text
stringlengths
82
354k
Mahalia Jackson ( ;26 tháng 10 năm 1911 - 27 tháng 1 năm 1972) là ca sĩ Nhạc Phúc âm từng đoạt Giải Grammy. Sở hữu giọng "contralto" đầy nội lực, bà thường được nhắc đến như là "Nữ hoàng Nhạc Phúc âm". Jackson là một trong số những ca sĩ nhạc phúc âm có nhiều ảnh hưởng nhất trên thế giới, bà cũng thường lên tiếng trên các diễn đàn quốc tế trong tư cách là một nhà hoạt động dân quyền. Harry Belafonte – ca sĩ, người viết ca khúc, diễn viên, và nhà hoạt động xã hội – từng gọi Jackson là "người phụ nữ da đen có nhiều ảnh hưởng nhất ở Hoa Kỳ". Mahalia Jackson đã thu âm hơn 30 album (hầu hết đều do hãng Columbia Records sản xuất), trong số các đĩa 45 vòng của bà có một tá "đĩa vàng" – bán ra hàng triệu đĩa. Mahalia Jackson lớn lên trong xóm Black Pearl, khu dân cư Carrollton ở New Orleans, Louisiana. Ở đây có một căn nhà ba phòng trên đường Pitt chứa đến 13 nhân khẩu, trong đó có cô bé Mahalia, vẫn thường được gọi là "Halie", bởi vì một người dì cũng mang tên Mahalia. Cô có một em trai tên Roosevelt, và mẹ cô là Charity. Trong nhà, ngoài mẹ con cô, còn có vài người dì và các anh chị em họ. Jackson mắc dị tật bẩm sinh "genu varum" (chân vòng kiềng). Bác sĩ muốn chữa trị bằng cách phẫu thuật đánh gãy xương của cô bé, nhưng những bà dì của cô không đồng ý. Phương pháp trị liệu của mẹ cô là chà xát chân con gái bằng nước rửa chén bẩn thỉu. Tuy nhiên, đôi chân vòng kiềng không ngăn được cô bé biểu diễn khiêu vũ cho bà chủ da trắng trong ngôi nhà mà mẹ cô và Dì Bell đang giúp dọn dẹp vệ sinh. Khi lên Mahalia lên sáu, mẹ cô, Charity, qua đời. Đây là cú sốc lớn đối với gia đình, vì phải có người đứng ra nhận nuôi Mahalia và Peter. Dì Duke đồng ý nhận nuôi hai đứa trẻ, và chúng bị buộc phải làm việc từ sáng sớm đến chiều tối. Dì Duke luôn mang đôi găng tay trắng để kiểm tra ngôi nhà. Nếu không lau chùi sạch sẽ, Halie sẽ bị đánh đòn. Nếu một trong những người họ hàng bận việc không thể làm việc nhà, hoặc không thể đến lau dọn nhà cho những người thuê mướn họ, Halie sẽ là một trong số những đứa trẻ trong gia đình được sai đi chu tất các công việc này. Khó mà mơ tới cơ hội cắp sách đến trường. Nhưng Halie thích ca hát, và chỉ có nhà thờ là nơi cô có thể tự do ca hát. Dì Bell bảo rằng sẽ có lúc cô trình diễn trước hoàng gia. Rồi có một ngày Halie chứng kiến lời tiên đoán ấy trở thành hiện thực. Mahalia bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của cô tại Nhà thờ Baptist Núi Moriah. Sau khi nhận lễ báp-têm tại Sông Mississippi do quản nhiệm Nhà thờ Núi Moria, Mục sư E.D. Lawrence, chủ lễ, Mahalia trở về nhà thờ để trở nên thuộc viên chính thức của hội thánh. Thập niên 1920 – Thập niên 1940. Năm 1927, lúc 16 tuổi, Mahalia rời bỏ miền Nam lên Chicago, Illinois, đang lúc diễn ra cuộc di dân lớn lôi cuốn hàng triệu người da đen lên phương bắc, trung tây và viễn tây để mưu sinh và tránh nạn kỳ thị chủng tộc. Ngay trong Chủ nhật đầu tiên, sau khi trình bày yêu thích của cô, "Hand Me Down My Favourite Trumpet, Gabriel", Mahalia được mời gia nhập ca đoàn của Nhà thờ Greater Salem Baptist. Cô lưu diễn tại các nhà thờ trong thành phố và các vùng lân cận, với nhóm Ngũ ca Johnson Gospel Singers, một trong những nhóm nhạc phúc âm chuyên nghiệp đầu tiên. Năm 1929, Mahalia gặp nghệ sĩ sáng tác Thomas A. Dorsey, người được xem là Cha đẻ của Nhạc Phúc âm. Dorsey cố vấn cho cô về âm nhạc, đến giữa thập niên 1930, hai người bắt đầu một chương trình lưu diễn kéo dài 14 năm. Jackson trình bày các ca khúc của Dorsey tại các chương trình và các hội nghị của hội thánh. "Take My Hand, Precious Lord" sáng tác bởi Dorsey trở thành ca khúc mang dấu ấn của Mahalia. Năm 1936, Mahalia kết hôn với Isaac Hockenhull, lớn hơn cô 10 tuổi, và là cựu sinh viên Đại học Fisk và Học viện Tuskegee. Mahalia từ chối hát nhạc thế tục, lời hứa nguyện mà cô đã giữ trọn trong suốt cuộc đời ca hát chuyên nghiệp, dù cô biết rằng nếu nhận lời, cô có thể có những khoản tiền kếch sù. Năm 1941, Mahalia chấp thuận ly hôn với Hockenhull sau những áp lực liên tục từ người chồng muốn hủy bỏ hôn ước. Một trong những lý do dẫn đến quyết định ly hôn là Hockenhull cố thuyết phục vợ từ bỏ sự giới hạn việc trình diễn trong nhà thờ hầu có thể hát nhạc blues và nhạc pop, và như thế kiếm nhiều tiền hơn. Năm 1931, Mahalia thu âm ca khúc "You Better Run, Run, Run, Run." Người ta không biết nhiều về ca khúc này, và hầu như không thể tìm thấy nó. Ngày 21 tháng 5 năm 1937, Mahalia thu âm một số ca khúc cho hãng Decca Coral, với Estelle Allen đệm đàn dương cầm, gồm những bài hát, "God's Gonna Separate The Wheat From The Tares," "My Lord," "Keep Me Everyday," và "God Shall Wipe All Tears Away." Do thất bại về tài chính, Decca ngưng hợp tác với cô. Năm 1947, Mahalia ký hợp đồng với Apollo, năm 1948 cô thu âm ca khúc "Move On Up A Little Higher", bài hát được yêu thích đến nỗi các cửa hiệu không có đủ đĩa để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Lượng đĩa bán ra lên đến con số đáng kinh ngạc, tám triệu đĩa. (Ca khúc này về sau được vinh danh trong Giải Grammy Hall of Fame năm 1988). Sự thành công này đã đưa tên tuổi Mahalia vào hàng các ngôi sao âm nhạc ở Mỹ và sau đó là ở Âu châu. Lúc này, Mahalia xuất hiện thường xuyên hơn tại các thính phòng, và ít hơn tại các nhà thờ, và không chỉ trình diễn với piano và organ, mà còn với những dàn nhạc lớn. Các ca khúc khác được Mahalia thu âm cũng gây được tiếng vang như "Let the Power of the Holy Ghost Fall on Me" (1949), đoạt giải "Grand Prix du Disque" của Viện Hàn lâm Pháp, và "Silent Night, Holy Night" là đĩa đơn bán chạy nhất ở Na Uy. Khi Mahalia cất tiếng hát bài thánh ca "Silent Night" (Đêm Thánh Vô cùng) trên sóng phát thanh Đan Mạch, có hơn hai mươi ngàn đơn đặt hàng đổ về. Cô cũng thu âm cho Apollo các ca khúc như "He Knows My Heart" (1946), "Amazing Grace" (Ân điển Diệu kỳ)(1947), "Tired" (1947), "I Can Put My Trust in Jesus" (1949), "Walk with Me" (1949), "Let the Power of the Holy Ghost Fall on Me" (1949), "Go Tell It on the Mountain" (1950), "The Lord's Prayer" (1950), "How I Got Over" (1951), "His Eye is on the Sparrow" (1951), "I Believe" (1953), "Didn't It Rain" (1953), "Hands of God" (1953), và "Nobody Knows" (1954). Thập niên 1950 – Thập niên 1970. Năm 1950, Jackson là ca sĩ nhạc phúc âm đầu tiên trình diễn tại Sảnh Carnegie ở New York khi Joe Bostic tổ chức Festival Nhạc Phúc âm và Âm nhạc Tôn giáo. Trong chuyến lưu diễn châu Âu năm 1952, những nhà phê bình gọi cô là "ca sĩ nhạc phúc âm vĩ đại nhất thế giới". Tại Paris cô được gọi là Thiên thần Hòa bình, còn khi lưu diễn trên khắp lục địa cô hát trong những thính phòng đầy ắp khán giả. Sự nghiệp của Mahalia tiếp tục thăng tiến từ cuối thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960. Cô bắt đầu một chương trình trên sóng phát thanh của CBS, và ký hợp đồng với Columbia Records trong năm 1954. Ngày 17 tháng 11 năm 1954, Tạp chí âm nhạc Down Beat đưa ra nhận xét, "Chẳng còn nghi ngờ gì, ca sĩ nhạc tâm linh vĩ đại nhất đang còn sống là Mahalia Jackson." Album đầu tay của Mahalia cho Columbia là "The World’s Greatest Gospel Singer", thực hiện năm 1954, kế tiếp là album Giáng sinh "Sweet Little Jesus Boy", rồi "Bless This House", đều được thực hiện trong năm 1956. Tuy nhiên, sự thành công của cô cũng thu hút những lời chỉ trích từ những người chủ trương nhạc phúc âm chỉ nên trình diễn trong môi trường tôn giáo. Họ cảm thấy cô làm giảm giá trị giọng hát của mình nhằm tìm kiếm sự hâm mộ của đông đảo quần chúng. Tuy nhiên, trong thời gian này, Mahalia làm việc cật lực, cô hát nhiều bản nhạc phúc âm trong phim St. Louis Blues (năm 1958), và trình bày ca khúc "Trouble of the World" trong phim "Imitation of Life" (năm 1959), cũng như thu âm với Percy Faith. Cô là nhân tố thu hút đông đảo khán giả nhất cho phân khúc nhạc phúc âm tại Festival Jazz Newport năm 1957 do Joe Bostic tổ chức, được đài VOA thu âm và thể hiện lại trong năm 1958 (Newport 1958). Tháng 12 năm 1957, cô trình diễn tại Học viện âm nhạc Old Town School of Folk Music ở Chicago. Năm 1961, Mahalia hát trong Lễ Nhậm chức của Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy. Cô thực hiện album Giáng sinh đầu tiên "Silent Night" (Songs for Christmas) năm 1962. Jackson trở thành gương mặt thân quen đối với khán giả truyền hình Anh khi những cuốn phim ngắn ghi hình những buổi trình diễn của cô được phát sóng trên đất nước này. Tại cuộc Tuần hành đến Washington năm 1963, Mahalia trình bày trước 250.000 người ca khúc "I’ve Been ‘Buked, and I’ve Been Scorned", tại đây Martin Luther King, Jr. đã đọc bài diễn văn nổi tiếng của ông Tôi có một giấc mơ. Sau khi King bị ám sát vào tháng 4 năm 1968, giọng ca của Mahalia đã cất lên với ca khúc Take My Hand, Precious Lord trong tang lễ của nhà lãnh đạo Phong trào Dân quyền Mỹ, cũng là người bạn thân của bà. Năm 1961, Mahalia thực hiện chuyến lưu diễn châu Âu lần thứ hai (Recorded Live in Europe 1961), rồi trong những năm 1963-1964, 1967, 1968, và 1969. Năm 1970 có một lần biểu diễn trước Tổng thống Liberia William Tubman. Album cuối cùng của Jackson là "What The World Needs Now" (1969). Năm sau, Jackson cùng Louis Armstrong trình diễn hai ca khúc "Just a Closer Walk with Thee" và "When the Saints Go Marching In". Năm 1971, bà kết thúc sự nghiệp của mình bằng một buổi hòa nhạc ở Đức, rồi trở về Mỹ, xuất hiện lần cuối trên chương trình truyền hình The Flip Wilson Show. Jackson không hề tiếc thời gian và công sức khi giúp đỡ người khác. Bà thành lập Tổ chức Học bổng Mahalia Jackson nhằm hỗ trợ giới trẻ có cơ hội vào đại học. Do nỗ lực xây dựng sự hiểu biết giữa các quốc gia, Mahalia được trao Giải Bồ câu Bạc. Mahalia Jackons chọn Chicago làm nơi lưu trú cho đến cuối đời. Với số tiền kiếm được, bà mở một cửa hiệu thẩm mỹ và một tiệm bán hoa, cũng như đầu tư vào bất động sản (cao nhất là 100 000 USD một năm). Ngày 27 tháng 1 năm 1972, lúc 60 tuổi, Mahalia Jackson qua đời tại Chicago do bệnh tim và biến chứng bệnh tiểu đường. Có hai thành phố cùng bày tỏ sự thương tiếc dành cho nữ hoàng nhạc phúc âm: Chicago và New Orleans. Bên ngoài Nhà thờ Baptist Greater Salem ở Chicago có hơn 50.000 người biết và yêu quý Mahalia tụ tập về đây, lặng lẽ xếp hàng đi qua chiếc quan tài nắp kính chứa đựng thân xác người nghệ sĩ quá cố. Hôm sau, hơn 6.000 người nén chặt các hàng ghế, đứng dọc các bức tường của sảnh hòa nhạc thành phố, Nhà hát Arie Crown, để dự tang lễ kéo dài hai giờ đồng hồ. Mục sư của Mahalia, Leon Jenkins, Thị trưởng Richard J. Daley, Bà Coretta Scott King đọc điếu văn, gọi bà là "một người bạn – tự trọng, da đen, và kiều diễm." Aretha Franklin kết thúc tang lễ với ca khúc Precious Lord, Take My Hand đầy xúc động. Ba ngày sau, cách Chicago một ngàn dặm, diễn ra một quang cảnh tương tự: những hàng người lặng lẽ thương tiếc, và thính phòng rộng lớn của Trung tâm Hội nghị Rivergate ở trung tâm thành phố New Orleans chật kín người. Thị trưởng Moon Landrieu, Thống đốc bang Louisiana John J. McKeithen cùng các ca sĩ nhạc phúc âm Bessie Griffin, và Dick Gregory ca ngợi "sức mạnh tinh thần" của Mahalia Jackson, gọi đó là nguyên nhân chính dẫn đến thành công của bà, rồi Lou Rawl hát ca khúc "Just a Closer Walk With Thee". Đoàn xe tang với 24 chiếc Limousine chậm rãi đi qua địa điểm Mahalia thường đến dự lễ thờ phượng khi còn thơ ấu, Nhà thờ Baptist Núi Moriah, tại đây các bài hát của Mahalia được phát qua loa phóng thanh, rồi đoàn xe đến Công viên Tưởng niệm Providence ở Metaire, Louisiana. Mahalia được an táng tại đây. Bia mộ ghi năm sinh của Mahalia là 1912 mặc dù bà chào đời năm 1911. Di sản và Vinh danh. Ngay trong năm bà qua đời, Mahalia được vinh danh với Giải Grammy Thành tựu Suốt đời. Bên cạnh đó, bà được chọn vào Sảnh Vinh danh Nhạc Phúc âm của Hiệp hội Nhạc Phúc âm trong năm 1978. Nhiều người xem Mahalia Jackson là ca sĩ nhạc phúc âm vĩ đại nhất trong lịch sử, và là một trong những giọng hát hay nhất thế kỷ 20. Người bạn thân của Mahalia, Mục sư Martin Luther King, từng nói, "một ngàn năm mới có được một giọng hát như Mahalia." Âm nhạc của Mahalia Jackson được các đài phát thanh Cơ Đốc phát sóng thường xuyên. Người bạn thân thiết của bà, Doris Akers, là một trong số những người viết nhạc phúc âm nhiều nhất thế kỷ 20. Năm 1958, bà cùng Akers viết ca khúc "Lord, Don’t Move the Mountain" rất được yêu thích. Jackson trình bày nhiều sáng tác của Akers như "God Is So Good to Me", "God Spoke to Me Ond Day", "Trouble", "Lead On Lord Jesus", và "He’s a Light Unto My Pathway", bà cũng là người hỗ trợ Akers duy trì vị trí người phụ nữ sáng tác nhạc Phúc âm hàng đầu thời ấy. Ngoài việc cống hiến tài năng âm nhạc của mình cho thế giới, Mahalia còn ra sức bảo trợ cho một tài năng âm nhạc khác, Aretha Franklin, bà cũng là bạn thân của Mục sư C. L. Franklin, cha của Aretha, và là khách thường xuyên của gia đình này. Mahalia có những người bạn tốt như Dorothy Norwood, và Albertina Walker. Bà là người khám phá tài năng trẻ Della Reese. Vào dịp kỷ niệm 20 năm ngày mất của Jackson, Smithsonian Folkways Recording thực hiện album "I Sing Because I’m Happy" để tưởng niệm bà. Fantasia Barrino, quán quân American Idol 2004 và từng đoạt Giải Grammy, được chọn vào vai Mahalia Jackson cho một cuốn phim về cuộc đời của bà do Euzhan Palcy đạo diễn, dựa trên cuốn "Got to Tell It: Mahalia Jackson, Queen of Gospel" xuất bản năm 1993. Grammy Hall of Fame. Sau khi mất, Mahalia Jackson được chọn vào Sảnh Vinh danh Grammy. Năm 1973, một giải Grammy đặc biệt được trao cho bà nhằm tôn vinh những ca khúc thu âm có tuổi đời ít nhất là hai mươi năm, "có chất lượng cao hoặc có ý nghĩa lịch sử".
Cao Xuân Dục (chữ Hán: 高春育; tự là Tử Phát, hiệu Long Cương Cổ Hoan Đông Cao; 1843–1923) là một quan đại thần của triều đình nhà Nguyễn, Việt Nam, từng làm tổng đốc, thượng thư và Đông các đại học sĩ, tổng tài Quốc sử quán. Cao Xuân Dục sinh năm 1843 tại thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Cao Xuân Dục nổi tiếng thông minh từ nhỏ, khi theo học được thầy dạy yêu mến, gả cho con gái. Nhưng về đường khoa cử, Cao Xuân Dục lại khá lận đận, muộn mằn, mãi đến năm ông 34 tuổi (1876) mới đỗ Cử nhân, năm sau đi thi Hội lại bị trượt. Từ sau đó trở đi, Cao Xuân Dục không tiếp tục con đường cử tử nữa, mà bước chân vào chính trường với chức quan đầu tiên là Hậu bổ Quảng Ngãi. Trong quá trình làm quan, ông đã trải qua những chức: Đông các Đại học sĩ là một trong Tứ trụ Triều đình, bốn vị quan lớn có nhiệm vụ bàn bạc với vua những chuyện quan trọng trong việc giữ gìn cơ sở đất nước. Đông các Đại học sĩ có nhiệm vụ lập dựng các văn thư quan trọng, coi sóc việc tuyển chọn nhân sự của triều đình. Khi Trương Như Cương theo Pháp muốn làm Phó vương, bắt các quan trong triều phải ký vào biểu dâng lên Vua, Cao Xuân Dục đã không nghe theo, còn đề vào mấy câu: Do đó mà ông bị gièm, giáng chức về làm Tri phủ huyện Quốc Oai . Cao Xuân Dục qua đời năm 1923, thọ 81 tuổi. Tại thành phố Vinh, ngày 6 tháng 12 năm 2012, có cuộc hội thảo khoa học về đóng góp của Cao Xuân Dục trong nền văn học Việt Nam. Một số người con của Cao Xuân Dục cũng đã thành đạt: Các người thành đạt trong hàng cháu của ông có: Các người thành đạt trong hàng chắt ông có: Phó giáo sư Chương Thâu ("Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu") có viết: "Cao Xuân Dục có thể xứng đáng là một nhà văn hoá lớn ở nước ta cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Đứng đầu bộ Học và Sử Quán, ông chỉ đạo và tham gia biên soạn cùng một số học giả ở hai cơ quan này nhiều bộ sách về sử và địa lý". Cao Xuân Dục rất có ý thức sưu tầm bảo lưu sách cổ, trong thời gian làm quan khắp nơi, cụ dày công tìm kiếm thuê người chép lại những bộ sách quý hiếm, xây dựng nên Long Cương Bảo tàng Thư viện, một trong vài thư viện lớn bậc nhất ở Nghệ Tĩnh (cùng với Mộng Thương thư trai của gia đình Nguyễn Chi ở Can Lộc). Tại Thành phố Hồ Chí Minh có một con đường (trước là đường Cần Giuộc, ở Quận 8, gần cầu Chà Và trên đường đi ra phía cầu Nhị Thiên Đường) được đặt tên ông. Cao Xuân Dục tham gia soạn thảo các sách: Ngoài ra ông còn biên tập:
Bộ Hoa tán (danh pháp khoa học: Apiales) là một bộ thực vật có hoa. Các họ được đưa ra tại đây là điển hình trong các hệ thống phân loại mới nhất, mặc dù vẫn còn có sự dao động không lớn, cụ thể là họ Torriceliaceae có thể vẫn được chia ra tiếp. Các họ này được đặt trong phạm vi của phân nhóm Cúc trong lớp Magnoliopsida. Theo APG, bộ Hoa tán chứa 7 họ, 494 chi và 5.489 loài. Bộ Hoa tán chiếm khoảng 2,4% sự đa dạng của thực vật hai lá mầm thật sự (Magallón và ctv. 1999). Wikström và ctv. (2001) cho rằng bộ này xuất hiện vào khoảng 85-90 triệu năm trước (Ma), trong tầng Santon-Turon, với sự phân hóa thành các họ Apiaceae-Araliaceae diễn ra vào khoảng 46-48 Ma, mặc dù các chi tiết về các quan hệ trong phạm vi nhánh là khác với những gì APG đề xuất. Trong hệ thống Cronquist, chỉ có các họ Apiaceae và Araliaceae được đưa vào trong bộ này và bộ bị giới hạn này được đặt trong nhóm Hoa hồng chứ không phải nhóm Cúc. Họ Pittosporaceae đã được đặt trong bộ Hoa hồng (Rosales) và tất cả những họ còn lại nằm trong phạm vi họ Sơn thù du (Cornaceae) của bộ Sơn thù du (Cornales). Phân loại dưới đây lấy theo website của APG II, tra cứu ngày 17-10-2008. Trong một vài hệ thống phân loại cũ hơn, người ta còn ghi nhận các họ: Phát sinh chủng loài. Biểu đồ chỉ ra mối quan hệ phát sinh chủng loài của bộ Hoa tán với các bộ khác trong nhánh Cúc như sau: Biểu đồ chỉ ra mối quan hệ phát sinh chủng loài của các họ trong phạm vi bộ Hoa tán như sau:
Eclipse là một môi trường phát triển tích hợp dùng cho lập trình máy tính., Nó chứa một không gian làm việc cơ sở và một hệ thống plug-in để mở rộng để tùy chỉnh môi trường. Eclipse được viết chủ yếu bằng Java và nó được dùng chủ yếu cho lập trình ứng dụng Java, nhưng nó cũng có thể dùng để lập trình ứng dụng bằng các ngôn ngữ khác thông qua plug-ins, bao gồm Ada, ABAP, C, C++, C#, Clojure, COBOL, D, Erlang, Fortran, Groovy, Haskell, HTML, JavaScript, Julia Lasso, Lua, NATURAL, Perl, PHP, Prolog, Python, R, Ruby (Bao gồm Ruby on Rails framework), Rust, Scala, và Scheme. Nó cũng có thể dùng để phát triển các tài liệu bằng LaTeX (thông qua một plug-in TeXlipse) và các gói tin cho phần mềm Mathematica. Môi trường phát triển bao gồm Eclipse Java development tools (JDT) cho Java và Scala, Eclipse CDT cho C/C++, và Eclipse PDT for PHP, và những gói khác. Codebase ban đầu có nguồn gốc từ IBM VisualAge. Eclipse SDK, bao gồm các công cụ phát triển Java, dành cho các nhà phát triển Java. Người dùng có thể mở rộng khả năng của mình bằng cách cài đặt các plug-ins được viết cho Eclipse Platform, chẳng hạn như bộ công cụ phát triển cho các ngôn ngữ lập trình khác và có thể viết và đóng góp các mô đun plug-in của riêng họ. Kể từ khi giới thiệu triển khai OSGi (Equinox) trong phiên bản 3 của Eclipse, plug-ins có thể được cắm tự động và được gọi là các gói (OSGI) Eclipse SDK là phần mềm tự do nguồn mở, phát hành theo các điều khoản của Eclipse Public License, mặc dù nó không tương thích với GNU General Public License. Nó là một trong những IDE đầu tiên chạy dưới GNU Classpath và nó chạy mà không gặp vấn đề gì với IcedTea. Eclipse lấy cảm hứng từ môi trường phát triển tích hợp dựa trên Smalltalk VisualAge. Mặc dù khá thành công, một nhược điểm lớn của các sản phẩm VisualAge là mã được phát triển không nằm trong mô hình kỹ thuật phần mềm dựa trên thành phần. Thay vào đó, tất cả mã cho một dự án được giữ trong một khối nén (hơi giống như file zip nhưng ở định dạng độc quyền gọi là.dat). Các lớp riêng lẻ không thể dễ dàng truy cập, chắc chắn không nằm ngoài công cụ. Một nhóm chủ yếu tại phòng thí nghiệm IBM Cary NC đã phát triển sản phẩm mới dưới dạng thay thế dựa trên Java. Vào tháng 11 năm 2001, một consortium được thành lập với một ban quản trị để tiếp tục phát triển Eclipse dưới dạng phần mềm nguồn mở. Người ta ước tính rằng IBM đã đầu tư gần 40 triệu đô la vào thời điểm đó. Các thành viên ban đầu là Borland, IBM, Merant, QNX Software Systems, Rational Software, Red Hat, SuSE, TogetherSoft, và WebGain. Số lượng người quản lý đã tăng lên hơn 80 vào cuối năm 2003. Vào tháng 1 năm 2004, Eclipse Foundation được thành lập. Eclipse 3.0 (phát hành ngày 21 tháng 6 năm 2004) đã chọn các đặc tả của OSGi Service Platform làm kiến trúc runtime. Eclipse Public License (EPL) là giấy phép cơ bản theo đó các dự án Eclipse được phát hành. Một số dự án yêu cầu cấp phép kép, trong đó Eclipse Distribution License (EDL) có sẵn, mặc dù việc sử dụng giấy phép này phải được áp dụng và được xem xét trong từng trường hợp cụ thể. Eclipse ban đầu được phát hành theo Common Public License, nhưng sau đó đã được cấp phép lại theo Eclipse Public License. Free Software Foundation đã tuyê bố rằng cả hai giấy phép đều là giấy phép phần mềm tự do, nhưng không tương thích với GNU General Public License (GPL). Theo Lee Nackman, CTO của bộ phận Rational thuộc IBM tại thời điểm đó, tên gọi "Eclipse" (được đặt từ năm 2001) không phải là một trò chơi chữ trên Sun Microsystems, vì đối thủ cạnh tranh chính của sản phẩm tại thời điểm đặt tên là Microsoft Visual Studio, mà "Eclipse" nghĩa là nhật thực. Các phiên bản khác nhau của Eclipse đã được đặt tên khác nhau liên quan đến khoa học. Các phiên bản được đặt tên theo Callisto, Europa, và Ganymede, là những vệ tinh của sao Mộc, được theo sau bởi một phiên bản được đặt tên theo Galileo, người phát hiện ra các mặt trăng đó. Sau đó là hai cái tên theo chủ đề mặt trời, Helios trong thần thoại Hy Lạp và Indigo, một trong bảy màu của cầu vồng (được tạo ra bởi mặt trời). Phiên bản sau đó, Juno, có ba nghĩa: một một nhân vật thần thoại La Mã, một một tiểu hành tinh, và một tàu không gian thăm dò sao Mộc. Kepler, Luna, và Mars tiếp tục chủ đề thiên văn học, và sau đó, Neon và Oxygen tạo thành một chủ đề của các nguyên tố hóa học. Photon đại diện cho sự trở lại với tên theo chủ đề mặt trời. #đổi , sơ đồ chữ cái đã bị hủy bỏ và thay vào đó các bản phát hành được đặt tên theo định dạng YYYY-MM. Bắt đầu với phiên bản 4.9, dự án đã chọn bỏ quy ước đặt tên đó để phù hợp hơn với chiến lược Simultaneous Release mới và áp dụng quy ước đặt tên theo ngày để phản ánh các bản phát hành hàng quý. Từ 2006, Foundation đã điều phối các phát hành "Simultaneous Release" hàng năm. Mỗi một phát hành bao gồm Eclipse Platform và một vài dự án Eclipse khác. Từ năm 2008 đến năm 2018 mỗi Simultaneous Release diễn ra vào ngày Thứ tư cuối cùng của tháng 6. Năm 2018 dự án chuyển sang hàng quý (13 tuần) YYYY-MM phát hành mà không phát hành dịch vụ trung gian.
Họ Cuồng (Sách Cây Cỏ VN- PHH ghi Cuông - chi Aralia) với danh pháp khoa học: Araliaceae - lấy theo tên gọi chi "Aralia", còn gọi là họ Nhân sâm (theo tên gọi của chi "Panax"), họ Ngũ gia (theo tên gọi của chi "Acanthopanax") hay họ Thường xuân (theo tên gọi của chi "Hedera") v.v, là một họ thực vật có hoa. Các loài trong họ này thông thường là cây thân gỗ hay cây bụi, đôi khi là các loại cây thân thảo sống lâu năm, chúng thường có lá phức hình lông chim hay hình chân vịt và có các hoa nhỏ mọc thành chùy (một kiểu cụm hoa) lớn. Họ này có quan hệ họ hàng gần với các họ như họ Hoa tán (Apiaceae) và Pittosporaceae. Ranh giới giữa các họ này và các thành viên khác của bộ Hoa tán (Apiales) vẫn chưa chắc chắn. Một số hệ thống phân loại gần đây đưa Araliaceae vào trong họ Apiaceae mở rộng, nhưng điều này không được hưởng ứng rộng rãi. Các chi "Hydrocotyle" và "Trachymene", thông thường theo truyền thống được đưa vào họ Apiaceae, hiện nay nói chung được đưa vào Araliaceae. Sự phân loại ở mức độ giống loài của họ Araliaceae vẫn chưa ổn định; cụ thể là một loạt các chi khác có danh pháp khoa học đồng nghĩa nằm trong chi "Schefflera". Các nghiên cứu phát sinh chủng loài ở mức độ phân tử gần đây đã chỉ ra rằng chi lớn phổ biến khắp vùng nhiệt đới này là đa ngành và có lẽ trong tương lai nó sẽ được chia nhỏ một lần nữa thành vài chi khác. Họ này được chia thành hai phân họ là: Chi "Cromapanax" trong cơ sở dữ liệu của IPNI với chỉ 1 loài "Cromapanax lobatus" ở Bhutan không được APG II liệt kê trong họ này.
Họ Sơn thù du Họ Sơn thù du hay còn gọi họ Giác mộc (danh pháp khoa học: Cornaceae) là một họ phổ biến, chủ yếu ở khu vực ôn đới Bắc bán cầu, thuộc bộ Sơn thù du (Cornales). Họ này chủ yếu bao gồm các loại cây bụi và cây thân gỗ. Năm 1898, Harms H. công nhận định nghĩa rộng của họ Cornaceae ("Alangium", "Aucuba", "Camptotheca", "Cornus", "Corokia", "Curtisia", "Davidia", "Garrya", "Griselinia", "Helwingia", "Kaliphora", "Melanophylla", "Nyssa" và "Toricellia") và phân chia thành 7 phân họ, thuộc bộ Umbelliflorae. Nhiều chi nguyên được đặt trong họ Cornaceae bởi Harms (1898) sau này đã được xử lý như là thuộc các họ khác biệt trong bộ Cornales hay chuyển sang các bộ khác. Theo hệ thống APG III năm 2009 thì nó chứa khoảng 7 chi với khoảng 107 loài, mặc dù trong quá khứ một số chi đã được thêm vào hay bớt đi khỏi họ này. Các phân tích phân tử đã làm sáng tỏ mối quan hệ của một số chi gắn với họ này, và ít nhất 9 chi trước đây từng đặt trong họ này đã bị loại ra khỏi họ cũng như ra khỏi bộ Cornales, nhưng định nghĩa của họ Cornaceae vẫn là chưa rõ ràng. Trong họ Cornaceae có hai chi được biết đến nhiều nhất là "Cornus" - là chi chứa cây sơn thù du, và chi "Nyssa" - (chi cây lam quả). Chi thứ hai thông thường cũng hay được đặt, cùng với một số chi như chi "Davidia" (củng đồng hay hoa lệch) và chi "Camptotheca" (cây hỉ) trong một họ riêng, gọi là Nyssaceae. Tất cả các loài trong họ này có lá đơn và chủ yếu là loại cây sớm rụng lá cũng như có sắc lá về mùa thu rất ấn tượng; tuy nhiên, một số loài trong chi "Cornus" lại là cây thường xanh. Các chi được công nhận trong GRIN như sau:
Bộ Sơn thù du Bộ Sơn thù du hay còn gọi bộ Giác mộc (danh pháp khoa học: Cornales) là một bộ trong thực vật có hoa và là bộ cơ bản trong phân nhóm Cúc, tạo thành một phần của thực vật hai lá mầm. Trong phân loại của APG thì bộ này bao gồm 6-7 họ, 51 chi và 590 loài như sau: Trong hệ thống Cronquist cũ thì bộ này chứa các họ Cornaceae, Garryaceae và Alangiaceae (thôi chanh) và được đặt trong phân lớp Hoa hồng (Rosidae). Các quả của nhánh nhỏ này có thể được nhận ra nhờ giải phẫu khác biệt của chúng và được thể hiện rõ trong hồ sơ hóa thạch và có niên đại tới kỷ Creta - tầng Maastricht, khoảng 70 triệu năm trước (Ma) (cho chi "Nyssa") và tầng Cognac, khoảng 87 Ma (cho chi "Hironoia"), xem thêm Martinez-Millán (2010)). Anderson và ctv. (2005) đề xuất các con số khoảng 109 Ma cho nhóm thân cây, 101-97 Ma cho nhóm chỏm cây; Janssens và ctv. (2009) xác định niên đại cho nhóm thân cây của bộ Cornales tới khoảng 128 Ma và cho nhóm chỏm cây tới 104±13,1 Ma; còn trong Bremer và ctv. (2004) thì sự phân kỳ của nhóm chỏm cây được ước tính là bắt đầu khoảng 112 Ma. Magallón và Castillo (2009) đưa ra các con số ước tính khoảng 106,1 và 106,6 Ma cho các xác định niên đại hợp lý bù đắp yếu và ràng buộc tương ứng cho sự phân kỳ của nhóm thân cây của bộ Cornales từ các nhóm dạng Cúc khác (asterids), nhóm chỏm cây của bộ Cornales được xác định niên đại tới 101,4 và 101,7 Ma (cũng là hợp lý bù đắp yếu và ràng buộc). Biểu đồ chỉ ra mối quan hệ phát sinh loài của bộ Sơn thù du với các bộ khác trong nhánh Cúc như sau: Bộ Cornales có quan hệ chị em với bộ Ericales, và chúng là chị em với phần còn lại của nhánh lớn và đa dạng là nhánh Cúc (asterids). Các thành viên của bộ Cornales có sự phân bố rời rạc cao về mặt địa lý và sự đa dạng cao về mặt hình thái, điều này dẫn tới sự lộn xộn đáng kể liên quan tới định nghĩa chính xác của các nhóm trong phạm vi bộ này và các mối quan hệ giữa chúng. Trong hệ thống Cronquist năm 1981 thì bộ này bao gồm các họ Cornaceae, Nyssaceae, Garryaceae và Alangiaceae và được đặt trong phân lớp Rosidae, nhưng diễn giải này không còn được tuân theo nữa. Nhiều họ và chi trước đây gắn với bộ Cornales đã được chuyển đid, bao gồm Garryaceae, "Griselinia", "Corokia" và "Kaliphora" và một số khác nữa. Các dữ liệu phân tử gợi ý rằng có bốn nhánh trong phạm vi bộ là: ("Cornus" + "Alangium") + (Nyssaceae) + (Hydrangeaceae + Loasaceae) + ("Grubbia" + "Curtisia"), với Hydrostachyaceae có vị trí không chắc chắn, có lẽ là cơ sở. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các nhánh này là không rõ ràng, và như là kết quả của nhiều diễn giải phân loại theo dòng lịch sử và các ý kiến khác nhau liên quan tới tầm quan trọng của các biến thiên hình thái, các cấp bậc phân loại của các đơn vị phân loại trong phạm vi bộ này là mâu thuẫn nhau. Các khó khăn này trong việc diễn giải hệ thống hóa bộ Cornales có thể thể hiện và tiêu biểu cho sự đa dạng hóa sớm và nhanh của các nhóm trong phạm vi bộ này. Cây phát sinh chủng loài trong phạm vi bộ Sơn thù du dưới đây lấy theo Xiang "et al." (2011). Tuy nhiên, vị trí của họ Hydrostachyaceae vẫn là điều bí ẩn. Nó có thể là cơ sở đối với phần còn lại của bộ, hoặc nằm trong phạm vi họ Hydrangeaceae. Nó chia sẻ rất ít sự tương tự hình thái với các nhóm khác trong bộ Cornales. Burleigh và ctv. (2009) gần đây phát hiện ra rằng trong phân tích 5 gen thì có sự hỗ trợ mạnh (97% tự trợ hợp lý tối đa) cho vị trí của chi "Hydrostachys" trong phạm vi bộ Lamiales, chủ yếu là do trình tự matK được bổ sung. Tuy nhiên, phân tích bao hàm toàn diện hơn của Schäferhoff và ctv. (2010) lại loại chi này ra khỏi bộ Lamiales. Dẫu vậy, nhưng mục tiêu của công trình của Schäferhoff và ctv. (2010) là về các mối quan hệ trong phạm vi bộ Lamiales, nên họ đã không đặt họ Hydrostachyaceae với sự tin cậy.
Họ Lam quả (danh pháp khoa học: Nyssaceae) là một họ thực vật nhỏ có họ với họ Sơn thù du (Cornaceae) và cũng hay được đưa vào trong họ thực vật này. Theo các định nghĩa phổ biến nhất thì họ này bao gồm 5 chi với khoảng 22 loài cây thân gỗ sớm rụng lá như sau: Trong một số hệ thống phân loại thì chi "Davidia" được đưa vào trong họ riêng của chính nó, gọi là Davidiaceae, nhưng điều này ít được công nhận và tuân theo. Các chi "Diplopanax" và "Mastixia" đôi khi cũng được tách ra thành họ Mastixiaceae Trong hệ thống APG III năm 2009, họ này được gộp trong họ Cornaceae như là phân họ Nyssoideae . Hệ thống APG IV công nhận Nyssaceae là một họ riêng biệt. Phát sinh chủng loài. Cây phát sinh chủng loài trong phạm vi họ Nyssaceae dưới đây dựa theo Xiang "et al." (2002), Fan C. Z. Xiang Q. Y. (2003), Xiang "et al." (2011) và Zhenyan Yang Yunheng Ji (2017). Nyssaceae ở châu Á - trang phác thảo về thực vật ở Trung Quốc
Daniel Jacob Radcliffe (sinh ngày 23 tháng 7 năm 1989) là một diễn viên người Anh. Anh nổi tiếng từ năm 12 tuổi, khi bắt đầu đóng vai Harry Potter trong loạt phim cùng tên, từ "Harry Potter and the Philosopher's Stone" (2001) đến "Harry Potter and the Deathly Hallows – Part 2" (2011). Loạt phim khiến anh trở thành một trong những diễn viên được trả lương cao nhất thế giới. Radcliffe lấn sân sang lĩnh vực diễn xuất vào năm 2007, đóng vai chính trong tác phẩm của West End và Broadway "Equus". Anh trở lại Broadway trong vở nhạc kịch "How to Succeed in Business Without Really Trying" (2011), mang về một đề cử Grammy Award. Các vai diễn Broadway khác của anh bao gồm vở kịch "The Cripple of Inishmaan" (2014) của Martin McDonagh và vở nhạc kịch "Merrily We Roll Along" (2023) của Stephen Sondheim. Các vai diễn West End khác của anh ấy là trong sự hồi sinh của "Rosencrantz and Guildenstern Are Dead" (2017) của Tom Stoppard và "Endgame" (2020) của Samuel Becket. Radcliffe cũng mở rộng các vai diễn điện ảnh của mình, diễn xuất ở nhiều thể loại như phim kinh dị "The Woman in Black" (2012), kịch siêu thực "Swiss Army Man" (2016), giật gân "Now You See Me 2" (2016), và phim hài "The Lost City" (2022). Anh cũng đóng vai Allen Ginsberg trong bộ phim tiểu sử "Kill Your Darlings" (2013) và Weird Al Yankovic trong phim nhạc kịch "" (2022). Phần sau đã mang về cho anh ấy đề cử cho một Primetime Emmy Award và một British Academy Television Award. Anh ấy cũng đã đóng nhiều vai trong loạt phim truyền hình hài tuyển tập "Miracle Workers" từ năm 2019. Radcliffe đã đóng góp cho nhiều tổ chức từ thiện, bao gồm Demelza Hospice Care for Children và Trevor Project; người thứ hai đã trao cho anh Giải thưởng Anh hùng vào năm 2011 vì sự vận động của anh ấy với giới trẻ LGBTQ. Daniel Jacob Radcliffe được sinh ra tại Bệnh viện Queen Charlotte và Chelsea ở Hammersmith, London, Anh vào ngày 23 tháng 7 năm 1989, là con một của Marcia Jeannine Gresham (nhũ danh Jacobson) và nhà văn học Alan George Radcliffe. Mẹ là người Do Thái của anh sinh ra ở Nam Phi, có nguồn gốc tổ tiên là những người nhập cư Do Thái từ Đức, Lithuania, Ba Lan và Nga, và lớn lên ở thị trấn Westcliff-on-Sea, Anh. ở Essex. Người cha người Bắc Ireland của anh được lớn lên trong một gia đình theo đạo Tin lành "rất thuộc tầng lớp lao động"ở Banbridge thuộc County Down. Năm 2019, anh khám phá cả hai khía cạnh lịch sử gia đình mình trong loạt bài về phả hệ của BBC "Who Do You Think You Are?" Cha mẹ của Radcliffe đều đã từng là diễn viên như con trai họ. Là một đại lý tuyển diễn viên, mẹ của anh đã tham gia vào các sản phẩm của BBC như "The Inspector Lynley Mysteries". Radcliffe được giáo dục tại ba trường độc lập dành cho nam sinh ở London: Trường Redcliffe, Trường Sussex House, và Trường Thành phố London. Sau khi bộ phim "Harry Potter" đầu tiên được phát hành, việc đi học trở nên khó khăn đối với anh khi một số bạn học trở nên thù địch, mặc dù anh ta nói rằng họ chỉ cố gắng "có một vết nứt với đứa trẻ đóng vai Harry Potter" hơn là hành động vì ghen tị. Khi sự nghiệp diễn xuất của anh ấy bắt đầu ngốn hết thời gian biểu của anh ấy, anh ấy tiếp tục việc học của mình thông qua các gia sư tại chỗ. Anh thừa nhận mình không phải là một học sinh giỏi, coi trường học là vô ích và tìm việc làm "thực sự khó khăn". Anh ấy đã đạt điểm A trong ba kỳ thi cấp độ AS mà anh ấy đã tham gia vào năm 2006, nhưng quyết định nghỉ học và không theo học đại học. Một phần lý do của anh ấy là anh ấy đã biết mình muốn trở thành một diễn viên và nhà biên kịch, và sẽ rất khó để có một kinh nghiệm học đại học bình thường. 1999–2001: Ra mắt diễn xuất và bắt đầu sự nghiệp. Radcliffe lần đầu tiên bày tỏ mong muốn được diễn xuất vào năm 5 tuổi, và xuất hiện lần đầu tiên vào năm 10 tuổi trong bộ phim chuyển thể hai phần của BBC One từ tiểu thuyết "David Copperfield" của Charles Dickens (1999), đóng vai nhân vật chính là một cậu bé. Anh ra mắt điện ảnh trong bộ phim đầu tay "The Tailor of Panama" (2001), một bộ phim Mỹ dựa trên tiểu thuyết điệp viên năm 1996 của John le Carré, đây là một thành công thương mại vừa phải. Năm 2000, nhà sản xuất David Heyman gặp Radcliffe khi anh đang ở rạp hát với cha mình, một nhà văn nổi tiếng mà Heyman là bạn. Anh được đề nghị thử vai Harry Potter cho bộ phim chuyển thể từ "Harry Potter và Hòn đá phù thủy", cuốn sách bán chạy nhất của tác giả người Anh J. K. Rowling. Rowling đã tìm kiếm một diễn viên người Anh vô danh để nhân cách hóa nhân vật, và đạo diễn Chris Columbus của bộ phim nhớ lại đã nghĩ: "Đây là những gì tôi muốn. Đây là Harry Potter" sau khi ông xem một đoạn video của nam diễn viên trẻ trong "David Copperfield". Tám tháng sau, sau nhiều cuộc thử vai, Radcliffe được chọn đóng vai này. Rowling tán thành sự lựa chọn, nói: "Tôi không nghĩ rằng Chris Columbus có thể tìm thấy một Harry tốt hơn." Cha mẹ của Radcliffe ban đầu từ chối lời đề nghị, vì họ đã được thông báo rằng nó sẽ liên quan đến sáu bộ phim được quay ở Los Angeles. Thay vào đó, Warner Bros. đã đề nghị với Radcliffe một hợp đồng làm hai phim với việc quay ở Anh; Vào thời điểm đó, Radcliffe không chắc liệu anh có tham gia nhiều hơn hai bộ phim "Harry Potter" hay không. Việc phát hành "Harry Potter và Hòn đá phù thủy" diễn ra vào năm 2001. Radcliffe nhận được mức lương bảy con số cho vai chính, nhưng khẳng định rằng mức phí này "không quan trọng lắm" đối với anh ta; cha mẹ anh đã chọn đầu tư tiền cho anh. Bộ phim rất nổi tiếng và nhận được nhiều đánh giá tích cực, và các nhà phê bình đã chú ý đến Radcliffe: "Radcliffe là hiện thân trong trí tưởng tượng của mọi độc giả với sự tò mò và là người kết nối với những cảm xúc rất thực, từ trí thông minh trang trọng và niềm vui khám phá đến niềm khao khát gia đình sâu sắc," Bob Graham của "San Francisco Chronicle" đã viết. Một năm sau, Radcliffe đóng vai chính trong "Harry Potter và Phòng chứa Bí mật", phần thứ hai của loạt phim. Các nhà phê bình đánh giá tích cực về diễn xuất của các diễn viên chính nhưng lại có ý kiến ​​trái chiều về bộ phim. "Harry Potter và tên tù nhân ngục Azkaban" (2004) là phần phim thứ ba trong loạt phim này. Diễn xuất của Radcliffe đã bị chỉ trích bởi nhà phê bình phim A. O. Scott của tờ "The New York Times", người cảm thấy rằng bạn diễn Emma Watson đã phải cõng anh ta với màn trình diễn của cô. "Harry Potter và Chiếc cốc lửa" (2005) là bộ phim "Harry Potter" có doanh thu cao thứ hai tại thời điểm đó, và Radcliffe đã chỉ ra sự hài hước như một lý do cho sự thành công về mặt sáng tạo của bộ phim. Tương lai của loạt phim này đã bị đặt dấu hỏi khi Radcliffe, Watson và bạn diễn Rupert Grint do dự không ký tiếp để tiếp tục vai diễn của họ. Tuy nhiên, đến tháng 3 năm 2007, Radcliffe đã ký hợp đồng với những bộ phim "Harry Potter" cuối cùng; việc ký hợp đồng của anh ấy đã chấm dứt nhiều tuần báo chí "đồn đoán rằng anh ấy sẽ bị từ chối vai diễn do liên quan đến "Equus"", trong đó anh ấy đã trình diễn khỏa thân trên sân khấu. Radcliffe diễn lại vai Harry lần thứ năm trong "Harry Potter và Hội Phượng hoàng" (2007). Radcliffe tuyên bố rằng đạo diễn David Yates và bạn diễn Imelda Staunton đã thực hiện "Hội Phượng hoàng" bộ phim "vui vẻ nhất" để làm việc trong loạt phim. Màn trình diễn của anh đã mang về cho anh một số đề cử giải thưởng và anh nhận được Giải thưởng Phim Quốc gia năm 2008 cho "Diễn xuất nam chính xuất sắc nhất". Radcliffe, Grint và Watson để lại dấu ấn bằng tay, chân và đũa phép của họ trước Nhà hát Grauman's Chinese ở Hollywood. "Harry Potter và Hoàng tử lai", phần thứ sáu của loạt phim, được phát hành vào tháng 7 năm 2009. Radcliffe nhận được đề cử cho "Màn trình diễn nam xuất sắc nhất" và "Siêu sao toàn cầu" tại Lễ trao giải MTV Movie năm 2010. Vì lý do tài chính và kịch bản, cuốn sách Harry Potter cuối cùng "(Harry Potter và Bảo bối Tử thần") đã được chia thành hai bộ phim được quay liên tục. Quyết định này đã thu hút sự chỉ trích từ những người hâm mộ bộ truyện, nhưng Radcliffe bảo vệ sự phân chia, nói rằng sẽ không thể chuyển thể tiểu thuyết cuối cùng thành một bộ phim duy nhất một cách chính xác. Phần cuối của hai bộ phim, "Harry Potter và Bảo bối Tử thần – Phần 1" và "Phần 2", được phát hành lần lượt vào tháng 11 năm 2010 và tháng 7 năm 2011. Trong khi "Bảo bối Tử thần – Phần 1" thu về 960 triệu USD thì "Bảo bối Tử thần – Phần 2" thu về hơn 1,3 tỷ USD trên toàn thế giới; tính đến tháng 5 năm 2019, đây là bộ phim có doanh thu cao thứ 11 mọi thời đại. "Bảo bối Tử thần – Phần 2" được giới phê bình đánh giá cao, cũng như màn trình diễn của Radcliffe; Ann Hornaday của "The Washington Post" đã hỏi, "Ai có thể dự đoán rằng Radcliffe, Grint và Watson sẽ trở thành những diễn viên giỏi?" Nhà phê bình Rex Reednhận xét, "Thành thật mà nói, tôi rất tiếc khi thấy [Radcliffe] ra đi"; Roger Ebert đánh giá rất tích cực về bộ phim, nhưng cảm thấy rằng Radcliffe, Grint và Watson "bị các diễn viên phụ" lấn át." Radcliffe thừa nhận rằng một số người sẽ không bao giờ có thể tách mình ra khỏi nhân vật Harry Potter; tuy nhiên, anh ấy đã nói rằng anh ấy "tự hào được gắn liền với loạt phim này mãi mãi." Mặc dù có những cảm nhận tích cực về các bộ phim, anh ấy không có hứng thú với việc làm thêm các bộ phim về "Harry Potter". Sau khi Rowling gợi ý về việc viết cuốn sách thứ tám, Radcliffe được hỏi liệu anh có thực hiện một bộ phim "Harry Potter" khác hay không, anh trả lời rằng: "Rất nghi ngờ. Tôi nghĩ 10 năm là một khoảng thời gian dài để dành cho một nhân vật". Mặc dù dành rất nhiều thời gian cho loạt phim, Radcliffe khẳng định rằng anh không bỏ lỡ tuổi thơ như những diễn viên nhí khác, nhận xét rằng "Tôi đã có được cái nhìn tốt hơn về cuộc sống khi đóng Potter." 2002–2008: Nhà hát West End và Broadway ra mắt. Năm 2002, Radcliffe ra mắt sân khấu với tư cách khách mời nổi tiếng trong vở kịch "The Play What I Wrote" do Kenneth Branagh đạo diễn—người cũng đóng cùng anh trong bộ phim "Harry Potter" thứ hai. Anh xuất hiện trong bộ phim "December Boys", một bộ phim gia đình của Úc kể về bốn đứa trẻ mồ côi được quay vào năm 2005 và ra rạp vào giữa tháng 9 năm 2007. Vào ngày 13 tháng 4 năm 2006, một bức chân dung của Radcliffe do Stuart thực hiện. Pearson Wright đã được công bố như một phần của cuộc triển lãm mới mở tại Nhà hát Quốc gia, trước khi được chuyển đến Phòng trưng bày Chân dung Quốc gia. Năm 2007, Radcliffe đóng chung với Carey Mulligan trong "My Boy Jack", một bộ phim truyền hình được chiếu trên ITV. Bộ phim nhận được hầu hết các đánh giá tích cực, với một số nhà phê bình ca ngợi diễn xuất của Radcliffe trong vai một thanh niên mười tám tuổi bị mất tích trong một trận chiến. Radcliffe nói, "Đối với nhiều người ở tuổi tôi, Chiến tranh thế giới thứ nhất chỉ là một chủ đề trong một cuốn sách lịch sử. Nhưng tôi luôn bị cuốn hút bởi chủ đề này và nghĩ rằng nó có liên quan đến ngày nay. đã từng là." Cuối năm đó, anh xuất bản một số bài thơ dưới bút danh Jacob Gershon—sự kết hợp giữa tên đệm của anh và phiên bản tiếng Do Thái của tên thời con gái của mẹ anh là Gresham — trên tạp chí thời trang ngầm "Rubbish". Ở tuổi mười bảy, trong nỗ lực chứng tỏ với mọi người rằng anh đã chuẩn bị cho các vai diễn người lớn, Radcliffe đã đóng vai chính trong buổi phục hưng vở kịch "Equus" của Peter Shaffer tại Nhà hát Gielgud. Tác phẩm đã không được hồi sinh kể từ lần đầu tiên ra mắt vào năm 1973. Radcliffe đảm nhận vai chính Alan Strang, một cậu bé ổn định có nỗi ám ảnh với ngựa. Doanh thu trước lên đến 1,7 triệu bảng Anh, và vai diễn này đã thu hút sự quan tâm đáng kể của giới truyền thông trước khi công chiếu, khi Radcliffe thực hiện một cảnh khỏa thân. "Equus" mở cửa vào ngày 27 tháng 2 năm 2007 và kéo dài đến ngày 9 tháng 6 năm 2007. Màn trình diễn của Radcliffe đã được đánh giá cao, vì các nhà phê bình đã bị ấn tượng bởi sắc thái và chiều sâu của vai trò chống lại loại người của anh ấy. Charles Spencer của "The Telegraph" đã viết rằng nam diễn viên "thể hiện một sức mạnh đáng kinh ngạc và sự hiện diện trên sân khấu đầy điện khí đánh dấu một bước tiến vượt bậc." Anh ấy nói thêm: "Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi sẽ thấy Radcliffe nhỏ bé (nhưng được hình thành hoàn hảo) là một nhân vật nham hiểm, nhưng với tư cách là Alan Strang ... có những khoảnh khắc mà anh ta có vẻ thực sự đáng sợ trong cơn thịnh nộ và bối rối của mình." Việc sản xuất được chuyển sang Broadway tại Nhà hát Broadhurst vào tháng 9 năm 2008. Radcliffe tiếp tục đóng vai chính, đóng cùng với Kate Mulgrew, Anna Camp, và bạn diễn của "Harry Potter" của anh, Richard Griffiths. Radcliffe đã rất lo lắng về việc thể hiện lại vai diễn trên sân khấu Broadway vì ông cho rằng khán giả Mỹ sành điệu hơn những khán giả ở London. Màn trình diễn của Radcliffe được đề cử cho Giải thưởng Phim truyền hình. 2010–2018: Trở lại Broadway và các bộ phim độc lập. Sau khi lồng tiếng cho một nhân vật trong tập phim " Treehouse of Horror XXI " của "The Simpsons" vào cuối năm 2010, Radcliffe ra mắt với vai J. Pierrepont Finch trong buổi phục hưng Broadway năm 2011 "How to Succeed in Business Without Really Trying" tại Nhà hát Al Hirschfeld. Vai diễn này trước đó đã được thực hiện bởi Robert Morse và Matthew Broderick. Các diễn viên khác bao gồm John Larroquette , Rose Hemingway và Mary Faber. Cả diễn viên và sản xuất đều nhận được đánh giá tích cực, với việc "USA Today" bình luận: "Cuối cùng, Radcliffe thành công không phải bằng cách làm lu mờ các thành viên đồng nghiệp của mình, mà bằng cách làm việc tận tâm với họ – và có một thành công trong quá trình này." Màn trình diễn của Radcliffe trong chương trình đã mang về cho anh Giải thưởng Bàn kịch tính, Giải Liên đoàn phim truyền hình và các đề cử Giải thưởng Hội phê bình ngoài. Bản thân tác phẩm sau đó đã nhận được chín đề cử Giải thưởng Tony. Radcliffe rời chương trình vào ngày 1 tháng 1 năm 2012. Dự án đầu tiên sau "Harry Potter" của Radcliffe là bộ phim giật gân năm 2012 "The Woman in Black", được chuyển thể từ tiểu thuyết năm 1983 của Susan Hill. Bộ phim được phát hành vào ngày 3 tháng 2 năm 2012 tại Hoa Kỳ và Canada, và được phát hành vào ngày 10 tháng 2 tại Vương quốc Anh. Radcliffe đóng vai một người đàn ông được cử đến để giải quyết các vấn đề pháp lý của một người phụ nữ bí ẩn vừa qua đời, và ngay sau đó anh ta bắt đầu trải qua những sự kiện kỳ ​​lạ và ám ảnh từ hồn ma của một phụ nữ mặc đồ đen. Anh ấy nói rằng anh ấy "vô cùng hào hứng" khi được tham gia bộ phim và mô tả kịch bản là "được viết rất đẹp". Năm 2013, anh đóng vai nhà thơ người Mỹ Allen Ginsberg trong bộ phim kinh dị "Kill Your Darlings của" đạo diễn John Krokidas. Anh cũng đóng vai chính trong bộ phim hài lãng mạn người Canada gốc Ireland "The F Word" (2013) của đạo diễn Michael Dowseand do Elan Mastai viết kịch bản, dựa trên vở kịch "Toothpaste and Cigars của" TJ Dawe và Michael Rinaldi và sau đó anh đóng vai chính trong một người Mỹ. bộ phim kinh dị giả tưởng đen tối của đạo diễn Alexandre Aja "Horns". Cả hai bộ phim đều được công chiếu tại Liên hoan phim Quốc tế Toronto lần thứ 38. Cũng trong năm 2013, Radcliffe biểu diễn tại Nhà hát Noël Coward trong vở kịch sân khấu hồi sinh bộ phim hài đen tối "The Cripple of Inishmaan" của Martin McDonagh với vai chính Billy Claven, nhờ đó anh đã giành được Giải thưởng WhatsOnStage cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong một vở kịch. Radcliffe đóng vai Igor trong bộ phim kinh dị khoa học viễn tưởng "Victor Frankenstein" (2015), do Paul McGuigan đạo diễn và Max Landis viết kịch bản. Bộ phim dựa trên chuyển thể đương đại của tiểu thuyết "Frankenstein" năm 1818 của Mary Shelley. Anh cũng đóng vai Sam Houser, một trong những người sáng lập Rockstar Games, trong bộ phim chính kịch tiểu sử "The Gamechangers". Radcliffe đóng vai chính trong bộ phim phiêu lưu hành động "Now You See Me 2" (2016) cùng với Mark Ruffalo, Jesse Eisenberg và Woody Harrelson, đóng vai một thần đồng công nghệ, doanh nhân, kẻ chủ mưu tội phạm và một nhân vật phản diện chính cùng với nhân vật của Michael Caine tên là Arthur Tressler (người mà nhân vật của Radcliffe được tiết lộ là con trai), người trong khi đến lượt mình lại phẫn nộ với ảo thuật. Năm 2016, Radcliffe đóng vai Manny, một xác chết nói nhiều, trong bộ phim độc lập "Swiss Army Man" với Paul Dano. Cùng năm đó, anh ấy cũng đóng vai chính trong phim độc lập được giới phê bình đánh giá cao"Imperium" (2016) với Toni Collette, và Tracy Letts. Anh vào vai Nate Foster, một đặc vụ FBI lý tưởng, người bí mật hạ gục một nhóm người da trắng cực đoan. Phim nhận được 84% trên Rotten Tomatoes với đánh giá đồng thuận, "Imperium" đáng lo ngại tự hào với các chủ đề thời sự rắc rối và dàn diễn viên tài năng do Daniel Radcliffe dẫn đầu trong vai một đặc vụ FBI bí mật thâm nhập vào vòng vây của những kẻ tối cao da trắng." Radcliffe đóng vai chính ngoài sân khấu Broadway tại Nhà hát Công cộng trong một tác phẩm sân khấu tài liệu có tựa đề "Privacy", đóng vai Nhà văn. Năm 2017, anh đóng vai Yossi Ghinsberg trong phim giật gân "Jungle", dựa trên cuốn hồi ký cùng tên bán chạy nhất thế giới của Yossi Ghinsberg. Năm 2018, Radcliffe đóng vai một phi công buôn lậu ma túy qua biên giới trong bộ phim hành động kinh dị "Beast of Burden" do Jesper Ganslandt đạo diễn. Radcliffe trở lại Broadway trong vở kịch hài dài 90 phút "The Lifespan of a Fact" tại Nhà hát Studio 54 với Bobby Cannavale và Cherry Jones. Vở kịch xoay quanh một người kiểm tra thực tế trẻ tuổi cương quyết chống lại người biên tập đòi hỏi của mình và một tác giả không chính thống. 2019–nay: Phim truyền hình dài tập và các tác phẩm tiếp theo. Năm 2019, Radcliffe đóng vai Craig trong loạt phim hài giới hạn "Miracle" worker của đài TBS dựa trên cuốn sách của Simon Rich. Phần thứ hai của chương trình được công chiếu vào ngày 28 tháng 1 năm 2020. Anh lồng tiếng cho Rex Dasher, một mật vụ giúp đỡ Marla, trong bộ phim hoạt hình "Playmobil: The Movie" của đạo diễn Lino DiSalvo. Năm 2020, Radcliffe đóng vai Miles trong bộ phim hài hành động "Guns Akimbo" của đạo diễn Jason Lei Howden, cùng các diễn viên Samara Weaving và Natasha Liu Bordizzo. Anh ấy cũng đóng vai chính Tim Jenkin trong bộ phim giật gân "", dựa trên cuộc vượt ngục ngoài đời thực của ba tù nhân chính trị trẻ tuổi khỏi nhà tù ở Nam Phi năm 1979. Anh cũng đóng vai Hoàng tử Frederick trong bộ phim đặc biệt "Unbreakable" của Netflix", Kimmy Schmidt" cùng với Ellie Kemper. Radcliffe đã tái hợp với nhiều thành viên của loạt phim "Harry Potter" trong một chương trình đặc biệt của HBO Max có tựa đề "", được phát hành vào ngày 1 tháng 1 năm 2022. Radcliffe đóng vai phản diện trong bộ phim hài phiêu lưu hành động "The Lost City", đối diện với Sandra Bullock và Channing Tatum. Anh cũng dự kiến ​​sẽ đóng vai nhạc sĩ "Weird Al" Yankovic trong "Weird: The Al Yankovic Story", một bộ phim tiểu sử được sản xuất cho The Roku Channel. Vào mùa thu năm 2022, Radcliffe trở lại sân khấu diễn xuất trong sự hồi sinh của vở nhạc kịch Stephen Sondheim "Merrily We Roll Along" đóng vai Charley Kringas. Anh đóng vai chính cùng với Jonathan Groff và Lindsay Mendez. Quá trình hồi sinh bắt đầu vào ngày 21 tháng 11 năm 2022 và dự kiến ​​khởi chiếu vào ngày 12 tháng 12 năm 2022. Quá trình sản xuất sẽ diễn ra với số lượng người tham gia hạn chế đến hết ngày 8 tháng 1 năm 2023. Radcliffe đã cho vay hỗ trợ của mình cho các tổ chức từ thiện khác nhau. Anh ấy đã thiết kế chiếc giường Cu-Bed cho dãy VIP Kids của Habitat (một khối lập phương được làm từ tám chiếc nhỏ hơn có thể được làm thành giường, ghế dài hoặc ghế) với tất cả tiền bản quyền từ việc bán chiếc giường sẽ được chuyển trực tiếp cho anh ấy. tổ chức từ thiện yêu thích, Viện tế bần dành cho trẻ em Demelza House ở Sitbourne, Kent. Radcliffe đã kêu gọi người hâm mộ đóng góp cho chương trình Nến cho sự chăm sóc của tổ chức từ thiện thay vì tặng quà Giáng sinh cho anh ấy. Năm 2008, ông là một trong số những người nổi tiếng đã tặng kính lão của họ cho một cuộc triển lãm tôn vinh các nạn nhân của thảm họa Holocaust. Trong buổi biểu diễn Broadway của "Equus" anh đã bán đấu giá một chiếc quần jean và các vật dụng khác mặc trong buổi biểu diễn cho bệnh AIDS ở Broadway Cares / Equity Fights có trụ sở tại New York và là người dẫn chương trình tại cuộc thi Gypsy of the Year năm 2011. Anh ấy cũng đã quyên góp ủng hộ Get Connected UK, một đường dây trợ giúp quốc gia bí mật miễn phí có trụ sở tại London dành cho những thanh niên gặp khó khăn. Quan điểm chính trị và xã hội. Radcliffe là người ủng hộ Đảng Lao động. Trước đây, anh ủng hộ Đảng Dân chủ Tự do, và tán thành nhà lãnh đạo lúc bấy giờ là Lib Dem Nick Clegg trong cuộc tổng tuyển cử năm 2010. Tuy nhiên, vào năm 2012, anh chuyển quan điểm chính trị của mình sang Lao động, với lý do thất vọng với hiệu quả hoạt động của Clegg và đảng Dân chủ Tự do khi còn cầm quyền trong chính phủ, và chấp thuận lãnh đạo đảng Lao động khi đó là Ed Miliband. Năm 2015, anh tán thành chiến dịch lãnh đạo Đảng Lao động của Jeremy Corbyn. Anh ấy nói với "The Big Issue" "Tôi cảm thấy như sự thể hiện sự chân thành này của một người đàn ông đã ở bên cạnh và gắn bó với niềm tin của mình đủ lâu để anh ấy biết chúng và không cần phải viết theo kịch bản là điều khiến mọi người ngồi dậy và phấn khích. Thật tuyệt vời." Radcliffe ủng hộ khái niệm xóa bỏ chế độ quân chủ của Anh và thay thế nó bằng một nền cộng hòa. Anh cũng ủng hộ chủ nghĩa công đoàn của Anh, và phản đối cuộc trưng cầu dân ý về độc lập của Scotland năm 2014 vì cá nhân anh "thích Vương quốc Anh như thế nào". Radcliffe ủng hộ cộng đồng LGBTQ+. Lên tiếng chống lại sự kỳ thị đồng tính, anh bắt đầu quay các thông báo dịch vụ công vào năm 2009 cho Dự án Trevor, thúc đẩy nhận thức về phòng chống tự tử ở thanh thiếu niên đồng tính. Lần đầu tiên anh biết đến tổ chức này khi biểu diễn "Equus" trên sân khấu Broadway vào năm 2008  và đã đóng góp tài chính cho nó. Anh ấy nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2010, "Tôi luôn ghét bất kỳ ai không khoan dung với những người đồng tính nam hoặc đồng tính nữ hoặc lưỡng tính. Bây giờ tôi đang ở một vị trí rất may mắn khi tôi thực sự có thể giúp đỡ hoặc làm điều gì đó về điều đó." Trong cùng một cuộc phỏng vấn, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của các nhân vật công chúng ủng hộ quyền bình đẳng. Anh ấy đã nhận được Giải thưởng Anh hùng của Dự án Trevor vào năm 2011 cho những đóng góp của mình. Vào tháng 6 năm 2020, trong bối cảnh tranh cãi về nhận xét của tác giả "Harry Potter", J. K. Rowling về người chuyển giới — bị lên án là kỵ khí — Radcliffe đã viết một bài luận được xuất bản bởi Dự án Trevor, trong đó anh lên tiếng ủng hộ cộng đồng người chuyển giới và bày tỏ sự tiếc nuối rằng những tuyên bố của Rowling đã làm hỏng trải nghiệm của người hâm mộ về bộ sách "Harry Potter". Radcliffe phân chia thời gian của mình giữa các ngôi nhà ở khu Fulham của London và khu phố Tây Làng của quận Manhattan của Thành phố New York. Anh ấy đã có mối quan hệ với nữ diễn viên người Mỹ Erin Darke từ năm 2012, sau khi gặp nhau trên phim trường "Kill Your Darlings". Vào tháng 3 năm 2023, họ được xác nhận đang mang thai đứa con đầu lòng. Darke sinh vào tháng sau. Vào năm 2008, Radcliffe tiết lộ rằng anh mắc một dạng nhẹ của chứng rối loạn thần kinh khó thở, đôi khi khiến anh không thể thực hiện các hoạt động đơn giản như viết hoặc buộc dây giày. Anh ấy nói, "Tôi đã gặp khó khăn ở trường, về mặt mọi thứ tào lao, không có tài năng rõ ràng." Radcliffe đã bày tỏ niềm yêu thích của mình với nhạc rap và thừa nhận có "nỗi ám ảnh với việc ghi nhớ những bài hát phức tạp, có ca từ phức tạp và nhanh chóng". Vào ngày 28 tháng 10 năm 2014, anh rap bài hát Blackalicious năm 1999 "Alphabet Aerobics" khi xuất hiện trên chương "trình The Tonight Show Starring Jimmy Fallon". Radcliffe gần gũi với gia đình của anh, người mà anh ta tin tưởng vì đã giữ anh đứng vững. Vào tháng 8 năm 2010, anh ta trở nên căng thẳng sau khi nhận thấy mình trở nên quá phụ thuộc vào rượu. Vào tháng 3 năm 2020, anh ấy xuất hiện với tư cách khách mời trên kênh BBC Radio 4 's "Desert Island Discs", nơi anh ấy thảo luận về việc lạm dụng rượu khi ở tuổi thiếu niên và quyết định trở thành teetotal, cũng như cách cha mẹ anh ấy hỗ trợ và ở lại quê hương Anh đã giúp anh đối mặt với sự nổi tiếng. Radcliffe tuyên bố về niềm tin của mình vào năm 2012: "Không bao giờ có đức tin [tôn giáo] trong ngôi nhà. Tôi nghĩ mình là người Do Thái và Ailen, mặc dù thực tế là tôi là người Anh." Anh ấy nói rằng gia đình anh ấy là "Noel Do Thái" Anh ấy cũng nói: "Tôi là một người vô thần, nhưng tôi rất tự hào là người Do Thái. Điều đó có nghĩa là tôi có đạo đức làm việc tốt. , và bạn nhận được sự hài hước của người Do Thái và bạn được phép kể những câu chuyện cười của người Do Thái. Ví dụ: bạn có nghe thấy dây đồng được phát minh như thế nào không? Hai người Do Thái tranh nhau một xu. Và cứ thế". Năm 2009, anh ta tuyên bố rằng anh ta là một người vô thần và nói, "Tôi rất thoải mái về việc [trở thành một người vô thần]. Tôi không rao giảng chủ nghĩa vô thần của mình, nhưng tôi rất tôn trọng những người như Richard Dawkins, những người làm bất cứ điều gì anh ấy làm trên truyền hình, tôi sẽ xem." Tuy nhiên, ông đã nói vào năm 2012, "Tôi là một người vô thần, và là một chiến binh vô thần khi tôn giáo bắt đầu ảnh hưởng đến luật pháp." Năm 2019, anh tự mô tả mình là " người theo thuyết bất khả tri nghiêng về chủ nghĩa vô thần". Radcliffe được cho là đã kiếm được 1 triệu bảng cho phần phim "Harry Potter đầu tiên" và khoảng 15 triệu bảng cho phần sáu. Anh xuất hiện trong Danh sách người giàu của "Sunday Times" vào năm 2006, ước tính tài sản cá nhân của anh là 14 triệu bảng Anh, khiến anh trở thành một trong những người trẻ tuổi giàu nhất ở Anh. Vào tháng 3 năm 2009, anh được xếp hạng ở vị trí số một trong danh sách "Những ngôi sao trẻ có giá trị nhất" của "Forbes", và đến tháng 4 tờ "Daily Telegraph" đo giá trị tài sản ròng của anh là 30 triệu bảng Anh, khiến anh trở thành người trẻ tuổi giàu thứ 12 trong nước Anh. Radcliffe được coi là thiếu niên giàu nhất nước Anh vào cuối năm đó. Vào tháng 2 năm 2010, anh được vinh danh là ngôi sao nam Hollywood được trả lương cao thứ sáu và đứng ở vị trí thứ năm trong danh sách nam diễn viên có doanh thu cao nhất Hollywood tháng 12 của "Forbes" với doanh thu phim là 780 triệu đô la Mỹ, chủ yếu là do "Harry Potter và Bảo bối Tử thần" được phát hành vào năm đó. Tính đến năm 2021, giá trị tài sản ròng của Radcliffe ước tính là 95 triệu bảng Anh.
Họ Hồ tiêu (danh pháp khoa học: Piperaceae) là một họ thực vật chứa trên 3.600 loài được nhóm trong 5 chi. Chúng là các loại cây thân gỗ nhỏ, cây bụi hay dây leo sống một năm hay lâu năm và phân bố rộng khắp trong khu vực nhiệt đới. Loài được biết đến nhiều nhất có lẽ là hồ tiêu ("Piper nigrum"), loài được trồng nhiều nhất trong sản xuất hạt tiêu làm gia vị, mặc dù nhiều họ hàng khác của nó trong họ này cũng được dùng làm gia vị. Tên gọi Piperaceae có lẽ bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Phạn "pippali", được dùng để chỉ các loại tiêu quả dài (như "Piper longum"). Hệ thống APG III năm 2009 công nhận họ này và gán nó vào trong bộ Piperales của nhánh không phân hạng magnoliids. Họ này bao gồm 5 chi: "Piper", "Peperomia", "Zippelia", "Manekia" và "Verhuellia". Chi trước đây được công nhận là "Macropiper" với sự phân bố ven Thái Bình Dương, gần đây đã được sáp nhập vào chi "Piper". APG hiện tại chia họ này như sau: Phát sinh chủng loài. Biểu đồ dưới đây chỉ ra mối quan hệ giữa các chi trong họ Piperaceae, dựa theo Wanke et al. (2007) được chỉ ra dưới đây. Phát sinh chủng loài này dựa trên 6000 cặp base của DNA lạp lục. Chỉ gần đây người ta mới nhận thấy rõ rằng rằng "Verhuellia" là chị em với nhánh chứa 4 chi còn lại trong họ. Các loài trong họ này thường là có thân rễ và có thể là cây sống trên mặt đất hoặc biểu sinh. Thân hoặc là đơn hoặc phân nhánh. Lá đơn, mép lá nguyên, mọc ở gốc cây hay dọc thân cây, có thê mọc so le, đối hay mọc vòng. Thường có các lá kèm, cũng như có cuống. Lá thường có mùi thơm nồng đặc trưng dễ nhận thấy khi nghiền hay vò nát. Cụm hoa mọc ở đầu cành, đối diện với lá hay trong nách lá. Hoa lưỡng tính, không có bao hoa, mỗi hoa đối diện với một lá bắc hình khiên. Nhị hoa 2-6, và thuộc dạng dưới bầu (nghĩa là bầu nhụy thượng), với các bao phấn 2 ngăn. Thường có 3-4 đầu nhụy đính với một nhụy mỗi hoa, thường có 1 hay 3-4 lá noãn. Bầu nhụy 1 ngăn, thượng. Quả giống như quả hạch, chứa một hạt mỗi quả. Hạt có phôi nhỏ, và ngoại nhũ chứa nhiều bột.
Bộ Hồ tiêu (danh pháp khoa học: Piperales) là một bộ thực vật có hoa. Các hệ thống phân loại mới nhất nói chung coi nó là một phần của phức hợp Mộc lan (Magnoliids) trong thực vật hai lá mầm cổ. Bộ này chứa 4-5 họ (tùy theo hệ thống phân loại) với khoảng 17 chi và 4.090 loài. Họ Aristolochiaceae nói chung được đưa vào trong bộ Piperales, nhưng một số hệ thống phân loại đưa nó vào bộ riêng của chính nó, gọi là Aristolochiales. Trong hệ thống Cronquist (1981) thì họ Chloranthaceae cũng được đặt trong bộ Piperales này. Đông Nam Bộ, có Bình Phước và Bà Rịa-Vũng Tàu Tây Nguyên có diện tích hồ tiêu lớn là ở Đăk Lăk, Gia Lai và Đăk Nông Bắc Trung Bộ là Quảng Trị và ở Duyên Hải Nam Trung Bộ là Bình Thuận Trước đây cây hô tiêu là cây dại dược từ trước thế kỷ 16 và thế kỷ 17 được di thực trông nhiều ở Việt Nam.
Jeanette Biedermann (được biết đến như Jeanette; sinh ngày 22 tháng 2 năm 1980 tại Berlin) là ca sĩ và diễn viên truyền hình Đức. Biedermann sinh tại Berlin năm 1981. Lúc sáu tuổi cô xuất hiện như người biểu diễn leo dây trong "Rạp xiếc Lilliput". Lúc 17 tuổi, năm 1999, cô tham gia cuộc thi "Bild-Schlagerwettbewerb" và đánh bại 270.000 đối thủ. Sau đó cô phát hành đĩa đơn đầu tay "Das Tut Unheimlich weh", đĩa duy nhất được hát bằng tiếng Đức của cô. Sau đó cô trở thành diễn viên đóng bộ phim truyền hình nổi tiếng "Gute Zeiten, Schlechte Zeiten" với vai thiếu nữ Marie. Năm 2004 cô quyết định bỏ nghề diễn viên và theo đuổi nghề ca sĩ. Một năm sau, năm 2005, cô nhận được giải ECHO cho video ca nhạc "Run With Me". Đĩa album mới nhất của cô, "Naked Truth", được phát hành tháng 3 năm 2006.
Julia Fiona Roberts (sinh ngày 28 tháng 10 năm 1967) là nữ diễn viên và nhà sản xuất người Mỹ. Cô trở thành ngôi sao Hollywood nổi tiếng sau khi xuất hiện trong phim lãng mạn hài hước "Pretty Woman" (1990), mang về doanh thu kỉ lục lúc bấy giờ là 464 triệu đô-la Mỹ. Cô giành 3 giải Quả cầu vàng (trong 8 đề cử) và đề cử 4 giải Oscar, chiến thắng hạng mục "Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất" cho diễn xuất trong "Erin Brockovich" (2000). Roberts là nữ diễn viên được trả thù lao cao nhất thế giới trong suốt thập niên 1990 và nửa đầu thập niên 2000. Thù lao của cô trong "Pretty Woman" vào năm 1990 là 300.000 đô-la Mỹ; vào năm 2003, số tiền cô nhận cho vai diễn trong "Mona Lisa Smile" (2003) là 25 triệu đô-la Mỹ. Vào năm 2010, tổng tài sản của Roberts ước tính vào khoảng 140 triệu đô-la Mỹ. Tạp chí "People" xếp cô vào danh sách "50 người đẹp nhất thế giới" đến 11 lần, san bằng kỷ lục của Halle Berry. Thời thơ ấu và gia đình. Roberts sinh ngày 28 tháng 10 năm 1967 ở Smyrna, Georgia, trong gia đình của Betty Lou Bredemus (1934–2015) và Walter Grady Roberts (1933–1977). Cô mang dòng máu Anh, Scotland, Ireland, Welsh, Đức và Thụy Điển. Bố của cô theo đạo Báp-tít, mẹ của cô là người theo đạo Công giáo La Mã và cô được nuôi dạy theo đạo Công giáo. Ngoài ra, Roberts còn một người anh trai bị ghẻ lạnh cho đến năm 2004, Eric Roberts; người em gái Lisa Roberts Gillan và cháu gái Emma Roberts, đều là diễn viên. Cha mẹ của Roberts, từng là diễn viên và biên kịch, gặp gỡ trong lúc sản xuất biểu diễn cho quân đội. Họ đồng sáng lập Atlanta Actors và Writers Workshop tại Atlanta, Georgia, ở Juniper Street, Midtown. Họ điều hành một trường diễn xuất ở Decatur, Georgia trong lúc mang thai Julia. Yolanda Denise King, con gái của Martin Luther King, Jr. và Coretta Scott King theo học tại ngôi trường này; Walter Roberts là giảng viên diễn xuất cho cô. Như một lời cảm ơn đến trường học của gia đình, Bà King trả hóa đơn viện phí khi hạ sinh Roberts tại bệnh viện. Bố mẹ của cô kết hôn năm 1955. Mẹ của Robert đệ đơn ly hôn năm 1971; cuộc ly hôn của họ hoàn tất vào đầu 1972. Từ 1972, Roberts sống tại Smyrna, Georgia, nơi cô theo học trường Tiểu học Fitzhugh Lee, trường Trung học Griffin và trường Trung học Campbell. Năm 1972, mẹ cô kết hôn với Michael Motes, người thường xuyên lạm dụng chất gây nghiện và thất nghiệp; Roberts khinh thường ông ta. Cả hai có một người con gái, Nancy Motes, người qua đời năm 37 tuổi vào ngày 9 tháng 2 năm 2014 vì lạm dụng ma túy. Cuộc hôn nhân kết thúc năm 1983, với Betty Lou ly hôn với Motes trên một bối cảnh khắc nghiệt; bà khẳng định việc kết hôn với ông là sai lầm lớn nhất cuộc đời. Cha của Roberts qua đời vì ung thư khi cô mới 10 tuổi. Roberts ước muốn làm bác sĩ thú y khi còn nhỏ. Cô cũng chơi clarinet trong ban nhạc của trường. Sau khi tốt nghiệp trường Trung học Smyrna's Campbell, cô đến học tại Đại học Georgia State nhưng không tốt nghiệp. Cô sau đó chuyển đến New York để theo đuổi sự nghiệp diễn xuất. Ở đó, cô ký hợp đồng với Click Modeling Agency và đăng ký nhiều lớp học diễn xuất. Roberts lần đầu xuất hiện trên màn ảnh trong "Satisfaction" (1988), bên cạnh Liam Neeson và Justine Bateman, trong vai một ban nhạc tìm một đêm hòa nhạc mùa hè. Trước đó, cô nhận một vai nhỏ cùng anh trai Eric trong "Blood Red", ghi hình năm 1987 và phát hành năm 1989. Vai diễn truyền hình đầu tiên của cô là một nạn nhân bị cưỡng dâm trong mùa đầu tiên của "Crime Story" với Dennis Farina, tập "The Survivor", phát sóng ngày 13 tháng 2 năm 1987. Cô được biết đến lần đầu tiên với vai diễn trong phim độc lập "Mystic Pizza" (1988); cùng năm đó cô có vai diễn trong mùa thứ tư của "Miami Vice". Năm 1989, cô xuất hiện trong vai một cô dâu trẻ tuổi mắc bệnh tiểu đường trong "Steel Magnolias", mang về đề cử giải Oscar đầu tiên cho "Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất" và thắng giải Quả cầu vàng đầu tiên cho "Nữ diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất". Roberts nổi tiếng nhờ vai diễn cùng Richard Gere trong câu chuyện Cinderella/Pygmalionesque, "Pretty Woman" (1990). Roberts giành được vai diễn này sau khi Michelle Pfeiffer, Molly Ringwald, Meg Ryan, Jennifer Jason Leigh, Karen Allen và Daryl Hannah từ chối nó. Phim mang về cho cô đề cử Oscar thứ hai cho "Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất" và thắng giải Quả cầu vàng cho "Nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất". Vai diễn thành công kế đến của cô nằm trong bộ phim ly kỳ "Sleeping with the Enemy" cùng với Patrick Bergin. Cô nhận vai Tinkerbell trong "Hook" (1991) của đạo diễn Steven Spielberg và một y tá trong "Dying Young" (1991). Cô trải qua hai năm nghỉ ngơi, với vai diễn duy nhất trong "The Player" của Robert Altman (1992). Đầu năm 1993, cô là chủ đề trên trang bìa tạp chí "People" với bài viết "Chuyện gì đã xảy ra với Julia Roberts?" Cô được mời vai Annie Reed trong "Sleepless in Seattle" (1993) nhưng lại từ chối. Roberts đồng diễn xuất với Denzel Washington trong "The Pelican Brief" (1993), dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên của John Grisham. Năm 1996, cô xuất hiện trong tập "The One After the Superbowl" trong loạt phim hài kịch tình huống "Friends". Cô cũng có mối quan hệ tình cảm với diễn viên Matthew Perry vào thời điểm trên. Cô từ chối vai Lucy Eleanor Moderatz trong "While You Were Sleeping" (1995). Roberts xuất hiện cùng Liam Neeson trong "Michael Collins" (1996). Nhiều năm tiếp đến, cô đóng trong "Mary Reilly" (1996) của Stephen Frears và "My Best Friend's Wedding" (1997). Năm 1998, cô lộ diện trên "Sesame Street" cùng nhân vật Elmo. Cô từ chối vai diễn Viola de Lesseps trong "Shakespeare in Love" (1998). Cô đồng ý tham gia "Stepmom" (1998), cùng với Susan Sarandon, "Notting Hill" (1999), bên cạnh Hugh Grant và "Runaway Bride", phim thứ hai cô hợp tác cùng Richard Gere. Roberts là khách mời trong tập "Empire" của loạt phim truyền hình "Law Order", với sự xuất hiện của Benjamin Bratt. Vai diễn mang về cho cô giải Quả cầu vàng cho "Nữ diễn viên khách mời phim chính kịch nổi bật". Năm 2000, cô vào vai nhà hoạt động môi trường có thật Erin Brockovich trong bộ phim "Erin Brockovich". Tháng 12 năm 2000, Roberts là nữ diễn viên trả thù lao cao nhất thập niên 1990, trở thành nữ diễn viên đầu tiên xuất hiện trong danh sách 50 người phụ nữ gây ảnh hưởng nhất ngành công nghiệp của tạp chí "The Hollywood Reporter". Năm 2001, Roberts nhận giải Oscar cho "Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất" trong "Erin Brockovich". Bài diễn văn của Roberts dài quá thời gian quy định nhưng cô không nhắc đến Brockovich, khiến cô phải xin lỗi. Lúc trao giải "Nam diễn viên xuất sắc nhất" cho Denzel Washington một năm sau, Robert hớ hênh khi nhầm lẫn nhạc trưởng Bill Conti và Tom Conti. Bộ phim đầu tiên của Roberts sau "Erin Brockovich" là phim hài lãng mạn "America's Sweethearts" của đạo diễn Joe Roth với diễn xuất của Billy Crystal, John Cusack và Catherine Zeta-Jones. Các đánh giá đến phim đa phần là tiêu cực, trong khi mang về 138 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu. Cuối năm 2001, cô xuất hiện trong "The Mexican" của đạo diễn Gore Verbinski với bạn diễn Brad Pitt, thu về 66.8 triệu đô-la Mỹ tại các phòng vé. Dù đây dự định là một bộ phim độc lập mà không có ngôi sao điện ảnh nào, cả hai vẫn quyết định tham gia. Mùa thu 2001, Roberts tái hợp với đạo diễn Steven Soderbergh của "Erin Brockovich" trong "Ocean's Eleven" (2001), bên cạnh George Clooney, Brad Pitt và Matt Damon. Roberts vào vai Tess Ocean, vợ cũ của Danny Ocean (Clooney), quyến rũ một chủ sòng bài, do Andy Garcia đóng. Phim đạt thành công về thương mại lẫn chuyên môn, trở thành phim thành công thứ 5 trong năm với doanh thu tổng cộng 450 triệu đô-la Mỹ. Năm 2003, Roberts được tuyển trong bộ phim chính kịch "Mona Lisa Smile" của đạo diễn Mike Newell, cùng với Kirsten Dunst, Maggie Gyllenhaal và Julia Stiles. Roberts nhận thù lao kỷ lục 25 triệu đô-la Mỹ cho vai diễn một giáo sư lịch sử hội họa tại Đại học Wellesley năm 1953—số tiền cao nhất của một nữ diễn viên vào thời điểm trên. Phim nhận nhiều đánh giá trung lập, cho rằng bộ phim "dễ đoán và an toàn". Năm 2004, Roberts thay thế Cate Blanchett trong "Closer" của Mike Nichols, một bộ phim chính kịch lãng mạn do Patrick Marber sáng tác, dựa trên vở kịch cùng tên năm 1997. Bộ phim còn có diễn xuất của Jude Law, Natalie Portman và Clive Owen. Cũng trong 2004, cô lần nữa vào vai Tess Ocean trong "Ocean's Twelve". Phim thu về lợi nhuận 363 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu. Cô không trở lại phần phim cuối cùng "Ocean's Thirteen" (2007) như dàn diễn viên nam do các vấn đề về kịch bản. Năm 2005, cô lần đầu xuất hiện trong một video âm nhạc, trong đĩa đơn "Dreamgirl" của Dave Matthews Band. Roberts xuất hiện trong danh sách những nữ diễn viên trả thù lao cao nhất của "The Hollywood Reporter" từ năm 2002 đến 2005. Roberts tham gia hai phim hoạt hình vào năm 2006: "The Ant Bully" và "Charlotte's Web". Bộ phim kế tiếp của Roberts, "Charlie Wilson's War" (2007) có sự tham gia của Tom Hanks và Philip Seymour Hoffman; phát hành ngày 21 tháng 12 năm 2007.#đổi "Fireflies in the Garden" (2008), có sự góp mặt của Ryan Reynolds và Willem Dafoe, công chiếu tại Liên hoan phim quốc tế Berlin vào tháng 2 năm 2008 và phát hành tại châu Âu; bộ phim chỉ ra mắt tại Bắc Mỹ năm 2011.#đổi Robert tham gia vai diễn Broadway đầu tiên vào ngày 19 tháng 4 năm 2006 trong vở "Three Days of Rain" (1997) của Richard Greenberg, bên cạnh Bradley Cooper và Paul Rudd. Dù doanh thu tăng gần 1 triệu đô-la Mỹ trong tuần đầu tiên, diễn xuất của cô gặp nhiều ý kiến chê trách. Năm 2009, hãng Lancôme thông báo Roberts là nhà đại sứ toàn cầu của họ. Roberts đóng cùng Clive Owen trong phim hài ly kỳ "Duplicity", mang về đề cử giải Quả cầu vàng thứ 7 cho cô. Năm 2010, cô xuất hiện trong phim hài lãng mạn "Valentine's Day" với Cooper và đóng trong phiên bản chuyển thể điện ảnh của "Eat Pray Love". "Eat Pray Love" đạt doanh thu tuần đầu cao nhất cho Roberts trong vai chính kể từ "America's Sweethearts". Cuối năm đó, cô ký một hợp đồng mở rộng với Lancôme với 50 triệu đô-la Mỹ. Năm 2011, cô đồng diễn xuất trong phim hài lãng mạn "Larry Crowne" cùng Tom Hanks, trong những phản hồi tiêu cực. Roberts xuất hiện trong bộ phim "Mirror Mirror", vào vai Nữ hoàng Clementianna, mẹ kế của Bạch Tuyết. Năm 2013, Roberts xuất hiện trong ', vào vai một trong những đứa con gái của nhân vật do Meryl Streep thủ vai. Diễn xuất của cô giành các đề cử cho giải Quả cầu vàng, Screen Actors Guild Award, Critics' Choice Award và giải Oscar cho "Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất". Năm 2014, Roberts góp mặt trong tập "Women in Hollywood" của loạt chương trình '. Roberts xuất hiện trong chiến dịch Xuân hè 2015 của hãng Givenchy. Mối quan hệ và tôn giáo. Roberts có mối quan hệ tình cảm với Jason Patric, Liam Neeson, Kiefer Sutherland, Dylan McDermott và Matthew Perry. Cô đính hôn ngắn ngủi với Sutherland; họ chia tay chỉ ba ngày trước ngày cưới vào 11 tháng 6 năm 1991. Vào ngày 25 tháng 6 năm 1993, cô kết hôn với ca sĩ nhạc đồng quê Lyle Lovett; lễ cưới diễn ra ở Nhà thờ St. James Lutheran tại Marion, Indiana. Họ ly thân vào tháng 3 năm 1995 và sau đó ly hôn. Từ năm 1998 tới 2001, Roberts hẹn hò với diễn viên Benjamin Bratt. Roberts và nhà quay phim Daniel Moder gặp gỡ trên phim trường "The Mexican" năm 2000, khi cô còn hẹn hò với Bratt. Lúc đó, Moder kết hôn với Vera Steimberg. Ông đệ đơn ly dị gần một năm sau đó và sau khi hoàn tất, ông và Roberts kết hôn vào ngày 4 tháng 7 năm 2002 tại Taos, New Mexico. Cùng nhau, họ có ba người con: cặp song sinh Hazel Patricia và Phinnaeus "Finn" Walter Moder (sinh ngày 28 tháng 11 năm 2004) và con trai Henry Daniel Moder (18 tháng 6 năm 2007). Trong một bài phỏng vấn năm 2010 cho "Elle", Roberts khẳng định mình tin tưởng theo Ấn Độ giáo. Roberts là người mộ đạo Neem Karoli Baba (Maharaj-ji). Vào tháng 9 năm 2009, Swami Daram Dev của Ashram Hari Mandir tại Pataudi, nơi Roberts ghi hình "Eat Pray Love", đặt tên các con của Roberts theo Ấn Độ giáo: Laxmi cho Hazel, Ganesh cho Phinnaeus và Krishna Balram cho Henry. Roberts cống hiến thời gian và tài nguyên cho UNICEF cũng như những tổ chức từ thiện khác. Ngày 10 tháng 5 năm 1995, Roberts đến Port-au-Prince và chứng kiến sự nghèo đói ở đó. UNICEF tìm kiếm số tiền 10 triệu đô-la Mỹ để hỗ trợ. Năm 2000, Roberts tham gia trong "Silent Angels", một bộ phim tài liệu về hội chứng Rett, một chứng rối loạn phát triển thần kinh, ghi hình tại Los Angeles, Baltimore và New York. Phim tài liệu được làm để gầy dựng sự quan tâm của công chúng về chứng bệnh này. Robert vào vai Mẹ thiên nhiên vào bộ phim ngắn năm 2015 cho Conservation International, giúp tạo nhận thức về vấn đề thay đổi khí hậu. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Joanna Noëlle Blagden Levesque (sinh ngày 20 tháng 12 năm 1990), được biết đến rộng rãi với nghệ danh JoJo, là ca sĩ, người sáng tác nhạc, RB/pop và diễn viên người Mỹ. Cô bắt đầu nổi tiếng từ năm 2004 với album đầu tay mang chính nghệ danh của cô, album mang tên cô đứng ở vị trí số bốn trên "Billboard" 200 của Mỹ. JoJo cũng bắt đầu sự nghiệp điện ảnh với hai phim Hollywood sản xuất năm 2006 là: "Aquamarine" và "RV". Album nhạc thứ hai của cô, "The High Road" được cho ra mắt 17 tháng 10 năm 2006. Mùa hè năm 2007, Jojo có một tour biểu diễn âm nhạc vòng quanh Mỹ, châu Âu và nước Mêhicô để quảng bá album. Gần đây cô tham gia bộ phim True Confessions of a Hollywood Starlet trong vai trò diễn viên chính. Album thứ ba của cô, All I Want Is Everything sắp được phát hành vào năm 2010. JoJo sinh ra tại Brattleboro, Vermont; lớn lên ở Keene, New Hampshire và Foxborough, Massachusetts. Cô lai những 6 dòng máu: Scotland, Ireland, Anh, Ba Lan, Pháp và bản địa Mỹ. Cô lớn lên trong một căn hộ chỉ có một phòng ngủ ở vùng ngoại ô Boston, trong một gia đình có thu nhập thấp. Cha cô, Joel Maurice Levesque, là một ca sĩ nhạc blues, mẹ của cô, Diana Anne Blagden, hát trong dàn thánh ca thuộc nhà thờ Công giáo và làm quét dọn. Cha mẹ cô li dị khi cô được 3 tuổi, từ đó cô sống với mẹ ở Edgewater, New Jersey. Còn cha cô sống ở New Hampshire. Cô còn nhận được tình thương và sự hỗ trợ từ từ những người họ hàng (cũng ở tiểu bang Massachusetts) Andrea Levesque, Arianna Levesque, và Athena Levesque. JoJo đã đổi tên họ của mình từ họ mẹ "Blagden" thêm vào họ cha "Levesque", cuối cùng là Joanna Noëlle Blagden Levesque. Cái tên JoJo có từ một biệt hiệu thời thơ ấu. Từ khi còn nhỏ, JoJo nghe và học theo mẹ những bài hát của mẹ cô tập. Cô bắt đầu hát khi được 2 tuổi bằng cách bắt chước mẹ, thử mọi thể loại nhạc từ hát ru, Pop, RB, Jazz và thậm chí nhạc Soul. Trên chương trình , mẹ em cho rằng JoJo đã có một tài năng với chỉ số IQ vượt trội. Dù còn nhỏ, JoJo đã rất thích tham dự những lễ hội của người Mỹ bản xứ và hoạt động trong những nhà văn hóa địa phương. Khi lên 6, cô có được một hợp đồng thu âm, nhưng mẹ cô từ chối vì tin rằng JoJo còn quá nhỏ cho sự nghiệp âm nhạc. Lên 7, Sau khi tham dự vào chương trình truyền hình Kid Say The Darndest Thing: On The Road ở Boston, với một bài hát của ca sĩ Cher, JoJo đã có cơ hội để trở nên nổi tiếng, cô được mời hát bài "Respect" của Aretha Franklin, một bản hit từ những năm 1967 tại show truyền hình Destination Stardom. Dẫn chương trình Bill Cosby và khán giả tại nhà hát Faneuil đã thực sự ấn tượng và trở nên cuồng nhiệt. Ngay sau đó, Oprah liên lạc với cô, mời cô đến biểu diễn. Cô cũng từng biểu diễn trên Maury, rồi trong 1 tập của series "Những đứa trẻ tài năng", và còn nhiều chương trình khác. Khi được hỏi, cô đã nói rằng "nếu phải biểu diễn, tôi chẳng sợ gì cả". Jojo cũng đã từng được yêu cầu tham dự vào vai chính trong show nổi tiếng của kênh Disney "Hannah Montana" nhưng không may, cô từ chối vì cô muốn tập trung vào âm nhạc, điều mà sau đó dẫn cô tới hit "Leave (Get Out)". Sự nghiệp âm nhạc. Sau khi xuất hiện trên chương trình talk show McDonald's Gospel Fest, hát bài "I Believe In You and Me" của Whitney Houston và dự thi trên chương trình truyền hình America's Most Talented Kids (cô để Diana DeGarmo giành phần thắng). Đạo diễn nhà sản xuất Vincent Herbert liên lạc với cô và mời cô tham gia Blackground Records. Trong cuộc phóng vấn dự thi với Barry Hankerson, ông nói hồn ma của cháu gái ông, ca sĩ Aaliyah đã mang cô đến với ông. Cô đã ký được hợp đồng, và đã từng có những buổi ghi âm với những nhà sản xuất nổi tiếng như The Underdogs và Soulshock Karlin. Album demo thu trực tiếp của JoJo, Joanna Levesque, thu vào năm 2001, với nhiều bản cover Soul và RB, gồm những bài hát: - "Mustang Sally" (1966) của Wilson Pickett. - "It Ain't Always What You Do (It's Who You Let See You Do It)" (1989) của Etta Jame. - "See Saw" (1956) của The Moonglow. - "Superstition" (1972) Stevie Wonder. - "Shakey Ground" (1975) của The Temptation. Năm 2003, ở tuổi 12, Sau khi JoJo ký hợp đồng với Blackground Records/Da Family, JoJo cho ra album đầu tiên mang tên "JoJo". Single debut "Leave (Get Out)" phát hành vào năm 2004 đoạt giải bạch kim. Trước khi phát hành album, JoJo đã thực hiện tour diễn đầu tiên của cô cùng với Fefe Dobson, Young gunz và Zebrahead. Tour diễn được thực hiện tại 9 trung tâm mua sắm, bắt đầu tại Atlanta Northlake Mall và kết thúc ở South Shore Plaza. Khi single giành vị trí số 1 của Top 40 Mainstream, cô trở thành nữ nghệ sĩ solo 13 tuổi đầu tiên có single ở vị trí số một của Mỹ tính tới thời điểm đó. Đĩa đơn được đề cử cho Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất 2004 tại MTV Video Music Awards đưa JoJo trở ca sĩ trẻ tuổi nhất từng được đề cử MTV VMA. Album của cô cũng đạt vị trí số 4 trên Top 200 U.S. Billboard và số 10 trên Top RB/Hip-Hop Albums, bán được khoảng 107.000 bản và đạt thứ 40 của bảng xếp hạng Top UK Albums. JoJo đồng sáng tác hai ca khúc của album, và 1 ca khúc tự sáng tác. Trong tháng 12 năm 2004, cô được đề cử Nữ ca sĩ mới của năm và Mainstream Top 40 Single của năm tại Billboard Music Awards. Cô cũng là nghệ sĩ trẻ tuổi nhất từng được đề cử tại Billboard Music Awards. Đĩa đơn thứ hai của cô, "Baby It's You", với sự tham gia của rapper Lil Bow Wow - đạt vị trí số 22 tại Mỹ và số 8 ở Anh. Đĩa đơn cuối cùng trong album có tên "Not That Kinda Girl", được phát hành năm 2005 và đạt vị trí số 85 tại Đức, tuy nhiên single không đạt được vị trí cao trong các bảng xếp hạng, vị trí cao nhất là thứ 8 trong TRL chart, sau đó hoàn toàn biến mất. Năm 2004, JoJo tham gia "Come Together Now", một tổ chức từ thiện cho nạn nhân sóng thần và bão Katrina tại châu Á (2004 và 2005). Năm đó, cô đã được đệ nhất phu nhân Laura Bush yêu cầu biểu diễn ở Giáng sinh đặc biệt 2004 tại Washington, D.C. của đài TNT (dẫn chương trình Dr.Phil và vợ Robin McGraw). Dù cô cũng biểu diễn ở nhiều sự kiện khác của Đảng Cộng hòa, cô vẫn đã tuyên bố rằng "cô không đồng ý với những chính sách của Tổng thống George W. Bush, tôi có thể nói vậy". Vào 2005 JoJo dẫn chương trình và biểu diễn tại đêm nhạc City of Hope Cancer Center và đồng chủ trì đếm ngược năm 2006 TV Guide Channel's đến lễ trao giải Grammy. Cũng trong 2005 rapper Eminem đã đề cập tới JoJo trong bài hát "Ass Like That" cùng với rất nhiều nữ teen star nổi tiếng khác thời bấy giờ. The High Road (2006 - 2007). Album thứ hai của JoJo, The High Road, phát hành vào 17/10/2006. Album khi vừa xuất hiện đứng ngay vị trí số 3 trên bảng xếp hạng Top 200 U.S. Billboard. Album sản xuất bởi Scott Storch, Swizz Beatz, JR Rotem, Corey Williams, Soulshock Karlin và Ryan Leslie. Album nhận được đánh giá rất tốt. JoJo nói trong album tiếp theo, cô muốn cho mọi người thấy sự trưởng thành về âm nhạc của mình và cô cảm thấy tự tin hơn cả về giọng hát lẫn phong cách. Mùa hè năm 2006, đĩa đơn đầu tiên của album thứ hai, "Too Little Too Late" được lên sóng trên các đài phát thanh. "Too Little Too Late" đã phá vỡ kỷ lục cho cú nhảy lớn nhất vào top 3 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, từ vị trí thứ 66 lên thứ 3 trong một tuần. Kỷ lục này trước đây thuộc về Mariah Carey với single "Loverboy" (2001) từ vị trí 62 lên thứ 2. Đĩa đơn thứ 2 "How to Touch a Girl" thì lại không thành công bằng. Nó xếp ngoài Billboard Hot 100 và chỉ đạt vị trí 76 trên bảng xếp hạng Billboard Pop 100. Ca khúc là một bài hát yêu thích của cô trong album The High Road được chính cô sáng tác. Ngày 16/3/2007, Kênh The Second JammX Kids All Star Dance xác nhận đĩa đơn tiếp theo của cô là "Anything", ca khúc có 1 trích đoạn của hit năm 1982 của Toto: "Africa" nhưng nó đã không được quay Music Video do mâu thuẫn của JoJo với Background. Album đã bán được hơn 550.000 kể từ khi phát hành và được chứng nhận Gold bởi RIAA. Ngày 20/7/2007, bản cover đáp trả lại ca khúc "Beautiful Girls" của Sean Kingston bị rò rỉ trên mạng vơi tên gọi "Beautiful Girls Reply". Nó đứng vị trí số 39 trên Billboard Rhythmic Top 40 suốt một tháng sau đó. JoJo đã để lại 1 câu hỏi fan về ý kiến họ trong việc chọn single tiếp theo là "Coming for you" hay "Let It Rain", tuy nhiên việc phát hành single thứ 3 đã bị hủy bỏ. Cô cũng cho hay sẽ đi lưu diễn trong mùa hè 2007 ở Mỹ và châu Âu để quảng bá album The High Road. Mặc dù không phải là một tour diễn chính thức, cô cũng đã biểu diễn một loạt show cùng với những ban nhạc thành viên của dàn nhạc Six Flags Starburst Thursday Night Concert trong suốt mùa hè năm 2007. Trong suốt tour diễn, cô cũng hát một số bài hát nổi tiếng được cô yêu thích từ các ca sĩ khác như Beyoncé ("Déjà Vu"), Kelly Clarkson ("Since U Been Gone"), SWV, Gnarls Barkley, Jackson 5, Justin Timberlake ("My Love"), Maroon 5, Usher, Carlos Santana, Jill Scott, Michael Jackson, George Benson, Musiq Soulchild, và Amy Winehouse ("Rehab"). Vào tháng 11, Cô lưu diễn tại Brasil trong show Live Pop Rock Brasil. Ngày 01/12/2007, JoJo thắng trong giải Boston Music Award với hạng mục Giọng ca nữ của năm cho "Too Little Too Late". Cuối năm 2007, JoJo cho hay cô ấy đã bắt đầu sáng tác cho album thứ 3 để phát hành khi cô tròn 18 tuổi. Cô muốn fan của mình thấy sự trưởng thành hơn nữa trong âm nhạc của cô. Cô cũng đang tìm 1 nhà sản xuất phù hợp để mình có thể hát những bài hát tự sáng tác. All I Want Is Everything (2008 - đến nay). Vào ngày 8/4/2008, trong một cuộc phỏng vấn tại buổi tiệc "Ultimate Prom", Hearst Tower, JoJo tuyên bố cô đang tự mình sáng tác và sản xuất album mới tai Boston và Atlanta. Cô có một hàng ngũ những nhà sản xuất như Tank, DJ Toomp, J. Moss, Toby Gad, The Underdogs, Danja, J.R. Rotem, Billy Steinberg, Bryan-Michael Cox, Marsha Ambrosius, Madd Scientist, Tony Dixon, Eric Dawkins và J. Gatsby. Cô tự mình sáng tác toàn bộ các bài hát trong 3/4 những bài đã hoàn thiện trừ 1 bài. Jojo khẳng định đây sẽ là album mang đậm dấu ấn cá nhân của cô, lấy cảm hứng từ những mối quan hệ tan vỡ để tìm sự khởi đầu mới, theo đó sẽ đánh dấu sự thay đổi - gợi cảm hơn, tự tin hơn trong suy nghĩ của một người phụ nữ trong cô. Vào ngày 30/8/2008, JoJo đã cho ra mắt bài hát cover "Can’t believe it" của T-pain. Vào 1/9, cô thông báo sẽ phát hành album trong khoảng đầu năm 2009. Trong năm 2008, ca sĩ RB Ne-Yo đã trích một phần trong single thứ hai của cô "Baby it’s you" cho bài hát của mình. Ngày 14/10/2008, JoJo được mời hát quốc gia trước trận thứ tư của giải ALCS tại Fenway Park ở Boston, Massachusetts. Vào ngày 09/10/2008, JoJo được đề cử một lần nữa tại Boston Music Awards cho giải Pop/RB xuất sắc của năm nhưng nhóm nhạc Jada đã giành được giải. Trong tháng 1/2009 JoJo thông báo trên trang MySpace của mình rằng cô đang hợp tác với các nhà sản xuất Chad Hugo, Jim Beanz Kenna và đang tiếp tục hoàn thiện album mới. Cô tuyên bố rằng gặp vấn đề với hãng thu âm của mình và đã chuyển từ Blackground sang Interscope Records. Tuy nhiên, trong 4/2009, JoJo lại đính chính trong blog MySpace của mình rằng cô vẫn còn ký hợp đồng với Blackground. Ngoài ra, nam ca sĩ Jovan Dais có nói trong một cuộc phỏng vấn rằng sẽ làm việc với DJ Toomp trong album sắp tới của JoJo. Anh nói: "Tôi là người khá kĩ tính trong việc chọn người hợp tác vì tôi không muốn làm việc với quá nhiều người khác nhau. Tôi thực sự thích JoJo. Tôi thích âm nhạc và chất giọng của cô ấy, và tôi tin rằng cô là một tài năng thực sự. Chúng tôi đang cùng nhau tạo nên những chất nhạc thật tuyệt vời". Tháng 4/2009, JoJo thông báo trên MySpace cô sẽ theo học Đại học Northeastern University nhưng vẫn sẽ tiếp tục tập trung vào sự nghiệp âm nhạc. Cô hiện đang chờ đợi hãng thu âm Blackground Records hoàn tất các thủ tục để cô có thể phát hành album mới. Ca khúc "Note to God" của JoJo trong album 2 "The High Road" gần đây đã được cover bởi ca sĩ người Philipin Charice. Ngày 3/6/2009 JoJo thông báo trên trang YouTube của mình rằng cô đang rất sốt ruột và mong hãng thu âm ký hợp đồng phân phối, cho phép phát hành album của cô, ngoài ra cô đã hoàn tất album. Ngày 10/6/2009, Demo các bài hát của cô do Toby Gad sáng tác "Fearless", "Touch Down" và "Underneath" bị rò rỉ trên mạng. Từ đó đến nay, một loạt 13 bài khác của cô đã bị rò rỉ, JoJo khẳng định trên blog MySpace rằng: "Những bài hát đó không nằm trong album và cũng không hề mang chất nhạc chủ đạo của album, nếu có thì có thể chỉ 1,2 bài". Vào giữa tháng 7/2009, trên Myspace cô nói đang viết nhạc ngoài cho album của mình, còn cho cả những ca sĩ khác nữa, ngoài ra JoJo còn cùng hợp tác với một số nhà sản xuất tài năng ở Los Angeles. Tháng 8/2009 JoJo đưa đơn kiện hãng thu âm của mình Da Family Entertainment lên tòa án New York vì việc hãng đã không chịu cho ra mắt album thứ ba của cô, cũng như không cho phép cô rời hãng. Cô muốn được bồi thường 500,000$ vì những rắc rối và được quyền hủy hợp đồng. Vào tháng 10/2009, cuối cùng cô cũng đã đạt được một thỏa thuận với Blackground Records rằng album thứ ba của JoJo sẽ được phân phối bởi Interscope Records. JoJo đã xác nhận điều này trên Twitter. Cô rời Da Family Entertainment sau sáu năm và bây giờ, khi gia nhập vào Interscope Records, cô đã có đủ điều kiện hợp pháp để cho ra lò album thứ ba của mình. Cuối năm 2009, JoJo góp giọng trong album Shock Value II của Timbaland với bài hát "Lose Control", đó là bài hát chính thức đầu tiên của cô trong một album là sau 2 năm. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 11, cô đã thể hiện nỗi vui mừng được xuất hiện trong album của Tim. Cô còn hát nền trong bài hát "Timothy Where You Been" với ban nhạc Jet. Trong cuộc phỏng vấn với Rap-Up, JoJo thổ lộ về album: "Tôi muốn làm gì đó để mọi người hài lòng, như là: "Wow, con bé đã rất cố gắng và đã làm được, tôi muốn mọi người cảm nhận được tôi thực sự là ai."". Timbaland, Jim Beanz, The Messengers, Kenna, Chad Hugo Pharell Williams sẽ tham gia vào album của cô, cô đang hoàn thiện những bước cuối cùng để sẵn sáng cho ra album vào năm 2010. Sự nghiệp điện ảnh. Sự nghiệp diễn xuất của JoJo bắt đầu từ năm 4 tuổi. Mặc dù chưa từng trải qua một trường lớp diễn xuất nào, nhưng JoJo đã có những khởi đầu không tồi trong vai trò một diễn viên trẻ. Cô tham gia vào các chương trình của nhà hát địa phương, phát thanh, truyền hình và quảng cáo vùng New England, và truyền hình quốc gia từ 7 tuổi. JoJo bắt đầu giai đoạn chuyên nghiệp của mình khi 8 tuổi với vai Mustardseed trong vở nhạc kịch Dream A Midsummer Night của Shakespeare tại Nhà hát Huntington. Cô nhận được thẻ thành viên của Đài truyền hình và phát thanh Liên bang Mỹ (AFTRA) lúc 10 tuổi. Sau khi xuất hiện trong các series truyền hình The Bernie Mac Show và American Dreams, JoJo vào vai Hailey, cùng với Emma Roberts và Sara Paxton xuất hiện trong bộ phim "Aquamarine". Bộ phim khởi chiếu ngày 3/3/2006, với vị trí thứ 5 ngày đầu công chiếu với doanh thu 7,5 triệu đô. Bộ phim nhựa thứ hai của cô, bộ phim hài RV, diễn viên chính Robin Williams, được khởi chiếu ngày 28/4/2006. Đạt vị trí số 1 ngày đầu công chiếu với 69,7 triệu đô. JoJo đã phải thử vai năm lần cho vai diễn, và được thay thế cho 1 diễn viễn đã được chọn cho vai đó. Năm 2005, cô được yêu cầu tham gia vào vai Zoe Stewart (Sau này là Miley Stewart) trong loạt hit truyền hình Hannah Montana trên kênh truyền hình Disney Channel, nhưng cô từ chối vì cô không thực sự hứng thú lắm vào các show truyền hình. Cô muốn mình được biết đến như một nghệ sĩ nhạc hơn, một sự nghiệp điện ảnh không thực sự là điều cô ấy muốn trong sự nghiệp của mình. Vào 28/5/2007, trong một cuộc phỏng vấn với BOP và Beat Tiger Online, JoJo nói rằng cô đang tham gia vào một bộ phim mới. Vào ngày 10/9/2007, JoJo cho biết cô sẽ tới Toronto để quay một cảnh trong bộ phim của Lola Douglas: "True Confessions of a Hollywood Starlet", cô vào vai Morgan Carter cùng với diễn viên đoạt giải Quả Cầu Vàng Valerie Bertinelli và Shenae Grimes, bộ phim được phát sóng trên kênh truyền hình Lifetime. Bộ phim đã được phát hành ngày 9/8/2008 và cho ra DVD ngày 3/3/2009. JoJo kể rằng "Chẳng ai thuê một người hướng dẫn diễn xuất cho tôi khi tham gia vào "Aquamarine cả." Cô cho hay là sẽ lấy tên "Joanna 'JoJo' Levesque" khi đóng phim, nhưng vẫn sử dụng JoJo là nghệ danh trên con đường âm nhạc. Theo tin đồn cô được yêu cầu đóng vai Jeanette Miller trong phần tiếp theo của phim Alvin and the Chipmunks cùng với Drew Barrymore và Miley Cyrus, nhưng tin đồn bị bác bỏ trong năm 2009. Nữ diễn viên Christina Applegate đã nhận vai trò thay thế. JoJo và mẹ sống ở New Jersey, còn phòng thu âm của cô ở Manhattan, New York. Cô cũng thường hay lui tới Foxborough, Massachusetts, nơi cô đã từng lớn lên. Cô đã phải học tại gia trong 3 năm, cô nói "Trường học trước đây thực sự là một giai đoạn quan trọng trong đời tôi". Cô không phải là cháu của Triple H, ngôi sao WWE (Thường gọi là Smack Down) theo như tin đồn, dù 2 người có cùng họ. Có tin đồn cô đang hẹn hò với Joe Jonas trong nhóm Jonas Brothers, nhưng chính Jonas tuyên bố trên KISSfm radio là anh ấy không hẹn hò và cũng không có ý định hẹn hò với JoJo hay bạn diễn Demi Lovato. Joe nói họ luôn là bạn tốt và mãi mãi sẽ như vậy. JoJo hẹn hò với cầu thủ bóng đá người Mỹ Freddy Adu từ tháng 5/2005 tới tháng 9/2006. Cả hai được thấy trên show của kênh MTV Fake ID Club (với JoJo dẫn chương trình). Cô còn xuất hiện trong vai trò bình luận tại một trận đấu của New England Revolution tại Washington D.C., Mỹ, khi đó Freddy Adu thuộc hàng dự bị. Vào 18/10/2006, JoJo cho hay cô hiện không hề có bạn trai trong một tập của chương trình Live with Regis and Kelly. Trong số tháng 10/2006 của tạp chí Teen People, JoJo xác nhận cô đã chia tay với Freddy Adu. Cô nói: "Tôi tự do và như thế là tốt cho tôi. Tôi còn rất trẻ. Tôi sẽ lên 16 trong tháng 12 và tôi rất bận rộn. Thật khó nếu bạn muốn hẹn hò với một ai đó có sự nghiệp bận rộn, chúng tôi thực sự đã phải dành rất nhiều thời gian cho chính cuộc sống của mỗi người". Một bài báo của Washington Post, trong tháng 11/2006 thông báo họ đã chia tay sau 1 năm. JoJo có nói trên American Top 40 với Ryan Seacrest rằng cô và Adu vẫn là bạn tốt. Từ năm 2006, cô là bạn thân với nữ diễn viên Emma Roberts, Sara Paxton và Zelda Williams (Con gái của Robin William). Cô xuất hiện cùng cha mình trong hậu trường của Clip "Too Little Too Late". Ngày 28/2/2007, cô được xếp hạng thứ 10 trong danh sách 20 sao dưới 25 tuổi có thu nhập hàng năm là 1.000.000$ của tạp chí Forbes. JoJo thông báo trên MySpace cô sẽ dự thi Đại học Northeastern University nhưng cô nói sẽ không làm nó cản trở sự nghiệp âm nhạc và vẫn sẽ tiếp tục tập trung vào nó. Trong tháng 8/2009, cô đã xác nhận rằng cô là tốt nghiệp Trung học và sẽ tập trung vào các dự án trong tương lai của mình. Tháng 7/2009, JoJo được xếp hạng thứ 5 trong danh sách "Barely Legal: Top 10 người đẹp tuổi 9x" của trang C, sau Emma Roberts và Willa Holland.
Họ Mộc hương nam Họ Mộc hương nam (danh pháp khoa học: Aristolochiaceae), là một họ thực vật có hoa với 7-9 chi và khoảng 580-600 loài, theo các phân loại mới nhất thì thuộc về bộ Hồ tiêu (Piperales). Chi điển hình của họ này là "Aristolochia" (L.). Trong một số tài liệu về thực vật học tại Việt Nam, người ta gọi họ này là họ Mộc hương, nhưng điều này dễ gây nhầm lẫn với mộc hương bắc là "Saussurea lappa" thuộc họ Cúc (Asteraceae). Các loài cây trong họ này chủ yếu là cây thân thảo, cây bụi, dây leo hay dây leo thân gỗ nhỏ sống lâu năm. Các lá màng, đơn, hình tim và bản rộng, mọc xen kẽ dọc theo thân trên các cuống lá. Các mép lá nói chung trơn nhẵn. Không có các lá kèm. Các hoa kỳ dị có kích thước từ trung bình tới lớn, phát triển trên các nách lá. Chúng là song song hay đối xứng tâm. Nhiều loài trong các chi "Aristolochia" và một số trong chi "Asarum" chứa axít aristolochic độc hại, là chất ngăn cản các loại động vật ăn lá của chúng, người ta cũng biết rằng nó còn là chất gây ung thư ở chuột. "Aristolochia" tự nó là chất gây ung thư ở người. Họ Aristolochiaceae là một nhóm thực vật hai lá mầm cơ sở (thực vật hai lá mầm cổ). Nó có quan hệ họ hàng gần với các bộ Magnoliales, Laurales, Canellales và Piperales, chúng tạo thành một nhánh đơn ngành gọi là phức hợp Mộc lan (Magnoliids). Một số hệ thống phân loại mới nhất, chẳng hạn như bản cập nhật của APG, đã đưa họ Aristolochiaceae vào trong bộ Piperales, nhưng việc đưa họ này vào trong bộ riêng của chính nó là bộ Mộc hương nam (Aristochiales) vẫn còn khá phổ biến, mặc dù điều này đã lỗi thời. Theo Hệ thống APG IV năm 2016 thì các họ Hydnoraceae và Lactoridaceae ("Lactoris") được gộp trong họ Aristolochiaceae, do việc tách riêng 2 họ đó làm cho Aristolochiaceae theo nghĩa truyền thống trở thành cận ngành. Khi hiểu theo nghĩa rộng thì họ bao gồm 4 nhánh với các chi như sau: Phát sinh chủng loài. Bốn tổ hợp có thể phân biệt trong biểu đồ cấp độ chi của Aristolochiaceae:
Lê Văn Tiết là một cựu tuyển thủ bóng bàn xuất sắc của Việt Nam. Ông sinh ngày 13 tháng 7 năm 1939 tại Gia Định. Giải thưởng cao nhất của ông là vô địch bóng bàn châu Á (Asiad) năm 1958 , huy chương đồng Vô địch Bóng bàn quốc tế tại Dortmund 1959 và vô địch bóng bàn Pháp quốc năm 1959 . Ông nổi tiếng với lối phản công độc đáo và được báo chí Nhật Bản gọi là "kỳ quan của bóng bàn thế giới". Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống thể thao, cha ông là người ham thích môn quần vợt, Lê Văn Tiết là người anh cả trong gia đình có nhiều tuyển thủ từng là vô địch bóng bàn Việt Nam bao gồm Lê Văn Inh và Lê thị Kim Tuyến và các kiện tướng như Lê Văn Tân và Lê Thị Kim Hoàng. Ông đến với môn bóng bàn từ khi lên 8 tuổi. Sau một lần đi đánh thử, ông đã được mời đánh cho hội bóng bàn đình Phú Thạnh, Phú Nhuận, Sài Gòn. Đến năm 11 tuổi, ông đã trở thành tay vợt số một trong giới học sinh và rồi Vô địch học sinh toàn quốc 1954-1955. Năm 18 tuổi ông trở thành vô địch bóng bàn của nước Việt Nam Cộng hòa. Khi vừa tròn 19 thì cùng với đồng đội Mai Văn Hòa, Trần Cảnh Được, Trần Văn Liễu đoạt Giải vô địch châu Á tổ chức lần thứ 3 tại Tokyo (Nhật Bản) năm 1958 , trong đó cả ba đều thắng đương kim vô địch thế giới Toshiaki Tanaka. Trong thời gian đó, đội tuyển Nhật là đội được xếp vào hạng mạnh nhất thế giới trên cả Trung Quốc. Trong kỳ này ông thắng 14 trong 15 trận, chỉ thua Ichirō Ogimura (2 lần vô địch đơn nam thế giới) 1 trận.. Sau đó, ông đoạt vô địch cá nhân giải quốc tế bóng bàn Pháp mở rộng (Open de France de Tennis de Table 1959) năm 20 tuổi. Trong giải vô địch Pháp, ông là người Việt Nam đầu tiên hạ tay vợt số 1 thời bấy giờ là Teruo Murakami (vô địch Nhật Bản) trong trận chung kết . Với chiến thắng này, Lê Văn Tiết được xếp vào tay vợt thứ sáu của thế giới năm 1959 và hạng 3 đồng đội nam thế giới . Cùng năm đó, ông cùng với đội bóng bàn Việt Nam Cộng hòa đoạt giải 3 Vô địch Bóng bàn Quốc tế tại Dortmund 1959.. Sau năm 1975, Lê Văn Tiết trở thành huấn luyện viên bóng bàn cho đội tuyển quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh. Cho đến năm 1986, ông rút lui khỏi ngành. Hiện nay, ông chỉ làm gia sư bóng bàn cho thiếu nhi và tham gia viết sách truyền thụ kĩ thuật.
Internet Movie Database (IMDb - cơ sở dữ liệu điện ảnh trên Internet) là một trang cơ sở dữ liệu trực tuyến về điện ảnh thế giới. Nó cung cấp thông tin về phim, diễn viên, đạo diễn, nhà làm , công ty trong lĩnh vực sản xuất phim, phim truyền hình và cả trò chơi video. Được giới thiệu lần đầu vào năm 1990 bởi lập trình viên máy tính Col Needham, sau đó công ty được thành lập ở Anh như với tên Công ty TNHH Internet Movie Database năm 1996 với doanh thu tạo ra thông qua quảng cáo, cấp phép và hợp tác. Năm 1998 nó trở thành một công ty con của Amazon, cho phép mọi người đều có thể sử dụng như là một nguồn tài nguyên quảng cáo để bán đĩa DVD và băng video. Tính đến tháng 1 năm 2017, IMDb có khoảng 4,1 triệu phim (bao gồm cả tất tập phim) và 7,7 triệu nhân vật trong cơ sở dữ liệu, và 70 triệu người dùng đăng ký. Trước khi ra đời trang web. IMDb có nguồn gốc từ một bài đăng trên Usenet của một người hâm mộ điện ảnh người Anh, kiêm lập trình viên máy tính Col Needham có tựa đề "Those Eyes", về các nữ diễn viên có đôi mắt đẹp. Những người có cùng sở thích nhanh chóng phản hồi bằng cách bổ sung hoặc liệt kê danh sách yêu thích của họ. Tiếp sau đó, Needham đã bắt đầu tạo lập một "Danh sách diễn viên nam", Dave Knight bắt đầu với " Danh sách đạo diễn ", còn Andy Krieg tiếp nhận "THE LIST" từ Hank Driskill (sau này sẽ được đổi tên thành "Actress List"). Cả hai danh sách đã được giới hạn cho những người còn sống và làm việc, nhưng không lâu sau thì còn có thêm đã những người về hưu. Do đó, Needham bắt đầu những gì đã được sau đó (nhưng không còn duy trì) một "Dead Actors / Actresses List" riêng biệt. Mục đích của những người tham gia bây giờ là làm cho các danh sách càng đầy đủ càng tốt. Đến cuối năm 1990, các danh sách bao gồm gần 10.000 bộ phim điện ảnh và truyền hình cùng với các diễn viên xuất hiện trong đó. Vào ngày 17 tháng 10 năm 1990, Needham đã phát triển và đăng một bộ sưu tập các Unix shell scripts có thể được sử dụng để tìm kiếm cả bốn danh sách, và từ cơ sở dữ liệu có thể trở thành IMDb đã được sinh ra. Vào thời điểm đó, nó được biết đến như là "cơ sở dữ liệu phim ". Cơ sở dữ liệu đã được mở rộng để bao gồm các loại hình nhà làm phim bổ sung và các tài liệu nhân khẩu học khác cũng như các tin vắn, tiểu sử và cốt truyện. Xếp hạng phim đã được tích hợp đúng với dữ liệu danh sách, và một giao diện email tập trung để truy vấn cơ sở dữ liệu đã được tạo ra bởi Alan Jay. Sau đó, vào năm 1993, nó chuyển sang mạng World Wide Web, (một mạng trong giai đoạn đầu của nó vào thời điểm đó) dưới cái tên "Cardiff Internet Movie Database". Cơ sở dữ liệu cư trú trên các máy chủ của khoa khoa học máy tính của Đại học Cardiff ở xứ Wales. Rob Hartill là tác giả giao diện web ban đầu. Năm 1994, giao diện email đã được sửa đổi để chấp nhận việc đệ trình tất cả các thông tin, cho phép mọi người gửi thư điện tử cho người quản lý danh sách cụ thể cùng với cập nhật của họ. Tuy nhiên, cấu trúc vẫn như vậy, thông tin nhận được trên một bộ phim được chia thành nhiều danh sách quản lý phần, các phần được xác định và xác định bởi các loại nhân viên điện ảnh và từng bộ phim có trong đó. Trong vài năm tới, cơ sở dữ liệu đã được chạy trên một mạng lưới các gương trên toàn thế giới với băng thông được đóng góp. Với tư cách là một công ty độc lập. Năm 1996 IMDb được thành lập ở Anh, trở thành Internet Movie Database Ltd. Người sáng lập Col Needham trở thành chủ sở hữu chính cũng như người đứng đầu. Doanh thu chung cho hoạt động của trang web được tạo ra thông qua quảng cáo, cấp phép và hợp doanh. Với tư cách là công ty con của A(1998-nay). Năm 1998, Jeff Bezos, người sáng lập, chủ sở hữu và giám đốc điều hành của A, đã ký một hợp đồng với Needham và các cổ đông chính khác để mua IMDb ngay cho khoảng 55 triệu USD và sáp nhập nó với Amazon như một công ty con, công ty tư nhân. Điều này giúp IMDb có khả năng chi trả lương cho các cổ đông, trong khi A IMDb tiếp tục mở rộng chức năng của nó. Vào ngày 15 tháng 1 năm 2002, nó đã thêm một dịch vụ thuê bao được gọi là IMDbPro, nhằm vào các dịch vụ giải trí chuyên nghiệp. IMDbPro đã được công bố và ra mắt tại Liên hoan phim Sundance năm 2002. Nó cung cấp nhiều dịch vụ bao gồm sản xuất phim và chi tiết phòng vé, cũng như thư mục công ty và khả năng của người theo dõi để thêm các trang thông tin cá nhân với chi tiết không đúng với các trang về chúng xuất hiện trong cơ sở dữ liệu. Là một động lực bổ sung cho người dùng, kể từ năm 2003, những người dùng được công nhận là một trong "100 người đóng góp hàng đầu" của dữ liệu cứng nhận được quyền truy cập miễn phí vào IMDbPro cho năm sau; cho năm 2006 này đã tăng lên 150 người đóng góp hàng đầu, và trong năm 2010 lên đỉnh 250.  Năm 2008 IMDb đưa ra phiên bản ngoại ngữ chính thức đầu tiên của họ với IMD Cũng trong năm 2008, IMDb đã mua hai công ty khác là Withoutabox và Box Office Mojo. Trang web này dựa trên Perl. Tính đến tháng 5 năm 2011, trang web đã được lọc ở Trung Quốc trong hơn một năm, mặc dù nhiều người dùng địa chỉ nó qua máy chủ proxy hoặc VPN.  Vào ngày 17 tháng 10 năm 2010, IMDb đã tung ra video gốc () để kỷ niệm 20 năm thành lập. Nội dung và định dạng. Dữ liệu được cung cấp bởi các đối tượng. Năm 2006, IMDb đã giới thiệu "Dịch vụ đăng ký Résumé" của mình, nơi các diễn viên và phi hành đoàn có thể đăng tải sơ yếu lý lịch của riêng họ và tải lên hình ảnh của chính họ với một khoản phí hàng năm. Khoản phí hàng năm cơ bản để bao gồm một bức ảnh có tài khoản là 39,95 đô la Mỹ cho đến năm 2010, khi nó được tăng lên 54,95 đô la Mỹ. Các trang IMDb résumé được giữ trên một trang phụ của mục nhập thông thường về người đó, với một mục thông thường được tạo tự động cho mỗi thuê bao résumé chưa có. Kể từ năm 2012, Resume Services hiện được bao gồm như một phần của đăng ký IMDbPro và không còn được cung cấp dưới dạng dịch vụ đăng ký riêng. Bản quyền, phá hoại và các vấn đề lỗi. Tất cả các tình nguyện viên đóng góp nội dung vào cơ sở dữ liệu về mặt kỹ thuật vẫn giữ bản quyền về đóng góp của họ, nhưng việc biên soạn nội dung sẽ trở thành tài sản độc quyền của IMDb với toàn quyền sao chép, sửa đổi và cấp phép lại và được xác minh trước khi đăng. Tín dụng không được trao trên các trang tiêu đề hoặc phim ảnh cụ thể cho những người đóng góp đã cung cấp thông tin. Ngược lại, một mục nhập văn bản được ghi có, chẳng hạn như tóm tắt cốt truyện, có thể được sửa chữa cho nội dung, ngữ pháp, cấu trúc câu, thiếu sót hoặc lỗi nhận thức, bởi những người đóng góp khác mà không phải thêm tên của họ làm đồng tác giả. Do thời gian cần thiết để xử lý dữ liệu hoặc văn bản đã gửi trước khi nó được hiển thị, IMDb khác với các dự án do người dùng đóng góp như Discogs hoặc OpenStreetMaphoặc Wikipedia, trong đó những người đóng góp không thể thêm, xóa hoặc sửa đổi dữ liệu hoặc văn bản theo xung và thao tác dữ liệu được kiểm soát bởi công nghệ IMDb và nhân viên được trả lương. IMDb đã bị cố tình bổ sung thông tin sai lệch; vào năm 2012, một phát ngôn viên cho biết: "Chúng tôi giúp người dùng và các chuyên gia dễ dàng cập nhật phần lớn nội dung của chúng tôi, đó là lý do tại sao chúng tôi có một 'trang chỉnh sửa'. Dữ liệu được gửi đi qua một loạt các kiểm tra tính nhất quán trước khi nó được đưa vào hoạt động. Với khối lượng thông tin tuyệt đối, các lỗi thỉnh thoảng là không thể tránh khỏi, và khi được báo cáo, chúng luôn được sửa chữa. Chúng tôi luôn hoan nghênh sửa chữa." Cơ sở dữ liệu phim Java (JMDB)  được cho là đang tạo tệp IMDb_E có nội dung cũng được đóng góp bởi người dùng nhưng được cấp phép theo CC-by và GFDL. Từ năm 2007, IMDb đã thử nghiệm các phần được lập trình wiki cho các bản tóm tắt phim hoàn chỉnh, hướng dẫn của phụ huynh và Câu hỏi thường gặp về các tiêu đề được xác định bởi (và được trả lời bởi) những người đóng góp. Định dạng dữ liệu và truy cập. IMDb không cung cấp API cho các truy vấn tự động. Tuy nhiên, hầu hết dữ liệu có thể được tải xuống dưới dạng tệp văn bản thuần nén và thông tin có thể được trích xuất bằng cách sử dụng công cụ giao diện dòng lệnh được cung cấp.  Ngoài ra còn có một ứng dụng giao diện người dùng đồ họa (GUI) dựa trên Java có khả năng xử lý các tệp văn bản đơn giản được nén, cho phép tìm kiếm và hiển thị thông tin. Ứng dụng GUI này hỗ trợ các ngôn ngữ khác nhau, nhưng dữ liệu liên quan đến phim bằng tiếng Anh, do IMDb cung cấp. Một gói Python có tên IMDbPY cũng có thể được sử dụng để xử lý các tệp văn bản đơn giản được nén thành một số khác nhauCơ sở dữ liệu SQL, cho phép truy cập dễ dàng hơn vào toàn bộ dữ liệu để tìm kiếm hoặc khai thác dữ liệu. IMDb có các trang web bằng tiếng Anh cũng như các phiên bản được dịch hoàn toàn hoặc một phần sang các ngôn ngữ khác (tiếng Đan Mạch, tiếng Phần Lan, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Hungary, tiếng Ý, tiếng Ba Lan, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Rumani). Các trang web không phải tiếng Anh hiển thị tiêu đề phim bằng ngôn ngữ được chỉ định. Ban đầu, các trang web tiếng Anh của IMDb đã hiển thị các tiêu đề theo ngôn ngữ gốc của quốc gia gốc của họ, tuy nhiên, vào năm 2010 IMDb đã bắt đầu cho phép người dùng cá nhân ở Anh và Hoa Kỳ chọn hiển thị tiêu đề chính theo tiêu đề ngôn ngữ gốc hoặc Hoa Kỳ hoặc Tiêu đề phát hành của Anh (thông thường, bằng tiếng Anh). Tính năng phụ trợ. Xếp hạng người dùng của phim. Là một phần bổ trợ cho dữ liệu, IMDb cung cấp một thang đánh giá cho phép người dùng xếp hạng phim theo thang điểm từ một đến mười. Nó đã bị cáo buộc rằng hệ thống xếp hạng là thiếu sót, vì nhiều lý do. IMDb chỉ ra rằng xếp hạng đã gửi được lọc và tính trọng số theo nhiều cách khác nhau để tạo ra một giá trị trung bình được hiển thị cho mỗi phim, sê-ri, ; phương pháp không được mô tả chi tiết để tránh cố gắng phá vỡ nó. Trong thực tế, đôi khi nó tạo ra một sự khác biệt cực kỳ giữa trung bình trọng số và trung bình số học. IMDb Top 250 là danh sách 250 phim được xếp hạng hàng đầu, dựa trên xếp hạng của người dùng đã đăng ký của trang web bằng các phương pháp được mô tả. Kể từ ngày 21 tháng 10 năm 2019, "The Shawshank Redemption" là số 1 trong danh sách.  Xếp hạng "Top 250" chỉ dựa trên xếp hạng của "cử tri thông thường". Số phiếu mà người dùng đã đăng ký sẽ phải thực hiện để được coi là người dùng bỏ phiếu thường xuyên đã được giữ bí mật. IMDb đã tuyên bố rằng để duy trì tính hiệu quả của danh sách Top 250, họ " "cố tình không tiết lộ các tiêu chí được sử dụng cho một người được tính là cử tri thông thường"". Ngoài các trọng số khác, 250 phim hay nhất cũng dựa trên công thức xếp hạng có trọng số được đề cập trongkhoa học tính toánnhư một "công thức đáng tin cậy". Nhãn này phát sinh vì một thống kê được coi là đáng tin cậy hơn, số lượng thông tin cá nhân càng lớn; trong trường hợp này từ người dùng đủ điều kiện gửi xếp hạng. Mặc dù công thức hiện tại không được tiết lộ, IMDb ban đầu đã sử dụng công thức sau để tính xếp hạng trọng số của chúng: Các trong công thức này tương đương với trung bình sau của Bayes ("xem số liệu thống kê Bayes"). IMDb cũng có tính năng Dưới 100 được lắp ráp thông qua quy trình tương tự mặc dù chỉ phải nhận 1500 phiếu để đủ điều kiện cho danh sách. Danh sách Top 250 bao gồm một loạt các phim truyện, bao gồm các bản phát hành lớn, phim đình đám, phim độc lập, phim được đánh giá cao, phim câm và phim không nói tiếng Anh. Phim tài liệu, phim ngắn và các tập phim truyền hình hiện không được bao gồm. Kể từ năm 2015, đã có một danh sách Top 250 dành cho xếp hạng các chương trình truyền hình. Bắt đầu từ năm 2001, Cơ sở dữ liệu phim Internet cũng duy trì bảng thông báo cho mọi tiêu đề (ngoại trừ, kể từ năm 2013, tập phim truyền hình) và nhập tên, cùng với hơn 140 bảng chính. Để đăng lên bảng tin, người dùng cần phải "xác thực" tài khoản của họ thông qua điện thoại di động, thẻ tín dụng hoặc bằng cách là khách hàng gần đây của công ty mẹ A, sự kiện tin tức và các vấn đề thời sự, cũng như lịch sử và kinh tế.[ "cần dẫn nguồn" ] Đến ngày 20 tháng 2 năm 2017, tất cả các bảng tin và nội dung của chúng đã bị xóa vĩnh viễn. Theo trang web, quyết định được đưa ra bởi vì các hội đồng "không còn cung cấp trải nghiệm tích cực, hữu ích cho đại đa số hơn 250 triệu người dùng hàng tháng của chúng tôi trên toàn thế giới", và những người khác đã đề cập đến tính nhạy cảm của nó đối với việc troll và không đồng ý hành vi. Col Needham cũng đã đề cập trong một bài đăng trước đó vài tháng rằng các hội đồng nhận được ít thu nhập hơn từ quảng cáo và các thành viên của họ chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong số khách truy cập trang web. Các bảng đã tốn kém để chạy do tuổi của hệ thống và thiết kế ngày, không có ý nghĩa kinh doanh. Quyết định loại bỏ các bảng tin đã gặp phải phản ứng dữ dội từ một số người dùng và đưa ra một kiến ​​nghị trực tuyến thu hút hơn 8.000 chữ ký.  Trong những ngày trước ngày 20 tháng 2 năm 2017, cả A và MovieC bảo toàn toàn bộ nội dung của bảng tin IMDb bằng cách sử dụng tính năng quét web. A, hợp pháp theo học thuyết sử dụng hợp lý, bởi vì nó không ảnh hưởng đến thị trường tiềm năng của IMDb về giá trị của tác phẩm có bản quyền.
Xác suất có điều kiện "Xác suất biên duyên và Xác suất hợp được định hướng tới bài này." Bài này định nghĩa một số thuật ngữ về phân bố xác suất của hai biến trở lên. Xác suất có điều kiện ("Conditional probability") là xác suất của một biến cố "A" nào đó, biết rằng một biến cố "B" khác xảy ra. Ký hiệu "P"("A"|"B"), và đọc là "xác suất của "A", biết "B"". Xác suất hợp ("Joint probability") là xác suất của hai biến cố cùng xảy ra. Xác suất hợp của "A" và "B" được ký hiệu formula_1 hoặc formula_2 Xác suất biên ("Marginal probability") là xác suất của một biến cố mà không quan tâm đến các biến cố khác. Xác suất biên được tính bằng cách lấy tổng (hoặc tổng quát hơn là tích phân) của xác suất hợp trên biến cố không cần đến. Việc này được gọi là biên hóa ("marginalization"). Xác suất biên của "A" được ký hiệu là "P"("A"), còn xác suất biên của "B" được ký hiệu là "P"("B"). Trong các định nghĩa này, lưu ý rằng không cần có một quan hệ nhân quả hay thời gian giữa "A" và "B". "A" có thể xảy ra trước "B" hoặc ngược lại, hoặc chúng có thể xảy ra cùng lúc. "A" có thể là nguyên nhân của "B" hoặc ngược lại, hoặc chúng không hề có quan hệ nhân quả nào. Việc cập nhật các xác suất này để xét đến các thông tin (có thể mới) có thể được thực hiện qua Định lý Bayes. Độc lập thống kê. Hai biến cố "A" và "B" là độc lập thống kê khi và chỉ khi Do đó, nếu "A" và "B" độc lập, thì xác suất hợp của chúng có thể được biểu diễn bởi tích của các xác suất của từng biến cố. Tương đương, với hai biến cố độc lập "A" và "B", Nói cách khác, nếu "A" và "B" độc lập thì xác suất có điều kiện của "A" nếu biết "B" chỉ đơn giản là xác suất của riêng "A". Cũng như vậy, xác suất có điều kiện của "B" nếu biết "A" chỉ đơn giản là xác suất của riêng "B".
Thế giới của Sophie Thế giới của Sophie (tiếng Na Uy: Sofies verden), với tựa đề con Một tiểu thuyết về lịch sử triết học ("en roman om filosofiens historie"), là một tiểu thuyết của nhà văn Jostein Gaarder. Nguyên bản tiếng Na Uy được xuất bản năm 1991. Cuốn sách đã được dịch ra hơn 50 thứ tiếng với hơn 25 triệu bản đã được bán, và được xếp hạng "sách bán chạy nhất thế giới" ("the #1 international bestseller") của năm 1995. Phần lớn nội dung bao gồm các đoạn đối thoại giữa nhân vật chính Sophie và một người đàn ông bí ẩn tên là Alberto Knox, đan xem với các tình tiết ngày càng bí hiểm và kỳ quặc hơn. Đây vừa là một tiểu thuyết, vừa là một hướng dẫn căn bản về triết học phương Tây. Tác phẩm đã được chuyển thể vào một bộ phim Na Uy, phim truyền hình (đã được phát tại Úc), kịch hát. Ngoài ra, còn có một phần mềm trò chơi trí tuệ dựa theo nội dung của tiểu thuyết này: "Sophie's World - PC CD-Rom". "Thế giới của Sophie" đã được xuất bản lần đầu tại Việt Nam năm 1998, do Huỳnh Phan Anh dịch từ bản dịch tiếng Pháp. Bản dịch tiếng Việt này thiếu một số đoạn so với nguyên bản. Nó còn được nhận xét là có nhiều lỗi chính tả và dùng sai một số thuật ngữ triết học quan trọng. Năm 2006, nhà xuất bản Tri Thức xuất bản một bản dịch mới. Giới thiệu nội dung. Cuốn sách này giới thiệu về lịch sử văn hóa và lịch sử triết học phương Tây qua câu chuyện về Sophie và Hilde. Cuộc sống bình lặng của cô bé Sophie mười lăm tuổi bất ngờ bị xáo trộn bởi những mẩu tin nhắn nặc danh trong thùng thư với những câu hỏi như "Bạn là ai? Thế giới từ đâu đến?", và những tấm bưu ảnh bí hiểm gửi từ Liban đề địa chỉ người nhận "Hilde Møller Knag, gửi qua Sophie Amundsen". Nhiều câu hỏi và những điều bí hiểm khác tiếp tục nảy sinh trong thế giới của Sophie, mà để giải đáp những điều bí hiểm đó, ta cần một hiểu biết về triết học phương Tây. Hilde Møller Knag là ai? Tại sao Sophie liên tục nhặt được những đồ vật của Hilde? Tại sao cô nhận được thư của Hilde? Câu chuyện kết thúc trong khu vườn nhà Hilde tại thành phố nhỏ Lillesand trên bờ biển phía nam Na Uy. Nhưng có khi đó là nơi nó bắt đầu. Alberto Knox, nhà triết học bí ẩn, đưa Sophie đến với tư tưởng của các triết gia lớn của châu Âu. Nhờ đó, dần dần Sophie đã trang bị được kiến thức cần thiết để giải đáp được các bí ẩn xung quanh cô. Các triết gia và các thời kỳ triết học. Danh sách các nhà triết học và các thời kỳ triết học được đề cập trong nội dung tiểu thuyết, xếp theo trình tự thời gian.
Chi Trâm (danh pháp khoa học: Syzygium) là một chi thực vật có hoa, thuộc về họ Đào kim nương (Myrtaceae). Chi này chứa khoảng 1.200 loài, và có mặt tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Cựu Thế giới và Australia, nhưng đã du nhập sang khu vực nhiệt đới Nam Mỹ. Chúng có quan hệ họ hàng gần với chi "Eugenia" sinh sống chủ yếu ở khu vực Tân Thế giới; một số nhà thực vật học còn gộp chi "Syzygium" vào trong chi "Eugenia". Phần lớn các loài là cây thân gỗ và cây bụi thường xanh. Một vài loài được trồng làm cây cảnh vì chúng có tán lá đẹp và một số loài được trồng để lấy quả ăn ở dạng quả tươi hay làm mứt hoặc thạch, trong đó loài quan trọng nhất là đinh hương ("Syzygium aromaticum") với các chồi hoa chưa nở là một loại đồ gia vị quan trọng. Khoảng 52 tìm thấy tại Úc. Một số loài ở Úc như sau:
Xuân Thu (chữ Trung Quốc: 春秋时代; Hán Việt: "Xuân Thu thời đại", bính âm: "Chūnqiū Shídài") là một giai đoạn lịch sử từ 771 đến 476 TCN trong lịch sử Trung Quốc. Tên của nó bắt nguồn từ cuốn Kinh Xuân Thu (Biên niên sử Xuân Thu), một cuốn sử mà theo truyền thống thường được coi là của Khổng Tử. Ở giai đoạn Xuân Thu, quyền lực được tập trung hoá. Giai đoạn này xảy ra rất nhiều các trận chiến và sự sáp nhập khoảng 170 nước nhỏ. Sự sụp đổ dần dần của giới thượng lưu dẫn tới sự mở rộng học hành; trí thức gia tăng lại thúc đẩy tự do tư tưởng và tiến bộ kỹ thuật. Tiếp sau giai đoạn này là thời Chiến Quốc. Ở thời điểm đó Trung Quốc vẫn chưa được coi là một đế quốc. Và tới tận khi vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tần (秦), và cũng là vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc lên ngôi thì nước này mới bắt đầu giai đoạn phong kiến tập quyền. Dưới thời nhà Chu, trung tâm của quyền lực nằm trong tay (hay được cho là như vậy) vị vua nhà Chu dưới hình thức phong kiến phân quyền. Cần lưu ý rằng vua và hoàng đế không phải hoàn toàn như nhau. Vị vua nhà Chu nhận được đồ cống nạp từ các quý tộc cai trị tại những vùng đất mà họ được thừa kế từ tổ tiên. Các vị tổ tiên được phong làm quý tộc hay công tước tại các nước chư hầu thường là các quan chức có công lao lớn đối với nhà vua và triều đình cai trị, trong trường hợp này là nhà Chu. Vị vua nhà Chu không trực tiếp kiểm soát các tiểu quốc chư hầu của mình. Thay vào đó, sự trung thành chung của các quận công và quý tộc tạo nên quyền lực cho ông ta. Khi lòng trung thành giảm đi, quyền lực của nhà vua cũng giảm sút. Vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc là Tần Thủy Hoàng thấy rằng hệ thống phong kiến cuối cùng sẽ dẫn tới một vị vua ít quyền lực và một tình thế hỗn loạn. Vì vậy, ông đã dựng lên một Trung Quốc với một thể chế tập trung mạnh mẽ không dựa vào lòng trung thành của các quận công địa phương. Giai đoạn Xuân Thu. Sau khi kinh đô (Cảo) bị các bộ tộc rợ phía tây cướp bóc, Chu Bình Vương (Cơ Nghi Cữu) chạy sang phía Đông. Trong khi rút chạy từ thủ đô phía tây về phía đông, vị vua Chu nhờ các vị vương hầu ở gần đó là Tần (秦), Trịnh (鄭) và Tấn (晉) bảo vệ khỏi các rợ và các vị vương hầu phản loạn. Ông dời đô thành của Chu từ Cảo Kinh (nay thuộc Thiểm Tây) đến Lạc Ấp (nay thuộc Lạc Dương) ở châu thổ sông Hoàng Hà. Vị vua trốn chạy nhà Chu không có được vị trí chắc chắn trên vùng lãnh thổ phía đông; thậm chí cả lễ lên ngôi của thế tử cũng phải nhờ sự trợ giúp của các vị vương hầu trên mới diễn ra được. Với sự sút giảm lớn về đất đai, chỉ còn giới hạn ở Lạc Dương và các vùng xung quanh, triều đình Chu không còn có thể duy trì sáu đội quân thường trực (lục quân). Các vị vua nhà Chu tiếp sau cần sự trợ giúp của các chư hầu hùng mạnh xung quanh để bảo vệ họ khỏi các cuộc cướp bóc và để giải quyết các cuộc tranh giành quyền lực bên trong. Triều đình nhà Chu không bao giờ còn lấy lại được quyền lực trước đó của họ; họ chỉ còn đơn thuần là một triều đình bù nhìn của các chư hầu phong kiến. Mặc dù nhà Chu trên danh nghĩa vẫn đang nắm Thiên Mệnh, danh hiệu không hề có quyền lực. Sự nổi lên của các bá chủ. Vị quý tộc đầu tiên giúp đỡ các vua nhà Chu là Trịnh Trang Công (鄭莊公) (ở ngôi 743 TCN - 701 TCN). Ông là người đầu tiên lập lên ngôi vị bá chủ, với ý định giữ lại hệ thống cai trị cũ. Các nhà sử học xưa biện hộ rằng hệ thống mới là một phương tiện để bảo vệ các chư hầu văn minh yếu hơn và triều đình nhà Chu khỏi phải chịu sự cướp phá của các bộ tộc nằm bao quanh (mà người Trung Hoa thường gọi miệt thị là Bắc Địch (北狄); Nam Man (南蠻), Tây Nhung (西戎), Đông Di (東夷)). (Xem thêm Dân tộc ngoài Trung Nguyên cổ đại). Tuy nhiên, tất cả các chư hầu được cho là "văn minh" thực tế gồm một phần pha trộn đáng kể các tộc người; vì thế không có đường biên giới rõ ràng giữa các chư hầu "văn minh" và các "rợ". Tuy nhiên các bộ tộc với sự khác biệt về dân tộc và văn hoá đó lại có một nền văn minh duy nhất của họ ở một số vùng. Một số nhóm dân tộc về thực chất lại có sức mạnh và được văn minh hoá theo các tiêu chuẩn Trung Quốc tới mức những thực thể chính trị của họ, gồm cả Ngô và Việt, thậm chí được gộp trong một số liên minh của Ngũ Bá. Các chư hầu hùng mạnh mới nổi lên thực lòng muốn giữ sự ưu tiên dòng dõi quý tộc hơn hệ tư tưởng truyền thống là giúp đỡ các nước yếu hơn ở thời hỗn loạn (匡扶社稷 khuông phù xã tắc), điều này vốn đã từng được truyền bá rộng rãi ở thời đế quốc Trung Quốc để củng cố quyền lực vào tay gia đình cai trị. Các vị chư hầu Tề Hoàn Công (ở ngôi 685 TCN -643 TCN) và Tấn Văn Công (ở ngôi 636 TCN - 628 TCN) còn đi xa hơn trong việc thiết lập hệ thống cai trị lãnh chúa, nó mang lại sự ổn định nhưng chỉ trong những khoảng thời gian ngắn so với trước kia. Các vụ sáp nhập tăng lên, mang lại lợi ích cho những chư hầu hùng mạnh nhất gồm Tần, Tấn, Tề và Sở. Vai trò của lãnh chúa ngày càng có chiều hướng rời xa khỏi mục đích ban đầu là bảo vệ các chư hầu nhỏ hơn; cuối cùng lãnh chúa đã trở thành một hệ thống quyền bá chủ của các chư hầu lớn đối với các nước vệ tinh yếu hơn ở Trung Quốc và đối với cả những vùng có nguồn gốc "rợ". Các chư hầu lớn thường lợi dụng lý do giúp đỡ và bảo vệ để can thiệp và kiếm lợi từ các nước chư hầu nhỏ khi xảy ra xung đột nội bộ ở các nước đó. Đa phần các vị bá thời sau này đều bắt nguồn từ các chư hầu lớn thời đó. Họ tự tuyên bố mình là vị chúa tể trên lãnh thổ của họ, thậm chí còn không cần công nhận tính tượng trưng nhỏ mọn của nhà Chu. Việc thiết lập hệ thống hành chính địa phương (châu và quận), với các quan chức được chỉ định bởi chính phủ, tạo cho các chư hầu khả năng kiểm soát lớn hơn với lãnh địa của mình. Việc thu thuế nông nghiệp và thương mại cũng dễ dàng hơn so với kiểu phong kiến trước đó. Ba nước Tần, Tấn và Tề không chỉ tự tăng cường sức mạnh của mình mà còn đẩy lùi chư hầu ở phía nam là Sở, các vị lãnh chúa ở đó tự phong mình làm vua. Quân đội Sở dần dần xâm nhập vào lưu vực sông Hoàng Hà. Việc coi Sở như là "rợ phương nam" (Sở Man), đơn giản là một lý do để cảnh báo Sở không được can thiệp vào tầm ảnh hưởng riêng của họ. Những sự xâm nhập của Sở nhiều lần bị chống trả với ba trận đánh lớn ngày càng tăng về mức độ bạo lực - trận Thành Bộc (632 TCN), trận Bi (595 TCN) và trận Yên Lăng (575 TCN); điều này dẫn tới sự hồi phục của các chư hầu Trần và Thái (còn gọi là Sái). Quan hệ giữa các chư hầu. Ở thời này một hệ thống quan hệ phức tạp giữa các chư hầu được phát triển. Một phần nó được cấu trúc theo hệ thống phong kiến của Tây Chu nhưng các yếu tố thực dụng được tăng cường. Một sự tập hợp các tiêu chuẩn và giá trị thông thường của các chư hầu, có thể gọi một cách không chính xác lắm là Luật quốc tế đã xuất hiện. Khi các vùng ảnh hưởng và vùng văn hoá của các chư hầu mở rộng và giao nhau, các cuộc chạm trán ngoại giao cũng tăng lên. Thay đổi nhịp độ chiến tranh. Sau một giai đoạn tăng trưởng chiến tranh ở mọi góc độ, Tề, Tần, Tấn và Sở cuối cùng đã gặp gỡ ở một hội nghị giải giáp vũ khí năm 579 TCN, các nước khác hầu như trở thành các nước vệ tinh (nước phụ dung). Năm 546 TCN, Tấn và Sở đồng ý ngừng chiến với nhau. Sau một thời gian tương đối yên ổn trong thế kỷ thứ 6 TCN, hai nước chư hầu ven biển ở vùng Chiết Giang ngày nay là Ngô và Việt, dần dần mạnh lên. Sau khi đánh bại và trục xuất vua Phù Sai nước Ngô, vua Câu Tiễn nước Việt (496 TCN - 465 TCN) trở thành vị bá chủ cuối cùng được công nhận. Thời kỳ hoà bình này chỉ là một sự mở đầu cho một tình trạng rối loạn của Thời Chiến Quốc. Bốn chư hầu mạnh đang ở giữa cuộc tranh giành quyền lực. Sáu họ chiếm hữu đất đai lớn ở nước Tấn tiến hành đánh lẫn nhau. Họ Trần đang loại trừ các đối thủ chính trị ở Tề. Tính chính thống của những vị vua cai trị thường không được thừa nhận trong các cuộc nội chiến với sự tham gia của nhiều thành viên thuộc gia đình hoàng gia ở Tần và Sở. Một lần nữa những người tranh giành đó lại củng cố vững chắc vị trí của mình tại lãnh thổ riêng, sự chém giết giữa các nước tiếp tục trong thời Chiến Quốc. Thời Chiến Quốc chính thức bắt đầu vào năm 403 TCN khi ba họ lớn nhất ở Tấn là Triệu, Ngụy và Hàn phân chia đất nước; triều đình bất lực nhà Chu bắt buộc phải công nhận quyền lực của họ. Chế tác đồ sắt đã làm nông, công, thương phát đạt, thì cũng làm đổi thay quân sự. Khí giới bằng sắt bén hơn, giết được nhiều hơn, mau hơn. Ai cũng thấy chỉ chiến tranh mới giải quyết được mọi mâu thuẫn. Ngay từ thời Mạnh Tử, chiến tranh đã khốc liệt rồi, người ta "đánh nhau để tranh đất, giết người đầy đồng; đánh nhau để tranh thành, giết người đầy thành." Nước nào cũng có vài trăm ngàn quân. Nước Tần, thế kỷ thứ IV TCN, bắt tất cả đàn ông từ 15 hay 20 tuổi tới 60 tuổi phải nhập ngũ, như vậy là chỉ còn đàn bà con nít là khỏi phải ra trận. Chính sách ngụ binh ư nông được phổ biến: người dân nào cũng thời bình thì làm ruộng, tập võ nghệ, thời chiến thì thành lính. Có khi đàn bà người già cũng không được ở yên, phải đi xây trường thành để ngăn xâm lăng. Sở xây trường thành ở Hà Nam, Tề ở Sơn Đông, các nước khác như Ngụy, Tần cũng bắt chước. Những trường thành đó chỉ bằng đất, có khi chỉ là một con đê được đắp cao hơn, rất ít khi bằng đá, nhưng cũng có những đồn nhỏ do một số lính giữ, thấy địch tới thì đốt khói ban ngày, đốt lửa ban đêm báo cho các đồn khác biết. Triệu xây một trường thành ở phía Bắc, Yên cũng vậy, để chống lại các rợ phương Bắc; các thành đó sau này Tần Thủy Hoàng sửa sang lại, nối liền với nhau thành Vạn Lý trường thành. Về khí giới, người ta chế tạo nỏ và nỗ pháo (catapult) để bắn đá (thế kỷ V TCN). Nỏ mạnh hơn và bắn xa hơn cung, có thể được non 500 mét theo sách thời đó chép. Các tòa thành cũng ngày một cao hơn, kiên cố hơn. Thời Mặc Tử, Công Thâu Ban đã chế tạo được thang mây để đánh thành. Sở dĩ có tên đó vì thang rất cao mới đủ leo lên đánh thành. Chiến xa trở nên lỗi thời, người ta dùng bộ binh, rồi kỵ binh. Hai nước Ngô, Việt có nhiều hồ, đầm lầy, không dùng chiến xa được, cho nên đã đầu tiên dùng bộ binh. Tấn mới đầu chê chiến tranh dùng bộ binh không có vẻ "lễ nghĩa quý tộc" nhưng rồi Trịnh theo, và dần dần các nước khác cũng theo. Để điều khiển một đoàn bộ binh thì phải có thứ tự, kỷ luật, mà những quy tắc, chiến thuật mới xuất hiện. Bộ binh lại chia làm nhiều hạng (như binh chủng ngày nay), hạng chuyên dùng cung, hạng chuyên dùng nỏ, dùng giáo. Về kỵ binh, Trung Hoa bắt chước các rợ phương Bắc và phương Tây. Năm 307 TCN, Triệu là nước đầu tiên dùng kỵ binh, nhờ vậy mà mạnh lên được một thời. Họ phải thay đổi nhung phục cho gọn gàng (bận quần, bỏ áo giáp dài đi), và phải tập bắn cung trong khi ngựa phi y như Hung Nô. Danh sách các Bá chủ. Theo truyền thống, năm vị Bá (Ngũ Bá) ở thời Xuân Thu (春秋五霸 Chūn Tềū Wǔ Bà) gồm: Một số nhà sử học lại đưa ra danh sách Ngũ Bá khác: Thứ tự ngẫu nhiên. Danh sách các chư hầu lớn. Tên theo sau tên nước là tên thủ đô (theo thứ tự Hán Việt, phồn thể, giản thể). Danh sách những gương mặt quan trọng. Xem thêm: Bách gia chư tử Các sự kiện nổi bật. 770 TCN – các quý tộc nhà Chu ủng hộ Chu Bình Vương (周平王) lên làm vua mới nhà Chu. Bình vương dời đô đến Lạc Ấp (雒邑). Giai đoạn Đông Chu hay Xuân Thu bắt đầu. Bình vương phong cho con của nhà quý tộc Doanh Kỳ (贏其) làm chủ thêm vùng tây bắc của nhà Chu (đất Phong và đất Kỳ). Ông được gọi là Tần Tương công (秦襄公). Nước Tần (秦) từ đó trở thành nước lớn. 766 TCN Tần Tương công qua đời, con là Tần Văn công lên kế vị. 763 TCN - Trịnh Trang Công (鄭莊公) sáp nhập và tiêu diệt vương quốc rợ Hồ (Hồ Quốc) (胡國). Ông tin cậy vào vị quan nổi tiếng của mình là Sái Trọng (祭仲). 750 TCN - Tấn Văn hầu (晉文侯) Cơ Cừu (姬仇) sáp nhập và tiêu diệt vương quốc Dư Thần Chu (余臣周) 717 TCN Trịnh Trang công vào triều kiến Chu Hoàn Vương nhưng ông không tiếp đãi theo đúng lễ tiếp đãi chư hầu. 715 TCN Trịnh Trang công tự ý cùng nước Lỗ trao đổi hứa điền. 711 TCN Trịnh Trang công đưa binh đánh nước Tống. Nước Tống đại bại, Tống Thương công Vi Tử Dữ Di bị phế, công tử Bằng (Vi Tử Bằng) được Trịnh Trang công tôn lên làm vua, gọi là Tống Trang công 707 TCN, Chu Hoàn Vương bèn mang quân các nước chư hầu đánh nước Trịnh để trả thù. Hoàn Vương bại trận, bản thân ông bị quân Trịnh bắn bị thương, phải lui binh. 704 TCN - Lãnh chúa nước Sở (楚) Hùng Thông (羋熊通), lợi dụng sự yếu kém của vua Chu để thoát khỏi sự ràng buộc như một chư hầu của nhà Chu và tự phong mình làm vua. Ông tuyên bố lập ra nước Sở (楚國) và tự gọi là Sở Vũ Vương (楚武王). 701 TCN - Trịnh Trang Công (鄭莊公) chết. Con ông là Cơ Hốt (姬忽) kế vị và được gọi là Trịnh Chiêu Công (鄭昭公). Vì công chúa Ung Thị (雍氏) nước Tống (宋國) lấy Trịnh Trang Công và có một con trai tên là Cơ Đột (姬突), vua Tống nghĩ rằng ông có thể mở rộng ảnh hưởng của mình tới Trịnh bằng cách giúp đưa lên ngôi một vị vua mới có quan hệ với nước Tống. Tế Túc (祭仲), người được kính trọng và có ảnh hưởng ở Trịnh, đã bị Tống lừa bắt và buộc phải ủng hộ Công tử Đột lên làm người kế vị ngôi báu nước Trịnh. Trịnh Chiêu Công bị giáng tước và phải chạy trốn. Công tử Đột lên nối ngôi và được gọi là Trịnh Lệ Công (鄭厲公). 697 TCN Chu Hoàn Vương mất, con là Cơ Đà lên nối ngôi, tức là Chu Trang Vương. Trịnh Lệ công bị phế, Trịnh Chiêu công được về ngôi cũ. 695 TCN Trịnh Chiêu công mất, Cơ Tử Vĩ lên ngôi tức Trịnh Tử Vĩ. 694 TCN - Tề Tương Công (齊襄公) Khương Chư Nhi (姜諸兒) tập hợp chư hầu ở Thủ Chỉ (首止) và ám sát Lỗ Hoàn Công (魯桓公). Tế Túc nước Trịnh giết Trịnh Tử Vĩ, Cơ Tử Anh lên ngôi tức Trịnh Tử Anh. 690 TCN Sở Vũ Vương mất, con là Hùng Ti lên ngôi tức Sở Văn Vương. 686 TCN - Tề Tương Công (齊襄公) bị Khương Vô Tri (姜無知) ám sát để giành ngôi vua nước Tề. Hai công tử Khương Củ do Quản Trọng phò tá sang Lỗ và Khương Tiểu Bạch do Bào Thúc Nha phò tá chạy đi. 685 TCN – Vua Tề Khương Vô Tri (姜無知) bị Ung Lẫm ám sát. Khương Tiểu Bạch (姜小白) trở về và thành người nối ngôi và trở thành Tề Hoàn Công (齊桓公) nổi tiếng. Tề Hoàn Công hội chiến Lỗ Trang công ở Kiền Thời. Lỗ Trang Công thua trận, giết Khương Củ, Quản Trọng được Thấp Bằng hi sinh cứu về Tề. 684 TCN Tề Hoàn Công (齊桓公) đưa Quản Trọng (管仲) lên làm Tướng (相), hay tể tướng. 681 TCN Tề Hoàn Công (齊桓公) và Lỗ Trang Công (魯莊公) Cơ Đồng (姬同) gặp mặt và thương lượng ở đất Kha (柯). 680 TCN Trịnh Tử Anh bị phế, Trịnh Lệ công quay về ngôi báu nước Trịnh. 679 TCN Tề Hoàn Công (齊桓公) mời và tập hợp tất cả các chư hầu ở Trung Nguyên vào liên minh của mình và bắt đầu trở thành vị Bá chủ chư hầu huyền thoại. Cùng năm đó, vị chư hầu ở Khúc Ốc (曲沃) nước Tấn (晉), Cơ Đại (姬代), giết vua nước Tấn, Cơ Mẫn (姬湣). Cơ Đại đút lót cho Chu Ly Vương (周釐王), Cơ Hồ (姬胡), và được triều đình hoàng gia chính thức chỉ định làm vua mới ở nước Tấn. Ông được gọi là Tấn Vũ Công (晉武公). 676 TCN Chu Ly Vương mất, con là thái tử Cơ Lãng lên ngôi tức Chu Huệ Vương. 675 TCN Chu Huệ vương chiếm đoạt vườn tược của các đại thần làm chỗ thả thú. Đại thần Biên Bá bất mãn, cùng 4 đại thần khác ngầm mượn quân chư hầu của Yên Trang Công và Vệ Huệ Công về đánh Chu Huệ vương. Huệ vương bỏ chạy về đất Ôn rồi sang nương nhờ nước Trịnh. Biên Bá lập vương tử Đồi lên ngôi. 673 TCN, Trịnh Lệ Công cùng Quắc công liên minh giúp Huệ vương, mang quân đánh Lạc ấp, giết chết vương tử Đồi và dựng lại Huệ vương. Trịnh Lệ công muốn được Huệ vương ban chén ngọc nhưng Huệ vương không nghe theo, do đó nước Trịnh giận thiên tử nhà Chu. 672 TCN, Sở Đồ Ngao mất. Con là Hùng Uẩn lên ngôi tức Sở Thành Vương. 668 TCN Tấn Hiến Công (晉獻公), người kế tục Tấn Vũ Công (晉武公), dời thủ đô của Tấn đến Giáng (絳). 667 TCN Chu Huệ Vương (周惠王), Cơ Lãng (姬閬), trao tước Bá (霸), cho Tề Hoàn Công (齊桓公). Ông tiếp tục lãnh đạo liên minh các chư hầu để phục vụ và bảo vệ Vương quốc Chu. 663 TCN, nước Sơn Nhung ở phía bắc đánh nước Yên. Yên Trang công cầu cứu nước Tề. Tề Hoàn công mang quân đi cứu Yên. Ông đánh bại quân Sơn Nhung, diệt Sơn Nhung và nước Cô Trúc. 660 TCN Tần Thành Công (秦成公) chết. Doanh Nhâm Hảo (嬴任好) trở thành lãnh chúa mới ở Tần và được gọi là Tần Mục Công (秦穆公). 659 TCN nước Vệ bị nước Xích Địch xâm lấn, Vệ Ý công bị giết. Tề Hoàn công điều quân sang cứu nước Vệ và xây thành Sở Khâu, lập Vệ Đái công và Vệ Văn công. 658 TCN Tấn Hiến công dùng kế "Môi hở răng lạnh" mà diệt nước Ngu và nước Quắc. 657 TCN, Tề Hoàn Công hội chư hầu chống Thái vì vợ mình là Thái Cơ trốn về nước. 656 TCN Vì nước Thái (蔡) quyết định nộp cống cho nhà Chu thay vì liên minh với Tề (齊), (Tề Hoàn Công (齊桓公) dẫn quân liên minh chư hầu vào Thái. Thái mất nước và liên minh lại dự định tấn công nước Sở. Dưới chiến lược khôn khéo của tể tướng Quản Trọng nước Tề (管仲), Sở buộc phải thề liên minh với Tề. Tề Hoàn Công chiến thắng trở về và lại tổ chức một cuộc gặp chư hầu ở Quỳ Khâu (葵丘). 652 TCN Chu Huệ Vương mất, con là Cơ Trịnh lên ngôi tức Chu Tương Vương. 651 TCN Chu Tương Vương lên ngôi, sai người mang cung tên, thịt tế tặng Tề Hoàn Công ở Quỳ Khâu, Tề Hoàn Công làm lễ đón nhận. Tề Hoàn Công còn hội chư hầu lần nữa, lần này Tấn Hiến công (晉獻公) đến muộn, hội tan, ông trở về và bệnh chết. Bà Ly Cơ (驢姬)(một người vợ thứ được sủng ái nhất của Tấn Hiến công) lập mưu giết Cơ Thân Sinh (con lớn của Tấn Hiến công), cho người đuổi giết Cơ Di Ngô và Cơ Trùng Nhĩ đi nơi khác. Một trong những người con của bà tên là Cơ Hề Tề (姬奚齊), lên nối ngôi. Một vị đại phu nước Tấn là Lý Khắc (里克) giết ông ngay sau đó. Cơ Trác Tử (姬卓子) trở thành vua mới của Tấn nhưng cũng lại bị Lý Khắc giết, Ly Cơ bị giết nốt. Tề Hoàn Công dẫn quân liên minh chư hầu của mình vào nước Tấn và muốn ngăn chặn cuộc chém giết. Tuy nhiên, ông đã tới muộn, vì Tần Mục Công (秦穆公) đã làm việc đó bằng cách đưa một người mới lên ngôi ở Tấn với đội quân do vị tướng của ông là Bách Lý Hề (百里奚) chỉ huy. Vị công tử này là Cơ Di Ngô (姬夷吾), và sau khi lên ngôi tức là Tấn Huệ công (晉惠公). Cùng năm đó, Tống Hoàn Công (宋桓公) chết. Con ông là Tử Tư Phủ (子茲甫) nối vị và được gọi là Tống Tương Công (宋襄公). 648 TCN em Chu Tương vương là Cơ Đái mượn quân các nước Nhung, Địch định cướp ngôi vua. Tề Hoàn công sai Quản Trọng đi dẹp các nước Nhung, Địch. 647 TCN vương tử Đái chạy sang tị nạn ở nước Tề. Tề Hoàn công xin Chu Tương vương tha tội cho Đái. 644 TCN, người Nhung lại mang quân đánh nhà Chu. Tề Hoàn công đã già yếu, ra lệnh cho các chư hầu đi cứu thiên tử, đánh đuổi người Nhung. 643 TCN (Tề Hoàn Công (齊桓公) chết. Trong những năm cuối đời, sau cái chết của tể tướng Quản Trọng (管仲), Tề Hoàn Công đã sử dụng những kẻ bất tài (Khai Phương, Thụ Điêu, Dịch Nha) vào những vị trí cao trong triều. Và kết quả là những kẻ đó nắm lấy quyền lực quốc gia khi ông sắp chết bằng cách giết hại các vị quan trung thành và tài giỏi trong triều. Tề Hoàn Công dự định đưa con út nối ngôi. Tuy nhiên, những kẻ nắm quyền đã thay đổi ý định của ông và đưa con cả của ông là Khương Vô Khuy (姜無虧), lên nối ngôi. 642 TCN Khương Vô Khuy (姜無虧), người nối ngôi Tề Hoàn Công (齊桓公), bị giết. 641 TCN Sau cái chết của Tề Hoàn Công (齊桓公), không ai thực sự nắm quyền làm bá, và cơ hội lại dành cho tất cả moi người. Tống Tương Công (宋襄公) tuyên bố thành lập liên minh chư hầu mới trong một nỗ lực để lên làm Bá chư hầu. Tuy nhiên nước Tống không mạnh và rộng lớn như Tề và Tống Tương Công cũng không tài giỏi như Tề Hoàn Công. Hơn nữa, Tề Hoàn Công có sự giúp đỡ của Quản Trọng (管仲) người điều hành đất nước tới vị trí là chư hầu mạnh nhất và thành công nhất trong giai đoạn Xuân Thu. Tề Hoàn Công mất, nước Tề phát sinh nội loạn vì cuộc tranh giành ngôi quốc quân, Tống Tương Công bèn đứng ra thống lĩnh liên minh Tống, Vệ, Tào và Chu tiến vào nước Tề hợp sức với lực lượng của người Tề để đưa Khương Chiêu (姜昭) Tề Hiếu Công(齊孝公) lên ngôi. Để bắt đầu thời cai trị của mình, Tống Tương Công bắt vua nước Đằng và giết vua nước Tắng mà không có lý do cụ thể. Lưu ý rằng đây là một sai lầm lớn chứ không phải là một dấu hiệu của quyền lực bởi vì một vị Bá phải nhân đức, mạnh mẽ, ủng hộ vua nhà Chu, và là người đáng kính. Mọi hành động của vị Bá chủ phải đúng đắn và quả cảm như những hành động của Tề Hoàn Công. 638 TCN Tống Tương Công cầm quân nước Tống đối đầu với quân nước Sở tại trận Hoằng Thủy (nay nằm ở phía Tây Bắc Chá Thành, Hà Nam). Lúc đó khi chứng kiến binh lực mạnh mẽ của quân Sở, đại tư mã nước Tống là Tử Ngư khuyên Tương công chờ quân Sở đi tới giữa sông thì tung quân tấn công, Tương công từ chối vì cho rằng quân Tống là quân nhân nghĩa nên không thể làm như vậy. Tới khi quân Sở đã sang sông và đang bày thế trận, Tử Ngư lại khuyên Tương công tấn công vì cho rằng quân Sở chưa kịp ổn định đội ngũ, tấn công ngay thì may ra mới có cơ hội thắng lợi, Tống Tương Công lại đem bài nhân nghĩa ra để cự tuyệt, rốt cục quân Sở đánh cho quân Tống đại bại, bản thân Tương công cũng bị trúng tên trọng thương. 637 TCN, Tống Tương Công qua đời, con trai Tương công lên nối ngôi quốc quân tức Tống Thành Công. Tấn Huệ Công nhiều lần cho người ám sát Cơ Trùng Nhĩ lưu vong bên ngoài không thành, bị dân oán. Ông gây chiến với Tần và qua đời. Con ông là Cơ Ngữ đang làm con tin ở Tần trốn về đăng cơ, tức Tấn Hoài công. Tấn Hoài công lo Trùng Nhĩ sẽ về tranh ngôi, bèn ra lệnh cho những đại phu theo giúp Trùng Nhĩ phải trở về theo kỳ hạn, nếu không sẽ giết cả nhà. Con Hồ Đột là Hồ Mao đang theo Trùng Nhĩ ở nước Sở, Tấn Hoài công bắt Hồ Đột giam lại. Hồ Đột cự lệnh Hoài công không gọi con về. Tấn Hoài công bèn giết chết Hồ Đột. 636 TCN, Tần Mục công diệt hai tiểu quốc Lương và Nhuế, sai quân đưa Trùng Nhĩ về nước. Trùng Nhĩ sai người về báo cho vây cánh các đại phu Loan Chi, Khước Bốc làm nội ứng ở Giáng đô đón quân Tần. Tấn Hoài công điều quân ra chống quân Tần, do thế cô, bèn bỏ chạy sang đất Cao Lương. Trùng Nhĩ vào Giáng đô, trở thành vua Tấn Văn Công. Ngày mậu thân tháng đó, Tấn Văn công sai người đến đất Cao Lương giết Tấn Hoài công. Vây cánh những người chống lại Tấn Văn công còn khá đông, cầm đầu là Lã Sảnh và Khước Nhuế. Hai người mưu đốt cung điện để ám sát ông và lập vua khác. Hoạn quan Bột Đề vốn từng 2 lần được cử đi giết ông không thành trước đây, báo với Tấn Văn công. Văn công bèn vi hành bí mật sang nước Tần một lần nữa để tránh. Tần Mục công đón tiếp ông ở Vương Thành. Trong nước Tấn chỉ có mấy cận thần biết vua đã ra ngoài. Quân họ Lã và họ Khước đánh bại bỏ chạy. Tần Mục công sai sứ đến dụ Lã Sảnh và Khước Nhuế đến gặp để bàn lập người khác làm vua. Lã Sảnh và Khước Nhuế đến liền bị vua Tần bắt giết trên sông Hoàng Hà. Sau đó Tần Mục công sai 3000 quân hộ vệ Tấn Văn công trở về nước Tấn. Từ đó nước Tấn tạm yên ổn. Chu Tương Vương bị vương tử Đái cướp ngôi, chạy sang lưu vong ở nước Trịnh và cầu cứu Tấn Văn công. 635 TCN, Tấn Văn Công mang quân đến đất Dương Phàn, bao vây ấp Ôn của vương tử Đái. Đồng thời ông đón Chu Tương vương về đất nhà Chu. Tháng 4 năm đó, ông tiến quân vào diệt vương tử Đái. Chu Tương vương được phục ngôi, ban cho Tấn Văn công ngọc khuê và cung tên, rồi cắt đất Dương Phàn và Hà Nội cho Tấn Văn công. 633 TCN, Sở Thành vương mang quân bao vây nước Tống. Tống Thành công cầu viện nước Tấn. Cuối năm đó, Tấn Văn công bèn lập 3 đạo quân, ra trận đánh quân Sở. 632 TCN, Tấn Văn công đánh nước Tào là chư hầu của Sở, Tấn Văn công định mượn đường nước Vệ nhưng Vệ Thành công không cho, vì vậy ông chuyển sang đánh nước Vệ, đánh chiếm thành Ngũ Lộc. Vệ Thành công cầu Sở Thành vương cứu nhưng người trong nước không ủng hộ, bị đuổi phải chạy ra đất Tương Ngưu. Công tử Mãi chiếm giữ nước Vệ xin hòa với nước Tấn. Tấn Văn công cho nước Vệ giảng hòa rồi mang quân đánh nước Tào. Quân Tấn vây hãm nước Tào trong 3 tháng, cuối cùng chiếm được thành, bắt sống Tào Cung công. Quân Sở đang vây hãm nước Tống. Tấn Văn công có ơn với cả vua Tống và vua Sở trên đường lưu lạc nên phân vân khó xử chưa biết ủng hộ bên nào. Tiên Chẩn hiến kế bắt nước Tào và nước Vệ cắt đất cho nước Tống khiến Sở Thành vương phải giải vây Tống sang cứu Tào và Vệ. Quả nhiên Sở Thành vương rút quân khỏi nước Tống, muốn rút về nước và giảng hòa với Tấn. Tướng Sở là Thành Đắc Thần không đồng tình, nhất định đòi giao tranh với quân Tấn. Sở Thành vương giận Đắc Thần, chỉ cấp cho ít quân. Thành Đắc Thần sai sứ là Uyển Xuân đến gặp Tấn Văn công, Tấn Văn công bắt giữ Uyển Xuân, không đàm phán với Đắc Thần. Mặt khác, ông sai người ngầm giao hẹn với Vệ Thành công và Tào Cung công sẽ phục ngôi cho hai người nếu họ tuyệt giao với nước Sở. Vua Tào và vua Vệ chấp nhận làm theo Tấn Văn công. Thành Đắc Thần thấy hai chư hầu Tào, Vệ tuyệt giao Sở để theo Tấn, nổi giận thúc quân đánh Tấn. Tấn Văn công giữ đúng giao ước với Sở Thành vương khi nương nhờ ở nước Sở, bèn hạ lệnh quân Tấn lui 3 xá là 90 dặm để nhường quân Sở, tới Thành Bộc. Tuy nhiên Thành Đắc Thần đang hăng hái không chịu lui binh, tiếp tục thúc quân Sở tiến lên truy kích. Tấn Văn công đóng quân ở Thành Bộc, có Tống Thành công cùng tướng các nước Tề, Trần hội binh hỗ trợ. Phía quân Sở có quân Trịnh theo giúp. Ngày Kỷ Tị, hai bên đánh nhau to ở Thành Bộc. Quân Tấn đại thắng quân Sở. Thành Đắc Thần mang tàn quân tháo chạy. Trịnh Văn công giảng hòa với Tấn. Tấn Văn công về đất Hành Ung, làm cung điện cho Chu Tương Vương ở đất Tiễn Thổ. Ông dâng tù binh Sở dâng Chu Tương vương. Vua Chu sai vương tử Hồ đến hội, phong ông làm bá chủ chư hầu. Từ đó Tấn Văn công chính thức trở thành bá chủ. Sở Thành vương trách tội khiến Thành Đắc Thần phải tự tử, Tấn Văn công mới hết lo việc chiến tranh với nước Sở. Ông phục ngôi cho vua Vệ và vua Tào. Mùa đông năm đó, Tấn Văn công lại hội chư hầu ở đất Ôn và sai sứ mời Chu Tương vương tới hội chư hầu ở Hà Dương. Vì thiên tử đã suy yếu, Tương vương phải đến theo triệu tập của nước Tấn. Sử ký nói về sự kiện này rằng: "Sử sách tránh việc bề tôi triệu kiến quân chủ, nên chỉ ghi: Thiên tử đi tuần thú ở Hà Dương". 630 TCN, Tấn Văn công vì nước Trịnh có thù với mình khi lưu lạc, lại giúp Sở chống Tấn nên cùng Tần Mục công mang quân đánh Trịnh. Nước Trịnh bị vây hãm. Đại phu nước Trịnh là Thúc Thiêm phải tự sát để lấy lòng nước Tấn nhưng Văn công vẫn đòi bắt vua Trịnh. Trịnh Văn công bèn sai sứ đến gặp Tần Mục công, phân tích lợi hại: đánh Trịnh chỉ làm tăng uy thế của Tấn, không lợi gì cho Tần. Tần Mục công bèn tự mình rút quân. Tấn Văn công vây Trịnh không hạ được cũng bãi binh về nước. 628 TCN, Tấn Văn công mất. Thế tử Cơ Hoan lên nối ngôi, tức là Tấn Tương công. Tương công kế tục được ngôi bá chủ của Văn công để lại. 627 TCN Tần và Tấn lại ở vào thế xung đột ở trận Hào Sơn(nay nằm ở Đông Nam Tam Môn Hiệp, Hà Nam, Tần bại. 626 TCN Hùng Thương Thần giết cha là Sở Thành Vương trong cung, lên ngôi tức Sở Mục Vương. 625 TCN Tần đánh Tấn tại trận Bành Nha (nay nằm ở Đông Bắc Bạch Thủy, Thiểm Tây), quân Tần thất bại nặng nề. Năm 624 TCN, Tần Mục công thân dẫn quân đi đánh nước Tấn, sau khi vượt Hoàng Hà, Mục công thể hiện ý chí quyết thắng bằng việc ra lệnh thiêu hủy thuyền vượt sông. Quân Tần nhanh chóng chiếm được Vương Quan (nay ở phía Tây Văn Hỷ, Sơn Tây) khiến quân Tấn sợ hãi chỉ dám cố thủ trong thành không ra giao chiến, Mục công bèn dẫn quân Tần đi thu nhặt hài cốt của lính Tần tử trận trước kia rồi quay về nước để chuẩn bị mở mang bờ cõi sang phía Tây. 623 TCN Tần Mục công cử đại binh tấn công Tây Nhung và giành thắng lợi lớn khiến cho 20 tiểu quốc ở đây quay sang quy phục nước Tần khiến cho biên giới nước Tần được mở rộng chưa từng có, phía Nam giáp Tây Lĩnh, phía Tây vươn tới Địch Đạo (nay thuộc Lâm Thao, Cam Túc), phía Bắc đến Cù Diễn Nhung (nay thuộc Diêm Trì, Ninh Hạ), phía Đông giáp với Hoàng Hà. Danh tiếng bá chủ Tây Nhung của Tần Mục công làm vang dội chư hầu và ông được coi là một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu. 621 TCN Tần Mục công qua đời. 619 TCN Chu Tương Vương qua đời, con là Cơ Nhâm Thần lên ngôi tức Chu Khoảnh Vương. 614 TCN Sở Mục Vương mất, con là Hùng Lữ lên ngôi tức Sở Trang Vương. Đây là vị bá chủ cuối cùng của Xuân Thu Ngũ Bá. 613 TCN Chu Khoảnh Vương mất, con là Cơ Ban lên ngôi tức Chu Khuông Vương. 607 TCN Chu Khuông Vương mất, con là Cơ Du lên ngôi tức Chu Định Vương. 586 TCN Chu Định Vương mất, con là Cơ Di lên ngôi tức Chu Giản Vương. 572 TCN Chu Giản Vương mất, con là Cơ Tiết Tâm lên ngôi tức Chu Linh Vương. 551 TCN đức Khổng Tử ra đời. 548 TCN cha của Khổng Tử là Thúc Lương Ngột qua đời, từ đó hai mẹ con làm lụng kiếm sống. 545 TCN Chu Linh Vương mất, con là Cơ Quý lên ngôi tức Chu Cảnh Vương. 532 TCN, Khổng Tử lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác ở nước Lỗ. 529 TCN, Khổng Tử mở lớp dạy học, học trò của ông có 72 người là thành đạt, nổi danh. 522 TCN, Khổng Tử nhờ Lỗ Chiêu công giúp đỡ phương tiện để đi đến Lạc Ấp (kinh sư của nhà Chu) để học hỏi. 521 TCN Chu Cảnh Vương mất, con là Cơ Mãnh lên ngôi tức Chu Điệu Vương. 520 TCN Chu Điệu Vương bị vương tử Triều binh biến giết chết, lập Cơ Cái lên ngôi, tức Chu Kính Vương. 517 TCN, nước Lỗ qua cơn hoạn nạn, Khổng Tử cùng các đệ tử rời Lỗ đi khắp các nước để thuyết giảng Nho học. Khổng Tử sang Tề một thời gian. 511 TCN, Khổng Tử về Lỗ tiếp tục dạy học và viết sách. 510 TCN, Lỗ Chiêu công qua đời, con là Cơ Tống lên ngôi tức Lỗ Định công. 506 TCN Khổng Tử dẫn 30 học trò qua nước Thái. 501 TCN, Công Tôn Thất Nhiễu làm loạn ở ấp Phi, gia thần họ Quý sai người đến triệu Khổng Tử ra giúp. Khổng Tử từ chối. 500 TCN, Khổng Tử về Lỗ, được giao coi thành Trung Đô (Trung Đô Tể). 499 TCN, Khổng Tử được thăng chức Đại tư khấu (coi việc hình pháp), kiêm quyền tể tướng. Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị. 495 TCN, Lỗ Định công qua đời, con là Cơ Tương lên ngôi tức Lỗ Ai công. Khổng Tử được thăng chức Đại Tư Khấu. 491 TCN, Khổng Tử giết tham quan Thiếu Chính Mão, nước Lỗ hưng thịnh. Tề Cảnh công thấy vậy thì trả đất khi trước chiếm được cho Lỗ, còn ban nhiều mỹ nữ cho Lỗ Ai công. Lỗ Ai công đắm chìm tửu sắc. Kẻ gian hãm hại Khổng Tử nên Khổng Tử từ quan, cùng các học trò rời Lỗ mà đi. 490 TCN, Khổng Tử sang Vệ. 489 TCN Khổng Tử sang Thái. 483 TCN, Khổng Tử về Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách Ngũ Kinh: Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu. 479 TCN Khổng Tử qua đời, thọ 73 tuổi.
Nhà Tấn (, [tɕîn tʂʰɑ̌ʊ]; 266–420 theo dương lịch), là một trong Lục triều trong lịch sử, sau thời Tam Quốc và trước thời Nam Bắc triều ở Trung Quốc. Triều đại này do Tư Mã Viêm thành lập, sau thời kỳ Tam Quốc (220-280), với việc Tấn đánh chiếm Đông Ngô năm 280. Có hai giai đoạn lịch sử của nhà Tấn. Nhà Tây Tấn (265–316) là sự kế tục của Tào Ngụy sau khi Tư Mã Viêm chiếm quyền lực, và có thủ đô tại Lạc Dương hoặc Trường An. Tây Tấn thống nhất Trung Quốc năm 280, nhưng sau đó bị rơi vào một cuộc nội chiến và cuộc xâm lược của Ngũ Hồ. Miền Bắc bị xâm chiếm, cát cứ và bị chia tách thành Ngũ Hồ thập lục quốc. Các quốc gia nhỏ này đánh lẫn nhau và với nhà Tây Tấn, chuyển sang giai đoạn thứ hai của lịch sử triều đại, nhà Đông Tấn khi Tư Mã Duệ chuyển kinh đô về Kiến Khang (Nam Kinh ngày nay). Cuối cùng Đông Tấn bị nhà Lưu Tống tiêu diệt năm 420. Thống nhất Trung Hoa. Nhà Tây Tấn (西晉) bắt đầu hình thành quyền lực từ Tư Mã Ý, đại thần nhà Ngụy thời Tam Quốc. Sau khi Ngụy Minh đế Tào Duệ qua đời năm 239, vua nhỏ Tào Phương không có thực quyền, cha con Tư Mã Ý trở thành quyền thần. Năm 251, Tư Mã Ý chết, hai con Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu thay nhau nắm quyền. Ngay năm sau, Tư Mã Sư phế Vua Tào Ngụy Tào Phương, lập Tào Mao. Tư Mã Sư qua đời, Tư Mã Chiêu một mình nắm quyền. Năm 260, Tào Mao muốn trừ khử Tư Mã Chiêu, bị Tư Mã Chiêu ra tay giết và lập Tào Hoán lên thay, tức Ngụy Nguyên đế Tào Hoán. Sẵn có tiềm lực cả về kinh tế, dân số, về mặt quân sự, họ Tư Mã (họ) nắm quyền nước Ngụy là mạnh nhất trong số ba nước. Nước Thục và Ngô có dân cư thưa thớt hơn và ít của cải hơn, do đó dần dần bị nước Tào Ngụy lấn át. Sau nhiều năm vừa trấn áp sự chống đối của những người trung thành với nhà Tào Ngụy để củng cố quyền lực, vừa chống trả thành công những cuộc xâm lấn của Đông Ngô và Thục Hán, họ Tư Mã (họ) quyết định đánh Thục Hán khi nước này đã suy yếu và nội bộ mất đoàn kết. Năm 263, Tào Ngụy đánh Thục Hán và nhanh chóng tiêu diệt Thục Hán (đầu năm 264), vua Thục Hán là Lưu Thiện đầu hàng. Năm 264, Tư Mã Chiêu qua đời. Con cả Tư Mã Chiêu là Tư Mã Viêm lên thay. Tào Hoán thiện nhượng cho Tư Mã Viêm vào ngày Nhâm Tuất (13) tháng 12 năm Ất Dậu (tức 4 tháng 2 năm 266 theo dương lịch), Tư Mã Viêm lên ngôi Hoàng đế vào ngày Bính Dần (17) cùng tháng (tức 8 tháng 2), lập ra nhà Tấn, tức là Tấn Vũ đế (266-290). Tư Mã Ý được truy tôn làm Tuyên đế, Tư Mã Sư làm Cảnh đế, Tư Mã Chiêu làm Văn đế. Năm 280, Tấn Vũ đế chinh phục nốt nước Đông Ngô, bắt vua Đông Ngô là Tôn Hạo. Trung Quốc lại được thống nhất, và Tấn Vũ đế mở rộng quyền lực của mình về phía bắc đến trung tâm Triều Tiên và phía nam đến hết Giao Châu (Miền Bắc Việt Nam). Cai trị quốc gia. Trước sự hùng mạnh của Tây Tấn, những sự cướp phá chống Trung Quốc của Hung Nô và những bộ tộc khác tạm dừng trong một thời gian. Và chính sách định cư các bộ tộc bên trong Trung Quốc đã có kết quả. Triển vọng về một nền hòa bình, thống nhất và thịnh vượng bắt đầu. Để khắc phục tình trạng hao hụt dân số do chiến tranh thời Tam Quốc, ngay từ khi lên ngôi, Tấn Vũ Đế đề ra chính sách khuyến khích phát triển dân số: Năm 280, tính cả những dân lưu vong trở về, trên toàn lãnh thổ do nhà Tấn cai trị có 2.450.000 hộ, 16.163.863 nhân khẩu. Phân phong chư hầu. Để nhanh chóng dẹp các cuộc nổi dậy của các dân tộc thiểu số, nhà Tấn chia nhỏ các châu, quận vùng biên cương, giao cho các hoàng thân đi trấn giữ. Từ tổng số 12 châu thời nhà Hán tăng lên thành 19 châu trong toàn quốc: Tấn Vũ Đế không thay đổi nhiều chính sách của nhà Ngụy. Nhưng với chế độ phân phong cho họ hàng thì khác hẳn. Khi thi hành chính sách mới, nhà Tấn cho rằng sở dĩ Tào Ngụy dễ bị đoạt ngôi là vì nhà vua lẻ loi ở trung ương, không có vây cánh là hoàng tộc ở các địa phương, vì thế Vũ Đế chủ trương mở rộng các phiên vương trong hoàng tộc: Do việc tăng binh lực cho các thân vương trong hoàng tộc nên họ dễ gây ra nội chiến để giành ngôi, thực tế Loạn bát vương sau này cho thấy đây chính là một sai lầm cực đoan. Vũ Đế tìm cách quay lại thời kỳ vĩ đại của triều Hán, khi hòa bình và thịnh vượng có ở khắp đất nước và nhà Hán có được quyền lực trung ương mạnh. Tấn Vũ Đế đặt ra các cải cách nhằm mục đích kiềm chế quyền lực địa phương - quyền lực của các gia đình lớn. Nhưng những cải cách đó không thành công. Ông chết năm 290 khi thế lực của các chư hầu, lãnh chúa lớn ở Trung Quốc càng thêm lớn mạnh trong khi người kế vị không đủ năng lực nên nhà Tấn nhanh chóng bị suy yếu. Vấn đề người "ngoại tộc". Từ thời nhà Hán sang thời Tam Quốc, những người thiểu số như người Hung Nô, người Khương, người Tiên Ty , ý tưởng đề phòng sự nổi dậy của những tộc người này đã được Đặng Ngải nêu ra và Tư Mã Sư tán đồng, nhưng chưa thực hiện.. Tấn Vũ Đế đã tiến hành các chiến dịch quân sự chống người Tiên Ti và người Khương ở Tần Châu, Lương Châu (Cam Túc), trước khi tiêu diệt Đông Ngô. Kế hoạch quân sự này được các tướng Dương Hỗ, Vương Tuấn đầu Tây Tấn và Tể tướng Trương Hoa ủng hộ. Năm 271, thế lực của tộc Tiên Ti ở Lũng Hữu Cam Túc nhanh chóng lớn mạnh, tháng 6, Thụ Cơ Năng, thủ lĩnh bộ Thốc Phát giết chết Thứ sử Tần Châu Hồ Liệt. Tấn Vũ Đế phái Tư Khang Hiệu úy Thạch Giám làm An Tây Tướng quân, Đô đốc Lũng Hữu, Đỗ Dự làm An Tây quân sự đem quân đàn áp người Tiên Ty, đến năm sau tình hình Lũng Hữu mới yên ổn. Tuy nhiên ở phía bắc, Hữu hiền vương Nam Hung Nô là Lưu Mãnh lại dấy binh chống lại nhà Tấn ở Tinh Châu (Sơn Tây), sau cũng bị trấn áp. Khi Tấn Vũ Đế diệt Đông Ngô, Quách Khâm cũng đề cập nguy cơ này và khuyên Vũ Đế điều lưu dân ngoại tộc trở về bản quán để tách họ với người Hán; đồng thời điều quân vừa thắng Đông Ngô lên biên cương đề phòng, từng bước đẩy người thiểu số ra khỏi biên cương. Tuy nhiên, Tấn Vũ Đế đã không tiếp thu ý kiến này. Các nhà nghiên cứu hiện nay xem quyết định của Vũ Đế ít nhiều mang tính đạo lý để tránh xáo trộn xã hội.. Nhưng sau khi Tấn Vũ Đế qua đời, trào lưu bài trừ lưu dân trong triều Tây Tấn tiếp tục dấy lên, tiêu biểu là bài "Đồ Nhung luận" (Thuyết đuổi người Nhung) của Thái tử tẩy mã Giang Thống, cho rằng các tộc người không phải cùng tộc với người Hán thì lòng dạ họ tất khác nhằm di dời người thiểu số ra khỏi lãnh thổ đề nghị cho dời khỏi Quan Trung nhưng Triều đình không chấp nhận. Tuy nhiên những năm sau đó, việc Triều đình Tây Tấn theo đuổi chính sách này ngay trong "Loạn bát vương" đã dẫn đến các cuộc nổi dậy của lưu dân, trong đó hậu quả tai hại nhất là của Lý Đặc và Vương Nhung, góp phần càng làm suy yếu nhà Tấn. Triều đình Tây Tấn sau thời Vũ Đế đã không biết áp dụng hòa hợp dân tộc, dùng chính sách thù địch với người thiểu số nên mới dẫn đến loạn lạc. Bát vương chi loạn. Cùng với cái chết của Tấn Vũ Đế, Triều đình Tây Tấn lập tức xuống dốc. Một số đại thần từng khuyên Tấn Vũ Đế bỏ Thái tử Tư Mã Trung lập người khác nhưng Tấn Vũ Đế không nghe vì nể thông gia nhà đại thần Giả Sung. Tư Mã Trung lấy con gái Giả Sung là Giả Nam Phong, được lên kế vị, tức Tấn Huệ Đế, một hoàng đế đần độn. Sử chép lại một số câu chuyện về hoàng đế ngây ngô này. Khi nghe ếch kêu, Huệ Đế hỏi thị thần: "Ếch nó kêu vì việc công hay vì việc tư đấy?" Lúc nghe tin dân bị đói, đến gạo cũng không còn để ăn, Huệ Đế lại buột miệng hỏi: "Dân không có gạo ăn, sao không ăn thịt?" Quyền hành rơi vào tay Hoàng hậu Giả Nam Phong. Bà vốn đa nghi nên hay bắt đầu bắt giữ và hành quyết bất kỳ ai mà bà cho là một mối đe dọa cho vị trí của mình, kể cả những kẻ đối lập trong Hoàng gia. Trong vòng xoáy quyền lực đó, Giả Hậu muốn tận dụng các thân vương trừ khử lẫn nhau để loại bớt người không vây cánh nhưng rồi chính bà bị các hoàng thân trừ khử. Cuộc xung đột nổ ra giữa các hoàng thân nhà Tấn, sử gọi là Loạn bát vương ("Bát vương chi loạn") Những cuộc thanh trừng, bắt bớ tại Kinh đô xảy ra liên tục. Bên ngoài, các thân vương thi nhau dựng cờ "cần vương" nhưng thực chất để khuếch trương thế lực. Nhiều vương công và hàng vạn người bị giết. Hoàng hậu họ Giả không thể giết tất cả những kẻ đối nghịch với mình. Năm 300, một hoàng thân là Triệu Vương Tư Mã Luân đã làm đảo chính, giết Giả Hậu và nhiều người khác, đồng thời ép vị vua nhu nhược phải nhường ngôi. Đến lượt các vương hầu khác khởi binh chống lại Tư Mã Luân và giết ông chỉ sau 3 tháng. Vị vua nhu nhược Tư Mã Trung lại được lập làm Hoàng đế lần thứ hai. Tuy nhiên, cuộc chiến giữa các vương hầu không hề kết thúc. Số lượng người chết vì cuộc chiến rất lớn. Thêm vào đó, hạn hán và nạn đói liên tiếp xảy ra. Chính phủ Trung ương suy yếu và hoàn toàn bất lực trước sức mạnh của các lãnh chúa địa phương. Chu kỳ bước qua giai đoạn thống nhất giờ lại bước vào giai đoạn tan rã. Tám vị vương là tôn thất nhà Tấn gây ra bạo loạn gồm có: Người Tung, người Hung Nô nổi dậy. Loạn bát vương làm nhà Tây Tấn suy yếu trầm trọng. Khoảng 20 - 30 vạn người bị chết. Hàng loạt tôn thất có thế lực và tài năng bị giết, khiến Hoàng tộc khủng hoảng nhân sự không có người phò trợ. Chiến tranh xảy ra khiến nhiều vùng bị tàn phá. Các bộ tộc ngoại vi thừa cơ xâm nhập và làm loạn Trung Hoa. Tại vùng Quan Trung có lưu dân tộc người Tung, vì mất mùa mấy năm, kéo hàng chục vạn người vào quận Thục kiếm ăn. Nhà Tấn sai La Thượng vào Thục, ép lưu dân người Tung rời khỏi Ích Châu vào tháng 7 năm 302. Thủ lĩnh người Tung là Lý Đặc xin được gặt mùa xong, tới mùa đông sẽ đi. La Thượng không bằng lòng, mang quân đến đánh đuổi Lý Đặc. Người Tung bèn theo Lý Đặc và cháu là Lý Hùng nổi dậy làm phản, cát cứ Tây Xuyên mà nhà Tấn không còn khả năng quản lý. Sau khi Lý Đặc tử trận, Lý Hùng lập ra nước Thành Hán (303). Từ đó nhà Tây Tấn mất hẳn đất Thục. Trong Loạn bát vương, do khủng hoảng nhân sự, các vương nhà Tấn phải dùng tới các tướng sĩ người "Hồ" và họ nhân đó phát triển thế lực. Một bộ tướng của Thành Đô Vương Tư Mã Dĩnh (tham chiến bát vương) là Lưu Uyên đã lớn mạnh trong lúc các sứ quân họ Tư Mã giết hại lẫn nhau. Khi Loạn bát vương chấm dứt, Tư Mã Dĩnh đã bị giết; trong 8 vương chỉ còn lại Đông Hải Vương Tư Mã Việt nắm quyền trong triều. Lưu Uyên phát triển thành cánh quân độc lập. Năm 304, Uyên xưng làm vua, lập ra nhà Hán, sử gọi là Hán Triệu. Uyên mang quân đánh chiếm đất nhà Tấn. Tháng 11 năm 306, Huệ Đế Tư Mã Trung bị giết, Hoài Đế Tư Mã Xí được lập lên thay. Nhà Tấn phải đối phó với nguy cơ làm loạn của các ngoại tộc người Hồ tràn lan khắp Trung Nguyên. Giằng co với quân Hán Triệu. Bộ tướng cũ của Tư Mã Dĩnh là Công Sư Phiên khởi binh báo thù cho chủ. Thứ sử Duyện Châu Tuân Hi đánh bại và giết chết Phiên. Bộ tướng của Phiên là Cấp Tân và Thạch Lặc vẫn không chịu bãi binh. Năm 307, Tân và Lặc mang quân đánh chiếm Nghiệp Thành, giết Tân Thái Vương Tư Mã Đằng. Tư Mã Việt sai Tuân Hi mang quân đánh chiếm lại được Nghiệp Thành. Tân bỏ chạy rồi bị giết, còn Thạch Lặc chạy về hàng Lưu Uyên. Trong lúc đó, một cuộc nổi dậy do Lưu Bá Căn đứng đầu cũng bị dẹp yên. Căn bị giết, bộ tướng Vương Di đóng quân ở Hà Bắc cũng quy phục Lưu Uyên. Năm 308, Lưu Uyên sai con là Lưu Thông Nam tiến đánh Thái Nguyên, sai Thạch Lặc đánh đất Triệu, Ngụy, lại lệnh cho Vương Di đánh phá các châu. Vương Di lại liên tiếp khiến các châu Dự, Duyện, Từ, Thanh bị uy hiếp, Thứ sử Thanh Châu Tuân Hi (Tư Mã Việt điều Hi từ Duyện Châu về Thanh Châu) đối phó rất vất vả. Tháng 5 năm đó, Di tấn công Kinh thành Lạc Dương nhưng bị viện binh nhà Tấn đánh bại, phải chạy về nhập vào quân Lưu Uyên. Tháng 7 năm 308, quân Hán Triệu hạ được Bình Dương (Sơn Tây, Trung Quốc). Lưu Uyên dời đô về đây, xưng làm Hoàng đế. Tháng 9 năm đó, Vương Di và Thạch Lặc hợp binh tấn công Nghiệp Thành, tướng Hòa Úc bỏ thành chạy. Sau khi chiếm Nghiệp Thành, Thạch Lặc lại cùng tướng Hán Triệu khác là Lưu Linh đánh Ngụy Quận, Cấp Quận, Đốn Khâu, liên tiếp hạ 50 đồn. Các châu quận vùng Ký Nam, Hà Bắc bị tàn phá thời Loạn bát vương, binh lực yếu ớt, nên quân Hán Triệu tiến rất dễ dàng. Năm 309, Lưu Uyên sai Lưu Thông, Vương Di đánh Thượng Đảng. Thứ sử Tinh Châu Lưu Côn mang quân cứu. Tư Mã Việt ở Lạc Dương cũng sai Vương Khoáng đi cứu. Thông và Di hợp binh đánh bại hai cánh viện binh, sau đó lại chiếm lấy Đồn Lưu, Trưởng Tử khiến tướng giữ Thượng Đảng là Bàng Thuần cùng kế phải đầu hàng. Quận Thượng Đảng chỉ còn thành Tương Viên giữ được, Lưu Côn sai bộ tướng Trương Ỷ đến trấn thủ. Tháng 8 năm 309, Lưu Uyên tấn công Lạc Dương. Quân Tấn nhân lúc Uyên vừa thắng trận, chủ quan khinh địch, bất ngờ đánh úp khiến Uyên bị thua to, phải rút chạy. Tháng 10 năm đó, Uyên cùng các tướng Lưu Thông, Vương Di, Lưu Cảnh tấn công Lạc Dương lần thứ hai. Quân Tấn chống trả quyết liệt, giết chết 3 tướng Hô Diên Yến, Hô Diên Hạo, Hô Diên Lãng, lại chặn đường tiếp lương từ huyện Thiểm khiến quân Hán Triệu thiếu lương. Uyên phải rút quân về Bình Dương. Lạc Dương thất thủ. Năm 310, Lưu Uyên chết, con thứ Lưu Thông giết anh là Lưu Hòa lên ngôi, tức Chiêu Vũ Đế. Đầu năm 310, tướng Hán Triệu là Vương Di sai bộ tướng Tào Nghi đánh chiếm Đông Bình và tấn công Lang Nha; Thạch Lặc mang quân hợp với Di đánh 3 châu Từ, Duyện, Dự, chiếm được Yên Thành, giết Thứ sử Duyện Châu nhà Tấn là Viên Phu, sau đó đánh chiếm các quận thuộc Ký Châu. Khi đó phần lớn đất đai phía đông Lạc Dương đã bị mất, Thứ sử Thanh Châu Tuân Hi và Thứ sử Dự Châu Phùng Tổng có thực lực nhưng vì bất hòa với Tư Mã Việt nên không phát binh cứu. Trong lúc đó, Tư Mã Việt lại phạm sai lầm khác. Lưu dân Ung Châu đang ở Nam Dương, Việt hạ lệnh cho dân phải về quê. Lưu dân vì Quan Trung đã bị tàn phá không muốn về, Việt sai quân áp giải ép phải đi. Do đó lưu dân theo Vương Như làm loạn, đánh phá các huyện quanh Lạc Dương khiến nhà Tấn càng nguy khốn, bốn mặt phải thụ địch. Tháng 10 năm 310, các tướng Hán Triệu là Lưu Diệu, Lưu Xán (con Lưu Thông), Vương Di, Thạch Lặc chia đường cùng nhau tấn công Lạc Dương lần thứ ba. Trong thành lại thiếu lương, tình hình rất nguy cấp. Nhưng nội bộ nhà Tấn vẫn bị chia rẽ. Tư Mã Việt chuyên quyền, giết các tâm phúc của Tấn Hoài Đế khiến vua tôi càng mâu thuẫn. Lưu Côn ở Tinh Châu muốn mượn quân Tiên Ty của Thác Bạt Y Lư vào đánh Hung Nô nhưng Tư Mã Việt không nghe, vì sợ các địch thủ Tuân Hi, Phùng Tổng cũng đang trấn thủ phía bắc sẽ thừa cơ cùng tràn vào. Hoài Đế sai người đi cầu cứu, chỉ có Sơn Giản ở Tương Dương và Vương Trừng ở Kinh Châu muốn phát binh, nhưng hai cánh quân này lại bị quân của Vương Như (lưu dân Ung Châu) chặn đánh nên phải rút về cố thủ. Tháng 11 năm 310, Tư Mã Việt thấy Lạc Dương nguy cấp không thể giữ nổi, bèn mang 4 vạn quân sang Hứa Xương, bỏ lại Hoài Đế. Vương Diễn ở lại Lạc Dương không khống chế được tình hình hỗn loạn. Tháng 3 năm 311, Hoài Đế tức giận viết thư lên Thanh Châu sai Tuân Hi đánh Việt. Việt ở Hứa Xương đang thấy Thạch Lặc đến gần, lại bắt được thư của Hoài Đế gửi cho Tuân Hi, căm giận thành bệnh mà chết. Tư đồ Vương Diễn mang xác Việt ra ngoài chôn cất, bị Thạch Lặc chặn đánh, giết chết mấy vạn quân Tấn. Thạch Lặc bắt được Vương Diễn và quan tài của Tư Mã Việt. Lặc giết Diễn rồi băm xác Việt. Tuân Hi nhân lúc quân Hán Triệu đi đánh Việt, nới lỏng vòng vây bèn sai người mang "xe" đến Lạc Dương đón Hoài Đế. Nhưng các đại thần tiếc gia tài nên lần lữa không đi. Sứ của Tuân Hi phải trở về. Mãi sau, liệu tình hình không thể ở được, Hoài Đế đành tự "đi bộ" với vài chục quan viên, ra ngoài thành Lạc Dương bị lưu dân chặn đường trấn lột hết đồ mang theo, buộc phải quay trở lại. Thạch Lặc cùng Vương Di, Hô Diên Yến biết Lạc Dương đã rất rệu rã, mang quân quay trở lại, ồ ạt tấn công lần thứ tư. Ngày 11 tháng 6, quân Hán Triệu phá được cửa Nam, kéo vào thành, giết 3 vạn quân dân nhà Tấn, bắt sống Hoài Đế và Dương Hoàng hậu thứ hai của Tấn Huệ Đế. Kinh thành Lạc Dương bị cướp bóc và tàn phá. Trường An thất thủ. Vua Tấn bị bắt nhưng vẫn không ai lập vua thay để có chính lệnh điều khiển thiên hạ cứu vãn tình thế. Tuân Hi nắm được Dự Chương Vương Tư Mã Đoan (cháu Hoài Đế), đang định đưa lên ngôi. Tháng 8 năm 311, tướng Hán là Lưu Xán và Lưu Diệu (con nuôi Lưu Uyên) đánh chiếm Trường An, bắt giết Nam Dương Vương Tư Mã Mô. Sang tháng sau, Thạch Lặc đánh chiếm Mông Thành, bắt sống Tuân Hi và Tư Mã Đoan. Khi Lạc Dương thất thủ, một người cháu Hoài Đế là Tần Vương Tư Mã Nghiệp chạy về huyện Mật, gặp cậu là Tư không Tuân Phiên. Vừa lúc đó Thứ sử Dự Châu Diêm Đỉnh mộ được vài ngàn quân ở đó, bèn cùng hợp binh cố thủ. Các tướng Quan Trung là Sách Lâm, Giả Thất dấy binh khôi phục nhà Tấn, được dân Quan Trung hưởng ứng, mang quân bao vây Trường An. Lưu Diệu và Lưu Xán thua trận, phải cố thủ. Tới tháng 4 năm 312, Giả Thất chiếm được Trường An, hai tướng Hán phải bỏ chạy về Bình Dương. Giả Thất sai người đi đón Tư Mã Nghiệp về Ung Thành rồi rước về Trường An. Tháng 9 năm 312, Nghiệp được tôn làm Thái tử. Nhưng khi quân địch rút lui, các tướng Tấn là Giả Thất, Sách Lâm và Diêm Đỉnh lại tranh giành quyền bính. Tháng 12 năm đó, Giả Thất giao chiến với tướng Hán là Bành Thiên Hộ tử trận. Quân Hán rút đi, Diêm Đỉnh giết Lương Tổng; Sách Lâm và Cúc Doãn lại mang quân đánh và giết chết Diêm Đỉnh. Năm 313, Tấn Hoài Đế bị Lưu Thông giết ở Bình Dương. Sách Lâm tôn Tư Mã Nghiệp lên ngôi, tức Tấn Mẫn Đế (313-316). Mẫn Đế viết chiếu, triệu các trấn cần vương đánh Hung Nô: Vương Tuấn ở U Châu, Lưu Côn ở Tinh Châu, Tư Mã Bảo (con Tư Mã Mô) ở Thượng Khuê, Tư Mã Tuấn ở Giang Nam. Tuy nhiên Vương Tuấn chỉ lo cát cứ phát triển thế lực riêng, Lưu Côn không đủ thực lực vốn phải dựa vào các bộ lạc người Tiên Ty mới đứng được ở Tinh Châu, Tư Mã Tuấn muốn yên ổn ở Giang Nam, lấy cớ đánh dẹp quân phiến loạn Đỗ Thao nên không phát binh; còn Tư Mã Bảo rất yếu không có khả năng đương đầu với quân Hán. Sách Lâm và Cúc Doãn ở Trường An phải đơn độc chiến đấu với quân Hung Nô. Dù quân Tấn vài lần đánh lui được địch nhưng ngày càng hao mòn, lại không được tiếp viện nên không thể giữ lâu. Tháng 8 năm 316, Lưu Diệu tấn công Trường An lần nữa. Thành ngoài bị mất nước, Sách Lâm phải lui vào thành nhỏ. Trong thành giá 1 đấu gạo lên tới 2 lượng vàng, người trong thành giết nhau để ăn. Mẫn Đế cùng đường, bèn bàn với Cúc Doãn "nhẫn nhục ra hàng, để cứu sĩ dân". Sách Lâm mưu tính việc riêng, sai người ra nói với Lưu Diệu rằng trong thành đủ lương, nhưng nếu Lâm được phong chức lớn thì Lâm sẽ hàng. Lưu Diệu cự tuyệt. Ngày 11 tháng 11 (tức 11 tháng 12 DL) năm đó, Mẫn Đế mang ngọc tỷ truyền quốc ra hàng, bị giải về Bình Dương, phong làm Hoài An Hầu. Cúc Doãn tự vẫn trong ngục, Sách Lâm bất trung nên bị Lưu Thông giết chết. Nhà Tây Tấn diệt vong, tồn tại được 52 năm, có tất cả bốn vua. Hơn 1 năm sau, Mẫn Đế bị Lưu Thông giết ở Bình Dương khi mới 18 tuổi. Tấn Nguyên Đế cố thủ ở Giang Nam. Trong lúc Ngũ Hồ tràn vào Trung Nguyên, thân thuộc nhà Tấn bỏ chạy từ phía bắc về phía nam và tái lập nhà Tấn ở thành Kiến Khang, nằm ở phía đông nam Lạc Dương và Trường An, gần Nam Kinh ngày nay, dưới quyền Lang Nha Vương (琅邪王) Tư Mã Tuấn. Từ năm 307, khi Loạn bát vương sắp kết thúc, Tư Mã Tuấn được Tư Mã Việt cử đi Dương Châu, cai quản vùng Giang Nam. Đi cùng Tư Mã Tuấn có văn thần Vương Đạo. Khi đến Giang Nam, Tư Mã Tuấn hoàn toàn dựa vào Vương Đạo về chính sách và anh họ Đạo là Vương Đôn về quân sự. Khi đó Giang Nam cũng vừa trải qua vụ biến loạn của Trần Mẫn, sau đó lại nổ ra cuộc nổi dậy của Đỗ Thao (311). Vương Đôn đánh dẹp cuộc nổi dậy của các tướng sĩ vùng trung du Trường Giang, trở thành lực lượng quân sự mạnh. Vì phương bắc bị Ngũ Hồ đánh chiếm, nhiều thế tộc, nhân sĩ phương Bắc chạy xuống miền Nam theo Tư Mã Tuấn. Theo chủ trương của Vương Đạo, Tư Mã Tuấn ra sức lấy lòng nhân sĩ Giang Nam để củng cố hậu phương, không có ý định Bắc tiến đánh Ngũ Hồ. Tuy nhiên bề ngoài, ông vẫn tỏ ra hưởng ứng Bắc phạt để khôi phục Trung Nguyên. Triều đình Tây Tấn bị quân Hán Triệu uy hiếp mạnh mẽ. Năm 313, Tấn Mẫn Đế ở Trường An phát hịch kêu gọi các trấn cần vương, sai sứ đến Kiến Khang cầu viện. Tư Mã Tuấn theo lời Vương Đạo, lấy lý do phải lo đánh dẹp Đỗ Thao mà từ chối cần vương. Năm 316, tin Tấn Mẫn Đế bị quân Hán Triệu bắt truyền tới, các tướng gốc phương Bắc, đứng đầu là Tổ Địch kiên quyết đề xướng Bắc tiến, nhưng Tư Mã Tuấn chỉ ủng hộ bề ngoài. Ông mặc áo giáp ra trước hàng quân, như chuẩn bị làm lễ ra quân, nhưng sau đó lấy lý do thiếu lương, mang một viên quan nhỏ phụ trách việc lương ra chém, rồi trì hoàn luôn việc Bắc phạt. Tổ Địch tự mình phải xoay xở việc quân lương đi đánh Ngũ Hồ, cũng chỉ được cấp phát ít lương. Không lâu sau, tin Tấn Mẫn Đế bị Lưu Thông giết hại truyền tới, các tướng đứng đầu là anh em Vương Đôn và Vương Đạo cùng tôn Tư Mã Tuấn lên ngôi để kế tục nhà Tấn. Các họ lớn ở đó gồm có Chu (朱), Cam, Lữ, Cổ, Chu (周) ủng hộ Lang Nha Vương tự phong làm vua, tức là Nguyên Đế của triều Đông Tấn (東晉, 317-420). Bởi vì các vị vua triều Đông Tấn thuộc dòng dõi Lang Nha Vương, vốn là chi dưới trong họ Tư Mã, các nước Ngũ Hồ đối nghịch không công nhận tính chính thống của nó và lúc ấy họ gọi Tấn là "Lang Nha". Đường lối chính trị của Vương Đạo. Tể tướng Vương Đạo (276 -339) chấp chính trong 33 năm suốt 3 triều vua Nguyên Đế, Minh Đế, Thành Đế chủ trương đường lối bảo vệ quyền lực Hoàng đế, cân bằng các sĩ tộc hai vùng Giang Bắc và Giang Nam, nhượng bộ và buông lỏng với thế gia đại tộc. Những chính sách có hại cho giai tầng sĩ tộc đều được Vương Đạo né tránh không áp dụng. Mặt khác, Vương Đạo tác động các vua Tấn chủ trương giữ vững Giang Nam, không dốc sức Bắc phạt, vì thực lực nhà Đông Tấn mới tụ ở Giang Nam không đủ mạnh để làm chiến tranh toàn diện và chưa hoàn toàn dàn xếp được mâu thuẫn giữa các tầng lớp sĩ tộc nam, bắc. Quan điểm của Vương Đạo là "cứ bình tĩnh, cầu sao cho hòa hoãn tạm thời rồi mọi việc đâu lại vào đấy". Chính sách này được các tể tướng Đông Tấn kế thừa và áp dụng mãi cho đến khi một người dòng họ Tư Mã lên nắm quyền là Tư Mã Đạo Tử mới thay đổi. Do Tấn Nguyên Đế hoàn toàn dựa vào anh em Vương Đôn, Vương Đạo khi cai trị, đương thời có câu "Vương và Mã chung thiên hạ". Dù có người anh họ Vương Đôn mưu việc phản nghịch chống Triều đình nhưng Vương Đạo vẫn trước sau trung thành với nhà Đông Tấn. Vương Đạo được mệnh danh là hiền tướng đương thời. Nhờ vậy chính quyền Đông Tấn vẫn tồn tại qua hai cuộc nổi loạn của Vương Đôn và Tô Tuấn. Hai vụ biến loạn. Vương Đôn là anh họ Vương Đạo, lấy công chúa con Tấn Vũ Đế, sau làm Thứ sử Thanh Châu, đang nắm lực lượng quân sự mạnh ở trung du sông Trường Giang, được phong là Trấn Đông Tướng quân, Đô đốc quân sự lục châu Giang, Hoài, Kinh, Tương, Giao, Quảng. Năm 320, mâu thuẫn giữa Tấn Nguyên Đế và Vương Đôn lên đến đỉnh điểm, Vương Đôn ngày càng có nhiều tham vọng kiểm soát các tỉnh phía tây. Sang năm sau, Nguyên Đế lệnh cho các tướng Đới Uyên, Lưu Quỹ đem quân chống cự Hậu Triệu phương Bắc nhưng thực tế để ngăn ngừa Vương Đôn. Mùa xuân năm 322, Vương Đôn bắt đầu chống lại Nguyên Đế, tuyên bố Nguyên Đế bị Lưu Quỹ và Diêu Hiệp lừa dối, lấy danh nghĩa nhằm làm trong sạch chính quyền. Vương Đôn thuyết phục Thứ sử Lương Châu Cam Trác và Thứ sử Tương Châu Biện Cổn ủng hộ. Hai người không ai hưởng ứng nhưng cũng không ngăn chặn hành động của Vương Đôn. Vương Đôn chuyển lực lượng từ Vũ Xương (Kinh Châu) đến Cô Thục (Dự Châu, nay là Mã An Sơn, An Huy) để gần Kinh thành Kiến Khang hơn. Nguyên Đế phái Vương Đạo làm Tiên phong Đại đô đốc chỉ huy chống lại Vương Đôn, Ôn Kiều làm Trung lũy Tướng quân, Đô đốc Đông An, thống lĩnh quân đội phía bắc. Vương Đôn tiến quân về Kiến Khang, đánh bại lực lượng của Nguyên Đế. Lưu Quỹ và Điêu Hiệp thất bại. Lưu Quỹ chạy sang Hậu Triệu, trong khi Điêu Hiệp, Đới Uyển, Bộc xạ Chu Kỷ và một số khác bị giết. Nguyên Đế buộc phải nhượng bộ và gia tăng quyền lực cho Vương Đôn. Vương Đôn thỏa mãn với điều đó và không tính chuyện lật đổ Nguyên Đế, rút về Vũ Xương (Hồ Bắc), đánh bại Tư Mã Thành, đồng thời ám hại Cam Trác. Năm 323, Tấn Nguyên Đế lâm bệnh và mất. Vương Đôn sau khi diệt gia tộc họ Chu người Giang Nam gây bất bình cho nhiều người, lại định ngăn cản Thái tử Tư Mã Thiệu kế vị. Tuy nhiên do nhiều người phản đối nên Đôn phải chấp thuận để Thái tử Thiệu lên nối ngôi, tức Tấn Minh Đế. Minh Đế quyết tâm diệt trừ Vương Đôn, triệu kiến Hy Giám là thủ lĩnh các nhóm vũ trang của lưu dân, bổ nhiệm làm Thượng thư lệnh, bổ nhiệm Ôn Kiều làm Thị trung. Minh Đế lại cử một thủ lĩnh lưu dân khác là Hoàn Di làm Tán kỵ Thường thị, thuyên chuyển Đào Khản (259 -334), từng là tướng dưới trường Vương Đôn, đang làm Thứ sử Quảng Châu đến Giang Châu làm Thứ sử, chuẩn bị đối phó với Vương Đôn. Tuy nhiên khi Minh Đế bổ nhiệm Hy Giám đến nắm quyền quân chính ở Hợp Phì, ngay sát cạnh Cô Thục thì Vương Đôn phản đối quyết liệt, buộc Minh Đế phải rút lại quyết định.. Năm 324, nội chiến lại bùng nổ. Quân Vương Đôn ồ ạt tiến xuống vùng hạ du Trường Giang, liền bị các lực lượng vũ trang của lưu dân đóng ở nam sông Hoài chặn đứng. Lúc đó Vương Đôn lâm bệnh. Minh Đế điều Vương Đạo làm Đại đô đốc, cùng các tướng Biện Đôn, Tô Tuấn, Hy Giám, Dữu Lượng, Ôn Kiều, Tổ Ước mang quân về bảo vệ Kinh thành Kiến Khang. Vương Đôn có điều binh đánh Kiến Khang, bị các tướng cần vương đánh lui. Thủ hạ Đôn là Tiền Phụng, Thẩm Sung bị giết. Giữa lúc đó, Đôn ốm chết, thế lực tan rã nhanh chóng, nhưng phía Triều đình Đông Tấn cũng bị tổn thương lớn. Dẹp được Vương Đôn nhưng Minh Đế lại mất sớm. Năm 326, Minh Đế qua đời, các quan phụ chính là Tây Dương Vương Tư Mã Dạng, Vương Đạo, Biện Đôn, Lữ Nghiệp, Hy Giám, Dữu Lượng, Ôn Kiều được Minh Đế tin cậy giao phó việc nước giúp Thái tử Tư Mã Diễn mới có 4 tuổi. Tư Mã Diễn lên ngôi, tức Thành Đế. Trong thời gian trị vì của Thành Đế, anh em Dữu Lượng và Dữu Băng gia tăng quyền lực, bên cạnh Vương Đạo và Tư không Hà Xung (292-346). Dữu Lượng phải đối đầu với Tô Tuấn, một thủ lĩnh khác của lưu dân vùng Sơn Đông. Cha Tô Tuấn từng làm Thừa tướng cho Hậu Chủ Lưu Thiện nước Thục đời Tam Quốc. Tô Tuấn trong khi bình định vụ nổi loạn của Vương Đôn đã mở rộng thế lực, được Triều đình bổ nhiệm làm Thái thú Lịch Dương, đóng quân đồn trú, mộ thêm quân, thu nạp những kẻ tù tội bị truy nã, uy hiếp Kiến khang, khống chế Triều đình từ xa. Tô Tuấn liên minh với Tổ Ước, Thứ sử Dự Châu - là em Tổ Địch (vừa mất năm 321) đóng quân ở Thọ Xuân. Năm 326, Tô Tuấn tố cáo Nam Đốn Vương Tư Mã Tông, em Tư Mã Dạng phản nghịch và giết chết, đồng thời lật đổ Tư Mã Dạng. Năm 327, Dữu Lượng (289 – 340) bổ nhiệm Tô Tuấn làm Đại tư nông, chức quan phụ trách các công việc nông nghiệp không liên quan gì đến việc quân sự nhằm ngăn chặn thế lực của Tô Tuấn. Tô Tuấn liền tìm kiếm liên minh với các viên quan có thế lực khác như Tổ Ước để chống lại anh em họ Dữu. Trong khi họ Dữu chủ trương đối đầu với Tô Tuấn thì Vương Đạo lại ôn hòa hơn. Dữu Lượng tự tin với lực lượng hiện có đủ mạnh để chế ngự Tô Tuấn nên không cần đến đề nghị hỗ trợ của Ôn Kiều, lệnh cho Ôn Kiều không được đem quân từ Giang Châu về bảo vệ Kiến Khang. Tháng 12 năm 327, Tô Tuấn cùng Tổ Ước hợp binh nổi loạn. Bộ tướng của Tuấn là Hàn Hoảng đánh vào Cô Thục, đoạt hết lương thực trong thành. Dữu Lượng vội ra lệnh giới nghiêm ở Kiến Khang, sai Biện Hồ giữ thế thủ. Đầu năm 328, Ôn Kiều vội mang quân về đóng ở Tầm Dương ứng cứu Kinh thành. Đầu tháng 2, Tô Tuấn mang 2 vạn quân đánh tan quân Triều đình ở Ngưu Chử rồi tiến đánh Kiến Khang. Cha con Biện Hồ chống cự bị thua, đều tử trận. Dữu Lượng chạy đến Giang Châu thuộc quyền cai trị của Ôn Kiều. Tuấn đánh vào Kinh thành Kiến Khang với danh nghĩa trị kẻ có tội là Trung thư lệnh Dũu Lượng, giết chết Hoàn Di, khống chế Thành Đế (lên 8 tuổi) và Dữu Thái hậu. Tuy nhiên vì không có mâu thuẫn với Vương Đạo nên Tuấn vẫn để ông làm Thừa tướng. Tháng 5 năm 328, Ôn Kiều hợp lực với Đào Khản được 4 vạn quân, cùng đánh Tô Tuấn. Tuấn mang Thành Đế chạy vào cố thủ trong thành Thạch Đầu. Vương Đạo cũng bí mật sai người ra liên lạc với các tướng ở Ngô Quận, Ngô Hưng và Cối Kê cần vương. Hai mặt cùng đánh Thạch Đầu. Tháng 5 nhuận, Hy Giám cũng hội binh với Đào Khản, Khổng Khản cũng trốn trong thành Thạch Đầu ra, điều quân mấy mặt vây đánh. Quân Tô Tuấn tuy mạnh nhưng bắt đầu bị mất ưu thế. Giữa lúc đó, Vua Hậu Triệu là Thạch Lặc nhân Đông Tấn có loạn lại Nam tiến. Tháng 7 năm 328, quân Hậu Triệu tấn công. Thuộc hạ của Tổ Uớc lại tư thông với địch, dẫn quân Hậu Triệu qua sông Hoàng Hà. Tổ Ước vội bỏ Tô Tuấn chạy về Lịch Dương. Tô Tuấn cô thế. Vương Đạo thừa cơ cùng con trốn thoát ra ngoài. Quân Hậu Triệu bắt 2 vạn dân Thọ Xuân rồi rút lui. Tháng 9 năm 328, Tô Tuấn ra giao chiến với quân Đào Khản và Ôn Kiều, ngã ngựa bị giết. Trong thành Thạch Đầu tôn em Tuấn là Tô Miễn làm thống soái. Tháng 1 năm 329, Đào Khản tiến đánh Tổ Ước ở Lịch Dương. Tổ Ước chạy sang hàng Hậu Triệu. Tháng 2 năm 329, Ôn Kiều và Đào Khản hạ thành Thạch Đầu, giết chết Tô Miễn. Bộ tướng họ Tô là Hàn Hoảng, Trương Kiện chạy đến Bình Lăng thì bị quân của Hy Giám đuổi kịp giết chết. Triều đình Đông Tấn phải mất 1 năm mới dẹp xong loạn Tô Tuấn. Khi trừng trị Tô Tuấn và đồng bọn, Vương Đạo lại có thái độ khoan dung. Thứ sử Tương Châu Biện Đôn giữ thái độ trung lập trong cuộc nổi loạn chỉ phải bị đổi làm Thứ sử Quảng Châu. Hậu tướng quân Quách Mặc xuất thân là trộm cướp dám giả chiếu chỉ để tấn công giết chết Bình Nam Tướng quân Lưu Dẫn, Vương Đạo vì sợ thực lực của Quách Mặc nên đã ân xá, cử Quách Mặc đi làm Thứ sử Dự Châu. Tuy nhiên Đào Khản được Dữu Lượng ủng hộ đã đem quân đánh bại và giết chết Quách Mặc, Vương Đạo cũng làm thinh thừa nhận sự thật đó. Đào Khản được phong Trường Sa Quận Công, sau đó được cử làm Đô đốc quân sự 8 châu Kinh, Giang, Ung, Lương, Giao, Quảng, Ninh, Ích; kiêm thứ sử 2 châu Kinh, Giang. Ôn Kiều được phong làm Thủy An Công, nhường chức vụ nhiếp chính cho Vương Đạo. Vương Đạo tiếp tục cầm quyền. Đối phó với Ngũ Hồ. Tổ Địch Bắc phạt. Tổ Địch là người phương Bắc di cư xuống miền Nam khi Trung Nguyên bị Ngũ Hồ đánh chiếm. Ông là người hăng hái Bắc tiến nhất, nhưng vì Tấn Nguyên Đế và Vương Đạo chủ trương cố thủ ở Giang Nam nên không ủng hộ mạnh mẽ cho đề nghị của ông. Tổ Địch phải tự mình mộ quân, tích lương, độc lập tác chiến với quân Ngũ Hồ. Tuy đánh thắng quân Hậu Triệu nhiều trận, khôi phục được nhiều châu quận phương Bắc nhưng lúc đó nhiều thành trì và tướng lĩnh còn lại của nhà Tấn ở Trung Nguyên như Lưu Côn, Vương Tuấn, Lý Củ... đã bị Ngũ Hồ chia cắt và đánh bại nên cả hai mặt nam, bắc Tổ Địch đều không được phối hợp. Việc tranh chấp quyền lực ở Giang Nam giữa Triều đình với Vương Đôn khiến Triều đình hoàn toàn không quan tâm chi viện cho Tổ Địch. Ông phẫn chí sinh bệnh và qua đời năm 321. Em ông Tổ Ước yếu thế trước quân Hậu Triệu phải rút về Nam. Đất đai giành được ở phía bắc bị quân Hậu Triệu chiếm lại. Thụ động phòng ngự. Sau cuộc biến loạn của Tô Tuấn và Tổ Ước, các lực lượng quân sự địa phương của Đông Tấn đã để mất nhiều vùng đất đai vào tay nhà Hậu Triệu. Các thành quan trọng bị mất là Lạc Dương, Thọ Xuân, Tương Dương. Năm 333, Ninh Châu (Quý Châu, Vân Nam) cũng bị Thành Hán chiếm, mãi đến năm 339 mới thu hồi được. Thị trung Thái úy Đào Khản giữ trọng trách đóng quân ở Vũ Xương nắm quyền Đô đốc 8 châu Kinh, Giang, Ung, Lương, Giao, Quảng, Ninh, Ích kiêm Thứ sử các châu Giao, Ninh, Kinh, hùng cứ tại Trường Giang, nhưng chỉ những lúc quân Hậu Triệu xâm phạm mới phản kích. Năm 332, Đào Khản phản công giành lại được Tương Dương, được phong tước Trường Sa Công. Vương Đạo cùng Dữu Lượng chấp chính vẫn có thái độ lạnh nhạt với Bắc phạt, luôn luôn lo sợ sẽ xuất hiện một Vương Đôn lần thứ hai, mãi đến khi Đào Khản chết bệnh năm 334, họ mới hết lo lắng. Nhà Tấn bị mất một tướng tài. Họ Dữu bắc phạt. Năm 337, thủ lĩnh người Tiên Ty là Liêu Đông Công Mộ Dung Hoảng, từng là chư hầu của Đông Tấn, tuyên bố tước vị Yên Vương, thành lập nước Tiền Yên. Năm 339, Vương Đạo chết, được Triều đình phong tước Thủy Hưng Công; họ Dữu trở lại nắm quyền. Trong số các thế gia đại tộc Giang Nam, họ Dữu là 1 họ lớn cùng với các gia tộc Vương, Hy, Tạ. Họ Dữu khởi đầu quyền lực từ Dữu Trân làm Thái thú Cối kê, sau đó Dữu Văn Quân nhập cung làm Hoàng hậu của Tấn Minh Đế. Trung thư lệnh Đô đình hầu Dữu Lượng (289 – 340, tự là Nguyên Quy) và Dữu Ký cùng chủ trì chấp chính có đường lối chính trị tích cực hơn, đối với các sĩ tộc vi phạm pháp luật họ mạnh dạn trừng trị và tích cực chuẩn bị bắc phạt. Họ Dữu muốn mở cuộc tấn công lớn về phía Hậu Triệu, nhằm giành lại Trung Nguyên. Dữu Lượng và Dữu Ký lần lượt ra làm Thứ sử Kinh Châu, Dự Châu, Giang Châu, trấn giữ Vũ Xương, giứ chức Đô đốc các châu phía tây, phòng thủ vùng trung du Trường Giang. Dữu Ký còn chuyển đến đóng ở Tương Dương, trưng dụng các loại xe bò, xe ngựa, điều động nô lệ tư gia làm lính vận chuyển lương thực. Việc chinh chiến gặp phải sự phản đối của các thế gia đại tộc Hy Giám và Thái Mô. Với đường lối chính trị trong sạch của họ Dữu đã phá vỡ sự cân bằng quyền lực giữa Nhà vua và các thế gia đại tộc. Thành Đế cũng yêu cầu Dữu Lượng không được gây chiến nữa. Thành Đế tham dự một phần giải quyết việc triều chính. Hà Xung và Dữu Băng tìm cách thay đổi chính sách của Vương Đạo nhưng không được hiệu quả cao như trước. Năm 339 Dữu Lượng tiếp tục kế hoạch quân sự nhằm chống lại nhà Hậu Triệu mặc dù gặp phải sự phản đối của các thế gia đại tộc Hy Giám và Thái Mô. Tuy nhiên họ Dữu không có tài cầm quân, bị quân Hậu Triệu đánh bại, gây thiệt hại nặng cho các thành Đông Tấn ở Bắc Trường Giang và chiếm Thục Thành (Hoàng Cương, Hồ Bắc). Bị thất bại, Dữu Lượng chán nản lâm bệnh chết vào đầu năm 340, được Triều đình phong tước Vĩnh xương công. Dữu Ký, Hà Xung và Dữu Băng đưa Phò mã của Tấn Minh Đế là Thứ sử Từ Châu Vạn Ninh Bá Hoàn Ôn (312 – 373, con Hoàn Di) ra nắm binh quyền, làm Đô đốc Ninh Châu, Kinh Châu, Tương Châu. Sau khi Dữu Ký chết, họ Dữu muốn đưa người con ông ta là Dữu Viên tiếp tục giữ chức Đô đốc nắm quyền quân sự, càng làm Hoàng gia và thế gia đại tộc hoài nghi. Đồng thời để kiềm chế Hoàn Ôn, họ lại đưa ra người phản đối đường lối chính trị trong sạch là Cố Hòa, người nổi tiếng về thanh đàm (bình luận suông - xem phần Văn hóa khoa học bên dưới) là Ân Hạo và một nhân vật khác phản đối quyết liệt việc Bắc phạt là Thái Mô để chủ trì triều chính, trở về với phương chân chính trị cũ của Vương Đạo.. Năm 343, Dữu Dực (cậu Khang Đế) đề nghị tiến hành kế hoạch quân sự chống Hậu Triệu, liên minh với Tiền Yên và Tiền Lương. Kế hoạch được sự đồng tình của nhiều quan lại có thế lực như Dữu Băng, Hoàn Ôn. Tuy nhiên Dữu Dực chỉ tiến hành một số hoạt động quân sự nhỏ, mục đích chính là gây dựng thế lực cho họ Dữu mà không lập được công lớn trong việc chống Ngũ Hồ. Trong 2 năm 344 - 345, Dữu Băng và Dữu Dực lần lượt qua đời, quyền lực họ Dữu chấm dứt, Hà Xung nắm quyền Trung thư lệnh trọng dụng Hoàn Ôn giao cho trọng trách chỉ huy quân đội tại Kinh Châu, Ninh Châu. Năm 346, Hà Xung mất, Thái Mô lên thay. Đồng thời Hoàng gia cũng cử Tư Mã Dục (con Tấn Nguyên Đế, em Tấn Minh Đế) làm Trung thư lệnh (tức Tể tướng) trong suốt các triều Tấn Mục Đế, Tấn Ai Đế, Tấn Phế Đế và về sau được Hoàn Ôn lập làm vua, tức Giản Văn Đế (371 - 372). Hoàn Ôn Bắc phạt. Trong thời gian Mục Đế cai trị (344 – 361), quyền lực trong triều thuộc về tay Chinh Bắc Tướng quân Hoàn Ôn. Hoàn Ôn tiến hành các chiến dịch quân sự không cần sự phê chuẩn của Triều đình. Năm 347, Hoàn Ôn nhân khi nước Thành Hán ở Tứ Xuyên suy yếu, có tranh chấp nội bộ, bèn đem quân đi đánh. Kết quả Hoàn Ôn nhanh chóng tiêu diệt Thành Hán. Tháng 4 năm 349, nhân khi Vua Hậu Triệu là Thạch Hổ chết, nước Hậu Triệu đại loạn. Vua nước Nhiễm Ngụy mới thành lập là Nhiễm Mẫn theo chính sách diệt ngoại tộc người Hồ, kêu gọi Đông Tấn Bắc tiến diệt Ngũ Hồ. Hoàn Ôn bèn dâng biểu xin Triều đình Bắc phạt. Tuy nhiên, Triều đình sợ ông mang quân thu phục được Trung Nguyên thì sẽ khó kiềm chế nên không chấp thuận ý kiến của ông. Ân Hạo được phong chức Kiến Vũ Tướng quân kiêm Thứ sử Dương Châu, nắm quyền chỉ huy quân đội ở hạ du Trường Giang đồng thời tham gia triều chính. Tháng 6 năm 349, tướng Hậu Triệu là Vương Giáp dâng thành Thọ Xuân cho Đông Tấn. Tấn Mục Đế sai Ân Hạo làm Trung quân Tướng quân kiêm Đô đốc 5 châu: Dương, Dự, Từ, Duyện, Thanh để chỉ huy Bắc phạt chứ không cử Hoàn Ôn. Ân Hạo bất tài, đánh trận thua liên tục. Năm 352, sau hàng loạt biến cố ở phương Bắc, Hậu Triệu và Nhiễm Ngụy bị tiêu diệt. Thái tử Nhiễm Trí con Nhiễm Mẫn bị Tiền Yên vây khốn, bèn xin nhờ tướng Tạ Thượng của Đông Tấn dâng biểu xin hàng, nhưng nhà Tấn vẫn không phát binh. Kết quả Tiền Yên diệt hẳn Nhiễm Ngụy, trong khi đó nước Tiền Tần của người Đê do cha con Phù Hồng - Phù Kiện thành lập năm 350 cũng đứng vững, cùng Tiền Yên chia nhau cai trị Trung Nguyên. Đầu năm 354, Hoàn Ôn viết sớ kể tội Ân Hạo, xin cách chức Hạo. Vua Tấn không có cách nào khác, đành cách chức Hạo làm thường dân, đày đến Tấn An (Cù Châu, Chiết Giang) và giao binh quyền cho Ôn. Năm 354, ông tiến quân đánh Tiền Tần, đến gần thành Trường An, nhưng thiếu lương nên phải rút quân về. Năm 356, Hoàn Ôn lại Bắc phạt, đánh bại tướng Tiền Yên là Diêu Tương, thu hồi Cố đô Lạc Dương. Tháng 2 năm 362, Vua Yên phản công lấy lại Lạc Dương. Hoàn Ôn khi đó đã rút quân chủ lực về Kiến Khang ở Giang Nam. Ông vừa điều quân đi cứu, vừa xin thiên đô lên Lạc Dương để tiện việc Bắc phạt. Nhà Tấn hoảng sợ vì ngại chiến tranh nên không tán thành. Quân Tấn không đủ mạnh nên bị mất Lạc Dương. Tháng 3 năm 369, ông tự điều thứ sử các châu Từ, Lương, Duyện và Thọ Xuân theo đường thủy đi đánh Yên. Tháng 6, Hoàn Ôn liên tiếp thắng quân Yên ở Hoàng Hư và Lâm Chử. Vua Yên cầu cứu Tiền Tần. Quân Tần chưa đến mà quân Yên đã bất ngờ phản công, đánh bại quân Tấn ở Phương Đầu. Hoàn Ôn bị mất 2 tướng, lại bị thiếu lương thảo, nên phải rút về Nam. Hoàn Ôn nắm các chức vụ Thị trung, Đại tư mã, Đô đốc quân sự trong ngoài, một mình coi việc triều chính. Năm 371 Hoàn Ôn phế truất Vua Tấn là Tư Mã Dịch, lập Cối Kê Vương Tư Mã Dục (con Tấn Nguyên Đế, em Tấn Minh Đế) đang giữ chức Trung thư lệnh lên ngôi, tức Giản Văn Đế. Giản Văn Đế khi lên ngôi đã ngoài 50 tuổi và ốm yếu, trị vì được 1 năm thì mất. Người kế ngôi là Thái tử Tư Mã Diệu (362 - 396), tức Hiếu Vũ Đế. Tháng 3 năm 373, Hoàn Ôn chết, khu vực quản lý của Hoàn Ôn được chia làm ba, giao cho Hoàn Xung (328 - 384), Hoàn Khoát và Hoàn Thạch Tú quản lý. Tạ Huyền đánh lui Tiền Tần. Sau khi Hoàn Ôn chết, quyền lực trong triều do Tể tướng Tạ An (320 -385) nắm giữ. Họ Tạ là một vọng tộc phong lưu nổi tiếng còn để lại nhiều tên tuổi trong sử sách. Bắt đầu từ thời Tam Quốc, do chúa Đông Ngô là Tôn Quyền lấy con gái họ Tạ làm vợ, những người có tài trí họ Tạ bắt đầu được đề bạt nắm giữ các chức vụ, và họ Tạ dần trở thành một danh gia vọng tộc. Tạ An theo cách của Vương Đạo xây dựng chính sách an dân "Trấn chi dĩ tĩnh" giữ cho nhà Đông Tấn cục diện yên ổn suốt hơn hai mươi năm. Đồng thời Tạ An chia sẻ quyền lực với Vương Thản Chi (con trai Vương Đạo) và Vương Bưu Chi, tuy nhiên Vương Thản Chi đã chết năm 375. Trong khi đó nước Tiền Tần của người Đê ở phương Bắc ngày càng lớn mạnh dưới thời Phù Kiên, được sự trợ giúp của Vương Mãnh. Năm 370, nước Tiền Tần tiêu diệt Tiền Yên. Năm 373, Tiền Tần cho quân chiếm Lương Châu (Nam Thiểm Tây) và Ích Châu (Tứ Xuyên) của Đông Tấn. Năm 376, chư hầu Đông Tấn là Tiền Lương bị quân Tiền Tần tấn công, Đông Tấn cử tướng Hoàn Xung đem quân cứu viện, nhưng Tiền Lương sụp đổ quá nhanh, quân Tấn phải rút về. Tiền Tần thống nhất miền Bắc và tham vọng đánh xuống miền Nam. Tiền Tần mang quân đi đánh và bắt được nhiều dân của Đông Tấn ở vùng bắc và nam sông Hoài. Năm 377, nhà Đông Tấn phái tướng Chu Tự làm Thứ sử Lương Châu trấn thủ Tương Dương. Quân Tần tấn công dữ dội nhưng Chu Tự kiên cường chống trả. Năm 380, do bị nội phản, thành Tương Dương thất thủ, Chu Tự bị bắt nhưng được Phù Kiên trọng dụng. Quyết tâm diệt Đông Tấn để thống nhất Trung Hoa, Phù Kiên huy động toàn quân trong nước gồm 90 vạn người đi Nam chinh. Được Chu Tự làm nội gián, tướng Tấn là Tạ An và Tạ Huyền đánh bại đánh bại quân Tần trong trận Phì Thủy nổi tiếng năm 383. Nhân đà thắng lợi, Tạ An bèn cử Tạ Huyền làm Đô đốc tiên phong, cùng tướng Hoàn Thạch Kiền đi đánh Tần. Quân Tạ Huyền chiếm được Viên Thành, Quyên Thành. Nhiều thành ở Hà Nam lần lượt xin hàng. Sau đó, ông dẫn quân đánh Thanh Châu. Tướng Tần giữ Thanh Châu là Phù Lãng bại trận xin hàng. Hoàn Huyền phái Triệu Thống thu phục Dịch Dương và các thành trấn phụ cận, uy thế áp thẳng đến Lạc Dương. Sau khi bình định các châu Từ, Duyện, Tạ Huyền trở thành Đô đốc quân sự 7 châu Từ, Duyện, Thanh, Ty, Ký, U, Bình, đóng quân ở Bành Thành được phong làm Khang Lạc Huyện Công. Triều đình phong cho Tạ An làm Lư Lăng Quận Công, Tạ Thạch làm Nam Khang Huyện Công, Tạ Diễm làm Vọng Tế Huyện Công. Đông Tấn giành thắng lợi lớn, giữ vững được bờ cõi và mở rộng lên phía bắc. Nhà Tiền Tần suy yếu và tan rã nhanh chóng. Chỉ trong vòng 3 năm sau trận Phì Thủy, miền Bắc lại bị các tộc Hồ khác li khai, chia cắt trở lại, trên bản đồ phía bắc có sự tồn tại của 7 quốc gia: Tiền Tần, Tây Yên, Hậu Yên, Hậu Lương, Hậu Tần, Bắc Ngụy, Tây Tần. Cuộc hỗn chiến giữa các nước Ngũ Hồ tái diễn và miền Bắc bị phân liệt hơn trước. Suy yếu và loạn lạc. Tư Mã Đạo Tử nhiếp chính. Sau Chiến thắng Phì Thủy, quyền lực của Tạ An suy giảm. Năm 384, Hoàn Xung chết, các quan lại chủ chốt muốn đưa Tạ Huyền lên thay chức vụ của Hoàn Xung nhưng Tạ An không đồng ý và chia nhỏ khu vực do Hoàn Xung cai quản cho 3 người cháu Hoàn Xung. Tạ An tránh không muốn xung đột với Cối Kê Vương Tư Mã Đạo Tử - người muốn trở thành Tể tướng. Tạ An bị bài xích, bắt buộc phải xin đi Bắc chinh, rời khỏi Kiến khang. Năm 385, Tạ An mất lúc 66 tuổi, được truy tặng Thái phó, ban thụy là Văn Tĩnh. Họ Tạ định lợi dụng việc Bắc phạt để mở rộng địa bàn và thế lực của mình nhưng Triều đình đã phái tướng Chu Tự đến đóng quân ở Lạc Dương, kiêm Thứ sử các châu Duyện, Dự, Thanh, chỉ huy toàn bộ quân Bắc phạt. Tạ Huyền ra quân thất lợi và bị tước binh quyền, Tạ Thạch cũng bị chết bệnh cùng năm. Hoàng gia Tư Mã là người thắng lợi trong cuộc đấu tranh nội bộ sau trận Phì Thủy. Cối Kê Vương Tư Mã Đạo Tử (353 - 403), con trai Giản Văn Đế lên nắm quyền Tể tướng sau khi cùng họ Hoàn làm suy yếu thế lực họ Tạ đã liên kết chặt chẽ với họ Vương gốc Thái Nguyên mở đầu cuộc đấu tranh mới giữa Hoàng gia với họ Hoàn cho nên sau khi đại thắng thì Vương triều Đông Tấn lại nảy sinh một nguy cơ mới trong việc thống trị. Năm 396, Hiếu Vũ Đế Tư Mã Diệu chết, người kế ngôi là Thái tử Tư Mã Đức Tông (382 - 419), tức Tấn An Đế. Tư Mã Đạo Tử làm quan Nhiếp chính. Các quan lại ỷ công phò chiến và dựa thế đặc quyền của môn đệ nên ra sức tước đoạt đất đai của nông dân, như hai gia tộc Vương và Tạ. Mỗi tộc đều có điền trang rộng lớn, cấu kết cưỡng chiếm ruộng đất đến vạn khoảnh. Cuộc sống của quan lại và quý tộc rất xa hoa. Bản thân Tạ An cũng chiếm núi rừng ở ngoại ô Kiến Khang, xây nhà lầu, khi rảnh rỗi thường dẫn tôi tớ đến vui chơi, mỗi bữa ăn tốn đến mấy trăm lạng vàng. Con trai Tư Mã Đạo Tử là Tư Mã Nguyên Hiển còn giàu hơn cả Vua Tấn. Dân chúng còn phải chịu nhiều thuế má nặng nề khác, ngay cả việc sửa nhà, trồng dâu cũng phải nộp thuế. Đạo Tử chỉ tin dùng những người trong họ và giao cho con là Tư Mã Nguyên Hiển mới 16 tuổi giữ chức Chinh thảo Đô đốc nắm binh quyền, bảo vệ Kinh đô, các trọng trấn quân sự được giao cho Tư Mã Sở Chi và Tư Mã Hưu Chi. Hoàn Huyền cướp ngôi. Hoàn Huyền (369 - 404) là con Hoàn Ôn, thừa hưởng tước phong thế tập của cha, nắm giữ vùng Kinh Châu. Tư Mã Nguyên Hiển dựa vào lực lượng Bắc phủ binh của Trấn quân Tướng quân Lưu Lao Chi để tấn công Hoàn Huyền, nhưng Lưu Lao Chi cũng không tuân phục Tư Mã Nguyên Hiển. Tháng 12 năm 399, Hoàn Huyền phát binh đánh Giang Lăng, Ân Trọng Kham bị giết. Năm 400, Hoàn Huyền đòi được phong làm Thứ sử Quảng Châu. Tư Mã Đạo Tử sợ biến loạn tái diễn, vội phê chuẩn ngay. Bắt đầu từ đó, Hoàn Huyền thao túng triều đình Đông Tấn. Chính lệnh của Triều đình chỉ có hiệu lực tại 8 quận phía đông (Cối Kê, Ngô Quận, Ngô Hưng, Nghĩa Hưng, Lâm Hải, Vĩnh Gia, Đông Dương, và Tân An) thuộc Dương Châu. Năm 401, Hoàn Huyền, đã kiểm soát hơn 2/3 lãnh thổ Đông Tấn, tiến quân về phía đông, chiếm được kinh thành Kiến Khang, xử tử cả nhà Tư Mã Nguyên Hiển cùng Tư Mã Đạo Tử, đánh dẹp Lưu Lao Chi, đoạt binh quyền từ tay Lưu Lao Chi giao cho anh họ Hoàn Tu. Lực lượng Bắc phủ binh của Lưu Lao Chi không muốn giao chiến và Lưu Lao Chi buộc phải tự sát. Hoàn Huyền dẫn binh vào Kinh đô, tự làm Thái úy. Mùa thu năm 403, Hoàn Huyền buộc An Đế phong cho ông làm Sở Vương, gia phong Cửu tích, sau đó buộc An Đế viết chiếu nhường ngôi, thành lập nước Sở, xưng Vũ Đạo Hoàng đế, niên hiệu Vĩnh Thủy, giáng An Đế làm Bình Cố Vương, giam cầm Lang Nha Vương Tư Mã Đức Văn (em An Đế). Mùa xuân năm 404, bộ tướng của Lưu Lao Chi có Thái thú Hạ Bì là Lưu Dụ tạm đầu hàng Hoàn Huyền để tính kế lâu dài. Nhận thấy Hoàn Huyền không được lòng dân chúng, liền tách ra li khai, bắt đầu nổi dậy ở Trấn Giang (Giang Tô), trong mấy ngày đã tiến về Kinh thành Kiến Khang. Hoàn Huyền rút lui về căn cứ Giang Lăng (Kinh Châu, Hồ Bắc), mang theo cả An Đế và Tư Mã Đức Văn. Lưu Dụ tuyên bố khôi phục nhà Tấn, và đến mùa hè năm 404, Lưu Dụ liên minh với Lưu Nghi, Hà Vô Kỵ tiến về Giang Lăng đánh bại lực lượng Hoàn Huyền. Tháng 2 năm 404, Lưu Dụ phát động binh biến, tụ tập hàng trăm đồ đảng ở Kinh Khẩu làm binh biến giết chết Hoàn Tu. Lưu Nghị đồng thời cũng giết chết Hoàn Hoằng (em Hoàn Tu) ở Nghiễm Lăng. Rồi mọi người cùng tôn Lưu Dụ lên làm minh chủ, truyền hịch khắp nơi đồng thời khởi nghĩa. Hoàn Huyền thấy tình thế bất lợi, liền đem Tấn An Đế chạy ra Giang Lăng. Tháng 3 năm đó, Lưu Dụ tiến quân vào Kiến Khang, khống chế Kinh sư rồi xuất binh mã Tây tiến. Sau hơn 1 tháng kịch chiến, Hoàn Huyền bị bức phải trốn vào Tây Xuyên, bị Ích Châu Đô hộ là Phùng Thiên giết chết. Khởi nghĩa Tôn Ân. Trong giới tín đồ gốc sĩ tộc thế gia có Đỗ Tử Cung là đầu lĩnh ở Tiền Đường. Ông có nhiều đệ tử, xuất thân là thế gia đại tộc ở Giang Nam. Đỗ Tử Cung mất, môn đồ là Tôn Thái và Tôn Ân kế nghiệp. Tôn Ân tự là Linh Tú, quê ở Lang Nha, vừa là cháu vừa là đệ tử Tôn Thái. Hiếu Vũ Đế phong Tôn Thái làm Phụ quốc Tướng quân, Thái thú Tân An. Tôn Thái lợi dụng tà thuật mê hoặc và quy tụ quần chúng, Triều đình sợ Tôn Thái làm loạn nên sai Cối Kê Vương Tư Mã Đạo Tử bắt Tôn Thái giết đi. Năm 399, Tôn Ân và dư đảng chạy trốn ra hải đảo, lập chí báo thù cho sư phụ. Rồi Tôn Ân cùng với em rể Lư Tuần lãnh đạo khoảng 10 vạn tín đồ 8 quận đánh Cối Kê (8 quận là: Cối Kê, Ngô Quận, Ngô Hưng, Nghĩa Hưng, Lâm Hải, Vĩnh Gia, Đông Dương và Tân An). Chiếm được Cối Kê, Tôn Ân tự xưng Chinh Đông Tướng quân và gọi quân binh của mình là «Trường Sinh Nhân». Triều đình phái Tạ Diễm và Lưu Lao Chi quân chinh phạt. Năm 402, Tôn Ân thua trận ở Lâm Hải, nhảy xuống biển tự vẫn. Cho rằng Tôn Ân đã thành thủy tiên, số tín đồ tự trầm theo hơn trăm người. Em rể Tôn Ân là Lư Tuần kế nhiệm,cùng bộ tướng Từ Đạo Phúc lên thuyền ra biển chạy về Lĩnh Nam. Năm 405 triều đình dụ hàng và phong Lư Tuần làm Thứ sử Quảng Châu,Từ Đạo Phúc làm Quốc tướng Thủy Hưng (Quảng Đông).Nhưng đến năm 411 Lư Tuần và Từ Đạo Phúc lại làm phản,giết Thứ sử Giang Châu Hạ Vô Kỵ ở Dự Chương (Giang Tây).Ngày 7 tháng 5 Lư Tuần đánh bại Thứ sử Dự Châu Lưu Nghị ở cù lao Tang Lạc (An Huy), uy hiếp kinh đô Kiến Khang.Đến tháng 12 năm 411 Lư Tuần lại bị Lưu Dụ đánh bại ở Tả Lý (Giang Tây).Quảng Châu cũng bị bộ tướng của Lưu Dụ là Lưu Xử chiếm mất. Cuối năm 411, Lư Tuần đánh Quảng Châu nhưng đại bại, bèn chạy sang Giao Châu. Thứ sử Giao Châu Đỗ Tuệ Độ cùng các quan văn võ đánh tan quân Lư Tuần. Quân Lư Tuần còn khoảng 2000 người. Dư đảng Lý Tốn (Thái thú Cửu Chân, nổi loạn) là Lý Thoát kết tập 5000 dân bản địa giúp Lư Tuần đánh ở bến sông phía Nam thành Long Biên. Binh của Đỗ Tuệ Độ phóng đuốc trĩ vĩ đốt chiến thuyền Lư Tuần. Lư Tuần nhảy sông tự vẫn. Đỗ Tuệ Độ cho vớt tử thi Lư Tuần và chặt đầu, gửi về Kiến Khang. Tấn An Đế tuyên bố khôi phục nhà Tấn tại Giang Lăng. An Đế được đưa về Kiến Khang, quyền lực rơi vào tay Lưu Dụ. Để thưởng cho Lưu Dụ có công tái tạo nhà Tấn, An Đế phong Lưu Dụ làm Thị trung, Xa Kỵ Tướng quân, bên ngoài nắm quân sự, bên trong lo triều chính. Tuy ngôi nhà Tấn được phục hồi nhưng vai trò của Vua Tấn vẫn không khác trước vì quyền thần đã nắm hoàn toàn việc điều hành Triều đình. Sau khi Lưu Dụ diệt được Hoàn Huyền, miền Bắc cũng trải qua những cuộc chiến thôn tính và chia cắt mới: Hậu Yên diệt được Tây Yên (394) nhưng bị Bắc Ngụy đánh bại (401), họ Mộ Dung phải rút về nơi khởi nghiệp ở Long Thành phía đông bắc và đến năm 409 bị Bắc Yên thay thế. Một nhánh Mộ Dung khác chạy về Sơn Đông lập ra nước Nam Yên nhỏ bé. Nước Hậu Lương bị Hậu Tần tiêu diệt và đất chia làm 3: Nam Lương, Bắc Lương, Tây Lương. Hậu Tần diệt được Tiền Tần (394) nhưng bắt đầu bị Hạ nổi dậy cát cứ (407). Tính tổng cộng từ khi nhà Tấn rút về Giang Nam, miền Bắc Trung Quốc do 20 nước của người Hồ, được gọi chung là Ngũ Hồ Thập lục quốc thay nhau cai trị (4 nước không được tính). Phần lớn nước trong số đó do Ngũ Hồ thành lập, chỉ có 3 nước (Tiền Lương, Tây Lương, Bắc Yên) do tộc Hán lập nên. Năm 410, quyền thần Lưu Dụ Bắc tiến diệt nước Nam Yên, năm 417 lại ra quân diệt nước Hậu Tần. Tuy nhiên, nhà Tấn vẫn không chiếm lại được miền Bắc, vì khi đó nước Bắc Ngụy đã lớn mạnh và kiểm soát nhiều đất đai Trung Nguyên. Bản thân Lưu Dụ cũng không dụng tâm giữ miền Bắc mà chỉ bắc phạt để gây uy thế chuẩn bị cướp ngôi nhà Tấn, như nhận định của Vua nước Hạ Hách Liên Bột Bột. Lưu Dụ rút đại quân về Nam, để lại con nhỏ là Lưu Nghĩa Chân mới 12 tuổi trấn thủ Trường An. Ngay năm sau (418), Hách Liên Bột Bột lập tức Nam tiến, đánh vào đất cũ của Hậu Tần. Các tướng Tấn lại mâu thuẫn tự giết hại nhau khiến chiến sự càng bất lợi. Lưu Dụ đón con về Nam rồi sai Chu Siêu Thạch đi cứu Trường An nhưng không có kết quả. Ngoài Nghĩa Chân may mắn chạy thoát, toàn bộ các tướng lĩnh, kể cả Siêu Thạch, đều bị Bột Bột bắt sống và xử tử. Tính cả các tướng bị hại vì mâu thuẫn nội bộ, trong vụ mất Quan Trung, Đông Tấn và cá nhân quyền thần Lưu Dụ bị tổn thất 8 viên tướng. Lãnh thổ Đông Tấn thời cực thịnh (417) nhanh chóng bị thu hẹp trở lại. Tuy mất đất, uy thế Lưu Dụ ở miền Nam không hề suy giảm, ông vẫn nắm quyền kiểm soát Triều đình Đông Tấn. Năm 419, Dụ phế và giết An Đế, lập em An Đế là Tư Mã Đức Văn lên ngôi, tức Tấn Cung Đế. Năm 420, Dụ phế Đông Tấn Cung Đế đoạt ngôi, lập ra nhà Tống, sử gọi là Lưu Tống. Nhà Tấn chấm dứt và bắt đầu thời kỳ Nam Bắc Triều (420-589). Nhà Đông Tấn tồn tại 104 năm, có tổng cộng 11 vua. Tính gộp với thời Tây Tấn thì nhà Tấn có 15 vua, tồn tại 156 năm (265-420). Chính sách kinh tế - xã hội. Dưới thời nhà Tào Ngụy, chính quyền đã áp dụng hình phạt nghiêm khắc, và Vũ Đế đã thay đổi luật lệ theo hướng khoan dung hơn. Năm 264, Đỗ Dự soạn Tấn luật đề nghị với Tư Mã Chiêu bãi bỏ nội dung phàn tạp trong bộ luật trước, lấy nguyên tắc khoan dung để đặt ra Tấn luật, giảm nhẹ hình phạt mua chuộc nhân tâm nêu cao mục đích của việc thay thế nhà Ngụy mà lập nhà Tấn, đến năm 268 hoàn thành. Đỗ Dự cùng đại thần Giả Sung tham gia định luật lệ và tự mình chú giải và tâu lên Triều đình. Ông nêu bật điều căn bản của pháp luật là: Pháp luật phải "trực" (thẳng) và "giản" (giản đơn), từ ngữ phải rõ ràng để người dân dễ hiểu và biết phải tránh cái gì. Ít người vi phạm thì giảm được hình phạt; pháp luật phải đáp ứng yêu cầu phân cấp bậc, minh bạch. Ý kiến của ông được tiếp nhận và luật được ban bố dùng trong cả nước. Tấn luật có dựa vào "Cửu chương luật" của nhà Hán và tham khảo "Ngụy luật", tuy nhiều hơn Ngụy luật 2 thiên, tổng cộng có 21 thiên nhưng chỉ có 2306 điều. Lời văn cũng thông tục rõ ràng hơn, giảm một số lớn các điều khoản nặng nề như bỏ hình phạt cấm cố thời hán mạt, có lợi cho việc phòng ngừa và giảm bớt tội phạm. Vì Tấn luật có đóng góp lớn của Đỗ Dự và Trương Bùi nên còn được gọi là "Luật Trương Đỗ". Sau khi lên ngôi, Tấn Vũ Đế định lại chế độ ruộng đất, xóa bỏ chế độ quân sự quản lý dân đồn thời Tào Ngụy, ban hành chế độ chiếm ruộng và nộp thuế: Quan lại nhà Tấn từ nhất phẩm đến cửu phẩm, tùy đẳng cấp được cấp ruộng và tá điền, thấp nhất là 10 khoảng và cao nhất là 50 khoảnh - mỗi cấp hơn nhau 5 khoảnh. Ngoài ra, quan nhất phẩm đến tam phẩm còn được thêm ruộng thái điền (vua ban) từ 6 đến 10 khoảnh. Người có tước vương, công và hầu thì được chiếm ruộng đất không hạn chế tại nước mình được phong, ngoài ra còn được xây 1 tòa nhà tại Kinh đô. Nước lớn được 15 khoảnh ruộng gần Kinh đô, nước vừa 10 khoảnh, nước nhỏ 7 khoảnh. Ngoài chế độ chiếm hữu ruộng đất, nhà Tấn còn đặt ra lệ phong ấm. Người được phong ấm được miễn thuế và sưu dịch. Quan lại, gia đình tôn thất, nhân sĩ danh tiếng đều chiếu theo cấp bậc mà hưởng lệ phong ấm. Người nhiều nhất được hưởng 9 đời, ít nhất cũng được hưởng 3 đời. Khi có người được phong ấm thì bà con thân thích và cả đầy tớ, tá điền cũng được hưởng lộc ấm. Quan nhất nhị phẩm được 50 hộ tá điền và 3 đầy tớ, thấp nhất là cửu phẩm được 1 hộ tá điền và 1 đầy tớ. Các bậc từ công khanh trở xuống có một số nhất định trâu bò và người cày. Những người bị tù tội, khi được tha không có ruộng đất phải đi làm nông nô (điền khách) cho nhà quyền quý. Những nhà có thế lực có hàng ngàn hộ điền khách. Chính sách ưu đãi đó đã tạo ra cuộc sống xa hoa của người quyền quý trong giai cấp thống trị, điển hình cho sự giàu có, xa xỉ là Thạch Sùng và Vương Khải nổi tiếng trong lịch sử. Chính sách với người di cư từ phương Bắc. Trải qua một thời gian loạn lạc và bị người Hung Nô tấn công làm chính quyền Tây Tấn sụp đổ, một số lượng lớn người miền Bắc di tản xuống miền Nam. Khoảng 6-7 phần 10 các địa chủ và quý tộc miền Bắc dời bỏ đất đai cùng toàn bộ người nhà, tôi tớ, quân lính xuống Giang Nam. Có tới hàng triệu người miền Bắc đã tản cư xuống miền Nam, góp phần làm tăng thêm dân số cho nhà Đông Tấn. Người miền Bắc được gọi là kiều nhân, sau gọi là "bạch hộ", được định cư tại các khu vực riêng gọi là kiều châu, kiều quận, kiều huyện thuộc Giang Tô, Triết Giang để khai phá vùng đất miền tây trở nên giàu có. Họ được tổ chức và quản lý dưới quyền các quý tộc và địa chủ người miền Bắc như Nam Từ Châu, xung quanh Kiến Khang hoặc những quận riêng như Nam Lan Lăng ở Kinh Châu. Dân lao động dời xuống miền Nam và Trung Hồ Bắc đã mở mang vùng này thành vùng giàu có thứ 2 Giang Nam. Sau khi Triều đình Đông Tấn được thành lập để đề phòng nạn nhân chiến loạn từ phía bắc tràn xuống Giang Nam gây ra nhiều vấn đề xã hội đã quy định những nhóm lưu dân có vũ trang không được vượt qua sông Trường Giang, đồng thời Triều đình cũng đề cử một số quan chức cho những đầu mục của các nhóm lưu dân, sắp xếp cho họ đóng tại khu vực nằm giữa Trường Giang và sông Hoài làm bức bình phong cho Triều đình Đông Tấn. Nhà Đông Tấn quy định hộ khẩu của kiều dân (bạch hộ) không được liệt vào sổ sách hộ tịch sở tại, được miễn thuế và lao dịch để đảm bảo đặc quyền phong kiến của sĩ tộc miền Bắc. Còn dân miền Nam thì gọi là "hoàng hộ". Từ giữa triều Đông Tấn về sau, chính quyền nhiều lần thực thi thổ đoán, giảm dần kiều châu, kiều quận, kiều huyện. Các kiều châu, kiều quận không có biên giới nhất định, không thu được thuế cho Nhà nước. Các sĩ tộc lợi dụng thế lực của mình để thôn tính đất đai, gom các nông dân phá sản vào điền trang của mình để làm nhân khẩu phụ thuộc gọi là ẩn khách gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập tài chính của Nhà nước. Năm 341, Triều đình ra lệnh kiều dân từ vương công cho đến thứ dân định hộ tịch theo thực tế cư trú, đem hộ khẩu của họ liệt vào sổ hộ tịch sở tại, gọi là "Hàm Khang thổ đoán". Đến năm 350 Hoàn Ôn chủ trì ban hành luật thổ đoán gọi là "Canh tuất thổ đoán". Năm 413, Lưu Dụ lại ra lệnh cho thực hiện thổ đoán lần nữa, gọi là "Nghĩa Hy thổ đoán", phần lớn kiều trí quận huyện đã bị dẹp đi, gia tăng thu nhập tài chính cho chính quyền trung ương. Tô thuế và sưu dịch. Những năm đầu, nhà Đông Tấn duy trì chế độ thu thuế từng nhà thời Tây Tấn. Từ đời Tấn Thành Đế (326-343) áp dụng chế độ "tô tức chế" để tăng thu cho Triều đình, bình quân mỗi mẫu lấy 1/10 sản lượng là 3 thăng gạo. Vì chế độ đó bất lợi cho giai cấp địa chủ, bị phản đối nên sang thời Ai Đế giảm xuống 2 thăng và tới đời Hiếu Vũ Đế giảm xuống chỉ còn 1 thăng. Vương công cũng không được miễn sưu dịch; mỗi đinh nam từ 16 tuổi trở lên phải nộp thuế toàn đinh 3 hộc, từ 13-16 tuổi là nửa đinh. Để giảm sự phản đối của người lao động, Triều đình miễn thuế cho người đi làm lao công. Tuy nhiên chế độ này duy trì được 6 năm lại tăng thuế đinh từ 3 hộc lên 5 hộc và người lao công cũng không được miễn thuế. Ngoài ra, mỗi đinh nam còn phải nộp 2 trượng vải, 2 trượng lụa, 3 lạng tơ và 8 lạng bông - người nghèo và vương công, địa chủ không phân biệt mức nộp. Ngoài ra, Triều đình còn định ra các thứ thuế: Ngoài thuế, người dân còn phải đi lao dịch rất nặng nề, cả phụ nữ cũng không được miễn. Phàm Ninh đương thời nói: "Đời xưa bắt dân đi làm không quá 3 lần 1 năm; bây giờ bắt dân đi làm cơ hồ 1 năm không được 3 ngày nghỉ". Chế độ sĩ tộc có từ thời Ngụy Văn Đế (Tào Phi) và được nhà Tấn duy trì. Hàng quý tộc: Vương - Công - Hầu - Bá là nhất phẩm tới tứ phẩm và các bậc ngũ phẩm đến cửu phẩm, chủ yếu là các quan văn võ, gọi là "sĩ tộc". Dân thường gọi là "hạ phẩm". Các gia đình sĩ tộc có nhiều quyền lợi và được truyền nối nhau làm quan nhiều đời. Những người không xuất thân từ sĩ tộc, dù có vươn lên chức vụ to trong triều cũng bị sĩ tộc coi thường là hèn kém. Thời Đông Tấn quy định lại số lượng điền khách cho các sĩ tộc. Từ nhất phẩm, nhị phẩm được sở hữu 40 hộ (cửu phẩm thời Tây Tấn có 50 hộ), mỗi bậc sau giảm 5 hộ, đến cửu phẩm cũng có 5 hộ (cửu phẩm thời Tây Tấn chỉ có 1 hộ). Dù triều đình ban hành số lượng hạn định về ruộng đất và tá điền nhưng trên thực tế có nhiều sĩ tộc chiếm số lượng vượt quy định. Nhà Đông Tấn quy định chặt chẽ về "môn đăng hộ đối" trong hôn nhân, nếu làm trái là phạm tội nặng. Văn hóa, khoa học. Văn hóa Tây Tấn được xem là sự kế tiếp từ thời Tào Ngụy. Do triều đại tồn tại ngắn, nhiều nhân vật đóng góp cho văn hóa từ thời Ngụy tiếp tục đóng góp thời Tấn. Nổi bật nhất trong số những người sống qua hai triều đại là Trúc Lâm thất hiền, gồm 7 danh sĩ tài tử: Kê Khang (223-262), Nguyễn Tịch (210-263), Nguyễn Hàm (cháu Nguyễn Tịch), Sơn Đào (205-283), Hướng Tú (227-273), Vương Nhung (234-285), Lưu Linh. Bảy danh sĩ thường tụ tập trong rừng trúc, bàn luận về chính sự và học vấn, rất hợp ý nhau. Sau Trúc Lâm thất hiền là hàng loạt các danh sĩ theo lối "Phong khí thanh đàm" (bàn luận suông) chú trọng việc bình phẩm nhân vật, như Nhạc Quảng, Trương Hoa (232-300), Phó Huyền (217-278), anh em Lục Cơ (261-303) - Lục Vân (262-303). Các nhà văn, nhà thơ đáng kể có anh em họ Lục, Phan An, Phan Nê (hai chú cháu), Thái Phân, Tả Xung, Lý Mật. Trên lĩnh vực sử học, đáng kể nhất là Trần Thọ (233-297) với công trình sử học Tam Quốc chí. Cha con Bùi Ngỗi, Bùi Tú với bộ bản đồ lịch sử "Vũ Cống cương vực đồ". Danh tướng Đỗ Dự còn là người có công chú giải sách Tả truyện trong "Xuân Thu Tả truyện kinh truyện tập giải". Về y học có Vương Thúc Hòa với công trình y học "Mạch kinh" và nổi bật là Hoàng Phủ Mật (215-282) với bộ Châm cứu Giáp Ất kinh, được xem là tác phẩm chuyên về châm cứu đầu tiên. Công thần khai quốc Vệ Quán (220-291) từng có công dẹp Chung Hội ở đất Thục thời Tam Quốc và chết trong Loạn bát vương, cùng con trai Vệ Hằng và con gái Vệ Thước là những nhà thư pháp nổi tiếng thời Tây Tấn. Về cơ giới, Mã Hoàn (200 – 265, người nước Ngụy, Tam quốc) thiết kế lại xe chiến mã năm 255, thiết kế guồng nước, cải tạo khung dệt. Mã Hoàn cải tạo máy dệt thoi tăng năng suất lên 5 lần, chế tạo guồng nước để tưới tiêu gọi là phiên xa (guống nước hình xương rồng) có khả năng đưa nước từ thấp lên cao một cách liên tục với hiệu suất cao có tác dụng nhất định trong phát triển sản xuất của xã hội đương thời. Do ông có kiến thức sâu rộng về máy móc chuyển động nên người đương thời gọi Mã Hoàn là Xảo tự tuyệt thế (khéo nghĩ nhất trên đời). Phát minh thuốc súng (thời đó chỉ sử dụng để làm pháo) và xe kút kít được coi là xảy ra vào thế kỷ thứ sáu hay thứ bảy. Chỉ nam xa của Mã Hoàn sáng chế năm 254 là một chiếc máy điều khiển học. Nhờ có một bộ truyền động bánh răng vi sai, pho tượng trên xe luôn chỉ hướng nam, dù xe được kéo đi theo bất cứ hướng nào, sau đó được Tổ Xung Chi (429 -500) thời Lưu Tống cải tiến, áp dụng trong lĩnh vực giao thông đường bộ và thủy. Thời Đông Tấn, tuy chính quyền suy yếu, phải nép xuống miền Nam nhưng về văn hóa và khoa học có rất nhiều thành tựu. Cát Hồng (283-363) được xem là nhà khoa học nhiều môn. Ông để lại tác phẩm "Bão Phác Tử" đề cập rất nhiều lĩnh vực: y học, hóa học, thuật luyện kim ở mức độ sơ khai. Dưới thời Đông Tấn, nhà thiên văn học Ngu Hỷ đã phát hiện 1 năm hằng tinh hoàn toàn không nhất trí với 1 năm mặt trời cho nên thời gian khoảng 50 năm thì sai biệt nhau 1 độ. Việc phát hiện hiện tượng này đã giúp cho các nhà tính lịch pháp có thể soạn lại bộ lịch mới. Sau này Tổ Xung Chi đã dựa vào thành quả đó để làm ra lịch Đại Minh. Về thư pháp và hội họa, thời Đông Tấn đóng góp nhiều hơn cả, nổi bật nhất là Vương Hi Chi (cháu Vương Đạo), Vương Dị, Cố Khải Chi, Đới Quỳ. Vương Hi Chi nổi tiếng nhờ học được thuật thư pháp của Vệ Thước - con gái nhà thư pháp Vệ Quán thời Tây Tấn. Vương Hi Chi (303 – 361) đã viết "Lan Đình thiếp", được coi là một báu vật đương thời. Hai cha con Vương Hi Chi, Vương Hiến Chi nổi tiếng về kim thảo (Thảo thánh nhị vương). Trong 4 đại gia tộc Vương, Tạ, Hi, Dữu đời Đông Tấn, thì họ Vương là hiển hách nhất kể cả trong lĩnh vực Thư pháp. Họ Vương sản sinh nhiều Thư pháp gia, không chỉ có cha con tranh đua nhau, huynh đệ học tập nhau còn có việc vợ chồng so sánh , trong đó, sự xuất hiện của cha con Vương Hi Chi, Vương Hiến Chi được người đời tôn xưng là "Nhị Vương", chính là niềm tự hào của họ Vương và của cả nền thư pháp Đông Tấn. Vương Hi Chi có bảy người con trai và 1 người con gái. Cả bảy người con đều tinh thông thư pháp, trong đó Vương Hiến Chi là con út nhưng kiệt xuất hơn cả. Vương Hiến Chi từ nhỏ lập chí lớn, chăm chỉ khổ luyện thư pháp, và trở thành một nhà thư pháp lớn. Vương Hiến Chi bắt đầu từ tiểu Khải với thành tựu là "Lạc Thần Phú Thập Tam Hàng - 洛神赋十三行", dùng bút nội mật ngoại sơ, kết thể nghiêm cẩn, hình thái tú lệ. Vương Hiến Chi sáng tạo ra:"Cảo hành chi thảo" là một trong những cống hiến lớn, ngoài ra ông còn sáng tạo "Nhất bút thư". Hiến Chi khiến Chương thảo của Trương Chi và Kim thảo của Vương Hi Chi tiến thêm một bức nữa. Tác phẩm "Trung thu thiếp" là một trong những tác phẩm tiêu biểu của "Nhất bút thư", bút thế liên miên bất tuyệt, uốn lượn như sông lớn, cuồn cuộn muôn dặm biểu hiện khí thế anh hùng, hào sảng, đây là một trong "Tam Hi" đời nhà Thanh. Đường huynh của Vương Hiến Chi là Vương Huy Chi, tự là Tử Do, làm quan tới chức Hoàng môn đãi lang, tính sảng khoái, không câu thúc, giỏi Chân, Thảo, "Tuyên Hòa thư phổ" bình luận là: "Luật dĩ gia pháp, tại Hi Hiến gian" (Theo học lối nhà, ở giữa Hi (Vương Hi Chi), Hiến (Vương Hiến Chi), truyền thế còn tác phẩm "Tân nguyệt thiếp". Cố Khải Chi (348 – 409) là họa sĩ kiêm văn nhân. Hơn 500 năm sau, danh sĩ Lý Tự Chân đời Đường, đã viết trong sách "Hậu họa phẩm": "Cố thiên tài kiệt xuất, đứng riêng một mình một cõi, không ai sánh bằng. Ông suy nghĩ ngang với tạo hóa, hiểu được diệu lý của sự vật…". Ông được coi là "tam tuyệt" (tài tuyệt, si tuyệt, họa tuyệt) tôn làm bậc họa thánh, là nhà lý luận và họa gia vẽ tranh nhân vật xuất sắc. Chủ trương truyền thần tả chiếu, vẽ người phải thực đối để từ đó suy nghĩ tìm tòi thấy được chỗ kỳ diệu. Bằng sáng tác và lý luận, ông đã sớm đưa giới họa gia trở nên tên tuổi, có vị trí xã hội vượt lên khỏi hàng thợ thủ công (điều mà đến thế kỷ 16, châu Âu mới đạt được). Trong số những kiệt tác của Cố Khải Chi có hai tác phẩm được thiên hạ từ cổ chí kim tán thưởng, đó là Nữ sử châm đồ và Lạc thần phú đồ. Về sử học có Can Bảo và Điêu Tạc Xỉ là nổi danh nhất. Can Bảo soạn "Tấn kỷ" về sử nhà Tấn, sau này có nhiều đoạn được Tư Mã Quang dẫn lại khi soạn Tư trị thông giám. Điêu Tạc Xỉ soạn sách "Hán Tấn Xuân Thu" theo lối biên niên, từ Hán Quang Vũ Đế tới Tấn Mẫn Đế (25-316). Về thơ ca và văn học, lớn nhất là tên tuổi Đào Tiềm (365 - 427). Ông là chắt nội danh tướng Đào Khản, không những chỉ là nhà thơ lớn thời Đông Tấn mà còn được thừa nhận là một trong những nhà thơ, nhà văn hóa lớn của Trung Quốc. Các tác phẩm "Đào Hoa nguyên ký" và "Ngũ Liễu tiên sinh truyện" của ông được truyền tụng đến nhiều đời sau. Thế phả nhà Tấn.
Ngũ Hồ thập lục quốc Thập lục quốc (), còn gọi là Ngũ Hồ loạn Hoa, là một tập hợp gồm nhiều quốc gia có thời gian tồn tại ngắn ở bên trong và tại các vùng lân cận Trung Quốc từ năm 304 đến 439 kéo theo sự rút lui của nhà Tấn về miền nam Trung Quốc đến khi Bắc triều thống nhất toàn bộ phương bắc, mở ra cục diện mới là Nam Bắc triều. Tên gọi và nguồn gốc. Nguồn gốc thuật ngữ này do Thôi Hồng đưa ra trong văn bản hiện đã mất "Thập lục quốc Xuân Thu" và giới hạn trong mười sáu quốc gia ở thời kỳ này, gồm: Thuật ngữ này đã được mở rộng ra cho tất cả các quốc gia tồn tại trong giai đoạn 304 đến 439. Tất cả các nước này đều không tồn tại được trong toàn bộ giai đoạn này. Giai đoạn này còn gọi là "Ngũ Hồ loạn Hoa" (năm dân tộc Hồ làm loạn Trung Hoa). Ngũ Hồ tính 5 tộc: Một thuật ngữ ít được sử dụng hơn là Giai đoạn thập lục quốc miêu tả thời kỳ hỗn loạn này từ năm 304 đến 439. Hầu như quân chủ của các quốc gia trên đều có nguồn gốc từ dân tộc Ngũ Hồ và đều xưng đế và vương. Quân chủ bốn nước Bắc Yên, Tây Lương, Tiền Lương và nước Ngụy (Nhiễm Nguỵ) là người Hán. Sáu vị vua nước Tiền Lương vẫn giữ tước hiệu danh nghĩa của Nhà Tấn. Bắc Ngụy (với tiền thân là nước Đại) không được coi là một trong thập lục quốc dù cũng được thành lập trong giai đoạn này, vì về sau nó phát triển thành quốc gia lớn mạnh, thống nhất làm chủ cả Trung Nguyên, trở thành Bắc triều trong thời Nam Bắc triều. Sự xâm nhập của các tộc Hồ. Sự xâm nhập của các dân tộc Hồ vào Trung Hoa thực ra đã bắt đầu từ lâu. Ngay từ cuối thời Đông Hán tới Tam Quốc, do nội chiến liên miên, dân số giảm sút, giai cấp thống trị cần bổ sung nhân lực cho chiến tranh nên cho các ngoại tộc vào trong Vạn Lý Trường Thành. Các địa chủ người Hán thường mộ họ làm tá điền, làm lính và cướp bán cho người khác làm nô lệ. Từ cuối thời Tây Hán, Hung Nô có nội loạn. Một thiền vu là Hô Hàn Tà mang 5.000 hộ vào hàng nhà Hán. Tới thời Đông Hán, thiền vu Nam Hung Nô cũng hàng Hán, được dời đến ở Thiểm Tây và bắc Sơn Tây. Tới thời Tam Quốc, dân Hung Nô đã đông đúc, thế lực lớn dần. Tào Tháo bèn phân tán người Hung Nô thành 5 bộ, cho ở 5 huyện thuộc Sơn Tây hiện nay là: Huyền Thị (huyện Cao Bình), Bồ Tử (huyện Bồ), Tân Hưng (Hãn Châu), Đại Lăng (huyện Văn Thủy), Kỳ huyện (huyện Kỳ). Mỗi bộ đặt một quan cầm đầu gọi là Súy, sau đổi làm Đô úy và chọn một người Hán làm chức Tư mã để cai quản chung. Trong 5 bộ đó, bộ nhỏ có khoảng 3.000 hộ, bộ lớn khoảng 10.000 hộ. Đây là một bộ lạc nhỏ của người Hung Nô, từ Trung Á dời đến miền Vũ Hương ở đông nam Sơn Tây (huyện Tẩm) và chịu sự lãnh đạo của các quý tộc Hung Nô tại đây. Là một tộc Đông Hồ. Cuối thời Đông Hán, sau khi người bắc Hung Nô dời về phía tây thì người Tiên Ty lấn gần hết đất cũ của Hung Nô. Tới giữa thế kỷ 2, người Tiên ty khống chế một vùng rộng lớn từ khu vực Liêu Hà tới hành lang Hà Tây, giáp U Xum và có một bộ phận đã vào bên trong Vạn Lý trường thành. Thị tộc Tiên Ty có 4 họ: Mộ Dung, Đoàn, Thác Bạt, Vũ Văn. Người Chi (hay Đê). Là một tộc ở miền đông Cam Túc, trước đây thời nhà Chu gọi là Tây Nhung. Sau này một bộ phận rời đến Thiểm Tây. Người Chi có 5 họ: Du Mi (huyện Kinh Dương - Thiểm Tây), Nghiên, Hưng Quốc, Lâm Vi, Lược Dương. Thời Tam Quốc, người Chi vào Trung nguyên rất nhiều. Cũng là một tộc Tây Nhung, ở rải rác miền Cam Túc, Thanh Hải và Thiểm Tây. Thời Hán, người Khương luôn đánh nhau với người Hán. Người Khương có tới 150 thị tộc. Dân tộc Tung vốn ở đất Ba Thục cổ, vùng Ba Tây, Giang Cừ (huyện Thượng Khê, huyện Cừ tỉnh Tứ Xuyên). Người Tung có 5 họ: Ba, Phàm, Thẩm, Tướng, Trịnh. Họ Ba làm vua, các họ kia làm tôi. Cuối thời Đông Hán, một bộ phận người Tung rời vào Hán Trung. Tào Tháo phân tán đến đất Lược Dương cho ở lẫn với người Chi. Cuối thời Tây Tấn, lưu dân trở về Ba Thục cùng tù trưởng Lý Đặc. Sự sụp đổ của nhà Tây Tấn. Loạn bát vương làm nhà Tây Tấn suy yếu trầm trọng. Hàng loạt tông thất có thế lực và tài năng bị giết, khiến hoàng tộc khủng hoảng nhân sự không có người phò trợ. Các bộ tộc ngoại lai thừa cơ xâm nhập và làm loạn Trung Nguyên. Do khủng hoảng nhân sự, các vị vương nhà Tấn phải dùng tới các tướng sĩ người "Hồ" và họ nhân đó phát triển thế lực. Một bộ tướng của Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh (người tham gia loạn bát vương) là Lưu Uyên đã lớn mạnh trong lúc các sứ quân họ Tư Mã giết hại lẫn nhau. Khi loạn bát vương chấm dứt, Tư Mã Dĩnh đã bị giết; trong 8 vương chỉ còn lại Đông Hải vương Tư Mã Việt nắm quyền trong triều. Lưu Uyên phát triển thành cánh quân độc lập. Năm 304, Uyên xưng làm vua, lập ra nước Hán, sử gọi là Hán Triệu. Uyên mang quân đánh chiếm đất nhà Tấn, các vương công nhà Tấn vẫn mải mê chém giết lẫn nhau không lo trừ họa ngoại tộc. Trước khi Lưu Uyên nổi dậy, năm 303, người tộc Tung là Lý Đặc, Lý Hùng ở Tây Thục đã nổi lên chống Tấn. Sau khi Lý Đặc bị quân Tấn giết, Lý Hùng kế tục, tỏ ra là tướng có tài, đánh chiếm Tây Xuyên mà nhà Tấn không còn khả năng quản lý, lập ra nước Thành, sử gọi là Thành Hán. Tháng 11 năm 306, Tư Mã Việt giết Huệ Đế Tư Mã Trung, lập Hoài Đế Tư Mã Xí lên thay. Nhà Tấn không dẹp nổi sự làm loạn của các ngoại tộc người Hồ tràn lan khắp Trung Nguyên. Năm 310, Lưu Uyên chết, con là Vũ Đế Lưu Thông lên thay. Năm 311, Lưu Thông tấn công kinh thành Lạc Dương, bắt sống Tấn Hoài Đế và nhiều triều thần nhà Tấn. Trong cuộc tấn công của Lưu Thông, quân Tấn thất bại nhanh chóng do không đủ mạnh và các sứ quân nhà Tấn đều chỉ nhân loạn lạc để phát triển cơ đồ riêng, không muốn cứu vua. Vua Tấn bị bắt nhưng vẫn không ai lập vua thay để có chính lệnh điều khiển "thiên hạ" cứu vãn tình thế. Mãi tới năm 313, nghe tin Hoài đế bị Lưu Thông giết hại, một bộ phận triều thần lập Tư Mã Nghiệp lên nối ngôi ở Trường An, tức là Tấn Mẫn Đế. Tuy nhiên chính thể của Mẫn Đế cũng đã rất suy yếu, chỉ cai quản một góc Trường An. Năm 316, Lưu Thông lại điều quân dễ dàng đánh chiếm Trường An bắt sống Mẫn Đế. Tấn Mẫn Đế làm tù binh rồi bị Lưu Thông giết chết. Nhà Tây Tấn diệt vong. Một quý tộc nhà Tấn là Lang Nha vương Tư Mã Tuấn (hay Duệ - cháu nội Tấn Vũ Đế) tập hợp lực lượng ở Giang Đông, tự xưng làm vua, tức là Tấn Nguyên Đế, trở thành người kế tục Tấn Mẫn Đế. Do nhà Tấn của Tư Mã Tuấn đóng đô ở Kiến Khang, phía đông so với nhà Tấn của các vua trước nên sử gọi là nhà Đông Tấn (317-420). Ngũ Hồ hỗn chiến. Tiền Triệu - Hậu Triệu. Một bộ tướng của cha con Lưu Uyên - Lưu Thông là Thạch Lặc, người tộc Yết, trong quá trình giúp Hán Triệu diệt nhà Tấn, đã tranh thủ phát triển thế lực riêng. Sau khi diệt được Tây Tấn, Lưu Thông không chú tâm đến chính sự, chỉ chơi bời hưởng lạc, việc triều đình bị Cận Chuẩn (靳準) thao túng. Năm 318, Thông quá ham tửu sắc mà chết, con là Lưu Xán lên thay. Cận Chuẩn nắm quyền lấn át Xán, lộng hành phế truất giết Xán, tàn sát con cháu Lưu Uyên và Lưu Thông. Một người con nuôi của Lưu Uyên là Lưu Diệu đang cầm quân ngoài mặt trận, kéo về kinh đô Bình Dương (Sơn Tây) diệt Cận Chuẩn. Lưu Diệu được một số lớn đại thần ủng hộ đưa lên ngôi đế, đặt quốc hiệu là Triệu, còn gọi là Tiền Triệu. Lúc đó các tộc Hồ tràn xuống Trung Nguyên rất nhiều. Lưu Diệu lên ngôi, bình định dẹp hết sự phản kháng của các dân tộc thiểu số như Chi, Khương, Ba, Yết. Để củng cố quyền thống trị, ông chia rẽ tộc Hồ và Hán và lợi dụng một số phần tử thượng tầng dân tộc để cai trị dân tộc ấy. Cùng lúc Lưu Diệu diệt Cận Chuẩn, tướng Thạch Lặc cầm quân ở ngoài cũng ra mặt xưng vương, ly khai Tiền Triệu, cũng đặt tên nước là Triệu, sử gọi là Hậu Triệu. Vì giới thống trị chính trị hủ bại, nội bộ Tiền Triệu mâu thuẫn gay gắt, cơ bản quốc gia hoàn toàn bất ổn. Năm 329, Lưu Diệu bị Thạch Lặc đánh bại, bắt sống và giết chết. Nước Hán Triệu mất. Tiền Lương - Tiền Yên - Bắc Đại. Trong khi Ngũ Hồ xâu xé đất đai Trung Nguyên, một tướng vùng biên phía tây của nhà Tây Tấn là Trương Quỹ coi giữ Lương Châu, không hàng phục các chính quyền Ngũ Hồ, tự giữ bờ cõi cai trị và vẫn dùng niên hiệu nhà Tấn. Tới khi Trung Nguyên cơ bản mất về tay Ngũ Hồ, ông tự lập làm Lương Vương, lập ra nước Tiền Lương, định kỳ vẫn sai người đi sứ tới Kiến Khang xin lệnh nhà Đông Tấn. Dòng họ Trương Quỹ cai trị Tây Lương rất được lòng dân, truyền được 9 đời kéo dài hơn 70 năm, một thời gian dài trong số 16 nước thời đó. Trong khi đó tại vùng phía bắc và đông bắc có đông người Tiên Ty sinh sống, trong đó có họ tộc Mộ Dung và họ Thác Bạt lớn mạnh. Họ Thác Bạt trấn trị phía bắc, xen lẫn với người Hung Nô. Cuối thời Tây Tấn, thủ lĩnh Thác Bạt Y Lô có công cùng thứ sử U châu nhà Tấn là Vương Tuấn đánh lui vài cuộc tấn công của quân Hán Triệu do Thạch Lặc chỉ huy. Vì vậy, Y Lô được nhà Tấn phong làm Đại Công, cai trị đất Đại. Khi Tiền Triệu và Hậu Triệu lấy gần trọn trung nguyên, họ Thác Bạt xưng vương, lập ra nước Bắc Đại. Ở phía đông bắc, họ Mộ Dung cũng nhân lúc hai nước Triệu hỗn chiến và nhà Tấn nép xuống phía nam để phát triển lực lượng. Năm 337, Mộ Dung Hối lập ra nước Tiền Yên. Hậu quả từ sự tan rã của Hậu Triệu: Tiền Tần. Tới giữa thế kỷ 4, phía bắc Trung Quốc có một loạt biến động dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt quốc gia Ngũ Hồ và thay vào đó là sự ra đời của một loạt nước khác. Sau khi diệt Tiền Triệu, Hậu Triệu trở thành nước lớn nhất miền bắc, tuy chưa diệt được Thành Hán, Tiền Yên và Tiền Lương nhưng vẫn hay can thiệp vào Bắc Đại. Thạch Lặc rất chú trọng xây dựng chính quyền, tiếp thu văn minh Hán tộc. Năm 333, Thạch Lặc chết, quyền hành rơi vào tay em Lặc là Thạch Hổ. Hổ giết hết con cháu Lặc, tự xưng làm vua. Nhưng Hổ là bạo chúa, tàn sát rất nhiều quan lại rồi cả con cháu của mình. Ông còn xây dựng tràn lan, cướp cả vợ con người khác để hoang dâm vô độ, nhân dân chết đói rất nhiều. Do vậy các dân tộc nổi dậy phản kháng không ngừng. Các con trai Thạch Hổ tranh quyền. Thái tử Thạch Tuyên giết Thạch Thao, Thạch Hổ giết Thạch Tuyên. Năm 349, Thạch Hổ chết, chính quyền rơi vào tay con nuôi Hổ là Thạch Mẫn (vốn tên là Nhiễm Mẫn, là người Hán). Mẫn giết hết con cháu Thạch Hổ, tự lập làm vua, đặt tên nước là Nguỵ, tức là nước Nhiễm Nguỵ. Một người trong hoàng tộc Hậu Triệu là Thạch Chi tự lập ở Tương Quốc. Nhiễm Mẫn đánh bại bức hàng tướng của Chi là Lưu Hiển, sai Lưu Hiển đánh giết Thạch Chi. Hậu Triệu mất. Tuy nhiên Nhiễm Mẫn hung hăng không được bao lâu. Có trong tay binh hùng tướng mạnh, Nhiễm Mẫn diệt Hậu Triệu. Năm 352, Nhiễm Mẫn mang quân đánh Tiền Yên, đánh chiếm hơn nửa đất Yên, sắp thống nhất miền bắc. Biết Nhiễm Mẫn kiêu ngạo chủ quan khinh địch, Yên vương Mộ Dung Tuấn dùng kế bắt sống được Mẫn chém chết. Nước Nhiễm Ngụy tồn tại chỉ hơn 2 năm. Năm 347, quyền thần Đông Tấn là Hoàn Ôn mang quân diệt nước Thành Hán của Lý Thế (cháu Lý Hùng). Khi Hậu Triệu tan rã, một loạt các tù trưởng các bộ tộc người Chi, người Khương ra sức tự lập. Năm 350, một tướng cũ của Hậu Triệu, người tộc Chi (hay Đê) là Bồ Hồng chiếm giữ Quan Trung, lập ra nước Tiền Tần, đổi ra họ Phù. Khi đó Hậu Triệu chưa mất hẳn, Phù Hồng bị tướng Hậu Triệu là Ma Thu đầu độc chết, con là Phù Kiện lên thay. Năm 351, đại tướng Hoàn Ôn của Đông Tấn sau khi diệt Thành Hán lại mang quân đánh Tiền Tần. Phù Kiện bỏ Trường An chạy, nhưng lại dùng kế "vườn không nhà trống", đốt hết lúa ngoài đồng khiến quân Đông Tấn bị đói. Hoàn Ôn buộc phải rút quân về. Tạm yên mặt nam, Phù Kiện tấn công về phía đông, tranh giành đất cũ của Hậu Triệu và Nhiễm Ngụy với Tiền Yên. Về cơ bản, sau năm 352, Trung Nguyên nằm trong tay Tiền Tần và Tiền Yên, phía bắc xa xôi là Bắc Đại, phía tây xa xôi là Tây Lương (Tiền Lương). Năm 355, Phù Kiện chết, con là Phù Sinh lên thay. Phù Sinh sinh ra đã chỉ có 1 mắt, rất tàn nhẫn, sát hại nhiều quan lại và người trong họ, hễ những người này lỡ phạm phải những chữ "một", "thiếu" "lẻ"... vì Sinh cho rằng ám chỉ đến tật một mắt của mình. Vì thế lòng người chán ghét Sinh. Năm 357, em họ Sinh là Phù Kiên giết Sinh lên thay, trở thành một trong những vua nổi tiếng nhất thời Ngũ Hồ. Nhờ chính sách hòa hợp dân tộc, thu hút nhân tài người Hán, Tiền Tần dưới tay Phù Kiên lớn mạnh rất nhanh. Năm 371, Kiên đánh bắt sống vua Tiền Yên là Mộ Dung Vĩ. Tới năm 376, bức hàng nước Tây Lương của Trương Thiên Tích. Sau đó, nhân khi Bắc Đại có tranh chấp nội bộ, Phù Kiên diệt Bắc Đại, chia đất làm hai. Về cơ bản, lần đầu tiên Phù Kiên thống nhất toàn miền bắc Trung Quốc kể từ năm 304. Vai trò của Đông Tấn. Đông Tấn dù phải nép xuống phía nam, nhưng nếu so tiềm lực với các nước Ngũ Hồ bị chia cắt ở phía bắc thì cũng là một nước lớn. Tuy nhiên, nội bộ Đông Tấn luôn ẩn chứa mâu thuẫn giữa các họ tộc nắm quyền trong triều. Họ Tư Mã làm vua chỉ có hư vị, quyền hành trong tay các chi họ quý tộc lớn, một số ở Giang Nam, một số di cư từ phương bắc xuống. Khi nhà Tây Tấn mới mất, nhiều thành trì phía bắc vẫn trong tay các tướng trung thành với nhà Tấn. phía nam, một bộ phận tướng lĩnh, điển hình là Tổ Địch, rất tha thiết phối hợp với các tướng phía bắc tiến hành bắc phạt để thu phục Trung Nguyên. Nhưng vua Đông Tấn và đại đa số các địa chủ miền nam không muốn chiến tranh, do đó không cấp quân và vũ khí, chỉ cho Tổ Địch một ít lương thực. Tổ Địch vượt Trường Giang đến lưu vực Hoài Hà, tự tổ chức chế tạo vũ khí và mộ quân. Trong vòng 7-8 năm từ năm 323, quân Tổ Địch tấn công vào quân Hậu Triệu của Thạch Lặc, giành lại khá nhiều đất đai. Nhưng các đại thần nhà Đông Tấn sợ chiến thắng ngoài mặt trận sẽ khiến uy thế của ông quá lớn nên tìm cách kìm chế ông. Những hành động đơn lẻ của Tổ Địch dần dần bị cô lập, yếu đi và không mang lại kết quả lớn. Quân Ngũ Hồ thừa cơ phản công giành lại đất đai. Ông buồn rầu qua đời. Không lâu sau đó các tướng phía bắc như Vương Tuấn, Lưu Côn, Lý Củ lần lượt bị quân Ngũ Hồ đánh bại, miền bắc mất hoàn toàn. Tuy không thành công, nhưng ý chí chống Ngũ Hồ của Tổ Địch, Lưu Côn đã trở thành những tấm gương cho tướng sĩ thế hệ sau các ông noi theo. Sau Tổ Địch, một thời gian dài Đông Tấn cố thủ ở miền nam không phát binh đánh miền bắc. Mãi tới khi Hoàn Ôn cầm quyền trong triều, việc bắc phạt mới được chú trọng. Là người có tài và quyết đoán, Hoàn Ôn tổ chức quân đội đánh Thành Hán. Năm 347, ông diệt nước Thành Hán của người Tung. Năm 351, ông lại tiến quân đánh Tiền Tần của Phù Kiện nhưng đường xa bị thiếu lương nên phải rút về. Năm 354, Hoàn Ôn làm trấn thủ Kinh châu lại cất quân bắc phạt đánh Phù Kiện nước Tiền Tần. Nhân dân người Hán thấy quân của Hoàn Ôn đều mừng rỡ, mang rượu thịt ra đón, nhưng các địa chủ ở gần Trường An lại không có ai hoan nghênh. Hoàn Ôn lấy làm lạ. Hỏi ra ông mới biết rằng từ khi vào chiếm Trung Nguyên, các triều đình người Hồ đã dùng chính sách ưu đãi địa chủ người Hán, cất nhắc làm quan và cho miễn sưu dịch. Vì thế các địa chủ người Hán rất ủng hộ các triều đình Ngũ Hồ. Hoàn Ôn đóng quân thêm một thời gian nữa nhưng vẫn không thể kêu gọi được tầng lớp này. Ông đành phải rút quân về nam. Trong lần bắc phạt này Hoàn Ôn cũng đã cầu danh sĩ người Hán là Vương Mãnh ra giúp mình, nhưng Mãnh từ chối và quay sang giúp quý tộc Tiền Tần, người sau đó trở thành vua Tần là Phù Kiên. Do mấy lần bắc phạt không thành, uy thế trong triều của Hoàn Ôn bị giảm sút. Họ Vương, họ Tạ nhân dịp ông già yếu, đã ngăn cản việc đoạt ngôi nhà Tấn của ông năm 372. Đại chiến Phì Thủy. Hoàn Ôn mất, Tạ An nắm quyền. Tạ An tỏ ra là người mềm mỏng hơn Hoàn Ôn, không hiếp chế vua Tấn. Lúc đó, Tần Chiêu đế (Phù Kiên) đã làm chủ toàn bộ miền bắc, ông huy động 90 vạn quân gồm nhiều sắc tộc Hồ và cả người Hán đi đánh miền nam, bất chấp sự phản đối của nhiều đại thần. Phù Kiên chủ quan kiêu ngạo nói rằng quân Tần chỉ cầm ném roi ngựa xuống Trường Giang là đủ lấp sông rồi. Tướng tiên phong là Phù Dung được lệnh cầm 27 vạn quân tiên phong đi trước. Tạ An tiến cử cháu là Tạ Huyền với Tấn Hiếu Vũ Đế Tư Mã Diệu làm tướng, mang 8 vạn quân ra đóng ở Lạc Giản đón quân Tiền Tần. Khi hai bên sắp đối trận, Phù Kiên đã mắc sai lầm là tin tưởng vào hàng tướng người Hán của Đông Tấn mới hàng là Chu Tự, sai Tự đi dụ hàng Đông Tấn. Chu Tự còn nhớ Đông Tấn, nên mang hết tình hình Tiền Tần tiết lộ cho Tạ Huyền, khuyên nên chủ động đánh quân Tần trước khi đại quân 90 vạn kịp tập hợp đông đủ. Tự còn hẹn làm nội ứng cho quân Tấn. Lúc đó Phù Dung đang án ngữ sông Phì. Tạ Huyền bèn sai người nói với Phù Dung xin quân Tần tạm rút để quân Tấn qua sông quyết chiến. Phù Kiên cũng muốn lợi dụng quân Tấn qua một nửa sẽ đánh úp nên đồng ý rút lui một đoạn. Đúng hẹn, quân Tấn sang sông. Trong đêm tối, quân Tần đang chờ nghênh địch, Chu Tự cầm một cánh quân, bỗng hô to: "Quân Tần thua to rồi!" Quân Tần đa sắc tộc, vốn bị cưỡng bức ra trận cho Phù Kiên, nghe nói thua trận liền quay đầu nhất loạt bỏ chạy, tiên phong Phù Dung không thể ngăn lại được. Tạ Huyền thấy quân Tần chạy, thừa cơ thúc quân Tấn truy kích, giết chết rất nhiều. Phù Dung bị tử trận trong loạn quân. Đó là trận Phì Thủy, lớn nhất thời Ngũ Hồ, quyết định cục diện nam bắc, cứu vãn sự tồn tại của nhà Tấn và làm suy yếu trầm trọng nước Tần. 90 vạn quân Tần đại bại bỏ chạy về phía bắc. Phù Kiên về tới Lạc Dương thu thập tàn quân chỉ còn mấy chục vạn. Sự thống nhất của Bắc Nguỵ. Xé nát Tiền Tần. Đại quân Tiền Tần của Phù Kiên chạy về bắc, tan rã từng mảng. Nhân sự suy yếu của Tiền Tần, các tướng dưới quyền bắt đầu thực hiện ý định ly khai, tái lập thế chia cắt Ngũ Hồ ở miền bắc như trước đây. Thực ra, nguy cơ tái chia cắt đã tồn tại ngay khi Phù Kiên thống nhất, vì trong hàng ngũ tướng sĩ của ông, có nhiều người dị tộc được ông thu phục, đã manh tâm ly khai. Khi cầm đại quân xuống phía nam, Phù Kiên đã giao cho tướng Lã Quang đi dẹp các nước thiểu số phía tây thuộc nước Tiền Lương cũ. Dẹp xong vùng Tây Lương, Quang nhân Phù Kiên bại trận bèn cắt đất Lương xưng làm Lương vương, lập ra nước Hậu Lương (384). Năm sau, một thủ lĩnh người Tiên Ty khác là Khất Phục Quốc Nhân cũng nổi dậy xé đất Tần, lập ra nước Tây Tần (ở vùng Cam Túc ngày nay). Ngay năm 383, các tướng họ Mộ Dung, con cháu nước Tiền Yên cũ, đã tách riêng khỏi đại quân Tiền Tần tháo chạy về phía bắc, lập lực lượng riêng chống lại Phù Kiên. Ngay trong hàng ngũ các tướng họ Mộ Dung cũng chia cắt và không thần phục nhau. Con Tiền Yên vương Mộ Dung Tuấn là Mộ Dung Thùy lập ra nước Hậu Yên, một tướng khác là Mộ Dung Xung chiếm vùng Sơn Tây lập ra nước Tây Yên. Năm sau, một bộ tướng người Khương, cũng từng được Phù Kiên cho hàng không giết trong khi thống nhất phương bắc là Diêu Trường, nhân bị sai đi đánh Tây Yên bại trận, sợ bị Phù Kiên bắt tội, bèn ly khai, lập ra nước Hậu Tần. Dòng dõi nước Bắc Đại cũ là Thác Bạt Khuê, được một số cựu thần trung thành, nhân khi thiên hạ đại loạn, đón lập làm vua, tái lập nước Bắc Đại, đến năm 386 đổi tên là Nguỵ, sử gọi là Bắc Nguỵ. Như vậy, chỉ sau một thời gian rất ngắn sau trận Phì Thủy, miền bắc lại bị chia cắt trở lại, trên bản đồ phía bắc có sự tồn tại của 7 quốc gia. Ngũ Hồ tái hỗn chiến. Tần diệt Tần, Yên nuốt Yên. Mộ Dung Thùy nắm trong tay lực lượng khá mạnh cũ của Tiền Tần, nên nhanh chóng phát triển nước Hậu Yên thành nước lớn, đóng đô ở Trung Sơn. Hai nước Tây Yên và Hậu Tần liền kề với đất Tiền Tần nên xung đột xảy ra ác liệt. Năm 385, Phù Kiên bị quân Tây Yên của Mộ Dung Xung cũng kéo đến đánh Tiền Tần để báo thù họa vong quốc năm 371, vây đánh ở Trường An, phải phá vây ra ngoài. Cùng lúc đó quân Hậu Tần của Diêu Trường thừa cơ đón bắt giết Kiên. Một số triều thần sót lại của Tiền Tần lập con Kiên là Phù Phi lên ngôi ở Nghiệp Thành, nhưng nhanh chóng bị quân Tây Yên đánh bại. Phù Phi bị tử trận. Chính trong nội bộ các quốc gia ly khai Tiền Tần cũng vô cùng rối ren. Nước Tây Yên từ năm 384 đến 386 liên tục đổi chủ, họ Mộ Dung chém giết lẫn nhau. Cuối cùng, năm 386, Mộ Dung Vĩnh giành được ngôi vua. Nhưng lúc đó Tây Yên đã suy yếu, bị mất Trường An vào tay Hậu Tần. Năm 386, nghe tin vua Tiền Tần là Phù Phi bị giết, cháu họ của Phù Kiên là Phù Đăng được lập làm vua. Các vua Tiền Tần nối đời kế tục nhau chiến tranh với Hậu Tần của Diêu Trường, nhưng cuối cùng đều bị cha con Diêu Trường - Diêu Hưng đánh bại. Năm 394, Phù Đăng bị quân Hậu Tần của Diệu Hưng giết chết. Phù Sùng được lập lên thay, nhưng vẫn không xoay chuyển được tình thế. Phù Sùng bị quân Hậu Tần đánh bại, bỏ chạy về phía tây, bị quân Tây Tần bắt giết. Nước Tiền Tần mất. Hậu Tần diệt được Tiền Tần, phát triển thành nước lớn phía tây. Trong khi đó, Hậu Yên vương Mộ Dung Thùy không muốn họ tộc Mộ Dung bị chia rẽ, bèn mang quân đánh Tây Yên. Năm 394, Mộ Dung Thùy giết được Mộ Dung Vĩnh, diệt nước Tây Yên. Hậu Yên cũng trở thành nước lớn. Về cơ bản, Hậu Tần và Hậu Yên đóng ở vị trí như Tiền Tần và Tiền Yên trước đây. Hai nước Yên mới. Tuy nhiên, cục diện đó lập tức bị phá vỡ. Nước Ngụy của Thác Bạt Khuê nhanh chóng lớn mạnh, cất quân nam tiến, đánh Hậu Yên. Quân yên không chống nổi, thái tử Mộ Dung Bảo liên tục bị thua trận. Mộ Dung Thùy phải tự tay cầm quân tạm đẩy lui được quân Nguỵ, nhưng không lâu sau thì già yếu mà mất (396). Quân Ngụy lại nam tiến, lấy đất Hậu Yên như tằm ăn lá dâu. Vùng Hà Nam, Hà Bắc bị quân Ngụy chiếm. Hậu Yên rút lên phía bắc, chỉ bao gồm đất của nước Yên cổ thời Chiến Quốc xưa kia. Cùng lúc đó nội bộ Hậu Yên lại xảy ra tranh đoạt, chém giết lẫn nhau, khiến liên tiếp chỉ trong chưa đầy 10 năm, các vua Mộ Dung Bảo (398), Mộ Dung Thịnh (401), Mộ Dung Hy (407) đều bị giết. Một người con nuôi của Mộ Dung Bảo là Cao Vân giết Hy làm vua, nhưng không lâu sau bị quyền thần giết chết (409). Một đại thần người Hán là Phùng Bạt được lập lên ngôi, đổi quốc hiệu là Bắc Yên, vì khi đó nước Yên nằm ở phương bắc, để phân biệt với nước Nam Yên. Khi Hậu Yên bị Ngụy xâm chiếm, một người con của Mộ Dung Thùy là Mộ Dung Đức bỏ chạy về vùng Sơn Đông, bị tách khỏi lực lượng của Mộ Dung Bảo, không thể liên hệ được. Nghe tin Mộ Dung Bảo bị giết (398), Đức bèn chiếm lấy vùng Hoài Bắc, giáp với Đông Tấn, xưng làm Nam Yên vương. Trên thực tế Nam Yên và Bắc Yên đều rất nhỏ bé, không có đủ thực lực để tái lập sự hùng mạnh của Tiền Yên. Chia nhỏ Hậu Lương. Tại nước Hậu Lương, sau khi vua sáng lập Lã Quang chết (399), nội bộ cũng lục đục, những người trong họ tranh nhau quyền, giết hại lẫn nhau. Các bộ tộc lân cận thừa cơ ly khai, chia cắt nước Hậu Lương lớn thành 4 nước nhỏ: người tộc Hung Nô là Thư Cừ Mông Tốn dựng Đoàn Nghiệp làm vua Bắc Lương, người Tiên Ty là Thốc Phát Ô Cô lập ra nước Nam Lương, người Hán là Lý Cảo lập ra nước Tây Lương. Cùng lúc đó nước Hậu Lương vẫn chưa mất hẳn. Tới năm 403, cháu Lã Quang là Lã Long bị vua Hậu Tần là Diêu Hưng diệt. Trên bản đồ phía bắc khi đó có 8 nước: Bắc Ngụy (lớn nhất), Bắc Yên, Nam Yên, Hậu Tần, Tây Tần, Bắc Lương, Nam Lương, Tây Lương. Cá lớn nuốt cá bé. Chiến tranh sinh tồn giữa Đông Tấn và Ngũ Hồ vẫn ác liệt. Năm 407, hậu duệ của một tộc người Hung Nô, con của Lưu Vệ Thần - thủ lĩnh người Hung Nô bị Thác Bạt Khuê đánh bại khi dựng nước Ngụy năm 386 - tên là Lưu Bột nổi dậy ở miền bắc, đổi họ là Hách Liên. Hách Liên Bột Bột vốn là thuộc tướng của Hậu Tần. Diêu Hưng phân cấp cho ông 5 bộ Tiên Ti và hơn 2 vạn người Hồ trấn thủ phương bắc, vì đó ông được nắm quân tự lập ra nước Hạ, định đô ở Thống Vạn (Hành Sơn, Thiểm Tây). Năm 410, tướng Đông Tấn là Lưu Dụ diệt nước Nam Yên của cháu Mộ Dung Đức là Mộ Dung Siêu. Năm 414, vua Tây Tần là Khất Phục Sí Bàn diệt nước Nam Lương của Thốc Phát Nục Đàn. Năm 417, tướng Đông Tấn là Lưu Dụ lại bắc tiến, chiếm Trường An, diệt nước Hậu Tần của cháu Diệu Trường là Diêu Hoằng. Dụ để con là Nghĩa Chân ở lại giữ Trường An rồi rút quân về. Nhân khi Lưu Dụ mải tranh giành quyền hành trong triều Tấn để chuẩn bị cướp ngôi, không chú ý tới miền bắc, vua Hạ là Hách Liên Bột Bột (Lưu Bột) mang quân đánh chiếm Trường An - kinh đô cũ của Hậu Tần. Lưu Nghĩa Chân bỏ Trường An chạy về nam. Từ đó Hạ cũng thành một nước lớn, thế chỗ của Hậu Tần. Năm 420, Lưu Dụ cướp ngôi nhà Tấn, lập ra nhà Tống, sử gọi là Lưu Tống. Năm 421, vua Bắc Lương là Thư Cừ Mông Tốn (cướp ngôi Đoàn Nghiệp năm 401) mang quân diệt Tây Lương của cháu Lý Cảo là Lý Tuân. Như vậy tới năm 421, trên bản đồ phía bắc chỉ còn các nước: Bắc Nguỵ, Bắc Yên, Hạ, Bắc Lương, Tây Tần. Năm 431, vua Hạ là Hách Liên Định mang quân diệt Tây Tần. Nhưng cùng năm 431, vua Bắc Ngụy là Thái Vũ Đế Thác Bạt Đảo điều quân đánh Hạ. Nước Hạ vừa qua chiến tranh với Tây Tần, bị quân Ngụy diệt gọn, nước Hạ mất. Thế là 2 nước bị diệt năm 431. Đây cũng là lần duy nhất trong lịch sử nội chiến Trung Quốc, một nước vừa diệt một nước khác lại bị diệt ngay trong 1 năm. Năm 436, Bắc Ngụy đánh Bắc Yên, bắt vua Yên là Phùng Hoằng. Nước Bắc Lương còn lại trơ trọi cũng không tồn tại được lâu. Năm 439, Thác Bạt Đào đánh Bắc Lương, bắt vua Lương là Thư Cừ Mục Kiền. Cục diện Ngũ Hồ loạn Hoa hơn 100 năm với hơn 20 quốc gia chấm dứt. Toàn thể phương bắc được thống nhất trong tay Bắc Ngụy. Ở miền nam trong tay nhà Lưu Tống, sử gọi thời kỳ các triều đại nam và bắc nối nhau cai trị hai miền là Nam Bắc triều. Chiến tranh vẫn chưa chấm dứt. Tính cả các vua nhà Tấn, thời Ngũ Hồ thập lục quốc có tới gần 150 vua xưng đế hoặc xưng vương. Chiến tranh xảy ra liên miên trên hầu khắp miền bắc Trung Quốc. Miền nam tuy không nhiều chiến sự như miền bắc nhưng cũng gặp phải loạn do các tướng gây ra và sau đó là khởi nghĩa nông dân. Không giống như những thời đại loạn lạc Chiến Quốc trước đó hay Ngũ đại Thập quốc sau đó, chiến tranh Ngũ Hồ loạn Hoa mang nặng tính sắc tộc. Đây là lần đầu tiên các tộc Hồ phương Bắc tràn xuống Trung Nguyên và dựng lên chính quyền của chính mình, tranh giành với người Hán và tàn sát lẫn nhau. Do đó mức độ đối địch giữa các sắc tộc gay gắt hơn so với thời Ngũ Đại thế kỷ 10, khi các tộc này đã có bề dày vài trăm năm ở lẫn với người Hán và ít nhiều được hưởng địa vị nhất định trong xã hội, không đơn thuần làm nô tỳ như trước đây. Những ông vua hiếu chiến. Một loạt quốc gia nay được dựng lên rồi mai đổ, thay hiệu, đổi ngôi chia cắt triền miên. Chẳng những chiến tranh tàn khốc mà nền cai trị của các vua Ngũ Hồ cũng tàn khốc, một phần do tính sắc tộc. Không giống với các vua người Hán, các vua Ngũ Hồ phần lớn xuất thân có trình độ văn hóa thấp, có tinh thần thượng võ, hiếu chiến và ưa dùng vũ lực. Các nhà sử học đã xác nhận thời kỳ này xuất hiện những bạo chúa như Thạch Hổ, Nhiễm Mẫn, Phù Sinh, Hách Liên Bột Bộ, thường trực tiếp làm tướng cầm quân ra mặt trận và lập công hiển hách như Thạch Lặc, Thạch Hổ, Phù Kiên, Mộ Dung Thuỳ, Diêu Trường, Hách Liên Bột Bộ; Nhiễm Mẫn nước Nhiễm Nguỵ; Phù Kiên, Phù Đăng, Phù Xung nước Tiền Tầ, dù là trong thời hòa bình hay loạn lạc. Những quốc gia và ông vua vắn số. Hiển nhiên, trong cung đình các triều đại Ngũ Hồ ngắn ngủi cũng không ít biến loạn. Hơn 20 nước thay nhau chia cắt miền bắc. Cũng như số phận các vua nhà Tây Tấn, hầu hết các quốc gia Ngũ Hồ đều chỉ hưng thịnh được một đời với một vị vua anh minh và vua khai quốc. Các vua khai quốc chưa đủ thời gian và lực lượng thống nhất đã qua đời hoặc bị trừ khử. Cuộc thanh trừng diễn ra trong hầu hết nội bộ các triều đại Ngũ Hồ. Tính trung bình, mỗi vị vua chỉ ngồi ngai vàng được vài năm. Trong số 20 nước chỉ có các nước Tiền Lương, Tiền Yên, Bắc Yên, Hạ, Tây Tần, Hậu Tần là tương đối yên ổn nội bộ, không có lật đổ, thoán đoạt. Còn lại những quốc gia khác đều xảy ra chém giết, sát hại cung đình, trong khi đó bên ngoài biên giới, chiến sự còn đang rối ren, nguy cơ mất nước cận kề. Suốt hơn 100 năm, chỉ có vài vị vua Ngũ Hồ được giới sử học đánh giá cao, như Lưu Uyên nước Hán Triệu, Thạch Lặc nước Hậu Triệu, Lý Hùng nước Thành Hán, Phù Kiên nước Tiền Tần và Mộ Dung Thùy nước Hậu Yên. Chính nước Bắc Ngụy hùng mạnh, có công thống nhất miền bắc cũng không tránh khỏi những biến loạn cung đình, ngay trong thời kỳ xây dựng: vua sáng lập Thác Bạt Khuê và vua thống nhất Thác Bạt Đảo đều bị sát hại. Về nhà Tấn trong chiến tranh với Ngũ Hồ. Xét toàn cục sâu xa, ngọn lửa Ngũ Hồ có thể không cháy lan rộng và kéo dài như đã diễn ra trong lịch sử, nếu những người cầm quyền họ Tư Mã sáng suốt hơn. Đông Tấn được xem là kế tục Đông Ngô theo cách gọi "Lục triều" ở Giang Nam, nhưng nội bộ chia rẽ và bất ổn hơn nhiều so với Đông Ngô trước đây. Vì vậy, dù chiến thắng Phì Thủy có dáng dấp của chiến thắng Xích Bích - quân nam đại thắng quân bắc, dùng địa thế hiểm trở, lấy vài vạn địch trăm vạn, tận dụng sự chủ quan của địch mạ, nhưng sau đó Đông Tấn vẫn không mạnh lên như Đông Ngô mà lại yếu đi. Chiến thắng này chỉ ngăn cản sự nghiệp của Phù Kiên nói riêng, người Hồ nam tiến nói chung và duy trì thêm sự tồn tại của nhà Tấn. Vì vậy đời sau cũng không xem Phù Kiên như Tào Tháo, không so Tạ Huyền với Chu Du, không xếp Tư Mã Diệu ngang với Tôn Quyền.
Bom (bắt nguồn từ từ tiếng Pháp "bombe" /bɔ̃b/) là một thiết bị nổ khiến tạo ra và giải phóng năng lượng của nó một cách cực kỳ nhanh chóng thành một vụ nổ và sóng xung kích mãnh liệt mang tính phá hủy. Bom đã được sử dụng từ thế kỷ thứ 11 bắt đầu ở các vùng Đông Á. Đa số bom không chứa nhiều năng lượng hơn nhiên liệu thông thường, ngoại trừ trường hợp vũ khí nguyên tử. Một quả bom thường ở hình thức thùng chứa nhồi đầy vật liệu nổ, được thiết kế để gây ra phá hủy khi được kích hoạt. Bom đã từng được sử dụng từ nhiều thế kỷ cả trong những cuộc chiến tranh quy ước và không quy ước. Bom gồm có thân bom chứa thuốc nổ hoặc vật nhồi, ngòi nổ, cánh ổn định. Thuật ngữ bom thường không được áp dụng cho các thiết bị nổ được sử dụng cho mục đích dân sự như xây dựng hoặc khai thác, mặc dù những người sử dụng thiết bị đôi khi có thể gọi chúng là "bom". Việc sử dụng quân sự của thuật ngữ "bom", hay cụ thể hơn là hành động ném bom trên không, thường dùng để chỉ vũ khí nổ, không có sức mạnh, thường được sử dụng bởi không quân và hàng không hải quân. Các vũ khí nổ khác của quân đội không được phân loại là "bom" bao gồm đạn pháo, điện tích sâu (sử dụng trong nước) hoặc mìn trên mặt đất. Trong chiến tranh độc đáo, các tên khác có thể đề cập đến một loạt vũ khí tấn công. Ví dụ, trong các cuộc xung đột ở Trung Đông gần đây, các loại bom tự chế được gọi là "thiết bị nổ ngẫu hứng" (IED) đã được sử dụng bởi các máy bay chiến đấu nổi dậy có hiệu quả rất cao. Bom nổ đã được sử dụng ở Đông Á vào năm 1221, bởi quân Kim khi tấn công một thành của nhà Tống của Trung Quốc. Bom được chế tạo bằng ống tre xuất hiện vào thế kỷ 11. Bom làm bằng vỏ gang đúc chứa thuốc súng nổ có từ thế kỷ 13 của Trung Quốc. Thuật ngữ này được đặt ra cho quả bom này (tức là "bom sấm sét") trong một trận hải chiến của triều đại Kim (1115-1234) năm 1231 chống lại quân Mông Cổ. Kim sử《金 史》 (được biên soạn năm 1345) nói rằng vào năm 1232, khi tướng Mông Cổ Subutai (Tốc Bất Đài; 1176-1248) tiến xuống thành Khai Phong, những người bảo vệ đã có một "chấn thiên lôi" (震天雷) bao gồm "thuốc súng sấm sét" đưa vào một thùng chứa sắ(và đạn bắn ra) đã có một vụ nổ lớn tiếng ồn có tên dưới đây là như sấm sét, âm thanh trong hơn ba mươi dặm, và thảm thực vật bị cháy sém và nổ tung bởi sức nóng trên một khu vực rộng hơn nửa mou. Khi bị tấn công, ngay cả áo giáp sắt cũng bị xuyên thủng. Li Zengbo, một quan chức thời nhà Tống (960-1279) đã viết vào năm 1257 rằng kho vũ khí nên có sẵn vài trăm nghìn vỏ bom sắt và khi ông ở Kinh Châu, mỗi tháng sẽ có khoảng một đến hai nghìn chiếc được sản xuất để gửi từ mười đến hai mươi nghìn một thời đến Tương Dương và Dĩnh Châu. Văn bản của nhà Minh, Hỏa Long Kinh mô tả việc sử dụng bom thuốc súng độc hại, bao gồm cả bom "gió và bụi". Trong cuộc xâm lược của người Mông Cổ ở Nhật Bản, người Mông Cổ đã sử dụng "bom nổ sấm sét" chống lại người Nhật. Bằng chứng khảo cổ về "bom sấm sét" đã được phát hiện trong một vụ đắm tàu ​​dưới nước ngoài khơi Nhật Bản của Hiệp hội Khảo cổ học dưới nước Kyushu Okinawa. Các tia X của các nhà khoa học Nhật Bản về vỏ khai quật đã xác nhận rằng chúng có chứa thuốc súng. Sóng xung kích nổ có thể gây ra các tác động như dịch chuyển cơ thể (tức là, người bị ném lên không trung), mất tinh thần, chảy máu trong và vỡ màng nhĩ. Sóng xung kích được tạo ra bởi các sự kiện nổ có hai thành phần riêng biệt, bao gồm sóng dương và sóng âm. Sóng dương đẩy ra từ điểm phát nổ, theo sau là khoảng trống chân không "hút ngược" về phía điểm xuất phát khi bong bóng sốc sụp đổ. Cách phòng thủ lớn nhất chống lại chấn thương sốc là khoảng cách từ nguồn gây sốc. Như một điểm tham chiếu, áp lực trong vụ đánh bom ở Thành phố Oklahoma được ước tính trong phạm vi 28 MPa. Một sóng nhiệt được tạo ra bởi sự giải phóng nhiệt đột ngột do một vụ nổ. Các vụ thử bom của quân đội đã ghi nhận nhiệt độ lên tới 2.480 °C (4.500 °F). Mặc dù có khả năng gây bỏng nặng đến thảm khốc và gây ra hỏa hoạn thứ cấp, hiệu ứng sóng nhiệt được coi là rất hạn chế trong phạm vi so với sốc và phân mảnh. Tuy nhiên, quy tắc này đã bị thách thức bởi sự phát triển quân sự của vũ khí nhiệt điện, sử dụng kết hợp các hiệu ứng sóng xung kích âm và nhiệt độ cực cao để đốt cháy các vật thể trong bán kính vụ nổ. Điều này sẽ gây tử vong cho con người, vì các vụ thử bom đã được chứng minh. Sự phân mảnh được tạo ra bởi sự gia tốc của các mảnh vỡ của vỏ bom và các vật thể vật lý liền kề. Việc sử dụng phân mảnh trong các quả bom có từ thế kỷ 14, và xuất hiện trong văn bản thời nhà Minh là Huolongjing. Những quả bom phân mảnh chứa đầy những viên sắt và những mảnh sứ vỡ. Khi quả bom phát nổ, các mảnh vỡ thu được có khả năng xuyên qua da và làm mù mắt binh lính địch. Trong khi thông thường được xem là những mảnh kim loại nhỏ di chuyển với tốc độ siêu âm, sự phân mảnh có thể xảy ra theo tỷ lệ sử thi và di chuyển trong khoảng cách xa. Khi SS Grandcamp phát nổ trong Thảm họa thành phố Texas ngày 16 tháng 4 năm 1947, một trong những mảnh vỡ của vụ nổ đó là một neo hai tấn được ném gần hai dặm nội địa để nhúng nó trong bãi đậu xe của nhà máy lọc dầu Pan American. Ảnh hưởng đến sinh vật. Đối với những người gần với một vụ nổ, chẳng hạn như kỹ thuật viên xử lý bom, binh sĩ mặc áo giáp, kẻ phá hoại hoặc cá nhân không mặc gì để bảo vệ, có bốn loại hiệu ứng nổ trên cơ thể người: áp chế (sốc), phân mảnh, tác động và nhiệt. Quá áp lực đề cập đến sự gia tăng đột ngột và mạnh mẽ của áp lực xung quanh có thể làm hỏng các cơ quan nội tạng, có thể dẫn đến thiệt hại vĩnh viễn hoặc tử vong. Sự phân mảnh cũng có thể bao gồm cát, mảnh vụn và thảm thực vật từ khu vực xung quanh nguồn nổ. Điều này rất phổ biến trong các vụ nổ mìn chống người. Việc chiếu các vật liệu đặt ra một mối đe dọa có thể gây chết người do vết cắt ở các mô mềm, cũng như nhiễm trùng và tổn thương các cơ quan nội tạng. Khi sóng quá áp tác động vào cơ thể, nó có thể gây ra mức độ gia tốc dữ dội do nổ. Kết quả thương tích có thể từ nhỏ đến không thể chữa khỏi. Ngay sau khi tăng tốc ban đầu này, chấn thương giảm tốc có thể xảy ra khi một người tác động trực tiếp lên bề mặt cứng hoặc chướng ngại vật sau khi bị chuyển động bởi lực nổ. Cuối cùng, chấn thương và tử vong có thể xảy ra do quả cầu lửa nổ cũng như các tác nhân gây cháy được chiếu lên cơ thể. Thiết bị bảo vệ cá nhân, chẳng hạn như bộ quần áo bom hoặc quần áo rà phá bom mìn, cũng như mũ bảo hiểm, tấm che và bảo vệ chân, có thể làm giảm đáng kể bốn hiệu ứng, tùy thuộc vào điện tích, độ gần và các biến khác. Các chuyên gia thường phân biệt giữa bom dân sự và quân sự. Loại thứ hai hầu như luôn được sản xuất hàng loạt, được phát triển và chế tạo theo thiết kế tiêu chuẩn ngoài các thành phần tiêu chuẩn và dự định sẽ được triển khai trong một thiết bị nổ tiêu chuẩn. IED được chia thành ba loại cơ bản theo kích thước cơ bản và phân phối. Loại 76, IED là bom bưu kiện hoặc vali mang theo bằng tay, loại 80, là "áo tự sát" được mặc bởi máy bay ném bom, và thiết bị loại 3 là phương tiện chở chất nổ để hoạt động như bom cố định hoặc tự hành cỡ lớn, còn được biết đến như VBIED (IEDs do xe cộ). Các vật liệu nổ được cải tiến thường không ổn định [cần dẫn nguồn] và chịu sự kích nổ tự phát, không chủ ý được kích hoạt bởi một loạt các tác động môi trường, từ va chạm và ma sát đến sốc tĩnh điện. Ngay cả chuyển động tinh tế, thay đổi nhiệt độ hoặc sử dụng điện thoại di động hoặc radio gần đó cũng có thể kích hoạt một thiết bị không ổn định hoặc điều khiển từ xa. Bất kỳ sự tương tác với các vật liệu hoặc thiết bị nổ của nhân viên không đủ tiêu chuẩn nên được coi là nguy cơ nghiêm trọng và tử vong ngay lập tức. Phản ứng an toàn nhất để tìm ra một vật thể được cho là một thiết bị nổ là để càng xa nó càng tốt. Bom nguyên tử dựa trên lý thuyết phân hạch hạt nhân, khi một nguyên tử lớn tách ra, nó sẽ giải phóng một lượng năng lượng khổng lồ. Vũ khí nhiệt hạch, (thường được gọi là "bom hydro") sử dụng năng lượng từ vụ nổ phân hạch ban đầu để tạo ra vụ nổ nhiệt hạch mạnh hơn nữa. Thuật ngữ bom bẩn dùng để chỉ một thiết bị chuyên dụng dựa trên năng suất nổ tương đối thấp để phân tán vật liệu có hại trên diện rộng. Thông thường nhất liên quan đến các vật liệu phóng xạ hoặc hóa học, bom bẩn tìm cách giết hoặc làm bị thương và sau đó từ chối tiếp cận khu vực bị ô nhiễm cho đến khi có thể làm sạch hoàn toàn. Trong trường hợp thiết lập đô thị, việc dọn dẹp này có thể mất nhiều thời gian, khiến khu vực bị ô nhiễm hầu như không thể ở được trong thời gian tạm thời. Sức mạnh của những quả bom lớn thường được đo bằng kiloton (kt) hoặc megatons TNT (Mt). Những quả bom mạnh nhất từng được sử dụng trong chiến đấu là hai quả bom nguyên tử được Hoa Kỳ thả xuống để tấn công thành phố Hiroshima và Nagasaki, và loại mạnh nhất từng được thử nghiệm là Tsar Bomba. Bom phi hạt nhân mạnh nhất là "Cha của tất cả các loại bom" của Nga (chính thức là Bom nhiệt điện hàng không tăng cường (ATBIP)) [13], tiếp theo là MOAB của Không quân Hoa Kỳ (chính thức là Vụ nổ không quân khổng lồ, hay thường được gọi là "Mẹ của tất cả các quả bom"). Dưới đây là danh sách năm loại bom khác nhau dựa trên cơ chế nổ cơ bản mà chúng sử dụng. Những vụ nổ tương đối nhỏ có thể được tạo ra bằng cách tạo áp lực cho một container cho đến khi thất bại thảm khốc như với một quả bom băng khô. Về mặt kỹ thuật, các thiết bị tạo ra vụ nổ loại này không thể được phân loại là "bom" theo định nghĩa được trình bày ở đầu bài viết này. Tuy nhiên, vụ nổ được tạo ra bởi các thiết bị này có thể gây thiệt hại tài sản, thương tích hoặc tử vong. Các chất lỏng, khí và hỗn hợp khí dễ cháy phân tán trong các vụ nổ này cũng có thể bốc cháy nếu tiếp xúc với tia lửa hoặc ngọn lửa. Những quả bom đơn giản và lâu đời nhất lưu trữ năng lượng dưới dạng chất nổ thấp. Bột màu đen là một ví dụ về chất nổ thấp. Chất nổ thấp thường bao gồm một hỗn hợp của một loại muối oxy hóa, chẳng hạn như kali nitrat (saltpeter), với nhiên liệu rắn, như than củi hoặc bột nhôm. Các chế phẩm này làm xì hơi khi đánh lửa, tạo ra khí nóng. Trong trường hợp bình thường, sự xì hơi này xảy ra quá chậm để tạo ra một sóng áp lực đáng kể; Do đó, chất nổ thấp thường phải được sử dụng với số lượng lớn hoặc nhốt trong thùng chứa có áp suất nổ cao để có ích như một quả bom. Một quả bom nổ cao là một loại sử dụng một quá trình gọi là "kích nổ" để nhanh chóng chuyển từ một phân tử năng lượng cao ban đầu sang một phân tử năng lượng rất thấp. [14] Phát nổ khác với sự xì hơi ở chỗ phản ứng hóa học lan truyền nhanh hơn tốc độ âm thanh (thường nhanh hơn nhiều lần) trong một sóng xung kích dữ dội. Do đó, sóng áp suất được tạo ra bởi chất nổ cao không tăng đáng kể khi bị giam cầm vì sự phát nổ xảy ra quá nhanh khiến plasma thu được không giãn nở nhiều trước khi tất cả các vật liệu nổ đã phản ứng. Điều này đã dẫn đến sự phát triển của chất nổ nhựa. Một vỏ bọc vẫn được sử dụng trong một số quả bom nổ cao, nhưng với mục đích phân mảnh. Hầu hết các quả bom nổ cao bao gồm một chất nổ thứ cấp không nhạy cảm phải được kích nổ bằng nắp nổ có chứa chất nổ chính nhạy hơn. Bom nhiệt là loại chất nổ sử dụng oxy từ không khí xung quanh để tạo ra vụ nổ cường độ cao, nhiệt độ cao và trong thực tế, sóng nổ thường được tạo ra bởi một vũ khí như vậy có thời gian dài hơn đáng kể so với sản xuất bởi một loại ngưng tụ thông thường thuốc nổ. Bom không khí nhiên liệu là một trong những loại vũ khí nhiệt điện nổi tiếng nhất. Phản ứng phân hạch hạt nhân. Bom nguyên tử loại phân hạch hạt nhân sử dụng năng lượng có trong các hạt nhân nguyên tử rất nặng, như U-235 hoặc Pu-239. Để giải phóng năng lượng này một cách nhanh chóng, một lượng nhất định của vật liệu phân hạch phải được củng cố rất nhanh trong khi tiếp xúc với nguồn neutron. Nếu sự cố kết xảy ra chậm, các lực đẩy sẽ đẩy vật liệu ra xa nhau trước khi một vụ nổ đáng kể có thể xảy ra. Trong trường hợp phù hợp, hợp nhất nhanh chóng có thể gây ra một phản ứng dây chuyền có thể sinh sôi nảy nở và tăng cường bởi nhiều bậc độ lớn trong vòng micro giây. Năng lượng được giải phóng bởi một quả bom phân hạch hạt nhân có thể lớn hơn hàng chục nghìn lần so với một quả bom hóa học có cùng khối lượng. Phản ứng tổng hợp hạt nhân. Vũ khí nhiệt hạch là một loại bom hạt nhân giải phóng năng lượng thông qua sự kết hợp phân hạch và hợp hạch của hạt nhân nguyên tử ánh sáng của deuterium và triti. Với loại bom này, một vụ nổ nhiệt hạch được kích hoạt bằng cách kích nổ bom hạt nhân loại phân hạch chứa trong một vật liệu có chứa nồng độ deuterium và triti cao. Năng suất vũ khí thường được tăng lên với một người can thiệp làm tăng thời gian và cường độ của phản ứng thông qua sự giam cầm quán tính và phản xạ neutron. Bom nhiệt hạch hạt nhân có thể có năng suất cao tùy ý làm cho chúng mạnh hơn hàng trăm hoặc hàng nghìn lần so với phân hạch hạt nhân. Vũ khí nhiệt hạch nguyên chất là vũ khí hạt nhân không cần giai đoạn phân hạch chính để bắt đầu phản ứng tổng hợp. Về mặt lý thuyết, bom phản vật chất có thể được chế tạo, nhưng phản vật chất rất tốn kém để sản xuất và khó bảo quản an toàn Những quả bom thả không khí đầu tiên được người Áo sử dụng trong cuộc bao vây Venice năm 1849. Hai trăm quả bóng bay không người lái mang theo những quả bom nhỏ, mặc dù rất ít quả bom thực sự tấn công thành phố. Vụ đánh bom đầu tiên từ máy bay cánh cố định diễn ra vào năm 1911 khi người Ý thả bom bằng tay trên các tuyến của Thổ Nhĩ Kỳ ở Libya ngày nay, trong Chiến tranh Italo-Thổ Nhĩ Kỳ. Lần thả bom quy mô lớn đầu tiên diễn ra trong Thế chiến I bắt đầu từ năm 1915 với các cuộc không kích bằng khí cầu Zeppelin của Đức ở London, Anh, và cuộc chiến tương tự đã chứng kiến ​​phát minh của máy bay ném bom hạng nặng đầu tiên. Một cuộc đột kích Zeppelin vào ngày 8 tháng 9 năm 1915 đã làm rơi 4.000 lb (1.800 kg) chất nổ cao và bom gây cháy, trong đó có một quả bom nặng 600 lb (270 kg). Trong Thế chiến II ném bom đã trở thành một tính năng quân sự lớn, và một số phương thức giao hàng mới được giới thiệu. Chúng bao gồm bom nảy của Barnes Wallis, được thiết kế để dội lên mặt nước, tránh lưới ngư lôi và các hệ thống phòng thủ dưới nước khác, cho đến khi nó tới một con đập, tàu hoặc điểm đến khác, nơi nó sẽ chìm và phát nổ. Vào cuối chiến tranh, các máy bay như Avro Lancaster của lực lượng đồng minh đã cung cấp với độ chính xác 50 yd (46 m) từ 20.000 ft (6.100 m), bom động đất mười tấn (cũng được phát minh bởi Barnes Wallis) có tên là "Grand Slam", mà, bất thường trong thời gian đó, đã được chuyển từ độ cao lớn để đạt được tốc độ cao, và khi va chạm, sẽ xâm nhập và phát nổ sâu dưới lòng đất ("camouflet"), gây ra các hang động hoặc miệng hố lớn và ảnh hưởng đến các mục tiêu quá lớn hoặc khó khăn bị ảnh hưởng bởi các loại bom khác. Máy bay ném bom quân sự hiện đại được thiết kế xung quanh khoang bom bên trong công suất lớn, trong khi máy bay ném bom chiến đấu thường mang bom bên ngoài trên giá treo hoặc giá treo bom hoặc trên nhiều giá đỡ phóng ra cho phép gắn nhiều quả bom vào một trụ. Một số quả bom được trang bị một chiếc dù, chẳng hạn như "parafrag" (một mảnh bom phân mảnh 11 kg (24 lb) trong Thế chiến II), máy cắt hoa cúc thời chiến tranh Việt Nam, và bom của một số quả bom chùm hiện đại. Dù bay làm chậm bước xuống của quả bom, giúp máy bay rơi thời gian để đến khoảng cách an toàn với vụ nổ. Điều này đặc biệt quan trọng với vũ khí hạt nhân không khí (đặc biệt là những vũ khí rơi từ máy bay chậm hơn hoặc năng suất rất cao) và trong tình huống máy bay thả một quả bom ở độ cao thấp. [18] Một số loại bom hiện đại cũng là loại đạn được điều khiển chính xác và có thể được dẫn đường sau khi chúng rời máy bay bằng điều khiển từ xa hoặc bằng hướng dẫn tự trị. Máy bay cũng có thể cung cấp bom dưới dạng đầu đạn trên tên lửa dẫn đường, chẳng hạn như tên lửa hành trình tầm xa, cũng có thể được phóng từ tàu chiến. Một quả lựu đạn được giao bằng cách ném. Lựu đạn cũng có thể được phóng bằng các phương tiện khác, chẳng hạn như được phóng từ mõm súng trường (như trong lựu đạn súng trường), sử dụng súng phóng lựu (như M203), hoặc gắn tên lửa vào lựu đạn nổ (như trong một quả lựu đạn phóng tên lửa (RPG)). Một quả bom cũng có thể được định vị trước và che giấu. Một quả bom phá hủy đường ray ngay trước khi tàu đến thường sẽ khiến tàu bị trật bánh. Ngoài thiệt hại cho phương tiện và con người, một quả bom phát nổ trong mạng lưới giao thông thường gây thiệt hại, và đôi khi chủ yếu là để gây thiệt hại, chính mạng. Điều này áp dụng cho đường sắt, cầu, đường băng và cảng, và ở mức độ thấp hơn (tùy theo hoàn cảnh), cho đường bộ. Trong trường hợp đánh bom tự sát, quả bom thường được kẻ tấn công mang trên người, hoặc trong một chiếc xe được điều khiển đến mục tiêu. Các mỏ hạt nhân Blue Peacock, còn được gọi là "bom", được lên kế hoạch định vị trong thời chiến và được xây dựng để nếu bị xáo trộn, chúng sẽ phát nổ trong vòng mười giây. Vụ nổ của một quả bom có ​​thể được kích hoạt bởi ngòi nổ hoặc cầu chì. Ngòi nổ được kích hoạt bởi đồng hồ, điều khiển từ xa như điện thoại di động hoặc một số loại cảm biến, chẳng hạn như áp suất (độ cao), radar, rung hoặc tiếp xúc. Ngòi nổ khác nhau về cách thức hoạt động, chúng có thể là ngòi nổ điện, ngòi nổ hoặc nổ do nổ và những thứ khác. Trong khoa học pháp y, điểm phát nổ của một quả bom được gọi là ghế nổ, ghế nổ, lỗ nổ hoặc tâm chấn. Tùy thuộc vào loại, số lượng và vị trí của chất nổ, ghế nổ có thể được trải ra hoặc tập trung (nghĩa là, một miệng hố nổ). Các loại vụ nổ khác, chẳng hạn như vụ nổ bụi hoặc hơi nước, không gây ra các miệng hố hoặc thậm chí có ghế nổ chắc chắn. Bom được chia thành các loại chính sau: Trong các loại bom thì vũ khí hạt nhân có sức công phá lớn nhất có thể gây nên những thảm họa nghiêm trọng. Nếu các loại bom thông thường dựa vào phản ứng cháy nổ của các chất hóa học để gây ra một bán kính sát thương nhất định thì vũ khí hạt nhân dựa vào các phản ứng dây chuyền để gấy ra một luồng năng lượng cực lớn. Những quả bom thả xuống hàng không đầu tiên đã được người Áo sử dụng trong cuộc bao vây Venice năm 1849. Hai trăm quả bóng bay không người lái mang theo những quả bom nhỏ, mặc dù rất ít quả bom thực sự đánh trúng thành phố. Vụ đánh bom đầu tiên từ một máy bay cánh cố định diễn ra vào năm 1911 khi người Ý thả bom bằng tay vào các phòng tuyến của Thổ Nhĩ Kỳ ở libya,trong Chiến tranh Italo-Thổ Nhĩ Kỳ. Việc thả bom quy mô lớn đầu tiên diễn ra trong Thế chiến I bắt đầu từ năm 1915 với các cuộc không kích của khí cầu Zeppelin của Đức vào London,Anh, và cùng một cuộc chiến đã chứng kiến việc phát minh ra những máy bay ném bom hạng nặngđầu tiên. Một cuộc đột kích của Zeppelin vào ngày 8 tháng 9 năm 1915 đã thả 4.000 lb (1.800 kg) chất nổ cao và bom gây cháy, bao gồm một quả bom nặng 600 lb (270 kg). Trong Thế chiến II ném bom đã trở thành một tính năng quân sự lớn, và một số phương pháp phân phối mới đã được giới thiệu. Chúng bao gồm bom nảybarnes Wallis,được thiết kế để nảy trên mặt nước, tránh lưới ngư lôi và các hệ thống phòng thủ dưới nước khác, cho đến khi nó đến một con đập, tàuhoặc điểm đến khác, nơi nó sẽ chìm và phát nổ. Vào cuối chiến tranh, các máy bay như Avro Lancaster của lực lượng đồng minh đã được chuyển giao với độ chính xác 50 yd (46 m) từ 20.000 ft (6.100 m), bom động đất mười tấn (cũng được phát minh bởi Barnes Wallis) có tên là " GrandSlam", bất thường vào thời điểm đó, đã được chuyển từ độ cao để đạt được tốc độ cao, và sẽ, khi va chạm, xuyên qua và phát nổ sâu dưới lòng đất ("ngụy trang"), gây ra các hang động hoặc miệng núi lửa lớn, và ảnh hưởng đến các mục tiêu quá lớn hoặc khó bị ảnh hưởng bởi các loại bom khác. Máy bay ném bom quân sự hiện đại được thiết kế xung quanh một khoang bombên trong công suất lớn, trong khi máy bay ném bom chiến đấu thường mang bom bên ngoài trên giá treo hoặc giá đỡ bom hoặc trên nhiều giá phóng cho phép gắn một số quả bom trên một giá treo duy nhất. Một số quả bom được trang bị một chiếc dù,chẳng hạn như "parafrag" trong Thế chiến II (một quả bom phân mảnh 11 kg (24 lb), máy cắt hoa cúcthời chiến tranh Việt Namvà bom của một số bom chùmhiện đại. Dù làm chậm quá trình hạ cánh của quả bom, cho máy bay rơi thời gian để đến một khoảng cách an toàn từ vụ nổ. Điều này đặc biệt quan trọng với vũ khí hạt nhân không khí (đặc biệt là những vũ khí được thả từ máy bay chậm hơn hoặc có năng suất rất cao), và trong các tình huống máy bay thả bom ở độ cao thấp. Một số quả bom hiện đại cũng là đạn dẫn đường chính xácvà có thể được dẫn đường sau khi chúng rời khỏi máy bay bằng điều khiển từ xa hoặc bằng hướng dẫn tự động. Máy bay cũng có thể mang bom dưới dạng đầu đạn trên tên lửadẫn đường , chẳng hạn như tên lửa hành trìnhtầm xa , cũng có thể được phóng từ tàu chiến. Một quả lựu đạn được giao bằng cách ném. Lựu đạn cũng có thể được phóng bằng các phương tiện khác, chẳng hạn như được phóng từ mõm của súng trường (như trong lựu đạn súng trường),sử dụng súng phóng lựu (như M203),hoặc bằng cách gắn tên lửa vào lựu đạn nổ (như trong lựu đạn phóng tên lửa (RPG)). Một quả bom cũng có thể được đặt trước và giấu. Một quả bom phá hủy một đường ray ngay trước khi một chuyến tàu đến thường sẽ khiến tàu trật bánh. Ngoài thiệt hại về phương tiện và con người, một quả bom phát nổ trong mạng lưới giao thông thường bị hư hại, và đôi khi chủ yếu nhằm mục đích làm hỏng, chính mạng lưới. Điều này áp dụng cho đường sắt, cầu, đường băngvà cảng,và, ở mức độ thấp hơn (tùy thuộc vào hoàn cảnh), cho đường bộ. Trong trường hợp đánh bom tự sát,quả bom thường được kẻ tấn công mang theo trên cơ thể hoặc trong một chiếc xe được lái đến mục tiêu. Các mỏ hạt nhân Blue Peacock, còn được gọi là "bom", được lên kế hoạch định vị trong thời chiến và được chế tạo sao cho, nếu bị xáo trộn, chúng sẽ phát nổ trong vòng mười giây. Vụ nổ của một quả bom có thể được kích hoạt bởi một kíp nổ hoặc cầu chì. Kíp nổ được kích hoạt bởi đồng hồ, điều khiển từ xa như điện thoại di động hoặc một số loại cảm biến, chẳng hạn như áp suất (độ cao), radar,rung động hoặc tiếp xúc. Kíp nổ khác nhau về cách chúng hoạt động, chúng có thể là ngòi nổ điện, lửa hoặc nổ và những người khác,
Mìn, gọi đầy đủ là mìn quân dụng (military mine) là một dụng cụ nổ, được bố trí tại những vị trí cố định, thường được kích hoạt nhờ tác động, trực tiếp cũng như gián tiếp của chính "nạn nhân" mục tiêu. Trước, đây, tiếng Việt dùng lôi (雷) để chỉ các khối bộc phá (爆破) nói chung, như địa lôi (地雷), thủy lôi (水雷), ngư lôi (魚雷)... Trong tiếng Việt hiện đại, mìn tương đương với Landmine của tiếng Anh, "địa lôi" của tiếng Việt cổ. Tức là từ "mìn" dùng chỉ vũ khí trên cạn. Ví dụ, "ngư lôi" trước đây hiểu là "mìn cá", "địa lôi" là "mìn đất", "thủy lôi" là "mìn nước", nhưng tiếng Việt ngày nay không gọi "ngư lôi thủy lôi" là mìn. Tuy vậy, dưới đây vẫn đề cập đến "thủy lôi". Về quân sự, mìn rất rẻ và hiệu quả. Mìn có những khả năng lớn trước khi những vũ khí khác đạt được. Ví dụ, trong Thế chiến 2, đầu chiến tranh bộ binh hầu như không thể diệt được xe tăng bằng gì khác ngoài mìn. Cánh bắc Chiến dịch Kursk, Hồng Quân lập những bãi mìn lớn và dùng bộ binh, pháo binh bảo vệ những bãi mìn này, Đức không thể vượt qua. Cũng chiến dịch này, ở cánh Nam Nikita Khrushchev bố trí mìn kém thông minh, quân Đức gỡ một quả một phút, dẫn đến thủng phòng tuyến. Đến cuối chiến tranh này, bộ binh mới có chút ít khả năng bắn súng chống tăng panzerfaust (RPG). Hay như ngày nay, phiến quân Iraq chế tạo rất nhiều loại mìn, gây thương vong lớn cho Mỹ với vũ khí hiện đại. Trong chiến tranh Việt Nam và ở Campuchia, có những mìn tự tạo dễ làm và nguy hiểm. Ví như đạn cối treo lên cây lau sậy, người đi gạt rơi nổ. Du kích Củ Chi có loại mìn hoàn toàn tàng hình với máy dò điện từ. Mìn đúc bằng khối thuốc nổ lớn lấy từ bom đạn chưa nổ. Ngòi kích nổ mìn làm bằng những chất dễ cháy, trên cắm cái que, xe cộ gạt đổ que kích thuốc cháy, thuốc cháy kích thuốc nổ mồi lật đổ xe tăng. Hậu quả của mìn. Mìn tuy lợi thế về quân sự, nhưng rất khó thu hồi. Sau chiến tranh, đất đai bị xáo trộn, bản vẽ những bãi mìn thất lạc hoặc chưa bao giờ có. Việc gỡ mìn rất tốn thời gian và nhân mạng, tiền của. Mìn còn lại sau chiến tranh gây những thảm họa lớn và lâu dài. Ở Việt Nam, Campuchia và nhiều nước khác, mìn ở lại trong đất 40-50 năm vẫn hoạt động được. Quân Mỹ trước đây cài một lượng mìn khổng lồ ở Miền Trung và Miền Nam. Ở Trường Sơn, Mỹ dùng máy bay thả xuống vô cùng nhiều mìn lá, loại mìn rất lâu bị hỏng và không thể dò bằng máy dò điện từ, có màu sắc lẫn vào cây cối đất đá. Trong giải quyết các hậu quả chiến tranh này, vấn đề mìn luôn chiếm vị trí hàng đầu. Ở Campuchia, phiến quân cũng được viện trợ một lượng mìn khổng lồ, trong đó chủ yếu từ Trung Quốc, Anh. Một số mìn ở đây được thiết kế để không thể dò bằng máy dò điện từ. Phiến quân bố trí mìn hết sức bừa bãi, không hề ghi chép đánh dấu, để lại hậu quả tai hại lâu dài ở miền Tây Campuchia. Việc tìm kiếm mìn chưa nổ luôn di kèm với tìm kiếm các đầu đạn chưa nổ. Có những bom cỡ rất lớn, đáng sợ. Một hiểm họa nữa là lớp mạ không gỉ nhiều vũ khí rất đẹp, như đạn M79 có thể được trẻ em chơi. Lòng tham kiếm thuốc nổ sắt vụn thừa bán lấy tiền cũng làm tăng số tai nạn. Từ năm 1999 đến cuối năm 2004 đã có 144 quốc gia ký Hiệp uớc Quốc tế Ottawa yêu cầu tẩy chay sử dụng mìn công binh. 42 quốc gia không tham gia hiệp ước này, trong đó có Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Việt Nam. Năm 2003 thống kê chính thức cho thấy hơn 8.000 người trên thế giới chết và bị thương do mìn, nhưng con số thực tế có thể lên tới khoảng 20.000. Các quốc gia còn có thể sản xuất mìn. Theo Hiệp định chống mìn sát thương cá nhân Ottawa đã liệt kê những quốc gia sau đây là đang sản xuất mìn tính đến thời điểm tháng 8 năm 2004. Không quốc gia nào trong danh sách tham gia Hiệp ước Ottawa . Những quốc gia ngưng sản xuất mìn gần đây: Những hiểm họa nhân đạo. Những đầu đạn nổ khó nhận biết hoặc những loại mìn nhỏ là một mối nguy hiểm rất lớn đối với trẻ em. Hàng năm có khoảng chục nghìn người bị thương hoặc bị giết chết do mìn. Theo Biên bản về mìn trên đất của Liên Hợp Quốc thì vị trí, khu vực bị cài mìn cần được ghi lại. Hệ thống tự vô hiệu hóa sau một thời gian cần đi kèm. Trên thực tế mìn được cài không kiểm soát và không theo kế hoạch. Mìn được rải trên không phân tán không đồng đều, một phần có thể nằm cách biệt ở khoảng cách rộng do cấu hình không lực học (có cánh như mìn bươm bướm) hoặc có dù nhỏ được gió thổi đi xa. Một số nhóm tranh đấu cố tình dùng mìn nhắm vào thường dân, với mục đích triệt tiêu định cư, đồng ruộng, đồn điền không thể sử dụng hay khủng bố dân thường phía đối phương. Đói, chết và tàn tật cả đời là hậu quả của những người vô tội. Hiệu quả của nó tương tự như bom bi là Đạn dược thứ cấp. Một phần không nhỏ của bom bi bị mất tích và thông thường phát nổ với một va động nhẹ. Mìn thường được sản xuất với giá rẻ và rất dễ với lượng lớn. Chính vì vậy với những phe phái thù địch, không có vũ khí tối tân, thường có nhu cầu rất cao. Nó cũng được sử dụng trong quân đội của Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan. Về nguyên tắc người ta phân biệt gỡ mìn quân sự và gỡ mìn nhân đạo. Gỡ mìn quân sự để nhanh chóng vượt qua khu vực gài mìn với tổn thất nhỏ. Gỡ mìn nhân đạo thì lại có mục tiêu trước tiên là trả lại sự an toàn cho cuộc sống của thường dân (như tái định cư, trồng trọt, tiếp cận nguồn nước ). Việc gỡ mìn quân sự khó khăn nhiều do không thể sử dụng thiết bị lớn mạnh và yêu cầu thời gian. Trong các trận đánh, người ta thường dùng bộc phá để kích nổ mìn và dọn dẹp vật cản. Bộc phá ống của Quân đội Nhân dân Việt Nam gồm nhiều cột dài chứa thuốc nổ, liên tiếp đặt lên và kích nổ tạo thành một đường hào, dọn dẹp mìn và hàng rào. Mỹ hiện nay dùng một loại tên lửa có đầu nổ lõm tạo áp suất cao trên mặt đất, tên lửa bắn đi từ xe, điều khiển dây tầm vài chục mét. Trong thời bình, có nhiều phương pháp phát hiện và tháo gỡ, nhưng chậm và mức độ nguy hiểm lớn. Người ta dùng các máy dò điện từ để phát hiện vỏ kim loại của mìn. Các radar sâu để phát hiện các điểm đặc biệt trong đất, các máy siêu âm nhận ra vật cứng trong đất. Phương pháp tiên tiến là dùng X-quang nhận ra khối thuốc nổ trong đất, nhưng vẫn còn rất hạn chế. Khi thấy bom mìn lớn nhỏ, người ta có thể gỡ hay tiên tiến hơn dùng các tia nước mạnh kích nổ phá hủy chúng. Với bom mìn lớn, dùng hơi nước xì chảy thuốc nổ, tháo dần ra. Nhìn chung rất nguy hiểm vì chi tiết cấu tạo bom mìn đã cũ rỉ, không tin cậy. = Về tên "mine" (mìn) trong tiếng châu Âu. = Trước đây mìn dùng để đào (mine). Lúc đó chỉ có một thứ thuốc nổ duy nhất là thuốc nổ đen, tuy không được dùng rộng rãi do rất đắt nhưng đóng góp vai trò lớn trong đào kênh, hầm. Công nghệ đào đường hầm chủ lực ngày nay vẫn là khoan nổ. Những tài liệu còn lại cho thấy châu Âu dùng mìn trong đào đắp từ thế kỷ 15. Mìn ban đầu chỉ là gói thuốc nổ cắm dây cháy chậm. Đến cuối thế kỷ 19 mới xuất hiện kíp nổ an toàn và các thuốc nổ khác ngoài thuốc nổ đen. = Mìn chiến tranh = Cùng với việc đào hầm dân sự, việc công thành ngày xưa cũng dùng mìn. Người ta đào (mining) một đường hầm đến chân thành, chất thuốc nổ và đốt, chiến thuật này bắt đầu từ cổ. Những lần sử dụng đường hầm cuối cùng là chiến tranh Krym (Nga Thổ) và sau đó là Nội chiến Mỹ. Đến cuối thế kỷ 19 thành quách đã lạc hậu. Các mìn dùng kíp nổ không cần đốt có tác dụng mạnh trong chiến tranh trận địa Thế chiến 1. Đến Thế chiến 2 thì mìn đã được sản xuất và sử dụng số lượng lớn. Trong các xung đột và chiến tranh Nga-Thổ trong thế kỷ 19, nhiều loại mìn hình thành, đây là nơi người ta sử dụng hiệu quả lần đầu ngư lôi và thủy lôi. Thủy lôi hay mìn nước (sea mine). Loại mìn này bố trí dưới nước, trong tiếng Việt gọi là thủy lôi, loại mìn này có kích thước rất lớn để tiêu diệt các mục tiêu dưới nước như tàu, thuyề Địa lôi hay mìn mặt đất (land mine). Mìn mặt đất phổ biến trong Thế chiến 1. Mìn mặt đất được chia thành hai loại chủ yếu: Mìn chống người, Mìn chống tăng, và Mìn đặc biệt. Những loại mìn vũ khí thực tế kích nổ bằng những động tác của nạn nhân. Các mìn cơ khí thường có máy kích nổ, kim hỏa đập vào hạt nổ. Còn mìn lớn máy móc phức tạp điểm hỏa điện. Thủy lôi có loại ngòi đập nổ, cần đập phá bình chứa dung dịch điện phân, sinh điện, để thường rất bền. Một số nguyên tắc kích nổ khác. Thông thường, người ta cài mìn bằng tay. Chiến thuật cài mìn yêu cầu kết hợp nhiều loại mìn. Loại mìn chủ yếu chống mục tiêu theo yêu cầu và các loại mìn khác chống gỡ nó. Ví dụ bên dưới một quả mìn chống tăng đặt một quả lựu đạn gài. Ví dụ nữa là đặt một số mìn nhỏ đè nổ quanh một quả mìn sát thương vướng nổ lớn, địch dễ dẫm lên khi phát hiện ra quả mìn lớn và nỗ lực gỡ. Mìn lá, mìn bướm được máy bay Mỹ rải rất nhanh trên diện tích rộng ở Trường Sơn, ta chỉ có thể nhặt khắc phục trên tuyến đường, còn trong rừng thì không xuể, con số lên đến nhiều chục triệu hoặc trăm triệu mìn lá, mìn bướm đã rải. BM-30 Smerch tầm bắn 70 km của Nga điều khiển điện tử chính xác rải mìn diện rộng nhanh chóng, ngay lập tức chặn một con đường. Số mìn này tự hủy sau đó tùy yêu cầu. Thủy lôi trong Chiến tranh Việt Nam được máy bay thả xuống bờ biển, hoạt động và dừng lại theo tín hiệu hạ âm phát từ tàu ngầm trong Vịnh Bắc Bộ. = Một số phân loại mìn phổ biến: = Mìn sông, hay còn được gọi mìn bờ: không thấm nước, có thể thả neo thường có dạng thủy động lực tốt và được gài ở những khu vực sông hồ cạn, đặc biệt ở bờ biển với mục đích chống đổ bộ bằng thuyền phi cơ hoặc tàu. Loại mìn này được Liên Xô phát triển mạnh. Ngòi của loại mìn này phần lớn là cảm ứng từ trường, điện trường và âm thanh. Thủy lôi là mìn dùng để chống thuyền và tàu ngầm. Mìn được đặt ở ngoài khơi.
Công sự là công nghệ xây dựng pháo đài dùng để bảo đảm an toàn cho người và phương tiện vật chất, kho tàng, bảo đảm chỉ huy ổn định, nâng cao hiệu quả sử dụng vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự, chống các phương tiện sát thương của địch. Dựa vào địa hình, tình hình chiến sự và bố chí chiến lược, ta phân loại như sau: Yếu tố ảnh hưởng. Ảnh hưởng của địa hình, thời tiết đối với công sự có yếu tố địa hình là điều kiện cực kì quan trọng trong việc lựa chọn công sự cho phù hợp. Địa hình càng cao, càng thuận lợi cho việc bố trí các công sự để phòng thủ. Ví dụ: Hầm pháo của Quân đội nhân dân Việt Nam trong trận chiến Điện Biên Phủ năm 1954. Yếu tố của thời tiết đối với công sự cũng là vấn đề khó khăn trong công tác xây dựng công sự phòng thủ chiến lược. Ví dụ:Thời tiết mưa nhiều sẽ làm hư hại các chiến hào, gây ngập hầm, hoặc khi trời nắng, lớp đất phía trên quá cứng để đào công sự... Kỹ thuật cơ bản khi làm công sự: Đối với công sự phòng thủ cá nhân, ta chỉ cần xẻng, cuốc chim và vài bao cát, ta có thể làm được công sự đơn giản. Sử dụng các thiết bị xây dựng để xây dựng các công sự.
"Xem các nghĩa khác tại Bari (định hướng)" Bari là một nguyên tố hoá học có ký hiệu là Ba và số hiệu nguyên tử là 56. Nó là nguyên tố thứ năm trong nhóm 2 của bảng tuần hoàn và là một kim loại kiềm thổ màu trắng bạc. Do có khả năng phản ứng hóa học rất cao nên bari không thể được tìm thấy trong tự nhiên dưới dạng nguyên tố tự do. Các khoáng vật phổ biến nhất của bari trong tự nhiên là barit (bari sulfat, BaSO4) và witherit (bari carbonat, BaCO3), cả hai chất này đều không tan trong nước. Tên bari bắt nguồn từ dẫn xuất giả kim "baryta", từ tiếng Hy Lạp βαρύς ("barys"), có nghĩa là "nặng". Bari được xác định là một nguyên tố mới vào năm 1774, nhưng không bị khử thành kim loại cho đến năm 1808 với sự ra đời của điện phân. Bari có ít ứng dụng công nghiệp. Trong lịch sử, nó được sử dụng làm chất thu khí cho đèn điện tử chân không. Nó là một thành phần của YBCO (chất siêu dẫn nhiệt độ cao) và gốm điện, đồng thời được thêm vào thép và gang để giảm kích thước của các hạt carbon trong cấu trúc vi mô. Các hợp chất bari được thêm vào pháo hoa để tạo ra màu xanh lục. Bari sulfat được sử dụng như một chất phụ gia không hòa tan trong dung dịch khoan giếng dầu, và ở dạng tinh khiết hơn, làm thuốc cản quang phóng xạ tia X để chụp ảnh đường tiêu hóa của con người. Các hợp chất bari tan có tính độc do sự giải phóng ion bari hòa tan, và đã được sử dụng làm thuốc diệt chuột. Tính chất vật lý. Bari là một kim loại mềm màu trắng bạc, bóng hơi vàng khi ở trạng thái siêu tinh khiết. Màu trắng bạc của kim loại bari biến mất nhanh chóng khi bị oxy hóa trong không khí tạo một lớp oxide màu xám sậm. Bari có trọng lượng riêng ở mức trung bình và tính dẫn điện tốt. Bari siêu tinh khiết rất khó tổng hợp nên nhiều tính chất của bari vẫn chưa được xác định một cách chính xác. Ở nhiệt độ phòng, bari có cấu trúc lập phương tâm khối với khoảng cách giữa hai nguyên tử bari là 503 picomet, tăng dần khi nóng lên với tốc độ khoảng 1,8×10−5/°C. Nó là một kim loại rất mềm với độ cứng là 1,25 trên thang Mohs. Điểm nóng chảy của nó ở mức 1.000K (727 °C; 1.341 °F) nằm giữa nguyên tố nhẹ hơn, stronti (1.050K hay 777 °C; 1.431 °F) và nguyên tố nặng hơn, radi (969K hay 696 °C; 1.285 °F); tuy nhiên, điểm sôi của nó tại 2.118K (1.845 °C; 3.353 °F) cao hơn nhiều so với stronti (1.650K hay 1.377 °C; 2.511 °F). Khối lượng riêng của bari (3,62g/cm³) cũng nằm giữa nguyên tố stronti (2,64g/cm³) và radi (5g/cm³). Tính chất hóa học. Bari có tính chất hóa học tương tự với magnesi, calci và stronti, cùng với khả năng phản ứng cao hơn rất nhiều. Nó gần như luôn có trạng thái oxy hóa là +2 trong các hợp chất. Phản ứng với chalcogen là phản ứng tỏa nhiệt mạnh (giải phóng năng lượng); phản ứng với oxy hoặc không khí xảy ra ở nhiệt độ phòng, và do đó bari thường được cất trữ trong dầu hỏa hoặc môi trường khí trơ. Phản ứng với các phi kim khác như carbon, nitơ, phosphor, silic và hydro thường là phản ứng tỏa nhiệt và xảy ra khi đun nóng. Phản ứng với nước và alcohol cũng tỏa nhiều nhiệt và giải phóng khí hydro: Ba + 2 ROH → Ba(OR)2 + H2↑ (R là gốc hydrocarbon hoặc nguyên tử hydro) Ngoài ra, bari tác dụng được với amonia để tạo ra các phức chất chẳng hạn như Ba(NH3)6. Bari kim loại rất dễ bị ăn mòn bởi đa số acid. Acid sulfuric là một trường hợp ngoại lệ, do tính thụ động hóa làm phản ứng ngừng lại bằng cách tạo thành bari sulfat không tan. Bari kết hợp với một số kim loại khác như nhôm, kẽm, chì và thiếc tạo thành các pha kim loại trung gian và hợp kim. Muối bari thường có màu trắng ở dạng rắn và không màu khi bị phân hủy, do các ion bari không cho màu cụ thể. Chúng cũng có khối lượng riêng lớn hơn so với các muối stronti và calci tương ứng (xem bảng bên; khối lượng của muối kẽm được thêm vào để so sánh). Bari hydroxide ("baryta") là một chất phổ biến ở các nhà giả kim thuật, được họ sản xuất bằng cách đun nóng bari carbonat. Khác với calci hydroxide, nó hấp thụ rất ít CO2 trong dung dịch nước và do đó ít nhạy cảm với điều kiện môi trường thay đổi. Tính chất này được ứng dụng trong việc kiểm định thiết bị đo độ pH. Các hợp chất bari bay hơi cháy với ngọn lửa màu lục hoặc lục nhạt, và đó cũng là một cách hiệu quả để nhận biết một hợp chất của bari. Màu của ngọn lửa bắt nguồn từ các vạch quang phổ tại 455,4, 493,4, 553,6 và 611,1 nm. Nhóm hợp chất hữu cơ của bari là một nhóm hợp chất đang tiếp tục được nghiên cứu: ví dụ, đã có một số hợp chất điankylbari cũng như ankylhalobari đã biết. Bari trong tự nhiên là hỗn hợp của 7 nuclide nguyên thủy, gồm bari-130, 132, và từ 134 đến 138. Trong số các đồng vị này, bari-138 chiếm 71,7%; các đồng vị còn lại (trừ bari-130) chiếm tỷ lệ càng nhỏ theo số khối giảm dần. Bari-130 trải qua quá trình phóng xạ rất chậm qua phân rã beta cộng kép để tạo thành xenon-130, với chu kỳ bán rã khoảng (0.5–2.7)×1021 năm (gấp 1011 lần tuổi của vũ trụ). Độ phổ biến của nó là khoảng 0,1% lượng bari trong tự nhiên. Về mặt lý thuyết, bari-132 cũng có thể đi qua quá trình phân rã beta cộng kép thành xenon-132, nhưng hiện tượng này hiện vẫn chưa được ghi nhận. Tính phóng xạ của các đồng vị này yếu đến mức chúng không có khả năng gây hại cho sự sống. Tổng cộng, bari có 40 đồng vị đã biết với số khối từ 114 đến 153. Đồng vị phóng xạ tổng hợp bền nhất là bari-133 với chu kỳ bán rã khoảng 10,51 năm. Năm đồng vị khác có chu kỳ bán rã dài hơn một ngày. Bari cũng có 10 đồng phân siêu bền, trong đó bari-133m1 là đồng vị bền nhất với chu kỳ bán rã khoảng 39 giờ. Các nhà giả kim thuật thời Trung Cổ đã biết đến một số loại khoáng vật bari. Một vài viên đá khoáng vật barit giống như đá cuội trơn nhẵn đã được tìm thấy trong đá núi lửa gần Bologna, Ý, và do đó được gọi là "đá Bologna". Chúng đã được các nhà giả kim thuật chú ý vì sau khi tiếp xúc với nguồn sáng, chúng có thể phát sáng trong nhiều năm. Tính chất lân quang của barit đun nóng với các chất hữu cơ được V. Casciorolus mô tả vào năm 1602. Carl Scheele xác định được barit chứa một nguyên tố mới vào năm 1774, nhưng không phân lập được bari mà chỉ được bari oxide. Cũng trong thế kỷ 18, nhà khoáng vật học người Anh William Withering quan sát được một khoáng vật nặng trong các mỏ chì ở Cumberland, mà hiện nay được đặt tên là witherit. Bari được Sir Humphry Davy phân lập thành công tại Anh vào năm 1808 qua điện phân muối bari nóng chảy. Dựa trên tính chất hóa học tương đồng với calci, Davy đặt tên nguyên tố là "barium" theo tên barit, trong đó hậu tố "-ium" chỉ nguyên tố kim loại. Robert Bunsen và Augustus Matthiessen thu được bari tinh khiết bằng cách điện phân nóng chảy hỗn hợp bari chloride và amoni chloride. Việc sản xuất oxy tinh khiết bằng quá trình Brin vào thập niên 1880 đã sử dụng một lượng lớn bari peroxide, trước khi quá trình này bị thay thế bằng điện phân và chưng cất phân đoạn không khí lỏng vào những năm 1900. Trong quá trình này bari oxide phản ứng với không khí ở 500–600 °C (932–1.112 °F) tạo ra bari peroxide, sau đó nó bị phân hủy ở nhiệt độ trên 700 °C (1.292 °F) giải phóng khí oxy: 2 BaO + O2 ⇌ 2 BaO2 Bari sulfat lần đầu tiên được ứng dụng làm thuốc cản quang phóng xạ trong ảnh chụp y khoa bằng tia X của hệ tiêu hóa người vào năm 1908. Phân bố và sản xuất. Bari chiếm 0,0425% trong vỏ Trái Đất và 13 µg/L trong nước biển. Nguồn sản xuất bari chủ yếu trong thương mại là baryt, một khoáng vật chứa bari sulfat, với các mỏ khai thác trải dài khắp thế giới. Nguồn nguyên liệu thương mại thứ hai, ít quan trọng hơn barit, là witherit có chứa bari carbonat, với các mỏ khai thác chính nằm ở Anh, România và Liên Xô cũ. Lượng dự trữ barit trên toàn cầu ước tính khoảng từ 0,7 đến 2 tỷ tấn. Sản lượng barit từng đạt đỉnh vào năm 1981 với 8,3 triệu tấn, nhưng chỉ có 7–8% trong số đó được sử dụng để điều chế kim loại bari hoặc hợp chất. Bắt đầu từ nửa sau thập niên 1990, sản xuất barit tăng trưởng nhanh, từ 4,4 triệu tấn năm 1996 lên 7,6 triệu tấn năm 2005, 7,8 triệu tấn năm 2011, và 8,9 triệu tấn vào năm 2019, trước khi giảm xuống còn 7,3 triệu tấn năm 2021 do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Trong tổng sản lượng năm 2021, Trung Quốc chiếm nhiều nhất (2,8 triệu tấn), tiếp theo là Ấn Độ (1,6 triệu tấn), Maroc (1,1 triệu tấn), và Kazakhstan (450.000 tấn). Quặng sau khi khai thác sẽ được làm sạch, nghiền vỡ, phân loại và tách ra khỏi thạch anh. Nếu thạch anh lọt vào quá sâu bên trong quặng, kỹ thuật tuyển nổi sẽ được áp dụng. Sản phẩm thu được là barit tinh khiết 98% (theo khối lượng); độ tinh khiết phải không dưới 95%, với một lượng nhỏ sắt và silic dioxide. Sau đó, carbon được thêm vào để khử nó về bari sulfide: BaSO4 + 2 C → BaS + 2 CO2↑ Bari sulfide, một chất tan trong nước, là điểm khởi đầu để điều chế các hợp chất khác: phản ứng của BaS với oxy tạo muối sulfat, với acid nitric tạo muối nitrat, với carbon dioxide tạo muối carbonat,  °C (2.010 °F). Hợp chất kim loại trung gian BaAl4 được điều chế trước tiên: 3 BaO + 14 Al → 3 BaAl4 + Al2O3 BaAl4 là một chất trung gian phản ứng với bari oxide để tạo ra kim loại. Chú ý rằng không phải toàn bộ bari đều bị khử. 8 BaO + BaAl4 → 7 Ba↓ + 2 BaAl2O4 Phần bari oxide còn lại tác dụng với nhôm oxide vừa hình thành: BaO + Al2O3 → BaAl2O4 và toàn bộ quá trình trên đây được đưa về phương trình 4 BaO + 2 Al → 3 Ba↓ + BaAl2O4 Bari dạng hơi được cô đặc và đóng lại thành khuôn trong môi trường argon. Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong thương mại, tạo ra bari siêu tinh khiết. Loại bari thường bán trên thị trường có độ tinh khiết khoảng 99%, với các tạp chất chủ yếu gồm stronti và calci (tối đa 0,8% và 0,25%) và dưới 0,1% các chất khác. Phản ứng tương tự với silic ở 1.200 °C (2.190 °F) tạo thành bari và bari metasilicat. Kỹ thuật điện phân không được áp dụng do bari dễ bị phân hủy trong muối halide nóng chảy và sản phẩm thu được có độ tinh khiết thấp hơn. Benitoit (bari titani silicat), một khoáng vật chứa bari khác, tồn tại dưới dạng đá quý huỳnh quang màu lam rất hiếm, và được chọn làm đá quý biểu trưng của bang California, Hoa Kỳ, từ ngày 1 tháng 10 năm 1985. Kim loại và hợp kim. Bari, dưới dạng kim loại hoặc hợp kim với nhôm, được sử dụng để làm chất thu khí loại bỏ khí không mong muốn trong các ống chân không, chẳng hạn như đèn hình màu tivi. Nguyên nhân chính là do nó có áp suất hơi thấp và khả năng phản ứng cao với oxy, nitơ, carbon dioxide và nước; nó còn có thể thu được một phần khí hiếm bằng cách phân hủy chúng trên mạng tinh thể. Ứng dụng này hiện đang dần biến mất với sự ra đời của các loại tivi màn hình LCD và màn hình plasma không có ống chân không. Một số ứng dụng ít phổ biến khác của nguyên tố bari bao gồm làm chất phụ gia cho hợp kim nhôm–silic để tinh chỉnh cấu trúc của chúng, cùng với: Bari sulfat và barit. Bari sulfat (khoáng vật barit, BaSO4) là một chất quan trọng trong công nghiệp xăng dầu do được dùng làm dung dịch khoan trong giếng dầu. Phần kết tủa của hợp chất (gọi là "blanc fixe", từ tiếng Pháp có nghĩa là "trắng vĩnh cửu") được sử dụng làm sơn và vecni; làm chất đệm trong mực kết vòng, nhựa dẻo và cao su; làm chất màu trong tráng phủ giấy; và dùng trong hạt nano để biến đổi tính chất vật lý của một số polyme, ví dụ như nhựa epoxy. Bari sulfat có độc tính thấp và khối lượng riêng tương đối lớn, khoảng 4,5g/cm³ (và do đó có tính chắn sáng các tia X). Vì vậy, nó được sử dụng làm thuốc cản quang phóng xạ trong chụp X-quang hệ tiêu hóa người. Lithopone, một chất màu chứa bari sulfat và kẽm sulfide, có màu trắng vĩnh cửu với sức che phủ tốt cùng khả năng không bị tối màu khi tiếp xúc với muối sulfide. Các hợp chất bari khác. Các hợp chất khác của bari chỉ có một số ứng dụng hạn chế, giới hạn bởi độc tính của ion Ba2+ (bari carbonat là chất độc đối với chuột), vốn không phải là vấn đề đối với BaSO4 không tan. Nguy hại sinh học và cảnh báo. Do khả năng phản ứng rất mạnh của kim loại bari nên thông tin về độc tính chỉ có sẵn đối với hợp chất của nó. Các hợp chất bari tan trong nước có tính độc. Ở liều thấp, ion bari đóng vai trò là chất kích thích bắp cơ, trong khi liều cao làm ảnh hưởng đến hệ thần kinh, dẫn đến rối loạn về tim, bệnh run, yếu cơ, lo âu, khó thở và liệt. Hiện tượng này có thể do Ba2+ có khả năng chặn kênh ion kali, vốn có vai trò đặc biệt thiết yếu giúp hệ thần kinh hoạt động hiệu quả. Ngoài ra, các hợp chất bari tan trong nước (hay ion bari) cũng làm ảnh hưởng đến mắt, hệ miễn dịch, tim, hệ hô hấp và da, dẫn đến một số chứng bệnh như gây nhạy cảm hoặc mù lòa. Bari không gây ung thư và không tích lũy sinh học. Tuy nhiên, bụi chứa hợp chất bari không tan có thể tích tụ trong phổi, dẫn đến một căn bệnh lành tính có tên gọi là bệnh bụi bari (baritosis). Khác với các chất độc hòa tan khác, bari sulfat không tan là chất không gây độc và không được xếp trong danh mục hàng hóa nguy hiểm. Để tránh xảy ra phản ứng hóa học mạnh, kim loại bari được cất giữ trong môi trường argon hoặc dầu khoáng. Việc tiếp xúc với không khí sẽ gây nguy hiểm do nó có thể bắt lửa. Hơi ẩm, ma sát, nhiệt, tia lửa, ngọn lửa cháy, va chạm, tĩnh điện, và tiếp xúc với acid hay các chất oxy hóa cần được tránh xa. Tất cả những gì có thể tiếp xúc với bari cần được nối đất. Người làm việc với kim loại này phải đeo giày chống cháy đã làm sạch, quần áo cao su chịu lửa, bao tay cao su, tạp dề, kính bảo hộ và mặt nạ chống độc; không được hút thuốc tại nơi làm việc và phải rửa tay sạch sẽ sau khi cầm bari.
Nam–Bắc triều (Trung Quốc) Nam Bắc triều (, 420-589) là một giai đoạn trong lịch sử Trung Quốc, bắt đầu từ năm 420 khi Lưu Dụ soán Đông Tấn mà lập nên Lưu Tống, kéo dài đến năm 589 khi Tùy diệt Trần. Về trình tự, thời kỳ Nam Bắc triều nối tiếp thời kỳ Đông Tấn-Ngũ Hồ thập lục quốc, sau đó là triều Tùy. Do hai thế lực bắc-nam đối lập trong một thời gian dài, do vậy gọi là Nam Bắc triều. Nam triều (420-589) bao gồm bốn triều đại: Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần; Bắc triều (439-589) bao gồm năm triều đại: Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu. Hoàng tộc Nam triều chủ yếu xuất thân từ hàn môn hoặc thứ tộc, họ dần dần nắm giữ được quân quyền nên có thể soán ngôi đoạt hoàng vị. Vào sơ kỳ, kinh tế Nam triều dần được khôi phục, quân lực cường thịnh. Tuy nhiên, do sai lầm về chiến thuật và quân lực của Bắc triều cũng cường thịnh, khiến biên giới liên tục dời về phía nam. Hoàng đế cùng tông thất Nam triều thường đấu tranh đẫm máu để tranh hoàng vị. Đến thời Lương, Lương Vũ Đế hồi tâm hướng thiện, khiến quốc lực lại một lần nữa cường thịnh. Tuy nhiên, đến những năm cuối thời Lương Vũ Đế, quốc gia hủ bại suy sụp, loạn Hầu Cảnh khiến cho thực lực của Nam triều suy kém đi nhiều, đồng thời bị chia rẽ, chính cục "Kiều tính thế tộc" chi phối hoàn toàn tan vỡ. Mặc dù Trần Văn Đế thống nhất Nam triều, song quốc lực đã sút kém, chỉ có thể dựa vào thiên hiểm Trường Giang để chống cự Bắc triều. Bắc triều kế thừa Ngũ Hồ thập lục quốc, là triều đại tân hưng Hồ-Hán dung hợp. Hoàng thất Bắc Ngụy thuộc tộc Tiên Ti, quan viên tộc Hán chịu ảnh hưởng của văn hóa Ngũ Hồ, nhiều người thông hôn với người Hồ, trong khi hoàng thất Tiên Ti cũng chịu sự hun đúc của văn hóa Hán. Triều Bắc Ngụy bị Nhu Nhiên ở phương bắc trói buộc, cho đến sau khi Đột Quyết vốn khá hữu hảo thôn tính Nhu Nhiên thì mới có thể dốc toàn lực để đối phó với Nam triều. Hậu kỳ Bắc Ngụy, sau loạn Lục trấn và nông dân bạo động, thực lực suy yếu đi nhiều. Sau khi Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, không lâu sau lại phân liệt, bị Bắc Tề và Bắc Chu thay thế. Bắc Tề chủ yếu do tập đoàn Lục trấn hợp thành, sơ kỳ quân lực cường thịnh. Bắc Chu có ít quân Tiên Ti hơn Bắc Tề, địa vị chính trị không được như Nam triều Trần. Cuối cùng, tập đoàn Quan-Lũng do Vũ Văn Thái khai sáng thôn tính chính quyền Bắc Tề đang ngày càng hủ bại. Sau khi Bắc Chu Vũ Đế qua đời, một người Hán là Dương Kiên nắm giữ chính quyền, thông qua thụ thiện từ Bắc Chu Tĩnh Đế mà kiến lập triều Tùy, sau 8 năm mưu tính thì phát binh diệt Trần, thống nhất Trung Quốc. Về tương đối, Bắc triều chiến tranh không dứt, các giai cấp đối lập; còn Nam triều khá ổn định, kinh tế tiếp tục phát triển ổn định, xuất hiện trị thế "Nguyên Gia chi trị" và "Vĩnh Minh chi trị". Nhân khẩu Trung Nguyên từ thời loạn Hoàng Cân và loạn Vĩnh Gia đã liên tục dời về phương nam, mang theo sức lao động và kỹ thuật sản xuất. Giang Nam phồn vinh, khiến cho kinh tế Trung Quốc chuyển dịch về phương nam, đến thời Tùy Dạng Đế thì triều đình cho kiến lập Đại Vận Hà. Về phương diện văn hóa, loạn thế tạo cho tư tưởng tự do có được một mảnh đất màu mỡ để phát triển, đề xuất quan điểm "vụ thực cầu trị" và "vô quân luận". Đối với văn học, nghệ thuật, khoa kỹ, có sự khai sáng ra các diễn giải và lý luận độc đáo. Về huyền học, Phật giáo và Đạo giáo đều rất hưng thịnh. Trong đó, phát triển các hang động Phật giáo như hang Mạc Cao, hang đá Mạch Tích Sơn, hang đá Vân Cương, hang đá Long Môn. Về giao lưu đối ngoại cũng rất hưng vượng, đông đến Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên, tây đến vùng Tây Vực, Trung Á, Tây Á (đế quốc Sassanid), nam đến khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ. Sơ kỳ Nam Bắc triều vẫn tuân theo chính trị thế tộc, giai tầng xã hội phân thành "thế tộc", "tề dân biên hộ", "y phụ nhân" cùng nô lệ. Thế tộc nắm giữ một lượng lớn y phụ nhân không cần phải nộp thuế, những người này tiến hành sản xuất và tác chiến cho thế tộc, do đó ảnh hưởng đế số thuế thu được của triều đình. Tuy hoàng đế Nam triều vẫn cần đến sự ủng hộ của thế tộc chủ lưu, song cũng trợ giúp cho hàn môn để cân bằng thế lực chính trị, vào thời Lương còn manh nha xuất hiện chế độ khoa cử. Thế tộc Nam triều do được hưởng an nhàn trong một thời gian dài nên dần dần suy thoái, sau loạn Hầu Cảnh thì tan vỡ triệt để. Ở phương bắc, người Tiên Ti thiếu kinh nghiệm chính trị, do vậy cũng trọng dụng thế tộc người Hán, dẫn đến chọn lọc vay mượn giữa văn hóa hai bên, lâu dần hình thành kết hợp văn hóa, tối thịnh là phong trào Hán hóa dưới thời Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế. Quá trình kết hợp sản sinh xung đột tư tưởng, đấu tranh chính trị, xung đột chủng tộc kịch liệt, như loạn Lục trấn hay phong trào bài Hán của Bắc Tề. Bắc Chu thực hiện chính sách "Quan Trung bản vị", dung hợp văn hóa Tiên Ti và Hán nhằm loại bỏ rào cản Hồ-Hán. Lịch sử Nam triều. Thời kỳ Nam triều bắt đầu từ năm 420, khi quyền thần Lưu Dụ của Đông Tấn soán vị, kết thúc khi Tùy diệt Trần vào năm 589. Nam triều trải qua bốn triều đại Tống, Tề, Lương, Trần, đều kiến đô ở Kiến Khang; chỉ có Lương từng thiên đô. Bốn triều đại này cùng những triều đại trước đó kiến đô ở Kiến Khang là Đông Ngô và Đông Tấn gọi chung là "Lục triều". Lưu Tống Vũ Đế Lưu Dụ nguyên là thủ lĩnh Bắc phủ binh của Đông Tấn, sau loạn Hoàn Huyền thì nắm quyền kiểm soát triều đình. Để có được thanh thế nhằm soán Tấn, Lưu Dụ hai lần phát động Bắc phạt, thu phục các khu vực Sơn Đông, Hà Nam và Quan Trung (Quan Trung sau bị Hạ chiếm lĩnh). Sau đó, Lưu Dụ sát hại Tấn An Đế, cải lập Tấn Cung Đế, hai năm sau (420) thì soán vị giống như Tấn soán Ngụy khi trước, kiến quốc Lưu Tống, Đông Tấn diệt vong, phương nam tiến vào "thời kỳ Nam-Bắc triều". Năm 440, sau khi Bắc Ngụy thống nhất phương bắc, cùng với Lưu Tống hình thành thế đối lập Nam-Bắc. Tống Vũ Đế xuất thân từ quân đội, là người cương nghị kiệm phác, sau khi xưng đế vẫn nỗ lực thực hiện tiết kiệm, tạm thời cục thế chính trị rất tốt. Tuy nhiên, ông không xem trọng giáo dục hoàng thất, tin tưởng giao phó cho kẻ xấu, dẫn đến đại họa. Ông nhận thức được đương thời quyền thế của thế tộc rất lớn, uy quyền của quân chủ trở nên suy yếu, do vậy về chính trị thì trọng dụng những người xuất thân từ Hán tộc đáng tin tưởng để giao cho quyền hành, quân quyền ở trong trấn thì phó thác cho tông thất hoàng tộc. Tông thất nắm giữ quân quyền và chính trị nên trong lòng sinh ra ý soán vị, do vậy giữa hoàng đế và tông thất nhiều lần xảy ra thảm kịch cốt nhục tương tàn. Sau khi Lưu Tống Vũ Đế qua đời, Lưu Tống Thiếu Đế kế lập, nhưng vì ham chơi thất đức, bị các phụ chính đại thần Từ Tiện Chi, Phó Lượng và Tạ Hối sát hại, cải lập Nghi Đô vương Nghĩa Long, tức Lưu Tống Văn Đế. Sau này, Văn Đế cùng danh tướng Bắc phủ binh trừ bỏ những kẻ muốn kiểm soát quốc chính, khiến chính cục ổn định. Lưu Tống Văn Đế đề xướng tiết kiệm, đồng thời thanh lọc đội ngũ quan lại, khai sáng "Nguyên Gia chi trị". Từ năm 430, Tống Văn Đế nhiều lần Bắc phạt, nhưng do chuẩn bị không đầy đủ, thêm vào đó là Văn Đế chỉ huy sai lầm, dùng sách lược "binh hoang tài đơn", quốc lực suy yếu đi nhiều. Danh tướng Đàn Đạo Tế do lập được quân công nên bị Tống Văn Đế nghi kỵ và loại trừ, do đó càng khiến Lưu Tống mất khả năng cân bằng thực lực với Bắc Ngụy. Đương thời, Bắc Ngụy xảy ra việc Cái Ngô khởi sự làm phản, song Lưu Tống không thể tức thời Bắc phạt. Đến năm 445, Bắc Ngụy nhân lúc kẻ địch mạnh là Nhu Nhiên tạm thời suy yếu, bắt đầu phát động nhiều lần Nam chinh, hai bên giao chiến qua lại ở vùng Hoài Nam, quân Bắc Ngụy thậm chí từng tiến sát đến Trường Giang. Lưu Tống sau đó không còn thực lực để lại phát động chiến tranh. Năm 453, Lưu Tống Văn Đế bị Thái tử Thiệu sát hại, tam tử Lưu Tuấn thừa cơ suất quân đoạt vị, tức Hiếu Vũ Đế. Hiếu Vũ Đế là người hoang dâm tàn bạo, gian dâm với cháu gái, khiến phát sinh hai lần chiến sự trong nội bộ tông thất, cuối cùng còn đồ sát tại thành Quảng Lăng. Đương thời, nhân dân lưu truyền câu nói: "Kiến Khang nhìn từ xa, thành nhỏ sông ngược nước chảy vòng quanh, trước thấy con giết cha, sau thấy em giết anh", biểu thị giai đoạn lịch sử này. Sau khi Lưu Tử Nghiệp kế vị, lại tiến hành đại sát tông thất, sau bị hoàng thúc Tương Đông vương Lưu Úc sát hại đoạt vị, tức Minh Đế. Tuy nhiên, Minh Đế cũng tiến hành đại sát tông thất, khiến tử tôn của Hiếu Vũ Đế bị tuyệt diệt. Sau khi Lưu Dục kế vị, chính cục biến động, xảy ra biến loạn, tướng quân Tiêu Đạo Thành dần dần kiểm soát quân quyền. Sau khi Lưu Dục qua đời, Tiêu Đạo Thành đưa Lưu Chuẩn lên ngôi, tức Tống Thuận Đế, Tiêu Đạo Thành một mình nắm hết triều chính. Sau khi tiêu diệt đối thủ chính trị là Viên Xán và Thẩm Du Chi, Tiêu Đạo Thành soán vị vào năm 479, kiến quốc Nam Tề, sử gọi là Tề Cao Đế, Lưu Tống mất. Nam Tề Cao Đế thuộc thế tộc Lan Lăng Tiêu thị, song địa vị không cao, do vậy bị thế tộc quyền quý xem thường. Cảnh tượng chính trị dưới thời Nam Tề Cao Đế cũng giống như Tống sơ, thực hiện cai trị tiết kiệm, tại vị được 4 năm thì qua đời, Thái tử Trách kế lập, tức Vũ Đế. Vũ Đế cai trị thanh minh, không có chiến sự với Bắc Ngụy, an dân bảo cảnh, sử gọi là "Vĩnh Minh chi trị". Đương thời, Hoàng đế lợi dụng "quan điểm thiên" làm tai mắt, giám sát chính sự các châu và chư vương tông thất. Sau khi Vũ Đế qua đời, Hoàng thái tôn Tiêu Chiêu Nghiệp kế lập, do Tiêu Tử Lương cùng Tiêu Loan phụ chính. Tuy nhiên, Hoàng đế xa xỉ chìm đắm trong vui đùa, quốc chính dần rơi vào tay Tiêu Loan. Tiêu Loan có ý soán vị, sau khi sát hại Tiêu Chiêu Nghiệp thì cải lập Tiêu Chiêu Văn, không lâu sau lại phế Tiêu Chiêu Văn, tự lập làm hoàng đế, tức Minh Đế. Sau khi kế vị, Minh Đế lợi dụng "quan điểm thiên" mà đại sát chư vương tông thất, tử tôn của Cao Đế và Vũ Đế đầu bị tận sát. Những năm cuối đời, Minh Đế bệnh trọng, khá tôn trọng Đạo giáo và pháp thuật, đem phục trang sở hữu đổi sang màu đỏ; Minh Đế còn đặc biệt hạ chiếu cho các quan phủ lệnh trưng thu "ngân ngư" để làm thuốc. Năm 498, Minh Đế bệnh mất, Thái tử Tiêu Bảo Quyển kế lập. Tiêu Bảo Quản là hôn quân tàn bạo, sát hại cố mệnh đại thần, khiến các phương trấn nổ ra bạo loạn. Sau khi bình xong loạn, Tiêu Bảo Quyển lại sát hại những người có công bình loạn như Ung châu thứ sử Tiêu Ý. Năm 501, em của Tiêu Ý là Tiêu Diễn tuyên bố khởi binh, lập Tiêu Bảo Dung làm hoàng đế tại Giang Lăng, tức Hòa Đế. Sau khi Tiêu Diễn đánh vào Kiến Khang, Tiêu Bảo Quyển bị tướng quân Vương Trân Quốc sát hại. Năm sau, Tiêu Diễn soán vị, kiến quốc Lương, sử gọi là Lương Vũ Đế, Nam Tề mất. Lương và loạn Hầu Cảnh. Lương Vũ Đế thuộc nhánh phụ của Lan Lăng Tiêu thị, là người tiết kiệm, cần chính, yêu dân; khai sáng "Thiên Giám chi trị" vào tiền kỳ triều Lương, quốc lực vượt qua Bắc Ngụy đang dần hỗn loạn. Rút kinh nghiệm từ việc đồ sát tông thất của triều Tống-Tề, Lương Vũ Đế đối với tông thất hết sức khoan dung, ngay cả khi họ phạm tội thì ông cũng không truy cứu. Lương Vũ Đế có học vấn uyên bác, đề xướng phát triển học thuật, khiến lĩnh vực giáo dục của Lương phát đạt, văn hóa Nam triều phát triển tới cực điểm. Đến hậu kỳ, Lương Vũ Đế say mê Phật giáo, ba lần xá thân chùa Đồng Thái. Do tăng lữ-đạo sĩ không phải nộp thuế, có gần một nửa hộ khẩu ghi danh làm bề dưới, tài chính quốc gia chịu tổn thất to lớn. Đương thời, tông thất và quan viên ham tiền, xa xỉ, họ chìm đắm trong rượu hay vàng bạc, không thể tự vượt lên được. Sơ kỳ Lương Vũ Đế, Bắc Ngụy sau vận động Hán hóa thì phát sinh mâu thuẫn, quốc lực dần thua kém so với Lương. Từ năm 503 trở đi, Bắc Ngụy và Lương hội chiến ở khu vực Hoài Nam, cuối cùng Cương Nghĩa Chi, Tào Cảnh Tông, Vi Duệ đại thắng quân Bắc Ngụy trong trận Chung Li. Lương Vũ Đế đến lúc này tích cực Bắc phạt, song phạm vi không vượt ra khỏi khu vực Hoài Nam. Năm 516, quân Lương đánh tan quân Bắc Ngụy trong trận Thọ Dương, song vì tổn thất quá lớn nên tạm đình chỉ Bắc phạt, 10 năm sau mới đoạt được Thọ Dương. Ngoài ra, Lương Vũ Đế thích dùng hàng tướng, trao cho họ danh lợi trong khi họ vẫn chưa lập được công lao. Đến khi Bắc Ngụy phát sinh loạn Lục trấn, vào mùa đông năm 528, Lương Vũ Đế phái Trần Khánh Chi hộ tống Bắc Hải vương Nguyên Hạo của Bắc Ngụy về bắc kế vị. Trần Khánh Chi mặc dù có thể đem 7.000 kị binh đánh đến Lạc Dương, song cô độc không có viện binh nên cuối cùng thất bại. Thời kỳ Đông Ngụy-Tây Ngụy, tướng Hầu Cảnh của Đông Ngụy chịu áp lực từ cả Đông Ngụy và Tây Ngụy nên chạy sang Lương. Lương Vũ Đế dùng Hầu Cảnh bắc phạt Đông Ngụy. Tuy nhiên, sau khi quân Lương chiến bại, Lương Vũ Đế có ý đồ đưa Hầu Cảnh về Đông Ngụy để cầu hòa. Hầu Cảnh biết được việc này liền khởi binh làm phản, tiến về phía nam công Kiến Khang, sử gọi là "loạn Hầu Cảnh". Tướng Lương là Tiêu Chính Đức dẫn Hầu Cảnh vượt Trường Giang, Hầu Cảnh tiến vào Kiến Khang, Lương Vũ Đế rút vào Đài Thành. Sau đó, mặc dù các địa phương phái quân cần vương song đều giữ thái độ dò xét tình hình. Hầu Cảnh nghe tin quân cần vương tiến đến thì từng tiến hành hòa đàm, song cuói cùng bội ước và đánh chiếm Đài Thành. Sau khi Kiến Khang thất thủ, Hầu Cảnh đồ sát thế tộc Giang Nam, là sự đả kích mang tính hủy diệt đối với chính trị Nam triều. Lương Vũ Đế cuối cùng chết đói, Hầu Cảnh trước sau lập rồi sát hại Tiêu Cương và Tiêu Đống, cuối cùng soán vị kiến quốc "Hán". Tuy nhiên, thế lực của Hầu Cảnh chỉ giới hạn trong phạm vi Giang Đông và bình nguyên Giang Hán, khu vực Lương châu và Ích châu vẫn do Lương thất khống chế, song các đội quân này lo kiềm chế lẫn nhau, không chịu hợp tác với nhau. Cuối cùng, liên quân của Phiên Ngung quận thái thú Trần Bá Tiên cùng với Vương Tăng Biện được Tương Đông vương Tiêu Dịch phái đi diệt trừ được Hầu Cảnh. Tương Đông vương Tiêu Dịch kế vị ở Giang Lăng, tức Lương Nguyên Đế. Vũ Lăng vương Tiêu Kỷ cứ thủ Ích châu cũng tuyên bố xưng đế, đồng thời tiến đánh Giang Lăng. Lương Nguyên Đế cầu cứu Tây Ngụy, Tây Ngụy diệt Tiêu Kỷ rồi chiếm lĩnh Ích châu. Năm sau, cháu nội của Lương Vũ Đế là Tiêu Sát dẫn quân Tây Ngụy thừa cơ tiến công Giang Lăng, Lương Nguyên Đế bị giết, Tây Ngụy lập Tiêu Sát làm hoàng đế, sử gọi là Tây Lương. Sau khi Lương Nguyên Đế bị sát hại, Trần Bá Tiên và Vương Tăng Biện lập Tấn An Vương Tiêu Phương Trí làm hoàng đế, tức Lương Kính Đế. Sau đó, Bắc Tề đưa Tiêu Uyên Minh về nam, quân Lương bị đánh bại, Vương Tăng Biện khuất phục và nghênh lập Tiêu Uyên Minh làm Lương đế. Trần Bá Tiên phản đối và suất quân giết Vương Tăng Biện, phục lập Lương Kính Đế. Sau đó, Trần Bá Tiên đánh bại cuộc xâm lược của Bắc Tề và dư đảng của Vương Tăng Biện, chuyên chính triều đình Lương. Cuối cùng, Trần Bá Tiên soán vị vào năm 557, kiến quốc Trần, sử gọi là Trần Vũ Đế, Lương mất. Trần Vũ Đế là người Ngô Hưng, là người Ngô phương nam. Đương thời "Kiều tính thế tộc" và "Ngô tính thế tộc" đều do loạn Hầu Cảnh mà chịu thương tổn nghiêm trọng, rất nhiều địa phương có thế lực cát cứ. Do Trần Vũ Đế không có cách nào bình định hết nên đành chọn phương thức an phủ. Sau khi Trần Vũ Đế qua đời vào năm 559, cháu là Trần Thiến kế vị, tức Trần Văn Đế. Vương Lâm cát cứ ở Lương Hồ tiến hành nổi dậy, liên hiệp với Bắc Tề và Bắc Chu để đông chinh Kiến Khang. Trần Văn Đế trước tiên đánh tan liên quân Vương Lâm-Bắc Tề, kế tiếp phong tỏa Ba Khâu để cản trở Bắc Chu xuôi theo Trường Giang đông tiến. Trong thời gian Trần Văn Đế tại vị, chính trị tốt đẹp, phục hồi kinh tế Giang Nam, khiến quốc thế Nam triều khôi phục. Năm 566, sau khi Trần Văn Đế qua đời, Thái tử Bá Tông kế vị, tức Trần Phế Đế. Không lâu sau, An Thành Vương Trần Húc phế hoàng đế tự lập, tức Trần Tuyên Đế. Đương thời, Bắc Chu có ý đồ diệt Bắc Tề, do vậy yêu cầu Trần cùng phạt Bắc Tề. Trần Tuyên Đế do nghĩ có thể thu phục được khu vực Hoài Nam nên quyết định đồng ý, năm 573 phái Ngô Minh Triệt Bắc phạt, hai năm sau thu phục Hoài Nam. Đương thời, Bắc Tề suy lạc, Trần Tuyên Đế bản thân có khả năng thừa cơ mà đánh diệt, song lại chỉ muốn cố thủ khu vực Lưỡng Hoài. Sau khi Bắc Chu thừa cơ đánh diệt Bắc Tề, đến năm 577 thì nam chinh đoạt Lưỡng Hoài, quân Trần thảm bại, Trần lâm vào thế nguy hiểm. Tuy nhiên, Bắc Chu Vũ Đế đột nhiên qua đời, quyền thần Dương Kiên chuẩn bị soán vị, Bắc Chu rốt cuộc không còn ý nam chinh. Sau khi Dương Kiên kiến lập triều Tùy, Trần Tuyên Đế qua đời, Thái tử Thúc Bảo kế vị, tức Trần Hậu Chủ. Trần Hậu Chủ hoang dâm xa xỉ, khiến quốc chính đại loạn, triều chính hủ bại cực độ. Quan lại bóc lột nghiêm trọng, nhân dân cực khổ. Tùy Văn Đế nghe theo sách lược của Cao Quýnh, cứ đến mùa phương nam thu hoạch thì đốt phá đất ruộng, khiến quốc lực của Trần suy thoái. Năm 588, Tùy Văn Đế cho Dương Quảng làm chủ tướng, phát động chiến tranh nhằm diệt Trần. Trần Hậu Chủ ỷ thế có Trường Giang là thiên hiểm nên vẫn ca vũ như thường lệ. Năm sau, quân Tùy đánh vào Kiến Khang, Trần Hậu Chủ cùng ái phi Trương Lệ Hoa và Khổng quý nhân chui xuống giếng trốn, song sau vẫn bị quân Tùy bắt, Trần mất. Lịch sử Bắc triều. Bắc Ngụy hưng khởi và phong trào Hán hóa. Bắc Ngụy do bộ tộc Thác Bạt của người Tiên Ti kiến lập, tiền thân là nước Đại. Sau khi Tiền Tần sụp đổ, cháu của Đại vương Thác Bạt Thập Dực Kiền là Thác Bạt Khuê khởi binh phục quốc, định đô ở Thịnh Lạc năm 386, cải quốc hiệu thành "Ngụy", sử gọi là Bắc Ngụy. Trong thời gian trị vì của Đạo Vũ Đế Thác Bạt Khuê, Minh Nguyên Đế Thác Bạt Tự, Thái Vũ Đế Thác Bạt Đảo, Bắc Ngụy từng bước hùng mạnh. Thác Bạt Khuê và Tiền Yên kết thù, nhiều lần xảy ra chiến tranh, cuối cùng đánh tan quân Hậu Yên trong trận Tham Hợp Pha năm 395. Không lâu sau, Thác Bạt Khuê suất quân công phá thủ đô Hậu Yên, thiên đô đến Bình Thành, năm sau thì xưng đế, tức Đạo Vũ Đế. Đạo Vũ Đế có tính tàn nhẫn, sau bị con là Thác Bạt Thiệu sát hại năm 409. Cùng năm, trưởng tử của Đạo Vũ Đế là Thác Bạt Tự bình loạn kế vị, tức Minh Nguyên Đế. Minh Nguyên Đế chiếm được khu vực Hà Nam của Lưu Tống, song đến năm 423 thì mất, con là Thác Bạt Đảo kế vị, tức Thái Vũ Đế. Thái Vũ Đế cai trị tốt đẹp, quốc lực đại thịnh, đồng thời nhiều lần tiến hành đánh chiếm lãnh thổ của Lưu Tống. Sau khi giải trừ được sự uy hiếp của Nhu Nhiên ở phương bắc, Bắc Ngụy triển khai chiến tranh thống nhất Hoa Bắc. Năm 439, Bắc Ngụy tiêu diệt Bắc Lương, kết thúc thời kỳ Ngũ Hồ thập lục quốc, cùng Lưu Tống hình thành thế đối lập bắc-nam. Phương bắc đến đây chính thức bước vào thời kỳ Nam Bắc triều, song vẫn còn lại Hậu Cừu Trì, tồn tại đến năm 443 mới bị Bắc Ngụy diệt. Vào sơ kỳ, việc kiến lập tổ chức và kinh tế quốc gia của Bắc Ngụy đều dựa vào phụ tử Thôi Hoành và Thôi Hạo. Mặc dù quân lực lên đến đỉnh cao, song phía bắc còn có cường địch là Nhu Nhiên, do vậy Bắc Ngụy không thể dốc toàn lực để nam chinh. Sau khi Thái Vũ Đế thống nhất Hoa Bắc, Bắc Ngụy lại diệt Thiện Thiện- một trong ngũ đại cường quốc Tây Vực, khống chế khu vực này. Năm 450, Bắc Ngụy nam chinh Lưu Tống, tiến thẳng đến uy hiếp Qua Bộ, đồng thời tuyên bố rằng sẽ vượt Trường Giang. Sau đó, Bắc Ngụy bắt 5 vạn hộ rồi đem theo về bắc, đến lúc này quân lực Bắc triều áp đảo Nam triều, song quân lực cũng chịu tổn thất lớn. Năm 445, Cái Ngô cùng bách tính các tộc khởi sự chống lại triều đình Bắc Ngụy, Sau khi Thái Vũ Đế bình định được cuộc nổi dậy này, ông tiến hành đả kích Phật giáo, sự kiện này trở thành một trong Tam Vũ diệt Phật của lịch sử Trung Quốc. Đến hậu kỳ, Thái Vũ Đế do áp dụng hình phạt tàn khốc, cuối cùng bị hoạn quan Tông Ái sát hại vào năm 452, loạn Tông Ái đến thời Văn Thành Đế mới được bình định. Năm 471, Hiến Văn Đế nhường lại hoàng vị cho con là Thác Bạt Hoành, tức Hiếu Văn Đế, bản thân trở thành Thái thượng hoàng đầu tiên trong lịch sử. Thái thượng hoàng bị mẹ là Phùng thái hậu hạ độc sát hại vào năm 476. Phùng thái hậu nắm giữ quyền hành triều đình, là người đa nghi, đa trí, lạm hình, song lại khiến quốc chính bình ổn. Hiếu Văn Đế có khả năng do chịu ảnh hưởng từ Phùng thái hậu nên ngưỡng mộ văn hóa Hán, cho rằng người Tiên Ti cần phải Hán hóa sâu sắc. Hiếu Văn Đế là người anh minh hiếu học, sau khi thân chính ông cho xây dựng mở rộng kinh đô Bình Thành. Căn cứ vào việc Lạc Dương phồn hoa hơn Bình Thành, về vị trí địa lý có thể khống chế được toàn quốc và dễ dàng phát binh tiến công Giang Nam, có thể thoát khỏi thế lực bảo thủ; Hiếu Văn Đế vào năm 493 lấy danh nghĩa nam chinh Nam Tề, suất chúng nam thiên Lạc Dương. Hiếu Văn Đế sau khi thiên đô thì tiến hành vận động Hán hóa, toàn bộ đều dùng quan chế của người Hán, cấm trang phục và ngôn ngữ Hồ, mở rộng giáo dục, cải họ (trong đó họ Thác Bạt của hoàng tộc cải thành họ Nguyên) đồng thời thông hôn với thế tộc người Hán, cấm chỉ quy táng. Vận động Hán hóa khiến nâng cao tố chất văn hóa của những người Tiên Ti đã dời về nam, mang lại sự phát triển về kinh tế và chính trị cho Bắc Ngụy, song lại khiến quý tộc Tiên Ti vốn có tinh thần thượng võ trở nên xa xỉ và nhu nhược. Sau đó, Hiếu Văn Đế nhiều lần tiến hành nam chinh, quân Nam Tề đều thua trận. Những quý tộc Tiên Ti còn lưu lại vùng biên thùy phương bắc-Lục trấn- không muốn dời về phía nam, dần dần không còn được triều đình Lạc Dương xem trọng và thất thế, nội bộ Bắc Ngụy do vậy phân liệt thành hai đại tập đoàn Hán hóa và Tiên Ti hóa, là một trong những nguyên nhân gây nên khởi nghĩa Lục trấn sau này. Năm 494, Thái tử Nguyên Tuân có ý đồ dời về Bình Thành ở phương bắc, Hiếu Văn Đế sau khi biết được thì phế Thái tử đồng thời ban chết. Phái bảo thủ Mục Thái, Lục Duệ ở Bình Thành tập hợp tiến hành binh biến, Hiếu Văn Đế sau khi trấn áp thì tự thân đi tuần phía bắc để an phủ. Sau khi Hiếu Văn Đế qua đời, Bắc Ngụy bắt đầu suy yếu. Khởi nghĩa Lục trấn và Bắc Ngụy phân liệt. Sau khi Hiếu Văn Đế qua đời vào năm 499, Tuyên Vũ Đế kế nhiệm. Hoàng đế ham mê Phật giáo, quốc chính đại loạn, quý tộc ganh đua xa xỉ với nhau. Sau khi Hiếu Minh Đế kế nhiệm năm 515, Hồ thái hậu trở thành người chấp chính. Hồ thái hậu xa xỉ, tư thông với Thanh Hà vương Nguyên Dịch, đồng thời sủng tín Nguyên Xoa, Lưu Đằng. Nguyên Xoa và Lưu Đằng do mâu thuẫn với Nguyên Dịch nên tiến hành chính biến, đồng thời khống chế triều đình. Sau khi Lưu Đằng qua đời, đến năm 525 thì thế lực của Hiếu Minh Đế và Hồ thái hậu bình định được loạn đảng. Tuy nhiên, Hồ thái hậu vẫn như xưa, đồng thời lại xảy ra mâu thuẫn với Hiếu Minh Đế. Sau đó ở phương bắc của Bắc Ngụy xảy ra khởi nghĩa Lục trấn, Bắc Ngụy tiến gần đến chỗ diệt vong. Ngay từ những năm đầu của Bắc Ngụy, để đối phó với nguy cơ Nhu Nhiên từ phương bắc xâm nhập bắc đô Bình Thành, Bắc Ngụy cho thiết lập ở khu vực Âm Sơn-Hoàng Hà sáu trấn: Ốc Dã, Hoài Sóc, Vũ Xuyên, Phủ Minh, Nhu Huyền, Hoài Hoang ở xung quanh Bình Thành để bảo vệ. Quý tộc Tiên Ti đảm nhiệm làm tướng lĩnh Lục trấn, binh sĩ chủ yếu thuộc tộc Tiên Ti hoặc con em nhà có tiền bạc quyền thế người Hán. Họ được xem là "quốc chi phế phủ", có thể tùy thời mà trở về kinh thành nhậm chức. Tuy nhiên, sau khi triều đình thiên đô đến Lạc Dương, địa vị của Lục trấn giảm xuống. Họ vẫn bảo tồn tập tính Tiên Ti nguyên thủy, bị quý tộc Tiên Ti đã Hán hóa kỳ thị là "Đại Bắc hàn nhân", tướng lĩnh Lục trấn khi được thăng quan lên triều đình thì chịu áp bức, do vậy trong lòng bất mãn. Cuối cùng, vào năm 523, quý tộc và đồn binh phương bắc tiến hành khởi nghĩa Lục trấn; nhân dân các tộc ở Tần Lũng, Quan Đông cũng nối tiếp mà khởi sự. Triều đình Bắc Ngụy phải mất ba năm để bình định, đồng thời hình thành rất nhiều quân phiệt. Trong đó, người trấn thủ Tấn Dương là Nhĩ Chu Vinh có thế lực lớn nhất, từng công diệt Cát Vinh- thế lực mạnh nhất Quan Đông. Hiếu Minh Đế có ý đồ liên hiệp với Nhĩ Chu Vinh để đối phó với Hồ thái hậu, song bị Hồ thái hậu hạ độc sát hại năm 528. Hồ thái hậu tuyên bố người con gái duy nhất của Hiếu Minh Đế là nam và đưa lên ngôi, sau đó lại tuyên bố đứa bé là nữ và phế bỏ, lập cháu họ là Nguyên Chiêu làm hoàng đế. Cùng năm, Nhĩ Chu Vinh lấy cớ báo thù cho Hiếu Minh Đế, suất quân đánh chiếm Lạc Dương, khống chế triều chính, sử gọi là "sự biến Hà Âm". Nhĩ Chu Vinh cho ném Hồ thái hậu và Ấu Chủ Nguyên Chiêu xuống Hoàng Hà cho chết đuối, sát hại hơn 2000 đại thần, cải lập Hiếu Trang Đế, rồi trở về Tấn Dương song khống chế triều đình từ xa. Hiếu Trang Đế phẫn nộ trước việc bị kẻ khác thao túng, đến năm 530 thì phục kích sát hại Nhĩ Chu Vinh nhân lúc người này vào cung tấn kiến. Sau đó, con Nhĩ Chu Triệu và em họ Nhĩ Chu Thế Long của Nhĩ Chu Vinh tôn Trường Quảng vương Nguyên Diệp làm hoàng đế, tức Tiết Mẫn Đế, sau khi đánh hạ Lạc Dương thì sát hại Hiếu Trang Đế. Cùng năm, quân phiệt Cao Hoan ở Tín Đô tôn Nguyên Lãng làm hoàng đế, đến năm 532 thì Cao Hoan đánh hạ Lạc Dương, lại cải lập Hiếu Vũ Đế. Hiếu Vũ Đế trước tình thế bị khống chế, có ý đồ liên hiệp với tướng Hạ Bạt Nhạc ở Quan Trung để đối phó với Cao Hoan. Cao Hoan biết trước về sự việc, đến năm 534 thì giết Hạ Bạt Nhạc. Hiếu Vũ Đế lại liên hiệp với Vũ Văn Thái, đoạn tuyệt với Cao Hoan, chạy đến chỗ Vũ Văn Thái. Cao Hoan truy đuổi nhưng không kịp, bèn cải lập Thanh Hà vương thế tử Nguyên Thiện Kiến, tức Đông Ngụy Hiếu Tĩnh Đế, thiên đô tới Nghiệp Thành. Năm 535, Hiếu Vũ Đế bị Vũ Văn Thái sát hại, Vũ Văn Thái cải lập Nam Dương vương Nguyên Bảo Cự làm hoàng đế, định đô tại Trường An. Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy. Đối lập Đông Ngụy-Tây Ngụy. Đông Ngụy và Tây Ngụy bề ngoài thì là do hậu duệ của hoàng tộc Thác Bạt kế thừa, song trên thực tế thì tương ứng do Cao Hoan và Vũ Văn Thái khống chế. Do vậy, sau một thời gian sau cũng phân biệt soán ngôi đoạt vị, hình thành nên Bắc Tề và Bắc Chu. Về cơ bản, Đông Ngụy và Tây Ngụy có biên giới là đoạn Hoàng Hà tạo thành ranh giới giữa Sơn Tây và Thiểm Tây hiện nay. Đông Ngụy kế thừa khá nhiều quốc lực của Bắc Ngụy, do vậy bất luận là về quân lực, kinh tế hoặc văn hóa đều vượt qua Tây Ngụy, nhưng Đông Ngụy nhiều lần tiến công song đều chịu thất bại, thế đối lập hai bên được hình thành. Đông Ngụy do Cao Hoan khống chế, do lưu dân Lục trấn và thế tộc Hà Bắc Tiên Ti hóa tổ thành, bản thân Cao Hoan là người Hán bị Hồ hóa, về mặt chính trị thì dựa vào tộc Tiên Ti. Sau đó, hoàng đế Bắc Tề đều có ý bảo tồn tập tục Tiên Ti, đề xướng ngôn ngữ Tiên Ti và võ sự. Cao Hoan dùng người xét theo tài năng, trong triều có không ít danh thần đều là bạn của ông, đây là nền tảng kiên cố của Bắc Tề sau này. Tuy nhiên, chiến thuật của Cao Hoan không theo kịp Vũ Văn Thái, do vậy mà ba lần chiến dịch đều thất bại. Năm 536, Cao Hoan suất Đậu Thái và những người khác cùng tây chinh Tây Ngụy, song chiến bại ở Đồng Quan, Đậu Thái tự sát. Năm tiếp theo, Cao Hoan thừa cơ Quan Trung mất mùa đói kém nghiêm trọng, lại suất quân tây chinh, song lại thất bại trước Vũ Văn Thái trong trận Sa Uyển. Đến lúc này, cục thế phân liệt được định, chiến trường chuyển hướng sang khu vực Hà Đông. Năm 546, Cao Hoan lại suất 10 vạn đại quân tây chinh, giao chiến với thủ tướng Vi Hiếu Khoan của Tây Ngụy trong trận Ngọc Bích. Cuối cùng, Cao Hoan chiến bại, hơn 7 vạn lính tử thương, năm sau thì bệnh mất ở Tấn Dương. Sau khi Cao Hoan qua đời, con là Cao Trừng kế vị. Cao Trừng là người bạo lực, gian dâm với thê tử của đại thần, sau bị gia nô sát hại. Cao Dương kế vị, đến năm 550 thì phế sát Hiếu Tĩnh Đế, đồng thời đồ sát hoàng thất Đông Ngụy, Đông Ngụy mất. Cao Trừng kiến quốc Bắc Tề, tức Bắc Tề Văn Tuyên Đế. Tây Ngụy do Vũ Văn Thái khống chế, bên dưới có "bát trụ quốc" hiệp trợ, đánh bại nhiều lần xâm lăng của Đông Ngụy, củng cố cục thế Tây Ngụy. Đương thời, Tây Ngụy về kinh tế, văn hóa và quân sự không được như Đông Ngụy và Lương, từng bại trước Đông Ngụy trong trận Mang Sơn. Vũ Văn Thái cho thi hành "Lục điều chiếu thư", đặt ra chính sách "Quan Trung bản vị", khiến tướng lĩnh Hồ Hán đồng tâm hiệp lực, thiết lập phủ binh chế nhằm chia sẻ nhiệm vụ đi lính của nam giới, duy trì tinh thần thượng võ. Những điều này khiến cho quốc lực Tây Ngụy cường thịnh, còn ảnh hưởng đến sự phân bố chế độ và tập đoàn chính trị thời Tùy-Đường. Thừa cơ Lương có loạn Hầu Cảnh, chư vương đấu tranh nội bộ, Vũ Văn Thái trước sau đánh hạ đất Thục và Giang Lăng, đồng thời lập ra nước Tây Lương làm chư hầu. Tây Ngụy còn trải qua các đời quân chủ Phế Đế Nguyên Khâm và Cung Đế Nguyên Khuếch. Năm 556, Vũ Văn Thái qua đời, cháu là Vũ Văn Hộ chuyên chính. Vũ Văn Hộ vào năm sau thì phế Cung Đế, kiến quốc Bắc Chu, lập con của Vũ Văn Thái là Vũ Văn Giác làm hoàng đế, tức Bắc Chu Hiếu Mẫn Đế, Tây Ngụy mất. Đối lập Bắc Chu-Bắc Tề. Bắc Tề kế thừa cương vực của Đông Ngụy, do Văn Tuyên Đế kiến quốc vào năm 550. Văn Tuyên Đế trước sau đánh bại các tộc Khố Mặc Hề, Khiết Đan, Nhu Nhiên, Sơn Hồ (thuộc Hung Nô), đồng thời đánh hạ khu vực Hoài Nam của Lương. Trên phương diện kinh tế, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đều tương đối phát đạt. Bắc Tề gần như tương đồng với Bắc Ngụy, tiếp tục thi hành quân điền chế. Vào sơ kỳ, quốc lực của Bắc Tề vượt qua Bắc Chu và Trần. Tuy nhiên, Văn Tuyên Đế vào hậu kỳ lại hoang dâm tàn bạo, đồng thời giữ gìn che chở cho quý tộc Tiên Ti, đồ sát thế tộc người Hán. Văn Tuyên Đế áp bức nhân dân nặng nề, khiến cho quốc thế Bắc Tề suy lạc. Sau khi Cao Ân kế lập năm 559, do hoàng thúc là Cao Diễn phụ chính, song sang năm sau thì Cao Diễn soán sát đế, đăng cơ trở thành Hiếu Chiêu Đế. Trong thời gian Hiếu Chiêu Đế tại vị, quốc lực dần dần khôi phục như trước, Hoàng đế còn thân chinh Khố Mặc Hề. Tuy nhiên, năm 561 thì Hiếu Chiêu Đế mất, hoàng đệ là Trường Quảng vương Cao Đam/Trạm kế lập, tức Vũ Thành Đế. Vũ Thành Đế là hôn quân háo sắc, quốc lực Bắc Tề đại suy, đến năm 565 thì thiện vị cho Thái tử Cao Vĩ nhỏ tuổi, trở thành Thái thượng hoàng. Trong thời gian Cao Vĩ trị vì, quốc chính Bắc Tề hỗn loạn, Hoàng đế sát hại danh tướng Hộc Luật Quang. Sau đó, Bắc Tề bị Trần chiếm mất Hoài Nam, đến năm 577 thì bị Bắc Chu tiêu diệt. Bắc Chu kế thừa cương vực Tây Ngụy, do Hiếu Mẫn Đế lập quốc vào năm 556, song triều chính do anh họ là Vũ Văn Hộ nắm giữ. Hiếu Mẫn Đế có ý đồ liên hiệp với Triệu Quý, Độc Cô Tín để lật đổ Vũ Văn Hộ. Tuy nhiên, sự việc bị Vũ Văn Hộ phát hiện, Triệu Quý và Độc Cô Tín bị giết, Hiếu Mẫn Đế bị phế rồi bị sát hại vào năm 557. Vũ Văn Hộ cải lập Vũ Văn Dục làm hoàng đế, tức Chu Minh Đế, song đến năm 560 thì lại hạ độc sát hại Chu Minh Đế, cải lập Vũ Văn Ung làm hoàng đế, tức Vũ Đế. Vũ Đế chọn kế sách ẩn thân, 12 năm sau thì sát hại Vũ Văn Hộ và tự mình nắm quyền cai quản. Vũ Đế là người anh minh oai nghiêm, tiến hành nhiều cải cách trong thời gian nắm quyền, khiến cho quốc lực Bắc Chu cường thịnh. Năm 577, Vũ Đế đông chinh Bắc Tề, năm sau thì tiến vào kinh đô Nghiệp của Bắc Tề. Chu Vũ Đế sau khi thống nhất Hoa Bắc thì nhận được sự quy phục của các thế tộc Quan Đông như Lý Đức Lâm, thanh thế rất lớn. Vũ Đế lập tức nam chinh Trần song cùng năm thì mất. Triều Tùy kiến lập và thống nhất. Dương Kiên là con của Dương Trung- đại thần khai quốc của Bắc Chu, con gái của Dương Kiên trở thành Thái tử phi của Vũ Văn Uân. Năm 578, Vũ Đế qua đời, Thái tử Vũ Văn Uân kế lập, tức Tuyên Đế. Tuyên Đế là hôn quân hoang dâm, mê tín Phật giáo và Đạo giáo, cùng một thời điểm có đến 5 vị hoàng hậu, đồng thời đoạt thê tử của người khác. Tuyên Đế sát hại tông thất-công thần Vũ Văn Hiến, đồng thời thu hồi đất phong của chư vương, tạo thuận lợi cho Dương Kiên đang muốn soán vị. Dương Kiên ban đầu tập hợp văn võ chư thần trong triều đình Bắc Chu, hình thành một tập đoàn lớn. Trước khi Tuyên Đế qua đời một năm, hoàng vị Bắc Chu được trao cho Thái tử Vũ Văn Xiển, tức Tĩnh Đế, ngoại thích Dương Kiên chuyên chính. Uất Trì Huýnh, Tư Mã Tiêu Nan bất mãn trước việc Dương Kiên chuyên quyền nên khởi sự phản Dương. Dương Kiên làm theo kế hoạch của Lý Đức Lâm, cho Vi Hiếu Khoan và những người khác đem quân đi bình định. Năm 581, Dương Kiên soán vị, tức Tùy Văn Đế, kiến quốc Tùy, cải nguyên Khai Hoàng, Bắc Chu mất. Năm 587, Tùy Văn Đế phế Tây Lương Hậu Chủ Tiêu Tông, Tây Lương mất. Năm 588, Tùy Văn Đế phát động chiến tranh diệt Trần, cho Dương Quảng làm chủ tướng, cùng các danh tướng như Hạ Nhược Bật và Hàn Cầm Hổ phát binh đánh Trần. Năm sau, quân Tùy đánh chiếm kinh đô Kiến Khang của Trần, Trần mất, Trung Quốc lại một lần nữa thống nhất. Cương vực và phân chia hành chính. Về mặt hành chính, Nam triều kế thừa Đông Tấn, thi hành chế độ 3 cấp: châu, quận, huyện. Tuy nhiên, "kiều châu quận huyện" và "song đầu quận huyện" do tiến hành "thổ đoạn" nên biến thành châu quận thông thường. Từ năm Trung Bình thứ 5 (188) thời Hán Linh Đế trở đi Trung Quốc bắt đầu thực thi chế độ hành chính ba cấp: châu, quận, huyện; đến sau khi Tùy diệt Trần, triều đình đổi thành chế độ hai cấp: châu, huyện. Ở Nam triều, cấp châu đặt chức thứ sử, cấp quận đặt chức thái thú, chỉ có Đan Dương quận vì có địa vị thủ đô nên được dặt chức "doãn"; ở cấp huyện đặt ra chức lệnh, trưởng; từ thời Lưu Tống trở đi thì "lệnh" nhiều hơn "trưởng". Đồng cấp với quận là "vương quốc" và "công quốc", đặt chức "nội sử" và "tướng". Ở các khu vực dân tộc thiểu số, như dân Man, tộc Liêu, tộc Lý thì lập ra "tả quận", "tả huyện" và "liêu quận", "lý huyện", ví dụ như Nam Trần tả quận, Đông Đãng Cừ liêu quận. Đương thời, châu, quận, huyện có đẳng cấp phân biệt; nói chung dựa vào cự ly với thủ đô mà phân phẩm cấp cao thấp, những viên chức trợ giúp ở cấp châu được xét theo đẳng cấp của châu mà phong chức quan; hai châu Dương và Kinh còn được gọi là "nhị Thiểm". Về mặt cương vực, Lưu Tống kế thừa cương vực của Đông Tấn, cơ bản có trên dưới 22 châu. Thời đại Lưu Tống Vũ Đế là đỉnh cao, song không lâu sau, sau năm Vĩnh Sơ thứ 3 (422) thì vùng Hà Nam dần bị Bắc Ngụy thôn tính, sau đó biên giới lui về Hoài Thủy. Thời Nam Tề, về cơ bản tương đồng với Lưu Tống, có trên dưới 22 châu, song sau bị mất đất Miện Bắc Ung châu và Dự châu Hoài Nam. Thời Lương, việc thiết lập châu huyện cũng như cương vực có biến đổi rất lớn, vì Bắc phạt nên đoạt được đất Hoài Bắc, từng tiến đến đất Hà Nam. Ngoài ra, triều đình còn mở mang đất Mân-Việt; bình định tộc Lý Động, đánh bại tộc Tang Kha. Năm 539, Lương tổng cộng có 107 châu lớn nhỏ khác nhau. Trong và sau loạn Hầu Cảnh, Bắc Tề thừa cơ chiếm lĩnh đất Hoài Nam-Giang Bắc, Tây Ngụy thừa cơ chiếm đất Hán Trung-Ba Thục. Tây Ngụy suất quân đoạt lấy vùng đất ở phía bắc Giang Lăng của Lương, giao cho Tiêu Sát kiến lập Tây Lương để làm nước phụ dung. Sau khi Trần thành lập, cương vực không rộng, từ năm 569 thì bắt đầu dần thu phục đất Hoài Nam cùng một bộ phận Hoài Bắc, cùng từng đoạt được vùng đất phía bắc Trường Giang của Bắc Tề (573-577). Đến năm Thái Kiến thứ 11 (579) thời Trần Tuyên Đế, Trần bị Bắc Chu Vũ Đế chiếm lĩnh vùng Hoài Nam-Giang Bắc, khiến quốc thổ giảm thiểu, chỉ còn lại vùng đất ở phía nam Trường Giang đến khu vực Giao-Quảng. Bắc triều về mặt phân chia hành chính kế thừa Thập Lục Quốc, phân thành 3 cấp châu, quận, huyện như Nam triều. Tuy nhiên, lãnh thổ của một châu không lớn, thứ sử của châu có thể vượt qua cấp quận mà trực tiếp quản lý huyện, khiến cấp quận dần bị "hư cấp hóa", đến triều Tùy thì chính thức rút lại còn hai cấp: châu, huyện. Bắc Ngụy cũng thiết lập "kiều châu quận huyện" và "song đầu châu quận", như Nam Ung châu, đồng thời chiếu theo số nhân khẩu mà phân đẳng cấp của các châu, quận, huyện. Nhằm ngăn chặn những người mới quy phụ hoặc khác họ tiến hành phản loạn, vào năm 406, Bắc Ngụy đem trưởng quan các cấp hành chính phân lập tam vị, trong đó chức thứ sử của châu cần có một vị là tông thất. Bắc Ngụy ban đầu đặt chức "hành đài" để phụ trách quân chính địa phương, đặt chức đô đốc để quản lý quân sự một số châu. Đến thời Bắc Tề thì định "hành đài chế", Bắc Chu định "tổng quản chế", đều phụ trách quân sự và hành chính của một số châu quận. Ở Bắc Tề, do lãnh địa của một châu càng phân càng nhỏ, do vậy đặt chức "hành đài" kiêm quản dân chính và quân sự của một số châu. Tây Ngụy lại đổi "đô đốc" thành "tổng quản", tính chấyt tương tự như "hành đài" của Bắc Tề. Thời Bắc Chu, tổng quản thường kiêm nhiệm thứ sử tại châu trú chân, đồng thời lấy châu trú chân làm danh. Bắc Ngụy đối với bản tộc Tiên Ti hoặc các tộc khác (ngoài tộc Hán) đặt chức "lĩnh dân tù trưởng" để quản lý tộc đó, địa vị chỉ đứng sau thứ sử các châu. Đồng thời, Bắc Ngụy cũng kế tục Thập Lục Quốc, đặt thêm "hộ quân" để quản lý các dân tộc khác trong địa phận châu, địa vị tương đồng với quận thủ, đến năm 457 thì phế trừ. Bắc Ngụy còn có "trấn thú chế", thiết trấn ở các yếu địa về quân sự. Trấn do trấn tướng quản lý, bên dưới phân thành "thú" do "thú chủ" quản lý. Trong số đó, quan trọng nhất là Lục trấn có nhiệm vụ củng cố thủ đô Bình Thành, sau khi Hiếu Văn Đế thiên đô thì Lục trấn thế suy. Sau khởi nghĩa Lục trấn, trấn thú Bắc triều chỉ chuyên quản quân sự, không còn có tính chất đơn vị hành chính. Về mặt cương vực, Bắc Ngụy nổi lên từ đất Đại Bắc (nay là bắc bộ Sơn Tây), đến năm 439 thống nhất Hoa Bắc, kết thúc thời kỳ Ngũ Hồ loạn Hoa. Bắc Ngụy nhiều lần xâm nhập Lưu Tống, chiếm lĩnh đất Sơn Đông, Hà Nam và Hoài Bắc. Ngoài ra, Bắc Ngụy còn đoạt được đất Hoài Nam của Nam Tề và khu vực Hán Trung-Kiếm Các của Lương. Đến lúc này, lãnh thổ Bắc Ngụy bắc đến thảo nguyên Mạc Nam, tây đến Tây Vực, đông đạt Liêu Tây, nam đạt lưu vực Giang-Hán. Trong quá trình mở rộng lãnh thổ, châu quận phần nhiều được thiết lập khi cần, đến năm 487 thì bắt đầu chỉnh đốn. Đến sau thời Hiếu Minh Đế, lãnh thổ Bắc Ngụy giảm thiểu, châu quận được đặt quá nhiều. Sau khi Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, Đông Ngụy có 80 châu, Tây Ngụy có 33 châu. Sau khi Bắc Tề kiến lập, bắt đầu tiến hành chỉnh đốn phân chia hành chính, phế bỏ ba châu, 153 quận, 589 huyện. Vùng Giang Hoài của Bắc Tề sau bị Trần chiếm lĩnh. Tây Ngụy nhiều lần công chiếm đất Ba Thục và Giang Hán của Lương. Những năm đầu Bắc Chu, triều đại này chiêu lại đất Nam Trung, đặt Ninh châu (tức Nam Ninh châu). Bắc Chu Vũ Đế diệt Bắc Tề, lấy đất Giang Hoài của Trần, khuếch trương đáng kể về mặt lãnh thổ. Thể chế chính trị. Mặc dù vào thời Nam bắc triều, quyền lực của thế tộc cực thịnh, song thế tộc Nam triều theo thời gian có xu thế trở nên cứng nhắc, hàn môn bắt đầu nổi lên; thế tộc Bắc triều chịu ảnh hưởng rất lớn của Hoàng đế, khiến cho quyền lực của họ bất ổn định. Hoàng đế Nam triều chủ yếu xuất thân từ hàn môn hoặc thứ tộc, song đặc quyền của thế tộc không bị lung lay ngay tức khắc. Nam triều quy định con em thế tộc được 20 tuổi thì vào làm quan, con em hàn môn 30 tuổi có tài năng thì được dùng làm tiểu lại, khiến địa vị của thế tộc được nâng cao. Người có xuất thân hàn môn phải gia nhập vào thế tộc, thay đổi tịch trạng, giả trang danh môn thì bản thân mới có thể tiến xa trong nghiệp quan trường. Thế tộc duy trì được địa vị xã hội, đồng thời cũng thịnh hành việc lập "tổ phả", như tổ tôn Giả Bật ba đời chuyên tinh về tổ phả học, soạn "Thập thất châu sĩ tộc phả" với tổng cộng hơn 700 quyển. Lưu Đam của Lưu Tống, Vương Kiệm của Nam Tề, Vương Tăng Nhụ của Lương đều có tác phẩm chuyên về tổ phả học. Tổ phả học là căn cứ trọng yếu để Lại bộ tuyển quan, là công cụ duy trì nền chính trị thế tộc. Thế tộc và hàn môn duy trì giới hạn nghiêm ngặt, hai tầng lớp không thông hôn ngay ngồi cùng nhau, song đến trung hậu kỳ thì dần dần biến mất. Thế tộc Nam triều không dẫn binh đánh trận, lại không có khả năng quản lý chính sự, sau loạn Hầu Cảnh thì sụp đổ toàn diện, không còn khả năng nổi lên. Hàn môn chủ yếu là chỉ địa chủ và thương nhân không có đặc quyền, họ không can tâm chịu chèn ép, thông qua các phương tiện như khảo thí mà bước lên vũ đài chính trị, chế độ khoa cử manh nha xuất hiện trong thời kỳ Lương Vũ Đế. Các hoàng đế khai quốc của Nam triều đều xuất thân từ hàn môn, trải qua việc cầm binh đánh trận, khống chế binh quyền rồi đăng cơ. Do quân chủ Hồ tộc của Bắc triều cần có nhân tài quen thuộc với chế độ hay quy chế của Trung Nguyên, cũng nhằm lung lạc một số thế lực thế tộc phương bắc, quân chủ Hồ tộc hợp tác với thế tộc Hán tộc để trị lý quốc gia. Mặc dù thế tộc phương bắc tiếp tục có ý nguyện phối hợp, song giữa hai bên vẫn có bất đồng về phong tục tập quán hay quan điểm chính trị nên có lúc nảy sinh việc muốn sát hại đối phương. Sau khi Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế thúc đẩy vận động Hán hóa, đưa quý tộc Tiên Ti dung hợp vào trong thế tộc phương bắc, định rõ đẳng cấp và địa vị của thế tộc Hán và Tiên Ti phân thành 6 bậc: cao lương, hoa du, giáp, ất, bính, đinh. Đồng thời, tiến một bước nữa trong việc thực hành Hán và Tiên Ti kết thông gia, khiến trở ngại giữa hai bên dần giảm thiểu. Sau khởi nghĩa Lục trấn, thế tộc Tiên Ti ở Lạc Dương chịu tổn thất nghiêm trọng. Sau đó, Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, lại phân biệt do Bắc Tề và Bắc Chu kế thừa. Quân chủ Bắc Tề không hoàn toàn trọng dụng thế tộc người Hán, song lại đặc biệt xem trọng việc đề xướng văn hóa và võ công Tiên Ti; trong khi đó Bắc Chu lựa chọn chính sách "Quan Trung bản vị", dung hợp văn hóa Hồ-Hán, trọng dụng các thế tộc như Tô Xước hay Lô Biện. Sau khi giành thắng lợi trước Bắc Tề và Trần, những vị trí chính trị chủ yếu đều do thế tộc Hồ-Hán Quan Trung lũng đoạn, thế tộc Quan Đông và thế tộc Giang Nam đều khó mà đối đầu, ảnh hưởng tới hoàn cảnh chính trị của triều Tùy và Đường sau này. Tại Lưu Tống và Bắc Ngụy đều xuất hiện nguyên mẫu của chế độ tam tỉnh dưới triều Tùy sau này. Bắc Chu dựa theo Chu Lễ mà đặt ra lục quan, tức 6 phủ: thiên quan, địa quan, xuân quan, hạ quan, thu quan, đông quan; là nguồn gốc của chế độ lục bộ dưới triều Tùy-Đường. Tuy nhiên, xét về toàn thể thời kỳ Nam Bắc triều, tam tỉnh lục bộ chế vẫn cùng tồn tại với tam công cửu khanh chế, cho đến sau khi triều Tùy được kiến lập thì mới phế bỏ tam công cửu khanh chế. Môn hạ tỉnh phụ trách hiến kế sách và khuyến gián hoàng đế, tham dự vào việc cơ mật, trở thành cơ cấu nắm giữ đại quyền. Để tránh bị thế tộc khống chế, hoàng đế Nam triều để cho người xuất thân từ hàn môn đảm nhiệm các chức vụ cơ yếu bên cạnh mình, như "thông sự xá nhân" không những thay Hoàng đế khởi thảo chiếu lệnh, mà còn quản lý chính lệnh, trở thành một chức vụ có thực quyền bên cạnh Thiên tử. Một chức vụ trọng yếu khác là "điển thiêm" phụ trách khống chế những việc quan trọng của châu trấn, mỗi năm họ đều về kinh thành để báo cáo với Hoàng đế về những điều tốt xấu của thứ sử, do vậy chư vương thứ sử đều cực kỳ e sợ điển thiêm. Quân chủ Nam triều thấy được tình trạng phương trấn thế cường, uy hiếp trung ương vào thời Đông Tấn, do vậy thường cho con em trong tông thất đi làm trưởng quan quân chính ở châu trấn, đây là sách lược "nghĩ Chu chi phân Thiểm". Ngoại giao và các dân tộc khác. Hai triều Nam-Bắc luôn duy trì trạng thái đối địch, Nam triều gọi Bắc triều là "tác lỗ" (giặc có bím tóc), Bắc triều gọi Nam triều là "đảo di" (mọi đảo). Hai bên thường xuyên xảy ra chiến tranh, song vẫn mở cửa để mậu dịch với nhau. Đương thời, dân tộc bản địa ở phương nam thường được gọi là "Nam Man". Ở lưu vực Trường Giang, các tộc "Bản Tuần Man", "Bàn Hồ Man", "Lẫm Quân Man" có thực lực lớn nhất. ở Lĩnh Nam thì tộc Lý là chủ yếu. Các dân tộc này cùng người Hán tạp cư, tiến hành hoạt động nông nghiệp, chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, dùng họ của người Hán, đến hậu kỳ Nam triều thì dần dung hợp với người Hán. Bản Tuần Man còn gọi là "người Tung", vốn cư trú ở khu vực Lãng Trung thuộc Ba quận của Ích châu, sau thiên di về phía bắc đến Hán Trung, Quan Trung. Lẫm Quân Man nguyên cư trú tại khu vực Ba quận của Ích châu và Giang Lăng của Kinh châu, về sau mở rộng đến khu vực Trường Giang-Hán Thủy và Hoài Tây. Trong sách sử có chép về Ba Đông Man, Nghi Đô Kiến Bình Man đều là chỉ Lẫm Quân Man. Bàn Hồ Man cũng được gọi là "người Khê", đất phát dương là Thìn châu. phân bố ở khu vực nay là Hồ Nam và Giang Tây. Lý tộc có phạm vi cư trú tại Nam Lĩnh, nay là khu vực nam bộ Quý Châu đến đảo Hải Nam, bắc bộ Việt Nam. Người dân Lý tộc nổi danh có Trân Pha, bà an định đất Giao-Quảng trong loạn Hầu Cảnh và loạn Âu Dương Hột, bảo hộ cho nhân dân Lý-Hán địa phương, được tôn là "Thánh Mẫu". Ở phía nam của Giao châu có nước Lâm Ấp, Lâm Ấp vương Phạm Dương Mại nhiều lần xâm phạm các quận Nhật Nam, Cửu Đức của Nam triều, đến hậu kỳ Nam triều thì Lâm Ấp chiếm lĩnh thành công quận Nhật Nam. Giao châu của Nam triều từng nhiều lần phát sinh sự kiện cát cứ kháng mệnh, bắt đầu từ năm 468 với việc huynh đệ Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến chiếm hữu Giao châu chống lại triều đình Lưu Tống, Nam Tề Cao Đế nghe theo kiến nghị của Lưu Thiện Minh, an phủ Lý Thúc Hiến làm Giao châu thứ sử. Thời kỳ Nam Tề Vũ Đế, Lý Thúc Hiến ngăn chặn ngoại quốc dâng biếu cho triều đình, Vũ Đế thừa cơ phái binh công chiếm Giao châu. Thời Lương, năm 505, Giao châu thứ sử Lý Khải cát cứ châu làm phản, triều đình Lương phái Lý Tháo đi bình định, đồng thời trảm thủ lĩnh nổi dậy địa phương là Nguyễn Tông Hiếu. Năm 541, Lý Bí khởi sự, đánh chiếm châu thành Long Biên, đến năm 544 thì kiến quốc Vạn Xuân. Năm sau, triều đình Lương khiển Dương Phiếu, Trần Bá Tiên suất binh đánh bại quân đội của Lý Bí. Năm 546, Lý Bí thoái lui về động Khuất Lão rồi qua đời, bộ hạ của ông là Triệu Quang Phục vẫn chiếm Long Biên, huynh trưởng của ông là Lý Thiên Bảo chiếm động Khuất Lão. Lý Phật Tử sau khi kế thừa Lý Thiên Bảo vào năm 571 thì đem quân đánh diệt Triệu Quang Phục. Đến thời Tùy, triều đình phái Lưu Phương nam chinh, Lý Phật Tử xin hàng triều đình Tùy. Từ những năm cuối Đông Hán đến thời Đông Tấn, triều đình Trung Nguyên không có sức để tâm đến khu vực Nam Trung ở Tây Nam, do vậy hào tộc Thoán thị hình thành cát cứ tại đó. Vào thời Lưu Tống, Tề, Lương, tuy Nam Trung vẫn còn là thuộc địa, triều đình đặt chức Ninh châu thứ sử, song đại đa số đều "diêu lĩnh", không thể đến nhậm chức, thành viên Thoán thị trở thành những người khống chế khu vực này trên thực tế. Ninh châu thứ sử Từ Văn Thịnh của triều Lương từng có hoạt động tại nơi này, song do loạn Hầu Cảnh bùng phát nên ông phải dời đi. Năm 553, Tây Ngụy thừa cơ đánh chiếm đất Ba Thục, đặt chức Ích châu thứ sử, sang thời Bắc Chu, triều đình từng lệnh cho Ích châu thứ sử Uất Trì Huýnh kiêm lo việc quân sự của Ninh châu, chiêu lại khu vực Nam Trung, bổ nhiệm Thoán Toản làm Ninh châu thứ sử, Nam Trung trở thành thuộc địa của Bắc Chu. Nhu Nhiên từng là bộ tộc lệ thuộc vào Thác Bạt Tiên Ti, có mối quan hệ gần gũi với Thác Bạt bộ (tiền thân của Bắc Ngụy), là cường quốc số một ở khu vực Mạc Nam và Mạc Bắc. Từ thời kỳ Bắc Ngụy Đạo Vũ Đế, Nhu Nhiên thường tiến đánh Bắc Ngụy, đồng thời cướp phá hành lang Hà Tây, biến Đột Quyết, Cao Xa thành những thuộc quốc. Thời kỳ Đông Ngụy-Tây Ngụy, năm 552, thủ lĩnh Đột Quyết là Thổ Môn khả hãn kiến lập Đột Quyết hãn quốc, hai năm sau thì dánh diệt Nhu Nhiên. Đột Quyết thôn tính dư chúng của Cao Xa, cùng vương triều Sassanid diệt Bạch Hung Nô vào năm 558, cương vực khuếch trương về phía đông đến sông Bureya, bắc đến hồ Baikal và dãy núi Stanovoy, nam đến sát Trung Nguyên và sông Amu Darya, tây đến biển Aral. Đột Quyết sau lấy dãy núi Altay làm ranh giới, hình thành Đông Đột Quyết thuộc Thổ Môn hệ và Tây Đột Quyết thuộc Thất Điểm Mật hệ. Đương thời, các dân tộc ở phía đông bắc của Trung Nguyên có thể phân thành hai ngữ tộc lớn: ngữ tộc Phù Dư gồm Phù Dư Quốc, Khố Mạc Hề, Khiết Đan và Thất Vi; ngữ tộc Vật Cát (Mạt Hạt) phân thành 7 bộ tộc. Phù Dư Quốc có kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và súc mục nghiệp, có nhiều ngựa tốt, ngọc đỏ, ngọc trai lớn, da chồn. Trong xã hội thịnh hành vu thuật, trong thời chiến tranh thường tiến hành tế thiên xem bói để biết trước cát hung. Người Vật Cát thì "hai người cày cùng nhau, đất trồng nhiều dẻ, mạch, tế, rau, lại có cả quỳ", có cả nghề săn bắn. Sơ kỳ Đông Hán, Phù Dư Quốc cường thịnh, thần phục được các nước Vật Cát, người Phù Dư Quốc và Cao Câu Ly và Bách Tế có quan hệ. Đến thời kỳ Bắc Ngụy, từ năm Diên Hưng thứ 6 (475) thời Hiếu Văn Đế, Vật Cát dần hưng thịnh, không lâu sau các nước ở phía đông bắc như Vật Cát, Phù Dư, Cao Câu Ly khiển sứ sang triều cống Bắc Ngụy. Bắc Ngụy sau khi an định khu vực này, cho khai thị tại khu vực giữa Hòa Long và Mật Vân để liên hệ mậu dịch và sứ thần với các nước ở phía đông bắc. Năm 478, Vật Cát thỉnh cầu Bắc Ngụy cùng Bách Tế nam bắc giáp công Cao Câu Ly, Bắc Ngụy ngăn chặn chiến tranh phát sinh. Sau khi Bắc Ngụy suy thoái, Vật Cát diệt Phù Dư Quốc vào năm 493, lãnh thổ khuếch trương ra toàn bộ bình nguyên Tùng Liêu, trở thành một bộ lạc lớn mạnh ở khu vực đông bắc. Trên báo đảo Triều Tiên có Tam Quốc: Cao Câu Ly, Bách Tế và Tân La, cùng với Oa Quốc tại Nhật Bản. Cao Câu Ly là cường quốc, uy phục Bách Tế và Tân La, thôn tính di dân Phù Dư, thụ sách phong quốc vương của các Nam Bắc triều, sau năm 550 vì tranh đấu nội bộ mà dần suy thoái. Bách Tế chịu sự chèn ép của Cao Câu Ly và Tân La, do vậy nỗ lực duy trì quan hệ với Lương, Oa Quốc, về mặt mậu dịch và triều cống đều phát triển sôi nổi. Tân La chịu sự uy hiếp của Cao Câu Ly, do vậy kết minh với Bách Tế, đến thế kỷ VI bắt đầu cường thịnh, đồng thời thôn tính Nhâm Na. Vào thời Tấn mạt và Nam triều, Oa ngũ vương nhiều lần khiển sứ đến Kiến Khang. yêu cầu được hoàng đế Nam triều sách phong. Trong đó, Oa vương từng đề cập với Lưu Tống Thuận Đế về việc muốn tiến quân vào bán đảo Triều Tiên. Oa Quốc dựa vào sách phong của hoàng đế Nam triều, củng cố thế lực tại Nhâm Na. Nam triều cũng dần gia tăng sách phong với Oa vương, thừa nhận Oa Quốc thống trị một bộ phận nam bộ bán đảo Triều Tiên. Sau khi Cừu Trì Quốc mất vào tay Bắc Ngụy, phân biệt kiến lập Vũ Hưng Quốc và Âm Bình Quốc. Năm 472, Dương Văn Độ kiến quốc Vũ Hưng, chu toàn và giao chiến với hai triều Nam Bắc. Năm 505, Dương Thiệu Tiên xưng đế, năm sau bại trận trước Bắc Ngụy và bị bắt. Năm 534, Dương Thiệu Tiên thừa cơ Bắc Ngụy phân liệt mà phục hưng Vũ Hưng, đến năm 553 thì mất về tay Tây Ngụy. Năm 477, Dương Quảng Hương kiến quốc Âm Bình, chịu sự chi phối của Bắc Ngụy, hữu hảo với Nam Tề và Lương. Năm 580, Dương Vĩnh An ở Sa châu hưởng ứng Ích châu tổng quản Vương Khiêm, khởi binh phản kháng, cuối cùng chiến bại và nước mất. Tây Vực vào thời Nam Bắc triều có tiến bộ về mặt kinh tế và văn hóa, đương thời con đường tơ lụa có ba tuyến: từ Cao Xương về phía tây, hợp cùng trung đạo hợp tại Quy Từ tạo thành tân bắc đạo; nam đạo từ Thiện Thiện đến Vu Lãng. Quốc gia hay thành thị nổi danh có Cao Xa, Cao Xương, Thiện Thiện, Quy Từ và Vu Điền. Cao Xa nguyên là Phục La bộ Thiết Lặc, thần phục Nhu Nhiên. Năm 487, lĩnh chủ A Phục Chí La suất bộ tây thiên đến khu vực nay là tây bắc Thổ Lỗ Phiên, kiến quốc Cao Xa. Cao Xa từng uy thịnh Tây Vực, cũng từng tạm khống chế Cao Xương trong một thời gian ngắn. Về sau, Cao Xa liên tục bị Áp Đạt và Nhu Nhiên giáp công, đến năm 541 thì bị Nhu Nhiên đánh diệt, dư chúng vào năm 546 hợp vào Đột Quyết hãn quốc. Thời Bắc Ngụy Thái Vũ Đế, Bắc Ngụy có hai cứ điểm tại Tây Vực, một là ở Cao Xương quận, một được thiết lập sau khi phái Vạn Độ Quy đánh hạ, tương đương với Thiện Thiện. Thời kỳ Bắc Ngụy Văn Thành Đế, Nhu Nhiên phù trợ Khám Bá Chu làm vương, Cao Xương Quốc chính thức kiến lập. Trải qua nhiều năm phải đương đầu với việc các nước xung quanh tranh đoạt, đến năm 499, Khúc Gia kiến lập Khúc thị Cao Xương. Quy Từ giàu tài nguyên than đá, sắt, giỏi nghề đúc. Ngoài ra, Quy Từ còn có các sản phẩm đồng, chì, ngựa tốt, hồ phấn, An Tức hương, là trung tâm kinh tế của Tây Vực. Vu Điền quốc vương và bách tính đều tôn kính Phật pháp, trong nước có rất nhiều tăng lữ và tu viện. Rất nhiều danh tăng Trung Nguyên đến Vu Điền để lấy kinh thư, bách tính đều sẵn lòng dâng tăng phòng cho tăng lữ viễn phương, khiến Vu Điền trở thành trung tâm Phật giáo. Chế độ quân sự. Thời kỳ Nam Bắc triều, do quân quyền của các triều đại nằm trong tay quyền thần nên thường phát sinh việc đoạt vị. Chế độ quân sự của Nam triều phần lớn kế tục binh chế Lưỡng Tấn, tuy nhiên "thế binh chế" suy lạc, do vậy lấy "mộ binh chế" làm chủ yếu. Vào sơ kỳ Bắc Ngụy, Bắc Ngụy thi hành chính sách quân sự "bộ tộc binh chế", tức binh dân hợp nhất, sau khi thống nhất Hoa Bắc thì dần chuyển sang "thế binh chế". Hậu kỳ Bắc triều, xuất hiện "phủ binh chế", trở thành cơ sở binh chế thời Tùy-Đường sau đó. Tuy nhiên, "phủ binh chế" của Tây Ngụy-Bắc Ngụy đều không như "phủ binh chế" thời Tùy-Đường: thời bình là dân, thời chiến là binh; binh không biết tướng, tướng không biết binh, mà là binh chế Tiên Ti, là chế độ bộ tù phân thuộc, là chế độ binh nông phân ly chế, là chế độ quý tộc đặc thù. Binh chủng Nam triều lấy bộ binh và thủy binh là chính, kị binh khá ít, binh lấy theo "thế binh chế". Tuy nhiên, do tiêu hao trong chiến tranh, sĩ binh chạy trốn và bị tư gia phân cát, một bộ phận "binh hộ" biến thành "dân hộ", nguồn binh trở nên cạn kiệt, do vậy phải lấy "mộ binh chế" là chính. Quân đội Nam triều phân thành Trung quân (còn gọi là Đài quân) và ngoại quân; Trung quân trực thuộc trung ương, thời bình trú thủ kinh thành, khi có biến cố thì xuất chinh. Thời Lưu Tống, Vũ Đế Lưu Dụ cho tăng cường binh lực hoàng cung, nhằm đảo ngược cục diện "ngoại cường nội nhược" kéo dài từ thời Đông Tấn. Tuy nhiên, do tông thất tự tàn sát lẫn nhau nên mong muốn này thất bại, nhiều lần phát sinh sự việc soán vị. Ngoại quân quy thuộc quyền quản chế của đô đốc các địa phương, đô đốc phần nhiều kiêm nhiệm thứ sử, thường kháng lại triều đình trung ương. Vào sơ kỳ, quân đội Bắc Ngụy lấy kị binh Tiên Ti là chính, các bộ tự đoạt lấy sản vật để tiếp tế cho quân đội. Trong quá trình thống nhất Hoa Bắc, người Hán dần gia nhập vào quân đội Bắc Ngụy. Sau khi chiến tranh công thành gia tăng, quân đội Bắc Ngụy biến thành bộ-kị binh hỗn hợp, sau đó bộ binh trở thành binh chủng chủ lực trong quân đội Bắc Ngụy. Sau khi Bắc Ngụy thống nhất Hoa Bắc, quân đội phân thành "trung quân", "trấn thú binh" và "châu quận binh". Trung quân vào thời bình thì bảo vệ kinh thành, khi có biến cố bên ngoài thì trở thành đơn vị tác chiến chủ lực. Trấn thú binh là những đội quân được thiết lập để bảo vệ biên phòng; "trấn" tương đương với châu, "thú" tương đương với quận. Ban đầu, "trấn thú binh" chỉ đặt ở biên cảnh phía bắc, về sau lan ra biên cảnh phía nam. Châu quận binh là đội quân duy trì trị an các châu, có khi được sung trấn thú binh hoặc theo quân đi tác chiến. Bắc Ngụy vào hậu kỳ dần hình thành "binh hộ" cố định. Quân đội Đông Ngụy và Bắc Tề chủ yếu do dân Lục trấn và binh sĩ Tiên Ti tại Lạc Dương tổ thành, vào thời Bắc Tề biên thành "bách bảo Tiên Ti". Ngoài ra, cũng tuyển dũng sĩ người Hán đi phòng bị biên giới. Tây Ngụy và Bắc Chu chịu ảnh hưởng của truyền thống Tiên Ti và văn hóa Hán, vào năm 550 thì sáng lập "phủ binh chế". Chế độ này đem quân dân Lục trấn dời đến Quan Trung phân thành Lục quân, đồng thời đặt ra tám vị "Thượng trụ quốc đại tướng quân". Quyền thần Tây Ngụy là Vũ Văn Thái là thống soái tối cao, Quảng Lăng vương Nguyên Hân không có thực quyền, sáu thượng trụ quốc khác phân lĩnh phủ binh. Thời Bắc Chu, triều đình gia tăng số lượng thượng trụ quốc, đồng thời tập trung binh quyền vào trong tay hoàng đế. Tuy nhiên, "phủ binh chế" vào thời kỳ này không giống với "phủ binh chế" thời Tùy-Đường, họ vẫn là những binh sĩ chuyên nghiệp, Vũ Văn Thái đem tướng lĩnh phủ binh (cùng sĩ tốt của họ) cải sang họ Tiên Ti, kết hợp với việc cấp cho đất đai. hợp thành một nhóm người ở Quan Trung có nghề nghiệp là quân nhân, dân tộc là người Hồ, được tổ chức thành một đội quân lớn mạnh theo quy cách bộ lạc. Mặc dù phủ binh là chủ lực song vẫn có trung quân bảo vệ kinh sư, trấn thú binh cùng châu quận binh và các đội quân khác. Thế gia hào tộc có thế lực lớn mạnh, phần lớn họ đều có tư binh với thực lực không hế yếu kém. Xã hội và nhân khẩu. Tình hình xã hội và nhân khẩu vào thời Nam-Bắc triều rất phức tạp, nhìn chung có thể phân thành 4 tầng lớp: thứ nhất là thế tộc danh môn hào tộc; thứ hai là "biên hộ tề dân" tự làm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hay thương nghiệp; thứ ba là "y phụ nhân" phụ thuộc thế tộc cường hào như "bộ khúc" "điền khách" hay "y thực khách", những người chịu sự cai quản của chính quyền thuộc tạp hộ-bách công hộ-binh hộ-doanh hộ cũng được định là "y phụ nhân"; cuối cùng là các nô lệ như "nô tì", "sinh khẩu", "lệ hộ" và các thành dân bị bắt làm tù binh rồi bị buộc phải thiên di. Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều là thời kỳ chính trị thế tộc, mặc dù hào tộc ở phương bắc có địa vị và quyền lực thấp hơn ở Nam triều, song vẫn ở địa vị rất cao. Số nhân khẩu do thế tộc khống chế gồm "bộ khúc", "điền khách" và "nô lệ" nếu không thể "tự thục" (tự chuộc thân) hoặc "phóng khiển" (phóng thích) thì không thể có được tự do. "Bộ khúc" chủ yếu được sử dụng vào việc tác chiến, do chiến sự giảm thiểu nên tham gia vào hoạt động sản xuất. Do tại Nam triều, "đại gia tộc chế" suy vong khiến "bộ khúc" dần chịu sự khống chế của quốc gia. Nô lệ chủ yếu bắt nguồn từ các nông dân phá sản hoặc là lưu dân, họ là tài sản của địa chủ, do vậy có thể bị địa chủ dùng làm vật thế chấp hoặc để giao dịch. Để ngăn chặn nô lệ chạy trốn, các nô lệ đều bị "kình diện" (Thích chữ bôi mực vào mặt). Nhờ các phương thức như "mi nam vi khách" hay " phát nô vi binh" mà nô lệ có thể chuyển thành điền khách của địa chủ hoặc binh sĩ của quốc gia. Những người tự cày cấy trồng trọt là lực lượng trọng yếu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp đương thời. Họ phải thực hiện các nghĩa vụ tô điều, tạp thuế, lao dịch và binh dịch cho triều đình; vì thế mà nhiều nông dân tự canh đã phá sản và phải lưu vong, trở thành bộ khúc hoặc điền khách của thế tộc. Thời Nam-Bắc triều vẫn tiếp tục thi hành "thế binh chế" có từ thời Tam Quốc, các "binh hộ" truyền đời đảm nhiệm việc binh, thời bình cũng phải nộp tô điều. Do thợ thủ công nghiệp rất ít, cho nên quan phủ khống chế hết sức nghiêm ngặt với "tạp hộ" hoặc "bách công hộ", "bách công hộ" sau khi chuyển sang khu vực sản xuất của quan phủ thì hình thành nên các phố xưởng, truyền nghề cho thế hệ sau. Nếu như quý tộc và quan lại tự chiếm bách công hộ thì thường sẽ bị trừng trị. Tại Bắc triều còn có "tân dân" và "thành dân"; "tân dân" là những người dân hoặc thợ thủ công thuộc các dân tộc di dời quy mô lớn đến khu vực thủ đô dưới thời Bắc Ngụy Đạo Vũ Đế nhằm tăng cường quốc lực, xét theo số khẩu mà được nhận ruộng; "thành dân" là những người dân bị chinh phục, bị buộc phải thiên di, được bố trí đến sống tại các châu và có thân phận giống như nô lệ; thành dân có cấu trúc dân tộc phức tạp và phân bố trên quy mô rộng. Ở phương nam, vào khoảng thời Tấn mạt-Tống sơ, mô hình đại gia đình chuyển thành tiểu gia đình, người trong cùng một gia tộc không làm chung nghề phải lên đến bảy phần, lạnh nhạt với nhau. Điều này là do sau khi tông tộc phát triển, các gia đình giàu nghèo khác biệt, nếu như không cùng chung hoạn nạn từ bên ngoài thì sẽ dễ dàng phân ly; do đó phương thức đánh thuế dựa trên đại gia tộc trở nên vô dụng. Ở phương bắc, do ngoại tộc cần đoàn kết hợp tác nên vẫn duy trì được chế độ đại gia tộc. Do người Hán có cơ hội được tham gia chính quyền của người Hồ, truyền thống văn hóa và thể chế của Trung Quốc dần dần tiếp nhận các yếu tố ngoại tộc, song vẫn còn thịnh hành các phong tục như "tài hôn". Thời Nam-Bắc triều, các dân tộc du mục và dân tộc nông nghiệp diễn ra Hồ-Hán dung hợp văn hóa, các dân tộc du mục trên thảo nguyên phương bắc không ngừng Hán hóa trong quá trình tiến vào Trung Nguyên, trong khi các thế tộc người Hán do muốn tránh chiến loạn nên đem gia đình dời đến phương nam, xúc tiến việc người Hán và các dân tộc khác ở phương nam tiến hành tiếp xúc và dung hợp. Do đó, người Hán vào thời Tùy-Đường không giống như người Hán vào thời Tần-Hán, các dân tộc ở hai lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang lấy người Hán làm chủ thể mà dụng hợp và hình thành nên "tân Hán tộc". Loạn Vĩnh Gia từ thời Tấn khiến một lượng lớn người Hán dời đến Giang Nam, vào sơ kỳ Đông Tấn người ta dùng phương thức thiết lập kiều châu, quận, huyện nhằm an phủ lưu dân phương bắc, đồng thời cho hưởng mức thuế thấp. Tuy nhiên, do kiều dân và cư dân bản địa hỗn tạp, ảnh hưởng đến việc thu thuế của triều đình. Do vậy vào trung hậu kỳ thời Đông Tấn, chính quyền thực thi "thổ đoạn", cho kiều dân phương bắc nhập hoàng tịch tại địa phương, cùng gánh vác trách nhiệm phú dịch với nhân dân địa phương. Thời Nam triều, chính quyền 5 lần lần tiến hành "thổ đoạn", trong đó "Nghĩa Hy thổ đoạn" do Tống Vũ Đế Lưu Dụ tiến hành vào năm 413 là đáng kể nhất, khiến cho các châu huyện của kiều dân dần dần biến mất. Loạn Vĩnh Gia khiến người Hán phương bắc dời đến phương nam, song vẫn còn một bộ phận lưu lại phương bắc sống cùng với các dân tộc du mục. Do người Hồ thiếu kinh nghiệm thống trị Trung Nguyên, do vậy họ trọng dụng thế tộc người Hán để trị lý quốc gia, khiến văn hóa hai bên vay mượn của nhau, dần dần hình thành dung hợp văn hóa. Ví dụ như vào thời Ngũ Hồ thập lục quốc, quân chủ các nước hợp tác với người Hán, cuối cùng khiến một bộ phận người Hồ ở Trung Nguyên chuyển hóa thành người Hán.; Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế thúc đẩy phong trào Hán hóa, dung hợp hoàng tộc Tiên Ti với thế tộc người Hán, đổi họ của hoàng tộc từ "Thác Bạt" sang "Nguyên", cấm dùng tiếng Tiên Ti; Thượng trụ Tây Ngụy là Vũ Văn Thái nghe theo kiến nghị của Tô Xước mà lập chính sách Quan Trung bản vị. Tuy nhiên, quá trình dung hợp không thể tránh khỏi sản sinh xung đột tư tưởng, đấu tranh chính trị hoặc xung đột chủng tộc. Ví dụ như Bắc Ngụy Thái Vũ Đế nhân "sự kiện tu quốc sử" mà diệt tông tộc của trọng thần Thôi Hạo và các họ khác có liên hệ. Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế thúc đẩy phong trào Hán hóa khiến cho quý tộc Tiên Ti ở Lạc Dương và người Tiên Ti ở Lục trấn xảy ra mâu thuẫn, phát sinh phong trào Tiên Ti hóa để phản kháng văn hóa Hán, cuộc cùng dẫn đến loạn Lục trấn. Đông Ngụy và Bắc Tề do người Tiên Ti Lục trấn và người Hán bị Tiên Ti hóa làm chủ, duy trì tinh thần thượng võ, đề xướng văn hóa Tiên Ti, cực lực bài xích văn hóa Hán. Cuối cùng triều Bắc Chu dung hợp văn hóa Hồ-Hán và triều Tùy Hán hóa tiêu diệt triều Bắc Chu và Trần, khởi đầu cho đế quốc Tùy-Đường mang tính chất "Thiên hạ một nhà". Nam Bắc triều chủ yếu là kinh tế trang viên. Trang viên của thế tộc và tự viện đại bộ phận đều là sản xuất nhiều mặt hàng, có tính chất tự cấp tự túc. Đất ruộng có hệ thống thủy lợi tốt, với các loại cây trồng như lúa, dâu, gai dầu hay rau, ngoài ra còn trồng các loại cây ăn quả, nuôi cá, chăn nuôi gia súc. Về thủ công nghiệp, có nghề như dệt sợi, nấu rượu, sản xuất công cụ. Hoạt động sản xuất trong trang viên của thế tộc chủ yếu giao cho "điền khách", "bộ khúc" và "nô lệ"; trang viên của tự viện thường do tăng lữ và dân hộ sản xuất. Địa chủ tập trung khai khẩn, việc này có tác dụng nhất định đối với sự phát triển của khu vực. Do thế tộc dược hưởng đặc quyền, còn Phật giáo thì thịnh hành, do vậy trang viên địa chủ và tự viên tăng lên, đồng thời lại tạo thành một lượng lớn nông hộ ẩn núp. Cùng với đó là việc chiến tranh diễn ra thường xuyên, khiến cho lực lượng lao động tráng kiện của xã hội bị tổn thất rất lớn, khiến cho quốc gia cùng địa chủ và tự viện tranh đoạt với nhau về thổ địa và lực lượng lao động, bùng phát xung đột đổ máu, như "Bắc Ngụy Thái Vũ Đế diệt Phật" hay "Bắc Chu Vũ Đế diệt Phật". Cuối cùng, do các dân tộc tăng cường giao lưu kinh tế, đồng thời dung hợp thành nhất thể, xuất hiện nhiều tiềm năng mới cho sự phát triển kinh tế xã hội. Khu vực Giang Nam tiến vào một giai đoạn phát triển toàn diện, khiến trọng tâm kinh tế của Trung Quốc dời về phía nam, cuối cùng thúc đẩy việc hình thành Đại Vận Hà. Nông nghiệp là trọng tâm trong kinh tế trang viên, được triều đình và thế tộc quan tâm sâu sắc. Tình trạng chiếm lĩnh đất đai vẫn còn hết sức nghiêm trọng tại Nam triều, triều đình không thể cấm chỉ thế tộc chiếm lĩnh đất đai, năm Đại Minh thứ 1 (457) thời Lưu Tống Hiếu Vũ Đế, triều đình ra pháp lệnh thừa nhận chiếm lĩnh rừng núi sông đầm để hạn chế phạm vi chiếm đoạt của thế tộc. Tuy nhiên, sau khi ban bố pháp lệnh lại kích thích hào môn quyền quý tiến hành hoạt động chiếm lĩnh đất đai núi đầm. Nam triều tương đối an định so với Bắc triều, di dân vẫn khồng ngừng dời về phương nam, sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển. Hai châu Kinh và Dương có tăng trưởng đột xuất, còn Ích châu xếp sau. Dương châu là khu vực phát đạt nhất của Nam triều, trong đó Kiến Khang cùng vùng xung quanh là nơi phát triển nhất. Khu vực Tam Ngô (Ngô quận, Ngô Hưng, Cối Kê) là nguồn cung cấp cho các khoản chi tiêu của Nam triều. Khu vực Kinh-Tương ở quanh hồ Động Đình phát triển rất nhanh chóng. Ngoài ra, khu vực Hoài Nam nguyên là một trong những trọng trấn lương thực, song đến năm 451 thì chịu sự phá hoại trong chiến tranh Ngụy-Tống. Trải qua hai triều Tề và Lương, tình hình sản xuất mới được phục hồi. Các triều đại Nam triều cho xây dựng sửa chữa không ít các công trình thủy lợi, như các triều Tống, Tề, Lương cho sửa chữa Thược Bi ở Thọ Dương (nay là phía nam Thọ huyện, An Huy). Nam Tề tại Tề quận (trị sở nay là Lâm Truy, Sơn Đông) cho khai khẩn 200 khoảnh ruộng hoang, dùng nước của Thẩm Hồ để tưới ruộng. Tiền kỳ của Bắc triều, do ảnh hưởng từ hậu quả của chiến tranh từ thời Ngũ Hồ thập lục quốc, phát triển nông nghiệp tụt hậu so với Nam triều. Năm Thái Hòa thứ 9 (485), Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế nghe theo kiến nghị của Lý An Thế mà thi hành quân điền chế, đem một lượng lớn đất hoang (do hậu quả chiến tranh) chiếu theo chế độ mà phân cấp cho nông dân. Chế độ này sau đó cũng được Tây Ngụy, Đông Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu và Tùy-Đường thi hành, đất ruộng được phân phối chủ yếu là "lộ điền" (trồng ngũ cốc) và "tang điền" (trồng dâu). Lộ điền chủ yếu là đất quốc hữu, có thể cấp cho nam nữ nô tì, song không thể mua bán, sau khi người được cấp qua đời thì đất bị thu hồi. Tang điền là đất tư hữu, cấp cho nam giới, có thể mua bán. Cuối cùng, quan lại địa phương có thể chiếu theo phẩm cấp mà nhận công điền. Bắc Ngụy thi hành phối hợp các chế độ "quân điền chế" và "tam trưởng chế", "tô dung điều chế", thúc đẩy nông dân sản xuất. Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế thi hành vận động Hán hóa đã cải thiện được việc cai trị của quan lại, khiến nông nghiệp có thể phát triển đến mức trưởng thành. Đến năm Thần Quy thứ 3 (520), chính trị dần hủ bại, song kho lương của quan phủ vẫn tương đối đầy đủ. "Quân điền chế" và "tô điều chế" của Bắc Tề có nhiều hạn chế so với Bắc Ngụy, đồng thời làm gia tăng thuế tô của nô tì. Ở Đông Ngụy-Bắc Tề, việc tham ô cực kỳ nhiều, đến thời Nam Tề Hậu Chủ, hoang dâm hủ hoại, cho xây dựng nhiều cung điện và tự viện, hết sức xa hoa. Ở Tây Ngụy-Bắc Chu, Vũ Văn Thái làm theo kiến nghị của Tô Xước, lập chế độ dự toán thu thuế và hộ tịch, bảo đảm thu nhập cho triều đình. Do thế tộc Bắc Chu có lực lượng không lớn, lại thêm việc cai trị trong sạch hơn, nên tương đối dễ thi hành "quân điền chế". Do Tiên Ti là một dân tộc du mục, nghề chăn nuôi gia súc của họ vốn phát triển rất tốt, khu vực sản xuất chủ yếu tại vùng Mạc Nam (nay là Hà Sáo). Thời Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế, lại thiết lập bãi chăn thả tại Hà Nam để nuôi 10 vạn con ngựa. Cha của Nhĩ Chu Vinh là Nhĩ Chu Tân Hưng có nuôi bò, dê, lạc đà, ngựa. Do triều đình thúc đẩy trồng dâu, đánh thuế lụa mộc và vải phù hợp, góp phần thúc đẩy sản xuất xe sợi dệt vải. Ngành dệt và nuôi tằm ở Nam triều tương đối phát triển, vùng sản xuất chủ yếu là hai châu: Kinh, Dương. Do tơ, bông, lụa, vải là các hạng mục thuế chủ yếu của Nam triều; do vậy ngành xe sợi và dệt là nghề phụ phổ biến trong dân gian Nam triều. Nghề dệt gấm chiếm ưu thế tại Ích châu, Lưu Dụ sau diệt nước Hậu Tần đã cho đưa các hộ dệt gấm từ Quan Trung dời đến Giang Nam, đến thời Nam Tề và Lương thì trở nên phồn vinh. Đương thời, người nhà phú hào mặc quần thêu, đi giày gấm, dùng lụa màu để tạo hoa văn hỗn hợp, dùng lụa mỏng để làm phục trang, dùng gấm làm màn che. Triều đình Nam triều đặt ra chức quan chuyên quản lý khai mỏ và luyện kim. Luyện thép sử dụng "quán cương pháp"- một cách tạp luyện gang thỏi và sắt rèn. Phương pháp này có thể luyện ra thép chất lượng tốt, được dùng để chế tạo bảo kiếm và đao. Kỹ thuật nung đồ sứ ngay từ thời Tam Quốc và Tấn đã thành thục. Thời Nam triều, thanh từ là chủ yếu, sản xuất tập trung tại Cối Kê quận (nay là Thiệu Hưng, Chiết Giang), loại sứ này có độ cứng cao, men đều, toàn bộ có màu lục và có cảm giác trong suốt. Các khu vực khác ở Giang Nam có những đặc điểm riêng về kỹ thuật làm đồ sứ. Giấy Nam triều trắng sạch và cân xứng, hoàn toàn thay thế thẻ tre gỗ. Giấy làm từ cây mây và giấy làm từ cây gai đều rất phổ biến. Nghề đóng tàu cũng rất phát triển, có thể đóng tàu có tải trọng lên tới hai vạn hộc. Nghề xe sợi và dệt ở Bắc triều chủ yếu là dệt tơ và xe sợi đan len, là một trong những nghề thủ công phát đạt nhất, với các trung tâm dệt tơ như Kính châu (nay là Kính Xuyên, Thiểm Tây), Ung châu (nay là Tây An, Thiểm Tây), Định châu (nay là Định Châu, Hà Bắc). Sản lượng lụa vải gia tăng khiến giá lụa hạ xuống, vào sơ kỳ, mỗi thất lụa có giá 1000 tiền, đến sau thời Hiếu Văn Đế thì giảm xuống còn 200-300 tiền. Lĩnh vực dệt tơ công có quy mô to lớn, có công xưởng trong cung hoặc trong kinh thành, là nơi sản xuất ra sản phẩm dệt tơ quý đẹp cho triều đình. Trong dân gian có "lăng la hộ", "tế kiển la hộc hộ", phân tán tại khu vực nay là Hà Bắc và Sơn Đông; họ có sản lượng lớn và chất lượng đẹp tốt. Sản phẩm của ngành xe sợi đan len chủ yếu là len, được dùng rất phổ biến, lợi nhuận rất lớn. Triều đình Bắc triều cũng đặt chức quan chuyên quản khai thác khoáng sản và luyện kim, nghề luyện sắt phát triển nhất. Sắt có sản lượng rất cao, vào năm 450 quân đội Nam triều khi chiếm được Nghiêu Ngao thú (nay là phía đông Liêu Thành, Sơn Đông) của Bắc Ngụy đã thu được một lượng lớn đồ sắt. Đao rèn ở Tương châu đứng đầu toàn quốc, cuối cùng được đưa vào võ khó ở kinh sư. Kỳ Vô Hoài Văn thời Bắc Tề sáng chế ra "túc thiết đao", có độ cứng phi thường, song lại có tính mềm dai, chém được qua 30 lớp trát (lớp bằng da hoặc kim loại để lót áo giáp). Nông nghiệp và thủ công nghiệp của Nam triều phát đạt, lại thêm giao thông đường sông tiện lợi, khiến thương nghiệp cũng phát đạt. Do nền chính trị suy yếu, tệ chế lỏng lẻo, chất lượng sản phẩm không tinh xảo. Trên thị trường có các mặt hàng dụng cụ sản xuất, dụng cụ sinh hoạt và xa xỉ phẩm. Tiểu thương buôn bán ở hàng quán, đại thương vận chuyển hàng hóa đi tứ phương. Thuế thương là thu nhập chính của triều đình, song do thế tộc có đặc quyền được miễn quan thuế, từ lúc tại nhiệm đến lúc mãn nhiệm có được một lượng lớn hóa vật, sau chuyển đến bán ở các nơi. Các trọng trấn thương nghiệp có Kiến Khang, Giang Lăng, Thành Đô, Quảng Châu, Quảng Lăng; trong đó Kiến Khang là trung tâm kinh tế của Tam Ngô. Thời Lương Vũ Đế, trong thành Kiến Khang có 28 vạn cư dân, cộng thêm một vạn cống sứ, thương nhân lữ khách, dân đi thuyền. Cối Kê, Ngô quận, Dư Hàng đứng ở vị trí tiếp theo. Quảng Châu là trọng trấn mậu dịch bằng đường biển, đối tượng mậu dịch có các nước ở Đông Nam Á, Thiên Trúc, Sư Tử Quốc, Ba Tư. Giang Lăng là trạm chuyển vận giữa Quan Trung, Dự châu, Ích châu, Kinh châu, Giao châu, Lương châu. Thành Đô không chỉ có thương nghiệp phồn thịnh, mà còn là nơi sản xuất chủ yếu của gấm Thục. Sau vận động Hán Hóa, thương nghiệp Bắc Ngụy dần trưởng thành. Về mặt hóa tệ, ban đầu lấy lụa sống, vải và ngũ cốc làm phương tiện trao đổi trung gian, sau khi Hiếu Văn Đế cải chế đã cho đúc tiền 5 thù để cải thiện, song vẫn còn khó khăn trong lưu thông. Trọng trấn thương nghiệp có Lạc Dương, Nghiệp và Trường An. Lạc Dương là trung tâm mậu dịch phương bắc, ngoài Tây Dương Môn có chợ lớn, chu vi tám lý, hết sức phồn vinh. Đương thời, trừ người bán lẻ và đại thương nhân ra, rất nhiều quý tộc, quan liêu cũng tham gia vào thương mại. Đối tượng mậu dịch có các nước ở Trung Á và Tây Á., Cao Câu Ly, Bách Tế, Tân La, Già Da, Nhật Bản. Thương nhân Tây Vực chủ yếu kinh doanh vàng, ngọc trai, ngọc thạch, đồ quý; đem hàng dệt tơ, hàng công nghệ của Trung Quốc về nước. Mặc dù hai triều Nam bắc giao chiến liên miên, song đến khi đình chiến thì mậu dịch lại nổi lên. Hai bên thường lấy ngũ cốc, lụa vải để thay thế tiền tệ. Phương thức mậu dịch chủ yếu có quan phương mua bán với nhau và cá nhân buôn lậu; trong đó trong dân gian, quan viên và quân đội đều có hoạt động buôn lậu. Về nhu cầu mặt hàng, Bắc triều cần mía, vải, xoài, chuối, dứa, dương mai, quýt, bưởi; cùng với các xa xỉ phẩm để quan viên và quý tộc hưởng thụ. Nam triều cần ngựa, lạc đà, sản phẩm đan len. Tuy nhiên, về tổng thể thì thương nghiệp Bắc triều không bằng được Nam triều. Tư tưởng học thuật. Sau khi địa vị độc tôn của Nho học bị phá vỡ dưới thời Tấn, đến thời nam Bắc triều đã hình thành đa nguyên hóa tư tưởng. Trong nhiều lưu phái tư tưởng, xuất hiện các quan điểm có giá trị như việc dùng pháp trị quốc, chủ trương vụ thực cầu trị (theo Tào Tháo và Gia Cát Lượng thời Tam Quốc, Vương Đạo thời Đông Tấn) và "vô quân luận" (theo Bào Kính Ngôn thời Đông Tấn), "thần diệt luận" (Phạm Chẩn thời Lương), đề xướng "người chết thì thần hết" (Hình Thiệu của Bắc Ngụy và Phiền Tốn của Bắc Tề); song cũng sản sinh ra suy đồi tiêu cực, thoát khỏi tư tưởng trước đó. Tư tưởng huyền học có ảnh hưởng lớn nhất, huyền học rất hưng thịnh tại Nam triều, thời Lưu Tống Văn Đế đặt ra "huyền học quán", huyền học với sử, văn, nho cùng được liệt vào tứ học, "thanh đàm" thêm thịnh. Đến thời kỳ Lương Vũ Đế, cổ vũ đề xướng kinh học, song kinh học vào thời kỳ này chịu ảnh hưởng của thanh đàm, chỉ chú trọng vào giảng giải biện luận. Sau khi triều Tùy thống nhất Trung Quốc, "thanh đàm" dần dần suy thoái, đến trung kỳ triều Đường thì kết thúc. Do ở vào thời kỳ Phật giáo quá độ giữa phát triển và suy sụp, xuất hiện không ít nhà tư tưởng phản đối quá độ sùng Phật như Phạm Chẩn của Lương, Hình Thiệu của Bắc Ngụy và Phiền Tốn của Bắc Tề, tư tưởng của họ sản sinh ra vô thần luận. Phạm Chẩn là nhân sĩ Nam Tề-Lương, vào năm 489 trong yến tịch của Cánh Lăng vương Tiêu Tử Lương, ông phát biểu phản đối thuyết nhân quả báo ứng của Phật giáo, nhận định rằng linh hồn không tồn tại. Quan điểm của ông chủ yếu là "biến hóa đích hình nhất nguyên luận" theo thuyết duy vật, nhận định thân thể và tinh thần đều là vật chất, toàn thể vũ trụ là một chuyển động biến hóa vật chất. "Thần diệt luận" xử lý các chủ đề "thể", "dụng", "biến hóa", "quan hệ"; hoàn chỉnh khái quát "duy vật bản thể luận" nhằm xử lý phạm trù chủ yếu. Tác phẩm nổi tiếng của Phạm Chẩn có "Thần diệt luận", hay "Đáp tào xá nhân" để trả lời phái phản đối Tào Tư Văn. Luận điểm của ông rút ra từ triều dã, Tào Tư Văn sáng tác "Nan thần diệt luận", Tiêu Sâm dẫn cố sự "Đỗ bá quan cung" và "Bá hữu bị giới" để bác lại. Lương Vũ Đế là người tin theo Phật giáo, ông triển khai luận chiến, sáng tác "Sắc đáp thần hạ thần diệt luận", lệnh cho Phạm Chẩn phải từ bỏ quan điểm. Lương Vũ Đế tổ chức hơn 60 tăng tục công bố văn chương nhằm tiến hành vây đánh Phạm Chẩn, gây ra đại chiến lý luận về "thần" diệt hay bất diệt trong giới tư tưởng, cuối cùng Phạm Chẩn bị phán là "dị đoan" và bị lưu đày. Các nhà tư tưởng Hình Thiệu hay Phiền Tốn ở Bắc triều chủ trương "vô thần luận". Hình Thiệu là nhân sĩ hậu kỳ Bắc Ngụy và sơ kỳ Đông Ngụy, đương thời Phật giáo được hoàng thất Tiên Ti đề xướng mà trở nên hưng thịnh. Ông phản đối "thần bất diệt luận", chủ chương người chết thì linh hồn sẽ biến mất, phủ định lý luận người chết là quỷ; ông còn chủ trương "loại hóa luận", chỉ có sự vật đồng lỗi mới có thể chuyển hóa; sự vật bất đồng loại thì không thể chuyển hóa. "Loại hóa thuyết" cho thấy tính đa nguyên và tính sai khác của các loài. Tư tưởng của Hình Thiệu và các cuộc tranh luận giữa ông với Đỗ Bật về các vấn đề như luân hồi đều được ghi chép trong "Bắc sử- quyển 55- Đỗ Bật truyện" và "Bắc Tề thư-Đỗ Bật truyện". Phiền Tốn là người Bắc Tề, năm 554 Bắc Tề Văn Tuyên Đế muốn lập đàn tế trời ở Thiện Thái Sơn, Phiền Tốn khuyến gián với Hoàng đế, nói rằng Đạo giáo, thần tiên đều là do bịa ra. Nhan Chi Thôi là người Lương, sau bị buộc phải làm quan cho Bắc triều. Ông chủ trương tảo giáo, nhận định "con người khi còn nhỏ, tinh thần chuyên nhất; sau khi lớn lên, tư tưởng phân tán, không dễ dàng mà học tập". Ông soạn "Nhan thị gia huấn", có ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội Trung Quốc vào sau này, hậu thế xem đây là tác phẩm khuôn mẫu đối với gia huấn, được học giả Nho gia và môn đệ Phật giáo xem trọng. Văn học thời kỳ Nam Bắc triều phát triển nhanh chóng, trong đó phong cách Nam triều mang thiên hướng hoa lệ tinh tế, còn phong cách Bắc triều mang thiên hướng hào phóng thô khoáng. Các nhân vật đại biểu của văn học Bắc triều là "Bắc địa tam tài": Hình Phóng, Ngụy Thu, Ôn Tử Thăng. Ở Nam triều, đại biểu văn học là Biền Văn, quan tâm tới cách luật, văn chương, sử dụng điển cố. Nội dung phần nhiều thoát ly sinh hoạt thực tế, biểu đạt một chút phú quý nhàn sầu, văn chương của Dữu Tín là đại biểu. Phong cách thơ thịnh hành là Nguyên Gia thể và Vĩnh Minh thể, Nguyên Gia thể là dại biểu cho phong cách thơ những năm Nguyên Gia (424-453) thời Lưu Tống, các nhân vật đại biểu là "Nguyên Gia tam đại gia": Tạ Linh Vận, Nhan Diên Chi và Bào Chiếu. Thành tựu trung của họ là đưa thơ cổ thể phát triển đến giai đoạn hoàn toàn thành thục, đồng thời chú ý đến vận dụng thanh luật và đối ngẫu, cũng đồng thời dần phát triển đến thơ cận thể. Vinh Minh thể còn được gọi là thơ tân thể, là một loại thể thơ hình thành vào những năm Vĩnh Minh (483-493) thời Nam Tề Vũ Đế, được truyền cảm hứng từ âm học Phạn, đặc biệt là tiếng tụng đọc kinh Phật. Chu Di phát hiện ra rằng tiếng Hán có bốn loại thanh điệu: bình, thượng, khứ, nhập; soạn ra "tứ thanh thiết vận vận". Thi nhân Thẩm Ước lại căn cứ theo cách lý giải của mình đối với bốn thanh điệu, soạn ra "tứ thanh phổ". Những người như Vương Dung là những người thúc đẩy, đồng thời tiến hành thử nghiệm trong sáng tác, "Vĩnh Minh thanh luật luận" cực thịnh một thời. Thi nhân Vĩnh Minh trong thơ cố gắng đạt đến "nhất giản chi nội, âm vận tận thù; lưỡng câu chi trung, khinh trọng tất dị", tránh những điều gọi là bát bệnh (bình đầu, thượng vĩ, phong yêu, hạc tất, đại vận, tiểu vận, bàng nữu, chính nữu), do vậy sản sinh ra Vĩnh Minh thể, là nguồn gốc của cách luật thi thời Đường. "Từ-Dữu thể" của Từ Si và Từ Lăng của Nam triều Trần và Dữu Tín của Bắc Chu có văn chương diễm lệ, cũng rất nổi tiếng. Giang Yêm và Bào Chiếu đều được gọi là đại gia từ phú Nam triều; "Hận phú" và "Biệt phú" của Giang Yêm, "Vu thành phú" và "Vũ hạc phú" của Bào Chiếu đều được gọi là tuyệt xướng từ phú Nam triều. Giang Yêm trong ngục đã viết "nghệ Kiến Bình vương thư" mang phong cách phấn chấn mạnh mẽ, không cao không thấp, trong đó thể hiện tình cảm chân thực. "Giang Lăng tài tận" là chỉ tình hình Giang Yêm giảm thiểu sáng tác vào những năm cuối. Về mặt trường thi tự sự thì "Mộc Lan thi" của Bắc triều và "Khổng tước đông nam phi" của Nam triều là đại biểu. Về dân ca, do văn hóa Nam Bắc triều bất đồng, nên thể hiện sắc thái và tình điệu không giống nhau. "Nhạc phủ thi tập" có thuyết pháp "diễm khúc hưng vu Nam triều, Hồ âm sinh ư Bắc tục". Tiểu thuyết chịu ảnh hưởng của danh sĩ thanh đàm, thúc đẩy sự xuất hiện của tiểu thuyết dật sự, có thể phân thành "tiểu thuyết chí quái" và "tiểu thuyết chí nhân". "Thế thuyết tân ngữ" của Lưu Nghĩa Khánh khá nổi tiếng, cung cấp một lượng lớn điển cố và thành ngữ cho các tác phẩm văn học hậu thế. Đạo giáo có ảnh hưởng đến nghệ thuật và khoa học của Trung Quốc, như văn học "du tiên thi", miêu tả sự huyền nhiệm thần tiên phiêu dật hoặc dựa vào đàm luận về thần tiên để biểu đạt cảm xúc. Danh sĩ Đạo giáo Đào Hoằng Cảnh, Lục Tu Tĩnh đều những bậc anh tài trong văn học thần tiên. "Ngọc đài tân vịnh" là do Trương Lệ Hoa (phi tử của Trần Hậu Chủ) biên soạn và ghi chép, chủ yếu ghi lại những sáng tác khuê tình nam nữ. Về mặt nghiên cứu văn học, "Văn tâm điêu long" của Lưu Hiệp trở thành kiệt tác lý luận văn nghệ có hệ thống đầu tiên của Trung Quốc, chủ trương văn phong thực dụng, phản đối văn phong hoa mỹ không thực dụng. Trưởng tử Tiêu Thống của Lương Vũ Đế tổ chức văn nhân biên tuyển "Chiêu Minh văn tuyển", là một bộ thơ văn tổng hợp cổ nhất còn lưu trữ được của Trung Quốc, vào thời Đường ngang với Ngũ Kinh, một thời cực thịnh. Hai bộ kiệt tác này có ảnh hưởng sâu rộng đối với sự phát triển của văn học Trung Quốc sau này. "Thi phẩm" của Chung Vanh cũng là một tác phẩm chuyên khảo trọng yếu, khai sáng thể chế thi luận, thi bình của Trung Quốc cổ đại. Tác phẩm này tập trung vào thơ ngũ ngôn từ thời Hán đến Lương, xác định nguồn gốc phong cách văn chương, một phái học "Thi Kinh", một phái học "Sở Từ". Tuy nhiên việc bình phán tam phẩm quá khiên cưỡng, như hạ phẩm Tào Tháo, trung phẩm Đào Tiềm, Kê Khang, Tào Phi ngày nay lại được đánh giá khá cao. Nam Bắc triều kế thừa chế độ đặt chức quan viết sử từ thời Hán. Lưu Tống đặt ra "trứ tác quan" (quan danh và phân chức của Nam triều nhiều lần cải biến), phụ trách soạn viết quốc sử và ghi chép về cuộc sống hàng ngày của đế vương. Nam triều bắt đầu có phân chia giữa quốc sử và sử của tiền triều. Bắc Ngụy cũng đặt "trứ tác quan" và "khởi cư lệnh sử", khiến quan viết sử và quan viết về đới sống hàng ngày dần phân chức. Bắc Tề bắt đầu lập "sử quán" (hay gọi là sử các), là cơ cấu chuyên môn viết sử, ảnh hưởng đến chế độ viết sử công quyền của Trung Quốc sau này. Tây Ngụy và Bắc Chu cũng đặt "trứ tác quan". Các triều Nam Bắc cũng có đại thần giám sát việc viết sử. Ngoài ra, thời Lương bắt đầu soạn viết "thực lục" Vũ Đế, Nguyên Đế; sang thời Đường thì bắt đầu việc các triều đại kế tiếp nhau cho viết thực lục. Sách sử phân đại theo "kỷ truyện thể" chiếm vị trí đứng đầu trong sử học Nam Bắc triều. Tác phẩm do quan lại biên soạn có "Tống thư" của Thẩm Ước, "Nam Tề thư" của Tiêu Tử Hiển, "Ngụy thư" của Ngụy Thâu. do cá nhân biên soạn có "Hậu Hán thư của Phạm Diệp. Sách sử phán ánh các loại tình cảnh trong xã hội cũng thịnh hành vào thời Nam Bắc triều, như trong "Hậu Hán thư" của Phạm Diệp, "Tống thư" của Thẩm Ước có thêm các loại truyện ký "độc hành", "dật dân" (hoặc "ẩn dật"), "liệt nữ" với các loại diện mạo nhân vật; sử tịch tôn giáo có "Cao tăng truyện" của Huệ Kiểu, thuật về kiến trúc tự viện có "Lạc Dương Già lam ký" của Dương Huyễn Chi; về địa lý có "Thủy kinh chú" của Lịch Đạo Nguyên, là tác phẩm kết hợp từ những kiến thức vào thời Nam Bắc triều. Lịch sử dân tộc phi Hán do các tộc Ngũ Hồ kiến lập chính quyền mà được xem trọng, thành tựu khá cao có "Thập lục quốc Xuân Thu" của Thôi Hồng, "Tam thập quốc Xuân Thu" của Tiêu Phương. Phả học do ảnh hưởng của chính trị môn phiệt thời Nam Bắc triều nên một thời rất thịnh. Các hào tộc muốn củng cố địa vị xã hội và quyền lực chính trị nên soạn viết gia phả, nhằm thể hiện huyết thống, môn đệ, hôn nhân và làm quan. Sau khi xuất hiện gia phả, lại có nghiên cứu gia phả học, đương thời xuất hiện các thư tịch như "Thống phả" hay "Bách gia phả". Ngành chú sử thời Nam Bắc triều có đại biểu là "Tam quốc chí chú" của Bùi Tùng Chi, chú trọng vào tư liệu sưu tập được để bổ sung vào sử sự, không còn giới hạn trong việc chú giải chỉnh âm và giải thích sử văn, có ảnh hưởng tương đối với phương pháp chú sử Trung Quốc. Bùi Tùng Chi khảo đính tương đồng và khác biệt giữa các sử liệu để tìm ra sự thực, các sử gia sau này kế thừa, như Tư Mã Quang soạn "Tư trị thông giám khảo dị". Bùi Tùng Chi cũng bình luận về sử gia đời trước, điều này thúc đẩy sự phát triển của ngành phê bình sử học Trung Quốc. Trong thời kỳ này, Phật giáo-Đạo giáo dần dần trở thành tôn giáo chủ lưu, đồng thời cạnh tranh với huyền học. Phật giáo vào thời Nam Bắc triều có sự phát triển sôi nổi, thoát khỏi cảnh gian khó phải phụ thuộc vào Nho giáo và Đạo giáo ở tiền triều, thời kỳ Bắc Ngụy-Lưu Tống bắt đầu thịnh hành, đồng thời dần dần Trung Quốc hóa, tín ngưỡng Bồ Tát đương thời hết sức phổ biến trong dân chúng. Đương thời, Phật giáo dần sản sinh ra các tông phái, trong đó nổi danh là Tam luận tông, Niết bàn tông, Thiên Thai tông, Luật tông và Thiền tông. Nến tảng của Tam luận tông được xây dựng nên bởi Tăng Triệu, Liêu Dông Tăng Lãng, Hưng Hoàng Pháp Lãng, Mao Sơn Đại Minh, Cát Tạng đại sư thời Nam Bắc triều. Tông phái này dựa vào tam luận: "Trung luận", "Thập nhị môn luận", "bách luận" do Cưu-ma-la-thập dịch để lập tông, do vậy có tên là Tam luận tông. Tư tưởng của Tịnh độ tông chủ yếu dựa vào "Vãng sinh luận", đại biểu của phái này là Đàm Loan đề xướng tư tưởng "tha lực", "dịch hành". Đối với Niết bàn tông, "Thập địa kinh luận" do Lặc-na-ma-đề và Huệ Quang hình thành, cùng với "Đại bàn niết bàn kinh" (bắc thể) do Đàm-vô-sấm phiên dịch, sau khi truyền đến Nam triều thì được phát triển rộng rãi. Luật tông bắt nguồn từ việc Pháp Hiển, Huệ Quang ở Bắc triều tập trung nghiên cứu và truyền lại giới luật Phật giáo, nghiêm túc thi hành giới quy Phật giáo mà mang tên như vậy. Thiên thai tông là tông phái Phật giáo Trung Quốc được sáng lập sớm nhất, thủy tổ Trí Nghĩ chủ yếu dựa theo Diệu pháp liên hoa kinh, do vậy còn được gọi là "Pháp Hoa tông". Tông phái này chủ trương "thực tướng" và "chỉ quan", lấy "thực tướng" xiển minh lý luận, dùng "chỉ quan" chỉ đạo thực tu. Thiền tông Đạt-ma chủ trương "giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự", đề xướng dùng tâm tu thiện, sau khi xuất thế cần phải độ hóa người khác. Thiện pháp của Đạt-ma giản minh thâm nhập. Cùng với Bảo Chí thiền sư, Phó đại sĩ gọi chung là "Lương tam đại sĩ". Sự phát triển cao độ của Phật giáo cũng dẫn đến việc chính phủ ức chế, Nho giáo và Đạo giáo kịch liệt đả kích. Do có nhiều tự viện và tăng lữ, khiến triều đình bị giảm số thuế và nguồn binh thu được, các nước bắt đầu hạn chế số người theo tín ngưỡng Phật giáo và đánh diệt Phật giáo. Trong đó, phong trào diệt pháp thời Bắc Ngụy Thái Vũ Đế và Bắc Chu Vũ Đế là nổi danh nhất, cùng với phong trào tương tự dưới thời Đường Vũ Tông được gọi chung là "Tam Vũ diệt Phật". Phật giáo sang thời Lưu Tống càng được nhân sĩ sùng tín, dẫn đến việc tranh luận với Nho giáo và Đạo giáo trên nhiều vấn đề khác nhau, như "chân ngụy của tam thế nhân quả", "tinh thần diệt hay bất diệt", "Phật còn sống hay không". Cùng với sự truyền bá của Phật giáo, nghệ thuật Phật giáo phát triển chưa từng thấy, với các tượng Phật, bích họa, tự viện hang đá. Trong đó, hang Mạc Cao, hang đá Vân Cương, hang đá Long Môn, hang đá Mạch Tích Sơn trở thành những báu vật trong kho tàng nghệ thuật tạo tượng Trung Quốc. Đạo giáo cải cách đạt được nhiều thành tựu, Khấu Khiêm Chi vào cuối thời Ngũ Hồ thập lục quốc chịu ảnh hưởng của Linh Bảo ở Đông Tấn, chế tác các kinh như "Vân Trung âm tụng tân khoa chi giới", với hơn 80 quyển. Khấu Khiêm Chi đối với Đạo giáo tiến hành cải cách với nguyên tắc chung "lấy lễ độ làm đầu", trừ bỏ ngụy pháp Ngũ Đấu Mễ Đạo Tam Trương (Trương Lăng, Trương Hành, Trương Lỗ), các loại "thu tiền gạo" và "nam nữ hợp khí". Nghiêm ngặt thực hiện trai giới lễ bái, khiến tổ chức của Đạo giáo thêm chặt chẽ, khuôn phép và lễ tiết thêm hoàn thiện, khiến Đạo giáo "chuyên lấy lễ độ làm đầu, và còn lấy phục thực bế luyện". Do cải cách của Khấu Khiêm Chi, không chỉ sáng lập ra quy mô cơ bản mới cho Đạo giáo trên các mặt tôn chỉ, tổ chức, kinh đạo, trai nghi; mà còn khiến quân chủ Bắc triều và sĩ tộc Hán cùng Tiên Ti gia nhập Đạo giáo. Đạo giáo phát triển đến các tầng lớp xã hội, từng trở thành quốc giáo của Bắc triều. Lư Sơn đạo sĩ Lục Tu Tĩnh thời Lưu Tống lại thu thập các điển tịch Đạo giáo trước đó, tham khảo nghi lễ đương thời của Phật giáo, cải cách Thiên Sư đạo ở Nam triều, chủ yếu thể hiện trong "Lục tiên sinh đọa môn khoa lược" của ông. Cải cách của Khấu Khiêm Chi và Lục Tu Tĩnh khiến cho giáo quy và nghi phạm của Đạo giáo dần định hình. Sau đó, Đào Hoằng Cảnh kế tục hấp thu tư tưởng của Nho giáo và Phật giáo, bổ sung thêm nội dung cho Đạo giáo, xây dựng phả hệ thần tiên Đạo giáo, tự thuật Đạo giáo truyền thụ lịch sử, chủ trương Tam giáo hợp lưu, có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển sau đó của Đạo giáo. Ông dung hợp Kim Đan đạo giáo của Cát Hồng, Thượng Thanh kinh đạo của Dương Hy, và Nam Thiên sư đạo của Lục Tu Tĩnh, khai sáng ra Mao Sơn tông. Tại Bắc Ngụy, còn có Hiên giáo, tức Hỏa giáo, là quốc giáo của đế quốc Ba Tư cổ đại. Tư tưởng của Hiên giáo thuộc nhị nguyên luận (có thần quang minh và thần hắc ám), chủ thần được gọi là "Hồ Thiên", kinh điển chủ yếu là "Avesta". Hiên giáo chủ yếu do người Túc Đặc đến từ Tây Vực truyền bá, đương thời các nước Tây Vực đều tin theo Hiên giáo, một bộ phận hoàng thất Bắc triều cũng tin theo, Linh thái hậu của Bắc Ngụy cúng tế thần "Hồ Thiên". Thời kỳ Nam Bắc triều, nghệ thuật hưng thịnh, Nam triều lấy hội họa là chính, Bắc triều lấy điêu khắc tạc tượng làm chính. Sự thịnh hành của điêu khắc ở Bắc triều có quan hệ với sự phổ biến của Phật giáo. Một lượng lớn chùa được xây dựng, bất luận là làm từ gỗ, gạch, hay kiến tạo trong hang đá đều có các tượng Phật điêu khắc lớn nhỏ. Về điêu khắc tượng Phật trong hang đá, trứ danh có hang Mạc Cao Đôn Hoàng bắt đầu được tạo vào năm 366 dưới thời Tiền Tần, hang đá Mạch Tích Sơn bắt đầu được tạc vào năm 384 thời Hậu Tần, trong thời Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế lại bắt đầu tạc hang đá Vân Cương, hang đá Long Môn; thời Bắc Tề Văn Tuyên Đế thì bắt đầu tạc hang đá Thiên Long Sơn. Nghệ thuật hang đá thể hiện tính hùng vĩ nhất là tại 20 hang tượng của quần thể hang đá Vân Cương. Dung mạo của tượng Phật phong mãn, hai vai khoan hậu, đường nếp gấp áo quần được khắc có cảm giác ôm khít thân hình, trong trang nghiêm có vẻ thân ái, biểu hiện cho tấm lòng bao dung của Phật. Công nghệ điêu khắc tốt nhất được thể hiện ở 259 hang tượng của quần thể hang Mạc Cao, thể hiện thần thái đang mỉm cười, tạo ra mĩ cảm điềm tĩnh. Các tàn tượng đắp bằng bùn được khai quật từ nền tháp chùa Vĩnh Ninh ở Lạc Dương là tinh tế nhất, diện mạo đầy sức sống. Hang đá Thiên Long Sơn lại là đại biểu cho văn hóa Phật giáo Bắc Tề, với "Mạn Sơn các" và "Cửu Liên động" nổi danh. Tập hợp tháp Phật Ấn Độ và lầu tháp triều Hán làm cơ sở để dựng nên các mộc tháp, đương thời đó là sự phát triển kiến trúc quan trọng. Tư tưởng Nho giáo và Đạo giáo Trung Quốc bản địa cũng cung cấp cho nghệ thuật các chủ đề mới, phong cách mới. Tư tưởng Nho giáo phần nhiều là kết hợp hiếu đạo, nhà nghệ thuật Đạo giáo lại thiên về cảnh tự nhiên sơn thủy và truyền thuyết dân gian. Nghệ thuật thế tục truyền thống cũng xuất hiện biến hóa, đặc biệt thể hiện trên phương diện hội họa. Công nghệ làm đồ gốm ở phương nam có tiến triển đáng kể, nổi danh nhất là "Việt từ" men lục của "Việt điêu". "Việt điêu" (tức gốm sứ vùng Quảng Đông) dùng rất bền, thậm chí còn được bán ra hải ngoại, xa đến Ai Cập, Philippines. Lục triều cũng là thời kỳ Trung Quốc xuất hiện việc văn nhân họa gia, thư pháp gia, những nhân vật quan trọng tiến hành thu thập tác phẩm nghệ thuật, phê bình văn học nghệ thuật cũng có sự phát triển. Về đá khắc lăng mộ Nam triều, lăng mộ các đời đế vương, quý tộc ở phía trước có cột đá, bia đá, thú đá. Thú đá còn gọi là "tị tà" (避邪), do tạo hình sư tử diễn biến mà thành, mang hàm ý trừ tà, cầu phúc hoặc thăng thiên. Trong đó, thiên lộc trước lăng Nam Tề Vũ Đế và kỳ lân trước lăng Nam Tề Cảnh Đế là những đại biểu mang tính đại diện nhất Phong cách của chúng kế thừa điêu khắc thú đá thời Hán, giỏi về việc tận dụng chỉnh sửa khối đá, dùng thủ pháp tẩy luyện để biểu hiện khí thế hùng vĩ. Về hội họa, tranh sơn thủy Trung Quốc cổ đại nổi lên vào thời Nam Bắc triều. Do ảnh hưởng kết hợp từ huyền học, tự nhiên quan Lão Tử-Trang Tử và cảnh sơn thủy Giang Nam tú lệ, khiến hội hoa thoát ly hạn chế của Nho học, phát triển theo phương hướng thuần nghệ thuật, họa gia nổi danh có Lục Tham Vi thời Lưu Tống và Trương Tăng Do thời Lương. Rồng do Trương Tăng Do vẽ được đánh giá là phi thường thần diệu, câu "họa long điểm tình" bằng nguồn từ họa công của ông. Trương Tăng Do một đời khắc khổ học tập, vẽ nên các danh tác như "Ngũ tinh nhị thập bát túc thần hình đồ", "Tuyết sơn hồng thụ đồ". Do sự xuất hiện của thơ sơn thủy, khiến truyền thống lấy biểu hiện nhân vật làm chính trong một thời gian dài này chuyển biến thành cảnh sắc sơn thủy. Tông Bỉnh thời Lưu Tống là nhà sáng tác lý luận tranh sơn thủy sớm nhất của Trung Quốc, tác phẩm "Họa sơn thủy tự" của ông là nổi danh nhất, ngoài tinh thông địa lý "sơn thủy lấy hình mị đạo" ra, trong khi quan sát sơn thủy tự nhiên, quy nạp ra phương pháp hội họa thể hiện vật thể xa gần. Họa gia tranh sơn thủy Vương Vi thời Lưu Tống, với tác phẩm "Tự họa", nhấn mạnh quan sát tự nhiên cùng chủ động biểu hiện quan điểm và cảm tình của cá nhân. Tiêu Bí thời Lương thể hiện ra cảm nhận cự ly không gian xa gần. Lý luận hội họa vào thời kỳ này đã thành thục, như Tạ Hách thời Nam Tề soạn ra tác phẩm kinh điển quan trọng "Cổ họa phẩm lục", đề ra "lục pháp luận" hội họa- sáu phép căn bản của hội họa cổ điển Trung Hoa- cùng hai bộ phận họa phẩm. Ông đề xuất tác phẩm hội họa chiếu theo sáu pháp, không chỉ giới hạn ở vẽ nhân vật, có ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế. Trong đó, lý luận "khí vận sinh động" (sắc thái và không khí sống động như thật) được các bình gia hội họa tôn là trình độ cao nhất. Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều là thời kỳ phát triển thanh xuân của khải thư, trong đó bia khắc là kho tàng về khải thư. Bia khắc Bắc triều có chữ khắc được gọi là thư pháp "Ngụy bi", có dũng khí hùng hồn, phong cách chất phác mộc mạc, thể thái nhiều biến đổi. "Long Môn nhị thập phẩm" là chỉ việc trong hang đá Long Môn phát hiện được 20 văn tự ghi chép ở nơi tạo tượng, các tác phẩm này được nhận định là đại biểu của thư pháp "Ngụy bi" thời Bắc Ngụy. "Trương Mãnh Long thiếp" được những nhà thư pháp tôn sùng, thành tựu vượt quá các tác phẩm thời Đường. "Trịnh Văn Công bi" là tác phẩm của nhà thư pháp Trịnh Đạo Chiêu thời Bắc Ngụy, các nhà thư pháp Âu Dương Tuân và Ngu Thế Nam thời Đường đều chịu ảnh hưởng sâu sắc. Ngoài ra còn có nhiều minh văn được ghi trên mộ như "Thạch môn minh". Ở Nam triều có các bia nổi danh như "Thoán long nhan bi", "Ế hạc minh". Khoa học kỹ thuật. Trong suốt thời kỳ Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều, do các dân tộc ở biên cương thiên di vào Trung Nguyên, từng nhóm người Hán phương bắc dời xuống phương nam, khiến văn hóa có sự giao lưu và pha trộn. Do cục diện thống nhất của Nho họ bị phá vỡ, trong khi Huyền-Đạo-Phật lại nổi lên, khiến nghiên cứu học thuật phát triển theo triều hướng đa nguyên hóa. Để sinh tồn và chiến tranh, các triều đại không ít lần thi hành một số cải cách phương sách nhằm đảm bảo sự phát triển của các khu vực nông nghiệp và thủ công nghiệp. Chúng đều khiến cho khoa học kỹ thuật tăng tiến đáng kể. Lịch Đạo Nguyên từ nhỏ đã nghiên cứu địa lý học, do đương thời các tác phẩm địa lý không đầy đủ, vì vậy ông nhân lúc được cử làm quan ở các địa phương mà tiến hành khảo sát thực địa, cuối cùng dựa theo "Thủy Kinh" mà hoàn thành "Thủy Kinh chú". "Thủy Kinh chú" viết về địa lý thủy văn lục địa, lấy thủy đạo làm chính, miêu tả chi tiết tính chất và môi trường xung quanh, có cống hiến kiệt xuất cho địa lý học Trung Quốc cổ đại. "Thủy Kinh chú" không chỉ nói về dòng sông, mà còn ghi lại chi tiết địa mạo, địa chất, khoáng vật và động thực vật nơi sông chảy qua. Trong "Thủy Kinh chú" có ghi lại rất nhiều hóa thạch của sinh vật cổ, ở huyện Thành Kỷ trên thượng du Vị Thủy (nay thuộc huyện Trang Lãng, Cam Túc) còn có hóa thạch loài người. Trong tác phẩm này, hậu thế có thể tìm hiểu chế độ canh tác cổ đại, chủng loại và phân bổ thực vật cổ đại, khu vực phân bố của động vật và hoạt động theo mùa của chúng, cùng với việc người xưa lợi dụng chúng để thu được lợi ích kinh tế ra sao. Giả Tư Hiệp là nhà nông học Bắc Ngụy, gia cảnh tương đối giàu có, đối diện với thiên tai nhân họa và mất mùa đói kém kéo dài vào đương thời, ông chủ trương xem trọng nông nghiệp, đồng thời tự xem trách nhiệm "tề dân mưu sinh" là của mình, vì thế quyết định dốc hết sức lực để viết nông thư. Tấc phẩm "Tề dân yếu thuật" của ông có địa vị quan trọng trong lịch sử nông học Trung Quốc cũng như thế giới. "Tề dân yếu thuật" lấy khu vực trung hạ du Hoàng Hà, đặc biệt là khu vực Sơn Đông làm trọng điểm, miêu tả diện mạo của sản xuất nông nghiệp đương thời, đồng thời giới thiệu truyền thống nông nghiệp canh tác tế canh và đa chủng của Trung Quốc, bao quát kỹ thuật chế biến thực phẩm. Tác phẩm được phân thành 10 quyển, 92 thiên, ghi lại các phương pháp làm ruộng, làm vườn, trồng rừng, trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi gia súc, thú y, phối giống, nấu rượu, nấu ăn, dự trữ, cùng trị hoang của Trung Quốc trong lịch sử 1500 năm tính đến thời điểm đó. Tác phẩm viện dẫn gần 200 cổ tịch, trong đó có các nông thư quan trọng thời Hán-Tấn như "Phiếm thắng chi thư", "Tứ dân nguyệt lệnh" song hiện đã thất truyền, người đời sau có thể dựa vào thư tịch này để hiểu rõ hoạt động nông nghiệp thời Hán-Tấn. Tác phẩm chứa các tri thức cần thiết đối với địa chủ và nông dân, cũng là chỉ tiêu quan trọng của sự phát triển kỹ thuật nông nghiệp thời Bắc Ngụy. Tổ Xung Chi là người thời Lưu Tống, từ nhỏ đã có hứng thú với thiên văn toán thuật, có nhiều tác phẩm phong phú, về thiên văn có "Thượng 'Đại Minh lịch' biểu", "Bác nghị"; về số học có "Xuyết thuật", "Cửu chương thuật nghĩa chú", "Trùng sai thuật". Ông viết "An nhân luận", kiến nghị triều đình khai khẩn đất hoang, phát triển nông nghiệp, an định dân sinh, củng cố quốc phòng. Thành tựu chủ yếu của Tổ Xung Chi là trên ba lĩnh vực: số học, lịch pháp thiên văn và chế tạo cơ giới, dựa trên cơ sở Trương Hành và Lưu Huy, Tổ Xung Chi xác định được chính xác bảy chữ số sau dấu thập phân của số Pi. Ông là người đầu tiên trên thế giới đưa số trị tuế sai vào trong tính toán lịch pháp, ông còn tu chỉnh quy tắc tháng nhuận, là phương pháp chính xác nhất trước thời Đường. Tổ Xung Chi và con là Tổ Hằng cùng đề xuất công thức tính thể tích khối cầu, gọi là "Tổ thị định lý", sớm hơn phương Tây trên 1000 năm. Về cơ giới, Tổ Xung Chi chế tác ra Chỉ Nam xa, Mộc ngưu lưu mã (trâu gỗ dùng để vận chuyển), "Thiên lý thuyền" (thuyền có bàn đạp dùng chân), "Thủy đối mô" chạy bằng thủy lực. Trương Tử Tín ở Bắc triều sơ bộ phát hiện ra quy luật độ dài ngắn của thời gian Mặt Trời chiếu sáng. Những năm cuối Bắc Ngụy, Trương Tử Tín tránh loạn Cát Vinh nên ẩn cư ở hải đảo, dùng công cụ đo hình tròn để đo chiều dài ngày trong vòng 30 năm. Khoảng năm 565, ông phát hiện ra Mặt Trời di chuyển không mang tính thống nhất, Ngũ Tinh (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) cũng di chuyển không mang tính thống nhất, thị sai Mặt Trăng ảnh hưởng đến Nhật thực, đồng thời đề xuất phương pháp tính toán, có ý nghĩa bước ngoặt đối với lịch sử thiên văn học Trung Quốc. Trải qua nỗ lực của các học sinh của Trương Tử Tín như Trương Mạnh Tân và Lưu Hiếu Tông, ba phát hiện lớn này cùng phương pháp tính vào năm 576 được Mạnh Tôn lịch và Hiếu Tông lịch ứng dụng. Y học Nam triều phát triển, nổi danh phải kể đến Từ Chi Tài và Diêu Tăng Viên của Lương. Từ Chi Tài thuộc thế gia về y học, ông theo Dự Chương vương Tiêu Tông chạy sang Bắc Ngụy, được hoàng đế Bắc Ngụy trọng dụng. Ông nghiên cứu sâu về thảo dược và điều chế thuốc, soạn ra "Dược đối" và "Tiểu nhi phương". Ông có hiểu biết nhất định về phụ khoa, "Trục nguyệt dưỡng thai pháp" dựa trên "Thanh sử tử" từ thời Tiên Tần, có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe của phụ nữ có thai cũng như thai nhi. Nhà Từ thị là người Nam sang làm quan ở Bắc, khiến ngành y dược hai nơi có sự giao lưu, có ý nghĩa tích cực. Diêu Tăng Viên từng nhiều lần trị bệnh cho Lương Vũ Đế, Lương Nguyên Đế, sau đó vì chiến loạn nên chạy sang Bắc Chu, trở thành thần y nổi danh của Bắc Chu. phương thuốc trị bệnh của ông lưu truyền đến thời Đường. Ngoài ra, học giả y học quan trọng còn có Đào Hoằng Cảnh, soạn ra các y tịch "Bản thảo kinh tập chú" phản ánh sự phát triển của y dược từ thời Hán mạt đến đương thời, "Danh y biệt lục" (phụ vào Bản thảo kinh tập chú) "Hàn thực tán" có thể khiến con người trúng độc, thậm chỉ gây ra tử vong, song thường được vương thất và đại thần Nam Bắc triều sử dụng như thuốc.
Đường đổi ngày quốc tế Đường đổi ngày quốc tế, hay đường thay đổi ngày quốc tế, là một đường tưởng tượng dùng để làm ranh giới giữa múi giờ và , đi gần với kinh tuyến 180 độ kinh Đông từ Bắc Cực, qua eo biển Bering, Thái Bình Dương, cho đến Nam Cực, được quy định bởi Hội nghị quốc tế về kinh tuyến họp tại Washington năm 1884. Thực tế, đường đổi ngày không phải là một đường thẳng dọc kinh tuyến 180 độ, mà là một đường gấp khúc, nhằm cố gắng bảo đảm trên cùng một quốc gia không có 2 ngày cùng được tính. Theo quy định, khi các phương tiện giao thông đi ngang qua đường này, ngày tháng sẽ phải thay đổi. Đi từ bán cầu Tây sang bán cầu Đông qua đường này, tức là đi từ bên phải sang bên trái đường đổi ngày (cũng có nghĩa là đi từ phía đông sang phía tây qua nó), thì phải tăng một ngày. Đi từ bán cầu Đông sang bán cầu Tây, tức là đi từ bên trái sang bên phải của đường này, thì phải giảm một ngày. Vòng quanh địa cầu. Những người đi về phía tây vòng quanh thế giới phải chỉnh đồng hồ: Khi đi về phía đông phải chỉnh đồng hồ: Không làm điều này sẽ làm cho thời gian của họ không chính xác với giờ địa phương. Nhà địa lý Ả Rập Abulfeda (1273–1331) đã dự đoán rằng những người đi vòng quanh sẽ tích lũy một khoảng thời gian bù đắp một ngày so với ngày địa phương. Hiện tượng này được xác nhận vào năm 1522 sau khi kết thúc hành trình vòng quanh thế giới của Fernão de Magalhães (1519–1522), hành trình vòng quanh thế giới đầu tiên thành công. Sau khi vòng quanh thế giới về phía tây từ Tây Ban Nha, đoàn thám hiểm ghé thăm Cabo Verde để có các điều khoản vào thứ Tư, ngày 9 tháng 7 năm 1522 (giờ tàu). Tuy nhiên, người dân địa phương nói với họ rằng đó thực sự là thứ Năm, ngày 10 tháng 7 năm 1522. Phi hành đoàn đã rất ngạc nhiên, vì họ đã ghi lại từng ngày trong hành trình ba năm không bỏ sót. Hồng y Gasparo Contarini, đại sứ Venice tại Tây Ban Nha, là người châu Âu đầu tiên đưa ra lời giải thích chính xác về sự khác biệt này. "Phần miêu tả trên dựa vào những hiểu biết của cộng đồng Wikipedia về #đổi . Xem #đổi ở phía dưới, và bản đồ trên đây." Đường đổi ngày quốc tế về cơ bản dựa vào đường kinh tuyến 180°, cắt dọc Thái Bình Dương, và nửa đường vòng quanh thế giới tính từ kinh tuyến Greenwich. Tại nhiều địa điểm, đường đổi ngày quốc tế trùng hoàn toàn kinh tuyến 180°. Nhiều nơi khác, đường đổi ngày có chệch đi về hướng đông hoặc tây so với đường kinh tuyến. Sai khác này phần nhiều là để dung hòa các mối quan hệ kinh tế và/hoặc chính trị ở các vùng bị ảnh hưởng. Đi từ bắc xuống nam, điểm lệch đầu tiên của đường đổi ngày so với kinh tuyến 180° là phía đông đảo Wrangel và bán đảo Chukotka, Viễn Đông Nga Siberia của nước Nga. (Đảo Wrangel có tọa độ 71°32′B 180°0′Đ, và cũng là 71°32′B 180°0′T.) Đường đổi ngày sau đó đi qua eo biển Bering, giữa quần đảo Diomede ở khoảng cách giữa các đảo ở tọa độ 168°58′37″ T. Sau đó, đường đổi ngày chuyển hướng đáng kể về phía tây kinh tuyến 180°, đi qua phía tây đảo St. Lawrence và đảo St. Matthew. Đường đổi ngày đi qua giữa các quần đảo Aleut (có đảo Attu là cực tây) của Mỹ và quần đảo Komandorski thuộc Nga. Nó sau đó đổi hướng lần nữa về phía đông nam để quay về kinh tuyến 180°. Như vậy, toàn bộ lãnh thổ nước Nga nằm ở phía tây đường đối ngày quốc tế, còn toàn bộ lãnh thổ Hoa Kỳ nằm ở phía đông đường đổi ngày ngoại trừ các hải đảo Guam, quần đảo Bắc Mariana, và đảo Wake. Đường đổi ngày quốc tế tiếp tục trùng với kinh tuyến 180° cho đến khi giao cắt với xích đạo. Các đảo san hô không người ở Howland và Baker của Mỹ, vừa qua hướng bắc đường xích đạo ở trung tâm Thái Bình Dương (có tọa độ giữa 172,5°T và 180°), có giờ muộn nhất trên Trái Đất (). Gặp Kiribati, đường đổi ngày đánh vòng tròn bằng cách bẻ ngoặt lớn về phía đông, hầu như chạm với kinh tuyến 150°T. Quần đảo cực đông Kiribati, quần đảo Line về phía nam Hawaii, có giờ sớm nhất trên Trái Đất, . Đến phía nam Kiribati, đường đổi ngày quốc tế quay về hướng tây nhưng vẫn ở phía đông kinh tuyến 180°, xuyên qua giữa Samoa và Samoa thuộc Mỹ. Phần nhiều khu vực này, đường đổi ngày đi theo kinh tuyến 165°T. Tuần tự, Samoa, Tokelau, Wallis và Futuna, Fiji, Tonga, Tuvalu, quần đảo Kermadec và quần đảo Chatham của New Zealand đều nằm phía tây đường đổi ngày nên có ngày giống nhau. Ngược lại, Samoa thuộc Mỹ, quần đảo Cook, Niue, và Polynésie thuộc Pháp tuy ở gần đó nhưng lại nằm ở phía đông đường đổi ngày nên bị trễ hơn một ngày. Đường đổi ngày sau đó hướng về phía tây nam để quay về kinh tuyến 180°. Nó tiếp tục trùng kinh tuyến 180° cho đến khi gặp châu Nam Cực, nơi các múi giờ gộp lại. Theo quy ước, đường đổi ngày không được vẽ lên hầu hết các bản đồ châu Nam Cực. (Xem #đổi bên dưới.) Đôi điều về đường đổi ngày quốc tế. Trong khoảng thời gian từ đến 11:59 UTC mỗi ngày, tại các địa điểm khác nhau trên Trái Đất, người ta sẽ ghi nhận được 3 ngày tháng khác nhau. Thí dụ, lúc 10:15 UTC ngày thứ năm, tại Samoa thuộc Mỹ đồng hồ chỉ 23:15 ngày thứ tư (), thứ năm ở hầu hết phần còn lại của thế giới, và 00:15 ngày thứ sáu tại Kiritimati (). Trong giờ đầu tiên của khoảng thời gian trên (10:00–10:59 UTC), 3 ngày tháng khác nhau được ghi nhận tại các địa điểm có cư dân. Ở giờ thứ hai (UTC 11:00–11:59) múi giờ hàng hải không có người ở nên khoảng thời gian này, chỉ có 2 ngày khác nhau được ghi nhận ở những vùng đất có cư dân. Khoảnh khắc giao thừa đón năm mới diễn ra đầu tiên nơi các đảo nằm trên múi giờ . Múi giờ UTC+14 bao gồm một phần của nước Cộng hòa Kiribati, gồm đảo Thiên Niên Kỷ thuộc quần đảo Line, và Samoa trong giai đoạn mùa hè. Thành phố lớn đón ngày mới đầu tiên là Auckland và Wellington, New Zealand (; sử dụng giờ mùa hè). Năm 1995, đường đổi ngày quốc tế được điều chỉnh khiến đảo Caroline (thuộc quần đảo Line thuộc Kiribati) trở thành một trong những nơi trên Trái Đất đón ngày 1 tháng 1 năm 2000 sớm nhất (UTC+14). Hệ quả là, rạn san hô vòng này được đổi tên thành đảo Thiên Niên Kỷ. Các khu vực đón ngày mới sớm nhất thay đổi theo mùa. Khoảng thời gian hạ chí, khu vực đó có thể là bất cứ nơi đâu trên múi giờ Kamchatka () đủ xa về hướng bắc để quan sát mặt trời nửa đêm. Tại các điểm phân, nơi đầu tiên bước qua ngày mới là đảo Thiên Nhiên Kỷ không có cư dân thuộc Kiribati, là vũng lãnh thổ cực đông nằm ở phía tây đường đổi ngày. Khoảng thời gian đông chí, địa điểm đầu tiên sẽ là Các trạm nghiên cứu Nam Cực sử dụng múi giờ New Zealand () suốt mùa hè, các nhà nghiên cứu tại đây cũng có thể quan sát hiện tượng mặt trời nửa đêm. Các trạm này bao gồm Trạm Nam Cực Amundsen-Scott, Trạm McMurdo, Căn cứ Scott và Trạm Mario Zucchelli. Đường đổi ngày "đơn phương" và đường đổi ngày "đa phương". Có 2 cách tính múi giờ và từ đó xác định vị trí của Đường đổi ngày quốc tế, một là dựa trên đất liền và các vùng lãnh hải lân cận, cách còn lại là dựa trên các vùng biển khơi. Mỗi nước đơn phương xác định múi giờ tiêu chuẩn của mình, múi giờ này chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ và lãnh hải của họ. Đường đổi ngày khi đó mang tính "đơn phương" bởi nó chỉ dựa trên luật pháp riêng của từng quốc gia chứ không phải luật quốc tế. Múi giờ quốc gia vì thế không có hiệu lực trên hải phận quốc tế. Đường đổi ngày hàng hải, khác với Đường đổi ngày quốc tế, là đường đổi ngày "đa phương" được thiết lập dựa trên hiệp định quốc tế. Đây là kết quả của Hội nghị Anh-Pháp về định giờ trên biển năm 1917, khuyến nghị tất cả tàu thủy, cả quân sự lẫn dân sự, áp dụng múi giờ tiêu chuẩn khi đi trên hải phận quốc tế. Mỹ đã thông qua hiệp định này đối với thương thuyền và các tàu thuộc lực lượng quân sự hồi năm 1920. Đường đổi ngày này đã trở thành quy ước chung, tuy rằng không được vẽ trực tiếp trên bản đồ. Đường này theo dọc kinh tuyến 180° ngoại trừ những đoạn cắt ngang phần lãnh hải tiếp giáp lãnh thổ, tạo thành khoảng đứt—tức đường đứt đoạn. Tàu thuyền được khuyến nghị chuyển theo giờ tiêu chuẩn quốc gia nếu băng qua vùng hải phận của nước đó, sau đó, quay về múi giờ quốc tế khi ra khỏi vùng hải phận này. Thực tế, giao thông hàng hải thường chỉ sử dụng các múi giờ này để truyền tải tín hiệu radio và cho các mục đích tương tự. Cho các mục đích nội bộ, như lên lịch làm việc và ăn uống, việc chọn múi giờ là tùy ý. Thực hành và quy ước bản đồ. Đường đổi ngày quốc tế trên trang này cũng như trên tất cả các bản đồ còn lại được vẽ theo đường đổi ngày "đơn phương" và là sản phẩm nhân tạo của ngành bản đồ học, bởi tọa độ các phân đoạn của đường đổi ngày khá mơ hồ. Đường đổi ngày quốc tế không kéo dài lên Châu Nam Cực trên các bản đồ thể hiện múi giờ do Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) nước Mỹ và và Văn phòng Niên giám Hàng hải (HMNAO) của Anh phát hành. Đường đổi ngày quốc tế trên bản đồ CIA hiện đại hiện phản ánh những thay đổi gần đây nhất trong đường đổi ngày quốc tế (xem #đổi bên dưới). Bản đồ HMNAO hiện tại không vẽ đường đổi ngày quốc tế phù hợp với những thay đổi gần đây trong đường đổi ngày quốc tế; nó vẽ một đường gần như giống hệt với đường được Văn phòng Thủy văn của Vương quốc Anh chấp nhận vào khoảng năm 1900. Thay vào đó, HMNAO gắn nhãn các nhóm đảo với múi giờ của chúng, phản ánh các thay đổi đường đổi ngày quốc tế gần đây nhất. Cách tiếp cận này phù hợp với nguyên tắc của các múi giờ quốc gia và hải lý: các đảo phía đông Kiribati thực sự là "đảo" của ngày châu Á (phía tây của đường đổi ngày quốc tế) trong một vùng biển của Mỹ (phía đông của đường đổi ngày quốc tế). Không có tổ chức quốc tế, hay điều ước giữa các nước, để giúp ngành bản đồ học phân định rõ ràng đường đổi ngày quốc tế: Hội nghị Kinh tuyến Quốc tế năm 1884 từ chối dứt khoát kiến nghị hoặc đồng ý công nhận múi giờ nào với tuyên bố việc này nằm ngoài phạm vi của hội nghị. Hội nghị đã giải quyết rằng Ngày Quốc tế, từ nửa đêm đến nửa đêm giờ chuẩn Greenwich (bây giờ được gọi là Giờ Phối hợp Quốc tế, hay UTC), mà nó đã đồng ý, "sẽ không can thiệp vào việc sử dụng thời gian địa phương hoặc tiêu chuẩn ở nơi mong muốn". Từ đó xuất hiện tiện ích và tầm quan trọng của thời gian UTC hoặc "Z (Zulu)": nó cho phép một tham chiếu phổ quát duy nhất cho thời gian có giá trị cho tất cả các điểm trên toàn cầu cùng một lúc. Những thay đổi trong lịch sử. Philippines (1521 và 1844). Fernão de Magalhães tuyên bố chủ quyền Philippines cho Tây Ban Nha vào thứ Bảy, ngày 16 tháng 3 năm 1521, sau khi đi thuyền về phía tây từ Seville qua Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Là một phần của Tân Tây Ban Nha, Philippines có mối liên hệ quan trọng nhất với Acapulco ở México, vì vậy nó nằm ở phía đông của đường đổi ngày quốc tế mặc dù nằm ở rìa phía tây của Thái Bình Dương. Kết quả là Philippines đã đi sau các nước láng giềng châu Á một ngày từ thứ Bảy, ngày 16 tháng 3 năm 1521 đến thứ Hai, ngày 30 tháng 12 năm 1844. Sau khi Mexico giành được độc lập từ Tây Ban Nha vào năm 1821, lợi ích thương mại của Philippines chuyển sang Đế quốc Trung Quốc, Đông Ấn Hà Lan và các vùng lân cận, vì vậy Philippines quyết định theo các nước láng giềng châu Á ở phía tây của đường đổi ngày. Thứ Ba, ngày 31 tháng 12 năm 1844 đã bị xóa khỏi lịch. Sau thứ Hai, ngày 30 tháng 12 năm 1844 là thứ Tư, ngày 1 tháng 1 năm 1845. Sự thay đổi này cũng được áp dụng cho các thuộc địa khác của Tây Ban Nha ở Thái Bình Dương: Quần đảo Mariana, Guam và Caroline. Các ẩn phẩm phương Tây nhìn chung không biết về sự thay đổi này cho đến đầu những năm 1890, vì vậy họ đã nhầm lẫn khi đặt đường đổi ngày Quốc tế là một phần lớn phía tây trong nửa thế kỷ tiếp theo. Alaska nằm ở phía tây của Đường đổi ngày Quốc tế vì những người định cư Nga đến Alaska từ Siberia. Ngoài ra, Đế quốc Nga vẫn sử dụng lịch Julius, lịch chậm hơn 12 ngày so với lịch Gregorian. Năm 1867, Hoa Kỳ mua Mỹ thuộc Nga và chuyển lãnh thổ sang phía đông của Đường đổi ngày quốc tế. Lễ chuyển giao diễn ra lúc 15:30 tại thủ đô New Archangel (Sitka) vào thứ Bảy, ngày 7 tháng 10 năm 1867 (Julius), tức thứ Bảy, ngày 19 tháng 10 năm 1867 (lịch Gregory) ở Châu Âu. Kể từ khi Alaska di chuyển về phía đông của Đường Ngày Quốc tế, ngày này cũng lùi về Thứ Sáu, ngày 18 tháng 10 năm 1867, ngày nay được gọi là Ngày Alaska. Quần đảo Samoa và Tokelau (1892 và 2011). Quần đảo Samoa, nay được chia thành Samoa và Samoa thuộc Mỹ, nằm ở phía tây của đường đổi ngày quốc tế cho đến năm 1892. Vào năm đó, vua Malietoa Laupepa đã được các thương nhân Mỹ thuyết phục áp dụng ngày của Mỹ (sau California 3 giờ) để thay thế ngày châu Á cũ (trước Nhật Bản 4 giờ). Sự thay đổi này được thực hiện bằng cách lặp lại Thứ Hai, ngày 4 tháng 7 năm 1892, ngày quốc khánh Hoa Kỳ. Vào năm 2011, Samoa đã trở lại phía tây đường đổi ngày quốc tế bằng cách xóa bỏ thứ Sáu, ngày 30 tháng 12 năm 2011 khỏi lịch và thay đổi múi giờ từ sang ( sang đối với mùa hè). Sự thay đổi này là do phần lớn giao thương của Samoa được thực hiện với Úc và New Zealand và cũng có cộng đồng lớn người nước ngoài. Việc chậm hơn 21 giờ khiến việc kinh doanh trở nên khó khăn vì có những ngày cuối tuần vào những ngày lùi lại có nghĩa là chỉ có bốn ngày trong tuần là ngày làm việc chung. Đường đổi ngày quốc tế hiện nay chạy qua giữa Samoa và Samoa thuộc Mỹ, nơi vẫn nằm ở phía đông (Mỹ) của đường đổi ngày. Tokelau là một vùng lãnh thổ của New Zealand ở phía bắc Samoa, nơi có liên kết giao thông và liên lạc chính với phần còn lại của thế giới đi qua Samoa và cũng đã đi qua đường đổi ngày cùng với Samoa vào năm 2011. Kwajalein (khoảng năm 1945 và 1993). Đảo san hô Kwajalein, cũng như phần còn lại của Quần đảo Marshall, được chuyển từ tay người Tây Ban Nha sang người Đức và sang Nhật Bản kiểm soát trong thế kỷ 19 và 20. Trong thời kỳ đó, nó nằm ở phía tây của đường đổi ngày. Mặc dù Kwajalein chính thức trở thành một phần của Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương cùng với phần còn lại của Marshalls sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ đã thiết lập một cơ sở quân sự ở đó. Do đó, Kwajalein đã sử dụng ngày Hawaii, vì vậy nó nằm ở phía đông của đường đổi ngày quốc tế (khác với phần còn lại của Marshall). Kwajalein trở lại phía tây của đường đổi ngày bằng cách loại bỏ Thứ Bảy, ngày 21 tháng 8 năm 1993 khỏi lịch. Hơn nữa, tuần làm việc của Kwajalein đã được thay đổi từ thứ Ba đến thứ Bảy để phù hợp với tuần làm việc của Hawaii từ thứ Hai đến thứ Sáu ở phía bên kia của đường đổi ngày. Là thuộc địa của Anh, Cộng hòa Kiribati ngày nay nằm ở trung tâm của Quần đảo Gilbert, ngay phía tây của đường đổi ngày vào thời điểm đó. Sau khi giành được độc lập vào năm 1979, Kiribati đã mua lại quần đảo Phoenix và Line, phía đông đường đổi ngày, từ Hoa Kỳ. Kết quả là, nước này đã bị chắn ngang bởi đường đổi ngày. Các văn phòng chính phủ và thương mại ở hai bên đường đổi ngày chỉ có thể tiến hành công việc kinh doanh thông thường qua radio hoặc điện thoại vào bốn ngày trong tuần vốn là ngày thường của cả hai bên. Để loại bỏ sự bất tiện này, Kiribati đã đổi ngày cho nửa phía đông bằng cách loại bỏ thứ Bảy, ngày 31 tháng 12 năm 1994 khỏi lịch. Sau khi thay đổi, đường đổi ngày có hiệu lực di chuyển về phía đông nước này. Quy ước đường đổi ngày 1917 hải lý vẫn còn hiệu lực. Khi múi giờ đất liền là thứ Hai, những hòn đảo này sẽ tạo thành vùng bao quanh ngày thứ Hai trong đại dương có Chủ nhật. Bản đồ thường không được vẽ theo cách này. Sau sự thay đổi năm 1994, lãnh thổ cực đông của Kiribati, Quần đảo Line, bao gồm cả đảo có người sinh sống là Kiritimati, bắt đầu vào năm 2000 trước bất kỳ quốc gia nào khác, một đặc điểm mà chính phủ Kiribati coi là một điểm thu hút khách du lịch tiềm năng.
Giải tích toán học Giải tích toán học hay gọi ngắn là giải tích (Tiếng Anh: "calculus") là phân nhánh của toán học làm việc với hàm liên tục, giới hạn và các lý thuyết liên quan như đạo hàm, tích phân, đo lường, chuỗi vô hạn và các hàm giải tích. Những lý thuyết này thường được nghiên cứu trong trường số thực và số phức. Giải tích phát triển từ vi tích phân, từ đó phát triển các khái niệm và kỹ thuật giải tích cơ bản. Giải tích và hình học là hai nhánh riêng biệt; tuy nhiên, giải tích có thể được áp dụng cho bất kỳ không gian nào của các đối tượng toán học có định nghĩa lân cận (không gian tôpô) hoặc khoảng cách cụ thể giữa các đối tượng (không gian metric). Giải tích toán học chính thức được phát triển vào thế kỷ 17 trong cuộc Cách mạng khoa học, nhưng các ý tưởng được bắt nguồn từ các nhà toán học trước đó. Các kết quả liên quan tới giải tích đã xuất hiện trong thời kỳ đầu của toán học Hy Lạp cổ đại, ví dụ như một chuỗi vô hạn được tạo ra trong nghịch lý phân đôi của Zeno. (Nói cách khác, điểm quan trọng của nghịch lý này là việc phủ định sự vô hạn của chuỗi phép tính.) Sau đó, các nhà toán học Hy Lạp như Eudoxus và Archimedes đã sử dụng các khái niệm giới hạn và hội tụ một cách rõ ràng hơn, nhưng không chính thức hơn khi họ sử dụng phương pháp vét kiệt để tính diện tích của các vùng và thể tích của vật rắn. Việc sử dụng rõ ràng các số ít vô cực xuất hiện trong "Phương pháp Định lý Cơ học" của Archimedes, một công trình được phát hiện lại vào thế kỷ 20. Ở châu Á, nhà toán học Trung Quốc Lưu Huy đã sử dụng phương pháp vét kiệt vào thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên để tìm diện tích hình tròn. Tổ Xung Chi đã thiết lập một phương pháp mà sau này được gọi là nguyên lý Cavalieri để tìm thể tích của một hình cầu vào thế kỷ thứ 5. Vào thế kỷ 12, nhà toán học Ấn Độ Bhāskara II đã đưa ra các ví dụ về đạo hàm và sử dụng định lý mà ngày nay được gọi là định lý Rolle. Trong thế kỷ 14, Madhava của Sangamagrama đã phát triển chuỗi vô hạn mở rộng, giống như chuỗi lũy thừa và chuỗi Taylor, các hàm như sin, cosin, tan và arctan. Cùng với việc phát triển chuỗi Taylor của các hàm lượng giác, ông cũng ước tính độ lớn của các số hạng sai số được tạo ra bằng cách cắt ngắn các chuỗi này và đưa ra giá trị xấp xỉ hợp lý của một chuỗi vô hạn. Những người theo học ông tại Trường phái Thiên văn và Toán học Kerala đã mở rộng thêm các công trình của ông cho đến thế kỷ 16. Các cơ sở hiện đại của giải tích toán học đã được xác lập ở châu Âu thế kỷ 17. Descartes và Fermat đã phát triển hình học giải tích một cách độc lập với nhau, và một vài thập kỷ sau Newton và Leibniz đã độc lập phát triển vi tích phân, và vi tích phân đã phát triển với các ứng dụng tiếp tục cho đến thế kỷ 18. Các ứng dụng này tập trung vào các chủ đề giải tích như tính toán các biến phân, phương trình vi phân thông thường và riêng phần, giải tích Fourier và hàm sinh. Trong thời kỳ này, kỹ thuật giải tích được áp dụng cho các bài toán rời rạc bằng cách thay thế gần đúng bằng các bài toán với các hàm liên tục. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đinh hương (gia vị) "Bài này viết về đinh hương thuộc họ Myrtaceae (đào kim nương). Các nghĩa khác, xem Đinh hương (định hướng)". Đinh hương (danh pháp khoa học: Syzygium aromaticum) là một loài thực vật trong họ Đào kim nương (Myrtaceae) có các chồi hoa khi phơi khô có mùi thơm, có nguồn gốc từ khu vực quần đảo Maluku, miền đông Indonesia nhưng đã du nhập vào Borneo, quần đảo Caroline, Comoros, các đảo trong vịnh Guinea, Madagascar, quần đảo Nicobar, Seychelles, Tanzania, Trinidad và Tobago. Loài này hiện nay được gieo trồng ở nhiều nơi trên khắp vùng nhiệt đới; bao gồm Indonesia (quần đảo Maluku, còn gọi là "quần đảo Gia Vị"), Zanzibar, Madagascar, Sri Lanka và một phần của vùng Caribe. Gần đây, việc sản xuất đinh hương cũng đã bắt đầu ở bang Bahia của Brasil. Nó được sử dụng như một loại gia vị, hương liệu trong hầu hết nền văn hóa ẩm thực cũng như trong một số sản phẩm tiêu dùng khác như thuốc đánh răng, xà phòng hay mỹ phẩm. Đinh hương có quanh năm do các mùa thu hoạch khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Tên gọi "đinh hương" có lẽ là do hình dáng của chồi hoa giống với chữ Đinh (丁) trong chữ Hán. Trong các ngôn ngữ phương Tây, như tiếng Anh "clove", lần đầu tiên được sử dụng vào thế kỷ 15, bắt nguồn từ tiếng Anh trung đại "clow of gilofer", tiếng Anglo-Norman "clowes de gilofre" và tiếng Pháp cổ "clou de girofle", từ tiếng Latinh "clavus" nghĩa là "đinh". Từ tiếng Anh có liên quan "gillyflower", ban đầu có nghĩa là "clove", bắt nguồn từ tiếng Pháp cổ "girofle" và tiếng Latinh "caryophyllum", từ tiếng Hy Lạp "καρυόφυλλον" (karuóphullon) "đinh hương", nghĩa đen là "chồi hoa khô của cây đinh hương". Cây gỗ thường xanh dạng bụi, với tán cỡ trung bình, cao 8-20 mét. Một số bộ phận của cây có mùi thơm, bao gồm cả lá và vỏ cây, nhưng phần có giá trị nhất là các chồi hoa thơm, thường được thu hoạch bằng tay. Lá đơn, màu xanh lục sáng và bóng. Mặt dưới được bao phủ bởi các tuyến dầu thơm. Lá hình elip với cuống lá dài tới 13 cm mọc thành các cặp đối dọc theo nhiều cành ngắn. Hoa mọc thành các cụm nhỏ. Các chồi hoa ban đầu màu nhạt với bề ngoài bóng, mọng, sau chuyển sang màu xanh lục rồi đỏ tươi khi thuần thục. Chúng bao gồm một bầu nhụy dài và hẹp, dài khoảng 1,5-2,0 cm, với 4 lá đài nhỏ hình tam giác nhô ra ngoài ở một đầu. Các lá đài bao quanh một quả cầu nhỏ gồm 4 cánh hoa gối lên nhau để bảo vệ các bộ phận hoa đang phát triển ở bên trong. Ở dạng này, đinh hương được thu hoạch và sấy khô để sử dụng làm gia vị. Nếu hoa được để phát triển thuần thục thì các cánh hoa sẽ rụng dưới áp lực của nhiều nhị hoa màu trắng vàng, sau đó các nhị hoa được lộ ra. Các nhị hoa sặc sỡ này bao quanh một đầu nhụy hẹp. Thời gian ra hoa khác nhau ở các vùng trên thế giới và việc thu hoạch hoa thương mại chỉ bắt đầu khi cây được ít nhất là 4 năm tuổi. Quả chín khoảng 9 tháng sau khi ra hoa. Bầu nhụy dài màu đỏ của hoa chuyển dần sang màu tía ánh đỏ và phình to bằng quả ô liu, nhưng có hình dạng thuôn dài hơn với các đài hoa che phủ nơi từng là hoa. Quả chứa 1 hoặc hiếm khi là 2 hạt và thường được gọi là 'mẹ của đinh hương'. Các cây đinh hương được gieo trồng hiếm khi đạt đến giai đoạn tạo quả. Cho đến kỷ nguyên thuộc địa, đinh hương chỉ mọc trên một số đảo ở Moluccas (trong lịch sử được gọi là Quần đảo Gia vị), bao gồm Bacan, Makian, Moti, Ternate và Tidore. Một cây đinh hương có tên gọi là "Afo" mà các chuyên gia cho là lâu đời nhất trên thế giới trên đảo Ternate có thể đã 350–400 năm tuổi. Đinh hương lần đầu tiên được người Nam Đảo buôn bán trong Mạng lưới thương mại hàng hải Nam Đảo (bắt đầu vào khoảng năm 1500 TCN, sau này trở thành Con đường tơ lụa trên biển và là một phần của Thương mại gia vị). Ví dụ đáng chú ý đầu tiên về canh tác đinh hương hiện đại được phát triển ở vùng bờ biển phía đông Madagascar, và được gieo trồng theo 3 cách riêng biệt, độc canh, đất công viên nông nghiệp và hệ thống nông lâm kết hợp. Nhà khảo cổ học Giorgio Buccellati đã tìm thấy đinh hương ở Terqa, Syria trong một ngôi nhà bị thiêu rụi có niên đại năm 1720 TCN. Đây là bằng chứng đầu tiên về việc đinh hương được sử dụng ở phương Tây trước thời La Mã. Phát hiện lần đầu tiên được báo cáo vào năm 1978. Chúng đã tới Rome vào thế kỷ 1. Một phát hiện khảo cổ học khác về đinh hương được thể hiện bằng hai mẫu vật được tìm thấy tại một thương cảng ở Sri Lanka, có niên đại khoảng năm 900–1100. Từ các ghi chép của Trung Quốc thời Tống (từ năm 960 đến năm 1279), đinh hương chủ yếu được xuất khẩu từ Moluccas bằng tàu có nguồn gốc từ các chính thể Nam Đảo như Java, Srivijaya, Chăm Pa và Butuan. Đinh hương cũng có mặt trong các ghi chép ở Trung Quốc, Sri Lanka, Nam Ấn Độ, Ba Tư và Oman vào khoảng thế kỷ 3 đến thế kỷ 2 TCN. Các đề cập này đến "đinh hương" được báo cáo ở Trung Quốc, Nam Á và Trung Đông xuất hiện trước khi thiết lập thương mại hàng hải Đông Nam Á. Nhưng tất cả các đề cập này đều là xác định sai đối với các loại cây khác (như nụ quế, quế đơn hoặc nhục đậu khấu); hoặc hàng nhập khẩu từ Đông Nam Á hải đảo được xác định nhầm là được sản xuất bản địa ở những khu vực này Trong thời kỳ thuộc địa, đinh hương được buôn bán như dầu, với giới hạn xuất khẩu bắt buộc. Khi Công ty Đông Ấn Hà Lan củng cố quyền kiểm soát buôn bán gia vị trong thế kỷ 17, họ đã tìm cách đạt được sự độc quyền đinh hương giống như họ đã có đối với nhục đậu khấu. Tuy nhiên, "không giống như hạt và áo hạt nhục đậu khấu chỉ giới hạn trên quần đảo Banda nhỏ bé, đinh hương mọc khắp nơi ở Moluccas, và việc buôn bán đinh hương nằm ngoài quyền kiểm soát hạn chế của Cong ty này Khách du lịch được biết rằng cây con từ chính cây này đã bị một người Pháp tên là Pierre Poivre đánh cắp vào năm 1770, được chuyển đến Isle de France (Mauritius), rồi sau đó là Zanzibar, một thời từng là nhà sản xuất đinh hương lớn nhất thế giới. Các quốc gia hàng đầu hiện nay về sản xuất đinh hương là Indonesia, Madagascar, Tanzania, Sri Lanka và Comoros. Indonesia là nhà sản xuất đinh hương lớn nhất, nhưng chỉ xuất khẩu một phần nhỏ số lượng đinh hương mà họ sản xuất, chiếm khoảng 10-15% sản lượng đinh hương của nước này. Họ thường cũng phải nhập đinh hương từ Madagascar để đáp ứng nhu cầu của chính mình. Thành phần hóa học. Eugenol chiếm khoảng 72–90% tinh dầu được chiết xuất từ đinh hương và nó là hợp chất chịu trách nhiệm chính cho mùi thơm của đinh hương. Sự chiết xuất hoàn toàn diễn ra sau 80 phút trong nước áp suất ở . Các phương pháp chiết xuất có hỗ trợ của siêu âm và vi sóng mang lại tốc độ chiết xuất nhanh hơn với chi phí năng lượng thấp hơn. Các hóa chất thực vật khác của tinh dầu đinh hương bao gồm acetyl eugenol, beta-caryophyllen, vanillin, acid crategolic, các tannin như bicornin, acid gallotannic, metyl salicylate, các flavonoid eugenin, kaempferol, rhamnetin và eugenitin, các triterpenoid như acid oleanolic, stigmasterol và campesterol và một số sesquiterpene. Mặc dù eugenol chưa được phân loại về khả năng độc tính của nó, nó đã được chứng minh là có độc đối với sinh vật kiểm tra ở nồng độ 50, 75 và 100 mg mỗi lít. Đinh hương có thể dùng trong nấu ăn hoặc là ở dạng nguyên vẹn hay ở dạng nghiền thành bột, nhưng do nó tạo mùi rất mạnh cho nên chỉ cần dùng rất ít. Gia vị làm từ đinh hương được dùng khắp cả ở châu Âu và châu Á cũng như được thêm vào trong một số loại thuốc lá (gọi là kretek) ở Indonesia và thỉnh thoảng ở các quán cà phê tại phương Tây. Nó đôi khi còn được trộn lẫn với cần sa. Đinh hương còn là một nguyên liệu quan trọng trong sản xuất các loại hương dùng ở Trung Quốc hay Nhật Bản. Tinh dầu đinh hương được sử dụng trong điều trị bằng xoa bóp dầu thơm. Dầu đinh hương được sử dụng rộng rãi trong điều trị đau răng. Trong y học cổ truyền người ta còn dùng nụ hoa đinh hương phơi khô như một vị thuốc với tác dụng làm ấm tỳ, vị, thận và bổ dương. Các vị thuốc khác được phối hợp tùy theo chứng bệnh, bao gồm bán hạ, sinh khương, sa nhân, bạch truật, nhân sâm, đẳng sâm, phụ tử, nhục quế, ba kích thiên, dâm dương hoắc.
Họ Đào kim nương Họ Đào kim nương hay họ Sim (theo tên gọi của chi "Rhodomyrtus"), còn gọi là họ Hương đào (theo chi "Myrtus") (danh pháp khoa học: Myrtaceae) là một họ thực vật hai lá mầm, được đặt trong bộ Đào kim nương (Myrtales). Sim (đào kim nương), đinh hương, ổi, bạch đàn, tiêu Jamaica và ổi dứa đều thuộc họ này. Tất cả các loài đều có thân gỗ, chứa tinh dầu và hoa mọc thành cụm từ 4-5 hoa đơn. Một đặc trưng nổi bật của họ này là li be nằm ở cả hai bên của xylem (chất gỗ), chứ không ở bên ngoài như ở phần lớn các loài thực vật khác. Lá của chúng thuộc loại thường xanh, mọc so le hay mọc đối, lá đơn và thông thường có mép lá nhẵn (không khía răng cưa). Hoa thường có 5 cánh hoa, mặc dù ở một vài chi thì cánh hoa rất nhỏ hay không có. Nhị hoa thường rất dễ thấy, có màu sáng và nhiều về lượng. Lịch sử tiến hóa. Thornhill "et al." (2012a) ước tính niên đại nhóm chỏm cây Myrtoideae là (90,3-)83 - 71,3(-64,9) Ma (triệu năm trước), với niên đại trẻ hơn, khoảng (78,3-)71,5(-65,4) Ma, được Thornhill "et al." (2015) ưu tiên lựa chọn hơn; niên đại (86-)80(-70) Ma được Sytsma "et al." (2004) đề xuất và khoảng 75 Ma do Berger "et al." (2015) đề xuất. Các hóa thạch phấn hoa có nguồn gốc từ siêu lục địa cổ đại Gondwana. Sự tan vỡ của Gondwana trong kỷ Phấn trắng (145 đến 66 Mya) đã cô lập về mặt địa lý các đơn vị phân loại tách rời và cho phép hình thành loài nhanh chóng; cụ thể, các chi từng được coi là thành viên của họ cũ Leptospermoideae (hiện nay đã bị xóa bỏ) hiện chỉ cô lập ở Châu Đại Dương. Nói chung, các chuyên gia đồng ý rằng sự hình thành loài địa lý chịu trách nhiệm cho sự khác biệt của các đơn vị phân loại của Myrtaceae, ngoại trừ trường hợp các loài của chi "Leptospermum" hiện nay cũng sinh tồn ở cả New Zealand và New Caledonia, những hòn đảo có thể đã bị nhấn chìm dưới nước vào thời điểm phân hóa trong thế Eocen muộn. Sự đa dạng loài. Họ Myrtaceae chứa ít nhất 3.000 loài, phân bổ trong 130-150 chi. Chúng phân bổ rộng khắp ở vùng nhiệt đới và ôn đới ấm áp trên thế giới, và nói chung rất phổ biến trong nhiều khu vực đa dạng sinh học của thế giới. Các chi với quả nang như "Eucalyptus", "Corymbia", "Angophora", "Leptospermum", "Melaleuca", "Metrosideros" chỉ có ở khu vực Cựu thế giới, tách biệt với chi một loài là "Tepualia" ở Chile. Các chi với quả nhiều cùi thịt tập trung nhiều ở miền đông Úc và Malesia (khu sinh thái Australasia) và khu vực nhiệt đới Trung- Nam Mỹ. "Eucalyptus" (bạch đàn) là chi chiếm đa số, gần như có mặt ở khắp mọi nơi trong khu vực ẩm thấp hơn của Úc và kéo dài về phía bắc với mật độ thưa hơn tới tận Philipin. Một cây trong loài "Eucalyptus regnans" hiện nay là loại thực vật có hoa cao nhất thế giới. Các chi quan trọng khác ở Úc là "Callistemon" (tràm liễu), "Syzygium" (trâm, roi), và "Melaleuca" (tràm). Chi "Osbornia", có nguồn gốc ở khu vực Australasia, là các loại cây đước. "Eugenia", "Myrcia" và "Calyptranthes" là các chi trong số các chi lớn nhất ở Trung và Nam Mỹ. Hệ thống APG III năm 2009 công nhận 131 chi và khoảng 4.620 loài cho họ này. Các ước tính gần đây cho rằng họ này chứa khoảng 5.950 loài trong 132 chi. Trong lịch sử, họ Myrtaceae đã từng được chia thành hai phân họ. Sự phân chia Myrtaceae thành Leptospermoideae và Myrtoideae đã bị nhiều tác giả nghi ngờ, trong đó có Johnson và Briggs (1984), các ông đã xác định 14 tông hay nhánh trong họ Myrtaceae, và phát hiện ra là phân họ Myrtoideae là đa ngành. Phân tích ở mức độ phân tử của Wilson, O'Brien và cộng tác viên vào năm 2001 đã phát hiện thấy 11 phân nhóm rõ nét trong phạm vi họ này, bao gồm nhiều phân nhóm đã được Johnson và Briggs xác định. Phân tích phân tử sau đó của Sytsma và Litt (2002) đã phát hiện phân nhóm Myrtoideae ở Trung - Nam Mỹ phù hợp với phân họ đa ngành Leptopermoideae. Các chi "Heteropyxis" và "Psiloxylon", được một số học giả đưa vào trong họ Myrtaceae, nhưng trong khoảng thời gian gần đây lại được tách ra thành các họ riêng rẽ là Heteropyxidaceae và Psiloxylaceae bởi nhiều học giả, dựa trên chứng cứ về sự tách ra của chúng trước khi có sự xuất hiện của tổ tiên chung cho họ Myrtaceae. Tuy nhiên, Wilson, O'Brien "et al." cũng như hệ thống APG III năm 2009 vẫn coi các chi này là các thành phần cơ sở của họ Myrtaceae. Phân loại năm 2005 của Wilson "et al." công nhận 17 tông trong 2 phân họ Myrtoideae và Psiloxyloideae, dựa trên phân tích phát sinh chủng loài ADN lạp thể. Phân loại dưới đây lấy theo Wilson (2011) với bổ sung các tông đơn chi Cloezieae, Xanthomyrteae.
Marshall Bruce Mathers III (sinh ngày 11 tháng 10 năm 1972), thường được biết đến với nghệ danh Eminem (; cách điệu bằng EMINƎM), là một nam rapper, người viết bài hát, nhà sản xuất thu âm và diễn viên người Mỹ. Được xem là người đã phổ biến dòng nhạc hip hop ở Mỹ, thành công toàn cầu và các sản phẩm âm nhạc được ca ngợi của Eminem đã phá bỏ rào cản chủng tộc để các rapper da trắng dễ dàng tiếp nhận dòng nhạc này. Anh trở thành đại diện cho tầng lớp hạ lưu của xã hội Mỹ. Anh là nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn đến nhiều nghệ sĩ thuộc các thể loại khác nhau. Sau album đầu tay "Infinite" (1996) và mini-album "Slim Shady EP" (1997), Eminem ký hợp đồng với Aftermath Entertainment và thành công vang dội sau đó vào năm 1999 với "The Slim Shady LP". Hai album tiếp theo của anh là "The Marshall Mathers LP" (2000) và "The Eminem Show" (2002) đều thành công trên toàn thế giới và cả hai đều được đề cử giải Grammy cho Album của năm. Sau khi phát hành album tiếp theo, "Encore" (2004), Eminem đã bị gián đoạn sự nghiệp vào năm 2005 do chứng nghiện thuốc. Anh trở lại làng giải trí 4 năm sau đó với việc phát hành "Relapse" (2009) và "Recovery" được phát hành vào một năm sau đó. Recovery là album bán chạy nhất trên toàn thế giới năm 2010, trở thành album thứ hai của Eminem, sau "The Eminem Show" năm 2002, trở thành album bán chạy nhất trong năm trên toàn thế giới. Trong những năm tiếp theo, anh phát hành các album số một tại Hoa Kỳ "The Marshall Mathers LP 2", "Revival", "Kamikaze" và "Music to Be Murdered By". Ngoài sự nghiệp solo, Eminem còn là thành viên của nhóm nhạc hip hop D12. Anh cũng được biết đến với sự hợp tác với rapper Royce da 5'9 ở Detroit; cả hai được gọi chung là Bad Meets Evil. Mệnh danh "Ông hoàng rap", Eminem là một trong những nghệ sĩ âm nhạc bán chạy nhất mọi thời đại, với doanh thu ước tính hơn 220 triệu đĩa nhạc trên toàn thế giới. Anh cũng là nghệ sĩ âm nhạc bán chạy nhất Hoa Kỳ những năm 2000 và nam nghệ sĩ âm nhạc bán chạy nhất Hoa Kỳ những năm 2010, xếp thứ ba chung cuộc. "Billboard" vinh danh anh là "Nghệ sĩ của thập kỷ (2000–2009)". "Marshall Mathers LP", "The Eminem Show", "Lose Yourself", "Love the Way You Lie" và "Not Afraid" đều đã được chứng nhận Bạch kim trở lên bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA). "Rolling Stone" đã xếp anh vào danh sách 100 nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại và 100 nhạc sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại. Anh đã giành được nhiều giải thưởng cao quý, bao gồm 15 giải Grammy, 8 giải thưởng Âm nhạc Mỹ, 17 giải thưởng âm nhạc Billboard, một giải Oscar và một giải Biểu tượng âm nhạc toàn cầu của MTV Châu Âu. Anh đã có mười album đứng đầu bảng xếp hạng "Billboard" 200, giúp anh trở thành nghệ sĩ duy nhất đạt được thành tích này và năm đĩa đơn quán quân trên "Billboard" Hot 100. Cuộc đời và sự nghiệp. 1972–1991: Những năm thiếu thời. Mathers sinh năm 1972 tại Saint Joseph, Missouri. Anh là con trai duy nhất của Marshall Bruce Mathers, Jr. (sinh năm 1951, gọi thân mật là Bruce) và Deborah Rae Nelson (sinh năm 1955, gọi thân mật là Debbie). Eminem mang trong mình dòng máu Anh, Đức, Scotland và Thụy Sĩ. Năm 14 tuổi Debbie gặp Bruce lúc đó 18 tuổi; năm 17 tuổi bà suýt chết khi sinh hạ Mathers sau 73 giờ đồng hồ đau đẻ. Cha mẹ của Eminem chơi nhạc trong ban nhạc Daddy Warbucks, tại các nhà nghỉ của chuỗi khách sạn Ramada dọc biên giới các tiểu bang North DakotaSouth Dakota-Montana trước khi ly thân. Bruce bỏ rơi gia đình và chuyển tới California đồng thời có thêm hai đứa con: Michael và Sarah (sinh khoảng năm 1982). Debbie sau đó sinh thêm một người con trai, Nathan Kane Samara, sinh năm 1986. Eminem và Debbie thường đi lại qua hai tiểu bang Missouri và Michigan chứ ít khi sống cố định ở một ngôi nhà trong hơn một hay hai năm hay sống chung với người thân trong gia đình. Tại Missouri họ cư ngụ ở nhiều nơi như Saint Joseph, Savannah và Kansas City. Khi lên thiếu niên, Eminem viết nhiều lá thư cho bố anh; theo lời Debbie, tất cả các bức thư đều trở lại với dòng chữ "Trả lại người gửi." Eminem trong trí nhớ của người thân và bạn bè là một đứa trẻ vui vẻ nhưng "hơi cô độc" và thường bị bắt nạt. Một trong những kẻ bắt nạt, De'Angelo Bailey, làm Eminem chấn thương nặng ở đầu; Debbie Nelson làm đơn kiện trường học vào năm 1982 nhưng bị bác bỏ một năm sau. Eminem trải qua quãng đời trai trẻ của mình với những người ở tầng lớp hạ-trung lưu, chủ yếu là khu người Mỹ gốc Phi ở Detroit. Anh và Debbie là một trong ba hộ gia đình người da trắng ở dãy nhà của họ, trong khi Eminem nhiều lần bị đánh bởi nhóm thanh niên người da màu. Khi còn nhỏ anh thích kể truyện với mong ước trở thành họa sĩ truyện tranh trước khi tới với hip hop. Eminem nghe bài hát rap đầu tiên ("Reckless" của Ice-T) trong nhạc phim "Breakin"', một món quà từ Ronnie Polkinghorn, người thân của bà Debbie, người sau này hướng dẫn về âm nhạc cho anh. Khi Polkinghorn tự tử năm 1991, Eminem không nói chuyện trong nhiều ngày và cũng không dự đám tang. Cuộc sống của Eminem hiếm khi yên ả; anh thường tranh cãi với mẹ, người được một nhân viên xã hội miêu tả là "rất đáng ngờ, gần như hoang tưởng". Khi con trai bà trở nên nổi tiếng, Debbie nổi giận với ý kiến cho rằng bà thiếu chuẩn mực của một người mẹ, và cho rằng bà đã có công chăm non, che chở anh và đóng góp vào thành công của anh. Vào năm 1987, Debbie cho phép Kimberly Ann "Kim" Scott ở lại nhà của họ; một vài năm sau, Eminem bắt đầu có tình cảm với Scott. Sau khi mất ba năm chỉ để học lớp 9 do trốn học và điểm kém, anh bỏ học tại trường Lincoln High School năm 17 tuổi. Mặc dù có hứng thú với tiếng Anh, anh chưa bao giờ khám phá văn học cũng như ghét các môn toán và xã hội. Eminem đi làm nhiều công việc để giúp mẹ mình trả phí sinh hoạt, nhưng sau đó xác nhận rằng bà cũng hay đuổi anh ra ngoài. Khi bà ra ngoài chơi bingo, anh sẽ vặn thật to chiếc đài và ngồi viết các ca khúc. Năm 14 tuổi, anh bắt đầu hát rap với bạn học Mike Ruby; họ lấy tên là "Manix" và "MM". "MM" sau này chuyển thành "Eminem". Eminem hay "mò" vào trường Osborn High School gần đó với người bạn rapper Proof để tranh tài rap. Mỗi thứ bảy họ tới dự các cuộc thi open-mic tại Hip-Hop Shop trên đường West 7 Mile. Đây được coi là khởi đầu cho giới rap tại Detroit. Nhờ nỗ lực đạt được thành công trong một nền công nghiệp mà người Mỹ gốc Phi chiếm ưu thế, Eminem được khán giả underground hip hop đánh giá cao. 1992–1999: Khởi đầu sự nghiệp, "Infinite", và "The Slim Shady LP". Danh tiếng của Eminem giúp anh được nhiều nhóm rap thu nhận trong đó có New Jacks. Sau khi nhóm này tan rã anh gia nhập Soul Intent. Nhóm ra mắt đĩa đơn trong EP cùng tên với sự góp mặt của Proof. Eminem và Proof sau đó hợp tác với bốn rapper khác thành lập nên nhóm Dirty Dozen (D12), ra mắt album đầu tay "Devil's Night" năm 2001. Eminem dính líu tới luật pháp lần đầu năm 20 tuổi khi bị bắt vì tham gia trò bắn súng sơn từ trên xe. Vụ án bị hủy vì nạn nhân không xuất hiện tại tòa. Eminem sau đó ký hợp đồng với FBT Productions của Jeff và Mark Bass, và thu album đầu tiên "Infinite" với hãng thu âm Web Entertainment của FBT. Một trong các chủ đề trong ca từ của "Infinite" là sự khó khăn khi phải nuôi lớn cô con gái mới sinh, Hailie Jade Scott Mathers, mà trong tay không có nhiều tiền. Trong thời gian này phong cách gieo vần của Eminem, chịu ảnh hưởng từ Nas, Esham và AZ, thiếu tính bạo lực khôi hài mà anh thể hiện sau này. Các DJ ở Detroit hầu như không quan tâm tới "Infinite", và phản hồi mà Eminem nhận được ("Sao cậu không làm nhạc rock roll ấy?") dẫn tới việc anh bắt đầu làm các ca khúc thể hiện thái độ tức giận và khó chịu hơn. Eminem và Kim Scott thời gian này sống trong một khu dân cư nhiều tội phạm, hậu quả là nhà anh nhiều lần bị trộm cướp viếng thăm. Eminem nấu ăn và rửa bát với thu nhập tối thiểu tại Gilbert's Lodge, một nhà hàng ở St. Clair Shores. Người chủ cũ của anh miêu tả Eminem là một nhân viên gương mẫu khi làm việc 60 tiếng một tuần sau khi Hailie ra đời. Anh bị buộc thôi việc ngay trước dịp Giáng sinh, và nói rằng mình chỉ có "bốn mươi đô để mua tặng con bé thứ gì đó." Sau khi ra "Infinite", các vấn đề cá nhân và việc lạm dụng thuốc từng khiến anh tìm tới cái chết. Tháng 3 năm 1997 anh bị đuổi khỏi Gilbert's Lodge lần cuối cùng và sống trong nhà di động của mẹ anh cùng với Kim và Hailie. Eminem thu hút nhiều sự chú ý hơn với "Slim Shady", một hình tượng bạo lực và bệnh hoạn. Nhân vật này, "một tên côn đồ buôn ma túy khát máu, bắn ra những giai điệu mạnh mẽ điên cuồng về giết người, hiếp dâm, ma túy và sống trong luật rừng", đã cho phép anh có thể biểu lộ sự giận dữ của mình. Mùa xuân năm 1997 anh thu EP đầu tiên, "Slim Shady EP", và được Web Entertainment phát hành cuối năm đó. EP ngoài nói nhiều tới chuyện sử dụng ma túy, các hành vi tình dục, sự bất ổn về tinh thần và nạn bạo lực, cũng khám phá các chủ đề nghiêm túc hơn như đương đầu với cảnh nghèo túng, với những khó khăn trong hôn nhân và gia đình, cũng như cho thấy phản biện thẳng thắn, tự ti của Eminem. Tạp chí hip-hop "The Source" viết về Eminem trong mục "Unsigned Hype" vào tháng 3 năm 1998. Sau khi bị đuổi khỏi nhà mình, Eminem chuyển tới Los Angeles để tranh tài tại cuộc thi Rap Olympics 1997. Sau khi anh đứng ở vị trí thứ hai, người của Interscope Records tới xem đã gửi một đĩa của "Slim Shady EP" tới CEO Jimmy Iovine của công ty này. Iovine mở chiếc đĩa cho nhà sản xuất Dr. Dre, người nhớ lại khoảnh khắc đó: "trong cả sự nghiệp trong ngành công nghiệp âm nhạc, tôi chưa từng tìm thấy điều gì trong một chiếc đĩa demo hay CD. Khi Jimmy bật nó lên, tôi nói, 'Đi tìm anh chàng này. Ngay lập tức.#đổi Mặc dù bị các cộng sự chỉ trích vì ký hợp đồng với một rapper da trắng, Dr. Dre vẫn tự tin: "Tôi không quan tâm dù da cậu màu tím đi chăng nữa; nếu cậu thấy thoải mái, tôi sẽ làm việc với cậu." Dre là thần tượng thời niên thiếu của Eminem, và anh từng khá lo lắng khi làm việc với ông trong một album: "Tôi không muốn trở nên bị ám ảnh bởi danh vọng hay nịnh nọt ông ấy quá  ... Tôi chỉ là một cậu bé da trắng đến từ Detroit. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy các ngôi sao, nói gì tới Dr. Dre." Anh dần thoải mái hơn khi làm việc với Dre tham gia sau nhiều buổi thu chất lượng. Eminem phát hành "The Slim Shady LP" vào tháng 2 năm 1999. Mặc dù là một trong những album nổi nhất năm (được chứng nhận bạch kim ba lần trong năm), anh vẫn bị cáo buộc bắt chước phong cách và chủ đề của rapper Cage. Sự nổi tiếng của album đi kèm với tranh cãi về lời bài hát; cụ thể trong "'97 Bonnie and Clyde" Eminem nói về chuyến đi chơi với cô con gái nhỏ nhưng đồng thời là để vứt đi cơ thể của vợ mình, và trong "Guilty Conscience" anh khuyến khích một người đàn ông giết vợ và người yêu của anh ta. Guilty Conscience đánh dấu tình bạn và sự gắn bó về âm nhạc của Dr. Dre và Eminem. Họ sau đó hợp tác trong một số bản hit khác như ("Forgot About Dre" và "What's the Difference" trong album "2001" của Dre và "Bitch Please II" trong "The Marshall Mathers LP", "Say What You Say" trong "The Eminem Show", "Encore/Curtains Down" trong "Encore", cũng như "Old Time's Sake" và "Crack a Bottle" trong "Relapse"). Dre đều ít nhất một lần xuất hiện với tư cách khách mời trong mọi album Eminem phát hành dưới tên hãng Aftermath. "The Marshall Mathers LP" được phát hành tháng 5 năm 2000. Album bán được 1.760.000 bản trong tuần đầu tiên, phá kỷ lục tại Mỹ dành cho album hip hop bán nhanh nhất ("Doggystyle" của Snoop Dogg) vầ album solo bán nhanh nhất "...Baby One More Time" của Britney Spears). Đĩa đơn đầu tiên trong album, "The Real Slim Shady", thành công bất chấp nhiều tranh cãi về những lời lăng mạ và khẳng định gây nghi ngờ của Eminem về những người nổi tiếng. Trong đĩa đơn thứ hai, "The Way I Am", anh nói về áp từ từ phía công ty thu âm buộc anh phải đưa đĩa đơn "My Name Is" tới thành công. Trong đĩa đơn thứ ba, "Stan" (lấy mẫu bài hát "Thank You" của Dido) Eminem nói về sự nổi tiếng mới đến với mình bằng câu chuyện về người hâm mộ tự sát và giết bạn gái đang mang bầu của anh ta. Tạp chí "Q" chọn "Stan" là bài hát rap vĩ đại thứ ba mọi thời đại, trong khi Top40-C"500 Greatest Songs of All Time" ("500 bài hát vĩ đại nhất mọi thời đại") của tạp chí "Rolling Stone". Tháng 7 năm 2000, Eminem trở thành nghệ sĩ da trắng đầu tiên xuất hiện trên bìa tạp chí "The Source". "The Marshall Mathers LP" được chứng nhận bạch kim 11 lần từ RIAA. Tại lễ trao giải Grammy lần thứ 43 vào năm 2001 Eminem biểu diễn "Stan" cùng Elton John. Tổ chức Gay Lesbian Alliance Against Defamation (GLAAD, một tổ chức xem lời bài hát của Eminem là kì thị người đồng tính) phê phán quyết định biểu diễn cùng Eminem của John. Tờ "Entertainment Weekly" xếp màn biểu diễn này trong danh sách "xuất sắc nhất" cuối thập kỷ: "Cái ôm đó được cả thế giới biết đến. Eminem, người bị chỉ trích vì lời bài hát kì thị, đã chia sẻ sân khấu để biểu diễn "Stan" với một biểu tượng đồng tính, điều luôn đáng nhớ trong bất kỳ hoàn cảnh nào." Vào ngày 21 tháng 2, ngày lễ trao giải diễn ra, GLAAD tổ chức buổi biểu tình bên ngoài Trung tâm Staples (địa điểm tổ chức giải Grammy 2001). Vào năm 2001 Eminem xuất hiện trong Up in Smoke Tour với các rapper Dr. Dre, Snoop Dogg, Xzibit và Ice Cube và trong Family Values Tour với Limp Bizkit, đồng thời là ngôi sao chính trong Anger Management Tour với Papa Roach, Ludacris và Xzibit. "The Eminem Show" phát hành tháng 5 năm 2002. Album đoạt ngôi quán quân trên nhiều bảng xếp hạng và bán ra trên 1,332 triệu bản trong tuần đầu. Single "Without Me", chế nhạo Limp Bizkit, Dick Cheney và Lynne Cheney, Moby và nhiều người khác. "The Eminem Show" (được chứng nhận bạch kim 10 lần từ RIAA) nói về các tác động của sự nổi tiếng đối với anh, mối quan hệ với người vợ và con gái cùng vị thế trong giới hip-hop, về việc tấn công một người đàn ông mà Eminem trông thấy đang hôn vợ của anh năm 2000. Mặc dù một số track biểu lộ sự giận dữ rất rõ ràng, Stephen Thomas Erlewine của AllMusic cho rằng "The Eminem Show" ít khiêu khích hơn "The Marshall Mathers LP". L. Brent Bozell III, người từng chỉ trích "The Marshall Mathers LP" vì lời bài hát mang tính ghét phụ nữ, nói nhiều tới việc sử dụng quá nhiều từ tục tĩu của "The Eminem Show" và gọi Eminem là "Eminef" vì sự xuất hiện liên tục của từ "motherfucker" trong album. "The Eminem Show" là album bán chạy nhất năm 2002. 2003–2007: "Encore" và tạm dừng hoạt động âm nhạc. "Encore" được phát hành năm 2004. Đĩa đơn đầu tiên, "Just Lose It", gây chú ý vì chứa ca từ tiêu cực nhắm tới Michael Jackson. Vào ngày 12 tháng 10 năm 2004, một tuần sau khi "Just Lose It" ra mắt, Jackson gọi điện cho chương trình phát thanh của Steve Harvey ở Los Angeles bày tỏ sự không hài lòng đối với video bài hát (video nhắc lại một số tai tiếng của Jackson như lạm dụng tình dục trẻ em, phẫu thuật tạo hình hay tai nạn làm cháy mái tóc của ông năm 1984). Nhiều người thân và người hâm mộ của Jackson tỏ ý phản đối như Stevie Wonder (gọi video là hành động "đánh kẻ ngã ngựa" và " trò vớ vẩn") và Steve Harvey. Video cũng nhại lại Pee-wee Herman, MC Hammer và Madonna trong giai đoạn "Blond Ambition". "Weird Al" Yankovic, người hát nhại "Lose Yourself" với tên "Couch Potato" trong album "Poodle Hat" của ông năm 2003, nói với "Chicago Sun-Times" về sự phản kháng của Jackson: "Năm ngoái, Eminem buộc thôi dừng sản xuất video parody bài 'Lose Yourself' vì cậu ta nghĩ nó sẽ làm hỏng hình ảnh và sự nghiệp cậu ta. Cho nên tôi không lạ gì sự trớ trêu mà Michael phải qua." Mặc dù Black Entertainment Television ngừng không phát video nữa, MTV thông báo vẫn tiếp tục chiếu video này. Tờ "The Source", thông qua CEO Raymond "Benzino" Scott, kêu gọi dỡ bỏ video, loại bài hát ra khỏi album còn Eminem phải công khai xin lỗi Jackson. Năm 2007 Jackson và Sony mua lại Famous Music từ Viacom, giúp Jackson có trong tay bản quyền các bài hát của Eminem, Shakira, Beck và nhiều người khác. Mặc dù đĩa đơn đầu tiên có chủ đề hài hước, "Encore" lại khám phá những vấn đề nghiêm túc với bài hát phản chiến "Mosh". Bài hát chỉ trích Tổng thống George W. Bush trong lời bài hát như "to disarm, this weapon of mass destruction that we call our president" (ám chỉ việc Bush lấy lý do đưa quân tới Iraq là do vũ khí hủy diệt hàng loạt, nhưng chính ông mới là thứ nguy hiểm đó). Vào ngày 25 tháng 10 năm 2004, một tuần trước bầu cử tổng thống Hoa Kỳ 2004, Eminem phát hành video âm nhạc của "Mosh" trên mạng Internet. Trong video dưới dạng hoạt hình, Eminem tập hợp một đội quân (trong đó có rapper Lloyd Banks) các nạn nhân dưới sự cai trị của Bush và dẫu đầu họ tới Nhà Trắng. Khi họ xông vào, người ta mới biết họ ở đó để đăng ký bầu cử. Sau khi Bush tái đắc cử, đoạn kết của video được thay đổi với hình ảnh Eminem và những người biểu tình chiếm Nhà Trắng trong lúc tổng thống đang phát biểu. Vào năm 2005 Eminem xếp thứ 58 trong cuốn sách của Bernard Goldberg, "100 People Who Are Screwing Up America". Goldberg trích dẫn một mục báo vào năm 2001 bởi Bob Herbert của tờ "The New York Times", trong đó Herbert viết "Trong thế thế giới của Eminem, mọi phụ nữ đều là những mụ điếm và anh ta sẵn sàng hiếp và giết chết họ", và bài hát "No One's Iller" trong "Slim Shady EP" làm ví dụ cho sự thù hận, ghét bỏ nữ giới của rapper này. Mùa hè năm đó Eminem thực hiện chuyến lưu diễn ba năm tại Hoa Kỳ khi Anger Management 3 Tour có sự tham gia của 50 Cent, G-Unit, Lil Jon, D12, Obie Trice và The Alchemist. Vào tháng 8 anh hủy bỏ đợt diễn tại châu Âu và thông báo rằng anh vừa bắt đầu quá trình phục hồi khỏi "sự lệ thuộc vào thuốc ngủ". "" phát hành 6 tháng 12 năm 2005 dưới tên hãng Aftermath Entertainment, bán ra trong tuần đầu tiên gần 441.000 bản tại Hoa Kỳ, và là album thứ tư liên tiếp của Eminem đoạt ngôi quán quân trên "Billboard" Hot 200. Album được chứng nhận bạch kim hai lần từ RIAA. 2008–2009: "Relapse" và "Relapse: Refill". Eminem xuất hiện trên kênh Shade 45 Sirius của anh vào tháng 9 năm 2008 với tuyên bố rằng mình đang trong quá trình tập trung vào việc sản xuất album mới. Interscope xác nhận album mới sẽ được phát hành vào mùa xuân 2009. Vào tháng 12 năm 2008 Eminem tiết lộ thêm một số chi tiết của album có tên "Relapse": "Tôi và Dre dang trở lại phòng thu như xưa. Dre sẽ sản xuất phần lớn các track trong 'Relapse'. Chúng tôi sẽ về với phong cách tinh quái trước kia ... tôi chỉ có thể tiết lộ thế thôi." Theo tin từ một cuộc họp báo vào tháng 3 năm 2009, Eminem sẽ ra mắt hai album mới. Đầu tiên là "Relapse" vào ngày 19 tháng 5. Đĩa đơn và video âm nhạc đầu tiên, "We Made You" được phát hành trước đó vào ngày 7 tháng 4. Dù "Relapse" không quá thành công về daonh thu như các album trước, nó vẫn nhận được nhiều ý kiến phê bình tích cực. "Relapse" được chọn là một trong các album số một năm 2009, bán được 5 triệu bản trên toàn thế giới. Vào ngày 30 tháng 10 anh có buổi biểu diễn chính đầu tiên trong năm tại Voodoo Experience ở New Orleans. Vào ngày 19 tháng 11 Eminem thông báo trên mạng rằng "Relapse: Refill" sẽ được lên kệ ngày 21 tháng 12. Album là bản tái phát hành của "Relapse" với 7 track mới, trong đó có "Forever". Eminem cho biết năm nay anh "muốn gửi tới cho người hâm mộ nhiều phong cách hơn như tôi đã dự định ban đầu" và hy vọng các bài hát trong "The Refill" sẽ giúp người hâm mộ bớt trống trải trước khi "Relapse 2" phát hành năm sau. 2010–2011: "Recovery" và Bad Meets Evil. Vào ngày 14 tháng 10 năm 2010, Eminem tweet: "Sẽ không có Relapse 2". Mặc dù vậy album mới vẫn sẽ ra mắt và mang tên "Recovery" và xác nhận điều này bằng việc tweet "RECOVERY" kèm theo đường dẫn tới website của mình. Eminem cho biết anh "ban đầu đã dự định ra "Relapse 2" năm ngoái." nhưng do "làm việc với nhiều nhà sản xuất mới nên ý tưởng về phần hai của "Relapse" nhạt dần" và anh "muốn làm một album hoàn toàn mới". Album mới ra lò ngày 18 tháng 6. Tại Hoa Kỳ "Recovery" bán được 741.000 bản trong tuần đầu tiên, đứng đầu trên "Billboard" 200. "Recovery" đứng đầu trên "Billboard" 200 trong năm tuần liên tiếp trong tông số 7 tuần quán quân của album. "Billboard" đưa tin "Recovery" là album bán chạy nhất năm 2010, giúp Eminem trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử Nielsen SoundScan có 2 album bán chạy nhất năm (album còn lại là "The Eminem Show"). "Recovery" cũng là album kỹ thuật số bán chạy nhất lịch sử. Đĩa đơn đầu tiên, "Not Afraid", được ra mắt ngày 29 tháng 4 và xuất phát trên "Billboard" Hot 100 ngay ở vị trí số một. "Not Afraid" được tiếp nối bằng "Love the Way You Lie", bài hát xuất phá ở vị trí thứ hai trước khi lên ngôi ở vị trí số một trên "Billboard" Hot 100. Mặc dù "Love the Way You Lie" là đĩa đơn bán chạy nhất 2010 tại Anh Quốc, nó lại chưa từng lên vị trí số một tại đây (lần đầu kể từ năm 1969). Dù còn một số phê bình vì sự thiếu ổn định, "Recovery" nhìn chung vẫn được đánh giá tích cực. #đổi , Album có ba triệu bản được tiêu thụ tại Mỹ. Eminem góp mặt tại BET Awards 2010 với hai ca khúc "Not Afraid" và "Airplanes, Part II" với B.o.B, và biểu diễn tại buổi hòa nhạc Activison E3. Vào tháng 6 Eminem và Jay-Z thông báo sẽ diễn chung tại Detroit và New York tại các buổi diễn mang tên The Home Home Tour. Hai concert đầu tiên nhanh chóng cháy vé khiến ban tổ chức bổ sung thêm một show nữa tại mỗi thành phố. BET gọi Eminem là rapper số một thế kỷ XXI. Anh mở màn MTV Video Music Awards 2010 vào ngày 12 tháng 9 với "Not Afraid" và "Love the Way You Lie" với Rihanna. Nhờ thành công của "Recovery" và Home Home Tour, Eminem được MTV chọn là Hottest MC in the Game 2010 và Emcee của năm bởi tạp chí mạng HipHopDX. Anh và Rihanna sau đó hợp tác trong "Love the Way You Lie (Part II)", phân kế tiếp của đĩa đơn hit. Trong bản này, Rihanna là ca sĩ chính và hát bài hát từ góc nhìn của nhân vật nữ. Vào tháng 12 năm 2010, "Recovery" được "Billboard" xếp số một trong danh sách Top 25 Khoảnh khắc Âm nhạc 2010. Anh cũng xuất hiện tại Giải Grammy 2011 vào ngày 13 tháng 2 khi thể hiện "Love the Way You Lie (Part II)" cùng Rihanna và Adam Levine cũng như "I Need a Doctor" với Dr. Dre và Skylar Grey. Cùng tháng đó "Space Bound" được thông báo là đĩa đơn thứ tư trong "Recovery". Vào năm 2010, Eminem tái hợp với Royce da 5'9" với tên Bad Meets Evil và hợp tác phát hành một EP mới. Họ từng hợp tác với tên này vào năm 1999. EP có tên "" được phát hành tháng 6 năm 2011. Eminem cũng góp mặt trong bài "Writer's Block" của Royce da 5'9", bài hát phát hành ngày 8 tháng 4 năm 2011. Vào ngày 3 tháng 5 họ phát hành đĩa đơn chủ đề của EP có tên "Fast Lane", cùng một video âm nhạc. Trước đó vào tháng 3, hai album "The Eminem Show" và "The Marshall Mathers LP" đạt được chứng nhận kim cương từ RIAA. Eminem là rapper đầu tiên có hai album chứng nhận kim cương. Bad Meets Evil phát hành đĩa đơn tiếp theo, "Lighters" vào ngày 6 tháng 7 và ra mắt video vào tháng 8. Vào ngày 6 tháng 8, Eminem biểu diễn một số bài hát trong sự nghiệp của anh tại Lollapalooza với các nghệ sĩ góp mặt trong mỗi bài hát đó. 2012–2013: "The Marshall Mathers LP 2". Eminem thông báo vào ngày 24 tháng 5 năm 2012 rằng anh đang trong quá trình thực hiện album mới, theo kế hoạch sẽ ra mắt vào năm sau. Trong khi ngày phát hành và tên album chưa được ấn định, đây vẫn là một trong số các "album được mong chờ nhất 2013". Vào ngày 11 tháng 2 năm 2013, chủ tịch Shady Records và quản lý của Eminem là ông Paul Rosenberg thông album thứ 8 của rapper này sẽ ra sau ngày Memorial Day. Rosenberg cho biết công ty "thực sự mong chờ phát hành album mới của Eminem vào năm 2013. Anh ấy đã làm album được một thời gian rồi". No I.D. được xác nhận là một trong những người sản xuất album này. Vào ngày 14 tháng 8 bài hát "Survival" của Em hợp tác với Liz Rodrigues và được DJ Khalil sản xuất, xuất hiện trong video giới thiệu trò chơi điện tử "". Tại MTV Video Music Awards 2013, album được thông báo sẽ mang tên "The Marshall Mathers LP 2" (nối tiếp "The Marshall Mathers LP") và dự kiến ra mắt ngày 5 tháng 11. Đĩa đơn chủ đạo "Berzerk", được phát hành ngày 25 tháng 8 và ra mắt ở vị chí thứ ba trên "Billboard" Hot 100. Ba đĩa đơn khác gồm: "Survival, "Rap God" và "The Monster" (với Rihanna). Album được phát hành ngày 5 tháng 11 bởi Aftermath Entertainment, Shady Records và Interscope Records. Phiên bản thường gồm 16 bài, còn bản đạc biệt có thêm một đĩa thứ hai với 5 bài khác. "The Marshall Mathers LP 2" là album thứ bảy của Eminem đứng đầu khi ra mắt trên "Billboard" 200, đồng thời sở hữu doanh số tuần đầu tiên lớn thứ hai trong năm 2013. Anh là nghệ sĩ tiếp theo sau The Beatles có bốn đĩa đơn trong top 20 của "Billboard" Hot 100. Tại Vương quốc Anh "The Marshall Mathers LP 2" xuất phát ở vị trí đầu tiên trên UK Albums Chart. Với tư cách là nghệ sĩ Mỹ đầu tiên có bảy album quán quân tại Anh liên tiếp, anh cân bằng thành tích của The Beatles ở vị trí thứ hai bảng xếp hạng số album quán quân tại Anh liên tiếp. Album giúp Eminem trở thành nghệ sĩ bán đĩa đắt khách nhất tại Canada. Vào ngày 3 tháng 11, Eminem là người đầu tiên nhận giải Nghệ sĩ của năm của YouTube Music Awards, giành giải Global Icon Award tại MTV EMA 2013. Tại lễ trao giải Grammy lần thứ 57, anh nhận giải Album Rap xuất sắc nhất cho "The Marshall Mathers LP 2" và Trình diễn rap/hát hay nhất (với Rihanna) cho "The Monster". 2014–2016: "Shady XV" và "Southpaw". Vào mùa hè năm 2014, Eminem và Rosenberg bắt đầu sử dụng hashtag #SHADYXV trên các trang mạng xã hội và Eminem mặc một chiếc áo phông với hashtag này trên sân khấu. Hashtag này sau đó được tiết lộ là tên của một album sắp tới. Ngay sau đó đĩa đơn đầu tiên của album ("Guts Over Fear", với ca sĩ kiêm nhạc sĩ Sia Furler) và danh sách bài hát của album cùng phát hành vào ngày 29 tháng 10. Shady Records đã phát hành một cypher quảng bản cho album, trong đó Eminem đã thực hiện một bản rap tự do dài bảy phút. "Detroit vs. Everybody" (đĩa đơn thứ hai của album), với Eminem, Dej Loaf, Royce da 5'9 ", Danny Brown, Big Sean và Trick-Trick, được phát hành vào ngày 11 tháng 11 "Shady XV", phát hành vào Ngày 24 tháng 11 trong tuần Thứ Sáu Đen, Album ra mắt ở vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Billboard 200, với doanh số tuần đầu tiên là 138.000 bản tại Hoa Kỳ. The Official Eminem Box Set, một box-set bao gồm 10 sản phẩm âm nhạc kéo dài xuyên suốt sự nghiệp, được phát hành vào ngày 12 tháng 3 năm 2015, bao gồm bảy trong số tám album phòng thu của Eminem (không tính "Infinite"), nhạc phim "8 Mile", đĩa tổng hợp Eminem Presents: The Re-Up và Curtain Call: The Hits. Eminem là nhà sản xuất nhạc phim của bộ phim thể thao "Southpaw". Đĩa đơn đầu tiên của nhạc phim mang tên 'Phenomenal' được phát hành vào ngày 2 tháng 6 năm 2015. Một đĩa đơn khác "Kings Never Die" của Eminem với Gwen Stefani, được phát hành vào ngày 10 tháng 7 năm 2015 trên YouTube. Eminem là nhân vật được phỏng vấn đầu tiên của Zane Lowe trong Beats 1. Cuộc phỏng vấn được truyền hình trực tiếp trên đài phát thanh Beats 1 vào ngày 1 tháng 7 năm 2015. Eminem xuất hiện trên chương trình "Only in Monroe", được sản xuất tại Monroe, Michigan và được phỏng vấn bởi người dẫn chương trình khách mời Stephen Colbert cho một tập phát sóng ngày 1 tháng 7 năm 2015. Trong tập đó Eminem đã trình diễn một đoạn các bài hát của Bob Seger theo lời nhắc của Colbert và thảo luận về Southpaw. Vào tháng 6 năm 2015, có thông tin tiết lộ rằng anh sẽ đóng vai trò là nhà sản xuất điều hành và giám sát âm nhạc trên loạt phim truyền hình "Motor City" dựa trên bộ phim "Narc" năm 2002. Vào ngày 19 tháng 10 năm 2016, Eminem phát hành một bài hát mới có tên "Campaign Speech", một bài hát hip hop mang đề tài chính trị và thông báo rằng anh đang sản xuất một album mới. Vào ngày 17 tháng 11 năm 2016, Eminem phát hành phiên bản làm lại của 'Infinite' trên YouTube. Vào ngày 22 tháng 11 năm 2016, Eminem phát hành một đoạn giới thiệu cho bộ phim tài liệu ngắn 10 phút có tên là "Partners in Rhyme: The True Story of Infinite". Vào tháng 2 năm 2017, Eminem góp giọng trong bài hát "No Favors" thuộc album "I Decided" của Big Sean. Trong bài hát, Eminem đã gọi Tổng thống mới đắc cử Donald Trump là một "con chó cái", đồng thời cũng nói về việc cưỡng hiếp nhà bình luận chính trị và xã hội bảo thủ Ann Coulter, người ủng hộ Trump, và nhiều người khác. Coulter đáp lại rằng: "Tôi nghĩ thật không may khi cánh tả, từ Berkeley đến Eminem với các bài hát rap của mình, đã bình thường hóa bạo lực đối với phụ nữ, như Eminem đã làm." Eminem tham gia cypher thường niên của Giải thưởng Hip Hop BET 2017 khi sử dụng một bản rap có tên "The Storm", nhằm chỉ trích chính quyền Trump, trong những vấn đề như thái độ của Trump đối với việc các đội bóng thi đấu tại National Football League biểu tình về nỗ lực khắc phục sau cơn bão Maria và thiếu cải cách kiểm soát súng đạn sau vụ xả súng ở Las Vegas năm 2017. Eminem cũng đưa ra tối hậu thư nói rằng những người ủng hộ Trump không thể là người hâm mộ của anh. Bài hát đã nhận được nhiều lời khen ngợi từ các rapper khác sau khi phát hành. Vào tháng 10 năm 2017, Eminem góp giọng trong "Revenge", một ca khúc thuộc album "Beautiful Trauma" của Pink. Có thông tin cho rằng Cơ quan Mật vụ đã phỏng vấn Eminem vào năm 2018-2019, liên quan đến lời bài hát đe dọa Tổng thống Trump và con gái Ivanka. Bắt đầu từ cuối tháng 10 năm 2017, Eminem và Paul Rosenberg bắt đầu sản xuất album mới có tựa đề "Revival". Cuối tháng 11, đĩa đơn đầu tiên "Walk on Water" được phát hành, có sự góp mặt của Beyoncé. Bài hát được trình diễn trực tiếp lần đầu tiên tại MTV Europe Music Awards 2017 vào ngày 12 tháng 11 với sự góp mặt của Skylar Grey. Anh xuất hiện trên Saturday Night Live vào ngày 18 tháng 11, biểu diễn các ca khúc "Walk on Water", "Stan" và "Love the Way You Lie" cùng với Skylar Grey. Vào ngày 28 tháng 11, Dr. Dre đăng một video xác nhận thời điểm phát hành album là ngày 15 tháng 12 năm 2017. Vào ngày 8 tháng 12, Eminem phát hành một đĩa đơn quảng cáo có tựa đề "Untouchable". Bất chấp việc album bị rò rỉ trực tuyến trước đó hai ngày, "Revival" vẫn được phát hành theo đúng kế hoạch vào ngày 15 tháng 12. Vào ngày 5 tháng 1 năm 2018, đĩa đơn thứ hai "River" được phát hành có sự góp mặt của Ed Sheeran. Nó trở thành album thứ tám liên tiếp của Eminem đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ với 197.000 bản được bán ra trong tuần đầu tiên. Anh trở thành nghệ sĩ âm nhạc đầu tiên có 8 album liên tiếp đứng đầu bảng xếp hạng này. Album vấp phải nhiều đánh giá trái chiều từ các nhà phê bình và thường được coi là album tệ nhất của anh. Vào năm 2018, một phiên bản mới của "Nowhere Fast" với sự tham gia của Kehlani và bản phối lại của "Chloraseptic" đã được phát hành từ "Revival". Vào ngày 31 tháng 8 năm 2018, Eminem phát hành album phòng thu thứ mười "Kamikaze", đây là album phòng thu thứ hai của anh sau 8 tháng. Album đã đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200, trở thành album thứ 9 liên tiếp của anh làm được điều này, sau khi bán được 434.000 bản trong tuần đầu tiên. Album được phát hành như một phản ứng trước những lời chỉ trích về Revival, album bị đánh giá là tệ nhất của anh. Album được quảng bá với ba đĩa đơn: "Fall", "Venom", từ bộ phim cùng tên năm 2018 và "Lucky You". Trong tập ngày 15 tháng 10 năm 2018 của chương trình truyền hình Jimmy Kimmel Live!, Eminem đã biểu diễn bài hát "Vemom" tại tầng 103 của Tòa nhà Empire State ở Thành phố New York. Trong album, các bài hát có nội dung chỉ trích những nhạc sĩ khác, chủ yếu là các rapper và một số đã phản ứng công khai. Eminem và rapper Machine Gun Kelly đã có mối thù dai dẳng trong nhiều năm, Kelly phát hành một diss track có tựa đề "Not Alike" và "Rap Devil" vào ngày 3 tháng 9; cả hai bài hát đều được sản xuất bởi Ronny J. Kelly tiếp tục mối thù tại một buổi hòa nhạc, gọi đây là "trận chiến giữa quá khứ và tương lai chết tiệt". Eminem đáp lại bằng "Killshot" vào ngày 14 tháng 9. "Killshot" đạt 38,1 triệu lượt xem trực tiếp trên YouTube trong 24 giờ đầu tiên và hơn 80 triệu lượt xem trong tuần đầu tiên. Bài hát cũng đứng ở vị trí thứ 3 trên Billboard Hot 100, trở thành ca khúc thứ 20 nằm trong top 10 của Eminem trên Billboard Hot 100. Vào ngày 17 tháng 1 năm 2020, Eminem phát hành album "Music to Be Murdered By". Album đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200, bán được 279.000 bản album trong tuần đầu tiên. Eminem trở thành nghệ sĩ đầu tiên có mười album liên tiếp đứng ở vị trí số một tại Mỹ và là một trong sáu nghệ sĩ đã phát hành ít nhất mười album quán quân tại Mỹ. Các nhà phê bình âm nhạc ca ngợi khả năng trữ tình của Eminem và sự cải tiến sản xuất sau "Kamikaze". Trong lời bài hát của "Unaccomodating", Eminem đề cập đến vụ đánh bom tại Manchester Arena năm 2017, đã bị chỉ trích nặng nề, nhiều nhà phê bình cho rằng lời bài hát gây phản cảm. Thị trưởng Manchester đã tố cáo lời bài hát, mô tả chúng là "gây tổn thương không cần thiết và thiếu tôn trọng sâu sắc." Lời bài hát cũng gây sự chỉ trích rộng rãi từ người thân của nạn nhân và những người khác liên quan đến vụ tấn công. Vào ngày 9 tháng 2 năm 2020, Eminem biểu diễn "Lose Yourself" tại Lễ trao giải Oscar lần thứ 92. Vào ngày 9 tháng 3 năm 2020, video âm nhạc của bài hát "Godzilla", được phát hành trên YouTube thông qua kênh của Lyrical Lemonade. Video có sự góp mặt Mike Tyson và Dr. Dre. Tính đến ngày 13 tháng 9 năm 2020, nó đã có hơn 241,8 triệu lượt xem. Vào ngày 11 tháng 3 năm 2020, "Music to Be Murdered By" được trao tặng chứng nhận Vàng. Sau thành công của Eminem, Interscope đề nghị với Eminem về việc thành lập hãng đĩa riêng của anh; Anh và Paul Rosenberg thành lập Shady Records vào cuối năm 1999. Eminem ký hợp đồng với D12, cùng rapper Obie Trice và ký tiếp với 50 Cent trong một dự án liên doanh với hãng Aftermath của Dr. Dre năm 2002. Vào năm 2003, Eminem và Dr. Dre kết nạp rapper người Atlanta là Stat Quo vào hàng ngũ Shady-Aftermath. DJ Green Lantern, DJ cũ của Eminem gia nhập Shady Records đến khi tranh cãi liên quan tới sự bất hòa giữa 50 Cent và Jadakiss buộc anh phải ra đi. Vào năm 2005 Eminem ký hợp đồng với một rapper Atlanta nữa, Bobby Creekwater, rapper tới từ Bờ Tây, Cashis. Ngày 5 tháng 12 năm 2006, album tổng hợp "" được phát hành dưới tên Shady Records. Dự án bắt đầu dưới dạng mixtape, nhưng khi Eminem tìm thấy chất liệu nhạc tốt hơn dự kiến thì anh đổi ý sang ra album. "The Re-Up" được dành cho việc giới thiệu Stat Quo, Cashis và Bobby Creekwater. Khi còn đang thu âm "Infinite", Eminem, Proof và Kon Artis lập thành một nhóm rapper mà giờ được biết tới với tên D12, viết tắt cho "Detroit Twelve" hay "Dirty Dozen", những người biểu diễn theo phong cách giống Wu-Tang Clan. Vào năm 2001 album đầu tay của D12, "Devil's Night", được phát hành. Đĩa đơn đầu tiên từ album là "Shit on You", kế đến là "Purple Pills" (bài hát về việc dùng ma túy để giải khuây) và "Fight Music". "Purple Pills" sau đó phải viết lại lời khi phát trên radio và TV, loại bỏ tất cả những câu từ về ma túy và tình dục, và đổi tên là "Purple Hills". Sau đó, D12 không hoạt động phòng thu trong ba năm. Họ tái hợp năm 2004 với album "D12 World", với các đĩa đơn hit "My Band" và "How Come". "American Pshyco 2" với sự góp mặt của B-Real, thành viên ban nhạc Cypress Hill, cũng khá nổi tiếng. Theo như lời của Bizarre, một thành viên trong D12, Eminem không có mặt trong album "Blue Cheese Coney Island" bởi "anh đang bận làm việc riêng". Sự nghiệp diễn xuất. Sau một vai nhỏ trong "The Wash" (2001), Eminem ra mắt Hollywood trong bộ phim nửa tự truyện "8 Mile" (2002). Theo lời của rapper này, phim nói về việc trưởng thành ở Detroit chứ không phải phái để thuật lại cuộc đời của anh. Anh thu một số ca khúc mới cho album nhạc phim trong đó có "Lose Yourself" (bài hát giành giải Giải Oscar cho bài hát gốc hay nhất năm 2003 và là đĩa đơn hip hop quán quân liên tiếp lâu nhất trong lịch sử). Eminem không có mặt tại lễ trao giải, người nhận thay là Luis Resto. Anh còn lồng tiếng cho trò chơi video "" (trong vai một nhân viên cảnh sát già bị mua chuộc nói giọng Mỹ gốc Phi) và là khách mời trong show truyền hình của hãng Comedy Central có tên "Crank Yankers" và một bộ phim hoạt hình mạng, "The Slim Shady Show". Anh được ký hợp đồng để vào vai chính trong phiên bản điện ảnh chưa từng được bấm máy của series truyền hình "Have Gun – Will Travel", và được xem xét cho vai David Rice của phim "Jumper" (2008). Eminem có vai khách mời trong đoạn cãi nhau với Ray Romano, trong bộ phim "Funny People" (2009). Anh vào vai chính mình trong tập cuối mùa bảy của "Entourage" có tên "Lose Yourself" cùng Christina Aguilera. Mặc dù được trao vai chính trong phim khoa học viễn tưởng "Elysium" (2013), anh từ chối vì lý do đạo diễn Neill Blomkamp không thay đổi địa điểm từ Los Angeles sang Detroit. Anh đóng vai khách mời trong bộ phim hài "The Interview" vào năm 2014; trong đoạn phỏng vấn với nhân vật chính Dave Skylark (James Franco thủ vai), Eminem công khai thừa nhận mình đồng tính. Tự truyện của Eminem, "The Way I Am", được xuất bản ngày 21 tháng 8 năm 2008. Ngoài khắc họa cuộc đấu tranh với cảnh nghèo khó, chứng nghiện thuốc, danh vọng, những nỗi đau khổ và sự chán nản, sách còn kể lại các câu chuyện về con đừong tới với danh tiếng, bình luận về các tranh cãi trước đây và những trang lời bài hát gốc của "Stan" và "The Real Slim Shady." Cuốn tự truyện của mẹ anh ("My Son Marshall, My Son Eminem") được phát hành một tháng sau trong đó Debbie Nelson miêu tả thời thơ ấu và niên thiếu của Eminem, gặp cha của anh cũng như con đường (và những vất vả) lên đỉnh danh vọng. Quảng cáo và từ thiện. Eminem góp mặt trong hai đoạn quảng cáo chiếu trong trận tranh Super Bowl XLV. Trong đoạn quảng cáo đầu tiên dài một phút cho nhãn hiệu trà đá Brisk của hãng Lipton, anh xuất hiện trong hình dạng một nhân vật hoạt hình đất sét. Trong đoạn quảng cáo thứ hai dài hai phút – dài nhất trong lịch sử Super Bowl vào thời điểm đó – cho nhãn hiệu xe Chrysler 200, Eminem lái xe (với "Lose Yourself" là nhạc nền) tới buổi diễn của mình tại Nhà hát Fox. Anh thành lập Marshall Mathers Foundation để giúp các thanh niên bị thiệt thòi. Cơ sở này liên kết với một tổ chức từ thiện do Norman Yatooma, một luật sư ở Detroit, khởi xướng. Phong cách nghệ thuật. Ảnh hưởng và kĩ thuật rap. Eminem từng nhắc tới một số rapper ảnh hưởng lên cách rap của anh, trong đó có Esham, Kool G Rap, Masta Ace, Big Daddy Kane, Newcleus, Ice-T, Mantronix, Melle Mel (với bài "The Message"), LL Cool J, Beastie Boys, Run–D.M.C., Rakim và Boogie Down Productions. Trong "How to Rap", Guerilla Black nói rằng Eminem học tập các MC để trau đồi kĩ thuật rap: "Eminem nghe mọi thứ và đó là điều khiến anh ấy vĩ đại". Trong cuốn sách này, các MC khác cũng khen ngợi các khía cạnh trong phong cách của anh; chủ đề đa dạng, hài hước, kết nối với người nghe, giữ một hình thức chung cho chuỗi các album, phối hợp vần phức tạp, uốn câu từ sao cho có vần, vần đa âm tiết, nhiều vần một vạch nhịp, nhịp điệu phức tạp, cách trần thuật rõ ràng cùng với việc sử dụng giai điệu và cách nhấn lệch. Eminem được biết tới vì viết hầu hết lời bài hát ra giấy (được ghi chép trong "The Way I Am"), dành ra nhiều ngày hay cả tuần để để tạo lời, là một "kẻ nghiện công việc". Eminem sử dụng các thân thế khác ("alter ego") trong các bài hát đối với các phong cách và chủ đề rap khác nhau. Thân thế nổi tiếng nhất là Slim Shady, lần đầu xuất hiện trong EP "Slim Shady". Những bài hát trong thân thế này thường mạnh bạo và u ám, cùng một nét hài hước. Eminem bỏ hình tượng Slim Shady trong "Recovery" vì anh cho rằng nó không hợp với dòng chảy của album. Một nhân vật nữa là Ken Kaniff, một người đồng tính hay chế giễu bài hát của Eminem. Ken được sáng tạo và thể hiện bởi rapper đồng hương Detroit, Aristotle, trong "Slim Shady LP", trong đó Kaniff gọi điện chơi khăm Eminem. Một cuộc tranh cãi sau khi album ra mắt dẫn tới việc Eminem sử dụng nhân vật Kaniff trong "Marshall Mathers" và các album sau này (ngoại trừ "Encore" và "Recovery"). Eminem hai lần kết hôn với Kimberly Anne "Kim" Scott. Anh gặp Kim ở trường trung học, người kém mình hai tuổi; anh khi đó 15 tuổi, cởi trần đứng trên một chiếc bàn và rap "I'm Bad" của LL Cool J. Kim và người chị em song sinh, Dawn, bỏ nhà ra đi; họ chuyển tới sống ở nhà Eminem và mẹ của anh năm anh 15 tuổi. Anh và Kim bắt đầu mối quan hệ tình cảm năm 1989. Con gái họ, Hailie, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1995; họ làm đám cưới năm 1999, li dị lần đầu năm 2001. Mặc dù Eminem kể với "Rolling Stone" năm 2002: "Tôi thà sinh con bằng dương vật còn hơn là tái hôn", không lâu sau anh và Kim tái hôn vào tháng 1 năm 2006. Anh nộp đơn li dị vào đầu tháng 4, đồng ý chia sẻ quyền nuôi Hailie. Anh còn nhận nuôi Alaina, con gái của Dawn và Whitney, con gái mà Kim có với một người khác. Đầu năm 2010, Eminem phủ nhận tin anh và Kim đã làm hòa. Anh cũng có quyền giám hộ hợp pháp với em trai cùng mẹ khác cha, Nathan, người cũng làm rapper với nghệ danh "Nate Kane". Trong bài hát "Headlights" vào năm 2014, Eminem đưa ra lời xin lỗi đồng thời khẳng định lại tình yêu dành cho mẹ của anh. Rắc rối pháp lý. Vào năm 1999, mẹ của Eminem đòi anh gần 10 triệu đô la vì xúc phạm bà trong "The Slim Shady LP", nhưng chỉ nhận được khoảng 1 nghìn 600 đô la tiền bồi thường thiệt hại vào năm 2001. Eminem bị bắt giữ ngày 3 tháng 6 năm 2000 trong một cuộc ẩu đả với Douglas Dail tại một cửa hàng thiết bị âm thanh xe hơi tại Royal Oak, Michigan, khi anh rút ra một khẩu súng chưa nạp đạn và chĩa súng xuống đất. Một ngày sau, tại Warren, Michigan, anh bị bắt tiếp vì hành hung bảo vệ quán bar John Guerrera ở khu đỗ xe của quán Hot Rock Café sau khi nhìn thấy Guerrera hôn vợ mình. Eminem tái hiện lại việc tấn công Guerrera trong "The Kiss (Skit)" trong album "The Eminem Show". Eminem, bị buộc tội mang vũ khí giấu kín và hành hung, nhận tội và chịu hai năm quản chế; vụ hành hung Guerrera được bỏ nhờ dàn xếp giảm nhẹ tội. Vào ngày 7 tháng 7 năm 2000 Kim có ý định tự sát khi rạch cổ tay, và sau đó kiện Eminem vì làm nhục cô sau khi anh tưởng tượng ra một cái chết thảm khốc của cô trong "Kim". Vào ngày 26 tháng 10 năm 2000, khi Eminem chuẩn bị biểu diễn tại SkyDome ở Toronto thì trưởng tư pháp tỉnh Ontario Jim Flaherty nói rằng Eminem sẽ không được phép nhập cảnh vào Canada. Ông nói "cá nhân tôi không muốn những ai tới Canada mà lại ủng hộ bạo hành phụ nữ". Phản ứng của công chúng đối với Flaherty nhìn chung là tiêu cực vì ngăn không cho Eminem vào Canada được coi là liên quan tới vấn đề tự do ngôn luận, nghị sĩ đảng Tự do tỉnh Ontario Michael Bryant cho rằng rapper này phải bị khởi tố vì tội thù ghét, cụ thể là ủng hộ bạo hành phụ nữ trong lời bài hát của anh ta. Robert Everett-Green viết trong bài xã luận cho tờ "The Globe and Mail", "Chướng tai gai mắt là từ để mô tả công việc của Eminem", trong khi buổi biểu diễn của rapper này tại Toronto vẫn diễn ra bình thường. Nhân viên vệ sinh DeAngelo Bailey đòi Eminem 1 triệu đô vào năm 2001, buộc tội anh vì xâm phạm quyền riêng tư khi đã đăng thông tin sai về anh ta trong bài "Brain Damage", bài hát miêu tả Bailey là kẻ đầu gấu trường. Dù Bailey thừa nhận đôi xử không phải với Eminem ở trường, anh nói mình chỉ "đụng chạm" và "đẩy nhẹ" cậu ta. Vụ kiện bị bác bỏ vào ngày 20 tháng 10 năm 2003; thẩm phán Deborah Servitto, người đọc rap phần phán quyết, khẳng định rằng lời rap chỉ đơn thuần là phóng đại lên. Ngày 28 tháng 6 năm 2001, Eminem bị kết án một năm quản chế và lao động công ích đồng thời bị phạt gần 2.000 đô la vì cáo buộc về việc sử dụng vũ khí xuất phát từ cuộc tranh cãi với nhân viên của Psychopathic Records. Ngày 31 tháng 3 năm 2002, Nhạc công piano jazz Jacques Loussier đâm đơn kiện đòi 10 triệu đô từ Eminem và Dr. Dre, khi cho rằng nhịp điệu trong bài "Kill You" là từ nhạc phẩm "Pulsion" của ông. Loussier yêu cầu dừng việc bán "The Marshall Mathers LP" và bất kì bản copy nào còn bày bán phải bị tiêu hủy. Một phiên tòa được dự kiến bắt đầu vào tháng 6 năm 2004, và vụ việc được giải quyết sau đó. Vào ngày 8 tháng 12 năm 2003, Cơ quan Mật vụ Hoa Kỳ thông báo họ đang "xem xét" các cáo buộc Eminem đã đe dọa Tổng thống Hoa Kỳ. Nguyên nhân là từ lời bài hát "We As Americans" ("Fuck money / I don't rap for dead presidents / I'd rather see the president dead / It's never been said, but I set precedents"). Vụ việc sau đó được chiếu trong video bài hát "Mosh", với hình ảnh một mẩu báo cắt ra được gắn trên bức tường đầy các bài báo về những điều không may trong sự nghiệp chính trị của Bush. Bài hát sau đó được phát hành trong CD với bản deluxe của "Encore" với lời được thay đổi đi. Năm 2007 công ty phát hành nhạc của Eminem (Eight Mile Style) và Martin Affiliated kiện Apple Inc. và Aftermath Entertainment, khẳng định rằng Aftermath chưa được trao quyền đàm phán hợp đồng tải nhạc số với Apple đối với 93 bài hát của Eminem trên iTunes. Vụ kiện Apple nhanh chóng được giải quyết sau khi phiên tòa bắt đầu vào cuối tháng 9 năm 2009. Tháng 7 năm 2010, Tòa án Phúc thẩm Hoa Kỳ khu vực chín phán quyết rằng F.B.T. Productions và Eminem được bồi hoàn 50 phần trăm doanh thu thuần của Aftermath từ việc cấp phép các bản thu của anh cho các công ty như Apple, Sprint Corporation, Nextel Communications, Cingular và T-Mobile. Vào tháng 3 năm 2011, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ từ chối nghe điều trần. Năm 2013, Eminem lấy mẫu bản nhạc "Lookin' Boy" của nhóm rap tới từ Chicago Hotstylz, cho đĩa đơn hit "Rap God". Nhóm khẳng định Eminem chưa được phép sử dụng đoạn nhạc mẫu, cũng như không hề nhắc tới công hay trả tiền bồi hường cho họ. Tháng 11 năm 2013, Hotstylz ra một bài hát tỏ ý coi thường Eminem có tên "Rap Fraud", trong đó họ lấy mẫu nhiều bài của anh ta và chỉ trích anh ta vì không kể công của họ. Tháng 1 năm 2015, TMZ đưa tin Hotstylz đang đâm đơn kiện rapper này và hãng thu âm Shady Records, đòi bồi hoàn 8 triệu đôla, vì sử dụng 25 giây mẫu của bài "Lookin' Boy" trong bài "Rap God", mà không được họ cho phép. Vấn đề về thuốc. Eminem từng bộc bạch về chứng nghiện các loại thuốc kê đơn, trong đó có Vicodin, Ambien và Valium. Theo lời thành viên nhóm D12 Proof, mãi tới năm 2002 mới "tỉnh táo trở lại". Trong quá trình làm phim "8 Mile" Em mắc chứng mất ngủ do phải làm việc 16 giờ một ngày. Một nhân viên đưa cho anh một viên Ambien, thứ đã "hạ gục" Eminem, dẫn tới việc anh bắt đầu sử dụng đơn thuốc. Đây là trải nghiệm đầu tiên của Eminem về chứng nghiện thuốc, thứ có ảnh hưởng lớn với anh trong nhiều năm. Gần cuối giai đoạn sản xuất "Encore", anh toàn "chỉ đi vào trong phòng thu và giết thời gian bằng một túi đầy thuốc viên". Eminem bắt đầu dùng thuốc vì muốn "cảm thấy ổn định", sử dụng "một số lượng [thuốc] khó tin" mà anh "có thể uống ở bất kỳ đâu", cụ thể là từ "40 tới 60 viên Valium [một ngày]", còn "Vicodin, có lẽ là 30". Những thứ thuốc này thường sẽ đưa anh vào một giấc ngủ không quá hai tiếng, sau đó anh tiếp tục uống thêm. Cân nặng của anh tăng tới do thường xuyên ăn thức ăn nhanh: "Mấy đứa ở quầy thu ngân biết tôi – họ cũng chẳng cảm thấy phiền phức gì. Hoặc là tôi sẽ ngồi ở quán Denny's hay Big Boy và ăn một mình. Thật đáng buồn". Eminem trở nên không thể nhận ra do tăng cân, và từng nghe thấy hai thiếu niên tranh cãi đó có phải là anh không khi họ thấy anh: "Eminem đâu có béo." Cuộc đấu tranh với thuốc lên tới đỉnh điểm vào năm 2007 sau khi sử dụng methadone quá liều. Eminem ban đầu mua methadone từ một con buôn nói với anh rằng nó "chỉ như Vicodin, và dễ chịu với gan hơn". Sau đó anh tiếp tục mua nhiều hơn, cho tới khi quỵ ngã trong nhà tắm vào một buổi tối và được đưa tới viện. Các bác sĩ cho biết anh đã tiêu hóa một lượng thuốc tương đương với bốn bịch heroin và "cách cái chết có hai tiếng đồng hồ". Sau khi lỡ Giáng sinh với gia đình, Eminem xuất viện khi vẫn còn yếu ớt và chưa hết hoàn toàn chất độc trong cơ thể. Vì bị rách sụn chêm "sau khi ngủ đúng 10 phút," anh buộc phải làm phẫu thuật. Sau khi về nhà anh gặp triệu chứng co giật và tái phát trong vòng ba tuần. Eminem bắt đầu đi lễ nhà thờ để thanh tẩy, nhưng sau khi được hỏi xin chữ ký, anh lại tìm kiếm sự giúp đỡ từ một người tư vấn phục hồi chức năng. Anh bắt đầu một chương trình tập luyện thể dục, chủ yếu là chạy, và hồi phục hoàn toàn vào ngày 20 tháng 4 năm 2008. Elton John là người tư vấn cho Eminem thời gian này khi thường gọi Eminem tuần một lần để kiểm tra. Cáo buộc phân biệt người đồng tính. Một số ca từ của Eminem được nhiều người xem là kì thị đồng tính luyến ái. Một chính trị gia người Úc từng cố gắng cấm Eminem vào nước ông. Eminem luôn phủ nhận điều này, cho rằng khi anh trưởng thành những từ như "faggot" và "queer" (từ có một trong số các nghĩa của chúng để ám chỉ người đồng tính một cách miệt thị) là từ xúc phạm chung chứ không chỉ riêng người đồng tính. Trong một cuộc phỏng vấn của Em cho chương trình "60 Minutes", nhà báo Anderson Cooper đã khơi lên chủ đề này: Khi Cooper hỏi có phải anh không thích người đồng tính không, Eminem trả lời rằng "Không, tôi không thấy có vấn đề gì với bất kì ai. Anh biết thế nghĩa là gì không? Tôi như tất cả mọi người thôi." Anh là bạn của Elton John. Khi được hỏi ý kiến về trong cuộc phỏng vấn với tờ "The New York Times" về hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Michigan, Eminem trả lời: "Tôi nghĩ nếu hai người yêu nhau, thì làm sao chứ? Tôi nghĩ mọi người nên có cơ hội để được cảm thương như nhau, nếu họ muốn", "ý kiến về mọi thứ" của anh "trưởng thành hơn nhiều so với ngày xưa". Eminem được coi là một trong những nghệ sĩ hip hop vĩ đại nhất mọi thời đại. Anh xếp thứ 83 trong danh sách 100 nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại của "Rolling Stone" và thứ 79 trong danh sách tương tự của VH1. Vào năm 2010, MTV Bồ Đào Nha chọn Eminem là biểu tượng lớn thứ 7 trong lịch sử nhạc pop. Eminem được ghi nhận là người đã truyền cảm hứng và thúc đẩy sự nghiệp âm nhạc của những nghệ sĩ hip hop như 50 Cent, Yelawolf, Stat Quo, Royce da 5'9", Cashis, Obie Trice, Bobby Creekwater, Boogie và các nhóm nhạc D12, Slaughterhouse. Một vài nghệ sĩ coi Eminem là người có tầm ảnh hướng lớn đối với sự nghiệp của họ, bao gồm The Weeknd, Logic, Joyner Lucas, Lil Wayne, 50 Cent, Kendrick Lamar, Ed Sheeran, J. Cole, Chance the Rapper, Regina Spektor, Lana Del Rey và Juice WRLD. Anh là nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất từ năm 2000 tới năm 2010 theo Nielsen SoundScan Hoa Kỳ; với ước tính số album tiêu thụ trên toàn thế giới là 172 triệu bản, Eminem là một trong những nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất thế giới. Anh có trên 6 tỉ lượt xem trên kênh Vevo YouTube. Vào năm 2010 âm nhạc của Eminem thu hút 94 triệu lượt stream (nhiều hơn bất kì nghệ sĩ nào), và vào tháng 5 năm 2014 Spotify nêu tên anh với tư cách là nghệ sĩ được phát nhiều nhất mọi thời đại. "Love the Way You Lie" (11× bạch kim) và "Not Afraid" (10× bạch kim) là hai bài hát được chứng nhận kim cương từ RIAA giúp anh trở thành nghệ sĩ đàu tiên tại Hoa Kỳ có hai đĩa đơn được chứng nhận này tại Mỹ. Vào tháng 6 năm 2014, Eminem là nghệ sĩ nam bán đĩa chạy thứ hai kỉ nguyên Nielsen SoundScan, nghệ sĩ bán đĩa chạy thứ 6 tại Hoa Kỳ và là nghệ sĩ hip hop bán đĩa chạy nhất, với 45,1 triệu album và 42 triệu bài hát (trong đó có 31 triệu chứng nhận đĩa đơn kĩ thuật số). Eminem có mười album số một "Billboard" 200: bảy album solo (5 album phòng thu và 2 tuyển tập), hai với D12 và một với Bad Meets Evil. "The Eminem Show", "The Marshall Mathers LP", và "Encore" lần lượt là album bán chạy thứ 3, 7 và 40 trong thập niên 2000. Anh cũng có 13 single quán quân toàn cầu. Eminem được nhắc tới trong sự thăng tiến của các rapper như 50 Cent, Yelawolf, Stat Quo, Royce da 5'9", Cashis, Obie Trice, Bobby Creekwater, và nhóm rap như D12 và Slaughterhouse. Vào tháng 8 năm 2011 Eminem được tạp chí "Rolling Stone" gọi với cấi tên Ông vua Hip-Hop sau khi phân tích doanh số album, vị trí các bảng xếp hạng RB, hip-hop và rap, lượt xem YouTube, mạng xã hội, doanh thu biểu diễn, giải thưởng và các đánh giá phê bình của các rapper phát hành nhạc từ năm 2009 tới nửa đầu năm 2011. Album thành công thứ hai của anh, "The Marshall Mathers LP", là album solo bán nhanh nhất Hoa Kỳ và được xếp là một trong những album hip-hop hay nhất mọi thời đại theo "Rolling Stone", "Time" và "XXL". "Rolling Stone" xếp đây là album hay thứ 7 của thập niên 2000. Đĩa đơn thứ ba của albumm "Stan", là một trong những ca khúc của Eminem nhận được đánh giá phê bình tích cực nhất, khi Pitchfork Media gọi bài hát này là "một cột mốc văn hóa". Năm 2015, rapper Joe Budden viết một ca khúc có tên "Slaughtermouse" để tỏ lòng mến mộ Eminem. Dự án kinh doanh.
Họ Mua (danh pháp khoa học: Melastomataceae) là một họ thực vật hai lá mầm tìm thấy chủ yếu ở khu vực nhiệt đới (hai phần ba các chi có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Tân thế giới) bao gồm khoảng 188 chi và 5.005 loài (APG III, khi gộp cả họ Memecylaceae). Các loài cây này là cây thân thảo, cây bụi hay cây thân gỗ nhỏ sống một năm hay lâu năm. Lá của chúng tương đối đặc biệt, mọc đối, chéo chữ thập, và thông thường với 3-7 gân lá dọc hoặc là phát sinh từ phần gốc phiến lá, các gân lá bên trong rẽ ra ở phía trên phần gốc phiến lá hoặc gân lá hình lông chim với ba hoặc nhiều hơn các cặp gân chính rẽ ra từ đoạn giữa gân ở các điểm kế tiếp phía trên phần gốc phiến lá. Hoa lưỡng tính, được sinh ra hoặc là đơn, hoặc ở đoạn cuối hay ở nách lá, tạo thành cụm hoa xim hình chùy. Một số loài trong họ Mua bị coi là các loài xâm hại khi chúng đã thích nghi với môi trường sinh sống mới bên ngoài phạm vi phân bổ tự nhiên của chúng. Ví dụ "Miconia calvescens".
Triệu Vy (, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1976) tên tiếng Anh là Vicky Zhao hay Vicki Zhao, là một nữ diễn viên, nữ doanh nhân, đạo diễn phim, nhà sản xuất và ca sĩ nhạc pop người Trung Quốc. Cô được xem là một trong những nữ diễn viên được yêu thích nhất ở Trung Quốc đại lục và các khu vực có người nói tiếng Trung Quốc, và cũng là một trong những diễn viên được trả thù lao cao nhất. Trong thời gian đang học tại Học viện Điện ảnh Bắc Kinh, Triệu đã trở thành một nhân vật nổi bật ở tầm quốc gia và khu vực sau một đêm với vai diễn Tiểu Yến Tử ("chim nhạn nhỏ") trong bộ phim truyền hình nổi tiếng Hoàn Châu cách cách (1998-1999), bộ phim mà nhờ đó cô cũng đã giành Giải Kim Ưng cho đề mục diễn viên xuất sắc nhất. Hoàn Châu cách cách đã đạt được thành công ngoài mong đợi ở các nước Đông và Đông Nam Á, và Triệu đã được xem như là "idol quốc gia" đầu tiên của Trung Quốc kể từ khi cải cách kinh tế bắt đầu từ năm 1978. Cô là diễn viên chính trong nhiều bộ phim đạt doanh thu cao, bao gồm Đội bóng Thiếu Lâm (2001), Xích Bích (2008-2009), Họa Bì (2008), Họa Bì 2 (2012), Con Yêu Quý (2014) và Lost in Hong Kong (2015). Cô đã nhận được nhiều giải thưởng từ Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải, Huabiao Awards, Liên hoan phim Changchun, Giải thưởng Trăm Hoa và Giải thưởng phê bình phim Thượng Hải cho các phim như Tình nhân kết (2005) và Mulan (2009). Năm 2014, sau hai năm gián đoạn việc diễn xuất, cô đã xuất hiện trong bộ phim Con Yêu Quý của Peter Chan, và đã chiến thắng đề mục Giải thưởng Xã hội Phê bình Phim Hồng Kông và Giải thưởng Phim Hồng Kông cho đề mục Nữ diễn viên xuất sắc nhất. Mặc dù tập trung hầu hết cho việc tham gia đóng các bộ phim điện ảnh, công việc của cô cũng bao gồm tham gia các bộ phim truyền hình dài tập như Romance in the Rain (2001), Moment in Peking (2005) và Tiger Mom (2015). Cô cũng là một ca sĩ, bắt đầu với album đầu tay Swallow (1999), và cô đã phát hành 7 albums. Trong năm 2006, cô đã thắng Giải MTV châu Á cho hạng mục Nghệ sĩ được yêu thích từ Trung Quốc đại lục, với album Double. Năm 2011, Triệu Vy được bổ nhiệm làm phó chủ tịch Hiệp hội Diễn viên Truyền hình Trung Quốc (China Television Actors Guild). Cô đã xếp hạng thứ 80 trong danh sách 100 người nổi tiếng Trung Quốc của Tạp chí Forbes vào năm 2013, thứ 22 vào năm 2014, và 28 vào năm 2017. Tháng 6 năm 2010, Triệu Vy trở thành giám khảo cho Liên hoan phim Quốc tế Thượng Hải lần thứ 13 cùng với các đạo diễn và nhà sản xuất phim Ngô Vũ Sâm, Leos Carax, Amos Gitai, Bill Guttentag, Yōjirō Takita và Wang Xiaoshuai. Tháng 7 năm 2016, Triệu Vy tham gia ban giám khảo tại Liên hoan phim Quốc tế Venice lần thứ 73 cùng với các đạo diễn Sam Mendes, Lorenzo Vigas, Nina Hoss, Gemma Arterton, Laurie Anderson, Joshua Oppenheimer, Chiara Mastroianni và Giancarlo De Cataldo . Vào tháng 9 năm 2017, cô là giám khảo cho Liên hoan phim Quốc tế Tokyo lần thứ 30 cùng với các đạo diễn Tommy Lee Jones, Reza Mirkarimi, Martin Provost và Masatoshi Nagase . Triệu Vy đã nhận được bằng cao học về chỉ đạo phim từ Học viện Điện ảnh Bắc Kinh năm 2012. Bộ phim đầu tay do cô trực tiếp làm đạo diễn là So Young (2013), đã thành công cho cả phê bình và doanh thu phòng vé. Nó đã phá vỡ kỉ lục phòng vé cho các phim được chỉ đạo bởi các nữ đạo diễn Trung Quốc trong một tuần, và cuối cùng trở thành một trong những bộ phim có doanh thu cao nhất ở Trung Quốc. Bộ phim đã đạt được nhiều giải thưởng ở Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan, bao gồm Golden Rooster Award for Best Directorial Debut, Hundred Flowers Award for Best Director và Hong Kong Film Award for Best Film from Mainland and Taiwan. Vào ngày 3 tháng 6 năm 2015, Triệu Vy trở thành nữ diễn viên Trung Quốc đầu tiên để lại dấu tay và dấu chân của mình tại Nhà hát Trung Quốc TCL (TCL Chinese Theatre) ở Hollywood. Vào tháng 3 năm 2018, Triệu Vy được xướng tên là thành viên của ban giám khảo vòng chung kết cho Giải thưởng Hiệp hội Đạo diễn Điện ảnh Trung Quốc (China Film Director's Guild Awards) lần thứ 9, cùng với Trương Nghệ Mưu, Lý Thiếu Hồng và các đạo diễn khác. Vào ngày 27 tháng 8 năm 2021, tất cả phim điện ảnh và phim truyền hình mà Triệu tham gia đã biến mất ở trên các trang web như Tencent Video và iQiyi, và tài khoản Weibo của cô bị xóa; không có lời giải thích chính thức nào được đưa ra bởi chính quyền Trung Quốc. Những năm đầu đời. Sinh ra và lớn lên tại Vu Hồ, An Huy, là con thứ hai của Triệu Gia Hải (), một kỹ sư, còn mẹ là bà Ngụy Khải Dĩnh () làm giáo viên tiểu học. Cô có một người anh trai là Triệu Kiện (; sinh năm 1971). Sau khi học xong cấp 3, Triệu Vy đã nhập học trường Phổ thông Vu Hồ, là một trường giáo dục địa phương chuyên đào tạo sinh viên trở thành giáo viên tiểu học. Tại đây cô cũng đã được học về piano, vũ công và nghệ thuật thư pháp. Thời gian đầu sự nghiệp (1994-1997). Năm 1993, trong thời gian Triệu vẫn đang học, bộ phim Họa Hồn (1994), đạo diễn Huang Shuqin, ngôi sao Củng Lợi, và Derek Yee, đã quay tại Whuhu. Triệu đã diễn xuất trong vai một cô gái điếm trẻ sống trong nhà thổ, đây là trải nghiệm diễn xuất đầu tiên của cô. Cô đã xuất hiện ngắn tại đầu phim và không có đối thoại. Triệu đã phát triển sự đam mê mạnh mẽ sau trải nghiệm đầu tiên đó , và đã quyết định trở thành một diễn viên. Năm 1994, sau khi tốt nghiệp từ trường Phổ thông Whuhu, cô đã từ bỏ công việc của mình khi đó là giáo viên tiểu học. Cô chuyển từ quê nhà tới Thượng Hải và đã tham gia học tại Học viên Ngôi sao Xie Jin, ngôi trường dạy diễn xuất được sáng lập bởi đạo diễn Trung Quốc Xie Jin, nơi cô đã nhận được sự huấn luyện diễn xuất bài bản trong thời gian 1994-1995. Cô cũng được chọn bởi Xie để đóng trong bộ phim của ông là Penitentiary Angel (1996). Đây là vai diễn quan trọng đầu tiên của cô. Mặc dù cô thấy cô diễn không được tốt lắm, Triệu đã xem nó là một trải nghiệm quý báu và là một sự khởi đầu tốt cho sự nghiệp của cô. Bộ phim đã giúp cô dành được các vai khác trong các bộ phim truyền hình bao gồm bộ phim Sisters in Beijing (1996), phim mà cô đóng vai chính lần đầu. "Tôi quá trẻ để nhập vai", cô đã nói, "nhưng bạn đã từng diễn trong một bộ phim bởi một đạo diễn nổi tiếng, bất kể bạn làm tốt như thế nào, các đạo diễn kém nổi tiếng hơn cũng sẽ muốn bạn diễn". Năm 1996, cô khiến mọi người ngỡ ngàng khi đứng đầu bảng trong kỳ thi tuyển vào Học viện điện ảnh Bắc Kinh với số điểm 80, đồng thời trở thành hoa khôi ở trường. Sau khi vào đại học, Triệu Vy vẫn luôn sở hữu thành tích học tập xuất sắc: trong 14 môn học, có 2 môn loại A, 9 môn loại A- và trở thành sinh viên ưu tú của Học viện khóa 1996-2000. Chưa dừng ở đó, năm 2006 cô thi đậu vào hệ thạc sĩ nghệ thuật khoa đạo diễn của Học viện điện ảnh Bắc Kinh. Đồ án tốt nghiệp của Triệu Vy đạt điểm 99, số điểm cao nhất trong lịch sử khoa đạo diễn với tác phẩm nổi tiếng "Anh Có Thích Nước Mỹ Không?" Từ 1998 đến 2001. Sau khi đảm nhận một số vai nhỏ trong một số phim truyền hình và điện ảnh, Triệu Vy lần đầu tiên được đảm nhận vai chính trong phim truyền hình "Chị em gái đến Bắc Kinh". Cũng chính lúc này, cô được nữ văn sĩ Quỳnh Dao để mắt tới. Bà nhận thấy Triệu Vy tuy hơi béo một chút nhưng là một cô gái thông minh. Năm 1997, Triệu Vy phải giảm cân và nhận vai chính trong bộ phim truyền hình của Quỳnh Dao mang tên Hoàn Châu Cách Cách. Bộ phim nổi tiếng một cách nhanh chóng, trở thành cơn sốt trên nhiều nước châu Á, đưa tên tuổi Triệu Vy cùng các bạn diễn Tô Hữu Bằng, Lâm Tâm Như, Châu Kiệt lên hàng các ngôi sao mới nổi. Năm 1999, Triệu Vy trở thành nữ diễn viên trẻ nhất được nhận giải Kim Kê cho diễn viên chính xuất sắc nhất. Từ đó, Triệu Vy tiếp tục nổi tiếng với những bộ phim truyền hình và đã xuất bản những album nhạc riêng của mình. Những album này đều bán rất chạy. Năm 2001, Triệu Vy tham gia bộ phim "Đội bóng Thiếu lâm" của đạo diễn, diễn viên kiêm nhà sản xuất phim nổi tiếng Châu Tinh Trì của Hồng Kông. Trong phim, Triệu Vy đóng vai A Mai, một cô gái làm bánh xấu xí, khác hẳn với hình ảnh xinh đẹp của cô trong Hoàn Châu Cách Cách. Triệu Vy đã nhận xét về vai diễn này của mình: "Bạn có thấy không? Tôi trông thật xấu xí trong hình dáng đó". Tuy nhiên, qua vai diễn này, Triệu Vy thấy rằng cô đã học được nhiều điều. "Tôi muốn được thử thách", Triệu Vy phát biểu trong một cuộc phỏng vấn, "và anh ấy thật sự đã thử thách tôi. Ở Trung Quốc, mọi người nghĩ rằng tôi xinh đẹp, nhưng anh ấy không để cho tôi xinh đẹp. Mọi người nói rằng tôi có đôi mắt to. Anh ấy làm cho chúng nhỏ lại. Những vai diễn trước đây của tôi là những vai nghịch ngợm, tự do. Trong phim này, tôi thực sự phải nhẫn nhục. Những gì tôi làm trước đây, anh ấy đều làm ngược lại". Cũng trong năm 2001, Triệu Vy tham gia vào một bộ phim truyền hình khác của Quỳnh Dao mang tên Tân dòng sông ly biệt (bộ phim này được làm lại từ bộ phim Dòng sông ly biệt (1986), do 2 diễn viên chính là Tần Hán và Lưu Tuyết Hoa đóng). Trong phim, Triệu Vy đảm nhận vai Lục Y Bình, một cô gái xinh đẹp, có tính khí mạnh mẽ, kiên cường, nhưng lại đầy lòng hằn thù. Triệu Vy lại một lần nữa được tái ngộ với các bạn diễn của cô trong phim Hoàn Châu Cách Cách là Tô Hữu Bằng, Lâm Tâm Như. Vai diễn này thực sự giúp Triệu Vy thoát khỏi hình ảnh của nàng Tiểu Yến Tử hoạt bát, nhí nhảnh trong Hoàn Châu Cách Cách. Sau đó, Triệu Vy tiếp tục tham gia bộ phim "Thiên hạ vô song" của đạo diễn Vương Gia Vệ cùng các bạn diễn là Lương Triều Vĩ, Vương Phi. Trong phim Triệu Vy vào vai Lương Tiểu Muội. Từ 2002 đến nay. Năm 2002, Triệu Vy cùng Thư Kỳ và Mạc Văn Úy đảm nhận vai chính trong bộ phim "Gác kiếm" (có tên khác là "Tịch dương thiên sứ") do hãng Columbia Pictures của Mỹ sản xuất riêng cho thị trường châu Á. Triệu Vy đã nói cảm tưởng khi đóng phim: "Quay "Tịch dương thiên sứ" vô cùng khổ cực, mỗi ngày đều đánh đánh giết giết, mà đều là đánh thật, nhưng không phải là kiểu khoa chân múa tay đơn giản. Đạo diễn Nguyên Khuê của chúng tôi vốn là một huấn luyện viên võ thuật. Qua phim tôi đã học được rất nhiều thứ, nhưng không dùng đến trong cuộc sống hàng ngày. Tạo hình trong phim của tôi rất tự nhiên, chân thực". (trích trong Từ điển điện ảnh - Tứ tiểu hoa đán). Bộ phim nhận được những đánh giá rất tốt. Sau bộ phim Tân dòng sông ly biệt năm 2001, Triệu Vy bắt đầu lấn sang đóng phim điện ảnh. Năm 2003, cô tham gia 4 phim: "Chế tạo bạn gái", "Thiên địa anh hùng", "Trà xanh" và Ngọc Quan Âm. Ở mỗi phim, Triệu Vy đều đóng những vai khác nhau và đều rất thành công. Riêng bộ phim Ngọc Quan Âm là của đạo diễn Hứa An Hoa, một đạo diễn nổi tiếng của châu Á. Đạo diễn Hứa đã tìm kiếm rất cẩn thận người có thể đảm nhận vai nữ chính An Tâm trong phim, và cuối cùng bà đã chọn Triệu Vy. Trong phim, Triệu Vy đóng cặp với ca sĩ, diễn viên nổi tiếng Tạ Đình Phong của Hồng Kông. Vai diễn này đã tiếp tục khẳng định danh hiệu ngôi sao cho Triệu Vy. Cô đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi cho vai diễn này. Trên báo "Time Asia", Triệu Vy phát biểu: "Buổi sáng, khi tôi chuẩn bị diễn, đạo diễn Hứa nhìn rất chăm chú vào mặt và mắt của tôi để tôi tỉnh táo hay uể oải, mệt mỏi. Rồi bà nói 'Bác thấy rằng hôm qua cháu đã ngủ ngon'. Bác ấy rất hiểu về những diễn viên của mình, cứ như thể chúng tôi là những nhạc cụ chơi rất chính xác vậy". Năm 2004, Triệu Vy lồng tiếng công chúa Fiona trong bộ phim hoạt hình Shrek 2 bằng tiếng Trung. Sau đó, cô nhận được giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Liên hoan phim sinh viên Bắc Kinh lần thứ 11 cho vai diễn trong phim "Thiên địa anh hùng", cho dù trong phim này, Triệu Vy chỉ có đúng 25 lời thoại. Năm 2005 là năm thực sự thành công đối với cô, khi cô được nhận giải Ảnh hậu tại Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải và giải Diễn viên chính xuất sắc nhất trong Liên hoan phim Hoa Biểu cho vai diễn trong phim "Tình nhân kết". Vẫn với vai diễn này, Triệu Vy tiếp tục nhận vai nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong Liên hoan phim Trường Xuân - Trung Quốc năm 2006. Năm 2004, sau bốn năm trời vắng bóng trên màn ảnh truyền hình, Triệu Vy hội ngộ khán giả màn ảnh nhỏ trong bộ phim Kinh hoa yên vân với vai diễn Diêu Mộc Lan. Khi so sánh vai diễn này với các vai diễn trước của cô, 80% khán giả đều thích vai diễn này hơn. Tại Liên hoan điện ảnh-truyền hình 2006, với vai diễn Diêu Mộc Lan cô lại ẵm giải "Nữ diễn viên truyền hình yêu thích nhất" - giải thưởng truyền hình sau 4 năm vắng bóng. Sau đó, Triệu Vy được xếp vị trí thứ 4 trong top những người Trung Quốc nổi tiếng của tạp chí "Forbes". Cũng trong năm 2006, sau khi hoàn thành bộ phim Kinh hoa yên vân, cô tham gia 2 phim điện ảnh là "Đêm Thượng Hải" và "Cuộc sống hậu hiện đại của dì tôi". Trong "Đêm Thượng Hải", Triệu Vy vào vai một người lái taxi. Bộ phim sẽ được công chiếu vào năm 2007. Bên cạnh đó, bộ phim "Cuộc sống hậu hiện đại của dì tôi" cũng được đem tham dự nhiều liên hoan phim quốc tế, trong đó có Liên hoan phim quốc tế Toronto. Triệu Vy cũng nhận được giải Diễn viên phụ xuất sắc nhất với vai diễn trong phim tại giải Kim Mã. Năm 2005, Triệu Vy tham gia kì thi tuyển nghiên cứu sinh cho hai chuyên ngành đạo diễn và diễn viên tại Học viện Điện ảnh Bắc Kinh, trường cũ của cô. Cô đạt số điểm rất ấn tượng, đặc biệt với một minh tinh nổi tiếng và vào nghề 10 năm mà vẫn thu được kết quả rất cao, chứng tỏ những câu bàn luận về Triệu Vy trước đây rất đúng - Triệu Vy rất ham học, đọc sách là niềm hứng thú của cô ấy. Sau khi thi đỗ, vào tháng 9 năm 2006, Triệu Vy nhập học khóa học đạo diễn như những sinh viên bình thường khác. Theo như nguồn tin do diễn viên, giảng viên Hoàng Lỗi: Triệu Vy sẽ được giữ lại giảng dạy tại Học viện Điện ảnh. Nhưng quyết định cuối cùng thuộc về Triệu Vy. Hiện tại, Phim truyền hình "Cảm ơn anh đã từng yêu em" đã trình chiếu trên các Đài Trung Quốc, khiến rất nhiều bạn xem yêu thích. "Đêm Thượng Hải" đang công chiếu tại Trung Quốc với lượng vé rất đáng nể, Triệu Vy nói tạm biệt với biệt hiệu "thuốc độc phòng vé" - đây là câu mở đầu rất nhiều trang báo thời gian gần đây. Sắp tới sẽ trình chiếu tại Nhật Bản. Hi vọng sẽ tạo cơn sốt phòng vé như ở Trung Quốc. Với vai diễn xuất sắc Lâm Tịch, cô lại cũng nhận giải" Nữ diễn viên được yêu thích nhất" tại Liên hoan phim Sinh viên lần thứ 14 vừa rồi và " Nữ viễn viên xuất sắc" tại Liên hoan phim Quốc tế Thượng Hải lần 10. Năm 2007, Triệu Vy lại có dịp thực hiện giấc mơ võ hiệp, một thể loại mà cô đã khá thành công. Năm 2007, cô tham gia phim điện ảnh Xích Bích với nguồn kinh phí lớn nhất lịch sử Hoa Ngữ hơn 80 triệu USD, do trụ sở điện ảnh Hollywood liên thủ với Tập đoàn điện ảnh Trung Quốc, tập đoàn Anh hoàng Hồng Kông và xí nghiệp phim Tử Cấm Thành Bắc Kinh, tập đoàn truyền thông Thành Đô cùng bỏ vốn đầu tư. Phim quy tụ hàng loạt ngôi sao tên tuổi như: Triệu Vy, Lương Triều Vĩ, Lâm Chí L Cuối năm 2012, Triệu Vy được giới truyền thông Đức ca ngợi là "Angelina Jolie châu Á". Tháng 5 năm 2013, Triệu Vy giành thắng lợi lớn cho "Gửi thanh xuân", bộ phim đầu tay do cô đạo diễn. Phim đã thu được 350 triệu NDT, tương đương với 56,8 triệu USD. Năm 1999, Triệu Vy gia nhập làng âm nhạc và cho ra album dầu tiên mang tên "Tiểu Yến Tử", trong đó bao gồm nhiều bài hát trong phim "Hoàn Châu Cách Cách". Cùng năm, album thứ hai "Ái tình đại ma chú" được xuất bản. Năm 2001, Triệu Vy xuất bản album thứ 3 "The last separation". Cả ba album này đều bán rất chạy ở Trung Quốc với số lượng hơn 3 triệu bản, nhưng lại không nhận được sự hưởng ứng từ các nhà phê bình. Trong album "Tân dòng sông ly biệt", Triệu Vy đã thể hiện nhiều bài hát do nữ văn sĩ Quỳnh Dao viết lời. Trong bộ phim cùng tên, nhân vật Lục Y Bình mà cô đảm nhiệm cũng thể hiện rất nhiều bài hát. Trong chương trình giao lưu ca nhạc Việt Nam - Trung Hoa ""Sứ giả hữu nghị" vào tháng 12 năm 2001, Triệu Vy song ca với Đan Trường trong ca khúc nhạc phim "Tân dòng sông ly biệt"" mang tựa đề Việt "Biệt khúc chờ nhau". Đây được xem là một màn trình diễn ấn tượng giữa hai giọng ca Việt - Trung. Sau 3 năm vắng bóng trên thị trường âm nhạc để chú trọng cho việc đóng phim, năm 2004, Triệu Vy cho ra album thứ 6 với tiêu đề "Phiêu". Triệu Vy coi album này như lời phản kháng của cô trước những tin đồn không hay. Cả các fan hâm mộ lẫn các nhà phê bình đều nhận thấy album mới đã thể hiện sự trưởng thành hơn và kĩ thuật hát cũng như sự biểu lộ cảm xúc của Triệu Vy tốt hơn. Trong album có rất nhiều bài hit như "Dần dần", "Ngày chủ nhật trời mưa". Album mới nhất của cô mang tên "Song" - nói về một Triệu Vy hai tính cách, một Triệu Vi trẻ trung, thời thượng, một Triệu Vy thanh nhã, tươi mới - với các bài đáng chú ý như "Phần nhỏ bé", "Tôi và Thượng Quan Yến", trong đó còn có bài "Phát hiện", ca khúc chủ đề phim "Kinh hoa yên vân". Sự nghiệp ca hát của Triệu Vy bắt đầu tỏa sáng khi cô nhận được một loạt các giải thưởng lớn như trong album " Phiêu " ca khúc "Dần Dần" được bình chọn là ca khúc của năm 2004. Ca khúc "Ngày chủ nhật mưa" giúp Triệu Vy thắng đậm tại giải Tuyết Bích - Triệu Vy thắng lớn với 3 giải (giải Nghệ sĩ kiệt xuất toàn năng; giải Ca sĩ yêu thích nhất - do khán giả bình chọn, giải "10 ca khúc vàng" cho bài "Chủ nhật trời mưa"). Ngày 19 tháng 3 năm 2005, tại buổi lễ phát giải lần thứ 12 của Đông Phương Phong Vân Bảng, với ca khúc "Dần Dần", Triệu Vy nhận 3 giải thưởng Top 10 Ca khúc vàng của năm, Video clip xuất sắc nhất và Biểu diễn sân khấu xuất sắc nhất, những thành tích đã đạt không làm mọi người ngạc nhiên nhưng điều khiến khán giả có mặt hôm đó kinh ngạc chính là cách tạo hình ấn tượng với mái tóc được làm xù lên. Album "Song" còn đem lại cho Triệu Vy nhiều thành công hơn, tại Bảng xếp hạng Top Trung Quốc Music Radio 2005, Triệu Vy thắng lớn với giải Nữ ca sĩ được yêu thích nhất khu vực đại lục, giải nhất ca khúc vàng 2005 với ca khúc "Tôi và Thượng Quan Yến"). Album "Song" của Triệu Vy đã lọt vào danh sách album nhạc của năm cùng với 26 album khác như: "U87" của Trần Dịch Tấn, "Gặp gỡ bất ngờ" của Chu Tấn, "Tiêu Bang tháng 11" của Chu Kiệt Luân, "Một ngày hoàn mĩ" của Tôn Yến Tư, "Look" của Lương Vịnh Kì, "Tinh Chiến" của Cổ Cự Cơ, "Trọn một đêm" của Lưu Nhược A, cô lại được nhận giải Nghệ sĩ được yêu thích nhất từ Trung Hoa đại lục của MTV châu Á. Với những giải thưởng lớn, có thể nói Triệu Vy hiện đang là nữ ca sĩ số 1 của Trung Quốc và trở thành hiện tượng độc của Trung Quốc lẫn châu Á. Với những thành công mà hai Album "phiêu" và "song" đem lại, cô lại tiếp tục chuẩn bị cho ra mắt Album mới với sự hợp tác lần đầu với MBOX, bìa album được chụp tại Hàn Quốc, cảnh quay được tiến hành tại NewZealand, mang phong cách nhạc Jazz. Để chuẩn bị cho ra lò Album mới, MBOX đã không tiếc tiền đầu tư những khoản kếch xù cho ca sĩ Triệu Vy. Album cũng đánh dấu sự mở đầu cho sự nghiệp đạo diễn của Triệu Vy. Album được cô chỉ đạo theo như các nhân viên theo đoàn cho biết là rất tỷ mỉ, đặc sắc. Tạo hình cho Triệu Vy lần này là các nhân viên hoá trang nổi tiếng Hàn Quốc đã từng tạo hình cho Rain, Lương Triều Vỹ, Kim Hee S, ca khúc mở đầu album mang tên " Hành trang thiên sứ" đã chính thức trình làng mang lại một cảm giác mới cho khán giả, lập tức ca khúc có trong các Top nhạc của các trang nghe nhạc trên toàn Trung Quốc với tỉ suất nghe cao ngất ngưởng. Theo trang "163" tối 26/8/2021, tên "Triệu Vy" đã chính thức bị xóa khỏi các nền tảng video như "Iqiyi, Tencent Video". Các bộ phim mà cô ta đóng chính như "Hoàn Châu cách cách, Tân dòng sông ly biệt, Kinh hoa yên vân"... cũng được cho là không thể tìm thấy trên "Tencent Video". Những nền tảng trên chưa công bố lý do xóa tên những bộ phim mà Triệu Vy từng tham gia, nhưng nhiều khán giả cho rằng các động thái trên có liên quan đến những scandal trong quá khứ của nữ diễn viên này. Từ giữa tháng 8 đến nay, hàng trăm nghìn khán giả Trung Quốc đã yêu cầu Triệu Vy rút lui khỏi giới giải trí. Trên "Weibo" của Triệu Vy, nhiều người vẫn còn nhắc lại scandal cô diện trang phục in hình cờ Nhật Bản vào năm 2001 (do người dân Trung Quốc lúc bấy giờ vẫn đang có tâm lý bài Nhật) hay bê bối gian lận kinh doanh vào năm 2018. Triệu Vy từng nhiều lần hứng chịu làn sóng tẩy chay tại Trung Quốc. Năm 2016, cô ta bị chỉ trích do mời Đới Lập Nhẫn - người được cho là ủng hộ Đài Loan tách ra khỏi Trung Quốc - đóng phim "Không còn tình yêu khác". Cô còn bị chỉ trích vì mời diễn viên Nhật Bản Mizuhara Kiko góp mặt trong dự án, dù Mizuhara Kiko từng đăng một bài viết có nội dung nhục mạ cộng đồng người Hoa. Sau đó, Triệu Vy xin lỗi khán giả vì không tìm hiểu kỹ trước khi chọn diễn viên, gây tổn thương tới công chúng. Phim "Không còn tình yêu khác" bị cấm sóng.
Nakashima Mika ( (Trung Đảo Mỹ Gia), Nakashima Mika sinh ngày 19 tháng 2 năm 1983) là một nữ ca sĩ kiêm diễn viên Nhật Bản. Chiều cao : 160 cm Nakashima Mika sinh tại tỉnh Kagoshima, vùng Kyushu, Nhật Bản. Ngay từ khi còn nhỏ, cô đã luôn mơ ước trở thành ca sĩ. Sau đó, cô quyết định không học trung học, và theo đuổi giấc mơ âm nhạc của mình. Mika đã gửi cuốn băng demo đầu tiên đến một hãng thu âm và họ đã cho cô một cơ hội. Cô đã được chọn ra từ 3000 cô gái, để đóng vai nữ chính trong phim truyền hình "Kizudarake no Love Song (Scarred Love Song)" trên đài truyền hình Fuji TV vào mùa thu 2001. Tháng 11 năm 2001, hãng Sony Music Associated Records phát hành đĩa đơn đầu tiên của cô mang tựa "Stars", cũng là ca khúc chủ đề của phim. Đĩa đơn thứ hai "Crescent Moon" (là một bản nhạc nhảy mang giai điệu của những năm 1980) chỉ phát hành 100.000 bản. Đĩa đơn này đã bán hết trong ngày đầu tiên phát hành. Tháng 3 năm 2002, cô phát hành đĩa đơn thứ ba "One Survive" (đã nhận được phản hồi rất tốt) và tuyển tập phim ca nhạc đầu tiên "Film Lotus". Cũng trong năm 2002, đĩa đơn thứ tư "Helpless Rain" vào tháng 5 và đĩa đơn thứ năm "Will" vào tháng 8 được phát hành. Kết quả là 200.000 đĩa đã bán được và gặt hái nhiều ca khúc Top Ten. Đĩa nhạc đầu tay "True" được phát hành vào tháng 8 năm 2002, đã đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Oricon. Chỉ trong vòng 3 tuần, đĩa này đã đạt mức 1 triệu bản. Kỷ niệm tròn một năm khởi nghiệp, Mika phát hành đĩa nhạc đặc biệt "Resistance". Đĩa nhạc này đã đạt vị trí quán quân trong 2 tuần liên tục. Vào ngày 18 tháng 12, phim tài liệu "Kiseki: the document of a start" được phát hành. Năm 2002 cũng là một năm thành công của Mika khi cô được nhận các giải thưởng "Nghệ sĩ mới của năm" tại giải thưởng Japan Gold Disc Awards, giải thưởng Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất của năm tại giải thưởng Japan Request Awards, và giải thưởng Nghệ sĩ mới của năm tại giải thưởng Japan Record Awards lần thứ 44. Mika đã trở thành một trong những giọng ca nữ nổi tiếng nhất tại Nhật Bản. Những bài hát nổi tiếng của cô bao gồm ca khúc cuối phim Gundam Seed là "Find the Way", "Sakurairo Maukoro" và "Yuki no Hana". Riêng ca khúc "Yuki no Hana" được trình bày lại bởi hai ca sĩ Hàn Quốc là Park Hyo-Shin và Seo Young-Eun trong phim truyền hình Hàn Quốc "Mianhada Saranghada" (Xin lỗi, Anh Yêu Em). Đây cũng là một trong những ca khúc karaoke thịnh hành nhất tại Nhật Bản trong năm 2004. Cũng trong năm 2004, cô đã hát ca khúc kết thúc của phim anime dựa trên manga "Hi no tori", được phát sóng trên đài truyền hình NHK. Trong năm 2005, cô diễn xuất cùng nữ diễn viên Miyazaki Aoi trong phim điện ảnh NANA, dựa trên manga cùng tên, được khởi chiếu vào ngày 10 tháng 9 năm 2005. Mika cũng đã hát hai trong số những ca khúc chủ đề trong phim. Các ca khúc được phát hành trong đĩa đơn "Glamorous Sky" với tên nghệ danh là "Nana starring Mika Nakashima". Ca khúc chủ đề "Glamorous Sky" được viết lời bởi tác giả manga Yazawa Ai và được soạn nhạc bởi hyde (vocalist của L'Arc-en-Ciel). Đây cũng là đĩa đơn quán quân đầu tiên của Mika trên bảng xếp hạng Oricon. Đĩa này đã bán được hơn 423.000 bản, trở thành đĩa đơn bán chạy nhất trong năm 2004 của một nữ ca sĩ, và là đĩa đơn bán chạy thứ 10 trong năm. Đĩa đơn tiếp tục bán chạy trong năm 2006 và đã bán được tổng cộng 442.000 bản, chỉ kém 10.000 bản so với đĩa đơn "Endless Story" của nữ diễn viên cùng diễn xuất trong phim Nana là nữ ca sĩ Ito Yuna. Đĩa đơn thứ 17 của Mika, mang tên "Cry No More" được phát hành vào tháng 2 năm 2006. Đĩa này bao gồm hai ca khúc: "Cry No More" (ca khúc kết thúc thứ hai của anime Blood+) và "Black Blue".
Lý An (đạo diễn) Lý An (sinh ngày 23 tháng 10 năm 1954) là một nam đạo diễn, nhà sản xuất kiêm nhà biên kịch phim người Đài Loan đã từng ba lần đoạt giải Oscar. Ông là đạo diễn người châu Á đầu tiên từng thắng giải Oscar cho hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất và là một trong số ít đạo diễn từng thắng giải này trên hai lần. Lý An được xem là một trong những đạo diễn hàng đầu trên thế giới. Hiện nay, ông là vị đạo diễn đầu tiên thành công với cả hai thể loại phim nghệ thuật lẫn thương mại tại Hollywood. Lý An sinh ngày 23 tháng 10 năm 1954 tại Triều Châu, Bình Đông thuộc phía nam của đảo Đài Loan. Cha ông là một nhà giáo dục Đài Loan di cư từ Trung Quốc Đại lục. Em trai ông cũng là một đạo diễn Năm 1975, ông tốt nghiệp trường Đại học Nghệ thuật Quốc gia Đài Loan sau đó đến Mỹ theo học ngành đạo diễn sân khấu tại Đại học bang Illinois và ngành sản xuất phim tại Đại học New York. Năm 1985 ông đạt giải thưởng đầu tiên. Năm 1992 ông ra mắt bộ phim đầu tay sau nhiều năm viết kịch bản mang tên "Những Bàn Tay Kiên Định", một phim hài về cộng đồng người Đài Loan tại New York. Bộ phim thứ hai, "Hỷ yến" ra mắt năm 1993 đã gây tiếng vang lớn và thể hiện rõ phong cách làm phim của Lý An, đó là "xoáy sâu vào tâm lý của con người". Phim đoạt giải Gấu Vàng tại liên hoan phim Berlin và Đạo diễn xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Seattle cũng như được đề cử Quả Cầu Vàng và Oscar. Năm 1994, bộ phim "Ẩm thực nam nữ" đã cho thấy Lý An không chỉ có những tác phẩm thành công về mặt nghệ thuật mà cả doanh thu. Phim đã được đề cử giải Oscar Phim Nước Ngoài hay nhất và BAFTA. Lý An bắt đầu làm phim tại Hollywood. "Sense and Sensibility" mang lại đề cử Nữ diễn viên phụ xuất sắc cho Kate Winslet, đoạt giải Kịch bản chuyển thể cho Emma Thompson và được đề cử Phim hay nhất tại Oscar, đoạt giải Gấu Vàng tại Liên hoan phim Berlin và rất nhiều giải thưởng điện ảnh của Anh, được Hội Phê Bình Quốc gia bình chọn là đạo diễn xuất sắc nhất của năm. Năm 1997, vẫn với phong cách phim tâm lý xã hội, bộ phim "Bão Lạnh" với hàng loạt ngôi sao Hollywood tham gia đã mang về cho Lý An thêm nhiều thành công khác, đặc biệt là tại Liên hoan phim Cannes. Năm 1999, Lý An thử sức với đề tài nội chiến với sự diễn xuất của nữ ca sĩ Jewel, phim "Ride with the Devil". Từ năm 2000 đến nay, ông đã cho ra mắt những bộ phim xuất sắc trong lịch sử điện ảnh, đỉnh cao nhất là các bộ phim "Ngọa Hổ Tàng Long", "Brokeback Mountain" và "Cuộc đời của Pi". Gần đây hơn, ông đã cho ra mắt bộ phim "Đàn ông Song Tử" vào năm 2019. Ông nhận giải Đạo diễn xuất sắc nhất của Hiệp Hội Đạo diễn Hoa Kỳ đầu năm 2001. Năm 2002 bộ phim "Ngọa Hổ Tàng Long" của ông đã trở thành một hiện tượng trong làng điện ảnh thế giới với 4 giải Oscar và số doanh thu khổng lồ 130 triệu đô la Mỹ. Năm 2006, ông đoạt Giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất cho phim "Brokeback Mountain". Năm 2013, ông đoạt Giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất cho phim "Cuộc đời của Pi".
Họ Trâm bầu hay họ Bàng (danh pháp khoa học: Combretaceae), là một họ thực vật có hoa. Họ này bao gồm khoảng 600 loài cây thân gỗ, cây bụi và dây leo phân bố trong 10-20 chi, tùy theo phân loại. Họ này bao gồm một số loài cây như trâm bầu ("Combretum quadrangulare"). Ba chi "Conocarpus", "Laguncularia" và "Lumnitzera" sinh sống trong các rừng ngập mặn. Họ Combretaceae phân bố rộng ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Một số loài trong họ này là các loại cây lấy gỗ tốt trong xây dựng, bao gồm chò xanh ("Terminalia myriocarpa"). Về giới hạn các chi, đặc biệt là với "Combretum", xem Stace (2007), trong khi Maurin "et al." (2010) gợi ý rằng các giới hạn của chi "Terminalia", như phân loại đề cập dưới đây là cận ngành, cần được mở rộng; các giá trị hỗ trợ cho sự thay đổi này trong bất kỳ trường hợp nào là rất cao. Phân loại hiện tại chia họ này ra như sau: Phát sinh chủng loài. Chi "Strephonema" có thể là chị-em với phần còn lại của họ. Hai chi "Lumnitzera" và "Laguncularia" đều là thực vật rừng ngập mặn, là các đơn vị phân loại chị-em, nhưng "Conocarpus", cũng được tìm thấy trong các môi trường sống tương tự, lại không có quan hệ họ hàng gần trực tiếp. Quả thực, M. Sun "et al." (2016) cho rằng "Conocarpus" là chị em với phần còn lại của họ, mặc dù các mối quan hệ khác là như đề cập trên đây. Maurin et al. (2010) đưa ra các chi tiết cụ thể về các mối quan hệ trong phạm vi họ này, đặc biệt là trong các chi lớn như "Terminalia" và "Combretum".
Chương Tử Di (sinh ngày 9 tháng 2 năm 1979) là một nữ diễn viên người Trung Quốc, một trong Tứ đại Hoa đán bên cạnh Châu Tấn, Triệu Vy và Từ Tịnh Lôi. Vai chính đầu tiên của Chương Tử Di là trong phim Đường về nhà (1999). Với vai diễn Ngọc Kiều Long trong Ngọa hổ tàng long (2000) đã đưa Chương Tử Di lên đỉnh cao sự nghiệp. Bộ phim giúp cô thắng Giải Tinh thần độc lập cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất, được đề cử BAFTA cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất. Sau đó, Chương Tử Di tiếp tục đóng vai chính trong những bộ phim như "Giờ cao điểm 2" (2001), Anh hùng (2002), 2046 (2004). Bộ phim Thập diện mai phục (2004) cũng giúp cô tiếp tục được đề cử BAFTA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Và Hồi ức của một geisha(2005), Chương Tử Di nhận được đề cử Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất, đề cử Giải BAFTA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và đề cử Giải SAG cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Chương Tử Di sinh ra và lớn lên ở Bắc Kinh, Trung Quốc trong gia đình có cha là Zhang Yuanxiao, một kế toán còn mẹ là Li Zhousheng làm giáo viên mẫu giáo. Cô cũng có anh trai tên là Zhang Zinan (sinh năm 1973) sau này kết hôn với nữ diễn viên Ân Húc. Cô bắt đầu học múa từ năm 8 tuổi Năm 11 tuổi, cô theo học khoa múa của Học viện múa Bắc Kinh theo ý của cha mẹ. Khi còn học ở trường, Chương Tử Di không được lòng giáo viên cũng như bạn bè cùng lớp và cô cũng không thích họ đến nỗi còn bỏ trốn khỏi trường. Ở tuổi 15, Chương Tử Di đã giành vô địch giải khiêu vũ trẻ quốc gia và bắt đầu xuất hiện trên các quảng cáo ở Hồng Kông. Năm 1996, Chương Tử Di chính thức trở thành sinh viên của Học viện Hý kịch Trung ương ở tuổi 17. Bắt đầu sự nghiệp (1999-2000). Năm 1998, khi vẫn còn đang học tại Học viện hý kịch trung ương, Chương Tử Di đã được đạo diễn Trương Nghệ Mưu mời đóng vai nữ chính trong bộ phim Đường về nhà của ông. Thành công của bộ phim giúp cô đoạt giải Gấu bạc tại Liên hoan phim Berlin năm 2000. Cô giành giải Ảnh hậu Bách Hoa lần thứ 23 nhờ vai diễn đầu tay. Đây cũng là một khởi đầu vững chắc cho sự nghiệp sau này của Chương Tử Di. Tham gia đóng phim sử thi võ thuật và tạo bước đột phá tại quốc tế (2000-2006). Danh tiếng của Chương Tử Di vang rộng trên đấu trường quốc tế nhờ vào bộ phim "Ngọa hổ tàng long" (2000) với vai diễn Ngọc Kiều Long. Nhờ bộ phim mà cô đã giành được nhiều giải lớn như Giải Hiệp hội phê bình phim Chicago cho Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất, Giải Hiệp hội phê bình phim Toronto cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất, Giải Tinh thần độc lập cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất và đề cử giải BAFTA cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất. Mặc dù đã thực hiện nhiều cảnh đánh nhau trong Ngọa hổ tàng long nhưng Chương Tử Di thật sự không biết võ thuật, cô chỉ dựa vào những kỹ năng múa vốn có của mình để bắt chước kung fu. Bộ phim Mỹ đầu tiên mà Chương Tử Di đóng là Giờ cao điểm 2 (2001), đóng cùng với Thành Long. Sau đó, Chương Tử Di tiếp tục xuất hiện trong bộ phim "Anh hùng" của đạo diễn Trương Nghệ Mưu. Trong phim, cô vào vai Như Nguyệt, học trò của Tàn Kiếm (Lương Triều Vỹ đóng). Bộ phim đã thành công về mặt thương mại ở Mỹ, được đề cử giải Oscar và Quả Cầu Vàng cho Phim nước ngoài hay nhất. Năm 2003, Chương Tử Di đóng vai chính trong Bướm tím, bộ phim được tham gia trình chiếu ở Liên hoan phim Cannes 2003. Năm 2004, Chương Tử Di trở lại dòng phim võ thuật với bộ phim "Thập diện mai phục", cũng được đạo diễn bởi Trương Nghệ Mưu, đóng cùng với Kim Thành Vũ và Lưu Đức Hoa. Để có thể diễn vai nữ chính Tiểu Muội bị mù trong phim, Chương Tử Di đã phải sống 2 tháng như mù thật sự. Bộ phim đã giúp cô được đề cử BAFTA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Bộ phim 2046 của Vương Gia Vệ với sự tham gia của nhiều diễn viên nổi tiếng nhất Trung Quốc lúc bấy giờ, Chương Tử Di đã may mắn được đóng nữ chính bên cạnh Lương Triều Vỹ. Cô cũng giành được Giải Hiệp hội phê bình phim Hồng Kông cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và Giải điện ảnh Hồng Kông cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Cô cũng tham gia bộ phim của Nhật Bản là Công chúa Racoon vào năm 2005 của đạo diễn Seijun Suzuki và cũng được trình chiếu tại Liên hoan phim Cannes cùng năm đó. Cũng trong năm 2005, Chương Tử Di đóng vai chính Sayuri trong bộ phim Mỹ "Hồi ức của một geisha" cùng với Củng Lợi và Dương Tử Quỳnh. Bộ phim đã gây tranh cãi lớn khi để cho diễn viên Trung Quốc vào vai geisha Nhật Bản. Bộ phim giúp cô được đề cử Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất, đề cử Giải BAFTA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và đề cử Giải SAG cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Ngày 27/6/2005, Chương Tử Di nhận lời mời của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh (AMPAS), được đứng trong hàng ngũ những người có thể biểu quyết trong việc trao các hạng mục giải Oscar. Tháng 5/2006, Chương Tử Di được chọn là một trong những thành viên ban giám khảo của Liên hoan phim Cannes năm đó. Năm 2007, Chương Tử Di tham gia lồng tiếng cho nhân vật Karai trong bộ phim hoạt hình Mỹ TMNT. "Bài chi tiết: Danh sách giải thưởng và đề cử của Chương Tử Di"
−0 là biểu diễn của số âm không (0) (tiếng Anh: "negative zero") - một con số tồn tại trong máy tính, phát sinh do một số phương pháp biểu diễn số nguyên âm và hầu hết các phương pháp biểu diễn số chấm động ("floating point"). Có nhiều phương pháp được sử dụng để biểu diễn số âm trong máy tính. Trong những phương pháp đó, có một số phương pháp làm cho số không có thể được biểu diễn ở hai dạng: một dạng có dấu (−) và một dạng không dấu (+). Số âm không là dạng biểu diễn có dấu của số không. Toán học không có định nghĩa tương đương về số âm không. Do đó, −0 và 0 là hoàn toàn như nhau. Trong các khoa học khác, −0 có thể được sử dụng để biểu thị một số lượng nhỏ hơn không, nhưng không đáng kể, nên không thể làm tròn thành một con số có nghĩa. Với số nguyên (xét mẫu 8 bit), phương pháp dấu lượng ("sign-and-magnitude") biểu diễn số âm không sang hệ nhị phân thành 10000000;với phương pháp biểu diễn số bù 1 ("one's complement"), con số đó là 11111111. Với chuẩn số chấm động IEEE 754 số âm không được biểu diễn theo cách sau: *Tất cả các bit biểu diễn độ lớn của số, bao gồm phần nằm trước (phần định trị, tiếng Anh: "mantissa") và phần nằm sau (phần mũ, tiếng Anh: "exponent") dấu chấm thập phân, đều là 0. *Bit dấu là 1. Hiện nay, phương pháp biểu diễn số nguyên âm thông dụng nhất là phương pháp biểu diễn số bù 2 ("two's complement"). Phương pháp bù 2 không làm phát sinh số âm không. Đây là lý do khiến nó được sử dụng rộng rãi, vì nhờ chỉ có một dạng biểu diễn cho số không, các phép toán có thể được thực hiện dễ dàng hơn. Tính chất và cách sử dụng. Trong các ngôn ngữ lập trình như C, C#, C++, Java, ta có thể thu được số âm không khi thực hiện một số biểu thức tính toán đặc biệt. Tuy số âm không (−0) và số dương không (+0) là hai số khác nhau, nhưng với các ngôn ngữ này, chúng sẽ bằng nhau khi thực hiện phép so sánh. Do đó, cần chú ý rằng, ta không thể dùng đoạn mã sau (Java) để xác định xem một số có phải là số −0 hay không? // Giả sử giá trị của a là −0 và b là +0 S("a là số âm không"); Khi cần xác định xem một số có phải là số âm không hay không, ta có thể sử dụng hàm codice_1 định nghĩa bởi chuẩn IEEE 754. Ta dùng hàm này để sao chép dấu của số −0 sang một số khác không, rồi xác định dấu của −0 thông qua số này. Ta cũng có thể sử dụng phép chia để phân biệt số âm không và số dương không: Dưới đây là một số kết quả của các phép toán có số âm không: Sử dụng số âm không trong khoa học. Trong khí tượng học, để tiện thống kê, người ta có sử dụng số âm không. Số âm không được sử dụng để biểu diễn nhiệt độ dưới không nhưng chưa đủ nhỏ để có thể làm tròn thành −1. Ví dụ: giả sử nhiệt độ đo được là −0,2. Rõ ràng, đây là nhiệt độ dưới không. Vì việc quan sát những nhiệt độ nhỏ hơn không rất quan trọng nên ta không thể làm tròn −0,2 thành 0. Hơn nữa, ta cũng không thể làm tròn −0,2 thành −1. Lúc đó, người ta sử dụng −0.
Cây cảnh (hoặc cây kiểng) là một số loại thực vật được chăm sóc, gieo trồng và tạo dáng công phu, thường dùng làm vật trang trí hay một chi tiết trong thuật phong thủy. Cây cảnh được bài trí có khi nhằm thể hiện một ý tưởng của người trồng qua cách xếp đặt mà vẫn giữ được vẻ tự nhiên của lá. Thân cây được uốn theo một hình dáng nào đó, còn gọi là "thế", kết hợp với chậu, đất hay nước là môi trường dinh dưỡng cho thực vật ấy. Bên cạnh mục tiêu làm cảnh (vì lẽ này cây cảnh đã được tuyên lên thành nghệ thuật như ở Nhật Bản có bon-sai) cây cảnh còn là một loại hàng hóa được kinh doanh không theo một khung giá cố định nào mà phần nhiều tùy hứng của người bán và người mua hoặc tùy tâm của người bán. Cây cảnh bonsai phát sinh ở phương Đông, có thể khẳng định là ở Trung Quốc, và nay đã đi vào cuộc sống như một mỹ tục, một thú chơi thể hiện một phần tâm hồn của người dân mọi vùng miền trong đó có Việt Nam. Các nghệ nhân đã gửi gắm vào cây cảnh tình cảm, ý niệm thẩm mỹ, tính chất của mình làm tăng thêm lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu đất nước để tự khẳng định và hoàn thiện mình. Nghệ thuật chơi cây cảnh có tính quần chúng rộng rãi, tính dân tộc đậm đà, tính nhân văn cao quý, tính thẩm mỹ độc đáo, tính triết học sâu sắc tính sáng tạo mới mẻ, tính kinh tế cao. Ở Việt Nam, từ cây cảnh được dùng phổ biến hơn, cách gọi bonsai chủ yếu ở các tỉnh thành phía nam. Mới đây, cách gọi mới được khá nhiều người tán đồng ủng hộ là "Cây cảnh nghệ thuật" Chơi cây cảnh trồng cây cảnh bao giờ cũng phải coi trọng gốc cây - gốc có to có khỏe thì cây mới mạnh, gốc phải to hơn thân. Gốc càng to càng thể hiện cây đã sống lâu năm. Nếu gốc có nhiều rễ nổi, rễ sum suê càng đẹp. Cây trồng trong chậu phải là một gốc, trừ một số thế cây quần tụ. Giữạ chiều cao và bề rộng của cây phải có sự tương xứng. Thân cây mềm mại duyên dáng, xiêu nghiêng hay đứng thẳng khỏe mạnh là tùy theo các thế cây. Cành cây phải được phân bổ hợp lý, cấu tạo so le chia ra các hướng lớn không trùng nhaụ, tránh gò bó. Từ gốc đến chỗ chia cành phải có khoảng cách ít nhất bằng một phần ba chiều cao của cây để nhìn rõ được thân cây khỏe đẹp và thoáng. Không nên để cành che lấp mất thân. Một cây nhiều nhất chỉ nên có bốn cành. Cành dưới cùng gọi là cành thân hay cành hồi âm, có giá trị tạo cảm giác cho phần gốc cây có hậu, vững chãi, bền lâu. Cành thứ hai và thứ ba là cành tả và cành hữu là hai cành chính của cây. Cành thứ tư là cành tế thân, cũng được gọi là "Cành ức" hay "Cành hầu", cốt để cho phần cổ đỡ trơ lộ, góp phần cho bố cục tổng thể toàn cây chặt chẽ. Các cành phải được xén tán lá cho ngang phẳng, gọn gàng, không để cho lá cây mọc tự nhiên, um tùm. Cây cảnh phải được bàn tay nghệ thuật của con người tác động vào để hình thành một thế cây. Đó là một dáng đứng, một điệu vươn của cây có bố cục chặt chẽ, đẹp đẽ - một tác phẩm nghệ thuật độc đáo có sức sống, toát lên một chủ đề, một ý tưởng nhất định. Tuổi cây càng cao, càng quý. Cây cảnh đẹp phải là cổ thụ nhưng nhỏ gọn, để nói lên ý nghĩa trường tồn. Tùy theo từng loại cây cảnh mà trồng vào các chậu cảnh thích hợp, tương xứng và đẹp. Chậu cảnh đẹp sẽ làm tăng thêm giá trị thẩm mỹ. Chơi cây cảnh phải để đúng chỗ, cây to hoặc nhỏ, phụ thuộc nơi ở của mình rộng hay hẹp và bao giờ cũng có thể ngắm nhìn được. Có rất nhiều thế cây cảnh như: thế phượng vũ, thế ngũ phúc, thế huynh đệ, thế phụ tử, thế mẫu tử, thế long giáng, thế phượng vũ long đàn, thế bạt phong hồi đầu, thế trực liên chi, thế long ẩn, thế lão mai thế tam đa, thế tứ quý, thế nguyệt ảnh, thế địa đạo huyên nhi, thế phượng rồng sóng đôi, thế đón gió, thế cây chờ đợi, thế ngẫu tự, thế nhà hiền triết Tất cả các thế cây cảnh đều thuộc 4 dáng cây cơ bản: Dáng trực (thẳng đứng), dáng xiêu, dáng hoành (ngang), dáng huyền (chúc xuống) Dưới đây là ba thế cây tiêu biểu: Thường thì nhiều người nghĩ cây cảnh không có độc nhưng gần đây các nhà nghiên cứu thực vật đã khám phá ra nhiều loài cây cảnh được trồng phổ biến rộng rãi ở Việt Nam có độc. Các nhà nghiên cứu khuyến cáo nên trồng ở vườn thuốc đặc dụng, không nên trồng làm cảnh ở nhà hoặc nơi công cộng để tránh bị ngộ độc nếu ăn hoặc hít phải. Các loại cây được trồng phổ biến như Trúc tiền, Mã đào, Hoàng nàn, Thông thiên, Bã đậu, Hồi nú Đối với đa số các loại cây cảnh có những đặc điểm cơ bản chung mà người trồng cần chú ý trong khâu trồng và chăm sóc. Nắm rõ các đặc tính sẽ giúp người trồng có những biện pháp giúp cây luôn tươi tốt, khỏe mạnh đặc biệt là đối những cây cảnh thế, cây cảnh bonsai. Các đặc tính chung của cây cảnh bao gồm: - Cây cảnh không chỉ có khả năng sinh sản hữu tính mà chúng còn có khả năng sinh sản vô tính. - Cây cảnh luôn sinh trưởng và phát triển. - Cây cảnh có tính cảm ứng và phản ứng với mọi kích thích và các biến đổi trong môi trường mà chúng sống. - Cây cảnh cũng là sinh vật nên chúng có quá trình trao đổi chất với môi trường xung quanh. - Cây cảnh có kiểu dáng, hình dạng, cấu tạo nhất định đặc trưng cho mỗi họ, loài hay giống của mình.
Cá rồng châu Á Cá rồng châu Á hay cá mơn ("Scleropages formosus") là một loài cá nước ngọt, ở Việt Nam người ta thường biết chúng qua tên gọi là cá rồng. Trong thế giới cá cảnh, cá rồng châu Á là loại được xếp vào hàng đầu bởi vẻ đẹp, nét độc đáo và vấn đề tâm linh vì người ta cho rằng: Cá rồng là tượng trưng cho sự may mắn, phát tài lộc, đem lại hạnh phúc và xua đuổi tà ma làm cho phong thủy được tốt hơn. Chưa có tài liệu nào nghiên cứu về sinh học của đối tượng này. Chỉ có một số quan sát về sinh sản được H.M.Smith (1945) nêu lên khi nghiên cứu cá mẫu ở Thái Lan. Trứng cá có kích thước to và số lượng ít, được ấp trong miệng cá bố cho tới khi trứng nở. Cá thường sống ở các hồ rộng hoặc các con sông rộng có dòng chảy chậm. Cá rồng là loài cá ăn tạp thức ăn của chúng gồm các loài côn trùng, một số loài cá nhỏ và cả ếch nhái. Đây là một loài có giá trị độc đáo về mặt khoa học và cả để nuôi làm cá cảnh. Hiện nay cá rồng thiên nhiên còn rất ít đa số cá nuôi làm cảnh đều là thế hệ F2. Đây là loài cá rất hiếm. Theo các ngư dân cho biết loài cá này trước đây thỉnh thoảng đánh bắt được nhưng hiện nay hầu nh­ư không gặp nữa. Từ năm 1969 loài cá này được IUCN (Liên hiệp bảo vệ thiên nhiên quốc tế) bảo vệ. Có thể xem như ở mức E. Mức đe dọa: Bậc E. Hiện loài cá này mới được tìm thấy tại sông La Ngà thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên tỉnh Đồng Nai vào ngày 10 tháng 10 năm 1998 và suối Sai, phân trường Bà Hào thuộc Lâm trường Mã Đà ngày 4 tháng 2 năm 2003.
Không quân là một thành phần biên chế của quân đội là lực lượng giữ vai trò quan trọng, được tổ chức để tác chiến trên không; có hỏa lực mạnh, tầm hoạt động xa và là phần cơ động nhất của quân đội. Không quân có thể chia thành: Không quân có khả năng độc lập hoặc hiệp đồng tác chiến với các lực lượng khác. Theo chức năng nhiệm vụ, có không quân: tiêm kích, tiêm kích-ném bom, ném bom, cường kích, trinh sát, vận tả Trong quân đội ở các nước có tiềm lực quân sự mạnh, lực lượng không quân chia thành: Nhiều lực lượng không quân trên thế giới còn bao gồm binh chủng hàng không vũ trụ quân sự, tên lửa liên lục địa và thiết bị thông tin. Một số lực lượng không quân có thể bao gồm các khí tài bảo vệ bầu trời khác như pháo phòng không, tên lửa đất đối không hay các hệ thống tên lửa đánh chặn, cảnh báo và các hệ thống phòng vệ khác. Phần lớn các quốc gia có lực lượng không quân độc lập – Quân chủng Không quân – tương đương với Lục quân và Hải quân. Tuy vậy điều này không ngăn cản lục quân và hải quân xây dựng thành phần tác chiến trên không riêng để hỗ trợ hoạt động. Ví dụ tiêu biểu là quân đội Mỹ, lực lượng hải quân có bộ phận không quân rất mạnh mà căn cứ chủ yếu là các tàu sân bay; lực lượng lục quân phát triển thành phần trực thăng thành phương tiện di chuyển và chiến đấu hiệu quả. Với Quân đội Canada, Không quân điều hành tất cả các máy bay quân sự, kể các khi các máy bay thuộc phiên chế các đơn vị Lục quân. Phương tiện tiến công đường không đầu tiên đánh dấu là sự kiện tại cuộc chiến chống quân xâm lược Napoleon 1812 tại Mascow, kinh khí cầu có người điều khiển của Nga được dùng để ném bom quân Thập tự viễn chinh Pháp ở ngoại ô đã góp phần chiến lược vào sự thất bại của Napoleon tại đây. Lực lượng không quân đầu tiên trên thế giới là hàng không quân sự của lục quân Pháp thành lập năm 1910, lực lượng này sau đó trở thành quân chủng không quân. Khinh khí cầu, phát triển từ thế kỷ 19 đáng kể là ở Pháp và Mỹ, không thực sự gọi là không quân. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Đức, Ý, Pháp và Anh có lực lượng không quân đáng kể gồm máy bay chiến đấu (tiêm kích) và máy bay oanh tạc (oanh tạc cơ). Lực lượng không quân độc lập đầu tiên trên thế giới là Không quân Hoàng gia Anh ("Royal Air Force" – RAF). Ngày 1 tháng 4 năm 1918, lực lượng này ra đời với sự hợp nhất của Lực lượng hàng không của Hải quân Hoàng gia Anh và các quân đoàn máy bay của Quân đội Hoàng gia Anh. RAF sử dụng quân phục có màu sáng hơn quân phục xanh da trời của Hải quân Hoàng gia và có hệ thống cấp bậc khác nhiều lục quân và hải quân. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Đức bị cấm phát triển không quân theo quy định của Hiệp ước Versailles. Năm 1935, Đức phá bỏ quy định này, thành lập lực lượng không quân ("Luftwaffe"). Không quân Ý ("Regia Aeronautica") trở thành lực lượng độc lập năm 1923, trong khi mãi đến giữa thập niên 1930 Pháp mới có quân chủng không quân tách biệt khỏi lục quân. Không quân Xô viết gần như vô danh mãi đến 1924, còn các quân đoàn không quân Hoa Kỳ chỉ giành được tự chủ một phần khi quân chủng không quân ra đời năm 1941, vài tháng trước sự kiện Trân Châu Cảng. Không quân Hoa Kỳ trở thành quân chủng độc lập năm 1947. Trong thập niên 1930, không quân bắt đầu được sử dụng vào các hoạt động ném bom chiến lược phá hoại cơ sở hạ tầng của đối thủ, đi đầu là Nhật và Đức tiến hành ở Trung Quốc và trong nội chiến Tây Ban Nha. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, vai trò của máy bay ném bom được hoàn thiện. Các cuộc đột kích không quân bằng hàng ngàn oanh tạc cơ cùng lúc không phải là hiếm. Sự phát triển máy bay tiêm kích thực hiện phi vụ bất kể ngày hay đêm là nhằm ngăn chặn những oanh tạc cơ kể trên. Một trong những sự kiện cuối cùng trong Chiến tranh thế giới thứ hai là pháo đài bay B-29 của Mỹ thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản vào tháng 8 năm 1945. Cùng với sự ra đời của Chiến tranh Lạnh, cả Không quân Hoa Kỳ và sau đó là Không quân Xô viết xây dựng lực lượng máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang bom hạt nhân. Một số kỹ thuật hiện đại được phát triển và sử dụng rộng rãi trong thời gian này là tiếp dầu trên không, động cơ phản lực, tên lửa và máy bay trực thăng. Trung Quốc, ban đầu với sự giúp đỡ của Liên Xô, đã hình thành một lực lượng không quân đồ sộ độc lập với lục quân. Hoa Kỳ và Liên Xô cung cấp rất nhiều máy bay cho các nước trong hệ thống ảnh hưởng của họ. Trong thập niên 1960, Canada, khác với xu hướng chung, sáp nhập quân chủng không quân vào lục quân và hải quân, hình thành lực lượng chung là Quân đội Canada ("Canadian Armed Forces") với đồng phục chung màu xanh lá cây. Đây là trường hợp hãn hữu và gần đây lực lượng không quân (cũng như hải quân) của Canada đã quay lại với các biểu hiện riêng. Lực lượng không quân Việt Nam là một thành phần của quân chủng phòng không-không quân ngày 24 tháng 1 năm 1959. Năm 1977, lực lượng này trở thành quân chủng độc lập - Không quân Nhân dân Việt Nam đến năm 1999 thì quay trở lại Quân chủng phòng không-không quân. = Xếp loại sức mạnh quân sự của lực lượng không quân = Theo bảng xếp hạng của tạp chí lâu đời nhất thế giới chuyên về hàng không - Flight International, sức mạnh quân sự của lực lượng không quân của 10 quốc gia đứng đầu thế giới gồm:
Pizza (phát âm tiếng Ý: [ˈpittsa]#đổi , Tiếng Anh: #đổi ), Tiếng La tinh thường đọc là Pi-da /pi˧ zaː˧/, là một loại bánh dẹt, tròn được chế biến từ bột mì, nấm , và được cho vào lò nướng chín trước khi ăn. Thuật ngữ "pizza" lần đầu tiên được ghi nhận vào thế kỷ 10 trong một bản thảo Latin từ thị trấn Gaeta ở phía Nam Ý, thuộc vùng Lazio, gần biên giới với Campania. Raffaele Esposito thường được coi là cha đẻ của pizza hiện đại. Pizza hiện đại được phát minh ở Naples. Năm 2009, pizza Neapolitan được đăng ký với Liên minh châu Âu như một món ăn Đặc sản Truyền thống Được Bảo đảm. Năm 2017, nghệ thuật làm pizza Neapolitan đã được thêm vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO. Pizza và các biến thể của nó là một trong những thực phẩm phổ biến nhất trên thế giới. Pizza được bán tại nhiều nhà hàng, bao gồm các tiệm pizza chuyên nghiệp, nhà hàng Địa Trung Hải, thông qua giao hàng và dưới hình thức thực phẩm đường phố. Tại Ý, pizza được phục vụ tại nhà hàng được trình bày chưa cắt và được ăn bằng dao và nĩa. Trong môi trường không chính thống, nó được cắt thành từng miếng để ăn bằng tay. Năm 2017, thị trường pizza toàn cầu đạt 128 tỷ USD, và tại Mỹ, con số này là 44 tỷ USD, phân bố trên 76.000 tiệm pizza. Tổng cộng, 13% dân số Mỹ từ hai tuổi trở lên đã tiêu thụ pizza vào bất kỳ ngày nào. Lần đầu tiên từ "pizza" được ghi nhận xuất hiện trong một văn bản Latin từ thị trấn Gaeta, vào thời điểm đó vẫn là một phần của Đế quốc Byzantine, vào năm 997 sau Công nguyên. Văn bản này nói rằng một người thuê một bất động sản nào đó phải đưa giám mục Gaeta "duodecim pizze" (nghĩa là "mười hai bánh pizza") mỗi Ngày Giáng sinh và một lần nữa vào Chủ Nhật Phục Sinh. Một số giả thuyết về nguồn gốc từ này bao gồm: Một chiếc pizza nhỏ đôi khi được gọi là "pizzetta". Một người làm pizza được gọi là "pizzaiolo". Trong suốt lịch sử cổ đại, có nhiều ghi chép về việc người ta thêm các thành phần khác vào bánh mì để làm cho nó thêm hương vị. Vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, binh sĩ Ba Tư thuộc Đế quốc Achaemenid trong thời kỳ của vị đế Darius Đại đế nướng bánh mì phẳng với phô mai và quả chà là lên phía trên của khiên chiến đấu của họ, và người Hy Lạp cổ đại thêm các loại dầu thực vật, thảo dược và phô mai vào bánh mì của họ. Một lần đề cập sớm đến món ăn giống pizza xuất hiện trong tác phẩm "Aeneid" của tác giả Virgil, khi nữ hoàng Celaeno của những người Harpies tiên tri rằng người Trôi sẽ không có được hòa bình cho đến khi họ phải ăn bàn của mình do đói (Sách III). Trong Sách VII, Aeneas và binh lính của ông được phục vụ một bữa ăn bao gồm bánh tròn (giống bánh pita) trên đó là các loại rau củ đã được nấu chín. Khi họ ăn bánh, họ nhận ra rằng đó chính là những "bàn" do Celaeno tiên tri. Năm 2023, các nhà khảo cổ đã phát hiện một bức tranh tường ở Pompeii có vẻ như miêu tả một món ăn giống pizza cùng với các thực phẩm và nguyên liệu khác trên một đĩa bạc. Bộ trưởng Văn hóa của Ý nói rằng đây "có thể là một hình mẫu xa xưa của món ăn hiện đại". Lần đầu tiên từ "pizza" được ghi nhận trong một văn bản công chứng viết bằng tiếng Latin và có ngày tháng là tháng 5 năm 997 tại Gaeta, yêu cầu thanh toán "mười hai cái pizza, một bắp vai heo và một thận heo vào ngày Giáng Sinh, và mười hai cái pizza và một vài con gà vào ngày Lễ Phục Sinh." Bánh pizza hiện đại phát triển từ các món bánh mì phẳng tương tự tại Naples, Italy, vào khoảng thế kỷ 18 hoặc đầu thế kỷ 19. Trước thời điểm đó, người ta thường trang trí bánh mì phẳng bằng tỏi, muối, mỡ và phô mai. Không chắc chắn khi nào cà chua được thêm vào và có nhiều thông tin trái chiều, mặc dù chắc chắn không thể xảy ra trước thế kỷ 16 và sự trao đổi Columbian. Đến khoảng năm 1830, bánh pizza được bán tại các quầy hàng ngoài trời và cửa hàng làm bánh pizza. Một câu chuyện phổ biến ngày nay cho rằng mẫu pizza cổ điển, pizza Margherita, được tạo ra vào năm 1889, khi Cung điện Hoàng gia Capodimonte ở Naples yêu cầu người làm pizza người Naples, Raffaele Esposito, tạo một loại pizza để tưởng nhớ Nữ hoàng Margherita đang thăm. Trong ba loại pizza khác nhau mà ông tạo ra, Nữ hoàng ưa thích mạnh một loại pizza có ba màu của cờ Italy: đỏ (cà chua), xanh (rau húng quế) và trắng (phô mai). Người ta tin rằng loại pizza như vậy sau đó được đặt tên theo Nữ hoàng, tuy nhiên, sau này có những nghiên cứu cho thấy câu chuyện này không chắc đã đúng. Một bức thư chính thức công nhận từ "người đứng đầu dịch vụ" của Nữ hoàng vẫn được trưng bày tại cửa hàng của Esposito, người nay tên gọi là Pizzeria Brandi. Bánh pizza được đưa vào Hoa Kỳ bởi những người nhập cư Ý vào cuối thế kỷ XIX và lần đầu xuất hiện ở những vùng mà họ tập trung. Quán pizza đầu tiên của nước này, Lombardi's, mở cửa tại New York City vào năm 1905. Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, những người trở về từ Chiến dịch Ý, nơi họ đã được làm quen với ẩm thực truyền thống của Italy, tạo ra một thị trường sẵn sàng cho pizza. Hội Verace Pizza Napoletana (tạm dịch: Hội Pizza Napoli Chính hiệu) là một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập vào năm 1984, có trụ sở tại Naples, với mục tiêu thúc đẩy pizza Napoli truyền thống. Năm 2009, theo yêu cầu của Italy, pizza Napoli đã được đăng ký là món ăn đặc biệt truyền thống của Liên minh Châu Âu, và vào năm 2017, nghệ thuật làm pizza Napoli đã được đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO. Các Loại và Phong cách. Có nhiều biến thể pizza khác nhau, được định nghĩa bởi sự chọn lựa các thành phần phủ lên bề mặt và đôi khi cả lớp vỏ bánh. Ngoài ra, còn có một số phong cách pizza, được xác định bởi cách chế biến. Danh sách dưới đây chỉ liệt kê những biến thể nổi bật. Theo khu vực xuất xứ. Pizza Napoli chính hiệu ("pizza napoletana") được làm từ cà chua loại San Marzano, được trồng trên các vùng đất núi lửa phía nam của núi Vesuvius. Ngoài ra, còn sử dụng phô mai mozzarella di bufala Campana, được làm từ sữa của trâu nước được nuôi trong đồng cỏ ở Campania và Lazio. Còn phô mai Fior-di-latte cũng là một lựa chọn. Đặc biệt, phô mai mozzarella từ trâu còn được bảo vệ với nguồn gốc địa lý riêng của châu Âu. Ngoài pizza Napoli, còn có các loại pizza truyền thống khác. "Pizza alla marinara" có lớp cà chua xếp trên cùng và được cho là loại pizza cà chua cổ điển nhất. Pizza capricciosa có phô mai mozzarella, thịt đùi lợn nướng, nấm, giăm bông và cà chua làm nhân. Còn pizza pugliese thì được làm từ cà chua, phô mai mozzarella và hành tây. Một biến thể phổ biến của pizza tại Ý là Sicilian pizza (được gọi là "sfincione" hoặc "sfinciuni" trong ngôn ngữ địa phương), gọi là pizza Sicilian là một loại pizza với đế dày hoặc đế cao xuất phát từ thế kỷ 17 tại Sicily. Thực tế, nó giống như một loại bánh focaccia với bề mặt thường được trải lớp sốt cà chua và các nguyên liệu khác lên trên. Trước thập kỷ 1860, "sfincione" là loại pizza phổ biến tại Sicily, đặc biệt ở phần phía Tây của hòn đảo. Tại các vùng khác của Ý, cũng có các biến thể khác của pizza, ví dụ như "pizza al padellino" hoặc "pizza al tegamino", là một loại pizza nhỏ, đế dày, đế cao thường được phục vụ ở Turin, Piedmont. Cửa hàng pizza đầu tiên tại Hoa Kỳ được mở tại khu Little Italy của thành phố New York vào năm 1905. Các nguyên liệu phổ biến trên pizza tại Hoa Kỳ bao gồm cá cơm, thịt bò xay, thịt gà, thịt xông khói, nấm, ô liu, hành tây, ớt, sốt cay, xúc xích, cải xanh, thịt bò tái, và cà chua. Các kiểu pizza đặc trưng vùng miền phát triển trong thế kỷ 20, bao gồm phong cách Buffalo, California, Chicago, Detroit, Greek, New Haven, New York, và St. Louis. Các biến thể vùng miền bao gồm pizza đế dày, pizza nhồi, pizza gấp, pizza cuộn, và pizza trên que, mỗi loại có vô số kết hợp sốt và nhân. Mười ba phần trăm dân số Hoa Kỳ tiêu thụ pizza trong bất kỳ ngày nào. Các chuỗi cửa hàng pizza như Domino's Pizza, Pizza Hut, và Papa John's, pizza từ các cửa hàng chế biến và nướng tại nhà, cùng với pizza lạnh hoặc đông lạnh từ siêu thị đã làm cho pizza dễ dàng tìm thấy trên toàn quốc. Argentina, và cụ thể hơn là Buenos Aires, đã chứng kiến sự di cư đáng kể từ di cư Ý vào cuối thế kỷ 19. Người nhập cư từ Naples và Genoa mở ra những quán pizza đầu tiên, tuy nhiên sau này, người dân Tây Ban Nha đã trở thành chủ sở hữu chủ yếu của các cửa hàng pizza. Pizza Argentina chuẩn có vỏ dày hơn, gọi là "media masa" (nửa bột) so với kiểu pizza Ý truyền thống và sử dụng nhiều phô mai hơn. Tại Argentina, lát pizza thường được phục vụ kèm với món "fainá", một loại bánh chiên bột đậu nành theo kiểu Genoese, và kèm theo rượu moscato. Loại pizza phổ biến nhất được gọi là "muzzarella" (mozzarella), tương tự như Neapolitan pizza (bột, sốt cà chua và phô mai) nhưng có vỏ "media masa" dày hơn, ba lớp phô mai và sốt cà chua, thường cũng kèm theo ô liu. Loại pizza này có thể tìm thấy ở gần mọi ngóc ngách của đất nước; Buenos Aires được coi là thành phố có số lượng cửa hàng pizza trên người dân nhiều nhất trên thế giới. Những biến thể phổ biến khác bao gồm giăm bông, lát cà chua, ớt đỏ và longaniza. Hai loại pizza xuất xứ từ Argentina với hành tây, cũng rất phổ biến: fugazza with cheese, có vỏ bánh pizza thông thường được trải phô mai và hành tây lên trên, và fugazzetta, với lớp phô mai ở giữa hai vỏ bánh pizza và hành tây ở trên. Pizza và ảnh hưởng đến sức khỏe. Một số loại pizza được sản xuất hàng loạt bởi các chuỗi cửa hàng pizza đã bị chỉ trích vì chứa tỷ lệ thành phần không tốt cho sức khỏe. Pizza có thể có nhiều muối và chất béo, và chứa nhiều calo. Cơ quan Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) báo cáo rằng lượng sodium trung bình trong một chiếc pizza kích thước ở các cửa hàng thức ăn nhanh là 5.101 mg. Có mối lo ngại về tác động không tốt đến sức khỏe.
Lục quân (còn gọi là lực lượng mặt đất hay lực lượng trên bộ) là lực lượng quân sự chiến đấu chủ yếu chiến đấu trên bộ. Theo nghĩa rộng nhất, nó là quân/binh chủng trên bộ của một quốc gia hoặc nhà nước. Lục quân cũng có thể bao gồm trang bị khí tài hàng không bằng cách sở hữu một binh chủng không quân lục quân. Ở những lực lượng vũ trang quốc gia, từ lục quân còn có nghĩa là tập đoàn quân. Ở một số quốc gia, chẳng hạn như Pháp và Trung Quốc, thuật ngữ "lục quân" có nghĩa rộng hơn là cả lực lượng vũ trang nói chung, nhưng vẫn giữ ngữ nghĩa thông tục của một lực lượng chiến đấu trên bộ. Để phân biệt quân chủng lục quân thông thường với khái niệm chính thức về lực lượng quân sự, người ta dùng thuật ngữ này như một tiêu chuẩn, ví dụ ở Pháp, lực lượng trên bộ được gọi là "Armée de terre", nghĩa là Quân đội Trên bộ, còn lực lượng không quân vũ trụ được gọi là "Armée de l'Air et de l'Espace", nghĩa là Quân đội Không quân và Vũ trụ. Lực lượng hải quân, mặc dù không sử dụng thuật ngữ "quân đội", nhưng cũng được bao gồm theo nghĩa rộng của thuật ngữ "quân đội" - do đó Hải quân Pháp là một bộ phận cấu thành của Lực lượng vũ trang Pháp trực thuộc Bộ Lực lượng Vũ trang. Mô hình tương tự cũng được thấy ở Trung Quốc, với Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) là quân đội tổng thể, còn lực lượng trên bộ là Lục quân Quân Giải phóng Nhân dân, , Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân và các quân chủng khác cũng như vậy. Theo quy ước, quân đội phi chính qui không phải lúc nào cũng được hiểu trái ngược với quân đội chính qui, vốn phát triển chậm lại từ những người lính vệ sĩ hoặc lực lượng dân quân tinh nhuệ. Chính qui trong trường hợp này đề cập đến học thuyết, đến quân phục, tổ chức được chuẩn hóa, (quân đội thường trực), so với lực lượng dự bị động viên hoặc bán thời gian. Những cách phân biệt khác có thể là tách các lực lượng theo luật định (tức là được thành lập theo luật như Đạo luật Phòng vệ Quốc gia của Canada), khỏi các lực lượng "không theo luật" trên thực tế như một số quân du kích hay quân cách mạng. Quân đội cũng có thể là quân viễn chinh (để triển khai ở nước ngoài hoặc quốc tế) hoặc có thể chiến đấu (để phòng thủ nội địa). Lục quân Ấn Độ là một trong những lục quân đầu tiên trên thế giới. Trận chiến đầu tiên được sử sách ghi lại là Trận Mười vị vua, xảy ra khi một vị vua Arya theo đạo Hindu tên là Sudas đánh bại liên minh mười vị vua khác cùng các thủ lĩnh ủng hộ họ. Trong thời kì đồ sắt, Đế quốc Maurya và Nanda đã có đội quân lớn nhất trên thế giới, khi đỉnh cao lên tới khoảng hơn 600.000 bộ binh, 30.000 kị binh, 8.000 chiến xa và 9.000 voi chiến, không bao gồm quân đồng minh của các quốc gia triều cống. Vào thời đại Gúpta, những đội quân cung thủ lớn đã được tuyển chọn để chống lại quân mã xạ thủ khác xâm lược. Ngoài ra còn có những đội quân đặc trưng khác như tượng binh, thương binh và kị binh. Vào thời Rajput, trang bị chính là áo giáp sắt hoặc giáp xích, khiên tròn, gươm cong hoặc kiếm thẳng, chakra và dao găm katar. Các triều đại Trung Hoa đã phát triển quân đội trong ít nhất 1000 năm trước Kinh Xuân Thu. Đến thời Chiến Quốc, nỏ đã được hoàn thiện đến mức trở thành một bí mật quân sự, với mũi tên bằng đồng có thể xuyên thủng bất kì thứ giáp nào. Do đó, bất cứ quyền lực chính trị nào của một quốc gia đều nằm ở tổ chức quân đội của họ. Trung Quốc đã trải qua quá trình hợp nhất chính trị của các nhà nước Hàn (韓), Ngụy (魏), Chú (楚), Yên (燕), Triệu (趙) và Tề (齊), cho đến năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng (秦始皇帝), vị hoàng đế đầu tiên của triều đại nhà Tần nắm quyền lực tuyệt đối. Vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc này chỉ huy việc thành lập Đội quân đất nung để canh giữ lăng mộ của ông ở thành phố Tây An (西安), cũng như tái thiết Vạn Lý Trường Thành để củng cố đế chế của mình chống lại quân nổi dậy xâm lược. Binh pháp của Tôn Tử vẫn là một trong Võ kinh thất thư của Trung Hoa, cho dù nó đã hai nghìn năm tuổi. Vì không có nhân vật chính trị nào có thể tồn tại nếu không có quân đội, nên các biện pháp được thực hiện để đảm bảo chỉ những nhà lãnh đạo có năng lực nhất mới có thể kiểm soát quân đội. Sĩ đại phu (士大夫) hình thành để kiểm soát sức mạnh sản xuất của các nước, cũng như sức mạnh quân sự của họ. 1- Bộ binh:Bộ binh là những người lính chiến đấu chủ yếu ở trên bộ với các vũ khí bộ binh loại nhỏ trong các đơn vị của quân đội mặc dù họ có thể được đưa đến chiến trường bằng ngựa, tàu thuyền, xe ô tô, máy bay hay các phương tiện khác. Vũ khí của họ là các loại vũ khí nhỏ như súng trường, súng lục, lựu đạn. Binh chủng chủ yếu của Lục quân, được trang bị nhẹ để tác chiến trên bộ; đảm nhiệm chức năng chủ yếu là tiêu diệt đối phương, đánh chiếm trận địa của chúng và giữ vững trận địa của mình. Là binh chủng cổ nhất trong lịch sử và thường là binh chủng đầu tiên được xây dựng trong các quân đội. Từ giữa thế kỉ XX, phần lớn các nước công nghiệp có xu hướng phát triển BB thành BB cơ giới. 2- Bộ binh cơ giới: Bộ binh cơ giới là lực lượng bộ binh được hỗ trợ và yểm hộ bởi các phương tiện cơ giới do đó khả năng hành quân cao, cơ động. Khi chiến đấu thì lực lượng này di chuyển bằng chân, còn khi hành quân thì bằng các phương tiện cơ giới. bộ binh được trang bị xe chiến đấu bọc thép để cơ động và chiến đấu, có thể thực hành chiến đấu ngay trên xe hoặc với đội hình đi bộ. So với bộ binh, BBCG được trang bị hoả lực mạnh hơn và có sức cơ động cao hơn. 3- Pháo binh là lực lượng hỏa lực chủ yếu của lục quân, thường được trang bị các loại pháo, tên lửa và súng cối, dùng để sát thương, tiêu diệt các mục tiêu và trực tiếp chi viện hỏa lực cho các lực lượng tác chiến trên mặt đất, mặt nước, có thể chiến đấu hiệp đồng hoặc độc lập. Pháo binh là lực lượng tác chiến của quân đội nhiều nước; lực lượng hỏa lực chủ yếu của lục quân, thường được trang bị các loại pháo, tên lửa và súng cối, dùng để sát thương, tiêu diệt các mục tiêu và trực tiếp chi viện hỏa lực cho các lực lượng tác chiến trên mặt đất, mặt nước, có thể chiến đấu hiệp đồng hoặc độc lập. 4- Tăng – Thiết giáp. chịu trách nhiệm tác chiến đột kích trên bộ và đổ bộ (Hải quân), được trang bị các loại xe tăng, xe thiết giáp, với hỏa lực mạnh, sức cơ động cao. Binh chủng Tăng - Thiết giáp là một binh chủng trong tổ chức quân đội, chịu trách nhiệm tác chiến đột kích trên bộ và đổ bộ (hải quân), được trang bị các loại xe tăng, xe bọc thép, với hỏa lực mạnh, sức cơ động cao. 5- Đặc công là một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ được tổ chức, trang bị và huấn luyện đặc biệt, có phương pháp tác chiến linh hoạt, táo bạo, bất ngờ, thường dùng để đánh các mục tiêu hiểm yếu nằm sâu trong đội hình chiến đấu, bố trí chiến dịch và hậu phương của địch Biệt kích (đôi khi còn gọi là biệt động hay đặc công) có thể là một binh lính riêng lẻ hoặc một đơn vị quân đội đặc biệt. Theo quan điểm hiện đại, biệt kích là bộ binh hạng nhẹ đặc biệt tinh nhuệ hoặc/và các đơn vị thuộc lực lượng đặc biệt, nhất là trong các hoạt động nhảy dù, đổ bộ, đột kí, để dẫn đường hoặc thực hiện nhiệm vụ tấn công. 6- Công binh có chuyên môn kỹ thuật với chức năng bảo đảm công binh trong chiến đấu và xây dựng, có thể trực tiếp chiến đấu bằng vũ khí công binh Công binh là một binh chủng trong quân đội, có chuyên môn kỹ thuật với chức năng bảo đảm công binh trong chiến đấu và xây dựng, có thể trực tiếp chiến đấu bằng vũ khí công binh. 7- Thông tin liên lạc  có chức năng bảo đảm thông tin liên lạc cho hệ thống chỉ huy trong toàn quân. Thông tin Liên lạc là một binh chủng chuyên môn kỹ thuật của quân đội, thuộc Quân chủng Lục quân, có chức năng bảo đảm thông tin liên lạc cho hệ thống chỉ huy trong toàn quân 8- Hóa học là một binh chủng chuyên môn kỹ thuật, có chức năng bảo đảm hóa học cho tác chiến, làm nòng cốt trong việc phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, ngụy trang bảo vệ các mục tiêu quan trọng của Quân đội, nghi binh đánh lừa địch bằng màn khói. Bộ đội Hóa học còn có thể trực tiếp chiến đấu bằng vũ khí bộ binh và súng phun lửa. Binh chủng Hóa học là một binh chủng chuyên môn kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam, có chức năng bảo đảm hóa học cho tác chiến, làm nòng cốt trong việc phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, ngụy trang bảo vệ các mục tiêu quan trọng của Quân đội, nghi binh đánh lừa địch bằng màn khói. Bộ đội Hóa học còn có thể trực tiếp chiến đấu bằng vũ khí bộ binh và súng phun lửa. Thời xưa còn có Kỵ binh, tượng binh, thủy
Hwayobi (tiếng Hàn: 화요비, 火曜飛 Hỏa Diệu Phi), sinh ngày 11 tháng 2 năm 1982, là một nữ ca sĩ Hàn Quốc. Hwayobi là nữ ca sĩ có giọng hát mạnh mẽ, được mệnh danh là "Mariah Carey của Hàn Quốc". Thật không phóng đại khi gọi cô ấy là diva của thể loại RB Hàn Quốc, vì cô sở hữu một giọng hát cao và vang. Đặc biệt, Hwayobi rất nổi tiếng với những màn trình diễn sống mà giọng hát của cô gây áp đảo người nghe với chất giọng mạnh mẽ và quyến rũ. Cô đã phát hành 6 đĩa nhạc tại Hàn Quốc, 1 đĩa nhạc tại Nhật Bản, cùng một vài đĩa nhạc đặc biệt ghi âm lại những màn trình diễn sống hơn là xuất hiện trên những chương trình ca nhạc truyền hình. Hwayobi đã từng mơ ước trở thành một nghệ sĩ dương cầm khi còn bé. Tuy nhiên, khi đang học trung học, lần đầu tiên cô nghe nhạc của Mariah Carey và đã khiến cô yêu nhạc Soul/RB. Cô tự học luyện thanh cho đến khi cô thắng giải quán quân trong một cuộc thi tài năng của đài phát thanh địa phương. Lúc đó, cô đang học năm thứ hai tại trường trung học. Điều này đã đưa Hwayobi trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp. Ngay cả trước khi cô phát hành đĩa nhạc đầu tay, Hwayobi đã thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Bằng cách tham gia vào những đĩa nhạc của các ca sĩ khác, như Park Hyo-Shin, và hát nhiều bài hát trong những bộ phim truyền hình, Hwayobi đã khiến những người yêu nhạc tò mò muốn biết cô là ai. Cuối cùng, cô đã chính thức phát hành đĩa nhạc đầu tiên vào năm 2000, với tên gọi "My All". Bài hát chủ đề của đĩa nhạc mang tên "Lie" đã trở thành một ca khúc thành công lớn. Khi đã trở thành sinh viên, cô vẫn duy trì đều đặn sự nghiệp âm nhạc của mình. Tháng 11 năm 2004, Hwayobi bắt đầu hoạt động âm nhạc tại Nhật Bản dưới nghệ danh Hwayobi với đĩa đơn "Fly Again". Cả hai ca khúc trong đĩa đơn ("Fly Again" và "eternally") đều là nhạc chủ đề trong trò chơi Magna Carta: Crimson Stigmata (tại Hoa Kỳ, trò chơi này có tên là Tears of Blood). Tháng 2 năm 2005, Hwayobi phát hành đĩa đơn thứ hai "天国の記憶" tại Nhật Bản. Tháng 3 năm 2006, Hwayobi phát hành đĩa nhạc đầu tiên bằng tiếng Nhật "火曜飛". Đĩa nhạc này cũng có ca khúc "Lie" được Hwayobi trình bày bằng tiếng Nhật. Tháng 2 năm 2006, với đĩa nhạc thứ năm bằng tiếng Hàn "5°", cô đã chính thức đổi tên nghệ danh thành Hwayobi tại thị trường âm nhạc Hàn Quốc.
Gloria Macaraeg Macapagal Arroyo (sinh ngày 5 tháng 4 năm 1947) là tổng thống thứ 14 của Philippines. Bà là nữ chính khách thứ hai trở thành nguyên thủ quốc gia (sau Tổng thống Corazon Aquino), là phụ nữ đầu tiên đảm nhiệm chức vụ phó tổng thống của đảo quốc này và cũng là tổng thống Philippines đầu tiên sinh sau thế chiến II. Arroyo nhận lãnh chức vụ tổng thống năm 2001 do cuộc cách mạng EDSA lần thứ hai, đánh đổ Joseph Estrada khỏi quyền lực giữa những cáo buộc về tình trạng tham nhũng tràn lan. Năm 2004, Arroyo đắc cử tổng thống khi đánh bại diễn viên điện ảnh Fernando Poe, Jr.. Năm 2005, Arroyo được bình chọn bởi tạp chí "Forbes" trở thành nhân vật thứ tư trong danh sách những phụ nữ nhiều quyền lực nhất trên thế giới. Tuy nhiên, tháng 9 năm 2006, Arroyo rơi xuống vị trí thứ 45 trong danh sách bình chọn này của tạp chí Forbes . Arroyo chào đời với tên Gloria Macaraeg Macapagal, con gái của Diosdado Macapagal và Evangelina Macaraeg. Gloria 14 tuổi khi cha của cô, Diosdado Macapagal, đắc cử tổng thống. Gloria được gởi đến Tu viện Assumption để theo đuổi chương trình giáo dục bậc tiểu học và trung học, tốt nghiệp thủ khoa năm 1964; sau đó theo học trong hai năm tại Trường Ngoại giao thuộc Đại học Georgetown ở Washington, D.C., tại đây cô trở thành bạn học cùng lớp với cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton. Gloria nhận văn bằng cử nhân chuyên ngành kinh tế tại Đại học Assumption khi tốt nghiệp hạng xuất sắc năm 1968. Sau khi trở về Philippines, Arroy lấy bằng Thạc sĩ chuyên ngành kinh tế tại Đại học Ateneo de Manila và học vị Tiến sĩ Kinh tế học tại Đại học Philippines. Từ năm 1977 đến năm 1987, Arroyo giảng dạy tại các trường học như Đại học Philippines và Đại học Ateneo de Manila. Bà cũng đảm nhận chức vụ chủ tịch Khoa Kinh tế Đại học Assumption. Năm 1987, nữ tổng thống đầu tiên của Philippines, Corazon Aquino, mời Arroyo tham chính trong cương vị Phụ tá Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp, hai năm sau bà được đề bạt vào chức vụ thứ trưởng. Đồng thời trong cương vị Giám đốc điều hành Ban Xuất khẩu hàng dệt may, Arroyo chứng kiến tốc độ tăng trưởng cao của công nghiệp dệt may trong thập niên 1980. Mặc dù cha từng là tổng thống Philippines, Arroyo không chịu tham gia chính trường cho mãi đến năm 1992, hai mươi bảy năm sau khi ông rời khỏi chức vụ. Arroyo đắc cử vào Thượng viện Philippines năm 1992, tái đắc cử năm 1995, đứng đầu cuộc bầu cử thượng viện với 16 triệu phiếu cử tri bầu cho bà. Với tư cách một nhà lập pháp, Arroyo đệ trình hơn 400 dự luật và bảo trợ 55 đạo luật quan trọng về kinh tế suốt trong thời gian bà phục vụ tại Thượng viện. Năm 1998, mặc dù có xem xét đến khả năng ra tranh cử tổng thống, nhưng lại chịu thuyết phục bởi cựu tổng thống Fidel V. Ramos, Arroyo đồng ý gia nhập Đảng LAKAS để đứng chung liên danh với ứng cử viên tổng thống, Chủ tịch Hạ viện Jose De Venecia. De Venecia và Arroyo vận động tranh cử toàn quốc với sự hỗ trợ của Ramos và bộ máy đầy quyền lực của đảng LAKAS. Arroyo đắc cử phó tổng thống với 13 triệu phiếu, hơn hai lần so với số phiếu của ứng cử viên kế cận, Thượng nghị sĩ Edgardo Angara. Nhưng De Venecia thất bại trước phó tổng thống đương nhiệm rất được lòng dân, Joseph Estrada. Ngày 30 tháng 6 năm 1998, Arroyo bắt đầu nhiệm kỳ phó tổng thống. Một thời gian ngắn sau đó, Estrada bổ nhiệm bà vào nội các đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Phát triển và Phúc lợi Xã hội với nhiệm vụ chính là giám sát các chương trình của chính phủ phục vụ dân nghèo. Tháng 10 năm 2000, Arroyo từ nhiệm khỏi nội các để giữ khoảng cách với Tổng thống Estrada đang bị cáo buộc tham nhũng bởi chính những chính trị gia ủng hộ ông trước đó. Arroyo gia nhập tổ chức dân sự ("civil society") cùng với nhiều công dân Philippines khác kêu gọi tổng thống từ chức. Ngày 20 tháng 1 năm 2001, sau nhiều ngày bất ổn chính trị với những cuộc biểu tình bùng phát trên đường phố, Tối cao Pháp viện công bố bỏ trống chiếc ghế tổng thống. Trước đó, quân đội và cảnh sát quốc gia rút lại sự trung thành dành cho Estrada và quay sang ủng hộ Arroyo. Ngay trong ngày, Arroyo tuyện thệ nhậm chức tổng thống thứ 14 của Philippines trước Chánh án Toà Tối cao Hilario Davide Jr. Tiến trình loại bỏ Estrada về sau được biết đến với tên gọi Cuộc cách mạng EDSA II, sau khi cuộc cách mạng EDSA năm 1986 lật đổ chính quyền Ferdinand Marcos. EDSA là bốn chữ cái đầu của "Epifano de los Santos Avenue", một xa lộ thuộc Vùng đô thị Manila là địa điểm chính diễn ra các cuộc biểu tình. Sau này Estrada tra vấn về tính hợp pháp của phán quyết toà án khi ông tìm cách giành lại ghế tổng thống nhưng Tối cao Pháp viện công nhận sự kế nhiệm của Arroyo là hợp pháp. Ngay cả khi Estrada và những người ủng hộ ông không bao giờ công nhận chức vụ tổng thống của Arroyo, bà vẫn có thể hành xử đầy đủ quyền hạn và đặc quyền dành cho tổng thống. Cộng đồng quốc tế cũng công nhận Arroyo là tổng thống Philippines. Giai đoạn đầu: 2001 – 2004. Sự kiện Arroyo kế nhiệm tổng thống chia cắt đất nước Philippines thành hai phe, một phe ủng hộ bà trong khi phe kia đứng về phía Estrada. Suốt trong nhiệm kỳ đầu, những tra vấn về tính hợp pháp của chức vụ tổng thống luôn đeo đuổi Arroyo, mặc cho Toà án Tối cao đã phát quyết về vấn đề này. Mặt khác, những chính trị gia từng ủng hộ Estrada quay lưng lại với ông trong khi sự kiện các đồng minh chính trị của Arroyo giành được thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử tổ chức vào tháng 5 năm 2004 được nhiều người xem là sự thừa nhận hiển nhiên của cử tri dành cho chức vụ tổng thống của Arroyo. Thách thức lớn nhất đối với Arroyo là cải cách một chính quyền luôn bị nhìn xem là thối nát. Khó khăn xuất hiện khắp mọi nơi khi thực thi sứ mạng dễ làm nản lòng này; công việc của Arroyo càng khó khăn hơn khi những người ủng hộ Estrada sẵn sàng chụp lấy mọi cơ hội để phá hoại quyền lãnh đạo của bà. Ngày 21 tháng 5 năm 2001, hàng ngàn người ủng hộ tổng thống bị phế truất diễu hành đến dinh tổng thống yêu cầu phóng thích và phục hồi chức vụ cho Estrada, đang bị giam giữ vì tội danh tham ô. Chỉ trong vài ngày, tình trạng bạo loạn lụi tàn khi những mối đe doạ cho chính phủ Arroyo bị dập tắt. Nỗ lực không thành công nhằm lật đổ Arroyo được gọi là EDSA 3 hay Sức mạnh của dân nghèo. Ngày 27 tháng 7 năm 2003, Arroyo đối mặt với một cuộc nổi dậy lộ diện khi hơn ba trăm sĩ quan cấp thấp và binh sĩ phản loạn (các phương tiện truyền thông gọi nhóm người này là "Magdalos" vì băng màu đỏ họ mang trên cánh tay) tạo ra một cuộc binh biến, chiếm giữ một khách sạn và một trung tâm mua sắm trong khu kinh doanh trong thành phố Makati thuộc Vùng đô thị Manila ("Metro Manila"). Cuối cùng, nhóm quân nhân phiến loạn đồng ý qui hàng khi đạt được một thoả thuận với chính phủ sau 22 giờ thương thuyết. Suốt trong lúc đàm phán, những thủ lĩnh của Magdalo, Trung uý Hải quân Antonio Trillanes IV và Đại uý Thủy quân lục chiến Gary Alejano nêu lên những yêu cầu đòi cải tổ Lực lượng vũ trang Philippines. Sáu trong số những thủ lĩnh này, trong đó có Trillanes và Alejano, muốn ra trước toà án binh trong khi binh sĩ dưới quyền chỉ muốn trở về doanh trại. Sau khi cuộc khủng hoảng chấm dứt, những điều kiện đạt được khi thương thảo đã bị chính phủ phớt lờ. Các phụ tá của Arroyo cho rằng cuộc binh biến có liên quan đến Estrada và những người ủng hộ ông. Một cựu phụ tá của Estrada bị bắt giữ liên quan đến cuộc nổi dậy. Tổng thống cho thành lập Uỷ ban Feliciano để điều tra về cuộc binh biến. Sau này, Uỷ ban nhận ra rằng cuộc nổi dậy, được gọi là Binh biến Oakwood (gọi theo tên khách sạn bị phiến quân nắm giữ), không phải là tự phát mà đã được hoạch định trước. Rõ ràng có kế hoạch nhắm lật đổ chính phủ Arroyo, mặc dù vẫn không có chứng cớ đầy đủ về sự dính líu của Estrada. Tháng 8 năm 2003, chồng của Arroyo, Jose Miguel, bị cáo buộc bởi Thượng nghị sĩ Panfilo Lacson, cho rằng đệ nhất phu quân đã chuyển những đóng góp và ngân quỹ vận động tranh cử vào một tài khoản ngân hàng dưới một tên giả, Jose Pidal. Lacson còn trưng ra những bức ảnh cho thấy đệ nhất phu quân đang "tình tứ" với cô phụ tá Victoria Toh. Thế là những đồn đại cho rằng Mike Arroyo lừa dối vợ trở nên râm ran trên khắp cả nước. Những cáo buộc này không có giá trị pháp lý nhưng đủ để làm tổng thống bối rối và tức giận ông chồng. Vài tuần sau đó, trước các phóng viên, Mike Arroyo thể hiện một cử chỉ hoà giải khi tặng hoa cho bà vợ tổng thống của mình. Kinh tế Lễ hội. Chính phủ ban hành chính sách điều chỉnh những ngày lễ sao cho có thể kéo dài các kỳ nghỉ cuối tuần - chẳng hạn, nếu ngày lễ Độc lập của Philippines (12 tháng 6) là vào thứ Tư, sẽ được dời đến thứ Sáu hoặc thứ Hai để kéo dài kỳ nghỉ cuối tuần nhằm phát triển du lịch trong nước - Chính sách này được áp dụng từ năm 2002 mặc cho những luận cứ phản bác cho rằng không cần thiết phải phá vỡ truyền thống trong khi giới doanh nghiệp than phiền chính phủ luôn chậm trễ trong việc ấn định các ngày lễ. Đến nay, dân chúng đòi hỏi phải công bố trước lịch lễ hội cả năm. Arroyo nhấn mạnh đến mục đích chính của chính sách kinh tế lễ hội là: Cuối tháng 8 năm 2005, giới doanh nghiệp và công chúng nhận ra họ bị rơi vào "bẫy lễ hội" khi chính phủ Arroyo đột ngột công bố ngày lễ kỷ niệm các anh hùng quốc gia vào ngày 29 tháng 8. Mãi cho đến cuối ngày 26 tháng 8 (thứ Sáu), thư ký báo chí Ignacio Bunye nói rõ rằng sẽ không có ngày lễ nào được công bố; đến cuối tuần, chính phủ công bố ngày lễ là ngày làm việc bình thường. Nhưng khi đến ngày 29 tháng 8, người dân kinh ngạc khi thấy cửa hiệu và văn phòng chính phủ đóng cửa. Sau đó, giới luật sư, nghiệp đoàn và thủ lĩnh doanh nghiệp tổ chức các buổi họp và các buổi tụ tập để yêu cầu Arroyo chấm dứt chính sách kinh tế lễ hội mà họ cho là "lợi bất cập hại". Những người chỉ trích phê phán chính phủ Arroyo là "cực kỳ luộm thuộm và vô trách nhiệm". Nhiều người tin rằng chính phủ hấp tấp công bố ngày lễ 29 tháng 8 là vì nỗi sợ bị Quốc hội ấn định lịch thảo luận và biểu quyết về vụ luận tội tổng thống (khi ấy đang bị đình hoãn), sẽ là ngày 5 và 6 tháng 8. Khi Arroyo không chịu công bố kỳ nghỉ lễ kéo dài 8 ngày trong tháng 12 năm 2005 (chỉ có ngày 26 và 30 tháng 12 được nghỉ lễ, nhưng ngày 27, 28 và 29 tháng 12 là ngày làm việc) nhiều người chỉ ra rằng chiến lược của nền kinh tế lễ hội là thủ phạm chính gây ra sự sút giảm lượng hàng hoá bán lẻ trên cả nước. Những người bán lẻ trên khắp Philippines báo cáo sút giảm 15% doanh số trong tháng 12 năm 2005 so với cùng kỳ năm 2004. Những nhà phân tích nhấn mạnh sự kiện số lượng đông đảo ngày lễ được công bố trải đều suốt năm 2005 khiến dân chúng đi nhiều và chi tiêu nhiều cho du lịch nên không còn nhiều tiền dành cho mua sắm trong mùa lễ hội. Bầu cử năm 2004. Ngày 30 tháng 12 năm 2002 tại thành phố Baguio, Arroyo tuyên bố sẽ không ra tranh cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004, nhưng bà đã đổi ý và quyết định đấu tranh cho một nhiệm kỳ mới kéo dài sáu năm. Xuất hiện trong một cuộc tụ họp đông đảo tại tỉnh nhà Pampanga, Arroyo cho biết bà quyết định "hoãn lại kế hoạch nghỉ hưu", nhắc đến những yêu cầu đang gia tăng từ những người ủng hộ muốn bà ra tranh cử. Vì thái độ xoay chiều đột ngột này mà uy tín của Arroyo bị tổn thương. Cuộc bầu cử năm 2004 được xem là cơ hội cho Arroyo củng cố uy tín chính phủ của bà, vẫn luôn bị ám ảnh bởi tính hợp pháp từ cuộc chính biến năm 2001 đưa bà lên ghế tổng thống. Arroyo tranh đấu trong một cuộc vận động tranh cử đầy cay đắng chống lại một ứng viên tổng thống và là bạn thân của Estrada, diễn viên điện ảnh được ưa chuộng Fernando Poe, Jr. Trong mắt quần chúng, Arroyo có lợi thế là một nhà trí thức khi đối đầu với Poe, một người không hoàn tất nổi chương trình trung học. Những ứng viên khác là Thượng nghị sĩ Raul Roco, Thượng nghị sĩ Panfilo Lacson và nhà truyền bá phúc âm Eduardo Villanueva. Trong những lần thăm dò trước mùa bầu cử, Arroyo chỉ bám đuổi theo Poe, nhưng uy tín của bà tăng dần cho đến khi vượt qua Poe. Về sau người ta cho rằng Arroyo có được thành công này là nhờ bộ máy chính trị, Liên minh K4 với ảnh hưởng vượt trội của Đảng LAKAS (cùng với De Venecia, năm 2002, Arroyo đảm nhiệm chức vụ đồng chủ tịch đảng LAKAS); quyết định của bà khi chọn người đứng cùng liên danh, một thượng nghị sĩ được lòng dân, Noli De Castro; sự ủng hộ của bà dành cho các nhóm tôn giáo có nhiều ảnh hưởng; và lòng trung thành của các tỉnh như Cebu, Pampanga và những nơi khác. Như đã được tiên báo bởi các cuộc thăm dò dư luận, Arroyo dành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống tổ chức ngày 10 tháng 5 năm 2004, khoảng cách với đối thủ gần nhất, Poe, là một triệu phiếu bầu. Dù có những cáo buộc xuất hiện trong suốt cuộc vận động tranh cử cho rằng Arroyo sử dụng tiền thuế của người dân cho ngân quỹ vận động tranh cử, cũng có những cáo buộc về gian lận và có những bất thường không quan trọng được tìm thấy trong kỳ bầu cử nhưng những người cáo buộc không đưa ra được bằng chứng cho những cáo buộc gian lận và tham nhũng trên quy mô toàn quốc. Giai đoạn hai: 2004 đến 2010. Ngày 24 tháng 6 năm 2004, hơn một tháng sau ngày bầu cử, Quốc hội tuyên bố Arroyo thắng cử. Ngày 30 tháng 6 năm 2004, trên đảo Cebu, Arroyo tuyên thệ nhậm chức, là tổng thống đầu tiên của Philippines làm lễ nhậm chức ở đây. Động thái này thể hiện lòng biết ơn dành cho dân chúng đảo Cebu đã ủng hộ bà trong cuộc tuyển cử. Không theo nếp cũ, Arroyo chỉ đọc diễn văn nhậm chức tại Manila rồi đến đảo Cebu để tiến hành lễ nhậm chức. Vụ tai tiếng "Hello Garci". Ngày 10 tháng 6 năm 2005, một cựu phó giám đốc Văn phòng Điều tra Quốc gia (NBI), Samuel Ong, tiết lộ rằng ông có một bộ những cuộn băng gốc về cuộc nói chuyện giữa Tổng thống Arroyo và một viên chức thuộc Ủy ban Bầu cử. Theo nhận xét của Ong, nội dung cuộn băng cho thấy Arroyo đã gian lận trong kỳ bầu cử toàn quốc năm 2004 khoảng 1 triệu phiếu, với số phiếu này bà đã đánh bại đối thủ của mình. Ngày 27 tháng 6, Arroyo thừa nhận sai lầm khi nói chuyện với một viên chức bầu cử, nhưng cho đó chỉ là một "sai sót trong phán đoán" và khẳng định không tìm cách gây ảnh hưởng trên kết quả bầu cử. Ngày 8 tháng 7 năm 2005, mười thành viên nội các nộp đơn từ chức và yêu cầu tổng thống cũng làm như vậy. Sau đó trong ngày, Đảng Tự do và cựu tổng thống Corazon Aquino, cả hai từng là đồng minh của Arroyo, cùng kêu gọi bà từ chức. Tổng thống một lần nữa bác bỏ những yêu cầu này. Trong khi đó, cựu tổng thống Fidel Ramos tiếp tục ủng hộ Arroyo, cương quyết bác bỏ mọi lời yêu cầu tổng thống từ chức và đề nghị nên tiến hành tu chính hiến pháp để thay đổi thể chế chính quyền Philippines từ tổng thống chế sang thể chế đại nghị liên bang. Tháng 9 năm 2005, Viện Dân biểu biểu quyết 158 chống 51 dập tắt mọi nỗ lực đưa tổng thống ra luận tội, với lý do "chưa đủ chứng cớ". Phe đối lập đã không kiếm đủ 79 phiếu cần có để chuyển vụ việc lên Thượng viện. Có một số thành viện chủ chốt của phe đối lập vắng mặt lúc biểu quyết trong khi một số khác thay đổi ý kiến vào phút chót. Tuy nhiên, chính phủ Arroyo vẫn tiếp tục đối đầu với những chống đối không ngơi nghỉ với những cuộc tụ họp chống đối trên đường phố, trên các phương tiện truyền thông dù có gây ảnh hưởng bất lợi trên sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Cựu tổng thống Corazon Aquino, một đồng minh quan trọng của Arroyo trong cuộc Cách mạng Quyền lực Nhân dân năm 2001 (EDSA II), đứng về phe đối lập và lãnh đạo các cuộc tụ họp trên đường phố. Ngay sau quyết định của Viện Dân biểu, "Social Weather Station" (SWS) công bố một loạt những cuộc thăm dò cho thấy công luận vẫn tỏ ra nghi ngờ về vị trí của Arroyo trong chính phủ. 79% người trả lời cuộc thăm dò muốn tổng thống phải bị luận tội vì đã nói chuyện qua điện thoại với một viên chức bầu cử, hành động này đồng nghĩa với sự gian lận. 64% cho biết họ muốn Arroyo từ nhiệm, trong khi đó có 51% tin rằng cách mạng quyền lực nhân dân là giải pháp giúp loại bỏ tổng thống khỏi chức vụ. Ngày 4 tháng 2 năm 2006, xảy ra thảm hoạ khi đám đông chen lấn hỗn loạn tại ULTRA, thành phố Pasig làm thiệt mạng 73 người và làm bị thương gần 400 người khác khi những người này đến tham dự trò chơi truyền hình Wowowee. Tổng thống đưa ra hạn định 72 giờ đồng hồ cho cuộc điều tra và đến an ủi thân nhân những người thiệt mạng trước và sau cuộc hỗn loạn. Trong cuộc bầu cử tổng thống Philippines nhiệm kỳ tiếp theo, bà bị ông Benigno Aquino III cáo buộc bà tham nhũng và gian lận bầu cử trong khi tại vị. Giai đoạn hậu tổng thống. Ngày 18/11/2011, bà Gloria Arroyo đã bị bắt giữ tại một bệnh viện ở Manila vì vì những cáo buộc gian lận trong cuộc bầu cử năm 2007. Mặc dù Tòa án Tối cao Philippines đã cho phép bà Arroyo ra nước ngoài chữa bệnh, nhưng chính quyền đã yêu cầu cơ quan xuất nhập cảnh ngăn cựu lãnh đạo này rời khỏi đất nước đồng thời đẩy nhanh tiến trình cáo buộc bà Arroyo vi phạm luật bầu cử.
Giáo sư Cao Xuân Huy (1900 - 1983) là một nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử tư tưởng triết học phương Đông, từng được gọi là "nhà đạo học" ngay từ thuở mới khoảng 30 tuổi. Ông được xem là một trong những người có những đóng góp to lớn trong việc đào tạo các nhà nghiên cứu cổ học Việt Nam. Ông để lại một số giáo trình đại học có giá trị về Kinh Dịch, Luận ngữ, Mạnh Tử, Bách gia chư tử. Ông còn là một Giáo sư của Viện Văn học. Con ông là Cao Xuân Hạo là một nhà ngôn ngữ học, dịch giả nổi tiếng tại Việt Nam. Ông sinh ngày 28 tháng 5 năm 1900 năm tại làng Thịnh Mỹ, xã Cao Xá, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình dòng dõi khoa bảng danh gia. Ông nội ông là Cao Xuân Dục. Cha ông là Cao Xuân Tiếu (1865-1939), đậu phó bảng khoa thi 1895, giữ chức thượng thư, Hiệp biện đại học sĩ kiêm Tổng tài Quốc sử quán triều nhà Nguyễn. Anh trai ông là Cao Xuân Tạo (1892-1935). Năm 1906, ông bắt đầu học chữ Hán với thầy của gia đình và được ông nội (là cụ Cao Xuân Dục, khi đấy là Tổng tài Quốc sử quán) rèn cặp. Năm 1915, ông thi Hương tại trường thi Nghệ An. Sau đó, ông đến Huế theo học bậc Thành chung và tốt nghiệp năm 1922. Sau đó, ông theo học trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương và tốt nghiệp năm 1925. Sau khi tốt nghiệp, ông bước vào cuộc đời dạy học trong 55 năm chỉ gián đoạn chút ít. Cũng trong năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt giam. Nhiều phong trào đấu tranh chính trị đòi thả cụ Phan. Vốn sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước và chống Pháp, ông cũng bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Khi đó, ông đang dạy ở Trường Quốc học Huế. Năm 1926, ông gia nhập Tân Việt Cách mạng đảng. Năm 1927, thực dân Pháp tấn công đảng Tân Việt. Ông bị giải chức, đày ra Lao Bảo, sau đó giải về Nghệ An mãi đến năm 1929 mới được thả, ông về làm công tạm cho nhà in Đắc Lập, Huế. Từ năm 1935, ông vào Sài Gòn dạy tư thục Trung học Paul Doumer và Trung học Chấn Thanh. Năm 1938, thầy trở ra Huế dạy tư thục Hồ Đắc Hàm, Việt Anh, Thuận Hóa và tham gia viết báo tiếng Pháp: "Revue pédagogique". Năm 1945, ông được Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mời ra Hà Nội dạy môn triết học phương Đông tại trường Đại học Việt Nam. Trường này đóng cửa sau 3 tháng vì tình hình chính trị Việt - Pháp căng thẳng. Sau khi chiến tranh nổ ra, ông trở về quê nhà và được cử làm hiệu trưởng trung học Nguyễn Xuân Ôn, Diễn Châu, Nghệ An. Trường năng khiếu huyện Diễn Châu mang tên ông, Cùng thời gian này, ông còn kiêm các chức vụ quan trọng như giáo viên dạy văn học và dạy Pháp văn, giáo viên trường trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng, giáo sư triết học của lớp Đại học Văn khoa đầu tiên ở vùng Thanh - Nghệ. Năm 1949, ông là giáo sư triết học của lớp Đại học Văn khoa đầu tiên do Bộ Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập tại vùng tự do Liên khu IV. Lớp có 7 học sinh tốt nghiệp trung học chuyên khoa. Năm 1951, ông được mời làm Giáo sư Trường Dự bị Đại học Việt Nam tại Thanh Hóa. Tháng 12 năm 1954, ông được điều về Hà Nội giảng dạy môn triết học phương Đông, môn logic học và môn tâm lý học cho lớp Đại học Văn khoa (tiền thân của khoa văn ngữ, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và trường Đại học sư phạm Hà Nội. Năm 1957, ông được mời sang khoa ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, giảng dạy môn tâm lý học. Năm 1958, ông được phong chức Giáo sư. Cũng trong năm 1958, vì có liên quan đến hoạt động của nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, ông bị đình chỉ nhiệm vụ. Đến năm 1959, Viện Văn học thành lập, ông được cử làm Trưởng ban Hán - Nôm, rồi Trưởng ban văn học cổ đại Việt Nam của Viện. Năm 1965, ông là giáo sư chính, giảng dạy môn triết học cho lớp đại học Hán Nôm tại Hà Nội, chịu trách nhiệm đào tạo lớp chuyên tu Hán Nôm trên đại học (1972-1974). Năm 1972, ông là chủ khảo kỳ thi tốt nghiệp 4 năm của Viện Văn Học. Trong thời gian ở ban Hán Nôm, ông được mời thỉnh giảng ở khoa ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Y Dược Hà Nội, Viện Đông Y Việt Nam. Năm 1974, ông nghỉ hưu. Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 22 tháng 10 năm 1983, thọ 83 tuổi. Ông được Nhà nước Việt Nam tặng tưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì (1960), giải thưởng Hồ Chí Minh (truy tặng năm 1996) cho công trình nghiên cứu "Tư tưởng Phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu". Tên ông được đặt cho một số đường phố tại Việt Nam như: tại phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1985, một phố tại quận Nam Từ Liêm, Hà Nội và một con đường chính dài gần 1 km chạy từ bến xe khách chợ Vinh, Nghệ An đến Quốc lộ 1 tại thành phố Vinh. Tên ông được đặt cho một ngôi trường chuyên của huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.(Trường THCS Cao Xuân Huy) Những nhận định về ông. Giáo sư Đặng Thai Mai: "Ở Việt Nam không ai hiểu học thuyết Lão Trang sâu sắc hơn cụ Huy". Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, trong bài "Cao Xuân Huy trong thế giới người hiền" giới thiệu cuốn "Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu" viết: "Cái tên Cao Xuân Huy trong trí nhớ của hầu hết các thế hệ trí thức trong khoảng 50 năm nay là đại biểu cho một ngành học hình như ai nghe cũng thấy sợ: triết học Đông phương". Viện sĩ Eidelyn (Liên Xô): "Những nhà Trung Quốc học như cụ Cao Xuân Huy ở trên thế giới chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay!".
Nước cường toan (còn gọi là Cường Toan Thủy hay Vương thủy) (Hán Việt: 強酸水,強水; tên tiếng Latinh là "aqua regia", tức "nước hoàng gia") là chất ăn mòn mạnh, ở dạng lỏng, màu vàng, dễ bay hơi. Nó được tạo thành bằng cách trộn lẫn dung dịch axit nitric đậm đặc và dung dịch axít clohiđric đậm đặc, tối ưu là ở tỉ lệ mol 1:3. Nó là một trong số ít thuốc thử có khả năng hòa tan vàng và bạch kim. Nó có tên gọi "aqua regia" vì đặc tính có thể hòa tan được những kim loại "hoàng tộc" hoặc "quý tộc", mặc dù tantali, iridi, và một vài kim loại cực kỳ thụ động khác không bị hòa tan trong nước cường toan. Nó được sử dụng trong việc khắc bằng axít và trong những thủ tục phân tích. Do có sự hình thành các chất dễ bay hơi là nitrosyl chloride (NOCl) và khí clo, nước cường toan sẽ nhanh chóng mất tác dụng cho nên nó chỉ được pha trộn khi cần sử dụng. Một số phương trình phản ứng. Các axít riêng biệt trong nước cường toan tự nó không thể hòa tan được vàng. Khi kết hợp với nhau tạo thành nước cường toan, mỗi axít thực hiện một nhiệm vụ khác nhau. Axít nitric (chất oxy hóa mạnh) sẽ hòa tan một lượng rất nhỏ vàng, tạo ra những ion vàng (Au3+). Axít clohiđric sẵn sàng cung cấp những ion clo (Cl-), các ion này sẽ kết hợp với ion vàng để tạo ra các anion cloraurat (AuCl4-). Vì phản ứng với axít clohiđric là phản ứng hoàn toàn nên các ion vàng sẽ kết hợp hết với các ion clo, cho phép sự oxy hóa vàng tiếp tục diễn ra. Cứ như vậy, vàng sẽ bị hòa tan hết. Thêm vào đó, vàng có thể bị oxy hóa bởi clo tự do. Các phương trình của những phản ứng trên được biểu diễn như sau: Phản ứng oxy hóa trong trường hợp sản phẩm tạo thành là nitơ mônôxít thay vì nitơ dioxide: Chuỗi phản ứng hòa tan bạch kim trong nước cường toan (tương tự như với vàng): Ion bạch kim sau khi bị oxy hóa lại phản ứng với ion clo tạo thành ion cloroplatinat. Trong thực tế, phản ứng của bạch kim với nước cường toan phức tạp hơn. Những phản ứng ban đầu tạo ra hỗn hợp axít cloroplatinơ (H2PtCl4) và nitrosoplatinic chloride ((NO)2PtCl4). Nitrosoplatinic chloride là chất rắn. Nếu muốn hòa tan hoàn toàn bạch kim, thì phản ứng tạo ra kết tủa nitrosoplatinic chloride dư với axít clohiđric đậm đặc phải được thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần. Axít cloroplatinơ có thể bị oxy hóa thành axít cloroplatinic khi phản ứng với khí clo trong điều kiện đun nóng. Sự phân ly của nước cường toan. Nếu trộn lẫn dung dịch axít nitric đậm đặc và dung dịch axít clohiđric đậm đặc thì các phản ứng hóa học sẽ bắt đầu xảy ra. Những phản ứng này tạo ra các chất dễ bay hơi là nitrozyl chloride (NOCl) và khí clo, dẫn đến sự bốc khói tự nhiên của nước cường toan. Màu vàng của các chất này làm cho nước cường toan có màu vàng đặc trưng. Vì các chất tạo thành bay hơi khỏi dung dịch, nên nước cường toan sẽ mất hiệu nghiệm. Nitrozyl chloride có thể bị phân ly thành nitơ monoxit và khí clo. Đó là quá trình phân ly không hoàn toàn. Do đó, khói bốc lên từ nước cường toan có chứa nitrozyl chloride, nitơ mônôxít và khí clo. 2 NOCl "(khí)" → 2 NO "(khí)" + Cl2 "(khí)" Axít clohidric được phát hiện lần đầu tiên vào khoảng năm 800 bởi nhà giả kim người Hồi giáo Jabir Ibn Hayyan (Gaber), bằng cách trộn muối ăn với axít sulfuric. Phát minh của Jabir về nước cường toan, bao gồm axít clohiđric và axít nitric, đã đóng góp vào sự cố gắng tìm kiếm đá tạo vàng của những nhà giả kim thuật. Khi Đức xâm chiếm Đan Mạch trong Chiến tranh thế giới thứ II, nhà hóa học người Hungary George de Hevesy đã hòa tan những huân chương Nobel bằng vàng của Max von Laue và James Franck vào nước cường toan để ngăn không cho bọn phát xít ăn cắp chúng. Ông đã cất giữ dung dịch sau phản ứng trên ngăn sách trong phòng thí nghiệm của mình tại Viện Niels Bohr. Sau chiến tranh, ông trở lại, thấy dung dịch không hề suy chuyển, tiến hành kết tủa để thu lại vàng ra khỏi axít. Số vàng này đã được hoàn trả về Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển để đúc lại những huân chương mới cho Laue và Franck.
Nguyễn Duy Hiệu (chữ Hán: 阮惟斆; 1847–1887), có sách ghi là Nguyễn Hiệu, tục gọi Hường Hiệu; là một chí sĩ và là một lãnh tụ trong phong trào Cần Vương tại Quảng Nam trong lịch sử Việt Nam. Thân thế sự nghiệp. Nguyễn Duy Hiệu sinh năm Đinh Mùi (1847) tại làng Thanh Hà, huyện Duyên Phúc (nay là phường Thanh Hà, thành phố Hội An) tỉnh Quảng Nam. Năm Bính Tý (1876), ông thi đỗ cử nhân. Năm Kỷ Mão (1879), ông thi đỗ Phó bảng lúc 32 tuổi, được triều đình Tự Đức bổ nhiệm làm quan phụ đạo tại kinh thành Huế, được phong Hồng lô tự khanh nên người đời gọi là "Hường Hiệu". Tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), cuộc phản công của phe chủ chiến ở Kinh thành Huế thất bại, Phụ chính Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, xuống dụ Cần vương (13 tháng 7 năm 1885). Hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước của vua, Nguyễn Duy Hiệu cùng Trần Văn Dư (1839-1885), Phan Bá Phiến (còn gọi là Phan Thanh Phiến, 1839-1887), Nguyễn Tiểu La (tức Nguyễn Hàm, 1863-1911), thành lập Nghĩa hội Quảng Nam (Trần Văn Dư làm Thủ hội) rồi ra bản cáo thị kêu gọi toàn dân trong tỉnh cùng đứng lên đáp nghĩa. Nghĩa hội Quảng Nam. Ngày 4 tháng 9 năm 1885, nghĩa quân Quảng Nam bao vây chiếm tỉnh thành La Qua (còn gọi là La Thành, tức thành tỉnh Quảng Nam), buộc Bố chính Bùi Tiến Tiên và Tuần phủ Nguyễn Ngoạn phải dẫn quân rút chạy. Được tin khẩn, quân Pháp và quân Nam triều (triều vua Đồng Khánh thân Pháp) dưới quyền chỉ huy của tướng Schants đã phản công chiếm lại thành, rồi còn xua quân đi tấn công các căn cứ của nghĩa quân ở Đại Lộc, Quế Sơn, Tam Kỳ... Trước lực lượng đông đảo và vũ khí tối tân của đối phương, đến tháng 10 năm 1885, các căn cứ ở Dương Yên, An Lâm, Đại Đồng cũng đều lần lượt bị bao vây rồi thất thủ. Trước tình thế nguy ngập đó, bộ chỉ huy Nghĩa hội bàn nhau chọn kế "giải binh quy điền" để bảo toàn lực lượng. Tháng 12 năm 1885, Trần Văn Dư giao quyền Thủ hội cho Nguyễn Duy Hiệu để Huế gặp vua Đồng Khánh (từng là học trò của ông), nhằm tìm ra một giải pháp. Dọc đường, ông bị quyền Tổng đốc Quảng Nam Châu Đình Kế bắt giữ và báo với quân Pháp. Bất khuất, ông mắng chửi Tổng đốc Kế. Căm tức, viên quan này đã mượn tay quân Pháp để giết chết ông tại góc thành La Qua ngày 13 tháng 12 năm 1885. Đầu năm 1886, Nguyễn Duy Hiệu chính thức làm Hội chủ mới của Nghĩa hội, và ông đã chọn thung lũng Trung Lộc thuộc Quế Sơn đặt tổng hành dinh với tên gọi là "Tân tỉnh Trung Lộc". Từ nơi đó, Nguyễn Duy Hiệu đã tổ chức đi đánh nhiều trận, gây cho đối phương nhiều thiệt hại, như trận tập kích đơn vị công binh Pháp đang mở con đường qua đèo Hải Vân (tiêu diệt trọn đội công tác này), trận Bãi Chài (phá đội ca nô ở vàm Vân Ly trên sông Thu Bồn), trận phục kích quân Pháp và quân triều đình ở Cẩm Muồng. Tháng 2 năm 1886, viên Khâm sứ Trung Kỳ là Hector đã điều động khoảng bốn trăm lính Pháp cùng khoảng hai trăm quân triều do Nguyễn Thân chỉ huy đã rầm rộ tiến vào căn cứ Tân tỉnh Trung Lộc. Tại trận kịch chiến ở Gò May, nghĩa quân đại bại, bản doanh bị đốt cháy, san bằng. Thấy không thể cầm cự được nữa, Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến liền ra lệnh đánh vượt vòng vây chạy về một làng ở gần cửa biển An Hòa thuộc Tam Kỳ. Tướng Nguyễn Thân liền xua quân theo càn quét rất ngặt. Lại thất trận ở căn cứ Phước Sơn (thuộc Tiên Phước), tuy Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến chạy thoát được nhưng thế và lực thật sự đã cùng. Không thể để nghĩa quân toàn ba tỉnh bị giết hại hết, nghe lời thủ lĩnh Hiệu, Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự sát để tránh bị bắt, còn ông Hiệu thì tự trói mình nạp mạng cho đối phương để nhận lãnh hết trách nhiệm về mì(21 tháng 9 năm 1887). Kế tiếp, theo sử liệu thì: "Chứng kiến xong cái chết của người đồng sự tâm phúc, Nguyễn Duy Hiệu trở về quê thăm viếng mẹ già. Xong, ông ra miếu thờ Quan Công ở giữa bãi cát Thanh Hà, mặc áo dài đen, đầu vấn khăn cẩn thận, ngồi xếp bằng trước bàn thờ, rồi sai người đi báo cho Nguyễn Thân đến bắt ô" Sau khi Nguyễn Duy Hiệu liền bị giải về Huế, triều đình Đồng Khánh bèn dùng danh lợi để dụ hàng, nhưng không được ông nghe. Cuối cùng, Viện cơ mật của Nam triều đã kết án tử hình ông vào ngày rằm tháng 8 năm Bính Tuất (15 tháng 10 năm 1887) tại Huế, hưởng dương 40 tuổi. Phần mộ Nguyễn Duy Hiệu hiện ở tại xã Cẩm Hà, thị xã Hội An. Đàn áp Nghĩa đảng Quảng Nam thành công, Nguyễn Thân được nhà cầm quyền Pháp tặng thưởng Bắc đẩu bội tinh ngũ hạng, còn vua Đồng Khánh thì ban cho Nguyễn Thân gia hàm Thượng thư nhưng sung Nghĩa Định Tiễu phủ sứ, lại thưởng thêm một kim khánh hạng lớn. Trước khi bị chém chết, Nguyễn Duy Hiệu đã làm hai bài thơ tuyệt mệnh. Trích giới thiệu một bài: Ghi nhận công lao. Năm Ất Tỵ (1905), nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã viết trong Việt Nam vong quốc sử như sau: "...Nguyễn Hiệu (và Phan Bá Phiến), người Quảng Nam, khởi nghĩa ba năm huyết chiến, người Pháp chưa lúc nào đánh thua được. Gặp phải Nguyễn Thân, người Quảng Ngãi, trước cũng dự tên Nghĩa hội, sau phản Nghĩa hội theo Pháp, (đây) là tay đầu sỏ nhất trong bọn nộ lệ Pháp, (đồng) đảng nó là Lê Khiết cũng là chó dữ của Pháp; (nên dù) Hiệu, Phiến ở đâu, tất nó hết sức dò la cho ! hai người ấy, nhà tan không nghĩ đến, chăm chăm chỉ nghĩ đến bảo toàn đảng để mưu về sau, trong mắt họ, trong bụng họ chỉ có Tồ quốc, có đồng bào mà thôi, can tràng như thế thật là trời đất phải khâm phục, quỷ thần phải kính nể..." Vinh danh Nguyễn Duy Hiệu, tên ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố tại Việt Nam.
Jang Hye-jin (tiếng Hàn: 장혜진, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1968) là một nữ ca sĩ Hàn Quốc. Jang Hye-jin là nữ ca sĩ Hàn Quốc được người nghe nhạc yêu thích trong nhiều năm. Ban đầu, cô là thành viên của nhóm nhạc MBC Chorus, nhưng đã bắt đầu sự nghiệp đơn ca vào năm 1991 với bài hát "Always in My Dreams". Tuy nhiên, bài hát đã bị phê bình là "đạo nhạc" và Jang không thể tiếp tục biểu diễn bài hát này. Năm 1993, Jang Hye-jin phát hành đĩa nhạc thứ hai mà cô đã chuẩn bị nghiêm chỉnh để quảng bá tên tuổi với đông đảo người nghe. Chất giọng khàn và thu hút của cô đã được nhiều người người biết đến. Ca khúc chủ đề "Short Sky" đã rất thành công trên các bảng xếp hạng tại Hàn Quốc. Với đĩa nhạc thứ ba phát hành vào năm 1994, Jang đã nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình, cũng như công chúng, với những ca khúc như: "To Me" và "With Only the Name of Love". Nhiều nhạc sĩ hàng đầu như Kim Hyun-cheol đã tham gia vào quá trình sản xuất đĩa nhạc. Việc này đã thu hút thêm nhiều sự chú ý của công chúng. Đĩa thứ tư của Jang đã được phát hành vào năm 1996, nhưng bị thất bại so với đĩa thứ ba. Trong đĩa thứ năm được phát hành vào năm 1998, Jang Hye-jin đã cố gắng thay đổi phong cách âm nhạc. Hầu hết các bài hát trong đĩa này thuộc thể loại Latin pop. Cô cũng đã viết lời cho các bài hát "Dream" và "You're Lost". Sau ba năm tạm ngừng hoạt động, Jang Hye-jin trở lại sân khấu ca nhạc với đĩa thứ sáu và đĩa BEST. Sau đó, Jang Hye-jin ngừng biểu diễn để theo học thanh nhạc tại trường nhạc Berkely ở Boston, nhằm để được đào tạo một cách có hệ thống. Sau khi trở về lại Hàn Quốc, Jang phát hành đĩa nhạc thứ bảy vào năm 2006.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền của Bị cáo. - Nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này. - Tham gia phiên tòa. - Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này. - Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản, người tham gia tố tụng khác và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia phiên tòa. - Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu. - Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá. - Tự bào chữa, nhờ người bào chữa. - Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. - Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa. - Nói lời sau cùng trước khi nghị án. - Xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa. - Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án. - Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. - Các quyền khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ của Bị cáo. - Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã. - Chấp hành quyết định, yêu cầu của Tòa án.
Sông Amazon (tiếng Tây Ban Nha: "Río Amazonas"; tiếng Bồ Đào Nha: "Rio Amazonas") là một dòng sông ở Nam Mỹ. Amazon được xem là con sông dài nhất thế giới theo một số nguồn thông tin và là sông có lưu vực rộng nhất và lưu lượng nước nhiều nhất thế giới. Sông Amazon chiếm khoảng 20% tổng lưu lượng nước ngọt cung cấp cho các đại dương . Chỗ rộng nhất của sông vào mùa khô khoảng 11 km (6,8 dặm). Vào mùa mưa lũ, chỗ rộng nhất của sông có thể lên đến 40 km (24,8 dặm) và khu vực cửa sông có thể rộng tới 325 km (202 dặm) . Do độ rộng của sông như vậy, người ta còn gọi là sông biển. Sông Amazon được Francisco de Orellana phát hiện năm 1542, ban đầu nó được đặt tên là Riomar. Con sông Amazon thuộc hàng dài nhất thế giới nằm ở khu vực Nam Mỹ được xác định đã 11 triệu năm tuổi. Nó có hình dạng như hiện nay từ 2,4 triệu năm trước. Đây là kết quả nghiên cứu của những nhà khoa học tại Đại học Liverpool Anh, Đại học Amsterdam Hà Lan và công ty dầu mỏ quốc gia Brazil Petrobras. Họ đưa ra kết luận này nhờ nghiên cứu những mẫu trầm tích lấy từ hai lỗ khoan ở cửa sông Amazon. Trước nghiên cứu này, độ tuổi chính xác của sông Amazon vẫn là một bí ẩn. Các nhà nghiên cứu vốn không thể xâm nhập vào Amazon Fan - một cột trầm tích dày tới 10 km - ở con sông này. Công ty Petrobras đã quyết định khoan hai lỗ ở cửa sông Amazon - một cái sâu tới 4,5 km dưới mực nước biển - để lấy trầm tích phục vụ cho nghiên cứu. "Trầm tích của sông cung cấp dữ liệu về khí hậu và địa lý thời cổ đại của khu vực", Jorge Figueiredo - thuộc khoa nghiên cứu đại dương và Trái Đất Đại học Liverpool - cho biết. "Nghiên cứu này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp hiểu biết cho chúng ta về địa lý học Nam Mỹ cũng như sự tiến hóa sinh vật biển ở khu vực Amazon và vùng bờ biển Đại Tây Dương". Tuy nhiên, Amazon, dù được xem là dài nhất thế giới, vẫn khá "trẻ" so với nhiều con sông khác trên thế giới. "Sông New ở Bắc Mỹ và Nile ở châu Phi được cho là đã hàng trăm triệu năm tuổi", Carina Hoorn, thuộc Đại học Amsterdam, cho hay. Lưu vực sông bao phủ phần lớn rừng Amazon, khu rừng nhiệt đới lớn nhất trên thế giới, chiếm diện tích 5.500.000 km² (phần lớn ở Brazil). Amazon có lưu vực rộng nhất thế giới với hơn 1.000 sông nhánh đan chéo nhau dệt thành một mạng sông dày đặc, trong đó có hơn 17 nhánh có chiều dài 1.500 km. Lưu vực Amazon chiếm khoảng 40% tổng diện tích đại lục Nam Mỹ, lớn gấp đôi diện tích lưu vực sông Congo ở châu Phi. Sông Amazon và các phụ lưu của nó đặc trưng bởi những khu rừng rộng lớn bị ngập nước vào mỗi mùa mưa. Mỗi năm mực nước sông dâng cao hơn , làm ngập lụt các khu vực rừng lân cận, được gọi là "várzea" ("rừng bị ngập nước"). Các khu rừng bị ngập nước của Amazon là những ví dụ điển hình nhất cho kiểu môi trường sống này trên thế giới. Tính trung bình trong mùa khô, diện tích bị ngập nước khoảng , trong khi mùa mưa diện tích bị ngập nước trong lưu vực lên đến . Lượng nước từ sông Amazon đổ ra Đại Tây Dương rất lớn, lên đến trong mùa mưa, trung bình trong khoảng thời gian từ 1973 đến 1990. Amazon cung cấp khoảng 20% lượng nước ngọt trên thế giới đổ vào đại dương. Vùng nước mà con sông đổ vào đại dương trải dài và rộng . Nước ngọt nhẹ hơn nước biển, khi chảy vào đại dương sẽ nằm ở trên, pha trộn với nước mặn, làm thay đổi màu sắc của bề mặt đại dương trên một diện tích lên đến . Qua nhiều thế kỷ các tàu qua lại đã báo cáo rằng vùng nước ngọt gần cửa sông nằm ngoài tầm nhìn đến đất liền và có vẻ như là một đại dương mở. Năng lượng sóng và thủy triều của Đại Tây Dương đủ để mang hầu hết vật liệu trầm tích của sông Amazon ra biển, do đó Amazon không hình thành một đồng bằng châu thổ thực sự. Các đồng bằng châu thổ lớn trên thế giới tất cả nằm trong các vùng nước được bảo vệ một cách tương đối, trong khi Amazon không hội đủ những yếu tố như thế. Vào tháng 5 năm 2007, nhằm xác định thượng nguồn của con sông, các nhà khoa học Brasil và Peru đã làm một cuộc hành trình vất vả. Và họ thấy con sông này bắt nguồn từ vùng núi trẻ An-đét (5000 mét so với mực nước biển). Không phải tất cả các nhánh sông của Amazon xuất hiện lũ cùng thời điểm trong một năm. Nhiều nhánh bắt đầu lũ vào tháng 11 và có thể tiếp tục dâng cao cho đến tháng 6. Nước sông Rio Negro dâng lên bắt đầu trong tháng 2 hoặc 3 và bắt đầu rút trong tháng 6. Sông Madeira dâng và hạ trong 2 tháng sớm hơn hầu hết các nhánh sông khác của Amazon. Độ sâu trung bình của Amazon giữa Manacapuru và Óbidos theo tính toán giữa . Tại Manacapuru, mực nước sông chỉ vào khoảng trên mực nước biển. Hơn phân nửa nước của hạ nguồn Amazon trên sông Manacapuru nằm dưới mực nước biển. Ở đoạn thấp nhất độ sâu trung bình của Amazon là , ở một số nơi có thể lên đến . Lũ hàng năm gây ra bởi sóng triều được gọi là "pororoca." Sóng xuất hiện vào cuối đông khi triều cao, khi đó Đại Tây Dương bao phủ vào trong sông. Sóng có thể cao đến 4 m và truyền sâu vào trong đất liền 13 km. Thế giới sinh vật. Hơn một phần ba số loài động vật được biết đến sống ở rừng Amazon, một khu rừng nhiệt đới khổng lồ nằm trên lưu vực sông Amazon có diện tích hơn . Nó là rừng nhiệt đới giàu đa dạng sinh học nhất thế giới. Hiện có 3,000 loài cá có mặt ở lưu vực Amazon, với nhiều loài mới được tìm thấy hàng năm. Phần lớn Rừng Amazon có núi, các loại khoáng sản có kim cương (phân bố ở Brasil), vàng ở Bôlivia, và các kim loại khác nhau. Các phụ lưu chính. Amazon có hơn 1.100 phụ lưu, 17 trong số đó có chiều dài hơn . Một số sông nổi tiếng như:
Kiếm hay gươm là một loại vũ khí lạnh cấu tạo từ một thanh kim loại thẳng, dài và dẹt, được mài bén ở mũi và lưỡi chuyên dùng để đâm, chém trong tác chiến. Loại gươm có lưỡi cong, chỉ một lưỡi được mài bén thì được gọi là đao. Kiếm được sử dụng trong nhiều cuộc chiến trên khắp thế giới từ thời thượng cổ cho tới thế chiến II. Sau phát minh ra súng, kiếm dần dần mất hiệu lực trong chiến trường nhưng vẫn được dùng làm biểu tượng của gia tộc, quốc gia, quân đội (Ví dụ điển hình là sĩ quan kỵ binh trong Nội chiến Mỹ thường dùng kiếm đi trước để chỉ huy binh lính có súng theo sau). Một số thanh kiếm hiện diện trong các huyền thoại, truyền thuyết như thanh kiếm "Thuận thiên" của Lê Lợi, thanh "Kusanagi" của Thiên hoàng Jimmu (thần thoại Nhật Bản), và "Excalibur" của vua Arthur (Anh Quốc). Kiếm cũng được dùng để thi đấu như một môn thể thao. Cấu tạo của kiếm khá đơn giản - một thanh kim loại dài, có một hoặc hai cạnh sắc, chuôi bằng kim loại hoặc gỗ, phần lớn có quai bảo vệ cho bàn tay của kiếm sĩ. Có nhiều loại kiếm, như kiếm 3 cạnh, liễu diệp kiếm (loại kiếm rất mỏng, nhẹ và dẻo dai, có thể cuốn tròn quanh người), kiếm lưỡi tròn, kiếm 2 lưỡi còn gọi là kiếm lá, kiếm 1 lưỡi (thường gọi là đao) Mỗi dân tộc lại có một hoặc vài kiểu kiếm khác nhau: kiếm Claymore của Scotland, đao Katana, thái đao Tachi của Nhật Bản , theo đó cách sử dụng kiếm cũng khác nhau. Trung Quốc có một nền võ thuật lâu đời và vững mạnh, kiếm pháp cũng không nằm ngoài quy luật này. Kiếm Trung Quốc có từ thời cổ đại khi con người tìm ra đồng và sắt. Trải qua suốt 5000 năm lịch sử, kiếm Trung Quốc ngày càng hoàn thiện và đa dạng hơn, đặc điểm chung là cấu tạo bởi một thanh kim loại (thường là thép) dài, sắc hai lưỡi, nhọn ở đầu. Thời Cổ Trung đại, Kiếm là loại vũ khí được trang bị khi chiến đấu và phòng thân. Qua mỗi thời kì, kiếm Trung Quốc có những nét đặc trưng riêng. Kiếm thời nhà Minh lưu truyền đến nay, sử dụng trong luyện tập võ thuật và làm lễ trong Đạo Giáo. Từ thời Tống, Trung Quốc xuất hiện nhiều môn phái sử dụng kiếm như: Toàn Chân Giáo, Võ Đang, Nga My, Ngũ Nhạc Kiếm Phái, môn sinh Thiếu Lâm cũng được luyện tập kiếm pháp. Kiếm Trung Quốc là một vũ khí thanh mảnh, sử dụng một tay một kiếm (đơn kiếm), hai tay hai kiếm (song kiếm). Loại to, nặng nhưng gọi là trọng kiếm không sắc bằng kiếm thường, sát thương chủ yếu bằng sức nặng để cắt. Nước Ngô có hai thanh kiếm Can Tương và Mạc Tà nổi tiếng chặt đá, do hai vợ chồng Can Tương và Mạc Tà đúc nên, được liệt vào hàng danh kiếm. Cùng học một thầy với hai vợ chồng Can Tương, Mạc Tà có Âu Giả Tử nước Việt, đúc được 5 thanh kiếm, được vua nước Việt dâng cho vua Ngô Thọ Mộng 3 thanh: Đặc trưng là Katana hay còn gọi là Đao Nhật, là vũ khí đặc trưng của người Nhật Bản. Katana thực chất là đao, có lưỡi dài và cán dài, cán đao thường được cầm bằng hai tay khi chiến đấu. Katana chỉ có một lưỡi, sắc bén, có sức sát thương cao. Sống và lưỡi đao có đặc tính hoàn toàn khác nhau, sống đao mềm trong khi lưỡi đao cứng, chính sự khác biệt về nhiệt trong việc tạo nên những đặc tính này khiến đao có hình dáng cong. Katana thường được đeo ở thắt lưng và lưỡi đao xoay lên trên. Theo một số nhà khoa học, sở dĩ katana đạt được độ cứng và bền là vì khi rèn đao, các nghệ nhân thường cho thêm oxít titan vào trong hợp kim. Điều này làm cho katana có độ sắc bén nhất, ngoài ra còn giúp chống oxy hóa, khiến cho thanh đao luôn sáng bóng. Những thanh katana cổ có độ tuổi ít nhất 300 năm nhưng khi rút khỏi vỏ vẫn có khả năng phản xạ ánh sáng. Thời cổ đại, lưỡi kiếm Việt Nam thẳng và rộng bản, có 2 cạnh sắc, dùng để chém lẫn đâm. Về hình dạng, kiếm Đông Sơn tương tự như kiếm tìm thấy ở Trung Quốc, Nhật Bản. Hoa văn trang trí trên chuôi và đốc kiếm rất đa dạng, có thể là hình chiến binh, hình người phụ nữ hay các con vật như gà, , chuông. Thời Trung - Cận đại, người Việt sử dụng cả gươm thẳng 2 cạnh sắc, chuôi cầm 1 tay như của Trung Quốc lẫn loại gươm lưỡi cong, 1 cạnh sắc, chuôi dài và phải cầm cả hai tay (vẫn thường được gọi là trường đao). Ngày nay, loại trường đao này vẫn có thể nhìn thấy trên những bức tượng võ sĩ ở các lăng tẩm của giới quý tộc thời Lê, Mạc, Trịnh ở Thanh Hóa, Bắc Giang, trong bảo tàng Lịch sử quân sự Hà Nội (kiếm Tây Sơn) hay trong các lễ hội dân gian như hội đền Đô, Bắc Ninh. Một số lượng lớn đao kiếm cổ hiện nay đang nằm trong các bộ sưu tập tư nhân. Về danh kiếm thì Việt Nam nổi lên có thanh Thuận Thiên kiếm của Lê Lợi, gắn với sự tích trả gươm và rùa thần Kim Quy Từ "gươm" trong tiếng Việt bắt nguồn từ từ tiếng Hán thượng cổ 劍 (có nghĩa là gươm, kiếm). William H. Baxter và Laurent Sagart phục nguyên âm tiếng Hán thượng cổ của từ 劍 là /*[a]m-s/. Chữ Hán 劍 có âm Hán Việt là "kiếm".
Nghìn lẻ một đêm Nghìn lẻ một đêm (tiếng Ả Rập: "Kitāb 'Alf Layla wa-Layla"; tiếng Ba Tư: "Hazâr-o Yak Šab") là bộ sưu tập các truyện dân gian Trung Đông và Nam Á được biên soạn bằng tiếng Ả Rập trong thời đại hoàng kim Hồi giáo. Tác phẩm này được sưu tập qua nhiều thế kỷ bởi nhiều tác giả, dịch giả và học giả khắp Tây Á, Trung Á, Nam Á và Bắc Phi. Bản thân các câu truyện được truy tìm nguồn gốc ngược về nền văn chương và truyện kể dân gian Ả Rập, Ba Tư, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Do Thái và Ai Cập. Đặc biệt, nhiều truyện ban đầu là truyện dân gian từ thời đại Khalifah, trong khi đó một số truyện khác, đặc biệt là truyện nền, phần lớn có thể đã được lấy từ tác phẩm văn chương Ba Tư là "Hazār Afsān" ("Một ngàn truyện") mà đến lượt chúng lại dựa một phần vào những yếu tố Ấn Độ. Điểm chung của các lần xuất bản bộ truyện là truyện nền ban đầu kể về vị vua Shahryār và vợ của ông là Scheherazade. Truyện nền đã giúp kết hợp chặt chẽ xuyên suốt cho chính các truyện kể khác. Các truyện kể tiến triển từ truyện kể ban đầu này; một số truyện kể được lồng vào bên trong các truyện kể khác trong khi đó có một số truyện kể tự mình bắt đầu và kết thúc. Một số lần xuất bản chỉ có chứa vài trăm đêm trong khi đó có một số lần xuất bản có chứa đến một nghìn lẻ một đêm hay nhiều hơn. Phần lớn các truyện kể được viết theo thể văn xuôi tuy đôi khi cũng được viết theo thể thơ dành cho các bài hát, câu đố và để diễn tả cảm xúc cao độ. Một số truyện kể được xem là rất có liên quan đến "Nghìn lẻ một đêm", đặc biệt là "Aladdin và cây đèn thần", "Ali Baba và bốn mươi tên cướp", và "Thủy thủ Sinbad" lại không phải là một phần của "Nghìn lẻ một đêm" trong phiên bản nguyên thủy bằng tiếng Ả Rập. Chúng được Antoine Galland và các phiên dịch châu Âu đưa vào bộ truyện. Vào thế kỷ 8, Baghdad trở thành một trong những thành phố quan trọng bậc nhất trên thế giới. Các nhà buôn từ Ba Tư (Iran), Ấn Độ, châu Phi và châu Âu đều có mặt ở đây. Vào thời gian đó, các câu truyện dân gian (được truyền khẩu trong nhiều năm) được thu thập và biên soạn lại thành một cuốn sách. Những câu chuyện trong này thường là những câu chuyện dân gian truyền khẩu. Ở đâu cũng vậy, các chuyện kể dân gian không bao giờ là công trình sáng tạo của một người và có dạng hoàn chỉnh ngay từ đầu hay trong một thời gian ngắn. Cho đến một lúc nào đấy nó được những tài năng kiệt xuất chỉnh lý, định hình lần cuối cùng, rồi được nhân dân chấp nhận coi như dạng bản cuối cùng. Những người kể chuyện rong mang những chuyện đó kể khắp nơi. Trong quá trình ấy họ gọt đẽo cách diễn tả cho thích hợp và hấp dẫn người nghe. Người ta cho rằng chính những người Ai Cập kể chuyện rong thế kỷ 12 và 13 đã làm cho các chuyện trong Nghìn lẻ một đêm thêm phong phú về nội dung, linh hoạt về hình thức và sáng sủa về từ ngữ. Ngôn ngữ dùng trong tập truyện này gắn với tiếng nói của các tầng lớp bình dân A Rập hơn là ngôn ngữ kinh viện thời bấy giờ. Nội dung chủ yếu của những câu truyện này bắt nguồn từ một cuốn sách Ba Tư cổ tên là "Hazâr Afsâna" ("Một nghìn truyện thần thoại").Theo R. Niconxơn trong Lịch sử văn học A Rập, năm 956 một học giả A Rập tên là Masadi đã nhắc tới tác phẩm này. Năm 988, Mohamed Ishaq, tác giả một tập thư mục những tác phẩm văn học A Rập và nước ngoài đã nói đến việc người A Rập soạn lại tập truyện cổ Ba Tư đó. Ông viết: ""Tác giả tập Truyện các tể tướng là An Jasihiyari (Agdul Al Jahshitari) bắt tay soạn một cuốn sách trong đó ông chọn một nghìn truyện của người A Rập, người Ba Tư, người Hy Lạp và nhiều dân tộc khác, các truyện đều riêng biệt không có quan hệ gì với nhau. Ông tập hợp một số người làm nghề kể chuyện lại, mời họ kể cho nghe rồi chọn những truyện hay nhất, những ngụ ngôn, cổ tích mà ông thích nhất. Là một người có tài, ông đúc kết những câu chuyện ấy lại thành bốn trăm tám mươi đêm, mỗi đêm là một truyện trọn vẹn dài trên dưới năm chục trang. Nhưng ông chết bất ngờ trước khi hoàn thành một nghìn truyện như dự định". Theo các nhà nghiên cứu Nghìn lẻ một đêm ít ra là bản lưu truyền đến với chúng ta ngày nay được định hình rõ ràng vào khoảng cuối thế kỷ 15 ở Ai Cập. Thời kỳ này cả nước Ai Cập đã hoàn toàn theo đạo Hồi. Thật ra, sự xuất hiện của nó còn ngược lên đến thời xa xưa, bắt nguồn từ những truyện Ba Tư rất cổ và đã trải qua một thời kỳ tồn tại lâu dài trước khi được viết ra thành văn.. Nghìn lẻ một đêm như ta đã biết hiện nay, lần đầu tiên được giới thiệu với châu Âu rồi từ đó phổ cập hầu như rộng khắp trên toàn thế giới là nhờ công lao của một học giả người Pháp: Antoine Galland mà bản dịch từ khi ra đời cách đây gần ba thế kỷ đã mau chóng trở thành kinh điển. Khi ở Paris, một hôm tình cờ đọc được một bản chép tay bảy truyện cổ A Rập, ông có ý định dịch và cho xuất bản. Sách sắp in ra thì dịch giả được biết những truyện này thực ra rút ra từ "một pho đồ sộ gồm nhiều tập đề là Nghìn lẻ một đêm". Ông liền nhờ người tìm kiếm hộ, từ Syria người ta chỉ gửi đến cho ông có bốn tập. Ông dịch ngay tập đầu tiên cho xuất bản năm 1704. Món quà nhỏ mọn như lời ông viết trong thư gửi tặng hầu tước phu nhân O, lập tức được hoan nghênh nhiệt liệt. Thành công hết sức to lớn. Cùng với hầu tước phu nhân O cả triều đình nghị viện, từ giai cấp tư sản cho đến các tầng lớp nghèo hèn, tóm lại là tất cả những ai biết đọc biết viết ở Pháp đều đổ xô vào tranh nhau tập sách. Trong bốn năm, từ 1704 đến 1708, mười hai tập lần lượt ra đời. Năm 1709, A.Galland được một người bạn A Rập đến Paris trao thêm cho một số truyện nữa, ông lại dịch và cho in tiếp. Chừng hai thế kỷ sau A.Galland một bản dịch tiếng Pháp khác của Nghìn lẻ một đêm ra đời. Dịch giả là tiến sĩ J.C.Mardrus. Thật ra đây là một bản dịch theo quan niệm và phong cách hoàn toàn khác. Mardrus không bỏ sót một chi tiết nào, kể cả những đoạn rườm rà dâm tục và tất cả những thơ rải rác trong các truyện. Người đã bàn cãi khá nhiều về hai bản dịch đó. Các nhà nghiên cứu văn học đều nhất trí đánh giá cao bản dịch của A.Galland theo đúng như lời nhận xét của tạp chí Bách khoa (Pháp) số tháng một năm 1900: ""Bản dịch của A.Galland cho chúng ta một ý niệm rất trung thành về tính cách và lời văn của người A Rập cũng như của bộ" Nghìn lẻ một đêm". Chính vì vậy mà giờ đây bản dịch truyện của Galland được phổ biến và được người đọc đón nhận nồng nhiệt nhất. Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm. Kho tàng truyện cổ vô cùng đa dạng của Nghìn lẻ một đêm được kết nối xoay quanh một trục đơn giản: Xưa kia ở miền Đông Ả-rập, thời Sassanid có một vị vua Ba Tư Shahriyar. Vị vua ngự trị trên một hòn đảo không rõ tên "ở giữa Ấn Độ và Trung Quốc" (trong các bản dịch tiếng Ả Rập hiện nay thì ông ta là vua của Ấn Độ và Trung Quốc). Ban đầu, ông vốn là một vị hoàng đế anh minh, hiền hậu nhưng do hoàng hậu và phi tần ngoại tình nên ông đâm ra chán ghét tất cả đàn bà, tính nết trở nên hung bạo. Để thỏa cơn thịnh nộ điên loạn, cứ mỗi ngày ông ta cưới một cô gái và sau một đêm mặn nồng lại sai lính đem giết (trong một số bản: ba đêm một lần). Nhằm thoát khỏi thảm kịch, các gia đình có con gái lần lượt bỏ xứ di cư. Thấy đất nước lâm nguy, Sheherazade xin cha cho mình được một đêm hưởng ân sủng của hoàng thượng. Viên tể tướng rất đau lòng khi thấy con mình như vậy vì ông biết sau đêm đó nàng sẽ chết. Nhưng trước sự quyết tâm của con ông đành phải đem con dâng cho vua Shahriyar. Là cô gái thông minh, tài trí lại giàu nghị lực, nên sau nàng đã tìm được cách để thoát khỏi cái chết. Nàng cùng với sự giúp đỡ của em gái nàng là Dinarzade, nàng nhờ em đánh thức mình dậy khi trời sắp sáng và yêu cầu nàng kể chuyện. Những câu chuyện được sắp xếp khéo léo để đúng khi mặt trời mọc là lúc hấp dẫn nhất, nàng kín đáo dừng lại khi chuyện chưa chấm dứt khiến vua còn nóng lòng muốn nghe đoạn tiếp, không thể ra lệnh xử tử nàng. Trong suốt một nghìn lẻ một đêm, nàng Sheherazade đã liên tục kể những chuyện về tình yêu, chiến tranh và pháp thuật, về những vị vua cũng như bọn ăn mày, về những xứ sở mà kim cương nhiều hơn đá sỏi, về những cô gái đẹp, về cả những mưu toan diễn ra trong các ngõ hẻm hay các khu chợ tại các thành phố phương Đông. Hai nàng cũng kể về những thị trấn, sa mạc, hải đảo xa xôi, nơi các vị phù thủy sử dụng pháp thuật, về các loài ngựa biết bay, chó biết nói, người hóa cá, cá lớn hơn cá voi, chim khổng lồ. Nàng kể về những cặp tình nhân trong các túp lều tồi tàn, họ có thể là người gan dạ hoặc hèn nhát, nhưng tất cả đều đa tình và biết hy sinh vì người yêu. Bối cảnh của các chuyện của nàng ở phương Đông, phần lớn xoay quanh các thành phố huyền thoại Bagdad, Cairo và Damascus. Hàng ngàn đêm trôi qua, cuối cùng nhà vua bị cảm hóa, tình yêu cuộc sống và con người trỗi dậy khiến ông ta đã quên khuấy việc giết người. Cảm phục nàng Sheherazade, vua đã bãi bỏ lệnh bắt con gái để giết một cách tàn nhẫn và đồng ý lập nàng làm hoàng hậu bằng một đám cưới linh đình, sau đó cùng nhau sống hạnh phúc đến bạc đầu và họ có với nhau ba người con trai. Cũng như truyện dân gian của các nước khác, những câu chuyện trong "Nghìn lẻ một đêm" phản ánh nguyện vọng và ước mơ của quần chúng nhân dân trong xã hội bị áp bức, đè nén. Họ luôn luôn mong muốn được sống trong cảnh thái bình yên vui, được gặp nhiều may mắn, hạnh phúc ấm no. Khát vọng này thể hiện qua những truyện nổi tiếng nhất của tập truyện, chẳng hạn truyện "Aladdin và cây đèn thần" kể về chàng trai Aladdin, con của một người thợ may. Bị một phù thủy dẫn dụ xuống hang ngầm, tại đây chàng tìm thấy một cây đèn, trong đó có nhốt vị thần đèn có thể biến mọi ước mơ thành hiện thực, nhờ đó chàng trở nên giàu có và được cưới công chúa Badroulboudour. Nhiều truyện phản ánh bản chất tốt đẹp của nhân dân lao động cần cù, chăm chỉ, kiên cường dũng cảm và thông minh tài trí, giàu lòng thương người đồng thời vạch trần bản chất tàn ác của bọn vua chúa, quan lại, phú thương, phù thủ, chính thắng tà, ở hiền gặp lành, và mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Cuộc hành trình trên mặt biển của thủy thủ Sinbad là một ví dụ, với những cuộc phiêu lưu kỳ thú của chàng Sinbad lên một hòn đảo nhưng thực chất là một con cá khổng lồ, lạc đến một thung lũng đầy đá quý và chàng đã mưu trí trốn ra được, đâm mù mắt gã khổng lồ ăn thịt người và giết chết chúa tể của biển cả. Truyện "Ali Baba và 40 tên cướp" ca ngợi tài trí thông minh và dũng cảm của cô gái Morgiana đã cứu sống gia đình bác tiều phu Ali Baba khỏi những tên cướp. Câu chuyện Người câu cá với vị thần kể về một ngư phủ vớt chiếc lọ có nhốt một vị thần, nhờ tài trí mà gã ta đã khiến vị thần khuất phục và trung thành phục vụ cho mình. Với sự giúp đỡ của vị thần, gã đã cứu hoàng tử khỏi pháp thuật và được tưởng thưởng xứng đáng. Với hàng trăm câu chuyện hoàn chỉnh, bao gồm truyện lịch sử, truyện tình, bi kịch, hài kịch, thơ, truyện hài và truyền thuyết Hồi giáo cấu thành tác phẩm, "Nghìn lẻ một đêm" có một giá trị hết sức to lớn trong việc phản ánh một thế giới muôn mặt trong đời sống hiện thực xã hội Arap thời Trung cổ, thông qua một óc tưởng tượng cực kỳ phong phú, chủ đề vô cùng khác lạ, nhân vật đủ mọi loại vẻ, với những khung cảnh vừa rộng lớn vừa luôn luôn thay đổi. Về nghệ thuật, "Nghìn lẻ một đêm" hết sức hoàn chỉnh về kết cấu, bất ngờ trong việc dẫn dắt mạch truyện, phức tạp nhưng rất chặt chẽ trong các tình tiết và cũng rất điêu luyện trong việc sử dụng ngôn ngữ, mặc dù có một số truyện qua tay nhiều người, được nhiều thế hệ ghi chép nên đã ít nhiều bị pha tạp hoặc bị hiện đại hóa. Nhận xét, đánh giá. Đề tựa bản dịch tiếng Nga xuất bản năm 1929 Lêningrát, Macxim Gorki viết: Nghìn lẻ một đêm không chỉ là một tập truyện cổ tích, đó là cả một thế giới. Thế giới người A Rập trong cuộc đời thực tại cũng như trong cảnh thần tiên ma quái, thế giới của đạo Hồi từ khi có sử thành văn và đạo Hồi qua các truyền thuyết dân gian. Người A Rập vẫn cho pho sách này là một tấm gương vĩ đại ai nấy có thể nhìn vào đấy mà suy ngẫm, mà soi xét bản thân mình. Lời nói đầu trong nguyên bản viết: Các truyện trong Nghìn lẻ một đêm rất phong phú và đa dạng. Lúc chuyện xảy ra trong thế giới thần tiên, lúc ở nơi đầu đường xó chợ. Về tôn giáo, có những người theo đạo Hồi, có những người theo đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái, lại có những người thờ thần lử, các chuyện xảy ra những nơi ngày nay được ghi trên bản đồ là Ấn Độ, Sri Lanka, Liên Xô, Trung Quốc, Jordan và Iran và trước hết là Tây Á, Bắc Phi, Ai Cập, Iraq, S, khung cảnh rất rộng lớn, chủ đề thật đa dạng, tình tiết hết sức bất ngờ, ngôn ngữ vô cùng phong phú, nhân vật rất thực và cũng rất hư. Quả khó có cách nào diễn tả cho gãy gọn nếu ta không trở lại mượn hình tượng Gorki đã dùng:"những sợi tơ muôn màu lan khắp bốn phương, một tấm thảm từ ngữ đẹp lạ lùng phủ trên mặt đất." Một số điểm đặc biệt. Những câu truyện nổi tiếng nhất của Sheherazade là Aladdin và cây đèn thần, thủy thủ Sinbad, Ali Baba và bốn mươi tên cướp, tuy vậy, thực tế thì "Aladdin và cây đèn thần" cùng với "Ali Baba và bốn mươi tên cướp" chỉ được đưa vào lúc thế kỷ 18 bởi Antoine Galland, một nhà đông phương học người Pháp, người cho rằng mình đã từng nghe kể về chúng ở Aleppo, Syria. Nhiều câu truyện kể về jinn, phù thủy và những nơi huyền thoại, thường được đặt lẫn với người và vùng địa lý thật. Một đặc điểm nổi bật và xuyên suốt của Nghìn lẻ một đêm là cách dừng câu chuyện lại giữa chừng, báo trước sẽ hạ hồi phân giải, câu chuyện này được lồng vào câu chuyện khác, cũng có khi là tác giả tập trung nhiều nhân vật có tính chất khác nhau lại với nhau, rồi tạo nên tình huống buộc mỗi người phải kể một chuyện về chính mình. Và cách này, truyện muốn kết thúc đâu cũng được, hoặc muốn kéo dài bao nhiêu cũng là hợp lý. Đặc điểm ấy xuất phát từ một sự cần thiết sống còn: nàng Sheherazade phải ngừng câu chuyện của mình vào lúc trời sáng, đoạn hay nhất, hoặc hứa hẹn một câu chuyện khác sẽ còn hấp dẫn hơn nữa; nếu không tên bạo chúa Shahriyar sẽ thi hành quyết định của hắn và người kể chuyện sẽ không thể sống tới ngày hôm sau. Đó cũng là nghệ thuật độc đáo của người kể chuyện rong nhằm thu hút sự chú ý của thính giả, sao cho những người nghe không chán, không mệt, không bỏ ra về giữa chừng, và tối hôm sau sẽ còn nghe đông hơn hôm trước. Những lúc nàng Sheherazade ngừng lại và nói: ""Tiếc thay trời đã sáng rồi mà phần còn lại là đoạn hay nhất trong câu truyệ" hoặc "những truyện vừa rồi hay thật đấy nhưng không thể nào so sánh được chuyện bệ hạ sắp nghe đâ" chính là lúc người kể chuyện thưa với thính giả đang chăm chú: "Đêm đã khuya lắm rồi xin cho phép dừng lại đây, đêm mai tôi xin kể nốt hầu quý vị...". Lối ngắt chuyện này có những bản ghi thành văn ghi tóm tắt: "Muốn biết sự thể thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ"" (như trong các tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc). Những câu chuyện chính. Sheherazade đã kể cho nhà vua Shahryar nhiều câu chuyện nhỏ đan xen, móc xích vào nhau. Bản dịch của Phan Quang gồm các truyện sau: Ảnh hưởng lên văn hóa thế giới. Nhiều nhân vật trong tập truyện đã trở thành biểu tượng trong văn hóa phương Tây, chẳng hạn Aladdin, Sinbad và Ali Baba. Một số yếu tố trong thần thoại Ả Rập và thần thoại Ba Tư đã trở nên phổ biến trong những truyện kỳ ảo hiện đại, chẳng hạn thần đèn, thảm thần, đèn thầ, chú lùn và nàng tiên. Năm 1982, Liên minh Thiên văn học Quốc tế (IAU) bắt đầu dùng tên các nhân vật và nơi chốn trong tập truyện (theo bản dịch của Burton) để đặt tên cho nhiều đối tượng địa lý trên vệ tinh Enceladus của Sao Thổ. do "bề mặt vệ tinh này quá kỳ lạ và bí ẩn như những đêm Ả Rập". Trong văn hóa Ả Rập. Có ít bằng chứng cho thấy trong quá khứ "Nghìn lẻ một đêm" đã được thế giới Ả Rập trân quý. Nó ít được nhắc đến trong danh sách các tác phẩm văn học phổ biến và có rất ít bản thảo trước thế kỷ 18 còn sót lại. Trong thế giới Ả Rập thời Trung cổ, truyện giả tưởng có địa vị văn hóa thấp hơn so với thơ. Người ta xem tập truyện này là thứ "khurafa" (truyện không chắc có thực chỉ dành cho phụ nữ và trẻ em giải trí). Theo Robert Irwin, "Ngay cả thời nay, trừ một số nhà văn và viện sĩ, "Nghìn lẻ một đêm" vẫn còn bị khinh bỉ trong thế giới Ả Rập. Những mẩu truyện này bị xem là thông tục, không chắc có thực, ấu trĩ và được viết rất tệ hại". Tuy nhiên, "Nghìn lẻ một đêm" vẫn là nguồn cảm hứng cho một số nhà văn hiện đại người Ai Cập, chẳng hạn Tawfiq al-Hakim (tác giả của vở kịch tượng trưng nhan đề "Shahrazad", 1934), Taha Hussein (tác giả của "Scheherazade's Dreams", 1943) và Naguib Mahfouz (tác giả của "Những ngày và đêm Ả Rập", 1981). Các ảnh hưởng ban đầu lên văn học châu Âu. Mặc dù bản dịch "Nghìn lẻ một đêm" ra ngôn ngữ nào đó ở châu Âu chỉ mới xuất hiện từ 1704 nhưng có khả năng tập truyện đã ảnh hưởng lên văn hóa phương Tây từ sớm hơn thế rất nhiều. Các nhà văn Kitô giáo ở Tây Ban Nha thời Trung cổ đã dịch thuật nhiều tác phẩm từ tiếng Ả Rập, chủ yếu có nội dung về triết học và toán học, nhưng vẫn có truyện giả tưởng Ả Rập. Bằng chứng cho điều này là tập truyện "El Conde Lucanor" của Juan Manuel và "Cuốn sách của quái thú" của Ramón Llull. Chủ đề và mô típ kể chuyện song song của "Nghìn lẻ một đêm" có trong tác phẩm "Truyện cổ Canterbury " của Chaucer và "Mười ngày" của Boccaccio. Có bằng chứng cho thấy tập truyện đã lan truyền đến vùng Balkkans; bản dịch bằng tiếng România cũng có từ trước thế kỷ 17 dựa trên bản tiếng Hy Lạp. Văn học phương Tây từ thế kỷ 18. Tập truyện "Nghìn lẻ một đêm" hiện đại bắt nguồn từ bản dịch của Antoine Galland (năm 1704). Thành công tức thì đến với bản dịch của Galland có lẽ là vì nó ra mắt đúng lúc diễn ra phong trào đọc "contes de fées" (tạm dịch: "truyện cổ tích") - khởi đầu từ "Histoire d'Hypolite" của Madame d'Aulnoy vào năm 1690. Cuốn sách của d'Aulnoy có kết cấu rất giống với tác phẩm "Nghìn lẻ một đêm" và cũng được dẫn dắt bởi một người nữ. Thành công của "Nghìn lẻ một đêm" lan tỏa khắp Âu châu. Cuối thế kỷ 18, nó đã được dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Hà Lan, tiếng Đan Mạch, tiếng Nga, tiếng Flemish và tiếng Yiddish. Bản truyện của Galland cũng kích thích một dòng thác truyện nhái, khi một số nhà văn Pháp bắt đầu nhái phong cách và bịa đặt một cách gượng gạo, hời hợt trên nền bối cảnh phương Đông. Một số ví dụ về truyện loại này là "Les quatre Facardins" (1730) của Anthony Hamilton, "" (1742) của Crébillon và "Les bijoux indiscrets" (1748) của Diderot. Các tác phẩm này thường chứa đựng những sự ám chỉ đầy úp mở về xã hội Pháp đương thời. "Nghìn lẻ một đêm" cũng là tác phẩm yêu thích của nhiều tác giả Anh thời Lãng mạn và Victoria. Theo A. S. Byatt, "Trong nền thi ca Lãng mạn Anh, "Nghìn lẻ một đêm" là điều tuyệt vời đối nghịch với thứ trần tục, là thứ giàu tính tưởng tượng đối nghịch với sự buồn tẻ và ngày một phi lý." Wordsworth và Tennyson còn nhắc về tập truyện trong những bài thơ của họ. Không khí của "Nghìn lẻ một đêm" được Charles Dickens mang vào đoạn mở đầu tiểu thuyết cuối cùng "The Mystery of Edwin Drood" (1870). Một số nhà văn còn cố gắng viết "Nghìn lẻ hai đêm", chẳng hạn Théophile Gautier ("La mille deuxième nuit", 1842), Joseph Roth ("Die Geschichte von der 1002. Nacht", 1939). và Edgar Allan Poe. Poe có tác phẩm "" (1845), trong đó mô tả thêm chuyến đi thứ tám cũng là cuối cùng của Sinbad. Truyện này kết thúc bằng việc nhà vua xử tử Scheherazade. Một số tác giả hiện đại chịu ảnh hưởng của "Nghìn lẻ một đêm" là James Joyce, Marcel Proust, Jorge Luis Borges và John Barth. Những câu chuyện từ "Nghìn lẻ một đêm" từ lâu đã trở thành đề tài quen thuộc của các bộ phim, khởi đầu từ "Le Palais des Mille et une nuits" (1905) của Georges Méliès. Phim được biết đến nhiều nhất là phim hoạt hình "Aladdin" (1992) của Công ty Walt Disney. Robert Irwin cho rằng The Thief of Bagdad (bản 1924), The Thief of Bagdad (bản 1940) và "Arabian Nights" (1974) nằm trong số "những tuyệt tác của điện ảnh thế giới". Michael James Lundell gọi phim "Il fiore" là bản chuyển thể trung thành nhất với nguyên tác của "Nghìn lẻ một đêm" (nhấn mạnh mặt gợi dục trong truyện). "Nghìn lẻ một đêm" đã ảnh hưởng đến các tác phẩm âm nhạc của:
Trần Thủ Độ (chữ Hán: 陳守度, 1194 – 1264), cũng gọi Trung Vũ đại vương (忠武大王), là một nhà chính trị Đại Việt, sống vào thời cuối triều Lý đầu triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông đóng vai trò quan trọng trong các sự kiện lật đổ nhà Lý, lập nên nhà Trần, thu phục các thế lực người Man làm phản loạn và trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất Năm 1209, trong nước có loạn Quách Bốc, Lý Cao Tông phải chạy ra khỏi kinh sư, Lý Huệ Tông Lý Hạo Sảm – khi ấy đang là Thái tử phải chạy đến nương nhờ Trần Lý. Họ Trần dẫn quân về triều dẹp loạn, rước vua về kinh sư, nhân đó mà khuynh loát triều đình. Với chức vụ "Điện tiền chỉ huy sứ", Trần Thủ Độ đã sắp xếp cho người cháu họ của mình lấy Lý Chiêu Hoàng, sau đó Nữ hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Thái Tông (Trần Cảnh), lập ra triều Trần. Trần Thủ Độ một tay cáng đáng trọng sự, giúp Trần Thái Tông bình phục được giặc giã trong nước và chỉnh đốn lại mọi việc, làm cho nước Đại Việt bấy giờ được cường thịnh, có thể chống cự với Mông Cổ. Ông được nhiều nhà sử học qua các thời đại thừa nhận và đánh giá cao về tài năng, khả năng chính trị quyết đoán hiệu quả, nhưng cũng vì thế có rất nhiều sự phê bình tiêu cực về nhân phẩm của ông. Nhiều ý kiến cho rằng ông đã vi phạm các chuẩn mực đạo đức do ông đã bức tử Lý Huệ Tông cũng như cưới Huệ hậu (chị họ của ông) làm phu nhân; ép Trần Thái Tông lấy vợ của anh trai khi đang mang thai 3 tháng và nghi vấn tàn sát tôn tộc nhà Lý Nguồn gốc của Trần Thủ Độ không được các sách chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, An Nam chí lược, Lịch triều hiến chương loại chí chép rõ. Sử chỉ chép rằng, Trần Lý ở Tức Mặc (Nam Định) sinh ra Trần Tự Khánh, Trần Thừa và con gái Trần Thị Dung. Trần Thủ Độ là em họ của ba người con của Trần Lý. Trần Thừa sinh ra Trần Thái Tông Trần Cảnh, Trần Thủ Độ là chú họ của Thái Tông. Theo bài viết chưa rõ Về "Hoằng Nghị đại vương", ông có tên là Trần An Bang (陳安邦), còn Thủ Độ là biểu tự, quê tại hương Lưu Xá, phủ Long Hưng, lộ Sơn Nam Hạ (nay là thôn Lưu Xá, xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Cùng với hai người anh Trần An Quốc và Trần An Hạ, ông là con trai út của Trần Quả, em trai của Trần Lý, sau được truy tôn "Hoằng Nghị vương"(弘毅王). Tuy nhiên, Các nhà sử học đã có hội thảo năm 2019 và khẳng định cái tên Trần Hoằng Nghị không phải nhân vật lịch sử có thật. Triều Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông. Năm 1175, Lý Anh Tông băng hà. Thái tử Lý Long Cán mới 3 tuổi lên ngôi, tức Lý Cao Tông. Theo lời nhận định của sách Đại Việt sử ký toàn thư, Cao Tông lớn lên chơi bời vô độ, chính sự hành pháp không rõ ràng, giặc cướp nổi như ong, đói kém liền năm, sự nghiệp nhà Lý suy từ đây. Năm 1209, viên tướng Phạm Bỉnh Di đem quân đi đánh dẹp quân làm phản Phạm Du ở Nghệ An. Phạm Du thua chạy, Bỉnh Di sai tịch thu tài sản đốt hết. Vua Cao Tông lại gọi Phạm Du vào kinh sư, Bỉnh Di đem quân trở về, vua bắt giam lại sai giết chết. Tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc nghe tin, đem binh đánh vào kinh sư, khiến Lý Cao Tông phải chạy ra ngoài, đó gọi là loạn Quách Bốc. Thái tử Sảm chạy đến thôn Lưu Gia ở Hải Ấp nghe tiếng con gái của Trần Lý là Trần Nhị Nương có nhan sắc bèn cưới làm vợ. Gia đình họ Trần vốn làm nghề đánh cá, trở nên giàu có, người chung quanh theo về. Thái tử Sảm phong cho Trần Lý tước "Minh tự", phong cho cậu của vợ (tức Trần thị) là Tô Trung Từ làm "Điện tiền chỉ huy sứ". Gia tộc họ Trần đem hương binh về kinh sư, dẹp quân của Quách Bốc, rước Cao Tông về Kinh sư. Năm 1210, Trần Lý bị một đám quân giặc không rõ giết chết, người con Trần Tự Khánh thay cha mang quân vào kinh, được phong làm "Thuận Lưu bá", cùng năm này Lý Cao Tông băng hà, truyền ngôi cho Thái tử Lý Sảm, tức Lý Huệ Tông. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Huệ Tông lên ngôi lúc giặc giã nổi lên tứ tung, mình bị bệnh nặng, lại không có con trai, họ Lý mất. Thời bấy giờ, Hoàng đế dùng Thái úy Đàm Dĩ Mông vốn không được học hành, không có mưu thuật, lại nhu nhược khiến nước suy yếu, triều đình không có chính sách hay, nhân dân đói kém. Năm 1213, Trần Tự Khánh đem quân xâm phạm cửa khuyết, xin đón xa giá. Nhà vua hoảng sợ, không tin, xuống chiếu lấy quân các đạo đánh Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh đánh bại tất cả, lại xin xa giá, vua lánh ra ngoài. Do vậy, Thái hậu ngờ Trần thị có ý phản, sai đem thuốc độc, tìm cách giết đi, Huệ Tông che chở cho. Đến năm 1216, Huệ Tông cùng Trần thị lẻn ra ngoài, chạy đến nơi quân Tự Khánh đóng quân. Sau đó, Trần thị được sách phong làm Hoàng hậu, còn gia phong cho anh của Hoàng hậu là Trần Tự Khánh làm "Thái úy phụ chính", anh Tự Khánh là Trần Thừa làm "Nội thị phán thủ". Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, anh trai là Trần Thừa được phong làm "Phụ quốc thái úy", vào chầu không xưng tên. Bây giờ, Lý Huệ Tông mắc bệnh điên loạn, không có con trai chỉ có 2 công chúa. Họ đều được chia các lộ làm ấp thang mộc, ủy nhiệm chỉ một mình Chỉ huy sứ Trần Thủ Độ quản lĩnh các quân điện tiền hộ vệ cấm đình. Triều Lý Chiêu Hoàng. Lý Huệ Tông và Thuận Trinh Hoàng hậu có hai con gái, người em tên là Lý Thiên Hinh, được phong là "Chiêu Thánh công chúa", tháng 10 năm 1224 được lập làm Hoàng thái tử. Lý Huệ Tông xuất gia ở chùa Chân Giáo trong đại nội, Chiêu Thánh lên ngôi, tức Lý Chiêu Hoàng, mới 7 tuổi. Lúc ấy, Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ coi giữ mọi việc quân sự trong ngoài thành thị. Cháu gọi Thủ Độ bằng bác là Trần Bất Cập làm Cận thị thự lục cục chi hậu, Trần Thiêm làm Chi ứng cục, Trần Cảnh làm Chính thủ. Trần Cảnh là con của Trần Thừa, lúc ấy mới lên 8 tuổi, chực hầu ở bên ngoài. Một hôm phải giữ việc bưng nước rửa, nhân thế vào hầu bên trong. Chiêu Hoàng trông thấy làm ưa, mỗi khi chơi đêm cho gọi Cảnh đến cùng chơi, thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng lên bóng. Có một hôm, Cảnh bưng chậu nước hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt lấy tay vốc nước té ướt cả mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn trầu thì lấy khăn ném cho Cảnh. Cảnh không dám nói gì, về nói ngầm với Thủ Độ. Thủ Độ nói: "Nếu thực như thế thì họ ta thành hoàng tộc hay bị diệt tộc đây?". Lại một hôm, Chiêu Hoàng lại lấy khăn trầu ném cho Cảnh, Cảnh lạy rồi nói: "Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh". Chiêu Hoàng cười và nói: "Tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn đó". Cảnh lại về nói với Thủ Độ. Thủ Độ sợ việc tiết lộ thì bị giết cả, bấy giờ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm. Thủ Độ đóng cửa thành và các cửa cung, sai người coi giữ, các quan vào chầu không được vào. Thủ Độ loan báo rằng: "Bệ hạ đã có chồng rồi". Các quan đều vâng lời, xin chọn ngày vào chầu. Đến tháng 12, năm 1225, Lý Chiêu Hoàng cởi áo nhường ngôi cho Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông. Phong Trần Thủ Độ làm Quốc thượng phụ, nắm giữ mọi việc cai trị trong nước. Thủ Độ mới dâng sớ đề nghị cho cha của Trần Cảnh là Trần Thừa làm Thái thượng hoàng, nhiếp chính giúp vua nhỏ, bá quan đồng ý. Triều Trần Thái Tông. Trừ bỏ Lý Huệ Tông và tôn thất họ Lý. Sau khi Trần Thái Tông lên ngôi, họ Trần phế Thượng hoàng nhà Lý ra ở chùa Chân Giáo, gọi là Huệ Quang đại sư. Trước đây, thượng hoàng ra chơi ở chợ Đông, dân chúng tranh nhau tới xem, có người than khóc. Thủ Độ sợ lòng người nhớ vua cũ, sinh biến loạn, nên mới dời vua tới chùa Chân Giáo, nói để phụng nhưng thực ra để dễ bề giữ chặt. Có lần Thượng hoàng nhổ cỏ ở sân chùa, Thủ Độ đến chơi liền nói:""Nhổ cỏ thì phải nhổ cả rễ sâu"." Thượng hoàng nói:"Điều ngươi nói ta hiểu rồi". Đến tháng 8, Thủ Độ sai người đưa hương hoa đến cho thượng hoàng Huệ Tông, nói:""Thượng phụ sai thần đến mời"." Thượng hoàng nhà Lý nói: "Ta tụng kinh xong sẽ tự tử". Nói rồi vào buồng ngủ khấn rằng: "Thiên hạ nhà ta đã vào tay ngươi, ngươi lại còn giết ta, ngày này ta chết, đến khi các con cháu ngươi cũng sẽ bị như thế". Bèn thắt cổ tự tử ở vườn sau chùa. Thủ Độ ra lệnh cho các quan đến khóc, khoét tường thành phía nam cửa, đưa linh cữu ra phường Yên Hoa để thiêu, chứa xương vào tháp chùa Bảo Quang, tôn miếu hiệu là Huệ Tông. Giáng hoàng hậu của Huệ Tông tức Trần Thị Dung, làm Thiên Cực công chúa, gả cho Trần Thủ Độ, cho châu Lạng làm ấp thang mộc. Năm 1232, nhân lúc tông thất nhà Lý về quê ngoại ở làng Hoa Lâm (nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) làm lễ cúng tổ tiên, Thủ Độ đào ngầm hố sâu, làm nhà lên trên, đợi khi mọi người uống rượu say, giật máy chôn sống hết. Việc này chép theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, chép xong đoạn này sách có lời chua rằng: "Xét thời Trần Anh Tông còn có người họ Lý làm tướng, hơn nữa Phan Phu Tiên không ghi lại, việc này chưa chắc đã có thực, hãy tạm chép vào đây"., bắt những người sống sót đổi sang họ Nguyễn và một số họ khác để trừ tuyệt hậu họa. Mưu diệt trừ các thế lực cát cứ. Lúc nhà Trần mới thay nhà Lý, nhân thế triều Lý suy yếu, giặc cướp tụ tập nhiều. Người Man ở vùng núi Tản Viên, vùng Quảng Oai xâm phạm lẫn nhau. Nguyễn Nộn chiếm cứ Bắc Giang, Đoàn Thượng chiếm cứ Hồng Châu, Thủ Độ điều động các quân đi đánh dẹp hết Bấy giờ Nộn và Thượng binh thế còn mạnh, chưa dễ hàng phục được, mới phong cho Nộn làm Hoài Đạo Vương, chia cho các huyện Bắc Giang Thượng, Bắc Giang Hạ, Đông Ngạn cũng hẹn phong làm vương cho Thượng định ngày đến thề, nhưng Thượng không đến. Lại đưa các cung nhân và con gái họ hàng nhà Lý Huệ Tông gả cho các tù trưởng người Man. Đến tháng 12 năm 1228, Nguyễn Nộn đánh được Đoàn Thượng, gộp cả quân của Thượng lại, thanh thế lừng lẫy. Thủ Độ lo lắm, chia quân chống giữ và sai sứ đem thư đến chúc mừng, gia phong Nộn làm Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương, đưa công chúa Ngoạn Thiềm gả cho hắn để ngầm dò la tin tức. Nộn cũng chia nha tướng riêng cho công chúa ở. Vì thế công chúa không thể báo được tin gì. Đến năm sau Nguyễn Nộn ốm chết, từ đây thiên hạ thu về một mối. Phế lập Hoàng hậu. Thái Tông hoàng đế và Lý Chiêu Hoàng lấy nhau đã lâu, sau khi Hoàng thái tử Trần Trịnh chết yểu vào năm 1233, Lý hoàng hậu không sinh thêm được người con nào. Lúc ấy, anh của vua là Trần Liễu, có vợ là công chúa Thuận Thiên họ Lý đang mang thai 3 tháng. Trần Thủ Độ cùng vợ (Trần Thị Dung) bàn kín với vua nên mạo nhận lấy để có chỗ dựa về sau. Năm 1237, lập công chúa Thuận Thiên, vợ của Trần Liễu làm hoàng hậu. Trần Liễu tức giận, họp quân ra sông Cái làm loạn. Vua trong lòng áy náy, ban đêm, ra khỏi kinh thành đến chỗ quốc sư(quốc sư là bạn cũ của Thái Tông) trên núi Yên Tử rồi ở lại đó. Hôm sau, Thủ Độ dẫn các quan đến mời vua trở về kinh sư. Vua nói: "Vì trẫm non trẻ, chưa cáng đáng nổi sứ mạng năng nề, phụ hoàng lại vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, nên không dám giữ ngôi vua mà làm nhục xã tắc". Thủ Độ cố nài xin nhiều lần vẫn chưa được vua nghe, mới bảo mọi người rằng:"Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó". Thế rồi Thủ Độ cắm nêu trong núi, chỗ này là điện Thiên An, chỗ kia là các Đoan Minh, sai người xây dựng. Quốc sư nghe thấy thế bèn, tâu rằng: "Bệ hạ nên gấp quay xa giá trở về, chớ để làm hại núi rừng của đệ tư". Vua bèn trở về kinh đô. Được hai tuần, Trần Liễu tự lượng thế cô, khó lòng đối lập được, ngầm đi thuyền độc mộc giả làm người đánh cá, đến chỗ vua xin hàng. Thủ Độ thấy thế, vội vàng rút gươm, huy động quân đến vây thuyền rồng và quát: "Giết chết tên giặc Liễu!". Thấy thế vua lấy thân hình ra che và phân trần: "Phụng Càn Vương (Phụng Càn là tên hiệu cũ của Liễu hồi còn nhà Lý) đến hàng đầy!" Thủ Độ tức lắm, ném gươm xuống sông nói: "Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các người thuận nghịch thế nào?". Vua nói giải hòa, rồi bảo Thủ Độ rút quân về. Lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang cho Liễu làm ấp thang mộc. Nhân đất được phong, mà Liễu có tên Hiệu là Yên Sinh vương, sau có con là Trần Quốc Tuấn. Binh lính theo Liễu làm loạn ở sông Cái đều bị giết. Về sau, người con của An Sinh vương mà Trần Thủ Độ sắp đặt để làm con Thái Tông, tức là Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang, cũng không được làm Hoàng thái tử dù là con trưởng. Năm 1240, Lý Kế hậu sinh được Trần Hoảng, lập làm Hoàng thái tử. Chiến tranh Nguyên Mông–Đại Việt lần 1. Ngày 12 tháng 12, năm 1257, tướng Mông Cổ Uriyangqatai (Ngột Lương Hợp Thai) dẫn quân xâm phạm Bình Lệ Nguyên. Trần Thái Tông đích thân đốc chiến, thế giặc mạnh, nhà vua lui quân về sông Lô, rồi lui về sông Thiên Mạc. Nhà vua ngự thuyền đến hỏi Thái úy Trần Nhật Hiệu kế sách chống quân Mông Cổ, Nhật Hiệu chấm nước viết chữ lên hai chữ "Nhập Tống". Thái Tông lại hỏi quân Tinh Cương, quân do Nhật Hiệu chỉ huy, Nhật Hiệu nói rằng "Không gọi được chúng đến". Sau đó, Thái Tông lại dời thuyền đến hỏi Trần Thủ Độ , Thủ Độ tâu: "Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo". Ngày 24 tháng 12 năm đó, Trần Thái Tông tiến quân đến Đông Bộ Đầu, đánh bại quân Mông Cổ, khiến họ phải triệt thoái về Bắc. Đức độ của Trần Thủ Độ. Sau việc ghi cái chết của Trần Thủ Độ, sách Đại Việt sử ký toàn thư đã dành riêng một đoạn dài để kể lại chuyện đức độ của Trần Thủ Độ khi làm quan, chép lại dưới đây: Thủ Độ tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn. Thái Tông lấy được thiên hạ đều nhờ mưu sức của ông cả. Vì thế ông được nhà nước dựa cậy, quyền át cả vua. Bấy giờ có kẻ đàn hặc ông, vào gặp Thái Tông khóc mà nói rằng: "Bệ hạ còn thơ ấu mà Thủ Độ quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?". Thái Tông lập tức lệnh xe ngựa đến dinh Thủ Độ, bắt cả người đàn hặc ấy đem theo và nói hết những lời người ấy nói cho Thủ Độ biết. Thủ Độ trả lời: "Đúng như những lời hắn nói". Rồi lấy ngay tiền lụa thưởng cho người ấy. Linh Từ quốc mẫu, vợ Trần Thủ Độ có lần ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc bảo Thủ Độ: "Mụ này làm vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế". Thủ Độ tức giận, sai đi bắt. Người quân hiệu ấy nghĩ rằng mình chắc phải chết. Khi đến nơi, Thủ Độ vặn hỏi trước mặt, người quân hiệu ấy cứ theo sự thực trả lời. Thủ Độ nói: "Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa". Lấy vàng lụa thưởng cho rồi cho về. Thủ Độ có lần duyệt định số hộ khẩu, vợ ông là bà Linh Từ xin riêng cho một người làm chức nhỏ ở địa phương. Thủ Độ gật đầu, rồi ghi họ tên quê quán của người đó. Khi xét duyệt đến xã ấy, hỏi tên ở đâu, người đó mừng rỡ, Thủ Độ bảo: "Ngươi vì có Công chúa (tức bà Linh Từ) xin cho được làm câu đương (tên của chức vị ở địa phương), không thể ví những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác". Người đó kêu van xin thôi mãi mới tha cho. Từ đó không ai dám đến thăm vì việc riêng nữa. Thái Tông có lần muốn cho người anh của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng. Thủ Độ tâu: "An Quốc là anh thần, nếu cho giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử. Nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra làm sao?". Vua bèn thôi.. Năm 1264, mùa xuân, tháng Giêng, Thái sư Trần Thủ Độ qua đời, thọ 71 tuổi. Ông được Trần Thái Tông truy tặng thụy hiệu là Thượng phụ Thái sư Trung Vũ đại vương (尚父太師忠武大王). Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư:"Trần Thủ Độ tuy làm Tể tướng, nhưng mọi việc không việc gì không để ý. Vì thế đã giúp nên vương nghiệp và giữ được tiếng tốt cho đến lúc mất. Thái Tông hoàng đế có làm bài văn bia ở sinh từ để tỏ lòng đặc biệt quý mến ông. Thế nhưng cái tội giết Lý Huệ Tông thì khó lẩn tránh với đời sau vậy". "Thủ Độ tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người, làm quan triều Lý được mọi" người suy tôn. Thái Tông lấy được thiên hạ đều nhờ mưu sức của ông cả. Vì thế ông được nhà nước dựa cậy, quyền át cả vua." Theo Trần Trọng Kim viết trong Việt Nam sử lược: "Thủ Độ là người gian ác đối với nhà Lý, nhưng lại là một đại công thần của nhà Trần. Một tay cáng đáng bao trọng sự, giúp Thái công bình phục được giặc giã trong nước và chỉnh đốn lại mọi việc, làm cho nước Nam bấy giờ được cường thịnh, ngày sau có thể chống cự với Mông cổ, khỏi phải làm nô-lệ những kẻ hùng-cường." Vua Tự Đức nhận định về Trần Thủ Độ trong Khâm định Việt sử Thông giám cương mục rằng ""Thủ Độ là công thần nhà Trần, tức là tội nhân nhà Lý. Huống chi làm những nết xấu như chó lợn, dạ độc như hùm beo, dựng nước mà như thế thì làm thế nào mà lâu dài được? Nhưng chẳng qua cũng bởi nhà Lý tự rước lấy tai vạ, lại còn trách gì nữa!" Theo Trần Xuân Sính chép trong sách Thuyết Trần: Trần Thủ Độ tuy không đỗ đạt khoa cử nhưng mưu lược hơn người, không chỉ là quyền thần nhà Lý mà là quyền thần của ngay nhà Trần. Đối với tình thế Đại Việt, việc làm của ông được cho là có vai trò tích cực. Ông phò nhà Trần bình được nội loạn, làm cho Đại Việt kịp chấn hưng, và đó chính là cơ sở để đủ sức lực và tinh thần chống cự được Mông Cổ. Nhiều học giả nhất quán rằng sự thay thế của nhà Trần đối với nhà Lý trong thời điểm đó - mà sự thay thế và kiến thiết ban đầu không thể không nói tới Trần Thủ Độ - có vai trò quyết định sự tồn vong của Đại Việt trước nguy cơ ào tới của vó ngựa Mông mà Trung Hoa lớn mạnh ở phương Bắc cũng không trụ nổi. Sử chép: "Thái Tông lấy được thiên hạ đều là mưu sức của Thủ Độ cả, cho nên quốc gia phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua."".
SketchUp là một phần mềm mô hình hóa 3D, dành cho các kiến trúc sư, các kỹ sư, nhà phát triển trò chơi điện tử, các đạo diễn điện ảnh và các ngành nghề có liên quan. Phần mềm này khởi đầu được phát triển bởi công ty @Last Software, có trụ sở tại Boulder, Colorado, Mỹ. Phần mềm này nổi bật như một công cụ diễn tả ý tưởng đơn giản, nhanh gọn với giao diện đồ họa cho người sử dụng. Một vài đặc điểm nổi bật: Phiên bản đầu tiên của SketchUp được phát hành đầu năm 2001 với mục đích tạo các đối tượng ba chiều đơn giản, tuy nhiên SketchUp đã sớm tìm được vị trí trong thị trường kiến trúc và thiết kết, sau khi có một vài sửa đổi nhỏ để phù hợp với đặc điểm của các ngành chuyên môn. Chìa khóa quyết định cho thành công của phần mềm nằm ở độ nhận biết các đường cong, tuy không sâu như các phần mềm mô hình hóa ba chiều trên thị trường nhưng đã đem lại tốc độ xử lý nhanh. Tuy nhiên chính điều này cũng hạn chế khả năng mô phỏng thực tế của SketchUp. Một ứng dụng hữu hiệu của phần mềm này là thiết kế mẫu nhà. Sau khi thiết kế xong mô hình, người dùng có thể kết hợp sử dụng Google Earth để dán mẫu nhà vừa thiết kế lên hình ảnh khu vực có lô đất đó, để xem nó phù hợp với toàn cảnh ra sao. Ngoài ra, người sử dụng cũng có thể chia sẻ thiết kế của mình với những người dùng khác thông qua tính năng 3D warehouse các mô hình đã hoàn thành từ nhà cửa cho tới đồ đạc, vật dụng, xe cộ, tượng, cầ SketchUp hiện tại thuộc sở hữu của Trimble Navigation, một công ty đo đạc, trắc địa, làm bản đồ và cung cấp thiết bị định hướng. SketchUp đã được phát triển độc lập từ năm 2000 tới năm 2006. Sau đó được Google mua lại từ 2006 đến 2012. Và công ty sở hữu gần đây nhất là Trimble. SketchUp được khởi đầu và phát triển tại @Last Software ở Boulder, Colorado, đồng sáng lập năm 1999 bởi Brad Schell và Joe Esch. Google mua lại @Last Software vào ngày 14/3/2006 với số tiền khoảng 15-45 triệu đô la Mỹ, do bị hấp dẫn bởi sản phẩm của @Last's Software's trong khi đang phát triển trình cắm cho phần mềm Google Earth. Ngày 14 tháng 3 năm 2006, hãng Google đã thông báo mua SketchUp và bổ sung thêm phần phụ trợ ("plugin") cho Google Earth. Các phần phụ trợ khác có thể tải về từ trang chủ của @Last. Ngày 27 tháng 5 năm 2006, Google phát hành phiên bản miễn phí của SketchUp được cung cấp ở website của Google. Phiên bản miễn phí không có nhiều chức năng như SketchUp Pro, nhưng nó có những công cụ để xuất mô hình theo định dạng Google Earth hay truyền lên Google 3D Warehouse, thư viện 3D khổng lồ chứa các mô hình được vẽ trong SketchUp. (Điều này đòi hỏi người dùng phải có tài khoản Google và đăng nhập trong SketchUp) Trimble Navigation mua lại SketchUp từ Google vào ngày 1/6/2012 với giá trị xấp xỉ 100 triệu đô la.
VTV1 là Kênh Thời sự - Chính luận - Tổng hợp và cũng là kênh truyền hình đầu tiên của Đài Truyền hình Việt Nam. Kênh tập trung vào các chương trình thời sự, chính luận do Ban Thời sự của đài thực hiện với hàng loạt các tin tức, chuyên mục cập nhật nhằm truyền tải thông tin đến người xem, đồng thời khẳng định vai trò chủ đạo trong công tác tuyên truyền, định hướng dư luận. Bên cạnh đó, vào một số khung giờ nhất định, VTV1 cũng dành một phần thời lượng để phát sóng các chương trình tổng hợp khác của VTV. VTV1 là 1 trong 7 kênh truyền hình thiết yếu của quốc gia theo Nghị định 06/2016/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình. Hiện nay, VTV1 được phát sóng trong nước trên hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T2, truyền hình cáp, truyền hình số vệ tinh, IPTV và trực tuyến trên mạng Internet.
Họ Viễn chí (danh pháp khoa học: Polygalaceae) là một họ thực vật có hoa thuộc bộ Đậu (Fabales). Chúng gần như phân bổ khắp thế giới, với khoảng 17-21 chi và 900-1.000 loài cây thân thảo, cây bụi và cây thân gỗ. Website của APG công nhận khoảng 21 chi và 965 loài. Khoảng một phần ba tổng số loài của họ này thuộc về chi Viễn chí ("Polygala"). Trong hệ thống Cronquist cũ thì họ Polygalaceae đã được đặt trong một bộ riêng của chính nó với tên gọi Polygalales. APG chia họ này ra thành 4 tông, sự phân bố các chi theo tông như sau: Phát sinh chủng loài. Cây phát sinh chủng loài ở mức tông lấy theo Forest và ctv, 2007. Phát sinh chủng loài ở cấp độ chi, xem bài về các tông tương ứng.
Bộ Đậu (danh pháp khoa học: Fabales) là một bộ thực vật có hoa. Nó nằm trong nhóm hoa hồng (rosids) của thực vật hai lá mầm thật sự (eudicots) trong hệ thống phân loại của APG II. Trong hệ thống này thì bộ Đậu bao gồm các họ như Fabaceae (bao gồm các phân họ như Caesalpinioideae, Cercideae, Faboideae, Mimosoideae), Quillajaceae, Polygalaceae (bao gồm các phân họ Carpolobieae, Moutabeae, Polygaleae và Xanthophylleae), và Surianaceae. Trong hệ thống Cronquist năm 1981 và một số hệ thống phân loại thực vật khác, bộ Đậu chỉ chứa mỗi họ Đậu (Fabaceae) còn các họ khác mà APG II xếp vào bộ này lại được đặt trong các bộ khác nhau, chẳng hạn Cronquist đã xếp họ Viễn chí (Polygalaceae) vào trong bộ của chính nó-gọi là bộ Viễn chí (Polygalales), còn hai họ Quillajaceae và Surianaceae nằm trong bộ Hoa hồng (Rosales). Bộ Đậu chiếm khoảng 9,6% sự đa dạng của thực vật hai lá mầm thật sự (Magallón và ctv. 1999). Wikström và ctv. (2001) cho rằng bộ này đã xuất hiện khoảng 94-89 triệu năm trước (Ma), sự đa dạng hóa của bộ bắt đầu khoảng 79-74 Ma. Họ Đậu (Fabaceae) nghĩa rộng, là họ thực vật lớn thứ ba trên thế giới, chứa phần lớn (khoảng 19.400) loài trong bộ Đậu, các họ khác chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong sự đa dạng của bộ này. Các nghiên cứu trong bộ này chủ yếu tập trung vào họ Đậu, một phần là do sự đa dạng sinh học lớn của nó, một phần là do tầm quan trọng của nó như là các loài cây cung cấp thực phẩm. Họ Viễn chí là họ được nghiên cứu tương đối kỹ trong số các họ thực vật, một phần là do sự đa dạng khá lớn (khoảng 325 loài) của chi Viễn chí ("Polygala"), và do các thành viên của họ này, tương tự như họ Đậu, là các loài cây cung cấp thức ăn cho nhiều loài côn trùng cánh vẩy ("Lepidoptera"). Trong khi các nhà phân loại học sử dụng các kỹ thuật phát sinh loài phân tử tìm thấy sự hỗ trợ mạnh cho bộ này, thì một điều cần lưu ý là vẫn tồn tại các nghi vấn về các quan hệ hình thái của hai họ Quillajaceae và Surianaceae đối với phần còn lại của bộ, một phần là do các nghiên cứu còn hạn chế đối với hai họ này. Bộ Đậu là bộ phân bố rộng khắp thế giới, ngoại trừ phân họ Đậu (Papilionoideae hay Faboideae) của họ Đậu là khá tản mát tại phần phía bắc của khu vực ôn đới. Phát sinh chủng loài. Biểu đồ phát sinh chủng loài dưới đây lấy theo Wang và ctv. (2009), với tên gọi các bộ lấy từ website của Angiosperm Phylogeny.. Các nhánh với mức hỗ trợ tự khởi động thấp hơn 50% bị bỏ qua. Các nhánh khác có mức hỗ trợ 100% ngoại trừ những nơi có con số chỉ ra mức hỗ trợ cụ thể. Phát sinh chủng loài trong nội bộ bộ Fabales như sau: Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Họ Đậu hay còn gọi họ Cánh bướm (danh pháp khoa học: Fabaceae, đồng nghĩa: Leguminosae, Papilionaceae) là một họ thực vật trong bộ Đậu. Đây là họ thực vật có hoa lớn thứ ba, sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng 730 chi và 19.400 loài. Các loài đa dạng tập trung nhiều trong các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân họ Đậu (Faboideae), và chúng chiếm khoảng 9,4% trong tổng số loài thực vật hai lá mầm thật sự. Ước tính các loài trong họ này chiếm 16% các loài cây trong vùng rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ. Ngoài ra, họ này cũng có mặt nhiều ở các rừng mưa và rừng khô nhiệt đới ở châu Mỹ và châu Phi. Cho đến nay vẫn còn những tranh cãi về việc họ này bao gồm 3 phân họ hay tách các phân họ của nó thành các họ riêng biệt. Có rất nhiều thông tin về dữ liệu phân tử và hình thái học chứng minh họ Đậu là một họ đơn ngành. Quan điểm này được xem xét không chỉ ở cấp độ tổng hợp khi so sánh các nhóm khác nhau trong họ này và các quan hệ họ hàng của chúng mà còn dựa trên các kết quả phân tích về phát sinh loài gần đây dựa trên DNA. Các nghiên cứu này xác nhận rằng họ Đậu là một nhóm đơn ngành và có quan hệ gần gũi với các họ trong bộ Đậu là họ Viễn chí (Polygalaceae), họ Suyên biển (Surianaceae), và họ Quillajaceae. Theo định nghĩa của hệ thống APG thì nó là một họ lớn: Fabaceae "sensu lato" (nghĩa rộng). ICBN cho phép sử dụng cả Fabaceae "nghĩa rộng" và "Leguminosae" như là các tên gọi thực vật học tương đương nhau ở cấp họ. Hệ thống APG sử dụng tên gọi Fabaceae. Tuy nhiên, họ Fabaceae có thể định nghĩa khác đi như là Fabaceae "sensu stricto" (nghĩa hẹp), ví dụ như trong hệ thống Cronquist. Trong các phân loại như thế thì các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và Vang (Caesalpinioideae) được nâng lên thành cấp họ với tên gọi khoa học tương ứng là Mimosaceae và Caesalpiniaceae. Nhóm còn lại có các tên gọi thực vật học tương ứng là Fabaceae và Papilionaceae (nhưng không phải là Leguminosae). APG coi nhóm này ở mức độ phân họ, với tên gọi Faboideae (tên gọi tương đương của nó trong Leguminosae là Papilionoideae). Khi tra cứu hay tham khảo bất kỳ cuốn sách nào có sử dụng tên gọi Fabaceae, cần phải lưu ý là tên gọi này dùng trong ngữ cảnh nào. Các tên gọi như Leguminosae hay Papilionaceae là rõ ràng và các nhà phân loại học dùng các từ này chủ yếu cùng với tên gọi Leguminosae. Leguminosae (hay Fabaceae "sensu lato") là họ lớn thứ hai của thực vật có hoa với 730 chi và trên 19.400 loài. Các tên gọi thông thường chủ yếu của các loài trong họ này là đỗ hay đậu, và họ này chứa một số loài cây quan trọng bậc nhất trong cung cấp thực phẩm cho con người, chẳng hạn các loại đậu, đỗ, lạc, đậu tương và đậu lăng , gia cầm hoặc để làm phân xanh, chẳng hạn đậu lupin, cỏ ba lá, muồng hay đậu tương. Một số chi như "Laburnum", "Robinia", "Gleditsia", "Acacia", "Mimosa" và "Delonix" là các loại cây cảnh. Một số loài còn có các tính chất y học hoặc diệt trừ sâu bọ (chẳng hạn "Derris") hay sản sinh ra các chất quan trọng như gôm Ả Rập, tanin, thuốc nhuộm hoặc nhựa. Một số loài, như sắn dây, một loài có nguồn gốc ở khu vực Đông Á, đầu tiên được trồng tại miền đông nam Hoa Kỳ nhằm cải tạo đất và làm thức ăn cho gia súc, nhưng đã nhanh chóng trở thành một loài cỏ dại xâm hại nguy hiểm có xu hướng phát triển trên mọi thứ đất và chèn ép nhiều loài bản địa. Tất cả các thành viên trong họ này đều có hoa chứa 5 cánh hoa, trong dó bầu nhụy lớn khi phát triển được sẽ tạo ra quả thuộc loại "quả đậu", hai vỏ của nó có thể tách đôi, bên trong chứa nhiều hạt trong các khoang riêng rẽ. Các loài trong họ này theo truyền thống được phân loại trong ba phân họ, đôi khi được nâng lên thành các họ riêng trong bộ Đậu (Fabales), trên cơ sở hình thái học của hoa (đặc biệt là hình dạng cánh hoa): Phát sinh chủng loài. Cây phát sinh chủng loài của họ Đậu là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhóm khoa học trên thế giới, họ sử dụng các phương pháp phân tích hình thái học, các dữ liệu DNA ("trnL intron" thể hạt, các gen thể hạt rbcL và matK, và các ITS) và phân tích miêu tả theo nhánh để dung giải các mối quan hệ của các dòng dõi khác nhau trong họ này. Bằng cách ấy người ta đã không thể xác nhận tính đơn ngành của các phân họ truyền thống là Mimosoideae và Faboideae, do chúng cùng nhau lồng sâu bên trong phân họ cận ngành Caesalpinioideae. Tất cả các nghiên cứu, thông qua cách tiếp cận khác nhau, là trước sau như một và đưa ra sự hỗ trợ mạnh cho các mối quan hệ giữa các nhánh chính của họ này, như sơ đồ dưới đây. Nhánh rẽ ra sớm nhất là tông Cercideae, tiếp theo đó là tông Detarieae, và chi đơn loài "Duparquetia" (trước đây chúng được xếp vào phân họ Caesalpinioideae). Sau các thảo luận rộng rãi trong cộng đồng các nhà nghiên cứu phát sinh chủng loài họ đậu, Legume Phylogeny Working Group đã phân loại lại họ Fabaceae thành 6 phân họ, trong đó tách ra 4 phân họ mới từ Caesalpinioideae nghĩa rộng ("sensu lato") và sáp nhập Caesapinioideae nghĩa hẹp ("sensu stricto") với phân họ Mimosoideae (gọi là nhánh mimosoid trong phân loại mới nhất). Dựa trên các dữ liệu phát sinh chủng loài và hóa thạch, người ta đề xuất rằng họ Đậu nguyên thủy phát triển ở các khu vực khô hạn và bán khô hạn dọc theo bờ biển của đại dương Tethys trong suốt đầu kỷ Đệ Tam. Tuy nhiên, các tài liệu khác thì cho rằng ở châu Phi (hoặc thậm chí châu Mỹ) không thể đưa ra kết luận về nguồn gốc như trên của họ này. Bộ Đậu chứa khoảng 9,6% đa dạng sinh học của nhóm thực vật hai lá mầm thật sự và hầu hết chúng tập trung trong một trong 4 họ của nó là họ Đậu. Nguồn gốc của nhánh này bao gồm cả các họ Polygalaceae, Surianaceae và Quillajaceae được xác định là đã tồn tại từ 94 đến 89 triệu năm, và bắt đầu phát triển đa dạng vào khoảng 79 đến 74 triệu năm. Trong thực tế, các loài trong họ Đậu dường như đã đa dạng hóa trong suốt đầu kỷ Đệ Tam để trở thành thành viên phổ biến ở khắp mọi nơi của thực vật trên cạn hiện đại, giống như nhiều họ thực vật hạt kín khác. Hóa thạch của họ Đậu phong phú và đa dạng, đặc biệt là trong kỷ Đệ Tam. Các hóa thạch của hoa, quả, lá chét, gỗ và phấn hoa được tìm thấy ở nhiều nơi. Hóa thạch sớm nhất có thể chắc chắn gán cho họ Đậu đã xuất hiện vào Paleocen muộn (khoảng 56 triệu năm trước). Các đại diện của các phân họ được công nhận theo truyền thống là Caesalpinioideae, Papilionoideae và Mimosoideae - cũng như các nhánh lớn trong phạm vi các phân họ - như Genisteae - đã được tìm thấy trong các mẫu hóa thạch trong các giai đoạn muộn hơn một chút, cách đây khoảng 55 đến 50 triệu năm. Trong thực tế, việc phát hiện ra một số đơn vị phân loại đại diện cho các nhánh chính của họ Đậu trong thời kỳ Eocen giữa và muộn gợi ý rằng các nhóm hiện đại nhất của họ Đậu đã có mặt và đa dạng hóa trong giai đoạn này. Sau đó, họ Fabaceae bắt đầu đa dạng hóa cách đây khoảng 60 triệu năm và các nhánh chính được tách ra cách đây 50 triệu năm. Tuổi của các nhánh chính trong Caesalpinioideae được ước tính vào khoảng từ 56 đến 34 triệu năm và nhóm Mimosoideae vào khoảng 44 ± 2,6 triệu năm. Sự tách biệt giữa Mimosoideae và Faboideae đã diễn ra cách đây từ 59 đến 34 triệu năm và tuổi của các nhánh chính trong Faboideae vào khoảng 58,6 ± 0,2 triệu năm. Trong phân họ Faboideae, sự chia tách của các nhóm cũng đã được xác định tuổi. Theo đó, "Astragalus" đã tách ra từ "Oxytropsis" vào khoảng 16 đến 12 triệu năm trước, mặc dù sự đa dạng hóa trong mỗi chi chỉ xảy ra tương đối gần đây. Ví dụ, sự phân tỏa của các loài thể bội không chỉnh trong nhánh "Neo-Astragalus" (các loài thuộc chi "Astragalus" có ở châu Mỹ) đã bắt đầu khoảng 4 triệu năm trước. "Inga", một chi khác trong phân họ Faboideae chứa khoảng 350 loài dường như đã tách ra khoảng 2 triệu năm trước. Các loài trong họ này có các kiểu phát triển đa dạng từ cây gỗ, cây bụi, thân thảo, dây leo, dây leo thân thảo. Các loài cây thân thảo có thời gian sinh trưởng 1 năm, 2 năm hoặc nhiều năm. Các lá thường mọc xen kẽ và khép kín khi nhìn từ trên xuống. Chúng thường có dạng kết hợp chẵn - hoặc lẻ, thường có 3 lá chét và hiếm khi có dạng hình chân vịt, còn trong các phân họ Mimosoideae và Caesalpinioideae, thường là cặp lá kép. Một đặc trưng nổi bật của các loài cây thuộc họ Đậu là chúng có quan hệ mật thiết với nhiều loài vi khuẩn tại các nốt sần trên rễ của chúng. Các loại vi khuẩn này được biết đến như là vi khuẩn nốt rễ (Rhizobium), có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và chuyển hóa nó thành các dạng nitơ mà cây có thể hấp thụ được (NO3- hay NH4+). Hoạt động này được gọi là cố định đạm. Cây đậu cung cấp nơi ở và dinh dưỡng, còn vi khuẩn nốt rễ, trong vai trò của nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra một quan hệ cộng sinh. Mối quan hệ này không chỉ giúp tạo đạm cho cây Đậu sử dụng mà còn cho cả các cây khác xung quanh, do đó có tác dụng cải tạo đất.
Cao bồi là những người chăn dắt bò, thường trên lưng ngựa, tại các điền trang ở Bắc Mỹ. Từ "cao bồi" trong tiếng Việt bắt nguồn từ từ tiếng Pháp "cow-boy". Từ "cow-boy" trong tiếng Pháp thì bắt nguồn từ từ tiếng Anh Mỹ "cowboy". Trong tiếng Anh, cao bồi được hiểu là: người chăn gia súc ở miền Tây nước Mỹ và cưỡi ngựa trong khi làm việc. Rộng hơn, cao bồi chỉ một bộ phận người lao động sử dụng ngựa và chăn nuôi gia súc ở khắp châu Mỹ, châu Âu và châu Úc. Nghĩa kế tiếp của "cao bồi" là một người anh hùng ưa phiêu lưu. Trong tiếng lóng, những lái xe hay phi công ẩu trong khi điều khiển phương tiện cũng được gọi là "cao bồi". Cao bồi gắn liền với nghệ thuật thuần hóa và sử dụng ngựa. Khoảng năm 1700 trước Công nguyên, người Hyksos, được cho là tiên phong trong lĩnh vực dùng ngựa, đánh chiếm Ai Cập và du nhập các kiến thức và kỹ năng dùng ngựa vào khắp vùng Tây Á. Thế kỷ thứ 5, người Ả rập đạt trình độ điêu luyện trong việc nuôi và dùng ngựa. Thế kỷ thứ 8, người Moors từ Bắc Phi xâm nhập và cai trị vùng bán đảo Iberia (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Andorra, Gibraltar ngày nay), đem theo nghệ thuật cưỡi ngựa vào châu Âu và đặc biệt có ảnh hưởng lớn đến nền văn hóa đương thời của Tây Ban Nha. Thuật ngữ "a la gineta" dùng để chỉ nhánh văn hóa mới về ngựa này. Vào những năm 1490, các chiến binh Giáo hội Công giáo La Mã trục xuất người Moors khỏi lãnh thổ châu Âu sau gần 8 thế kỉ bị chiếm đóng. Khi người châu Âu tìm ra châu Mỹ, đoàn người của Christopher Columbus là một trong những người đầu tiên đem theo các đàn gia súc, thợ chuyên về ngựa và kiến thức chăn nuôi ngựa vốn du nhập từ người Moors vào châu Mỹ. Hernán Cortés cũng đóng góp phần lớn vào việc đem văn hóa dùng ngựa vào México. Người Tây Ban Nha cũng phổ biến nghệ thuật dùng ngựa khắp Nam Mỹ, đặc biệt là Argentina và Uruguay. Ngoài cowboy, các nước nói tiếng Tây Ban Nha dùng "gaucho", người Pháp dùng từ "gardian" để chỉ cao bồi. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của loạt phim Hollywood về miền Tây, hình ảnh "chàng chăn bò" dần được thay thế, và được hiểu rộng rãi như một người (thường là đàn ông) tính tình thẳng thắn, thường chiến đấu chống lại cái ác. Cao bồi thường đội mũ rộng vành, đi ủng có gắn miếng thép ở gót để thúc ngựa, mặc quần bò Levi's, cưỡi ngựa giỏi, hay tham gia đấu súng và bắn giỏi bằng cả hai tay, uống rượu trong quán cũng là nơi thường xảy ra các cuộc đánh lộn. "Cao bồi" trong tiếng Việt còn là từ chỉ người có trang phục, động tác hay cử chỉ thể hiện bản tính ngang tàng, bất cần. Hãng thuốc lá Philip Morris trong một thời gian dài thường dùng hình ảnh chàng cao bồi trong quảng cáo cho nhãn thuốc Marlboro.
Cobalt (bắt nguồn từ từ tiếng Pháp) là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Co và số nguyên tử 27. Cobalt là kim loại màu trắng bạc, có từ tính mạnh, nhiệt độ Curie vào khoảng 1388K. Cobalt và nickel là hai thành phần đặc trưng trong thép thiên thạch. Trong cơ thể động vật tồn tại một lượng nhỏ các muối cobalt. Đồng vị phóng xạ nhân tạo Cobalt-60 được sử dụng làm tác nhân kiểm tra phóng xạ và điều trị ung thư. Độ thấm từ của cobalt bằng formula_1 của sắt. Cobalt kim loại thông thường biểu hiện ở dạng hỗn hợp của hai cấu trúc trục tinh thể là xếp chặt sáu cạnh (hcp) và lập phương tâm mặt (fcc) với nhiệt độ chuyển tiếp từ hcp→fcc vào khoảng 722°K. Trạng thái oxy hóa phổ biến của nó là +2 và +3, rất ít hợp chất trong đó cobalt có hóa trị +1 tồn tại. Đồng vị Co-60 được dùng làm nguồn tạo tia gamma vì nó có thể tạo ra một số lượng rất lớn, chỉ đơn giản bằng cách đặt cobalt tự nhiên dưới các neutron trong lò phản ứng với một khoảng thời gian nhất định. Ứng dụng trong y học. Đồng vị Co-60 (Co60) là đồng vị phóng xạ dùng trong xạ trị. Nó tạo ra hai tia gamma với năng lượng lần lượt là: 1,17 MeV và 1,33 MeV. Nguồn Co-60 có đường kính khoảng 2 cm và được tạo ra bằng cách tạo một vùng nửa tối, làm cho góc của vùng bức xạ bị mờ đi. Kim loại này có đặc tính tạo ra bụi mịn, gây ra vấn đề về bảo vệ bức xạ. Nguồn Co-60 hữu dụng trong vòng khoảng 5 năm, nhưng ngay cả sau thời điểm này, mức độ phóng xạ vẫn rất cao. Vì vậy máy móc dùng cobalt đã không còn được sử dụng rộng rãi ở các nước phương Tây. Hiện nay, người ta sử dụng phổ biến máy gia tốc hạt tuyến tính thay cho máy móc dùng cobalt trước đây. Cobalt đã được biết đến từ thời cổ đại thông qua những hợp chất tạo cho thủy tinh có màu xanh dương đậm. Georg Brandt (1694-1768) là nhà khoa học đã phát hiện ra cobalt. Thời điểm phát hiện vào khoảng thời gian 1730 - 1737. Ông đã chứng minh rằng cobalt là nguồn gốc tạo ra màu xanh dương trong thủy tinh, mà trước đây được người ta cho là do bismuth (Bismuth) (được phát hiện cùng với cobalt). Trong suốt thế kỷ XIX, cobalt xanh dương được sản xuất tại nhà máy Blaafarveværket (Na Uy), sản lượng cobalt sản xuất tại đấy chiếm 70-80% sản lượng thế giới. Vào năm 1938, John Livingood và Glenn Seaborg đã phát hiện đồng vị Co-60. Tên gọi Cobalt (cobalt) có xuất xứ từ tiếng Đức "kobalt" hoặc "kobold", nghĩa là linh hồn của quỷ dữ. Tên này do những người thợ mỏ đặt ra vì nó mang tính độc hại, gây ô nhiễm môi trường, và làm giảm giá trị những kim loại khác, như nickel. Những nguồn khác thì lại cho rằng tên gọi phát sinh từ những người thợ mỏ bạc vì họ tin rằng cobalt được đặt ra bởi kobolds là những người đã từng đánh cắp bạc. Một vài nguồn khác cho rằng tên gọi có xuất xứ từ tiếng Hy Lạp "kobalos", nghĩa là 'mỏ', và có thể có nguồn gốc chung với kobold, goblin, và cobalt. Vai trò sinh học. Nhiều sinh vật sống (kể cả người) phải cần đến một lượng nhỏ cobalt trong cơ thể để tồn tại. Cho vào đất một lượng nhỏ cobalt từ 0,13-0,30 mg/kg sẽ làm tăng sức khỏe của những động vật ăn cỏ. Cobalt là một thành phần trung tâm của vitamin cobalamin, hoặc vitamin B-12. Cobalt không thể tìm thấy như là một kim loại tự do, mà nói chung là ở trong các dạng quặng. Người ta luôn luôn không khai thác cobalt riêng rẽ, và có xu hướng được dùng làm sản phẩm phụ trong hoạt động khai thác nickel và đồng. Những quặng cobalt chính là cobaltite, erythrite, glaucodot, và skutterudite. Những quốc gia sản xuất nhiều cobalt nhất thế giới là Cộng hòa dân chủ Congo, Trung Quốc, Zambia, Nga, và Úc. Cobalt còn được tìm thấy ở Phần Lan, Azerbaijan, và Kazakhstan. Nó còn được sản xuất ở thành phố Cobalt, tỉnh Ontario, ở Canada ở dạng sản phẩm phụ của hoạt động khai thác bạc. Do có nhiều trạng thái oxy hóa khác nhau, nên số lượng hợp chất cobalt khá phong phú. Các oxide không có từ tính ở nhiệt độ thấp như CoO (nhiệt độ Neel là 291 K), và Co3O4 (nhiệt độ Neel là 40 K). Các hợp chất cobalt(II) được dùng làm mực đỏ. Tuy nhiên màu bị chuyển thành xanh dương khi bị nung nóng đến nhiệt độ sôi. Thêm quá nhiều chloride cũng sẽ làm đổi màu từ màu hồng sang màu xanh dương, do sự tạo thành ion phức [CoCl4]2-. Trạng thái oxy hóa +3 ít ổn định hơn. Trạng thái +4 ít gặp. Trạng thái oxy hóa +5 cũng được biết đến, trong kali hypocobaltat K3CoO4. Trạng thái +6 cũng xuất hiện, trong kali cobaltat K2CoO4. Cobalt trong tự nhiên bao gồm 1 đồng vị ổn định là 59Co. Cobalt có 22 đồng vị phóng xạ. Những đồng vị phóng xạ ổn định nhất là 60Co có chu kỳ bán rã là 5,2714 năm, 57Co có chu kỳ bán rã là 271,79 ngày, 56Co có chu kỳ bán rã là 77,27 ngày, và 58Co có chu kỳ bán rã 70,86 ngày. Tất cả đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã ít hơn 18 giờ và phần lớn những đồng vị này có chu kỳ bán rã ít hơn 1 giây. Nguyên tố này cũng có 4 đồng phân phóng xạ, tất cả các đồng phân này đều có chu kỳ bán rã ít hơn 15 phút. Các đồng vị của cobalt có trọng lượng nguyên tử từ 50 amu (50Co) đến 73 amu. Bột kim loại cobalt dễ bùng cháy khi tiếp xúc với lửa. Các hợp chất của cobalt phải được xử lý cẩn thận do có độc tính nhẹ. 60Co là nguồn phát ra tia gamma mạnh nên tiếp xúc với nó sẽ dẫn đến nguy cơ ung thư. Nuốt 60Co sẽ khiến cobalt thâm nhập vào mô tế bào và quá trình thải ra rất chậm chạp.60Co là yếu tố rủi ro gây tranh cãi về vấn đề hạt nhân vì nguồn neutron sẽ chuyển hóa 59Co thành đồng vị này. Một số mô hình vũ khí hạt nhân có chủ ý gia tăng lượng 60Co phát tán dưới hình thức bụi phóng xạ nguyên tử – nên có khi người ta gọi đó là bom bẩn hoặc bom cobalt. Một nhà khoa học hàng đầu đã dự đoán rằng loại bom này có khả năng hủy diệt tất cả sự sống trên Trái Đất. Nếu nguyên nhân bắt nguồn không phải là một cuộc chiến tranh hạt nhân, thì cũng do việc xử lý không phù hợp (hoặc trộm cắp) các bộ phận của máy xạ trị y học. Tuy nhiên, tia gamma phát ra từ 60Co hiện đang được sử dụng để diệt vi khuẩn và tăng sức đề kháng trên rau quả.
Hội nhập kinh tế Hội nhập kinh tế, theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến trên thế giới, là việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau. Theo cách hiểu này, hội nhập kinh tế đã diễn ra từ hàng ngàn năm nay và hội nhập kinh tế với quy mô toàn cầu đã diễn ra từ cách đây hai nghìn năm khi Đế quốc La Mã xâm chiếm thế giới và mở mang mạng lưới giao thông, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong toàn bộ lãnh địa chiếm đóng rộng lớn của họ và áp đặt đồng tiền của họ cho toàn bộ các nơi. Hội nhập kinh tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau. Khái niệm này được Béla Balassa đề xuất từ thập niên 1960 và được chấp nhận chủ yếu trong giới học thuật và lập chính sách. Nói rõ hơn, hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu. Trong các giáo trình nhập môn về kinh tế học quốc tê, hội nhập kinh tế thường được cho là có sáu cấp độ: khu vực/hiệp định thương mại ưu đãi, khu vực/hiệp định thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế tiền tệ, và hội nhập toàn diện. Tuy nhiên trong thực tế, các cấp độ hội nhập có thể nhiều hơn và đa dạng hơn. Hội nhập kinh tế có thể là song phương - tức là giữa hai nền kinh tế, hoặc khu vực - tức là giữa một nhóm nền kinh tế, hoặc đa phương - tức là có quy mô toàn thế giới giống như những gì mà Tổ chức Thương mại Thế giới đang hướng tới. Thỏa thuận thương mại ưu đãi. Đây là cấp độ thấp nhất của liên kết kinh tế, theo đó các quốc thủ tướng tham gia hiệp định dành các ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan cho hàng hóa của nhau, tạo thành các khu vực thương mại ưu đãi vùng (Preferential Trade Area). Trong các thỏa thuận này, thuế quan và hàng rào phi thuế quan có thể vẫn còn, nhưng thấp hơn so với khi áp dụng cho quốc gia không tham gia hiệp định. Một ví dụ về thỏa thuận thương mại ưu đãi là "Hiệp định về Thỏa thuận Thương mại Ưu đãi ASEAN" được ký kết tại Manila năm 1977 và được sửa đổi năm 1995; hay "Khu vực Thương mại Ưu đãi Đông và Nam Phi" tồn tại từ năm 1981 đến năm 1994; hay như các hiệp định dành ưu đãi thương mại (hay tối huệ quốc) mà một số nước phát triển có thể dành cho các nước đang phát triển. Hiệp định thương mại tự do. Là hiệp định theo đó các nước ký kết cam kết bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan cho tất cả hoặc gần như tất cả hàng hóa của nhau. Có thể có những dòng thuế sẽ được bãi bỏ chậm hơn; và người ta thường đưa các dòng thuế này vào "danh sách nhạy cảm". Chỉ một số ít dòng thuế sẽ không được bãi bỏ và được liệt kê trong "danh sách loại trừ". Quy tắc xuất xứ là một phần quan trọng của các hiệp định thương mại tự do nhằm đảm bảo chỉ những hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc tối thiểu ở một tỷ lệ nhất định tại các nước thành viên hiệp định mới được buôn bán tự do nhằm tránh tình trạng nước không tham gia hiệp định sử dụng cách tái xuất hoặc chỉ lắp ráp tại một nước tham gia hiệp định mà có thể xuất khẩu sang nước còn lại của hiệp định không phải chịu thuế. Một hiệp định thương mại tự do nổi tiếng được thành lập từ năm 1960, đó là Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu. Sau những bế tác của đàm phán tự do hóa thương mại đa phương trong khuôn khổ GATT, các hiệp định thương mại tự do song phương (giữa hai nước) và khu vực xuất hiện ngày càng nhiều từ giữa thập niên 1990. Và trong số những quốc gia hăng hái nhất trong việc ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương phải kể đến Mexico, Singapore. Những khu vực thương mại tự do nổi tiếng mới thành lập từ thập niên 1990 điển hình là Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (thành lập năm 1994), Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (hiệp định được ký kết vào năm 1992). Ngoài ra, còn có những hiệp định thương mại tự do giữa một nước với cả một khối, như Hiệp định Khung về Hợp tác Kinh tế ASEAN-Trung Quốc (ký kết vào năm 2002). Do xóa bỏ gần như hoàn toàn thuế quan và hàng rào phi thuế quan, nên việc đàm phán để thành lập một hiệp định thương mại tự do rất mất thời gian và qua nhiều vòng thương thảo. Những nước hăng hái với tự do hóa thương mại có thể thỏa thuận tiến hành chương trình giảm thuế quan sớm (còn gọi là chương trình thu hoạch sớm) đối với một số dòng thuế trước khi đàm phán kết thúc và hiệp định được thành lập. Hiệp định đối tác kinh tế. Hiệp định đối tác kinh tế là cấp độ hội nhập kinh tế sâu hơn hiệp định thương mại tự do, theo nghĩa là ngoài việc tự do hóa thương mại hàng hóa thông qua bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan lại còn bao gồm cả tự do hóa dịch vụ, bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử giữa các nước ký kết hiệp định. Nhật Bản là quốc gia có xu hướng thích các hiệp định đối tác kinh tế vì nó cho phép quốc gia này thâm nhập toàn diện vào các thị trường của nước đối tác. Hiện Nhật Bản đã ký kết 8 hiệp định đối tác kinh tế song phương và một hiệp định đối với ASEAN, đang đàm phán để đi tới ký kết 5 hiệp định khác (Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Úc, Thụy Sĩ), có 15 quốc gia, lãnh thổ và khu vực đang có nguyện vọng đàm phán và ký kết hiệp định đối tác kinh tế với Nhật Bản. "Xem thêm: Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP)". Thị trường chung có đầy đủ các yếu tố của hiệp định đối tác kinh tế và liên minh thuế quan, cộng thêm các yếu tố như tự do di chuyển các yếu tố sản xuất (vốn, lao động) giữa các nước thành viên. Một thị trường chung như vậy đã từng được thành lập ở châu Âu vào năm 1957 theo Hiệp ước Rome và mất một thời gian dài mời hoàn thành mục tiêu. Khối ASEAN cũng đã thỏa thuận sẽ thực hiện được mục tiêu một thị trường chung và một cơ sở sản xuất thống nhất trong toàn khối vào năm 2020 trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN. "Xem thêm: Cộng đồng Kinh tế ASEAN." Liên minh thuế quan. Đây có thể hiểu là một khu vực thương mại tự do giữa các nước thành viên cộng với thuế quan thống nhất của các nước thành viên đối với hàng hóa từ ngoài khu vực. Việc thành lập liên minh thuế quan cho phép tránh được những phức tạp liên quan đến quy tắc xuất xứ, nhưng lại làm nảy sinh những khó khăn trong phối hợp chính sách giữa các nước thành viên. "Xem thêm: Liên minh Thuế quan Liên minh châu Âu". Liên minh kinh tế và tiền tệ. Hội nhập kinh tế đến cấp độ này tạo ra một thị trường chung giữa các nền kinh tế (không còn hàng rào kinh tế nào nữa) với một đơn vị tiền tệ chung. Ví dụ rõ nhất về cấp độ liên minh này là Khu vực đồng Euro. Các khu vực được thành lập với mục tiêu trở thành liên minh kinh tế tiền tệ nhưng chưa hoàn thành được mục tiêu này gồm: Cộng đồng Kinh tế Tây Phi, Cộng đồng Caribe (tiền thân là Cộng đồng và Thị trường Chung Caribe). Trong các liên minh từng tồn tại nhưng nay không còn có Liên minh Bỉ-Luxembourg. Trong lịch sử đã từng có những khu vực dùng một đơn vị tiền tệ chung, như Liên minh Tiền tệ Latinh hồi thế kỷ 19, nhưng họ chưa xây dựng được một thị trường chung nên không gọi đó là liên minh kinh tế và tiền tệ. Lại có một số nước chấp nhận đồng tiền của nước hay khu vực khác làm đơn vị tiền tệ chính thức của mình, nhưng giữa họ không có một thị trường chung, nên không gọi là liên minh kinh tế - tiền tệ. Hiện nay, tuy Anh đã tham gia Liên minh châu Âu, nhưng vì Anh vẫn giữ đơn vị tiền tệ riêng là đồng Bảng Anh, nên Anh không tham gia liên minh kinh tế tiền tệ ở châu Âu. Với một đơn vị tiền tệ chung, các nước thành viên sẽ phải từ bỏ quyền thực thi chính sách tiền tệ riêng của mình, mà thay vào đó là một chính sách tiền tệ chung của toàn khối do một ngân hàng trung ương chung của khối đó thực hiện, như trường hợp của Ngân hàng Trung ương châu Âu. Khi mà ngay cả chính sách tài chính cũng được thực hiện chung, hội nhập kinh tế đạt đến độ hoàn toàn. "Xem thêm: Liên minh tiền tệ." * Steven M. Suranovic, "Economic Integration: Overview"
Lý thuyết khoa học Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Một lý thuyết khoa học là một cách giải thích một lĩnh vực nào đó của thế giới tự nhiên mà có thể, căn cứ theo phương pháp khoa học, được kiểm nghiệm lặp lại được, sử dụng một phương cách quan sát và thực nghiệm đã được định sẵn. Những lý thuyết khoa học đã được công bố đã đứng vững trước sự xem xét kĩ lưỡng và là một thể thức bao hàm toàn diện của kiến thức khoa học.
Thư viện liên kết động (tiếng Anh: Dynamic Link Library - viết tắt: DLL) là một thành phần của các phần mềm. Đặc điểm của nó là có tính khả chuyển cao, nhờ đó mà một DLL có thể được gắn vào một hoặc nhiều phần mềm khác nhau. DLL còn là đuôi của một tập tin chạy trên hệ điều hành Windows (".dll"). Thư viện liên kết động, đúng như tên gọi của nó, là một thư viện cho phép các ứng dụng có thể liên kết đến và sử dụng nó. Nó được xem là một tổ hợp các hàm và dữ liệu mà có thể được sử dụng bởi nhiều ứng dụng khác nhau ở cùng một thời điểm. "Ví dụ": thư viện Khi đã được viết và đóng gói trong một DLL, một hàm có thể được sử dụng ở bất cứ ứng dụng nào dưới dạng mã máy của nó mà không phải quan tâm đến mã nguồn nó được viết chi tiết ra sao. Với các ứng dụng trước kia, ta có thể đính kèm file mã nguồn và sử dụng các hàm trong chương trình; tuy nhiên, giả sử như để có thể thao tác với máy in, in một nội dung ta cần gọi hàm print() và ta đã có mã nguồn của hàm print này. Giả sử như không có DLL, thì bất cứ ứng dụng nào muốn sử dụng hàm print() sẽ bao gồm cả hàm này vào trong mã nguồn: từ chương trình Word, Excel, Internet E() này, làm cho dung lượng để chứa các chương trình tăng lên. Ngoài ra, khi phần cứng thay đổi, ta lại phải thay đổi mã nguồn của hàm print() để nó hoạt động đúng (nếu cần), việc này đẫn tới việc thay đổi theo dây chuyền đến các ứng dụng, gây ra rất nhiều khó khăn. Sau đây ta sẽ tìm hiểu chi tiết về ưu nhược điểm của việc sử dụng thư viện liên kết động. Các thư viện liên kết động là một thành phần không thể thiếu tạo nên hệ điều hành Windows. Ở đó, việc quản lý, trao đổi với phần cứng hay thiết bị ngoại vi đều thông qua các hàm có sẵn trong windows mà ta hay gọi là Windows API. Thay vì ta phải đưa lệnh điều khiển cho màn hình vẽ lên một cửa sổ giao diện như các ứng dụng, thì ta chỉ cần gọi một hàm trong một file DLL nào đó, hệ thống sẽ đảm bảo kết quả như ý muốn. Ưu và nhược điểm của thư viện liên kết động. Giảm không gian sử dụng của bộ nhớ. Hàm và dữ liệu trong các DLL được chia sẻ bởi các ứng dụng dùng nó. Như trong ví dụ ở trên, các ứng dụng Winword, Microsoft Excel, Internet Explorer sẽ dùng chung một hàm codice_1 đã được biên dịch thành mã máy và để trong một DLL nào đó, mà không cần phải bao gồm toàn bộ mã nguồn của hàm. Bên cạnh đó, ta cũng có thể giảm được dung lượng bộ nhớ của chương trình tùy vào cách dùng các hàm DLL (Run-time hay Load-time, sẽ được trình bày sau): ứng dụng của ta sẽ chỉ nạp các hàm này khi nào dùng đến. Mã trong DLL nằm trong khu vực chỉ cho đọc (read-only) và được nạp vào các trang nhớ đánh dấu read-only. Nó cho phép hệ thống ánh xạ DLL vào trong không gian địa chỉ nhớ của các tiến trình sử dụng nó. Và như vậy, DLL được nạp chỉ một lần, và nếu một tiến trình yêu cầu sử dụng nó, hệ điều hành chỉ việc ánh xạ DLL tới không gian địa chỉ của ứng dụng gọi DLL. Giảm Swapping (thay trang bộ nhớ chính). Ta tưởng tượng có hai tiến trình sử dụng cùng một DLL, một tiến trình kết thúc công việc của nó và thoát ra. Nhưng DLL sẽ không gỡ bỏ ra khỏi bộ nhớ vì DLL quản lý thời gian tồn tại của nó bằng cách giữ một bộ đếm tham khảo cho các tiến trình sử dụng nó. Mỗi khi có một tiến trình nào đó yêu cầu sử dụng DLL, bộ đếm tham khảo sẽ tăng giá trị của nó lên 1; còn khi có một tiến trình gỡ bỏ không sử dụng nữa thì bộ đếm lại giảm đi 1. DLL sẽ tự động xóa bỏ ra khỏi bộ nhớ chừng nào bộ đếm tham khảo trở về 0, trạng thái cho biết không còn có tiến trình nào sử dụng DLL nữa. Bây giờ giả sử có một tiến trình bắt đầu chạy và yêu cầu hệ thống nạp một DLL hiện đang được dùng bởi một ứng dụng đã chạy trước đó. Chuyện gì sẽ xảy ra? Liệu hệ thống có nạp DLL một lần nữa không? Hiển nhiên là không, vì DLL được định nghĩa ra để có thể dùng chung giữa các ứng dụng khác nhau. Thành phần đã nạp DLL có tất cả các hàm và dữ liệu của nó trong bộ nhớ và hệ thống sẽ chỉ phải ánh xạ chúng tới không gian địa chỉ của tiến trình mới cho chúng hoạt động. Nó liên quan đến việc đọc các hàm và dữ liệu DLL từ trên đĩa. Có thể đóng gói và đưa vào chương trình khác. Khi đã xây dựng được một DLL với các chức năng hợp lý, ta có thể sử dụng nó trong bất cứ ứng dụng nào mà ta cảm thấy thích hợp. Ví dụ trong một ứng dụng nhỏ, ta có tập hợp các hàm chuyển đổi giá trị từ String sang ngày tháng và đóng gói nó vào trong một DLL. Khi đó, ở một ứng dụng khác, khi có nhu cầu chuyển đổi như trên, thì ta sẽ không phải viết lại các hàm hoặc đính kèm mã nguồn của các hàm đó vào chương trình đó nữa mà sử dụng trực tiếp DLL mà ta đã biên dịch. Tạo ra khả năng tương tác giữa các ngôn ngữ lập trình. Một ứng dụng có thể sử dụng các DLL viết bằng bất cứ ngôn ngữ lập trình nào. Các nhà phát triển phần mềm chỉ việc đóng gói các module của mình vào trong một DLL với ngôn ngữ ưa thích, sau đó module này có thể được sử dụng trong các ứng dụng viết bằng C++ hay Visual Basic. Mặc dù hầu hết các ngôn ngữ lập trình đều hỗ trợ việc sử dụng thư viện liên kết động, nhưng lại có rất ít ngôn ngữ lập trình cho phép tạo ra chúng. Với việc sử dụng DLL, người ta có thể tập trung nhiều hơn vào các xử lý logic của hệ thống, mà không cần phải quan tâm đến những xử lý thông thường, mà nếu phát triển từ đầu, sẽ chi phí rất nhiều thời gian và công sức. Các công việc này đã được thực hiện bởi một người nào đó, và đóng gói dưới dạng các DLL. Dễ dàng đưa ra sự hỗ trợ sau khi đã chuyển giao ứng dụng cho khách hàng. Nếu như ta phát hiện có một số thành phần trong ứng dụng cần phải được thay đổi và sự thay đổi này cần phải được cập nhật cho khách hàng. Đóng gói và phân phối lại toàn bộ sản phẩm đã bán cho tất cả các khách hàng của chúng ta là một công việc hết sức khó khăn. Tuy nhiên ta có thể tránh được điều này nếu như ứng dụng của ta được thiết kế tốt thành các module và đóng gói chúng trong các DLL. Khi một module nào đó cần thay đổi, ta chỉ việc đóng gói lại DLL chứa module đó và gửi tới khách hàng, cho họ cập nhật. Là khó khăn lớn nhất thỉnh thoảng gặp khi dùng DLL. Ta có thể gặp những thông báo lỗi dạng như: hoặc khi cài đặt một ứng dụng mới, một số chương trình khác đang bình thường bỗng nhiên bị trục trặc hoặc thậm chí không thể nạp lên để chạy được. Đó là các dấu hiệu của DLL Hell trên máy tính của ta. Nguyên nhân cơ bản của sự cố trên là do chương trình cài đặt không kiểm tra phiên bản của các DLL trước khi sao lưu nó vào trong thư mục hệ thống. Khi một DLL mới thay thế một DLL cũ có sẵn, và nếu DLL mới này có một số thay đổi lớn làm cho nó không thể tương thích ngược lại với các chương trình sử dụng phiên bản cũ, nó sẽ làm rối loạn chương trình đó. Cấu trúc và phân loại DLL. Các thành phần chứa trong của DLL. Các DLL thường bao gồm mã lệnh, dữ liệu và các tài nguyên. Mã lệnh được lưu trữ trên một khu vực chỉ đọc (read-only), do đó nó có thể được sử dụng chung cho các yêu cầu từ các ứng dụng. Tuy nhiên, dữ liệu của DLL thì không như vậy. Mỗi một yêu cầu từ phía ứng dụng sẽ nhận được một bản sao riêng của các đoạndữ liệu (data segments) trừ phi đoạn đó được đánh dấu shared. Khu vực lưu trữ mã bao gồm các lớp và các hàm độc lập (không có quan hệ qua lại) với nhau được thể hiện qua trong DLL. Trong trường hợp các lớp (class) thì tất cả các chức năng và dữ liệu đã được giới hạn trong một thực thể, nhưng với các hàm độc lập có quan hệ với nhau thì ta cũng có một số dữ liệu chia sẻ toàn cục. Các lớp và hàm có trong DLL cung cấp cho ứng dụng sử dụng được gọi là thành phần export từ DLL. Còn nếu DLL của ta sử dụng các hàm từ các DLL khác, thì chúng được gọi là thành phần import tới DLL. Lấy ra các lớp và hàm ở trong DLL: để sử dụng được các mã lệnh trong DLL mà đã biên dịch, ta phải export nó ra cho các ứng dụng khác sử dụng. Có hai cách để thực hiện công việc này: Ví dụ ta có hàm Foo(Type1 a, Type2 b), để export nó từ trong một DLL; ta có thể thêm từ khóa __declspec(dllexport) trước tên của hàm, hoặc viết một module file định nghĩa với nội dung như sau: Dòng cuối cùng sẽ chỉ cho trình biên tập (linker) biết tên hàm sẽ được export. Hàm Entry-Point của DLL. Một DLL có thể chứa rất nhiều hàm, nhưng có một hàm đặc biệt là hàm Entry-point (tạm dịch là hàm đầu vào). Theo định nghĩa của thư viện MSDN, hàm DLLMain() là điểm vào của một DLL (một DLL có thể tùy chọn có hoặc không có hàm này).Nếu như hàm này được sử dụng, nó có thể được gọi bởi hệ thống trong trường hợp: Hàm này có một chút khác biệt so với các hàm khác trong DLL, theo nghĩa nó cho phép ta thực hiện một quá trình khởi tạo hoặc thu dọn nào đó theo nhu cầu của ta. Dưới đây là cấu trúc của một hàm DllMain: Hàm cung cấp cho ta bốn vị trí cho phép ta sử dụng để thực hiện việc dọn dẹp hay khởi tạo cụ thể trong ứng dụng, bao gồm: Ta có thể loại bỏ các xử lý trong trường hợp DLL_THREAD_ATTACH và DLL_THREAD_DETACH bằng cách gọi hàm DisableThreadLibraryCalls(). Một điểm chú ý khác nữa là nếu có sự cấp phát bộ nhớ trong phạm vi DLL ở trong hàm Entry-point, thì nên dùng API TlsAlloc và TlsFree để thực hiện điều này (TLS: Thread Local Storage) Chi tiết các hàm trong bài viết xin xem thêm trong MSDN. Các loại liên kết động. Liên kết động có hai dạng phụ thuộc vào cách nhúng thông tin vào trong file thực thi. Đó là liên kết không tường minh và liên kết tường minh (Implicit Linking và Explicit Linking). Liên kết không tường minh (Implicit Linking). Liên kết không tường minh hay liên kết ở thời điểm nạp (Load-time dynamic Linking) diễn ra ở thời điểm biên dịch, khi ứng dụng tạo một tham chiếu tới hàm DLL được export. Tại thời điểm mã nguồn của lời gọi đó được biên dịch, lời gọi hàm DLL dịch thành một hàm tham chiếu ngoài trong đối tượng mã. Để hiểu được tham chiếu ngoài này, ứng dụng phải liên kết với thư viện import (file có phần mở rộng là.LIB) đã được DLL tạo ra khi biên dịch. Ví dụ khi xây dựng một ứng dụng Windows sử dụng công cụ VC6: bản thân các cửa sổ chương trình không tự có mà phải được vẽ ra bởi chương trình. Tuy nhiên, khi lập trình với Windows, ta không phải lo lắng viết mã nguồn cho công việc này, bởi bản thân Windows đã cung cấp API đóng gói trong các DLL, được đặt trong thư mục hệ thống của Windows. Để sử dụng được các hàm đã có trong các DLL này, ta phải liên kết nó với ứng dụng của ta, bằng cách sử dụng các thư viện import như đã trình bày. Khi đã khai báo các thư viện import, ta có thể sử dụng các hàm các DLL tương ứng như đối với các hàm cục bộ viết trong chương trình. Thư viện import chỉ chứa các thông tin về thành phần được export từ DLL mà không có một dòng lệnh giúp trình biên tập (linker) xử lý các lời gọi hàm tới DLL. Khi trình biên tập tìm thấy thông tin về hàm export trong một , và giả sử như mã lệnh của hàm đó nằm trong một DLL có sẵn, thì để xử lý các tham chiếu đến hàm, trình biên tập phải nhúng thêm một số thông tin vào file thực thi cuối cùng, thành phần được dùng bởi bộ nạp hệ thống khi mà tiến trình khởi động. Khi bộ nạp (loader) chuẩn bị chạy một chương trình, trong đó có chứa các liên kết động, thì nó sẽ sử dụng thông tin được nhúng (ở thời điểm biên dịch, như đã nói ở trên) vào file thực thi chương trình để xác định các thư viện yêu cầu. Nếu như nó không thể tìm được DLL, thì hệ thống sẽ chấm dứt tiến trình và hiện ra một hộp thoại để thông báo lỗi tương ứng. Ngược lại, hệ thống sẽ nạp DLL (nếu như trước đó nó chưa được nạp) và ánh xạ các module DLL (hàm và lớp) vào trong không gian địa chỉ của tiến trình. Chú ý rằng mỗi tiến trình đều có một không gian địa chỉ riêng, do vậy nên nhiều tiến trình có thể sử dụng chung một DLL. Khi đó địa chỉ hàm được gọi sẽ nằm trong không gian này. Nếu như DLL nào đó có hàm Entry-point (như đã đề cập ở phần trước), hệ thống sẽ gọi hàm này. Tham số fdwReason sẽ có giá trị là DLL_PROCESS_ATTACH, xác định rằng DLL đang được gắn vào tiến trình. Nếu như giá trị trả về của hàm Entry-point không phải là TRUE, hệ thống sẽ bỏ dở việc nạp tiến trình và thông báo lỗi. Khi tất cả các bước trên diễn ra mà không có lỗi nào, cuối cùng thì bộ nạp (loader) sẽ cho phép các mã thực thi của tiến trình có thể gọi hàm DLL bất cứ khi nào tham chiếu đến nó được tạo ra. Các thành phần của DLL sẽ được ánh xạ sang không gian địa chỉ của tiến trình khi tiến trình bắt đầu chạy và nó chỉ được nạp vào bộ nhớ khi nào cần thiết. Liên kết tường minh (Explicit Linking). Liên kết tường minh hay còn gọi là liên kết ở thời điểm chạy (Run-time Dynamic Linking): sử dụng các con trỏ hàm ở thời điểm chạy chương trình để trỏ tới các hàm trong DLL mà ta cần sử dụng. Modul sẽ dùng hàm LoadLibrary hoặc hàm LoadLibraryEx để nạp DLL khi nào nó muốn sử dụng hàm trong DLL. Sau khi DLL đã được nạp, modul sử dụng hàm GetProcAddress để lấy về địa chỉ trỏ tới hàm xuất ra trong DLL và đưa vào một con trỏ hàm nào đó. Các thao tác tiếp theo của modul sẽ làm việc với con trỏ hàm này. Hầu hết các ứng dụng được phát triển đều sử dụng liên kết ở thời điểm nạp (load-time dynamic linking) bởi vì đó là cách liên kết dễ dàng nhất. Nhưng dựa vào một số các ràng buộc, thỉnh thoảng phương pháp trên là không cần thiết. Sau đây là một số trường hợp cụ thể nên dùng liên kết ở thời điểm chạy thay thế:
Ban Tây Bắc hay còn gọi là hoa ban, ban trắng, ban sọc, móng bò sọc (danh pháp hai phần: Bauhinia variegata) là một loài thực vật có hoa trong họ Đậu ("Fabaceae"), có nguồn gốc ở miền đông nam châu Á, từ miền nam Trung Quốc kéo dài về phía tây tới Ấn Độ. Sinh học và phân bổ. Cây bụi lớn hoặc gỗ nhỏ có thể cao tới 10-12 m. Tán cây dạng phân tán, thân cây dạng hợp trục. Cành non hơi có lông. Lá kép liền thân mọc cách. Kích thước phiến lá của nó dài khoảng 10-20 cm và rộng bản, tròn và lưỡng thùy ở gốc và đỉnh phiến lá. Mặt trên không lông, mặt dưới có ít lông. Hoa thường mọc ra từ nách lá còn non. Hoa của nó dễ thấy, có 5 cánh có màu thường là màu trắng có sọc hồng nhạt, tím hoặc là màu phớt tím có sọc tím đậm hơn, hồng nhạt có sọc đậm hơn. Đường kính hoa khoảng từ 8–12 cm. Mùa hoa vào tháng 3-4. Quả là loại quả đậu dài 15–30 cm, bên trong chứa vài hạt. Cây hàng năm rụng lá vào mùa khô. Thường phân bổ ở rừng bán rụng lá, savan hoặc ven rừng, ven làng bản. Khí hậu thích hợp là nhiệt đới gió mùa hoặc cận nhiệt đới. Nó mọc tự nhiên hoặc được trồng khắp miền Nam Trung Quốc, Việt Nam (phân bổ tự nhiên chỉ có ở Tây Bắc), Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Nepal, Ấn Độ. Tên và phân loại dưới loài. Theo CatalogueofLife, NCBI và ThePlantList đang công nhận có 2 thứ/ giống của loài: Theo Tropicos thì họ đang công nhận tồn tại 4 thứ/ giống: Cây được trồng làm cây cảnh quan đường phố, cảnh quan khuôn viên. Hoa ăn được như là món nộm hoặc dùng nấu canh. Gỗ dùng đóng các đồ dùng thông thường hoặc dùng làm củi đun. Ở Ấn Độ theo liều lượng dùng và cách chế biến khác nhau mà vỏ dùng làm thuốc hàn vết thương, chữa , loét và tràng nhạc. Chồi khô dùng trị lỵ, trị ỉa chảy và trị giun; sắc nước rễ trị đầy hơi, trướng bụng và trị nọc rắn cắn.
Dương tử kinh (danh pháp hai phần: Bauhinia blakeana) (chữ Hán: 洋紫荊) (người Việt Nam thường gọi là hoa móng ngựa hoặc là hoa móng bò) là một loại cây thân gỗ thường xanh, thuộc về chi Ban ("Bauhinia"), với các lá to và dày cùng các hoa đỏ ánh tía nổi bật. Các hoa tương tự như hoa phong lan, có mùi thơm thông thường có kích thước cỡ 10–15 cm, nở từ khoảng đầu tháng 11 năm trước đến cuối tháng 3 năm sau. Đôi khi nó còn được gọi là lan Hồng Kông (香港蘭 - hương cảng lan). Hình dáng của lá lưỡng thùy tương tự như hình trái tim, dài 7–10 cm và rộng 10–13 cm, với kẽ nứt phân chia phần đỉnh phiến lá. Người Hồng Kông gọi nó lá này là "thông minh diệp" (聰明葉, "lá thông minh") và coi nó như là biểu tượng của sự thông minh. Một số người còn dùng lá để làm vật đánh dấu sách với hy vọng nó sẽ hỗ trợ họ học hành tốt hơn. Tuy nhiên, thông thường nó là vô sinh (không tạo hạt), điều này làm một số người cho rằng nó có nguồn gốc là một loại cây lai ghép, có lẽ là giữa ban trắng ("Bauhinia variegata") và ban tía ("Bauhinia purpurea"), mặc dù điều này vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi. Việc nhân giống được thực hiện bằng cách chiết, ghép cành, và loài cây này ưa thích nơi nhiều ánh sáng và đất tốt. Tên khoa học của nó lấy theo tên gọi của Henry Blake, tổng trấn Hồng Kông thuộc Anh từ 1898 đến 1903. Là một nhà thực vật học có nhiệt tâm, ông đã phát hiện ra nó vào năm 1880 ở gần một khu nhà hoang bên bờ biển đảo Hồng Kông gần Bạc Phù Lâm (薄扶林). Miêu tả khoa học đầu tiên về loài lan Hồng Kông này đã được S. T. Dunn, một người quản lý của "Cục thực vật và lâm nghiệp", công bố vào năm 1908. Ông đã đưa nó vào chi "Bauhinia" và đặt tên nó theo tên của Henry Blake. "Bauhinia blakeana" đã được Hội đồng thị chính Hồng Kông phê chuẩn là biểu tượng của Hồng Kông vào năm 1965. Kể từ năm 1997, nó đã trở thành loài hoa biểu tượng cho đặc khu hành chính Hồng Kông của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và nó xuất hiện trên lá cờ của Hồng Kông, khu huy Hồng Kông và cũng như trên các đồng đô la Hồng Kông; tên gọi trong tiếng Trung gần đây cũng đã được làm ngắn gọn lại thành tử kinh (紫荊) do dương (洋) còn có nghĩa là "nước ngoài" trong ngôn ngữ này và điều đó có thể bị coi là không thích hợp đối với chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Một bức tượng mô phỏng loài hoa này cũng đã được dựng lên tại Quảng trường Golden Bauhinia ở Hồng Kông. Một điều thú vị là mặc dù hoa của nó có màu tía ánh hồng tươi màu nhưng nó lại được vẽ thành màu trắng trên lá cờ của Hồng Kông. Loài thực vật đặc hữu này của Hồng Kông cũng đã được đưa vào Đài Loan năm 1967. Vào năm 1984 nó đã được bầu chọn là loài hoa của thành phố Gia Nghĩa (嘉義), miền tây nam Đài Loan.
Hungary (; phiên âm là Hung-ga-ri) là một quốc gia không giáp biển thuộc khu vực Trung Âu. Có diện tích thuộc lưu vực Carpathian, nước này giáp với Slovakia về phía bắc, Ukraine về phía đông bắc, Romania về phía đông và đông nam, Serbia về phía nam, Croatia và Slovenia về phía tây nam, và Áo ở phía tây. Hungary là một quốc gia không giáp biển và có dân số 10 triệu người, chủ yếu là người Hungary gốc và một dân tộc thiểu số Romani đáng kể. Tiếng Hungary, ngôn ngữ chính thức , là ngôn ngữ Uralic được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới và nằm trong số ít các ngôn ngữ không thuộc Ấn-Âu được sử dụng rộng rãi ở châu Âu. Budapest là thủ đô và thành phố lớn nhất của đất nước này; các khu vực đô thị lớn khác bao gồm Debrecen, Szeged, Miskolc, Pécs và Győr. Lãnh thổ của Hungary ngày nay trong nhiều thế kỷ đã là nơi qua lại của nhiều dân tộc khác nhau, bao gồm người Celt, người La Mã, các sắc tộc Đức, người Hung, người Tây Slav và người Avar. Nền tảng của nhà nước Hungary được thành lập vào cuối thế kỷ thứ chín sau Công nguyên với cuộc chinh phục lưu vực Carpathian của hoàng tử Hungary Árpád. Cháu cố của ông là Stephen I lên ngôi vào năm 1000, chuyển đổi vương quốc của mình thành một vương quốc Cơ đốc giáo. Đến thế kỷ 12, Hungary trở thành một cường quốc trong khu vực, đạt đến tầm cao văn hóa và chính trị vào thế kỷ 15. Sau Trận Mohács năm 1526, vương quốc này bị Đế chế Ottoman chiếm đóng một phần (1541–1699). Hungary nằm dưới sự cai trị của nhà Habsburg vào đầu thế kỷ 18, sau đó sát nhập với Đế quốc Áo để thành lập Đế quốc Áo-Hung, một cường quốc vào đầu thế kỷ 20. Đế quốc Áo-Hung sụp đổ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và Hòa ước Trianon sau đó đã thiết lập biên giới hiện tại của Hungary, dẫn đến việc mất 71% lãnh thổ, 58% dân số và 32% dân số sắc tộc Hungary. Sau thời kỳ hỗn loạn giữa các cuộc chiến, Hungary gia nhập phe Trục trong Thế chiến thứ hai, chịu thiệt hại và thương vong đáng kể. Hungary thời hậu chiến trở thành một quốc gia vệ tinh của Liên Xô, dẫn đến việc thành lập Cộng hòa Nhân dân Hungary. Sau vụ bạo động thất bại vào năm 1956, Hungary trở thành một thành viên tương đối tự do hơn trong khối Đông Âu, mặc dù vẫn có trấn áp các nhóm chống đối. Việc Hungary dỡ bỏ hàng rào biên giới với Áo đã đẩy nhanh sự sụp đổ của Khối phía Đông, và sau đó là Liên Xô. Ngày 23 tháng 10 năm 1989, Hungary trở thành một nước cộng hòa dân chủ nghị viện. Hungary gia nhập Liên minh Châu Âu năm 2004 và là một phần của Khu vực Schengen từ năm 2007. Hungary là một cường quốc tầm trung trong các vấn đề quốc tế, phần lớn là do ảnh hưởng về văn hóa và kinh tế của nó. Nước này được coi là một quốc gia phát triển với nền kinh tế thu nhập cao và xếp hạng "rất cao" trong Chỉ số Phát triển Con người, với công dân được chăm sóc sức khỏe toàn dân và giáo dục trung học miễn phí. Hungary có một lịch sử lâu đời với những đóng góp đáng kể về nghệ thuật, âm nhạc, văn học, khoa học và công nghệ. Đây là điểm đến du lịch nổi tiếng thứ mười ba ở châu Âu, thu hút 15,8 triệu khách du lịch quốc tế vào năm 2017. Hungary là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, bao gồm Liên Hợp Quốc, NATO, WTO, Ngân hàng Thế giới, IIB, AIIB, Hội đồng Châu Âu và Nhóm Visegrád. Thời kỳ Tiền Magyar (trước năm 896). Sau khi Đế chế Tây La Mã sụp đổ trước sự xâm nhập của các bộ tộc Đức và Carpath, nhiều dân tộc khác nhau đã di chuyển đến châu Âu sinh sống. Một trong số sớm nhất đó là người Hung, những người đã xây dựng hẳn một đế chế hùng mạnh tại châu Âu với vị thủ lĩnh nổi tiếng Attila. Trước đây có ý kiến cho rằng Attila là vị vua đầu tiên khai sinh ra dân tộc Hungary nhưng ngày nay, nhiều ý kiến lịch sử lại cho rằng nguồn gốc tên gọi "Hungary" không phải đến từ bộ lạc du mục người Trung Á này mà bắt nguồn từ người Magyar (chính là người Hungary sau này) vào thế kỷ VII, lúc đó là một phần của Liên minh Bulgar với tên gọi On-Ogour, có nghĩa là "Mười Mũi Tên". Sau khi đế chế của người Hung suy tàn, bộ tộc Đức Ostrogoth và sau đó là người Lombard đã đến vùng đồng bằng Pannonia, người Gepid đồng thời cũng hiện diện tại phía đông bồn địa Carpath trong vòng 100 năm. Vào khoảng năm 560, người Avar thành lập nước Avar Khaganate hùng mạnh, chinh phục các dân tộc láng giềng. Đất nước này sau đó bị suy yếu bởi những cuộc chinh chiến liên miên rồi kết thúc sự tồn tại 250 năm sau đó khi người Frank dưới sự lãnh đạo của Charlemagne tiến vào chinh phục từ phía tây và người Bulgaria dưới sự lãnh đạo của Krum uy hiếp từ phía đông. Không một quốc gia nào được thành lập trên lãnh thổ Hungary sau đó cho đến khi Arpad, thủ lĩnh của người Magyar (Hungary) thống nhất các bộ lạc Magyar lại và tiến vào vùng đồng bằng Pannonia sinh sống năm 896. Hungary thời trung cổ (896 – 1526). Hungary là một trong những quốc gia có lịch sử lâu đời nhất tại châu Âu. Đất nước này được thành lập năm 996, trước khi những tiểu vương quốc ở Pháp hay Đức được thành lập và sớm hơn cả sự thống nhất các vương quốc Anglo-Saxon tại đảo Anh. Nước Hungary trung cổ có diện tích lớn hơn nước Pháp và dân số đứng hàng thứ ba tại châu Âu lúc bấy giờ. Vào thế kỷ IX, Arpad, một thủ lĩnh người Magyar đã thống nhất các bộ lạc Magyar lại rồi đưa họ vào vùng đồng bằng Pannonia sinh sống. Với một lực lượng quân đội hùng mạnh, người Hungary đã mở nhiều cuộc chiến tranh chinh phục và thậm chí đã từng tấn công sang tận Tây Ban Nha. Đến thời hoàng tử Geza, ông đã quyết định đưa đất nước Hungary tiến theo mô hình chính trị và xã hội của các nước Tây Âu và trở thành một quốc gia theo Công giáo. Năm 1000 công nguyên, Vương quốc Hungary theo Công giáo được thành lập với sự kiện vua István I đăng quang với chiếc vương miện được gửi đến từ giáo hoàng. Ông là con trai của Geza và mang dòng máu của thủ lĩnh Arpad. Năm 1006, vua István I củng cố quyền lực, tiêu diệt những người đối lập theo truyền thống tôn giáo nguyên thủy hoặc định liên minh với Đế chế Byzantine. Ông hoàn thành việc biến Hungary thành một nhà nước phong kiến theo Công giáo, đồng thời mở rộng đáng kể lãnh thổ và dân cư. Năm 1222, vua Hungary András II khởi xướng Bộ luật Vàng ("Golden Bull") của Hungary, có thể coi như bản hiến pháp đầu tiên trên lục địa châu Âu và tương tự như Magna Carta tại Anh mà sau đó, tất cả các vua Hungary khi đăng quang phải tuyên thệ. Bộ luật Vàng này hạn chế bởi quyền hạn của nhà vua và mở rộng quyền lực của giới quý tộc, hợp pháp hóa quyền bất tuân lệnh cũng như các quyền lợi khác của họ. Sau đó không lâu, Nghị viện Hungary được thành lập. Khoảng năm 1241-1242, đất nước Hungary bị tàn phá nặng nề trước sự xâm lăng hung hãn của quân Mông Cổ, lúc đó đang tấn công khắp nhiều vùng đất từ châu Á đến châu Âu. Các nhà sử học đã ước tính có khoảng một nửa trong số 2 triệu dân của Hungary bấy giờ đã thiệt mạng trong chiến tranh. Sau khi quân Mông Cổ rút đi, vua Béla IV đã củng cố lại sức mạnh phòng thủ của đất nước và cho xây dựng lại nhiều pháo đài bằng đá. Kết quả là khi người Mông Cổ lại sang xâm lấn năm 1286, họ đã bị hệ thống phòng thủ của người Hungary chặn lại và bị đánh thua tại Pest. Vương triều Arpad tồn tại đến năm 1301 thì chấm dứt. Sau đó, vua Károly Róbert, người có họ ngoại với Arpad đã lên ngôi và trở thành vị vua đầu tiên của triều đại Angevin. Dưới sự cai trị của ông, nhiều chính sách tài chính và tiền tệ đã được tiến hành, thúc đẩy nền kinh tế Hungary phát triển, nhiều đô thị phát triển rực rỡ. Vị vua tiếp nới của triều đại Angevin là Lajos I Đại đế (1342-1382) đã đưa lãnh thổ Hungary mở rộng từ bờ Biển Đen đến biển Adriatic và sau đó còn trở thành vua của Ba Lan, tạo tiền đề cho mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Hungary - Ba Lan. Sau Ý, Hungary là quốc gia đầu tiên tại lục địa châu Âu xuất hiện phong trào Phục Hưng. Năm 1472, một xưởng in chính thức được thành lập tại thành phố Buda. Dưới triều vua Mátyás Corvin (1458-1490), Hungary trở thành một trung tâm văn hóa lớn của châu Âu. Thư viện Bibliotheca Corviniana là bộ sưu tập lớn nhất châu Âu các bộ biên niên sử, các tác phẩm triết học và khoa học trong thế kỷ XV. Thư viện này đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Vào cuối thế kỷ XV, Hungary bắt đầu suy tàn dưới sự cai trị của vị vua bất tài Ulászló II. Năm 1514, một cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ tại Hungary nhưng sau đó bị giới quý tộc đàn áp đẫm máu. Trong khi đó, Đế chế Ottoman ngày một lớn mạnh và uy hiếp Hungary. Năm 1521, pháo đài quan trọng bậc nhất của Hungary tại Beograd ngày nay thất thủ, và đến năm 1526, quân đội Hungary bị tiêu diệt trong trận Mohács. Cuộc cải cách tôn giáo diễn ra cùng thời gian đó tại châu Âu càng khiến Hungary trở nên hỗn loạn và tiến đến bờ vực sụp đổ. Sự chiếm đóng của Ottoman giai đoạn 1526-1686. Thất bại tại trận Mohács với sự kiện vua Lajos II tử trận đã mở đầu một thời kỳ hỗn loạn kéo dài tại đất nước Hungary. Giới quý tộc Hungary cùng lúc bầu lên hai vị vua là Ferdinand Habsburg (1526-1540) và János Szapolyai (1527-1540), hai bên xây dựng quân đội của riêng mình và đánh lẫn nhau khiến đất nước ngày càng suy yếu. Năm 1541, người Ottoman chinh phục được thành phố Buda và khiến Hungary vỡ thành ba mảnh: một phần ba ở phía tây bắc nằm dưới sự cai trị của triều đình Habsburg, một phần ba ở miền trung (thuộc lãnh thổ Hungary ngày nay) bị Ottoman và một phần ba ở phía đông trở thành Công quốc Transilvania, một nước lớn bán độc lập, chư hầu của Ottoman. Khoảng 150 năm sau đó, triều đình Habsburg đã giành lại toàn bộ quyền kiểm soát Hungary. Trong thời gian này, thành phố Pozsony, tức Bratislava (thủ đô Slovakia ngày nay) đã trở thành thủ đô mới của Hungary. Thành phố Nagyszombat (nay là Trnava) trở thành một trung tâm tôn giáo lớn. Từ năm 1604 đến năm 1711, những cuộc chiến chống lại ách áp bức của người Áo cũng tăng lên, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Rakoczi Ferenc nhưng sau đó đã bị thất bại. Từ Cách mạng Hungary 1848 đến Đế chế Áo-Hung. Ngày 15 tháng 3 năm 1848, những cuộc biểu tình lớn nổ ra trên các đường phố Pest và Buda trong cao trào cách mạng tư sản đang lan khắp châu Âu năm 1848. Đối mặt với những cuộc nổi dậy liên tiếp ngay tại chính kinh đô Viên, triều đình Habsburg đã phải tạm thời chấp nhận những yêu cầu của người Hungary. Nhưng sau khi cuộc cách mạng tại Áo bị đàn áp, triều đình Habsburg đã kích động người Croatia, Serbia và Romania chống lại chính phủ Hungary. Chính phủ cách mạng của Hungary cũng nhận được sự ủng hộ của một bộ phận lớn người Slovak, Đức, Rusyn, Do Thái. Tướng János Damjanich, một người Serbia đã trở thành người anh hùng lịch sử của dân tộc Hungary khi lãnh đạo một đội quân cách mạng của nước này. Lúc ban đầu, quân đội Hungary đã giành được một số thắng lợi bước đầu nhưng sau khi triều đình Habsburg cầu viện nước Nga, quân Nga hoàng đã tràn vào và dập tắt cuộc khởi nghĩa. Ngày 6 tháng 10 năm 1849, 13 vị tướng lĩnh trong quân đội cách mạng Hungary và thủ tướng Lajos Batthyany đã bị xử tử. Sau khi nước Áo bị quân Phổ đánh bại năm 1866, để củng cố quyền lực của mình tại châu Âu, đế quốc Áo đã liên kết với vương quốc Hungary để thành lập Đế quốc Áo-Hung (năm 1867). Đế quốc Áo-Hung gồm 2 phần là Áo và Hungary, mỗi nước có chính phủ và các chính sách quân sự, đối ngoại riêng biệt với nhau. Thời kỳ này, Vương quốc Hungary đã có những bước tiến ấn tượng về mặt kinh tế, bước đầu được công nghiệp hóa mặc dù cơ cấu kinh tế vẫn chủ yếu dựa trên nông nghiệp, còn khá lạc hậu so với các nước tư bản Tây Âu. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Áo-Hung chiến đấu bên phe Liên minh Trung tâm của Đế chế Đức, Bulgaria và Đế chế Ottoman. Những khó khăn về kinh tế, các thất bại quân sự cũng như sự bất mãn của người dân đã khiến Đế quốc Áo-Hung sụp đổ hoàn toàn vào năm 1918, trên cơ sở đó hình thành các quốc gia mới là Áo, Tiệp Khắc và Hungary. Hungary giữa hai cuộc thế chiến. Vào tháng 3 năm 1919, những người cộng sản giành chính quyền ở Hungary. Vào tháng 4, Béla Kun tuyên bố thành lập Cộng hòa Xô viết Hungary, tuy nhiên chính thể xô viết này chỉ tồn tại được một thời gian ngắn ngủi. Vào ngày 13 tháng 6 năm 1919, Hội nghị Hòa bình Versailles đã ra lệnh cho Hungary phải từ bỏ các lãnh thổ phía bắc và Romania phải rời khỏi Tiszántúl. Hungary đã tuân thủ mệnh lệnh đó tính cho đến ngày 30 tháng 6 năm 1919. Nhưng quân đội Romania đã từ chối không chịu rời khỏi Tiszántúl. Chiến tranh nổ ra sau đó giữa Hungary và Romania đã dẫn tới thất bại của Hồng quân Hungary. Tính đến tháng 8 năm 1919, hơn một nửa của Hungary ngày nay, bao gồm cả Budapest, bị chiếm đóng bởi Romania. Sự chiếm đóng của quân Romania kéo dài đến tháng 11 năm 1919 khi quân đội Romania rút đi. Lực lượng quân đội cánh hữu Hungary, lãnh đạo bởi cựu Đô đốc Áo-Hungary Miklós Horthy, tiến vào Budapest ngay sau khi quân đội Romania rút đi và lấp đầy chỗ trống của quyền lãnh đạo nhà nước. Vào tháng 1 năm 1920, bầu cử diễn ra để bầu một quốc hội đa nguyên. Đô đốc Horthy được bầu vào chức thủ tướng, do đó đã phục hồi lại chính thức hoàng gia Hungary. Tuy nhiên, không còn có "Vua của Hungary" nữa mặc cho các cố gắng của nhà cai trị Habsburg trước đó để trở lại vị trí nắm quyền. Horthy đã nắm quyền thủ tướng cho đến 16 tháng 10 năm 1944. Nhưng sau năm 1932, các xu hướng độc tài đã dần dần trở lại vì ảnh hưởng của chủ nghĩa Phát xít và Đại khủng hoảng. Vào 4 tháng 6 năm 1920, Hòa ước Trianon được ký kết, thiết lập các đường biên giới của Hungary. Hungary mất 71% lãnh thổ và khoảng 66% dân số. Khoảng 1/3 dân số Magyar trở thành dân tộc thiểu số ở các nước lân cận. Hungary cũng bị mất cảng biển duy nhất tại Fiume (ngày nay là Rijeka). Do đó, chính trị Hungary và văn hóa thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến bị ảnh hưởng lớn bởi chủ nghĩa khôi phục lại tổ quốc trong quá khứ. Xuyên suốt thời kì này kinh tế Hungary hết sức mất ổn định, tuy trở nên phồn thịnh sau chiến tranh nhưng lại tổn thất nặng trong và sau Đại khủng hoảng, và ổn định chỉ hơi ổn định một chút trước khởi đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai. Nước này xích lại gần hơn các quốc gia phát xít Đức và Ý trong những năm của thập kỉ 1930 với cố gắng làm đảo ngược một số hậu quả của Hòa ước Trianon, với việc một số lãnh thổ bị mất trước kia được Đức và Ý nhượng lại cho Hungary. Hungary trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Vào năm 1941, Hungary tham dự cuộc xâm lược Nam Tư, chiếm được một số đất đai và tham dự vào Phe Trục trong quá trình đó (để phản đối, thủ tướng Pál Teleki đã tự sát). Vào 22 tháng 6 1941, khi quân Đức xâm lược Liên Xô trong Chiến dịch Barbarossa, Hungary tuyên chiến vào ngày 26 tháng 6, tham dự Chiến tranh thế giới thứ hai. Vào cuối năm 1941, quân Hungary ở Mặt trận phía đông đã chiến thắng tại Trận Uman. Đến năm 1943, sau khi Quân đoàn Hungary thứ 2 chịu thất bại nặng nề tại sông Don, nhà nước Hungary tìm cách thương lượng đầu hàng quân Đồng Minh. Vào ngày 19 tháng 3 năm 1944, để đối phó với sự trở mặt này, quân Đức lặng lẽ chiếm Hungary trong Chiến dịch Margarethe. Nhưng, đến bây giờ thì người ta biết rõ là người Hungary không muốn làm vệ tinh cho Đức. Vào ngày 15 tháng 10 1944, Horthy đã cố gắng yếu ớt để đưa đất nước ra khỏi cuộc chiến. Lúc này quân Đức mở Chiến dịch Panzerfaust và Horthy được thay thế bởi một nhà nước bù nhìn dưới quyền thủ tướng thân Đức Ferenc Szálasi. Szálasi và Đảng Mũi tên Chữ thập thân phát xít của ông ta trung thành với quân Đức cho đến hết cuộc chiến. Vào cuối năm 1944, quân Hungary ở Mặt trận phía đông lại chiến thắng một lần nữa ở trận đánh Debrecen. Nhưng ngay lập tức sau đó là sự xâm lăng Hungary của quân độ Xô viết và trận đánh Budapest. Trong khi quân Đức chiếm đóng vào tháng 5-6 năm 1944, Đảng Mũi tên Chữ thập và cảnh sát Hungary đã trục xuất gần 440.000 dân Do Thái, đa số là đến trại tập trung Auschwitz. Cuộc chiến đã làm Hungary thiệt hại nặng nề và tổn thất 60% nền kinh tế làm tổn thất nhiều nhân mạng. Vào 13 tháng 2 năm 1945, thành phố thủ đô Hungary đầu hàng không điều kiện. Vào 8 tháng 5 năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu chính thức chấm dứt. Thời đại Xô viết 1945-1989. Sau khi Phát xít Đức thất bại, quân đội Xô viết đã tiến vào hầu hết nước này. Chính phủ thân Đức Quốc xã bị giải tán, và qua ảnh hưởng của Liên Xô, Hungary dần dần trở thành một nước xã hội chủ nghĩa thân cận với Liên Xô. Sau năm 1948, lãnh đạo Cộng sản Rákosi Mátyás đã thiết lập chế độ kiểu Stalin với bắt buộc hợp tác xã hóa và kinh tế kế hoạch. Sự cầm quyền của nhà nước Rákosi đã vượt quá sức chịu đựng của người dân Hungary sau chiến tranh. Điều này đã dẫn tới cuộc chính biến tại Hungary 1956 và Hungary tạm thời rút lui khỏi khối Hiệp ước Warszawa. Liên Xô đã trả đũa mạnh mẽ với biện pháp vũ trang, gửi trên 150.000 quân và 2.500 xe tăng. Gần 200.000 người đã bỏ chạy khỏi đất nước để tránh chiến sự khi các biên giới để ngỏ vào năm 1956. Từ những năm thập niên 1960 đến cuối những năm thập niên 1980, tình hình trong nước Hungary tương đối yên tĩnh, kinh tế phát triển nhanh nhờ công nghiệp hóa. Trong thời kỳ này, đời sống nhân dân được cải thiện nhanh chóng, các ngành công nghiệp Hungary có sự phát triển nhanh. Điều này xảy ra dưới thời cầm quyền của nhà lãnh đạo mà vai trò còn nhiều tranh cãi, János Kádár. Người lính Xô viết cuối cùng rời đất nước Hungary vào năm 1991 và kết thúc sự hiện diện của quân đội Liên Xô ở Hungary. Cộng hòa Hungary 1989-đến nay. Trong cuối thập kỉ 1980, Hungary đã dẫn đầu phong trào giải tán Hiệp ước Warszawa và chuyển sang một thể chế đa đảng. Điều này nghĩa là mặc dù có nhiều ứng cử viên, đảng cộng sản, MSZMP, vẫn không được đem ra bàn cãi. Tuy nhiên, các ứng cử viên độc lập được bầu lên để phản đối lại đảng. Vào thời điểm đó, áp lực cải cách tăng dần từ bên trong đảng. Họ cũng di chuyển về phía một nền kinh tế thị trường. Vào 23 tháng 10 năm 1989, Mátyás Szűrös tuyên bố thành lập Cộng hòa Hungary thứ III và trở thành tổng thống lâm thời. Bầu cử đa đảng ở Hungary diễn ra lần đầu tiên vào năm 1990. Theo sau sự tan rã của Liên Xô vào năm 1991, Hungary phát triển một mối quan hệ gần gũi hơn với Tây Âu cũng như các nước Trung Âu. Nước này trở thành một thành viên của nhóm Visegrad vào năm 1991, gia nhập NATO năm 1999, và trở thành một nước thành viên của Liên minh châu Âu vào 1 tháng 5 năm 2004. Hungary nằm ở Trung Âu, Bắc giáp Slovakia, Đông giáp Ukraina và România, Nam giáp Serbia và Croatia, Tây giáp Slovenia và Áo. Địa lý của Hungary theo truyền thống được xác định bởi hai con sông chính: sông Danube và sông Tisza. Đất nước được chia thành ba miền địa lý: Dunántúl ("vượt qua sông Danube", Transdanubia), Tiszántúl ("ngoại Tisza"), và Duna-Tisza köze ("giữa sông Danube và Tisza"). Dòng Danube chảy theo hướng bắc-nam thông qua trung tâm Hungary hiện tại, và cả đất nước này nước nằm trong lưu vực thoát nước. Transdanubia, trải dài về phía tây trung tâm của đất nước cho đến Áo, là một vùng đồi núi chủ yếu với địa hình đa dạng bởi các ngọn núi thấp. Chúng bao gồm dải Alps ở phía đông, Alpokalja ở phía tây của đất nước. Dãy núi Transdanubian ở vùng trung tâm Transdanubia, dãy núi Mecsek và dãy núi Villány ở phía nam. Các vùng đồng bằng Alfold ở bắc Transdanubia. Hồ Balaton và hồ Hévíz là các hồ lớn nhất ở Trung Âu và hồ nhiệt đới lớn nhất trên thế giới, cũng như ở Transdanubia. Kisalfold trải dài trên hầu hết các khu vực phía đông và đông nam của đất nước. Phía bắc của vùng đồng bằng là chân núi Carpathians gần biên giới Slovakia. Kékes là ngọn núi cao nhất ở Hungary với độ cao 1.014 m. Theo WWF, lãnh thổ của Hungary thuộc vùng sinh thái của rừng hỗn giao Pannonian. Hungary có 10 vườn quốc gia, 145 khu bảo tồn thiên nhiên nhỏ và 35 khu bảo vệ cảnh quan. Khí hậu Hungary nằm trong miền khí hậu lục địa khô, mùa đông lạnh, mùa hè nóng và ẩm. Chính kiểu khí hậu này tạo điều kiện cho sự phát triên các thảm thực vật thảo nguyên phục vụ cho ngành chăn nuôi trên các đồng cỏ. Lượng mưa lớn và giảm dần từ Tây sang Đông. Ô nhiễm không khí; ô nhiễm đô thị và công nghiệp (hồ Balaton); vấn đề cải thiện môi trường khi gia nhập Liên hiệp châu Âu đòi hỏi một khoản đầu tư khá lớn (4 tỉ USD/ 6 năm). Thể chế nhà nước. Hungary theo mô hình Cộng hòa nghị viện. Tổng thống do Quốc hội bầu, nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội 1 viện gồm 386 ghế, hình thành từ danh sách trúng cử của các đảng có chân trong Quốc hội (phải đạt 5% tổng số phiếu bầu hợp lệ trở lên) và các đại biểu thắng cử trực tiếp tại các khu vực bầu cử. Quốc hội có nhiệm kỳ 4 năm. Thủ tướng do Tổng thống đề cử từ đảng hoặc liên minh giành được đa số trong Quốc hội và phải được Quốc hội bỏ phiếu thông qua. Các thành viên Chính phủ do Thủ tướng đề cử và Tổng thống bổ nhiệm. Các đảng phái chính. Liên minh Công dân Hungary - FIDESZ, chiếm 263 ghế trong Quốc hội, Chủ tịch Đảng: Viktor Orban; Đảng XHCN Hungary - MSZP, chiếm 59 ghế trong Quốc hội, Chủ tịch Đảng: Atilla Mesterhazy; Phong trào vì một Hungary tốt đẹp hơn - JOBBIK, chiếm 47 ghế trong Quốc hội, Chủ tịch: Gabor Vona; Đảng "Chính trị có thể khác đi" - LMP, chiếm 16 ghế trong Quốc hội. Phân cấp hành chính. Hungary là một quốc gia thống nhất, được chia thành 19 hạt (megye). Ngoài ra, thủ đô (főváros) của nước này-Budapest, là một thực thể độc lập, không thuộc bất cứ tỉnh nào. Các hạt và thủ đô là 20 đơn vị NUTS cấp 3 của Hungary. Các tỉnh được chia tiếp thành 174 quận (járás) tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2013. Ngoài ra còn có 23 thị trấn có quy chế cấp quận (megyei jogú város). Chính quyền địa phương của các thị trấn này được mở rộng quyền hạn, nhưng các thị trấn này thuộc về lãnh thổ của quận tương ứng thay vì là các đơn vị lãnh thổ độc lập. Hội đồng quận và các đô thị có vai trò khác nhau và trách nhiệm riêng biệt liên quan đến chính quyền địa phương. Vai trò của các quận về cơ bản là hành chính và tập trung vào phát triển chiến lược, trong khi các trường mẫu giáo, các công trình nước công cộng, xử lý rác thải, chăm sóc người cao tuổi và các dịch vụ cứu hộ được quản lý bởi các đô thị. Từ năm 1996, các quận trên và thành phố Budapest đã được gộp lại thành 7 vùng nhằm mục đích thống kê và phát triển. Bảy khu vực này tạo thành các đơn vị cấp hai của NUTS ở Hungary, bao gồm: Vùng Trung tâm Hungary, vùng Trung Transdanubia, vùng Bắc Đồng bằng Lớn, vùng Bắc Hungary, vùng Nam Transdanubia, vùng Nam Đồng bằng lớn, và vùng Tây Transdanubia. Hungary có ảnh hưởng đáng kể ở Trung và Đông Âu và là một cường quốc trong các vấn đề quốc tế. Các chính sách đối ngoại của Hungary được dựa trên bốn cam kết cơ bản: Hợp tác với các nước Đại Tây Dương, hội nhập châu Âu, phát triển quốc tế và tuân theo luật pháp quốc tế. Nền kinh tế Hungary khá cởi mở và dựa rất nhiều vào thương mại quốc tế. Hungary là thành viên của Liên Hợp Quốc kể từ tháng 12 năm 1955 và là thành viên của Liên minh châu Âu, NATO, OECD, Tập đoàn Visegrád, WTO, Ngân hàng Thế giới, AIIB và IMF. Hungary đã đảm nhận vị trí chủ tịch của Hội đồng Liên minh châu Âu trong nửa năm vào năm 2011 và tiếp theo là vào năm 2024. Năm 2015, Hungary là nhà tài trợ phát triển OECD, DAC lớn thứ năm trên thế giới, chiếm 0,13% Tổng thu nhập quốc dân. Thành phố thủ đô của Hungary, Budapest, là nơi có hơn 100 đại sứ quán và cơ quan. Đây cũng là nơi đặt trụ sở chính nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có Viện Đổi mới và Công nghệ Châu Âu, Trường Cao đẳng Cảnh sát châu Âu, Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, Trung tâm Quốc tế về chuyển đổi Dân chủ, Viện Giáo dục Quốc tế, Tổ chức Lao động quốc tế, Tổ chức di trú Quốc tế, Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, Trung tâm môi trường khu vực Trung và Đông Âu, Ủy ban Danube và các tổ chức khác. Từ năm 1989, mục tiêu chính sách đối ngoại hàng đầu của Hungary đã đạt được sự hội nhập vào các tổ chức kinh tế và an ninh phương Tây. Hungary đã tham gia chương trình Đối tác vì Hòa bình vào năm 1994 và đã tích cực hỗ trợ các nhiệm vụ hòa bình ở Bosna. Hungary từ năm 1989 cũng đã cải thiện mối quan hệ láng giềng bằng cách ký kết các hiệp ước cơ bản với România, Slovakia và Ukraina. Những điều này từ bỏ tất cả các yêu sách lãnh thổ nổi bật và đặt nền tảng cho các mối quan hệ mang tính xây dựng. Tuy nhiên, vấn đề về quyền dân tộc thiểu số Hungary ở România, Slovakia và Serbia khiến căng thẳng song phương bùng lên. Kể từ năm 2017, quan hệ với Ukraina nhanh chóng xấu đi về vấn đề người Hungary ở Ukraina. Hungary từ năm 1989 đã ký kết tất cả các hiệp ước liên quan đến OSCE và làm Chủ tịch Văn phòng của OSCE vào năm 1997. Ngay từ những năm 1960, Hungary đã tìm cách tự do hóa nền kinh tế một cách giới hạn và từ năm 1990 đã chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường. Gần 1/5 lực lượng lao động làm nông nghiệp, chủ yếu sản xuất ngô, lúa mì, kiều mạch, củ cải đường, hoa quả, hạt hướng dương và nho. Mặc dù có trữ lượng than đáng kể, Hungary vẫn phải nhập hơn một nửa số nhiên liệu. Có bô xít và khí tự nhiên. Du lịch và các ngành sản xuất thép, hoá chất, phân bón, dược liệu, máy móc và xe cộ đóng vai trò quan trọng; sản xuất điện năng đạt 35,104 tỷ kw/h, điện nguyên tử 35%, thủy điện 1%, tiêu thụ 33,317 tỷ kWh. Từ đầu những năm 1990, các xí nghiệp tư nhân được thành lập (80% GDP do tư nhân sản xuất ra) và đầu tư nước ngoài được khuyến khích thu hút 50% số dự án đầu tư nước ngoài vào khu vực Trung - Đông Âu) Trong những năm 1990-1994, kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Từ tháng 7 năm 1994, Chính phủ liên hiệp trung tả đã điều chỉnh một số chính sách kinh tế theo hướng tích cực. Nền kinh tế đang bước vào ổn định, thu nhập đầu người 91997) đạt 4.510 USD, tăng trưởng đạt 4,7%; Xuất khẩu đạt 22,6 tỷ USD, nhập khẩu 25,1 tỷ USD; nợ nước ngoài: 27 tỷ USD. Từ năm 1997, nền kinh tế bắt đầu đi vào quỹ đạo phát triển ổn định, GDP tăng trưởng 4-5%/năm. Từ cuối năm 2008, Hungary bị ảnh hưởng mạnh của khủng hoảng tài chính thế giới, thâm hụt ngân sách cao (9,5% GDP), mỗi năm phải trả lãi nợ nước ngoài tới 4% GDP, gánh nặng an sinh xã hội cao nhất khu vực Trung Âu (60% GDP) và buộc phải đề nghị IMF hỗ trợ 25 tỉ USD để cứu hệ thống ngân hàng khỏi sụp đổ, đồng thời phải áp dụng các biện pháp khắc khổ. Năm 2009 nền kinh tế tăng trưởng âm 6,3%. Sang năm 2010, kinh tế Hungary đã phục hồi, thâm hụt ngân sách giảm còn 3,8%, lạm phát 4,5%, dự trữ ngoại tệ khá (45,7 tỷ USD), GDP tăng trưởng 0,8%. Tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp còn cao (11,5%), nợ nước ngoài nhiều (134,6 tỷ USD), nợ công lên tới mức 80% GDP. Tính đến năm 2016, GDP của Hungary đạt 117.065 USD, đứng thứ 58 thế giới và đứng thứ 22 châu Âu. Các ngành công nghiệp chủ chốt. Chế tạo máy, thiết bị đo lường chính xác, ô tô, nhôm, lọc hóa dầu, hóa chất, dược phẩm, thiết bị y tế... Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu gồm: lúa mì, ngô, hạt hướng dương, củ cải ngọt, thịt gia súc, gia cầm, sữ Hungary quan hệ thương mại chủ yếu với các nước Châu Âu. Năm 2010, xuất khẩu của Hungary đạt 93,7 tỷ USD, các mặt hàng xuất chủ yếu gồm máy móc, thiết bị (chiếm 61%), các sản phẩm chế tạo khác (28,7%), thực phẩm (6,5%), nguyên liệu (2%)... Các đối tác chủ yếu là Đức (chiếm 25,5% tổng kim ngạch), Italia (5,7%), Anh (5,4%), Pháp (5,4%), România (5,3%), Slovakia (5%), Áo (4,5%). Nhập khẩu đạt 87,4 tỷ USD, các mặt hàng nhập chủ yếu gồm máy móc, thiết bị (50%), nhiên liệu và điện (11%), thực phẩm và nguyên liệ(25%), Trung Quốc (8,6%), Nga (7,3%), Áo (6%), Hà Lan (4,7%), Pháp (4,5%), Slovakia (4%), Italia (4%), Ba Lan (4%). Tính tới ngày 31 tháng 12 năm 2010, Hungary đã thu hút được 72,6 tỷ USD vốn FDI và đã đầu tư ra nước ngoài 20,5 tỷ USD. Từ năm 2004, Hungary bắt đầu dành ngân sách cho việc cấp ODA và ngân sách ODA năm 2010 đã đạt mức 0,17% tổng thu nhập quốc gia (GNI), đúng như cam kết với EU. Các lĩnh vực Hungary ưu tiên cấp ODA bao gồm: chia sẻ kinh nghiệm chính trị - kinh tế của Hungary, chuyển giao phần mềm công nghệ thông tin, giáo dục, y tế, nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, xử lý nước, phát triển hạ tầng, vận tải, đo vẽ bản đồ, bảo vệ môi trường. Tôn giáo Hungary (2011) Tính đến năm 2011, có 39% người Hungary là người Công giáo, 11,6% là Thần học Calvin, 2.2 là Giáo hội Luther, khoảng 2% theo các tôn giáo khác, 16,7% là không theo tôn giáo trong đó 1,5% là người vô thần. Trong cuộc thăm dò ý kiến ​​Eurobarometer năm 2005, 44% người Hungary đã trả lời họ tin rằng có một Thiên Chúa, 31% trả lời họ tin rằng có một số thế lực siêu nhiên, và 19% không tin rằng có một Thiên Chúa. Đa số người Hungary đã trở thành Kitô hữu trong thế kỷ XI. Vua đầu tiên của Hungary là István I, trở thành vị vua phương Tây đầu tiên theo Công giáo, mặc dù mẹ của ông là Sarolt, được rửa tội theo nghi lễ Chính Thống giáo Đông phương. Dân số Hungary vẫn chủ yếu là Công giáo cho đến thế kỷ XVI, khi cuộc Cải cách Kháng Cách diễn ra do Luther đề xướng đầu tiên và ngay sau đó là John Calvin, đã đưa Kháng Cách trở thành phái Kitô giáo lớn trong dân số. Trong nửa sau của thế kỷ XVI, các giáo sĩ dòng Tên đã dẫn đầu một chiến dịch khôi phục lại Công giáo trong toàn cõi Hungary. Các tu sĩ Dòng Tên đã thành lập các cơ sở giáo dục, bao gồm cả Đại học Công giáo Pázmány Péter, là một trong các trường đại học lâu đời nhất vẫn còn tồn tại ở Hungary. Vào thế kỷ XVII, Hungary một lần nữa trở thành quốc gia Công giáo. Phần phía đông của đất nước, đặc biệt là xung quanh thành phố Debrecen, vẫn còn có các cộng đồng Tin Lành đáng kể. Giáo hội Cải cách ở Hungary là nhà thờ lớn thứ hai ở Hungary với 1.622.000 tín hữu, và 600.000 tín hữu tích cực. Giáo hội có 1.249 hội chi nhánh và 27 Mục sư và 1.550 Truyền đạo. Giáo hội Cải cách hỗ trợ 129 cơ sở giáo dục và có 4 chủng viện thần học tại Debrecen, Sárospatak, và Budapest. Chính Thống giáo ở Hungary đã trở thành tôn giáo chủ yếu của một số dân tộc thiểu số trong cả nước, đặc biệt là cộng đồng người Romania, người Nga, người Ukraina, và người Serb. Hungary đã từng là quê hương của một cộng đồng Giáo hội Công giáo Armenia khá lớn. Họ thực hành theo nghi thức Armenia, nhưng họ đã hiệp thông với Giáo hội Công giáo Rôma dưới quyền tối thượng của giáo hoàng. Trong lịch sử, Hungary cũng từng có một cộng đồng Do Thái giáo lớn, đặc biệt là khi nhiều người Do Thái, bị khủng bố ở Nga, đã tìm thấy nơi trú ẩn trong Vương quốc Hungary vào thế kỷ XIX. Điều tra dân số của tháng 1 năm 1941 cho thấy 6,2% dân số, tức là 846.000 người, được coi là người Do Thái theo pháp luật phân biệt chủng tộc của thời điểm đó. Trong số này, 725.000 được coi là tín đồ Do Thái giáo. Một số người Do Thái Hungary đã có thể thoát khỏi Holocaust trong Thế chiến II, nhưng hầu hết (có lẽ 550.000 người), hoặc bị đưa đên các trại tập trung, từ đó phần lớn họ đã không trở lại, hoặc bị giết bởi phát xít Đức. Người Do Thái còn lại ở Hungary hiện nay sống ở trung tâm Budapest, đặc biệt là trong khu vực VI. Các giáo đường Do Thái lớn nhất châu Âu nằm ở Budapest. Trong những thập kỷ gần đây Phật giáo đã lan rộng đến Hungary, chủ yếu là Phật giáo Kim cương thừa thông qua các hoạt động truyền giáo của các tăng sĩ Phật giáo Tây Tạng. Vì ở Hungary, tôn giáo được khuyến khích nên các tổ chức Phật giáo khác nhau đã hình thành, trong đó có Giáo hội Phật giáo Hungary (Magyarországi Buddhista Egyházközösség), và những tổ chức khác, chủ yếu vẫn là Phật giáo hệ phái Kim cương thừa.
Phan Huỳnh Điểu (sinh ngày 11 tháng 11 năm 1924 - mất ngày 29 tháng 6 năm 2015) là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc cách mạng Việt Nam trong thế kỉ XX. Phần lớn các ca khúc của Phan Huỳnh Điểu là nhạc đỏ, nhưng ông cũng có nhiều ca khúc trữ tình đặc sắc. Ông được mệnh danh là "Con chim vàng của nền âm nhạc Việt Nam" và được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật vì những đóng góp của mình cho sự nghiệp âm nhạc Việt Nam, ngoài ra còn có Huân chương Độc lập hạng Ba và Huân chương Kháng chiến hạng Nhấ Ông sinh ngày 11 tháng 11 năm 1924 tại Đà Nẵng. Ông cũng là người con thứ 11 trong một gia đình cha làm thợ may. Tuy sinh ra và lớn lên ở Đà Nẵng, nhưng nguyên quán gốc của ông ở Điện Bàn, Quảng Nam. Ông bắt đầu hoạt động âm nhạc từ năm 1940 trong nhóm tân nhạc. Sau ca khúc đầu tay "Trầu cau", sáng tác của ông được biết rộng rãi là bài "Đoàn Vệ quốc quân" viết cuối 1945. Một nhạc phẩm nổi tiếng khác của ông là "Mùa đông binh sĩ" được viết khoảng giữa thập niên 1940. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Phan Huỳnh Điểu gia nhập quân đội, công tác ở Liên khu 5. Thời gian này ông viết một số ca khúc như "Nhớ ơn Hồ Chủ tịch", "Quê tôi ở miền Nam"... Năm 1955, sau khi tập kết ra Bắc, ông công tác ở Ban Nhạc vũ, Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1957, khi thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam, ông được cử vào Ban chấp hành là Ủy viên Thường vụ và công tác tại Hà Nội. Tháng 12 năm 1964, Phan Huỳnh Điểu vào chiến trường Trung Trung Bộ ở trong Ban văn nghệ Khu. Thời gian đó ông viết bản hành khúc "Ra tiền tuyến" với bút danh Huy Quang. Sau 1975, Phan Huỳnh Điểu chuyển về Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh và sống ở đó. Ông đã sáng tác và công bố hơn 100 ca khúc, quá nửa trong số đó là các bài hát phổ thơ. Âm nhạc của Phan Huỳnh Điểu có giai điệu trau chuốt, trữ tình, ngay cả trong thể loại hành khúc, như "Cuộc đời vẫn đẹp sao, Hành khúc ngày và đêm". Phan Huỳnh Điểu còn có nhiều ca khúc về đề tài tình yêu thành công như "Tình trong lá thiếp, Những ánh sao đêm, Bóng cây Kơnia, Anh ở đầu sông em cuối sông, Sợi nhớ sợi thương, Ở hai đầu nỗi nhớ, Đêm nay anh ở đâu, Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu, Người ấy bây giờ đang ở đâu, Tình ca Đămbri, Tia nắng"... Ông đã phổ nhạc thành công cho rất nhiều bài thơ. Ngoài ra, ông còn sáng tác một số tác phẩm dành cho thiếu nhi, tiêu biểu là: "Đội kèn tí hon, Nhớ ơn Bác"... Những nghệ sĩ thể hiện thành công tác phẩm của ông có thể kể đến Nghệ sĩ Nhân dân Quốc Hương, Nghệ sĩ ưu tú Vũ Dậu, Nghệ sĩ ưu tú Kiều Hưng và Nghệ sĩ ưu tú Tuấn Phong. Sau khi có dấu hiệu không khỏe và sốt nhẹ vào ngày 23 tháng 6 năm 2015, ông được bác sĩ đến khám tại nhà và được thông báo bị thiếu máu. Sau đó, ông được nhập viện vào sáng ngày 26 tháng 6 trong tình trạng còn khỏe và tỉnh táo. Sau 2 ngày nhập viện, ông bị hôn mê sâu và qua đời vào lúc 10 giờ 15 phút sáng ngày 29 tháng 6 tại bệnh viện Thống Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) vì sốt xuất huyết. Linh cữu của nhạc sĩ được quàn tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, Thành phố Hồ Chí Minh. và lúc 4h30 sáng 10 tháng 7, gia đình, người thân, bạn bè, văn nghệ sĩ... đã rải tro cốt của ông về với sông Hàn (Đà Nẵng) theo di nguyện của cố nhạc sĩ. Tối ngày 7 tháng 7 năm 2015, đêm nhạc tri ân, tưởng nhớ hai nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và nhạc sĩ Phan Nhân do Báo Công an TP. HCM phối hợp với Ngân hàng BIDV và Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức đã diễn ra trong không khí hết sức ấm áp. Chương trình mở màn với nét viết hiện trên màn hình: “ngày 29 tháng 6 năm 2015” (ngày mất của hai nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, Phan Nhân), hình ảnh điện tâm đồ, những trang nhạc, bút ngừng viết… Người thân, đồng nghiệp, bạn bè, những người yêu mến hai nhạc sĩ gạo cội của nền âm nhạc Việt Nam đã được thưởng thức lại ca khúc bất hủ đi cùng năm tháng của hai nhạc sĩ qua những phần trình bày hết sức tuyệt vời của các nghệ sĩ tham gia chương trình. Trong cuộc phỏng vấn đăng "báo Thanh Niên" ngày 27 tháng 4 năm 2006, nhạc sĩ nói: "Tôi cho rằng thơ phổ nhạc đạt đến mức độ cộng hưởng tâm hồn của nhạc sĩ và thi sĩ. Tìm thấy một bài thơ phù hợp, nhạc sĩ phổ nhạc và gửi gắm tâm trạng mình. Xét đến cùng, chất thơ trong ca từ của một nhạc sĩ thuần túy không thể bằng được chất thơ trong ca từ vốn là bài thơ của một nhà thơ. Nhà thơ chắt chiu từng con chữ, nhạc sĩ chăm chút từng nốt nhạc sẽ cho ra một tác phẩm toàn vẹn và đầy đặn. Bởi vậy, tôi hết sức thích phổ nhạc cho thơ. Thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh, thơ một cánh, nhạc một cánh cho tác phẩm bay lê"
Lực lượng biệt kích Hoa Kỳ và đồng minh trong Chiến tranh Việt Nam Lực lượng biệt kích Hoa Kỳ và đồng minh trong Chiến tranh Việt Nam nói về những đơn vị quân sự đặc biệt trong Chiến tranh Việt Nam hoạt động dưới sự điều hành trực tiếp hoặc chỉ đạo gián tiếp của CIA và sau đó là MACVSOG. Cố vấn và huấn luyện lực lượng biệt kích Việt Nam Cộng hòa. Tháng 2 năm 1956, sau khi tiếp nhận căn cứ GCMA ("Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés", Lực lượng biệt kích không vận hỗn hợp) của Pháp tại Nha Trang, với sự trợ giúp của Phái bộ Cố vấn Quân sự ("Military Assistance Advisory Group" - "MAAG") Mỹ tại Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cho thành lập Trung tâm Huấn luyện Biệt động đội, nhằm xây dựng cơ sở huấn luyện biệt kích cho VNCH với ngân sách do Mỹ đài thọ. Giữa năm 1957, CIA tuyển mộ một số thành viên lực lượng Mũ nồi xanh của Liên đoàn Biệt kích số 1 Hoa Kỳ sang Việt Nam làm nhiệm vụ huấn luyện 58 binh sĩ và sĩ quan VNCH để thành lập đơn vị biệt kích đầu tiên của VNCH dước tên gọi Liên đoàn Quan sát số 1, với nhiệm vụ tình báo quân sự, bí mật xâm nhập hàng ngũ đối phương ở khắp nông thôn miền Nam. Về danh nghĩa, Liên đoàn Quan sát số 1 trực thuộc Sở Liên lạc, sau đổi tên thành Sở Khai thác Địa hình, trực thuộc Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Trên thực tế, toàn bộ công tác huấn luyện và chỉ huy hoạt động biệt kích đều do phân bộ CIA tại Việt Nam phụ trách. Phía VNCH chỉ làm công tác tuyển mộ và tham gia công tác điều hành. Cuối năm 1958, dưới sự tài trợ của Ban ngoại vụ Phân bộ CIA tại Việt Nam, Sở Liên lạc phát triển một cơ quan bí mật, mang mật danh Phòng 45, đặc trách công tách huấn luyện các toán biệt kích phá hoại, thám sát, trinh sát và viễn thám, thu thập thông tin tình báo quân sự ở ngoài lãnh thổ VNCH, gồm Campuchia, Lào, và quan trọng nhất là sâu trong vùng kiểm soát của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Toàn bộ thành viên người Việt của các toán biệt kích thuộc phòng 45 đều là người gốc miền Bắc, gồm cả quân sự lẫn dân sự, trong đó có một số lượng lớn là người dân tộc thiểu số, với mục đích dễ dàng xâm nhập vào sâu lãnh thổ miền Bắc. Một cơ quan khác là Phòng 55, đặc trách các hoạt động biệt kích trong vùng kiểm soát của đối phương trên lãnh thổ VNCH, cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Ấn tượng trước khả năng tác chiến của các toán biệt kích, tháng 2 năm 1960, Tổng thống Diệm đã chỉ thị thành lập các đại đội Biệt động quân, huấn luyện kỹ năng hành quân độc lập, tác chiến chống du kích theo mô hình của các toàn biệt kích. Một số sĩ quan người Việt thuộc Liên đoàn quan sát số I được chuyển sang làm thành phần nòng cốt của Biệt động quân. Chiến thuật tác chiến ban đầu của các đại đội Biệt động quân chủ yếu là trang bị vũ khí gọn nhẹ với quần áo bà ba đen, cơ động truy kích và tiêu diệt các đơn vị du kích Cộng sản hoạt động trên địa bàn. Ngoài ra, từ năm 1961, Sở còn thành lập thêm một số đại đội Biệt cách dù biệt lập để làm thành phần hỗ trợ, ứng cứu cho những toán nhảy qua Lào hay ở những vùng biên giới nguy hiểm. Bên cạnh đó, một nhiệm vụ khác, tuy không chính thức, nhưng được xem là ưu tiên nhất của Sở Liên lạc là chỉ huy lực lượng cơ động tinh nhuệ chuyên dùng để bảo vệ Phủ Tổng thống chống những cuộc đảo chính. Chính vì vậy, mặc dù các hoạt động tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc tỏ ra kém hiệu quả, quân số của Liên đoàn quan sát số 1 vẫn phát triển không ngừng. Tháng 11 năm 1961, Liên đoàn quan sát số 1 được đổi tên thành Liên đoàn 77. Tháng 2 năm 1963, Liên đoàn 31 được thành lập. Ngày 15 tháng 3 năm 1963, Tổng thống Diệm ra quyết định thành lập Lực lượng đặc biệt trên cơ sở bộ máy của Sở Khai thác địa hình và 2 đơn vị tác chiến là Liên đoàn biệt kích 77 và 31. Về nguyên tắc, Lực lượng đặc biệt được chuyển thuộc sang Bộ Quốc phòng, có quy mô tương đương cấp Lữ đoàn, nhưng trên thực tế, Tổng thống có toàn quyền điều động đơn vị này thông qua một cơ quan chỉ huy trực tiếp là Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống, mà thực chất chính các Bộ chỉ huy Lực lượng đặc biệt, do Đại tá Lê Quang Tung làm Chỉ huy trưởng. Tái tổ chức Lực lượng Dân binh Tự vệ Mèo. Ngay từ năm 1951, khi cuộc chiến tranh Đông Dương dần chuyển sang chiều hướng có lợi cho Việt Minh, Thiếu tá Roger Trinquier, thuộc Lực lượng biệt kích không vận hỗn hợp ("Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés" - GCMA), thông qua từ trưởng Touby Ly Foung, đã tổ chức và tài trợ cho lực lượng dân binh biệt kích người Mông tại vùng Thượng Lào, dùng chiến thuật du kích, gây nhiều khó khăn cho Quân đội Nhân dân Việt Nam và Pathét Lào. Tuy nhiên, sau khi quân Pháp rút quân khỏi Đông Dương, hầu hết các đơn vị biệt kích này bị bỏ rơi. Một số ít được Touby Ly Foung giữ lại làm đội cận vệ riêng. Năm 1959, 2 nhân viên CIA là Lucien Conein và Edgar "Pop" Buell thâm nhập vùng Thượng Lào liên kết với các thủ lĩnh người Mông nhằm tạo đồng minh trong cuộc chiến chống lại hoạt động của lực lượng Cộng sản. Thay vì chọn Touby Ly Foung, vốn đang tìm kiếm vị thế chính trị trong chính phủ liên hiệp Lào, CIA lại chọn một thủ lĩnh Mông trẻ, quyết liệt hơn để chỉ huy lực lượng dân binh biệt kích mới do CIA trực tiếp huấn luyện và điều hành. Đó chính là Thiếu tá Vàng Pao. Rút lui khỏi chiến trường. Cũng chiến đấu trong hàng ngũ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng được trực tiếp tuyển mộ, trả lương và chỉ huy bởi người Mỹ, là các binh lính biệt kích người gốc Nùng và người Thượng ("Montagnard"). Có khoảng 500 người gốc Bắc được huấn luyện và thả dù ra miền Bắc để thu thập tin tức, phá hoại, nhưng tất cả đều bị giết hoặc bắt sống, bị đi tù hàng chục năm. Năm 1973, khi quân đội VNDCCH tiến hành trao đổi tù binh với Hoa Kỳ và quân Việt Nam cộng hòa, phía Việt Nam coi những lính biệt kích này là lính đánh thuê, không được xếp loại tù binh chiến tranh nên không được trao trả. Hiện nay chừng 150 người còn sống đã đi định cư ở Hoa Kỳ, nhưng vẫn còn nhiều người còn ở Việt Nam. Nhiều người khác phục vụ trong các đội biệt kích SOG của Mỹ. Tổng cộng lực lượng biệt kích SOG lên đến trên 2.000 lính Mỹ và chừng hơn 8.000 lính đánh thuê, phần nhiều là người Thượng và người Nùng và một số người Việt. Số quân Mỹ đa phần mang cấp bậc sĩ quan và hạ sĩ quan, đa phần là các binh lính thiện chiến, dày dặn kinh nghiệm, nhiều thành tích chiến trường, được tuyển chọn kỹ lưỡng từ nhiều binh chủng. Số quân đánh thuê bản xứ cũng được huấn luyện và trang bị đặc biệt. Các sĩ quan Việt Nam Cộng hòa trong các đơn vị phối thuộc, nhất là các phi công, cũng có nhiều người được đánh giá là kiệt xuất, ông Nguyễn Cao Kỳ khi còn chưa tham gia chính trường cũng đã từng tham gia bay tung biệt kích dù ra bắc. Rất nhiều người bị giết trong các điệp vụ biệt kích. Thông thường một toán biệt kích thường bao gồm 2-3 lính Mỹ, và chừng 6-9 lính đánh thuê người Nùng hoặc người Thượng. Ngoài ra người Mỹ còn thành lập nhiều đại đội biệt kích gọi là "Hatchet force" hay "Mike force". Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng có các lực lượng biệt kích tương tự, nhưng không thấy nói đến sự phối hợp giữa quân biệt kích Mỹ và biệt kích Việt Nam Cộng hòa, vì lý do an ninh, tất cả các hoạt động của SOG đều do người Mỹ đảm trách. Nhiệm vụ của các toán biệt kích rất nguy hiểm, nhiều toán bị tiêu diệt hoàn toàn, các lực lượng giải cứu cũng phải chấp nhận nhiều thiệt hại khi giải cứu các nhóm biệt kích, bị mất nhiều trực thăng và phi công giỏi. Cho tới 1972, hoạt động của các nhóm biệt kích trở nên đặc biệt khó khăn, thời gian hoạt động của các toán biệt kích từ khi được trực thăng vận vào hậu phương đối phương dọc đường mòn Hồ Chí Minh giảm đi từ hàng tuần lễ như khi mới bắt đầu chương trình còn vài giờ. Họ nhanh chóng bị phát hiện, bao vây, phải được ứng cứu để rút ra nếu không muốn bị bao vây tiêu diệt hoặc bắt sống. Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày càng trở nên hữu hiệu trong các hoạt động chống biệt kích, như sử dụng các đội đặc nhiệm chống biệt kích, phối hợp các lực lượng tại chỗ để truy quét, đặt các quan sát viên ở các vùng khả nghi là bãi đáp trực thăng, cài người xâm nhập vào căn cứ biệt kích, thậm chí dùng đặc công đánh vào căn cứ biệt kích ở ngay Đà Nẵ Đặc biệt, khi chiến tranh kết thúc, người Mỹ mới được biết là tin tức hoạt động của các nhóm biệt kích bị lộ từ những nguồn cao nhất. Một trong những tùy viên của tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam Cộng hòa đã cung cấp những tin tức chính xác về thời gian, địa điểm hoạt động của các toán biệt kích SOG, nên Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có thể tiến hành các hữu hiệu các biện pháp đối phó. Một trong những tổn thất nặng nề nhất của SOG là trận Làng Vây vào tháng 2 năm 1968. Chừng một tiểu đoàn Quân Giải phóng có xe tăng yểm trợ đã chọc thủng hàng rào phòng ngự Làng Vây do nhiều đại đội biệt kích Thượng trấn giữ, tổng số lên đến hơn 500 người, được 24 cố vấn Mỹ chỉ huy. Căn cứ Làng Vây thất thủ, Bộ đội Quân Giải phóng chiếm giữ làng Vây trong nhiều giờ trước khi rút đi, các hoạt động cứu viện của Mỹ quá yếu ớt và quá chậm nên không có tác dụng gì, và lại mất thêm một số thương vong nữa. Lính thủy đánh bộ Mỹ từ căn cứ Khe Sanh cũng từ chối ứng cứu Làng Vây do sợ bị phục kích. Kết quả lực lượng phòng ngự Làng Vây bị tiêu diệt gần như hoàn toàn, người Mỹ cũng bỏ hoang căn cứ Làng Vây từ đó. Hiện chưa có số liệu thống kê, chỉ biết rằng riêng số lính biệt kích Mỹ có ít nhất hơn 300 người bị giết, trong đó có 57 người mất tích, chưa kể đến số phi công bị bắn rơi và nhân lực phụ trợ, hơn thế nữa, đa phần số bị chết và bị thương đều là hạ sĩ quan và sĩ quan. Theo Schultz, thương vong trong các toán SOG lên đến trên 50%, nhiều người bị thương nhiều lần. Theo Plaster, nếu một lính biệt kích SOG đi đến lần thứ 12 mà vẫn chưa bị giết thì đã là một điều đáng ngạc nhiên. Số lính đánh thuê người Nùng và người Thượng chắc chắn còn bị thương vong cao hơn gấp nhiều lần. Sau khi Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng ngày 30 tháng 4 năm 1975, có nhiều toán biệt kích người gốc Khmer Krom bỏ chạy sang Campuchia, định kết hợp với chính quyền Khmer Đỏ tiếp tục cuộc chiến chống Việt Nam. Tuy nhiên số biệt kích này, tổng cộng lên đến 2000 người bị quân Khmer Đỏ nghi ngờ và tàn sát. Một số khác gia nhập lực lượng FULRO trở lại Việt Nam tiếp tục chống phá chính quyền Cộng sản. Những kết quả muôn mặt. Đầu năm 1961, Tổng thống Kennedy ký lệnh triển khai “chiến dịch chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc Việt Nam”, với mục đích “đánh vào nguồn gốc xâm lược” từ Bắc Việt Nam. Chiến dịch này nằm dưới sự chỉ đạo của CIA, sau được Lầu Năm Góc tiếp quản năm 1964, đã đề ra các biện pháp chủ yếu là sử dụng Lực lượng Đặc biệt của Việt Nam Cộng hòa (gián điệp biệt kích) còn gọi là "“Liên đội Quan sát số 1”" thuộc Sở Liên lạc Tổng thống phủ (cơ quan tình báo trung ương Việt Nam Cộng hòa), gồm phần đông là lính Việt Nam Cộng hòa gốc từ miền Bắc di cư do CIA và Lực lượng Đặc biệt Mỹ trực tiếp chỉ đạo, huấn luyện, trang bị để đột nhập vào phá hoại miền Bắc. Hình thức chủ yếu là sử dụng các Tiểu đội Biệt kích Dù. Đến năm 1968 thì các chiến dịch đều đã thất bại nặng nề khi gần 500 lính biệt kích bị giết, bị bắt hoặc trỏ thành điệp viên hai mang Cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara và cựu Tư lệnh các Lực lượng Mỹ tại Việt Nam, tướng William C. Westmoreland, đã bị chỉ trích nặng nề vì chiến dịch trên. Chương trình đã được đặc tả trong cuốn sách của Sedgwick Tourison nhan đề "Secret Army, Secret War: Washington's Tragic Spy Operation in North Vietnam" (Naval Institute Special Warfare) viết tháng 9 năm 1995. Sự thât bại của chiến dịch này thảm hại đến nỗi nếu chỉ riêng ngành Công an Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa với 19 chuyên án đã câu nhử, bắt sống và tiêu diệt được 121 lính biệt kích.
Tập đoàn Ô tô Toyota (トヨタ自動車株式会社 () (Phong Điền Tự động xa Châu thức Hội xã), Toyota Jidōsha KK) là một nhà sản xuất ô tô đa quốc gia của Nhật Bản có trụ sở tại Toyota, Aichi, Nhật Bản. Trong năm 2017, cơ cấu doanh nghiệp của Toyota bao gồm 364.445 nhân viên trên toàn thế giới. ính đến năm 2018[ [cập nhật]], đây là công ty lớn thứ sáu trên thế giới tính theo doanh thu. Tính đến năm 2017, Toyota là nhà sản xuất ô tô lớn nhất. Toyota là nhà sản xuất ô tô đầu tiên trên thế giới sản xuất hơn 10 triệu xe mỗi năm mà họ đã thực hiện kể từ năm 2012, khi đó họ cũng báo cáo việc sản xuất chiếc xe thứ 200 triệu của mình. ính đến năm 2014[ [cập nhật]], Toyota là công ty niêm yết lớn nhất tại Nhật Bản theo vốn hóa thị trường (trị giá hơn gấp đôi so với SoftBank xếp thứ 2) và theo doanh thu. Toyota là công ty dẫn đầu thị trường thế giới về doanh số bán xe điện hybrid và là một trong những công ty lớn nhất khuyến khích áp dụng thị trường xe hybrid trên toàn cầu. Toyota cũng là công ty dẫn đầu thị trường về xe chạy bằng pin nhiên liệu hydro. Doanh số toàn cầu tích lũy của các mẫu xe chở khách hybrid của Toyota và Lexus đạt mốc 10 triệu vào tháng 1/2017. Họ xe Prius của công ty là bảng tên xe lai bán chạy nhất thế giới với hơn 6 triệu xe đã được bán trên toàn thế giới tính đến tháng 1 năm 2017. Công ty được thành lập bởi Toyoda Kiichiro vào năm 1937, như một công ty con của công ty Toyota Industries của cha mình để tạo ra ô tô. Ba năm trước, vào năm 1934, trong khi vẫn là một bộ phận của Toyota Industries, họ đã tạo ra sản phẩm đầu tiên của mình, Toyota Type A engine và chiếc xe chở khách đầu tiên vào năm 1936, Toyota AA. Tập đoàn ô tô Toyota sản xuất xe dưới năm thương hiệu, bao gồm thương hiệu Toyota, Hino, Lexus, Ranz và Daihatsu. Nó cũng nắm giữ 16,66% cổ phần của Subaru Corporation, 5,9% cổ phần của Isuzu, 5,5% cổ phần của Mazda, cũng như liên doanh với hai công ty ở Trung Quốc (GAC Toyota và Tứ Xuyên FAW Toyota Motor), một ở Ấn Độ (Toyota Kirloskar), một ở Cộng hòa Séc (TPCA), cùng với một số công ty "không phải ô tô". TMC là một phần của Tập đoàn Toyota, một trong những tập đoàn lớn nhất tại Nhật Bản. Toyota được niêm yết trên thị trường chứng khoán Luân Đôn, Sở giao dịch chứng khoán New York và Sở giao dịch chứng khoán Tokyo. Hội đồng quản trị. Danh sách cựu chủ tịch. "Vào năm 1950, Toyota đã được chia thành Toyota Motor Co. và Toyota Motor Sales Co. (công ty bán hàng của Toyota); hai công ty này đã sáp nhập vào năm 1982 để tạo ra một công ty thống nhất, với ông Eiji Toyoda, Tổng giám đốc Công ty Toyota Motor lúc đó, trở thành chủ tịch. Các chủ tịch được liệt kê dưới đây trước năm 1982 chỉ áp dụng cho Công ty Toyota Motor trước khi sáp nhập." Danh sách cựu tổng giám đốc. "Tương tự với vị trí chủ tịch, vào năm 1982, ông Shoichiro Toyoda, tổng giám đốc Công ty Bán hàng Toyota Motor lúc đó, trở thành Tổng giám đốc. Các Tổng giám đốc trước năm 1982 được liệt kê dưới đây chỉ áp dụng cho Công ty Toyota Motor trước khi sáp nhập." Vào năm 1924, Sakichi Toyoda phát minh ra cây cơ điện tự động Toyoda Model G. Nguyên tắc "jidoka", có nghĩa là máy dừng lại khi xảy ra sự cố, sau đó trở thành một phần của Hệ thống Sản xuất Toyota. Các cây cơ được xây dựng trên một dây chuyền sản xuất nhỏ. Vào năm 1929, bằng sáng chế cho cây cơ điện tự động đã được bán cho công ty Anh Platt Brothers, tạo ra vốn khởi đầu cho phát triển ô tô. Dưới sự chỉ đạo của con trai người sáng lập, Kiichiro Toyoda, Toyoda Automatic Loom Works thành lập một Bộ phận Ô tô vào ngày 1 tháng 9 năm 1933 và chính thức tuyên bố ý định bắt đầu sản xuất ô tô vào ngày 29 tháng 1 năm 1934. Một nguyên mẫu động cơ Toyota Type A được hoàn thành vào ngày 25 tháng 9 năm 1934, với chiếc sedan nguyên mẫu đầu tiên của công ty, chiếc A1, hoàn thành vào tháng sau. Vì Kiichiro có ít kinh nghiệm về sản xuất ô tô, anh ban đầu tập trung vào sản xuất xe tải; chiếc xe tải đầu tiên của công ty, chiếc G1, hoàn thành vào ngày 25 tháng 8 năm 1935 và ra mắt vào ngày 21 tháng 11 tại Tokyo, trở thành mẫu xe sản xuất đầu tiên của công ty. Được mô phỏng theo một chiếc xe tải của Ford thời đó, chiếc G1 được bán với giá 2.900 Yên, rẻ hơn 200 Yên so với chiếc xe tải của Ford. Tổng cộng, đã sản xuất 379 chiếc xe tải G1. Vào tháng 4 năm 1936, chiếc xe hơi hạng sang đầu tiên của Toyoda, Model AA, đã được hoàn thành. Giá bán là 3.350 Yên, rẻ hơn 400 Yên so với xe hơi của Ford hoặc GM. Nhà máy của công ty tại Kariya đã hoàn thành vào tháng 5. Vào tháng 7, công ty thực hiện đơn hàng xuất khẩu đầu tiên, gồm bốn chiếc xe tải G1 xuất khẩu đến miền đông bắc Trung Quốc. Vào ngày 19 tháng 9 năm 1936, chính phủ hoàng gia Nhật Bản chính thức chỉ định Toyoda Automatic Loom Works là nhà sản xuất ô tô. Ban đầu, các phương tiện được bán dưới tên "Toyoda" (トヨダ), từ tên gia đình của người sáng lập công ty, Kiichirō Toyoda. Vào tháng 9 năm 1936, công ty tổ chức một cuộc thi công cộng để thiết kế một logo mới. Trong số 27.000 đề xuất, đề xuất chiến thắng là ba chữ cái "katakana" tiếng Nhật cho "Toyoda" trong một vòng tròn. Tuy nhiên, Rizaburo Toyoda, người đã kết hôn với gia đình và không sinh ra với tên đó, thích "Toyota" () vì viết bằng tám nét bút (một con số may mắn) trong tiếng Nhật, trực quan đơn giản hơn (bỏ đi dấu điệu ở cuối), và có một phụ âm voiceless thay vì âm có voice (phụ âm có âm thanh "mờ" hoặc "trơn" so với phụ âm không có voice, có âm thanh "rõ"). Vì "toyoda" có nghĩa là "ruộng lúa màu mỡ", việc thay đổi tên cũng ngăn chặn công ty bị liên kết với nông nghiệp cổ truyền. Từ mới này đã được đăng ký thương hiệu và công ty bắt đầu hoạt động kinh doanh vào ngày 28 tháng 8 năm 1937, với tên là Công ty Ô tô Toyota Ltd. Rizaburo Toyoda, em rể của Kiichiro Toyoda, được bổ nhiệm làm Chủ tịch công ty lần đầu tiên, còn Kiichiro làm Phó Chủ tịch. Toyoda Automatic Loom Works chính thức chuyển giao sản xuất ô tô cho thực thể mới vào ngày 29 tháng 9. Chính phủ Nhật Bản đã hỗ trợ công ty bằng cách ngăn chặn các đối thủ nước ngoài như Ford và General Motors nhập khẩu ô tô vào Nhật Bản. Khi bắt đầu Thế chiến II, Toyota gần như chỉ sản xuất xe tải tiêu chuẩn cho Quân đội Nhật Bản, mà trước tiên trả một phần năm giá trước và số tiền còn lại bằng tiền mặt khi giao hàng. Nhật Bản bị tàn phá nặng nề trong Thế chiến II, và các nhà máy của Toyota, được sử dụng cho nỗ lực chiến tranh, không thoát được tác động. Vào ngày 14 tháng 8 năm 1945, một ngày trước khi đầu hàng của Nhật Bản, Nhà máy Koromo của Toyota bị các lực lượng Đồng Minh đánh bom. Sau khi đầu hàng, các lực lượng đang chiếm đóng dẫn đầu bởi Mỹ đã cấm sản xuất ô tô hạng sang tại Nhật Bản. Tuy nhiên, các nhà sản xuất ô tô như Toyota được phép bắt đầu xây dựng xe tải để sử dụng dân dụng, nhằm tái thiết cơ sở hạ tầng của quốc gia. Quân đội Mỹ cũng đã ký hợp đồng với Toyota để sửa chữa các phương tiện của mình. Vào năm 1947, xung đột Chiến tranh Lạnh toàn cầu nổi lên giữa Liên Xô Xô viết và Hoa Kỳ, hai quốc gia đã từng là đồng minh trong Thế chiến II. Ưu tiên của Hoa Kỳ đã thay đổi (sự "đảo chiều") từ việc trừng phạt và cải cách Nhật Bản sang đảm bảo sự ổn định chính trị nội bộ, tái xây dựng kinh tế và, một phần, quân sự hóa lại Nhật Bản. Dưới các chính sách mới này, vào năm 1949, các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản được phép tiếp tục sản xuất ô tô hạng sang, nhưng đồng thời, một chương trình ổn định kinh tế mới để kiểm soát lạm phát đã khiến ngành công nghiệp ô tô gặp khó khăn nghiêm trọng về nguồn vốn, trong khi nhiều chủ xe tải không trả được khoản vay của họ. Cuối cùng, Ngân hàng Nhật Bản, ngân hàng trung ương của quốc gia, đã cứu công ty, với yêu cầu công ty thực hiện các cải cách. Khi bước vào những năm 1950, Toyota đã vượt qua khủng hoảng tài chính và trở thành một công ty nhỏ hơn, đóng cửa các nhà máy và sa thải công nhân. Cùng lúc đó, Chiến tranh Triều Tiên bùng phát, và vì nằm gần tuyến chiến trường, Quân đội Mỹ đã đặt hàng 1.000 xe tải từ Toyota. Đơn đặt hàng này đã giúp cải thiện nhanh chóng hiệu suất kinh doanh của công ty đang gặp khó khăn. Năm 1950, các nhà điều hành công ty, bao gồm người họ hàng của Kiichiro là Eiji Toyoda, đã đi du lịch đến Hoa Kỳ để được đào tạo tại Công ty Ford và quan sát hoạt động của hàng chục nhà sản xuất Mỹ. Kiến thức họ thu được trong chuyến đi, cùng với những gì công ty đã học được từ việc sản xuất máy dệt, đã tạo nên The Toyota Way (một triết lý quản lý) và Hệ thống Sản xuất Toyota (một phương pháp sản xuất siêu hiệu quả) đã biến công ty trở thành một người lãnh đạo trong ngành công nghiệp sản xuất. Toyota bắt đầu phát triển chiếc xe hơi hạng sang đầu tiên của mình, Toyopet Crown, vào tháng 1 năm 1952. Trước đó, Toyota đã thuê ngoài thiết kế và chế tạo thân xe ô tô, sau đó gắn lên khung xe tải do Toyota sản xuất. Dự án này là một thử thách lớn đối với Toyota, công ty sẽ cần xây dựng thân xe và phát triển một khung xe mới phải thoải mái, nhưng vẫn chịu được những con đường bùn lầy, chậm chạp và không được lát nhựa phổ biến ở Nhật Bản vào thời điểm đó. Dự án này đã được nhà sáng lập Kiichiro Toyoda ủng hộ trong nhiều năm, nhưng ông đã tử nạn bất ngờ vào ngày 27 tháng 3 năm 1952. Các mẫu nguyên mẫu đầu tiên được hoàn thành vào tháng 6 năm 1953 và bắt đầu kiểm tra kỹ lưỡng, trước khi Crown được bán ra thị trường vào tháng 8 năm 1955. Xe được đánh giá tích cực trên toàn thế giới. Sau khi giới thiệu Crown, Toyota bắt đầu mở rộng mạnh mẽ vào thị trường xuất khẩu. Toyota bắt đầu gửi các bộ phận gắn ráp của mẫu xe Land Cruiser tới các nước Latinh vào tháng 11 năm 1955, gửi các Land Cruiser hoàn chỉnh tới Miến Điện (nay là Myanmar) và Philippines vào năm 1956 như là một phần của sự bồi thường chiến tranh từ chính phủ Nhật Bản, thành lập một chi nhánh tại Thái Lan vào tháng 6 năm 1957, và gửi các Land Cruiser tới Úc vào tháng 8 năm 1957. Toyota thành lập một nhà máy sản xuất tại Brasil vào năm 1958, đây là nhà máy đầu tiên của công ty ngoài Nhật Bản. Toyota gia nhập thị trường Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 1958, cố gắng bán mẫu xe Toyopet Crown. Công ty gặp vấn đề gần như ngay lập tức, Crown không được người tiêu dùng Hoa Kỳ đón nhận vì giá cao và công suất yếu (do thiết kế cho đường xá xấu của Nhật Bản, không phải hiệu suất cao). Nhằm đáp ứng, xuất khẩu Crown tới Hoa Kỳ đã bị đình chỉ vào tháng 12 năm 1960. Sau cái chết của Kiichiro, người họ hàng Eiji Toyoda đã lãnh đạo công ty trong hai thập kỷ. Eiji đã giúp thành lập nhà máy đầu tiên của công ty độc lập so với nhà máy Loom Works. Vào đầu những năm 1960, nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ, một giai đoạn được biết đến với tên gọi là Kỳ tích kinh tế Nhật Bản. Khi nền kinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng lên, họ có khả năng mua được xe hơi. Đồng thời, chính phủ Nhật Bản đầu tư mạnh vào cải thiện hạ tầng giao thông đường bộ. Để tận dụng cơ hội này, Toyota và các nhà sản xuất ô tô khác bắt đầu cung cấp những chiếc ô tô kinh tế giá rẻ như Toyota Corolla, trở thành mẫu ô tô bán chạy nhất trên toàn thế giới. Toyota cũng thành công tại Hoa Kỳ vào năm 1965 với mẫu xe nhỏ Toyota Corona, được thiết kế lại đặc biệt cho thị trường Mỹ với động cơ mạnh mẽ hơn. Corona giúp tăng doanh số bán hàng của Toyota tại Mỹ lên hơn 20.000 đơn vị vào năm 1966 (tăng gấp ba lần) và giúp công ty trở thành thương hiệu nhập khẩu bán chạy thứ ba tại Hoa Kỳ vào năm 1967. Đầu tư sản xuất đầu tiên của Toyota tại Hoa Kỳ diễn ra vào năm 1972 khi công ty ký kết thỏa thuận với Atlas Fabricators để sản xuất thùng xe tải tại Long Beach, nhằm tránh 25% "chicken tax" đối với xe tải nhẹ nhập khẩu. Bằng cách nhập khẩu xe tải dưới dạng chassis cab (xe tải không có thùng), phương tiện chỉ phải chịu mức thuế 4%. Sau khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ, Atlas sẽ sản xuất thùng xe tải và gắn chúng vào xe tải. Mối hợp tác này thành công và hai năm sau đó, Toyota mua lại Atlas. Kỳ tích năng lượng của thập kỷ 1970 là một điểm khởi đầu quan trọng trong ngành công nghiệp ô tô tại Hoa Kỳ. Trước khủng hoảng, xe lớn và nặng với động cơ mạnh mẽ nhưng không hiệu quả đã trở nên phổ biến. Nhưng sau đó, người tiêu dùng bắt đầu đòi hỏi những chiếc xe nhỏ chất lượng cao và tiết kiệm nhiên liệu. Các nhà sản xuất ô tô trong nước, đang gặp khó khăn trong thời kỳ suy thoái, đã gặp khó khăn trong việc sản xuất những chiếc xe này có lợi nhuận, trong khi các nhà sản xuất ô tô nước ngoài như Toyota lại có vị thế tốt. Điều này, cùng với sự gia tăng của ý kiến chống Nhật Bản, đã thúc đẩy Quốc hội Hoa Kỳ xem xét các hạn chế nhập khẩu để bảo vệ ngành ô tô trong nước. Những năm 1960 cũng chứng kiến sự mở nhẹ của thị trường ô tô Nhật Bản đối với các công ty nước ngoài. Nhằm tăng cường ngành công nghiệp ô tô của Nhật Bản trước khi thị trường mở cửa, Toyota mua cổ phần trong các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản khác. Điều đó bao gồm việc mua cổ phần trong Hino Motors, một nhà sản xuất xe tải thương mại lớn, xe buýt và động cơ diesel, cùng với cổ phần 16,8% trong Daihatsu, một nhà sản xuất xe kei car, loại xe hơi nhỏ nhất phù hợp với quy định đường bộ của Nhật Bản. Đó là sự khởi đầu của mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa Toyota và hai công ty này. Như một phần của sự hợp tác, Daihatsu sẽ cung cấp xe kei car để Toyota bán và đôi khi Toyota cung cấp xe toàn kích cỡ để Daihatsu bán (quá trình được gọi là rebadging), cho phép cả hai công ty có thể bán toàn bộ dòng sản phẩm. Sau những thành công của thập kỷ 1970 và những đe dọa về hạn chế nhập khẩu, Toyota đã tiến hành đầu tư bổ sung vào thị trường Bắc Mỹ vào những năm 1980. Năm 1981, Nhật Bản đồng ý áp dụng hạn chế xuất khẩu tự nguyện, giới hạn số lượng xe họ sẽ gửi đến Hoa Kỳ hàng năm, dẫn đến việc Toyota thành lập nhà máy lắp ráp tại Bắc Mỹ. Chính phủ Hoa Kỳ cũng đã đóng cửa mánh lới cho phép Toyota trả thuế thấp hơn bằng cách sản xuất thùng xe tại Mỹ. Cũng vào năm 1981, Eiji Toyoda từ chức Tổng giám đốc và đảm nhận chức vị Chủ tịch. Ông được kế nhiệm vị trí Tổng giám đốc bởi Shoichiro Toyoda, con trai của người sáng lập công ty. Trong vòng vài tháng, Shoichiro bắt đầu sáp nhập các tổ chức bán hàng và sản xuất của Toyota, và năm 1982, hai công ty kết hợp trở thành Tập đoàn Toyota. Hai nhóm được miêu tả như "dầu và nước" và Shoichiro mất nhiều năm để thành công trong việc kết hợp chúng thành một tổ chức. Nỗ lực mở nhà máy lắp ráp Toyota tại Hoa Kỳ bắt đầu vào năm 1980, khi công ty đề xuất hợp tác với Ford Motor Company. Tuy nhiên, cuộc đàm phán đã đổ vỡ vào tháng 7 năm 1981. Cuối cùng vào năm 1984, công ty ký kết thỏa thuận với General Motors (GM) để thành lập một nhà máy chế tạo xe gọi là NUMMI (New United Motor Manufacturing, Inc.) tại Fremont, California. GM xem dự án chung là cách để tiếp cận một mẫu xe nhỏ chất lượng và có cơ hội tìm hiểu về The Toyota Way và Toyota Production System. Đối với Toyota, nhà máy này mang lại cho công ty cơ sở sản xuất đầu tiên tại Bắc Mỹ, cho phép tránh các thuế trên xe nhập khẩu trong tương lai, và xem GM là một đối tác có thể chỉ cho họ cách điều hành trong môi trường lao động Mỹ. Nhà máy sẽ được lãnh đạo bởi Tatsuro Toyoda, em trai của Chủ tịch công ty Shoichiro Toyoda. Chiếc Toyota đầu tiên được lắp ráp tại Mỹ, một chiếc Corolla màu trắng, lăn bánh từ dây chuyền sản xuất của NUMMI vào ngày 7 tháng 10 năm 1986. Toyota nhận được Giải thưởng Kiểm soát Chất lượng Đầu tiên của Nhật Bản vào đầu những năm 1980 và bắt đầu tham gia vào nhiều loại hình đua xe. Toyota kiên nhẫn duy trì thiết kế hệ dẫn động cầu sau (rear-wheel-drive) lâu hơn hầu hết các hãng khác; trong khi đứng đầu về tổng sản xuất, nhưng chỉ xếp thứ ba trong sản xuất xe hơi hướng đầu (front-wheel-drive) vào năm 1983, sau Nissan và Honda. Một phần là do điều này, mẫu Nissan Sunny đã vượt qua Corolla về số lượng sản xuất trong năm đó. Trước khi thập kỷ kết thúc, Toyota giới thiệu Lexus, một thương hiệu mới được thành lập để tiếp thị và phục vụ các dòng xe sang trọng trên thị trường quốc tế. Trước khi ra mắt Lexus, hai mẫu xe đại diện hiện tại của Toyota, Toyota Crown và Toyota Century, chỉ phục vụ thị trường Nhật Bản và không có sức hấp dẫn toàn cầu để cạnh tranh với các thương hiệu sang trọng quốc tế như Mercedes-Benz, BMW và Jaguar. Công ty đã phát triển thương hiệu và các mẫu xe này bí mật từ tháng 8 năm 1983, với chi phí hơn 1 tỷ USD. Mẫu sedan sang trọng cỡ lớn LS 400 ra mắt vào năm 1989 với doanh số mạnh mẽ và đóng góp lớn cho sự thành công của thương hiệu Lexus. Vào thập kỷ 1990, Toyota bắt đầu mở rộng sản xuất các dòng xe lớn hơn và sang trọng hơn, bao gồm một chiếc xe bán tải cỡ lớn, Toyota T100 (và sau đó là Tundra), một số dòng xe SUV, phiên bản thể thao của Toyota Camry, được biết đến với tên gọi Camry Solara. Họ cũng sẽ ra mắt các phiên bản mới của các mẫu xe thể thao của họ, đặc biệt là MR2, Celica và Supra trong thời kỳ này. Vào tháng 12 năm 1997, Toyota giới thiệu mẫu xe hybrid xăng-điện đầu tiên trong quy mô lớn, Toyota Prius thế hệ đầu tiên. Trong hai năm đầu, mẫu xe này chỉ được sản xuất độc quyền cho thị trường Nhật Bản. Với sự hiện diện mạnh mẽ tại châu Âu, nhờ thành công của Toyota Team Europe trong đua xe, công ty quyết định thành lập Toyota Motor Europe Marketing and Engineering, TMME, để giúp tiếp thị xe hơi trên lục địa này. Hai năm sau đó, Toyota thành lập một cơ sở ở Vương quốc Anh, TMUK, vì các dòng xe của công ty đã trở nên rất phổ biến trong cộng đồng lái xe Anh. Các cơ sở ở Indiana, Virginia và Tianjin cũng được thành lập. Trong giai đoạn này, Toyota cũng tăng sở hữu của mình trong Daihatsu. Năm 1995, Toyota tăng tỷ lệ sở hữu trong công ty này lên 33,4%, cho phép Toyota có quyền phủ quyết các nghị quyết của cổ đông tại hội nghị thường niên. Năm 1998, Toyota tăng tỷ lệ sở hữu lên 51,2%, trở thành cổ đông chi phối. Vào ngày 29 tháng 9 năm 1999, công ty quyết định niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán New York và London Stock Exchange (thiết bị định vị ô tô). Phần sau của thập kỷ 1990 cũng chứng kiến sự rút lui của hai anh em Toyoda khỏi công ty do cha của họ thành lập. Năm 1992, Shoichiro Toyoda rời chức vụ chủ tịch, nhường chỗ cho anh trai Tatsuro trở thành tổng giám đốc, chức vụ mà ông giữ cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1995. Shoichiro rút lui khỏi chức vụ chủ tịch vào năm 1999. Cả hai vẫn giữ vai trò cố vấn danh dự trong công ty. Hiroshi Okuda đã dẫn dắt công ty làm tổng giám đốc từ năm 1995 đến 1999 khi ông trở thành chủ tịch và chức vụ Tổng giám đốc được điền bởi Fujio Cho. Tháng 8 năm 2000, việc xuất khẩu Prius bắt đầu. Năm 2001, Toyota mua lại đối tác lâu năm của mình, nhà sản xuất xe tải và xe bus Hino Motors. Năm 2002, Toyota tham gia cuộc đua Formula One và thành lập liên doanh sản xuất ở Pháp với các hãng ô tô Pháp Citroën và Peugeot. Một thương hiệu dành cho giới trẻ ở Bắc Mỹ, Scion, được giới thiệu vào năm 2003. Toyota đứng thứ tám trong danh sách các công ty hàng đầu thế giới của tạp chí Forbes năm 2005. Năm 2005, Fujio Cho chuyển sang chức vụ chủ tịch của Toyota và được thay thế bởi Katsuaki Watanabe làm tổng giám đốc. Năm 2007, Toyota ra mắt phiên bản cập nhật của chiếc xe tải cỡ lớn của họ, Tundra, được sản xuất tại hai nhà máy tại Mỹ, một ở Texas và một ở Indiana. "Motor Trend" đã bình chọn Toyota Camry 2007 là "Xe của năm" năm 2007. Toyota cũng bắt đầu xây dựng hai nhà máy mới, một ở Woodstock, Ontario, Canada và một ở Blue Springs, Mississippi, Hoa Kỳ. Toyota đã trở thành công ty ô tô bán chạy nhất trên toàn cầu trong quý đầu tiên năm 2008. Toyota đã chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 khi buộc phải dự báo lỗ hàng năm đầu tiên trong 70 năm vào tháng 12 năm 2008. Tháng 1 năm 2009, công ty thông báo đóng cửa tất cả các nhà máy tại Nhật Bản trong 11 ngày để giảm sản lượng và số lượng xe tồn kho chưa bán. Tháng 10 năm 2009, Toyota thông báo họ đang thành lập một văn phòng ở Hàn Quốc và ra mắt các mẫu xe Camry sedan, Camry hybrid, Prius và RAV4 trong sự kiện ra mắt tại khách sạn Grand Hyatt Seoul. Từ năm 2009 đến 2011, Toyota đã tiến hành các cuộc triệu hồi hàng triệu xe sau khi có báo cáo rằng một số tài xế đã gặp sự cố tăng tốc bất ngờ. Các cuộc triệu hồi nhằm ngăn chặn tấm lót sàn bên trước của tài xế phía trước trượt vào khoang bàn đạp chân, gây kẹt các bàn đạp và sửa chữa khả năng gắn kết cơ khí của bàn đạp ga. Ít nhất 37 người đã thiệt mạng trong các vụ tai nạn có liên quan đến tăng tốc bất ngờ, khoảng 9 triệu xe ô tô đã được triệu hồi, Toyota đã bị kiện vì thương tích cá nhân và tử vong không đúng quy định, trả 1 tỷ USD để giải quyết một vụ kiện tập thể để bồi thường cho chủ sở hữu doanh thu bán lại bị mất, và trả 1,2 tỷ USD tiền phạt hình sự cho chính phủ Hoa Kỳ vì cáo buộc rằng công ty đã giấu thông tin về các lỗi an toàn và đã đưa ra những phát ngôn sai lầm để bảo vệ hình ảnh thương hiệu. Trong bối cảnh scandal tăng tốc bất ngờ, Katsuaki Watanabe từ chức làm tổng giám đốc công ty. Ông được thay thế bởi Akio Toyoda, cháu trai của người sáng lập công ty Kiichiro Toyoda, vào ngày 23 tháng 6 năm 2009. Akio đã làm việc tại Toyota từ năm 1984, đảm nhiệm các công việc trong sản xuất, tiếp thị và phát triển sản phẩm, và trở thành thành viên trong hội đồng quản trị vào năm 2000. Việc bổ nhiệm Akio bởi hội đồng đánh dấu sự trở lại của một thành viên trong gia đình Toyoda vào vị trí lãnh đạo cao nhất lần đầu tiên kể từ năm 1999. Năm 2011, Toyota cùng với một phần lớn ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng từ một loạt thiên tai. Động đất và sóng thần Tōhoku năm 2011 đã gây ra sự gián đoạn nghiêm trọng trong nguồn cung cấp và sụt giảm sản xuất và xuất khẩu. Lũ lụt nghiêm trọng trong mùa mưa năm 2011 ở Thái Lan đã ảnh hưởng đến các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản đã chọn Thái Lan làm cơ sở sản xuất. Toyota được ước tính đã mất sản xuất 150.000 xe do sóng thần và 240.000 xe do lũ lụt. Vào ngày 10 tháng 2 năm 2014, công ty thông báo rằng Toyota sẽ ngừng sản xuất xe và động cơ tại Úc vào cuối năm 2017. Quyết định này được đưa ra dựa trên đồng ý không thuận lợi của đồng Úc làm xuất khẩu không khả thi, chi phí cao của sản xuất địa phương và sự cạnh tranh cao trong một thị trường địa phương tương đối nhỏ. Công ty dự định tập trung các chức năng doanh nghiệp tại Melbourne vào cuối năm 2017 và duy trì nhà máy Altona để phục vụ các chức năng khác. Dự kiến số lượng nhân viên sẽ giảm từ 3.900 xuống còn 1.300. Cả Công ty Ford và General Motors (Holden) cũng làm theo, kết thúc việc sản xuất ô tô tại Úc vào năm 2016 và 2017 lần lượt. Trong nửa đầu năm 2014, Toyota vừa qua đã giành vị trí dẫn đầu về doanh số bán hàng toàn cầu, bán được 5,1 triệu xe trong sáu tháng kết thúc vào ngày 30 tháng 6 năm 2014, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước. Tập đoàn Volkswagen, bán được 5,07 triệu xe, đã gần kề phía sau. Tháng 8 năm 2014, Toyota thông báo rằng họ sẽ cắt giảm giá linh kiện thay thế tại Trung Quốc lên đến 35%. Công ty thừa nhận rằng động thái này là phản ứng trước một cuộc điều tra đã được dự báo trước đó trong tháng của Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia của Trung Quốc về chính sách linh kiện thay thế Lexus của Toyota, như là một phần của cuộc điều tra toàn ngành về những mức giá cao đáng kể mà các nhà sản xuất ô tô đang tính phí cho linh kiện thay thế và dịch vụ sau bán hàng. Vào tháng 11 năm 2015, công ty thông báo rằng họ sẽ đầu tư 1 tỷ USD trong 5 năm tới cho nghiên cứu trí tuệ nhân tạo và robot. Năm 2016, Toyota đầu tư vào Uber. Năm 2020, một báo cáo về quản trị doanh nghiệp cho thấy Toyota sở hữu 10,25 triệu cổ phiếu của Uber, được định giá khoảng 292,46 triệu USD tính đến ngày 30 tháng 3 năm 2020. Theo Reuters, đây là khoảng 0,6% số cổ phiếu còn lại của Uber. Tháng 3 năm 2016, Toyota hợp tác với Yanmar để tạo ra một chiếc thuyền nhỏ bằng sợi thủy tinh sử dụng động cơ diesel biển ngoài Yanmar hoặc động cơ trong Toyota. Tháng 8 năm 2016, công ty mua lại tất cả tài sản còn lại của Daihatsu, biến nhà sản xuất xe nhỏ thành một công ty con trực thuộc của Toyota. Ngày 27 tháng 8 năm 2018, Toyota thông báo đầu tư 500 triệu USD vào các xe tự hành của Uber. Tháng 10 năm 2019, Toyota ủng hộ đề xuất của Chính quyền Trump rằng quyền hạn của chính phủ liên bang nên áp đặt lên khả năng của California để đặt các tiêu chuẩn khí thải riêng cho ô tô. Đề xuất này sẽ giảm tiêu thụ nhiên liệu của California vào năm 2025 từ khoảng 54,5 xuống còn 37 dặm một gallon. Sự chuyển đổi này của Toyota xa khỏi hiệu suất nhiên liệu đã làm tổn hại đến danh tiếng của công ty là một thương hiệu "xanh". Vào năm 2020, Toyota đã tái chiếm vị trí là nhà sản xuất ô tô lớn nhất trên thế giới, vượt qua Volkswagen. Dù doanh số bán hàng giảm 11,3% do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, Toyota vẫn bán được 9,528 triệu xe trên toàn cầu. Điều này bao gồm cả các công ty con như Daihatsu và Hino Motors. Vào ngày 2 tháng 4 năm 2020, BYD và Toyota thông báo thành lập một liên doanh mới giữa hai công ty có tên BYD Toyota EV Technology Co., Ltd., với mục tiêu "phát triển các xe điện dùng pin (Battery Electric Vehicles) hấp dẫn khách hàng." Vào tháng 3 năm 2021, Toyota, công ty con Hino và Isuzu thông báo về việc tạo ra một liên doanh chiến lược giữa ba công ty. Toyota sẽ mua 4,6% cổ phần của Isuzu trong khi Isuzu lên kế hoạch mua cổ phần của Toyota với giá trị tương đương. Ba công ty cho biết họ sẽ thành lập một liên doanh mới vào tháng 4 có tên là Công ty Công nghệ Đối tác Thương mại Nhật Bản với mục tiêu phát triển các xe tải nhẹ chạy bằng nhiên liệu cell pin và điện. Toyota sẽ sở hữu 80% cổ phần trong liên doanh, trong khi Hino và Isuzu sẽ sở hữu mỗi công ty 10%. Vào tháng 4 năm 2021, Toyota thông báo rằng họ sẽ mua đơn vị công nghệ tự lái của Lyft với giá 550 triệu USD và hợp nhất nó với đơn vị tự động hóa mới được tạo ra của họ, Woven Planet Holdings. Vào tháng 6 năm 2021, công ty bảo vệ việc quyên góp tiền cho các nhà lập pháp Cộng hòa của Hoa Kỳ sau khi họ bỏ phiếu chống chứng nhận kết quả của cuộc bầu cử tổng thống 2020, cho rằng họ không tin rằng "đánh giá các thành viên của Quốc hội" vì chỉ một phiếu đó. Một báo cáo của Axios cho biết Toyota là nhà tài trợ hàng đầu cho những người phản đối cuộc bầu cử 2020, với khoảng cách đáng kể. Tuy nhiên, công ty đã thay đổi quan điểm vào tháng 7 năm 2021 và ngừng quyên góp cho những người phản đối cuộc bầu cử, phát hành một tuyên bố cho biết họ hiểu rằng việc quyên góp từ PAC của họ cho những người phản đối, vượt xa so với bất kỳ công ty nào khác, "gây phiền lòng đối với một số bên liên quan." Vào tháng 12 năm 2021, Toyota thông báo sẽ đầu tư 8 nghìn tỷ JPY (tương đương 70 tỷ USD theo tỷ giá năm 2021) vào ô tô điện vào năm 2030, ra mắt 30 mẫu xe ô tô điện trên toàn cầu vào năm đó và đặt mục tiêu bán hàng là 3,5 triệu xe ô tô điện vào năm 2030. Toyota sẽ tăng số lượng kỹ sư phần mềm tuyển dụng lên khoảng 40% đến 50% của tổng số nhân sự kỹ thuật từ quý 2 năm 2022, việc này nhằm giải quyết sự chuyển đổi sang các công nghệ CASE - kết nối, tự lái, chia sẻ và điện - trong một môi trường cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt. Vào năm 2021, Toyota đã yêu cầu một số nhà cung cấp của mình tăng mức tồn kho linh kiện từ 3 tháng thông thường lên 5 tháng để đối phó với sự thiếu hụt chip toàn cầu do COVID-19. Chuỗi cung ứng "just-in-time" trong đó các linh kiện chỉ được giao khi cần thiết đã được điều chỉnh sau trận động đất và sóng thần ngày 11 tháng 3 năm 2011 ở Nhật Bản, làm tăng mức tồn kho trên toàn bộ mạng lưới cung ứng. Thời gian mà Toyota cần để xử lý tồn kho đã tăng khoảng 40% trong vòng 10 năm qua, đạt 36,36 ngày #đổi . Vào tháng 6 năm 2022, Toyota đã triệu hồi 2.700 chiếc ô tô điện đầu tiên do lo ngại về khả năng bánh xe có thể tuột khỏi trong quá trình lái xe. Phát hiện rằng bulong trên bánh xe của bZ4X có thể lỏng đến mức bánh xe đơn giản bị mất khỏi xe, gây mất kiểm soát và có thể gây tai nạn. Vào tháng 8 năm 2022, Toyota cam kết đầu tư tối đa 5,6 tỷ USD vào sản xuất pin ô tô điện và thông báo tăng đầu tư vào nhà máy gần Greensboro, Bắc Carolina. Ngoài ra, vào năm 2022, Toyota đã giữ vị trí nhà sản xuất ô tô bán chạy nhất thế giới trong ba năm liên tiếp. Vào tháng 1 năm 2023, CEO và Chủ tịch Toyota Akio Toyoda thông báo rằng ông sẽ từ chức và nhường vị trí đó cho Koji Sato. Akio là cháu trai của người sáng lập công ty Rizaburo Toyoda. Sato đã từng quản lý Lexus, thương hiệu ô tô sang trọng của Toyota. Thay đổi này dự kiến sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2023. Công việc doanh nghiệp. Toyota có trụ sở chính tại thành phố Toyota, trước đây được gọi là Koromo cho đến năm 1951, khi thành phố thay đổi tên để phù hợp với hãng ô tô. Thành phố Toyota nằm ở tỉnh Aichi, Nhật Bản. Trụ sở chính của Toyota nằm trong một tòa nhà 4 tầng được mô tả là "khiêm tốn". Vào năm 2013, CEO của công ty, Akio Toyoda, cho biết công ty gặp khó khăn trong việc giữ chân nhân viên nước ngoài tại trụ sở do thiếu tiện nghi tại thành phố này. Hiện diện trên toàn cầu. Xung quanh trụ sở chính là Trung tâm Kỹ thuật Toyota cao 14 tầng và nhà máy Honsha (thành lập năm 1938). Toyota và các công ty thành viên thuộc Toyota Group vận hành tổng cộng 17 cơ sở sản xuất tại tỉnh Aichi và tổng cộng 32 nhà máy tại Nhật Bản. Ngoại trừ Nhật Bản, là một trong những hãng sản xuất ô tô lớn nhất thế giới về doanh số sản xuất, Toyota có các nhà máy tại hầu hết các vùng trên thế giới. Công ty lắp ráp xe tại Argentina, Bỉ, Brazil, Canada, Colombia, Cộng hòa Séc, Pháp, Indonesia, Mexico, Philippines, Ba Lan, Nga, Nam Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Venezuela. Ngoài ra, công ty còn có các nhà máy liên doanh, có giấy phép hoặc đặt hàng tại Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ, Malaysia, Pakistan, Đại Loan, Hoa Kỳ và Việt Nam. Toyota Motor North America có trụ sở chính tại Plano, Texas, và hoạt động như một công ty chính cho tất cả các hoạt động của Toyota Motor Corporation tại Canada, Mexico và Hoa Kỳ. Hoạt động của Toyota tại Bắc Mỹ bắt đầu vào ngày 31 tháng 10 năm 1957, và công ty hiện tại được thành lập năm 2017 từ sự hợp nhất của ba công ty: Toyota Motor North America, Inc., chỉ điều khiển các chức năng của Toyota; Toyota Motor Sales, U.S.A., Inc. chịu trách nhiệm về tiếp thị, bán hàng và phân phối tại Hoa Kỳ; và Toyota Motor Engineering Manufacturing North America quản lý hoạt động tại các nhà máy lắp ráp trong khu vực. Trong khi các công ty này tiếp tục tồn tại với tên pháp lý, họ hoạt động như một công ty duy nhất tại một khu đô thị trụ sở. Toyota có sự hiện diện lớn tại Hoa Kỳ với sau nhà máy lắp ráp chính tại Huntsville, Alabama, Georgetown, Kentucky, Princeton, Indiana, San Antonio, Texas, Buffalo, West Virginia, và Blue Springs, Mississippi. Vào năm 2018, Toyota và Mazda tuyên bố một nhà máy liên doanh sẽ sản xuất xe tại Huntsville, Alabama, bắt đầu từ năm 2021. Toyota đã bắt đầu sản xuất các loại xe bán tải lớn như Tundra mới nhằm mục tiêu thị trường xe bán tải cỡ đầy đủ tại Hoa Kỳ. Toyota cũng đang đẩy mạnh xe điện hybrid tại Hoa Kỳ như Prius, Camry Hybrid, Highlander Hybrid và các sản phẩm Lexus khác. Hiện tại, Toyota không có kế hoạch cung cấp tuỳ chọn động cơ diesel cho các sản phẩm tại Bắc Mỹ, bao gồm cả xe bán tải. Toyota Canada Inc., là một phần của Toyota Motor North America, đảm nhận việc tiếp thị, bán hàng và phân phối tại Canada. Toyota Motor Manufacturing Canada điều hành ba nhà máy lắp ráp: hai tại Cambridge, Ontario và một tại Woodstock, Ontario. Vào năm 2006, công ty con của Toyota là Hino Motors mở một nhà máy xe tải nặng, cũng tại Woodstock, với sự tham gia của 45 nhân viên và sự sản xuất 2.000 xe tải mỗi năm. Châu Âu/ Tây Á. Toyota Motor Europe có trụ sở tại Brussels, Bỉ, và quản lý tất cả hoạt động của Toyota Motor Corporation tại châu Âu và phía tây châu Á. Hoạt động của Toyota tại châu Âu bắt đầu từ năm 1963. Toyota có mặt đáng kể tại châu Âu với chín nhà máy sản xuất tại Kolín, Cộng hòa Séc, Burnaston, Anh, Deeside, Anh, Onnaing, Pháp, Jelcz-Laskowice, Ba Lan, Wałbrzych, Ba Lan, Ovar, Bồ Đào Nha, Saint Petersburg, Nga, và Arifiye, Thổ Nhĩ Kỳ. Toyota cũng vận hành một nhà máy liên doanh với Citroën và Peugeot tại Valenciennes, Pháp. Vào năm 1963, Úc là một trong những quốc gia đầu tiên lắp ráp các xe Toyota ngoài Nhật Bản. Tuy nhiên, vào tháng 2 năm 2014, Toyota là nhà sản xuất ô tô lớn cuối cùng của Úc tuyên bố chấm dứt hoạt động sản xuất tại Úc. Việc đóng cửa nhà máy của Toyota tại Úc đã hoàn thành vào ngày 3 tháng 10 năm 2017, và đã sản xuất tổng cộng 3.451.155 xe. Vào thời điểm cao nhất vào tháng 10 năm 2007, Toyota sản xuất 15.000 xe mỗi tháng. Trước Toyota, Ford và Holden của GM đã tuyên bố các động thái tương tự, đều trích dẫn việc đánh giá thuận lợi về tiền tệ và chi phí sản xuất cao. Toyota niêm yết công khai trên sàn giao dịch Tokyo, Osaka, Nagoya, Fukuoka và Sapporo với mã công ty TYO: 7203 . Ở Nhật Bản, cổ phiếu Toyota là thành phần của các chỉ số Nikkei 225 và TOPIX Core30. Ngoài ra, Toyota cũng được niêm yết tại sàn giao dịch New York với #đổi và trên sàn giao dịch London với LSE:TYT. Toyota đã niêm yết công khai tại Nhật Bản từ năm 1949 và quốc tế từ năm 1999. Cho đến năm 2009, Toyota chính thức liệt kê khoảng 70 mẫu xe khác nhau được bán dưới thương hiệu Toyota, bao gồm sedan, coupe, xe vận chuyển, xe tải, xe hybrid và xe đa dụng. Nhiều mẫu xe trong số này được sản xuất dưới dạng sedan hạng nhỏ như Toyota Yaris, sedan hạng trung như Corolla, sedan hạng trung cao cấp như Camry và sedan hạng lớn như Avalon. Có cả các dòng xe đa dụng như Innova, Alphard/Vellfire, Sienna và các mẫu khác. Một số mẫu xe nhỏ như xB và tC được bán dưới thương hiệu Scion. Xe SUV và xe đa dụng. Dòng xe Toyota SUV và crossover tăng nhanh trong giai đoạn cuối những năm 2010 đến 2020 do sự chuyển đổi của thị trường sang SUV. Các mẫu xe crossover của Toyota bao gồm từ mẫu xe hạng nhỏ như Yaris Cross và C-HR, mẫu xe hạng trung như Corolla Cross và RAV4, đến mẫu xe hạng trung lớn như Harrier/Venza và Kluger/Highlander. Các mẫu xe crossover khác bao gồm Raize, Urban Cruiser. Các mẫu xe SUV của Toyota bao gồm từ mẫu xe hạng trung như Fortuner đến mẫu xe hạng lớn như Land Cruiser. Các mẫu xe SUV khác bao gồm Rush, Prado, FJ Cruiser, 4Runner, và Sequoia. Toyota bước vào thị trường xe tải nhỏ (pickup truck) lần đầu vào năm 1947 với mẫu SB chỉ được bán tại Nhật Bản và một số thị trường châu Á hạn chế. Sau đó, vào năm 1954, mẫu RK (đổi tên thành Stout vào năm 1959) và vào năm 1968, dòng xe tải nhỏ Hilux được ra mắt. Với sự cải tiến liên tục, Hilux (được gọi đơn giản là Pickup ở một số thị trường) đã trở nên nổi tiếng với khả năng bền bỉ và đáng tin cậy tuyệt vời. Dòng xe đã được bổ sung thêm phiên bản cab mở rộng và cab hành khách và Toyota tiếp tục sản xuất chúng ngày nay dưới các tên gọi khác nhau tùy thuộc vào thị trường, với các độ dài cabin khác nhau, động cơ xăng hoặc dầu diesel, và phiên bản 2WD và 4WD. Tại Bắc Mỹ, Hilux trở thành một mẫu xe quan trọng cho công ty, dẫn dắt công ty ra mắt mẫu Tacoma vào năm 1995. Tacoma được phát triển dựa trên Hilux, nhưng với thiết kế nhằm phù hợp hơn với nhu cầu của người tiêu dùng Bắc Mỹ, nơi mà xe tải nhỏ thường được sử dụng làm phương tiện cá nhân. Thiết kế này đã thành công và Tacoma trở thành mẫu xe tải nhỏ bán chạy nhất ở Bắc Mỹ. Sau thành công của dòng xe tải nhỏ Hilux ở Bắc Mỹ, Toyota quyết định tham gia vào thị trường xe tải cỡ lớn (full-size pickup), mà trước đó thường được các hãng sản xuất xe trong nước chiếm ưu thế. Công ty giới thiệu mẫu T100 cho mùa xe 1993 tại Hoa Kỳ. T100 có kích thước giường dài cỡ đầy đủ 8 feet, nhưng hệ thống treo và động cơ tương tự như dòng xe tải nhỏ. Tuy nhiên, doanh số bán hàng không đạt kỳ vọng và T100 đã bị chỉ trích vì có động cơ V6 nhỏ (đặc biệt so với động cơ V8 phổ biến trong các xe tải cỡ lớn Mỹ), thiếu phiên bản cab mở rộng, quá nhỏ và quá đắt (do thuế 25% áp dụng cho xe tải nhập khẩu). Năm 1995, Toyota trang bị động cơ V6 mạnh mẽ hơn từ mẫu Tacoma mới cho T100 và cũng bổ sung phiên bản cab mở rộng. Năm 1999, Toyota thay thế T100 bằng mẫu Tundra lớn hơn, được sản xuất tại Mỹ với động cơ V8 và thiết kế gần giống các xe tải cỡ lớn Mỹ khác. Trên thị trường nội địa Nhật Bản, Toyota có hai mẫu xe đại diện: sedan cao cấp Crown và xe limousine Century. Vào những năm 1980, Toyota muốn mở rộng dòng xe hạng sang nhưng nhận thấy rằng các mẫu xe đại diện hiện có trên thị trường Nhật Bản gần như không có sức hấp dẫn toàn cầu và không thể cạnh tranh với các thương hiệu đã được công nhận như Mercedes-Benz, BMW và Jaguar, hoặc các thương hiệu Acura và Infiniti được ra mắt bởi các đối thủ Nhật Bản. Trước khi thập kỷ kết thúc, Toyota giới thiệu Lexus, một thương hiệu mới được thành lập để tiếp thị và cung cấp dịch vụ cho các xe hạng sang trên thị trường ngoài Nhật Bản. Công ty đã phát triển thương hiệu và các mẫu xe dưới danh nghĩa bí mật kể từ tháng 8 năm 1983, với chi phí hơn 1 tỷ đô la Mỹ. Mẫu sedan hạng sang Lexus LS ra mắt vào năm 1989 và gây ấn tượng mạnh với doanh số bán hàng, đồng thời chịu trách nhiệm lớn cho sự thành công của thương hiệu Lexus. Sau đó, bộ phận này đã thêm vào các mẫu sedan, coupe, convertible và SUV. Thương hiệu Lexus được giới thiệu tới thị trường Nhật Bản vào năm 2005, trước đó, tất cả các xe được tiếp thị quốc tế dưới thương hiệu Lexus từ năm 1989 đến 2005 đều được ra mắt tại Nhật Bản dưới thương hiệu Toyota. Toyota Coaster là một loại xe minibus được giới thiệu vào năm 1969 với sức chứa 17 hành khách. Coaster được sử dụng phổ biến tại Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông và Úc, và cũng được sử dụng tại các nước đang phát triển như các nhà khai thác minibus ở Châu Phi, Trung Đông, Nam Á, Caribe và Nam Mỹ để phục vụ giao thông công cộng. Toyota là nhà lãnh đạo toàn cầu về doanh số xe hybrid điện, là một trong những công ty lớn nhất khuyến khích việc áp dụng xe hybrid trên quy mô hàng loạt trên toàn cầu, và là công ty đầu tiên thương mại hóa và sản xuất hàng loạt các loại xe như vậy, với việc giới thiệu Toyota Prius vào năm 1997. Công nghệ hybrid chuỗi của công ty được gọi là Hybrid Synergy Drive và sau đó đã được áp dụng vào nhiều xe trong danh mục sản phẩm của Toyota, bắt đầu từ mẫu Camry và công nghệ này cũng được mang tới cho thương hiệu cao cấp Lexus. ính đến năm 2020[ [cập nhật]], Toyota Motor Corporation đã bán ra 44 mẫu xe hơi hybrid của Toyota và Lexus tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, và hãng đã bán được hơn 15 triệu xe hybrid kể từ năm 1997. Gia đình xe Prius là dòng xe hybrid chạy xăng-điện bán chạy nhất thế giới, với gần 4 triệu đơn vị đã được bán trên toàn cầu tính đến tháng 1 năm 2017. Xe hybrid sạc điện. Khái niệm Xe hybrid sạc điện Prius được trưng bày vào cuối năm 2009, và ngay sau đó, chương trình thử nghiệm toàn cầu với 600 xe thử nghiệm trước sản xuất được triển khai. Những chiếc xe này được cho thuê cho các đơn vị vận tải và khách hàng của chính phủ và được trang bị các thiết bị theo dõi dữ liệu để cho phép Toyota theo dõi hiệu suất của xe. Xe được phát triển dựa trên Toyota Prius thế hệ thứ ba và được trang bị hai pin lithium-ion bổ sung vượt quá pin hybrid thông thường. Những pin bổ sung này được sử dụng để vận hành xe với việc sử dụng ít nhất động cơ đốt trong đến khi chúng cạn kiệt, sau đó chúng sẽ ngừng hoạt động. Chúng không được sử dụng song song với pin hybrid chính. Sau khi kết thúc chương trình thử nghiệm, phiên bản sản xuất của Prius Plug-in Hybrid được giới thiệu vào tháng 9 năm 2011. Phiên bản sản xuất của Prius Plug-in có tốc độ tối đa chỉ bằng nguồn điện là 62 mph (khoảng 100 km/h), và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) xếp hạng xe có tầm hoạt động là 11 dặm (khoảng 18 km) trong chế độ kết hợp (chủ yếu sử dụng điện, nhưng được bổ sung bởi động cơ đốt trong). Cuối cùng, Toyota chỉ sản xuất một số lượng nhỏ với tổng cộng 75.400 xe được sản xuất từ năm 2012 đến năm 2016. Thế hệ thứ hai của Prius Plug-in (đổi tên thành Prius Prime tại Hoa Kỳ) được giới thiệu vào đầu năm 2016. Khác với thế hệ trước, nơi pin sạc được giới hạn bằng việc thêm vào Prius hiện có, mẫu xe này được phát triển song song với thế hệ thứ tư của Prius, cho phép Toyota tăng tầm hoạt động lên 25 dặm (khoảng 40 km), với tốc độ tối đa là 84 mph (khoảng 135 km/h), mà không cần sự trợ giúp của động cơ đốt trong. Thế hệ thứ hai của Prius Plug-in bắt đầu được bán vào cuối năm 2016, và Toyota dự kiến bán được tối đa 60.000 xe trên toàn cầu mỗi năm. Mẫu xe hybrid sạc điện thứ hai, Toyota RAV4 PHV (RAV4 Prime tại Hoa Kỳ) được giới thiệu vào tháng 12 năm 2019. Xe có tầm hoạt động hoàn toàn bằng điện ước tính theo EPA là 42 dặm (khoảng 68 km) và có công suất kết hợp là 302 mã lực, cho phép nó trở thành mẫu xe thứ hai nhanh nhất hiện đang được Toyota sản xuất (sau mẫu xe thể thao GR Supra 3.0). Bán hàng bắt đầu vào giữa năm 2020. Xe điện sạc pin. Toyota đã bị chỉ trích vì chậm chân trong việc thêm các xe điện sạc pin vào danh mục sản phẩm của mình. Hãng công khai thể hiện sự hoài nghi về công nghệ xe điện sạc pin và đã lên án việc chính phủ yêu cầu chuyển đổi sang xe không khí thải đuôi khói không đáy. , công ty chỉ bán một tỷ lệ nhỏ các xe điện sạc pin, điều này đã khiến một số nhóm môi trường và lợi ích công cộng chỉ trích vì không áp dụng các xe điện sạc pin nhanh chóng và không cam kết mạnh mẽ chuyển sang xe điện sạc pin. Công ty dự định tăng doanh số bán xe điện lên 3,5 triệu xe mỗi năm vào năm 2030. Toyota đã tuyên bố rằng các công nghệ khác như xe chạy bằng hydro cũng sẽ đóng vai trò trong tương lai của công ty. Chiếc xe điện đầu tiên của Toyota được tạo ra như một phản ứng với yêu cầu của chính phủ. Công ty đã tạo ra thế hệ đầu tiên của Toyota RAV4 EV sau khi Hội đồng Tài nguyên Không khí California yêu cầu vào cuối những năm 1990 rằng mọi nhà sản xuất ô tô phải cung cấp một loại xe không khí thải đuôi khói không đáy. Tổng cộng có 1.484 xe được cho thuê và/hoặc bán tại California từ năm 1997 đến năm 2003, khi tiểu bang ngừng yêu cầu này sau áp lực pháp lý từ các vụ kiện được đệ đơn bởi các nhà sản xuất ô tô. Theo yêu cầu của người thuê, nhiều đơn vị đã được bán sau khi xe bị ngừng sản xuất. Một thế hệ thứ hai của RAV4 EV được phát triển vào năm 2010 như một phần của một thỏa thuận với Tesla. Phiên bản sản xuất được ra mắt vào tháng 8 năm 2012, sử dụng bộ pin, bộ điện tử và hệ thống truyền động từ Tesla Model S. RAV4 EV chỉ được sản xuất giới hạn với gần 3.000 xe được sản xuất trước khi ngừng sản xuất vào năm 2014. Theo thông tin từ Bloomberg News, mối hợp tác giữa Tesla và Toyota bị "gián đoạn do xung đột giữa các kỹ sư". Bắt đầu từ năm 2009, Toyota giới thiệu ba thế hệ xe điện khái niệm được gọi là FT-EV được xây dựng trên nền tảng xe Toyota iQ đã chỉnh sửa. Vào cuối năm 2012, công ty công bố kế hoạch sản xuất một phiên bản sản xuất của chiếc xe có tên Toyota iQ EV (Scion iQ EV ở Mỹ, Toyota eQ ở Nhật Bản), nhưng cuối cùng sản xuất bị giới hạn chỉ 100 xe dùng cho các đơn vị đặc biệt ở Nhật Bản và Hoa Kỳ. Vào cuối năm 2012, Toyota thông báo rằng họ sẽ rút lui khỏi việc phát triển các xe hoàn toàn điện, sau khi sản xuất dưới 5.000 xe. Lúc đó, Phó Chủ tịch công ty, Takeshi Uchiyamada, nói: ""Năng lực hiện tại của xe điện không đáp ứng được nhu cầu của xã hội, cho dù đó có thể là khoảng cách mà xe có thể chạy, hoặc chi phí, hoặc thời gian nạp điện mất quá lâu"." Toyota tập trung lại vào việc phát triển các xe hybrid và xe sử dụng nhiên liệu cell hydrogen. Các xe điện sớm này rộng rãi được coi là các xe tuân thủ quy định, có nghĩa là chúng được phát triển để đáp ứng tiêu chuẩn không khí không khí khí thải của California đối với các nhà sản xuất ô tô. Một sự thay đổi trong tư thế trước đây của Toyota, không chú trọng vào công nghệ pin, đã được nhìn thấy từ năm 2016, khi Giám đốc tài chính của Toyota, Takahiko Ijichi, "đã đưa ra tín hiệu mạnh mẽ rằng Toyota sẽ sớm tham gia vào cuộc đua xe điện và sản xuất các mẫu xe điện mặc dù có những quan điểm hoài nghi về quãng đường và thời gian sạc", như Wall Street Journal đã viết. Toyota cho biết họ sẽ sản xuất và bán các xe điện nếu và khi các quy định và thị trường yêu cầu. Một năm sau đó, Toyota đã đề ra kế hoạch về xe điện cho giai đoạn từ 2020 đến 2030 cho báo chí tại Tokyo, cho biết họ sẽ giới thiệu "hơn 10" mẫu xe điện trên toàn cầu vào đầu những năm 2020, bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó là Nhật Bản, Châu Âu, Hoa Kỳ và Ấn Độ. Vào tháng 4 năm 2019, Toyota giới thiệu mẫu xe điện thuần túy đầu tiên của họ tại Trung Quốc, gồm hai phiên bản tương tự nhau gọi là C-HR EV và IZOA EV. Chúng được bán ra vào tháng 4 năm 2020 và tháng 5 năm 2020. Nikkei đưa tin vào tháng 10 năm 2020 rằng Toyota chỉ bán được dưới 2.000 xe trong tám tháng đầu năm. Toyota giới thiệu mẫu xe C+pod vào cuối năm 2020, một chiếc xe hai chỗ loại kei car với mức phạm vi ước tính là 100 km và tốc độ tối đa là 60 km/h. Vào tháng 12 năm 2020, Giám đốc điều hành của Toyota, Akio Toyoda, cho biết rằng xe điện đang bị "hoang tưởng" và ở Nhật Bản, chúng không nhất thiết giảm lượng khí thải carbon dioxide vì điện năng chủ yếu được tạo ra bằng cách đốt than và khí tự nhiên trong nước này. Ông cũng nói rằng cơ sở hạ tầng cần thiết cho Nhật Bản chuyển sang hoàn toàn sử dụng xe điện sẽ tốn từ 135 tỷ đến 358 tỷ USD và chuyển sang chỉ sử dụng xe điện sẽ làm mất hàng triệu việc làm và làm cho ô tô trở nên kém phổ biến hơn. Vào tháng 4 năm 2021, Toyota đã công bố mẫu xe Toyota bZ4X, một chiếc crossover SUV điện sẽ là chiếc xe đầu tiên được xây dựng trên nền tảng điện độc lập gọi là e-TNGA khi ra mắt vào giữa năm 2022. Đây là mẫu xe đầu tiên thuộc dòng sản phẩm bZ (viết tắt của "beyond Zero" - vượt xa số 0) của Toyota. Toyota cũng đã tuyên bố sẽ có tổng cộng bảy mẫu "bZ" sẽ được ra mắt trên toàn cầu trong số 15 mẫu xe điện vào năm 2025. Vào tháng 6 năm 2021, Transport Environment xếp Toyota là nhà sản xuất ô tô ít sẵn sàng nhất chuyển đổi sang xe điện pin vào năm 2030, và cho biết: "Toyota chưa đặt mục tiêu cho năm 2030 và kế hoạch chỉ sản xuất 10% xe điện pin vào năm 2025. Dự kiến họ sẽ dựa vào công nghệ hybrid gây ô nhiễm." Vào tháng 12 năm 2021, Toyota đã thông báo tại Tokyo kế hoạch cho 30 mẫu xe điện vào năm 2030, bán 3,5 triệu xe điện pin mỗi năm vào ngày đó, và thương hiệu cao cấp Lexus của họ sẽ hoạt động 100% bằng pin vào năm 2030 tại Bắc Mỹ, Châu Âu và Trung Quốc. Công ty cũng đã thông báo đầu tư 70 tỷ USD vào việc điện hóa công ty. Trong một phiên họp song song với Hội nghị G-7 tháng 5 năm 2023, Akio Toyoda cho biết rằng xe điện pin không phải là tương lai duy nhất, thay vào đó, Toyota đề xuất một sự kết hợp giữa xe điện pin, xe trang bị động cơ đốt trong và xe chạy bằng hydro. Toyota đã phát triển công nghệ pin rắn (solid-state battery) trong kết hợp với Panasonic, trong đó công ty đã có hơn một nghìn bằng sáng chế liên quan đến pin rắn vào cuối năm 2020. Công nghệ này đã được triển khai trên mô hình Toyota LQ concept. Toyota hy vọng công nghệ này có thể tăng hiệu suất của các xe điện pin lên 30%, từ đó giảm chi phí pin tương ứng. Vào năm 2002, Toyota bắt đầu một chương trình phát triển và thử nghiệm để kiểm tra mẫu xe Toyota FCHV, một mẫu xe chạy bằng nhiên liệu hydro hybrid dựa trên mẫu SUV sản xuất Toyota Highlander. Toyota cũng xây dựng một chiếc xe buýt FCHV dựa trên mẫu xe buýt sàn thấp Hino Blue Ribbon City. Toyota đã xây dựng một số mẫu thử/kiểu mẫu của FCHV từ năm 1997, bao gồm Toyota FCHV-1, FCHV-2, FCHV-3, FCHV-4 và FCHV-adv. Mẫu xe điều khiển bằng nhiên liệu Toyota FCV-R đã được giới thiệu tại Triển lãm ô tô Tokyo 2011. Chiếc sedan FCV-R có 4 chỗ ngồi và được trang bị một bộ pin nhiên liệu bao gồm bình chứa hydro áp suất cao 70 MPa, có thể đi được khoảng 435 dặm theo chu trình kiểm tra JC08 của Nhật Bản. Toyota cho biết chiếc xe dự kiến sẽ ra mắt vào khoảng năm 2015. Vào tháng 8 năm 2012, Toyota công bố kế hoạch bán lẻ một sedan chạy bằng nhiên liệu hydro ở California vào năm 2015. Toyota kỳ vọng sẽ trở thành một nhà lãnh đạo trong công nghệ này. Nguyên mẫu của xe chạy bằng nhiên liệu hydro đầu tiên sẽ được trưng bày tại Triển lãm ô tô Tokyo tháng 11 năm 2013 và tại Hội chợ Điện tử Tiêu dùng tháng 1 năm 2014 tại Hoa Kỳ. Các mẫu xe chạy bằng nhiên liệu hydro đầu tiên của Toyota được bán thương mại là Toyota Mirai (tên tiếng Nhật có nghĩa là "tương lai"), được ra mắt tại Triển lãm ô tô Los Angeles tháng 11 năm 2014. Tháng 1 năm 2015, thông báo rằng sản xuất xe chạy bằng nhiên liệu hydro Mirai sẽ tăng từ 700 đơn vị vào năm 2015 lên khoảng 2.000 đơn vị vào năm 2016 và 3.000 đơn vị vào năm 2017. Bán lẻ tại Nhật Bản bắt đầu vào ngày 15 tháng 12 năm 2014, với giá khoảng 6,7 triệu JPY (khoảng 57.400 USD). Chính phủ Nhật Bản kế hoạch hỗ trợ việc thương mại hóa các xe chạy bằng nhiên liệu hydro bằng cách cung cấp một khoản trợ cấp 2 triệu JPY (khoảng 19.600 USD). Bán lẻ tại Hoa Kỳ bắt đầu vào tháng 8 năm 2015, với giá 57.500 USD trước các khoản khuyến mãi từ chính phủ. Ban đầu, Mirai chỉ có sẵn tại California. Ra mắt thị trường ở châu Âu dự kiến vào tháng 9 năm 2015, và ban đầu chỉ có sẵn ở Vương quốc Anh, Đức và Đan Mạch, sau đó mở rộng sang các quốc gia khác vào năm 2017. Giá bán ở Đức bắt đầu từ 60.000 euro (khoảng 75.140 USD) trước thuế giá trị gia tăng (78.540 euro). Năm 2015, Toyota công bố miễn phí sử dụng 5.600 bằng sáng chế liên quan đến nhiên liệu hydro cho đến năm 2020, hy vọng thúc đẩy phát triển công nghệ nhiên liệu cell hydro trên toàn cầu. Toyota được coi là kém phát triển trong công nghệ xe thông minh và cần có sự đổi mới. Mặc dù vào năm 2017, Toyota đã giới thiệu mẫu xe thử nghiệm tự lái đầu tiên của mình và đã phát triển công nghệ tự lái riêng có tên gọi "Chauffeur" (dành cho tự lái hoàn toàn) và "Guardian" (hệ thống hỗ trợ người lái), nhưng chưa có một mẫu xe nào được trang bị công nghệ này trên thị trường. Vào năm 2018, Toyota đã thành lập một trung tâm nghiên cứu và phát triển lớn, chi tiêu gần 4 tỷ USD để thành lập Viện nghiên cứu xe tự lái tại Silicon Valley, California, và chi thêm 300 tỷ JPY vào một viện nghiên cứu tương tự tại Tokyo, Nhật Bản, hợp tác với các công ty thành viên của Tập đoàn Toyota và các nhà cung cấp ô tô như Aisin Seiki và Denso. Toyota cũng đã hợp tác với các nhà phát triển công nghệ xe tự lái và trong một số trường hợp, mua lại các công ty này. Toyota đã mua lại phân khúc xe tự lái của dịch vụ đặt xe Lyft với giá 550 triệu USD, đầu tư tổng cộng 1 tỷ USD vào phân khúc xe tự lái của dịch vụ đặt xe Uber, đầu tư 400 triệu USD vào công ty công nghệ xe tự lái P, và thông báo hợp tác với công ty thương mại điện tử Trung Quốc Cogobuy để xây dựng một "Hệ sinh thái Xe Thông minh." Vào tháng 12 năm 2020, Toyota giới thiệu mẫu xe tự lái chia sẻ "e-Palette" chở được 20 hành khách, được sử dụng tại Thế vận hội Tokyo 2021. Toyota đã thông báo rằng họ dự định có mẫu xe này sẵn sàng cho các ứng dụng thương mại trước năm 2025. Từ tháng 2 năm 2021, Toyota đã xây dựng "Thành phố Woven" trang bị các cảm biến, được gọi là "thành phố thông minh, trang bị công nghệ cao diện tích 175 acre" ở chân núi Phú Sĩ. Khi hoàn thành vào năm 2024, Thành phố Woven sẽ được sử dụng để thực hiện các thử nghiệm trên các xe tự lái cho việc giao hàng, vận chuyển và các cửa hàng di động, trong đó cư dân của thành phố sẽ tham gia vào thí nghiệm phòng thí nghiệm sống. Hoạt động không liên quan đến ô tô. Toyota là một cổ đông minor trong Mitsubishi Aircraft Corporation, với việc đầu tư 67,2 triệu USD vào dự án mới này, sẽ sản xuất Mitsubishi Regional Jet, dự kiến ​​giao hàng đầu tiên vào năm 2017. Toyota cũng đã nghiên cứu tham gia vào thị trường hàng không tổng hợp và ký hợp đồng với Scaled Composites để sản xuất một chiếc máy bay chứng minh khái niệm, chiếc TAA-1, vào năm 2002. Năm 1997, dựa trên mối quan hệ đối tác trước đó với Yamaha Marine, Toyota đã thành lập "Toyota Marine", xây dựng các tàu thuộc sở hữu riêng, hiện chỉ bán tại Nhật Bản. Một mạng lưới nhỏ ở Nhật Bản bán các loại tàu sang trọng tại 54 địa điểm, gọi là dòng "Toyota Ponam", và vào năm 2017, một chiếc thuyền được đánh dấu dưới thương hiệu Lexus, bắt đầu từ ngày 26 tháng 5 năm 2017. Toyota hỗ trợ nhiều hoạt động từ thiện trong các lĩnh vực như giáo dục, bảo tồn, an toàn và cứu trợ thiên tai. Một số tổ chức mà Toyota đã hợp tác tại Hoa Kỳ bao gồm Hội Chữ thập đỏ Mỹ, Câu lạc bộ Bé trai và Bé gái của Mỹ, Leaders in Environmental Action for the Future (LEAF), và Trung tâm Quốc gia về Học vụ gia đình. Quỹ Toyota USA được thành lập nhằm hỗ trợ giáo dục trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Ngoài ra, Toyota còn hợp tác với các tổ chức phi lợi nhuận nhằm cải thiện quy trình và hoạt động của chúng, ví dụ như Ngân hàng Thực phẩm cho Thành phố New York. Toyota cũng hỗ trợ nhiều công việc tại Nhật Bản. Quỹ Toyota có quan điểm toàn cầu, cung cấp các khoản tài trợ trong ba lĩnh vực môi trường con người và tự nhiên, phúc lợi xã hội và giáo dục và văn hóa. Giáo dục đại học. Toyota thành lập Viện Công nghệ Toyota vào năm 1981, như Sakichi Toyoda đã dự định thành lập một trường đại học ngay khi ông và Toyota trở nên thành công. Viện Công nghệ Toyota thành lập Viện Công nghệ Toyota tại Chicago vào năm 2003. Toyota là người ủng hộ Chương trình Mong đợi Lái xe Toyota, Chương trình Học bổng Trao đổi Mùa hè cho Thanh thiếu niên Toyota Youth for Understanding, Chương trình Giáo viên Quốc tế Toyota, Toyota TAPESTRY, Học bổng Toyota Community Scholars (học bổng dành cho học sinh trung học), Chương trình Thực tập Kinh doanh của Phòng Thương mại Người Mỹ gốc Latin và Học bổng do Toyota tài trợ. Toyota đã đóng góp cho nhiều chương trình giáo dục và học bổng địa phương cho Đại học Kentucky, Indiana và các trường khác. Năm 2004, Toyota trình diễn robot chơi kèn của mình. Toyota đã phát triển các robot đa nhiệm dành cho chăm sóc người già, sản xuất và giải trí. Một ví dụ cụ thể về sự tham gia của Toyota trong lĩnh vực robot hỗ trợ người cao tuổi là Giao diện Máy não. Được thiết kế để sử dụng với xe lăn, nó "cho phép người điều khiển xe lăn điều khiển xe điện một cách chính xác, gần như trong thời gian thực", bằng suy nghĩ của mình. Các điều khiển suy nghĩ cho phép xe lăn di chuyển sang trái, phải và phía trước chỉ trong 125 miligiây sau suy nghĩ. Toyota cũng đã tham gia vào việc phát triển Kirobo, một 'robot nhà du hành vũ trụ'. Năm 2017, công ty giới thiệu T-HR3, một robot người có khả năng được điều khiển từ xa. Robot có thể sao chép các chuyển động của người kết nối. Phiên bản 2017 sử dụng dây cáp để kết nối nhưng phiên bản 2018 sử dụng công nghệ 5G từ khoảng cách lên đến 10 km. Công nghệ sinh học nông nghiệp. Toyota đầu tư vào một số doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ và hợp tác trong lĩnh vực công nghệ sinh học, bao gồm: Thương hiệu máy may. Aisin, thành viên khác trong Tập đoàn Toyota các công ty, sử dụng cùng logo Toyota wordmark để tiếp thị các máy may sử dụng tại nhà. Aisin được thành lập bởi Kiichiro Toyoda sau khi ông thành lập Công ty Toyota Motor. Theo Aisin, ông rất hài lòng với chiếc máy may đầu tiên, ông quyết định áp dụng cùng thương hiệu Toyota như công việc ô tô của mình, mặc dù hai công ty này độc lập với nhau. Toyota Ventures, cùng với JetBlue Technology Ventures và Parley for the Oceans, là một trong những nhà đầu tư doanh nghiệp đã đầu tư 40 triệu đô la vào Air Company, một nhà sản xuất vodka tiêu cực carbon và rượu nước hoa và nước rửa tay sử dụng heterogeneous catalysis để chuyển đổi carbon bắt được thành ethanol. Các sáng kiến môi trường. Toyota tuyên bố cam kết đạt tính khí thải carbon bằng không vào năm 2050, và họ đã đặt mục tiêu giảm tổng lượng khí thải carbon của mình xuống 90% vào năm 2050 so với mức năm 2010. Công ty đã đầu tư mạnh vào năng lượng mặt trời, với mục tiêu lắp đặt tấm pin mặt trời trên mái nhà của tất cả các đại lý trên toàn cầu vào năm 2050. Ngoài ra, Toyota đã hợp tác với các công ty năng lượng tái tạo khác để thúc đẩy việc sử dụng năng lượng gió và năng lượng mặt trời, bao gồm việc hợp tác gần đây với ENEOS Corporation để phát triển các trạm nạp hydro ở Nhật Bản. Toyota đã ra mắt chương trình "Global Environmental Challenge" 2050, đây là một sáng kiến toàn diện nhằm giảm ảnh hưởng môi trường của hoạt động của Toyota. Thách thức này bao gồm sáu mục tiêu môi trường mà Toyota hướng đến đạt được vào năm 2050, bao gồm giảm lượng khí thải carbon, tối thiểu hóa sử dụng nước, thúc đẩy tái chế và sử dụng lại vật liệu, và thúc đẩy việc sử dụng năng lượng tái tạo. Công ty cũng đã triển khai một loạt các sáng kiến nhằm thúc đẩy bền vững trong chuỗi cung ứng của mình, bao gồm nỗ lực giảm chất thải, sử dụng nước và thúc đẩy nông nghiệp bền vững. Ví dụ, Toyota đã triển khai một chương trình không chất thải tại các nhà máy sản xuất của mình, nhằm gửi không chất thải đến các bãi rác. Chiến lược công ty. Toyota Way là một tập hợp các nguyên tắc và hành vi nằm dưới cơ sở của phương pháp quản lý và sản xuất của công ty (được xác định cụ thể hơn là Hệ thống Sản xuất Toyota). Công ty đã phát triển triết lý doanh nghiệp của mình từ năm 1948 và truyền nó như một kiến thức ngầm đối với nhân viên mới, nhưng khi công ty mở rộng quốc tế, các nhà lãnh đạo đã chính thức xác định và định nghĩa Toyota Way vào năm 2001. Toyota tóm tắt nó dưới hai trụ cột chính: cải tiến liên tục và tôn trọng con người. Dưới trụ cột cải tiến liên tục có ba nguyên tắc: thách thức (xây dựng tầm nhìn dài hạn), kaizen (quy trình cải tiến liên tục), và genchi genbutsu ("đi và xem" quá trình để đưa ra quyết định đúng). Dưới trụ cột tôn trọng con người có hai nguyên tắc: tôn trọng và làm việc nhóm. Vào năm 2004, Tiến sĩ Jeffrey Liker, một giáo sư công nghệ công nghiệp tại Đại học Michigan, đã xuất bản cuốn sách "The Toyota Way". Trong cuốn sách của mình, Liker gọi Toyota Way là "một hệ thống được thiết kế để cung cấp các công cụ cho mọi người để liên tục cải thiện công việc của họ." Theo Liker, có 14 nguyên tắc của Toyota Way có thể được tổ chức thành bốn chủ đề: (1) triết lý dài hạn, (2) quy trình đúng sẽ tạo ra kết quả đúng, (3) tạo giá trị cho tổ chức bằng cách phát triển nhân viên, và (4) liên tục giải quyết các vấn đề gốc rễ thúc đẩy sự học tập của tổ chức. 14 nguyên tắc được xác định cụ thể hơn trong bài viết Wikipedia về Toyota Way. Hệ thống sản xuất Toyota. Toyota Way cũng đã giúp định hình phương pháp sản xuất của công ty, nơi mà nó là một trong những người tiên phong đầu tiên trong những gì sau này được biết đến là sản xuất gọn nhẹ. Công ty xác định Hệ thống sản xuất Toyota dựa trên hai trụ cột chính: chỉ trong thời gian cần thiết (chỉ sản xuất những gì cần thiết, chỉ khi cần thiết, và chỉ trong số lượng cần thiết) và Jidoka (tự động hóa với sự tham gia của con người). Nguyên gốc của Hệ thống sản xuất Toyota đang gây tranh cãi, với ba câu chuyện về nguồn gốc của nó: (1) rằng trong chuyến đi năm 1950 để đào tạo với Công ty Ford Motor, các nhà điều hành công ty cũng nghiên cứu hệ thống phân phối chỉ trong thời gian cần thiết của công ty siêu thị Piggly-Wiggly, (2) rằng họ theo theo các bài viết của W. Edwards Deming, và (3) rằng họ học các nguyên tắc từ một chương trình đào tạo của chính phủ Hoa Kỳ trong Thế chiến II (Đào tạo trong Ngành công nghiệp). Sau khi phát triển Hệ thống sản xuất Toyota trong các cơ sở của chính mình, công ty bắt đầu dạy hệ thống này cho các nhà cung cấp linh kiện của mình vào những năm 1990. Các công ty khác quan tâm đến việc đào tạo này, và Toyota sau đó bắt đầu cung cấp các khóa đào tạo. Công ty cũng đã tặng các khóa đào tạo cho các tổ chức phi lợi nhuận để nâng cao hiệu quả làm việc của họ và từ đó năng lực phục vụ mọi người. Logo và nhãn hiệu. Vào năm 1936, Toyota bước vào thị trường ô tô du lịch với mẫu xe Model AA và tổ chức một cuộc thi để thiết lập một logo mới nhấn mạnh tốc độ cho dòng sản phẩm mới của mình. Sau khi nhận được 27.000 đề xuất, một đề xuất đã được chọn và cũng đã dẫn đến việc thay đổi tên gọi từ "Toyoda", từ nguyên tên gia đình, thành "Toyota", có nghĩa là đồng cỏ. Tên mới được cho là nghe hay hơn, và con số tám nét trong ngôn ngữ Nhật được liên kết với sự giàu có và may mắn. Logo ban đầu là một phiên bản được thiết kế nghệ thuật nặng tay của các ký tự katakana cho Toyota (). Khi công ty bắt đầu mở rộng quốc tế vào cuối những năm 1950, logo chữ cái katakana được bổ sung bằng các dạng từ viết tắt của tên công ty bằng chữ in hoa tiếng Anh, "TOYOTA." Toyota giới thiệu một logo toàn cầu vào tháng 10 năm 1989 để kỷ niệm 50 năm thành lập công ty và để phân biệt nó với thương hiệu sang trọng mới ra mắt là Lexus. Logo này gồm ba hình oval kết hợp thành chữ "T", tượng trưng cho Toyota. Toyota cho biết việc chồng chéo hai hình oval vuông góc trong hình oval lớn biểu thị mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau và niềm tin giữa khách hàng và công ty, trong khi hình oval lớn bao quanh cả hai hình oval bên trong này biểu thị "sự mở rộng toàn cầu của công nghệ Toyota và tiềm năng không giới hạn cho tương lai". Logo mới này bắt đầu xuất hiện trên tất cả các tài liệu in, quảng cáo, biển hiệu đại lý và hầu hết các loại xe vào năm 1990. Ở các quốc gia hoặc khu vực sử dụng chữ Hán truyền thống, chẳng hạn như Hồng Kông và Đài Loan, Toyota được biết đến với tên "豐田". Ở các quốc gia sử dụng chữ Hán giản thể (như Trung Quốc và Singapore), Toyota được viết là "丰田" (đọc là "Fēngtián" trong tiếng Trung Quốc chuẩn và "Hɔng Tshan" trong tiếng Quảng Đông). Đây chính là các ký tự giống với tên gia đình người sáng lập "Toyoda" trong tiếng Nhật. Toyota vẫn sử dụng logo chữ cái katakana là biểu tượng công ty tại Nhật Bản, bao gồm cả trên tòa nhà trụ sở, và một số mẫu xe phiên bản đặc biệt vẫn sử dụng từ viết tắt "TOYOTA" trên tản nhiệt tạo sự gợi nhớ đến di sản của công ty. Vào ngày 15 tháng 7 năm 2015, công ty đã được cấp một tên miền cấp cao cấp riêng của mình, .toyota. Các vụ tranh cãi. Vụ kiện gỉ sét. Vào tháng 11 năm 2016, Toyota đã đồng ý trả 3,4 tỷ đô la để giải quyết cáo buộc rằng khoảng một triệu nửa chiếc xe bán tải Tacoma, Tundra và SUV Sequoia của hãng đã được trang bị khung gầm dễ bị gỉ sét và sự xuyên thủng. Theo hồ sơ tòa án, gỉ sét có thể đạt mức cao đủ để làm suy yếu tính chất kết cấu của xe. Tử vong do làm việc quá sức. Vào ngày 9 tháng 2 năm 2002, Kenichi Uchino, 30 tuổi, một quản lý kiểm soát chất lượng, đã bất tỉnh và qua đời tại nơi làm việc. Vào ngày 2 tháng 1 năm 2006, một kỹ sư trưởng không tên của Camry Hybrid, 45 tuổi, qua đời do suy tim trong giường ngủ của mình. Khoản tiền phạt vi phạm môi trường. Vào năm 2003, Toyota bị phạt 34 triệu đô la vì vi phạm Đạo luật Không khí Sạch Hoa Kỳ, khi 2,2 triệu xe mà họ bán có các máy tính kiểm soát khí thải bị lỗi. Vào tháng 1 năm 2021, Toyota đã bị phạt 180 triệu đô la vì việc trì hoãn báo cáo các khuyết điểm liên quan đến khí thải cho Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) từ năm 2005 đến năm 2015. Người đại diện của Viện trưởng Cục Công tố Hoa Kỳ nói rằng những trì hoãn này "có thể đã dẫn đến việc trì hoãn hoặc tránh việc triệu hồi liên quan đến khí thải", mặc dù Toyota cho biết rằng mặc dù đã trì hoãn báo cáo vấn đề này cho EPA, họ đã thông báo cho khách hàng và sửa chữa các xe bị lỗi khí thải. Lúc đó, đây là khoản tiền phạt dân sự lớn nhất từng được áp đặt vì vi phạm yêu cầu báo cáo khí thải của EPA. Việc triệu hồi không ngừng từ 2009 đến 2011 vì vấn đề tăng tốc bất ngờ. Từ năm 2009 đến 2011, Toyota đã triệu hồi hàng triệu xe sau khi có báo cáo cho thấy một số tài xế gặp phải tình trạng tăng tốc bất ngờ. Triệu hồi đầu tiên, vào tháng 11 năm 2009, nhằm ngăn chặn một chiếc thảm sàn bên trước của tài xế trượt vào khoang bàn đạp ô tô, làm kẹt bàn đạp. Triệu hồi thứ hai, vào tháng 1 năm 2010, được tiến hành sau khi phát hiện một số vụ tai nạn không phải do thảm sàn gây ra mà có thể do bàn đạp ô tô gặp phải vấn đề kẹt. Trên toàn thế giới, khoảng 9 triệu xe ô tô và xe tải đã bị ảnh hưởng bởi các vụ triệu hồi này. NHTSA đã nhận được báo cáo về tổng cộng 37 trường hợp tử vong có liên quan đến tăng tốc bất ngờ, mặc dù số lượng chính xác chưa được xác nhận. Do vấn đề này, Toyota đã đối mặt với gần 100 vụ kiện từ các gia đình của những người đã tử vong, các tài xế bị thương, chủ sở hữu xe ô tô mất giá trị bán lại và các nhà đầu tư đã thấy giá trị cổ phiếu của mình giảm. Trong khi hầu hết các vụ kiện về tổn thương cá nhân và tử vong đã được giải quyết một cách bảo mật, Toyota đã chi hơn 1 tỷ đô la để giải quyết một vụ kiện tập thể để bồi thường cho chủ sở hữu mất giá trị bán lại, và công ty đã đồng ý trả một khoản phạt hình sự 1,2 tỷ đô la cho chính phủ Hoa Kỳ vì cáo buộc rằng họ đã cố tình giấu thông tin về các khuyết điểm an toàn khỏi công chúng và đã đưa ra những tuyên bố đánh lừa để bảo vệ hình ảnh thương hiệu của mình. Số tiền phạt là số lớn nhất từng được áp đặt đối với một công ty ô tô. Triệu hồi túi khí Takata. Toyota bị ảnh hưởng bởi việc triệu hồi bộ phận túi khí bị lỗi do Takata sản xuất. Bộ phận túi khí có thể nổ, bắn mảnh kim loại vào khoang cabin. Triệu hồi đã ảnh hưởng đến hàng triệu xe được sản xuất từ năm 2000 đến 2014, một số xe cần được sửa chữa nhiều lần. Cuộc đình công lao động Trung Quốc vào tháng 6 năm 2010. Vào ngày 21 tháng 6 năm 2010, một cuộc đình công lao động Trung Quốc đã xảy ra tại Công ty Tianjin Toyoda Gosei ở thành phố Tianjin. Toyoda Gosei là nhà cung cấp linh kiện cho Công ty Tianjin FAW Toyota Motor. Quảng cáo đánh lừa. Trong chiến dịch quảng cáo của mình, Toyota thường xuyên đề cập đến các phương tiện hybrid không cắm điện của họ như là các phương tiện "tự sạc điện". Việc sử dụng thuật ngữ này đã gây ra một số chỉ trích rằng điều này là đánh lừa, vì một số người tiêu dùng đã bị dẫn nhầm rằng những phương tiện này tự sạc pin của mình khi không sử dụng. Có các khiếu nại về quảng cáo xe hybrid tự sạc tại Ireland, tuy nhiên, các khiếu nại đã bị Tổ chức Tiêu chuẩn Quảng cáo Ireland từ chối. Tuy nhiên, vào năm 2020, Cơ quan Tiêu dùng Na Uy đã cấm quảng cáo này hoàn toàn ở Na Uy, và cho biết: "Điều này là đánh lừa khi tạo cảm giác rằng việc cung cấp điện cho pin hybrid miễn phí, trong khi thực tế, việc tiêu thụ xăng dầu là điều kiện cần thiết." Trang web về xe điện IrishEVs đã chỉ trích Toyota Ireland vì trả tiền cho Đại học College Dublin để tiến hành một nghiên cứu chỉ trên bảy chiếc xe hybrid của họ trong vòng bảy ngày để làm thông cáo báo chí về hiệu suất của các phương tiện. Trang web cũng chỉ trích Toyota Ireland vì sử dụng các cuộc khảo sát ý kiến ​​để chứng thực một tuyên bố về lượng khí thải CO2 của họ trên Twitter. Gian lận kết quả thử va chạm. Vào tháng 4 năm 2023, đã được tiết lộ rằng công ty con của Toyota, Daihatsu, đã gian lận bằng cách sắp đặt một số mẫu xe để đạt hiệu suất tốt hơn trong các bài thử va chạm so với các mẫu xe thực tế sản xuất. Các phương tiện có một phần của bảng nội thất của cửa trước có một rãnh tránh khả năng va chạm tạo ra một cạnh sắc có thể gây thương tích cho người sử dụng khi túi khí bên hông được triển khai. Rãnh này chỉ xuất hiện trên các phương tiện được thử nghiệm mà không có trên các phương tiện bán cho công chúng. Vấn đề này ảnh hưởng đến bốn mẫu xe, gồm Toyota Yaris Ativ (còn được gọi là Vios), Perodua Axia, Toyota Agya và một sản phẩm chưa được tiết lộ. Không có cuộc triệu hồi nào được tiến hành liên quan đến vấn đề này. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Sir Bobby Robson (18 tháng 2 năm 1933 tại Sacriston, Anh – 31 tháng 7 năm 2009) là một cựu cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Anh nổi tiếng. Năm 2002, Bobby Robson được Nữ hoàng Anh phong tước Hiệp sĩ. Ông từng là huấn luyện viên Đội tuyển bóng đá quốc gia Ireland nhưng dưới danh nghĩa là "trợ lý bóng đá quốc tế". Khi còn là cầu thủ, Bobby Robson đã từng chơi cho các câu lạc bộ bóng đá Anh và Canada. Ông cũng được khoác áo đội tuyển Anh 20 lần, trong đó một lần tham dự World Cup 1958. Với cương vị huấn luyện viên, ông đã huấn luyện nhiều câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia châu Âu.
Suối là từ để chỉ những dòng nước chảy nhỏ và vừa, là dòng chảy tự nhiên của nước từ nơi cao xuống chỗ thấp hơn. Suối thường bắt nguồn từ các mạch nước ngầm hoặc từ các hồ nước thiên nhiên trong rừng, núi. Nước suối là loại nước ngọt. Các dòng suối thường khi hợp lại, lớn lên sẽ tạo thành các dòng sông.
Mangan, là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Mn và số nguyên tử là 25. Nó được tìm thấy ở dạng tự do trong tự nhiên (đôi khi kết hợp với sắt), và trong một số loại khoáng vật. Ở dạng nguyên tố tự do, mangan là kim loại quan trọng trong các hợp kim công nghiệp, đặc biệt là thép không rỉ. Mangan phosphat được dùng để xử lý gỉ và chống ăn mòn trên thép. Tùy theo trạng thái oxy hóa của nó, các ion mangan có nhiều màu khác nhau và được dùng làm thuốc nhuộm trong công nghiệp. Các permanganat với các kim loại kiềm và kiềm thổ là các chất oxy hóa mạnh. Mangan dioxide được dùng làm vật liệu catốt trong các pin và pin khô kiềm và tiêu chuẩn. Các ion mangan(II) có chức năng làm "cofactor" trong một số enzyme ở sinh vật bậc cao, có vai trò quan trọng trong sự giải độc của các gốc peroxide tự do. Nguyên tố này cần thiết ở dạng vết trong các sinh vật sống. Khi hít phải Với lượng lớn hơn, mangan có thể gây hội chứng nhiễm độc ở động vật, gây tổn thương thần kinh mà đôi khi không thể phục hồi được. Tính chất vật lý. Mangan là kim loại màu trắng xám, giống sắt. Nó là kim loại cứng và rất giòn, khó nóng chảy, nhưng lại bị oxy hóa dễ dàng. Mangan kim loại chỉ có từ tính sau khi đã qua xử lý đặc biệt. Kim loại mangan và các ion phổ biến của nó có tính chất thuận từ. Mangan tự nhiên là bao gồm 1 đồng vị bền 55Mn. 18 đồng vị phóng xạ đã được miêu tả đặc điểm trong đó đồng vị phóng xạ ổn định nhất là 53Mn có chu kì bán rã 3,7 triệu năm, 54Mn có chu kì bán rã 312,3 ngày, và 52Mn là 5,591 ngày. Tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kì bán rã nhỏ hơn 3 giờ và phần lớn trong số này có chu kì bán rã nhỏ hơn 1 phút. Nguyên tố này cũng có 3 trạng thái meta state. Mangan là một phần trong nhóm các nguyên tố sắt, chúng được cho là đã được tổng hợp trong các sao lớn trong thời gian ngắn trước khi xảy ra vụ nổ siêu tân tinh.53Mn phân rã thành 53Cr với chu kì bán rã 3,7 triệu năm. Do nó có chu kì bán rã tương đối ngắn, 53Mn chỉ có một ít trong các đá do phản ứng của các tia vũ trụ lên sắt. Các thành phần đồng vị mangan đặc biệt kết hợp với các hợp phần đồng vị crom và đã có những ứng dụng trong địa chất đồng vị và định tuổi đồng vị phóng xạ. Tỉ số đồng vị Mn–Cr cùng với bằng chứng từ 26Al và 107Pd về lịch sử ban đầu của Hệ Mặt Trời. Sự biến động về tỉ số 53Cr/52Cr và Mn/Cr trong một số thiên thạch ám chỉ tỉ số 53Mn/55Mn ban đầu rằng thành phần đồng vị Mn–Cr phải là kết quả "tại chỗ" của việc phân rã 53Mn trong các thiên thể phân dị. Do đó 53Mn cung cấp bằng chứng bổ sung cho quá trình tổng hợp hạt nhân tức thì trước sự hóa hợp của Hệ Mặt Trời. Các đồng vị của mangan xếp theo khối lượng nguyên tử từ 46 u (46Mn) đến 65 u (65Mn). Cơ chế phân rã ban đầu trước đồng vị bền phổ biến nhất 55Mn, là bắt electron và cơ chế phân rã ban đầu sau đó là phân rã beta. Tính chất hóa học. Trạng thái oxy hóa phổ biến của nó là +2, +3, +4, +6 và +7, mặc dù trạng thái oxy hóa từ +1 đến +7 đã được ghi nhận. Mn2+ thường tương tác với Mg2+ trong các hệ thống sinh học, và các hợp chất có mangan mang trạng thái oxy hóa +7 là những tác nhân oxy hóa mạnh như Mn2O7. Các hợp chất có trạng thái oxy hóa +5 (lam) và +6 (lục) là các chất oxy hóa mạnh. Trạng thái oxy hóa ổn định nhất là mangan +2, nó có màu hồng nhạt, và một số hợp chất mangan (II) đã được biết như mangan(II) sulfat (MnSO4) và mangan(II) chloride (MnCl2). Trạng thái oxy hóa này cũng được gặp trong khoáng rhodochrosit, (mangan(II) cacbonat). Trạng thái oxy hóa +2 là trạng thái được sử dụng trong các sinh vật sống cho chức năng cảm giác; các trạng thái khác đều là chất độc đối với cơ thể con người. Mangan có vai trò quan trọng trong sản xuất sắt thép vì có tác dụng khử lưu huỳnh, khử oxy, và mang những đặc tính của hợp kim. Luyện thép, và cả luyện sắt, sử dụng nhiều mangan nhất (chiếm khoảng 85-90% tổng nhu cầu). Trong những mục đích khác, mangan là thành phần chủ yếu trong việc sản xuất thép không rỉ với chi phí thấp, và có trong hợp kim nhôm. Nó còn được thêm vào dầu hỏa để giảm tiếng nổ lọc xọc cho động cơ. Mangan đioxít được sử dụng trong pin khô, hoặc làm chất xúc tác. Mangan được dùng để tẩy màu thủy tinh (loại bỏ màu xanh lục do sắt tạo ra), hoặc tạo màu tím cho thủy tinh. Mangan oxide là một chất nhuộm màu nâu, dùng để chế tạo sơn, và là thành phần của màu nâu đen tự nhiên. Kali pemanganat là chất oxy hóa mạnh, dùng làm chất tẩy uế trong hóa học và y khoa. Phosphat hóa mangan là phương pháp chống rỉ và ăn mòn cho thép. Nó thường hay được dùng để sản xuất tiền xu. Những loại tiền xu duy nhất có sử dụng mangan là đồng xu niken "thời chiến" ("Wartime" nickel) từ năm 1942 đến 1945, và đồng xu đôla Sacagawea (từ năm 2000 đến nay). Trình độ ứng dụng mangan ở Hoa Kỳ vẫn không có nhiều thay đổi. Hiện nay, không có giải pháp công nghệ thực tế nào có thể thay thế mangan bằng chất liệu khác hay sử dụng các trầm tích trong nước hoặc các công nghệ làm giàu khác để giảm hoàn toàn sự phụ thuộc của Hoa Kỳ vào các quốc gia khác đối với quặng mangan. Chất liệu thay thế: Mangan không có chất liệu thay thế thỏa mãn nào trong những ứng dụng lớn. Trong những ứng dụng nhỏ, kẽm hoặc vanadi có thể thay thế được cho phương pháp phosphat hóa mangan. Các hợp chất mangan được sử dụng để làm chất tạo màu và nhuộm màu cho gốm và thủy tinh. Màu nâu của gốm đôi khi dựa vào các hợp chất mangan. Trong ngành công nghiệp thủy tinh, các hợp chất mangan được dùng cho 2 hiệu ứng. Mangan(III) phản ứng với sắt(II) để tạo ra màu lục đậm trong thủy tinh bằng cách tạo ra sắt(III) ít màu hơn và màu hồng nhạt của mangan(II) kết hợp với màu còn lại của sắt (III). Phân bố và sản xuất. Mangan chiếm khoảng 1000 ppm (0,1%) trong vỏ Trái Đất, đứng hàng thứ 12 về mức độ phổ biến của các nguyên tố ở đây. Đất chứa 7–9000 ppm mangan với hàm lượng trung bình 440 ppm. Nước biển chỉ chứa 10 ppm mangan và trong khí quyển là 0,01 µg/m³. Mangan có mặt chủ yếu trong pyrolusit (MnO2), braunit, (Mn2+Mn3+6)(SiO12), psilomelan (Ba,H2O)2Mn5O10, và ít hơn trong rhodochrosit (MnCO3). Quặng mangan quan trọng nhất là pyrolusit (MnO2). Các quặng quan trọng khác thường có sự phân bố liên quan đến các quặng sắt. Các nguồn trên đất liền lớn nhưng phân bố không đồng đều. Khoảng 80% nguồn tài nguyên mangan đã được biết trên thế giới được tìm thấy ở Nam Phi, các mỏ mangan khác ở Ukraina, Úc, Ấn Độ, Trung Quốc, Gabon và Brasil. Năm 1978, người ta đã tính có 500 tỉ tấn mangan dạng thận ở đáy biển. những nỗ lực tìm phương pháp có hiệu quả kinh tế để thu hồi mangan dạng thận này đã bị bỏ lửng trong thập niên 1970. Mangan được khai thác ở Nam Phi, Úc, Trung Quốc, Brasil, Gabon, Ukraine, Ấn Độ, Ghana và Kazakhstan. Nguồn nhập khẩu của Hoa Kỳ (1998–2001) từ: 1/ quặng mangan: Gabon, 70%; Nam Phi, 10%; Úc, 9%; Mexico, 5%; và nguồn khác, 6%. 2/ Ferromangan: Nam Phi, 47%; Pháp, 22%; Mexico, 8%; Úc, 8%; và nguồn khác, 15%. Mangan chứa trong các nguồn nhập khẩu gồm: Nam Phi, 31%; Gabon, 21%; Úc, 13%; Mexico, 8%; và nguồn khác, 27%. Về sản xuất ferromangan, quặng mangan được trộn với quặng sắt và cacbon, sau đó khử hoặc trong lò cao hoặc trong lò điện hồ quang. Ferromangan được tạo ra có hàm lượng mangan từ 30 đến 80%. Mangan tinh khiết được dùng để sản xuất các hợp kim không chứa sắt, được sản xuất bằng cách cho quặng mangan đã được ngâm chiết với acid sulfuric và tiếp theo là xử lý bằng điện triết. Vai trò sinh học.
Trần Khánh Dư (chữ Hán: 陳慶餘, 13 tháng 3, 1240 - 23 tháng 4, 1340), hiệu là Nhân Huệ vương (仁惠王), là một chính khách, nhà quân sự Đại Việt dưới thời đại nhà Trần. Ông nổi bật với việc giữ chức Phó đô tướng quân trong kháng chiến chống Nguyên lần 2 và 3, tiêu diệt đoàn thuyền lương quân Nguyên ở Vân Đồn năm 1288, tham gia chinh phục Chiêm Thành năm 1312 nhưng bị sử sách phê phán vì tính tham lam, thô bỉ thể hiện qua câu nói "Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?". Thiên tử nghĩa nam. Trần Khánh Dư quê ở Chí Linh, Hải Dương, cha là Thượng tướng Nhân Huệ hầu Trần Phó Duyệt, tương truyền mẹ là Trần Thái Anh. Khi còn thiếu thời, rất ít chuyện ghi chép về ông. Trong lần chống quân Nguyên Mông vào năm 1258, Khánh Dư có công nhân sơ hở đánh úp quân giặc. Sau đó, ông đánh người Man ở vùng núi,thắng lớn, được nhận làm Thiên tử nghĩa nam, phong làm Phiêu Kỵ đại tướng quân. Chức Phiêu Kỵ tướng quân nếu không phải là hoàng tử thì không được phong. Vì Khánh Dư là "Thiên tử nghĩa nam" cho nên mới có lệnh đó. Rồi từ "Quan nội hầu" thăng mãi đến "Tử phục Thượng vị hầu", quyền chức Phán thủ. Về vấn đề vị Hoàng đế nhà Trần nào là người nhận Trần Khánh Dư làm con nuôi, đến nay vẫn có nhiều điểm nghi hoặc. Nguyên văn trong Đại Việt sử ký toàn thư: "Nhâm Ngọ, Thiệu Bảo năm thứ 4 (1282)...Lần trước, quân Nguyên vào cướp, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư nhân sơ hở đánh úp quân giặc. Thượng hoàng khen ông có trí lược, lập làm Thiên tử nghĩa nam". Lúc này Sử ký đang ghi kỷ về Trần Nhân Tông, nên "Thượng hoàng" có lẽ là Trần Thánh Tông. Tuy nhiên vào thời điểm ấy, nếu xét Trần Khánh Dư "vào lúc người Nguyên vào cướp" đã có quân công, thì phải là thời điểm năm 1257 khi Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân vào. Mà vào thời điểm ấy, để có đủ trưởng thành lập quân công, ông ít nhất phải bằng tuổi Trần Thánh Tông (khi ấy khoảng 18 tuổi) và người nhận ông làm con là Trần Thái Tông mới phải. Tuy nhiên, nếu trường hợp ông bằng tuổi Trần Thánh Tông, tức là sinh năm 1240, thì đối chiếu năm mất 1340, ông xấp xỉ 100 tuổi, một tuổi thọ hơi khó tin. Cho nên, Trần Khánh Dư là được vị Hoàng đế nhà Trần nào nhận làm "nghĩa nam", đến bây giờ cũng hoàn toàn không có kết luận chuẩn xác. Theo "Lịch triều hiến chương loại chí" thì ông được Trần Thánh Tông nhận làm "Thiên tử nghĩa nam". Tư thông trọng án. Sau khi có được địa vị, Trần Khánh Dư lại vướng phải vụ án gian dâm với Thiên Thụy công chúa là vợ chưa cưới của Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, con trai Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Bấy giờ Hưng Vũ vương Nghiễn vì là con trai Hưng Đạo vương Quốc Tuấn, lại có công đánh giặc nên rất có uy thế, nên Thượng hoàng mới gả Thiên Thụy công chúa cho. Đến đây, sự việc phát giác, tuy nhà Trần không xa lạ với chuyện thân thích cưới gả, thế nhưng Trần Khánh Dư thân là "Thiên tử nghĩa nam" lại có hành vi tư thông, là một loại quan hệ đáng lên án của xã hội xưa. Trong phiên tòa xử tội ông, Trần Thánh Tông sợ phật ý Hưng Đạo vương mà đã phạt tội đánh đến chết, nhưng Thánh Tông lại ngầm hạ lệnh cho lính đánh chúc đầu gông xuống, nhờ thế mà qua 100 roi Trần Khánh Dư vẫn sống. Theo luật thời đó, qua 100 roi mà không chết nghĩa là trời tha, nhờ vậy mà ông đã được miễn tội chết. Sau đó, ông bị phế truất binh quyền, tịch thu gia sản phải trở về Chí Linh làm nghề bán than củi. Năm 1283, ông được Trần Nhân Tông phục chức và được phong làm "Phó đô tướng quân" trấn giữ Vân Đồn. Lúc đó, thuyền vua đỗ ở bến Bình Than, nước triều rút, gió thổi mạnh, có chiếc thuyền lớn chở than củi, người lái thuyền đội nón lá, mặc áo ngắn. Vua chỉ và bảo quan thị thần: "Người kia chẳng phải là Nhân Huệ vương đó sao?". Lập tức sai người chèo thuyền nhỏ đuổi theo. Đến cửa Đại Than thì kịp. Quân hiệu gọi: "Ông lái ơi, có lệnh vua triệu". Khánh Dư trả lời: "Lão là người buôn bán, có việc gì mà phải triệu". Quân hiệu trở về tâu thực như thế. Vua bảo: "Đúng là Nhân Huệ đấy, ta biết người thường tất không dám nói thế". Vua lại sai nội thị đi gọi. Khánh Dư mặc áo ngắn, đội nón lá đến gặp vua. Vua nói: ""Nam nhi mà đến nỗi này thì thực là cùng cực rồi"," bèn xuống chiếu tha tội cho ông. Khánh Dư lên thuyền lạy tạ. Vua ban cho áo ngự, cho ngồi các hàng dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc nước, nhiều điều hợp ý vua. Trần Khánh Dư có công lớn trong việc đánh tan đạo binh thuyền chở lương thực, khí giới của quân Nguyên do Trương Văn Hổ chỉ huy vào tháng 12 năm 1287, góp phần làm xoay chuyển tình thế chiến tranh. Tháng 5 năm 1312, ông theo Trần Anh Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành. Trận này quân Đại Việt bắt được chúa Chiêm Thành là Chế Chí đem về. Viết lời tựa sách. Không chỉ giỏi võ, Trần Khánh Dư còn có kiêm tài văn. Ông là người viết lời tựa cho cuốn Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Đại Việt Sử ký Toàn thư có chép lại lời tựa ấy. "Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết." "Ngày xưa Cao Dao làm sĩ sư mà không ai dám trái mệnh, đến Vũ Vương, Thành Vương nhà Chu làm tướng cho Văn Vương, Vũ Vương, ngầm lo sửa đức, để lật đổ nhà Thương mà dấy nên vương nghiệp, thế là người giỏi cầm quân thì không cần phải bày trận vậy. Vua Thuấn múa mộc và múa lông trĩ mà họ Hữu Miêu đến chầu, Tôn Vũ nước Ngô đem ngươi đẹp trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở mạnh, phía bắc uy hiếp nước Tấn, nước Tần, nổi tiếng chư hầu, thế là người khéo bày trận không cần phải đánh vậy. Đến Mã Ngập nước Tấn theo bát trận đồ, đánh vận động hàng ngàn dặm, phá được Thụ Cơ Năng để thu phục Lương Châu. Thế gọi là người đánh giỏi không bao giờ thua vậy". "Cho nên trận nghĩa là "trần", là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, Hoàng Đế lập phép tỉnh điền để đặt binh chế. Gia Cát xếp đá sông làm bát trận đồ, Vệ Công sửa lại làm thành Lục hoa trận. Hoàn Ôn lập ra Xà thế trận có vẽ các thế trận hay, trình bày thứ tự, rõ ràng, trở thành khuôn phép. Nhưng người đương thời ít ai hiểu được, thấy muôn đầu ngàn mối, cho là rối rắm, chưa từng biến đổi. Như Lý Thuyên có soạn những điều suy diễn của mình, những người đời sau cũng không hiểu ý nghĩa. Cho nên Quốc công ta mới hiệu đính, biên tập đồ pháp của các nhà, soạn thành một sách, tuy ghi cả những việc nhỏ nhặt, nhưng người dùng thì nên bỏ bớt chỗ rườm rà, tóm lược lấy chất thực". "Sách gồm đủ ngũ hành tương ứng, cửu cung suy nhau, phối hợp cương nhu, tuần hoàn chẵn lẻ. Không lẫn lộn âm với dương, thần với sát, phương với lợi, sao lành, hung thần, ác tướng, tam cát, ngũ hung, đều rất rõ ràng, ngang với Tam Đại, trăm đánh trăm thắng. Cho nên, đương thời có thể phía bắc trấn ngự Hung Nô, phía nam uy hiếp Lâm Ấp". Trong thời gian bị bãi chức, Trần Khánh Dư về đất cũ của cha mình (Thượng tướng Trần Phó Duyệt) ở Chí Linh, Hải Dương làm nghề buôn bán than để sống. Tác giả các bộ sử cũ, với quan điểm "sĩ, nông, công, thương", coi việc ông buôn than, bán nón là nghề "hèn mọn". Trong thời gian làm tướng ông cũng kinh doanh. Đây là điểm đặc biệt ở ông, khác với nhiều quan lại chỉ sống nhờ bổng lộc do chức tước, không quan tâm đến sản xuất và kinh doanh. Ông cũng nổi tiếng về tính "con buôn" khi đối xử với dân chúng và binh lính, chẳng hạn như khi ông trả lời Trần Anh Tông vào năm 1296 là "Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?". Đại Việt Sử Ký Toàn thư có viết lại một chuyện, khi Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn, tục ở đó lấy buôn bán làm nghề nghiệp sinh nhai, ăn uống, may mặc đều dựa vào khách buôn phương Bắc, cho nên quần áo, đồ dùng theo tục người Bắc. Khánh Dư duyệt quân các trang, ra lệnh: "Quân trấn giữ Vân Đồn là để ngăn phòng giặc Hồ, không thể đội nón của phương Bắc, sợ khi vội vàng khó lòng phân biệt, nên đội nón Ma Lôi, ai trái tất phải phạt". Nhưng Khánh Dư đã sai người nhà mua nón Ma Lôi từ trước, chở thuyền đến đậu trong cảng rồi. Lệnh vừa ra, sai người ngầm báo dân trong trang: "Hôm qua thấy trước vụng biển có thuyền chở nón Ma Lôi đậu". Do đấy, người trong trang nối gót tranh nhau mua nón, ban đầu mua không tới 1 tiền, sau giá đắt, bán 1 chiếc nón giá 1 tấm vải. Số vải thu được tới hàng ngàn tấm. Thơ mừng của một người khách phương Bắc câu: "Vân Đồn kê khuyển diệc giai kinh" (gà chó Vân Đồn đều khiếp sợ) là nói thác sợ phục uy danh của Khánh Dư mà thực là châm biếm ngầm ông ta. Khánh Dư tính tham lam, thô bỉ, những nơi ông ta trấn nhậm, mọi người đều rất ghét. Trần Nhân Tông chỉ tiếc ông có tài làm tướng, nên không nỡ bỏ mà thôi. Năm 1323, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư xin về trí sĩ, tại vùng ấp ông được phong, thuộc xã Dương Hòa, lộ Lý Nhân (Hà Nam). Một lần, ông đi chơi đến Tam Điệp, Trường Yên (Ninh Bình), qua vùng đất thấy đồng cỏ bát ngát, sông nước hữu tình, ông bèn sai gia nhân đến khai khẩn, lập thành làng mới. Dần dần, người kéo đến làm ăn ngày càng đông. Ông đặt tên là trại An Trung. Sau đó, dân các vùng khác tiếp tục đến, lập thêm trại Động Khê và trại Tịch Nhi, thuộc hai xã Yên Nhân và Yên Đồng, huyện Ý Yên (Nam Định). Ông ở lại những nơi mới khai phá này 10 năm. Sau đó, ông trở về ấp Dưỡng Hòa cũ và giao lại các trại mới lập cho hai gia tướng họ Bùi và họ Nguyễn coi sóc. Trong buổi đầu khai hoang lập ấp, ông đã bỏ tiền nhà ra giúp vốn cho dân, ông còn hướng dẫn dân trại Tịnh Nhi trồng cây cói và làm nghề dệt cói. Năm 1340, Nhân Huệ vương mất, không lâu sau lễ mừng thọ 100 tuổi. Nhân dân trong vùng lập đền thờ ông ở trại An Trung, trên nền nhà xưa ông đã ở, để ghi tạc công đức của ông. Trong đền có bức đại tự: ""Ẩm hà tư nguyên" (Uống nước nhớ nguồn)" và đôi câu đối: "Nhân Huệ Vương tân sáng giang biên, thố địa ốc nhiều kim thượng tại" "Bùi, Nguyễn tộc cựu mô kế chí, gia cư trù mật cổ do lưu." "Nhân Huệ Vương mở mới bến sông, đồng ruộng tốt tươi nay vẫn đó" "Họ Bùi Nguyễn theo nền nối chí, cửa nhà đông đúc trước còn đây." Lễ hội Quan Lạn. Ngày nay ở bến Đình thuộc xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, dân trong vùng vẫn tổ chức lễ hội Quan Lạn (còn gọi là hội đua bơi Quan Lạn), là hội làng của người dân xã đảo Quan Lạn, một hòn đảo nằm ở khu trung tâm thương cảng cổ Vân Đồn nhằm kỷ niệm chiến thắng Vân Đồn năm 1287 của Trần Khánh Dư. Lễ hội diễn ra từ ngày 10 - 20/6 âm lịch (Chính hội ngày 18/6 âm lịch). Lễ hội được tổ chức trên bến Đình, nơi có đình Quan Lạn, một ngôi đình cổ trong số ít những ngôi đình còn giữ được cho đến ngày nay. Tên ông được đặt cho nhiều đường phố và trường học ở Việt Nam như tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc các thành phố, thị xã tại Quảng Ninh: Hạ Long, Quảng Yên.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Trúc Phương (1933–1995) là nhạc sĩ nhạc vàng tiêu biểu tại Việt Nam Cộng hòa trước 30 tháng 4 năm 1975. Nhiều ca khúc viết bằng giai điệu Bolero của ông trở thành bất hủ và vẫn được yêu thích cho đến tận nay. Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiên Lộc, sinh năm 1933 tại Mỹ Hòa, Cầu Ngang, Trà Vinh. Ông sinh hoạt văn nghệ tại Ty Thông tin tỉnh Vĩnh Bình cuối thập niên 1950 trong một thời gian ngắn rồi lên Sài Gòn học nhạc ở lớp nhạc của nhạc sĩ Trịnh Hưng. Hai sáng tác đầu tiên của ông là "Tình thương mái lá" và "Tình thắm duyên quê" viết vào năm 1957. Tiếp sau đó là "Chiều làng em" (1958) và "Đò chiều" (1959). Bản nhạc "Tàu đêm năm cũ" bất hủ của ông được viết vào đầu thập niên 1960, tặng cho những người sĩ quan phải đi xa nhà vì lúc đó chính quyền Đệ Nhất Cộng hoà có sắc lệnh hoán chuyển công tác sĩ quan, công chức miền Nam ra miền Trung và ngược lại. Tổng số lượng sáng tác của ông gần 70 bài, nhiều bài phổ biến trong suốt thập niên 1960 và cho đến tận hiện nay. "Xin cảm ơn đời" là bản nhạc cuối cùng mà ông viết vào tháng 3 năm 1995 với ca từ coi như những tâm tình, uẩn khúc mà ông muốn gửi lại cho đời lần sau chót. Ông từng mở lớp nhạc ở số 33/230, đường Gia Long, Gò Vấp gọi là "Trúc Phương Tự Lực", đào tạo được một số ca sĩ như Thy Lệ Dung, Thy Lệ Huyền, Chinh Thông nhưng không mấy thành công. Tuy vậy, nhiều ca sĩ nổi tiếng nhờ trình bày những sáng tác của Trúc Phương như Thanh Thúy, Chế Linh, Duy Khá, ông viết tặng riêng 5 bài: "Hình bóng cũ", "Lời ca nữ", "Mắt em buồn", "Tình yêu trong mắt một người" và "Mắt chân dung để lại". Năm 1976, Trúc Phương vượt biên nhưng không thành công và bị tịch thu nhà số 301 Lý Thường Kiệt, Quận 11. Những năm sau, ông vượt biên thêm 2 lần nhưng vẫn không thành công. Lúc ra tù, vợ con ly tán, ông sống không nhà cửa, không giấy tờ tuỳ thân rồi lưu lạc về Trà Vinh, Vĩnh Long và vài nơi khác. Giữa năm 1985, ông được nhận vào công tác tại Hội Văn nghệ Cửu Long, được cấp một căn phòng tại số 6 Hưng Đạo Vương, thị xã Vĩnh Long để ở. Thời gian này ông sáng tác và tặng bản thảo chép tay cho bạn bè một số bài nói về tình yêu cây lá, tình yêu quê hương như "Chiều phố huyện", "Hoa sách về xa", "Trà Vinh trong những tình mật ngọt", "Về An Quảng Hữu"... Hầu hết những bài này chính ông xác nhận rằng không thành công lắm, lý do bởi không còn cảm hứng dồi dào như những bài tình ca đã được đón nhận từ trước năm 1975. Ít lâu sau, ông trở về sống ở Thành phố Hồ Chí Minh rồi qua đời vào ngày 18 tháng 9 năm 1995 vì bệnh sưng phổi, được gia đình an táng tại nghĩa trang Lái Thiêu, tỉnh Sông Bé. Lúc ông mất, nhạc sĩ Nhật Ngân (lúc này đã định cư ở Mỹ) viết tặng bài "Gửi người về cát bụi" với lời nhạc có nhắc tên một số bài hát của ông. Năm 2014, Trung tâm Asia thực hiện chương trình Asia 74: Trúc Phương – Ông hoàng của dòng nhạc Bolero để vinh danh ông. Trúc Linh ‒ con trai ông chia sẻ: "Ba tui không bao giờ uống rượu. Ba lấy má tui trong những năm cuối 50 chớ không phải sau năm 70, năm nay tui 5 bó rồi. Má tui con nhà giáo, gia đình cũng khá nhưng ở Bến Tre. Chiều Làng Em là bài ba tui viết cho má tui. Ông già tui không phải tự học nhạc, mà có thầy dạy đàng hoàng. Chung quanh nhà bà nội tui ở Trà Vinh không hề có tre trúc gì hết ráo, mà nhà má tui ở Bến Tre thì có nhiều. Gia đình tui cũng không nghèo, ba tui thường lái Mazda và Peugeot 404. Thời xưa cũng có lúc khó khăn khi ông còn viết nhạc, nhưng sau này ba má tui làm ăn cũng khá lắm. Khi ‘giải phóng’ vào thì có sa sút, nhưng đó là tình trạng chung của tất cả dân miền Nam thời bao cấp. Gia đình tui có tới 6 anh chị em, có nghĩa là ba và má tui chung sống cũng khá lâu. Họ ly dị vào khoảng năm 1979. Nguyễn Trung viết rằng khi ba tui qua đời, chết chỉ còn đôi dép là nói LÁO. Ông không giàu có gì, nhưng cũng không đến nỗi thê thảm như vậy. Tui đã từng về thăm ông 3 tháng trước khi ông mất, cho thấy điều này ông Trung quá bôi bác gia đình chúng tôi. Nói như ông Trung có nghĩa là các con của ông không hề quan tâm tới ông. Điều này không đúng sự thật. Chúng tôi lúc nào cũng quan tâm đến ông."
Trần Thái Tông (chữ Hán: 陳太宗 9 tháng 7 năm 1218 – 5 tháng 5 năm 1277), tên khai sinh là Trần Cảnh (陳煚), là vị hoàng đế đầu tiên của Hoàng triều Trần nước Đại Việt. Ông giữ ngôi từ ngày 10 tháng 1 năm 1226 tới ngày 30 tháng 3 năm 1258, sau đó làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời năm 1277. Trần Cảnh sinh ra vào thời Lý, quê ở huơng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Ông là con của Trần Thừa là Phụ quốc Thái úy của Nhà Lý do có công phò tá vua Huệ Tông trong loạn Quách Bốc. Họ Trần lúc này đã là thế lực chính trị nắm triều đình nhà Lý. Lên bảy tuổi, ông được Điện tiền Chỉ huy sứ Trần Thủ Độ vốn là chú họ tiến cử làm Chi hậu chính chi ứng cục, hầu hạ cho nữ hoàng nhỏ tuổi Lý Chiêu Hoàng. Cuối năm 1225 – đầu năm 1226, Trần Thủ Độ buộc Lý Chiêu Hoàng cưới và nhường ngôi cho Trần Cảnh, tức Hoàng đế Trần Thái Tông. Tân hoàng đế mời cha là Trần Thừa làm Thái thượng hoàng, Trần Thủ Độ làm Thái sư, lại phong Chiêu Hoàng làm "Chiêu Thánh Hoàng hậu". 12 năm sau, Trần Thủ Độ ép Thái Tông phế Chiêu Thánh vì không sinh được người kế vị, và lập chị Chiêu Thánh là Thuận Thiên lên thay. Thuận Thiên vốn là vợ của anh Thái Tông là Trần Liễu, và khi ấy đang có thai với Trần Liễu 3 tháng. Việc này đã khiến Trần Liễu làm loạn ở sông Cái, nhưng cuối cùng bị thất thế, Trần Thủ Độ muốn giết nhưng Thái Tông can thiệp, tha chết cho anh mình. Cùng với Thượng hoàng Trần Thừa (mất năm 1234) và Thái sư Trần Thủ Độ (mất năm 1264), Trần Thái Tông đã tiến hành cải tổ luật pháp, hành chính, đồng thời khuyến khích nông, thương nghiệp và phát triển nền giáo dục Tam giáo đồng nguyên. Ông cũng xây dựng quân đội mạnh và ngăn chặn quân Chiêm Thành cướp phá mạn nam. Theo nhà chép sử Lê Tung đời Lê sơ: "chế độ nhà Trần do đấy hưng thịnh". Trong thời gian đó, trên hướng bắc Đại Việt, dân tộc Mông Cổ đã trỗi dậy thành một đế quốc quân sự lớn. Năm 1258, tướng Mông Cổ Ngột Lương Hợp Thai đem quân tấn công Đại Việt. Trần Thái Tông trực tiếp lãnh đạo kháng chiến và cuối cùng đã đánh bại người Mông Cổ. Không lâu sau chiến thắng, ông nhường ngôi cho Thái tử Hoảng, tức Hoàng đế Trần Thánh Tông, và được tôn làm "Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế" (顯堯聖壽太上皇帝). Thượng hoàng vẫn có ảnh hưởng lớn đến việc triều chính cho đến khi mất năm 1277. Ông còn là một thiền sư Phật giáo, đã truyền dạy kinh nghiệm tu hành của mình qua các tác phẩm "Khóa hư lục", "Thiền tông chỉ nam", "Chú giải Kinh Kim cương Tam muội" và "Lục thời sám hối khoa nghi". Ông được xem là người có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành Thiền phái Trúc Lâm – giáo hội thống nhất đầu tiên của đạo Phật tại Việt Nam – vào cuối thế kỷ XIII. Trần Thái Tông nguyên tên thật là Trần Bồ (陳蒲) sau đổi thành Trần Cảnh (陳煚), các sách sử Trung Quốc gọi là Trần Nhật Cảnh (陳日煚) hoặc Trần Quang Bính (陳光昺), quê ở hương Tức Mặc (nay là phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định). Ông sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, niên hiệu Kiến Gia thứ 8 thời Lý Huệ Tông (tức ngày 9 tháng 7 năm 1218), là con trai thứ hai của quan Nội thị phán thủ Trần Thừa, mẹ ông là Thuận Từ Hoàng hậu Lê thị. Sách "Đại Việt Sử ký Toàn thư", do sử quan Ngô Sĩ Liên biên soạn năm 1479 đời Lê Thánh Tông, mô tả ông có ngoại hình "mũi cao, mặt rộng, giống như Hán Cao Tổ". Khi Trần Cảnh sinh ra, Trần Thừa cùng em là Thái úy Trần Tự Khánh đã nắm quyền thao túng triều đình Nhà Lý. Do sinh ra vị trí thứ hai, nên ông còn được gọi là Trần Nhị Lang (陳二郎). Trần Cảnh ra đời và lớn lên lúc họ Trần đang nắm quyền bính trong triều đình Nhà Lý, với trụ cột là chú ruột Trần Tự Khánh và sau là phụ thân Trần Thừa. Sau khi Trần Tự Khánh mất (1223), một người chú họ của ông là Trần Thủ Độ (em họ Trần Thừa) được phong chức Điện tiền Chỉ huy sứ, cai quản lực lượng cấm vệ hoàng cung. Năm 1225, Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái 7 tuổi là Chiêu Thánh, tức vua Lý Chiêu Hoàng. Trần Thủ Độ tiến cử Trần Cảnh, lúc đó mới 8 tuổi, làm Chi hậu chính chi ứng cục hầu hạ trong cung. Trần Cảnh trạc tuổi với Chiêu Hoàng, được bà rất quý mến, gần gũi và hay trêu đùa. Trần Thủ Độ đã lợi dụng điều này để dàn xếp hôn nhân giữa Chiêu Hoàng với Trần Cảnh, sau đó ép Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng. Sách "Đại Việt Sử ký Toàn thư" kể rằng: Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (tức ngày 22 tháng 11 năm 1225) Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh. Ngày 11 tháng 12 năm ấy (tức 10 tháng 1 năm 1226), Chiêu Hoàng trao hoàng bào cho Trần Cảnh ở điện Thiên An. Nhà Lý chấm dứt sau 216 năm tồn tại. Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Thiện Hoàng (善皇), sau đổi thành Văn Hoàng (文皇) và được quần thần tặng tôn hiệu Khải Thiên Lập Cực Chí Nhân Chương Hiếu Hoàng đế (啓天立極至仁彰孝皇帝). Sử sách gọi ông là Trần Thái Tông (陳太宗). Sau này, năm 1237, sau khi dẹp được loạn Hoài vương Trần Liễu, Trần Thái Tông được dâng thêm tôn hiệu là Thống Thiên Ngự Cực Long Công Hậu Đức Hiền Công Hựu Thuận Thánh Văn Thần Vũ Hiếu Nguyên Hoàng đế (綂天御極隆功厚德顯功佑順聖文神武孝元皇帝). Sau đó, Trần Thủ Độ lập mưu bức tử nhạc phụ ông là nhà sư Huệ Quang (Lý Huệ Tông trước đây) nhằm dẹp trừ hậu họa. Sau khi lên ngôi, ông cử Trần Thủ Độ làm Quốc thượng phụ (国尚父) nắm toàn quyền chấp chính. Trần Thủ Độ đang bận đánh dẹp ở bên ngoài, lại tự nghĩ rằng mình vốn mù chữ, nên thuyết phục tân hoàng đế mời cha là Trần Thừa ra làm nhiếp chính. Đề xuất này được triều đình đồng ý, và vào tháng 10 âm lịch năm 1226 Thái Tông tôn Trần Thừa làm Thái thượng hoàng. Còn Trần Thủ Độ được giữ chức "Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sư".. Dưới triều đại của mình, Trần Thái Tông đã sử dụng các niên hiệu Kiến Trung (建中 tháng 2 âl năm 1225 – tháng 7 âl năm 1237), Thiên Ứng Chính Bình (天應政平 tháng 7 âl năm 1232 – tháng 2 âl năm 1251) và Nguyên Phong (元豐 tháng 2 âl năm 1251 – tháng 2 âl 1258). Chính sách trị nước. Trong 9 năm đầu thời vua Thái Tông, Thượng hoàng Trần Thừa nắm quyền cai quản chính sự. Sau khi thượng hoàng mất (1234), Trần Thủ Độ được phong chức Thống quốc Thái sư, trở thành người có ảnh hưởng lớn nhất đến các chính sách của hoàng đế. Từ năm 1226 đến 1258, với sự giúp đỡ của thượng hoàng, Thái sư và các đại thần, Trần Thái Tông đã ban hành nhiều biện pháp về kinh tế, nông nghiệp, giáo dục, văn hóa và luật pháp để củng cố nền cai trị của triều Trần. Sau khi lên ngôi, Hoàng đế Trần Thái Tông đã định lại quan chế Đại Việt. Từ đây có hệ thống quan lại gồm các văn võ đại thần (Tam thái, Tam thiếu, Thái úy, Tư mã, Tư đồ, Tư không), Tể tướng (được thêm danh hiệu là Tả hữu Tướng quốc Bình chương quân quốc trọng sự), thứ tướng (được thêm danh hiệu là Tham tri chính sự, Nhập nội hành khiển, hoặc Tả phù hữu bật), các chức quan văn trong triều (Thượng thư các bộ, Tả hữu tham tri, Tả hữu gián nghị, Trung thư thị lang, Thị lang các bộ, Tả hữu ty lang trung, Viên ngoại lang, Ngự sử đại phu, Ngự sử trung tướ), quan võ trong triều (Phiêu kỵ thượng tướng quân, Cấm vệ thượng tướng quân, Kim ngô đại tướng quân, Võ vệ đại tướng quân, Phó đô tướng quâ), quan văn địa phương (An phủ sứ, Tri phủ, Thông phán, Thiêm phá), quan võ địa phương (Kinh lược sứ, Phòng ngự sứ, Thủ ngự sứ, Quan sát sứ, Đô hộ, Đô thống, Tổng quả). Vua Thái Tông còn đặt lệ: cứ 15 năm thì xét duyệt quan lại 1 lần, cứ 10 năm thì thăng lên 1 tướng cho các quan, và cứ 15 năm thì thăng lên 1 chức. Cơ quan nào bị thiếu chức phó, thì người giữ chức chánh sẽ kiêm nhiệm chức phó; còn nếu thiếu cả chánh lẫn phó thì cử quan khác làm tạm một thời gian, đến kỳ xét duyệt mới chính thức cho làm chức đó. Mùa xuân năm 1250, Trần Thái Tông cho đổi Đô vệ phủ (cơ quan coi việc kiện tụng của nhà nước) làm Tam ty viện (tức ba viện Phụng tuyên, Thanh túc, Hiến chính), cử Ngự sử trung tướng Lê Phụ Trần trông coi Tam ty viện. Cũng từ triều Trần Thái Tông, Nhà Trần có truyền thống chọn người tôn thất làm Tả hữu Tướng quốc Bình chương quân quốc trọng sự, người ngoài hoàng tộc dù có giỏi đến mấy vẫn không được giữ chức đấy. Trong thời kỳ này, vua và bầy tôi giữ quan hệ rất gần gũi, thân mật, ít đặt nặng lễ nghi. Khi có yến tiệc, các quan uống cho say xong rồi đứng lên nắm tay nhau cùng hát. Sử gia Ngô Sĩ Liên đã bình luận: ""Xem thế đủ thấy, tuy bấy giờ vua tôi cùng vui, không gò bó vào lễ pháp, cũng là điều giản dị, chất phát của phong tục, nhưng không còn chừng mực gì nữa. Hữu Tử nói: "Biết được hòa đồng rồi hòa đồng, nhưng không lấy lễ mà tiết chế, thì cũng không thể làm được"... kỷ cương của triều đình để đâu?"". Trước đây, triều Lý không có quy chế rõ ràng về việc cấp bổng lộc cho quan lại, chỉ có quan giữ hình ngục là được trả lương hàng năm. Đến năm 1236 Hoàng đế Trần Thái Tông đặt lệ cấp lương bổng cho bá quan văn võ trong triều, ngoài địa phương và các quan coi cung thất, lăng tẩm. Năm 1244 ông lại đặt thêm chế độ lương bổng cho các quan túc vệ. Sĩ phu đời Nguyễn, Phan Huy Chú trong bộ "Lịch triều hiến chương loại chí" có bình luận: "Chính sự Nhà Trần làm việc này là rất phải, thực rất đáng khen". Tháng 5 âl năm 1254, vua Thái Tông ban bố quy định về kiểu áo mũ, xe kiệu và số người hầu của vương hầu, văn quan, võ tướng: ""Từ tông thất cho đến quan ngũ phẩm đều được đi kiệu, ngựa và võng. Tôn thất thì kiệu đầu đòn chạm phượng sơn son, tướng quốc thì kiệu đầu đòn chạm vẹt sơn đen, lọng tía; từ tam phẩm trở lên thì kiệu đầu đòn chạm mây, lọng xanh; từ tứ phẩm đến lục phẩm thì kiệu đầu đòn bằng dầu; ngũ phẩm trở lên thì lọng xanh; lục thất phẩm thì lọng giấy đen. Người theo hầu nhiều thì 1.000 người, ít thì 100 người"." Hành chính, luật pháp. Tháng 8 âm lịch năm 1228, Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông cho kiểm tra dân đinh tại Thanh Hóa. Hai ông duy trì chính sách của triều Lý, sai các quan địa phương lập sổ trường tịch để thống kê số lượng trai tráng, người già, người bệnh tật, người đi phiêu bạt, người đến định cư, người đã làm quan văn, quan võ, binh sĩ, thư lại ở mỗi làng. Trong sổ trường tịch, bình dân được chia thành các thể loại như tiểu hoàng nam (nam giới 18-20 tuổi), đại hoàng nam (nam giới trên 20 tuổi), lão (người già 60 tuổi), long lão (người hơn 60 tuổi). Chính sách này giúp triều đình nắm bắt dân số, tiện cho việc quản lý nhân khẩu, thuế má, tuyển mộ lính tráng và động viên cả nước chống ngoại xâm. Tháng 2 âm lịch năm 1242, Trần Thái Tông chia Đại Việt làm 12 lộ; mỗi lộ gồm nhiều xã hợp thành. Triều đình đặt ra 2 chức quan văn là An phủ chánh, phó sứ để trấn thủ các lộ. Dưới An phủ sứ có các chức đại tư xã (mang hàm từ ngũ phẩm trở lên), tiểu tư xã (hàm từ lục phẩm trở xuống) cai quản 3-4 xã; mỗi xã do quan xã chánh và xã giám quản lý. Đối với kinh đô, năm 1231, Trần Thái Tông chia Thăng Long làm 61 phường. Ông còn lập Ty Bình bạc làm cơ quan quản lý hành chính của kinh sư. Đồng thời, Thái Tông tu sửa vòng thành ngoài cùng của Thăng Long (thành Đại La) và giao việc canh gác 4 cửa thành cho quân Tứ sương. Bên trong Hoàng thành nhà vua xây thêm nhiều cung điện mới ở hướng đông và hướng tây, tiêu biểu là cung Thánh Từ (nơi ở của thượng hoàng) và cung Quan triều (nơi ở của hoàng đế). Tháng 3 âm lịch năm 1230, vua Thái Tông sai nghiên cứu luật pháp thời Lý, rồi soạn ra bộ luật Quốc triều thông chế gồm 20 quyển. Ngày nay sách này đã bị thất truyền. Tuy nhiên, theo ghi nhận trong sách "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú, luật Nhà Trần quy định các tội phạm trộm, cướp phải xăm lên trán 2 chữ "phạm đạo" và bồi thường cho nạn nhân; người nào tái phạm sẽ bị cắt tay, cắt chân hoặc cho voi giày. Người đào ngũ khỏi quân đội cũng bị chặt ngón chân hoặc cho voi đạp chết. "Đại Việt Sử ký Toàn thư" cũng chép việc nhà vua đề xuất hình phạt đối với người bị tội khổ sai, theo đó phạm nhân tội nhẹ hàng năm phải cày 3 mẫu ruộng công tại xã Nhật Cảo (nay thuộc Thái Bình) và dâng 300 thăng thóc; còn phạm nhân tội nhẹ phải đi nhổ cỏ tại Phượng Thành (Thăng Long) dưới sự giám sát của quân Tứ sương. Văn hóa – giáo dục. Năm 1227, Hoàng đế Thái Tông khôi phục lệ hội thề đền Đồng Cổ (nay thuộc làng Yên Thái, Hà Nội) từ thời Lý. Theo đó ngày 4 tháng 4 âm lịch mỗi năm, Tể tướng cùng bá quan phải tập trung trước đền thần Đồng Cổ để tuyên thệ rằng: "Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết". Những viên quan không dự phải đóng phạt 5 quan tiền. Trần Thái Tông còn là một cư sĩ mộ đạo của Phật giáo. Năm 1231, ông và thượng hoàng hạ chiếu cho dựng tượng thờ Phật ở các quán trạm trong nước. Sử quan đời Lê-Trịnh là Ngô Thì Sĩ trong sách "Việt sử tiêu án" đã lý giải nguồn gốc của việc này rằng: ""Tục nước ta: vì nắng bức, nên lập ra nhiều đình quán ở dọc đường cho hành khách nghỉ ngơi, tránh nắng. Khi Vua còn hàn vi, thường vào nghỉ ở một cái đình, có thày tăng bảo rằng: "Cậu bé này ngày sau phải đại quý", nói rồi, không biết thày tăng ấy đi đâu mất, cho nên đến khi bấy giờ phàm chỗ nào có quán trạm đều tô vẽ tượng Phật"". Tháng 4 âm lịch năm 1248, Trần Thái Tông cho xây cầu Lâm Ba ở chùa Chân Giáo, chạy qua hồ Ngoạn Thiềm, tới quán Thái Thanh và cung Cảnh Linh (Thăng Long), sử Nhà Lê mô tả là "cực kỳ tráng lệ". Nhà vua cũng sai tu sửa chùa Diên Hựu vào năm 1249. Đối với đạo Lão, "Đại Việt Sử ký Toàn thư" kể nhà vua từng nhờ đạo sĩ cung Thái Thanh là Thậm cầu tự cho mình, kết quả ứng nghiệm, hậu cung có thai sinh ra hoàng tử thứ 6 – Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Hoàng đế Trần Thái Tông cũng có nhiều đóng góp cho sự lớn mạnh của nền giáo dục Nho giáo. Từ năm 1232 đến 1239, ông đã tổ chức các khoa thi Thái học sinh (lần đầu vào tháng 2 âm lịch năm 1232; lần hai vào tháng 2 âm lịch năm 1239) để tuyển nho sĩ giỏi ra giúp nước. Những người thi đỗ được phân theo 3 hạng trong tam giáp (đệ nhất giáp, đệ nhị giáp và đệ tam giáp); chẳng hạn, kỳ thi năm 1232 có Trương Hanh và Lưu Diễm đỗ đầu, trúng đệ nhất giáp; Đặng Diễn và Trịnh Phẫu trúng đệ nhị giáp; Trần Chu Phổ trúng đệ tam giáp. Tháng 8 âm lịch năm 1236, Thái Tông cho các nho sinh thi đỗ vào hầu vua, việc này sau trở thành lệ. Tháng 10 âm lịch cùng năm, ông lập Quốc tử viện làm nơi học của con em các văn thần, tụng thần; lấy Phạm Ứng Thần làm Thượng thư tri Quốc tử viện. Năm 1247, Thái Tông đặt lệ thi lấy Tam khôi gồm 3 người đỗ đầu là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa (trên thái học sinh) và quy định cứ 7 năm mở 1 khoa thi. Tháng 2 âm lịch năm 1247, nhà vua mở khoa thi Tam khôi đầu tiên, lấy được Trạng nguyên Nguyễn Hiền, Bảng nhãn Lê Văn Hưu, Thám hoa Đặng Ma La cùng 48 Thái học sinh (trong đó, Lê Văn Hưu chính là người đã soạn bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam – Đại Việt sử ký và dâng lên Thượng hoàng Trần Thái Tông, vua Trần Thánh Tông năm 1272). Mùa xuân năm 1256, Thái Tông mở khoa thi Tam khôi thứ hai, đồng thời đặt lệ lấy 2 trạng nguyên: 1 kinh trạng nguyên dành cho các lộ phía bắc và 1 trại trạng nguyên dành cho Thanh Hóa và Nghệ An để khuyến khích việc học ở phương nam. Khoa này chấm đỗ 47 người. Bên cạnh việc tiến hành các khoa thi Nho học, Trần Thái Tông cũng tổ chức thi Tam giáo vào tháng 8 âm lịch năm 1247 để chọn người am hiểu 3 đạo Phật, Nho và Lão làm quan. Ngô Thì Sĩ đã nhận xét về nền khoa cử thời vua Thái Tông rằng: "điều lệ khoa thi ngày thêm đầy đủ, ân điển ngày một long trọng, ở đó mới sản xuất lắm nhân tài, so với triều Lý thịnh hơn nhiều". Tháng 6 âm lịch năm 1253, Trần Thái Tông sai dựng Quốc học viện, tại đây có tượng thờ Chu Công Đán, Khổng Tử, Mạnh Tử và tranh thờ Thất thập nhị hiền (72 môn sinh của Khổng Tử). Tháng 9 âm lịch năm này, ông triệu tập sĩ phu trong nước về Quốc tử viện giảng Ngũ kinh, Tứ thư. Để cải thiện nền kinh tế Đại Việt vốn đã suy thoái từ cuối thời Lý, vua Thái Tông ban hành một loại thuế mới (thuế thân), được đánh dựa trên diện tích ruộng của mỗi người dân. Mức thuế thân được quy định là 1 quan tiền đối với người có 1-2 mẫu ruộng (tức khoảng từ 3600 đến 7200 m²), 2 quan đối với người có 3-4 mẫu, và 3 quan đối với người có ít nhất 5 mẫu. Triều đình còn thu thuế ruộng ở các mức độ khác nhau tùy theo phân loại ruộng (ruộng tư nhân; ruộng công - gồm "ruộng quốc khố" và "ruộng thác điền"). Thuế các loại ruộng thường được tính bằng thóc, chẳng hạn mức thuế ruộng tư nhân là 100 thăng thóc trên một mẫu. Ngoài ra, sách "Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục" (sử quan thời Tự Đức soạn) còn viện dẫn "An Nam tức sự" (tập thơ của sứ giả Nhà Nguyên Trần Phu mô tả chuyến đi Đại Việt năm 1293) cho biết triều Trần áp thuế với trầu cau, dầu thơm và mọi mặt hàng rau quả, thủy sản. Cuối năm 1226, triều đình Thái Tông quy định ""cho dân gian dùng tiễn "tỉnh bách" mỗi tiễn là 69 đồng. Tiền nộp cho nhà nước (tiễn "thượng cung") thì mỗi tiễn là 70 đồng"" (theo "Đại Việt Sử ký Toàn thư"). Đây được xem là lần đầu tiên sử sách Việt Nam ghi lại quan hệ giữa các đơn vị tiền tệ. Nhà vua và Trần Thủ Độ rất chú trọng đến thủy lợi-nông nghiệp. Mùa xuân năm 1231, ông sai hoạn quan Nguyễn Bang Cốc đôn đốc quân bản phủ đào kênh Trầm, kênh Hào từ Thanh Hóa tới Diễn Châu. Bang Cốc đã hoàn tất công việc và được Thái Tông phong tước Phụ Quốc thượng hầu. Năm 1248, Thái Tông sai đào sông Mã, sông Lễ và đục núi Chiếu Bạch ở Thanh Hóa, tạo thành một con kênh chạy dài theo hướng bắc nam, dài hơn 8 km từ sông Hoạt (chỗ sát Cầu Cừ) đến sông Lèn (làng Bình Lâm) nhằm tiêu nước từ Tống Giang (Hà Trung, Thanh Hóa). Đến năm 1256, nhà vua sai vét sông Tô Lịch để hỗ trợ giao thông, đồng thời tạo nguồn tưới tiêu cho các địa phương quanh kinh thành. Công tác đê điều đã đạt được bước phát triển mới trong thời Trần Thái Tông. Trước đây Nhà Lý đã quan tâm đắp đê nhưng chưa có quy hoạch quy mô, nên nhiều lần nước vẫn tràn vào kinh thành. Năm 1238 và 1243, nước lại tràn vào cung điện. Tháng 3 âm lịch năm 1248, Thái Tông truyền cho các lộ đắp đê suốt từ đầu nguồn ra tới bờ biển để chống nước lũ dâng tràn, gọi là đê đỉnh nhĩ (quai vạc). Ông lập ra cơ quan Hà đê, có chánh sứ, phó sứ phụ trách đê điều trong cả nước. Nếu có đoạn đê lấn vào ruộng tư nhân, triều đình sẽ đền tiền cho chủ ruộng. Mỗi khi trong nước có hạn hán, triều đình thường ban hành luật miễn thuế khóa, mở lương thóc rồi đại xá. Các chính sách kinh tế-xã hội của Thượng hoàng Trần Thừa, Thái sư Trần Thủ Độ và Hoàng đế Trần Thái Tông đã khiến quốc lực mau chóng khôi phục, Đại Việt lại trở nên phồn thịnh và thái bình. "Đại Việt Sử ký Toàn thư" có mô tả tình hình Đại Việt thời Trần Thái Tông là "quốc gia vô sự, nhân dân yên vui". Bình Chiêm dẹp bắc. Trần Thái Tông rất chú trọng việc xây dựng quân đội thiện chiến, gồm cấm quân và quân các lộ. Năm 1239 ông ra lệnh tuyển đinh tráng trong nước làm lính; chia làm 3 bậc thượng, trung, hạ. Tháng 2 âm lịch năm 1241, ông tìm người khỏe mạnh và thạo võ nghệ cho gia nhập Cấm quân, gọi là quân thượng đô túc vệ. Sau đó, mùa xuân năm 1246 Thái Tông lập ra 3 vệ cấm quân, tên là Tứ thiên, Tứ thần, Tứ thánh. Đối với quân các lộ, nhà vua quy định: đinh tráng của hai lộ Long Hưng, Thiên Trường thì gia nhập quân Thiên thuộc, Thiên cương, Cương thánh, Cung thần; đinh tráng lộ Hồng, lộ Khoái thì gia nhập quân Tả Hữu Thánh Dực; đinh tráng hai lộ Trường Yên, Kiến Xương thì gia nhập quân Thánh Dực, Thần sách. Đinh tráng các lộ còn lại được cho vào quân Cấm vệ hoặc các đoàn đội "trạo nhi" (lính chèo thuyền). Tháng 8 âm lịch năm 1253, Thái Tông thành lập "Giảng Võ đường" để huấn luyện cho quan võ. Sĩ phu đời Lê Ngô Thì Sĩ đã khen ngợi chính sách xem trọng văn, võ của vua sáng lập triều Trần: Dưới thời Thái Tông, một số cuộc xung đột đã xảy ra trên biên giới phía Bắc và Nam của Đại Việt. Ở phía Bắc, Nam Tống đang chịu sức ép tấn công từ đế quốc Mông Cổ. Do vậy, quan lại của Tống kiểm soát biên giới phía Nam rất lỏng lẻo, tạo điều kiện cho các toán cướp người Mán liên tục hoành hành. Điều này đã làm cản trở cho việc đi lại giữa Đại Việt với Tống. Sách "Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục" còn cho biết: "Sứ bộ Nhà Trần phái sang bên Tống, được đi độ bốn người, chỉ được đem giấy tờ đi theo, còn lễ cống thì niêm phong lại đưa đến biên giới, do quan địa phương chuyển đệ về triều, nhưng cũng không lần nào đệ về được đầy đủ." Tháng 10 âm lịch năm 1240, dân Thổ Mán từ nước Tống kéo sang Đại Việt, cướp phá Lạng Giang. Thái Tông cử thị thần Bùi Khâm lên biên giới giải quyết tình hình. Mùa đông năm 1241, người dân tộc nước Tống lại quấy phá biên giới Đại Việt. Thái Tông sai đốc tướng Phạm Kính Ân mang quân dẹp loạn, phá được quân Thổ, Mán. Cuối năm 1241, Trần Thái Tông thân chinh đánh vào đất Tống, hòng truy diệt các toán cướp Thổ Mán và nối lại đường giao thông giữa Đại Việt với Tống. Sách "Đại Việt Sử ký Toàn thư" đã thuật lại cuộc hành quân này rằng: "Vua thân hành cầm quân đi đánh các trại Vĩnh An, Vĩnh Bình của nước Tống phía đường bộ, vượt qua châu Khâm, châu Liêm, tự xưng là Trai Lang, bỏ thuyền lớn ở trong cõi, chỉ đi bằng các thuyền nhỏ Kim Phụng, Nhật Quang, Nguyệt Quang. Người châu ấy không biết là vua, đều sợ hãi chạy trốn. Đến sau biết là vua mới chăng xích sắt giữa sông để chặn đường thủy. Khi trở về, vua sai nhổ lấy vài chục cái neo đem về." Sau khi về nước, tháng 4 âm lịch năm 1242, vua Thái Tông lại sai Thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình đưa quân lên đóng tại biên ải Việt-Tống. Trần Khuê Kính thúc quân đánh chiếm lộ Bằng Tường (Trung Quốc), từ đây các tuyến giao thông giữa Đại Việt với Tống hoàn toàn được khôi phục. Ở phía Nam, kể từ cuối thời Lý, Chiêm Thành thường xua quân cướp phá vùng ven biển của Đại Việt. Sau khi Nhà Trần thành lập, vua Thái Tông đã sai sứ sang thông hiếu với Chiêm. Người Chiêm một mặt dâng triều cống, mặt khác cho quân đánh phá Đại Việt và đòi vua Trần trả lại lãnh thổ bị mất năm 1069. Tháng 1 âm lịch năm 1252, Thái Tông cử em là Trần Nhật Hiệu làm Lưu thủ kinh sư, rồi thân chinh đánh Chiêm Thành. Quân Đại Việt thắng trận, bắt được vương hậu Bố Da La cùng nhiều thê thiếp, quân dân của vua Chiêm. Cuối năm 1252, vua Thái Tông đem quân về nước, phong Nhật Hiệu làm Thái úy. Thất bại này khiến Chiêm Thành phải chính thức thần phục Nhà Trần; sử Việt và thư từ ngoại giao giữa vua Trần với vua Mông Cổ đều xác định từ năm 1252 đến năm 1285, Chiêm Thành đã nhiều lần sai sứ sang triều cống (thậm chí vào năm 1279, nhiều sứ thần Chiêm còn xin ở lại làm quan cho vua Trần) và không gây một cuộc chiến nào với Đại Việt. Phế lập Hoàng hậu. Mùa xuân năm 1226, sau khi được vợ là Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi, Trần Thái Tông đã lập Chiêu Hoàng làm Hoàng hậu, đổi gọi là Chiêu Thánh Hoàng hậu. Trong thời gian này, Thái Tông có một hoàng tử đặt tên là "Trịnh" (鄭), nhưng không rõ mẹ là ai, cũng không có gì chứng minh đây là con do Chiêu Thánh sinh hạ. Sách "Đại Việt sử ký Toàn thư" gọi Trịnh là Hoàng thái tử, nhưng khi viết về việc Trịnh mất (năm 1233) thì Ngô Sĩ Liên phỏng đoán là Trịnh đã chết ngay khi sinh. Bản thân Ngô Sĩ Liên cũng không ghi chép mẹ của hoàng tử là ai, cũng không ám chỉ là Chiêu Thánh sinh ra. Thái sư Trần Thủ Độ cùng vợ là Thiên Cực công chúa bèn tính chuyện lập một người khác làm hoàng hậu để đảm bảo có con nối dõi cho Thái Tông. Năm 1236, thấy Thuận Thiên công chúa (chị của Chiêu Thánh và cũng là vợ Hoài vương Trần Liễu - anh Thái Tông) đang mang thai Trần Quốc Khang 3 tháng, Trần Thủ Độ ép nhà vua phế Chiêu Thánh xuống làm công chúa, rồi lấy Thuận Thiên làm hoàng hậu mới. Trần Liễu không chịu mất vợ, bèn tập hợp binh lực nổi dậy trên sông Cái. Điều này làm cho Thái Tông khó xử, và vào một đêm ngày 9/5 (mồng 3 tháng 4 âm lịch), ông bí mật rời Thăng Long lên núi Yên Tử, xin tu theo thiền sư Đạo Viên. Khi thiền sư hỏi ông có nhu cầu gì mà lên núi, nhà vua bày tỏ: "Trẫm còn thơ ấu vội mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế vương đời trước, thạnh suy không thường, cho nên Trẫm đến núi này chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác". Sư Đạo Viên trả lời: "Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết gọi là Chân Phật. Nay Bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài." Sau đó, Trần Thủ Độ đưa các quan lên núi Yên Tử năn nỉ Thái Tông trở lại kinh đô. Sư Đạo Viên cũng khuyên rằng: "Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ hạ trở về, Bệ hạ không về sao được. Song phần nghiên cứu nội điển, mong Bệ hạ đừng xao lãng." Nghe lời sư Đạo Viên và Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông cùng bách quan trở về kinh đô, tiếp tục trị nước. Hai tuần sau, Trần Liễu nhận thấy quân mình yếu thế và không thể chống lại triều đình. Trần Liễu chờ lúc Thái Tông đi thuyền qua sông Cái, rồi Liễu cải trang làm người đánh cá, đi thuyền độc mộc đến chỗ thuyền ngự để đầu hàng. Trần Thủ Độ rút gương toan chém Trần Liễu, nhưng Thái Tông lấy thân mình bảo vệ cho Trần Liễu, rồi khuyên Trần Thủ Độ thu quân. Nhà vua còn cấp cho Trần Liễu đất thái ấp ở Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng và Yên Bang (nay thuộc Quảng Ninh), ngoài ra tặng Liễu tước "Yên Sinh vương" (安生王). Các sử gia như Ngô Sĩ Liên và Phan Phu Tiên đã chỉ trích Thái Tông là "cướp vợ của anh" và quy cho ông là đặt tiền đề cho các hành vi trái "tam cương ngũ thường" của vua tôi triều Trần: Tuy nhiên, nhóm sử thần Đại Nam biên soạn bộ "Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục" có lời biện hộ cho Trần Thái Tông trước các phê bình của sử thần triều trước: Tháng 2 âm lịch năm 1237, Trần Thái Tông dựng điện Linh Quang (hay điện Phong Thủy) ở bến Đông Bộ Đầu, bờ nam sông Hồng, đoạn từ dốc Hàng Than tới cầu Long Biên ngày nay. Thường khi xe vua đi từ hoàng thành ra đây, bá quan đưa đón, dâng trầu cau và trà, nên dân gian quen gọi là điện Hô Trà (Gọi Chè). Cũng sau lần gặp Thiền sư Đạo Viên ở Yên Tử năm 1236, Trần Thái Tông bắt đầu chuyên tâm tu tập theo Thiền tông Phật giáo. Mặc dù bận việc coi chính sự và học Khổng giáo, ông vẫn dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu, áp dụng các triết lý trong kinh điển Đại thừa cùng những giáo huấn của Tổ sư Thiền. Nhà vua tu học với sự hỗ trợ của các thiền sư như Đạo Viên ở Yên Tử, Ứng Thuận, Tức Lực và Đại Đăng ở Thăng Long, cùng các vị tăng người Tống là Đức Thành, Thiên Phong. Theo cuốn "Thánh đăng ngữ lục" (một tác phẩm khuyết danh về việc tu học Thiền tông của 5 vua đầu thời Trần, được viết vào khoảng thế kỷ XIV), Thái Tông đọc kinh Kim Cương đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" thì ngộ đạo. Sau đó, khoảng năm 1247-1252, ông viết sách "Thiền tông chỉ nam ca" (Bài ca về yếu chỉ của Thiền tông) để truyền bá cho hậu sinh về kinh nghiệm giác ngộ của mình. Thiền sư Đạo Viên khi đọc được tác phẩm này đã nhận xét: "Tâm của chư Phật ở cả trong này", và khuyến khích nhà vua lưu hành rộng rãi trong nước. Ngoài ra, Thái Tông còn dựng chùa Tư Phúc trong nội đô Thăng Long, để trao đổi thêm kiến thức với các cao tăng, đồng thời giảng dạy Thiền học cho lớp hậu sinh. "Thánh đăng ngữ lục" kể rằng "hằng ngày vua cúng trai tăng cho hơn 500 vị, độ làm đệ tử hơn 30 người". Kháng chiến chống Mông Cổ. Trong khi Đại Việt hưng thịnh dưới triều Trần, ở phương Bắc, Nhà Tống phải rút xuống phía nam trước sự xâm lấn từ nước Kim của người Nữ Chân. Phía tây bị nước Tây Hạ chia cắt. Tới đầu thế kỷ XIII, người Mông Cổ ở phía bắc nước Kim thống nhất dưới quyền Thành Cát Tư Hãn, trở nên lớn mạnh. Mông Cổ đánh xuống phía nam, tiêu diệt Tây Hạ (1227) và Kim (1234). Mặc dù đã mở rộng bờ cõi bao la sang phía tây, diệt nhiều nước Tây Á và đánh sang châu Âu, người Mông Cổ tiếp tục tiến xuống phía nam để tiêu diệt Nam Tống. Trước thế tấn công của Mông Cổ, tháng 2 âm lịch năm 1257, thổ quan châu Tư Minh của Tống là Hoàng Bính đem gia quyến sang nội thuộc Đại Việt. Trần Thái Tông nhận, lấy con gái Bính là Huệ Túc Phu nhân. Năm 1253, quân Mông Cổ do Thái soái Uriyangqatai (Ngột Lương Hợp Thai) chỉ huy chinh phục nước Đại Lý (Vân Nam ngày nay). Sau đó, năm 1257, khắc hãn Mông Cổ là Mông Kha lên kế hoạch sai Uriyangqatai đem quân từ Đại Lý xuống chiếm Đại Việt, hòng tạo thế "gọng kìm" đánh quặt lên các châu Ung (nay là Nam Ninh, Quảng Tây) và Quế (nay là Quế Lâm, Quảng Tây) của Tống. Uriyangqatai đã 3 lần gửi sứ sang đòi Đại Việt thần phục nhưng vua Thái Tông không những từ chối mà còn bắt các sứ giả giam vào ngục. Thái Tông cũng khẩn trương chuẩn bị kháng chiến. Theo "Đại Việt Sử ký Toàn thư", tháng 9 âm lịch năm 1257, ông sai Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn huy động quân thủy bộ trấn thủ biên giới, sau đó, tháng 11 âm lịch năm 1257, ông kêu gọi quân dân cả nước sửa soạn khí giới. Các vương hầu, tôn thất cũng chiêu mộ gia nô, dân binh, thổ binh… làm lực lượng cần vương, phối hợp chiến đấu với quân chính quy của triều đình. Tháng 12 âm lịch năm 1257, Uriyangqatai (Ngột Lương Hợp Thai) dẫn gần 3 vạn quân tiến vào Đại Việt. Ngày 12 tháng 12 âm lịch năm 1257 (tức ngày 17 tháng 1 năm 1258) quân Mông Cổ đến Bình Lệ Nguyên (nay là huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc), Trần Thái Tông thân đem sáu quân đi đánh. Sử cũ ghi nhận nhà vua và tướng Lê Phụ Trần đã chiến đấu rất cam đảm, nhưng không thể đánh bại quân Mông Cổ. Khi quan quân thất thế, có người khuyên Thái Tông ở lại tử thủ nhưng Lê Phụ Trần kiên quyết ngăn cản. Thái Tông thu quân đến bến Lãnh Mỹ, sau đó xuống thuyền đi về Phù Lỗ. Uriyanqatai sai Cacakdu tiến quân nhanh ra bến, hòng cướp thuyền, bắt sống vua quan Nhà Trần, nhưng không thành công. Cương mục chép: "Nhà , Phụ Trần đi sau cùng để vén quân. Lúc ấy quân Mông Cổ đuổi gấp, bắn tứ tung, Phụ Trần lấy cái sạp thuyền che đỡ cho nhà vua được thoát nạn". Thất bại trong việc đuổi bắt bộ chỉ huy Nhà Trần và kết thúc sớm chiến tranh đã khiến cho Cacakdu bị Uriyanqatai trách phạt dữ dội, và phải uống thuốc độc tự tử. Sang ngày hôm sau, ngày 18 tháng 1 năm 1258, vua Trần Thái Tông dàn quân chặn địch bên sông Cà Lồ ở Phù Lỗ. Quân Mông Cổ vượt sang sông Cà Lồ và đánh bại quân Đại Việt. Vua Trần lại chủ động rút quân về phía Thăng Long. Uriyangqatai tung quân truy kích tới bến Đông Bộ Đầu (nay là phố Hòe Nhai, Hàng Than, Hà Nội) trên hướng đông Thăng Long. Để thoát khỏi tình thế nguy ngập, bộ chỉ huy Đại Việt quyết định di tản lực lượng khỏi kinh đô, và lui về sông Thiên Mạc (nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Tại đây vua Thái Tông đã thảo luận với Lê Phụ Trần những vấn đề cơ mật, hầu như không người nào được nghe. Nhà vua cũng đi thuyền nhỏ tới thuyền của Trần Nhật Hiệu (chỉ huy quân Tinh Cương) để xin ý kiến về kế sách giữ nước. Nhật Hiệu đưa ngón tay xuống chấm nước rồi ghi hai chữ "nhập Tống" (tức là nên trốn sang nước Tống) trên mạn thuyền. Thái Tông lại hỏi về tình hình quân Tinh Cương thì Nhật Hiệu chỉ đáp: "Không gọi được chúng đến". Sau đó Thái Tông tìm đến tham vấn Thái sư Trần Thủ Độ, và được thái sư khích lệ: Quân Mông Cổ chiếm được kinh thành Thăng Long, song gặp nhiều khó khăn do thiếu lương thực trầm trọng. Mông Cổ phải chia quân đi cướp bóc ở vùng ngoại vi và phụ cận, nhưng bị dân chúng chặn đánh quyết liệt. Quân Mông Cổ chịu tổn thất nặng nề. Trong khi đó, quân chủ lực Đại Việt đã được chỉnh đốn và hồi sức sau những thất bại đầu tiên. Ngày 28 tháng 1 năm 1258, vua Trần Thái Tông cùng Thái tử Trần Hoảng thúc quân phản kích vào bến Đông Bộ Đầu, đánh tan quân Mông Cổ. Uriyangqatai phải rút quân khỏi Thăng Long và tháo chạy về Vân Nam. Trên đường chạy, quân Mông Cổ lại bị một thổ quan người Tày là Hà Bổng tập kích, đánh tan tại Quy Hóa (vùng Lào Cai, Yên Bái). Quân Mông Cổ rút lui, không hề cướp phá, nên dân Việt gọi là "giặc Phật". Uriyangqatai kéo quân về thành Áp Xích (Đại Lý), phải tìm đường khác đánh đất Tống. Ngày mùng một Tết năm 1258, Trần Thái Tông tổ chức định công, phạt tội cho quan tướng tại Thăng Long. Lê Phụ Trần lãnh chức Nhập nội phán thủ, tước Bảo Văn hầu và được gả vợ cũ vua là Chiêu Thánh; Trần Khánh Dư được ban chức "Thiên tử nghĩa nam"; Hà Bổng cũng thụ phong tước hầu. Bộ "Đại Việt Sử ký Toàn thư" cũng kể chuyện Trần Thái Tông tha tội cho Hoàng Cự Đà, viên tiểu hiệu có hành vi bất trung trong cuộc chiến chống Mông Cổ: "Trước kia có lần vua ban xoài cho những người hầu cận, Cự Đà không được ăn. Đến khi quân Nguyên tới Đông Bộ Đầu, Cự Đà ngồi thuyền nhẹ chạy trốn. Đến Hoàng giang gặp Hoàng thái tử đi thuyền ngược lên, Đà lánh sang bờ sông bên kia, thuyền chạy rất gấp. Quan quân gọi lớn:" "- Quân Nguyên ở đâu?" "Cự Đà trả lời:" "- Không biết, đi mà hỏi những người ăn xoài ấy!" "Đến đây, Thái tử xin khép Cự Đà vào cực hình để răn những kẻ làm tôi bất trung. Vua nói:" "- Cự Đà tội đáng giết cả họ, song đời xưa đã có chuyện Dương Châm không được ăn thịt dê, đến nỗi làm quân nước Trịnh bị thua. Việc Cự Đà là lỗi ở ta, tha cho hắn tội chết, cho phép hắn đánh giặc chuộc tội." Bang giao sau cuộc chiến. Sau thất bại của cuộc tấn công Đại Việt năm 1258, đế quốc Mông Cổ vẫn không bỏ ý định thôn tính phương Nam. Lúc này Mông Cổ đang phải tập trung lực lượng đánh Nam Tống, nên họ chưa thể phát binh đánh Đại Việt lần hai, và tạm sử dụng biện pháp ngoại giao để thuyết phục vua Trần thần phục. Theo các sách "Kinh thế đại điển tự lục" và Nguyên sử, ngay sau khi lui quân về Vân Nam, Thái soái Mông Cổ Uriyangqatai (Ngột Lương Hợp Thai) đã gửi 2 sứ giả sang dụ vua Trần tới chầu. Trần Thái Tông trói hai sứ giả và trục về nước. Đồng thời ông vẫn duy trì quan hệ hữu hảo với Nam Tống. Nhưng một thời gian sau, thấy Mông Cổ còn rất mạnh và tiếp tục lấn vào đất Tống, triều đình Thái Tông nhận định Nam Tống không còn khả năng ảnh hưởng tới Đại Việt và chính Mông Cổ mới là mối đe dọa lớn nhất. Nhà vua bèn thay đổi phương sách ngoại giao; mùa xuân năm 1258, ông cử một phái bộ gồm Lê Phụ Trần làm Chánh sứ, Chu Bác Lãm làm Phó sứ sang thông hiếu với Mông Cổ. Sứ bộ này lấy danh nghĩa sang dâng cống vật cho Uriyanqatai tại Vân Nam; nhưng thực chất là đi thăm dò thực lực cũng như các động thái của Mông Cổ. Sau khi sứ bộ của Lê Phụ Trần về nước, hãn Mông Cổ sai Nur-ud-Dīn đi sứ sang Đại Việt, đem theo bức thư đòi Thái Tông đích thân đến chầu. Trong thư có đoạn: "Trước đây ta sai sứ sang thông hiếu, các ngươi bắt giữ không cho về, vì thế ta mới có cuộc xuất quân năm trước, khiến quốc chủ ngươi phải chạy ra nơi thảo dã. Lại lệnh hai sứ đến chiêu an, trả nước, ngươi lại bắt trói sứ ta rồi đuổi về. Nay đặc sai sứ đến dụ, nếu bọn ngươi có lòng thề nội phụ thì quốc chủ phải đích thân đến, nhược bằng không sửa lỗi, hãy báo cho ta rõ". Thái Tông không chấp thuận, chỉ trả lời bằng lời lẽ tế nhị: "Tiểu quốc thành tâm thờ bề trên, vậy đại quốc đối đãi thế nào?". Chuyến đi sứ của Nur-ud-Dīn hoàn toàn thất bại; nhưng sau đó, Mông Kha lại sai Nur-ud-Dīn sang Đại Việt với mục đích tương tự lần trước. Vua Trần vẫn không nhượng bộ, nhưng cũng trấn an sứ giả rằng "Đợi đức âm ban xuống sẽ lập tức sai con em sang làm con tin". Trên thực tế, việc này không bao giờ được thực hiện. Cuộc đấu tranh ngoại giao giữa hai nước tiếp tục diễn ra quyết liệt cho đến thời Trần Nhân Tông, khi Mông Cổ xâm lược Đại Việt lần thứ hai (1285). Đánh giá về tầm vóc của cuộc thắng lợi năm 1258 của Trần Thái Tông và quân dân Đại Việt, các tác giả phương Tây Peter D. Sharrock và Vũ Hồng Liên (người Anh gốc Việt) viết: Ngày 24 tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 8 (tức ngày 30 tháng 3 dương lịch năm 1258), Trần Thái Tông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, tức Hoàng đế Trần Thánh Tông. Trần Thái Tông lui về cung Thánh Từ làm Thái thượng hoàng, được Thánh Tông dâng tôn hiệu Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế (顯堯聖壽太上皇帝). Từ đây, Nhà Trần theo lệ truyền ngôi sớm cho thái tử, thứ nhất để tránh việc tranh giành ngôi báu giữa các con (do đã sớm được định đoạt), thứ nữa là rèn luyện cho vị hoàng đế mới cai trị đất nước càng sớm càng tốt. Trên cương vị là Thượng hoàng, Trần Thái Tông vẫn hỗ trợ, hướng dẫn con mình trị nước, củng cố nền thống trị của họ Trần, mở mang giáo dục, kinh tế, văn hóa và quan tâm theo dõi tình hình phương Bắc. Sách "Việt sử tiêu án" đã kể lại: ""Thượng hoàng ban yến cho quần thần ở điện Diên Hiền, có sao chổi hiện ra ở phận vị sao Liễu, sáng rực trời; Thượng hoàng ra coi, bảo rằng: "Sao Liễu là địa phận Lâm An, không phải là thiên tai ở nước ta"... tháng 10 năm ấy [1264] thì vua Nhà Tống mất"". Thượng hoàng cũng đích thân đón tiếp sứ bộ Mông Cổ do Trương Lập Đạo (Trương Hiền Khanh) làm Chánh sứ vào năm 1265. Trong thời gian này, hai vua Trần một mặt giao hảo với Nam Tống (năm 1262, Tống Lý Tông sắc phong Trần Thái Tông làm Kiểm hiệu Thái sư An Nam Quốc Đại vương, Thánh Tông làm An Nam Quốc vương, tặng thêm vàng và gấm vóc), mặt khác chấp nhận triều cống Mông Cổ 3 năm 1 lần, nhưng cự tuyệt mọi yêu sách nhằm biến Đại Việt thành một thuộc quốc của Mông Cổ. Sau khi nhường ngôi vua cho con, Trần Thái Tông có nhiều thời gian hơn cho việc nghiên cứu, giảng dạy Thiền tông. Thượng hoàng đã dựng chùa Phổ Minh tại Thiên Trường (Nam Định) và am Thái Vi tại hành cung Vũ Lâm (Hoa Lư, Ninh Bình) để tu tập, đồng thời chỉ đạo dân khai hoang, mở ấp. Thượng hoàng còn viết thêm nhiều sách dạy Phật học, trong đó có "Khóa hư lục" (Tập bài giảng về lẽ hư vô), "Lục thì sám hối khoa nghi" (Nghi thức sám hối vào sáu thời khắc trong một ngày), "Kim Cương Tam Muội Chú Giải" (Chú giải kinh Kim Cương Tam Muội, ngày nay đã thất lạc, chỉ còn bài tựa in trong quyển "Khóa hư lục"), "Bình đẳng lễ sám văn" (Bình đẳng sám hối) cùng một số bài luận giảng về việc tọa thiền, việc niệm Phật và một bài răn về tửu sắ"Phổ thuyết sắc thân" (Nói rộng về sắc thân) thuộc bộ "Khóa hư lục", Thái Tông có giảng về sự vô thường, giả tạm của thân người và sự không thể tránh khỏi của cái chết: Hoặc như trong bài tựa "Lục thì sám hối khoa nghi", Trần Thái Tông có giải thích công dụng của nghi thức sám hối trong việc chuyển ác làm lành: Sáng tác của Thượng hoàng trong giai đoạn này được Hòa thượng Thích Nhất Hạnh nhận xét là "còn chín chắn hơn Thiền Tông Chỉ Nam mà hồi viết vua chỉ mới trên 30 tuổi". Trần Thái Tông còn là một nhà thơ, đã để lại tập "Trần Thái Tông ngự tập" (1 quyển), được Phan Huy Chú khen là "lời thơ thanh nhã, đáng đọc". Ngày nay tập thơ này đã thất lạc, chỉ còn lại 2 bài "Kỷ Thanh Phong am tăng Đức Sơn" (Gửi nhà sư Đức Sơn ở am Thanh Phong) và "Tống Bắc sứ Trương Hiền Khanh" (Tiễn Bắc sứ Trương Hiền Khanh) chép trong "An Nam chí lược", "Việt âm thi tập" và "Toàn Việt thi lục". Ngày 1 tháng 4 âm lịch (5 tháng 5 dương lịch) năm 1277, Thượng hoàng Trần Thái Tông qua đời tại điện Vạn Thọ (Thăng Long), hưởng thọ 60 tuổi. Theo "Đại Việt Sử ký Toàn thư", Thái Tông đã đoán trước được ngày mất của ông: "Trước đó, Thượng hoàng đến ngự đường, bỗng thấy con rết bò trên áo ngự. Thượng hoàng sợ, lấy tay phủi nó rơi đánh "keng" xuống đất, nhìn xem thì hóa ra cái đinh sắt, đoán là điềm năm Đinh." "Lại có lần đùa sai Minh tự Nguyễn Mặc Lão dùng phép nghiệm quan nghiệm xem điềm lành hay điềm dữ. Hôm sau Mặc lão tâu: "Thấy một chiếc hòm vuông bốn mặt đều có chữ "nguyệt", trên hòm có một cái kim, một chiếc lược"." "Thượng hoàng lại đoán: "Hòm tức là quan tài, chữ " nguyệt" (tháng) ở bốn bên tức là tháng 4, cái kim có thể cắm vào vật gì, tức là nhập vào quan tài, chữ "sơ" là chiếc lược, đồng âm với "sơ" là xa tức là sẽ xa rời các ngươi"." "Lại lúc ấy đương có trò múa rối, thường có câu: "Mau đến ngày mồng 1 thay phiên". Thượng hoàng lại đoán: "Thế là ngày mồng 1 ta chết"." "Năm trước, có một hôm thượng hoàng chợt bảo tả hữu: "Tháng 4 sang năm ta tất chết". Đến nay quả như vậy." Sách "Thánh đăng ngữ lục" cũng thuật lại những cuộc đàm đạo Phật pháp cuối cùng của Trần Thái Tông với Trần Thánh Tông và Quốc sư Đại Đăng: "Vua bệnh, Thánh Tông thăm bệnh, nhân đó hỏi:" " – Chân không và ngoan không là đồng hay khác?" " – Hư không là một, nhưng do tự tâm mê ngộ nên thành có chân và ngoan sai khác. Ví như phòng nhà, mở ra thì sáng, đóng lại thì tối, sáng và tối chẳng đồng, và phòng nhà là một." "Ngày hôm sau, Quốc sư Đại Đăng vào thăm hỏi:" " – Bệ hạ bệnh chăng?" " – Tứ đại là bệnh, cái này xưa nay sanh tử không can hệ, mà dính kẹt trong bệnh hoạn sao?" "Khoảng mấy ngày sau, Thái Tông lặng thinh không nói, đuổi hết kẻ hầu hạ, đem việc nước dặn dò Thánh Tông. Thánh Tông muốn nhờ hai Quốc sư Phù Vân (Đạo Viên) và Đại Đăng nói pháp xuất thế cho Thái Tông nghe. Thái Tông gằn giọng bảo:" " - Đến trong đây, bớt một mảy tơ dường trên thịt khoét thương, thêm một mảy tơ như trong mắt để bụi. Ba đời chư Phật, bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ sư thối thân có phần. Dù Phù Vân nói huyền, Đại Đăng thuyết diệu đều là lời thừa, có ích gì đối với cái này?" "Nói xong Ngài lặng lẽ thị tị" Ngày 4 tháng 10 âm lịch (31 tháng 10 dương lịch) năm 1277, triều đình làm lễ mai táng Thái Tông tại Chiêu Lăng thuộc phủ Long Hưng (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình ngày nay). Ông được tôn miếu hiệu là Thái Tông (太宗), thụy hiệu là Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu Hoàng đế (統天御極隆功茂德顯和佑順神文聖武元孝皇帝). Bộ "Đại Việt Sử ký Toàn thư" đã đánh giá về Trần Thái Tông: Lê Tắc, một sử gia người gốc Việt của Đại Nguyên, đã viết trong sách "An Nam chí lược" rằng Trần Thái Tông là người: "khoan nhân thông tuệ, văn võ toàn tài, lấy tư cách con rể Nhà Lý kế vị quốc vương." Quyển Đệ Thập cửu của sách này còn chép bài Đồ chí ca, có đoạn: "Hết Đinh lại phong Lê và Lý." "Lý truyền chín đời một trăm năm," "Liền có Trần vương lên kế vị." "Thái Bình lâu ngày trọng nho phong," "Lễ nhạc, y quan có bề thế." Trong bộ "Việt giám thông khảo tổng luận" (biên soạn vào thời Hậu Lê), sử thần Lê Tung có lời bàn: Sử gia Ngô Thì Sĩ nhận định trong "Việt sử tiêu án": Trần Nhân Tông - hoàng đế thứ ba của triều Trần - có bài thơ "Ngày xuân thăm Chiêu Lăng" ("Xuân nhật yết Chiêu Lăng" - Chiêu Lăng là tên lăng của Trần Thái Tông), trong đó bày tỏ sự tự hào đối với ông nội mình là Trần Thái Tông, cũng như với chiến thắng của quân dân Đại Việt do Thái Tông lãnh đạo trước quân Mông Cổ năm 1258. Bài thơ đã được chép lại trong sách "Thơ văn Lý-Trần" (tập II, quyển thượng) do Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Đỗ Văn Hỷ và Trần Tú Châu biên soạn: Xuân nhật yết Chiêu Lăng Tì hổ thiên môn túc Y quan thất phẩm thông Bạch đầu quân sĩ tại Vãng vãng thuyết Nguyên Phong Ngày xuân thăm Chiêu Lăng Nghìn cửa, nghiêm tì hổ, Bảy phẩm, đủ cân đai. Lính bạc đầu còn đó, Chuyện "Nguyên Phong", kể hoài. Vua thứ 7 của triều Trần, Trần Dụ Tông, cũng làm bài thơ so sánh công đức của Trần Thái Tông với Đường Thái Tông: Dụ Tông tán Thái Tông thi Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông, Bỉ xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong. Kiến Thành tru tử, An Sinh tại, Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng. Thơ Dụ Tông tán tụng Thái Tông Sáng nghiệp Việt Đường hai Thái Tông, Kia xưng Trinh Quán, ta Nguyên Phong. Kiến Thành bị giết, Yên Sinh sống, Miếu hiệu như nhau, đức chẳng đồng. Trần Thái Tông còn được xem là một thiền sư-cư sĩ lớn của Phật giáo, người đã đặt nền móng về tư tưởng cho việc hợp nhất 3-4 dòng thiền có mặt tại Đại Việt thời bấy giờ thành một giáo hội thống nhất – Thiền phái Trúc Lâm. Vị tổ thứ nhất của thiền phái này chính là Điều ngự Trần Nhân Tông, cháu nội của ông. Hòa thượng Thích Nhất Hạnh đã nhận xét về Trần Thái Tông trên vai trò là một thiền sư Phật giáo: Ngày nay Trần Thái Tông được lập đền thờ ở nhiều nơi, tiêu biểu như đền Trần Thái Tông tại thôn Phù Nghĩa (Nam Định), đền Trần Thái Tông ở các xã Trung Phu, Trình Xuyên (huyện Vụ Bản, Nam Định); đền thờ Trần Thái Tông ở Thái Vi (huyện Hoa Lư, Ninh Bình), đền Hành cung Vũ Lâm ở Quần thể di sản thế giới Tràng An, miếu Trần Thái Tông ở các xã Trường Khê, Yên Mô (Ninh Bình) và đền thờ Trần Thái Tông ở làng Vọc (huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam). Sử sách không ghi chép cụ thể số con của Trần Thái Tông, nhưng có đề cập đến một số người: Vấn đề về tên gọi. Các sử gia hiện đại không đồng nhất trong việc xác định tên gọi một số vua Trần trong cổ sử Trung Hoa. Nhà sử học Nhật Bản là Yamamoto Tatsuro trong bộ "An Nam sử nghiên cứu" (1950) lập luận rằng, Nhật Cảnh và Quang Bính đều là tên gọi Trần Thái Tông trong các văn thư ngoại giao, dựa trên các chi tiết trong sử Trung Quốc như: Tuy nhiên, sử gia Lê Mạnh Thát, tác giả cuốn "Trần Thái Tông toàn tập" (2004) lại khẳng định rằng "Trần Nhật Cảnh" là tên gọi của Thái Tông, còn "Quang Bính" là tên của Trần Thánh Tông trong văn thư với Mông Cổ; Lê Mạnh Thát viện dẫn các trích đoạn như: Ngoài ra, Lê Mạnh Thát cũng lập luận rằng các hoạt động của Quang Bính ghi lại trong "Nguyên sử", "An Nam chí lược" hoàn toàn trùng khớp với ghi chép về Trần Thánh Tông trong "Đại Việt Sử ký Toàn thư". Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
FTP Commander là một chương trình FTP cho máy trạm trên nền Windows. Nó được phát triển bởi InternetSoft Corp. Chương trình này giúp bạn tải về và đẩy lên dữ liệu hoặc hủy một hoặc nhiều tập tin, bao gồm cả những thư mục cùng với những thư mục con bên trong của nó. Ngoài ra, chương trình còn có thể tự động tiếp tục thực hiện và hoàn thành việc chuyển tập tin sau khi đã bị ngắt bởi một lý do nào đó. Điểm đặc trưng là nó cũng bao gồm những chuẩn bảo mật như SSL, SSH, PGP và mã hóa mật khẩu, mã hóa 128-256-bit, chế độ truyền dữ liệu đa tiến trình, chmod và những lệnh riêng khác, đồng bộ hóa tập tin và thư mục, hỗ trợ proxy, công cụ sao lưu và nó cũng đã được địa phương hóa sang 23 ngôn ngữ khác nhau bao gồm tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Trung Quốc. Không đăng ký bản quyền, FTP Commander miễn phí cho mục đích cá nhân, giáo dục hoặc sử dụng cho mục đích phi lợi nhuận. Để sở hữu một phiên bản FTP Commander Deluxe có bản quyền, bạn phải trả tiền sau khi dùng thử 30 ngày.
Bắc thuộc chỉ thời kỳ Việt Nam bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đại Trung Quốc, nghĩa là thuộc địa của Trung Quốc. Trong thời gian này Việt Nam bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đình của phương Bắc như: Chỉ có vài thời gian độc lập ngắn ngủi như thời kỳ Hai Bà Trưng (40-43), thời kỳ nhà Tiền Lý với nước Vạn Xuân (541-602). Một số tài liệu khác chia thành ba thời kì. Cách chia này gộp hai thời kỳ đầu (với gián đoạn là khởi nghĩa Hai Bà Trưng) thành thời kì Bắc thuộc lần thứ nhất. Bài này sử dụng cách chia làm bốn thời kì. Trong suốt các thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại Trung Quốc không ngừng thực hiện đồng hóa người Việt nhằm biến Việt Nam thành một quận huyện của Trung Quốc. Dưới thời kỳ này người Việt phải đóng sưu thuế cho triều đình phía bắc. Ngoài số thuế của nhà nước, một số quan cai trị địa phương vì ở xa nên cũng bòn vét thêm của dân. Cũng có một số quan cai trị nghiêm minh, đúng đắn, nhưng số này ít hơn. Nền văn minh Trung Quốc cũng du nhập vào Việt Nam thời kỳ này. Sĩ Nhiếp, thái thú nhà Hán (187-226) được các nhà nho thời phong kiến coi là có công truyền bá chữ nho và đạo Khổng vào Việt Nam một cách có hệ thống, được coi là người mở đầu nền nho học của giới quan lại phong kiến ở Việt Nam. Nhiều người Trung Quốc đã di cư đến Việt Nam, họ ở lại, dần dần kết hôn với người Việt và hòa nhập vào xã hội Việt Nam, và con cháu trở thành người Việt Nam. Bắc thuộc lần thứ nhất. Dấu mốc xác định thời Bắc thuộc đầu tiên không thống nhất giữa các tài liệu xưa và nay, do quan niệm khác nhau về nước Nam Việt và nhà Triệu. Triệu Đà sau khi diệt Âu Lạc chia làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Năm 111 TCN, nhà Hán diệt nhà Triệu, chiếm được Nam Việt và chia làm 6 quận là Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, đồng thời lập thêm 3 quận mới là Chu Nhai, Đạm Nhĩ, Nhật Nam. Riêng đối với quận Nhật Nam, khi Lộ Bác Đức đánh bại nhà Triệu-Nam Việt, lãnh thổ Nam Việt chưa bao gồm quận Nhật Nam (từ Quảng Bình tới Bình Định). Quận Nhật Nam chỉ hình thành sau khi các quan cai trị bộ Giao Chỉ người Hán tiến xuống thu phục các bộ tộc phía Nam dãy Hoành Sơn Năm 39, thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định tàn ác, giết chồng của Trưng Trắc là Thi Sách. Nợ nước thù nhà, Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa và đã giành được 65 thành ở Lĩnh Nam. Hai Bà lên ngôi vua, kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất. Bắc thuộc lần thứ hai. Năm 43, nhà Hán sai Phục ba tướng quân Mã Viện đem quân sang tái chiếm và đàn áp, Hai Bà Trưng chống không nổi phải rút về giữ Cấm Khê rồi tự vẫn ở sông Hát. Dân địa phương lập đền thờ ở Hát Giang. Sự cai trị của Đông Hán tại bộ Giao Chỉ tương đối ổn định đến cuối thế kỷ 2. Nhà Hán suy yếu, năm 192 dân huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam ở phía nam theo Khu Liên nổi dậy ly khai, lập ra nước Chăm Pa (Lâm Ấp). Trong lúc nhà Hán suy yếu, thái thú quận Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp dùng người nhà trấn trị các quận, trở thành người cai trị tại đây, dù sau đó trên danh nghĩa, họ Sĩ vẫn chấp nhận các thứ sử do nhà Hán rồi Đông Ngô cử sang. Một dấu mốc quan trọng thời kỳ này là việc "bộ Giao Chỉ được đổi gọi là Giao Châu, trở thành 1 châu ngang hàng như các châu khác của Trung Quốc" theo đề nghị của Sĩ Nhiếp và thứ sử Trương Tân. Năm 226, Sĩ Nhiếp qua đời, nhà Đông Ngô đánh chiếm Giao Châu và chính thức cai trị. Trong chiến tranh Tam Quốc, các nước thay nhau giành quyền quản lý Giao Châu. Năm 263, Lã Hưng giết quan cai trị Đông Ngô, theo về Tào Ngụy. Tại trung nguyên năm 265 nhà Tấn diệt Ngụy, Giao Châu lại thuộc Tấn. Năm 271 Đông Ngô chiếm lại Giao Châu. Năm 280 Tấn diệt Ngô, Giao Châu trở lại thuộc Tấn. Sau thời Tam Quốc, Giao Châu không có biến động về chủ quyền quản lý cho tới khi chấm dứt thời Bắc thuộc thứ hai. Một số cuộc nổi dậy của người Việt thời kỳ này đều bị thất bại. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất năm 248, ở quận Cửu Chân của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh, sau bị Lục Dận là thứ sử Giao Châu đàn áp phải chịu thất bại. Một số cuộc nổi dậy khác của các thủ lĩnh người Việt như Lương Thạc, Lý Trường Nhân duy trì được quyền cai quản của người Việt trong vài năm. Thời Bắc thuộc lần thứ 2 chấm dứt năm 541 khi Lý Bí khởi binh chống nhà Lương và chính thức thành lập nhà Tiền Lý cùng nước Vạn Xuân năm 544. Bắc thuộc lần thứ ba. Thuộc Tùy - Đường. Năm 602, nhà Tùy cho quân sang xâm lược nước Vạn Xuân, Lý Phật Tử chưa đánh đã hàng, bị bắt về phương bắc rồi chết ở đó. Năm 605, nhà Tùy đổi Giao châu thành quận Giao Chỉ và Phủ Đô hộ Giao Chỉ để cai trị Việt Nam. Nhà Đường thay nhà Tùy bãi bỏ các quận do nhà Tùy lập ra, khôi phục lại chế độ các châu nhỏ thời Nam Bắc triều. Năm 622, nhà Đường lập Giao châu đô hộ phủ. Năm 679, nhà Đường đổi quận Giao Chỉ trở lại thành châu Giao, đặt ra Phủ Đô hộ Giao Châu. Sau đó, nhà Đường đổi Phủ Đô hộ Giao Châu thành Phủ Đô hộ An Nam. Tên gọi An Nam trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ thời điểm này. Chức quan đứng đầu Phủ Đô hộ An Nam lúc đầu gọi là kinh lược sứ, sau đổi thành Tiết độ sứ. Nhà Đường lại chia Giao Châu làm 12 châu: Giao, Lục, Phúc Lộc, Phong, Thang, Trường, Chi, Vũ Nga, Vũ An, Ái, Hoan, Diễn. Sau nhiều lần điều chỉnh, năm 866, nhà Đường đổi Phủ Đô hộ An Nam thành Tĩnh Hải quân. Tên gọi này duy trì qua thời Tự chủ của Việt Nam. Do chính sách bóc lột nặng nề của nhà Đường, người Việt nhiều lần nổi dậy chống nhà Đường. Tiêu biểu nhất là các cuộc nổi dậy của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (776-791) và Dương Thanh (819-820), song đều thất bại. Đầu thế kỷ 10, nhà Đường suy yếu nghiêm trọng vì nạn phiên trấn cát cứ (kéo dài từ sau loạn An Sử giữa thế kỷ 8) và quyền thần. Nhân lúc Tiết độ sứ Độc Cô Tổn bị điều đi chưa có người thay năm 905, hào trưởng người Việt là Khúc Thừa Dụ đã vào làm chủ thủ phủ Đại La và xác lập quyền tự chủ cho người Việt, năm 939 thì Ngô Quyền xưng vương và bên trong không còn nhận là quan Trung Quốc nữa. Người Việt tự chủ chống sự xâm chiếm của Nam Hán. Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Hạo lên thay tiếp tục thực hiệnTiết độ sứ. Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay. Năm 923/930, vua Nam Hán sai Lý Khắc Chính đem quân sang đánh, bắt được Khúc Thừa Mỹ đem về nước, Lý Khắc Chính ở lại giữ Giao Châu. Năm 931, Dương Đình Nghệ là tướng cũ của Khúc Hạo đem quân đánh phủ thành Đại La, lại đánh tan quân Nam Hán do Trần Bảo dẫn sang cứu viện, giết Trần Bảo và tự xưng là Tiết độ sứ. Năm 937, bộ tướng của Dương Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn giết ông để chiếm ngôi. Năm 938, bộ tướng khác, đồng thời là con rể Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền đem quân giết Kiều Công Tiễn, rồi đánh tan đạo quân xâm lược Nam Hán do Lưu Hoằng Tháo dẫn đầu trên sông Bạch Đằng sang tiếp ứng cho Công Tiễn, lập ra nhà Ngô. Từ đó bắt đầu thời kỳ độc lập ổn định của Việt Nam. Bắc thuộc lần thứ tư. Sau thời nhà Ngô đến thời nhà Đinh, Việt Nam chính thức có quốc hiệu sau ngàn năm Bắc thuộc là Đại Cồ Việt. Sang thời Lý, quốc hiệu được đổi là Đại Việt. Trong hơn 400 năm qua các triều đại Tiền Lê, Lý và Trần, Đại Việt đều đánh thắng các cuộc xâm lăng của các triều đại Trung Quốc. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Năm 1406, nhà Minh đem quân sang, lấy lý do là để khôi phục nhà Trần, nhưng thực chất đã sáp nhập Việt Nam thành quận huyện của Trung Quốc và cử quan lại người Hán sang cai trị. Năm 1407, Giản Định vương, con thứ của vua Trần Nghệ Tông xưng làm Giản Định Đế (1407-1409) để nối nghiệp nhà Trần (thành nhà Hậu Trần) và bắt đầu một cuộc khởi nghĩa chống quân Minh, đến năm 1413 thì hoàn toàn thất bại. Năm 1418, Lê Lợi khởi nghĩa tại Lam Sơn, Thanh Hóa. Năm 1427, cuộc khởi nghĩa thành công, kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư, và mở đầu một triều đại mới của Việt Nam: nhà Hậu Lê. Theo truyền thuyết, Lê Lợi thắng do nhờ có kiếm thần của Long Quân. So với giai đoạn một nghìn năm Bắc thuộc, thời kỳ Bắc thuộc này tuy không dài bằng, nhưng chính sách đồng hóa và bóc lột được thực hiện mạnh mẽ hơn. Nhà Minh bắt người Việt phải theo kiểu người Trung Quốc, từ cách ăn mặc, học hành, đến việc cúng tế. Các tài sản quý như người tài, sách vở, báu vật đều bị đem về Trung Quốc. Trong số đó có các cuốn sách văn học, lịch sử, binh phá, hầu hết đã trở thành thất truyền ở Đại Việt kể từ đó. Khoảng 7600 thương gia và nghệ nhân Đại Việt (trong đó có nghệ nhân chế tạo súng Hồ Nguyên Trừng, nghệ nhân kiến trúc Nguyễn An) đã bị bắt đưa sang Nam Kinh, thủ đô Trung Quốc thời bấy giờ. Ngoài ra, nhà Minh còn áp dụng hệ thống sưu cao thuế nặng (bao gồm cả thuế muối) cùng với việc đẩy mạnh khai thác các sản vật quý phục vụ việc cống nộp.
"Money for Nothing" là tên một bài hát của ban nhạc Dire Straits lần đầu tiên được xuất hiện trong album "Brothers in Arms" vào năm 1985 và sau đó trở thành một hit quốc tế khi ra phiên bản dạng đĩa đơn. Bài hát nổi tiếng bởi sự tranh luận trong lời hát của nó, music video đầy mới lạ và diễn xuất cameo của nhạc sĩ Sting khi hát phần giới thiệu mỉa mai của bài hát và ở phần điệp khúc thì vay mượn tên một kênh truyền hình "I want my MTV". Bài hát lần đầu được phát trên MTV châu Âu khi kênh bắt đầu hoạt động vào ngày 1 tháng 8 năm 1987. Lời bát hát được viết bởi Mark Knopfler and Sting, mặc dù Sting chỉ đóng góp được câu "I Want My MTV", câu này cũng có trong bài "Don't Stand So Close To Me" của anh, phiên bản đầu tiên được ghi âm bởi The Police. Dire Straits trình diễn "Money For Nothing" vào Buổi hoà nhạc Live Aid năm 1985 ở sân vận động Wembley. Điều này đã tạo nên sự kiện trong lĩnh vực trình diễn ngoài trời. Sting là vị khách được mời trong buổi trình diễn này. Và kết quả của ngày hôm đó có được không chỉ là giới thiệu bài hát mà còn giúp Dire Straits đã trở thành một ban nhạc nổi tiếng trên thế giới. Có điều gì đó không bình thường trong lời bài hát, lời được viết từ quan điểm của một nhân vật, một người công nhân lao động đang xem các video âm nhạc và bình luận về những gì anh ta xem được. Người trưởng nhóm Dire Straits và người viết bài hát Mark Knopfler miêu tả về quá trình sáng tác bài hát trong cuộc phỏng vấn vào năm 1985 với nhà phê bình Bill Flanagan như sau: "Nhân vật trong "Money for Nothing" là một chàng trai làm việc ở một kho lưu giữ các thiết bị của vô tuyến/tủ lạnh/lò vi sóng. Anh ta đang hát. Tôi đã viết bài hát khi tôi đang ở thực sự trong nhà kho. Tôi đã mượn một ít giấy và cầm bút bắt đầu viết lời bài hát. Tôi đã muốn sử dụng rất nhiều ngôn ngữ mà anh chàng đó đang hát và lời hát thực tế đúng như vậy." Sự quan sát nhân vật một cách lộ liễu bao gồm cả sự tham khảo của nhạc sĩ "banging on the bongos like a chimpanzee" và sự miêu tả của một ca sĩ như "little faggot with the earring and the makeup", và sự ca thán rằng người nghệ sĩ là "money for nothing and chicks for free". Những lời trong bài hát này đã bị chỉ trích mạnh mẽ như là những tuyên ngôn về giới tính, homophobia và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và trong một vài phiên bản sau đó của bài hát, lời đã được hiệu chỉnh lại cho đỡ hơn. Ví dụ: từ "faggot" thường được thay thế bằng từ "mother"; "little mother, he's a millionaire". Phần còn lại trong đoạn thứ hai của bài hát đã bị bỏ đi khi biên soạn lại "Sultans of Swing: The Very Best of Dire Straits" and thay thế bằng âm thanh của nhạc cụ. Trong cuộc phỏng vấn cuối năm 1985 trên tạp chí "Rolling Stone", Knopfler đã bày tỏ sự pha trộn cảm xúc trong cuộc tranh luận về vấn đề này: "Tôi nhận được sự phản đối của người biên tập một tạp chí về đồng tính luyến ái ở London - thật sự anh ta đã nói nó ở dưới vành đai. Một phần từ sự thật rằng sự ngu ngốc của những người đồng tính cũng như những người khác, có lẽ là anh đừng để bài hát có nhiều nghĩa như vậy - anh phải chuyển hướng đi. Thực tế, tôi vẫn đang băn khoăn theo hai hướng là đó có phải là ý kiến hay để viết các bài hát xuất phát từ một người hay từ các người khác nữa." Video của bài hát sử dụng hoạt hình máy tính thời kỳ đầu để minh họa cho lời bài hát. Những hoạt cảnh này có vẻ thô sơ theo các tiêu chuẩn hiện đại, cuốn video là một trong những cuốn đầu tiên có các nhân vật tạo ra bởi hoạt hình máy tính - và được coi là đầy mới lạ tại thời điểm phát hành. Gavin Blair và Ian Pearson tạo hoạt hình ở xưởng sản xuất Rushes Post ở London, sử dụng hệ thống Bosch FGS-4000 CGI. Những người làm hoạt hình tiếp tục tìm kiếm hoạt hình máy tính ở xưởng phim Mainframe Entertainment, và bổ sung vào video "Money for Nothing" một đoạn hình trong sê-ri "ReBoot" của họ. Video này cũng có cả phần trình diễn của Dire Straits, với một phần hoạt hình rotoscoped trong ánh sáng màu của đèn neon, mà chúng ta có thể nhìn thấy nó ở bìa đĩa. Knopfler đã làm mẫu âm thanh ghi ta cho bài hát được ghi theo âm thanh ghi ta có thương hiệu của tay chơi Billy Gibbons trong ban nhạc ZZ Top, lúc đó các video nhạc của ZZ Top đang giữ vị trí chủ đạo trong thời kỳ đầu của MTV. Gibbons sau đó đã nói trong cuộc phỏng vấn với tạp chí "Musician" vào năm 1986 rằng Knopfler đã gạ Gibbons về việc sao lại âm thanh, thêm vào đó, "Anh ta không phải là một half-bad job, xét ra thì tôi chẳng nói gì với anh ta cả!" Cái "không phải là một half-bad job" của Knopfler chỉ đến việc Knopfler dùng một đàn guitar Gibson Les Paul thay vì đàn guitar Fender Stratocaster mà anh vẫn thường dùng. Như một lời chú thích, cuốn video "TV Dinners" của ZZ Top từ năm 1983 vẫn là sự mới lạ vì sự kết hợp của hoạt hình và những cảnh quay sống động. Một cảnh trong video Dire Straits, là sự tan rữa trong lò vi sóng của cái đầu đang bị đóng băng của một nhân vật, cảnh đó cũng đã xuất hiện trong những video đầu tiên của ZZ Top. "Weird Al" Yankovic đã viết một tên bắt chước như vậy "Money For Nothing/Beverly Hillbillies" cho bộ phim "UHF" của ông vào năm 1989. Theo ngụ ý của tiêu đề, bài hát này đã pha trộn chủ đề của "The Beverly Hillbillies" với âm thanh của "Money For Nothing". Knopfler đã thay đổi lại và ghi một phần đoạn ghi ta chơi trong bài hát, sửa lại một chút phần của ông trong phiên bản đầu tiên. Cuốn video cũng đã được Weird Al xử lý với hình ảnh thô sơ được tạo bằng máy tính của Yankovic xuất hiện trong cuốn băng. 21 tháng 9 năm 1985
Nhà Lê (chữ Nôm: 茹黎, chữ Hán: 黎朝, Hán Việt: "Lê triều"), hay còn được gọi là nhà Tiền Lê (chữ Nôm: 家前黎, Chữ Hán: 前黎朝, Hán Việt: "Tiền Lê triều") là một triều đại quân chủ trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Đinh Phế Đế nhường ngôi cho Lê Hoàn vào năm 980, trải qua ba đời quân chủ và chấm dứt khi Lê Long Đĩnh qua đời. Quốc hiệu vẫn là Đại Cồ Việt. Triều đại này được kế tục bởi nhà Lý, được sáng lập bởi Lý Công Uẩn. Sau khi Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn bị ám hại, Vệ Vương Toàn lên ngôi, Lê Hoàn làm phụ chính, xưng là Phó vương. Triều thần sợ Lê Hoàn cướp ngôi vị của Thiếu đế, nên các công thần là Định Quốc công Nguyễn Bặc và Ngoại giáp Đinh Điền dẫn quân về kinh đô định giết Lê Hoàn. Lực lượng này thua trận và bị Lê Hoàn giết. Năm 981, quân Tống nhân cơ hội đem quân sang muốn cướp nước. Khi triều đình đang bàn kế hoạch xuất quân thì Phạm Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người: "Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho ? Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn". Quân sĩ đều hô vạn tuế. Lúc đó, người đứng đầu triều đình là Dương Thái hậu không còn cách nào khác do mọi quân sĩ đều tôn lập Lê Hoàn, bèn thuận theo, sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, đưa Lê Hoàn lên làm Hoàng đế. Đây chính là thời khắc lập ra nhà Tiền Lê. Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn tiến hành chuẩn bị chống lại nhà Tống trong Chiến tranh Tống–Việt năm 981, với chiến thắng thuộc về Lê Hoàn. Sau chiến thắng, Lê Hoàn liền sai sứ sang nhà Tống cống các đồ thổ sản và dâng biểu tạ lỗi nhằm giữ mối quan hệ hòa hảo không đáng đánh mất giữa Việt và Tống, đồng thời cũng thảo phạt Chiêm Thành đang rất mạnh ở phía Nam. Ngay sau bàn định ngoại trị, Lê Hoàn vì muốn ổn định chính trị bên trong, đã cưới Dương Thái hậu làm một trong các Hoàng hậu của mình. Theo quan điểm Nho giáo của các nhà chép sử sau này, như trong "Đại Việt sử ký toàn thư" đã viết, thì ông bị chê trách về đạo vợ chồng do ông đã lập Dương Thái hậu làm Hoàng hậu của mình. Tuy nhiên, điều đó cũng không cản trở ông có nhiều thành tựu xây dựng quốc gia, cũng như chứng minh được tài trị vì của mình. Trong khi cai trị, ông đã cho xây dựng nhiều công trình, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp để chấn hưng nền kinh tế. Ông là vị Hoàng đế trong lịch sử mở đầu cho lễ tịch điền nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp dưới chế độ phong kiến Việt Nam. Mở đầu cho một lễ nghi trọng đại mà các vương triều sau tiếp tục noi theo để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, trong thời gian ông trị vì, tôn hiệu của ông được quần thần dâng tôn là "Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng đế". Nội chiến giữa các Hoàng tử. Lê Hoàn là một vị Hoàng đế có rất nhiều con trai. Con trưởng của ông là Lê Long Thâu đã được chọn làm người kế vị từ những năm đầu tiên khi ông lên ngôi, nhưng lại đột ngột qua đời sớm vào năm 1000, để lại ngôi vị Thái tử bỏ ngỏ. Vào lúc này, người con thứ năm của ông là Khai Minh vương Lê Long Đĩnh tự ứng cử mình làm Thái tử. Theo ghi nhận của Đại Việt Sử ký Toàn thư, Lê Hoàn rất thích Long Đĩnh và tính chọn làm Trữ quân, nhưng bị các đại thần thân cận ngăn lại vì nhiều người con lớn và tài ba hơn Long Đĩnh, trong đó có Lê Long Tích, giữ tước vị Đông Thành vương và là con trưởng nhất lúc đó của ông sau khi Lê Long Thâu qua đời. Lê Hoàn bỏ ý định lập Long Đĩnh làm Thái tử, nhưng cũng không chọn trưởng tử Long Tích, mà chọn người anh cùng mẹ của Long Đĩnh là Nam Phong vương Lê Long Việt. Năm 1005, Lê Hoàn sau 24 năm trị vì cũng qua đời tại Trường Xuân điện. Ngay lập tức, các hoàng tử là Khai Minh vương Lê Long Đĩnh, Đông Thành vương Lê Long Tích, Trung Quốc vương Lê Long Kính tranh vị với Thái tử Lê Long Việt. Trong nước 8 tháng không có ai làm chủ. Tới đầu năm 1006 (mùa đông năm 1005 âm lịch), Đông Thành vương Lê Long Tích bị Thái tử Long Việt đánh bại, chạy đến châu Thạch Hà (Hà Tĩnh) thì bị người bản địa giết chết. Vài tháng sau, Lê Long Việt thuận lợi lên ngôi Hoàng đế. Trước sự thắng thế của Lê Long Việt, các hoàng tử khác tạm thời án binh bất động. Tuy nhiên, Lê Long Việt lên ngôi được ba ngày thì bị em cùng mẹ là Khai Minh vương Lê Long Đĩnh giết chết lên thay. Lê Long Đĩnh lên ngôi, tôn hiệu "Khai Thiên Ứng Vận Thánh Văn Thần Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng đế" Lê Long Đĩnh trị vì. Là một người có nhiều quân công, Lê Long Đĩnh liền sau đó hiểu rằng ông phải đích thân đi dẹp các hoàng tử khác thì mới mong có được sự trị vì vững chắc và yên ổn. Khi đó, Ngự Bắc vương Lê Long Cân và Trung Quốc vương Lê Long Kính chiếm trại Phù Lan để làm phản. Lê Long Đĩnh thân đi đánh, khiến Ngự Bắc vương Long Cân phải bắt Trung Quốc vương Long Kính đem nộp và xin đại xá. Long Đĩnh tha cho Long Cân, còn Long Kính bị xử tử. Ngự Man vương Lê Long Đinh do khiếp sợ cũng đầu hàng. Từ đấy về sau các vương và giặc cướp đều hàng phục cả. Sau đó, Lê Long Đĩnh đã củng cố ngoại giao bằng những chính sách rất mềm dẻo đối với nhà Tống. Ông rất chuộng Phật giáo, bằng việc xin thỉnh kinh Đại Tạng về. Trong "Việt Nam Phật giáo sử lược", thiền sư Thích Mật Thể viết: ""Niên hiệu Ứng Thiên thứ 14 (1008), sau khi nước ta đã hòa với Tống rồi, vua Đại Hành sắc ông Minh Xưởng và ông Hoàng Thành Nhã sang sứ nước Trung Hoa, cống hiến đồ thổ sản và xin vua Tống ban cho bộ "Cửu kinh" và "Đại Tạng kinh". Vua Tống trao cho những bộ ấy và cho sứ giả đưa về. Đó là lần đầu tiên nước ta cho người sang cầu kinh bên Trung Hoa vậy"". Cửu kinh gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Chu Lễ; là 9 bộ sách nền tảng của văn minh Trung Hoa lần đầu tiên nhập vào Việt Nam là do Lê Long Đĩnh lấy về. Còn kinh Đại Tạng là một bộ sách vĩ đại được rất nhiều thế hệ các cao tăng Trung Hoa sưu tầm và dịch thuật suốt 1.000 năm, từ thế kỷ thứ nhất đến cuối thế kỷ thứ 10 mới in thành sách lần đầu tiên gồm 5.000 quyển. Ngoài ra, ông cũng chăm lo kinh tế bằng cách cho xây đắp các tuyến đường lớn, những con đường thủy bộ cho vững chắc để tiện việc giao thương. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1009, Lê Long Đĩnh lại xin được đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu thuộc Trung Hoa, nhưng Tống đế chỉ cho mua bán ở chợ trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và trấn Như Hồng, là những nơi giáp vùng biên giới thôi. Theo An Nam chí lược, vua Tống cho rằng Giao Chỉ thường cướp phá vùng bờ biển nước Tống, nay cho buôn bán ở Ung Châu không tiện, cứ theo lệ cũ là trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và trấn Như Hồng. Lê Long Đĩnh trong 4 năm cầm quyền đã 5 lần cầm quân đánh dẹp (ở các vùng đất thuộc Hưng Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), vì nhà nước Đại Cồ Việt vẫn là nhà nước mới và vẫn chưa thực sự mạnh để các nơi tuân phục, điều này tiếp diễn nhiều năm trong thời kỳ đầu của nhà Lý. Sự trỗi dậy của họ Lý. Vào những năm cuối đời, sách sử đa số nhận định rằng Lê Long Đĩnh là một hôn quân. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" nói, Lê Ngọa Triều tính hiếu sát thường thiêu sống, dìm nước hay dùng dao cùn mà tùng xẻo tù nhân; sư sãi vốn có thế lực rất lớn đối với chính sự nhưng Ngọa Triều từng sai người róc mía trên đầu sư Quách Ngang để làm trò cười; lại nuôi nhiều bọn hề làm trò khôi hài trong triều để làm loạn lời tâu việc của các quan. Do những việc làm đó, Ngọa Triều bị quan lại và dân chúng căm ghét. Sử cũng chép rằng, vì chơi bời sa đọa, nên Lê Long Đĩnh bị bệnh trĩ không ngồi được, phải nằm mà coi chầu, nên được gọi là Lê Ngọa Triều. Tuy nhiên, nhiều nhận định chơi bời sa đọa không phải là nguyên nhân sinh ra bệnh trĩ, mà có thể Lê Long Đĩnh bị suy nhược bởi nhiều nguyên nhân nào đó. Vào lúc này, vị vua họ Lê suy nhược đang không biết có một người mình tin cậy lại là người có khả năng thay thế mình. Chính là vị trưởng quản lính thân vệ Lý Công Uẩn. Theo "Đại Việt sử ký toàn thư" – Lê Ngọa Triều bản kỷ: Lúc đó, ở hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp, có cây gạo bị sét đánh, người hương ấy xem kỹ dấu sét đánh thấy có chữ:"Thụ căn điểu điểu, mộc biểu thanh thanh, hòa đao mộc lạc, thập bát tử thành, đông a nhập địa, mộc dị tái sinh, chấn cung kiến nhật, đoài cung ẩn tinh, lục thất niên gian, thiên hạ thái bình". (Dịch nghĩa: Gốc cây thăm thẳm, ngọn cây xanh xanh, cây hòa đao rụng, mười tám hạt thành, cành đông xuống đất, cây khác lại sinh, đông mặt trời mọc, tây sao náu hình, khoảng sáu bảy năm, thiên hạ thái bình). Sư Vạn Hạnh, một nhà sư có địa vị khi ấy tự đoán riêng rằng: ""Thụ căn điểu điểu", chữ căn nghĩa là gốc, gốc tức là vua, chữ điểu đồng âm với yểu, nên hiểu là yếu; "Mộc biểu thanh thanh", chữ biểu nghĩa là ngọn, ngọn tức là bề tôi, chữ thanh âm gần giống với chữ thanh nghĩa là thịnh; Hòa, đao, mộc [ghép lại] là chữ Lê; Thập, bát, tử [ghép lại] là chữ Lý; Đông A là chữ Trần, nhập địa là phương Bắc vào cướp; "Mộc dị tái sinh" là họ Lê khác lại sinh ra; "Chấn cung kiến nhật", chấn là phương Đông, kiến là mọc ra, nhật là thiên tử; "Đoài cung ẩn tinh", đoài là phương Tây, ẩn cũng như lặn, tinh là thứ nhân. Mấy câu này ý nói là vua thì non yểu, bề tôi thì cường thịnh, họ Lê mất, họ Lý nổi lên, thiên tử ở phương Đông mọc ra thì thứ nhân ở phương Tây lặn mất, trải qua 6, 7 năm thì thiên hạ thái bình". Vạn Hạnh mới bảo Thân vệ Phó tướng Lý Công Uẩn rằng: "Mới rồi tôi thấy chữ bùa sấm kỳ lạ, biết họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp. Nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng Thân vệ là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại đang nắm binh giữ quyền trong tay, đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân vệ thì còn ai đương nổi nữa. Tôi đã hơn 70 tuổi rồi, mong được thư thả hãy chết, để xem đức hóa của ông như thế nào, thực là cái may nghìn năm có một". Lý Công Uẩn sợ câu nói ấy bị tiết lộ, bảo người anh đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn. Song từ ấy cũng lấy thế tự phụ mới nảy ra lòng nhòm ngó ngôi vua, mà người ta cũng quy phụ. Tương truyền, khi Lê Long Việt bị giết, triều đình phải bỏ chạy, không ai dám đến gần xác vị Hoàng đế trẻ, duy chỉ có Lý Công Uẩn là ôm đến gào khóc, Lê Long Đĩnh vì ấn tượng hành động này, về sau cất nhắc Lý Công Uẩn nhiều chức vụ quan trọng thân cận. Có lần, Lê Long Đĩnh ăn quả khế lại thấy hột mận (chữ Lý nghĩa là mận), mới tin lời sấm ngữ, ngầm tìm người họ Lý giết đi, thế mà Lý Công Uẩn ở ngay bên cạnh lại không hề bị nghi ngờ. Năm 1009, Lê Long Đĩnh qua đời lúc mới 24 tuổi, ở ngôi 4 năm. Nhân các con của Long Đĩnh còn bé, Điện tiền Lý Công Uẩn cùng Hữu điện tiền chỉ huy sứ là Nguyễn Đê mỗi người được đem 500 quân Tùy Long vào làm Túc vệ. Chi hậu là Đào Cam Mộc dò biết Công Uẩn có muốn nhận việc truyền ngôi, mới nhân lúc vắng nói khích rằng:"Gần đây chúa thượng ngu tối bạo ngược, làm nhiều việc bất nghĩa, trời chán ghét nên không cho hết thọ, con nối thơ ấu, không kham nổi nhiều khó khăn. Mọi việc phiền nhiễu thần linh không ưa, dân chúng nhao nhác, mong tìm chân chúa. Sao Thân vệ không nhân lúc này nghĩ ra mưu cao, quyết đoán sáng suốt, xa xem dấu cũ của Thang Vũ, gần xem việc làm của Đinh, Lê, trên thuận lòng trời, dưới theo ý dân, mà cứ muốn khư khư giữ tiểu tiết làm gì!" Lý Công Uẩn trong lòng thích lời nói đó nhưng còn ngờ Cam Mộc có mưu khác, mới giả cách mắng rằng: "Sao ông lại nói như thế, tôi phải bắt ông nộp quan!" Đào Cam Mộc thong thả bảo Công Uẩn rằng: "Tôi thấy thiên thời nhân sự như thế, cho nên mới dám phát ngôn. Nay ông lại muốn cáo giác tôi thì tôi không phải là người sợ chết". Công Uẩn nói: "Tôi đâu nỡ cáo giác ông, chỉ sợ lời nói tiết lộ thì chết ráo, nên răn ông đó thôi". Hôm sau, Đào Cam Mộc lại bảo Lý Công Uẩn: "Người trong nước ai cũng nói họ Lý khởi nghiệp lớn, lời sấm đã hiện ra rồi, đó là cái họa không thể che giấu được nữa. Chuyển họa làm phúc, chỉ trong sớm chiều. Đây là lúc trời trao người theo, Thân vệ còn nghi ngại gì nữa?". Công Uẩn nói:"Tôi đã hiểu rõ ý ông, không khác gì ý của Vạn Hạnh, nếu thực như lời ấy thì nên tính kế thế nào?". Cam Mộc nói:"Thân vệ là người khoan thứ, nhân từ, lòng người chịu theo. Hiện nay trăm họ mỏi mệt kiệt quệ, dân không chịu nổi, Thân vệ nên nhân đó lấy ân đức mà vỗ về, thì người ta tất xô nhau kéo về như nước chảy chỗ thấp, có ai ngăn được!" Đào Cam Mộc biết việc cần kíp, sợ sinh biến, mới nói chuyện với khanh sĩ và các quan, ai cũng vui theo. Ngay ngày hôm ấy, đều họp cả ở trong triều, bàn rằng:"Hiện nay, dân chúng ức triệu khác lòng, trên dưới lìa bỏ, mọi người chán ghét tiên đế hà khắc bạo ngược, không muốn theo về vua nối mà đều có lòng suy tôn quan Thân vệ, bọn ta không nhân lúc này cùng nhau sách lập Thân vệ làm thiên tử, lỡ bối rối có xảy ra tai biến gì, liệu chúng ta có giữ được cái đầu hay không?" Thế rồi cùng nhau dìu Công Uẩn lên chính điện, lập làm thiên tử, lên ngôi Hoàng đế. Trăm quan đều lạy rạp dưới sân, trong ngoài đều hô "vạn tuế", vang dậy cả trong triều. Đại xá cho thiên hạ, lấy năm sau làm niên hiệu Thuận Thiên năm đầu. Đốt giềng lưới, bãi ngục tụng, xuống chiếu từ nay ai có việc tranh kiện cho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết. Bộ máy chính quyền. Nhà Tiền Lê nối tiếp và hầu như giữ nguyên mọi quy củ của nhà Đinh. Năm 980, sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đặt chức quan trong triều, phong Hồng Hiến làm Thái sư, Phạm Cự Lạng làm Thái úy, Từ Mục làm Đại tổng quản, Đinh Thừa Chinh làm Nha nội đô Chỉ huy sứ. So với nhà Đinh tập trung hết quyền hành về tay hoàng đế, vua Lê đã chia trách nhiệm cho các đại thần. Chỉ riêng việc đánh dẹp thì nhà vua thường thân chinh cầm quân. Đánh dẹp trong nước. Trong thời gian cai trị, các vua Tiền Lê vẫn gặp phải sự chống đối của các tù trưởng địa phương, nhất là những nơi xa xôi hẻo lánh. Năm 989, Lê Đại Hành sai viên Quảng giáp là Dương Tiến Lộc đi thu thuế hai châu Hoan và Ái. Tiến Lộc đem người hai châu ấy xin theo về với Chiêm Thành. Chiêm Thành không nhận. Dương Tiến Lộc lấy hai châu Hoan, Ái làm phản. Lê Đại Hành thân hành đi đánh, giết chết Tiến Lộc và rất nhiều người 2 châu đó. Năm 999, Lê Đại Hành lại thân đi đánh Hà Động, dẹp được tất cả 49 động. Sau đó vua Lê lại phá được động Nhật Tắc, châu Định Biên (Cao Bằng). Người Cử Long làm loạn không phục triều đình. Năm 1001, Lê Đại Hành lại thân chinh đi đẹp được loạn. Sang thời Ngọa Triều vẫn phải đối phó với sự chống đối của các địa phương. Năm 1008, Ngọa Triều thân hành đi đánh hai châu Đô Lương, Vị Long, bắt được vài trăm người bản địa. Cùng năm, vua Lê lại đi đánh châu Hoan và châu Thiên Liễu, bắt được tù binh về giết. Tháng 7 năm 1009, Lê Long Đĩnh lại thân đi đánh các châu Hoan Đường, Thạch Hà. Sau khi đánh thắng Chiêm Thành, năm 983, Lê Đại Hành sai quan Phụ quốc Ngô Tử An đem 3 vạn người đi mở đường bộ từ cửa biển Nam Giới đến châu Địa Lý. Năm 1003, vua Lê lại thân hành đi Hoan Châu, ra lệnh vét kênh Đa Cái cho thông thẳng đến Tư Củng trường ở Ám châu. Năm 1009, triều thần đề nghị xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Lê Ngọa Triều xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu Ái đào đắp từ cửa quan Chi Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lung. Sau đó Lê Long Đĩnh lại ra lệnh đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại. Tháng 7 năm đó, nhân đi đánh châu Hoan Đường, hành quân đến Hoàn Giang, Lê Long Đĩnh sai Hồ Thủ Ích đem hơn 5000 quân của châu Hoan Đường, sửa chữa đường từ sông Châu Giáp đến cửa biển Nam Giới để tiện cho việc hành quân về phía nam. Nhà Tiền Lê đặt ra lệ đánh thuế căn cứ vào số lượng tài sản về ruộng đất. Thuế thân chia ra hai loại: "Tiền công dung" là tiền công dịch (như lao động công ích) mà người dân phải chịu mỗi năm 10 ngày và có thể nộp tiền thay vào việc tạp dịch. "Tiền thuế hộ": là tiền mỗi gia đình phải nộp hàng năm. "Tiền thuế điệu": Tiền mỗi hộ phải nộp để đóng vào việc quân. Nhà Tiền Lê đặt ra thuế thổ sản theo phép thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) của Trung Quốc, chỉ lấy cống phẩm mà không thu bằng tiền. Đồng thời, triều đình có chính sách khuyến khích thương mại. Những người buôn bán không phải nộp thuế, coi như họ chỉ bán những nông phẩm sản xuất ra mà đã chịu thuế ruộng đất rồi. Nhà Tiền Lê xem trọng nông nghiệp. Vào đầu xuân năm 987, vua Lê Đại Hành đã thực hiện lễ cấy Tịch điền để động viên, khuyến khích nhân dân sản xuất nông nghiệp. Đó là lễ Tịch điền đầu tiên mà một vị vua Việt Nam thân hành đi cày và được sử sách ghi nhận lại. Sử sách không chép rõ về hoạt động thương mại trong nước. Đối tác quan hệ buôn bán ngoại thương chủ yếu của Đại Cồ Việt là Trung Quốc. Hai bên lập ra những nơi giao dịch song phương gọi là "Bạc dịch trường" đặt trên đường thông lộ biên giới. Những Bạc dịch trường quan trọng trong thời kỳ này là trại Vĩnh Bình (được Lê Văn Siêu phỏng đoán là chợ Kỳ Lâm hiện nay) tại Sách Nam Giang thuộc trại Cổ Vạn và châu Tô Hậu (Lê Văn Siêu phỏng đoán là châu Thất Khê), trại Hoành Sơn (Na Chàm ở ải Nam Quan). Trại Hoành Sơn tụ tập nhiều nhà buôn từ châu Quảng Nguyên của Đại Cồ Việt và châu Đặc Ma của nước Đại Lý (Vân Nam) và các lái buôn từ Quảng Châu của nhà Tống. Bạc dịch trường lớn nhất gần biên giới là điểm giao dịch hai nước nằm ở trại Như Hồng, Khâm châu. Tác giả Chu Khứ Phi mô tả việc buôn bán giữa hai bên lúc đó trong sách "Lĩnh ngoại đại pháp" như sau: "Hai bên gặp nhau thường uống rượu làm vui rồi mới bàn chuyện buôn bán. Người Tống làm nhà ở tại chỗ lâu ngày và thường dìm giá làm người bán phải bán rẻ; nhưng phú thương người Việt cũng không chịu, cầm giữ giá lâu". Các quan chức địa phương biên giới cũng hỗ trợ cho quan hệ buôn bán của các thương gia hai bên. Nếu xảy ra việc kêu ca vì người bán cân thiếu thì phía Đại Cồ Việt lại cử sứ sang Khâm châu để thử lại cân để kiểm tra. Không những thế, chính triều đình nhà Tiền Lê cũng sai người sang giao dịch thẳng với khách buôn người Tống. Hàng bán của Đại Cồ Việt gồm có vàng, bạc, tiền đồng. Lê Văn Siêu cho rằng đây không chỉ là thị trường hàng hóa mà còn là thị trường tiền tệ mà hai bên trao đổi ngoại hối. Sử sách không ghi chép nhiều về những dấu ấn văn hóa thời Tiền Lê. Ảnh hưởng lớn nhất trong các tôn giáo là đạo Phật đã có từ thời thuộc Đường. Các nhà sư đã được sự tin cậy của hoàng đế, cho làm quan trong triều để bàn kế sách quốc gia. Sử sách ghi lại hai tác phẩm tiêu biểu thời kỳ này là bài thơ của nhà sư Đỗ Pháp Thuận đối đáp với sứ Tống và bài từ khúc của sư Khuông Việt tiễn sứ Tống ra về năm 987. Lê Quý Đôn có lời ca ngợi hai ông: "Sư Thuận thơ ca làm sứ Tống kinh sợ, Chân Lưu có từ khúc vang danh một thời". Thực hiện chính sách "thuần phục giả độc lập thật", về cơ bản quan hệ ngoại giao giữa nhà Tiền Lê với nhà Tống có nhiều thuận lợi. Nhà Tống tỏ ra dè dặt, mềm dẻo với các vua Lê vì luôn phải đối phó với nguy cơ từ người Khiết Đan ở phía bắc. Sau thất bại năm 981, vua Tống bằng lòng công nhận Lê Hoàn, phong ông làm Tiết độ sứ và không hỏi tới dòng dõi nhà Đinh nữa. Năm 986 và 987, Tống Thái Tông sai Lý Giác đi sứ sang Đại Cồ Việt. Trong lần đi sứ năm 987, Lý Giác làm thơ tiễn có câu: "Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu", nghĩa là: "Ngoài trời lại có trời soi nữa". Sư Khuông Việt nói rằng thơ này có ý tôn Lê Hoàn không khác gì vua Tống. Năm 990, nhà Tống lại cử Tống Cảo đi sứ Đại Cồ Việt lần nữa. Lê Văn Siêu bình luận điều này cho rằng: thượng quốc ít khi chịu mất công vì nước nhỏ như vậy, vì nhà Tống trong thời kỳ giao tranh với nước Liêu năm 986 và bộ lạc Thảng Cốt năm 990. Khi sứ Tống là Tống Cảo sang phong chức, Lê Hoàn nhận tờ chiếu của vua Tống mà không chịu quỳ, nói thác rằng bị ngã ngựa đau chân. Lúc đó sứ Tống im lặng không thắc mắc gì. Lê Văn Siêu cho rằng điều này hoàn toàn là do sự ngang ngạnh của vua Lê và không phải Tống Cảo không biết, nhưng đã không phản ứng. Trong sớ tâu Tống Thái Tông sau này, Tống Cảo nói rằng dù thác cớ đau chân nhưng ngay sau đó Lê Hoàn lại có thể đi chân đất, cầm cần câu lội xuống nước câu cá. Trong lần tiếp sứ Tống, Lê Hoàn còn làm những việc khác trêu chọc sứ phương Bắc như sai người mang con hổ đến công quán cho sứ Tống xem; lại sai mang con trăn lớn đến công quán, hỏi sứ Tống có ăn được thì làm cơm thết đãi. Sứ Tống khước từ không nhận và không dám nổi nóng theo tư thế của sứ giả thiên triều. Sau đó Lê Hoàn nói với Tống Cảo về việc ngoại giao: "Sau này có quốc thư thì cho giao nhận ở đầu địa giới, khỏi phiền sứ thần đến tận đây nữa." Tống Cảo về tâu lại, Tống Thái Tông bằng lòng với đề nghị của vua Lê. Năm 995, nhà Tống lại phong Lê Hoàn làm Giao Chỉ quận vương. Năm 995-996 ở biên giới hai bên đã có biến cố vì sự bạo loạn của các thổ quan vùng khe động. Tướng nhà Tống bắt hơn 100 người làm loạn trả lại cho Đại Cồ Việt. Phía nhà Lê cũng bắt 27 người trả lại phía Tống và sai sứ sang tạ ơn. Nhà Tống lại sai Lý Nhược Chuyết mang chiếu thư và đai ngọc sang ban cho Lê Hoàn. Năm 997, nhà Tống lại gia phong vua Lê làm Nam Bình vương. Năm 1004, vua Lê sai Hoàng tử Lê Minh Đề đi sứ Tống. Sang năm 1005, Lê Hoàn mất, các con tranh ngôi, trong nước loạn lạc. Mình Đề phải ở lại trú ở Quảng Châu. Triều thần nhà Tống xui Tống Chân Tông phát binh đánh, nhưng vua Tống cho rằng nhà Lê giữ lệ tiến cống và sai con sang chầu, không nên đánh để giữ cho phía nam yên ổn. Năm 1006, Lê Long Đĩnh giết anh là Trung Tông giành được ngôi vua. Nhà Tống không can thiệp. Sang năm 1007, Tống Chân Tông sai sứ sang phong cho Long Đĩnh làm "Giao Chỉ quận vương" và đúc ấn đưa sang. Năm 1009, Lê Ngọa Triều sai sứ đem biếu nhà Tống con tê ngưu thuần. Vua Tống cho rằng tê ngưu từ xa đến, không hợp thủy thổ muốn trả lại; nhưng sợ phật ý vua Lê, đợi cho sứ Đại Cồ Việt về rồi mới mang thả ra biển. Lê Ngọa Triều sau đó lại xin áo giáp mũ trụ dát vàng, vua Tống bằng lòng cho. Với Chiêm Thành (Champa). Năm 981, Lê Đại Hành sai Từ Mục, Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị vua Chiêm bắt giữ. Lê Đại Hành nổi giận, sai đóng chiến thuyền sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh. Năm 982, vua Lê khởi binh thân hành nam tiến. Quân Đại Cồ Việt thắng lớn, chém chết vua Chiêm là Ba Mi Thuế tại trận. Chiêm Thành thua to, nhiều quân sĩ bị bắt sống. Quân Lê bắt lính cùng kỹ nữ trong cung trăm người và một nhà sư người Thiên Trúc, lấy các đồ quý đem về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn, san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu nước Chiêm. Một viên tướng là Quảng giáp Lưu Kế Tông trốn ở lại Chiêm Thành và chiếm lấy ngôi vua Chiêm Thành vào năm 986. Năm 992, vua Chiêm mới là Harivarman II sai sứ sang xin lại 360 tù binh bị bắt giữ mang về châu Ô Lý. Harivarman II sai sứ là Chế Đông sang dâng sản vật địa phương, vua Lê trách là trái lễ, không nhận. Harivarman II sợ hãi, năm 994 lại sai cháu là Chế Cai sang chầu. Từ đó quan hệ hai bên khá yên ổn không xảy ra xung đột.
Alabama (, phiên âm tiếng Việt: A-la-ba-ma) là một tiểu bang nằm ở vùng đông nam Hoa Kỳ, giáp với Tennessee về phía bắc, Georgia về phía đông, Florida và vịnh Mexico về phía nam, và Mississippi về phía tây. Alabama là bang rộng thứ 30 và đông dân thứ 24 (2010) của Hoa Kỳ. Ở đây có một trong những thủy lộ nội địa dài nhất đất nước (dài ). Alabama có biệt danh là "Yellowhammer State" (Tiểu bang Chim cổ vàng), theo loài biểu tượng của bang. Alabama còn được gọi là "Heart of Dixie" (Tâm Dixie) và "Cotton State" (Tiểu bang Bông). Loài cây tượng trưng là thông lá dài ("Pinus palustris"), và loài hoa tượng trưng là hoa trà. Thủ phủ của Alabama là Montgomery. Thành phố lớn nhất theo dân số là Birmingham, mà từ lâu đã là thành phố được công nghiệp hóa mạnh mẽ nhất; thành phố lớn nhất theo diện tích là Huntsville. Thành phố cổ nhất là Mobile, thành lập bởi thực dân Pháp năm 1702 như thủ phủ của Louisiane thuộc Pháp. Từ cuộc Nội chiến Hoa Kỳ đến Chiến tranh thế giới thứ hai, Alabama, như nhiều bang ở Nam Hoa Kỳ, phải đối mặt với khó khăn kinh tế, một phần bởi vì sự phụ thuộc vào nông nghiệp. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Alabama phát triển nhờ sự chuyển hướng kinh tế từ chủ yếu dựa trên nông nghiệp sang một nền kinh tế đa dạng hơn. Nền kinh tế thế kỷ 21 của Alabama dựa trên quản lý, sản xuất ô tô, tài chính, chế tạo, hàng không vũ trụ, khai thác quặng, y tế, giáo dục, bán lẻ, và công nghệ. Những người Âu-Mỹ đặt tên sông Alabama và bang Alabama theo người Alabama, một tộc người nói ngôn ngữ Muskogee sinh sống ngay cạnh nơi hợp lưu của sông Coosa và sông Tallapoosa. Trong tiếng Alabama, từ dành cho người thuộc dòng dõi Alabama là "Albaamo" (hoặc "Albaama" hoặc "Albàamo", tùy theo phương ngữ; dạng số nhiều "Albaamaha"). Từ "Alabama" do vậy nhiều khả năng đến từ tiếng Alabama, giả thuyết rằng nó được mượn từ tiếng Choctaw khó mà chính xác. Cách viết của từ "Alabama" biến thiên đáng kể trong các tài liệu lịch sử. Từ năm 1702, người Pháp gọi người Alabama là "Alibamon", còn con sông là "Rivière des Alibamons". Những biến thể của cái tên này gồm "Alibamu", "Alabamo", "Albama", "Alebamon", "Alibama", "Alibamou", "Alabamu", "Allibamou". Một số học giả đề xuất rằng nó xuất phát từ tiếng Choctaw: "alba" ("cây" hay "cỏ") và "amo" ("cắt", "xém", hay "thu lượm"). Ý nghĩa có thể là "người dọn sạch bụi cây" hay "người thu lượm thảo dược", chỉ việc dọn đất để trồng trọt hay thu thập cây thuốc. Tại bang cũng có nhiều địa danh bắt nguồn từ ngôn ngữ bản địa. Alabama là bang lớn thứ 30 tại Hoa Kỳ với tổng diện tích : 3,2% diện tích là nước, khiến Alabama trở thành bang có diện tích mặt nước lớn thứ 23. Đây cũng là nơi có hệ thống thủy lộ nội địa lớn thứ nhì Hoa Kỳ. Khoảng ba phần năm diện tích là đồng bằng thoai thoải với xu hướng thấp xuống khi về gần sông Mississippi và vịnh Mexico. Vùng Bắc Alabama nhiều núi non hơn, với sông Tennessee chảy qua một thung lũng lớn và tạo ra nhiều lạch, suối, sông, hẽm núi, và hồ. Alabama giáp với Tennessee về phía bắc, Georgia về phía đông, Florida về phía nam, và Mississippi về phía tây. Alabama có một đường bờ biển, ở góc tây nam của bang. Độ cao biến thiên từ ngang mực nước biển tại vịnh Mobile tới hơn 1.800 feet (550 m) tại dãy Appalachia miền đông bắc. Điểm cao nhất là đỉnh núi Cheaha, đạt . Alabama có đất rừng (tức 67% tổng diện tích). Quận Baldwin, dọc theo duyên hải Vịnh, là quận lớn nhất của bang về cả diện tích đất liền và diện tích mặt nước. Những khu vực tại Alabama được quản lý bởi Dịch vụ Vườn Quốc gia gồm vườn quân sự quốc gia Horseshoe Bend gần thành phố Alexander; khu bảo tồn quốc gia Little River Canyon gần Fort Payne; tượng đài quốc gia hang Russell tại Bridgeport; khu lịch sử quốc gia Tuskegee Airmen tại Tuskegee; và khu lịch sử quốc gia học viện Tuskegeee gần Tuskegee. Thêm vào đó, Alabama sở hữu bốn rừng quốc gia: Conecuh, Talladega, Tuskegee, và William B. Bankhead. Alabama còn có đại lộ Natchez Trace, đường lịch sử quốc gia Selma To Montgomery, và đường lịch sử quốc gia Trail Of Tears. Một thắng cảnh tự nhiên nổi bật ở Alabama là cầu đá "Natural Bridge", chiếc cầu tự nhiên dài nhất, ở phía đông của dãy Rocky, ngay phía nam của Haleyville. Khí hậu của Alabama là khí hậu cận nhiệt đới âm ("Cfa") theo phân loại khí hậu Köppen. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 64 °F (18 °C). Miền nam thường ấm hơn do sự lân cận với vịnh Mexico, còn miền bắc, nhất là ở dãy Appalachia mạn đông bắc, thường lạnh hơn. Thường, Alabama có mùa hè nóng và mùa đông dịu và mưa nhiều gần như quanh năm. Alabama nhận lượng mưa trung bình mỗi năm và mùa trồng trọt kéo dài đến 300 ngày ở miền nam. Mùa hè Alabama thuộc loại nóng nhất đất nước, với nhiệt độ đạt mức suốt mùa hè ở một vài phần của bang. Alabama cũng hứng chịu bão nhiệt đới. Những nơi cách xa biển cũng không thoát khỏi tác động của bão, và thường phải tiếp nhận mưa lớn khi bão đi vào đất liền và suy yếu. Nam Alabama chịu nhiều dông. Vùng duyên hải Vịnh, quanh vịnh Mobile, trung bình dông được ghi nhận trong 70-80 ngày mỗi năm. Hoạt động này giảm dần khi đi về phía bắc, nhưng thậm chí ở vùng viễn bắc của bang, mỗi năm vẫn có đến 60 ngày dông. Đôi khi, dông đi kèm với sét và mưa đá. Alabama đứng thứ chín về số người chết cho sét và thứ mười về số người chết do sét trên bình quân dân số. Nhiệt độ cao nhất từng được ghi nhận tại Alabama là ngày 5 tháng 9 năm 1925, ở Centerville. Nhiệt độ thấp nhất được ghi nhận là ngày 30 tháng 1 năm 1966, ở New Market. Alabama là nơi có một hệ động thực vật phong phú, chủ yếu là do sự đa dạng về môi trường sống, từ thung lũng Tennessee, cao nguyên Appalachia, và Ridge-and-Valley Appalachians của miền bắc đến Piedmont, Canebrake và Black Belt của miền trung đến đồng bằng duyên hải Vịnh và bãi biển dọc vịnh México của miền nam. Alabama thường được xếp vào tốp đầu về đa dạng sinh học. Alabama nằm trong quần xã sinh vật rừng cây hạt trần cận nhiệt đới và từng hỗ trợ rừng thông trãi rộng khắp nơi, mà vẫn chiếm một phần lớn trong tổng diện tích rừng toàn bang. Alabama được xếp thứ năm toàn quốc về sự đa dạng của thực vật. Đây là nơi có gần 4.000 loài thực vật không có hoa và thực vật có hạt. Các loài động vật bản địa gồm 62 loài động vật có vú, 93 loài động vật bò sát, 73 loài động vật lưỡng cư, khoảng 307 loài cá nước ngọt, và 420 loài chim. Động vật không xương sống gồm 83 loài tôm hùm đất và 383 loài động vật thân mềm. 113 trong số những loài động vật thân mềm này chưa bao giờ thu thập được ở nơi nào ngoài Alabama. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Chi Móng bò, chi Hoàng hậu (danh pháp khoa học: Bauhinia) là một chi chứa hơn 200 loài thực vật có hoa trong phân họ Vang ("Caesalpinioideae") của một họ lớn là họ Đậu ("Fabaceae"), với sự phân bổ rộng khắp vùng nhiệt đới. Chi này được đặt tên khoa học theo tên gọi của anh em nhà Bauhin, các nhà thực vật học người Pháp gốc Thụy Sĩ. Nhiều loài được trồng rộng rãi trong khu vực nhiệt đới như là các "cây lan", cụ thể là ở miền bắc Ấn Độ, Việt Nam và đông nam Trung Quốc. Chúng đôi khi được gọi theo màu hoa như là lan tía, lan nhà nghèo. "Bauhinia blakeana" là loài hoa biểu tượng của Hồng Kông. Hoa ban có từ 4 - 5 cánh. Nhị hoa có vị ngọt, thu hút nhiều loài côn trùng, nhất là các loài lấy mật như ong, bướm. Tên gọi hoa ban trắng ("Bauhinia variegata") theo tiếng của người Thái có nghĩa "hoa ngọt". Hằng năm, đầu tháng hai âm lịch, hoa ban lác đác nở, rộ nhất và đẹp nhất là vào khoảng đầu tháng ba, đến đầu tháng tư thì hoa bắt đầu tàn. Lúc nở rộ, trông cây ban như thể chỉ có hoa mà không có lá. Người vùng cao Tây Bắc Việt Nam thường dựa vào hoa ban để làm nông, họ phát nương vào lúc hoa nở và tra hạt vào lúc hoa tàn. Hoa ban trắng ("Bauhinia variegata") là biểu tượng văn hóa của vùng Tây Bắc Bắc Bộ Việt Nam, thường tượng trưng cho sự thủy chung trong tình yêu đôi lứa. Hoa dương tử kinh ("Bauhinia blakeana") từ năm 1997 đã trở thành loài hoa biểu tượng cho Hồng Kông và nó xuất hiện trên lá cờ của Hồng Kông cũng như trên các đồng đô la Hồng Kông. Còn tại Đài Loan, nó đã được bầu chọn là loài hoa của thành phố Gia Nghĩa ở miền tây nam Đài Loan. Hoa ban thường xuất hiện trong các trường ca và truyền thuyết dân gian các dân tộc thiểu số Tây Bắc Việt Nam. Trong cộng đồng các dân tộc Tây Bắc, tồn tại ba kiểu truyện kể về sự tích hoa ban; đó là các truyện "Pi Khun-Noọng Ban", truyện "Cầm Đôi-Hiến Hom" và truyện "Bun Trai-Bun Nhinh" (hay truyện hai Bun). Cách kể và tên nhân vật của các truyện tuy có khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ dùng hoa ban làm biểu tượng cho sự thủy chung trong tình yêu đôi lứa. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã viết bài thơ "Gửi Lai Châu", trong đó có câu: "Hoa Ban nở thành người con gái Thái". Tình ca Thái có câu: "Trăm năm ngắm ban nở còn ngắm mãi "Mỗi mùa bạn lại thêm trẻ ra, không già... Tại vùng Tây Bắc Việt Nam, hoa ban cùng với lá có thể được chế biến thành những món ăn độc đáo như: xôi, xào, nấu canh, làm nộm, đồ lên chấm với dấm ớt măng
Võ Tắc Thiên (chữ Hán: 武則天, 17 tháng 2, 624 - 16 tháng 12, 705) hay Vũ Tắc Thiên, thường gọi Võ hậu (武后) hoặc Thiên hậu (天后), là một phi tần ở hậu cung của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, sau trở thành Hoàng hậu thứ hai của Đường Cao Tông Lý Trị, về sau trở thành Hoàng đế triều đại Võ Chu làm gián đoạn nhà Đường. Bà là mẹ của 2 vị hoàng đế kế tiếp, Đường Trung Tông Lý Hiển và Đường Duệ Tông Lý Đán. Cùng với tôn hiệu Thiên hậu của bà và tôn hiệu Thiên hoàng (天皇) của Đường Cao Tông, 2 người đã đồng trị vì nhà Đường trong một thời gian dài và cùng được gọi là Nhị Thánh (二聖). Sau khi Đường Cao Tông qua đời, Thiên hậu trải qua các đời Đường Trung Tông và Đường Duệ Tông với tư cách Hoàng thái hậu, và cuối cùng trở thành Hoàng đế duy nhất của triều đại Võ Chu, triều đại mà bà sáng lập tồn tại từ năm 690 đến năm 705. Do đó, Võ Tắc Thiên trở thành Nữ hoàng duy nhất được công nhận trong lịch sử Trung Quốc. Dù vậy, Cựu Đường thư và Tân Đường thư vẫn chỉ gọi bà là "Thái hậu" ngay cả sau khi bà tự xưng hoàng đế, đó là vì vấn đề không nhìn nhận địa vị của bà trong thời đại cũ. Trong 15 năm cai trị với tôn hiệu Thánh Thần Hoàng đế (聖神皇帝), Võ Tắc Thiên mở mang lãnh thổ Trung Quốc, vươn sang Trung Á, nhưng đến giai đoạn sau thì Trung Quốc của bà bị mất nhiều lãnh thổ ở Mãn Châu và bán đảo Liêu Đông do sự thành lập của vương quốc Bột Hải năm 698 và Tiểu Cao Câu Ly năm 699. Nhiều lãnh thổ Trung Quốc ở phía tây bắc vào giai đoạn trị vì sau này của bà cũng bị mất vào tay Hãn quốc Hậu Đột Quyết. Sự ly khai của tộc Khiết Đan ở khu vực xung quanh Doanh Châu (Bắc Kinh ngày nay) và các cuộc xâm nhập của Hãn quốc Hậu Đột Quyết cũng từng gây uy hiếp lớn cho chính quyền của bà. Nội địa khuyến khích phát triển Phật giáo, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, duy trì sự ổn định trong nước. Tuy nhiên, do tư tưởng nam tôn-nữ ti đã ăn sâu trong lòng xã hội phong kiến, lại thêm tính cách độc ác, hà khắc trong việc cai trị khiến đông đảo cựu thần nhà Đường không phục. Cuối đời, bà có hai nam sủng là anh em họ Trương, Trương Xương Tông và Trương Dịch Chi, cùng họ dâm loạn trong cung, vì sủng ái hai anh em mà bà dung túng cho 2 người chuyên quyền, khiến nhiều quần thần bất bình. Tới năm 705, Tể tướng đương triều là Trương Giản Chi cùng các đại thần phát động binh biến, ép Võ hậu thoái ngôi và đưa Đường Trung Tông lên ngôi lần thứ hai. Bà bị giam lỏng ở Thượng Dương cung tại Lạc Dương cho đến khi qua đời không lâu sau đó, thọ 82 tuổi. Bà cũng trở thành 1 trong 3 vị Hoàng đế Trung Hoa có tuổi thọ cao nhất, bên cạnh Lương Vũ Đế Tiêu Diễn (87 tuổi) và Thanh Cao Tông Càn Long hoàng đế (89 tuổi). Việc bà nổi lên nắm quyền cai trị bị các nhà sử học Khổng giáo chỉ trích mạnh mẽ, thường so sánh bà với Lã hậu nhà Hán bởi sự chuyên quyền và tàn độc, được gọi chung là Lã Võ (吕武). Khi đánh giá khái quát lịch sử Trung Hoa, Võ Tắc Thiên cùng 2 vị "Nữ hoàng không miện" khác là Lã hậu và Từ Hi Thái hậu là 3 phụ nữ nắm quyền lực tối cao nhất từng xuất hiện trong các triều đình phong kiến Trung Hoa, bị dân gian coi là những người phụ nữ tàn ác bất nhân với cả người thân, làm nghiêng đổ xã tắc. Tuy nhiên, các nhà sử học từ sau những năm 1950 đã đánh giá bà cân bằng hơn. Võ Tắc Thiên có những chỗ dở như tàn nhẫn giết hại nhiều người thân, hà khắc làm người dân khiếp sợ, nhưng bà biết trọng dụng người tài, thuởng phạt nghiêm minh, nhân dân sống dười thời bà được ăn no mặc ấm, an cư lạc nghiệp. Thân thế và tên thật. Tên thật nguyên bản của Võ Tắc Thiên không được ghi lại, cái tên Võ Chiếu (武曌) là bà tự sáng tạo ra, ví mình như mặt trời (nhật: 日), mặt trăng (nguyệt: 月) trên không trung (không: 空): (日+月+空=曌). Năm sinh của bà, căn cứ theo các cuốn Cựu Đường thư, Tân Đường thư lẫn Tư trị thông giám đều có mâu thuẫn. Trong sách Cựu Đường thư, Võ thị được ghi qua đời khi năm 83 tuổi, suy ra bà ra đời ở năm Vũ Đức thứ 7 (624), tuy nhiên Tân Đường thư lại ghi nhận bà qua đời năm 81 tuổi, mà Tư trị thông giám là năm 82 tuổi, đảo suy ra là sinh hạ vào khoảng năm Vũ Đức thứ 8 (625). Bản thân Tư trị thông giám vào năm Trinh Quán thứ 11 (637), ghi chép "Võ thị 14 tuổi nhập cung" là hoàn toàn mâu thuẫn. Một số đưa ra rằng Võ thị sinh ra năm Trinh Quán thứ 2 (628), đến cuối cùng, nhiều nhận định vẫn lấy năm Vũ Đức thứ 7 làm năm sinh của bà. Bà xuất thân từ gia tộc họ Võ có nguồn gốc từ vùng Văn Thủy, Tinh Châu (nay là Thái Nguyên, Sơn Tây, Trung Quốc). Cha bà là Võ Sĩ Hoạch, xuất thân trong một gia đình quý tộc danh tiếng ở Sơn Tây, ông nội Võ Hoa, từng nhậm Quận thừa Lạc Dương giàu có. Mẹ bà là Dương thị, xuất thân từ gia đình quý tộc hoàng gia nhà Tuỳ, là con gái của tông thất Dương Đạt (楊達) - em trai của Kiến Đức vương Dương Hùng (杨雄), con trai của Dương Thiệu (杨绍), tộc huynh của Tùy Văn Đế Dương Kiên của nhà Tùy. Trong nhà bà có 2 anh trai là Võ Nguyên Khánh và Võ Nguyên Sảng là con của chính thất Tương Lý thị (相里氏) đã qua đời; 1 người chị cùng mẹ là Võ Thuận và 1 em gái là phu nhân của Quách Hiếu Thuận (郭孝慎). Ban đầu, Võ Sĩ Hoạch làm nghề buôn bán gỗ, cuộc sống gia đình tương đối khá giả, được triều Tùy ban chức "Ưng Dương phủ đội chính". Những năm Đại Nghiệp thời Tùy Dượng Đế, Đường Cao Tổ Lý Uyên khi ấy giữ tước "Đường quốc công", từng nhiều lần đến vùng Phần, Tấn và thăm nhà họ Võ, hai bên có quan hệ thân thiết với nhau. Khi nhà Đường thành lập, nhà họ Võ được Đường Cao Tổ hậu đãi, ban cho bổng lộc, đất đai và trang sức rất nhiều. Về sau, Võ Sĩ Hoạch được ban nhiều chức vị quan trọng, làm đến chức Đô đốc Kinh châu, Thượng thư bộ Công, tước Ứng Quốc công (應國公). Năm Trinh Quán thứ 9 (635), Võ Sĩ Hoạch qua đời. Đường huynh của Võ thị là Võ Duy Lương, Võ Hoài Vận cùng anh thứ Võ Nguyên Sảng đối xử với mẹ bà là Dương phu nhân rất vô lễ, từ đó Võ thị và các anh em có hiềm khích. Phi tần của Đường Thái Tông. Năm Trinh Quán thứ 11 (637), tháng 11, Đường Thái Tông Lý Thế Dân nghe nói Võ thị có tiếng xinh đẹp nên triệu Võ thị vào cung, phong làm Tài nhân, cấp bậc thứ năm trong chín bậc thuộc hậu cung. Lúc đó, mẹ bà là Dương thị than khóc không thôi, bà cố gắng an ủi mẹ mình: "Cớ chi mẹ lại bảo gặp được Thiên tử không phải là phúc phận của con". Qua lời an ủi đó, Dương thị đoán ra được chí lớn của con mình, nên thôi không khóc nữa. Khi vào cung, Võ thị được Đường Thái Tông ban cho chữ Mị (媚) làm tên, vì thế người ta cũng thường gọi bà là Võ Mị (武媚), tuy đời sau lại thường gọi thành Võ Mị Nương nhưng đương thời không thấy ai gọi như vậy. Võ thị cùng Yến Đức phi, Dương Tiệp dư cùng Sào Lạt vương phi Dương thị của Thái Tông đều có họ hàng bên ngoại. Sử sách ghi chép rất ít về những hành trạng của bà trong thời gian này. Sách Tư trị thông giám dẫn lời của Võ thị khi về già, kể về một sự tích thuần phục ngựa như sau: Thái Tông Hoàng đế có một con ngựa do Tây Vực tiến cống, tên là Sử Tử Thông. Con ngựa đó rất cao to và dữ dằn, không chịu cho ai cưỡi trên lưng cả. Lúc đó trẫm chỉ là cung thiếp hầu hạ, đã bảo rằng: "Thiếp có thể, chỉ cần ba thứ, roi sắt, búa sắt và dao. Trước hết dùng roi sắt mà đánh nó bắt khuất phục; nếu không chịu thì dùng búa sắt đánh vào đầu nó; còn nếu dùng búa sắt đánh vẫn không được thì dùng dao đâm chết nó đi, vì thứ không trị được thì để làm gì?". Thái Tông Hoàng đế vẫn khen ta vì việc đó. Nay ông tự thấy có đáng làm bẩn con dao găm của ta không. Năm Trinh Quán thứ 17 (643), Đường Thái Tông phế truất Thái tử Lý Thừa Càn, lập Tấn vương Lý Trị làm Thái tử. Từ đây, Võ Tài nhân thường ở bên cạnh phụng dưỡng, hầu thuốc cho Thái Tông, liền bị Thái tử trông thấy mà say mê. Năm thứ 23 (649), Đường Thái Tông qua đời. Thái tử Lý Trị lên nối ngôi, tức Đường Cao Tông. Trong hơn 10 năm làm tài nhân, Võ thị không hề sinh được một người con nào, vì thế theo di mệnh của tiên hoàng đế, bà và tất cả các phi tần không có con khác phải cạo tóc, xuất gia làm ni cô, vào tu ở Cảm Nghiệp tự (感業寺). Năm Vĩnh Huy nguyên niên (650), tháng 5, nhân ngày giỗ của cha, Cao Tông đến Cảm Nghiệp tự và tình cờ gặp lại bà, hai người ôm nhau mà khóc. Võ thị lúc đó đã cạo đầu song nhan sắc vẫn diễm lệ, nói năng êm tai nên tình cũ trỗi dậy, ông nảy ý rước bà về cung. Khi ấy trong hậu cung, Vương Hoàng hậu và Tiêu Thục phi đấu đá lẫn nhau. Hoàng hậu không có con, nhận nuôi thái tử Lý Trung, còn Thục phi sinh ra hoàng tử Lý Tố Tiết và hai vị công chúa. Trông thấy Thục phi được sủng ái, Hoàng hậu ghen ghét, muốn mượn tay Võ thị giành lấy sự sủng ái của Thục phi, bèn xin lệnh cho Võ thị nuôi tóc, còn thường xuyên nói tốt khiến Cao Tông cho rước về cung. Vào lúc này, Võ thị đang mang thai đứa con đầu lòng, là Lý Hoằng. Quay lại hậu cung. Năm Vĩnh Huy thứ 3 (652), Võ thị sinh con trai Lý Hoằng, là hoàng tử thứ 5 của Cao Tông. Thời gian Võ thị chính thức mang thai và hạ sinh Lý Hoằng không được ghi lại tỉ mỉ, thậm chí thời điểm Võ thị trở về cung cũng không rõ ràng, do đó có nhiều giả thiết cho rằng bà mang thai và hạ sinh tại chùa Cảm Nghiệp, và đó là lý do càng khiến Cao Tông muốn đưa bà hồi cung trao danh phận. Tháng 5 năm ấy, gần như ngay lập tức, Võ thị được bái làm Chiêu nghi, tước vị rất cao trong hàng ngũ cung tần. Từ khi về cung, Võ thị ra sức lấy lòng Đường Cao Tông và Vương Hoàng hậu, cả ba người Võ thị, Vương thị cùng Tiêu thị tranh sủng khiến hậu cung không yên, đến Cao Tông cũng không thấy thoải mái. Võ thị biết tính khí Cao Tông, lại biết thông đồng cùng những người hầu không tận tâm của Vương thị và Tiêu thị, vì vậy chỉ có Võ thị có thể tùy cơ hành xử, dần dần được Cao Tông nghe theo. Tuy Võ Chiêu nghi sinh hạ con trai, được nhà vua rất mực yêu quý, song ngôi vị Hoàng thái tử trong cung vẫn đang thuộc về Lý Trung, tuy chỉ là do một tỳ thiếp sinh ra nhưng lại là con trai trưởng của Cao Tông, được Vương Hoàng hậu nhận làm con nuôi. Năm Vĩnh Huy thứ 5 (654), tháng giêng, Võ Chiêu nghi hạ sinh một con gái, An Định Tư Công chúa, tuy nhiên vị công chúa này không bao lâu sau thì mất. Căn cứ theo hai cuốn sách đều được soạn dưới thời nhà Tống là Tân Đường thư và Tư trị thông giám, cả hai đều chỉ ra rõ ràng chính Võ thị đã giết đứa bé để hãm hại Vương Hoàng hậu, trở thành một nguyên do khiến Cao Tông muốn phế hậu và đưa Võ thị lên thay. Theo cách nói của hai cuốn sách này, vào lúc Vương thị đi thăm công chúa và trở về cung, thì Võ Chiêu nghi liền dùng chăn bịt mũi công chúa đến chết, sau đó lại đắp chăn lên che giấu. Khi đó, Cao Tông đến thăm công chúa, Võ thị vui vẻ chào đón, lúc mở chăn ra thì phát hiện công chúa đã chết. Cao Tông buồn bực hỏi người thị nữ, tất cả đều nói ""Hoàng hậu từng ở đây", Võ thị khóc bi thương, còn Cao Tông thì tức giận mắng: "Hoàng hậu giết con gái ta, trước cùng Phi sàm mạo, nay thực có ý tà niệm!"", nước cờ đổ lỗi của Võ Chiêu nghi hoàn thành mỹ mãn. Ngay khi Cao Tông nói lời ấy, Võ thị mới khóc tố tội của Hoàng hậu, trong khi Vương Hoàng hậu không còn cách nào để tự biện minh. Từ đó, Đường Cao Tông nảy ý phế truất Vương thị và đưa Võ Chiêu nghi lên thay. Tuy nhiên, sự việc này có vấn đề về tính chân thật, bởi vì Cựu Đường thư và Đường hội yếu (唐会要) đều chỉ nói qua việc An Định chết đột ngột mà không nói nguyên nhân, sách Cựu Đường thư cũng là sách soạn thời gian sau khi nhà Đường diệt vong chứ không phải là trong triều Đường, nếu có bất kì lời đồn đương thời thì cũng không thể không ghi vào, không cần phải đợi hai sách chính phủ đời Tống soạn mới xuất hiện. Sau sự kiện trên, Đường Cao Tông đã có ý triển khai phế Vương Hoàng hậu mà lập Võ Chiêu nghi, đây được gọi là Phế Vương lập Võ (廢王立武). Lúc ấy triều đình lấy Trưởng Tôn Vô Kỵ cùng Chử Toại Lương (褚遂良) là nguyên thủ lĩnh triều, xuất thân đại tộc và huân công thế gia, đương thời có quyền lực cực lớn, mà Đường Cao Tông tuy lên ngôi nhiều năm vẫn luôn bị áp chế. Do vấn đề này, không ít nhận định tin tưởng Cao Tông mượn chuyện phế hậu là nhằm công kích phe cựu thần, chấn chỉnh triều cương. Võ Chiêu nghi từ đấy cũng trở thành "chiến hữu" của Cao Tông. Trong triều, Trung thư xá nhân Lý Nghĩa Phủ (李義府), Lễ bộ Thượng thư Hứa Kính Tông (許敬宗) đều ủng hộ lập Võ thị làm hoàng hậu, tình hình phe phái cũng càng gay gắt hơn. Thời gian sau, Đường Cao Tông đề nghị muốn phong Võ Chiêu nghi làm Thần phi (宸妃), cuối cùng vì Thị trung Hàn Viện (韩瑗) và Trung thư lệnh Lai Tế (來濟) phản đối mới bèn thôi. Năm Vĩnh Huy thứ 6 (655), mùa hạ, tháng 6, Võ Chiêu nghi tố cáo mẫu thân của Vương Hoàng hậu là Ngụy Quốc phu nhân Liễu thị đã cùng Hoàng hậu dùng bùa phép hãm hại mình, từ đó Liễu thị không được vào cung nữa. Cậu của hoàng hậu là Trung thư lệnh Liễu Thích (柳奭) bị giáng chức. Trong lúc đó, Trung thư Xá nhân Lý Nghĩa Phủ vốn bị Trưởng Tôn Vô Kỵ ghét, vốn bị Vô Kỵ biếm chức, nhân đó dâng sớ xin phế Hậu lên Cao Tông. Cao Tông vui mừng, bèn cho triệu Lý Nghĩa Phủ vào cung, cho phục chức. Phe cánh của Võ Chiêu nghi ngày càng lớn mạnh. Mùa thu năm ấy, Cao Tông triệu Trưởng Tôn Vô Kỵ, Chử Toại Lương và Lý Thế Tích vào hỏi ý kiến việc phế hậu, Lý Thế Tích cáo ốm không tới. Trong buổi nghị sự, Chử Toại Lương đều lên tiếng can ngăn Cao Tông, còn Trưởng Tôn Vô Kỵ im lặng để tỏ ra không hài lòng. Khi Lý Thế Tích nhập triều, Cao Tông đến hỏi Lý Thế Tích, Tích nói: "Đó là gia sự của bệ hạ, không cần hỏi đến ngoại thần". Vấn đề "Phế Vương lập Võ" càng lúc càng có lợi cho Võ Chiêu nghi. Hoàng hậu nhà Đường. Giành lấy quyền lực. Năm Vĩnh Huy thứ 6 (655), ngày 13 tháng 10 (tức ngày 27 tháng 11 dương lịch), Đường Cao Tông lấy tội danh "Âm mưu hạ độc" (謀行鴆毒), ra chỉ phế truất Hoàng hậu Vương thị và Thục phi Tiêu thị làm thứ nhân, đều giam vào biệt viện, đồng thời đày gia tộc đến Lĩnh Nam. Sau đó 7 ngày, tức ngày 20 tháng 10 (âm lịch), Đường Cao Tông lần nữa hạ chiếu đem lập Võ Chiêu nghi làm hoàng hậu. Đường Cao Tông lệnh hai người Lý Tích cùng Vu Chí Ninh đem tỉ thụ hoàng hậu đến làm lễ sách lập cho Võ hậu, đồng thời cũng mệnh "Tứ di tù trưởng" đến ngoài chúc mừng ở Túc Nghĩa môn (肅義門) và mệnh phụ vào nội điện triều bái Võ hậu. Điển lệ quan viên và mệnh phụ triều bái hoàng hậu trong dịp sách lập của các triều đại sau đều từ đó mà thành. Tuy đã là hoàng hậu, Võ thị vẫn không dừng lại việc thủ tiêu các kẻ thù của mình, bắt đầu từ Vương thị, Tiêu thị cùng thái tử đương nhiệm là Lý Trung. Kể từ khi bị phế thì Vương thị và Tiêu thị được chuyển vào một biệt viện, Cao Tông mềm lòng hay đến thăm và dự định thả họ ra, Võ hậu hay tin bèn giết cả hai người một cách rất tàn nhẫn. Sau khi xử lý hai người này rồi, Võ hậu tiếp tục giải quyết Thái tử Lý Trung để đem ngôi vị về cho con trai mình. Đầu năm Hiện Khánh nguyên niên (656), Hoàng thái tử Lý Trung bị phế truất. Trước đó, đại thần Hứa Kính Tông dâng sớ xin thay luôn ngôi hoàng thái tử, phế Lý Trung mà lập con trai cả của Võ Hoàng hậu là Lý Hoằng. Vì lý do này, Đường Cao Tông ép Thái tử viết biểu nhường ngôi, Thái tử bất đắc dĩ phải nghe theo. Tháng 2 năm ấy, Cao Tông lập Đại vương Lý Hoằng làm hoàng thái tử và giáng Thái tử Lý Trung làm ""Lương vương" (梁王), lại cho Trung nhậm lĩnh Đô đốc Lương châu, đây đều là thông lệ của tất cả các phiên vương tông thất nhà Đường. Từ năm Hiện Khánh thứ 2 (657), Võ hậu cùng phe đảng tìm cách trả thù những người không ủng hộ mình, ban đầu là Chử Toại Lương và Hàn Viện. Cùng năm ấy, Đường Cao Tông hạ chỉ giáng Chử Toại Lương làm Đô đốc Đàm Châu. Cuối cùng, Chử Toại Lương bị biếm đến Quế Châu rồi Ái Châu, An Nam, cuối cùng uất ức mà chết vào tháng 10 (ÂL) sang năm, tức năm 658 công lịch. Vào năm Hiện Khánh thứ 4 (659), Võ hậu giật dây cho Hứa Kính Tông và Lý Nghĩa Phủ hãm hại Trưởng Tôn Vô Kỵ cùng các thế lực chống đối khác dứt điểm. Lúc đó, có người tố cáo hai viên quan là Vi Quý Phương (韋季方) và Lý Sào (李巢) mưu làm việc trái phép, Đường Cao Tông giao cho Hứa Kính Tông điều tra. Kính Tông dụ dỗ Quý Phương khai rằng Triệu Quốc công Trưởng Tôn Vô Kỵ có thông đồng với mình. Cao Tông bất ngờ về việc này, lại sai Kính Tông đưa Vô Kị ra tra xét. Cuối cùng, Vô Kị bị bãi bỏ phong ấp và chức Thái úy, giáng làm Dương Châu Đô đốc, đày đến Kiềm Châu. Hứa Kính Tông nhân đó tố cáo Chử Toại Lương cùng Hàn Viện và Liễu Thích. Viện và Thích bị bãi chức, còn Chử Toại Lương tuy đã chết cũng bị trừ quan tước. Cuối cùng, Trưởng Tôn Vô Kỵ cũng bị bức tử trong năm đó. Kết cuộc của Hàn Viện cũng không khá hơn, sau khi bị đoạt chức tước thì ông bị biếm làm Thứ sử Ái Châu. Những người khác như Vu Chí Ninh (于志寧) và Lai Tế (來濟), khi trước cũng thuộc phe Cựu thần phản đối lập Võ thị, nay cũng đều bị điều đi khỏi kinh sư. Đến tận đây, Đường Cao Tông Lý Trị mới bắt đầu công cuộc quân chủ tập quyền để nắm được quyền lực tuyệt đối cho các hoàng đế nhà Đường về sau. Từ khi Tào Ngụy và nhà Tấn đến khi sự kiện "Phế Vương lập Võ" diễn ra, quân chủ của nền chính trị Trung Quốc chịu thời gian dài bị tầng lớp quan lại kiềm chế. Nhờ sự kiện này, chính quyền quân chủ một lần nữa được cải thiện, đối với cục diện lịch sử về sau cũng ảnh hưởng rất lớn. Tranh chấp gia tộc. Trước kia, Võ Sĩ Hoạch lấy vợ cả là Tương Lý thị, sinh hai con trai Nguyên Sảng, Nguyên Khánh; sau lại lấy Dương thị sinh ba con gái: người con đầu là Võ Thuận lấy Hạ Lan An Thạch (賀蘭安石), thứ hai là Võ hậu, người thứ ba lấy Quách Hiếu Thân (郭孝慎) và mất sớm. Sĩ Hoạch chết, Nguyên Sảng, Nguyên Khánh cùng con người anh Sĩ Hoạch là Võ Duy Lương (武惟良), Võ Hoài Vận (武懷運) tỏ ra bất kính với Dương thị nên bị bà ta ghét. Khi đó, An Thạch và Hiếu Thận cũng đã chết, vợ An Thạch sinh ra Hạ Lan Mẫn Chi (賀蘭敏之) và một người con gái. Võ hậu từ khi được lập, Dương thị trở thành "Vinh Quốc phu nhân" (榮國夫人); vợ An Thạch là Võ Thuận làm "Hàn Quốc phu nhân"" (韓國夫人), bọn Nguyên Sảng đều được phong chức vị cao. Vào một hôm, Vinh Quốc phu nhân bày tiệc rượu trong gia đình, bọn Duy Lương tỏ thái độ bất mãn, phu nhân rất giận. Võ hậu biết chuyện, liền đày bọn Duy Lương làm Thứ sử các Châu xa. Nguyên Khánh, Nguyên Sảng lo buồn mà chết. Gia tộc hiển quý, Hàn Quốc phu nhân Võ Thuận và con gái Hạ Lan thị thường ra vào cung, có tin đồn cả hai là tình nhân của Cao Tông. Khi Hàn Quốc phu nhân đột ngột qua đời, Cao Tông phong cho con gái Võ thị là Hạ Lan thị làm "Ngụy Quốc phu nhân" (魏國夫人), lại muốn nạp vào cung để tư thông. Võ hậu nảy sinh ghen tuông, tỏ ra không bằng lòng. Khi bọn Duy Lương, Hoài Vận về kinh và dâng đồ ăn, Võ hậu bí mật bỏ độc vào đó và đem đến cho Ngụy Quốc, khiến Hạ Lan thị bị trúng độc mà chết. Sau đó, Võ hậu quy tội cho Duy Lương, Hoài Vận và giết hết đi. Khi mẹ Võ hậu là Dương phu nhân qua đời, Võ hậu bắt tất cả đại thần phải đến đưa tang và khóc tang. Cuối năm này, trong nước hạn hán, Võ hậu dâng sớ nói việc đó là do mình, xin từ bỏ ngôi vị, Cao Tông không chấp nhận. Sau đó, Võ hậu xin biểu truy phong Võ Sĩ Hoạch, vốn là "Chu Định công", nay trở thành ""Thái Nguyên Quận vương" (太原郡王), Dương thị là "Thái Nguyên Quận vương phi" (太原郡王妃). Con trai Hàn Quốc phu nhân là Hạ Lan Mẫn Chi, vốn được cải họ Võ làm kế tự cho Võ Sĩ Hoạch, nên từ trước đã được kế tập tước "Chu Quốc công" (周國公). Sau khi mẹ và em gái chết, Mẫn Chi ngày càng trở nên phóng túng, Võ hậu sinh lòng chán ghét. Mẫn Chi cư nhiên tư thông với con gái Dương Tư Kiệm (杨思俭) - vốn đang chờ tuyển làm Thái tử phi cho Thái tử Lý Hoằng. Biết tin, Võ hậu tức giận mà đem Mẫn Chi đày đi Lôi Châu, đổi sang họ cũ là họ Hạ Lan, tước đi tước hiệu Chu Quốc công. Con trai Võ Nguyên Sảng là Võ Thừa Tự (武承嗣) được triệu về kinh kế thừa tước Chu Quốc công thay thế Mẫn Chi. Nhị Thánh lâm triều. Từ năm Hiện Khánh thứ 5 (660), Võ hậu cùng với Cao Tông đi tuần du vùng quê nhà là Bân Châu. Bà tổ chức yến tiệc thật lớn, mời hàng xóm và thân tộc đến dự. Cuối năm này, Đường Cao Tông phát chứng đau đầu, sức khỏe suy yếu nghiêm trọng. Có lời đồn việc đó là do Võ hậu ngầm bỏ thuốc độc bộc phát chậm vào đồ ăn của ông. Nhân việc này, Võ hậu can dự vào triều chính, quyết định nhiều việc trong triều, bắt đầu lấn át Cao Tông. Sử sách ghi nhận bà tinh thông văn sử, giải quyết công việc hiệu quả nhanh gọn, quyền lực của Cao Tông từ đây bị thu hẹp. Việc Võ hậu can thiệp vào công việc triều chính quá nhiều khiến Đường Cao Tông không hài lòng, dần dần giữa hai người xuất hiện mâu thuẫn. Bởi vì khi trước Võ hậu luôn nhu thuận, làm đúng ý niệm của Cao Tông, cho nên Cao Tông luôn muốn lập bà làm hoàng hậu để chứng tỏ quyền hạn của mình. Đến đây khi Võ hậu bộc lộ rõ khả năng của mình, đối với Đường Cao Tông hẳn nhiên là cảm giác không hài lòng. Năm Lân Đức nguyên niên (664), đạo sĩ Quách Hành Chân (郭行真) thường ra vào cung cấm làm tà thuật. Đường Cao Tông biết việc này là do Võ hậu chủ mưu nên rất tức giận, triệu đại thần Thị lang Thượng Quan Nghi (上官儀) vào cung. Nghi tâu rằng: "Hoàng hậu chuyên quyền, không giữ đạo làm vợ, cần phải phế đi"". Cao Tông chấp thuận, lệnh cho Nghi tìm cơ hội mà ra tay. Có quan viên hầu trực đem chuyện này tố cáo với Võ hậu, bà bèn đến chỗ Cao Tông kêu khóc thảm thiết. Cao Tông không biết trả lời ra sao, bèn đổ hết mọi chuyện cho Thượng Quan Nghi. Tháng 12 năm đó, Võ hậu sai Hứa Kính Tông tố cáo Thượng Quan Nghi và Phế Thái tử Lương vương Lý Trung phản nghịch, bắt Nghi hạ ngục rồi ban rượu độc cho Lương vương Lý Trung. Sang đầu năm sau (665), mùa xuân, Thượng Quan Nghi và con là Thượng Quan Đình Chi (上官庭芝) bị chém đầu. Từ đây mỗi khi Cao Tông thiết triều, Võ hậu đều buông rèm ngồi sau bảo tọa cùng tham dự, sử gọi là Nhị Thánh (二聖). Thời Đường hay xưng thiên tử là "Thánh nhân" (聖人), nên khi Võ hậu cũng cùng Cao Tông lâm triều, tự nhiên có tới hai vị thánh nhân. Do đó, lịch sử gọi giai đoạn này là Nhị Thánh lâm triều (二聖臨朝). Từ khi nắm chính quyền, triều đình Cao Tông dưới bàn tay của Võ hậu ngày càng hưng thịnh. Do đó, bà tích cực khuyên ông tiến hành khuếch trương thế lực cùng địa vị của hai người bằng cách tiến hành đại lễ Phong thiện (封禅) ở núi Thái Sơn. Cái gọi là "phong thiện", chính là một loại đại lễ cổ đại, xảy ra vào lúc thái bình thịnh thế, các thiên tử vì muốn chứng tỏ quyền uy mà tiến hành các loạt lễ tế cáo Trời và Đất - hai nhân tố tối cao trong văn hóa Trung Hoa. Đây được gọi là đại lễ bởi vì cần trải qua một chu kì lễ nghi phức tạp ở một địa điểm xa kinh thành, hơn nữa là tụ tập đủ loại quan viên trong triều đình, do đó phương tiện đi lại cùng nhân lực đều tiêu tốn rất lớn. Theo quy tắc, trong buổi lễ thì thiên tử sẽ tế với vai trò ""Sơ hiến" (初献), còn công khanh là "Á hiến"" (亚献), nhưng Võ hậu vì thấy lý do thiên tử biểu thị Hoàng Thiên, còn hoàng hậu vị biểu thị Hậu Thổ, do đó muốn tự mình đảm nhận vị trí Á hiến sau Cao Tông. Ý kiến này của bà nhanh chóng được Cao Tông đồng thuận. Vì thế vào năm Lân Đức thứ 2 (665), tháng 10, Đường Cao Tông dẫn suất Văn võ bá quan, còn Võ hậu suất dẫn mệnh phụ, đồng thời từ Đông Đô Lạc Dương xuất phát đến Thái Sơn. Đi cùng đến dự có các đặc sứ nhóm quốc gia có quan hệ triều bái với nhà Đường là Đột Quyết, Nhật Bản, Ba Tư... để chứng kiến đại lễ vinh hiển này của vợ chồng Cao Tông. Năm Thượng Nguyên nguyên niên (674), tháng 8, Đường Cao Tông nhân dịp truy tôn thêm thụy hiệu cho các hoàng đế và hoàng hậu, thì đổi xưng là Thiên hoàng (天皇), Võ hậu là Thiên hậu (天后), để tránh danh xưng hoàng đế và hoàng hậu của các vị đời trước, nhân dịp này cũng đại xá thiên hạ. Thiên hậu dâng lên Thiên hoàng một danh sách gồm 12 điều để trị quốc, được gọi là Kiến ngôn thập nhị sự (建言十二事), tất cả đều được Thiên hoàng thông qua. Do tư liệu thiếu khuyết, không có bất kỳ thông tin nào về sự hiệu quả của 12 điều này. Nội dung đại khái: Sang năm sau (675), Thiên hoàng bị bệnh đau đầu rất nặng. Do ông không thể quản lý triều chính, liền cùng các đại thần thương nghị, thảo luận việc cho phép Thiên hậu tiến hành nhiếp chính. Các đại thần là Tể tướng Hác Xử Tuấn (郝處俊) và đồng liêu Lý Nghĩa Diễm (李義琰) can ngăn, dẫn lại chuyện Ngụy Văn Đế Tào Phi từng ra lệnh cấm để hoàng hậu lâm triều, việc bèn thôi. Khi Thiên hậu biết chuyện, liền triệu tập rất nhiều văn nhân học sĩ, soạn nhiều sách cổ như Liệt nữ truyện, Thần quỹ ()... rồi mật lệnh các học giả này dâng sớ tham quyết triều đình, làm cho quyền lực tể tướng bị ảnh hưởng. Đó gọi là "Bắc Môn học sĩ" (北門學士). Thay ngôi Thái tử. Thiên hoàng sức khỏe ngày càng suy yếu, có ý nhường ngôi cho Thái tử Lý Hoằng, nhưng Thiên hậu không đồng tình. Về phần mình, Thái tử vốn thông minh, tri thư đạt lễ, nhân nghĩa hiếu thảo, nhiều lần giúp Cao Tông xử lý chính sự nên rất được vua cha yêu quý. Nhưng từ khi vua cha lâm bệnh, Thái tử vì cha mà gồng mình xử lý chính sự cộng thêm thể chất yếu ớt, bệnh tật, cuối cùng do quá lao lực mà tái phát bệnh cũ rồi qua đời. Thiên hoàng quá đau lòng vì cái chết của con trai, bèn truy tặng làm ""Hiếu Kính Hoàng đế" (孝敬皇帝). Sau đó, Thiên hoàng ra chỉ lập Hoàng lục tử là Ung vương Lý Hiền làm thái tử. Thái tử Lý Hiền là người thông minh, quyết đoán mạnh mẽ, xử lí chính sự dứt khoát quyết đoán, thưởng phạt công minh, được cả triều đình và Cao Tông kì vọng rất lớn. Nhưng không may cho Lý Hiền, thời điểm ông lên làm thái tử là lúc Võ hậu tham quyền nhất, muốn thao túng triều chính, thấy con trai mình tài năng nổi trội lại có tham vọng lấn lướt mình nên cực kì không vui. Khi ấy, trong cung có lời đồn đãi Thái tử vốn do Hàn Quốc phu nhân Võ Thuận sinh ra, Thái tử Hiền biết chuyện này trong lòng cảm thấy bất an, thái độ tỏ ra ngoài nét mặt. Thiên hậu nghe vậy càng ghét hơn. Đạo sĩ Minh Sùng Nghiễm (明崇儼) được Thiên hoàng và Thiên hậu coi trọng, thường gièm pha với bà: "Thái tử không thể thừa kế được, Anh vương có dung mạo giống Thái Tông, Tương vương về sau sẽ đại quý"". Sau đó, Thiên hậu cho soạn Thiếu Dương chánh phạm (少陽政範) và Hiếu tử truyện (孝子傳) ban cho ông, lại nhiều lần quở trách ông ta vô cớ, nên Thái tử khi ấy trong lòng luôn rất bất an. Năm Điều Lộ thứ 2 (680), Minh Sùng Nghiễm bị cuồng bạo đánh giết, Thiên hậu nghi ngờ là do Thái tử Hiền làm, nên càng ghét hơn. Không lâu sau, các phe cảnh Tiết Nguyên Siêu (薛元超), Bùi Viêm (裴炎), Cao Trí Chu (高智周) với sự giật dây của Thiên hậu đã tố cáo Thái tử Hiền mưu đồ bất chính. Thiên hoàng sai điều tra, lục soát được trong phủ Thái tử nhiều đồ binh khí. Khi biết được, Thiên hoàng không nỡ trị tội thế nhưng Thiên hậu nói: "Là con dân mà mưu nghịch, thiên địa bất dung; nay đại nghĩa diệt thân, có thể nào xá được?". Thế là Thiên hậu liền hạ lệnh phế Thái tử, đày ra Ba Thục. Sau đó, Thiên hậu lập tức chọn lập Anh vương làm thái tử thay thế, đổi thành "Hiển" làm húy danh. Thái tử khi còn là Chu vương đã kết hôn với Triệu thị, con gái Thường Lạc Công chúa (常樂公主) - cô của Thiên hoàng, đồng thời là con gái út của Đường Cao Tổ Lý Uyên, so với Thái tử thì Triệu thị là biểu cô. Thiên hoàng rất tán thành cuộc hôn nhân này, và vì duyên cố của Thường Lạc Công chúa mà rất thiên vị Triệu thị, song Thiên hậu không ưa Công chúa, vì thế đối với Triệu thị cũng chán ghét. Vào một dịp, Triệu thị do đắc tội với Thiên hậu liền bị giam lỏng trong Nội thị tỉnh, chỉ được đưa rau, thịt sống cho tự nấu ăn. Dần dần Triệu thị chết đói, Thiên hậu bèn đày cha Triệu thị là Triệu Côi (趙瑰) cùng Thường Lạc Công chúa ra đến Hoạt Châu. Lâm triều xưng chế. Phế truất Trung Tông. Năm Vĩnh Thuần thứ 2, tức Hoằng Đạo nguyên niên (683), Thiên hoàng di giá Phụng Thiên cung (奉天宮) lâm bệnh. Biết mình không xong, ông bèn triệu Hoàng thái tử từ Trường An về Lạc Dương, mệnh Thái tử giám quốc và giao cho đại thần Bùi Viêm cùng Lưu Cảnh Tiên (劉景先) và Quách Chính Nhất (郭正一) cùng phụ chính. Sau đó, ông chuyển về Lạc Dương, bệnh chuyển nặng hơn, tể tướng cùng đại thần đều không thể tấn kiến. Ngày 4 tháng 12 (tức ngày 27 tháng 12 dương lịch), Thiên hoàng băng hà ở Trinh Quán điện (貞觀殿). Khi ông lâm chung, cho cận thần viết di chiếu: "Sau 7 ngày tạm quàn, Hoàng thái tử lên ngôi hoàng đế trước linh cữu. Về chế độ viên lăng, nên chủ trương tiết kiệm. Quân quốc đại sự có việc không thể quyết định, liền nhờ Thiên hậu quyết định!". Theo di chiếu này, Hoàng thái tử Lý Hiển nối ngôi, tức là Đường Trung Tông, Thiên hậu Võ thị trở thành Hoàng thái hậu. Căn cứ theo di chiếu của Cao Tông thì mọi việc trong triều đều do Võ Thái hậu quyết đoán, do đó Võ hậu là vị hoàng thái hậu đầu tiên của nhà Đường, chính thức thực hiện việc nhiếp chính, thay quyền Trung Tông xử lý phần lớn đại sự. Sách sử gọi việc thái hậu nhiếp chính là Lâm triều xưng chế (臨朝稱制). Ở các triều đại trước, mẫu hậu lâm triều chỉ khi nhà vua còn nhỏ, lúc này Trung Tông kế vị đã 28 tuổi, nhưng bởi vì di chiếu của Cao Tông mà Võ Thái hậu tiếp tục nắm giữ quyền lực, điều này khiến trong triều dần xảy ra tranh chấp. Năm Tự Thánh nguyên niên (684), tháng 2 (ÂL), Trung Tông muốn tạo đối trọng với Võ Thái hậu trong triều, nên phong nhạc phụ Vi Huyền Trinh làm Thị trung trông coi Môn hạ tỉnh, chức vụ này có quyền uy quá lớn, trong khi họ Vi không có tài cán. Tể tướng Bùi Viêm hết sức can ngăn nhưng Trung Tông không nghe, nói lại: ""Ta đem cả thiên hạ cho Vi Huyền Trinh còn được, huống hồ một chức Thị trung lang sao?!". Bùi Viêm cố cãi lại không được, bèn mật cáo với Thái hậu. Ngày 26 tháng 2 (dương lịch), Thái hậu được Bùi Viêm, Lưu Y Chi, Trình Vụ Đĩnh, Trương Kiền Úc đưa vào triều, tuyên chiếu phế truất Trung Tông làm Lư Lăng vương. Khi bị lôi xuống, Trung Tông cố hỏi: "Con có tội gì?!", Võ Thái hậu đanh thép đáp: "Nhà ngươi đem thiên hạ đưa cho Vi Huyền Trinh, còn không có tội ư?!"", do đó Thái hậu bèn giam Trung Tông vào biệt cung, đổi tên thành "Triết". Thái hậu đưa Dự vương Lý Đán lên ngôi, tức là Đường Duệ Tông. Võ Thái hậu đày Lư Lăng vương ra Quân Châu rồi Phòng Châu, ở ngôi nhà mà Bộc vương Lý Thái từng ở sau khi bị Thái Tông giáng tước. Sau khi lập Duệ Tông, bà tiếp tục lâm triều xưng chế, tự mình chuyên chính như trước. Bà lập tức hạ chiếu nói Vi Huyền Trinh mưu nghịch, tước bỏ tất cả chức vị, giáng làm thứ dân và tống vào ngục, sau cũng bị lưu đày. Đường Duệ Tông khi ấy tuy ở ngôi vị và đã trưởng thành, nhưng bị ép phải sống ở cung riêng, không được tham gia chính sự, việc lớn nhỏ trong triều đều do Võ Thái hậu quyết đoán. Bà cho lập con trai của Tân Đế là Lý Thành Khí kế thừa vị trí trữ quân. Độc bá triều cương. Ngày Giáp Tý tháng ấy (ÂL), Võ Thái hậu ngự ở Võ Thành điện (武成殿), Duệ Tông suất vương công đến dâng tôn hiệu. Mấy hôm sau, sai Võ Thừa Tự công bố chế sách lập hoàng đế mới. Từ lúc này, Thái hậu lên triều nghe chính ở Tử Thần điện (紫宸殿), buông rèm màu tím nhạt để triều kiến quần thần. Vừa yên vị, Võ Thái hậu mệnh Thái thường khanh, Kiểm giáo Dự vương phủ Vương Đức Chân làm Thị trung, Trung thư Thị lang Lưu Y Chi và Lễ bộ Thượng thư Võ Thừa Tự làm Đồng trung thư Môn hạ Bình chương sự. Lúc này Thái tử bị truất phế trước đây, Lý Hiền, đã bị ép phải uống rượu độc mà chết, Thái hậu quy tội Tả Kim ngô tướng quân Khâu Thần Tích, biếm làm Thứ sử Điệp Châu, nhưng không lâu sau thì phục chức, rồi truy tặng Lý Hiền là "Ung vương". Tháng 9 (ÂL) cùng năm, Thái hậu cải nguyên là Văn Minh, đổi Đông Đô Lạc Dương thành Thần đô (神都), cung riêng của bà gọi là Thái Sơ cung (太初宮), ngự chế cờ xí đều dùng sắc vàng, lại cho cải Thượng thư tỉnh là Văn Xương đài, Tả hữu bộc xạ là Tả Hữu tướng; Lục tào thành Lục quan; Trung thư tỉnh đổi là Phụng các; Thị trung là Nạp ngôn; Trung thư lệnh là Nội sử lệnh; Ngự sử đài thành Tả túc chánh đài. Từ năm đầu Thùy Củng (685), Võ Thái hậu đổi tên của Càn Nguyên điện thành Minh đường (明堂), bắt đầu dan díu với một tên hòa thượng giả danh gọi là Tiết Hoài Nghĩa. Sau đó, Tiết Hoài Nghĩa dần được phong các chức vụ cao, trở thành tâm phúc riêng của Thái hậu. Tiết Hoài Nghĩa là người đất Hộ, nguyên danh là Phùng Tiểu Bảo, một lần được con gái nuôi của Thái hậu là Thiên Kim Công chúa tiến cử, Thái hậu nhìn thấy liền rất ưa thích, bèn cho giả làm tăng sư với tên "Hoài Nghĩa", cho theo họ với Phò mã Tiết Thiệu. Được sủng ái, Tiết Hoài Nghĩa tự do ra vào cung cấm, thế lực rất lớn, đến cả Võ Thừa Tự, Võ Tam Tư cũng tìm cách lấy lòng. Sau khi hoàn thành Minh đường, Hoài Nghĩa được bái làm "Tả Uy vệ Đại tướng quân" (左威衛大將軍), tước "Lương Quốc công" (梁國公). Năm Thùy Củng thứ 2 (686), mùa xuân, Võ Thái hậu cảm thấy muốn nắm tiếp chính quyền nhưng không có chính danh do Duệ Tông đã trưởng thành, nếu tiếp tục nắm quyền thì sẽ bị phản đối, bèn hạ chiếu giao lại chính quyền do Duệ Tông. Thế nhưng Duệ Tông biết mẹ mình không thực tâm nên không dám chấp nhận, vẫn "cố gắng" khuyên mẹ mình tiếp tục lâm triều xưng chế như trước. Võ Thái hậu nhân danh nghĩa đó mà tiếp tục nắm giữ quyền hành. Phe cánh chống đối. Cuối năm Tự Thánh (684), Thứ sử Mi Châu, Anh Quốc công Từ Kính Nghiệp, cùng em là Từ Kính Du và các thuộc tướng như Đường Chi Kỳ, Lạc Tân Vương, Đỗ Cầ, lấy danh nghĩa khôi phục Đường Trung Tông. Sử gọi đây là Từ Kính Nghiệp chi phản (徐敬業之反). Trong nhiều năm cầm quyền của Võ hậu trước khi chính thức tự xưng hoàng đế, đây là một trong những cuộc chống đối lớn nhất và quy mô nhất. Từ Kính Nghiệp vốn là cháu của Anh Trinh Vũ công Lý Tích - một trong những công thần hàng đầu của triều Đường, vốn là họ Từ. Vì công lao hiển hách, được Đường Thái Tông Lý Thế Dân ban quốc tính là "Lý", nhưng khi Kính Nghiệp chính thức tạo phản thì Võ Thái hậu đổi thành họ Từ như cũ. Bọn họ loan tin trưởng sử Trần Kính Chi mưu phản để Kính Chi bị bắt vào ngục, mấy hôm sau thì Kính Nghiệp tiến hành nổi dậy, xưng niên hiệu cũ là Tự Thánh, xưng Khương phục phủ Thượng tướng, Dương Châu đại đô đốc; sai Lạc Tân Vương viết hịch kể tội Thái hậu gửi đi khắp nơi. Kính Nghiệp lại trá xưng là Thái tử Lý Hiền vẫn còn sống và đang ở chỗ mình. Thái hậu sai Lý Hiếu Dật làm Tương Châu đại tổng quản, dẫn 300.000 quân cùng Lý Tri Sĩ, Mã Kính Thần làm phó, thảo phạt Kính Nghiệp. Khi bà hỏi Bùi Viêm về kế sách đối với quân phản loạn, Viêm nói rằng Hoàng đế đã lớn tuổi, chỉ cần Thái hậu giao trả quyền chính thì tất vô sự. Thái hậu tức giận, giam Viêm vào ngục, đưa Kiến Vị Đạo, Lý Cảnh Kham lên thay; sau đó khép Bùi Viêm vào tội chết; lại lưu đày những người nói hộ cho Viêm. Lý Kính Nghiệp đưa quân đánh sang Nhuận Châu. Thái hậu tước chức quan của ông ta, bắt trở về họ Từ. Lúc này quân của Lý Hiếu Dật không thu được thành quả nào, Hiếu Dật tỏ ra nao núng. Nhưng có tướng dưới quyền Ngụy Nguyên Trung khích lệ, Hiếu Dật mới quyết tâm hơn, cho quân đánh mạnh vào lực lượng của Từ Kính Nghiệp. Sau đó Kính Nghiệp đại bại, phải bỏ trốn. Tướng Vương Na Tướng làm phản giết anh em Kính Nghiệp, Lạc Tân Vương rồi ra hàng, cuộc nổi dậy bị dẹp tan. Sau vụ của Từ Kính Nghiệp, Võ Thái hậu sợ rằng các đại thần và tông thất oán mình chuyên quyền nên tìm cách trừ khử bớt đi. Vào cùng năm ấy, Võ Thái hậu sai chế ra một cái hộp bằng đồng đặt trước triều đường, để cho những người hiến kế hay hoặc dự báo được tinh tượng, hoặc muốn tố cáo gian ác, hoặc muốn tiến cử nhân tà, nhất là các đại thần đang bị Thái hậu nghi ngờ để bà có cớ xử tội họ. Thường thì những người bị tố cáo đều bị Thái hậu xử tội mà không cần tra xét gì cả. Có người Hồ là Sách Nguyên Lễ đoán biết ý, nên dùng chuyện cáo mật mà được phong làm "Du Kích tướng quân" (游擊將軍). Nguyên Lễ tính tình tàn nhẫn, thích dùng ngục hình, thường thì một người bị tố cáo thì lôi ra cái mà hắn gọi là "đồng đảng" hơn 10 người, dùng hình rất nặng khiến ai ai cũng bất an. Lại có bọn ngục lại là Chu Hưng, Lai Tuấn Thần cũng thừa cơ mượn gió bẻ măng; Hưng được phong Thu quan thượng thư còn Tuấn Thần làm tới Ngự sử trung thừa. Bọn này hè nhau mượn việc cáo mật mà vu oan hãm hại người khác, làm triều chính mấy phen điên đảo; lại còn chế ra nhiều cực hình tàn khốc để hành hạ phạm nhân: định bách mạch, đột địa hống, tử trư sầu, cầu phá gia, phụng hoàng sái sí, lư câu bạt quyệt, ngọc nữ đăng thê. Mỗi lần có đại xá, Tuấn Thần lại ra giết hết người phạm tội nặng rồi mới ban lệnh xá, thế mà Thái hậu vẫn cho là trung thành và càng tín nhiệm. Khi ấy đại thần là Lưu Y Chi được dùng làm vị trí đồng cấp tể tướng với chức vụ ""Trung thư thị lang đồng Tam phẩm" (中書侍郎同三品), từ thời kỳ Cao Tông còn tại vị thì ông đã rất được Võ Thái hậu tín nhiệm, khi Duệ Tông lên ngôi thì ông là người quyền tể tướng đều tiên. Vào năm Thùy Củng thứ 3 (687), ông cùng Phượng các Xá nhân là Giả Đại Ẩn nói đại ý: "Thái hậu có thể phế hôn quân để lập minh quân, vì điều gì mà không để hoàng thượng chưởng quyền, làm an lòng thiên hạ?!". Thế là Giả Đại Ẩn liền mật cáo lên Thái hậu, điều này khiến Thái hậu rất tức giận, thất vọng mà nói người bên cạnh: "Y Chi là người do ta dìu dắt, thế mà còn phản ta sao?!"". Cùng lúc đó lại có tố cáo là Lưu Y Chi nhận vàng hối lộ từ Đô đốc Thành Châu người Khiết Đan tên Tôn Vạn Vinh, đồng thời còn có tố giác Lưu Y Chi còn tư thông với thiếp của Hứa Kính Tông, thế là Võ Thái hậu sai người bắt ông ta vào ngục. Đường Duệ Tông nghe vậy muốn cứu Y Chi, nhưng ông cho rằng hành động của Duệ Tông sẽ càng làm mình chết chóng. Quả nhiên ông ta liền bị Thái hậu xử tử. Dần dần, Võ Thái hậu đã lộ rõ có ý soán ngôi, nên tìm cách loại trừ một số tôn thất nhà Đường mang họ Lý, như Hàn vương Lý Nguyên Gia, Hoắc vương Lý Nguyên Quỹ, Lỗ vương Lý Linh Quỳ, Việt vương Lý Trinh, Giang Đô vương Lý Tự, Phạm Dương vương Lý Ái, Đông Hoàn công Lý Dung và Lang Tà vương Lý Xung - con Việt vương. Những người này trong hàng tông thất đều có tiếng tốt, nên Võ Thái hậu rất kiêng kị. Trong số này thì Hàn vương Lý Nguyên Gia là người đầu tiên cảm giác bất an, bèn lén lút viết thư thăm dò Việt vương Lý Trinh, bày tỏ muốn làm chính biến khôi phục quyền lực cho hoàng tộc họ Lý. Bản thân Lý Trinh cũng biết ý đó, tỏ ra bất an và muốn nổi dậy. Mùa thu năm Thùy Củng thứ 4 (688), tháng 8 (ÂL), Lang Tà vương Lý Xung triệu tập quân các nơi cùng đánh vào Thần Đô Lạc Dương, Thái hậu sai Khâu Thần Tích dẫn quân thảo phạt, ngay sau đó thì Việt vương Lý Trinh khởi binh từ Dự Châu, còn Lý Xung từ Bác Châu. Tuy nhiên các lộ chư hầu khác vẫn chưa kịp khởi binh, do đó lực lượng của ông bị đè bẹp nhanh chóng. Cuối cùng Lý Xung bị tên giữ thành Bác Châu giết chết, hơn 1000 quan lại cũng bị liên can và bị Khâu Thần Tích giết chết, Lý Trinh cũng bị đánh bại liên tục và phải tự tử trong thành. Thái hậu hạ chiếu đổi họ của cha con Việt vương thành họ "Hủy" (虺氏), rồi còn nhân đó bắt tội Hàn vương, Lỗ vương, Thường Lạc Công chúa, Hoàng công Lý Soạn, bắt họ tự sát rồi đổi tất cả sang họ Hủy hết thảy. Phò mã Tiết Thiệu cùng hai anh là Tiết Nghĩ, Tiết Tự cũng bị liên can, Nghĩ và Tự bị giết, Thiệu bị đánh 100 trượng rồi cũng chết trong ngục. Truy phong họ Võ. Năm Quang Trạch nguyên niên (684), tháng 9, người trong họ Võ Thái hậu là Võ Thừa Tự dâng biểu xin truy phong cho tổ tiên họ Võ lên tước Vương, lập nên 7 ngôi miếu họ Võ được gọi là Võ thị Thất miếu (武氏七廟), có ý khuếch trương dòng dõi nhà họ Võ. Thái hậu nghe thế mà bằng lòng, thế nhưng truy phong tước Vương là thuộc điều cấm kị của rất nhiều triều đại, trong đó có nhà Đường. Tể thần là Bùi Viêm lại dẫn câu chuyện Lã hậu thời nhà Hán khi trước ra can ngăn, nói rằng: ""Thái hậu mẫu lâm thiên hạ, nên chí công vô tư mới phải. Ngài quên cái bại của họ Lã khi xưa chăng?!". Thái hậu không nghe, nói lại: "Lã hậu đó là cậy quyền phong cho người sống. Nay ta truy phong người chết, có hại gì?"; bèn truy phong tổ 6 đời là Võ Khắc Kỷ làm "Lỗ Tĩnh công" (魯靖公), vợ là phu nhân; tổ 5 đời là Võ Cư Thường làm Thái úy, thụy "Bắc Bình Cung Túc vương" (北平恭肅王); tằng tổ Võ Kiệm là Thái úy, thụy "Kim Thành Nghĩa Khang vương" (金城義康王); tổ phụ Võ Hoa là Thái uý, thụy "Thái Nguyên An Thành vương" (太原安成王). Còn thân phụ Võ Sĩ Hoạch làm Thái sư, thụy "Ngụy Định vương" (魏定王), còn tất cả các nữ quyến đều truy phong làm vương phi; cho người xây từ đường ngũ đại tại quê nhà Văn Thủy. Năm Vĩnh Xương nguyên niên (689), mùa xuân, Võ Thái hậu tôn cha mình thành "Chu Trung Hiếu Thái hoàng" (周忠孝太皇), vợ là "Trung Hiếu Thái hậu" (忠孝太后), thiết mộ gọi là Chương Đức lăng (章德陵). Truy thêm các đời trước, Lỗ công là "Thái Nguyên Tĩnh vương" (太原靖王); Bắc Bình vương là "Triệu Cung Túc vương" (趙肅恭王), Kim Thành vương là "Ngụy Nghĩa Khang vương" (魏義康王); Thái Nguyên vương là "Chu An Thành vương"" (周安成王). Lập triều Võ Chu. Thánh Thần Hoàng đế. Từ năm Thùy Củng thứ 4 (688), Võ Thái hậu bắt đầu xây Minh đường bằng cách hủy bỏ Càn Nguyên điện cũ và xây dựng trên nền điện ấy. Vào lúc này, quyền lực của Võ Thái hậu đã lớn, khiến nhiều kẻ xu nịnh bắt đầu tạo những thứ gọi là "điềm lành", hòng mua chuộc và lấy lòng bà. Người cháu trong họ là Văn Xương Tả tướng Võ Thừa Tự đã cho làm giả bảo thạch, trên có khắc 8 chữ "Thánh mẫu lâm nhân, Vĩnh xương Đế nghiệp" (聖母臨人,永昌帝業), có ý đề cao việc bà đích thân quản lý chính sự thay Duệ Tông. Đối với những thứ này, Võ Thái hậu không ngần ngại tỏ ra cực kỳ thích thú, đặt tên viên bảo thạch là Bảo đồ (寶圖), sau đó còn tự xưng tôn hiệu Thánh mẫu Thần hoàng (聖母神皇), đại xá thiên hạ, sau lại nghĩ ra tên khác, cho bảo thạch thành Thiên thụ Thánh đồ (天授聖圖). Cũng trong thời gian này là sự kiện nổi loạn của hai cha con Lang Tà vương. Sau khi đánh bại phe phái chống đối mấu chốt này, sự "thần thánh" của Võ Thái hậu ngày càng lớn và không còn ai đủ sức có thể ngăn chặn con đường tự lập của Võ Thái hậu nữa. Cùng năm ấy, Minh đường hoàn thành, ấy là Vạn Tượng Thần Cung (萬象神宮) nổi tiếng, cao 394 xích, gồm 3 tầng. Liền ngay đó, bà cho cải niên hiệu thành Vĩnh Xương, theo tên "Thánh đồ" của bà, nhưng được hết năm thì lại cho đổi thành "Tái Sơ." Năm Tái Sơ nguyên niên (690), tháng giêng, Võ Thái hậu lâm hạnh Minh đường, đại xá thiên hạ. Trong lần này, bà cho ban chữ "Chiếu" (曌) làm tên húy kị của mình. Chữ "Chiếu" được đề cập với hình Mặt trời (日), Mặt trăng (月) trên không (空), để tỏ quyền uy tối thượng. Chữ "Chiếu" này cùng 11 chữ khác về sau được gọi là Võ hậu tân tự. Mùa hạ năm đó, sư Pháp Minh dâng bốn quyển ""Đại Vân kinh" (大雲經) ca ngợi Thái hậu là Phật Di Lặc xuống trần, là chủ của thiên hạ. Thái hậu sai in rồi phát ra khắp nơi, đề cao Phật giáo trên Đạo giáo. Cùng lúc, Võ Thừa Tự bàn với Chu Hưng tố cáo các Trạch vương Lý Thượng Kim và Hứa vương Lý Tố Tiết có mưu phản, Thái hậu sai bắt trị tội, thắt cổ giết Tố Tiết; Thượng Kim cũng phải tự tử, lúc này hoàng thất họ Lý đã không còn ai có thể đe dọa Võ hậu nữa. Lại nói từ khi Tiết Thiệu bị giết, Thái Bình Công chúa đi khắp nơi tìm kiếm nam sủng. Võ Thái hậu sợ mang tiếng, nên đem công chúa gả cho cháu họ của mình là Hữu vệ Trung lang tướng Võ Du Kỵ. Du Kỵ là cháu trong tộc của Thái hậu nhưng đã có chính thê từ trước, mà công chúa gả vào không thể làm thiếp, do đó Thái hậu lệnh cho người giết chính thê ấy. Trong các con thì Thái hậu ưng công chúa nhất, thường cho là giống mình, mọi chuyện chính sự đều cho công chúa tham gia. Theo thông lệ thì tước thân vương không có thực ấp quá 1.000 hộ, các công chúa không thể quá 350 hộ, nhưng riêng Thái Bình được Thái hậu ban hơn 3.000 hộ. Tông thất nhà Đường bị quản chế nghiêm ngặt, bốn người con của Thái tử Lý Hiền quá cố là Lý Quang Thuận, Lý Thủ Lễ, Lý Thủ Nghĩa, Trường Tính Huyện chúa và các con của Duệ Tông đều bị canh giữ trong nội cung, hơn 10 năm không ra khỏi cửa cung. Tháng 9 (ÂL) năm ấy, Thị ngự sử Phó Du Nghệ cùng hơn 900 đại thần đến Thần Đô, dâng thư xin Võ Thái hậu xưng làm Hoàng đế, đổi quốc hiệu thành Chu (周), sửa quốc tính thành họ Võ. Võ Thái hậu khước từ. Thấy vậy, đủ loại quan lại, tông thích, thậm chí là nhiều Tù trưởng các Di tộc đều lần lượt xin dâng biểu mời Võ Thái hậu đăng vị. Trước tình thế ấy, cả Đường Duệ Tông cũng đành phải xin bà cho đổi thành họ Võ, quan viên trong triều cũng tâu thỉnh, nói thấy có phượng hoàng bay vào Thượng Dương cung (上陽宮), tắc là điềm lành. Những điều này càng lúc càng thúc đẩy, khiến Võ Thái hậu quang minh chính đại soán vị. Thế rồi vào ngày 9 tháng 9 (ÂL) năm ấy, Võ Thái hậu chính thức lên ngôi ở Tắc Thiên môn (則天門), đổi tên triều đại từ "Đường" thành "Chu", đổi niên hiệu làm Thiên Thụ (天授). Ngày 12 (ÂL) tháng ấy, quần thần tôn hiệu là Thánh Thần Hoàng đế (聖神皇帝), sử thường gọi sự kiện này là "Tắc Thiên cách mệnh" (則天革命) hoặc "Chu Đường cách mệnh"" (周唐革命). Vừa lên ngôi, Võ hoàng cho giáng Duệ Tông làm "Hoàng tự" (皇嗣), Hoàng thái tử Lý Thành Khí giáng làm "Hoàng tôn" (皇孫), đều cho đổi làm họ Võ. Sau đó, Võ hoàng còn phong cho Văn Xương Tả tướng Võ Thừa Tự là Ngụy vương; Thiên Quan Thượng thư Võ Tam Tư làm Lương vương, lại gia phong các cháu trong họ cộng 10 người làm quận vương, cô dì phong là Trưởng công chúa, con gái của Đường Cao Tổ Lý Uyên là Thiên Kim Công chúa, nhanh chóng lấy lòng Võ hoàng, tự nhận làm con, tự đổi thành họ Võ thị, do đó công chúa được phong làm Diên An Đại trưởng công chúa. Võ hoàng chính thức cho lập miếu tổ tiên họ Võ ở Thần đô, tiến hành truy tặng: Lý thuyết chính trị Trung Quốc truyền thống không cho phép một phụ nữ được lên ngôi Đế vị, Võ Tắc Thiên quyết định dẹp yên chống đối và đưa các quan lại trung thành vào triều. Thời cai trị của bà để dấu ấn về sự xảo quyệt tài tình và chuyên quyền hung bạo. Dưới thời cai trị, Võ hoàng lập ra tuần tra mật để đối phó với bất kỳ chống đối nào có thể nổi lên, với cái tên khét tiếng Lai Tuấn Thần, Chu Hưng, nhưng đồng thời cũng có những hiền tài như Địch Nhân Kiệt. Quan hệ đối ngoại và cuộc nổi dậy của người Khiết Đan, người Cao Câu Ly. Giao tranh với Thổ Phồn, Thất Vi và Đột Quyết những năm 692 - 695. Ở biên cương, nhà Chu đang có xung đột với Thổ Phiên và Hãn quốc Hậu Đột Quyết, thực tế những vấn đề này đã tồn tại từ trước ở thời Đường Cao Tông, khi Võ hoàng lên ngôi, những vấn đề biên giới tiếp tục gia tăng với sự nổi dậy của người Khiết Đan và người Cao Câu Ly. Năm Như Ý nguyên niên (692), tháng 2, bộ lạc Đảng Hạng của Thổ Phồn quy phục nhà Chu. Võ hoàng cả mừng, đem tộc thuộc đều phân trí riêng ra khắp 10 Châu trong cả nước. Tháng 5 cùng năm, thủ lĩnh Hạt Tô (曷苏) cũng dẫn tộc nhân quy phụ nhà Chu, Võ hoàng cho Trương Huyền Ngô (张玄遇) xuất tinh binh 20.000 quân ra nghênh đón. Nhưng Hạt Tô sau đó bị người Thổ Phồn bắt về, lại gặp đúng lúc một tộc người Khương dẫn 8000 người quy phụ, Trương Huyền Ngô mới đem an trí Xuyên Châu. Cùng năm, Hiệt Điệt Lợi Thi Khả hãn A Sử Na Cốt Đốc Lộc của Đột Quyết qua đời, em trai là A Sử Na Mặc Xuyết lên kế vị. Sự kế vị của A Sử Na Mặc Xuyết được coi là sự soán ngôi ở nhà Chu. Cùng năm ấy, tháng 9, đại tướng Vương Hiếu Kiệt (王孝杰) và A Sử Na Trung (阿史那忠) xuất chinh Tây Bắc, đại phá được Thổ Phồn, thu phục 4 địa phương và cho đổi thành An Tây Tứ trấn (安西四镇), củng cố vị thế cho An Tây đô hộ phủ của nhà Chu tại đó. Cục diện phía Tây tạm yên. Mùa xuân năm Trường Thọ thứ 3 (694), tháng giêng, người Thất Vi (thuộc nhóm người Mông Cổ) ở phía đông bắc nhà Chu nổi dậy chống lại Võ hoàng, tấn công biên giới phía bắc của nhà Chu. Võ hoàng phái Đại tướng quân Lý Đa Tộ (thủ lĩnh bộ lạc Phất Niết Mạt Hạt) dẫn quân Chu đi chống cự quân Thất Vi. Lý Đa Tộ nhanh chóng đánh đuổi được quân Thất Vi về đông bắc. Tháng 2 năm 694, quân Chu do Vương Hiếu Kiệt công phá liên minh hơn 300.000 người giữa Bột Phác Luận Tán Nhuận của Thổ Phồn và Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết của Đột Quyết, lại thắng lợi. Tháng 8 năm 694, Lương vương Võ Tam Tư lĩnh suất "Tứ di Tù trưởng" thỉnh lấy đồng thiết đúc Thiên trụ (天樞) đặt ngoài Đoan môn, để biểu thị công đức của Võ hoàng. Vì lý do này mà triều đình gom hết đồ vật làm bằng đồng trong nước, sau khi hoàn thành thì liền cho khắc tên của bách quan cùng vua của các chư hầu. Sau đó, chính tay Võ hoàng đích thân đề cái tên Đại Chu vạn quốc tụng đức Thiên trụ (大周萬國頌德天樞), ngụ ý Võ Chu triều là trung tâm của thiên hạ, thống lĩnh vạn quốc. Tuy nhiên cùng năm đó, liên quân Đột Quyết (do Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết chỉ huy) và Thổ Phồn (do Luận Khâm Lăng và Luận Tán Bà chỉ huy) đánh bại quân Chu, chiếm đóng An Tây đô hộ phủ của nhà Chu. Sau đó Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết dẫn quân Đột Quyết tấn công Linh châu (hiện nay là Ngân Xuyên, Ninh Hạ, Trung Quốc), và Võ hoàng ủy nhiệm cho nhân tình của bà là Tiết Hoài Nghĩa, với sự hỗ trợ của các tể tướng Lý Chiêu Đức và Tô Vị Đạo, để phòng thủ trước cuộc tấn công của A Sử Na Mặc Xuyết, nhưng trước khi quân đội nhà Chu này có thể xuất phát, A Sử Na Mặc Xuyết đã rút lui khỏi Linh châu, và do đó quân đội của Tiết Hoài Nghĩa chưa bao giờ xuất phát. Năm Chứng Thánh nguyên niên (695), tháng giêng, tôn hiệu của bà được đổi thành Từ Thị Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần Hoàng đế (慈氏越古金輪聖神皇帝). Ngày 16 (ÂL) tháng ấy, sủng nam Tiết Hoài Nghĩa vì bị Võ hoàng thất sủng mà đốt Thiên đường cùng Minh đường. Tòa nhà được gọi là "Thiên đường" (天堂) là tòa phật đường được xây dựng ngay sau khi Võ hoàng làm xong Minh đường, vị trí đằng sau Minh đường để thờ tượng Phật, cao hơn trăm thước, sau khi Tiết Hoài Nghĩa châm lửa thì cả hai tòa đường đều cháy rụi trọn đêm. Thiệt hại quá nặng nề và điều kiện không cho phép, Võ hoàng chỉ có thể xây lại Minh đường. Võ hoàng lệnh cho Thái Bình công chúa giết chết Tiết Hoài Nghĩa. Cùng tháng ấy, Võ hoàng phái Vương Hiếu Kiệt đánh vào Đột Quyết, khiến vào tháng 10 cùng năm đó, Khả hãn của Đột Quyết là A Sử Na Mặc Xuyết phải hàng và quy phụ nhà Chu của Võ hoàng. Võ hoàng mừng rỡ và làm lễ phong thiện ở Tung Sơn, đại xá thiên hạ, đổi tôn xưng thành Thiên Sách Kim Luân Thánh Thần Hoàng đế (天冊越古金輪聖神皇帝), cải niên hiệu mới làm Thiên Sách Vạn Tuế, sau lại đổi thành Vạn Tuế Đăng Phong. Võ hoàng phong cho A Sử Na Mặc Xuyết tước vị như "Hiệt Điệt Lợi Thi Đại Thiền Vu" (頡跌利施大單于), "Lập Công Báo Quốc" (立功報國), "Tả Vệ Đại Tướng Quân" (左衛大將軍) cũng như "Quy Quốc Công" (歸國公) và "Thiên Thiện Khả hãn" (迁善可汗, nghĩa là "Khả hãn có tấm lòng thiện"). Cùng năm đó, quân Chu do Vương Hiếu Kiệt và Lâu Sư Đức chỉ huy giao chiến với hai tướng Thổ Phiên là Luận Khâm Lăng và Luận Tán Bà ở núi Tố La Hãn và đại bại, bà bèn giáng chức Lâu Sư Đức và Vương Hiếu Kiệt. Người Khiết Đan, người Cao Câu Ly nổi dậy vào những năm 696 - 697. Năm Vạn Tuế Đăng Phong nguyên niên (696), tháng 3, Võ hoàng cho trùng kiến và xây dựng thêm Minh đường, thiết đặt Thông Thiên cung (通天宮). Mật độ xây dựng của Đại Chu vào lúc này lên đến đỉnh điểm, nhằm biểu thị uy quyền mà Võ hoàng khao khát. Liền sau đó, bà cho đổi niên hiệu mới Vạn Tuế Thông Thiên. Dù đang ở đỉnh cao quyền lực, Đại Chu của Võ hoàng vào ngay lúc ấy gặp một chiến loạn lớn ở phương Bắc, làm lung lay chính quyền của Võ hoàng. Khi ấy, theo "chính sách nới lỏng", khu vực Khiết Đan nằm dưới sự kiểm soát của nhà Chu bởi Thứ sử Doanh Châu (thuộc khu vực Triều Dương, Liêu Ninh, Trung Quốc hiện nay) là Triệu Văn Hối. Hai thủ lĩnh Khiết Đan địa phương là Tùng Mạc đo đốc Lý Tận Trung và Thành Châu Thứ sử Tôn Vạn Vinh, em vợ của Lý Tận Trung là cấp dưới của Triệu Văn Hối. Sự phản đối gia tăng do hành vi của Triệu Văn Hối, người đã coi các thủ lĩnh Khiết Đan như người hầu của mình và từ chối giúp đỡ trong nạn đói xảy ra ở khu vực Khiết Đan vào năm 696. Theo "chính sách nới lỏng", nhà Chu phải cung cấp sự cứu viện nạn đói. Khi Triệu Văn Hối không làm như vậy, Lý Tận Trung và Tôn Vạn Vinh đã phát động một cuộc nổi loạn vào tháng 5 năm 696 (khi Võ hoàng lên ngôi được 6 năm). Họ dẫn quân từ đất Tùng Mạc và Thành Châu đánh chiếm Doanh Châu, giết Thứ sử là Triệu Văn Hối. Tướng cũ của Cao Câu Ly là Đại Trọng Tượng (大仲象 Dae Jung-sang) và con trai là Đại Tộ Vinh (大祚榮 Dae Jo-young) ở núi Đông Mưu (Dongmo, nay thuộc Mãn Châu, Trung Quốc) đã liên minh với thủ lĩnh Bạch Sơn Mạt Hạt là Khất Tứ Bỉ Vũ (걸사비우, 乞四比羽 bính âm: Gulsabiwu) và các thủ lĩnh của các bộ tộc vùng Hắc Long Giang hỗ trợ cho Lý Tận Trung và Tôn Vạn Vinh chống lại Đại Chu. Lý Tận Trung tự xưng là "Vô Thượng Khả hãn" (無上可汗), kiến lập quốc gia Đại Khiết Đan Quốc. Tôn Vạn Vinh đã hỗ trợ Lý Tận Trung với tư cách là vị tướng đã dẫn dắt thành công hàng chục nghìn quân Khiết Đan hành quân về phía nam và đánh chiếm một số thành trì khác của nhà Chu. Võ hoàng phản ứng đầu tiên bằng cách cử một đội quân 28 tướng nhà Chu (trong đó có thủ lĩnh Phất Niết Mạt Hạt là Lý Đa Tộ) chỉ huy đến đàn áp, đổi gọi Lý Tận Trung thành Lý "Tận Diệt" ("盡滅", nghĩa là "tiêu diệt tận gốc họ Lý"), Tôn Vạn Vinh là Tôn "Vạn Trảm" ("萬斬", nghĩa là "trảm vạn lần họ Tôn"). Tuy nhiên lực lượng nhà Chu đi đàn áp này bị quân Khiết Đan đánh bại ở hẻm núi Hạp Thạch Cốc (gần huyện Lư Long, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc ngày nay) vào tháng 8 năm 696, liên tiếp các tướng nhà Chu đều chết trận. Võ hoàng đã rất ngạc nhiên trước thông báo về sự thất bại này và bà ta nhanh chóng ban hành các sắc lệnh phát động một cuộc tấn công mới vào quân Khiết Đan nổi dậy này. Quân Khiết Đan tiếp tục giành chiến thắng trên chiến trường. Thủ lĩnh Phất Niết Mạt Hạt là Lý Đa Tộ phải thu nhặt tàn quân Chu rút về Lạc Dương. Sau đó quân Đại Khiết Đan quốc của Lý Tận Trung và Tôn Vạn Vinh đánh chiếm Chongzhou ở phía đông bắc Doanh Châu. Dưới tình thế ấy, Thiên Thiện Khã hãn của Hãn quốc Hậu Đột Quyết là A Sử Na Mặc Xuyết trong lúc này lại đem quân đánh Lương Châu nhà Chu, bắt đô đốc Hứa Khâm Minh. Nhận lệnh của Vô Thượng Khả hãn Lý Tận Trung, Đại Trọng Tượng (大仲象 Dae Jungsang) và Đại Tộ Vinh (大祚榮 Dae Joyoung), Khất Tứ Bỉ Vũ (乞四比羽 Gulsabiwu) dẫn 8000 tàn dân quân gồm người Cao Câu Ly và người Mạt Hạt (Malgal) quay về núi Đông Mưu (Dongmo, nay thuộc Mãn Châu, Trung Quốc) phối hợp với quân đội của các bộ tộc quanh Hắc Long Giang chuẩn bị đánh chiếm các thành trì của nhà Chu ở Liêu Đông. Bên cạnh đó, Vô Thượng Khả hãn Lý Tận Trung còn lệnh cho Lý Giai Cố (李楷固) cùng tướng dưới quyền Lý Giai Cố là Lạc Vũ Chỉnh (駱務整) dẫn quân Khiết Đan từ đất Tùng Mạc phía tây bắc Doanh Châu vượt Vạn Lý Trường Thành, chiếm Du Quan (nay là Sơn Hải quan, Trung Quốc), phối hợp với quân đội của bộ tộc Khố Mạc Hề (Kumo Xi) phía tây nam cùng tấn công vùng đất Đàn Châu nhà Chu. Đại Trọng Tượng và Đại Tộ Vinh ở núi Đông Mưu đưa quân đánh phá gây tiêu hao binh lực nhà Chu của Võ hoàng ở thành Khứ Đán Châu (Hangul: 거단주, Keodanju; chữ Hán: 去旦州), Mộc Để Châu (Hangul: 목저주; chữ Hán: 木底州), Bái Hán Châu (Hangul: 배한주,; chữ Hán: 拜漢州/拜汉州),… tại Liêu Đông. An Đông đô hộ là Bùi Huyền Khê (裴玄珪) ở nhiệm sở Tân Thành (nay là Phú Thuận, Liêu Ninh, Trung Quốc) cũng bị quân của Đại Tộ Vinh tấn công nhiều lần. Bùi Huyền Khê phải rút quân Chu khỏi Tân Thành và Tân Thành nhà Chu bị Đại Tộ Vinh chiếm đóng. Quân Chu ở ba thành trì Khứ Đán Châu, Mộc Để Châu, Bái Hán Châu và ba thành trì khác xung quanh Tân Thành đều quy hàng Đại Trọng Tượng. An Đông đô hộ phủ của nhà Chu bị chấn động. Còn Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh dẫn quân Khiết Đan chiếm hàng loạt các thành trì nhà Chu của Võ hoàng ở Đàn Châu. Sau khi chiếm xong Đàn Châu, Lý Giai Cố tiếp tục tiến quân chiếm Bắc Bình (nay là Tần Hoàng Đảo, Hà Bắc, Trung Quốc), Ngư Dương (nay thuộc Kế Châu, Thiên Tân, Trung Quốc), rồi đánh vào U Châu (nay là Bắc Kinh, Trung Quốc) của nhà Chu. U Châu đô đốc là Tiết Nột (薛訥 con trai của Tiết Nhân Qúy, dân gian gọi là "Tiết Đinh San") liên tiếp bại trận. Tiết Nột cũng phải rút quân Chu và để vùng đất U Châu rộng lớn nhà Chu vào tay Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh người Khiết Đan. Các lực lượng nhà Chu bị quân Khiết Đan đánh bại vào mùa thu cùng năm, liên tiếp các tướng nhà Chu đều chết trận. Các thành trì Úy Châu (nay tương đương với Trương Gia Khẩu, Trung Quốc), Dịch Châu (nay thuộc một phần của Bảo Định, Hà Bắc, Trung Quốc), Mã Ấp (nay thuộc Sóc Châu, Sơn Tây, Trung Quốc), Nhạn Môn Quan (nay thuộc Hãn Châu, Sơn Tây, Trung Quốc) của nhà Chu liên tiếp rơi vào tay quân Khiết Đan của Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh. Quân nhà Chu được Võ hoàng phái đến để ngăn quân Khiết Đan của Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh nhưng cũng thua trận và phải bỏ chạy về phía tây Trường An. Đại Trọng Tượng (Dae Jungsang) và Đại Tộ Vinh (Dae Joyoung) ở Tân Thành thuộc Liêu Đông tiếp tục chia quân cho Khất Tứ Bỉ Vũ (Gulsabiwu) đánh chiếm Liêu Đông thành của nhà Chu và chia quân cho Gaepilsamun đánh chiếm Bạch Nham thành (Baegam, nay là Yên Châu làng của Liêu Dương, Liêu Ninh, Trung Quốc) của nhà Chu. Tuy nhiên khi Đại Trọng Tượng, Đại Tộ Vinh, Gaepilsamun, Khất Tứ Bỉ Vũ mang toàn quân tấn công thành Ansi nhà Chu (nay thuộc Liêu Ninh, Trung Quốc) thì gặp rất nhiều khó khăn do sự kiên cố của tòa thành Ansi (thành Ansi này từng đánh tan quân Tùy và quân Đường xâm lược Cao Câu Ly ngày xưa). An Đông đô hộ Bùi Huyền Khê (裴玄珪) biết tin thì nhanh chóng đưa quân Chu tái chiếm nhiệm sở của An Đông đô hộ phủ là Tân Thành (nay là Phú Thuận, Liêu Ninh, Trung Quốc) từ tay quân Cao Câu Ly của Đại Trọng Tượng. Không lâu sau, thấy Đại Trọng Tượng và Đại Tộ Vinh vì muốn khôi phục Cao Câu Ly nên mới nỗ lực tấn công thành Ansi, dân chúng Cao Câu Ly trong thành Ansi nổi dậy chống lại quân Chu, mở cổng thành Ansi cho quân của Đại Trọng Tượng và Đại Tộ Vinh tràn vào thành. Các tướng nhà Chu giữ thành Ansi đều bị giết. Thành Ansi rơi vào tay quân Cao Câu Ly của cha con Đại Trọng Tượng. Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết của Hãn quốc Hậu Đột Quyết từng khuyến khích cuộc nổi dậy của Vô Thượng Khả hãn Lý Tận Trung nhưng vì lợi ích tối đa của mình, ông ta đã phái quân Đột Quyết tấn công và cướp bóc thành công vài thành trì ở hậu phương của Đại Khiết Đan quốc (đời Vô Thượng Khả hãn Lý Tận Trung). Tháng 10 (ÂL) cùng năm 696, Vô Thượng Khả hãn của Đại Khiết Đan quốc là Lý Tận Trung qua đời vì bệnh tật, em vợ là Tôn Vạn Vinh lên thay làm Khả hãn để tiếp tục công cuộc chống đối nhà Chu. Quyền lực đang lên của người Khiết Đan cũng đe dọa đến Hãn quốc Hậu Đột Quyết của Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết, người đã ủng hộ cuộc nổi dậy của người Khiết Đan trước đó, đã chuyển sang phe của Võ hoàng sau khi Võ hoàng hứa với ông ta một số điều, bao gồm cả một cuộc hôn nhân giữa con gái của ông với hoàng tộc của Võ hoàng, được nhận làm con trai của Võ hoàng, việc di dời người dân của ông đến Hành lang Hà Tây và khôi phục quyền thống trị của người Đột Quyết đối với người Khiết Đan. Cuộc phản công lớn thứ hai của Võ hoàng với người Khiết Đan diễn ra cùng tháng 10 năm 696, lợi dụng cái chết gần đây của Vô Thượng Khả hãn Lý Tận Trung. Lần này, quân Chu tấn công Khiết Đan từ phía nam và quân Đột Quyết xâm lược Khiết Đan từ phía bắc. Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết cùng con là A Sử Na Bặc Câu và tướng A Sử Đức Nguyên Trân đánh vào đất Tùng Mạc của Đại Khiết Đan quốc (nơi Khả hãn Tôn Vạn Vinh đang ở), bắt được thê tử, gia quyến của Lý Tận Trung và Khả hãn Tôn Vạn Vinh cùng gia quyến của Tôn Vạn Vinh, tàn sát người Khiết Đan trong thành. Tàn quân Khiết Đan thua trận phải rút về Doanh Châu phía nam. A Sử Na Mặc Xuyết, A Sử Na Bặc Câu và A Sử Đức Nguyên Trân lại đánh chiếm Doanh Châu, tiếp tục tàn sát người Khiết Đan trong thành. Tàn quân Khiết Đan lại lui sang Chongzhou và Thành Châu phía đông bắc Doanh Châu. Quân nhà Chu của Võ hoàng cũng kéo đến Doanh Châu hội quân với Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết của Hãn quốc Hậu Đột Quyết. Liên quân Chu - Đột Quyết tấn công thành Chongzhou và Thành Châu nhằm diệt tàn quân Khiết Đan ở đây nhưng người Khiết Đan quá dũng mãnh khiến liên quân chỉ còn cách cho quân vây thành Chongzhou và Thành Châu, chờ tàn quân Khiết Đan trong thành hết lương thực sẽ quy hàng. Liên quân Chu - Đột Quyết kế đó chia quân đi tấn công các thành trì mà quân Khiết Đan của Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh đang kiểm soát ở phía nam Doanh Châu gồm Du Quan, Đàn Châu, Bắc Bình, Ngư Dương, U Châu, Úy Châu, Dịch Châu, Mã Ấp và Nhạn Môn Quan. Thấy quân Khiết Đan còn mạnh nên liên quân cũng tiến hành bao vây những thành trì này đợi người Khiết Đan hết lương thực sẽ lui quân. Võ hoàng bằng lòng khi Tôn Vạn Vinh đã bị bắt và bọn Lý Giai Cố cũng sắp bị tiêu diệt rồi nên bà ban cho Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết nhiều vàng, lụa, sắt cùng công cụ cày cấy. Quân Đột Quyết trao hai thành Doanh Châu và Tùng Mạc cho quân Chu rồi lui về phía tây. Người Khiết Đan chịu tổn thất nặng nề trong chiến dịch này, nhưng Khả hãn Tôn Vạn Vinh đã vượt ngục và chạy đến thành Chongzhou. Tôn Vạn Vinh đã cố gắng đứng vững và thúc đẩy tinh thần người Khiết Đan, tụ tập lại người Khiết Đan. Cuối năm 696, Khả hãn Tôn Vạn Vinh phát triển thế lực Đại Khiết Đan quốc ở Chongzhou, đánh đuổi được quân Chu đang vây thành Chongzhou và Thành Châu, lại tiếp tục chống đối nhà Chu của Võ hoàng. Tôn Vạn Vinh dẫn quân Khiết Đan tái chiếm Doanh Châu và Tùng Mạc từ tay quân Chu. Quân Chu đang bao vây các thành trì của Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh ở phía nam Doanh Châu cũng bị đánh tan. Sau đó, quân Khiết Đan của Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh ở các thành trì phía nam Doanh Châu được lệnh của Khả hãn Tôn Vạn Vinh tiến thẳng xuống tây nam tấn công Ký Châu (nay là huyện Lâm Chương, địa cấp thị Hàm Đan, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc) làm rung chuyển cả vùng Hà Bắc, uy hiếp kinh đô Lạc Dương của nhà Chu (nơi Võ hoàng đang ở). Thứ sử Ký Châu là Độc Cô Tư Trang (獨孤思莊) do lo ngại cuộc tấn công của người Khiết Đan nên đã ra lệnh cho dân chúng phải rời bỏ nhà cửa của mình để vào trong thành, làm gia tăng nỗi lo sợ và phẫn nộ của dân chúng. Quốc gia sắp bị diệt đến nơi khiến các quan lại nhà Chu ai ai cũng hoang mang. Để ổn định tình thế, Võ hoàng dùng lại Địch Nhân Kiệt (người từng bị Võ hoàng giáng chức 4 năm trước vì bị Lai Tuấn Thần và Võ Thừa Tự vu oan) làm thứ sử Ký Châu và Ngụy Châu (nay là Hàm Đan, Trung Quốc) cận kề thay cho Độc Cô Tư Trang. Khi Địch Nhân Kiệt tới nơi, nhận thấy quân Khiết Đan còn ở xa, đã ra lệnh cho dân chúng trở về nhà. Năm Vạn Tuế Thông Thiên thứ hai (697), Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh dẫn quân Khiết Đan tấn công Ký Châu. Địch Nhân Kiệt chống không nổi nên rút quân Chu khỏi Ký Châu rồi về Ngụy Châu (nay là Hàm Đan, Trung Quốc) phía nam. Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh tiếp tục tiến quân tấn công Ngụy Châu. Địch Nhân Kiệt bại trận, tiếp tục cho rút quân Chu khỏi Ngụy Châu rồi về phía nam. Khi thấy lực lượng Khiết Đan do Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh chỉ huy đã tiến sâu vào lãnh thổ nhà Chu, Võ hoàng liền phục chức cho Vương Hiếu Kiệt (một trong những vị tướng giỏi nhất của nhà Chu bấy giờ) và phong cho Vương Hiếu Kiệt làm quyền chỉ huy quân đội nhà Chu chống lại quân Khiết Đan, với sự hỗ trợ của Tô Hoằng Huy (蘇宏暉), chỉ huy khoảng 170.000 quân Chu. Mùa xuân năm đó, Vương Hiếu Kiệt dẫn quân Chu, bỏ qua đại quân Khiết Đan của Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh đang đóng ở Ngụy Châu, đi theo hướng đông bắc, vượt Vạn Lý Trường Thành tiến đến Đông Hạp Thạch Cốc (gần Đường Sơn, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay) phía đông U Châu. Khả hãn Tôn Vạn Vinh nghe tin thì lệnh cho Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh rút quân từ Ngụy Châu theo hướng đông bắc để giáp chiến với Vương Hiếu Kiệt ở Đông Hạp Thạch Cốc. Võ hoàng liền mở cuộc phản công lớn thứ ba với người Khiết Đan bằng cách phái quân Chu tái chiếm lại các thành trì đã mất của nhà Chu gồm Ngụy Châu, Ký Châu, Nhạn Môn Quan, Mã Ấp, Dịch Châu, Úy Châu và U Châu từ tay người Khiết Đan. Vương Hiếu Kiệt đích thân chỉ huy quân tiền phương và giành được những thắng lợi ban đầu trước quân Khiết Đan, nhưng do không quen thuộc với địa lý và địa hình địa phương, Vương Hiếu Kiệt và Tô Hoằng Huy bị Tôn Vạn Vinh phục kích ở vách đá tại Đông Hạp Thạch Cốc. Tô Hoằng Huy đã bỏ chạy. Vương Hiếu Kiệt bị quân Khiết Đan đẩy và bị rơi xuống vách đá tử chiến vào ngày 8 tháng 2 cùng năm 697. Quân đội nhà Chu bị tổn thất nặng nề. Một tướng của Vương Hiếu Kiệt là Trương Duyệt về Lạc Dương, báo cáo lại với Võ hoàng ở Lạc Dương rằng: "Vương Hiếu Kiệt rất dũng cảm và sẵn sàng chiến đấu đến chết. Ông ấy trung thành phục vụ cho quốc gia, chiến đấu trong lãnh thổ của kẻ thù và chiến đấu với kẻ địch có quân số nhiều hơn. Nhưng ông ấy không có sự hỗ trợ, và vì vậy ông ta đã bị đánh bại.". Võ hoàng truy tặng Vương Hiếu Kiệt làm Cảnh công. Bà ta cũng ra lệnh xử tử Tô Hoằng Huy. Trước khi các sứ giả của Võ hoàng đến tiền tuyến, Tô Hoằng Huy đã thắng quân Khiết Đan của Tôn Vạn Vinh, Lý Giai Cố, Lạc Vũ Chỉnh các trận chiến khác và nên được miễn án tử hình. Nhưng Tô Hoằng Huy vẫn bị Võ hoàng xử tử. Nhuệ khí của quân Chu bị giảm sút nghiêm trọng. Nhân cơ hội đó, quân Khiết Đan của Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh lại đánh chiếm U Châu (nay là Bắc Kinh, Trung Quốc) một lần nữa. U Châu là cửa ngõ quan trọng dẫn đến đồng bằng phía bắc Trung Quốc. Trong khi cuộc phản công lớn thứ tư của Võ hoàng với người Khiết Đan vẫn chưa được phát động và bất chấp các đề xuất liên minh trước đó, Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết của Hãn quốc Hậu Đột Quyết đã tấn công các lãnh thổ của nhà Chu để thể hiện rõ ràng rằng họ rất mạnh vào tháng 3 năm 697. Võ hoàng bị A Sử Na Mặc Xuyết ép phải thả các tù binh người Đột Quyết đang bị nhà Chu giam giữ tại 6 quận phía bắc nhà Chu từ những năm 670 - 674. Trong cuộc phản công lớn thứ tư của Võ hoàng với người Khiết Đan vào tháng 5 năm 697, Võ hoàng đã cử Lâu Sư Đức và Shatuo Zhongyi cùng với 200.000 quân Chu đi ngăn chặn Khả hãn Tôn Vạn Vinh của Đại Khiết Đan quốc tiến xa hơn về phía nam. Tôn Vạn Vinh đã cố gắng yêu cầu quân tiếp viện từ Hãn quốc Hậu Đột Quyết của Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết. Tuy nhiên, Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết đã từ chối đề xuất thành lập liên minh giữa Khiết Đan và Đột Quyết. Thay vào đó, bằng cách nào đó, Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết đã liên minh với Võ hoàng và mở một cuộc tấn công lớn vào Đại Khiết Đan quốc. Trong khi đó, Khố Mạc Hề (Kumo Xi), một nhóm người thiểu số khác ban đầu liên minh với người Khiết Đan trong cuộc nổi loạn này, đã chuyển sang đầu hàng nhà Chu của Võ hoàng. Người Khiết Đan phải đối mặt với các cuộc tấn công tàn khốc của quân Đột Quyết từ phía bắc và lực lượng đồng minh 200.000 quân của nhà Chu và Khố Mạc Hề (Kumo Xi) tấn công từ phía nam. Ba thành Tùng Mạc, Thành Châu và Chongzhou của người Khiết Đan ở phía bắc lần lượt bị quân Đột Quyết đánh hạ. Quân Chu và Khố Mạc Hề (Kumo Xi) cũng nhanh chóng đánh chiếm lại Đàn Châu, Ngư Dương, Bắc Bình, Đàn Châu, Du Quan từ tay người Khiết Đan ở phía nam. Đánh bại quân Khiết Đan liên tiếp, Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết của Hãn quốc Hậu Đột Quyết cùng con là A Sử Na Bặc Câu và tướng A Sử Đức Nguyên Trân dẫn quân Đột Quyết đánh thẳng vào kinh đô Doanh Châu của Đại Khiết Đan quốc. Trong tình huống nguy cấp này, Khả hãn Tôn Vạn Vinh lại bị ám sát bởi chính một trong những thuộc hạ của mình, và lực lượng Đại Khiết Đan quốc sụp đổ. Quân Đột Quyết tiến hành tàn sát người Khiết Đan trong thành Doanh Châu không thương tiếc. Người Khiết Đan bỏ chạy sang Liêu Hà ở phía đông trong sự hỗn loạn. Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết, A Sử Na Bặc Câu và A Sử Đức Nguyên Trân dẫn quân Đột Quyết, phối hợp với quân nhà Chu và Khố Mạc Hề (Kumo Xi) do Lâu Sư Đức và Shatuo Zhongyi chỉ huy, tấn công dân chúng Khiết Đan ở Liêu Hà. Đại Tộ Vinh (Dae Joyoung) ở thành Ansi nghe tin thì đưa quân Cao Câu Ly đến Liêu Hà để cứu dân chúng Khiết Đan đang bị liên quân Chu - Đột Quyết - Khố Mạc Hề tấn công. Liên quân Chu - Đột Quyết - Khố Mạc Hề bị Đại Tộ Vinh đánh lui. Đại Tộ Vinh chỉ cứu được một nhóm dân chúng Khiết Đan và Đại Tộ Vinh cho an trí họ ở 9 thành trì do mình kiểm soát tại Liêu Đông. Tuy nhiên vẫn còn nhiều nhóm người Khiết Đan ở xung quanh khu vực Liêu Hà đó, họ tụ tập lại chờ thời cơ đánh trả lại nhà Chu của Võ hoàng. Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết sau đó trao lại bốn thành trì Tùng Mạc, Thành Châu, Chongzhou và Doanh Châu cho quân Chu rồi lại rút về phía tây. Tướng của Khả hãn Tôn Vạn Vinh là Lý Giai Cố (李楷固) và tướng dưới quyền Lý Giai Cố là Lạc Vũ Chỉnh (駱務整) quy hàng Võ hoàng nhà Chu. Võ hoàng ban đầu muốn xử trảm Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh vì họ từng làm lung lay chính quyền của bà, nhưng Địch Nhân Kiệt đã can ngăn và khuyên bà phong cho 2 người họ làm tướng nhà Chu. Võ hoàng đồng ý và làm theo lời của Địch Nhân Kiệt. Thủ lĩnh Phất Niết Mạt Hạt là Lý Đa Tộ được Võ hoàng trao chức vụ lớn hơn là Hữu Vũ Lâm Đại tướng quân (右羽林大將軍) và trở thành chỉ huy của đội cận vệ hoàng gia ở cổng phía bắc của cung điện Lạc Dương. Đại Tộ Vinh chiếm cứ đông bắc nhà Chu lập ra nước Đại Chấn vào năm 698. Sau cuộc nổi dậy của Lý Tận Trung và Tôn Vạn Vinh bị dập tắt, tộc người Khiết Đan ở phía bắc Doanh Châu nhà Chu bắt đầu trung thành với người Đột Quyết như Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết và Võ hoàng đã lên kế hoạch từ đầu năm 696. Người Khố Mạc Hề (Kumo Xi) cũng thần phục Đột Quyết. Võ hoàng cũng bổ nhiệm một khả hãn Khiết Đan mới tên là Lý Thất Hoạt (李失活) tại phía bắc Doanh Châu nhà Chu. Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh sau đó được Võ hoàng phái đi trấn áp tàn quân nổi dậy Khiết Đan ở Liêu Hà phía đông bắc nhà Chu. Cha con Đại Trọng Tượng (Dae Jungsang) và Đại Tộ Vinh (Dae Joyoung) khi đó đang di dời quân đội và dân cư từ các thành Ansi, Liêu Thành và Baekham sang núi Đông Mưu (Dongmo, nay thuộc Mãn Châu, Trung Quốc) và núi Bạch Đầu (Baekdu), với ý định xây dựng kinh đô cho quốc gia mới ở núi Đông Mưu. Quân Chu do Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh chỉ huy sau đó trấn áp thành công các lực lượng người Khiết Đan ở Liêu Hà, buộc họ phải rút về phía đông theo đoàn quân của cha con Đại Trọng Tượng và Đại Tộ Vinh. Năm Thánh Lịch nguyên niên (698), hai cha con Đại Trọng Tượng kết minh với thủ lĩnh Bạch Sơn Mạt Hạt là Khất Tứ Bỉ Vũ (걸사비우, 乞四比羽 bính âm: Qǐsì bǐyǔ) vấn tiếp tục chống đối nhà Chu. Theo Tân Đường thư, Võ hoàng đã phái sứ giả sang Liêu Đông sắc phong cho Đại Trọng Tượng là "Chấn Quốc công" và phong cho Khất Tứ Bỉ Vũ là "Hứa Quốc công" để yên lòng họ. Khất Tứ Bỉ Vũ đã từ chối chức danh "Hứa Quốc công" này. Nghe tin liên quân Đại-Khất đang rút quân dân của ba thành Ansi, Liêu Thành và Baekham đến núi Đông Mưu và núi Bạch Đầu, tháng 5 (ÂL) cùng năm, Võ hoàng phái Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh dẫn 200.000 quân Chu tấn công đoàn quân của Đại Trọng Tượng và Khất Tứ Bỉ Vũ. Hai người Lý - Lạc liền dẫn quân chiếm lại các thành Ansi, Liêu Thành và Baekham đang bị bỏ trống, rồi tiếp tục truy kích nghĩa quân của Đại Trọng Tượng và Khất Tứ Bỉ Vũ. Với quân số áp đảo, quân Chu tàn sát rất nhiều nhân lực của nghĩa quân. Sau đó, thấy Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh cho quân Chu hạ trại chặn đường đến núi Đông Mưu, Đại Trọng Tượng và Khất Tứ Bỉ Vũ, Đại Tộ Vinh dẫn đoàn quân dân di chuyển vòng qua trại quân Chu đi theo hướng đông bắc, liên tiếp để các toán quân đoạn hậu chặn quân Chu truy kích, giúp nghĩa quân có thêm thời gian rút đến gần núi Đông Mưu và Bạch Đầu. Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh liên tục tấn công nghĩa quân, giết dân chúng. Đại Trọng Tượng và Đại Tộ Vinh cùng đoàn quân và dân chúng đến chân núi Cheonmunryeong (tiếng Trung: 天門嶺; Hán-Việt: Thiên Môn Lĩnh; bính âm: Tiānmén lǐng) thì phái Khất Tứ Bỉ Vũ (Gulsabiwu) dẫn 5000 quân Mạt Hạt chặn đường vào núi của quân Chu. Sau đó hai người dẫn 8000 dân chúng (chủ yếu là người Cao Câu Ly và người Mạt Hạt) vượt hẻm núi Cheonmunryeong đế an trí tại vùng núi Đông Mưu-Bạch Đầu thì cho an trí quân đội và dân chúng, đưa quân quay lại Thiên Môn Lĩnh tiếp ứng cho Khất Tứ Bỉ Vũ đang làm hậu viện ngăn cản quân Chu. Lý Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh liên tục tấn công nghĩa quân ở Cheonmunryeong, rồi giết được cả Khất Tứ Bỉ Vũ và Đại Trọng Tượng gần núi Đông Mưu. Đại Tộ Vinh đã lãnh đạo tàn quân Cao Câu Ly-Mạt Hạt tiếp tục chống lại quân nhà Chu, bằng cách đặt 1000 địa điểm mai phục, và tập kích quân Chu. Trận đánh rất ác liệt tiếp tục diễn ra Thiên Môn Lĩnh cùng năm 698, và kết quả là quân của Đại Tộ Vinh đã chiến thắng. Để thực hiện giấc mơ của cha mình, Đại Tộ Vinh giành lấy một miền lãnh thổ rộng lớn của Mãn Châu ngày nay, lập ra vương quốc Đại Chấn (Daejin), tự xưng là "Chấn vương", xây dựng kinh thành tại gần núi Đông Mưu, nên thành cũng được đặt tên là Đông Mưu (nay thuộc tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc). Chấn vương phái sứ giả sang Hãn quốc Hậu Đột Quyết, lập liên minh chống nhà Chu với Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết. A Sử Na Mặc Xuyết đánh phá phía bắc nhà Chu, Đại Tộ Vinh đánh phá An Đông đô hộ phủ của nhà Chu. Cùng năm 698, Thiên Thiện Khả hãn của Hãn quốc Hậu Đột Quyết là A Sử Na Mặc Xuyết đòi hòa thân với nhà Chu bằng việc yêu cầu nhà Chu gửi hoàng tử sang kết hôn với con gái của ông ta (một phần trong âm mưu nhập gia đình của ông ta với hoàng thân nhà Đường, sau đó họ sẽ thay thế nhà Chu của Võ hoàng và khôi phục quyền thống trị của nhà Đường đối với Trung Quốc dưới ảnh hưởng của ông ta). Khi Võ hoàng định cử một thành viên trong gia tộc của mình là cháu trai Võ Diên Tú (武延秀) để kết hôn với con gái của A Sử Na Mặc Xuyết, Trương Giản Chi đã phản đối và nói rằng: "Từ xưa cho đến nay, chưa có hoàng tử Trung thổ nào từng cưới một người phụ nữ man rợ làm vợ mình." Sự phản đối này đã khiến Võ hoàng không hài lòng vì bà muốn hòa bình với người Đột Quyết. Kết quả là bà đã giáng chức Trương Giản Chi làm Thứ sử Hợp Châu (合州, miền bắc Trùng Khánh, Trung Quốc hiện đại). Sau đó Võ hoàng cho cháu mình là Võ Diên Tú thành hôn với công chúa Đột Quyết. Tuy nhiên A Sử Na Mặc Xuyết đã từ chối hoàng tử. A Sử Na Mặc Xuyết thực chất không có ý định củng cố hiệp ước hòa bình với nhà Chu bằng một cuộc hôn nhân; thay vào đó, khi Võ Diên Tú đến Hãn quốc Hậu Đột Quyết, ông ta đã cho bắt giữ Võ Diên Tú, sau đó gây hấn với nhà Chu, dẫn quân vượt Vạn Lý Trường Thành, tiến đánh đến Triệu Châu (thuộc khu vực Thạch Gia Trang, Hà Bắc hiện nay) của nhà Chu. A Sử Na Mặc Xuyết lập tướng nhà Chu là Diêm Trí Vi (阎知微) làm Nam Diện Khả hãn (南面可汗) rồi thuyết phục Diêm Trí Vi giúp ông xâm chiếm các thành phố Triệu Châu và Định Châu (thuộc Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay). Tướng nhà Chu là Mộ Dung Huyền Kiểu (慕容玄皦) mang 5000 binh lính Chu quy hàng A Sử Na Mặc Xuyết. Tháng 8 cùng năm, A Sử Na Mặc Xuyết tấn công Định Châu nhà Chu, chiếm được Định Châu và giết chết tướng nhà Chu là Tôn Ngạn Cao (孙彦高), đồng thời thiêu rụi thành phố Định Châu. Võ hoàng tức giận đến mức ban bố rằng nếu ai giết được Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết sẽ được phong làm Hoàng tử nhà Chu. Sau đó, Võ hoàng đổi tên A Sử Na Mặc Xuyết thành A Sử Na "Trảm Xuyết" ("斩啜", nghĩa là A Sử Na "đầu bị chặt") như một cách chơi chữ của cái tên Mặc Xuyết của ông. A Sử Na Mặc Xuyết nghe tin thì nổi giận, vào tháng 9 cùng năm, Triệu Châu cũng bị A Sử Na Mặc Xuyết tấn công. Phó tướng nhà Chu giữ thành Triệu Châu là Đường Ba Nhược (唐波若) mở cổng thành Triệu Châu và chủ tướng nhà Chu giữ thành Triệu Châu là Cao Duệ (高睿) ngay lập tức bị quân Đột Quyết xử tử. Võ hoàng lệnh cho Thái tử Võ Hiển làm nguyên soái, Địch Nhân Kiệt làm phó nguyên soái để trừng phạt người Đột Quyết và ổn định tình hình tại đó. Các tù trưởng ở phía bắc thấy Võ Hiển đến thì đều lần lượt hưởng ứng, lực lượng của Võ Hiển đông đến 5 vạn quân. Tuy nhiên, người Đột Quyết của Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết đã rút lui trước khi quân đội nhà Chu tới nơi. Vào tháng 10 cùng năm, Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết để Nam Diện Khả hãn (南面可汗) là Diêm Trí Vi (阎知微) trở về nhà Chu. Diêm Trí Vĩ lập tức bị bắt và bị Võ hoàng xử tử vì tội phản quốc. Năm Thánh Lịch thứ 2 (699), quốc chủ của Thổ Phồn giết chết Luận Khâm Lăng, con của Luận Khâm Lăng là Luận Cung Nhân cùng Luận Tán Bà đầu hàng Chu, đồng thời trao trả An Tây đô hộ phủ lại cho Võ hoàng. Kể từ lúc đó, Thổ Phồn lâm vào tình cảnh rối ren, xung đột và trong một thời gian không còn gây hấn với Trung Hoa như trước nữa. Chấn vương Đại Tộ Vinh dẫn quân Đại Chấn đánh chiếm nhiệm sở của An Đông đô hộ phủ là Tân Thành (này là Phú Thuận, Liêu Ninh, Trung Quốc). An Đông đô hộ Bùi Huyền Khê (裴玄珪) phải bỏ Tân Thành chạy trốn. Võ hoàng đổi nhiệm sở An Đông đô hộ phủ từ Tân Thành đã rơi vào tay Đại Tộ Vinh sang khu vực phía tây của Liêu Đông. Cao Đức Vũ nổi dậy chiếm cứ Liêu Đông lập ra Tiểu Cao Câu Ly năm 699. Cũng trong năm 699 này, nhà Chu của Võ hoàng cử hoàng tử Cao Câu Ly trước đây là Cao Đức Vũ (Go Deokmu), con trai thứ ba của vua Cao Câu Ly cuối cùng là Bảo Tạng Vương (Bojangwang), đến bán đảo Liêu Đông và đặt cho ông tước hiệu "Triều Tiên vương" (Joseonwang) và chức danh đô úy một quận của An Đông đô hộ phủ. Giống như cha mình những năm 677 - 681 từng lập hội Đông Minh Thiên (東明天氣盖世) chống lại nhà Đường, Cao Đức Vũ lên kế hoạch nổi loạn chống lại nhà Chu và hồi sinh Cao Câu Ly. Cao Đức Vũ giết hết quan lại nhà Chu ở Liêu Đông rồi lên ngôi vua, hình thành vương quốc Tiểu Cao Câu Ly ở Liêu Đông chống đối nhà Chu. Năm Thánh Lịch thứ 3 (700), theo Tân Đường thư, thấy Chấn vương Đại Tộ Vinh (Dae Joyoung) đang xây dựng nước Đại Chấn (Daejin) ở đông bắc Liêu Đông và Cao Câu Ly vương Cao Đức Vũ (Go Deokmu) lập quốc Tiểu Cao Câu Ly ở Liêu Đông, Võ hoàng phong cho Lý Giai Cố (李楷固) làm Yên Quốc công, ban quốc tính họ Võ cho Lý Giai Cố (gọi là Võ Giai Cố), rồi phái Võ Giai Cố dẫn 200.000 quân Chu tấn công Đại Tộ Vinh và Cao Đức Vũ bởi Võ Giai Cố biết rõ về Đại Tộ Vinh và Cao Đức Vũ. Yên Quốc công Võ Giai Cố chia quân cho Lạc Vũ Chỉnh tấn công biên giới Tiểu Cao Câu Ly rồi đích thân dẫn quân Chu tấn công các thành trì biên giới nước Đại Chấn. Chấn vương Đại Tộ Vinh dẫn quân đến hỗ trợ các thành trì chống quân Chu. Cao Câu Ly vương Cao Đức Vũ cũng dẫn quân đến biên giới giao tranh với quân đội nhà Chu của Lạc Vũ Chỉnh. Chấn vương Đại Tộ Vinh và Cao Câu Ly vương Cao Đức Vũ cùng Yên Quốc công Võ Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh kịch chiến với nhau ở bắc Liêu Đông và đông bắc Liêu Đông. Võ hoàng sau đó phát động một cuộc tấn công vào Hãn quốc Hậu Đột Quyết của Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết nhưng bị quân Đột Quyết đánh lui. Mùa thu cùng năm, tể tưởng nhà Chu là Địch Nhân Kiệt qua đời, Võ hoàng vô cùng thương tiếc, khóc và nói rằng "Triều đình từ nay trống không". Đột Quyết, Đại Chấn và Tiểu Cao Câu Ly cùng chống lại nhà Chu. Năm Trường An nguyên niên (701), quân Hãn quốc Hậu Đột Quyết của Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết lại vượt Vạn Lý Trường Thành, xâm phạm biên giới nhà Chu. Chấn vương Đại Tộ Vinh đánh tan quân Chu của Yên Quốc công Võ Giai Cố, giải vây cho các thành trì biên giới nước Đại Chấn. Cao Câu Ly vương Cao Đức Vũ (Go Deokmu) cũng đánh tan quân đội nhà Chu của Lạc Vũ Chỉnh ở biên giới Tiểu Cao Câu Ly. Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết sai sứ sang nước Đại Chấn yêu cầu Chấn vương Đại Tộ Vinh hỗ trợ mình chống lại nhà Chu. Chấn vương Đại Tộ Vinh đồng ý và gửi 1 cánh quân Đại Chấn sang giúp A Sử Na Mặc Xuyết đánh các thành trì nhà Chu. Yên Quốc công Võ Giai Cố nghe tin thì kêu gọi Khả hãn Lý Thất Hoạt của tộc Khiết Đan phía bắc Doanh Châu và tộc Hắc Sơn Mạt Hạt đông bắc nước Đại Chấn cùng tấn công biên giới nước Đại Chấn. Chấn vương Đại Tộ Vinh chia quân làm ba cánh: cánh quân thứ nhất đi trấn áp tộc Hắc Sơn Mạt Hạt phía đông bắc, cánh quân thứ hai đánh đuổi tộc Khiết Đan phía tây bắc và cánh quân thứ ba tấn công các thành Baekam, Liêu Thành của nhà Chu phía tây nam. Cánh quân Đại Chấn thứ nhất đánh tan quân Hắc Sơn Mạt Hạt, chiếm lấy lãnh thổ của họ, chiếm lại ngọn núi đầy muối ven biển vốn thuộc Cao Câu Ly (Goguryeo) ngày xưa. Người Hắc Sơn Mạt Hạt phải chạy lên phía bắc. Cánh quân Đại Chấn thứ hai đánh tan quân Khiết Đan của Khả hãn Lý Thất Hoạt. Lý Thất Hoạt phải lui quân về Liêu Hà phía tây. Cánh quân Đại Chấn thứ ba thì bị Yên Quốc công Võ Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh cầm chân ở phía bắc Liêu Đông. Trong khi đó Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết cùng A Sử Na Mặc Cức Liên liên tục đánh chiếm các thành trì ở tây bắc nhà Chu. Tướng Chu có nhiệm vụ ngăn A Sử Na Mặc Xuyết và A Sử Na Mặc Cức Liên là Ngụy Nguyên Trung (魏元忠) thì bại trận liên tiếp. Lương Châu, Triệu Châu và Định Châu đều rơi vào tay của quân Đột Quyết. Quân Đột Quyết sắp tiến đến Trường An (nơi Võ hoàng đang ở). Chính quyền của Võ hoàng một lần nữa bị lung lay giống như 5 năm trước Khả hãn Tôn Vạn Vinh người Khiết Đan từng cho quân Khiết Đan nam hạ đánh sắp đến Lạc Dương. Thấy tình hình nguy cấp, Võ Đán phụng mệnh Võ hoàng đi đánh dẹp quân Đột Quyết của A Sử Na Mặc Xuyết đang tiến sâu vào lãnh thổ nhà Chu, nhưng sau đó quân Đột Quyết của A Sử Na Mặc Xuyết lui quân trước. Năm Trường An thứ 2 (702), Võ Đán được Võ hoàng phong làm Đô đốc Tĩnh châu, nhằm để cho Võ Đán canh chừng Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết xâm phạm bờ cõi nhà Chu của bà. Chấn vương Đại Tộ Vinh gọi cánh quân Đại Chấn đang đánh với quân Chu của Yên Quốc công Võ Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh ở phía bắc Liêu Đông trở về. Võ hoàng dường như đang dự tính thêm hành động quân sự ở phía đông bắc và giao tể tướng Ngụy Nguyên Trung chỉ huy. Thủ lĩnh Phất Niết Mạt Hạt là Lý Đa Tộ được Võ hoàng phong làm quyền chỉ huy tại U Châu (幽州, gần Bắc Kinh ngày nay), với sự hỗ trợ của các tướng Tiết Nột (con trai của Tiết Nhân Quý, nhân gian gọi là "Tiết Đinh San") và Lạc Vũ Chỉnh (駱務整). Tuy nhiên, có vẻ như hành động quân sự này đã không được phát động trong năm 702. Sang năm Trường An thứ 3 (703), Võ Đán được Võ hoàng phong làm Ung châu mục, cai trị các vùng lãnh thổ phía tây, bao gồm cả Trường An. Cùng năm 703, Thiên Thiện Khả hãn của Hãn quốc Hậu Đột Quyết là A Sử Na Mặc Xuyết cử A Sử Đức Nguyên Trân (một đại tướng của Hãn quốc Hậu Đột Quyết) sang nhà Chu của Võ hoàng để yêu cầu hòa thân một lần nữa. Võ hoàng kỳ này chấp nhận lời hòa thân; đổi lại, Võ Diên Tú được trả tự do sau 5 năm giam cầm ở Hãn quốc Hậu Đột Quyết theo lệnh của A Sử Na Mặc Xuyết. Yên Quốc công Võ Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh tiếp tục dẫn quân Chu tấn công Tiểu Cao Câu Ly của Cao Câu Ly vương Cao Đức Vũ (Go Deokmu) ở Liêu Đông nhưng lại thất bại, phải lui quân. Năm Trường An thứ 4 (704), Võ hoàng phong cho Đường Hưu Cảnh (唐休璟) làm U Châu và Doanh Đẳng Châu đô đốc kiêm An Đông đô hộ, nhiệm sở ở phía tây Liêu Đông. Yên Quốc công Võ Giai Cố và Lạc Vũ Chỉnh lại dẫn quân Chu tiến đánh nước Đại Chấn của Chấn vương Đại Tộ Vinh. Năm Thần Long nguyên niên (705) Đường Trung Tông lấy lại quyền lực từ Võ hoàng, tôn Võ hoàng lên làm Thái thượng nữ hoàng, lấy lại quốc hiệu Đại Đường khiến cờ xí của Yên Quốc công Võ Giai Cố đang đánh Chấn vương Đại Tộ Vinh phải đổi từ Đại Chu sang Đại Đường. Võ Giai Cố cũng lấy lại họ Lý (gọi là Lý Giai Cố). Trận đánh giữa Chấn vương Đại Tộ Vinh và quân nhà Đường của Yên Quốc công Lý Giai Cố rất ác liệt diễn ra cùng năm 705, và kết quả là quân của Chấn vương Đại Tộ Vinh đã chiến thắng. Tướng Lạc Vũ Chỉnh của quân Đường tử trận. Yên Quốc công Lý Giai Cố cùng 1000 tàn quân Đường rút chạy về Liêu Hà phía tây Liêu Đông. Đại Tộ Vinh dẫn quân Đại Chấn đánh chiếm lại các thành Baekam, Liêu Thành và Ansi từ quân Đường, sau đó bao vây Liêu Hà của nhà Đường. Lý Giai Cố dẫn quân Đường ra quyết chiến với quân Đại Chấn của Đại Tộ Vinh. Kết cục, Yên Quốc công Lý Giai Cố tử trận ở Liêu Hà, quân đội nhà Đường thua tan tác. Đại Tộ Vinh cho quân rút khỏi Liêu Hà, lui về phía đông để tránh quân đội Tiểu Cao Câu Ly của Cao Câu Ly vương Cao Đức Vũ (Go Deokmu) ở Liêu Đông. Nhận thấy nhà Đường đã lấy lại quyền lực từ Võ hoàng nên Chấn vương Đại Tộ Vinh bèn thay đổi chính sách, hòa giải với nhà Đường (đến năm 712, Đại Tộ Vinh đổi lại quốc hiệu từ Đại Chấn sang Bột Hải). Đại Tộ Vinh còn phái con trai thứ hai là Đại Môn Nghệ (大門藝, Dae Mun-ye) sang Trường An nhà Đường làm con tin. Trong năm 705, vua Đường Trung Tông dời nhiệm sở của An Đông đô hộ phủ từ phía tây Liêu Đông sang U Châu (nay là Bắc Kinh, Trung Quốc), đồng thời gọi An Đông đô hộ Đường Hưu Cảnh (唐休璟) từ phía tây Liêu Đông về U Châu. Cũng trong năm 705, quân đội Hãn quốc Hậu Đột Quyết do A Sử Na Mặc Cức Liên chỉ huy tiến vào đất Linh Vũ của nhà Đường, đánh bại tướng nhà Đường là Sa Tra Trung Nghĩa (沙吒忠义). Sa Tra Trung Nghĩa sau đó bị vua Đường Trung Tông cách chức. Vua Đường Trung Tông tức giận từ chối yêu cầu hòa thân của Thiên Thiện Khả hãn A Sử Na Mặc Xuyết và tuyên bố trao thưởng cho bất kỳ ai giết được A Sử Na Mặc Xuyết. Không bao lâu sau khi chiếm ngôi, Võ hoàng cho xây chùa Đại Vân ở Trường An và Lạc Dương, đồng thời phong cho 9 nhà sư lên tước Công. Có thể nói, vào thời Võ hoàng lâm triều trị quốc, Phật giáo luôn chiếm địa vị độc tôn trong hệ thống tư tưởng ở Trung Quốc. Về tổ tiên của mình, bà cho đem bài vị tổ tiên trong vòng 7 đời vào thờ ở Thái miếu, tuy nhiên bà vẫn tiếp tục cúng bái 3 vị Hoàng đế họ Lý là Đường Cao Tổ, Đường Thái Tông và Đường Cao Tông của nhà Đường. Mặc dù Duệ Tông được lập làm Hoàng tự, nhưng thế lực của Thân vương khác là Võ Thừa Tự, Võ Tam Tư cũng rất lớn mạnh. Năm Thiên Thụ thứ 2 (691), các đại thần Trương Gia Phúc, Vương Khánh Chi muốn lấy lòng Võ hoàng, nên dâng thư xin bà lập Võ Thừa Tự làm Thái tử, vì người họ Võ thì nên truyền ngôi cho người họ Võ. Bà ban đầu có vẻ bằng lòng. Tháng 7 (ÂL) cùng năm ấy, các Tể tướng Sầm Trường Sai, Cách Phụ Nguyên và Tư lễ khanh kiêm Phán Nạp ngôn sự Âu Dương Thông lên tiếng phản đối một cách gay gắt. Võ Thừa Tự ghét lắm, bày mưu với Lai Tuấn Thần vu hãm cả ba cùng các quan viên ủng hộ 3 người, đến tháng 10 cùng năm thì toàn bộ đều bị giam và giết hại. Đại thần Lý Chiêu Đức cũng vì bất bình với Võ Thừa Tự, liền sau đó bị lưu đày và bị giết, rất có thể do Võ Thừa Tự hãm hại. Tuy nhiên Võ hoàng vẫn chưa lập Võ Thừa Tự làm thái tử, chỉ cho Thừa Tự có thể tự do vào cung thỉnh an. Về sau do Vương Khánh Chi vào cung quá nhiều và tỏ ra vô lễ, bà bàn với tướng Lý Hiếu Dật trừng phạt hắn ta. Lý Du Đạo nhân cơ hội đó, cho đánh chết Vương Khánh Chi và khuyên bà giữ lại ngôi kế vị cho họ Lý, vì nếu họ Võ làm Hoàng đế thì 3 vị Hoàng đế nhà Đường sẽ không còn được thờ ở Thái miếu. Võ hoàng bằng lòng, sau đó bà còn hạ lệnh tước quyền tể tướng của Võ Thừa Tự, chỉ trao cho các chức vụ trên danh nghĩa, không nắm thực quyền. Lúc này thế lực của bọn Lai Tuấn Thần ngày càng lớn mạnh, ngoi lên chức Tả Thái trung thừa. Mùa xuân năm Trường Thọ nguyên niên (692), Tuấn Thần tố cáo 3 vị Bình chương sự là Nhậm Tri Giả, Địch Nhân Kiệt và Bùi Hành Bổn cùng bọn đại thần Bùi Tuyên Lễ, Lư Hiến, Ngụy Nguyên Trung, Lý Tự Chân mưu phản. Bảy người này đều bị tống vào ngục. Địch Nhân Kiệt ở trong ngục bí mật viết sớ kêu oan, rồi tìm cơ hội gửi cho con ông ta là Địch Quang Viễn để trình lên trên cho Võ hoàng xem xét. Cuối cùng, 7 vị đại thần thoát chết nhưng bị lưu đày. Về sau các Tể tướng Lý Du Đạo, Chu Kính Tắc, Chu Củ ra sức kiềm chế bọn Tuấn Thần nên thế lực không còn được như trước. Năm Trường Thọ thứ 2 (693), người phụ nữ được Võ Tắc Thiên sủng ái là "Đoàn Nhi" (團兒) oán hận Hoàng tự Võ Đán vì dụ dỗ không thành, thường gièm pha trước mặt Võ hoàng. Sau đó Vi thị vu cáo vợ Hoàng tự là Lưu thị cùng người thiếp của ông, Đậu thị, lập đàn bùa phép mưu hại Võ hoàng, do đó Võ hoàng nhân lúc hai người vào thỉnh an đã bí mật giết chết. Hoàng tự rất lo sợ, mình sẽ bị liên lụy, do đó ông không dám khóc thương cho hai người, sinh hoạt vẫn tiến hành như bình thường. Tuy nhiên sau đó Đoàn Nhi lại tiếp tục tìm cớ hãm hại Hoàng tự, Võ hoàng không còn tin thị nữa, sai giết đi. Cũng trong lúc đó, mẹ của Đậu Đức phi là Bàng thị bị người đến tố cáo, Bàng thị bị khép tội chết, cho giảm một bậc. Có lời đồn các đại thần Bùi Phỉ Cung, Phạm Nhân Tiên bí mật gặp Hoàng tự, Võ hoàng liền cho xử tử cả hai. Lai Tuấn Thần còn tố cáo Hoàng tự mưu phản, Võ hoàng liền tin mà tức giận, sai giam lỏng ông trong phủ, không cho đại thần gặp mặt, đồng thời phế các con ông từ thân vương làm quận vương. Những người bị nghi đồng mưu đều bị Lai Tuấn Thần tra tấn dã man. Bấy giờ có An Kim Tàng tự mổ bụng của mình để giải oan cho Hoàng tự. Bà nghe tin cảm động, cho ngự y tới chữa trị Kim Tàng và xá miễn cho Hoàng tự khỏi phải mang tội nữa. Võ Hiển về kinh. Đối với Võ hoàng, cháu trai Võ Thừa Tự thực sự được tín nhiệm, từ khi Võ hoàng lên ngôi đến khi Thừa Tự chết, các tôn hiệu dành cho bà đều do Thừa Tự đích thân vận động. Cũng những dịp này, Võ hoàng rất cao hứng mà nhiều lần đại xá. Trong sự kiện chọn lựa lập Lý hay lập Võ kế thừa, Võ Thừa Tự cũng nằm trong danh tuyển. Nhưng vì vấn đề của Lý Chiêu Đức và Địch Nhân Kiệt, Võ hoàng do dự và quyết định hủy bỏ tư cách của Võ Thừa Tự, hạn chế đi quyền lực đáng kể của ông ta trong triều. Sau khi loại Võ Thừa Tự, thế lực của Lý Du Đạo trở nên lớn mạnh nên Võ hoàng có phần e ngại, bèn bãi chức ông ta. Mùa thu năm Diên Tải (694), Lai Tuấn Thần từng bị biếm làm Tham quân Đồng Châu, Vương Hoằng Nghĩa bị đày ra Quỳnh Châu rồi bị giết. Nhưng không lâu sau đó, Lai Tuấn Thần và Lý Du Đạo lại được Võ hoàng bổ dụng. Năm Thần Công (697), Tuấn Thần lập mưu tố cáo Du Đạo làm phản, nhân cơ hội đó sẽ tìm cách hãm hại hai hoàng tử (Lý Triết và Lý Đán) cùng Thái Bình Công chúa, thế là công chúa bèn liên kết với người họ Lý và họ Võ, tố cáo ngược lại Tuấn Thần. Cuối cùng, Võ hoàng cho giết cả Lai Tuấn Thần và Lý Du Đạo. Từ đó thế lực của Lai Tuấn Thần từng tác quái nhiều năm trong triều đã bị đánh đổ. Năm Thánh Lịch nguyên niên (698), hai người cháu dòng họ Võ của bà là Võ Thừa Tự và Võ Tam Tư muốn giành ngôi thái tử, kết bè kết cánh chống lại nhau và cùng âm mưu lật đổ Hoàng tự Lý Đán, nên thường lệnh cho người bên cạnh Võ hoàng to nhỏ: ""Từ xưa đến nay, chẳng có quân vương nào lập người khác họ làm trữ tự thừa kế!". Với vấn đề này, Võ hoàng luôn cảm thấy bất an vì không có ý muốn lập ai trong hai người này làm thái tử. Đại thần Địch Nhân Kiệt dâng sớ nói rằng Cao Tông lúc chết đem hai con phó thác cho bà, nay dù Võ hoàng lên ngôi nếu như muốn đem thiên hạ giao cho người cùng họ là trái ý trời, mà không có tiền lệ gì mà cô nhường ngôi cho cháu. Nếu lập con thì sau này bà còn được vào Thái miếu, nếu lập cháu thì về sau không biết địa vị của bà sẽ ở đâu. Võ hoàng bèn nghe theo. Sau đó Nhân Kiệt lại khuyên bà triệu Lư Lăng vương là Lý Triết về kinh, được Vương Phương Khánh, Vương Cập Thiện và U Châu tướng Tôn Vạn Vinh khuyến khích, Võ hoàng cuối cùng xiêu lòng. Tháng 4 (ÂL) năm ấy, Võ hoàng ra lệnh rằng Lư Lăng vương Lý Triết trong người có bệnh, đặc cách cho về kinh, lại cho phép vợ con đi theo. Tháng 9 (ÂL) cùng năm, Hoàng tự Võ Đán dâng sớ xin nhường ngôi kế vị cho Lư Lăng vương, bà bằng lòng, giáng Hoàng tự Võ Đán làm Tương vương và chính thức lập Lư Lăng vương Triết làm hoàng thái tử, đổi tên là "Hiển"" như cũ, nhưng phải đổi sang họ Võ. Điều này khiến Võ Thừa Tự uất ức thống hận và qua đời không lâu sau đó. Sau khi Võ Hiển được làm thái tử, Võ hoàng do sợ rằng sau khi mình qua đời thì hai nhà Lý, Võ sẽ không dung nhau, nên hạ lệnh bắt Võ Hiển, Võ Đán, Thái Bình Công chúa và phò mã Võ Du Kỵ phải thề độc rằng không làm hại họ Võ. Lúc này, Võ hoàng dần dần sa vào hưởng lạc. Từ sau khi Tiết Hoài Nghĩa thất sủng, Thái Bình Công chúa còn tiến cử Trương Xương Tông có tài thổi sáo, rất đẹp trai lại có tài trong phòng the khiến Võ hoàng rất vui. Xương Tông lại tiến cử anh mình là Trương Dịch Chi vào hầu hạ. Hai anh em nhanh chóng được Võ hoàng sủng ái, ban cho chức tước, mẹ ruột được phong tặng làm thái phu nhân, điều này khiến các quan viên có thế lực luôn muốn dò ý Võ hoàng là Võ Thừa Tự, Võ Tam Tư và Tông Sở Khách luôn nịnh nọt hai anh em họ Trương, còn thường xuyên làm khách trong nhà, không tiếc liêm sỉ gọi Dịch Chi là "Ngũ lang" (五郎) và Xương Tông là "Lục lang" (六郎). Không những thế, họ Trương còn liều lĩnh cặp ngay với một nha đầu thân cận của Võ hoàng. Vào một ngày bị Võ hoàng bắt gặp, bà đã rút gươm và chém sượt qua đầu. Tuy nhiên sau đó chuyện này đã được giải quyết êm vì Thái Bình Công chúa có ý kiến rằng: ""Không nên làm to chuyện, làm trò cười cho thiên hạ". Lúc này bà tuổi cao, anh em họ Trương dần tìm cách can dự vào triều chính, khiến các con của Võ Hiển là Thiệu vương Lý Trọng Nhuận, Vĩnh Thái Công chúa Lý Tiên Huệ, Phò mã Võ Diên Cơ (con trai Võ Thừa Tự) đều rất bất bình. Anh em họ Trương nhân đó gièm pha, Võ hoàng phái người ban chết. Quyền hành ngày một hưng thịnh khiến cả Tương vương và Thái Bình Công chúa dâng tấu xin ban cho hai anh em tước vương, hòng dò ý tứ của Võ hoàng, nhưng chung quy Võ hoàng vẫn tỉnh táo về vấn đề này, chỉ ban cho Xương Tông tước "Nghiệp Quốc công" (鄴國公). Năm Trường An thứ 3 (703), anh em họ Trương oán giận tể tướng Ngụy Nguyên Trung vì Nguyên Trung không coi trọng bọn Trương Xương Nghi và Trương Xương Kỳ, anh em họ của Dịch Chi. Hai người này cũng lo sợ sau khi bà chết đi thì Nguyên Trung sẽ tìm cách hại mình, nên đã cáo buộc Nguyên Trung cùng Cao Tiển, thân cận của Thái Bình Công chúa, ngày đêm mong cho bà chóng chết. Anh em họ Trương còn thuyết phục Trương Thuyết ra làm chứng, nhưng Trương Thuyết nói hết âm mưu của hai tên đó trước mặt Võ hoàng. Nhưng rốt cục, Võ hoàng vì mải mê nam sủng nên vẫn lưu đày Ngụy Nguyên Trung, Cao Tiển và Trương Thuyết. Mùa thu năm thứ 4 (704), nhiều quan lại lên tiếng cáo buộc Trương Dịch Chi, Trương Xương Tông và anh em họ là Đồng Hưu, Xương Kỳ nhận hối lộ; Võ hoàng bèn giáng chức Đồng Hưu và Xương Kì nhưng lại giật dây cho Tể tướng Dương Tái Tư không được động tới hai nam sủng của mình, nên anh em họ Trương được vô sự. Thoái vị và qua đời. Chính biến Thần Long. Năm Trường An thứ 4 (704), tháng 12 (ÂL), Võ hoàng lâm bệnh ở Trường Sinh viện (長生院). Các đại thần đều không được gặp mặt, chỉ có anh em họ Trương được vào hầu mà thôi. Nhiều đại thần e ngại bọn họ Trương sẽ tìm cách chiếm ngôi, nên lũ lượt dâng sớ tố cáo chúng về tội phản quốc. Sau khi bệnh tình của bà có thuyên giảm, Tể tướng Thôi Huyền Vĩ đề nghị chỉ nên cho Thái tử Võ Hiển và Tương vương Võ Đán được vào hầu mà thôi, nhưng bà không theo. Về sau còn có Hoàn Ngạn Phạm và Tống Cảnh dâng sớ cáo buộc, bà cho Tống Cảnh điều tra việc đó, nhưng không được bao lâu lại hạ lệnh xá miễn cho bọn họ Trương. Sang mùa xuân năm sau (705), cải niên hiệu là Thần Long (神龍). Sau khi cải nguyên không lâu, Võ hoàng lại lâm bệnh, thường xuyên ở Nghênh Tiên cung (迎仙宮) và không hỏi đến chính sự. Anh em Dịch Chi và Xương Tông tiếp tục trông giữ mọi việc, lúc này cả hai lần lượt được ghi đảm nhiệm Lân đài giám (麟台監) cùng Xuân Quan Thị lang (春官侍郎). Các đại thần là Phụng Các Thị lang Trương Giản Chi, Loan Đài Thị lang Thôi Huyền Vĩ, Trung Đài Hữu thừa Kính Huy, Tư Hình Thiếu khanh Hoàn Ngạn Phạm, Tương vương phủ Tư mã Viên Thứ Kỷ và Tả Tán kỵ Thị lang Lý Trạm muốn diệt trừ hai tên gian thần này, khôi phục lại nhà Đường. Trương Giản Chi hỏi Hữu Vũ Lâm Đại tướng quân Lý Đa Tộ (thủ lĩnh bộ lạc Phất Niết Mạt Hạt đang làm tướng cho nhà Chu) rằng: "Ai đã cho ngài vinh quang và vinh dự này, thưa tướng quân?" Lý Đa Tộ đã khóc và trả lời rằng: "Là Đại hoàng đế (tức là Đường Cao Tông, phu quân của Võ Tắc Thiên)." Trương Giản Chi sau đó nói tiếp: "Bây giờ, các con trai của Đại hoàng đế đang bị hai tên lưu manh (tức là Trương Dịch Chi và Trương Xương Tông) gây nguy hiểm, và tướng quân không muốn báo đáp lại Đại hoàng đế hay sao?" Lý Đa Tộ đáp: "Miễn là có lợi cho quốc gia (tức là nhà Đường), ta sẽ làm theo chỉ đạo của ngài, thưa tể tướng. Ta không dám coi thường sự an toàn của bản thân và gia đình." Sau đó Lý Đa Tộ tham gia vào âm mưu chính biến của Trương Giản Chi. Sau đó bọn họ thuyết phục Võ Hiển cho phép bọn họ làm binh biến. Đấy gọi là Thần Long cách mệnh (神龍革命) hay Chính biến Thần Long. Để dễ bề hành động, Trương Giản Chi tiến Hoàn Ngạn Phạm và Kính Huy đều là Tả Hữu Tướng quân của Vũ Lâm vệ, nắm lấy binh quyền. Dịch Chi sinh nghi, để cho đồng đảng là Võ Du Nghi làm Hữu Vũ Lâm Đại tướng quân. Việc vẫn không dừng lại, Giản Chi và Kính Huy bèn đến Đông Cung, nơi Thái tử Võ Hiển cư trú để bàn định kế sách, đều thông qua. Ngày Quý Mão, tức ngày 22 tháng 1 (nhằm ngày 20 tháng 2 dương lịch), Trương Giản Chi, Hoàng Ngạn Phạm cùng Tả Uy vệ Tướng quân Tiết Tư Hành, cùng tất cả quan lại ủng hộ (hơn 10 người) dẫn hơn 500 quân Thiết kỵ tiến vào Huyền Vũ môn, sai Lý Đa Tộ và Phò mã Đô úy Vương Đồng Hiệu đến Đông cung để nghênh đón Hoàng thái tử Võ Hiển vào cung. Thái tử nghi ngờ, cứ do dự mãi, bọn họ nói: "Thần phụng mệnh tiên đế phò tá điện hạ, không may sự bị phế, chúng thần đều đau buồn, ròng rã 23 năm trời! Nay thời cơ đến, Bắc môn, Nam nha, tất đều đồng tâm hiệp lực, khôi phục cơ đồ xã tắc họ Lý. Mong điện hạ tạm di giá Huyền Vũ môn, đừng làm chúng thần thất vọng!" Thế rồi Võ Hiển lên ngựa đến Huyền Vũ môn, trảm quan gác cổng để vào cung. Trong khi ấy, bọn người Trương Giản Chi tiến vào trong cung, giết chết anh em Trương Dịch Chi và Trương Xương Tông rồi kéo nhau vào Trường Sinh điện, nơi ở của Võ hoàng. Khi bên ngoài ồn ào, Võ hoàng thất kinh, hỏi rằng: "Bọn loạn giả là ai?!" Trương Giản Chi nói: "Trương Dịch Chi, Trương Xương Tông mưu phản, chúng thần phụng mệnh Thái tử mà giết chết. Sự việc nguy cấp, nên làm có chút hồ đồ. Xưng binh cung cấm, tội đương vạn tử!". Võ hoàng thấy Võ Hiển thì biết rõ cơ sự, bảo: "Tiểu tử đã giết được rồi, mau về Đông cung đi". Hoàn Ngạn Phạm không đồng ý, tiến lên nói rằng: "Thái tử an đắc canh quy! Cố nhớ Thiên hoàng năm xưa để cho con trai ký thác bệ hạ. Nay ngài đã lớn tuổi mà vẫn mãi ở Đông cung, trong khi thiên hạ nhân tâm đều thương nhớ họ Lý. Chúng quần thần không quên ân đức của Thái Tông và Thiên hoàng, nên cố trừ đi bọn loạn thần. Nay xin bệ hạ truyền ngôi cho Thái tử, ấy là thuận theo ước vọng của thiên hạ!". Võ hoàng trầm ngâm hồi lâu, nhìn thấy Lý Trạm, vốn là con trai Lý Nghĩa Phủ, bà bèn nói: "Ngươi cũng tham gia chuyện này, giết đi Dịch Chi tướng quân của ta?! Ta đối với cha con ngươi không bạc, hà cớ lại phản ta?!" Lý Trạm sợ hãi không dám đáp, bà bèn nói với Trương Giản Chi: Trương Giản Chi xúc động nói: "Thần làm thế là để bảo vệ đại ân đại đức của bệ hạ". Sau đó, trảm hết tất cả những thân thuộc họ Trương. Tôn xưng Tắc Thiên Hoàng đế. Ngày hôm sau, Giáp Thìn (ÂL), Võ hoàng mệnh Thái tử giám quốc, đại xá thiên hạ. Tất cả các đại thần đều trọng thưởng, trong đó có năm người đi đầu: Trương Giản Chi, Thôi Huyền Vĩ, Kính Huy, Hoàn Ngạn Phạm và Viên Thứ Kỷ đều phong làm quận công, Lý Đa Tộ thụ phong "Liêu Dương Quận vương" (遼陽郡王), Vương Đồng Hiểu thụ phong "Lang Tà Quận công" (琅邪郡公), Lý Trạm thụ phong "Triệu Quốc công" (趙國公), còn các quan viên khác đều được thưởng theo thứ bậc. Sang ngày Ất Tị (ÂL), Võ hoàng chính thức thiện nhượng, thế là Thái tử Võ Hiển lên ngôi lần thứ hai, tức Đường Trung Tông, đổi quốc tính từ họ Võ lại thành họ Lý như cũ. Ngày 4 tháng 2 (tức ngày 3 tháng 3 dương lịch), quốc hiệu "Đường"" chính thức được khôi phục, nhà Võ Chu chấm dứt. Tổng cộng Võ hoàng ở ngôi 15 năm. Ngày Đinh Mùi (ÂL) tháng 1 năm ấy, sau khi Trung Tông lên ngôi, Võ hoàng được mời dời qua Thượng Dương cung (上陽宮). Sang hôm sau, Trung Tông dẫn đầu bá quan đến Thượng Dương cung để dâng tôn hiệu, là Tắc Thiên Đại Thánh Hoàng đế (則天大聖皇帝). Theo như vậy mà nói, dẫu không được đề cập, nhưng Võ hoàng đã vẫn giữ vị trí hoàng đế sau khi thiện nhượng, hẳn được xem là thái thượng hoàng nữ giới duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Tháng 2 (ÂL), Trung Tông dẫn trăm quan đến Thượng Dương cung vấn an Võ hoàng, từ đó cứ 10 ngày thì Trung Tông sẽ dẫn quan viên đến vấn an, lấy đó làm lệ thường. Ngày 26 tháng 11 (tức ngày 16 tháng 12 dương lịch) cùng năm, Võ hoàng triệu chế lệnh về chuyện xưng hô ra sao, lệnh bỏ đi đế hiệu, phục lại hai họ Vương, họ Tiêu của Vương Hoàng hậu cùng Tiêu Thục phi, nhân đó cũng cho con cháu của Chử Toại Lương và Hàn Viện về kinh sư phục mệnh. Cũng trong ngày, bà băng hà tại Tiên Cư điện (仙居殿) trong Thượng Dương cung. Theo Cựu Đường thư, Võ hoàng hưởng thọ 83 tuổi, trong khi Tân Đường thư ghi là 81 tuổi, mà Tư trị thông giám ghi nhận bà thọ 82 tuổi. Do Võ hoàng trước khi qua đời đã tự lệnh bỏ đi đế hiệu, vì vậy thụy hiệu của bà là thụy hiệu của một vị hoàng hậu, tức là Tắc Thiên Đại Thánh Hoàng hậu (則天大聖皇后). Qua các đời sau, vì nhiều lý do mà thụy hiệu của bà có sự thay đổi, cuối cùng thụy hiệu đầy đủ của bà là Tắc Thiên Thuận Thánh Hoàng hậu (則天順聖皇后). Sang tháng 5 (ÂL) năm sau (706), chính thức làm lễ hợp táng với Đường Cao Tông ở Càn lăng. Trước đó, Võ hoàng cảm thấy mình sắp không qua khỏi, bèn bàn chuyện hợp táng cùng Cao Tông ở Càn lăng, quan Chấp sự trung Nghiêm Thiện Tư (嚴善思) dâng sớ can gián, đại ý nói rằng: ""Huyền môn của Càn lăng lấy đá làm cửa, nay mở ra, tức phải tu sửa làm lại hết thảy, quá lại sức dân. Huống hồ hợp táng không phải phép cổ, triều Hán thiết các lăng, hoàng hậu đa phần đều không hợp lăng cùng hoàng đế, từ Ngụy-Tấn trở đi mới có phép này. Kính nghĩ nên chọn đất bên cạnh Càn lăng, sửa đổi để làm lăng cho đức bà vậy!". Nhưng ý kiến này của Nghiêm Thiện Tư cuối cùng vẫn không được nghe theo, Võ hoàng kiêng quyết hợp táng cùng Cao Tông trong Càn lăng. Vì sự biến động của thụy hiệu, bài vị của bà lúc phối thờ trong miếu của Cao Tông thường không hợp quy cách, đến đời Đường Huyền Tông thì quan Thái thường tự kiến nghị: "Tắc Thiên Hoàng hậu phối thờ trong miếu Cao Tông, trên bài vị ghi là 'Thiên hậu Thánh đế', không hợp lẽ, nên sửa lại là 'Tắc Thiên Hoàng hậu Võ thị' cho theo khuôn phép", Huyền Tông bèn y theo sửa bài vị cho bà nội mình. Có thể thấy vào lúc cuối đời, Võ hoàng mới có được tôn xưng "Tắc Thiên"". Người đời sau hay sử dụng 2 chữ này ghép với họ Võ của bà thành tên gọi Võ Tắc Thiên (武則天). Theo di nguyện trước lúc băng hà, di hài của bà được hợp táng vào Càn lăng cùng với Đường Cao Tông. Bia mộ của bà là một tấm bia để trống hoàn toàn, được gọi là "Vô tự bia" (無字碑). Càn lăng của nhà Đường đã ít nhất 17 lần bị âm mưu đục phá, trong đó có 3 lần nghiêm trọng nhất. Lần đầu trong loạn Hoàng Sào, có tới 40 vạn binh sĩ đào bới tây đồi Lương Sơn, vạt hẳn một nửa quả đồi. Lần thứ 2 do Ôn Thao, tiết độ sứ tại Diệu Châu thời Ngũ Đại Thập Quốc, kẻ trước đó đã đào trộm 17 ngôi hoàng lăng nhà Đường. Lần thứ 3 do quân Quốc Dân đảng của Tôn Liên Trọng thời Trung Hoa Dân Quốc, đã dùng cả thuốc nổ để phá. Nhưng cả ba lần đều không thành, và Càn lăng vẫn nguyên vẹn cho tới ngày nay, trở thành di tích khảo cổ và tham quan quý báu. Về điểm này, Võ Tắc Thiên và chồng đã may mắn hơn những vị hoàng đế nổi tiếng khác, khi mà Mậu lăng của Hán Vũ đế, Chiêu lăng của Đường Thái Tô Đầu tháng 5 năm 2008, khi các nhà khảo cổ Trung Quốc khai quật lăng mộ Võ Tắc Thiên tại Huyện Càn cách 80 km về phía Tây Bắc thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, họ đã tìm được hơn 500 tấn văn vật trong mộ. Việc tìm ra mộ phần và các cổ vật trong mộ Võ Tắc Thiên đã giúp các nhà sử học xác định được nhiều thông tin xung quanh thân thế, sự nghiệp của vị nữ hoàng này. Các nhà khảo cổ phát hiện thấy Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên cùng hợp táng ở tầng ngầm sâu cuối cùng của lăng mộ. Khu lăng tẩm này có ba cửa Đông, Bắc, Tây. Ba cửa này có kết cấu giống nhau, đều có các đài tế lễ trước cửa cung điện, có hành lang đặt vũ khí gươm giáo và cửa cung điện. Tại cửa phía Bắc, các nhà khảo cổ phát hiện thấy rất nhiều ngựa đá, hổ đá, tảng đá trạm trổ điêu khắc, trong đó hổ đá đặc trưng của đời Đường vẫn còn nguyên vẹn. Khu lăng tẩm có quy mô rất lớn với những bức tường bao quanh được xây theo hình vuông rất vững chắc, mỗi cạnh có chiều dài tới 380 mét vuông. Viện trưởng danh dự Viện nghiên cứu khảo cổ tỉnh Thiểm Tây, Thạch Hưng Bang, đã cho biết, qua những văn vật khai quật được trong mộ cho thấy, thời kỳ Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên trị vì là thời kỳ hưng thịnh nhất của triều đại nhà Đường. Khi Đường Cao Tông chết, giá trị của vật tùy táng quý báu chôn theo vua chiếm tới 1/3 quốc khố. Hơn 20 năm sau, khi Võ Tắc Thiên qua đời, triều đình cũng chôn theo số báu vật trị giá tới 1/3 quốc khố trong mộ bà. Các vụ hành quyết tập thể, xử tử hay lưu đày là quy tắc của Võ Tắc Thiên để loại bỏ đối thủ, kể cả là người thân và những triều thần từng ủng hộ bà. Theo cuốn “Võ Tắc Thiên chính truyện” của học giả Lâm Ngữ Đường, ông kiệt kê rằng: cả đời Võ Tắc Thiên đã mưu sát hoặc ra lệnh giết 93 người (không kể những người thân của họ phải chết theo), trong số đó có 23 người là người thân của bà, 34 người là tôn thất nhà Đường, 36 sáu người là triều thần. Trong số này có bao nhiêu người chết đích đáng, có bao nhiêu bị oan, có bao nhiêu người bị Võ Tắc Thiên cố ý hãm hại, khó có thể xác định được. Sau khi Võ Tắc Thiên qua đời, các sử gia thời Thịnh Đường, Trung Đường và Vãn Đường đều không chỉ trích nặng nề những việc làm của Võ Tắc Thiên, bởi vì những vị Hoàng đế nhà Đường sau này đều là con cháu trực hệ của bà. Chỉ khi đến thời nhà Tống, quan điểm Nho giáo dưới học thuyết Chu Hi lấy Tuân Tử làm nền tảng, mà Tuân Tử lại xếp "Nữ chủ chuyên chính" làm 1 trong 3 lý do khiến một quốc gia suy vong, nên các sử gia thời kỳ này về sau mới bắt đầu có những lời chỉ trích Võ Tắc Thiên. Tư tưởng Nho giáo chính thống trong xã hội phong kiến Trung Quốc không bao giờ chấp nhận để một người phụ nữ "Vượt quá giới hạn" mà bước lên đỉnh cao quyền lực. Sau thời Đường, cứ khi nói đến việc ngoại thích, hậu cung làm loạn triều chính, gây họa cho xã tắc thì người ta đều lấy Võ Tắc Thiên làm ví dụ điển hình. Có thể nói Võ Tắc Thiên là hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử. Những vị Nữ chủ nổi tiếng từ cổ chí kim ở Trung Hoa, có thể kể đến Tuyên Thái hậu nhà Tần, Phùng Thái hậu Bắc Ngụy, Tiêu Xước triều Liêu, và kể cả Từ Hi Thái hậu nhà Thanh tuy đều có thực quyền cai trị, song đều phải có danh nghĩa của một Hoàng đế đại diện (thường là con trai/cháu trai của họ) mà không một ai dám làm việc công khai xưng làm Hoàng đế như bà. Người có thể so sánh gần nhất với Võ Tắc Thiên, ấy chính là Lã hậu nhà Hán, vì tuy bà phải nắm quyền dưới danh nghĩa Lưu Cung và Lưu Hồng, song bà đã thực sự nắm trọn quyền hành triệt để, và cũng chỉ có Lã hậu có thời kỳ trị vì được biên thành "Kỷ" như Võ Tắc Thiên mà thôi. Võ Tắc Thiên còn được cho là đã sử dụng tuyên truyền tôn giáo để đảm bảo vị trí hoàng đế của mình. Vốn tôn sùng Phật giáo, bà đã ra lệnh đục các tượng Phật tại khu vực hang đá Long Môn. Tại đây pho tượng chính giữa lớn nhất là tượng Phật Đại Nhật (Tỳ lô giá na - Vairocana) được điêu khắc theo khuôn mặt của bà. Trước khi Võ Tắc Thiên chính thức xưng Đế, có cuộc nổi dậy của Từ Kính Nghiệp, sự oán hận dành cho bà được bộc lộ công khai rất hiếm hoi. Một thiên hịch văn do văn sĩ đương thời là Lạc Tân Vương (駱賓王) khi tham gia cuộc khởi nghĩa đã viết ra để kể tội ác của bà. Câu hịch này được tìm thấy trong "Cổ văn quan chỉ" (古文观止), quyển thứ 7, nội dung như sau: Nhưng thái độ của Võ Tắc Thiên khi đọc bài hịch văn trên khá kỳ lạ. Võ Tắc Thiên hịch lên đọc, rồi nói với cận thần: "Ai là người viết bài hịch này?". Có người đáp: ""Kẻ đó là Lạc Tân Vương". Võ hậu lại hỏi: "Người này trước kia đã từng làm chức ngự sử, nhưng sau lại phải biếm". Lại nhìn các đại thần hồi lâu, rồi phán: "Người có tài văn chương thế này, mà để họa phải lưu lạc không được dùng, đó là lỗi của tể tướng trước kia vậy". Mặc dù chỉ tồn tại một thời gian ngắn, theo một số nhà sử học, nhà Võ Chu đã có được một hệ thống bình đẳng giới tốt hơn so với nhà Đường giai đoạn tiếp sau nó. Nhiều người đời sau xem Võ Tắc Thiên là điển hình của sự độc ác, khi mà vì quyền lực, bà sẵn sàng hạ thủ người thân, thậm chí bà sát hại ngay cả con ruột của mình (một số người cháu nội ruột, cháu họ cũng bị bà ra lệnh sát hại). Nhìn vào các sự kiện trong cuộc đời bà theo ám chỉ trong văn chương có thể mang lại nhiều ý nghĩa: "Một phụ nữ đã vượt qua những giới hạn của mình một cách không thích hợp, thái độ đạo đức giả khi thuyết giáo về lòng trắc ẩn, trong khi cùng lúc ấy lại tiến hành mô hình tham nhũng và hành xử một cách xấu xa, tàn nhẫn ngay cả với người thân và cai trị bằng cách điều khiển từ phía sau hậu trường"". Tuy nhiên, trong triều cũng có nhiều người ủng hộ bà, vì phục bà là người quyết đoán, có tài trị nước. Trong số đó có cả những đại thần hiền năng, được trọng vọng như Lâu Sử Đức, Địch Nhân Kiệt, Tống Cảnh; và bà biết tin dùng những người đó, nên việc chính không rối loạn, dân chúng vẫn yên ổn làm ăn, coi những vụ lộn xộn ở triều chỉ là việc riêng của họ Lý. Khi đọc bài Hịch dẹp Võ Chiếu, trong đó Lạc Tân Vương mạt sát bà thậm tệ, bà đã không giận, còn khen Lạc là có tài và trách viên Tể tướng đã không biết thu phục. Bà cũng là người tạo ra nền móng cho nền thịnh trị Khai Nguyên, do nhiều đại thần tài năng thời Huyền Tông là những người được bà được trọng vọng. Sử gia Tư Mã Quang đánh giá về bà trong Tư trị thông giám: Học giả người Tây là Denis C. Twitchett, tên chữ Hán "Thôi Thụy Đức" (崔瑞德), đã bình luận về bà: Tôn hiệu và thụy hiệu. Võ Tắc Thiên rất thích các tôn hiệu mỹ miều, do đó đã nhiều lần thay đổi, thêm bớt chữ vào tôn hiệu, bao gồm: Các thụy hiệu của đời sau tôn phong: Như vậy, Võ Tắc Thiên đã ra lệnh giết hại 2 người con ruột và 2 người cháu nội ruột của chính mình, chưa kể 2 người con ruột chết không rõ nguyên nhân, dư luận đồn rằng cũng do bà giết hại. Theo cuốn “Võ Tắc Thiên chính truyện” của Lâm Ngữ Đường, ông kiệt kê rằng cả đời Võ Tắc Thiên đã mưu sát hoặc ra lệnh giết hại 23 người là người thân, họ hàng của bà. Hình phạt Cốt túy. Từ khi trở lại hậu cung, Võ hậu cùng Vương hậu và Tiêu phi thường xảy ra tranh chấp dữ dội. Khi lên được ngôi hoàng hậu rồi, Võ hậu trả thù Vương hậu và Tiêu phi bằng cách sai chặt hết chân tay họ rồi bỏ vào chum rượu ngâm để họ không chết ngay. Từ khi bị phế, Tiêu thị và Vương thị bị giam ở biệt viện, Đường Cao Tông chưa dứt hẳn tình mà nhiều lần đến thăm. Một ngày ông đến và hô lên: ""Hoàng hậu và Thục phi ở đâu rồi, hai người có khỏe không?!". Thế là Vương thị cùng Tiêu thị nhân đó khóc lóc xin Cao Tông thương tình, cúi nói: "Bọn tôi bị tội giáng làm tỳ, sao có thể khỏe, nào dám nhận tôn xưng 'Hoàng hậu' của đức ngài?!". Sau đó Vương thị khóc nói: "Đức ngài nhớ thương tình cũ, chúng tôi như cải tử hoàn sinh, xin ban nơi này là 'Hồi Tâm viện' để an ủi ngày sau"", do mềm lòng nên Cao Tông cũng đáp ứng, dự định sẽ tha cho họ ra. Võ hậu nghe tin thì rất tức giận, sai người đem cả hai ra đánh mấy trăm trượng, lại cho chặt hết tay chân hai người đem đi ngâm giấm, gọi là "Cốt túy" (骨醉). Trước khi chết, Vương hậu khấn: ""Đức vua muôn tuổi! Chiêu nghi nhận ân thánh hậu hĩnh, ta tất không thể sống!", còn Tiêu phi trực tiếp rủa xả: "A Võ, mày yêu hoạt gian trá! Tao ước sẽ chuyển sinh thành mèo, còn mày là chuột, để cắn đứt cổ họng mày cho hả dạ!"". Sau đó Võ hậu cho đổi họ của Vương thị làm ""Mãng" (蟒), còn Tiêu thị thành "Kiêu"" (梟). Tương truyền lời nguyền của Tiêu phi rất ám ảnh bà, từ khi nghe thấy lời rủa ấy thì Võ hậu không cho nuôi mèo trong cung, đồng thời cũng dần chuyển về kinh đô phụ của nhà Đường khi ấy là Lạc Dương do ám ảnh về cái chết của hai người này. Sách Tân Đường thư cùng Tư trị thông giám đều ghi lại Võ hậu thường trông thấy hình ảnh hai người Vương thị và Tiêu thị mặc áo trắng xõa tóc, khóc ra máu oán than, do đó Võ hậu từng chuyển đến Bồng Lai cung (蓬萊宮). Nhưng không lâu sau lại trông thấy, bèn chuyển luôn ở Lạc Dương mà không về Trường An. Thượng uyển giục hoa. Theo sách Đường thi kỷ sự (唐诗纪事), vào năm Thiên Thụ thứ 2 (691), Võ Tắc Thiên vào một ngày cuối đông ra vườn ngự uyển thấy cỏ cây xác xơ trơ trọi, liễu đào ủ rũ điêu tàn, liền truyền lệnh bằng bài tứ tuyệt khắc ngay cửa vườn: Sau khi viết xong, Võ hậu sai sứ giả đi trước Thượng uyển tuyên chiếu, lấy báo cho Hoa thần. Chỉ trong một đêm bừng nở khắp vườn, mùi thơm sực nức nhân gian, sang ngày "Lạp bát tiết" (腊八节) đã nở đầy thượng uyển. Võ Tắc Thiên lấy làm tự mãn cho rằng mình quyền uy tột đỉnh, sai khiến được cả tạo hóa. Câu chuyện này về sau được ghi lại trong tác phẩm gian dân tên Khổng Hạc giám bí ký (控鹤监秘记), đem liên họa sự tích hoa mẫu đơn liên đới với truyền thuyết này. Đó là một ngày đông, Võ Tắc Thiên hứng làm bài thơ trên, cũng cho truyền Sứ giả đem tuyên cáo Hoa thần, cả Thượng uyển đều nở rộ và Võ Tắc Thiên hãnh diện đưa quần thần tham quan. Bỗng dưng Võ Tắc Thiên nhìn một cây mẫu đơn cứng đầu cứng cổ bất tuân thượng mệnh, thân cây khẳng khiu cứng cỏi, không hoa không lá. Máu giận sôi lên, Võ Tắc Thiên ra lệnh đày loài mẫu đơn ngoan cố xuống tận Lạc Dương. Lạ kỳ thay, vừa xuống phía Nam, mẫu đơn đâm chồi nảy lộc, bung mình thành những cánh hoa đỏ thắm. Võ Tắc Thiện càng giận, cho người đốt chết cây hoa này. Mẫu đơn tuy bị đốt trọi, nhưng đến năm thứ hai, mẫu đơn ngược lại nở càng tăng lên. Đấy là sự tích Võ Tắc Thiên nộ biếm Mẫu đơn (武则天怒贬牡丹), và loài hoa mẫu đơn Lạc Dương từ đó trở thành biểu tượng cương liệt. Đấy là sự tích giải thích vì sao từ đó vùng Giang Bắc vắng hẳn loài hoa vương giả, biểu trưng cho quốc sắc thiên hương thường được ví với những trang tuyệt sắc giai nhân. Giai thoại này còn được hiểu một cách khác là Võ Tắc Thiên luôn ghen ghét với những giai nhân tuyệt sắc khác, thường kiếm cớ giết hại hoặc hủy hoại nhan sắc của họ để bảo vệ vị trí của mình trong lòng quân vương. Câu chuyện đày hoa mẫu đơn này cũng thường được liên tưởng đến mỗi khi nhắc lại câu chuyện Võ hậu trả thù tình địch và đóng dấu lên trán Thượng Quan Uyển Nhi. Vết sẹo của Thượng Quan Uyển Nhi. Chiêu dung Thượng Quan Uyển Nhi là cháu của Thượng Quan Nghi, bởi vì thông tuệ nên được Võ Tắc Thiên dùng làm nữ quan lo tất cả các việc văn thư trong hoàng cung và ngoài triều đình. Về sau Uyển Nhi phạm tội với Võ hậu, bị chịu phạt thích sẹo lên trán. Về sau Uyển Nhi phải lấy hoa mai đỏ che đi, cũng có cách nói nguyên bản Võ hậu khắc lên trán là hình hoa mai, dù thế nào thì việc này cũng khiến Uyển Nhi trông xinh đẹp hơn, thế là từ đó lan truyền ra thành một lối trang điểm. Các tiểu thư, mệnh phụ đều bắt chước vẽ chấm đỏ hoặc hình hoa mai vào giữa trán, trở thành một kiểu trang điểm rất được ưa chuộng dưới triều nhà Đường. Đời sau gọi cách trang điểm này là Hồng mai trang (红梅妆) hay Hoa điền trang (花鈿妝). Nguyên nhân Uyển Nhi bị Võ hậu phạt có nhiều cách nói, phiên bản phổ biến nhất là Thượng Quan Uyển Nhi có tư thông với nam sủng rất có thế lực của Võ hậu là Trương Xương Tông, tuy nhiên việc này không được chính sử ghi lại mà chỉ là tình tiết xuất phát từ tiểu thuyết Khổng Hạc giám bí ký. Một thuyết khác là Uyển Nhi được Võ hậu giao nhiệm vụ ghi chép lời đáp mỗi khi bà cùng quan tể tướng trao đổi, nhưng một hôm Uyển Nhi trộm nhìn tể tướng (không rõ tên), Võ hậu phát hiện và tức giận, cho là thất trách, bèn dùng đao thích lên trán không cho rút xuống, Uyển Nhi phải dâng thơ xin rút đao nhưng trán đã sớm có sẹo. Về sau Uyển Nhi phải lấy hoa để trám vào chỗ ấy. Sự thật trong những câu chuyện này đến đâu hậu thế khó lòng định đoán nhưng đã phần nào làm chứng minh cho những ghi chép từ xưa về một Võ Tắc Thiên có tính cách mạnh mẽ đến khắc nghiệt, chuyên quyền độc đoán, đầy mưu mô thâm độc và nhất là luôn lạnh lùng, tàn nhẫn mỗi khi ra tay thanh toán địch thủ. Nuôi dưỡng nam sủng. Có nhiều câu chuyện về sự dâm loạn của Võ Tắc Thiên, một phần do đời sau thêu dệt, một phần là sự thật. Bấy giờ, Võ hậu được con gái nuôi là Thiên Kim Công chúa tiến cử một kẻ lực lưỡng là Phùng Tiểu Bảo, giả bắt hắn tu làm sư để thường xuyên gọi vào cung thông dâm, đổi gọi là Tiết Hoài Nghĩa. Võ hậu khi ấy vô cùng sủng ái và dần được ban nhiều chức vụ quan trọng, Tiết Hoài Nghĩa cũng chính là người khởi công dựng Minh đường, tạo tác tượng Phật Di Lặc khổng lồ và một ngôi chùa rất vĩ đại được gọi là Thiên đường để vui lòng Võ hậu. Tuy nhiên sau đó Võ hậu lạnh nhạt với Hoài Nghĩa vì có quan ngự y trong Ngự y viện là Thẩm Nam Cầu (沈南璆) được Võ hậu để mắt, sự sủng ái của Nam Cầu khiến Hoài Nghĩa tức giận nổi lửa đốt cháy toàn bộ tượng, Minh đường lẫn Thiên đường. Cảm thấy Hoài Nghĩa có hành vi ngông cuồng không thích hợp, Thái Bình Công chúa chủ trương đem Hoài Nghĩ giết chết. Sau đó không lâu Nam Cầu cũng không còn, Thái Bình Công chúa liền tiến cử Trương Xương Tông có tài thổi sáo, rất đẹp trai lại có tài trong phòng the khiến Võ hậu rất vui. Được nữ hoàng đế sủng ái, Trương Xương Tông lại tiến cử anh mình là Trương Dịch Chi vào hầu hạ, cả hai anh em vì thỏa mãn được Võ hậu nên được phong chức tước và bổng lộc cực hậu hĩnh, anh em họ Trương do đó cũng từng bước tác động đến chính trị và có sự ảnh hưởng lớn trong thời kì cuối mà Võ hậu cầm quyền. Các quan thấy Võ hậu đa dâm lụy tình cũng tiến cử con em, thậm chí chính mình vào để hầu Võ hậu hòng kiếm lợi lộc. Vào năm Thánh Lịch nguyên niên (698), Võ hậu bèn lập ra Khổng Hạc phủ (控鶴府) với danh nghĩa là nuôi chim hạc, nhưng thực chất lại là nơi tập hợp các thanh niên tuấn tú nhằm thỏa mãn mình. Trong Khổng Hạc phủ đặt ra chức "Giám" (監), chức "Thừa" (丞) cùng "Chủ bộ" (主簿) theo cơ chế phù hợp của triều đình, trong đó chức giám trật Tam phẩm và Võ hậu giao cho Dịch Chi đảm nhiệm. Không lâu sau, Võ hậu lại sửa "Khổng Hạc phủ" thành Phụng Thần phủ (奉宸府), đổi chức giám thành chức "Lệnh" (令), vẫn cho Trương Dịch Chi cai quản. Trong văn hóa đại chúng. Nhân vật Võ Tắc Thiên xuất hiện trong nhiều phim điện ảnh Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan: Nhân vật Võ Tắc Thiên xuất hiện trong nhiều bộ phim truyền hình Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc:
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Vũ Hồng Khanh (1898 – 1993) là một nhà cách mạng và chính khách Việt Nam. Ông là một trong các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng; từng là thành viên trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến thành lập ngày 2 tháng 3 năm 1946, giữ chức Phó Chủ tịch Kháng chiến Ủy viên Hội. Thân thế và bước đầu tham gia cách mạng. Ông tên thật là Vũ Văn Giảng, sinh năm Mậu Tuất (1898), quê ở làng Thổ Tang, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (về sau giai đoạn 1946-1954 gọi là xã Thổ Tang thuộc quận Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Yên; ngày nay là thị trấn Thổ Tang thuộc huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc). Xuất thân là một thầy giáo làng, đầu thập niên 1920, ông sớm được Nguyễn Khắc Nhu vận động đi vào con đường cách mạng và trở thành một thành viên tích cực của phong trào Việt Nam Dân quốc. Đầu năm 1928, Việt Nam Dân quốc sáp nhập với Việt Nam Quốc dân Đảng. Ông trở thành một trong những yếu nhân của Đảng. Tham gia khởi nghĩa Yên Bái và lãnh đạo Hải ngoại bộ. Do tác động của vụ ám sát Bazin, nhiều cán bộ và cơ sở của Việt Nam Quốc dân Đảng bị chính quyền thực dân bắt bớ, truy lùng. Các lãnh tụ Đảng buộc phải tiến hành cuộc khởi nghĩa sớm để tránh cho các cơ sở đang gặp nguy cơ bị tiêu diệt hoặc tan rã. Tháng 5 năm 1929, tại Hội nghị Đức Hiệp, ông được bổ sung vào Trung ương. Tại Hội nghị Mỹ Xá bàn việc tổng khởi nghĩa, ông được giao công tác cùng 2 đồng chí Nguyễn Văn Chấn và Phạm Văn Tình, phát động các trận tấn công Kiến An và Hải Phòng. Ngày 10 tháng 2 năm 1930, khởi nghĩa nổ ra tại nhiều nơi ở miền Bắc Việt Nam như Yên Bái, Lâm Thao, Hưng Hóa, Hà Nội, Đáp Cầu, Phả Lại, Kiến An, Phụ Dực, Vĩnh Bảo, Thái Bình , do tin tức bị lộ nên cuộc tổng khởi nghĩa chỉ xảy ở Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao, Phụ Dực, Vĩnh Bảo. Mặt khác, vì do thiếu vũ khí và phương tiện liên lạc yếu kém, nên lực lượng khởi nghĩa không cố thủ được lâu dài ở các nơi họ đã đánh chiếm. Ngày 20 tháng 2 năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Thái Học bị bắt tại làng Cổ Vịt, gần đồn Chi Ngại, tỉnh Hải Dương; đến ngày 17 tháng 6 năm 1930, thì bị tử hình cùng 12 đồng chí khác tại pháp trường Yên Bái. Khởi nghĩa thất bại, nhiều yếu nhân của Đảng bị bắt. Riêng ông trốn thoát được, đến ngày 20 tháng 6 năm 1930, thì vượt biên giới trốn sang Côn Minh, đổi tên là Vũ Hồng Khanh. Ông bắt liên lạc với các đồng chí ở hải ngoại hoạt động trong Vân Nam Đệ nhất Đạo bộ và được bầu làm Đạo bộ trưởng thay cho Nguyễn Thế Nghiệp, lúc đấy đang lẩn trốn sự lùng bắt tại Mông Tự. Ông cùng với các đồng chí trong Đạo bộ tích cực móc nối với các đồng chí trốn thoát từ trong nước sang, tiếp tục vận động trong giới kiều bào, mở rộng tổ chức, nhanh chóng trở thành một trong những nhóm hoạt động mạnh nhất của Đảng ở hải ngoại. Được sự hỗ trợ và khuyến khích của Trung Quốc Quốc Dân Đảng, từ 15 đến 24 tháng 7 năm 1932, tại Nam Kinh, các nhóm hải ngoại đã họp hội nghị hợp nhất, thành lập một tổ chức chung mang tên Việt Nam Quốc dân Đảng Hải ngoại Biện sự xứ ("Bureau d’Outre – Mer du Việt Nam Quốc dân Đảng"), còn gọi là Hải ngoại bộ. Ông được cử làm Ủy viên Hải ngoại bộ. Năm 1942 tại Liễu Châu (Trung Quốc), ông cùng với Nghiêm Kế Tổ đại diện cho Việt Nam Quốc dân đảng, Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân chính đảng), Nguyễn Hải Thần thành lập Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, thường được gọi tắt là Việt Cách. Tháng 5 năm 1945, tại Trùng Khánh (Trung Quốc), Việt Nam Quốc dân Đảng liên minh với Đại Việt Quốc dân đảng (lãnh tụ Trương Tử Anh) và Đại Việt Dân Chính đảng (lãnh tụ Nguyễn Tường Tam) thành một tổ chức mới, ở trong nước thì lấy tên là Đại Việt Quốc dân đảng, còn ở Trung Quốc thì lấy tên là Quốc dân Đảng Việt Nam, tránh dùng danh xưng Đại Việt vì lý do tế nhị trong giao tế với bạn đồng minh Trung Hoa. Từ Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến đến Chính phủ Quốc gia. Ngày 1 tháng 9 năm 1945, ông từ Côn Minh về nước qua ngả Mường Khương, vào Lào Cai. Do cần phải hợp tác để đối phó với Việt Minh ngày 15 tháng 12 năm 1945 các đảng phái chống Việt Minh đã thống nhất thành lập một lực lượng gọi là Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam. Vũ Hồng Khanh giữ chức Bí thư trưởng tổ chức này. Ngày 2 tháng 3 năm 1946 ông tham gia Chính phủ liên hiệp kháng chiến và đảm nhận chức vụ Phó Chủ tịch Kháng chiến Ủy viên hội (sau đổi là Ủy ban Kháng chiến). Ông cùng Hồ Chí Minh đã ký với Jean Sainteny Hiệp định sơ bộ 1946. Tháng 7 năm 1946, xảy ra vụ án phố Ôn Như Hầu ở Hà Nội, lực lượng công an khám xét các trụ sở của Việt Nam Quốc dân đảng, phát hiện nhiều vũ khí, truyền đơn hiệu triệu chống chính phủ. Tuy nhiên theo Việt Nam Quốc dân Đảng, trụ sở ở phố Ôn Như Hầu chỉ là một chỗ làm việc bình thường của Việt Nam Quốc dân Đảng bị tấn công trong lúc không nghĩ là mình sẽ bị tấn công và các đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng không có vũ khí nặng nào. Vũ Hồng Khanh và các lãnh đạo các đảng phái chống Việt Minh như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam phải lưu vong sang Trung Quốc. Cuối tháng 12 năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh thắng Trung Quốc Quốc Dân Đảng trên toàn Trung Quốc và dồn tàn quân Quốc dân đảng chạy về biên giới Việt Nam. Vũ Hồng Khanh cầm đầu chừng bảy đến tám ngàn tàn quân Quốc dân đảng tiến vào Việt Nam qua ngả Nacham, giữa Lạng Sơn và Cao Bằng. Khi quân trú phòng Pháp định tước vũ khí đoàn quân này, đụng độ nổ ra. Bị cả quân Pháp và Việt Minh vây đánh, mất chừng hai nghìn người sau các cuộc đụng độ, đến ngày 6 tháng 1 năm 1950, Vũ Hồng Khanh và số tàn quân còn lại hạ vũ khí đầu hàng quân Pháp. Năm 1952, Vũ Hồng Khanh giữ chức Bộ trưởng Bộ Thể thao và Thanh niên trong nội các Nguyễn Văn Tâm của Quốc gia Việt Nam. Dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1954 đến 1975, ông lãnh đạo một hệ phái Việt Nam Quốc dân đảng tại miền Nam Việt Nam. Những năm cuối đời. Sau sự kiện năm 1975, Vũ Hồng Khanh theo lệnh chính quyền Cách mạng mới đưa đi tập trung học tập cải tạo, dù ông đã 77 tuổi. Năm 1986 ông được trả tự do và về sống trong tình trạng bị quản thúc tại quê nhà ở làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc với người con gái lớn là bà Vũ Thị Được. Đây cũng là quê hương Nguyễn Thái Học. (Một tài liệu khác nói rằng năm 1977 đích thân Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn đã vào trại cải tạo để thả sớm Vũ Hồng Khanh vì năm 1943 ông có công can thiệp với tướng Trung Hoa Quốc dân Đảng Trương Phát Khuê thả Lý Thụy - bí danh của Hồ Chí Minh - tại Liễu Châu, Trung Quốc.) Năm 1992, ông được phép vào Thành phố Hồ Chí Minh thăm con gái và con rể. Ngày 14 tháng 11 năm 1993 ông mất tại quê nhà làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, hưởng thọ 95 tuổi.
Me (tiếng Ả Rập تمر هندي "tamr hindī" - nghĩa là chà là Ấn Độ), danh pháp hai phần: Tamarindus indica, là một loại cây nhiệt đới, có nguồn gốc ở miền đông châu Phi, nhưng hiện nay được trồng nhiều hơn ở khu vực nhiệt đới của châu Á cũng như châu Mỹ Latinh. Quả của nó ăn được. Tamarindus indica là loài duy nhất trong chi Tamarindus thuộc họ Đậu (Fabaceae). Là loại cây thân gỗ, nó có thể cao tới 20 mét và là cây thường xanh trong những khu vực không có mùa khô. Gỗ của thân cây me bao gồm lớp gỗ lõi cứng, màu đỏ sẫm và lớp dác gỗ mềm có màu ánh vàng. Lá của nó có dạng lá kép lông chim, bao gồm từ 10 đến 40 lá nhỏ. Hoa tạo thành dạng cành hoa (cụm hoa với trục kéo dài và nhiều cuống nhỏ chứa một hoa, giống như ở cây đậu lupin). Quả là loại quả đậu màu nâu, bên trong chứa cùi thịt và nhiều hạt có vỏ cứng. Hạt có thể có đường rạch đôi để tăng cường khả năng nảy mầm. Tại Malaysia nó được gọi là "asam" theo tiếng Mã Lai và "swee boey" trong tiếng Mân Nam. Tại Ấn Độ nó được gọi là "imlee". Trong tiếng Sinhala tên gọi của nó là "siyambala", trong tiếng Telugu nó được gọi là "chintachettu" (cây) và "chintapandu" (quả) còn trong tiếng Tamil và Malayalam nó là "puli". Me là cây biểu tượng của tỉnh Phetchabun ở Thái Lan. Cùi thịt của quả me được dùng như là một loại gia vị trong ẩm thực ở cả châu Á cũng như ở châu Mỹ Latinh và nó là một thành phần quan trọng trong nước sốt Worcestershire và nước sốt HP. Cùi thịt quả non rất chua, vì thế nó thích hợp trong các món ăn chính, trong khi cùi thịt của quả chín có vị ngọt hơn và có thể sử dụng như là một loại đồ tráng miệng, làm đồ uống hay làm đồ điểm tâm. Do tỷ trọng riêng lớn và độ bền của nó, lõi gỗ của cây me có thể dùng để đóng đồ gỗ và làm ván lót sàn. Gỗ lấy từ lõi gỗ của cây me có màu đỏ rất đẹp. Cây me rất phổ biến ở miền nam Ấn Độ, cụ thể là tại khu vực Andhra Pradesh. Tại đây, nó được trồng để tạo bóng mát trên các con đường, tương tự như cây sồi. Một số loài khỉ rất thích ăn quả me chín. Cùi thịt, lá và vỏ thân cây có một số ứng dụng trong y học. Ví dụ tại Philipin, lá của nó được dùng trong một số loại trà thuốc để giảm sốt rét. Nó còn là một thành phần chủ yếu trong đồ ăn ở miền nam Ấn Độ, tại đó nó được sử dụng để làm sambhar (gia vị trong súp đậu lăng với nhiều loại rau), cơm pulihora, và nhiều loại tương ớt. Me có sẵn trong mọi cửa hàng bán đồ ăn kiểu Ấn Độ trên toàn thế giới. Nó được bán như là một loại kẹo ở México (ví dụ loại kẹo pulparindo) và xuất hiện trong nhiều dạng đồ điểm tâm ở khu vực Đông Nam Á (quả khô ướp muối hay quả khô tẩm đường trong đồ uống lạnh, kem que v.v). Do các tính chất y học của mình lên nó còn được dùng trong y học Ayurveda để điều trị một số bệnh liên quan đến dạ dày hay đường tiêu hóa nói chung. Me là một loại thực phẩm phổ biến ở Mexico và nó được làm thành nhiều loại kẹo. Trong tiếng lóng ở Mexico (đặc biệt là tại Thành phố Mexico), thuật ngữ me còn dùng để chỉ những người làm nhiệm vụ kiểm soát giao thông, do màu quần áo của họ giống như màu vỏ quả me. Me đối với người Việt. Vì me có thân gỗ rất bền bỉ nên thân cây me già thường được người Việt cưa ra làm thớt. Me được dùng ở Việt Nam đa số là để: Tác dụng chữa bệnh của me. Cùi thịt, lá và vỏ thân cây me đều có tác dụng trong y học. Như tại Philippines, lá được dùng để giảm sốt rét. Là thành phần chủ yếu trong đồ ăn của người dân ở miền Nam Ấn Độ, tại đây, me được sử dụng để làm sambhar (gia vị trong súp đậu lăng với nhiều loại rau), cơm pilihora và nhiều loại tương ớt. Me có sẵn trong mọi cửa hàng ăn theo ẩm thực người Ấn Độ trên khắp thế giới. Nó được bán như một loại kẹo ở México (ví dụ: loại kẹo pulparido) và xuất hiện trong nhiều dạng đồ điểm tâm ở khu vực Đông Nam Á (quả khô ướp muối hay quả khô tẩm đường trong đồ uống lạnh, kem ). Do chứ các hoạt chát y học nên me được dùng nhiều trong Ayurveda để điều trị một số bệnh liên quan đến dạ dày hay đường ruột, như: Từ vựng về me. Trái me có một từ đặc biệt được dùng là "me dốt" dùng để chỉ trái me chưa chín hẳn, thịt bên trong màu xanh bột mà vỏ bên ngoài đã bắt đầu khô dễ lột ra khỏi thịt trái me, ăn rất ngon.
Vàng anh Á Âu "Bài này nói về một loài chim, nó còn là tên gọi của một chi thực vật là chi Saraca thuộc phân họ Vang." Vàng anh Á Âu hay hoàng anh Á Âu (danh pháp hai phần: Oriolus oriolus), là một loài chim trong họ Vàng anh (Oriolidae) thuộc bộ Sẻ (Passeriformes). Phân loại và hệ thống học. Vàng Anh Á Âu ban đầu được Carl Linnaeus mô tả trong chi "Coracias" (chứa các loài sả rừng). Cho tới năm 2011 nó được cho là đồng loài với vàng anh Ấn Độ cho đến khi được chia tách. Một quần thể nhỏ có tên gọi "turkestanica" được Charles Vaurie coi là không thể phân biệt được với "O. o. oriolus". Các tên gọi khác còn có vàng anh châu Âu và vàng anh Tây Á Âu. Vàng anh trống nổi bật với bộ lông vàng và đen điển hình, nhưng vàng anh mái lại có bộ lông vàng ánh xanh lục buồn tẻ. Chúng là loài chim khá nhút nhát và thậm chí cả chim trống cũng rất khó phát hiện trong các tán lá có màu xanh lục và vàng lốm đốm. Kiểu bay lượn của chúng tương tự như ở các loài chim hoét, thẳng và mạnh với độ nghiêng nhỏ trên một khoảng cách lớn. Tiếng kêu của chúng giống như tiếng kêu của chim giẻ cùi, nhưng của chúng thì thánh thót tựa như là "uyla-uy-u" hay "or-iii-ole", không lẫn vào đâu được khi đã nghe thấy. Tên gọi trong tiếng Anh của nó là "oriole" có nguồn gốc từ tiếng Latinh "oriolus" lần đầu tiên được ghi nhận bởi Albertus Magnus vào khoảng năm 1250, và ông đã coi nó là từ tượng thanh để làm tên gọi cho loài chim này, dựa theo tiếng hót của nó. Các loài vàng anh Tân thế giới có bề ngoài tương tự như họ Vàng anh (Oriolidae), nhưng chúng thuộc họ Icteridae và không có quan hệ họ hàng gì với họ Vàng anh của Cựu thế giới. Tập tính, sinh thái. Là loài duy nhất trong họ Vàng anh sinh sản ở khu vực ôn đới Bắc bán cầu. Nó là loài chim di cư, về mùa hè nó di cư đến khu vực châu Âu và miền tây châu Á còn mùa đông thì di cư đến khu vực nhiệt đới ở miền trung và miền nam châu Phi. Nó là loài chim đậu trên các cây cao lá sớm rụng trong các khu vực đồng rừng, vườn cây ăn quả hay công viên. Một quần thể nhỏ tại Anh sinh sản trong các khu vực trồng cây dương đen ("Populus nigra"). Chúng làm tổ trên các chạc cây và đẻ từ 3-6 trứng. Thức ăn chủ yếu của chúng là côn trùng và quả, được chúng tìm kiếm trên các tán lá.
Carlos Slim Helú ([ˈkaɾlos ezˈlim eˈlu]; sinh ngày 28 tháng 1 năm 1940 tại Mexico) là một ông trùm kinh doanh, nhà đầu tư và nhà từ thiện người Mexico. Từ năm 2010 đến 2013, Slim được tạp chí kinh doanh Forbes xếp hạng là người giàu nhất thế giới. Ông có được tài sản từ việc nắm giữ nhiều cổ phần của mình trong một số lượng đáng kể các công ty Mexico thông qua tập đoàn Grupo Carso thuộc sở hữu của chính ông. Tính đến tháng 2 năm 2020, ông là người giàu thứ năm trên thế giới theo danh sách các tỷ phú thế giới của Forbes, ông và gia đình có tài sản ròng ước tính 68,9 tỷ đô la. Đồng nghĩa với việc là người giàu nhất ở Mỹ Latinh. Tập đoàn của ông tham gia vào các lĩnh vực như giáo dục, chăm sóc sức khỏe, sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, bất động sản, truyền thông, năng lượng, khách sạn, giải trí, công nghệ cao, bán lẻ, thể thao và dịch vụ tài chính. Lĩnh vực chiếm 40% danh sách trên Sở giao dịch chứng khoán Mexico, trong khi giá trị tài sản ròng của ông tương đương khoảng 6% tổng sản phẩm quốc nội của Mexico. Tính đến năm 2016, ông là cổ đông đơn lẻ lớn nhất của The New York Times Company. Slim sinh ngày 28 tháng 1 năm 1940, tại Thành phố Mexico, có cha là ông Julián Slim Haddad (tên khai sinh là Khalil Salim Haddad Aglamaz) và mẹ là Linda Helú Atta, người theo nhóm Cơ đốc giáo Maronite đến từ Li-băng. Người cha nhập cư đến Mexico năm 14 tuổi vào năm 1902 và đổi tên thành Julián. Vì không có gì lạ khi trẻ em Li-băng được gửi ra nước ngoài trước khi chúng 15 tuổi để tránh bị bắt đi lính vào quân đội Ottoman, bốn người anh trai của Haddad đã sống ở Mexico vào thời điểm ông đến. Mẹ ông, bà Linda Helú Atta được sinh ra ở Parral, Chihuahua, có cha mẹ di cư từ Li-băng đến Mexico vào cuối thế kỷ 19. Cha mẹ của bà Linda khi nhập cư đến Mexico đã thành lập một trong những tạp chí tiếng Ả Rập đầu tiên cho cộng đồng người Mexico gốc Li-băng, bằng cách sử dụng một chiếc máy in mà họ mang theo khi sang lánh nạn. Năm 1911, cha của Slim, ông Julián thành lập một cửa hàng bán đồ khô, La Estrella del Oriente (Ngôi sao của Phương Đông). Đến năm 1921, ông đã mua bất động sản ở khu thương mại phồn hoa của Thành phố Mexico. Các doanh nghiệp này trở thành nguồn của cải đáng kể. Tháng 8 năm 1926, ông Julián Slim và bà Linda Helú kết hôn. Gia đình có sáu người con: Nour, Alma, Julián Jr., José, Carlos và Linda. Ông Julián, cha của Slim là người đã có ảnh hưởng trong cộng đồng kinh doanh Liban-Mexico và đã qua đời năm 1953. Từ khi còn nhỏ, Slim đã bộc lộ mong muốn trở thành một doanh nhân và nhận được những bài học kinh doanh từ cha mình, người đã dạy cho các con về tài chính, quản lý và kế toán, cách đọc báo cáo tài chính cũng như tầm quan trọng của việc lưu giữ hồ sơ tài chính chính xác. Năm 11 tuổi, Slim đầu tư vào một trái phiếu chính phủ, giúp ông hiểu về khái niệm lãi suất kép. Sau cùng, Silm có thói quen lưu mọi giao dịch tài chính và kinh doanh mà mình thực hiện vào một cuốn sổ cái (ledger book) riêng, ông vẫn giữ đến hiện giờ. Năm 12 tuổi, ông mua cổ phiếu đầu tiên, cổ phiếu của một ngân hàng Mexico. Năm 15 tuổi, Slim đã trở thành cổ đông của ngân hàng lớn nhất Mexico. Năm 17 tuổi đã kiếm được 200 peso mỗi tuần khi làm việc cho công ty của cha mình. Slim tiếp tục theo học ngành xây dựng dân dụng tại Đại học Tự trị Quốc gia Mexico, nơi ông đồng thời được dạy về đại số và lập trình tuyến tính. Mặc dù Slim là một sinh viên chuyên ngành kỹ thuật dân dụng, ông cũng thể hiện sự quan tâm đến kinh tế. Ông đã tham gia các khóa học kinh tế ở Chile sau khi hoàn thành bằng kỹ sư của mình. Tốt nghiệp chuyên ngành xây dựng dân dụng, Slim cho biết khả năng toán học và kiến thức nền tảng về lập trình tuyến tính của bản thân là yếu tố then chốt giúp mình có được lợi thế trong thế giới kinh doanh, đặc biệt là khi đọc các báo cáo tài chính. Sự nghiệp kinh doanh. Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1961, Slim bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là môi giới chứng khoán ở Mexico, thường làm việc 14 giờ mỗi ngày. Năm 1965, lợi nhuận từ các khoản đầu tư riêng của Slim đạt đô la Mỹ, cho phép ông bắt đầu mở công ty môi giới chứng khoán Inversora Bursátil. Ngoài ra, ông cũng bắt đầu đặt nền tảng tài chính cho Grupo Carso. Năm 1965, ông cũng mua lại Jarritos del Sur. Năm 1966, trị giá 4 đô la Mỹ, ông thành lập Inmobiliaria Carso. Các công ty trong ngành xây dựng, nước giải khát, in ấn, bất động sản, đóng chai và khai thác mỏ là trọng tâm trong sự nghiệp kinh doanh đang phát triển ban đầu của Slim. Sau đó, ông mở rộng sang nhiều ngành công nghiệp bao gồm phụ tùng ô tô, nhôm, hàng không, hóa chất, thuốc lá, sản xuất dây cáp và dây điện, giấy và bao bì, khai thác đồng và khoáng sản, lốp xe, xi măng, bán lẻ, khách sạn, nhà phân phối đồ uống, viễn thông và dịch vụ tài chính nơi Slim's Grupo Financiero Indowa - bán bảo hiểm và đầu tư tiền tiết kiệm, quỹ tương hỗ và các kế hoạch lương hưu của hàng triệu người Mexico bình thường. Đến năm 1972, ông đã thành lập hoặc mua thêm bảy doanh nghiệp trong các lĩnh vực này, trong đó có một doanh nghiệp cho thuê thiết bị xây dựng. Năm 1976, ông mở rộng nhánh bằng cách mua 60% cổ phần của Galas de México, một nhà máy in nhãn bao thuốc lá nhỏ với đô la Mỹ và vào năm 1980, ông củng cố lợi ích kinh doanh của mình bằng cách thành lập Grupo Galas làm công ty mẹ của một tập đoàn có các quyền lợi trong ngành công nghiệp, xây dựng, khai thác mỏ, bán lẻ, thực phẩm và thuốc lá. Năm 1981, Slim mua lại phần lớn cổ phần của Cigarros la Tabacelera Mexicana (Cigatam), nhà sản xuất và tiếp thị thuốc lá lớn thứ hai Mexico, với giá đã được giảm. Năm 1982, nền kinh tế Mexico suy thoái nhanh chóng. Khi nhiều ngân hàng đang gặp khó khăn và các nhà đầu tư nước ngoài đang cắt giảm đầu tư và đổ xô, Slim bắt đầu đầu tư mạnh và mua nhiều công ty hàng đầu với mức định giá thấp. Mua tài sản gặp khó khăn với giá thấp để bán lại sau đó với giá hấp dẫn là chiến lược kinh doanh mà Slim đã thực hiện trong suốt sự nghiệp của mình. Có con mắt đầu tư nhạy bén đối với giá trị, Slim tuân thủ các phương pháp đầu tư giá trị của mình với lịch sử lâu dài về việc mua cổ phần trong các công ty mà ông coi là được định giá thấp. Phần lớn các giao dịch kinh doanh của Slim liên quan đến một chiến lược đơn giản, đó là mua một doanh nghiệp và bám trụ nó để lấy dòng tiền hoặc cuối cùng bán cổ phần với lợi nhuận lớn hơn trong tương lai, do đó thu được lợi nhuận từ vốn cũng như tái đầu tư số tiền gốc ban đầu vào một doanh nghiệp mới. Ngoài ra, cấu trúc tập đoàn của ông cho phép Slim mua nhiều cổ phần khi có biểu hiện suy thoái nếu một hoặc nhiều lĩnh vực của nền kinh tế không hoạt động tốt. Từ giữa những năm 1960 đến đầu những năm 1980, Slim cùng với số thành viên đang tăng lên trong gia đình lại sống một cuộc sống khiêm tốn, trong khi thu nhập từ nhiều hoạt động kinh doanh của Slim được tái đầu tư vào việc mở rộng và mua lại nhiều hơn. Slim mua lại các công ty có tỷ suất sinh lợi cao mà ông tin rằng đã bị định giá thấp và cải tổ ban quản lý của họ. Ông đa dạng hóa một cách có phương pháp trong nhiều lĩnh vực công nghiệp trên khắp nền kinh tế Mexico, đầu tư vào bất động sản, sau đó là công ty thiết bị xây dựng và công ty khai thác mỏ. Danh mục đầu tư của các công ty Slim đã phát triển bao gồm một công ty in ấn, một công ty thuốc lá và các cửa hàng bán lẻ. Trong thời kỳ kinh tế Mexico suy thoái trước khi phục hồi vào năm 1985, Slim đã đầu tư rất nhiều. Anh ta đã mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ lớn của nhiều doanh nghiệp Mexico, bao gồm Empresas Frisco, một công ty khai thác và hóa chất sản xuất bạc, vàng, đồng, chì và kẽm từ quặng khai thác, và cả các sản phẩm hóa học như axit flohydric và molypden với giá chỉ 50 triệu USD, Industrias Nacobre, nhà sản xuất các sản phẩm bằng đồng, Reynolds Aluminio, Compania Hulera Euzkadi, nhà sản xuất lốp xe lớn nhất Mexico, các khách sạn Bimex, và phần lớn cổ phần của nhà bán lẻ thực phẩm, cửa hàng quà tặng và chuỗi nhà hàng Sanborn Hermanos. Slim đã dành ra đô la Mỹ để mua công ty bảo hiểm Seguros de México vào năm 1984, và sau đó đã sáp nhập vào công ty Seguros Indowa. Giá trị cổ phần của ông trong Seguros cuối cùng thành đô la Mỹ tính đến 2007, sau 4 vòng spin-off. Ông cũng có được 40% và 50% cổ phần trong các công ty British American Tobacco và The Hershey Company ở Mexico, cũng như mua lại các lô đất (chính phủ cấp cho tư nhân) lớn của Denny's và Firestone Tires. Ông cũng chuyển sang lĩnh vực dịch vụ tài chính, mua Seguros de México và tạo ra từ nó, cùng với các giao dịch mua khác như Fianzas La Guardiana và Casa de Bolsa Indowa, Grupo Financiero Indowa. Nhiều thương vụ mua lại này được tài trợ bởi doanh thu và dòng tiền từ Cigatam, một công ty kinh doanh thuốc lá mà ông đã mua sớm trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Năm 1988, Slim mua lại nhóm công ty Nacobre, kinh doanh các sản phẩm đồng và nhôm, cùng với công ty kinh doanh hóa chất, Química Fluor và các công ty khác. Slim đã kiếm được một khối tài sản lớn vào đầu những năm 1990 khi Mexico tư nhân hóa ngành viễn thông của mình và Grupo Carso mua lại Telmex từ chính phủ Mexico Grupo Carso cũng mua lại phần lớn quyền sở hữu của Porcelanite, một công ty sản xuất gạch vào năm 1990. Khoản đầu tư này được giao cho một công ty liên kết, nhưng vào năm 1995, Grupo Carso bắt đầu tăng cổ phần của mình lên 83% và sau đó biến nó thành công ty con. Sau đó vào năm 1990, Slim hợp tác với France Télécom và Southwestern Bell Corporation để mua lại công ty điện thoại cố định Telmex từ chính phủ Mexico, khi Mexico bắt đầu tư nhân hóa các ngành công nghiệp quốc gia của mình. Slim là một trong những nhà đầu tư ban đầu của Telmex, doanh thu của công ty cuối cùng đã hình thành nên phần lớn tài sản của Slim. Đến năm 2006, 90% đường dây điện thoại ở Mexico được điều hành bởi Telmex và công ty điện thoại di động của ông, Telcel, được tạo ra từ công ty Radiomóvil Dipsa, vận hành gần 80% tổng số điện thoại di động của đất nước. Đến năm 2012, América Movil, công ty điện thoại di động của Slim, đã tiếp quản Telmex và biến nó thành một công ty con do tư nhân nắm giữ. Năm 1991, ông mua lại Hoteles Calinda (nay là OSTAR Grupo Hotelero), và vào năm 1993, ông tăng cổ phần của mình trong General Tire và Grupo Aluminio đến mức có lợi ích đa số cổ đông. Vào tháng 7 năm 1997, Grupo Carso đã đồng ý về nguyên tắc bán Procter Gamble de México, một công ty con của The Procter Gamble Co., một nhà máy sản xuất ở Apizaco và Lypps, Pampys, và các nhãn hiệu khăn giấy vệ sinh khác của công ty với giá khoảng 170 triệu đô la nhưng giữ nguyên công ty sản xuất các sản phẩm giấy vệ sinh của mình, Fábricas de Papel Loreto y Peña Pobre. Năm 1999, Slim bắt đầu mở rộng sở thích kinh doanh của mình ra ngoài châu Mỹ Latinh. Mặc dù phần lớn tài sản ông nắm giữ chủ yếu vẫn ở Mexico, nhưng ông bắt đầu hướng tới Hoa Kỳ để đầu tư ra nước ngoài.
Cúp bóng đá Mùa xuân Cúp bóng đá Mùa xuân 2006 hay còn gọi VTV–TT Cup là giải bóng đá thi đấu giao hữu giữa đội tuyển quốc gia Việt Nam với một số đội tuyển U-23 của các quốc gia khác, do Liên đoàn Bóng đá Việt Nam (VFF) tổ chức. Giải đấu được VTV và Tập đoàn TT tài trợ với một thỏa thuận trị giá 126,000 USD. Giải đấu diễn ra từ ngày 16 tháng 4 đến 20 tháng 4 năm 2006 trên Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình với 4 đội bóng tham dự, gồm đội tuyển quốc gia Việt Nam, U-23 Iran, U-23 Úc và U-23 Uzbekistan Đội vô địch, á quân và hạng ba được thưởng lần lượt 40.000, 20.000 và 10.000 USD. Đội tuyển U-23 Iran đã đoạt cúp vô địch với thành tích 1 trận thắng và 2 trận hoà. Cũng được 5 điểm, nhưng U-23 Úc nhận huy chương bạc vì kém hiệu số bàn thắng bại, bộ huy chương đồng thuộc về Việt Nam với 3 điểm. Xếp chót bảng là U-23 Uderbekistan với vỏn vẹn 1 điểm.
Honoré de Balzac tên tiếng việt là Ban-dắc (sinh ngày 20 tháng 5 năm 1799 tại Tours, Pháp, mất ngày 18 tháng 8 năm 1850). Ông là nhà văn hiện thực Pháp lớn nhất nửa đầu thế kỷ 19, bậc thầy của tiểu thuyết văn học hiện thực. Ông là tác giả của nhiều câu truyện như người viết truyện thật thà... Đặc biệt bộ tiểu thuyết đồ sộ "Tấn trò đời" ("La Comédie humaine"). Honoré de Balzac là con trai của Bernard-François Balssa và Anne-Charlotte-Laure Sallambier, họ Balzac được lấy của một gia đình quý tộc cổ Balzac d'Entraigues. Cuộc đời ông là sự thất bại toàn diện trong sáng tác và kinh doanh - đó là tổng kết chung về thời thanh niên của Balzac từ khi vào đời cho đến năm (1828): Hai lần ứng cử vào Viện Hàn lâm Pháp đều thất bại. Ông chỉ thật sự được văn đàn Pháp công nhận sau khi mất. Người ủng hộ ông nhiều nhất khi còn sống là Victor Hugo. Ông có một sức sáng tạo phi thường, khả năng làm việc cao. Thường chỉ ngủ một ngày khoảng 2 đến 3 tiếng, thời gian còn lại làm việc trên một gác xép. Trong sự nghiệp sáng tác Balzac đã viết về nhiều đề tài và mỗi vấn đề đều có một số tác phẩm, tạo nên sự đa dạng trong tư tưởng cũng như trong nghệ thuật của ông. Balzac đã lần lượt đi qua nhiều phong cách trữ tình, châm biếm, triết lý và dần dần thiết lập một hệ thống cho các sáng tác của mình, bao gồm các chủ đề: nghiên cứu triết học (như các tác phẩm Miếng da lừa, Đi tìm tuyệt đối, Kiệt tác không người biế), cảm hứng thần bí (như Louis Lambert, Séraphita), nghiên cứu phong tục (trong đó ông thiết lập một hệ thống các đề tài mà ông gọi là các "cảnh đời" vì cuộc đời được ông ví như một tấn hài kịch lớn). Balzac đã bắt đầu công việc tập hợp lại các tác phẩm theo chủ đề và thống kê sắp đặt lại trong một hệ thống có tên chung là Tấn trò đời. Tư tưởng và tài năng nghệ thuật. Balzac là nhà văn sớm có ý thức về sự tái hiện cuộc đời một cách hoàn chỉnh ở đủ mọi góc cạnh của nó và được đặt trong hệ thống mà ông ví như một "công trình kiến trúc của vũ trụ" với tính chất vừa hệ thống vừa hoành tráng từ các tác phẩm của ông. Vũ trụ ấy là cuộc đời nhìn qua nhãn quang của ông tạo nên một "thế giới kiểu Balzac" in rõ dấu ấn của "cảm hứng vĩ mô". Vì vậy, vũ trụ trong tiểu thuyết Balzac là một "vũ trụ được sáng tạo hơn là được mô phỏng". Honoré de Balzac từng nói một câu nổi tiếng " ai cũng có thể làm thầy ta" sự sâu sắc của ông trong những câu nói của ông ảnh hưởng sâu về cách sống của ông trong nghệ thuật thơ văn. Cảm hứng vĩ mô: Được hiểu là những tác phẩm văn chương phản ánh hiện thực thời đại của xã hội và số phận của con người xã hội như sự tha hóa của con người trong xã hội mà đồng tiền chi phối tất cả giá trị đạo đức và các mối quan hệ xã hội. Như những nhân vật trong "Lão Goriot" (Le peré Goriot) sẵn sàng chạy theo đồng tiền và quyền lực chà đạp lên những giá trị đạo và tình cảm thiêng liêng nhất. Cảm hứng vi mô: Được hiểu là những tác phẩm văn chương đi sâu vào thế giới nội tâm của con người khi con người đứng những khó khăn thách thức của cuộc sống. Cuộc đấu tranh đó là cuộc tranh đấu thầm lặng và gay gắt giữa cái thiện và cái ác, giữa cái cao cả và cái thấp hèn diễn ra trong nội tâm của con người. Như nhân vật ông già trong Ông già và biển cả của Ernest Hemingway hay nhân vật Hộ trong "Đời thừa" của Nam Cao. Phê phán hay chất phủ định cao là khía cạnh được chú ý khi nói về tiểu thuyết Balzac: qua sự nghiệp sáng tác của Balzac cả một xã hội và con người dưới thể chế tư sản bị phơi bày với tất cả xấu xa tiêu cực, cũng từ đây những nỗi khổ đau, những tấn bi kịch xảy ra cho nhiều người, ở nhiều hoàn cảnh trong một xã hội mà đồng tiền là chân lý. Vì sở trường của Balzac là việc miêu tả cái xấu, cái ác trong xã hội tư sản một cách thấu đáo và sắc sảo qua hệ thống ngôn từ và phong cách thích hợp, và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra mối ác cảm của giới phê bình đương thời đối với Balzac.Ông từng nói câu: ai cũng là thầy ta ? câu nói thể hiện sự sâu sắc trong thơ văn của đời ông với cuộc sống ngoài xã hội. Nên những nhân vật gây ấn tượng mạnh nhất và thành công nhất của Balzac là những nhân vật phản diện, thường được tác giả cho xuất hiện nhiều lần trong nhiều tác phẩm để người đọc theo dõi chặng đường phát triển tính cách, số phận, những bước thăng trầm trong cuộc chen chân trong thế giới đồng tiền, âm mưu và tội ác (Rastignac xuất hiện trong ba quyển: Lão Goriot, Vinh và nhục của kỹ nữ, Miếng da lừa, hay Lucien Chardon xuất hiện trong Ảo tưởng tiêu tan, Vinh và nhục của kỹ nữ, và Vautrin trong Lão Goriot. Ngược lại, khía cạnh khẳng định cái đẹp trong các tác phẩm của Balzac bị cho là yếu: "Những nhân vật đức hạnh trong tiểu thuyết Balzac khá mờ nhạ". hoặc: "Những nhân vật trong tiểu thuyết Balzac đều có cử chỉ tình cảm và phong cách thông tục. Khi muốn diễn tả sự thanh lịch quý phái, hào hiệp thì Balzac thường khoa trương một cách cầu kỳ: người phụ nữ đức hạnh và các cô thiếu nữ được khắc họa một cách ngượng nghị". Vd: Trong tác phẩm " Những quý bà cầu kỳ rởm", thì một số nhân vật đã bảo gia nhân mang ra "một thứ chất lỏng cần thiết cho cuộc sống" (nước) để mời khách. Tiểu thuyết của Balzac phản ánh hiện thực xã hội không mấy tốt đẹp, nhưng chính Balzac lại từng khẳng định:" Xã hội đã tự tách ra hoặc xích lại gần hơn với những quy tắc vĩnh cửu, với cái chân thực, cái đẹp, tiểu thuyết phải là một thế giới tốt lành hơ" (Lời tựa Tấn trò đời). Như vậy, thế giới nghệ thuật của "Tấn trò đời" không đơn thuần là phản ánh cái thiện, cái ác trong xã hội, mà điều Balzac mong mỏi chính là cải tạo xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Nghệ thuật của Balzac cũng là vấn đề đã từng gây tranh cãi, khi vẫn có ý kiến cho rằng "ông có một bút pháp thiếu thoải mái, thiếu sự thuần chất, nhưng vững vàng cụ thể đầy cá tính thể hiện một khí chất mạnh mẽ", "lối văn tối tăm hỗn độn" ("confus"), "sự thông tục" ("vulgaire")... Đứng trước những biểu hiện đó nhiều nhà phê bình thời trước như: nhà lý luận lãng mạn Sainte Beuve không thích lối thể hiện (văn phong) của Balzac, nhà hiện thực duy mỹ_ nhà văn Gustave Flaubert đã "cau mày" nhận xét "giá như Balzac biết viết văn". Và đến thế kỷ XX nhà văn André Gide cho rằng Balzac đã làm cho tác phẩm của ông trở nên cồng kềnh bằng "những yếu tố hỗn tạp, hoàn toàn không thể đồng hóa được bằng tiểu thuyết". Còn Marcel Proust lưỡng lự trước câu hỏi "nghệ thuật của Balzac có hay không?". Đồng thời André Gide và Marcel Proust cũng thừa nhận rằng "có những nhược điểm không thể tách rời khỏi những tác phẩm của ông".
Chi Cá mè trắng Chi Cá mè trắng (danh pháp khoa học: Hypophthalmichthys)/small) là một chi thuộc họ Cá chép (Cyprinidae), chi này gồm có 3 loài, toàn là cá sinh sống ở khu vực châu Á. Ở Việt Nam, cả ba loài đều được gọi theo tên gọi chung là cá mè, nhưng chỉ có 2 trong số 3 loài là sinh sống tại các ao hồ của quốc gia này. Hiện tại được công nhận thuộc chi "Hypophthalmichthys" là 3 loài: Cá mè có thân dẹp, dài thon, vảy rất nhỏ, có màu trắng, trong cơ thể có những tuyến tiết ra một chất có mùi tanh. Hai loài cá mè trắng Việt Nam và cá mè trắng Hoa Nam có vảy óng ánh nên các nước tây phương gọi là "cá chép bạc", như trong tiếng Anh gọi cá mè trắng Việt Nam là "silver carp" và cá mè trắng Hoa Nam là "largescale silver carp". Cả ba loài đều có đầu to, to nhất là loài "Hypophthalmichthys nobilis". "Hypophthalmichthys molitrix" (cá mè trắng Hoa Nam) và "Hypophthalmichthys nobilis" (cá mè hoa) có thể đạt chiều dài trên 100 cm và trọng lượng trên 25 kg. "Hypophthalmichthys harmandi" (cá mè trắng Việt Nam) có thể đạt chiều dài 54 cm, chưa tìm được hồ sơ ghi trọng lượng tối đa có thể đạt được của loài cá này. Cá mè có 1 vây (kỳ) lưng, hai vây (kỳ) mang và 3 vây (kỳ) bụng, đuôi hình chữ V. Cá mè là cá nước ngọt, sống ở từng gần mặt nước, những nơi nước đứng hay nước chảy yếu, như ao, hồ, đầm lầy, sông nhánh. Cá mè không đẻ trong ao, đầm mà chỉ đẻ ở nơi có dòng nước chảy mạnh, tới mùa đẻ trứng (tháng 6-tháng 7), cá lội ngược dòng sông tìm những nơi ngã ba để đẻ, trứng trôi theo dòng nước về hạ lưu và nở con tại đây. Muốn cá đẻ trong ao, người ta phải chích kích thích tố ("hormone") vào tuyến não cá bố mẹ và dùng bơm tạo dòng nước nhân tạo trong ao. Ba loài cá này tuy gốc châu Á nhưng hiện nay đã được đưa sang các châu lục khác gây giống. Ở Việt Nam, cá mè bành trướng ở Bắc Bộ và bắc Trung Bộ.
James Byron Dean (8 tháng 2 năm 1931#đổi 30 tháng 9 năm 1955) là một nam diễn viên người Mỹ. Anh được biết đến như một huyền thoại của lịch sử điện ảnh Hollywood, đại diện cho những thay đổi của giới trẻ và tầng lớp xã hội Mỹ thập niên 1950. Bộ phim gắn liền với tên tuổi của anh là "Rebel Without a Cause" ("Nổi loạn vô cớ") với vai diễn một cậu thanh niên cố gắng hòa nhập với bạn bè cùng trang lứa và bất bình với những ý kiến của bố mẹ mình, phản ánh khoảng cách thế hệ cũng như những thay đổi trong nhận thức thanh thiếu niên Mỹ đương thời. Hai vai diễn lớn khác bao gồm vai chính trong phim "East of Eden" ("Phía đông vườn địa đàng") và phim "Giant" ("Gã khổng lồ"). Sau cái chết vì tai nạn xe hơi năm 1955, Dean trở thành diễn viên đầu tiên nhận được đề cử giải Oscar cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất sau khi qua đời. Năm 1999, anh được Viện phim Mỹ xếp hạng 18 trong danh sách những ngôi sao vĩ đại nhất của lịch sử điện ảnh Hoa Kỳ. Dù sự nghiệp ngắn ngủi chỉ với ba bộ phim thủ vai chính, nam diễn viên được vinh danh như một biểu tượng văn hóa đại chúng Mỹ thập niên 1950 với vai trò là người khởi đầu trào lưu "thanh niên nổi loạn" ("bad boy") và phong cách thời trang "cool" ("ngầu"). Ảnh hưởng của tài tử Hollywood còn lan tới nền âm nhạc rock và rock and roll của thế hệ sau này. James Byron Dean sinh ngày 8 tháng 2 năm 1931 tại Marion, Grant, Indiana. Anh là người con duy nhất của ông Winton Dean, người Mỹ gốc Anh với một phần nhỏ gốc Mỹ bản địa và bà Mildred Marie Wilson, có gốc gác từ những người nhập cư Anh trên chuyến tàu "Mayflower" thế kỷ 17. Sau khi ông Winton bỏ nghề nông để theo nghề nha sĩ sáu năm, gia đình chuyển đến sống ở Santa Monica, California. Dean ban đầu theo học tại Trường Công lập Brentwood ở Los Angeles nhưng sau đó chuyển sang Trường Tiểu học McKinley ở khu phố lân cận. Thời thơ ấu, Dean rất thân với mẹ vì bà là người duy nhất hiểu được con trai mình. Khi anh lên bảy, bà đột nhiên mắc chứng đau ở bụng và sút cân nhanh chóng. Cuối cùng, bà mất vì ung thư tử cung khi con mình mới chín tuổi. Cha của Dean sau đó gửi anh đến sống chung với người cô và chú là Ortense và Marcus Winslow ở Fairmount, Indiana. Trong những năm tháng thiếu niên, Dean thường xuyên tiếp xúc với một mục sư Tin Lành tên James DeWeerd; ông là người có sức ảnh hưởng lớn tới những sở thích của anh sau này như đấu bò, đua xe và kịch. Hai người có mối quan hệ khá thân thiết kéo dài từ khi Dean học năm cuối trung học. Từng có vài ý kiến cho rằng hai người có quan hệ tình dục với nhau. Sau này, vào năm 2011, nữ diễn viên Elizabeth Taylor tiết lộ rằng Dean từng thú nhận với cô anh bị lạm dụng tình dục bởi một người đàn ông lớn tuổi hơn khoảng hai năm sau khi mẹ anh mất. Dean là một học sinh năng nổ ở trường trung học; anh tham gia đội bóng chày và bóng rổ, học kịch và tham gia cuộc thi hùng biện tổ chức bởi Hiệp hội Pháp y Trung học Indiana (Indiana High School Forensic Association). Sau khi tốt nghiệp Trường Trung học Fairmount năm 1949, anh chuyển về California cùng với chú chó Max và chung sống với cha và mẹ kế. Tại California, anh ban đầu nhập học tại Cao đẳng San Monica chuyên ngành luật, nhưng sau đó chuyển tiếp qua Đại học California tại Los Angeles (UCLA) và chuyển chuyên ngành sang nghệ thuật sân khấu. Người cha phản đối quyết định đó và mối quan hệ cha con trở nên tồi tệ đi. Trong quãng thời gian tại UCLA, Dean được chọn từ nhóm 350 người để thủ vai Malcolm cho vở "Macbeth". Tháng 1 năm 1951, anh rời UCLA để theo đuổi sự nghiệp diễn viên. Sự nghiệp diễn xuất. Những vai diễn đầu: 1951–1954. Lần xuất hiện đầu tiên trên truyền hình của Dean là một vai diễn công chúng trong một thước phim quảng cáo Pepsi. Vai diễn truyền hình đầu tiên của anh là vai Gioan Tông đồ trong chương trình truyền hình "Family Theater" nhân dịp kỷ niệm Lễ Phục sinh năm 1951. Trong thời gian này, Dean làm việc tại cánh đồng Iverson chuyên được các đạo diễn dùng để quay phim ở khu Chatsworth thuộc Los Angeles. Vì không có trình độ chuyên môn, anh thủ vai quần chúng trong các phim gồm "Fixed Bayonets!" (vai một người lính), "Sailor Beware" (vai nhân viên trong trường đấu boxing) và "Has Anybody Seen My Gal?" (vai một cậu thanh niên). Trong khoảng thời gian bươn chải với cuộc sống Hollywood, Dean làm việc tại bãi đỗ xe của đài CBS và được đạo diễn radio Rogers Brackett giúp đỡ tư vấn cho sự nghiệp diễn xuất cũng như chỗ ở tạm. Tháng 7 năm 1951, Dean xuất hiện trong chương trình "Alias Jane Doe" của đài CBS. Tháng 10 năm đó, cùng với sự ủng hộ từ Brackett và diễn viên James Whitmore, anh chuyển đến Thành phố New York và làm thử nghề đóng thế cho trò chơi truyền hình "Beat the Clock", nhưng sau đó bị đuổi vì "làm việc quá nhanh." Nam diễn viên cũng xuất hiện trên một vài chương trình truyền hình của CBS bao gồm "The Web", "Studio One" và "Lux Video Theatre", sau đó được nhận vào hội The Actors Studio theo học kỹ năng diễn xuất với sự dẫn dắt của Lee Strasberg. Tự hào với thành tựu ấy, anh viết thư gửi về gia đình năm 1952 và ngợi ca Actors Studio là "trường học diễn xuất vĩ đại nhất. Những người theo học ở đây gồm có Marlon Brando, Julie Harris, Arthur Kennedy, Mildred Dunnock, Eli W". Sự nghiệp của Dean bắt đầu khấm khá hơn: anh thủ vai trong một vài chương trình truyền hình nữa bao gồm "Kraft Television Theatre", "Robert Montgomery Presents", "The United States Steel Hour", "Danger" và "General Electric Theater". Vai diễn cậu bé tinh nghịch Bắc Phi tên Bachir trong vở kịch dựa trên cuốn sách "The Immoralist" của André Gide năm 1954 nhận được phản ứng tích cực từ các nhà phê bình và giúp Dean nhận được cuộc gọi thử vai đầu tiên từ Hollywood. Đạo diễn Elia Kazan năm 1953 đang tìm kiếm một diễn viên quan trọng để thủ vai Cal Trask, một nhân vật được cho là có những cung bậc cảm xúc phức tạp để sản xuất bộ phim "East of Eden" ("Phía đông vườn địa đàng") dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên năm 1952 của tác giả John Steinbeck. Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của hai gia đình Trask và Hamilton qua ba thế hệ và tập trung vào cuộc sống của hai thế hệ sau tại Thung lũng Salinas ở California từ giữa thế kỷ 19 đến những năm thập niên 1910. Bộ phim chỉ tập trung vào phần cuối của cuốn tiểu thuyết, đặc biệt là nhân vật Cal Trask. Nội dung chính của phim tập trung vào mâu thuẫn cha con và sự nổi loạn của người con ngược lại những gì người cha mong đợi. Cal Trask có một người anh là Aron Trask, so với người anh, Cal trông có vẻ dễ bị cảm xúc chi phối hơn, nhưng thực tế Cal là người có khiếu ăn nói và khôn ngoan hơn cả người cha hay càu nhàu và than phiền về những người con của mình (Raymond Massey). Cal luôn thắc mắc về người mẹ tưởng như đã chết của mình theo lời người cha, sau đó phát hiện ra mẹ mình vẫn còn sống và hành nghề tú bà nhà chứa (Jo Van Fleet). Đạo diễn Kazan muốn tìm kiếm một diễn viên tài năng như Marlon Brando cho vai Cal, và biên kịch Paul Osborn gợi ý việc tuyển James Dean, lúc đấy vẫn chưa có tiếng tăm trong làng điện ảnh. Nam diễn viên sau đó trực tiếp gặp Steinbeck, tác giả cuốn tiểu thuyết không thích tính cách của Dean vì "có vẻ buồn và phức tạp" nhưng đồng ý rằng anh là một diễn viên hoàn hảo cho vai Cal. Anh được nhận vào đoàn phim ngày 8 tháng 4 năm 1954 và chuyển từ New York về lại Los Angeles để bắt đầu cảnh quay. Phần lớn diễn xuất của Dean trong bộ phim đều không cần kịch bản: Cal Trask nhảy nhót giữa cánh đồng, cuộn tròn người lại trên tàu sau khi tìm mẹ mình ở Monterey, hay ôm bố mình rồi bật khóc khi ông từ chối nhận tiền anh tự thân kiếm được, mặc dù kịch bản ghi rõ là Cal sẽ chạy ra khỏi nhà. Với "East of Eden", nam diễn viên nhận được đề cử cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải Oscar năm 1956 khi đã qua đời và trở thành diễn viên đầu tiên được để cử Oscar sau khi mất. Dean nhanh chóng thủ vai chính thứ hai trong bộ phim "Rebel Without a Cause" ("Nổi loạn vô cớ"), sau này trở nên rất phổ biến với thanh thiếu niên Mỹ. Trong phim, Dean thủ vai Jim Stark, một cậu thanh niên cố gắng hòa nhập với bạn bè trang lứa và bất bình với ý kiến của bố mẹ mình. Gia đình Jim chuyển nhà vì bố cậu mong cậu sẽ có bạn, nhưng Jim lại vướng vào nhiều rắc rối vì gây sự với những người chê cậu là "con gà" ("chicken"). Sau này, Jim gặp Judy (Natalie Wood) và yêu cô, nhưng phát hiện cô ta là bạn với hội đã chế nhạo Jim. Bộ phim được công nhận là tiếng nói cho những chuyển biến tâm lý của giới trẻ đương thời, thể hiện khoảng cách thế hệ giữa phụ huynh và con cái và cho thấy những giá trị đạo đức bị mài mòn của xã hội Mỹ thập niên 1950. Dù "East of Eden" và "Rebel Without a Cause" đều thành công, Dean không muốn hình tượng của mình bị bó buộc trong những vai diễn thanh niên nổi loạn và bất bình với cuộc đời như Cal Trask hay Jim Stark. Anh quyết định thay đổi hình ảnh và thủ vai Jett Rink, một người làm nông ở Texas sau đó phát hiện ra mỏ dầu và trở nên giàu có trong phim "Giant" ("Gã khổng lồ"). Bộ phim được phát hành năm 1956 sau khi Dean đã qua đời. Bạn cùng diễn gồm Rock Hudson và Elizabeth Taylor. "Giant" trở thành bộ phim cuối cùng mà Dean thủ vai chính. Sau "Giant", tài tử Hollywood có một vài vai diễn được cân nhắc, bao gồm trong phim "Somebody Up There Likes Me". Theo đạo diễn của "Rebel Without a Cause" Nicholas Ray, Dean và ông đã có dự định quay một bộ phim tình mang tên "Heroic Love" cùng nhau. Tất cả các dự định đều bị hủy vì cái chết đột ngột của nam minh tinh vào tháng 9 năm 1955. Sau khi mẹ mất, cha Dean gửi anh tới sống cùng cô và chú ở Indiana, do đó anh lớn lên mà không có tình thương của cha. Dù sau này trong thời gian ở California, anh có sống chung với cha và mẹ kế, nhưng có vẻ ông không muốn nhìn thấy mặt anh. Quan hệ cha con trở nên tồi tệ hơn khi tài tử Hollywood chuyển chuyên ngành sang kịch, và cuối cùng bỏ học để theo đuổi sự nghiệp điện ảnh, điều mà người cha phản đối kịch liệt. Chính vì lẽ đó, bạn bè và đồng nghiệp đều nhận thấy Dean thật sự muốn có được tình yêu và sự công nhận từ cha mình, điều mà khán giả có thể cảm nhận qua hai vai diễn trong phim "East of Eden" và "Rebel Without a Cause" đều là những cậu thanh niên có trăn trở và cảm xúc khá giống với con người thật của anh. Kể cả sau khi Dean qua đời và trở thành huyền thoại của Hollywood, người cha vẫn không muốn nhắc đến đứa con của mình. Biên kịch William Bast là một người bạn thân thiết của Dean, ông là bạn cùng phòng với tài tử Hollywood khi học ở UCLA và sau này cùng anh chuyển tới sống ở New York. Bast cũng là tác giả đầu tiên viết về cuộc đời James Dean sau khi anh tử nạn năm 1955. Sau khi hoàn thành bộ phim "East of Eden", Dean kết thân với nhiếp ảnh gia Dennis Stock của tạp chí "Life", người chụp những bức ảnh nổi tiếng về cuộc sống của nam diễn viên trong thời gian ở New York và Fairmount, Indiana. Tình bạn của hai người được khắc họa qua bộ phim "Life" năm 2015, do Robert Pattinson và Dane DeHaan thủ vai. Trong thời gian học ở UCLA, Dean hẹn hò với một nữ diễn viên cho đài CBS tên Beverly Wills. Hai người chia tay vì anh "bùng lên cơn ghen" khi một người đàn ông khác mời cô cùng khiêu vũ ở một bữa tiệc. Khi chuyển đến New York, anh có mối quan hệ với một nữ diễn viên tên Barbara Glenn trong vòng hai năm. Lá thư tình của Dean cho bạn gái được đấu giá năm 2011 với giá 36.000 đô la Mỹ. Trong những năm đầu sự nghiệp điện ảnh, sau khi ký kết hợp đồng với Warner Bros., hãng phim bắt đầu tung tin hẹn hò của Dean với một loạt các nữ diễn viên trẻ qua sự mai mối của một quản lý tại Hollywood tên Dick Clayton. Mối tình được biết tới nhiều nhất của tài tử Hollywood là với nữ diễn viên người Ý Pier Angeli. Hai người biết nhau khi cô đang quay phim "The Silver Chalice" tại một phim trường của Warner Bros. Anh tỏ tình cô bằng cách gửi cô những món trang sức đắt tiền. Theo lời Angeli, hai người có một tình yêu nồng nhiệt: "Chúng tôi thường trốn khỏi cánh nhà báo tới bờ biển California và dành thời gian ở đó, đùa giỡn như hai đứa trẻ [...] Chúng tôi giống như Romeo và Juliet, luôn cùng nhau và không thể lìa nhau." Mặc dù mối tình của họ được báo chí quan tâm, họ không hưởng hạnh phúc trọn vẹn vì sự phản đối từ mẹ của Angeli. Bà không chấp nhận những hành động hoang dại của Dean: trang phục luộm thuộm, hay trễ giờ và sở thích đua xe. Ngoài ra lý do tôn giáo cũng khiến bà phản đối Dean vì anh không theo Công giáo. Dù nam diễn viên rất muốn kết hôn với Angeli và sẵn sàng cho phép con của họ theo Công giáo, hãng phim Warner Bros. thuyết phục anh từ bỏ ý định kết hôn, sau này chính Dean cũng tự mình chấm dứt mối quan hệ với Angeli. Sau khi hoàn thành phim "East of Eden", tài tử Hollywood du lịch ngắn ngày đến New York tháng 10 năm 1954. Trong thời gian đó, Angeli bất ngờ thông báo hôn nhân của mình với ca sĩ người Mỹ gốc Ý Vic Damone. Giới báo chí bị một phen bất ngờ, và Dean trở nên tức giận. Một tháng sau, Angeli và Damone kết hôn. Có tin đồn Dean đã tới hôn lễ và đứng nhìn từ phía bên kia đường trên chiếc mô tô, và đôi lúc nhấn ga gây ồn; bản thân anh phủ nhận tin đồn "ngu ngốc" đó. Nhiều người cho rằng mối tình của Dean với Angeli chỉ là một chiêu trò thu hút dư luận, trong đó có cả bạn thân William Bast. Nhiều nhân chứng lại phản đối ý kiến này, cho rằng hai người họ thật sự yêu nhau nồng nhiệt. Có người kể rằng sau khi Dean biết tin Angeli mang thai, anh đã khóc nức nở và luôn miệng cho rằng đó là đứa con của anh. Sau hai cuộc hôn nhân đổ vỡ, Angeli thổ lộ với bạn bè của mình rằng Dean là "mối tình của cả đời cô". Xu hướng tình dục của Dean cũng là một chủ đề mà giới báo chí quan tâm. Khi được hỏi về xu hướng tình dục của mình, anh trả lời: "Không, tôi không đồng tính. Nhưng tôi cũng sẽ không thể không thử trước khi tôi qua đời." Bạn thân Bast của anh tiết lộ rằng họ từng một lần "trải nghiệm" với nhau, nhưng không giải thích rõ. Nhà báo Joe Hyams cho rằng tài tử Hollywood có thể có quan hệ với những người cùng giới, nhưng cho rằng đó đều là "hành động thương mại" nhằm phục vụ cho thăng tiến sự nghiệp. Tuy nhiên, nhiều người phản đối ý kiến này, bao gồm bạn thân lâu năm Bast. Bạn cùng đua mô tô với Dean, John Gilmore, khẳng định rằng hai người bọn họ đã "trải nghiệm" quan hệ tình dục đồng tính nhiều lần với nhau khi ở New York, miêu tả những lần trải nghiệm ấy là "những chàng trai hư hỏng (bad boys) chơi với nhau và bộc lộ những khía cạnh song tính của nhau." James Bellah, bạn cùng học với nam diễn viên ở UCLA nói rằng "Tôi không nghĩ anh ấy đồng tính. Nhưng nếu như anh ấy cảm thấy có lợi từ việc đó thì..." Một vài đồng nghiệp cho rằng Dean là người đồng tính nam, bao gồm đạo diễn "Rebel Without a Cause" Nicholas Ray và bạn diễn Elizabeth Taylor trong phim "Giant". Một số các nhà báo cho rằng Dean hoặc là người song tính, hoặc là người toàn tính, và những lần quan hệ đồng tính đều nhằm mục đích phục vụ cho thăng tiến sự nghiệp chứ không nhất thiết là xu hướng tình dục của nam minh tinh. Sở thích đua xe. Dean bắt đầu trở nên hứng thú với đua xe hơi vào năm 1954 và có dự định theo đuổi sự nghiệp đua xe. Anh mua một vài chiếc xe sau khi hoàn thành bộ phim "East of Eden", bao gồm chiếc Triumph Tiger T110 và Porsche 356. Trước khi bắt đầu quay "Rebel Without a Cause", anh hoàn thành cuộc đua chuyên nghiệp đầu tiên của mình tại Palm Springs, California ngày 26 và 27 tháng 3 năm 1955. Dean về nhất trong cuộc đua cho những người mới nhập, và về nhì trong cuộc đua chính. Một tháng sau, anh đua tiếp ở Bakersfield, California, về nhất trong những người cùng đua và thứ ba nếu xét tất cả các ngày đua. Dean cũng mong muốn tham gia cuộc đua Indianapolis 500 ở bang Indiana, nhưng không tham gia vì lịch trình quay phim bận rộn. Cuộc đua cuối cùng của Dean diễn ra tại Santa Barbara, California ngày 30 tháng 5 năm 1955. Tuy nhiên anh không hoàn thành cuộc đua vì piston bị hư. Sự nghiệp đua xe của anh bị tạm hoãn khi hãng phim Warner Brothers cấm anh không tham gia đua xe khi quay phim "Giant". Mong muốn được trở lại đua xe để trải nghiệm "những cảm xúc tự do", Dean đăng ký tham gia một cuộc đua ở Salinas, California, được dự định lịch diễn ra vào ngày 1 và 2 tháng 10 năm 1955. Anh đi cùng với điều phối viên Bill Hickman, nhiếp ảnh gia Sanford Roth và thợ máy người Đức Rolf Wütherich, người bảo trì chiếc Porsche 550 Spyder "Little Bastard" ("Kẻ ngốc nhỏ bé") của Dean. Trước đó Wütherich khuyên Dean nên tự lái chiếc Porsche từ Los Angeles tới Salinas để trình làng chiếc xe mới, và hai người họ cùng nhau du hành trên chiếc Porsche ngày 30 tháng 9 năm 1955. Lúc 3 giờ rưỡi chiều, nam diễn viên bị cảnh sát giao thông phạt trên Cao tốc Liên bang 99—anh lái xe với vận tốc 65 dặm trên giờ (105 km trên giờ) trên đoạn đường giới hạn tốc độ 55 dặm trên giờ (88 km trên giờ). Lúc 5 giờ 45 phút chiều, khi Dean cùng các bạn đồng hành lưu thông trên Cao tốc Liên bang 466 (nay là Cao tốc bang California số 46), một chiếc Ford Tudor đời 1950 đang băng qua ngã tư đường ngay phía trước chiếc Porsche. Do không kịp thắng, Dean đâm vào phía bên cạnh chiếc Ford, khiến chiếc Porsche bị hất vào lề đường cao tốc. Thợ máy Wütherich bị hất ra khỏi chiếc Porsche, còn Dean bị kẹt trong chiếc xe với nhiều vết thương nghiêm trọng và bị gãy cổ ngay tức khắc. Tài xế trên chiếc Ford, Donald Turnupseed, chỉ bị thương nhẹ. Vụ tai nạn được một vài nhân chứng đi đường chứng kiến và dừng lại để giúp đỡ. Một người phụ nữ có kinh nghiệm y tế đã tới và cố giúp đỡ, nhưng bà nhận thấy nhịp tim của Dean quá yếu và "cái chết là không thể tránh khỏi". Dean qua đời ngay khi vừa được đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Tưởng niệm chiến tranh Paso Robles lúc 6 giờ 20 tối. Ngày 2 tháng 10, vụ việc được hàng loạt các phương tiện truyền thông trong nước cũng như quốc tế loan tin. Tang lễ của tài tử Hollywood được tổ chức ngày 8 tháng 10 năm 1955 tại Nhà thờ Fairmount ở bang Indiana, nơi anh lớn lên và dành những năm tháng tuổi trẻ của mình. Thi hài anh được che đậy kỹ càng để che giấu những vết thương trầm trọng. Khoảng 600 người dự tang lễ và 2400 người hâm mộ có mặt ở ngoài nhà thờ ngày hôm đó. Anh được chôn cất ở Nghĩa trang Park tại Fairmount. Ngày 30 tháng 5 năm 2005, để kỷ niệm 50 năm ngày mất của Dean, bang California dựng cột tưởng niệm ở ngã tư giao Cao tốc bang số 46 và 41 gần nơi tai nạn xảy ra và đặt tên "Ngã tư tưởng niệm James Dean" (James Dean Memorial Junction). Một cuộc điều tra vụ tai nạn được tiến hành bởi Tòa án Quận San Luis Obispo, California. Tòa tuyên án Dean là người chịu trách nhiệm hoàn toàn cho vụ tai nạn của mình, còn tài xế trên chiếc Ford vô tội. Sau này, một bài báo trên tờ "Los Angeles Times" ngày 1 tháng 10 năm 2005 tiết lộ rằng theo lời một nhân viên tuần tra đường cao tốc bang California có mặt tại hiện trường vụ tai nạn, tốc độ chiếc Porsche vào thời điểm vụ việc xảy ra vào khoảng "55 dặm trên giờ" (khoảng 88 km/h) dựa trên những thương tích trên cơ thể Dean cũng như vị trí chiếc xe sau va chạm. Dù chỉ với ba bộ phim lớn và sự nghiệp ngắn ngủi trước khi qua đời ở tuổi 24, James Dean trở thành huyền thoại Hollywood mà ảnh hưởng vẫn tồn tại tới ngày nay. Thanh thiếu niên Mỹ những năm thập niên 1950 tôn vinh anh như một đại diện cho những xúc cảm và suy nghĩ của họ – một tầng lớp luôn lo âu và bất bình với cuộc sống và cảm thấy không có ai, kể cả bạn bè trang lứa, có thể hiểu họ. Diễn viên Humphrey Bogart bình luận rằng cái chết đột ngột là nhân tố khiến cho hình ảnh của Dean tồn đọng mãi mãi với thời gian và "nếu anh ấy sống sót, anh ấy có thể sẽ không có sức ảnh hưởng lớn như ngày hôm nay." Tờ "The New York Times" đồng tình và cho rằng điều đó đóng vai trò to lớn trong việc củng cố hình ảnh mà "không cần phải đổi mới" và khiến cho cái tên James Dean trở thành một đặc trưng của văn hóa Mỹ đương đại có thể ví như nhãn hiệu Coca Cola. Năm 1999, anh được Viện phim Mỹ xếp hạng 18 trong danh sách những ngôi sao vĩ đại nhất của lịch sử điện ảnh Hoa Kỳ. Dean là một diễn viên thể hiện được sức hút cả nam tính lẫn nữ tính. Nhà báo Joe Hyams cho rằng anh là một trong số hiếm những ngôi sao mà "cả đàn ông lẫn phụ nữ đều bị cuốn hút." Nhà báo Marjorie Garber đồng tình và viết rằng "đấy là nhân tố quyết định tạo nên một ngôi sao." Dean trở thành chủ đề cho nhiều chương trình truyền hình, phim, sách và kịch. Bộ phim "ngày 30 tháng 9 năm 1955" phát hành năm 1977 kể lại phản ứng của cư dân ở một thị trấn nhỏ miền nam nước Mỹ sau khi tài tử Hollywood tử nạn năm 1955. Ngày 20 tháng 4 năm 2010, một tập phim bị "mất" của chương trình "General Electric Theater" mang tên "The Dark, Dark Hours" ("Những thời khắc đen tối"), trong đó có hai vai diễn do Dean và cựu tổng thống Ronald Reagan thủ vai, được phát hành bởi đài NBC. Một bộ phim về tiểu sử của huyền thoại Hollywood, đóng bởi diễn viên James Franco, được phát hành vào năm 2001. Anh được vinh danh là một trong những biểu tượng văn hóa đại chúng thế giới của thế kỷ 20 bởi báo "Variety" và tạp chí "People". Hình tượng thanh niên nổi loạn ("bad boy") của Dean, đặc biệt qua vai diễn trong phim "Rebel Without a Cause", mở ra một trào lưu thời trang và phong cách sống mới đương thời. Anh được nhớ tới là một trong những biểu tượng sex nam nổi bật nhất của thời Hoàng kim Hollywood. Phong cách thời trang của tài tử Hollywood, tiêu biểu là áo thun trắng cùng quần jean Lee và áo jacket bomber đỏ trong "Rebel" khiến anh trở thành một biểu tượng thời trang và thu hút nhiều người hâm mộ bắt chước. Cùng với câu nói nổi tiếng "Sống như thể bạn sẽ chết vào hôm nay" ("Live as if you'll die today"), huyền thoại Hollywood trở thành người khởi xướng phong trào "cool" (tạm dịch: "ngầu") của giới trẻ Mỹ. Với tư cách là người đi đầu phong trào "bad boy", Dean được cho là người có tầm ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới nhạc rock and roll thời kỳ giữa thập niên 1950; nhà nghiên cứu David Shumway tại Đại học Carnegie Mellon có ý kiến rằng nam diễn viên là biểu tượng đầu tiên cho những hành động nổi loạn của giới trẻ và là "điềm báo cho phong trào chính trị của thanh thiếu niên." Hình ảnh của anh được những nghệ sĩ âm nhạc thế hệ sau như Elvis Presley tiếp nhận và bắt chước. Mặc dù "Rebel Without a Cause" không hề có nhạc rock trong album nhạc phim đi kèm, cảm xúc mà bộ phim mang lại cũng như hình ảnh mà nam minh tinh thủ vai khiến cho giới truyền thông cảm nhận "Dean và nhạc rock là hai thứ có mối liên hệ mật thiết với nhau" và tạp chí "Music Connection" còn vinh danh anh là "ngôi sao nhạc rock đầu tiên" của thế hệ. Cùng với sự trỗi dậy của nhạc rock trong văn hóa giới trẻ khắp thế giới những năm sau đó, Dean trở thành một tượng đài văn hóa đại diện cho sự bất bình của thanh thiếu niên trước những giá trị văn hóa lỗi thời và quan điểm bảo thủ của các bậc phụ huynh, một chủ đề được thể hiện khá thường xuyên trong các ca khúc rock. Nét quyến rũ tới mọi người không kể giới tính và tuổi tác cũng là nhân tố góp phần tạo nên hình ảnh bất tử của huyền thoại Hollywood. Các nghệ sĩ nhạc rock và rock and roll tiêu biểu chịu ảnh hưởng của huyền thoại Hollywood gồm Elvis Presley, Buddy Holly, Bob Dylan, David Bowie và The Beatles. Bob Dylan được gọi là "James Dean với cây đàn guitar" và thể hiện sự mến mộ với ngôi sao điện ảnh qua các album "The Freewheelin' Bob Dylan" (1963) và "Highway 61 Revisited" (1965). John Lennon, thành viên của The Beatles khẳng định rằng: "Nếu không có James Dean, The Beatles có lẽ đã không tồn tại." Cái tên cùng hình tượng James Dean đã và đang được đề cập rất nhiều trong các ca khúc rock, nổi tiếng gồm có "A Young Man Is Gone" của The Beach Boys (1963), "James Dean" của Eagles (1974) và "James Dean" của Goo Goo Dolls (1989). templatestyles src="Bản mẫu:Đầu tham khảo/" /
Trần Liễu (chữ Hán: 陳柳; 1211 - 1251), hay An Sinh vương (安生王) hoặc Khâm Minh Đại vương (欽明大王), một tông thất vương công thuộc hoàng tộc nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là trưởng tử của Trần Thái Tổ (Trần Thừa) và là đại ca của Trần Cảnh - vị hoàng đế đầu tiên của triều đại nhà Trần. Ngoài việc là anh của Trần Thái Tông, ông còn là nhân vật chính trị có vai trò đặc biệt trong chế độ nhà Trần thuở ban đầu. Về sau, ông trở thành nhân tố mấu chốt trong sự kiện năm Đinh Dậu (1237), khi vợ đầu của ông là Thuận Thiên Công chúa bị đem vào cung và trở thành hoàng hậu của Trần Thái Tông. Sự việc này khiến Trần Liễu phát sinh biến loạn tại sông Cái, và dù nhanh chóng bị dẹp yên, thế nhưng sự kiện này cũng hình thành nên vết rạn nứt trong mối quan hệ giữa ông và em trai. Cột mốc này tạo nên sự rạn nứt giữa hai nhánh lớn nhất của hoàng thất nhà Trần: nhánh hậu duệ kế vị của Trần Thái Tông và nhánh con cháu của Trần Liễu. Về sau đến tận thời Trần Anh Tông Trần Thuyên, giữa hoàng thất và con cháu của Trần Liễu luôn có hôn nhân nội tộc, đây thường được cho là một hình thức khiến hai phân nhánh này xóa bỏ mâu thuẫn của cha ông, đồng thời còn là một biện pháp kiểm soát của hoàng thất đối với nhánh Trần Liễu. Bên cạnh vai trò chính trị đặc biệt, Trần Liễu còn được chú ý vì là cha ruột của nhiều nhân vật lịch sử rất quan trọng của triều Trần, bao gồm Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung, Hoàng hậu của Trần Thánh Tông là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu và Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn - một nhân vật nổi tiếng nhất nhì trong lịch sử Việt Nam. Trần Liễu sinh vào khoảng niên hiệu Kiến Gia thứ 1 (1211), tại phủ đệ Tinh Cương, phủ Long Hưng (nay là xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Ông là trưởng tử của Trần Thừa, không rõ mẹ là ai, thông thường đều mặc định là Lê thị - vợ cả của Trần Thừa và là mẹ ruột của Trần Thái Tông Trần Cảnh. Theo thông tin hiện có, Trần Liễu có lẽ là trưởng tử trong số những người con của Trần Thừa, dưới Liễu là Trần Thái Tông, Khâm Thiên Đại vương Trần Nhật Hiệu. Ngoài ra còn có Thụy Bà công chúa, Thiên Thành công chúa và người anh em trai ngoài giá thú là Hoài Đức vương Trần Bà Liệt, cả ba hiện đều không rõ thứ tự trong nhà. Khi ông sinh ra và trưởng thành, họ Trần lúc đó dẫn đầu là Trần Lý đang là thế lực quân phiệt có sức ảnh hưởng tại thôn Lưu Gia, buộc vị thái tử của nhà Lý là Lý Hạo Sảm phải nương nhờ gia tộc này. Sau khi cô của Trần Liễu là Trần Thị Dung gả cho thái tử, gia tộc họ Trần chính thức tham gia vào cuộc chiến chính trị khi ấy. Thái tử lên ngôi, tức Lý Huệ Tông, gia tộc họ Trần lại bị xoay vần vì tình hình chính trị phức tạp và dã tâm của người chú Trần Tự Khánh - một người không hề giấu diếm việc muốn thao túng hoàng gia nhà Lý. Tới giai đoạn năm Bính Tý thời kỳ Kiến Gia (1216), lúc này Trần Liễu lên 6 tuổi, chính quyền nhà Lý cơ bản hoàn toàn nằm trong tay họ Trần, sau khi Lý Huệ Tông quyết định nương nhờ người chú Trần Tự Khánh đồng thời sách lập Trần thị làm hoàng hậu. Không rõ vào thời gian nào, Trần Liễu cuối cùng được ban hôn với Thuận Thiên Công chúa Lý Oánh, chị của Lý Chiêu Hoàng, con gái lớn nhất của Lý Huệ Tông đồng thời còn là chị em họ của ông, vì mẹ của Thuận Thiên là Trần Hoàng hậu. Dù còn nhỏ, Trần Liễu cũng giống con trai Trần Hải của Trần Tự Khánh đều được nhà Lý ban tước vị vương hầu, trong khi Hải là tước Vương thì Liễu là Quan nội hầu (關內侯). Tuy nhiên không rõ vào năm nào, Trần Liễu lại một lần nữa thụ phong tước vương, vị hiệu là Phụng Càn vương (奉乾王). Theo tài liệu văn bản cố được gọi là "Trần triều thế phả hành trạng", trước khi lấy Thuận Thiên thì bản thân Trần Liễu đã có người vợ tên là "Trần Thị Nguyệt", tức Thiện Đạo Quốc mẫu, vì Thuận Thiên là công chúa, phải là chính thất, nên Thiện Đạo liền thành thiếp thất. Năm Giáp Thân, Kiến Gia năm thứ 14 (1224), Chiêu Thánh công chúa Lý Thiên Hinh được Huệ Tông truyền ngôi, sử gọi là Lý Chiêu Hoàng. Người chú họ và cô ruột của Trần Liễu, Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ cùng hoàng hậu của Huệ Tông là Trần thị, đã sắp xếp rất nhiều anh em của Trần Liễu thuộc gia tộc họ Trần vào cung. Em trai ông là Trần Cảnh vào cung làm quan nội thị để phục vụ gần vị nữ hoàng đế. Trong thời gian đó, Trần Cảnh và Chiêu Hoàng gần gũi với nhau, dẫn đến việc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh vào cuối năm sau (1225), chấm dứt triều đại nhà Lý tồn tại hơn 200 năm. Sau khi Trần Cảnh lên ngôi thì tự xưng là Văn Hoàng (文皇), Chiêu Hoàng bị đổi thành "Chiêu Thánh" và được sách lập làm hoàng hậu. Năm Mậu Tý, Kiến Trung năm thứ 4 (1228), vào tháng 8 (âm lịch), ông được Thái Tông phong cho làm Thái úy, một chức vụ khiến ông được dự hàng tể tướng dù lúc đó ông chỉ mới 17 tuổi. Đến năm Giáp Ngọ (1234), sau khi cha của hai người là Thái thượng hoàng Trần Thừa qua đời, Trần Liễu vì là đại ca nên được Thái Tông ban vị trí "Phụ chính" (輔政) với tư cách thái úy, đồng thời được sách phong vị hiệu làm Hiển Hoàng (顯皇). Từ thời kỳ Chiêu Hoàng và đến Thái Tông tự xưng "Văn Hoàng", có thể thấy hậu tố -"Hoàng" đều do một hoàng đế tự xưng, điều này cho thấy Trần Thái Tông rất cất nhắc ông, từ đây ông chính thức ra chính trường phụ chính cho Thái Tông bên cạnh Thái sư Trần Thủ Độ. Việc sách phong anh trai làm "Hiển Hoàng" của Trần Thái Tông khiến Ngô Sĩ Liên bất bình, cho rằng tuy là anh trai nhưng Liễu chỉ là thần tử, Thái Tông ban phong hiệu cho anh trai ngang với danh xưng hoàng đế đã khiến "Danh không chính, ngôn không thuận, thế thì việc không thành". Tuy nhiên không lâu sau đó, vào năm Bính Thân (1236), Trần Liễu khi ấy làm chức Tri sự của Thánh Từ cung nhưng nổi tính cưỡng gian một cung phi cũ triều Lý tại cung Lệ Thiên. Nhân tội này, Trần Liễu bị giáng làm Hoài vương (怀王). Năm Đinh Dậu, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 6 (1237), vì Thái Tông lấy Chiêu Thánh mãi không có con, Thái sư Trần Thủ Độ cùng Thiên Cực công chúa lên kế sách đưa Thuận Thiên - lúc ấy đã có mang 3 tháng - vào cung làm hoàng hậu thay thế, giáng Chiêu Thánh làm công chúa, đứa trẻ sinh ra là Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang. Trước tình cảnh đó, Trần Liễu phẫn uất họp quân nổi dậy ở sông Cái rất dữ, Trần Thái Tông cảm thấy hổ thẹn nên bỏ đi lên núi Yên Tử và không chịu về cung điện, nhưng sau khi bị Trần Thủ Độ gây sức ép thì Thái Tông cũng đành phải quay về. Nổi loạn được 2 tuần, Trần Liễu biết không làm gì được phải đóng giả làm người đánh cá trốn lên thuyền Thái Tông xin tha tội. Khi ấy Trần Thủ Độ biết được, cầm gươm đến định giết Liễu nhưng Thái Tông lấy thân mình che cho Liễu, do đó mới thoát được bị nghị tội. Thái Tông tha tội Trần Liễu nhưng quân lính theo ông nổi loạn thì đều bị giết. Để an ủi ông, Trần Thái Tông lấy các đất An Phụ, An Dưỡng, An Sinh, An Hưng và An Bang cho ông làm ấp thang mộc, và sửa phong hiệu là An Sinh vương (安生王). Dù rằng nhận ở thế thua cuộc và tự xin hàng, Trần Liễu vẫn rất hậm hực và bất mãn với em trai mình, đến tận khi chết thì Trần Liễu vẫn giữ mối thù này mà không buông bỏ được. Biểu hiện rõ nhất của tâm lý này chính là việc Trần Liễu tìm người đào tạo con trai thứ là Trần Quốc Tuấn khi nghe thầy xem tướng nói Quốc Tuấn có tướng đại quý, dồn rất nhiều tâm huyết để đào tạo Quốc Tuấn giỏi giang hòng uy hiếp con cháu của Thái Tông. Năm Tân Hợi, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 20 (1251), Trần Liễu sắp hấp hối, ông dặn người con trai của mình là Trần Quốc Tuấn phải cướp ngôi nhà Trần từ tay hậu duệ Trần Thái Tông, cụ thể câu nói là: "Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được?". Và tuy rằng Quốc Tuấn nhận lời vì đạo hiếu đối với cha mình, nhưng trong thâm tâm không cho điều này là đúng. Vào tháng 4 (âm lịch) năm ấy, Trần Liễu qua đời, hưởng dương 41 tuổi, gia tặng làm "Đại vương", không rõ mộ táng ở khu vực nào. Về sau ông được truy thụy hiệu là "Khâm Minh Đại vương". Trang ấp và đền thờ. Trần Liễu được cho là đã cho lập trang ấp ở dưới chân núi An Phụ, nay thuộc phường An Sinh, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, riêng sách Cương mục ghi chú An Sinh ngày nay thuộc huyện Đông Triều. Sau khi Trương Phụ đánh bại nhà Hồ, chính quyền triều Minh đã cho tàn phá tất cả những di tích của nước Đại Việt xưa, cũng gây nên tổn thất nghiêm trọng về thông tin cụ thể phần mộ địa của hoàng tộc nhà Trần. Ngày nay, tượng thờ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đặt tại đỉnh An Phụ, thấp hơn đền Trần Liễu. Đền thờ ông ở núi An Phụ, được gọi là đền Cao An Phụ. Ngày mất của ông không được chính sử truyền lại, dân gian lấy ngày 1 tháng 4 âm lịch (tức 23 tháng 4 năm 1251) trở thành ngày hội của đền Cao.
Thời đại đồ đá Thời đại Đồ đá hay Paleolithic là một thời kỳ tiền sử kéo dài mà trong giai đoạn này đá đã được sử dụng rộng rãi để tạo ra các công cụ có cạnh sắc, đầu nhọn hoặc một mặt để đập. Thời kỳ này kéo dài khoảng gần 3.4 triệu năm, và kết thúc vào giai đoạn khoảng từ 8700 TCN tới năm 2000 TCN,#đổi cùng với sự ra đời của các công cụ bằng kim loại. Mặc dù một số công cụ đơn giản bằng các kim loại dễ uốn mà đặc biệt là vàng và đồng vốn được dùng vào mục đích trang trí đã được biết đến trong giai đoạn thời đại đồ đá, việc con người biết cách nung chảy và luyện đồng đã đánh dấu sự chấm hết của Thời đại Đồ Đá. Ở Tây Á, điều này diễn ra vào khoảng năm 3000 TCN khi đó đồng đã trở nên phổ biến. Thuật ngữ Thời đại đồ đồng được sử dụng để miêu tả thời kỳ nối tiếp thời đại Đồ đá, đồng thời nó cũng được sử dụng để miêu tả các nền văn hóa đã phát triển những công nghệ và các kỹ thuật để chế tác đồng thành công cụ thay thế cho công cụ bằng đá. Các công cụ đá được chế tạo từ nhiều kiểu đá khác nhau. Ví dụ, đá lửa và đá phiến silic được mài sắc (hay được đẽo) để làm công cụ cắt gọt và vũ khí, trong khi đá basalt và sa thạch được dùng làm công cụ (ground stone), như đá nghiền. Gỗ, xương, vỏ sò và sừng thú cũng được sử dụng nhiều. Ở thời kỳ cuối của giai đoạn này, những trầm tích (như đất sét) được sử dụng làm đồ gốm. Nhiều cải tiến trong kỹ thuật gia công kim loại đã định rõ đặc điểm cho thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt. Thời kỳ này là giai đoạn đầu tiên con người sử dụng kỹ thuật một cách rộng rãi trong tiến trình tiến hóa loài người và con người tiến từ phía các thảo nguyên ở Đông Phi về các phần còn lại của thế giới. Nó kết thúc với sự phát triển nông nghiệp, sự thuần hoá một số loài súc vật và sự nấu chảy quặng đồng để gia công kim loại. Nó được đặt thuật ngữ là tiền sử, bởi vì con người vẫn chưa bắt đầu biết viết - sự khởi đầu truyền thống của lịch sử (như sử được ghi chép). Thuật ngữ "Thời đồ đá" được các nhà khảo cổ học sử dụng để chỉ giai đoạn tiền kim loại kéo dài này, trong đó các dụng cụ đá được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại vật liệu (mềm hơn) nào khác. Nó là thời kỳ đầu tiên trong hệ thống ba thời kỳ và được chia nhỏ thêm ra thành ba giai đoạn là giai đoạn đồ đá cũ, giai đoạn đồ đá giữa và giai đoạn đồ đá mới bởi John Lubbock trong cuốn sách kinh điển của ông Những thời đại tiền sử năm 1865. Ba giai đoạn đó lại được chia nhỏ nữa. Trên thực tế, những giai đoạn tiếp theo khác biệt nhau rất lớn theo từng vùng (và theo văn hoá). Thực vậy, con người tiếp tục tiến đến các vùng mới thậm chí tới tận thời đồ kim loại vì thế tốt nhất là chỉ nói về một Thời đồ đá, thay vì nói chung Thời đồ đá. Thời kỳ đồ đá trong khảo cổ học. Phạm vi thời gian của giai đoạn này rất mơ hồ, bị tranh cãi, và khác nhau tùy theo vùng. Trong khi không thể đưa ra được một giai đoạn "Thời kỳ đồ đá" chung cho toàn nhân loại, một số nhóm người không bao giờ phát triển kỹ thuật nấu chảy kim loại, vì vậy họ vẫn ở trong "Thời kỳ đồ đá" cho tới khi họ gặp những nền văn hóa có kỹ thuật phát triển hơn. Tuy nhiên, nói chung, mọi người tin rằng thời kỳ này đã bắt đầu vào khoảng 3 triệu năm trước, bắt đầu cùng lúc với vượn người biết chế tạo dụng cụ ở Châu Phi. Đa số những người vượn phương Nam có lẽ đã không sử dụng dụng cụ đá (mặc dầu có lẽ chúng đã được phát minh bởi "Paranthropus robustus") nhưng việc nghiên cứu những di vật của họ vẫn đang để dành cho các nhà khảo cổ học nghiên cứu về giai đoạn này. Năm 2010, các mẫu xương động vật hóa thạch được gọt đẽo từ các công cụ đồ đá được phát hiện trong thung lũng Hạ Awash ở Ethiopia. Nhóm công tác quốc tế do Shannon McPherron dẫn đầu đã phát hiện ra rằng các công cụ đồ đá cổ nhất đã từng được sử dụng có tuổi 3,4 triệu năm. Các công cụ đồ đá cổ nhất từng được biết đến đã được khai quật ở nhiều nơi thuộc Gona, Ethiopia, trong các trầm tích cổ của sông Awash. Tất cả các công cụ trong hệ tầng Busidama, nó nằm trên một bất chỉnh hợp (thiếu lớp) có tuổi từ 2,9 đến 2,7 triệu năm. Các vị trí khảo cổ cổ nhất có chứa công cụ đồ đá định tuổi được từ 2,6–2,55 triệu năm. Vì sự phong phú của đồ vật tạo tác bằng đá, chúng thường là những di vật duy nhất còn sót lại, việc phân tích đá là cách chính và chuyên biệt để khảo sát về giai đoạn này. Nó liên quan tới việc đo đạc các công cụ bằng đá để xác định các kiểu hình thức, chức năng và kỹ thuật có liên quan của công cụ. Thường là phân tích cách đẽo đá từ nguyên liệu thô, nghiên cứu cách thức chế tác thực tế của những vật đó. Điều này cũng có thể được xem xét dựa trên khảo cổ học thực nghiệm, bằng cách cố sức tạo ra các dụng cụ tương tự. Việc này được thực hiện bởi những người tạo tác đá lửa, họ đẽo một viên đá lửa để tạo ra một công cụ bằng đá lửa. Cách sử dụng mới của thuật ngữ. Một vấn đề với thuật ngữ này là nó ngụ ý rằng sự tiến bộ của loài người và các giai đoạn thời đại ở tiền sử chỉ được đo đạc bằng kiểu dụng cụ được sử dụng nhiều nhất ở thời gian đó, hơn là, ví dụ, kiểu tổ chức xã hội, nguồn thức ăn được khai thác, hay sự thích nghi theo các kiểu khí hậu khắc nghiệt. Đây là một sản phẩm của mức độ hiểu biết về quá khứ đã xa ở thế kỷ 19 khi hệ thống ba thời kỳ được phát triển, thời điểm mà việc tìm ra các dụng cụ tạo tác là mục đích chính của một cuộc khai quật khảo cổ. Các kỹ thuật khảo cổ hiện đại mang lại nhiều thông tin hơn và giúp chúng ta có được hiểu biết tốt hơn về thời tiền sử và nêu ra những sự phân chia rõ ràng cho thuật ngữ "Thời đồ đá" đã ngày càng lỗi thời. Hiện nay chúng ta biết rằng những thay đổi trong xã hội quá khứ trong hàng nghìn năm là rất phức tạp và liên quan tới nhiều nhân tố như sự chấp nhận nông nghiệp, định cư hay tôn giáo và rằng việc sử dụng công cụ chỉ là một dấu hiệu không mang ý nghĩa đại diện cho thực tiễn và đức tin của một xã hội. Một vấn đề khác liên quan tới thuật ngữ Thời kỳ đồ đá là nó được tạo ra để miêu tả văn hóa khảo cổ của Châu Âu, và rằng nó không thích hợp để sử dụng trong mối quan hệ với các vùng như một số vùng ở Châu Mỹ và Châu Đại Dương, nơi những người trồng cấy hay những người săn bắt và hái lượm sử dụng công cụ bằng đá tới tận khi công cuộc thực dân hóa của người châu Âu bắt đầu. Việc chế tác kim loại là một thứ không có tầm quan trọng lớn đối với người dân ở đó và nên dùng những thuật ngữ khác để phân chia thời tiền sử ở những vùng đó. Một sự phi lý giống như vậy khi áp đặt Thời đại đồ sắt ra khắp thế giới, bởi vì sắt (không phải đồng, bạc hay vàng) không được biết tới ở châu Mỹ cho tới tận năm 1492, ở châu Đại Dương tới tận thế kỷ 17. Tiếp sau Thời kỳ đồ đá thường là Thời kỳ đồ đồng, trong đó kỹ thuật chế tác kim loại cho phép các công cụ bằng đồng (đồng và thiếc hay các kim loại khác) trở nên nhiều hơn. Sự chuyển giao của thời đồ đá diễn ra khoảng giữa 6000 TCN và 2500 TCN đối với đa số dân cư sống tại Bắc Phi, châu Á và châu Âu. Ở một số vùng, như châu Phi Hạ Sahara, thời đại đồ đá được nối tiếp trực tiếp bởi thời đồ sắt. Mọi người thường cho rằng các vùng ở Trung Đông và Đông Nam Á đã tiến triển vượt qua kỹ thuật thời đồ đá vào khoảng năm 6000 TCN. châu Âu và phần còn lại của châu Á đã ở thời xã hội hậu đồ đá vào khoảng năm 4000 TCN. Các nền văn hóa tiền-Inca ở Nam Mỹ tiếp tục ở trình độ thời đồ đá đến tận khoảng năm 2000 TCN, khi vàng, đồng và bạc bắt đầu xuất hiện, những nơi khác xảy ra muộn hơn. Australia vẫn ở thời đồ đá tới tận thế kỷ 17. Chúng ta cũng biết rằng sự chuyển đổi từ Thời đồ đá sang Thời đồ đồng không phải là một thời điểm rõ ràng mà lâu dài, sự chế tác vàng và đồng dần xuất hiện ở những điểm ở Thời đồ đá mới. Giai đoạn "chuyển tiếp" này được gọi là Thời đại đồ đồng đá hay Chalcolithic. Nó là một sự phát triển ngắn và mang nhiều tính địa phương bởi vì việc tạo hợp kim thiếc với đồng đã bắt đầu khá sớm, trừ khi tại những vùng không có thiếc. Ví dụ Người băng Ötzi, một xác ướp từ khoảng năm 3300 TCN có mang bên mình một cái rìu đồng và một con dao bằng đá lửa. Việc chế tạo công cụ bằng đá vẫn tiếp diễn ngay cả ở thời đại dùng đồ kim loại, có lẽ tới tận đầu thời Trung Đại. Tại châu Âu và Bắc Mỹ, những chiếc cối xay đá vẫn được dùng tốt ở thế kỷ 20, và hiện vẫn đang được dùng ở nhiều nơi trên thế giới. Sự tiến hóa của loài người trong thời đồ đá. Thời đồ đá chiếm một khoảng thời gian rất dài, và trong thời gian đó các thay đổi lớn về khí hậu và các điều kiện sống khác đã diễn ra, nó làm ảnh hưởng tới tiến trình tiến hóa loài người. Con người tới lượt mình lại làm tiến hóa kiểu hình thái tiến triển ở hậu kỳ thời kỳ đồ đá. Thời đại đồ đá cũ. Thời đại đồ đá cũ bắt đầu từ khoảng 2 triệu năm trước đây và kết thúc vào khoảng cuối thế Pleistocen hay 10.000 năm trước. Ở những vùng chuyển tiếp ngay sang thời đại đồ đá mới thì thời đại đồ đá cũ gồm cả thời đại đồ đá cũ trên ("epipalaeolithic") - thuật ngữ áp dụng cho các khu vực ngoài đại lục Á-Âu, như Cận Đông; tương đương thời đại đồ đá giữa ở một số nơi khác tại đại lục Á-Âu; và kết thúc vào khoảng 8.000 năm trước. Thời đại đồ đá cũ được đặc trưng bằng việc sử dụng các công cụ bằng đá được ghè đẽo, mặc dù người nguyên thủy vào thời gian đó cũng sử dụng các công cụ bằng gỗ và xương. Các sản phẩm nguồn gốc hữu cơ cũng được sử dụng làm công cụ, bao gồm da và các sợi thực vật; tuy nhiên các loại công cụ này đã không được bảo quản ở mức độ đáng kể. Theo truyền thống, thời đại đồ đá cũ được chia ra thành ba thời kỳ, là thời kỳ đồ đá cũ sớm, thời kỳ đồ đá cũ giữa và thời kỳ đồ đá cũ muộn. Các thời kỳ này đánh dấu các tiến bộ trong công nghệ và văn hóa ở các xã hội loài người nguyên thủy khác biệt. Thời kỳ đồ đá cũ sớm. Gần cuối thế Pliocen ở châu Phi, một tổ tiên đầu tiên của người hiện đại, được gọi là "Homo habilis", đã phát triển những công cụ đá đầu tiên từng được biết. Chúng là những công cụ đơn giản như các loại dao. "Homo habilis" được cho là đã sử dụng thành thạo công cụ thời kỳ Olduvai như các mảnh đá và lõi hạt. Công nghệ chế tạo dụng cụ đá này được đặt tên theo địa điểm hẻm vực Olduvai ở Tanzania. Những người này được cho là sống bằng cách tìm thịt thối và những loài cây dại, hơn là săn bắn con mồi. Khoảng 1,5 triệu năm trước, một chủng người tiến hóa hơn, "Homo erectus", đã xuất hiện. "H. erectus" học cách kiểm soát lửa và chế tạo các công cụ cắt phức tạp hơn, cũng như mở rộng phạm vi sinh sống ra ngoài khu vực châu Phi đến tận châu Á, như tại các địa điểm ở Chu Khẩu Điếm Trung Quốc. 1 triệu năm trước, bằng chứng đầu tiên về loài người ở châu Âu đã xuất hiện, và họ sử dụng rìu đá tiến bộ hơn. Thời kỳ đồ đá cũ giữa. Giai đoạn này bắt đầu khoảng 200.000 năm trước và nổi tiếng nhất vì nó là giai đoạn sinh sống của người Neanderthal (khoảng 120.000–35.000 năm trước). Các kỹ thuật chế tạo dụng cụ đá của người Neanderthal thường được gọi là tổ hợp kỹ thuật Moustier. Người Neanderthal cuối cùng biến mất khỏi ghi chép khảo cổ học, được thay thế bởi người hiện đại đầu tiên xuất hiện ở miền nam châu Phi khoảng 100.000 năm trước. Mặc dù thường được mọi người coi là nguyên thủy, vẫn có bằng chứng rằng người Neanderthal nuôi dưỡng những người già và tiến hành lễ nghi chôn chất minh chứng cho một xã hội đã được tổ chức. Bằng chứng đầu tiên của sự định cư là ở Australia khoảng 40.000 năm trước khi người hiện đại dường như đã vượt từ châu Á tới bằng cách đi từ đảo này tới đảo khác. Những dân cư trung kỳ thời kỳ đồ đá cho thấy những bằng chứng sớm nhất về nghệ thuật và một số khái niệm trừu tượng như vẽ mình bằng đất hoàng thổ. Thời kỳ đồ đá cũ muộn. Từ khoảng 35.000 đến 10.000 năm trước (cuối thời kỳ băng hà cuối cùng) người hiện đại đã mở rộng thêm vùng sinh sống trên khắp Trái Đất trong giai đoạn hiện được coi là hậu kỳ Thời đại đá cũ. Sau khi người hiện đại đầu tiên tới ở châu Âu kỹ thuật chế tạo dụng cụ đá khá phức tạp đã xuất hiện trong giai đoạn này, gồm các công nghiệp khảo cổ như công nghiệp Châtelperron (45.000-36.000 năm trước ngày nay), công nghiệp Aurignac (43.000-28.000 năm), công nghiệp Solutré (22.000-17.000 năm), công nghiệp Gravette (33.000-21.000 năm) và công nghiệp Madeleine (17.000 -12.000 năm). Châu Mỹ được loài người định cư thông qua cầu lục địa Bering thời kỳ đó vẫn còn nổi trên mực nước vì nước biển lúc đó ở mức thấp. Những người này được gọi là cổ thổ dân châu Mỹ, và thời điểm sớm nhất được chấp nhận là những thời điểm của các địa điểm thuộc văn hóa Clovis, khoảng 13.500 năm trước. Trên khắp địa cẩu, các xã hội thuộc kiểu săn bắn và hái lượm nhưng bằng chứng về nét nhận dạng theo vùng bắt đầu xuất hiện với rất nhiều kiểu công cụ đá được phát triển để thích hợp cho từng môi trường sống khác nhau. "Main articles: Epipalaeolithic, Mesolithic" Epipalaeolithic/Thời đại đá giữa. Khoảng thời gian giữa điểm kết thúc của kỷ băng hà cuối cùng, từ 10.000 năm đến khoảng 6.000 năm trước có đặc trưng với sự nâng lên của mực nước biển và một nhu cầu thay đổi để thích ứng với sự thay đổi của môi trường và tìm kiếm nguồn thức ăn mới. Sự phát triển của các dụng cụ microlith đã bắt đầu để thích ứng với những thay đổi đó. Chúng xuất phát từ những công cụ thời kỳ đồ đá cũ trước đó, vì vậy xuất hiện thuật ngữ Epipalaeolithic. Tuy nhiên, ở châu Âu thuật ngữ Mesolithic (Thời đại đá giữa) lại được sử dụng, bởi vì các công cụ (và cách thức sống) được nhập cảng từ Cận Đông. Ở đó, các công cụ microlith cho phép săn bắn một cách hiệu quả hơn, trong khi những sự định cư phức tạp hơn, như Lepenski Vir đã phát triển dựa trên đánh cá. Việc thuần hóa chó thành một người bạn săn có lẽ cũng diễn ra trong giai đoạn này. Thời đại đá mới. Thời đại đá mới ("Neolithic") có đặc trưng bởi sự chấp nhận nông nghiệp (cũng được gọi là Cuộc cách mạng thời đại đá mới), sự phát triển của đồ gốm và nhiều nơi định cư phức tạp hơn như Çatal Hüyük và Jericho. Những văn hóa thời đại đá mới đầu tiên bắt đầu vào khoảng năm 8.000 TCN ở Lưỡi liềm Màu mỡ. Nông nghiệp và văn hóa dẫn tới đã mở rộng tới Địa Trung Hải, lưu vực sông Ấn, Trung Quốc, và Đông Nam Á. Vì nhu cầu thu hoạch và chăm sóc cây cối, các dụng cụ đá để làm đất và các dụng cụ đá được chế tạo kỹ lưỡng khác trở nên phong phú hơn, gồm cả công cụ nghiền, cắt, thái và rìu. Những công trình to lớn lần đầu tiên được xây dựng, gồm cả các tháp để ở và những bức tường (ví dụ ở Jericho) và các địa điểm nghi lễ (ví dụ như bức tường đá Stonehenge). Những điều này cho thấy đã có những nguồn lực và sự cộng tác đầy đủ cho phép các nhóm người cùng thực hiện các dự án đó. Sự mở rộng thêm về sự phát triển của tầng lớp trên và hệ thống cấp bậc vẫn còn đang được bàn cãi. Bằng chứng sớm nhất về thương mại đã xuất hiện ở thời kỳ đồ đá mới với việc những người mới định cư nhập khẩu những hàng hóa từ bên ngoài với khoảng cách hàng trăm dặm. Vật liệu văn hóa thời đồ đá. Thức ăn và đồ uống. Các nguồn thức ăn của những người săn bắn hái lượm thời kỳ đồ đá gồm cả động vật và thực vật sống trong môi trường nơi họ sống. Những người dân cư này thích ăn thịt nội tạng thú, gồm cả gan, thận và óc. Họ ăn ít đồ có nguồn gốc từ sữa hay thức ăn thực vật có nhiều carbohydrate- như các loại rau hay ngũ cốc. Nghiên cứu hiện nay cho thấy rằng hai phần ba năng lượng cần thiết của họ có nguồn gốc động vật. Hàm lượng chất béo trong chế độ ăn được cho là tương tự như hiện nay, nhưng tỷ lệ các kiểu chất béo tiêu thụ thì lại khác biệt: tỷ lệ Omega-6 với Omega-3 là khoảng 3: 1 so với 12:1 hiện nay. Gần cuối thời kỳ băng hà cuối cùng, 15.000 đến 9.000 năm trước, một sự tuyệt chủng trên diện rộng các loài thú có vú diễn ra ở châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ và Australia. Đây là sự kiện tuyệt chủng Holocene đầu tiên. Thậm chí có thể điều này đã buộc loài người ở thời kỳ đó phải thay đổi thói quen ăn uống và cùng với sự xuất hiện của việc trồng cấy nông nghiệp, các loại thức ăn nguồn gốc thực vật cũng đã trở thành một phần thường thấy của chế độ ăn. Một báo cáo ở Tạp chí National Geographic đã chỉ ra rằng "loại đồ uống có vị rượu đầu tiên có thể đã xuất hiện khi người dân thời kỳ đồ đá mới uống thứ nước quả nho dại được làm lên men bên trong các túi bằng da thú hay trong các thùng gỗ thô."[#endnote_] Chỗ ở và môi trường sống. Khoảng 2 triệu năm trước, "Homo habilis" được cho là đã xây dựng kết cấu đầu tiên do con người xây dựng lên ở Đông Phi, nó chỉ bao gồm những sự sắp đặt đơn giản các hòn đá lại với nhau để giữ các cành cây ở vị trí. Một sự sắp đặt đá thành hình tròn cũng được cho là đã xảy ra khoảng 500.000 năm trước được khám phá ở Terra Amata, gần Nice (Pháp). Nhiều địa điểm cư trú của loài người thời đồ đá cũng đã được phát hiện ở nhiều nơi trên Trái Đất, gồm: Nghệ thuật tiền sử chỉ có thể được truy nguyên dựa vào những đồ vật còn sót lại. Âm nhạc tiền sử được suy luận ra từ những nhạc cụ được tìm thấy, trong khi nghệ thuật trên vách có thể được tìm thấy trên bất kỳ loại đá nào. Chúng được gọi là hình khắc trên đá ("petroglyph") và tranh vẽ trên đá. Nghệ thuật có thể có hoặc không có chức năng tôn giáo. Hình khắc trên đá. Hình khắc trên đá đã xuất hiện trong thời đại đồ đá mới. Một Hình khắc trên đá là một hình ảnh trừu tượng hay biểu tượng được ghi lại trên đá, thường là bởi những người tiền sử, bằng cách "đục", khoét hay những cách khác lên trên những bề mặt đá tự nhiên. Chúng là kiểu thông thường nhất hay là những biều tượng trước khi có chữ viết được sử dụng để thông tin. Hình khắc trên đá đã được phát hiện ở nhiều nơi trên Trái Đất, gồm cả châu Á (Bhimbetka, Ấn Độ), Bắc Mỹ (Vườn quốc gia Thung lũng Chết), Bắc Mỹ (Cumbe Mayo, Peru), và châu Âu (Finnmark, Na Uy). Những bức tranh đá. Những bức tranh đá được "vẽ" trên đá và được miêu tả theo kiểu tự nhiên hơn là thuật khắc đá. Ở thời đồ đá cũ, sự hiện diện của con người trong những bức tranh đá rất hiếm hoi. Đa phần chúng thể hiện các con vật: không chỉ những loài vật được sử dụng làm thức ăn mà cả những con vật thể hiện sức mạnh như tê giác hay các loài mèo to lớn (như ở Hang Chauvet). Các dấu hiệu như các chấm thỉnh thoảng cũng được vẽ. Hiếm có sự hiện diện của con người như các dấu in tay và những hình nửa người nửa thú. Hang Chauvet ở "département" Ardèche, ở Pháp, hiện lưu giữ những hình vẽ trong hang quan trọng nhất của thời đồ đá cũ, được vẽ vào khoảng 31.000 năm TCN. Các bức tranh trong hang Altamira ở Tây Ban Nha được vẽ vào khoảng 14.000 đến 12.000 năm TCN và có những con bò rừng bison. Gian phòng của những con bò ở Lascaux, Dordogne, Pháp là một trong những hang có tranh đá từ khoảng 15.000 đến 10.000 TCN. Ý nghĩa của những bức tranh này hiện vẫn chưa được biết. Các hang đó đều không nằm trong khu vực có người ở, vì thế có thể chúng đã từng được dùng cho những lý do lễ nghi. Các con vật được vẽ thêm các dấu hiệu có thể là ma thuật. Những biểu tượng hình mũi tên đôi khi được coi như là được sử dụng để làm lịch hay almanac. Nhưng bằng chứng của nó thì vẫn chưa được quyết định.[#endnote_] Công việc quan trọng nhất của thời đại đồ đá giữa là những chiến binh đang diễu hành, một bức tranh tường tại Cingle de la Mola, Castellón de la Plana ở Tây Ban Nhan niên đại vào khoảng 7.000–4.000 TCN. Kỹ thuật được sử dụng có thể là phun hay thổi các chất màu lên đá. Các bức tranh khá theo chủ nghĩa tự nhiên, mặc dù có được cách điệu hoá. Các hình ảnh không theo kiểu không gian ba chiều, thậm chí chúng còn chồng lên nhau.[#endnote_] Lễ nghi và Đức tin thời đồ đá. Những nghiên cứu hiện đại và sự phân tích kỹ lưỡng những đồ vật tìm thấy từ thời kỳ đồ đá chỉ ra một số lễ nghi và đức tin của con người ở thời tiền sử đó. Hiện nay mọi người tin rằng các hoạt động của con người thời tiền sử vượt xa khỏi những yêu cầu trước mắt về tìm kiếm thức ăn, đồ mặc, và nơi ở. Các nghi thức đặc biệt liên quan tới cái chết và sự chôn cất đã được tiến hành, mặc dù chắc chắn là khác biệt về cách thức và sự tiến hành ở từng nền văn hoá. Một số địa điểm thời kỳ đồ đá ở những vùng khác nhau trên thế giới cho thấy những dấu vết của sự nhảy múa, nhảy múa theo hàng và những nghi thức đầu tiên.[#endnote_] Những dấu vết cuộc sống thời đồ đá hiện nay. Các nhà nhân chủng học đã sử dụng nhiều bộ lạc để nghiên cứu và làm sáng tỏ cuộc sống ở thời kỳ đồ đá từng như thế nào. Những bộ lạc đó có thể thấy ở Papua New Guinea, Quần đảo Andaman và Nicobar (Ấn Độ), Châu Phi và Nam Mỹ.
Nguyễn Đình Ánh (1 tháng 1 năm 1940 – 14 tháng 4 năm 2016) thường được biết đến với nghệ danh Nguyễn Ánh 9, là một nhạc sĩ, nhạc công dương cầm người Việt Nam. Ông sinh ngày 1 tháng 1 năm 1940 tại tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam (cũng có nguồn viết ông sinh năm 1939), là út trong một gia đình khá giả có 3 người con. Gia đình Nguyễn Đình Ánh chuyển đến Nha Trang và năm ông 11 tuổi thì vào Sài Gòn. Nguyễn Đình Ánh theo học trường Taberd đến năm 1954 rồi lên Đà Lạt, ở nội trú trường Yersin cho đến năm 1958. Ông bỏ nhà đi năm 18 tuổi để theo đuổi con đường âm nhạc. Ông tập chơi dương cầm từ nhỏ và trong thời gian học ở Đà Lạt, Nguyễn Đình Ánh có quen biết với nhạc sĩ Hoàng Nguyên và được Hoàng Nguyên dìu dắt vào con đường âm nhạc. Sau khi tốt nghiệp Tú tài 2, qua sự giới thiệu của nhạc sĩ Hoàng Nguyên, Nguyễn Ánh 9 được vào tham gia chương trình Tuổi Xanh của Đài phát thanh Sài Gòn và Đài phát thanh Đà Lạt. Ông cũng cộng tác với chương trình "Tiếng hát sinh viên" do Duy Trác thực hiện. Từ đó, Nguyễn Ánh 9 đi khắp nơi biểu diễn dương cầm ở các bar, các nhà hàng nổi tiếng và những ban nhạc thanh niên. Nguyễn Ánh 9 bắt đầu sự nghiệp viết nhạc một cách rất tình cờ trong một chuyến đi Nhật biểu diễn cùng ca sĩ Khánh Ly. Sau buổi diễn tại hội chợ Ōsaka, khi cùng với Khánh Ly đứng chờ thang máy lên phòng khách sạn, thấy người bạn mình mang vẻ mặt buồn buồn, Khánh Ly lên tiếng hỏi: "Còn thương nó không bạn?", ý muốn hỏi về một người bạn gái quen biết Nguyễn Ánh 9 vào thời đó. Sẵn cây đàn guitar trên tay, Nguyễn Ánh 9 gảy ngay rồi cất tiếng hát: ""Không! Không! Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữ"." Đến khi trở về Việt Nam, Khánh Ly đề nghị ông soạn nhạc phẩm này. Trước đề nghị đó, ông đã hoàn tất nhạc phẩm đầu tiên của mình trong một thời gian ngắn. Ca khúc "Không" được Khánh Ly thu lần đầu trong đĩa nhựa của nhãn đĩa "Tình ca quê hương". "Không" trở thành một trong những nhạc phẩm gắn liền với cuộc đời ca hát của Elvis Phương, cũng như một số ca khúc khác của Nguyễn Ánh 9 như "Ai đưa em về", "Chia phôi", "Lời cuối cho em"... được Elvis Phương trình bày thường xuyên trên sân khấu của vũ trường Queen Bee tại thành phố Sài Gòn vào đầu thập niên 1970. Những năm đầu thập niên 1970, Nguyễn Ánh 9 cộng tác với nhiều vũ trường lớn ở Sài Gòn. Ông đã từng đệm dương cầm cho những ca sĩ nổi tiếng như Khánh Ly, Thái Thanh. Trong một cuộc phỏng vấn, Nguyễn Ánh 9 đã nói ông mê nhất được đệm đàn cho hai danh ca này. Cũng thời gian đó, ông viết thêm một vài nhạc phẩm nổi tiếng khác như "Mùa thu cánh nâu", "Đêm tình yêu". Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, thời gian đầu ông có đi diễn ở các tỉnh với đoàn văn nghệ của Duy Khánh cùng với nhạc sĩ Quốc Dũng. Từ 1976, ông làm nhân viên kiểm soát xe lưu thông tại Xa cảng miền Tây cho đến năm 1978. Một thời gian Nguyễn Ánh 9 có mở một lớp dạy dương cầm. Năm 1982, Nguyễn Ánh 9 trở lại với âm nhạc; ông tiếp tục tham gia các chương trình hòa tấu và biểu diễn dương cầm ở nhiều nơi. Nguyễn Ánh 9 còn được mời viết nhạc nền cho một số phim như "Lệnh truy nã", "Mảnh tình nghiệt ngã", "Mênh mông tình buồn", "Những đứa con thành phố". Những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990 Nguyễn Ánh 9 có viết thêm một số ca khúc nữa như "Tình yêu đến trong giã từ", "Mênh mông tình buồn", "Cho người tình xa" và "Cô đơn". Cho đến những năm cuối đời, Nguyễn Ánh 9 vẫn biểu diễn, tham gia một số đêm nhạc của ca sĩ Ánh Tuyết. Ông thường chơi dương cầm hàng tuần tại khách sạn Sofitel Plaza Saigon. Ngày 27 tháng 5 năm 2006, Trung tâm Thúy Nga tổ chức đại nhạc hội trực tiếp thu hình "Paris By Night 83 - Những Khúc Hát Ân Tình" tại California, Hoa Kỳ để vinh danh ba nhạc sĩ Xuân Tiên, Thanh Sơn và Nguyễn Ánh 9. Tối ngày 21 tháng 11 năm 2010, chương trình "Con đường âm nhạc" tháng 11 vinh danh nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã diễn ra tại Nhà hát Quân đội, thành phố Hồ Chí Minh và được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV3. Ngày 1 tháng 1 năm 2016 cũng là lễ mừng sinh nhật lần thứ 76 của ông. Ngày 24 tháng 4 cùng năm, đêm gala “Vàng son một thuở” diễn ra tại Hà Nội dành nhiều thời lượng để hát những ca khúc tưởng nhớ nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9. Với sự tham gia của các ca sĩ như: Tuấn Ngọc, Lưu Bích, Khánh Hà… Nguyễn Ánh 9 là một tín hữu Công giáo Rôma, ông có tên thánh là "Giêrôm" ("Jerome"). Vợ của ông tên Ngọc Hân - một vũ công ông quen biết trong thời gian làm tại vũ trường Anh Vũ. Hai người kết hôn vào năm 1965 sau khi ông đã nhờ mẹ năn nỉ với bố cho quay về nhà cũng như xin phép được lấy vợ. Trước đó bố ông đã đuổi ông khỏi nhà khi thấy ông quyết tâm theo con đường âm nhạc. Vợ chồng Nguyễn Ánh 9 và Ngọc Hân có với nhau hai con trai là nhạc sĩ Nguyễn Quang và Nguyễn Đình Quang Anh - cả hai đều theo con đường âm nhạc. Ngoài ra, ông còn có một số người con nuôi trong nghề nghiệp như: Hương Giang, Diệu Hiền, Hoàng Quân, Quang Hà, Xuân Phú... Sau một thời dài chịu đựng căn bệnh viêm phổi, suy tim, vào lúc trưa 14 giờ 00, ngày 14 tháng 4 năm 2016 ông hôn mê, và trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Đại học Y – Dược Thành phố Hồ Chí Minh, không lâu sau lễ mừng sinh nhật 76 tuổi. Trước đó, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã nhập viện cấp cứu tại bệnh viện Hoàn Mỹ hôm 20 tháng 3 năm 2016 khi có dấu hiệu khó thở và mệt.
Phong trào Thánh khiết Phong trào Thánh khiết qui tụ các tín hữu Cơ Đốc là những người xác tín và rao giảng đức tin cho rằng "bản chất xác thịt" của con người có thể được thanh tẩy qua đức tin và bởi quyền năng của Chúa Thánh Linh nếu người ấy tin nhận Chúa Giê-xu để được tha thứ tội lỗi. Theo quan điểm của Phong trào Thánh khiết, những lợi ích đến từ đời sống Thánh khiết gồm có "linh quyền" và khả năng duy trì sự thanh sạch của tấm lòng (tư tưởng và hành động không còn bị ô uế bởi tội lỗi). Học thuyết này được biết đến trong vòng các giáo hội thuộc phong trào Thánh khiết như là "sự Thánh hóa toàn diện", mặc dù thuật ngữ "sự toàn hảo Cơ Đốc" được sử dụng rộng rãi hơn. Phong trào Thánh khiết khởi phát từ: Phong trào Thánh khiết cổ xuý cho một Cơ Đốc giáo tập chú vào trải nghiệm cá nhân, sống đạo và sự thay đổi triệt để trong nếp sống. Ba khái niệm trọng tâm của Phong trào Thánh khiết là: Khái niệm đầu là giáo lý trọng yếu của toàn thể trào lưu Tin Lành thuộc cộng đồng Kháng Cách. Hai khái niệm còn lại là đặc thù của Phong trào Thánh khiết. Tín hữu thuộc Phong trào Thánh khiết nhận thức về khái niệm đầu (sự tái sinh tâm linh) với sự chú trọng vào khía cạnh cảm xúc và trải nghiệm cá nhân cũng như tính huyền nhiệm nhiều hơn những trào lưu khác thuộc Cơ Đốc giáo. Khái niệm thứ hai thường được xem là một trải nghiệm cá nhân, một người sau khi được tái sinh, hết lòng cung hiến cho Thiên Chúa, sẽ nhận lãnh năng lực cho một đời sống Thánh khiết. Một vài nhóm Thánh khiết cho rằng con người có thể sống mà không phạm tội, trong khi nhiều người khác tin rằng sau khi nhận lãnh trải nghiệm Thánh hoá, mỗi ngày họ trở nên Thánh khiết hơn. Kinh nghiệm này thường được gọi là "sự thăm viếng thứ nhì" hoặc "phước hạnh thứ nhì", hoặc là "được đầy dẫy Chúa Thánh Linh". Khái niệm thứ ba miêu tả sự nhận biết tự nhiên đến với những người đã nhận lãnh trải nghiệm tái sinh, gọi là "sự xác chứng về sự cứu rỗi". Một sự quan tâm đặc biệt về đức hạnh Thánh khiết của Cơ Đốc giáo được làm sống lại trong vòng các tín hữu Giám Lý trong thế kỷ 19. Họ tìm thấy lại giáo lý này trong lời giảng của John Wesley về Sự toàn hảo Cơ Đốc. Năm 1836 tại thành phố New York, một tín hữu Giám Lý, Sarah Worral Lankford, khởi xướng những buổi nhóm vào thứ Ba nhằm cổ xuý cho sự Thánh khiết. Năm 1837, Timothy Merrit thành lập một tạp chí gọi là "Đường dẫn đến sự Toàn hảo Cơ Đốc" với mục đích truyền bá và cổ xuý tư tưởng của Wesley, cho rằng tín hữu Cơ Đốc có thể sống mà không phạm phải những tội trọng. Năm 1837, Phoebe Palmer, em gái của Sarah Lankford, trải nghiệm điều bà gọi là "sự Thánh hoá toàn diện". Palmer bắt đầu hướng dẫn các buổi nhóm họp vào thứ Ba cổ xuý cho sự Thánh khiết. Ban đầu chỉ có phụ nữ đến dự, nhưng dần dần các giám mục Giám Lý và các chức sắc cũng đến. Palmer trở nên biên tập viên cho tạp chí của Merritt, nay được gọi là "Đường dẫn đến Thánh khiết". Năm 1859, bà xuất bản tác phẩm "The Promise of the Father" (Lời hứa của Cha), tranh luận theo hướng ủng hộ phụ nữ được tham gia các chức vụ trong hội Thánh. Quyển sách sau này có ảnh hưởng trên Catherine Booth, người đồng sáng lập Cứu Thế Quân. Tại những buổi nhóm họp vào thứ Ba của Palmer, các tín hữu Giám Lý bắt đầu tiếp xúc với những người ngoài giáo hội như Thomas Upham thuộc giáo phái Tự trị Giáo đoàn. Upham là nam giới đầu tiên đến tham dự các buổi nhóm, từ đó ông tìm hiểu về những trải nghiệm thần bí, tìm kiếm những giáo huấn trước đó về sự Thánh khiết của các tác giả như Johann Arndt và Madame Guyon. Những người khác không thuộc giáo phái Giám Lý cũng đóng góp đáng kể cho Phong trào Thánh khiết. Suốt trong giai đoạn này, có hai nhân vật có quan hệ với Đại học Oberlin, Asa Mahan, viện trưởng và Charles Grandison Finney, nhà truyền bá phúc âm, cổ xuý và phát triển tư tưởng Thánh khiết Cơ Đốc. Năm 1836, Mahan trải nghiệm điều mà ông gọi là "báp têm bởi Chúa Thánh Linh". Mahan tin rằng kinh nghiệm này giúp tẩy sạch khỏi ông mọi ước muốn và khuynh hướng về tội lỗi. Trong khi đó, Finney tin rằng sự trải nghiệm "báp têm bởi Chúa Thánh Linh" cung ứng giải pháp thích đáng cho vấn nạn ông thường gặp trong các cuộc phục hưng tôn giáo. Có nhiều người xưng nhận đã từng trải qua kinh nghiệm qui đạo nhưng sau đó lại sa ngã trở về nếp sống cũ. Finney tin rằng trải nghiệm được "đầy dẫy Chúa Thánh Linh" giúp tân tín hữu tiếp tục đứng vững trong nếp sống Cơ Đốc. Một nhân vật thuộc giáo phái Trưởng Lão, William Boardman, góp phần cổ xuý tư tưởng Thánh khiết, qua các chiến dịch truyền bá phúc âm và qua một tác phẩm của ông, "The Higher Christian Life" (Nếp sống Cơ Đốc cao đẹp hơn), xuất bản năm 1858. Năm 1870, Phong trào Thánh khiết phát triển đến Anh, được gọi với một tên khác Phong trào Nếp sống cao đẹp hơn, theo tựa đề cuốn sách của William Boardman "The Higher Life". Các hội nghị của phong trào này tổ chức tại Broadlands và Oxford trong năm 1874 và tại Brighton và Keswick năm 1875. Keswick sau đó trở thành trụ sở của phong trào tại Anh. Năm 1874, Albert Benjamin Simpson, sau khi đọc tác phẩm "The Higher Life của Boardman", cảm thấy cần có một trải nghiệm như thế cho chính mình. Về sau Simpson tiến tới việc thành lập một tổ chức truyền giáo, Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp ("Christian and Missionary Alliance" – CMA). Năm 1911, CMA gởi các nhà truyền giáo đến Đà Nẵng, thiết lập các cơ sở tôn giáo và bắt đầu truyền bá đức tin Kháng Cách trên lãnh thổ Việt Nam. Lập nền trên giáo thuyết Toàn hảo Cơ Đốc của Phong trào Thánh khiết, chịu ảnh hưởng bởi nhiệt tâm truyền giáo cùng việc ứng dụng những phương pháp linh hoạt trong công tác truyền bá phúc âm đã hình thành một số giáo phái và hội đoàn Cơ Đốc. Các giáo phái và hội đoàn Cơ Đốc này trở nên những nhân tố tích cực chuyển tải nền thần học tập chú và nếp sống Thánh khiết đến nhiều nơi trên thế giới:
Francis Asbury (/æzbəri/, 20 tháng 8 năm 1745 – 31 tháng 3 năm 1816) là người thành lập, phát triển, và là một trong hai Giám mục đầu tiên của Giáo hội Giám nhiệm Giám lý ("Methodist Episcopal Church") tại Hoa Kỳ. Tháng 10 năm 1771, chàng thanh niên trẻ tuổi từ giã nước Anh để đến Mỹ. Trong suốt 45 năm, Asbury cống hiến đời mình cho công cuộc xây dựng hội thánh còn non trẻ trên vùng đất mới. Ông du hành - phần lớn trên lưng ngựa - hàng ngàn dặm, tìm đến những cụm dân cư sống rải rác ở vùng biên địa. Asbury đóng góp tích cực cho sự phát triển của phong trào Giám Lý tại Mỹ như là một phần trong cuộc Đại Thức tỉnh. Trong suốt đời mình, ông thành lập trường học mặc dù gia cảnh khó khăn khiến ông không thể tiến xa trong học vấn. Ông cũng phát triển mạng lưới Trường Chúa Nhật dạy trẻ em học đọc, viết, và làm toán. Francis Asbury sinh tại Hansworth, gần Birmingham, Anh Quốc trong một gia đình lao động là tín hữu Giám Lý ("Methodist"). Cậu bé Francis phải bỏ học trước khi được 12 tuổi để theo học nghề thợ rèn, đến 14 tuổi Francis bắt đầu quan tâm đến đức tin Cơ Đốc. Khi 18 tuổi Asbury trở nên một truyền đạo địa phương, và được phong chức mục sư lúc 22 tuổi. Năm 1771, Asbury tình nguyện sang Mỹ. Phát triển hội thánh tại Mỹ. Tháng 10 năm 1771, Asbury đến Philadelphia, khi ấy số tín hữu Giám Lý trên đất Mỹ chỉ có khoảng 600 người. Trong vòng vài ngày sau khi đặt chân lên tân thế giới, Asbury khởi sự làm việc cật lực. Đó là thời điểm khởi đầu cho một thời kỳ kéo dài 45 năm hoạt động không mệt mỏi của Asbury để gieo trồng đức tin Giám Lý trên vùng đất mới. Khi cuộc chiến giành độc lập bùng nổ năm 1776, Asbury là mục sư Giám Lý duy nhất ở lại trên đất Mỹ. Suốt trong giai đoạn này, Asbury theo đuổi lập trường trung lập trong các vấn đề chính trị; do đó bị buộc phải ẩn mình trong vài tháng để khỏi phải ký vào bản tuyên thệ khước từ trung thành với vương quyền Anh, và để tránh gia nhập quân đội Mỹ. Khi ấy nhiều người xem ông "là kẻ thù, đáng bị bắt giữ". Sau khi người Mỹ dành độc lập, Asbury được phục hồi danh dự và tiếp tục thi hành mục vụ. Năm 1784, John Wesley bổ nhiệm Asbury và Thomas Coke làm đồng quản nhiệm các hoạt động của Giáo hội Giám nhiệm Giám lý tại Mỹ. Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của Giáo hội Giám nhiệm Giám lý. Vào này Lễ Giáng sinh Asbury được phong chức chấp sự, ngày hôm sau trưởng lão, đến ngày 27 tháng 12 năm 1784, ông được tấn phong Giám mục, như lời Coke thuật lại, "Chúng tôi phải vội vàng, có nhiều việc phải làm trong một thời gian ngắn." Sáu tháng sau, Coke trở về Anh. Trong 32 năm kế tiếp, Asbury là nhà lãnh đạo của toàn thể tín hữu Giám Lý trên toàn nước Mỹ. Vào cuối thập niên 1700, 95% người Mỹ sống rải rác trong những cụm dân cư ít hơn 2.500 người nên thường ít có cơ hội tiếp xúc với các giáo hội và giới chức sắc. Asbury cho thành lập các giáo hạt, bổ nhiệm các truyền đạo du hành, và gởi họ đến thuyết giảng và cử hành thánh lễ, nhất là ở những vùng thôn quê hẻo lánh. Giống Wesley, Asbury đi ra tìm kiếm cơ hội rao giảng phúc âm bất cứ nơi nào có thể: công sở, hàng quán, hãng xưởng, đồng ruộng, quảng trường, tóm lại bất kỳ nơi nào có người chịu tụ họp lại để nghe ông thuyết giáo. Asbury du hành trên lưng ngựa trung bình 6.000 dặm mỗi năm, mỗi ngày đều giảng dạy hoặc chủ tọa các buổi hội họp hoặc hội nghị. Dưới sự lãnh đạo của Asbury, hội thánh phát triển từ số thành viên 1.200 người lên đến 214.000 người với 700 mục sư. Khi bùng nổ cuộc Nội chiến, số tin hữu Giám Lý tại Mỹ đã lên đến hơn 1,5 triệu người. Không chỉ là nhà lãnh đạo tôn giáo thành công trong giai đoạn quyết định của lịch sử nước Mỹ, Asbury còn được nhìn nhận là một nhà thuyết giáo xuất chúng. Người viết tiểu sử Asbury, Ezra Squier Tipple, đã viết, Nếu rao giảng phúc âm với thẩm quyền của người được Thiên Chúa sai phá, Đấng Xức dầu, Đấng Phán xét - và thể hiện nhận thức ấy trong các bài thuyết giáo khiến người nghe phải kinh hãi, tan chảy trong sự khiếp sợ, và ngã đổ như những người chết; nếu một người như thế xứng đáng được gọi là nhà thuyết giáo vĩ đại, thì Asbury là một nhà thuyết giáo vĩ đại." Asbury căm ghét chế độ sở hữu nộ lệ, ông thỉnh cầu George Washington ban hành luật chống chế độ nô lệ. Ông viết: "Lòng tôi đau xót khi nhìn thấy cách cư xử của một số tín hữu Giám Lý, họ ra chợ, trả giá để thuê mướn nô lệ, rồi hành hạ và bỏ đói họ." Asbury dị ứng với danh vọng, càng không quan tâm đến việc xây dựng hình ảnh cá nhân. Sau 23 năm sống trên đất Mỹ và 10 năm phục vụ trong cương vị giám mục, ông mới chịu nhượng bộ lời yêu cầu của một người bạn, James McCannon, để người ta vẽ chân chung cho ông. Đôi lúc Asbury cũng khá bi quan, nghĩ rằng mình là "một nhà tiên tri báo hung tin". Ông thích nếp sống giản dị và thường khi đắm mình trong sự trầm mặc. Theo nhận xét của những người quen biết Asbury, ông là người rất nhạy cảm. Nhật ký của ông ghi lại những thất bại và sai sót trong mục vụ hơn là những thành tựu. Ông thường thiếu kiên nhẫn đối với những ai trì hoãn không chịu sớm chu toàn bổn phận. Asbury có thói quen dậy sớm vào lúc 5 giờ sáng để suy ngẫm Kinh Thánh. Nhiều người xem Asbury là "một trong số những người khôn ngoan nhất và có tầm nhìn sâu rộng nhất trong thời của ông."
Dire Straits là album xuất hiện đầu tiên, mang tên của chính ban nhạc rock Dire Straits của Vương quốc Anh, phát hành năm 1978. Album nổi tiếng do bài hát "Sultans of Swing" và đó cũng là một trong những album bán chạy nhất ở Mỹ sau khi phát hành album được 5 tháng. Quentin Tarantino nằm trong số những người hâm mộ nổi tiếng nhất của album. Vị trí bình bầu trong các bảng xếp hạng. Album - Tạp chí Billboard (Bắc Mỹ) Đĩa đơn - Billboard (Bắc Mỹ)
Trường Đại học Tôn Đức Thắng Trường Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU) là một trường đại học công lập của Việt Nam. Trường trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Trường hoạt động theo cơ chế tự chủ toàn diện. Trường hiện có tổng cộng năm cơ sở tại bốn thành phố khác nhau gồm TP. Hồ Chí Minh, Nha Trang, Bảo Lộc và Cà Mau. Tiền thân của Trường Đại học Tôn Đức Thắng là Trường Đại học Công nghệ Dân lập Tôn Đức Thắng, được thành lập theo quyết định 787/TTg-QĐ ngày 24 tháng 9 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ. Trường do Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh sáng lập, đầu tư và lãnh đạo trực tiếp thông qua Hội đồng quản trị nhà trường do Chủ tịch Liên đoàn Lao động Thành phố đương nhiệm qua các thời kỳ là Chủ tịch. Với sự tăng trưởng ngày càng nhanh, để Trường có pháp nhân phù hợp bản chất thực của nó (là Trường của tổ chức công đoàn và hoàn toàn không có yếu tố tư nhân), ngày 28 tháng 1 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 18/2003/TTg-QĐ chuyển đổi pháp nhân của Trường thành Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng, trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 11 tháng 6 năm 2008, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã ký Quyết định số 747/QĐ-TTg về việc đổi tên Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành Trường Đại học Tôn Đức Thắng (công lập) và chuyển về trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Xếp hạng đại học. Tháng 8 năm 2022, Trường Đại học Tôn Đức Thắng được bảng xếp hạng đại học thuộc trường Đại học Giao thông Thượng Hải (ARWU) xếp thứ 601-700 trên thế giới, TDTU được vào bảng xếp hạng ARWU lần đầu vào năm 2019 với vị trí 901-1000. Năm 2020, tăng lên vị trí 701-800 và năm 2021 là 601-700. Tháng 7/2022, tổ chức xếp hạng đại học thế giới theo thành tựu học thuật URAP (University Ranking by Academic Performance) xếp TDTU thứ 427 trong bảng xếp hạng đại học tốt nhất thế giới năm 2021-2022. TDTU xuất hiện lần đầu tiên trong bảng xếp hạng của URAP năm 2018-2019 với vị trí 1.422. Năm 2019-2020, thứ hạng của TDTU trong bảng này là 960. Năm 2020-2021, thứ hạng của TDTU là 639. Tháng 9/2021, hệ thống xếp hạng đại học thế giới (THE World University Rankings) xếp TDTU vào Top 500 đại học tốt nhất toàn cầu cho kỳ xếp hạng 2022. Đây là lần đầu tiên TDTU có mặt trong bảng xếp hạng này. Tháng 10/2022, TDTU tiếp tục duy trì ở vị trí 401-500 trong kỳ xếp hạng 2023 của THE. Tháng 2/2022, tổ chức xếp hạng đại học THE World University Rankings đã công bố kết quả xếp hạng các đại học trẻ toàn cầu năm 2022. Trường Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU) đã được xếp thứ 98 trong tổng số 790 đại học được đưa vào bảng xếp hạng. Với kết quả xếp hạng này, TDTU là trường đại học đầu tiên và duy nhất của Việt Nam vào Top 100 đại học trẻ tốt nhất thế giới. Trường có tổ chức theo các khối đơn vị như sau :