trúc phân tử, hệ hai vòng thì "S" ≥ 7 và hệ ba vòng thì "S" ≥ 11. Tính chất vật lý. Nhiều tính chất vật lý của alken và alkan tương tự nhau: không màu, không phân cực và dễ cháy. Trạng thái vật lý phụ thuộc vào khối lượng phân tử: giống như các hydrocarbon no tương ứng, các alken đơn giản nhất (ethylen, propylen và buten) là chất khí ở nhiệt độ phòng. Các alken mạch thẳng có khoảng 5 đến 16 nguyên tử carbon ở thể lỏng và các alken có số carbon cao hơn là chất rắn dạng sáp. Nhiệt độ nóng chảy của chất rắn cũng tăng khi khối lượng phân tử tăng. Các alken thường có mùi mạnh hơn các alkan tương ứng. Ethylen có mùi ngọt và giống như mùi mốc. Liên kết của ion cupric với olefin trong thụ thể khứu giác của động vật có vú (MOR244-3) có liên quan đến mùi của alken và thiol. Các alken mạch thẳng như norbornen và "trans"-cycloocten có mùi khó chịu, nồng. Tính chất hóa học. Alken là hợp chất khá bền vững, nhưng dễ phản ứng hơn alkan. Phần lớn phản ứng của alken liên quan tới liên kết pi, để tạo thành liên kết đơn mới. Alken là nguyên liệu thô trong công nghiệp hóa dầu vì chúng tham gia nhiều vào các phản ứng hóa học như là polymer hóa và alkyl hóa Ngoại trừ ethylen, các alken có hai vị trí phản ứng: liên kết pi carbon carbon và trung tâm CH allyl. Alken tham gia phản ứng cộng do có liên kết đôi. Hầu hết các phản ứng cộng này tuân theo cơ chế cộng electrophil, ví dụ: hydrohalogen hóa, halogen hóa, hình thành halohydrin, oxy-thủy ngân hóa, hydrobor-oxy hóa, cộng dichlorocarben, phản ứng Simmons–Smith, hydro hóa có xúc tác, epoxide hóa, phản ứng trùng hợp gốc và hydroxyl hóa. Hydro hóa alken tạo ra alkan tương ứng. Phản ứng đôi khi được thực hiện dưới áp suất và ở nhiệt độ cao. Chất xúc tác thường là kim loại. Các chất xúc tác công nghiệp chứa platin, nickel và paladi. Một ứng dụng quy mô lớn là sản xuất bơ thực vật. Liên kết hay tổng quát hơn là sẽ phản ứng vào nối đôi. Phản ứng với có ý nghĩa thương mại lớn. Một ví dụ là phản ứng cộng H-SiR3, tức là hydrosilyl hóa, để tạo ra các hợp chất cơ-silic. Một phản ứng khác là hydrocyanat hóa, chính là phản ứng cộng . Hydrat hóa là cộng 1 phân tử nước vào liên kết đôi của alken, tạo ra alcohol. Phản ứng được xúc tác bởi acid phosphoric hoặc acid sulfuric. Phản ứng này được thực hiện ở quy mô công nghiệp để sản xuất ethanol tổng hợp. chemCH2=CH2 + H2O - CH3-CH2OH/chem Alken có thể biến đổi thành alcohol thông qua phản ứng oxy-thủy ngân hóa–de-thủy ngân hóa, phản ứng hydrobor hóa–oxy hóa hoặc bằng phản ứng hydrat hóa Mukaiyama. Trong phản ứng cộng halogen theo cơ chế electrophil, phản ứng cộng brom hoặc chlor vào alken tạo ra các dibromo- và dichloroalkan (hai nguyên tử trên ở vị trí carbon liền kề, tức là 1,2-dihalide hoặc ethylen dihalide). Nhận biết alken bằng phản ứng làm mất màu dung dịch nước brom. chemCH2=CH2 + Br2 - BrCH2-CH2Br/chem Các phản ứng liên quan cũng được sử dụng làm thước đo định lượng độ bất bão hòa, được biểu thị bằng chỉ số brom và chỉ số iod của một hợp chất hoặc hỗn hợp. Hydrohalogen hóa là phản ứng cộng hydro halide, chẳng hạn như HCl hoặc HI, vào alken để tạo ra haloalkan tương ứng: Nếu hai nguyên tử cacbon ở liên kết đôi liên kết với hydro có số lương nguyên tử khác nhau, thì halogen được ưu tiên cộng vào carbon có ít nhóm thế hydro hơn. Đây là quy tắc Markovnikov. Việc sử dụng các chất khơi mào gốc tự do có thể làm thay đổi kết quả sản phẩm. Đặc biệt là acid hydrobromic có xu hướng hình thành các gốc tự do khi có nhiều tạp chất hoặc thậm chí là oxy trong khí quyển, làm cho phản ứng không tuân theo quy tắc Markovnikov: Alken phản ứng với nước và halogen để tạo thành halohydrin bằng phản ứng cộng. Alken phản ứng với acid percarboxylic và thậm chí cả hydro peroxide để tạo ra epoxide: chemRCH=CH2 + RCO3H - RCHOCH2 + RCO2H/chem Đối với ethylen, epoxy hóa được tiến hành trên quy mô công nghiệp bằng cách sử dụng oxy với sự có mặt của chất xúc tác: chemC2H4 + 1/2 O2 - C2H4O/chem Alken phản ứng với ozon, dẫn đến sự phân cắt của liên kết đôi. Phản ứng này được gọi là ozon phân. Thông thường, quy trình phản ứng thường có mặt chất khử nhẹ, chẳng hạn như dimethylsulfide (): chemRCH=CHR' + O3 + SMe2 - RCHO + R'CHO + O=SMe2/chem chemR2C=CHR' + O3 - R2CHO + R'CHO + O=SMe2/chem Khi được xử lý bằng dung dịch acid hóa đặc, nóng, alken bị phân cắt tạo thành keton và/hoặc acid carboxylic. Phản ứng này và ozon phân có thể được sử dụng để xác định vị trí của liên kết đôi trong một alken chưa biết. Quá trình oxy hóa có thể dừng lại ở diol liền kề thay vì phân tách hoàn toàn alken bằng cách sử dụng osmi(VII) oxide hoặc các chất oxy hóa khác: chemR'CH=CR2 + 1/2 O2 + H2O - R'CH(OH)-C(OH)R2/chem Phản ứng này được gọi là dihydroxyl hóa. Với sự có mặt của chất nhạy quang thích hợp, chẳng hạn như xanh methylen và ánh sáng, các alken phản ứng với các gốc hydroxyl, oxy hoạt tính hoặc ion superoxide. Phản ứng có mặt chất nhạy có thể liên quan đến sự chuyền electron hoặc hydro, thường là với chất khử (phản ứng loại I) hoặc tương tác với oxy (phản ứng loại II). Các phản ứng này có thể kiểm soát bằng cách lựa chọn các điều kiện phản ứng cụ thể, dẫn đến nhiều loại sản phẩm. Một ví dụ phổ biến là phản ứng cộng vòng [4+2] của oxy hoạt tính với một dien, chẳng hạn như cyclopentadien để tạo ra endoperoxide: Một ví dụ khác là phản ứng ene, trong đó oxy hoạt tính phản ứng với cấu trúc allyl để tạo ra allyl peroxide chuyển vị: Phản ứng trùng hợp (polymer hóa). Alken tận là tiền chất của polymer thông qua phản ứng trùng hợp. Một số phản ứng trùng hợp có ý nghĩa kinh tế lớn, vì chúng tạo ra nhựa polyethylen (PE) và polypropylen (PP). Polymer tạo thành từ alken thường được gọi là "polyolefin" mặc dù chúng không chứa olefin. Quá trình trùng hợp có thể tiến hành thông qua các cơ chế khác nhau. Dien liên hợp như buta-1,3-dien và isopren (2-methylbuta-1,3-dien, cấu tạo nên cao su tự nhiên) cũng tạo ra polymer. Tạo phức kim loại. Alken là phối tử trong phức alken kim loại chuyển tiếp. Hai trung tâm carbon liên kết với kim loại bằng cách sử dụng orbital pi và pi* của . Monolefin và diolefin thường được sử dụng làm phối tử trong các phức bền. Cyclooctadien và norbornadien là những tác nhân chelat phổ biến, và thậm chí bản thân ethylen còn được sử dụng làm phối tử trong muối Zeise. Ngoài ra, phức kim loại-alken là chất trung gian trong nhiều phản ứng xúc tác kim loại bao gồm hydro hóa, hydroformyl hóa và phản ứng trùng hợp. Phương pháp công nghiệp. Alken được sản xuất bằng cách cracking hydrocacbon. Nguyên liệu chủ yếu là các thành phần khí tự nhiên ngưng tụ (chủ yếu là ethan và propan) ở Mỹ và Trung Đông và naphtha ở Châu Âu và Châu Á. Alkan bị phá vỡ ở nhiệt độ cao, thường có mặt chất xúc tác zeolit, để tạo ra hỗn hợp chủ yếu là alken béo và alkan có trọng lượng phân tử thấp hơn. Hỗn hợp này phụ thuộc vào nguyên liệu và nhiệt độ, và được phân tách bằng phương pháp chưng cất phân đoạn. Phương pháp trên chử yếu dùng để điều chế alken nhỏ (tối đa 6 nguyên tử carbon). Dehydro hóa có xúc tác là phản ứng trong đó một alkan tách hydro ở nhiệt độ cao để tạo ra alken tương ứng. Đây là phản ứng ngược với phản ứng hydro hóa xúc tác của alken: Quá trình này còn được gọi là reforming. Cả hai quá trình đều là quá trình thu nhiệt và sản phẩm thường là alken. Các α-alken cao hơn (thuộc loại RCH=CH2) cũng có thể tổng hợp được dưới xúc tác bằng phản ứng của ethylen với hợp chất cơ kim triethyl nhôm (TEA), xúc tác nickel, cobalt hoặc platin. Một trong những phương pháp chính để tổng hợp alken trong phòng thí nghiệm là dùng phản ứng tách các alkyl halide, alcohol và các hợp chất tương tự. Phổ biến nhất là tách β thông qua cơ chế phản ứng E2 (tách lưỡng phân tử) hoặc E1 (tách đơn phân tử), nhưng cũng có thể tách α. Cơ chế phản ứng "tách lưỡng phân tử" (E2) là cơ chế tách β tin cậy hơn so với cơ chế phản ứng "tách đơn phân tử" (E1) đối với hầu hết con đường tổng hợp alken. Hầu hết phản ứng tách E2 đều bắt đầu bằng alkyl halide hoặc ester alkyl sulfonat (chẳng hạn như tosylat hoặc triflat). Khi một alkyl halide được sử dụng, phản ứng được gọi là dehydrohalogen hóa. Đối với các chất bất đốt xứng, alken được hình thành với lượng lớn nhất là alken tách hydro từ carbon alpha (α-carbon) có ít nhóm thế là hydro nhất (xem quy tắc của Zaitsev). Hai phương pháp phổ biến của phản ứng tách là dehydrohalogen hóa của alkyl halide và phản ứng khử nước (dehydrat hóa) của alcohol. Ở ví dụ phía dưới, nếu H ở vị trí "anti" cũng có thể được tách ra, ngay cả khi sản phẩm tạo tách nếu tách H-"anti" tạo ra đồng phân Z kém bền hơn: Alken có thể được tổng hợp từ alcohol thông qua phản ứng dehydrat hóa, trong trường hợp đó phân tử nước tách thông qua cơ chế E1. Ví dụ, quá trình khử nước của ethanol tạo ra ethylen: CH3CH2OH → H2C=CH2 + H2O Alcohol có thể được chuyển hóa thành nhóm rời tốt hơn (ví dụ: xanthat), để cho phép cơ chế tách ở vị tri "syn" dễ hơn hơn như tách Chugaev và tách Grieco Các phản ứng liên quan: tách bằng β-haloether (tổng hợp Boord olefin) và ester (nhiệt phân ester). Alken có thể được điều chế gián tiếp từ alkyl amin. Amin hoặc amonia không phải là nhóm rời thích hợp, do đó trước tiên, amin được alkyl hóa (như trong quá trình tách Hofmann ) hoặc bị oxy hóa thành amin oxide (phản ứng Cope) để có thể tách nhóm dễ dàng hơn. Phản ứng Cope tuân theo cơ thế tách-"syn" xảy ra ở khoảng nhiệt độ 150 °C, ví dụ: Tách Hofmann không bình thường ở chỗ các alken đi ngược lại quy tắc Zaitsev thường là sản phẩm chính. Alken còn được tạo ra từ α-halosulfon trong phản ứng Ramberg–Bäcklund, thông qua một chất trung gian sulfon vòng ba cạnh. Tổng hợp từ các hợp chất carbonyl. Một phương pháp quan trọng khác để tổng hợp alken liên quan đến việc xây dựng liên kết đôi carbon-carbon mới bằng cách ghép hợp chất carbonyl (chẳng hạn như aldehyde hoặc keton) với một đương lượng carbanion. Những phản ứng như vậy đôi khi được gọi là phản ứng "olefin hóa". Phương pháp nổi tiếng là phản ứng Wittig, nhưng các phương pháp liên quan khác cũng được biết đến như phản ứng Horner–Wadsworth–Emmons. Phản ứng Wittig là phản ứng của aldehyde hoặc keton với thuốc thử Wittig (hoặc phosphoran) thuộc loại Ph3P=CHR để tạo ra alken và Ph3P=O (triphenylphosphin). Bản thân thuốc thử Wittig được điều chế dễ dàng từ triphenylphosphin với một alkyl halide. Phản ứng này khá chung chung và nhiều nhóm chức có thể phù hợp, thậm chí là ester, như trong ví dụ này: Liên quan đến phản ứng Wittig là phản ứng olefin hóa Peterson, sử dụng chất phản ứng dựa trên silic thay cho phosphoran. Phản ứng này cho phép tạo ra sản phẩm chọn lọc lập thể "E"- hoặc "Z-." Nếu muốn có sản phẩm "E", thì một giải pháp thay thế khác là phản ứng olefin hóa Julia, sử dụng carbanion được tạo ra từ phenyl sulfon. Phản ứng olefin hóa Takai dựa trên chất trung gian cơ-chromi cũng tạo ra các sản phẩm "E-". Thuốc thử Tebbe là một hợp chất của titani rất hữu ích cho việc tổng hợp các hợp chất methylen; trong trường hợp này thậm chí ester và amide cũng tham gia phản ứng. Một cặp ketone hoặc aldehyde có thể bị deoxygen hóa để tạo ra alken. Các alken đối xứng có thể được điều chế từ aldehyde hoặc keton phản ứng với chính nó, sử dụng quá trình khử kim loại titani (phản ứng McMurry). Nếu dùng các keton khác nhau trong phản ứng thì cần phải có một phương pháp phức tạp hơn, chẳng hạn như phản ứng Barton–Kellogg. Một keton duy nhất cũng có thể được chuyển hóa thành alken tương ứng thông qua tosylhydrazon của nó, sử dụng natri methoxide (phản ứng Bamford–Stevens) hoặc alkyllithi (phản ứng Shapiro). Tổng hợp từ alken. Tổng hợp các alken dài hơn bằng phản ứng trùng hợp từng bước của các alken nhỏ hơn, vì ethylen (alken nhỏ nhất) vừa rẻ vừa sẵn có. Tổng hợp Ziegler–Natta cho phép hình thành các chuỗi rất dài như polyethylen. Khi muốn có các chuỗi ngắn hơn như trong sản xuất chất hoạt động bề mặt, có thể thể sử dụng các bước hoán vị olefin như quy trình olefin Shell. Hoán vị olefin ("olefin metathesis") được sử dụng trong thương mại nhằm chuyển hóa ethylen và 2-buten thành propylen. Hoán vị olefin mở ra con đường tổng hợp hữu cơ mới cho ngành hóa dầu, polymer và hóa chất đặc biệt quan trọng. Quá trình này sử dụng xúc tác dị thể chứa rheni và molybden: CH2=CH2 + CH3CH=CHCH3 → 2 CH2=CHCH3 Hydrovinyl hóa xúc tác kim loại là một quá trình tổng hợp alken quan trọng khác có nguyên liệu ban đầu từ chính alken. Phản ứng cộng một nhóm hydro và một nhóm vinyl (hoặc một nhóm alkenyl) vào liên kết đôi. Khử alkyn là một phương pháp hữu ích cho quá trình tổng hợp chọn lọc lập thể của các alken bất đối. Nếu muốn có "cis"-alken, thì phản ứng hydro hóa với sự có mặt của chất xúc tác Lindlar (một chất xúc tác dị thể chứa paladi lắng đọng trên calci carbonat và được xử lý bằng chì) thường được sử dụng. Khử alkyn bằng kim loại natri trong amonia lỏng sẽ cho ra sản phẩm dạng "trans"-alken. Để điều chế các alken nhiều vị trí bất đối xứng, carbometal hóa các alkyn có thể tạo ra nhiều loại dẫn xuất alken. Chuyển vị và phản ứng liên quan. Các alken có thể được tổng hợp từ các alken khác thông qua phản ứng chuyển vị. Bên cạnh hoán vị olefin (được mô tả ở trên), nhiều phản ứng pericyclic có thể được sử dụng như phản ứng ene và chuyển vị Cope. Trong phản ứng Diels–Alder, từ dien và alken có thể điều chế được cyclohexen. Mặc dù danh pháp IUPAC không được tuân theo rộng rãi, nhưng theo IUPAC, alken là một hydrocacbon mạch hở chỉ có một liên kết đôi giữa các nguyên tử carbon. Olefin bao gồm một tập hợp lớn hơn các alken mạch vòng và mạch hở như dien và polyen. Danh pháp IUPAC cho các alken mạch thẳng, chỉ cần thay đổi hậu tố "-an" (của alkan) thành "-en" (của alken). Ví dụ, CH3-CH3 là alkan "ethAN". Do đó, tên của CH2=CH2 là "ethEN". Đối với alken mạch thẳng có từ 4 nguyên tử carbon trở lên và các alken mạch hở phân nhánh, cần tuân theo quy tắc sau Theo IUPAC, cần viết số chỉ vị trí liên kết ở trước "en", ví dụ: "pent-2-en" thay vì "2-penten". Chú ý, nếu (H3C)3C–CH2–CH3 là "2,2-dimethyl pentane", thì (H3C)3C–CH=CH2 là "3,3-dimethyl pen-1-ten". Các quy tắc phức tạp hơn áp dụng cho polyen và cycloalken. Nếu liên kết đôi của một mono-en mạch hở không phải là liên kết đầu tiên của chuỗi thì có thể sẽ có đồng phân "cis" – "trans". Cần xác định xem hai liên kết C–C đơn liền kề với liên kết đôi nằm trên cùng một phía của mặt phẳng hay ở hai phía đối diện. Đối với monoalken, cấu hình thường được biểu thị bằng các tiền tố "cis"- (từ tiếng Latinh "ở bên này") hoặc "trans"- ("chéo", "ở bên kia") trước tên của hợp chất. Ví dụ: "cis"-pent-2-en hoặc "trans"-but-2-en. Tổng quát hơn, đồng phân "cis"–"trans" sẽ tồn tại nếu mỗi nguyên tử cacbon trong liên kết đôi có hai nguyên tử hoặc nhóm khác nhau gắn vào nó. Tính đến những trường hợp này, IUPAC đề xuất danh pháp E–Z tổng quát hơn, thay vì các tiền tố "cis" và "trans". Ký hiệu này xem xét nhóm có quy tắc ưu tiên Cahn–Ingold–Prelog cao nhất trong mỗi hai nguyên tử carbon. Nếu hai nhóm này nằm ở hai phía đối diện của mặt phẳng liên kết đôi, thì cấu hình được ký hiệu là "E" (từ tiếng Đức "entgegen" có nghĩa là "đối diện"); nếu chúng ở cùng một phía thì ký hiệu là "Z" (từ tiếng Đức "zusammen", "cùng nhau"). " Để dễ nhớ hơn thì có mẹo nhớ như sau: "Z" trong cụm từ "'on ze zame zide"', tức là cùng một phía. Nhóm chứa liên kết đôi C=C. IUPAC công nhận hai tên cho các nhóm hydrocacbon chứa liên kết đôi carbon-carbon, nhóm vinyl và nhóm allyl.
James Eugene Carrey (sinh ngày 17 tháng 1 năm 1962; nghệ danh là Jim Carrey) là một nam diễn viên, danh hài, biên kịch và nghệ sĩ người Mỹ gốc Canada. Ông nổi tiếng với trường phái diễn xuất slapstick giàu sức sống. Carrey lần đầu được công nhận tại Mỹ sau khi giành được một vai diễn định kỳ trong sê-ri truyền hình hài tạp kỹ mang tên "In Living Color". Những vai diễn chính đầu tiên trong phim điện ảnh của Carrey đến trong các bộ phim "" (1994), "Dumb and Dumber" (1994), "The Mask" (1994) và "Ace Ventura: When Nature Calls" (1995), bên cạnh đó là màn hóa thân nhân vật Riddler trong "Batman Forever" (1995) và vai chính trong "Liar Liar" (1997). Ông thu hút sự chú ý nhờ diễn các vai nghiêm túc trong "The Truman Show" (1998) và "Man on the Moon" (1999) – mỗi tác phẩm đều đem về cho ông một giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất. Trong thập niên 2000, ông ngày càng được đón nhận với màn hóa thân vai Grinch trong "How the Grinch Stole Christmas" và vai diễn trong "Me, Myself Irene" (cả hai đều ra mắt năm 2000), cũng như các tác phẩm "Bruce Almighty" (2003), "Eternal Sunshine of the Spotless Mind" (2004) – bộ phim giúp ông nhận đề cử giải BAFTA cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất, "Lemony Snicket's A Series of Unfortunate Events" (2004), "Fun with Dick and Jane" (2005), "Yes Man" (2008), "Horton Hears a Who!" (2008) và "A Christmas Carol" (2009). Trong thập kỷ 2010, Carrey tham gia diễn trong "Mr. Popper's Penguins" (2011), "The Incredible Burt Wonderstone" (2013), "Kick-Ass 2" (2014) và trở lại đóng vai Lloyd Christmas trong "Dumb and Dumber To" (2014). Kể từ năm 2018, ông đóng Jeff Piccirillo trong loạt phim truyền hình "Kidding" của đài Showtime và Dr. Robotnik trong "Nhím Sonic" (2020) và phần tiếp theo của nó "Nhím Sonic 2" (2022). Carrey sinh ra tại khu ngoại ô Toronto của Newmarket, Ontario, Canada. Ông là con trai của ông Percy Carrey – một nhạc sĩ kiêm kế toán viên và bà Kathleen (nhũ danh Oram) – một người nội trợ. Ông được nuôi lớn theo đạo Công giáo có ba người anh/chị là John, Patricia và Rita. Mẹ ông có gốc gác Pháp, Ireland và Scotland trong khi cha ông có tổ tiên là người Canada gốc Pháp (họ gốc tổ tiên của ông là Carré). Năm lên 10 tuổi, ông viết một bức thư gửi cho Carol Burnett, người chủ trì show truyền hình "The Carol Burnett Show" nói rằng ông là một bậc thầy trong khoản bắt chước và nên được cân nhắc cho một vai trong chương trình; ông vô cùng mừng rỡ khi nhận được thư phản hồi. Là một người hâm mộ chương trình truyền hình "Monty Python's Flying Circus" của nhóm danh hài Monty Python phát sóng ở thập niên 1970, năm 2014 Carrey xuất hiện trên "Monty Python's Best Bits (Mostly)" và gợi nhớ lại cảnh nhân vật Ernest Scribbler (thủ vai bởi Michael Palin) tự cười đến chết trong show tạp kỹ "The Funniest Joke in the World". Trong khi Carrey vật lộn để kiếm việc làm và tạo dựng tên tuổi cho chính mình, cha ông đã cố gắng giúp đỡ chàng danh hài trẻ gắn bó với nghiệp sân khấu khi lái xe chở con trai đến Toronto để ra mắt tại câu lạc bộ hài kịch Yuk Yuk's. Những màn diễn bắt chước của Carrey gặp thất bại ê chề và khiến ông hoài nghi về khả năng trở thành một diễn viên chuyên nghiệp. Tình cảnh kinh tế bi đát của gia đình càng cản trở họ hỗ trợ cho những tham vọng của Carrey. 1994–1997: Vươn tầm nổi tiếng. Carrey đóng các vai chính trong "", "Dumb and Dumber" và "The Mask" (tất cả đều phát hành năm 1994). "Dumb and Dumber" gặt hái thành công về mặt thương mại với doanh thu toàn thế giới là hơn 270 triệu USD. Ông còn nhận đề cử giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên phim ca nhạc/hài xuất sắc nhất đầu tiên nhờ diễn xuất trong "The Mask". Carrey còn thủ vai Riddler, nhân vật phản diện của Batman trong tác phẩm siêu anh hùng "Batman Forever" (1995) của đạo diễn Joel Schumacher. Bộ phim nhận được những đánh giá trái chiều nhưng lại thành công ở phòng vé. Ông tiếp tục trở lại với vai Ace Ventura trong phim "Ace Ventura: When Nature Calls" công chiếu vào năm 1995. Giống như phần đầu tiên, phim được khán giả đón nhận nồng nhiệt nhưng bị giới phê bình chê bai thậm tệ. Tác phẩm đã gặt hái thành công khổng lồ ở phòng vé khi thu về 212 triệu USD toàn cầu bên cạnh phá vỡ một số kỷ lục với doanh thu mở màn dịp cuối tuần là 40 triệu USD. Carrey kiếm về 20 triệu USD nhờ tham gia bộ phim kế tiếp mang tên "The Cable Guy" (1996) được đạo diễn bởi Ben Stiller. Đây là một tác phẩm thuộc thể loại hài kịch đen và châm biếm, trong đó nam diễn viên thủ vai một nhân viên lắp truyền hình cáp cô đơn và hay hăm dọa, người thâm nhập vào cuộc sống của một trong những khách hàng của mình (thủ vai bởi Matthew Broderick). Vai diễn này tách xa khỏi hình tượng những nhân vật "thiếu may mắn, quá khích và cả tin" làm nên thương hiệu của ông. Tuy nhiên đa số phê bình gia không tán thưởng vai này khi nhiều người phản ứng với tông giọng thay đổi của Carrey so với các tác phẩm trước. 1998–2006: Tán dương từ giới phê bình. Năm kế tiếp ông quyết định giảm thu nhập để đóng vai nhân vật nghiêm túc, Truman Burbank trong bộ phim hài–chính kịch đề tài châm biếm "The Truman Show" (1999). Tác phẩm được ca tụng hết lời và mang về Carrey vô vàn lời khen từ truyền thông quốc tế, dẫn đến nhiều người tin rằng ông sẽ giành được một đề cử Oscar. Cuối cùng ông đã giành chiến thắng giải Quả cầu vàng đầu tiên cho nam diễn viên phim ca nhạc/hài xuất sắc nhất. "The Truman Show" cũng gặt hái thành công về mặt thương mại khi thu về 264 triệu USD khắp thế giới so với kinh phí 60 triệu USD. Một nhà phê bình của Film4 nhận xét rằng bộ phim "cho phép Carrey vươn ra khỏi thể loại hài kịch" và nói thêm rằng màn thể hiện của anh là "một màn châm biếm vui nhộn và hấp dẫn ngoài sức tưởng tượng". Năm 2000, Carrey tái hợp với anh em nhà Farrelly – những người từng chỉ đạo ông diễn trong "Dumb and Dumber" – để tham gia dự án phim hài kịch đen "Me, Myself Irene"; đây là một tác phẩm nhận được những đánh giá trái chiều nhưng vẫn thành công ở thị trường phòng vé. Carrey vào vai một quân nhân tên là Charlie Baileygates, một kẻ đa nhân cách và đem lòng yêu một người phụ nữ (đóng bởi Renée Zellweger). Cùng năm đó, Carrey góp mặt trong bộ phim điện ảnh Giáng Sinh có doanh thu cao thứ hai mọi thời đại, "How the Grinch Stole Christmas" với vai nhân vật cùng tên Grinch, giúp ông nhận được cả lời tán dương lẫn chỉ trích của giới phê bình và có thêm một đề cử Quả cầu vàng nữa. Năm 2004, Carrey tham gia đóng chính trong "Eternal Sunshine of the Spotless Mind" (2004). Bộ phim nhận cơn mưa lời khen ở thời điểm công chiếu. Các nhà phê bình tán dương hết lời màn hóa thân của Carrey trong vai Joel Barish bên cạnh màn thể hiện của bạn diễn Kate Winslet, người nhận một đề cử Oscar năm đó. Theo phê bình gia Paul Clinton của CNN, màn thể hiện của Carrey là "diễn xuất hay nhất, trưởng thành và tập trung sâu sắc nhất từ trước đến nay" của nam diễn viên. Carrey nhận thêm một đề cử Quả cầu vàng nữa cũng như đề cử đầu tiên của giải BAFTA cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất. Năm 2007, Carrey tái hợp với Joel Schumacher, vị đạo diễn của "Batman Forever" cho dự án "The Number 23" (2007), một tác phẩm có màu sắc giật gân tâm lý với sự tham gia diễn xuất của Virginia Madsen và Danny Huston. Trong phim Carrey vào vai một người đàn ông bị ám ảnh với con số 23, sau khi tìm thấy một cuốn sách về một người đàn ông khác cùng có nỗi ám ảnh tương tự. Bộ phim bị giới phê bình chê bai. Năm kế tiếp Carrey lồng tiếng cho Dr. Seuss trong "Horton Hears a Who!" (2008). Carrey còn lồng tiếng cho cả chú voi đáng yêu bằng công nghệ CGI; phim đã nhận được nhiều đánh giá tích cực và lôi kéo một nhóm đối tượng khán giả là gia đình đến rạp. Phim còn gặt hái thành công tại phòng vé với doanh thu toàn cầu hơn 290 triệu USD. Carrey trở lại với dòng phim người đóng hài hước khi cùng Zooey Deschanel và Bradley Cooper diễn xuất trong "Yes Man" (2008). Carrey hóa thân vào vai một người đàn ông đăng ký tham dự một chương trình tự lực cánh sinh, dạy cho anh ta cách nói đồng ý với tất cả mọi thứ. Mặc dù nhận nhiều đánh giá trái chiều, Rene Rodriquez của báo "The Miami Herald" nhận định, ""Yes Man" vẫn ổn giống như các bộ phim hài đặc trưng của Jim Carrey, nhưng nó thậm chí còn hay hơn cả một câu chuyện tình yêu chỉ diễn ra để làm bạn cười." Thành tích của phim tại phòng vé rất tốt khi kiếm về 225 triệu USD toàn thế giới. Lần đầu tiên trong sự nghiệp của mình, Carrey diễn nhiều nhân vật trong phim "A Christmas Carol" (2009) – tác phẩm hoạt hình 3D của hãng Disney lấy từ câu chuyện cổ tích kinh điển của Charles Dickens, ông lồng tiếng Ebenezer Scrooge, Hồn ma Giáng sinh quá khứ, hiện tại và tương lai. Phim do Robert Zemeckis làm đạo diễn và có sự góp mặt của Robin Wright Penn, Bob Hoskins, Colin Firth, Gary Oldman và Cary Elwes. Tác phẩm đón nhận phản hồi khá tốt và lại gặt hái thành công về doanh thu. Carrey còn đảm nhận vai chính trong "Mr. Popper's Penguins" (2011), lần này ông đóng Thomas "Tom" Popper Jr – một nhà môi giới trở thành người chăm sóc cho cả bầy chim cánh cụt. Phim lại nhận được những đánh giá trái chiều lúc ra rạp. Carrey từng bị mắc chứng trầm cảm và phải dùng prozac để điều trị. Ông cho biết mình không còn sử dụng bất kì loại thuốc hay chất kích thích nào, kể cả cà phê. Ông nhận quốc tịch Mỹ vào tháng 10 năm 2004 và sở hữu hai quốc tịch Mỹ và Canada - quê hương ông. Năm 1983, Carrey hẹn hò nữ ca sĩ Linda Ronstadt trong 8 tháng. Ông từng trải qua hai đời vợ. Lần đính hôn đầu tiên của ông là với Melissa Womer, một cựu diễn viên và làm bồi bàn cho câu lạc bộ Comedy Store, ông kết hôn với cô từ ngày 28 tháng 3 năm 1987. Con gái của họ tên là Jane Erin Carrey ra đời ngày 6 tháng 9 năm 1987. Jane còn là một thí sinh dự cuộc thi "American Idol" năm 2012. Carrey và Womer ly dị vào năm 1995. Một năm sau vào ngày 23 tháng 9 năm 1996, ông cưới bạn diễn đóng chung với mình trong phim "Dumb and Dumber" Lauren Holly; cuộc hôn nhân kéo dài chưa đến 1 năm. Vào cuối thập kỷ 1990 và đầu thập kỷ 2000, Carrey có một mối tình lãng mạn nhưng ngắn ngủi với bạn diễn Renée Zellweger trong phim "Me, Myself and Irene", họ đính hôn từ năm 1999 đến 2000. Carrey gặp gỡ nữ diễn viên kiêm người mẫu Jenny McCarthy vào năm 2005 và công khai quan hệ vào tháng 6 năm 2006. Tháng 4 năm 2010 cả hai quyết định chia tay. Mặc dù đã đường ai nấy đi và vẫn truyền thông soi mói, tháng 10 năm 2004 McCarthy cho biết "Jim và tôi vẫn là bạn tốt của nhau". Ngày 28 tháng 9 năm 2015, bạn gái cũ của Carrey là Cathriona White – một người gốc County Tipperary, Ireland – bị phát hiện tử vong vì dùng thuốc toa quá liều, sau đó cơ quan khám nghiệm tử thi của quận LA xác định đó là một vụ tự vẫn. Cặp đôi lần đầu gặp nhau vào năm 2012. Carrey là một trong đoàn người hộ tống quan tài tại lễ tang của cô tổ chức ở Cappawhite, County Tipperary, Ireland. Vụ kiện tử vong bất đáng. Ngày 19 tháng 6 năm 2016, Mark Burton – chồng bạn gái cũ của Carrey, Cathriona White từ năm 2013 đến khi cô qua đời – đâm đơn kiện Carrey gây tử vong bất đáng. Anh này cho rằng nam diễn viên đã sử dụng "địa vị người nổi tiếng và giàu có" của mình để mua và phân phối trái phép các loại thuốc toa liên quan đến cái chết của cô. Carrey đưa ra tuyên bố vào ngày kế tiếp: "Thật xấu hổ đến mức khủng khiếp. Sẽ dễ dàng cho tôi nếu tôi vào phòng kín với luật sự của người đàn ông này và xóa tan mọi chuyện, nhưng có một vài khoảnh khắc trong đời khi bạn phải đứng lên và bảo vệ danh dự của mình khỏi cái ác trong thế giới này. [...] Tôi thật sự hi vọng rằng rồi sớm muộn một ngày nào đó, mọi người sẽ ngừng nỗ lực kiếm lời từ cách này và để cô ấy yên nghỉ." Tháng 10 năm 2016, mẹ của White là bà Brigid Sweetman cũng đâm đơn kiện Carrey gây tử vong bất đáng. Quan điểm chính trị và tâm linh. Carrey là người có đức tin và ủng hộ thứ được gọi là "luật hấp dẫn". Trong một buổi phỏng vấn với Oprah Winfrey vào ngày 17 tháng 2 năm 1997, ông tiết lộ rằng trong lúc vật lộn theo nghiệp diễn, ông sử dụng kĩ thuật tưởng tượng để làm chỗ dựa tinh thần cho công việc. Ông còn cho biết mình từng có một giấc chiêm bao rằng ông được một người trao tấm séc trị giá 10 triệu USD cho "dịch vụ diễn xuất", 7 năm sau ông nhận được tấm séc 10 triệu USD nhờ vai diễn trong phim "Dumb and Dumber". Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đại Nhật kinh (zh. 大日經, sa. "mahāvairocanābhisaṃbodhi -vikurvitādhiṣṭhāna -vaipulyasūtrendrarāja -nāma -dharmaparyāya", "mahāvairocanābhi -saṃbodhisūtra", "mahāvairocanābhisaṃbodhivikurvitādhiṣṭhāna -vaipulyasūtra") là một bộ kinh quan trọng của Mật tông. Kinh được Đại Sư Thiện Vô Uý (zh. 善無畏, sa. "Śubhākarasiṃha") dịch sang Hán văn vào đời Đường, năm 724, với sự hỗ trợ của Sư Nhất Hạnh (一行) và Bảo Nguyệt (寶月). Kinh mang số 848 và được xếp vào sách thứ 18 (1-55) của "Đại Chính tân tu đại tạng kinh". Tên gọi đầy đủ của kinh là Đại Tì-lô-giá-na thành Phật thần biến gia trì kinh (大毘盧遮那成佛神變加持經), viết tắt là Tì-lô-giá-na thành Phật kinh (毘盧遮那成佛經) hoặc Đại Tì-lô-giá-na kinh (大毘盧遮那經). Đại Nhật kinh bao gồm 7 quyển với 6 quyển đầu là chính văn và quyển thứ bảy nói về nghi thức hành lễ. Kinh này kết hợp với "Kim cương đỉnh kinh" (Vajraśekhara-sūtra) và "Tô tất địa kinh" (Susiddhikara-mahātantra-sād-hanopāyika-paṭala) tạo thành pháp tu cốt lõi của Mật Tông. Theo sự ghi nhận từ các tư liệu Hán ngữ thì bộ kinh này do Sư Vô Hành đi sang Ấn Độ để thỉnh về. Sư viên tịch đột ngột (674) trên đường trở về nước. Triều đình đã cho người mang kinh về lưu giữ tại chùa Hoa Nghiêm ở Trường An. Đến năm 724, Đường Huyền Tông đã hạ chiếu thỉnh hai đại sư là Thiện Vô Úy và Nhất Hạnh đến Trường An dịch bộ kinh này. Sau khi dịch xong bộ kinh gồm 6 quyển này, các Sư đã bổ sung nghi quỹ cúng dường vào thành quyển thứ 7. Đây là bộ kinh Đại Nhật gồm 7 quyển được lưu hành phổ biến cho tới hiện nay. Nguồn gốc ban đầu của kinh này chứa nhiều yếu tố huyền thoại và có hai thuyết như sau: Thuyết thứ nhất cho rằng bộ kinh này được lưu giữ tại tháp sắt ở Nam Ấn, rồi được Thiền sư Long Thọ thỉnh về. Thuyết thứ hai cho rằng bộ kinh này được lưu giữ bí mật ở trong một hang đá trên núi của xứ Bột Lỗ La. Khi các con khỉ mang kinh đi phơi bị gió cuốn bay thì một tiều phu nhặt được và dâng cho vua sở tại. Nhà vua cho sao chép kinh này và trả lại bản gốc cho khỉ. Sau đó nhà vua đã tặng cho một tu sĩ Du già. Từ đó bản kinh được lưu hành. Tông chỉ Nội dung. Nội dung kinh trình bày pháp môn tu giải thoát dựa trên tông chỉ: Tâm Bồ-đề là nhân, Đại bi là gốc rễ, Phương tiện là cứu cánh. Toàn bộ kinh xoay quanh các pháp đốn, tiệm qua phương tiện chữ A (nguyên gốc là thể chữ Siddham). Lấy cái bất sinh làm gốc để khai mở trí vô sinh và chứng tất địa vô tướng. Tất cả 36 phẩm trong 7 quyển được phân chia như sau: Các bản chú giải. Bản chú giải của kinh này do Thiện Vô Úy giảng và Nhất Hạnh thuật ký. Hiện nay trong tạng kinh Hán ngữ tồn tại hai phiên bản: một phiên bản nằm trong "Vạn tự tục tạng kinh" có tên "Đại Nhật kinh nghĩa thích" gồm 14 quyển mang số hiệu 0438; phiên bản còn lại nằm trong "Đại Chính tân tu đại tạng kinh" có tên "Đại Tỳ Lô Giá Na thành Phật kinh sớ" gồm 20 quyển mang số hiệu 1796.
Độc lập thống kê Độc lập thống kê của các biến xác suất hay biến cố chỉ việc giữa các biến không có quan hệ thống kê gì với nhau. Trong lý thuyết xác suất, nói rằng hai biến cố là độc lập một cách trực quan có nghĩa là việc một biến cố trong đó xảy ra không làm tăng hay giảm khả năng biến cố kia xảy ra. Ví dụ: Tương tự, khi ta nói rằng hai biến ngẫu nhiên là độc lập, ta có ý nói rằng việc biết gì đó về giá trị của một trong hai biến ngẫu nhiên đó không cho ta thông tin nào về giá trị của biến kia. Ví dụ, con số hiện trên mặt trên con súc sắc khi gieo nó lần đầu và lần sau là độc lập Các biến cố độc lập. Hai biến cố "A" và "B" là độc lập khi và chỉ khi P("A" ∩ "B") = P("A")P("B"). trong đó, "A" ∩ "B" là giao của "A" và "B", nghĩa là, nó là biến cố rằng cả hai biến cố "A" và "B" đều xảy ra. Tổng quát hơn, một tập hợp biến cố bất kỳ—có thể gồm nhiều hơn hai biến cố—là độc lập lẫn nhau khi và chỉ khi với mọi tập con hữu hạn "A", "A""n" của tập hợp trên, ta có Đó là "quy tắc nhân" của các biến cố độc lập. Nếu hai biến cố "A" và "B" là độc lập, thì xác suất điều kiện của "A" nếu có "B" bằng xác suất "không điều kiện" (hay xác suất "cận biên") của "A", nghĩa là, Có ít nhất hai lý do tại sao phát biểu trên không được dùng làm định nghĩa về tính độc lập: (1) hai biến cố "A" và "B" không có vai trò đối xứng trong phát biểu đó, và (2) vấn đề nảy sinh với phát biểu này khi có liên quan đến các biến cố với xác suất bằng 0. Khi nhớ lại rằng xác suất điều kiện P("A" | "B") được cho bởi ta thấy rằng phát biểu trên tương đương với đó chính là định nghĩa chuẩn được cho ở trên. Các biến ngẫu nhiên độc lập. Phần trên định nghĩa tính độc lập của "biến cố". Trong phần này, ta xét tính độc lập của các biến ngẫu nhiên. Nếu "X" là một biến ngẫu nhiên có giá trị thực và "a" là một số, thì "X" ≤ "a" là một biến cố, do đó, có thể nói về việc nó có độc lập với một biến cố khác hay không. Hai biến ngẫu nhiên "X" và "Y" là độc lập khi và chỉ khi với các số "a" và "b" bất kỳ, biến cố ["X" ≤ "a"] (biến cố rằng "X" nhỏ hơn hay bằng "a") và ["Y" ≤ "b"] là các biến cố độc lập, theo định nghĩa trên. Tương tự, một tập hợp các biến ngẫu nhiên tùy ý -- có thể gồm nhiều hơn hai—là độc lập nếu với tập hợp hữu hạn bất kỳ "X", "X""n" và một tập hữu hạn bất kỳ gồm các số "a", "a""n", các biến cố ["X"1 ≤ "a"1]..., ["X""n" ≤ "a""n"] là các biến cố độc lập, như đã được định nghĩa ở trên. Những người thiên về đo đạc lý thuyết có thể muốn thay thế biến cố ["X" ∈ "A"] vào vị trí biến cố ["X" ≤ "a"] trong định nghĩa trên, trong đó "A" là tập hợp Borel bất kỳ. Định nghĩa đó hoàn toàn tương đương với định nghĩa trên khi giá trị của các biến ngẫu nhiên là số thực. Nó có lợi thế ở chỗ còn áp dụng được cho các biến ngẫu nhiên giá trị phức hoặc các biến ngẫu nhiên lấy giá trị trong không gian tô pô bất kỳ. Nếu hai biến ngẫu nhiên bất kỳ trong một tập hợp là độc lập (nhưng tập hợp đó vẫn có thể không độc lập lẫn nhau), tập hợp được gọi là độc lập đôi một. Nếu "X" và "Y" là độc lập, thì phép toán kỳ vọng "E" có tính chất thú vị E["X" "Y"] = E["X"] E["Y"], còn đối với phương sai, ta có var("X" + "Y") = var("X") + var("Y"), do đó hiệp phương sai cov("X","Y") bằng 0. Ngoài ra, các biến ngẫu nhiên "X" và "Y" với các hàm phân bố "F""X"("x") và "F""Y"("y"), và các mật độ xác suất "f""X"("x") và "f""Y"("y"), là độc lập khi và chỉ khi biến ngẫu nhiên kết hợp ("X","Y") có một phân bố có điều kiện phụ thuộc ("joint distribution") hoặc tương đương, một mật độ có điều kiện phụ thuộc ("joint density") Các biểu thức tương tự đặc trưng cho tính độc lập một cách tổng quát hơn cho nhiều hơn hai biến ngẫu nhiên. Các biến ngẫu nhiên độc lập có điều kiện. Về mặt trực quan, hai biến ngẫu nhiên "X" và "Y" được gọi là độc lập có điều kiện với "Z" cho trước, nếu một khi "Z" được cho trước thì giá trị của "Y" không cung cấp thêm được thông tin gì về "X". Ví dụ, hai số đo "X" và "Y" về cùng một định lượng "Z" không độc lập với nhau, nhưng chúng độc lập có điều kiện nếu cho trước "Z" (trừ khi các sai sót trong hai số đo có quan hệ với nhau theo một cách nào đó.) Định nghĩa chính thức của độc lập có điều kiện được dựa trên khái niệm về các phân bố có điều kiện. Nếu "X", "Y", và "Z" là các biến ngẫu nhiên rời rạc, thì ta định nghĩa "X" và "Y" là độc lập có điều kiện với "Z" được cho trước nếu P("X" = "x", "Y" = "y" | "Z" = "z") = P("X" = "x" | "Z" = "z") · P("Y" = "y" | "Z" = "z") với mọi "x", "y" và "z" sao cho P("Z" = "z") 0. Mặt khác, nếu các biến ngẫu nhiên là liên tục và có một hàm mật độ xác suất kết hợp "p", thì "X" và "Y" là "độc lập có điều kiện với Z cho trước" nếu "p""XY"|"Z"("x", "y" | "z") = "p""X"|"Z"("x" | "z") · "p""Y"|"Z"("y" | "z") với mọi số thực "x", "y" và "z" sao cho "p""Z"("z") 0. Nếu "X" và "Y" là độc lập có điều kiện với "Z" cho trước, thì P("X" = "x" | "Y" = "y", "Z" = "z") = P("X" = "x" | "Z" = "z") với "x", "y" và "z" bất kỳ với P("Z" = "z") 0. Nghĩa là, phân bố có điều kiện cho "X" với "Y" và "Z" cho trước trùng với phân bố có điều kiện của "X" mà chỉ "Z" được cho trước. Một đẳng thức tương tự cũng đúng với các hàm mật độ xác suất có điều kiện trong trường hợp liên tục. Tính độc lập có thể được xem là một trường hợp đặc biệt của độc lập có điều kiện, do xác suất có thể được coi là một dạng xác suất có điều kiện mà không cho trước biến cố nào.
Trong ngành Thống kê mô tả, yếu vị (tiếng Anh: "mode") của một danh sách dữ liệu hoặc một mẫu là giá trị của phần tử có số lần xuất hiện lớn nhất trong danh sách. Ví dụ, yếu vị của {1, 3, 6, 6, 6, 7, 7, 12, 12, 17} là 6. Khác với số bình quân số học giản đơn, yếu vị không nhất thiết phải là duy nhất. Một danh sách dữ liệu hoặc mẫu có thể có một yếu vị (unimodal), hai yếu vị (bimodal), ba yếu vị (trimodal)... hoặc thậm chí không có yếu vị nào. Yếu vị đặc biệt hữu dụng khi các giá trị của các quan sát không có thứ tự dễ thấy (thường khi dữ liệu không phải là số) do các số bình quân và số trung vị có thể không được xác định. Ví dụ, yếu vị của {táo, táo, chuối, cam, cam, cam, đào} là cam. Trong một phân phối chuẩn (đồ thị hình chuông), yếu vị nằm tại đỉnh. Do đó, yếu vị là giá trị đại diện "nhất" cho phân bố. Ví dụ, nếu ta đo chiều cao và cân nặng của mọi người, các giá trị này sẽ tạo thành một phân bố hình cái chuông úp, đỉnh của đường cong hình chuông này sẽ là chiều cao và cân nặng phổ biến nhất của mọi người. Số bình quân thường bị ảnh hưởng bởi các điểm ngoài hoặc độ xiên và có thể nằm xa đỉnh của phân bố. Như vậy, số bình quân không phải là một đại diện tốt bằng giá trị cho đa số người.
Trong toán học, đặc biệt là trong đại số trừu tượng và các lĩnh vực có liên quan, một hoán vị là một song ánh từ một tập hợp hữu hạn "X" vào chính nó. Trong lý thuyết tổ hợp, khái niệm hoán vị cũng mang một ý nghĩa truyền thống mà nay ít còn được dùng, đó là mô tả một bộ có thứ tự không lặp. Khái niệm hoán vị diễn tả ý tưởng rằng những đối tượng phân biệt có thể được sắp xếp theo những thứ tự khác nhau và được định nghĩa như sau: Cho tập hợp A gồm n phần tử (n ≥ 1). Mỗi kết quả của sự sắp xếp thứ tự n phần tử của tập hợp A được gọi là một hoán vị của n phần tử đó. Ví dụ, với tập hợp gồm các số từ một đến sáu, mỗi cách sắp thứ tự sẽ tạo thành một dãy các số không lặp lại. Một số các hoán vị như thế là: "1, 2, 3, 4, 5, 6", "3, 4, 6, 1, 2, 5", "2, 1, 4, 6, 5, 3", Có nhiều cách định nghĩa khái niệm hoán vị một cách chính quy hơn. Một hoán vị là một dãy có thứ tự chứa mỗi phần tử của một tập hợp một và đúng một lần; như vậy "1, 2, 2, 3, 4, 5, 6" và "1, 2, 4, 5, 6" đều không phải là hoán vị của tập "1, 2, 3, 4, 5, 6". Do đó, điểm khác nhau cơ bản giữa một "hoán vị" và một tập hợp là: những phần tử của một hoán vị được sắp xếp theo một thứ tự xác định. Đếm số hoán vị. Trong đề mục này chúng ta sẽ dùng định nghĩa truyền thống của hoán vị: một hoán vị là một bộ có thứ tự không lặp, có thể thiếu một số phần tử. Có thể dễ dàng đếm được số hoán vị có kích thước "r" khi chọn từ một tập hợp có kích thước "n" (với "r"≤"n"). Ví dụ, nếu chúng ta có 10 phần tử, các số nguyên {1, , 10}, một hoán vị của ba phần tử từ tập hợp này là {5, 3, 4}. Trong trường hợp này, "n"=10 và "r"=3. Vậy có bao nhiêu cách để thành lập một hoán vị như vậy? Tóm lại, chúng ta có:"n"("n" − 1)("n" − 2)... ("n" − "r" + 1) hoán vị khác nhau chứa "r" phần tử chọn từ "n" đối tượng. Nếu chúng ta ký hiệu số này là P("n", "r") và dùng ký hiệu giai thừa, chúng ta có thể viết: Trong ví dụ trên, chúng ta có "n" = 10 và "r" = 3, vậy số hoán vị là: P(10,3) = 720. Những cách ký hiệu cũ bao gồm: "n"P"r", P"n","r", và "n"P"r". Đại số trừu tượng. Như đã mô tả trong một đề mục trước, trong đại số trừu tượng và những lĩnh vực toán học khác, khái niệm "hoán vị (của một tập hợp)" được hiểu là một song ánh từ một tập hợp hữu hạn vào chính nó. Ví dụ trên đây về những hoán vị của các số từ 1 đến 10, sẽ được diễn tả như một phép song ánh từ tập {1, …, 10} vào chính nó. Phép ký hiệu vòng (1 5 2) (3 4) mang ý nghĩa là 1 được ánh xạ đến 5, 5 đến 2, 2 đến 1, 3 đến 4, và 4 đến 3. Ký hiệu (1 5 2) được hiểu ngầm rằng 3 và 4 không thay đổi vị trí. Có hai cách ký hiệu chính cho những phép hoán vị. Trong cách ký hiệu quan hệ, có thể viết thứ tự "tự nhiên" của các phần tử trên một dòng, và thứ tự mới trên một dòng khác: Nghĩa là ở vị trí thứ nhất sẽ được đặt phần tử thứ hai của tập hợp, ở vị trí thứ hai sẽ được đặt phần tử thứ năm của tập hợ Chúng ta cũng có thể biểu diễn phép hoán vị theo sự thay đổi của các phần tử khi phép hoán vị được áp dụng liên tiếp nhau. Nếu chúng ta nhìn vào phép hoán vị trên đây, khi áp dụng phép hoán vị, vị trí thứ nhất bây giờ sẽ là phần tử thứ hai, áp dụng phép hoán vị một lần nữa vị trí thứ nhất sẽ là phần tử thứ năm, và áp dụng phép hoán vị một lần nữa, vị trí này lại trở thành phần tử ban đầu. Sự thay đổi của các phần tử tạo thành một chu trình, và chúng ta có thể viết dưới dạng (1 2 5), hoặc (2 5 1) hay (5 1 2), nhưng không phải là (1 5 2). Chu trình tiếp theo bắt đầu bằng một phần tử nào đó chưa xuất hiện, cho đến khi mọi phần tử đều xuất hiện trong một chu trình. Như vậy, chúng ta có thể ký hiệu phép hoán vị như là một tập hợp các chu trình. Hoán vị trên đây có dạng chu trình là (1 2 5)(3 4). Thứ tự "của" các chu trình không quan trọng, còn thứ tự của các phần tử "trong" một chu trình thì có thể thay đổi theo phép xoay vòng chu trình. Do đó, cùng một hoán vị trên có thể viết là (4 3)(2 5 1). Trong cách viết "tiêu chuẩn" cho một phép hoán vị, ta đặt vị trí có số hiệu bé nhất ở đầu mỗi chu trình, và sắp xếp các chu trình theo thứ tự tăng của phần tử đầu tiên. Ký hiệu này thường bỏ qua các vị trí cố định, nghĩa là, phần tử ánh xạ vào chính nó; như vậy (1 3)(2)(4 5) có thể viết thành (1 3)(4 5), bởi vì một chu trình chỉ có một phần tử sẽ không gây ra tác động gì. Một phép hoán vị chỉ bao gồm một chu trình được gọi ngay là một "chu trình". Số phần tử trong một chu trình được gọi là "độ dài". Ví dụ, độ dài của (1 2 5) là ba. Những chu trình có độ dài hai được gọi là những chuyển vị, hai phần tử thay đổi vị trí cho nhau. Những hoán vị đặc biệt. Một hoán vị "đổi chỗ" phần tử thứ nhất với phần tử thứ nhất, phần tử thứ hai với phần tử thứ , nghĩa là trên thực tế không đổi chỗ các phần tử, được gọi là phép "hoán vị đồng nhất". Nếu có một hoán vị "P", chúng ta có thể mô tả một hoán vị "P"−1, làm mất tác dụng của việc áp dụng phép "P". Nghĩa là, áp dụng phép P rồi đến P−1 cho kết quả giống như áp dụng phép hoán vị đồng nhất. Chúng ta luôn có một hoán vị như vậy vì một hoán vị là một phép song ánh. Hoán vị như vậy được gọi là "hoán vị nghịch đảo". Chúng ta có thể định nghĩa tích của hai hoán vị. Nếu chúng ta có hai hoán vị, "P" và "Q", kết quả của việc áp dụng "P" rồi đến "Q" sẽ giống như việc áp dụng một hoán vị "R" nào đó. Lưu ý rằng "R" có thể chính là "P" hoặc "Q". Tích của "P" và "Q" được định nghĩa bằng hoán vị "R". Chi tiết hơn, có thể đọc nhóm đối xứng và nhóm hoán vị. Một hoán vị chẵn là một hoán vị có thể biểu diễn dưới dạng tích của một số chẵn các phép chuyển vị, như vậy hoán vị đồng nhất là một hoán vị chẵn bởi vì nó bằng (1 2)(1 2). Một hoán vị lẻ là một hoán vị có thể biểu diễn dưới dạng tích của một số lẻ các phép chuyển vị. Có thể chứng tỏ rằng mỗi hoán vị hoặc là chẵn, hoặc là lẻ và không thể có cả hai tính chất này. Chúng ta cũng có thể biểu diễn hoán vị dưới dạng ma trận - ma trận kết quả được gọi là "ma trận hoán vị". Đánh số các hoán vị. Các số Factoradic có thể dùng để gán các số hiệu duy nhất cho các hoán vị, sao cho với một số factoradic n, ta có thể nhanh chóng tìm hoán vị tương ứng.
Đại lộ Champs-Élysées ("Thiên thai Đại lộ") là một thông lộ lớn và nổi tiếng của thành phố Paris nối hai quảng trường Concorde và Étoile nơi đặt Khải Hoàn Môn. Tuy đây là một thông lộ lớn ("avenue") theo cách dùng nguyên nghĩa theo tiếng Pháp, tiếng Việt thường gọi đây là đại lộ. Con đường này chính nó là một địa điểm thu hút số lớn du khách của thành phố với nhiều cửa hàng, quán cà phê, rạp chiếu , lễ hội quan trọng của Paris, như Duyệt binh ngày Quốc khánh Pháp (14 tháng 7), chặng cuối của cuộc đua xe đạp Tour de France, địa điểm các cuộc ăn mừng, chào đón năm mớ Champs-Élysées được xem như một trong những đại lộ danh tiếng nhất thế giới. Nhiều đường phố nổi tiếng khác được so sánh với Champs-Élysées, như đại lộ Benjamin Franklin ở Philadelphia hay Paseo de la Reforma ở Thành phố Mexico. "Champs-Elysées" có nghĩa là Cánh đồng Elysées. Tên gọi này xuất phát từ chữ "Elysium" trong tiếng La Tinh, có nghĩa Hòn đảo cực lạc, hay cõi Thiên Thai, nơi nghỉ ngơi dành cho các đấng hào kiệt và tiết hạnh đã khuất. Đại lộ Champs-Elysées cũng có nhiều tên gọi khác trong quá khứ. Đầu tiên vào năm 1670, đại lộ mang tên "Grande Allée du Roule", sau đó được đổi thành "Avenue de la Grille Royale" vào năm 1678. Cuối cùng từ năm 1694, đại lộ mang tên "Champs-Elysées". Lịch sử của Champs-Elysées có từ năm 1616, khi hoàng hậu Marie de Médicis quyết định mở một con đường dài ("avenue") có trồng cây hai bên để đi dạo tức một thông lộ. Khi đó khu vực Champs-Elysées mới chỉ là cánh đồng, còn vượt xa tiếp là đồi Chaillot. Năm 1667, André Le Nôtre, họa sĩ thiết kế vườn của vua Louis XIV, cho kéo dài khung cảnh của vườn Tuileries, tạo thành một trục từ cung điện tới đồi Chaillot. Nhưng công việc tiến triển chậm chạp bởi triều đình dần chuyển về Versailles. Champs-Elysées khi đó trở thành một không gian xanh, nơi ưa thích của người dân Paris. Dần được đô thị hóa, nhưng nơi đây vẫn còn quê mùa nếu so với các khu phố nội ô phát triển từ trước đó. Khi bức tường thành của vua Louis XIII được xây dựng trong khoảng 1633 đến 1636, Champs-Elysées vẫn nằm ngoài nội ô Paris. Tới năm 1724, giám đốc vườn hoàng gia cho đại lộ kéo dài tới vị trí quảng trường Étoile ngày nay. Năm 1763, quảng trường Concorde ở đầu đại lộ được khánh thành. Đến thập niên 1780, khi bức tường Thuế quan được xây dựng bao quanh Paris để kiếm soát hàng hóa thì Champs-Elysées thuộc về phần bên trong của bức tường. Năm 1806, Napoléon Bonaparte cho xây dựng Khải Hoàn Môn ở Étoile, phía cuối đại lộ. Công trình tới năm 1836, dưới thời Louis-Philippe I mới hoàn thành. Trong khoảng thời gian 1814 tới 1815, khi quân đội Nga và Phổ đẩy lùi quân của Napoléon tới tận thủ đô, những người Cossack đã cắm trại ở khu vực này, phá hoại cây cối. Với luật ngày 20 tháng 8 năm 1828, Nhà nước nhượng quyền sử hữu khu đất này về cho chính quyền thành phố Paris. Kèm theo đó là điều kiện phải bảo vệ khu vườn và quảng cảnh của khu vực. Năm 1836, kiến trúc sư Jacques Hittorff bắt đầu công việc xây vỉa hè, lắp hệ thống chiếu sáng, các đài phun nướ, nhiều tòa nhà mọc lên, các nhà hàng, quán cà phê, nhà hát xuất hiện. Năm 1858, trong dự án cải tạo Paris của nam tước Georges Eugène Haussmann, Jean-Charles Alphand cho trồng các thảm cỏ và hai hàng cây hai bên. Cuối đại lộ, quảng trường Étoile cũng được quy hoạch lại. Trong thời kỳ Belle Époque, Champs-Elysées với các nhà hàng, rạp xiếc, quá cà phê... trở thành địa điểm thu hút giới giàu có. Xe ngựa của tầng lớp thượng lưu chạy tấp nập trên đại lộ. Triển lãm thế giới năm 1900, hai công trình Grand Palais và Petit Palais được xây dựng bên đại lộ Winston-Churchill, gần đoạn đầu đại lộ Champs-Elysées. Năm 1902, cùng với đường tàu điện ngầm số 1, các khách sạn lớn, các ngôi nhà sang trọng xuất hiện kéo theo những phát triển thương mại. Đại lộ Champs-Elysées trở thành "nơi trưng bày" của công nghiệp hiện đại với những xe hơi, rạp chiếu , các văn phòng bắt đầu tập trung về đây. Đại lộ cũng dần trở thành nơi tổ chức các lễ hội, sự kiện. Từ năm 1919, Champs-Elysées là địa điểm của cuộc Duyệt binh ngày 14 tháng 7. Năm 1944, khi Paris được giải phóng, Quân đội Mỹ diễn hành trên đại lộ. Năm 1970, nơi đây tổ chức tượng niệm Tổng thống Charles de Gaulle. Tới năm 1994, đại lộ Champs-Elysées được cải tạo một lần nữa với kinh phí 250 triệu franc. Phần đường dành cho xe hơi được bố trí lại, bãi đậu xe được chuyển xuống xây dưới lòng đất, nền được lát bằng đá granit xá, đường đi bộ bằng một hàng cây thứ hai. Những quy định về bảng hiệu, cửa hàng được áp dụng. Cùng với đó một số đèn, ky ố Thuộc Quận 8 thành phố Paris, Champs-Élysées dài 1.915 m, rộng 70 m và nằm trên trục Axe historique, bắt đầu từ Louvre và đi qua rất nhiều công trình nổi tiếng. Đầu đại lộ, phía gần quảng trường Concorde, Champs-Élysées được bao bọc bởi một không gian xanh. Khu vực này tập trung một số công trình quan trọng như Petit Palais, Grand Palais, điện Élysé, bắt đầu từ ngã bảy giao với đại lộ Montaigne, hai bên Champs-Élysées là các tòa nhà với cửa hiệu, quán cà phê, văn phòng, rạp chiếu Trước thập niên 1950, Champs-Élysées là một khu vực sang trọng, nhưng những năm gần đây, đại lộ trở thành một địa điểm du lịch và đại chúng. Có thể thấy gần Khải Hoàn Môn sự hiện diện của những cửa hàng xa xỉ như Louis Vuitton, Hugo Boss, Cartier, Montblanc. Tiếp theo đó hai bên đại lộ có một số cửa hàng thời trang trung bình như Celio, GAP, Z's, Quick. Đại lộ cũng tập trung văn phòng của các ngân hàng, hãng hàng không, phòng trưng bày của các công ty như Mercedes, Peugeot, T, Champs-Élysées cũng có các cột Morris, quầy bán báo, bưu điện, phòng đổi tiền cho khách du lị Giá thuê bất động sản ở Champs-Élysées đắt nhất ở châu Âu và thứ hai thế giới, chỉ sau Fifth Avenue ở khu Manhattan, New York. Trung bình giá cho 100 m² trong vòng một năm là 1,25 triệu đô la. Điều này khiến rất ít dân cư sống ở Champs-Élysées. Ngay cả tầng trên các tòa nhà cũng được dành cho văn phòng. Mức giá này cũng không đồng đều. Phía bên số chẵn, phía Bắc, được ưa chuộng hơn bởi nhiều ánh nắng Mặt Trời. Tuy là khu vực có giá bất động sản đắt đỏ, nhưng công ty lớn vẫn mở các cửa hàng ở Champs-Élysees với hai mục đích: bán hàng cho số lượng khách du lịch rất lớn của đại lộ và quảng cáo thương hiệu tại một địa điểm nổi tiếng. Theo nghiên cứu của chính quyền thành phố Paris, 39 % trong số 332 cửa hàng của Champs-Élysées thuộc về ngành may mặc. Vốn được thành lập vào năm 1860 với mục đích quản lý đại lộ, tới tháng 2 năm 1916, tổ chức này trở thành một hiệp hội. "Syndicat d'Initiative et de Défense des Champs-Elysées" (Nghiệp đoàn Khởi xướng và Bảo vệ Champs-Elysées) được chuyển thành "Amis des Champs-Elysées" (Những người bạn Champs-Elysées) rồi sau 1980 thành "Comité des Champs-Elysées" (Ủy ban Champs-élysées). Ngày nay, Ủy ban Champs-élysées là hiệp hội duy nhất đại diện cho các hoạt động thương mại của đại lộ đối với chính quyền. Số lượng thành viên của hiệp hội hiện nay khoảng 250. Ủy ban Champs-élysées không liên quan tới một liên đoàn nào khác, không có tổ chức đỡ đầu và hoạt động bằng ngân sách do thành viên đóng góp. Điều này bảo đảm cho ủy ban được hoàn toàn độc lập. Điều hành của Ủy ban Champs-élysées là một văn phòng được bầu lên, gồm 15 thành viên với một vị chủ tịch. Với nhiệm vụ kết nối các thành viên của ủy ban, hoạt động của văn phòng, gồm chủ tịch và cả nhóm, đều không hưởng lương. Nhiệm vụ của Ủy ban Champs-élysées là bảo vệ hình ảnh của đại lộ nổi tiếng. Ủy ban thông tin cho giới truyền thông các hoạt động trên đại lộ, chịu trách nhiệm trang hoàng, thắp sá, như quy định giờ mở cửa của các cửa hàng, và đóng vai trò tư vấn cho những tổ chức, doanh nghiệp muốn đặt trụ sở hoặc buôn bán ở đây. Đại lộ Champs-Élysées cũng là nơi tổ chức các sự kiện, lễ hội của thành phố. Ngày quốc khánh Pháp 14 tháng 7, cuộc duyệt binh sẽ đi theo hướng từ Khải Hoàn Môn vào trung tâm thành phố. Champs-Élysées cũng là đích cuối của cuộc đua xe đạp Vòng quanh nước Pháp. Đêm 31 tháng 12, đại lộ Champs-Élysées là địa điểm đón năm mới được tìm đến nhiều nhất ở Paris. Để ăn mừng các chiến thắng thể thao, những cổ động viên cũng thường tập trung về Champs-Élysées. Một vài địa chỉ của Champs-élysées
Thuật từ Nhạc Phúc âm thường được dùng để chỉ thể loại nhạc tôn giáo khởi phát từ các giáo đoàn của người Mỹ gốc Phi. Tuy nhiên, trong ý nghĩa rộng lớn hơn, có hai thể loại nhạc phúc âm: một của người da đen, loại còn lại là nhạc tôn giáo được những nghệ sĩ Cơ Đốc da trắng ngụ cư tại miền Nam nước Mỹ sáng tác và trình diễn. Trong khi sự tách biệt giữa hai thể loại âm nhạc này không bao giờ có giá trị tuyệt đối - cả hai đều bắt nguồn từ thánh ca và giới nghệ sĩ thuộc hệ phái Giám Lý - sự chia cắt sâu sắc giữa một nước Mỹ thuộc về người da trắng và một nước Mỹ thuộc về người da đen, nhất là giữa các giáo hội của người da đen và của người da trắng trong bối cảnh lịch sử thời ấy, đã khiến hai thể loại âm nhạc tách rời khỏi nhau. Và mặc cho sự phân biệt được thu hẹp dần trong năm mươi năm qua, hai thể loại này của nhạc phúc âm vẫn tiếp tục tồn tại như là hai thực thể riêng biệt. Khởi phát từ đầu thế kỷ 17 và được phổ biến trong cộng đồng da đen theo phương pháp truyền khẩu. Những bản thánh ca và nhạc tâm lýnh được lặp đi lặp lại theo thể đối đáp. Người hát thường vỗ tay và dậm chân để giữ nhịp. Hầu hết các bài hát đều được thể hiện theo phong cách a cappella. Lần đầu tiên những ca khúc này được xuất bản dưới tên "Nhạc Phúc âm" là vào năm 1874. Các tác giả đầu tiên của dòng nhạc Phúc âm là George F. Root, Philip Bliss, Charles H. Gabriel, William Howard Doane, và Fanny Crosby, rồi bắt đầu hình thành những nhà xuất bản cho dòng nhạc mới này. Sau thế chiến thứ hai, nhạc phúc âm tìm được chỗ đứng của mình trong những thính phòng lớn, và được tổ chức công phu hơn. Trong cả hai truyền thống, trong khi một số ca sĩ như Mahalia Jackson tự giới hạn mình chỉ trình diễn trong khung cảnh tôn giáo, thì những người khác như nhóm Tứ ca "Golden Gate", và Clara Ward chấp nhận trình diễn nhạc phúc âm trong môi trường thế tục, ngay cả tại các hộp đêm. Những nghệ sĩ này vẫn thường trình bày các ca khúc phúc âm trong các buổi trình diễn nhạc thế tục, mặc dù không có ca sĩ nào trình diễn các ca khúc thế tục trong các chương trình nhạc phúc âm. Tuy vẫn được xem là một hiện tượng của nước Mỹ, Nhạc Phúc âm đã lan tỏa khắp nơi trên thế giới, điển hình là tại Úc với các ca đoàn như "The Elementals" và "Jonah The Whalers" cùng những festival như Festival Nhạc Phúc âm Úc. Nhạc Phúc âm Da đen. Hiện tượng âm nhạc mà hầu hết mọi người ngày nay nhìn nhận như là "nhạc tôn giáo của người Mỹ gốc Phi dựa trên các ca đoàn nhà thờ với những giọng đơn ca điêu luyện đã có một khởi đầu 80 năm trước đây không giống như hiện nay. Nhạc Phúc âm mà Thomas A. Dorsey (nổi tiếng với ca khúc "Take My Hand, Precious Lord"), Sallie Martin, Tiến sĩ Mattie Moss Clark, Willie Mae Ford Smith, và những nhà tiên phong khác đã khổ công biến thành một thể loại âm nhạc được công chúng yêu thích, bắt nguồn từ những hình thức khoáng đạt được sử dụng để biểu thị lòng mộ đạo tại các nhà thờ thuộc Phong trào Thánh khiết nhằm khuyến khích tín hữu "làm chứng", thuật lại, hoặc ca hát cách tự phát về đức tin, và những trải nghiệm của họ khi được Chúa Thánh Linh "thăm viếng", cũng như tình trạng ngập tràn phước hạnh trong tâm linh, đôi khi họ nhảy múa như một cách biểu đạt cảm xúc. Nhạc phúc âm đô thị đương đại còn được gọi là nhạc phúc âm của người da đen. Nhạc phúc âm blues là sự kết hợp của nhạc blues với ca từ phúc âm. Nhạc phúc âm miền Nam được trình diễn bởi những nhóm tứ ca nam với hai giọng tenor và bass. Nhạc đồng quê Cơ Đốc là một thể loại nhạc phúc âm với âm điệu đồng quê. Dòng nhạc này đạt đến đỉnh cao vào giữa thập niên 1990. Nhạc phúc âm Bluesgrass bắt nguồn từ âm nhạc ở vùng cao nước Mỹ. Nhạc phúc âm Celtic mang âm hưởng Celtic, được yêu thích tại những xứ sở như Ireland. Nhạc phúc âm da đen ở Anh phổ biến trong cộng đồng di dân đến từ châu Phi. Ngày nay, bất kể những dị biệt lịch sử ấy, nhạc phúc âm được chấp nhận rộng rãi trong các giáo hội Cơ Đốc. Khởi phát từ đầu thế kỷ 17, nhạc phúc âm bắt nguồn từ những trải nghiệm tâm linh của người Mỹ gốc Phi, được phổ biến và lưu truyền qua truyền khẩu, ca từ của những bài hát thuộc dòng nhạc này được lặp lại nhiều lần, chính yếu tố này giúp những người da đen không biết chữ có cơ hội tham gia vào các buổi lễ thờ phượng. Trong thời kỳ này, người ta thường hát thánh ca và nhạc tâm linh theo thể đối đáp, dần dà phong cách này được chấp nhận như là một phần của nền âm nhạc người châu Phi, có tác dụng gắn kết các cá nhân trong cộng đồng. Trong nhà thờ, khi hát người ta thường vỗ tay và dậm chân để giữ nhịp. Đàn guitar và trống lục lạc (tambourine) thi thoảng mới được sử dụng. Hầu hết đều hát không nhạc đệm. Thuật từ “Ca khúc Phúc âm” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1874 khi Philip Bliss xuất bản quyển Ca khúc Phúc âm: Tuyển tập Thánh ca. Thuật từ này được dùng để miêu tả một thể loại mới trong nền âm nhạc tôn giáo, đó là những bài hát dễ cảm thụ với giai điệu dễ nhớ và ca từ dễ thuộc, bắt nguồn từ phong trào chấn hưng tâm linh của Dwight L. Moody với Ira D. Sankey phụ trách phần âm nhạc. Dòng nhạc này được yêu thích trong những buổi truyền giảng phục hưng tổ chức tại các thành phố lớn. George F. Root, Philip Bliss, Charles H. Gabriel, William Howard Doane, và Fanny Crosby là những nhà sáng tác nổi bật trong thời kỳ sơ khai của dòng nhạc phúc âm. Thế kỷ 20 (thập niên 1920 - 1940). Trong thập niên 1920, các "nghệ sĩ được thánh hóa", điển hình như Arizona Dranes - nhiều người trong số họ cũng là những nhà thuyết giáo du hành - khởi sự ghi âm các ca khúc theo cách pha trộn các chủ đề tôn giáo với kỹ thuật "barrelhouse", "blues" và "boogi woogie", cũng như bắt đầu đem các loại nhạc cụ của nhạc jazz, như trống và kèn, vào nhà thờ. Cần ghi nhớ rằng nhạc phúc âm không chỉ đơn giản là một loại hình âm nhạc, mà còn là một phần tinh tế trong các trải nghiệm tôn giáo của các tín hữu. Từ thập niên 1920, công nghiệp truyền thanh làm gia tăng đáng kể số lượng thính giả nghe nhạc phúc âm. Arizona Dranes, một trong những giọng ca nữ đầu tiên của dòng nhạc phúc âm, là người đầu tiên giới thiệu phong cách ragtime cho dòng nhạc này. Trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi, sau những thành công của nhóm Fisk Jubilee Singers, phong cách a cappella được ưa chuộng nhiều hơn qua sự trình bày của các nhóm tứ ca. Thập niên 1930 chứng kiến sự xuất hiện của những nhóm nhạc như Tứ ca Fairfield, Dixie Hummingbirds, Five Blind Boys of Mississippi, Five Blind Boys of Alabama, Soul Stirrers, Swan Silvertones, Charioteers, và Tứ ca Golden Gate. Trong thời kỳ nô lệ, những tín hữu da đen bị xem là thấp hèn trong nhà thờ của người da trắng, nhưng sau khi được giải phóng, người da đen tự thiết lập những giáo đoàn cho chính họ. Các nhóm nhạc phúc âm rất được yêu thích trong cộng đồng da đen, mặc dù chỉ có ít người da trắng bắt đầu quan tâm đến. Trong hai thập niên, 1920 – 30, ngoài những nhóm tứ ca nổi tiếng, còn có nhiều nghệ sĩ trình bày nhạc phúc âm, thường thì với đàn guitar họ hát trên đường phố ở những khu đô thị miền Nam. Thập niên 1930 ở Chicago xuất hiện một tên tuổi mới, về sau trở thành một trong số những người tạo lập nhiều ảnh hưởng trong dòng nhạc phúc âm: Thomas A. Dorsey. Trước khi đến với dòng nhạc phúc âm sau những thử thách và trải nghiệm trong đời sống tâm linh, kể cả cái chết đột ngột của người vợ đang mang thai, Dorsey đã dành suốt thập niên 1920 để sáng tác và trình diễn nhạc blues dưới nghệ danh Georgia Tom. Nhận lãnh kiến thức Kinh Thánh từ cha, một mục sư Baptist, và kỹ năng trình diễn piano từ mẹ, Dorsey trở thành nhạc sĩ blues khi gia đình dời đến Atlanta. Dorsey là người có công phát triển sự nghiệp âm nhạc của nhiều nghệ sĩ da đen, trong đó có Mahalia Jackson. Ông tổ chức các hội nghị thường niên cho giới nghệ sĩ, cùng Martin đi khắp nơi để bán nhạc tờ (sheet music), cuối cùng ông đã thành công trong nỗ lực vượt qua mọi trở ngại thường gặp tại các nhà thờ có khuynh hướng bảo thủ, ở đây loại nhạc mới được xem là trần tục và tội lỗi. Cung cách thể hiện phóng khoáng này ảnh hưởng đến các thể loại nhạc tôn giáo khác của người da đen. Những nhóm nhạc được yêu thích nhất thường là các nhóm tứ ca nam hoặc những nhóm nhỏ như Tứ ca Golden Gate. Họ hát, thường không có nhạc đệm (a cappella), với cách thể hiện vui tươi sinh động, hòa âm được soạn kỹ, giai điệu du dương, kỹ thuật chuyển âm điêu luyện, đã tạo ra một phong cách thể nghiệm tươi mới khác xa với cách hát thánh ca trầm lắng theo truyền thống. Chịu ảnh hưởng những nhóm nhạc pop như The Mill Brothers, các nhóm nhạc này cho ra mắt những ca khúc pha trộn các chủ đề tôn giáo quen thuộc với những cảm nhận về các vấn đề chính trị và xã hội. Ảnh hưởng của Phúc âm ngày càng được nhận thấy rõ hơn, khi họ đem loại hình âm nhạc mới này vào vốn liếng âm nhạc sẵn có của mình. Thời Hoàng kim (thập niên 1940 - thập niên 1950). Sau thế chiến thứ hai, vị trí của nhạc phúc âm được nâng cao khi những buổi hòa nhạc được chuẩn bị chu đáo hơn và được mời trình diễn trong những thính đường có uy tín như Carnegie Hall với Festival Nhạc Phúc âm Da đen và Âm nhạc Tôn giáo do Joe Bostic tổ chức trong năm 1950. Năm sau, ông thực hiện tiếp một festival với quy mô lớn hơn, đến năm 1959, festival được dời đến Madison Square Garden. Nhạc phúc âm được sáng tác bởi Dorsey, và bởi những nhạc sĩ khác, trở nên rất thịnh hành với các nhóm tứ ca, các nhóm này khởi sự chuyển sang một hướng mới. Các nhóm như Dixie Hummingbirds, Pilgrim Travelers, Soul Stirrirs, Swan Silverstones, Sensational Nightingales, và Five Blind Boys of Mississippi đem đến một cách thể hiện phóng khoáng hơn cho những phối âm đóng của phong cách lễ hội, thêm khoảng trống cho những ngẫu hứng, và sử dụng những phân đoạn ngắn được lặp lại nhiều lần trong nhạc nền để duy trì nhịp điệu căn bản cho những sáng tạo của ca sĩ chính. Thành viên của các nhóm tứ ca thường kết hợp phần phô diễn tính điêu luyện của giọng ca đơn với phần hợp ca đầy ngẫu hứng theo những nhịp điệu luôn được cải biên, giúp biểu đạt những cung bậc cảm xúc và thể hiện được tính nghệ thuật qua các ca khúc được trình bày. Trong những thập niên 1940 và 1950, khi các nhóm tứ ca lên đến đỉnh cao, cũng là lúc một số giọng ca nữ bắt đầu bước vào vùng hào quang của các ngôi sao. Những ngôi sao như Mahalia Jackson, và Bessie Griffin chuyên về đơn ca, trong khi những người khác như Clara Ward, The Caravans, The Davis Sisters, và Dorothy Love Coates, trình diễn với những nhóm nhỏ. Hầu hết các giọng ca nữ thuộc dòng nhạc phúc âm gây dựng sự nghiệp ca hát của mình dựa trên sức mạnh kỹ thuật và sức thu hút của lời chứng về những trải nghiệm tôn giáo của chính họ. Trong các giọng ca nữ này nổi bật hơn cả là Roberta Martin ở thành phố Chicago. Martin lãnh đạo những nhóm nhạc có cả ca sĩ nam lẫn nữ, trình diễn theo phong cách tập thể hơn là chú trọng vào sự phô diễn tính điêu luyện của giọng ca đơn; Martin cũng là người bảo trợ những nghệ sĩ hoạt động độc lập như James Cleveland, Cleveland là nhân vật trong những thập niên kế tiếp đã làm thay đổi bộ mặt của dòng nhạc phúc âm. Các Ca đoàn và những Ngôi sao (thập niên 1960 đến nay). Cleveland và Alex Bradford mang đến một bầu không khí mới cho dòng nhạc phúc âm, khi họ khởi sự thành lập những ca đoàn đông đảo và những tổ chức lớn với kỷ luật làm việc tốt, sử dụng phối âm phức tạp, giúp tiếng hát của toàn thể ca đoàn thể hiện những tiết tấu thu hút, những hòa âm tinh tế, và hỗ trợ cho những giọng hát thuộc các nhóm tứ ca của thời kỳ vàng son phô diễn chất giọng và kỹ năng điêu luyện của mình. The Brooklyn Tabernacle Choir, và The Mississippi Mass Choir là hai ca đoàn nổi tiếng nhất trong số hàng trăm ca đoàn của các nhà thờ địa phương. Giống Dorsey và những nhà tiên phong khác đã vay mượn từ nhạc blues và nhạc jazz, những ngôi sao nhạc phúc âm gần đây như Andrae Crouch, CeCe Winans và Take 6 tiếp cận với ảnh hưởng của nhạc pop, trong khi những người khác như Kirk Franklin đem một số yếu tố của nhạc hip hop vào dòng nhạc phúc âm. Sự chấm dứt luật phân biệt chủng tộc tại miền Nam nước Mỹ đã làm thay đổi điểm tập chú của nhạc phúc âm. Suốt trong thời kỳ phân biệt chủng tộc với những biện pháp bất công và khắc nghiệt áp đặt trên người da đen, trong vòng các nhà thờ có thái độ phi chính trị thuộc Phong trào Thánh khiết, nhạc phúc âm chỉ có thể diễn đạt những than thở kín đáo ví như ca từ "Khi lên đến Thiên đàng tôi sẽ ca hát và kêu to/ vì không còn ai tống cổ tôi ra"; người nghe sẽ hiểu được ý nghĩa ẩn giấu đằng sau những ca từ này. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi bùng nổ Phong trào Dân quyền (được soi dẫn bởi tinh thần bất bạo động của Mục sư Martin Luther King, Jr., theo đuổi những biện pháp ôn hòa nhằm đấu tranh cho quyền hiến định của người da đen) nhạc phúc âm trở nên một loại "nhạc hiệu" cho phong trào. Ngày nay nhạc phúc âm tập chú vào thông điệp như sự cần thiết phải có những trải nghiệm cá nhân về sự cứu rỗi. Ảnh hưởng của Nhạc Phúc âm. Những nghệ sĩ nhạc phúc âm, từng chịu ảnh hưởng trào lưu nhạc "pop" trong nhiều năm, đến phiên mình gây ảnh hưởng đáng kể trên dòng nhạc rhythm và blues (RB); những nhóm nhạc như Orioles, Ravens và Flamingos đã ứng dụng kỹ thuật "a cappella" của các nhóm tứ ca nhạc phúc âm cho các ca khúc nhạc pop vào cuối thập niên 1940, và suốt trong thập niên 1950. Những nghệ sĩ nhạc phúc âm hoạt động độc lập như Sam Cooke, và những nghệ sĩ nhạc thế tục như Ray Charles, và James Brown, từng vay mượn nhiều từ nhạc phúc âm, đã tạo nên dấu ấn đậm nét trong thập niên 1950, khi giúp kiến tạo dòng nhạc soul bằng cách mang nhiều hơn tính chất của nhạc phúc âm vào trong nhạc "rhythm" và nhạc "blues". Có lẽ Elvis Presley là nghệ sĩ nhạc phúc âm vĩ đại nhất, mặc dù ông cũng là đại thụ trong giới nhạc rock’n roll, và nhạc đồng quê. Presley yêu thích những ca khúc nhạc phúc âm như "Why me Lord", "How great Thou art" (Lớn Bấy Duy Ngài), và "You’ll never walk alone". Nhiều người trong số các nghệ sĩ nổi tiếng của dòng nhạc soul như Aretha Franklin, Marvin Gaye, Wilson Pickett và Al Green, đều xuất thân từ các ca đoàn nhà thờ và dòng nhạc phúc âm, vì vậy họ mang theo mình nhiều âm hưởng từ cung cách trình diễn ca khúc của những ca sĩ nhạc phúc âm như Clara Ward và Julius Cheeks. Những nhạc sĩ sáng tác nhạc thế tục thường cải biên một số bài hát nhạc phúc âm như ca khúc "I’ve Got A New Home" của nhóm Pilgrim Traveler đã được Ray Charles soạn lại thành ca khúc "Lonely Avenue", hay bài hát "Stand By Me" được Ben E. King cùng Lieber và Stoller soạn lại từ một ca khúc nhạc phúc âm nổi tiếng. Nhạc Phúc âm Da trắng. Vẫn thường được gọi là nhạc phúc âm miền Nam hoặc nhạc phúc âm đồng quê để phân biệt với nhạc phúc âm của người da đen, nhạc phúc âm da trắng đi theo một lộ trình khác trong suốt tám mươi năm qua. Một phần nguồn gốc của nhạc phúc âm da trắng được tìm thấy trong các tác phẩm của Aldine S. Kieffer, và Ephraim Ruebush. Dòng nhạc này được phát triển bởi những giáo viên âm nhạc lưu động, các nhóm tứ ca nhạc phúc âm, và các công ty xuất bản nhạc như A.J. Showalter (1879), James D. Vaughan Publishing, và Stamps-Baxter Music and Printing. Nhạc phúc âm miền Nam tìm thấy nguồn cảm hứng sáng tác trong bối cảnh tôn giáo của các giáo đoàn thuộc Phong trào Thánh khiết, khi ấy đang phát triển mạnh trên khắp miền Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ 20 để kiến tạo một nền âm nhạc mới, bổ sung cho những bài thánh ca truyền thống của thế kỷ 18 và 19, hình thành nên những hình thái mới trong nghi thức thờ phượng. Có những nghệ sĩ nhạc phúc âm đồng quê, như Carter Family, giành được tình cảm của đông đảo người nghe qua các đĩa nhạc và các chương trình trên sóng phát thanh trong thập niên 1920 và 1930. Những người khác, như Homer Rodeheaver, George Beverly Shea hay Cliff Barrows, là những ca sĩ nổi tiếng nhờ xuất hiện thường xuyên trong các chiến dịch truyền giảng Tin Lành của những nhà truyền bá phúc âm du hành như Billy Sunday hoặc Billy Graham. Thành phố Hartford, Tiểu bang Arkansas, suốt một thời được xem là ốc đảo của ngành xuất bản nhạc phúc âm, nơi đặt bản doanh của Công ty Âm nhạc Hartford với sự cộng tác của các tài năng âm nhạc như Albert E. Brumley (sáng tác ca khúc "I’ll Fly Away"), và E. M. Barlett (sáng tác ca khúc "Victory in Jesus"). Trong số những nghệ sĩ trình diễn nhạc phúc âm miền Nam thành công nhất phải kể đến Tứ ca The Statesmen, The Blackwood Brothers, Jordanaires, J.D. Summer, Tứ ca Stamps, Oak Ridge Boys, The Happy Goodman Family và The Cathedrals. Cũng giống nhạc phúc âm của người da đen, khán giả nhạc phúc âm của người da trắng phần lớn là các tín hữu thường đến dự các buổi lễ thờ phượng tại nhà thờ, không phải lúc nào cũng đồng ý tha thứ các ngôi sao của họ, khi những nghệ sĩ này từ bỏ dòng nhạc phúc âm để quay sang thể loại âm nhạc khác, như trường hợp của Oak Ridge Boys với chọn lựa mới là dòng nhạc pop. Có những nhóm truyền thống khác như The Imperials, góp phần cho sự phát triển của nền âm nhạc Cơ Đốc đương đại. Trong những năm gần đây, nhạc phúc âm miền Nam chứng kiến sự hồi sinh khi đông đảo người hâm mộ trở lại với dòng nhạc này nhờ những thành công của Bill và Gloria Gaither khi họ cho phát hành một loạt băng video "Homecoming", tập hợp những giọng ca huyền thoại của dòng nhạc phúc âm miền Nam cùng trình diễn với nhiều ngôi sao đương đại như The Gaither Vocal Band, The Hoppers và Ernies Haase Signature Sound. Hiệp hội Nhạc Phúc âm là tập hợp chủ lực của giới nghệ sĩ nhạc phúc âm với nhiều nhân vật nổi tiếng trong mọi lãnh vực của nhạc phúc âm. Hiệp hội Nhạc Phúc âm miền Nam đặc biệt chú trọng vào nhạc phúc âm miền Nam, có một Sảnh Vinh Danh ("Hall of Fame"), và một viện bảo tàng tọa lạc trong khuôn viên của công viên chủ đề "Dollywood" tại Pigeon Forge, Tiểu bang Tennessee.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Elizabeth II của Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (Elizabeth Alexandra Mary; 21 tháng 4 năm 1926 – 8 tháng 9 năm 2022) là Nữ vương của Vương quốc Liên hiệp Anh, Bắc Ireland và các Vương quốc Thịnh vượng chung khác từ năm 1952 đến năm 2022. Với thời gian trị vì 70 năm 214 ngày, bà là người trị vì lâu nhất trong lịch sử Vương thất Anh, đồng thời là nữ nguyên thủ quốc gia tại vị lâu nhất được ghi nhận đối với bất kỳ nữ nguyên thủ nào trong lịch sử, và là quân chủ tại vị lâu thứ hai trong lịch sử, chỉ sau Louis XIV. Elizabeth sinh ra ở Mayfair, Luân Đôn, là con gái đầu lòng của Công tước và Công tước phu nhân xứ York (sau này là Quốc vương George VI và Vương hậu Elizabeth). Cha của bà lên ngôi Quốc vương vào năm 1936 sau khi người bác ruột của bà là Quốc vương Edward VIII thoái vị, khiến Elizabeth trở thành người kế vị ngai vàng. Bà được giáo dục tại gia và đảm đương nhiều công việc xuyên suốt Chiến tranh thế giới thứ hai, phục vụ trong Lực lượng Hỗ trợ Nội địa. Tháng 11 năm 1947, bà kết hôn với Philip Mountbatten, cựu Vương tôn của Hy Lạp và Đan Mạch, cuộc hôn nhân của họ kéo dài 73 năm cho đến khi Philip qua đời vào ngày 9 tháng 4 năm 2021, hưởng thọ 99 tuổi. Họ có 4 người con: Charles III; Anne, Vương nữ Vương thất; Vương tử Andrew, Công tước xứ York; và Vương tử Edward, Công tước xứ Edinburgh. Sau khi cha của bà qua đời vào ngày 6 tháng 2 năm 1952, Elizabeth—25 tuổi—trở thành Nữ vương của 7 quốc gia tự trị thuộc Khối thịnh vượng chung: Vương quốc Anh, Canada, Úc, New Zealand, Nam Phi, Pakistan và Ceylon, đồng thời là Người đứng đầu Khối thịnh vượng chung. Khoảng thời gian Elizabeth trị vì, chế độ quân chủ lập hiến chứng kiến nhiều sự thay đổi, trong đó có xung đột vũ trang tại Bắc Ireland, sự giải thể của Đế quốc Anh (một tiến trình đã bắt đầu từ trước khi bà lên ngôi) và kế tiếp là sự phát triển của Khối Thịnh vượng chung Anh, Vương quốc Anh gia nhập Cộng đồng châu Âu, Vương quốc Anh rời Liên minh Châu Âu và sự phi thực dân hóa của châu Phi. Số lượng các quốc gia của bà dần thay đổi theo thời gian sau khi các nước thuộc địa giành được độc lập và khi các quốc gia, bao gồm Nam Phi, Pakistan và Ceylon (được đổi tên thành Sri Lanka) trở thành các nước cộng hòa. Nhiều chuyến thăm và cuộc gặp gỡ lịch sử của bà bao gồm chuyến thăm cấp nhà nước tới Cộng hòa Ireland vào năm 2011 và các chuyến thăm đến hoặc từ 5 vị giáo hoàng. Về lý thuyết thì quyền lực của bà là rất lớn, mặc dù vậy, trên thực tế theo quy ước, bà hiếm khi can dự vào các vấn đề chính trị do Vương quốc Anh vốn là một quốc gia quân chủ lập hiến hết sức hoàn bị. Các sự kiện quan trọng của bà bao gồm Lễ Đăng quang vào năm 1953 và lễ kỷ niệm Bạc, Vàng, Kim cương và Bạch kim lần lượt vào các năm 1977, 2002, 2012 và 2022. Elizabeth là Quân vương Anh tại vị lâu nhất và trị vì lâu nhất, nữ nguyên thủ quốc gia tại vị lâu nhất trong lịch sử, vị Quân vương lâu đời nhất và trị vì lâu nhất hiện nay, đồng thời là nguyên thủ quốc gia đương nhiệm lâu đời nhất và nắm giữ vương quyền lâu nhất. Elizabeth thỉnh thoảng phải đối mặt với những lời chỉ trích nhắm vào vương thất từ giới truyền thông hoặc những người theo chủ nghĩa cộng hòa, đặc biệt là sau những cuộc hôn nhân tan vỡ của con cái, "năm tồi tệ" 1992 và cái chết của người con dâu cũ Diana, Vương phi xứ Wales vào năm 1997. Mặc dù vậy, sự ủng hộ của dân chúng tại Vương quốc Anh đối với chế độ quân chủ và độ tín nhiệm của Nữ vương đã và vẫn luôn duy trì ở mức độ cao cũng như sự nổi tiếng của riêng bà. Sau một thời gian điều trị, Elizabeth đã từ trần vào ngày 8 tháng 9 năm 2022 tại lâu đài Balmoral, Scotland, hưởng thọ 96 tuổi. Con trai cả của bà, Charles III, là người kế nhiệm ngai vàng Anh quốc. Elizabeth chào đời lúc 02:40 (GMT) vào ngày 21 tháng 4 năm 1926, dưới thời trị vì của ông nội của bà là Quốc vương George V. Cha của bà, Vương tử Albert, Công tước xứ York (sau này là Quốc vương George VI) là con trai thứ hai của George V. Mẹ của bà, Công tước phu nhân xứ York (sau này là Vương hậu Elizabeth) là con gái út của nhà quý tộc người Scotland, Claude Bowes-Lyon, Bá tước thứ 14 xứ Strathmore và Kinghorne. Bà được sinh ra bằng biện pháp sinh mổ tại căn nhà của ông ngoại ở Luân Đôn, số 17 Đường Bruton, Mayfair. Bà được rửa tội trong nhà thờ riêng của Cung điện Buckingham dưới sự chủ trì của Cosmo Lang, Tổng giám mục xứ York vào ngày 29 tháng 5 năm 1926 và đặt tên là Elizabeth theo tên của mẹ; tên đệm Alexandra đặt theo tên của bà cố là Vương hậu Alexandra, người qua đời trước đó khoảng 6 tháng; và Mary đặt theo tên của bà nội là Vương hậu Mary. Elizabeth được những người thân trong gia đình gọi với cái tên thân mật là "Lilibet", dựa theo những gì mà bà tự gọi mình khi còn nhỏ do không thể phát âm chính xác cái tên "Elizabeth". Ông nội của bà là George V rất yêu thương bà, người mà bà trìu mến gọi là "Ông nội nước Anh" và trong khoảng thời gian mà ông bị bệnh nghiêm trọng vào năm 1929, những chuyến thăm thường xuyên của bà được các tờ báo nổi tiếng và nhà sử học sau này ghi nhận là nâng cao tinh thần và giúp ông hồi phục. Người em gái duy nhất của Elizabeth là Vương nữ Margaret sinh vào ngày 21 tháng 8 năm 1930. Hai cô công chúa được giáo dục tại gia dưới sự giám sát của mẹ và phó mẫu của họ là . Các bài học tập trung vào lịch sử, ngôn ngữ, văn học và âm nhạc. Crawford xuất bản một cuốn tiểu sử về những năm thơ ấu của Elizabeth và Margaret mang tên "The Little Princesses" vào năm 1950. Cuốn sách mô tả tình yêu của Elizabeth đối với ngựa và chó, tính trật tự và thái độ trách nhiệm của bà. Những người khác cũng đồng tình với nhận xét này: Winston Churchill mô tả Elizabeth lúc 2 tuổi là "một nhân cách. Cô bé phảng phất uy quyền và sự chín chắn đáng ngạc nhiên trong một đứa trẻ." Chị họ của bà là Margaret Rhodes mô tả bà là "một cô bé vui tính, nhưng về cơ bản là có ý thức và cư xử tốt". Người thừa kế ngai vàng. Là cháu nội gái của nhà vua, Elizabeth nhận được danh hiệu Vương tôn nữ Anh, với kính xưng "Her Royal Highness (Điện hạ)", tước hiệu đầy đủ là "Her Royal Highness Princess Elizabeth of York (Vương tôn nữ Elizabeth xứ York Điện hạ)". Khi sinh, bà là người thứ ba trong danh sách kế vị ngai vàng, sau bác của mình, Vương tử Edward, Thân vương xứ Wales và cha mình. Mặc dù việc bà sinh ra được công chúng chú ý, không ai có lý do để tin rằng bà sẽ trở thành Nữ vương, vì mọi người khi đó đều cho rằng Thân vương xứ Wales sẽ cưới vợ và sinh con. Năm 1936, khi ông nội của bà, Vua George V, băng hà và người bác Edward của bà nối ngôi, bà trở thành người kế vị thứ hai sau cha mình. Cuối năm, Edward thoái vị và cha bà trở thành Quốc vương. Elizabeth từ đó trở thành người thừa kế ngai vàng và được gọi là "Her Royal Highness The Princess Elizabeth", tức [Vương "nữ Elizabeth Điện hạ]." Elizabeth học môn lịch sử lập hiến với Ngài Henry Marten, Phó hiệu trưởng Đại học Eton và tôn giáo với Tổng giám mục xứ Canterbury. Bà học các ngôn ngữ hiện đại và hiện nay vẫn nói tiếng Pháp trôi chảy. Một đoàn Hướng đạo nữ, Đoàn Cung điện Buckingham số 1, được đặc biệt thành lập để Vương nữ Elizabeth có thể giao tiếp với những cô gái cùng lứa tuổi. Bà đoạt được phù hiệu thông dịch viên, bơi lội, múa, cưỡi ngựa, đầu bếp, chăm sóc trẻ và may vá, sau này trở thành người đứng đầu đội tuần tra của Nhóm tuần tra Swallow Patrol. Sau đó, bà được tuyển làm Hướng đạo sinh biển và vào năm 1946, trở thành Trưởng hướng đạo sinh của Hướng đạo sinh lớn Đế quốc Anh, một nhánh dành cho người trưởng thành của Hướng đạo sinh nữ. Nữ vương đến nay vẫn tham gia Hướng đạo và làm người bảo trợ cho Liên đoàn Hướng đạo từ năm 1952. Năm 1939, Chính phủ Canada muốn Vương nữ Elizabeth tháp tùng cha mẹ trong chuyến công du Canada. Tuy nhiên, đức vua đã quyết định không thực hiện điều này, nói rằng con gái ông còn quá nhỏ tuổi để tham dự vào chuyến đi căng thẳng như vậy, cuối cùng kéo dài đến hơn 1 tháng. Elizabeth có thể đã gặp người chồng tương lai của mình, Vương tôn Philip của Hy Lạp và Đan Mạch vào năm 1934 và 1937. Sau một cuộc gặp gỡ khác tại Đại học Hải quân Vương thất ở Dartmouth tháng 7 năm 1939, Elizabeth, dù khi đó chỉ mới 13 tuổi, đã đem lòng yêu mến Philip và họ bắt đầu thư từ cho nhau. Chiến tranh thế giới thứ hai. Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Vương nữ Elizabeth và em gái, Vương nữ Margaret, ở tại Lâu đài Balmoral, Scotland, từ tháng 9 đến Giáng sinh năm 1939, rồi chuyển sang Nhà Sandringham, Norfolk. Tháng 5 năm 1940, họ chuyển tới Lâu đài Windsor và ở đó trong gần hết năm năm tiếp theo. Đã có người đề nghị di tản hai Vương nữ sang Canada, nơi họ cùng với cha mẹ mình sẽ sống tại Lâu đài Hatley ở British Columbia. Kế hoạch này chưa bao giờ thành hiện thực; để đáp lại lời đề nghị này, mẹ của Elizabeth, Vương hậu Elizabeth, đã nói một câu nói nổi tiếng: "Những đứa trẻ sẽ không đi đâu hết nếu không có tôi. Tôi sẽ không đi mà không có Quốc vương. Và Quốc vương sẽ không bao giờ rời khỏi đây." Hai Vương nữ vẫn tiếp tục ở lại Windsor, tại đó họ đã diễn kịch pantomime vào Giáng sinh, trước gia đình và bạn bè được mời tới, cùng với những đứa con của nhân viên Nội trợ Vương thất. Cũng tại Windsor mà Elizabeth, vào năm 1940, đã có buổi phát thanh đầu tiên qua chương trình "Children's Hour" của BBC, gửi đến những đứa trẻ đang di tản khỏi các thành phố. Bà đã nói: Trong những năm Elizabeth ở Windsor, chuyên gia lập hiến Edward Iwi đã lên các kế hoạch để cho một thành viên của vương thất xuất hiện ở Wales, nhằm dẹp yên ảnh hưởng của phong trào quốc gia đang lên "Plaid Cymru". Trong một báo cáo gửi đến Thư ký Nội vụ Vương thất Herbert Morrison, Iwi đề nghị chỉ định Elizabeth là Cảnh sát của Lâu đài Caernarfon (vị trí mà David Lloyd George đang nắm giữ) và là người bảo hộ của "Urdd Gobaith Cymru" và đi đến Wales với danh nghĩa đó. Ý tưởng này được Thư ký Nội vụ bác bỏ, dựa trên cơ sở nó có thể gây ra bất hòa giữa bắc và nam Wales; và bởi cả Quốc vương, người từ chối để cô con gái của mình phải chịu áp lực bởi các chuyến đi công cán; và của chính phủ, vì hai thành viên lãnh đạo của "Urdd Gobaith Cymru" được phát hiện ra là những người từ chối nhập ngũ có chủ đích. Năm 1945, Vương nữ Elizabeth tháp tùng cha mẹ đến thăm nhân viên quân đội của Khối thịnh vượng chung và bắt đầu thực hiện các công tác một mình, như xem cuộc diễu hành của các nữ phi công. Bà gia nhập Đội quân Lãnh thổ Bổ trợ Phụ nữ, với số hiệu 230873 Đại úy thứ hai Elizabeth Windsor. Bà được huấn luyện để trở thành tài xế và thợ cơ khí, lái một chiếc xe tải quân sự và tiến đến cấp bậc Tư lệnh cấp thấp. Hiện nay bà là "nguyên thủ quốc gia còn sống duy nhất đã từng mặc quân phục trong Chiến tranh thế giới thứ hai". Đến cuối cuộc chiến ở châu Âu, vào ngày Chiến thắng trong Ngày châu Âu, Vương nữ Elizabeth và em gái bà đã hòa mình một cách ẩn danh vào đám đông ăn mừng trên đường phố Luân Đôn. Sau này bà đã nói trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi, "chúng tôi xin phép cha mẹ để được ra ngoài và tự mắt mình chứng kiến. Tôi nhớ là chúng tôi đã rất sợ bị nhận , tất cả chúng tôi chỉ biết khóc trong ngập tràn hạnh phúc và nhẹ nhõm". Hai năm sau, Vương nữ thực hiện chuyến đi nước ngoài chính thức đầu tiên, khi bà tháp tùng cha mẹ đến phía Nam châu Phi. Vào sinh nhật lần thứ 21, trong một buổi phát thanh đến Khối thịnh vượng chung Anh từ Nam Phi, bà bảo đảm: "Ta tuyên bố trước tất cả dân chúng rằng toàn bộ cuộc đời ta, dù dài hay ngắn, sẽ dành để phục vụ mọi người và phục vụ cho Hoàng thất vĩ đại mà tất cả chúng ta đều thuộc về". Elizabeth kết hôn với Philip vào ngày 20 tháng 11 năm 1947. Theo vai vế Elizabeth là cháu gọi Philip là chú họ thông qua Quốc vương Christian IX của Đan Mạch đồng thời là chị em họ thông qua bà sơ là Victoria của Anh. Trước khi kết hôn, Philip đã từ bỏ tước hiệu Vương thất Hy Lạp và Đan Mạch của ông và sử dụng danh hiệu "Trung úy Philip Mountbatten", lấy theo họ mẹ. Ngay trước lễ cưới 1 ngày, ông được phong tước Công tước xứ Edinburgh và kính xưng "Điện hạ." Lễ cưới diễn ra không được suôn sẻ: Philip theo Chính thống giáo Hy Lạp, không có địa vị tài chính và có các chị em gái kết hôn với những quý tộc Đức có liên hệ với Đức quốc xã. Mẹ của Elizabeth, trong những cuốn tự truyện về sau, được nói rằng đã phản đối mối lương duyên này, thậm chí còn gọi Philip là "gã người Đức" ("The Hun"). Tuy nhiên, Khối thịnh vượng chung chưa hoàn toàn hồi phục sau chiến tranh; nên Vương nữ đã phải để dành các phiếu được phân phối để mua vật liệu may váy cưới, do Norman Hartnell thiết kế. Lễ cưới được xem là tia hy vọng đầu tiên của sự tái sinh sau chiến tranh. Elizabeth và Philip nhận được 2.500 món quà cưới từ khắp nơi trên thế giới. Tại lễ cưới, phù dâu của Elizabeth bao gồm Vương nữ Margaret (em gái); Vương tôn nữ Alexandra xứ Kent (em họ); Lady Caroline Montagu-Douglas-Scott (con của Công tước xứ Buccleuch); Lady Mary Cambridge (con của cậu họ); Lady Elizabeth Mary Lambart (con của Frederick Lambart, Bá tước thứ 10 xứ Cavan); Pamela Mountbatten (chị họ đằng ngoại của Philip); Margaret Elphinstone (em họ); Diana Bowes-Lyon (em họ). Cậu bé nâng váy cho bà là em con chú của bà, Vương tôn William xứ Gloucester và Vương tôn Michael xứ Kent. Ở nước Anh hậu chiến, không có bất kỳ họ hàng người Đức nào của Công tước xứ Edinburgh được phép tham dự lễ cưới, kể cả ba người chị gái còn sống của Philip. Cô của Elizabeth, Vương nữ Vương thất Mary, từ chối tham dự vì anh trai của bà, Công tước xứ Windsor (cựu Vương Edward VIII thoái vị năm 1936), không được mời vì lý do bên nhà chồng; bà lấy lý do sức khỏe làm lý do chính thức không đến dự tiệc cưới. Elizabeth sinh hạ con trai đầu lòng, Vương tôn Charles xứ Edinburgh, vào ngày 14 tháng 11 năm 1948, một tháng sau Quốc vương George VI trao văn thư đặc quyền cho phép con cái bà được hưởng tước xưng cùng địa vị Vương thất, bởi nếu theo luật thì các con bà sẽ không được nhận vì có cha không phải là một "British Prince". Mặc dù Vương tộc có họ là Windsor, một sắc lệnh của Nữ vương ban hành năm 1960 nói rằng dòng dõi nam của Elizabeth II và Vương tế Philip nếu không phải là Vương tử và Vương nữ của Vương quốc Anh thì sẽ mang họ Mountbatten-Windsor. Người con thứ hai, Vương tôn nữ Anne xứ Edinburgh, sinh vào năm 1950. Sau lễ cưới, cặp vợ chồng thuê chỗ ở đầu tiên của mình, Windlesham Moor, cho đến ngày 4 tháng 7 năm 1949, khi họ chuyển sang sinh sống tại dinh thự Clarence. Tuy nhiên, trong nhiều khoảng thời gian khác nhau từ năm 1949 đến 1951, Công tước xứ Edinburgh đóng quân ở Malta (vào thời điểm đó là Đất bảo hộ của Anh) với vai trò sĩ quan Hải quân Vương thất. Ông và Elizabeth thỉnh thoảng sống vài tháng ở thôn Gwardamangia ở Malta, tại Làng Gwardamangia, ngôi nhà mướn lại từ Louis Mountbatten, Bá tước Mountbatten xứ Miến Điện. Những người con của hai người vẫn ở lại Anh. Sức khỏe của Quốc vương George VI trở nên suy yếu vào năm 1951 và Elizabeth bắt đầu xuất hiện thường xuyên trong những sự kiện công cộng thay thế cho cha mình. Tháng 10 cùng năm, bà có chuyến thăm đến Canada và viếng thăm Tổng thống Hoa Kỳ, Harry S. Truman, tại Washington, D.C.; trong chuyến thăm đó, Vương nữ đã mang theo mình bản thảo tuyên bố lên ngôi phòng khi Quốc vương qua đời khi bà không có mặt ở Vương quốc Anh. Đầu năm 1952, Elizabeth và Philip có chuyến thăm đến Úc và New Zealand đi qua Kenya. Tại Sagana Lodge, cách Nairobi 100 dặm về phía bắc, tin dữ về cái chết của vua cha đến tai Elizabeth vào ngày 6 tháng 2. Philip là người báo tin này cho Tân Nữ vương. Martin Charteris, khi đó là Thư ký Trợ lý riêng của bà, đã hỏi bà muốn chọn tên gì để làm niên hiệu và được bà hồi đáp: "Elizabeth, tất nhiên". Elizabeth ngay lập tức được tuyên bố trở thành Nữ vương tại nhiều quốc gia nơi bà được thừa kế ngai vàng và phái đoàn Vương thất nhanh chóng quay lại Vương quốc Anh. Tân Nữ vương và Công tước Edinburgh chuyển sang sống tại Điện Buckingham. Trong lúc chuẩn bị cho lễ đăng quang, em gái của bà là Vương nữ Margaret thông báo với chị mình rằng cô muốn kết hôn với Peter Townsend, một thường dân đã ly dị lớn hơn Margaret 16 tuổi và có hai đứa con riêng. Nữ vương yêu cầu họ chờ thêm một năm; mà theo lời của Martin Charteris, "Nữ vương rất thông cảm với Vương nữ, nhưng tôi cho rằng bà đã nghĩ—bà hy vọng—với thời gian, mối tình này rồi sẽ phai nhạt". Sau khi bị sự phản đối của các thủ tướng trong Khối thịnh vượng chung và lời đe dọa từ chức của một bộ trưởng nước Anh nếu Margaret và Townsend kết hôn, Margaret đã quyết định từ bỏ ý định. Dù bà nội của Nữ vương là Thái hậu Mary mất vào ngày 24 tháng 3 năm 1953, Lễ Đăng quang của Nữ vương vẫn được tiến hành tại Tu viện Westminster vào ngày 2 tháng 6 năm 1953, theo ước nguyện của Thái hậu. Toàn bộ buổi lễ, ngoại trừ lễ xức dầu và ban thánh thể, đã được truyền hình khắp Khối thịnh vượng chung và ước đoán có khoảng 20 triệu người xem ở Anh và 12 triệu người khác theo dõi qua radio. Nữ vương Elizabeth II mặc chiếc đầm do Norman Hartnell thiết kế, có đính những biểu tượng hoa của các quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung: hoa hồng Tudor của nước Anh, cây kế của Scotland, tỏi tây của Wales, cây lá chụm hoa của Ireland, cây keo của Úc, lá phong của Canada, dương xỉ của New Zealand, protea của Nam Phi, hai đóa hoa sen đại diện cho Ấn Độ và Ceylon và cây lúa mì, cây bông và cây đay của Pakistan. Sự phát triển của Khối thịnh vượng chung. Nữ vương Elizabeth, trong suốt cuộc đời mình, đã chứng kiến sự thay đổi không ngừng từ đế quốc Anh cũ sang Khối Thịnh vượng chung Anh mới, rồi đến Khối thịnh vượng chung các Quốc gia. Thời điểm Nữ vương Elizabeth lên ngôi năm 1952, vai trò nguyên thủ trên danh nghĩa của các quốc gia độc lập của bà đã được thiết lập. Trong thời kỳ 1953–1954, Nữ vương và phu quân đã thực hiện chuyến đi vòng quanh thế giới trong sáu tháng. Bà trở thành Nữ vương Úc và New Zealand đang trị vì đầu tiên đến thăm quốc gia này. Trong chuyến thăm, rất nhiều người đến chứng kiến; ước tính có ba phần tư dân số Úc đến để chiêm ngưỡng Nữ vương. Trong thời gian trị vì, Nữ vương Elizabeth đã thực hiện nhiều chuyến viếng thăm đến nước ngoài, cũng như nhiều chuyến thăm đến từng quốc gia thuộc Khối thịnh vượng, trong đó có việc tham dự tất cả những Cuộc họp những người đứng đầu Chính phủ Khối thịnh vượng chung Anh (CHOGM). Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia đi thăm viếng nhiều nhất trong lịch sử. Năm 1956, Thủ tướng Pháp Guy Mollet và Thủ tướng Anh Ngài Anthony Eden đã bàn về khả năng Pháp liên minh với Vương quốc Anh; một trong những ý tưởng đó là Nữ vương Elizabeth II sẽ trở thành nguyên thủ quốc gia của Pháp. Mollet "đã cho rằng không có khó khăn gì khi chấp nhận sự lãnh đạo của Vương thượng". Lời đề nghị này chưa bao giờ được chấp nhận và vào năm sau đó, Pháp đã ký Hòa ước Roma. Tháng 11 cùng năm, Anh và Pháp tấn công Ai Cập trong một nỗ lực không thành cuối cùng nhằm chiếm giữ kênh đào Suez. Bá tước Mountbatten xứ Miến Điện đã tuyên bố rằng Nữ vương phản đối cuộc xâm lược, mặc dù Thủ tướng Eden phủ nhận điều đó. Hai tháng sau Eden từ chức. Sự thiếu vắng một cơ chế nghi thức trong Đảng Bảo thủ nhằm chọn ra một vị lãnh đạo có nghĩa là, sau khi Eden từ chức, Nữ vương có toàn quyền quyết định người thành lập chính phủ. Eden khuyên Elizabeth tham vấn Lord Salisbury (Chủ tịch Hội đồng Mật viện). Lord Salisbury và Lord Kilmuir (Đại pháp quan) đã tham vấn Nội các, Winston Churchill và Chủ tịch Ủy ban 1922, kết quả là Nữ vương đã chỉ định ứng cử viên do họ đề xuất: Harold Macmillan. Sáu năm sau, đến phiên Macmillan từ chức và khuyên Nữ vương chỉ định Bá tước xứ Home làm Thủ tướng, bà cũng làm theo lời khuyên này. Trong cả hai năm 1957 và 1963, Nữ vương đã chịu sự chỉ trích vì đã chỉ định Thủ tướng theo lời khuyên của một nhóm nhỏ bộ trưởng, hoặc chỉ theo lời một người duy nhất. Năm 1965, Đảng Bảo thủ đã đưa vào cơ chế nghi thức để chọn người đứng đầu, vì vậy bà không còn phải làm nhiệm vụ này nữa. Cuộc khủng hoảng Suez và sự lựa chọn người kế nhiệm Eden đã dẫn đến sự chỉ trích thực sự đầu tiên vào cá nhân Nữ vương vào năm 1957. Trong một tạp chí do Lord Altrincham sở hữu và biên tập, ông cáo buộc bà là "xa cách". Altrincham đã bị những nhân vật nổi tiếng lên án và bị một số người hành hung vì tức giận với lời phát biểu của ông. Bà có chuyến viếng thăm đến Hoa Kỳ vào cùng năm và có bài phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Cũng trong dịp đó bà đã khai mạc Nghị viện Canada thứ 23, trở thành vị quân chủ Canada đầu tiên khai mạc một phiên nghị viện. Hai năm sau, bà lại đến thăm Canada và Hoa Kỳ. Năm 1962, bà đến Síp, Ấn Độ, Pakistan, Nepal và Iran. Trong chuyến thăm Ghana, bà đã từ chối giữ khoảng cách với Tổng thống Kwame Nkrumah, dù ông là mục tiêu của những kẻ ám sát. Harold Macmillan khi đó đã viết: "Nữ vương hoàn toàn quyết đoán trong chuyện đó. Bà cảm thấy thiếu kiên nhẫn với thái độ xem bà giống như một ngôi sao điện ả'trái tim và dạ dày của một người đàn ông'... Bà yêu công việc của mình và xứng đáng là một Nữ vương". Hai lần Nữ vương Elizabeth mang thai Vương tử Andrew và Edward, năm 1959 và 1963, là những lần duy nhất Elizabeth không xuất hiện để khai mạc Nghị viện khi bà trị vì. Bà đã ủy nhiệm quyền đó cho Đại pháp quan. Elizabeth đã khai trương đường dây điện thoại xuyên Đại Tây Dương đầu tiên của Canada (một phần trong số đó đã được điều chỉnh để kết nổi tất cả các quốc gia Khối thịnh vượng chung với nhau) năm 1961, với việc gọi cho Thủ tướng Canada, John Diefenbaker, từ Điện Buckingham và nói "Ông có đó không, ông Thủ tướng?". Năm 1965, Thủ tướng Rhodesia Ian Smith đơn phương tuyên bố độc lập khỏi Anh quốc. Mặc dù Nữ vương đã cách chức Smith trong một tuyên bố chính thức và cộng đồng quốc tế áp lệnh trừng phạt cho Rhodesia, chế độ của Smith vẫn tồn tại thêm 11 năm nữa. Năm 1969, Elizabeth đã gửi một trong 73 Thông điệp Chúc mừng Apollo 11 đến NASA do sự kiện lịch sử lần đầu tiên đổ bộ lên Mặt Trăng; thông điệp này được khắc lên một đĩa silicon nhỏ hiện vẫn nằm trên Mặt Trăng. Sau đó bà đã gặp phi hành đoàn trong chuyến đi thăm các nước trên thế giới của họ. Năm 1976, bà trở thành quân vương đầu tiên gửi thư điện tử. Tháng 2 năm 1974, một kết quả tổng tuyển cử bất phân thắng bại của Anh dẫn tới việc, về lý thuyết, Thủ tướng sắp mãn nhiệm, Edward Heath, người thuộc đảng thắng đa số phiếu phổ thông, có thể tiếp tục tại vị nếu ông hình thành một chính phủ liên minh với Đảng Tự do. Thay vì lập tức từ chức Thủ tướng, Heath đã xem xét lựa chọn này và chỉ từ chức sau khi cuộc thảo luận để hình thành chính phủ liên hiệp thất bại, sau đó Nữ vương đã yêu cầu Thủ lĩnh Phe đối lập, Harold Wilson của Đảng Lao động, thành lập chính phủ. Một năm sau, tại cao trào của cuộc khủng hoảng lập hiến Úc 1975, Thủ tướng Gough Whitlam bị Toàn quyền Ngài John Kerr bãi nhiệm khi đề xuất ngân sách của Whitlam bị Thượng viện do phe đối lập điều khiển bác bỏ. Phát ngôn viên Hạ viện Úc, Gordon Scholes, đã thay mặt hạ viện thỉnh cầu Nữ vương đảo ngược quyết định của Kerr, trên cơ sở Đảng Lao động của Whitlam vẫn nhận được sự tín nhiệm của quốc hội. Elizabeth từ chối, cho rằng việc can thiệp vào chính trường là không thích hợp đối với bà mà theo Hiến pháp Úc nó là quyền hạn của Toàn quyền. Cuộc khủng hoảng này đã kích thích chủ nghĩa cộng hòa ở Úc. Lễ kỷ niệm 25 năm. Năm 1977, Nữ vương Elizabeth đánh dấu Lễ kỷ niệm 25 năm trị vì. Nhiều sự kiện được tổ chức ở các quốc gia khác nhau trong chuyến thăm đến các nước thuộc Khối thịnh vượng chung của Nữ vương, trong đó có lễ tạ ơn tại Nhà thờ chính tòa Thánh Phao-lô trong đó có sự tham dự của các chức sắc quý tộc và các nguyên thủ quốc gia khác. Những bữa tiệc đã được tổ chức trên khắp các vương quốc Khối thịnh vượng chung, đỉnh điểm là một vài "Ngày kỷ niệm" (Jubilee Days) ở Vương quốc Anh vào tháng 6. Tại nước Anh, những con tem kỷ niệm đã được phát hành. Đường Lễ kỷ niệm 25 năm (Jubilee Line) tại Tàu điện ngầm Luân Đôn (dù đến năm 1979 mới mở cửa) được đặt theo tên của lễ kỷ niệm này, cũng như một vài địa điểm và không gian công cộng khác, như Vườn Jubilee ở Bờ Nam Luân Đôn. Tại Canada, Huy hiệu Kỷ niệm 25 năm trị vì Nữ vương Elizabeth II đã được phát hành. Năm 1978, bà đón nhận chuyến thăm của vị lãnh tụ cộng sản Rumani, Nicolae Ceauşescu và năm sau là hai xảy ra hai sự kiện lớn: một là việc phát hiện ra Anthony Blunt, Thanh tra Bộ tranh của Nữ vương, là một điệp viên cộng sản; vụ còn lại vụ ám sát người họ hàng bên chồng Bá tước Mountbatten xứ Miến Điện do Quân đội Cộng hòa Ireland Lâm thời thực hiện. Theo Paul Martin, Sr. vào cuối những năm 1970, Nữ vương rất lo lắng rằng vương thất "không còn mấy ý nghĩa" đối với Thủ tướng Canada Pierre Trudeau. Tony Benn nói rằng Nữ vương nhận thấy Trudeau "khá thất vọng". Điều này có thể là do những trò khôi hài của ông, như trượt xuống lan can tại Điện Buckingham hay múa xoay tròn sau lưng bà vào năm 1977, cũng như tước bỏ nhiều biểu tượng Vương thất Canada trong nhiệm kỳ của ông. Martin—cùng với John Roberts và Mark MacGuigan—được cử tới Anh năm 1980 để bàn về việc thay đổi Hiến pháp Canada. Nữ vương rất quan tâm đến cuộc tranh luận về hiến pháp, đặc biệt sau sự thất bại của Bill C-60, có thể ảnh hưởng đến vai trò quân chủ của bà. Tất cả các bên đều nhận thấy Nữ vương "được báo cáo cặn kẽ về nội dung và chính trị của trường hợp hiến pháp Canada hơn bất kỳ chính trị gia hoặc nhân viên chính phủ nào". Kết quả của việc thay đổi hiến pháp là vai trò của nghị viện Anh trong hiến pháp Canada bị xóa bỏ, nhưng ngôi vị quân chủ thì vẫn được duy trì. Trudeau nói trong hồi ký của ông: "Nữ vương đã ủng hộ nỗ lực cải cách Hiến pháp của tôi. Tôi luôn ấn tượng không chỉ bởi phong thái của bà trước công chúng, mà còn bởi trí tuệ mà bà thể hiện trong những cuộc đối thoại riêng tư". Sự dũng cảm của Nữ vương Elizabeth, cùng tài nghệ cưỡi ngựa của bà đã được thể hiện trong buổi lễ Trooping the Colour hàng năm năm 1981. Đã có sáu phát súng nhắm vào bà từ khoảng cách gần khi bà đang cưỡi ngựa dọc theo The Mall. Bà vẫn điều khiển con ngựa Burmese của mình đi tiếp. Các nhà báo đã vô cùng ngạc nhiên trước vụ tấn công vào mạng sống Nữ vương, cho dù sau đó người ta điều tra được đó chỉ là những phát súng chỉ thiên. Hạ viện Canada ấn tượng với màn trình diễn của Nữ vương đến nỗi họ đã thông qua văn bản ca ngợi sự điềm tĩnh của bà. Năm sau đó, Nữ vương lại gặp một tình huống nguy hiểm khi bà thức dậy trong phòng ngủ ở Điện Buckingham và thấy một người lạ, Michael Fagan, đang ở trong phòng của bà. Vẫn bình tĩnh, trong khoảng mười phút và qua hai cuộc điện thoại đến tổng đài cảnh sát của cung điện, Elizabeth đã nói chuyện với Fagan khi tên này đang ngồi ở chân giường cho đến khi trợ lý của bà ập đến. Từ tháng 4 đến tháng 9 cùng năm, Nữ vương rất lo lắng nhưng tự hào về con trai của bà, Vương tử Andrew, người đang phục vụ trong quân đội Anh trong Chiến tranh Falkland. Mặc dù bà đã từng đón Tổng thống Ronald Reagan tại Lâu đài Windsor năm 1982 và đến thăm trang trại của ông ở California năm 1983, bà vẫn biểu lộ sự tức giận khi chính quyền ông này ra lệnh xâm lược Grenada, một trong những vương quốc của bà ở Caribe. Trong nhiệm kỳ của Thủ tướng Anh Quốc Margaret Thatcher vào những năm 1980, có lời đồn rằng Nữ vương lo ngại rằng chính sách kinh tế của Thatcher sẽ thúc đẩy sự phân hóa xã hội và được báo động về tình trạng thất nghiệp cao, một loạt vụ bạo động, tình trạng bạo lực trong một cuộc biểu tình của thợ mỏ. và sự từ chối thi hành sắc lệnh chống lại chế độ apartheid ở Nam Phi của Thatcher Thatcher đã nói với Brian Walden, "Nữ vương là người phụ nữ có thể sẽ bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ Xã hội". Những báo cáo về mối quan hệ căng thẳng giữa Nữ vương Elizabeth và Thatcher trong suốt thời kỳ này đánh giá khác nhau về sự khác biệt giữa hai người và mức độ căng thẳng do khác biệt về chính sách, hoặc sự xung đột tính cách. Thái độ của Nữ vương đối với Thatcher thậm chí còn được mô tả là "ghét cay ghét đắng". Mặc cho những suy đoán như vậy, Thatcher sau này vẫn bày tỏ sự ngưỡng mộ Nữ vương và thể hiện niềm tin rằng cái ý tưởng về sự xung đột giữa hai người chỉ là sự bịa đặt vì họ đều là phụ nữ với nhau. Trong bộ phim phóng sự của BBC "Queen Country" (Nữ vương và Đất nước), Thatcher đã mô tả Nữ vương là "tuyệt diệu" và là một "quý bà hoàn hảo" "luôn biết mình phải nói cái gì", cụ thể là ám chỉ cuộc họp cuối cùng với vai trò thủ tướng với Elizabeth. Trái ngược với những báo cáo về sự thù địch giữa hai người, sau khi Thatcher không tham gia chính trị nữa, Nữ vương Elizabeth đã phong cho bà hai món quà cá nhân từ Nữ vương: Order of Merit và Order of the Garter. Cả Nữ vương và Vương tế Philip đều tham dự tiệc sinh nhật lần thứ 80 của Thatcher. Sau này, Nữ vương và Vương tế cũng tham dự tang lễ của bà Thatcher (2013) Năm 1991, bà trở thành quân chủ Anh đầu tiên đọc diễn văn trước buổi họp chung của Quốc hội Hoa Kỳ. Năm sau, bà cố gắng cứu vớt sự hôn nhân thất bại của con trưởng của bà, thái tử Charles, bằng cách khuyên nhủ ông và vợ, Diana, Vương phi xứ Wales, hàn gắn sự khác biệt giữa họ. Bà không thành công và cặp vợ chồng đã chính thức ly thân. Năm 1991, sau chiến thắng của liên quân trong Chiến tranh vùng Vịnh, Nữ vương trở thành Quốc vương Anh đầu tiên phát biểu tại một cuộc họp chung của Quốc hội Hoa Kỳ. Nữ vương đã gọi năm 1992 là một "năm tồi tệ" (nguyên văn: "annus horribilis") của bà trong bài phát biểu ngày 24 tháng 11 năm 1992. Đây là năm chứng kiến con gái của bà ly dị, con trai cả ly thân và con trai thứ hai gặp trục trặc trong hôn nhân. Lâu đài Windsor bị thiệt hại nặng sau vụ cháy và chế độ quân chủ ngày càng bị chỉ trích và bị công chúng dòm ngó. Trong bài phát biểu cá nhân khá bất thường, bà nói rằng bất kỳ một thể chế nào cũng phải đón nhận sự chỉ trích nhưng lại đặt câu hỏi, "Không thể nào làm [chỉ trích] mà không có tí hài hước, lịch sự và thấu hiểu được hay sao?" Những năm tiếp theo, tình trạng hôn nhân của Thân vương và Vương phi xứ Wales càng bị tiết lộ ra công chúng nhiều hơn. Cuối cùng, sau khi tham vấn Thủ tướng Anh John Major, Tổng giám mục xứ Canterbury George Carey, thư ký riêng Robert Fellowes của Nữ vương và phu quân, bà đã viết thư gửi cho cả Charles và Diana nói rằng giờ đây ly dị là điều cần thiết. Một năm sau khi ly dị, Diana thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi ở Paris vào ngày 31 tháng 8 năm 1997. Thời điểm đó, Nữ vương đang đi nghỉ ở Balmoral với con trai và các cháu. Với niềm thương tiếc, hai con trai của Diana muốn tham dự lễ nhà thờ, vì vậy bà và phu quân đã đưa hai Vương tôn đi ngay vào sáng hôm đó. Trong năm ngày, Nữ vương và Vương tế đã bảo vệ những người cháu của họ khỏi sự tò mò của đám phóng viên bằng cách lưu chúng lại Balmoral, nơi có chốn riêng tư để buồn nhớ. Sự ẩn dật của Vương thất khiến công chúng thất vọng. Chịu áp lực từ gia đình, bạn bè, tân Thủ tướng Anh Tony Blair và phản ứng từ công chúng, Nữ vương đã đồng ý có buổi phát sóng trực tiếp cho thế giới vào ngày 5 tháng 11. Trong buổi truyền hình đó, bà bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với Diana và cảm xúc "của một người bà" đối với hai tiểu Vương tôn William và Harry. Thái độ của công chúng đã thay đổi từ tiêu cực sang kính trọng sau buổi phát hình đó. Ban đầu người ta cho rằng Nữ vương Elizabeth có mối quan hệ rất tốt với Tony Blair, trong năm năm đầu tiên ông làm Thủ tướng từ 1997 đến 2002. Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy mối quan hệ của họ xấu dần qua năm tháng, cho đến tháng 5 năm 2007, Nữ vương được tiết lộ đã "tức giận và thất vọng" trước những hành động của Blair, đặc biệt là những gì bà được chứng kiến là sự thờ ơ đối với các vấn đề nông nghiệp, cũng như cách hành xử quá bình dân (ông yêu cầu Nữ vương gọi ông là "Tony") và khinh thường di sản truyền thống của nước Anh. Người ta đồn rằng Nữ vương Elizabeth đã bày tỏ sự quan tâm đến việc Quân lực Anh đã bị lạm dụng quá đáng, đặc biệt tại Iraq và Afghanistan, cũng như "ngạc nhiên" trước việc Blair thay đổi buổi họp hàng tuần với bà từ chiều thứ 3 sang chiều thứ 4. Bà được cho là đã liên tục nêu lên những vấn đề này với Blair tại cuộc họp của họ, mặc dù bà chưa bao giờ tiết lộ quan điểm của bà về Chiến tranh Iraq. Mối quan hệ giữa Nữ vương và Công tước của Edinburgh với Blair và vợ ông, Cherie, được báo cáo là khá xa cách, khi hai cặp này rất ít khi cùng xuất hiện trước công chúng. Tuy nhiên, Elizabeth rõ ràng ngưỡng mộ những nỗ lực của Blair trong việc giành được hòa bình tại Bắc Ireland. Lễ kỷ niệm 50 năm trị vì đến nay. Năm 2002, Nữ vương Elizabeth đánh dấu lễ kỷ niệm 50 năm từ khi lên ngôi Nữ vương. Một lần nữa bà lại tổ chức nhiều cuộc viếng thăm đến các vương quốc của mình, bắt đầu từ Jamaica vào tháng 2, tại đó bà đã gọi bữa tiệc chia tay là "rất đáng nhớ" khi điện bỗng dưng bị cắt khiến cho King's House, nơi ở chính thức của Toàn quyền, chìm trong bóng tối. Mặc dù những buổi lễ ăn mừng của người dân ở Anh có vẻ im ắng hơn so với 25 năm trước, một phần do cái chết của Vương mẫu hậu (mẹ của bà) và em gái bà, Vương nữ Margaret, vào đầu năm, người ta vẫn tổ chức những buổi tiệc đường phố và các sự kiện kỷ niệm ở nhiều địa phương. Cũng như năm 1977, nhiều tượng đài được đặt tên và nhiều món quà được ban phát nhân dịp này, trong đó phải kể đến Trung tâm Tân Truyền thông Báo chí Golden Jubilee ở Đại học Sheridan và Công viên mang tên Nữ vương Elizabeth II ở tỉnh Wildlands, đều ở Canada. Năm 2005, bà là quân chủ Canada đầu tiên phát biểu tại Hội đồng Lập pháp Alberta; và vào năm 2007, bà là quân chủ Anh đầu tiên phát biểu tại Đại hội đồng Virginia. Nữ vương và Công tước xứ Edinburgh đã tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm ngày cưới vào năm 2007 với buổi lễ đặc biệt tại Tu viện Westminster và bữa tối riêng tư do Thân vương xứ Wales tổ chức tại dinh thự Clarence vào ngày 19 tháng 11 và vào ngày hôm sau (đúng ngày kỷ niệm) một bữa dạ tiệc với các thành viên của Vương thất, các Thủ tướng các thời kỳ và những phù dâu và người nâng váy còn sống trong tiệc cưới khi xưa. Ngày 21 tháng 11, Elizabeth và Philip đi du lịch Malta, nơi các thủy thủ của chiếc tàu Hải quân Vương thất đang đậu gần đó đã đứng trên boong xếp thành con số 60. Ngày 20 tháng 3 năm 2008, tại Nhà thờ chính tòa Thánh Patrick, Armagh của Giáo hội Ireland, Nữ vương đã lần đầu tiên tham dự Lễ Maudy được tổ chức bên ngoài Anh và Wales. Sức khỏe và sự giảm bớt trách nhiệm. Thời gian trị vì của Nữ vương lâu hơn cả bốn đời vua trước cộng lại (Edward VII, George V, Edward VIII và George VI). Bà là quân chủ trị vì lâu nhất của Anh, là quân chủ có thời gian trị vì lâu nhất trong các đương kim quân vương của các quốc gia độc lập và là vị quân chủ trị vì nước Anh thọ nhất từ trước đến nay. Nữ vương Elizabeth đã trở thành nguyên thủ quốc gia Anh sống lâu nhất (vượt qua Richard Cromwell) vào ngày 29 tháng 1 năm 2012, quân chủ trị vì lâu nhất trong lịch sử Anh (vượt qua Victoria của Anh) vào ngày 10 tháng 9 năm 2015 ở tuổi 89 và quân chủ trị vì lâu nhất trong lịch sử châu Âu (vượt qua Quốc vương Louis XIV của Pháp) vào ngày 26 tháng 5 năm 2014, khi đó bà được 88 tuổi. Nữ vương Elizabeth có sức khỏe tốt trong suốt thời kỳ trị vì của mình. Dù bà vẫn được mô tả là có sức khỏe tuyệt vời và rất hiếm khi có bệnh, bà đã trải qua một số vấn đề sức khỏe trong năm 2005–2006. Tháng 6 năm 2005, Nữ vương đã hủy vài cuộc hẹn gặp sau khi Cung điện nói rằng bà bị cảm nặng. Tháng 10 năm 2006, bà bị vỡ mạch máu ở bên mắt phải, khiến nó có màu đỏ sẫm. Tuy Điện Buckingham không đưa ra bình luận nào, các chuyên gia y tế cho rằng Nữ vương sẽ không phải chịu đau đớn gì cả, bà sẽ trở lại bình thường trong vòng một đến hai tuần và không có hư tổn lâu dài. Tuy nhiên, họ cũng nhắc rằng việc vỡ mạch máu, dù là bình thường ở những người lớn tuổi, có thể là dấu hiệu của bệnh cao huyết áp. Cuối tháng, Nữ vương phải hủy cuộc hẹn khai mạc Sân vận động Emirates mới, vì cơ lưng bị căng khiến bà khó chịu từ cuối kỳ nghỉ của bà ở Lâu đài Balmoral hồi mùa hè. Lưng của Elizabeth khiến mọi người lo lắng nhiều hơn; vào tháng 11 năm 2006, người ta lo rằng Nữ vương có thể sẽ không khỏe để khai mạc Nghị viện Anh và mặc dù bà đã tham dự, người ta đã lập kế hoạch cho trường hợp bà vắng mặt. Tháng 12, có tin đồn rằng sức khỏe của Nữ vương Elizabeth đã giảm sút khi bà có một miếng băng dính trên tay phải, nhiều người cho là bà có thể đã được tiêm tĩnh mạch và đặc biệt là với vấn đề về lưng của bà, do bị loãng xương. Tuy nhiên, sau đó người ta biết được rằng miếng băng dính đó là do một trong hai con corgi cắn vào tay bà khi bà tách chúng ra lúc chúng đang cắn nhau. Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80, Nữ vương đã nói rõ rằng bà không có ý định thoái vị. Vài năm vừa qua, cả Thân vương xứ Wales, Vương nữ Anne và Vương tôn William (Công tước xứ Cambridge) đều đã từng thay mặt Nữ vương trong một số sự kiện như phong tước và đóng vai trò Cố vấn Quốc gia (đại diện cho triều đình khi Nữ vương đi vắng). Điều này dẫn đến suy đoán trong giới truyền thông Anh rằng Thân vương xứ Wales sẽ bắt đầu đảm nhiệm ngày càng nhiều trọng trách của một quân vương trong khi Elizabeth nghỉ ngơi dần. Tuy nhiên, Điện Buckingham thông báo rằng Nữ vương Elizabeth sẽ tiếp tục phận sự của bà trong tương lai, cả về mặt công chúng lẫn riêng tư. Đại lễ 60 năm trị vì và tuổi thọ. Đại lễ Kim Cương của Nữ vương Elizabeth II là một buổi lễ kỷ niệm đa quốc gia trong suốt năm 2012 để đánh dấu mốc 60 năm Nữ vương trị vì ngai vàng bảy quốc gia sau cái chết của cha mình, Quốc vương George VI vào ngày 6 tháng 2 năm 1952. Nữ vương Elizabeth II hiện là quân chủ của 16 quốc gia có chủ quyền (tăng lên từ số 7 quốc gia lúc đầu và được gọi chung là "nhóm Vương quốc Khối Thịnh vượng chung Anh"), 12 nước trong số này trước kia là thuộc địa của Anh hay là nước tự trị phụ thuộc Anh, lúc Nữ vương bắt đầu lên ngôi. Trước đó, trong Vương thất Anh chỉ mới có Victoria của Anh là từng tổ chức đại lễ Kim cương năm 1897 trong lịch sử Anh Canada, Úc, New Zealand và vài vương quốc khác trong Khối Thịnh vượng chung Anh. Tiếp nối truyền thống của kỳ đại lễ kim cương trước thì Huy chương Kỷ niệm Lễ kim cương của Nữ vương Anh Elizabeth II sẽ được trao tặng trong một số quốc gia khác nhau và sẽ tổ chức các ngày lễ, sự kiện lớn trong toàn Khối thịnh vượng chung. Các kế hoạch đã được bàn thảo tại Hội nghị Nguyên thủ Khối thịnh vượng chung vào năm 2011. Nữ vương đã vượt qua bà cố của mình, Victoria của Anh, để trở thành Quốc vương Anh sống lâu nhất vào ngày 21 tháng 12 năm 2007, đồng thời là Quốc vương Anh trị vì lâu nhất và Nữ vương trị vì lâu nhất và nữ nguyên thủ quốc gia trên thế giới vào ngày 9 tháng 9. 2015. Bà trở thành quốc vương lâu đời nhất hiện nay sau khi Quốc vương Abdullah của Ả Rập Saudi băng hà vào ngày 23 tháng 1 năm 2015. Sau đó, bà trở thành quốc vương đương nhiệm lâu nhất và là nguyên thủ quốc gia đương nhiệm lâu nhất sau cái chết của Quốc vương Bhumibol của Thái Lan vào ngày 13 tháng 10 năm 2016, và là nguyên thủ quốc gia lớn tuổi nhất hiện nay khi Tổng thống Zimbabwe Robert Mugabe từ chức vào ngày 21 tháng 11 năm 2017. Ngày 8 tháng 9 năm 2022, Cung điện Buckingham thông báo Nữ vương đang được theo dõi y tế tại Lâu đài Balmoral sau khi các bác sĩ bày tỏ quan ngại. Bốn người con của bà, cùng con dâu và Vương tôn William và Vương tôn Harry, đều tề tựu cùng bà. Đúng vào lúc 18 giờ 30 phút tối 8-9 (theo giờ BST), Vương thất Anh thông báo bà qua đời, cùng với hai người con của bà, Charles và Anne ở kế bên chính thức bắt đầu Chiến dịch Cầu Luân Đôn và đồng thời Chiến dịch Kì Lân được tiến hành do bà qua đời tại Scotland. Nữ vương Elizabeth là quốc vương đâu tiên qua đời tại Scotland kể từ khi James V vào năm 1542. Hình ảnh và nhân cách trong công chúng. Nữ vương Elizabeth được minh họa trong một bộ phim bán tiểu sử năm 2006 mang tên "The Queen", cũng như nhiều tác phẩm khác nhưng bà hầu như chưa bao giờ thực hiện phỏng vấn với báo chí và rất ít người biết được cảm xúc của bà. Bà nhận thức rất rõ phận sự tôn giáo và công dân của mình và rất nghiêm túc với lời thề khi lên ngôi. Bà có tiếng là người có lối thời trang bảo thủ, gần như lúc nào cũng áo khoác màu trơn, găng tay và chiếc mũ trang trí, khiến bà dễ nhận thấy trong đám đông. Thú vui tiêu khiển chính của bà là đua ngựa, nhiếp ảnh và chó, đặc biệt là những con Pembroke Welsh Corgi của bà. Những năm 1950, khi còn là một phụ nữ trẻ vừa lên ngôi, Elizabeth được minh họa là một "Nữ vương cổ tích" quyến rũ. Sau thế chiến thứ hai, đó là thời điểm của sự hy vọng, thời kỳ phát triển và thành tựu được gọi là "thời kỳ Elizabeth mới". Lời cáo buộc như của Lord Altrincham vào năm 1957 rằng bà là một "cô nữ sinh hợm hĩnh" là một sự chỉ trích cực kỳ hiếm hoi. Cuối những năm 1960, những nỗ lực nhằm mô tả một hình ảnh của một chủ nghĩa quân chủ hiện đại hơn đã được thực hiện trong phim phóng sự truyền hình "Royal Family" (Vương thất) và bằng cách cho phát sóng Lễ phong tước Thân vương xứ Wales của Charles. Ngày kỷ niệm 25 năm trị vì của bà, người dân và những lễ hội được tổ chức vô cùng nhiệt tình, nhưng vào những năm 1980 sự chỉ trích của công chúng nhằm vào Vương thất tăng lên, vì đời sống cá nhân và công việc của con cái Elizabeth bị truyền thông soi mói khá kỹ. Uy tín của Nữ vương Elizabeth thấp nhất trong những năm 1990; dưới sức ép của công chúng bà bắt đầu trả thuế thu nhập. Sự bất mãn với chế độ quân chủ lên đến đỉnh điểm với Cái chết của Diana, Vương phi xứ Wales và chỉ mất dần khi Nữ vương phát biểu truyền hình đến toàn thế giới. Tháng 11 năm 1999, cuộc trưng cầu dân ý ở Úc về tương lai của chế độ quân chủ cho kết quả tiếp tục duy trì nền quân chủ. Khi năm Kỷ niệm 50 năm trị vì của bà bắt đầu, giới truyền thông dự đoán xem nó sẽ là một năm thành công hay thất bại. Năm đó bắt đầu một cách u ám bằng cái chết của em gái và mẹ của Elizabeth, nhưng đã có một triệu người tham dự mỗi ngày trong ba ngày lễ kỷ niệm chính ở Luân Đôn. Sự nhiệt tình của công chúng đối với Elizabeth lớn hơn nhiều so với những dự đoán của báo giới. Những cuộc thu thập ý kiến năm 2006 cho thấy dân chúng ủng hộ Nữ vương một cách mạnh mẽ; đa số người trả lời muốn bà tiếp tục trị vì cho đến khi băng hà và nhiều người cảm thấy bà đã trở thành một người thân thuộc. Tài sản cá nhân của Nữ vương Elizabeth đã là chủ đề soi mói trong nhiều năm. Tạp chí "Forbes" ước đoán tài sản sau thuế của bà là khoảng 600 triệu đô la Mỹ (330 triệu bảng Anh), nhưng thông cáo chính thức của Điện Buckingham đã gọi việc ước đoán 100 triệu bảng Anh cũng đã là "cường điệu thô thiển". Mặc dù Bộ sưu tập Vương thất trị giá xấp xỉ 10 tỷ bảng Anh, nó là tài sản phó thác cho người kế vị và Triều đình, như Điện Buckingham, Lâu đài Windsor và các cung điện có người ở trong Vương quốc Anh. Cũng như nhiều vị vua trước đó, Elizabeth được cho là không thích ở Điện Buckingham mà xem Lâu đài Windsor mới là mái nhà của mình. Dinh thự Sandringham và Lâu đài Balmoral là tài sản sở hữu của cá nhân Nữ vương, được thừa kế từ cha khi ông mất, cùng với Công quốc Lancaster, bản thân nó trị giá 30 triệu bảng và mang lợi thu nhập cá nhân 9,811 triệu bảng cho Nữ vương vào năm 2006. Thu nhập từ Tài sản Vương thất Anh—trị giá 7 tỷ bảng—được chuyển sang ngân khố Anh của bà để chi trả cho nhân viên Vương thất. Cả Tài sản Vương thất và đất đai Vương thất tại Canada—bao gồm 89% (hoặc xấp xỉ 8.885.000 km²) diện tích 9.984.670 km² của Canada—do Elizabeth sở hữu phó thác cho Triều đình với vai trò Quốc chủ của bà và không được phép bán hoặc sở hữu như tài sản cá nhân. Chính trị và vai trò trong chính phủ. Là một vị quân chủ lập hiến, Nữ vương Elizabeth chưa từng bày tỏ quan điểm chính trị cá nhân của mình trước công chúng và vẫn duy trì nguyên tắc này trong suốt thời gian trị vì. Nữ vương gặp gỡ Thủ tướng Anh hàng tuần, cũng như gặp gỡ các bộ trưởng khác thường xuyên. Thủ tướng Margaret Thatcher nói trong hồi ký của bà: "Bất kỳ ai tưởng tượng rằng họ là những người hình thức hoặc bị giam hãm trong khuôn khổ xã hội là sai lầm; họ là những doanh nhân thầm lặng và Bệ hạ là người nắm rất rõ các sự kiện đang diễn ra và có kinh nghiệm rất rộng". Sự thống nhất quốc gia Anh. Sau Thỏa thuận Belfast đối với Bắc Ireland, Ian Paisley, người đứng đầu Đảng Thống nhất Dân chủ, đã phá vỡ truyền thống tôn kính đối với Vương thất của những người theo Chủ nghĩa thống nhất bằng cách gọi Nữ vương là "con vẹt của Tony Blair", ý nói sự ủng hộ của Elizabeth đối với thỏa thuận có thể là yếu tố làm suy giảm vị thế của chế độ quân chủ trong lòng những người Tin lành Bắc Ireland, mà một số không nhỏ trong số họ vẫn phản đối một vài phần của hiệp ước. Sau những cuộc trưng cầu dân ý trong những năm 1990 mà kết quả là sự ủng hộ kế hoạch tự trị, Nữ vương đã gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến Nghị viện Scotland vừa mới thành lập và Quốc hội xứ Wales, những buổi khai mạc đầu tiên do bà thực hiện với tư cách cá nhân. Sự thống nhất quốc gia Canada. Khi Nữ vương Elizabeth được mời đến Canada năm 1964, đây đang là đỉnh điểm của phong trào ly khai Quebec, đã có những lo ngại về an toàn cho bà. Có báo cáo rằng tổ chức khủng bố "Mặt trận tự do Québec" đã đe dọa sẽ ám sát bà và người ta đã xét đến việc hủy chuyến viếng thăm. Thư ký riêng của Nữ vương nói rằng Nữ vương rất sợ bị cản không cho công du vì "những hoạt động của những kẻ quá khích". Tuy chưa bao giờ nói thẳng là bà chống lại xu hướng ly khai, Elizabeth đã công khai ca ngợi sự thống nhất của Canada và bày tỏ mong ước tiếp tục nhìn thấy một Canada thống nhất, đôi khi gây nên tranh cãi trong một số vụ việc. Trong bài diễn văn gửi đến Quốc hội Quebec, bà bỏ qua cuộc tranh cãi quốc gia và những cuộc nổi loạn trong khi bà đang hiện diện và đã nói bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp về sức mạnh của hai nền văn hóa "bổ sung cho nhau" của Canada. Sau Đạo luật Hiến pháp năm 1982, là "lần đầu tiên trong lịch sử Canada một sự thay đổi hiến pháp lớn đã được thông qua mà không có sự đồng ý của chính phủ Quebec, Bệ hạ đã cố gắng thể hiện vị trí là người đứng đầu toàn gia đình Canada và vai trò là người hòa giải bằng cách bày tỏ một cách riêng tư với báo giới sự tiếc nuối của bà rằng Quebec không phải là một phần của thuộc địa". Năm 1995, trong một chiến dịch trưng cầu dân ý về sự ly khai của Quebec, Nữ vương đã bị lừa tiết lộ quan điểm cá nhân về sự ly khai của Quebec khi Pierre Brassard, một DJ cho Đài Radio CKOI-FM Montreal, gọi đến Điện Buckingham giả vờ làm Thủ tướng Canada khi đó Jean Chrétien và khiến cho Nữ vương Elizabeth tin và nói chuyện trong 14 phút đan xen tiếng Anh và tiếng Pháp. Khi được nói rằng những người ly khai đang dẫn đầu trong cuộc trưng cầu, Elizabeth tiết lộ bà cảm thấy "cuộc trưng cầu đang đi theo hướng sai lầm" và thêm, "nếu tôi bằng cách nào đó có thể giúp, tôi sẽ rất vui lòng". Tuy nhiên, bà nhấn mạnh ý định từ chối lời khuyên từ người đàn ông, mà bà tin là Chrétien, rằng bà nên can thiệp vào cuộc trưng cầu dân ý mà không cần xem bài diễn văn nháp. Nữ vương cuối cùng nghi ngờ bị lừa gạt và dừng cuộc nói chuyện, mặc dù tài xử lý khéo léo cuộc gọi của bà đã được Brassard tán dương. Trong hồi ký của mình, Chrétien nhắc lại lời bình luận chế nhạo của Nữ vương đối với ông liên quan đến sự việc này: "'Tôi không nghĩ ông bình thường,' bà nói với tôi, 'nhưng tôi nghĩ, với sức ép mà ông đang phải chịu, có thể ông đang say'". Bên cạnh vai trò tôn giáo chính thức của mình là Lãnh đạo tối cao của Giáo hội Anh, cá nhân Elizabeth tham gia thờ phượng tại giáo hội này. Khi ở Scotland bà theo Giáo hội Scotland (Trưởng Lão phái), để giữ gìn vai trò lập hiến của mình trong quốc gia đó, bà thường đi lễ Chủ nhật tại Nhà thờ Crathie khi tới nghỉ tại Lâu đài Balmoral.) Định kỳ, Nữ vương sẽ gửi lời nhắn cá nhân về niềm tin của mình trong buổi phát hình Thông điệp Giáng sinh Vương thất thường niên đến Khối thịnh vượng chung, như trong năm 2000, bà đã nói về ý nghĩa thần học của thiên niên kỷ đánh dấu dịp kỷ niệm 2000 năm Chúa Giê-su sinh ra: Nữ vương Elizabeth cũng biểu lộ sự ủng hộ mối quan hệ giữa các tôn giáo với nhau, thường là cuộc gặp với các lãnh đạo tôn giáo khác và trao sự bảo trợ cá nhân của mình cho Hội đồng Cơ Đốc nhân và người Do Thái. Yêu cầu được tôn trọng cuộc sống riêng tư. Elizabeth cảnh cáo báo chí đừng nên đăng tải hình ảnh không chính thức do đám thợ săn ảnh cung cấp, Cung điện Buckingham tuyên bố ngày 6 tháng 12 năm 2009. Vương thất Anh nói rằng, luật sư của triều đình trước đó sáu tuần có viết thư gửi cho chủ bút các báo, nhắc nhở họ đừng cho công bố những hình ảnh xâm phạm đến cuộc sống của Vương thất. Lá thư được gửi "để đáp lại việc hằng mấy năm trời Vương thất bị các nhiếp ảnh gia săn đuổi hướng vào phần đất sở hữu riêng của Vương thất." Thái độ cứng rắn mới này của Vương thất có vẻ có kết quả tốt trong nhiều tháng, nay được nhắc đến trước dịp lễ Giáng sinh, là thời điểm mà các tay săn ảnh có truyền thống lùng kiếm những hình ảnh Vương thất về nghỉ ngơi tại Sandringham Estate, ở phía Đông nước Anh. Vương thất vốn có rắc rối từ lâu với các nhiếp ảnh gia. Nhiều người tin rằng sự săn đuổi của giới truyền thông đã góp phần vào cái chết của Công nương Diana trong tai nạn xe vào năm 1997. Sau đó, hai Vương tôn William và Harry bị chụp hình khi họ vừa từ các hộp đêm đi ra và bạn gái của William là Kate Middleton cũng bị rượt sát ngay bên ngoài nhà mình. Năm 2007, phát ngôn viên của Vương tôn William có than phiền về hành vi "nguy hiểm" của các tay săn hình. Phát ngôn viên của Thân vương xứ Wales, Paddy Harverson nói với tờ "The Sunday Telegraph" rằng, các thành viên Vương thất "cảm thấy họ có quyền được sống riêng tư mỗi khi họ cần đi đây đó hằng ngày, hay có những sinh hoạt riêng tư." Danh hiệu và Tước hiệu. Nữ vương Elizabeth giữ một số tước hiệu trong cuộc đời, với vai trò cháu gái của Quốc vương, con gái của Quốc vương, qua tước hiệu của chồng và cuối cùng là Quốc vương của nhiều quốc gia. Trên thực tế, bà thường được gọi đơn giản là Nữ vương hay "Bệ hạ" (Her Majesty); nếu cần phân biệt, người ta sẽ đổi thành "Anh quốc Bệ hạ", "Úc quốc Bệ hạ", "Canada Bệ hạ", , bà còn có các tước hiệu khác là Công tước xứ Lancaster và Công tước xứ Normandy và được phong danh hiệu Người bảo vệ Sự thật. Khi nói chuyện với Nữ vương, thông thường người ta sẽ bắt đầu bằng "Your Majesty" (Thưa bệ hạ) và sau đó là "Ma'am" (Đức Bà). Huân chương và các chức vụ quân sự danh dự. Với cương vị quốc chủ của nhiều quốc gia khác nhau, Nữ vương Elizabeth giữ vị trí Tổng tư lệnh ở một số vương quốc của bà, như Canada, New Zealand và Vương quốc Anh. Ở Anh, bà còn là Trưởng tư lệnh Không lực Vương thất và Lord High Admiral của Hải quân Vương thất. Elizabeth đã từng là Colonel-in-Chief, Captain-General, Air-Commodore-in-Chief, Commissioner, Brigadier, Commandant-in-Chief và Royal Colonel của ít nhất 96 trung đoàn khắp Khối thịnh vượng chung, cả trước và sau khi lên ngôi. Do thời gian trị vì dài và đi thăm viếng nhiều nơi, Elizabeth đã nhận được rất nhiều huân huy chương từ các quốc gia trên khắp thế giới. Từ ngày 21 tháng 4 năm 1944 cho đến khi kết hôn với Công tước xứ Edinburgh, phù hiệu của Elizabeth là một hình thoi có hình ảnh giống như trên tấm khiên của Huy hiệu Vương thất và một thanh bạc gồm ba dải, dải ở giữa là hình Hoa hồng Tudor và dải hai bên là thánh giá Thánh George. Sau khi kết hôn, các phù hiệu này được đóng vào phù hiệu của Công tước xứ Edinburgh. Khi lên ngôi Nữ vương, với vai trò là quân chủ của các vương quốc Khối thịnh vượng chung, bà sử dụng phù hiệu quân chủ khác nhau cho mỗi quốc gia. Tương tự, Nữ vương Elizabeth cũng có một số cờ hiệu cá nhân để sử dụng tại một số vương quốc của bà: hai cái tại Vương quốc Anh (một cho Scotland và một cho các khu vực khác) và mỗi cái khác nhau cho Canada, Úc, New Zealand, Jamaica và Barbados. Những cờ này gồm có băng rôn trên đó là Phù hiệu Vương thất, tất cả đều như vậy ngoại trừ những lá cờ tại Vương quốc Anh, bị xóa đi bằng ký hiệu của Elizabeth: một chữ cái "E" đội vương miện trong một vòng tròn hoa hồng trên nền xanh. Ký hiệu này cũng được dùng làm cờ cá nhân của Nữ vương với vai trò là Người đứng đầu Khối thịnh vượng chung, hoặc khi thăm viếng các quốc gia nằm trong Khối nhưng bà không phải là nguyên thủ.
Tô pô hay tô pô học có gốc từ trong tiếng Hy Lạp là topologia (tiếng Hy Lạp: τοπολογία) gồm "topos" (nghĩa là "nơi chốn") và "logos" (nghiên cứu), là một ngành toán học nghiên cứu các đặc tính còn được bảo toàn qua các sự biến dạng, sự xoắn, và sự kéo giãn nhưng ngoại trừ việc xé rách và việc dán dính. Do đó, tô pô còn được mệnh danh là "hình học của màng cao su". Các đặc tính đó gọi là các bất biến tô pô. Khi ngành học này lần đầu tiên tìm ra trong những năm đầu của thế kỉ 20 thì nó vẫn được gọi bằng tiếng Latinh là "geometria situs" (hình học của nơi chốn) và "analysis situs" (giải tích nơi chốn). Từ khoảng 1925 đến 1975 nó đã trở thành lĩnh vực lớn mạnh quan trọng bậc nhất của toán học. Thuật ngữ "tô pô" cũng để chỉ một đối tượng toán học riêng biệt trong ngành. Với ý nghĩa này, một tô pô là một họ của các tập mở mà có chứa tập trống và toàn bộ không gian, và nó đóng dưới các phép hội bất kì và phép giao hữu hạn. Và đây là định nghĩa của một không gian tô pô. Người ta có phát biểu rằng một nhà tô pô học là người mà không thể phân biệt được sự khác nhau giữa một cái vòng xuyến và một ca đựng bia có quai. Vì cả hai đều là vật rắn và có đúng 1 lỗ hổng, hay nói một cách chính xác là chúng đồng phôi với nhau, nghĩa là có 1 phép đồng phôi (là 1 song ánh mà ánh xạ thuận và ngược đều liên tục) giữa không gian tô pô vòng xuyến với không gian tô pô ca đựng bia có quai. Đôi khi tô pô còn được gọi là hình học về miếng cao su vì trong tô pô thì không có sự phân biệt giữa một chu tuyến của hình vuông với một đường tròn. Đường hình tròn có thể được kéo co giãn để biến dạng thành chu tuyến của hình vuông. Tuy nhiên, đường tròn thì hoàn toàn phân biệt với đường hình số 8, bởi vì không thể nào kéo giãn hình tròn để tạo thành hình số 8 mà không đục xé nó ra thêm một lỗ. Các không gian nghiên cứu trong tô pô gọi là các không gian tô pô. Chúng thay đổi từ dạng quen thuộc như không gian thực "n" chiều cho đến các cấu trúc vô cùng kì lạ. Như vậy có thể nói một cách nôm na rằng tô pô là một ngành nghiên cứu về đặc tính của các cấu trúc đặc có tính siêu co giãn, siêu biến dạng nhưng lại không thể bị cắt rời thành nhiều mảnh, không thể bị đâm thủng hay bị dán dính vào nhau. Tô pô giới thiệu thêm một ngôn ngữ hình học mới - như là các phức đơn hình ("simplicial complex"), đồng luân ("homotopy"), đối đồng điều ("cohomology"), đối ngẫu Poincaré ("Poincaré duality"), phân thớ ("fibration"), không gian vec tơ tô pô ("topological vector space"), bó ("sheaf"), lớp đặc trưng ("characteristic class"), hàm Morse ("Morse function"), đại số đồng điều ("homological algebra"), dãy phổ ("spectral sequence"). Nó đã tạo ra một tác động chính đến các lĩnh vực rộng rãi của hình học vi phân ("differential geometry"), hình học đại số ("algebraic geometry"), hệ thống động lực học ("dynamical system"), phương trình đạo hàm riêng ("partial differential equation") và hàm nhiều biến phức ("several complex variables"). "Hình học", theo cách diễn giải của Michael Atiyah và trường phái của ông ngày nay, bao gồm điều kể trên. Một cách nội hàm, bộ môn này có các lĩnh vực tô pô tập điểm ("point-set topology") hay tô pô đại cương ("general topology") nghiên cứu về các không gian tô pô mà không có thêm các điều kiện giới hạn; trong khi các lĩnh vực khác lại nghiên cứu các không gian tô pô giống như là các đa tạp ("manifold"). Những lĩnh vực đó bao gồm tô pô đại số ("algebraic topology") - phát triển từ tô pô tổ hợp ("combinatorial topology"), tô pô hình học ("geometric topology"), tô pô ít chiều ("low-dimensional topology") - chẳng hạn lo về lý thuyết nút ("knot theory"), và tô pô vi phân ("differential topology"). Đây là bài viết tổng quan về tô pô. Để có các khái niệm chính xác toán học, xem thêm bài không gian tô pô hoặc các bài viết trong danh sách dưới đây. Bài thuật ngữ tô pô bao gồm các định nghĩa của các thuật ngữ dùng trong tô pô học. Nguồn gốc của tô pô đã được người ta biết đến từ môn hình học trong các nền văn hóa cổ đại. Gottfried Leibniz là người đầu tiên khai thác thật ngữ "analysus situs", sau đó các nghiên cứu trong thế kỉ 19 đã dùng như ngày nay là tô pô. Trong tiểu luận của Leonhard Euler về Bảy cầu Königsberg đã viết về các thành quả tô pô. Từ topology được nhà toán học người Đức Johann Benedict Listing đưa ra sử dụng lần đầu tiên năm 1847 trong "Vorstudien zur Topologie", mặc dù ông đã dùng nó từ mười năm trước Georg Cantor, cha đẻ của lý thuyết tập hợp, đã khởi sự nghiên cứu lý thuyết tập điểm trong các không gian Euclide vào nửa cuối thế kỉ 19 như là một phần của khảo cứu về chuỗi Fourier. Năm 1895, Henri Poincaré xuất bản tác phẩm "Analyis Situs", đã giới thiệu các khái niệm về đồng luân và đồng điều. Maurice Fréchet, thống nhất các nghiên cứu về không gian hàm của các nhà toán học Cantor, Volterra, Arzelà, Hadamard, Ascoli và những người khác. Ông đã dẫn nhập khái niệm về không gian metric trong năm 1906. Năm 1914, Felix Hausdorff, tổng quát hóa đặc tính của không gian metric và đặt ra khái niệm "không gian tô pô" đồng thời cung cấp một định nghĩa mà ngày nay gọi là không gian Hausdorff. Cuối cùng, vào năm 1922 Kazimierz Kuratowski đã tổng quát hóa thêm một bước nhỏ để đạt tới khái niệm không gian tô pô như hiện nay. Thuật ngữ "topologie" được giới thiệu lần đầu ở Đức vào năm 1847 bởi Johann Benedict Listing trong cuốn "Vorstudien zur Topologie" ("Những nghiên cứu trước tác về tô pô"), Vandenhoeck và Ruprecht, Göttingen, pp. 67, 1948. Mặc dù vậy, Listing đã dùng chữ này từ mười năm trước. "Topology", dạng Anh ngữ, đã được giới thiệu trong bản in của Solomon Lefschetz năm 1930 để thay cho tên trước đó là "analysis situs". Riêng thuật ngữ "topologist" (nhà tô pô học), một chuyên gia trong ngành tô pô, có lẽ đã ra đời khoảng 1920. Dẫn nhập sơ khởi. Các không gian tô pô được tìm thấy sẵn có trong giải tích toán học, đại số trừu tượng và hình học. Điều này đã làm cho ngành nghiên cứu này trở thành đối tượng quan trọng trong việc thống nhất toán học. Tô pô đại cương, hay tô pô tập điểm, xác định và nghiên cứu những đặc tính hữu dụng của các không gian và các ánh xạ như là tính liên thông, tính compact và tính liên tục. Tô pô đại số là công cụ rất mạnh để nghiên cứu các không gian tô pô và các ánh xạ giữa chúng. Nó liên kết "rời rạc" và có nhiều bất biến khả đoán với các ánh xạ và các không gian thường là trong một cách thức có tính hàm tử. Các luận giải từ môn tô pô đại số ảnh hưởng lớn đến đại số trừu tượng và hình học đại số. Động cơ rõ ràng phía sau của tô pô là việc một số vấn đề hình học không phụ thuộc vào hình dạng chính xác của đối tượng tham gia mà phụ thuộc vào "cách thức chúng nối kết nhau". Một trong những bài viết đầu tiên về tô pô được Leonhard Euler mô tả rằng không thể tìm ra một cách đi xuyên qua các thị tứ của Königsberg mà chỉ băng qua mỗi cầu nối giữa chúng đúng một lần. Kết quả này không phụ thuộc vào độ dài của các cây cầu, hay ngay cả khoảng cách giữa chúng mà chỉ phụ thuộc vào các đặc tính liên thông: Các cây cầu được nối như thế nào giữa các cù lao và các bờ sông. Bài toán này, được gọi là "Bảy cầu ở Königsberg", đã trở thành bài toán dẫn nhập nổi tiếng trong toán, và đưa tới một phân nhánh là lý thuyết đồ thị. Tương tự, định lý mặt cầu tóc của tô pô đại số bảo rằng "người ta không thể chải xuôi tóc trên một mặt cầu trơn". Ý nghĩa thực của nó là "không tồn tại một mặt cầu tóc nào mà không có "xoáy" ngoại trừ tất cả tóc đều dựng đứng". Định lý này lập tức thuyết phục được hầu hết mọi người (do tính thực tế kiểm nghiệm được trên bản thân). Mặc dù rằng những người biết tới định lý này có thể không nhận biết mệnh đề phát biểu chính thức của định lý. Đó là "Trên một mặt cầu, không tồn tại trường vectơ tiếp tuyến liên tục không triệt tiêu nào", cũng giống "Bài toán Bảy cây cầu", kết quả trên không phụ thuộc vào dạng cầu mà nó còn đúng cho mọi bề mặt "blob" (là các đối tượng thỏa mãn tính trơn của bề mặt), miễn là chúng không có lỗ hổng (thí dụ hình vòng xuyến, hình vòng số 8 sẽ vi phạm điều kiện của định lý mặt cầu tóc - nhưng hình quả trám, hình trái bóng nhựa bị bóp xẹp lại thỏa mãn đòi hỏi của định lý). Để có thể nghiên cứu các vấn đề mà chúng không hoàn toàn phụ thuộc vào hình dạng của đối tượng, người ta phải tách bạch rõ ra các tính chất nào sẽ phụ thuộc vào hình dạng. Và từ yêu cầu này phát sinh khái niệm về "tương đương tô pô". Trong các thí dụ trên, việc "không thể băng qua mỗi cây cầu chỉ một lần" có thể được áp dụng cho mọi cách xếp đặt của các cây cầu mà vẫn tương đương tô pô với các cây cầu nguyên thủy ở Königsberg; cũng như vậy, định lý mặt cầu tóc đúng cho mọi không gian tô pô tương đương với một hình cầu (như là hình quả trám chẳng hạn). Nói cách khác, hai không gian là tương đương tô pô nếu tồn tại một phép đồng phôi giữa chúng. Trong trường hợp này, các không gian đó được gọi là đồng phôi và chúng được xét một cách chủ yếu như là có cùng các mục đích (nghiên cứu) của tô pô. Một cách chính thức, một phép đồng phôi là một song ánh liên tục với hàm ngược cũng liên tục. Một cách nôm na có thể cho thấy một ý nghĩa rõ hơn: Hai không gian là tương đương tô pô nếu người ta có thể biến dạng một không gian thành cái còn lại mà không phải cắt bỏ hay đục thủng các chi tiết ra và không phải dán các chi tiết lại với nhau. Dĩ nhiên, ở đây ta giả thiết "vật" (không gian) bị biến dạng có khả năng "siêu dẻo". Do vậy, việc nói đùa rằng nhà tô pô học không thể phân biệt được một vòng xuyến và cái ly có quai là vì cái ly có thể bị nặn bóp để trở thành hình vòng xuyến. Một bài tập đơn giản về tương đương tô pô chia 10 chữ số Ả Rập, 0,1,2,3,4,5,6,7,8,9, thành các lớp có hình dạng tương đương nhau về mặt tô pô. Lớp thứ nhất bao gồm {1,2,3,5,7}; hình dạng các chữ số này không có lỗ hổng. Lớp thứ hai là {0,4,9,6}; hình dạng các chữ số này có đúng 1 lỗ hổng. Và lớp thứ 3 chỉ có một phần tử duy nhất {8} có tới hai lỗ hổng. Toán học tô pô. Để hiểu được tô pô theo góc độ toán học, có thể phải dùng đến hai khái niệm tập hợp và ánh xạ. Cho một tập hợp "X" ≠ formula_1 và họ t các tập hợp con của "X". Họ t được gọi là tô pô trên "X" nếu: Cặp ("X",t) khi ấy được gọi là một không gian tô pô, ta có thể ghi tắt "X" mà không cần ghi đầy đủ là ("X",t). Tập formula_1 không phải là không gian tôpô. "Xem thêm Danh sách các bài viết về tô pô đại số" Đôi khi người ta cần dùng các công cụ của tô pô nhưng chưa có sẵn một "tập điểm". Trong tô pô vô điểm ("pointless topology"), thay vào đó, người ta xét một dàn ("lattice") của các tập mở như là cơ sở của lý thuyết này, trong khi đó, tô pô Grothendieck là các cấu trúc chắc chắn xác định trên các phạm trù tùy ý nào cho phép có các định nghĩa bó (tô pô) ("sheaf") trên các phạm trù đó, và với định nghĩa của các lý tuyết đối đồng đều tổng quát. Wikibooks tiếng Anh có sách về: Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Quỹ Bill Melinda Gates Quỹ Bill Melinda Gates (viết tắt: BMGF, tiếng Anh: Bill Melinda Gates Foundation) là một tổ chức từ thiện lớn nhất thế giới, được sự góp vốn bởi Bill Gates, chủ tịch và người sáng lập ra tập đoàn Microsoft, và vợ của ông, bà Melinda Gates. Có trụ sở tại Seattle, Washington, Mỹ, được thành lập vào năm 2000 và nó là quỹ tư nhân lớn nhất trên thế giới, nắm giữ 46,8 tỷ đô la tài sản. Quỹ được thành lập tháng 1 năm 2000 bởi sự hợp nhất của Quỹ khuyến học Gates và Quỹ William H. Gates với mục đích nâng cao chăm sóc y tế và giảm nghèo đói trên toàn cầu, và giúp tăng cơ hội học tập và tiếp cận công nghệ thông tin tiên tiến tại Hoa Kỳ. Tổ chức này được kiểm soát bởi ba người được ủy thác là Bill và Melinda Gates, và Warren Buffett. Giám đốc điều hành của tổ chức là Mark Suzman. Tháng 10 năm 2006, quỹ có hỗ trợ vốn vào khoảng 31.9 tỷ USD. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2018, quỹ có nguồn vốn lên tới 46.8 tỷ USD. Tính đến năm 2018, Bill và Melinda Gates đã quyên góp khoảng 36 tỷ USD cho quỹ. Kể từ khi thành lập, quỹ đã quyên góp và hỗ trợ một loạt các dự án phát triển xã hội, y tế và giáo dục, bao gồm cả việc thành lập Học bổng Gates Cambridge tại Đại học Cambridge. Đóng góp của Warren Buffet. Warren Buffett, người giàu thứ hai trên thế giới, cam kết đóng góp vào khoảng 300,7 tỷ đô la Mỹ bằng cổ phần cho tổ chức này, làm nó thành tổ chức từ thiện lớn nhất trong lịch sử. Funds for grants in developing countries.
Lịch sử của Linux bắt đầu vào năm 1991 với sự bắt đầu của một dự án cá nhân của sinh viên Phần Lan Linus Torvalds để tạo ra một hạt nhân hệ điều hành tự do mới. Kể từ đó, các kết quả của nhân Linux đã được tăng trưởng liên tục trong suốt lịch sử của nó. Kể từ khi phát hành mã nguồn của nó lần đầu vào năm 1991, nó đã phát triển từ một số nhỏ các tập tin viết bằng C theo một giấy phép cấm phân phối thương mại đến các phiên bản 3.10 vào năm 2013 với hơn 16 triệu dòng mã nguồn, và đến bản phát hành 4.15 năm 2008 nó đã lên có 23.3 triệu dòng lệnh. dưới Giấy phép Công cộng GNU.(tr7) Sau khi ATT rời khỏi dự án Multics, hệ điều hành Unix được Ken Thompson và Dennis Ritchie (cả hai thuộc ATT Bell Laboratories) xây dựng và phát hành lần đầu tiên vào năm 1970. Sau đó, họ viết lại bằng ngôn ngữ lập trình mới, C, để làm cho nó di động. Tính khả dụng và tính di động của Unix khiến nó được chấp nhận rộng rãi, sao chép và sửa đổi bởi các tổ chức học thuật và doanh nghiệp. Năm 1977, Berkeley Software Distribution (BSD) đã được phát triển bởi Computer Systems Research Group (CSRG) từ UC Berkeley, dựa trên phiên bản thứ sáu của Unix từ ATT. Vì BSD chứa mã Unix mà ATT sở hữu, ATT đã đệ đơn kiện (USL v. BSDi) vào đầu những năm 1990 chống lại Đại học California. Điều này hạn chế mạnh mẽ sự phát triển và áp dụng BSD. Năm 1983, Richard Stallman bắt đầu GNU project với mục tiêu tạo ra một hệ điều hành tự do tương tự UNIX. Là một phần của công việc này, ông đã viết Giấy phép Công cộng GNU (GPL). Đến đầu những năm 1990, đã có gần như đủ phần mềm có sẵn để tạo ra một hệ điều hành đầy đủ. Tuy nhiên, hạt nhân GNU, được gọi là Hurd, đã thất bại trong việc thu hút đủ nỗ lực phát triển, khiến GNU không hoàn thành.#đổi Năm 1985, Intel phát hành 80386, bộ vi xử lý x86 đầu tiên với bộ hướng dẫn 32 bit và một đơn vị quản lý bộ nhớ với phân trang. Năm 1986, Maurice J. Bach, của ATT Bell Labs, đã xuất bản Thiết kế hệ điều hành UNIX. Mô tả chính xác này chủ yếu bao gồm hạt nhân System V Release 2, với một số tính năng mới từ Phiên bản 3 và BSD. Năm 1987, MINIX, một hệ điều hành tương tự Unix dành cho mục đích học thuật, được Andrew S. Tanenbaum phát hành để minh họa cho các nguyên tắc được truyền tải trong sách giáo khoa của ông, "". Mặc dù mã nguồn cho hệ thống đã có sẵn, sửa đổi và phân phối lại bị hạn chế. Ngoài ra, thiết kế 16 bit của MINIX không thích ứng tốt với các tính năng 32 bit của kiến ​​trúc Intel 386 ngày càng rẻ và phổ biến cho máy tính cá nhân. Đầu những năm 1990, một hệ điều hành UNIX thương mại cho PC Intel 386 là quá đắt đối với người dùng cá nhân. Những yếu tố này và việc thiếu một hạt nhân tự do, được chấp nhận rộng rãi đã cung cấp động lực cho Torvalds bắt đầu dự án của mình. Ông đã tuyên bố rằng nếu hạt nhân GNU Hurd hoặc 386BSD đã có sẵn tại thời điểm đó, thì có khả năng ông sẽ không tự viết. Năm 1991, trong khi đang theo học ngành Khoa học máy tính tại Đại học Helsinki, Linus Torvalds đã bắt đầu một dự án mà sau đó trở thành Linux kernel. Ông ấy đã viết chương trình dành riêng cho phần cứng ông đang sử dụng và độc lập với một hệ điều hành vì ông muốn sử dụng các chức năng của PC mới của mình với bộ xử lý 80386. Việc phát triển được thực hiện trên MINIX dùng GNU C Compiler. GNU C Compiler vẫn là lựa chọn chính để biên dịch Linux ngày nay, nhưng có thể được xây dựng với các trình biên dịch khác, chẳng hạn như Intel C Compiler. Như Torvalds đã viết trong cuốn sách "Just for Fun", cuối cùng anh ta đã viết một kernel hệ điều hành. Vào ngày 25 tháng 8 năm 1991, anh ta (ở tuổi 21) đã công bố hệ thống này trong một bài đăng trên Usenet trên newsgroup "": Theo Torvalds, Linux bắt đầu đạt được tầm quan trọng vào năm 1992 sau khi Hệ thống X Window được Orest Zborowski port sang Linux, cho phép Linux hỗ trợ GUI lần đầu tiên. Linus Torvalds đã muốn gọi phát minh của mình là Freax, một từ ghép giữa "free", "freak", và "x" (như là một ám chỉ đến Unix). Trong thời gian bắt đầu công việc của mình trên hệ thống, anh đã lưu trữ các tệp dưới tên "Freax" trong khoảng nữa năm. Torvalds đã từng xem xét cái tên "Linux," nhưng ban đầu bác bỏ nó là quá tự cao tự đại. Để tạo điều kiện phát triển, các tệp đã được tải lên máy chủ FTP () của FUNET vào tháng 9 năm 1991. Ari Lemmke tại Đại học Công nghệ Helsinki (HUT), một trong những quản trị viên tình nguyện cho máy chủ FTP tại thời đó, không nghĩ rằng "Freax" là một cái tên hay. Vì vậy, ông đã đặt tên dự án là "Linux" trên máy chủ mà không hỏi ý kiến Torvalds. Tuy nhiên, sau đó, Torvalds đồng ý với "Linux". Để giải thích cách phát âm từ "Linux" ([ˈliːnɵks]), Torvalds đã bao gồm một hướng dẫn âm thanh () với mã nguồn kernel. Linux dưới GNU GPL. Torvalds lần đầu tiên xuất bản nhân Linux theo giấy phép riêng, có hạn chế về hoạt động thương mại. Phần mềm sử dụng với kernel là phần mềm được phát triển như một phần của dự án GNU được cấp phép theo Giấy phép Công cộng GNU, một giấy phép phần mềm tự do. Bản phát hành đầu tiên của hạt nhân Linux, Linux 0,01, bao gồm một nhị phân của GNU Bash shell. Trong "Notes for linux release 0.01", Torvalds liệt kê phần mềm GNU được yêu cầu để chạy Linux: Năm 1992, ông đề nghị phát hành hạt nhân theo Giấy phép Công cộng GNU. Đầu tiên ông đã công bố quyết định này trong các ghi chú phát hành của phiên bản 0.12. Vào giữa tháng 12 năm 1992, ông đã xuất bản phiên bản 0,99 bằng cách sử dụng GNU GPL. Các nhà phát triển Linux và GNU đã làm việc để tích hợp các thành phần GNU với Linux để tạo ra một hệ điều hành đầy đủ chức năng và tự do. Torvalds đã tuyên bố, "Phát hành Linux theo chắc chắn là điều tốt nhất tôi từng làm." Khoảng năm 2000 Torvalds đã làm rõ rằng giấy phép được sử dụng cho hạt nhân Linux chính xác là GPLv2, không có mệnh đề "hoặc mới hơn". Năm 2007, sau nhiều năm thảo luận dự thảo, GPLv3 đã được phát hành, Torvalds và phần lớn các nhà phát triển kernel đã quyết định không chấp nhận giấy phép mới cho kernel linux. Tranh cãi về đặt tên GNU/Linux. Tên định danh "Linux" ban đầu chỉ được Torvalds sử dụng cho nhân Linux. Tuy nhiên, hạt nhân thường được sử dụng cùng với các phần mềm khác, đặc biệt là phần mềm của dự án GNU. Điều này nhanh chóng trở thành việc áp dụng phần mềm GNU phổ biến nhất. Vào tháng 6 năm 1994 trong bản tin của GNU, Linux được gọi là "bản sao UNIX tự do" và Dự án Debian bắt đầu gọi sản phẩm "Debian GNU/Linux" của họ. Vào tháng 5 năm 1996, Richard Stallman đã xuất bản trình soạn thảo Emacs 19.31, trong đó loại hệ thống được đổi tên từ Linux thành Lignux. Cách đánh vần này nhằm mục đích cụ thể là sự kết hợp giữa GNU và Linux, nhưng điều này đã sớm bị bỏ qua để ủng hộ "GNU/Linux".#đổi Tên này thu được các phản ứng khác nhau. Các dự án GNU và Debian sử dụng tên này, mặc dù hầu hết mọi người chỉ đơn giản sử dụng thuật ngữ "Linux" để chỉ sự kết hợp.. Linh vật chính thức. Torvalds tuyên bố vào năm 1996 rằng sẽ có một linh vật cho Linux, một chú chim cánh cụt. Điều này là do thực tế khi họ chuẩn bị chọn linh vật, Torvalds đã đề cập đến việc anh ta bị cắn bởi một chú chim cánh cụt nhỏ ("Eudyptula minor") trong chuyến thăm National Zoo Aquarium tại Canberra, Australia. Larry Ewing đã cung cấp bản thảo gốc của linh vật nổi tiếng ngày nay dựa trên mô tả này. Cái tên tux được James Hughes gợi ý là bắt nguồn từ "Torvalds' UniX", cùng với tên viết tắt của tuxedo, một loại bộ đồ có màu tương tự như của một chú chim cánh cụt.:138 Phần lớn công việc trên Linux được thực hiện bởi cộng đồng: hàng ngàn lập trình viên trên khắp thế giới sử dụng Linux và gửi các cải tiến được đề xuất của họ cho các nhà bảo trì. Các công ty khác nhau cũng đã giúp đỡ không chỉ với sự phát triển của các hạt nhân, mà còn với việc viết phần thân của phần mềm phụ trợ, được phân phối với Linux. Tính đến tháng 2 năm 2015, hơn 80% các nhà phát triển nhân Linux được trả tiền.(tr11) Nó được phát hành cả bởi các dự án có tổ chức như Debian và bởi các dự án được kết nối trực tiếp với các công ty như Fedora và openSUSE. Các thành viên của các dự án tương ứng gặp nhau tại các hội nghị và hội thảo khác nhau, để trao đổi ý kiến.Một trong những hội chợ lớn nhất là LinuxTag tại Đức nơi có khoảng 10.000 người tham gia hàng năm, để thảo luận về Linux và các dự án liên quan đến nó.#đổi Open Source Development Lab và Linux Foundation. The Open Source Development Lab (OSDL) được thành lập vào năm 2000 và là một tổ chức phi lợi nhuận độc lập theo đuổi mục tiêu tối ưu hóa Linux cho việc làm trong các trung tâm dữ liệu và trong carrier range. Nó đóng vai trò là nhà tài trợ cho Linus Torvalds và cả Andrew Morton (cho đến giữa năm 2006 khi Morton chuyển sang Google). Torvalds đã làm việc toàn thời gian thay mặt OSDL, phát triển các nhân Linux. Ngày 22 tháng 1 năm 2007, OSDL và Free Standards Group đã hợp nhất thành The Linux Foundation, nthu hẹp trọng tâm tương ứng của họ với việc thúc đẩy Linux cạnh tranh với Microsoft Windows. Kể từ năm 2015, Torvalds vẫn ở lại với Linux Foundation với tư cách là thành viên. Mặc dù được cung cấp miễn phí, các công ty thu lợi từ Linux.Các công ty này, nhiều người trong số họ cũng là thành viên của Linux Foundation, iđầu tư nguồn lực đáng kể vào sự tiến bộ và phát triển của Linux, để làm cho nó phù hợp với các lĩnh vực ứng dụng khác nhau. Điều này bao gồm quyên góp phần cứng cho các nhà phát triển trình điều khiển, quyên góp tiền mặt cho những người phát triển phần mềm Linux và việc làm của các lập trình viên Linux tại công ty. Một số ví dụ là Dell, IBM và Hewlett-Packard, xác nhận, sử dụng và bán Linux trên các máy chủ của riêng họ và Red Hat và SUSE, duy trì các bản phân phối doanh nghiệp của riêng họ. Tương tự, Digia hỗ trợ Linux bằng cách phát triển và cấp phép LGPL cho Qt, điều này giúp cho việc phát triển KDE trở nên khả thi và bằng cách sử dụng một số nhà phát triển X và KDE. KDE là môi trường máy tính để bàn tiên tiến đầu tiên phiên bản 1.0 được phát hành vào tháng 7 năm 1998), nhưng nó đã gây tranh cãi do bộ công cụ Qt độc quyền khi đó được sử dụng. Gnome được phát triển thay thế do câu hỏi cấp phép. Cả hai sử dụng một bộ công cụ cơ bản khác nhau và do đó liên quan đến lập trình khác nhau và được tài trợ bởi hai nhóm khác nhau, tổ chức phi lợi nhuận tại Đức KDE e.V. và tổ chức phi lợi nhuận tại Mỹ GNOME Foundation. Tính đến tháng 4 năm 2007, một nhà báo đã ước tính rằng KDE có 65% thị phần so với 26% cho Gnome. Vào tháng 1 năm 2008, KDE 4 đã được phát hành sớm với các lỗi, đưa một số người dùng đến GNOME. GNOME 3, phát hành tháng 4/2011, được Linus Torvalds gọi là "mớ hỗn độn" do những thay đổi thiết kế gây tranh cãi của nó. Sự không hài lòng với Gnome 3 đã dẫn đến một ngã nhánh, Cinnamon, được phát triển chủ yếu bởi nhà phát triển Linux Mint Clement LeFebvre. Điều này khôi phục môi trường máy tính để bàn truyền thống hơn với những cải tiến biên. Bản phân phối được tài trợ tương đối tốt, Ubuntu, được thiết kế (và phát hành vào tháng 6 năm 2011), một giao diện người dùng khác có tên Unity hoàn toàn khác với môi trường máy tính để bàn thông thường và đã bị chỉ trích là có nhiều lỗi và thiếu cấu hình. Động lực là một môi trường máy tính để bàn duy nhất cho máy tính để bàn và máy tính bảng,#đổi mặc dù tính đến tháng 11 năm 2012 Unity vẫn chưa được sử dụng rộng rãi trên máy tính bảng. Tuy nhiên, phiên bản smartphone và máy tính bảng của Ubuntu và giao diện Unity của nó đã được Canonical Ltd tiết lộ vào tháng 1 năm 2013. Vào tháng 4 năm 2017, Canonical đã hủy bỏ hoàn toàn dự án Ubuntu Touch để tập trung vào các dự án IoT như Ubuntu Core. Vào tháng 4 năm 2018, Canonical đã bỏ Unity và bắt đầu sử dụng Gnome cho các bản phát hành Ubuntu từ ngày 18.04 trở đi. Microsoft cạnh tranh và hợp tác. Mặc dù Torvalds đã nói rằng cảm giác của Microsoft bị Linux đe dọa trong quá khứ không có hậu quả gì với ông, các hoạt động của Microsoft và Linux đã có một số tương tác đối kháng trong các năm 1997 và 2001. Lần đầu tiên nó trở nên khá rõ ràng vào năm 1998, khi lần đầu tiên tài liệu Halloween được đưa ra ánh sáng bởi Eric S. Raymond. Đây là một bài luận ngắn của một nhà phát triển Microsoft đã tìm cách đưa ra các mối đe dọa đối với Microsoft bởi phần mềm tự do và xác định các chiến lược để chống lại các mối đe dọa được nhận thức này.#đổi Cạnh tranh bước vào một giai đoạn mới vào đầu năm 2004, khi Microsoft công bố kết quả từ các nghiên cứu khách hàng đánh giá việc sử dụng Windows so với Linux dưới tên gọi "Get the Facts" trên trang web riêng của mình. Dựa trên các câu hỏi, các nhà phân tích nghiên cứu và một số cuộc điều tra do Microsoft tài trợ, các nghiên cứu cho rằng doanh nghiệp sử dụng Linux trên máy chủ so sánh với việc sử dụng Windows về độ tin cậy, bảo mật và tổng chi phí sở hữu. Đáp lại, các nhà phân phối Linux thương mại đã tạo ra các nghiên cứu, khảo sát và lời chứng thực của riêng họ để chống lại chiến dịch của Microsoft. Chiến dịch dựa trên web của Novell vào cuối năm 2004 đã được đặt tên là "Unbending the truth" và tìm cách phác thảo các lợi thế cũng như xua tan các trách nhiệm pháp lý được công bố rộng rãi của việc triển khai Linux (đặc biệt là trong trường hợp của SCO v IBM). Novell đặc biệt tham khảo các nghiên cứu của Microsoft ở nhiều điểm. IBM cũng đã xuất bản một loạt các nghiên cứu với tiêu đề là "The Linux at IBM competitive advantage" để đáp trả chiến dịch của Microsoft. Red Hat đã có một chiến dịch có tên là "Truth Happens"nhằm mục đích để cho hiệu suất của sản phẩm nói cho chính nó, chứ không phải là quảng cáo sản phẩm bằng cách nghiên cứu.#đổi Vào mùa thu năm 2006, Novell và Microsoft đã công bố một thỏa thuận hợp tác về khả năng tương tác phần mềm và bảo vệ bằng sáng chế. Điều này bao gồm một thỏa thuận rằng khách hàng của Novell hoặc Microsoft có thể không bị công ty kia kiện vì vi phạm bằng sáng chế. Bảo vệ bằng sáng chế này cũng được mở rộng cho các nhà phát triển phần mềm tự do phi thương mại. Phần cuối cùng bị chỉ trích vì nó chỉ bao gồm các nhà phát triển phần mềm tự do phi thương mại. Tháng 7 năm 2009, Microsoft đã đóng góp 22.000 dòng mã vào nhân Linux theo giấy phép GPLV2, sau đó được chấp nhận. Mặc dù điều này được coi là "một bước đi lịch sử" và như là một sự cải thiện khả năng, thái độ của Microsoft đối với Linux và phần mềm nguồn mở, nhưng quyết định này không hoàn toàn mang tính vị tha, vì nó hứa hẹn sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh đáng kể cho Microsoft và tránh hành động pháp lý chống lại Microsoft. Microsoft thực sự bị buộc phải đóng góp mã khi kỹ sư chính của Vyatta và người đóng góp Linux Stephen Hemminger phát hiện ra rằng Microsoft đã kết hợp trình điều khiển mạng Hyper-V với các thành phần nguồn mở được cấp phép GPL, liên kết tĩnh với các nhị phân nguồn đóng trái với giấy phép GPL. Microsoft đã đóng góp các trình điều khiển để khắc phục vi phạm giấy phép, mặc dù công ty đã cố gắng miêu tả nó như một hành động từ thiện, thay vì một hành động để tránh hành động pháp lý chống lại nó. Trước đây, Microsoft đã gọi Linux là "ung thư" và "cộng sản". Đến năm 2011, Microsoft đã trở thành người đóng góp lớn thứ 17 cho nhân Linux. Kể từ tháng 2 năm 2015, Microsoft không còn nằm trong số 30 công ty tài trợ đóng góp hàng đầu.:10–12 Dự án Windows Azure được công bố vào năm 2008 và đổi tên thành Microsoft Azure. Nó kết hợp Linux như một phần của bộ ứng dụng phần mềm dựa trên máy chủ. Vào tháng 8 năm 2018, SUSE đã tạo ra một nhân Linux được thiết kế riêng cho các ứng dụng điện toán đám mây dựa theo dự án Microsoft Azure. Phát biểu về port kernel, đại diện của Microsoft cho biết "Hạt nhân được điều chỉnh Azure mới cho phép những khách hàng đó nhanh chóng tận dụng các dịch vụ Azure mới như Accelerated Networking với SR-IOV." Tháng 3/2003, SCO Group cáo buộc IBM đã vi phạm bản quyền của họ trên UNIX bằng cách chuyển mã từ UNIX sang Linux. tuyên bố quyền sở hữu bản quyền đối với UNIX và một vụ kiện đã được đệ trình chống lại IBM. Red Hat đã phản đối và SCO đã đệ đơn kiện khác. Đồng thời với vụ kiện của họ, SCO bắt đầu bán giấy phép Linux cho những người dùng không muốn mạo hiểm khiếu nại về phía SCO. Vì Novell cũng tuyên bố bản quyền đối với UNIX, nên họ đã đệ đơn kiện SCO. SCO đã nộp đơn xin phá sản. Bản quyền thương hiệu. NĂm 1994 và 1995, một số người từ các quốc gia khác nhau đã cố gắng đăng ký tên "Linux" làm nhãn hiệu. Do đó, các yêu cầu thanh toán tiền bản quyền đã được phát hành cho một số công ty Linux, một bước mà nhiều nhà phát triển và người dùng Linux không đồng ý. Linus Torvalds đã kiểm soát các công ty này với sự giúp đỡ của Linux International và được cấp nhãn hiệu cho cái tên mà anh ta đã chuyển cho Linux International. Việc bảo vệ nhãn hiệu sau đó được quản lý bởi một nền tảng chuyên dụng, tổ chức phi lợi nhuận Linux Mark Institute. Năm 2000, Linus Torvalds đã chỉ định các quy tắc cơ bản cho việc chuyển nhượng giấy phép. Điều này có nghĩa là bất kỳ ai cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ có tên "Linux" đều phải có giấy phép cho sản phẩm đó, có thể có được thông qua giao dịch mua duy nhất. Tháng 6 năm 2005, một cuộc tranh cãi mới đã phát sinh về việc sử dụng tiền bản quyền được tạo ra từ việc sử dụng nhãn hiệu Linux. Linux Mark Institute, đại diện cho quyền của Linus Torvalds đã tuyên bố tăng giá từ 500 đến 5.000USD cho việc sử dụng tên này. Bước này được chứng minh là cần thiết để trang trải chi phí gia tăng của bảo vệ nhãn hiệu. Để đáp ứng với sự gia tăng này, cộng đồng trở nên khó chịu, đó là lý do Linus Torvalds đưa ra thông báo vào ngày 21 tháng 8 năm 2005, để xóa tan những hiểu lầm. Trong một e-mail, ông đã mô tả chi tiết tình hình hiện tại cũng như bối cảnh cụ thể và cũng giải quyết câu hỏi ai phải trả chi phí giấy phép: Linux Mark Institute đã bắt đầu cung cấp một bản quyền miễn phí vĩnh viễn trên toàn thế giới.
Ronaldo (cầu thủ bóng đá Brasil) Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976), được biết đến tại Việt Nam với biệt danh Ronaldo "béo" là một doanh nhân người Brasil, chủ tịch câu lạc bộ Real Valladolid, và là một cựu cầu thủ bóng đá từng chơi ở vị trí tiền đạo. Được mệnh danh là O Fenômeno ("Người ngoài hành tinh"), và anh được coi là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, Ronaldo là người có ảnh hưởng lớn đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA và giành được hai giải Quả bóng vàng. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp cầu thủ tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới vào thời điểm đó, và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, anh trở thành người trẻ nhất nhận giải. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới với Ronaldo, đưa anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng vàng 1997, và anh tiếp tục là người trẻ nhất nhận giải. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia, tuy nhiên sau ca chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã không thi đấu trong gần ba năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh đã chơi ở A.C. Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 vì chấn thương. Ronaldo đã chơi cho đội tuyển Brazil 98 trận, ghi được 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia Brazil. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo nhận Quả bóng vàng cho Cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu, giúp Brazil lọt vào trận chung kết, tại đây anh bị động kinh vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh sau đó giành được FIFA World Cup 2002, nơi anh đóng vai trò quan trọng trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất của giải đấu. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại FIFA World Cup, một kỷ lục của FIFA vào thời điểm đó. Anh cũng đã giành được Copa América 1997, nơi anh là cầu thủ của giải đấu, và Copa América 1999, nơi anh là tay săn bàn hàng đầu. Là một trong những vận động viên thể thao đắt giá nhất trên thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình, đội giày Nike Mercurial đầu tiên – R9 – đã được đặt hàng riêng cho Ronaldo vào năm 1998. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé lựa chọn vào năm 2004, và đã được giới thiệu vào Bảo tàng Danh vọng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng Real Madrid. Sau khi từ giã sự nghiệp, Ronaldo tiếp tục công việc của mình với tư cách là Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Anh từng là đại sứ cho FIFA World Cup 2014. Ronaldo trở thành chủ sở hữu của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Ronaldo sinh ra trong 1 gia đình nghèo, sống ở khu ngoại ô Bento Ribeiro, thành phố Rio de Janeiro, Brasil. Đây là nơi anh làm quen với bóng đá đường phố từ tuổi ấu thơ. Lúc nhỏ không ham học nhưng rất mê đá bóng. Anh nói: "Tại Brasil, đường phố là trường đại học tốt nhất mà bạn có thể theo học". Gia đình anh khá bất ổn, cha mẹ ly hôn vào năm anh 17 tuổi. Cũng như nhiều ngôi sao Brasil khác, Ronaldo khởi đầu sự nghiệp bóng đá không chuyên của mình trong những đội bóng đường phố. Anh chơi những trận bóng nghiêm túc đầu đời của mình tại câu lạc bộ quần vợt Valqueire và thường ở vị trí thủ môn. Nhưng huấn luyện viên Fernando dos Santos đã nhanh chóng phát hiện tài năng của Ronaldo, đưa anh vào chơi bóng đá 11 người tại câu lạc bộ Social de Ramos. Thời gian này anh ghi được 166 bàn, trong đó có trận ghi tới 11 bàn. Với sự thể hiện đó, anh được mời chơi cho São Cristóvão, một đội bóng hạng II ở Brasil. São Cristóvão xem như là nơi khởi đầu sự nghiệp của Ronaldo. Anh nổi tiếng ở đây từ năm 14 tuổi với những bàn thắng ấn tượng. Thời gian ở São Cristóvão, anh ghi được 36 bàn sau 54 trận đấu và rất được huấn luyện viên của đội, ông Adfredo, trọng dụng. Thế nhưng mơ ước từ nhỏ của Ronaldo là được chơi cho Clube de Regatas do Flamengo, nơi thần tượng Zico đã trở thành huyền thoại. Anh có cơ hội vào câu lạc bộ chủ sân Maracana vào năm 1992, nhưng trong lần tuyển chọn ấy có quá nhiều người, lại đi bộ đến trễ do không đủ tiền đi xe buýt nên Ronaldo không được để mắt tới nhiều, thậm chí không được đưa tiền xe về nhà. Trên đường về anh còn bị giật đồng hồ đeo tay. Hai chuyến đi bộ đó đã làm Ronaldo thất vọng với đội bóng thần tượng thuở ấu thơ. Nhưng những gì anh thể hiện tại São Cristóvão và đội tuyển U17 Brasil đã làm cho một đội bóng khác để mắt tới, đó là Cruzeiro E.C, sẽ là nơi anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp. Ronaldo Luís Nazário de Lima sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976 tại Itaguaí là con thứ ba của Nélio Nazário de Lima Snr. và Sônia dos Santos Barata Ronaldo có một người anh trai, Nélio Jr. Cha mẹ anh chia tay khi anh 11 tuổi, và Ronaldo bỏ học ngay sau đó để theo đuổi sự nghiệp bóng đá. Anh chơi trên đường phố Bento Ribeiro, ngoại ô Rio de Janeiro. Mẹ anh ấy nói, "Tôi luôn thấy anh ấy chơi bóng trên phố với bạn bè khi lẽ ra anh ấy phải đi học. Tôi biết, tôi đã thua trận." Anh gia nhập đội futsal Social Ramos ở tuổi 12 và dẫn dắt anh ở giải trẻ của thành phố về khả năng ghi bàn với kỷ lục 166 bàn thắng trong mùa giải đầu tiên, bao gồm 11 trong số 12 bàn thắng của đội anh trong một trận đấu. Cho rằng futsal đã giúp anh phát triển các kỹ năng của mình, Ronaldo đã nói, "futsal sẽ luôn là tình yêu đầu tiên của tôi." Huấn luyện viên của anh ấy từ Social Ramos, Alirio Carvalho, nói: "Điều đặc biệt ở Ronaldo là thái độ của anh ấy . Cứ như thể anh ấy đến từ mặt trăng. Không có gì làm phiền anh ấy, không có gì khiến anh ấy sợ hãi, không có gì khiến anh ấy rời khỏi trò chơi của mình. " Được cựu cầu thủ Brazil Jairzinho, người đang huấn luyện São Cristóvão, phát hiện, Ronaldo chơi cho đội trẻ São Cristóvão. Dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Alfredo Sampaio, anh thăng tiến nhanh chóng qua các cấp độ, chơi cho đội U17 và U20 của câu lạc bộ khi chỉ mới 15 tuổi. Người đại diện của Ronaldo ở Brazil, Reinaldo Pitta và Alexandre Martins, đã ký hợp đồng với anh khi mới 13 tuổi. Pitta nói, "Chúng tôi thấy ngay rằng anh ấy có thể là một điều gì đó khác biệt so với hầu hết các cầu thủ khác." Được công nhận là một thần đồng, Jairzinho đã tiến cử cậu bé 16 tuổi vào câu lạc bộ cũ Cruzeiro. Cruzeiro E.C (1993 -1994). Ronaldo nhanh chóng thu hút sự chú ý từ các câu lạc bộ lớn, và người đại diện của anh đã từ chối những lời đề nghị từ Botafogo và São Paulo. Anh ấy đã bị từ chối bởi Flamengo, đội bóng mà anh ủng hộ khi còn là một cậu bé, sau khi bỏ lỡ buổi tập do không đủ khả năng chi trả tiền vé cho chuyến đi xe buýt kéo dài một giờ. Jairzinho nhìn thấy tiềm năng của Ronaldo và giúp anh chuyển đến Cruzeiro. Người đại diện của Ronaldo đã chấp nhận lời đề nghị trị giá 50.000 euro từ câu lạc bộ và anh đã ghi bốn bàn trong trận ra mắt đội trẻ. Ba tháng sau khi đến Cruzeiro, Ronaldo có trận ra mắt chuyên nghiệp vào ngày 25 tháng 5 năm 1993 trước Caldense ở Giải vô địch bang Minas Gerais. Anh được công chúng cả nước chú ý vào ngày 7 tháng 11 năm 1993, ghi 5 bàn trong trận đấu với Bahia. Bàn thắng đầu tiên của anh là trong một trận giao hữu trong chuyến du đấu ở Bồ Đào Nha, ghi một bàn vào lưới Belenenses và gây ấn tượng với huấn luyện viên mới Carlos Alberto Silva, đủ để trở thành cầu thủ thường xuyên của đội một. Trong chuyến du đấu, màn trình diễn của anh trước Porto gây ấn tượng mạnh đến mức họ ra giá 500.000 USD, nhưng bị chủ tịch câu lạc bộ César Masci từ chối. Khi trở lại sau chuyến du đấu, anh đã ghi 20 bàn, trong đó có 8 bàn ở Supercopa Libertadores, bao gồm cú hat-trick vào lưới đội bóng Chile Colo-Colo ở trận lượt đi và 2 bàn ở trận lượt về, trước khi ghi thêm 3 bàn nữa vào lưới đội bóng của Uruguay Nacional, giúp anh trở thành tay săn bàn hàng đầu của giải đấu. Ronaldo ghi 44 bàn sau 47 trận với Cruzeiro, đưa họ tới Copa do Brasil đầu tiên vào năm 1993 và chức vô địch bang Minas Gerais năm 1994. Ronaldo gia nhập PSV sau World Cup 1994. Anh được chọn tham dự giải đấu dù mới 17 tuổi nhưng không thi đấu trận nào. Đồng đội người Brazil của anh, Romário, từng chơi cho PSV từ 1988 đến 1993 đã khuyên Ronaldo chuyển đến câu lạc bộ. Vào ngày 28 tháng 8 năm 1994, Ronaldo ghi bàn trong trận ra mắt mười phút trước Vitesse, và ghi một cú đúp trong trận ra mắt sân nhà trước Go Ahead Eagles. Anh ghi 30 bàn thắng trong mùa giải đầu tiên ở Hà Lan, trong đó có 7 cú đúp và một hat-trick vào lưới Utrecht. Sau khi lập hat-trick trong trận đấu của PSV với Bayer Leverkusen ở UEFA Cup 1994–95, tiền đạo Leverkusen và nhà vô địch World Cup Đức Rudi Völler phát biểu trong một cuộc họp báo sau trận đấu, "Chưa bao giờ trong đời tôi thấy một cầu thủ 18 tuổi nào xuất sắc như vậy." Những pha rê bóng của anh ấy từ hàng tiền vệ đã thu hút sự chú ý của nhiều người trong môn thể thao này, với đồng đội tương lai ở Barcelona, ​​Luis Enrique nói, "Tôi đã nhìn thấy anh ấy trên truyền hình ở PSV và nghĩ 'wow'. Sau đó anh ấy đến Barcelona. Anh ấy là cầu thủ ngoạn mục nhất mà tôi từng thấy. Anh ấy đã làm những điều mà tôi chưa từng thấy trước đây. Bây giờ chúng ta đã quen với việc thấy Messi rê bóng qua sáu cầu thủ, nhưng lúc đó thì không. Ronaldo là một con quái vật. " Nick Miller, phóng viên trận đấu của The Guardian, viết, "Điều nổi bật về Ronaldo trong năm đầu tiên ở PSV là anh ấy trông hoàn thiện đến mức nào, ngay cả khi còn là một thiếu niên gầy gò. Mọi thứ định nghĩa nên anh ấy – tốc độ nhanh như chớp, những bước nhảy mờ ảo, ấn tượng không thể tin được rằng anh ấy nhanh hơn khi có bóng so với khi không có nó, thậm chí cả sức mạnh đặc biệt của phần trên cơ thể - đều có ở đó." Rob Smyth nói thêm, "Theo nhiều cách, Ronaldo là cầu thủ bóng đá PlayStation đầu tiên. Bước nhảy của anh ấy là một hình thức thôi miên, và thủ thuật đặc trưng của anh ấy, đàn hồi, chắc chắn có thể đến từ màn hình máy tính." Mùa giải thứ hai của Ronaldo bị hủy hoại bởi một chấn thương đầu gối khiến anh phải nghỉ thi đấu phần lớn thời gian của chiến dịch, nhưng anh vẫn ghi trung bình gần một bàn thắng một trận đấu, ghi 19 bàn sau 21 lần ra sân, bao gồm cả cú ghi 4 bàn vào lưới đội Phần Lan MyPa. Với PSV, Ronaldo đã giành Cúp Hà Lan năm 1996 và anh là Vua phá lưới Eredivisie năm 1995. Trong hai mùa giải ở câu lạc bộ, anh ghi 54 bàn sau 58 trận. Trong thời gian thi đấu tại PSV, Ronaldo đã thu hút sự chú ý của cả Inter Milan và FC Barcelona. Chính Barcelona đã sẵn sàng trả mức phí kỷ lục thế giới lúc bấy giờ là 19,5 triệu đô la, và anh gia nhập câu lạc bộ vào ngày 17 tháng 7 năm 1996. Theo huấn luyện viên Bobby Robson, anh ấy đã ký một hợp đồng 8 năm và sẽ chơi ở vị trí tiền đạo một mình. Nói chuyện với The New York Times về Ronaldo vào cuối mùa giải đó, Robson nói "Tôi không nghĩ mình từng thấy một cầu thủ ở tuổi 20 có nhiều thứ như vậy". Trong mùa giải 1996–97, Ronaldo ghi 47 bàn sau 49 trận trên mọi đấu trường, với màn ăn mừng bàn thắng luôn giống nhau với cánh tay dang rộng như bức tượng Chúa Kitô Cứu Thế đang trông chừng quê hương Rio de Janeiro. Anh giúp Barcelona giành chức vô địch UEFA Cup Winners' Cup 1996–97, kết thúc mùa giải với bàn thắng ấn định chiến thắng trong trận chung kết và giành chức vô địch Supercopa de España 1996. Anh cũng giành giải Vua phá lưới La Liga năm 1997 với 34 bàn sau 37 trận và Chiếc giày vàng châu Âu. Cho đến mùa giải 2008–09, Ronaldo vẫn là cầu thủ cuối cùng ghi trên 30 bàn ở La Liga. Ronaldo đang ở đỉnh cao thể lực ở Barcelona, ​​và nhiều trong số 47 bàn thắng của anh liên quan đến việc anh đi vòng qua thủ môn trước khi đưa bóng vào lưới. Óscar García, đồng đội của Ronaldo mùa đó, nói: "Hồi đó, anh ấy có toàn thân thể rắn chắc và cơ bắp. Anh ấy là một mẫu vật thể chất hoàn hảo. Sức mạnh đáng kinh ngạc kết hợp với kỹ năng kỹ thuật của anh ấy có thể khiến anh ấy không thể bị ngăn cản." José Mourinho, người đã làm việc với tư cách là thông dịch viên tại Barcelona, ​​​​đã gọi Ronaldo là "cầu thủ vĩ đại nhất mà tôi từng thấy trong đời", nói thêm, "Tôi không nghi ngờ gì. Ronaldo là người giỏi nhất mà mắt tôi từng thấy", và vào năm 2014 đã coi anh ấy là cầu thủ xuất sắc nhất thời hậu Diego Maradona. Có thể cho rằng bàn thắng đáng nhớ nhất của Ronaldo cho Barcelona được ghi tại SD Compostela vào ngày 11 tháng 10 năm 1996; Sau khi nhận bóng trong phần sân nhà, anh ta né tránh một pha truy cản thô bạo của đối thủ đầu tiên bằng một pha kéo lùi, trước khi bỏ chạy khỏi đối thủ khác và chạy về phía khung thành, vượt qua hai hậu vệ khác trong vòng cấm với khả năng kiểm soát bóng chặt chẽ, trước khi dứt điểm vào vòng cấm. góc dưới của lưới. Sau đó, máy quay quay cảnh huấn luyện viên Robson, người đã đứng dậy khỏi băng ghế dự bị và ôm đầu không tin vào những gì mình đã nhìn thấy. Đoạn phim về bàn thắng sau đó được sử dụng trong một quảng cáo của Nike với phần lồng tiếng yêu cầu: "Hãy tưởng tượng bạn cầu xin Chúa trở thành cầu thủ xuất sắc nhất thế giới và Ngài đã lắng nghe bạn", và bàn thắng được cho là đã được phát lại 160 lần trên các kênh truyền hình chính của Tây Ban Nha trong 48 giờ sau trận đấu. Nửa mùa giải, Barcelona đã đồng ý về nguyên tắc gia hạn hợp đồng với anh đến năm 2006, tăng gấp đôi lương cho anh trong quá trình này. Cú hat-trick vào lưới Valencia, bàn thắng thứ ba chứng kiến ​​anh mổ xẻ hai hậu vệ Valencia trước khi đưa bóng vào lưới, khiến các cổ động viên Barcelona vẫy khăn tay trắng như một biểu hiện ngưỡng mộ trước một màn trình diễn xuất sắc. Sid Lowe của Sports Illustrated nói, "Mùa giải đó Ronaldo là không thể ngăn cản. Anh ấy mảnh khảnh và mạnh mẽ, khéo léo, nhanh nhẹn và chết người. Anh ấy giỏi đến mức nực cười." Cuối năm 1996, ở tuổi 20, Ronaldo trở thành cầu thủ trẻ nhất ghi bàn giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA. 1997–1999: Kỷ lục chuyển nhượng thế giới và Quả bóng vàng. Thời gian của Ronaldo ở Barcelona kéo dài một mùa giải vì có vấn đề với việc đàm phán lại hợp đồng của anh ấy. Barcelona nghĩ rằng đã có một thỏa thuận, với chủ tịch Barcelona Josep Lluís Núñez nói "Anh ấy là của chúng tôi suốt đời", nhưng khi các bên triệu tập lại vào ngày hôm sau, thỏa thuận đã sụp đổ và Núñez thừa nhận: "Mọi chuyện đã kết thúc, Ronaldo sẽ ra đi". Nói chuyện với ESPN, Ronaldo nói: "Tôi đã đạt được thỏa thuận gia hạn hợp đồng chỉ một tháng trước khi mùa giải đó kết thúc, nhưng một tuần sau, luật sư và chủ tịch Barcelona đồng ý rằng hợp đồng đó là vô lý." ngoài điều khoản trong hợp đồng của anh ấy, Inter Milan đã ký hợp đồng với anh ấy vào mùa hè năm 1997 với mức phí kỷ lục thế giới lúc bấy giờ là 27 triệu đô la, khiến anh ấy trở thành cầu thủ thứ hai, sau Diego Maradona, hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Anh ấy đã ký hợp đồng 5 năm với người Ý, và ra mắt trước 4000 người hâm mộ Inter tại sân tập của họ. Trận ra mắt của anh ấy diễn ra vào ngày 27 tháng 7 trong trận đấu trước mùa giải với Manchester United.Trận ra mắt thi đấu của anh diễn ra vào ngày khai mạc mùa giải 1997–98 trước Brescia. Ronaldo đã thích nghi với phong cách thi đấu của Ý trong mùa giải đầu tiên, kết thúc với 25 bàn thắng ở Serie A và được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất Serie A. Ronaldo bắt đầu phát triển thành một tiền đạo hoàn thiện. Anh bắt đầu thực hiện các pha kiến ​​​​tạo, trở thành cầu thủ thực hiện quả phạt đền được lựa chọn đầu tiên, thực hiện và ghi bàn từ những quả đá phạt trực tiếp. Nửa mùa giải đầu tiên, anh đã giành được danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA lần thứ hai và giành được Quả bóng Vàng. Trong thời gian thi đấu cho Inter, anh đã ghi một số bàn thắng vào lưới đối thủ cùng thành phố AC Milan trong trận Derby della Madonnina. Ronaldo và tiền đạo sung mãn của Fiorentina, Gabriel Batistuta, là hai tiền đạo xuất sắc nhất ở Serie A, với những cuộc đọ sức được mong đợi nhất ở Ý. Những màn ăn mừng bàn thắng của Ronaldo thường chứng kiến ​​các đồng đội ở Inter chúc mừng anh bằng cách quỳ xuống và giả vờ đánh giày. Ronaldo đã ghi bàn thắng đặc trưng vào lưới Lazio trong trận chung kết Cúp UEFA 1998. Vượt qua hàng phòng ngự để đối đầu với thủ môn Lazio Luca Marchegiani, Ronaldo giả vờ rẽ phải rồi sang trái mà không chạm vào bóng, để Marchegiani nằm ngửa, trước khi rẽ phải và đưa bóng vào lưới. Đồng đội ở Inter của anh là Youri Djorkaeff đã nói; "Ronaldo thật phi thường. Anh đã chứng minh rằng mình vượt trội so với phần còn lại trong mùa giải đó." Sau FIFA World Cup 1998, nơi anh được vinh danh là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu, Ronaldo được nhiều người đánh giá là tiền đạo xuất sắc nhất thế giới. Đến cuối mùa giải 1998–99, anh được bổ nhiệm làm đội trưởng Inter Milan. 1999–2002: Chấn thương tái diễn. "Chấn thương đầu gối gặp phải ở Inter Milan đã lấy đi sự bùng nổ khiến anh ấy có thể trở thành cầu thủ trẻ vĩ đại nhất mọi thời đại, sự kết hợp của tốc độ, sức mạnh và kỹ năng trong tương lai. Nói vậy không có nghĩa là coi thường những thành tựu của Ronaldo trong nửa sau sự nghiệp, khi anh ấy đã ghi 8 bàn trong một kỳ World Cup 2002 và trở thành Ronaldo đầu tiên nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt tại Old Trafford [năm 2003], nhưng chính ký ức về những năm đầu đã khiến những người đàn ông trưởng thành mờ mịt. " —Rob Smyth, nhà báo của tờ The Guardian. Sau hai mùa giải thi đấu cho Inter, hậu vệ Paolo Maldini của A. C. Milan coi Ronaldo và Diego Maradona là hai cầu thủ xuất sắc nhất mà anh từng đối đầu, nói rằng, "Ronaldo trong hai năm đầu tiên ở Inter là một hiện tượng." mùa giải 1999–2000 với hàng công của họ bao gồm Ronaldo và các ngôi sao người Ý Roberto Baggio và Christian Vieri. Tuy nhiên, vào ngày 21 tháng 11, trong trận đấu ở Serie A với Lecce, Ronaldo cảm thấy đầu gối bị khuỵu xuống và buộc phải tập tễnh rời sân. Cuộc kiểm tra y tế xác nhận tiền đạo này đã bị đứt gân ở đầu gối và cần phải phẫu thuật. Trong lần trở lại đầu tiên vào ngày 12 tháng 4 năm 2000, anh chỉ chơi sáu phút trong trận lượt đi chung kết Coppa Italia với Lazio trước khi bị đứt hoàn toàn gân đầu gối. Nhà vật lý trị liệu Nilton Petrone của Ronaldo nói, "mũi đầu gối của anh ấy thực sự đã nổ tung" và gọi đó là "chấn thương bóng đá tồi tệ nhất" mà ông từng thấy. Ronaldo buộc phải bỏ lỡ toàn bộ mùa giải 2000–01 và phần lớn hai mùa giải sau đó. Vì đồng đội ở Inter Javier Zanetti đã thay thế anh làm đội trưởng trong thời gian anh vắng mặt nên cuối cùng anh đã được thừa kế chiếc băng đội trưởng vào cuối năm 2001.Sau hai cuộc phẫu thuật và phục hồi chức năng, Ronaldo đã trở lại dự World Cup 2002, giúp Brazil giành chức vô địch World Cup lần thứ năm. Sau đó vào năm 2002, anh lần thứ ba giành được giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và chuyển từ Inter sang Real Madrid. Ronaldo được báo chí Ý đặt cho biệt danh dễ nhận biết nhất của anh, Il Fenomeno, khi còn chơi ở đó. Đồng đội ở Inter của anh ấy, Djorkaeff, nói, "khi chúng tôi tập luyện, chúng tôi gần như dừng lại để xem anh ấy. Điều đó thật phi thường." Trước khi dính chấn thương vào tháng 11 năm 1999, Ronaldo đã ghi 42 bàn sau 58 trận ở Serie A, trận đấu khó khăn nhất giải đấu để ghi bàn với chiến lược phòng ngự tiên tiến nhất và những hậu vệ xuất sắc nhất thế giới. Sau 5 năm, anh đã chơi 99 trận và ghi 59 bàn cho Nerazzurri. Màn trình diễn của Ronaldo tại câu lạc bộ - đặc biệt là hai mùa giải đầu tiên trước khi chấn thương - đã giúp anh có tên trong số bốn cầu thủ được giới thiệu lần đầu tiên vào Đại sảnh Danh vọng Inter Milan năm 2018. 2002–2005: Quả bóng vàng và chức vô địch La Liga. Sau khi ký hợp đồng với Real Madrid với giá 46 triệu euro, doanh số bán áo đấu của anh đã phá vỡ mọi kỷ lục trong ngày đầu tiên. Ronaldo là một phần trong kỷ nguyên Galácticos của các ngôi sao toàn cầu được câu lạc bộ ký hợp đồng vào mỗi mùa hè, bao gồm Zinedine Zidane, Luís Figo, Roberto Carlos và David Beckham. Anh phải ngồi ngoài vì chấn thương cho đến tháng 10 năm 2002, điều này càng làm tăng thêm sự mong đợi của người hâm mộ. Ronaldo ghi hai bàn trong trận ra mắt gặp Alavés, 61 giây đầu tiên sau khi vào sân. Sự tiếp đón tương tự đó cũng được thấy ở trận đấu cuối cùng của mùa giải với Athletic Bilbao, nơi Ronaldo ghi bàn để kết thúc mùa giải đầu tiên với 23 bàn thắng và giành chức vô địch La Liga năm 2003. Anh cũng giành được Cúp Liên lục địa năm 2002 và Supercopa de España năm 2003, ghi bàn trong cả hai trận chung kết. Trong trận lượt về vòng tứ kết Champions League của Real Madrid, Ronaldo đã lập hat-trick vào lưới Manchester United tại Old Trafford, khiến đội bóng Anh bị loại khỏi giải đấu. Hoàn tất cú hat-trick của mình bằng một cú sút chệch cột dọc từ cự ly 30m, Ronaldo được thay ra ở phút thứ 67 và nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt từ cả hai nhóm người hâm mộ. Nghĩ về sự hoan nghênh nhiệt liệt của người hâm mộ đối phương, Ronaldo nói rằng "đó vẫn là một khoảnh khắc rất đẹp, rất đặc biệt". Hậu vệ Wes Brown của Manchester United nhận xét: "Anh ấy là không thể ngăn cản. Một Ronaldo trẻ [trước một loạt chấn thương] thậm chí còn nguy hiểm hơn, nhưng điều đó cho thấy anh ấy là một cầu thủ giỏi như thế nào. Bất cứ khi nào anh ấy muốn bật nó lên, anh ấy đều có thể, trên bất kỳ sân khấu nào, ở bất kỳ sân vận động nào". Ronaldo ghi bàn trong chiến thắng 2-1 trên sân nhà trước Juventus ở trận lượt đi bán kết Champions League, nhưng chấn thương quan trọng đã khiến anh không thể thi đấu phần lớn trận thua ở trận lượt về khi Real bị loại. Trong mùa giải 2003–04 , Madrid đang trên đường giành cú ăn ba, cho đến khi Ronaldo dính chấn thương vào cuối mùa giải; sau đó họ thua trận chung kết Copa del Rey, bị loại khỏi tứ kết UEFA Champions League trước AS Monaco, và bị sa sút phong độ. Trong mùa giải thứ hai tại câu lạc bộ, Ronaldo đã ghi một trong những bàn thắng nhanh nhất trong lịch sử câu lạc bộ khi anh ghi bàn sau 15 giây trong trận đấu với Atlético Madrid tại Bernabéu vào ngày 3 tháng 12 năm 2003. Ba ngày sau, anh giúp Real giành chiến thắng đầu tiên trước Barcelona tại Nou Camp sau 20 năm khi ghi bàn thắng thứ hai trong chiến thắng 2-1 trước câu lạc bộ cũ. Anh kết thúc mùa giải với tư cách là vua phá lưới La Liga với 25 bàn thắng và nhận Pichichi Trophy lần thứ hai, mặc dù Madrid đã để mất chức vô địch vào tay Valencia. 2005–2007: Hai mùa giải cuối cùng. Trong hai mùa giải cuối cùng ở Real Madrid, Ronaldo đã bỏ lỡ một số trận đấu vì chấn thương và các vấn đề về cân nặng, và với việc mua lại Ruud van Nistelrooy vào năm 2006, anh càng ngày càng mất thiện cảm với huấn luyện viên Fabio Capello. Phát biểu vào năm 2017 về vấn đề cân nặng và tình trạng thiếu thể lực của Ronaldo ở Madrid, ngoài khả năng của anh, Capello tóm tắt những cảm xúc trái ngược nhau giữa anh với cầu thủ người Brazil, “cầu thủ khó xử lý nhất là cầu thủ giỏi nhất mà tôi từng huấn luyện: Ronaldo, il Fenomeno. "Trong bốn mùa rưỡi ở câu lạc bộ, Ronaldo đã ghi hơn một thế kỷ bàn thắng, trở thành người nước ngoài thứ năm tại Madrid đạt được thành tích này sau Alfredo Di Stéfano người Argentina, Ferenc Puskás người Hungary, Hugo Sánchez người Mexico và Iván Zamorano người Chile. Mặc dù chấn thương đầu gối trước năm 2002 đồng nghĩa với việc anh "bị cướp đi sự bùng nổ của những năm đầu đời" (tạp chí FourFourTwo) vào thời điểm anh ký hợp đồng với Real Madrid, Ronaldo vẫn được Marca bầu chọn là thành viên của "11 cầu thủ ngoại xuất sắc nhất lịch sử Real Madrid". ". Khi đã qua thời kỳ đỉnh cao những năm 1990, Ronaldo vẫn nhận được nhiều lời khen ngợi từ các đồng nghiệp ở Madrid, trong đó Zidane nói: "Không chút do dự, Ronaldo là cầu thủ hay nhất mà tôi từng đối đầu hoặc đối đầu. Anh ấy xử lý bóng rất dễ dàng. Mỗi ngày tôi đều tập luyện cùng anh ấy." , Tôi thấy điều gì đó khác biệt, điều gì đó mới mẻ, điều gì đó đẹp đẽ." Michael Owen, người gia nhập Madrid năm 2004, thừa nhận rằng anh chưa bao giờ có cơ hội chơi cùng Ronaldo trong thời kỳ đỉnh cao khi "anh ấy có tốc độ và sức mạnh tuyệt đối, đầy mê hoặc. tốc độ chân, anh ấy chỉ là một kẻ mờ nhạt, anh ấy sẽ nhanh như vậy", trước khi nói thêm, "ngay cả trong tập luyện, anh ấy đã thể hiện quá đủ để thuyết phục tôi rằng tôi rất thích được chơi cùng anh ấy ở thời kỳ đỉnh cao của anh ấy." Đồng đội trong sáu tháng, Van Nistelrooy nói, "Ronaldo là tài năng bẩm sinh xuất sắc nhất mà tôi từng chơi cùng. Khả năng bẩm sinh của anh ấy vượt xa bất cứ thứ gì tôi từng thấy hoặc chơi cùng." Vào ngày 18 tháng 1 năm 2007, có thông tin cho rằng Ronaldo đã đồng ý các điều khoản với AC Milan với giá chuyển nhượng 8,05 triệu euro. Chia tay Real Madrid, tay săn bàn hàng đầu của câu lạc bộ trong suốt 4 mùa giải trọn vẹn, Ronaldo cảm ơn tất cả mọi người ngoại trừ Capello: “Tôi xin cảm ơn những người hâm mộ đã ủng hộ tôi suốt thời gian qua và cảm ơn tất cả các đồng đội mà tôi đã có mặt ở đây. và tất cả các huấn luyện viên mà tôi từng có – ngoại trừ một người". Capello, người đã bỏ anh vì vấn đề cân nặng, nhận xét, "Tôi chúc anh ấy may mắn khi làm được những gì anh ấy từng làm là trở thành một cầu thủ vĩ đại." Vào ngày 25 tháng 1, Ronaldo bay từ Madrid đến Milan, cùng với tuyên bố trên trang web của câu lạc bộ cho biết Ronaldo đã đến Milan để kiểm tra y tế và một cuộc họp đã được sắp xếp với các quan chức Real Madrid để thảo luận và hoàn tất việc chuyển nhượng anh đến câu lạc bộ Milan. Vào ngày 26 tháng 1, Ronaldo đã hoàn thành xuất sắc bài kiểm tra y tế của mình tại khu tập luyện Milanello dưới sự giám sát của các bác sĩ câu lạc bộ, và vụ chuyển nhượng hoàn tất vào ngày 30 tháng 1. Mang áo số 99, anh ra mắt vào sân thay người vào ngày 11 tháng 2 năm 2007 trong chiến thắng 2-1 trước Livorno. Trận đấu tiếp theo tại Siena, vào ngày 17 tháng 2, Ronaldo ghi hai bàn và kiến ​​tạo bàn thứ ba trong trận đá chính đầu tiên cho Milan, khi họ thắng 4–3. Trong mùa giải đầu tiên, Ronaldo ghi 7 bàn sau 14 lần ra sân. Sau khi chuyển đến Milan, Ronaldo gia nhập danh sách số ít cầu thủ từng chơi cho cả Inter Milan và AC Milan trong trận Derby della Madonnina, và là một trong số ít cầu thủ đã ghi bàn cho cả hai đội đối thủ trong trận derby Milan (cho Inter trong mùa giải 1998–99 và cho AC Milan trong mùa giải 2006–07), những cầu thủ còn lại là Giuseppe Meazza, Zlatan Ibrahimović, Enrico Candiani và Aldo Cevenini. Ronaldo cũng là một trong số ít cầu thủ từng đá chính cho Real Madrid và FC Barcelona, ​​​​những đội cũng có sự cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên, Ronaldo chưa bao giờ chuyển nhượng trực tiếp giữa các CLB đối thủ. Ronaldo chỉ chơi hơn 300 phút trong mùa giải thứ hai ở Milan do tái phát chấn thương và vấn đề cân nặng. Các bàn thắng duy nhất của Ronaldo trong mùa giải 2007–08, ngoài bàn thắng vào lưới Lecce trước mùa giải, là trong chiến thắng 5–2 trước Napoli tại San Siro, nơi anh ghi một cú đúp đầy cảm xúc. Đây cũng là lần đầu tiên bộ ba tấn công được đánh giá cao của Milan gồm Kaká, Alexandre Pato và Ronaldo, hay còn gọi là Ka-Pa-Ro, chơi cùng nhau. Mặc dù thành công rực rỡ trong thập kỷ qua, Ronaldo chưa bao giờ vô địch UEFA Champions League trong sự nghiệp câu lạc bộ của mình. Năm 2019, tạp chí FourFourTwo vinh danh anh là cầu thủ xuất sắc nhất chưa từng vô địch giải đấu này; vào năm 2020, Sky Sports xếp anh là cầu thủ xuất sắc thứ hai (sau Diego Maradona) chưa từng vô địch Champions League hay Cúp C1. Ronaldo tuyên bố, "Tôi sống bóng đá với niềm đam mê không mang lại cho tôi chút bình yên nào khi không vô địch Champions League - đó là danh hiệu mà mọi người đều muốn giành được." Năm 2011, Paul Wilson viết trên The Guardian, "Ronaldo đã không may mắn trong việc lựa chọn thời điểm hoặc câu lạc bộ - vì chắc chắn rằng ở thời điểm tốt nhất của mình, anh ấy sẽ gia nhập bất kỳ câu lạc bộ nào trên thế giới." Trong mùa giải 2006–07, mặc dù Milan đã vô địch mùa giải 2006–07. danh hiệu, Ronaldo đã bị ràng buộc với Madrid và không đủ điều kiện tham gia. Lần gần nhất anh đến với thành công ở Champions League là vào năm 2003 khi anh giúp Real Madrid vào bán kết, trận đấu họ thua Juventus. Ngày 9 tháng 12 năm 2008, sau 10 tháng dưỡng thương và luyện tập phục hồi thể lực tại Flamengo FC, Ronaldo đã làm cho các cổ động viên đội này tức giận khi ký hợp đồng với Corinthians, đội bóng kình địch của họ. Hợp đồng có thời hạn 1 năm. Ronaldo lập tức được khoác áo số 9 quen thuộc và đưa vào đội hình xuất phát. Tuy nhiên do tình trạng thể lực không tốt, anh đã phải ngồi dự bị đến tháng 3 năm 2009. Anh thi đấu trận đầu cho Corinthians vào ngày 4 tháng 3 năm 2009. Bốn ngày sau, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho Corinthians. Tiếp theo đó là sự góp công vào chiến thắng 2 - 1 trước Sao Caetano của Ronaldo cho Conrinthians, bằng cú vô lê tuyệt hảo, anh đã từng bước tìm lại chính mình trên sân cỏ . Ấn tượng nhất là cú đúp của anh trong trận Corinthians gặp Ponte Preta ngày 25-3-2009. Ronaldo ghi hai bàn thắng, trong đó có một bàn anh vượt hai hậu vệ đối phương và dứt điểm về khung thành như anh đã từng làm ngày xưa Trong trận chung kết lượt đi cúp Paulista vô địch bang Sao Paulo, Ronaldo đã làm Vua Bóng Đá Pele bẽ mặt khi nhấn chìm đội bóng cũ của ông vua này bằng 2 bàn thắng đẹp như vẽ. Sau trận đấu, Pele bình luận: "Bàn thắng đến từ người biết tận dụng cơ hội, và Ronaldo đã chứng tỏ đẳng cấp của cậu ta chỉ có ở World Cup". Gần đây nhất, "Quỷ lùn" Romario và tổng thống Brazil Luiz Inacio Lula da Silva đã lên tiếng kêu gọi Dunga nên triệu tập Ronaldo về đội tuyển vàng xanh. Người hâm mộ nhận định "Rất có thể Ronaldo sẽ lại chơi ở World Cup 2010 và gần hơn là Fifa Cofederation Cup 2009". Thế nhưng Dunga một lần nữa khẳng định lối đá hoa mỹ của Selecao đã không còn và thay vào đó là điệu Samba cứng ráp, ý nghĩ đó kéo theo việc Dunga loại Ronaldo ra khỏi Selecao một lần nữa. Sau chức vô địch Sao Paulo, Ronaldo cùng đội bóng thừa thắng xông lên và giành luôn chức vô địch Copa De Brasil, giành luôn một vé trực tiếp vào giải cúp liên đoàn các câu lạc bộ Nam Mỹ năm 2009. Ngày 14 tháng 2 năm 2011, Ronaldo đã tuyên bố từ giã sự nghiệp cầu thủ sau khi Corinthians bị loại khỏi Copa Libertadores 2011. Sự nghiệp quốc tế. Ronaldo có trận ra mắt quốc tế cho Brazil vào ngày 23 tháng 3 năm 1994 trong một trận giao hữu ở Recife với Argentina. Bàn thắng đầu tiên của anh cho Brazil là vào ngày 4 tháng 5 năm 1994 trong trận giao hữu thắng 3–0 trước Iceland. Anh tham dự FIFA World Cup 1994 ở Hoa Kỳ lúc 17 tuổi, nhưng không thi đấu khi Brazil tiếp tục vô địch giải đấu. Anh ấy nói rằng anh ấy "vui mừng khôn xiết" trước trải nghiệm này. Sau đó anh được biết đến với cái tên Ronaldinho ("Ronaldo nhỏ" trong tiếng Bồ Đào Nha), vì Ronaldo Rodrigues de Jesus, đồng đội lớn tuổi của anh, cũng được gọi là Ronaldo và sau đó được đặt biệt danh là Ronaldão ("Ronaldo lớn") để phân biệt rõ hơn giữa họ. Một cầu thủ khác, Ronaldo de Assis Moreira, hiện được biết đến rộng rãi với cái tên Ronaldinho, được gọi là Ronaldinho Gaúcho khi anh gia nhập đội tuyển Brazil năm 1999. Thế vận hội mùa hè và Copa América. Tại Thế vận hội Mùa hè 1996 ở Atlanta, Ronaldo lại sử dụng cái tên Ronaldinho vì trung vệ Ronaldo Guiaro, hơn anh hai tuổi, là một trong những đồng đội của anh. Brazil tiếp tục giành huy chương đồng. Ronaldo cũng đại diện cho Brazil tại Copa América 1995 (về nhì) và vô địch cả hai giải đấu năm 1997 và 1999. Anh được vinh danh là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu năm 1997, là vua phá lưới năm 1999 và ghi bàn trong trận chung kết của cả hai đội, trước Bolivia năm 1997 và Uruguay năm 1999. Anh cũng tham gia trận giao hữu Tournoi de France năm 1997, trước FIFA World Cup 1998, ghi một bàn thắng giúp Brazil trở thành á quân. Ronaldo sánh vai cùng với Romário, được mệnh danh là kẻ tấn công Ro-Ro, tại FIFA Confederations Cup 1997, giúp Brazil giành chức vô địch Confederations Cup đầu tiên, nơi anh kết thúc với tư cách là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba với 4 bàn thắng, ghi một hat-trick vào lưới Australia trong trận chung kết cuối cùng. Về sự kết hợp giữa Ronaldo và Romário, Will Sharp viết: ", họ đã tìm thấy chính mình, định mệnh có cơ hội tạo nên một trong những cặp đôi tấn công kỳ quặc nhất mà trò chơi có từng thấy. Sự hợp tác của họ tuy ngắn ngủi nhưng lại rực rỡ không thể giải thích được." "Cách anh ấy kết hợp thể lực cường tráng với nét thơ mộng đã tạo nên một cảnh tượng tuyệt vời. Vào những năm 1990, trong thể chất hào hoa, thời kỳ đỉnh cao tự do của anh ấy, không có gì giống anh ấy chút nào. Vào thời điểm World Cup 1998 đến cùng với anh ấy danh tiếng đã mở rộng đến mức hoàn toàn hình thành nên điều kỳ diệu. Một điều đang xảy ra." —Amy Lawrence của tờ The Guardian. Ronaldo bước vào FIFA World Cup 1998 được các phóng viên trong môn thể thao này coi là cầu thủ vĩ đại nhất thế giới. Jacob Steinberg của The Guardian viết, "Năm 1998, không ai có tài năng vượt trội như Ronaldo, người có sự kết hợp siêu nhiên giữa sức mạnh, tốc độ và kỹ năng đã khiến anh trở thành cầu thủ mà mọi đứa trẻ trong sân chơi đều mong muốn; ở tuổi 21, hy vọng và ước mơ của một dân tộc đặt trên vai ông." Ronaldo ghi bốn bàn và thực hiện ba pha kiến ​​​​tạo trên đường đến trận chung kết, ghi một bàn và kiến ​​tạo cho Bebeto ghi bàn trong chiến thắng 3–0 trước Maroc trong trận đấu vòng bảng thứ hai của đội, ghi hai bàn trong tỷ số 4 –1 trận thắng Chile ở vòng 16 đội, lập hai bàn thắng trong chiến thắng 3–2 của Brazil trước Đan Mạch ở tứ kết, và ghi một bàn trong trận hòa 1-1 trước Hà Lan ở vòng 16 đội. bán kết, đồng thời thực hiện quả phạt đền đầu tiên cho Brazil trong chiến thắng 4–2 trong loạt luân lưu. Vài giờ trước trận chung kết với Pháp, Ronaldo lên cơn co giật. Lúc đầu, anh bị loại khỏi đội hình xuất phát 72 phút trước trận đấu, và danh sách đội hình (với Edmundo là người thay thế) đã được nộp cho đại biểu FIFA. Đội hình xuất phát không có Ronaldo được giới truyền thông thế giới sửng sốt. John Motson của BBC tuyên bố, "Những cảnh trong hộp bình luận hoàn toàn hỗn loạn và hỗn loạn." Tuy nhiên, ngay trước khi trận đấu bắt đầu, sau khi cầu xin rằng anh ấy cảm thấy ổn và yêu cầu được thi đấu, Ronaldo đã được huấn luyện viên Brazil Mário Zagallo chấp thuận. . Ronaldo là cầu thủ Brazil cuối cùng bước ra khỏi đường hầm khi hai đội bước vào sân. Trong khi hát quốc ca Brazil, máy quay tập trung vào anh ấy xuyên suốt, trong đó Ronaldo thể hiện rất ít cảm xúc. Steinberg cho rằng Ronaldo đã "mộng du" trong trận chung kết, đồng thời chứng kiến ​​anh bị thương trong một pha va chạm với thủ môn người Pháp Fabien Barthez. Zagallo thừa nhận nỗi sợ hãi về Ronaldo đã ảnh hưởng đến tâm lý toàn đội và nói rằng "trong suốt hiệp một, tôi đã tự hỏi liệu có nên cho anh ấy rời sân hay không", nhưng sợ rằng anh ấy sẽ phản đối kịch liệt ở Brazil nếu anh ấy làm như vậy. Brazil thua chủ nhà Pháp với tỷ số 3–0. Ronaldo sau đó phản ánh: "Chúng tôi đã thua World Cup nhưng tôi đã giành được một chiếc cúp khác - cuộc đời của tôi." Một cuộc điều tra đã được tiến hành ở Brazil, với bác sĩ của đội Lídio Toledo nói với ủy ban "hãy tưởng tượng nếu tôi ngăn Ronaldo thi đấu và Brazil thua. Lúc đó tôi sẽ phải đến sống ở Bắc Cực." Adrian Williams, giáo sư của khoa thần kinh lâm sàng tại Đại học Birmingham, nói rằng lẽ ra Ronaldo không nên thi đấu, rằng anh ấy sẽ cảm nhận được hậu quả của cơn động kinh và "không có cách nào để anh ấy có thể thi đấu hết khả năng của mình trong vòng 24 giờ." giờ trong trận đấu đầu tiên của anh ấy – nếu đó là trận đấu đầu tiên của anh ấy." vào đến trận chung kết và kết thúc giải đấu với tư cách là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba. Bản chất của vụ việc đã đặt ra một loạt câu hỏi và cáo buộc kéo dài trong nhiều năm, Alex Bellos viết trên tờ The Guardian: ""Khi mối lo ngại về sức khỏe của Ronaldo được tiết lộ sau trận đấu, những tình huống đặc biệt của tình huống này đã dẫn đến các thuyết âm mưu. Đây là vận động viên thể thao nổi tiếng nhất thế giới, chuẩn bị tham gia trận đấu quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình thì đột nhiên đổ bệnh một cách khó hiểu. Đó có phải là do căng thẳng, động kinh hay anh ấy đã bị đánh thuốc mê?"" Một âm mưu bao vây Nike, công ty đồ thể thao đã tài trợ cho Ronaldo và đội tuyển quốc gia Brazil, khiến một số người ở Brazil tin rằng công ty này đã ép Ronaldo thi đấu. Cuộc điều tra của quốc hội không thể tìm ra bất kỳ âm mưu nào rộng hơn, mặc dù công chúng Brazil vẫn không bị thuyết phục. Báo cáo cho CNN, Don Riddell viết: "Đó là một trong những bí ẩn lớn nhất của thời đại chúng ta: không phải Quái vật hồ Loch Ness, Stonehenge hay Thành phố đã mất của Atlantis; đó là trường hợp của tiền đạo mất tích - không hẳn là một whodunit, mà là một loại chuyện quái gì đã xảy ra thế?" Trước FIFA World Cup 2002, Ronaldo hầu như không thi đấu kể từ khi bị đứt dây chằng chéo ở đầu gối phải vào tháng 4 năm 2000, và anh đã bỏ lỡ toàn bộ chiến dịch vòng loại của Brazil, nơi mà khi vắng mặt anh, đội đã chơi rất tệ. Tim Vickery viết, "Không có Ronaldo, Brazil là một kẻ hỗn loạn, thậm chí may mắn được tham dự giải đấu. Với anh ấy, đó lại là một câu chuyện khác." Trong một sự trở lại đáng chú ý sau chấn thương đã đe dọa sự nghiệp của anh, Ronaldo đã dẫn dắt Brazil đến Kỷ lục của họ là danh hiệu World Cup lần thứ năm, nhận Chiếc giày vàng với tư cách vua phá lưới với 8 bàn thắng. Nhiều ấn phẩm coi chiến thắng của cá nhân ông là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra ở World Cup trước đó. Ronaldo nói về nỗi ám ảnh của anh với việc nâng cao chiếc cúp vô địch World Cup sau khi bị lỡ cơ hội vào năm 1998. “Tôi từng hình dung chiếc cúp ngay trước mắt mình và tưởng tượng cảm giác tuyệt vời như thế nào khi được giơ cao nó lên không trung. cảm giác thực sự tuyệt vời khi cầm nó trong tay và hôn nó." Được mệnh danh là "ba chữ R", Ronaldo đóng vai chính trong một cuộc tấn công đáng gờm cùng với Rivaldo và Ronaldinho, và bộ ba này có tên trong Đội hình toàn sao FIFA World Cup. Ronaldo ghi bàn vào lưới mọi đối thủ trong giải đấu ngoại trừ trận tứ kết với Anh. Người ấn định chiến thắng trong trận bán kết với Thổ Nhĩ Kỳ, với bàn thắng ấn định chiến thắng bằng một pha dứt điểm bằng ngón chân mà không có một chút động tác nhấc lưng nào khi đang chạy – một pha dứt điểm mà anh đã học được khi chơi futsal khi còn trẻ – tiếng còi chung cuộc đã chứng kiến ​​những người hâm mộ đứng sau khung thành treo những chữ cái lớn màu trắng để đánh vần tên của anh ấy, giống như Bảng hiệu Hollywood. Nhiều sự chú ý đổ dồn vào kiểu tóc của anh ấy - trong đó đầu anh ấy được cạo trọc ngoại trừ phần tóc trước - được thực hiện như một sự cố tình đánh lạc hướng nhằm chuyển sự chú ý của giới truyền thông khỏi vết thương ở chân. Anh tiết lộ rằng "khi tôi đến tập luyện với kiểu tóc này, mọi người không còn nói về chấn thương nữa". Trong trận chung kết với Đức tại Yokohama, Nhật Bản, Ronaldo ghi hai bàn trong chiến thắng 2–0 của Brazil và san bằng kỷ lục ghi 12 bàn thắng trong sự nghiệp tại World Cup của Pelé. Ronaldo là cầu thủ đầu tiên tìm đến các cầu thủ Đức để gửi lời chia buồn, trước khi anh được Pelé chúc mừng khi nhận huy chương vô địch World Cup. Gérard Saillant, bác sĩ phẫu thuật người Pháp, người phẫu thuật đầu gối cho Ronaldo, có mặt trong đám đông với tư cách khách mời của anh ấy và phát biểu sau trận đấu; "Điều này mang lại hy vọng cho tất cả những người bị thương, ngay cả những người không phải là vận động viên thể thao, rằng bằng cách chiến đấu, bạn có thể làm được. Anh ấy đã trở lại như xưa; điều đó vô cùng thỏa mãn và tôi rất xúc động." Ronaldo đã nhận được một số giải thưởng cho thành tích của mình, bao gồm Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus cho Sự trở lại của năm và Ngôi sao thể thao thế giới của năm của BBC, và vào tháng 12 năm 2002, anh đã dành tặng giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA lần thứ ba cho đội ngũ y tế. đã giúp anh hồi phục. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2017 với Fox Sports, Ronaldo nói, "Đội bóng xuất sắc nhất mà tôi từng chơi là đội Brazil năm 2002, chúng tôi cảm thấy rằng mình luôn có thể ghi bàn. Đó là một đội không có bất kỳ sự phù phiếm hay cá nhân nào. Tập thể rất quan trọng." Vào ngày 2 tháng 6 năm 2004, Ronaldo ghi một hat-trick từ chấm phạt đền bất thường cho Brazil trước đối thủ truyền kiếp Argentina trong trận đấu vòng loại World Cup 2006, đưa họ đứng đầu bảng. Với 10 bàn sau 15 trận, trong đó có bàn thắng vào lưới Venezuela ở trận cuối cùng để đảm bảo vị trí đầu tiên, Ronaldo là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất Nam Mỹ trong chiến dịch vòng loại của Brazil. Trước giải đấu, nhiều câu hỏi đã được đặt ra về cân nặng và thể lực của anh, nhưng anh được tuyên bố là đủ sức khỏe cho trận mở màn của Brazil với Croatia. Tại World Cup 2006, Ronaldo là một phần của "bộ tứ ma thuật" được công chúng biết đến nhiều cùng với Adriano, Ronaldinho và Kaká. Đội tuyển toàn sao Brazil được tôn vinh là bậc thầy của Joga Bonito, "trận đấu đẹp mắt", được Nike quảng cáo trước giải đấu. Dù Brazil thắng hai trận đầu tiên ở vòng bảng trước Croatia và Australia, Ronaldo liên tục bị chế giễu vì thừa cân và chậm chạp, nhưng huấn luyện viên Carlos Alberto Parreira vẫn giữ anh ở đội hình xuất phát. Với hai bàn thắng vào lưới Nhật Bản ở trận thứ ba, Ronaldo trở thành cầu thủ thứ 20 ghi bàn ở ba kỳ World Cup và cũng cân bằng kỷ lục ghi bàn mọi thời đại ở các trận chung kết World Cup là 14 bàn do Gerd Müller nắm giữ (Ronaldo ghi bàn ở Pháp 98, Hàn Quốc/Nhật Bản 2002 và Đức 2006). Sau đó, anh phá kỷ lục của Müller trong trận đấu ở Vòng 16 đội với Ghana bằng bàn thắng thứ 15 trong sự nghiệp tại World Cup. Với bàn thắng thứ ba trong giải đấu, Ronaldo trở thành cầu thủ thứ hai, sau Jürgen Klinsmann, ghi ít nhất ba bàn ở mỗi kỳ World Cup. Tuy nhiên, Brazil đã bị Pháp hạ gục với tỷ số 1–0 với bàn thắng của tiền đạo Thierry Henry ở tứ kết. Ronaldo được trao Chiếc giày đồng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng thứ ba tại World Cup. Được ghi vào Kỷ lục Guinness Thế giới, Ronaldo nói: "Tôi tự hào về sự nghiệp của mình và những kỷ lục tôi lập được. Nhưng tôi biết rằng một ngày nào đó chúng sẽ bị phá vỡ". trong ba trận chung kết World Cup riêng biệt đã bị phá bởi tiền đạo người Đức Miroslav Klose, người có kỷ lục ghi ít nhất bốn bàn ở mỗi giải trong ba giải đấu, ghi năm bàn ở cả hai trận chung kết năm 2002 và 2006, và bốn bàn ở giải đấu năm 2010. Ronaldo kết thúc với 15 bàn thắng trong 19 trận đấu ở World Cup, trung bình 0,79 bàn mỗi trận. Đồng đội của anh ấy, Kaká phản ánh, "Ronaldo là cầu thủ xuất sắc nhất mà tôi từng chơi cùng. Tôi đã thấy il Fenomeno làm những điều mà chưa ai từng làm." Trận chia tay đội tuyển. Vào tháng 2 năm 2011, có thông báo rằng Ronaldo sẽ có trận đấu cuối cùng cho Brazil, trận giao hữu với Romania ở São Paulo vào ngày 7 tháng 6 năm 2011, 5 năm sau trận đấu cuối cùng của anh với đội tuyển quốc gia. Quan chức Liên đoàn bóng đá Brazil Ricardo Teixeira nói rằng thật phù hợp khi trận đấu cuối cùng của anh diễn ra ở Brazil với tư cách đại diện cho quốc gia của anh. Ronaldo chơi 15 phút trong một trận đấu kết thúc với chiến thắng của Brazil nhờ bàn thắng của Fred. Fred ăn mừng bàn thắng bằng màn ăn mừng 'vẫy ngón tay' nổi tiếng của Ronaldo cùng các đồng đội người Brazil. Ronaldo được tung vào sân ở phút thứ 30, đá cặp với cầu thủ 19 tuổi Neymar trên hàng công, và có ba cú sút trúng đích nhưng bị thủ môn Romania Ciprian Tătărușanu cản phá. Sau khi hiệp một kết thúc, Ronaldo có bài phát biểu chia tay khán giả. Với 62 bàn thắng cho Brazil, Ronaldo giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế với tư cách là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai cho đất nước anh ấy, chỉ sau Pelé (Neymar đã vượt qua Pelé, với Ronaldo là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba tính đến tháng 9 năm 2023). Trận đấu từ thiện. Vào ngày 13 tháng 12 năm 2011, Ronaldo và Zinedine Zidane đã chơi một trận đấu từ thiện với bạn bè của họ với các cầu thủ cũ và hiện tại của đội tuyển Đức Hamburg trong phiên bản thứ chín của loạt trận Match Against Poverty mà Ronaldo và Zidane thành lập năm 2003. Vào tháng 12 năm 2012, Ronaldo và Zidane tái hợp trong trận đấu chống nghèo đói ở Porto Alegre, Bồ Đào Nha, trên sân đầy những nhà vô địch World Cup đến từ Pháp và Brazil, nơi cũng chứng kiến ​​ngôi sao World Cup 1982 Zico (thần tượng thời thơ ấu của Ronaldo) ra sân cho đội của Ronaldo. . Vào tháng 1 năm 2013, Ronaldo được vinh danh là một trong sáu đại sứ của FIFA World Cup 2014 tại Brazil. Ronaldo được chọn làm đại sứ thiện chí cho Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) vào năm 2000 vì anh có sức hấp dẫn toàn cầu cao nhất trong giới thể thao và anh ấy đã chấp nhận vai trò này vì anh ấy coi đó là "nghĩa vụ" để giúp đỡ các hoạt động trên toàn thế giới. Ronaldo đã chơi trong trận đấu chống đói nghèo lần thứ 11 của UNDP vào ngày 4 tháng 3 năm 2014 với Zidane XI ở Bern, Thụy Sĩ, với số tiền thu được quyên góp để giúp đỡ các nỗ lực phục hồi ở Philippines sau cơn bão Haiyan. Cùng với Didier Drogba trên hàng công, Ronaldo đã lập hat-trick trong trận đấu năm sau vào ngày 21 tháng 4 năm 2015 tại St Etienne, Pháp, số tiền thu được sẽ được chuyển tới các quốc gia châu Phi bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Ebola. Vào ngày 14 tháng 6 năm 2018, Ronaldo góp mặt tại lễ khai mạc FIFA World Cup 2018 được tổ chức tại Sân vận động Luzhniki ở Moscow, Nga. Anh ấy bước ra ngoài cùng một đứa trẻ mặc áo tuyển Nga 2018 ở phần đầu và trở lại vào cuối buổi lễ với quả bóng chính thức của World Cup 2018 – Adidas Telstar 18 – được đưa vào vũ trụ cùng phi hành đoàn Trạm vũ trụ quốc tế vào tháng 3 và quay trở lại Trái đất vào đầu tháng 6. Hồ sơ cầu thủ. Phong cách chơi bóng và di sản. Ronaldo được coi là một trong những tiền đạo vĩ đại nhất và hoàn thiện nhất mọi thời đại. Có biệt danh là Il (hoặc O) Fenomeno (hiện tượng),"anh ấy là một tay săn bàn cừ khôi, và mặc dù thiên về tấn công theo chủ nghĩa cá nhân hơn, anh ấy cũng có khả năng cung cấp các đường kiến ​​​​tạo cho đồng đội nhờ tầm nhìn, khả năng chuyền bóng và tạt bóng của mình". . Anh là một cầu thủ cực kỳ mạnh mẽ, nhanh nhẹn và kỹ thuật, có khả năng di chuyển xuất sắc cũng như là một người dứt điểm điềm tĩnh. Được đánh giá cao về khả năng kỹ thuật, Ronaldo có thể sử dụng cả hai chân dù thuận chân phải và được coi là một trong những cầu thủ rê bóng khéo léo nhất trò chơi. Ronaldo cũng sẽ hoạt động bên ngoài vòng cấm trước khi chạy với bóng về phía khung thành, với Rob Smyth viết, "anh ấy chơi như thể mọi cuộc tấn công đều có thời hạn 10 giây.. anh ấy sẽ bùng nổ mà không có cảnh báo nào cho hậu vệ." Anh thường xuyên đánh bại nhiều cầu thủ khi rê bóng ở tốc độ, và xuất sắc trong các tình huống một đối một, nhờ khả năng kiểm soát bóng, tăng tốc, nhanh nhẹn, giữ thăng bằng và động tác chân nhanh nhẹn ở thời kỳ sơ khai. Huấn luyện viên của anh ấy tại Barcelona, ​​​​Bobby Robson, nhận xét: "Ronaldo có thể xuất phát từ nửa đường và toàn bộ sân vận động sẽ bốc cháy. Anh ấy là người chạy với bóng nhanh nhất mà tôi từng thấy. Nếu anh ấy không bị chấn thương, anh ấy sẽ có mọi cơ hội để trở thành cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất từ ​​​​trước đến nay." Trong các tình huống một chọi một, Ronaldo thường sử dụng những chiêu thức tinh vi để lừa và đánh bại các hậu vệ và thủ môn; ông đã phổ biến việc sử dụng nhiều thủ thuật bóng đá như đàn hồi và bước qua. Sid Lowe của Sports Illustrated đã viết, "Khi anh ấy đối đầu với thủ môn, bạn biết rằng anh ấy sẽ ghi bàn. Anh ấy rất tự nhiên, rất ngầu, hoàn toàn kiểm soát được. Anh ấy sẽ nhún vai, bước tới và đập! " “Có hai Ronaldo: người trở lại sau chấn thương dài hạn vào năm 2002 là một tay săn bàn xuất sắc, nhưng phiên bản những năm 1990 thì mọi thứ đều tuyệt vời. Ở thời kỳ đỉnh cao đáng sợ của anh ấy cho PSV, Barcelona và Inter Milan, anh ấy được cho là tiền đạo nguy hiểm nhất thế giới.” thế giới từng thấy." —Rob Smyth, tờ báo The Guardians. Đồng đội ở Barcelona của anh ấy, Óscar García, nhận xét: "Tôi chưa bao giờ thấy ai chơi bóng với khả năng kỹ thuật, sự sáng tạo và độ chính xác cao như vậy với tốc độ đáng kinh ngạc đó. Điều khiến tất cả chúng tôi nổi bật, kể từ thời điểm chúng tôi gặp Ronnie, là anh ấy có thể làm được nhiều điều." điều mà các cầu thủ khác thấy rất khó khăn và khiến chúng trông có vẻ dễ dàng. Nhưng anh ấy cũng có thể tạo ra những điều đó khi chạy với tốc độ bùng nổ không thể tin được. " Với sự kết hợp giữa tốc độ, kỹ năng và dứt điểm, Ronaldinho đã gọi Ronaldo là "tiền đạo hoàn thiện nhất ở đó". đã từng như vậy", quan điểm được lặp lại bởi Zlatan Ibrahimović, người đã nói, "với tư cách là một cầu thủ bóng đá, anh ấy đã hoàn thiện. Theo quan điểm của tôi, sẽ không bao giờ có cầu thủ nào giỏi hơn anh ấy." Thần tượng ghi bàn của Lionel Messi người Argentina nói rằng "Ronaldo là tiền đạo xuất sắc nhất mà tôi từng thấy. Anh ấy nhanh đến mức có thể ghi bàn từ con số không." Muốn bắt chước Ronaldo khi lớn lên, tiền đạo Mohamed Salah của Ai Cập và Liverpool đã phát biểu, "Khả năng, sự tốc độ, trí thông minh, anh ấy có tất cả mọi thứ". Gọi Ronaldo là nguồn cảm hứng, Wayne Rooney nói, "với tư cách là một tiền đạo xuất sắc, anh ấy có lẽ là người giỏi nhất." Ảnh hưởng nổi bật đối với một thế hệ tiền đạo, từ Karim Benzema đến Sergio Agüero, với Romelu Lukaku nói rằng " anh ấy đã thay đổi chiều hướng của một tiền đạo" và có thể "rê bóng như một cầu thủ chạy cánh, chạy như một vận động viên chạy nước rút", Zlatan nói thêm, "không ai có ảnh hưởng đến bóng đá và các cầu thủ nổi lên nhiều như Ronaldo". ""Ronaldo, như rất nhiều người ngưỡng mộ anh thừa nhận, đã thay đổi định nghĩa của một tiền đạo cắm. Mỗi khi bạn nhìn thấy một tiền đạo được kỳ vọng sẽ cầm bóng, đánh bại cầu thủ, đánh đầu, sút từ xa, lùi sâu, làm mọi thứ mà một tiền đạo có thể làm - bạn có thể nên nhớ đến anh ấy. Anh ấy thay đổi ranh giới, thách thức các quy ước, giống như Messi và Cristiano Ronaldo đã thay đổi nhận thức của chúng ta về một cầu thủ chạy cánh. Ronaldo, Ronaldo nguyên bản, đã truyền cảm hứng cho một nhóm người bắt chước, những cầu thủ mà chúng ta thấy trên màn hình mỗi cuối tuần. Nhưng anh ấy cũng đã xoay chuyển trò chơi để nó luôn giống anh ấy một chút. Hơn hết, anh ấy đã biến số 9 đó thành của riêng mình."" "— Rory Smith viết cho ESPN về việc Ronaldo thay đổi lối chơi của các tiền đạo, tháng 3 năm 2016." Emilio Butragueño nói, "Ronaldo tạo ra một cơ hội ghi bàn ở nơi nó không tồn tại. Hầu hết các tiền đạo đều cần các tiền vệ và đồng đội của họ, nhưng anh ấy thì không."Về tốc độ suy nghĩ của mình, Kaká nói "Đối với tôi, những cầu thủ giỏi nhất là những người có thể nghĩ ra một lối chơi và thực hiện nó nhanh nhất và theo cách tốt nhất có thể, và Ronaldo là người giỏi nhất ở khoản đó. Tốc độ suy nghĩ mà anh ấy có - và tốc độ anh ấy phải thực hiện các hành động của mình - là hoàn hảo." Ronaldo cũng là một cầu thủ khỏe khoắn và mạnh mẽ, có thể che chắn bóng khỏi đối phương, giống như cựu hậu vệ người Ý Alessandro Nesta (người đã đối mặt với Ronaldo trong trận đấu tay đôi đỉnh cao ở trận chung kết UEFA Cup 1998 được coi là " kẻ tấn công xuất sắc nhất chống lại hậu vệ xuất sắc nhất Serie A") nói: "Đó là trải nghiệm tồi tệ nhất trong sự nghiệp của tôi. Ronaldo là kẻ tấn công khó khăn nhất mà tôi từng phải đối mặt." Khi được hỏi ai là đối thủ khó khăn nhất trong sự nghiệp của anh ấy Fabio Cannavaro trả lời: "Tôi không nghi ngờ gì nữa, Ronaldo, hiện tượng này. Đối với thế hệ của tôi, anh ấy giống như Maradona hay Pelé đối với những thế hệ trước. Anh ấy thật không thể chê vào đâu được." Sid Lowe so sánh khả năng của Ronaldo trong việc hạ gục nhiều đối thủ chỉ trong một đường chạy với những gì cầu thủ bóng bầu dục Jonah Lomu đã làm trong cùng thời đại. Về ảnh hưởng của Ronaldo đối với sự phát triển của trung phong. Ở vai trò tiền đạo, cựu tiền đạo người Pháp Thierry Henry nói: "Anh ấy đã làm những điều chưa ai từng thấy trước đây. Anh cùng với Romário và George Weah đã tái tạo lại vị trí trung vệ. Họ là những người đầu tiên lao ra khỏi vòng cấm để nhặt bóng ở giữa sân, di chuyển sang hai bên cánh, thu hút và làm mất phương hướng của các trung vệ bằng những pha chạy chỗ, tăng tốc và rê bóng." So sánh khả năng bẩm sinh của anh với Roger Federer, Paul MacDonald của Goal viết, "thật vui khi được chứng kiến ​​một điều gì đó mà chúng ta biết là cực kỳ khó được thực hiện một cách dễ dàng đáng kể. Ronaldo thời kỳ đỉnh cao đã có thể làm điều đó tốt hơn bất kỳ ai từng thi đấu." trận đấu."Việc phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh vượt trội của anh ấy được cho là lý do khiến khả năng tập luyện của anh ấy thường không cao bằng các đồng đội - mặc dù vấn đề về đầu gối của anh ấy cũng có thể là một yếu tố - với đồng đội Brazil Emerson nói rằng "Ronaldo cảm thấy anh ấy không cần phải làm việc chăm chỉ như chúng tôi, rằng anh ấy có thể làm trong hai ngày những gì mà chúng tôi phải mất mười ngày để làm. Và thông thường, anh ấy đã đúng". Về tài năng sớm phát triển của anh ấy - tài năng giúp anh ấy trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA ở tuổi 20 và người nhận Quả bóng vàng trẻ nhất ở tuổi 21 - Rob Smyth của The Guardian đã viết vào năm 2016, "Ronaldo dễ dàng là cầu thủ xuất sắc nhất trong số các cầu thủ xuất sắc nhất thế giới." Có thể là 30 năm qua. Ronaldo và Messi còn lại đều là những thanh thiếu niên xuất sắc nhưng không có tác động tương tự ở độ tuổi đó. Chỉ Pelé, Diego Maradona và George Best thực sự có thể so sánh được." Trong cuộc đời, José Mourinho cho biết: "Ronaldo, El Fenomeno. Cristiano Ronaldo và Leo Messi đã có sự nghiệp lâu dài hơn. Họ vẫn đứng đầu hàng ngày trong 15 năm. Tuy nhiên, nếu chúng ta nói một cách nghiêm túc về tài năng và kỹ năng thì không ai có thể vượt qua Ronaldo." " Mikaël Silvestre nói, "Tôi đã thi đấu với Lionel Messi và tôi đã chơi với Cristiano ở Manchester United, nhưng anh ấy [Ronaldo] là một thứ khác về tốc độ. Cristiano, có lẽ bạn có thể đoán rằng anh ấy có ba hoặc bốn tốc độ những thủ thuật mà anh ấy sẽ sử dụng hầu hết thời gian, nhưng Ronaldo, nó luôn là một điều gì đó khác biệt. Anh ấy phát minh ra mọi thứ ngay tại chỗ, vì vậy bạn không thể hướng dẫn anh ấy trái hay phải bởi vì anh ấy sẽ thoát khỏi những tình huống này, bất kể thế nào đi nữa". Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng. , đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football xuất bản. Ở thời kỳ đỉnh cao về thể chất vào những năm 1990, Ronaldo bị ảnh hưởng nặng nề bởi chấn thương đầu gối mà anh phải chịu từ cuối năm 1999 trở đi và việc tăng cân sau đó trong thời gian không hoạt động, khiến tốc độ, thể lực và khả năng di chuyển của anh bị hạn chế. Theo nhà vật lý trị liệu Nilton Petrone, Ronaldo rất dễ bị chấn thương do tình trạng sức khỏe kết hợp với hoạt động chạy bùng nổ của anh ấy. "Ronaldo mắc chứng loạn sản xương bánh chè. Điều này khiến mối quan hệ giữa xương bánh chè và xương đùi có phần không ổn định. Không có phẫu thuật trực tiếp nào cho vấn đề đó nên xương bánh chè vẫn giữ nguyên, thiếu một từ hay hơn, "nhảy múa" trên xương đùi. Ronaldo bị chấn thương không phải do cơ thể yếu ớt mà do khả năng bùng nổ, không chỉ chạy nhanh trên một đường thẳng mà còn đổi hướng với tốc độ đáng kinh ngạc. Ronaldo di chuyển từ trái sang phải rất , qua cách anh ấy thi đấu, chấn thương luôn có thể xảy ra". Thừa nhận "anh ấy không bao giờ hoàn toàn giống như trước" sau chấn thương đầu gối vào năm 2000, với "tốc độ và sức mạnh tàn bạo của anh ấy giảm đi so với The Phenomenon" vào những năm 1990, tạp chí FourFourTwo đã xếp anh ấy là cầu thủ xuất sắc nhất tại World Cup 2002, đồng thời nói thêm " anh ấy vẫn vượt trội so với phần còn lại" trong giải đấu. Biệt danh "người ngoài hành tinh Ronaldo" được cả thế giới gọi bắt đầu từ năm 1996 khi anh thi đấu cho Câu lạc bộ Bacelona. Trong đội tuyển Brasil, anh và Romário hợp thành bộ đôi tiền đạo rất ăn ý, được báo giới gọi là "bộ đôi Ro - Ro". Bộ đôi Ro - Ro trong năm 1997 từng là nỗi khiếp sợ đối với những hàng phòng thủ, thế nhưng từ năm 1998 Romário không được chơi nhiều cho tuyển vàng - xanh, cái danh hiệu này không còn được nhắc tới. Từ World Cup 1998 trở đi, đội tuyển Brasil nổi lên một danh hiệu khác, dùng để chỉ Ronaldo và những cái tên quan trọng khác cùng bắt đầu bằng chữ R, đó là cụm từ "Bộ 3R" là của Ronaldo, Rivaldo và Roberto Carlos, 3 người đều được bầu vào đội hình xuất sắc nhất World Cup năm đó. Năm 2002, bộ 3R là Ronaldo, Rivaldo và Ronaldinho, tiếp tục có mặt trong đội hình xuất sắc của World Cup. Đến World Cup 2006, Rivaldo không đá và Robinho trở thành một trong bộ 3R. Cụm từ "bộ 3R" nổi tiếng với tuyển vàng - xanh trong một thời gian dài, nó nói lên phần nào sự ổn định về phong độ và vai trò của Ronaldo, khi anh luôn được coi là trụ cột của đội bóng trong 3 kỳ World Cup và 12 năm lịch sử. 1 bao gồm 18 trận và 22 bàn thắng tại giải Campeonato Mineiro 1994. 2 bao gồm 10 trận và 8 bàn thắng tại giải Campeonato Paulista 2009. 3 bao gồm 9 trận và 3 bàn thắng tại giải Campeonato Paulista 2010. 4 bao gồm 2 trận tại giải Campeonato Paulista 2011. Hoạt động xã hội. Tuy nổi tiếng khắp thế giới nhưng Ronaldo không tham gia nhiều hoạt động xã hội. Hoạt động ý nghĩa nhất của anh có thể kể đến việc là "đại sứ thiện chí" trong Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc năm 2000 và tổ chức một chương trình từ thiện cho Israel và vùng Bờ Tây. Ngoài ra anh cũng đóng góp nhiều tiền vào quỹ cứu tế trẻ em 2 nước Palestine và Israel. Năm 1997, Ronaldo gặp người mẫu kiêm diễn viên người Brazil Susana Werner trên trường quay telenovela Malhação của Brazil khi họ đóng cùng nhau trong ba tập phim. Mặc dù chưa bao giờ kết hôn nhưng họ đã bắt đầu mối quan hệ lâu dài và sống cùng nhau ở Milan cho đến đầu năm 1999. Vào tháng 12 năm 1999, Ronaldo kết hôn với cầu thủ bóng đá người Brazil Milene Domingues, lúc đó cô đang mang thai đứa con trai đầu lòng của cặp đôi, Ronald, sinh ra ở Milan, vào ngày 6 tháng 4 năm 2000. Cuộc hôn nhân kéo dài bốn năm. Năm 2005, Ronaldo đính hôn với người mẫu Brazil và VJ MTV Daniela Cicarelli, người đã mang thai nhưng bị sảy thai; mối quan hệ chỉ kéo dài ba tháng sau đám cưới sang trọng của họ tại Château de Chantilly. Buổi lễ được cho là có chi phí £700.000 (€896.000). Bất chấp sự nổi tiếng của anh - một cuộc thăm dò năm 2003 của Nike đã liệt kê anh ấy là vận động viên thể thao nổi tiếng nhất thế giới (và là người nổi tiếng thứ ba nói chung) - Ronaldo luôn bảo vệ quyền riêng tư của mình, kể cả với các đồng đội, nói trong một cuộc phỏng vấn với The Telegraph, "mỗi [cầu thủ] đều có cuộc sống riêng tư của anh ấy, và không ai nghĩ về cuộc sống riêng tư của người khác. Hay nói về nó." Đến năm 2003, anh ấy thông thạo tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ý, đồng thời hiểu rõ tiếng Anh. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2005 với Folha de S.Paulo, Ronaldo tiết lộ rằng, hơi bất ngờ, anh xác định mình thuộc chủng tộc da trắng, tạo ra một cuộc trò chuyện rộng rãi hơn về vai trò phức tạp của chủng tộc ở Brazil. Cha của Ronaldo, Nelio Nazario, nói: "Anh ấy biết rõ mình là người da đen. Thực ra, vào thời điểm đó, tôi nghĩ đó là một triết lý nào đó, một điều gì đó có tác dụng như vậy. Bởi vì anh ấy biết mình là người da đen." bởi nhà di truyền học Sérgio Pena thuộc Viện Địa lý và Thống kê Brazil, hầu hết người Brazil thường có quan niệm sai lầm về nguồn gốc của họ. "Tổ tiên mẹ của người da trắng Brazil là một phần ba người châu Phi, một phần ba người Mỹ bản địa và một phần ba người châu Âu. Một cá nhân tự coi mình là người da trắng có thể có nhiều gốc Phi hơn về mặt di truyền so với một cá nhân tự coi mình là da nâu hoặc da đen." Vào tháng 4 năm 2008, Ronaldo vướng vào một vụ bê bối liên quan đến ba gái mại dâm mà anh gặp trong một hộp đêm ở Rio de Janeiro. Ronaldo tuyên bố rằng khi phát hiện ra họ là nam giới hợp pháp, anh đã đề nghị cho họ 600 USD để rời đi. Một trong ba người đã cố gắng tống tiền Ronaldo, trong khi hai người còn lại thừa nhận đã nói dối về việc quan hệ tình dục với anh ấy. Lễ đính hôn của Ronaldo với Maria Beatriz Antony ngay lập tức bị tạm dừng, nhưng lại tiếp tục ngay sau đó và họ kết hôn cùng năm. Maria Beatriz Antony sinh con gái đầu lòng, đặt tên là Maria Sophia, ở Rio de Janeiro, vào ngày 24 tháng 12 năm 2008. Vào tháng 4 năm 2009, gia đình chuyển đến một căn hộ penthouse mới ở São Paulo. Vào ngày 6 tháng 4 năm 2010, Maria Beatriz Antony sinh con gái thứ hai. Cô gái sinh ra ở São Paulo, tên là Maria Alice, và được sinh ra đúng 10 năm sau anh trai cô là Ronald. Vào tháng 12 năm 2010, Ronaldo và gia đình chuyển đến một biệt thự mới ở São Paulo. Cũng trong tháng 12, Ronaldo đã làm xét nghiệm quan hệ cha con và được xác nhận là cha của một cậu bé tên Alexander, sinh vào tháng 4 năm 2005. Cậu bé chào đời sau mối quan hệ ngắn ngủi giữa Ronaldo và Michele Umezu, một cô hầu bàn người Brazil mà Ronaldo gặp lần đầu ở Tokyo. vào năm 2002. Sau khi xác nhận đứa con thứ tư, Ronaldo tuyên bố vào ngày 6 tháng 12 năm 2010 rằng anh đã thắt ống dẫn tinh, cảm thấy rằng có bốn đứa con là đủ. Ronaldo và Maria Beatriz Antony ly hôn vào năm 2012. Trong cuộc phỏng vấn năm 2011 với BBC, đồng đội cũ ở Real Madrid, Steve McManaman đã nói về tính cách của Ronaldo. "Anh ấy có thể vào một nhà hàng, và tôi có thể vào cùng anh ấy, và bạn không chỉ ở đó với những người bạn thân. Anh ấy mời tất cả mọi người. Bạn ngồi cùng bàn với anh ấy và sẽ có một thẩm phán ngồi đối diện nói chuyện." cho một chính trị gia có người ngoài đường đang lắng nghe. Vì vậy, anh ấy có một bầu không khí tuyệt vời, nơi mọi người đều muốn tham gia cùng anh ấy. Đôi khi có 20 đến 30 người ngồi trong bữa ăn với anh ấy. Anh ấy là một người tuyệt vời. Mọi người đều như vậy. thứ hai là, bất kể anh ấy chơi cho câu lạc bộ nào." Ronaldo là đồng sở hữu của Đội A1 Brazil, cùng với cựu tay đua F1 Emerson Fittipaldi. Ronaldo đồng sở hữu công ty tiếp thị thể thao 9INE, cùng với bạn của anh, võ sĩ tổng hợp Anderson Silva, một trong những khách hàng của anh. Là một tay chơi poker giỏi, vào tháng 4 năm 2013, Ronaldo đã trở thành thành viên của PokerStars SportStar, và vào năm 2014, anh đã chơi một giải đấu poker từ thiện với ngôi sao quần vợt Rafael Nadal. Vào ngày 11 tháng 12 năm 2014, Ronaldo trở thành chủ sở hữu thiểu số của Fort Lauderdale Strikers của Giải bóng đá Bắc Mỹ. Năm 2015, Ronaldo đã mở tám chi nhánh mới của trường bóng đá trẻ của mình – Học viện Ronaldo – tại Trung Quốc, Mỹ và Brazil, với 100 chi nhánh dự kiến ​​sẽ được mở trên toàn thế giới vào năm 2020. Năm 2017, con trai của Ronaldo, Ronald, được chọn vào đội bóng đá trẻ đại diện cho Brazil tại Maccabiah Games 2017. Maccabiah được mô tả là "Thế vận hội của người Do Thái"; Ronald không phải là người Do Thái, nhưng một số quốc gia tham gia có những quy định thoải mái hơn về tư cách hợp lệ và Ronald là thành viên của một câu lạc bộ bóng đá Do Thái. Vào tháng 1 năm 2023, Ronaldo tuyên bố đính hôn lần thứ năm với người mẫu và nữ doanh nhân Celina Locks. "Ronaldo ở cùng đẳng cấp với Pele và Maradona. Tôi cũng cho rằng anh ấy là tiền đạo xuất chúng nhất trong lịch sử bóng đá. Messi đã đạt tới mức vĩ đại nhưng đối với tôi, sau Maradona và Pele chính là Ronaldo.." Cristiano Ronaldo dos Santos Aveiro GOIH ComM (phát âm tiếng Bồ Đào Nha: [kɾiʃˈtjɐnu ʁɔˈnaldu]; sinh ngày 5 tháng 2 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Bồ Đào Nha hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo và là đội trưởng của câu lạc bộ Saudi Pro League Al Nassr và đội tuyển bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha. Được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại, Ronaldo là chủ nhân của 5 Quả bóng vàng và 4 Chiếc giày vàng châu Âu. Anh đã giành được 33 danh hiệu trong sự nghiệp của mình, bao gồm 7 chức vô địch quốc gia, 5 UEFA Champions League, 1 UEFA European Championship và 1 UEFA Nations League. Ronaldo nắm giữ kỷ lục có số lần ra sân nhiều nhất (183), nhiều bàn thắng nhất (140) và nhiều pha kiến tạo nhất (42) ở Champions League, nhiều bàn thắng nhất ở giải vô địch châu Âu (14), nhiều bàn thắng quốc tế nhất (123) và có số lần ra sân quốc tế nhiều nhất (201). Anh là một trong số ít những cầu thủ đã có hơn 1.100 lần ra sân và đã ghi hơn 800 bàn thắng chính thức trong sự nghiệp cho câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia, giúp anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp của mình trong màu áo Sporting CP, trước khi ký hợp đồng với Manchester United vào năm 2003, giành FA Cup trong mùa giải đầu tiên. Anh sau đó liên tiếp giành được ba chức vô địch Premier League, Champions League và FIFA Club World Cup; ở tuổi 23, anh đã giành được Quả bóng vàng đầu tiên. Ronaldo là thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất thế giới bóng đá thời điểm đó khi anh ký hợp đồng với Real Madrid vào năm 2009 với giá trị chuyển nhượng 94 triệu euro (80 triệu bảng). Anh đóng vai trò quan trọng và tạo thành bộ ba tấn công cùng Karim Benzema và Gareth Bale, giúp Real giành bốn chức vô địch Champions League từ 2014 đến 2018, bao gồm cả La Décima. Trong khoảng thời gian này, Ronaldo đã liên tiếp giành Quả bóng vàng vào các năm 2013 và 2014, một lần nữa vào các năm 2016 và 2017, đồng thời ba lần về nhì sau Lionel Messi, đối thủ được coi là lớn nhất trong sự nghiệp của mình. Anh cũng trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại của câu lạc bộ và cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại ở đấu trường Champions League, đồng thời còn là vua phá lưới của giải đấu này trong sáu mùa giải liên tiếp từ 2012 đến 2018. Cùng với Real, Ronaldo đã giành được hai chức vô địch La Liga, hai Copa del Rey, bốn Champions League, ba Siêu cúp UEFA và ba Club World Cup. Năm 2018, anh ký hợp đồng với Juventus với giá trị chuyển nhượng ban đầu là 100 triệu euro (88 triệu bảng Anh), thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất cho một câu lạc bộ Ý và cho một cầu thủ trên 30 tuổi. Anh đã giành được hai chức vô địch Serie A, hai Supercoppa Italiana và một Coppa Italia, trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất Serie A và là cầu thủ bóng đá đầu tiên kết thúc mùa giải với tư cách Vua phá lưới ở các giải vô địch quốc gia Anh, Tây Ban Nha và Ý. Anh trở lại Manchester United vào năm 2021, hoàn thành mùa giải đầu tiên duy nhất của mình với tư cách là cầu thủ ghi bàn hàng đầu của câu lạc bộ, trước khi anh bị chấm dứt hợp đồng vào năm 2022. Năm 2023, Ronaldo ký hợp đồng với Al Nassr. Ronaldo đã có trận ra mắt cho đội tuyển quốc gia Bồ Đào Nha vào năm 2003 ở tuổi 18 và kể từ đó đến nay đã có 200 lần ra sân, anh trở thành cầu thủ khoác áo đội tuyển Bồ Đào Nha nhiều nhất. Với hơn 100 bàn thắng ở cấp độ quốc tế, anh cũng là tay săn bàn số một mọi thời đại của đất nước quê hương mình. Ronaldo đã góp mặt và lập công tại 11 giải đấu lớn; anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên của mình tại Euro 2004, nơi anh đã giúp Bồ Đào Nha lọt vào trận chung kết. Anh đảm nhận băng đội trưởng của đội tuyển quốc gia vào tháng 7 năm 2008. Năm 2015, Ronaldo được Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha bầu chọn là cầu thủ Bồ Đào Nha xuất sắc nhất mọi thời đại. Năm sau đó, anh đã dẫn dắt Bồ Đào Nha lên ngôi vô địch giải đấu lớn đầu tiên của họ tại Euro 2016, và nhận Chiếc giày bạc với tư cách cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai của giải. Anh cũng dẫn dắt họ giành chức vô địch UEFA Nations League vào năm 2019, và sau đó nhận Chiếc giày vàng với tư cách Vua phá lưới Euro 2020. Là một trong những vận động viên nổi tiếng và được tiếp thị nhiều nhất thế giới, Ronaldo được Forbes xếp là vận động viên được trả lương cao nhất thế giới vào năm 2016 và 2017 và là vận động viên nổi tiếng nhất thế giới bởi ESPN từ năm 2016 đến năm 2019. Đồng thời, Time xếp anh vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới năm 2014. Ronaldo là cầu thủ bóng đá đầu tiên, cũng như vận động viên thể thao thứ ba, kiếm được 1 tỷ đô la trong suốt sự nghiệp. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Ronaldo Luís Nazário de Lima (tiếng Bồ Đào Nha Brazil: [ʁoˈnawdu ˈlwiz nɐˈzaɾju dʒi ˈlimɐ]; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1976),[2] hay còn gọi là Ronaldo hay Ronaldo Nazário, là một chủ doanh nghiệp người Brazil và là chủ tịch câu lạc bộ Segunda Division Real Valladolid, chủ sở hữu của Brasileiro. Câu lạc bộ Série A Cruzeiro, và một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng chơi ở vị trí tiền đạo. Với biệt danh O Fenômeno ("Hiện tượng") và R9, anh được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Là một tiền đạo đa năng, mang đến một chiều hướng mới cho vị trí này, Ronaldo đã là người có ảnh hưởng đến thế hệ tiền đạo sau này. Các giải thưởng cá nhân của anh bao gồm ba lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA và giành được hai giải Ballon d'Or. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp của mình tại Cruzeiro và chuyển đến PSV vào năm 1994. Anh gia nhập Barcelona vào năm 1996 với mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới khi đó và ở tuổi 20, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1996 của FIFA, khiến anh trở thành cầu thủ trẻ nhất nhận được danh hiệu này. phần thưởng. Năm 1997, Inter Milan phá kỷ lục thế giới để ký hợp đồng với Ronaldo, khiến anh trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Diego Maradona hai lần phá kỷ lục chuyển nhượng thế giới. Ở tuổi 21, anh nhận Quả bóng Vàng năm 1997 và vẫn là người trẻ nhất nhận được giải thưởng này. Ở tuổi 23, Ronaldo đã ghi hơn 200 bàn thắng cho CLB và ĐTQG. Tuy nhiên, sau một loạt chấn thương đầu gối và quá trình hồi phục, anh đã phải nghỉ thi đấu gần 3 năm. Ronaldo gia nhập Real Madrid vào năm 2002 và giành chức vô địch La Liga 2002–03. Anh ấy đã thi đấu cho AC Milan và Corinthians trước khi giải nghệ vào năm 2011 sau khi dính thêm chấn thương. Ronaldo đã chơi cho Brazil 98 trận, ghi 62 bàn và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ ba cho đội tuyển quốc gia. Ở tuổi 17, anh là thành viên trẻ nhất của đội tuyển Brazil vô địch FIFA World Cup 1994. Tại FIFA World Cup 1998, Ronaldo đã nhận được Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu sau khi giúp Brazil lọt vào trận chung kết, nơi anh bị co giật vài giờ trước khi trận đấu bắt đầu. Anh ấy đã vô địch FIFA World Cup 2002, đá chính trong bộ ba tiền đạo với Ronaldinho và Rivaldo. Ronaldo lập cú đúp trong trận chung kết và nhận Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu. Thành tích này, được coi là "sự chuộc lỗi" cho những gì đã xảy ra tại World Cup trước đó, giúp Ronaldo được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2002 của FIFA, nhận Quả bóng vàng 2002, và nhờ sự trở lại sau chấn thương, anh đã giành được Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus. cho sự trở lại của năm. Tại FIFA World Cup 2006, Ronaldo đã ghi bàn thắng thứ 15 tại World Cup, một kỷ lục của giải đấu vào thời điểm đó. Anh cũng vô địch Copa América 1997, nơi anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu và Copa América 1999, nơi anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Ronaldo là một trong những vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất thế giới trong sự nghiệp thi đấu của mình. Anh có tên trong danh sách FIFA 100 gồm những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé biên soạn năm 2004 và được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng của Bảo tàng Bóng đá Brazil, Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Ý, Đại sảnh Danh vọng của Inter Milan và Đại sảnh Danh vọng của Real Madrid. Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football công bố. Ronaldo tiếp tục công việc Đại sứ thiện chí của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, vị trí mà anh được bổ nhiệm vào năm 2000. Ronaldo trở thành chủ sở hữu đa số của Real Valladolid vào tháng 9 năm 2018, sau khi mua 51% cổ phần của câu lạc bộ. Vào tháng 12 năm 2021, anh mua cổ phần kiểm soát câu lạc bộ thời thơ ấu Cruzeiro, đầu tư 70 triệu đô la vào câu lạc bộ. Cristiano Ronaldo dos Santos Aveiro GOIH ComM (phát âm tiếng Bồ Đào Nha: [kɾiʃˈtjɐnu ʁɔˈnaldu]; sinh ngày 5 tháng 2 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Bồ Đào Nha hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo và là đội trưởng của câu lạc bộ Saudi Pro League Al Nassr và đội tuyển bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha. Được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại, Ronaldo là chủ nhân của 5 Quả bóng vàng và 4 Chiếc giày vàng châu Âu. Anh đã giành được 33 danh hiệu trong sự nghiệp của mình, bao gồm 7 chức vô địch quốc gia, 5 UEFA Champions League, 1 UEFA European Championship và 1 UEFA Nations League. Ronaldo nắm giữ kỷ lục có số lần ra sân nhiều nhất (183), nhiều bàn thắng nhất (140) và nhiều pha kiến tạo nhất (42) ở Champions League, nhiều bàn thắng nhất ở giải vô địch châu Âu (14), nhiều bàn thắng quốc tế nhất (123) và có số lần ra sân quốc tế nhiều nhất (201). Anh là một trong số ít những cầu thủ đã có hơn 1.100 lần ra sân và đã ghi hơn 800 bàn thắng chính thức trong sự nghiệp cho câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia, giúp anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp của mình trong màu áo Sporting CP, trước khi ký hợp đồng với Manchester United vào năm 2003, giành FA Cup trong mùa giải đầu tiên. Anh sau đó liên tiếp giành được ba chức vô địch Premier League, Champions League và FIFA Club World Cup; ở tuổi 23, anh đã giành được Quả bóng vàng đầu tiên. Ronaldo là thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất thế giới bóng đá thời điểm đó khi anh ký hợp đồng với Real Madrid vào năm 2009 với giá trị chuyển nhượng 94 triệu euro (80 triệu bảng). Anh đóng vai trò quan trọng và tạo thành bộ ba tấn công cùng Karim Benzema và Gareth Bale, giúp Real giành bốn chức vô địch Champions League từ 2014 đến 2018, bao gồm cả La Décima. Trong khoảng thời gian này, Ronaldo đã liên tiếp giành Quả bóng vàng vào các năm 2013 và 2014, một lần nữa vào các năm 2016 và 2017, đồng thời ba lần về nhì sau Lionel Messi, đối thủ được coi là lớn nhất trong sự nghiệp của mình. Anh cũng trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại của câu lạc bộ và cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại ở đấu trường Champions League, đồng thời còn là vua phá lưới của giải đấu này trong sáu mùa giải liên tiếp từ 2012 đến 2018. Cùng với Real, Ronaldo đã giành được hai chức vô địch La Liga, hai Copa del Rey, bốn Champions League, ba Siêu cúp UEFA và ba Club World Cup. Năm 2018, anh ký hợp đồng với Juventus với giá trị chuyển nhượng ban đầu là 100 triệu euro (88 triệu bảng Anh), thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất cho một câu lạc bộ Ý và cho một cầu thủ trên 30 tuổi. Anh đã giành được hai chức vô địch Serie A, hai Supercoppa Italiana và một Coppa Italia, trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất Serie A và là cầu thủ bóng đá đầu tiên kết thúc mùa giải với tư cách Vua phá lưới ở các giải vô địch quốc gia Anh, Tây Ban Nha và Ý. Anh trở lại Manchester United vào năm 2021, hoàn thành mùa giải đầu tiên duy nhất của mình với tư cách là cầu thủ ghi bàn hàng đầu của câu lạc bộ, trước khi anh bị chấm dứt hợp đồng vào năm 2022. Năm 2023, Ronaldo ký hợp đồng với Al Nassr. Ronaldo đã có trận ra mắt cho đội tuyển quốc gia Bồ Đào Nha vào năm 2003 ở tuổi 18 và kể từ đó đến nay đã có 200 lần ra sân, anh trở thành cầu thủ khoác áo đội tuyển Bồ Đào Nha nhiều nhất. Với hơn 100 bàn thắng ở cấp độ quốc tế, anh cũng là tay săn bàn số một mọi thời đại của đất nước quê hương mình. Ronaldo đã góp mặt và lập công tại 11 giải đấu lớn; anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên của mình tại Euro 2004, nơi anh đã giúp Bồ Đào Nha lọt vào trận chung kết. Anh đảm nhận băng đội trưởng của đội tuyển quốc gia vào tháng 7 năm 2008. Năm 2015, Ronaldo được Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha bầu chọn là cầu thủ Bồ Đào Nha xuất sắc nhất mọi thời đại. Năm sau đó, anh đã dẫn dắt Bồ Đào Nha lên ngôi vô địch giải đấu lớn đầu tiên của họ tại Euro 2016, và nhận Chiếc giày bạc với tư cách cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai của giải. Anh cũng dẫn dắt họ giành chức vô địch UEFA Nations League vào năm 2019, và sau đó nhận Chiếc giày vàng với tư cách Vua phá lưới Euro 2020. Là một trong những vận động viên nổi tiếng và được tiếp thị nhiều nhất thế giới, Ronaldo được Forbes xếp là vận động viên được trả lương cao nhất thế giới vào năm 2016 và 2017 và là vận động viên nổi tiếng nhất thế giới bởi ESPN từ năm 2016 đến năm 2019. Đồng thời, Time xếp anh vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới năm 2014. Ronaldo là cầu thủ bóng đá đầu tiên, cũng như vận động viên thể thao thứ ba, kiếm được 1 tỷ đô la trong suốt sự nghiệp. Cristiano Ronaldo dos Santos Aveiro GOIH ComM (phát âm tiếng Bồ Đào Nha: [kɾiʃˈtjɐnu ʁɔˈnaldu]; sinh ngày 5 tháng 2 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Bồ Đào Nha hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo và là đội trưởng của câu lạc bộ Saudi Pro League Al Nassr và đội tuyển bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha. Được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại, Ronaldo là chủ nhân của 5 Quả bóng vàng và 4 Chiếc giày vàng châu Âu. Anh đã giành được 33 danh hiệu trong sự nghiệp của mình, bao gồm 7 chức vô địch quốc gia, 5 UEFA Champions League, 1 UEFA European Championship và 1 UEFA Nations League. Ronaldo nắm giữ kỷ lục có số lần ra sân nhiều nhất (183), nhiều bàn thắng nhất (140) và nhiều pha kiến tạo nhất (42) ở Champions League, nhiều bàn thắng nhất ở giải vô địch châu Âu (14), nhiều bàn thắng quốc tế nhất (123) và có số lần ra sân quốc tế nhiều nhất (201). Anh là một trong số ít những cầu thủ đã có hơn 1.100 lần ra sân và đã ghi hơn 800 bàn thắng chính thức trong sự nghiệp cho câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia, giúp anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp của mình trong màu áo Sporting CP, trước khi ký hợp đồng với Manchester United vào năm 2003, giành FA Cup trong mùa giải đầu tiên. Anh sau đó liên tiếp giành được ba chức vô địch Premier League, Champions League và FIFA Club World Cup; ở tuổi 23, anh đã giành được Quả bóng vàng đầu tiên. Ronaldo là thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất thế giới bóng đá thời điểm đó khi anh ký hợp đồng với Real Madrid vào năm 2009 với giá trị chuyển nhượng 94 triệu euro (80 triệu bảng). Anh đóng vai trò quan trọng và tạo thành bộ ba tấn công cùng Karim Benzema và Gareth Bale, giúp Real giành bốn chức vô địch Champions League từ 2014 đến 2018, bao gồm cả La Décima. Trong khoảng thời gian này, Ronaldo đã liên tiếp giành Quả bóng vàng vào các năm 2013 và 2014, một lần nữa vào các năm 2016 và 2017, đồng thời ba lần về nhì sau Lionel Messi, đối thủ được coi là lớn nhất trong sự nghiệp của mình. Anh cũng trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại của câu lạc bộ và cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại ở đấu trường Champions League, đồng thời còn là vua phá lưới của giải đấu này trong sáu mùa giải liên tiếp từ 2012 đến 2018. Cùng với Real, Ronaldo đã giành được hai chức vô địch La Liga, hai Copa del Rey, bốn Champions League, ba Siêu cúp UEFA và ba Club World Cup. Năm 2018, anh ký hợp đồng với Juventus với giá trị chuyển nhượng ban đầu là 100 triệu euro (88 triệu bảng Anh), thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất cho một câu lạc bộ Ý và cho một cầu thủ trên 30 tuổi. Anh đã giành được hai chức vô địch Serie A, hai Supercoppa Italiana và một Coppa Italia, trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất Serie A và là cầu thủ bóng đá đầu tiên kết thúc mùa giải với tư cách Vua phá lưới ở các giải vô địch quốc gia Anh, Tây Ban Nha và Ý. Anh trở lại Manchester United vào năm 2021, hoàn thành mùa giải đầu tiên duy nhất của mình với tư cách là cầu thủ ghi bàn hàng đầu của câu lạc bộ, trước khi anh bị chấm dứt hợp đồng vào năm 2022. Năm 2023, Ronaldo ký hợp đồng với Al Nassr. Ronaldo đã có trận ra mắt cho đội tuyển quốc gia Bồ Đào Nha vào năm 2003 ở tuổi 18 và kể từ đó đến nay đã có 200 lần ra sân, anh trở thành cầu thủ khoác áo đội tuyển Bồ Đào Nha nhiều nhất. Với hơn 100 bàn thắng ở cấp độ quốc tế, anh cũng là tay săn bàn số một mọi thời đại của đất nước quê hương mình. Ronaldo đã góp mặt và lập công tại 11 giải đấu lớn; anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên của mình tại Euro 2004, nơi anh đã giúp Bồ Đào Nha lọt vào trận chung kết. Anh đảm nhận băng đội trưởng của đội tuyển quốc gia vào tháng 7 năm 2008. Năm 2015, Ronaldo được Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha bầu chọn là cầu thủ Bồ Đào Nha xuất sắc nhất mọi thời đại. Năm sau đó, anh đã dẫn dắt Bồ Đào Nha lên ngôi vô địch giải đấu lớn đầu tiên của họ tại Euro 2016, và nhận Chiếc giày bạc với tư cách cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai của giải. Anh cũng dẫn dắt họ giành chức vô địch UEFA Nations League vào năm 2019, và sau đó nhận Chiếc giày vàng với tư cách Vua phá lưới Euro 2020. Là một trong những vận động viên nổi tiếng và được tiếp thị nhiều nhất thế giới, Ronaldo được Forbes xếp là vận động viên được trả lương cao nhất thế giới vào năm 2016 và 2017 và là vận động viên nổi tiếng nhất thế giới bởi ESPN từ năm 2016 đến năm 2019. Đồng thời, Time xếp anh vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới năm 2014. Ronaldo là cầu thủ bóng đá đầu tiên, cũng như vận động viên thể thao thứ ba, kiếm được 1 tỷ đô la trong suốt sự nghiệp. Cristiano Ronaldo dos Santos Aveiro GOIH ComM (phát âm tiếng Bồ Đào Nha: [kɾiʃˈtjɐnu ʁɔˈnaldu]; sinh ngày 5 tháng 2 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Bồ Đào Nha hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo và là đội trưởng của câu lạc bộ Saudi Pro League Al Nassr và đội tuyển bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha. Được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại, Ronaldo là chủ nhân của 5 Quả bóng vàng và 4 Chiếc giày vàng châu Âu. Anh đã giành được 33 danh hiệu trong sự nghiệp của mình, bao gồm 7 chức vô địch quốc gia, 5 UEFA Champions League, 1 UEFA European Championship và 1 UEFA Nations League. Ronaldo nắm giữ kỷ lục có số lần ra sân nhiều nhất (183), nhiều bàn thắng nhất (140) và nhiều pha kiến tạo nhất (42) ở Champions League, nhiều bàn thắng nhất ở giải vô địch châu Âu (14), nhiều bàn thắng quốc tế nhất (123) và có số lần ra sân quốc tế nhiều nhất (201). Anh là một trong số ít những cầu thủ đã có hơn 1.100 lần ra sân và đã ghi hơn 800 bàn thắng chính thức trong sự nghiệp cho câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia, giúp anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp của mình trong màu áo Sporting CP, trước khi ký hợp đồng với Manchester United vào năm 2003, giành FA Cup trong mùa giải đầu tiên. Anh sau đó liên tiếp giành được ba chức vô địch Premier League, Champions League và FIFA Club World Cup; ở tuổi 23, anh đã giành được Quả bóng vàng đầu tiên. Ronaldo là thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất thế giới bóng đá thời điểm đó khi anh ký hợp đồng với Real Madrid vào năm 2009 với giá trị chuyển nhượng 94 triệu euro (80 triệu bảng). Anh đóng vai trò quan trọng và tạo thành bộ ba tấn công cùng Karim Benzema và Gareth Bale, giúp Real giành bốn chức vô địch Champions League từ 2014 đến 2018, bao gồm cả La Décima. Trong khoảng thời gian này, Ronaldo đã liên tiếp giành Quả bóng vàng vào các năm 2013 và 2014, một lần nữa vào các năm 2016 và 2017, đồng thời ba lần về nhì sau Lionel Messi, đối thủ được coi là lớn nhất trong sự nghiệp của mình. Anh cũng trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại của câu lạc bộ và cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại ở đấu trường Champions League, đồng thời còn là vua phá lưới của giải đấu này trong sáu mùa giải liên tiếp từ 2012 đến 2018. Cùng với Real, Ronaldo đã giành được hai chức vô địch La Liga, hai Copa del Rey, bốn Champions League, ba Siêu cúp UEFA và ba Club World Cup. Năm 2018, anh ký hợp đồng với Juventus với giá trị chuyển nhượng ban đầu là 100 triệu euro (88 triệu bảng Anh), thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất cho một câu lạc bộ Ý và cho một cầu thủ trên 30 tuổi. Anh đã giành được hai chức vô địch Serie A, hai Supercoppa Italiana và một Coppa Italia, trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất Serie A và là cầu thủ bóng đá đầu tiên kết thúc mùa giải với tư cách Vua phá lưới ở các giải vô địch quốc gia Anh, Tây Ban Nha và Ý. Anh trở lại Manchester United vào năm 2021, hoàn thành mùa giải đầu tiên duy nhất của mình với tư cách là cầu thủ ghi bàn hàng đầu của câu lạc bộ, trước khi anh bị chấm dứt hợp đồng vào năm 2022. Năm 2023, Ronaldo ký hợp đồng với Al Nassr. Ronaldo đã có trận ra mắt cho đội tuyển quốc gia Bồ Đào Nha vào năm 2003 ở tuổi 18 và kể từ đó đến nay đã có 200 lần ra sân, anh trở thành cầu thủ khoác áo đội tuyển Bồ Đào Nha nhiều nhất. Với hơn 100 bàn thắng ở cấp độ quốc tế, anh cũng là tay săn bàn số một mọi thời đại của đất nước quê hương mình. Ronaldo đã góp mặt và lập công tại 11 giải đấu lớn; anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên của mình tại Euro 2004, nơi anh đã giúp Bồ Đào Nha lọt vào trận chung kết. Anh đảm nhận băng đội trưởng của đội tuyển quốc gia vào tháng 7 năm 2008. Năm 2015, Ronaldo được Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha bầu chọn là cầu thủ Bồ Đào Nha xuất sắc nhất mọi thời đại. Năm sau đó, anh đã dẫn dắt Bồ Đào Nha lên ngôi vô địch giải đấu lớn đầu tiên của họ tại Euro 2016, và nhận Chiếc giày bạc với tư cách cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai của giải. Anh cũng dẫn dắt họ giành chức vô địch UEFA Nations League vào năm 2019, và sau đó nhận Chiếc giày vàng với tư cách Vua phá lưới Euro 2020. Là một trong những vận động viên nổi tiếng và được tiếp thị nhiều nhất thế giới, Ronaldo được Forbes xếp là vận động viên được trả lương cao nhất thế giới vào năm 2016 và 2017 và là vận động viên nổi tiếng nhất thế giới bởi ESPN từ năm 2016 đến năm 2019. Đồng thời, Time xếp anh vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới năm 2014. Ronaldo là cầu thủ bóng đá đầu tiên, cũng như vận động viên thể thao thứ ba, kiếm được 1 tỷ đô la trong suốt sự nghiệp. Cristiano Ronaldo dos Santos Aveiro GOIH ComM (phát âm tiếng Bồ Đào Nha: [kɾiʃˈtjɐnu ʁɔˈnaldu]; sinh ngày 5 tháng 2 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Bồ Đào Nha hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo và là đội trưởng của câu lạc bộ Saudi Pro League Al Nassr và đội tuyển bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha. Được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại, Ronaldo là chủ nhân của 5 Quả bóng vàng và 4 Chiếc giày vàng châu Âu. Anh đã giành được 33 danh hiệu trong sự nghiệp của mình, bao gồm 7 chức vô địch quốc gia, 5 UEFA Champions League, 1 UEFA European Championship và 1 UEFA Nations League. Ronaldo nắm giữ kỷ lục có số lần ra sân nhiều nhất (183), nhiều bàn thắng nhất (140) và nhiều pha kiến tạo nhất (42) ở Champions League, nhiều bàn thắng nhất ở giải vô địch châu Âu (14), nhiều bàn thắng quốc tế nhất (123) và có số lần ra sân quốc tế nhiều nhất (201). Anh là một trong số ít những cầu thủ đã có hơn 1.100 lần ra sân và đã ghi hơn 800 bàn thắng chính thức trong sự nghiệp cho câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia, giúp anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp của mình trong màu áo Sporting CP, trước khi ký hợp đồng với Manchester United vào năm 2003, giành FA Cup trong mùa giải đầu tiên. Anh sau đó liên tiếp giành được ba chức vô địch Premier League, Champions League và FIFA Club World Cup; ở tuổi 23, anh đã giành được Quả bóng vàng đầu tiên. Ronaldo là thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất thế giới bóng đá thời điểm đó khi anh ký hợp đồng với Real Madrid vào năm 2009 với giá trị chuyển nhượng 94 triệu euro (80 triệu bảng). Anh đóng vai trò quan trọng và tạo thành bộ ba tấn công cùng Karim Benzema và Gareth Bale, giúp Real giành bốn chức vô địch Champions League từ 2014 đến 2018, bao gồm cả La Décima. Trong khoảng thời gian này, Ronaldo đã liên tiếp giành Quả bóng vàng vào các năm 2013 và 2014, một lần nữa vào các năm 2016 và 2017, đồng thời ba lần về nhì sau Lionel Messi, đối thủ được coi là lớn nhất trong sự nghiệp của mình. Anh cũng trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại của câu lạc bộ và cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại ở đấu trường Champions League, đồng thời còn là vua phá lưới của giải đấu này trong sáu mùa giải liên tiếp từ 2012 đến 2018. Cùng với Real, Ronaldo đã giành được hai chức vô địch La Liga, hai Copa del Rey, bốn Champions League, ba Siêu cúp UEFA và ba Club World Cup. Năm 2018, anh ký hợp đồng với Juventus với giá trị chuyển nhượng ban đầu là 100 triệu euro (88 triệu bảng Anh), thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất cho một câu lạc bộ Ý và cho một cầu thủ trên 30 tuổi. Anh đã giành được hai chức vô địch Serie A, hai Supercoppa Italiana và một Coppa Italia, trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất Serie A và là cầu thủ bóng đá đầu tiên kết thúc mùa giải với tư cách Vua phá lưới ở các giải vô địch quốc gia Anh, Tây Ban Nha và Ý. Anh trở lại Manchester United vào năm 2021, hoàn thành mùa giải đầu tiên duy nhất của mình với tư cách là cầu thủ ghi bàn hàng đầu của câu lạc bộ, trước khi anh bị chấm dứt hợp đồng vào năm 2022. Năm 2023, Ronaldo ký hợp đồng với Al Nassr. Ronaldo đã có trận ra mắt cho đội tuyển quốc gia Bồ Đào Nha vào năm 2003 ở tuổi 18 và kể từ đó đến nay đã có 200 lần ra sân, anh trở thành cầu thủ khoác áo đội tuyển Bồ Đào Nha nhiều nhất. Với hơn 100 bàn thắng ở cấp độ quốc tế, anh cũng là tay săn bàn số một mọi thời đại của đất nước quê hương mình. Ronaldo đã góp mặt và lập công tại 11 giải đấu lớn; anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên của mình tại Euro 2004, nơi anh đã giúp Bồ Đào Nha lọt vào trận chung kết. Anh đảm nhận băng đội trưởng của đội tuyển quốc gia vào tháng 7 năm 2008. Năm 2015, Ronaldo được Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha bầu chọn là cầu thủ Bồ Đào Nha xuất sắc nhất mọi thời đại. Năm sau đó, anh đã dẫn dắt Bồ Đào Nha lên ngôi vô địch giải đấu lớn đầu tiên của họ tại Euro 2016, và nhận Chiếc giày bạc với tư cách cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai của giải. Anh cũng dẫn dắt họ giành chức vô địch UEFA Nations League vào năm 2019, và sau đó nhận Chiếc giày vàng với tư cách Vua phá lưới Euro 2020. Là một trong những vận động viên nổi tiếng và được tiếp thị nhiều nhất thế giới, Ronaldo được Forbes xếp là vận động viên được trả lương cao nhất thế giới vào năm 2016 và 2017 và là vận động viên nổi tiếng nhất thế giới bởi ESPN từ năm 2016 đến năm 2019. Đồng thời, Time xếp anh vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới năm 2014. Ronaldo là cầu thủ bóng đá đầu tiên, cũng như vận động viên thể thao thứ ba, kiếm được 1 tỷ đô la trong suốt sự nghiệp. Cristiano Ronaldo dos Santos Aveiro GOIH ComM (phát âm tiếng Bồ Đào Nha: [kɾiʃˈtjɐnu ʁɔˈnaldu]; sinh ngày 5 tháng 2 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Bồ Đào Nha hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo và là đội trưởng của câu lạc bộ Saudi Pro League Al Nassr và đội tuyển bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha. Được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại, Ronaldo là chủ nhân của 5 Quả bóng vàng và 4 Chiếc giày vàng châu Âu. Anh đã giành được 33 danh hiệu trong sự nghiệp của mình, bao gồm 7 chức vô địch quốc gia, 5 UEFA Champions League, 1 UEFA European Championship và 1 UEFA Nations League. Ronaldo nắm giữ kỷ lục có số lần ra sân nhiều nhất (183), nhiều bàn thắng nhất (140) và nhiều pha kiến tạo nhất (42) ở Champions League, nhiều bàn thắng nhất ở giải vô địch châu Âu (14), nhiều bàn thắng quốc tế nhất (123) và có số lần ra sân quốc tế nhiều nhất (201). Anh là một trong số ít những cầu thủ đã có hơn 1.100 lần ra sân và đã ghi hơn 800 bàn thắng chính thức trong sự nghiệp cho câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia, giúp anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại. Ronaldo bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp của mình trong màu áo Sporting CP, trước khi ký hợp đồng với Manchester United vào năm 2003, giành FA Cup trong mùa giải đầu tiên. Anh sau đó liên tiếp giành được ba chức vô địch Premier League, Champions League và FIFA Club World Cup; ở tuổi 23, anh đã giành được Quả bóng vàng đầu tiên. Ronaldo là thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất thế giới bóng đá thời điểm đó khi anh ký hợp đồng với Real Madrid vào năm 2009 với giá trị chuyển nhượng 94 triệu euro (80 triệu bảng). Anh đóng vai trò quan trọng và tạo thành bộ ba tấn công cùng Karim Benzema và Gareth Bale, giúp Real giành bốn chức vô địch Champions League từ 2014 đến 2018, bao gồm cả La Décima. Trong khoảng thời gian này, Ronaldo đã liên tiếp giành Quả bóng vàng vào các năm 2013 và 2014, một lần nữa vào các năm 2016 và 2017, đồng thời ba lần về nhì sau Lionel Messi, đối thủ được coi là lớn nhất trong sự nghiệp của mình. Anh cũng trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại của câu lạc bộ và cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại ở đấu trường Champions League, đồng thời còn là vua phá lưới của giải đấu này trong sáu mùa giải liên tiếp từ 2012 đến 2018. Cùng với Real, Ronaldo đã giành được hai chức vô địch La Liga, hai Copa del Rey, bốn Champions League, ba Siêu cúp UEFA và ba Club World Cup. Năm 2018, anh ký hợp đồng với Juventus với giá trị chuyển nhượng ban đầu là 100 triệu euro (88 triệu bảng Anh), thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất cho một câu lạc bộ Ý và cho một cầu thủ trên 30 tuổi. Anh đã giành được hai chức vô địch Serie A, hai Supercoppa Italiana và một Coppa Italia, trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất Serie A và là cầu thủ bóng đá đầu tiên kết thúc mùa giải với tư cách Vua phá lưới ở các giải vô địch quốc gia Anh, Tây Ban Nha và Ý. Anh trở lại Manchester United vào năm 2021, hoàn thành mùa giải đầu tiên duy nhất của mình với tư cách là cầu thủ ghi bàn hàng đầu của câu lạc bộ, trước khi anh bị chấm dứt hợp đồng vào năm 2022. Năm 2023, Ronaldo ký hợp đồng với Al Nassr. Ronaldo đã có trận ra mắt cho đội tuyển quốc gia Bồ Đào Nha vào năm 2003 ở tuổi 18 và kể từ đó đến nay đã có 200 lần ra sân, anh trở thành cầu thủ khoác áo đội tuyển Bồ Đào Nha nhiều nhất. Với hơn 100 bàn thắng ở cấp độ quốc tế, anh cũng là tay săn bàn số một mọi thời đại của đất nước quê hương mình. Ronaldo đã góp mặt và lập công tại 11 giải đấu lớn; anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên của mình tại Euro 2004, nơi anh đã giúp Bồ Đào Nha lọt vào trận chung kết. Anh đảm nhận băng đội trưởng của đội tuyển quốc gia vào tháng 7 năm 2008. Năm 2015, Ronaldo được Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha bầu chọn là cầu thủ Bồ Đào Nha xuất sắc nhất mọi thời đại. Năm sau đó, anh đã dẫn dắt Bồ Đào Nha lên ngôi vô địch giải đấu lớn đầu tiên của họ tại Euro 2016, và nhận Chiếc giày bạc với tư cách cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai của giải. Anh cũng dẫn dắt họ giành chức vô địch UEFA Nations League vào năm 2019, và sau đó nhận Chiếc giày vàng với tư cách Vua phá lưới Euro 2020. Là một trong những vận động viên nổi tiếng và được tiếp thị nhiều nhất thế giới, Ronaldo được Forbes xếp là vận động viên được trả lương cao nhất thế giới vào năm 2016 và 2017 và là vận động viên nổi tiếng nhất thế giới bởi ESPN từ năm 2016 đến năm 2019. Đồng thời, Time xếp anh vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới năm 2014. Ronaldo là cầu thủ bóng đá đầu tiên, cũng như vận động viên thể thao thứ ba, kiếm được 1 tỷ đô la trong suốt sự nghiệp. Ronaldo được coi là một trong những tiền đạo vĩ đại nhất và hoàn thiện nhất mọi thời đại. Có biệt danh là Il (hoặc O) Fenomeno (hiện tượng),"anh ấy là một tay săn bàn cừ khôi, và mặc dù thiên về tấn công theo chủ nghĩa cá nhân hơn, anh ấy cũng có khả năng cung cấp các đường kiến ​​​​tạo cho đồng đội nhờ tầm nhìn, khả năng chuyền bóng và tạt bóng của mình". . Anh là một cầu thủ cực kỳ mạnh mẽ, nhanh nhẹn và kỹ thuật, có khả năng di chuyển xuất sắc cũng như là một người dứt điểm điềm tĩnh. Được đánh giá cao về khả năng kỹ thuật, Ronaldo có thể sử dụng cả hai chân dù thuận chân phải và được coi là một trong những cầu thủ rê bóng khéo léo nhất trò chơi. Ronaldo cũng sẽ hoạt động bên ngoài vòng cấm trước khi chạy với bóng về phía khung thành, với Rob Smyth viết, "anh ấy chơi như thể mọi cuộc tấn công đều có thời hạn 10 giây.. anh ấy sẽ bùng nổ mà không có cảnh báo nào cho hậu vệ." Anh thường xuyên đánh bại nhiều cầu thủ khi rê bóng ở tốc độ, và xuất sắc trong các tình huống một đối một, nhờ khả năng kiểm soát bóng, tăng tốc, nhanh nhẹn, giữ thăng bằng và động tác chân nhanh nhẹn ở thời kỳ sơ khai. Huấn luyện viên của anh ấy tại Barcelona, ​​​​Bobby Robson, nhận xét: "Ronaldo có thể xuất phát từ nửa đường và toàn bộ sân vận động sẽ bốc cháy. Anh ấy là người chạy với bóng nhanh nhất mà tôi từng thấy. Nếu anh ấy không bị chấn thương, anh ấy sẽ có mọi cơ hội để trở thành cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất từ ​​​​trước đến nay." Trong các tình huống một chọi một, Ronaldo thường sử dụng những chiêu thức tinh vi để lừa và đánh bại các hậu vệ và thủ môn; ông đã phổ biến việc sử dụng nhiều thủ thuật bóng đá như đàn hồi và bước qua. Sid Lowe của Sports Illustrated đã viết, "Khi anh ấy đối đầu với thủ môn, bạn biết rằng anh ấy sẽ ghi bàn. Anh ấy rất tự nhiên, rất ngầu, hoàn toàn kiểm soát được. Anh ấy sẽ nhún vai, bước tới và đập! " Đồng đội ở Barcelona của anh ấy, Óscar García, nhận xét: "Tôi chưa bao giờ thấy ai chơi bóng với khả năng kỹ thuật, sự sáng tạo và độ chính xác cao như vậy với tốc độ đáng kinh ngạc đó. Điều khiến tất cả chúng tôi nổi bật, kể từ thời điểm chúng tôi gặp Ronnie, là anh ấy có thể làm được nhiều điều." điều mà các cầu thủ khác thấy rất khó khăn và khiến chúng trông có vẻ dễ dàng. Nhưng anh ấy cũng có thể tạo ra những điều đó khi chạy với tốc độ bùng nổ không thể tin được. " Với sự kết hợp giữa tốc độ, kỹ năng và dứt điểm, Ronaldinho đã gọi Ronaldo là "tiền đạo hoàn thiện nhất ở đó". đã từng như vậy", quan điểm được lặp lại bởi Zlatan Ibrahimović, người đã nói, "với tư cách là một cầu thủ bóng đá, anh ấy đã hoàn thiện. Theo quan điểm của tôi, sẽ không bao giờ có cầu thủ nào giỏi hơn anh ấy." Thần tượng ghi bàn của Lionel Messi người Argentina nói rằng "Ronaldo là tiền đạo xuất sắc nhất mà tôi từng thấy. Anh ấy nhanh đến mức có thể ghi bàn từ con số không." Muốn bắt chước Ronaldo khi lớn lên, tiền đạo Mohamed Salah của Ai Cập và Liverpool đã phát biểu, "Khả năng, sự tốc độ, trí thông minh, anh ấy có tất cả mọi thứ". Gọi Ronaldo là nguồn cảm hứng, Wayne Rooney nói, "với tư cách là một tiền đạo xuất sắc, anh ấy có lẽ là người giỏi nhất." Ảnh hưởng nổi bật đối với một thế hệ tiền đạo, từ Karim Benzema đến Sergio Agüero, với Romelu Lukaku nói rằng " anh ấy đã thay đổi chiều hướng của một tiền đạo" và có thể "rê bóng như một cầu thủ chạy cánh, chạy như một vận động viên chạy nước rút", Zlatan nói thêm, "không ai có ảnh hưởng đến bóng đá và các cầu thủ nổi lên nhiều như Ronaldo". ""Ronaldo, như rất nhiều người ngưỡng mộ anh thừa nhận, đã thay đổi định nghĩa của một tiền đạo cắm. Mỗi khi bạn nhìn thấy một tiền đạo được kỳ vọng sẽ cầm bóng, đánh bại cầu thủ, đánh đầu, sút từ xa, lùi sâu, làm mọi thứ mà một tiền đạo có thể làm - bạn có thể nên nhớ đến anh ấy. Anh ấy thay đổi ranh giới, thách thức các quy ước, giống như Messi và Cristiano Ronaldo đã thay đổi nhận thức của chúng ta về một cầu thủ chạy cánh. Ronaldo, Ronaldo nguyên bản, đã truyền cảm hứng cho một nhóm người bắt chước, những cầu thủ mà chúng ta thấy trên màn hình mỗi cuối tuần. Nhưng anh ấy cũng đã xoay chuyển trò chơi để nó luôn giống anh ấy một chút. Hơn hết, anh ấy đã biến số 9 đó thành của riêng mình."" "— Rory Smith viết cho ESPN về việc Ronaldo thay đổi lối chơi của các tiền đạo, tháng 3 năm 2016." Emilio Butragueño nói, "Ronaldo tạo ra một cơ hội ghi bàn ở nơi nó không tồn tại. Hầu hết các tiền đạo đều cần các tiền vệ và đồng đội của họ, nhưng anh ấy thì không."Về tốc độ suy nghĩ của mình, Kaká nói "Đối với tôi, những cầu thủ giỏi nhất là những người có thể nghĩ ra một lối chơi và thực hiện nó nhanh nhất và theo cách tốt nhất có thể, và Ronaldo là người giỏi nhất ở khoản đó. Tốc độ suy nghĩ mà anh ấy có - và tốc độ anh ấy phải thực hiện các hành động của mình - là hoàn hảo." Ronaldo cũng là một cầu thủ khỏe khoắn và mạnh mẽ, có thể che chắn bóng khỏi đối phương, giống như cựu hậu vệ người Ý Alessandro Nesta (người đã đối mặt với Ronaldo trong trận đấu tay đôi đỉnh cao ở trận chung kết UEFA Cup 1998 được coi là " kẻ tấn công xuất sắc nhất chống lại hậu vệ xuất sắc nhất Serie A") nói: "Đó là trải nghiệm tồi tệ nhất trong sự nghiệp của tôi. Ronaldo là kẻ tấn công khó khăn nhất mà tôi từng phải đối mặt." Khi được hỏi ai là đối thủ khó khăn nhất trong sự nghiệp của anh ấy Fabio Cannavaro trả lời: "Tôi không nghi ngờ gì nữa, Ronaldo, hiện tượng này. Đối với thế hệ của tôi, anh ấy giống như Maradona hay Pelé đối với những thế hệ trước. Anh ấy thật không thể chê vào đâu được." Sid Lowe so sánh khả năng của Ronaldo trong việc hạ gục nhiều đối thủ chỉ trong một đường chạy với những gì cầu thủ bóng bầu dục Jonah Lomu đã làm trong cùng thời đại. Về ảnh hưởng của Ronaldo đối với sự phát triển của trung phong. Ở vai trò tiền đạo, cựu tiền đạo người Pháp Thierry Henry nói: "Anh ấy đã làm những điều chưa ai từng thấy trước đây. Anh cùng với Romário và George Weah đã tái tạo lại vị trí trung vệ. Họ là những người đầu tiên lao ra khỏi vòng cấm để nhặt bóng ở giữa sân, di chuyển sang hai bên cánh, thu hút và làm mất phương hướng của các trung vệ bằng những pha chạy chỗ, tăng tốc và rê bóng." So sánh khả năng bẩm sinh của anh với Roger Federer, Paul MacDonald của Goal viết, "thật vui khi được chứng kiến ​​một điều gì đó mà chúng ta biết là cực kỳ khó được thực hiện một cách dễ dàng đáng kể. Ronaldo thời kỳ đỉnh cao đã có thể làm điều đó tốt hơn bất kỳ ai từng thi đấu." trận đấu."Việc phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh vượt trội của anh ấy được cho là lý do khiến khả năng tập luyện của anh ấy thường không cao bằng các đồng đội - mặc dù vấn đề về đầu gối của anh ấy cũng có thể là một yếu tố - với đồng đội Brazil Emerson nói rằng "Ronaldo cảm thấy anh ấy không cần phải làm việc chăm chỉ như chúng tôi, rằng anh ấy có thể làm trong hai ngày những gì mà chúng tôi phải mất mười ngày để làm. Và thông thường, anh ấy đã đúng". Về tài năng sớm phát triển của anh ấy - tài năng giúp anh ấy trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA ở tuổi 20 và người nhận Quả bóng vàng trẻ nhất ở tuổi 21 - Rob Smyth của The Guardian đã viết vào năm 2016, "Ronaldo dễ dàng là cầu thủ xuất sắc nhất trong số các cầu thủ xuất sắc nhất thế giới." Có thể là 30 năm qua. Ronaldo và Messi còn lại đều là những thanh thiếu niên xuất sắc nhưng không có tác động tương tự ở độ tuổi đó. Chỉ Pelé, Diego Maradona và George Best thực sự có thể so sánh được." Trong cuộc đời, José Mourinho cho biết: "Ronaldo, El Fenomeno. Cristiano Ronaldo và Leo Messi đã có sự nghiệp lâu dài hơn. Họ vẫn đứng đầu hàng ngày trong 15 năm. Tuy nhiên, nếu chúng ta nói một cách nghiêm túc về tài năng và kỹ năng thì không ai có thể vượt qua Ronaldo." " Mikaël Silvestre nói, "Tôi đã thi đấu với Lionel Messi và tôi đã chơi với Cristiano ở Manchester United, nhưng anh ấy [Ronaldo] là một thứ khác về tốc độ. Cristiano, có lẽ bạn có thể đoán rằng anh ấy có ba hoặc bốn tốc độ những thủ thuật mà anh ấy sẽ sử dụng hầu hết thời gian, nhưng Ronaldo, nó luôn là một điều gì đó khác biệt. Anh ấy phát minh ra mọi thứ ngay tại chỗ, vì vậy bạn không thể hướng dẫn anh ấy trái hay phải bởi vì anh ấy sẽ thoát khỏi những tình huống này, bất kể thế nào đi nữa". Năm 2020, Ronaldo có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng. , đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí France Football xuất bản. Ở thời kỳ đỉnh cao về thể chất vào những năm 1990, Ronaldo bị ảnh hưởng nặng nề bởi chấn thương đầu gối mà anh phải chịu từ cuối năm 1999 trở đi và việc tăng cân sau đó trong thời gian không hoạt động, khiến tốc độ, thể lực và khả năng di chuyển của anh bị hạn chế. Theo nhà vật lý trị liệu Nilton Petrone, Ronaldo rất dễ bị chấn thương do tình trạng sức khỏe kết hợp với hoạt động chạy bùng nổ của anh ấy. "Ronaldo mắc chứng loạn sản xương bánh chè. Điều này khiến mối quan hệ giữa xương bánh chè và xương đùi có phần không ổn định. Không có phẫu thuật trực tiếp nào cho vấn đề đó nên xương bánh chè vẫn giữ nguyên, thiếu một từ hay hơn, "nhảy múa" trên xương đùi. Ronaldo bị chấn thương không phải do cơ thể yếu ớt mà do khả năng bùng nổ, không chỉ chạy nhanh trên một đường thẳng mà còn đổi hướng với tốc độ đáng kinh ngạc. Ronaldo di chuyển từ trái sang phải rất , qua cách anh ấy thi đấu, chấn thương luôn có thể xảy ra". Thừa nhận "anh ấy không bao giờ hoàn toàn giống như trước" sau chấn thương đầu gối vào năm 2000, với "tốc độ và sức mạnh tàn bạo của anh ấy giảm đi so với The Phenomenon" vào những năm 1990, tạp chí FourFourTwo đã xếp anh ấy là cầu thủ xuất sắc nhất tại World Cup 2002, đồng thời nói thêm " anh ấy vẫn vượt trội so với phần còn lại" trong giải đấu. Năm 1997, Ronaldo gặp người mẫu kiêm diễn viên người Brazil Susana Werner trên trường quay telenovela Malhação của Brazil khi họ đóng cùng nhau trong ba tập phim. Mặc dù chưa bao giờ kết hôn nhưng họ đã bắt đầu mối quan hệ lâu dài và sống cùng nhau ở Milan cho đến đầu năm 1999. Vào tháng 12 năm 1999, Ronaldo kết hôn với cầu thủ bóng đá người Brazil Milene Domingues, lúc đó cô đang mang thai đứa con trai đầu lòng của cặp đôi, Ronald, sinh ra ở Milan, vào ngày 6 tháng 4 năm 2000. Cuộc hôn nhân kéo dài bốn năm. Năm 2005, Ronaldo đính hôn với người mẫu Brazil và VJ MTV Daniela Cicarelli, người đã mang thai nhưng bị sảy thai; mối quan hệ chỉ kéo dài ba tháng sau đám cưới sang trọng của họ tại Château de Chantilly. Buổi lễ được cho là có chi phí £700.000 (€896.000). Bất chấp sự nổi tiếng của anh - một cuộc thăm dò năm 2003 của Nike đã liệt kê anh ấy là vận động viên thể thao nổi tiếng nhất thế giới (và là người nổi tiếng thứ ba nói chung) - Ronaldo luôn bảo vệ quyền riêng tư của mình, kể cả với các đồng đội, nói trong một cuộc phỏng vấn với The Telegraph, "mỗi [cầu thủ] đều có cuộc sống riêng tư của anh ấy, và không ai nghĩ về cuộc sống riêng tư của người khác. Hay nói về nó." Đến năm 2003, anh ấy thông thạo tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ý, đồng thời hiểu rõ tiếng Anh. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2005 với Folha de S.Paulo, Ronaldo tiết lộ rằng, hơi bất ngờ, anh xác định mình thuộc chủng tộc da trắng,[234] tạo ra một cuộc trò chuyện rộng rãi hơn về vai trò phức tạp của chủng tộc ở Brazil. Cha của Ronaldo, Nelio Nazario, nói: "Anh ấy biết rõ mình là người da đen. Thực ra, vào thời điểm đó, tôi nghĩ đó là một triết lý nào đó, một điều gì đó có tác dụng như vậy. Bởi vì anh ấy biết mình là người da đen." bởi nhà di truyền học Sérgio Pena thuộc Viện Địa lý và Thống kê Brazil, hầu hết người Brazil thường có quan niệm sai lầm về nguồn gốc của họ. "Tổ tiên mẹ của người da trắng Brazil là một phần ba người châu Phi, một phần ba người Mỹ bản địa và một phần ba người châu Âu. Một cá nhân tự coi mình là người da trắng có thể có nhiều gốc Phi hơn về mặt di truyền so với một cá nhân tự coi mình là da nâu hoặc da đen." Vào tháng 4 năm 2008, Ronaldo vướng vào một vụ bê bối liên quan đến ba gái mại dâm mà anh gặp trong một hộp đêm ở Rio de Janeiro. Ronaldo tuyên bố rằng khi phát hiện ra họ là nam giới hợp pháp, anh đã đề nghị cho họ 600 USD để rời đi. Một trong ba người đã cố gắng tống tiền Ronaldo, trong khi hai người còn lại thừa nhận đã nói dối về việc quan hệ tình dục với anh ấy. Lễ đính hôn của Ronaldo với Maria Beatriz Antony ngay lập tức bị tạm dừng, nhưng lại tiếp tục ngay sau đó và họ kết hôn cùng năm. Maria Beatriz Antony sinh con gái đầu lòng, đặt tên là Maria Sophia, ở Rio de Janeiro, vào ngày 24 tháng 12 năm 2008. Vào tháng 4 năm 2009, gia đình chuyển đến một căn hộ penthouse mới ở São Paulo. Vào ngày 6 tháng 4 năm 2010, Maria Beatriz Antony sinh con gái thứ hai. Cô gái sinh ra ở São Paulo, tên là Maria Alice, và được sinh ra đúng 10 năm sau anh trai cô là Ronald. Vào tháng 12 năm 2010, Ronaldo và gia đình chuyển đến một biệt thự mới ở São Paulo. Cũng trong tháng 12, Ronaldo đã làm xét nghiệm quan hệ cha con và được xác nhận là cha của một cậu bé tên Alexander, sinh vào tháng 4 năm 2005. Cậu bé chào đời sau mối quan hệ ngắn ngủi giữa Ronaldo và Michele Umezu, một cô hầu bàn người Brazil mà Ronaldo gặp lần đầu ở Tokyo. vào năm 2002. Sau khi xác nhận đứa con thứ tư, Ronaldo tuyên bố vào ngày 6 tháng 12 năm 2010 rằng anh đã thắt ống dẫn tinh, cảm thấy rằng có bốn đứa con là đủ. Ronaldo và Maria Beatriz Antony ly hôn vào năm 2012. Trong cuộc phỏng vấn năm 2011 với BBC, đồng đội cũ ở Real Madrid, Steve McManaman đã nói về tính cách của Ronaldo. "Anh ấy có thể vào một nhà hàng, và tôi có thể vào cùng anh ấy, và bạn không chỉ ở đó với những người bạn thân. Anh ấy mời tất cả mọi người. Bạn ngồi cùng bàn với anh ấy và sẽ có một thẩm phán ngồi đối diện nói chuyện." cho một chính trị gia có người ngoài đường đang lắng nghe. Vì vậy, anh ấy có một bầu không khí tuyệt vời, nơi mọi người đều muốn tham gia cùng anh ấy. Đôi khi có 20 đến 30 người ngồi trong bữa ăn với anh ấy. Anh ấy là một người tuyệt vời. Mọi người đều như vậy. thứ hai là, bất kể anh ấy chơi cho câu lạc bộ nào."
Tung hứng (juggling) là một kĩ năng vật lý được thực hiện bởi các nghệ nhân tung hứng (juggler) hoặc là diễn viên xiếc, các công nhân xây dựng. Điều dễ nhận biết nhất trong tung hứng là tung các vật lên không trung. Các juggler thường dùng vật như bóng, vòng, chùy (clubs). Có những juggler mạo hiểm hơn, họ dùng đuốc, dao, máy cư Ngày 17-6 hàng năm được Liên đoàn Tung hứng thế giới (WJF) chọn làm Ngày tung hứng. Siteswap là ký hiệu trong juggling. Các kĩ thuật cơ bản. Các kĩ thuật trong juggling hay được gọi là juggling pattern.3 bóng (balls) là phổ biến nhất.Tất cả các pattern trong juggling không nên dịch.Ba kĩ thuật cơ bản nhất là Cascade,Shower và Fountain. Đây là patern cơ bản nhất trong juggling.Là trick đầu tiên cho 1 juggler.Siteswap của nó là 3. Trong trick này,bóng được tung theo vòng tròn,tay thứ nhất tung bóng lên cao đồng thời chuyển sang tay còn lại,cũng đồng thời tay còn lại đó chuyển bóng đang có sang tay thứ nhất.Siteswap là 51. Trick này dùng trong 4 balls.Cả hai tay đều phải tung,bắt bóng và không được chuyển bóng qua tay kia.Siteswap của nó là 4. Chơi tung hứng giúp cơ bắp ở tay,chân săn chắc hơn vì các cánh tay được nâng lên xuống liên tục,còn chân thì phải chạy để nhặt bóng (đối với bóng nảy như bóng tennis). Giúp tăng cường phản xạ của người chơi. Còn là hình thức giải trí. Trong xây dựng thì tung hứng giảm bớt phần nào sức đi lại để chuyển gạch,thay vì đó mà họ tung hứng.
Vũ Đình Hòe (1 tháng 6 năm 1912 – 29 tháng 1 năm 2011) là luật sư, nhà báo, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông sinh ngày 1 tháng 6 năm 1912 tại nguyên quán là làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, là hậu duệ đời thứ tư của Tiến sĩ Vũ Tông Phan. Hoạt động trong ngành giáo dục. Tốt nghiệp khoa Luật khóa 2 của Viện Đại học Đông Dương, ông chọn nghề dạy học ở các trường tư thục nổi tiếng Thăng Long và Gia Long, nơi mà ông từng được mời đứng lớp khi còn là sinh viên để lấy tiền trang trải học phí. Ông tham gia nhóm trí thức cấp tiến Thanh Nghị, làm Chủ nhiệm tạp chí văn chương, chính trị và kinh tế "Thanh Nghị", xuất bản từ ngày 15 tháng 5 năm 1941 đến tháng 8 năm 1945. Tham gia hoạt động chính trị. Ông cùng Phan Thanh, Hoàng Minh Giám tham gia phân bộ Đảng Xã hội Pháp của Jaurès, cùng nhà văn Nhất Linh và kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện lập Hội Ánh sáng chuyên dựng nhà tranh tre hợp vệ sinh cho dân nghèo. Ông là một trong các thành viên sáng lập của Đảng Dân chủ Việt Nam (30 tháng 6 năm 1944) và giữ chức Ủy viên Trung ương Đảng. Sau này Đảng Dân chủ tham gia vào Mặt trận Việt Minh. Ngày 16 tháng 5 năm 1945, Hội Tân Việt Nam được thành lập và Vũ Đình Hòe làm Tổng thư ký. Ông cũng làm Phó Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ (thành lập năm 1938) mà Hội trưởng là Nguyễn Văn Tố. Ông nhận nhiệm vụ vào Bắc Bộ phủ (nhờ có Nguyễn Văn Huyên giới thiệu) thuyết phục Khâm sai Phan Kế Toại từ chức, sau đó đi Huế thuyết phục hai người đồng sáng lập Thanh Nghị là Phan Anh và Vũ Văn Hiền rút ngay ra khỏi chính phủ Trần Trọng Kim. Ông có quan hệ thân thiện với các lãnh tụ cộng sản như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Tháng 8 năm 1945 ông được cử đi dự Quốc dân Đại hội Tân Trào do Việt Minh tổ chức ở Tuyên Quang để chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Ông là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên, đại diện cho Đảng Dân chủ. Bộ trưởng Giáo dục và Tư pháp. Ông làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946 rồi thay luật gia Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong suốt 15 năm sau đó. Trên cương vị Bộ trưởng Quốc gia giáo dục, ông đã tiếp ký Sắc lệnh số 45 ngày 10 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập Ban Đại học Văn khoa – tiền thân trực tiếp của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tiếp đó, ông đã ký Nghị định ngày 03/11/1945 (quy định các môn học được giảng dạy tại Ban Đại học Văn khoa) và Nghị định ngày 07/11/1945 (cử ông Đặng Thai Mai, Tổng Thanh tra Trung học vụ kiêm chức Giám đốc Ban Đại học Văn khoa và cử các giáo sư phụ trách các bộ môn) về việc tổ chức giảng dạy và nhân sự của Ban Đại học Văn khoa. Lên chiến khu Việt Bắc. Năm 1946, ông đã rời Thủ đô Hà Nội lên Việt Bắc, trên đường đi đã đi qua nhiều địa phương như: Sơn Tây, Việt Trì (Phú Thọ), đến thị xã Tuyên Quang. Đến đầu năm 1948, Bộ Tư pháp chia làm hai: một bộ phận do ông Vũ Đình Hòe phụ trách (Cơ quan A), đến ở và làm việc tại chân núi Sáng trong thung lũng Vai Dâu, huyện Đại Từ, Thái Nguyên; một bộ phận do ông Trần Công Tường phụ trách (cơ quan B) đến ở và làm việc tại Bình Di, Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Ngày 6/10/1949, Hội đồng Chính phủ họp và ra Nghị quyết về vấn đề củng cố văn phòng của các Bộ. Thực hiện Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ, hai cơ quan của Bộ hợp thành một và chuyển đến thôn Mới, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Khi đó Vũ Đình Hòe có bí danh là Khiêm. Tại địa điểm này, ông đã ở, làm việc từ cuối năm 1949 đến tháng 9/1950. Do diễn biến của cuộc kháng chiến, theo yêu cầu của Chính phủ, tháng 9/1950, ông cùng Bộ Tư pháp đã rời thôn Mới, xã Minh Thanh ngược dòng sông Lô lên Chiêm Hóa . Năm 1957, ông là một trong số 29 thành viên Ban sửa đổi Hiến pháp do Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Ban này đã dự thảo ra Hiến pháp năm 1960. Năm 1960, Bộ Tư pháp giải thể (năm 1972 Hội đồng Bộ trưởng mới thành lập Ủy ban Pháp chế), ông chuyển về Viện Luật học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, làm chuyên viên nghiên cứu luật pháp. Từ trước Tết 1975, ông kết thúc các nhiệm vụ của mình và nghỉ hưu theo chế độ. Vũ Đình Hòe mất đột ngột khi đang điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh) vào lúc 9h20 ngày 29/1/2011. Ông hưởng thọ 99 tuổi. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất.
J. R. R. Tolkien John Ronald Reuel Tolkien #đổi (, ; 3 tháng 1 năm 1892 – 2 tháng 9 năm 1973) là một nhà văn, tiểu thuyết gia, và giáo sư người Anh, được công chúng biết đến nhiều nhất qua các tác phẩm "Anh chàng Hobbit" ("The Hobbit") và "Chúa tể những chiếc nhẫn" ("The Lord of the Rings"). Ông giảng dạy về ngôn ngữ Anglo-Saxon hay tiếng Anh cổ tại Đại học Oxford (giữ cương vị Giáo sư Rawlinson Bosworth đầu ngành Anglo-Saxon của Oxford) từ năm 1925 đến 1945, và sau đó ông giữ ghế Giáo sư Merton đầu ngành ngôn ngữ và văn học Anh cũng tại Oxford từ 1945 đến 1959. Ông cải sang Công giáo và là một tín hữu sùng đạo. Tolkien là bạn thân của C. S. Lewis; cả hai cùng là thành viên của nhóm văn sĩ nổi tiếng Inklings. Ông được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước CBE ("Commander of the Order of the British Empire") năm 1972. Ngoài những tác phẩm nổi tiếng "Anh chàng Hobbit" và "Chúa tể những chiếc nhẫn" được xuất bản khi ông còn sống, con trai ông, Christopher Tolkien đã xuất bản những tác phẩm khác, dựa gần như hoàn toàn trên những ghi chép của cha mình. Trong số đó có "Những viên ngọc Silmaril" và các tiểu thuyết khác, gộp chung lại thành một bộ truyện thống nhất về những câu chuyện kể, sử thi, ngôn ngữ và các bài viết về thế giới giả tưởng Arda và Trung Địa (tên gọi bắt nguồn từ chuyển thể tiếng Anh của từ Miðgarðr trong tiếng Bắc Âu cổ, vốn là tên gọi của vùng đất của loài người trong thần thoại của các bộ tộc nhánh German). Nội dung của bộ truyện cũng đề cập đến và gắn liền với, dù chỉ là rất ít, thế giới thực tại. Tolkien gọi cả bộ tác phẩm của mình là "legendarium" (tuyển tập những truyền thuyết, gốc Latinh) Tuy đã có nhiều tác giả khác viết về thể loại kỳ ảo trước Tolkien, thành công vang dội của "Anh chàng Hobbit" và "Chúa tể những chiếc nhẫn" đã trực tiếp làm nên sự hồi sinh của thể loại này. Chính điều này khiến cho Tolkien được suy tôn là cha đẻ của thể loại văn học kỳ ảo hiện đại. Năm 2008, "The Times" xếp ông đứng thứ 6 trong danh sách "50 nhà văn Anh lớn nhất kể từ năm 1945". Forbes xếp ông thứ năm trong số những nhà văn đã qua đời có thu nhập cao nhất năm 2009. Nguồn gốc gia đình của Tolkien. Tổ tiên gia tộc Tolkien phần lớn là những thợ thủ công. Gia tộc Tolkien bắt nguồn từ vùng Hạ Saxony, nhưng bắt đầu sống tại Anh từ thế kỷ 18. Họ "Tolkien" được cho là có từ nguyên từ chữ "tollkühn" trong tiếng Đức. Các tác giả Đức cũng cho rằng họ này rất có khả năng bắt nguồn từ tên ngôi làng Tolkynen, gần Rastenburg, Đông Phổ. Tên của vùng này có nguồn gốc từ tiếng Phổ cổ, hiện đã thất truyền. Ông bà ngoại Tolkien, John và Edith Jane Suffield, là những tín đồ Baptist sống tại Birmingham và sở hữu một cửa hàng ở trung tâm thành phố. Gia đình Suffield kinh doanh rất nhiều thứ trong cùng một căn nhà đó từ đầu thế kỉ 19. Từ năm 1810 cụ cố tổ của Tolkien là William Suffield có một cửa hàng văn phòng phẩm ở đây; từ năm 1826, cụ cố của Tolkien, cũng tên là John Suffield, kinh doanh một cửa hàng chăn màn ở đây. John Ronald Reuel Tolkien sinh ngày 3 tháng 1 năm 1892 tại Bloemfontein thuộc bang Orange Free (hiện nay là tỉnh Free State, Nam Phi), con của ông Arthur Tolkien (1857–1896), một quản lý ngân hàng người Anh, và bà Mabel Suffield (1870–1904). Hai người đã rời Anh khi Arthur được thăng chức đứng đầu văn phòng ở Bloemfontein của Ngân hàng Anh. Tolkien có một người em trai, Hilary Arthur Reuel, sinh ngày 17 tháng 2 năm 1894. Lúc còn nhỏ, Tolkien bị một con nhện to cắn trong vườn, một sự kiện mà sau này đã để lại một ấn tượng lớn trong các tác phẩm của ông, tuy Tolkien đã thú nhận rằng mình không có nhớ gì nhiều về việc này cũng như ông không hề mắc chứng sợ nhện khi lớn lên. Khi lên ba tuổi, Tolkien về Anh với mẹ và em để thăm gia đình. Cha ông qua đời tại Nam Phi do mắc bệnh nặng. Điều này dẫn đến việc gia đình Tolkien thiếu nguồn thu nhập, vì thế mẹ Tolkien gửi ông về nhà ông bà ngoại ở Birmingham. Ngay sau đó, năm 1896, họ dời đến Sarehole, rồi lại đến một ngôi làng ở Worcestershire, rồi trở về Birmingham. Tolkien thích thú khám phá chiếc cối xay bằng nước ở Sarehole, rừng Moseley Bog và các ngọn đồi Clent, Lickey và Malvern, những nơi sau này tạo cảm hứng cho ông sáng tạo nên khung cảnh của "Anh chàng Hobbit" và "Chúa Nhẫn" cùng với thị trấn Worcestershire và các ngôi làng Bromsgrove, làng Alcester, và làng Alvechurch cũng như trang trại Đáy Túi (Bag End) của dì Jane của ông, sau này trở thành tên ông đặt cho nơi sinh sống của anh chàng Bilbo người Hobbit. Mabel Tolkien tự mình dạy học cho 2 đứa con. Bà dạy cho con mình nhiều về thảo mộc và đánh thức trong ông niềm vui được nhìn ngắm và cảm nhận cây cối. Cậu bé Tolkien thích vẽ phong cảnh và cây cối, nhưng những giờ học cậu thích thú nhất là những giờ liên quan đến ngôn ngữ, mẹ ông dạy ông các quy tắc cơ bản của tiếng Latin từ rất sớm. Ông biết đọc lưu loát từ năm bốn tuổi và có thể viết rành rọt sau đó không lâu. Mẹ ông cho ông đọc rất nhiều sách. Ông thích những truyện về thổ dân châu Mỹ ở Hoa Kỳ và những tác phẩm kỳ ảo của George MacDonald. Thêm vào đó, quyển "Truyện thần tiên" của Andrew Lang đặc biệt quan trọng đối với ông và ảnh hưởng của nó trong các tác phẩm sau này của ông là rất rõ ràng. Tolkien học tại trường King Edward ở Birmingham, và sau đó là trường St. Philip, trước khi ông đạt được học bổng và trở lại học trường King Edward. Mabel Tolkien trở thành tín đồ Công giáo Roma vào năm 1900 bất chấp sự kịch liệt phản đối của gia đình mình, là những người theo đạo Báp-tít. Vì thế, họ đã cắt luôn mọi sự giúp đỡ tài chính. Năm 1904, khi Tolkien 12 tuổi, bà qua đời vì bệnh tiểu đường loại 1. Mabel Tolkien lúc đó mới 34 tuổi nhưng do bệnh tật, bà trông già hơn nhiều, bà qua đời do insulin để chữa bệnh tiểu đường phải đến hai thập kỷ sau mới được tìm ra. Chín năm sau khi mẹ mất, Tolien viết: "Mẹ tôi thật sự là một vị thánh, không phải với bất cứ ai Đức Chúa cũng dễ dàng ban cho món quà là một người mẹ như vậy, Người trao cho chúng tôi một người mẹ sẵn sàng hy sinh để giữ lấy niềm tin cho chúng tôi." Trước khi qua đời, Mabel Tolkien đã giao quyền giám hộ hai người con trai cho Cha Francis Xavier Morgan ở tu viện Birmingham. Tolkien lớn lên ở Edgbaston, Birmingham. Ông sống dưới bóng của tòa tháp Perrott và tòa tháp Edgbaston, những nơi có lẽ đã ảnh hưởng nhiều đến hình ảnh những tòa tháp u tối trong các tác phẩm của ông. Một nguồn ảnh hưởng quan trọng nữa đến từ những bức tranh trường phái lãng mạn của Edward Burne-Jones và của những họa sĩ Tiền Raphael ở Anh, bảo tàng nghệ thuật Birmingham có một bộ sưu tập nổi tiếng những bức họa đó trưng bày từ khoảng năm 1908. Năm 1911, khi học tại trường King Edward, Birmingham, Tolkien và ba người bạn, Rob Gilson, Geoffrey Smith và Christopher Wiseman, lập một tổ chức bán bí mật mà họ gọi là "nhóm T.C.B.S." (ban đầu là viết tắt của cụm "Tea Club and Barrovian Society") Sau khi ra trường, các thành viên của nhóm vẫn liên lạc với nhau, và năm 1914, họ thành lập một "hội đồng" ở London, tại nhà Wiseman. Đối với Tolkien, kết quả của việc thành lập "hội đồng" này nhằm mục đích tập tành viết thơ. Mùa hè 1911, Tolkien đi du lịch Thụy Sĩ, chuyến đi mà sau này ông nhớ lại một cách sống động trong một lá thư năm 1968, nói rằng cuộc hành trình của Bilbo Baggins qua Dãy núi Mù Sương trong "Anh chàng Hobbit" trực tiếp dựa trên cuộc phiêu lưu của ông cùng 11 người bạn đi từ Interlaken tới Lauterbrunnen và cắm trại trên những phiến băng tích vùng Mürren. 57 năm sau, Tolkien nhớ lại cảm giác nuối tiếc của ông khi phải rời khung cảnh băng tuyết vĩnh cửu ở Jungfrau và Silberhorn ("Đỉnh Gạc Bạc (Silvertine - một đỉnh núi phía Tây trong Dãy Mù Sương trong thế giới Trung Địa của Tolkien) trong những giấc mơ của tôi"). Họ đi qua ngọn Kleine Scheidegg tới Grindelwald và trèo qua đỉnh Grosse Scheidegg để tới Meiringen rồi tiếp tục băng qua Grimsel Pass, qua cả Valais tới Brig, cuối cùng lên đến Aletsch Glacier và Zermatt. Tháng Mười năm đó, Tolkien bắt đầu học tại trường Exeter, Oxford. Ban đầu ông học Văn chương Cổ điển phương Tây nhưng rồi đổi sang học Ngôn ngữ và Văn học Anh năm 1913, tốt nghiệp năm 1915 với bằng ưu hạng. Ở tuổi 16, Tolkien gặp Edith Mary Bratt, lớn hơn mình ba tuổi, khi ông và em trai Hilary chuyển đến sống tại căn nhà trọ mà Edith cùng ở. Theo Humphrey Carpenter đã viết: Người bảo hộ của Tolkien, Cha Francis Morgan, thấy rằng Edith làm Tolkien sao nhãng việc học hành và sợ đứa trẻ của ông yêu một cô gái Kháng Cách, đã ngăn cản họ gặp nhau, trò chuyện, hay cả liên lạc cho tới khi Tolkien 21 tuổi. Tolkien tuân thủ đúng lệnh cấm này, trừ một lần ông vi phạm khiến Cha Morgan dọa sẽ cho ông nghỉ học đại học nếu còn lặp lại. Buổi chiều ngày sinh nhật thứ 21 của mình, Tolkien viết một lá thư cho Edith nói rằng anh yêu cô và xin cầu hôn cô. Edith hồi âm nói rằng cô đã đồng ý cưới một người khác, nhưng cô làm vậy vì cô tưởng Tolkien đã quên cô rồi. Hai người gặp lại và ngay dưới cây cầu xe lửa, họ đã nói lại lời yêu nhau; Edith trả lại nhẫn đính hôn và nói rằng cô sẽ cưới Tolkien. Sau lễ đính hôn của họ, Edith miễn cưỡng tuyên bố cô cải đạo thành một người Công giáo vì sự nằn nì của Tolkien. Edith và Ronald chính thức đính hôn ở Birmingham vào tháng 1 năm 1913, và làm lễ cưới ở Warwick, tại nhà thờ Công giáo Đức Mẹ Vô Nhiễm ngày 22 tháng 3 năm 1916. Chiến tranh thế giới thứ nhất. Năm 1914, nước Anh bước vào Chiến tranh thế giới thứ nhất. Họ hàng của Tolkien sửng sốt khi ông tuyên bố sẽ không xung phong ngay lập tức vào quân đội Anh. Thay vào đó, Tolkien đăng ký sẽ không tham gia cho tới khi ông hoàn thành chương trình học đại học của mình vào tháng 7 năm 1915. Ông sau đó được phong hàm Thiếu úy trong binh đoàn Súng hỏa mai Lancashire. Ông tập huấn tại Cannock Chase, Staffordshire, trong 11 tháng. Trong một lá thư gửi Edith, Tolkien than phiền, "Trong số những sĩ quan chỉ huy, số người đàng hoàng rất ít, thậm chí, tới cả là con người cũng ít." Tolkien sau đó được chuyển sang Lực lượng Viễn chinh Anh, đến Pháp ngày 4 tháng 1 năm 1916. Chuyến đi từ Anh trên chiếc xe chở quân lính truyền cảm hứng cho ông viết bài thơ "Hòn đảo cô độc". Tolkien là sĩ quan tín hiệu phục vụ trong trận Somme, tham gia cuộc tấn công gò Thiepval và cả cuộc đột kích sau đó vào đồn Schwaben. Trong thời gian Tolkien phục vụ quân đội, Edith rất phiền muộn vì nỗi sợ một ngày nào đó sẽ có tiếng gõ cửa báo tin chồng tử trận. Để qua mặt bộ phận kiểm duyệt của quân đội Anh, hai người đã tạo nên một mật mã dùng khi viết thư. Nhờ vậy, Edith có thể nắm được tình hình hành quân của chồng ở mặt trận phía Tây. Tolkien được giải ngũ về Anh ngày 8 tháng 11 năm 1916. Nhiều người bạn thân của ông, có cả Gilson và Smith trong nhóm T.C.B.S., đã hy sinh trong chiến tranh. Những năm sau này, Tolkien đã phẫn nộ tuyên bố rằng những người tìm kiếm trong các tác phẩm của ông nét tương đồng với Chiến tranh thế giới thứ hai là hoàn toàn sai lầm:
Đồ án tốt nghiệp Đồ án tốt nghiệp là một công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường đại học thực hiện vào học kỳ cuối để tốt nghiệp ra trường. Ở Việt Nam cũng có một số trường lấy kết quả thi một số môn học mà không phải làm đồ án tốt nghiệp. Khái niệm đồ án tốt nghiệp cũng tương đương với luận văn tốt nghiệp, nhưng luận văn mang tính chất lý thuyết, nghiên cứu nhiều hơn, còn đồ án tốt nghiệp thì mang tính chất thực hành, có thể tạo thành sản phẩm phục vụ cho công việc nào đó. Sau khi làm hoàn thành và bảo vệ xong đồ án tốt nghiệp, thì sinh viên có thể sẽ được phát bằng đại học; và có đủ điều kiện để xác nhận là đã đạt trình độ tốt nghiệp đại học. Những sinh viên có đồ án làm xuất sắc hay có kết quả học tập tốt có thể học tiếp lên cao học, tiến sĩ hoặc có thể được giữ lại trường làm trợ giảng, hoặc cả hai, sau một thời gian rèn luyện thì có thể trở thành giảng viên chính thức. Hình thức của Đồ án. Trình bày Đồ án. Đồ án phải được in trên giấy A4 với font chữ Unicode; và có quy định cụ thể về lề trên; lề dưới; lề trái; lề phải. Tổng chiều dài của đồ án thông thường khoảng 100 đến 200 trang (với quy định giãn dòng), không kể phần phụ lục. Nội dung của Đồ án. Mục lục của Đồ án tốt nghiệp: liệt kê tên và đánh số trang các chương, các mục lớn trong chương và các mục nhỏ trong các mục lớn. Trong phần mềm office, có thể sử dụng chức năng tự động tạo mục lục ("Index and Table"). Để sử dụng chức năng này, tiêu đề của chương và của các mục trong chương phải được định dạng kiểu Heading 1, 2, 3, → n. Danh sách hình vẽ. Danh sách hình vẽ: liệt kê tên và đánh số trang của các hình vẽ trong đồ án. Trong phần mềm office, có thể sử dụng chức năng tự động tạo danh sách hình vẽ ("Index and Table"). Danh sách bảng biểu. Danh sách bảng biểu: liệt kê tên và đánh số trang của các bảng biểu trong đồ án. Trong phần mềm office, có thể sử dụng chức năng tự động tạo danh sách bảng biểu ("Index and Table").. Danh sách từ viết tắt. Danh sách các từ viết tắt: liệt kê và giải thích nghĩa của các từ viết tắt dùng trong Đồ án. Tóm tắt Đồ án. Trình bày mục đích và các kết luận quan trọng nhất của đồ án với chiều dài khoảng 1 trang. Riêng ở Việt Nam, quy định phải viết bằng tiếng Việt và cả tiếng Anh. Nhận xét của giảng viên. Nhận xét của giảng viên hướng dẫn sau khi sinh viên hoàn thành đồ án tốt nghiệp. Giới thiệu được vấn đề mà Đồ án cần giải quyết, mô tả được các phương pháp hiện có để giải quyết vấn đề, trình bày mục đích của Đồ án cùng với việc giới hạn phạm vi của vấn đề mà Đồ án sẽ tập trung giải quyết. Phần này cũng sẽ giới thiệu tóm tắt các nội dung sẽ được trình bày trong các chương tiếp theo. Phần kết luận của đồ án cần nhấn mạnh những vấn đề đã giải quyết đồng thời trình bày các vấn đề vẫn chưa được giải quyết và đưa ra kiến nghị, đề xuất. Phần này liệt kê danh sách các tài liệu đã được dùng để tham khảo trong quá trình làm đồ án. Phần này bao gồm các thông tin quan trọng có liên quan đến đồ án nhưng nếu để trong phần chính sẽ gây rườm rà. Thông thường các chi tiết sau thường được để trong phần phụ lục: mã chương trình, các thông số kỹ thuật, chi tiết của các khối được sử dụng trong phần thiết kế, các kết quả chưa qua xử lý, Bản quyền liên quan đến Đồ án. "Đồ án tốt nghiệp thường được hiểu là có hai loại:" Quản trị Đồ án. Đồ án tốt nghiệp nộp bao gồm ba bản in và 2 đĩa CD. Đĩa CD kèm theo mỗi đồ án để lưu trữ cần có: "Để tránh thất lạc và nhầm lẫn, đĩa CD được để trong túi nilon và kẹp ghim hoặc dán vào trang bìa 3 của báo cáo. Trên nhãn đĩa cần ghi rõ: Họ và Tên sinh viên và Lớp. Một đĩa sẽ được nộp cho giảng viên hướng dẫn để lưu trữ, một đĩa sinh viên phải nộp trực tiếp ở giáo vụ Khoa".
Thanh Tâm Tuyền (1936-2006), tên thật là Dzư Văn Tâm, là một nhà thơ, nhà văn người Việt nổi tiếng, được biết đến với những cách tân thơ ca táo bạo. Năm 1956, lúc tròn 20 tuổi, ông đã nổi tiếng với tập thơ "Tôi không còn cô độc", và năm 1957, lúc 21 tuổi, với tiểu thuyết "Bếp lửa" (viết năm 1954) "mô tả khung cảnh Hà Nội trước 1954, với những người ra đi cũng như những người ở lại, cả hai đều bị giằng co bởi những chọn lựa miễn cưỡng, sự chia ly hay cái chết." Thanh Tâm Tuyền có ảnh hưởng lớn trên văn học Việt Nam giai đoạn 1956-1975 và cả những năm về sau này. Bút hiệu khác: Đỗ Thạch Liên. Thanh Tâm Tuyền sinh ngày 13 tháng 3 năm 1936 tại Vinh, tên thật là Dzư Văn Tâm. Năm 1952 (16 tuổi), ông dạy học tại trường Minh Tân (Hà Đông) và đăng những truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo "Thanh Niên" (Hà Nội). Năm 1954, ông hoạt động trong Tổng hội Sinh viên Hà Nội, cùng với Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, chủ trương nguyệt san "Lửa Việt". Năm 1955, ông vào Sài Gòn, cùng các bạn làm làm tờ "Dân Chủ" mà Thanh Tâm Tuyền và Trần Thanh Hiệp phụ trách phần văn nghệ. Mai Thảo gửi đến đoản văn "Đêm giã từ Hà Nội". Thanh Tâm Tuyền "kinh ngạc", mời tác giả đến toà soạn. Từ đó, "nhóm"' có thêm Mai Thảo, chủ trương tuần báo "Người Việt" (tiền thân của tờ "Sáng Tạo"), với sự cộng tác của Lữ Hồ, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Quách Thoại. Tháng 10 năm 1956, "Sáng Tạo" ra đời. Từ 1956 đến 1960, Mai Thảo làm chủ bút. Năm 1956, hai mươi tuổi, Thanh Tâm Tuyền cho in cuốn sách đầu tay "Tôi không còn cô độc" (thơ), và năm sau "Bếp lửa" (văn, 1957), hai tác phẩm đánh dấu sự thay đổi diên mạo văn học miền Nam, đến thời đó vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của lãng mạn tiền chiến. Năm 1962, Thanh Tâm Tuyền nhập ngũ, 1966, giải ngũ, 1969, tái ngũ, ở trong quân đội đến 1975; cấp bực cuối cùng là đại úy trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau 1975, bị đi tù cải tạo 7 năm qua nhiều trại giam khắc nghiệt ngoài Việt Bắc. Thanh Tâm Tuyền ra tù 1982. Sang định cư tại Hoa Kỳ từ tháng 4 năm 1990 theo diện HO, sống ở tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ, giữ thái độ gần như ẩn dật. Thanh Tâm Tuyền mất hồi 11 giờ 30 ngày 22 tháng 03 năm 2006, khi mới bước vào tuổi 70. Một số thơ của ông đã được Phạm Đình Chương và Cung Tiến phổ thành những nhạc phẩm rất nổi tiếng như: "Bài ngợi ca tình yêu", "Dạ tâm khúc", "Đêm màu hồng", "Lệ đá xanh", "Nửa hồn thương đau".
Ernesto "Che" Guevara ([ˈtʃe ɣeˈβaɾa]; 14 tháng 6 năm 1928 – 9 tháng 10 năm 1967) là một nhà Cách mạng theo Chủ nghĩa Marx, bác sĩ, tác giả, lãnh đạo du kích, nhà ngoại giao và nhà lý luận quân sự người Argentina. Là một nhân vật quan trọng của Cách mạng Cuba, hình ảnh cách điệu của ông đã trở thành một biểu tượng văn hóa phản kháng phổ biến của sự nổi loạn và biểu tượng toàn cầu trong văn hóa đại chúng. Khi còn là một sinh viên y khoa trẻ tuổi, Guevara đã đi du lịch khắp Nam Mỹ và bị cực đoan hóa bởi sự nghèo đói và bệnh tật mà ông chứng kiến. Mong muốn ngày càng tăng của ông nhằm giúp lật đổ những gì ông coi là sự bóc lột tư bản của Hoa Kỳ ở châu Mỹ La Tinh đã thúc đẩy ông tham gia vào các cải cách xã hội của Guatemala dưới thời Tổng thống Jacobo Árbenz, người cuối cùng được CIA hỗ trợ lật đổ theo lệnh của United Fruit Company đã củng cố hệ tư tưởng chính trị của Guevara. Sau đó tại Thành phố Mexico, Guevara gặp Raúl và Fidel Castro, tham gia Phong trào 26 tháng 7 của họ và lên đường tới Cuba trên du thuyền Granma với ý định lật đổ nhà độc tài được Mỹ hậu thuẫn Fulgencio Batista. Guevara nhanh chóng trở nên quan trọng trong giới nổi dậy, được thăng chức chỉ huy thứ hai và đóng vai trò then chốt trong chiến dịch du kích kéo dài 2 năm nhằm lật đổ chế độ Batista. Sau Cách mạng Cuba, Guevara đóng vai trò chủ chốt trong chính phủ mới. Công việc của ông bao gồm việc xem xét các đơn kháng cáo và xử bắn những người bị kết án là tội phạm chiến tranh trong các tòa án cách mạng, tiến hành cải cách ruộng đất với tư cách là Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, giúp dẫn đầu một chiến dịch xóa mù chữ thành công trên toàn quốc, đồng thời giữ chức Chủ tịch Ngân hàng Quốc gia và giám đốc giảng dạy cho các lực lượng vũ trang của Cuba và đi khắp thế giới với tư cách là nhà ngoại giao thay mặt cho chủ nghĩa xã hội Cuba. Những vị trí như vậy cũng cho phép ông đóng vai trò trung tâm trong việc huấn luyện lực lượng dân quân đẩy lùi Cuộc xâm nhập Vịnh Con Lợn, và đưa tên lửa đạn đạo mang đầu đạn hạt nhân của Liên Xô tới Cuba, trước cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Ngoài ra, Guevara còn là một nhà văn và người viết nhật ký giỏi, đã soạn một cuốn sách hướng dẫn về chiến tranh du kích có ảnh hưởng sâu rộng, cùng với một cuốn hồi ký bán chạy nhất về cuộc hành trình bằng mô-tô xuyên lục địa thời trẻ của ông. Kinh nghiệm và việc nghiên cứu Chủ nghĩa Marx–Lenin đã khiến ông thừa nhận rằng sự kém phát triển và phụ thuộc của Thế giới thứ ba là kết quả nội tại của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân mới và chủ nghĩa tư bản độc quyền, với các biện pháp khắc phục duy nhất là chủ nghĩa quốc tế vô sản và cách mạng thế giới. Guevara rời Cuba vào năm 1965 để thúc đẩy các cuộc cách mạng lục địa trên khắp châu Phi và Nam Mỹ, lần đầu tiên không thành công ở Congo-Kinshasa và sau đó là ở Bolivia, nơi ông bị lực lượng Bolivia do CIA hỗ trợ bắt giữ và bị xử tử ngay sau đó. Guevara vừa là một nhân vật lịch sử được tôn kính vừa bị chửi rủa, bị phân cực trong trí tưởng tượng của tập thể trong vô số tiểu sử, hồi ký, tiểu luận, phim tài liệu, bài hát và phim. Do nhận thức được sự tử đạo của mình, những lời kêu gọi đầy chất thơ về đấu tranh giai cấp và mong muốn tạo ra ý thức về một "con người mới" được thúc đẩy bởi các động cơ đạo đức hơn là vật chất, Guevara đã phát triển thành một biểu tượng tinh túy của nhiều phong trào cánh tả khác nhau. Ngược lại, những người chỉ trích ông thuộc chính trị cánh hữu cáo buộc ông cổ vũ chủ nghĩa độc tài và ủng hộ bạo lực chống lại các đối thủ chính trị của mình. Bất chấp những bất đồng về di sản của ông, "Time" đã vinh danh ông là một trong , trong khi một bức ảnh của Alberto Korda về ông, có tựa đề "Guerrillero Heroico", được Viện Nghệ thuật Maryland coi là "bức ảnh nổi tiếng nhất thế giới". Ernesto Guevara chào đời ngày 14 tháng 6 năm 1928, tại Rosario, Argentina. Tuy tên khai sinh của ông là "Ernesto Guevara", song đôi khi cũng đi kèm với các tên phụ như "de la Serna" và/hoặc "Lynch". Ông là con cả trong số 5 người con của một gia đình Argentina thượng lưu mang gốc gác Tây Ban Nha và Ireland, có bố là Ernesto Guevara Lynch và mẹ là Celia de la Serna y Llosa. Hai nhân vật nổi bật ở thế kỷ 18 cùng chung huyết thống với Guevera là Luis María Peralta, một địa chủ người Tây Ban Nha lập nghiệp ở California, và Patrick Lynch, một lưu dân Ireland di cư tới Thuộc địa Río de la Plata. Cha ông có nhắc đến tính tình "bộc chộp" của Che như sau: "điều nổi bật trước tất đó là dòng máu nổi loạn của dân tộc Ireland chảy trong huyết quản của con trai tôi". Ernestito (biệt danh hồi nhỏ của Guevara) đã phát triển "nỗi cảm thông đối với người nghèo" từ rất sớm. Sinh thành trong một gia đình tả khuynh, ông từ nhỏ đã được phơi bày với các luồng tư tưởng chính trị đa chiều. Cha ông là người ủng hộ nhiệt thành phe Cộng hòa trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, thường xuyên tiếp đãi các vị cựu chiến binh ở tư gia. Lúc thiếu thời, ông từng dự định theo nghề bán hóa phẩm trừ sâu, thậm chí từng dựng một phòng lab nhỏ trong ga-ra để thí nghiệm và sản xuất hợp chất tan-lindan dưới nhãn hiệu "Vendaval", song không lâu sau phải từ bỏ vì bị dị ứng hen suyễn đối với hóa chất. Bất chấp nhiều cơn hen suyễn cấp tính ảnh hưởng đến ông trong suốt cuộc đời, ông vẫn là một vận động viên xuất sắc, thích bơi lội, bóng đá, chơi gôn và bắn súng, đồng thời trở thành một tay đua xe đạp "không biết mệt mỏi". Ông là một cầu thủ cuồng nhiệt của đội bóng bầu dục, và chơi ở vị trí fly-half cho Club Universitario de Buenos Aires. Việc chơi bóng bầu dục đã mang lại cho ông biệt danh "Fuser"—viết tắt của "El Furibundo" (mạnh mẽ) và họ của mẹ ông, "de la Serna"—vì phong cách chơi năng nổ của ông. Sở thích trí tuệ và văn chương. Guevara học cờ vua từ cha mình và bắt đầu tham gia các giải đấu địa phương ở tuổi 12. Trong thời niên thiếu và trong suốt cuộc đời, ông đam mê thơ ca, đặc biệt là thơ của Pablo Neruda, John Keats, Antonio Machado, Federico García Lorca, Gabriela Mistral, César Vallejo và Walt Whitman. He could also recite Rudyard Kipling's "If—" and José Hernández's "Martín Fierro" by heart. Ông cũng có thể đọc thuộc lòng bài "Nế—" của Rudyard Kipling và "Martín Fierro" của José Hernández. Ngôi nhà của Guevara chứa hơn 3.000 cuốn sách, điều này cho phép Guevara trở thành một độc giả nhiệt tình và chiết trung, với những mối quan tâm bao gồm Karl Marx, William Faulkner, André Gide, Emilio Salgari và Jules Verne.[38] Ngoài ra, ông còn thích các tác phẩm của Jawaharlal Nehru, Franz Kafka, Albert Camus, Vladimir Lenin và Jean-Paul Sartre; cũng như Anatole France, Friedrich Engels, H. G. Wells, và Robert Frost. Khi lớn lên, ông bắt đầu quan tâm đến các nhà văn Mỹ La Tinh Horacio Quiroga, Ciro Alegría, Jorge Icaza, Rubén Darío và Miguel Asturias. Nhiều ý tưởng của các tác giả này được ông liệt kê vào sổ viết tay của mình về các khái niệm, định nghĩa và triết lý của những trí thức có ảnh hưởng. Chúng bao gồm việc soạn thảo các bản phác thảo phân tích về Đức Phật và Aristotle, cùng với việc xem xét Bertrand Russell về tình yêu và lòng yêu nước, Jack London về xã hội, và Nietzsche về ý tưởng của cái chết. Những ý tưởng của Sigmund Freud đã mê hoặc ông khi ông trích dẫn về nhiều chủ đề khác nhau, từ những giấc mơ và ham muốn tình dục đến lòng tự ái và phức cảm Oedipus. Các môn học yêu thích của ông ở trường bao gồm triết học, toán học, kỹ thuật, khoa học chính trị, xã hội học, lịch sử và khảo cổ học. Một "báo cáo tiểu sử và tính cách" của CIA, đề ngày 13 tháng 2 năm 1958 và được giải mật nhiều thập kỷ sau đó, đã lưu ý đến phạm vi quan tâm và trí tuệ học thuật của Guevara - mô tả ông là "đọc khá tốt", đồng thời nói thêm rằng "Che khá trí tuệ nếu so với một người La Tinh". Thực hiện hành trình bằng xe mô-tô. Năm 1948, Guevara vào Đại học Buenos Aires để học y khoa. "Niềm khao khát khám phá thế giới" đã khiến ông xen kẽ việc theo đuổi thời đại học của mình với hai cuộc hành trình dài đã thay đổi căn bản cách ông nhìn nhận bản thân và điều kiện kinh tế đương thời ở Mỹ La Tinh. Chuyến thám hiểm đầu tiên, vào năm 1950, là chuyến đi một mình dài 4.500 km (2.800 dặm) qua các tỉnh nông thôn phía Bắc của Argentina trên chiếc xe đạp có lắp một động cơ nhỏ. Guevara sau đó dành 6 tháng làm y tá trên các tàu chở hàng và tàu chở dầu của Argentina trên biển. Chuyến thám hiểm thứ hai của ông, vào năm 1951, là một chuyến đi bằng mô tô xuyên lục địa kéo dài 9 tháng, với đoạn đường 8.000 km (5.000 dặm) qua một phần Nam Mỹ. Về sau, ông đã nghỉ học một năm để bắt tay với người bạn của mình, Alberto Granado, với mục tiêu cuối cùng là dành vài tuần làm tình nguyện viên tại khu dành cho người cùi San Pablo ở Peru, bên bờ sông Amazon. Ở Chile, Guevara tức giận trước điều kiện làm việc của những người thợ mỏ tại mỏ đồng Chuquicamata ở Anaconda, cảm động trước cuộc gặp gỡ qua đêm của anh ở hoang mạc Atacama với một cặp vợ chồng cộng sản bị đàn áp, những người thậm chí còn không sở hữu một chiếc chăn, mô tả họ là "những nạn nhân bằng xương bằng thịt run rẩy dưới sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản". Trên đường tới Machu Picchu, ông choáng váng trước cảnh nghèo đói khủng khiếp ở các vùng nông thôn hẻo lánh, nơi nông dân canh tác trên những mảnh đất nhỏ thuộc sở hữu của các địa chủ giàu có. Sau đó trong cuộc hành trình của mình, Guevara đặc biệt ấn tượng trước tình bạn thân thiết giữa những người sống ở thuộc địa của người cùi, ông nói rằng, "Những hình thức đoàn kết và lòng trung thành cao nhất của con người nảy sinh giữa những người cô đơn và tuyệt vọng như vậy". Guevara đã sử dụng những ghi chú ghi lại trong chuyến đi này để viết một bài tường thuật (không được xuất bản cho đến năm 1995), có tựa đề "The Motorcycle Diaries", sau này trở thành sách bán chạy nhất của New York Times, và được chuyển thể thành phim cùng tên năm 2004. Cuộc hành trình bằng mô tô dọc theo chiều dài Nam Mỹ đã đánh thức anh về sự bất công dưới sự thống trị của Hoa Kỳ cũng như nỗi đau khổ mà chủ nghĩa thực dân mang lại cho những cư dân nguyên thủy của nó. —George Galloway, British politician, 2006 Cuộc hành trình đã đưa Guevara qua Argentina, Chile, Peru, Ecuador, Colombia, Venezuela, Panama và Miami, Florida trong 20 ngày, trước khi trở về quê nhà ở Buenos Aires. Đến cuối chuyến đi, ông coi Châu Mỹ La Tinh không phải là một tập hợp các quốc gia riêng biệt mà là một thực thể duy nhất cần một chiến lược giải phóng toàn lục địa. Quan niệm của ông về một Châu Mỹ Tây Ban Nha thống nhất, không biên giới, chia sẻ di sản chung của người La Tinh là chủ đề được tái hiện nổi bật trong các hoạt động cách mạng sau này của ông. Khi trở về Argentina, ông hoàn thành việc học và nhận bằng y khoa vào tháng 6 năm 1953. Guevara sau đó nhận xét rằng, trong những chuyến du lịch ở Châu Mỹ La Tinh, ông đã "tiếp xúc gần gũi với nghèo đói và bệnh tật" cùng với việc "không thể chữa trị cho một đứa trẻ vì thiếu tiền" và "sự choáng váng do liên tục bị đói và bị trừng phạt" khiến người cha "chấp nhận việc mất con trai như một tai nạn không đáng kể". Guevara kể lại những kinh nghiệm này đã thuyết phục ông rằng để "giúp đỡ những người này", ông cần phải rời bỏ lĩnh vực y học và xem xét lĩnh vực chính trị về đấu tranh vũ trang. Hoạt động chính trị ban đầu. Hoạt động ở Guatemala. Ernesto Guevara chỉ ở Guatemala hơn 9 tháng. Vào ngày 7 tháng 7 năm 1953, Guevara lại lên đường đến Bolivia, Peru, Ecuador, Panama, Costa Rica, Nicaragua, Honduras và El Salvador. Vào ngày 10 tháng 12 năm 1953, trước khi lên đường đến Guatemala, Guevara đã gửi một lá thư cho dì Beatriz của mình từ San José, Costa Rica. Trong bức thư Guevara nói về việc vượt qua quyền thống trị của United Fruit Company, một hành trình thuyết phục ông rằng hệ thống tư bản chủ nghĩa của công ty này gây bất lợi cho người dân bình thường. Ông sử dụng giọng điệu hung hãn để khiến những người thân bảo thủ hơn của mình sợ hãi, và bức thư kết thúc bằng việc Guevara tuyên thệ trước hình ảnh của Joseph Stalin vừa mới qua đời, sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi những "con bạch tuộc này bị tiêu diệt". Cuối tháng đó, Guevara đến Guatemala, nơi Tổng thống Jacobo Árbenz đứng đầu một chính phủ được bầu cử dân chủ, thông qua cải cách ruộng đất và các sáng kiến khác, đang cố gắng chấm dứt hệ thống nông nghiệp "Latifundium". Để thực hiện được điều này, Tổng thống Árbenz đã ban hành một chương trình cải cách ruộng đất lớn, trong đó tất cả các phần đất đai rộng lớn chưa được canh tác sẽ được phân phối lại cho nông dân không có đất. Chủ sở hữu đất lớn nhất và bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi cải cách là United Fruit Company, từ đó chính phủ Árbenz đã lấy hơn 225.000 mẫu Anh (91.000 ha) đất hoang hóa. Hài lòng với hướng đi mà đất nước đang hướng tới, Guevara quyết định sinh sống ở Guatemala để "hoàn thiện bản thân và hoàn thành bất cứ điều gì cần thiết để trở thành một nhà cách mạng thực sự". Tại Thành phố Guatemala, Guevara đã tìm đến Hilda Gadea Acosta, một nhà kinh tế người Peru, người có mối quan hệ tốt về mặt chính trị với tư cách là thành viên của phe cánh tả, Alianza Popular Revolucionaria Americana (APRA). Cô giới thiệu Guevara với một số quan chức cấp cao trong chính phủ Árbenz. Guevara sau đó thiết lập liên lạc với một nhóm người Cuba lưu vong có liên hệ với Fidel Castro thông qua cuộc tấn công ngày 26 tháng 7 năm 1953 vào Doanh trại Moncada ở Santiago de Cuba. Trong thời gian này, ông có được biệt danh nổi tiếng do thường xuyên sử dụng cách diễn đạt che của người Argentina (một dấu hiệu diễn ngôn đa mục đích, giống như âm tiết "eh" trong tiếng Anh Canada). Trong thời gian ở Guatemala, Guevara được những người lưu vong Trung Mỹ khác tiếp đón, một trong số họ có Helena Leiva de Holst, đã cung cấp thức ăn và chỗ ở cho ông, đã thảo luận về chuyến đi của cô để nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Nga và Trung Quốc,[61] và Guevara đã dành tặng bài thơ "Invitación al camino". Vào tháng 5 năm 1954, một con tàu chở vũ khí bộ binh và pháo hạng nhẹ được Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc gửi đến cho chính phủ Árbenz và đến Puerto Barrios. Kết quả là, chính phủ Hoa Kỳ — từ năm 1953 đã được Tổng thống Eisenhower giao nhiệm vụ loại bỏ Árbenz khỏi quyền lực trong chiến dịch nhiều mặt của CIA có mật danh là PBSuccess — đã phản ứng bằng cách tấn công Guatemala thông qua tuyên truyền chống Árbenz qua đài phát thanh và truyền đơn thả trên không, và bắt đầu ném bom bằng máy bay không rõ nhãn hiệu. Hoa Kỳ cũng tài trợ cho một lực lượng vũ trang gồm hàng trăm người tị nạn Guatemala chống Árbenz và lính đánh thuê do Carlos Castillo Armas đứng đầu để giúp loại bỏ chính phủ Árbenz. Vào ngày 27 tháng 6, Árbenz quyết định từ chức. Điều này cho phép Armas và lực lượng được CIA hỗ trợ của ông tiến vào Thành phố Guatemala và thành lập chính quyền quân sự, bầu Armas làm tổng thống vào ngày 7 tháng 7. Chế độ Armas sau đó củng cố quyền lực bằng cách vây bắt và xử tử những người bị nghi ngờ là cộng sản, đồng thời đè bẹp các liên đoàn lao động từng phát triển mạnh mẽ trước đó[68] và đảo ngược các cải cách nông nghiệp trước đây. Guevara háo hức chiến đấu thay mặt Árbenz và tham gia lực lượng dân quân vũ trang do thanh niên cộng sản tổ chức vì mục đích đó. Tuy nhiên, thất vọng vì nhóm đó không hoạt động, Guevara sớm quay trở lại nhiệm vụ y tế. Sau cuộc đảo chính, ông lại tình nguyện chiến đấu, nhưng ngay sau đó, Árbenz đã ẩn náu trong đại sứ quán Mexico và yêu cầu những người nước ngoài ủng hộ mình rời khỏi Guatemala. Những lời kêu gọi phản kháng liên tục của Guevara đã được những người ủng hộ cuộc đảo chính ghi nhận và ông bị kết tội giết người. Sau khi Gadea bị bắt, Guevara tìm kiếm sự bảo vệ bên trong lãnh sự quán Argentina, nơi ông ở lại cho đến khi nhận được giấy thông hành an toàn vài tuần sau đó và lên đường đến Mexico. Việc lật đổ chế độ Árbenz và thành lập chế độ độc tài cánh hữu Armas đã củng cố quan điểm của Guevara về Hoa Kỳ như một cường quốc đế quốc phản đối và cố gắng tiêu diệt bất kỳ chính phủ nào tìm cách khắc phục tình trạng bất bình đẳng kinh tế xã hội đặc hữu ở Mỹ La Tinh và các nước đang phát triển khác. Khi nói về cuộc đảo chính, Guevara nói: Niềm tin của Guevara củng cố rằng chủ nghĩa Marx, đạt được thông qua đấu tranh vũ trang và được quần chúng có vũ trang bảo vệ, là cách duy nhất để khắc phục những tình trạng đó. Gadea sau đó đã viết, "Chính Guatemala cuối cùng đã thuyết phục được ông ấy về sự cần thiết của đấu tranh vũ trang và chủ động chống lại chủ nghĩa đế quốc. Vào thời điểm ông ấy rời đi, ông ấy đã chắc chắn về điều này". Lưu vong ở Mexico. Guevara đến Thành phố Mexico vào ngày 21 tháng 9 năm 1954, và làm việc tại khoa dị ứng của Bệnh viện Đa khoa và Bệnh viện Infantil de Mexico. Ngoài ra, ông còn giảng dạy về y học tại Khoa Y thuộc Đại học Tự trị Quốc gia México và làm phóng viên ảnh tin tức cho Thông tấn xã Latina. Người vợ đầu tiên của ông, Hilda, ghi lại trong cuốn hồi ký "My Life with Che" rằng trong một thời gian, Guevara đã cân nhắc việc đi làm bác sĩ ở Châu Phi và ông tiếp tục gặp rắc rối sâu sắc bởi sự nghèo đói xung quanh mình. Trong một trường hợp, Hilda mô tả nỗi ám ảnh của Guevara với một bà thợ giặt lớn tuổi mà ông đang điều trị, nhận xét rằng ông coi bà ấy là "đại diện của tầng lớp bị lãng quên và bị bóc lột nhất". Hilda sau đó đã tìm thấy một bài thơ mà Che đã viết tặng bà lão, trong đó có "lời hứa đấu tranh vì một thế giới tốt đẹp hơn, vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả những người nghèo và bị bóc lột". Trong thời gian này, ông nối lại tình bạn với Ñico López và những người Cuba lưu vong khác mà ông đã gặp ở Guatemala. Vào tháng 6 năm 1955, López giới thiệu ông với Raúl Castro, người sau đó đã giới thiệu ông với anh trai mình, Fidel Castro, nhà lãnh đạo cách mạng, người đã thành lập Phong trào 26 tháng 7 và hiện đang âm mưu lật đổ chế độ độc tài của Fulgencio Batista. Trong cuộc trò chuyện dài với Fidel vào đêm gặp gỡ đầu tiên, Guevara kết luận rằng lý tưởng của người Cuba chính là lý tưởng mà ông đã tìm kiếm và trước bình minh ông đã đăng ký làm thành viên của Phong trào 26 tháng 7. Bất chấp "tính cách trái ngược nhau" của họ, từ thời điểm này Che và Fidel bắt đầu nuôi dưỡng điều mà người viết tiểu sử kép Simon Reid-Henry coi là "tình bạn mang tính cách mạng sẽ thay đổi thế giới", do họ cùng cam kết chống chủ nghĩa đế quốc. Vào thời điểm này trong cuộc đời Guevara, ông cho rằng các tập đoàn do Hoa Kỳ kiểm soát đã thiết lập và ủng hộ các chế độ đàn áp trên khắp thế giới. Theo quan điểm này, ông coi Batista là "con rối của Mỹ cần bị cắt dây". Mặc dù dự định trở thành bác sĩ chiến đấu của nhóm nhưng Guevara vẫn tham gia huấn luyện quân sự cùng các thành viên của Phong trào. Phần quan trọng của quá trình huấn luyện liên quan đến việc học các chiến thuật đánh và rút lui trong chiến tranh du kích. Guevara và những người khác đã trải qua những cuộc hành quân gian khổ kéo dài 15 giờ vượt núi, vượt sông và xuyên qua những bụi cây rậm rạp, học hỏi và hoàn thiện các quy trình phục kích và rút lui nhanh chóng. Ngay từ đầu Guevara đã là "học trò ưu tú" của huấn luyện viên Alberto Bayo trong số những người đang được huấn luyện, đạt điểm cao nhất trong tất cả các bài kiểm tra được đưa ra. Cuối khóa học, ông được Tướng Bayo gọi là "người du kích giỏi nhất trong số họ". Guevara sau đó kết hôn với Hilda ở Mexico vào tháng 9 năm 1955, trước khi bắt tay vào kế hoạch hỗ trợ giải phóng Cuba. Tháng 4 năm 1956, ông bắt đầu được huấn luyện quân sự cùng với những người Cuba khác và được đánh giá là một trong những học viên xuất sắc nhất. Hai tháng sau, ngày 24 tháng 6, Che và Fidel cùng những người Cuba lưu vong khác đã bị chính quyền Mexico bắt giữ và giam tại nhà tù Miguel Schultz. Ngày 31 tháng 7 họ ra tù và lại tiếp tục khóa huấn luyện. Ngày 25 tháng 11 năm 1956 cùng với 82 người khác vượt biển trở về Cuba trên con tàu Granma (là từ viết tắt của "Grandmother" — bà) với tư cách là một thành viên trong Tổng tham mưu của quân du kích. Ngày 2 tháng 12 họ đã bí mật đổ bộ lên hòn đảo Cuba. Chiến tranh du kích. Sau khi đổ bộ vào đảo quốc Cuba, quân du kích đã sử dụng nghệ thuật chiến tranh du kích, phát động nhiều cuộc chiến như: trận Algeria del Pio (21 thành viên bị tử trận) chiếm giữ được trại La Plata, trận Arroyo del Infierno, El U, 320 quân cách mạng đã phải chống lại 1 vạn quân chính quy của chế độ Batista. Cuộc chiến kết thúc, chính quyền vẫn không tiêu diệt được quân cách mạng. Ngày 21 tháng 7 năm 1957, Che được Fidel Castro thăng hàm Thiếu tá trước cả Raul Castro và Juan Almeida và giao trách nhiệm thành lập Đội quân số 4 của quân nổi dậy. Chỉ một tháng sau đó, Che đã lãnh đạo quân của mình chiến thắng tại trận El Hombrito (ngày 30 tháng 8). Trận đánh quyết định. Tháng 8 năm 1958 Che Guevara và Camilo Cienfuesgos lãnh đạo các đội quân của mình bắt đầu phát động "cuộc xâm chiếm" từ phía tây đảo quốc. Họ đã hành quân chặng đường 554 km trong 47 ngày với quân dụng nghèo nàn, chủ yếu là đi bộ. Theo một hiệp ước sau đó, giữa các lực lượng, Che thống nhất chỉ huy các nhóm quân chống chế độ Batista. Quân nổi dậy bắt đầu tấn công vào Santa Clara, trung tâm kinh tế, đầu mối giao thông quan trọng. Ngày 31 tháng 8 năm 1958 quân nổi dậy chiếm được Santa Clara làm cho chế độ Batista nhanh chóng đi vào chỗ diệt vong. Batista phải chạy trốn ra nước ngoài, bắt đầu cuộc sống lưu vong. Ngày 4 tháng 1 năm 1959 Che cùng với những chỉ huy quân nổi dậy khác tiến vào La Habana trên vị thế của những người chiến thắng. Tham gia chính quyền. Chính quyền mới của quân cách mạng được thành lập, Che là một trong bộ ba lãnh đạo gồm (Che, Fidel Castro và Raul Castro) của đất nước này. Sau những đóng góp của mình cho đảo quốc này, Che được trao quyền công dân Cuba. Ngày 8 tháng 10 năm 1959 Che được bổ nhiệm giữ chức Trưởng ban Nông nghiệp của Viện Cải cách ruộng đất quốc gia. Với cương vị này, Che đã ra quyết định tịch thu toàn bộ ruộng đất tư hữu. Ngày 26 tháng 11 được bổ nhiệm giữ chức Chủ tịch Ngân hàng quốc gia. Tuy nhiên, có vẻ đây không phải là một vị trí thích hợp với ông, bởi Che rất coi thường đồng tiền, và ông thể hiện điều này bằng cách ký trên các tờ tiền mới chỉ với bí danh của mình. Tháng 4 năm 1960 Che kiêm nhiệm thêm chức chỉ huy Ban huấn luyện lực lượng vũ trang cách mạng. Tháng 2 năm 1961 được bầu làm Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Che đã ra quyết định đặt hàng trăm công ty quốc doanh dưới quyền kiểm soát của Trung ương. Với nhiệm vụ này, ông thường xuyên đi khắp thế giới trên cương vị là một đại diện của Cuba. Thời gian này xảy ra nhiều sự kiện ảnh hưởng tới Cuba như sự kiện Vịnh Con Lợn, Hoa Kỳ cấm vận, khủng hoảng tên lửa, khủng hoảng ngoại (Hoa Kỳ và Liên Xô) đã coi Cuba như là nơi mặc cả trong chiến lược toàn cầu của họ, ông tin rằng hành động xuống thang của Liên Xô cho thấy nước này không sẵn lòng mạo hiểm để trợ giúp cho cách mạng các nước Mỹ Latinh. Sau đó ông lên án Liên Xô hầu như thường trực như ông đã làm đối với Hoa Kỳ. Bài diễn văn phát biểu của ông tại Algérie ngày 25 tháng 2 năm 1965 chỉ trích Liên Xô đã không giúp đỡ đủ tích cực cho cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân bị áp bức trên thế giới. Tiếp tục chiến đấu. Đảm đương cương vị Chủ tịch Ngân hàng Nhà nước và Bộ trưởng Công nghiệp trong chính phủ cách mạng Cuba, Che luôn kêu gọi xây dựng xã hội mới, nơi con người mới biết sống vì mọi người, vì chủ nghĩa quốc tế. Tháng 3 năm 1963, mặc dù bị bệnh hen hành hạ từ nhỏ, Che quyết định từ nhiệm mọi cương vị kể cả quyền công dân Cuba để lên đường thực hiện mong muốn tiếp tục được cống hiến cho sự nghiệp tranh đấu giành tự do của các dân tộc bị áp bức. Ông từ biệt vợ con để lên đường tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng Mỹ Latinh, để "Tạo ra một, hai, ba và rất nhiều Việt Nam" - như lời ông nói- vào thời khắc cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam bước sang giai đoạn quyết liệt. Quyết định ra đi được đưa ra vào đúng lúc con đường công danh đang rộng mở đối với Che khiến dư luận không khỏi hồ nghi có những khuất tất. Đã không ít ý kiến cho rằng: đằng sau sự ra đi đó có sự ép buộc khiên cưỡng của 2 anh em nhà C, trong bức thư gửi Chủ tịch Fidel mà sau được chính Fidel đọc trong buổi lễ thành lập Đảng Cộng sản Cuba, Che đã nói rõ việc ông thôi giữ cương vị lãnh đạo là hoàn toàn tự nguyện, thề theo tiếng gọi của trái tim yêu tự do, khao khát hòa bình và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, cho sự nghiệp giải phóng loài người khỏi áp bức và bất công. Thư viết: "Tôi cảm thấy đã hoàn thành phần nghĩa vụ của mình liên quan đến cách mạng Cuba trên lãnh thổ Cuba và tôi xin từ biệt anh, từ biệt các đồng chí, từ biệt nhân dân của anh, mà cũng đã trở thành của tôi. Tôi chính thức từ bỏ mọi chức vụ trong ban lãnh đạo đảng, chức bộ trưởng, cấp bậc tư lệnh, tư cách là người C" "Những miền đất khác trên thế giới đang đòi hỏi sức lực khiêm tốn của tô, mang theo tinh thần cách mạng của nhân dân tôi, mang theo ý chí thực hiện nghĩa vụ quan trọng nhất: chiến đấu chống lại chủ nghĩa đế quốc ở bất kỳ nơi nà" "Dù đến bất cứ đâu, tôi cũng sẽ cảm nhận trách nhiệm của một người cách mạng Cuba và sẽ hành động như vậ" Hẹn đến ngày toàn thắng. Tổ quốc hay là chết!" Đầu tháng 4 năm 1963, Che cùng một số người khác rời Cuba đi Congo. Tại đây, sau những dự định không thành, họ đã rút đi (tháng 11 năm 1965). Tháng 3 năm 1966 Che đến Praha (Tiệp Khắc), rồi bí mật trở về Cuba (tháng 7 năm 1966) lên kế hoạch cho chiến dịch Bolivia. Đầu tháng 10 năm 1967, Che và một số chiến hữu dùng thông hành giả để đến La Paz (thủ đô của Bolivia). Từ La Paz họ bí mật vào rừng thành lập một nhóm du kích quân, với mục đích tạo nên một hạt nhân đấu tranh thí điểm nhằm giải phóng cả châu Mỹ Latinh. Sau 11 tháng hoạt động ( từng chi tiết hoạt động được Che ghi lại trong nhật ký mà sau này được phổ biến rộng rãi với tên "Nhật ký của Che Guevara tại Bolivia"), dần dần tổ chức của ông bị bại lộ và cuối cùng thất bại. Với chiến thuật phục kích, tổ chức của Che đã giành thắng lợi trong một số trận đánh nhỏ. Nhưng do có phần tử nội phản, căn cứ và hoạt động của tổ chức bị phát hiện. Để tránh sự truy quét của kẻ địch, tổ chức quyết định chuyển căn cứ. Nhưng tổ chức của ông bị cô lập. Mọi người bị thiếu lương thực trầm trọng và mang bệnh tật. Chính ông bị cơn suyển là căn bệnh cố hữu hành hạ mỗi lúc một nguy ngập vì thiếu thuốc men. Cả nhóm phải giết ngựa, lừa là phương tiện tải quân trong rừng, để ăn. Các đồng chí thân cận bên ông dần dần bị tử trận. Cuối cùng, ông bị bắt ngày 7 tháng 10 năm 1967 trong tình trạng bị thương ở chân, sau một cuộc giao tranh trong lúc ông và các chiến hữu đang tìm đường thoát ra khỏi rừng ở vùng Quebrada del Yuro. Ông thậm chí không thể tự sát: khẩu carbine của ông đã bị một loạt đạn pháo bắn nát. Ông bị giam giữ suốt đêm tại ngôi trường trong làng. Trong tình trạng tuyệt vọng, Che vẫn giữ vững niềm tin về tính đúng đắn của sự nghiệp mà ông theo đuổi. Cuối giờ sáng ngày 9 tháng 10, tổng thống Bolovia René Barrientos ra lệnh xử tử Che Guevara. Lệnh được gửi đến đơn vị Các nhiệm vụ đặc biệt của CIA đang giữ Che, mặc dù chính phủ Mỹ mong muốn đưa Che đến Panama để tiếp trục tra hỏi. Một trung sĩ 27 tuổi của quân đội Bolivia, Mario Terán, trong tình trạng ngật ngưỡng say rượu, đã tình nguyện thực hiện vụ hành quyết, với lí do có ba người bạn cùng đơn vị và cùng tên Mario đã bị chết vài ngày trước đó trong cuộc đụng độ với lực lượng du kích của Che. Ông bị hành quyết ngày 9 tháng 10 năm 1967. Theo Felix Rodriguez, một trong các điệp viên CIA ở Bolivia đã phát hiện căn cứ của quân du kích và ra lệnh tử hình các chiến sĩ cách mạng thì Che Guevara, lúc đó đã bị thương và áo quần rách nát.. Để làm cho các vết thương do đạn có vẻ khớp với câu chuyện chính thức công bố, Felix Rodriguez đã lệnh cho người xạ thủ ngắm bắn cẩn thận để các vết thương này trông giống như thể Che đã bị giết trong một cuộc chạm súng với quân đội Bolivia, và như vậy sẽ giúp che giấu vụ ám sát bí mật. Sau đó họ còn chặt đi một bàn tay của Che.. Đại uý Gary Prado, chỉ huy lực lượng quân đội Bolivia đã bắt sống Guevara cho rằng, lý do mà Barrientos muốn xử tử Guevara ngay lập tức vì lo sợ Guevara có thể thoát khỏi nhà tù, cũng như không cần một phiên toà xử công khai nơi các đối thủ chính trị có thể tận dụng. Khoảng 30 phút trước khi Guevara bị giết, Félix Rodríguez đã cố gắng hỏi Che về tung tích của những chiến binh du kích khác hiện đang lẩn trốn, nhưng Guevara tiếp tục giữ im lặng. Rodríguez, được hỗ trợ bởi một vài người lính Bolivia, đã giúp Guevara đứng dậy và đưa ra ngoài túp lều trước những người lính Bolivia khác. Félix Rodríguez chụp ảnh với Guevara, khi một người lính khác chụp ảnh Rodríguez cùng những người lính khác đứng bên cạnh Guevara. Sau đó, Rodríguez nói với Guevara rằng ông sẽ bị hành quyết. Một lúc sau, một trong những người lính Bolivia canh giữ Che Guevara hỏi liệu ông có nghĩ về sự bất tử của mình không. "Không", Che ấy trả lời, "Tôi đang nghĩ về sự bất tử của cuộc cách mạng". Vài phút sau, trung sĩ Terán bước vào túp lều để bắn anh ta, sau đó Guevara được cho là đã đứng dậy và nói với Terán những lời cuối cùng của mình: ""Tao biết mày đến để giết tao." "Cứ bắn đi, đồ hèn, cùng lắm chúng mày chỉ giết được một con người thôi"". Terán do dự, rồi chĩa khẩu carbine M2 nổ súng, trúng vào tay và chân Che Guevara. Sau đó, khi Guevara quằn quại trên mặt đất, dường như đã cắn vào một cổ tay của mình để không bật lên tiếng kêu, Terán đã bắn một phát khác, khiến Che bị thương nặng ở ngực. Guevara được tuyên bố là đã chết lúc 1:10 chiều giờ địa phương theo Rodríguez. Tổng cộng, Guevara đã bị Terán bắn chín phát. Bao gồm năm viên đạn vào chân, vai và cánh tay phải, vào ngực và cổ họng mỗi chỗ một viên. Sau vụ hành hình, hình ảnh ông nằm bất động, đôi mắt vẫn mở to - còn ám ảnh tâm trí hàng triệu người. Trong buổi lễ tưởng niệm ở Rosario, quê hương nơi ông ra đời, linh mục Hernán Benítez đã nói: "Hai phần ba nhân loại bị áp bức bị chấn động vì cái chết của Che. Một phần ba còn lại thuộc về Che hoàn toàn. Che đã đón nhận cái chết với tất cả đặc trưng của những anh hùng thần thoại, những người sống mãi trong lương tâm nhân loạ" Bàn tay này sau đó được gửi cho lãnh đạo Cuba Fidel Castro nhằm uy hiếp ông. Một nhân viên CIA còn cắt một lọn tóc và lấy đi một số kỉ vật của ông (cuối năm 2007, lọn tóc được bán đấu giá hơn 100 ngàn USD, trong khi lọn tóc của cố Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln trước đây chỉ đấu giá được 25.000 USD) Chính quyền Barrientos chôn giấu xác ông, và mãi đến ba mươi năm sau, vào ngày 17 tháng 10 năm 1997, hài cốt ông cùng bảy người khác tại một ngôi mộ tập thể không được đánh dấu mới được khai quật và tìm thấy, mang về Cuba và mai táng tại Santa Clara, nơi ông đã lập chiến công lớn ở đó, quyết định sự thành công của Cách mạng Cuba. Nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của chiến dịch Bolivia chính bởi: Mặc dù thất bại, tên tuổi và ảnh hưởng của Che mỗi ngày một lan rộng khắp châu Mỹ Latinh và cả thế giới. Ông đã trở thành một biểu tượng của sự đấu tranh, của tình nhân ái, hy sinh thân mình chống lại áp bức và nghèo đói để đem lại sự công bằng cho mọi người. Có người ví ông như Don Quijote (Đông Kihôtê) chiến đấu vì người bị áp bức. Trong tài liệu được giải mật gần đây gửi Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Lyndon B. Johnson, cố vấn cao cấp Walt Rostow đã gọi quyết định giết hại Che là "ngu xuẩn". Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng thừa nhận sai lầm lớn của Mỹ là đã cho lưu hành bức hình Che Guevara sau khi ông bị giết, nó khiến cho người ta liên tưởng tới "hình ảnh Giê-su chịu nạn" vì đức tin của mình. Học giả phương Tây - Ariel Dorfman đã viết: "Đối với những con người không bao giờ theo bước Che, bị chìm đắm trong thế giới đầy hoài nghi yếm thế, sự tự tư tự lợi và nền công nghiệp tiêu thụ điên cuồng này, còn có gì hấp dẫn hơn thái độ khinh bạc của Che đối với những tiện nghi vật chất và những ham muốn tầm thường. Có thể nói rằng, đó là phẩm chất riêng biệt độc đáo của Che và không thể có bản sao thứ hai của ông trong thế giới này, đây là điều khiến ông trở nên cực kỳ quyến rũ". Cuộc hôn nhân đầu tiên của Che là với Hilda Gadea. Hôn lễ được tổ chức ngày 18 tháng 8 năm 1955, lúc đó Hilda đang mang thai. Ngày 15 tháng 2 năm 1956 đứa con đầu lòng chào đời, được đặt tên là Hilda Beatriz. Cuộc hôn nhân tồn tại chưa đến 4 năm, tháng 1 năm 1959 hai người ly hôn. Tháng 6 năm 1959, Che kết hôn cùng Aleida March, một nữ chiến sĩ cách mạng cùng hoạt động ở Cuba. Hai người có với nhau 4 người con. Trước khi lên đường, Che đã gửi một bức thư dặn dò con mình mà sau này đã trở nên nổi tiếng. Thư viết: "Gửi các con của " "Nếu có lần nào các con phải đọc lá thư này là bởi vì ba không còn với các con nữa." "Có thể các con sẽ không nhớ gì về ba và các con bé hơn thì chắc sẽ không nhớ gì." "Ba của các con là một người hành động như suy nghĩ và chắc chắn đã trung thành với những niềm tin của mình. Các con hãy lớn lên như những người cách mạng chân chính. Hãy học thật nhiề" "Ba chào các con và vẫn mong gặp lại các " Che còn có một con trai với một người tình, lúc đó còn là sinh viên, sau này là nhà báo Lilia Rosa López (1940), sinh năm 1964 ở Havanna, tên là Omar Pérez López. Omar lớn lên trở thành một nghệ sĩ và văn sĩ, và biết mình là con trai của Che vào năm 1989. Nhận định và di sản. Sản phẩm của tinh thần Quốc tế. Chính trí thức thiên tả ở Pháp, kể cả Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir, đã ngưỡng mộ Che và góp phần đưa Che thành một huyền thoại, một biểu tượng toàn cầu với phong cách lãng mạn cách mạng tuyệt vời. Che được ngợi ca như một người đã thoát ra khỏi mọi tư tưởng đố kỵ, mọi ràng buộc giai cấp, dân tộc nhỏ nhen, và là người tiên phong cho lý tưởng đấu tranh cho sự tiến bộ của toàn nhân loại. Sau khi qua đời, Che vẫn sống trong hàng trăm khúc ca, trong những kỉ vật quen thuộc, những cuốn phim - mới đây nhất là cuốn về cuộc đời Che dài hơn 4 tiếng của đạo diễn Steven Soderbergh giành giải Cành cọ Vàng cho diễn viên xuất sắc nhất vào vai Che tại liên hoan phim Cannes. Che vẫn hiện diện trong cuộc sống. Hình ảnh Che có trên các biểu ngữ, trên những tấm áo thun. Ca sĩ nổi tiếng Santana đã mặc chiếc áo in hình Che, đội mũ beret kiểu Che Guevara tại lễ trao giải Oscar năm 2005 được phát đi rộng rãi trên truyền hình Mỹ. Người Bôlivia gọi ông là Thánh Ernest. Tại nhà thờ ở vùng La Higuera nơi Che hy sinh, các tín đồ đã đặt tượng và ảnh Che bên cạnh hình chúa Giêsu và Đức Mẹ Đồng Trinh. Người kinh doanh tranh thủ hình ảnh Che để kiếm tiền. Đã có bia Che, Che Cola, kem Che, bật lửa Zippo Che, mũ Che, áo thun Che, đồng hồ, ví tiền và cả búp bê Che. Có người đã nói đùa: "Chủ nghĩa tư bản nghiến ngấu và xơi tất, kể cả kẻ thù tồi tệ nhất của nó...". Cáo buộc về Phân biệt chủng tộc. Che nhiều lần chỉ trích chính phủ Mỹ về tình trạng phân biệt chủng tộc tại nước này. Tuy nhiên, có người cho rằng trong cuốn nhật ký có tên là "The Motorcycle Diaries" của mình, Che đã bày tỏ rõ sự kỳ thị đối với những người da đen. Ông gọi người da đen là ""ví dụ tuyệt vời về chủng tộc châu Phi, những người đã duy trì sự thuần chủng chủng tộc của họ nhờ vào việc lười tắm rửa". Ông cũng viết trong cuốn nhật ký của mình như sau: "Người da đen là những kẻ dơ dáy và thích mơ mộng; chỉ thích chi tiêu những đồng lương ít ỏi của họ vào những thứ phù phiếm hoặc rượu chè"". Tuy nhiên, người viết tiểu sử Jon Lee Anderson đã giải thích lý do của câu nói này. Khi đó, Che Guevara và người bạn Alberto Granado vừa mới đến thành phố Caracas, Venezuela, nơi được bao phủ bởi các "khu ổ chuột công nhân" bao gồm chủ yếu là người gốc Phi da đen và người Tây Ban Nha. Câu nói của Che cần phải được đặt trong cả đoạn văn, Che không có ý chê bai đặc điểm chủng tộc mà ông đơn thuần nói đến sự khác biệt về văn hóa, thái độ với công việc đã tác động ra sao đến đời sống của các nhóm sắc tộc sống tại đây: "Những người da đen, ví dụ tuyệt vời về chủng tộc Châu Phi, những người đã duy trì sự thuần chủng chủng tộc của họ nhờ vào việc lười tắm rửa, đã thấy nơi cư trú của họ bị xâm lấn bởi một loại nô lệ khác: Người gốc Bồ Đào Nha. Cả hai chủng tộc này bây giờ có chung một trải nghiệm: Phân biệt đối xử, và sự nghèo đói đoàn kết họ trong một trận chiến hàng ngày để sống còn, nhưng thái độ của họ với cuộc sống khác nhau hoàn toàn: Người da đen là những kẻ dơ dáy và thích mơ mộng; chỉ thích chi tiêu những đồng lương ít ỏi của họ vào những thứ phù phiếm hoặc rượu chè; còn người châu Âu có truyền thống chăm làm và tiết kiệm, đã theo anh ta đến tận góc này của nước châu Mỹ và giúp anh ta thăng tiến, thậm chí trở nên độc lập nguyện vọng cá nhân của riêng mình" Sau cuộc cách mạng Cuba năm 1959, có nguồn cho rằng ông từng nói ông không muốn giúp đỡ những người da đen: "Những gì chúng tôi làm cho người da đen sẽ tương tự với những gì mà họ đã đóng góp cho cuộc cách mạng. Ý tôi đó là: Không gì cả!" . Tuy nhiên, thực tế vào năm 1959, chính phủ Cuba (mà Che là một thành viên ban lãnh đạo) đã xây dựng "Luật 270", tuyên bố tất cả các cơ sở công cộng khác phải mở cửa cho tất cả các chủng tộc, không được phân biệt giữa người da trắng và da đen. Người vợ đầu tiên của Che, Hilda Gadea (ông kết hôn vào năm 1955) là một người Peru gốc da đen. Bạn của Che và cũng là vệ sĩ cá nhân (người luôn đi cùng ông vào mọi thời điểm sau năm 1959) là Harry "Pombo" Villegas cũng là một người Cuba gốc Phi (da đen). Pombo luôn ca ngợi Che và khẳng định rằng Che không hề đối xử mang tính phân biệt chủng tộc, và rằng nếu là người phân biệt chủng tộc thì Che Guevara đã không nhiều lần sang châu Phi chiến đấu cho người dân địa phương Những nhận xét gần đây của người từng theo sát Che để phiên dịch tiếng Swahili khi ông chiến đấu ở Congo (bác sĩ Freddy Ilanga) cho thấy rằng Che Guevara "cư xử với các chiến hữu người da đen với sự tôn trọng tương tự như với người da trắng". Vào năm 1964, trong một bài phát biểu trước Liên hiệp quốc, Che Guevara đã tố cáo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại Nam Phi: "Chúng tôi lên tiếng để bảo vệ thế giới chống lại những gì đang xảy ra ở Nam Phi. Chính sách tàn bạo của chế độ phân biệt chủng tộc được áp dụng ngay trước mắt của các quốc gia trên thế giới. Các dân tộc châu Phi buộc phải chịu đựng thực tế rằng trên lục địa châu Phi, sự áp bức của một chủng tộc này trên một chủng tộc khác vẫn là chính sách chính thứ?" Danh sách tác phẩm. Nguyên gốc do Ernesto "Che" Guevara viết bằng tiếng Tây Ban Nha, sau đó dịch sang tiếng Anh Tại Việt Nam có một ngôi trường Trung học phổ thông mang tên Che Guevara, tọa lạc tại thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Tiền thân là trường THPT Mỏ Cày và trường chính thức được đổi tên thành trường THPT Che Guevara từ tháng 10 năm 1987.
Luxembourg là một khu vườn lớn và nổi tiếng ở Paris, còn gọi là "Vườn Lục Xâm Bảo" hoặc gọi ngắn là "Vườn Lục Xâm", nằm tại Quận 6 của thành phố. Với diện tích gần 23 hecta, Luxembourg là khu vườn quan trọng của Paris, nơi đi dạo, gặp gỡ của sinh viên, người dân Paris và cả khách du lịch. Được tạo ra từ năm 1612 theo lệnh của hoàng hậu Marie de Médicis, bên trong khu vườn còn có cung điện Luxembourg (ngày nay là trụ sở Thượng nghị viện Pháp), bảo tàng Luxembourg, cùng nhiều tượng đài và một vài công trình khác. Vườn Luxembourg còn có tên gọi vui là Luco. Vườn Luxembourg là công viên lớn hàng thứ nhì của Paris, chỉ thua công viên Tuileries về mặt diện tích. Cũng như khu phố La Tinh, vườn Luxembourg là điểm ưu thích của cả sinh viên và khách du lịch. Đây cũng là khu đi dạo của người dân thành phố và các nhân viên văn phòng gần đó ra ngồi nghỉ trưa. Nằm trong khu phố La Tinh, vườn Luxembourg có diện tích 224.500 m², xung quanh bao bởi hàng rào sắt với mũi nhọn phủ một lớp mạ vàng. Khắp vườn, các bức tượng trang trí miêu tả những vị thần Hy Lạp hay các con thú được đặt trên bãi cỏ hay trong những không gian cây xanh. Trong số đó có bức Nữ thần Tự Do được nhà điêu khắc Frédéric Auguste Bartholdi, cũng là tác giả phiên bản lớn tại New York, tặng cho bảo tàng vào năm 1900. Đến năm 1906 thì bức tượng được đem ra đặt ngoài vườn. Nơi đây cũng có đặt nhiều tượng danh nhân như nhạc sĩ Beethoven, thi sĩ Paul Verlaine, văn hào Georges Sand. Cạnh cổng vào trên đại lộ Saint-Michel, một ki ốt âm nhạc dành cho những người chơi nhạc. Đài phun nước Médicis nằm sát hàng rào của vườn, cạnh con phố cùng tên. Cung điện Luxembourg nằm ở phía Bắc. Phía trước cung điện là bể nước hình bát giác cùng lối đi và bãi cỏ rộng. Đây là nơi trẻ em thả thuyền đồ chơi và kê các ghế sắt dành cho người đi dạo nghỉ chân. Petit Luxembourg, dinh thự của Chủ tịch Thượng nghị viên nằm bên cung điện. Nhà ươm cam cũng nằm ở phía Bắc của vườn, cạnh Petit Luxembourg. Bảo tàng Luxembourg với các tác phẩm nghệ thuật đương đại cũng nằm trong một tòa nhà ở đây. Không gian phía Tây dành cho thể thao với sáu sân quần vợt, những người chơi bi sắt trên nền đất và chơi cờ vua dưới những mái che. Phía Đông của vườn, dinh thự Vendôme cũ, ngày nay là Trường Mỏ Paris, nằm quay mặt ra đại lộ Saint-Michel. Ngoài ra vườn Luxembourg còn có một nhà hát múa rối, một hiệu sách, quầy bán nước, trại ong, không gian dành cho trẻ Đài phun nước Medici ("La fontaine Médicis") được xây dựng vào năm 1630 bởi Marie de' Medici, người vợ góa của vua Henry IV của Pháp và là nhiếp chính của vua Louis XIII của Pháp. Nó được thiết kế bởi Tommaso Francini, một nhà sản xuất đài phun nước ở Florence và kỹ sư thủy lực mà được vua Henry IV đưa từ Florence đến Pháp. Đài phun nước có dạng một hang động, một đặc trưng nổi bật của vườn phong cách Phục Hưng Ý. Đài đã bị đổ nát trong thế kỷ 18, nhưng năm 1811, dưới sự chỉ huy của Napoléon Bonaparte, đài phun nước đã được phục hồi bởi Jean Chalgrin, kiến trúc sư của Khải Hoàn Môn. Vào năm 1864-66, đài phun nước được di chuyển đến vị trí hiện tại, ở phía đông của cung điện Luxembourg. Trước đài là tượng điêu khắc của Polyphemus (con trai thần Poseidon) nhìn về tượng đôi tình nhân Acis và Galatea, bởi nhà điêu khắc cổ điển Auguste Ottin của Pháp. Sau khi vua Henri IV mất vào năm 1610, hoàng hậu Marie de Médicis trở thành nhiếp chính cho tới khi Louis XIII, lúc đó mới 8 tuổi rưỡi, trưởng thành. Không còn thích thú sống ở Louvre, Marie de Médicis dự định xây dựng một cung điện kiểu Ý, quê hương của mình. Năm 1612, Marie de Médicis mua lại dinh thự Petit Luxembourg từ người bạn là François, công tước Luxembourg. Trước đó, hoàng hậu cùng các con đã thường tới đi dạo trong khu vườn của dinh thự này. Năm 1615, cung điện Luxembourg được xây dựng trong khu vườn và Marie de Médicis về sống ở đây từ năm 1625. Ngay từ giữa thế kỷ 17, vườn Luxembourg đã đôi khi được mở cửa cho công chúng, tùy theo chủ nhân. Cung điện Luxembourg qua tay nhiều quý tộc, vua chúa, cho tới Cách mạng Pháp thì trở thành tài sản quốc gia, trở thành xưởng vũ khí, rồi nhà tù. Thời Đệ nhất đế chế, vườn Luxembourg được kiến trúc sư Jean-François-Thérèse Chalgrin cho bố trí lại, đặt thêm nhiều tác phẩm điêu khắc, tượng. Cho tới Chiến tranh thế giới thứ hai, khi Paris bị Quân đội Đức chiếm đóng, cung điện trở thành trụ sở bộ tham mưu Không quân Đức. Nhiều bức tượng bị đem nấu chảy và các lô cốt được đào ngay trong vườn. Khi Paris được giải phóng, các xe tăng đi ngang qua vườn trong các ngày từ 19 tới 25 tháng 8 năm 1944. Là khu vườn lớn bên khu phố La Tinh và Saint-Germain-des-Prés nên có rất nhiều nghệ sĩ, nhà văn đã thường từng đi dạo trong vườn Luxembourg. Từ các nhà văn thế kỷ 19 như Victor Hugo, Baudelaire, Balzac, V: Hemingway, Jean-Paul Sartre, Simone de B Trong tác phẩm "Ba chàng lính ngự lâm" của Alexandre Dumas, D'Artagnan đã hẹn đấu kiếm với Athos, Porthos và Aramis tại vườn Luxembourg. Văn hào Victor Hugo cũng đưa bối cảnh vườn vào tác phẩm Les Misérables (Những Người Khốn Khổ, phát hành vào năm 1862). Thi sĩ Gérard de Nerval từng sáng tác bài thơ tình đề tựa "Une allée du Luxembourg" (Trên lối đi vườn Lục Xâm) vào năm 1832. Nhà văn Anatole France cũng mô tả kỷ niệm ngày tựu trường thời trẻ đi ngang qua công viên trong tác phẩm "Quyển sách của bạn tôi" ("Le Livre de Mon Ami", phát hành vào năm 1885). Nhạc sĩ Việt Nam Phạm Trọng Cầu từng học tại Paris đã sáng tác ca khúc nổi tiếng "Mùa thu không trở lại", trong đó có câu "qua vườn Luxembourg, sương rơi che phố mờ, buồn này ai có mua". Nhà thơ Cung Trầm Tưởng có bài thơ ""Mùa thu Paris" với câu: "Mùa thu âm thầm / Bên vườn Lục-Xâm / Ngồi quen ghế đá / Không em buốt giá từ tâm.." đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Ca-nhạc sĩ Duy Quang có ca khúc "Lá vàng tượng trắng trong vườn Lục Xâm"".
Đảo Ba Bình (tiếng Anh: "Itu Aba Island"; tiếng Filipino: "Ligaw"; ; Hán-Việt: "Thái Bình đảo") là một đảo san hô thuộc cụm Nam Yết của quần đảo Trường Sa. Đảo này nằm cách đảo Sơn Ca 6,2 hải lý (11,5 km) về phía tây và cách đảo Nam Yết khoảng 11 hải lý (20,4 km) về phía đông bắc. Đây là đảo có diện tích tự nhiên lớn nhất của quần đảo Trường Sa. Đảo Ba Bình là đối tượng, thực thể địa lý tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, Philippines và Trung Quốc. Hiện tại, Đài Loan đang duy trì sự kiểm soát đối với toàn bộ hòn đảo này. Theo "Niên giám Đài Loan" (1993) thì đảo này dài 1360 m, rộng 350 m, cao 3,8 m và có diện tích là 0,4896 km², trong khi nguồn tài liệu khác cho rằng đảo này chỉ cao hơn 2 m và có diện tích 0,443 km². Chu vi của đảo là 3,24 ÷ 4,09 km. Đảo có nhiều nước ngọt, đất đai màu mỡ nên có nhiều loại cây như chuối, đu đủ, dừa. Nhà sử học Nguyễn Nhã là người đặt tên Việt cho đảo này, lấy cảm hứng từ đoạn trích trong các tài liệu cổ như sách "Việt sử cương giám khảo lược":— Tài liệu xưa hơn nữa là vào tháng 6 âm lịch năm Ất Mùi niên hiệu Minh Mạng 16 (1835), Đại Nam thực lục chép rằng:""Dựng đền thờ thần [ở đảo] Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ "Vạn lý ba bình" 萬里波平" "(cồn Bạch Sa [cát trắng] chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than thạch). Năm ngoái vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây, mới sai cai đội Thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mươi ngày làm xong rồi về"."Có nhiều giai thoại liên quan đến tên quốc tế của Ba Bình. Học giả Vương Hồng Sển từng kể rằng trong hai tuần ở Đà Lạt với Jean Decoux, một vị chuyên gia Pháp đã trả lời thắc mắc của ông về lý do đặt tên đảo là Itu Aba như sau:""Khi trước lựa tên đặt theo mật hiệu, có một thằng Tây nhè lựa danh từ trớ trêu "Chị Tư Chị Ba" là tên của hai người bồi của nó và vì nó đọc giọng Pháp Itu Aba mà thành danh luôn từ thuở"."Nguồn khác lại cho rằng tên Itu Aba xuất phát từ tiếng Mã Lai, nghĩa là "cái đó là gì?". Trong quá khứ, Đế quốc Nhật Bản gọi đảo Ba Bình là "Naga shima" (長島 (Trường đảo), nghĩa là "đảo dài"). Ngày 21 tháng 12 năm 1933, thống đốc Nam Kỳ J. Krautheimer ký Nghị định số 4702-CP sáp nhập một số đảo chính và các đảo phụ thuộc trong quần đảo Trường Sa, trong đó có đảo Ba Bình, vào địa phận tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng thiết lập tại đây một trạm khí tượng mang số hiệu 48.919 do Tổ chức Khí tượng Quốc tế (tiền thân của Tổ chức Khí tượng Thế giới) cấp phát. Trong thời kì Chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Nhật Bản chiếm đảo làm căn cứ tàu ngầm và đặt dưới sự kiểm soát của bộ chỉ huy đóng tại Cao Hùng thuộc Đài Loan (thuộc địa của Đế quốc Nhật Bản). Tuy nhiên, Nhật Bản đã ký Hiệp ước San Francisco và chấp nhận từ bỏ mọi quyền đối với quần đảo Trường Sa (và Hoàng Sa) vào năm 1951. Tháng 10 năm 1946, Pháp cho tàu chiến "Chevreud" đến đảo Trường Sa và Ba Bình, đồng thời dựng một mốc đánh dấu bằng đá tại đây. Đến ngày 12 tháng 12 năm 1946, lợi dụng danh nghĩa giải giáp tàn quân Nhật, Trung Hoa Dân quốc cho tàu chiến "Thái Bình" đem quân đổ bộ lên đảo Ba Bình. Sau đó, do thất bại trong cuộc nội chiến nên Trung Hoa Dân Quốc phải tháo chạy ra đảo Đài Loan đồng thời rút quân khỏi đảo Ba Bình vào năm 1950. Năm 1947, Tomás Cloma cùng những người khác "khám phá" ra nhiều đảo không người thuộc biển Đông. Vì là một doanh nhân nên ông từng xem xét xây dựng nhà máy sản xuất nước đá và đồ hộp trên đảo Ba Bình. Ngày 15 tháng 5 năm 1956, Cloma ra văn bản tuyên bố quyền sở hữu đối với 33 "đảo" (có nơi ghi 53) nằm rải rác trên một vùng biển rộng 64.976 hải lý vuông. Biết được việc này, Đài Loan điều tàu đến Ba Bình. Thời điểm quân đội Đài Loan thực sự tái chiếm đảo Ba Bình chưa rõ ràng, bởi có rất nhiều thông tin khác nhau về thời điểm Đài Loan điều tàu đến đảo Ba Bình vào năm 1956 (ngày 20 tháng 5, tháng 7, tháng 9 hoặc tháng 10) và có nguồn tài liệu cho rằng từ năm 1971 thì Đài Loan mới thực sự đồn trú lâu dài trên đảo. Ngày nay, đảo Ba Bình là một "pháo đài" với nhiều công sự phòng thủ kiên cố và có một đường băng cho phép máy bay vận tải C-130 Hercules lên xuống.
Nhà Triệu (chữ Hán: 趙朝; bính âm: Zhào cháo; Hán Việt: Triệu triều) là triều đại duy nhất cai trị nước Nam Việt (ngày nay gồm 1 phần Miền Nam Trung Quốc và Miền Bắc Việt Nam) suốt giai đoạn 179–111 trước Công nguyên. Thời phong kiến, nhà Triệu từng được coi là triều đại của Việt Nam, nhưng bắt đầu từ thời Hậu Lê thì quan điểm này bắt đầu được cải chính. Ngày nay, giới sử học Việt Nam xác định nhà Triệu là triều đại ngoại xâm, khởi đầu của 1000 năm Trung Hoa đô hộ nước Việt (vì vua lập quốc của nó là Triệu Đà, một người Hoa theo lệnh Tần Thủy Hoàng xâm chiếm Bách Việt) Nguồn gốc của nhà Triệu bắt nguồn từ Triệu Đà, một võ tướng của nhà Tần theo lệnh Tần Thủy Hoàng dẫn quân xuống chinh phạt phía Nam sông Trường Giang (khi đó là lãnh thổ của các bộ tộc Bách Việt). Ông chiếm được nhiều vùng lãnh thổ (bao gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây), nhưng nhà Tần ở Trung Hoa đã diệt vong. Nhận thấy triều đình trung ương đã sụp đổ, Triệu Đà bèn tách ra cát cứ, dùng những lãnh thổ ông chiếm được để lập nên nước Nam Việt, sau đó xâm chiếm nước Âu Lạc (ngày nay là Việt Nam). Sau khi nhà Hán làm chủ Trung Hoa, khi về già, Triệu Đà đã quyết định bỏ việc xưng Đế, quy phục nhà Hán (nhưng vẫn xưng Hoàng đế ở trong Nam Việt). Triệu Đà viết thư gửi cho vua Hán, trong thư Triệu Đà đã công nhận rằng mình là người Trung Hoa, nhà Triệu chỉ là chư hầu phục vụ cho nhà Hán, thay mặt hoàng đế Đại Hán để cai trị phía Nam, bản thân ông cũng chỉ coi những thần dân người Việt cổ là đám "Man Di" mà thôi. Lịch sử nhà Triệu được chép đầu tiên bởi "Sử ký" nhà Hán, được đề cập chủ yếu trong phần "Liệt truyện", quyển 113: Biên niên sử Nam Việt (南越列傳). Nó lưu lại các thông tin về nước Nam Việt từ thời Triệu Đà cho đến khi cáo chung dưới thời Triệu Dương Vương. Nhà Triệu trải 5 đời vua, trong các văn bản gửi nhà Hán thì họ đều xưng là "vương" (tước hiệu dành cho vua chư hầu). Do vậy, các sử gia Trung Hoa đều chỉ coi Nam Việt là phiên thuộc và chép các vua Nam Việt tước "vương", nhưng kết quả khai quật lăng mộ vua Triệu thứ hai cho thấy các ấn chương, văn bản và danh xưng đều là "đế" chứ không phải "vương". Điều đó gây bất ngờ với chính các sử gia Trung Hoa hiện đại. Như vậy, tước vương là tôn hiệu khi giao thiệp với nhà Hán, còn đối với các lân quốc khác và nội bộ trong nước thì vua Triệu xưng đế. Tông thất họ Triệu và nhiều lãnh tụ địa phương vẫn có nhiều người được phong vương. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất 6 vương quốc cổ là Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, ông bắt đầu hướng sự chú ý sang các bộ lạc người Hung Nô ở phía bắc và Bách Việt ở phía nam. Khoảng năm 218 TCN, Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư cùng 500.000 quân Tần chia làm 5 đạo tấn công các bộ lạc Bách Việt ở vùng đất Lĩnh Nam. Tần Thủy Hoàng sai viên quan Sử Lộc (史禄) giám sát việc quân nhu. Đầu tiên Sử Lộc chỉ huy một nhóm quân vượt qua kênh Hưng An (nối liền Tương giang và Li giang), sau đó dùng thuyền vượt sông Dương Tử và sông Châu Giang tìm được con đường an toàn tiếp tế lương thực cho quân Tần. Quân Tần sau đó tấn công Âu Việt, thủ lĩnh của Âu Việt là Dịch Hu Tống (譯吁宋) bị giết. Tuy nhiên, Âu Việt vẫn phản kháng. Họ trốn vào rừng và bầu ra một thủ lĩnh mới là Thục Phán để tiếp tục chống lại quân Tần. Sau đó một cuộc tấn công vào ban đêm của Âu Việt đã gây thiệt hại nặng cho quân Tần, tướng Đồ Thư bị giết cùng khoảng 10 vạn quân. Nhà Tần lại cử Nhâm Ngao làm thống soái thay Đồ Thư. Năm 214 TCN, Nhâm Ngao đem viện quân mở một cuộc tiến công. Lần này Âu Việt bị tê liệt và phần lớn vùng Lĩnh Nam bị sáp nhập vào đất Tần. Cùng năm, nhà Tần lập ra các quận Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng quận. Nhâm Ngao được bổ nhiệm làm Quận úy Nam Hải. Nam Hải được chia thành 4 huyện là Phiên Ngung, Long Xuyên, Bác La và Yết Dương. Triệu Đà được bổ nhiệm làm Huyện lệnh Long Xuyên. Tần Thủy Hoàng mất năm 210 TCN, con trai là Hồ Hợi lên thay trở thành Tần Nhị Thế. Một năm sau, khởi nghĩa Trần Thắng, Ngô Quảng nổ ra. Toàn bộ khu vực Hoàng Hà rơi vào hỗn loạn. Các cuộc nổi dậy ngày càng mạnh, khiến Tần Nhị Thế phải bãi binh ở Lĩnh Nam. Năm 208 TCN, Quận úy Nam Hải là Nhâm Ngao bị bệnh nặng, khi hấp hối mới gọi Triệu Đà đến, dặn phải giữ lấy miền Lĩnh Nam mà cát cứ. Nghe theo, Triệu Đà gửi lệnh đến quan quân đóng tại các cửa ngõ Lĩnh Nam, phải canh giữ phòng chống quân Trung Nguyên xâm phạm, và nhân dịp đó, giết hết những người còn trung thành với nhà Tần ở Lĩnh Nam, cắt đặt lại những người thân tín của mình. Năm 206 TCN, nhà Tần sụp đổ, các bộ tộc Bách Việt ở Quế Lâm và Tượng quận trở nên xa rời hơn với Trung Nguyên. Thủ lĩnh An Dương Vương ở phía nam đã thành lập vương quốc Âu Lạc (chữ Hán: 甌駱). Theo các nhà sử học, khoảng năm 179 TCN, Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc của An Dương Vương, chia đất Âu Lạc làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân rồi sáp nhập vào Nam Hải, Quế Lâm, Tượng quận. Lãnh địa gồm 5 quận của Nam Việt ổn định cho tới khi nước này bị diệt cùng nhà Triệu. Năm 204 TCN, Triệu Đà lập nước Nam Việt, định đô ở thành Phiên Ngung và tự xưng Nam Việt Vũ Vương (chữ Hán: 南越武王), sử quen gọi là Triệu Vũ Vương. Ban sơ, lãnh thổ Nam Việt gồm 3 quận Nam Hải (đại bộ phận tương đương Quảng Đông ngày nay), Quế Lâm (đông bộ Quảng Tây) và Tượng (tây bộ Quảng Tây, nam bộ Quý Châu). Nước Nam Việt phía bắc giáp Mân Việt và phong quốc Trường Sa của nhà Hán, phía tây giáp Dạ Lang, phía tây nam giáp Âu Lạc, phía đông nam giáp biển. Năm 202 TCN, Lưu Bang thống nhất Trung Nguyên và thành lập nhà Hán. Cuộc chiến của Lưu Bang đã khiến nhiều khu vực của Trung Quốc bị tàn phá nặng nề và dân số suy giảm. Các lãnh chúa phong kiến tiếp tục nổi loạn khắp nơi, trong khi lãnh thổ ở phía bắc thường xuyên bị người Hung Nô tấn công. Tình trạng bất ổn đó buộc triều đình nhà Hán phải cư xử hòa hảo với Nam Việt. Năm 196 TCN, Hán Cao Tổ đã cử Lục Giả (陸賈) đến Nam Việt với hi vọng lấy được sự trung thành của Triệu Vũ Vương. Sau khi đến nơi, Lục Giả gặp Triệu Vũ Vương và được cho là đã thấy Triệu Vũ Vương đón tiếp ông trong trang phục và phong tục của người Bách Việt. Điều đó khiến cho Lục Giả nổi giận. Lục Giả quở trách Triệu Vũ Vương, chỉ ra rằng ông là người Hoa Hạ chứ không phải người Bách Việt, và nên giữ cách ăn mặc cùng lễ nghi của người Trung Nguyên, không được quên truyền thống của tổ tiên mình. Lục Giả ca ngợi sức mạnh của nhà Hán và cảnh báo một vương quốc nhỏ như Nam Việt chống lại nhà Hán sẽ là liều lĩnh. Sau khi đe dọa giết thân thích của Triệu Đà ở đất Hán và phá hủy mồ mả tổ tiên, cũng như ép buộc dân Bách Việt phế truất ông, Triệu Vũ Vương đã quyết định nhận con dấu của Hán Cao Tổ và quy phục nhà Hán. Quan hệ buôn bán được thiết lập tại biên giới của Nam Việt và phong quốc Trường Sa thuộc Hán. Mặc dù chính thức là một nước chư hầu của nhà Hán nhưng Nam Việt dường như không mất đi quyền tự chủ trên thực tế. Sau khi Lưu Bang mất năm 195 TCN, quyền lực rơi vào tay Lữ Hậu. Bà sai người đến quê hương của Triệu Vũ Vương là Chân Định (真定) (nay là huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc) giết nhiều họ hàng thân thích và mạo phạm mộ tổ tiên của Triệu Đà. Triệu Vũ Vương tin rằng Trường Sa vương Ngô Thần đã tạo ra những lời buộc tội dối trá chống lại ông để Lữ Hậu cắt đứt buôn bán giữa hai nước và để chuẩn bị đánh chiếm Nam Việt sáp nhập vào phong quốc Trường Sa của Ngô Thần. Để trả thù, Triệu Vũ Vương xưng là Hoàng đế (tức Nam Việt Vũ Đế) và đánh chiếm Trường Sa. Lã Hậu cử tướng Chu Táo chỉ huy quân đội để trừng phạt Triệu Vũ Đế. Thời tiết nóng ẩm ở phương nam khiến quân của Chu Táo đổ bệnh, không thể đi tiếp xuống phía nam, rốt cuộc họ phải rút lui. Sau đó Triệu Vũ Đế dùng của cải vỗ về các vùng phụ cận như Mân Việt ở phía đông và Tây Âu Lạc ở phía nam. Năm 179 TCN, Lưu Hằng lên ngôi trở thành Hán Văn Đế. Ông đã đảo ngược nhiều kế sách trước đó của Lã Hậu và tiến hành hòa giải đối với Triệu Vũ Đế. Hán Văn Đế ra lệnh cho các quan lại đi kinh lý Chân Định, sai quân canh giữ bảo vệ huyện trấn và thường xuyên chăm lo hương hỏa tổ tiên của Triệu Vũ Đế. Thừa tướng Trần Bình đề nghị cử Lục Giả đến Nam Việt vì họ đã biết nhau từ trước. Lục Giả đến Phiên Ngung thêm một lần nữa và giao bức thư của Hán Văn Đế cho Triệu Vũ Đế nhấn mạnh rằng những chính sách của Lã Hậu là nguyên nhân gây ra sự thù địch giữa Nam Việt với triều đình nhà Hán và đem đến nỗi đau khổ cho dân thường ở biên giới. Triệu Vũ Đế lại quyết định quy phụ nhà Hán lần nữa, rút lại danh xưng Hoàng đế và trở lại xưng Vương, Nam Việt lại trở thành nước chư hầu của nhà Hán. Tuy vậy, hầu như những sự thay đổi đó chỉ là bề ngoài, Triệu Đà tiếp tục được gọi là Hoàng đế tại Nam Việt. Ngoài 5 quận (hoặc 4 quận) trực tiếp cai trị, nhà Triệu còn gây ảnh hưởng đến mấy nhóm Bách Việt xung quanh như Đông Âu (Chiết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến). Năm 137 TCN, Triệu Đà mất vì tuổi cao (ước khoảng hơn 100), trưởng nam của ông vốn đã mất từ trước, vì vậy cháu của Triệu Đà là Triệu Mạt trở thành vua Nam Việt, tức Triệu Văn Đế. Năm 135 TCN, vua Mân Việt sai quân quấy rối vùng giới tuyến với Nam Việt. Triệu Văn Đế vì chưa kịp củng cố thực lực nên buộc phải khẩn cầu Hán Vũ Đế gửi viện binh chống lại "những kẻ nổi loạn Mân Việt" như cách ông đề cập. Hán Vũ Đế khen Triệu Mạt là một thần tử trung thành và phái Đại hành Vương Khôi, một viên chức cai trị người dân tộc thiểu số, và Đại tư nông Hàn An Quốc chỉ huy quân đội, ra lệnh chia quân thành 2 đạo tấn công Mân Việt từ hai hướng, một từ Dự Chương, hướng khác là từ Cối Kê (nay thuộc Thiệu Hưng). Nhưng trước khi quân Hán đến nơi thì vua Mân Việt là Dĩnh đã bị em trai là Dư Thiện ám sát, sau đó Dư Thiện đã nhanh chóng đầu hàng. Hán Vũ Đế sau đó cử sứ giả là Nghiêm Trợ đến Phiên Ngung để trao quốc thư hàng phục của Mân Việt cho Triệu Văn Đế. Triệu Văn Đế tỏ lòng biết ơn đến Hán Vũ Đế cùng lời hứa ông sẽ lai kinh triều kiến Hán Vũ Đế. Sau đó, Triệu Văn Đế cử hoàng tử Anh Tề đến Trường An cùng Nghiêm Trợ làm con tin. Trước đây Triệu Văn Đế chưa bao giờ tới Trường An. Một cận thần của ông đã ra sức khuyên không nên đi vì sợ rằng Hán Vũ Đế sẽ tìm ra một vài nguyên nhân để ngăn cản ông quay trở về, điều đó sẽ dẫn đến sự diệt vong của nước Nam Việt. Triệu Văn Đế vì vậy đã cáo bệnh và không bao giờ đến Trường An. Ngay sau khi Mân Việt đầu hàng quân Hán, Vương Khôi đã phái Đường Mông, huyện lệnh Phiên Dương, đến để đưa tin Mân Việt đầu hàng cho Triệu Văn Đế. Khi ở Nam Việt, Đường Mông đã được giới thiệu ăn một loại nước chấm truyền thống của Nam Việt được làm từ quả sơn trà mua từ đất Thục. Ngạc nhiên rằng đó là một sản vật sẵn có, và Đường Mông đã được biết rằng có một tuyến đường từ Thục (nay là tỉnh Tứ Xuyên) đi đến Dạ Lang, rồi sau đó dọc theo sông Tang Kha (ngày nay là sông Bắc Bàn chảy qua tỉnh Vân Nam và Quý Châu) đi thẳng đến kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt. Ngay sau đó Đường Mông đã phác thảo một kế hoạch trình lên Hán Vũ Đế đề nghị tập hợp 100.000 quân tinh nhuệ tại Dạ Lang, sau đó dùng thuyền vượt sông Tang Kha để mở cuộc tấn công bất ngờ vào Nam Việt. Hán Vũ Đế đồng ý với kế hoạch của Đường Mông, phong ông làm Lang Trung tướng và cho phép ông dẫn đầu 1000 quân cùng nhiều quân lương và xe hàng từ hẻm Ba Phù (ngày nay gần huyện Hợp Giang, tỉnh Tứ Xuyên) tiến vào Dạ Lang. Nhiều xe hàng mang theo là quà tặng cho các lãnh chúa phong kiến của Dạ Lang như là quà hối lộ để họ tuyên bố trung thành với nhà Hán, điều mà sau đó họ đã làm, và Dạ Lang trở thành quận Kiền Vi của nhà Hán. Sau hơn một thập kỷ trị vì, Triệu Văn Đế đổ bệnh và qua đời khoảng năm 125 TCN. Sau khi nghe tin cha đổ bệnh nặng, Triệu Anh Tề nhận được sự chấp thuận từ Hán Vũ Đế quay trở về Nam Việt. Sau khi Triệu Văn Đế băng hà, Triệu Anh Tề lên ngôi vua Nam Việt, tức là Triệu Minh Vương. Trước khi được phái đến Trường An, Triệu Anh Tề đã kết hôn với một người đàn bà Nam Việt và có một con trai tên là Triệu Kiến Đức. Trong khoảng thời gian Triệu Anh Tề sống ở Trường An, ông lại cưới một người đàn bà Hàm Đan (có lẽ vì quê hương của Triệu Đà cũng ở vùng đó). Họ đã có một con trai tên là Triệu Hưng. Ông đã chủ động xin Hán Vũ Đế lập người vợ Hán thành Vương hậu và Triệu Hưng thành Thế tử, việc làm này cuối cùng đã mang đến thảm họa cho Nam Việt. Ông mất khoảng năm 113 TCN. Triệu Hưng lên ngôi, tức Triệu Ai Vương, mẹ là Cù thái hậu tham chính. Hán Vũ Đế sai sứ giả An Quốc Thiếu Quý, vốn là người tình cũ của Cù thái hậu, sang thuyết phục Nam Việt nội phụ nhà Hán. Cù thái hậu lại cùng Thiếu Quý tư thông và muốn thuận theo nhà Hán, nhưng Thừa tướng người Việt là Lữ Gia phản đối. Năm 112 TCN, Lữ Gia đem quân đánh vào cung, giết chết Cù thái hậu và Triệu Ai Vương cùng An Quốc Thiếu Quý, lập anh của Triệu Ai Vương là Triệu Kiến Đức lên ngôi, tức là Triệu Thuật Dương Vương. Năm 111 TCN, Hán Vũ Đế sai Dương Bộc, Lộ Bác Đức đem đại quân sang đánh. Vua Triệu là Thuật Dương Vương Kiến Đức và Thừa tướng Lữ Gia lần lượt đều bị bắt và bị hại (111 TCN). Dựa trên hệ thống các đền, miếu, đình, chùa thờ Lữ Gia, phu nhân và các tướng lĩnh của ông rải rác trên khắp vùng đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam, rất có thể cuộc kháng chiến chống nhà Tây Hán còn kéo dài đến năm 98 TCN. Sau khi Phiên Ngung thất thủ, Tây Vu Vương (thủ lĩnh đất tự trị Tây Vu với trung tâm là Cổ Loa) đã nổi dậy chống lại nguy cơ Bắc thuộc trước sự xâm lăng của nhà Tây Hán. Tả tướng Hoàng Đồng (黄同) của hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân đã giết chết Tây Vu Vương đang làm loạn để hàng Hán. Thương Ngô vương Triệu Quang cùng họ hàng với vua nhà Triệu, nghe tin quân Hán đến, xin hàng, được phong làm Tùy Đào hầu; Huyện lệnh huyện Yết Dương là Sử Định (史定) hàng Hán được phong làm An Đạo hầu; tì tướng nhà Triệu là Tất Thủ (畢取) mang quân ra hàng được phong làm Liêu hầu; quan Giám quận Quế Lâm là Cư Ông (居翁) dụ 40 vạn dân 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân ra hàng được phong làm Tương Thành hầu. Vậy là các xứ ở Nam Việt đều xin hàng. Nhà Triệu và nước Nam Việt cùng diệt vong sau 97 năm tồn tại, trải 5 đời vua. "Xem Vấn đề chính thống của nhà Triệu. Vị thế lịch sử. Nhà Triệu được giới sử học Trung Hoa coi là một phiên thuộc của nhà Hán, căn cứ vào các bằng chứng sau: Giới sử học Việt Nam thì có hai luồng quan điểm: Những người đề cao thuyết Thiên mệnh của Nho giáo (cho rằng ngôi vị là do "Trời định", ai xưng đế ở vùng đất nào thì nghiễm nhiên được coi là vua, nắm giữ "Thiên Mệnh" của vùng đất đó, bất kể xuất thân thuộc dân tộc nào) thì sẽ nhìn nhận Triệu Đà là vua Việt Nam, đây là cách nhìn của nhiều sử gia Việt Nam thời phong kiến (tương tự như việc sử gia Trung Quốc thời phong kiến coi Thành Cát Tư Hãn là vua Trung Quốc, dù thực tế ông là người Mông Cổ). Ngược lại, những nhà sử học có tư duy biện chứng về quốc gia – dân tộc, coi trọng nguồn gốc xuất thân, tính dân tộc của người cầm đầu chính quyền, bản chất của bộ máy quan lại nước Nam Việt (hầu hết quan lại Nam Việt là người Trung Hoa, còn người Việt là dân bị trị) và không công nhận thuyết "Thiên Mệnh" thì sẽ coi Triệu Đà là triều đại xâm chiếm của phương Bắc (như là Phạm Quỳnh đã nói "quốc sử phải lấy dân tộc làm nền, sử gia phong kiến tôn Triệu Đà (một người Hán) là vua khai quốc, ấy là làm một việc vô nghĩa"), đây là cách nhìn của các sử gia thời hiện đại. Quan điểm này được thể hiện qua các sử gia thời phong kiến, từ Lê Văn Hưu (thế kỷ 13) đến Trần Trọng Kim (đầu thế kỷ 20), coi đó là thời kỳ độc lập của Việt Nam, bởi vì họ Triệu cai trị Nam Việt độc lập với nhà Hán cho tới tận năm 111 TCN. Lê Văn Hưu đã viết trong "Đại Việt sử ký": ""Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được". Quan điểm phủ nhận nhà Triệu được khởi xướng từ thế kỷ XVIII bởi học giả Ngô Thì Sĩ. Trong "Việt sử tiêu án", ông khẳng định nước Nam Việt là giặc ngoại xâm, bởi Triệu Đà là người Hán và từng là tướng theo lệnh của Tần Thủy Hoàng bành trướng xuống phía Nam: "An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ: "Kỷ Triệu Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi phát ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến ở cai trị nước ta, thì sau đó có Lâm Sĩ Hoằng khởi ở đất Bàn Dương, Lưu Nghiễm khởi ở Quảng Châu, đều xưng là Nam Việt Vương, cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nước Thục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc vậy"". Đại Việt sử ký tiền biên là bộ Quốc sử của nhà Tây Sơn đã chính thức chấp nhận quan điểm của Ngô Thì Sĩ và phủ nhận nhà Triệu, cải chính một quan niệm cũ kéo dài trong sử sách. Triệu Đà nắm quyền không phải thời kỳ tự chủ mà là thời kỳ Ngoại thuộc, được chép thành kỷ "Ngoại thuộc Triệu Vũ đế". Ngô Thì Sĩ viết: "Không nhận Đà là vua, là để cho nước ta thành một nước riêng đấy [...] Triệu Đà đời Tần chỉ là một quan huyện lệnh. Nhân nhà Tần loạn chiếm cứ đất Lưỡng Quảng… Các nhà làm sử như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên lấy công mở đầu nghiệp đế mà quy cho Đà… Hết sức tán dương đức khiêm tốn của Đà là sai đấy… Đà chiếm Ngũ Lĩnh, chỉ khổ vì lòng tham không biết thế nào là đủ, lại tiêu diệt An Dương Vương mà thôn tính đất đai, truyền được vài đời rồi mất. Bản đồ sổ sách thuộc nước cũ của An Dương phải nhập vào nhà Hán, do đó nước ta thành nguồn lợi cho Trung Quốc… nước ta ngoại thuộc vào Triệu, nên nội thuộc vào nhà Hán, cho mãi đến nhà Đường quốc thống bị đoạn tuyệt, suy nguồn gốc người đầu tiên gây nên tai vạ không phải Đà thì còn ai? Hơn nữa, Đà đặt nước ta làm quận huyện, chỉ biết tịch thu đất đai, vơ vét thuế má, chỉ cốt đầy ngọc bích cho nhà Hán, chất túi Lục Giả có đủ nghìn vàng. Còn như giáo hóa phong tục, không mảy may để ý đến. Trải qua hàng trăm năm đất nước chỉ là lệ thuộc… Đến nay đã trải hàng nghìn năm không ai cải chính, bởi vậy tôi phải luận thật sâu" Trong một bài viết trên báo Sông Hương năm 1936, Phạm Quỳnh phản đối các sử gia phong kiến đã coi Triệu Đà là vua của Việt Nam. Theo ông, ""quốc sử phải lấy dân tộc làm nền", Triệu Đà là người Hoaư nên không thể coi là vua nước Việt, và "sử gia phong kiến tôn y (Triệu Đà) là ông vua khai quốc, ấy là đã làm một việc vô nghĩ"" Từ thập niên 1960 của thế kỉ 20, tất cả các nhà sử học Việt Nam đều nhất trí coi Triệu Đà là tướng xâm lược của nhà Tần, nhà Triệu là triều đại do người Hoa lập nên, có bản chất là người Hoa cai trị người Việt, nên không thể coi đây là triều đại của người Việt. Tiêu biểu như Phan Huy Lê, giáo sư lịch sử đã viết "Triệu Đà là người Hán (quê ở huyện Chân Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc), làm quan lệnh huyện Long Xuyên quận Nam Hải thời nhà Tầ, chống Hán, thực hiện mộng bá vương của mình, Triệu Đà và các vua Triệu kế tục đã thực hiện nhiều thủ đoạn mị dân nhằm tranh thủ các thủ lĩnh ngưòi Việt, tìm hậu thuẫn trong cư dân người Việ, xâm lược của nhà Triệu và ngộ nhận coi nhà Triệu là một triều đại của Việt Nam." Sau khi tới thủ phủ Long Xuyên nhậm chức, Triệu Đà đã xin Tần Thủy Hoàng di dân 50 vạn người (tương đương số dân Âu Lạc thời đó) từ Trung Hoa đến vùng này để đồng hóa người Việt tại đây. Như vậy, Triệu Đà thực sự muốn mở rộng lãnh thổ cho người Trung Hoa thông qua việc di cư lấn đất, đồng hóa phong tục, tập quán của các bộ tộc Việt theo lối Trung Hoa chứ không hề muốn bảo tồn dân tộc Việt. Đặt giả định nếu nhà Tần tồn tại lâu dài như nhà Hán thì Triệu Đà sẽ mãi làm tướng cho nhà Tần, và với việc tổ chức di cư ồ ạt người Trung Hoa xuống phía Nam, Triệu Đà sẽ là một viên quan đắc lực giúp Nhà Tần thực hiện Hán hóa người Việt. Đến cuối đời, Triệu Đà đã quyết định bỏ danh hiệu Đế, quy phục nhà Hán (nhưng vẫn xưng Hoàng Đế ở trong Nam Việt). Triệu Đà viết thư nhờ Lục Giả gửi cho vua Hán, trong thư ông viết: Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Quyển 113, phần "Nam Việt liệt truyện", cũng ghi rằng Triệu Đà tâu với sứ giả của Hán Văn Đế rằng "giữa chốn Man Di, phía đông là Mân Việt chỉ có ngàn dân vẫn xưng vương, phía tây Âu Lạc là nước trần truồng cũng xưng vương. Lão thần lấy bậy đế hiệu, lấy thế làm vui, đâu dám để vua trời nghe được." Như vậy, Triệu Đà đã nhận rằng mình chỉ là phiên vương phục vụ cho nhà Hán, thay mặt vua Hán để cai trị phía Nam, bản thân ông cũng tỏ ra khinh miệt người Việt địa phương, coi họ chỉ là đám "Man Di", là xứ "trần truồng" mà thôi. Trên phương tiện truyền thông đại chúng. Dưới đây là danh sách các bộ phim truyền hình nói về/có đề cập đến triều đại nhà Triệu và nước Nam Việt:
Trưng cầu dân ý Trưng cầu dân ý hay bỏ phiếu toàn dân là một cuộc bỏ phiếu trực tiếp, trong đó toàn bộ các cử tri được yêu cầu chấp nhận hay phủ quyết một đề xuất đặc biệt. Đó có thể là sự thông qua một hiến pháp mới, một sự sửa đổi hiến pháp, một bộ luật, một sự bãi miễn một quan chức đã được bầu hay đơn giản chỉ là một chính sách riêng của Chính phủ. Trưng cầu dân ý hay bỏ phiếu toàn dân là một hình thức Dân chủ trực tiếp. Ngày nay, tại Việt Nam, trong dự thảo luật hay các vấn đề lớn của đất nước, thường gọi là lấy ý kiến nhân dân. Thuật ngữ trưng cầu dân ý hay bỏ phiếu toàn dân thường được sử dụng thay thế lẫn nhau nhưng thuật ngữ bỏ phiếu toàn dân thường để chỉ tình huống trong đó một quyết định được đưa ra dựa trên sự thực hành căn bản của quyền tối cao, như việc quyết định các biên giới quốc gia hay chấp nhận một hiến pháp mới. Bỏ phiếu toàn dân cũng là một thuật ngữ thường được dùng để miêu tả một cuộc bỏ phiếu trực tiếp do một nhà độc tài hay một chế độ không dân chủ tổ chức, trong các tình huống theo đó một cuộc bỏ phiếu đúng đắn và tự do không thể diễn ra. Bỏ phiếu toàn dân do các chính phủ không dân chủ tiến hành có thể yêu cầu chấp thuật một nghị định chính phủ triệt để, hay các chính sách chung của chính phủ. Thuật ngữ trưng cầu dân ý thường được dùng để miêu tả một cuộc bỏ phiếu thông thường được tổ chức bởi các chế độ dân chủ tự do. Thủ tục và tình trạng. Các cuộc trưng cầu dân ý có thể là bắt buộc hay không bắt buộc. Một cuộc trưng cầu dân ý không bắt buộc chỉ đơn giản có tính chất tư vấn hay cố vấn. Nó dành cho chính phủ hay cơ quan lập pháp quyền hiện các kết quả của cuộc trưng cầu dân ý không bắt buộc đó và thậm chí họ có thể bỏ qua kết quả đó. Tuy nhiên, các hoàn cảnh chính trị hiện tại ở các nước thường tổ chức trưng cầu dân ý không bắt buộc luôn rất chú trọng tới kết quả của cuộc trưng cầu dân ý đó. Trái lại, một số nước cho phép các cuộc trưng cầu dân ý theo đó kết quả là hợp pháp và không thể không tuân theo. Một cuộc trưng cầu dân ý hay bỏ phiếu trực tiếp có tính cơ sở có thể được phác thảo bởi một hội đồng lập pháp trước khi đưa ra cho cử tri. Trong những trường hợp khác một cuộc trưng cầu dân ý thường được đề xuất bởi một cơ quan lập pháp hay bởi chính các công dân thông qua việc thỉnh cầu. Quy tình đưa ra một cuộc trưng cầu dân ý bằng cách thỉnh cầu được gọi là của nhân dân hay sự khởi xướng của công dân. Tại các nước trong đó một cuộc trưng cầu dân ý phải được đề xuất bởi nghị viện, thỉnh thoảng việc tổ chức trưng cầu dân ý bắt buộc là điều đương nhiên đối với một số đề xuất, ví dụ như sửa đổi hiến pháp. Trong đa số các cuộc trưng cầu dân ý, một biện pháp được thông qua đơn giản bởi đa số cử tri chưa chắc đã được đưa vào thực hiện. Tuy nhiên một cuộc trưng cầu dân ý cũng có thể phải có đại đa số, ví dụ như hai phần ba cử tri tham gia. Ở một số nước, cũng có quy định một số lượng cử tri tham gia tối thiểu nào đó của toàn bộ cử tri để kết quả trưng cầu dân ý được coi là hợp lệ. Điều này nhằm đảm bảo rằng kết quả đó đại diện cho ý nguyện của toàn bộ cử tri và giống với số đại biểu cần thiết quy định (quorum) trong một uỷ ban hay một cơ quan hành pháp. Quyền tham gia vào một cuộc trưng cầu dân ý không quan trọng như quyền tham gia vào các cuộc bầu cử. Ví dụ, ở Cộng hoà Ireland chỉ các công dân mới được bỏ phiếu tại các cuộc trưng cầu dân ý trong khi đó các công dân Anh cư trú trong nước mới có quyền bỏ phiếu trong các cuộc tuyển cử.
Thực vật có hoa Thực vật có hoa, còn gọi là thực vật hạt kín hay thực vật bí tử (danh pháp khoa học Angiospermae hoặc Anthophyta hay Magnoliophyta) là một nhóm chính của thực vật. Chúng tạo thành một trong hai nhóm thuộc thực vật có hạt (Spermatophyta). Chúng bao phủ các hạt của mình bằng cách đưa hạt vào trong quả thực thụ. Chúng chứa các cơ quan sinh sản trong một cấu trúc được gọi là hoa; noãn được bao phủ bởi lá noãn, nó sẽ dẫn tới sự hình thành quả. Trong nhóm chính còn lại của thực vật có hạt, được gọi là thực vật hạt trần, noãn không được bao phủ khi thụ phấn và các hạt không ở trong quả thực thụ, mặc dù thỉnh thoảng người ta vẫn thấy ở chúng các cơ cấu nhiều cùi thịt che phủ hạt (ví dụ chi "Taxus"). Đây là nhóm thực vật trên cạn đa dạng nhất, với 64 bộ, 416 họ, khoảng 13.000 chi và 300.000 loài đã được biết đến. Thuật ngữ để chỉ thực vật hạt kín là "Angiosperm", có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại "αγγειον" (chỗ chứa) và "σπερμα" (hạt), được Paul Hermann tạo thành dưới dạng thuật ngữ Angiospermae vào năm 1690, như là tên gọi của một trong các ngành chính trong giới thực vật của ông, nó bao gồm thực vật có hoa và tạo ra các hạt được bao phủ trong các bao vỏ (quả nang), ngược lại với Gymnospermae của ông, hay thực vật có hoa với các quả thuộc loại quả bế hay quả nứt - toàn bộ quả hay mỗi miếng riêng rẽ của nó được coi như là hạt và trần trụi. Thuật ngữ này và từ trái nghĩa của nó đã được Carolus Linnaeus duy trì với cùng ngữ cảnh, nhưng với các ứng dụng hạn hẹp hơn, như trong tên gọi của các bộ trong lớp Didynamia của ông. Việc sử dụng nó trong bất kỳ cách tiếp cận nào đối với lĩnh vực hiện đại của nó chỉ trở thành có thể sau khi Robert Brown thiết lập vào năm 1827 sự tồn tại của các noãn trần thực sự trong Cycadeae (Tuế) và Coniferae (Thông), cho phép gọi chúng một cách chính xác là thực vật hạt trần. Từ thời điểm này trở đi, cũng giống như Gymnosperm được dùng để chỉ thực vật hạt trần thì thuật ngữ Angiosperm đã được nhiều nhà thực vật học dùng với ý nghĩa đối lập, nhưng với giới hạn thay đổi, như là tên nhóm cho các thực vật hai lá mầm khác. Sự phát hiện của Hofmeister năm 1851 về các thay đổi xảy ra trong túi phôi của thực vật có hoa, cũng như sự xác định của ông về các quan hệ chính xác của các thay đổi này với thực vật có mạch, đã cố định vị trí của Gymnosperm như là một lớp phân biệt với thực vật hai lá mầm, và thuật ngữ Angiosperm sau đó dần dần được chấp nhận như là tên gọi phù hợp cho toàn bộ thực vật có hoa hơn là Gymnosperm, và nó bao gồm trong đó các lớp thực vật hai lá mầm và thực vật một lá mầm. Đây chính là ý nghĩa mà thuật ngữ này hiện nay có được và được sử dụng ở đây. Lịch sử tiến hóa. Sự tiến hóa của giới thực vật đã theo xu hướng thiết lập các loài thực vật với kiểu cách phát triển cố định và phù hợp với sự thay đổi của sự sống trên mặt đất, và thực vật hạt kín là biểu hiện cao nhất của quá trình tiến hóa này. Chúng tạo thành thảm thực vật chủ yếu trên bề mặt Trái Đất trong kỷ nguyên hiện tại. Thực vật hạt kín được tìm thấy từ hai địa cực tới xích đạo, khi mà sự sống của thực vật là có thể duy trì được. Chúng cũng rất phổ biến trong các vùng nông của các con sông và các hồ nước ngọt, cũng như có ít hơn về mặt số lượng loài trong các hồ nước mặn hay trong lòng đại dương. Tuy nhiên, các loài thực vật hạt kín thủy sinh không phải là các dạng thực vật nguyên thủy mà được phát sinh ra từ các dạng tổ tiên trung gian trên đất liền. Gắn liền với sự đa dạng về nơi sinh sống là sự dao động lớn về hình thái chung và kiểu sinh trưởng. Chẳng hạn, các loại bèo tấm quen thuộc che phủ bề mặt các ao hồ gồm có các chồi nhỏ màu xanh lục dạng "tản", gần như không thể hiện sự phân biệt giữa các phần - thân và lá, chúng có một rễ đơn mọc theo chiều đứng xuống dưới nước. Trong khi đó, các cây thân gỗ lớn trong rừng có thân cây, có lẽ là sau hàng trăm năm, đã phát triển thành một hệ thống trải rộng bao gồm các cành và nhánh, mang theo nhiều cành con hay nhánh nhỏ với hằng hà sa số lá, trong khi dưới lòng đất thì hệ thống rễ trải rộng nhiều nhánh cũng chiếm một diện tích đất tương đương. Giữa hai thái cực này là mọi trạng thái có thể tưởng tượng được, bao gồm các loại cây thân thảo trên mặt đất và dưới nước, là các loại cây thân bò, mọc thẳng hay dây leo về cách thức phát triển, cây bụi hay cây thân gỗ nhỏ và vừa phải và chúng có sự đa dạng hơn nhiều so với các ngành khác của thực vật có hạt, chẳng hạn như ở thực vật hạt trần. Các di tích đầu tiên về sự xuất hiện của thực vật hạt kín được tìm thấy trong các mẫu hóa thạch có niên đại khoảng 140 triệu năm trước, trong thời kỳ của kỷ Jura (203-135 triệu năm trước). Dựa trên các chứng cứ hiện tại, dường như là các tổ tiên của thực vật hạt kín và ngành Dây gắm ("Gnetophyta") đã tách ra khỏi nhau vào cuối kỷ Trias (220-202 triệu năm trước). Các thực vật hóa thạch với một số đặc trưng có thể xác định thuộc về thực vật hạt kín xuất hiện trong kỷ Jura và đầu kỷ Phấn trắng (kỷ Creta) (135-65 triệu năm trước), nhưng chỉ có dưới một số rất ít hình thái thô sơ. Hóa thạch sớm nhất của thực vật hạt kín, "Archaefructus liaoningensis", có niên đại khoảng 125 triệu năm trước. Phấn hoa, được coi là liên quan trực tiếp tới sự phát triển của hoa, được tìm thấy trong hóa thạch có lẽ cổ tới 130 triệu năm. Sự bùng nổ mạnh của thực vật hạt kín (khi có sự đa dạng lớn của thực vật hạt kín trong các mẫu hóa thạch) đã diễn ra vào giữa kỷ Phấn trắng (khoảng 100 triệu năm trước). Tuy nhiên, một nghiên cứu trong năm 2007 đã ước tính sự phân chia của 5 trong số 8 nhóm gần đây nhất (chi "Ceratophyllum", họ Chloranthaceae, thực vật hai lá mầm thật sự, magnoliids, thực vật một lá mầm) đã xảy ra khoảng 140 triệu năm trước. Vào cuối kỷ Phấn trắng, thực vật hạt kín dường như đã trở thành nhóm thống trị trong số thực vật trên đất liền, và nhiều thực vật hóa thạch có thể nhận ra được là thuộc về các họ ngày nay (bao gồm dẻ gai, sồi, thích, mộc lan) đã xuất hiện. Tuy nhiên, một số tác giả lại đề xuất nguồn gốc sớm hơn của thực vật hạt kín, đôi khi là tận trong đại Cổ sinh (251 triệu năm trước hay sớm hơn). Trong phần lớn các hệ thống phân loại, thực vật có hoa được coi là một nhóm cố kết mạch lạc. Tên gọi mang tính miêu tả phổ biến nhất là Angiospermae (Angiospermae), với Anthophyta ("thực vật có hoa") là lựa chọn thứ hai. Các tên gọi này không gắn kết cố định với bất kỳ cấp phân loại nào. Hệ thống Wettstein và hệ thống Engler sử dụng tên gọi Angiospermae với cấp bậc được gán là phân ngành. Hệ thống Reveal coi thực vật có hoa như là phân ngành Magnoliophytina, nhưng sau đó tách nó ra thành Magnoliopsida, Liliopsida và Rosopsida. Hệ thống Takhtadjan và hệ thống Cronquist coi nhóm này ở cấp ngành, dẫn tới tên gọi Magnoliophyta (từ tên gọi của họ Magnoliaceae). Hệ thống Dahlgren và hệ thống Thorne (1992) coi nhóm này ở cấp độ lớp, dẫn tới tên gọi Magnoliopsida. Tuy nhiên, hệ thống APG năm 1998 và hệ thống APG II năm 2003, không coi nó như là một đơn vị phân loại chính thức mà coi nó là một nhánh không có tên gọi thực vật học chính thức và sử dụng tên gọi angiosperms cho nhánh này. Cho tới nay, thông thường thực vật có hoa vẫn được coi là một ngành. Là một nhóm ở cấp độ trên cấp họ, nên ở đây có sự tự do trong việc chọn tên gọi: Điều 16 của "ICBN" cho phép hoặc là dùng tên miêu tả hoặc là dùng tên dựa trên tên phát sinh chủng loài. Tên ưa thích theo phạm trù sau là "Magnoliophyta" (ở cấp độ ngành, dựa trên "Magnolia" là tên khoa học của chi Mộc lan). Tên miêu tả phổ biến nhất là "Angiospermae" (Angiosperm), với "Anthophyta" ("thực vật có hoa") là sự lựa chọn thứ hai. Phân loại nội bộ của nhóm này đã qua nhiều thay đổi đáng kể cũng giống như sự thay đổi của ý tưởng về các mối quan hệ của chúng. Hệ thống Cronquist, được Arthur Cronquist đề xuất năm 1968 và công bố ở dạng đầy đủ năm 1981, vẫn còn được sử dụng rộng rãi nhưng không còn được coi là phản ánh đúng cơ chế phát sinh loài. Sự nhất trí chung về việc thực vật có hoa cần sắp xếp như thế nào chỉ có thể nổi lên gần đây, thông qua công trình của Angiosperm Phylogeny Group, là tổ chức đã phát hành sự phân loại lại có sức thuyết phục hơn cho thực vật hạt kín vào năm 1998. Sự cập nhật các nghiên cứu gần đây đã được phát hành như là APG II (2003). Theo truyền thống, thực vật có hoa được chia thành hai nhóm chính, trong hệ thống Cronquist được gọi là "Magnoliopsida" (ở cấp độ lớp, dựa trên tên gọi "Magnolia") và "Liliopsida" (ở cấp độ lớp, dựa trên tên gọi "Lilium"). Phổ biến hơn là các tên gọi miêu tả (theo điều 16 của "ICBN"): "Dicotyledones" (một số người ưa dùng "Dicotyledoneae") và "Monocotyledones" (một số người ưa dùng "Monocotyledoneae"), là các tên gọi đã được sử dụng từ rất lâu. Trong tiếng Việt, thành viên nào đó của nhóm bất kỳ nào đều có thể được gọi chung là "thực vật một lá mầm" hay "thực vật hai lá mầm", tùy theo số lượng lá mầm của nó. Các tên gọi này xuất phát từ một thực tế là thực vật hai lá mầm thường (không phải luôn luôn) có hai lá mầm trong mỗi hạt, trong khi thực vật một lá mầm thông thường chỉ có một. Quan điểm về số lượng lá mầm không phải là thuận tiện mà cũng không phải là đặc điểm có độ tin cậy cao. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng thực vật một lá mầm là một nhóm "tốt" (nhóm đơn ngành hay toàn phần), trong khi thực vật hai lá mầm lại không phải như vậy (nhóm đa ngành). Tuy nhiên, trong phạm vi của thực vật hai lá mầm vẫn tồn tại nhóm "tốt", nó bao gồm phần lớn thực vật hai lá mầm. Nhóm mới này về mặt bán chính thức được gọi là "thực vật hai lá mầm thật sự" ("eudicots") hay "ba lỗ chân lông" ("tricolpate"). Tên gọi "tricolpate" có nguồn gốc từ loại hình phấn hoa tìm thấy trong cả nhóm. Tên gọi eudicots được tạo ra bằng cách gắn "dicots" với tiền tố "eu-" (tiếng Hy Lạp 'eu'= "thật sự"), do mọi thực vật hai lá mầm thật sự đều chia sẻ các đặc trưng thông thường được gán cho thực vật hai lá mầm. Tên gọi hình thức cho nhóm này đôi khi được dùng là "Rosopsida" (ở cấp độ lớp, dựa trên chi "Rosa"). Tách nhóm này ra khỏi thực vật hai lá mầm (cũ) người ta thu được phần còn lại, nó đôi khi được gọi là "thực vật hai lá mầm cổ" (palaeodicot với tiền tố "palaeo-" trong tiếng Hy Lạp cổ điển có nghĩa là cổ). Do nhóm còn lại này không phải là một nhóm "tốt" nên thuật ngữ này chỉ có mục đích làm thuận lợi trong phân loại mà thôi. Phát sinh chủng loài. Phát sinh chủng loài của thực vật có hoa theo APG III (2009). Phát sinh chủng loài của thực vật có hoa theo APG IV (2016). Hiện còn 8 nhóm thực vật hạt kín còn sinh tồn: Mối quan hệ chính xác giữa 8 nhóm này vẫn chưa rõ ràng, mặc dù người ta đã xác định được rằng ba nhóm đầu tiên tách ra khỏi các dạng thực vật hạt kín tổ tiên là Amborellales, Nymphaeales và Austrobaileyales, theo đúng trật tự đó. Sự đa dạng của thực vật có hoa. Người ta ước tính thực vật có hoa có khoảng 250.000-400.000 loài trong phạm vi của khoảng 462 họ (theo APG năm 1998). Trong APG II năm 2003 số lượng họ vẫn chưa được giải quyết; tối đa là 457, nhưng trong đó có 55 họ tùy chọn, vì thế số lượng họ tối thiểu trong hệ thống này là 402. Sự đa dạng của thực vật có hoa không phân bố đồng đều. Sự phân bố gần đúng như sau: Khoảng 75% là thực vật hai lá mầm thật sự, khoảng 23% là thực vật một lá mầm còn 2% thuộc phức hợp Mộc lan. Tổng cộng năm nhánh còn lại chỉ có khoảng 250 loài, nghĩa là ít hơn 0,1% sự đa dạng của thực vật có hoa, được phân chia trong 9 họ. Các họ thực vật có hoa đa dạng nhất, theo trật tự số lượng loài, là: Trong danh sách 10 họ lớn nhất kể trên, thì Orchidaceae, Poaceae, Cyperaceae và Araceae là các họ thực vật một lá mầm; các họ còn lại là họ thực vật hai lá mầm. Sự đa dạng trong cấu trúc trong của ngành này cũng vượt xa ngành thực vật hạt trần. Các bó mạch của thân cây thuộc về dạng bàng hệ, điều đó có thể hiểu là các thành phần của thân gỗ (hay chất gỗ) và vỏ (hay li be) được xếp cạnh nhau trên cùng một đường tròn. Trong nhóm lớn hơn là thực vật hai lá mầm thì chúng có các bó mạch trong các thân cây non được sắp xếp trong vòng gỗ mở, chia tách phần lõi xốp trung tâm với phần vỏ ngoài. Trong mỗi bó, chia tách bởi phần chất gỗ và phần li be, là một lớp mô phân sinh hay mô hình thành đang hoạt động, được biết dưới tên gọi tầng phát sinh gỗ; bằng sự hình thành của lớp phát sinh gỗ giữa các bó (tầng phát sinh gỗ trong bó) thì vòng gỗ hoàn hảo được tạo ra, và đều đặn tăng độ dày hàng năm do sự phát triển của chất gỗ ở bên trong và lớp li be ở bên ngoài. Li be mềm nhanh chóng bị tiêu tan, nhưng chất gỗ cứng thì vẫn còn và tạo thành kích thước lớn của thân cây và các cành đối với các cây thân gỗ lâu năm. Do các khác biệt trong đặc trưng của các thành phần được tạo ra vào đầu và cuối mùa nên nó được giới hạn theo mặt cắt ngang thành các vòng gỗ đồng tâm, mỗi vòng cho một mùa tăng trưởng - còn gọi là vòng gỗ hàng năm. Trong nhóm nhỏ hơn là thực vật một lá mầm thì các bó mạch có nhiều hơn ở các thân cây non và phân tán qua các mô nền. Ngoài ra, chúng không chứa tầng phát sinh gỗ và kích thước thân cây khi đã hình thành chỉ tăng trưởng trong rất ít trường hợp. Cơ quan sinh dưỡng. Giống như ở thực vật hạt trần, việc tạo nhánh là đơn trục; sự tách đôi hay chia nhánh của điểm phát triển thành hai cành tương đương để thay thế cho thân chính là thiếu vắng ở cả thân và rễ. Lá có sự dao động lớn về hình dạng, nhưng nói chung là nhỏ so với kích thước của cây; ngoại trừ ở một số loài thực vật một lá mầm như trong phân họ Ráy, trong đó ở một vài chi thì cây tạo ra lá to, nhiều nhánh mỗi mùa. Trong một số rất hạn chế các trường hợp thì thân cây chính không tạo cành và kết thúc của nó là hoa, giống như ở loài hoa tulip (uất kim hương), trong đó các lá bắc hình thành lên thân hành dưới đất, các lá xanh lục và các lá dạng hoa màu mè được sinh ra trên cùng một trục. Nói chung, các hoa chỉ được tạo thành trên các cành, nhánh có cấp cao hơn, thông thường chỉ ở các cành cao nhất trong hệ thống nhánh cây. Nhánh tiềm năng (chồi), hoặc là chồi lá hoặc là chồi hoa, được hình thành ở nách lá; đôi khi nhiều hơn một chồi mọc ra, giống như ở cây óc chó, trong đó 2-3 chồi mọc thành chuỗi theo chiều dọc phía trên mỗi lá. Nhiều chồi chỉ ở dạng ngủ hay chỉ được đánh thức trong những hoàn cảnh khác thường, chẳng hạn sau khi cành hiện tại bị phá hủy. Ví dụ việc chặt hay xén tỉa cành sẽ giúp cho các chồi ngủ nhiều năm có thể thức dậy. Các chồi lá đôi khi có thể mọc ra từ rễ, khi chúng bị đánh thức ngẫu nhiên; điều này xảy ra ở nhiều loại cây ăn quả, như cây dương, đu và nhiều loài khác. Ví dụ, các chồi non trổ ra từ lòng đất xung quanh cây đu không phải là cây non mà là các chồi rễ. Ở nhiều loài thực vật hai lá mầm thì rễ nguyên thủy của cây non tồn tại suốt cuộc đời của cây, tạo thành (thường thấy ở các cây hai năm) một rễ cái to, giống như ở cà rốt, hay ở cây lâu năm là một hệ thống rễ nhiều nhánh.Tuy nhiên, ở nhiều loài thực vật hai lá mầm và phần lớn thực vật một lá mầm khác thì rễ nguyên thủy sẽ tàn lụi đi nhanh chóng và thay thế vào đó là các rễ ngẫu nhiên mọc từ thân cây. Hoa, quả và hạt. Tính chất đặc trưng của thực vật hạt kín là hoa, trong đó có sự dao động đáng kể về hình dáng và sự hình thành. Nó đưa ra các đặc trưng đáng tin cậy nhất để thiết lập quan hệ giữa các loài thực vật hạt kín. Chức năng của hoa là đảm bảo cho sự thụ phấn của noãn và phát triển của quả chứa các hạt. Hoa có thể sinh ra ở đầu ngọn hay ở nách lá. Thỉnh thoảng, chẳng hạn như ở hoa vi ô let, hoa mọc ra ở nách của lá. Tuy nhiên, thông dụng hơn thì các phần mang hoa của thực vật về hình dạng là phân biệt rõ nét với các phần sinh dưỡng hay phần mang lá, cũng như tạo ra hệ thống nhánh phức tạp nhiều hay ít, được gọi là cụm hoa. Giống như ở thực vật hạt trần, các bào tử được hoa tạo ra có hai loại: tiểu bào tử hay phấn hoa, sinh sản trong các nhị hoa và đại bào tử, trong đó các tế bào trứng phát triển, chứa trong noãn và được bao phủ trong lá noãn. Hoa có thể chỉ bao gồm một trong các phần mang bào tử như thế, chẳng hạn ở cây liễu, trong đó mỗi hoa chỉ có một vài nhị hoa hay hai lá noãn. Tuy nhiên, thông thường thì các cấu trúc khác cũng có nhằm hai mục đích là bảo vệ các bào tử và hình thành một vỏ bao hấp dẫn. Các thành phần cụ thể của các cấu trúc xung quanh này được gọi là đài hoa và cánh hoa (hay bao hoa trong hoa của một vài chi như "Michelia"). Phần bên ngoài (đài của các đài hoa) thông thường có màu xanh lục giống như lá, có chức năng bảo vệ phần còn lại của hoa, đặc biệt là trong nụ. Phần bên trong (tràng của các cánh hoa) nói chung có màu trắng hay các màu sáng và tinh tế hơn về cấu trúc, có chức năng hấp dẫn một số loài côn trùng hoặc chim chóc cụ thể nào đó mà sự có mặt của chúng giúp cho sự thụ phấn đạt hiệu quả hơn. Sự hấp dẫn bao gồm cả màu sắc và mùi, cũng như rất phổ biến là mật hoa được tiết ra từ một số bộ phận của hoa. Các đặc trưng lôi cuốn những kẻ thụ phấn này giải thích cho sự phổ biến của hoa và thực vật có hoa đối với con người. Giới tính của thực vật có hoa. Hoa là cơ quan sinh sản của thực vật có hoa. Bộ phận "đực" là các nhị hoa hay bộ nhị, nó tạo ra phấn hoa (các bào tử đực) trong các bao phấn. Bộ phận "cái" là lá noãn hay bộ nhụy, nó chứa các giao tử cái và là nơi để sự thụ phấn diễn ra. Trong khi phần lớn các hoa là hoàn hảo hay lưỡng tính (có cả phần đực và cái trong cùng một hoa) thì thực vật có hoa đã phát triển nhiều cơ chế hình thái và sinh lý để ngăn chặn hay làm giảm sự tự thụ phấn. Các hoa khác hình có các lá noãn ngắn và các nhị dài, hoặc ngược lại, vì thế các động vật thụ phấn không thể dễ dàng chuyển phấn hoa tới nhụy hoa (phần tiếp nhận của lá noãn). Các hoa đồng hình có thể có các cơ chế hóa sinh (sinh lý) gọi là tự không tương thích để phân biệt các hạt phấn hoa của nó hay không phải của nó. Ở các loài khác, các bộ phận đực và cái là tách biệt về hình thái, phát triển trên các hoa khác nhau. Vào thời kỳ thụ phấn thì túi phôi nằm gần với lớp màng bao phủ noãn, sao cho ống phấn hoa có thể thâm nhập vào, lớp tế bào thành ngăn trở thành có thể hấp thụ và các tế bào đực (phấn hoa) được bơm vào trong túi phôi. Được dẫn dắt bởi tế bào trứng không phát triển đầy đủ, một tế bào đực sẽ chui được vào noãn cầu và hợp nhất với nó, hai nhân kết hợp lại, trong khi một tế bào khác sẽ hợp nhất với nhân cuối cùng, hay còn được gọi là nhân nội nhũ. Điều đáng chú ý thú vị này sẽ tăng gấp đôi khả năng thụ phấn, mặc dù chỉ được phát hiện ra gần đây, đã được chứng minh là xảy ra ở nhiều họ có sự phân tách rộng, và nó xảy ra trong cả thực vật một lá mầm cũng như nguyên tản sau khoảng lặng tiếp theo sau quá trình tái tiếp sinh lực hợp nhất của các nhân có cực. Quan điểm này vẫn được duy trì bởi những người giữ quan điểm phân biệt hai hành vi của sự thụ phấn trong túi phôi, và gọi hành vi tác động của tế bào đực thứ nhất đối với tế bào trứng là thụ phấn sinh sản hay thụ phấn thực thụ, và hành vi của giao tử đực thứ hai đối với các nhân có cực là thụ phấn thực vật, nó tạo ra sự kích thích đối với sự phát triển trong tương quan với hành vi kia. Mặt khác, nếu nội nhũ là sản phẩm của hành vi thụ phấn giống như hành vi đã tạo ra phôi thì người ta phải thừa nhận rằng các thực vật sinh đôi được tạo ra trong túi phôi - một là phôi, nó sẽ trở thành thực vật hạt kín và hai là nội nhũ, có chu kỳ sống ngắn ngủi, nơi nuôi dưỡng không được phân hóa để hỗ trợ cho quá trình dinh dưỡng của phôi, thậm chí giống như là các phôi phụ trợ trong thực vật hạt trần nhiều phôi để có thể làm thuận lợi cho sự dinh dưỡng của phôi trội. Nếu đúng như vậy và nội nhũ cũng giống như phôi, là sản phẩm thông thường của hành vi sinh sản, thì sự lai giống sẽ tạo ra nội nhũ lai giống như nó tạo ra phôi lai, và ở đây (được giả thiết) chúng ta có thể có được sự giải thích cho hiện tượng giao phấn quan sát thấy ở các nội nhũ hỗn hợp của các giống ngô lai và các thực vật khác và nó là khả năng duy nhất có thể cho đến hiện nay để xác nhận rằng chúng là biểu hiện của sự mở rộng ảnh hưởng của phấn hoa đối với noãn và các sản phẩm của nó. Tuy nhiên, điều này không giải thích được sự hình thành của các quả có kích cỡ và màu sắc trung gian giữa các cây cha mẹ lai ghép chéo. Ý nghĩa của sự hợp nhất của các nhân có cực không giải thích được bởi các sự kiện mới này, nhưng nó là đáng chú ý khi cho rằng tế bào đực thứ hai đôi khi hợp nhất với nhân có cực ở đỉnh, chị em của tế bào trứng, trước khi có sự hợp nhất của nó với nhân có cực ở gốc. Ý tưởng về nội nhũ như là thực vật phụ trợ thứ cấp không phải là điều mới mẻ; nó đã được đưa ra từ rất sớm để giải thích sự hợp nhất của các nhân có cực, nhưng khi đó nó đã dựa trên giả thiết rằng chúng là các tế bào đực và cái, một giả thiết mà không có chứng cứ xác nhận và nó vốn đã không chắc chắn là có thực. Nền tảng của sự hợp nhất của nhân đực thứ hai với nhân cuối cùng tạo ra cho sự thụ phấn một cơ sở ổn định hơn. Các tế bào đối cực hỗ trợ nhiều hay ít trong quá trình nuôi dưỡng phôi đang phát triển, và có thể trải qua quá trình nhân bản, mặc dù cuối cùng chúng bị phân hủy, cũng giống như tế bào trứng không phát triển đầy đủ. Giống như ở thực vật hạt trần và các nhóm khác, sự thay đổi định tính gắn liền với quá trình thụ phấn. Số lượng nhiễm sắc thể (xem Tế bào học thực vật) trong nhân của hai bào tử, hạt phấn và túi phôi, chỉ là một nửa số lượng nhiễm sắc thể tìm thấy trong nhân thực vật thông thường; và điều này đã giảm số lượng tồn tại trong các tế bào xuất phát từ chúng. Số lượng đầy đủ được phục hồi trong sự hợp nhất của các nhân đực và cái trong quá trình thụ phấn và nó duy trì cho đến khi hình thành các tế bào mà từ đó các bào tử lại được sinh ra trong các thế hệ mới. Ở một vài bộ và chi thực vật, sự trệch hướng ra khỏi tiến trình thụ phấn thông thường cũng đã được miêu tả gần đây. Trong bộ Rosaceae, loạt Querciflorae, chi "Casuarina" rất bất thường và những chi khác, thay vì một đại bào tử thì một số mô dạng bào tử được tạo ra, nhưng chỉ có một tế bào tiến đến sự hình thành của tế bào cái sinh sản. Trong các chi "Casuarina", "Juglans" và bộ Corylaceae, ống phấn hoa không thâm nhập theo màng bao noãn, mà vượt qua thành bao bầu nhụy và thông qua thực giá noãn để thâm nhập vào phần cuối điểm hợp của noãn. Phương pháp thâm nhập như thế được gọi là thâm nhập điểm hợp, ngược lại với thâm nhập màng bao hay phương pháp tiếp cận thông thường theo đường màng bao noãn. Kết quả của sự thụ phấn là sự phát triển của noãn thành hạt. Bằng cách phân chia tế bào trứng đã thụ phấn, hiện được bao phủ trong màng tế bào, thì thực vật-phôi được sinh ra. Một lượng thay đổi của các "bức thành" phân chia theo chiều ngang biến đổi chúng thành mầm phôi - một dãy tế bào trong đó tế bào gần nhất với màng bao noãn sẽ gắn liền với đỉnh của túi phôi, và như thế nó cố định vị trí của phôi đang phát triển, trong khi tế bào cuối cùng được chứa trong khoang của nó. Ở thực vật hai lá mầm, toàn bộ thân của phôi phát sinh từ tế bào cuối cùng của mầm phôi, từ tế bào tiếp theo sẽ sinh ra rễ, và tất cả các tế bào còn lại tạo ra cuống noãn. Ở nhiều thực vật một lá mầm thì tế bào cuối cùng tạo ra một phần lá mầm đơn độc của thân phôi, phần trục và rễ của nó xuất phát từ tế bào cận kề; như vậy lá mầm là cấu trúc cuối cùng và là đỉnh của thân nguyên thủy - một điều đánh dấu sự tương phản với thực vật hai lá mầm. Tuy nhiên, ở một số thực vật một lá mầm thì lá mầm không thực sự là cuối cùng. Rễ nguyên thủy của phôi trong tất cả thực vật hạt kín đều hướng về phía màng bao noãn. Phôi đang phát triển ở cuối của cuống noãn phát triển theo các mức độ khác nhau vào trong nội nhũ đang hình thành, từ trong đó nhờ hấp thụ bề mặt nó thu được các chất dinh dưỡng tốt cho sự tăng trưởng. Cùng thời gian đó, cuống noãn đóng vai trò của người vận chuyển chất dinh dưỡng và thậm chí có thể phát triển, khi mà không có phôi nhũ được tạo ra, các "rễ cuống noãn" hấp thụ đặc biệt bao lấy phôi đang phát triển hay chui vào trong thân và vỏ bao noãn, hoặc thậm chí vào trong thực giá noãn. Trong một số trường hợp phôi hay túi phôi gửi các vòi hút vào trong phôi tâm và vỏ bọc noãn. Khi phôi phát triển nó có thể hấp thụ mọi chất nuôi dưỡng có sẵn để lưu trữ hoặc là trong các lá mầm hay trong trụ dưới lá mầm của nó, là nơi không cần dùng ngay để tăng trưởng, như là nguồn thức ăn dự trữ để sử dụng khi nảy mầm và nhờ vậy nó tăng trưởng về kích thước cho đến khi nó chiếm toàn bộ túi phôi; hoặc sức hấp thụ của nó ở giai đoạn này có thể bị giới hạn chỉ ở mức cần thiết cho sự phát triển và nó duy trì ở kích thước tương đối nhỏ, chiếm một thể tích nhỏ của túi phôi, mà nếu khác đi thì được điền đầy bởi nội nhũ trong đó các thực phẩm dự trữ được lưu giữ. Ở đây còn có các trạng thái trung gian. Vị trí của phôi so với nội nhũ là không cố định, đôi khi nó ở bên trong nhưng đôi khi lại ở bên ngoài và ý nghĩa của điều này vẫn chưa được làm rõ. Sự hình thành của nội nhũ bắt đầu từ nhân nội nhũ. Sự phân chia của nó luôn luôn bắt đầu trước sự phân chia của tế bào trứng, và vì thế có sự chuẩn bị đúng lúc cho sự nuôi dưỡng phôi non. Nếu túi phôi hẹp thì sự hình thành của nội nhũ tiến hành trong khoảng các đường phân chia tế bào, nhưng trong các túi phôi rộng thì nội nhũ được hình thành trước mọi thứ như là một lớp tế bào trần trụi xung quanh tường bao của túi, và chỉ dần dần thu được đặc trưng của đa tế bào, tạo ra mô điền đầy túi phôi. Chức năng của nội nhũ chủ yếu là nuôi dưỡng phôi, và vị trí gốc của nó trong túi phôi được sắp xếp sao cho nó thích hợp nhất cho sự hấp thụ các chất dinh dưỡng của noãn. Thời gian tồn tại của nó thay đổi theo khả năng sớm phát triển của phôi. Nó có thể bị hấp thụ hoàn toàn bởi sự phát triển nhanh của phôi ngay từ trong túi phôi, hoặc có thể tồn tại như là một thành phần còn lại dễ nhận thấy của hạt. Khi nó tồn tại như là thành phần cơ bản của hạt thì chức năng cung cấp nguồn nuôi dưỡng là rõ ràng, nó tích lũy trong các tế bào của mình các thức ăn dự trữ và theo các chất cơ bản thì nó có thể là tinh bột, dầu hay xenluloza, chất nhầy và protein. Trong trường hợp phôi đã tích trữ nguồn năng lượng dự trữ trong chính nó để tự dưỡng thì nội nhũ như là phần còn lại trong hạt có thể có chức năng khác, ví dụ để hấp thụ nước. Một số sai biệt khi so sánh với sự phát triển thông thường cũng được ghi nhận. Sinh sản đơn tính, hay sự phát triển của phôi từ tế bào trứng mà không cần sự thụ phấn, đã được miêu tả đối với các loài của các chi "Thalictrum", "Antennaria" và "Alchemilla". Đa phôi nói chung gắn liền với sự phát triển của các tế bào hơn là từ tế bào trứng. Vì thế trong các chi "Erythronium" và "Limnocharis" thì tế bào trứng có thể tạo ra một lượng mô mà một vài phôi được tạo ra từ đó. Các trường hợp cá biệt chỉ ra rằng bất kỳ tế bào nào trong túi phôi có thể cũng tạo ra phôi, ví dụ tế bào trứng phát triển không đầy đủ trong các loài thuộc chi "Mimosa", "Iris" và "Allium", và trong chi cuối cùng đã nêu thì các tế bào đối cực cũng có thể. Trong chi "Coelebogyne" (họ Euphorbiaceae) và "Funkia" (họ Liliaceae) đa phôi được tạo ra từ việc sản xuất ngẫu nhiên các phôi từ các tế bào của phôi tâm xung quanh đỉnh của túi phôi. Ở các loài thuộc chi "Allium", các phôi cũng đã được phát hiện là phát triển thành cùng một cá thể từ tế bào trứng, tế bào trứng không phát triển đầy đủ, tế bào đối cực và các tế bào của phôi tâm. Ở hai loài thuộc chi "Balanophora" sinh trưởng ở khu vực Malaya, phôi được phát triển từ tế bào của nội nhũ, nó chỉ được hình thành từ nhân có cực phía trên và bộ phận trứng bị phá hủy. Trường hợp vừa đề cập này có thể coi như là biểu hiện của sự phát triển sinh sản vô giao của thể bào tử từ thể giao tử khi so sánh với trường hợp sinh sản vô giao được miêu tả đối với các loài dương xỉ. Sự đa dạng của các trường hợp dị thường này, như đã chỉ ra trong các ví dụ trên đây, là lý do để người ta cần cân nhắc kỹ hơn trong việc thiết lập các nguyên lý hình thái cụ thể đối với thực vật có hoa. Do sự phát triển của phôi và nội nhũ diễn ra trong túi phôi, thành của chúng phình to lên và thông thường chúng hấp thụ các chất của phôi tâm để đạt tới gần như giới hạn ngoài của nó, đồng thời kết hợp với nó và vỏ bọc để tạo ra "vỏ hạt"; hoặc là toàn bộ phôi tâm và thậm chí cả vỏ bọc cũng có thể bị hấp thụ. Ở một số thực vật thì phôi tâm không bị hấp thụ như vậy, nhưng tự nó trở thành nơi tích lũy thức ăn dự trữ tạo ra ngoại nhũ và nó có thể cùng tồn tại với nội nhũ, chẳng hạn như ở bộ hoa Súng, hoặc có thể một mình tạo ra thức ăn dự trữ cho phôi, như ở chi Canna. Nguồn thức ăn dự trữ nội nhũ có ưu thế hơn so với ngoại nhũ, và cái cuối cùng này là tương đối khó thấy, chỉ ở vài loạt không thực sự tiến hóa mạnh. Các hạt trong đó nội nhũ hay ngoại nhũ hoặc cả hai cùng tồn tại nói chung được gọi là "có phôi nhũ" hay "có nội nhũ", còn các hạt mà không có cả nội nhũ và ngoại nhũ được gọi là "không có phôi nhũ" hay "không có nội nhũ". Tuy nhiên, các thuật ngữ này (được các nhà hệ thống hóa sử dụng rộng rãi) chỉ nói đến các đặc trưng thô thiển của hạt, và chỉ ra chứng cứ về nguồn dự trữ thức ăn; nhiều loại hạt được gọi là không có phôi nhũ nhưng khi quan sát dưới kính hiển vi lại rõ ràng là nội nhũ và có thể có chức năng khác không phải là chức năng cấp nguồn dinh dưỡng. Sự có hay không có mặt của nội nhũ, khối lượng tương đối của nó khi có mặt và vị trí của phôi trong nó là các đặc trưng có giá trị để phân biệt các bộ và các nhóm bộ. Trong khi ấy thành của bầu nhụy đã phát triển để tạo thành quả hay vỏ quả, cấu trúc của nó gắn liền với kiểu phát tán của hạt. Nói chung ảnh hưởng của sự thụ phấn rơi vào bầu nhụy và các phần khác của hoa cũng tham gia vào việc tạo quả, chẳng hạn đế hoa ở táo, dâu tây ; chúng cũng có thể trực tiếp xúc tiến sự nảy mầm. Nếu quả là loại quả nứt và hạt vì thế nhanh chóng được phô ra thì vỏ hạt cần cung ứng cho sự bảo vệ phôi và cũng có thể để an toàn cho sự phát tán. Ngược lại, quả loại không nứt không có chức năng như thế đối với phôi và vỏ hạt chỉ phát triển không đáng kể. Tầm quan trọng kinh tế. Thực vật có hoa cung cấp một tỷ lệ lớn các nguồn thực phẩm cho con người, có thể là trực tiếp hay gián tiếp qua thức ăn cho gia súc, gia cầm. Trong số các họ thực vật có hoa thì họ Hòa thảo (Poaceae) là quan trọng nhất, cung cấp phần lớn các loại lương thực như lúa, ngô, lúa mì, lúa mạch, kê, yến mạch, lúa mạch đen, mía, lúa miến, trong khi họ Đậu (Fabaceae) đứng hàng thứ hai. Các họ quan trọng khác là họ Cà (Solanaceae) với khoai tây, cà chua và hạt tiêu, hay họ Bầu bí (Cucurbitaceae) với bầu, bí, dưa hấu, dưa chuột, hay họ Cải (Brassicaceae), với mù tạc, cải bắp, và họ Hoa tán (Apiaceae). Nhiều loại quả có từ họ Cam (Rutaceae), họ Hoa hồng (Rosaceae) như táo, đào, mơ, mận Ở một vài khu vực trên thế giới, một vài loài nào đó có tầm quan trọng tối cao do sự đa dạng trong sử dụng chúng. Một ví dụ là dừa ("Cocos nucifera") trên các đảo san hô vòng ở Thái Bình Dương. Một ví dụ khác là ô liu ("Olea europaea") ở khu vực Địa Trung Hải. Thực vật có hoa cũng cung cấp các nguồn cơ bản cho nền kinh tế thế giới trong sản xuất gỗ, giấy, sợi (bông, lanh và gai dầu v.v), dược phẩm (mao địa hoàng, long não v.v), các loại cây cảnh và nhiều ứng dụng khác.
Họ Chó (Canidae) (/ kænɪdiː /; từ tiếng Latin, canis, nghĩa là "chó") là một họ thuộc Bộ Ăn thịt trong lớp động vật có vú. Họ này bao gồm các loài như chó, sói, cáo, sói đồng cỏ và chó rừng. Tất cả các loài động vật này đều đi bằng đầu ngón chân của chúng, chúng đều có mõm dài, tai nhọn, nanh sắc, khứu giác nhạy, thân hình thon thả và nhanh nhẹn. Lưu ý rằng việc phân chia họ Canidae thành "cáo thực thụ" (tông Vulpini) và "chó thực thụ" (tông Canini) có thể không phù hợp với các quan hệ thực tế và việc phân loại theo đơn vị phân loại của một vài loài cáo, chó hiện còn gây tranh cãi. Tuy nhiên, phân tích DNA gần đây chỉ ra rằng Canini và Vulpini là các nhánh hợp lệ, nhưng loại trừ hai chi: "Nyctereutes" và "Otocyon". Đây là các loài thuộc nhóm cơ sở của họ Chó và không có quan hệ họ hàng gần với cả Vulpini hay Canini. (Một số chứng cứ cũng đề nghị điều tương tự cho chi "Urocyon".) Các chi "Speothos" và "Chrysocyon" là các thành viên nguyên thủy của Canini, nhưng cũng có thể được đặt trong nhánh riêng của chúng. Chi "Cuon" có thể trên thực tế là một phần của chi "Canis" và cũng tồn tại một số chứng cứ cho thấy hai chi "Alopex" và "Fennecus" có thể không phải là các nhánh hợp lệ mà là một phần của chi "Vulpes". Chó nhà được một số học giả liệt kê như là "Canis familiaris" còn những người khác (bao gồm cả Viện Smithsonian và Hiệp hội các nhà nghiên cứu thú Hoa Kỳ) lại coi nó là phân loài của sói xám (tức là "Canis lupus familiaris"); sói đỏ có thể là hoặc không là một loài theo đúng nghĩa; còn chó Dingo, được phân loại một cách khác nhau là "Canis dingo", "Canis lupus dingo", "Canis familiaris dingo" hay "Canis lupus familiaris dingo". Ít nhất có một phân loài chó sói gần đây đã được liệt kê như là một loài riêng rẽ - đó là sói miền đông Canada ("Canis lycaon"). Tuy nhiên, đây là sự phân loại còn gây tranh cãi. Biểu đồ phát sinh loài dưới đây của họ Chó là theo Wang và ctv, hình 141: Các loài còn sinh tồn. Tất cả các loài còn sinh tồn đều nằm trong phân họ Chó ("Caninae"). Các loài trong họ Chó có 42 răng - công thức bộ răng của chúng như sau: Răng sớm rụng hay răng sữa có công thức 3 1 3, khi đó chúng hoàn toàn không có răng hàm. "Đọc thêm Hoạt động sinh dục ở động vật có vú". Hoạt động sinh dục. Khi giao phối, chó (cáo) đực ban đầu trèo lên chó (cáo) cái từ phía sau, giống như phần lớn động vật tứ chi khác, một thế mà người ta gọi một cách không chính thức là kiểu chó. Con cái sẽ dạt đuôi sang một bên nếu nó chấp nhận. Con đực thông thường sẽ đi vòng quanh do nó cố gắng để tìm được điểm tựa chắc chắn trên con cái, và trong khi đó nó cố gắng đưa dương vật của mình chui vào trong âm đạo của con cái. Ở thời điểm này, dương vật vẫn chưa cương cứng, nó vẫn còn nhỏ và kìm sự cương cứng nhờ một xương nhỏ bên trong, được gọi là xương dương vật, là loại xương chỉ có ở chó (cáo). Khi con đực đã cho dương vật của nó vào trong âm đạo, thông thường nó sẽ giữ chặt hơn và ấn nhanh hơn, và đây là thời điểm mà dương vật của nó lớn dần lên. Chó (cáo) đực có một vùng hình cầu chứa các mô cương cứng ở gốc của dương vật, nó chặn giữ dương vật ở trong âm đạo của con cái trong khi giao phối do nó được nhồi bằng máu. Khi dương vật đã bị hãm lại bên trong âm đạo nhờ các mô cương cứng, con đực thường sẽ giương chân lên và quay ngoắt nó trên lưng con cái trong khi xoay vòng. Hai con sẽ đứng với phần mông của chúng chạm vào nhau và dương vật bị khóa trong âm đạo trong khi sự xuất tinh diễn ra, làm giảm sự rò rỉ của tinh dịch ra khỏi âm đạo. Sau một khoảng thời gian, thường khoảng 5 - 20 phút (đôi khi lâu hơn), các mô cương cứng xẹp xuống, cho phép hai con vật tách nhau ra. Xem thêm: Kích thước các loài Họ chó Tư liệu liên quan tới
Vương Hồng Sển 1902 – 1996), bút hiệu Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai, là một nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ Việt Nam. Ông được xem là người có hiểu biết sâu rộng về miền Nam và rất được kính trọng trong giới sử học và khảo cổ ở Việt Nam. Khi qua đời ông đã hiến tặng ngôi nhà (Vân đường phủ) và toàn bộ sưu tập đồ cổ của mình cho Nhà nước Việt Nam (tổng cộng 849 cổ vật khác nhau) với hy vọng thành lập một bảo tàng mang tên ông. Năm 2003, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố ngôi nhà này (địa chỉ: số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, Bình Thạnh). Vương Hồng Sển sinh ngày 27 tháng 9 năm 1902, tại Sóc Trăng, mang 3 dòng máu Kinh, Hoa và Khmer, tên thật là Vương Hồng Thạnh (Vương Hồng Thịnh/王洪盛), khi làm giấy khai sinh người giữ sổ lục bộ ghi nhầm là Sển (theo cách phát âm tiếng Triều Châu). Thời học sinh, ông học tại Collège Chasseloup Laubat. Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire, ông làm công chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi từ năm 1923 đến năm 1943, trong đó có dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939 – 1943). Từ năm 1948, ông làm Quyền quản thủ Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn cho đến khi về hưu vào năm 1964. Ông là người rất ham mê đọc sách và thích ghi chép tất cả những điều tai nghe, mắt thấy. Phần lớn những tác phẩm của ông rút tỉa từ những tài liệu dưới dạng hồi ký mà ông còn giữ gìn được. Những nhà phê bình nhận xét về văn của ông Vương Hồng Sển như sau: ""Giọng tuy nói cà rỡn nửa đùa nửa thật, nửa giấm chua, nửa tiêu ớt, thỉnh thoảng có đôi chỗ chọc cười, cho bớt buồn ngủ. Văn ấy các học giả có tánh lập nghiêm và chưa quen tai, lấy làm khó chịu, nhưng thét rồi cũng phải nhìn nhận, biết nói pha lửng như dọn cơm trong cảnh nghèo, lấy trái ớt tép hành để dễ nuốt cơm và chọc cười cho dễ nhớ, thêm nhớ được lâu". Hay như Sơn Nam đã nhận xét về ông ""Những gì ông viết ra nhưng trăng trối, có khi chỉ là chuyện lụn vụn "tào lao", "loạn xà ngầu", nhưng với những người đến sau, nó mang một giá trị to lớn, nó chất chứa những niềm say mê và quyến rũ"". Ngay từ thuở nhỏ ông đã sớm biểu lộ sự ưa thích đồ cổ. Một giai thoại do chính ông thuật lại, mẹ ông biết con mình không thích ăn mắm. Một hôm bà đem về một mắm lóc nguyên con và nói rằng đây là thứ mắm quý vì đã giữ được 10 năm. Thế là vì tò mò ông đã ăn thử và từ đấy không sợ mắm nữa. Sau khi về hưu, ông chuyên sưu tập các loại sứ gốm cổ, khảo cổ về hát bội, cải lương và cộng tác với đài Vô tuyến Việt Nam với các bút hiệu: Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai. Ngoài ra, ông còn khảo cứu về các trò chơi cổ truyền: đá dế, chọi gà, chọi cá, chơi chim, trồng kiểng, nghệ thuật chơi cổ ngoạn, nghiên cứu về chuyện tiếu lâm xưa và nay, rất sành về đồ cổ. Có thể nói ông là kho tàng sống về các lãnh vực kể trên. Trong suốt cuộc đời, ông sưu tầm được hơn 800 cổ vật, trong đó nhiều nhất, độc đáo nhất là đồ gốm men xanh trắng thế kỷ 17 - 19. Ông đã góp phần đáng kể trong việc xác định niên đại và phân loại một số đồ gốm cũng như hướng dẫn kỹ năng ban đầu cho những người thích sưu tầm đồ cổ. Các công trình nghiên cứu của ông được giới chuyên môn đánh giá cao. Ngoài ra, những người muốn nghiên cứu về lịch sử miền Nam sẽ tìm thấy trong các tác phẩm của ông một nguồn tài liệu bổ ích qua nhãn quan một chứng nhân thời cuộc nước Việt của thế kỷ 20. Nói như học giả Nguyễn Hiến Lê, (1912 – 1984) thì: "... Quả như lời Vương quan viết trong bài tựa "Coi vậy mà xài được". Kẻ ít học như tôi (Nguyễn Hiến Lê) còn thấy là xài được gần trọn kia đấy. Chúng ta nên cảm ơn ông đã ghi lại - mặc dầu là hấp tấp trong sự trình bày - vô số tài liệu mà trong mấy chục năm, ông đã tốn công đạp xe máy đi sưu tầm khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và các vùng lân cận. Về nhà cân nhắc chọn lựa với tinh thần thận trọng đáng khen: chỗ nào chưa đủ chứng cớ thì tồn ". Ông mất ngày 9 tháng 12 năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 94 tuổi. Khi qua đời, ông Vương Hồng Sển đã hiến tặng lại những cổ vật, mà cả đời ông sưu tập được, cho thành phố và mong muốn những di vật này sẽ được trưng bày trong ngôi nhà cổ của ông, trong sự bài trí rất tinh tế và hài hòa với sự cổ xưa của ngôi nhà được biến thành "Nhà lưu niệm Vương Hồng Sển" . Tuy nhiên, từ năm 1996, Sở Văn hóa Thông tin TP Hồ Chí Minh, với sự đồng ý của Ủy ban nhân dân Thành phố đã di dời các cổ vật về quản lý và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố, và tại Thư viện Khoa học tổng hợp . Ngôi nhà của ông ở số 9/1 Nguyễn Thiện Thuật (quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh) là do ông bỏ công tìm kiếm và mua nguyên căn nhà cổ kính từ vùng ven Sài Gòn về dựng lại và gần nửa thế kỷ sống tại đó, ông đã bỏ nhiều công sức để tạo bồi cho căn nhà quý mang dáng dấp cổ xưa với những vật liệu trên trăm năm . Ngày 5 tháng 8 năm 2003, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành quyết định xếp hạng ngôi nhà này là di tích cấp thành phố và là di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ dân dụng truyền thống. Tuy nhiên, vì không được quản lý bảo quản đúng mức nên ngôi nhà "di tích" đã bị xuống cấp trầm trọng và cho đến năm 2012, ngôi nhà vẫn bị chiếm dụng và biến thành quán ốc sầm uất. Bảo tàng Vương Hồng Sển vẫn chưa khởi động. "Xã hội có thể tha thứ một con điếm ăn năn nhưng vẫn không dung một ông quan ăn vụng" ""May mà tại gia đã có một ai rồi, không có ai đó, đem ai nầy về, ắt cái khổ còn hơn ai nữa" Một số tác phẩm. Và hàng chục bản thảo khác như: Cuốn sách và tôi, Dở mắm, Tạp bút I, II và III, Cà đo xe, Bên Lề cuốn sá Đến năm 1991, thỉnh thoảng ông vẫn có bài đăng ở các báo, tạp chí.
Gắm (danh pháp khoa học: Gnetum gnemon) là một loài thực vật thuộc chi "Gnetum" có nguồn gốc ở vùng đông nam châu Á và các đảo tây Thái Bình Dương, từ Assam về phía đông và nam qua Malaysia và Indonesia tới Philipin và Fiji. Tên gọi địa phương của nó có thể là Melinjo hay Belinjo trong tiếng Indonesia, Bago trong tiếng Mã Lai, tiếng Tagalog, Peesae trong tiếng Thái, Rau bép (tên thứ), Bét (tên thứ), Rau danh hay Gắm trong tiếng Việt. Gắm cây là thân gỗ đứng kích thước từ nhỏ đến trung bình (không giống như phần lớn các loài khác cùng chi "Gnetum" đều là dây leo), cao từ tới 10 m và có nhiều nhánh. Lá của chúng thuộc loại thường xanh, mọc đối, dài 8–20 cm và rộng 3–10 cm, lúc mới mọc có màu đồng, khi trưởng thành có màu lục sẫm và bóng mặt, có mũi nhọn ở chóp, thon dẹp dần ở gốc, gân lá 5-7 cặp dính nhau. Cụm "hoa" (không phải hoa thực thụ) mọc ở nách lá, có khi trên thân gỗ già, dài 3–6 cm, với hoa thành vòng ở mấu. Giống như các thực vật hạt trần khác, "hoa" của chúng thuộc loại khác gốc (các bào tử đực và cái được sinh ra trên các cây khác nhau) với 5-8 chiếc trên mỗi mấu của cụm "hoa". Sau khi thụ phấn (thực chất là sự kết hợp của tiểu bào tử phấn hoa và đại bào tử noãn) thì phôi tạo thành cùng với các tế bào khác sẽ phát triển thành hạt (quả giả). "Quả" (không phải quả thực thụ) giống như quả hạch, hình bầu dục, dài 2–5 cm, có mũi ngắn, lấm tấm lông như nhung, lúc non màu vàng, rồi chuyển dần sang màu đỏ tới tía khi chín, chỉ có một hạt trong mỗi "quả". Hạt là trạng thái ngủ của thể giao tử. Theo thông tin trên trang Web của Đại học Huế thì thành phần hoá học của hạt như sau: Trong 100 g (70-80 hạt) chứa 30 g nước, 11 g protein, 1,7 g lipid, 50 g cacbonhyđrat và 1,7 g tro. Trong lá giàu protein, chất khoáng, vitamin A và vitamin C. Cứ 100 g lá non của "Gnetum gnemon tenerum" có 75,1g nước, 6,6g protein, 1,2 g lipid, 9,1 g cacbonhyđrat, 6,8 g chất xơ, 1,3 g tro, 224 mg phosphor, 151 mg calci, 2,5 mg sắt và 10.899 IU vitamin A. Lá non, cụm hoa, quả non, và quả chín để dùng ăn được như là một loại rau rừng. Hạt được nghiền thành bột và rán kỹ thành một loại bánh giòn. Bánh này có vị hơi đắng và được dùng như là đồ ăn kèm với tên gọi 'Keropok Belinjau' trong ẩm thực của người Indonesia và Malaysia. Phân loại dưới loài. Gắm cây có 2 thứ thực vật được công nhận hiện nay:
Chi Dây gắm (tên khoa học Gnetum) là một chi của khoảng 30-35 loài thực vật hạt trần. Nó là chi duy nhất trong họ Dây gắm (Gnetaceae) và bộ Dây gắm (Gnetales). Nhiều loài thuộc chi "Gnetum" là ăn được, với hạt được đem nướng và lá được sử dụng như là rau ăn. Một số loài còn có công dụng như là các loại cây thuốc.
Trong toán học, một nhóm hoán vị là một nhóm "G" có các phần tử là các hoán vị của một tập hợp cho trước "M", và phép toán trên nhóm là phép toán hợp hay tích các hoán vị trong "G" (hoán vị được xem là một song ánh từ tập "M" đến chính nó); quan hệ này thường được ký hiệu là ("G", "M"). Lưu ý rằng nhóm "tất cả" các hoán vị của một tập hợp là một nhóm đối xứng; khái niệm "nhóm hoán vị" thường để chỉ một nhóm con của nhóm đối xứng. Nhóm đối xứng của "n" phần tử được ký hiệu bằng "Sn"; nếu "M" là một tập hữu hạn hoặc vô hạn, nhóm tất cả các hoán vị của "M" thường được ký hiệu là Sym("M"). Những phép hoán vị thường được biểu diễn dưới dạng "chu trình", như vậy với tập hợp "M" {1,2,3,4}, một hoán vị "g" của "M" có g(1)=2, g(2)4, g(4)=1 và g(3)=3 sẽ được biểu diễn dưới dạng (1,2,4) (3), hoặc thông dụng hơn, (1,2,4) bởi vì 3 không thay đổi; nếu các đối tượng được ký hiệu bằng các chữ cái hoặc chữ số, ta còn có thể bỏ qua dấu phẩy, nhu vậy ta có ký hiệu (1 2 4). Xét tập các hoán vị "G" sau của tập hợp "M" = {1,2,3,4}: "G" tạo thành một nhóm, bởi vì "aa" = "bb" = "e", "ba" = "ab", và "baba" = "e". Do đó ("G", "M") tạo thành một nhóm hoán vị. Trò chơi khối Rubik là ví dụ khác về một nhóm hoán vị. Tập hợp các phần tử được hoán vị chính là các khối lập phương con được tô màu của toàn bộ khối lập phương. Mỗi phép xoay một mặt của khối lập phương là một hoán vị các vị trí và hướng của các khối lập phương con. Đi với nhau, các phép xoay sẽ tạo thành một tập sinh, và sẽ sinh ra một nhóm bằng hợp của các phép xoay. Ta dễ dàng nhận ra các tiên đề của nhóm được thỏa mãn. Những ví dụ khác về nhóm hoán vị: trò chơi kaleidoscope và trò chơi eightfold.
Ngành Dây gắm (danh pháp khoa học: Gnetophyta) là một ngành của thực vật hạt trần chứa ba họ có quan hệ họ hàng trong một nhóm đa ngành của thực vật có hạt. Ngành Dây gắm khác với các thực vật hạt trần khác ở chỗ chúng có mạch gỗ giống như ở thực vật có hoa (Angiosperm hay Magnoliophyta), và người ta còn cho rằng Gnetophyta có thể được đưa vào nhóm thực vật có hạt có quan hệ gần gũi nhất với thực vật có hoa. Gnetophyta chỉ có một lớp duy nhất là lớp Dây gắm ("Gnetopsida"). Lớp này được chia thành 3 bộ, mỗi bộ chỉ có một họ và một chi duy nhất: Bộ Gnetales với chi duy nhất của nó, "Gnetum", chủ yếu là các loại dây leo thân gỗ trong các cánh rừng nhiệt đới. Tuy nhiên, loài được biết đến nhiều nhất của chi này, "Gnetum gnemon", lại là một cây thân gỗ. Hạt của nó được dùng như là một loại đồ ăn kèm với tên gọi 'Keropok Belinjau' ở Malaysia và Indonesia. Tên gọi trong tiếng Mã Lai của nó là 'belinjau'. Bộ Welwitschiales chỉ có một loài duy nhất là "Welwitschia mirabilis". Loài cây này chỉ mọc ở vùng hoang mạc của Namibia. Nó là một loài cây lạ do nó chỉ có hai lá to và dài giống như dây đai trong suốt cả cuộc đời. Chúng phát triển liên tục từ gốc lá và thông thường bị xé rách ở đoạn cuối lá do gió. Bộ Ephedrales chứa một chi duy nhất là "Ephedra", chúng có các nhánh dài thon thả mang các lá nhỏ giống như vảy ở các đốt mắt. "Ephedra" là một loại cây thuốc, nhưng gần đây đã bị FDA Hoa Kỳ cấm sử dụng do các hiệu ứng phụ nguy hại và có khả năng gây tử vong.
Ma hoàng tên gọi khác Thảo ma hoàng(tên khoa học Ephedra) là một chi thực vật hạt trần chứa các loại cây bụi, và là chi duy nhất trong họ Ma hoàng ("Ephedraceae") cũng như bộ Ma hoàng ("Ephedrales"). Các loài thực vật này sống trong các vùng có khí hậu khô trên một khu vực rộng, chủ yếu ở Bắc bán cầu, suốt từ miền nam châu Âu, miền bắc châu Phi, tây nam và miền trung châu Á, tây nam Bắc Mỹ và ở Nam bán cầu, tại Nam Mỹ kéo dài về phía nam tới Patagonia. Mô tả cây ma hoàng. Cây thảo, mọc thẳng đứng, cao 30 – 70 cm. Thân có nhiều đốt, mỗi đốt dài 3 – 6 cm. trên có rãnh dọc. Lá mọc đối hay mọc vòng từng 3 lá một, thoái hóa thành vẩy nhỏ, phía dưới lá màu hồng nâu, phía trên màu tro trắng, đầu lá nhọn và cứng. Hoa đực, hoa cái khác cành. Cành hoa đực nhiều hơn (4 – 5 đôi). Quả thịt màu đỏ. Sinh thái,bộ phân dùng. Cây ưa khí hậu mát; mọc được nơi cằn cỗi. Ra hoa nhiều hàng năm, tái sinh chủ yếu từ hạt và cây chồi từ gốc. Bộ phận dùng: toàn cây – herba ephedrae, thường gọi là Ma Hoàng. Thành phần hóa học của cây:. thành phần chính chủ yếu là alkaloid có tên ephedrin. Tuy nhiên, tùy theo xuất xứ mà hoạt chất thay đổi Những hoạt chất được tìm thấy từ cây ma hoàng là: ephedrin, d-pseudoephedrin, metyl ephedrin, d-N-metyl ephedrin, nor ephedrin… Trong đó, ephedrin là chất có tác dụng mạnh nhất, tỷ lệ hoạt chất này vào mùa thu thường cao hơn có thể đạt tới 1,3%, sau đó đến d-pseudo ephedrin chừng 0,2%. Dược điển Trung Quốc có quy định vị ma hoàng dùng làm thuốc phải chứa ít nhất 0,8% akaloid toàn phần, độ tro không được quá 9%. Tính vị, tác dụng cây ma hoàng. vị the, hơi đắng, tính ấm, có tác dụng làm ra mồ hôi, hạ đờm, suyễn, lợi tiểu, tiêu phù. Công dụng cây thuốc ma hoàng. Cây ma hoàng có tác dụng chữa cảm mạo, ho, viêm phế quản, hen suyễn. Liều dùng 5 – 10g, dạng thuốc sắc. Nhưng cần lưu ý tác dụng của rễ ma hoàng lại hoàn toàn ngược lại với cành và thân ma hoàng. Nếu dùng cao lỏng rễ ma hoàng tiêm vào động vật thì thấy huyết áp giảm xuống, mạch máu ngoại vi giãn ra, hô hấp tăng nhanh. ngày nay được dùng làm thuốc cho cả đông và tây y. Sử dụng và các e ngại về sức khỏe. Các loài thực vật này trong lịch sử đã được người dân bản địa sử dụng cho nhiều mục đích y học khác nhau, và có lẽ nó là một ứng cử viên cho loại cây soma trong các tôn giáo của người Ấn Độ, Iran. Các ancaloit như ephedrine và pseudoephedrine là thành phần hoạt hóa chính của chúng. Một số loài trong chi "Ephedra" không chứa ancaloit và vì thế về thực chất chúng là trơ về mặt hóa học, tuy nhiên, ở phần lớn các loài được sử dụng, chẳng hạn như ở "E. sinica", có hàm lượng ancaloit toàn phần tới 1-3% theo trọng lượng khô. Ephedrine chiếm khoảng 40-90% hàm lượng ancaloit, với phần còn lại chứa pseudoephedrine và các dạng khử mêtyl của chúng. Ephedrine bị coi là chất kích thích (doping) và nó bị cấm sử dụng trong phần lớn các cuộc thi đấu thể thao. Vào đầu những năm thập niên 1990, các e ngại về độ an toàn của ma hoàng và các sản phẩm có nguồn gốc ma hoàng bắt đầu tăng lên trong công chúng. Do ma hoàng là một loại dược thảo, các sản phẩm chứa nó đã được tiếp thị như là thuốc-thực phẩm và vì thế đã được loại ra khỏi các quy định của FDA tại Hoa Kỳ. Ma hoàng cũng đã được tìm thấy trong nhiều sản phẩm ăn kiêng thông dụng, một số trong chúng bị FDA coi là có thể nguy hiểm. Các amin kích thích thần kinh giao cảm như ephedrine làm tăng nhịp tim và huyết áp, vì thế nó có thể là nguy hiểm đối với những người có tiền sử liên quan đến các bệnh tim mạch. Theo FDA, 155 ca tử vong có thể coi là do ma hoàng, phần lớn trong số đó liên quan đến các vấn đề và đột quỵ tim mạch. Tuy nhiên, nhiều người ủng hộ việc sử dụng ma hoàng vẫn cho rằng nó là an toàn nếu sử dụng theo đúng chỉ định và vẫn tiếp tục coi nó như là thuốc-thực phẩm chứ không phải là một loại thuốc. Các cửa hàng bán thuốc-thực phẩm của GNC đã dừng việc buôn bán các sản phẩm chứa ma hoàng vào tháng 6 năm 2003, và NFL đã cấm các cầu thủ sử dụng nó như là thuốc-thực phẩm vào năm 2001. Vào ngày 30 tháng 12 năm 2003, FDA thông báo cấm (có hiệu lực từ ngày 12 tháng 4 năm 2004) việc bán không có kiểm soát các sản phẩm bổ trợ có chứa ma hoàng, viện dẫn rằng "rủi ro quá cao của bệnh tật hay thương tổn" từ việc sử dụng thuốc. Ephedrine tổng hợp vẫn có sẵn như là một thành phần trong một số thuốc không cần có đơn của bác sĩ được dán nhãn rõ ràng, phù hợp với các quy định của FDA. Các loại ma hoàng dạng cây (chẳng hạn các loại sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc) và không có tiếp thị đặc biệt cho tiêu dùng ở người thì vẫn không chịu chế tài của FDA, vì thế không bị ảnh hưởng. Một vài bang đã ban hành các sắc luật của mình liên quan đến việc mua bán ma hoàng và các sản phẩm chứa nó, một số sắc luật còn chặt chẽ hơn cả các quy định của FDA. Vào ngày 14 tháng 4 năm 2005, điều cấm này đã bị bãi bỏ theo phán quyết của thẩm phán Tena Campbell . Tuy nhiên, vào thời điểm tháng 7 năm 2005, các nhà sản xuất thuốc-thực phẩm, bao gồm cả các công ty đã phản đối việc cấm sử dụng ma hoàng tại tòa, vẫn miễn cưỡng không muốn đưa ma hoàng trở lại trong dây chuyền sản xuất của họ. Tại Giải vô địch bóng đá thế giới của FIFA năm 1994 tại Hoa Kỳ thì cầu thủ Diego Armando Maradona người Argentina đã có kết quả dương tính đối với ephedrin khi sử dụng một loại thuốc-thực phẩm có chứa chất này. Vận động viên đua mô tô người Nhật Bản là Noriyuki Haga cũng có kết quả dương tính vào năm 2000 và bị truất quyền thi đấu ở cuộc đua kế tiếp cũng như không được tính điểm ở cuộc đua đó.
Bóng chày (tiếng Anh: baseball) là một môn thể thao đồng đội. được chơi giữa hai đội, mỗi đội chín người, thay phiên nhau phòng thủ và tấn công. Trò chơi diễn ra trong nhiều lượt chơi, với mỗi lượt chơi thường bắt đầu khi một cầu thủ trong đội phòng thủ, được gọi là cầu thủ giao bóng, ném một quả bóng mà một cầu thủ trong đội tấn công, được gọi là cầu thủ phát bóng, cố gắng phát bằng gậy bóng chày. Mục tiêu của đội tấn công (đội phát bóng) là phát bóng vào phần sân chơi, cách xa các cầu thủ của đội phòng thủ, cho phép các cầu thủ của đội tấn công chạy tới các chốt, yêu cầu họ tiến ngược chiều kim đồng hồ qua các chốt để ghi điểm được gọi là "lượt chạy". Mục tiêu của đội phòng thủ là ngăn cầu thủ phát bóng chạy qua các chốt và ghi điểm. Một lượt chạy được tính điểm khi một cầu thủ chạy qua các chốt và quay về chốt nhà. Bóng chày đôi khi còn gọi là "bóng cứng" để phân biệt nó với các môn thể thao tương tự như là bóng mềm. Bóng chày rất phổ biến tại nhiều quốc gia ở châu Mỹ và Đông Á. Ở Nhật Bản, Puerto Rico, Cộng hòa Dominica, Cuba, Panama, Venezuela, Nicaragua, México, Canada và Đài Loan, bóng chày là một trong những môn thể thao phổ biến nhất. Ở Mỹ, bóng chày không chỉ là môn thể thao chính mà còn là "trò giải trí quốc gia" và Major League Baseball đã được Quốc hội Mỹ trao biểu tượng độc quyền; tổng số người tham dự các trận ở Major League gần bằng với tổng số các môn thể thao chuyên nghiệp khác của Mỹ hợp lại. Về mặt khán giả truyền hình, bóng chày vượt qua bóng bầu dục về mặt phổ biến (theo tỉ lệ bình chọn qua truyền hình). Mặc dù ba trong số bốn môn thể thao phổ biến ở Bắc Mỹ là các trò chơi về bóng (bóng chày, bóng rổ và bóng bầu dục), sự phổ biến của bóng chày lớn đến nỗi mà từ "ballgame" ở Mỹ thường dùng để ám chỉ môn bóng chày, và "ballpark" dùng để chỉ sân bóng chày (ngoại trừ ở phía nam, nơi bóng đá rất phổ biến và "ballgame" thường dùng để nói đến môn bóng này). Sự phát triển của bóng chày từ các trò chơi bóng chày cũ hơn rất khó được biết chính xác. Theo đồng thuận, bóng chày hiện đại được phát triển ở Bắc Mỹ từ những trò chơi rounders cũ hơn, phổ biến đối với trẻ em ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Nhà sử học bóng chày người Mỹ David Block cho rằng bóng chày bắt nguồn từ nước Anh; bằng chứng lịch sử được phát hiện gần đây cho thấy điều này. Block lập luận rằng rounder và bóng chày thời kỳ đầu thực sự là các biến thể của nhau và trò chơi tiền thân trực tiếp nhất của môn bóng chày là stoolball và "tut-ball" của người Anh. Block phát hiện ra rằng trò chơi "Bass-Ball" được ghi lại lần đầu tiên diễn ra vào năm 1749 tại Surrey và có sự tham gia của Thân vương xứ Wales với tư cách là người chơi. Hình thức ban đầu của trò chơi này rõ ràng là do những người Anh nhập cư mang đến Canada. Vào đầu những năm 1830, đã có báo cáo về nhiều trò chơi bóng chày chưa được hệ thống hóa có thể nhận ra là hình thức bóng chày ban đầu được chơi trên khắp Bắc Mỹ. Trận bóng chày được ghi hình chính thức đầu tiên ở Bắc Mỹ diễn ra ở Beachville, Ontario, Canada, vào ngày 4 tháng 6 năm 1838. Năm 1845, Alexander Cartwright, một thành viên của câu lạc bộ Knickerbocker của thành phố New York, đã lãnh đạo việc pháp điển hóa cái gọi là luật Knickerbocker, dựa trên các luật do William R. Wheaton của câu lạc bộ Gotham phát triển vào năm 1837. Trong khi có báo cáo rằng New York Knickerbockers đã chơi môn thể thao này vào năm 1845, trận đấu từ lâu đã được công nhận là trận bóng chày được ghi lại chính thức đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ diễn ra vào ngày 19 tháng 6 năm 1846, tại Hoboken, New Jersey: "New York Nine" đánh bại Knickerbockers, 23–1, sau bốn hiệp. Vào thời điểm diễn ra nội chiến Hoa Kỳ, bóng chày đã bắt đầu vượt qua cricket về mức độ phổ biến ở Hoa Kỳ, một phần do bóng chày có thời lượng ngắn hơn nhiều so với môn cricket được chơi vào thời điểm đó, cũng như thực tế là quân đội trong cuộc nội chiến không cần một sân chơi chuyên dụng để chơi bóng chày, khác với cricket. Găng tay bóng chày. Một chiếc găng tay bóng chày được làm từ da. Riêng cầu thủ bắt bóng được phép mặc đồ bảo hộ. Các cầu thủ khác đeo găng để bắt bóng. Găng tay bắt bóng của các cầu thủ luôn có một cái lưới giữa ngón cái và ngón trỏ. Chiếc lưới có công dụng là bắt bóng, bởi bóng có lực rất mạnh và vận tốc rất cao. Quả bóng chày có cấu tạo bằng cao su và vỏ bọc ở ngoài bằng da, được quấn nối bằng các sợi chỉ hoặc dây màu. Một quả bóng chày quy định có chu vi từ , tức là đường kính từ , với trọng lượng từ . Bóng có hai loại: bóng mềm dùng cho tập luyện và bóng cứng dùng cho thi đấu. Bóng mềm được làm từ cao su và bóng cứng được làm từ gỗ bọc da. Gậy bóng chày được làm bằng gỗ hoặc kim loại mịn, dùng để đánh quả bóng sau khi cầu thủ giao bóng giao bóng. Đường kính gậy không quá ở phần dày nhất và chiều dài không quá . Gậy bóng chày thường nặng không quá 1 kg. Cầu thủ phát bóng sử dụng gậy để cố gắng đánh quả bóng do cầu thủ giao bóng ném, sau đó chạy đến các chốt và cuối cùng chạy về chốt nhà. Bóng chày gồm hai đội chơi, mỗi đội gồm 9 người, dưới sự giám sát của một hay nhiều trọng tài (umpire). Thường có 4 trọng tài trong một trận đấu của giải Major League Baseball; có thể có tới 6 trọng tài tùy vào giải và tầm quan trọng của trận đấu. Có 4 chốt được đánh số theo ngược chiều kim đồng hồ, chốt 1, chốt 2 và chốt 3 có dạng hình vuông cạnh nhô lên cao một khoảng ngắn so với mặt đất; cùng với chốt nhà, còn gọi là chốt 4, là phiến đá mỏng bằng cao su hình ngũ giác. Sân chơi được chia làm 2 phần chính: Trận đấu gồm 9 hiệp đấu (còn gọi là lượt đấu), trong đó mỗi đội thay phiên nhau đánh bóng và cố gắng ghi điểm (gọi là "lượt chạy") trong khi đội kia ném bóng và bảo vệ sân. Trong bóng chày, đội phòng thủ luôn có bóng—một điều khác với các môn thể thao khác. Vai trò mỗi đội sẽ được thay đổi khi có 3 cầu thủ của đội đánh bóng bị loại. Đội thắng là đội có nhiều điểm nhất sau 9 hiệp. Trong trường hợp hòa nhau, hiệp phụ sẽ diễn ra cho tới khi hoàn thành hiệp đấu và tỷ số không còn bằng nhau. Cuộc "đối đầu" quan trọng nhất trong bóng chày là giữa cầu thủ giao bóng ở đội phòng thủ và cầu thủ phát bóng ở phía đội tấn công. Cầu thủ giao bóng sẽ ném bóng về hướng chốt nhà, ở đó có sẵn một cầu thủ bắt bóng chờ để bắt lấy quả bóng được ném. Đứng ở sau lưng cầu thủ bắt bóng là một trọng tài, trọng tài này có thể quyết định một cú ném bóng có phạm luật hay không. Còn cầu thủ phát bóng ở phía đội tấn công sẽ đứng ở vị trí tay phải hoặc trái của cầu thủ bắt bóng, cố gắng đánh trúng quả bóng được ném từ cầu thủ giao bóng. Vị trí mà cầu thủ giao bóng đứng ném bóng được gọi là "ụ ném bóng", ở chính giữa có một tấm cao su có kích thước . Cầu thủ giao bóng chỉ được phép bước lùi hoặc tiến 1 bước trong cả quá trình ném bóng. Nhiệm vụ của cầu thủ bắt bóng là bắt lấy quả bóng được ném, ngoài ra, cầu thủ bắt bóng có thể ra hiệu cho cầu thủ giao bóng bằng cách dùng ám hiệu ở tay về hướng ném bóng và cách ném bóng. Cầu thủ giao bóng có thể đồng ý bằng cách gật đầu, nếu không đồng ý, người đó có thể lắc đầu để bỏ qua yêu cầu của cầu thủ bắt bóng. Cứ mỗi nửa hiệp đấu, mục đích của đội phòng thủ là ngăn đội tấn công ghi điểm và loại 3 cầu thủ bất kỳ của đội tấn công. Một cầu thủ bị loại sẽ phải rời sân và chờ lượt đánh bóng kế tiếp của mình. Có rất nhiều cách để loại cầu thủ đánh bóng hoặc cầu thủ chiếm chốt; phổ biến nhất là cầu thủ đội phòng thủ cố gắng bắt quả bóng ngay khi nó còn chưa kịp chạm đất (sau khi bị cầu thủ phát bóng đánh trúng bóng), hoặc cầu thủ giữ chốt (đội phòng thủ) nhận được bóng và chạm vào người cầu thủ đang chạy chiếm chốt, hoặc cầu thủ giao bóng làm cho cầu thủ phát đánh bóng bị 3 strike và bị loại (strikeout; khi số lần strike nhỏ hơn 2, foul sẽ khiến strike tăng lên, nhưng foul sẽ không khiến strike tăng thành 3. Chỉ khi lần giao bóng tiếp theo, cầu thủ phát bóng không đánh trúng bóng thì strike mới tăng thành 3 và bị strikeout). Nếu cầu thủ giao bóng ném hỏng (bóng lỗi) 4 lần thì cầu thủ phát bóng được walk (đi bộ lên chiếm chốt 1). Sau khi số cầu thủ bị loại của đội tấn công lên tới 3 người thì nửa lượt đấu đó sẽ chấm dứt, 2 đội đổi phiên cho nhau. Một hiệp đấu sẽ kết thúc khi cả 2 đội đã thực hiện xong phần tấn công của mình. Các cầu thủ của đội phòng thủ sẽ đứng trong sân bóng và có nhiệm vụ ngăn chặn cầu thủ đối phương ghi điểm. Có tất cả chín cầu thủ ở bên đội phòng thủ, trong đó chỉ có 2 vị trí (cầu thủ giao bóng và bắt bóng) là cố định, còn tất cả các vị trí khác là tùy ý. Thông thường sẽ có một bố trí tối ưu cho các cầu thủ bên đội phòng thủ, nhưng tùy vào cầu thủ phát bóng và tình hình trận đấu mà các cầu thủ có thể thay đổi cho phù hợp. 9 vị trí phòng thủ là: cầu thủ giao bóng (pitcher), cầu thủ bắt bóng (catcher), cầu thủ giữ chốt 1 (first baseman), cầu thủ giữ chốt 2 (second baseman), cầu thủ giữ chốt 3 (third baseman), cầu thủ chặn ngắn (shortstop), cầu thủ ở cánh trái (left fielder), cầu thủ ở trung tâm (center fielder), cầu thủ ở cánh phải (right fielder). Thứ tự của các cầu thủ trên bảng ghi điểm sẽ là cầu thủ giao bóng (1), cầu thủ bắt bóng (2), cầu thủ giữ chốt 1 (3), cầu thủ giữ chốt 2 (4), cầu thủ giữ chốt 3 (5), cầu thủ chặn ngắn (6), cầu thủ ở cánh trái (7), cầu thủ ở trung tâm (8), cầu thủ ở cánh phải (9). Vị trí của cầu thủ chặn ngắn ("shortstop") hơi khác biệt so với các vị trí khác là do thói quen của các cầu thủ trong thời sơ khai của môn thể thao này. Khẩu đội bao gồm cầu thủ giao bóng - người đứng trên ụ ném bóng - và cầu thủ bắt bóng - có nhiệm vụ bắt lấy quả bóng được ném. Khẩu đội (battery) bao gồm 2 vị trí luôn phải đấu với cầu thủ phát bóng của đội đối phương nên mới được gọi là battery, từ do Henry Chadwick sáng tạo. Khu vực sân trong (infield). Bốn cầu thủ của đội phòng thủ khu vực sân trong là cầu thủ giữ chốt 1, cầu thủ giữ chốt 2, cầu thủ giữ chốt 3 và cầu thủ chặn ngắn. Cầu thủ giữ chốt 1 có nhiệm vụ chính là nhận bóng để loại cầu thủ phát bóng bên đối phương đang chạy tới chốt 1. Khi một cầu thủ ở khu vực sân trong bắt được bóng (nếu bóng chưa kịp chạm đất mà đã bị cầu thủ bên đội phòng thủ bắt được thì cầu thủ phát bóng sẽ bị loại), họ sẽ phải ném bóng về phía cầu thủ giữ chốt 1 trước khi cầu thủ bên đội tấn công kịp chạy đến đó. Ngoài ra, cầu thủ giữ chốt 1 cũng cần chặn được những cú phát bóng bay về gần chốt 1. So với các vị trí khác thì vị trí này thường nhẹ nhàng hơn, do đó, những cầu thủ có tuổi, hoặc cầu thủ phát bóng tốt nhưng phòng thủ kém thường được chuyển về chốt 1. Cầu thủ giữ chốt 2 phòng thủ khu vực bên phải của chốt 2 và chơi hỗ trợ cầu thủ giữ chốt 1 trong các tình huống cầu thủ phát bóng chơi đỡ nhẹ (bunt). Cầu thủ chặn ngắn chơi ở khoảng trống giữa chốt 2 và chốt 3, nơi những cầu thủ phát bóng thuận tay phải thường đánh bóng đến. Họ cũng chơi hỗ trợ cho cầu thủ giữ chốt 2, chốt 3 hoặc vùng sân ngoài bên trái. Đây là vị trí rất quan trọng trong phòng thủ, vì thế đôi khi một cầu thủ chặn ngắn tốt được chọn để chơi trong đội hình chính mặc dù có thể không phải là một cầu thủ phát bóng giỏi. Cầu thủ giữ chốt 3 thường cần đủ khỏe để ném bóng thật nhanh xuyên qua sân trong về phía chốt 1. Ngoài ra, họ cũng cần có phản xạ tốt, vì những cầu thủ ở chốt 3 có thể nhìn được những cú phát bóng rõ ràng hơn so với ở các vị trí khác. Khu vực sân ngoài (outfield). Ba cầu thủ ở khu vực sân ngoài là cầu thủ ở cánh trái, cầu thủ ở trung tâm và cầu thủ ở cánh phải, được đặt tên theo hướng nhìn của cầu thủ bắt bóng. Cầu thủ ở trung tâm có khu vực phòng thủ rộng nhất, do đó cần phải rất nhanh. Cũng giống như vị trí chặn ngắn, đây là vị trí được đặt trọng yếu trong phòng thủ. Ngoài ra, cầu thủ ở vị trí này cũng là chỉ huy của nhóm cầu thủ sân ngoài. Các cầu thủ ở cánh phải hoặc cánh trái thường nhường bóng cho họ trong trường hợp bóng bay đến khu vực giữa hai người. Chiến lược phòng thủ. Ném bóng là phương thức phòng thủ hữu hiệu nhất bên phía đội phòng thủ, nó có thể loại trực tiếp cầu thủ phát bóng và ngăn cầu thủ chạy đến chiếm chốt. Một trận đấu thực sự có tổng cộng hơn 100 cú ném bóng từ mỗi đội. Tuy nhiên, đa số các cầu thủ giao bóng đều không đủ thể lực để "cầm cự" tới thời điểm đó. Trước kia, một cầu thủ giao bóng có thể bị yêu cầu ném liên tục 4 trận đấu (mỗi trận 9 hiệp) trong vòng 1 tuần. Y học hiện đại đã chứng minh rằng nó không tốt cho sức khỏe; các cầu thủ giao bóng chính hiện nay chỉ được yêu cầu ném từ 6 đến 7 hiệp trong 1 trận đấu (tùy vào phong độ) sau 5 ngày. Mặc dù cầu thủ giao bóng chỉ được phép tiến hoặc lùi một bước trong quá trình ném bóng, nhưng bù lại người đó cũng có lợi thế nhất định khi có thể thay đổi vị trí ném bóng, tốc độ, đường bóng, cách vung tay và độ xoáy khác nhau. Đa số các cầu thủ giao bóng đều cố gắng nắm vững từ 2 đến 3 kỹ năng ném bóng khác nhau; nhưng cũng có những cầu thủ giao bóng ném tốt cả sáu cách ném bóng với mức độ khó cao. Cú ném thường thấy nhất là một cú fastball, bóng đi với tốc độ nhanh nhất có thể và thường đi thẳng; một cú curveball, đường bóng đi hơi cong vì cách kết hợp ngón tay và cổ tay của cầu thủ giao bóng tạo độ xoáy cho bóng; và ngoài ra con có cú ném "bóng giả nhanh" giả mạo cú ném fasball nhưng tốc độ thấp hơn nhiều để đánh lừa cầu thủ phát bóng. Chiến lược ném bóng cổ điển dễ hiểu nhất của cầu thủ giao bóng là sự kết hợp giữa "bóng nhanh" và "bóng hơi nhanh". Một cầu thủ giao bóng ở giải chuyên nghiệp có thể ném bóng đạt vận tốc , thậm chí một số cầu thủ giao bóng ném bóng đạt tới vận tốc . Trong khi đó cú "bóng hơi nhanh" có vận tốc chỉ là . Mặc dù cách ném và đường bóng rất giống cú ném fasball nhưng tốc độ lại giảm đáng kể. Điều này có thể đánh lừa cầu thủ phát bóng vì cầu thủ phát bóng canh thời gian để phát một cú fastball nhưng thực ra lại bóng lại bay chậm hơn nhiều. Một số cầu thủ giao bóng chọn kiểu ném "tàu ngầm", một cách ném đòi hỏi cầu thủ giao bóng phải vung tay hướng từ dưới lên hoặc đưa ngang. Tuy nhiên, những cú ném như vậy thường rất khó để có thể đánh trúng được vì hướng đi và tốc độ của bóng rất khó đoán. Mặc dù những cú ném như vậy thường không thể đi nhanh bằng những cú vung tay qua đầu nhưng các cầu thủ giao bóng thường ném bóng đi hiểm để làm cầu thủ phát bóng bị mất thăng bằng khi phát bóng. Tuy nhiên vẫn có ngoại lệ, Walter Johnson, cầu thủ nổi tiếng với những cú ném bóng nhanh nhất trong lịch sử bóng chày ném bóng bằng cách vung tay ngang (mặc dù không hoàn toàn là kiểu ném tàu ngầm). Một trận đấu có thể đòi hỏi nhiều cầu thủ giao bóng, bao gồm cầu thủ giao bóng chính và một vài cầu thủ giao bóng dự bị. Cầu thủ giao bóng được thay ra thay vào giống như các cầu thủ khác, và luật không hạn chế có bao nhiêu cầu thủ giao bóng được sử dụng trong mỗi trận đấu. Hạn chế duy nhất chỉ là số thành viên trong danh sách đăng ký. Trong những lúc tình hình không nguy hiểm, các cầu thủ giao bóng dự bị được sử dụng để giảm tải cho cầu thủ giao bóng chính (ngoại trừ các trận đấu về cuối mùa giải cực kỳ quan trọng). Các cầu thủ giao bóng dự bị được sử dụng một khu vực trên sân để làm nóng người trước khi được thay vào. Chiến lược trên sân. Trong một trận đấu, chỉ có vị trí của cầu thủ giao bóng và bắt bóng là cố định, còn các cầu thủ khác phải di chuyển quanh sân bóng để ngăn chặn đối phương ghi điểm. Tùy vào tình huống trận đấu mà các cầu thủ có thể bố trí vị trí khác nhau. Các "tình huống" của trận đấu có thể bao gồm: số cầu thủ đã bị loại, số bóng đã ném (strike và ball), số cầu thủ đang chạy và tốc độ chạy của cầu thủ, khả năng và kiểu ném bóng của cầu thủ giao bóng, lượt ném bóng, sân nhà hay sân đối phương, và rất nhiều yếu tố khác. Các tình huống phòng ngự điển hình gồm có: chống chơi đỡ nhẹ (bunt), ngăn steal (cầu thủ phát bóng chạy đến chốt tiếp theo mà không cần chờ cầu thủ phát bóng phát bóng), phòng thủ thật gần để ngăn cầu thủ phát bóng ở chốt 3 ghi điểm, phòng ngự kiểu kép (double play) tức là loại cùng lúc hai người chạy ở chốt 1 và chốt 2, chuyển các vị trí phòng thủ đến những chỗ cầu thủ phát bóng hay phát bóng tớ
Đài Truyền hình Việt Nam Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đài Truyền hình Việt Nam (, viết tắt VTV) là đài truyền hình quốc gia thuộc sở hữu của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đài chịu sự quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông, có nhiệm vụ "tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và Quốc hội, góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân". Tuy không phải là đài truyền hình đầu tiên của Việt Nam, nhưng đây được coi là đài truyền hình lớn và uy tín nhất của Việt Nam với 11 kênh truyền hình quảng bá và hệ thống kênh truyền hình cáp được phủ sóng toàn quốc, phát sóng chủ yếu các chương trình tin tức, phim tài liệu, khoa học, giáo dục xã hội, hài kịch, thể thao, giải trí và chính kịch. VTV hiện đã phủ sóng được qua rất nhiều nền tảng khác nhau, phát sóng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước như Lào, Trung Quốc, Thái L Tên viết tắt chính thức của Đài Truyền hình Việt Nam là VTV, được sử dụng từ năm 1990. 3 chữ cái in hoa VTV đè lên nhau được dùng làm biểu tượng của Đài từ năm 1995, lần lượt được thể hiện bằng 3 màu đỏ, xanh lá, xanh lam, tượng trưng cho 3 màu cơ bản trên màn hình máy truyền hình màu. Biểu trưng này đã được thiết kế lại vào các năm 2010 và 2012. VTV là viết tắt tên gọi tiếng Anh của "Vietnam Television" và cũng là viết tắt tên gọi tiếng Việt của "Vô tuyến Truyền hình Việt Nam". Thành lập trong chiến tranh (1945–1975). Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ Lâm thời đã thành lập Bộ phận Điện ảnh và Nhiếp ảnh thuộc Bộ thông tin - Tuyên truyền; hoạt động chủ yếu của bộ phận này là tổ chức đoàn chiếu phim lưu động chiếu ở những nơi công cộng và lập toa xe điện ảnh đi chiếu phim dọc Quốc lộ 1 từ Bắc vào Nam bằng một máy chiếu Débri 16mm và hai bộ phim tài liệu về phái đoàn Phạm Văn Đồng tại Pháp do Việt kiều gửi về. Năm 1953, tại chiến khu Việt Bắc, chính phủ thành lập Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh, nhưng các nhà làm phim thời kỳ này mới sản xuất được các phim tài liệu ngắn, như Giữ làng giữ nước (1953), Điện Biên Phủ (1954). Năm 1956, Xưởng phim thời sự tài liệu tách khỏi Xưởng phim Việt Nam và đến năm 1989 thì đổi tên thành Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương (DSF). Từ giữa năm 1965, Mỹ đã tăng cường phạm vi tuyên truyền bằng cách xây dựng một hệ thống các đài truyền hình để tuyên truyền cho bản thân và Chính quyền Sài Gòn. Để ứng phó, từ năm 1967, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) đã bắt đầu chuẩn bị cho việc thành lập một đài truyền hình đại diện cho miền Bắc, nhà báo Trần Lâm lúc đó đang là giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam đã ký hiệp định hợp tác với Viện Phát thanh Truyền hình Cuba, 18 nhân viên của Đài Tiếng nói Việt Nam đã được đào tạo sang Cuba để học tập các khâu làm truyền hình tại Việt Nam. Năm 1968, Xưởng phim Vô tuyến truyền hình được thành lập, có nhiệm vụ sản xuất phim vô tuyến truyền hình (16mm) để gửi cho các đài truyền hình nước ngoài tuyên truyền về cuộc chiến đấu và xây dựng đất nước tại Việt Nam. Ngày 7 tháng 9 năm 1970, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát sóng tín hiệu truyền hình đầu tiên, sang năm 1971 thì thành lập Ban biên tập Vô tuyến truyền hình. Ngày 30 Tết Tân Hợi (27 tháng 1 năm 1971), VOV phát chương trình truyền hình đầu tiên, gọi là "chương trình truyền hình thử nghiệm" phục vụ khán giả Hà Nội. Ban đầu truyền hình phát mỗi tuần 3 tối, mỗi tối 2 tiếng đồng hồ. Đến năm 1972, việc phát sóng bị gián đoạn do chiến sự leo thang và Đài Tiếng nói Việt Nam bắt buộc phải sơ tán. Năm 1973, Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng chương trình đầu tiên trên màn hình đen trắng. Năm 1975, Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Giải phóng A đã cùng Đài giải phóng B Đông Nam Bộ đã tiếp quản toàn bộ hệ thống phát thanh, truyền hình của chế độ Sài Gòn để lại. Phát triển trong hòa bình (1976–nay). Năm 1976, Trung tâm Truyền hình được xây dựng tại Giảng Võ; năm 1977, Ban biên tập Vô tuyến truyền hình tách khỏi Đài Tiếng nói Việt Nam, thành lập Đài Truyền hình Trung ương và chuyển trụ sở tới đây. Cuối những năm 1970, đài đã bắt đầu phát sóng các chương trình truyền hình màu (hệ SECAM) với thời lượng giới hạn nhằm mục đích thử nghiệm, đào tạo đội ngũ và phục vụ một số lượng ít các máy thu hình màu hiện có vào thời điểm đó. Trong giai đoạn này, đài chuyển dần từ phát sóng đen-trắng sang phát sóng truyền hình màu, đồng thời xây dựng Đài Tiếp vận Tam Đảo để phủ sóng toàn miền Bắc và hỗ trợ xây dựng các đài truyền hình địa phương. Năm 1987, Đài Truyền hình Trung ương đổi tên thành Đài Truyền hình Việt Nam. Năm 1990, đài bắt đầu phát sóng kênh truyền hình thứ hai, từ đây kênh được chia thành VTV1 và VTV2. Ngày 4 tháng 2 năm 1991, kênh VTV1 bắt đầu được phát sóng trên vệ tinh Stationar 13 với thời lượng 5 giờ mỗi ngày để các đài địa phương thu phát lại trên phạm vi toàn quốc. Kênh VTV3 được thành lập năm 1994, đến năm 1996 thì được phát triển và đầu tư sản xuất nội dung, trở thành kênh truyền hình văn hoá - thể thao - giải trí; năm 1998 kênh được tách sóng thành một kênh riêng, và được phủ sóng vệ tinh đến các địa phương trên toàn quốc. Các kênh VTV4, VTV5 (cùng các kênh khu vực), VTV6, VTV7, VTV8, VTV9, VTV Cần Thơ bắt đầu lên sóng lần lượt trong các năm sau đó. VTV3 là kênh đầu tiên được phát sóng theo chuẩn HD từ năm 2013, các kênh còn lại cũng lần lượt được nâng chuẩn phát sóng vào những năm tiếp theo. Từ năm 2016 đến nay, các kênh đều được phát sóng dưới hai tín hiệu SD và HD song song. Từ ngày 1 đến 7 tháng 1 năm 2020, Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện đồng bộ biểu trưng luồng kênh SD và HD cho tất cả các kênh (ngoại trừ kênh VTV5 Tây Nam Bộ và VTV5 Tây Nguyên). Đến ngày 8 tháng 1 năm 2020, các kênh từ VTV1 đến VTV7 và VTV9 từ 10 tháng 1 cùng năm (trừ VTV8) đã trở lại phát song song 2 tín hiệu SD và HD với biểu trưng riêng biệt, trước khi chính thức thực hiện đồng bộ hai luồng kênh một lần nữa vào ngày 1 tháng 11 năm 2022. Cũng trong giai đoạn này, với tư cách là đơn vị truyền hình chủ nhà, đài đã thực hiện nhiều chương trình về những sự kiện quan trọng của đất nước, như Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2003 (tổ chức truyền hình trực tiếp trên bốn kênh VTV1, VTV2, VTV3 và VTV4), Hội nghị APEC các năm 2006 và 2017, hay Hội nghị thượng đỉnh Triều Tiên – Hoa Kỳ tại Hà Nội 2019. Ngày 30 tháng 4 năm 1995 đánh dấu lần đầu tiên VTV thực hiện cuộc truyền hình trực tiếp một sự kiện chính trị – lịch sử quan trọng với lễ kỷ niệm 20 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước. Cơ cấu tổ chức. Đài Truyền hình Việt Nam đóng vai trò cơ quan truyền thông chủ lực trực thuộc Nhà nước, dưới sự đồng quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông về báo chí, trực thuộc Chính phủ Việt Nam. Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo quy định. Đài Truyền hình Việt Nam có quan hệ với các đài truyền hình trực thuộc tỉnh và thành phố do chính quyền địa phương điều hành. Những phóng viên, biên tập viên, người dẫn chương trình tiêu biểu. Dưới đây là danh sách phóng viên, biên tập viên, người dẫn tiêu biểu của Đài Truyền hình Việt Nam, bao gồm những người đã từng hoặc đang công tác tại VTV (không kể những người dẫn Thời tiết). Các kênh truyền hình. Các kênh truyền hình quảng bá. Vào đêm Giao thừa âm lịch (30 Tết hoặc 29 Tết tùy năm), tất cả các kênh của VTV sẽ chập thành một kênh duy nhất (VTV) để phát sóng các chương trình chia tay năm cũ, chào năm mới âm lịch cho đến rạng sáng mùng 1 Tết (riêng VTV Cần Thơ tách sóng và tắt sóng ngay sau đó) Các kênh truyền hình trả tiền. Hiện nay, Đài Truyền hình Việt Nam có 56 kênh truyền hình trả tiền thuộc các hệ thống VTVCab, K+, SCTV.
Một thư viện là một kho sưu tập các nguồn thông tin, được chọn lựa bởi các chuyên gia và có thể được tiếp cận để tham khảo hay mượn, thường là trong một môi trường yên tĩnh phù hợp cho học tập. Kho tàng của một thư viên có thể chứa đến hàng triệu đầu mục, bao gồm nhiều định dạng như sách, ấn phẩm định kỳ, báo, thủ bản, phim, bản đồ, bản in, văn kiện, CD, cassette, băng video, DVD, đĩa Blu-ray, sách điện tử, sách nói, cơ sỏ dữ liệu, video game và các thể loại khác. Một thư viện được xây dựng và bảo quản bởi một cơ quan nhà nước, một tổ chức, một công ty, hoặc một cá nhân. Ngoài việc cung cấp tài liệu, thư viện còn được phục vụ bởi các thủ thư, những chuyên gia trong việc tìm kiếm và sắp xếp thông tin và đáp ứng nhu cầu của người dùng. Thư viện cũng thường có khu vực yên tĩnh để học tập, và những khu vực hỗ trợ học và làm việc nhóm. Nhiều thư viện có cơ sở thiết bị có thể truy cập kho tài liệu số và mạng Internet. Thư viện hiện đại đang ngày càng được hướng đến trở thành nơi tiếp cận thông tin và kiến thức không giới hạn qua nhiều hình thức và nguồn khác nhau. Thư viện ngày càng trở thành những trung tâm cộng đồng nơi thực hiện các chương trình công cộng và hỗ trợ mọi người có thể học tập suốt đời. Những thư viện đầu tiên lưu trữ văn bản đầu tiên—các phiến đất sét viết bằng chữ hình nêm được phát hiện tại Sumer, có tuổi đời lên đến 2600 TCN. Thư viện công và tư chứa sách viết xuất hiện ở Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Vào thế kỷ thứ 6, gần thời Cổ đại Hy-La, những thư viện lớn ở Constantinople và Alexandria, cùng với thư viện của Timbuktu thu hút nhiều học giả trên khắp thế giới. Lịch sử thư viện bắt đầu với những nỗ lực đầu tiên nhằm sắp xếp bộ sưu tập văn bản. Những vấn đề đặc biệt thiết yếu bao gồm tính tiếp cận của kho sưu tập, việc thu thập tài liệu, công cụ sắp xếp và tìm kiếm, trao đổi sách, tính chất vật lý của các vật liệu viết khác nhau, phân bố ngôn ngữ, vai trò giáo dục. Từ những năm 1960, vấn đề số hóa và kỹ thuật số kho tàng lưu trữ đã bắt đầu xuất hiện. Các loại thư viện. Nhiều cơ quan phân biệt giữa một thư viện phân phối hay cho mượn, nơi cho phép người đọc hoặc cơ quan mượn tài liệu, so với thư viện tham khảo nơi tài liệu không được cho mượn. Những thư viện di động, như là các thư viện trên lưng ngựa ở miền đông Kentucky và bookmobile, thường là dạng cho mượn. Các thư viện ngày nay thường là hỗn hợp cả hai, gồm một bộ sưu tập chung dành cho phân phối, và một bộ tham khảo giới hạn trong thư viện. Ngoài ra, các bộ sưu tập kỹ thuật số mở rộng khả năng tiếp cận tài liệu mà có thể không được in ấn, và cho phép thư viện mở rộng kho lưu trữ mà không cần xây dựng thêm cơ sở chuyên dụng. Lamba (2019) quan sát rằng "thư viện hiện nay ngày càng trở nên đa diện, hợp tác và kết nối" và việc áp dụng những công cụ Web 2.0 vào thư viện "không chỉ kết nối người dùng với cộng đồng và cải thiện giao tiếp mà còn giúp thủ thư phát triển các hoạt động, dịch vụ và sản phẩm của thư viện hướng tới người dùng thực sự và tiềm năng". Thư viện học thuật. Thư viện học thuật thường đặt trong khuôn viên các trường cao đẳng và đại học, chủ yếu để phục vụ sinh viên và nhân viên ở đó và những nơi khác. Một số thư viện học thuật, đặc biệt ở những cơ sở công cộng, mở cửa cho tất cả mọi người. Thư viện học thuật có mục đích chính là hỗ trợ trong việc nghiên cứu và tìm hiểu của học sinh và nhân viên của cơ sở giáo dục. Các thư viện này thường có tài liệu liên quan đến khóa học, như sách giáo khoa và bài luận. Chúng cũng có những tài nguyên khác ít thấy ở thư viện, như là máy tính, webcam, hay máy tính cầm tay. Thư viện học thuật còn có những cuộc hội thảo và khóa học bên ngoài lớp chính quy, giúp học sinh trang bị những công cụ để hoàn thành tốt chương trình học. Những buổi thảo luận này có thể giúp về chú thích nguồn, kỹ năng tìm kiếm hiệu quả, cơ sở dữ liệu khoa học và những công cụ liên quan. Những bài học này giúp học sinh trong sự nghiệp tương lai, tuy nhiên thường không được dạy trong những khóa học thông thường. Cũng như nhiều thư viện khác, các thư viện học thuật có không gian học tập yên tĩnh cho học sinh và sinh viên; nó cũng có những nơi dành cho học nhóm, như phòng họp. Tại Bắc Mỹ, châu Âu và nhiều khu vực khác trên thế giới, thư viện học thuận đang ngày càng trở nên số hóa. Các cơ sở học thuật đăng ký vào cơ sở dữ liệu những tập san điện tử, cung cấp phần mềm nghiên cứu và viết bài khoa học, cho phép mọi người tiếp cận những bài báo, cơ sở dữ liệu, cổng thông tin, Internet, và phần mềm liên quan đến khóa học (như xử lý văn bản hay bảng tính). Một số thư viện còn có chức năng mới, như là một nguồn thông tin khoa học và học thuật điện tử, bao gồm việc thu thập và chọn lọc những bài luận của sinh viên. Một số thư viện còn hoạt động như những nhà xuất bản trên cương lĩnh không vì lợi nhuận, đặc biệt dưới dạng những nhà xuất bản Truy cập mở. Thư viện trẻ em. Thư viện cho trẻ em có những bộ sưu tập đặc biệt dành riêng cho người đọc nhỏ tuổi và thường được phân cách với thư viện chung. Các thư viện này là những cơ quan giáo dục nhằm giúp trẻ nhỏ làm quen với nguồn tư liệu của thế giới và hình thành đam mê cho việc đọc. Các dịch vụ của thư viện dành cho trẻ em bao gồm những buổi kể chuyện hoặc những chương trình ngoại khóa, nhằm phát triển kĩ năng đọc hiểu và tình yêu dành cho sách. Một trong những chương trình phổ biến nhất trong những thư viện công cộng và chương trình đọc sách mùa hè dành cho trẻ em, gia đình và người lớn. Thư viện quốc gia. Một thư viện quốc gia đóng vai trò là kho lưu trữ thông tin của nhà nước, và có quyền lưu chiểu, tức yêu cầu các nhà xuất bản trong nước đưa một bản sao của mỗi ấn phẩm vào thư viện. Không như các thư viện công cộng, thư viện quốc gia hiếm khi cho người dân mượn sách. Kho tàng của chúng thường có nhiều tác phẩm quý hiếm, có giá trị và ảnh hưởng lớn. Những thư viện quốc gia đầu tiên xuất phát từ những bộ sưu tập hoàng gia của cơ quan nhà nước. Nhiều thư viện quốc gia hợp tác trong khuôn khổ Mục Thư viện Quốc gia của Liên đoàn các Hiệp hội và Tổ chức Thư viện Quốc tế (IFLA) để thảo luận công việc chung, xác định và phổ biến những tiêu chuẩn chung, và thực hiện những dự án để phát triển các bên. Các thư viện quốc gia ở châu Âu tham gia vào dịch vụ Thư viện châu Âu, do Hội nghị Thủ thư Quốc gia châu Âu thành lập, sau được sát nhập vào Europeana. Thư viện công cộng. Một thư viện công cộng phục vụ cộng đồng chung, thường là một thành phố hay một phân cấp hành chính khác. Phần lớn tài nguyên trong thư viện công cộng đều có thể cho mượn. Nhân viên thư viện kiểm soát số lượng đầu mục cho mượn, cũng như chi tiết của thời gian cho mượn chúng. Thông thường, các thư viện công cộng phát hành thẻ thư viện cho những người có nhu cầu mượn sách. Nhiều thư viện công cộng cũng là các tổ chức cộng đồng cung cấp dịch vụ và các hoạt động cho công chúng, như là nhóm đọc sách và kể chuyện cho trẻ em. Ở nhiều nơi, thư viện là nguồn kiến thức và giải trí không thể thiếu. Theo một nghiên cứu bởi Hiệp hội Thư viện Pensylvania, các dịch vụ thư viện công cộng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tỉ lệ mù chữ ở thanh thiếu niên. Thư viện 2.0, một cụm từ đặt ra từ 2005, là phương hướng của các thư viện nhằm cạnh tranh với sự phổ biến của Google và nhu cầu thay đổi của người dùng bằng cách sử dụng công nghệ web 2.0. Một số khía cạnh của Thư viện 2.0 bao gồm bình luận, đánh dấu thẻ, dấu trang, thảo luận, sử dụng mạng xã hội, plug-in, widget. Mục đích là để biến thư viện hướng tới người dùng nhiều hơn. Dù có tầm quan trọng to lớn, các thư viện tại Hoa Kỳ thường xuyên bị cắt giảm ngân sách bởi các nhà lập pháp của bang. Nhiều thư viện công cộng phải giảm số giờ mở cửa và cắt bớt nhân viên. Thư viện tham khảo. Một thư viện tham khảo không cho phép tài liệu được mượn mà chỉ có thể đọc tại thư viện đó. Thông thường thư viện được dùng cho mục đích nghiên cứu, như ở các trường đại học. Một số đầu mục của một thư viện tham khảo có thể mang tính lịch sử, thậm chí là duy nhất. Nhiều thư viện cho mượn có một khu vực tham khảo riêng, nơi chứa những đầu sách tham khảo, ví dụ như từ điển. Những khu vực tham khảo như thế còn được gọi là "phòng đọc", đôi khi có cả báo chí và ấn phẩm định kỳ. Một ví dụ là Phòng đọc Hazel H. Ransom tại Trung tâm Harry Ransom của Đại học Texas tại Austin, nơi lưu trữ các bài viết của người đại diện văn chương Audrey Wood. Thư viện nghiên cứu. Một thư viện nghiên cứu chứa các nguồn tài nguyên về một hay nhiều lĩnh vực. Một thư viện nghiên cứu hỗ trợ nghiên cứu học thuật hoặc khoa học và có các nguồn sơ cấp và cả nguồn thứ cấp. Thư viện nghiên cứu thường là thư viện học thuật hoặc thư viện quốc gia, nhưng một thư viện đặc biệt cũng có thể có khu vực nghiên cứu riêng, và một số thư viện công cộng rất lớn cũng dùng để phục vụ nghiên cứu. Ở Bắc Mỹ, một thư viện đại học lớn cũng có thể được coi là một thư viên nghiên cứu, và thường thuộc Hiệp hội Thư viện Nghiên cứu. Tại Vương quốc Anh, những thư viện này có thể thuộc Thư viện Nghiên cứu Vương quốc Anh (RLUK). Một thư viện nghiên cứu có thể cho hoặc không cho mượn sách. Một số thư viện nghiên cứu rất lớn hoặc cũ hoàn toàn không cho mượn giống thư viện tham khảo, còn phần lớn thư viện học thuật tại Anh và Mỹ cho phép mượn sách nhưng không cho mượn các ấn phẩm định kỳ và tài liệu khác. Một số ví dụ của thư viện nghiên cứu gồm Thư viện Anh, Thư viện Bodleian tại Đại học Oxford và Chi nhánh chính Thư viện Công cộng New York tại Manhattan, Thư viện Khoa học và Kỹ thuật Công cộng Quốc gia của chi nhánh Siberia của Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Thư viện số là những thư viện chứa tài liệu kỹ thuật số. Một thư viện số "sử dụng nhiều loại phần mềm, công nghệ và tiêu chuẩn kết nối để hỗ trợ cộng đồng tiếp cận tài nguyên và dữ liệu số", đồng thời có trách nhiệm bảo quản và đảm bảo khả năng truy cập tài liệu dễ dàng và tiện lợi. Việc truy cập thư viện số bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, phổ biến nhất là nội dung của thư viện, đặc trưng và nhu cầu thông tin của đối tượng người dùng, giao diện, mục tiêu của tổ chức thư viện, và những quy định và luật lệ kiểm soát sự vận hành của thư viện. Một trong những điều quan trọng nhất mà người quản lý thư viện số cần xem xét là nhu cầu truy cập tài nguyên dài hạn. Hai vấn đề cần lưu ý bao gồm dữ liệu bị lỗi và định dạng lỗi thời. Dữ liệu có thể bị mất hoặc không dùng được nếu một sự cố nào đó xảy ra, ví dụ như một chiếc đĩa CD bị trầy xước. Định dạng lỗi thời là khi một định dạng số bị thay thế bởi những công nghệ mới, khiến những dữ liệu trong định dạng cũ trở nên vô dụng. Xử lý lỗi dữ liệu là quá trình thụ động, ngược lại với định dạng lỗi thời cần phải chủ động chuẩn bị từ trước. Thư viện đặc biệt. Tất cả thư viện khác thuộc vào dạng thư viện đặc biệt. Nhiều tổ chức tư nhân và công cộng, bao gồm bệnh viện, nhà thờ, bảo tàng, phòng thí nghiệm nghiên cứu, công ty luật và các cơ quan chính phủ có những thư viện riêng cho nhân viên dùng nghiên cứu chuyên ngành trong lĩnh vực của họ. Tùy từng nơi mà các thư viện đặc biệt này có thể cho người ngoài vào hoặc không. Ở những cơ quan chuyên ngành như công ty luật hay phòng thí nghiệm, thủ thư thường là chuyên gia trong ngành thay vì những người được đào tạo làm thủ thư do tính chất chuyên dụng của thư viện và đối tượng người sử dụng. Thư viện đặc biệt còn có thư viện cho phụ nữ hay LGBTQ. Thư viện và cộng đồng LGBTQ có lịch sử lâu đời, và hiện có nhiều thư viện, kho lữu trữ và bộ sưu tập đặc biệt dành riêng cho việc giữ gìn và giúp đỡ cộng đồng LGBTQ. Thư viện của phụ nữ, như Thư viện Phụ nữ Vancouver hay Thư viện Phụ nữ @LSE cung cấp dịch vụ cho các bé gái và phụ nữ và tập trung vào lịch sử phụ nữ. Một số thư viện, như là thư viện luật của chính phủ, thư viện bệnh viện hay thư viện căn cứ quân sự cho phép khách tham quan. Tùy thuộc vào đối tượng và nội dung, thư viện đặc biệt cũng có thể cung cấp dịch vụ như các thư viện nghiên cứu, tham khảo, học thuật, công cộng hay cho trẻ em, thường là với quy định nghiêm ngặt hơn. Hầu hết thư viện sắp xếp tài liệu theo một trật tự nhất định dựa trên hệ thống phân loại thư viện, sao cho các đầu sách có thể được tìm và lấy một cách hiệu quả. Một số thư viện có phòng trưng bày riêng để chứa tài liệu tham khảo. Những kệ tham khảo này có thể cho một số người ngoài vào xem, hoặc bắt người đọc nói nhân viên để lấy tài liệu thay mình. Các thư viện lớn thường được chia thành các ban quản lý bởi các thủ thư chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp. Các ban quan trọng nhất thường là Những công việc cơ bản trong việc quản lý thư viện bao gồm việc chuẩn bị sưu tập (những tài liệu thư viện nên thu thập, bằng hình thức gì), phân loại các tài liệu đã thu thập, bảo quản tài liệu (đặc biệt là những đầu mục hiếm và dễ hư hỏng như thủ bản), quản lý việc cho mượn và thu hồi tác phẩm, xây dựng và quản trị hệ thống máy tính của thư viện. Những vấn đề dài hạn bao gồm việc xem xét mở rộng hoặc xây dựng thư viện mới, và việc phát triển các dịch vụ kết nối và đẩy mạnh văn hóa đọc. Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) đã xuất bản một số tiêu chuẩn về việc quán lý thư viện qua Ủy ban Kỹ thuật 46 (TC 46), tập trung vào "thư viện, tài liệu và trung tâm thông tin, xuất bản, lưu trữ, quản lý hồ sơ, tài liệu bảo tàng, các dịch vụ lập chỉ mục và trừu tượng hóa, và khoa học thông tin". Sau đây là danh sách một số tiêu chuẩn đó: Thủ thư hay cán bộ thư viện hay nghĩa đơn giản là người trông coi sách là một nghề nghiệp làm việc liên quan đến thư viện, coi giữa sách trong thư viện, đó là một chuyên gia về thông tin, lưu trữ, sắp xếp hồ sơ, phân loại, sắp xếp sách vở, đánh bút lục, lau, quét sách ở các kệ sách, hướng dẫn tra cứu thông , là người thông thạo việc tổ chức và quản lý dịch vụ thông tin hoặc các tài liệu cho những người có nhu cầu thông tin. Thông thường, thủ thư làm việc trong một thư viện công cộng hoặc một thư viện trong các trường đại học, trường tiểu học hoặc trường trung học, các thư viện trong doanh nghiệp hoặc công ty, hoặc cơ quan khác như một bệnh viện, công ty luậ Những thư viện nổi tiếng. Thư viện Quốc hội Mỹ là thư viện lớn nhất thế giới, là nơi lưu trữ lên tới gần 100 triệu quyển sách.
Khu phố La Tinh hay Quận La Tinh (tiếng Pháp: Quartier Latin) là một khu phố thuộc Quận 5 thành phố Paris. Nằm ở tả ngạn sông Seine, khu phố trải dài về phía Nam, bao gồm đồi Sainte Geneviève tới vườn Luxembourg. Phía Tây của khu phố La Tinh là khu Saint-Germain-des-Prés. Là khu vực tập trung các cơ sở giáo dục từ thế kỷ 12, cái tên La Tinh vốn do tiếng La Tinh được sử dụng để giảng dạy ở đây. Ngày nay, khu phố La Tinh không chỉ đông đúc sinh viên mà còn thu hút nhiều khách du lịch nhờ các công trình nổi tiếng. Có thể thấy ở khu phố La Tinh sự hiện diện các của đại học Paris I cho tới Paris V, cùng những trường lớn như Sư phạm, Trường Mỏ, trụ sở cũ Trường Bách khoa, trung học Henri IV... Các công trình ở đây có thể kể đến Điện Panthéon, cung điện Luxembourg trong vườn Luxembourg, Sorbonne, Bảo tàng Trung Cổ... Ngày nơi đây cũng là khu vực đông đúc khách du lịch. Khu phố đi bộ Huchette nằm cạnh sông Seine, hai bên đầu đại lộ Saint-Michel với các con phố nhỏ, lát đá mang những cái tên độc đáo như « Rue du Chat-qui-Pêche », có nghĩa Con mèo câu cá. Hai bên phố có sự hiện diện của rất nhiều nhà hàng, quán cà phê, cùng các quán bar và một số gallery nghệ thuật. Khu vực gần sông Seine của khu phố La Tinh phát triển từ thời kỳ Paris còn mang tên Lutetia. Nơi đây xuất hiện hai công trình quan trọng của thành phố khi đó là đấu trường Lutetia và nhà tắm công cộng cổ La Mã. Từ thế kỷ 12, Paris là một trung tâm giáo dục, các thầy giáo và học trò tập trung về đồi Sainte-Geneviève, nơi có trường Notre-Dame. Cho tới đầu thế kỷ 13, Đại học Paris được thành lập. Năm 1253, Robert de Sorbon mở ra trường Sorbonne, dành cho những sinh viên và thần học. Nơi đây trở thành trung tâm về giáo dục và tôn giáo, còn bên hữu ngạn giữ vai trò về thương mại và tài chính. Năm 1530, François I lập ra Collège des Lecteurs Royaux, tức Collège de France sau này. Các công trình quan trọng tiếp tục được xây dựng ở khu phố La Tinh. Năm 1615, cung điện Luxembourg khởi công. Năm 1758, Điện Panthéon được xây dựng. Cho tới thời kỳ Cách mạng Pháp, các trường lớn như Bách khoa Paris, Trường Sư phạm ra đời. Khu phố La Tinh là trung tâm giáo dục, khu phố của sinh viên. Tháng 5 năm 1968, một vụ bạo động của sinh viên bắt đầu từ Nanterre lan tới khu phố này. Kết quả vụ bạo loạn thay đổi hệ thống quản lý giáo dục, khiến Đại học Paris bị tách ra tạo thành 13 trường như hiện nay. Nhiều trường chuyển ra ngoài ngoại ô xây dựng ở các địa điểm rộng rãi hơn. Ngày nay, khu phố La Tinh vẫn còn tập trung nhiều trường đại học, nhưng cũng là một khu phố du lịch đông đúc, đặc biệt ở đầu đại lộ Saint-Michel, khu vực dành cho người đi bộ mang tên La Huchette.
Đầu ra, ngõ ra, lối ra, Output là một thuật ngữ bao hàm ý nghĩa là nơi đưa ra các kết quả của một quá trình xử lý của hệ thống. Trong điện tử học "ngõ ra" là nơi xuất tín hiệu ra, một thành phần của tập hợp ngõ giao tiếp vào/ra. Trong các khoa học kỹ thuật khác "ngõ ra" là nơi xuất sản phẩm ra. Trong kinh tế "đầu ra" còn có nghĩa là sản lượng. Trong các mô hình, hệ thống thiết kế, hệ thống khai thác "đầu ra" là khái niệm trừu tượng được sử dụng để mô tả nơi nhận được kết quả xử lý của hệ thống đó.
Thốt Nốt là một quận nội thành trực thuộc thành phố Cần Thơ, Việt Nam. Quận Thốt Nốt nằm ở cửa ngõ phía Bắc của Thành phố Cần Thơ, lãnh thổ bao gồm phần đất liền và dãy cù lao Tân Lộc hình thoi nằm trên Sông Hậu. Quận Thốt Nốt được quy hoạch là đô thị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp quan trọng của Cần Thơ, thuộc vùng trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm Đồng Bằng Sông Cửu Long. Trước năm 2004, Thốt Nốt vốn là một huyện thuộc tỉnh Cần Thơ cũ và trong giai đoạn 2004-2009, Thốt Nốt là một huyện ngoại thành của thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương, với huyện lỵ là thị trấn Thốt Nốt. Địa bàn huyện Thốt Nốt trước năm 2004 rất rộng lớn, bao gồm toàn bộ quận Thốt Nốt, toàn bộ huyện Vĩnh Thạnh và một phần huyện Cờ Đỏ hiện nay. Ngày 2 tháng 1 năm 2004, theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP, vùng đất huyện Thốt Nốt cũ được chia thành các đơn vị hành chính mới là huyện Thốt Nốt và huyện Vĩnh Thạnh của thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương. Ngày 23 tháng 12 năm 2008, theo Nghị định số 12/NĐ-CP, lại giải thể huyện Thốt Nốt cũ để thành lập mới quận Thốt Nốt. Ngoài ra, phần đất còn lại của huyện Thốt Nốt cũ cũng được nhập vào huyện Vĩnh Thạnh và huyện Cờ Đỏ mới thay đổi địa giới hành chính lúc đó. Như vậy, Thốt Nốt chính thức trở thành một quận thuộc thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương từ đầu năm 2009. Ngoài ra, thị trấn Thốt Nốt cũ cũng được chuyển thành phường Thốt Nốt. Như vậy, địa danh Thốt Nốt chính thức được dùng cho cả hai đơn vị hành chính: phường Thốt Nốt và quận Thốt Nốt. Hiện nay, trung tâm hành chính quận Thốt Nốt được đặt ở phường Thốt Nốt. Quận Thốt Nốt nằm ở phía bắc nội thành của thành phố Cần Thơ, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 42 km theo Quốc lộ 91, có vị trí địa lý: Quận có diện tích 118 km², dân số năm 2019 là 155.360 người, mật độ dân số đạt 1.317 người/km². Ngoài ra, quận còn quản lý hành chính cồn Tân Lộc, một cù lao lớn nằm giữa hai nhánh sông Hậu. Nguồn gốc địa danh Thốt Nốt. Ban đầu, địa danh Thốt Nốt chỉ là tên một ngôi chợ tại thôn Thạnh Hòa Trung (sau này là làng Thạnh Hòa Trung) thuộc tỉnh An Giang thời nhà Nguyễn độc lập và sau đó là tỉnh Long Xuyên thời Pháp thuộc. Cũng về sau, làng Thạnh Hòa Trung được chia ra thành hai làng mới, lấy tên là làng Thạnh Hòa Trung Nhứt và làng Thạnh Hòa Trung Nhì. Từ đó, chợ Thốt Nốt và khu vực xung quanh thuộc về địa bàn làng Thạnh Hòa Trung Nhứt. Chính quyền thực dân Pháp cho thành lập quận trực thuộc tỉnh Long Xuyên và đặt tên là quận Thốt Nốt do lấy theo tên gọi Thốt Nốt vốn là nơi đặt quận lỵ. Năm 1917, thực dân Pháp thành lập quận Thốt Nốt thuộc tỉnh Long Xuyên; quận lỵ đặt tại làng Thạnh Hòa Trung Nhứt. Quận Thốt Nốt ban đầu có 2 tổng với các làng như sau: Sau này thực dân Pháp tiến hành hợp nhất một số làng lại và lấy tên gọi mới cho các làng như: Thuận Hưng (hợp nhất Tân Thuận Đông và Tân Hưng), Thạnh Hòa Trung An (hợp nhất Thạnh Hòa Trung Nhì và Thạnh An). Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền kháng chiến của Việt Minh bỏ danh xưng "quận" và thay bằng "huyện". Cũng sau năm 1945, tổng An Phú được tách ra để thành lập quận Lấp Vò thuộc tỉnh Long Xuyên, sau đó lại giao quận Lấp Vò cho tỉnh Sa Đéc quản lý. Chính quyền kháng chiến ban đầu vẫn đặt huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh Long Xuyên. Ngày 12 tháng 9 năm 1947, huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh Long Châu Hậu. Ngày 7 tháng 2 năm 1949, huyện Thốt Nốt được bàn giao cho tỉnh Cần Thơ quản lý. Đến cuối năm 1954, huyện Thốt Nốt trở lại thuộc tỉnh Long Xuyên như cũ. Việt Nam Cộng hoà. Trước đây, vào thời Pháp thuộc, vùng đất các làng Thạnh Phú và Thạnh Quới dân cư địa phương tập trung sinh sống rất ít và thưa thớt. Năm 1954, đông đảo đồng bào miền Bắc, phần lớn là theo đạo Thiên Chúa đã di cư vào miền Nam và đến vùng đất làng Thạnh Qưới thuộc tổng Định Mỹ, quận Thốt Nốt lập nghiệp, sinh sống cho đến ngày nay. Lúc bấy giờ, vùng đất này còn được gọi là "Dinh điền Cái Sắn". Sau năm 1956, các làng gọi là xã. Từ năm 1956 cho đến năm 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hoà đặt quận Thốt Nốt thuộc tỉnh An Giang. Ngày 4 tháng 3 năm 1958, xã Thạnh Quới tách đất lập mới xã Thạnh An cùng thuộc quận Thốt Nốt. Địa bàn xã Thạnh An vốn tập trung đông đảo đồng bào miền Bắc di cư theo đạo Thiên Chúa. Năm 1962, giao xã Thạnh Phú về cho quận Khắc Trung (đến năm 1964 lại đổi tên là quận Thuận Trung) thuộc tỉnh Phong Dinh quản lý. Ngày 25 tháng 6 năm 1964, quận Thốt Nốt nhận thêm xã Vĩnh Trinh tách từ quận Châu Thành cùng thuộc tỉnh An Giang. Sau năm 1965, cấp tổng bị giải thể, các xã trực thuộc quận. Quận Thốt Nốt có 9 xã trực thuộc: Thạnh Hoà Trung Nhứt (quận lỵ), Thạnh Hoà Trung An, Thới Thuận, Thuận Hưng, Tân Lộc Tây, Tân Lộc Đông, Vĩnh Trinh, Thạnh Quới và Thạnh An. Năm 1972, tên các xã "Thạnh Hoà Trung Nhứt" và "Thạnh Hoà Trung An" rút lại chỉ còn 2 chữ là "Trung Nhứt" và "Trung An". Trước năm 1975, vùng đất Thốt Nốt (gồm cả toàn bộ huyện Vĩnh Thạnh và một phần huyện Cờ Đỏ) đã từng có thời kỳ thuộc về Tỉnh Long Xuyên và sau đó là tỉnh An Giang. Chính quyền Cách mạng. Năm 1957, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ban đầu cũng huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh An Giang. Đến năm 1963, lại giao huyện Thốt Nốt về cho tỉnh Cần Thơ cho đến đầu năm 1976. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam của tỉnh Cần Thơ ban đầu vẫn đặt huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh Cần Thơ cho đến đầu năm 1976. Huyện lỵ là thị trấn Thốt Nốt, được thành lập do tách đất từ xã Trung Nhứt. Đồng thời, chính quyền Cách mạng cũng bàn giao xã Thạnh Phú (trước đó thuộc quận Thuận Trung, tỉnh Phong Dinh) về cho huyện Thốt Nốt quản lý trở lại như trước. Theo Nghị định số 03/NĐ-76 ngày 24 tháng 2 năm 1976 và Quyết định số 17/QĐ-76 ngày 24 tháng 3 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất ba đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau là tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ để thành lập tỉnh mới: tỉnh Hậu Giang. Lúc này, Thốt Nốt trở thành huyện của tỉnh Hậu Giang. Huyện Thốt Nốt ban đầu bao gồm thị trấn Thốt Nốt và 9 xã: Tân Lộc, Thạnh An, Thạnh Phú, Thạnh Quới, Thới Thuận, Thuận Hưng, Trung An, Trung Nhứt, Vĩnh Trinh. Ngày 15 tháng 9 năm 1981, chia xã Thạnh An thành 2 xã: Thạnh An và Thạnh Thắng. Ngày 28 tháng 3 năm 1983, Hội đồng bộ trưởng ban hành quyết định 21-HĐBT, theo đó: Ngày 16 tháng 9 năm 1989, sáp nhập xã Trung Kiên vào xã Trung Nhứt. Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết chia tỉnh Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng, huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh Cần Thơ, bao gồm thị trấn Thốt Nốt và 12 xã: Tân Lộc, Thạnh An, Thạnh Lộc, Thạnh Phú, Thạnh Quới, Thạnh Thắng, Thới Thuận, Thuận Hưng, Trung An, Trung Hưng, Trung Nhứt, Vĩnh Trinh. Ngày 24 tháng 8 năm 1999, thành lập xã Trung Kiên trên cơ sở 1.348,94 ha diện tích tự nhiên và 23.979 nhân khẩu của xã Trung Nhứt; 115 ha diện tích tự nhiên và 1.942 nhân khẩu của xã Thuận Hưng. Ngày 4 tháng 8 năm 2000, thành lập thị trấn Thạnh An trên cơ sở 185,51 ha diện tích tự nhiên và 3.000 nhân khẩu của xã Thạnh Thắng; 1.595,1 ha diện tích tự nhiên và 9.157 nhân khẩu của xã Thạnh An. Ngày 19 tháng 4 năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định 47/2002/NĐ-CP, theo đó: Từ năm 2004 đến nay. Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang, huyện Thốt Nốt thuộc thành phố Cần Thơ, bao gồm 2 thị trấn: Thốt Nốt (huyện lỵ), Thạnh An và 15 xã: Tân Lộc, Thạnh An, Thạnh Lộc, Thạnh Mỹ, Thạnh Phú, Thạnh Quới, Thạnh Thắng, Thới Thuận, Thuận Hưng, Trung An, Trung Hưng, Trung Kiên, Trung Nhứt, Trung Thạnh, Vĩnh Trinh. Ngày 2 tháng 1 năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2004/NĐ-CPref name="05/2004/NĐ-CP"/ref. Theo đó: Huyện Thốt Nốt còn lại 17.110,08 ha diện tích tự nhiên, dân số là 189.641 người với 8 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Thốt Nốt và 7 xã: Tân Lộc, Thới Thuận, Thuận Hưng, Trung An, Trung Kiên, Trung Nhứt, Trung Thạnh. Ngày 6 tháng 11 năm 2007, chia xã Thuận Hưng thành 2 xã: Thuận Hưng và Tân Hưng. Cuối năm 2007, huyện Thốt Nốt có 9 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Thốt Nốt (huyện lỵ) và 8 xã: Tân Hưng, Tân Lộc, Thới Thuận, Thuận Hưng, Trung An, Trung Kiên, Trung Nhứt, Trung Thạnh. Ngày 23 tháng 12 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/NĐ-CP. Theo đó: Sau khi thành lập, quận Thốt Nốt có với 9 phường trực thuộc như hiện nay. Quận Thốt Nốt được chia thành 9 phường: Tân Hưng, Tân Lộc, Thạnh Hòa, Thốt Nốt, Thới Thuận, Thuận An, Thuận Hưng, Trung Kiên và Trung Nhứt. Kinh tế - xã hội. Trong năm 2020 tình hình sản xuất công nghiệp - xây dựng của quận gặp nhiều khó khăn về nguyên liệu đầu vào và sản phẩm, thị trường đầu ra, nhưng nhờ sự phấn đấu của toàn ngành, giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt 31.125 tỉ đồng, tăng 12,84% so với năm 2019; thương mại - dịch vụ thực hiện được 10.907 tỉ đồng, tăng gần 17% so với năm 2019; giá trị sản xuất nông nghiệp 2.307 tỉ đồng, tăng 3,42% so với năm 2019, trong đó thủy sản tiếp tục phát triển ổn định, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và vệ sinh môi trường, tổng diện tích nuôi được 417ha, đạt 100% kế hoạch, tổng sản lượng thu hoạch được 88.765 tấn, đạt 100% kế hoạch. Tổng thu ngân sách trên địa bàn được 202 tỉ đồng, đạt 100% kế hoạch; tổng chi ngân sách được 736,6 tỉ đồng, đạt 94,7% kế hoạch. Quận Thốt Nốt được đánh giá có lợi thế trong việc thu hút các khu công nghiệp trên địa bàn quận và hiện nay trên địa bàn quận có 3 KCN lớn đã hoạt động như: KCN Thốt Nốt, KCN Thốt Nốt II và KCN Thốt Nốt III. Theo thống kê từ các ngành chức năng địa phương, trên địa bàn quận Thốt Nốt hiện có 27 tổ chức tín dụng đang hoạt động, trong đó có 01 Chi nhánh ngân hàng đó là Chi nhánh ngân hàng NNPTNT quận Thốt Nốt; 01 phòng giao dịch thuộc Chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội thành phố Cần Thơ và 25 phòng giao dịch trực thuộc các Chi nhánh ngân hàng thương mại tại thành phố Cần Thơ. Hiện nay trên địa bàn quận có các trường từ Mầm non, TH, THCS và THPT như: Hiện nay trên địa bàn quận có Bệnh viện Đa Khoa quận và trung tâm Y tế Quận. Các cơ quan thuộc thành phố trên địa bàn quận Thốt Nốt • Đội Cảnh Sát Giao Thông - Trật Tự Cơ Động Thành phố Cần Thơ (QL91, phường Thốt Nốt) • Thanh Tra Giao Thông Vận Tải Thành phố Cần Thơ - Đội 6 (QL91, phường Trung Kiên) • Đội Quản Lý Thị Trường số 4 - TP.Cần Thơ Hiện nay quận Thốt Nốt là quận cửa ngõ phía Tây Bắc thành phố, là đầu mối giao thông quan trọng gắn với các trục giao thông về đường bộ và đường thủy, bao gồm tuyến Đường cao tốc Lộ Tẻ - Rạch Sỏi qua cầu Vàm Cống, Quốc lộ 91 và Quốc lộ 80, tuyến sông Hậu và kênh Cái Sắn. Hạ tầng đô thị. Các dự án khu đô thị, tái định cư đã và đang chuẩn bị đầu tư, kêu gọi đầu tư trên địa bàn quận. • Khu đô thị mới Hoàng Gia tại phường Thốt Nốt quy mô 9,78ha. Đã hình thành • Khu tái định cư Thới Thuận 2 quy mô 25,88ha, tại phường Thới Thuận. Chuẩn bị đầu tư. • Khu đô thị hai bên Nguyễn Thái Học quy mô 22ha ( phường Thốt Nốt ). • Khu tái định cư Thốt Nốt tại phường Trung Kiên, giai đoạn 1 quy mô 2,5ha. Đã hình thành. • Khu đô thị Thốt Nốt quy mô 70ha tại các phường Trung Nhứt, Thốt Nốt. • Khu tái định cư số 5 quy mô 13ha tại phường Trung Kiên. Danh mục đầu tư. Hạ tầng kinh tế, xã hội. • Khu CN Thốt Nốt giảm dần diện tích từ 200ha còn 74ha, tại phường Thới Thuận. • Bến Cảng Thốt Nốt quy mô 30ha tại phường Thới Thuận. • Trung tâm logistics tại bến cảng Thốt Nốt quy mô 30ha, khu đất tiếp giáp sông Hậu tại bến cảng Thốt Nốt, giáp cầu Vàm Cống và QL91. Theo định hướng quy hoạch sẽ mở rộng 100ha cho hàng hoá khu công nghiệp Thốt Nốt - Vĩnh Thạnh. Tại phường Thới Thuận. • Khu CN Vĩnh Thạnh số 5 quy mô 2.550ha ( phạm vi của 1 phần 3 phường Thuận An, Trung Nhứt và Thạnh Hoà ). • Khu du lịch sinh thái nghĩ dưỡng cao cấp cù lao Tân Lộc quy mô 40ha, tại phường Tân Lộc. • Trung tâm dịch vụ du lịch Tân Lộc quy mô 30ha, tại phường Tân Lộc. • Khu nghĩ dưỡng cao cấp Tân Lộc quy mô 65ha, tại phường Tân Lộc. • Khu du lịch sinh thái Tân Mỹ quy mô 41ha, tại phường Tân Lộc. Hạ tầng giao thông. • Nút giao cao tốc Lộ Tẻ - Rạch Sỏi và tránh Long Xuyên, QL91 ( nút giao hoa thị ). • Nút giao cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng với ĐT921E ( nút giao khác mức liên thông ). • ĐT920 điểm đầu từ phường Trà Nóc quận Bình Thủy đến phường Trung Kiên quận Thốt Nốt, quy mô lộ giới 42m. • DT920D từ phường Phước Thới, quận Ô Môn đến phường Thới Thuận, quy mô lộ giới 42m. • ĐT921 điểm đầu tại P. Thốt Nốt với thị xã Cờ Đỏ, quy mô lộ giới 42m. • ĐT921E giao với tuyến tránh Thốt Nốt đi ĐT916 xã Thạnh Phú Cờ Đỏ, quy mô lộ giới 4 - 6 làn xe. • ĐT921B từ Thuận An đến thị trấn Thạnh An quy mô 2 - 4 làn xe. • DT921D giao với QL91 phường Tân Hưng đến ĐT919B xã Đông Bình Cờ Đỏ quy mô 2 - 4 làn xe. • QL91, tránh Thốt Nốt, tuyến nối và tránh Long Xuyên quy mô lộ giới 37m. 10. Tuyến vành đai 1 từ Cái Răng đến QL80 xã Vĩnh Trinh đi qua quận lộ giới 80m. • Vành đai phía Tây đoạn ( Ô Môn - Thốt Nốt ) chiều dài tuyến 9km, quy mô lộ giới 4 làn xe. • Vành đai phía Tây đoạn ( Vĩnh Thạnh - Thốt Nốt ) đến QL80 với chiều dài hơn 16,7km, quy mô lộ giới 4 làn xe. • Cầu qua cù lao Tân Lộc quy mô 2 - 4 làn xe. • Mở rộng Nguyễn Trọng Quyền quy mô lộ giới 9m. • Kéo dài tuyến đường Thanh Niên đến tuyến tránh Thốt Nốt.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Hoàng Vân (tên khai sinh: Lê Văn Ngọ, 24/7/1930 - 4/2/2018) là một nhạc sĩ hàng đầu của nền âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam, ông có một sự nghiệp sáng tác phong phú với thành công trên rất nhiều thể loại. Là người có nhiều sáng tác nhất về các ngành nghề kinh tế và sáng tác về các địa phương trở thành bài truyền thống, ông nổi tiếng với rộng rãi quần chúng với hàng loạt ca khúc như ""Bài ca xây dựng", "Hò kéo pháo", "Người chiến sĩ ấy", "Quảng Bình quê ta ơi", "Tôi là người thợ lò"..." Ngoài ra, trong kho tàng đồ sộ của ông (khoảng 650 tác phẩm đã xác định), ông đã để lại 4 bản giao hưởng (trong đó "Thành đồng tổ quốc" là bản thơ giao hưởng đầu tiên của Việt Nam - 1960), một bản nhạc vũ kịch ""Chị Sứ", một trong những vở ballet đầu tiên của Việt Nam (1968), 4 tác phẩm viết cho đại hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng "Hồi tưởng", "Việt Nam muôn năm", "Vượt núi", "Điện Biên Phủ"", hàng chục tác phẩm cho nhạc thính phòng, nhạc phim, kịch, múa rối, hợp xướng thiếu Ông còn có bút danh là Y-Na (theo tương truyền có nghĩa là Yêu Ngọc Anh – vợ của ông), Bua Vân, Thạch S Ông sinh ngày 24/7/1930 tại Hà Nội trong gia đình Nho học ở phố Hàng Thùng, có cha và ông nội đều là nhà nho. Năm 16 tuổi, ông gia nhập Đội thiếu niên cứu quốc Mai Hắc Đế, là liên lạc viên tự vệ khu Đông Kinh Nghĩa Thục (Liên khu I) Hà Nội, rồi làm phụ trách Thiếu sinh quân Trung đoàn 165, Sư đoàn 312. Sau đó, ông tham gia Đội Tuyên truyền võ trang Lao Hà, làm báo chí và công tác địch vận của trung đoàn, sư đoàn và sau đó phụ trách văn nghệ ở Sư đoàn 312. Sau 1954, ông được cử đi tu nghiệp tại Học viện Âm nhạc Trung ương, Bắc Kinh, Trung Quốc. Khi về nước, ông chỉ huy dàn nhạc đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam kiêm chỉ đạo nghệ thuật cho đến 1970, đồng thời tham gia giảng dạy môn sáng tác và phối khí tại Nhạc viện Hà Nội cho đến năm 1989. Từ 1963-1989, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam, là trưởng ban sáng tác thanh nhạc và công tác tại Hội cho đến năm 1996. Năm 1975, ông đi thực tập một thời gian tại Nhạc viện Sofia, Bulgaria. Hoàng Vân vẫn tự hào là ít có người sống trong phố cổ Hà Nội từ lúc sinh ra đến năm hơn 80 tuổi như ông. Hoàng Vân có sở thích viết thư pháp, chơi đồ cổ và đọc sách. Hai người con của ông là nhạc trưởng Lê Phi Phi và Tiến sĩ - nhà nghiên cứu âm nhạc Lê Y Linh đều thành danh. Hoàng Vân qua đời vào khoảng 4 giờ sáng 4/2/2018 tại nhà riêng. Trước đó, ông bị bệnh viêm phổi và một số bệnh tuổi già. Hoàng Vân bắt đầu sáng tác từ năm 1951 với những ca khúc được phổ biến rộng rãi tại vùng Tây Bắc, Việt Bắc như "Chiến thắng Tây Bắc", "Chiến thắng Hoà Bình", "Tin chiến thắng"... Năm 1954, ông sáng tác ca khúc nổi tiếng "Hò kéo pháo". Từ đây sự nghiệp sáng tác của ông bắt đầu nở rộ với hàng loạt ca khúc, hợp xướng, hòa tấu. Ngoài ra ông còn viết nhạc cho phim, kịch nói, tác phẩm khí nhạc, dàn nhạc giao hưởng, hợp xướng. Ngoài công việc sáng tác, ông còn tham gia công tác giảng dạy ở Nhạc viện Hà Nội. Nhiều trong số các học trò của ông đã thành danh như An Thuyên, Trương Ngọc Ninh, Văn Thành Nho, Phú Q Ông đã xuất bản các sách nhạc gồm "Hai chị em" (Nhà xuất bản Âm nhạc, 1973), "6 ca khúc Hoàng Vân" (Nhà xuất bản Âm nhạc, 1980), "Ca khúc Hoàng Vân" (Nhà xuất bản Âm nhạc, 1986), "Tuyển chọn ca khúc Hoàng Vân" (Nhà xuất bản Âm nhạc và Hội nhạc sĩ Việt Nam) kèm theo băng cassette audio (1994). Các sách được xuất bản tại nước ngoài là "Tổng phổ giao hưởng Thành đồng Tổ quốc" (in tại Cộng hòa Dân chủ Đức và Bulgaria), "Hành khúc con voi (Voi kéo gỗ)" (Nhà xuất bản Âm nhạc Moskva, Liên Xô). Ngày 10 tháng 6 năm 2005, tại Hà nội đã có một đêm hòa nhạc giao hưởng mang tên ông được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội, biểu diễn ba tác phẩm: Thơ giao hưởng số 1 "Thành đồng Tổ quốc" (1960), concertino cho violon và dàn nhạc dây "Tuổi trẻ và tình yêu" (1975) và "Đại hợp xướng Điện Biên Phủ" (2004). Chương trình do Dàn nhạc giao hưởng, hợp xướng Nhạc viện Hà Nội thể hiện, do con trai ông - nhạc trưởng Lê Phi Phi - chỉ huy. Ông được trao Giải thường Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật vào năm 2000. Hoàng Vân là một nhạc sĩ có nhiều ca khúc nổi tiếng như: ""Hò kéo pháo", "Tôi là người thợ lò", "Hà Nội - Huế - Sài Gòn", "Quảng Bình quê ta ơi", "Nổi trống lên rừng núi ơi", "Không cho chúng nó thoát", "Bài ca giao thông vận tải", "Chào anh giải phóng quân - Chào mùa xuân đại thắng", "Hai chị em", "Tiếng cồng giải phóng - Tiếng cồng chiến thắng" (bút danh Y - Na), "Trên đường tiếp vận" (bút danh Y - Na), "Người chiến sĩ ấy", "Guồng nước quay", "Nghe anh thương binh hát"... Ông còn một số sáng tác phổ thơ như: "Hát ru" (thơ Tố Hữu), "Những cánh buồm" (thơ Hoàng Trung Thông), "Nhớ" (thơ Nguyễn Đình Thi), "Khúc tâm tình người thủy thủ" (thơ Mai Liêm, tức Hà Nhật)... Sau 1975, ông có các sáng tác như "Bài ca xây dựng", "Tình yêu của đất và nước", "Hát về cây lúa hôm nay", "Bài ca tình bạn", "Tình ca Tây Nguyên"... Ngoài ra ông còn viết các ca khúc thiếu nhi như: "Ca ngợi Tổ quốc", "Mùa hoa phượng nở", "Em yêu trường em", "Mùa xuân", "Hai con búp bê", "Đôi mắt chim câu", Tổ khúc "Bốn mùa", "Con chim vành khuyên", "Bảy sắc cầu vồng", "Hôm nay là đội viên, ngày mai là đoàn viên", "Đường lên đỉnh núi" (nhạc mở đầu - kết thúc chương trình truyền hình Đường lên đỉnh Olympia), "Chú em là thủy thủ""... Nhiều bài hát của ông đã trở thành bài hát truyền thống của ngành nghề kinh tế, ví dụ "Bài ca xây dựng", "Bài ca người giáo viên nhân dân", "Hát về cây lúa hôm nay", "Tôi là người thợ lò", "Bài ca giao thông vận tải", "Khúc tâm tình người thủy thủ"... Những ca khúc nổi tiếng nhất của Hoàng Vân: Tiếp nối thể loại trường ca, một thể loại âm nhạc đặc sắc của Việt Nam, ông có những tác phẩm như "Hà Nội - Huế - Sài Gòn", "Bài thơ gửi Thái Nguyên" (lời Lê Nguyên), "Việt Nam muôn năm", "Tôi là người thợ lò"... Khí nhạc - Nhạc thính phòng. Ông còn viết nhiều tác phẩm khí nhạc cho các nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng (nhạc thính phòng), và các nhạc cụ dân tộc như những tác phẩm sau đây: "Fugue cho piano" (nhạc viện Bắc Kinh in) "Tổ khúc cho hautboy và piano" "Rhapsodie cho violon Tình yêu và tuổi trẻ" "Hành khúc con voi (Voi kéo gỗ trên lâm trường)" cho kèn "basson" (pha-gốt, fagotte) "Vui được mùa, Rondo" và "Hoa thơm bướm lượn" cho độc tấu "flute" "Concerto cho piano và dàn nhạc" Concertino cho violon và dàn nhạc dây "Tuổi trẻ và tình yêu" (1975) Quintete "Giai điệu ngũ cung" cho bộ kèn (1994) "Giai điệu tình yêu" và "Vũ khúc 89" cho saxophone Hợp xướng - Giao hưởng-hợp xướng. Ngoài sáng tác ca khúc, ông còn viết nhiều tác phẩm hợp xướng: "Thành phố chúng ta nhà máy chúng ta, Kỷ niệm ở quê hương" (a capella, hợp xướng không nhạc đệm)", Tình yêu quê hương" và "Bình minh thế kỷ" (trên ý thơ của Nguyễn Đình Thi), Mặt quê hương (a capella) trên thơ của Tế H Hợp xướng với dàn nhạc giao hưởng: "Hồi tưởng, Việt Nam muôn năm, Vượt núi," giao hưởng hợp xướng 4 chương "Điện Biên Phủ" (2005) Hợp xướng thiếu nhi: "Tuổi lên mười, Hát dưới cờ búa liềm, Học giỏi chăm làm cháu ngoan Bác Hồ, Mùa hè" (trong tổ khúc "Bốn mùa")"..." Tác phẩm cho dàn nhạc giao hưởng. Giao hưởng thơ số 1 "Thành đồng tổ quốc" (1960) Giao hưởng thơ số 3 "Tuổi trẻ của tôi" (2000) Nhạc cho phim và sân khấu. Hoàng Vân đã viết nhạc cho nhiều bộ phim Việt Nam, trong đó có những phim đã ghi dấu ấn trong nền điện ảnh như: "Nổi gió", "Con chim vành khuyên", "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm", "Khói trắng, Em bé Hà Nội", "Mối tình đầu", "Đất mẹ, Hẹn gặp lại Sài Gòn, Đường lên cổng trời"... Ông viết nhạc cho vũ kịch "Chị Sứ", kịch "Nila"..., các vở kịch hát (operette) "Nỗi nhớ Mai Lan, Tình yêu nàng Sa, Giai điệu tháng "ùng nhiều vở chèo, cải lương, và hàng chục bộ phim tài liệu. Ca sĩ thể hiện. Các ca khúc Hoàng Vân được nhiều ca sĩ thể hiện như: Lan Anh , Trần Khánh, Tuyết Thanh, Mỹ Bình, Thanh Huyền, Bích Liên, Thu Hiền, Đăng Dương, Trọng Tấn, Anh Thơ... Đặc biệt Trần Khánh đã gắn liền với Hoàng Vân qua những ca khúc như "Tôi là người thợ lò", "Người chiến sĩ ấy", "Tin chiến thắng"... và hợp xướng "Hồi tưởng". Những ca khúc như "Tôi là người thợ lò", "Người chiến sĩ ấy", "Hà Nội - Huế - Sài Gòn", "Bài ca xây dựng"... được lựa chọn và biểu diễn nhiều trong cuộc thi "Liên hoan tiếng hát truyền hình toàn quốc ("Sao Mai"). Vợ ông là một bác sĩ, tiến sĩ y học tên Lê Thị Ngọc Anh, bác sĩ, tiến sĩ chuyên khoa về dinh dưỡng. Hai ông bà có hai người con. Con trai ông là giáo sư, nhạc trưởng Lê Phi Phi (1967). Con gái ông là Lê Y Linh (1963), tiến sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc định cư tại Pháp.
Nhà Tần (221 TCN - 206 TCN) là triều đại kế tục nhà Chu và trước nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Nhà Tần được đặt tên theo nước Tần - nước đã chiến thắng trong thời Chiến quốc (nay thuộc tỉnh Cam Túc và tỉnh Thiểm Tây), thiết lập bởi Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Hoa. Ở thời kỳ Chiến Quốc, nhà Tần nổi lên là thế lực mạnh nhất nhờ các cải cách của Thương Ưởng vào thế kỷ IV TCN. Vào giữa và cuối thế kỷ III TCN, nhà Tần thực hiện một loạt chiến dịch xâm chiếm, đầu tiên là chấm dứt nhà Chu, sau đó xâm chiếm sáu quốc gia lớn còn lại, chấm dứt thời kỳ Chiến quốc. Mặc dù chỉ tồn tại ngắn ngủi trong 15 năm, nhà Tần đã để lại ảnh hưởng rất lớn tới các triều đại sau của Trung Hoa, đánh dấu sự khởi đầu của Trung Hoa đế quốc, một giai đoạn chỉ chấm dứt cùng với sự kết thúc của nhà Thanh vào năm 1912. Tên gọi mà phương Tây gọi Trung Quốc ngày nay (China) được cho là xuất phát từ nhà Tần (Qin). Nhà Tần, dưới sự dẫn dắt của Tần Thủy Hoàng và thừa tướng Lý Tư, tìm cách thiết lập một nhà nước thống nhất bằng chính quyền trung ương tập quyền và một hệ thống quân đội lớn được hỗ trợ bởi một nền kinh tế ổn định. Chính quyền trung ương tìm cách loại bỏ quyền lực của giới quý tộc và địa chủ và giành quyền kiểm soát trực tiếp với nông dân, lực lượng chiếm đa số trong cơ cấu dân số và lao động. Điều này cho phép các dự án lớn đầy tham vọng, ví dụ như việc xây dựng kết nối các bức tường thành ở phía bắc, đặt nền móng cho Vạn Lý Trường Thành. Nhà Tần thực hiện một loạt các cải cách lớn về hành chính, kinh tế, và văn tự, chẳng hạn như thống nhất và chuẩn hóa hệ thống chữ viết, tiền tệ, đo lường, đi lại và giao thương. Tuy có những cải cách lớn như vậy, nhà Tần áp dụng trường phái Pháp gia và muốn dập tắt các trường phái tư tưởng khác mình. Những sử gia Nho giáo thời nhà Hán mô tả triều đại nhà Tần là một chế độ độc tài chuyên chế, trong đó điển hình là đốt sách và chôn sống nhiều học giả có tư tưởng khác biệt, chấm dứt thời kỳ tự do tư tưởng. Ngoài ra nhà Tần đã mở cuộc chính phạt xuống phía Nam khiến lãnh thổ mở rộng xuống tận khoảng cực Nam Quảng Tây hoặc thậm chí có thể tận miền Bắc Việt Nam ngày nay. Sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, hai người cận thần là Lý Tư và Triệu Cao đã âm mưu đưa người con thứ của hoàng đế lên ngôi thay vì người con cả. Vì sự yếu kém của người kế vị và sự đàn áp, bóc lột kinh hoàng của thời Tần Thủy Hoàng, nhiều cuộc nổi dậy nổ ra, tiến tới việc chấm dứt triều đại nhà Tần, mở ra nhà Hán. Nguồn gốc và thời kỳ đầu lập quốc. Vào thế kỷ IX trước Công nguyên, Tần Phi Tử, người được cho là hậu duệ của pháp quan thời thượng cổ là Cao Dao, được trao quyền cai trị thành Tần. Thành phố Thiên Thủy ngày nay là nơi tọa lạc của thành này. Trong thời kỳ trị vì của Chu Hiếu vương, vị vua thứ tám của nhà Chu, khu vực này được gọi là nước Tần. Vào năm 897 trước Công nguyên, dưới thời Chu Thiệu cộng hòa, khu vực này trở thành một vùng phụ thuộc được dùng làm nơi chăn nuôi và lai tạo ngựa. Một trong những hậu duệ của Tần Phi Tử là Tần Trang công được Chu Bình Vương, vị vua thứ 13 của nhà Chu sủng ái. Con trai của Trang công tức Tần Tương công được phong làm tướng và cử đi về phía đông đánh Tây Nhung. Sau khi đuổi được quân Tây Nhung lui về Kỳ Sơn và được cấp đất phong hầu, ông chính thức thành lập nhà Tần. Nhà Tần lần đầu tiên bắt đầu một cuộc viễn chinh quân sự vào miền trung Trung Quốc vào năm 672 trước Công nguyên dù họ không tham gia vào bất kỳ cuộc xâm lược lớn nào do mối đe dọa từ các bộ lạc lân cận. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ thứ IV trước Công nguyên, các bộ tộc lân cận đều đã bị khuất phục hoặc bị chinh phục, tạo tiền đề cho sự trỗi dậy của chủ nghĩa bành trướng nước Tần. Nước Tần phần lớn nằm ở châu thổ sông Vị, nơi người Khuyển Nhung đã huỷ diệt nền văn minh nhà Chu và buộc Chu Bình Vương phải dời đô vào năm 770 TCN. Tần là một trong 17 nước nhỏ tạo thành nền văn minh nhà Chu và bị các nước khác coi là thấp kém, bán khai vì nó thu hút nhiều người Khuyển Nhung. Tần còn giữ được tinh thần thượng võ và tính mạnh mẽ của những người chăn thả du mục và là cầu nối thương mại giữa nền văn minh nhà Chu và các vùng đất du mục ở Trung Á, một nền thương mại sẽ góp phần vào sự giàu mạnh của Tần. Trở thành cường quốc. Trong thời Chiến Quốc, Thương Ưởng (361-338 trước Công nguyên), một người ủng hộ trường phái Pháp gia đã trở thành thừa tướng của nước Tần. Với tư cách thừa tướng, Thương Ưởng đã bắt đầu tổ chức nhà nước Tần theo các nguyên lý của Pháp gia. Ông thuyết phục vua Tần áp dụng luật pháp cho mọi người dân. Với việc này, ông ủng hộ việc sử dụng người có thực tài hơn là áp dụng cha truyền con nối. Ông thưởng cho những người can đảm ngoài mặt trận. Ông không khinh thường thương nghiệp của Khổng giáo mà khuyến khích thương mại và lao động. Ông khuyến khích chế tạo vải vóc để trao đổi với các nước khác. Ông đe doạ bắt làm nô lệ bất kỳ một người nào đủ sức khoẻ mà không chịu làm việc. Và ông khuyến khích nhập cư: ông mời những người tài năng và học thức từ nước khác đến Tần, ông trao cho những người nông dân tới từ nước khác một mảnh đất hoang, hứa miễn đi lính cho họ. Thương Ưởng cũng giúp xây dựng kinh đô Hàm Dương của nhà Tần từ giữa thế kỷ IV trước Công nguyên. Kinh đô mới gần giống với kinh đô của các nước khác thời đó. Rất nhiều người từ nước khác đến Tần, làm tăng sức dân của Tần và sản xuất lương thực và làm quân đội của nó mạnh mẽ thêm. Quy mô của quân đội đã trở nên lớn hơn – quân đội không còn là những đội quân trong tay tầng lớp quý tộc nữa. Với việc những người dân thường đổ xô vào quân đội Tần, Tần vương đã có thể giảm bớt quyền lực của giới quý tộc và địa chủ. Trong một chiến dịch mang tính cách mạng, vua Tần chia các lãnh địa bên trong của mình thành các quận huyện được quản lý bởi các quan chức được chỉ định hơn là bởi tầng lớp quý tộc – trong khi việc phân chia quyền lực của giới quý tộc ở các nước khác dưới thời nhà Chu chỉ được tiến hành một cách tuần tự. Đáng chú ý, trường phái Pháp gia của nhà Tần khuyến khích cách đánh trận thực tế và tàn nhẫn. Trong thời Xuân Thu, một tư tưởng được chấp nhận rộng rãi là trong chiến tranh không được hành xử một cách tiểu nhân, các tướng chỉ huy tôn trọng những gì họ tin là quy tắc vàng trên chiến trường. Một ví dụ điển hình là khi Tống Tương công đánh nhau với nước Sở trong thời Chiến Quốc, ông từ chối một cơ hội để tấn công địch khi họ đang băng qua sông. Sau khi quân Sở băng qua sông và dàn trận, Tấn Tương công bị đánh bại. Sau đó, khi các quân sư của ông trách ông vì sự lịch sự quá mức với kẻ thù, ông vặn lại, "Hiền nhân không đè bẹp kẻ yếu đuối, cũng không ra lệnh tấn công cho đến khi kẻ thù hình thành hàng ngũ của họ". Nhà Tần không coi trọng điều này, luôn tận dụng điểm yếu của đối phương để giành thắng lợi. Một nhà quý tộc ở nước Ngụy đã chỉ trích nước Tần là "tham lam, ngoan cố, hám lợi và không hề chân thành. Nước Tần không biết gì về các quy tắc, cách hành xử trong các mối quan hệ, đạo đức và nếu thấy có lợi, họ sẽ từ bỏ những mối quan hệ thân thiết như những con thú". Nhờ trường phái Pháp gia này, cộng thêm việc lãnh đạo hiệu quả, sử dụng nhân tài từ các nước khác và ít có sự phản kháng từ trong nước khiến nước Tần trở nên hùng mạnh. Một lợi thế khác của nhà Tần là họ có một đội quân đông đảo, hiệu quả. và những vị tướng có tài. Họ cũng sử dụng những phát triển mới nhất về vũ khí và vận tải, thứ mà nhiều kẻ thù của họ thiếu. Những phát triển sau này cho phép khả năng cơ động cao hơn trên một số dạng địa hình khác nhau, vốn phổ biến ở hầu hết các vùng của Trung Quốc. Như vậy, về cả tư tưởng và thực tiễn, nhà Tần đều vượt trội hơn hẳn các nước khác về mặt quân sự. Cuối cùng, nhà Tần có một lợi thế địa lý do màu mỡ và vị trí chiến lược, được bảo vệ bởi những ngọn núi khiến nước này có một thành trì tự nhiên. Sản lượng nông nghiệp tăng đã giúp nhà Tần duy trì được một đội quân lớn với lương thực và tài nguyên thiên nhiên; Vị Hà được xây dựng vào năm 246 trước Công nguyên đặc biệt có ý nghĩa về mặt này. Khi Tần Hiếu Công chết, Thương Ưởng bị bỏ lại mà không có sự bảo vệ nào ở triều đình. Những kẻ thù ghen tức và đói quyền lực trong triều đình hành quyết Thương Ưởng, nhưng sự giàu mạnh và sức mạnh của Tần vẫn còn đó. Các vị vua đời sau của Tần nhận ra những lợi ích mà biến pháp của Thương Ưởng đem lại. Do đó vị vua kế nghiệp Tần Hiếu công là Tần Huệ Văn công vẫn duy trì biện pháp và chỉ giết Thương Ưởng để xoa dịu giới quý tộc. Quân Tần bắt đầu giành thắng lợi trong những trận đánh lớn. Năm 311 TCN, Tần mở rộng về phía nam chống lại những kẻ du mục và ở đó họ lập ra thành phố Thành Đô. Năm 256 TCN, Tần mở rộng tới lãnh thổ vốn thuộc nhà Chu - một vùng xung quanh Lạc Dương gồm khoảng 30.000 người và 36 làng. Một hoàng tử nhà Chu phản công, gắng sức chiếm lấy ngôi nhà Chu cho mình. Quân đội Tần đánh bại ông ta và nhà Chu chấm dứt. Xâm lược các nước thời Chiến Quốc. Cuối thời Chiến Quốc, còn lại 7 nước chính tranh giành quyền lực là Triệu, Ngụy, Hàn, Sở, Yên, Tề, Tần. Những người cai trị những nước này đều xưng vương thay vì tước hiệu nhỏ hơn ở giai đoạn trước. Tuy vậy, không ai khẳng định rằng mình nắm "Thiên mệnh" như là những vị vua nhà Chu và cũng không có quyền hiến tế — họ giao việc này cho các vị vua nhà Chu. Năm 246 TCN, Triệu Chính, con trai 13 tuổi của Tần Trang Tương Vương kế ngai vàng. Sau 16 năm cai trị, Tần Vương Chính bắt đầu cho tiến hành những chiến dịch xâm chiếm cuối cùng. Trước cuộc chinh phục của họ vào thế kỷ IV và III trước Công nguyên, nhà Tần đã phải chịu một số thất bại. Thương Ưởng bị Tần Huệ Văn Vương xử tử vào năm 338 trước Công nguyên do mối hận thù cá nhân từ thời còn nhỏ. Cũng có một cuộc xung đột nội bộ về sự kế vị của Tần vào năm 307 trước Công nguyên, điều này đã phân tán phần nào sức mạnh của nhà Tần. Tần bị đánh bại bởi một liên minh của các nước khác vào năm 295 trước Công nguyên và ngay sau đó lại phải chịu một thất bại khác trước nước Triệu vì phần lớn quân đội của họ lúc đó đang phòng thủ chống lại Tề. Tuy nhiên, chính khách hiếu chiến Phạm Thư () lại sớm lên nắm quyền thừa tướng ngay cả khi vấn đề kế vị đã được giải quyết, ông bắt đầu chính sách bành trướng từ nhà Tấn và nhà Tề, tiếp đó chinh phục các quốc gia khác. Năm 230 TCN, Tần xuất quân đánh Hàn và chiếm thủ đô của họ là Tân Trịnh cùng năm đó. Hàn từng bị Tần đánh bại nhiều lần, lại là nước nhỏ yếu nhất trong 7 nước nên là nước đầu tiên bị diệt. Hàn Vương An sợ hãi vội thu hết sổ sách, địa đồ trong nước sang đầu hàng nộp đất. Năm 229 TCN, Tần Vương Chính ra lệnh điều quân lên đánh nước Triệu. Tướng Triệu khi đó là Lý Mục đẩy lui được quân Tần. Tần vương bèn dùng kế ly gián, sai người đút lót cho gian thần nước Triệu là Quách Khai, xúi Quách Khai nói rằng Lý Mục đang có âm mưu tạo phản. Triệu U Mục Vương nghe lời gièm pha, bèn giết chết Lý Mục. Tần chớp thời cơ Lý Mục chết và nước Triệu bị động đất vào năm 229 TCN để dồn ép quân Triệu đến đường cùng. Năm 228 TCN, quân Tần chiếm kinh thành Hàm Đan, bắt sống Triệu Vương Thiên. Năm 227 TCN, sau khi bị Kinh Kha ám sát hụt, Tần Vương Chính hạ lệnh cho quân Tần dưới sự chỉ đạo của Vương Tiễn và phó tướng Mông Vũ tấn công vào đất Yên. Yên Vương trong thế bị dồn ép đã giết Thái tử Đan (người đã ra lệnh cho Kinh Kha ám sát Triệu Chính), dâng thủ cấp để cầu hòa. Quân Tần chấp nhận lời cầu hòa và không xâm lược Yên trong vòng 3 năm tiếp theo. Năm 225 TCN, Vương Bí chỉ huy quân Tần đánh kinh đô Đại Lương (nay gọi là Khai Phong) của Ngụy, cho quân dẫn nước sông Hoàng Hà làm ngập thành khiến hàng vạn binh lính và dân thường thiệt mạng. Ngụy Vương Giả không chống nổi phải ra hàng. Năm 222 TCN, quân Tần dưới sự chỉ huy của Vương Bí tấn công vào Liêu Đông, tiêu diệt tàn dư của quân Yên từ trận chiến trước, bắt giữ Yên Vương Hỉ và đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của nước Yên. Năm 221 TCN, Doanh Chính lấy cớ Tề Vương Kiến đem 30 vạn quân phòng thủ ở biên giới phía tây là hành động gây hấn, bèn sai Vương Bí mang quân từ nước Yên tiến thẳng xuống phía nam tiến vào kinh đô Lâm Truy. Nước Tề suốt mấy chục năm không động binh đao, dân quen liềm hái hơn cung nỏ vì vậy thấy quân Tần hùng hậu tiến vào thì mau chóng tan vỡ. Tề Vương Kiến quyết định không gây chiến và đầu hàng quân Tần. Cả sáu nước hoàn toàn bị thôn tính. Thời kỳ Chiến Quốc kết thúc. Doanh Chính trở thành vua của toàn Trung Hoa. Ông lấy tước hiệu là Thủy Hoàng Đế (始皇帝), trở thành hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa, vượt qua các thành tựu của các vị vua nhà Chu. Việc chinh phục sáu nước, Tần Thủy Hoàng đã sử dụng tài thuyết phục hiệu quả và chiến lược lấy làm gương. Ông củng cố vị trí thống trị độc tôn của mình sau sự thoái vị của thừa tướng Lã Bất Vi. Các nước do hoàng đế thành lập được giao cho các quan lại tận trung thay vì đặt gánh nặng lên người thuộc hoàng tộc. Vị tân hoàng đế ra lệnh tịch thu tất cả vũ khí không thuộc quyền sở hữu của nhà Tần và nấu chảy. Số kim loại thu được đủ để xây dựng mười hai bức tượng lớn tại kinh thành Hàm Dương. Thời đại Tần Thủy Hoàng. Dưới sự lãnh đạo của ông và thừa tướng Lý Tư, Tần Thủy Hoàng đã tạo ra một triều đình được coi là kiểu mẫu cho các triều đại sau của Trung Quốc. Để tránh họa chư hầu cát cứ đời nhà Chu, hoàng đế loại bỏ phong đất đặt chư hầu mà triệt để thi hành chế độ quận huyện, chia cả nước thành 36 quận (郡) (sau đó tăng lên 40 quận); quận thú, huyện lệnh do triều đình bổ nhiệm, có thể bị điều động bất cứ lúc nào. Nhằm suy giảm quyền lực của tầng lớp quý tộc, ông tịch thu đất đai của họ và phân chia chúng cho nông dân. Nhằm tạo thuận lợi cho việc thu thuế, triều đình thu thuế trực tiếp từ nông dân mà không cần qua tay tầng lớp quý tộc. Tần Thủy Hoàng cũng bắt tay vào các chiến dịch đầy tham vọng nhằm tiêu chuẩn hoá hệ thống tiền tệ, đi lại, đo lường, và văn tự. Ông cùng Lý Tư đưa những trường phái Pháp gia khắc nghiệt nhất vào thực thi. Các luật lệ của nhà Tần rất chặt chẽ và khắc nghiệt, đặc biệt đối với người trong triều đình. Hình phạt cho tham nhũng dành cho mọi thành viên triều đình là tử hình. Hoàng đế và những cận thần theo trường phái pháp gia thời đó tin vào việc tập trung hoá về ý thức hệ, lo ngại bất kỳ một tư tưởng nào khác ngoài Pháp gia có thể dẫn tới việc nổi loạn. Vì thế, mọi trường phái tư tưởng khác bị đàn áp, đặc biệt là Nho giáo, chấm dứt thời kỳ tự do tư tưởng. Nhà Tần cũng mạnh tay đối với thương mại, cấm chủ nghĩa trọng thương, đánh thuế nặng đối với thương nhân, và hành quyết các thương nhân vì những lỗi nhỏ nhất. Trong những năm cầm quyền của mình, Tần Thủy Hoàng và thừa tướng Lý Tư đã thống nhất đơn vị đo lường và tiền tệ trên toàn Trung Hoa. Hoàng đế cũng cho thống nhất chiều dài trục bánh xe để tiện việc vận chuyển đường bộ, xây dựng thêm nhiều hệ thống đường sá, kênh mương kết nối các vùng miền với nhau để người dân được thuận tiện hơn trong việc đi lại. Thời Chiến Quốc, văn tự ở mỗi nước ít nhiều có những sự khác nhau. Quan lại Tần đi cai trị đất đai chư hầu cũ nhiều khi không hiểu được văn tự tại địa phương, khó làm tốt việc. Vì vậy, Tần Thủy Hoàng ra lệnh mọi văn bản trên toàn quốc đều sử dụng một loại văn tự được chuẩn hóa bởi Lý Tư, nhờ đó mà thống nhất được chữ viết trên toàn quốc. Ở phía Bắc, tộc người Hung Nô thường xuyên quấy nhiễu biên giới. Để chống người Hung Nô xâm lấn, Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh xây dựng một bức tường phòng thủ rộng lớn, huy động hàng triệu người đã xây được một hệ thống tường thành khổng lồ, là tiền thân của Vạn Lý Trường Thành hiện tại. Trường Thành được xây kết nối nhiều khúc tường thành đã được xây dựng bởi các nước Tần, Triệu, Yên, trải dài hơn 5000 km từ Lâm Thao (nay thuộc tỉnh Cam Túc) ở phía tây đến Liêu Đông (nay ở tây bắc Liêu Dương, tỉnh Liêu Ninh) ở phía đông, tạo nên một mạng lưới tường thành nối các tuyến phòng thủ ở sông tới những vách đá không thể vượt qua. Uớc tính có đến hàng trăm ngàn người, thậm chí có thể lên tới một triệu người đã chết khi xây trường thành thời nhà Tần. Một trong những công trình lớn mà Tần Thủy Hoàng cho xây dựng là cung A Phòng nằm ở phía nam sông Vị. Ước tính triều đình đã phải dùng hơn 70 vạn người để xây dựng cung A Phòng và lăng mộ Tần Thủy Hoàng. Ngay từ khi xây dựng, cung A Phòng đã là một công trình gây tranh cãi, làm hao tiền, tốn của, kiệt quệ sức dân và mang tới cho vị hoàng đế không ít lửa hận thù từ muôn dân trăm họ. Không chỉ vậy, Tần Thủy Hoàng còn xây thêm khoảng hơn 200 cung điện xung quanh kinh đô.#đổi Nhìn chung, mặc dù đạt được những thành tựu lớn, Tần Thủy Hoàng thời đó bị nhiều người căm hận. Những quý tộc bị tước hết quyền lợi, đối xử cay đắng căm hận ông. Những trí thức chống đối tư tưởng của ông căm ghét ông. Ông còn bị căm hận vì là một kẻ chinh phục và đánh thuế nặng nề, đặt ra nhiều luật lệ hà khắc, ép nhiều dân thường lao động đến chết để xây dựng những đại dự án của ông. Mở rộng về phía nam. Năm 214 TCN, Tần Thủy Hoàng để lại 10 vạn quân ở phía bắc và đưa hơn 50 vạn quân xuống phía nam để chinh phục lãnh thổ của các bộ lạc phía nam. Trước những sự kiện dẫn đến sự thống trị của Tần đối với Trung Quốc, họ đã chiếm được phần lớn Tứ Xuyên ở phía tây nam. Quân Tần không quen thuộc với địa hình rừng rậm, bị đánh bại bởi chiến thuật đánh du kích của các bộ lạc phía nam, mất hơn 10 vạn quân. Tuy thua trận ở những chiến dịch đầu tiên, quân Tần đã thành công trong việc xây dựng hệ thống kênh đào, giúp vận chuyển rất nhiều quân lương để củng cố đội quân trong cuộc tấn công thứ hai vào miền nam. Sau đó, quân Tần chinh phục thành công các vùng đất thuộc các tỉnh Phúc Châu, Quảng Đông, Quế Lâm. Sau những chiến thắng ở miền Nam, Tần Thủy Hoàng đã cho di chuyển hơn 10 vạn tù nhân và những người bị đi đày đến các khu vực mới này nhằm thuộc địa hóa chúng. Trong việc mở rộng ranh giới của đế chế, Tần Thủy Hoàng đã cực kỳ thành công ở phía nam. Các chiến dịch chống Hung Nô. Nhà Tần đôi khi được mở rộng về phía bắc nhưng hiếm khi có thể giữ được đất đai lâu dài. Các bộ lạc ở những nơi này được Tần gọi chung là người Hồ. Họ đã thoát khỏi sự thống trị của Trung Quốc trong phần lớn triều đại nhà Tần. Do bị cấm giao thương với nông dân nước Tần, bộ tộc Hung Nô sống ở vùng sa mạc Ngạc Nhĩ Đa Tư ở tây bắc Trung Quốc thường xuyên đột kích họ buộc nhà Tần phải trả đũa. Sau các chiến dịch do tướng Mông Điềm chỉ huy, khu vực này đã bị chinh phục vào năm 215 trước Công nguyên và nền nông nghiệp được thiết lập; những người nông dân bất bình sau đó nổi dậy. Triều đại nhà Hán kế vị cũng mở rộng sang sa mạc Ngạc Nhĩ Đa Tư do dân số quá đông nhưng đã làm cạn kiệt tài nguyên của nơi này trong quá trình đó. Biên giới của vương triều đã được mở rộng theo nhiều hướng; Tân Cương hiện đại, Tây Tạng, Mãn Châu, Nội Mông và các khu vực ở phía đông nam đều xa lạ với nhà Tần và ngay cả những khu vực mà họ kiểm soát quân sự cũng khác biệt về văn hóa. Văn hóa và xã hội. Đời sống nhân dân. Mặc dù có những nỗ lực của chính quyền nhà Tần để cải cách giới quý tộc từ thời nhà Chu, phần đông giới quý tộc vẫn có một cuộc sống xa hoa hơn nhiều so với dân thường. Những sự khác biệt này giữa các vùng ở địa phương được xem là trái với sự thống nhất mà chính quyền nhà Tần muốn hướng đến. Dân thường và dân làng nông thôn, những người chiếm hơn 90% dân số, rất hiếm khi rời khỏi các ngôi làng hoặc trang trại nơi họ sinh ra. Các hình thức việc làm phổ biến có sự khác biệt theo khu vực, nhưng phần lớn họ làm nông nghiệp. Nghề nghiệp thường là cha truyền con nối; thường công việc của một người cha được truyền lại cho con trai cả của ông sau khi ông qua đời. Lã Thị Xuân Thu đã đưa ra ví dụ khi những thường dân bị ám ảnh bởi sự giàu có vật chất, thay vì theo đuổi lý tưởng "tạo ra vật chất để phục vụ cho mình", họ lại "tôn thờ vật chất". Nông dân hiếm khi xuất hiện trong văn học nhà Tần. Nhiều học giả và những người có địa vị cao hơn ưa thích sự phồn vinh của các thành phố và sự lôi cuốn của chính trị. Một ngoại lệ đáng chú ý là Thần Nông, một vị thần huyền thoại trong lịch sử, người đã dạy rằng các hộ gia đình nên tự gieo trồng thực phẩm. "Một lần anh không cày, ai đó trên thế giới sẽ đói. Một lần chị không dệt, ai đó trên thế giới sẽ lạnh". Nhà Tần khuyến khích điều này; một nghi lễ được thực hiện vài năm một lần bao gồm các quan chức quan trọng trong chính quyền thay phiên nhau cày trên cánh đồng đặc biệt để tạo ra một mô phỏng về lợi ích và hoạt động của chính quyền trong nông nghiệp. Vào thời nhà Tần, chế độ nô lệ ở Trung Quốc bắt đầu có động lực và được sử dụng. Kiến trúc thời Chiến Quốc có một số khía cạnh nổi bật. Các bức tường thành, được sử dụng để phòng thủ, được xây dài hơn. Một số bức tường thứ cấp đôi khi cũng được xây dựng để tách các quận khác nhau. Những công trình có cấu trúc lớn được xây dựng để tạo ra cảm giác về quyền lực tuyệt đối. Nhiều ngôi nhà, tòa tháp, cổng trụ lớn được xây dựng ở thời kỳ này. Triết học và văn học. Văn tự của Tần là chữ tượng hình, giống như văn tự của nhà Chu trước đó. Tuy vậy, văn tự ở các nước khác thời Chiến Quốc ít nhiều có những sự không tương đồng. Thừa tướng Lý Tư đã tiêu chuẩn hóa hệ thống chữ viết để có cách viết thống nhất trên toàn Trung Hoa. Đây là một trong những thành tựu lớn nhất trong cuộc đời của ông, đặt nền móng cho sự thống nhất văn hóa Trung Quốc trong hàng ngàn năm. Hàng trăm trường phái tư tưởng bao gồm Nho gia, Đạo gia, Pháp gia nở rộ trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc. Tuy nhiên, sau khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi vào năm 221 TCN, ông và cận thần của mình quyết định cai trị với một triết lý duy nhất là Pháp gia và đàn áp các trường phái tư tưởng khác. Trường phái Pháp gia thời nhà Tần bài trừ chế độ phong kiến cũ ​​và khuyến khích các hình phạt nghiêm khắc, đặc biệt là khi không tuân lệnh hoàng đế. Quyền cá nhân bị gạt đi khi chúng mâu thuẫn với mong muốn của chính quyền, thương nhân và học giả không được coi trọng và thích hợp để loại bỏ. Ít nhất một trường phái tư tưởng là Mặc gia dần bị xóa bỏ. Mặc dù hệ tư tưởng của nhà Tần và Mặc gia có những điểm tương đồng về một số khía cạnh nhất định, có thể những người theo trường phái này đã bị quân đội của nhà nước tìm kiếm và giết chết qua các hoạt động bán quân sự. Một trong những việc đàn áp nổi bật hồi đó là đốt sách chôn nho. Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt bỏ hết phần lớn các sách đương thời, chỉ giữ lại những cuốn sách bói toán, nông nghiệp, y học, thần thoại, và lịch sử nhà Tần. Kẻ nào không tuân lệnh mà lén lút giữ sách thì bị phạt nặng. Sử ký Tư Mã Thiên ghi lại, có 460 Nho sĩ bị chôn sống ở Hàm Dương vì sở hữu sách cấm vào năm 212 TCN. Tuy nhiên, một số nhà Hán học hiện đại cho rằng việc "chôn sống các học giả" không phải là nghĩa đen mà chỉ đơn giản là "giết chết họ". Chính quyền và quân sự. Chính quyền nhà Tần là một bộ máy quan liêu, được quản lý bởi một hệ thống cấp bậc của các quan chức, tất cả đều phục vụ Thủy Hoàng Đế. Nhà Tần áp dụng những lời dạy trong cuốn Hàn Phi Tử. Tất cả các khía cạnh của cuộc sống đã được chuẩn hóa, từ các phép đo lường và ngôn ngữ đến những chi tiết thực tế hơn, chẳng hạn như chiều dài của trục xe. Những vùng lãnh thổ do hoàng đế được giao cho các quan lại thay vì giới quý tộc như hồi trước. Tần Thủy Hoàng và các cận thần của mình đưa ra nhiều luật lệ mới, thay đổi chế độ phong kiến ở Trung Quốc bằng một chính quyền tập trung, quan liêu. Hình thức chính quyền này được các triều đại sau này sử dụng để tham khảo cho cấu trúc chính quyền của họ. Dưới hệ thống này, cả quân đội và chính quyền đều phát triển mạnh vì những cá nhân tài năng có thể được dễ dàng xác định hơn. Tuy nhiên, có những trường hợp lạm dụng hệ thống này. Một viên chỉ huy đã ra lệnh cho người của mình tấn công nông dân nhằm cố gắng tăng số lượng "kẻ cướp" mà anh ta đã giết; cấp trên của anh ta cho phép điều này vì cũng muốn thổi phồng số liệu của mình. Tần Thủy Hoàng cũng giúp cải thiện quân đội mạnh mẽ hơn, mặc dù nó vốn đã trải qua những cải cách sâu rộng. Quân đội nhà Tần đã sử dụng những vũ khí tối tân thời bấy giờ. Việc phát minh ra kiếm trong thời Chiến Quốc là một bước tiến lớn. Thời đầu kiếm chủ yếu được làm bằng đồng, nhưng đến thế kỷ III TCN, nước Tần đã sử dụng thanh kiếm sắt mạnh mẽ hơn. Nỏ được ra đời vào thế kỷ V TCN và cho thấy là có sức mạnh và độ chính xác lớn hơn cung thời trước. Nhà Tần cũng có những kỵ binh và chiến xa vô cùng mạnh mẽ trên chiến trường. Nhà Tần cũng sử dụng các phương pháp vận chuyển và chiến thuật được cải tiến. Nhà Triệu lần đầu tiên thay thế xe ngựa bằng kỵ binh vào năm 307 trước Công nguyên nhưng sự thay đổi này nhanh chóng được các nước khác áp dụng vì kỵ binh có khả năng cơ động cao hơn trên địa hình Trung Quốc. Ngoài ra, Tần Thủy Hoàng cho xây dựng và kết nối thành hệ thống những bức tường thành lớn ở phương bắc để chống người Hung Nô, đặt nền móng cho Vạn Lý Trường Thành sau này. Ông còn cho xây dựng đội quân đất nung để canh gác mình khỏi những linh hồn xấu xa trong khu lăng mộ đồ sộ của mình. Tín ngưỡng phổ biến thời nhà Tần, và suốt những triều đại khác của Trung Hoa, là sự tin tưởng vào thần linh và âm giới. Người Trung Quốc thực hiện những nghi thức hiến tế động vật trong nỗ lực liên lạc với một thế giới khác mà họ tin là tồn tại song song với thế giới mình đang sống. Người chết được hiểu là chuyển dịch từ thế giới này sang thế giới bên kia. Những nghi thức được tạo ra nhằm đảm bảo cho cuộc du hành sang thế giới bên kia của linh hồn người đã khuất và mong họ sẽ ban phước lành cho mình từ thế giới đó. Các hoạt động tín ngưỡng thường được tổ chức tại các đền thờ địa phương và các khu vực linh thiêng, trong đó có các bàn thờ tế lễ. Trong một buổi tế lễ hoặc nghi lễ khác, những giác quan của tất cả những người tham gia sẽ bị làm mờ đi bởi khói, nhang và âm nhạc. Người chủ trì việc hiến tế sẽ nhịn ăn và thiền định trước một sự hy sinh để làm mờ đi các giác quan của mình và tăng khả năng nhận thức các hiện tượng của thế giới bên kia. Những người tham gia khác cũng được yêu cầu tương tự mặc dù không nghiêm ngặt. Làm mờ các giác quan là một yếu tố trong việc làm cầu nối linh hồn. Những người này sẽ rơi vào trạng thái hôn mê hoặc thực hiện các điệu nhảy để phô diễn sức mạnh siêu nhiên. Nhà sử học người Hán Tư Mã Thiên đã khinh miệt những thực hành như vậy, coi chúng là những mánh khóe lừa đảo. Bói toán cũng là một hình thức tín ngưỡng phổ biến. Một tập tục cổ xưa ở thời nhà Tần bẻ xương hoặc đập vỡ mai rùa để dự báo về tương lai. Có nhiều hình thức bói toán khác nhau ở thời kỳ đầu này, mặc dù phổ biến vẫn là cách quan sát các hiện tượng tự nhiên. Sao chổi, nhật thực, và hạn hán được coi là điềm báo về những điều sắp xảy ra. Sự sụp đổ của nhà Tần. Ba vụ ám sát vào Tần Thủy Hoàng khiến ông trở nên hoang tưởng và bị ám ảnh bởi sự bất tử. Ông qua đời vào năm 210 TCN trong một chuyến đi đến vùng viễn đông của nhà Tần trong nỗ lực tìm kiếm một loại thuốc trường sinh từ các pháp sư Đạo giáo, những người tuyên bố thuốc tiên bị mắc kẹt trên một hòn đảo được bảo vệ bởi một con quái vật biển. Hoạn quan Triệu Cao và thừa tướng Lý Tư đã che giấu tin tức về cái chết của hoàng đế và âm mưu đưa người con thứ Hồ Hợi, thay vì con cả Phù Tô, lên ngai vàng. Họ tin rằng có thể thao túng Hồ Hợi, từ đó kiểm soát đế quốc một cách hiệu quả. Thật vậy, Tần Nhị Thế khá dễ bảo và ham chơi. Ông xử tử nhiều quan lại và anh chị em của mình, không quan tâm đến việc nước, tiếp tục cho xây dựng cung điện, mở rộng quân đội, tăng thuế, bắt giữ và sát hại những sứ giả mang đến cho anh ta tin xấu. Kết quả là những người đàn ông khắp Trung Hoa nổi dậy, tấn công quan lại, nuôi dưỡng quân đội và tuyên bố họ là vua của các vùng lãnh thổ bị chiếm giữ. Sau khi Lý Tư bị xử tử vì bị Triệu Cao hãm hại, Triệu Cao quyết định buộc Tần Nhị Thế tự sát vì sự bất tài của ông trong việc cai quản đất nước. Tử Anh, cháu trai của Tần Nhị Thế, lên ngôi và ngay lập tức xử tử Triệu Cao. Tuy nhiên, thế nước khi đó đã như mành treo chuông, ông cũng chỉ tại vị được vỏn vẹn 46 ngày. Trần Thắng khởi nghĩa. Sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, nhiều cuộc nổi dậy lớn đã nổ ra. Tháng 7 năm 209 TCN Trần Thắng và Ngô Quảng cầm đầu 900 lính thú nổi dậy khởi nghĩa ở làng Đại Trạch thuộc nước Sở cũ. Từ Đại Trạch, quân khởi nghĩa nhanh chóng đánh rộng ra xung quanh và tiến lên chiếm được huyện Trần, tức là trần (nước)|nước Trần cũ thời Xuân Thu, lấy làm kinh đô, gọi là nước Trương Sở (nước Sở mở rộng). Các cánh quân các nơi tự nổi dậy hưởng ứng rất đông. Trần Thắng tập hợp và chia quân đi đánh các nơi. Hai đạo quân chủ lực là Ngô Quảng đánh Huỳnh Dương và Chu Văn đánh vào Hàm Dương, quân đông vài chục vạn người. Thừa dịp có ngọn lửa do Trần Thắng châm, các quý tộc 6 nước Sơn Đông thi nhau nổi dậy khôi phục địa vị. Những vùng mới bị Tần Thủy Hoàng chinh phục vài chục năm trước coi cái chết của ông là một cơ hội để thoát khỏi sự cai trị của nhà Tần, và một số trí thức đã chống lại sự cai trị của Nhị Thế. Nông dân coi đó là một cơ hội để biểu lộ sự bất bình của họ với chính quyền hoàng đế. Một số dân thường bắt đầu giết quan lại địa phương. Trong số những người dân có những thủ lĩnh địa phương đứng ra lãnh đạo nổi loạn. Và trong một cố gắng nhằm chiếm lại quyền lực cũ, các gia đình quý tộc bắt đầu tổ chức lực lượng quân sự của riêng mình để trở thành quân phiệt cát cứ. Đầu tiên là hai tướng Trương Nhĩ, Trần Dư dưới quyền Trần Thắng. Hai người cùng bạn Trần Thắng là Vũ Thần đi đánh nước Triệu cũ, nhưng khi chiếm được nửa nước Triệu bèn xui Vũ Thần xưng làm Triệu vương, ly khai khỏi Trương Sở. Vũ Thần sai Hàn Quảng đi đánh nước Yên thì đến lượt Quảng cũng ly khai tự lập làm Yên vương. Một tướng khác của Trần Thắng là Chu Thị đi đánh được đất Nguỵ, thấy Triệu và Yên tự lập cũng rước con cháu nước Ngụy cũ là Ngụy Cữu lên làm Nguỵ Vương. Một quý tộc nước Tề cũ là Điền Đam khởi nghĩa tự lập làm Tề Vương. Các nước chư hầu này đều lo phát triển cơ đồ riêng, đi đánh các thành trì nhà Tần còn chiếm đóng trên đất mình, không hưởng ứng việc đánh Tần với Trương Sở vương Trần Thắng, do đó ông phải độc lập tác chiến với cánh quân chủ lực của Tần. Tin quân khởi nghĩa sắp đánh vào kinh thành khiến kinh thành xôn xao, không thể giấu được nữa và cuối cùng Nhị Thế biết tin. Trong lúc nguy cấp, Nhị Thế theo kế của quan Thiếu phủ Chương Hàm, tha tội cho những người làm phu xây Trường Thành và huy động quân của tướng [Vương Ly; ] (cháu nội Vương Tiễn) gồm 30 vạn người, giao cho họ vũ khí và đưa ra mặt trận. Chương Hàm cứu vãn tình thế. Dưới sự chỉ huy của Chương Hàm, quân Tần thắng như chẻ tre. Đầu tiên chặn đứng cuộc tây tiến của cánh quân Chu Văn, đánh bại Chu Văn liền 3 trận, đẩy quân Trương Sở về phía đông. Chu Văn thua mất hết quân mã nên tự sát. Chương Hàm đánh tới giải vây cho thành Huỳnh Dương đang bị giả vương Ngô Quảng vây hãm lâu ngày không lấy được. Đúng lúc đó thì các tướng cầm cánh quân này cũng nảy sinh mâu thuẫn do không thống nhất chủ trương. Tướng Điền Tang liền giả lệnh Trần Thắng giết Ngô Quảng, nắm lấy quyền chỉ huy và mang quân ra đón Chương Hàm, giao Lý Quy vây Huỳnh Dương. Chương Hàm đang đà thắng lợi, tiến tới đánh bại giết chết Điền Tang và mang quân tới Huỳnh Dương. Lý Quy không chống nổi cũng tử trận nốt. Chương Hàm đánh như gió cuốn tới kinh thành Trương Sở. Trong khi đó, Trần Thắng dùng người không thoả đáng, sát hại nhiều tướng có công nên nhiều người bỏ ông ra đi. Trên đường đánh tới Trương Sở, Chương Hàm tiêu diệt thêm các cánh quân của Ngũ Từ, Đặng Duyệt. Trần Thắng mang quân chủ lực ra chống Tần. Chương Hàm đánh tới, giết chết tướng Sở là Trương Hạ và quan trụ quốc Sở là Sái Tứ. Trần Thắng bỏ chạy khỏi kinh đô Trương Sở tới Hạ Thành Phụ thì bị người đánh xe là Trang Giả phản bội giết chết, mang đầu hàng Tần để lập công. Chương Hàm giao cho Trang Giả cai quản Trương Sở, đặt theo tên cũ là huyện Trần rồi mang quân đánh Nguỵ. Ngụy vương Cữu chống Tần không nổi, thừa tướng Chu Thị tử trận. Ngụy cầu cứu Tề. Tề vương Điền Đam mang quân cứu, bị Chương Hàm đánh bại. Đam tử trận, sau đó quân Tần giết nốt Ngụy Cữu. Hàm lại mang quân đánh Tề, muốn diệt nốt cánh quân của em Đam là Điền Vinh. Trong khi đó, một người hầu cận của Trần Thắng là Lã Thần đi mộ quân cần vương trở về, đánh chiếm lại huyện Trần, giết Trang Giả báo thù cho Trần Thắng. Một cánh quân Tần đánh tới, Lã Thần không chống nổi phải bỏ chạy, giữa đường lại gặp cánh quân chống Tần của Anh Bố, bèn hợp lại cùng đánh, lại chiếm lại huyện Trần lần nữa. Cùng lúc đó, tướng nước Sở là Hạng Lương khởi nghĩa ở đất Ngô, qua sông Trường Giang đánh Tần. Nghe tin Trần Thắng đã chết, Hạng Lương theo kế của Phạm Tăng, lập dòng dõi vua nước Sở ngày trước lên ngôi, tức là Sở Hoài vương. Sau này Lã Thần và Anh Bố mang quân liên hợp với cánh quân của Sở Hoài vương. Cánh quân của chú cháu Hạng Lương, Hạng Vũ lớn mạnh nhanh chóng, đánh bại một cánh quân Sở ly khai khác của Tần Gia rồi đánh nhau với Chương Hàm, lần lượt đánh thắng quân Tần hai trận, giải vây cho em Điền Đam là Điền Vinh và vây Chương Hàm ở Định Đào. Do chủ quan khinh địch, lơi lỏng phòng bị, Hạng Lương bị Chương Hàm đánh úp giết chết. Cánh quân Sở do Hạng Vũ, Lưu Bang chỉ huy vốn được Hạng Lương phái đi đánh Huỳnh Dương nghe tin tổng chỉ huy chết trận bèn hợp với cánh quân Lã Thần rút về nước Sở hội với Hoài vương. Đánh bại Hạng Lương, Chương Hàm mang quân đánh Triệu. Lưu Bang, Hạng Vũ diệt Tần. Quân Sở rút về khôi phục lực lượng để lấy lại nhuệ khí sau khi cánh quân chủ lực của Hạng Lương bị đánh bại. Hoài vương chia quân đánh Tần, ước hẹn với chư hầu rằng: "Ai vào Quan Trung trước được làm vua Quan Trung". Hoài vương sai Lưu Bang đi đường phía Tây đánh thẳng vào Hàm Dương, sai Tống Nghĩa và Hạng Vũ đi đường phía bắc cứu nước Triệu đang bị Chương Hàm vây hãm. Nước Triệu sau khi Vũ Thần xưng vương đã xảy ra tranh chấp nội bộ và sau khi Vũ Thần bị giết, dòng dõi nước Triệu cũ là Triệu Yết được lập làm Triệu vương. Chương Hàm mang quân đánh Triệu, vua tôi Triệu bỏ chạy về Cự Lộc. Hàm sai Vương Ly vây bức Cự Lộc, còn mình vận lương thảo tiếp ứng. Các cánh quân chư hầu như Yên, Tề và tướng Triệu là Trần Dư đóng ngoài thành không dám đánh nhau với Vương Ly để giải vây vì quân Tần quá mạnh. Đang lúc nguy cấp, Hạng Vũ dẫn quân Sở tới cứu, đánh thắng quân Tần liền 9 trận, bắt sống Vương Ly, giết Thiệp Nhàn và Tô Giác. Chương Hàm lui quân, lại bị Hạng Vũ đánh bại thêm một trận nữa ở bến Tam Hộ, sai Tư Mã Hân về thỉnh ý Nhị Thế nhưng Triệu Cao đố kỵ muốn trị tội thua trận. Chương Hàm tức giận bèn đầu hàng Hạng Vũ. Hạng Vũ cho hàng, rồi hợp hai đạo quân Sở, Tần kéo vào Hàm Dương. Nhưng khi Hạng Vũ đánh xong Chương Hàm thì Lưu Bang, đi theo đường thẳng và không gặp những cánh quân Tần mạnh, đã tiến vào Quan Trung trước. Lưu Bang vốn là đình trưởng (một chức quan nhỏ trông coi an ninh trật tự ở địa phương). Trong khi đó cung đình nước Tần cũng biến loạn. Triệu Cao thấy việc giặc giã ngày càng nguy cấp và khó giấu diếm, sợ Nhị Thế trị tội bèn chủ động giết Nhị Thế, lập Tử Anh lên ngôi. Tử Anh không muốn bị khống chế bèn lập mưu giết Triệu Cao. Lúc này vận mệnh nhà Tần đã khó cứu vãn được. Các cánh quân chư hầu ào ạt tiến về phía tây, quân Tần không còn sức kháng cự. Tử Anh lên ngôi cuối tháng 8 năm 207 TCN, được 46 ngày là đầu tháng 10, cánh quân Sở dưới quyền Lưu Bang đã đánh bại quân Tần, tiến vào kinh đô Hàm Dương. Tử Anh ra hàng. Dù bị quân chủ lực của Tần cầm chân, nhưng đội quân của Hạng Vũ cũng tiến vào Hàm Dương không lâu sau đó. Kinh đô Hàm Dương của Tần bị phá hủy, và điều này được các nhà sử học coi là sự kết thúc của nhà Tần. Vua Tần Tử Anh và tất cả các thành viên gia đình hoàng gia nhà Tần bị Hạng Vũ sát hại. Trong lịch sử Trung Quốc, nhà Tần là vương triều đầu tiên có cương thổ rộng lớn và tàn bạo nhất, nhưng các nhà sử học phương Tây thường kính trọng nhà Tần. Cái tên "China" mà người phương Tây dùng gọi Trung Quốc ngày nay được cho là xuất phát từ những âm phiên chữ Tần khác nhau như Sin, Qin, Chin mà ra. Nhà Tần thi hành chính sách hà khắc, độc đoán và thường là tàn bạo nhưng Tần Thủy Hoàng đồng thời cũng là nhà lý luận chính trị và những nhà cải cách tài ba, những người về mặt lịch sử đã đưa lại một trong những giai đoạn triều đình mạnh mẽ nhất của Trung Quốc. Mặc dù chỉ tồn tại trong 15 năm, nhà Tần đã để lại những ảnh hưởng vô cùng lớn tới những triều đại sau này của Trung Quốc. Nhà Tần có những đặc trưng riêng trong lịch sử Trung Quốc. Ngay từ thân thế và sự nghiệp của người sáng lập ra nó - Tần Thủy Hoàng - cũng rất đặc biệt và nhiều bí ẩn. Tần là triều đại đầu tiên bãi bỏ chế độ phân phong chư hầu trước đây, thiết lập chế độ quận huyện để xác lập quyền lực tuyệt đối của hoàng đế. Tần là triều đại đầu tiên và cũng là duy nhất không áp dụng việc đặt thụy hiệu và miếu hiệu cho các vua. Trái lại, nhà Tần dùng kiểu đếm như phương Tây: Từ Thủy Hoàng là đầu tiên, tới Nhị Thế, Tam Thế... như kiểu "Đệ nhất", "Đệ Nhị"... Về sau không triều đại Trung Quốc nào áp dụng theo cách này. Nhà Tần đặt ra cách thay đổi lịch, lấy tháng 10 làm đầu năm. Những người cai trị kế tục áp dụng cách tính này còn dùng tới năm 104 TCN. Nhà Tần đặt ra thống nhất hệ thống đo lường, tiền tệ, đi lại, văn tự, và luật pháp, mở rộng các kênh để tưới tiêu và vận chuyển, xây dựng một hệ thống đường sá to lớn, mở rộng đất đai về phía bắc và phía nam. Công lao xây dựng đất nước thống nhất của nhà Tần thật lớn nhưng chính sách tàn bạo và thủ tiêu văn hoá cũng gây ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ cho đời sau. Nguyên nhân thất bại. Trong Sử ký, Tư Mã Thiên và sau này là Giả Nghị đời Hán viết bổ sung thiên "Tần Thủy Hoàng bản kỷ" đã phân tích về nguyên nhân thất bại của một triều đại vừa to lớn vừa ngắn ngủi. Đó là bài "Quá Tần luận" nổi tiếng. Giả Nghị đề cao công thống nhất Trung Hoa, ca ngợi sức mạnh vô địch tiêu diệt 6 nước chư hầu của nhà Tần và đánh giá "Trần Thắng tài năng dưới bậc trung", danh phận còn kém xa 6 nước chư hầu, bản thân ông chỉ nổi lên được 6 tháng đã bị tiêu diệt nhưng ngọn lửa mà ông đốt lên đã huỷ diệt nhà Tần. "Ông vua có thể lấy thiên hạ trên lưng ngựa nhưng không thể cai trị thiên hạ trên lưng ngựa". Câu đó rất đúng với nhà Tần. Sau khi thống nhất thiên hạ, thay vì dùng chính sách khoan dung để lấy lòng người, nhà Tần lại tăng cường pháp trị, lấy sự hà khắc để đề phòng sự chống đối của thiên hạ. Do đó, ngoài cái thù mất nước chưa nguôi ngoai, người dân 6 nước còn lại đều căm giận nhà Tần lên gấp bội. 15 năm là vòng xoáy của một triều đại nhưng đối với đời người, ngần ấy thời gian còn chưa qua một thế hệ. Chẳng những thế hệ con em mà ngay thế hệ "mất nước" của 6 nước chư hầu vẫn còn nguyên và mối thù vẫn còn nguyên. Chương Hàm dù chưa sánh được với Vương Tiễn nhưng cũng là viên tướng giỏi và có lòng tận tụy, tuy nhiên dường như ông càng chữa cháy đám cháy càng lớn. Sự căm hờn của nhân dân đối với chính sách tàn bạo của nhà Tần khiến những người chống đối hết lớp này lại có lớp khác đứng lên, lớp sau mạnh mẽ hơn lớp trước và một mình Chương Hàm không xoay chuyển được tình thế. Chương Hàm đánh diệt Trương Sở, Trần Thắng ngã có Lã Thần nối tiếp. Chương Hàm diệt Ngụy, Ngụy Cữu chết có Ngụy Báo thay. Chương Hàm đánh Tề, giết được Điền Đam lại có Điền Vinh đứng lên. Chương Hàm đánh Sở giết được Hạng Lương thì có ngay Hạng Vũ bật dậy. Những công tích của Chương Hàm có thể làm một bộ phận chư hầu khiếp đảm và cầm chân được Hạng Vũ một thời gian nhưng một mình ông không có đủ ba đầu sáu tay để chặn đường tây tiến của Lưu Bang. Và khi chính quyền Tần u mê, hủ bại quay sang đố kỵ tướng sĩ, phá bỏ nốt bức tường chắn cuối cùng khiến Chương Hàm ngả theo chư hầu, chỉ một đạo quân không hẳn là hùng hậu của Lưu Bang cũng đủ kết liễu nhà Tần. Kết cục của cả ba nhân vật chính của nhà Tần thời hậu Thủy Hoàng là vua Nhị Thế, Lý Tư lẫn Triệu Cao là bài học đích đáng cho đời sau. 15 năm quá ngắn ngủi, Lý Tư và Triệu Cao vừa là "khai quốc công thần" nhà Tần, vừa là "vong quốc tội thần" của nhà Tần. Hạng Lương, Hạng Vũ, Trương Lương, Điền Đ"Nhị Thế". Tương truyền rằng, thời Tần Thủy Hoàng có câu sấm: "Vong Tần giả Hồ" (Tần mất tại Hồ). Thủy Hoàng ngờ rằng "Hồ" đó là người Hồ, tức người Hung Nô nên đã điều động biết bao nhân công đi xây Vạn Lý Trường Thành để chặn họ kéo xuống phía nam. Nhưng ông không ngờ rằng "Hồ" đó là "Hồ Hợi", đứa con cưng vẫn được lòng ông mới là kẻ làm mất nhà Tần. Các đời hoàng đế nhà Tần. Tần Thủy Hoàng là vị vua Trung Quốc đầu tiên tuyên bố mình làm Hoàng đế sau khi thống nhất Trung Quốc năm 221 TCN. Vì vậy, năm 221 TCN thường được tính làm năm bắt đầu của nhà Tần. Nhà Tần chỉ tồn tại ngắn ngủi trong 15 năm, và kết thúc bởi những cuộc phản loạn ở khắp nơi, dẫn đến cuộc nội chiến Hán-Sở tranh hùng. commentĐổi hướng đến /comment
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Hoàng Hiệp (1 tháng 10 năm 1931 – 9 tháng 1 năm 2013) là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc cách mạng Việt Nam, với nhiều tác phẩm phản ánh những giai đoạn thay đổi của dân tộc Việt Nam trong thế kỉ 20. Âm nhạc của ông là sự hài hòa giữa âm hưởng trữ tình lãng mạn và hào hùng cách mạng. Ông cũng là một trong những nhạc sĩ phổ thơ xuất sắc. Ông cũng từng là Tổng thư ký Hội âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh. Với những công hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng và nền âm nhạc nước nhà, ông đã được tặng thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật (đợt 2, năm 2000). Ông tên thật là Lưu Trần Nghiệp, bút danh là Lưu Nguyễn. Ông sinh ngày 1/10/1931 ở Mỹ Hiệp, Chợ Mới, An Giang. Ông tham gia cách mạng vào năm 1945, tham gia vào đoàn Tuyên truyền lưu động Long Xuyên, sau chuyển về đoàn văn công và phân hội Văn nghệ Long Châu Hà. Hoàng Hiệp bắt đầu sáng tác từ năm 1948, tuy nhiên những tác phẩm thật sự để đời của ông chỉ xuất hiện trong những giai đoạn sáng tác sau đó vài thập kỷ. Việc tập kết ra Bắc như một khởi điểm cho cảm hứng của người nhạc sĩ Nam Bộ. Năm 1957 bài hát "Câu hò bên bờ Hiền Lương" ra đời chung với nhạc sĩ Đằng Giao là điểm khởi đầu cho sự nghiệp sáng tác chuyên nghiệp của Hoàng Hiệp. Trong vòng 20 năm sống ở Hà Nội cho đến 1975, ông đã viết hơn 100 bài hát, nhiều bài trong đó là những tiêu biểu cho dòng nhạc cách mạng thời kì chống Mỹ như "Lá đỏ", "Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây", "Cô gái vót chông" hay "Ngọn đèn đứng gác". Sau 1975, Hoàng Hiệp trở về Nam Bộ. Ông về công tác tại Nhà xuất bản Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, sau chuyển sang Hội âm nhạc thành phố và một thời gian làm Tổng thư ký Hội. Dấu ấn của thời kỳ sáng tác này, bên cạnh những tình ca "Con đường có lá me bay" (1977), "Mùa chim én bay", "Em vẫn đợi anh về", "Nơi anh gặp em" (bài hát trong phim "Nơi" "Gặp Gỡ Của Tình Yêu"). Những ca khúc của ông thường mang âm hưởng dân ca, trữ tình, dễ nhớ, dễ xúc động. Bài hát Nhớ về Hà Nội của Hoàng Hiệp là một tác phẩm xuất sắc của dòng nhạc đương đại những năm cuối thế kỷ 20 về tình yêu thành phố bên bờ sông Hồng nơi qua đi một phần tuổi trẻ của tác giả. Đây cũng là một trong những ca khúc nổi tiếng nhất viết về Hà Nội. Ngoài sáng tác ca khúc, Hoàng Hiệp còn viết nhạc cho kịch nói như: "Người ven đô", "Màu giấy mới", "Xa thành phố yêu dấu"...; nhạc cho các vở cải lương "Thái hậu Dương Vân Nga", "Tiền và Nghĩa"; viết nhạc cho phim truyện và phim tài liệu: "Cánh đồng mơ ước", "Bản nhạc người tù", "Mùa gió chướng", "Nơi gặp gỡ của tình yêu", "Biệt động Sài Gòn"... Ông còn là dịch giả cuốn Nhạc lý cơ bản của Spasspbine, và là tác giả của nhiều sách giáo khoa âm nhạc. Năm 2000, Hoàng Hiệp được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm: "Câu hò bên Bến Hiền Lương", "Cô gái vót chông", "Ngọn đèn đứng gác", "Trường Sơn đông - Trường Sơn tây", "Viếng Lăng Bác", "Nhớ về Hà Nội". Ông mất lúc 12 giờ 45 phút ngày 9 tháng 1 năm 2013 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi qua đời, vào ngày 8-1 ông được nhận Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng được trao tặng ngay tại bệnh viện. Người phổ nhạc cho thơ. Ngoài các ca khúc như "Nhớ về Hà Nội", "Câu hò bên bờ Hiền Lương" tự viết lời riêng thì Hoàng Hiệp chủ yếu là phổ nhạc cho thơ . Ví dụ như "Ngọn đèn đứng gác" (thơ Chính Hữu), "Đất quê ta mênh mông" (thơ Dương Hương Ly), "Nghe hò đêm bốc vác", "Qua cầu Tuỳ Cốc", "Trường Sơn đông - Trường Sơn tây", "Tiểu đội xe không kính" (thơ Phạm Tiến Duật), "Như lá" (thơ Lâm Thị Mỹ Dạ), "Em vẫn đợi anh về" (thơ Lê Giang), "Con đường có lá me bay", "Mùa chim én bay" (thơ Diệp Minh Tuyền)...
Nhà Thương (chữ Hán: 商朝; bính âm: Shāng cháo; Hán Việt: Thương triều) hay nhà Ân (chữ Hán: 殷代; bính âm: Yīn dài; Hán Việt: Ân đại), Ân Thương (chữ Hán: 殷商, bính âm: "Yīn shāng") là triều đại ở thung lũng sông Hoàng Hà và là triều đại đầu tiên đã được xác nhận rõ ràng về mặt lịch sử của Trung Quốc (theo sử sách Trung Quốc thì trước Nhà Thương đã có nhà Hạ, nhưng hiện chưa tìm được bằng chứng khảo cổ (văn tự, di tích, lăng mộ...) đủ để xác nhận rõ ràng về sự tồn tại của nhà Hạ). Theo biên niên sử dựa trên các tính toán của Lưu Hâm thì nhà Thương trị vì từ khoảng năm 1766 TCN tới khoảng năm 1122 TCN, tuy nhiên theo biên niên sử dựa theo Trúc thư kỉ niên thì khoảng thời gian này là 1556 TCN tới 1046 TCN. Các kết quả của Hạ Thương Chu đoạn đại công trình coi khoảng thời gian này là từ 1600 TCN tới 1046 TCN. Theo ghi chép trong lịch sử, nhà Thương tiếp nối sau triều đại có tính huyền thoại là nhà Hạ (triều đại cần khảo chứng thêm) và trước nhà Chu. Triều đại này trước sau có 30 đời vua trị vì, bắt đầu từ vua Thành Thang và kết thúc ở vua Trụ. Nhà Thương bắt đầu nổi lên từ phía Tây châu thổ sông Vị. Bằng vũ lực, nhà Thương thống nhất vùng đồng bằng phía bắc Trung Quốc, xây dựng chế độ theo hình thức "phong kiến phân quyền": các chư hầu đều có sự độc lập nhất định trong việc quản lý và cai trị vương quốc của mình, nhà vua sẽ có trách nhiệm trực tiếp đối với các chư hầu lớn, và các chư hầu lớn sẽ lại có trách nhiệm trực tiếp đối với các chư hầu nhỏ. Các chư hầu đều phải tuân thủ nghĩa vụ đóng thuế, tiến cống và các nghĩa vụ của bậc quân thần theo quy định. Sử Trung Hoa bắt đầu được ghi chép thành văn từ thời nhà Thương, và những điều chép đó đúng với kết quả các công trình khai quật. Tới 1964, người ta đã in và công bố 41.000 hình khắc giáp cốt văn, và 3000 chữ khắc thời đó. Văn minh đời Thương đã đạt mức cao của "thời đại đồ đồng", nhưng nhà Thương thành lập trong hoàn cảnh nào, dân Trung Hoa từ văn minh nhà Hạ chuyển qua văn minh nhà Thương ra sao thì vẫn còn thiếu nhiều tài liệu. Các bộ sử đời sau chỉ biết đại khái rằng: vua Thành Thang sau khi diệt vua Kiệt nhà Hạ, khai sáng nhà Thương, quy tụ được nhiều bộ lạc và đất đai nhà Thương gồm các tỉnh Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Bắc, Hà Nam ngày nay. Kinh đô mới đầu ở đất Bạc, sau bị các dân tộc du mục ở phía Tây lấn, phải dời chỗ 7 lần, lần cuối cùng tới Ân Khư (khư nghĩa là đồi) ở phía Đông, gần An Dương, đổi quốc hiệu là Ân. Nhà Thương gồm tất cả 30 đời vua (theo các giáp cốt), gần đúng với Sử ký Tư Mã Thiên, chỉ khác có 5 ông. Mười ba vua đầu thường là anh truyền ngôi cho em cùng mẹ, hiếm lắm mới có trường hợp cha truyền cho con. Nhưng đến bốn đời vua cuối thì đều truyền tử và từ đó thành lệ cho tất cả các triều đại sau. Sử chép thời đó có tới ngàn chư hầu; có lẽ chỉ một số ít ở gần kinh đô mới trực thuộc nhà Thương, còn ở xa kinh đô thì là những bộ lạc tương đối độc lập. Đó là nguồn gốc của chế độ phong kiến phân quyền sẽ thấy phát triển ở đầu nhà Chu rồi suy tàn ở cuối thời đó. Thành thị nhà Thương còn khá nhỏ. An Dương, kinh thành lớn nhất đời nhà Thương và cũng là thủ đô, có chu vi cung điện chỉ có 800 mét. Cung điện của nhà vua hướng về phía Nam, gồm ba điện (minh đường), điện nào cũng cất bằng gỗ, nóc có hai mái. Một điện ở giữa là chỗ họp triều đình, phía Đông điện đó là nhà thái miếu, thờ tổ tiên nhà vua; phía Tây là nơi thờ thần Xã Tắc. Ở phía Bắc cung điện, dựng một cái chợ; phía Nam dành cho các triều thần, và một số thợ thủ công chế tạo vũ khí, chiến xa, các đồ tự khí bằng đồ Vào thời nhà Thương vùng Trung Nguyên có khí hậu ấm áp hơn ngày nay, thích hợp cho các loài động vật nhiệt đới và á nhiệt đới sinh sống. Người ta đã đào được nhiều xương và văn khắc có nhắc đến các loài động vật nhiệt đới và á nhiệt đới như trâu, voi, tê, báo, linh dương, lợn vòi vân vân cho thấy vào thời nhà Thương chúng đã từng sống tại đây. Nhờ có nguồn cung cấp ngà voi dồi dào nên Trung Quốc thời nhà Thương có nghề chạm khắc ngà voi phát triển. Người ta đã khai quật được tại Trung Nguyên nhiều đồ vật thời nhà Thương làm bằng ngà voi. Tôn giáo, thời huy hoàng. Kinh đô của nhà Thương lúc đầu đóng ở đất Bạc nay thuộc huyện Thương Khâu, tỉnh Hà Nam của Trung Quốc. Do việc trị thủy thời đó còn hạn chế, lũ lụt, thiên tai thường xuyên xảy ra, vì vậy phải thiên đô nhiều lần. Tới đời vua Bàn Canh (1401 - 1374 TCN), khoảng năm 1384 TCN nhà Thương đã chuyển kinh đô về đất Ân và từ đó ổn định ở nơi này. Vì vậy, nhà Thương còn được gọi là nhà Ân. Hai nét căn bản của xã hội đời Thương là: Để cho đất sản xuất được nhiều, mùa màng trúng, người ta tế lễ và giết người, súc vật trong mỗi buổi tế. Các công trình khai quật ở An Dương từ 1950 chứng tỏ rằng số người bị hy sinh rất lớn, nhất là khi chôn cất nhà vua. Có một ngôi mộ, người ta khai quật được ở chung quanh trên 300 bộ xương người, có bộ được toàn vẹn, có bộ bị chặt đầu. Những bộ xương đó có thể là của hoàng hậu, cung phi, các hầu cận vua, vệ binh, đánh xe, một số quan tướng nữ, mãi đến thời nhà Hán mới gần hết; và người ta thay tuẫn táng người bằng những hình nộm đan bằng tre, hay những tượng lớn như người thật, bằng đá, gỗ hay đất nung; sau cùng bằng những hình nhỏ bằng đất nung và những đồ vàng giấy (đồ vàng mã) đốt trong đám táng. Tục đốt hàng mã đó, ngày nay ở các nước Đông Á vẫn còn. Lúc này bên cạnh các vua nhà Thương có nhiều lãnh chúa và quý tộc. Một trò giải trí thường ngày của họ là tổ chức các cuộc đi săn. Vua và quý tộc ở tại những ngôi nhà lộng lẫy với tường bằng đất nện hay gạch bằng đất nung trong khi những người dân thường tiếp tục sống trong những ngôi nhà hầm như hồi sơ khai. Vị vua nhà Thương là vị chủ tế cao nhất, và ông ta có một bộ máy hành chính quan lại, gồm các vị quan, các vị chủ tế cấp thấp hơn và những người coi việc bói. Cũng giống như những nền văn minh dựa trên chiến tranh khác, họ cũng bắt nô lệ, những người nô lệ phải lao động và trồng cấy. Phụ nữ trong nền văn minh nhà Thương phụ thuộc vào đàn ông, những người phụ nữ quý tộc có nhiều tự do và bình đẳng hơn so với phụ nữ thường dân. Trong triều đại nhà Thương, nền văn minh dọc sông Hoàng Hà đã đào những con ngòi dẫn nước tưới mùa màng. Các cộng đồng đã có rãnh thoát nước ra ngoài thành phố. Họ biết sản xuất bia từ kê. Họ mở rộng thương mại và sử dụng tiền dưới dạng vỏ ốc. Các thương gia đời Thương buôn bán muối, sắt, đồng, thiếc, chì và antimon, một số thứ trong số chúng được nhập khẩu từ các nước xa xôi. Tới đầu năm 1300 TCN một nền công nghệ đúc đồng đã phát triển. Công nghệ đúc đồng này muộn hơn so với châu Âu và Tây Á nhưng lại phát triển nhất trên thế giới. Khoảng năm 1300 trước Công Nguyên chữ viết đầu tiên được biết đã xuất hiện ở nền văn minh nhà Thương - họ đã phát triển chữ viết có hơn ba nghìn ký tự, một phần là tượng hình và một phần là tượng thanh (ngữ âm – "phonetic"). Loại chữ viết này được thể hiện trên những phần xương phẳng của gia súc hay xương hươu, trên vỏ sò và mai rùa và có lẽ trên cả gỗ. Chúng là những đoạn ghi chép liên quan đến việc bói toán tương lai. Bằng cách chọc một cái que nóng vào một cái xương hay vỏ sò, vật đó sẽ nứt ra, và những đường nứt biểu tượng cho các chữ cái sẽ cho biết câu trả lời cho rất nhiều câu hỏi: thời tiết sẽ thế nào, có xảy ra lũ lụt không, sẽ được mùa hay mất mùa, khi nào là thời gian thích hợp nhất để săn bắn và đánh cá, các câu hỏi về sức khoẻ hay thậm chí về thời điểm thích hợp để xuất hành. Người dân dưới nền văn minh Thương dường như cũng có sự thúc đẩy tôn giáo giống như những dân tộc khác. Họ coi các hiện tượng thiên nhiên là do nhiều vị thần sử dụng ma lực tạo ra, các vị thần được gọi là quỷ thần (Kuei-shen), một từ miêu tả ma quỷ hay linh hồn. Họ có một vị thần mà họ cho rằng làm ra mưa. Họ có một vị thần sấm và một vị thần cho mỗi quả núi, con sông và cánh rừng. Họ có một vị nữ thần của Mặt Trời, một nữ thần Mặt Trăng và một thần gió. Giống như các dân tộc trồng cấy khác, họ có một vị thần của sự phì nhiêu, màu mỡ. Họ tin rằng một vị thần cao cấp nhất ngự trị ở trung tâm thiên đường và trao thưởng cho những người có đạo đức tốt. Và các vị thần của họ có những khuôn mặt giống người châu Á hơn người châu Âu. Giống như các thầy tế ở Tây Á, các thầy tế của nhà Thương cũng hiến tế cho các vị thần của họ, đút lót cho họ, tin rằng các vị thần sẽ tạo ra sự rộng lượng, nhân từ hay cái xấu xa phép thuật. Việc lũ lụt xảy ra thường xuyên cũng như những tai ương khác khiến người dân nhà Thương tin rằng một số vị thần là tốt và một số khác làm điều xấu. Và họ tin rằng một vị thần xấu làm người ta đi sai đường và ăn thịt người. Người dân nhà Thương tin vào một thiên đường không nhìn thấy được mà con người sẽ được lên đó sau khi họ chết. Nhà Thương nói với thần dân của họ rằng thiên đường là nơi mà các vị vua triều đại trước của họ đang trú ngụ. Các nhà quý tộc rất quan tâm đến địa vị của mình và thường kiêu hãnh về nguồn gốc tổ tiên. Họ lưu giữ các bản gia phả dòng họ và coi tổ tiên là thần thánh có nguồn gốc từ một loài vật nào đó – các vị thần trở thành biểu tượng của dòng họ như những vật tổ tương tự với các dân tộc ở châu Mỹ. Người dân thường, trái lại, không có họ và phả hệ và không tham dự vào sự thờ phụng tổ tiên. Các nhà quý tộc tin rằng con người có một linh hồn được tạo ra từ khi thụ thai. Họ tin rằng linh hồn đó vừa vẫn cư trú trong thân người sau khi chết vừa đi lên một thế giới không nhìn thấy được nơi các linh hồn người chết trú ngụ. Các nhà quý tộc tinh rằng ở thế giới vô hình đó tổ tiên của họ sống trong triều đình của các vị thần và có quyền lực hướng dẫn và giúp đỡ con cháu trong hiện tại. Quý tộc coi tổ tiên cũng cần được ăn uống. Ở nơi mồ mả họ dâng thức ăn và rượu cho những người thân và tổ tiên đã qua đời - một lễ nghi mà chỉ đàn ông mới được phép tiến hành, điều này khiến họ rất cần sinh con trai trong gia đình. Họ tin rằng nếu việc thờ cúng bị gián đoạn, các linh hồn sẽ biến mất và các linh hồn chết đói, để trả thù, sẽ biến thành quỷ. Khi một vị quý tốc muốn có đặc ân từ tổ tiên, ngoài việc dâng cúng ông ta còn phải hiến tế súc vật. Nếu một vị vua muốn có đặc ân từ chúa trời, ông ta sẽ hiến tế bằng con người. Những lăng mộ vua nhà Thương được khai quật cho thấy họ có thể đưa ra trận từ ba đến năm nghìn binh lính. Các đồ vật chôn theo vua được tìm thấy là các đồ trang sức cá nhân và những cái giáo mũi đồng và những phần còn lại của những cái cung và mũi tên. Ngựa và xe ngựa cũng được chôn cùng với vua để chở lính ra trận. Và khi vị vua chết, người đánh xe, chó, người hầu và những nhóm mười người - những người bị chặt đầu trong lễ bái bằng rìu đồng cũng bị chôn cùng với vua. Khoảng giữa đời Thương, người Trung Hoa bắt đầu nuôi ngựa. Có ngựa rồi thì có chiến xa, chiến thuật đánh trận thay đổi hẳn. Chiến xa của Trung Hoa có nhiều liên quan với chiến xa của các nước Tây Á, có thể là từ các dân tộc Ấn-Âu cổ đại truyền sang. Không rõ chiến xa cuối đời Thương ra sao, nhưng chắc cũng không khác mấy so với chiếc xe đời Chu: Xe có hai bánh, một thùng xe hẹp, ngắn, bịt ở phía trước, mở ở phía sau. Phía trước có một cái gọng. Mỗi xa có bốn con ngựa, người đánh xe ngồi ở giữa cầm cương, bên trái là một chiến sĩ cầm cung, bên phải là một chiến sĩ cầm thương. Ngựa và ba người trên chiến xa đều mặc áo giáp bằng da thú. Có ba chiếc mộc bằng gỗ nhẹ đặt ở phía trước xe che chở cho ba người trên xe. Mỗi người còn đeo thêm một chiếc mộc. Thêm một vài khí giới nữa đặt ở tầm tay người cầm thương: vũ khí cán dài có mác, đinh ba bằng kim thuộc để móc, đâm quân địch. Người đánh xe và chiến sĩ đều ở giai cấp thượng lưu. Lính là thường dân, đi bộ, để chiến sĩ sai bảo: đào đất, bắc cầu, chăn ngựa, đốn cây, kiếm củ, chỉ đứng ở xa hỗ trợ. Vua thứ 30 nhà Thương là Trụ Vương hoang dâm vô đạo, bạo ngược tàn ác, mất lòng nhân dân và các chư hầu. Bộ tộc Chu ở sông Vị có lãnh chúa là "Tây Bá Cơ Xương" tài đức vẹn toàn, ngoài ra còn có tiềm lực về quân sự và kinh tế hùng mạnh nhất trong các chư hầu. Trụ Vương nhiều lần đã phái quân tướng triều đình tây chinh để trừ hậu họa nhưng không thành. "Tây Bá" Cơ Xương dù biết Trụ Vương vô đạo nhưng vẫn một mực giữ lòng trung, không khởi binh tướng xâm phạm. Cơ Xương mất truyền ngôi cho con trưởng, sau đó ngôi Vương được truyền lại cho người em Cơ Phát. Sau nhiều lần dẹp tan quân xâm lược, Cơ Phát đã tập hợp chư hầu đi đánh Trụ Vương, cứu muôn dân khỏi cảnh lầm than. Sau khi lấy được 5 ải biên thùy của nhà Thương, vào khoảng năm 1122 TCN, hai bên quyết chiến ở trận Mục Dã. Quân Trụ Vương tuy đông nhưng binh lính không có tinh thần chiến đấu cho bạo chúa nên nhanh chóng tan rã. Trụ Vương co cụm về hoàng cung, sau đó một mình lên Lộc Đài tự thiêu mà chết. Nhà Thương diệt vong. "Xem chi tiết:" Vũ Canh, Tống (nước) Cơ Phát lên ngôi vua (Chu Vũ Vương), phong cho con Trụ Vương là Vũ Canh ở đất Ân để giữ hương hỏa nhà Thương. Sau khi Vũ Vương chết, con là Thành Vương lên thay còn nhỏ. Vũ Canh thuyết phục được 3 người em Vũ Vương là Quản Thúc, Hoắc Thúc, Sái Thúc nổi loạn chống nhà Chu. Phụ chính nhà Chu là Chu Công Đán mang quân dẹp loạn, giết Vũ Canh và lập người tông thất khác nhà Thương là Vi Tử Khải làm vua nước Tống. Tống trở thành một chư hầu của nhà Chu, tồn tại đến thời Chiến Quốc, truyền nối được 34 vua thì bị nước Tề diệt (286 TCN). Một nhánh khác từ nước Tống dời sang nước Lỗ vào đầu thời Xuân Thu đổi làm họ Khổng, cháu 5 đời chính là đức Khổng Phu Tử thủy tổ của Nho giáo. Khổng Phu Tử truyền nối đến ngày nay trực hệ đã đến hơn 80 đời qua hơn 2500 năm có lẻ, con cháu ở rải rác khắp trên thế giới từ Âu sang Á từ Mĩ sang Phi. Thế phả nhà Thương.
Nhà Chu ( [tʂóʊ tʂʰɑ̌ʊ]) là triều đại phong kiến trong lịch sử Trung Quốc, triều đại này nối tiếp sau nhà Thương và trước nhà Tần ở Trung Quốc. Nhà Chu tồn tại lâu hơn bất cứ một triều đại nào khác trong lịch sử Trung Quốc, kéo dài khoảng 800 năm. Việc sử dụng đồ sắt cũng đã xuất hiện ở Trung Quốc trong thời kỳ này. Nhà Chu cũng là khoảng thời gian khi hệ thống chữ viết cổ xuất hiện trên các đỉnh đồng thời Tây Chu bắt đầu chuyển sang giai đoạn hiện đại, dưới hình thức những văn bản ghi chép cổ cuối thời Chiến Quốc. Bài viết này sử dụng niên đại dựa trên kết quả nghiên cứu của dự án "Hạ Thương Chu đoạn đại công trình". Dự án xác định địa điểm và khoảng thời gian (niên đại) của các triều đại là nhà Hạ, nhà Thương và Tây Chu dựa trên các kết quả xác định niên đại bằng cacbon phóng xạ, các phương pháp xác định niên đại của khảo cổ học từ các di chỉ khảo cổ học cũng như từ các mộ táng, phân tích các văn bản lịch sử trên giáp cốt văn và kim văn, các kết quả thiên văn, lịch pháp "Hạ Thương Chu đoạn đại công trình" không nhận được sự ủng hộ tuyệt đối từ các học giả và có thể có sai sót, song vì lý do đồng bộ hóa, bài viết này sẽ chỉ sử dụng duy nhất niên đại từ dự án này. Tên gọi nước "Chu" (周) có lẽ được vua Vũ Ất (#đổi ) của nhà Thương ban cho. Người nước Chu vốn thông thạo ngành nông nghiệp, nên chữ "Chu" trong Giáp cốt văn được viết thành chữ "điền" (田), có nghĩa là ruộng, bên trong được gieo hạt đầy đủ (). Trong Kim văn, chữ "Chu" lại được viết theo kiểu "thượng điền hạ khẩu" (), tức phía trên chữ "điền", phía dưới chữ "khẩu" (口), có nghĩa là miệng. Do vậy "Chu" ban đầu được dùng để chỉ tới một vùng đất có nền nông nghiệp phát triển. === Truyền thuyết khởi Chu là một bộ lạc sinh sống tại cao nguyên Hoàng Thổ vùng Thiểm Bắc vào thời nhà Thương. Theo truyền thuyết, thủy tổ nhà Chu khởi nghiệp từ đất Thai (nay thuộc tây Vũ Công, Thiểm Tây), tương truyền có tên là Khí, còn gọi là Hậu Tắc. Cơ Khí là con Đế Khốc, mẹ là con gái họ Hữu Thai tên là Khương Nguyên, vợ cả Đế Khốc. Cơ Khí sống vào đời vua Thuấn, được ban cho họ Cơ, tính đến đời Chu Văn Vương thì có tổng cộng 15 đời thủ lĩnh. Chu tộc vốn thường xuyên bị Nhung Địch quấy nhiễu mà phải di cư tới vùng đất khác. Vào giữa thời nhà Hạ, Công Lưu (#đổi ) dẫn dắt Chu tộc dời đến đất Bân (hoặc Mân) — nay thuộc vùng Tây Nam huyện Tuần Ấp tỉnh Thiểm Tây, thành lập thành trị và phát triển nông nghiệp. Đến đời Công Đản Phủ, vì bị các bộ tộc Khuyển Nhung tấn công thường xuyên, nên ông đã quyết định đưa bộ lạc của mình rời đất Mân để đến Chu Nguyên bên bờ sông Vị (nay là Kỳ Sơn, Thiểm Tây) vào khoảng triều đại vua Vũ Ất nhà Thương. Chu Nguyên sở hữu điều kiện tuyệt vời cho nông nghiệp, qua đó giúp nước Chu phát triển ổn định. Dưới triều vua Vũ Đinh (trước Vũ Ất khoảng 80 năm), giữa nước Chu và nhà Thương xảy ra chiến sự, và kết quả là nước Chu đã trở thành phiên thuộc của nhà Thương. Sau cái chết của Công Đản Phủ, con út Quý Lịch kế vị, người con cả là Thái Bá và con thứ hai là Trọng Ung vì thế đã rời Chu để đến vùng Thái Hồ khai khẩn rồi dựng nên nước Ngô. Sự trỗi dậy của nước Chu khởi đầu từ thời Quý Lịch (#đổi ). Ông thiết lập quan hệ hữu hảo với nước Ngô do Thái Bá và Trọng Ung sáng lập, đồng thời có công khai khẩn vùng Tấn Nam (này là khu vực tỉnh Sơn Tây). Quý Lịch kết hôn cùng Thái Nhâm là con gái nước Chí, qua đó giành được sự ủng hộ của hai phiên thuộc nhà Thương là nước Chí (nay là Bình Dư, Hà Nam) và nước Trù (nay là đông nam Lỗ Sơn, Hà Nam). Thừa dịp quốc lực nhà Thương suy yếu, Quý Lịch xua quân thảo phạt người Di Địch, kẻ thù nhà Thương, nhân đó phát triển lãnh thổ về vùng Thiểm Nam và Tấn Nam. Nhiều lần hỗ trợ nhà Thương đánh bại Nhung Địch, Quý Lịch được Thương vương Thái Đinh phong làm "Mục sư". Tuy nhiên, do lo sợ nước Chu phát triển quá mạnh mẽ, Thái Đinh đã hạ sát vị thủ lĩnh Chu tộc. Sau khi Cơ Xương, trưởng tử của Quý Lịch, lên ngôi kế vị, Thương vương Đế Ất vì muốn trấn an vị thủ lĩnh mới của Chu tộc nên đã đem em gái của mình gả cho Cơ Xương. Nhà Chu đoạt thiên mệnh. Vào thời sơ kỳ triều đại vua Đế Tân (tức Trụ Vương), Cửu hầu (còn gọi là Quỷ hầu), Vu hầu (còn gọi là Ngạc hầu) và Chu hầu (tức Cơ Xương, về sau được phong làm Tây bá) giữ chức là Tam công. Cửu hầu và Vu hầu bởi vì không được lòng Trụ Vương nên bị giết, Chu hầu Xương cũng vì liên quan nên bị tù đày ở ngục Dữu Lý. Chu hầu Xương về sau được bầy tôi dâng mỹ nữ, vật lạ cho Trụ Vương mới được thả về. Sau khi quay trở về, Cơ Xương được Đế Tân ban cho quyền lực chinh phạt phương tây, trở thành Tây bá Cơ Xương. Tây bá Cơ Xương sau khi trở về nước liền ra sức đoàn kết giới quý tộc cùng người trong nước, chiêu hiền đãi sĩ và ban hành các đạo luật để kiểm soát nô lệ. Nhằm hạn chế xung đột trực tiếp với triều đình nhà Thương, Cơ Xương chủ trương đoàn kết giữa các nước chư hầu, tiêu diệt người Nhung ở phía tây cùng các nước thân với triều đình, hoàn thành chính sách cô lập nhà Thương. Tây bá Cơ Xương trước tiên giải quyết tranh chấp giữa hai nước ở vùng Tấn Nam là Ngu và Nhuế, duy trì tuyến đường phía đông dẫn tới Trung Nguyên. Cơ Xương đánh bại Khuyển Nhung, phản kích cuộc tấn công của nước Mật Tu (nay là Linh Đài, Cam Túc) và thốn tính nước này để củng cố phía tây. Về phía đông, Cơ Xương xuất binh tiêu diệt nước Lê (黎, còn gọi là Kỳ 耆, nay là Lê Thành, Sơn Tây), Hàn (邗, còn gọi là Vu 于, nay là Thấm Dương, Hà Nam) cùng các tiểu quốc khác, qua đó củng cố khu vực Tấn Nam. Tiếp đó, Tây bá Xương khởi binh diệt nước Sùng (khu vực Vị Thủy, Hoàng Hà), phiên thuộc lớn nhất của nhà Thương, rồi dời đô đến Phong Ấp (nay là Tây An, Thiểm Tây). Năm 1059 TCN, trong một sự kiện thiên văn hiếm gặp, cả sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc lẫn sao Thổ giao hội trên bầu trời vùng Tây Bắc Trung Quốc. Người nước Chu xem đây là một điềm lành, cho rằng Cơ Xương đã đoạt được "thiên mệnh". Vào thời điểm này, nước Chu "ba phần thiên hạ có hai phần", chuẩn bị đại hội chư hầu tiến công kinh đô nhà Thương, Cơ Xương có lẽ đã xưng vương cùng năm đó, tức Chu Văn Vương. Tuy nhiên, Văn Vương đột ngột qua đời chỉ một năm sau khi nước Chu dời đô, con thứ hai là Cơ Phát lên nối ngôi, tức Chu Vũ Vương. Vũ Vương phạt Trụ. Với chiến thắng tại trận Mục Dã, Chu Vũ Vương đã đánh bại Trụ Vương lên ngôi Thiên tử. Chu Vũ Vương tiếp nối sự nghiệp đang còn dang dở của Văn Vương, ông bái Lã Vọng (tức Khương Tử Nha) làm thầy, lại dùng Chu công Đán, Triệu công Thích, Tất công Cao, Vinh bá làm tả hữu. Lúc bấy giờ triều đình nhà Thương đang rơi vào tình thế hỗn loạn, Đế Tân giết Tỷ Can, bỏ tù Cơ Tử, anh trai của Đế Tân là Vi Tử cũng hết sức can gián nhưng không được. Triều đình nhà Thương về mặt quân sự tuy tương đối thành công, nhưng cuộc chiến với nước Hoài của người Đông Di tiêu tốn quá nhiều quốc lực, tạo điều kiện cho nước Chu có cơ hội xuất binh diệt Thương. Năm 1046 TCN, Chu Vũ Vương dấy binh chống lại nhà Thương, tôn Lã Vọng làm thái sư, xuất binh Đồng Quan, cùng các chư hầu Tây Di (nay là các vùng thuộc Cam Túc, Tứ Xuyên và Hồ Bắc) hội binh tại Minh Tân (phía tây nam Mạnh Huyện, Hà Nam ngày nay). Chu Vũ Vương thừa dịp quân chủ lực nhà Thương còn đang tác chiến ở Đông Di đã hạ lệnh liên quân đông chinh tập kích thủ đô nhà Thương là Triều Ca (nay là Kỳ huyện, Hà Nam). Vào ngày Giáp Tử năm sau đó, quân Chu tập kích quân Thương đang đóng ở Mục Dã (nay là Tân Hương, Hà Nam). Đế Tân phải đối mặt với một cuộc tập kích bất ngờ từ quân Chu, chỉ có thể huy động nô lệ cấu thành một đội quân tạm bợ để nghênh chiến. Mặc dù hai tướng nhà Thương là Phi Liêm và Ác Lai ra sức kháng cự, song vẫn bị quân Chu đánh bại. Sau đó, khi Vũ Vương tấn công kinh đô Triều Ca, Đế Tân không còn đường nào khác, buộc phải lên Lộc Đài tự thiêu mà chết. Nhà Thương diệt vong, nhà Chu thành lập. Tiếp đó, Chu Vũ Vương hạ lệnh cho Lã Vọng cùng bốn lộ binh mã truy quét những tàn dư còn lại của Thương triều tại miền đông và miền nam, hoàn tất đại nghiệp chinh phục nhà Thương cùng các nước phiên thuộc của nó. Chu Vũ Vương sau khi diệt Thương đã cử hành buổi lễ chiến thắng tại Mục Dã và một buổi lễ tế thần đất tại Triều Ca để xoa dịu và hàng phục giới quý tộc Ân Thương. Để hợp pháp hoá công cuộc lật đổ nhà Thương cũng như để trấn an di dân cùng các nước phiên thuộc của nó, Chu Vũ Vương đã sử dụng khái niệm "Thiên mệnh". Vũ Vương thành lập ở phía đông sông Phong (沣水) một kinh đô mới có tên là Cảo Kinh (còn gọi là Tông Chu, thuộc Tây An, Thiểm Tây ngày nay). Ông quyết định xây dựng thêm Đông đô ở Lạc Ấp (còn gọi là Thành Chu, nay là Lạc Dương, Hà Nam), kỳ vọng trở thành thủ phủ chính trị, quân sự của khu vực Quan Đông. Để khống chế khu vực Quan Đông, nhà Chu đã thiết lập chế độ phong kiến, phong đất cho nhiều tông thất công thần ở phía đông làm phên dậu cho vua Chu. Phong Thái công Vọng đất Lữ (nay là Nam Dương, Hà Nam), Chu công Đán đất Lỗ (nay là Lỗ Sơn, Hà Nam), Triệu công Thích đất Yển (nay là Yển Thành, Hà Nam). Ba nước Lữ, Lỗ, Yển có vai trò bảo vệ Lạc Ấp. Lại phong Quản Thúc Tiên được phong đất Quản (nay là Quản Thành, Hà Nam), Sái Thúc Độ đất Sái (nay là Thượng Thái, Hà Nam), Hoắc Thúc Xử đất Hoắc (có thể là Lâm Nhữ, Hà Nam ngày nay) làm "Tam giám", nhằm kiểm soát các chư hầu phía Đông. Chu Vũ Vương biết lòng người còn nhớ nhà Ân, nên không làm tuyệt hương hỏa. Ông phong cho con Đế Ất là Vũ Canh tiếp tục cai trị đất Ân. Do các vùng xung quanh đất Ân còn chưa hoàn toàn thần phục nhà Chu, nên Chu Vũ Vương chia làm ba khu vực: phía bắc Triều Ca đến đất Bội do Hoắc Thúc Xử quản lý; phía đông Triều Ca là đất Vệ, do Quản Thúc Tiên quản lý; phía tây Triều Ca là đất Dung, do người em khác là Sái Thúc Độ quản lý. Vũ Vương cũng phục vị cho Vi Tử, phong cho đất Vi (nay là Vi Sơn, Sơn Đông). Các công thần khác cũng được phân đất phong hầu, như Đàn Bá Đạt được phong đất Hà Nội, tư khấu Tô Phẫn Sinh được phong đất Ôn (cộng thêm 22 ấp, nay là bờ bắc sông Hoàng Hà phong tước cho các hậu duệ triều đại trước, nhằm vỗ về trấn an các quý tộc ngoại tộc hùng mạnh. Chu Vũ Vương đã cố gắng ổn định vùng Quan Đông, nhưng vùng Ân Thương vẫn tồn tại nhiều bất ổn. Khoảng năm 1043 TCN, Chu Vũ Vương qua đời không lâu sau khi tiêu diệt nhà Ân, ấu tử Cơ Tụng lên nối ngôi kế vị, trở thành Chu Thành vương. Triều đại của Thành Vương và Khang Vương. Lúc bấy giờ, Chu Thành Vương (#đổi ) vẫn còn chưa trưởng thành nên người nắm giữ đại quyền là quan Đại tể Chu công Đán, chú của vua. Tuy nhiên, việc Chu công Đán nắm quyền không được các anh em trai là Thiệu công Thích, Quản Thúc Tiên và Sái Thúc Độ ủng hộ, do họ nghi ngờ ông có ý soán lập. Về phần Vũ Canh, vì người này muốn phục quốc nên đã liên thủ với Quản Thúc Tiên và Sái Thúc Độ, đồng thời hiệu triệu các nước chư hầu phía đông như nước Yêm (奄, nay là Khúc Phụ, Sơn Đông), Bồ Cô (薄姑, nay là Bác Hưng, Sơn Đông), Từ (徐, nay là đông nam Đằng Huyền, Sơn Đông), Hùng Doanh (熊盈, họ Doanh, tộc Hoài Di), cùng các nước Đông Di, Hoài Di khác phát động chiến tranh phản Chu, sử gọi là Loạn Tam giám. Chu công Đán với sự ủng hộ từ Thiệu công Thích đã tốn 3 năm để bình loạn: năm thứ nhất và năm thứ hai bình định Tam giám cùng Vũ Canh, năm thứ ba tiến hành chinh phạt các nước phiên thuộc ở phía đông. Chu Thành Vương còn đích thân xuất chinh cùng Chu công tiêu diệt nước Yêm. Chiến tranh kết thúc khi Chu công tiêu diệt các nước lớn như Bồ Cô và Phong Bá (có lẽ là nước Bàng 逄). Trong cuộc chiến lần này, Chu công đã giết Vũ Canh và Quản Thúc Tiên, đày ải Sái Thúc Độ, phế Hoắc Thúc Xử xuống làm thứ dân, tiêu diệt các nước Đông Di lớn như Yêm hay Bồ Cô và khiến nước Từ phải dời về khu vực mà ngày nay là Tứ Hồng, Giang Tô. Quyền lực nhà Chu cuối cùng đã được ổn định trở lại, cương vực mở rộng từ Trung Nguyên về phía đông và đông bắc. Để ổn định tôn thất nhà Chu và củng cố sự kiểm soát đối với vùng đất phía Đông, Chu công Đán đã phân đất phong hầu cho tôn thất các công hầu, xây dựng Lạc Ấp, thiết lập chế độ Lễ Nhạc, hoàn thiện chế độ phong kiến. Sau loạn Tam Giám, Chu công Đán cải phong cho Vi Tử Khải về đất Ân cũ, gọi là nước Tống, để trấn an lòng người vì một bộ phận dân chúng vẫn còn lưu luyến triều đình cũ. Các quý tộc Ân Thương hùng mạnh cùng những người đã từng tham gia cuộc phản loạn đều bị buộc phải chuyển đến Lạc Ấp. Hoàn tất nguyện vọng của Chu Vũ Vương, Lạc Ấp (còn gọi là Thành Chu, nay là Lạc Dương, Hà Nam) trở thành trung tâm chính trị và quân sự của phía đông. Về mặt quân sự, nhà Chu thiếp lập bát sư ở Lạc Ấp để chinh phạt Đông Di, Hoài Di cùng Nam Man, còn tại Cảo Kinh thì có lục sư bảo vệ Tông Chu (chỉ khu vực kinh đô). Triều đình nhà Chu phân đất phong hầu cho tông thất công hầu ở phía đông là để có thể kiểm soát về mặt chiến lược, kinh tế cũng như các tuyến đường giao thông quan trọng: Trưởng tử của Chu công Đán là Bá Cầm được phong đất Yêm, Từ cũ, gọi là nước Lỗ, đóng đô ở Khúc Phụ (nay là Khúc Phụ, Sơn Đông); Thái công Vọng Lã Thượng được phong đất Bồ Cô cũ lập ra nước Tề, định đô ở Doanh Khâu (nay là Xương Nhạc, Sơn Đông); phong cho trưởng tử của Thiệu công Thích là Khắc đất Yên xa xôi ở đông bắc, đóng đô ở Kế Thành (nay là Bắc Kinh); phong cho em trai Thành Vương là Thúc Ngu làm vua chư hầu nước Đường (sau đổi tên thành nước Tấn), định đô ở Đường (nay là Lâm Phần, Sơn Tây); cải phong em trai Thành Vương là Khang thúc Phong đất Ân Khư, lập nên nước Vệ, đóng đô ở Triều Ca. Vua chư hầu năm nước này đều có quan hệ thân thích, mật thiết với Chu Thành Vương, có nhiệm vụ trấn áp dân chúng Ân Thương, Đông Di. Trong đó, Tề, Lỗ, Yên là ba nước cấu thành phòng tuyến thứ nhất của nhà Chu ở phía đông, trong khi Vệ kiểm soát cố đô nhà Ân là Triều Ca. Ngoài ra, một số tôn thất nhà Chu khác như con của Sái thúc Độ là Trọng Hồ, vì được coi là người hiền đức nên vẫn được giữ đất Sái (nay là Thượng Thái, Hà Nam), con trai Hoắc Thúc Xử vẫn được giữ đất phong ở Hoắc (nay là Hoắc Châu, Sơn Tây). Việc huy động thực dân vũ trang còn tồn tại đến những năm cuối thời nhà Tây Chu. Sau khi Chu Thành Vương tự mình nắm quyền chấp chính, nhà Chu vẫn tiếp tục thực hiện các cuộc chinh phạt ra bên ngoài, chẳng hạn như ra lệnh cho quan Thái bảo đem binh đi đánh nước Lục (錄). Thành Vương qua đời, thái tử Chiêu lên nối ngôi, tức Chu Khang Vương (#đổi ). Trước lúc lâm chung, Thành Vương có cho triệu Thiệu công Thích cùng Tất công Cao đến, dặn giúp đỡ thái tử. Dưới sự phụ chính từ hai người, Khang Vương đã ban hành sách lược an dân. Về mặt đối ngoại, Vệ Khang bá được lệnh dẫn quân bát sư Ân bình định cuộc nổi loạn của người Đông Di, về phía tây dẫn binh chinh phạt người Di Địch Quỷ Phương. Để khai khẩn đất đai, mở rộng về phía đông nam, Chu Khang Vương đã tuần thú đến Cửu Giang, phân đất phong hầu cho Ngu hầu Trắc (虞候夨) ở đất Nghi (nay là Đan Đồ, Giang Tô). Ông tổ chức đại hội chư hầu ở Phong Cung (tức Phong Kinh). Thời kỳ Thành – Khang trở thành một trong những thời đại hoàng kim trong lịch sử Trung Quốc, sử gọi là "Thành Khang chi trị" (成康之治). Suy yếu nội bộ. Dưới thời Chu Chiêu Vương (#đổi ), nhà Chu chinh phạt nước Cối (鄶), Hổ Phương (虎方), tiếp tục khuếch trương về phía nam và đông nam. Ngoài ra, hai cuộc Nam chinh quy mô lớn mở rộng đến lưu vực sông Hán Thủy, phát sinh xung đột với Kinh Sở. Lần Nam chinh thứ nhất diễn ra vào năm thứ 16 đời Chu Chiêu Vương, khi đó nhà vua vượt sông Hán Thủy chinh phạt nước Sở và giành chiến thắng. Theo chữ khắc trên "Thế ngự quỹ" (𤞷馭簋) và "Quá bá quỹ" (過伯簋), các nước phương nam xâm phạm lãnh thổ nhà Chu, Chu Chiêu Vương xuất quân chinh phạt Kinh Sở, cuối cùng đã hàng phục được khoảng 26 nước Nam Di và Đông Di, thu về một lượng lớn đồng làm chiến lợi phẩm. Lần Nam chinh thứ hai diễn ra vào năm thứ 19, khi đó Chu Chiêu Vương đi thuyền trên sông Hán Thủy thì gặp nạn. Có ý kiến cho rằng Chiêu Vương đã chết đuối khi đang làm lễ tế để vượt sông Hán, có thể là do sập cầu (có thể đã bị tập kích khiến cầu phao bị hư hại). Một số khác lại cho rằng, quân Chu sử dụng thuyền được gắn bằng nhựa cây do dân bản xứ cung cấp, khi ra đến giữa sông thì nhựa cây bị rã ra nên chết đuối. Cuộc chiến với nước Sở và cái chết của Chiêu Vương gây tổn thất lớn cho nhà Chu. Vào thời Xuân Thu, chuyện Chiêu Vương chết được dùng làm lý do để nước Tề tuyên chiến với nước Sở. Đối với việc đối tượng của cuộc nam chinh thời Chiêu Vương có phải là nước Sở hay không, các học giả ngày nay đưa ra nhiều kiến giải khác nhau. Nhà Chu coi tất cả đất đai trong thiên hạ đều thuộc về Trời, và vua nhà Chu chính là Thiên tử, tức là "con của Trời", vì vậy tất cả đất đai và dân cư đều thuộc về vua nhà Chu. Đây cũng là nguồn gốc của khái niệm "Thiên mệnh", tức là nhà vua cai trị thiên hạ chính là ý muốn của Trời, chống lại nhà vua cũng chính là chống lại ý Trời, là tội đáng trừng trị nặng nhất. Đây là những quan niệm mà mọi triều đại phong kiến ở Trung Quốc sau này đều kế thừa. Thấy rằng đất đai mình chinh phục được quá rộng lớn để một người có thể cai trị, các vua nhà Chu đã chia đất đai thành những vùng và chỉ định một người nào đó để cai trị vùng đó dưới danh nghĩa của mình (chư hầu), lựa chọn một người thân trong họ, một người có thể tin tưởng trong bè cánh, hay vị thủ lĩnh một bộ lạc đã cùng họ chống lại nhà Thương. Chu Vũ vương nhớ công lao các vua đời trước, ông phong cho con cháu họ làm chư hầu: Để thưởng công cho các tướng sĩ có công phò trợ diệt Thương, ngoài ba người em trai đã phong làm "Tam giám", ông phong chư hầu cho các công thần, trong đó các nước lớn là: Chính sách của nhà Chu khá tương đồng với mô hình chính trị Châu Âu thời Trung cổ, trong đó có rất nhiều tiểu quốc chư hầu được thành lập, vua của nước chư hầu phần lớn đều do con cháu của thiên tử nắm quyền, nước chư hầu có quyền tự trị và có trách nhiệm trung thành với vua nhà Chu. Các lãnh đạo, hay vua của các tiểu quốc đó đều nhận tước hiệu của vua nhà Chu. Hầu hết các nước chư hầu đều được thành lập và thụ phong tước Hầu hay tước Tử trong thời Tây Chu, xem như họ đều là cánh tay nối dài của gia đình Chu Vũ Vương. Chỉ trừ một số ít chư hầu khác là được thành lập dưới tiền triều Thương, như nước Trần, nước Kỉ và nước Tống. Mỗi vị vua chư hầu có quyền sắp đặt mọi vùng đất quanh mình và có lực lượng quân đội riêng. Và nhà Chu ban cho họ những quà tặng như xe ngựa, vũ khí bằng đồng, người hầu và súc vật. Các vị tù trưởng này được phong các tước vị và cai quản vùng lãnh địa của mình như một tiểu quốc thần phục nhà Chu. Những vị vua địa phương này truyền ngôi cho con trai mình và tước vị của họ là cha truyền con nối. Và để cai trị vùng đất của mình tốt hơn, vị chư hầu đó lại phong những tước nhỏ hơn cho những người đã từng cầm đầu các nhóm dân ở nơi đó trước khi họ đến. Một hệ thống thứ bậc địa vị và trách nhiệm xuất hiện giữa và bên trong các gia đình, với việc anh lớn thì có quyền cao hơn em, với quy tắc kế tục theo đó những người đàn ông sẽ làm chủ gia đình. Nếu một người quý tộc đã có gia đình mà lại thích một người đàn bà khác, thay vì đuổi vợ khỏi nhà, ông ta có thể đưa người đàn bà kia vào trong gia đình với tư cách vợ lẽ, với cấp bậc thấp hơn vợ mình. Các vị vua sáng lập nhà Chu đã tuyên truyền với những người bị mình chinh phục rằng nhà Chu đã đuổi tiền nhân các vua nhà Thương khỏi thiên đường và thiên đường đã bị vị thần tối cao của họ chiếm, vị thần mà họ gọi là "Thượng đế", người, theo họ nói, đã ra lệnh cho sự sụp đổ của nhà Thương. Giống như ở vùng Tây Á, các vua Chu tuyên bố rằng họ cai trị bằng quyền lực thần thánh. Họ tuyên bố mình là Thiên Tử, hiện thân trên mặt đất của "Thượng đế" và nhiệm vụ của họ là làm trung gian với Thượng đế, để thực hiện các cuộc hiến tế thích đáng và giữ gìn quan hệ tốt giữa thiên đường và thần dân của họ. Họ tuyên bố rằng bất kỳ một sự chống đối nào với sự cai trị của họ là chống đối lại ý muốn của trời. Phong kiến phân quyền. Vua Chu chỉ nắm quyền trung ương ở Cảo Kinh (gần Tây An ngày nay), còn thì chia đất cho các chư hầu. Phong kiến có nghĩa là vua phong tước cho một bầy tôi (hoặc là một người trong họ nhà vua, hoặc là một công thầ) và cho người đó một khu đất để người đó kiến quốc (lập nước). Người đó thành một chư hầu của vua. Theo nguyên tắc thì đất của vua (vương) tức thiên tử được vạn dặm vuông và có vạn cỗ chiến xa (vạn thặng); dưới vương có năm tước: "công, hầu, bá, tử, nam". Đất phong của hai bậc công và hầu được ngàn dặm vuông, có ngàn cỗ chiến xa (thiên thặng); bậc bá được bảy chục dặm vuông, có trăm cỗ chiến xa; hai bậc tử, nam được năm chục dặm vuông, năm chục cỗ chiến xa. Tất cả những nước nhỏ đó gọi chung là chư hầu; mỗi chư hầu sau lại sáp nhập thêm một hay nhiều nước nhỏ, gọi là phụ dung, tức là chư hầu của chư hầu. Tất cả các nước đó đều làm phiên dậu cho nhà Chu, và dựng một hay nhiều đồn trên đất của mình. Mỗi đồn lớn hay nhỏ là một thị trấn có luỹ bằng đất bao quanh, và hai đường chữ thập cắt ngang từ đông sang tây và từ bắc xuống nam. Chung quanh đồn là nhà của dân chúng mà người ta gọi là "lê dân" (dân tóc đen); còn giới quý tộc sống trong đồn thì gọi là "bách tính" (trăm họ); danh từ bách tính thời sau mới có nghĩa là dân thường. Thời Chu, chỉ giới quý tộc mới có tên họ vì tổ tiên thuộc một thị tộc nào đó; thường dân thường không có tên họ, lấy tên nghề làm tên họ, như tổ tiên làm đồ gốm thì lấy họ là Đào, tổ tiên đánh giặc, thì lấy họ là Tư Mã. Nguyên tắc là vậy, nhưng thời đó đo đạc chưa thống nhất, những số trăm dặm, bảy chục dặm chỉ là phỏng chừng, thiên tử muốn giữ bao nhiêu đất cũng được, và những công, hầu mạnh lên muốn mở mang bờ cõi cũng được. Vả lại, trừ những biên giới thiên nhiên như sông, núi, còn trong rừng và cánh đồng thì làm sao vạch được biên giới, chỉ đắp một mô đất (gọi là phong 封) để đánh dấu mà thôi. Cho nên uy quyền của một chư hầu lan tới đâu thì đó là biên giới. Bổn phận của chư hầu là 1-2 năm một lần phải lại triều cống thiên tử - cống phẩm là sản vật trong nước - trình bày về tình hình cai trị trong nước; có sự xích mích gì với lân bang thì không được tự giải quyết lấy bằng vũ lực mà phải để thiên tử xử; khi chư hầu chết, truyền ngôi lại cho con thì phải được thiên tử chấp nhận. Ngược lại, bổn phận của thiên tử là phải che chở, giúp đỡ các chư hầu: nước nào bị ngoại tộc xâm lăng thì đem quân lại cứu; nước nào mất mùa thiên tử cũng phải cứu trợ. Và 5 năm một lần, thiên tử đi thăm hết các chư hầu một lượt, dĩ nhiên là chỉ tới những nước lớn rồi bảo các nước nhỏ tới họp để cùng tế lễ thần núi (ngũ nhạc) và nghe các nguyện vọng của họ. Tới đâu thiên tử cũng cho mời các bô lão cao tuổi nhất lại chúc mừng và thăm hỏi về dân tình. Dân tộc Trung Hoa đã có tục trọng người già vào thời đó. Thiên tử lại quan sát các sản phẩm trong nước, nghe các bản nhạc, các bài hát trong các cuộc tế, lễ ở mỗi triều đình, các bài ca dao trong dân gian và sai người chép lại, để biết phong tục mỗi nơi, đời sống, nguyện vọng của dân. Những bài hát trong dân gian đó được Khổng Tử sau này sưu tập thành bộ Kinh Thi, nhờ vậy đời sau biết được khá đúng những tục lệ, nỗi vui buồn, lo lắng, oán thán và tình yêu giữa nam nữ Trung Hoa của 3.000 năm trước. Thời kỳ Tây Chu, chế độ phong kiến đó có nhiều điểm tốt: Lý thuyết thì như vậy, nhưng trên thực tế sự tốt đẹp kéo dài được gần 300 năm rồi sau đó suy tàn dần, hoá ra vô hiệu khi quyền lực Thiên tử suy yếu vào thời Đông Chu. Bộ máy quan lại. Đời Chu, triều đình đã có bốn chức như chức thượng thư đời sau: tư mã coi việc binh, tư khấu coi việc hình, tư đồ coi về canh nông, tư không coi về dân sự, ruộng đất, đê điều, đường sá... (tức như bộ công thời sau). Chưa có hai bộ: bộ lại và bộ hộ, vì chưa cần thiết, có thể giao cho những quan nhỏ. Ngoài ra có một chức coi về việc riêng của vua "(trủng tế)"; một chức coi về việc ăn uống của vua "(thiện phu)"; một chức coi về kho lẫm "(truyền phủ)"; một chức dạy thái tử "(sư phó)"; có một quan coi các hoạn quan nữa. Ở triều đình có ba chức quan nhỏ: Chức coi về thiên sự, tế lễ, lịch; Thái bốc coi về bó; và Sử coi về nhân sự, chép lại việc các đế vương đời trước, để lưu truyền những điều các tiên vương đã đặt ra. Những Kinh, Thi, Thư, Lễ, Nhạc đều do sử quan làm ra. Thời đó, không dân tộc nào chép sử kỹ như Trung Hoa. Ngoài kinh đô, nước chia ra làm châu, rồi tới quận, lý (làng), giao cho đại phu hoặc kẻ sĩ cai trị. Nông nghiệp thời nhà Chu đã rất tập trung và trong nhiều trường hợp được chỉ đạo từ nhà nước. Tất cả đất đai trồng trọt đều thuộc sở hữu quý tộc, các quý tộc trao lại đất đai cho các nông nô của mình. Ví dụ, một mảnh đất được chia làm chín miếng vuông, hình chữ tỉnh (井), gọi là phép tỉnh điền, thu hoạch từ mảnh đất nằm chính giữa thuộc về nhà nước, ở những mảnh xung quanh thuộc về các nông dân. Theo cách này, nhà nước có thể tích trữ lương thực thặng dư (như gạo) và phân phối chúng ở thời đói kém hay mất mùa. Một số lĩnh vực sản xuất quan trọng thời kỳ này gồm chế tạo đồng, vũ khí và công cụ sản xuất nông nghiệp. Những ngành này thuộc quyền quản lý của tầng lớp quý tộc. Nhà Chu cho phép trưng binh. Lính, chiến xa, ngựa, bò, dân phải nộp cho nhà nước theo định số. Quân đội chia làm ngũ (năm người lính), lượng (năm ngũ) do một tư mã cai quản, tốt (bốn lượng), lữ (năm tốt), sư (năm lữ) do một đại phu làm suý cai quản, quân (năm sư) do một viên tướng cai quản. Theo nguyên tắc, thiên tử có sáu quân (mỗi quân có 12.500 người), chư hầu có ba, hai hoặc một tuỳ theo nước lớn hay nhỏ. Nguyên tắc đó ít khi được tuân theo. Pháp chế của thời đó phân biệt hai giai cấp: quý tộc (đại phu) và dân thường (thứ dân). Quý tộc mà phạm tội thì xử theo lễ, nghĩa là theo tục lệ của giới quý tộc; dân thường mà phạm tội mới bị triều đinh xét theo hình luật, tội nặng nhất thì bị nhục hình khắc chữ trên trán, cắt mũi, chặt chân, thiến, xử tử, xé thây, lăng trì, tru di tam tộc (họ cha, họ mẹ, họ vợ). Tội nhẹ hơn thì bị gọt đầu, hay đồ (đày đi xa). Hình luật mới đầu không được ban bố trong dân gian, như vậy triều đình muốn áp dụng ra sao tùy ý, dân không được biết; dần dần về sau, mới được khắc lên đỉnh đồng cũng chỉ để ở trong cung thôi, rồi khắc lên gỗ treo ở kinh đô và các thị tứ. Từ đời Thương, Trung Hoa đã có chữ viết, mới đầu khắc trên giáp cốt, lên đồ đồng; rồi sau, từ đầu đời Chu khắc bằng dao hoặc viết bằng sơn lên thẻ tre; sau nữa lại viết bằng sơn trên lụa. Có chữ viết thì có trường học, chia làm hai cấp: tiểu học cho những trẻ từ 8 đến 14 tuổi, đại học cho thiếu niên từ 15 đến 20 tuổi. Tiểu học dạy cho trẻ cách ứng đối, kính nhường và học một số chữ. Đại học dạy lục nghệ tức lễ, nhạc, xạ (bắn cung), ngự (đánh xe), thư (viết chữ), số (toán học). Con nhà bình dân thì học ở hương học (trường ở làng), con nhà quý tộc học ở trường quốc học (kinh đô). Sử chép như vậy, nhưng đầu đời Chu có lẽ chỉ con nhà quý tộc mới được học cấp đại học, biết lục nghệ để sau ra làm quan, còn con bình dân thì may lắm một số rất ít được học vài năm ở tiểu học thôi. Tới gần cuối đời Xuân Thu, Khổng Tử là người đầu tiên mở trường tư thục để dạy trẻ em và thanh niên bất kỳ thuộc giai cấp nào. Có thể ông cũng dạy lục nghệ, nhưng ông chú trọng nhất tới sự đào tạo một số thanh niên ưu tú, dạy họ Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc (có thể cả Kinh Dịch nữa), để họ thành những người tài đức thay giai cấp quý tộc mà giúp vua chúa. Một số môn sinh của ông đã giúp các vua và đại phu đương thời, thành những kẻ sĩ có danh vọng. Sau ông, môn đệ của ông gần thì như Tăng Tử, xa thì như Mạnh Tử (học trò của cháu nội ông, Tử Tư), Tuân Tử và nhiều nhà khác như Mặc Tử... noi gương ông mở trường dạy học, đào tạo được giai cấp kẻ sĩ; giai cấp này càng ngày càng đông, uy tín càng tăng, chiếm được những địa vị cao trong chính quyền, qua đời Hán thì gần như thay thế hẳn giai cấp quý tộc ở triều đình, trong dân gian. Vì vậy chế độ huyết thống sớm chuyển qua quý tộc trí thức 2.000 năm trước phương Tây, khiến người phương Tây rất ngạc nhiên và rất phục, khen văn minh Trung Hoa là vô cùng độc sáng. Người có công đầu là Khổng Tử; ông được xưng tụng danh hiệu Vạn thế Sư biểu. Bắt đầu từ thời các vua nhà Chu, các vị thủ lĩnh địa phương nhận được quyền hành động như các thầy tế: để thực hiện hiến tế, để cho phép hát một số loại bài hát và một số điệu nhảy, quyền cúng tế các vị thần núi sông ở địa phương, các dòng suối và đất và mùa màng. Tuy nhiên, các quý tộc địa phương tiếp tục đi theo di sản của ông cha để lại. Họ lấy vợ bằng những nghi thức tôn giáo và sự ghi chép gia phả, trong khi dân thường vẫn tiếp tục kiểu lấy vợ thời cổ, không có họ hay có gia phả. Họ chỉ đơn giản sống với nhau và được công nhận là một cặp bởi những người hàng xóm. Giống như ở Ấn Độ và Tây Á, cùng với thời gian có một sự pha trộn giữa các tôn giáo của kẻ chinh phục và kẻ bị chinh phục. Những vị cai trị nhà Chu chấp nhận vào danh sách thần thánh của mình một số vị thần của nền văn minh Thương. Sự cúng tế nhiều vị thần từ thời nhà Thương vẫn được tiếp tục, gồm cả vị thần mùa màng, mưa và nông nghiệp - một trong những vị thần này được tin rằng được sinh ra từ một bà mẹ trinh trắng. Trong số các vị thần đó có vị thần sông Hoàng Hà, người có thân cá nhưng có mặt người. Trong nền văn minh Chu, con người tiếp tục cố gắng làm dịu các vị thần bằng cách cúng tế. Những người có khả năng thì hiến tế bằng gia súc, cừu, lợn hay ngựa. Việc hiến tế bằng người giảm bớt so với thời nhà Thương, nhưng nhà Chu có cả vợ và bạn bè ở trong mộ, và mỗi năm một cô gái trẻ bị cúng làm cô dâu cho thần sông. Việc hiến tế này bắt đầu bằng việc những bà đồng cốt lựa chọn một cô gái đẹp nhất có thể. Mặc cho cô ta đồ satin, tơ và đeo trang sức và đặt lên một cái giường cưới trên một cái bè. Họ tống cái bè xuống sông. Cái bè sẽ chìm và cô gái chết đuối, coi như là một đồ hiến tế cho thế giới vô hình của vị thần sông. Chư hầu nhà Chu. Phiên bang Nhà Chu Bản đồ các nước chư hầu của Nhà Chu. Chế độ tông pháp. Chế độ lập đích tử từ đó được Chu Công, em của Vũ Vương, quy định, rồi dần dần ngày càng được hoàn thiện, bổ sung; trong sử gọi là tôn (cũng đọc là tông) pháp: (宗法). Vua (thiên tử hay chư hầu) lựa một người con mà truyền ngôi cho - theo nguyên tắc đích tử là con trưởng của hoàng hậu - chỉ người đó được làm thiên tử hay vương còn những người khác thì lãnh những tước nhỏ hơn, lãnh địa cũng nhỏ hơn, hoặc làm chư hầu, hoặc làm khanh, đại phu. Người con kế vị đó được gọi là tự vương hay tự quân, làm chủ tế trong tôn miếu; những người con khác chỉ làm bồi tế. Sự tiếm vị bị coi là một tội nặng. Các gia đình đại phu cũng vậy: người con kế nghiệp làm chủ tế, gọi là "đại tôn", những người khác làm tiểu tế, gọi là "tiểu tôn". Có những thể chế quy định từng chi tiết trong các cuộc tế đó. Trong gia đình thường dân, người con trưởng luôn luôn được hưởng gia tài, giữ việc hương khói. Địa vị người đó quan trọng nhất trong nhà nhưng trách nhiệm cũng lớn nhất: lo cho mọi người trong nhà đủ ăn đủ mặc, dạy bảo người dưới, chịu sự chê trách của dòng họ, xã hội nếu trong gia đình có kẻ nghèo đói hoặc hư hỏng, làm nhục tổ tiên. Ngược lại, người đó và cả vợ nữa, được người trên nể, người dưới tuân lời. Khi em còn nhỏ, ở chung nhà thì anh có quyền thay cha (đã mất); em lớn rồi, ra ở riêng, may mà giàu có, sang trọng hơn anh thì về nhà vẫn phải lễ phép với anh, có bổn phận giúp đỡ anh, mà không được khoe giàu sang trước mặt anh. Con gái không được quyền thừa kế, ra ở riêng rồi thì không còn địa vị gì trong nhà nữa, thành người của gia đình bên chồng (nữ nhân ngoại tộc), do vậy có câu "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô". Tổ chức đại gia đình đó rất thích hợp với chế độ nông nghiệp để đất đai của gia đình không bị phân tán vào tay người ngoài, mà sự khai thác chung được dễ dàng, sự tiêu pha đỡ tốn kém. Nó tạo nên tinh thần gia tộc: giúp đỡ lẫn nhau, giữ danh dự chung cho nhau. Nhưng nó cũng gây nhiều sự bất công, bất bình nếu người gia trưởng tư cách không đàng hoàng, ăn bám. Muốn cho chế độ tôn pháp được vững, nhà Chu rất đề cao hiếu đễ: con phải hiếu với cha mẹ, kẻ dưới phải tôn kính người trên. Nhờ vậy ai cũng nhận rằng dân tộc Trung Hoa là dân tộc coi trọng chữ hiếu nhất. Vì trọng chữ hiếu, nên họ chú trọng đến tang lễ, tế tự. Sự thờ cúng tổ tiên gần thành một tôn giáo. Mệnh Trời (Thiên Mệnh). Nhà Chu cũng phải tranh đấu với tính hợp thức về sự cai trị của họ. Để thuyết phục thần dân, đặc biệt là các quý tộc, về tính chính đáng của quyền lực của mình, nhà Chu lập ra một hệ thống quyền lực mới mà họ gọi là "Thiên mệnh" (t’ien ming), hay "Sự uỷ nhiệm của Trời". Khái niệm này vẫn là một phần trong bề ngoài của những lý thuyết về quyền lực ở Trung Quốc. Nhà Chu định nghĩa quyền làm vua như một vị trí trung gian giữa trời và đất; đặc tính của vua hay chúa tể, "vương" thể hiện hùng hồn điều này. Chữ biểu ý của nghĩa này gồm ba đường ngang và một nét sổ dọc. Điều này thể hiện sự kết nối giữa trời (ở trên) và đất (ở dưới). Mối quan hệ này được thể hiện gián tiếp bởi chúa tể hay nhà vua (đường ngang ở giữa). Trời ("thiên") muốn rằng con người sẽ có được mọi thứ nhu cầu của mình, và vị vua, theo ý của "thiên mệnh" được chỉ định bởi trời để coi sóc sự thịnh vượng của mọi người dân. Đây là một "Chiếu chỉ" hay "Sự uỷ nhiệm" của trời. Nếu vị vua chúa trở nên ích kỷ hay không thể chấp nhận được, không thể chăm sóc người dân, trời bãi bỏ sự uỷ nhiệm của mình và trao cho người khác. Cách duy nhất để biết được sự uỷ nhiệm đã được thông qua là lật đổ vị vua chúa đó; nếu việc lật đổ thành công, thì sự uỷ nhiệm đã được trao cho người kia, nhưng nếu thất bại, thì sự uỷ nhiệm vẫn thuộc về nhà vua. Mệnh Trời có thể là khái niệm về mặt chính trị và xã hội bị chỉ trích nhiều nhất trong văn hoá Trung Quốc. Nó giải thích những thay đổi trong lịch sử, nhưng cũng cung cấp một lý thuyết đạo đức sâu sắc về triều đình dựa trên sự vị tha cống hiến của người cai trị đối với lợi ích đại chúng. Quan niệm này cũng tái tạo lại quan niệm Trung Quốc về Trời, vốn bắt nguồn từ khái niệm trước đó về một "Thượng đế", ("Shang-Ti") thành một lực lượng cai trị vũ trụ đạo đức. Chính khía cạnh đạo đức này của Trời và "Mệnh Trời", đã ảnh hưởng đến khuynh hướng chung của văn hoá và triết học Trung Quốc, có lẽ chú trọng tới đạo đức và các vấn đề xã hội – hơn là những nền văn hoá cổ khác. Năm 771 TCN, khi Chu U Vương phế truất Thân hậu để đưa Bao Tự lên thay thế, kinh đô nhà Chu đã bị các lực lượng du mục phía đông bắc tràn vào cướp phá do sự xúi giục của Thân Hầu (cha Thân hậu). U vương bị giết và con cả là thái tử Nghi Cữu được các quý tộc chư hầu Trịnh, Tấn, Tần đưa lên làm vua, tức là Chu Bình Vương, dời đô về phía đông năm 771 TCN tới Lạc Dương, tỉnh Hà Nam hiện nay. Từ đây bắt đầu giai đoạn Đông Chu, và chỉ kết thúc khi bị nhà Tần lật đổ vào năm 256 trước Công Nguyên; trong lịch sử Trung Quốc, giai đoạn này được gọi là "Thời Xuân Thu" (771-403 TCN) và "Thời chiến quốc" (403-256 TCN). Sự phân chia này dựa trên một bộ sử biên niên của Khổng Tử, bộ Kinh Xuân Thu. Bộ này chép sử nước Lỗ từ năm thứ nhất đời Lỗ Ấn Công (722 TCN) đến năm thứ 14 đời Lỗ Ai Công (481 TrCN), gồm 240 năm, năm 479 là năm Khổng Tử mất. Nhiều học giả thấy năm 722 và năm 480 (hoặc năm 479) không đánh dấu một biến cố lớn lao nào trong lịch sử, nên đã chia lại như sau: Thời kỳ này của nhà Đông Chu cũng được coi là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của tư tưởng và văn hoá Trung Quốc trong lịch sử. Chính trong giai đoạn cai trị này của nhà Đông Chu mà những nhà tư tưởng lớn nhất đã sáng tạo ra những quan niệm khởi đầu về triết học, đạo đức, học thuyết chính trị và văn hoá Trung Quốc. Nội loạn thời Xuân Thu. Ở giai đoạn Xuân Thu (771-403 TCN), Trung Quốc dần bị chia cắt thành một loạt các tiểu vương quốc do các vua chư hầu tự cai trị. Các vua chư hầu chỉ thần phục vua nhà Chu trên danh nghĩa, còn thực tế thì họ tự cai trị mà không cần để ý đến mệnh lệnh của nhà Chu, vua nhà Chu không còn giữ được quyền kiểm soát các tiểu quốc của mình. Nhược điểm của thể chế phong kiến phân quyền lúc này phát tác: Bởi vì sự không ổn định của các tiểu quốc đó, và bởi vì sự xâm lấn lãnh thổ của các rợ du mục phía nam, các tiểu quốc phải liên minh với nhau và chấp nhận một số vị bá chủ trên "lãnh thổ" của họ. Vì vậy thời Xuân Thu là một giai đoạn nguy hiểm và không chắc chắn nhất, trong đó lãnh thổ bị chuyển dịch tới lui, các cuộc xâm lấn thường xuyên xảy ra và các liên minh được lập lên rồi lại giải tán với sự nhanh chóng đáng kinh ngạc. Từ khi dời đô sang phía Đông, quyền lực của triều đình Chu dần giảm sút: tốc độ tan rã các vương quốc tăng lên. Từ thời Bình Vương về sau, các vua nhà Chu chỉ còn cai trị trên danh nghĩa, quyền lực thực sự nằm trong tay các chư hầu hùng mạnh. Các chư hầu đánh nhau để giành lấy ngôi bá chủ, điều khiển các chư hầu khác thay vai trò của nhà Chu, dù trên danh nghĩa họ vẫn mượn tiếng nhà Chu để điều khiển các chư hầu khuất phục. Trong thời Xuân Thu xuất hiện các chư hầu mạnh nối nhau làm bá chủ, gọi là Ngũ Bá (có vài thuyết khác nhau quan niệm về Ngũ Bá). Năm 704 TCN, Hùng Thông, quân chủ nước Sở trở thành chư hầu đầu tiên xưng vương ngang hàng với thiên tử nhà Chu. Năm 403, ba họ lớn nước Tấn truất ngôi vua nước Tấn, chia nước này thành ba nước (三家分晉): Hàn, Triệu, và Ngụy. Vua nhà Chu bất lực không trừng trị được, lại còn công nhận việc đó. Sử gia Tư Mã Quang nhận định việc nhà Chu công nhận 3 họ chia nhau nước Tấn là một sai lầm, tạo ra tiền lệ kẻ dưới tiếm vị kẻ trên, chút vị thế còn lại của nhà Chu cũng mất hết: "Kinh Xuân Thu hạ thấp chư hầu, đề cao vương thất, vì Thiên tử tuy thế yếu, nhưng theo thứ tự vẫn ngồi trên chư hầu, mới thấy thánh nhân đối với thứ tự vua tôi không hề qua quí" "Than ôi, U Vương, Lệ Vương thất đức, đạo nhà Chu ngày càng suy, cương kỷ băng hoại — dưới chà đạp trên, chư hầu tự chuyên chinh phạt, Đại phu chuyên quyền — đại thể của lễ mười phần đã mất đi bảy tám; nhưng các quân vương nối nghiệp Văn Vương, Võ Vương vẫn đều đều nối ngôi nhau là nhờ con cháu nhà Chu vẫn còn biết giữ danh phận mình vốn có... Nhờ thế đất đai nhà Chu dù chẳng lớn bằng Tào, Đằng, dân chúng nhà Chu dù chẳng nhiều bằng Chu, Cử, nhưng suốt mấy trăm năm, vẫn là tông chủ thiên hạ, tuy hùng mạnh như Tấn, Sở, Tề, Tần vẫn không dám đặt mình trên nhà Chu, vì sao? Chỉ vì dựa vào danh phận sẵn có vậ, chia nhau đất đai nước Tấn, Thiên tử đã chẳng trừng trị, còn ban thưởng vị cao, cho đứng vào hàng chư hầu, chính là còn vỏn vẹn chút danh phận lại không biết giữ mà vứt hết đi. Đạo lễ tiên vương nhà Chu thế là dứt vậy!" "Than ôi! Đạo lễ quân thần mà hủy hoại, thì thiên hạ dùng trí lực tranh cường, khiến những nước chư hầu là con cháu thánh hiền, xã tắc tông miếu chẳng đâu không bị diệt vong, chúng dân bị dày xéo, giết chóc bằng hết, há chẳng đau xót lắm sao!" Tới thời Chiến Quốc (sau năm 403), các chư hầu thậm chí còn không cần biết tới sự cai trị chỉ mang tính biểu tượng của các vua Chu và tự xưng vương như vua nhà Chu. Chiến tranh giữa các chư hầu tàn khốc hơn, quy mô lớn hơn vì một loạt nước nhỏ thời Xuân Thu đã bị tiêu diệt, còn lại chỉ khoảng 10 nước, trong đó có 7 nước lớn gọi là Thất hùng: Tề, Yên, Tần, Sở, Hàn, Triệu, Nguỵ. Nhà Chu khi đó chỉ còn cai quản vùng đất nhỏ bé như các nước chư hầu bé khác còn sót lại chưa bị diệt như Lỗ, Vệ. Các chư hầu lớn muốn trở thành Vua của những ông vua. Tới thời Chiến Quốc, Tần có lần đòi Cửu đỉnh của Chu, Triệu lấy tế điền (ruộng mà hoa lợi dùng vào việc tế lễ) của Chu; và khi các chư hầu đều tự xưng vương cả - tức tự coi mình ngang hàng với vua Chu - thì vua Chu cũng phải khép nép tâng họ lên là vương mà tự xưng là tiểu quốc. Tới thế kỷ III TCN, một nhà Chu nhỏ bé cũng lại nảy sinh lục đục. Hai nước Hàn và Triệu mang quân can thiệp, chia lãnh thổ nhỏ bé làm đôi, giao cho hai vị tông thất cai quản, gọi là Tây Chu công và Đông Chu công. "Thiên tử" nhà Chu ở chung với Tây Chu công. Từ đây Tây Chu và Đông Chu chỉ mang nghĩa phân chia trong phạm vi hẹp của vùng đất nhà Đông Chu xung quanh Lạc Dương mà thôi, không phải địa phận nhà Tây Chu xưa kia, lúc đó đã thuộc về Tần. Tới năm 257 TCN, hưởng ứng phong trào "hợp tung" do Sở và Yên phát động để chống nước Tần hùng mạnh và hung hãn đang lấn đất chư hầu như tằm ăn lá, thiên tử nhà Chu cũng mộ binh đánh Tần. Nhưng lúc đó nhà Chu đã kiệt quệ tới mức thiên tử không có đủ tiền chiêu binh mà phải đi vay. Tây Chu công tự làm tướng cùng hợp binh với quân Yên và quân Sở. Thế nhưng, phong trào hợp tung cũng như những lần trước, đúng như đánh giá của Trương Nghi:"hợp tung như đống cát, dễ hợp mà dễ tan", chưa đánh Tần trận nào ra trò mà hợp tung lại tan rã vì quân các nước khác không tới. Hàn đang bị Tần vây, không cựa quậy được, Triệu vừa thua trận Trường Bình mất gần hết nhân sự và sinh khí, còn Tề lại thông hiếu với Tần không ra quân. Quân Sở và Yên cô thế đành tự rút. Lấy cớ nhà Chu gây hấn, năm 256 TCN, Tần Chiêu Tương vương sai Trương Đường mang quân đánh vào đất Tây Chu, bắt Chu Noãn vương đem về Hàm Dương. Năm 250 TCN, Tần Chiêu Tương Vương chết, liền sau đó con là Hiếu Văn vương lên ngôi 3 ngày cũng chết. Cháu là Tử Sở lên ngôi, tức là Trang Tương vương. Đông Chu quân thấy nước Tần mất liền 2 vua, lại sai người đi bàn với các nước "hợp tung" đánh Tần lần nữa, thành ra chọc giận nước Tần. Năm 249 TCN, vua Tần bèn sai Lã Bất Vi mang 10 vạn quân đi đánh Đông Chu, bắt nốt Đông Chu quân mang về. Từ đó nhà Chu mất hẳn. Nhà Chu tính từ Chu Vũ vương đến Đông Chu quân có 37 vua, nếu tính từ năm 1122 TCN thì kéo dài 873 năm, nếu tính từ 1046 TCN thì kéo dài 777 năm. Dù là con số nào, nhà Chu vẫn là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Thời đại Chiến Quốc () kéo dài từ khoảng thế kỷ 5 TCN tới khi Trung Quốc thống nhất dưới thời Tần năm 221 TCN. Thông thường nó được coi là giai đoạn thứ hai của nhà Đông Chu, tiếp sau giai đoạn Xuân Thu, dù chính nhà Chu đã kết thúc vào năm 256 TCN, 34 năm trước khi kết thúc giai đoạn Chiến Quốc. Tương tự như giai đoạn Xuân Thu, vị vua nhà Chu chỉ đơn giản là một vua bù nhìn. Tên gọi Chiến Quốc xuất phát từ cuốn "Chiến Quốc sách" được biên soạn đầu thời nhà Hán. Điểm khởi đầu thời Chiến Quốc hiện vẫn còn tranh cãi. Theo truyền thống, mọi người sử dụng năm 475 TCN (tiếp sau thời Xuân Thu), nhưng hiện nay thì năm 403 TCN – năm mà nước Tấn bị chia thành ba nước Hàn, Triệu, Ngụy – cũng thỉnh thoảng được coi là năm bắt đầu của thời kỳ này. Thời Chiến Quốc, trái với thời Xuân Thu, là một giai đoạn mà các vua chư hầu ở địa phương sáp nhập các tiểu quốc nhỏ hơn xung quanh để củng cố quyền lực. Quá trình này đã bắt đầu ở thời Xuân Thu, và tới thế kỷ 3 TCN, bảy nước lớn nổi lên chiếm vị trí áp đảo. Bảy nước lớn thời Chiến Quốc (戰國七雄/战国七雄 Chiến Quốc thất hùng), gồm có Tề (齊), Sở (楚), Yên (燕), Hàn (韓), Triệu (趙), Nguỵ (魏) và Tần (秦). Một dấu hiệu khác của sự tăng cường quyền lực là sự thay đổi danh hiệu: trước kia các lãnh chúa vẫn xếp mình vào bậc công (公) hay hầu (侯), chư hầu của vua nhà Chu; nhưng trong giai đoạn này họ đã lần lượt tự xưng vương (王), có nghĩa là họ ngang hàng với vua nhà Chu. Giai đoạn Chiến Quốc là giai đoạn phát triển của đồ sắt tại Trung Quốc, thay thế đồ đồng trở thành vật liệu chính được sử dụng trong chiến tranh. Các vùng như Thục (Tứ Xuyên ngày nay) và Việt (Chiết Giang ngày nay) cũng đã bị sáp nhập vào vùng ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc trong thời gian này. Những bức tường do những quốc gia xây dựng nên để ngăn chặn các bộ lạc du mục phía bắc và ngăn chặn lẫn nhau là tiền thân của Vạn lý trường thành sau này. Các triết thuyết khác nhau đã được phát triển trong giai đoạn Bách gia chư tử, gồm Khổng giáo (được phát triển chi tiết bởi Mạnh Tử), Đạo giáo (được phát triển thêm bởi Trang Tử), Pháp gia (do Hàn Phi Tử lập ra) và Mặc học (được Mặc Tử sáng lập). Thương mại cũng trở nên quan trọng, và một số nhà buôn đã có quyền lực to lớn trong chính trị. Những chiến thuật quân sự cũng thay đổi. Không giống như giai đoạn Xuân Thu, đa số các quân đội thời Chiến Quốc gồm bộ binh và kỵ binh và việc sử dụng xe ngựa chiến đấu đã dần bị quên lãng. Cũng ở đầu giai đoạn này, nhà chiến lược quân sự Tôn Vũ đã viết cuốn "Tôn Tử binh pháp" được công nhận là tác phẩm có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong 7 tác phẩm về nghệ thuật quân sự Trung Quốc cổ đại. (Bảy tác phẩm quân sự kinh điển (thất đại kỳ thư) gồm: Lục thao của Thái Công, Tôn Tử binh pháp, Tư Mã binh pháp, Ngô Khởi (吳起) binh pháp, Uất Liêu Tử binh pháp, Tam lược của Hoàng Thạch Công, Đường Thái Tông và Lý Vệ công vấn đáp). Trong suốt lịch sử phong kiến Trung Quốc, thất đại kỳ thư này được cất giấu cẩn thận và chỉ những ai theo nghề binh mới được tiếp cận chúng. Hiện nay cả bảy tác phẩm đó được trình bày lại trong cuốn "The Seven Military Classics of Ancient China" của Ralph D. Sawyer) Chiến Quốc thất hùng. Người ta thường gọi Chiến Quốc Thất Hùng (戰國七雄) để chỉ bảy cường quốc, đã được hình thành từ sự suy yếu của nhà Chu, trong suốt giai đoạn Chiến Quốc của lịch sử Trung Quốc. Tên bảy nước được liệt kê theo thứ tự chữ cái: Kết thúc giai đoạn Chiến Quốc, chiến thắng đã thuộc về nước Tần do Tần Thủy Hoàng trị vì. Chính ông đã lập nên đế chế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. "Xem chi tiết:" Tấn (nước) Sự phân chia nước Tấn. Ở giai đoạn Xuân Thu, nước Tấn (晉) là nước mạnh nhất trong số các chư hầu với thời gian làm bá chủ lâu hơn cả. Tuy nhiên, gần cuối thời Xuân Thu, quyền lực của vị vua cai trị tại đó đã giảm sút, nước Tấn dần rơi vào sự kiểm soát của sáu dòng họ lớn (lục khanh - 六卿). Tới đầu thời Chiến Quốc, sau nhiều cuộc chiến tranh giành quyền lực, có bốn dòng họ còn sót lại là họ Trí (智), họ Nguỵ (魏), họ Triệu (趙), và họ Hàn (韓), trong đó họ Trí có thế lực mạnh nhất. Trí Bá (Trí Dao 智瑶) liên minh với họ Nguỵ và họ Hàn để đánh Triệu Tương Tử (Triệu Vô Tuất). Tuy nhiên, vì tính kiêu ngạo của Trí Dao nên họ Triệu đã bí mật thông đồng với họ Ngụy và họ Hàn lật ngược tình thế, tiêu diệt họ Trí. Năm 403 TCN, ba họ lớn nước Tấn, với sự đồng ý của vua Chu, chia nước Tấn thành ba nước (三家分晉): Hàn, Triệu, và Ngụy. Ba người đứng đầu ba họ được nhà Chu phong tước Hầu (侯), và bởi vì cả ba đều thuộc nước Tấn cũ, nên họ cũng được gọi là Tam Tấn (三晉). Nước Tấn tiếp tục tồn tại với một vùng đất nhỏ cho tới tận năm 376 TCN khi một lần nữa, phần còn lại đó lại bị Tam Tấn chia nhau. Sử gia Tư Mã Quang nhận định việc nhà Chu công nhận 3 họ chia nhau nước Tấn là một sai lầm, tạo ra tiền lệ kẻ dưới tiếm vị kẻ trên, chút vị thế còn lại của nhà Chu cũng mất hết: "Kinh Xuân thu hạ thấp chư hầu, đề cao vương thất, vì Thiên tử tuy thế yếu, nhưng theo thứ tự vẫn ngồi trên chư hầu, mới thấy thánh nhân đối với thứ tự vua tôi không hề qua quít. Nếu chẳng gặp vua bạo tàn như Kiệt, Trụ, tự mình có cái nhân Thang, Võ, lại được trời trao mệnh, thì địa vị vua tôi phải ráng thân gìn giữ đến chết mà thôi." "Than ôi, U Vương, Lệ Vương thất đức, đạo nhà Chu ngày càng suy, cương kỷ băng hoại — dưới chà đạp trên, chư hầu tự chuyên chinh phạt, Đại phu chuyên quyền — đại thể của lễ mười phần đã mất đi bảy tám; nhưng các quân vương nối nghiệp Văn Vương, Võ Vương vẫn đều đều nối ngôi nhau là nhờ con cháu nhà Chu vẫn còn biết giữ danh phận mình vốn có... Nhờ thế đất đai nhà Chu dù chẳng lớn bằng Tào, Đằng, dân chúng nhà Chu dù chẳng nhiều bằng Chu, Cử, nhưng suốt mấy trăm năm, vẫn là tông chủ thiên hạ, tuy hùng mạnh như Tấn, Sở, Tề, Tần vẫn không dám đặt mình trên nhà Chu, vì sao? Chỉ vì dựa vào danh phận sẵn có vậ, chia nhau đất đai nước Tấn, Thiên tử đã chẳng trừng trị, còn ban thưởng vị cao, cho đứng vào hàng chư hầu, chính là còn vỏn vẹn chút danh phận lại không biết giữ mà vứt hết đi. Đạo lễ tiên vương nhà Chu thế là dứt vậy!" "Than ôi! Đạo lễ quân thần mà hủy hoại, thì thiên hạ dùng trí lực tranh cường, khiến những nước chư hầu là con cháu thánh hiền, xã tắc tông miếu chẳng đâu không bị diệt vong, chúng dân bị dày xéo, giết chóc bằng hết, há chẳng đau xót lắm sao!" Thay đổi quyền lực ở nước Tề. Năm 386 TCN, họ Điền (田), một dòng họ quý tộc lưu vong của nước Trần, chiếm quyền kiểm soát nước Tề và được trao tước Công. Nước Tề cũ của họ Khương (姜) vẫn tiếp tục tồn tại với một vùng đất nhỏ bé đến năm 379 TCN, khi họ bị họ Điền sáp nhập nốt vào nước Tề. Những xung đột ban đầu giữa Tam Tấn, Tề và Tần. Năm 371 TCN, Ngụy Vũ Hầu chết mà chưa có người kế vị, khiến nước Ngụy rơi vào nội chiến tranh giành quyền lực. Sau ba năm nội chiến, nước Triệu và Hàn, lợi dụng cơ hội tấn công Ngụy. Khi sắp chiếm được nước Ngụy, các lãnh đạo nước Triệu và nước Hàn lại bất hoà với nhau về cách thức xử lý nước Ngụy và quân đội cả hai nước đã bí mật rút lui. Nhờ thế, Ngụy Huệ Vương (lúc ấy vẫn đang là tước Hầu) có thể lên ngôi làm vua nước Ngụy. Năm 354 TCN, Ngụy Huệ Vương phát động một cuộc tấn công quy mô lớn vào nước Triệu, một số nhà sử học cho rằng để trả thù việc họ đã tàn phá nước Ngụy trước đó. Tới năm 353 TCN, Triệu thua nhiều trận lớn và một trong những thành phố lớn của họ - Hàm Đan (邯鄲), thành phố sau này trở thành kinh đô nước Triệu – bị bao vây. Vì thế, nước Tề lân cận quyết định giúp đỡ nước Triệu. Chiến thuật mà Tề sử dụng là do Tôn Tẫn (孫臏), người lúc ấy là quân sư trong quân đội nước Tề, đề ra. Tề tấn công vào nước Ngụy khi quân đội Ngụy đang bao vây Triệu, buộc Ngụy phải rút lui. Chiến thuật này đã thành công; quân Ngụy vội vàng rút về, và gặp quân Tề ở Quế Lăng (桂陵) nơi Ngụy đã bị đánh bại một trận mang ý nghĩa quyết định. Từ sự kiện này xuất hiện câu nói: "Vây Ngụy cứu Triệu" (圍魏救趙). Năm 341 TCN, Ngụy tấn công Hàn, và Tề lại can thiệp một lần nữa. Hai vị tướng ở trận Quế Lăng lần trước lại gặp nhau, và nhờ chiến thuật khôn khéo của Tôn Tẫn, Ngụy lại bị thất bại to lớn một lần nữa tại trận Mã Lăng (馬陵). Trong trận này, Bàng Quyên, chủ tướng quân Ngụy tử trận. Tình thế của nước Ngụy càng nguy ngập hơn nữa khi Tần lợi dụng cơ hội Ngụy thua liên tục trước Tề để tấn công Ngụy năm 340 TCN theo mưu đồ của nhà cải cách nước Tần là Thương Ưởng (商鞅). Ngụy bị đánh bại và buộc phải nhượng một phần lớn đất đai để đổi lấy hoà bình. Việc này khiến kinh đô An Ấp (安邑) của Ngụy rơi vào tình thế nguy hiểm, vì thế Ngụy phải rời đô sang Đại Lương (大梁)(sau này đổi thành Biện Lương (汴梁)). Vì vậy, từ đó trở đi nước Ngụy còn được gọi là Lương. Sau những sự kiện này, nước Ngụy trở nên suy yếu và nước Tề cùng nước Tần trở thành hai nước thống trị ở giai đoạn này. Những cải cách của Thương Ưởng ở Tần. Tần sở dĩ mau mạnh một phần là nhờ địa thế: ở lánh về phía Tây, ít bị các nước láng giềng ở phía đông dòm ngó, được tự do phát triển, lại có cửa Hàm Cốc rất hiểm trở, "một người giữ cửa đó thì cự được vạn người", nên Tần có thể qua cửa đó để tấn công các nước phía đông, chứ các nước này không dám mạo hiểm qua cửa đó để tấn công Tần. Khoảng năm 359 TCN, Thương Ưởng (商鞅), một vị quan nước Tần, bắt đầu đưa ra nhiều cải cách biến Tần từ một nước lạc hậu trở thành nước có vị thể vượt hẳn sáu nước kia. Nói chung, nó thường được coi là điểm quyết định để nước Tần bắt đầu trở thành nước mạnh nhất thời Chiến Quốc. Từ 356 đến 348 TrCN, Tần lập 41 huyện trên khắp cõi. Thương Ưởng làm tướng quốc Tần, khuyên vua Tần đánh những đòn rất mạnh vào giai cấp quý tộc, tước dần quyền của họ; tạo ra một giai cấp quý tộc mới gồm những quân nhân có tài; hễ chém được nhiều đầu giặc thì được chức cao. Ông lại lập chính sách khẩn hoang, cho dân chúng làm chủ những đất họ khai phá được, do đó có thêm bọn phú nông xuất hiện, bọn này với bọn phú thương sẽ tranh quyền với bọn quý tộc cũ. Ông còn bãi bỏ tục quý tộc không bị hình phạt như thứ dân, mọi người đều bình đẳng về pháp luật mà pháp luật được công bố cho toàn dân được biết. Từ thời Xuân Thu đã có vài nước công bố "hình thư", nghĩa là khắc hình luật trên các đỉnh đặt ở triều đình hoặc trên những bảng gỗ treo ở kinh đô, như vậy để bỏ cái lệ hễ bọn quý tộc bị tội thì triều đình xử kín theo lệ riêng của họ với nhau, còn dân chúng bị tội thì bị xử theo hình pháp một cách nghiêm khắc hơn. Hình thư dần dần được các nước khác theo, nhưng luật pháp không nước nào khốc liệt như ở Tần. Dân không được lang thang đi đâu tuỳ ý. Người nào cũng phải có một cái thẻ như chứng minh nhân dân ngày nay họ gọi là "bằng cứ", muốn vào quán trọ nào phải trình thẻ, chủ quán không dám chứa những người không mang thẻ. Bọn du thủ du thực bị bắt thì làm nô lệ hết. Các thư, kinh bị đốt hết. Làng xóm tổ chức lại hết. Cứ năm hay mười nhà họp thành một liên gia có bổn phận phải phòng kẻ gian, tố cáo kẻ có tội, nếu không thì chịu trách nhiệm chung. Mặc Tử một thế kỷ trước đó cũng đã có ý đó nhưng chính sách của Thương Ưởng triệt để hơn: làm thay đổi cả tổ chức hương thôn, chia lại đất đai canh tác, phá bỏ hàng rào cũ, do đó mà thay đổi hẳn lối sống, phong tục, có thể gọi là một cuộc cách mạng. Các luật thưởng phạt quân nhân rất nghiêm, thứ dân có chiến công thì được chức tước, quý tộc mà không có chiến công thì bị giáng xuống thành thứ dân. Tất cả cải cách đều nhằm mục đích duy nhất là sản xuất lúa cho nhiều để nuôi binh, là luyện binh cho mạnh để xâm chiếm nước khác. Khi Tần Hiếu công chết (338 TCN), quý tộc trả thù và Thương Ưởng bị phanh thây. Nhưng non một thế kỷ sau, vua Tần tên Doanh Chính (tức Tần Thủy Hoàng) áp dụng lại chính sách đó mà làm cho Tần mạnh nhất trong số thất hùng. Các nước xưng vương. Năm 334 TCN, vua nước Nguỵ và Tề đồng ý công nhận lẫn nhau về tước vương (王), chính thức hoá sự độc lập của các nước chư hầu và gạt bỏ vị thế của vua nhà Chu từ đầu thời Đông Chu. Vua nước Nguỵ và Vua nước Tề tiến lên ngang hàng với Vua nhà Chu, đã liên tục kế vị từ thời Xuân Thu. Từ đó về sau, tất cả các nước cuối cùng đều tự phong vương, đánh dấu sự khởi đầu cho sự kết thúc của nhà Chu. Năm 325 TCN, vua nước Tần tự phong Vương. Năm 323 TCN, vua nước Hàn và Yên tự xưng Vương. Năm 318 TCN, vua nước Tống xưng Vương. Năm 299 TCN, vua nước Triệu xưng Vương. Sự phát triển, bành trướng và suy yếu Sở. Đầu giai đoạn Chiến Quốc, Sở là một trong những nước mạnh nhất trong số chư hầu. Nước này đã đạt tới một vị thế mới khi vua Sở phong nhà cải cách nổi tiếng Ngô Khởi (吳起) làm Tể tướng năm 389 TCN. Sở đạt đến đỉnh cao sức mạnh của mình vào năm 334 TCN khi họ chiếm được nhiều vùng đất đai của Trung Nguyên. Những sự kiện dẫn tới điều này bắt đầu khi Việt (越國) chuẩn bị tấn công Tề. Vua Tề gửi sứ thần tới thuyết phục vua Việt tấn công Sở thay vì tấn công nước mình. Việt ồ ạt tấn công Sở, nhưng bị Sở phản công, đánh bại, sau đó Sở chinh phục toàn bộ Việt. Tuy nhiên, đến thời Sở Hoài Vương (328-299 TCN), Sở bị mắc lừa mưu kế của Trương Nghi, thừa tướng và biện sĩ nước Tần, vì vậy đã bị Tần liên tiếp đánh bại và để mất vùng Hán Trung. Đến những năm 279-276 TCN, tướng Tần là Bạch Khởi lại đánh bại Sở, lấn chiếm nhiều đất đai trong đó có kinh đô của sở là Dĩnh (郢). Sở buộc phải dời đô về Trần (278 TCN) rồi Thọ Xuân (241 TCN) và từ đó suy yếu hẳn, không còn là đối thủ của Tần nữa. Đến thời Sở Khảo Liệt Vương (262-238 TCN), Xuân Thân Quân Hoàng Yết được phong làm Tướng quốc đã đề xuất nhiều biện pháp kinh tế, chính trị tiến bộ giúp khôi phục lại phần nào sức mạnh của Sở. Trong khi Tần liên tiếp tấn công Tam Tấn thì Sở cũng tiến sang phía đông tiêu diệt hàng loạt nước nhỏ, điển hình là nước Lỗ năm 256 TCN. Tuy nhiên việc này chỉ có thể bù đắp phần nào cho những thua thiệt trong cuộc tranh chấp với Tần mà thôi chứ không thể khôi phục lại ưu thế trước kia nữa. Ưu thế của Tần và các chiến lược Hợp tung, Liên hoành. Tới cuối thời Chiến Quốc, Tần trở thành nước rất mạnh so với cả sáu nước còn lại. Vì thế, chính sách của các nước này là nhằm chống lại mối đe doạ từ nước Tần, với hai trường phái chính: Hợp tung (合縱/合纵 bính âm: hézòng), hay liên kết với nhau để chống sự bành trướng của Tần; và Liên hoành (連橫/连横 bính âm: liánhéng), hay liên kết với Tần để dựa vào uy thế của họ. Ban đầu thuyết Hợp tung mang lại một số thành công, dù cuối cùng nó đã tan vỡ. Tần luôn lợi dụng thuyết Liên hoành để đánh bại từng nước một. Trong giai đoạn này, nhiều triết gia và chiến thuật gia đã đi chu du các nước để khuyên các vị vua cai trị đưa ý kiến của họ vào áp dụng thực tiễn. Những nhà chiến thuật gia đó rất nổi tiếng về những mưu mẹo và trí tuệ của mình, và được gọi chung là Tung Hoành gia (縱橫家), lấy theo tên của hai trường phái chiến lược chính. "Xem chi tiết:" Chiến tranh thống nhất Trung Hoa của Tần Tần chinh phục các nước khác. Sang thế kỷ 3 TCN, nhờ ưu thế về kinh tế và quân sự, Tần chiếm ưu thế rõ rệt so với các quốc gia phía đông, nhất là sau sự xuống dốc của Tề và Sở. Tần dùng chiến thuật "viễn giao cận công" (giao hảo với nước xa, tấn công nước gần), lấn đất các nước tiếp giáp với mình như Hàn, Triệu, Ngụy, Sở nhưng hòa hiếu với nước Tề ở xa. Chiến thuật này tỏ ra hiệu quả. Các nước chư hầu khác có đôi lúc liên minh theo thuyết "Hợp tung" để chống Tần nhưng ràng buộc lỏng lẻo và hay bị Tần chia rẽ nên liên minh nhanh chóng tan rã. Thêm vào đó, nhiều vua chư hầu không thấy được lợi ích thiết thực của liên minh chống Tần mà bị Tần lung lạc bởi lợi ích nhỏ trước mắt nên mắc mưu Tần, dần dần trở thành nạn nhân trong quá trình thống nhất của Tần. Nhất là nước Tề tỏ ra thụ động nhất và ít tham gia đánh Tần so với các nước khác. Sau khi diệt nhà Chu năm 249 TCN, Tần tiếp tục tấn công các chư hầu khác. Đất đai của các nước tiếp giáp bị lấy nhiều và tới khoảng năm 240 TCN, phần đất còn lại của các nước giáp Tần như Hàn, Triệu, Ngụy thực chất rất nhỏ. Cuối cùng, Tần dùng vũ lực lần lượt diệt hết 6 nước phía đông, thống nhất Trung Quốc:
Nông Quốc Chấn (18 tháng 11 năm 1923 – 4 tháng 2 năm 2002) là một nhà văn người dân tộc Tày, Việt Nam. Ông là người dân tộc thiểu số đầu tiên "mang hơi thở núi rừng Việt Bắc vào thi ca". Ông được xem là cánh chim đầu đàn của những người cầm bút các dân tộc thiểu số. Ông cũng là một trong số ít người dịch thơ văn từ tiếng Việt sang tiếng dân tộc. Nhà thơ Nông Quốc Chấn tên thật là Nông Văn Quỳnh, sinh tại xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Ông gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1958. Ông đã từng tham gia Mặt trận Việt Minh và tham gia du kích và giải phóng quân trước tháng 8 năm 1945. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông vẫn tiếp tục hoạt động trong Mặt trận Việt Minh bắt đầu hoạt động văn hóa văn nghệ. Em trai ông là nhà văn Nông Viết Toại cũng là hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Những vị trí và chức vụ ông đã từng làm:
Nhà Hạ (, khoảng thế kỷ 21 TCN - khoảng thế kỷ 16 TCN) là một triều đại lịch sử chưa được kiểm chứng của Trung Quốc, đây là triều đại được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đã xây dựng nên các di tích cung điện tại văn hoá Nhị Lý Đầu, nhưng điều này vẫn cần được khảo chứng thêm (do chưa tìm được di tích văn tự để chứng minh rõ ràng). Nhiều người cho rằng nhà Hạ chưa phải là 1 triều đình cai trị đúng nghĩa mà là một liên minh nhiều bộ lạc cổ đại của người Hoa Hạ có hình thức tù trưởng phức tạp, tuy nhiên lịch sử Trung Quốc vẫn chưa hề rõ ràng lắm và chưa đạt đến trình độ văn minh cho đến thời nhà Thương cho nên "Hạ" ở đây vẫn là một chủ thể gây tranh cãi xét về tính lịch sử thực tế. Căn cứ theo ghi chép trong sách sử thì Tam Đại gồm Hạ, Thương, Chu đều là vương triều phong kiến phân quyền, quân chủ và chư hầu chia nhau mà cai trị, và triều Hạ là vương triều phong kiến thị tộc thế tập đầu tiên. Trong các văn vật thời kỳ Hạ, có số lượng nhất định lễ khí làm bằng đồng thanh hoặc ngọc, niên đại của chúng ước tính là vào cuối Thời đại đồ đá mới, đầu Thời đại đồ đồng. Mặc dù ghi chép liên quan đến triều Hạ trong các văn hiến truyền thống Trung Quốc là khá nhiều, song các sách này chỉ được viết vài trăm năm sau thời kỳ đó. Cho đến nay vẫn chưa phát hiện được chứng cứ trực tiếp (di tích văn tự được viết ra trong cùng thời kỳ đó) để có thể công nhận sự tồn tại của triều Hạ, do đó trong giới lịch sử học cận hiện đại có người nghi ngờ tính chân thực về sự tồn tại của triều Hạ. Văn hóa Nhị Lý Đầu phát hiện được ở tây bộ Hà Nam và nam bộ Sơn Tây trùng khớp về niên đại và vị trí địa lý của nhà Hạ, song do chưa khai quật được các ghi chép văn tự giống như giáp cốt bốc từ ở Ân Khư, do vậy sự tồn tại của nhà Hạ vẫn chưa thể chứng thực được, triều đại nhà Hạ ngày nay được coi là một truyền thuyết hơn là một giai đoạn lịch sử rõ ràng. Nhiều học giả trong và ngoài Trung Quốc nhận định rằng di chỉ Nhị Lý Đầu ở Yển Sư thuộc Hà Nam có khả năng là di tích đô thành của triều Hạ ít nhất là trong thời kỳ thứ nhất và thứ nhì, song hiện vẫn đang phải tìm kiếm thêm căn cứ xác thực để làm rõ. Căn cứ theo ghi chép trong sử sách, Vũ truyền vị cho con là Khải, cải biến thiện nhượng chế bộ lạc nguyên thủy, khởi đầu tiền lệ thế tập vương vị kéo dài 4000 năm trong lịch sử Trung Quốc. Triều Hạ tổng cộng truyền được 14 đời với 17 vua, kế tục trong khoảng 471 năm, bị triều Thương tiêu diệt. Triều Hạ được xem là vương triều đầu tiên theo lịch sử truyền thống Trung Quốc, có địa vị lịch sử khá cao, người Hán đời sau thường tự xưng là "Hoa Hạ", trở thành danh từ đại diện cho Trung Quốc. Trong lịch sử, triều Hạ được gọi quen là "Hạ" (夏). Liên quan đến nguồn gốc tên gọi "Hạ", trong giới học giả chủ yếu có 10 loại thuyết, trong đó quan điểm có độ khả tín cao nhất nhận định rằng "Hạ" là chữ tượng hình tượng trưng cho vật tổ của tộc Hạ. Tư Mã Thiên chép chữ "Hạ" (夏) là danh hiệu bộ lạc do 12 thị tộc tổ thành: Tự tính Hạ hậu thị, Hữu Hỗ thị, Hữu Nam thị, Châm Tầm thị, Đồng Thành thị, Bao thị, Phí thị, Kỉ thị, Tăng thị, Tân thị, Minh thị, Châm Quán thị. Vua Hạ là thủ lĩnh của bộ lạc, do vậy sau khi kiến lập triều Hạ, lấy tên bộ lạc làm quốc hiệu. Trương Thủ Tiết thời Đường thì nhận định "Hạ" là do Đại Vũ thụ phong tại Dương Trạch làm "Hạ Bá", sau lấy làm tên. Lại có thuyết nói "Hạ" bắt nguồn từ địa danh "Hữu Hạ chi cư", "Đại Hạ" diễn biến thành tên bộ lạc, rồi trở thành quốc hiệu. Theo ghi chép trong văn hiến Trung Quốc cổ đại, trước khi Hạ hậu thị kiến lập, xuất hiện chiến tranh thường xuyên giữa bộ tộc Hạ và các bộ tộc khác xung quanh để tranh đoạt địa vị thủ lĩnh liên minh. Trong truyền thuyết cổ sử Trung Quốc, bộ tộc Hạ dần dần hưng khởi từ thời Chuyên Húc về sau. Có không ít văn hiến cổ đại truy nguyên Hạ tộc đến Chuyên Húc. Trong "Sử ký - Hạ bản kỉ" và "Đại đái lễ ký-Đế hệ", nói rằng Cổn là con của Chuyên Húc. Tuy nhiên, cũng có một số văn hiến thì nói rằng Cổn là cháu năm đời của Chuyên Húc. Các văn hiến này cho thấy rằng Hạ tộc rất có khả năng là một chi hậu duệ của Chuyên Húc. Có thuyết cho rằng Hạ tộc khởi nguyên tại khu vực dãy núi Mân Sơn trên thượng du Mân giang thuộc nơi giao giới giữa ba tỉnh Tứ Xuyên-Cam Túc-Thanh Hải hiện nay. Sau đó, họ dần theo thượng du Hán Thủy cổ, qua trung hạ du Vị Thủy, dời về phía đông đến lưu vực Y - Lạc tại nam bộ Sơn Tây-tây bộ Hà Nam. Cổn - Vũ trị thủy. Thành viên Hạ tộc đầu tiên được văn hiến ghi chép là Cổn. Trong "Quốc ngữ-Chu ngữ" có ghi rằng Cổn là thủ lĩnh của Hạ tộc, được phong tại Tung, cho nên được gọi là " Tung bá Cổn". Sau này, Vũ kế thừa Cổn làm "Tung bá Vũ". Điều này thể hiện rằng Hạ tộc hoạt động ở phụ cận Tung Sơn. Đương thời, nước sông gây lụt, có không ít các bộ lạc hình thành liên minh bộ lạc nhằm chống lại nước lụt, Cổn được Tứ Nhạc cử làm lãnh đạo trị thủy, trải qua chín năm song cuối cùng thất bại. Nguyên nhân trị thủy thất bại có khả năng là do ông không giỏi trong việc đoàn kết tộc nhân cùng các bộ lạc khác. "Thượng thư — Nghiêu Điển" chép rằng Nghiêu ngay từ đầu tiên đã nhận định rằng Cổn trái mệnh hại tộc, hủy hại người thiện lương nên phản đối Cổn lãnh đạo trị thủy, điều này thể hiện rằng trong thời gian Cổn lãnh đạo trị thủy có không ít bộ lạc bất mãn với ông. Trong "Thượng thư — Hồng phạm" và "Quốc ngữ — Lỗ ngữ" lại đề cập thêm rằng "Cổn chướng hồng thủy", cho thấy phương pháp trị thủy của Cổn chủ yếu là dùng đất, gỗ ngăn trở để chặn nước lụt, có thể đây cũng là một nguyên nhân của việc Cổn trị thủy chín năm thất bại. Sau khi trị thủy thất bại, Cổn bị Hoa Thành giết tại Vũ Sơn nằm ven biển Hoàng Hải. Vũ là con của Cổn, sau khi Cổn mất, Vũ thụ mệnh của Thuấn làm công tác trị thủy. Vũ cải tiến phương pháp trị thủy của cha, nạo vét dòng sông, đoàn kết tộc nhân các bộ lạc, cuối cùng chế ngự được nước lụt. "Sử ký — Hạ bản kỉ" có chép rằng khi Vũ trị thủy "lao thân tiêu tư, 13 năm sống ở ngoài, qua cửa nhà không dám vào", tinh thần khắc khổ này được hậu thế truyền tụng, trong quá trình trị thủy có khả năng cũng đã xúc tiến đoàn kết giữa tộc nhân các bộ lạc. "Mạnh tử — Đằng Văn công" đề cập đến phương pháp trị thủy của Vũ: "khai thông chín sông, đào thông Tể, Tháp ra Chư Hải, khơi Nhữ, Hán; tháo nước Hoài, Tứ vào Giang". Vũ cũng đề xướng nông nghiệp, nhấn mạnh "tự thân trồng trọt mà có thiên hạ". Hàn Phi Tử — Ngũ đố" khen ngợi Vũ "thân cầm cày xẻng mà lãnh đạo dân, đùi và cẳng chân không mọc được lông, nhọc nhằn của nô lệ cũng không bằng của ông". Do Vũ có công trị thủy và xúc tiến sản xuất nông nghiệp, thế lực của bộ tộc Hạ tăng cường. Sau đó, Thuấn cũng phái Vũ đi thảo phạt Tam Miêu. Vũ nhiều lần đánh bại Tam Miêu, xua đuổi Tam Miêu đến lưu vực Đan Giang và Hán Thủy, củng cố quyền vua. Trong "Mặc Tử — Phi công" có viết về việc sau khi Vũ thắng Tam Miêu "biệt vật thượng hạ, khanh chế đại cực, nhi thần dân bất vi, thiên hạ nãi tĩnh", qua đó có thể thấy rằng sau khi Vũ trị thủy và thắng lợi trước Tam Miêu, bộ tộc Hạ trở thành thủ lĩnh liên minh bộ tộc. Thuấn đem đế vị thiện nhượng cho Vũ, Vũ tại Đồ Sơn triệu tập hội minh bộ lạc, một lần nữa chinh thảo Tam Miêu. Trong Tả truyện có chép "người vạn quốc đem theo ngọc lụa" tham gia Đồ Sơn hội minh, có thể thấy khả năng hiệu triệu của bộ lạc Hạ. Có một lần tại Cối Kê tổ chức hội minh bộ lạc, thủ lĩnh Phòng Phong thị đến muộn nên bị Vũ xử tử. Trong văn hiến cổ còn viết về việc Vũ căn cứ vào đường đi xa hay gần của các bộ lạc chư hầu mà phân biệt nạp cống nhiều hay ít, có thể thấy bộ tộc Hạ khống chế về mặt kinh tế của các bộ lạc xung quanh. Vũ từng tiến cử thủ lĩnh họ Yển là Cao Dao có thanh thế ở phía đông làm người kế thừa, thể hiện tôn trọng truyền thống thiện nhượng. Tuy nhiên, chưa đến khi thiện nhượng thì Cao Dao lại mất trước Vũ. Hạ Vũ lại mệnh thủ lĩnh Đông Di là Ích làm người kế thừa, tuy nhiên có rất nhiều bộ lạc không ủng hộ việc này, ngược lại họ ủng hộ con của Vũ là Khải. Sau khi Vũ mất, Ích không có được quyền vị, ngược lại Khải được dân chúng ủng hộ nên đoạt được quyền vị. Ghi chép về giai đoạn lịch sử này không giống nhau. Theo Trúc thư kỉ niên cổ bản, sau khi Ích tức vị, Khải giết Ích mà đoạt lấy quân vị. Lại có thuyết nói sau khi Ích kế vị, có một số bộ tộc không thần phục Ích mà lại ủng hộ Khải, họ triển khai chiến tranh với bộ tộc của Ích, cuối cùng Khải thắng và đoạt được quyền vị. Sau đó, Ích suất lĩnh liên minh Đông Di thảo phạt Khải. Trải qua mấy năm đấu tranh, Khải xác lập địa vị thủ lĩnh trong liên minh bộ tộc. Văn hiến Tiên Tần ghi chép về sự việc này cùng cho là "công thiên hạ" biến thành "gia thiên hạ", tức thiên hạ là của chung biến thành thiên hạ của một nhà, khu vực Trung Nguyên từ đây xuất hiện khái niệm "quốc gia". Không ít học gia lịch sử nhận định đây là khởi thủy của triều Hạ — vương triều thế tập đầu tiên của Trung Quốc. Sau đó, không ít bộ tộc theo khuynh hướng thiện nhượng truyền thống nghi vấn về quyền vị của Khải. Hữu Hỗ thị vốn ở vùng ngoài kinh đô của Khải, trượng nghĩa khởi binh, suất lĩnh liên minh bộ tộc hướng đến thảo phạt kinh đô của Khải, cùng quân của Khải đại chiến tại Cam Trước khi chiến, Khải tuyên bố quyền vị của ông là "cung hành thiên", tức là theo ý trời. Điều này trở thành nguyên mẫu của thiên tử luận của triều Chu sau này. Khải nhận được sự tán đồng của dân chúng Trung Nguyên, do vậy chiếm tuyệt đại ưu thế về phương diện số người, cuối cùng đánh bại Hữu Hỗ thị, trừng phạt bằng cách giáng họ làm mục nô. Đây là thắng lợi thứ hai đại diện cho việc quan niệm xã hội chủ lưu của khu vực Trung Nguyên đi từ chế độ thiện nhượng nguyên thủy chuyển hướng sang chế độ thế tập. Thị tộc Hạ có nguyên mang họ (tính) Tự, song từ thời Khải trở đi chuyển sang dùng quốc danh "Hạ" làm họ. Đồng thời, Khải không tiếp tục sử dụng xưng hiệu "bá" mà đổi sang dùng "hậu", tức "Hạ hậu Khải". Khải có tài ca hát, giỏi múa, thường cử hành thịnh yến. Trong đó, một lần lớn nhất là tại Quân Đài ấy là Quân Đài chi hưởng, còn tại "Thiên Mục chi dã" biểu diễn ca vũ. "Sơn Hải kinh-Hải ngoại tây kinh" chép rằng Khải khi múa "tay trái giữ ế, tay phải cầm vòng, đeo ngọc hoàng". Văn hiến nhạc vũ cổ xưa của Trung Quốc như "Cửu biện", "Cửu ca" và "Cửu thiều" đều nhận Khải là tác giả gốc. Trong thời gian Khải thống trị, con là Vũ Quan, thường làm loạn. "Hàn Phi Tử — Thuyết nghi" chép rằng người này "hại nước hại dân bại pháp", cuối cùng bị giết. Thái Khang thất quốc. Sau khi Hạ Khải mất, con là Thái Khang kế thừa hậu vị, Thái Khang chỉ để tâm vào du ngoạn, không lo chính sự. Trong thời gian Thái Khang tại vị, quyền uy của bộ tộc Hạ suy yếu, các bộ lạc Đông Di là Thái Hạo và Thiếu Hạo thừa cơ tây tiến. Thủ lĩnh Nghệ của tộc Đông Di là người giỏi bắn cung, ông suất quân từ đất Từ của Đông Di dời đến đất Cùng Thạch của Hạ hậu thị, thông hôn với người Hạ bản địa, hình thành nên Hữu Cùng thị Dưới sự ủng hộ của dân Hạ, Nghệ đoạt lấy Hạ chính, Thái Khang sau đó chạy đến Châm Tầm thuộc Châm Tầm thị. Sau khi Nghệ đoạt được quyền vị, ông không xưng vương mà lập em của Thái Khang là Trung Khang làm vương, song quốc sự trên thực tế đều do Nghệ trị lý. Việc này khiến cho không ít bộ lạc bất mãn, trong đó Hòa thị và Hi thị công khai phản đối, họ đồng thời cũng có nhiệm vụ chủ trì hoạt động quan sát các hiện tượng thiên nhiên. Nghệ nói họ phế thời loạn nhật, phái Dận suất binh thảo phạt hai thị tộc Hi và Hòa, trước khi chiến cử hành lời thệ sư "Dận chinh", giành chiến thắng trong trận chiến.}}。 Sau khi Trung Khang mất, con là Tướng kế vị. Sau đó, Tướng chạy trốn hướng về hai thị tộc Châm Tầm, Châm Quán Từ đó, Nghệ một mình đảm đương vương vị. Nghệ giỏi săn bắn, không thạo trị lý, sau khi đoạt quyền thì cũng giống như Thái Khang khi trước, ham săn bắn mà bỏ bê quốc sự. Ông loại bỏ các trung thần như Vũ La, Bá Khốn, Long Ngữ, trọng dụng Hàn Trác. Hàn Trác vào thời niên thiếu do bịa đặt dối gạt mọi người nên bị quân chủ của Bá Minh thị đuổi đi, sau được thủ lĩnh Hữu Cùng thị là Hậu Nghệ thu dưỡng, trở thành một người của Hữu Cùng thị, được trọng dụng Thế lực của Hàn Trác ngày càng lớn mạnh, về sau thừa cơ hội Nghệ ra ngoài săn bắn, Hàn Trác giết Nghệ và gia nhân, đoạt quyền lực và thê của Nghệ, sinh hai con trai là Ế và Kiêu Hàn Trác đem đất Qua phong cấp cho Ế, đem đất Quá phong cấp cho Kiêu. Kiêu nhận mệnh của cha, suất binh trước sau diệt Châm Quán thị và Châm Tầm thị vốn thân Hạ, giết Tướng đang ẩn náu tại Châm Tầm. Thê tử của Tướng là Hôn đương thời có mang con của Tướng, bà theo lỗ tường đào tẩu đến quê nhà mẹ là Hữu Nhưng thị tị nạn. Không lâu sau, bà sinh hạ di phúc tử Thiếu Khang. Thiếu Khang trung hưng. Sau khi trưởng thành, Thiếu Khang giữ chức mục chính của Hữu Nhưng thị. Sau khi biết chuyện, Kiêu phái người truy sát, Thiếu Khang không đối phó nổi nên chạy đến Hữu Ngu thị (hậu duệ của Thuấn), được giữ chức bào chính. Thủ lĩnh Hữu Ngu thị là Ngu Tư không có con trai mà chỉ có hai con gái, Ngu Tư đem hai người con gái hứa phối cho Thiếu Khang, ban ruộng một thành, người một lữ đồng thời đem Luân Ấp giao cho Thiếu Khang quản lý. Thiếu Khang lấy Luân Ấp làm căn cứ địa, tổ chức dân chúng Hạ tộc còn lại, thiết quan phân chức. Thiếu Khang phái Nữ Ngải đến triều đình của Kiêu mật thám, chuẩn bị khôi phục Hạ thất. Đương thời, di thần của Hạ thất là Mĩ ẩn náu tại Hữu Cách thị biết được việc Thiếu Khang chuẩn bị đoạt lại chính quyền, đích thân dẫn tàn dư dân chúng Châm Quán thị, Châm Tầm thị cùng Thiếu Khang hội sư, liên hiệp đánh bại Hàn Trác, phục lập Thiếu Khang là Hạ hậu. Sau khi Thiếu Khang diệt Kiêu ở đất Quá, lại phái con là Trữ đi diệt Ế ở đất Qua. Đến lúc này, Hữu Cùng thị bị hủy diệt sau gần 100 năm khống chế Trung Nguyên, kết thúc thời kỳ "vô vương" 40 năm. Hạ do đó phục quốc, hậu thế gọi là "Thiếu Khang trung hưng". Thông qua giai đoạn từ Thái Khang thất quốc đến Thiếu Khang trung hưng, có thể thấy được lịch trình Hoa Hạ tộc bình định bộ lạc phương quốc Trung Nguyên (nhất là Đông Di tộc). Sau khi con của Thiếu Khang là Trữ kế thừa hậu vị, ông hiểu rõ sự bất mãn của Đông Di đối với Hạ thất, nhằm củng cố thế lực tại phía đông, ông dời đô thành từ Nguyên về phía đông đến Lão Khâu Trữ xem trọng phát triển vũ khí và chế tạo binh giáp. Trong văn hiến thường xuất hiện "Trữ tác giáp", "Trữ tác mâu". Ông còn phái người thảo phạt Đông Di ở khu vực duyên hải Đông Nam (nay là khu vực nam bộ Sơn Đông, đông bộ An Huy, Giang Tô). Theo truyền thuyết, ông bắt được vật cát tường là cửu vĩ hồ. Bản đồ triều Hạ trong thời gian thống trị của Trữ khoách trương đến bờ Đôn Hải (nay là Hoàng Hải). Thời kỳ Trữ tại vị cũng là lúc triều Hạ hưng thịnh nhất. Người Hạ đắc biệt tôn trọng đối với Trữ, vì Trữ mà cử hành "báo tế". Thời con của Trữ là Hòe tại vị, hai tộc Đông Di và Hoa Hạ bắt đầu cùng tồn tại hòa bình. Trong đó chín bộ lạc cư trú tại lưu vực Hoài Hà-Tứ Thủy là Quyến Di, Vu Di, Phương Di, Hoàng Di, Bạch Di, Xích Di, Huyền Di, Phong Di, Dương Di (tức Cửu Di) thông thường hướng Hạ hậu nạp cống chúc hạ. Sau khi Hòe mất, con là Mang kế vị, con của Mang là Tiết kế vị sau khi Mang mất, trong thời gian này hai tộc Đông Di và Hoa Hạ dần đồng hóa. Trong thời gian Tiết tại vị, Đông Di tộc về cơ bản đã đồng hóa, do vậy ông bắt đầu phát triển về phía tây. Đồng thời, ông bắt đầu phong đất phong hiệu cho các phương quốc bộ lạc thuận theo Hạ thất, việc này bắt đầu chư hầu chế kéo dài trong nhiều thế kỷ sau. Sau khi Tiết mất, con là Bất Giáng kế vị, từng nhiều lần suất binh chinh thảo Cửu Uyển ở phía tây. Thương Thang diệt Kiệt, nhà Thương thay nhà Hạ. Khi Bất Giáng già yếu, nội thiện cho đệ là Quynh. Sau khi Quynh mất, con là Cần kế vị. Sau khi kế vị không lâu, Cần bệnh mất, đường huynh là Khổng Giáp- con của Bất Giáng- kế vị. Khổng Giáp tiến hành cải biến truyền thống tế tự tổ tông trong Hạ lễ, bắt đầu tế tự Thiên Đế. "Sử ký-Hạ bản kỉ" thuật rằng Khổng Giáp "ham thích thuật quỷ thần, làm việc dâm loạn". Không ít phương quốc bộ lạc bắt đầu bất mãn đối với Hạ thất, song quan hệ giữa Hoa Hạ tộc và Đông Di tộc vẫn hữu hảo, có khả năng là do độ đồng hóa giữa hai tộc đã khá cao. Từ thời Khổng Giáp, Hạ hậu thị bắt đầu ngày càng suy lạc. Khi Khổng Giáp mất, con là Cao kế vị. Khi Cao mất, con là Phát kế vị. Trong giai đoạn này, quan hệ giữa phương quốc bộ lạc và Hạ thất xấu đi, tranh chấp trong nội bộ thị tộc mãnh liệt hơn. Từ thời Khổng Giáp qua Cao và Phát, đến Lý Quý (biệt danh Hạ Kiệt), nội loạn không ngừng. Sau khi Phát mất, con là Lý Quý (Kiệt) kế vị. Kiệt là người giỏi võ, "Sử ký — Luật thư" chép rằng Kiệt "tay đánh sài lang, chân truy tứ mã" Trong thời gian Hạ Kiệt tại vị, quan hệ giữa Hạ thất và phương quốc bộ lạc đã bị phá vỡ, số bộ lạc cống nạp cho Hạ không ngừng giảm thiểu, Kiệt do vậy thường thảo phạt bộ lạc không quy phục. Trong văn hiến có ghi rằng Kiệt tham sắc, sau khi đánh bại mỗi bộ lạc thì tuyển chọn phi tử trong số các nữ giới. Hữu Thi thi đề cập trong "Quốc ngữ-Tấn ngữ"; Mân Sơn thị, Mạt Hỉ thị đề cập trong "Trúc thư kỷ niên" đều có kết cục như vậy. Trong đó, Muội Hỉ của Mạt Hỉ thị kết giao với Y Doãn Kiệt nhiều lần chinh phục chọc giận không ít bộ tộc khá có quyền uy. Hữu Mân thị do không phục tùng Kiệt mà bị diệt. Bộ tộc Thương mang tính Tử, hoạt động tại khu vực nay là tây nam bộ tỉnh Sơn Đông, bắt đầu trở nên hưng vượng chính là trong thời loạn này của triều Hạ. Kiệt cũng nhân việc Thương không phục làm lý do để thảo phạt, đánh bại thủ lĩnh của Thương là Thang. Thang bị cầm tù tại Hạ Đài, sau đó được phóng thích. Ngoài việc đề cập đến quan hệ đối ngoại xấu đi, trong các văn hiến còn đề cập đến việc Kiệt dùng người không thích hợp trong triều đình. Kiệt chỉ quan tâm đến hưởng lạc, không màng tới khổ cực của dân gian. Theo truyền thuyết, dân Hạ nguyền rủa cho Kiệt sớm ngày quy thiên, Kiệt biết được thì nói đùa rằng bản thân là Thái Dương trên trời, Thái Dương bất tử thì ông cũng tử bất, dân Hạ liền chỉ Thái Dương trách, hỏi Thái Dương khi nào thì phá diệt, tình nguyện cùng diệt vong. Khoảng cuối thế kỷ 17 TCN và đầu thế kỷ 16 TCN, thủ lĩnh bộ tộc Thương là Thang lợi dụng tâm lý dân Hạ hận Kiệt, liên kết phương quốc bộ lạc thảo phạt Kiệt. Liên minh diệt trừ các bộ tộc thân Hạ là Vi, Cố, Côn Ngô, sau đó khai chiến với Kiệt. Thế lực của Thang lớn, Kiệt ngăn chặn không được, vừa chiến vừa trốn, cuối cùng chiến bại tại đất cũ của Hữu Tung thị. Kiệt trốn đến Minh Điều Thang đuổi kịp, triển khai đại chiến tại đây. Kiệt một lần nữa bị đánh bại, bị Thang đuổi đày tại Lịch Sơn cùng sống với Mạt Hỉ thị, cuối cùng đến núi ở Nam Sào thì mất ở đó. "Hoài Nam Tử — Tu Vũ huấn" thì viết có chút bất đồng, theo đó Thang "chỉnh binh ở Minh Điều, bao vây quân Hạ tại Nam Sào, trách mắng việc đã qua (của Kiệt), đầy đến Lịch Sơn". Trong truyền thuyết của hậu thế, Hạ hậu Kiệt bị miêu tả là một bạo quân, hậu nhân thường đem Hạ hậu Kiệt và Thương Trụ Vương, Chu Lệ Vương và Chu U Vương gọi chung là các bạo quân họa quốc ương dân, nhưng trong các văn hiến khá sớm thì Kiệt được ghi chép rất giản lược. "Thượng Thư — Thang thệ" có ghi rằng khi Thang phạt Kiệt có nêu ra tội trạng của Kiệt chỉ là "suất át chúng lực, suất cát Hạ ấp". Trong trận Minh Điều, Hạ thất bị lật đổ, Thang nhận được sự ủng hộ của phương quốc bộ lạc mà xưng vương tại Bạc, kiến lập Thương vương triều, trở thành lần thay đổi triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Chính quyền thế tập đầu tiên tại Trung Quốc là Hạ triều truyền được 14 đời, 17 vua, trải qua 471 năm. Sau khi Hạ diệt vong, thế lực còn lại chủ yếu lưu cư Trung Nguyên song cũng có hai chi phân biệt thiên di hướng bắc và hướng nam. Kiệt đem theo không ít dân chúng Hạ tộc từ Lịch Sơn nam thiên đến Nam Sào, chính là chi phía nam. Chi phía bắc tiến vào cao nguyên Mông Cổ, cùng các tộc bản địa dung hợp, có người nhận định đấy chính là dân tộc được hậu nhân gọi là Hung Nô. "Sử ký — Hung Nô liệt truyện" có chép rằng "tiên tổ của Hung Nô cũng là hậu duệ của Hạ hậu thị, gọi là Thuần Duy". "Quát địa phả" cho biết chi tiết hơn "con (Hạ Kiệt) là Huân Dục có thê là thê thiếp của Kiệt, tị cư ở Bắc Dã, di dời theo thú nuôi, Trung Quốc gọi là Hung Nô". Thương Thang phong một chi của Hạ thất mang họ Tự tại Kỷ quốc để phụng tự tông miếu tổ tiên. "Sử ký-Trần Kỉ thế gia" ghi rằng hậu duệ Hạ tộc tại "Ân thời hoặc phong hoặc tuyệt" Sau khi Chu Vũ Vương diệt Thương và trở thành vương, ông phong hậu duệ của Đại Vũ là Đông Lâu công tại đất Kỷ, tiếp tục quốc tộ Kỉ quốc, chủ quản việc tế tự đối với Vũ. Mạt kỳ Xuân Thu, Khổng Tử do sùng thượng Hạ lễ nên còn đặc biệt đến Kỷ quốc phỏng vấn khảo sát Tại thôn Vũ Lăng ở Cối Kê Sơn thuộc Thiệu Hưng của Chiết Giang, đời sau họ Tự của Hạ Vũ đến nay vẫn giữ lăng của Vũ Quách Mạt Nhược, Hồ Hậu Tuyên, Trình Cảnh nhận định Thổ phương trong Giáp cốt văn chính là Hạ sau khi chiến bại. Căn cứ ghi chép trên Bốc từ, Thổ phương là một phương quốc lớn mạnh ở tây bắc của Ân, là đối tượng mà Vũ Đinh và các vua Thương trước đó trường kỳ chinh thảo. Sau khi Vũ Đinh chinh phục Thổ phương, tại "Đường thổ" trong nội địa của Thổ phương cho kiến thiết nên thành ấp lớn là "Đường", khống chế nhân dân Thổ phương, về sau không lại thấy có ghi chép Thổ phương bạn biến. Thời Chu sơ, Thành Vương phong quân chủ đầu tiên của Tấn quốc là Đường Thúc Ngu ở nơi đó. Sau khi vua Thiếu Khang trung hưng vương thất, phong cho con thứ là Vô Dư làm vua nước Việt ở đất Cối Kê (nay thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang) để lo việc phụng thờ. Do ở nơi man hoang nên giai đoạn sau nhà Hạ và nhà Thương cho đến Tây Chu nước này không có ảnh hưởng gì lớn để sử sách ghi chép, đến cuối thời Xuân Thu, Việt vương Câu Tiễn giành ngôi bá chủ Trung Nguyên nước Việt mới được chú ý đến. Đến giữa thời Chiến Quốc, nước Việt suy yếu bị nước Sở đánh bại. Con thứ hai của Việt vương Vô Cương là Minh Di được vua Sở cho cai quản vùng đất Ngô Thành (nay ở huyện Ngô Hưng tỉnh Chiết Giang), nằm ở phía nam Âu Dương Đình, được đặt tên như vậy bởi vì nó được xây dựng ở phía nam và là phía dương (mặt trời) của núi Âu Dương, vì thế ông được đặt danh hiệu là Âu Dương Đình Hầu. Năm 223 TCN, tướng nước Tần là Vương Tiễn tiến vào vùng đất Việt. Các thủ lĩnh người Việt ở đây (là hậu duệ của Câu Tiễn) đều quy phục. Vương Tiễn bèn lấy đất Việt lập quận Cối Kê. Con cháu họ tiếp tục giữ họ Âu, Âu Dương hay Âu Hầu để tưởng nhớ chức tước ngày xưa của tổ tiên. Năm 334 TCN, một nhánh khác của nước Việt bị nước Sở đánh bại đã chạy đến vùng Phúc Kiến xây dựng nước Mân Việt. Quốc gia này bị nhà Tần khuất phục, tuy nhiên chẳng bao lâu "nhà Tần mất hươu khiến thiên hạ cùng đuổi", cháu 7 đời của Vô Cương là Vô Chư vì có công chống Tần nên được Hán Cao Tổ cho phép phục quốc và phong làm Mân Việt Vương. Mân Việt bị chiếm đóng một phần bởi nhà Hán vào cuối thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Tuy nhiên, do địa hình được bao bọc bởi núi non, nhà Hán lúc đó không thể hoàn toàn kiểm soát được vùng này. Mân Việt bị thôn tính bởi Nam Việt từ năm 183 TCN đến 135 TCN, nhưng họ phục quốc chưa bao lâu thì bị xâm chiếm bởi nhà Hán năm 110 trước Công Nguyên. Một phân nhóm dân tộc tên là Huệ An Nữ tự nhận họ là con cháu của những người Mân Việt xưa. Ngày nay, theo phân loại dân tộc của Trung Quốc, nhóm Huệ An Nữ được xếp làm một nhánh của dân tộc Hán. Năm 472 TCN, sau khi tiêu diệt nước Ngô, Việt vương Câu Tiễn phong cho con trai thứ (chưa rõ tên) ở Đông Âu tộc (nay thuộc Ôn Châu và Thai Châu tỉnh Chiết Giang. Tuy nước Việt bị Sở sáp nhập nhưng bộ phận Đông Âu tộc vẫn được quyền tự trị, thủ lĩnh bộ tộc tự xưng là Đông Âu vương. Năm 220 TCN, Tần Thủy Hoàng hạ lệnh phế truất thủ lĩnh đời thứ sáu Đông Âu tộc là An Chu, Đông Âu tộc bị sáp nhập với Mân Việt thành quận Mân Trung, chấm dứt sau 252 năm tồn tại. Năm 209 TCN, con trai An Chu là Sô Giao nhân nhà Tần đại loạn cũng vùng lên phục quốc, năm 200 TCN được Hán Cao Tổ phong làm Hải Dương Tề Tín Hầu. Năm 191 TCN, Hán Huệ Đế cải phong Giao làm Đông Hải vương, tuy nhiên thế tục vẫn gọi ông này là Đông Âu vương. Năm 138 TCN, Đông Âu quốc chính thức bị nhà Hán sáp nhập, quân chủ cuối cùng là Sô Vọng bị Hán Vũ Đế giáng phong làm Quảng Vũ hầu. Phạm vi thế lực và phân chia hành chính. Triều Hạ tồn tại trong khoảng thời gian quá độ từ liên minh thành bang bộ lạc tới quốc gia phong kiến, do đó không có cương vực rõ ràng. Quan hệ giữa thị tộc Hạ và các thành bang bộ lạc khác khá giống với kiểu quan hệ giữa nước tông chủ và nước triều cống. Tuy nhiên, có một ít phương quốc được Hạ thất phân phong, giống như nước chư hầu. Do vậy, chỉ có thể lấy phạm vi thế lực để biểu thị lực ảnh hưởng của triều Hạ. 11 chi họ Tự của Hạ tộc và vương thất trung ương Hạ hậu thị về dòng máu có quan hệ tông pháp, về chính trị có quan hệ phân phong, về kinh tế có quan hệ cống phú, nói chung cấu thành phạm vi lãnh thổ lõi của vương triều Hạ. Hạ bắt đầu từ tây bộ Hà Nam và nam bộ Sơn Tây ở phía tây; phía đông đến nơi giao giới giữa ba tỉnh Hà Nam, Sơn Đông, Hà Bắc; phía nam đến bắc bộ tỉnh Hồ Bắc; phía bắc lên tới nam bộ tỉnh Hà Bắc. Khu vực này có trung tâm địa lý nay là dải Yển Sư, Đăng Phong, Tân Mật, Vũ Châu. Đương thời, thế lực của Hạ kéo dài ra nam bắc Hoàng Hà, thậm chí là đến lưu vực Trường Giang. Vào tảo kỳ triều Hạ, Hạ tộc chủ yếu sinh hoạt tại vùng đất Hà Nội ở trung nam bộ Sơn Tây, men theo Phần Thủy, Hà Thủy dời đến phía đông nam, vãn kỳ đến lưu vực Y-Hà ở trung bộ Hà Nam. "Quốc ngữ-Chu ngữ thượng" viết rằng "xưa Y Lạc khô cạn nên Hạ mất", có thể thấy sông Y-Lạc mang tính trọng yếu đối với vùng thủ đô thời vãn kỳ của Hạ. Chín châu trong truyền thuyết. Về phân chia hành chính, triều Hạ chọn thi hành cửu châu chế. Căn cứ theo ghi chép trong "Thượng Thư-Vũ cống", sau khi Đại Vũ trị thủy thành công, đem Trung Thổ phân thành chín châu là Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dự, Dương, Kinh, Lương, Ung, và chiếm lấy đồ kim thuộc và thạch khoáng từ chín châu, đúc ra cửu đỉnh để tượng trưng cho quyền lợi quốc gia, do vậy "Cửu Châu" trở thành danh từ đại diện cho quốc gia Trung Quốc, và ý "định đỉnh" là kiến lập chính quyền. Theo "Vũ cống", chín châu phân chia như sau: Cửu châu mượn danh từ công việc của Đại Vũ, kỳ thực là do người thời Chiến Quốc ước đoán phân chia Thiên hạ. Quốc gia thời Hạ nằm ở giai đoạn manh nha, bức xạ chính trị nhìn chung không vượt khỏi thành ấp nội địa, ở ngoài kinh kì thì thông qua phong bang kiến quốc theo thị tộc chế cùng với thông hôn kết minh mà đạt thành quan hệ. Do lãnh thổ nhỏ hẹp, chính quyền trung ương đơn nhất không cần thiết hay không có năng lực phân chia khu vực hành chính. Thời kỳ viễn cổ, chưa có khái niệm rõ ràng về đô ấp, xã hội trong giai đoạn nửa chăn nuôi đi săn, nửa trồng trọt định cư, dân của bộ tộc Hạ theo thủ lĩnh và tráng đinh trong tộc thiên di. Sau khi tài nguyên đương địa đã tận, họ liền thiên di đến đất khác, không thường trú tại một nơi. Vùng đất Hạ hậu cư trú gọi là "Đại Ấp" hoặc "Hạ Ấp", đó là khái niệm nguyên thủy của thủ đô quốc gia. Văn hiến ghi chép thủ lĩnh Hạ tộc trước sau định cư tại 17 xứ: Đại Hạ, Hạ Khư Cao Mật Dương Thành, Dương Trạch, Tấn Dương, Bình Dương, Ký, An Ấp, Hạ Ấp, Châm Tầm, Đế Khâu, Luân, Nguyên, Lão Khâu, Tây Hà, Hà Nam. Vị trí cụ thể của các đô ấp này đều dĩ nhiên không có cách nào khảo chứng, trong đó một số có khả năng là biệt danh của cùng một thành ấp. Bộ lạc phương quốc. Phương quốc là quốc gia quy mô nhỏ được chuyển hóa hình thành từ thị tộc bộ lạc nguyên thủy. Các bang quốc này nằm bên ngoài cương giới, không chịu sự quản lý trực tiếp của Hạ hậu. Một số phương quốc chỉ là bộ tộc lớn, song có một số phương quốc khá lớn, thiết lập nên tổ chức quốc gia, quy mô thậm chí còn lớn hơn Hạ hậu thị Hữu Cùng thị từng có một thời gian thay thế cầm quyền, Thiếu Khang từng chạy đến Hữu Nhưng thị, Hữu Ngu thị, giữ các chức mục chính và bào chính. Hữu Nhưng thị còn có tên là Hữu Nhâm thị, mang họ Phong, cư trú bên bờ hồ Vi Sơn ở Sơn Đông, là hậu duệ của Thái Hạo, Thiếu Hạo. Giữa Hữu Nhưng thị và Hạ hậu thị có qua lại mật thiết, có hiện tượng thông hôn, trong đó thê của Tướng là Mân đến từ Hữu Nhưng thị. Khi Tướng bị Hàn Trác sát hại, Mân đang mang thai, bà lánh nạn tại cố hương, sinh hạ Thiếu Khang tại Hữu Nhưng. Sau khi Thiếu Khang phục hưng Hạ thất, phong tộc nhân của Hữu Nhưng ở Nhâm quốc. Hữu Ngu thị là hậu duệ của Ngu Mạc, Đế Thuấn, họ hoạt động tại lưu vực Phần Thủy cổ tại tây bắc Hà Nam và nam Sơn Tây. Khi Thuấn già, nhận thấy con mình là Thương Quân không tài không đức, do vậy thiện vị cho Vũ. Lúc trước, Nghiêu truyền vị cho Thuấn, Thuấn sau lại nhượng vị cho con Nghiêu là Đan Chu, Vũ muốn làm theo họ mà nhượng vị cho Thương Quân. Tuy nhiên, do dân chúng ủng hộ Vũ mà không đếm xỉa đến Thương Quân, do vậy Vũ kế thừa đế vị, phân phong cho Thương Quân ở phụ cận Ngu Thành, Hà Nam ngày nay. Bốn đời sau, Hạ thất trung suy, Thiếu Khang chạy đến Hữu Ngu tị nạn, được thủ lĩnh Ngu Tư đại lực hiệp trợ nên mới xoay chuyển được thế cục cho Hạ thất, Hữu Ngu thị có quan hệ trực tiếp đến tồn vong của Hạ hậu thị. Có thuyết nói họ Yển là hậu duệ của Cao Dao. Khi Vũ già có tiến cử Cao Dao làm người kế thừa, song Cao Dao lại mất trước Vũ, Vũ lại tiến cử Bá Ích. Sau khi Vũ mất, con Vũ là Khải thu phục được sự ủng hộ của dân chúng, Bá Ích mất quyền rồi chiến bại trước Khải và bị giết. Hậu duệ của Cao Dao được phong ở ba đất Lục, Anh, Hứa ở đông nam. Hữu Hỗ thị là bộ lạc cùng họ với Hạ. Khi Khải đoạt quyền của Ích, Hữu Hỗ thị không phục lấy danh nghĩa "Nghiêu Thuấn chọn người hiền tài còn Vũ thì độc chiếm" mà phản đối Khải thống trị, kết quả chiến bại trong trận chiến Cam, bộ chúng thì bị giáng làm mục nô. Con của Dận là Bá Mĩ nguyên là thủ lĩnh bộ lạc thần phục Hạ hậu, khi Thái Khang mất nước thì quy phục Hậu Nghệ, khi Hàn Trác giết Nghệ thì chạy đến Hữu Cách thị. Mĩ biết việc Thiếu Khang chuẩn bị phục hưng Hạ thất thì tổ chức binh dân Hữu Cách và nhị Châm hội sư với Thiếu Khang. Châm Quán thị, Châm Tầm thị được gọi chung là "nhị Châm", cùng mang họ Tự. là thị tộc thân Hạ trọng yếu vào tảo kỳ thời Hạ. Trong quá trình Hạ hậu thị thiên di về phía đông nam, với hai thị tộc có sự dung hợp, đến vãn kỳ thời Hạ thì vùng đất của Châm Tầm trở thành đô ấp của Hạ hậu, di chỉ Nhị Lý Đầu tại Yển Sư có khả năng chính là Châm Tầm. Thời kỳ "vô vương", Hàn Trác mệnh con là Kiêu suất binh diệt nhị Châm, đồng thời giết Hạ hậu Tướng đang tị nạn tại Châm Tầm. Thế lực còn lại của nhị Châm một số năm sau gia nhập vào liên quân của Thiếu Khang và Bá Mĩ, phục hưng Hạ thất. Hữu Hôn thị cũng là một chi hậu duệ khác của Thiếu Hạo, là một phương quốc lớn mạnh vào vãn kỳ thời Hạ. Khi Hạ Kiệt triệu tập hội minh tại Hữu Nhưng, thủ lĩnh Hữu Hôn thị do bất mãn với sự thống trị của Kiệt nên định về nước, bị Kiệt diệt trừ. Hữu Sân thị là hậu duệ của Đế Khốc Cao Tân thị. Thời Khải, phong quốc cho Chi Tử. Giao thời Hạ-Thương, dưới sự bang trợ của Y Doãn, Hữu Sân thị và Thương Thang kết minh tại Bắc Bạc, Thang còn cưới phi từ Hữu Sân thị. "Sơn Hải kinh-Hải ngoại tứ kinh" chép rằng ngoại biên Hạ hậu thị có rất nhiều phương quốc mang tên có chữ "quốc", có khả năng chỉ là thần thoại song cũng có khả năng là danh xưng sai lệch của các bộ lạc viễn cổ.。 Trong Hán ngữ thời Thượng Cổ, "Miêu" và "Man" đồng âm đồng ý, Tam Miêu và "Nam Man" của hậu thế có thể có cùng nguồn gốc. "Chiến Quốc sách-Ngụy sách" chép rằng vị trí của Tam Miêu: phía đông Động Đình, phía tây Bành Lễ, bắc đến Văn Sơn, nam tiếp Hành Sơn. Thời kỳ Nghiêu Thuấn, nước lụt tràn ngập, Miêu thừa cơ "nổi loạn" tại Đông Nam, cùng với Hoan Đâu, Cộng Công, và Cổn gọi chung là Thiên hạ "tứ tội". Thuấn phái Vũ đi hàng phục dân Miêu song không đạt được kết quả. Thuấn trong những năm cuối từng tự thân nam chinh, trên đường bệnh mất tại Thương Ngô. Vũ kế tục sự nghiệp chinh Miêu, phát ra lời thệ sư "Vũ thệ", cùng quân Miêu triển khai đại chiến kéo dài trong 70 ngày, chế phục quân Miêu, bình định Tam Miêu. Từ đó, Tam Miêu suy lạc không dừng, biến mất khỏi vũ đài lịch sử. Người Di sống ở phía đông của Trung Nguyên, cho nên gọi là Đông Di, nổi tiếng về tài cung tên. Tộc Đông Di ban đầu phân bố tại khu vực huyện Dịch, Bảo Định, Hà Bắc cho đến chân núi phía nam của Yên Sơn, vào thời kỳ Hạ-Thương, họ phân ra làm bốn phần, một chi lưu cư tại trung bộ Hà Bắc, chi phía bắc đi vòng qua vịnh Bột Hải để đến Liêu Đông và bán đảo Triều Tiên, chi phía nam qua Sơn Đông nam hạ đến khu vực Giang Hoài, còn chi phía tây trải khắp hai tỉnh Sơn Tây và Hà Nam ở tây bộ bình nguyên Hoa Bắc, xa nhất đến tận Thiểm Tây. Chi phía tây vào tảo kỳ thời Hạ xảy ra mâu thuẫn với Hạ hậu thị, trong giai đoạn từ Thái Khang đến Trữ trở thành mối uy hiếp không nhỏ đối với chính quyền Hạ hậu thị. Hữu Cùng thị là hậu duệ của Thiếu Hạo người Đông Di, nổi lên ở Cùng Tang, sau đó bắc thiên đến Cách ven bờ Bột Hải, dần lớn mạnh tại đây. Thời kỳ Tam Hoàng, liên minh bộ lạc của Hữu Ngu thị hiệp đồng Thuấn Đế xua đuổi các bộ lạc nghịch minh Đại Phong, Thập Nhật, Cửu Anh, Tạc Xỉ, Phong Hy, Tu Xà. Đầu thời Hạ, Hữu Cùng thị tây thiên đến Tư, sát gần khu vực trung tâm của Hạ hậu thị. Thời Thái Khang, Hạ thất trung suy, thủ lĩnh Nghệ của Hữu Cùng thị thừa cơ tây tiến. Nghệ dẫn người nam vượt Hoàng Hà, diệt bốn thuộc quốc của Hạ hậu, chiếm cứ vùng chân núi phía bắc của Tung Sơn. Sau đó, Hậu Nghệ đoạt được Hạ đô Châm Tầm, đày Thái Khang ra đông bộ Hà Nam, lập Trung Khang làm quân chủ. Trung Khang mất, con là Tướng được lập, Nghệ bèn thay thế nắm quyền. Tám năm sau, Nghệ bị nghĩa tử Hàn Trác sát hại, Hàn Trác nấu thịt Nghệ và cưỡng bách con Nghệ ăn, con Nghệ không chịu nên cũng bị Hàn Trác sát hại. Hàn Trác lấy thê của Nghệ, sinh ra Ế và Kiêu. Hàn Trác tàn bạo hôn dung, Hạ hậu Thiếu Khang liên hiệp với hàng thần Mĩ của Hữu Cách thị, Hữu Ngu, Hữu Nhưng, Châm Quán, Châm Tầm diệt Ế, Kiêu và Hàn Trác. Tộc nhân của Hữu Cùng thị từ đó rời khỏi khu vực Lạc Hà, dời về phía tây nam. Phân chi Đông Nam của tộc Đông Di có chín tộc, gọi chung là "Cửu Di". "Trúc thư kỉ niên" ghi rằng vào thời Tướng, "Vu Di đến quy thuận", nhưng thời Thiếu Khang phục quốc chỉ có Phương Di quy phục, tám tộc còn lại tiếp tục chống lại Hạ tộc. Trong thời gian Trữ tại vị, quân Hạ nhiều lần chiến thắng trước tộc Di, giúp khoách trương thế lực của Hạ hậu đến bờ biển Hoa Đông. Đến thời Hòe, Cửu Di lần lượt quy phục Hạ hậu, sau đó Di và Hạ hòa hảo. Thương tộc mang họ Tử, nguyên là Đông Di, thủy tổ là Tiết do Giản Dịch thuộc Hữu Tung thị sinh. Tiết là nhân vật sống cùng thời kỳ với Vũ, sống tại hạ du Hoàng Hà, từng hiệp trợ Đại Vũ trị thủy. Trải qua năm vị tiên công là Chiêu Minh, Tướng Thổ, Xương Nhược, Tào Ngữ, Minh, Thương tộc phát triển từ đông bộ Hà Bắc đến bắc bộ Hà Nam. Minh nhậm chức thủy quan của Hạ hậu, mất trong quá trình trị thủy. Trong thời gian con của Minh là Vương Hợi tại vị, kinh tế Thương tộc đạt đến đỉnh cao mới, bốc từ ghi rằng Vương Hợi trong một lần tế tự có thể dùng nhiều đến 50 đầu bò. Thủ lĩnh Miên Thần của Hữu Dịch thị cưỡng bách Vương Hợi giao ra gia súc và nhân khẩu, Vương Hợi cự tuyệt, Miên Thần liền sát hại Vương Hợi và đoạt lấy bò dê. Về sau, đệ của Vương Hợi là Vương Hằng đoạt về bò dê từ trong tay của Miên Thần. Con của Vương Hằng là Thượng Giáp Vi liên hiệp với Hà Bá thị thảo phạt Hữu Dịch thị, giết Miên Thần. Thương tộc bắt đầu lớn mạnh đồng thời với việc Hữu Cùng thị suy lạc. Thời kỳ Chủ Nhâm, Chủ Quý, thế lực của Thương tộc không ngừng tăng lên, họ tập hợp các thị tộc bộ lạc ở hạ du Hoàng Hà, từng bước một tiến gần đến khu vực Trung Nguyên của Hạ hậu thị. Sau khi Thiên Ất Thang kế vị, Thương thu thập nhân tài, dưới sự hiệp đồng của Y Doãn, Trọng Hủy, Nữ Cưu, Nữ Phòng, bắt đầu chinh Cát, lại trước sau tiêu diệt các thị tộc thân Hạ như Vi, Cố, Côn Ngô, làm suy yếu thế lực của Hạ hậu, "mười một cuộc chiến mà thành vô địch thiên hạ". Thang thừa cơ đất Hạ phát sinh hạn tai mà khởi binh tây tiến, triển khai chiến đấu với Hạ Kiệt tại Minh Điều, Kiệt không chặn nổi nên phải chạy đến Nam Sào. Thang xưng vương tại Tây Bạc, Hạ triều hoàn toàn sụp đổ, Thương triều thành lập. Thể chế chính trị. Thời Hạ, về mặt xã hội đã xuất hiện một số cơ cấu và chế độ quốc gia mang tính đại biểu. Cơ cấu quốc gia của triều Hạ bắt nguồn trực tiếp từ cơ cấu liên minh bộ lạc, có đặc trưng là: Đương thời, tồn tại liên minh phương quốc bộ lạc theo phương pháp lấy vương triều Hạ của Hạ hậu thị làm trung tâm, các phương quốc bộ lạc này đều hình thành dưới chế độ thị tộc phong kiến của Hạ hậu thị, và sau đó duy trì quan hệ không thay đổi với Hạ hậu, đồng thời nhận được sự bảo hộ của Hạ hậu. "Thi Kinh" trong phần giảng thuật về thời kỳ chiến tranh giữa Thang và Kiệt có nói "Vi, Cố ký phạt, Côn Ngô, Hạ Kiệt" cho thấy Thỉ Vi thị và Cố thị hiệp đồng với Côn Ngô thị, Hạ hậu thị tham dự chiến tranh. Tuy nhiên Hậu Nghệ thuộc Hữu Cùng thị Đông Di có thể "dựa vào dân Hạ để kế thừa Hạ chính", qua đó cũng có thể thấy quan hệ thân cận giữa Hữu Cùng thị và Hạ hậu thị. Trong các ghi chép trong văn hiến, nguyên nhân Thái Khang thất quốc và Thiếu Khang phục quốc được quy kết là do Thái Khang, Tướng, Hàn Trác ra ngoài săn bắn thường nhật, không quan tâm đến dân sự. Tuy nhiên vào tiền kỳ Hạ triều, nông nghiệp chưa phát triển, nhiệm vụ săn bắn đều do các cường đinh tráng nam trong nội bộ bộ lạc đảm nhiệm, việc quân chủ săn bắn bên ngoài do vậy là hoạt động sản xuất bình thường, không phải là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất quyền mất nước. Vào sơ kỳ Hạ triều tồn tại cảnh tượng tạp cư đan xen giữa Hạ tộc và ngoại tộc, giữa các bầy người xảy ra đấu tranh liên miên. Uy hiếp lớn nhất của Hạ tộc đến từ Di tộc phía đông, hai tộc triển khai chiến tranh hơn 100 năm, đến thời Trữ, Hòe thì mới hạ màn. Thời kỳ "vô vương" kéo dài bốn mươi năm từ khi Thái Khang thất quốc đến Thiếu Khang phục quốc chứng minh rằng Đông Di tộc khi ấy có thế lực cường thịnh, cũng phản ánh cơ sở của chính quyền Hạ hậu không chắc chắn. Nghệ thuộc Di tộc song lại được Hạ dân tán thành, thông qua hình thức xua đuổi Thái Khang mà đoạt được quyền vị Hạ hậu, cho thấy vẫn còn tồn tại đặc trưng dân chủ thiện nhượng của xã hội nguyên thủy "đức suy thì thay thế". Sau khi Thái Khang thất quốc, Thiếu Khang từng chạy đến chỗ Hữu Ngu thị. Thủ lĩnh Hữu Ngu thị là Ngu Tư gả hai con gái cho Thiếu Khang, lại ban điền ấp cho Thiếu Khang, Thiếu Khang đang lúc khốn nan nay có được một địa vị nhất định. Tuy nhiên, Hữu Ngu thị và Hạ hậu thị không có quan hệ huyết thống trực tiếp, song thủ lĩnh Hữu Ngu thị có vẻ như đại lực ủng hộ Hạ hậu thị, thể hiện rõ rằng bộ lạc thần thuộc Hạ hậu thị bắt đầu chấp thuận sự thống trị "gia thiên hạ" của Hạ hậu thị, thừa nhận rằng sự thống trị của Hạ hậu thị mới là chính thống. Quốc gia mà chính quyền Hạ hậu kiến lập là một quốc gia phôi thai nguyên thủy, do vậy sức sản xuất ở mức thấp, cơ cấu chính trị không hoàn thiện, hệ thống giao thông lạc hậu, do vậy thế lực của Hạ hậu giới hạn trong khu vực vương kỳ rộng chừng 100 lý. Khu vực ngoài cương giới của Hạ, Hạ hậu chỉ có thể thông qua phương thức kết minh hòa hiếu để duy trì ảnh hưởng của mình. Kiểu cục thế này là đặc trưng quốc gia chung của Tam Đại thượng cổ là Hạ, Thương và Tây Chu. Thể hệ quan chức. "Lễ ký-Tế nghĩa" viết rằng "thời xưa, Hữu Ngu thị quý đức và thượng xỉ, Hạ hậu thị quý tước và thượng xỉ", phản ánh người Hạ xem trọng quan vị, cũng qua đây có thể nói chức quan đời Hạ có phân biệt đẳng cấp cao thấp rõ ràng. Trong văn hiến hậu kỳ có chép rằng thời Hạ đã lập chuỗi quan chức lớn nhỏ. Trong "Thượng thư-Cam thệ" có ghi "đại chiến ở Cam, bèn triệu lục khanh, Vương nói: Ôi!, lục sự chi nhân, ta thệ cáo ngươi"; còn trong "Mặc tử-Minh quỷ" có viết "tả hữu lục nhân"; lục khanh, lục sự chi nhân, lục nhân có khả năng giống như giống như lục khanh thời Chu, sáu vị đại quan giúp đỡ Hạ hậu quản lý sự vụ quốc gia. "Lễ ký-Minh đường vị" có nói đến "Hạ hậu thị quan bách" chỉ là quan viên hạ cấp của lục sự chi nhân. Từ "bách" trong "quan bách" chỉ số nhiều, cũng không phải là số tròn chục, có rất ít ghi chép về chức vị của quan bách. Thời Hạ, có nhiều chức quan gọi là "chính", có "mục chính" quản lý việc chăn thả gia súc, bào chính quản lý việc nấu ăn nhà bếp, xa chính chuyên quản lý việc chế tạo xe. Bên dưới quan "chính" còn tồn tại tiểu lại gọi là "công". "Hạ thư" viết "tù nhân dĩ mộc đạc tuẫn vu lộ".", quan viên mà Hạ hậu cho đi tứ xứ tuần chinh thi ca và ý kiến gọi là "tù nhân". "Hạ thư" có viết "Thần bất tập ư phòng, mậu tấu cổ, sắc phu trì, thứ nhân tẩu", tự thuật về một khoảng thời gian xảy ra nhật thực, có "mậu" quan đánh trống lớn để báo cho mọi người, mỗi quan lại và thứ dân tự chạy vội vàng báo cho nhau. "Tù nhân", "mậu", "sắc phu" đều thuộc tiểu lại cấp "công" Hạ hậu có khả năng còn có "quan chiêm" chuyên lo việc bói toán bằng mai rùa và cỏ thi (tức bốc thệ). "Mặc Tử-Canh trú" chép rằng Hạ hậu Khải đúc đỉnh ở Côn Ngô, từng thông qua bốc quan dưới quyền là Ông Nan Ất để cầu vấn thiên thần Ngũ phục cống phú từ Cửu châu là nguồn kinh tế chủ yếu của Hạ hậu thị, trong số các "quan bách" của Hạ hậu thị có nhiều người chuyên lo việc trưng thu phú dịch. Trong "Thượng thư-Hạ thư", liên quan đến quá trình thiết quan phân chức về đại lược, có viết "phú nạp dĩ ngôn, minh thí dĩ công, xa phục dĩ dung. Chế độ phú nạp. Chế độ thị tộc phong kiến thời Hạ cũng có sự thể hiện về mặt kinh tế. Thượng thư viết "Tứ hải hội đồng, lục phủ khổng tu. Thứ thổ giao chính, để thận tài phú, hàm tắc tam nhưỡng thành phú, trung bang tích thổ, tính, chi đài đức tiên, bất cự trẫm hành", tức nói thị tộc bộ lạc trong tứ hải đều quy phụ Hạ hậu, sáu loại vật chất kim mộc thủy hỏa thổ cốc đều chịu trị lý, phân biệt rõ ràng ruột đất tốt xấu các xứ, đem phân vào ba hạng để quyết định số lượng phú nạp, khiến cho việc phú nạp được hợp lý mà không thiên lệch, việc ban đất, ban họ căn cứ vào quan hệ giữa phương quốc bộ lạc và Hạ hậu mật thiết hay xa cách để định ra thứ tự phong kiến trước sau. Thiên "Vũ cống" cũng liệt ra tình hình cụ thể về vật phẩm mà Cửu châu phú nạp, đem số lượng vật phẩm phân thánh 9 hạng: thượng thượng, trung thượng, hạ thượng, thượng trung, trung trung, hạ tủng, thượng hạ, trung hạ, hạ hạ. Ngoài ra, còn căn cứ vào cự ly địa lý xa gần so với đô ấp của Hạ hậu thị mà phân ra "Ngũ phục" điện, hầu, tuy, yêu, hoang. Miêu tả về Cửu đẳng và Ngũ phục là theo cách nhìn của người thời Chu đối với kinh tế phú nạp của triều Hạ, không nhất định là thực tế vào thời Hạ. Như thép, thép cứng không có nhiều khả năng là vật phẩm thời Hạ, tước vị chư hầu thời kỳ Hạ cũng không có cách nào khảo chứng. Tuy nhiên, trong đó phản ảnh một số quan điểm, như Hạ hậu căn cứ đường đi xa gần và tình hình sản xuất các nơi để định ra các sản vật phải nộp khác nhau, có thể đúng là thực tế vào thời Hạ. Luận thuật về chế độ phú nạp của triều Hạ, "Mạnh Tử" viết "Hạ hậu thị năm mươi mà cống, người Ân bảy mươi mà trợ, người Chu trăm mẫu mà triệt, kỳ thực đều đánh thuế thập phân", ý là chế độ "cống" thời Hạ, "trợ" thời Ân và "triệt" thời Chu thực tế đều buộc dân hộ nộp một phần mười vật phẩm làm ra mỗi năm, và chế độ điền phú Tam Đại Hạ-Thương-Chu một mạch nối tiếp nhau, Cố Viêm Vũ dựa vào đó mà nhận định "chế độ điền phú từ thời cổ đến nay, thực tế bắt đầu từ Vũ". Chế độ thập phân của triều Chu lấy tổng thu hoạch bình quân trong vài năm của một dân hộ, sau đó thu một số trung dung không đổi làm số lượng thuế phải nộp., với sức sản xuất và sức bức xạ của chính quyền thời Hạ thì vẫn chưa đủ khả năng thi hành chế độ địa tô thực vật như vậy. Mạnh Tử viết chữ "cống", mang nghĩa thể hiện là giữa dân chúng và quý tộc không có yếu tố cưỡng chế quá lớn, mà có khả năng tồn tại tính tự nguyện ở một mức độ nhất định. Chế độ phú cống mang tính chất dân chúng tự chủ này phù hợp với thời Hạ, vốn có sức sản xuất thấp kém và chính quyền của Hạ hậu thị có cơ cấu không hoàn chỉnh, cũng gần gũi với trật tự kinh tế dân chủ của thị tộc bộ lạc nguyên thủy. Vào mạt kỳ triều Hạ, quan hệ giữa Hạ hậu thị và phương quốc bộ lạc xấu đi, Hạ hậu Kiệt thảo phạt tứ xứ, ông tăng số điền phú quy định để sung cho quân phí, tăng thêm gánh nặng cho nhân dân, kích thích tâm lý bất mãn, khiến họ phản lại Hạ hậu mà chạy sang với Thương Thang. Trong lúc chinh Hạ, Thang từng thề trước mọi người "tội Hạ như thế nào? Hạ vương làm hại đến sức của mọi người, chia cắt Hạ ấp, có dân chúng mệt mà chẳng giúp" để trách tội trạng chủ yếu của Kiệt. Ngoài việc cống thập phân, Kiệt còn bắt dân binh chinh dịch, sau đó dân chúng bất mãn nên chọn thái độ bất hợp tác. Nhìn sang chế độ "trợ" thời Ân-Thương, bình dân bách tính ngoài nghĩa vụ sản xuất nông nghiệp còn có trách nhiệm lao dịch với binh dịch là chính, kết quả là Thương tộc có thể động viên binh lực lớn hơn so với Hạ hậu. Chế độ hình pháp. Văn hiến cổ chép rằng vào thời kỳ Hạ đã có chế độ hình pháp khá hoàn thiện. "Thượng thư-Lã hình" có viết "Mục vương theo Thục hình thời Hạ mà chế ra Lã hình", tức là chỉ việc Chu Mục vương lấy Thục hình của triều Hạ để chế định chế độ hình pháp của Chu quốc, là tham khảo trọng yếu của "Lã hình". "Thục hình" được viết trong văn bản có nhiều khả năng là một loại với "Vũ hình" trong Tả truyện "Hạ hữu loạn chính, nhi tác Vũ hình" Nhưng Thục hình, Vũ hình có phải là hình pháp vào thời Hạ hay không, nội dung cụ thể ra sao, đến nay vẫn chưa khảo được. Trong Tả truyện có dẫn thuật từ "Hạ thư" về hình pháp thời Hạ "hôn, mặc, tặc, sát", nghĩa là người phạm vào ba loại tội hôn, mặc, tặc này thì sẽ bị phán tử hình. Thúc Hướng nước Tấn gọi loại hình pháp này là "Cao Dao chi hình". Tuy quan niệm tử hình đã sản sinh từ thời đại đồ đá mới, song lý quan của Vũ là Cao Dao có khả năng là nhân vật đầu tiên pháp luật hóa tử hình. "Hoàn thổ" của Hạ hậu Hòe, nơi Thương Thang bị Hạ kiệt giam giữ là "Hạ đài" chính là nhà giam thời Hạ, nhà giam được ghi chép sớm nhất trong sách sử Trung Quốc. Hoàn thổ là một loại nhà giam nguyên thủy, có hình tròn được đào bên dưới lòng đất, trên mặt đất dựng bờ rào vây quanh thổ lao. "Đại Vũ mô" viết "giới chi dụng hưu, đổng chi dụng uy, khuyến chi dĩ "Cửu ca", tỉ vật hoại", đánh giá rằng việc Hạ hậu lập ra hình pháp là một loại thủ đoạn trong việc tiến hành trị lý dân chúng. Chế độ quân sự. Do thiếu thốn sử liệu, tình hình cụ thể về chế độ quân sự triều Hạ khó mà khảo chứng được, chỉ có thể rút ra từ sử sách về chiến tranh. Trong "Cam thệ" có chép đến chiến tranh giữa Khải và Hữu Hổ thị, đề cập đến chi tiết Hạ hậu triệu lệnh Lục khanh, lục khanh là gọi chung tướng lĩnh sáu lộ quân đội, mỗi người trong đó lãnh đạo một đội quân, Hạ hậu có quân quyền tối cao, chỉ huy lục khanh, có thể thấy vào thời Hạ đã có chế độ quân quyền tập trung. "Cam thệ" có ghi rằng Hạ hậu ban hành lệnh động viên khi chuẩn bị thảo phạt Hữu Hổ thị, đây là ghi chép quân pháp sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc, rằng "tả bất công vu tả, nhữ bất cung mệnh; hữu bất công vu hữu, nhữ bất cung mệnh; ngự phi kì mã chi chính, nhữ bất cung mệnh. Dụng mệnh, thưởng vu tổ; phất dụng mệnh, thưởng vu xã. Dữ tắc nô lục nhữ"", phản ánh quân pháp vào thời Khải tương đối nghiêm khắc.. "Tư Mã pháp-Thiên tử chi nghĩa ghi "kì, Hạ hậu thị huyền thủ, nhân chi chấp dã. Chương, Hạ hậu thị dĩ nhật nguyệt, thượng minh dã", có vẻ nói đến việc quân đội của Hạ hậu trên chiến trường có người cầm cờ sử dụng cờ đen để chỉ huy, binh tốt dựa vào dấu hiệu hình nhật nguyệt mà nhận biết. Kết hợp các ghi chép trong văn hiến và phát hiện khảo cổ có thể biết rằng thời Hạ có hai loại binh chủng là xa binh và bộ binh, đương thời còn chưa có kị binh. Thời Hạ đã có mã chiến xa làm bằng gỗ, binh sĩ trên xe phân thành tả, hữu, ngự, ngự giả điều khiển chiến xa và chỉ huy tác chiến, còn binh sĩ tả hữu bảo vệ cho ngự giả. Nhưng dựa theo sức sản xuất thời viễn cổ mà nói, việc chế tạo xe ngựa rất hạn chế, chỉ có thể cung ứng cho Hạ hậu hoặc tướng lĩnh chỉ huy thượng cấp sử dụng, xa binh không phải là chủ lực trên chiến trường. Bộ binh là bộ phận tổ thành chủ yếu của quân đội thời Hạ. Đương thời, binh sĩ và nông dân hợp nhất, chưa có quân đội chuyên nghiệp hóa, vào thời bình họ tham gia hoạt động nông nghiệp và súc mục nghiệp như thường, trong thời kỳ chiến tranh thì họ biến thành lực lượng quân sự. Binh khí thời viễn cổ bắt nguồn từ công cụ lao động sản xuất, đa số công cụ có thể sử dụng cho cả chiến tranh và lao động. Căn cứ vào các di vật khai quật được tại di chỉ văn hóa Nhị Lý Đầu, binh khí thời Hạ chủ yếu làm từ gỗ, đá, xương, ngoài ra sau kỳ thứ ba phát hiện được một ít binh khí bằng đồng thanh. Binh khí làm bằng gỗ chủ yếu là thù, bổng (gậy), cung, song do lõi gỗ dễ mục, số dụng cụ còn lại khá ít. Binh khí làm bằng đá có rất nhiều chủng loại, đại biểu có búa đá, rìu đá, mác đá, cầu đá, đầu mũi tên làm từ đá, đầu mâu làm từ đá. Vỏ trai dùng nhiều trong chế tạo đầu mũi tên, cũng như là vật phụ trợ để tăng cường tính sát thương cho thù gỗ hay gậy gỗ. Từ kỳ thứ ba về sau xuất hiện binh khí bằng đồng thanh, song chỉ là số ít, có khả năng là để Hạ hậu, tướng lĩnh và nhân sĩ thuộc thượng tầng trong xã hội đeo. Ngoài ra, còn có binh khí lễ nghi làm bằng đồng thanh và ngọc thạch, dùng làm vật phẩm tùy táng cho quý tộc. Nhân khẩu triều Hạ là vấn đề chưa thể xác định, do niên đại xa cách, chỉ có thể thông qua suy tính số học tiến hành nghiên cứu. "Hậu Hán thư-Quận quốc chí" bổ chú, dẫn từ "Đế vương thế kỷ" của Hoàng Phủ Mật (215-282) nói rằng: "đến khi Vũ bình thủy thổ, hoàn thành Cửu châ,dân khẩu 1.3553.923 người", song thực tế con số này là do Hoàng Phủ Mật căn cứ vào nhân khẩu thời Tần, Hán, Tây Tấn mà suy tính ngược ra. Học giả hiện đại Tống Trấn Hào căn cứ việc khi Thiếu Khang cát cứ Luân ấp "hữu chúng nhất lữ" cùng với chủ giải của Đỗ Dự "500 người là một lữ", tiến hành suy tính và nhận định 500 người chỉ là binh số có thể phái đi, cộng thêm người già, phụ nữ, trẻ nhỏ thì Luân Ấp có nhân khẩu 1500-2500 người, là số nhân khẩu một thành ấp hạng trung tiểu thời Hạ. Tuy nhiên, "chúng nhất lữ" chưa hẳn là một đơn vị số lượng chính xác, cũng có thể lý giải là mang ý một quần thể người, chỉ có thể nói rằng vào thời kỳ Thiếu Khang đã có khái niệm về số lượng nhân khẩu nhất định. Do không có văn hiến ghi chép truyền thế đến nay, ngay cả việc thời Hạ đã từng tồn tại chế độ điều tra nhân khẩu, hiện cũng không thể thảo luận. Thống kê nhân khẩu chỉ có ý nghĩa trong giới hạn phạm vi không gian cụ thể, song nay không thể phục nguyên chính xác phạm vi thế lực cụ thể của triều Hạ, do vậy cũng không thể tham khảo nghịch suy. "Thượng thư đại truyện- Ngu truyện" giảng thuật là vào thời Thuấn "tám nhà xưa là một lân, ba lân thành một bằng, ba bằng thành một lý năm lý thành một ấp, mười ấp thành một đô, mười đô thành một sư, châu gồm mười hai sư". Vương Dục Dân căn cứ theo ghi chép này, giả sử mỗi nhà có năm khẩu, tính rằng thời Ngu Hạ có 432.000 hộ, 2,16 triệu người. Cuối cùng, dựa theo di chỉ khảo cổ văn hóa Nhị Lý Đầu để suy tính, Tống Trấn Hào thống kê rằng có ba thành ấp có nhiều đến 5000 cư dân, một chỗ có 4000-5000 nhân khẩu, 4 chỗ có 3000 nhân khẩu, 9 chỗ có 1.000 hay 2.000 nhân khẩu, 9 chỗ có 500-900 nhân khẩu, 5 chỗ có dưới 300 nhân khẩu. 27 thành ấp dạng mẫu bình quân nhân khẩu 1.000-1800 người, do vậy ước tính tổng nhân khẩu trong khoảng 2,4-2,7 triệu người. Triều Hạ nằm trong khoảng thời gian manh nha quá độ từ thị tộc bộ lạc đến quân chủ quốc gia, lễ học gia cổ đại xác định triều Hạ là kết thúc của thời kỳ "Đại đồng", bắt đầu thời kỳ "Tiểu khang". Toàn thiên "Lễ ký-Lễ vận" mô tả toàn diện về xã hội "Tiểu khang" bắt đầu từ thời Vũ, thời kỳ Đại đồng "Thiên hạ là của chung, tuyển dụng người hiền năng", song về thời kỳ "Tiểu khang" thì viết rằng "nay đại đạo đã ẩn, Thiên hạ là của triều đình", giảng thuật là thời Vũ Khải "công thiên hạ" biến thành "gia thiên hạ", không truyền cho người tài đức mà truyền cho con. Biến đổi này là bước ngoặt trong quá trình phát triển chính trị xã hội Trung Quốc, nguyên nhân chính là hình thức sản xuất vật chất phát triển nhanh chóng trong xã hội vãn kỳ thời đại đồ đá mới. Trong khi sản lượng vật phẩm dư thừa nhiều lên, thì quyền lợi của quý tộc thị tộc cũng tăng cao, theo sau đó là mâu thuẫn nội bộ thị tộc trở nên mãnh liệt và một thiểu số quý tộc thượng tầng lũng đoạn đối với của cải vật chất. Dưới tình hình này, chế độ thiện nhượng dân chủ trong thị tộc bộ lạc không thể thích ứng với hình thế xã hội mới và bị chế độ quân chủ thế tập thay thế. Chế độ thế tập sản sinh cạnh tranh tranh đoạt quyền lực trong nội bộ thị tộc, bào tộc, cuối cùng xuất hiện vấn đề quân sự. Tình hình này ngay từ thời kỳ Thuấn Vũ đã cấu thành vấn đề, vì vậy Vũ mới có thể phá lệ thiện vị cho con. Hoặc nói là Vũ trước tiên muốn nhượng cho Cao Dao tuổi đã cao, rồi lại nhượng cho Ích song người này không được lòng người, đối với việc này người thời Chiến Quốc nói rằng Vũ bề ngoài là truyền Thiên hạ cho Ích, song kỳ thực lệnh cho Khải tự đoạt lấy. "Lễ ký-Đàn cung hạ" nói rằng "tích giả Hữu Ngu thị quý đức nhi thượng xỉ Hạ hậu thị quý tước nhi thượng xỉ, Ân nhân quý phú nhi thượng xỉ; lại nói rằng "Hạ hậu thị vị thi kính vu dân nhi dân kính chi". Trước thời Hạ, thời kỳ Thuấn thực hành chế độ thiện vị, quân chủ dựa theo phẩm hạnh mà thoái nhượng, coi trọng đức tính của người kế tục. Đến thời kỳ nhà Thương, sức sản xuất được nâng cao đáng kể, các hộ gia đình có sản phẩm dư thừa, nhân dân bắt đầu xem trọng việc tích lũy của cải. Thời Hạ thuộc giai đoạn quá độ giữa xã hội thị tộc nguyên thủy và xã hội phong kiến thế tập, hình thành quan niệm đẳng cấp, giá trị của con người dần được định vị dựa theo đẳng cấp của họ trong xã hội, sự khác biệt đẳng cấp này được truyền cho nhau theo phương thức thế tập cha chết con nối, anh chết em kế tục. Một cá nhân trong xã hội được đãi ngộ theo lễ tiết, căn cứ theo đẳng cấp xã hội của họ chứ không phải theo đức tính phẩm cách của họ. Triều Hạ nằm ở giai đoạn quá độ giữa hậu kỳ của thời đại đồ đá mới và thời đại đồng thanh, về sinh hoạt xã hội thì kỹ thuật sản xuất được nâng cao, thực hiện trung ương tập quyền đồng thời có sự biến hóa về chất. Vào thời Hạ, văn minh nông nghiệp có sự phát triển khá lớn. "Luận ngữ-Thái bá" ghi rằng "Vũ tận lực vào ngòi lạch", biến thủy tai thành thủy lợi, phục vụ trồng cấy. Kỳ thực việc ứng dụng kỹ thuật thủy lợi là do nhân dân lưu vực Hoàng Hà trong quá trình lao động thực tiễn dần tích lũy được, không phải chỉ do Đại Vũ tiến hành Theo truyền thuyết, đại thần của Vũ là Nghi Địch bắt đầu cất rượu, Hạ hậu Thiếu Khang cũng phát minh ra phương pháp cất rượu nếp. Vào hậu kỳ thời đại đồ đá mới, văn hóa Long Sơn thuộc văn hóa Trung Nguyên đã có tập quán cất rượu, đến thời Hạ khi mà sức sản xuất cao hơn thì cất rượu ngon, uống rượu ngon trở thành một cách để tượng trưng cho quyền lực và tài lực. Trong văn hiến cổ có ghi chép đến các truyền thuyết "Đỗ Khang làm rượu", "Nghi Địch làm rượu", "Thái Khang làm rượu nếp", "Thiếu Khang làm rượu nếp", chúng là những bằng chứng về tầm quan trọng của rượu trong thời kỳ này. Thời kỳ Hạ-Thương-Tây Chu, rượu đều cất từ lương thực và có số độ không cao, cũng không nồng mạnh. Trong "Lễ ký-Ngọc tảo" có chép rằng cổ nhân uống ba chén (túc) rượu xong thì đầu óc vẫn tỉnh táo. Để đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp, người ta khám phá ra quy luật các mùa của nông sự, loại nông lịch vẫn được lưu hành đến nay từng được gọi là Hạ lịch- có khả năng được biên thành vào thời Hạ. Súc mục nghiệp có sự phát triển nhất định, còn có một số thị tộc bộ lạc chuyên môn chăn nuôi, như Hữu Hỗ thị sau khi thua Hạ hậu trong trận chiến tại Cam bị biến làm mục nô làm việc chăn nuôi. Thức ăn chủ yếu của thứ dân Tam đại là cháo, cơm nấu từ các loại hạt. Đem các loại kê, gạo nấu thành cháo loãng, cháo đặc dùng để ăn, xã hội thượng tầng thì ăn nhiều cơm, có khi còn ăn rau xanh. Chỉ khi cử hành hoạt động tế tự quy mô lớn thì mới giết thịt gia súc để tế, thịt cúng đặt ở trong chiếc đỉnh trữ dưới lòng đất. Tại nhiều điểm di chỉ văn hóa Nhị Lý Đầu phát hiện được các mẫu vật vỏ kê, vỏ thóc. "Khảo công ký" có viết rằng "Hạ hậu thị thượng tượng", thể hiện rằng Hạ hậu xem trọng sản xuất thủ công nghiệp. Triều Hạ thành công trong việc đưa văn minh Trung Nguyên từ thời đại đồ đá quá độ sang thời đại đồ đồng. Các đồ vật thời đại đồ đá mới như đồ đá tinh xảo, đồ xương sừng, đồ vỏ trai dần bị đồ gốm, đồ sơn mài, đồ ngọc thạch, đồ ngọc lam, đồ đồng, đồ đồng thanh thay thế. Tương truyền, vào thời kỳ Nghiêu Thuấn đã sử dụng đồ sơn, sang thời kỳ Hạ Vũ được sử dụng làm đồ tế, "mặc nhiễm kỳ ngoại, nhi chu họa kỳ nội". Thời kỳ viễn cổ, nhân dân sử dụng rộng rãi đồ gỗ và sơn, song đồ làm bằng gỗ dễ dàng bị mục, không dễ bảo tồn, hiện nay khai quật được khá ít. Tại di chỉ Nhị Lý Đầu khai quật được một cái bàn nhỏ được sơn, lớp gỗ đều đã mục nát, song vẫn có thể phân tích ra hình dạng. Từ việc nghiên cứu hình dạng, phát hiện ra có nhiều loại như ống sơn, trống sơn, bát sơn, hộp sơn đáy bằng, hay quan tài sơn. Chế tạo đồ ngọc thạch thời Hạ đã có trình độ tương đối, "Tả truyện" viết rằng vào thời Chu sơ phân phong Lỗ quốc công Bá Cầm, ban cho bảo ngọc truyền thế, "Hạ hậu thị chi hoàng" Tại di chỉ Nhị Lý Đầu khai quật được nhiều loại đồ ngọc như qua ngọc, đao ngọc, khuê ngọc, tông ngọc, bản ngọc, việt ngọc. Các loại đồ ngọc này dùng làm vật phẩm trang trí trong lễ nghi, không phải là công cụ dùng trong thực tiễn. Trong số văn vật khai quật thuộc kỳ thứ ba của văn hóa Nhị Lý Đầu có binh khí làm bằng đồng thanh sớm nhất của Trung Quốc, ứng với ghi chép "Vũ huyệt chi thời, dĩ đồng vi binh". Có nhiều chủng loại đồ đồng như qua, đao, đục, chùy, móc câu. Ngoài ra, còn phát hiện vết tích của việc chế tạo đồ đồng như than gỗ, vụn đồng đỏ, mảnh khuôn đúc, mảnh nồi nấu. Vào thời kỳ đồ đá mới, nghề xe sợi dệt vải có tiến bộ, xuất hiện khung cửi nguyên thủy, nguyên liệu xe sợi dệt vải trong xã hội hạ tầng phần nhiều là từ sắn dây, đay, còn trong xã hội thường tầng thì dùng nhiều lông, da, đương thời đã có tập quán nhuộm y phục. Mặc dù đến nay vẫn chưa phát hiện ra chứng cứ khảo cổ chứng tỏ văn hóa Nhị Lý Đầu sử dụng lụa, song đã có phát hiện khảo cổ liên quan trong văn hóa Long Sơn, văn hóa Đại Vấn Khẩu, văn hóa Lương Chử có niên đại sớm hơn, kết hợp với ghi chép trong "Hạ tiểu chính" là "tam nguyệ, cấp tang dã, tử thủy tàm, thì việc người Hạ từng sử dụng sản phẩm tơ lụa cũng có tình có lý. "Diêm thiết luận" có viết rằng "Hạ hậu dùng sò đen", cho thấy người thời Hán nhận định triều Hạ dùng tiền vỏ sò. Nhiều nền văn hóa viễn cổ trên thế giới dùng vỏ sò vỏ trai trong thiên nhiên làm tiền tệ, tiền đề của việc này là phải đủ về số lượng, đồng thời có thể cung ứng vỏ sò biển trong một thời gian dài. Tuy nhiên, Hạ hậu thị là văn minh sông nước, phạm vi thế lực chỉ giới hạn trong trung hạ du Hoàng Hà, đến trung vãn kỳ mới khoách trương đến bờ Hoàng Hải, trước đó Hạ hậu thị từng đối địch một thời gian dài với tộc Di ở phía đông, không có nhiều khả năng dự trữ được nhiều vỏ sò vỏ trai. Thương nghiệp giao dịch vào thời Hạ có khả năng thông qua hạt lương thực và gia súc còn sống để hoàn thành. Tại di chỉ Nhị Lý Đầu phát hiện vỏ sò thiên nhiên và nhân tạo, chúng có khả năng đảm đương nhiệm vụ tiền tệ. Giao thông và kiến thiết. Trong quá trình trị thủy, Đại Vũ mở núi thông sông, có tác dụng lớn đối với sự phát triển giao thông đường thủy và đường bộ thời cổ đại. "Sử ký-Hạ bản kỷ" có viết thời Vũ trị thủy "đi đường bộ ngồi xe, đi đường thủy ngồi thuyền, đi qua bùn dùng khiêu (橇), qua núi dùng cúc (檋)... để mở mang cửu châu, thông cửu đạo, vượt cửu trạch, qua cửu sơ, đến chỗ sông núi thì có tiện lợi" thể hiện khi Đại Vũ trị thủy thì việc thông hành hết sức bất tiện, Đại Vũ lợi dụng các công cụ giao thông như xe, thuyền, khiêu để vượt sông suối bùn cát. Ông suất lĩnh quần chúng xây đắp đường bộ liên thông cửu châu, hỗ trợ việc thực thi chế độ cống nạp, cũng tạo điều kiện cho giao lưu kinh tế giữa các nơi. Khu vực giao thông của Hạ hậu chiều đông tây ít là 500-600 lý, chiều nam-bắc ít là 300-400 lý. "Quốc ngữ-Chu ngữ" có chép "Hạ ra lệnh nói rằng tháng 9 mở đường, tháng 10 xong cầu", tháng 9 nông lịch là sau mùa mưa, sửa sang đường bộ, tháng 10 nông lịch là sang mùa đông khô hạn thì xây cầu. Di chỉ Nhị Lý Đầu tại Yển Sư có quy mô lớn chưa từng thấy trong lưu vực Hoàng Hà thời viễn cổ, trong văn hóa khảo cổ cùng thời kỳ cũng không có. Tại trung tâm địa lý của khu vực văn hóa Nhị Lý Đầu có thể là một tòa đô ấp hoặc thành thị lớn thời Hạ. Đã xác nhận có hai tòa cung điện số 1 và 2, riêng tại tường phía bắc của cung điện số 2 còn có nền móng số 6 có kích thước đồng đẳng thuộc kỳ thứ 4. Hai quần thể kiến trúc này thể hiện bố cục trục tuyến giữa. Cung điện số 1 có hình hơi vuông, khuyết một góc đông bắc, chiều đông tây tổng cộng rộng 96,2 mét, chiều nam bắc tổng cộng dài 107 mét, tổng diện tích mặt đất là 9585 m². Điện đường chính nằm ở phía bắc trông về phía nam, mặt rộng 8 gian, vào sâu 3 gian. Bốn phía có tường vách bao quanh, trong có lang vũ hành đạo, tường đông có một phòng bên. Trên trục tuyến giữa hướng về chính nam có cửa lớn mở rộng, phân thành ba môn đạo, mỗi phía bắc và đông có một cửa bên. Cung điện số 2 đông tây rộng 58 m, bắc nam dài 72,8 m, có tường bao quanh bốn mặt và hồi lang ba mặt đông, nam, tây. Cung điện số 1 và 2 đều có đường ống thoát nước làm từ gốm, song hệ thống ở cung điện số 2 được bảo tồn tương đối hoàn chỉnh, đường ống cấu thành từ nhiều phần ống gốm liên tiếp. Mỗi phần có đường kính từ 16,5–22 cm, dài 52–58 cm, dày khoảng 2 cm, đặt trong một rãnh được đào trước sâu 1 mét dưới đất nhằm đề phòng thấm nước. Bản đá dày 5–7 cm được gác phía trên ống gốm, rãnh, nhằm đề phòng người đi tạo sức ép làm vỡ ống gốm. óng gốm có xu thế tây cao đông thấp, thông qua chênh lệch độ cao để đưa nước mưa từ trong cung điện đình viện ra bên ngoài. Ngoài khu cung điện có đường đất dọc ngang đan xen, xưởng thủ công, tường thành đất nện. Thời Hạ, xã hội bắt đầu hình thành giai cấp trên dưới, sản phẩm nghệ thuật cũng theo đó mà phân hóa. Đồ vật mà nhân dân hạ tầng sử dụng có tạo hình thực dụng, hoa văn trang trí giản đơn, phát triển theo phương hướng thẩm mỹ chất phác. Lễ khí của quý tộc vương thân thượng tầng có hoa văn trang trí phức tạp, diễn biến phương hướng tạo hình biến hóa đa dạng. Khí cụ dùng để đựng đồ vật của hạ tầng có hoa văn phần nhiều là các dạng hình học, hoặc có hoa văn gia súc, hoa văn cá và một số đề tài khác có liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Lễ khí thượng tầng có hoa văn trang trí thường thấy là hình mây sấm phức tạp, hình mắt, hình con rắn, hình mặt thú, đề tài phần nhiều có quan hệ với quỷ thần. Chế tạo đồ gồm tại văn hóa vãn kỳ Long Sơn và văn hóa tảo kỳ Nhị Lý Đầu có giá trị nghệ thuật tương đối cao. Đồ gốm kỳ thứ hai, thứ ba khai quật từ Nhị Lý Đầu có bề mặt phần nhiều được trang trí bằng các loại hoa văn trang sức như vân màu lam, vân dây, vân hình vuông, đôi khi thấy chạm khắc các loại vân hình móng tay, nét vạch, lông chim, vòng tròn. Thời Tam đại chỉ có nghệ thuật trang sức cho các đồ vật thực dụng, thiếu tác phẩm nghệ thuật vì nghệ thuật. Trung Quốc vào 9000 năm trước, tức sơ kỳ thời đại đồ đá mới, đã có xuất hiện nhạc khí. Về khởi thủy của âm nhạc tại Trung Quốc, các văn hiến ghi chép khác nhau. "Lã thị Xuân Thu-Cổ nhạc thiên" và "Thượng thư-Ích tắc" ghi rằng vào thời kỳ Đế Khốc, Đế Thuấn đã có nhiều loại nhạc khí, trong đó danh xưng một số loại nhạc khí nói chưa rõ. "Sơn Hải kinh-Đại hoang tây ký" ghi rằng "khai thượng tam tần vu thiên, đắc 'cửu biện' dữ 'cửu ca' dĩ hạ. Thử thiên mục chi dã, cao nhị thiên nhận, khai yên đắc thủy ca 'cửu thiều'", nói lại rằng Hạ hậu Khải cưỡi rồng làm khách Thiên cung, trộm lấy 'cửu ca', 'cửu thiều' 'cửu biện' của Thiên Đế để tự mình hưởng dụng, do vậy mà nhân gian có ca nhạc. "Lã thị Xuân Thu-Âm sơ" ghi rằng khi Đại Vũ tuần thị đông nam thì gặp gỡ nữ nhi của Đồ Sơn thị, Đồ Sơn thị sáng tác một bài ca "Hậu nhân hề y", đấy là tình ca sớm nhất được ghi chép trong văn hiến, có thuyết cho là khởi điểm của Nam âm thời Hán. "Chu Lễ-Đại ty nhạc" ghi rằng người thời Hạ vì ca tụng công lạo trị thủy của Đại Vũ nên biểu diễn "Đại Hạ", dùng làm nhạc vũ tế tự núi sông, đến thời Chiến Quốc còn được Lỗ quốc dùng làm vũ nhạc diễn xuất cung đình. "Lễ ký-Tế thống" ghi rằng "bát dật dĩ vũ Hạ", tám người thành một dật, tám dật là 64 người tổ thành đội hình biểu diễn có chiều dọc ngang đều nhau, dựa theo lễ pháp thời Chu thì chỉ có thiên tử triều Chu mới có thể dùng đội hình lớn như vậy, có thể thấy "Đại Hạ" có đẳng cấp cao. Nhạc khí thời kỳ Hạ được chế tác từ xương, gỗ, đá, da, gốm; chủng loại bao gồm dụng cụ diêu hưởng, hưởng cầu, địch, tiêu, cổ, khánh, chung, linh, huân, sừng hiệu lệnh. So với các nền văn hóa khảo cổ xung quanh, nhạc khí khai quật thuộc văn hóa Nhị Lý Đầu rất thiếu thốn. Năm 1960, tại tầng kỳ thứ ba của di chỉ Nhị Lý Đầu tại Yển Sư đã khai quật được một huân gốm màu tro, tâm rỗng, hình quả trám, phần đầu có một miệng thổi nhỏ, một bên phần thân giữa có lỗ âm có đường kính 0,4 cm, qua thử nghiệm thì nó có thể phát ra hai âm: la thăng thứ, đô thứ. Cũng phát hiện được thạch khánh làm bằng đá, dài 55,5 cm, cao 28,5 cm, dày 4,8 cm, tạo hình đã tiếp cận khánh lễ làm bằng đồng thanh thời kỳ Thương-Chu. Nhân dân thời Hạ chủ yếu sử dụng hình thức văn học truyền miệng trong sáng tác văn học. Đề tài ca dạo và sinh hoạt lao động có liên hệ mật thiết, và thần thoại được sử dụng để giải thích một số sự vật khó hiểu trong thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, những văn học truyền khẩu này không được truyền bá đến nay, nên trước khi có thể phát hiện tài liệu văn tự đồng thời kỳ với triều Hạ, thì không thể có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về văn học thời Hạ. Có thể gọi nó là thời gian nghệ thuật xưa của văn học nghệ thuật Trung Quốc. Người thời Chu súng kính văn hóa triều Hạ, trong tất cả các phương diện đều phỏng theo người thời Hạ mà tạo nên. Trên phương diện ngôn ngữ, người thời Chu nhận định ngôn ngữ thông dụng của triều Hạ là "Hạ ngôn" Thời Thượng cổ, "Hạ" 夏, "Nhã" 雅 tương thông, "Hạ ngôn" cũng gọi là "nhã ngôn", là ngôn ngữ được sử dụng trong giao lưu giữa nhân sĩ thuộc thượng tầng xã hội triều Chu, "Thi Kinh" thời Chu chính là sử dụng nhã ngôn để sáng tác Nghề đúc đồng là thủ công nghiệp mới nổi trọng yếu của triều Hạ. Trong các văn vật thời kỳ thứ nhất và thời kỳ thứ nhì của di chỉ Nhị Lý Đầu, xuất hiện đồ lễ làm bằng ngọc, thể hiện nó có một trình độ văn hóa tương đối. Ngoài ra, nghề làm đồ gốm thời Hạ có khả năng đã trở thành một ngành công nghiệp độc lập rất trọng yếu. Đối với đồ đồng thanh, Trung Quốc đã phát hiện ra dao đồng của văn hóa Nhị Lý Đầu. Nếu như văn hóa Nhị Lý Đầu được xác nhận là văn hóa thời kỳ Hạ, thì đây là đồ đồng thanh của thời kỳ triều Hạ. Công cụ mà người thời Hạ sử dụng được nhận định chủ yếu là đồ đá. "Chu thư" chép rằng vào thời Hạ Kiệt, Côn Ngô thị đem phôi bùn nung thành ngói, cho thấy kiến trúc cuối thời Hạ đã bắt đầu sử dụng ngói.。 Trong văn hiến thời Tiên Tần có ghi chép về việc quan triều hạ là Hề Trọng tạo ra xe, viễn tổ nước Tiết là Hề Trọng được Hạ Hậu bổ nhiệm làm 'xa chính', quản lý sự vụ chế tạo xe. "Sử ký-Hạ bản kỉ" cũng ghi chép rằng trong thời Hạ Vũ trị thủy "đi đường bộ ngồi xe, đi đường thủy ngồi thuyền", cho thấy xe đã xuất hiện ngày từ thời Đại Vũ. "Tả truyện" chép rằng "minh thí dĩ công, xa phục dĩ dung", rằng Hạ hậu đem xe làm vật thưởng công cho hạ quan. Ngoài ra, "Thế bản" có chép rằng "Hợi tác phục ngưu,Tướng Thổ tác thừa mã", và có bốc từ Ân khư làm chứng, chứng minh bộ tộc Thương đồng thời kỳ đã có xe ngựa. Bè và thuyền độc mộc xuất hiện sớm nhất là vào trung kỳ văn hóa Long Sơn thuộc thời đại đồ đá mới, người Hạ trong một thời gian dài đã cư trú nương nhờ Hoàng Hà, Y Thủy, Lạc Thủy, thuyền bè do vậy trở thành công cụ vượt sông phổ biến. Thời Hạ vào trung hậu kỳ bước vào thời đại đồng thanh, sự xuất hiện của công cụ thuộc kim tạo điều kiện để chế tạo thuyền độc mộc, có thể nói thuyền mộc bản xuất hiện sớm nhất tại Trung Quốc là vào thời Hạ. Tộc Đông Di cư trú ven bờ Hoàng Hải, sở hữu kỹ thuật hàng hải khá cao, đây là lĩnh vực mà Hạ hậu thị với văn minh dòng sông không thể theo kịp. "Luận ngữ-Hiến vấn" chép rằng "Nghệ thiện xạ, Ngạođãng chu", Ngạo tức là con của Hàn Trác tên Kiêu, rằng ông là một nhân vật giỏi điều khiển thuyền, và lại có chữ "đãng" nên có thể nói đây là một kiểu đi thuyền có mục đích, dùng nhân lực điều khiển khống chế, không phải để trôi dạt như trước. "Vũ cống" nói "triêu tịch nghênh chi, tắc toại hành nhi thượng", rằng người Hạ biết lợi dụng quy luật thủy triều sáng tối để đi thuyền. Thiên văn lịch pháp. Người thời Hạ có khả năng đã sở hữu nhiều tri thức về thiên văn, lịch pháp. "Tả truyện-Chiêu công thập thất niên" dẫn từ "Thượng thư-Hạ thư" chép rằng "thần bất tập vu phòng", chỉ việc Mặt Trời không xuất hiện hoàn chỉnh ở phía trên không của ngôi nhà, đây là ghi chép về nhật thực sớm nhất của Trung Quốc được biết đến "Trúc thư kỉ niên" ghi rằng vào năm Hạ Kiệt thứ 15 "Dạ trung tinh vẫn như vũ" (trong đêm sao rơi như mưa), là ghi chép sớm nhất về mưa sao băng. "Thái bình ngự lãm" dẫn "Hiếu kinh câu mệnh quyết" viết "(Vũ thời, ngũ) sao chồng chất như quán châu, rõ như liên bích。", chép về việc vào sơ kỳ thời Hạ từng xảy ra hiện tượng thiên văn hiếm thấy "ngũ tinh tụ" của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Thời ba vị quân chủ vãn kỳ triều Hạ là Dận Giáp (Cận), Khổng Giáp, Lý Quý (Kiệt), đều lấy thiên can làm tên, cách làm này gần như phương thức mệnh danh của quân chủ triều Thương, nếu quả thực là xưng vị thời Hạ chứ không phải biệt danh người thời Ân-Chu thêm vào, thì có thể nói phép ghi ngày Can Chi đã xuất hiện vào vãn kỳ triều Hạ. Căn cứ "Trúc thư kỉ niên", lúc thay thế Hạ-Thương, có viết về các hiện tượng kỳ dị "hoàng sắc đích thanh oa, hôn ám đích điều dưỡng, tam cá thái dương, thất nguyệt kết sương hòa ngũ cốc điêu linh" (sương mù màu vàng, một mặt trời mờ, sau đó ba mặt trời, sương giá trong tháng bảy, ngũ cốc tàn rụng), có học giả nhận định đó là ghi chép về phun trào núi lửa Minoa tại khu vực nay thuộc Hy Lạp。 Trong "Luận ngữ", Khổng Tử chủ trương "hành Hạ chi thời", đến nay nông lịch truyền thống Trung Quốc còn có biệt danh là "Hạ lịch", dựa theo những dấu tích này có thể nói rằng vào thời Hạ do nhu cầu sản xuất nông nghiệp, kết hợp tri thức thiên văn tích lũy được mà biên thành lịch pháp giản đơn. "Hạ lịch" đều có ghi chép trong các văn hiến thời Tiên Tần như "Thi Kinh", "Tả truyện", "Trúc thư kỉ niên", ít nhất là thông dụng trong nội bộ nước Đường (tức nước Tấn) thời Chu sơ. "Hạ tiểu chính" nguyên là một thiên của "Đại đái lễ ký", kinh văn này có một bộ phận câu văn giản ước thâm sâu, không như văn phong Đông Chu, chậm nhất là hoàn thành vào tảo kỳ Xuân Thu, là lịch thư sớm nhất của Trung Quốc, có ghi chép giản đơn về vật hậu, khí hậu, tinh tượng các tháng. "Hạ tiểu chính" căn cứ theo sự đầy khuyết của Mặt Trăng mà phân một năm thành 12 tháng, song không có dấu hiệu 5 năm đặt hai tháng nhuận, cũng không phân biệt bốn mùa. Trong ghi chép tháng 5 có "thời hữu dưỡng nhật", trong ghi chép tháng 10 có "thời hữu dưỡng dạ", "Tả truyện" chú giải "dưỡng giả trường dã", nói rằng tháng 5 của "Hạ tiểu chính" có ngày dài nhất (tức Hạ chí", tháng 10 có đêm tối dài nhất (tức Đông chí), tuy nhiên Đông chí tại bình nguyên Hoa Bắc ứng vào tháng 11 thay vì tháng 10, cho thấy rằng loại lịch pháp này không chuẩn xác, niên đại chế thành tương đối nguyên thủy. Sức sản xuất thời kỳ viễn cổ thấp kém, ngay cả trong điều kiện thời tiết thuận lợi cũng không thể hoàn toàn tránh được nguy hiểm thiếu lương thực. Nhân dân nhận thấy bất lực trước tình hình, tìm cách thông qua lực lượng tự nhiên siêu việt để đạt đến nguyện vọng chi phối tự nhiên nhằm đảm bảo được mùa. Do đó hi sinh người và động vật để làm hài lòng thiên thần, thử lợi dụng hoạt động tế tự nhằm thoát khỏi áp lực của thế giới tự nhiên đối với sinh tồn của nhân loại. Tế người tại lưu vực Hoàng Hà sớm nhất được biết đến là trong văn hóa Tề Gia tại thượng du, đương thời thường là vợ tuẫn táng theo chồng, sau phát triển thành nô bộc tuẫn táng, cho rằng linh hồn của thê thiếp và nô bộc có thể phục vụ chủ nhân trong thế giới sau khi chết. Văn hóa Nhị Lý Đầu cũng có dấu tích của việc tế người, song quy mô rất nhỏ so với số lượng tế tự hàng trăm người thời Thương. Mộ táng tại di chỉ Nhị Lý Đầu thuộc Yển Sư phân thành hai loại là mộ có huyệt và mộ không có huyệt. Mộ đất một người có huyệt chiếm đa số, người được chôn nằm ngửa và thẳng, hiện tượng bồi táng khá ít. Ngoài ra, còn có một thiểu số là mộ không huyệt, không có đồ tùy táng, đôi khi có mảnh vỡ đồ gốm, thậm chí có khi đồng táng với thú vật, có thể thấy người được chôn có địa vị xã hội thấp kém, khi còn sống có khả năng là tội nhân, tù binh chiến tranh, hoặc nô bộc. Nhiều người được chôn trong mộ không huyệt thể hiện dấu hiệu tử vong không bình thường. Thân thể người được chôn có tư thế cực kỳ không tự nhiên, có các dấu hiệu bị trói trước khi chết như hai tay bắt chéo giơ quá đỉnh đầu, đặt trước ngực, hoặc cong về sau lưng, thậm chí còn có một số sọ bị vỡ, thân và đầu tách rời. Có khả năng là chứng cứ về nhân tế, nhân tuẫn thời kỳ Hạ. Trừ tế người, tế ruộng, thời Hạ còn có hoạt động tế nhà, xung quanh cung điện số 1 kỳ thứ ba của di chỉ Nhị Lý Đầu có một số hố tế tự, phát diện xương các loài thú như chó, lợn Còn có năm ngôi mộ táng tại khu sân và hành lang, người được chôn đều tử vong không bình thường, không có vật phẩm tùy táng, huyệt mộ chật hẹp, phá vỡ nền móng cung điện, không xác định được là tế tự dựng móng hay tế tự hoàn thành。 Nhân dân viễn cổ khi nướng thịt thú thì phát hiện hiện tượng xương bị vỡ, tạo thành những vết nứt vỡ với hình dạng khác nhau, có phần khó hiểu, khiến người xưa chú ý. Sau này, khi đạt được kết quả viên mãn trong các hoạt động như săn thú, chiến tranh, mọi người bắt đầu liên hệ hai thứ với nhau, xem đó là điềm trước của thần linh với sự vật, tích lũy thành tri thức gọi là chiêm bốc. Do trình tự phức tạp, tri thức nhiều và sâu, nên trong bộ lạc có vu sư chuyên việc xem bói, độc quyền giải thích bốc cốt. Lưu vực Hoàng Hà trong thời kỳ văn hóa Long Sơn bắt đầu hưng thịnh chiêm bốc. "Tả truyện" chép rằng triều Hạ có quan lại chiêm bốc. Toàn kỳ thứ 4 văn hóa Nhị Lý Đầu đều khai quật được bốc cốt bả vai bò, dê, lợn. Những bốc cốt này chỉ bị đốt cháy ở mặt sau, không đâm không đục, chưa khắc chữ, tương đối nguyên thủy hơn so với bốc từ Ân Khư。 Thế phả nhà Hạ.
Khu nghỉ mát hay khu nghỉ dưỡng (tiếng Anh: Resort, phát âm thông dụng tiếng Việt: Rì-sọt) dùng để chỉ một nhóm hay quần thể các khu dịch vụ phục vụ du lịch, làm nơi nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí. Các dịch vụ này được triển khai trên một khuôn viên địa lý không quá lớn. Trong một khu nghỉ mát thường có các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng ăn uống, bãi biển, hồ tắm, khu thể thao, vườn trẻ. Khu nghỉ mát có từ thời cổ - như tại Baiae Ý hơn 2000 năm trước. Khu nghỉ dưỡng là một nơi dành cho thư giãn hoặc giải trí. Con người có xu hướng tìm ra một nơi nghỉ dưỡng cho những ngày lễ hoặc những kỳ nghỉ. Thông thường, một khu nghỉ dưỡng thường được đi bởi một công ty đơn lẻ mà họ cố gắng chuẩn bị đầy đủ mọi thứ hoặc hầu hết những người đi nghỉ có mong muốn trong thời gian đi nghỉ ở đó có đồ ăn, đồ uống, chỗ ở, thể thao, giải trí và mua sắm.
Lev Davidovich Trotsky hay Leon Trotsky (họ thật là Bronstein; 7 tháng 11 năm 1879 – 21 tháng 8 năm 1940) là nhà cách mạng, nhà chính trị và lý luận chính trị người Do Thái gốc Nga – Ukraina, một trong những nhân vật then chốt của cuộc Cách mạng Tháng Mười, Nội chiến Nga và sự thành lập của Liên Xô tiếp sau. Về ý thức hệ, ông là người tin tưởng vào các diễn giải của Lenin đối với chủ nghĩa Marx; dựa trên cơ sở này, các bài viết và ý tưởng của ông đã phát sinh thành một trường phái tư tưởng riêng gọi là chủ nghĩa Trotsky. Lev Davidovich Bronstein chào đời ngày 7 tháng 11 năm 1879, tại nông trang Yanovka ở tỉnh Kherson, Đế quốc Nga (nay là Bereslavka, Ukraina). Cha ông, David Leontyevich Bronstein, chuyển tới đây sinh sống vào năm 1879, sau khi mua mảnh đất từ một viên đại tá. Vào những năm 1850 đời Sa hoàng Nikolai I, cha của David là ông Leon Bronstein, vốn xuất thân thấp hèn trong cộng đồng Do Thái ở Nga lúc bấy giờ, rời Poltava để tìm kế mưu sinh nơi thôn quê Kherson. Những người con của Leon khi lớn lên đều sống chung với cha, chỉ riêng David có đủ tiền tách ra lập nghiệp. David là một nông dân chịu khó, song ông không biết chữ và không mộ đạo Do Thái của tổ tiên; trái ngược với người vợ Anna, vốn sinh ra trong một gia đình Do Thái thành thị khá giả, thích đọc sách và để tâm lễ đạo. Tuy phần lớn dân Do Thái ở Nga coi tiếng Yiddish là tiếng mẹ đẻ, gia đình Bronstein lại thường giao tiếp bằng khẩu ngữ trộn giữa tiếng Ukraina và tiếng Nga. Vợ chồng Bronstein có với nhau tổng cộng 8 đứa con, song chỉ 4 đứa sống qua tuổi sơ sinh. Trong số những người con trưởng thành, Trotsky lớn thứ ba, có hai anh chị hơn tuổi là Alexander (sinh năm 1870) và Yelizaveta (sinh năm 1875), và một cô em gái út là Olga (sinh năm 1883). Mẹ Anna cực kỳ chú tâm đến việc giáo dục con cái, mỗi khi rảnh lại lấy sách đọc cho con nghe. Trotsky kể rằng, vào những đêm đông hồi bé, khi tuyết phủ che khuất cửa sổ, "bà đọc kiên nhẫn, không mệt mỏi [...] bọn tôi có thể nghe thấy giọng bà êm đềm khi đi vào hiên nhà." Theo Service, cha mẹ Trotsky đều rất kỳ vọng vào con cái. Tuổi thơ và thiếu thời: 1879–1895. Vào những năm đầu đặt chân đến Yanovka, gia đình Bronstein sống đơn sơ trong túp lều tranh đắp đất được chủ nhân trước truyền lại; về sau khi làm ăn khấm khá, họ mới thay nó bằng một ngôi nhà gạch khang trang hơn. Hoạt động cách mạng. Hoạt động chính trị và đày ải: 1896-1902. Trotsky bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng năm 1896 sau khi tới Nikolayev (hiện là Mykolaiv). Ban đầu là một "narodnik" (cách mạng dân tuý), ông tiếp xúc với Chủ nghĩa Mác cuối năm ấy và hơi phản đối nó. Nhưng khi bị trục xuất và bỏ tù ông dần trở thành một người Marxist. Thay vì theo học một bằng toán học, Trotsky đã giúp tổ chức Liên minh Công nhân Nam Nga tại Nikolayev đầu năm 1897. Sử dụng cái tên 'Lvov', ông đã viết và in nhiều tờ rơi và tuyên cáo, phân phối các tờ rơi cách mạng và truyền bá các tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho các công nhân trong các nhà máy và sinh viên. Tháng 1 năm 1898, hơn 200 thành viên của Liên minh, gồm cả Trotsky, bị bắt và ông phải ở tù hai năm sau trong khi chờ xét xử. Hai tháng sau khi ông bị bắt, Đại hội đầu tiên của Đảng Lao động Xã hội chủ nghĩa Nga (RSDLP) mới được thành lập, được tổ chức, và từ thời điểm đó Trotsky tự coi mình là một thành viên của đảng. Khi đang ở trong tù, ông cưới người bạn Mác xít Aleksandra Sokolovskaya. Khi đang thụ án ông nghiên cứu triết học. Năm 1900 ông bị kết án bốn năm lưu đày tại Ust-Kut và Verkholensk (xem bản đồ) tại vùng Irkutsk thuộc Siberia, nơi hai con gái đầu của ông, Nina Nevelson và Zinaida Volkova, ra đời. Tại Siberia, Trotsky nhận thức được sự chia rẽ bên trong đảng, vốn đã thiệt hại nhiều sau những cuộc bắt giữ năm 1898 và 1899. Một số nhà dân chủ xã hội được gọi là "các nhà kinh tế" cho rằng đảng phải tập trung vào việc giúp đỡ công nhân công nghiệp cải thiện cuộc sống của họ. Những người khác cho rằng việc lật đổ chế độ quân chủ có tầm quan trọng lớn hơn và một đảng cách mạng được tổ chức tốt và có kỷ luật là điều cốt yếu. Nhóm sau này được hướng dẫn bởi tờ báo "Iskra" có trụ sở tại Luân Đôn, và được thành lập năm 1900. Trotsky nhanh chóng theo lập trường của "Iskra". Di cư lần đầu và hôn nhân lần hai: 1902-1904. Trotsky trốn khỏi Siberia vào mùa hè năm 1902. Có tin nói rằng ông đã lấy tên của một cai tù tại nhà tù Odessa nơi ông từng bị giam giữ trước đây, và cái tên này đã trở thành biệt danh cách mạng chính của ông. Khi đã ở nước ngoài, ông tới London gặp Georgy Plekhanov, Vladimir Lenin, Julius Martov và những biên tập viên khác của tờ "Iskra". Dưới bút danh "Pero" ("lông vũ" hay "bút" trong tiếng Nga), Trotsky nhanh chóng trở thành một trong các cây bút chính của tờ báo. Trotsky không biết rằng sáu biên tập viên của tờ "Iskra" đang bị chia rẽ giữa phe "old guard" do Plekhanov đứng đầu và "new guard" do Lenin và Martov lãnh đạo. Không chỉ bởi những người ủng hộ Plekhanov lớn tuổi hơn (khoảng ở độ tuổi 40 và 50), mà họ cũng đã từng cùng sống trong cảnh bị trục xuất tại châu Âu trong 20 năm trước. Các thành viên của new guard mới đầu độ tuổi 30 và chỉ mới tới từ Nga. Lenin, khi ấy đang tìm cách thành lập một đa số thường trực chống Plekhanov trong "Iskra", mong muốn Trotsky, khi ấy mới 23, sát cánh với new guard và vào tháng 3 năm 1903 đã viết: "Tôi đề xuất với mọi thành viên của ban biên tập hợp tác với 'Pero' như một thành viên của ban và trên cùng cơ sở như với các thành viên khác. [...] Chúng tôi rất cần một thành viên thứ bảy, cả để tiện lợi hơn trong việc bỏ phiếu (sáu là một số chẵn), và cả như một sự bổ sung cho lực lượng của chúng tôi. 'Pero' đã đóng góp vào mọi vấn đề trong vài tháng nay; nói chung anh làm việc hăng hái nhất cho Iskra; anh thực hiện các bài thuyết trình (rất thành công). Trong mục các bài viết và ghi chú về các sự kiện trong ngày, anh không chỉ rất hữu ích, mà còn đặc biệt cần thiết. Rõ ràng đó là một người có những khả năng đặc biệt, anh có sức thuyết phục và nhiệt tâm, và anh sẽ còn tiến xa". Vì sự phản đối của Plekhanov, Trotsky đã không trở thành một thành viên đầy đủ của ban biên tập, nhưng vì việc tham gia vào các buổi họp của ban với khả năng cố vấn cao, ông bị Plekhanov căm ghét. Cuối năm 1902, Trotsky gặp Natalia Sedova, người nhanh chóng trở thành đồng sự và vợ ông từ năm 1903 tới khi ông mất. Họ có hai con, Lev Sedov (sinh 1906) và Sergei Sedov (sinh 1908). Như Trotsky giải thích sau này, sau cuộc cách mạng năm 1917: "Để không buộc các con tôi phải đổi tên, Tôi, khi yêu cầu "quyền công dân", đã dùng tên của vợ tôi". Nhưng việc đổi tên vẫn là một yêu cầu kỹ thuật và ông không bao giờ sử dụng tên "Sedov" cả riêng tư và công khai. Natalia Sedova thỉnh thoảng ký tên "Sedova-Trotskaya". Trotsky và người vợ đầu, Aleksandra Sokolovskaya, vẫn duy trì mối quan hệ bạn bè cho tới khi bà mất tích năm 1935 trong cuộc Đại Thanh trừng. Cùng lúc ấy, sau một giai đoạn đàn áp của cảnh sát mật và sự nghi ngờ nội bộ diễn ra sau Đại hội đầu tiên của Đảng năm 1898, "Iskra" đã thành công trong việc triệu tập Đại hội thứ hai của Đảng tại London vào tháng 8 năm 1903, Trotsky và các biên tập viên khác của tờ "Iskra" có tham gia. Đại hội đầu tiên diễn ra theo kế hoạch, với những người ủng hộ "Iskra" dễ dàng đánh bại số ít đại biểu "kinh tế". Sau đó đại hội thảo luận quan điểm của Jewish Bund, nhóm đã cùng thành lập RSDLP năm 1898 nhưng muốn giữ quyền tự chủ bên trong đảng. Một thời gian ngắn sau đó, các đại biểu ủng hộ "Iskra" bất ngờ chia thành hai phe. Lenin và những người ủng hộ ông (được gọi là những người Bolshevik) muốn một đảng nhỏ hơn nhưng được tổ chức cao hơn. Martov và những người ủng hộ (được gọi là những người Menshevik) ủng hộ một đảng lớn hơn và ít kỷ luật hơn. Trong một diễn biến bất ngờ, Trotsky và hầu hết biên tập viên của tờ "Iskra" ủng hộ Martov và những người Menshevik trong khi Plekhanov ủng hộ Lenin và những người Bolshevik. Trong năm 1903 và 1904, nhiều thành viên đã đổi phe nhóm. Plekhanov nhanh chóng tham gia cùng những người Bolsheviks. Trotsky rời bỏ Menshevik tháng 9 năm 1904 vì sự khăng khăng của họ liên kết với những người tự do Nga và sự phản đối của họ với một sự hoà giải với Lenin và những người Bolshevik. Từ đó tới năm 1917 ông tự miêu tả mình như một "người dân chủ xã hội không phe phái". Giai đoạn 1904 và 1917 Trotsky dành hầu hết thời gian để tìm cách hoà giải các khác biệt bên trong đảng, dẫn tới nhiều cuộc xung đột với Lenin và những cá nhân nổi bật khác trong đảng. Sau này Trotsky thừa nhận ông đã sai lầm khi phản đối Lenin về vấn đề của đảng. Trong những năm này Trotsky bắt đầu phát triển lý luận cách mạng thường trực của ông, dẫn tới một mối quan hệ làm việc thân cận với Alexander Parvus năm 1904-1907. Cách mạng 1905 và phiên tòa xét xử: 1905-1906. Sau các sự kiện của ngày Chủ nhật đẫm Máu (1905), Trotsky bí mật quay trở lại Nga tháng 2 năm 1905. Ban đầu ông viết những tờ rơi cho một nhà in bí mật tại Kiev, nhưng nhanh chóng đi tới thủ đô, Saint Petersburg. Tại đó ông làm việc cả với những người Bolshevik như thành viên Ủy ban Trung ương Leonid Krasin, và uỷ ban Menshevik địa phương mà ông đưa vào một phương hướng cấp tiến hơn. Nhưng uỷ ban Menshevik địa phương đã bị một mật vụ phản bội vào tháng 5, và Trotsky phải bỏ chạy tới vùng nông thôn Phần Lan. Tại đó ông phát triển tiếp học thuyết cách mạng thường trực của mình cho tới tháng 10, khi một cuộc đình công toàn quốc tạo điều kiện cho ông quay trở về St. Petersburg. Sau khi quay về thủ đô, Trotsky và Parvus nắm tờ báo "Russian Gazette" và tăng số lượng xuất bản của nó lên 500,000 bản. Trotsky cũng đồng sáng lập "Nachalo" ("The Beginning") với Parvus và những người Menshevik, và cũng rất thành công. Ngay trước khi Trotsky quay trở lại, những người Menshevik đã độc lập đi đến cùng ý tưởng mà Trotsky đã có - một tổ chức cách mạng không đảng phái được bầu ra đại diện cho công nhân thủ đô, Xô viết ("Hội đồng") đầu tiên của Công nhân. Khi Trotsky tới nơi, Xô viết St. Petersburg đã hoạt động dưới sự lãnh đạo của Khrustalyov-Nosar (Georgy Nosar, biệt danh Pyotr Khrustalyov), một nhân vật thoả hiệp, và rất nổi tiếng trong công nhân dù có sự phản đối ban đầu của những người Bolsheviks. Trotsky gia nhập Xô viết với cái tên "Yanovsky" (theo tên ngôi làng nơi ông sinh ra, Yanovka) và được bầu làm Phó chủ tịch. Ông làm nhiều việc tại Xô viết, và sau vụ bắt giữ Khrustalev-Nosar ngày 26 tháng 11, ông được bầu làm chủ tịch. Ngày 2 tháng 12, Xô viết ra một thông báo gồm những tuyên bố sau về chế độ Sa hoàng và các khoản nợ nước ngoài của nó: "Chế độ chuyên quyền không đời nào có được sự tin cậy của nhân dân và không bao giờ được nhân dân trao bất kỳ quyền gì. Vì thế chúng ta quyết định không cho phép chi trả các khoản nợ đó bởi triều đình Sa hoàng đã công khai tham gia vào một cuộc chiến với toàn thể nhân dân". Ngày hôm sau, mùng 3 tháng 12, Xô viết bị binh lính trung thành với triều đình Nikolai II bao vây và các đại biểu bị bắt giữ. Trotsky và các lãnh đạo Xô viết khác bị xét xử năm 1906 về việc ủng hộ một cuộc nổi loạn vũ trang. Tại phiên toà, Trotsky đã phát biểu một trong những bài nổi tiếng nhất đời ông và củng cố thêm danh tiếng là một diễn giả có tài, và tài năng này được khẳng định thêm trong giai đoạn 1917-1920. Ông bị kết án và tuyên án trục xuất. Di cư lần hai: 1907-1914. Trên đường đi trục xuất tới Siberia tháng 1 năm 1907, Trotsky bỏ trốn và một lần nữa tới Luân Đôn, tại đây ông tham dự Đại hội lần thứ năm của RSDLP. Tháng 10, ông tới Viên và thường tham gia vào các hoạt động của Đảng Dân chủ Xã hội Áo và, thỉnh thoảng, của Đảng Dân chủ Xã hội Đức, trong bảy năm. Tại Vienna, Trotsky trở nên thân cận với Adolph Joffe, người bạn trong 20 năm tiếp theo của ông, người đã giới thiệu ông với các nhà phân tích tâm lý. Tháng 10 năm 1908 ông khởi động một tờ báo Dân chủ Xã hội tiếng Nga nhắm vào công nhân Nga tên gọi "Pravda" ("Sự thật"), và là đồng biên tập viên với Joffe, Matvey Skobelev và Victor Kopp, tờ báo được bí mật đưa vào Nga. Tờ báo tránh đề cập tới chính trị phe nhóm và trở nên nổi tiếng trong giới công nhân công nghiệp Nga. Cả những người Bolshevik và Menshevik đã chia rẽ với nhau nhiều lần sau thất bại của cuộc cách mạng năm 1905-1907. Khi nhiều phe nhóm Bolshevik và Menshevik tìm cách tái thống nhất vào cuộc họp của Ủy ban Trung ương RSDLP tháng 1 năm 1910 tại Paris về các điều phản đối của Lenin, tờ "Pravda" của Trotsky đã trở thành 'cơ quan trung ương' được đảng tài trợ. Lev Kamenev, em rể của Trotsky được những người Bolshevik đưa vào ban biên tập, nhưng những nỗ lực thống nhất thất bại vào tháng 8 năm 1910 khi Kamenev rút lui khỏi ban biên tập trong bối cảnh có những lời buộc tội lẫn nhau. Trotsky tiếp tục làm việc tại "Pravda" trong hai năm nữa cho tới khi nó ngừng hoạt động tháng 4 năm 1912. Những người Bolsheviks ra một tờ báo mới cho công nhân tại St. Petersburg ngày 22 tháng 4 năm 1912, và cũng gọi nó là "Pravda". Trotsky buồn bực vì sự chiếm đoạt tên tờ báo của mình và vào tháng 4 năm 1913 ông viết một bức thư cho Nikolay Chkheidze, một lãnh đạo Menshevik, chua chát lên án Lenin và những người Bolshevik. Dù ông nhanh chóng bỏ qua việc này, bức thư đã bị cảnh sát chặn lại, và một bản sao đã được lưu lại trong văn khố cảnh sát. Một thời gian ngắn sau khi Lenin qua đời năm 1924, bức thư bị lôi ra và công bố trước công chúng bởi những đối thủ của ông trong Đảng Cộng sản, và được coi như một bằng chứng cho thấy ông là đối thủ của Lenin. Đây là một giai đoạn rất căng thẳng bên trong RSDLP và dẫn tới nhiều va chạm giữa Trotsky, những người Bolshevik và Menshevik. Sự bất đồng nghiêm trọng nhất mà Trotsky và những người Menshevik có với Lenin thời đó là vấn đề "chiếm đoạt", ví dụ, những vụ cướp ngân hàng và những công ty khác có vũ khí của các nhóm Bolshevik để kiếm tiền cho Đảng, vốn đã bị Đại hội 5 cấm, nhưng vẫn tiếp tục được những người Bolshevik thực hiện. Tháng 1 năm 1912, đa số phái Bolshevik do Lenin đứng đầu và một số người Menshevik tổ chức một hội nghị tại Praha và trục xuất những người phản đối họ ra khỏi đảng. Đối lại, Trotsky tổ chức một hội nghị "thống nhất" của các phái dân chủ xã hội tại Vienna vào tháng 8 năm 1912 (còn gọi là. "Khối Tháng 8") và tìm cách tái thống nhất đảng. Nỗ lực này nói chung không thành công. Tại Vienna, Trotsky liên tục xuất bản các bài viết trên các tờ báo cấp tiến tiếng Nga và Ukraina như "Kievskaya Mysl" với nhiều mật danh khác nhau, thường là "Antid Oto". Tháng 9 năm 1912, "Kievskaya Mysl" gửi ông tới Balkan làm phóng viên, nơi ông theo dõi hai cuộc Chiến tranh Balkan trong năm sau đó và trở thành một người bạn thân thiết của Christian Rakovsky, sau này là một chính trị gia hàng đầu của Liên Xô và là đồng minh của Trotsky trong Đảng Cộng sản Liên Xô. Ngày 3 tháng 8 năm 1914, khi Thế chiến I bùng nổ với việc hai đế quốc Áo-Hung và Nga đối địch nhau, Trotsky buộc phải rời khỏi Vienna tới nước Thuỵ Sĩ trung lập để tránh bị bắt giữ như một người Nga di cư. Thế chiến thứ nhất: 1914-1917. Sự bùng phát của Thế chiến I đã dẫn tới sự đoàn kết ngay lập tức trong RSDLP và cảng đảng dân chủ xã hội châu Âu khác về các vấn đề chiến tranh, cách mạng, chủ nghĩa hoà bình và chủ nghĩa quốc tế. Bên trong RSDLP, Lenin, Trotsky và Martov ủng hộ nhiều quan điểm quốc tế chống chiến tranh, trong khi Plekhanov và những người dân chủ xã hội khác (cả Bolshevik và Menshevik) ủng hộ triều đình Nga ở một số khía cạnh. Tại Thuỵ Sĩ, Trotsky làm việc một thời gian ngắn với Đảng Xã hội Thuỵ Sĩ, thúc đẩy họ chấp nhận giải pháp quốc tế và viết một cuốn sách phản đối chiến tranh, "Chiến tranh và Quốc tế". Đối tượng của cuốn sách là phản đối lập trường ủng hộ chiến tranh của các đảng dân chủ xã hội châu Âu, chủ yếu là tại Đức. Trotsky tới Pháp ngày 19 tháng 11 năm 1914, và là phóng viên chiến tranh cho tờ "Kievskaya Mysl". Tháng 1 năm 1915 ông bắt đầu biên tập cho tờ "Nashe Slovo" ("Tiếng nói của Chúng ta") (ban đầu với Martov, người nhanh chóng từ chức sau khi tờ báo chuyển theo cánh Tả), một tờ báo xã hội quốc tế, tại Paris. Ông chấp nhận khẩu hiệu "hoà bình không bồi thường hay sáp nhập, hoà bình không có kẻ chinh phục hay người bị chinh phục", nhưng không đi xa như Lenin, người đã ủng hộ sự thất bại của Nga trong chiến tranh và yêu cầu sự ly khai hoàn toàn với Đệ Nhị Quốc tế. Vào tháng 9 năm 1915, Trotsky đã tham gia Hội nghị Zimmerwald do những người theo chủ nghĩa xã hội phản đối chiến tranh tổ chức và ủng hộ một chiều hướng giữa chừng giữa những người, như Martov, muốn duy trì Đệ Nhị Quốc tế bằng mọi giá và những người, như Lenin, muốn ly khai khỏi Đệ Nhị Quốc tế và đi đến thành lập một Đệ Tam Quốc tế. Hội nghị thông qua phương pháp giữa chừng do Trotsky đề xuất. Ban đầu phản đối nó, nhưng cuối cùng Lenin đã ủng hộ giải pháp của Trotsky để tránh sự chia rẽ giữa những người xã hội phản đối chiến tranh. Ngày 31 tháng 3 Trotsky bị trục xuất từ Pháp tới Tây Ban Nha vì các hoạt động phản đối chiến tranh. Chính quyền Tây Ban Nha không cho phép ông ở lại và ông lại bị trục xuất tới Hoa Kỳ ngày 25 tháng 12 năm 1916. Ông tới Thành phố New York ngày 13 tháng 1 năm 1917. Tại New York, ông viết những bài báo cho người Nga tại đó trên tờ báo xã hội tiếng Nga "Novy Mir" và tờ nhật báo tiếng Yiddish "Der Forverts" ("The Forward") và có những bài phát biểu trước cộng đồng di cư Nga. Trotsky đang sống tại New York khi Cách mạng Tháng 2 năm 1917 lật đổ Sa hoàng Nikolai II. Ông rời New York ngày 27 tháng 3 nhưng chiếc tàu của ông bị hải quân Anh Quốc chặn lại tại Halifax, Nova Scotia và ông bị giữ một tháng tại Amherst, Nova Scotia. Sau sự ngập ngừng ban đầu, bộ trưởng ngoại giao Nga Pavel Milyukov bị buộc phải yêu cầu thả Trotsky, và chính phủ Anh trả tự do cho Trotsky ngày 29 tháng4. Cuối cùng ông quay trở về Nga ngày 4 tháng 5. Ngay khi trở lại, Trotsky đã thoả hiệp với quan điểm Bolshevik, nhưng không lập tức gia nhập với họ. Những người dân chủ xã hội Nga bị chia rẽ thành ít nhất 6 nhóm và những người Bolshevik đang đợi kỳ Đại hội đảng tiếp theo để quyết định sẽ sáp nhập với các nhóm nào. Trotsky tạm thời gia nhập Mezhraiontsy, một tổ chức dân chủ xã hội vùng tại St. Petersburg, và trở thành một trong các lãnh đạo của nó. Tại Đại hội các Xô viết lần thứ nhất vào tháng 6, ông được bầu làm một thành viên của Ủy ban Hành pháp Trung ương Toàn Nga ("VTsIK") thứ nhất từ phái Mezhraiontsy. Sau một cuộc nổi dậy ủng hộ Bolshevik bất thành tại Petrograd, Trotsky bị bắt ngày 7 tháng 8 năm 1917, nhưng được thả ra 40 ngày sau đó sau thất bại của cuộc nổi dậy phản cách mạng bất thành của Lavr Kornilov. Sau khi những người Bolshevik giành được đa số trong Xô viết Petrograd, Trotsky được bầu làm chủ tịch ngày 8 tháng 10. Ông lại sát cánh cùng Lenin chống Grigory Zinoviev và Lev Kamenev khi Ủy ban Trung ương Bolshevik thảo luận việc chuẩn bị một cuộc nổi dậy vũ trang và ông chỉ huy các nỗ lực lật đổ Chính phủ Lâm thời do Aleksandr Kerensky lãnh đạo. Đoạn vắn tắt sau về Vai trò của Trotsky năm 1917 được Stalin viết trên tờ "Pravda", ngày 10 tháng 11 năm 1918. (Dù đoạn này đã được trích dẫn trong cuốn sách "Cách mạng tháng 10" của Stalin năm 1934, nó đã bị xoá bỏ trong Các tác phẩm của Stalin xuất bản năm 1949.) "Mọi công việc thực tế liên quan với việc tổ chức cuộc nổi dậy được tiến hành dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đồng chí Trotsky, Chủ tịch Xô viết Petrograd. Có thể nói chắc chắn rằng Đảng mang ơn đầu tiên và chủ yếu với Đồng chí Trotsky trong việc bảo vệ Xô viết và cách thức hoạt động hiệu quả của Ủy ban Quân sự Cách mạng. Sau thành công của cuộc nổi dậy ngày 7-8 tháng 11, Trotsky chỉ đạo các nỗ lực đẩy lùi một cuộc phản công của những người Cossack dưới quyền tướng Pyotr Krasnov và những đội quân khác vẫn trung thành để lật đổ Chính phủ Lâm thời tại Gatchina. Liên minh với Lenin, ông đã thành công trong việc đánh bại những nỗ lực của những thành viên Ủy ban Trung ương Bolshevik khác (Zinoviev, Kamenev, Alexei Rykov, vân vân) để chia sẻ quyền lực với các đảng xã hội khác. Tới cuối năm 1917, Trotsky rõ ràng là nhân vật thứ hai trong Đảng Bolshevik sau Lenin, lấn át con người tham vọng Zinoviev, từng là trợ thủ hàng đầu của Lenin trong hơn một thập kỷ trước đó, nhưng đang mất dần vị thế. Sự xoay chuyển này dẫn tới sự căm ghét giữa hai nhà lãnh đạo Bolshevik chỉ kết thúc năm 1926 và khiến cả hai người đều thiệt hại. Sau cách mạng Nga. Dân ủy ngoại giao và Brest-Litovsk (1917-1918). Sau khi những người Bolshevik lên nắm quyền lực, Trotsky trở thành Dân uỷ Nhân dân về Ngoại giao và công bố những hiệp ước bí mật ký trước kia bởi Đồng minh Ba Nước với những kế hoạch tái phân chia thuộc địa và biên giới quốc gia thời hậu chiến. Trotsky dẫn đầu đoàn đại biểu Xô viết thực hiện các cuộc đàm phán hoà bình tại Brest-Litovsk từ ngày 22 tháng 12 năm 1917 tới ngày 10 tháng 2 năm 1918. Ở thời điểm đó chính phủ Xô viết đang chia rẽ về vấn đề này. Những người Cộng sản cánh Tả, đứng đầu là Nikolai Bukharin, tiếp tục tin rằng không thể có hoà bình giữa một nước Cộng hoà Xô viết và một quốc gia tư bản và rằng chỉ một cuộc chiến tranh cách mạng dẫn tới một nước cộng hoà Xô viết toàn châu Âu mới mang lại hoà bình bền vững. Họ chỉ ra những thành công của Hồng quân cách mạng mới được thành lập (ngày 15 tháng 1 năm 1918) trước các lực lượng Ba Lan của Tướng Józef Dowbor-Muśnicki tại Belarus, các lực lượng Bạch vệ tại vùng Don, và các lực lượng độc lập của Ukraina như một bằng chứng cho thấy Hồng quân có thể đẩy lùi các lực lượng Đức, đặc biệt nếu việc tuyên truyền và chiến tranh không cân xứng được sử dụng. Họ không coi việc đàm phán với người Đức như biện pháp thể hiện các tham vọng đế quốc của Đức (lãnh thổ, bồi thường, vân vân) với hy vọng đẩy nhanh cuộc cách mạng Xô viết sang phương Tây, nhưng họ kiên quyết phản đối việc ký bất kỳ hiệp ước hoà bình nào. Trong trường hợp một tối hậu thư của Đức, họ ủng hộ việc tuyên bố một cuộc chiến tranh cách mạng chống Đức nhằm tạo cảm hứng cho những người công nhân Nga và châu Âu đứng lên chiến đấu cho chủ nghĩa xã hội. Ý tưởng này được Những người xã hội chủ nghĩa cách mạng cánh Tả ủng hộ, khi ấy lực lượng này là đối tác chính của những người Bolshevik trong chính phủ liên minh. Lenin, người lúc đầu từng hy vọng một cuộc cách mạng Xô viết nhanh chóng tại Đức và các vùng khác của châu Âu, nhanh chóng quyết định rằng chính phủ đế quốc Đức vẫn nắm quyền kiểm soát chặt chẽ và rằng, nếu không có một đội quân Nga hùng mạnh, một cuộc xung đột quân sự với Đức sẽ dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ Xô viết tại Nga. Ông đồng ý với những người Cộng sản cánh Tả rằng chỉ một cuộc cách mạng Xô viết toàn châu Âu mới giải quyết được mọi vấn đề, nhung tới lúc đó những người Bolshevik phải nắm quyền lực. Lenin không lưu ý tới việc kéo dài quá trình đàm phán để đạt hiệu quả tuyên truyền tối đa, mà, từ tháng 1 năm 1918 trở về sau, ủng hộ việc ký kết một hiệp ước hoà bình riêng rẽ nếu phải đối mặt với tối hậu thư của Đức. Lập trường của Trotsky ở giữa hai phái Bolshevik này. Giống như Lenin, ông chấp nhận rằng quân đội Nga cũ kỹ, được thừa hưởng từ nền quân chủ và Chính phủ Lâm thời và đang ở trong giai đoạn tan rã, không đủ khả năng chiến đấu: "Rằng chúng ta không thể chiến đấu nữa là điều rõ ràng với tôi và rằng Hồng binh và các chi đội Hồng quân mới được thành lập quá nhỏ và không được huấn luyện đủ để chống với người Đức". Nhưng ông đồng ý với những người Cộng sản cánh Tả rằng một hiệp ước hoà bình riêng rẽ với một cường quốc đế quốc sẽ là một cú đấm mạnh về tinh thần và vật chất với chính phủ Xô viết, phủ định mọi thắng lợi quân sự và chính trị của giai đoạn 1917 và 1918, làm phục hồi lại sự kháng cự từ bên trong. Ông cho rằng bất kỳ một tối hậu thư nào của Đức cũng cần phải bị bác bỏ, và rằng điều này có thể dẫn tới một cuộc nổi dậy tại Đức, hay ít nhất khiến những binh lính Đức nảy sinh ý tưởng bất tuân lệnh các sĩ quan tới bất kỳ cuộc tấn công nào của ĐỨc sẽ là một hình thức tước đoạt lãnh thổ rõ ràng. Ông đã viết năm 1925: "Chúng tôi bắt đầu các cuộc đàm phán hoà bình với hy vọng khuấy động đảng công nhân của Đức và Áo-Hung cũng như các nước Đồng minh khác. Vì lý do này chúng tôi buộc phải trì hoãn các cuộc đàm phán càng lâu càng tốt để mang lại thời gian cho công nhân hiểu được thực tế chính của chính cuộc cách mạng Xô viết và đặc biệt là chính sách hoà bình của nó". "Nhưng có một câu hỏi khác: Liệu người Đức vẫn có thể chiến đấu? Liệu họ có ở lập trường để khởi động một cuộc tấn công vào cách mạng sẽ giải thích sự chấm dứt của chiến tranh? Làm cách nào chúng ta biết được tư tưởng của những người lính Đức, làm cách nào để tìm hiểu nó? Trong suốt tháng 1 và tháng 2 năm 1918, quan điểm của Lenin được ủng hộ bởi 7 thành viên Ủy ban Trung ương Bolshevik và lập trường của Bukharin được 4 người ủng hộ. Trotsky có 4 phiếu (ông, Felix Dzerzhinsky, Nikolai Krestinsky và Adolph Joffe) và, bởi ông giữ sự cân bằng quyền lực, ông có thể theo đuổi chính sách của mình tại Brest-Litovsk. Khi ông không thể trì hoãn các cuộc đàm phán được nữa, ông rút khỏi những cuộc đàm phán ngày 10 tháng 2 năm 1918, từ chối ký kết những điều khoản khe khắt của Đức. Sau một giai đoạn ngắt quãng ngắn, các Cường quốc phe Trục cảnh báo chính phủ Xô viết rằng họ sẽ không duy trì thời gian ngừng bắn sau ngày 17 tháng 2. Tại thời điểm này Lenin một lần nữa cho rằng chính phủ Xô viết đã làm mọi việc có thể để giải thích lập trường của mình với công nhân phương Tây và rằng đây là thời điểm để chấp nhận các điều khoản. Trotsky từ chối ủng hộ Lenin bởi ông đang đợi xem liệu các công nhân Đức có nổi dậy không và liệu các binh sĩ Đức có từ chối tuân lệnh không. Đức tái thực hiện các chiến dịch quân sự ngày 18 tháng 2. Trong vòng một ngày, mọi thứ trở nên rõ ràng rằng quân đội Đức có khả năng tiến hành các chiến dịch tấn công và rằng các chi đội Hồng quân, còn khá nhỏ, được tổ chức và chỉ huy kém, không thể đương đầu với họ. Buổi chiều ngày 18 tháng 2, Trotsky và những người ủng hộ ông trong uỷ ban bỏ phiếu trắng và đề nghị của Lenin được chấp nhận với tỷ lệ 7-4. Chính phủ Xô viết gửi một điện tín tới phía Đức chấp nhận các điều khoản cuối cùng của hiệp ước hoà bình Brest-Litovsk. Đức không trả lời trong ba ngày, và tiếp tục tấn công mà không gặp phải nhiều kháng cự. Câu trả lời của họ đến vào ngày 21 tháng 2, nhưng những điều khoản đề xuất quá nặng nề khiến thậm chí Lenin cũng có một thời gian ngắn cho rằng chính phủ Xô viết không còn lựa chọn nào khác là chiến đấu. Nhưng cuối cùng uỷ ban một lần nữa bỏ phiếu với tỷ lệ 7-4 ngày 23 tháng 2 năm 1918; Hiệp ước Brest-Litovsk được ký ngày 3 tháng 3 và được phê chuẩn ngày 15 tháng 3 năm 1918. Bởi quá gắn bó với chính sách của phái đoàn Xô viết trước kia tại Brest-Litovsk, Trotsky từ chức Dân uỷ Ngoại giao để loại bỏ trở ngại có thể có với chính sách mới. Chỉ huy Hồng quân (mùa xuân 1918). Thất bại của Hồng quân mới được thành lập trong việc chống lại cuộc tấn công của Đức vào tháng 2 năm 1918 cho thấy sự yếu kém của nó: số lượng không đủ, thiếu các sĩ quan có kiến thức, và gần như không có sự phối hợp và phụ thuộc. Những thủy thủ nổi tiếng của Hạm đội Baltic, một trong những lực lượng của chế độ mới dưới sự chỉ huy của Pavel Dybenko, đã bỏ chạy một cách nhục nhã trước quân đội Đức tại Narva. Ý tưởng rằng nhà nước cần có một đội quân hay lực lượng dân quân kiểu quân đội của nhà nước Xô viết đã bị nghi ngờ mạnh. Trotsky là một trong những lãnh đạo Bolshevik đầu tiên nhận ra vấn đề và ông thúc đẩy việc thành lập một uỷ ban quân sự gồm những tướng lĩnh Nga cũ sẽ hoạt động như một cơ quan tư vấn. Lenin và Ủy ban Trung ương Bolshevik đồng ý thành lập Ủy ban Quân sự Tối cao ngày 4 tháng 3, dưới sự lãnh đạo của cựu Tham mưu trưởng đế quốc Mikhail Bonch-Bruevich. Nhưng toàn bộ giới lãnh đạo Bolshevik trong Hồng quân, gồm cả Dân uỷ Nhân dân (bộ trưởng quốc phòng) Nikolai Podvoisky và tổng tư lệnh Nikolai Krylenko, phản đối mạnh mẽ và cuối cùng đã từ chức. Họ tin rằng Hồng Quân chỉ cần những người cách mạng chuyên nghiệp, dựa trên tuyên truyền và sức mạnh, và có những sĩ quan được bầu ra. Họ coi các sĩ quan và tướng lĩnh của chế độ cũ là những kẻ có nguy cơ phản bội cần phải đặt ngoài quân đội mới, và không được gánh nhiều trọng trách trong đó. Quan điểm của họ tiếp tục là phổ biến trong những người Bolshevik và những người ủng hộ họ trong suốt cuộc Nội chiến Nga, gồm cả Podvoisky, người đã trở thành một trong các phụ tá của Trotsky, người luôn gây khó khăn cho Trotsky. Sự bất bình với các chính sách của Trotsky về kỷ luật nghiêm khắc, chế độ nghĩa vụ quân sự và việc dựa vào các chuyên gia quân sự phi Cộng sản bị giám sát cuối cùng đã dẫn tới sự Đối lập Quân sự, hoạt động mạnh bên trong Đảng hồi cuối năm 1918-1919. Ngày 13 tháng 3 năm 1918, việc từ chức Dân uỷ Ngoại giao của Trotsky được chính thức chấp nhận và ông được chỉ định làm Dân uỷ Nhân dân về Quân đội và Hải quân - thay Podvoisky - và chủ tịch Hội đồng Quân sự Tối cao. Chức vụ Tổng tư lệnh bị xoá bỏ, và Trotsky nắm toàn quyền kiểm soát Hồng quân, chỉ chịu trách nhiệm trước ban lãnh đạo Đảng Cộng sản, mà lực lượng Cách mạng Xã hội chủ nghĩa cánh Tả đồng minh của họ đã rời chính phủ sau hiệp ước Brest-Litovsk. Với sự giúp đỡ của người trợ tá trung thành Ephraim Sklyansky, Trotsky dùng cả thời gian còn lại của cuộc Nội chiến biến Hồng quân từ một mạng lưới những người cùng khổ với những đơn vị nhỏ và độc lập trở thành một bộ máy quân sự lớn và có kỷ luật, thông qua nghĩa vụ quân sự, sự bắt buộc tuân lệnh và những sĩ quan được lựa chọn bởi khả năng lãnh đạo chứ không phải do cấp bậc và hồ sơ. Ông đã bảo vệ các quan điểm này trong suốt cuộc đời. Trình độ quản lý và tổ chức của Trotsky với quân đội Xô viết nhanh chóng được thử nghiệm theo nhiều cách. Tháng 5, 6 năm 1918, Quân đoàn Tiệp Khắc trên đường từ vùng đất châu Âu của Nga tới Vladivostok đã nổi dậy chống chính phủ Xô viết. Điều này khiến những người Bolshevik mất một phần lớn lãnh thổ, và sự gia tăng chống đối có tổ chức của các lực lượng chống Cộng Nga (thường được gọi là Bạch vệ theo thành phần nổi tiếng nhất của họ) và sự đào ngũ hàng loạt của những chuyên gia quân sự mà Trotsky tin cậy. Trotsky và chính phủ phản ứng bằng một cuộc tổng động viên, tăng quân số của Hồng quân từ chưa đến 300,000 người tháng 5 năm 1918 lên một triệu người vào tháng 10, và đưa các ủy viên chính trị vào trong quân đội. Những dân uỷ này chịu trách nhiệm đảm bảo lòng trung thành của các chuyên gia quân sự (hầu hết là các sĩ quan cũ của quân đội đế quốc) và cùng ra lệnh với họ. Trotsky tuyên bố rằng tổ chức của Hồng quân được xây dựng trên các ý tưởng của Cách mạng tháng 10. Như sau này ông đã viết trong tự truyện của mình: "Một quân đội không thể được xây dựng mà không có những sự trừng phạt. Những đám đông đàn ông không thể bị dẫn tới chỗ chết trừ khi ban chỉ huy quân đội có quyền sử dụng hình phạt tử hình. Khi những con khỉ không đuôi hiểm độc đó còn quá tự hào về các thành tựu kỹ thuật của chúng-những con vật mà chúng ta gọi là con người-sẽ xây dựng các đội quân và gây nên các cuộc chiến tranh, ban chỉ huy của chúng sẽ luôn bị buộc phải đặt binh sĩ giữa cái chết có thể xảy ra trên chiến trường và cái chết không thể tránh khỏi ở hậu phương. Và quả thực các đội quân không được xây dựng trên sự sợ hãi. Quân đội Sa hoàng đã tan thành từng mảnh không phải bởi không có các biện pháp trừng phạt. Trong nỗ lực để cứu vãn nó bằng cách tái lập hình phạt tử hình, Kerensky chỉ kết thúc nó. Trên đống tro tàn của cuộc chiến vĩ đại, những người Bolshevik đã tạo lập quân đội mới. Những thực tế đó không đòi hỏi giải thích cho bất kỳ ai từng có tri thức dù nhỏ nhất về ngôn ngữ của lịch sử. Chất kết dính mạnh nhất trong quân đội mới là các ý tưởng của Cách mạng tháng 10, và những đoàn tàu sẽ mang ra mặt trận chất kết dính này". Với những kẻ đảo ngũ, Trotsky thường giáo dục họ về chính trị; khơi dậy trong họ các ý tưởng của Cách mạng. "Tại các tỉnh Kaluga, Voronezh, và Ryazan, hàng chục ngàn nông dân trẻ đã không thể đáp ứng lệnh triệu tập đầu tiên của Xô viết ... Ủy viên chiến tranh tại Ryazan đã thành công trong việc huy động khoảng mười lăm nghìn những người đào ngũ đó. Khi đi qua Ryazan, I đã quyết định xem xét sự việc ở đó. Một số người của chúng ta đã tìm cách can ngăn tôi. "Một điều gì đó có thể xảy ra," họ cảnh báo tôi. Nhưng mọi thứ diễn ra hoàn hảo. Những người lính được gọi ra khỏi doanh trại của họ. "Đồng chí đảo ngũ – tới cuộc gặp mặt. Đồng chí Trotsky đã tới để nói chuyện với bạn." Họ đã cạn kiệt lòng can đảm, sự dữ dội, kỳ lạ như những cậu học trò. Tôi đã tưởng tượng họ còn tồi tệ hơn, và họ đã tưởng tượng về tôi ghê gớm hơn. Trong vài phút, tôi đã bị vây quanh bởi một đám đông lớn những kẻ hoàn toàn vô kỷ luật, buông tuồng, nhưng không phải tất cả đều thù địch với tôi. "Các đồng chí đảo ngũ" nhìn tôi một cách tò mò đến mức dường như mắt họ lồi ra khỏi đầu. Tôi trèo lên một cái bàn trong sân, và nói với họ trong khoảng một tiếng rưỡi. Đó là đám thính giả có trách nhiệm nhất. Tôi đã tìm cách nâng tinh thần của họ theo chính quan điểm của họ; nói tóm lại, tôi đã yêu cầu họ giơ tay lên như một dấu hiệu trung thành với cách mạng. Các ý tưởng mới đã ảnh hưởng tới họ ngay trước mắt tôi. Họ hoàn toàn phấn chấn; họ theo tôi tới ô tô, hau háu nhìn tôi, không phải vì sợ hãi như trước, mà với niềm say mê, và hét lên lạc cả giọng. Họ không muốn để tôi đi. Sau đó tôi biết, với một chút kiêu hãnh, rằng một trong những cách tốt nhất để giáo dục họ là nhắc nhở họ: "Anh đã hứa gì với Đồng chí Trotsky?" Sau đó, các trung đoàn lính "đảo ngũ" Ryazan đã chiến đấu tốt ngoài mặt trận". Với sự thiếu hụt nhân lực và cuộc xâm lược của 16 đội quân nước ngoài, Trotsky cũng nhấn mạnh rằng các sĩ quan cũ của Sa hoàng phải được sử dụng như những chuyên gia quân sự bên trong Hồng quân, với sự phối hợp của những chính uỷ chính trị Bolshevik để đảm bảo tinh thần cách mạng của Hồng quân. Lenin đã bình luận về điều này: "Khi đồng chí Trotsky gần đây thông báo với tôi rằng trong quân đội số lượng sĩ quan lên tới hàng chục ngàn, tôi đã có được một nhận thức chắc chắn về cái tạo ra điều bí mật về cách sử dụng hợp lý những kẻ thù của chúng ". Tháng 9 năm 1918, chính phủ, đối mặt với những khó khăn liên tiếp về quân sự, đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp và tái tổ chức Hồng quân. Hội đồng Quân sự Tối cao bị bãi bỏ và vị trí Tổng tư lệnh được tái lập, và được nắm giữ bởi người chỉ huy đội Quân súng trường Latvia Ioakim Vatsetis (hay còn gọi là Jukums Vācietis), người từng chỉ huy Mặt trận phía Đông chống lại Quân đoàn Czechoslovak. Vatsetis được giao trách nhiệm điều hành hoạt động hàng ngày của quân đội trong khi Trotsky trở thành chủ tịch của Hội đồng Quân sự Cách mạng mới được thành lập của nhà nước Cộng hoà và giữ quyền kiểm soát chung với quân đội. Trotsky và Vatsetis đã có bất đồng hồi đầu năm 1918 khi Vatsetis và cố vấn của Trotsky là Mikhail Bonch-Bruevich không bằng lòng với nhau. Tuy nhiên, Trotsky sau đó đã thiết lập được mối quan hệ cộng tác với một Vatsetis hay giận dỗi. Việc tái tổ chức đã gây ra một sự xung đột khác giữa Trotsky và Stalin hồi cuối tháng 9. Trotsky đã chỉ định cựu tướng lĩnh đế quốc Pavel Sytin làm chỉ huy Mặt trận phía Nam, nhưng vào đầu tháng 10 năm 1918 Stalin từ chối chấp nhận ông và gọi ông trở lại. Lenin và Yakov Sverdlov đã tìm cách hoà giải giữa Trotsky và Stalin, nhưng cuộc gặp của họ không thành công. Suốt thời gian cuối năm 1918 và đầu 1919, đã có một số cuộc tấn công vào vị trí lãnh đạo của Trotsky trong Hồng quân, gồm những cáo buộc trong những bài báo do Stalin chỉ đạo và một cuộc tấn công trực tiếp bởi phe Đối lập Quân sự tại Đại hội Đảng lần thứ 8 tháng 3 năm 1919. Ngoài mặt, ông đã thoát khỏi thành công và được bầu là một trong năm thành viên đầy đủ của Bộ chính trị đầu tiên sau Đại hội. Nhưng sau này ông đã viết: "Không ngạc nhiên khi công việc trong quân đội tạo ra quá nhiều kẻ thù cho tôi. Tôi không nhìn sang bên cạnh, Tôi gạt đi những người gây trở ngại đến sự thành công của quân đội, hay vội vã với công việc đi trên đầu ngón chân của sự không lo lắng và quá bận rộn ngay cả cho việc xin lỗi. Một số người nhớ những điều đó. Những người bất đồng và những người mà tình cảm của họ đã bị tổn thương quay sang với Stalin hay Zinoviev, bởi hai người này cũng đang có những tổn thương". Giữa năm 1919 những người bất đồng đã có một cơ hội để tạo ra sự thách thức thật sự với quyền lãnh đạo của Trotsky. Hồng quân đã đánh bại cuộc tấn công mùa xuân của Bạch vệ và dự định vượt dãy Ural tiến vào Siberia để truy kích các lực lượng của Đô đốc Alexander Kolchak. Nhưng ở phía nam, các lực lượng Nga Trắng của Tướng Anton Denikin tiến quân, và tình hình xấu đi nhanh chóng. Ngày 6 tháng 6 Tổng tư lệnh Vatsetis ra lệnh cho Mặt trận phía Đông dừng tấn công để ông có thể điều bớt lực lượng về phía nam. Nhưng ban chỉ huy đạo Mặt trận phía Đông, gồm cả chỉ huy Sergei Kamenev (một đại tá quân đội đế quốc, không nên nhầm với thành viên Bộ chính trị Lev Kamenev), và các thành viên Hội đồng Quân sự Cách mạng Mặt trận phía Đông Ivar Smilga, Mikhail Lashevich và Sergei Gusev phản đối kịch liệt và muốn có sự tập trung ở Mặt trận phía Đông. Họ nhấn mạnh rằng điều sống còn là phải chiếm Siberia trước mùa đông và rằng một khi các lực lượng của Kolchak đã tan vỡ, nhiều sư đoàn khác sẽ tự do đi tới Mặt trận phía Nam. Trotsky, người từng có những xung đột với giới chỉ huy Mặt trận phía Đông, gồm cả việc tạm thời gạt bỏ Kamenev tháng 5 năm 1919, ủng hộ Vatsetis. Tại cuộc họp của Ủy ban Trung ương ngày 3, 4 tháng 7, sau một cuộc tranh cãi nóng bỏng đa số ủng hộ Kamenev và Smilga chống lại Vatsetis và Trotsky. Kế hoạch của Trotsky bị bác bỏ và ông bị chỉ trích bởi nhiều cái gọi là thiếu sót trong cách lãnh đạo, đa số chúng là do tính khí cá nhân. Stalin đã sử dụng cơ hội này để gây áp lực lên Lenin đòi cách chức Trotsky. Nhưng khi, vào ngày 5 tháng 7, Trotsky đề nghị từ chức, Bộ chính trị và Orgburo của Ủy ban Trung ương nhất trí bác bỏ. Tuy nhiên, một số thay đổi lớn đã được thực hiện trong giới chỉ huy Hồng quân. Trotsky tạm thời bị điều tới Mặt trận phía Nam, trong khi công việc ở Moscow được điều hành một cách không chính thức bởi Smilga. Hầu hết các thành viên của Hội đồng Quân sự Cách mạng không tham gia vào các công việc hàng ngày của quân đội, được bãi chức ngày 8 tháng 7, trong khi các thành viên khác gồm cả Smilga được đưa vào. Cùng ngày hôm ấy, khi Trotsky đã ở phương nam, Vatsetis bất ngờ bị Cheka bắt vì nghi ngờ tham gia vào một âm mưu chống Xô viết, và bị thay thế bởi Sergei Kamenev. Sau vài tuần ở phía nam, Trotsky quay trở lại Moscow và nắm lại quyền kiểm soát Hồng quân. Một năm sau, Smilga và Tukhachevsky bị đánh bại trong Trận Warsaw, nhưng Trotsky từ chối cơ hội này để trả thù Smilga, điều này khiến ông được Smilga khâm phục và sau này trở thành người ủng hộ ông trong các cuộc chiến trong nội bộ đảng hồi thập niên 1920. Tới tháng 10 năm 1919 chính phủ rơi vào cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất của cuộc Nội chiến: quân đội của Denikin đã tới gần Tula và Moscow từ phía nam, và quân đội của Tướng Nikolay Yudenich đang tới Petrograd từ phía tây. Lenin quyết định rằng bởi việc phòng vệ Moscow có tầm quan trọng lớn hơn, cần phải từ bỏ Petrograd. Trotsky cho rằng Petrograd cần phải được bảo vệ, ít nhất một phần để ngăn Estonia và Phần Lan can thiệp. Trong một sự đảo chiều hiếm hoi, Trotsky được Stalin và Zinoviev ủng hộ và đánh bại Lenin trong Ủy ban Trung ương. Ông nhanh chóng tới Petrograd, nơi ban chỉ huy của nó đứng đầu là Zinoviev bị ông coi là mất tinh thần, và tổ chức cuộc phòng ngự, thỉnh thoảng đích thân ngăn cản các binh sĩ đảo ngũ. Tới ngày 22 tháng 10 Hồng quân đã chuyển sang thế tấn công và đầu tháng 11 quân đội của Yudenich đã bị đẩy lui về Estonia, nơi họ giải giáp và bị giam giữ. Trotsky được trao Huân chương Cờ Đỏ về những công việc tại Petrograd. Sau khi đánh bại Denikin và Yudenich hồi cuối năm 1919, chính phủ Xô viết chuyển sang nhấn mạnh trên việc phát triển kinh tế và Trotsky đã trải qua mùa đông năm 1919-1920 tại vùng Urals tìm cách tái khỏi động nền kinh tế của nó. Dựa trên những kinh nghiệm của ông tại đó, ông đã đề xuất xoá bỏ các chính sách Cộng sản thời Chiến, gồm việc tịch thu ngũ cốc từ những người nông dân và tái lập một phần thị trường ngũ cốc. Nhưng Lenin vẫn trung thành với Cộng sản thời Chiến và đề xuất này bị bác bỏ. Thay vào đó, Trotsky được giao trách nhiệm phát triển mạng lưới đường sắt quốc gia (trong khi vẫn giữ quyền kiểm soát chung với Hồng quân), mà ông đã tìm cách quân sự hoá theo tinh thần Cộng sản thời Chiến. Mãi tới đầu năm 1921 khi nền kinh tế sụp đổ và những cuộc nổi dậy buộc Lenin và những người khác trong giới lãnh đạo Bolshevik từ bỏ Cộng sản thời Chiến nhường chỗ cho Chính sách Kinh tế Mới. Trong lúc ấy, đầu năm 1920 những căng thẳng giữa Liên Xô và Ba Lan cuối cùng đã dẫn tới cuộc Chiến tranh Ba Lan-Xô viết. Trong thời gian chuẩn bị và trong cuộc chiến, Trotsky đã cho rằng Hồng quân đã kiệt sức và chính phủ Xô viết phải ký một hiệp ước hoà bình với Ba Lan càng sớm càng tốt. Ông cũng không tin rằng Hồng quân có thể có sự ủng hộ từ bên trong Ba Lan. Lenin và những người lãnh đạo Bolshevik khác cho rằng những thắng lợi của Hồng quân trong cuộc Nội chiến Nga và trước người Ba Lan có nghĩa rằng, như Lenin đã nói sau này: "Giai đoạn phòng thủ của cuộc chiến với chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới đã qua, và chúng ta có thể, và phải, lợi dụng vị thế quân sự để tung ra một cuộc chiến tranh tấn công". Nhưng cuộc tấn công của Hồng quân đã bị đẩy lui trong Trận Warsaw tháng 8 năm 1920, một phần bởi thất bại của Stalin trong việc thực hiện các chỉ thị của Trotsky trong thời kỳ chuẩn bị cho trận đánh có ý nghĩa quyết định. Quay trở về Moskva, Trotsky một lần nữa đề nghị một hiệp ước hoà bình và lần này đã thành công. Tranh luận về Công đoàn (1920-1921). Cuối năm 1920, sau khi những người Bolshevik giành thắng lợi trong cuộc Nội chiến và trước Đại hội lần thứ 8 và lần thứ 9 của các Xô viết, Đảng Cộng sản đã có một cuộc tranh luận chua cay và gay gắt về vai trò của các Công đoàn trong nhà nước Xô viết. Cuộc tranh cãi làm chia rẽ đảng thành nhiều "phe phái" khác nhau, gồm nhóm của Lenin, nhóm Trotsky và nhóm Bukharin; Bukharin cuối cùng tham gia với Trotsky. Cá nhóm nhỏ hơn và cấp tiến hơn như Đối lập Công nhân (lãnh đạo bởi Alexander Shlyapnikov) và Nhóm Dân chủ Trung ương hoạt động rất mạnh. Lập trường của Trotsky hình thành khi ông lãnh đạo một uỷ ban đặc biệt về hệ thống vận tải Xô viết, Tsektran. Ông đã được chỉ định đến đó để xây dựng lại hệ thống đường sắt đã bị phá huỷ bởi cuộc Nội chiến. Là Dân uỷ Chiến tranh và một lãnh đạo quân sự cách mạng, ông thấy sự cần thiết phải tạo ra một "không khí sản xuất" kiểu quân sự bằng cách tích hợp các công đoàn trực tiếp vào các hệ thống Nhà nước. Lập trường cứng rắn của ông rằng trong một nhà nước của công nhân người công nhân không phải sợ sệt điều gì từ nhà nước, và Nhà nước sẽ kiểm soát toàn bộ các Công đoàn. Tại Đại hội đảng lần thứ 9 ông cho rằng để "tại một chế độ như vậy theo đó mỗi người công nhân cảm thấy mình là một chiến sĩ lao động và không thể tự do làm gì mình muốn; nếu anh ta bị ra lệnh phải chuyển đi, anh ta phải thực hiện mệnh lệnh đó; nếu anh ta không tuân lệnh, anh ta sẽ là một người đào ngũ và phải bị trừng phạt. Ai sẽ thực hiện điều này? Công đoàn. Nó sẽ tạo ra một chế độ mới. Đó là tầng lớp lao động quân sự hoá." Lenin mạnh mẽ chỉ trích Trotsky và buộc tội ông là "làm hại một cách quan liêu tới các công đoàn" và tạo ra "những cuộc tấn công phe phái." Quan điểm của ông không tập trung vào sự quản lý nhà nước tới mức mà sự lo ngại rằng một mối quan hệ mới giữa Nhà nước và mọi người công nhân là cần thiết. Ông nói, "Việc tạo ra một kỷ luật lao động thực sự chỉ hình thành nếu toàn bộ những người tham gia vào công việc sản xuất quan tâm tới việc hoàn thành những nhiệm vụ đó. Điều này không thể được thực hiện bởi các biện pháp quan liêu hay các mệnh lệnh từ bên trên." Đây là một cuộc tranh luận mà Lenin cho rằng Đảng không thể thực hiện. Sự thất vọng của ông với Trotsky đã được Stalin và Zinoviev lợi dụng với sự ủng hộ của họ dành cho quan điểm của Lenin, để cải thiện vị trí của họ bên trong giới lãnh đạo Bolshevik và làm mất vị trí của Trotsky. Sự bất đồng có nguy cơ gia tăng và nhiều người Bolshevik, gồm cả Lenin, sợ rằng đảng có thể tan rã. Ủy ban Trung ương bị chia rẽ hầu như làm đôi giữa những người ủng hộ Lenin và ủng hộ Trotsky, với ba Thư ký Ủy ban Trung ương (Krestinky, Yevgeny Preobrazhensky và Leonid Serebryakov) ủng hộ Trotsky. Tại một cuộc họp của nhóm của mình tại Đại hội đảng lần thứ 10 tháng 3 năm 1921, phái của Lenin đã giành một chiến thắng có ý nghĩa quyết định và một số người ủng hộ Trotsky (gồm cả ba thư ký Ủy ban Trung ương) mất các vị trí lãnh đạo. Krestinsky bị thay thế trong Bộ chính trị bởi Zinoviev, người ủng hộ Lenin. Vị trí trong ban thư ký của Krestinsky bị trao cho Vyacheslav Molotov. Đại hội cũng thông qua một nghị quyết mật về sự "Thống nhất Đảng", cấm các phe phái bên trong Đảng ngoại trừ trong các cuộc thảo luận tiền Đại hội. Nghị quyết sau này đã được xuất bản và được Stalin dùng để chống lại Trotsky và những người khác. Cuối đại hội 10, sau khi những cuộc đàm phán hoà bình thất bại, Trotsky ra lệnh đàn áp cuộc Nổi dậy Kronstadt, cuộc nổi dậy lớn chống lại chính quyền Bolshevik. Nhiều năm sau, Emma Goldman một người theo chủ nghĩa vô chính phủ và những người khác đã chỉ trích các hành động của Trotsky khi giữ chức Dân uỷ Chiến tranh với vai trò trong việc đàn áp nổi dậy, và cho rằng ông đã ra lệnh hành quyết và tống giam một cách bất hợp pháp những người đối lập chính trị như những người vô chính phủ, dù Trotsky không tham gia vào hoạt động đàn áp thực tế. Cáo buộc rằng những người nổi dậy Kronstadt là "phản cách mạng" đã được ủng hộ bởi bằng chứng về việc Bạch vệ và chính phủ Pháp ủng hộ các thủy thủ trong cuộc nổi dậy Kronstadt. Tình trạng sức khỏe kém của Lenin (1922-1923). Cuối năm 1921 sức khoẻ của Lenin xấu đi, ông không có mặt ở Moscow trong những thời gian dài, và cuối cùng bị ba cơn đột quỵ trong khoảng từ ngày 26 tháng 3 năm 1922 tới ngày 10 tháng 3 năm 1923, khiến ông bị liệt, không nói được và cuối cùng mất ngày 21 tháng 1 năm 1924. Với việc Lenin dần bị gạt ra rìa trong suốt năm 1922, Stalin (đã thăng tiến lên chức vụ mới được thành lập trong Ủy ban Trung ương là Tổng thư ký từ đầu năm đó), Zinoviev và Lev Kamenev hình thành một "troika" (chế độ tam hùng) để đảm bảo rằng Trotsky, trên thực tế là người đứng vị trí số hai trong nước và là người kế vị Lenin, sẽ không được kế tục Lenin. Phần còn lại của Bộ chính trị mới được mở rộng (Rykov, Mikhail Tomsky, Bukharin) ban đầu không liên kết với bên nào, nhưng cuối cùng tham gia vào "troika". Quyền lực của Stalin trong chức vụ Tổng thư ký rõ ràng có đóng một vai trò, nhưng Trotsky và những người ủng hộ ông sau này kết luận rằng một lý do cơ bản hơn là quá trình quan liêu hoá chậm chạp của chế độ Xô viết một khi những điều kiện cực đoan của cuộc Nội chiến đã qua: đa phần tầng lớp lãnh đạo Bolshevik muốn 'tình trạng bình thường' trong khi Trotsky về cá nhân và chính trị là hiện thân của một giai đoạn cách mạng dữ dội mà họ thực sự muốn bỏ lại đằng sau. Dù chuỗi sự kiện chính xác vẫn chưa rõ ràng, bằng chứng cho thấy ban đầu "troika" đưa Trotsky lãnh đạo các cơ sở hạng hai của chính phủ (ví dụ, Gokhran, Kho Báu vật Nhà nước) và sau đó, khi Trotsky từ chối như họ đã tính trước, họ tìm cách sử dụng việc đó như một bằng chứng để hất bỏ ông. Khi, vào giữa tháng 7 năm 1922, Kamenev viết một bức thư cho Lenin, khi ấy đang dưỡng bệnh, về hiệu quả mà "(Ủy ban Trung ương) đang loại bỏ hay sẵn sàng loại bỏ một khẩu pháo tốt ra khỏi tàu", Lenin cảm thấy sốc và đã trả lời: "Loại bỏ Trotsky - chắc chắn anh đang nói tới việc đó, bởi không thể nghĩ tới điều gì khác - là sự ngu dốt lớn nhất. Nếu anh không coi tôi là một kẻ đã hoàn toàn bỏ đi, làm sao anh có thể nghĩ tới điều ấy????" Từ đó cho tới lần đột quỵ cuối cùng, Lenin đã dành hầu hết thời gian để tìm cách ngăn chặn sự chia rẽ bên trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản, điều này được phản ánh trong Di chúc Lenin. Như một phần của nỗ lực đó, ngày 11 tháng 9 năm 1922 Lenin đã để nghị để Trotsky làm phó cho mình tại Sovnarkom. Bộ chính trị đồng ý với đề xuất này, nhưng Trotsky "thẳng thừng từ chối". Cuối năm 1922, quan hệ của Lenin với Stalin xấu đi vì việc Stalin quan thiệp quá sâu và giải quyết theo chủ nghĩa Sô vanh vấn đề sáp nhập các nước cộng hoà Xô viết vào một nhà nước liên bang, Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết. Về điểm này, theo tự truyện của Trotsky, Lenin đã đề nghị với Trotsky một liên minh chống lại sự quan liêu Xô viết nói chung và đặc biệt là Stalin. Liên minh đã có hiệu quả trong vấn đề thương mại với nước ngoài, nhưng nó trở nên rắc rối bởi sự sút kém sức khoẻ của Lenin. Tháng 1 năm 1923 quan hệ giữa Lenin và Stalin hoàn toàn tan vỡ khi Stalin lăng mạ một cách thô lỗ vợ của Lenin, Nadezhda Krupskaya. Ở thời điểm đó Lenin đã thay đổi Di chúc của mình đề nghị rằng phải loại bỏ Stalin khỏi chức Tổng thư ký, dù lý lẽ của ông có phần suy yếu bởi thực tế rằng ông cũng bị các nhà lãnh đạo Bolshevik chỉ trích, gồm cả Trotsky. Tháng 3 năm 1923, vài ngày trước lần đột quỵ thứ ba, Lenin đã chuẩn bị một cuộc tấn công trực tiếp vào "Chiến dịch nhà nước Đại Nga" của Stalin chống lại Đảng Cộng sản Gruzia (cái gọi là Vụ Gruzia) và yêu cầu Trotsky thay mặt thực hiện tại Đại hội đảng lần thứ 12. Với việc Lenin không thể hoạt động tích cực nữa, Trotsky không đưa vấn đề ra trước Đại hội. Tại Đại hội lần thứ 12 của Đảng vào tháng 4 năm 1923, ngay sau lần đột quỵ cuối cùng của Lenin, báo cáo quan trọng của Ủy ban Trung ương về các vấn đề tổ chức và quốc gia được Stalin đưa ra chứ không phải Trotsky, trong khi Zinoviev đọc báo cáo chính trị của Ủy ban Trung ương, vốn dành riêng cho Lenin. Quyền lực chỉ định nhân sự của Stalin cho phép ông ta dần thay thế các thư ký đảng địa phương bằng những người trung thành và nhờ thế kiểm soát được các đại biểu khu vực tại đại hội, khiến cho Ủy ban Trung ương toàn những người ủng hộ ông, hầu hết với sự giúp đỡ của những người Zinoviev và Kamenev. Tại đại hội, Trotsky đã có một bài phát biểu về dân chủ trong đảng, trong số những điều khác, nhưng tránh đối đầu trực tiếp với "troika". Các đoàn đại biểu, hầu hết không biết gì về sự chia rẽ trong Bộ chính trị, đã nhiệt liệt hoan nghênh Trotsky, tuy không có tác dụng thiết thực nhưng cũng làm "troika" lo lắng. "Troika" còn điên tiết hơn bởi bài báo của Karl Radek "Leon Trotsky — Người Tổ chức Chiến thắng" được in trên tờ "Pravda" ngày 14 tháng 3 năm 1923, dường như có ý coi Trotsky là người kế tục Lenin. Các nghị quyết được Đại hội 12 thông qua kêu gọi, trong các điều khoản chung, một sự dân chủ hơn nữa bên trong Đảng, nhưng còn mơ hồ và vẫn chưa được thực hiện. Trong một bài thử nghiệm sức mạnh quan trọng hồi giữa năm 1923, "troika" đã khiến người bạn và cũng là người ủng hộ Trotsky là Christian Rakovsky trở nên trung lập bằng cách loại ông khỏi chức vụ lãnh đạo chính phủ Ukraina ("Sovnarkom") và gửi ông tới London làm đại sứ Liên Xô. Khi các thư ký đảng tại vùng Ukraina phản đối sự thuyên chuyển Rakovsky, họ cũng bị chuyển tới nhiều vị trí khác trên khắp Liên Xô. Đối lập cánh tả (1923-1924). Bắt đầu từ giữa năm 1923, nền kinh tế Xô viết trải qua những khó khăn nghiêm trọng, dẫn tới nhiều cuộc đình công trên toàn quốc. Hai nhóm bí mật trong Đảng Cộng sản, "Niềm tin của Công nhân" và "Nhóm Công nhân", bị phát hiện và bị cảnh sát mật đàn áp. Ngày 8 tháng 10 năm 1923 Trotsky gửi một bức thư tới Ủy ban Trung ương và Hội đồng Kiểm soát Trung ương, cho rằng những khó khăn đó xuất hiện bởi sự thiếu dân chủ trong Đảng. Trotsky viết: "Trong thời điểm ác liệt nhất của cuộc Chiến tranh Cộng sản, hệ thống chỉ định trong đảng không bằng mức một phần mười hiện nay. Việc chỉ định các thư ký hội đồng tỉnh hiện đã là quy định. Điều này khiến vị trí thư ký có sự độc lập mạnh với tổ chức địa phương. [...] Sự quan liêu hoá các cơ chế đảng đã phát triển tới những mức chưa từng có bằng những biện pháp của phương thức lựa chọn thư ký. Nó đã tạo ra một tầng lớp công nhân đảng rất lớn, thâm nhập vào trong các cơ chế chính phủ của đảng, hoàn toàn không thừa nhận ý kiến của đảng của chính họ, ít nhất là sự công khai thể hiện nó, như khi cho rằng chế độ thư ký là cơ chế đưa ra ý kiến và quyết định của đảng. Ở dưới tầng lớp này, từ bỏ các ý kiến riêng của mình, là khối đảng viên đông đảo của đảng, và với họ mọi quyết định đều là một hình thức ra lệnh hay mệnh lệnh". Những đảng viên cao cấp khác cùng có lo ngại tương tự đã gửi "Tuyên ngôn 46" tới Ủy ban Trung ương ngày 15 tháng 10 trong đó họ viết: [...] "chúng tôi quan sát thấy một sự chia rẽ nhanh chưa từng có và được che đậy một cách sơ sài của đảng thành một hệ thống thư ký và "những người bình thường", thành các công chức chuyên nghiệp của đảng, được lựa chọn từ bên trên, và những quần chúng đảng viên khác, những người không được tham gia vào đời sống xã hội. [...] sự thảo luận tự do bên trong đảng rõ ràng đã biến mất, ý kiến đảng viên quần chúng đã bị kìm chế. [...] chính là hệ thống thư ký, hệ thống đảng ở một mức độ lớn chưa từng có lựa chọn các đại biểu tham dự các cuộc hội thảo và đại hội, ở một mức độ lớn chưa từng có đang trở thành những hội nghị riêng của tầng lớp này". Mặc dù nguyên văn những bức thư bị giữ bí mật ở thời điểm đó, chúng đã có tác động lớn đến giới lãnh đạo đảng và khiến "troika" cùng những người ủng hộ nó phải rút lui một phần về vấn đề dân chủ trong đảng, đáng chú ý nhất là bài viết của Zinoviev trên tờ "Pravda" ngày 7 tháng 11. Trong suốt tháng 11, "troika" đã tìm cách đưa tới một thoả hiệp nhằm xoa dịu, hay ít nhất tạm thời trung lập hoá Trotsky và những người ủng hộ ông. (Nhiệm vụ của họ được dễ dàng hoàn thành bởi thực tế rằng Trotsky bị ốm vào tháng 11 và tháng 12). Bản thảo đầu tiên của nghị quyết bị Trotsky bác bỏ, dẫn tới sự thành lập một nhóm đặc biệt gồm Stalin, Trotsky và Kamenev, có nhiệm vụ soạn thảo một thoả hiệp có thể chấp nhận được với cả hai bên. Ngày 5 tháng 12, Bộ chính trị và Hội đồng Kiểm soát Trung ương nhất trí thông qua bản thảo cuối cùng của nhóm biến nó trở thành nghị quyết của họ. Ngày 8 tháng 12, Trotsky công bố một bức thư ngỏ, trong đó ông trình bày chi tiết các ý tưởng của nghị quyết mới được thông qua. "troika" đã sử dụng bức thư của ông như một chứng cứ để tung ra một chiến dịch chống lại Trotsky, buộc tội ông theo chủ nghĩa phe phái, lập ra "thanh niên chống lại thế hệ nền tảng của những người Bolshevik cách mạng cũ" và những tội lỗi khác. Trotsky đã bảo vệ các quan điểm của mình trong một loạt bảy bức thư được sưu tập lại như 'The New Course" tháng 1 năm 1924. Minh hoạ về một "giới lãnh đạo Bolshevik thời đồ đá" vì thế bị phá vỡ và một cuộc tranh luận trong đảng như thật được tổ chức, cả tại các cơ quan đảng địa phương và trên các trang tờ "Pravda". Cuộc tranh luận kéo dài suốt tháng 12 và tháng 1 năm sau tới khi Đại hội đảng lần thứ 13 vào tháng ngày 16, 17 và 18 tháng 1 năm 1924. Những người phản đối lập trường của Ủy ban Trung ương trong cuộc thảo luận sau đó bị gọi là những phần tử của Đối lập cánh Tả. Bởi "troika" kiểm soát các cơ quan đảng thông qua các thư ký của Stalin cũng như tờ "Pravda" thông qua tổng biên tập Bukharin, họ có khả năng dẫn dắt cuộc thảo luận và quá trình lựa chọn đại biểu. Dù lập trường của Trotsky thắng thế bên trong Hồng quân và các đại học Moscow và nhận được khoảng một nửa số phiếu trong tổ chức đảng Moscow, họ bị đánh bại ở những nơi khác, và Hội nghị đầy những đại biểu ủng hộ "troika". Cuối cùng, chỉ ba đại biểu bỏ phiếu cho lập trường của Trotsky và hội nghị kết thúc với việc bác bỏ "Chủ nghĩa Trotsky" như một "sự chệch hướng tư sản". Sau hội nghị, một số người ủng hộ Trotsky, đặc biệt trong Ban Chính trị Hồng quân, bị gạt bỏ khỏi các chức vụ lãnh đạo hay bị bổ nhiệm vào chức vụ khác. Tuy vậy, Trotsky vẫn được giữ mọi chức vụ và "troika" cẩn thận nhấn mạnh rằng cuộc tranh luận chỉ giới hạn vào các "khuyết điểm" của Trotsky và rằng việc gạt bỏ Trotsky khỏi vị trí lạnh đạo không phải là vấn đề được xem xét. Trên thực tế, Trotsky đã bị loại hoàn toàn khỏi quá trình đưa ra quyết định. Ngay sau hội nghị, Trotsky đi tới khu nghỉ dưỡng ở Caucasian để phục hồi sức khoẻ sau một giai đoạn ốm yếu kéo dài. Trên đường đi, ông được biết tin Lenin qua đời vào ngày 12 tháng 1 năm 1924. Ông định quay trở lại nhưng một bức điện từ Stalin được gửi tới, báo ngày không chính xác về lễ tang, khiến Trotsky không thể quay về kịp. Nhiều nhà bình luận cho rằng vì thực tế Trotsky đã không có mặt tại Moscow trong những ngày sau khi Lenin qua đời đã khiến cuối cùng ông thua cuộc trước Stalin, dù Trotsky nói chung không đánh giá cao tầm quan trọng của việc ông vắng mặt. Sau khi V. I. Lenin qua đời (1924). Có ít sự bất bình chính trị công khai trong giới lãnh đạo Xô viết trong hầu hết năm 1924. Ngoài mặt, Trotsky vẫn là lãnh đạo có ảnh hưởng và được lòng dân chúng nhất của những người Bolshevik, dù những "sai lầm" của ông thường bị những người ủng hộ "troika" bóng gió nói tới, ông hoàn toàn bị cách ly khỏi quá trình lập chính sách. Những cuộc gặp của Bộ chính trị chỉ mang tính hình thức bởi mọi quyết định quan trọng đều được đưa ra từ trước đó bởi "troika" và những người ủng hộ nó. Quyền kiểm soát quân đội của Trotsky đã bị giảm nhiều sau khi người phó của ông, Ephraim Sklyansky, bị thuyên chuyển, và Mikhail Frunze, đang được chuẩn bị để thay vị trí của Trotsky. Tại Đại hội lần thứ 13 của Đảng vào tháng 5, Trotsky đã có một bài phát biểu mang tính hoà giải: "Không ai trong chúng ta muốn hay có thể tranh cãi với ý chí của Đảng. Rõ ràng, Đảng luôn đú, lịch sử đã cho thấy không có cách đúng đắn nào khác. Người Anh có câu nói, "Đất nước tôi, đúng hay sai," cả khi nó đúng hay nó sai, nó vẫn là đất nước tôi. Chúng ta có minh chứng lịch sử rõ ràng hơn khi nói liệu nó đúng hay sai trong một số trường hợp cá biệt, đó là đảng của tô, anh ta sẽ nói, đúng hay không đúng, đó là đảng của tôi, và tôi sẽ ủng hộ những hành động của quyết định đó cho tới cuối cùng". Tuy nhiên, nỗ lực hoà giải không ngăn được những người ủng hộ "troika" tấn công ông. Cùng lúc ấy, Đối lập cánh Tả, vốn đã thu hẹp lại một cách không chủ định vào cuối năm 1923 và thiếu cơ sở rõ ràng ngoài sự bất bình chung với "chế độ" trong đảng, bắt đầu tập hợp. Nó đã mất một số thành viên không kiên quyết sau những rắc rối do "troika" gây ra, nhưng nó cũng bắt đầu tạo lập một chương trình. Về kinh tế, Đối lập cánh Tả và nhà lý thuyết của nó Yevgeny Preobrazhensky phản đối sự phát triển hơn nữa những yếu tố tư bản trong nền kinh tế Xô viết và ủng hộ sự công nghiệp hoá nhanh hơn. Điều này khiến họ trở nên đối lập với Bukharin và Rykov, nhóm "Hữu" bên trong Đảng, những người đang ủng hộ "troika" ở thời điểm đó. Về vấn đề cách mạng thế giới, Trotsky và Karl Radek muốn có một giai đoạn ổn định ở châu Âu trong khi Stalin và Zinoviev dự đoán chắc rằng một sự "tăng tốc" cách mạng ở Tây Âu sẽ diễn ra năm 1924. Trên mặt trận tư tưởng, Trotsky vẫn trung thành với quan điểm Bolshevik rằng Liên Xô không thể thành lập một xã hội xã hội chủ nghĩa thực sự nếu không có cuộc cách mạng thế giới, trong khi Stalin dần đi theo một chính sách xây dựng 'Chủ nghĩa xã hội trong một quốc gia'. Những khác biệt tư tưởng đó một mặt tạo lập ra cơ bản tri thức cho sự chia rẽ chính trị giữa Trotsky và Cánh tả Đối lập và mặt khác với cả Stalin và những đồng minh của ông ta. Tại Đại hội 13 Kamenev và Zinoviev đã giúp Stalin làm dịu đi bản Di chúc của Lenin, vốn bị công bố muộn. Nhưng ngay sau đại hội, "troika", luôn là một liên minh vững chắc, bắt đầu có dấu hiệu suy kém. Stalin bắt đầu đưa ra những buộc tội dại dột với Zinoviev và Kamenev. Quả thực vào tháng 10 năm 1924, Trotsky đã xuất bản "Những bài học tháng 10", một bản tóm tắt đầy đủ những sự kiện của cuộc cách mạng năm 1917. Trong đó ông miêu tả sự phản đối của Zinoviev và Kamenev với việc những người Bolshevik nắm quyền năm 1917, một điều mà hai người không hề muốn bị lật lại. Điều này đã dẫn tới một cuộc đấu tranh nội bộ mới trong đảng, và được gọi là "Thảo luận Văn học", với việc Zinoviev và Kamenev lại liên minh với Stalin chống lại Trotsky. Sự chỉ trích Trotsky của họ tập trung vào những việc sau: Trotsky một lần nữa bị ốm và không thể trả lời các cáo buộc trong khi các đối thủ của ông tập hợp mọi nguồn lực để chống lại ông. Họ đã thành công trong việc huỷ hoại danh tiếng của ông trong quân đội tới mức ông bị buộc phải từ chức Dân uỷ Quân đội và Hải quân và Chủ tịch Hội đồng Quân sự Cách mạng ngày 6 tháng 1 năm 1925. Zinoviev đã yêu cầu trục xuất Trotsky khỏi Đảng Cộng sản, nhưng Stalin từ chối và khôn khéo đóng một vai trò trung dung. Trotsky vẫn giữ được ghế trong Bộ chính trị, nhưng rõ ràng ông đang bị án treo lơ lửng trên đầu. Một năm ở vùng hoang vu (1925). Năm 1925 là một thời điểm khó khăn với Trotsky. Sau cú đòn của "Tranh cãi Văn học" và việc mất các chức vụ trong Hồng quân, ông hoàn toàn thất nghiệp trong suốt mùa đông và mùa xuân. Tháng 5 năm 1925, ông được trao ba chức vụ: chủ tịch Ủy ban Nhượng bộ, lãnh đạo ban kỹ thuật điện, và chủ tịch ban kỹ thuật khoa học công nghiệp. Trotsky đã viết trong cuốn "Đời tôi" rằng ông "đang tạm nghỉ khỏi chính trị" và "tự nhiên rơi vào hoàn cảnh mới với bao nhiêu công việc", nhưng một số những lời bình luận khi ấy đã vẽ ra hình ảnh một người đã cách biệt với cuộc sống và không còn quan tâm tới công việc. Cuối năm ấy, Trotsky từ chức khỏi hai vị trí về kỹ thuật (cho rằng là sự can thiệp và phá hoại ngầm của Stalin) và tập trung vào công việc của ông tại Ủy ban Nhượng bộ. Một trong vài sự phát triển chính trị ảnh hưởng tới Trotsky năm 1925, những hậu quả của việc tranh cãi xung quanh bản Di chúc của Lenin đã được nhà Mác xít người Mỹ Max Eastman miêu tả trong cuốn sách của ông "Since Lenin Died" (Từ khi Lenin mất) (1925). Giới lãnh đạo Xô viết bác bỏ lập trường của Eastman và sử dụng kỷ luật đảng để buộc Trotsky phải viết bài báo bác bỏ lập trường của Eastman về các sự kiện. Cùng lúc ấy, "troika" cuối cùng tan rã. Bukharin và Rykov liên kết với Stalin trong khi Krupskaya và Dân uỷ Tài chính Grigory Sokolnikov liên minh với Zinoviev và Kamenev. Cuộc đấu tranh trở thành công khai tại cuộc họp của Ủy ban Trung ương vào tháng 9 năm 1925 và lên tới đỉnh điểm tại Đại hội lần thứ 14 Đảng Cộng sản vào tháng 12 năm 1925. Chỉ với tổ chức đảng Leningrad ủng hộ mình, Zinoviev và Kamenev, bị gọi là "Đối lập mới", và đã bị đánh bại hoàn toàn trong khi Trotsky từ chối tham gia vào cuộc chiến và không phát biểu tại Đại hội. Đối lập thống nhất (1926-1927). Trong một thời gian tạm lắng của cuộc chiến đấu trong nội bộ đảng vào mùa xuân năm 1926, Zinoviev, Kamenev và những người ủng hộ họ trong "Đối lập mới" dần ngả về phía những người ủng hộ Trotsky và hai nhóm nhanh chóng thành lập một liên minh, cũng gồm các nhóm đối lập nhỏ hơn khác bên trong đảng. Liên minh được gọi là Đối lập thống nhất. Đối lập thống nhất nhiều lần bị đe doạ bởi các hành động trừng phạt của giới lãnh đạo của Stalin trong Đảng Cộng sản và Trotsky phải đồng ý với những lần rút lui chiến thuật, hầu hết để bảo vệ liên minh của ông với Zinoviev và Kamenev. Phe đối lập vẫn thống nhất chống lại Stalin trong suốt năm 1926 và 1927, đặc biệt về vấn đề Cách mạng Trung Quốc. Các biện pháp được Stalin sử dụng chống Đối lập ngày càng cứng rắn. Tại Hội nghị Đảng lần thứ 15 vào tháng 10 năm 1926 Trotsky chỉ có cơ hội phát biểu với những lần bị la ó làm ngắt quãng, và cuối hội nghị ông mất ghế trong Bộ chính trị. Năm 1927 Stalin bắt đầu sử dụng GPU (cảnh sát mật Liên Xô) để thâm nhập và phá hoại đối lập. Những người đối lập ở mọi cấp bắt đầu bị thanh trừng, thỉnh thoảng bị loại ra khỏi đảng và bị bắt giữ. Thất bại và bị trục xuất (1927-1928). Tháng 10 năm 1927, Trotsky và Zinoviev bị trục xuất khỏi Ủy ban Trung ương. Khi Đối lập Thống nhất tìm cách tổ chức các cuộc tuần hành độc lập kỷ niệm lần thứ 10 ngày những người Bolshevik lên giành chính quyền tháng 11 năm 1927, những người tham gia tuần hành đã bị giải tán bằng vũ lực và Trotsky cùng Zinoviev đã bị trục xuất khỏi Đảng Cộng sản ngày 12 tháng 11. Những người ủng hộ chính của họ, từ Kamenev trở xuống, cũng bị trục xuất tháng 12 năm 1927 bởi Đại hội 15 của đảng, dọn đường cho những cuộc trục xuất hàng loạt những người đối lập cũng như việc lưu đày trong nước các lãnh đạo đối lập đầu năm 1928. Khi Đại hội 15 của Đảng cho rằng các quan điểm của phe Đối lập không thích hợp với Đảng Cộng sản, Zinoviev, Kamenev và những người ủng hộ họ bị bắt giữ và bác bỏ sự liên quan với Đối lập cánh Tả. Trotsky và hầu hết những người ủng hộ, từ chối đầu hàng và tiếp tục đấu tranh. Trotsky bị trục xuất tới Alma Ata (hiện ở Kazakhstan) ngày 31 tháng 1 năm 1928. Ông bị trục xuất khỏi Liên Xô tới Thổ Nhĩ Kỳ tháng 2 năm 1929, vợ ông Natalia Sedova và con trai Lev Sedov đi cùng. Sau khi Trotsky bị trục xuất khỏi đất nước, những người Trotskyist bị trục xuất bắt đầu nao núng và, giữa năm 1929 và 1934, hầu hết các thành viên lãnh đạo của Đối lập đầu hàng Stalin, "thừa nhận sai lầm" và được hồi phục trong Đảng Cộng sản. Christian Rakovsky, từng là nguồn cảm hứng của Trotsky trong giai đoạn 1929 và 1934 khi ông đang bị trục xuất tại Siberia, là nhân vật Trotskist nổi bật cuối cùng bị bắt giữ. Hầu hết họ đều bỏ mạng trong cuộc Đại Thanh trừng diễn ra chỉ vài năm sau đó. Trotsky cho rằng Stalin được tầng lớp công chức và sỹ quan quân đội ủng hộ. Ông viết: Sau khi bị trục xuất (1929-1940). Trotsky bị trục xuất khỏi Liên bang Xô viết tháng 2 năm 1929. Trạm dừng chân đầu tiên trong chặng đường lưu vong của ông là tại Büyükada ngoài khơi Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ nơi ông ở trong bốn năm. Có nhiều cựu sĩ quan Bạch vệ tại Istanbul, điều này khiến cuộc sống của Trotsky gặp nguy hiểm, nhưng một số người ủng hộ Trotsky ở châu Âu tình nguyện làm vệ sĩ cho ông. Năm 1933 Trotsky được trao quyền tị nạn tại Pháp bởi Daladier. Đầu tiên ông ở tại Royan, sau đó tại Barbizon. Ông không được phép tới thăm Paris. Năm 1935 ông được biết mình sẽ không được tiếp tục đón chào ở Pháp nữa. Sau khi cân nhắc các khả năng, ông chuyển tới Na Uy. Với giấy phép của Bộ trưởng Tư pháp lúc ấy là Trygve Lie để vào Na Uy, Trotsky trở thành khách của Konrad Knudsen gần Oslo. Sau hai năm – được cho là dưới ảnh hưởng từ Liên Xô – ông bị quản thúc tại gia. Việc ông tới tới México trên một chiếc máy bay chở hàng đã được sắp xếp sau các cuộc tư vấn với các quan chức Na Uy. Tổng thống Mexico Lázaro Cárdenas chào đón ông nồng nhiệt, thậm chí còn sắp xếp một chuyến tàu đặc biệt để đưa ông tới Mexico City từ cảng Tampico. Tại Mexico, Trotsky có thời điểm sống tại nhà họa sĩ Diego Rivera, và một thời điểm khác tại nhà vợ và bạn của Rivera, Frida Kahlo (và ông có một vụ việc với bà này). Trong cảnh lưu đày,ông vẫn là một người viết rất nhiều, viết ra nhiều tác phẩm quan trọng, gồm "Lịch sử Cách mạng Nga" (1930) và "Cuộc Cách mạng bị Phản bội" (1936), một sự chỉ trích Liên bang Xô viết dưới quyền Stalin. Trotsky cho rằng nhà nước Xô viết đã trở thành một "nhà nước mất phẩm chất của công nhân" bị kiểm soát bởi một chế độ quan liêu phi dân chủ, cuối cùng hoặc sẽ bị lật đổ qua cách mạng dân chủ để thành lập nên chế độ dân chủ của công nhân, hay mất phẩm chất nữa để trở thành một tầng lớp tư bản. Khi ở Mexico, Trotsky cũng làm việc gần gũi với James P. Cannon, Joseph Hansen, và Farrell Dobbs của Đảng Công nhân Xã hội Hoa Kỳ, và những người ủng hộ khác. Cannon, một thành viên lãnh đạo từ lâu của phong trào cộng sản Mỹ, đã ủng hộ Trotsky trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Stalin từ khi ông lần đầu đọc những lời chỉ trích Liên Xô của Trotsky năm 1928. Sự chỉ trích chế độ Stalin của Trotsky, dù bị ngăn cấm, vẫn được phân phát tới các lãnh đạo Quốc tế Cộng sản. Trong số những người ủng hộ ông có Trần Độc Tú, người sáng lập và là Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Những vụ xử án điểm tại Moscow. Tháng 8 năm 1936, vụ xử án điểm Moscow đầu tiên của cái gọi là "Trung tâm Khủng bố Trotskyite-Zinovievite" được tiến hành trước cử toạ quốc tế. Trong vụ xử, Zinoviev, Kamenev và 14 người khác bị buộc tội, đa số họ là những người Bolshevik Cũ nổi tiếng, thú nhận đã âm mưu cùng Trotsky để giết Stalin và các thành viên khác của ban lãnh đạo Xô viết. Toà án xác nhận tất cả mọi người đều có tội và tuyên án các bị đơn tội tử hình, Trotsky tử hình vắng mặt. Cuộc xử án điểm thứ hai chống lại Trotsky với các bị cáo là Karl Radek, Grigory Sokolnikov, Yuri Pyatakov và 14 người khác diễn ra tháng 1 năm 1937, thậm chí với nhiều cái gọi là âm mưu và tội ác hơn. Tháng 4 năm 1937, một "Ủy ban Điều tra" độc lập về các cáo buộc chống lại Trotsky và những người khác tại "Các vụ xử án Moscow" được tổ chức tại Coyoacan, với John Dewey là chủ tịch. Các kết quả được xuất bản trong cuốn "Not Guilty" (Không phạm tội). Đệ Tứ Quốc tế. Ban đầu Trotsky phản đối ý tưởng thành lập các Đảng Cộng sản song song hay một tổ chức Cộng sản Quốc tế song song có thể cạnh tranh với Đệ Tam Quốc tế vì sợ sự chia rẽ trong phong trào Cộng sản. Tuy nhiên, ông đã thay đổi quan điểm hồi giữa năm 1933 sau khi Phát xít lên nắm quyền ở Đức và phản ứng của Quốc tế Cộng sản với sự việc đó, khi ông tuyên bố rằng: "Một tổ chức không thức tỉnh bởi tiếng sấm của chủ nghĩa phát xít và sự phục tùng những hành động sỉ nhục đó của sự quan liêu cho thấy rằng nó đã chết và không gì có thể làm nó hồi phụ". Năm 1938, Trotsky và những người ủng hộ ông thành lập Đệ Tứ Quốc tế với dự định trở thành một phong trào cách mạng quốc tế thay thế cho Quốc tế Cộng sản của Stalin. Tới cuối năm 1939 Trotsky đồng ý tới Hoa Kỳ để xuất hiện như một người làm chứng trước Ủy ban Dies của Hạ viện, một tiền thân của House Un-American Activities Committee. Người đại diện Martin Dies, Chủ tịch uỷ ban, đã yêu cầu sự đàn áp Đảng Cộng sản. Trotsky dự định sử dụng diễn đàn để phơi bày các hành động của NKVD chống lại ông và những người ủng hộ. Ông cũng nói rõ rằng ông cũng dự định tranh luận chống lại sự đàn áp Đảng Cộng sản Mỹ, và sử dụng uỷ ban như một diễn đàn cho một lời kêu gọi chuyển đổi chiến tranh thế giới trở thành cách mạng thế giới. Nhiều người ủng hộ ông lên tiếng phản đối sự xuất hiện này. Khi uỷ ban biết được tính chất của bản tuyên bố Trotsky dự định trình bày, họ từ chối nghe ông, và ông bị khước từ visa vào Mỹ. Khi nghe về điều này, những người theo Stalin nhanh chóng buộc tội Trotsky nhận tiền của các trùm dầu mỏ và FBI. Những tháng cuối cùng. Sau khi cãi cọ với Diego Rivera, năm 1939 Trotsky về nhà riêng tại Coyoacán, một vùng phụ cận của Mexico City. Ông ốm, và bị cao huyết áp, và sợ rằng sẽ bị xuất huyết não. Thậm chí ông còn chuẩn bị cho mình một khả năng chấm dứt cuộc đời bằng cách tự sát. Ngày 27 tháng 2 năm 1940, Trotsky viết một tài liệu được gọi là "Di chúc của Trotsky", trong đó ông thể hiện những suy nghĩ và cảm giác cuối cùng của mình cho thế hệ sau. Sau khi mạnh mẽ bác bỏ những buộc tội của Stalin rằng ông đã phản bội lại tầng lớp lao động, ông cảm ơn những người bạn, và trên tất cả người vợ và những người đồng chí thân thiết, Natalia Sedova, về sự hỗ trợ trung thành của họ: "Ngoài hạnh phúc được là một chiến sĩ chiến đấu cho sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội, số phận đã trao cho tôi niềm hạnh phúc được làm chồng. Trong gần bốn mươi năm cuộc đời cùng nhau bà đã trao cho tôi một nguồn yêu thương, khoan dung và dịu dàng vô hạn. Bà đã trải qua những đau thương lớn, đặc biệt trong giai đoạn cuối cuộc đời chúng tôi. Nhưng tôi thấy nhẹ lòng hơn với thực tế rằng bà cũng đã biết đến những ngày hạnh phúc." "Trong bốn mươi ba năm cuộc đời có ý thức của tôi Tôi vẫn là một nhà cách mạng; trong bốn mươi hai năm của họ Tôi đã chiến đấu dưới lá cờ của Chủ nghĩa Mác. Nếu tôi phải bắt đầu mọi thứ lại lần nữa Tôi tất nhiên sẽ tìm cách tránh nó hay sai lầm này, nhưng chiều hướng chính của cuộc đời tôi vẫn không thay đổi. Tôi sẽ chết như một nhà cách mạng vô sản, một người Mác xít, một người duy vật biện chứng, và, vì thế, một người vô thần không thể thay đổi. Niềm tin của tôi ở tương lai của chủ nghĩa cộng sản không hề giảm bớt, quả thực nó càng trở nên vững chắc ở thời điểm hiện tại, hơn trong thời tuổi trẻ của tôi". "Natasha vừa đi tới cửa sổ từ khu vườn và mở nó rộng hơn để không khí có thể vào trong phòng tôi. Tôi có thể dài cỏ xanh sáng bên dưới bức tường, và bầu trời xanh bên trên bức tường, và ánh mặt trời ở khắp mọi nơi. Cuộc sống thật đẹp. Hãy để các thế hệ tương lai quét sạch mọi ma quỷ, sự áp bức và bạo lực ra khỏi nó, và tận hưởng hoàn toàn cuộc sống". "27 tháng 2 năm 1940" Ngày 24 tháng 5 năm 1940, Trotsky sống sót sau một vụ tấn công vào nhà ông bởi những kẻ ám sát của Stalin do mật vụ GPU Iosif Grigulevich, họa sĩ và người theo chủ nghĩa Stalin người Mexico David Alfaro Siqueiros, và Vittorio Vidale chỉ huy. Ngày 20 tháng 8 năm 1940, Trotsky bị tấn công tại nhà ở México bởi một mật vụ của NKVD, Ramón Mercader, ông bị Mercader dùng một chiếc rìu băng chém ngập vào sọ. Nhát đánh không chuẩn xác lắm và không giết chết Trotsky ngay lập tức như Mercader dự tính. Các nhân chứng nói rằng Trotsky đã nhổ vào Mercader và đánh nhau dữ dội với anh ta. Nghe tiếng động, các vệ sĩ của Trotsky lao vào phòng và hầu như giết Mercader, nhưng Trotsky ngăn họ, nhắc lại nhiều lần rằng cần để anh ta sống để trả lời các câu hỏi. Trotsky được đưa tới bệnh viện, tiến hành phẫu thuật, và sống được trong hơn một ngày nữa, chết khi 60 tuổi ngày 21 tháng 8 năm 1940 vì não bị tổn thương nghiêm trọng. Mercader sau này nói tại toà: "Tôi đặt chiếc áo mưa lên bàn sao cho có thể lấy được chiếc rìu băng trong túi ra. Tôi quyết định không bỏ lỡ cơ hội tuyệt vời đang có. Thời điểm Trotsky bắt đầu đọc bài viết, cơ hội của tôi đã đến; tôi rút chiếc rìu ra khỏi túi áo, nắm chặt trong tay, nhắm mắt lại, giáng cho ông một cú chết người vào đầu". Theo James P. Cannon, thư ký của Đảng Công nhân Xã hội (Hoa Kỳ), những lời cuối cùng của Trotsky là "Tôi không sống nổi sau vụ này đâu. Stalin cuối cùng đã hoàn thành nhiệm vụ mà ông ta từng không thành công trước đây." Ngôi nhà của Trotsky tại Coyoacán được giữ gìn nguyên trạng như ngày diễn ra vụ ám sát và hiện là một bảo tàng do một ban quản lý gồm cả cháu ông là Esteban Volkov điều hành. Giám đốc hiện tại của bảo tàng là tiến sĩ Carlos Ramirez Sandoval dưới sự giám sát của ông bảo tàng đã được nâng cấp nhiều sau nhiều năm bị sao lãng. Mộ của Trotsky nằm trong khu đất của ngôi nhà này. Trotsky không bao giờ được chính phủ Xô viết chính thức phục hồi, dù trong giai đoạn Cải tổ hầu hết những người Bolshevik Cũ bị giết hại trong cuộc Đại Thanh trừng đã được phục hồi. Nhưng vào năm 1987, dưới thời Tổng thống Gorbachev, Trotsky đã được gọi là "một anh hùng và liệt sĩ", và được in hình lên một con tem bưu chính tưởng niệm. Con trai ông, Sergei Sedov, bị giết năm 1937, đã được phục hồi năm 1988, cũng như Nikolai Bukharin. Trên tất cả, bắt đầu từ năm 1989, những cuốn sách của Trotsky, bị cấm cho đến năm 1987, cuối cùng đã được xuất bản ở Liên Xô. Cháu trai của Trotsky Vsievolod Platonovich "Esteban" Volkov (sinh năm 1926) là một người ủng hộ nhiệt thành ông mình và rất gần gũi với Khuynh hướng Mác xít Quốc tế do Ted Grant thành lập. Chắt gái của Trotsky, Nora Volkow (con gái của Esteban Volkov), hiện là lãnh đạo Viện về Lạm dụng Thuốc Quốc gia Hoa Kỳ. Những đóng góp vào học thuyết. Trotsky tự coi mình là một người "Bolshevik-Leninist", kêu gọi việc thành lập một đảng tiên phong. Ông coi mình là một người ủng hộ học chủ nghĩa Mác chính thống. Chính trị của ông khác biệt ở nhiều mặt với chính trị của Stalin hay Mao, quan trọng nhất là sự phản đối học thuyết Chủ nghĩa xã hội trong Một Quốc gia và ông tuyên bố sự cần thiết phải có một cuộc "cách mạng thường trực" trên bình diện quốc tế. Nhiều nhóm Đệ Tứ Quốc tế trên thế giới tiếp tục miêu tả mình là nhóm theo chủ nghĩa Trotskyist và vẫn đi theo truyền thống này, dù họ có những cách giải thích khác nhau về những kết luận rút ra từ đó. Những người ủng hộ Đệ Tứ Quốc tế cho rằng lập trường phản đối chế độ độc tài Stalin của Trotsky, ủng hộ cách mạng chính trị, cho thấy chủ nghĩa xã hội không thể tự duy trì nếu không có dân chủ. Cách mạng thường trực. Cách mạng thường trực là học thuyết rằng những chế độ Dân chủ tư sản tại các quốc gia có nền dân chủ tư sản kém phát triển chỉ có thể được hoàn thành thông qua việc thành lập một nhà nước công nhân, và rằng việc tạo lập một nhà nước công nhân sẽ đương nhiên dẫn tới việc chống lại sở hữu tư bản. Vì thế trách nhiệm của tầng lớp dân chủ tư sản trở thành trách nhiệm của tầng lớp vô sản. Dù không liên kết chặt chẽ với Leon Trotsky, lời kêu gọi Cách mạng thường trực xuất hiện lần đầu trong những trang viết của Karl Marx và Friedrich Engels tháng 3 năm 1850, sau cuộc Cách mạng 1848, trông Bài nói chuyện của Ủy ban Trung ương của Liên đoàn Cộng sản: "Quyền lợi và trách nhiệm của chúng ta là tạo ra một cuộc cách mạng thường trực cho tới khi mọi tầng lớp hữu sản nhiều hay ít đã bị hướng khỏi các quan điểm cai trị của họ, cho tới khi tầng lớp vô sản đã chinh phục quyền lực nhà nước và cho tới khi liên minh của tầng lớp vô sản đã phát triển đủ lớn - không chỉ trong một đất nước mà tại mọi nước hàng đầu thế giới - thì cuộc cạnh tranh giữa tầng lớp vô sản tại các quốc gia đó mới ngừng lại và ít nhất các lực lượng sản xuất được tập trung trong tay những người công nhâ: "Cách mạng Thường trực"." Ý tưởng của Trotsky về Cách mạng thường trực dựa trên sự hiểu biết của ông, được thảo ra trên tác phẩm của người thành lập chủ nghĩa Mác Nga Georgy Plekhanov, rằng tại các nước 'tụt hậu' những nhiệm vụ của Cách mạng dân chủ tư sản không thể được hoàn thành bởi tầng lớp tư sản. Ý tưởng này lần đầu tiên được Trotsky phát triển cùng với Alexander Parvus hồi cuối năm 1904 - 1905. Các bài viết liên quan sau này được tập hợp lại trong những cuốn sách của Trotsky "1905" và trong "Cách mạng thường trực", cũng có chứa bài tiểu luận của ông "Những kết quả và triển vọng". Stalin cùng tầng lớp quan chức và giới sĩ quan Liên Xô không ủng hộ ý tưởng Cách mạng thường trực của Trotsky. Năm 1935, Trotsky viết: "Nhiệm vụ của người Bolshevik-Leninist là phải chống lại phe phản động trong đảng, không phải dựa vào tầng lớp sỹ quan quân đội mà phải dựa vào đội tiên phong của giai cấp vô sản và từ đó dựa vào quần chúng để làm chủ tầng lớp công chức, để thanh lọc những phần tử phản động, để đảm bảo quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân, rồi thiết lập những chính sách quay lại phục vụ cho cách mạng thế giới. Nhưng sức sống của cách mạng, của quần chúng đã giảm đi nhiều sau nội chiến, nạn đói, bệnh dịch và tầng lớp công chức mọc lên kinh khủng cả về số lượng và sự xấc xược, cách mạng vô sản suy yếu. Chắc chắn rằng ngọn cờ Bolshevik – Leninist sẽ tập hợp được hàng nghìn chiến binh cách mạng tốt nhất, trong đó có nhiều người lính. Giai cấp công nhân tiến bộ sẽ ủng hộ cho cánh tả, nhưng sự ủng hộ này lại thụ động; quần chúng không còn tin tưởng nữa, xung đột sẽ làm cho tình hình tồi tệ đi. Trong khi đó tầng lớp công chức quả quyết: "Cánh tả muốn làm cách mạng quốc tế và chuẩn bị lôi chúng ta vào cuộc chiến tranh. Quá đủ những điều tồi tệ rồi. Chúng ta có quyền được nghỉ ngơi. Chúng ta không cần 'Cách mạng liên tục'. Chúng ta sẽ xây dựng xã hội chủ nghĩa chỉ tại nước ta thôi. Công nhân và nông dân, hãy tin vào chúng tôi, những lãnh tụ của các bạn!" kèm theo đó là những kích động vào dân tộc - sẽ nói tới ở phần sau - bằng sự vu khống trơ tráo, đôi khi hoàn toàn phản cách mạng, để chống lại chủ nghĩa quốc tế. Tầng lớp công chức và quân đội liên kết chặt chẽ hơn và rõ ràng đã tìm được tiếng nói trong quần chúng đã mệt mỏi và ngần ngại. Vì thế những người tiên phong Bolshevik tự thấy họ bị cô lập và bị nghiến ra từng mảnh." Theo những người Trotskyist, Cách mạng tháng 10 (được Trotsky lãnh đạo) là ví dụ đầu tiên của một cuộc Cách mạng thường trực thành công. Giai cấp vô sản, Cách mạng tháng 10 xã hội chủ nghĩa diễn ra ở địa điểm chính xác bởi giai cấp tư sản, nắm quyền lực vào tháng 2, không có khả năng giải quyết bất kỳ nhiệm vụ nào của cách mạng dân chủ tư sản. Họ không trao ruộng đất cho nông dân (điều những người Bolshevik thực hiện ngày 25 tháng 10), không trao tự do cho các quốc gia thiểu số bị đàn áp, không giải phóng nước Nga khỏi sự cai trị của nước ngoài bằng cách chấm dứt chiến tranh, cuộc chiến mà ở thời điểm đó diễn ra chỉ để làm hài lòng những ông chủ nợ Anh và Pháp. Những người Trotskyist ngày nay cho rằng nhà nước của thế giới thứ Ba cho thấy chủ nghĩa tư bản không mang lại con đường phát triển cho những nước kém phát triển, vì thế một lần nữa là bằng chứng cho học thuyết. Ví dụ, sau hơn 60 năm độc lập tư sản Ấn Độ vẫn không thể thoát khỏi hệ thống đẳng cấp. Trái lại, chính sách Stalin ở các thuộc địa cũ đã có đặc điểm ở cái gọi là Lý thuyết hai giai đoạn, cho rằng tầng lớp lao động phải chiến đấu cho "chủ nghĩa tư bản tiến bộ" cùng với "tư sản quốc gia tiến bộ" trước khi bất kỳ một nỗ lực xã hội chủ nghĩa nào có thể được thực hiện. Mặt trận Thống nhất. Trotsky là một nhân vật trung tâm của Quốc tế Cộng sản trong bốn lần đại hội đầu tiên của nó. Trong thời gian này ông đã giúp khái quát hoá chiến lược và các chiến thuật của những người Bolshevik tới các đảng Cộng sản mới được thành lập trên khắp châu Âu và toàn thế giới. Từ năm 1921 trở về sau mặt trận thống nhất, một biện pháp thống nhất những người cải cách và cách mạng trong cuộc chiến đấu chung và huy động công nhân tham gia vào cách mạng, là chiến lược trung tâm do Quốc tế Cộng sản đưa ra. Sau khi bị Stalin bắt phải sống lưu vong và cách ly chính trị, Trotsky tiếp tục kêu gọi một mặt trận thống nhất chống phát xít ở Đức và Tây Ban Nha. Những bài viết trên mặt trận thống nhất thể hiện một phần quan trọng trong di sản chính trị của ông.
Lý Hiển Long (tên tiếng Anh: Lee Hsien Loong, , sinh ngày 10 tháng 2 năm 1952) là Thủ tướng thứ ba của Singapore. Lý Hiển Long là con cả của thủ tướng đầu tiên của Singapore Lý Quang Diệu. Vợ của Lý Hiển Long, Hà Tinh, là Giám đốc điều hành và CEO của công ty quốc doanh Temasek Holdings. Là con trai đầu của cựu thủ tướng Lý Quang Diệu và bà Kha Ngọc Chi (Kwa Geok Choo), Lý Hiển Long sinh ngày 10 tháng 2 năm 1952 tại Singapore. Theo hồi ký của Lý Quang Diệu, lúc mới lên 5, Lý Hiển Long bắt đầu học bảng chữ cái Jawi (hệ thống mẫu tự tiếng Ả Rập được dùng để làm chữ viết cho tiếng Mã Lai), và luôn tỏ ra quan tâm cách vui thích đến các vấn đề của đảo quốc Singapore, từ năm 1963, cậu Lý thường theo cha đến tham dự các buổi tụ tập chính trị. Lý Hiển Long tiếp nhận nền giáo dục trung học tại Trường Trung học Công giáo, rồi tiếp tục theo học tại trường Cao đẳng Quốc gia ("National Junior College"), sau đó học chuyên ngành toán tại trường Trinity, Đại học Cambridge, Anh quốc, tốt nghiệp Toán học hạng ưu năm 1974, đồng thời nhận một chứng chỉ Khoa học Vi tính (hạng danh dự). Sau đó, năm 1980, ông lấy học vị Thạc sĩ môn Quản trị Công quyền (MPA) tại Trường Hành chính Kennedy thuộc Đại học Harvard. Lý Hiển Long gia nhập Lực lượng vũ trang Singapore (SAF) năm 1971, năm 1984, giải ngũ với quân hàm chuẩn tướng, đó là lúc ông đắc cử vào Quốc hội. Bác sĩ y khoa Hoàng Danh Dương, người vợ sinh trưởng tại Malaysia của Lý Hiển Long, qua đời năm 1982 3 tuần sau khi sinh nở. Năm 1985, ông kết hôn với Hà Tinh, một công chức đang trên đà thăng tiến. Họ có 1 con gái và 2 con trai (kể cả cô con gái và cậu con trai của người vợ trước). Năm 1992, Lý Hiển Long bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư bạch cầu và phải trải qua 3 tháng hóa trị liệu. Suốt trong thời gian này, ngoại diện của Lý Hiển Long sa sút thảm hại. Năm 1984, ở tuổi 32 Lý Hiển Long khởi đầu sự nghiệp chính trị của mình. Được cha ông, Lý Quang Diệu, bổ nhiệm vào chức vụ quốc vụ khanh thuộc bộ thương mại và công nghiệp và bộ quốc phòng vào tháng 12 năm 1984, sau đó ông trở thành quyền Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp năm 1986, và sau đó là thứ trưởng bộ quốc phòng. Tháng 1 năm 1987, vấn đề chủng tộc trở nên gay gắt khi những người gốc Mã Lai bắt đầu tra vấn các dân biểu quốc hội tại sao có quá ít người gốc Mã Lai nắm giữ các vị trí then chốt trong lực lượng vũ trang Singapore (SAF). Lý Hiển Long, khi ấy là bộ trưởng thương mại và công nghiệp kiêm thứ trưởng bộ quốc phòng, phát biểu rằng SAF không cần có những quân nhân nắm giữ các chức vụ mà lòng trung thành của người lính có thể xung đột với những tình cảm tôn giáo và chủng tộc. Lý Hiển Long trở thành Phó thủ tướng khi Ngô Tác Đống (Goh Chok Tong) đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng Singapore ngày 28 tháng 11 năm 1990, Lý chuyên trách các vấn đề kinh tế và dân chính, đồng thời tiếp tục nắm giữ chức vụ bộ trưởng thương mại và công nghiệp đến năm 1992. Năm 1998, Lý Hiển Long được bổ nhiệm vào chức vụ Chủ tịch Cơ quan Quản lý Tiền tệ Singapore, và Bộ trưởng Tài chính năm 2001. Suốt trong mười ba năm rưỡi trong cương vị Phó thủ tướng, ông đã hành xử ảnh hưởng rộng lớn của mình giúp thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của Singapore, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và xã hội. Sau nhiều thỉnh cầu đến từ các nghị sĩ quốc hội và từ Uỷ ban Tái tạo Singapore, Lý Hiển Long khởi xướng một luật mới về quyền công dân khi nhận ra rằng phụ nữ Singapore kết hôn với ngoại kiều và sinh con ở nước ngoài mong muốn con mình có cơ hội nhập quốc tịch Singapore. Mặc dù luật mới vẫn còn những hạn chế đối với quyền nhập quốc tịch theo huyết thống, một đứa trẻ sinh ở nước ngoài có thể có quốc tịch Singapore nếu cha mẹ đứa trẻ cư trú tại Singapore ít nhất là hai năm trong quãng thời gian năm năm trước khi đứa trẻ ra đời. Trước đây, luật lệ Singapore không công nhận quyền công dân theo huyết thống – trong trường hợp những người có cha mẹ là công dân Singapore nhưng sinh tại nước ngoài. Ngày 12 tháng 8 năm 2004, Lý Hiển Long kế nhiệm Ngô Tác Đống trong cương vị thủ tướng và bàn giao chức vụ Chủ tịch Cơ quan Tiền tệ Singapore cho Ngô Tác Đống. Tháng 11 năm 2004, Lý Hiển Long gây ra một cuộc tranh luận toàn quốc khi tiết lộ dự án xây dựng hai khu nghỉ dưỡng liên hợp có sòng bạc. Tháng 4 năm 2005, mặc cho sự chống đối của công luận, Lý Hiển Long tuyên bố ủng hộ dự án. Hai khu nghỉ dưỡng liên hợp này được xây dựng tại Vịnh Marina và Sentosa. Nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động bài bạc tại các sòng bạc, thủ tướng đề ra những biện pháp kiểm soát như cấm trẻ vị thành niên vào sòng bài, quy định giá vào cửa đến 100 SGD cho công dân và người cư trú dài hạn ở Singapore, hoặc vé năm là 2000 SGD. Tranh cãi chỉ trích. Là con cả của thủ tướng đầu tiên của đảo quốc, Lý Quang Diệu, sự nghiệp chính trị của Lý Hiển Long luôn bị đeo đuổi bởi những cáo buộc về gia đình trị. Ở tuổi 32, ông là chuẩn tướng trẻ tuổi nhất trong lịch sử quân lực Singapore, ngay từ khi còn trẻ, ông đã được nhiều người nhìn xem là người sẽ kế vị cha ông trong chức vụ thủ tướng. Khi Lý Quang Diệu rút lui để mở lối cho người kế nhiệm, Ngô Tác Đống, một vài người cho rằng tân thủ tướng chỉ đóng vai trò của một người giữ chỗ mặc dù Lý Quang Diệu bác bỏ điều này. Trong quyển hồi ký, Lý Quang Diệu nhấn mạnh rằng ông không muốn con trai mình là người kế nhiệm trực tiếp. Dù vậy, những cáo buộc cứ tiếp tục xuất hiện trong quãng thời gian từ 6 đến 7 năm cho đến khi Ngô Tác Đống cố chứng tỏ rằng ông không phải là người giữ chỗ bằng cách chiếm lại những ghế đã mất tại Quốc hội và nâng cao tỷ lệ phiếu đảng PAP giành được trong cuộc tổng tuyển cử năm 1997. Năm 1992, Lý Hiển Long mắc bệnh ung thư bạch cầu khiến nhiều nhà bình luận chính trị bày tỏ những nghi ngờ về năng lực thể chất của ông trong chức vụ thủ tướng với những ngày dài bận rộn và căng thẳng vì bị áp lực từ nhiều phía. Cũng dễ hiểu khi vợ của Lý Hiển Long, Hồ Tinh, được bổ nhiệm làm giám đốc công ty đầu tư quốc doanh Temasek nhiều người tỏ ý bất bình. Song Lý Hiển Long đã phản ứng mạnh mẽ trước những cáo buộc và thắng cuộc trong những dàn xếp bên ngoài toà án về cáo buộc phỉ báng ông dành cho các tạp chí như International Herald Tribune (năm 1994), Bloomberg (2002) và The Economist (2004). Ngạo mạn và chuyên quyền. Vẫn thường xuất hiện những nhận xét cho rằng Lý Hiển Long ngạo mạn và chuyên quyền. Có một lời đồn đại dai dẳng kể rằng trong một buổi họp tiền nội các năm 1990, trong lúc tức giận Lý Hiển Long nhục mạ Bộ trưởng Tài chính Richard Hồ Tứ Đạo, sau đó tát bộ trưởng phát triển quốc gia S. Dhanabalan khi ông này bênh vực ông Hồ Tứ Đạo và yêu cầu ông Lý phải xin lỗi. Trong khi những người trực tiếp liên hệ đến vụ việc không bao giờ công khai nhắc đến sự kiện này thì vào năm 2003, Ngô Tác Đống, khi bàn luận về người kế nhiệm, bác bỏ nó và cho rằng đó chỉ là một chuyện huyễn hoặc. Viếng thăm Đài Loan năm 2004. Ngày 10 tháng 7 năm 2004, Lý Hiển Long gây ra một sự kiện ngoại giao với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa khi ông viếng thăm Đài Loan. Song trong bài diễn văn đầu tiên đọc trong ngày quốc khánh, Lý Hiển Long cho rằng giới lãnh đạo và người dân Đài Loan đánh giá quá cao sự ủng hộ dành cho họ nếu họ tuyên bố độc lập. Đồng thời ông cũng giải thích rằng chuyến viếng thăm đến Đài Loan chỉ để bảo đảm rằng ông đã thu thập thông tin đầy đủ hầu có thể đưa ra những quyết định đúng đắn khi nhận bàn giao chức vụ thủ tướng. Lý Hiển Long tái xác nhận sự ủng hộ dành cho chính sách một nước Trung Hoa. Sau đó vào tháng 9, Bộ trưởng Ngoại giao Sigapore George Dương Vinh Văn cảnh báo Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về nguy cơ để cho tình hình hai bên bờ eo biển Đài Loan trở nên xấu hơn. Đáp lại, bộ trưởng ngoại giao Đài Loan, Mark Trần Đường Sơn, gọi Singapore là "nước "Pi-Sai"", nghĩa là "quốc gia bé như lỗ mũi". Về sau ông Trần phải chính thức xin lỗi Singapore. Phát ngôn về Nhật Bản. Khởi phát từ những nhận xét của Lý Hiển Long về những lần thăm viếng đền Yasukuni của Thủ tướng Nhật Bản Koizumi, cho rằng "Từ quan điểm của nhiều quốc gia trong vùng đã bị Nhật chiếm đóng, động thái này làm dấy lên những ký ức đau buồn", bùng phát những cuộc biểu tình bên ngoài toà đại sứ Singapore tại Nhật Bản trong ngày 24 tháng 5 năm 2005. Theo một số nguồn tin, những người biểu tình chỉ trích Lý Hiển Long là xen vào các vấn đề nội bộ của nước Nhật. Vụ hành quyết Nguyễn Tường Vân. Trong tháng 11 năm 2005, tên của Lý Hiển Long xuất hiện trên trang đầu các tờ báo cùng với vụ hành quyết Nguyễn Tường Vân, một người Úc gốc Việt vì tội buôn ma túy. Trong lần gặp gỡ với Thủ tướng Úc John Howard tại hội nghị thượng đỉnh APEC, Lý Hiển Long đã không chịu thông báo với Howard lịch hành quyết dù đã báo trước cho mẹ của Nguyễn Tường Vân. Mọi thỉnh cầu xin giảm án đều bị bác bỏ. Vân bị hành quyết ngày 2 tháng 12; trước đó do lời yêu cầu từ Thủ tướng Howard, mẹ của Vân được phép đến gặp và cầm tay con trai mình. Tháng 1 năm 2006, Lý Hiển Long công bố cuộc tổng tuyển cử sắp đến sẽ tổ chức trong năm 2006 hoặc năm 2007. Các cáo buộc về gia đình. Năm 2017, Lý Hiển Long bị hai em ruột lên án. Người em gái của thủ tướng Lý Hiển Long là Lý Vệ Linh (Lee Wei Ling) và em trai, ông Lý Hiển Dương (Lee Hsien Yang), đã công bố một bức thư ngỏ dài sáu trang mang tựa đề: "Điều gì đe dọa các giá trị của Lý Quang Diệu ?". Vụ việc thoạt tiên mang tính nội bộ gia đình các con cố thủ tướng Lý Quang Diệu đã trở thành một vấn đề chính trị quốc gia. Hai người em cũng cáo buộc thủ tướng Lý Hiển Long bổ nhiệm luật sư riêng vào chức vụ chưởng lý, hồi đầu năm nay 2017. Ông còn bị lên án âm mưu dọn đường cho con trai, tức cháu nội cố thủ tướng Lý Quang Diệu, kế nhiệm. Vợ của thủ tướng Lý Hiển Long, bà Hà Tinh (Ho Ching) bị tố cáo thao túng chính quyền. Cho rằng Việt Nam xâm lược Campuchia. Ngày 31 tháng 5 năm 2019, Lý Hiển Long đăng trạng thái trên Facebook với nội dung chia buồn với Thủ tướng Thái Lan Prayuth Chan-ocha về sự kiện Nhiếp chính Prem Tinsulanonda qua đời. Tuy nhiên trong nội dung của bài đăng Lý Hiển Long đã nói rằng "Việt Nam đã xâm lược Campuchia" trong giai đoạn Diệt chủng Campuchia của chế độ Khmer Đỏ. Điều này đã gây sự phẫn nộ cho người dân và chính phủ Campuchia và Việt Nam về Lý Hiển Long cũng như "Singapore – một chính phủ tự nhận là đạo đức cao, chưa bao giờ lên án tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ". Youk Chhang, Giám đốc Trung tâm lưu trữ Campuchia, thì phát biểu "những bình luận của ông Lý Hiển Long cho thấy đã tới lúc ASEAN cần một chương trình giáo dục về hòa bình và nhân quyền cho khu vực. Một chương trình như vậy bây giờ nên bắt đầu từ Singapore". Kể từ tháng 1 năm 2008, lợi tức hằng năm của Lý Hiển Long là 3 870 000 đô la Singapore (2 856 930 USD), tăng 25%. Mức lương trước đây của ông là 3 091 200 đô la Singapore (2 037 168 USD), Lý Hiển Long là người đứng đầu chính phủ có mức lương cao nhất thế giới (Tổng thống Hoa Kỳ cũng chỉ được trả 400 000 USD mỗi năm).
Tàu vũ trụ Deep Impact Deep Impact là một thí nghiệm của cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) với mục đích nghiên cứu cấu tạo bên trong của sao chổi Tempel 1. Vào lúc 1 giờ 47 phút sáng 13 tháng 1 năm 2005 (giờ Hà Nội), phi thuyền Deep Impact của NASA đã rời mũi Canaveral trên tên lửa Delta II bắt đầu cuộc hành trình của mình. Ngày 3-7, phi thuyền thả vật tác động - một "viên đạn" đồng có đường kính 1m, nặng 370 kg - vào đường đi của sao chổi Tempel 1 (Tempel 1 có kích cỡ bằng 50% diện tích đảo Manhattan, New York). Vật tác động lao vào tâm sao chổi với tốc độ 37.000 km/giờ, đủ để làm bốc hơi khối đồng. Trong 22 giờ tiếp theo, các thiết bị dẫn đường của Deep Impact cũng như các nhân viên mặt đất ở cách xa 133 triệu km sẽ điều khiển để cả phi thuyền lẫn vật tác động lao về phía sao chổi. Chỉ vài giây trước khi va chạm, một máy quay phim trên vật tác động sẽ chụp và chuyển tiếp hình ảnh tâm sao chổi trở lại Deep Impact. Cuối cùng, vật tác động sẽ lao vào tâm sao chổi với tốc độ 37.000 km/giờ, đủ để làm bốc hơi khối đồng. Trong khi đó, Deep Impact sẽ lướt ngang bên dưới sao chổi ở khoảng cách gần 500 km. Miệng hố do vụ va chạm tạo ra ở tâm, sao chổi có thể to bằng một ngôi nhà lớn hoặc một sân vận động bóng đá, sâu từ 2 tới 14 tầng. Các mảnh băng và bụi sẽ bắn ra từ miệng hố, tiết lộ vật chất ở bên dưới. Deep Impact bay ngang qua chỉ có 13 phút để quan sát và ghi lại vụ va chạm, vật chất bắn ra từ miệng hố cũng như cấu trúc và thành phần bên trong của hố trước khi nó chịu tác động của cơn bão hạt từ tâm sao chổi. Deep Impact có bốn máy thu thập dữ liệu để quan sát vụ va chạm, một camera và quang phổ kế hồng ngoại Tiến sĩ Michael A'Hearn, kỹ sư trưởng của Deep Impact, cho biết 24 giờ cuối cùng trong cuộc đời của vật tác động sẽ cung cấp cho giới khoa học dữ liệu tuyệt vời nhất trong lịch sử nghiên cứu sao chổi. Với thông tin thu thập được, họ sẽ biết rõ hơn về bản chất và cấu trúc của sao chổi. Đặc biệt, Deep Impact sẽ giúp giới khoa học nhìn thoáng qua bề mặt bên dưới của sao chổi, nơi vật chất từ thời kỳ hình thành Thái dương hệ vẫn không thay đổi là bao, giúp trả lời một số câu hỏi về sự hình thành của Thái dương hệ. Các tính toán cho thấy khả năng vật tác động đi chệch mục tiêu là chưa tới 1%. Phần mềm định hướng tự động đã được thử nghiệm trong không gian. NASA đảm bảo rằng dù miệng hố có lớn thế nào chẳng nữa thì nó cũng sẽ không làm thay đổi quỹ đạo của sao chổi quanh mặt trời và không làm cho sao chổi đi theo quỹ đạo va chạm với Trái Đất. Các nhà khoa học cũng hy vọng, nhờ có Deep Impact họ sẽ biết được một điều gì đó về việc làm chệch hướng sao chổi. Một lợi ích khác nữa là bằng cách tìm hiểu các thành phần của sao chổi, NASA có thể sử dụng chúng trong tương lai làm giếng nước hoặc trạm tiếp nhiên liệu cho các sứ mạng thăm dò vũ trụ.
Cơ quan An ninh thường được gọi là MI5 là cơ quan tình báo, phản gián và đảm bảo an ninh của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Cơ quan này có nhiệm vụ bảo vệ dân chủ, kinh tế và chống các tội phạm nguy hiểm, tội phạm chiến tranh, chống khủng bố trong Vương quốc Anh. Ở Anh, ngoài MI-6, MI-5 và sở cảnh sát đặc biệt, chức năng an ninh-tình báo còn được thực hiện bởi Cơ quan Tình báo quốc phòng và Trung tâm Thông tin chính phủ. MI5 là một trong những cơ quan tình báo dày dặn kinh nghiệm nhất tại Châu Âu và trên thế giới. Trong những năm thế chiến thứ 2 và trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, nhiệm vụ chính của cơ quan này là phản gián và đảm bảo an ninh cho Vương quốc Anh. Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, toàn bộ các chiến dịch của MI5 đều được giữ bí mật, kể cả danh tính giám đốc hay trụ sở của cơ quan này. Nhiệm vụ chính của cơ quan trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai là chống lại sự xâm nhập của gián điệp Xô Viết và những tên khủng bố IRA. Sau thế chiến thứ 2, trụ sở của MI5 nằm tại Leconfield House (1945-1976), 140 Gower Street (1976-1994) và Thames House (trụ sở hiện tại). Theo như miêu tả trong cuốn sách "Spycatcher", trụ sở Gower Street của cơ quan này nằm nép mình giữa một trường cao đẳng mỹ thuật và bệnh viện. Để ra vào trụ sở này, nhân viên của MI5 phải trình thẻ nhân viên của mình cho viên cảnh sát đứng trong bàn lễ tân và thực hiện thêm các thủ tục an ninh khác để ra vào trụ sở bí mật của cơ quan này. Hiện nay MI5 có các văn phòng khu vực trên khắp nước Anh và chúng vẫn được giữ bí mật.
Mỹ Latinh ( hay "Latinoamérica"; ; ; ) là một khu vực của châu Mỹ, nơi mà người dân chủ yếu nói các ngôn ngữ Roman (có nguồn gốc từ tiếng Latinh) – đặc biệt là tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha, và một mức độ nào đó là tiếng Pháp. Mỹ Latinh là một khu vực có diện tích xấp xỉ 21.069.500 km² (7.880.000 sq mi), chiếm gần 3,9% diện tích bề mặt và 14,1% tổng diện tích đất liền của Trái Đất. Tính đến năm 2020, tổng dân số Mỹ Latinh được ước tính là trên 660 triệu người và tổng sản phẩm nội địa của khu vực là 5,16 nghìn tỷ đô la Mỹ (6,27 nghìn tỉ theo sức mua tương đương). Dự kiến tốc độ tăng trưởng của Mỹ Latinh đạt khoảng 5,7% vào năm 2020 và 4% vào năm 2021. Quan niệm về việc một phần của châu Mỹ có một mối quan hệ về ngôn ngữ với những nền văn hóa Roman có thể được bắt nguồn từ thập niên 1830 trong các văn bản của , ông đã mặc nhiên công nhận bộ phận này của châu Mỹ là nơi sinh sống của những người thuộc "chủng Latinh", và rằng khu vực này có thể liên minh với "Âu Latinh" trong một cuộc đấu tranh với "Âu German", "Mỹ Ănglê" và "Âu Slav". Quan niệm này sau đó được các trí thức và lãnh tụ chính trị Mỹ Latinh đề cập đến vào giữa và cuối thế kỉ 19, họ không còn nhìn nhận Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha là những hình mẫu văn hóa, mà là Pháp. Thuật ngữ được chính trị gia người Chile sử dụng lần đầu tiên tại Paris trong một hội nghị năm 1856 và trong cùng năm bởi nhà văn người Colombia José María Torres Caicedo trong bài thơ "Hai châu Mỹ của ông. Đế quốc Pháp của Napoléon III trong cuộc xâm lược Mexico đã ủng hộ thuật ngữ Mỹ Latinh, lý do là để Pháp có thể đứng vào hàng ngũ các quốc gia có ảnh hưởng tại châu Mỹ và để loại trừ các nước nói tiếng Anh, và giữ một vai trò trong chiến dịch của ông nhằm ngụ ý rằng khu vực có mối quan hệ văn hóa với Pháp, biến Pháp trở thành lãnh đạo về văn hóa và chính trị của khu vực, và lập Maximiliano của Habsburg làm hoàng đế của Đệ nhị Đế quốc Mexico. Năm 1861, các học giả người Pháp cũng đã đặt ra thuật ngữ này trong "La revue des races Latines," một tạp chí dành riêng cho phong trào liên Latinh. Theo cách sử dụng đương đại: Mỹ Latinh có thể được phân thành một vài tiểu vùng dựa trên các yếu tố địa lý, chính trị, nhân khẩu và văn hóa. Nếu theo định nghĩa Mỹ Latinh là toàn bộ các khu vực ở phía nam của Hoa Kỳ, các tiểu vùng địa lý cơ bản là Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Caribe và Nam Mỹ; Nam Mỹ còn được phân chia tiếp dựa trên yếu tố địa-chính trị: Nón phương Nam và các quốc gia Andes. Cũng có thể phân chia Mỹ Latinh thành Mỹ Tây Ban Nha và Mỹ Bồ Đào Nha. Cư dân Mỹ Latinh có sự đa dạng về tổ tiên, sắc tộc và chủng tộc, và khiến cho khu vực là một trong những nơi đa dạng chủng tộc nhất thế giới. Thành phần dân tộc có khác biệt giữa các quốc gia: người lai Âu-da đỏ (Mestizo) chiếm ưu thế ở nhiều nước; ở một số nước thì người da đỏ chiếm đa số; dân cư một số quốc gia lại chủ yếu là người gốc Âu; và tại một số nước thì người Mulatto chiếm ưu thế. Ngoài ra còn có người da đen, người châu Á, và người lai da đen-da đỏ (trong lịch sử đôi khi được gọi là Zambo). Người có nguồn gốc châu Âu là nhóm đơn lẻ lớn nhất, và cùng với những người có một phần gốc Âu, họ chiếm xấp xỉ 80% tổng dân số, hoặc hơn. Tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha là các ngôn ngữ chủ yếu của Mỹ Latinh. Tiếng Bồ Đào Nha chỉ được nói tại Brazil, song đây lại là quốc gia lớn nhất và đông dân cư nhất trong khu vực. Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ chính thức của hầu hết các nước Mỹ Latinh còn lại trên lục địa, cũng như tại Cuba, Puerto Rico (cùng với tiếng Anh), và Cộng hòa Dominica. Tiếng Pháp được nói tại Haiti và các tỉnh hải ngoại của Pháp như Guadeloupe, Martinique và Guyane thuộc Pháp, cộng đồng hải ngoại Saint-Martin. Các ngôn ngữ bản địa châu Mỹ được nói rộng rãi ở Peru, Guatemala, Bolivia, Paraguay và México, và ở một mức độ thấp hơn tại Panama, Ecuador, Brazil, Colombia, Venezuela, Argentina, và Chile. Ở các nước Mỹ Latinh còn lại, số người nói các ngôn ngữ bản địa có xu hướng thu nhỏ hoặc ngôn ngữ đó bị tuyệt chủng. Mexico có lẽ là quốc gia có nhiều ngôn ngữ nhất Mỹ Latinh. Tại Peru, tiếng Quechua cũng là một ngôn ngữ chính thức bên cạnh tiếng Tây Ban Nha. Tại Bolivia, tiếng Aymara, Quechua và Guaraní cũng có được vai trò chính thức bên cạnh tiếng Tây Ban Nha. Tiếng Guaraní, cùng với tiếng Tây Ban Nha, là ngôn ngữ chính thức của Paraguay, và được phần lớn dân cư nói (song ngữ), và ngôn ngữ này cũng có được vị thế chính thức tại tỉnh Corrientes của Argentina. Các ngôn ngữ châu Âu khác được nói tại Mỹ Latinh bao gồm: tiếng Anh bởi một số nhóm tại Puerto Rico, cùng các quốc gia có thể không được xem là thuộc vùng Mỹ Latinh như Belize và Guyana; tiếng Đức được nói ở miền nam Brasil, miền nam Chile cùng nhiều nơi ở Argentina và Paraguay; tiếng Ý được nói tại Brazil, Argentina, và Uruguay; tiếng Wales được nói ở miền nam Argentina. Đại đa số người dân Mỹ Latinh là [[Kitô hữu]], hầu hết theo [[Giáo hội Công giáo Rôma|Công giáo La Mã]]. Khoảng 70% cư dân Mỹ Latinh tự xem mình là người Công giáo. Thành viên của các giáo phái [[Tin Lành]] đang tăng lên, đặc biệt là ở Brasil, Panama và Venezuela. Các vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh đã ảnh hưởng đến tình trạng di cư của khu vực trong các thập niên gần đây, trọng tâm là sự thay đổi từ khu vực nhập cư sang khu vực di cư. Có khoảng 10 triệu người Mexico sinh sống tại Hoa Kỳ. 28,3 triệu [[người Mỹ]] nhận mình có gốc Mexico theo số liệu trong năm 2006. Theo điều tra dân số Colombia vào năm 2005, có khoảng 3.331.107 triệu người Colombia hiện sinh sống ở nước ngoài. Số người Brasil sinh sống ở hải ngoại được ước tính là khoảng 2 triệu người. Một ước tính đưa ra con số từ 1,5 đến hai triệu người El Salvador sinh sống tại Hoa Kỳ. Có ít nhất 1,5 triệu người Ecuador sống ở nước ngoài, chủ yếu tại Hoa Kỳ và Tây Ban Nha. Có xấp xỉ 1,5 triệu người Cộng hòa Dominica sinh sống ở nước ngoài, chủ yếu là tại Hoa Kỳ. Có trên 1.3 triệu người Cuba sống ở nước ngoài, hầu hết họ cư trú tại Hoa Kỳ. [[Thể loại:Mỹ Latinh| ]] [[Thể loại:Vùng của châu Mỹ]] [[Thể loại:Vùng văn hóa]]
Dao là một loại công cụ cầm tay có cạnh sắc gồm có lưỡi dao gắn vào chuôi dao, dùng để cắt gọt, có nguồn gốc từ hơn 2 triệu năm trước. Dao đa số được sử dụng trong nhà bếp (dao bếp), làm vườn, thám hiểm (dao sinh tồn). Ngoài ra dao dùng làm vũ khí trong quân đội hoặc làm đồ dùng tự vệ cá nhân trong trường hợp khẩn cấp. Trong tiếng Việt, "dao" là một trong rất ít các danh từ chỉ đồ vật mà danh từ chỉ loại đi kèm là "con" (mạo từ thường dùng cho danh từ chỉ động vật), thay vì "cái" (mạo từ thường dùng cho danh từ chỉ những gì không phải động vật). Dao thường có kích thước mỏng, độ sắc cao, dùng để cắt, đâm hay chém. Ngoài ra nhiều loại dao còn có thể dùng để cưa, cắt hoa quả dày vỏ, hoặc chuôi dao còn dùng để đập phá. cán dao thường làm bằng nhựa , sắt , gỗ, nhôm , vàng , bạc..Trong y học dao được dùng để phẫu thuật. Trong ngành cơ khí chế tạo, các công cụ cắt gọt cũng được gọi là dao cắt, tuy nhiên chúng có hình dạng khác với dao thông thường. Ngày xưa người ta thường làm dao bằng sắt, thép, đồng, thậm chí cả bạc hay vàng. Ngày nay lưỡi dao đa số làm từ hợp kim pha chế để tăng độ cứng và bền cho dao, chuôi dao thường được làm từ gỗ, cao su, nhựa hoặc kim loại. Một số loại dao đắt tiền có chuôi dao và lưỡi dao liền khối, tuy nhiên chuôi dao vẫn được bọc thêm lớp bên ngoài. Dao có nhiều loại lưỡi theo tiêu chuẩn khác nhau để dùng cho các mục đích riêng biệt.
Thượng tá (tiếng Anh: "Colonel") là cấp sĩ quan, cao hơn cấp trung tá và thấp hơn cấp đại tá. Hiện rất ít nước có cấp hàm này trong đội ngũ sĩ quan chỉ huy lực lượng vũ trang của mình. Thông thường, ở các nước, trên cấp trung tá là cấp đại tá, không có cấp thượng tá. Trong hệ thống quân hàm của Quân đội nhân dân Việt Nam, giai đoạn 1982 - 1992 quân hàm Thượng tá bị bãi bỏ, theo đó những sĩ quan cấp Thượng tá được mặc nhiên nâng thành Đại tá. Từ năm 1992 quân hàm thượng tá được khôi phục. Thượng tá trong Quân đội Trung Quốc được gọi là "Thượng hiệu" (上校 Shang xiao), có 3 sao, được dịch sang tiếng Anh là "Colonel", ở trên "Trung hiệu" (tức Trung tá), thuộc nhóm sĩ quan cấp tá ("Hiệu quan"). Cấp hàm Thượng tá của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tại Việt Nam, thượng tá là quân hàm mức đầu tiên của cán bộ cao cấp trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và Công an Nhân dân Việt Nam, có 3 sao cấp tá, trên trung tá (2 sao cấp tá) và dưới đại tá (4 sao cấp tá)được đặt ra từ năm 1958, thường được dịch sang tiếng Anh là "Senior Lieutenant Colonel" hoặc đôi khi cũng được dịch là "Colonel, v"ì tại Việt Nam quân hàm thượng tá có 3 sao cấp tá, tương đương quân hàm đại tá 3 sao ở các nước phương Tây. Theo quy định về quân nhân chuyên nghiệp, cấp hàm Thượng tá là cấp bậc cao nhất của quân nhân chuyên nghiệp. Ở ngạch sĩ quan chỉ huy, theo Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (2015) thì Thượng tá là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ: Phó trưởng phòng các cơ quan; Lữ đoàn phó - Phó Chỉnh ủy Lữ đoàn; Trung đoàn trưởng - Chính ủy trung đoàn; Chỉ huy trưởng - Chính trị viên Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện, quận, thị xã Cấp hàm Thượng tá của Công an Nhân dân Việt Nam. Trong Công an Nhân dân Việt Nam, Thượng tá thường giữ chức vụ từ Trung đoàn trưởng, Trưởng Công an quận, huyện, thị xã, Thành phố trực thuộc tỉnh đến Trưởng phòng Công an Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, Vụ trưởng. Hiện nay có một số trường hợp đặc biệt cán bộ không giữ chức vụ lãnh đạo chỉ huy, như trợ lý tổng hợp cấp cao, cũng có thể mang cấp hàm thượng tá.
Mạc Ngôn (sinh ngày 17 tháng 2 năm 1955) là một nhà văn người Trung Quốc xuất thân từ nông dân. Ông đã từng được thế giới biết đến với tác phẩm "Cao lương đỏ" đã được đạo diễn nổi tiếng Trương Nghệ Mưu chuyển thể thành phim. Bộ phim đã được giải Gấu vàng tại Liên hoan phim quốc tế Berlin năm 1988. Ngày 11 tháng 10 năm 2012, ông được trao giải Nobel Văn học năm 2012, là nhà văn đầu tiên mang quốc tịch Trung Quốc nhận được giải thưởng danh giá này. Mạc Ngôn (莫言; bính âm: "Mò Yán") (nghĩa là "không nói") tên thật là Quản Mô Nghiệp (管谟业), sinh tại huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông đã phải nghỉ học tiểu học giữa chừng do Cách mạng văn hoá và phải tham gia lao động nhiều năm ở nông thôn, chăn dê ngoài đồng, luôn bị đói khát và cô đơn. Ông nhập ngũ năm 1976. Đến năm 1984, ông trúng truyển vào khoa văn thuộc học viện nghệ thuật Quân Giải phóng và tốt nghiệp năm 1986. Tháng 10 năm 1987 ông chuyển ngành, sang hoạt động trên lĩnh vực báo chí và viết văn chuyên nghiệp. Năm 1981 ông bắt đầu công bố tác phẩm và đến nay, ông đã cho in 10 truyện dài, 20 truyện vừa, hơn 60 truyện ngắn và 5 tuyển tập những bài ký, phóng sự, tùy bú, tổng cộng trên 200 tác phẩm. Hiện nay, ông là sáng tác viên bậc 1 của Cục chính trị - Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Alexandre Dumas (24 tháng 7 năm 1802 – 5 tháng 12 năm 1870) hay Alexandre Dumas cha để phân biệt với con trai ông, là một đại văn hào nổi tiếng người Pháp gốc Phi. Những tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng của ông như là "Ba chàng lính ngự lâm", "Bá tước Monte Cristo" giành được sự hâm mộ của độc giả khắp thế giới từ hơn một thế kỷ nay. Dumas Davy de la Pailleterie (sau này là Alexandre Dumas) sinh năm 1802 tại Villers-Cotterêts trong khu Aisne, ở Picardy, Pháp. Ông có hai chị gái là Marie-Alexandrine (sinh năm 1794) và Louise-Alexandrine (sinh 1796, mất 1797). Cha mẹ ông là bà Marie-Louise Élisabeth Labouret, con gái của một chủ nhà trọ và ông Thomas-Alexandre Dumas. Cha của Dumas, ông Thomas được sinh ra tại thuộc địa Saint-Domingue của Pháp (nay là Haiti) là con lai ngoài giá thú của hầu tước Alexandre Antoine Davy de la Pailleterie, một quý tộc Pháp, Cao ủy Trưởng về pháo binh trong khu thuộc địa và nữ nô lệ da đen Marie-Cessette Dumas, gốc từ Afro-Caribbean. Không ai biết rõ bà được sinh ra tại Saint-Domingue hay ở châu Phi (dù thực tế bà đã có một tên họ bằng tiếng Pháp nên có lẽ bà là người thiểu số Creole) và cũng không biết rằng cội nguồn của bà là ở đâu. Ông Thomas được người cha đưa về Pháp và đã sống tự do một cách hợp pháp tại đây. Sau đó theo học một trường quân đội và gia nhập quân ngũ khi còn thiếu niên. Khi trưởng thành, Thomas-Alexandre lấy tên của mẹ là Dumas làm họ sau khi cắt đứt quan hệ với cha. Dumas được thăng cấp tướng năm 31 tuổi, người lính đầu tiên có gốc gác Afro-Antilles đạt được cấp bậc này trong hàng ngũ quân đội Pháp. Ông đã tham gia trong Chiến tranh Cách mạng Pháp . Ông trở thành Tổng chỉ huy trưởng trong Quân đội Pyrenees, người đàn ông da màu đầu tiên đạt được cấp bậc đó. Dù là một vị tướng dưới trướng của Napoleon Bonaparte trong các chiến dịch ở Ý và Ai Cập nhưng Thomas Dumas không còn được tín nhiệm vào năm 1800 nên đã yêu cầu nghỉ phép để quay về Pháp. Trên đường về, tàu của ông phải dừng lại ở Taranto thuộc Vương quốc Napoli, tại đây ông và những người khác bị giữ làm tù binh. Trong hai năm bị giam giữ, sức khỏe ông đã bị yếu đi. Tại thời điểm Alexandre Dumas được sinh ra, cha ông bị suy kiệt nặng nề. Ông Thomas qua đời vì ung thu năm 1806 khi Alexandre lên 4. Người mẹ góa phụ Marie-Louise không đủ sức lo cho việc học hành của con trai nhưng Dumas tập đọc mọi thứ trong khả năng và còn tự học tiếng Tây Ban Nha. Những câu truyện kể của mẹ về lòng dũng cảm của người cha trong các trận đánh đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng sinh động của cậu bé. Mặc dù trở nên nghèo túng, gia đình vẫn có danh tiếng lỗi lạc của người cha để lại và thứ hạng quý tộc để trợ giúp con cái thăng quan tiến chức. Năm 1822, sau khi triều Bourbon phục hoàng, Alexandre Dumas 20 tuổi chuyển đến Paris. Ông đã có được một vị trí trong văn phòng thuộc Cung điện Hoàng gia của Louis-Philippe, Công tước xứ Orléans. Ông lớn lên với sự chăm sóc và giáo dục của mẹ Dumas học hành chểnh mảng, khi học xong ông làm thư ký cho một phòng công chứng, và bắt đầu viết những vở kịch đầu tiên cùng với một người bạn, Tử tước Adolphe Ribbing de Leuven. Nhưng những tác phẩm đầu tay đó thất bại. Năm 1823, nhờ viết chữ đẹp, ông được tới làm việc cho Công tước Orléans với công việc giao gửi hàng ở Paris. Dumas tiếp tục viết kịch và cuối cùng cũng tìm được thành công với vở diễn "Henri III và triều đình" tại nhà hát Comédie-Française, công diễn lần đầu ngày 10 tháng 2 năm 1829. Sự nghiệp văn chương của ông tiếp tục thành công, đặc biệt trong hai thể loại ông ưa thích: kịch và tiểu thuyết lịch sử. Alexandre Dumas là một nhà văn có sức sáng tác mạnh mẽ. Ông để lại khoảng 250 tác phẩm, gồm 100 là tiểu thuyết, số còn lại là 91 vở kịch, rồi bút ký, phóng sự, hồi ký. Dumas có cả một đội ngũ cộng sự, đặc biệt là Auguste Maquet, người góp phần vào nhiều thành công của Dumas. Trong những tiểu thuyết của ông, nổi tiếng hơn cả là "Ba chàng lính ngự lâm", còn được dịch "Ba chàng ngự lâm pháo thủ" ("Trois Mousquetaires") và "Bá tước Monte Cristo" ("Le Comte de Monte-Cristo") năm 1844. Đương thời, Dumas bị chê trách là người ham ăn, ham chơi. Ông thường xuyên thết đãi thịnh soạn bạn bè, người thân, công chúng hâm mộ, với những bữa tiệc sang trọng khiến ngay cả Paris cũng loá mắt, trầm trồ. Ông còn để lại một công trình đặc biệt, cuốn "Đại từ điển ăn uống", mà ông muốn được hậu thế coi là đỉnh cao sự nghiệp văn chương của mình. Trong đời mình Dumas kiếm được 18 triệu franc vàng, song ông luôn luôn nợ nần, nhiều lần trốn nợ, thậm chí ra nước ngoài, những năm cuối đời, phải đến tá túc ở nhà con. Dumas nức tiếng là người thay nhân tình như thay áo. Quả thật, ông cưới vợ chỉ một lần, gia đình này tan vỡ rất nhanh. Ông dan díu với 25 người đàn bà, có nhiều con hoang, mỗi con của một mẹ. Chỉ ba con được công khai, trong đó con trai, cũng tên Alexandre Dumas, thường được gọi Alexandre Dumas con, trở nên một nhà văn lừng danh. Con gái thứ hai thì cuộc đời lỡ làng, con gái út – mà mẹ cô trẻ hơn Dumas đến gần 40 tuổi – thì chết cô đơn năm 1936 ở một làng quê trong nghèo khổ và không được ai biết đến là con gái cưng của một trong những vĩ nhân của nước Pháp. Mãi gần đây, người ta mới vỡ lẽ rằng Dumas đến với nhiều phụ nữ là do thương họ. Ông đồng thời chu cấp tiền nong đầy đủ cho vài người. Dumas là người hết sức quý trọng tình bạn. Trừ Balzac và Musset, các nhà văn cùng thời đều chơi với ông, thân nhất là Victor Hugo, người đã đánh giá chính xác vai trò của ông ngay khi ông qua đời. Hugo viết: "Trong thế kỷ này, không ai được dân chúng yêu mến sâu rộng và thắm thiết bằng Alexandre Dumas. Các thành công của ông đều tầm cỡ hơn thành công nói chung nhiều. Đó là những đại thắng lợi. Đó là những ngọn đèn pha". Ông cũng là người đại lượng, năm 1831, do ghen tức với thành công của vở "Antony" của ông, Hugo cho người viết báo chê bai. Hai người giận nhau. Song năm 1834, ông chủ động giảng hoà. Để hoàn toàn chủ động trong hoạt động sân khấu, ông bỏ ra một món tiền lớn để xây dựng Nhà hát kịch lịch sử của riêng ông. Khán giả rất nồng nhiệt, song không bù đắp nổi chi phí bỏ ra, nên cuối cùng nhà hát đóng cửa. Từ năm 1848, ông đã ra tờ báo đầu tiên. Sau đó, ông còn ra nhiều tờ báo nữa. Nhưng do quản lý kém, bị kiểm duyệt gây khó dễ, các tờ báo ấy tồn tại không bền, và ngốn của ông rất nhiều công sức và tiền bạc. Ông cũng hai lần ứng cử vào Nghị viện đều thất bại, ứng cử vào Hội quốc ước thì chỉ được 261 phiếu, trong khi các đối thủ được 220.000, rồi phải sang Bỉ lưu vong năm 1851, sau cuộc đảo chính của Napoléon III. Ông mất năm 1870 ở Puys, vùng Dieppe. Thi hài của ông được chuyển về Điện Panthéon năm 2002, bất chấp ý nguyện cuối đời của ông: "trở về bóng đêm của tương lai cùng nơi tôi ra đời" ("rentrer dans la nuit de l'avenir au même endroit que je suis sorti de la vie du passé"), "nơi một nghĩa địa đẹp (Villers-Cotterêts) trong mùi hoa của rào " ("dans ce charmant cimetière qui a bien plus l'air d'un enclos de fleurs où faire jouer les enfants que d'un champ funèbre à faire coucher les cadavres")
Hiệp hội Công trình Đức Hiệp hội Công trình Đức ("Deutscher Werkbund") là một tổ chức của các kiến trúc sư, các chủ công nghiệp và các nhà thiết kế hoạt động từ năm 1907 đến năm 1934 và sau năm 1950. Trong số những người thành lập có Hermann Muthesius, Peter Behrens, Heinrich Tessenow, Fritz Schumacher và Theodor Fischer (chủ tịch đầu tiên của Werkbund). Lịch sử và hoạt động cho đến năm 1919. Vào mùa xuân năm 1907, Muthesius, khi đó đang làm việc tại Bộ thương mại Phổ, trong bài giảng của mình tại Đại học Thương mại ("Handelshochschule") ở Berlin đã mạnh mẽ lên án khuynh hướng triết trung của các sản phẩm thiết kế đồ gia dụng, thủ công đương thời. Theo Muthesius, khuynh hướng đương thời là sự sao chép lừa dối công chúng. Ông cổ vũ nhiệt tình cho sự ra đời một đường hướng mới, điển hình là sự đơn giản, trong sáng của thiết kế đã xuất hiện và gây được thành công triển lãm Dresden. Chính với bài phát biểu này đã gây ra những cuộc tranh cãi với một số các nhà sản xuất dẫn đến việc buộc Muthesius phải từ nhiệm. Sau đó, trong các cuộc tranh cãi của thành viên của Nghiệp đoàn nghệ thuật và thủ công ("Interessenverband des Kunstgewerbes") đã dấn đến việc thành lập Deutscher Werkbund. Trong tuyên bố ra đời của Deutscher Werbund, mục đích của tổ chức là "tăng giá trị của các mặt hàng thương mại thông qua sự hợp tác của các ngành nghệ thuật, công nghiệp và người thợ thủ công, bằng việc giáo dục, tuyên truyền cũng như thống nhất quan điểm trên những vấn đề có liên quan". Lần lượt sau đó, Werkbund tổ chức các buổi hội thảo, các kỷ yếu hàng năm với những chủ đề khác nhau. Trong số đó đáng chú ý có một số bài viết của Muthesius năm 1912, giới thiệu kiến trúc công nghiệp Mỹ của Walter Gropius năm 1913, tham luận của Peter Behrens về không gian, thời gian, và hình dạng của thiết kế hiện đại năm 1914. Số thành viên của hiệp hội tăng lên nhanh chóng từ 491 người năm 1908 đến 1972 người năm 1915. Trong số đó có Henry Van de Velde, August Endell, Hermann Obrist, và Bruno Taut. Tuy nhiên với thất bại của nước Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và chịu ảnh hưởng nặng nề của Hòa ước Versailles đã dẫn đến sự sụp đổ của các tư tưởng quốc gia, thủ cựu trong chính trị, tất cả những điều đó đã ảnh hưởng lên phong trào cải cách của Werkbund. Nếu như ở diễn văn của Peter Bruckmann, chủ tịch đầu tiên của Werkbund là một sự thừa hưởng chủ nghĩa quốc gia thì tại hội nghị ở Stuttgart tháng 9 năm 1919, chủ tịch thứ hai là kiến trúc sư Hans Poelzig đã bày tỏ sự ủng hộ nghệ thuật thủ công và phản đối công nghiệp hóa. Công năng và chủ nghĩa biểu hiện mới. Tuy nhiên, từ năm 1920 đến 1923, do ảnh hưởng của lạm phát kinh tế, các ấn phẩm của Werkbund dần dần xuất bản rời rạc. Werkbund đi theo tham vọng của những người theo Chủ nghĩa Biểu hiện ("Expressionist") về sự hồi sinh, thông qua nghệ thuật thủ công. Ở đây, các quan điểm của Werkbund thực tế đã đi lùi lại so với chính những gì mà họ đề xướng. Tình trạng này chấm dứt năm 1923 trong hội nghị thường niên tổ chức tại Weimar với bài tham luận của Gropius về sự hợp nhất cân bằng giữa kỹ thuật và nghệ thuật.
Giảng viên là công chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng. Giảng viên chính là công chức chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ chốt trong giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng và sau đại học, thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học, cao đẳng. Ứng viên dự thi vào ngành Giảng viên chính phải có đủ tiêu chuẩn theo quy định như: Có học vị thạc sĩ,là nhà giáo được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch giảng viên (mã số 15.111),hệ số lương 3.66, trực tiếp giảng dạy ở các cơ sở giáo dục ĐH từ đủ chín năm trở lên - tính từ thời điểm được bổ nhiệm vào ngạch giảng viên đến thời điểm hết hạn nộp hồ sơ dự thi;Có đề án hoặc công trình sáng tạo được cấp khoa hoặc trường công nhận và được áp dụng có kết quả trong chuyên môn được hội đồng sơ tuyển của các cơ sở giáo dục ĐH trực tiếp quản lý xét duyệt theo chỉ tiêu được phân bổ và thủ trưởng cơ sở giáo dục ĐH có văn bản cử đi dự thi gửi về hội đồng thi của cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi.Hình thức thi nâng ngạch gồm: thi viết (trắc nghiệm và tự luận), thi vấn đáp; đối với môn tin học, ứng viên phải làm bài thi thực hành trên máy tính,môn Ngoại ngữ thi trình độ C hoặc một trong các thứ tiếng Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc, gồm các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Ứng viên là giảng viên ngoại ngữ phải thi ngoại ngữ 2 là một trong bốn thứ tiếng trên không thuộc chuyên môn chính đang giảng dạy. Ứng viên dự thi vào ngạch này phải có đủ tiêu chuẩn theo quy định như:Có học vị tiến sĩ,là nhà giáo được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch phó giáo sư - giảng viên chính (mã số 15.110), đang trực tiếp giảng dạy ở trường ĐH, CĐ từ đủ sáu năm - tính từ ngày có quyết định bổ nhiệm ngạch giảng viên chính hoặc ở chức danh phó giáo sư từ đủ ba năm trở lên - tính từ ngày có quyết định bổ nhiệm phó giáo sư hoặc giảng viên chính - đến thời điểm hết hạn nộp hồ sơ dự thi; có đủ điều kiện về chức trách, hiểu biết và yêu cầu trình độ theo quy định hiện hành về tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch giảng viên cao cấp;Có tối thiểu 3 đề án hoặc công trình khoa học sáng tạo được Hội đồng khoa học Trường đại học hoặc ngành công nhận và đưa vào áp dụng có hiệu quả được hội đồng sơ tuyển của cơ sở giáo dục ĐH trực tiếp quản lý xét duyệt.Hình thức thi nâng ngạch gồm: thi viết (trắc nghiệm và tự luận), thi vấn đáp; đối với môn tin học, ứng viên phải làm bài thi thực hành trên máy tính,môn Ngoại ngữ thi trình độ C thi tiếng Anh trình độ C của hai ngoại ngữ là tiếng Anh và một trong các thứ tiếng Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc, gồm các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Ứng viên là giảng viên ngoại ngữ phải thi ngoại ngữ 2 là một trong bốn thứ tiếng trên không thuộc chuyên môn chính đang giảng dạy.
Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) là một nhà văn, nhà viết kịch Việt Nam nổi tiếng. Ông là tác giả của những tiểu thuyết lịch sử, vở kịch lớn như: "Vũ Như Tô", "Đêm hội Long Trì", "Bắc Sơn", "Sống mãi với thủ đô". Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 6 tháng 5 năm 1912 trong một gia đình nho giáo ở làng Dục Tú, Từ Sơn, Bắc Ninh, nay thuộc thôn Dục Tú 1,xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội. Năm 1930, ông tham gia các hoạt động yêu nước của thanh niên học sinh ở Hải Phòng. Năm 1935 ông làm thư ký nhà Đoan (Thuế quan) ở Hải Phòng, sau đó quay về Hà Nội. Năm 1938 ông tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ và phong trào hướng đạo sinh ở Hải Phòng. Năm 1943 ông gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật và được bầu làm Tổng thư ký Hội Truyền bá Quốc ngữ Hải Phòng. Sau đó ông tiếp tục hoạt động ở Hà Nội, Nam Định và Phúc Yên. Tháng 6 1945, Nguyễn Huy Tưởng tham gia ban biên tập tạp chí "Tiên Phong" của Văn hóa cứu quốc. Tháng 8 năm đó, Nguyễn Huy Tưởng đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào. Ông còn là đại biểu văn hóa cứu quốc, giúp biên tập các tờ báo "Cờ giải phóng", "Tiên Phong". Tiếp đó ông giữ chức vụ Tổng thư ký Ban Trung ương Vận động đời sống mới. Cách mạng Tháng Tám thành công, Nguyễn Huy Tưởng trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Hội văn hóa cứu quốc. Nguyễn Huy Tưởng là đại biểu Quốc hội khóa I năm 1946. Tháng 4 năm đó, vở kịch "Bắc Sơn" của ông được công diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội đem lại thành công lớn. Tháng 7, ông được bầu là Phó thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam. Tháng 12 năm 1946, toàn quốc kháng chiến, ông tổ chức và đưa Đoàn văn hóa kháng chiến lên Việt Bắc. Tiếp tục hoạt động văn hóa, ông là ủy viên Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam, thư ký toà soạn Tạp chí Văn nghệ và tham gia tiểu ban Văn nghệ Trung ương Đảng. Năm 1951, ông tham gia chiến dịch biên giới. Trong hai năm 1953, 1954 ông công tác giảm tô trong cải cách ruộng đất. Sau hòa bình 1954, ông làm Ủy viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa I. Ông là người sáng lập và là giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng. Nguyễn Huy Tưởng bị bệnh hiểm nghèo và mất ngày 25 tháng 7 năm 1960 tại Hà Nội, thọ 48 tuổi. Năm 1995, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã đặt tên cho một phố của thủ đô là phố Nguyễn Huy Tưởng, nối từ phố Vũ Trọng Phụng cắt ngang qua phố Nguyễn Tuân đến đường Khuất Duy Tiến. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996.
Bùi Huy Bích (chữ Hán: 裴輝璧; 1744 - 1818), tự là Hy Chương (chữ Hán: 熙章), hiệu là Tồn Am và Tồn Ông, là một danh nhân, danh sĩ người Hà Nội, từng giữ chức Tham tụng (tương đương chức thủ tướng) trong triều đình dưới thời vua Lê-chúa Trịnh. Ông sinh ngày 28 tháng 8 năm Giáp Tý (tức 3 tháng 10 năm 1744), quê làng Định Công, Hà Nội. Ông là cháu 5 đời của Tiên Quận công Bùi Bỉnh Uyên, cháu 7 đời của Quảng Quận công Bùi Xương Trạch. Cha là Bùi Dụng Tân, hiệu "Trúc Viên cư sĩ", dạy học ở nhà. Bùi Huy Bích có 1 chị và 1 em trai. Năm ông lên 5 tuổi, mẹ ông mất, cha ông mang 3 chị em lên Hải Dương, ở làng An Lâu, huyện Thanh Miện. Trúc Viên dạy học tại đó. Thuở nhỏ Tồn Am thể chất kém, thường đau ốm luôn, bề ngoài có vẻ "lỗ độn" nhưng trong lại có khiếu thông minh. Bùi Huy Bích không những nhanh chóng học thuộc sách mà ông còn tỏ ra am hiểu về cuộc sống. Thuở nhỏ ông học ở nhà, 17 tuổi theo học Nguyễn Bá Trữ. Năm 19 tuổi (1762), đi thi đỗ ngay hương cống nhưng trượt thi hội vào năm sau (1763). Ông về học tiếp bảng nhãn Lê Quý Đôn mở tại kinh thành, nhưng bất mãn trước cảnh xã hội nên không theo tiếp con đường tiến sĩ. Để chiều lòng cha, mãi năm ông 25 tuổi (1770) ông đi thi và đỗ thi hội rồi đỗ thi đình, đỗ Hoàng giáp. Sau khi đỗ, ông được bổ dụng làm Hàn lâm viện hiệu lý, lên chức Thị Chế (năm 1771), rồi được thụ chức Thiêm sai phủ liêu Tri hộ phiên, kiêm chức Đông các Hiệu thư. Năm 1777, ông vào lĩnh chức Đốc đồng Nghệ An rồi lại phụng sai vào Thuận Hóa tuyên dụ. Trong thời gian này ông đã có công bình loạn giặc Mường Thai ở miền tây Nghệ An. Sau công trạng đó, năm 1780 ông được thăng lên Hiệp trấn Nghệ An kiêm thụ lĩnh chức tham chính. Đến năm Tân Sửu (1781), ông được chúa Trịnh Sâm triệu về triều, trao cho chức Nhập thị Bồi tụng, chức đứng hàng thứ 2 trong phủ chúa sau chức Tham tụng, nhưng ông đệ khải văn xin từ chức, lấy cớ là ốm yếu, dù khi đó mới 38 tuổi và có quan hệ họ hàng với Trịnh Sâm, nhưng bản thân ông không muốn gần gũi với Trịnh Sâm. Ông là người đã đứng ra can gián Trịnh Sâm khi chúa định bỏ con trưởng Trịnh Tông để lập con nhỏ Trịnh Cán của Tuyên phi Đặng Thị Huệ được sủng ái, nhưng không thành. Chính vì Trịnh Sâm lập con nhỏ nên đã xảy ra loạn trong triều sau khi chúa qua đời. Trịnh Tông lật đổ Trịnh Cán lên ngôi, cách chức Tham tụng của Phan Lê Phiên (vì Phiên cùng phe với mẹ con Trịnh Cán) và mời Bùi Huy Bích ra làm "Hành Tham tụng", hy vọng ông có thể cứu vãn tình thế do loạn kiêu binh gây ra. Sau xảy ra nhiều chuyện, lại do ngờ vực, ông từ quan về dưỡng bệnh tại phường Bích Câu, Hà Nội, gần đền Tú Uyên. Năm 1786, quân Tây Sơn lấy danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh" kéo ra bắc, Trịnh Tông điều ông ra mặt trận làm chức đốc chiến. Ông định đến đò Thuý Ái để phối hợp với Hoàng Phùng Cơ chỉ huy thủy quân, nhưng chưa đến nơi thì quân Phùng Cơ đã tan vỡ, quân Tây Sơn thần tốc tiến vào Thăng Long. Tây Sơn diệt Trịnh không lâu thì Lê Hiển Tông mất, cháu là Lê Chiêu Thống lên thay, Nguyễn Huệ rút quân về nam. Chiêu Thống mời Bùi Huy Bích ra giúp nhưng ông xin từ về quê nhà. Khi Nguyễn Huệ lên ngôi vua và đánh tan quân Thanh (1789) có mời các danh thần nhà Hậu Lê ra giúp nước nhưng ông không hợp tác. Đến đời Nguyễn Ánh, ông được trọng đãi nhưng ông vẫn xin được sống an nhàn ở quê cho đến khi qua đời ngày 25 tháng 5 năm 1818, thọ 75 tuổi. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, tên của Bùi Huy Bích được chính quyền Hà Nội đặt cho phố Sinh Từ (thời Pháp thuộc). Đến thời tạm chiếm, phố Bùi Huy Bích trở lại tên cũ là phố Sinh Từ, và đến năm 1964, phố Sinh từ lại được đổi thành phố Nguyễn Khuyến. Năm 2012 Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội đặt tên đường Bùi Huy Bích cho con đường từ đường vành đai 3 rẽ vào khu tái định cư X1 Pháp Vân thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai. Trung tâm hành chính quận Hoàng Mai nằm trên con đường này. Bùi Huy Bích viết nhiều, trong đó thơ của ông để lại ba bộ, tổng cộng 681 bài thơ: Các tập văn thơ ông sưu tập và hợp tuyển: ghi chép từ thời Lý Trần đến thời Lê Hiển Tông: Thơ văn của ông phần nhiều tự sự về nhân tình thế thái, tự phê phán bản thân bất lực không làm được gì nhiều giúp dân giúp nước; đồng thời công kích sư sa đoạ của kể sĩ và quan lại đương thời và phê phán quan điểm lệch lạc của các nhà Nho. Bùi Huy Bích không đồng nhất quan điểm cho rằng từ thời Sĩ Nhiếp, Việt Nam mới có chữ viết mà ông cho rằng Việt Nam đã có chữ viết trước đó nhiều. Khi Bùi Huy Bích còn nhỏ, ở làng có đám ma. Huy Bích đứng gần người đề chủ. Khi làm lễ, người đề chủ chuẩn bị viết thì mới phát hiện nghiên mực khô khốc. Liếc sang thấy cậu bé Bích đứng gần, ông đề chủ hất hàm ra hiệu. Thấy cạnh nghiên có chén đầy nước, Bùi Huy Bích cầm lấy chén nhưng không đổ cả vào nghiên mà lại nhặt một thoi vàng hồ, chọc thủng một mặt rồi dùng thoi vàng lấy từng ít nước đổ vào nghiên. Thi lễ xong, ông đề chủ rất khen ngợi cậu bé Bích và mời ngồi cùng vào chiếu rượu dành riêng cho ông. Ông giảng giải: "Chén nước đầy mà nghiên mực thì nông. Kẻ xốc nổi sẽ cầm cả chén mà rót và thế thì nước sẽ tung toé ra, mất trang nghiêm. Kẻ chậm chạp thì chạy đi lấy thìa và như thế thì nghi lễ bị dở dang. Thoi vàng không phải là thứ múc nước, vậy mà cậu bé biết biến báo thành ra được việc."
Mohammed Abdel Rahman Abdel Raouf Arafat al-Qudwa al-Husseini (, 24 tháng 8 năm 1929 – 11 tháng 11 năm 2004), thường được gọi là Yasser Arafat () hay theo kunya của ông Abu Ammar (), là một lãnh đạo Palestine và người được trao Giải Nobel. Ông là Chủ tịch Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO), Tổng thống Chính quyền Quốc gia Palestine (PNA), và lãnh đạo của đảng chính trị Fatah, do ông thành lập năm 1959. Arafat đã dành phần lớn cuộc đời mình đấu tranh chống lại Israel dưới danh nghĩa đòi quyền tự quyết cho người dân Palestine. Ban đầu ông phản đối sự tồn tại của Israel, nhưng ông đã thay đổi quan điểm của mình năm 1988 khi ông chấp nhận Nghị quyết số 242 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Arafat và phong trào của ông hoạt động tại nhiều quốc gia Ả Rập. Hồi cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, Fatah đã đối đầu với Jordan trong một cuộc nội chiến ngắn. Bị buộc phải rời Jordan và vào Liban, Arafat và Fatah là những mục tiêu chính của những cuộc xâm lược năm 1978 và 1982 của Israel vào nước này. Ông "được nhiều người Ả Rập và đa số người Palestine sùng kính," không cần biết tới ý thức hệ chính trị hay phe phái, coi ông là một chiến binh vì tự do người là biểu tượng cho những khát vọng quốc gia của họ. Tuy nhiên, ông bị "nhiều người Israel sỉ vả" và bị miêu tả "ở hầu hết thế giới phương Tây là tên khủng bố số một" vì những vụ tấn công mà phái của ông đã tiến hành chống lại thường dân. Hồi cuối sự nghiệp, Arafat đã tham gia vào một loạt các cuộc đàm phán với chính phủ Israel nhằm chấm dứt cuộc xung đột kéo dài nhiều thập kỳ giữa nước này và PLO. Các cuộc đàm phán bao gồm Hội nghị Madrid năm 1991, Hiệp định Oslo năm 1993 và Hội nghị Thượng đỉnh Trại David năm 2000. Các đối thủ chính trị của ông, gồm cả những người Hồi giáo và nhiều nhân vật cánh tả trong PLO, thường lên án ông là tham nhũng hay quá dễ bảo với những nhượng bộ của ông trước chính phủ Israel. Năm 1994, Arafat được nhận Giải Nobel Hoà bình, cùng với Yitzhak Rabin và Shimon Peres, vì những cuộc đàm phán tại Oslo. Trong thời gian này, Hamas và các tổ chức du kích khác nổi lên nắm quyền lực và làm lay chuyển những nền móng của chính quyền mà Fatah dưới sự lãnh đạo của Arafat đã thành lập tại các lãnh thổ Palestine. Cuối năm 2004, sau khi hoàn toàn bị quân đội Israel giam cầm trong khu nhà của mình tại Ramallah trong hơn hai năm, Arafat bị ốm, rơi vào hôn mê và mất ngày 11 tháng 11 năm 2004 ở tuổi 75. Tuy lý do chính xác cho cái chết của ông vẫn chưa được biết và không một cuộc khám nghiệm nào được tiến hành, các bác sĩ của ông nói là do xuất huyết nghẽn mạch tế bào tự phát và bệnh gan mãn tính. Ra đời và tuổi trẻ. Yasser Arafat sinh tại Cairo và có cha mẹ là người Palestine. Cha ông, Abdel Raouf al-Qudwa al-Husseini, là một người Palestine từ Gaza; mẹ ông, bà nội của Yasser, là một người Ai Cập. Cha của Arafat làm việc như một thương nhân ngành dệt tại quận Sakakini đa tôn giáo ở Cairo. Arafat là con áp út trong số bảy anh em và, cùng với người em út Fathi, là hai người duy nhất sinh ra ở nước ngoài tại Cairo. Mẹ ông, Zahwa Abul Saud, thuộc một gia đình ở Jerusalem. Bà mất vì bệnh thận năm 1933, khi Arafat lên bốn. Chuyến thăm đầu tiên của Arafat tới Jerusalem là cùng với cha ông, vì không thể một mình nuôi dạy bảy đứa con, đã gửi ông và em trai là Fathi tới gia đình bà mẹ tại Quận Moroccan thuộc Thành Cổ. Họ sống ở đó với người chú là Salim Abul Saud trong bốn năm. Năm 1937, người cha đựa họ trở về để chăm sóc người chị lớn, Inam. Arafat có mối quan hệ ngày càng xấu đi với cha; khi ông mất năm 1952, Arafat không tham gia lễ tang, cũng không tới thăm mộ cha khi ông quay về Gaza. Giáo dục và cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948. Năm 1944, Arafat đăng ký vào Đại học Vua Fuad I và tốt nghiệp năm 1950. Sau này ông tuyên bố mình đã tìm cách có được hiểu biết tốt hơn về Đạo Do Thái và Chủ nghĩa phục quốc Zion bằng cách tham gia thảo luận với những người Do Thái và đọc các tác phẩm của Theodor Herzl cùng nhiều nhân vật Zionist nổi tiếng khác. Cùng lúc ấy, ông trở thành một người theo chủ nghĩa quốc gia Ả Rập và bắt đầu tìm kiếm vũ khí được buôn lậu vào Palestine Ủy trị Anh cũ, để sử dụng trong các lực lượng phi chính quy tại Hội đồng Cao cấp Ả Rập và các chiến binh Quân đội Thánh chiến. Trong cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948, Arafat rời trường đại học, và cùng với những người Ả Rập khác, tìm cách vào trong Palestine để gia nhập các lực lượng Ả Rập chống lại quân đội Israel. Tuy nhiên, thay vì tham gia vào lực lượng fedayeen Palestine, Arafat chiến đấu với tổ chức Những người anh em Hồi giáo, dù ông không gia nhập lực lượng này. Ông tham gia chiến đấu tại khu vực Gaza (là chiến trường chính của các lực lượng Ai Cập trong cuộc xung đột). Đầu năm 1949, cuộc chiến chuyển sang có lợi cho Israel, và Arafat quay trở lại Cairo vì thiếu hỗ trợ hậu cần. Sau khi quay lại trường đại học, Arafat học kỹ sư dân sự và làm chủ tịch Tổng Liên minh Sinh viên Palestine (GUPS) từ năm 1952 tới năm 1956. Trong năm đầu ông làm chủ tịch Tổng liên minh, trường được đổi tên lại thành Đại học Cairo sau một vụ đảo chính do Mặt trận Sĩ quan Tự do tiến hành lật đổ Vua Farouk I. Tới thời điểm ấy, Arafat đã tốt nghiệp cử nhân kỹ sư dân sự và được gọi vào chiến đấu trong các lực lượng Ai Cập trong cuộc Khủng hoảng Suez; tuy nhiên, ông không bao giờ thực sự chiến đấu trên chiến trường. Cuối năm đó, tại một hội nghị ở Praha, ông mặc một bộ đồ keffiyeh toàn trắng –khác biệt so với bộ đồ kẻ ô sau này ông mặc tại Kuwait, đã trở thành biểu tượng của ông. Tên đầy đủ ban đầu của Arafat là Mohammed Abdel Rahman Abdel Raouf Arafat al-Qudwa al-Husseini. Mohammed Abdel Rahman là tên thánh; Abdel Raouf là tên của cha và Arafat là tên của ông. Al-Qudwa là tên của bộ tộc của ông và al-Husseini là tên dòng họ mà những thành viên al-Qudwa thuộc vào đó. Cần lưu ý rằng dòng họ của Arafat, al-Husseini sống tại Gaza và không nên bị nhầm lẫn với dòng họ nổi tiếng, nhưng không liên quan al-Husayni của Jerusalem. Bởi Arafat được nuôi lớn lên tại Cairo, truyền thống bỏ đi thành phần Mohammed hay Ahmad trong tên thánh của một người là thường thấy; những người Ai Cập đáng chú ý như Anwar Sadat và Hosni Mubarak cũng làm như vậy. Tuy nhiên, Arafat bỏ cả các phần Abdel Rahman và Abdel Raouf khỏi tên mình. Đầu những năm 1950, Arafat chấp nhận cái tên Yasser, và trong những năm đầu sự nghiệp du kích của Arafat, ông lấy "nom de guerre" là Abu Ammar. Cả hai cái tên đều liên quan tới Ammar ibn Yasir, một trong những người bầu bạn đầu tiên của Muhammad. Dù ông đã bỏ hầu hết những cái tên được thừa hưởng, ông giữ lại Arafat vì ý nghĩa của nó trong Hồi giáo. Sự nổi lên của Fatah. Sau vụ Khủng hoảng Suez năm 1956, tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser, một lãnh đạo của Phong trào Sĩ quan Tự do, đồng ý cho phép Lực lượng Khẩn cấp Liên hiệp quốc tới đồn trú tại Bán đảo Sinai và Dải Gaza, dẫn tới việc trục xuất toàn bộ lực lượng du kích hay "fedayeen" ra khỏi đó —gồm cả Arafat. Arafat ban đầu đấu tranh để kiếm một visa sang Canada và sau đó là Ả Rập Xê Út, nhưng không thành công trong cả hai vụ. Năm 1957, ông xin visa tới Kuwait (ở thời điểm đó là một nhà nước bảo hộ của Anh) và được chấp thuận, dựa trên nghề nghiệp của ông là kỹ sư dân sự. Tại đó ông gặp hai người bạn Palestine: Salah Khalaf ("Abu Iyad") và Khalil al-Wazir ("Abu Jihad"), cả hai đều là các thành viên chính thức của Anh em Hồi giáo Ai Cập. Arafat đã gặp Abu Iyad khi đang theo học tại đại học Cairo và Abu Jihad tại Gaza. Cả hai đều sẽ trở thành những cánh tay đắc lực của Arafat trong sự nghiệp chính trị sau này. Abu Iyad cùng Arafat đi tới Kuwait hồi cuối năm 1960; Abu Jihad, cũng là một giáo viên, đã từng sống ở đó từ năm 1959. Sau khi định cư tại Kuwait, Abu Iyad giúp Arafat kiếm được một công việc tạm thời như một giáo viên. Khi Arafat bắt đầu phát triển tình bạn với những người tị nạn Palestine khác (một số trong số đó ông đã biết từ ngày còn ở tại Cairo), ông và những người khác dần thành lập một nhóm được gọi là Fatah. Ngày thành lập chính xác của Fatah vẫn còn chưa được biết. Tuy nhiên, vào năm 1959, sự tồn tại của nhóm này đã được chứng minh trong những trang viết của một tạp chí theo chủ nghĩa quốc gia Palestine, "Filastununa Nida al-Hayat" (Palestine của chúng ta, Lời kêu gọi của cuộc sống), được viết và xuất bản bởi Abu Jihad. FaTaH là một từ đảo cấu tạo từ những từ đầu của cái tên Ả Rập "Harakat al-Tahrir al-Watani al-Filastini" dịch thành "Phong trào Giải phóng Quốc gia Palestine". Fatah cũng là một từ từng được sử dụng từ đầu thời kỳ Hồi giáo có nghĩa 'chinh phục'. Fatah có mục đích giải phóng Palestine bằng một cuộc chiến tranh vũ trang do chính người Palestine tiến hành. Nó khác biệt với những tổ chức chính trị và du kích khác của Palestine, đa số chúng hoàn toàn tin tưởng vào một sự phản kháng của toàn bộ khối Ả Rập thống nhất. Tổ chức của Arafat không bao giờ có những tư tưởng của những chính phủ quốc gia Ả Rập lớn thời kỳ đó, trái ngược với các phe phái Palestine khác, vốn thường trở thành vệ tinh của các quốc gia lớn như Ai Cập, Iraq, Ả Rập Xê Út, Syria và các nước khác. Theo tư tưởng của mình, Arafat nói chung từ chối chấp nhận những khoản viện trợ của các chính phủ Ả Rập lớn dành cho tổ chức của ông, nhằm có được sự độc lập từ họ. Tuy nhiên, ông không muốn xa lánh họ, và tìm cách có được sự hỗ trợ thống nhất của họ bằng cách tránh liên minh với các nhóm trung thành với các lý tưởng khác. Ông làm việc vất vả tại Kuwait, để thành lập cơ sở cho sự hỗ trợ tài chính tương lai của Fatah bằng cách tranh thủ những khoản đóng góp từ những người Palestine giàu có đang làm việc tại đó và tại các Quốc gia Vùng Vịnh khác, như Qatar (nơi ông gặp Mahmoud Abbas năm 1961). Những nhà doanh nghiệp và công nhân dầu khí này đã đóng góp một cách rất hào hiệp cho tổ chức Fatah. Arafat tiếp tục quá trình này tại các quốc gia khác như Libya và Syria. Năm 1962, Arafat và các đồng sự thân cận nhất của mình nhập cư vào Syria —một quốc gia có chung biên giới với Israel— mới đó đã rút lui khỏi một liên minh sớm chết yếu với Ai Cập của Nasser. Fatah có xấp xỉ 300 thành viên ở thời điểm này, nhưng không ai trong số đó là chiến binh. Tuy nhiên, tại Syria ông đã tìm cách tuyển mộ các thành viên bằng cách đề xuất những mức thu nhập cao hơn để có thể thực hiện những cuộc tấn công vũ trang chống lại Israel. Nhân lực của Fatah còn được gia tăng thêm sau khi Arafat quyết định trao mức lương lớn hơn nữa cho các thành viên của Quân đội Giải phóng Palestine (PLA), lực lượng quân đội chính thức của Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO), đã được Liên đoàn Ả Rập tạo ra vào mùa hè năm 1964. Ngày 31 tháng 12 cùng năm ấy, một biệt đội thuộc al-Assifa, nhánh vũ trang của Fatah ở thời điểm đó, tìm cách thâm nhập vào Israel, nhưng họ đã bị các lực lượng an ninh của Liban ngăn chặn và bắt giữ. Nhiều cuộc tấn công khác của các chiến binh Fatah được huấn luyện và trang bị kém diễn ra sau vụ việc này. Một số vụ thành công, những vụ khác thất bại. Arafat thường đích thân chỉ huy những cuộc đột kích này. Arafat và trợ lý hàng đầu của mình Abu Jihad, bị bắt giữ ở Syria khi một lãnh đạo Palestine ủng hộ Syria, Yusuf Orabi bị ám sát. Nhiều giờ trước vụ ám sát, Arafat đã thảo luận với ông các cách thức để thống nhất các phe phái của họ và yêu cầu Orabi hỗ trợ cho Arafat chống lại các đối thủ của ông bên trong ban lãnh đạo Fatah. Một thời gian ngắn sau khi Arafat rời cuộc gặp, Orabi bị ném ra ngoài cửa sổ một căn nhà ba tầng và cảnh sát Syria trung thành với Hafez al-Assad (Assad và Orabi là những "người bạn thân cận"), nghi ngờ Arafat có liên quan tới vụ việc. Assad đã chỉ định một hội đồng, phát hiện Arafat và Abu Jihad có tội trong vụ giết hại. Tuy nhiên, cả hai đã được Tổng thống Syria Salah Jadid ân xá. Tuy nhiên, vụ việc này khiến Assad và Arafat khó chịu với nhau, điều sẽ được thể hiện về sau khi Assad trở thành Tổng thống Syria. Lãnh đạo người Palestine. Ngày 13 tháng 11 năm 1966, Israel tung ra một cuộc tấn công lớn vào thị trấn as-Samu ở Bờ Tây do Jordan quản lý, để trả đũa một vụ đánh bom bên đường do Fatah tiến hành, làm thiệt mạng ba thành viên của Các lực lượng an ninh Israel ở gần phía nam biên giới Đường Xanh. Trong cuộc chạm trán đó, nhiều thành viên lực lượng an ninh Jordan đã thiệt mạng và 125 ngôi nhà bị san bằng. Vụ việc này là một trong nhiều yếu tố dẫn tới cuộc Chiến tranh Sáu Ngày năm 1967. Cuộc chiến Sáu Ngày bùng phát khi Israel tung ra một cuộc tấn công không quân phủ đầu vào không quân Ai Cập ngày 5 tháng 6 năm 1967. Cuộc chiến chấm dứt với thất bại của phía Ả Rập và việc Israel chiếm đóng nhiều vùng đất Ả Rập, gồm cả Bờ Tây và Dải Gaza. Dù Nasser và các đồng minh Ả Rập của ông đã bị đánh bại, Arafat và Fatah vẫn có thể tuyên bố một chiến thắng, trong đó đa số người Palestine, những người tới thời điểm ấy đã tìm cách liên kết lại và có giành thiện cảm với các chính phủ Ả Rập, khi ấy bắt đầu đồng ý rằng một giải pháp 'Palestine' cho tình thế của họ là tuyệt đối cần thiết. Nhiều đảng chính trị lớn của Palestine, gồm cả Phong trào Chủ nghĩa quốc gia Ả Rập của George Habash, Hội đồng Cao cấp Ả Rập của Hajj Amin al-Husseini, Mặt trận Giải phóng Hồi giáo và nhiều nhóm được Syria hậu thuẫn, rõ ràng đã tan rã sau khi các chính phủ tài trợ cho họ thất bại. Chỉ một tuần sau thất bại, Arafat đã cải trang vượt Sông Jordan và vào Bờ Tây, nơi ông lập ra những trung tâm tuyển mộ tại Hebron, khu vực Jerusalem và Nablus, và bắt đầu thu hút cả các chiến binh và các nhà ủng hộ tài chính cho lý tưởng của mình. Cùng lúc ấy, Nasser tiếp xúc với Arafat thông qua Mohammed Heikal (một trong những cố vấn của Nasser) và Arafat được Nasser tuyên bố là 'lãnh đạo của người Palestine'. Tháng 12, Ahmad Shukeiri từ chức Chủ tịch PLO. Yahya Hammuda thay thế và mới Arafat gia nhập tổ chức. Fatah được trao 33 trong số 105 ghế của Hội đồng Hành pháp PLO trong khi 57 ghế được trao cho các nhóm du kích khác. Trong suốt năm 1968, Fatah và các nhóm vũ trang Palestin khác là mục tiêu của một chiến dịch quân sự lớn của Israel tại làng Karameh của Jordan, nơi Fatah đóng trụ sở —cũng là nơi có các Trại tị nạn Palestine. Tên của thị trấn này là từ tiếng Ả Rập có nghĩa 'phẩm giá', vốn đã nâng cao giá trị biểu tượng của mình trong mắt người Ả Rập, đặc biệt sau thất bại của họ năm 1967. Chiến dịch nhằm để trả đũa các vụ tấn công, gồm cả các vụ bắn rocket của Fatah và các chiến binh Palestine khác, bên trong Bờ Tây bị chiếm đóng. Theo Said Aburish, chính phủ Jordan và một số lính biệt kích Fatah đã thông báo với Arafat về những chuẩn bị quân sự quy mô lớn của Israel cho một vụ tấn công vào thị trấn đang được tiến hành, khiến các nhóm fedayeen, như nhóm Mặt trận Nhân dân vì sự Giải phóng Palestine (PFLP) mới được thành lập của George Habash và tổ chức ly khai Mặt trận Dân chủ vì sự Giải phóng Palestine của Nayef Hawatmeh, rút các lực lượng của họ khỏi thị trấn. Dù được một chỉ huy sư đoàn ủng hộ Fatah của Jordan cố vấn nên rút người và trụ sở tới các ngọn đồi gần đó, Arafat đã từ chối, nói, "Chúng tôi muốn thuyết phục thế giới rằng có những người trong thế giới Ả Rập sẽ không rút lui hay bỏ chạy". Aburish viết rằng chính theo các mệnh lệnh của Arafat, Fatah đã ở lại, và rằng Quân đội Jordan đã đồng ý hỗ trợ họ trong cuộc chiến kịch liệt sau đó. Đêm ngày 21 tháng 3, Quân đội Israel tấn công Karameh với vũ khí hạng nặng, xe bọc thép và các máy bay chiến đấu. Fatah giữ được trận địa của mình, làm sửng sốt quân đội Israel. Khi các lực lượng Israel tăng cường chiến dịch, Quân đội Jordan bắt đầu tham chiến, khiến người Israel phải rút lui để tránh mở rộng cuộc xung đột. Tới cuối trận đánh, gần 150 tay súng của Fatah bị thiệt mạng, cũng như khoảng 20 binh sĩ Jordan và 28 binh sĩ Israel. Dù phía Ả Rập có tỷ lệ thiệt hại lớn hơn, Fatah tự coi mình là bên chiến thắng bởi sự rút lui nhanh chóng của quân đội Israel. Chính Arafat cũng có mặt trên trận địa, nhưng những chi tiết về sự tham gia của ông không rõ ràng. Tuy nhiên, các đồng minh của ông - cũng như tình báo Israel – xác nhận rằng ông đã hối thúc các chiến binh của mình trong suốt trận đánh để giữ vững vị trí và tiếp tục chiến đấu. Trận đánh đã được tạp chí "Time" tường thuật chi tiết, và khuôn mặt của Arafat xuất hiện trên trang bìa ấn bản của tạp chí này ngày 13 tháng 12 năm 1968, khiến lần đầu tiên hình ảnh của ông xuất hiện trước thế giới. Giữa môi trường thời hậu chiến, các mô tả về Arafat và Fatah xuất hiện dày đặc nhờ thời điểm mang tính bước ngoặt này, và ông trở thành được coi như một anh hùng dân tộc người đã dám đối đầu với Israel. Với sự ca ngợi trên khắp thế giới Ả Rập, số hỗ trợ tài chính tăng lên nhanh chóng, và vũ khí cùng trang bị của Fatah đã được cải thiện. Con số nhân lực của nhóm tăng lên khi nhiều thanh niên Ả Rập, gồm cả hàng nghìn người không phải người Palestine, gia nhập vào Fatah. Khi Hội đồng Quốc gia Palestine nhóm họp tại Cairo ngày 3 tháng 2 năm 1969, Yahya Hammuda lùi bước từ chức chủ tịch PLO, và Arafat lên thay thế. Ông trở thành Tổng tư lệnh Các lực lượng Cách mạng Palestine hai năm sau đó, và vào năm 1973, trở thành lãnh đạo phái chính trị của PLO. Cuối thập niên 1960, căng thẳng giữa người Palestine và chính phủ Jordan tăng lên mạnh mẽ; những yếu tố khởi nghĩa vũ trang Ả Rập đã tạo lập một "nhà nước bên trong nhà nước" mạnh ở Jordan, cuối cùng kiểm soát nhiều vị trí chiến lược bên trong nước này. Sau thắng lợi của họ trong Trận Karameh, Fatah và các nhóm du kích Palestine khác bắt đầu kiểm soát đời sống dân sự tại Jordan. Họ lập ra các chốt gác trên đường, công khai làm nhục lực lượng cảnh sát Jordan, quấy nhiễu phụ nữ và đánh những khoản thuế bất hợp pháp - tất cả chúng đều được Arafat bỏ qua hay tảng lờ. Vua Hussein coi đây là một mối đe doạ đang gia tăng với chủ quyền và an ninh của vương quốc, và tìm cách giải giáp quân du kích. Tuy nhiên, để tránh đối đầu quân sự với các lực lượng đối lập Hussein đã thải hồi nhiều quan chức chống PLO trong nội các của mình, gồm cả một số thành viên trong chính gia đình ông, và mời Arafat trở thành Thủ tướng Jordan. Arafat từ chối, nêu ra niềm tin của ông về sự cần thiết của một nhà nước Palestine với quyền lãnh đạo của người Palestine. Dù có sự can thiệp của Hussein, các hành động du kích tại Jordan vẫn tiếp diễn. Ngày 15 tháng 9 năm 1970, PFLP cướp năm chiếc máy bay và cho ba chiếc hạ cánh tại Sân bay Dawson, nằm cách phía đông Amman. Sau khi các hành khách đã được chuyển tới nơi khác, ba chiếc máy bay nổ tung. Điều này đã làm ảnh hưởng tới hình ảnh của Arafat ở nhiều nước phương tây gồm cả Hoa Kỳ, những người gán cho ông chịu trách nhiệm kiểm soát các phe nhóm thuộc PLO. Arafat, trước sức ép từ các chính phủ Ả Rập, công khai lên án các vụ không tặc và ngừng bất kỳ hoạt động du kích nào của PFLP trong vài tuần. (Ông cũng đã có hành động tương tự sau khi PFLP tấn công Sân bay Athens.) Chính phủ Jordan quyết tâm giành lại sự kiểm soát lãnh thổ của mình, và vào ngày hôm sau, Vua Hussein tuyên bố thiết quân luật. Cùng ngày hôm ấy, Arafat trở thành tư lệnh tối cao của PLA. Khi xung đột leo thang, các chính phủ Ả Rập khắc tìm cách đàm phán một giải pháp hoà bình. Như một phần của nỗ lực này, Gamal Abdel Nasser đã tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Liên đoàn Ả Rập tại Cairo ngày 21 tháng 9. Bài diễn văn của Arafat đã giành được thiện cảm từ các lãnh đạo Ả Rập tham dự. Các lãnh đạo quốc gia khác cùng chống lại Hussein, trong số đó có Muammar al-Gaddafi, người chế giễu ông và người cha bị tâm thần phân liệt của ông là Vua Talal. Nỗ lực thành lập một thoả thuận hoà bình giữa hai bên không thể thành công. Nasser chết vì một vụ đau tim vài giờ sau hội nghị thượng đỉnh. Tới ngày 25 tháng 9, quân đội Jordan đã giành được ưu thế, và hai ngày hôm sau Arafat và Hussein đồng ý một lệnh ngừng bắn tại Amman. Quân đội Jordan đã khiến người Palestine phải chịu thiệt hại nặng nề - gồm cả thường dân - với xấp xỉ 3,500 thương vong. Sau khi có những vụ vi phạm liên tục với lệnh ngừng bắn từ cả PLO và Quân đội Jordan, Arafat kêu gọi lật đổ Vua Hussein. Trước mối đe doạ, tháng 6 năm 1971, Hussein ra lệnh cho các lực lượng của mình tống khứ tất cả các chiến binh Palestine còn lại ở phía bắc Jordan - và họ đã hoàn thành nhiệm vụ này. Arafat và một số lực lượng của mình, gồm cả hai sĩ quan cao cấp, Abu Iyad và Abu Jihad, bị buộc rút về góc phía bắc của Jordan. Họ tái lập tại thị trấn Jerash, gần biên giới với Syria. Với sự giúp đỡ của Munib Masri, một thành viên nội các Jordan ủng hộ Palestine, và Fahd al-Khomeimi, đại sứ Ả Rập Xê Út tại Jordan, Arafat tìm cách vào được Syria với gần 2000 chiến binh của mình. Tuy nhiên, vì quan hệ thù địch giữa Arafat và Tổng thống Syria Hafez al-Assad (người trước đó đã lật đổ Salah Jadid), các chiến binh Palestin đã vượt biên giới vào Liban để gia nhập các lực lượng PLO tại nước này, nơi họ thành lập trụ sở mới. Chủ nghĩa khủng bố trong thập niên 1970 và sự công nhận chính thức. Vì Liban có một chính phủ trung ương yếu ớt, PLO đã có thể hoạt động công khai như một nhà nước độc lập. Trong thời gian này ở thập niên 1970, nhiều nhóm PLO cánh tả đã cầm lấy vũ khí chống lại Israel, tiến hành nhiều vụ tấn công vào thường dân cũng như các mục tiêu quân sự bên trong và bên ngoài Israel. Hai vụ việc chính diễn ra năm 1972. Nhóm trực thuộc của Fatah Tháng 9 Đen đã không tặc chuyến bay Sabena trên đường tới Viên và buộc nó hạ cánh tại Sân bay Quốc tế Ben Gurion ở Lod, Israel. PFLP và Hồng quân Nhật Bản tiến hành một vụ bắn giết cũng tại sân bay đó, giết hại 24 thường dân. Israel sau này tuyên bố rằng vụ ám sát người phát ngôn của PFLP Ghassan Kanafani là một sự trả đũa với việc PFLP dính líu trong việc sắp đặt vụ tấn công đó. Hai ngày sau, nhiều phe nhóm của PLO trả thù bằng vụ đánh bom vào bến xe bus, làm thiệt mạng 11 dân thường. Tại Olympic Munich, Tháng 9 Đen đã bắt giữ và giết hại 11 vận động viên Israel. Một số nguồn tin, gồm cả Mohammed Oudeh ("Abu Daoud"), một trong những kẻ sắp đặt vụ thảm sát Munich, và Benny Morris, một nhà sử học nổi tiếng của Israel, đã nói rằng Tháng 9 Đen là một nhánh vũ trang của Fatah được dùng cho các chiến dịch bán vũ trang. Theo cuốn sách của Abu Daoud năm 1999, "Arafat đã được thông báo về những kế hoạch cho vụ bắt giữ con tin ở Munich." Những vụ giết hại bị thế giới lên án. Năm 1973–74, Arafat đóng cửa Tháng 9 Đen, ra lệnh cho PLO rút khỏi các hành động bạo lực bên ngoài Israel, Bờ Tây và Dải Gaza. Năm 1974, PNC thông qua Chương trình Mười Điểm (do Arafat và các cố vấn của ông thảo ra), và đề nghị một sự hoà giải với người Israel. Nó kêu gọi một chính quyền quốc gia Palestine với mọi phần của "lãnh thổ Palestine đã được giải phóng", ám chỉ tới các khu vực bị các lực lượng Ả Rập chiếm trong cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948 (Bờ Tây và Đông Jerusalem và Dải Gaza hiện nay). Điều này đã làm nhiều phe nhóm trong PLO bất bình: PFLP, DFLP và các đảng khác thành lập một tổ chức ly khai, Mặt trận Bác bỏ. Israel và Hoa Kỳ cũng đã cho rằng Arafat dình líu tới những vụ ám sát ngoại giao Khartoum năm 1973, trong đó năm nhà ngoại giao và năm người khác đã bị giết hại. Một tài liệu năm 1973 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ được giải mật năm 2006, kết luận "Chiến dịch Khartoum operation được lên kế hoạch và thực hiện với sự hiểu biết hoàn toàn và sự chấp thuận cá nhân của Yasser Arafat." Arafat bác bỏ bất kỳ sự tham gia nào vào chiến dịch và nhấn mạnh rằng nó được nhóm Tháng 9 Đen thực hiện độc lập. Israel tuyên bố rằng Arafat có quyền kiểm soát hoàn toàn với các tổ chức này và vì thế vẫn chưa từ bỏ chủ nghĩa khủng bố. Cũng trong năm 1974, PLO được tuyên bố là "đại diện hợp pháp duy nhất của người Palestine" và được chấp nhận tư cách thành viên đầy đủ trong Liên đoàn Ả Rập tại Hội nghị Thượng đỉnh Rabat. Arafat trở thành đại diện đầu tiên của một tổ chức phi chính phủ phát biểu trước phiên họp toàn thể của Đại hội đồng Liên hiệp quốc. Arafat cũng là lãnh đạo đầu tiên phát biểu trước Liên hiệp quốc khi có đeo bao súng, dù bên trong không có khẩu súng nào. Trong bài phát biểu của ông tại Liên hiệp quốc, Arafat lên án Chủ nghĩa phục quốc Zion, nhưng nói, "Hôm nay tôi tới mang theo một cành ôliu và một khẩu súng của người chiến binh tự do. Hãy đừng để cành ôliu rơi khỏi tay tôi." Bài phát biểu của ông đã làm gia tăng thiện cảm của quốc tế với lý tưởng của người dân Palestine. Sự tham gia của Fatah trong Nội chiến Liban. Dù ban đầu do dự trong việc tham gia vào cuộc xung đột, Arafat và Fatah đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc Nội chiến Liban. Đầu hàng trước áp lực từ các tiểu nhóm của PLO như PFLP, DFLP và Mặt trận Giải phóng Palestine (PLF), Arafat đưa PLO liên kết với những người Cộng sản và những người theo chủ nghĩa Nasser Phong trào Quốc gia Liban (LNM). LNM nằm dưới sự lãnh đạo của Kamal Jumblatt, người có mối quan hệ thân mật với Arafat và các lãnh đạo PLO khác. Dù ban đầu liên kết với Fatah, Tổng thống Syria Hafez al-Assad sợ sẽ mất ảnh hưởng ở Liban và thay đổi liên minh. Ông gửi quân đội, cùng với các phe nhóm Palestine do Syria hậu thuẫn là as-Sa'iqa và Mặt trận Nhân dân vì sự Giải phóng Palestine - Bộ Chỉ huy (PFLP-GC) dưới sự chỉ huy của Ahmad Jibril chiến đấu cùng các lực lượng Thiên chúa giáo cánh hữu chống lại PLO và LNM. Các thành phần chủ yếu trong mặt trận Thiên chúa giáo là những người Maronite Phalangist trung thành với Bachir Gemayel và các Tigers Militia —dưới sự lãnh đạo của Dany Chamoun, một người con trai của cựu Tổng thống Camille Chamoun. Tháng 2 năm 1975, Tigers bắn một thành viên quốc hội người Liban quan trọng ủng hộ Palestine, Ma'arouf Sa'ad, người thành lập Tổ chức Nhân dân Nasserite. Cái chết của ông, vì những vết thương, trong tháng sau đó, và vụ giết hại vào tháng 4 cùng năm 27 người Palestine và Liban đang đi xe bus từ Sabra và Shatila tới trại tị nạn Tel al-Zaatar của các lực lượng Phalangist, càng thúc đẩy cuộc Nội chiến Liban. Arafat lưỡng lự trong việc trả đũa bằng vũ lực, nhưng nhiều thành viên Fatah và PLO khác không cảm thấy như vậy. Ví dụ, DFLP đã tiến hành nhiều vụ tấn công vào Quân đội Liban. Năm 1976, một liên minh các du kích Thiên chúa giáo với sự hỗ trợ của người Liban và Quân đội Syria bao vây trại Tel al-Zaatar ở phía đông Beirut. PLO và LNM trả đũa bằng cách tấn công vào thị trấn Damour, một cứ điểm của Phalangist. Hơn 330 người đã bị giết hại và nhiều người hơn thế bị thương. Trại tị nạn Tel al-Zaatar rơi vào tay những người Thiên chúa giáo sau sáu tháng bao vây, và một vụ thảm sát diễn ra trong đó hàng nghìn người Palestine bị giết hại. Arafat và Abu Jihad lên án lẫn nhau vì đã không tổ chức thành công một vụ giải cứu. Những vụ tấn công qua biên giới của PLO vào Israel tăng lên hồi cuối thập niên 1970. Một trong những vụ nghiêm trọng nhất, được gọi là Thảm sát con đường ven biển, diễn ra ngày 11 tháng 3 năm 1978. Một lực lượng gần một chục chiến binh Fatah đã đáp xuồng vào gần một con đường quan trọng ven biển nối thành phố Haifa với Tel Aviv-Yafo. Tại đó họ bắt cóc một chiếc xe bus và bắn bừa bãi vào trong xe và vào các phương tiện đi ngang qua, giết hại 37 thường dân. Để trả đũa, ba ngày hôm sau Quân đội Israel tung ra Chiến dịch Litani với mục tiêu chiếm quyền kiểm soát miền nam Liban tới tận Sông Litani. IDF đã hoàn thành mục tiêu này và Arafat rút các lực lượng PLO về phía bắc tới Beirut. Sau khi Israel rút khỏi Liban, tình trạng thù địch xuyên biên giới giữa các lực lượng PLO và Israel lại tiếp diễn, dù từ tháng 8 năm 1981 tới tháng 5 năm 1982, PLO đã đơn phương thông qua chính sách hạn chế trả đũa với những khiêu khích. Cuộc xâm lược năm 1982 của Israel, theo một số nguồn, được thiết kế để tiêu diệt những nguyện vọng về một nhà nước Palestine bằng cách loại bỏ những lực lượng của nó khỏi sự gần gũi với Bờ Tây. Tuy nhiên, cuộc xâm lược của Israel chỉ có thể được miêu tả dễ dàng như một nỗ lực của Israel nhằm chấm dứt nhiều năm bắn pháo, thâm nhập và giết hại thường dân Israel của những kẻ tấn công PLO từ Liban. Beirut nhanh chóng bị bao vây và bị Quân đội Israel bắn phá; Arafat tuyên bố thành phố là "Hà Nội và Stalingrad của quân đội Israel." Giai đoạn đầu tiên của cuộc Nội chiến chấm dứt và Arafat —người từng chỉ huy các lực lượng Fatah tại Tel al-Zaatar— đã may mắn thoát được với sự giúp đỡ từ các nhà ngoại giao Ả Rập Xê Út và Kuwait. Tới cuối cuộc bao vây, các chính phủ Hoa Kỳ và châu Âu làm trung gian một thoả thuận đảm bảo sự đi lại an toàn cho Arafat và PLO — được canh gác bởi một lực lượng đa quốc gia gồm tám trăm lính thủy đánh bộ Mỹ được Hải quân Mỹ hỗ trợ — để sang lưu vong tại Tunis. Arafat quay trở lại Liban một năm sau khi bị trục xuất khỏi Beirut, lần này trú ẩn tại thành phố phía bắc Tripoli. Lần này Arafat bị trục xuất bởi một người bạn Palestine làm việc dưới Hafez al-Assad. Arafat không quay trở lại Liban sau sự trục xuất thứ hai của ông, nhưng nhiều chiến binh Fatah đã làm điều này. Arafat và trung tâm điều hành các hoạt động của Fatah đóng trụ sở tại Tunis, thủ đô của Tunisia, cho tới năm 1993. Năm 1985 ông đã thoát chết trong gang tấc trước một âm mưu ám sát của Israel khi những chiếc F-15 của Không quân Israel ném bom các trụ sở của ông tại đó trong một phần của Chiến dịch Chân Gỗ, làm 73 người chết. Arafat đã đi ra ngoài chạy bộ vào sáng hôm đó. Phong trào Intifada lần thứ nhất. Trong thập niên 1980, Arafat đã nhận được hỗ trợ tài chính từ Libya, Iraq và Ả Rập Xê Út, cho phép ông tái thiết tổ chức PLO đã bị tấn công mạnh mẽ. Điều này đặc biệt hữu ích trong Phong trào Intifada lần thứ nhất tháng 12 năm 1987, vốn bắt đầu như một cuộc nổi dậy của thanh niên Palestine chống lại sự chiếm đóng của Israel tại Bờ Tây và Dải Gaza. Từ Intifada trong tiếng Ả Rập dịch nghĩa là "rung động", tuy nhiên, nó thường được định nghĩa như một cuộc khởi nghĩa hay nổi dậy. Giai đoạn đầu của phong trào Intifada là một sự phản ứng trước một vụ việc tại chốt gác Erez nơi xe quân đội Israel đâm vào một nhóm người lao động Palestine, làm thiệt mạng bốn người. Tuy nhiên, trong vòng vài tuần, đặc biệt bởi những yêu cầu liên tục của Abu Jihad, Arafat đã cố gắng lãnh đạo cuộc nổi dậy, kéo dài tới tận năm 1992–93. Abu Jihad trước đó đã được chỉ định chịu trách nhiệm về các lãnh thổ Palestine bên trong bộ chỉ huy PLO và theo nhà tiểu sử Said Aburish, có "trình độ đáng kể về các điều kiện địa phương" bên trong các lãnh thổ bị Israel chiếm đóng. Ngày 16 tháng 4 năm 1988, khi phong trào Intifada đang phát triển dữ dội, Abu Jihad đã bị ám sát trong ngôi nhà của mình tại Tunis household, bị cho là bởi một đội biệt kích của Israel gây ra. Arafat coi Abu Jihad là một đối trọng của PLO với giới lãnh đạo Palestine địa phương, và đã thực hiện một lễ tang lớn cho ông tại Damascus. Chiến thuật thường được người Palestine sử dụng nhất trong phong trào Intifada là ném đá vào các xe tăng của Quân đội Israel, đây đã trở thành một biểu tượng của cuộc nổi dậy. Giới lãnh đạo địa phương tại một số thị trấn Bờ Tây đã tiến hành một số cuộc phản kháng phi bạo lực chống lại sự chiếm đóng của Israel bằng cách tham gia vào cuộc kháng chiến thuế và các cuộc tẩy chay khác. Israel đáp trả bằng cách tịch thu nhiều khoản tiền lớn trong các cuộc vây ráp từng căn nhà. Khi phong trào Intifada sắp lên tới đỉnh điểm, các nhóm vũ trang Palestine mới —đặc biệt là Hamas và Hồi giáo Jihad Palestine (PIJ)— bắt đầu nhắm vào các thường dân Israel với chiến thuật đánh bom tự sát mới và những cuộc bắn giết lẫn nhau trong nội bộ người Palestine cũng gia tăng nhanh chóng. Thay đổi định hướng. Ngày 15 tháng 11 năm 1988, PLO tuyên bố Nhà nước Palestine độc lập. Dù thường bị buộc tội liên kết với chủ nghĩa khủng bố, trong những bài phát biểu ngày 13 và 14 tháng 12 Arafat đã chấp nhận Nghị quyết số 242 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, quyền của Israel "tồn tại trong hoà bình và an ninh" và từ bỏ 'chủ nghĩa khủng bố ở mọi hình thức, gồm cả chủ nghĩa khủng bố nhà nước'. Những tuyên bố của Arafat nhận được sự đồng thuận của chính quyền Mỹ, vốn từ lâu đã nhấn mạnh trên những tuyên bố đó, coi nó là một sự khởi đầu cần thiết cho những cuộc đàm phán chính thức giữa Mỹ và PLO. Những tuyên bố này của Arafat đã đánh dấu sự dịch chuyển khỏi một trong những mục tiêu hàng đầu của PLO - tiêu diệt Israel (như đã được ghi trong Hiệp định Nhà nước Palestine)– và hướng tới sự thành lập hai thực thể riêng biệt: một nhà nước Israel bên trong các đường đình chiến năm 1949, và một nhà nước Ả Rập ở Bờ Tây và Dải Gaza. Ngày 2 tháng 4 năm 1989, Arafat được Hội đồng Trung ương của Hội đồng Quốc gia Palestine, cơ quan điều hành của PLO, bầu làm tổng thống của nhà nước Palestine đã được tuyên bố. Trước cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1990–91, khi sự căng thẳng trong phong trào Intifada bắt đầu giảm xuống, Arafat ủng hộ hành động xâm lược Kuwait của Saddam Hussein và phản đối cuộc tấn công của Liên quân do Mỹ dẫn đầu vào Iraq. Ông đã đưa ra quyết định này mà không tham khảo các lãnh đạo khác của Fatah và PLO. Cố vấn hàng đầu của Arafat, Abu Iyad muốn đứng trung lập và phản đối một liên minh với Saddam; Ngày 17 tháng 1 năm 1991, Abu Iyad đã bị Tổ chức Abu Nidal ủng hộ Iraq ám sát. Quyết định của Arafat cũng làm tồi tệ thêm mối quan hệ với Ai Cập và nhiều quốc gia giàu dầu mỏ khác đang ủng hộ liên quân do Mỹ dẫn đầu. Nhiều người ở Mỹ cũng coi lập trường của Arafat là một lý do để bác bỏ các tuyên bố của ông về việc trở thành một đối tác vì hoà bình. Sau khi những hành động thù địch chấm dứt, nhiều quốc gia Ả Rập ủng hộ liên quân đã cắt bỏ các khoản viện trợ cho PLO và bắt đầu hỗ trợ cho tổ chức đối địch của nó là Hamas cũng như các nhóm hồi giáo khác. Năm 1990, Arafat cưới Suha Tawil, một người Palestine theo Thiên chúa giáo khi ông đã 61 và Suha 27 tuổi. Trước lễ cưới của họ, bà đang làm thư ký cho Arafat tại Tunis sau khi mẹ của bà đã giới thiệu bà cho Arafat tại Pháp. Trước đám cưới của Arafat, ông đã nhận năm mươi trẻ mồ côi Palestine do chiến tranh làm con nuôi. Arafat đã may mắn thoát chết một lần nữa ngày 7 tháng 4 năm 1992, khi chiếc máy bay của ông lao xuống đất tại Sa mạc Libya trong một trận bão cát. Hai phi công và một kỹ sư thiệt mạng; Arafat bị thâm tím và bị sốc. Chính quyền Palestine và các cuộc đàm phán hoà bình. Đầu thập niên 1990, Arafat và các lãnh đạo hàng đầu khác của Fatah tham gia vào một loạt các cuộc đàm phán bí mật với chính phủ Israel dẫn tới Hiệp định Oslo năm 1993. Thoả thuận kêu gọi việc áp dụng sự tự quản của người Palestine tại một số phần ở Bờ Tây và Dải Gaza trong giai đoạn năm năm, cùng với một sự ngừng ngay lập tức và dần loại bỏ những khu định cư của Israel tại các khu vực đó. Hiệp định kêu gọi việc thành lập một lực lượng cảnh sát Palestine được tuyển mộ từ người dân địa phương và người Palestine ở nước ngoài, để kiểm soát các vùng tự quản. Quyền lực với nhiều lĩnh vực quản lý, gồm cả giáo dục và văn hoá an sinh xã hội, thuế trực tiếp và du lịch, sẽ được trao cho chính phủ lâm thời Palestine. Cả hai bên đồng ý về việc hình thành một uỷ ban sẽ thiết lập sự hợp tác và phối hợp với các vấn đề kinh tế riêng biệt, gồm cả các cơ sở, công nghiệp, thương mại và viễn thông. Trước khi ký hiệp định, Arafat —với tư cách chủ tịch PLO và là đại diện chính thức của nó- đã ký hai lá thư từ bỏ bạo lực và chính thức công nhận Israel. Đổi lại, Thủ tướng Yitzhak Rabin, thay mặt cho Israel, chính thức công nhận PLO. Năm sau đó, Arafat và Rabin đã được trao Giải Nobel Hoà bình, cùng với Shimon Peres. Phản ứng của người Palestine khá khác biệt. Mặt trận Cự tuyệt của PLO liên kết mình với những người Hồi giáo trong một mặt trận đối lập chung chống lại các thoả thuận. Hiệp định cũng bị người tị nạn Palestine tại Liban, Syria, và Jordan cũng như nhiều trí thức Palestine khác và giới lãnh đạo chính quyền địa phương Palestine phản đối. Tuy nhiên, những người dân tại các vùng lãnh thổ nói chung chấp nhận thoả thuận và lời hứa của Arafat về hoà bình và thịnh vượng kinh tế. Thành lập chính quyền tại các vùng lãnh thổ. Theo các điều khoản của Hiệp định Oslo, Arafat được yêu cầu thiết lập chính quyền PLO tại Bờ Tây và Dải Gaza. Ông nhấn mạnh rằng sự hỗ trợ tài chính là tối cần thiết cho việc thành lập chính quyền này và là cần thiết để đảm bảo sự chấp nhận các thoả thuận của người Palestine sinh sống tại những vùng đất đó. Tuy nhiên, các quốc gia Ả Rập Vùng Vịnh Péc xích vốn thường là những nhà tài trợ của Arafat đã từ chối cung cấp cho PLO và ông ta bất kỳ khoản tiền lớn nào bởi tình cảm của ông với Iraq trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991. Ahmed Qurei —một nhà thương thuyết hàng đầu của Fatah trong những cuộc đàm phán tại Oslo— đã công khai thông báo rằng PLO đang ở tình trạng phá sản. Năm 1994, Arafat rời tới Thành phố Gaza, một trong những vùng đất do Chính quyền Quốc gia Palestine (PNA) —thực thể lâm thời được tạo lập theo hiệp định Oslo- quản lý. Arafat trở thành Tổng thống và Thủ tướng của PNA, Tổng tư lệnh Quân đội Giải phóng Palestine (PLA) và Người phát ngôn của Hội đồng Lập pháp Palestin (PLC). Tháng 7, sau khi PNA được tuyên bố là chính phủ chính thức của người Palestine, Luật Căn bản của Chính quyền Quốc gia Palestine được PLO công bố, trong ba phiên bản khác nhau. Arafat bắt đầu xây dựng một cơ cấu cho PNA. Ông thành lập một hội đồng hành pháp hay nội các gồm hai mươi thành viên. Arafat cũng có quyền tự do thay thế và chỉ định các thị trưởng và các hội đồng thành phố tại các thành phố lớn như Gaza và Nablus. Ông bắt đầu sáp nhập các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, và an sinh xã hội dưới chính quyền mình bằng cách thay thế các lãnh đạo và giám đốc được bầu ra bằng các quan chức Chính quyền Quốc gia Palestine trung thành với mình. Sau đó ông tự chỉ định mình là chủ tịch tổ chức tài chính Palestine đã được Ngân hàng Thế giới thành lập để kiểm soát hầu hết các khoản viện trợ tài chính cho thực thể Palestine mới. Arafat đã thành lập một lực lượng cảnh sát Palestine, với tên gọi Lực lượng An ninh Ngăn chặn (PSS), bắt đầu hoạt động ngày 13 tháng 5. Nó chủ yếu gồm các binh sĩ PLA và những người Palestine tình nguyện ở nước ngoài. Arafat chỉ định Mohammed Dahlan và Jibril Rajoub lãnh đạo tổ chức này. Ân xá Quốc tế đã cáo buộc Arafat và giới lãnh đạo PNA vì đã không điều tra một cách thích đáng các vụ lạm dụng do PSS gây ra (gồm cả tra tấn và giết hại trái pháp luật) các đối thủ chính trị và những người bất đồng cũng như những vụ bắt giữ các nhà hoạt động nhân quyền. Ngày 24 tháng 7 năm 1995, vợ của Arafat là Suha đã sinh một bé gái tại Sorbonne, Pháp. Cô bé được đặt tên là Zahwa theo tên người mẹ đã mất của Arafat. Trong suốt tháng 11, 12 năm 1995, Arafat đã đi tới hàng chục thành phố và thị trấn Palestine đã bị các lực lượng Israel di tản, gồm cả Jenin, Ramallah, al-Bireh, Nablus, Qalqilyah và Tulkarm, tuyên bố chúng đã được "giải phóng". PNA cũng giành được quyền kiểm soát dịch vụ bưu chính trong giai đoạn này. Ngày 20 tháng 1 năm 1996, Arafat được bầu làm tổng thống PNA, với đa số 88.2% (ứng cử viên duy nhất khác là nhà tổ chức từ thiện Samiha Khalil). Tuy nhiên, bởi Hamas, DFLP và các phong trào đối lập nhân dân khác lựa chọn tẩy chay cuộc bầu cử tổng thống, những lựa chọn đã bị hạn chế. Thắng lợi lớn của Arafat đã đảm bảo cho Fatah 51 trong tổng số 88 ghế trong PLC. Sau khi Arafat được bầu vào chức Tổng thống PNA, ông thường được gọi là "Ra'is", (dịch nghĩa là Tổng thống trong tiếng Ả Rập), dù ông tự gọi mình là "tướng quân". Năm 1997, PLC cáo buộc nhánh hành pháp của PNA quản lý tài chính sai lệch dẫn đến sự từ chức của bốn thành viên trong nội các của Arafat. Arafat đã từ chối từ chức. Các thoả thuận hoà bình khác. Giữa năm 1996, Benjamin Netanyahu được bầu làm Thủ tướng Israel với chênh lệch chỉ một phần trăm. Quan hệ Palestine-Israel thậm chí còn trở nên căng thẳng hơn do hậu quả của một cuộc xung đột tiếp diễn. Dù có thoả thuận Israel-PLO, Netanyahu phản đối ý tưởng về nhà nước Palestine. Năm 1998, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã thuyết phục hai nhà lãnh đạo gặp gỡ. Kết quả là Bản ghi nhớ Sông Wye vạch ra chi tiết các bước sẽ được chính phủ Israel và PNA tiến hành để hoàn thành quá trình hoà bình. Arafat tiếp tục những cuộc đàm phán với người kế vị Netanyahu là Ehud Barak, tại Hội nghị Thượng đỉnh Trại David tháng 7 năm 2000. Một phần bởi quan điểm chính trị của riêng mình (Barak thuộc Công Đảng cánh tả, trong khi Netanyahu thuộc Đảng Likud cánh hữu) và một phần bởi sự thúc bách thoả hiệp của Tổng thống Clinton, Barak đã đề xuất với Arafat về một nhà nước Palestine ở 73% lãnh thổ Bờ Tây và Dải Gaza. Phần trăm chủ quyền của Palestien sẽ được mở rộng lên 91% (94% ngoại trừ Jerusalem) trong một thời hạn mười tới hai mươi năm. Đổi lại là việc chiếm giữ những khu vực ở Bờ Tây nơi có những khu định cư chính của Israel, Barak đề xuất khu vực tương tự ở sa mạc Negev của Israel. Cũng bao gồm trong đề xuất là việc quay trở lại của một số lượng nhỏ người tị nạn và khoản bồi thường cho những người không được phép quay về. Arafat bác bỏ đề xuất của Barak và từ chối thực hiện một đề xuất đổi lại ngay lập tức. Ông nói với Tổng thống Clinton rằng, "nhà lãnh đạo Ả Rập người nhượng lại Jerusalem vẫn còn chưa sinh". Động thái này đã bị thậm chí cả một thành viên trong phái đoàn đàm phán và nội các của ông là Nabil Amr chỉ trích. Những cuộc đàm phán tiếp tục diễn ra tại Hội nghị Thượng đỉnh Taba tháng 1 năm 2001; lần này, Ehud Barak đã rút khỏi các cuộc đàm phán để thực hiện chiến dịch tranh cử tại Israel. Tháng 10 và tháng 12 năm 2001, những cuộc đánh bom tự sát của các nhóm du kích Palestine đã gia tăng và những cuộc phản kích của Israel cũng tăng thêm, gây ra sự bùng phát của phong trào Intifada lần thứ hai. Sau thắng lợi bầu cử của Ariel Sharon vào tháng 2, tiến trình hoà bình đã có một bước thụt lùi. Cuộc bầu cử của Palestine dự định vào tháng 1 năm 2002 đã bị trì hoãn - lý do được đưa ra là việc không thể thực hiện tranh cử trong khi những điều kiện khẩn cấp đang được áp dụng bởi phong trào Intifada, cũng như những cuộc tấn công và các biện pháp hạn chế tự do di chuyển của quân đội Israel tại các lãnh thổ Palestine. Cũng trong tháng này, Sharon ra lệnh giam giữ Arafat tại trụ sở của ông tại Mukata'a ở Ramallah, sau một vụ đánh bom tự sát tại thành phố Hadera của Israel; Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush ủng hộ hành động của Sharon, tuyên bố rằng Arafat là "một vật cản với tiến trình hoà bình". Tồn tại chính trị. Cuộc sống cá nhân và chính trị lâu dài của Arafat được hầu hết các nhà bình luận phương Tây coi là một dấu hiệu chứng minh cho khả năng chiến tranh bất đối xứng và tài năng chiến thuật của ông, trong điều kiện không khí chính trị vô cùng nguy hiểm ở Trung Đông và tần số diễn ra những vụ ám sát. Một số nhà bình luận tin rằng khả năng tồn tại của ông phần lớn bởi sự lo ngại của Israel rằng ông có thể trở thành một người tử vì đạo cho lý tưởng của người Palestine nếu ông bị ám sát hay thậm chí chỉ bị Israel bắt giữ. Những người khác tin rằng Israel đã kiềm chế đưa ra hành động chống lại Arafat bởi họ lo ít lo ngại với ông hơn so với Hamas và các phong trào Hồi giáo khác đang giành được nhiều ảnh hưởng hơn so với Fatah. Sự phức tạp và mong manh của quan hệ giữa Hoa Kỳ, Israel, Ả Rập Xê Út và các quốc gia Ả Rập khác cũng góp phần vào sự tồn tại lâu dài với tư cách nhà lãnh đạo người dân Palestine của Arafat. Israel đã tìm cách ám sát Arafat trong một số thời điểm, nhưng chưa bao giờ sử dụng những điệp viên của chính mình, thay vào đó "hướng" người Palestine tới mục tiêu dự định, thường bằng cách sử dụng việc hăm doạ. Theo Alan Hart, thứ Mossad ưa thích sử dụng là đầu độc. Theo Abu Iyad, hai vụ đã được lực lượng Mosaad và Ban giám đốc Quân đội thực hiện với mục tiêu là Arafat trong năm 1970. Năm 1976, Abu Sa'ed, một điệp viên/kẻ phản bội người Palestine đã làm việc được bốn năm cho Mosaad, đã tham gia vào một âm mưu bỏ các viên thuốc độc trông giống như gạo vào trong thức ăn của Arafat. Abu Iyad giải thích rằng Abu Sa'ed đã thú nhận sau khi anh ta nhận được lệnh tiếp tục thực hiện, giải thích rằng mình không thể thực hiện toàn bộ nhiệm vụ bởi, "Thứ nhất ông ta là một người Palestine và lương tâm của anh ta sẽ không cho phép anh ta làm như vậy." Quan hệ với Hamas và các nhóm du kích khác. Khả năng của Arafat trong việc biến đổi phù hợp với các tình thế chiến thuật và chính trị mới có lẽ đã được thử nghiệm với sự trỗi dậy của Hamas và các tổ chức Jihad Hồi giáo Palestine (PIJ), các nhóm Hồi giáo tán thành các chính sách loại bỏ đối với Israel. Các nhóm này thường đánh bom các mục tiêu phi quân sự, như các khu phố buôn bán và các rạp chiếu phim, để tăng ảnh hưởng tâm lý và thương vong với dân thường. Trong thập niên 1990, các nhóm này dường như đã đe doạ tới khả năng của Arafat trong việc giữ được một tổ chức quốc gia thống nhất với mục tiêu là một nhà nước. Họ có vẻ ở bên ngoài tầm ảnh hưởng và kiểm soát của Arafat, và chiến đấu kịch liệt với Fatah. Một số thông tin cho rằng những hành động của các nhóm này thường được Arafat khoan thứ như một biện pháp để gây sức ép với Israel. Năm 2002, Liên đoàn Ả Rập đã có một đề xuất công nhận Israel để đổi lấy việc nước này rút quân khỏi toàn bộ các lãnh thổ đã chiếm đóng trong cuộc Chiến tranh Sáu Ngày và một nhà nước của người Palestien do PNA của Arafat quản lý. Ngay sau đó, một vụ tấn công do các chiến binh Hamas tiến hành đã làm thiệt mạng hai chín thường dân Israel đang ăn mừng Lễ quá hải gồm cả nhiều người nổi tiếng. Để trả đũa, Israel tung ra Chiến dịch Lá chắn Phòng thủ, một cuộc tấn công quân sự lớn vào các thành phố chính tại Bờ Tây. Một số quan chức chính phủ Israel đã phát biểu vào năm 2002 rằng các nhóm vũ trang thuộc Fatah Các lữ đoàn Tử vì đạo al-Aqsa đã bắt đầu các cuộc tấn công vào Israel nhằm cạnh tranh với Hamas. Ngày 6 tháng 5, chính phủ Israel đã ra một báo cáo, dựa một phần trên các tài liệu thu được trong thời gian Israel chiếm đóng trụ sở của Arafat tại Ramallah, bao gồm nhiều bản copy các tài liệu do Arafat ký cho phép cung cấp tiền cho các hoạt động của các Lữ đoàn Tử vì đạo al-Aqsa. Những nỗ lực cách ly. Những nỗ lực liên tục của chính phủ Israel để xác định một nhà lãnh đạo Palestine khác đại diện cho nhân dân Palestine đã không thành công. Arafat nhận được sự ủng hộ của các nhóm, dù ông có hoạt động quá khứ của riêng mình, bình thường khá thận trọng trong việc tiếp xúc hay ủng hộ ông. Marwan Barghouti (một lãnh đạo của Lữ đoàn Tử vì đạo al-Aqsa) đã xuất hiện như một khả năng thay thế trong phong trào Intifada Lần thứ hai, nhưng Israel đã bắt giữ ông ta vì liên quan tới việc giết hại hai mươi sáu thường dân, và ông đã bị tuyên năm án tù chung thân. Arafat cuối cùng đã được phép rời trụ sở của ông ngày 2 tháng 5 sau những cuộc đàm phán liên tục dẫn tới một giải pháp: sáu chiến binh PFLP —gồm cả tổng thư ký của tổ chức là Ahmad Sa'adat— bị Israel truy nã, người ẩn trốn cùng Arafat toà nhà trụ sở của ông, sẽ không bị chuyển giao cho Israel, nhưng thay vào đó sẽ bị PNA truy tố. Quả thực, một đội nhân viên an ninh liên hợp của Anh và Mỹ sẽ đảm bảo rằng những người bị truy nã sẽ bị giam giữ tại Jericho. (Những người này sau đó đã bị Israel bắt giữ trong một cuộc đột kích đêm vào nhà tù này năm 2006.) Với điều đó, và một lời hứa rằng ông sẽ theo đuổi một lời kêu gọi người Palestine ngừng các cuộc tấn công vào người dân Israel, Arafat đã được thả ra. Ông đã ra một lời kêu gọi như vậy ngày 8 tháng 5, nhưng như những nỗ lực trước đó, nó hầu như không được để ý tới. In 2003, Arafat ceded his post as Prime Minister to Mahmoud Abbas amid pressures by the US. Năm 2004, Tổng thống Bush đã không còn coi Arafat là một đối tác đàm phán nữa, nói rằng ông ta đã "không thể là một người lãnh đạo" và cáo buộc ông cắt xén quyền lực của Abbas khi ông này đang làm thủ tướng (Abbas đã từ chức trong cùng năm ông được trao chức vụ này). Arafat có một mối quan hệ phức tạp với các lãnh đạo các quốc gia Ả Rập khác. Sự ủng hộ của họ với ông dường như đã gia tăng bất cứ khi nào ông bị Israel gây sức ép; ví dụ, khi Israel tuyên bố vào năm 2003 rằng họ đã ra quyết định, trên nguyên tắc, đưa ông ra khỏi Bờ Tây do Israel kiểm soát. Trong một cuộc phỏng vấn với mạng lưới tin tức Ả Rập "Al-Jazeera", Arafat đã phản ứng trước đề nghị của Ariel Sharon rằng ông sẽ bị trục xuất vĩnh viễn khỏi các lãnh thổ Palestine, khi nói, "Đó là quê hương của ông ta [Sharon] hay của chúng ta? Chúng ta đã ở đây khi Nhà tiên tri Abraham tới, nhưng có lẽ họ [người Israel] không hiểu lịch sử hay địa lý." Những vấn đề về tài chính. Tháng 8 năm 2002, Lãnh đạo Tình báo Quân sự Israel đã cho rằng tài sản cá nhân của Arafat trong khoảng $1.3 tỷ. Năm 2003 Quỹ Tiền tệ Quốc tệ (IMF) đã tiến hành một cuộc kiểm toán PNA và nói rằng Arafat đã chuyển $900 triệu trong các quỹ công cộng tới một tài khoản ngân hàng do Arafat và cố vấn Kinh tế Tài chính PNA quản lý. Tuy nhiên, IMF không tuyên bố rằng có bất kỳ sự không thích hợp nào, và họ đã nói rõ rằng hầu hết các khoản quỹ đã được sử dụng để đầu tư vào các tài sản của Palestine, cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên năm 2003, một đội kế toán viên Mỹ - do Bộ tài chính của chính Arafat thuê - đã bắt đầu xem xét các khoản tài chính của Arafat; đội này đã có một kết luận khác. Đội tuyên bố rằng một phần tài sản của nhà lãnh đạo Palestine nằm trong một danh mục ngân hàng bí mật trị giá gần $1 tỷ, với các khoản đầu tư trong những công ty như một nhà máy đóng chai của Coca-Cola ở Ramallah, một nhà máy điện thoại di động Tunisia và các quỹ liên doanh tại Hoa Kỳ và Quần đảo Cayman. Người lãnh đạo cuộc điều tra đã nói rằng "dù tiền cho tài khoản tới từ các quỹ công cộng như các khoản thuế của Palestine, rõ ràng không đồng nào trong số đó được chi tiêu cho người dân Palestine; tất cả đều do Arafat quản lý. và không một giao dịch nào trong số đó được công khai." Dù Arafat có cuộc sống giản dị, Dennis Ross, từng là nhà đàm phán tại Trung Đông cho các Tổng thống George H.W. Bush và Bill Clinton, đã nói rằng "số tiền chạy quanh" của Arafat chi tiêu cho một hệ thống bảo trợ to lớn được gọi là chủ nghĩa bảo trợ mới. Theo Salam Fayyad —một cựu quan chức Ngân hàng Thế giới đã được Arafat chỉ định làm Bộ trưởng Tài chính của PNA năm 2002— những mặt hàng độc quyền của Arafat có thể được coi một cách chính sách là một trò lừa đảo với chính đồng bào ông, "đặc biệt tại Gaza nơi nghèo hơn, là điều hoàn toàn không thể chấp nhận và vô đạo đức." Fayyad tuyên bố rằng Arafat đã sử dụng $20 triệu từ các quỹ công cộng để trả riêng cho các lực lượng an ninh cho giới lãnh đạo của PNA (Phòng An ninh Ngăn chặn). Fuad Shubaki, cựu trợ lý tài chính của Arafat, đã nói với cơ quan an ninh Israel Shin Bet rằng Arafat đã sử dụng nhiều triệu dollar tiền viện trợ để mua vũ khí và cung cấp cho các nhóm du kích. Trong Chiến dịch Lá chắn Phòng vệ của Israel, quân đội Israel đã tìm thấy tiền giả và những tài liệu từ trụ sở của Arafat ở Ramallah. Người Palestine tuyên bố rằng tiền giả là số tiền tịch thu được từ các nhóm tội phạm. Tình trạng sức khoẻ kém và cái chết. Những báo cáo đầu tiên về việc điều trị của Arafat do các bác sĩ của ông đưa ra về cái mà người phát ngôn của ông gọi là "bệnh cúm" xuất hiện ngày 25 tháng 10 năm 2004, sau khi ông bị nôn mửa trong một cuộc gặp. Các điều kiện sức khoẻ của ông tiếp tục kém đi trong những ngày sau đó. Sau những chuyến thăm bệnh của các bác sĩ khác, gồm cả các đội y tế từ Tunisia, Jordan, và Ai Cập —một thoả thuận của Israel không ngăn cản việc quay trở lại của ông- Arafat đã được đưa lên một chiếc máy bay của chính phủ Pháp tới bệnh viện quân sự Percy tại Clamart, một vùng phụ cận của Paris. Thông báo chính thức về cái chết của ông không xác định được nguyên nhân cái chết, chỉ nói rằng ông có một sự "rối loạn máu bất thường". Ngày 3 tháng 11, ông dần rơi vào tình trạng hôn mê sâu. Trong những ngày sau đó, sức khoẻ của Arafat là chủ đề của một số lời bàn tán, với nghi vấn rằng ông bị đầu độc hay AIDS. Nhiều nguồn tin dự đoán rằng Arafat bị hôn mê, trong một "tình trạng thực vật" hay chết, tuy nhiên, chính quyền Palestine và bác sĩ người Jordan của Arafat bác bỏ các báo cáo rằng Arafat đã chết não và đang phải được hỗ trợ sự sống. Một cuộc tranh cãi nổ ra giữa các quan chức của PNA và Suha Arafat khi các quan chức từ PNA tới Pháp để thăm Arafat. Suha đã tuyên bố "Họ đang tìm cách chôn sống Abu Ammar [Arafat]". Luật của Pháp cấm các bác sĩ thảo luận điều kiện của các bệnh nhân của mình với bất kỳ ai với một ngoại lệ, trong trường hợp có tiên lượng nghiêm trọng, có thể thực hiện với họ hàng gần. Theo đó, mọi thông tin liên quan tới sức khoẻ của Arafat phải được vợ ông cho phép. Các quan chức Palestine đã thể hiện sự lấy làm tiếc rằng các thông tin về Yasser Arafat đã bị bà "lọc" trước. Ngày hôm sau, lãnh đạo nhóm bác sĩ Christian Estripeau thuộc bệnh viện Percy đã thông báo rằng điều kiện sức khoẻ của Arafat đã tồi tệ thêm, và rằng ông đã rơi vào một cơn hôn mê sâu. Sheikh Taissir Tamimi, người lãnh đạo toà án Hồi giáo của các lãnh thổ Palestine - người có một vị trí bên cạnh giường bệnh của Arafat— đã tới thăm Arafat và tuyên bố rằng không nên đặt câu hỏi về việc ngắt ông khỏi các phương tiện hỗ trợ sự sống, theo ông, một hành động như vậy bị cấm trong Đạo Hồi. Arafat được thông báo qua đời lúc 3:30 sáng UTC ngày 11 tháng 11 ở độ tuổi 75. Nguyên nhân chính xác tình trạng sức khoẻ kém của ông không được biết. Tamimi đã miêu tả nó là "một cảnh rất đáng thương." Khi cái chết của Arafat được thông báo, người dân Palestien rơi vào tình trạng tang tóc, với những lời cầu nguyện kinh Qur'an phát ra từ những loa phóng thanh của các thánh đường Hồi giáo và những lốp xe bị đốt trên phố. Một thông cáo tại Socialist World nói: "Nhiều người Palestine sẽ coi cái chết của Yasser Arafat với sự pha trộn giữa tiếc thương và mong muốn rằng Chính quyền Palestine mà ông lãnh đạo, sẽ làm việc nhiều nữa để chấm dứt sự đói nghèo và áp bức đang đè nặng lên cuộc đời của họ". Tờ "Con Vịt Buộc" đã thông báo về những cái gọi là rò rỉ tin tức bởi những nguồn tin y tế không nêu tên tại bệnh viện Percy người đã có cơ hội tiếp cận với Arafat và hồ sơ y tế của ông. Theo tờ báo, các bác sĩ tại bệnh viện Percy đã nghi ngờ, từ khi Arafat được đưa tới nơi, về những thương tổn nghiêm trọng với gan dẫn tới sự thay đổi trong thành phần máu; vì thế Arafat đã được đặt nằm trong khoa huyết học. Bệnh bạch cầu đã "bị loại bỏ hoàn toàn". Theo cùng nguồn tin, lý do tại sao sự chẩn đoán bệnh gan mãn tính này không thể được công khai là bởi, trong tâm trí của mọi người, bệnh gan nói chung liên quan tới những hậu quả của việc lạm dụng rượu. Thậm chí chẩn đoán không phải là một chứng bệnh gan do rượu và Arafat không từng được biết có uống rượu, có những lời đồn kiểu như vậy. Nguồn tin giải thích rằng các điều kiện sống của Arafat không giúp cải thiện được nhiều tình hình này. Vì thế, theo nguồn tin, những nguyên nhân có thể của căn bệnh có thể do nhiều yếu tố; sự hôn mê của Arafat là hậu quả của tình trạng trầm trọng thêm của bệnh gan. Tờ báo Pháp "Le Monde" đã trích dẫn các bác sĩ nói rằng ông bị "một căn bệnh máu hiếm gặp và vấn đề về gan". Sau cái chết của Arafat, Bộ Quốc phòng Pháp nói rằng hồ sơ y khoa của Arafat sẽ chỉ được trao cho người họ hàng gần nhất của ông. Mọi người quyết định rằng người cháu của Arafat và cũng là đại diện của PNA tại Liên hiệp quốc, Nasser al-Qudwa, là một người họ hàng đủ thân cận, vì thế sẽ làm việc quanh sự im lặng của Suha Arafat về tình trạng bệnh tật của chồng bà. Nasser al-Qudwa đã được Bộ Quốc phòng Pháp trao một bản copy hồ sơ y tế của Arafat dày 558 trang. Những đồn thổi về nguyên nhân cái chết. Bassam Abu Sharif, cựu cố vấn của Arafat, tuyên bố rằng Mossad đã đầu độc Arafat qua các loại thuốc của ông. Một "bác sĩ cao cấp của Israel" tuyên bố trong một bài báo trên tờ "Haaretz" rằng đó là "một trường hợp cổ điển về đầu độc thực phẩm", có lẽ gây ra bởi một bữa ăn đã được dùng khoảng bốn giờ trước khi ông bị ốm và có thể chứa một loại chất độc như ricin, chứ không phải kiểu đầu độc vi khuẩn tiêu chuẩn. Tuy nhiên, cùng trong tuần khi tờ "Haaretz" phát hành bài báo trên, "The New York Times" công bố một báo cáo riêng biệt, cũng dựa trên việc tiếp cận hồ sơ y tế của Arafat, cho rằng không có vẻ Arafat bị đầu độc bằng thực phẩm. Cả hai bài báo đều còn nói tiếp rằng nguyên nhân cái chết có thể là một sự nhiễm trùng có nguồn gốc tự nhiên chưa được biết. Tuy nhiên, những lời đồn đại về việc Arafat bị đầu độc vẫn thường xuất hiện trên thế giới, và đặc biệt trong dân chúng Ả Rập. Al-Kurdi đã lấy làm tiếc trước sự thực rằng người vợ goá của Arafat là Suha đã từ chối một cuộc xét nghiệm pháp y, vốn có thể trả lời cho nhiều câu hỏi liên quan tới nguyên nhân cái chết. Năm 2005, al-Kurdi đã kêu gọi việc thành lập một uỷ ban độc lập để tiến hành những cuộc điều tra liên quan tới cái chết gây nghi vấn của Arafat, nói, "bất kỳ một bác sĩ nào sẽ nói với bạn rằng có những triệu chứng của việc đầu độc". John Loftus đã thông báo trên ABC radio rằng Araft chết vì bệnh AIDS. Theo Loftus, CIA đã biết về điều kiện sức khoẻ của ông, và thuyết phục Israel không ám sát ông và chờ đợi tới cái chết không thể tránh khỏi vì bệnh tật, bởi sự tiết lộ sau đó về cái được cho là tình trạng đồng tính của ông sẽ làm ông mất uy tín. Tháng 9 năm 2005, tờ báo Israel "Haaretz" đã thông báo rằng các chuyên gia của Pháp không thể xác định nguyên nhân cái chết của Arafat. Tờ báo trích dẫn một chuyên gia AIDS của Israel người tuyên bố rằng Arafat có mọi triệu chứng của bệnh AIDS, một giả thuyết sau này đã bị tờ "The New York Times" bác bỏ. Ashraf al-Kurdi, một bác sĩ riêng Arafat trong hai mươi năm người cũng từng điều trị cho các Vua Hashemite của Jordan, sau này đã tuyên bố rằng không điều gì trong hồ sơ y tế của Arafat đề cập tới sự tồn tại của một sự nhiễm trùng như vậy. Điều tra nguyên nhân cái chết. Sau vụ điệp viên KGB Aleksandr Valterovich Litvinenko bị ám sát bằng đầu độc phóng xạ có triệu chứng giống hệt. Yasser Arafat cũng được cho là bị đầu độc bởi Polonium. Bằng chứng cho rằng ông bị đầu độc bằng Polonium được đưa ra tám năm sau (2012). Người ta đã khai quật mộ ông lên và lấy mẫu kiểm tra. Các nhà khoa học Thụy Sĩ đã kết luận rằng nồng độ Polonium trong cơ thể nhà lãnh đạo Palestine cao bất thường. Israel bị nghi ngờ là đã gây ra vụ đầu độc này. Ngày 11 tháng 11, Đội quân Danh dự của Quân đội Pháp đã tổ chức một lễ tang cho Arafat tại một sân bay quân sự gần Paris. Tổng thống Jacques Chirac đứng một mình bên cạnh thi thể của Arafat trong khoảng mười phút trong một sự thể hiện sự tôn trọng cuối cùng cho một nhà lãnh đạo mà ông gọi là, "một người dũng cảm". Ngày hôm sau, Arafat được máy bay đưa về thủ đô Cairo của Ai Cập cho một tang lễ quân sự ngắn khác tại đó, trước khi ông được chôn cất ở Ramallah, cuối ngày hôm đó. Lễ tang được nhiều nguyên thủ quốc gia, thủ tướng và bộ trưởng ngoại giao tham dự. Tu sĩ Hồi giáo hàng đầu của Ai Cập Sayed Tantawi chỉ huy những người cầu nguyện trong tiến trình lễ tang. Israel từ chối mong muốn của Arafat được chôn cất gần al-Aqsa Mosque hay bất kỳ nơi đâu ở Jerusalem, diễm ra những lo ngại về an ninh. Sau lễ tang tại Cairo, Arafat được đặt nghỉ "tạm" bên trong Trụ sở cũ tại Ramallah; hàng chục nghìn người Palestine đã tham dự buổi lễ. Cũng tham gia lễ tang còn có một người Do Thái ủng hộ hoà bình và một bộ trưởng Thiên chúa giáo. Sau khi Sheikh Taissir Tamimi phát hiện rằng Arafat không được chôn đúng cách và trong một quan tài - không thích hợp với luật Hồi giáo– Arafat đã được chôn lại vào buổi sáng ngày 13 tháng 11, lúc khoảng 3:00 sáng. Ngày 10 tháng 11 năm 2007, trước buổi kỷ niệm lần thứ ba ngày mất của Arafat, Abbas đã khai trương một lăng cho Arafat gần ngôi mộ tạm của ông trong một hành động để tưởng nhớ Arafat. Ngay khi Arafat qua đời, Người phát ngôn Hội đồng Lập pháp Palestin Rawhi Fattouh đã kế vị Arafat trở thành Tổng thống lâm thời của PNA. Tổng thư ký PLO Mahmoud Abbas đã được chọn làm Chủ tịch PLO, và Farouk Kaddoumi trở thành lãnh đạo Fatah. PNA và giới lãnh đạo các trại tị nạn Palestine ở Liban tuyên bố bốn mươi ngày để tang cho Arafat. Abbas đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống tháng 1 năm 2005 với một cách biệt nhỏ, đưa ông trở thành người kế tục của Arafat với tư cách lãnh đạo của người dân Palestine.
Cộng hòa Liên bang Séc và Slovakia Sau Cách mạng Nhung cuối năm 1989, Tiệp Khắc lấy tên quốc gia chính thức và tồn tại trong thời gian ngắn Cộng hòa Liên bang Séc và Slovakia (, #đổi , viết tắt là ČSFR) là một nước Tiệp Khắc, trong thời gian từ ngày 23 tháng 4 năm 1990 cho đến ngày 31 tháng 12 năm 1992, khi đất nước bị giải thể thành Cộng hòa Séc và Cộng hòa Slovakia. Thời kỳ này cũng được gọi là Đệ Ngũ Cộng hòa Tiệp Khắc. Vào cuối năm 1989, với sự sụp đổ của Khối phía Đông, Cách mạng Nhung đã chấm dứt Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc. Quốc hội bãi bỏ hiến pháp của chế độ cộng sản vào ngày 28 tháng 12, Alexander Dubček, cựu người truyền cảm hứng cho Mùa xuân Praha, trở thành chủ tịch Quốc hội; ngày hôm sau Václav Havel, một cựu bất đồng chính kiến, được bầu làm tổng thống. Marián Čalfa, một thành viên của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc cho đến khi giải thể năm 1991, chiếm vị trí thủ tướng và đảm bảo quá trình chuyển đổi dân chủ. Các cuộc thảo luận về tên tương lai của đất nước bắt đầu ngay lập tức,người Slovakia yêu cầu thông qua tên chính thức cho Cộng hòa Liên bang Séc Slovak ("Česko-slovenská federatívna republika") và sử dụng tên tiếng Séc-Slovak. Một thỏa thuận đã đạt được để chấm dứt tranh cãi, được gọi là "Chiến tranh gạch nối", và đất nước đã được đổi tên vào tháng tư thành Cộng hòa Séc và Cộng hòa Slovakia theo luật hiến pháp. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Séc và Slovakia, hai quốc gia đã tạo dựng nên liên bang, sẽ trở thành các Cộng hòa Séc và Slovakia, tương ứng. Đời sống chính trị ở Tiệp Khắc được đánh dấu bằng một sự tách biệt ngày càng tăng giữa người Séc và người Slovakia. Người Séc và người Slovak không đồng ý với hình thức chính phủ, với Prague tìm kiếm sự kiểm soát lớn hơn, trong khi người Slovakia muốn phân cấp nhiều hơn. Những khác biệt này sẽ dẫn đến các cuộc đàm phán sẽ dẫn đến việc giải thể Tiệp Khắc vào ngày 31 tháng 12 năm 1992, được Vladimír Mečiar (lãnh đạo chính phủ Slovakia) và Václav Klaus (người đứng đầu chính phủ Séc) đồng ý.
"Đối với các định nghĩa khác, xem" Đinh (định hướng)"." Nhà Đinh (chữ Nôm: 茹丁, chữ Hán: 丁朝, Hán Việt: "Đinh triều") là triều đại quân chủ phong kiến trong lịch sử Việt Nam bắt đầu năm 968, sau khi Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước và kết thúc năm 980 khi con của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Phế Đế nhường ngôi cho Lê Hoàn. Nhà Đinh là triều đại mở đầu chế độ phong kiến tập quyền và thời kỳ tự chủ với một chế độ đứng đầu bởi một Hoàng đế của nước Việt Nam. Vương triều nhà Đinh đã mở nền chính thống cho thời đại phong kiến độc lập cho nên trong các bộ chính sử kể từ Đại Việt sử ký toàn thư thế kỷ XV, Đại Việt sử ký tiền biên thế kỷ XVIII đến Khâm định Việt sử thông giám cương mục thế kỷ XIX thì triều đại này đều được các tác giả lấy làm mốc mở đầu phần "Bản kỷ" hoặc "Chính biên". Tiếp đến, việc xưng đế hiệu Đại Thắng Minh Hoàng đế của Đinh Tiên Hoàng mang ý thức lớn về sự tự tôn của nước Việt, có hàm ý so sánh với các Hoàng đế Trung Hoa. Thống nhất giang sơn. Năm 944, Ngô Quyền (vua tự xưng là Ngô Vương) mất, anh/em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi của nhà Ngô, xưng Dương Bình Vương. Các nơi không chịu thuần phục, nhiều thủ lĩnh nổi lên cát cứ các vùng thường đem quân đánh lẫn nhau. Con trưởng của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập bỏ trốn. Dương Tam Kha nhận Ngô Xương Văn - con thứ của Ngô Quyền - làm con nuôi. Năm 950, Ngô Xương Văn lật đổ Dương Tam Kha, trở thành Nam Tấn Vương. Ngô Xương Ngập được đưa về, cũng làm vua, là Thiên Sách Vương. Đó là thời Hậu Ngô Vương. Năm 954, Ngô Xương Ngập chết. Đến năm 965, Ngô Xương Văn chết, con Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí nối nghiệp. Nhưng vì thế lực suy yếu nên lui về giữ đất Bình Kiều. Quý tộc nhà Ngô, các tướng nhà Ngô cùng các thủ lĩnh địa phương đều nổi dậy chiếm cứ một vùng. Bắt đầu từ đó hình thành thế cục mà sử sách gọi là loạn 12 sứ quân. Trong số các lực lượng nổi dậy chống triều đình, nổi lên Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Hoàn). Ông là người Hoa Lư, châu Đại Hoàng. Có cha là Đinh Công Trứ - nha tướng của Dương Đình Nghệ, giữ chức Thứ sử Hoan Châu(Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Thời kỳ đó, Đinh Bộ Lĩnh đã cùng những người thân thiết tổ chức lực lượng, rèn vũ khí, xây dựng căn cứ ở Hoa Lư. Sau vì bất đồng với người chú, Đinh Bộ Lĩnh cùng con trai Đinh Liễn sang đầu quân trong đạo binh của Sứ quân Trần Minh Công (Trần Lãm) ở Bố Hải Khẩu. Sau khi Trần Minh Công chết, Đinh Bộ Lĩnh thay quyền, chiêu mộ binh lính, chiêu dụ được sứ quân Phạm Bạch Hổ cùng nhiều sứ quân khác chống nhà Ngô và tiến đánh các sứ quân còn lại. Trong hơn 3 năm, nhờ tài năng của mình, Đinh Bộ Lĩnh được nhân dân nhiều địa phương giúp sức, ủng hộ, đánh đâu thắng đấy, được tôn là Vạn Thắng vương. Các sứ quân lần lượt bị đánh bại hoặc xin hàng. Tình trạng cát cứ chấm dứt. Cuối năm 967, đất nước trở lại bình yên, thống nhất. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, tức là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Đinh Bộ Lĩnh có ba con trai: Đinh Liễn, Đinh Toàn (Đinh Tuệ) và Đinh Hạng Lang. Đinh Liễn là con cả, đã cùng Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân. Năm 978, Đinh Bộ Lĩnh lập con út là Hạng Lang làm thái tử. Đinh Liễn quá tức giận nên giết chết Hạng Lang vào mùa xuân năm 979. Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại trong cung. Sử ghi thủ phạm là nội nhân Đỗ Thích, nhưng các nhà nghiên cứu gần đây đặt ra giả thiết khác, cho rằng chủ mưu là Lê Hoàn (sau này làm vua và gọi là Lê Đại Hành) và Dương hậu. Năm 979 Đinh Toàn, con trai còn lại của Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, là Đinh Phế Đế. Đinh Toàn khi đó mới 6 tuổi. Quyền lực thực tế nằm trong tay Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, là nhiếp chính. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp thấy vậy, lại nghi Lê Hoàn tư thông cùng Thái hậu Dương Vân Nga nên cử binh đến đánh. Lê Hoàn dẹp tan, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp đều bị giết chết. Phò mã Ngô Nhật Khánh bỏ trốn vào nam sang Chăm Pa, sau đó cùng vua Chăm Pa với hơn nghìn chiến thuyền định đến đánh kinh đô Hoa Lư nhưng bị bão chết. Năm 980, nhà Tống rục rịch điều quân sang đánh Đại Cồ Việt, Thái hậu Dương Vân Nga cùng triều thần tôn Lê Hoàn lên làm vua, tức vua Lê Đại Hành. Nhà Đinh kết thúc, truyền được đến đời thứ hai, trị vì 12 năm (968-980). Lê Hoàn sau khi lên ngôi lập ra nhà Tiền Lê đã đánh thắng quân Tống (tháng 4 năm 981). Đinh Toàn trở thành Vệ Vương có mặt trong triều đình Tiền Lê 20 năm. Năm 1001, trong lần cùng vua Lê Đại Hành đi dẹp loạn Cử Long thuộc vùng Cầm Thủy Thanh Hóa, Đinh Toàn bị trúng tên chết. Bộ máy chính quyền. Năm 971, Đinh Tiên Hoàng bắt đầu quy định cấp bậc văn võ trong triều đình. Trong triều có sự tham gia của các nhà sư vì những đóng góp của họ trong quá trình dẹp loạn 12 sứ quân. Vua Đinh phong cho các quan văn võ: Năm 975 vua Đinh ban quy định áo mũ cho các quan văn võ. Bộ máy chính quyền nhà Đinh vẫn được xem là còn đơn sơ. Theo sử sách, quân đội nhà Đinh có mười đạo: mỗi đạo có 10 quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người. Như vậy tổng số theo lý thuyết là 1 triệu người. Tuy nhiên, trong các nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến cho rằng con số đó không có thực. Chữ "Thập", theo Lê Văn Siêu, chỉ mang tính khái quát toàn thể về cách tổ chức kiểu "ngụ binh ư nông" như nhà Lý sau này, thời bình cho làm ruộng, chỉ huy động khi cần; còn Trần Trọng Kim ước đoán quân đội nhà Đinh nhiều nhất chỉ có đến 10 vạn người. Do ảnh hưởng nhiều năm từ thời loạn lạc, có nhiều người quen thói lúc loạn, không chịu tuân theo luật lệ. Do đó vua Tiên Hoàng dùng pháp luật nghiêm ngặt để trừng trị. Đại Việt sử ký toàn thư ghi về việc này: "Vua [Đinh Tiên Hoàng] muốn dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: "Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn". Mọi người đều sợ phục, không ai dám phạm." Trần Trọng Kim cho rằng "hình uy nghiêm như thế, thì cũng quá lắm, nhưng nhờ có những hình luật ấy thì dân trong nước mới dần dần được yên". Nhà Tống đang trên đường thống nhất Trung Quốc sau hơn 50 năm loạn lạc. Quân Tống do Phan Mỹ chỉ huy đã áp sát nước Nam Hán ở cạnh nước Đại Cồ Việt. Năm 970 Đinh Tiên Hoàng sai sứ sang giao hảo với Tống Thái Tổ. Việc ngoại giao với phương Bắc từ đó được duy trì khá đều đặn và hòa bình. Sang năm 972, Tiên Hoàng lại sai con cả Đinh Liễn đi sứ sang Biện Kinh. Năm 973, Đinh Liễn trở về, nhà Tống lại sai sứ sang phong cho Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương, Đinh Liễn làm "Kiểm hiệu thái sư Tỉnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ". Đầu năm 975, Tiên Hoàng lại sai Trịnh Tú đem vàng, lụa, sừng tê, ngà voi sang triều cống nhà Tống. Ngay mùa thu năm đó, nhà Tống sai Hồng lô tự khanh Cao Bảo Tự cùng Vương Ngạn Phù sang gia phong cho Nam Việt Vương Liễn làm "Khai phủ nghi đồng tam ty, Kiểm hiệu thái sư, Giao Chỉ quận vương". Từ đó về sau, Đinh Liễn được giao làm chủ việc ngoại giao với nhà Tống. Đến năm 976, vua Đinh sai em Trần Lãm là Phò mã Trần Nguyên Thái sang nhà Tống đáp lễ. Năm sau (977), ông lại sai sứ sang mừng vua Tống mới là Tống Thái Tông lên ngôi. Đó cũng là lần ngoại giao cuối cùng giữa nhà Đinh và nhà Tống mà sử sách đề cập. Thời kỳ phục quốc của Việt Nam thế kỷ 10, từ họ Khúc chỉ xưng làm Tiết độ sứ, tới Ngô Quyền xưng Vương và tới vua Đinh xưng làm Hoàng đế. Sau một số vị vua xưng Đế từ trước và giữa thời Bắc thuộc bao gồm Triệu Vũ Đế, Triệu Văn Đế (nếu công nhận tính chính thống của nhà Triệu), Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế rồi bị thất bại trước họa ngoại xâm, đến thời nhà Đinh, người cầm quyền Việt Nam mới thực sự vươn tới đỉnh cao ngôi vị và danh hiệu, khẳng định vị thế vững chắc của một quốc gia độc lập. Trong hoạt động ngoại giao, nhà Đinh được nhà Tống thừa nhận và coi trọng. Việc vua Đinh khôn khéo kết hợp dùng võ công và biện pháp chiêu hàng các sứ quân để sớm chấm dứt loạn 12 sứ quân (968) là rất kịp thời, vì không lâu sau đó nhà Tống duỗi tới Quảng Châu, diệt nước Nam Hán (971), áp sát biên giới Đại Cồ Việt. Nếu không có sự xuất hiện của Đinh Bộ Lĩnh để thống nhất quốc gia bị chia sẻ tan nát, Việt Nam khó thoát khỏi họa xâm lăng từ phương Bắc tái diễn khi nhà Tống hoàn thành việc thống nhất phương nam. Kế tục nhà Ngô, nhà Đinh tiếp tục xây dựng bộ máy cai trị trên lãnh thổ, dù chưa được hoàn bị như nhà Lý sau này nhưng bước đầu đã đi vào nền nếp. Tổng cộng nhà Đinh có hai đời nhưng thực chất chỉ có 1 đời vua Tiên Hoàng. Di tích thời nhà Đinh. Di tích về thời Đinh là các di tích có lịch sử hình thành từ thời Đinh hoặc có sau thời đại nhà Đinh, thờ các nhân vật lịch sử thời Đinh. Hiện ở Việt Nam có khoảng trên 500 di tích về thời Đinh. Ninh Bình là vùng đất có kinh đô Hoa Lư, ở đây có nhiều di tích liên quan đến triều đại nhà Đinh, đặc biệt nằm ở các huyện Hoa Lư, Nho Quan và Gia Viễn như: cố đô Hoa Lư với sông Sào Khê, động Thiên Tôn, động Hoa Lư... Đặc biệt, quần thể danh thắng Tràng An với rất nhiều di tích thời Đinh đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 2014.
Nhà Trắng (còn gọi là Tòa Bạch Ốc hay Bạch Cung; ) là nơi ở và làm việc chính thức của Tổng thống Hoa Kỳ. Nhà Trắng là biệt thự sơn màu trắng xây bằng sa thạch theo kiểu tân cổ điển, số nhà 1600 Đại lộ Pennsylvania NW ở Washington, D.C.. Thuật ngữ "Nhà Trắng" thường dùng để chỉ chính quyền tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm do đây là nơi làm việc chính của tổng thống Hoa Kỳ, "(xem Hoán dụ)". Dịch vụ Vườn Quốc gia (NPS) quản lý mảnh đất vườn thuộc Công viên Tổng thống. Hình Nhà Trắng có trên mặt sau tờ giấy bạc 20 đô la. Nhà Trắng được xây sau khi Quốc hội quyết định thành lập Đặc khu Columbia và chọn nơi đây làm thủ đô Hoa Kỳ ngày 16/7 năm 1790. Tổng thống George Washington cùng với Pierre L’Enfant - người chịu trách nhiệm quy hoạch thành phố - giúp chọn địa điểm này. Kiến trúc sư được chọn qua cuộc thi với chín đề án gửi đến dự thi. James Hoban - người Ireland - là người thắng cuộc. Tòa nhà khởi công xây dựng với lễ đặt viên đá đầu tiên vào ngày 13/10 năm 1792. Toà nhà, theo thiết kế của Hoban mô phỏng tầng một và hai của toà nhà Leinster House - dinh thự của một công tước toạ lạc ở Dubin, Ireland (nay là toà nhà Quốc hội Ireland). Trái với những điều người ta thường biết về Nhà Trắng, cổng Bắc của toà nhà không được thiết kế mô phỏng theo cổng của một dinh thự khác tại Dublin, Viceregal Lodge (nay là Aras an Uachtarain, nơi ở của Tổng thống Ireland). Trên thực tế, chiếc cổng được xây dựng sau này. Quyết định đặt thủ đô trên nhượng địa của hai tiểu bang chủ trương sở hữu nô lệ - Virginia và Maryland – gây ảnh hưởng đến việc tuyển dụng nhân công xây dựng cho các toà nhà chính phủ. Các uỷ viên thành phố D.C., được Quốc hội giao nhiệm vụ kiến thiết thành phố mới do tổng thống hướng dẫn, lúc đầu định sử dụng nhân công tuyển dụng từ châu Âu; nhưng vì đáp ứng từ châu lục là tiêu cực nên họ phải quay lại tìm nhân công người Mỹ gốc Phi, cả nô lệ lẫn người tự do. Những người này chiếm phần lớn lực lượng lao động xây dựng Nhà Trắng. Công cuộc kiến thiết Nhà Trắng hoàn tất ngày 1/11 năm 1800. Tiến độ thi công cực kỳ chậm, phải mất 8 năm và tiêu tốn 232.371,83 USD, tương đương 2,4 triệu USD theo trị giá ngày nay tính cả mức lạm phát. Cổng trước và sau chỉ được thêm vào kiến trúc toà nhà cho đến năm 1825. Toà nhà lúc đầu được gọi là Dinh Tổng thống ("Presidential Palace" hoặc "Presidential Mansion"). Dolley Madison gọi đây là "Lâu đài Tổng thống". Tuy vậy, có bằng chứng cho thấy trong năm 1811, toà nhà lần đầu tiên được gọi là "Nhà Trắng", vì mặt ngoài được sơn trắng. Tên gọi Dinh Hành pháp cũng thường được dùng đến trong các văn kiện chính thức cho đến khi Tổng thống Roosevelt thiết lập tên chính thức là "Nhà Trắng", tên này được khắc lên các vật dụng văn phòng tổng thống năm 1901. John Adams là tổng thống đầu tiên đến sống ở Nhà Trắng từ ngày 1/11/ 1800. Năm 1814 trong lúc diễn ra cuộc chiến năm 1812, nhiều toà nhà ở Washington, D.C. bị binh lính Anh thiêu rụi, Nhà Trắng cũng đứng trơ trọi với những bức tường chỏng chơ. Nhiều người cho rằng chính trong lúc tái thiết, người ta tìm cách che lấp hư hại của toà nhà do hoả hoạn bằng lớp sơn màu trắng, do đó mà thành tên gọi toà nhà; nhưng cách giải thích này vô căn cứ vì toà nhà đã được sơn trắng từ năm 1798. Trong số rất nhiều tài sản của Nhà Trắng bị binh lính Anh cướp phá, chỉ có hai thứ được tìm thấy - bức chân dung George Washington, được Đệ Nhất Phu nhân Dolley Madison cứu thoát, và một hộp nữ trang, năm 1939 được hoàn trả cho Tổng thống Franklin Delano Roosevelt bởi một người Canada, người này nói rằng ông nội của ông đã lấy từ Washington. Phần lớn bị cướp khi một đoàn tàu Anh trên đường đến Halifax bị chìm ngoài khơi Prospect do bị bão. Chiếc HMS "Fantome" dẫn một đoàn tàu trở lại Halifax khi đoàn tàu kia bị bão đánh chìm đêm 24/11 năm 1814. Ngày 16/8 năm 1841, Nhà Trắng bị tấn công lần nữa khi Tổng thống John Tyler phủ quyết dự luật tái lập Đệ Nhị Ngân hàng Hoa Kỳ. Những thành viên Đảng Whig tức giận tụ tập trước Nhà Trắng trong một cuộc biểu tình, cho đến nay vẫn được xem là cuộc tụ tập bạo động nhất từng xảy ra trong lịch sử nước Mỹ. Giống các dinh thự vùng quê nước Anh và Ireland mà nó mô phỏng, từ đầu thế kỷ XX, Nhà Trắng được mở cửa cho công chúng. Tổng thổng Thomas Jefferson cho mở cửa toà nhà đón tiếp người dân vào dịp lễ nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai của ông năm 1805, khi đám đông dân chúng đến tham dự lễ tuyên thệ tổ chức tại Điện Capitol đã theo tổng thống về nhà và được tổng thống tiếp đón trong Phòng Lam ("Blue Room"). Đôi khi những lần mở cửa tiếp đón công chúng gây ra hỗn loạn: năm 1829, Tổng thống Andrew Jackson buộc phải đến ở tạm tại khách sạn khi một đám đông ước chừng 20.000 công dân đến dự lễ tuyên thệ nhậm chức của ông tổ chức bên trong Nhà Trắng. Các phụ tá tổng thống phải dùng những chậu giặt chứa đầy cocktail pha rượu whiskey với nước vắt cam mới thu hút được đám đông di chuyển ra ngoài. Dù thế, thông lệ này vẫn cứ duy trì cho đến năm 1885, khi tổng thống tân cử Grover Cleveland sắp xếp lễ duyệt binh từ lễ đài lớn đặt ngay trước Nhà Trắng thay vì bên trong toà nhà như trước đây. Jefferson mở cửa cho công chúng đến thăm nhà tổng thống được tổ chức theo đoàn, thông lệ này vẫn được duy trì cho đến nay, ngoại trừ lúc chiến tranh. Ông cũng khởi xướng truyền thống hằng năm đón tiếp công chúng dịp năm mới và ngày quốc khánh Hoa Kỳ. Tuy nhiên, thông lệ này chấm dứt vào đầu thập niên 1930. Nhà Trắng vẫn được mở cửa theo những cách khác; tổng thống Abraham Lincoln than phiền rằng ông thường xuyên bị bao vây bởi những người đang tìm việc, đến gặp ông yêu cầu được bổ nhiệm vào những vị trí chính trị hoặc đòi hỏi những đặc ân khác khi ông mới bắt đầu ngày làm việc. Lincoln thà chịu phiền phức hơn là gánh nguy cơ trở thành kẻ thù của những người thân tín hoặc bạn hữu của chính trị gia quyền lực, hoặc người có ảnh hưởng với dư luận. Ngày 19/12 năm 1960, Nhà Trắng được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia. Chỉ ít người có thể nhận ra Nhà Trắng rộng đến đâu, bởi vì phần lớn cấu trúc của nó ẩn dưới mặt đất và vì nó trông nhỏ bé hơn kích thước thật khi so sánh với khung cảnh chung quanh. Bên trong Nhà Trắng có: Nhà Trắng là một trong những toà nhà chính phủ ở Washington D.C. có thiết kế đường dành riêng cho xe lăn với những thay đổi thích hợp khi Tổng thống Franklin D. Roosevelt, phải di chuyển trên xe lăn vì mắc bệnh bại liệt, đến sống ở đây. Trong thập niên 1990, Hillary Clinton, chấp thuận đề nghị của giám đốc văn phòng du khách Melinda N. Bates, cho thiết lập một đường dành cho xe lăn ở hành lang của Cánh Đông toà nhà. Năm 1948, Tổng thống Harry S. Truman ra một quyết định gây tranh cãi khi cho mở một ban công trên tầng hai hướng về Cổng Nam. Không lâu sau khi ban công được xây xong, người ta nhận ra rằng toà nhà có cấu trúc không cân xứng và nguy cơ bị đổ sụp là gần kề. Tổng thống và gia đình buộc phải dời sang toà nhà Blair bên kia đường trong khi tiến hành sửa chữa Nhà Trắng. Bên trong toà nhà bị tháo dỡ làm nó trông giống như một vỏ sò, những thanh rầm bằng gỗ được thay thế bằng đà bê tông cốt thép. Cũng có một số thay đổi, đặc biệt là thay đổi vị trí của cầu thang lớn để mở ra Tiền Sảnh ("Entrance Hall"), thay vì hướng vào Sảnh Thập tự như trước đây. Tổng thống Truman và gia đình trở về Nhà Trắng ngày 27 tháng 3 năm 1952. Dù đã được chỉnh sửa vào cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950 để phù hợp với tổng thể toà nhà, nội thất Nhà Trắng, qua những thập kỷ không được chăm sóc đúng mức cùng với nhiều di dời và sửa đổi, ngày càng xuống cấp. Jacqueline Kennedy, phu nhân Tổng thống John F. Kennedy (1961-1963), bắt tay tái thiết nội thất nhiều căn phòng của toà nhà theo kiểu dáng đầu thế kỷ XIX, sử dụng những vật dụng trang trí nội thất chất lượng cao vốn từ lâu bị lãng quên trong kho ở tầng hầm. Nhiều món đồ cổ, những bức tranh quý và những hiện vật khác là quà tặng từ những nhà hảo tâm giàu có, trong đó có Jane Engelhard, Jane Wrightsman, gia đình Oppenheimer ở Nam Phi và những cá nhân nhiều tiền của khác. Kiểu cách trang trí Kennedy, rất được ngưỡng mộ, mang âm hưởng cung đình Pháp là công trình của nhà trang trí Stephane Boudin của Jansen, một công ty thiết kế tiếng tăm ở Paris chuyên trang trí cho hoàng gia của Bỉ, Iran, Nữ Công tước Windsor và ngân hàng Reichsbank của Đức Quốc xã. Kể từ lúc ấy, mỗi khi có một gia đình tổng thống vào sinh sống, họ đều tìm cách thay đổi phần trang trí của toà nhà; những thay đổi này đôi khi nhẹ nhàng, đôi khi triệt để, có khi gây ra lắm tranh cãi. Điển hình, phu nhân và tổng thống Clinton nhờ Kaki Hockersmith, một nhà trang trí đến từ Arkansas, làm mới lại một số căn phòng của toà nhà, kết quả là sự thay đổi này đã thu hút nhiều sự chế giễu của công luận. Đầu thế kỷ XX, một số kiến trúc phụ được thêm vào hai bên toà nhà chính nhằm đáp ứng số lượng nhân viên ngày càng gia tăng. Ở Cánh Tây có văn phòng tổng thống (Phòng Bầu dục) và văn phòng các viên chức cao cấp, có sức chứa cho khoảng 50 người. Ở đó cũng có Phòng Nội các, nơi hội họp của Hội đồng Bộ trưởng Hoa Kỳ, và Phòng Tình huống Nhà Trắng. Một số người thuộc ban nhân viên Tổng thống làm việc ở Toà nhà Văn phòng Hành pháp Eisenhower kế cận. Cánh Đông là nơi dành cho các văn phòng phụ, được thêm vào Nhà Trắng năm 1942. Cánh Đông đôi khi được dùng để đặt văn phòng và là nơi làm việc cho ban nhân viên của Đệ Nhất Phu nhân. Rosalynn Carter, năm 1977, là người đầu tiên đặt văn phòng tại Cánh Đông và chính thức gọi nó là "Văn phòng Đệ Nhất Phu nhân". Cánh Đông được xây dựng trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm che giấu công trình xây dựng công sự phòng thủ bên dưới nó để chuẩn bị cho những tình huống khẩn cấp. Công sự này được biết đến như là Trung tâm Điều hành Khẩn cấp của Tổng thống. Mặc dù khuôn viên Nhà Trắng có nhiều khu vườn được xây dựng suốt theo chiều dài lịch sử của tòa nhà, khung cảnh hiện thời của nó được thiết kế vào năm 1935 bởi Frederick Law Olmsted, Jr. thuộc công ty Olmsted Brothers, theo sự ủy quyền của Tổng thống Franklin D. Roosevelt.
Chu Dung Cơ (tiếng Hán: 朱镕基; phanh âm: Zhū Róngjì; Wade-Giles: Chu Jung-chi; sinh ngày 23 tháng 10 năm 1928) là Thủ tướng thứ năm của Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 1998 đến 2003. Theo một số tài liệu, ông là hậu duệ đời thứ 19 của Chu Nguyên Chương - hoàng đế khai quốc nhà Minh. Chu Dung Cơ sinh ngày 23 tháng 10 năm 1928 tại Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc. Cha ông mất từ khi ông chưa sinh ra. Lên 10 tuổi ông mồ côi mẹ, ở với bác cả là Chu Học Phương. Chu Dung Cơ học sơ trung ở 2 trường là Sùng Đức và Quảng Tích. Học cao trung ở trường trung học tỉnh lập số 1. Từ năm 1947 đến năm 1951 học khoa cơ điện trường Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh). Đến năm thứ 3, Chu Dung Cơ giữ chức Chủ tịch hội sinh viên đỏ của trường. Tháng 10 năm 1949, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 9 năm 1951 được đề bạt giữ chức Phó Văn phòng chủ nhiệm, làm thư ký cho Lý Phú Xuân. Tháng 10 năm 1951 làm việc tại phòng Kế hoạch sản xuất, Vụ Kế hoạch thuộc Bộ Công nghiệp. Tháng 12 năm 1952 tới Bắc Kinh làm tại Cục nhiên liệu và Động lực thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Đầu năm 1958 ông bị quy là "phần tử hữu phái chống Đảng" bị khai trừ ra khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc. và ông được điều đi làm giáo viên một trường cán bộ. Tới năm 1962 mới được ân xá. Năm 1970 lại bị đưa đi cải tạo ở Trường cán bộ 57 của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Ngày 1 tháng 1 năm 1987 ông trúng cử làm ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng, giữ chức phó Bí thư Thượng Hải. Tháng 8 năm 1988 trúng cử chức Thị trưởng Thượng Hải. Tháng 8 năm 1989 ông kiêm nhiệm chức Bí thư thành ủy Thượng Hải. Ngày 8 tháng 4 năm 1991, tại kỳ họp thứ 4 Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc khóa 7, ông được bầu giữ chức Phó Thủ tướng Quốc vụ viện. Tháng 10 năm 1992 là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngày 29 tháng 3 năm 1993 được bổ nhiệm giữ chức Phó Thủ tướng Thứ nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1993 kiêm chức Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc. Tháng 3 năm 1998, Chu Dung Cơ trở thành Thủ tướng Trung Quốc và giữ chức vụ này cho tới tháng 3 năm 2003. Làm việc tại Thượng Hải. Năm 1987, Chu được bổ nhiệm làm thị trưởng Thượng Hải, khi đó là thành phố lớn nhất, phát triển công nghiệp nhất và giàu có nhất Trung Quốc. Trong nhiệm kỳ thị trưởng Thượng Hải, ông đã giám sát những cải tiến lớn, nhanh chóng trong lĩnh vực viễn thông, xây dựng đô thị và giao thông, đặc biệt là ở Phố Đông, một Đặc khu kinh tế lớn và nổi tiếng. Chính trong thời gian làm Thị trưởng Thượng Hải, ông đã nổi tiếng với công chúng như một người phản đối mạnh mẽ nạn tham nhũng, và là một nhà cải cách kinh tế tài ba. Những nỗ lực của ông nhằm đơn giản hóa quy trình mà chính phủ phê duyệt các giao dịch kinh doanh đã mang lại cho ông biệt danh "One-Chop Zhu". Để cải thiện quan hệ với cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài và thu hút lời khuyên từ bên ngoài, ông đã thành lập một ủy ban cố vấn gồm các doanh nhân nước ngoài. Trong thời gian làm việc tại Thượng Hải, ông bắt đầu mối quan hệ làm việc lâu dài với Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, mối quan hệ này tiếp tục trong suốt sự nghiệp của Chu. Ông cũng được biết đến trong thời gian quản lý Thượng Hải vì tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp và kỷ luật Đảng, cũng như từ chối dành ưu đãi phi pháp cho những người thân cận. Một lần vào năm 1988, khi một số thành viên trong gia đình hỏi ông trong bữa tối liệu ông có thể bẻ cong luật cư trú của Trung Quốc để cho phép họ chuyển đến Thượng Hải, ông đã từ chối và trả lời: "Những gì tôi có thể làm, tôi đã làm được. Những gì tôi không thể làm, Tôi sẽ không bao giờ làm. " Năm 1989, khi các cuộc biểu tình quy mô lớn nổ ra ở nhiều thành phố xung quanh Trung Quốc, thì ở Thượng Hải cũng có các cuộc biểu tình lớn, được tổ chức chặt chẽ. Không giống như cuộc đàn áp bạo lực của chính phủ đối với những người biểu tình ở Bắc Kinh, Chu đã có thể giải quyết tình hình địa phương một cách hòa bình. Tại một thời điểm, một nhóm người biểu tình đã trật bánh và đốt cháy một đoàn tàu, trong đó một số người tham gia đã bị bắt và bị xét xử, nhưng thiệt hại về nhân mạng rất ít, và Chu đã có thể giữ được thiện cảm đáng kể của công chúng trong suốt sự kiện. Sau giải quyết bạo lực của các cuộc biểu tình Thiên An Môn, đã có một cuộc đấu tranh ngắn để giành quyền kiểm soát chính quyền Trung Quốc trong Đảng Cộng sản. Chu được đề bạt làm Bí thư Đảng ủy Cộng sản Trung Quốc tại Thượng Hải vào năm 1989. Chu đã hỗ trợ Đặng lấy lại uy tín và quyền lực của mình bằng cách hỗ trợ Đặng tổ chức chuyến đi kiểm tra phía Nam năm 1992. Năm 1990, Chu dẫn đầu một phái đoàn gồm các thị trưởng Trung Quốc đến gặp các nhà lãnh đạo chính trị và kinh doanh địa phương và quốc gia từ Hoa Kỳ, cố gắng duy trì và cải thiện các mối quan hệ chính trị và kinh doanh vốn đã bị đe dọa sau khi đàn áp các cuộc biểu tình năm 1989. Một số quan chức mà Chu đã gặp trong chuyến thăm bao gồm Richard Nixon, Henry Kissinger, Bob Dole và Nancy Pelosi. Trong chuyến thăm, Chu đã có những bài phát biểu không văn bản bằng tiếng Trung và tiếng Anh, và được các nhà báo, chính trị gia và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Mỹ khen ngợi vì sự thẳng thắn, cởi mở, năng lượng và nền tảng kỹ thuật của ông. Mặc dù thể hiện mong muốn và khả năng ban hành các cải cách kinh tế và luật lớn, triệt để, cũng như cải cách chính trị nhằm làm cho chính phủ Trung Quốc hoạt động hiệu quả và minh bạch hơn, Chu nói rõ rằng ông không ủng hộ sự thay đổi chính trị mạnh mẽ. Khi được các nhà báo phương Tây hỏi vào năm 1990 liệu ông có phải là Gorbachev của Trung Quốc hay không, ông trả lời "Không, tôi là Chu Dung Cơ của Trung Quốc". Thủ tướng Quốc vụ viện. Trong một cuộc họp báo chung với Bill Clinton, ông đã được hỏi một số câu hỏi hóc búa: 1. ảnh hưởng của Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ đối với các mối quan hệ xuyên eo biển; 2. liệu có một thời gian biểu cho việc thống nhất Trung Quốc hay không; 3. ông có sẵn sàng đến thăm Đài Loan không? Chu trả lời rằng, về chính sách của Trung Quốc đối với việc thống nhất Trung Quốc, như Tổng bí thư ĐCSTQ Giang Trạch Dân đã tuyên bố rất rõ ràng, ông ấy không nghĩ mình cần phải nói lại về điều đó. Trong quá trình bàn giao Hồng Kông, Trung Quốc thực thi nghiêm ngặt một quốc gia, hai hệ thống và mức độ tự trị cao ở Hồng Kông. Ông cho rằng mọi người trên toàn thế giới đều nhận ra / có thể thấy điều này. Chính sách của Trung Quốc đối với Đài Loan thoải mái hơn nhiều. Tức là Trung Quốc cho phép Đài Loan giữ lại quân đội của chính mình, đồng thời cũng chuẩn bị để lãnh đạo Đài Loan về chính quyền trung ương Trung Quốc làm phó lãnh đạo. Người đó có thể là lãnh đạo của chính phủ trung ương của Trung Quốc không? Ông không biết, vì ông nghĩ rằng có lẽ sẽ không ai bỏ phiếu cho người đó. Quan điểm của Chu đối với Đài Loan đã thay đổi trong thời gian ông làm Thủ tướng. Trong cuộc bầu cử Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc năm 2000 ở Đài Loan, Chu đã cảnh báo cử tri Đài Loan không nên bỏ phiếu cho DPP, vốn ủng hộ làm xa mối quan hệ của Đài Loan với Bắc Kinh, tuyên bố, "những người ủng hộ Đài Loan độc lập sẽ không có kết cục tốt đẹp." Thái độ đối với Đài Loan đã thay đổi sau cuộc bầu cử. Ba năm sau, trong bài phát biểu chia tay Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc năm 2003, Chu khuyến khích các chính trị gia Trung Quốc sử dụng ngôn từ nhẹ nhàng hơn khi thảo luận về vấn đề quan hệ Trung Quốc Đại lục-Đài Loan, nói rằng Trung Quốc Đại lục và Đài Loan nên cải thiện mối quan hệ kinh tế, giao thông và văn hóa. để cải thiện mối quan hệ của họ. Trong bài phát biểu, Chu đã vô tình gọi Trung Quốc và Đài Loan là "hai quốc gia" trước khi nhanh chóng đính chính và coi họ là "hai bên". Vụ việc đã được báo chí Đài Loan đưa tin như một sự "hớ hênh". Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Lá lốt là cây thân thảo đa niên, có tên khoa học Piper sarmentosum, thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae, bao gồm các loài như trầu không, hồ tiêu). Một số địa phương còn gọi là "nốt", (ở Nam bộ có nơi gọi là "Lá lốp"). Lá lốt được dùng trong nấu ăn hoặc để trị vết thương, đắp vào chỗ đau. Cây lá lốt cao khoảng 30–40 cm, mọc thẳng khi còn non, khi lớn có thân dài không thể mọc thẳng mà trườn trên mặt đất. Lá đơn, có mùi thơm đặc sắc, nguyên, mọc so le, hình tim, mặt lá láng bóng, có năm gân chính phân ra từ cuống lá; cuống lá có bẹ. Hoa hợp thành cụm ở nách lá. Quả mọng, chứa một hạt. Lá lốt thường được trồng bằng cách giâm cành nơi ẩm ướt, dọc bờ nước, để lấy lá làm gia vị và làm thuốc. Chả lá lốt, Bò nướng lá lốt là hai trong những món ăn đặc sắc của Việt Nam. Lá và thân chứa các ancaloit và tinh dầu, có thành phần chủ yếu là beta-caryophylen; rễ chứa tinh dầu có thành phần chính là benzylaxetat. Lá lốt có vị nồng, hơi cay, có tính ấm, chống hàn (như bị lạnh bụng), giảm đau, chống phong hàn ở mức thấp, tay chân lạnh, tê tê, nôn mửa, đầy hơi, khó tiêu, đau đầu vì cảm lạ Nước sắc toàn cây trị đầy bụng, nôn mửa vì bị hàn. Nước sắc rễ chữa tê thấp vì bị khí hàn. Cành lá sắc đặc ngậm chữa đau răng. Lá tươi giã nát, phối hợp với lá khế, lá đậu ván trắng, mỗi thứ 50 g thêm nước gạn uống giải độc, chữa say nắng. Lá lốt còn được dùng để nấu nước ngâm tay chân cho người bị bệnh tê thấp, hay đổ mồ hôi tay, mồ hôi chân. Lá lốt còn là một nguyên liệu để nấu các món ăn như chả băm viên lá lốt, ốc nấu chuối đậu, canh lá lốt, bò lá lố
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đoàn Chuẩn (15 tháng 6 năm 1924 – 15 tháng 11 năm 2001) là một nghệ sĩ biểu diễn ghi-ta Hawaii, song được biết đến nhiều hơn cả như một nhạc sĩ Việt Nam với số lượng sáng tác ít ỏi nhưng đều trở thành những giai điệu thuộc nằm lòng của nhiều thế hệ. Sinh ra trong một gia đình tư sản nổi tiếng ở Hải Phòng, ông là con trai thứ hai của nhà tư sản Đoàn Đức Ban (Vạn Vân) - chủ hãng nước mắm Vạn Vân nổi tiếng và lớn nhất trên toàn cõi Đông Dương trước Cách mạng Tháng Tám (1945). Ông lớn lên ở Hà Nội và là nghệ sĩ chơi đàn ghi-ta Hawaii. Ông sáng tác ca khúc đầu tiên là "Ánh trăng mùa thu" vào năm 1947 tại làng Đống Năm, Đông Hưng, Thái Bình. Ca khúc này gắn với một kỷ niệm về làng Khuốc (đất Chèo). Tất cả ca khúc của ông đều được ghi tên tác giả là "Đoàn Chuẩn-Từ Linh". Thực ra Từ Linh (? – 1992) không trực tiếp tham gia sáng tác, nhưng Đoàn Chuẩn ghi tên chung hai người để tôn vinh người bạn tri âm của mình, tôn vinh tình bạn đã góp phần tạo cảm hứng nghệ thuật. Từ Linh tên thật là Hà Đình Thâu - một nhiếp ảnh gia. Cái tên chung mà người nhạc sĩ này đã chọn để sử dụng vẫn là một ẩn số đối với công chúng. Đầu năm 2000, ông bị tai biến mạch máu não và hôn mê. Sau đó, ông tỉnh lại nhưng mất tiếng nói, chỉ có thể bút đàm cho đến lúc qua đời lúc 22 giờ, ngày 15 tháng 11 năm 2001. Giai thoại và cuộc đời. Đoàn Chuẩn, theo lời kể của con trai là Đoàn Đính, nổi tiếng về tính cách phong lưu và hào hoa có thể so sánh như công tử Bạc Liêu ở Nam Kỳ Việt Nam thời bấy giờ. Ông đã từng thuê rất nhiều ô để che nắng cho một trong hai chiếc Cadillac ở Việt Nam thời đó khi đi tắm biển ở Hải Phòng, diện tích ô che phủ bao nhiêu thì trả tiền bấy nhiêu. Cách ăn mặc của Đoàn Chuẩn cũng rất cầu kỳ: một ngày ông có thể thay vài bộ quần áo và hàng chục đôi giày; chỉ ăn tôm mới bắt 15 phút trước và đã được bóc nõn quấn mỡ kho. Đoàn Chuẩn rất đa tình. Ông đã sáng tác tặng một người đẹp của miền Bắc lúc đó sáu bài hát trong khi với vợ mình, ông chỉ viết tặng bà vỏn vẹn hai bài. Thời trẻ, ông đã từng dành ba năm thuê người mỗi ngày mang một bông hồng đến tặng người con gái mà ông yêu. Về sau, gia cảnh của nhà Đoàn Chuẩn có phần giảm sút nhưng ông vẫn sống rất vui vẻ và hạnh phúc bên vợ mình. Hiện đã xác định được tổng cộng là 22 ca khúc của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, trong đó các sáng tác của ông thường đề cập nhiều đến mùa thu. Tuy nhiên, ông tự nhận mình là "tay mơ" trong sáng tác nhạc và cả trong tình yêu. Có rất nhiều ca sĩ trình bày các sáng tác của Đoàn Chuẩn như Ngọc Bảo, Anh Ngọc, Ngọc Long, Mộc Lan, Thái Thanh, Lệ Thanh, Minh Hiếu, Lệ Thu, Khánh Ly, Mai Hương, Ánh Tuyết, Bằng Kiều, Tùng Dươ Hiện nay, tên của ông được đặt tên cho một con phố ở Hải Phòng quê hương ông, thuộc địa bàn phường Đông Hải 1, quận Hải An.
Fulgence Marie Auguste Bienvenüe (1852 - 1936) là một kỹ sư xây dựng người Pháp, cha đẻ của hệ thống tàu điện ngầm Métro Paris. Fulgence Bienvenüe sinh ngày 27 tháng 1 năm 1852 tại Uzel, Côtes-d'Armor. Ông là con út trong một gia đình 13 anh em. Gia đình ông gốc Bretagne và có thông gia với gia đình Thống chế Ferdinand Foch và Mazurié de Kéroualin vùng Segré. Cha ông là một công chứng viên ("notaire") và rất có học thức, người đã có những ảnh hưởng quan trọng đến con đường học vấn của Bienvenüe. Ông của Fulgence Bienvenüe, một quan tòa, luật gia, nhà văn, nhà bút chiến, được bầu vào Hội đồng dân biểu ("Chambre des Représentants") năm 1815. Anh họ của Bienvenüe là Edouard Bienvenüe (1901-1980), công chứng viên ở Mayenne từ 1934 đến 1965 và ủy viên Hội đồng thành phố đó từ 1940 đến 1958. Bienvenüe đỗ tú tài năm 15 tuổi. Ba năm sau đó, năm 1870, ông vào học ở trường Bách khoa Paris, nhưng cùng các sinh viên Bách khoa khác, ông phải bỏ dở vì Công xã Paris xảy ra. Năm 1872, Bienvenüe vào học tại trường Cầu đường Quốc gia ("École nationale des ponts et chaussées"). Sau khi ra trường, Bienvenüe được bổ nhiệm làm việc (chef d'arrondissement) ở Normandie. Ông đã chỉ huy thi công hai tuyến đường sắt Fougères-Vire và Domfront-Alençon. Ngày 25 tháng 2 năm 1881, trong một tai nạn trên tuyến đường sắt Pré-en-Pail-Mayenne, ông bị mất cánh tay trái. Năm 1884, Bienvenüe được thuyên chuyển về Paris và làm việc cho thành phố, xây dựng các con đường công cộng. Ông tham gia xây dựng đường sắt cáp kéo ("funiculaire") Belleville, được hoàn thành tháng 9 năm 1890. Bienvenüe cũng tham gia sửa chữa Buttes Chaumont và đại lộ République. Những công trình đó đã giúp ông được thăng tiến và nhiều người biết đến. Tàu điện ngầm - Métro de Paris. Năm 1895, ông chuẩn bị một sơ đồ dự án tàu điện ngầm dựa theo những nghiên cứu của Berlier. Ông trình bày dự án cuối cùng cho Hội đồng thành phố thông qua ngày 9 tháng 7 năm 1897. Ngày 4 tháng 10 1898, bắt đầu khởi công xây dựng hệ thống métro Paris. Tuyến đầu tiên Porte de Vincennes - Porte Maillot hoàn thành 19 tháng 7 1900 bởi Bienvenüe. Cùng năm đó ông được nhận Huân chương Bắc đẩu bội tinh. Năm 1911, ông được bầu vào Ban đường sá công cộng (service de la voie publique, phục vụ xây dựng, chiếu sáng, vệ sinh) phụ trách việc xây dựng métro Paris. Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, 62 tuổi, Bienvenüe xin nhập ngũ nhưng bị từ chối. Fulgence Bienvenüe khi đó còn quá quan trọng cho thủ đô. Sau đó, năm 1917, ông trở thành giám đốc Port de Paris. Bienvenüe sửa chữa kênh Ourcq và Saint-Denis. Ông cũng cho xây dựng một cảng mới ở Gennevilliers. Năm 1929, Bienvenüe được trao Huân chương Bắc đẩu bội tinh hạng nhất ("Grand-Croix de Légion d'honneur") bởi Thống chế Ferdinand Foch. Ông nghỉ hưu vào ngày 6 tháng 12 1932 vào tuổi 80. Fulgence Bienvenüe mất ngày 3 tháng 8 năm 1936 và được mai táng tại Nghĩa trang Père Lachaise.
ETA là chữ viết tắt của tổ chức Quê hương Basque tự do (tiếng Basque: Euskadi Ta Askatasuna). Đây là tổ chức chính trị và quân sự theo chủ nghĩa Mác Lênin và chủ nghĩa dân tộc ly khai, hoạt động ngầm, với mục đích là yêu cầu một nền độc lập cho xứ Basque (gồm một phần hiện là một khu vực bán tự trị thuộc Tây Ban Nha và một phần ở miền nam nước Pháp) và thành lập một nhà nước xã hội chủ nghĩa độc lập. ETA được thành lập vào năm 1959 như là một phong trào kháng chiến chống lại chế độ độc tài Francisco Franco, và chủ yếu là sử dụng phương tiện khủng bố, bao gồm cả xe bom. Trong 50 năm, từ lần đầu tiên là vào ngày 28 tháng 6 năm 1960 cho đến tháng 7 năm 2009, có 823 người đã bị ETA giết. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tổ chức này dường như có xu hướng "Al-Qaeda hóa" khi tổ chức này đang tỏ rõ thái độ trở nên cực đoan và bạo lực. Các chuyên gia Hoa Kỳ đã cảnh báo "tuy ETA chưa có liên hệ với Al-Qaeda hay phong trào Hồi giáo cực đoan nào khác, nhưng xu hướng Al-Qaeda hóa sẽ khiến Basque sớm muộn trở thành một trong số những nơi bạo lực nhất châu Âu". Đồng thời, họ liên hệ tình hình ở Chechnya, một vùng đất ly khai ở miền nam nước Nga để cảnh báo về sự cực đoan hóa này. Vào ngày 24 tháng 11 năm 2012, có thông báo rằng nhóm đã sẵn sàng đàm phán "kết thúc dứt khoát" cho hoạt động của mình và giải thể hoàn toàn. Nhóm đã tuyên bố vào ngày 7 tháng 4 năm 2017 rằng họ đã bỏ tất cả vũ khí và chất nổ và sẽ chính thức trở thành một tổ chức giải giáp vào ngày hôm sau. Tổ chức này được thành lập vào năm 1959 khi nhà độc tài Francisco Franco tiến hành các hành động chống lại người Basque với lý do những người dân ở đây đã ủng hộ những người Cộng hòa trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Khi đó, ngôn ngữ và văn hóa của xứ Basque bị cấm sử dụng. Năm 1975, Francissco Franco chết, xứ Basque được trao quyền tự trị. Người dân ở đây có quyền thành lập Quốc hội, cảnh sát riêng, đánh thuế và kiểm soát giáo dục. Tuy nhiên, những điều này chưa đáp ứng đủ các yêu cầu của ETA và họ tiếp tục tiến hành các hoạt động có vũ trang chống lại chính quyền Tây Ban Nha và cả những người xứ Basque ủng hộ một quốc gia Tây Ban Nha thống nhất. Từ đó đến nay, ETA bị quy trách nhiệm của khoảng 800 người bị chết.. Do đó, tổ chức này bị nhiều quốc gia coi là một tổ chức khủng bố. Chính phủ Tây Ban Nha nhiều lần yêu cầu ETA ngừng bắn để tiến hành đối thoại chính trị nhưng thường bị từ chối. ETA đã một lần tuyên bố ngừng bắn vào năm 1998 nhưng rồi lại phá vỡ bằng các cuộc đánh bom. Ngày 24 tháng 3 năm 2006, ETA chính thức tuyên bố ngừng bắn vĩnh viễn. Sự kiện này đã mở ra một cách giải quyết mới cho cuộc xung đột ở Basque. Tuy nhiên ngày 2 tháng 9 năm 2007, Bộ Nội vụ Tây Ban Nha cho biết tổ chức ETA đã cho nổ một quả bom nhỏ trên tuyến đường cao tốc ở miền Bắc nước này nhưng không gây thương vong. Giới hữu trách đổ tội cho ETA là đã gây ra một vụ nổ khiến hai cảnh sát viên thiệt mạng gần một bót cảnh sát trên đảo Mallorca ngày 30 tháng 7 năm 2009 và một vụ nổ xe bom khiến hơn 60 người bị thương tại thành phố Burgos ở phía Bắc ngày 29 tháng 7 năm 2009. Theo đại diện Bộ Nội vụ tại Mallorca, Ramon Socias, cảnh sát điều tra giả thuyết là thành phần khủng bố vẫn còn ở trên đảo và trốn trong một căn nhà nào đó để chờ cho tình hình yên tĩnh rồi mới trốn đi. Bộ Nội vụ công bố hình ảnh của sáu nghi can và kêu gọi dân chúng giúp đỡ trong cuộc điều tra. Đài phát thanh quốc gia Tây Ban Nha nói cảnh sát đang truy lùng hai thiếu niên Basque nhìn thấy ở Palma de Mallorca vào cuối tháng 7 năm 2009 khi cảnh sát tăng cường hoạt động trước khi gia đình hoàng gia đến nghỉ Hè thường niên tại cung điện Marivent, cách nơi nổ bom chừng 10 cây số. Đài phát thanh nói hai thiếu niên người Basque này đã thuê một căn phòng ở Palma nhưng không ai nhìn thấy họ kể từ khi cuộc tấn công xảy ra. Người lãnh đạo của ETA hiện nay là bà Sorzabal Diaz. Một số mốc lịch sử quan trọng của ETA. Sinh viên đấu tranh chống chế độ độc tài Franco. 1937: Tướng Franco chiếm đóng xứ Basque và bắt đầu dìm các cuộc đấu tranh đòi độc lập của người dân trong biển máu. 1959: Tổ chức ETA ra đời với mục đích thành lập một nhà nước độc lập ở xứ Basque. 1961: Chiến dịch bạo động của ETA mở màn với âm mưu đánh trật đường ray đoàn tàu chở các chính trị gia Tây Ban Nha. 1968: ETA giết hại nạn nhân đầu tiên, đó là Meliton Manzanas, một trùm cảnh sát mật ở thành phố San Sebastian. 12/1973: ETA ám sát Thủ tướng Luis Carrero Blanco ở Madrid để trả đũa việc chính phủ hành quyết một số chiến binh của họ. 1978: Lực lượng chính trị của ETA là Herri Batasuna được thành lập. 1995: ETA ám sát hụt lãnh đạo của đảng đối lập cánh hữu (say này là Thủ tướng Tây Ban Nha) José María Aznar López, bằng một chiếc xe chở bom. 3/1996: Đảng cánh hữu của ông Aznar giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử. Sự thay đổi của chính phủ mới báo hiệu sẽ dẫn đến một cuộc tấn công nhằm vào ETA. ETA tuyên bố đảng này là một di sản của chế độ độc tài Franco. 7/1997: ETA bắt cóc và giết hại chính trị gia Angel Blanco, nguyên nhân các cuộc biểu tình phản đối ETA của 6 triệu người Tây Ban Nha. 12/1997: 23 thủ lĩnh của đảng Herri Batasuna bị kết án tù 7 năm vì tội hợp tác với ETA. Đây là lần đầu tiên các thành viên của đảng bị bắt giam vì hợp tác với tổ chức ly khai này. 3/1998: Các đảng phái chính trị trụ cột của Tây Ban Nha cam kết sẽ thương lượng để chấm dứt tình trạng bạo lực ở xứ Basque. Madrid tuyên bố không tham gia. 18/9/1998: Lần đầu tiên ETA tuyên bố ngừng bắn sau hơn 30 năm tiến hành bạo động. Đây là một sự kiện quan trọng mặc dù tuyên bố của ETA còn khá mập mờ. 5/1999: Tiến hành cuộc gặp gỡ lần đầu tiên giữa chính phủ Tây Ban Nha với ETA tại thành phố Zurich, Thụy Sĩ. 8/1999: Thủ tướng Jose Maria Aznar buộc tội ETA đang "đe doạ hoà bình" và kêu gọi tổ chức này thừa nhận các hành động của mình. 11/1999: Tổ chức ly khai ETA tuyên bố chấm dứt thời kỳ ngừng bắn kéo dài 14 tháng và đổ lỗi nguyên nhân là do việc thiếu tiến triển trong cuộc thương thuyết với chính phủ. 1/2000: Những vụ đánh bom bằng ôtô của ETA bắt đầu bùng phát ở Madrid và xứ Basque. 26/8/2002: Đảng Batasuna bị cấm hoạt động do có liên quan đến ETA. 10/2011: Tuyên bố ngừng bạo lực. Kỷ niệm 50 năm. Tại đảo Balearic, thành phần lãnh đạo của các đảng phái chính trị lớn ở Tây Ban Nha ngày 31 tháng 7 năm 2009 đã tham dự lễ tưởng niệm hai nhân viên cảnh sát vừa bị sát hại trong lúc lực lượng an ninh canh phòng cẩn mật chống lại các đe dọa khủng bố nhân ngày kỷ niệm 50 năm ngày thành lập ETA. Tại thủ đô Madrid cũng như ở các thành phố lớn khác trên toàn quốc, cảnh sát được đặt trong tình trạng báo động cao nhất, gia tăng tuần tiễu ở trụ sở các đảng phái chính trị, các cơ quan công quyền cùng những nơi có đông đảo người lui tới. Tính đến năm 2009, ETA đã giết hơn 825 người kể từ khi khởi sự cuộc đấu tranh bạo động đòi thành lập quốc gia độc lập của người Basque năm 1968.
Nhà Ngô (chữ Nôm: 茹吳, chữ Hán: 吳朝, Hán Việt: "Ngô triều") là một triều đại quân chủ trong lịch sử Việt Nam, truyền được hai đời nhưng có tới ba vị vua, kéo dài từ năm 939 đến năm 965. Khoảng thời gian xen giữa từ 944 đến 950 còn có Dương Bình Vương tức Dương Tam Kha. Khác với các triều đại quân chủ Việt Nam sau này, các vua nhà Ngô vẫn xưng tước vương mà chưa xưng đế hiệu trên phạm vi toàn lãnh thổ do họ cai trị. Sau khi tiêu diệt nhà Tùy, nhà Đường tiếp tục sửa sang chế độ hành chính và sự phân chia châu quận, tiếp tục cai trị An Nam. Cho đến giữa thế kỷ IX, nhà Đường có biến loạn, ngày càng suy yếu. Lợi dụng thời cơ đó, Khúc Thừa Dụ là một hào trưởng người Việt ở Hồng Châu đã tập hợp nhân dân nổi dậy vào năm 905. Khúc Thừa Dụ đánh đuổi quan lại và binh lính nhà Đường, chiếm giữ phủ thành, xưng Tiết độ sứ. Đầu năm 906, nhà Đường buộc phải công nhận Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ An Nam. Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ được hai năm thì mất, con trai là Khúc Hạo lên thay. Khúc Hạo quyết định xây dựng đất nước tự chủ theo đường lối "Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui". Khúc Hạo đã làm được nhiều việc lớn: đặt lại các khu vực hành chính, cử người trông coi mọi việc đến tận xã; xem xét và định lại mức thuế, bãi bỏ các thứ lao dịch của thời Bắc thuộc; lập lại sổ hộ khẩu;... Tất cả những việc làm của Khúc Hạo đều nhằm mục đích mang lại cuộc sống ấm no, yên bình, hạnh phúc cho nhân dân. Trong lúc họ Khúc đang tìm cách xây dựng chính quyền tự chủ ở An Nam như thế, ở miền nam Trung Quốc, Tiết độ sứ Quảng Châu là Lưu Nham đã được sự ủng hộ của quan lại nhà Đường cũ ở đây, tự xưng Hoàng đế, thành lập nước Nam Hán. Năm 917, Khúc Hạo mất, Khúc Thừa Mỹ lên thay. Khúc Thừa Mỹ sai sứ sang thần phục nhà Hậu Lương, hành động này làm Nam Hán nổi giận. Mùa thu năm 930, vua Nam Hán là Lưu Cung sai Lý Khắc Chính đem quân sang đánh nước ta. Khúc Thừa Mỹ chống cự không nổi, bị quân địch bắt, Nam Hán chiếm giữ An Nam. Năm 931, một tướng cũ của Khúc Hạo là Dương Đình Nghệ hay tin, đã đem quân từ Ái Châu ra Bắc đánh bại quân Nam Hán, xưng là Tiết độ sứ, tiếp tục xây dựng nền tự chủ. Bảy năm sau tức năm 937, Dương Đình Nghệ bị nha tướng của mình là Kiều Công Tiễn giết chết để đoạt chức, cướp quyền rồi đi thần phục nhà Nam Hán. Được tin Kiều Công Tiễn phản nghịch và thấy việc quy phục nước Nam Hán là nguy hại cho cuộc tự chủ mà họ Khúc và họ Dương đã xây dựng nền móng, Ngô Quyền là nha tướng và con rể của Dương Đình Nghệ, lúc ấy đang cai quản Ái Châu, phát binh tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Triều vua Ngô Quyền. Năm 938, Ngô Quyền tập hợp lực lượng từ Ái Châu ra đánh Kiều Công Tiễn. Công Tiễn biết mình không đủ sức chống lại Ngô Quyền nên đã sai sứ sang cầu cứu Nam Hán, hi vọng nhà Nam Hán sẽ bảo vệ tính mạng cho hắn lẫn bảo vệ quyền lực mà hắn ta mới cướp được. Hay tin cầu cứu của Công Tiễn, vua Nam Hán là Lưu Nghiễm phong cho con là Vạn vương Lưu Hoằng Tháo (hoặc Hồng Tháo) làm Giao vương, rồi sai Hoằng Tháo đem quân sang, lấy cớ là cứu Công Tiễn nhưng thực chất là xâm lược nước ta. Bản thân vua Lưu Nghiễm đóng quân ở Hát Môn, sẵn sàng tiếp ứng cho Hoằng Tháo. Ngô Quyền hạ thành Đại La, giết Công Tiễn. Ngô Quyền dự đoán là quân Nam Hán sẽ vào nước ta theo đường sông Bạch Đằng nên ông đã bày trận trên sông Bạch Đằng để đón đánh giặc. Tháng 11 năm 938, đoàn thuyền chiến Nam Hán do Hoằng Tháo chỉ huy hùng hổ kéo vào nước ta thì bị Ngô Quyền đánh tan trong trận Bạch Đằng. Hoằng Tháo bị giết chết, Lưu Nghiễm hốt hoảng vội thu thập tàn binh quay về. Trận Bạch Đằng của Ngô Quyền kết thúc hoàn toàn thắng lợi. Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, mưu đồ xâm lược của Nam Hán bị đè bẹp. Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi, tức là Tiền Ngô Vương, đóng đô ở Cổ Loa, lập Dương Như Ngọc làm Vương hậu; đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục. Ngô Quyền quyết định bỏ chức Tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc, thiết lập một triều đình mới ở trung ương. Vua đứng đầu triều đình, quyết định mọi công việc chính trị, ngoại giao, quân sự; đặt ra các chức quan văn, quan võ, quy định lễ nghi trong triều và màu sắc trang phục của quan lại các cấp. Ở địa phương, Ngô Quyền cử các tướng có công coi giữ các châu quan trọng. Đinh Công Trứ làm Thứ sử Hoan Châu, Kiều Công Hãn làm Thứ sử Phong Châ Có thể thấy tổ chức bộ máy nhà nước lúc bấy giờ còn sơ khai, đơn giản nhưng được thống nhất từ trung ương đến địa phương. Việc xây dựng chính quyền mới của Ngô Quyền đã thể hiện được ý thức tự chủ giúp đất nước yên bình, nhân dân an vui, đặt nền móng cho một quốc gia độc lập, thống nhất. Tranh chấp trong cung đình. Năm 944, Tiền Ngô Vương mất, sai Dương Tam Kha giúp lập thái tử. Dương Tam Kha là anh (có sách nói là em) Dương Thái hậu cướp ngôi, tự xưng Dương Bình Vương. Con trưởng Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập chạy trốn về Nam Sách (Hải Dương). Dương Tam Kha lấy Ngô Xương Văn, con thứ của Ngô Quyền, làm con nuôi. Dương Tam Kha 3 lần sai quân đi bắt Ngô Xương Ngập mà không bắt được vì hào trưởng Nam Sách là Phạm Lệnh Công che chở cho Xương Ngập. Năm 950, Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn đi đánh Thái Bình. Ngô Xương Văn thuyết phục được 2 tướng Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi dẫn quân quay lại lật đổ Dương Tam Kha giành lại ngôi vua. Xương Văn không giết Dương Tam Kha mà giáng xuống làm Chương Dương công. Năm 950, Ngô Xương Văn tự xưng làm Nam Tấn Vương, đóng đô ở Cổ Loa. Ngô Xương Văn cho người đón anh trai Ngô Xương Ngập đang trốn ở Nam Sách trở về, cùng nhau trông coi việc nước. Ngô Xương Ngập cũng làm vua, tự xưng là Thiên Sách Vương (951 – 954). Lúc đó cùng tồn tại hai vua là Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương. Lên ngôi vương, Ngô Xương Ngập lấn át quyền hành của Ngô Xương Văn khiến Xương Văn bất bình rút lui việc chính sự. Nhưng chỉ được 3 năm, đến năm 954, Ngô Xương Ngập bị bệnh chết, chỉ còn một mình Nam Tấn vương Ngô Xương Văn làm vua. Lúc nhà Ngô suy yếu, một số thủ lĩnh địa phương nổi dậy cát cứ không thần phục triều đình. Năm 951, Đinh Bộ Lĩnh ở động Hoa Lư – con Thứ sử châu Hoan đã mất là Đinh Công Trứ – dựa vào vùng núi khe hiểm yếu, không chịu tuân lệnh triều đình. Hai vua Ngô muốn cất quân đi đánh; Bộ Lĩnh sợ, sai con là Đinh Liễn vào triều làm con tin để ngăn chặn việc xuất quân. Hai vua Ngô vương trách Bộ Lĩnh không tự mình đến chầu, rồi bắt giữ Đinh Liễn đem theo quân đi đánh Hoa Lư. Quân Ngô tấn công hơn một tháng, không đánh nổi. Hai vua Ngô bèn treo Đinh Liễn lên ngọn sào, sai người bảo Bộ Lĩnh, nếu không chịu hàng thì giết Liễn. Nhưng Bộ Lĩnh vẫn không thần phục, lại sai hơn 10 tay nỏ nhắm con mình mà bắn. Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn kinh sợ nói rằng: "Ta treo con nó lên là muốn để nó đoái tiếc con mà ra hàng cho chóng. Nó tàn nhẫn như thế, còn treo con nó làm gì." Vì vậy hai anh em vua Ngô không giết Đinh Liễn mà đem quân về. Sau khi Thiên Sách vương mất, thủ lĩnh ở quận Thao Giang là Chu Thái quật cường không thần phục nhà Ngô. Nam Tấn vương thân chinh đi đánh, chém được Chu Thái. Từ trận thắng ấy, Nam Tấn vương sinh kiêu. Năm 965, ông đi đánh thôn Đường và thôn Nguyễn ở Thái Bình, bị phục binh bắn nỏ chết. Ngô Xương Văn chết, con của Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí nối nghiệp, nhưng thế lực ngày càng yếu kém. Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, trong triều đình Cổ Loa, các đại thần họ Kiều, họ Dương làm loạn (có sách lại nói các đại thần làm loạn là Lã Xử Bình và Kiều Tri Hựu). Xương Xí phải lui về giữ đất Bình Kiều (có sách nói Bình Kiều ở Hưng Yên, lại có thuyết cho rằng ở Thanh Hóa). Từ năm 966, hình thành 12 sứ quân cát cứ, sử sách gọi là loạn 12 sứ quân, trong đó có người trong hoàng tộc nhà Ngô (Ngô Xương Xí, Ngô Nhật Khánh), các tướng nhà Ngô (Phạm Bạch Hổ, Đỗ Cảnh Thạc, Kiều Công Hãn) và số lớn là các thủ lĩnh địa phương tự nổi dậy (Kiều Thuận, Trần Lãm, Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu, Lý Khuê, Lã Đường). Thời kỳ này kéo dài đến năm 968 thì bị Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong và lập ra nhà Đinh. Thời Ngô, lãnh thổ chỉ còn 8 châu (so với 12 châu thời Tự chủ) là: Bốn châu: Thang, Chi, Vũ Nga và Vũ An thuộc về Nam Hán. Việc thu hẹp lãnh thổ phía bắc này không được sử sách ghi chép rõ. Theo ý kiến của Đào Duy Anh trong "Đất nước Việt Nam qua các đời" thì 4 châu này bị Nam Hán chiếm, nhưng không rõ vào thời điểm nào: khi Kiều Công Tiễn cầu viện đã để quân Hán tiến vào (937) và Ngô Quyền chưa kịp tập hợp lực lượng tiến ra Đại La (938) hay sau thời điểm trận Đại La, trước trận Bạch Đằ(cuối năm 938). Theo Nguyễn Khắc Thuần trong "Thế thứ các triều vua Việt Nam", không rõ căn cứ theo tài liệu nào, cho rằng Ngô Quyền bàn giao 4 châu này cho Nam Hán "để tiện việc phòng thủ", thì việc này có thể xảy ra sau trận Bạch Đằng hoặc Nam Hán đã chiếm được trước đó mà Ngô Quyền chỉ làm việc công nhận vùng bị mất này thuộc về Nam Hán. Ngô Quyền tự xưng là Ngô vương, sử sách không xác nhận việc ông quan hệ ngoại giao với các vương triều nào trong số các nước ở phương Bắc thời kỳ Ngũ đại Thập quốc. Năm 954, Ngô Xương Văn sai sứ sang giao hảo với Nam Hán và xin tiếp viện. Vua Nam Hán là Lưu Thịnh nhận giao hảo của Xương Văn. Sau đó Lưu Thịnh âm mưu cho Lý Dư làm sứ cầm cờ "tinh" sang chiêu dụ nhận Tĩnh Hải quân là phiên thần và phong chức Tiết độ sứ cho hắn để cai quản Đô hộ cho Ngô Xương Văn. Được tin Lý Dư sắp vào, Ngô Xương Văn cho ngay người đi sang biên giới ngăn lại. Hai bên gặp nhau ở Bạch châu. Sứ của Xương Văn nói với Lý Dư rằng: "Giặc biển đương làm loạn, đường sá đi lại rất khó." Lý Dư bèn quay về nước. Đó là lần ngoại giao duy nhất giữa nhà Ngô và Nam Hán trong 21 năm tồn tại.
Dân ca Quan họ là một trong những làn điệu dân ca tiêu biểu của vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam. Nó được hình thành và phát triển ở vùng văn hóa Kinh Bắc xưa, đặc biệt là khu vực ranh giới hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay với dòng sông Cầu chảy qua được gọi là "dòng sông quan họ". Ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ tư của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009), Dân ca quan họ Bắc Ninh đã được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại sau nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên và cùng đợt với ca trù. Ý nghĩa của từ "Quan họ" thường được tách thành hai từ rồi lý giải nghĩa đen về mặt từ nguyên của "quan" và của "họ". Điều này dẫn đến những kiến giải về "Quan họ" xuất phát từ "âm nhạc cung đình", hay gắn với sự tích một ông quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã ngây ngất bởi tiếng hát của liền anh liền chị ở đó và đã dừng bước để thưởng thức ("họ"). Tuy nhiên cách lý giải này đã bỏ qua những thành tố của không gian sinh hoạt văn hóa quan họ như hình thức sinh hoạt (nghi thức các phường kết họ khiến anh hai, chị hai suốt đời chỉ là bạn, không thể kết thành duyên vợ chồng), diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ đối nhau về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian. Một số quan điểm lại cho rằng Quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ tôn giáo dân mang yếu tố phồn thực chứ không phải Quan họ có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình, hoặc có quan điểm nhận định diễn tiến của hình thức sinh hoạt văn hóa "chơi Quan họ" bắt nguồn từ nghi lễ tôn giáo dân gian qua cung đình rồi trở lại với dân gian. Nhận định khác dựa trên phân tích ngữ nghĩa từ ngữ trong các làn điệu và không gian diễn xướng lại cho rằng Quan họ là "quan hệ" của một nhóm những người yêu quan họ ở vùng Kinh Bắc. Tuy vậy đa số các học giả chưa chấp nhận quan điểm nào. Quan họ ngày nay không chỉ là lối hát giao duyên (hát đối) giữa "liền anh" (bên nam, người nam giới hát quan họ) và "liền chị" (bên nữ, người phụ nữ hát quan họ) mà còn là hình thức trao đổi tình cảm giữa liền anh, liền chị với khán giả. Một trong những hình thức biểu diễn hát quan họ mới là kiểu hát đối đáp giữa liền anh và liền chị. Kịch bản có thể diễn ra theo nội dung các câu hát đã được chuẩn bị từ trước hoặc tùy theo khả năng ứng biến của hai bên hát. Quan họ truyền thống. Quan họ truyền thống chỉ tồn tại ở 44 làng Quan họ gốc ở xứ Kinh Bắc Quan họ truyền thống là hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Kinh Bắc, với những quy định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi liền anh, liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ. Điều này giải thích lý do người dân Kinh Bắc thích thú "chơi Quan họ", không phải là "hát Quan họ" Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê. Trong quan họ truyền thống, đôi liền anh đối đáp với đôi liền chị được gọi là hát hội, hát canh; hát cả bọn, cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị được gọi là hát chúc, mừng, hát thờ. "Chơi quan họ" truyền thống không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người thưởng thức (thưởng thức "cái tình" của bạn hát). Nhiều bài quan họ truyền thống vẫn được các liền anh, liền chị "chơi quan họ" ưa thích đến tận ngày nay như: "Vốn liếng em có 30 đồng", "Mời nước mời trầu", "Ngồi tựa song đào", "Cây trúc xinh", "Người ở đừng về", "Xe chỉ luồn kim"... Quan họ mới còn được gọi là "hát Quan họ lời mới", là hình thức biểu diễn (hát) quan họ chủ yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch, nhà hà, quan họ mới được trình diễn vào bất kỳ ngày nào trong năm. Các băng đĩa VCD, DVD về quan họ ngày nay đều là hình thức quan họ biểu diễn trên sân khấu, tức những bài quan họ lời cổ được cải biên lời. Quan họ mới luôn có khán thính giả, người hát trao đổi tình cảm với khán thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau. Quan họ mới không còn nằm ở không gian làng xã mà đã vươn ra ở nhiều nơi, đến với nhiều thính giả ở các quốc gia trên thế giới. Quan họ mới có hình thức biểu diễn phong phú hơn quan họ truyền thống, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họ: không có ý thức và có ý thức Dù ít hay nhiều nhưng hình thức hát quan họ có nhạc đệm được coi là cách cải biên không có ý thức. Đa số các bài quan họ mới thuộc dạng cải biên này. Cải biên có ý thức là những bài bản đã cải biên cả nhạc và lời của bài bản quan họ truyền thống. Loại cải biên này không nhiều, ví dụ bài "Người ở đừng về" là cải biên từ làn điệu "Chuông vàng gác cửa tam quan" (Xuân Tứ cải biên). Hát quan họ với lời mới được nhiều người yêu thích tới mức tưởng nhầm là quan họ truyền thống như bài "Sông Cầu nước chảy lơ thơ" do Mai Khanh soạn lời mới từ làn điệu truyền thống "Nhất quế nhị lan". Quan họ mới được ưa thích hơn quan họ truyền thống không phải do không gian và những sinh hoạt theo lề lối cổ của quan họ không còn nữa mà một phần do hoạt động "hát quan họ" ngày nay thường được gắn với chính quyền nhiệm vụ tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá quan họ trên diện rộng. Các làng Quan họ. Năm 2016, có 44 làng quan họ được đưa vào danh sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa. Tỉnh Bắc Giang có 05 làng quan họ, tỉnh Bắc Ninh có 44 làng quan họ. Điều đặc biệt là phần lớn các làng quan họ thờ thánh Tam Giang, vị thánh gắn với dòng sông Cầu. Các làng quan họ Kinh Bắc tồn tại ở các huyện, thị xã, thành phố: Yên Phong, Từ Sơn, Tiên Du, thành phố Bắc Ninh ("còn gọi là quan họ bờ nam sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Ninh"), thị xã Việt Yên và các huyện Yên Dũng, Hiệp Hòa ("còn gọi là quan họ bờ bắc sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Giang"). Danh sách 44 làng Quan họ tồn tại và phân bố như sau: Do chậm trễ nên trong phạm vi UNESCO công nhận ban đầu chỉ gồm có 49 làng Quan họ sau: Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ, Hữu Chấp, Viêm Xá, Đẩu Hàn, Xuân Ái, Xuân Đồng, Xuân Viên, Thụ Ninh, Đặng Xá, Khúc Toại, Trà Xuyên, Ông Mơi, Đông Yên, Châm Khê, Đào Xá, Dương Ổ, Cổ Mễ, Phúc Sơn, Y Na, Thị Cầu, Thanh Sơn, Niềm Xá, Yên Mẫn, Yên Thị Trung, Vệ An, Ỗ Xá, Xuân Ổ, Hòa Đình, Khả Lễ, Bồ Sơn, Duệ Đông, Lũng Giang, Lũng Sơn, Ngang Nội, Đình Cả, Lộ Bao, Hoài Trung, Vân Khám, Bái Uyên, Ném Đoài, Đình Cả, Ném Tiền, Tiêu, Tam Sơn, Tam Tảo. Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng. Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký âm. Các bài quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá. Kho băng ghi âm hàng nghìn bài quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh. Một số làn điệu quan họ cổ: La rằng, Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, Gió mát trăng thanh, Tứ quý. Trang phục quan họ bao gồm trang phục của các liền anh và trang phục của các liền chị. Trong các lễ hội quan họ có cả những cuộc thi trang phục quan họ. Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối. Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài. Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối với người khá giả hơn thì áo ngoài may bằng đoạn màu đen, cũng có người áo dài phủ ngoài may hai lần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng , ống rộng, may kiểu có chân què dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần cũng bằng diềm bâu, phin, trúc bâu, hoặc lụa truội màu mỡ gà. Có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần. Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Thời trước, đàn ông còn nhiều người búi tó nên phải vấn tóc bằng khăn nhiễu. Sau này phần nhiều cắt tóc, rẽ đường ngôi nên chuyển sang dùng loại khăn xếp bán sẵn ở các cửa hàng cho tiện. Cùng với quần, áo, khăn xếp, dép,… các liền anh thường có thêm nón chóp với các dạng chóp lá thường hoặc chóp dứa, có quai lụa màu mỡ gà. Ngoài ra cũng thường thấy các liền anh dùng ô đen. Các phụ kiện khác là khăn tay, lược, những "xa xỉ phẩm" theo quan niệm thời xưa. Khăn tay bằng lụa hoặc bằng vải trắng rộng, gấp nếp và gài trong vành khăn, thắt lưng hoặc trong túi trong. Trang phục liền chị thường được gọi là "áo mớ ba mớ bảy", nghĩa là liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy). Tuy nhiên trong thực tế, các liền chị thường mặc áo mớ ba. Về cơ bản trang phục bao gồm các thành phần: trong cùng là một chiếc yếm có màu rực rỡ thường làm bằng lụa truội nhuộm. Yếm thường có hai loại là yếm cổ xẻ (dùng cho trung niên) và yếm cổ viền (dùng cho thanh nữ). Bên ngoài yếm là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà. Ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân, cách phối màu cũng tương tự như ở bộ trang phục nam nhưng màu sắc tươi hơn. Áo dài năm thân của nữ, có cài khuy, khác với kiểu tứ thân thắt hai vạt trước. Chất liệu để may áo đẹp nhất thời trước là the, lụa. Áo dài ngoài thường mang màu nền nã như màu nâu già, nâu non, màu đen, màu cánh gián trong khi áo dài trong thường nhuộm màu khác nhau: màu cánh sen, màu hoa hiên, màu thiên thanh, màu hồ thủy, màu vàng chanh, màu vàng cốm , lụa mỡ gà. Yếm thường nhuộm màu đỏ (xưa gọi là yếm thắm), vàng thư (hoa hiên), xanh da trời (thiên thanh), hồng nhạt (cánh sen), hồ thủy (xanh biển)... Giải yếm to buông ngoài lưng áo và giải yếm thắt vòng quanh eo rồi thắt múi phía trước cùng với bao và thắt lưng. Bao của các cô gái quan họ xưa thường sử dụng chất liệu sồi se, màu đen, có tua bện ở hai đầu bao, khổ rộng, có thể đựng túi tiền mỏng ở trong bao rồi thắt gọn ngang eo, luồn qua lưng áo dài, bó chặt lấy ba thân áo trước, thắt múi to để che phía trước bụng. Thắt lưng thường là loại bao nhỏ bằng chừng 1/3 bao, dùng để thắt chặt cạp váy vào eo. Cũng tương tự yếm, thắt lưng làm bằng lụa nhuộm các màu tươi sáng như màu hoa lựu, màu hoa đào, màu hoa hiên tươi, màu hồ thủy. Thắt lưng cũng buộc múi ra phía trước để cùng với múi bao, múi giải yếm tạo nên những múi hoa màu sắc phía trước người con gái. Liền chị mặc váy váy sồi, váy lụa, đôi khi có người mặc váy kép với váy trong bằng lụa, vải màu, lương, the, đoạn; váy ngoài bằng the, lụa. Váy màu đen. Người biết mặc váy khéo là không để váy hớt trước, không để váy quây tròn lấy người như mặc quần mà phải thu xếp sao cho phía trước rủ hình lưỡi chai xuống gần tới mu bàn chân, phía sau hơi hớt lên chớm tầm đôi con khoai phía gót chân. Liền chị mang dép cong làm bằng da trâu thuộc theo phương pháp thủ công; có một vòng tròn bằng da trên mặt dép để xỏ ngón chân thứ hai khiến khi đi lại, không rơi được dép. Mũi dép uốn cong và người thợ làm dép phải biết nện, thuộc cho mũi dép cứng, như một lá chắn nhỏ, che giấu đầu các ngón chân. Ngoài áo, quần, thắt lưng, dép, người liền chị còn chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao, và thắt lưng đeo dây xà tích. Văn hoá quan họ. Văn hoá quan họ còn là cách ứng xử thật khéo léo, tế nhị, kín đáo và mang đầy ý nghĩa như các làn điệu mời nước, mời trầu thật chân tình, nồng thắm mỗi khi có khách đến chơi nhà ""đôi tay nâng chén rượu đào, đổ đi thì tiếc, uống vào thì say". Quan họ uống chén rượu mừng xuân, mừng hội, vui bầu, vui bạn… rồi ca xướng cho tan canh mãn võ, cho tàn đêm rạng ngày, rồi các làn điệu chia tay giã bạn đầy quyến luyến trong câu hát "Người ơi người ở đừng về"tàn canh, giã hội rồi mà quan họ vẫn còn ngậm ngùi tiếc nhớ "Người về tôi vẫn ngậm ngùi, để thương, để nhớ cho tôi thế nà, áo trong người mặc, áo ngoài người để làm tin"… Và để rồi kết thúc bằng những lời hứa hẹn tha thiết "Đến hẹn lại lên"… trong mùa hội tới."" Quan họ là "ứng xử" của người dân Kinh Bắc, "mỗi khi khách đến chơi nhà", không chỉ "rót nước pha trà" mời khách, mà cùng với đó là những câu hát thắm đượm nghĩa tình: "Mỗi khi khách đến chơi nhà/ đốt than quạt nước pha trà mời người xơi/ trà này quý lắm người ơi/ Mỗi người một chén cho tôi vui lòng"... Bảo tồn Quan họ. Quan họ là một loại hình dân ca phong phú về giai điệu. Quan họ được lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác qua phương thức truyền khẩu. Phương thức này là một yếu tố giúp cho Quan họ trở thành một loại hình dân ca có số lượng lớn bài hát với giai điệu khác nhau. Tuy nhiên, cũng chính phương thức này đã làm cho các bài Quan họ lưu truyền trong dân gian bị biến đổi nhiều, thậm chí khác hẳn sẽ với ban đầu. Nhiều giai điệu cổ đã mất hẳn. Mặc dù sự thay đổi này cũng làm cho Quan họ phát triển, nhưng ở trong bối cảnh văn hóa Phương Tây đang xâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, vấn đề bảo tồn nguyên trạng Quan họ trong từng giai đoạn phát triển là việc làm cấp thiết. Từ những năm 70 của Thế kỷ XX, Sở Văn hóa Hà Bắc đã tiến hành sưu tầm Quan họ. Hàng nghìn bài Quan họ, bao gồm cả các dị bản đã được ghi âm tại các làng quan họ, với giọng hát của hàng trăm nghệ nhân. Sau khi sàng lọc và lựa chọn, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu Phạm Hồng Thao đã ký âm thành bản nhạc, có bổ sung thêm một số ký tự riêng đặc trưng cho giai điệu Quan họ. Khoảng 300 bài Quan họ hay nhất đã được Nhà xuất bản Âm nhạc in thành sách. Tuy nhiên, hàng nghìn bài Quan họ đã được ghi âm, do các cụ nghệ nhân (đã mất) hát, phải được bảo quản cực kỳ cẩn thận. Sở Văn hóa thể thao du lịch Bắc Ninh và Bắc Giang chịu trách nhiệm lưu giữ các cuốn băng này cần phải số hóa toàn bộ để có thể lưu giữ một cách dài lâu cho thế hệ mai sau, đó cũng là tài liệu văn hóa cần bảo tồn giúp các làn điệu quan họ sống mãi. Những năm qua, Bắc Ninh là một trong những địa phương có sự hội nhập và tốc độ phát triển kinh tế, xã hội xếp hàng đầu trong cả nước. Là tỉnh có diện tích nhỏ, dân số khoảng 1,15 triệu người, trước đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đến nay, Bắc Ninh được coi là một “thỏi nam châm” của vùng Bắc Bộ, đang đứng thứ hai cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Điều đó đã làm cho Bắc Ninh trở thành địa phương phát triển mạnh mẽ, năm 2021 chỉ số GRDP tăng 6,9% đứng thứ 13, tốc độ tăng trưởng đứng thứ 8 cả nước về quy mô, thu nhập bình quân đầu người/ tháng đứng thứ 5 cả nước. Quá trình hội nhập và phát triển diễn ra mạnh mẽ ở Bắc Ninh, có những tác động đến nhiều mặt của văn hóa, trong đó có các DSVH. Trước hết, có thể nhận thấy rằng, quá trình phát triển, nhất là về mặt kinh tế, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVH. Trước và sau khi dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận, chính quyền địa phương đã đầu tư lượng kinh phí lớn để nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa nhằm bảo tồn, lưu giữ các làn điệu quan họ; tiến hành triển khai nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa các làn điệu quan họ cổ tại các làng, xã, các nghệ nhân quan họ, cũng như di vật, tư liệu có liên quan. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển, việc sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật đã giúp cho việc sưu tầm, tư liệu hóa và lưu giữ rất thuận lợi. Tư liệu sau khi sưu tầm được lưu giữ tại các trung tâm có trang thiết bị bảo quản hiện đại, đảm bảo có thể gìn giữ trong thời gian dài. Đối với các DSVH phi vật thể, việc truyền dạy giữa các thế hệ là điều quan trọng để có thể bảo tồn, duy trì được di sản. Thời gian qua, các lớp truyền dạy dân ca quan họ đã được đầu tư, tổ chức ở nhiều địa phương dành cho các lứa tuổi khác nhau, nhất là đối với lứa tuổi thanh thiếu niên. Đến nay đã có 369 làng quan họ thực hành, 381 câu lạc bộ quan họ với hơn 10.000 người ở các độ tuổi tham gia, hàng nghìn người có khả năng truyền dạy. Nhiều nơi đã xây dựng mô hình câu lạc bộ quan họ măng non. Đây là cách làm sáng tạo, là một mô hình hiệu quả trong thực hiện chương trình hành động bảo tồn, phát huy giá trị của DSVH dân ca quan họ trong xã hội đương đại. Việc truyền dạy quan họ cũng đã được nghiên cứu, biên soạn thành các tài liệu và đưa vào giảng dạy tại các trường phổ thông. Năm 2018, đề án Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể dân ca quan họ Bắc Ninh được tiếp tục triển khai ở giai đoạn 2 đến năm 2022. Theo đó, tỉnh đã đầu tư số lượng kinh phí lớn để thực hiện các chương trình truyền dạy dân ca quan họ, đầu tư xây dựng và tu bổ các thiết chế văn hóa liên quan đến dân ca quan họ. Ngoài những địa điểm sẵn có của làng như đình, đền, chù“bọn quan họ” đó là “nhà chứa quan họ”. Thời gian qua, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành trùng tu hoặc cho xây dựng mới các “nhà chứa quan họ” theo kiến trúc truyền thống ở nhiều làng quan họ gốc như Viêm Xá, Đương Xá, Thị Cầu, Lũng Giang… Nghệ nhân quan họ cũng được quan tâm đãi ngộ nhằm khích lệ động viên về vật chất và tinh thần. Họ được phong tặng danh hiệu theo quy chế, đồng thời được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng mức lương tối thiểu; NNƯT, NNND hưởng mức hỗ trợ cao hơn. Nhằm tạo sự lan tỏa giá trị của dân ca quan họ, tỉnh Bắc Ninh không những hỗ trợ kinh phí cho các câu lạc bộ ở địa phương, mà còn cho cả các câu lạc bộ dân ca quan họ tiêu biểu đang hoạt động ở các tỉnh, thành phố khác trong cả nước. Từ khi nước ta thực hiện chính sách hội nhập, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới, ngành Nghệ thuật biểu diễn nói chung, dân ca quan họ nói riêng có cơ hội được trình diễn, giới thiệu ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ những nét độc đáo, đặc trưng của môn nghệ thuật này. Điều đó đã khẳng định được thương hiệu của dân ca quan họ, thể hiện được bản sắc văn hóa, làm cho các nền văn hóa có sự đối sánh và trân trọng đối với các giá trị của văn hóa Việt Nam. Ngay sau khi được UNESCO công nhận Dân ca Quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa thế giới phi vật thể, tỉnh Bắc Giang đã xây dựng Chương trình hành động để bảo tồn Dân ca Quan họ. Trên cơ sở những cam kết với UNESCO, tỉnh Bắc Giang đã triển khai nhiều hoạt động tiêu biểu như: Triển khai việc tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu quảng bá những cái hay, cái đẹp của Dân ca Quan họ Bắc sông Cầu; tổ chức các cuộc hội thảo về bảo tồn và phát huy di sản Dân ca Quan họ tỉnh Bắc Giang; xuất bản các ấn phẩm, như: Các bài Hát đối Quan họ, 120 bài Hát đối Quan họ; Làng Quan họ Bắc sông Cầu (giới thiệu 18 làng quan họ Bắc sông Cầu trên quê hương Việt Yên); Các bài hát Quan họ phổ biến ở Bắc Giang. Đặc biệt, Bắc Giang còn chú trọng tập trung cho việc truyền dạy Dân ca Quan họ tại các làng xã. Thường xuyên tổ chức liên hoan tiếng hát Quan họ. Từ năm 2010 đến 2016, cùng với các địa phương, các cơ sở thường xuyên tổ chức các hoạt động văn nghệ quần chúng, trong đó thi hát dân ca quan họ là một nội dung chủ yếu. Trung tâm Văn hóa tỉnh Bắc Giang đã tổ chức hơn 60 lớp truyền dạy Dân ca Quan họ cho hơn 3.000 học viên là các hạt nhân văn nghệ tiêu biểu ở các huyện Việt Yên, Lục Ngạn, thành phố Bắc Giang, Lục Nam, Lục Ngạn,… Đến năm 2016, huyện Việt Yên đã tổ chức 14 cuộc Liên hoan tiếng hát Quan họ. Tỉnh Bắc Giang đã tổ chức Liên hoan tiếng hát Quan họ toàn tỉnh, lần thứ V. Ngày 17/3/2014, Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam đã ra quyết định thành lập Trung tâm Văn hóa Quan họ truyền thống khu vực Bắc Giang, tồn tại song song với Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ, hoạt động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh – Nam sông Cầu. Ngày 20 tháng 1 năm 2013, Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh tổ chức ra mắt. Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh nay là nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ sưu tầm, nghiêm cứu, gìn giữ và phát triển dân ca quan họ; nhiều hình thức giới thiệu dân ca quan họ mà đoàn thể nghiệm được quần chúng nhân dân đánh giá cao và học tập làm theo, góp phần thúc đẩy phong trào ca hát quan họ trong tỉnh cũng như lan tỏa rộng khắp cả nước. Đến nay từ 44 làng quan họ gốc, tỉnh Bắc Ninh đã nhân lên thành 329 làng Quan họ mới, trong đó có 41 nghệ nhân dân ca Quan họ. Đối với thôn Viêm Xá, xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh, nơi được coi là Thủy tổ dân ca Quan họ Bắc Ninh đã có nhiều giải pháp khôi phục, bảo tồn dân ca Quan họ, nhất là các bài Quan họ cổ. Về ẩm thực Quan họ, hai tỉnh Bắc Giang - Bắc Ninh đã khôi phục lại " Mâm đan, bát đàn" đó là những vật dụng của người quan họ khi mời thực khách dự ẩm thực quan họ. Xây dựng phòng trưng bày văn hóa quan họ, giới thiệu di sản với bạn bè trong nước, quốc tế. Các phương tiện thông tin đại chúng tăng thời lượng tuyên truyền về dân ca quan họ, nhất là các lề lối Quan họ, văn hóa Quan họ.
Trần Lệ Xuân (22 tháng 8 năm 1924 – 24 tháng 4 năm 2011), còn được gọi tắt theo tên chồng là bà Nhu (), là một gương mặt then chốt trong chính quyền Ngô Đình Diệm (vợ của Ngô Đình Nhu, em trai và cũng là cố vấn thân cận nhất của Ngô Đình Diệm) và là chủ tịch Phong trào Liên đới Phụ nữ trực thuộc Đảng Cần lao Nhân vị. Sau khi anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị đảo chính và ám sát năm 1963, bà buộc phải lưu vong sang Ý cho đến khi qua đời. Trần Lệ Xuân sinh tại Hà Nội. cũng có tài liệu nói sinh tại Huế. Ông nội là tổng đốc Nam Định Trần Văn Thông còn vợ ông Trần Văn Thông là em gái ông Bùi Quang Chiêu. Cha bà là luật sư Trần Văn Chương (1898 – 1986) từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thời kỳ Đế quốc Việt Nam, rồi bộ trưởng Bộ Kinh tế của Việt Nam Cộng Hòa thời Đệ Nhất trước khi được bổ nhiệm là đại sứ tại Mỹ. Mẹ của bà Trần Lệ Xuân tên Thân Thị Nam Trân (1910–1986) – con gái Thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề, cháu gọi vua Đồng Khánh là ông ngoại. Trần Lệ Xuân là con gái thứ hai của luật sư Trần Văn Chương và bà Thân Thị Nam Trân. Hai người sinh được ba người con: Trần Lệ Chi, Trần Lệ Xuân và Trần Văn Khiêm. Lúc nhỏ, bà học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, tốt nghiệp tú tài Pháp. Năm 1943 bà kết hôn với Ngô Đình Nhu và theo đạo Công giáo của nhà chồng. Hoạt động chính trị. Bà là dân biểu trong Quốc hội thời Đệ Nhất Cộng hòa cùng là chủ tịch Hội Phụ nữ Liên đới (một tổ chức ngoại vi của đảng Cần lao). Tuy nhiên địa vị quan trọng hơn là "Bà Cố vấn" vì bà là vợ của Ngô Đình Nhu, em trai và cũng là cố vấn thân cận nhất của Ngô Đình Diệm. Do tổng thống Ngô Đình Diệm không có vợ nên bà được coi là Đệ Nhất Phu nhân ("First Lady") của Việt Nam Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1963. Dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa, dư luận quần chúng cho rằng Trần Lệ Xuân là người cậy thế gia đình họ Ngô mà lộng quyền. Việc tổng thống Ngô Đình Diệm để cho bà cũng như Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn và người em út Ngô Đình Luyện tham gia vào chính sự tạo nên hình ảnh gia đình trị độc đoán kiểu phong kiến. Trần Lệ Xuân cũng là người khởi xướng kiểu áo dài cổ thuyền, khoét sâu (mà dân chúng vẫn gọi nôm na là "áo dài Trần Lệ Xuân") tạo ra một làn sóng thời trang áo dài hở cổ mới mà những người cổ học lên tiếng phê phán. Loại áo dài này vẫn thịnh hành đến ngày hôm nay. Ngày nay, những cánh rừng do bà khởi xướng trồng trên đường từ Sài Gòn đến rừng Cát Tiên vẫn được người dân gọi là rừng Trần Lệ Xuân. Bà Trần Lệ Xuân có nhiều hoạt động trên chính trường trong thời gian từ năm 1955 đến 1963, làm Chủ tịch một tổ chức phụ nữ chuyên ủng hộ gia đình họ Ngô; vận động các luật liên quan đến hôn nhân gia đình; thúc đẩy việc thông qua các luật phản đối liên quan đến những vấn đề như nạo thai, ngoại tình, thi hoa hậu, đấm bố, sự lộng quyền và những phát biểu cay độc trong vụ tự thiêu của các nhà sư nhằm phản đối việc đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Theo nhà ngoại giao John Mecklin, Trần Lệ Xuân là một người dễ nổi nóng, muốn áp đặt giải pháp của mình cho những vấn đề chính trị nhưng hầu như luôn làm những vấn đề đó trở nên tai hại. Bà có khả năng diễn đạt tốt và nhanh. Theo Mecklin, cách bà Nhu nói chuyện như "như súng liên thanh nổ bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh." Theo ký giả Halberstam, nguyên tắc chính trị của Trần Lệ Xuân khá đơn giản: Nhà họ Ngô luôn luôn đúng, không cần phải thỏa hiệp và cũng không cần để ý đến những chỉ trích. Theo ký giả Malcolm Browne của tờ AP, do bất đồng quan điểm, Trần Lệ Xuân còn từ bỏ cả gia đình của chính bà. Năm 1962 bà đã làm cho chị của bà (Trần Lệ Chi) phải tìm cách tự tử. Năm 1963, bà tuyên bố từ bỏ cha mẹ mình do họ phản đối thái độ của bà với Phật giáo. Robert McNamara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, đã nhận xét về Trần Lệ Xuân: ""Giống như hầu hết những người Mỹ đến đất nước này, và theo tôi, cả nhiều người Việt nữa, tôi thấy bà Nhu là một người sáng sủa, mạnh mẽ và xinh đẹp, nhưng cũng độc ác và mưu mô – một mụ phù thủy thực sự"." Vụ tượng đài Hai Bà Trưng. Bà Trần Lệ Xuân từng cho xây dựng tượng Hai Bà Trưng, tượng này có khuôn mặt giống hệt hai mẹ con bà: Trần Lệ Xuân – Ngô Đình Lệ Thủy. Nhiều người cho rằng bà cố tình cho tạc tượng Trưng Trắc có khuôn mặt giống với bà và Trưng Nhị có khuôn mặt giống với con gái của bà là Lệ Thủy. Thời điểm ấy, nhà thơ Đông Hồ có bài thơ châm biếm "Tượng ai đâu phải tượng bà Trưng" như sau: "Tượng ai đâu phải tượng bà Trưng"br"Tóc uốn lưng eo kiểu lố lăng"br"Đón gió lại qua người ưỡn ẹo"br"Chờ chim Nam Bắc dáng tung tăng"br"Khuynh thành mặt đó y con ả"br"Điêu khắc tay ai khéo cái thằng""Chót vót đứng cao càng ngã nặng"br"Có ngày gãy cổ đứt ngang lưng" "Đây một hình xưa nhục nước non"br"Thay hai hình mới đứng thon von"br"Mình ni lông xát lưng eo thắt"br"Ngực xu chiêng nâng vú nở tròn"br"Tưởng đứng hiên ngang em với chị""Hóa ra dìu dắt mẹ cùng con"br"Dòng sông Bến Nghé, dòng sông Hát"br"Lưu xú lưu phương tiếng để còn". Theo sử gia Joseph Buttinger thì "Nhu và vợ là hai người bị thù ghét nhất Nam Việt Nam". Do đó sau này, ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi họ Ngô vừa bị đảo chính, nhiều người dân Sài Gòn đã kéo nhau dùng một dây sắt nối với một tàu thủy để kéo sập tượng đài này, và chở trên xe xích lô máy đi diễu khắp Sài Gòn chiếc đầu tượng mang gương mặt bà Xuân. Biến cố Phật giáo 1963. Ngày 11/6/1963, tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng, đúng 10 giờ sáng, hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu trong tư thế kiết già trước sự chứng kiến của hàng trăm quần chúng và Phật tử để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của chính phủ họ Ngô. Hình ảnh một hoà thượng trong ngọn lửa bốc cao vẫn ngồi kiết già im lặng tay chắp trước ngực đã tạo ấn tượng mạnh gây xúc động lớn trong nước và trên thế giới. Về sự tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, bà Xuân nhiều lần công khai phát biểu gọi các vụ tự thiêu của các nhà sư là "phản bội Phật tính". Bà Trần Lệ Xuân còn châm dầu vào lửa khi phát biểu của bà về việc tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức: "Để cho họ cháy và chúng tôi sẽ vỗ tay". "Những lãnh đạo Phật giáo đã hành động như thế nào? Thứ duy nhất họ làm, họ đã nướng một trong những vị sư của họ người mà họ đã gây mê, người họ đã lạm dụng niềm tin, và ngay cả việc nướng người đó đã được thực hiện không phải một cách tự túc vì họ dùng xăng ngoại nhập." Trần Lệ Xuân còn phát biểu: "Tôi sẽ vỗ tay khi thấy một buổi trình diễn thịt nướng nhà sư khác" và "nếu ai thiếu xăng dầu tôi sẽ cho". Trả lời phỏng vấn của ký giả tờ "New York Times", Trần Lệ Xuân nói: "Tôi còn thách mấy ông sư (tự thiêu) thêm mười lần nữa. Phương pháp giải quyết vấn đề Phật giáo là phớt lờ, không cần biết tới". Những phát biểu thiếu cân nhắc và quá khích của bà như rót thêm dầu vào tình hình căng thẳng lúc đó. Khi biết chuyện người Mỹ ép được ông Diệm đi gặp các lãnh tụ Phật giáo và ông đã đưa ra một thông cáo hoà giải chung, bà Xuân đã chê ông Diệm là hèn nhát và yếu mềm như "con sứa". Đêm 21 tháng 8 năm 1963, Ngô Đình Nhu ra lệnh cho hàng trăm lính dùng súng, lựu đạn và lựu đạn cay tấn công chùa Xá Lợi, hơn 100 nhà sư đã bị bắt và đem giam ở một nơi khác. Đáng chú ý, Ngô Đình Diệm đã gửi cho Trần Lệ Xuân một lá thư yêu cầu bà không được phát ngôn trước công chúng về các vụ đụng độ, vì những lời nhận xét "thịt nướng nhà sư" của bà đã gây ra một thảm họa tuyên truyền đối với chế độ Ngô Đình Diệm đối với công chúng cả trong và ngoài nước Nhưng ngay trong cuộc phỏng vấn vài ngày sau, ký giả Halberstam mô tả bà Xuân "đang ở trong trạng thái hớn hở, nói liến thoắng như một nữ sinh sau buổi nhảy đầm". Bà tuyên bố rằng chính quyền đã nghiền nát nhóm "Phật tử Cộng sản" và cho biết đây là "ngày vui nhất trong đời tôi kể từ ngày chúng tôi đánh tan quân Bình Xuyên năm 1955." Cha của Trần Lệ Xuân là Trần Văn Chương, đại sứ của chính phủ Ngô Đình Diệm tại Washington lúc bấy giờ, đã từ chức để phản đối thái độ đàn áp Phật giáo. Trong một cuộc phỏng vấn trên phương tiện truyền thông, Ngô Đình Nhu đã phản ứng bằng cách thề sẽ giết bố vợ, tuyên bố rằng vợ mình cũng sẽ tham gia. Ngô Đình Nhu nói: "Tôi sẽ cắt đầu lão ta. Tôi sẽ treo lão ta ở giữa quảng trường và để lão ấy treo lủng lẳng ở đó. Vợ tôi (Trần Lệ Xuân) sẽ thắt nút treo cổ vì cô ấy tự hào là người Việt Nam và cô ấy là một người yêu nước" Để cứu vãn tình hình, Trần Lệ Xuân đã có chuyến công du các trường đại học Mỹ để phát biểu bảo vệ chế độ Sài Gòn. Ngày 17/9/1963, trước một cuộc họp của Quốc hội Mỹ, Trần Lệ Xuân lớn tiếng: "Người ta nói Cộng sản là xấu, nhưng Hoa Kỳ còn đê tiện hơn nhiều!..." và "Các cố vấn Quân sự Mỹ tại miền Nam chỉ là những tên mê gái, tham tiền, giỏi hối lộ và đê tiện, vì đã báo cáo sai (cho chính phủ Mỹ) về gia đình họ Ngô...". Bà còn gọi các Phật tử là "những gã côn đồ khoác áo cà sa". Bà còn tuyên bố rằng đạo Phật sẽ sớm tuyệt tích tại Việt Nam. Chuyến công du đã trở thành một trò hề, nó không giúp giảm căng thẳng mà còn gây ra lắm rắc rối hơn. Thậm chí cha của bà là Trần Văn Chương, đã phát biểu chống lại Trần Lệ Xuân. Các sinh viên Mỹ giận dữ với sự đàn áp ngày càng gia tăng tại Sài Gòn đã ném vào bà Trần Lệ Xuân trứng gà và những lời lăng mạ. Mẹ của Trần Lệ Xuân thì dự đoán rằng nếu anh em Diệm và Trần Lệ Xuân không sớm chạy khỏi Việt Nam thì tất cả sẽ bị giết Tập đoàn Oram, công ty PR Madison Avenue được thuê để quảng bá hình ảnh của Ngô Đình Diệm ở Mỹ với giá 3.000 đôla mỗi tháng, nhưng họ đã phải chấm dứt hợp đồng ngay trong chuyến thăm của Trần Lệ Xuân với lý do: những phát ngôn của bà Xuân đã phá hoại hình ảnh của chính phủ Ngô Đình Diệm ở Mỹ đến nỗi không gì có thể cứu vãn được. Các phát biểu vô cảm và thiếu cân nhắc của bà gây kích động những tu sĩ Phật giáo đang đấu tranh chống chính phủ Ngô Đình Diệm, làm xấu đi quan hệ giữa hai bên góp phần làm cho cuộc đấu tranh của Phật giáo lan rộng dẫn đến cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, nền Đệ Nhất Cộng hòa do anh em họ Ngô xây dựng đã sụp đổ. Sau này Tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã giải thích với người bạn thân của mình, ông Paul Red Fay, rằng lý do Hoa Kỳ đưa ra quyết định loại bỏ gia đình họ Ngô, do một phần không nhỏ vì những hành vi khiến tình hình thêm rối loạn của Trần Lệ Xuân. Kennedy nói về Trần Lệ Xuân một cách rất giận dữ: "Con chó cái chết tiệt đó (That goddamn bitch), nó phải chịu trách nhiệ" Trong tháng 10 năm 1963, Trần Lệ Xuân cùng con gái Ngô Đình Lệ Thủy đi Hoa Kỳ và Roma với dự định sẽ vạch trần âm mưu lật đổ của Tổng thống Kennedy và CIA trước công chúng Mỹ. Ngày 1 tháng 11 năm 1963 Trần Lệ Xuân và con gái đang trú ngụ tại khách sạn sang trọng Wilshire Hotel ở Beverly Hill, California thì cuộc đảo chính xảy ra, chồng và anh chồng bà bị giết. Theo ký giả David Halberstam, bà Xuân đã may mắn vì nếu bà còn ở Sài Gòn, các tướng đảo chính có thể sẽ giết bà hoặc để mặc cho đám đông dân chúng cuồng nộ treo cổ bà lên. Sau vụ người chồng Ngô Đình Nhu cùng Ngô Đình Diệm bị sát hại, khi được hỏi có muốn xin tị nạn tại Mỹ hay không, bà Trần Lệ Xuân đã trả lời: ""Tôi không thể cư ngụ tại một đất nước mà chính phủ họ đã đâm sau lưng tôi. Tôi tin rằng mọi quỷ sứ ở địa ngục đều chống lại chúng tôi"." Ngày 2 tháng 11 năm 1986, Trần Lệ Xuân tố cáo Mỹ chơi xấu với gia đình bà trong việc bắt giữ Trần Văn Khiêm (em trai bà) về tội giết cha mẹ là ông bà Trần Văn Chương tại nhà riêng ở Washington, D.C. hồi tháng 7 cùng năm. Ngày 30 tháng 10 năm 1996, Trần Lệ Xuân lên tiếng xin lỗi các Phật tử và xin lỗi cố hòa thượng Thích Quảng Đức về những lời nói của bà về các lãnh đạo Phật giáo trong quá khứ. Trước đó, vào năm 1990, Trần Lệ Xuân đã cho con trai là Ngô Đình Trác tìm gặp hòa thượng Thích Mãn Giác để xin lỗi và cũng nhờ hòa thượng cầu siêu cho song thân. Hòa thượng Thích Mãn Giác đã đồng ý. Bà qua đời lúc 2 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 2011 tại một bệnh viện ở Roma, Ý, thọ 87 tuổi. Các vụ scandal tình ái. Năm 1962, Trần Lệ Xuân bị một người phụ nữ bắn trúng vai trái tại Đà Lạt. Vụ nổ súng vào Trần Lệ Xuân được thông báo ngay về văn phòng cố vấn chính trị phủ tổng thống. Bà Xuân được một máy bay đặc biệt lên Đà Lạt chở sang Manila (Philippines) để cứu chữa tại một bệnh viện hiện đại của Mỹ. Ngay hôm sau, ông Nhu được cấp dưới mật báo đầy đủ về chuyện người bắn bà Xuân chính là vợ của tướng Trần Văn Đôn, và đây là một vụ đánh ghen nhằm trả đũa việc bà Xuân ngoại tình với tướng Đôn. Ngô Đình Cẩn biết tin nói: ""Các anh không nhớ lúc mới cưới chị Xuân về, anh cả tổng đốc Ngô Đình Khôi xem tướng đã nói: "Thứ đàn bà này rồi về sau phá hại cả họ Ngô cho mà coi." Giờ nên cơ sự như này, chẳng lẽ chịu thua à?"" Nhưng rồi ông Nhu vẫn bỏ qua tất cả, đánh điện gọi vợ về. Về sau, bà Trần Lệ Xuân được cho là đã dùng thân xác để đổi lấy việc ký giả Colegrowe viết bài ủng hộ cho chế độ Ngô Đình Diệm. Ông Nhu biết việc này, nhưng ông cũng không khỏi thắc mắc là có phải Trần Lệ Xuân làm việc này vì công việc chung của gia đình hay là do bản thân bà muốn thỏa mãn dục vọng của bản thân.#đổi Thu gom của cải và đời sống vật chất. Năm 1958, khi họ Ngô đang nắm quyền tối cao ở miền Nam, bà Xuân cho xây ba biệt thự mang tên Bạch Ngọc, Lam Ngọc và Hồng Ngọc, tổng diện tích 13.000 m2. Kiến trúc sư Trần Công Hòa cho biết: "Biệt điện này xếp vào hạng sang trọng, xa hoa bậc nhất Đông Nam Á thời bấy giờ. Giữa Đà Lạt sương lạnh, một hồ bơi ngoài trời được đun nóng bằng hệ thống riêng, đây là công trình độc nhất ở khu vực được xây dựng". Nhiều tài liệu về việc mua đất cho thấy: thửa đất để xây các biệt thự mua vào ngày 14–9–1957, lấy tên là "biệt thự Blanche Naige" ở đường Henri Maitre (nay là Yết Kiêu). Trong khi tiền tệ thời đó còn dùng tiền xu, tiền đồng thì các hóa đơn, bảng kê chi tiết về việc chi tiêu của bà Xuân lên đến tiền triệu. Giai đoạn 1954–1960, Trần Lệ Xuân chiếm cả một rừng cây quý 200 mẫu tại Định Quán, lấy gỗ chế tạo báng súng xuất khẩu nước ngoài. Vợ chồng bà có phần hùn trong các cơ sở khai thác nước suối Vĩnh Hảo, lông vịt Chợ Lớn, phân chim đảo Hoàng Sa, than Nông Sơn, cát trắng Cam R Có nhiều đồn đoán về số tài sản mà Trần Lệ Xuân sở hữu, về những công ty xe bus, công ty đường, độc quyền than củi, vé số... đều là của Trần Lệ Xuân, có người cho rằng số tài sản của vợ chồng ông Nhu – bà Xuân tổng cộng tới 18 tỉ USD. Năm 1973, cách làm giàu nhanh chóng mặt của vợ chồng Ngô Đình Nhu – Trần Lệ Xuân mới được ông Alfed W. McCoy, chuyên viên chống buôn lậu quốc tế từng là cố vấn tại Tổng nha Cảnh sát thời Ngô Đình Diệm tiết lộ trong tập luận án tiến sĩ "Đông Nam Á: Chính trị dựa vào bạch phiến", viết về nạn buôn bán thuốc phiện tại miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1973. Theo đó, để có tiền tài trợ cho hoạt động chính trị, ông Nhu đã bí mật tiến hành việc buôn bán thuốc phiện với các bang người Hoa ở Chợ Lớn. Theo giáo sư Huỳnh Văn Lang, cựu Tổng Giám đốc ngân khố Sài Gòn nói rằng: hàng năm Ngô Đình Diệm có một số tiền rất lớn làm quỹ đặc biệt của Phủ Tổng thống, số tiền này ông Diệm hầu như giao cho ông Nhu để trích ra thưởng cho những cán bộ làm công tác đặc biệt như tình báo hay phản gián. Tuy nhiên, ông Nhu lại buộc những cán bộ này phải tự chi trả, còn số tiền các quỹ đen của chính phủ thì Nhu giao hết cho Trần Lệ Xuân làm của riêng. Ông Nhu muốn vợ mình thu gom của cải mà không phải dính dáng gì vào những chuyện bất hợp pháp, đồng thời có thể dễ thao túng cán bộ dưới quyền. Như vậy, phần lớn người thân của Trần Lệ Xuân đều có kết cục bi thảm: Bản tiếng Việt: "Madam Nhu Trần Lệ Xuân – Quyền lực Bà Rồng". Mai Sơn dịch. Phương Nam Nhà xuất bản Hội Nhà văn (2016). Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. [[Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển]] [[Thể loại:Sinh năm 1924]] [[Thể loại:Mất năm 2011]] [[Thể loại:Người Hà Nội]] [[Thể loại:Người Ý gốc Việt]] [[Thể loại:Dòng họ Ngô Đình]] [[Thể loại:Đảng Cần lao Nhân vị]] [[Thể loại:Nữ chính khách Việt Nam]] [[Thể loại:Dân biểu Việt Nam Cộng hòa]] [[Thể loại:Chính khách Việt Nam Cộng hòa]] [[Thể loại:Đệ Nhất Phu nhân Việt Nam Cộng hòa]] [[Thể loại:Nhân vật trong chiến tranh Việt Nam]] [[Thể loại:Tín hữu Công giáo Việt Nam]] [[Thể loại:Biến cố Phật giáo, 1963]] [[Thể loại:Nhà dân tộc chủ nghĩa Việt Nam]] [[Thể loại:Người cải sang Công giáo]] [[Thể loại:Người chống cộng Việt Nam]] [[Thể loại:Người Việt Nam lưu vong]] [[Thể loại:Người họ Trần tại Việt Nam]]
Phượng tím (danh pháp hai phần: Jacaranda mimosifolia) là một loài thực vật thuộc họ Chùm ớt ("Bignoniaceae") bao gồm các loài chùm ớt, núc nác, đào tiê Là một loài cây gỗ lớn (cao 10–15 m), tán lá tỏa rộng (7–10 m) nhưng cành lá thưa, lá phức bao gồm hai lần lá kép, nên khi không có hoa cây trông tương tự phượng vĩ, nhưng vào mùa nở hoa thì trổ nhiều hoa hơn. Hoa hình ống dài 4–5 cm, từng chùm màu tím, hình chuông, cánh hoa mềm mại, dễ bị dập nát, không hề giống hoa phượng. Hoa thường nở vào đầu mùa xuân, tháng 3-4-5 ở Bắc bán cầu và tháng 9-10-11 ở Nam bán cầu. Mùa hoa nở kéo dài khá lâu, có thể đến 4–6 tháng. Phượng tím có nguồn gốc từ Nam Mỹ, từ lâu đã được du nhập vào Ấn Độ, Nê, tức thích hợp với khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây thường được trồng làm cây cảnh ven đường và trong các công viên, nhưng tác dụng cho bóng mát kém vì tán lá quá thưa thớt. Riêng trong công viên, vì không phải quét dọn mỗi ngày như trên đường phố, sau vài ngày hoa rụng trên mặt đất sẽ có một thảm hoa màu tím khá bắt mắt. Cây phát triển đến chiều cao lên tới . Vỏ cây của nó mỏng và có màu nâu xám, nhẵn khi cây còn nhỏ mặc dù sau này trở nên có vảy mịn. Cành cây mảnh khảnh và hơi ngoằn ngoèo; chúng có màu nâu đỏ nhạt. Những bông hoa dài tới và được nhóm lại trong các khóm . Hoa xuất hiện vào mùa xuân và đầu mùa hè, và kéo dài đến hai tháng, sau đó thành vỏ hạt gỗ, đường kính khoảng 5 cm (2,0 in), chứa nhiều hạt phẳng, có cánh. Phiến lá kép có lông và có chiều rộng từ 10 đến 20 cm. Ngọn cây tròn. Các quả cứng có hình dạng bất thường, có chiều dài , thường được thu thập, làm sạch và sử dụng để trang trí cây Giáng sinh và trang trí. Gỗ có màu xám nhạt đến trắng, hạt thẳng, tương đối mềm và không có nút. "Jacaranda" đã được trồng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nơi không có nguy cơ băng giá; Tuy nhiên, những cây được sự bảo vệ với gỗ cứng có thể chịu được những đợt nhiệt độ ngắn xuống khoảng −7 °C. Ở Hoa Kỳ, "Jacaranda" được trồng rất rộng rãi ở California, phía tây nam Arizona, đông nam Texas và Florida. Ở châu Âu, nó được trồng trên toàn bộ bờ biển Địa Trung Hải của Tây Ban Nha (đáng chú ý trong Cộng đồng Valencia, Quần đảo Balearic và Andalusia với các cây đặc biệt lớn ở Valencia, Alicante và Seville và thường ra hoa sớm hơn so với phần còn lại của châu Âu), ở phần phía nam của Bồ Đào Nha (đáng chú ý ở Lisbon), miền nam nước Ý (ở Naples và Cagliari, thật dễ dàng để bắt gặp những mẫu vật tuyệt đẹp), miền nam Hy Lạp (đáng chú ý ở Athens) và trên các đảo của Malta và Síp. Phượng tím được xem là một loài xâm lấn ở các vùng của Nam Phi và Úc, ngăn chặn sự phát triển của các loài bản địa. "Jacaranda" được trồng rộng rãi làm cây cảnh ở Úc, từ Melbourne ở phía nam đến Cairns ở phía bắc. Phượng tím có ở Cape Town từ khoảng năm 1829. Ở các vùng khác của Châu Phi, "jacaranda" đặc biệt có mặt ở Lusaka, thủ đô của Zambia, Nairobi, thủ đô của Kenya và Harare, thủ đô của Zimbabwe. Pretoria ở Nam Phi được biết đến là "Thành phố Jacaranda" do số lượng lớn cây "jacaranda" được trồng làm cây đường phố và trong các công viên và vườn, nhưng ở Johannesburg thực sự có nhiều cây "jacaranda" hơn; công ty Nelsonia Nurseryeries đã trồng 30 triệu cây và cây bụi vào năm 1896, trong đó nhiều cây là cây "jacaranda"; và được cho là đã trồng hơn 100 km cây dọc theo các đường phố ở ngoại ô thành phố Johannesburg, Kensington. Tại Việt Nam, cây này đã được du nhập vào Đà Lạt bởi kỹ sư canh nông Lương Văn Sáu từ năm 1962, có thấy quanh hồ Xuân Hương, đường Trần Phú... hoa nở vào tháng 3 tháng 4, cây phát triển tốt do phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng và có lẽ cũng thích hợp với những vùng mát như Tam Đảo, Lai Châu, Măng Đen ở Việt N, vì thế sau khi đã du nhập một số cây vào Việt Nam, việc nhân rộng khá chậm chạp vì không thể giâm cành. Cây trồng từ hạt ra hoa sau 2–3 năm, khi cây còn khá thấp (người lớn có thể với tay tới hoa). Trong văn hóa dân gian. "Hoảng loạn màu tím" ("Purple panic") là một thuật ngữ đề cập đến sự căng thẳng của học sinh, sinh viên trong giai đoạn cuối mùa xuân và đầu mùa hè (tháng 10 đến tháng 12 tại Úc) được sử dụng bởi các sinh viên ở phía đông nam Queensland. Màu tím đề cập đến màu sắc hoa của cây "Jacaranda" nở vào thời điểm đó và đã được trồng rộng rãi trên khắp quận đó. Sự hoảng loạn đề cập đến sự cần thiết phải hoàn thành bài tập và nghiên cứu cho các kỳ thi cuối cùng. Cây "Jacaranda" khi nở hoa còn được gọi là "cây thi cử" ("exam tree"). Cây phượng tím "" nổi tiếng trong khuôn viên tòa nhà chính (Main Quadrangle) của Viện đại học Sydney, thường nở hoa vào cuối tháng 10 và vào tháng 11 (là cuối mùa xuân tại Úc), theo lời truyền tụng lâu đời tại Đại học Sydney "vào thời gian "jacaranda" nơi tòa nhà chính của đại học nở hoa là đã quá muộn để bắt đầu học cho các kỳ thi", cây gốc được trồng từ năm 1928 và chết năm 2016. Ngược lại, trong khi cũng là thời điểm "Jacaranda" nở hoa ở Pretoria trùng với kỳ thi cuối năm tại Đại học Pretoria, truyền thuyết kể rằng nếu một bông hoa từ cây "Jacaranda" rơi trên đầu một sinh viên, sinh viên đó sẽ vượt qua tất cả kỳ thi. Bài hát Giáng sinh của Úc "Christmas Where The Gum Trees Grow" có câu hát "Khi hoa "Jacaranda" nở ở đây, mùa Giáng sinh đã đến gần". Ở Argentina, nhà văn Alejandro Dolina, trong cuốn sách "Crónicas del Ángel Gris" ("Biên niên sử của thiên thần xám"), kể về truyền thuyết về một cây "jacarandá" khổng lồ được trồng ở Plaza Flores (Quảng trường Flores) ở Buenos Aires, có thể huýt sáo bài hát tango theo yêu cầu. Bài hát dân gian "Santafesino de veras" của Miguel Brascó cũng đề cập đến mùi thơm của "jacarandá "như là một nét đặc trưng của tỉnh Santa Fe duyên hải (cùng với những cây liễu mọc bên sông). Thành phố Grafton trên bờ biển phía bắc của bang New South Wales, Úc, cũng nổi tiếng với "jacaranda". Mỗi năm vào cuối tháng 10 và đầu tháng 11, thành phố có một lễ hội "jacaranda". Vùng ngoại ô Applecross của Perth, Tây Úc, có những con đường được trồng toàn cây "jacaranda" và tổ chức "Lễ hội Jacaranda" mỗi năm vào tháng 11.
Chùa An Ninh (tên chữ: Vĩnh Khánh tự), dân gian gọi là Chùa Trăm Gian xứ Đông, ở Vạn Lộng trang sau đổi thành làng An Ninh rồi An Đông thuộc xã An Bình, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Chùa có từ thời Trần, trùng tu vào thời Lê và Nguyễn, hiện còn 85 gian, 37 pho tượng gỗ, hàng trăm bản in kinh Phật và nhiều cổ vật có giá trị. Đây là một ngôi chùa lớn, kiến trúc còn khá hoàn chỉnh. Hàng năm, vào ngày 13 tháng 9, chùa tổ chức lễ hội. Chùa An Ninh là một di tích đã được xếp hạng năm 1990. Lịch sử xây dựng. Tương truyền chùa có từ thời Lý (khoảng thế kỷ XI). Đến thời Trần, tướng quân Nguyễn Huy Tĩnh đóng quân tại chùa để chặn quân Nguyên từ hướng sông Bạch Đằng đánh vào Thăng Long. Đến triều nhà Lê, ngôi chùa được xây dựng với quy mô lớn. Thời điểm đó có người trong làng họ Nguyễn, Phật hiệu là Diệu Quang tu học theo dòng Trúc Lâm trụ trì tại chùa. Hằng năm cứ đến tiết lập hạ là ông mở lớp giảng kinh Phật nên tăng ni theo học rất đông. Đến thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ngôi chùa là cơ sở cách mạng, sau này một phần chùa trở thành trụ sở UBND xã. Khi UBND xã xây trụ sở mới, ngôi chùa trở lại thành điểm sinh hoạt văn hóa của nhân dân trong vùng. Cụ Nguyễn Thị Xạ, 83 tuổi, ở thôn An Đoài, xã An Bình cho biết: "Ngôi chùa đã gắn bó với người dân quê tôi từ bao đời nay, chứng kiến những thăng trầm lịch sử. Với mỗi người, ngôi chùa đều thân thuộc như cây đa, bến nước, trở thành điểm tựa tâm linh của chúng tôi". Được xây dựng với quy mô lớn vào thế kỷ XVII và được trùng tu nhiều lần vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX nên kiến trúc ngôi chùa mang dấu ấn của thời đại này. Các công trình chính của chùa nằm trong một quần thể kiến trúc gần như khép kín. Từ phía đông, mở đầu là gác chuông với 5 gian bít đốc, 3 gian giữa chồng diêm, mái cong. Gác chuông treo quả chuông được đúc năm Thành Thái thứ 2 (1890) cao 125 cm. Cách gác chuông 2 m về phía sau là tiền đường 7 gian dài 16 m, rộng 8 m, nối liền với tiền đường là 3 gian tam bảo dài 11 m, rộng 8 m tạo thành hình chữ đinh. Ba mặt của tam bảo là một sân hẹp. Bên trái tam bảo là nhà mẫu. Bên trái nhà mẫu là hai nhà khách nối liền nhau, nhà ngoài 3 gian, nhà trong 5 gian. Phía sau tam bảo là nhà Tứ Ân gồm 7 gian, rồi đến nhà tổ. Sau nhà tổ có một khoảng sân rộng 4 m, tiếp đó là nhà cung gồm 9 gian. Nối nhà khách với nhà cung là một hành lang 8 gian 2 chái. Phía sau chùa là một vườn tháp gồm 10 ngôi, trong đó có 9 ngôi được xây dựng vào thời Nguyễn và 1 ngôi được xây dựng năm 2003. Quay vào một sân rộng trên 1.000 m2 là nhà tháp, nhà tăng, am trong, am ngoài và nhiều công trình phụ thuộc khác. Những công trình này một phần bị phá hủy, số còn lại đã biến dạng. Điểm đặc biệt của ngôi chùa này. Những pho sách quý Đến nay tại chùa Trăm Gian còn lưu giữ được hàng trăm cổ vật có giá trị như các pho tượng Phật có niên đại thời Lê và thời Nguyễn, trong đó có tượng Trúc Lâm tam tổ, nhiều đại tự, câu đối, bát hương cổ, bia đá... "Có 5 trong số 7 mộc bản kinh Phật tại chùa Trăm Gian còn giữ được trọn vẹn" Ngoài những cổ vật quý hiếm, chùa Trăm Gian còn nổi tiếng với những mộc bản kinh Phật phục vụ in ấn. Ngôi chùa còn lưu giữ được hơn 700 mộc bản kinh Phật thuộc 7 đầu sách kinh. Trong 7 đầu sách này có 2 đầu sách là Di Đà sớ sao (kinh giảng về cõi Tây Phương cực lạc) và Nhân vương hộ quốc (lời Phật dạy cho các bậc quân vương, hoàng thân quốc thích về cách cai quản đất nước) đã thất lạc nhiều bản. Còn 5 đầu sách giữ được trọn vẹn là Giới đàm tăng (dành cho các nhà sư lên chức thụ giới), Giới đàm ni (dành cho các ni lên chức thụ giới), Dược sư đề cương (sách thuốc), Nhật tụng (khóa lễ hằng ngày). Đặc biệt là bộ Khóa Hư Lục - pho sách Phật giáo của Việt Nam do Trần Thái Tông (1218-1277) biên soạn. Cách đây khoảng 5-6 năm, đại đức Thích Tục Phương, trụ trì chùa Trăm Gian đã cho khôi phục một số mộc bản kinh Phật còn lưu giữ tại chùa. Số mộc bản kinh Phật này được nhà sư Viên Giác cho khắc từ thời vua Minh Mạng (1791-1841) đến thời vua Tự Đức (1829-1883) để giảng đạo. Chữ được khắc trên các mộc bản thuộc sách Nhật tụng một nửa là chữ Hán, một nửa là chữ Nôm, còn tất cả chữ khắc trên các mộc bản khác là chữ Hán. Các mộc bản được làm bằng gỗ, ở trên hằn lên màu đen của mực. Thời điểm đó nhà chùa có 12 mẫu ruộng, 2 con trâu, thu nhập từ đó được chia làm 3phần để khắc bản in kinh, duy trì cuộc sống sư sãi và lo việc hương nhang. Năm 1990, ngôi chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Năm 2019 được UBND tỉnh công nhận là điểm du lịch.
FELIN (viết tắt của "Fantassin à équipement et liaisons integrées" trong tiếng Pháp) ("Lính bộ binh tích hợp trang thiết bị và liên lạc") là tên của hệ thống trang thiết bị dành cho bộ binh Pháp trong tương lai. Tháng 3 năm 2004, Bộ Quốc phòng Pháp đã ký một hợp đồng với hãng SAGEM với tổng số 30.000 bộ thiết bị này với trị giá khoảng 800.000 Euro. Hệ thống này được thiết kế dựa trên các tiêu chí hiệu quả về tiết kiệm năng lượng, khả năng hoạt động độc lập của người lính và phù hợp với công thái học ("ergonomics") của cơ thể con người. Hệ thống thiết bị này bao gồm một súng trường tấn công FAMAS cải tiến, một máy tính mang trên người ("wearable computer"), với áo giáp chống đạn. Mũ bảo vệ loại SPECTRA ("SPECTRA helmet") gắn các thiết bị liên lạc, thiết bị định vị thời gian thực và thiết bị khuếch đại ánh sáng cho quan sát ban đêm. Toàn bộ hệ thống này được cung cấp năng lượng bằng hai pin sạc Li-on do hãng Leclanché của Thụy Sĩ sản xuất.
S/PDIF được viết tắt bởi cụm từ Sony/Philips Digital Interface Format, nghĩa là Chuẩn giao tiếp kỹ thuật số của Sony và Phillips, và cũng được gọi IEC 958 loại II, vì nó là một phần của IEC-60958. Đây là một trong những chuẩn giao tiếp chuyên dụng trong các thiết bị âm thanh kỹ thuật số. Jack cắm S/PDIF giống như những jack bông sen thông dụng ngoài thị trường. Những thiết bị âm thanh có hỗ trợ chuẩn này sẽ giúp cho việc truyền tải âm thanh một cách chính xác, trong sạch, không bị suy hao khi truyền tải. S/PDIF là một chuẩn được biết đến như AES/EBU trong phiên bản người tiêu dùng. S/PDIF đầu tiên được dùng với CD players (và DVD players), nhưng đã trở nên phổ biến trên các thành phần âm thanh khác như Minidiscs và các card âm thanh máy vi tính hiện đại. Nó cũng phổ biến trong âm thanh xe hơi, nơi mà một số lượng lớn việc lắp ráp đi dây có thể được thay thế với một sợi cáp quang đơn miễn là không bị nhiễu điện. Một phổ biến khác mà dùng giao diện S/PDIF là để mang tín hiệu âm thanh kỹ thuật số đã được nén như được định nghĩa bởi chuẩn IEC 61937. Kiểu này được dùng để kết nối đường ra của DVD player tới một bộ nhận rạp hát gia đình mà hỗ trợ Dobly Digital hoặc âm thanh vòm DTS. Đặc điểm kỹ thuật phần cứng. Đặc điểm kỹ thuật của S/PDF cho phép nhiều loại cáp khác nhau và việc kết nối phải kết nối đến từng thiết bị sử dụng. Những chuẩn cáp cho loại thiết bị này là "coaxial" (Cáp đồng trục) và "RCA jack" (Jack bông sen). Loại khác được gọi là "optical" (cáp quang) với từ "Toslink" thường được dùng. Hoặc ít sử dụng thường xuyên hơn như: EIAJ Optical. Các bộ chuyển đổi tồn tại để chuyển đổi từ coaxial RCA Jack S/PDIF đến Optical Toslink S/PDIF và ngược lại (mặc dù hầu hết các bổ chuyển đổi cá nhân thì chỉ có một cách). Tất cả đòi hỏi một số sắp xếp cung cấp nguồn bên ngoài. Phiên bản "optical" là thuận lợi cho các ứng dụng nơi mà độ nhiễu điện hoặc nhiều dây được đưa ra như âm thanh trên xe hơi. S/PDIF được phát triển từ một chuẩn đã được dùng trong lĩnh vực âm thanh chuyên nghiệp, được biết như AES/EBU mà được dùng phổ biến trong hệ thống băng âm thanh kỹ thuật số (được gọi tắt là DAT) và được dùng chuyển đổi trong phòng thu chuyên nghiệp.
Môi trường phát triển tích hợp Môi trường phát triển tích hợp (tiếng Anh: "integrated development environment"; viết tắt: "IDE") còn được gọi là ""Môi trường thiết kế hợp nhất" (tiếng Anh: "integrated design environment") hay "Môi trường gỡ lỗi hợp nhất"" (tiếng Anh: "integrated debugging environment") là một loại phần mềm máy tính có công dụng giúp đỡ các lập trình viên trong việc phát triển phần mềm. Các môi trường phát triển hợp nhất thường bao gồm: *Một trình soạn thảo mã nguồn ("source code editor"): dùng để viết mã. *Công cụ xây dựng tự động: khi sử dụng sẽ biên dịch (hoặc thông dịch) mã nguồn, thực hiện liên kết ("linking"), và có thể chạy chương trình một cách tự động. *Trình gỡ lỗi ("debugger"): hỗ trợ dò tìm lỗi. *Ngoài ra, còn có thể bao gồm hệ thống quản lý phiên bản và các công cụ nhằm đơn giản hóa công việc xây dựng giao diện người dùng đồ họa (GUI). *Nhiều môi trường phát triển hợp nhất hiện đại còn tích hợp trình duyệt lớp ("class browser"), trình quản lý đối tượng ("object inspector"), lược đồ phân cấp lớp ("class hierarchy diagram")... để sử dụng trong việc phát triển phần mềm theo hướng đối tượng. Phân theo số lượng các ngôn ngữ được hỗ trợ, ta có thể chia các môi trường phát triển hợp nhất được sử dụng rộng rãi ngày nay thành hai loại: *Môi trường phát triển hợp nhất một ngôn ngữ: làm việc với một ngôn ngữ cụ thể, ví dụ: Microsoft Visual Basic 6.0 IDE. *Môi trường phát triển hợp nhất nhiều ngôn ngữ: có thể làm việc với nhiều ngôn ngữ lập trình, ví dụ: Eclipse IDE, NetBeans, Microsoft Visual Studio. Khi các thế hệ máy tính đầu tiên ra đời, lập trình viên không có cách nào để viết ra các chương trình trên các máy này. Việc "viết chương trình" trong thời gian này gắn liền với việc phải thay đổi cấu trúc, linh kiệ, hoặc đục lỗ lên những tấm thẻ để biểu thị cho những thông tin nào đó. Ví dụ: để thay đổi mã lệnh cho máy tính đa chức năng đầu tiên là ENIAC (do hai kĩ sư người Mỹ J. W. Machily và J. Presper Eckret chế tạo vào năm 1946), các nhà chế tạo phải thiết kế lại ENIAC. Sau đó, khi màn hình ra đời và việc phát triển có thể được thực hiện trên các thiết bị đầu cuối ("terminal"), các môi trường phát triển hợp nhất mới ra đời. BASIC là ngôn ngữ đầu tiên có một môi trường phát triển hợp nhất cho riêng mình. Tuy nhiên, môi trường này (một phần của Hệ thống chia sẻ thời gian Dartmouth) hoàn toàn dựa trên giao diện ký tự, và cũng không có nhiều tính năng so với các môi trường phát triển đồ họa ngày nay. Dù vậy, nó cũng đã tích hợp trình soạn thảo, quản lý tập tin, biên dịch, dò lỗi và thực thi. Trước đây, khi chưa có hệ thống cửa sổ (như Microsoft Windows và X11, giao diện của các môi trường phát triển hợp nhất hoàn toàn dựa trên văn bản. Người dùng phải sử dụng các phím chức năng, phím nóng để thực hiện tất cả các công việc. Turbo Pascal là một môi trường phát triển điển hình thuộc loại này. Theo dòng phát triển của lịch sử, ngày nay, hầu hết các môi trường phát triển hợp nhất đều có giao diện đồ họa và được tích hợp ngày càng nhiều chức năng. Ngày nay, khái niệm "Môi trường phát triển hợp nhất" được phân biệt với khái niệm "công cụ soạn thảo văn bản" (như vi, emacs trên Linux). Khi nói đến "môi trường phát triển hợp nhất", các lập trình viên thường nghĩ ngay đến chương trình mà với đó, hầu hết công việc của họ - như viết, chỉnh sửa mã, biên dịch, triển khai và gỡ lỗi - đều có thể được thực hiện. Những lập trình viên chuyên nghiệp thường sử dụng các môi trường phát triển hợp nhất để phát triển ứng dụng. Họ tận dụng chúng để làm tăng tính hiệu quả và giảm thời gian thực hiện công việc của mình. Ngoài ra, người mới học cũng có thể tận dụng những tiện ích của các môi trường phát triển hợp nhất để giảm bớt thời gian học của mình, vì những cấu hình, những dòng lệnh phức tạp (mà nếu không có môi trường phát triển hợp nhất phải thực hiện bằng tay) đều đã được che giấu và tự động hóa, ta chỉ cần bấm nút là mọi việc có thể được thực hiện. Trong thời gian gần đây, người ta thấy nổi lên các môi trường phát triển hợp nhất nguồn mở (Open Source IDE), như NetBeans, Eclipse. Các môi trường phát triển loại này ngày càng thông dụng, nhất là trong cộng đồng nguồn mở.
Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội - gọi tắt là Việt Cách là một tổ chức chính trị Việt Nam. Việt Cách là tổ chức thân Trung Hoa Dân Quốc bao gồm nhiều tổ chức chính trị hoạt động bí mật tại Việt Nam và có cơ sở tại Trung Quốc. Sau khi Việt Nam giành độc lập, Việt Cách theo quân đội Tưởng Giới Thạch vào Việt Nam. Trước khi tổ chức này thành lập, các nhóm cách mạng ở Trung Quốc từ năm 1940 đã có ý định hợp nhất trong một tổ chức rộng rãi. Theo cuốn "Understanding Vietnam" của Neil L. Jamieson, từ năm 1940, những người cộng sản, Việt Quốc và một số nhóm khác đã cùng gây dựng cơ sở tại Tĩnh Tây, Quảng Tây. Sau đó Khái Hưng và Hoàng Đạo đáp đi Trung Quốc, người của Đại Việt Dân chính Đảng (Đại Việt). Khi đó Việt Quốc di chuyển tới Côn Minh, và cùng với tổ chức cộng sản ở đây xuất bản báo chống Nhật. Khi Nhật tiến quân vào Đông Đương, các nhóm cách mạng ở Trung Quốc và Việt Nam Quốc dân Đảng thành lập Việt Nam giải phóng hội đầu năm 1942, gồm Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Minh, Đại Việt và các đảng nhỏ khác. Nguyễn Hải Thần lãnh đạo, bao gồm cả các đảng viên cộng sản như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Hoan. Tháng Giêng năm 1942 hội rời tới Liễu Châu. Có các nhóm tham gia: Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội (lãnh đạo bởi Hoàng Lương), Việt Minh, Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân đảng. Đại hội thành lập Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội được triệu tập tại Liễu Châu, Trung Quốc, gồm các đại biểu của nhiều đảng phái như Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hộ Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm bảy người là: Các ủy viên thường vụ là Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, nhưng có thế lực nhất vì được chính phủ Trùng Khánh hậu thuẫn là Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ. Cờ của Hội là nền đỏ, góc tư trên màu lam với ba vạch trắng. Tuy nhiên vào năm 1943, Trương Phát Khuê đã giao cho Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Cách. Theo cuốn "The Lost Revolution" của Robert Shaplen: "Và chính từ thời điểm Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Hồ Chí Minh, trước hết là để giấu lai lịch đối với Dai Li (Đới Lạp), trùm mật vụ của Tưởng. Với tên Hồ Chí Minh, ông trở thành người cầm đầu một tổ chức tập hợp rộng rãi các nhóm cách mạng người Việt gọi là Đồng minh Hội, được Trung Hoa Quốc dân Đảng ủng hộ, còn Việt Minh do cộng sản tổ chức lúc đầu cũng chỉ là một bộ phận của tổ chức này"". Tháng Ba năm 1944 Nguyễn Hải Thần chủ trì Hội nghị các nhóm cách mạng hải ngoại của đồng minh hội, thành lập ủy ban hành chính, trong đó có ba đại biểu đảng cộng sản là Lê Tùng Sơn, Phạm Văn Đồng, và Hồ Chí Minh. Nhưng giữa năm 1944 Hồ Chí Minh trở lại Việt Nam, Vũ Hồng Khanh va chạm với Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam. Do đó liên minh này giải tán, Nguyễn Hải Thần vẫn lãnh đạo Việt Cách. Phản ứng của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đánh giá sự kiện trên, Nghị quyết Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (họp từ ngày 25 đến 28 tháng 12 năm 1943) viết: ""Đó là một bước tiến của việc vận động cách mạng Việt Nam ở nước ngoài. Tuy quan niệm của đoàn thể này lộn xộn, nhưng họ cũng chủ trương chống Nhật - Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập. Trong cuộc cách mạng dân tộc giải phóng này, việc đoàn kết các lực lượng cách mạng to nhỏ và trong ngoài là một việc rất cần thiết. Vậy Đảng ta phải hết sức vận động cho Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội và Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội hợp lại làm một, đặng mau tập trung lực lượng cách mạng Việt Nam đánh đuổi phát xít Nhật - Pháp"." Can thiệp của Trung Hoa Quốc dân Đảng. Với chủ trương Việt Cách sẽ trở thành một đồng minh trong việc chống lại quân Nhật tại Đông Dương, tướng Trương Phát Khuê (Trung Hoa Dân quốc) phái tướng Tiêu Văn triệu tập một cuộc đại hội để chỉnh đốn Việt Cách bằng cách đưa một số người mới vào ban lãnh đạo. Tiêu Văn đã trao đổi với Hồ Chí Minh, lúc này mới được chính quyền Tưởng Giới Thạch trả tự do thì Hồ Chí Minh nói rằng hiện nay các thành viên của hội Việt Cách đều là người ở hải ngoại, chưa có đại biểu trong nước; như vậy, gọi là họp đại hội không ổn, có lẽ chỉ nên gọi là hội nghị đại biểu các đoàn thể của Việt Cách ở hải ngoại, thì thích hợp hơn. Hội nghị đại biểu họp tại Liễu Châu từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 3 năm 1944, gồm 15 đại biểu các đoàn thể chưa phải là thành viên Việt Cách, trong đó có đại biểu Hội giải phóng ở Vân Nam là Lê Tùng Sơn vốn đã theo Việt Minh, đại biểu Biệt động quân ở Nam Ninh là Nguyễn Thanh Đồng cũng là Việt Minh, đại biểu Đảng Đại Việt là Nguyễn Tường Tam và đại biểu Phân hội phản xâm lược đồng minh Việt Nam là Hồ Chí Minh. Tại hội nghị này, ba người cũ trong Ban Chấp hành trung ương bị thay ra và ở trong Ban giám sát là Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nông Kinh Du, còn ba người mới được thay vào là Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật và Trần Đình Xuyên. Hồ Chí Minh và Nguyễn Tường Tam được bầu làm Ủy viên Trung ương dự khuyết. Sau một thời gian Trần Đình Xuyên bị gạt ra, Hồ Chí Minh được trở thành Ủy viên Trung ương chính thức. Cuối năm 1944 Hồ Chí Minh rời bỏ Việt Cách về Việt Nam. Hoạt động tại Việt Nam. Trong suốt thời gian chiến tranh thế giới thứ II, nhờ có Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) mà các đảng phái chống thực dân Pháp lưu vong tại miền Nam Trung Quốc nhận được sự công nhận và hỗ trợ của tướng Trương Phát Khuê, tư lệnh quân khu IV (Quảng Đông - Quảng Tây). Tuy nhiên, từ tháng 5/1945, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh hoạt động tại các tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc mà không lấy danh nghĩa Việt Cách khiến tướng Tiêu Văn (cấp dưới của Trương Phát Khuê phụ trách vấn đề Đông Dương) khó chịu. Tiêu Văn ủng hộ lãnh đạo Việt Cách là Nguyễn Hải Thần (người được kính trọng vì từng là đồng chí của Phan Bội Châu) tập hợp hàng trăm người Việt lưu vong để cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc vượt biên giới tấn công quân Nhật. Tuy nhiên, khi Nhật bất ngờ đầu hàng Đồng Minh, Tưởng Giới Thạch giao cho Lư Hán nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Lư Hán không có quan hệ với Việt Cách cũng như các đảng phái lưu vong khác của người Việt nhưng chấp nhận cho Tiêu Văn tham gia quân đội của ông. Ngày 30 tháng 3 năm 1945, tướng Tiêu Văn tới Côn Minh tổ chức các "Ủy ban hành động" (sau gọi là "Lữ đoàn hành động") gồm tàn quân Phục quốc do các thành viên Việt Cách chỉ huy. Trong hồi ký "Những năm tháng không thể nào quên", đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định mục đích của Việt Quốc, Việt Cách để mở đường, tạo dựng cơ sở cho Quân đội Trung Hoa Dân quốc vào Việt Nam, gây xung đột vũ trang với Quân giải phóng và cướp chính quyền các địa phươ, các Lữ đoàn hành động theo 4 hướng vượt biên giới. Tuy nhiên trong 4 cánh quân này khi xung đột vũ trang với Việt Minh thì 3 cánh quân (do Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật và Trương Trung Phụng chỉ huy) đã hạ vũ khí, tự giải giáp hoặc gia nhập lực lượng quân đội quốc gia của Việt Minh, chỉ có một cánh quân do Vũ Kim Thành chạy về vùng Hải Ninh rồi bị tiêu diệt. Bồ Xuân Luật sau đó làm Bộ trưởng trong Chính phủ liên hiệp. Ngày 1/9/1945, tại Móng Cái, Việt Cách thành lập Chính phủ Quốc gia lâm thời Việt Nam do Nguyễn Hải Thần đứng đầu. Sau đó Việt Cách thông báo với Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng Trung Hoa Dân quốc và phe Đồng Minh đã công nhận hiệu kỳ của Việt Cách là lá cờ của tất cả các đảng cách mạng Việt Nam. Trên đường tiến vào Hà Nội và Hải Phòng, Việt Cách để cán bộ lại tại các tỉnh họ đi qua khiến Nguyễn Hải Thần khi về đến Hà Nội chỉ có một nhóm cận vệ bên cạnh. Nguyễn Hải Thần về Hà Nội lập trụ sở ở đường Quan Thánh phố Cửa Bắc, tìm cách vận động dân chúng nội thành ủng hộ. Việt Cách bắc loa tố cáo Việt Minh là cộng sản; sự việc dẫn đến xô xát giữa những đám người ủng hộ và chống đối. Ngày 18 tháng 9 năm 1945, Việt Minh họp bí mật với Việt Cách (ngày 18/9/1945). Trong cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần đại diện Việt Cách đề nghị Hồ Chí Minh đồng ý hợp nhất Việt Minh với Việt Cách và Việt Quốc. Qua đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo sẽ nhận được sự ủng hộ về tài chính và chính trị của Trung Hoa Dân quốc. Võ Nguyên Giáp dứt khoát không đồng ý. Theo ông, những đề nghị đó không có giá trị và không thật thà, nó chẳng khác gì thay thế chủ nghĩa thực dân Pháp bằng ách thống trị của Trung Quốc, nhân dân sẽ "chẳng bao giờ chịu bán rẻ sự nghiệp chính nghĩa của họ để đổi lấy đô la Trung Quốc". Ký "Đoàn kết tinh thần" và thành lập Chính phủ liên hiệp. Ngày 20/8/1945, Việt Cách cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc tiến vào Việt Nam. Ngày 30/9/1945, Nguyễn Hải Thần dẫn đầu một phái đoàn tới gặp Tiêu Văn để thảo luận về việc loại bỏ Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đàn áp Đảng Cộng sản Đông Dương. Tiêu Văn tỏ ra không ủng hộ ý định của Nguyễn Hải Thần. Cuối tháng 10/1945, bảy đảng viên Việt Cách dưới quyền Nguyễn Hải Thần ký bản "Đoàn kết tinh thần" với Việt Minh theo đó Việt Cách sẽ liên kết với Việt Minh chống lại sự xâm lược của Pháp, bảo vệ nền độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên sau đó nhiều người chối bỏ họ đã ký bản "Đoàn kết tinh thần". Nguyễn Hải Thần công khai bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Việt Nam. Hàng loạt vụ đụng độ giữa Việt Minh và Việt Cách xảy ra khiến công chúng bị sốc và làm các chỉ huy quân đội Trung Hoa Dân quốc tại miền Bắc Việt Nam khó chịu. Tiêu Văn gây sức ép lên tất cả các bên để buộc họ thành lập chính phủ liên hiệp. Chương trình của Mặt trận Quốc gia Liên hiệp gồm Việt Minh và Việt Cách gồm những nguyên tắc chung: Chương trình để thực hiện: Quy định Hiến pháp để củng cố nền dân chủ cộng hòa; thành lập một Chính phủ quốc gia liên hiệp do Quốc hội cử ra; thống nhất chính quyền từ trên xuống dưới; thực hiện một chế độ hành chính cần kiệm, liêm khiết; nâng cao các dân tộc thiểu số theo tinh thần bình đẳng; thân thiện với các nước Đồng minh nhất là Trung Quốc; mật thiết liên lạc với Miên và Lào; đối với Pháp, tranh đấu cho đến hoàn toàn độc lậ Chương trình này đưa ra khi thành lập Mặt trận để phục vụ cho công tác bầu cử. Các đoàn dân quân ở Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho lúc đó đang chiến đấu rất hoan nghênh đường lối này, gửi điện tín ra phê phán Việt Quốc. Tuy nhiên sau đó vì nhiều lý do Việt Cách đã không tham gia cuộc bầu cử dự kiến ngày 18 tháng 12 năm 1945 sau lùi lại ngày 6 tháng 1 năm 1946. Ngày 23/12/1945, Tướng Tiêu Văn tổ chức một cuộc họp hòa giải các bên để thành lập chính phủ liên hiệp. Tại cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần đề nghị Hồ Chí Minh hợp tác với Việt Quốc, Việt Cách thành lập một chính phủ bao gồm thành viên của Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh và các đảng phái nhỏ khác. Nguyễn Hải Thần sẽ đảm nhận chức Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh làm Phó Chủ tịch. Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh, mỗi đảng nắm giữ 1/4 số ghế Bộ trưởng trong Chính phủ; 1/4 còn lại do các đảng phái nhỏ nắm. Như vậy Việt Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nhận được sự ủng hộ của Trung Hoa Dân quốc chống lại cố gắng của Pháp tái chiếm Việt Nam. Điều làm Quốc dân Đảng Trung Hoa lo sợ nhất là Hồ Chí Minh từng là nhân viên của Quốc tế Cộng sản và Việt Minh có khuynh hướng cộng sản. Trước đó, Pháp cũng đã họp với Nguyễn Hải Thần và cho biết Pháp sẽ thực hiện Bản Tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 và công nhận một chính phủ của người Việt Nam nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp với điều kiện chính phủ đó không do người cộng sản lãnh đạo. Cuối cùng các bên đạt được một thỏa thuận được tuyên bố là mang tính pháp lý (viết bằng chữ Hán) theo đó các ghế bộ trưởng trong chính phủ sẽ phân chia như sau: Việt Minh 2 bộ trưởng, Đảng Dân chủ Việt Nam (cũng tham gia Việt Minh) 2 bộ trưởng, Việt Quốc 2 bộ trưởng, Việt Cách 2 bộ trưởng, phi đảng phái 2 bộ trưởng. Thỏa thuận này không sử dụng tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vì Việt Quốc không đồng ý với tên này. Cuộc bầu cử quốc hội được hoãn 2 tuần. Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần chấp nhận để Hồ Chí Minh tiếp tục làm chủ tịch nước lâm thời. Quốc hội sẽ quyết định quốc kỳ và quốc huy. Hai đảng này cũng không được tham gia vào cơ quan chỉ huy và tham mưu của quân đội. Việt Quốc sẽ được 50 ghế còn Việt Cách 20 ghế trong Quốc hội mà không phải tranh cử. Điều này khẳng định với nhiều người rằng 2 đảng phái này không có khả năng giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại địa phương. Ngày 24 tháng 2 năm 1946, tại Đại sứ quán Trung Hoa, dưới sự chủ trì của tướng Tiêu Văn, hội nghị giữa các đảng phái Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách, Đảng Dân chủ đã thống nhất về việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Cố vấn đoàn và Kháng chiến Ủy viên hội. Việt Cách và Việt Quốc nắm 4 bộ (Ngoại giao, Kinh tế, Xã hội và Canh nông). Ngày 1 tháng 1 năm 1946 Chính phủ Liên hiệp Lâm thời được thành lập thay thế Chính phủ Cách mạng Lâm thời với sự tham gia của 2 đảng phái đối lập Việt Cách và Việt Quốc. Trái với thỏa thuận ngày 23/12/1945, nội các chính thức có đến 14 bộ trưởng và 2 thứ trưởng. Tuy nhiên chức trách các Bộ cũng thay đổi. Bộ trưởng Quốc phòng trở thành người lo về tài chính mà không được xem xét danh sách nhân sự, quân số, súng đạn còn các Bộ trưởng khác của các đảng phái Quốc gia chẳng có chức trách cụ thể gì, không bao giờ được tham dự bất cứ buổi họp nào của nội các. Hồ Chí Minh cho rằng nếu không có sự lãnh đạo của Việt Minh thì sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc sẽ thất bại. Việt Quốc và Việt Cách chỉ có thể duy trì một nền độc lập hình thức cho Việt Nam dưới quyền kiểm soát của người Pháp với sự hỗ trợ của Trung Hoa Dân Quốc phù hợp với kế hoạch bóc lột kinh tế Việt Nam của Trung Quốc. Sau khi Trung Hoa Dân quốc đạt được những thỏa thuận với Pháp có lợi cho họ, Việt Quốc, Việt Cách sẽ bị bỏ rơi và bất lực trong việc đối đầu với quân Pháp đổ bộ vào Việt Nam khiến Việt Nam quay lại làm thuộc địa Pháp. Hồ Chí Minh cũng không vội vàng triệu tập nội các. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên toàn quốc, lần đầu tiên đã bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp. Nhiều đảng phái không có quyền tham gia Tổng tuyển cử đã tìm cách phá hoại. Các đảng này cho là "trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản", "chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được". Có tài liệu ghi nhận lá phiếu không bí mật và theo quan sát của sử gia Trần Trọng Kim thì có nơi người dân bị cưỡng bách bầu cho Việt Minh. Nhưng theo Việt Minh, cuộc bầu cử diễn ra công bằng. Mặc dù bị nhiều đảng phái tuyên truyền vận động dân chúng tẩy chay cuộc bầu cử và ngăn cản việc tổ chức bầu cử ở một số nơi (ở khu Ngũ Xá, có một nhóm vũ trang cả súng liên thanh đến ngăn cản dân phố đi bầu cử, cấm treo cờ đỏ sao vàng, cấm đặt hòm phiếu; ở Hải Phòng xảy ra cướp hòm phiếu và hành hung cán bộ an ninh, ở Sài Gòn máy bay Pháp bắn vào dân đi bầu cử), nhưng tại các địa phương, ở đâu cũng có người tự ứng cử, các cuộc tiếp xúc tranh cử công khai, tự do diễn ra ở khắp mọi nơi. Đa số đại biểu trúng cử không phải là thành viên Việt Minh Trong hồi ký "Những năm tháng không thể nào quên", đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định các đảng phái này lo sợ thất bại trước sức ủng hộ lớn của cử tri với mặt trận Việt Minh nên tìm cách chỉ trích và không tham gia bầu cử. Sau khi Quốc hội được bầu, ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập để thay thế Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ở các địa phương, các cấp chính quyền liên hiệp được thành lập trong năm 1946. Theo thỏa thuận với Việt Minh, phe đối lập bao gồm một số tổ chức như Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân Đảng được Trung Hoa Dân quốc ủng hộ, không tham gia Tổng tuyển cử nhưng vẫn được nắm 70 ghế Quốc hội (Việt Quốc 50 ghế, Việt Cách 20 ghế) cùng một số vị trí trong chính quyền trung ương do chính sách hòa hợp các đảng phái của Chính phủ. Hai mươi thành viên Việt Cách trở thành đại biểu quốc hội bằng một sắc lệnh hành pháp. Hồ Đắc Thành và Bồ Xuân Luật ứng cử và cũng trở thành đại biểu quốc hội. Ngày 2/3/1946, quốc hội họp phiên đầu tiên nhưng Nguyễn Hải Thần vắng mặt. Hồ Chí Minh đề cử Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước, Nguyễn Đình Tri của Việt Cách làm bộ trưởng xã hội. Theo David G. Marr Hồ Chí Minh đồng ý để Nguyễn Hải Thần thay vì một lãnh đạo nào đó của Việt Quốc làm Phó Chủ tịch nước vì Thần từng là đồng chí của Phan Bội Châu, được các lãnh đạo Trung Hoa Dân quốc kính trọng và nhất là Thần không có khả năng tự gây dựng cơ sở quyền lực trong nước. Việc Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước cũng gây ra sự chia rẽ bên trong nội bộ Việt Cách có lợi cho Việt Minh. Chính phủ này tồn tại không bao lâu vì sau khi quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam theo thỏa thuận Hoa-Pháp, lực lượng đảng phân rã, suy yếu. Nhiều lãnh đạo ra nước ngoài. Tháng Hai năm 1947, Nguyễn Hải Thần (Việt Cách), Nguyễn Tường Tam (Đại Việt), Vũ Hồng Khanh (Việt Quốc), thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp, chống chính quyền Việt Minh, ủng hộ giải pháp Bảo Đại. Trong khi lãnh đạo các phe phái Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách tranh cãi về các định nghĩa pháp lý, về việc bổ nhiệm các bộ trưởng và việc đưa ra các tuyên bố chung để đi đến thành lập Chính phủ liên hiệp thì các chủ bút, cán bộ chính trị, lực lượng vũ trang của các bên vẫn đấu tranh với nhau gay gắt. Bộ Tuyên truyền của Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi đến ban biên tập các tờ báo một bức thư hư cấu chỉ trích Nguyễn Hải Thần không cử người tham gia đoàn quân Nam tiến chi viện cho miền Nam đồng thời buộc tội ông thỏa thuận với quân Pháp. Báo chí thường xuyên cáo buộc Việt Cách và Việt Quốc tống tiền dân chúng. Công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thường xuyên bắt giữ các thành viên Việt Cách vì tội tống tiền, đặc biệt là đối với Hoa kiều. Các thành viên Việt Minh và Việt Cách xé áp phích của nhau, đe dọa tính mạng và phá các cuộc họp của đối thủ. Việt Minh khuyến khích Bồ Xuân Luật rời bỏ Việt Cách lập ra tờ báo Đồng Minh xuất bản cho đến tháng 11 năm 1946. Mười ngày sau đó, tại Hà Nội, Bồ Xuân Luật bị phục kích nhưng may mắn thoát chết. Các lãnh đạo Việt Cách không gặp khó khăn gì trong việc kiểm soát các thị xã từ biên giới Trung Quốc đến đồng bằng sông Hồng cho đến khi quân đội Trung Quốc rút về nước vào tháng 4/1946. Các viên chức nhà nước tại những nơi đó phải đối mặt với việc trung thành với Việt Cách, trung lập hay di tản khỏi thị xã. Việt Cách đôi khi phải xin phép chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thực hiện một số hoạt động của họ. Bị Việt Quốc làm lu mờ và ngày càng mất đoàn kết, tháng 3/1946, Việt Cách bị chia rẽ. Một số thành viên tập trung bảo vệ các thị xã phía Bắc Hà Nội, những người khác gia nhập Việt Quốc, số còn lại lệ thuộc Việt Minh. Việt Cách có thể đã tổ chức một số cuộc tấn công vào lính Pháp tại Hải Phòng vào tháng 4/1946. Cuối tháng 4/1946, Pháp khai quật được 12 thi hài tại tầng hầm trụ sở cũ của Việt Cách tại Hà Nội trong đó có 2 công dân Pháp mất tích ngày 24/12/1945. Cuối tháng 5/1946, thành viên Việt Cách Hồ Đắc Thành tham gia Mặt trận Liên Việt. Các thành viên Việt Cách ở Quảng Yên và Móng Cái đã rút qua Trung Quốc vào giữa tháng 6/1946. Cuối tháng 10/1946, báo Đồng Minh của Bồ Xuân Luật đưa tin về cuộc họp của một số chi bộ còn lại của Việt Cách và việc một số thành viên Việt Cách tham gia kỳ họp thứ hai của quốc hội. Công an thu được một số tài liệu của Việt Cách và triệu tập các thành viên Việt Cách tới thẩm vấn. Từ đó trở đi một vài thành viên Việt Cách hợp tác với Việt Minh để xây dựng một hình ảnh mặt trận quốc gia liên hiệp giữa các đảng phái trong khi đó các thành viên khác bị tống giam hoặc phải lưu vong. Nhánh Việt Cách theo Việt Minh như Bồ Xuân Luật, Hồ Đắc Thà
Địa chấn học là một lĩnh vực quan trọng của địa vật lý, là khoa học nghiên cứu về "động đất" và sự lan truyền "sóng địa chấn" (Seismic waves) trong Trái Đất hoặc hành tinh tương tự khác. Thuật ngữ Seismology có nguồn từ tiếng Hy Lạp σεισμός ("động đất") và -λογία ("nghiên cứu"). Địa chấn học nghiên cứu về động đất do các nguồn khác nhau, như quá trình kiến tạo, núi lửa, đại dương, khí quyển, và các nguồn nhân tạo. Nó nghiên cứu cả tác động động đất tới môi trường như sóng thần. Những nghiên cứu để thu được thông tin về các trận động đất trong quá khứ thì tập hợp trong "Cổ địa chấn" (). Địa chấn học bao gồm địa chấn lớn (Seismology), và phần ứng dụng là thăm dò địa chấn (Seismic exploration) để khảo sát địa chất, môi trường và thăm dò tài nguyên khoáng sản. Các loại sóng địa chấn. "Sóng địa chấn" (Seismic wave) là dạng sóng cơ học chứa năng lượng và lan truyền trên mặt hay trong lòng Trái Đất hoặc hành tinh khác. Sự khác nhau về cách thức lan truyền, đặc trưng dao động của phần tử môi trườ"sóng khối" (Body waves) và "sóng mặt" (Surface waves). "Sóng khối" (Body waves) truyền qua phần bên trong của Trái Đất. Nó tạo ra đường "tia sóng" (raypath) bị cong hay khúc xạ do các thay đổi mật độ và modul (độ cứng) ở phần bên trong của Trái Đất. Mật độ và modul thay đổi tùy theo nhiệt độ, thành phần, và pha của vật chất. Hiệu ứng này tương tự như sự khúc xạ của sóng ánh sáng. Sóng khối có hai loại chính: "Sóng mặt" (Surface waves) lan truyền trên bề mặt, là mặt tiếp giáp giữa các pha của vật chất là rắn-không khí, nước-không khí, và rắn-lỏng. Bùn nhão phủ trên đá cứng có thể xem là gần lỏng và sóng mặt xuất hiện ở mặt đá cứng. Sóng mặt lan truyền chậm hơn sóng khối (P và S), và dao động của hạt môi trường có dạng phức tạp, nhưng biên độ giảm dần theo độ sâu. Trong trận động đất mạnh, sóng mặt có thể có biên độ của một vài cm, và là sóng gây phá hủy. Thăm dò địa chấn. "Thăm dò địa chấn" là tập hợp các phương pháp địa chấn dùng "các nguồn có kiểm soát" như nổ mìn, rung, đập, các nguồn phát chuyên dụng ()... phát "sóng địa chấn" vào môi trường đất đá hoặc nước, và bố trí quan sát thích hợp để thu được trường "sóng địa chấn". Quan sát trường sóng được tập hợp thành "băng ghi địa chấn". Xử lý phân tích các băng ghi sẽ thu được phân bố các ranh giới địa chấn, tốc độ truyền sóng và đặc trưng truyền, từ đó giải đoán ra cấu trúc địa chất, thành phần, tính chất, trạng thái đất đá dưới sâu hoặc độ sâu, hoặc trạng thái đáy nước. Nó phục vụ giải quyết các nhiệm vụ địa chất khác nhau, như nghiên cứu cấu trúc vỏ Trái Đất, tìm kiếm thăm dò dầu khí, tài nguyên khoáng sản, hải dương học, địa chất biển, vẽ bản đồ địa hình vùng nước và biển, khảo sát địa chất thủy văn và địa chất công trình, khảo cổ học, tìm vật bị chìm dưới nước như tàu thuyền cầu cố Thăm dò địa chấn có thể chia ra theo mục tiêu khảo sát và phương cách quan sát, xử lý số liệu ra các phương pháp như sau: Nghiên cứu lòng Trái Đất. Vì các sóng địa chấn lan truyền và tương tác với các cấu trúc bên trong của Trái Đất, chúng cung cấp phương pháp phân giải cao để nghiên cứu bên trong của hành tinh. Một trong những phát hiện quan trọng đầu tiên do đưa ra năm 1906 và được khẳng định năm 1926, là lõi ngoài Trái Đất là chất lỏng. Sóng S không truyền qua chất lỏng. Lõi lỏng gây ra một "vùng tối" về phía đối diện hành tinh, ở đó không quan sát thấy sóng S của các trận động đất. Ngoài ra, sóng P đi chậm hơn nhiều qua lõi ngoài so với lớp vỏ Manti. Xử lý số liệu từ nhiều địa chấn kế (seismometers) để dựng ảnh chụp cắt lớp (tomography), các nhà địa chấn học đã lập được bản đồ lớp của Trái Đất với độ phân giải tầm vài trăm cây số. Điều này đã cho phép các nhà khoa học phát hiện các thành tố đối lưu (), và yếu tố quy mô lớn khác như đới tốc độ siêu thấp () gần ranh giới lõi ngoài-lớp vỏ Manti. Dự báo động đất. "Dự báo động đất" () là nỗ lực được nhiều thế hệ nhà địa chấn học hướng đến thực hiện, nhằm dự báo thời gian, địa điểm, cường độ và các tính trạng khác, kể cả xây dựng ra phương pháp dự báo như "phương pháp VAN" (). Song hiện vẫn chưa đạt được cho từng vụ động đất. Điều có thể là, dự báo tổng quát rủi ro địa chấn, ước tính xác suất của một trận động đất có quy mô cụ thể ảnh hưởng đến một địa điểm cụ thể trong một thời gian nhất định, và được sử dụng trong địa kỹ thuật để có giải pháp kháng chấn. Tranh cãi công khai về "dự báo động đất" đã nổ ra sau khi nhà chức trách Italy truy tố sáu nhà địa chấn học và một quan chức chính phủ cho tội ngộ sát liên quan đến trận động đất cường độ 6,3 ở "L'Aquila", Italy ngày 5/04/2009. Bản cáo trạng cho rằng, tại một cuộc họp đặc biệt tại L'Aquila tuần trước khi trận động đất xảy ra, các nhà khoa học và các quan chức đã quan tâm nhiều hơn đến ổn định lòng dân, hơn là cung cấp thông tin đầy đủ về nguy cơ động đất và chuẩn bị sẵn sàng đối phó. Nó thu hút được sự lên án của "Hiệp hội Mỹ vì sự Tiến bộ của Khoa học" () và "Hiệp hội Địa vật lý Mỹ" ().
Phạm Lệnh Công (chữ Hán: 范令公, 889 - 951), có giả thuyết cho rằng tên thật là Phạm Chiêm, là một tướng lĩnh nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Phạm Lệnh Công quê ở Trà Hương, Nam Sách, Hải Dương, cha là Hồng châu tướng quân Phạm Chí Dũng. Năm 938, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại. Phạm Lệnh Công theo Ngô Quyền kéo quân ra thành Đại La tiêu diệt kẻ phản bội. Do lo sợ bị tiêu diệt, Kiều Công Tiễn đã cầu cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán lúc bấy giờ là Lưu Cung cho con trai là Hoằng Thao kéo quân theo đường thủy sang giúp (thực chất là nhân cơ hội chiếm lấy Giao Châu). Đầu mùa đông năm 938, cùng với Ngô Quyền dẹp xong bọn phản loạn Kiều Công Tiễn và chuẩn bị toàn lực để đối phó với sự xâm lăng của quân Nam Hán. Theo lệnh của Ngô Quyền, Phạm Lệnh Công cùng với quân sĩ đóng cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng và nhử quân địch vào khu vực này khi thủy triều lên. Quân giặc thấy quân của Ngô Quyền chỉ có thuyền nhẹ, quân ít tưởng có thể dễ thắng lên hùng hổ tiến vào. Đợi đến khi thủy triều xuống mới hạ lệnh cho quân sĩ đổ ra đánh. Thuyền chiến lớn của quân Nam Hán bị mắc cạn và lần lượt bị cọc đâm thủng gần hết. Quân Nam Hán thua chạy, còn Hoằng Thao bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ. Từ đó nhà Nam Hán bỏ hẳn mộng xâm lược. Phạm Lệnh Công được Ngô Quyền trọng dụng và phong cho đến chức Đông Giáp tướng quân (tức là ông tướng cai quản vùng xứ Đông). Che chở Ngô Xương Ngập. Năm 944, Ngô Quyền mất. Dương Tam Kha thấy Ngô Xương Ngập tài năng bình thường bèn cướp ngôi, lập em Xương Ngập và Xương Văn làm thừa tự. Ngô Xương Ngập thấy biến chạy trốn về nhà Phạm Lệnh Công ở Trà Hương nhờ che chở. Phạm Lệnh Công nhiều lần đưa Ngô Xương Ngập vào rừng ẩn náu, khiến Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi cho quân về đuổi bắt mà không làm gì được. Năm 950, Ngô Xương Văn cướp lấy ngôi vua, sang năm cho người về Trà Hương đón anh là Ngô Xương Ngập về cùng cai quản đất nước. Tuy nhiên chính quyền nhà Ngô ngày càng suy yếu, dẫn tới tình trạng cát cứ của các thổ hào, trong đó có thế lực của Phạm Lệnh Công. Theo gia phả địa phương, Phạm Lệnh Công là cha của sứ quân Phạm Bạch Hổ, người sau này quy phục Đinh Tiên Hoàng. Con gái (cháu gái?) của Phạm Lệnh Công là vợ của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập Ở Trà Hương dân làng suy tôn Phạm Lệnh Công là Thành hoàng làng, dân làng lập đền thờ (nay là làng Thụy Trà, xã Nam Trung, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Hàng năm cứ vào ngày 11 và 12 tháng Giêng dân làng và khách thập phương lại tổ chức lễ hội. Nhận xét về Phạm Lệnh Công, sử gia Ngô Sĩ Liên trong "Đại Việt sử ký toàn thư" với tư tưởng Nho giáo đã khen ngợi Phạm Lệnh Công là một người "trung quân": "Dụng tâm của Phạm Lệnh Công thật là trung. Tam Kha là kẻ gian thần mà đuổi con đích của vua để cướp ngôi, lấy Xương Văn làm con mình, chẳng qua là lời lẽ che đậy giả dối, ai mà biết được ? Vả lại, lúc ấy người trong nước ai cũng xem Tam Kha là vua, mà Lệnh Công dám che giấu cho Xương Ngập, muốn cho dòng dõi họ Ngô không tuyệt tự, việc của Trình Anh, Chữ Cửu lại thấy ở đây. Ai bảo một nước rộng lớn mà không có trung thần nghĩa sĩ."
Trần Xá (chữ Hán là 陳舍), là tên của nhiều làng xã Việt Nam, đa số phân bố từ Bắc Trung Bộ ra phía Bắc. Nổi bật trong các làng Trần Xá đó là làng Trần Xá (bến Bình Than), nằm trên bờ sông Kinh Thầy thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Đây là nơi vua quan nhà Trần tổ chức hội nghị Bình Than vào tháng 10 năm 1282 để bàn kế chống giặc Nguyên đem quan sang xâm lược. Một việc đã đi vào lịch sử và sách vở là chuyện Trần Quốc Toản bóp nát quả cam vua ban. == Làng Trần Xá (Nam Sách, Hải Dương) Người dân làng Trần Xá sống chủ yếu bằng nghề Nông nghiệp, bên cạnh đó do có lợi thế về bãi bồi, nên nghề chăn nuôi gia súc lớn như trâu, bò... cũng phát triển mạnh. Nhiều gia đình có trâu, bò, ngựa, thả ngoài bãi bồi. Người làng Trần Xá thường thả gia súc ra bãi bồi, và đến cuối buổi chiều, chúng tự đi về nhà mình nếu đã quen, hoặc những ngày đầu phải lừa về. Đường vào làng Trần Xá có 3 lối chính, đều xuất phát từ đường chân đê. Các làng cổ Trần Xá. Trong cuốn sách "Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19 (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra)", có ghi tên 6 làng Trần Xá sau: Ngoài ra còn có xã Trần Xá thuộc huyện Đại An trấn Sơn Nam (nay là làng Tràn, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định). Trong "Phủ biên tạp lục", Lê Quý Đôn khi kể về các dư địa chí của Đàng Trong, có nhắc đến các làng Trần Xá sau: Làng Trần Xá huyện Nam Xang (Nam Xương) nay thuộc huyện Lý Nhân, được tiến sĩ năm 1469 triều vua Lê Thánh Tông là Trần Bảo (1449-1529) khai hoang lập nên. Trần Bảo quê gốc ở Trần Xá, Đại An thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng, nhớ đến quê cũ nên đã đặt tên làng do mình khai khẩn theo tên quê gốc .
Võ Lâm Truyền Kỳ Võ lâm truyền kỳ là một trò chơi nhập vai trực tuyến nhiều người chơi (MMORPG) được Việt hóa từ trò chơi "Kiếm hiệp tình duyên Online" (chữ Hán: 剑侠情缘; tiếng Anh: "SWORDSMAN Online hay Justice Xwar") của công ty Kingsoft (Kim Sơn) từ Trung Quốc và được VNG phân phối tại Việt Nam. Trò chơi cho phép các người chơi đóng vai dựa theo các tiểu thuyết kiếm hiệp của Trung Quốc. Trò chơi này từng gây cơn sốt ở Trung Quốc và được Hiệp hội Phần mềm Trung Quốc trao giải "Trò chơi xuất sắc nhất năm 2003" Sau khi được Việt hóa giao diện và chuẩn bị các điều kiện cần thiết, trò chơi đã chính thức ra mắt người chơi Việt Nam vào ngày 21 tháng 3 năm 2005. Game đã thu hút được đông đảo người chơi từ rất nhiều ngành nghề: bác sĩ, giáo sư, giáo viên, học sinh, công nhân viên chức, nghệ sĩ nổi tiếng như: Ưng Hoàng Phúc, Tấn Beo, Lam Trường, Xuân Bắc, Ngân Khánh, …. Từ khi ra mắt năm 2005 đến thời điểm cập nhật 04/2014, VLTK đã có tổng cộng gần 20tr người chơi với 86 server trong một thời điểm Một trong những hoạt động tầm cỡ, nổi bật nhất của Võ Lâm Truyền Kỳ là Đại hội Võ Lâm với sự tham gia của hơn 40.000 người vào năm 2005 tại nhà thi đấu Quân khu 7. Ngoài các hoạt động trong game, Võ Lâm Truyền Kỳ còn tổ chức thành công cuộc thi Thập Đại Mỹ Nhân và các mỹ nhân đó hiện đang là những nhân vật nổi tiếng như ca sĩ Bảo Thy, diễn viên Ngân Khánh, ca sĩ Bích Ly, hoa hậu Ngọc Hân… Võ Lâm Truyền Kỳ Việt Nam đã trải qua 11 phiên bản. Phiên bản thứ 1 Công Thành Chiến, Phiên bản thứ 2 Sơn Hà Xã Tắc, Phiên bản thứ 3 Tình Nghĩa Giang Hồ, Phiên bản thứ 4 Phong Hỏa Liên Thành, Phiên bản thứ 5 Hùng Bá Thiên Hạ, phiên bản thứ 6 Thất Thành Đại Chiến, Phiên Bản thứ 7 Phong Vân Tái Khởi, Phiên bản thứ 8 Bát Mạch Chân Kinh, Phiên Bản thứ 9 Cửu Niên Trùng Phùng, Phiên bản thứ 10 Nơi Ta Thuộc Về, và trong năm 2015 ra mắt Phiên Bản thứ 11 Tụ Nghĩa Vi Minh. Ngoài Võ Lâm Truyền Kỳ I với 11 phiên bản trên, Võ Lâm Truyền Kỳ II cũng đã ra mắt vào năm 2007 và Võ Lâm Truyền Kỳ 3D ra mắt vào năm 2013. Trong năm 2014, song song việc nâng cấp lên phiên bản 10 Nơi Ta Thuộc Về, VNG cũng tái phát hành phiên bản Công Thành Chiến -Tình Trong Thiên Hạ, dành cho nhóm người chơi hoài niệm phiên bản cũ. Tuy nhiên, Võ Lâm Truyền Kỳ I, Võ Lâm Truyền Kỳ II và Võ Lâm Truyền Kỳ 3D là các trò chơi hoàn toàn khác biệt tuy đều được cung cấp bởi VNG. Năm 2016, phiên bản Mobile của tựa game Swordsman Mobile (JX Mobile) do Seasun Games sản xuất (thuộc Kingsoft) chính thức được phát hành ở Việt Nam với tên gọi "Võ Lâm Truyền Kỳ Mobile" do VNG phát hành, trở thành một trong những tựa game MMORPG hot ở thị trường Việt Nam. Hiện tựa game đã đạt hơn 25 triệu người và hơn 700 máy chủ của tựa game này. Năm 2021, Võ Lâm Truyền Kỳ 1 Mobile chính thức ra mắt. Tựa game được sản xuất bởi Seasun Games (thuộc Kingsoft) và VNG phát hành ở thị trường Việt Nam. Tựa game Võ Lâm Truyền Kỳ 1 Mobile được sản xuất dựa trên engine của tựa game Võ Lâm Truyền Kỳ I phiên bản PC nhằm đem đến cho người chơi những kí ức huyền thoại một thời, nhất là những người chơi lâu năm. Tại Trung Quốc, tựa game Swordsman Online (JX Online) được phát hành bởi nhà phát hành Xoyo (phiên bản PC) và Tencent Games (phiên bản Mobile). Vào năm 2019, Seasun Games (thuộc Kingsoft) đã sản xuất phiên bản HD Remake của tựa game JX3 Online, sử dụng engine tân tiến và DirectX 11, đem đến những trải nghiệm với chất lượng tốt nhất. Vào tháng 10 năm 2021, JX1 Mobile chính thức phát hành tại Trung Quốc bởi Xoyo, trước đó tựa game này cũng được phát hành tại Việt Nam bởi VNG với tên gọi:"Võ Lâm Truyền Kỳ 1 Mobile" vào đầu năm 2021. Cũng trong năm 2021, Seasun Games (thuộc Kingsoft) chính thức tung ra phiên bản Duyên Khởi của JX3, điểm đặc biệt là tựa game này ngoài phiên bản PC thì phiên bản Mobile cũng được phát hành dưới dạng nền tảng Cloud Gaming, và sắp tới tựa game này sẽ có mặt trên nền tảng Mac OS. Thông thường các tựa game JX Online và JX Mobile do Seasun Games (thuộc Kingsoft) phát triển khi về Việt Nam thường sẽ do VNG phát hành với tên gọi là "Võ Lâm Truyền Kỳ". Nhưng vào tháng 9 năm 2022, tên thương hiệu này được sử dụng cho phiên bản Việt Nam của tựa game JS3 Mobile [dòng game JS (hay JXSJ) của Seasun Games (thuộc Kingsoft) được biết đến ở Việt Nam bởi VNG phát hành với tên gọi "Kiếm Thế"] do Seasun Games (thuộc Kingsoft) phát triển và VNG phát hành với tên gọi là "Võ Lâm Truyền Kỳ MAX" Thập nhất đại môn phái. Nét đặc sắc của trò chơi phụ thuộc vào yếu tố ngũ hành tương sinh - tương khắc. Thập đại môn phái vì thế được phân chia theo 5 hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Năm 2014, VLTK1 được cập nhật phiên bản mới Nơi Ta Thuộc Về, trong phiên bản này xuất hiện thêm 1 môn phái mới, nâng tổng số môn phái thành 11: Thiên hạ đệ nhất bang. Thiên Hạ Đệ Nhất Bang là tên một giải đấu nổi tiếng của game Võ Lâm Truyền Kỳ do công ty VNG phát hành. Giải đấu thường được tổ chức định kì 6 tháng một lần với giải thưởng là tiền mặt và những vật phẩm có giá trị trong game. Các máy chủ sẽ chọn ra một bang hội đại diện tham gia vào giải đấu. Hiện tại, Thiên Hạ Đệ Nhất Bang được chia ra làm 3 giải, trong đó bao gồm giải đấu cho phiên bản Mobile của Võ Lâm Truyền Kỳ 1 và 2 giải đấu song song cho 2 phiên bản PC của Võ Lâm Truyền Kỳ là phiên bản thu phí và phiên bản miễn phí. Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu tài sản ảo. Hiện nay (tính đến ngày trò chơi bắt đầu phát hành đến ngày 16 tháng 7 năm 2006) tại Việt Nam vẫn chưa có một bộ luật nào về việc bảo hộ quyền sở hữu tài sản ảo. Người chơi phải tự giữ lấy tài sản ảo của mình trước khi các hacker xâm nhập tịch thu các tài sản do mình gặt hái đánh đổi bằng thời gian và tiền bạc. Vì độ hấp dẫn của Võ Lâm Truyền Kỳ, xuất hiện nhiều server lậu cũng có hệ thống nạp thẻ lấy tiền ingame, gọi là lậu vì các server này không được xây dựng bởi VNG. Chất lượng dịch vụ của trò chơi thường xuyên bị người chơi phàn nàn (do tình trạng quá tải của VNG). Tình trạng quá tải ("lag") và rớt mạng xảy ra liên tục. Điều này gây những tổn thất nhất định tới người chơi bởi mỗi lần "chết" trong trò chơi do trục trặc mạng họ sẽ bị trừ điểm kinh nghiệm, bị mất tiền ảo. Ảnh hưởng tiêu cực và giải pháp. Khi trò chơi trực tuyến Võ Lâm Truyền Kỳ nói riêng và game online nói chung trở nên phổ biến và được giới game thủ yêu thích, thì nó cũng kéo theo những sự việc đau lòng cho những game thủ, người thân và toàn xã hội. Để hạn chế việc chơi game quá độ, Chính phủ Việt Nam đã ra lệnh hạn chế giờ chơi mỗi ngày chỉ được 3 tiếng, nếu quá 3 tiếng chỉ còn nửa điểm kinh nghiệm. Còn nếu chơi quá 5 tiếng sẽ chả được gì. Biện pháp này dùng để hạn chế các game thủ bị nghiện game nặng và giảm tình hình phạm tội xảy ra ở tuổi vị thanh niên do game oline. Tuy nhiên theo nhiều ý kiến thì phương pháp này không ảnh hưởng nhiều đến những người bị nghiện game vì họ có thể đổi tài khoản khác chơi nếu chơi quá 5 tiếng, nó chỉ ảnh hưởng tới những người chơi trung bình (chỉ chơi vào ngày nghỉ). Võ Lâm Truyền Kỳ cập nhật phiên bản thứ 11. Bước sang năm thứ 11 gắn liền với cộng đồng game thủ Việt Nam, Võ Lâm Truyền Kỳ (VLTK) đã cập nhật phiên bản thứ 11 Tụ Nghĩa Vi Minh với nhiều nội dung phong phú nhằm khẳng định vị trí số một trong lòng game thủ cũng như chứng minh rằng VLTK vẫn đang phát triển mạnh mẽ ở thị trường Việt Nam.
4G là công nghệ mạng di động thế hệ thứ tư, kế thừa 3G và trước 5G. 4G được định nghĩa bởi Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) vào năm 2008 với các yêu cầu về tốc độ truy cập dữ liệu cao, hỗ trợ nhiều ứng dụng đa phương tiện và khả năng tương thích với các hệ thống mạng di động khác. 4G cung cấp tốc độ truy cập dữ liệu cao hơn nhiều so với 3G, lên tới 1 Gbps trong điều kiện lý tưởng. Điều này cho phép người dùng tải xuống video, chơi game trực tuyến và thực hiện các tác vụ khác yêu cầu nhiều băng thông. Tháng 12 năm 2010, ITU mở rộng định nghĩa 4G của mình để bao gồm LTE, WiMAX và HSPA+ để phản ánh sự phát triển của công nghệ mạng di động và để đảm bảo rằng các nhà sản xuất thiết bị và nhà cung cấp dịch vụ có thể sử dụng thuật ngữ 4G một cách thống nhất. Tiêu chuẩn WiMAX phiên bản đầu tiên được triển khai thương mại ở Hàn Quốc vào năm 2006 và kể từ đó đã được triển khai ở hầu hết các nơi trên thế giới. Tiêu chuẩn LTE phiên bản đầu tiên được triển khai thương mại ở Oslo, Na Uy và Stockholm, Thụy Điển vào năm 2009. Kể từ đó, LTE đã được triển khai ở hầu hết các nơi trên thế giới. Tuy nhiên, các phiên bản phát hành đầu tiên của LTE không đáp ứng tất cả các yêu cầu của tiêu chuẩn này. Vì vậy, liệu các phiên bản này có nên được coi là 4G hay không vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Mỗi thế hệ công nghệ mạng di động không dây đều mang lại tốc độ băng thông và dung lượng mạng cao hơn. 4G có tốc độ tải xuống lên đến 150 Mbit/s và tốc độ tải lên 50 Mbit/s, trong khi 3G có tốc độ tải xuống tối đa là 7.2 Mbit/s và tốc độ tải lên 2 Mbit/s.. Những thay đổi và nâng cấp. 4G có nhiều cải tiến so với thế hệ 3G tiền nhiệm, dưới đây là một số ví dụ: 4G không chứa miền "chuyển mạch kênh" trong mạng lõi. Lịch sử công nghệ 4G và tiền 4G. Hệ thống 4G ban đầu được hình thành bởi DARPA, Hoa Kỳ. DARPA đã chọn kiến trúc phân tán và giao thức Internet (IP) đầu cuối, và tin tưởng ngay từ đầu vào mạng lưới ngang hàng trong đó mỗi thiết bị di động sẽ vừa là bộ thu phát và bộ định tuyến cho các thiết bị khác trong mạng, loại bỏ điểm yếu dạng nan hoa và trung tâm của các hệ thống di động 2G và 3G. Kể từ hệ thống 2.5G GPRS, các hệ thống di động đã cung cấp hai cơ sở hạ tầng: các nút chuyển mạch gói cho dịch vụ dữ liệu và các nút chuyển mạch mạch cho cuộc gọi thoại. Trong các hệ thống 4G, cơ sở hạ tầng chuyển mạch mạch bị loại bỏ và chỉ cung cấp mạng chuyển mạch gói, trong khi các hệ thống 2.5G và 3G yêu cầu cả nút mạng chuyển mạch gói và chuyển mạch kênh, tức là hai cơ sở hạ tầng song song. Điều này có nghĩa là trong 4G, các cuộc gọi thoại truyền thống được thay thế bằng điện thoại IP. 4G gây ra một bất tiện tiềm ẩn cho những người đi du lịch quốc tế hoặc muốn chuyển nhà mạng. Để thực hiện và nhận cuộc gọi thoại 4G (VoLTE), thiết bị cầm tay của người đăng ký không chỉ phải có băng tần phù hợp (và trong một số trường hợp yêu cầu mở khóa), mà còn phải có cài đặt kích hoạt phù hợp cho nhà mạng và/hoặc quốc gia địa phương. Mặc dù có thể dự kiến điện thoại được mua từ nhà mạng này sẽ hoạt động với nhà mạng đó, nhưng việc thực hiện cuộc gọi thoại 4G trên mạng của nhà mạng khác (bao gồm chuyển vùng quốc tế) có thể không thể thực hiện được nếu không có bản cập nhật phần mềm dành riêng cho nhà mạng địa phương và kiểu điện thoại đó, bản cập nhật có thể có hoặc không có sẵn (mặc dù vẫn có thể chuyển sang 2G/3G để gọi thoại nếu có mạng 2G/3G có băng tần phù hợp). Tương lai của 4G. Năm 2023, nhiều quốc gia và khu vực đã bắt đầu quá trình chuyển đổi từ 4G sang 5G, thế hệ mạng di động tiếp theo. 5G hứa hẹn tốc độ truyền dữ liệu thậm chí nhanh hơn, độ trễ thấp hơn và khả năng kết nối nhiều thiết bị cùng lúc. Mạng 4G dự kiến sẽ cùng tồn tại với mạng 5G trong vài năm, cung cấp vùng phủ sóng ở những khu vực mà 5G không có sẵn.
Những hình vẽ trên cao nguyên Nazca Những hình vẽ trên cao nguyên Nazca (vẽ trên mặt đất) tạo nên một"vườn hình học"tại sa mạc Nazca, một sa mạc khô cằn rộng 53 dặm giữa hai thị trấn Nazca và Palpa ở Pampas de Jumana (một khu vực bằng phẳng miền nam Peru). Những bức vẽ gồm có chim ruồi, khỉ, nhện và thằn lằn, nhưng đó chỉ là tên của trên 300 bức vẽ. Chúng được tạo nên trong suốt thời kỳ nền văn hóa Nazca tại khu vực này, giữa năm 200 trước Công nguyên tới năm 600. Những hình vẽ trên cao nguyên Nazca được chụp ảnh lần đầu tiên khi máy bay thương mại bay qua sa mạc Peru trong thập niên 1920. Các hành khách nói rằng họ thấy"những dải đất nguyên thủy"trên mặt đất phía dưới. Khi sỏi đã được quét đi, chúng phản xạ ánh sáng bên dưới, bằng cách này, những đường kẻ có thể nhìn thấy rõ hơn. Các nhà khảo cổ đã khám phá được một thành phố bị mất ở ngoài vùng nay, đó là Cahuachi. Nó được xây dựng vào khoảng gần 2000 năm trước và bị bỏ rơi một cách bí ẩn 500 năm sau. Nhà sử học Pedro de Cieza de León trong đoàn quân chinh phục của Tây Ban Nha ở châu Mỹ đã đề cập tới những hình vẽ này lần đầu tiên năm 1547. Ông miêu tả một số ít đường nét được tạo ra trên các sườn đồi, nơi mà mọi người có thể thấy được toàn bộ hình vẽ mà không cần phải quan sát từ máy bay. Thời hiện đại, những đường nét này lần đầu tiên được chú ý khi các máy bay bắt đầu bay ngang qua sa mạc Peru trong thập niên 1920. Năm 1927, Toribio Mejia Xespe, một bác sĩ và là nhà nhân loại học người Peru, là nhà khoa học đầu tiên chú ý tới cái ông gọi là"các hình vẽ lớn mang tính nghi lễ của người Inca". Cuộc nghiên cứu khoa học có hệ thống đầu tiên về những hình vẽ này bắt đầu trong thập niên 1930 dưới sự chỉ huy của Paul Kosok và Maria Reiche. Reiche tiếp quản việc nghiên cứu năm 1946 và từ đó cho tới khi qua đời năm 1998 bà không ngừng kêu gọi bảo vệ và giữ gìn những hình vẽ đó. Cuối cùng những nỗ lực của bà đã thành công với việc UNESCO công nhận đây là một địa điểm di sản thế giới vào năm 1995. Từ đó, số lượng cũng như chất lượng các bức ảnh mới từ trên máy bay, vệ tinh chụp những hình ảnh đó đã tăng lên nhiều. Số người quan tâm nghiên cứu các hình vẽ và vùng sa mạc xung quanh cũng đông đảo hơn khiến chúng ta hiện có được những hiểu biết nhất định về địa điểm này cũng như những người đã tạo ra chúng. Ví dụ, Cahuachi, một thành phố nơi có thể quan sát thấy vài hình vẽ Nazca, đã được phát hiện gần đây ở những sườn đồi cạnh đó. Nó đã được xây dựng từ gần 2.000 năm trước và đã bị bỏ lại một cách bí ẩn 500 năm sau. Tạo ra và giữ gìn các hình vẽ. Các hình vẽ được tạo ra bằng cách đào bỏ lớp đá cuội oxide sắt phủ trên bề mặt sa mạc Nazca. Khi đá sỏi bị đào đi, đất có sáng màu dưới những đường rãnh đó tương phản với vùng bên cạnh. Có hàng trăm đường vẽ đơn giản và các mô hình hình học, hơn bảy mươi đường cong, hình động vật, côn trùng và mặt người trên cao nguyên Nazca. Vùng chứa các hình vẽ rộng gần 200 dặm vuông, và hình vẽ lớn nhất dài 900 feet. Các hình vẽ còn tồn tại được nhờ khí hậu rất khô, không có gió và nhiệt độ ổn định của vùng Nazca. Sa mạc Nazca là một trong những vùng khô nhất thế giới với nhiệt độ khoảng 25 °C (77 °F). Sa mạc ít có gió khiến các hình vẽ không bị đất cát che phủ cho đến tận ngày nay. Sự giải thích được chấp nhận. Từ khi các hình vẽ được khám phá, nhiều giả thuyết đã được đưa ra giải thích phương pháp tạo dựng cũng như động cơ thực sự của hành động đó. Lý thuyết khảo cổ được chấp nhận cho rằng người dân Nazca tạo ra các hình vẽ chỉ với những dụng cụ thiết bị đo đạc đơn giản. Các cột gỗ trên mặt đất ở đầu mút của một số hình đường thẳng (chúng cũng ngẫu nhiên được dùng để xác định niên đại hình) ủng hộ giả thuyết này. Hơn nữa, Joe Nickell thuộc Đại học Kentucky đã tái tạo một trong các hình vẽ bằng cách chỉ sử dụng kỹ thuật thời Nazca, khi chưa thể xuất hiện máy bay. Với các kỹ thuật đơn giản và bố trí cẩn thận, một đội gồm vài người có thể tái tạo hình vẽ lớn nhất trong vòng 48 giờ. Tuy nhiên, không có nhiều bằng chứng hiện còn giải thích"tại sao"các hình vẽ lại được tạo ra, vì thế động cơ thực hiện của người Nazca hiện là bí ẩn khó giải đáp nhất. Đa số mọi người tin rằng động cơ thực sự là tôn giáo, rõ ràng việc tạo ra các hình ảnh chỉ để cho các vị thánh trên trời chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, các chi tiết của giả thuyết này hiện vẫn chưa được giải đáp đầy đủ. Các giả thuyết khác. Kosok và Reiche đã đưa ra một trong những giả thuyết sớm nhất giải thích các hình vẽ Nazca, cho rằng chúng được thực hiện để chỉ những vị trí phía chân trời xa nơi Mặt Trời và các thiên thể khác mọc hay lặn. Giải thuyết này đã được đánh giá bởi hai chuyên gia thiên văn học cổ đại là Gerald Hawkins và Anthony Aveni, và cả hai người đều kết luận rằng không có đủ bằng chứng cho thấy hiện tượng có thể liên quan tới thiên văn học. Một số người (ví dụ như Jim Woodmann) cho rằng các hình vẽ Nazca có thể cho thấy một số hình thức bay có điều khiển của con người (để quan sát chúng) đã tồn tại và rằng một khinh khí cầu dùng khí nóng có thể là khả năng kỹ thuật duy nhất thời ấy. Thực tế Woodmann đã chế tạo một khinh khí cầu dùng khí nóng từ các vật liệu và công nghệ được cho là tồn tại ở thời điểm đó để thử nghiệm giả thuyết của mình. Khí cầu đã tạm bay được cho thấy giả thuyết này cũng có thể đã xảy ra, nhưng dù khó có thể chấp nhận hoàn toàn giả thuyết này. Một giả thuyết khác cho rằng các hình vẽ là phần những phần còn lại của những"nhà thờ di động"("walking temples"), nơi một nhóm lớn tín đồ tôn giáo đi dọc theo một hình mẫu có trước dùng để dâng hiến cho một thực thể linh thiêng đặc biệt, tương tự như việc đi trong một mê trận ("labyrinth"). Những người dân địa phương nói rằng người da đỏ đã tiến hành các nghi lễ tại các hình vẽ to lớn đó để tạ ơn chúa trời và để đảm bảo rằng nguồn nước sẽ tiếp tục chảy từ dãy Andes. Về mục đích và tầm quan trọng của các hình vẽ Nazca, điều này có vẻ khá phú hợp bởi vì nó tương tự với mục đích của những hình vẽ trên mặt đất khác ở vùng Bắc Mỹ. Nó cũng có liên quan tới các mạng lưới kênh ngầm và đường thủy rộng lớn đã được tìm thấy và có cùng niên đại. Có lẽ giả thuyết gây tranh cãi nhất là của Erich von Däniken trong cuốn "Chariots of the Gods" của ông khi cho rằng các hình vẽ trên thực tế là những đường băng hạ cánh cho các tàu vũ trụ của các sinh vật ngoài Trái Đất. Lý lẽ của ông cũng giống với lý lẽ của Woodman, cho rằng các hình vẽ quá lớn và phức tạp vì thế chỉ có thể tạo ra chúng khi dùng các khí cụ bay.
Chữ tượng hình Ai Cập Chữ tượng hình Ai Cập (; từ tiếng Hy Lạp cổ đại "ἱερογλύφος" có nghĩa là "các chữ cái linh thiêng được chạm khắc", cũng viết là τὰ ἱερογλυφικά ) là hệ chữ viết chính thức được người Ai Cập cổ đại sử dụng, kết hợp các yếu tố logic, âm tiết và chữ cái, tổng số khoảng 1.000 ký tự riêng biệt. Chữ tượng hình bằng chữ thảo "(Cursive hieroglyphs)" được sử dụng cho văn bản tôn giáo viết trên giấy cói và gỗ. Chữ thầy tu "(hieratic)" và chữ bình dân "(demotic)" có nguồn gốc từ chữ viết tượng hình, cũng như chữ Proto-Sinai sau này phát triển thành bảng chữ cái Phoenicia. Thông qua những hệ thống con chính của bảng chữ cái Phoenicia (hệ thống chữ viết Hy Lạp và Aramaic), chữ viết tượng hình Ai Cập là tổ tiên của phần lớn các chữ viết được sử dụng hiện đại, nổi bật nhất là chữ Latinh và chữ Kirin (thông qua tiếng Hy Lạp), chữ viết Ả Rập và có thể cả chữ Brahmic (thông qua tiếng Aramaic). Việc sử dụng chữ viết tượng hình bắt nguồn từ các hệ thống ký hiệu Proto-writing trong Thời đại đồ đồng, khoảng thế kỷ 32 trước Công nguyên (Naqada III), [2] với câu đầu tiên có thể giải mã được viết bằng tiếng Ai Cập có niên đại vào Vương triều thứ hai (thế kỷ 28 trước Công nguyên). Chữ tượng hình Ai Cập đã phát triển thành một hệ thống chữ viết thuần thục được sử dụng cho các bản khắc tượng đài bằng ngôn ngữ cổ điển thời kỳ Trung Vương quốc; trong thời kỳ này, hệ thống đã sử dụng khoảng 900 kí hiệu riêng biệt. Việc sử dụng hệ thống chữ viết này tiếp tục qua thời kì Tân Vương quốc Ai Cập và Thời kỳ Hậu nguyên của Ai Cập cổ đại, và tiếp tục đến Vương triều thứ Hai Mươi Bảy của Ai Cập và thời kì Vương quốc Ptolemy. Những bằng chứng cuối của việc sử dụng chữ tượng hình được tìm thấy nhiều vào thời kỳ Ai Cập thuộc La Mã, kéo dài đến thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên. Với sự đóng cửa cuối cùng của các ngôi đền Pagan giáo vào thế kỷ thứ 5, kiến ​​thức về chữ viết tượng hình đã thất truyền. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chữ viết vẫn chưa được giải mã trong suốt thời Trung Cổ và đầu thời kỳ cận đại. Việc giải mã chữ viết tượng hình cuối cùng đã được hoàn thành vào những năm 1820 bởi Jean-François Champollion, với sự trợ giúp của Phiến đá Rosetta. Từ "hieroglyph" (Chữ tượng hình - trong tiếng Anh) xuất xứ từ tính từ tiếng Hy Lạp ἱερογλυφικά ("hieroglyphiká"), một từ ghép của ἱερός ("hierós" 'thần thánh') và γλύφω ("glýphō" 'khắc'; xem "chạm khắc"). Chính các hình chạm được gọi là τὰ ἱερογλυφικὰ γράμματα ("tà hieroglyphiká grámmata," 'những chữ khắc thần thánh'). Từ "hieroglyph" đã trở thành một danh từ trong tiếng Anh, chỉ một chữ khắc riêng biệt. Tuy "hieroglyphics" thường được sử dụng nhiều hơn, các nhà Ai Cập học lại không ưa chuộng nó. Lịch sử và quá trình phát triển. Chữ tượng hình xuất hiện từ các truyền thống nghệ thuật tiền văn tự Ai Cập. Ví dụ, các biểu tượng trên đồ gốm Gerzean từ "khoảng" 4000 năm trước Công Nguyên giống với chữ tượng hình. Trong nhiều năm văn tự chữ tượng hình sớm nhất là tấm bảng đá Narmer, được tìm thấy trong những cuộc khai quật tại Hierakonpolis (Kawm al-Ahmar hiện đại) trong thập niên 1890, đã được xác định niên đại "khoảng" 3200 năm trước Công Nguyên. Tuy nhiên, vào năm 1998 một đội khảo cổ Đức dưới sự lãnh đạo của Günter Dreyer tiến hành khai quật ở Abydos (Umm el-Qa'ab hiện đại) đã khám phá ra hầm mộ U-j của một nhà cai trị thời Tiền triều đại, và thu được ba trăm miếng đất sét có những hình tiền chữ tượng hình, có niên đại ở thời kỳ Naqada IIIA thế kỷ thứ XXXIII trước Công Nguyên. Câu đầy đủ đầu tiên được viết bằng chữ tượng hình cho tới hiện tại được tìm thấy trên một dấu niêm phong chìm ở hầm mộ của Seth-Peribsen tại Umm el-Qa'ab, có niên đại từ Vương triều thứ hai. Ở thời kỳ cổ vương quốc, Trung vương quốc và Tân vương quốc, có khoảng 800 bản chữ tượng hình. Ở thời Hy Lạp-La Mã, họ đã tính được hơn 5,000 bản. Nói chung các học giả tin rằng chữ tượng hình Ai Cập "bắt đầu tồn tại một thời gian ngắn sau ký tự Sumer, và... có thể [từng]... được phát minh dưới sự ảnh hưởng của ký tự nà" Ví dụ, đã có lời nói rằng "có lẽ ý tưởng chung của các từ thể hiện của một ngôn ngữ viết đã được đưa tới Ai Cập từ Mesopotamia Sumer." Mặt khác, cũng có người cho rằng "bằng chứng về sự ảnh hưởng trực tiếp như vậy vẫn còn chưa rõ" và rằng "một cuộc lý lẽ đáng tin cậy cũng có thể được tiến hành cho sự phát triển độc lập của chữ viết tại Ai Cậ" Given the lack of direct evidence, "no definitive determination has been made as to the origin of hieroglyphics in ancient Egypt." Chữ tượng hình gồm ba kiểu nét khắc: nét khắc ngữ âm, gồm những chữ phụ âm riêng có thể hoạt động như một chữ cái; dấu tốc ký, thể hiện các hình vị; và các từ hạn định, làm hẹp nghĩa của một dấu tốc ký hay các từ ngữ âm. Khi chữ viết phát triển và trở nên rộng rãi trong dân cư Ai Cập, các hình thức nét khắc đơn giản đã phát triển, dẫn tới các chữ viết thầy tu (thầy tế) và bình dân (dân cư). Các biến thể đó cũng thích hợp hơn chữ tượng hình khi sử dụng trên giấy cói. Tuy nhiên, chữ viết tượng hình không biến mất, mà tồn tại bên cạnh các hình thức khác, đặc biệt tại các đền đài và ở hình thức chữ viết chính thức khácc. Đá Rosetta có các văn bản song song bằng chữ tượng hình và chữ bình dân. Chữ tượng hình tiếp tục được sử dụng trong thời cai trị Ba Tư (gián đoạn ở thế kỷ thứ VI và thế kỷ thứ V trước Công Nguyên), và sau khi Alexander chinh phục Ai Cập, trong thời Macedonia tiếp sau và các thời kỳ La Mã. Có lẽ chất lượng sai lạc của các lời chú giải của các nhà văn Hy Lạp và La Mã về chữ tượng hình đã xảy ra, ít nhất trong quá khứ, như một sự đối phó với sự thay đổi tình hình chính trị. Một số người tin rằng chữ tượng hình có thể đã hoạt động như một cách phân biệt 'người Ai Cập thực sự' với những kẻ chinh phục nước ngoài. Một lý do khác có thể là sự từ chối tiếp nhận một nền văn hóa nước ngoài nói chung có đặc trưng ở những sự tiếp cận Hy Lạp-La Mã tới văn hóa Ai Cập. Biết rằng chữ tượng hình là hình thức viết thần thánh, các học giả Hy Lạp-La Mã đã tưởng tượng ra hệ thống phức tạp nhưng có lý như một hệ thống biểu tượng, thậm chí là ma thuật để chuyển tải các kiến thức bí mật và bí ẩn. Tới thế kỷ thứ IV, ít người Ai Cập có khả năng đọc chữ tượng hình, và sự bí ẩn của các chữ tượng hình biểu tượng lên tới đỉnh điểm. Việc sử dụng chữ tượng hình tại các đền đài đã chấm dứt sau khi tất cả các đền không thuộc Thiên Chúa giáo bị đóng cửa năm 391 Công Nguyên theo lệnh của vị Hoàng đế La Mã Theodosius I; đoạn văn cuối cùng được biết là từ Philae, được gọi là Bản khắc Esmet-Akhom, từ năm 396. Sự giải mã chữ tượng hình. Ở thế kỷ thứ V "Hieroglyphica" của Horapollo xuất hiện, giải mã không chính xác tới 200 chữ khắc. Phần lớn thông tin đều sai, tác phẩm này càng khiến việc giải mã chữ tượng hình Ai Cập gặp khó khăn hơn. Tuy giới học giả ban đầu nhấn mạnh nguồn gốc Hy Lạp của tài liệu này, những tác phẩm gần đây đã công nhận những dấu vết của tri thức đích thực, và cho rằng nó là một nỗ lực của giới trí thức Ai Cập nhằm cứu vãn một quá khứ đã không thể khôi phục. "Hieroglyphica" là nguồn ảnh hưởng lớn tới chủ nghĩa tượng trưng Phục hưng, đặc biệt là emblem book (sách biểu tượng) của Andrea Alciato, và gồm cả "Hypnerotomachia Poliphili" của Francesco Colonna. Những nỗ lực đầu tiên được biết đến trong việc giải nghĩa chữ tượng hình Ai Cập đã được các nhà sử học Hồi giáo thực hiện thời Trung cổ Ai Cập trong thế kỷ thứ IX và thế kỷ thứ X. Khi ấy, chữ tượng hình từ lâu đã bị quên lãng tại Ai Cập, và đã được thay thế bởi chữ Coptic và chữ cái Ả Rập. Dhul-Nun al-Misri và Ibn Wahshiyya là những nhà sử học đầu tiên ít nhất có thể giải nghĩa một phần những thứ được viết bằng chữ tượng hình Ai Cập cổ, bằng cách liên hệ chúng với ngôn ngữ Coptic thời ấy được các thầy tế Giáo hội Thiên Chúa cổ Ả Rập sử dụng. Nhiều học giả hiện đại đã tìm cách giải nghĩa các chữ tượng hình trong nhiều thế kỷ, đáng chú ý là Johannes Goropius Becanus ở thế kỷ XVI và Athanasius Kircher ở thế kỷ XVII, nhưng tất cả chúng đều không thành công. Đột phá thực sự trong việc giải nghĩa chữ tượng hình bắt đầu với sự phát hiện Phiến đá Rosetta của quân đội Napoleon năm 1799 (trong thời ). Đầu thập niên 1800 các học giả như Silvestre de Sacy, Johan David Åkerblad và Thomas Young đã nghiên cứu các chữ trên hòn đá, và có được một số tiến triển. Cuối cùng, Jean-François Champollion giải nghĩa được hoàn toàn chữ tượng hình Ai Cập trong thập niên 1820: Đây là một thắng lợi lớn cho ngành Ai Cập học non trẻ. Chữ tượng hình còn tồn tại đến ngày nay dưới hai hình thức: Trực tiếp, thông qua nửa tá chữ khắc Bình dân được thêm vào bảng chữ cái Hy Lạp khi viết chữ Coptic; và gián tiếp, như cảm hứng cho bảng chữ cái nguyên thủy hầu như là nguồn gốc của mọi bảng chữ cái từng được sử dụng, gồm cả chữ cái La tinh. Hệ thống chữ viết. Rõ ràng tất cả chữ tượng hình đều ít hay nhiều mang tính biểu tượng: chúng thể hiện các yếu tố thực hay ảo, thỉnh thoảng được cách điệu hoá và đơn giản hoá, nhưng nói chung tất cả chúng đều có thể được xác nhận trong hình thức. Tuy nhiên, cùng một ký hiệu có thể, tuỳ theo ngữ cảnh, được dịch theo các cách khác nhau: như một tín hiệu ngữ âm (đọc Ngữ âm), như một dấu tốc ký, hay như một biểu tượng (semagram; "từ hạn định") (đọc Ngữ nghĩa). Từ hạn định không được đọc như một thành phần ngữ âm, nhưng được làm cho dễ hiểu bằng cách phân biệt từ với các từ phát âm giống khác. Đa số dấu hiệu tượng hình về bản chất là ngữ âm, có nghĩa dấu hiệu được đọc độc lập với đặc điểm hình của nó (theo nguyên tắc rebus (câu đố bằng hình vẽ) theo đó, ví dụ, hình một con mắt có thể thay cho các từ "eye" (mắt) và "I" (tôi) [đại từ ngôi thứ nhất]) trong tiếng Anh. Tín hiệu ngữ âm được hình thành, hoặc với một phụ âm (các dấu hiệu được gọi là "mono-" hay các dấu hiệu "đơn chữ") hay bởi hai phụ âm ("hai chữ") hay bởi ba ("ba chữ"). Hai mươi bốn dấu hiệu đơn chữ tạo thành cái gọi là bảng chữ cái tượng hình. Chữ viết tượng hình Ai Cập thông thưởng không biểu thị các nguyên âm (không giống chữ hình nêm) và như thế là một sự khác biệt của abjad. Vì thế, chữ tượng hình biểu thị một con vịt được đọc trong tiếng Ai Cập là "sȝ," các phụ âm của từ cho loài vật này. Tuy nhiên, nó cũng có thể sử dụng hình vẽ một con vịt không có quan hệ đến nghĩa để thể hiện các âm vị "sȝ", độc lập của bất kỳ nguyên âm có thể đi cùng các phụ âm đó, và theo cách này viết các từ: "sȝ", "son," (con trai) hay khi được bổ sung bởi các dấu hiệu khác chi tiết hơn trong văn bản, "sȝ", "keep, watch" (giữ, xem); và "sȝṯ.w", "Hard ground" (đất cứng). Ví dụ: G38con vịt – chữ "sȝ"; G38-Z1s – cùng chữ chỉ được dùng để biểu thị, theo ngữ cảnh, "duck" (vịt) hay, với từ hạn định thích hợp, "son" (con trai), hai từ có cùng phụ âm; nghĩa của dấu dọc nhỏ sẽ được giải thích thêm nữa ở: z:G38-A-A47-D54 – chữ "sȝ" như được sử dụng trong từ "sȝw", "keep, watch" (giữ, xem) Giống như trong chữ viết Ả Rập, không phải tất cả nguyên âm được viết trong chữ tượng hình Ai Cập; có thể tranh luận liệu các nguyên âm có được viết toàn bộ. Có thể, như với chữ Ả Rập, các bán nguyên âm /w/ và /j/ (như W và Y trong tiếng Anh) được coi như các nguyên âm /u/ và /i/. Trong những bản phiên âm hiện đại, một chữ "e" được thêm vào giữa các phụ âm để giúp đánh vần chúng. Ví dụ, "nfr" "good" (tốt) thường được viết là "nefer". Nó không phản ánh nguyên âm Ai Cập, vốn khó khiểu, mà chỉ đơn giản là cách viết được quy ước hiện tại. Tương tự "ȝ" và ʾ thường được chuyển tự thành "a," như trong Ra. Các chữ tượng hình được viết từ phải sang trái, từ trái sang phải, hay từ trên xuống dưới, hướng thông thường là từ trái sang phải. Người đọc cần phải xác định hướng của chữ tượng hình để biết thứ tự đọc chính xác. Ví dụ, khi các chữ tượng hình người và động vật quay mặt về phía trái (ví dụ họ nhìn về phía trái), họ phải đọc từ trái sang phải, và ngược lại, ý tưởng là chữ tượng hình quay mặt về nơi bắt đầu dòng chữ. Giống nhiều hệ thống chữ viết cổ khác, các từ không được chia tách bởi các khoảng trống hay bởi các dấu chấm câu. Tuy nhiên, một số chữ tượng hình rất thường xuất hiện ở cuối các từ nên có thể nó là các từ phân biệt. Các dấu hiệu đơn chữ. Chữ tượng hình Ai Cập gồm 24 dấu hiệu đơn (các biểu tượng thay cho các phụ âm đơn, giống các chữ tiếng Anh). Có thể viết toàn bộ các chữ Ai Cập bằng những dấu hiệu này, nhưng người Ai Cập không bao giờ làm như vậy và không bao giờ đơn giản hoá hệ thống chữ viết phức tạp của họ thành một bảng chữ cái thực sự. Mỗi hình dấu hiệu đơn đều từng có một cách đọc riêng biệt, nhưng nhiều cách đọc đó đã trộn lẫn vào nhau khi Ai Cập Cổ phát triển thành Ai Cập Trung cổ. Ví dụ, hình khắc tấm khăn gấp dường như ban đầu là một âm /s/ và hình khắc cánh cửa đóng là một âm /θ/, nhưng cả hai hình đó đều được đánh vần là /s/ khi âm /θ/ mất đi. Một số dấu hiệu đơn lần đầu xuất hiện trong các văn bản Ai Cập Trung cổ. Bên cạnh các hình khắc đơn, cũng có các dấu hiệu hai chữ và ba chữ, để thể hiện một dãy riêng biệt của hai hay ba phụ âm trong ngôn ngữ. Các thành phần ngữ âm. Chữ viết Ai Cập thường rất rườm rà: trên thực tế, rất thường xuyên một từ có thể đi theo nhiều chữ viết các âm tương tự, để hướng dẫn người đọc. Ví dụ, từ "nfr", "beautiful, good, perfect" (đẹp, tốt, hoàn hảo), được viết với một dấu hiệu ba chữ được đọc là "nfr": Tuy nhiên, rất thường thấy dấu hiệu ba đó được thêm các dấu hiệu đơn cho "f" và "r". Vì thế từ có thể được viết là "nfr+f+r" nhưng đọc đơn giản là "nfr". Hai từ chữ cái được thêm vào để làm sáng tỏ cách đánh vần của hình khắc dấu hiệu ba chữ trước đó. Các chữ dư thừa đi kèm các dấu hiệu hai chữ và ba chữ được gọi là "thành phần ngữ âm" (hay bổ sung). Chúng có thể được đặt hoặc: phía trước dấu hiệu (hiếm), sau dấu hiệu (như quy định thông thường), hay thậm chí còn đóng khung nó (xuất hiện cả phía trước và phía sau). Những học giả tôn giao Ai Cập cổ luôn tránh để các khoảng trống rộng trong văn bản của mình, và có thể thêm các thành phần ngữ âm hay thỉnh thoảng thậm chí đảo trật tự các dấu hiệu nếu điều này khiến văn bản có vẻ có thẩm mỹ hơn (các học giả thường cho rằng chữ tượng hình có tính nghệ thuật [và thậm chí là tôn giáo], và không đơn giản coi chúng là công cụ thông tin). Nhiều ví dụ về việc sử dụng các thành phần ngữ âm có ở bên dưới đây: S43-d-w — "mdw +d +w" (2 bổ sung được đặt sau dấu hiệu) → nó đọc là "mdw", có nghĩa "tongue" (lưỡi); x:p-xpr:r-i-A40 — "ḫ +p +ḫpr +r +j" (4 bổ sung bao quanh dấu hiệu ba chữ của bọ hung/bọ cánh cứng) → nó đọc là "ḫpr.j", có nghĩa "Khepri", với hình khắc cuối cùng là từ hạn định cho 'god'(thần). Đáng chú ý, các thành phần ngữ âm cũng được dùng để cho phép người đọc xác định được các dấu hiệu là từ đồng âm, hay nó không luôn có một cách đọc duy nhất. Ví dụ, biểu tượng "chỗ ngồi" (hay ghế): Q1 — Nó có thể được đọc "st", "ws" và "ḥtm", theo từ nó hiện diện trong đó. Sự có mặt của các thành phần ngữ âm—và của từ hạn định thích hợp—cho phép người đọc biết cách lựa chọn cách đọc, trong ba cách đọc sau: * Cách 1: st — Q1-t:pr — "st", được viết "st+t"; chữ cuối cùng là từ hạn định của "the house" (ngôi nhà) hay cái được tìm thấy ở đó, có nghĩa "seat, throne, place" (chỗ ngồi, ngai, địa điểm); !—VÍ DỤ Cách 1 -- Q1-t:H8 — "st" (được viết "st+t"; "egg" (trứng) từ hạn định được sử dụng cho các tên phụ nữ ở một số thời kỳ), có nghĩa "Isis"; * Cách 2: ws — Q1:ir-A40 — "wsjr" (được viết "ws"+"jr", với, như một thành phần ngữ âm, "the eye" (con mắt), được đọc "jr", theo sau từ hạn định của "god" (thần)), có nghĩa "Osiris"; * Cách 3: ḥtm — H-Q1-m:t-E17 — "ḥtm.t" (được viết "ḥ+ḥtm+m+t", với từ hạn định của "Anubis" hay "the jackal" (chó sói)), có nghĩa một loài động vật hoang dã, !—VÍ DỤ Cách 3 -- H-Q1-t-G41 — "ḥtm" (được viết "ḥ"+"ḥtm"+"t", với từ hạn định của chim bay), có nghĩa "biến mất". Cuối cùng, thỉnh thoảng xảy ra rằng cách đọc các từ có thể thay đổi bởi sự liên quan của nó tới người Ai Cập Cổ đại: trong trường hợp này, không hiếm khi cách viết chấp nhận một sự thoả hiệp trong ký hiệu, hai cách đọc được biểu thị cùng nhau. Ví dụ, tính từ "bnj", "sweet" (ngọt) trở thành "bnr." Thời Ai Cập Trung cổ, một người có thể viết: được đọc đủ là "bnr", "j" không được đọc nhưng được giữ lại để giữ sự kết nối trong khi viết với từ cổ (cùng kiểu như các từ tiếng Anh "through" (xuyên qua), "knife" (dao), hay "victuals" (đồ ăn), không còn được đánh vần theo cách chúng được viết nữa.) Bên cạnh việc giải thích ngữ âm, các chữ cũng có thể được đọc cho nghĩa của chúng: theo trường hợp này các dấu tốc ký được đọc (hay các biểu tượng) và các semagram (semagram cũng được gọi là "từ hạn định"). Một chữ tượng hình có thể được dùng như một dấu tốc ký xác định chủ thể của cái nó là một hình ảnh. Các dấu tốc ký vì thế thường được dùng như các danh từ thông thường; chúng luôn được đi kèm bởi một dấu dọc câm thể hiện tình trạng của chúng như một dấu tốc ký (việc sử dụng dấu dọc sẽ được giải thích thêm bên dưới); theo lý thuyết, tất cả chữ tượng hình đều có khả năng được dùng như các dấu tốc ký. Các dấu tốc ký có thể được đi kèm bởi các bổ ngữ ngữ âm. Đây là một số ví dụ: * ra:Z1 — "rˁ", có nghĩa "sun" (mặt trời); * pr:Z1 — "pr", có nghĩa "house" (ngôi nhà); * Dw:Z1 — "ḏw", có nghĩa "mountain" (núi). Trong một số trường hợp, sự kết nối ngữ nghĩa là gián tiếp (hoán dụ hay ẩn dụ): * nTr-Z1 — "nṯr", có nghĩa "god" (thần); chữ trên thực tế thể hiện một lá cờ của một đền thờ (tiêu chuẩn); * G53-Z1 — "bȝ", có nghĩa "bâ" (linh hồn); chữ là sự thể hiện truyền thống của một "bâ" (một con chim với một cái đầu người); * G27-Z1 — "dšr", có nghĩa "flamingo" (chim hồng hạc); tín hiệu ngữ âm tương ứng có nghĩa "red" (đỏ) và con chim được đi kèm bởi hoán dụ với màu sắc này. Chúng chỉ là một số ví dụ từ gần 5000 biểu tượng chữ tượng hình. Các từ hạn định hay semagram (các dấu hiệu ngữ nghĩa chỉ nghĩa) được đặt ở cuối một từ. Các từ câm này có tác dụng xác định từ nói về cái gì, như các hình homophonic là thông thường. Nếu một trật tự tương tự tồn tại trong tiếng Anh, các từ với cách đọc như nhau sẽ được đi kèm bởi một từ chỉ thị không được đọc nhưng để giới hạn nghĩa: "bình chưng [hoá học]" và "trả miếng [hùng biện]" vì thế sẽ được phân biệt. Có một số từ hạn định: thần thánh, con người, các phần cơ thể người, động vật, cây cối, vân vân. Một số từ hạn định có một nghĩa gốc và một nghĩa ẩn dụ. Ví dụ, một cuộn giấy cói, Y1 được dùng để chỉ "books" (sách) nhưng cũng chỉ các ý nghĩ trừu tượng. Từ hạn định của dạng số nhiều là một đường tắt để báo hiệu ba khả năng của từ, có nghĩa là, số nhiều của nó (bởi ngôn ngữ Ai Cập tương tự với một số đôi, thỉnh thoảng được chỉ bởi hai dấu). Chữ đặc biệt này được giải thích bên dưới. Đây là những ví dụ về việc sử dụng từ hạn định lấy từ cuốn sách "Je lis les hiéroglyphes" ("Tôi đọc chữ tượng hình") của Jean Capart, thể hiện tầm quan trọng của chúng: Tất cả các từ này có hàm ý tốt hơn: "good, beautiful, perfect" (tốt, đẹp, hoàn hảo). "Từ điển rút gọn về tiếng Ai Cập thời kỳ Trung Cổ" của Raymond A. Faulkner, đưa ra khoảng hai mươi từ được đọc là "nfr" hay được hình thành từ từ này. Các ký hiệu khác. Hiếm khi, tên các vị thần được đặt bên trong một hình ô van; hai cái tên cuối cùng của vị vua đang tại vị luôn được đặt bên trong một hình ô van: Một dấu chèn là một chữ chỉ định sự kết thúc của một quadrant mà mặt khác chưa hoàn thành. Các kí hiệu kết hợp với nhau. Một số kí hiệu là sự rút ngọn của nhiều kí hiệu khác. Tuy nhiên, các kí hiệu đó có chức năng và sự tồn tại của riêng chúng: ví dụ, một cẳng tay nơi bàn tay giữ một vương trượng được dùng như một từ hạn định cho các từ có nghĩa "to direct, to drive" (hướng dẫn, lái) và các từ phát sinh của chúng. Sự nhân đôi một ký hiệu chỉ số kép của nó; nhân ba ký hiệu chỉ số nhiều của nó. Các ký hiệu ngữ pháp. Ý tưởng tiêu chuẩn hoá phép chính tả—"sửa" cách đánh vần—trong tiếng Ai Cập lỏng lẻo hơn rất nhiều so với trong các ngôn ngữ hiện đại. Trên thực tế, có một hay nhiều biến thể cho hầu như mọi từ. Nó: Tuy nhiên, nhiều lỗi đánh vần đó thường là vấn đề niên đại. Việc đánh vần và các tiêu chuẩn khác biệt theo thời gian, nên việc viết một từ thời Vương triều Cũ có thể khác biệt nhiều so với thời Vương triều Mới. Hơn nữa, người Ai Cập đặc biệt hài lòng với việc đưa phép chính tả cũ ("cách đánh vần lịch sử") vào trong những văn bản mới hơn, như trường hợp dùng cách đánh vần của một từ từ năm 1600 trong tiếng Anh vào văn bản viết ngày nay. Các lỗi đánh vần cổ thường thấy nhất thường là do sự hiểu lầm ngày sau về ngữ cảnh riêng biệt của một đoạn văn bản cho trước. Ngày nay, các nhà nghiên cứu chữ tượng hình sử dụng một số hệ mục lục (đáng chú ý là Manuel de Codage và Gardiner's Sign List) để làm sáng tỏ sự hiện diện của các từ hạn định, các biểu tượng và các dấu hiệu lưỡng nghĩa khác trong việc chuyển nghĩa. Chúng là một loại chữ tượng hình Ai Cập thường được dùng cho các tài liệu tôn giáo viết trên giấy cói, như cuốn Book of the Dead. Những ví dụ đơn giản. Các nét khắc trong vòng tròn ô van này được dịch thành: dù "ii" được coi là một chữ đơn và được dịch thành "i" hay "y". Một cách thể hiện khác của chữ tượng hình là được minh họa bởi hai từ Ai Cập được đánh vần "pr" (thường được đọc như "per)." Một từ là 'ngôi nhà', và cách biểu hiện tượng hình của nó đơn giản là: Tại đây từ tượng hình 'ngôi nhà' làm việc như một dấu tốc ký: nó thể hiện từ với một dấu hiệu đơn. Dấu dọc bên dưới chữ tượng hình là một cách thông thường để biểu thị rằng một nét khắc đang làm việc như một dấu tốc ký. Một từ khác "pr" là động từ 'ra ngoài, rời đi'. Khi từ này được viết, chữ tượng hình 'ngôi nhà' được sử dụng như một biểu tượng ngữ âm: Tại đây chữ khắc 'ngôi nhà' thay cho phụ âm "pr". Dấu khắc 'miệng' bên dưới nó là một "bổ ngữ ngữ âm:" nó được đọc như "r," nhấn mạnh cách đọc ngữ âm của "pr". Chữ tượng hình thứ ba là một "hạn định:" nó là một ký hiệu cho các động từ chuyển động khiến người đọc có ý tưởng về nghĩa của từ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Phái Hồng quân (; viết tắt là RAF, ), cũng được gọi là Nhóm Baader-Meinhof hoặc Băng đảng Baader-Meinhof (), là tổ chức chiến binh hiếu chiến theo xu hướng cực tả của Tây Đức. RAF được thành lập vào năm 1970, với hạt nhân là Andreas Baader, Gudrun Ensslin, Horst Mahler, Ulrike Meinhof và những người khác. Chính phủ Tây Đức coi Phái Hồng quân là một tổ chức khủng bố. Phái đoàn Hồng quân tham gia vào một loạt các vụ đánh bom, ám sát, bắt cóc, cướp ngân hàng và đấu súng với cảnh sát trong suốt ba thập kỷ. Hoạt động của họ đã đạt đến đỉnh điểm vào cuối năm 1977, dẫn đến cuộc khủng hoảng quốc gia được gọi là "Mùa thu Đức". RAF chịu trách nhiệm về cái chết của 34 người, bao gồm nhiều mục tiêu thứ yếu, chẳng hạn như những người lái xe và vệ sĩ, cũng như nhiều thương tích trong suốt quá trình hoạt động gần ba mươi năm. Mặc dù được biết đến nhiều hơn, RAF lại thực hiện ít phi vụ hơn tổ chức Các Tế bào Cách mạng ("Revolutionäre Zellen", RZ), chịu trách nhiệm cho 296 cuộc tấn công bằng bom, đốt phá công trình và các cuộc tấn công khác trong khoảng thời gian từ 1973 đến 1995. Ulrike Meinhof có liên quan đến cuộc vượt ngục của Baader vào năm 1970. Đôi khi nhóm này được nói dưới dạng thuật ngữ trong các thế hệ: Ngày 20 tháng 4 năm 1998, một bức thư tám trang được đánh máy bằng tiếng Đức đã được fax cho hãng tin Reuters, ký tên "RAF" với biểu tượng ngôi sao đỏ cùng khẩu tiểu liên, tuyên bố rằng nhóm đã giải tán. Năm 1999, sau một vụ cướp tại Duisburg, dấu vết của Staub và Klette được tìm thấy, thúc đẩy một cuộc điều tra chính thức về khả năng tái lập. Một lần nữa, vào tháng 1 năm 2016, cảnh sát Đức đã xác định ba thành viên RAF là thủ phạm của một cuộc tấn công vào một chiếc xe tải bọc thép vận chuyển 1 triệu euro, là nguyên do thúc đẩy nghi ngờ rằng RAF có thể hoạt động trở lại. Những vụ cướp được coi là những hành vi tội phạm và không phải là khủng bố. Tổ chức Tế bào Chống Đế quốc ("Anti-Imperialist Cell"), một nhóm hai người bị bắt vào năm 1996, tự tuyên bố kế nhiệm nhóm này. Tổng cộng, RAF đã giết chết 34 người, và 27 thành viên hoặc người ủng hộ đã thiệt mạng. Biên niên sử RAF. Bối cảnh chính trị cho sự chống đối của RAF, ngoài những vụ việc khác, là việc cấm Đảng Cộng sản Đức trong năm 1956, tái vũ trang, việc nước Đức ủng hộ sự tham gia của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, đưa ra các luật lệ của tình trạng khẩn cấp ("Notstandsgesetze") và việc sinh viên Benno Ohnesorg bị bắn chết tại Tây Berlin trong một cuộc biểu tình phản đối chuyến viếng thăm của vua Ba Tư. Đặc biệt, thế hệ thứ nhất của RAF xuất thân từ phái hiếu chiến ("militant") của Phong trào đối lập ngoài nghị viện (xem Phong trào 68) mà cuối thập niên 1960 đã phân rã ra thành nhiều đảng phái cộng sản (Nhóm K) và nhóm cánh tả khác nhau. Sau các thảo luận chiến lược diễn ra trong phong trào sinh viên về tính hợp pháp của "bạo lực chống lại tài sản" ("Gewalt gegen Sachen"), Baader và Ensslin cùng với Thorwald Proll và Horst Söhnlein đã dùng kíp nổ chậm gây ra 2 vụ hỏa hoạn trong 2 siêu thị tại thành phố Frankfurt am Main vào lúc giữa đêm ngày 2 tháng 4 năm 1968 để phản đối cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam. Các cuộc hỏa hoạn gây thiệt hại tổng cộng là 1,9 triệu Mark. Những người đốt nhà đã bị bắt ngay từ ngày 4 tháng 4 và sau đó bị xử phạt mỗi người 3 năm tù. Vụ án đã được tranh cãi ngay từ thời bấy giờ và ngày nay được xem ít nhất cũng là thêm một động cơ cho việc khủng bố từ trong bí mật. Mặc dầu các cuộc hỏa hoạn chỉ gây thiệt hại về trang thiết bị chứ không gây hư hại đến tòa nhà và các chủ siêu thị, ngay khi các lý do không được làm sáng tỏ, cũng không thực thi quyền phát đơn khởi tố của họ, công tố viên Walter Griebel đã khởi tố vì tội cố ý gây hỏa hoạn nghiêm trọng, một tội phạm mà bên cạnh việc cố tình gây hỏa hoạn trong nhà thờ và nhà dân cư còn bao gồm cả những nơi "thường hay có người ở lại trong đó" vào thời điểm gây hỏa hoạn. Lý do cho việc có người vào lúc giữa đêm trong siêu thị được công tố viên nêu trong câu "mọi người đều biết rằng vào ban đêm có người trong siêu thị" và về việc nhiều phần của các tòa nhà đã không bốc cháy "sau cùng là cả trung tâm thành phố Frankfurt đã có thể cháy rụi!". Trong một bài báo vào ngày 8 tháng 11 năm 1968 Uwe Nettelbeck trong tờ "Die Zeit" đã gọi vụ xử án này là "một sự kiện [...], mà trong đó sự phân chia quyền lực đã tự diễn đạt mình như là một sự phân chia nhiệm vụ sử dụng quyền lực cần thiết để bảo vệ trật tự hiện hành" và cho rằng công tố viên Griebel "trong một đánh giá bằng chứng hết sức tự do" đã tự chứng tỏ mình là một "quỷ lửa". Sau khi đệ đơn kháng án lên Tòa án Liên bang Đức, những người bị tuyên án tạm thời được tự do. Sau khi bị tòa bác đơn, Baader và Ensslin lẩn trốn vào bí mật và cùng với luật sư của họ là Horst Mahler quyết định thành lập một nhóm "du kích quân thành phố" theo gương mẫu châu Mỹ La tinh ("Sách hướng dẫn nhỏ cho du kích thành phố" của Carlos Marighella và Lý thuyết trọng điểm ("Fokustheorie") của Che Guevara và Régis Debray). Kế hoạch này đổ vỡ vì Andreas Baader, thành viên lãnh đạo, bị bắt. Ngày nay việc giải phóng Baader kế tiếp theo đó được xem như là hành động đầu tiên của RAF. Việc này xảy ra vào ngày 14 tháng 5 năm 1970. Andreas Baader được dẫn về Viện về các vấn đề xã hội ("Institut für Soziale Fragen") tại Berlin vì nhà báo nữ Ulrike Meinhof đã viện cớ muốn cùng soạn thảo với ông một quyển sách. Bằng cách sử dụng vũ khí, Baader đã được giải phóng. Nhân viên của viện là George Linke đã bị bắn trọng thương trong vụ này. Trong thời kỳ xây dựng, nhóm đã gây chú ý của nhà nước đầu tiên bằng nhiều vụ cướp ngân hàng, ăn cắp xe, văn kiện và kế tiếp theo, trong tháng 4 năm 1971, là công bố chiến lược "Phương án du kích trong thành phố". Ngay sau đó lệnh truy nã nhóm người mà lúc này có vào khoảng 50 thành viên được phát ra trên toàn liên bang. Ngay khi vụ đốt các siêu thị ở Frankfurt được thảo luận trong một phần tài liệu như là bắt đầu của Phái Hồng quân thì ít nhất là việc giải phóng Baader được xem như là khoảng khắc thành lập nhóm. Điều này cũng phù hợp với những gì RAF tự nhận. Thế hệ thứ nhất. Thế hệ thứ nhất của RAF (Andreas Baader, Gudrun Ensslin, Holger Meins, Ulrike Meinhof, Jan-Carl Raspe và nhiều người khác) trong thời gian từ 1970 đến 1972 đã thực hiện nhiều vụ đánh cướp ngân hàng, đánh bom các cơ sở quân sự Mỹ, trong đó có sở tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Frankfurt am Main, và cơ quan nhà nước, qua đó đã có bốn người chết và trên 30 người bị thương. Trong tháng 6 năm 1972 những người nắm vai trò chủ chốt bị bắt giam: Andreas Baader, Holger Meins và Jan-Carl Raspe tại Frankfurt, Gudrun Ensslin tại Hamburg, Brigitte Mohnhaupt tại Tây Berlin và Ulrike Meinhof tại Hannover. Tháng 5 năm 1975 họ bị khởi tố và trong tháng 4 năm 1977 sau 192 ngày xử án bị tuyên án tù chung thân vì tội giết người ngoài những tội khác. Trong nhà giam, nhóm người này khiếu nại về điều kiện giam giữ được thắt chặt như là tra tấn bằng cách cô lập và yêu cầu hủy bỏ điều này cũng như là công nhận quy chế tù nhân chiến tranh và những điều khác. Để tăng sức ép cho yêu cầu, họ đã nhiều lần tuyệt thực mà hậu quả là Holger Meins đã chết trong trại giam Wittlich vào ngày 9 tháng 11 năm 1974. Hoạt động của những người bị giam, với sự giúp đỡ của các luật sư bảo vệ thí dụ như của các luật sư mà sau này cũng bị khởi tố là Hors Mahler và Klaus Croissant, đã gây nên hưởng ứng rộng rãi trong giới cánh tả. Thuộc vào trong số những luật sư nổi tiếng nhất của thế hệ RAF thứ nhất là các chính trị gia sau này của Đảng Xanh Hans-Christian Ströbele và Otto Schily, người năm 1989 đã chuyển qua gia nhập Đảng Xã hội Dân chủ Đức (SPD) và nguyên là bộ trưởng Bộ nội vụ Đức 1998-2005. Thế nhưng qua miêu tả của nhân viên trại giam Horst Bubeck cũng như là qua hình ảnh tù nhân tự chụp lẫn nhau bằng một máy ảnh được lén mang vào thì những quả quyết về điều kiện giam được thắt chặt và tra tấn bằng cô lập được tương đối hóa đi rất nhiều. Ngày 25 tháng 4 năm 1975, 6 người Đức, "Đội quân Holger Meins" ("Kommando Holger Meins"), chiếm nhiều phần của tòa đại sứ quán Đức tại Stockholm và yêu cầu trả tự do cho những người đứng đầu của RAF đang bị giam giữ (đọc Vụ bắt con tin ở Stockholm và Friederike Krabbe). Sau khi tùy viên quân sự của đại sứ quán, đại tá Andreas von Mirbach, bị bắn chết, cảnh sát Thụy Điển chấp nhận lời yêu cầu và rút ra khỏi tòa nhà chính của đại sứ quán. Tùy viên kinh tế, Heinz Hillegaart, bị giết chết sau khi chính phủ liên bang Đức tuyên bố không chấp nhận yêu cầu này. Một người khủng bố vô ý gây nổ làm cháy tòa nhà, qua đó Ulrich Wessel trong nhóm RAF đã chết, thành viên RAF Siegfried Hausner tử thương sau đó, 4 thành viên RAF khác bị bắt và tuyên án sau này. Ngày 5 tháng 9 năm 1977 những người thuộc thế hệ RAF thứ hai bắt cóc Hanns-Martin Schleyer, chủ tịch Hiệp hội những người sử dụng lao động, làm con tin và yêu cầu trả tự do cho nhóm thành viên RAF đang bị giam. Sau khi chính phủ Đức không chấp nhận yêu cầu này, vào ngày 13 tháng 10, một nhóm 4 người thuộc Mặt trận Nhân dân Giải phóng Palestina đã cướp chiếc máy bay Landshut của hãng hàng không Lufthansa nhằm tăng thêm sức ép. Khi các vụ việc này thất bại, Andreas Baader, Gudrun Ensslin và Jan-Carl Raspe đã tự tử chết trong trại giam tại Stammheim. Andreas Baader được tìm thấy nằm chết trên sàn nhà trong phòng giam do súng bắn vào đầu. Jan-Carl Raspe bị thương nặng và chết trong bệnh viện gần 2 tiếng sau đó. Gudrun Ensslin treo cổ tự tử trên lưới sắt cửa sổ. Irmgard Möller tự đâm 4 nhát dao vào vùng gần tim nhưng được cứu sống. Theo tổng công tố viên liên bang Kurt Rebmann cho biết trước Ủy ban điều tra của quốc hội tiểu bang Baden-Württemberg và trước báo chí trong tháng 1 năm 1978, vũ khí tù nhân dùng để tự bắn chết mình được luật sư Arndt Müller mang lén vào trại giam trong mùa xuân 1977. Hai người đang bị bắt giam để điều tra đã xác nhận việc mang lén vũ khí này trong lúc hỏi cung trước quan tòa, tên tuổi của họ được giữ kín vì lý do an toàn. Hai người này là liên lạc viên của RAF Volker Speitel và Hans-Joachim Dellwo. Theo lời khai của Volker Speitel sau khi bị bắt, các khẩu súng do chính ông dấu vào hồ sơ của hai luật sư Arndt Müller và Armin Newerla để mang vào trại giam. Müller và Newerla phủ nhận điều này cho đến ngày hôm nay. Trước đó, trong đêm ngày 8 rạng sáng ngày 9 tháng 5 năm 1976 Ulrike Meinhof treo cổ tự tử trên lưới cửa sổ trong phòng giam bằng một dây làm từ nhiều mảnh vải. Mâu thuẫn và không nhất quán trong thông tin chính thức về cái chết của cô đã dẫn đến việc thành lập một ủy ban điều tra quốc tế. Cho đến ngày hôm nay Irmgard Möller vẫn phủ nhận lời tường thuật chính thức về một cuộc tự sát tập thể dùng những vũ khí khác nhau của những người kia. Hoàn cảnh các cái chết sau đó trở thành cơ sở cho những hoài nghi về tính trung thực của các tuyên bố chính thức. Ngay sau vụ việc, tờ tuần báo "Stern" tường thuật về việc các thiết bị báo động trong cầu thang cứu hộ đã bị tắt đi vì lý do xây dựng sửa chữa, do đó mà có thể xâm nhập vào từ bên ngoài. Vì thế mà một số người đoán rằng đây là hành động của cơ quan tình báo, thế nhưng không có chứng cớ nào cho việc này cả. Cũng trong thời đấy, Otto Schily, bộ trưởng Bộ Nội vụ liên bang sau này, cũng đã bày tỏ hoài nghi về thuyết tự tử. Nhờ vào lời khai của những thành viên RAF ly khai thời gian sau này mà việc hoài nghi được xóa bỏ. Các thành viên RAF Brigitte Mohnhaupt và Susanne Albrecht phủ nhận trước những thành viên khác của RAF giả thuyết cho rằng những người này bị giết với lý do là những người trong trại giam Stammheim đã tự chủ động quyết định đến cuối cùng và việc tự sát là nhằm để RAF "tiếp tục cuộc đấu tranh". Tường thuật của nhân viên trại giam Horst Bubeck cũng tăng khả năng cho thuyết tự tử. Trong loạt bài về "Mùa Thu Đức" vào năm 2004 , tờ tuần báo "Stern" cho rằng ít nhất đây cũng là một vụ tự sát tập thể được nhà nước chấp nhận vì một số nhân viên an ninh đã biết về các khẩu súng trong trại giam trước đó qua lời khai của thành viên RAF là Volker Speitel. Thế hệ thứ hai. Thế hệ thứ hai hình thành sau khi phần lớn thế hệ thứ nhất của RAF bị bắt. Vào ngày 7 tháng 4 năm 1977 tổng công tố viên liên bang Siegfried Buback bị bắn chết cùng với người lái xe, mở đầu cho năm khủng bố đẫm máu nhất trong lịch sử nước Đức. Ngày 30 tháng 6 người phát ngôn thuộc ban giám đốc Dresdner Bank, Jürgen Ponto, bị bắn chết trong lúc 3 thành viên RAF định bắt ông làm con tin. Ngày 5 tháng 9 Hanns-Martin Schleyer bị bắt làm con tin, người lái xe và 3 nhân viên bảo vệ bị bắn chết. RAF yêu cầu trả tự do cho 10 người đồng chí hướng đang bị giam. Chính phủ liên bang quyết định tiếp tục đường lối cứng rắn và phản ứng bằng cách cô lập các tù nhân. Ngay sau đó 4 người Palestina cướp chiếc máy bay "Landshut" với 82 hành khách và 5 người thuộc phi hành đoàn nhằm tăng cường áp lực đối với chính phủ Đức. Trong đêm rạng sáng ngày 18 tháng 10 lực lượng đặc nhiệm GSG 9 của Đức giải phóng thành công các con tin bị bắt giữ trong máy bay. Ngày 19 tháng 10 xác chết của ông Hanns-Martin Schleyer được tìm thấy trong cốp xe của một chiếc Audi 100 tại Mulhouse (Pháp). Vài giờ sau khi các con tin trên máy bay được giải phóng, Baader, Ensslin và Raspe tự tử. Các vụ việc này đã đi vào lịch sử nước Đức dưới tên gọi Mùa Thu Đức. Thành viên của thế hệ thứ hai nhận được sự giúp đỡ về tổ chức và tài chính từ nước Cộng hòa Dân chủ Đức (DDR). Ngoài ra một vài thành viên của RAF, dưới sự giúp đỡ của Bộ An ninh Quốc gia (DDR), đã lẫn trốn sang Cộng hòa Dân chủ Đức. Sau khi nước Cộng hòa Dân chủ Đức sụp đổ, danh tính của họ bị lộ. Susanne Albrecht, Werner Lotze, Ekkehard Freiherr von Seckendorff-Gudent, Christine Dümlein, Monika Helbing, Silke Maier-Witt, Henning Beer, Sigrid Sternebeck và Ralf-Baptist Friedrich bị bắt và tuyên án trong thời gian qua (ngoại trừ Ekkehard Freiherr von Seckendorff-Gudent và Christine Dümlein do các tội phạm bị quy cho đã quá thời hiệu truy tố), họ được nhận quy chế nhân chứng chính ("King's evidence") do đã sẵn sàng khai báo. Thế hệ thứ ba. Thế hệ thứ ba, theo thông tin của các cơ quan bảo vệ hiến pháp Đức, bao gồm đến 250 người, được cho là đã thực hiện nhiều vụ phá hoại và giết người mà nạn nhân là các nhân vật nổi tiếng trong giới chính trị và kinh tế Đức. "Lõi cứng" bao gồm 15-20 người. Họ bị buộc tội công kích giám đốc công ty Siemens Karl Heinz Beckurts, giám đốc Deutsche Bank Alfred Herrhausen và Detlev Karsten Rohwedder, lãnh đạo cơ quan Treuhandanstalt, công việc điều tra cho đến nay vẫn chưa chấm dứt. Vào ngày 27 tháng 6 năm 1993 trong lúc bắt giữ 2 thành viên của RAF là Wolfgang Grams và Birgit Hogefeld đã xảy ra một vụ bắn nhau tại nhà ga của Bad Kleinen gần thành phố Schwerin, qua đó nhân viên GSG 9 Michael Newrzella và Grams bị bắn chết. Theo kết quả điều tra chính thức, Grams, sau khi bắn chết Newrzella bằng một khẩu súng lục mang theo người, đã tự giết mình để không phải bị bắt bằng cách tự bắn vào đầu trong lúc trọng thương đang ngã ngửa xuống đường ray tàu hỏa. Việc hoài nghi là Gram bị một nhân viên GSG 9 cố tình bắn chết đã lan truyền đi không những chỉ trong giới ủng hộ, đặc biệt là nhiều nhân chứng không trực tiếp tham gia đã xác nhận lối giải thích này với tờ tạp chí tin tức "Der Spiegel". Khi tình huống của vụ xuất kích được điều tra chính xác hơn, nhiều thiếu sót trong tường trình của các cơ quan điều tra khác nhau cũng như trong lúc bảo vệ dấu tích tại hiện trường đã xuất hiện. Vì những tranh cãi trong giới công khai, bộ trưởng Bộ Nội vụ Đức đương thời Rudolf Seiters đã từ chức; tổng công tố viên Alexander von Stahl được bãi nhiệm sau đó. Cha mẹ của Wolfgang Grams phát đơn kiện chính phủ liên bang trước tòa án dân sự Bonn và yêu cầu bồi thường. Tòa án đã đi đến nhận định là diễn biến của vụ việc không có thể được làm sáng tỏ nhưng không loại trừ khả năng cố ý giết người. Vụ án Bad Kleinen được nhiều nhà quan sát phê phán xem như là một việc uốn cong các nguyên tắc của một nhà nước pháp quyền, vì theo họ, một vụ kiện theo pháp quyền phải được bảo đảm là dẫn đến việc làm sáng tỏ hoàn toàn. Wolfgang Grams bị quy tội là đã giết chết lãnh đạo của cơ quan Treuhandanstalt, Detlev Karsten Rohwedder, vào ngày 1 tháng 4 năm 1991 tại Düsseldorf. Viện công tố liên bang Đức cho biết việc Grams tham gia phạm tội trong vụ án Rohwedder đã được chứng minh bằng phân tích DNA các dấu vết tại hiện trường, cụ thể là qua một sợi tóc còn vương lại trong một chiếc khăn tay. Vào ngày 15 tháng 9 năm 1999 Andrea Klump và Horst Ludwig Meyer bị cảnh sát Áo vây bắt. Qua một cuộc đọ súng Meyer bị bắn chết. Meyer bị quy tội là đã tham gia vào vụ giết ông Beckurts. Việc nhiều lần quy tội Klump là thành viên của RAF trước sau vẫn chưa được làm sáng tỏ, trong một vụ xử án việc này đã được bãi bỏ. Ngay từ năm 1992, ngoài những nơi khác, các nhà báo Gerhard Wisnewski, Wolfgang Landgraeber và Ekkehard Sieker đã trình bày trong chương trình "Brennpunkt" (Điểm nóng) của đài truyền hình quốc gia liên bang Đức ARD giả thuyết được tranh luận cho là thế hệ thứ ba của RAF không tồn tại và những vụ giết người được quy cho thế hệ RAF này là do các cơ quan tình báo dàn dựng (xem quyển "Das RAF-Phantom" (Bóng ma RAF)). Tuyên bố giải tán. Vào ngày 20 tháng 4 năm 1998 RAF công bố việc tự giải tán trong một tuyên bố 8 trang. Trong đó: ""Trước đây gần 28 năm, vào ngày 14 tháng 5 năm 1970, RAF thành hình từ một vụ giải phóng. Chúng tôi chấm dứt dự án này ngày hôm nay. Du kích thành phố dưới hình thức của RAF giờ đây là lịch sử." Trước đấy, trong quá trình xét xử vào cuối năm 1996 tại Frankfurt am Main, Birgit Hogefeld đã kêu gọi giải tán RAF: "Cuộc đấu tranh đã thất bại."" Nhân vật và tội phạm. Các tội phạm được cho là do RAF gây ra. Tuy tổ chức RAF đã tuyên bố tự giải tán nhưng một vài tội phạm của RAF cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. "Các anh biết không nhiều về chúng tôi", RAF đã chế giễu nhân viên điều tra trong một tuyên bố vào năm 1996. Thuộc vào trong số những vụ án này là vụ giết ông Detlev Rohwedder trong năm 1991 tại nhà riêng ở thành phố Düsseldorf. Sau khi theo dõi hơn 1.000 dấu vết cho đến nay vẫn chưa rõ là ai đã bắn chết ông Rohwedder. Qua phân tích DNA từ một sợi tóc trên một chiếc khăn tay được tìm thấy tại hiện trường, những nhân viên điều tra kết luận là Wolfgang Grams đã tham gia vào vụ giết người này. Vụ giết Alfred Herrhausen trong ban giám đốc Deutsche Bank vẫn còn là câu đố. Viện công tố liên bang vẫn chưa biết những ai thuộc về "Đội quân Wolfgang Beer" ("Kommando Wolfgang Beer") bao gồm 4 thành viên của RAF. Ngày 10 tháng 10 năm 1986 Gerold von Braunmühl, trưởng phòng Bộ Ngoại giao và là người thân tín của bộ trưởng Bộ Ngoại giao lúc đấy là Hans-Dietrich Genscher, bị một người bịt mặt bắn chết trên đường phố tại Ippendorf gần Bonn. Nhân viên điều tra vẫn chưa biết những ai thuộc về "Đội quân Ingrid Schubert". Ngày 9 tháng 7 năm 1986 Karl Heinz Beckurts thuộc ban giám đốc Siemens bị giết chết bằng một vụ đánh bom. Những người phạm tội vẫn chưa bị bắt. Thành viên RAF Horst-Ludwig Meyer bị nghi là phạm nhân. Người này bị bắn chết năm 1999 trong một cuộc đọ súng với cảnh sát Viên. Nạn nhân của RAF. Trong thời gian từ 1970 đến 1997 37 người đã bị RAF giết chết, đó là: Thành viên RAF đã chết. Trong cùng thời gian trên, 20 người được cho là thành viên của RAF đã chết: Tù nhân là thành viên của RAF. Với Eva Haule (từ 1986), Birgit Hogefeld (1993), Christian Klar (1982) và Brigitte Mohnhaupt (1982) còn 4 người đã từng là thành viên của RAF đang ngồi tù. Hanna Krabbe bị giam giữ từ 1975 đến 1996. Rolf Clemens Wagner, hoạt động cho RAF chủ yếu trong thập niên 1970 được trả tự do vào ngày 9 tháng 12 năm 2003 sau 24 năm trong tù. Adelheid Schulz, người ngoài những tội khác đã bị xử tù chung thân do tham gia vào vụ bắt cóc và giết chết ông Hanns-Martin Schleyer, được tổng thống Đức đương thời là Johannes Rau ân xá vào ngày 1 tháng 2 năm 2002. Trong tháng 10 năm 2001 án tù của Rolf Heißler được chuyển thành án tù treo, Heißler bị tuyên án tù chung thân vào năm 1982.
Chứng minh nhân dân Giấy chứng minh nhân dân (CMND; trong khẩu ngữ thường được gọi tắt là chứng minh thư hoặc giấy chứng minh hay đơn giản hơn nữa là chứng minh) là tên một loại giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam, trong đó có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đặc điểm căn cước, lai lịch của người được cấp. Giấy chứng minh nhân dân có giá trị sử dụng toàn Việt Nam trong thời gian 15 năm kể từ ngày cấp gần nhất. Bắt đầu từ năm 2016, "Chứng minh nhân dân" chính thức được thay bằng "Căn cước Công dân". Tuy nhiên, tại công an cấp tỉnh, cấp huyện vẫn thực hiện các thủ tục cấp mới, cấp đổi và cấp lại giấy Chứng minh nhân dân đến ngày 30 tháng 10 năm 2017 mới chính thức được bãi bỏ. Ở Việt Nam, Thẻ Căn Cước được sử dụng trong thời Pháp thuộc (1945 trở về trước) như giấy thông hành hoặc giấy chứng minh trong phạm vi toàn Đông Dương. Theo Sắc lệnh số 175 - b ngày 6 tháng 9 năm 1946 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Thẻ Công Dân được sử dụng thay cho thẻ căn cước. Thẻ công dân chứng nhận về nhân thân và những đặc điểm riêng của mỗi công dân, bao gồm: họ tên, ngày tháng năm sinh, tên cha mẹ, nguyên quán, trú quán, chức nghiệ, thị xã hoặc thành phố, nơi nguyên quán hoặc trú quán của công dân cấp cho công dân Việt Nam tuổi từ 18 trở lên. Từ năm 1957, thẻ công dân được thay bằng Giấy Chứng Minh. Đến năm 1964 thì bổ sung thêm "Giấy chứng nhận căn cước" cho những người từ 14 đến 17 bên cạnh "Giấy chứng minh". Tại miền Nam của Việt Nam, vào thời Việt Nam Cộng hòa, Thẻ Căn cước được sử dụng phổ biến đến cuối tháng 4 năm 1975. Từ khi thống nhất đất nước sau chiến tranh, năm 1976, Giấy Chứng Minh Nhân dân được sử dụng thống nhất trong cả nước. Từ năm 1999, được thay bằng Chứng Minh Nhân Dân theo quy định của Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bắt đầu từ 1 tháng 7 năm 2012, Bộ Công an áp dụng mẫu giấy chứng minh nhân dân mới bằng nhựa 85,6mm x 53,98mm, trong đó có ghi rõ họ tên cha và mẹ, có mã vạch hai chiều. Ảnh của công dân được in trực tiếp lên thẻ; số CMND mới gồm 12 số Kể từ năm 2016, theo Luật Căn cước Công dân , Việt Nam chính thức đổi tên Chứng minh nhân dân thành Thẻ Căn cước Công dân. Theo Nghị quyết 112/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký có hiệu lực từ ngày 30 tháng 10 năm 2017 ban hành về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công an, để thống nhất việc quản lý bằng mã số định danh cá nhân. Các thủ tục cấp mới, cấp đổi và cấp lại giấy Chứng minh nhân dân đang được thực hiện tại công an cấp tỉnh, cấp huyện cũng sẽ được bãi bỏ. Cụ thể, sẽ bỏ yêu cầu xuất trình Chứng minh nhân dân với người đến làm thủ tục đăng ký xe. Các thủ tục liên quan đến lĩnh vực xuất nhập cảnh, đăng ký ngành nghề kinh doanh có điều kiện… cũng sẽ bỏ việc yêu cầu người dân phải xuất trình sổ hộ khẩu, giấy Chứng minh nhân dân. Trong một số tờ khai về lý lịch cá nhân, người dân sẽ không còn phải cung cấp các thông tin như ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi đăng ký thường trú. Ngoài ra, khi đi làm hộ chiếu, cấp lại hay sửa đổi hộ chiếu, người dân cũng không cần khai ngày tháng năm sinh, số Chứng minh nhân dân… mà thay vào đó là số định danh cá nhân trên Thẻ Căn cước Công dân. Tất cả các CMND được cấp mới hiện tại có đặc điểm sau: Mẫu giấy CMND của công dân Việt Nam thống nhất toàn quốc, có hình chữ nhật, kích thước 85,6 mm x 53,98 mm, gồm 2 mặt in hoa văn màu xanh trắng nhạt, được ép nhựa trong. Thời hạn sử dụng là 15 năm kể từ ngày cấp. Mẫu mới này có một số điểm khác với mẫu CMND cũ như kích thước quốc huy, kích thước ảnh, mã vạch, tên cha mẹ Bộ Công An Việt Nam đang có kế hoạch xây dựng mẫu CMND mới (Căn cước Công dân) trong đó sẽ đưa nhóm máu và thể hiện bằng hai ngôn ngữ: tiếng Việt và tiếng Anh. Ngoài ra, dự án CMND điện tử, giống như của Malaysia, cũng đã được triển khai từ đầu thập niên và dự kiến sẽ cấp cho các thành phố cấp 1 vào năm 2010. Tuy vậy, gần đây, người ta cho rằng dự án này đã thất bại. Đối tượng được cấp. Công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên được cấp CMND. Những người tạm thời chưa được cấp. Là những người dưới 14 tuổi, hoặc trên 14 tuổi nhưng chưa có nhu cầu làm CMND, người đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi của chính mình. Quy định liên quan. Cuối năm 2013, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 167/2013/NĐ-CP (để thay thế NĐ 73/2010/NĐ-CP được ban hành vào năm 2010), trong đó khoản 1 điều 9 của Nghị định 167 có quy định: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không xuất trình chứng minh nhân dân khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền. Tại Việt Nam, số CMND là một số 9 chữ số. Các đầu số khác nhau được chia cho các cơ quan công An của các tỉnh thành khác nhau. Vì vậy, số CMND không nhất thiết là cố định đối với mỗi người. Nếu chuyển hộ khẩu hoặc thay đổi địa chỉ thường trú tới tỉnh/thành phố khác và cần cấp lại CMND, số CMND mới sẽ có đầu số hoàn toàn khác. Việc này gây ra rất nhiều phiền toái đặc biệt là khi số CMND được sử dụng trong rất nhiều tài liệu như Đăng ký nhà, ô tô, xe máy, đăng ký kinh doanh, hộ chiếu, hộ khẩu Về nguyên tắc, số CMND là duy nhất. Tuy vậy, năm 2007 đã xảy ra trường hợp hi hữu là có tới 50000 số CMND thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị trùng với tỉnh Đồng Nai. Đây là các số CMND thuộc dải số từ 271450001 đến số 271500000. Nguyên nhân do dải số trên được cấp cho Bà Rịa – Vũng Tàu khi thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo năm 1979 nhưng tỉnh Đồng Nai vẫn tiếp tục sử dụng.
Vườn quốc gia Ba Bể Vườn quốc gia Ba Bể là một vườn quốc gia, rừng đặc dụng, khu du lịch sinh thái của Việt Nam, nằm trên địa phận tỉnh Bắc Kạn, với trung tâm là hồ Ba Bể. Vườn quốc gia Ba Bể được thành lập theo Quyết định số 83/TTg ngày 10 tháng 11 năm năm 1992 của Thủ tướng Chính phủ. Vườn có tọa độ là 105°36′55″ kinh đông, 22°24′19″ vĩ bắc. Nó nằm trên địa bàn 5 xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thương, Quảng Khê, Cao Trĩ thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Vườn quốc gia này cách thành phố Bắc Kạn 50 km và Hà Nội 250 km về phía bắc, thuộc địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Vườn quốc gia Ba Bể là một điểm du lịch sinh thái lý tưởng với phong cảnh kỳ thú và sự đa dạng sinh học. Năm 2004, Ba Bể đã được công nhận là một di sản thiên nhiên của ASEAN. Trước đó, đây từng là Khu danh lam thắng cảnh và Di tích lịch sử, là Khu rừng cấm hồ Ba Bể. Vườn Quốc gia (VQG) Ba Bể được thành lập theo quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Chính phủ với diện tích 7.610 ha, trong đó có 3.226 ha là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và hơn 3 ha diện tích mặt hồ. Những nghiên cứu khoa học khẳng định đây là khu vực giàu có về đa dạng sinh học, có nhiều nét đặc trưng của hệ sinh thái điển hình rừng thường xanh trên núi đá vôi và hồ trên núi, rừng thường xanh đất thấp. Trung tâm của vườn là hồ Ba Bể với chiều dài tới 8 km và chiều rộng 800 m. Nằm trên độ cao 178 m, hồ Ba Bể là "hồ tự nhiên trên núi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở Việt Nam". Nằm trên vùng núi đá vôi, vốn có rất nhiều hang động caxtơ….mà hồ vẫn tồn tại với cảnh đẹp mê người là điều diệu kì, hấp dẫn mà thiên nhiên ban tặng. VQG Ba Bể có 1.281 loài thực vật thuộc 162 họ, 672 chi, trong đó có nhiều loài thực vật quý hiếm có giá trị được ghi vào Sách Đỏ của Việt Nam và Thế giới. Các loài cây gỗ quý, hiếm như: Nghiến, Đinh, Lim, Trúc dây… trong đó, Trúc dây là một loài tre đặc hữu của Ba Bể thường mọc tại các vách núi, thân của chúng thả mành mành xuống hồ tạo nên những bức mành xung quanh hồ. Đây là khu vực được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài lan không chỉ của Việt Nam mà còn của cả toàn vùng Đông Nam Á. Ở đây có 182 loài lan, một số loài lan là đặc hữu, chỉ phát hiện thấy duy nhất ở vùng này. Khu hệ động vật rất phong phú với 81 loài thú, 27 loài bò sát, 17 loài lưỡng cư, 322 loài chim, 106 loài cá, 553 loài côn trùng và nhện. Trong đó có nhiều loài có giá trị, quý hiếm đã được Việt Nam và Quốc tế ghi vào Sách Đỏ. Về khu hệ cá, hồ Ba Bể và các sông suối phụ cận có đến 106 loài cá được xác định phong phú nhất ở Việt Nam, bởi các hồ khác như hồ Lắc cũng chỉ có 35 loài, hồ Tây - 36 loài, hồ Châu Trúc - 47 loà( Trachypithecus francoisy) và Cầy vằn bắc (Hemigalus owstoni), mặc dù vậy số lượng Voọc đen má trắng hiện còn tồn tại trong khu vực rất ít. Ngoài ra, hồ Ba Bể còn là 1 điểm du lịch nổi tiếng, là "viên ngọc xanh" giữa đại ngàn đã và đang nổi lên là một điểm du lịch sinh thái lý tưởng với du khách, nhất là vào thời điểm đầu xuân và hè. Hồ dài hơn 8 km, chỗ rộng nhất khoảng 3 km, sâu khoảng 20 đến 30m. Đoạn giữa hồ hơi eo lại. Có hai đảo nhỏ nổi lên giữa hồ, một đảo giống như con ngựa đóng cương đang lội nước (nên còn gọi là đảo An Mã). Hồ Ba Bể ở độ cao 145m so với mặt nước biển, diện tích mặt hồ khoảng 500ha được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi có nhiều suối ngầm và hang động. Toàn cảnh hồ như một bức tranh thủy mặc, làm say lòng nhiều du khách từ xưa đến nay. Đến Hồ Ba Bể, du khách có dịp được dạo quanh hồ nước trong xanh bằng thuyền độc mộc rất đặc trưng của dân tộc bản địa hoặc bằng thuyền máy rồi ra sông Năng và thăm thú nhiều thắng cảnh tự nhiên. Tối đến, có thể ngủ lại ở khu nhà gần hồ hoặc ngay tại nhà của người dân tộc Tày, Nùng. Thác Đầu Đẳng cách thị trấn Chợ Rã (huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn) 16 km. Thác dài 2 km, hòa cùng với phong cảnh rừng nguyên sinh, tạo thành ấn tượng khó quên. Thác Đầu Đẳng nằm trên dòng sông Năng, là nơi tiếp giáp giữa Bắc Kạn với tỉnh Tuyên Quang. Thác Đầu Đẳng nằm giữa hai dãy núi đá vôi, có độ dốc lớn, là nơi con sông Năng bị chặn lại bởi những tảng đá lớn, nhỏ xếp chồng lên nhau với độ dốc chừng 500m, tạo thành một thác nước ngoạn mục kỳ vĩ, hoà với phong cảnh rừng nguyên sinh tạo ra một ấn tượng khó quên. Không những vậy, tại đây còn xuất hiện loại cá chiên (có những con nặng trên 10 kg) là loại cá hiếm thấy hiện nay. Động Puông nằm trên dòng sông Năng thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, cách thị trấn Chợ Rã 5 km.Hang động Puông là một trong những điểm du lịch có hệ sinh thái đặc biệt, rất độc đáo và hấp dẫn. Con sông Năng chảy dưới chân núi đá vôi, giữa những bờ vách đứng xuyên qua núi Lung Nham, nơi đó gọi là động Puông. Thuyền nhỏ luồn trong động Puông chập chờn trong ánh sáng mờ ảo, những thạch nhũ hình thù kỳ lạ hiện lên trước cửa động. Trong động có đàn dơi hàng chục vạn con sinh sống và trú ngụ. Vườn có diện tích 7.610 ha (76,10 km²), trong đó: Vườn có độ cao so với mực nước biển là từ 150 m đến 1.098 m. Ở phía tây nam của vườn có dãy núi Phia Boóc, có các điểm cao từ 1.505 m đến 1.527 m. Đa dạng sinh học. Với trung tâm là hồ Ba Bể, khu vườn quốc gia này có: Vườn có một số loài quý hiếm như gấu ngựa, báo lửa, báo hoa mai. Hai loài đặc hữu của vùng này là cầy vằn ("Hemigalus owstoni") và voọc đen ("Presbytis francoisi"). Cà đác, tức voọc mũi hếch Bắc Bộ nay không còn tìm thấy ở Ba Bể nữa nhưng ở Khu bảo tồn Na Hang gần đó vẫn còn một nhóm. Vấn đề môi sinh. Việc khai thác khoáng sản nhất là mỏ sắt ở lưu vực hồ Ba Bề đã tác biến khu vực hồ và gây thiệt hại nặng nề về mặt môi sinh. Theo một cuộc khảo sát hồ Pé Lèng đã mất 1/3 diện tích vì bồi tích ứ đọng và trong tương lai hồ Ba Bể có thể bị lấp mất nếu hiện trạng không thay đổi.
Tổ chức Tầm nhìn Thế giới Tầm nhìn Thế giới hoặc Hoàn cầu Khải tượng là một tổ chức Tin Lành chuyên về cứu trợ, phát triển, và bảo trợ bằng cách đồng hành với trẻ em, các gia đình, và cộng đồng để giúp họ vượt qua sự nghèo khó và bất công. Được soi dẫn bởi các giá trị Cơ Đốc, Tầm nhìn Thế giới hướng về mục tiêu dấn thân để chia sẻ với những người dễ bị tổn thương nhất trên thế giới, và phục vụ mọi người không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, hoặc giới tính. Kể từ lúc Bob Pierce thành lập Tầm nhìn Thế giới năm 1950, tổ chức này đã phát triển để trở thành một trong những tổ chức từ thiện và phát triển lớn nhất thế giới với tổng thu nhập bao gồm các khoản quyên góp, sản phẩm, và đóng góp từ nước ngoài lên 2, 79 tỉ USD năm 2011. Tổ chức Cơ Đốc về cứu trợ và phát triển này hoạt động với tôn chỉ giúp đỡ trẻ em và cộng đồng của chúng trên khắp thế giới đã tận dụng mọi tiềm năng của mình trong nỗ lực giải quyết căn nguyên của nạn nghèo đói. Tầm nhìn Thế giới được thành lập năm 1950 bởi Tiến sĩ Bob Pierce, một mục sư trẻ tuổi đang làm việc tại Trung Hoa và Hàn Quốc cho tổ chức Tuổi trẻ vì Chúa Cơ Đốc ("Youth for Christ"); trong khi thi hành mục vụ Pierce có cơ hội tiếp xúc với nhiều trẻ em bất hạnh và tình cảm nhân ái của ông bắt đầu hướng về chúng. Pierce dành tất cả những gì ông có cho một bé gái tên Bạch Ngọc, đến từ một gia đình Trung Hoa nghèo khổ. Bé gái này bị đánh đập và tước đoạt mọi thứ sau khi em quyết định trở thành một tín hữu Cơ Đốc. Số tiền 5 USD của Pierce chỉ đủ để cho em thức ăn, quần áo và cơ hội đến trường, nhưng ông hứa mỗi tháng sẽ gởi cho em tiền trợ cấp. Hành động tự nguyện này là sự khởi đầu cho các chương trình bảo trợ của Tầm nhìn Thế giới trên toàn cầu. Năm 1967, Pierce từ nhiệm khỏi Tầm nhìn Thế giới; năm 1970, ông nhận lãnh đạo một tổ chức trợ giúp nạn nhân đói kém, sau này trở thành tổ chức từ thiện Quỹ Người Samaria nhân lành ("Samaritan’s Purse"). Bob Pierce qua đời năm 1978. Tầm nhìn Thế giới bắt đầu chăm sóc trẻ mồ côi và những trẻ em khác đang cần trợ giúp trên khắp châu Á rồi lan dần đến hơn 90 quốc gia với tầm hoạt động được mở rộng sang các lãnh vực khác như phát triển cộng đồng và chăm sóc người nghèo như là một phần trong sứ mạng căn bản của tổ chức nhằm giúp trẻ em và gia đình của chúng kiến tạo một tương lai bền vững. Với hơn 20.000 nhân viên, năm 2005, Tầm nhìn Thế giới xúc tiến các chương trình hoạt động trên khắp thế giới ảnh hưởng đến cuộc sống của 100 triệu người, trong đó có 1,85 triệu người đang sống tại nước Mỹ. Có năm triệu người đóng góp, hỗ trợ và làm tình nguyện viên đồng hành với Tầm nhìn Thế giới để đạt đến những mục tiêu này. Cấu trúc tổ chức của Tầm nhìn Thế giới vận hành theo cách đồng công với các văn phòng độc lập tại mỗi quốc gia, những văn phòng này tự điều hành các ban quản trị hoặc hội đồng tư vấn tại chỗ. Một cương lĩnh chung và những giá trị cùng chia sẻ ràng buộc các văn phòng cộng tác và nhân viên. Các văn phòng thành viên cùng chịu chi phối bởi các chính sách và tiêu chuẩn chung, chịu trách nhiệm kiểm soát lẫn nhau qua một hệ thống kiểm tra đồng đẳng. Các văn phòng thành viên - đặt tại Geneva, Bangkok, Nairobi, Kypros, Los Angeles và San José, Costa Rica - có nhiệm vụ phối hợp điều hành chiến lược và đại diện cho Tầm nhìn Thế giới trên trường quốc tế. Mỗi văn phòng quốc gia đều có tiếng nói bình đẳng trong việc điều hành tổ chức, xoá bỏ sự phân biệt lâu đời giữa thế giới đã phát triển và thế giới đang phát triển. Một ban giám đốc quốc tế quản lý Hệ thống Thành viên Tầm nhìn Thế giới. Toàn thể ban giám đốc họp hai lần mỗi năm để bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, thông qua các kế hoạch chiến lược, thông qua ngân quỹ cũng như ấn định các chính sách quốc tế. Chủ tịch ban giám đốc quốc tế là Denis St. Armour đến từ Canada. Chủ tịch của Tầm nhìn Thế giới là Kevin J. Jenkins. Khoảng 80% ngân quỹ của Tầm nhìn Thế giới đến từ khu vực tư, gồm có đóng góp từ các cá nhân, các câu lạc bộ Tầm nhìn Thế giới tại các trường học chẳng hạn như Trường Mỹ - Đài Loan, các công ty và các tổ chức. Phần còn lại là đóng góp đến từ các chính phủ và các cơ quan đa quốc gia. Ngoài những đóng góp bằng tiền mặt, Tầm nhìn Thế giới còn có những quyên góp bằng hiện vật, điển hình là thực phẩm, thuốc men và áo quần được quyên góp từ các công ty và các cơ quan chính phủ. Xấp xỉ một nửa các chương trình hoạt động của Tầm nhìn Thế giới dành cho việc bảo trợ trẻ em. Những cá nhân, gia đình, giáo đoàn và các nhóm khác nhận bảo trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hoặc các đề án cộng đồng trong và ngoài nước. Nhà bảo trợ hằng tháng gởi tiền cung ứng sự trợ giúp cho trẻ em hoặc các đề án đang được bảo trợ. Tầm nhìn Thế giới nỗ lực đáp ứng nhu cầu con người trong năm lãnh vực chính: cứu trợ khẩn cấp, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh tế, và cổ xuý công bằng xã hội. Hoạt động của Tầm nhìn Thế giới tập trung vào các chương trình như phát triển chuyển đổi, cứu trợ khẩn cấp, sáng kiến chiến lược, sự quan tâm của công luận và làm chứng nhân cho Chúa Cơ Đốc. Chương trình Phát triển để chuyển đổi nhắm vào mục tiêu cải thiện đời sống trẻ em. Lúc ban đầu nhằm giúp người dân và cộng đồng của họ nhận ra nguồn lực của chính mình để học biết cách sử dụng chúng hầu thay đổi cuộc sống. Với sự hỗ trợ từ Tầm nhìn Thế giới, các cộng đồng có thể tự chuyển đổi bằng cách tiến hành các đề án phát triển trong các lĩnh vực như chăm sóc sức khoẻ, sản xuất nông nghiệp, cải thiện nguồn nước, giáo dục, phát triển kinh tế quy mô nhỏ và các chương trình cộng đồng khác. Tầm nhìn Thế giới cung ứng sự hỗ trợ khẩn cấp cho những người đang bị đe doạ bởi các loại thảm hoạ hay đang kẹt trong các vùng tranh chấp; những người này cần có sự trợ giúp khẩn cấp được tổ chức hiệu quả. Tầm nhìn Thế giới hoặc là tự mình tìm cách đáp ứng các tình huống khẩn cấp quy mô lớn trên khắp thế giới hoặc hợp tác với các tổ chức từ thiện khác trong nỗ lực giảm nhẹ đau thương và tổn thất cho nạn nhân thảm hoạ như nạn đói ở Ethiopia và Bắc Triều Tiên, bão lũ và lở đất ở Trung Mỹ, sóng thần tại các quốc gia Ấn Độ Dương, động đất ở El Salvador, Ấn Độ, Đài Loan và Thổ Nhĩ Kỳ, người tị nạn chiến tranh tại Kosovo, Chechnya, Sierra Leone, Angola và Đông Timor. Tầm nhìn Thế giới cũng lên tiếng đánh động công luận về các nhân tố phức tạp và có hệ thống góp phần kéo dài nạn nghèo đói và đề ra giải pháp bằng cách cổ xuý công lý. Tầm nhìn Thế giới ủng hộ những nỗ lực tập thể của các cộng đồng cáo giác những bất công xã hội với mục tiêu hành động để thay đổi cuộc sống. Tầm nhìn Thế giới cũng lên tiếng về các vấn đề như lao động trẻ em, xoá nợ cho các nước nghèo, sử dụng trẻ em chiến đấu trong các cuộc tranh chấp có vũ trang. Tầm nhìn Thế giới Quốc tế ủng hộ Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em như là những thể hiện nền tảng về tự do và trách nhiệm nên thực hiện tại mỗi quốc gia. Tầm nhìn Thế giới tìm kiếm cơ hội giảm thiểu các nguy cơ xung đột và đóng góp các giải pháp ôn hòa nhằm giải quyết sự thù địch bằng đàm phán và hoà giải. Là một tổ chức Cơ Đốc, Tầm nhìn Thế giới, cùng các tín hữu và các nhà lãnh đạo Cơ Đốc thuộc mọi giáo phái, tham gia vào các sáng kiến chiến lược thông qua những hội nghị, tư vấn, các chương trình huấn luyện và những cơ hội giáo dục. Tầm nhìn Thế giới là một tổ chức có khuynh hướng hiệp nhất hội thánh mong muốn hợp tác với mọi giáo hội Cơ Đốc. Tầm nhìn Thế giới khuyến khích công luận quan tâm đến những nhu cầu của người khác, nguyên do của nạn nghèo đói, và bản chất của những đáp ứng phát xuất từ lòng nhân ái. Những nỗ lực này bao gồm sự hợp tác với các phương tiện truyền thông và phương pháp tham gia cộng đồng ("community participation") trong công tác gây quỹ. Với mọi phương tiện hiện có, Tầm nhìn Thế giới cố nêu lên vấn đề nhân phẩm của các nạn nhân là trẻ em cùng gia đình của chúng trong nỗ lực giải thích nguyên nhân và hậu quả của nạn nghèo đói, chiến tranh, bị ruồng bỏ và lạm dụng. Tầm nhìn Thế giới tin rằng làm chứng nhân cho Chúa Cơ Đốc là nền tảng cho công tác cứu trợ với niềm xác tín rằng Thiên Chúa, trong thân vị của Chúa Giê-xu, ban cho con người niềm hi vọng được đổi mới, phục hồi và hoà giải. Tầm nhìn Thế giới trình bày thông điệp này qua"đời sống, hành động, cử chỉ và lời nói"trong tinh thần tôn trọng các niềm tin khác. Chủ trương của tổ chức này là không tìm cách lôi kéo hoặc ép buộc người khác qui đạo dưới bất cứ hình thức nào. Các chương trình và dịch vụ của Tầm nhìn Thế giới phục vụ mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính và tôn giáo. Tất cả nhân viên làm việc cho Tầm nhìn Thế giới tại Hoa Kỳ được yêu cầu ký vào một bản xưng nhận đức tin vào Chúa Giê-xu, mặc dù những người làm việc theo hợp đồng hoặc những đối tác không cần phải có niềm tin Cơ Đốc. Tại các văn phòng ở nhiều nước trên thế giới, không có đòi hỏi nào về niềm tin tôn giáo đối với việc tuyển dụng nhân viên. Tầm nhìn Thế giới đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1960. Trong 15 năm kế tiếp, tổ chức này thiết lập các chương trình hỗ trợ người vô gia cư, những dịch vụ phục hồi chức năng, và tập chú vào các hoạt động giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: cung cấp dịch vụ y tế cho trẻ em nghèo và trẻ bị thất lạc gia đình. Từ giữa thập niên 1960, Tầm nhìn Thế giới, hợp tác với các chi hội thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, thành lập các trường học (phần lớn là trường tiểu học) cho trẻ em nghèo. Đến năm 1970, đã có 77 cơ sở giáo dục thuộc loại hình này có mặt trên hầu hết các tỉnh thành ở miền Nam. Sau năm 1975, hoạt động của Tầm nhìn Thế giới tại Việt Nam bị gián đoạn. Đến năm 1988, tổ chức này trở lại Việt Nam với các hoạt động cứu trợ khẩn cấp và mở một văn phòng đại diện tại Hà Nội năm 1990. Trong hơn 30 năm qua, Tầm nhìn Thế giới đã phối hợp với chính phủ Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ khác cùng người dân tại các cộng đồng thực hiện rất nhiều hoạt động cứu trợ, hỗ trợ phát triển và vận động chính sách. Theo báo cáo năm 2019, Tầm nhìn Thế giới Việt Nam triển khai hơn 40 chương trình và dự án tại 18 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Hơn 74,000 trẻ em đang được trợ giúp trực tiếp thông qua chương trình bảo trợ trẻ em. Ngân sách hàng năm cho hoạt động của Tầm nhìn Thế giới tại Việt Nam là khoảng 19 triệu USD (năm 2019), trong đó ngân sách trực tiếp cho dự án chiếm 90%, phần còn lại là chi phí hành chính. Nguồn tài trợ của Tầm nhìn Thế giới tại Việt Nam đến từ 14 quốc gia tại châu Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Úc. Tầm nhìn Thế giới tại Việt Nam có 420 nhân viên, trong đó số nhân viên Việt Nam chiếm 99%. Với những điều kiện nói trên, Tầm nhìn Thế giới tiếp tục là một trong những tổ chức phi chính phủ lớn nhất hoạt động tại Việt Nam xét trên phương diện phạm vi và sự phong phú của chương trình hoạt động. Là tổ chức hoạt động vì trẻ em, Tầm nhìn Thế giới tại Việt Nam thực hiện hoạt động vì an sinh của trẻ em, trọng tâm vào các hoạt động bảo vệ trẻ em, y tế, cải thiện sinh kế và kinh tế hộ gia đình, giáo dục kỹ năng sống và giá trị sống, và tăng cường sự tham gia của trẻ em. Hàng năm, cuộc sống của hơn 400,000 trẻ em và người dân tại các cộng đồng khó khăn được cải thiện nhờ các chương trình của Tầm nhìn Thế giới. Tầm nhìn Thế giới cũng hoạt động tích cực trong nỗ lực xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt là nâng cao nhận thức, khuyến khích sự tham gia vào các hoạt động cộng đồng của phụ nữ và đồng bào thiểu số. Trong buổi tiếp kiến Chủ tịch Tầm nhìn Thế giới Quốc tế, ông Kevin Jenkins, chiều ngày 28 tháng 9 năm 2016, cựu Chủ tịch Nước Trần Đại Quang khẳng định, trong hơn 500 tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức Tầm nhìn Thế giới là một trong những tổ chức có hoạt động tích cực, với giá trị viện trợ hàng năm lớn nhất vào khoảng 20 triệu USD. Năm 2004, Tầm nhìn Thế giới hoạt động tích cực tại các quốc gia sau:
Thánh hóa theo nguyên nghĩa là biệt riêng ra cho một mục đích đặc biệt, đó là làm nên thánh hoặc trở nên thiêng liêng. Vì vậy Thánh hóa ngụ ý một tình trạng hoặc một tiến trình được biệt riêng ra để được nên thánh. Tính từ "Thánh" trong tiếng Hebrew ("quados") theo nghĩa đen là "phân rẽ", vì nó bắt nguồn từ động từ mang nghĩa "tách biệt" hay "tách ra", được dùng để miêu tả những nơi đặc biệt (Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh trong Đền thờ), những vật đặc biệt (trang phục của Aaron, ngày Sa-bát), và những người đặc biệt (thầy tế lễ và người Lê-vi) được biệt riêng ra cách đặc biệt hay được làm nên thánh cho Chúa. Như thế, sự Thánh khiết của Thiên Chúa chỉ về sự tách biệt của Ngài khỏi mọi sự bất khiết Trong bốn lần xuất hiện trong Tân Ước, thuật từ Thánh hóa có từ nguyên trong Hi văn αγιασμος ("hagiasmos") nghĩa là "Thánh hóa" bắt nguồn từ "hagios" (άγιος) nghĩa là "Thánh khiết" hoặc "thiêng liêng". Khái niệm Thánh hóa được sử dụng rộng rãi trong các tôn giáo, nhưng phổ biến nhất có lẽ là trong vòng các giáo hội thuộc cộng đồng Cơ Đốc giáo. Thánh hóa là hành động của Thiên Chúa thể hiện một sự thay đổi triệt để trong đời sống của tín hữu, khởi đầu với thời điểm người ấy được cứu rỗi hay được xưng công chính và tiếp tục kéo dài suốt cuộc đời. Ở đây, "Thánh khiết" nên được hiểu là "thật sự giống Thiên Chúa". Sự nên thánh là một quá trình mà trong đó tình trạng đạo đức được làm cho phù hợp với tình trạng pháp lý của người đó trước mặt Thiên Chúa. Đó là sự tiếp nối cho những gì đã được bắt đầu bằng sự tái sanh, là lúc một sự sống mới được trao cho và đổ vào lòng tín hữu. Nói cụ thể hơn, sự nên thánh là việc Chúa Thánh Linh áp dụng công tác được Chúa Giê-xu Cơ Đốc làm trọn vào đời sống của tín hữu. Nhiều truyền thống Cơ Đốc giáo tin rằng tiến trình Thánh hóa chỉ kết thúc tại Thiên đàng, nhưng có nhiều người cho rằng một sự Thánh khiết trọn vẹn là khả dĩ ngay trong đời này. Thánh hoá một trong hai kiểu ơn ban của Thiên Chúa dành cho loài người (kiểu còn lại là Trợ giúp). Thánh hóa là sự sống siêu nhiên của Chúa Ba Ngôi thông ban cho con người, làm cho con người nên giống Chúa Kitô, và đáng được hưởng gia nghiệp Nước Trời. Ơn này được ban khi tín hữu nhận phép Thanh Tẩy và bị mất khi ta phạm tội trọng. Về việc Thánh hóa qua hình thức phong Thánh, Giáo lý Công giáo giải thích rõ trong số 828: "Bằng cách phong Thánh một số tín hữu, nghĩa là bằng cách long trọng tuyên bố rằng họ đã thực hiện các nhân đức một cách anh dũng và sống trung thành với Ơn Chúa, Giáo hội nhận biết quyền năng Thánh Thần của sự Thánh thiện nơi Giáo hội và duy trì niềm hy vọng của các tín hữu bằng cách đề xuất các vị Thánh là những tấm gương sáng và la những người cầu thay nguyện giúp. Các vị Thánh luôn là nguồn canh tân trong những hoàn cảnh khó khăn nhất trong lịch sử Giáo hội". Đối với các vật thể được làm phép, chúng không mang nghĩa là Thánh hóa (thần Thánh hóa) nhưng mang nghĩa là chúng được tuyển chọn, tách riêng ra để mang mục đích sử dụng trong các nghi lễ phụng vụ (chén Thánh, bàn Thánh, khăn Thánh, tượng Thá). Trong các giáo hội khác nhau thuộc Cơ Đốc giáo, thuật ngữ này có thể được hiểu theo từng ý nghĩa riêng như đối với tín hữu Kháng Cách, khái niệm Thánh hóa được gắn kết chặt chẽ với ân điển của Thiên Chúa và chỉ được dùng riêng cho con người. Theo Phong trào Thánh khiết hiện đại, cách diễn giải cho rằng sự Thánh khiết có tính hỗ tương ("relational") đang trở nên phổ biến. Cốt lõi của sự thánh khiết hỗ tương là tình yêu thương. Có những ý nghĩa khác của sự Thánh khiết như thanh sạch, biệt riêng, toàn hảo, vâng phục luật pháp, tận hiến. Nhưng những đức hạnh này chỉ có thể tìm thấy ý nghĩa chân chính tối hậu của mình khi đặt tình yêu vào vị trí cốt lõi của chúng. John Wesley, người khởi phát Phong trào Giám Lý, phát triển giáo thuyết "nên thánh trọn vẹn" (trong các giáo hội thuộc Phong trào Thánh khiết như Church of the Nazarene, Cứu Thế Quâ) hoặc "Toàn hảo Cơ Đốc" (trong các giáo phái Giám Lý như Giáo hội Giám Lý Hiệp nhấ) Wesley dạy rằng bởi quyền năng của ân điển thánh hóa từ Thiên Chúa và các phương tiện ân điển, tín hữu Cơ Đốc ngay trong đời này có thể được thanh tẩy khỏi ảnh hưởng ô uế của nguyên tội, mặc dù không phải tất cả tín hữu đều có thể có trải nghiệm này. Thánh hóa tức là bản thể sa ngã của chúng ta được làm mới lại bởi Chúa Thánh Linh, bởi đức tin vào Chúa Giê-xu Cơ Đốc, huyết của Ngài thanh tẩy mọi tội lỗi; nhân đó chúng ta không chỉ được giải thoát khỏi tội lỗi mà còn được thanh tẩy khỏi sự ô uế của tội lỗi, được cứu khỏi quyền lực tội lỗi, và được ban cho sức mạnh, qua ân điển, để có thể hết lòng yêu kính Thiên Chúa và bước đi trọn vẹn theo các điều răn Thánh của Ngài.